Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:26:02 AM



Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:26:02 AM
Tác giả: Trương Như Vương - Hoàng Ngọc Sơn - Trịnh Xuân Hạnh
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
Năm xuất bản: 2007
Số hoá: ptlinh, quansuvn, dungnuocgiunuoc


LỜI GIỚI THIỆU


Đối với mọi quốc gia sự toàn vẹn lãnh thổ và biên giới là rất thiêng liêng. Do biên thiên của các nhân tố lịch sử, chính trị và thiên nhiên, vấn đề biên giới luôn chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp và nhạy cảm.


Nước ta có đường biên giới trên đất liền với 3 quốc gia là Trung Quốc, Lào và Campuchia. Đường biên giới đó hình thành trong suốt chiều dài lịch sử từ thời Văn Lang cho tới ngày nay và trải qua không ít biến động.


Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã dành mối quan tâm lớn lao và sâu sắc tới vấn đề biên giới, vừa nhằm giữ vững biên cương và sự toàn vẹn lãnh thổ do bao đời ông cha ta gây dựng nên, vừa bảo toàn và tích cực chủ động giải quyết các vấn đề tồn tại về biên giới lãnh thổ với các nước láng giềng, biến đường biên giới quốc gia thành đường biên giới hòa bình, hữu nghị và hợp tác.


Tuy nhiên, không ít người chưa hiểu rõ, thậm chí hiểu sai vấn đề biên giới, trong khi các thế lực thù địch trong và ngoài nước lại tìm mọi cách xuyên tạc sự thật lịch sử biên giới nước ta.


Cuốn sách "Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng” do TS. Trương Như Vương, Viện trưởng Viện Chiên lược và Khoa học Công an và nhóm cộng sự đã giới thiệu một cách hệ thống những vấn đề cơ bản về lịch sử hình thành đất nước, lịch sử đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia trong quá khứ và hiện tại; góp phần làm rõ và khẳng định cơ sở pháp lý và lịch sử biên giới và chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Đây là tài liệu rất quý giá và bổ ích cho các cán bộ lãnh đạo, quản lý, các nhà nghiên cứu và tất cả nhũng ai quan tâm tới vấn đề hệ trọng này.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


Hà Nội, ngày 20.5.2007

(http://img145.imageshack.us/img145/6793/chukyw.th.jpg)


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:26:47 AM
LỜI TÁC GIẢ


Quốc gia hình thành bởi ba thành tố cơ bản là "Lãnh thổ, Nhà nước và Dân cư”. Trong đó, yếu tố biên giới - lãnh thổ là nền tảng đầu tiên. Bản chất vấn đề biên giới - lãnh thổ là hệ trọng và hết sức nhạy cảm, việc bảo vệ sự toàn vẹn biên giới - lãnh thổ luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc.


Trong tiếng Việt, lãnh thổ là một danh từ, có nghĩa "đất đai thuộc chủ quyền của một nước". Với vị trí địa lý của mình, Việt Nam có lãnh thổ bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời" kể cả lòng đất của đất liền, của các hải đảo, đáy và lòng đất dưới đáy vùng biển như quy định trong Điều 1 Hiên pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.


Phạm vi chủ quyền lãnh thổ quốc gia gắn liền với đường biên giới quốc gia. Về mặt địa lý, biên giới của một quốc gia là đường và mặt thẳng đứng đi qua đường xác đinh phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Trên phương diện pháp luật, biên giới quốc gia là "hàng rào pháp lý" xác đinh giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng biển, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền quốc gia. Biên giới quốc gia là nơi phân chia chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia với quốc gia khác và /hoặc với các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đó. Nói một cách khác, biên giới quốc gia chính là giới hạn ngăn cách lãnh thổ của quốc gia này với quốc gia khác và ngăn cách lãnh hải với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.


Việt Nam có chung đường biên giới trên đất liền với ba nước là Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia với tổng cộng chiều dài khoang 4.610 km (trong đó với Trung Quốc là 1.406 km, với Lào là 2.067 km, với Campuchia là 1.137 km). Là quốc gia có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và các nước láng giềng cũng trải qua nhiều biến cố thăng trầm. Quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của ông cha ta gắn liền với cuộc đấu tranh giữ gìn biên cương của Tổ quốc qua nhiều thế hệ.


Vấn đề cương vực - biên giới lãnh thổ Việt Nam đã được ghi chép từ lâu đời trong các sử liệu, được đề cập rộng rãi trong các công trình nghiên cứu của tập thể hoặc cá nhân trong và ngoài nước, được việt thành sách, được đăng tai trên thông tin đại chúng, được thể hiện trong giáo trình giảng dạy và sách học lịch sử của trung học... Về đại thể, đã có cả một lượng thông tin rất đồ sộ về vấn đề này, nhưng chưa được tổng hợp thành một tài liệu chuyên biệt.


Từ tình hình trên, chúng tôi tập hợp những thông tin chủ yếu trong một tập sách chuyên khảo về biên giới lãnh thổ Việt Nam từ khởi thuỷ đến cuối năm 2005. Hy vọng đây sẽ là những thông tin hữu ích trong việc tra cứu, tham khảo của các nhà hoạch định chính sách về vấn đề biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước láng giềng.


Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng vì khả năng có hạn và gặp không ít khó khăn trong quá trình thực hiện nên chắc chắn công trình này còn nhiều khiếm khuyết. Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý quý báu của bạn đọc để lần tái bản sẽ được hoàn thiện hơn.

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2007.
TM. Tập thể tác giả
TRƯƠNG NHƯ VƯƠNG


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:27:58 AM
CÙNG BẠN ĐỌC


Vấn đề biên giới là rất thiêng liêng và nhạy cảm đôi với mỗi quốc gia, dân tộc. Trong lịch sử, khái niệm biên giới xuất hiện rất sớm và chúng ta cũng nghe nói rất nhiều đến vấn đề biên cương, biên giới. Gần đây trong kháng chiến và sau kháng chiến danh từ biên giới được dùng khá phổ biến. Sự hiểu biết phổ biến về biên giới là nơi giáp giới giữa hai quốc gia.


Sự thật khái niệm biên giới là khái niệm xuất hiện khá sớm trong lịch sử hình thành xã hội loài người.

Nói về thời đại dã man của loài người, Ănghen viết: "dân cư sống hết sức thưa thớt, chỉ ở những nơi cư trú của bộ lạc mới có đông người hơn, chung quanh nơi đó thì trước hết là một đất đai rộng dùng làm nơi săn bắn, rồi đến miền rừng bảo hộ không thuộc về bộ lạc nào (schurzwald) và làm cho bộ lạc đó cách biệt với các bộ lạc khác"(1) (F.ENGHEN, "Nguồn gốc gia đình - XII", Thời đại dã man và thời đại văn minh). Miền rừng bảo hộ tuy không thuộc bộ lạc nào, nhưng làm cho một bộ lạc cách biệt với các bộ lạc khác - đó là khái niệm đầu tiên về biên giới vùng. Khi các quốc gia xuất hiện cũng là lúc xuất hiện phạm vi chủ quyền của các quốc gia, dân tộc nhưng buổi ban đầu biên giới chưa phải là thành tuyến dứt khoát, rõ ràng mà là một vùng lãnh thổ. Tất nhiên những bộ lạc lưu động luôn luôn di chuyển, không có khái niệm về biên giới. Đối với Thành Cát Tư Hãn không có khái niệm biên giới. Đế chế La Mã quan niệm trước mắt chỉ có Limes, nghĩa là điểm dừng chân vì La Mã luôn đưa quân đi đánh chiếm các nước, không có đường biên giới.


Cái mà la Mã thời xưa gọi là giới hạn "Limes" là toàn bộ vùng biên giới cách biệt La Mã với thế giới dã man, khu vực đó vừa là giới hạn của sự canh phòng vừa là một hệ thống bảo vệ vì mục đích quân sự và đến thế kỷ thứ III nó có chiều dài khoảng 9.000 km.


Trong lịch sử các nước phương Đông có quan niệm biên giới giống như các nước phương Tây, họ cũng quan niệm biên giới là một vùng, dọc vùng đó lập thành những ải để kiểm soát người vào nước mình. Theo lịch sử Trung Quốc, nhà Chu có một hệ thống cửa ải như vậy và một phong hoả dài để đốt lửa lên nhằm mục đích báo cho các nước chư hầu đem quân đến cứu thiên tử khi có giặc ngoại xâm. Lịch sử Trung Quốc còn ghi chuyện thiên tử nhà Chu là U Vương đã đốt lửa phong hoả dài theo yêu cầu của nàng Ba Tự.


Mãi đến đời hoàng đế Charlemagne nước Pháp mới bắt đầu thực hiện biên giới tuyến. Sau khi Charlemagne chết, ba con trai của ông chia nhau đế quốc của Charlemegne khi đó bao gồm cả một phần lãnh thổ Đức, Ý, Bỉ, Thuỵ Sĩ. Các con của Charlemegne phải huy động 120 nhà địa lý để chia gia tài của Charlemegne cho đúng.


Năm 1807, sau trận thắng Friedlen, Napoleon gặp Sa Hoàng Nicolas đệ nhất trên sông Niemen (thuộc Đông Phổ thời bấy giờ) trên một chiếc bè. Để bảo đảm chủ quyền mỗi bên, chuyên gia hai bên phải căng một sợi dây ngang sông và coi là biên giới giữa hai bên.


Biên giới là một sáng tạo pháp lý để ngăn cách chủ quyền hai bên. Vì biên giới gắn liền với vấn đề lãnh thổ nên có tính chất thiêng liêng.

Theo quan niệm được chấp nhận rộng rãi ngày nay, lãnh thổ là một mảnh của mặt địa cầu trong đó có một hệ thống pháp quy có thể được vận dụng. Nói cách khác lãnh thổ là một danh nghĩa thẩm quyền làm cơ sở cho hành động của nhà nước. Do quan niệm lãnh thổ như thế các nhà nước đều có quan điểm về biên giới và vấn đề toàn vẹn lãnh thổ. Hiệp định Geneve năm 1954 về Đông Dương đã quy định toàn vẹn lãnh thổ là một quyền cơ bản của dân tộc Việt Nam. Hiến chương Liên hợp quốc cũng đã quy định các nước phải tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nước khác.


Sự toàn vẹn lãnh thổ là một nhân tố hoà bình bao gồm sự lên án mọi sự xâm lược. Từ yêu cầu bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ, luật pháp đã đề ra nguyên tắc biên giới bất khả xâm phạm (intangibilite frontieres). Vấn đề này quan trọng đến mức các luật gia phương Tây tranh cãi nên dùng từ bất khả xâm phạm (inviolabilite) hay từ bất khả động đến (intangibilite). Ta dùng một từ bất khả xâm phạm (inviolabilite) cũng đủ nghĩa. Qua tiến trình lịch sử cũng đã chứng minh năm 1846 tướng người nước Êquatơ Flores đang chuẩn bị một cuộc xuất quân lớn tại Tây Ban Nha nhằm lập ra một vương quốc lớn để đưa một ông hoàng Tây Ban Nha lên. Các quốc gia thuộc Tây Ban Nha ở Mỹ thấy nền độc lập của họ bị uy hiếp nên họp nhau lại tại Lima để ký một hiệp ước quy định lãnh thổ của họ là bất khả xâm phạm. Do sự tuyên bố long trọng đó về toàn vẹn lãnh thổ mà họ phá được âm mưu của Flores. Nhằm bảo vệ nền độc lập của mình, các nước Nam Mỹ năm 1865 lại ký hai công ước: (1) Công ước thứ nhất về liên minh phòng ngự, trong đó nhấn mạnh nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ và sự bất khả xâm phạm của biên giới; (2) Công ước thứ hai về việc giữ gìn hoà bình.


Nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ và tính bất khả xâm phạm của biên giới càng về sau càng được các châu lục khác chấp nhận như Hiến chương của Tổ chức thống nhất châu Phi (OVA) hay Thông cáo cuối cùng của hội nghị Á Phi ở Băngđung, Hiệp ước Bali của tổ chức ASEAN.


Định ước cuối cùng của Hội nghị Helsinski năm 1975 về an ninh và hợp tác ở châu Âu cũng nêu nguyên tắc bất khả xâm phạm của các biên giới và nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia.


Như vậy nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ, tính bất khả xâm phạm lãnh thổ, bất khả xâm phạm biên giới gắn liền với nhau để bảo đảm an ninh lãnh thổ và ổn định biên giới cho mỗi quốc gia, dân tộc.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:28:41 AM
Biên giới chiến lược và không gian sinh tồn

Giữa các năm 1933 và 1945 tại nước Đức quốc xã (Reich thứ III) các luật gia đức đưa ra một học thuyết mới gọi là thuyết không gian sinh tồn (LEBENSTRAUM). Các luật gia quốc xã giải thích là một khoảng không gian mà một dân tộc có thể giành để đảm bảo mọi lúc duy trì và phát triển sự sinh tồn của dân tộc đó. Các luật gia quốc xã cố chứng minh rằng đó là một quan niệm pháp lý giải thích khái niệm lãnh thổ. Sự thật đó là một học thuyết chính trị. Giới luật gia châu Âu khi đó không chấp nhận đó là một quan điểm pháp lý về lãnh thổ. Nhưng Hitler đã địa học thuyết đó vào các hiệp ước ký với các nước. Trong Hiệp ước Đức - Ý ngày 23-9-1939, hai nước ghi "quyết định tương lai sẽ sát cánh bên nhau và với lực lượng liên kết của họ can thiệp để bảo đảm không gian sinh tồn của hai nước và duy trì hoà bình". Hiệp ước Đức - Ý - Nhật ngày 27-9-1930 ghi "việc mỗi quốc gia giành được không gian sinh tồn mà họ có quyền được hưởng" là điều kiện đầu tiên của một nền hoà bình bền vững. Thuyết không gian sinh tồn trộn lẫn khái niệm không gian và khái niệm lãnh thổ là một sự đe doạ thường trực của bọn bành trướng lãnh thổ Đức - Ý vì Hitler đòi các lãnh thổ ở Trung Âu và Đông Âu, còn Mussolini đòi Địa Trung Hải là biển nội thuỷ của nước Ý, Nhật Bản tăng cường xâm lược Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. Người ta hiểu vì sao các luật gia trên thế giới đều bác bỏ thuyết không gian sinh tồn.


Người ta ngạc nhiên và phẫn nộ thấy các học giả Trung Quốc nửa thế kỷ sau lại nêu lại và phát triển học thuyết đó của các bành trướng Đức, ý. Trong số báo Giải phóng quân Trung Quốc ra ngày 13-4-1987, Từ Quang Dụ có đăng bài "Theo đuổi biên giới chiến lược không gian ba mặt hợp lý" trong đó ông ta nói biên giới địa lý lấy lãnh thổ, lãnh hải, lãnh không được quốc tế công nhận làm chuẩn, còn biên giới chiến lược không chịu sự giới hạn của lãnh thổ, lãnh hải, lãnh không. Biên giới chiến lược quyết định không gian sinh tồn của một dân tộc, một quốc gia, cho nên cần tìm mọi cánh để đẩy chiến trường từ biên giới địa lý ra biên giới chiến lược. Ông Từ Quang Dụ viết "các nước bành trướng theo đuổi biên giới chiến lược mang tính chất xâm lược khu vực. Trung Quốc là một nước xã hội chủ nghĩa yêu chuộng hoà bình. Trung Quốc theo đuổi biên giới chiến lược ba mặt hợp lý, tranh thủ không gian an toàn và phát triển cái đó không phải là bành trướng bá quyền biên giới địa lý, cũng không phải là biên giới bành trướng xâm lược mà những bọn theo chủ nghĩa bành trướng bá quyền thi hành". Nhưng ông lại viết thêm "cần phải đẩy... từ biên giới địa lý ra biên giới chiến lược". Phải chăng đó là lời giải thích cho việc Trung Quốc hai lần đưa quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam?


Ít lâu sau người hưởng ứng tích cực thuyết biên giới chiến lược của ông Từ Quang Dụ là học giả Thôi Húc Thần, tác giả cuốn sách "Cuộc đấu tranh giành giật biên giới mềm". Ông Thôi khẳng định muốn khống chế và phòng thủ biên giới sinh tồn phải làm cho biên giới sức mạnh lớn hơn biên giới địa lý, phải bảo vệ "đại biên giới", phải dùng "xâm nhập mềm", làm "chiến tranh mềm" và khẳng định phải thắng trong cuộc "chiến tranh không khói này". Phát triển thuyết không gian sinh tồn, ông Thôi đưa ra đề nghị dùng "chiến tranh mềm" "không đánh mà khuất phục được người": Lợi dụng ưu thế kinh tế, khoa học, kỹ thuật nhằm vào lúc đối phương gặp khó khăn mà "nhẹ nhàng" xâm lược "biên giới mềm" của đối phương, rồi theo phương thức vết dầu loang mở rộng biên giới của mình, dần dần làm cho nội bộ đối phương phải thay đổi, bắt đối phương phải dựa vào mình, lặng lẽ biến nước người thành "thuộc địa kinh tể” "thuộc địa tin tức" "thuộc địa văn hoá" "thuộc địa môi trường" của mình, thực sự đạt được mục đích không đánh mà khuất phục được người!


Trong một chương cuối sách, ông thống thiết kêu gọi "Hồn nước ơi, xin hãy trở về”. Đó là hồi kèn xung trận phát động "chiến tranh mềm". Tôi cũng kêu gọi "Người ơi, hãy cảnh giác".


Đây là kiểu bành trướng kinh tế, khoa học, kỹ thuật trong điều kiện Trung Quốc không dùng "chiến tranh cứng", không thích hợp bối cảnh quốc tế hoà bình. Đây cũng là biến tướng tinh vi của thuyết "không gian sinh tồn".


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:29:50 AM
Từ biên giới ngăn cách sang biên giới hợp tác

Trong hàng nghìn năm qua, với chức năng bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền, biên giới kiểm soát việc qua lại, ngăn chặn buôn lậu, di cư, nhập cư trái phép, thật sự là bức tường ngăn cách giữa hai nước. Từ khoảng giữa thế kỷ XX đến nay, sự hợp tác quốc tế được mở rộng, du lịch thành một phong trào giao lưu của hàng trăm triệu người, sự hợp tác công nghiệp, thương mại, văn hoá đã thành một nhu cầu xuyên quốc gia. Việc xây dựng những sân bay, những đập nước, những con đường xuyên quốc gia, các hoạt động văn hoá, thể thao ở vùng biên giới đòi hỏi mở biên giới cho hàng triệu con người qua lại.


Thời đại ngày nay là thời đại hội nhập, kinh tế ngày nay là kinh tế toàn cầu hoá, khu vực hoá. Nhiều vấn đề đòi hỏi sự hợp tác của cộng đồng quốc tế. Việc mở rộng mậu dịch, hợp tác công nghiệp, nông nghiệp, du lịch đòi hỏi mở rộng biên giới.


Mở rộng biên giới là mở rộng sự hợp tác, việc giao lưu không phải là coi nhẹ chủ quyền, an ninh. Mở rộng biên giới là nới rộng thể thức qua lại biên giới, bỏ bớt những thủ tục rườm rà, chặt chẽ không cần thiết, giảm bớt mức thuế, dùng kỹ thuật cao kiểm soát những chất gây cháy nổ, những hàng hoá nhập lậu, những chất phóng xạ, ngăn chặn di cư nhập cư trái phép.


Giữa hai nước phát triển, lĩnh vực hợp tác rất nhiều: môi trường, hợp tác kinh tế địa phương, năng lượng, việc làm và các vấn đề xã hội, đầu tư công nghiệp và nông nghiệp, đô thị hoá, sử dụng nguồn nước, vấn đề đi lại trên sông hồ biên giới, việc đánh cá, chống tiếng ồn, quy hoạch xây dựng, vấn đề bảo vệ thực vật, thú rừng, hợp tác y tế, văn hoá, thể thao, giải trí, du lịch, cứu trợ. Nước ta hiện nay có vấn đề khai thác sông Mê Công, vấn đề mua điện của Trung Quốc, bán điện cho Lào và Campuchia, vấn đề Lào và Thái Lan quá cảnh qua Việt Nam, có nhiều cửa khẩu quốc tế trên biên giới Việt - Trung, Việt - Lào, Việt Nam - Campuchia.


Biên giới hợp tác đòi hỏi mở rộng cửa hợp tác mà vẫn bảo đảm giữ vững chủ quyền, bảo đảm an mình.


Vấn đề biên giới trong lịch sử

Vấn đề biên giới gắn với sự phát triển của loài người. Có lãnh thổ là có biên giới. Nói chung các quốc gia đều coi trọng vấn đề biên giới vì biên giới là yếu tổ bảo đảm chủ quyền, hoà bình, tức cũng là yếu tố bảo đảm sản xuất và sự sống cho nên các quốc gia yêu chuộng hoà bình đều lo bảo đảm biên giới của mình đồng thời tôn trọng biên giới của nước láng giềng. Nhưng con người thường tham lam, muốn mở rộng lãnh thổ của mình, chiếm thêm nhiều nô lệ, nhiều trâu bò, muốn thành thủ lĩnh hùng mạnh. Cho nên từ thời cổ đại đã có nhiều xâm phạm biên giới, chinh phục nước khác. Nước Hy Lạp có Alesandre đại đế kéo một đạo quân hùng mạnh liên tiếp chiếm các vương quốc ở Lưỡng Hà, chinh phục toàn bộ đế quốc Ba Tư, tiến đến Trung Á (Uzbêkittan ngày nay) rồi tiến sang Ấn Độ đến tận sông Ấn Độ (Indus). César chinh phục Ai Cập, đô hộ xứ Gaule 500 năm và nhiều quốc gia châu Âu. Attila vua của người Hung Nô tấn công đế quốc phương Đông, xâm lược vùng Ban Căng, chiếm một số thành phố xứ Gaule, tàn ác nổi tiếng với khẩu hiệu "nơi nào ta qua không có cỏ mọc". Thành Cát Tư Hãn đánh chiếm tất cả các vương quốc từ Biển Đen đến bờ Thái Bình Dương, cuối cùng chinh phục Trung Quốc, từ đó xuất quân đánh Đại Việt ba lần, đánh Nhật Bản và Nam Dương nhưng không thành công. Đến thế kỷ XIX, Napoleon chinh phục toàn châu Âu. Đến thế kỷ XX, Hitler chinh phục các nước châu Âu, gây ra cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Từ thế kỷ XVI, các nước tư bản phát triển ở châu Âu đua nhau đi chinh phục các nước châu Mỹ, châu Á, châu Phi làm thuộc địa. Đế chế Trung Quốc không ngừng bành trướng lãnh thổ, chinh phục các nước nhỏ chung quanh. Từ các quốc gia cổ đại đến các quốc gia ngày nay, tư tưởng bành trướng là nghịch lý của nguyên tắc tôn trọng biên giới và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, là yếu tố phá hoại kinh tế và cuộc sống thanh bình của các dân tộc.


Loài người đã phải đấu tranh liên tục với các lập luận bao che, bào chữa cho các thủ đoạn lấn chiếm, cưỡng đoạt lãnh thổ. Bọn bành trướng nêu ra đủ kiểu biên giới để che đậy mưu đồ bành trướng: biên giới lịch sử, biên giới tự nhiên, biên giới ngôn ngữ, biên giới tôn giáo, biên giới chủng tộc, biên giới văn hoá. Giáo hoàng Alexandre VI đã can thiệp vào sự tranh giành thuộc địa giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha để đưa đến hiệp ước Tordesillas ngày 7-6-1894 phân chia khu vực lấn chiếm thuộc địa. Sau này các nước đế quốc châu Âu đi kiếm thuộc địa không chịu công nhận hiệp ước này. Năm 1885 các nước châu Âu quyết định chia nhau châu Phi bằng Hiệp ước Berlin, hiệp ước Yalta năm 1945 giữa Liên Xô, Mỹ và Anh quyết định phân chia lãnh thổ của Đức, Nhật Bản. Hiệp ước Tordesillas thực tế mất hết giá trị.


Tuy vậy, cuộc đấu tranh của các dân tộc chống lại thủ đoạn bành trướng của các nước lớn chưa phải đã kết thúc.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:30:52 AM
Các vấn đề tranh chấp biên giới

Đến nay chưa ai thống kê được số lượng các vụ tranh chấp về biên giới, chỉ biết là rất nhiều và đa dạng. Có thể phân biệt thành 4 loại:

Tranh chấp chủ quyền một đoạn biên giới đã được hoạch định.

Tranh chấp về quá trình phân vạch biên giới.

Tranh chấp về việc phân vạch trên thực địa.

Tranh chấp về quản lý biên giới.


Trong 4 loại này phức tạp nhất là các vụ tranh chấp liên quan đến lãnh thổ và chủ quyền.

Những người làm công tác phân vạch biên giới về lý thuyết đều rất cẩn thận nhưng không thể vì thế mà khẳng định việc phân định biên giới là hoàn hảo. Có nhiều nguyên nhân:

Do di sản của thời thuộc địa nếu là thuộc địa cũ.

Do thiếu sót trong khi hoạch định đường biên giới hay khi phân vạch đường biên giới trên thực địa.

Do ý đồ tranh giành lãnh thổ của đối phương.

Do kỹ thuật lạc hậu của thời làm biên giới.


Về vạch biên giới thời thuộc địa có những vấn đề để lại. Thí dụ rõ nhất và cũng là đáng tiếc nhất là vấn đề phân vạch biên giới của nước Togo. Nước Togo lúc đầu là thuộc địa của Đức do đó Đức đã phải phân vạch biên giới lần thứ nhất với Anh năm 1885 - 1923. Sau khi Đức thất bại trong cuộn chiến tranh và thua vào năm 1918, Đức mất Togo và Togo được trao cho nước Pháp, do đó Pháp phải phân vạch biên giới Togo với Ghana là thuộc địa của Anh. Việc chia đất không công bằng, phần lớn các đồn điền ca cao lại chia cho Anh. Việc chia đất lại mắc một vấn đề khác là chia đôi dân tộc Êvê ở vùng biên giới bất chấp các quan hệ lịch sử, các quan hệ thân tộc, gây trở ngại cho hoạt động trồng ca cao của dân. Vấn đề đặt ra với các nhà lãnh đạo Togo và Ghana là giữ nguyên trạng đường biên giới hoặc điều chỉnh lại biên giới theo yêu cầu của lãnh tụ dân tộc Êvê. Vấn đề phức tạp và khó khăn đến mức người ta nghĩ chỉ có trở về biên giới khi là thuộc địa của Đức mới giải quyết nổi. Nhưng biên giới lời thuộc Đức đã được Pháp và Anh bàn bạc giải quyết rồi.


Việc giải quyết vấn đề biên giới

Trong phong trào phi thực dân hoá, các quốc gia thâu Phi mới giành được độc lập đứng trước một vấn đề mới là giải quyết thế nào vấn đề biên giới với các nước láng giềng? chấp nhận biên giới thời thuộc địa hay xoá bỏ hết và thương lượng một biên giới mới? Điều thú vị là tại hội nghị thành lập Tổ chức thống nhất châu Phi (OUA) năm 1958 các đại biểu đề nghị huỷ bỏ các biên giới giả tạo thời thuộc địa, nhưng đến năm 1964 tổ chức OUA lại nhấn mạnh việc áp dụng nguyên tắc UTI Possidetis, nghĩa là chấp nhận biên giới do thực dân để lại.


UTI Possidetis nghĩa là "như anh đã có trong tay, anh hãy tiếp tục giữ lấy". Đầu thế kỷ XIX khởi xướng phong trào độc lập của các nước thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Biên giới của các nước nói tiếng Tây Ban Nha tương tự với các thuộc địa của Tây Ban Nha. Còn Brazin là thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha. Theo nguyên tắc UTI Possidetis, các nước nói tiếng Tây Ban Nha chấp nhận nguyên trạng đường biên giới do Tây Ban Nha đã vạch. Brazin chấp nhận nguyên trạng đường biên giới do Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã vạch.

Về sau, nguyên tắc UTI Possidetis được các nước châu lục khác chấp nhận.

Trong hội nghị các nước không liên kết họp tại Cairo tháng 10-1964, nguyên thủ và Thủ tướng 45 nước đã trịnh trọng tuyên bố "tất cả các Chính phủ cam kết tôn trọng các biên giới đang tồn tại vào thời điểm nước họ giành được độc lập".


Trong bản tuyên bố về việc giành độc lập của các quốc gia và dân tộc ngày 14-12-1960 của Liên hợp quốc cũng bảo vệ nguyên tắc UTI Possidetis.

Ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng giải quyết vấn đề biên giới với Trung Quốc, Lào, Campuehia là một vấn đề quan trọng và nhạy cảm, nước ta đã giải quyết vấn đề biên giới với các nước láng giềng theo nguyên tắc UTI Possidetis.


Là một người có nhiều duyên nợ với vấn đề biên giới nói chung và lịch sử biên giới đất liền Việt Nam nói riêng, tôi may mắn được các tác giả mời góp ý cho công trình quý giá này xin được đôi lời trao đổi cùng bạn đọc.


Luật gia LƯU VĂN LỢI
NGUYÊN TRƯỞNG BAN BIÊN GIỚI
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Hai, 2012, 08:17:37 AM
PHẦN I

TÓM TẮT LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CƯƠNG VỰC
VÀ BIÊN GIỚI LÃNH THỔ NƯỚC VIỆT NAM

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương giữa khu vực Đông Nam Á, phía Bắc giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, phía Tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, phía Tây Nam giáp Vương quốc Campuchia, phía Đông và Nam giáp biển Đông. Việt Nam có diện tích lãnh thổ đất liền rộng 330.991 km2 và trên một triệu km2 mặt biển với hơn ba ngàn hòn đảo gần bờ, xa bờ trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa án ngữ giữa biển Đông có vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng và phát triển kinh tế đất nước. Phần lãnh thổ đất liền có chiều dài từ Bắc xuống Nam khoảng 1.650 km, nơi rộng nhất khoảng 600 km (Bắc Bộ), nơi hẹp nhất khoảng 50 km (tỉnh Quảng Bình). Điểm cực Bắc ở xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (vĩ độ 23°23'), điểm cực Nam tại hòn Đá Lẻ, tỉnh Cà Mau (vĩ độ 08°02'), điểm cực Đông tại Hòn Đôi, tỉnh Khánh Hoà (kinh độ 109°28'), điểm cực Tây tại xã Sìn Thầu, huyện Mường Tè, tỉnh Điện Biên (kinh độ 102°08'). Đường biên giới trên đất liền của Việt Nam tổng cộng chiều dài khoảng 4.610 km (trong đó với Trung Quốc là 1.406 km, với Lào là 2.067 km, với Campuchia là 1.137 km), đi qua 25 tỉnh biên giới (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang). Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 km, với vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán tiếp giáp với các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực là Trung Quốc, Đài Loan, Indonesia, Malaysia, Philippin, Campuchia, Thái Lan. Dân số nước ta khoảng 84 triệu người (số liệu năm 2006) gồm 54 dân tộc anh em sinh sống trên khắp các vùng đồng bằng, rừng núi và hải đảo.

(http://desmond.imageshack.us/Himg100/scaled.php?server=100&filename=bandohanhchinhvietnam.jpg&res=medium)
Bản đồ hành chính Việt Nam

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, Quốc hiệu thay đổi đã nhiều lần: Lúc đầu tên là Văn Lang, sau đổi thành Âu Lạc, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Ngu (sau trở lại Đại Việt), Việt Nam, Đại Nam, Việt Nam Dân chủ cộng hoà, bây giờ là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc xuất hiện, cũng đồng thời xuất hiện các vùng cương giới bao quanh lãnh thổ, là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của cương giới lãnh thổ Việt Nam. Kể từ đó đến nay trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm, có những thời kỳ bị nước ngoài tấn công xâm lược, có thời kỳ độc lập và hưng thịnh, có thời kỳ bị mất chủ quyền, nhưng nhìn chung trong quá trình đó dân tộc Việt Nam đã tồn tại và phát triển với sức sống mãnh liệt trên một lãnh thổ thống nhất và ngày càng được củng cố vững chắc. Có thể nói, lãnh thổ Việt Nam ngày nay là kết quả của một quá trình lịch sử mấy chục thế kỷ dựng nước, giữ nước, liên tục đấu tranh, liên tục giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh vệ quốc, chiến tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam. Sự nghiệp tự cường của họ Khúc và tiếp đó là chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền đã đưa nước Việt vào thời kỳ xây dựng quốc gia độc lập: Mở đầu là nhà Ngô, Ngô Quyền không xưng là tiết độ sứ nữa mà xưng là Ngô vương, đóng đô ở  Cổ Loa. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh dẹp tan 12 sứ quân, thu giang sơn về một mối, định đô ở  Hoa Lư, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, xây dựng quốc gia, củng cố chính quyền. Năm 980, Lê Hoàn thừa kế quốc gia của nhà Đinh, lập ra nhà Tiền Lê. Kể từ đây, nước Đại Việt thống nhất được xây dựng chủ yếu từ thời Đinh - Tiền Lê. Trải qua các triều đại Lý - Trần càng được hoàn thiện và đến triều Nguyễn thì đạt đến mức hoàn chỉnh và ổn định cơ bản giống như ngày nay.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Hai, 2012, 08:19:22 AM
I. CƯƠNG VỰC LÃNH THỔ VĂN LANG - ÂU LẠC THỜI KỲ ĐẦU DỰNG NƯỚC
Theo truyền thuyết thì thuỷ tổ dân tộc Việt Nam là Kinh Dương Vương (tên huý là Lộc Tục - hiện còn có mộ tại làng Á Lữ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Kinh Dương Vương làm "vua" vào khoảng năm 2879 trước Công nguyên, lấy con gái của Thần Long là vua hồ Động Đình sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm, sau nối ngôi vua cha, hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ sinh ra một bọc "Một Trăm Trứng" nở ra "Một Trăm Người Con". Một hôm, Lạc Long Quân bảo bà Âu Cơ "Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, thuỷ hoả khắc nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt, chia "Năm Mươi Con" theo mẹ lên rừng núi, "Năm Mươi Con" theo cha về miền biển, phong cho con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi.


Dựa vào các tài liệu và những thành tựu nghiên cứu về thời đại Hùng Vương hiện nay, có thể đoán định có cơ sở rằng thời điểm ra đời của nhà nước Văn Lang với tư cách là một nhà nước sơ khai là vào khoảng thế kỷ VII - VI trước Công nguyên. Sự ra đời sớm của nhà nước Văn Lang, dù còn sơ khai, đã đánh dấu một bước phát triển lớn lao có ý nghĩa thời đại trong lịch sử Việt Nam - mở đầu thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc Việt Nạm.


Cương vực lãnh thổ của nước Văn Lang đã được ghi chép trong nhiều sách sử. Theo sách Thông Điển của Đỗ Hựu đời Đường thì "Châu Phong (735 - 812) là nước Văn Lang xưa"; theo Cựu đường Thư Địa lý Chí của Lưu Hú thì: "Châu Phong ở Tây Bắc An Nam, trị sở là Gia Ninh. Đời Hán (từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 220), huyện Mê Linh thuộc huyện Giao Chỉ,... đất Văn Lang xưa". Như vậy, theo hai sách trên thì nước Văn Lang ở vào huyện Mê Linh đời Hán và ở Châu Phong đời Đường, nhưng hai sách này chỉ chép tên nước Văn Lang, không đề cập gì đến cương vực đất đai của nó. Chuyện tướng nhà Hán là Mã Viện thu gom trống đồng của người Lạc Việt để đúc ngựa đồng chép trong Hậu Hán Thư đã chứng minh rằng người Lạc Việt là cư dân nước Văn Lang thời Hùng Vương. Về sau này, các sách sử của Việt Nam cũng đều chép tên mười bốn bộ lạc của nước Văn Lang thời Hùng Vương (trừ tên bộ lạc Văn Lang) như sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp đầu thế kỷ XIV, Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi năm 1438, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sỹ Liên năm 1479. Theo đó thì: Hùng Vương lên ngôi vua, đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở  Phong Châu (nay là vùng Bạch Hạc, tỉnh Phú Thọ). Chia nước làm mười lăm bộ(1) (Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức (2000), Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, tr. 10- 11):

1) Văn Lang (Phú Thọ);

2) Châu Diên (Sơn Tây);

3) Phú Lộc (Sơn Tây);

4) Tân Hưng (Hưng Hoá - Tuyên Quang);

5) Vũ Định (Thái Nguyên, Cao Bằng);

6) Vũ Ninh (Bắc Ninh);

7) Lục Hải (Lạng Sơn);

8 ) Ninh Hải (Quảng Ninh);

9) Dương Tuyền (Hải Dương);

10) Giao Chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình);

11) Cửu Chân (Thanh Hoá);

12) Hoài Hoan (Nghệ An);

13) Cửu Đức (Hà Tĩnh);

14) Việt Thường (Quảng Bình, Quảng Trị);

15) Bình Văn (?).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Hai, 2012, 08:20:56 AM
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư là bộ chính sử đầu tiên của Việt Nam chép về Văn Lang và theo đó thì nước Văn Lang "Đông giáp Nam Hải, Tây giáp Ba Thục, Bắc giáp hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn"(1) (Nguyễn Khắc Thuần (2000), Thế thứ các triều vua Việt nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.13). Nam Hải tức biển Đông; nước Ba Thục là một vương quốc cổ có lãnh thổ nay là vùng Tứ Xuyên (Trung Quốc); hồ Động Đình là một thắng cảnh nổi tiếng ở tỉnh Hồ Nam (Trung Quốc); Hồ Tôn là một trong những tên gọi quốc gia của người Chăm (tương tự các tên gọi Hoàn Vương, Lâm Ấp, Chăm Pa, Chiêm Thành) có lãnh thổ tương ứng với vùng từ Quảng Bình đến Bình Thuận của Việt Nam ngày nay. Hoặc theo sách Tìm hiểu quá trình hình thành lãnh thổ của các vua Hùng của Hoàng Xuân Chinh thì "trung tâm người Việt cổ sinh sống ở vùng trung du đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Thanh Hoá" và Cương vực nước Văn Lang, Hùng Vương dựng nước (Tập IV) của Nguyễn Mạnh Lộc "vào lúc thịnh lãnh thổ của các vua Hùng có thể từ trung tâm sông Hồng, sông Mã vươn tới Hoành Sơn ở  phía Nam và biên giới Việt Nam - Trung Quốc ở  phía Bắc"(2) (Ban Biên giới của Chính phủ, Tập san Biên giới và Lãnh thổ (Số 2 tháng 10- 1995), tr. 21 -22). Năm 221 trước Công nguyên, Tần Thuỷ Hoàng kết thúc cục diện "thất hùng" thời chiến quốc (Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu, Nguỵ, Tần), thống nhất Trung Quốc, thiết lập một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền chuyên chế hùng mạnh. Năm 218 trước Công nguyên, Tần Thuỷ Hoàng sai hiệu uý Đồ Thư chỉ huy năm mươi vạn quân, chia làm năm đạo tiến xuống phía Nam chinh phục các dân tộc Bách Việt. Năm 214 trước Công nguyên, quân Tần chiếm được vùng Lĩnh Nam (là địa bàn sinh sống của người Mân Việt, Tây Âu tương ứng với các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu của Trung Quốc ngày nay) lập thành ba quận Nam Hải, Quế Lâm, Quận Tượng sáp nhập vào lãnh thổ đế chế Tần. Nhưng người Việt Tây Âu không chịu khuất phục, kéo nhau chạy vào rừng dưới sự chỉ huy của các tù trưởng chiến đấu chống lại quân Tần. Từ Tây Giang, quân Tần tiến vào xâm lược nước Văn Lang.


Từ trước cuộc xâm lăng của quân Tần, giữa người Lạc Việt của vua Hùng và người Tây Âu của Thục Phán đã xảy ra xung đột kéo dài chưa phân thắng bại. Đứng trước tình hình mới, hai bên chấm dứt xung đột, cùng chiến đấu chống ngoại xâm. Bộ lạc Tây Âu hợp nhất với Văn Lang, các Lạc tướng suy tôn Thục Phán là lãnh tụ chung để chỉ huy cuộc kháng chiến chống quân Tần. Đến khoảng năm 208 trước Công nguyên, kháng chiến thắng lợi, Thục Phán với tư cách người chỉ huy chung đã được thay thế Hùng Vương làm vua, xưng là An Dương Vương, đổi tên nước Văn Lang thành Âu Lạc; đóng đô tại Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Phạm vi lãnh thổ cơ bản không có gì thay đổi(1) (Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Tập I, tr.49). Tuy nhiên, phạm vi cương vực nước Âu Lạc ra sao cho đến nay cũng chưa thật rõ. Theo khảo cứu của nhà sử học Đào Duy Anh trong sách Đất nước Việt Nam qua các đời thì nước Âu Lạc "tương đương với miền Bắc nước ta hiện nay, phía Nam đến Hoành Sơn, phía Bắc lấn vào miền Nam tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay".


Cũng trong khoảng năm 208 trước Công nguyên, nhân lúc nhà Tần suy loạn, Triệu Đà giết Trưởng Lại của nhà Tần, chiếm đất Vân Nam (gồm ba quận Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận) lập nước Nam Việt, tự xưng là Triệu Vũ Đế (có sách chép là Việt Vũ Vương), đóng đô ở Phiên Ngung (nay là Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc). Để mở rộng phạm vi lãnh thổ và thế lực nước Nam Việt, Triệu Đà đã đẩy mạnh các hoạt động vũ trang xâm lược về phía Nam mà hướng chủ yếu là nước Âu Lạc. Nhưng quân của Triệu Đà chỉ tiến được đến vùng núi Tiên Du - Vũ Ninh (Bắc Ninh ngày nay), không thể nào tới được Cổ Loa. Sau nhiều lần đánh chiếm không khuất phục được âu Lạc, Triệu Đà dùng mưu hoà hoãn, cho con trai là Trọng Thuỷ lấy con gái An Dương Vương là Mỹ Châu và cho Trọng Thuỷ ở  rể tại Âu Lạc. Khoảng năm 179 trước Công nguyên, nhân cơ hội An Dương Vương già yếu mất cảnh giác, Triệu Đà bất ngờ đem đại quân đánh chiếm kinh đô Cổ Loa, thôn tính Âu Lạc. Theo sách Quảng Châu ký(1) (Ban Biên giới của Chính phủ, Tập san Biên giới và Lãnh thổ (Số 3 năm 1996), tr.3-5), sau khi chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà "sai hai điển sứ làm chủ hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tức là nước Âu Lạc". Khi nước Âu Lạc bị sáp nhập vào Nam Việt, nếu Triệu Đà lập hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân mà nhà Hán vẫn để nguyên như thế thì giới hạn hai quận này cũng là cương vực nước Âu Lạc trước khi bị thôn tính. Quận Cửu Chân thì đã rõ, bao gồm các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay. Còn quận Giao Chỉ, theo sách sử Trung Quốc bao gồm cả các phủ Thái Bình, Tư Minh, Trấn Yên thuộc tỉnh Quảng Tây đời Thanh, nghĩa là giới hạn phía Đông Bắc quận Giao Chỉ bao gồm cả vùng đất ở bên kia đường biên giới hiện nay thuộc địa phận hai tỉnh Lạng Sơn và Cao Bằng vài trăm km.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Hai, 2012, 08:22:55 AM
II. CƯƠNG VỰC LÃNH THỔ VĂN LANG - ÂU LẠC THỜI KỲ BẮC THUỘC
Kể từ khi Triệu Đà thôn tính Âu Lạc, chia thành hai quận và sáp nhập vào nước Nam Việt, đất nước ta bước vào thời kỳ bị Bắc thuộc kéo dài hơn 1.000 năm. Các triều đại phong kiến phương Bắc kế tiếp nhau biến lãnh thổ Âu Lạc thành những đơn vị hành chính "thuộc quốc" để cai trị.


Nhà Triệu thống trị nước Nam Việt từ năm 208 trước Công nguyên đến năm 111 trước Công nguyên (bao gồm cả Âu Lạc từ năm 179 trước Công nguyên). Gồm năm đời vua: Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) từ năm 208 trước Công nguyên; năm 136 trước Công nguyên, Triệu Hồ (con của Trọng Thuỷ) lên ngôi xưng là Triệu Văn Vương; năm 124 trước Công nguyên, Triệu Anh Tề (con trưởng của Triệu Hồ) lên ngôi xưng là Triệu Minh Vương; năm 112 trước Công nguyên, Triệu Hưng (con thứ của Triệu Anh Tề) lên ngôi xưng là Triệu Ai Vương, ở  ngôi chưa đầy năm thì bị quan tể tướng là Lữ Gia giết chết; năm 111, Triệu Kiến Đức (con trưởng của Triệu An Tề) lên ngôi xưng là Thuật Dương Vương nhưng cũng không được bao lâu thì bị nhà Hán diệt.


Thời cổ đại, ở  Trung Quốc có hai triều Hán khác nhau: Nhà Tây Hán, khởi đầu là Lưu Bang (Hán Cao Tổ) tồn tại từ khoảng năm 206 trước Công nguyên đến năm thứ 8 sau Công nguyên; và nhà Đông Hán, khởi đầu là Lưu Tú (Hán Quang Võ), tồn tại từ năm 25 đến năm 220. Cả Tây Hán và Đông Hán đều coi Âu Lạc là lãnh thổ của Trung Quốc.


Khoảng năm 111 trước Công nguyên, nhà Tây Hán diệt nhà Triệu, chiếm toàn bộ Nam Việt (bao gồm cả Âu Lạc), đổi tên thành Giao Chỉ bộ chia thành chín quận và sáp nhập vào đất đai của nhà Hán. Riêng phần lãnh thổ nước Âu Lạc cũ được chia làm ba quận là Giao Chỉ đại thể là vùng Bắc Bộ ngày nay), Cửu Chân (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) và Nhật Nam (từ đèo Ngang trở vào phía Nam đến khoảng Quảng Nam - Đà Nẵng)(1) (Trương Hữu Quýnh, Sách đã dẫn, tr.64).


Năm 40, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, cầm quân đánh chiếm được các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố, thống nhất đất nước. Bà Trưng Trắc lên làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở  Mê Linh.


Năm 42, nhà Hán sai lão tướng Mã Viện đem quân thuỷ, bộ xâm lược Âu Lạc. Năm 43, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng thất bại. Đặt lại ách xâm lược, Mã Viện cho đặt cột đồng để phân chia giới hạn giữa đất Hán và đất Giao Chỉ. Việc này chứng tỏ nhà Hán phải nhìn nhận về một sự ngăn cách nào đó giữa lãnh thổ nước ta và Trung Quốc, đồng thời cũng là ý nghĩa lịch sử của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng khởi đầu trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước của dân tộc Việt Nam.


Sau khi lật đổ chính quyền tự chủ của Hai Bà Trưng, nhà Hán thiết lập lại chính quyền đô hộ ở  Âu Lạc chặt chẽ hơn, loại bỏ những tổ chức cũ của chính quyền bản xứ cai quản ở cấp huyện, tiến thêm một bước trong việc tổ chức cai trị trực tiếp bằng quan lại người Trung Quốc. Âu Lạc vẫn bị chia làm ba quận như thời Tây Hán. Chính quyền của nhà Đông Hán ở nước Âu Lạc cũ được tổ chức chặt chẽ hơn với một bộ máy quan lại đông đảo người Trung Quốc. Theo ba bộ sử cổ nhất của nước ta là An Nam chí lược (quyển 7), Đại Việt sử lược (quyển 1) và Đại Việt sử ký toàn thư (ngoại kỷ, quyển 3, 4 và 5) đã chép danh sách bốn mươi hai quan đô hộ Trung Quốc bao gồm cả Thứ sử lẫn Thái thú đã cai quản nước Âu Lạc trong thời kỳ này.


Năm 137, một thủ lĩnh người Chàm ở huyện Tượng Lâm (quận Nhật Nam) vận động nhân dân trong huyện nổi lên đánh đuổi quan quân nhà Hán, thành lập nước Lâm Ấp. Như vậy, phần đất phía Nam lãnh thổ nước Âu Lạc thời Bắc thuộc đã xuất hiện một quốc gia mới là Lâm Ấp.


Cuối thế kỷ II, đầu thế kỷ III, vùng đất Âu Lạc nằm dưới quyền thống trị của cha con, anh em nhà Sỹ Nhiếp (người Hán bản địa hoá). Lợi dụng tình hình rối loạn ở chính quốc, Sỹ Nhiếp nắm toàn bộ quyền hành ở Giao Chỉ. Năm 203, theo đề nghị của Sỹ Nhiếp (bấy giờ là Thái thú Giao Chỉ), nhà Hán đổi Giao Chỉ thành Giao Châu. Đến năm 213, nhà Hán lại bỏ Giao Châu và nhập ba quận của Âu Lạc cũ vào Kinh Châu.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Hai, 2012, 08:24:36 AM
Nhà Hán đổ, cục diện Tam quốc chiến tranh loạn lạc dẫn đến Âu Lạc bị nhà Ngô đô hộ. Năm 226, nhà Ngô tách các quận Hợp Phố (thuộc Quảng Châu, Trung Quốc), Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thành lập Giao Châu.


Năm 263, Lã Hưng, một tướng của Đông Ngô nổi dậy diệt Thái thú Giao Châu, lấy đất Giao Châu sáp nhập vào Tây Tấn. Năm 264, Ngô Vương Tôn chia Giao Châu (gồm đất Âu Lạc cũ và một phần đất Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc) thành Quảng Châu (đất Lưỡng Quảng) và Giao Châu. Giao Châu từ đó thu hẹp trong phạm vi lãnh thổ nước Âu Lạc cũ, thành Long Biên (Từ Sơn, Bắc Ninh) là châu lị. Năm 271, sau khi diệt Lã Hưng, nhà Ngô đặt thêm quận Cửu Đức (được tách từ một bộ phận ở phía Nam quận Cửu Châu tương ứng với huyện Hàm Hoan cũ). Quận Cửu Đức gồm sáu huyện thuộc hầu hết đất đai hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay(1) (Trương Hữu Quýnh, Sách đã dẫn, tr.66).


Từ năm 280, Tây Tấn diệt hẳn Đông Ngô, đất Giao Châu lại thuộc về Tây Tấn(2) (Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức (2000), Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam, Nxb VHTT, Hà Nội, tr.26). Nhà Tây Tấn đặt quan Thứ sử cai trị Giao Châu và quan Thái thú ở bảy quận của Giao Châu là: Hợp Phố, Vũ Bình, Tân Xương, Giao Châu, Cửu Đức, Nhật Nam (lúc này Nhật Nam chỉ còn đất từ Quảng Bình đến Quảng Trị). Nhà Tấn mở rộng thêm địa giới quận Cửu Đức đến Hoành Sơn, đặt thêm huyện Nam Lăng và huyện Đô Giao tương ứng với các huyện Nghi Xuân, Hương Sơn, Hương Khê, Thạch Hà thuộc tỉnh Hà Tĩnh ngày nay.


Do các thân vương nội triều Tấn đánh giết lẫn nhau làm cho nhà Tấn suy sụp. Nhân cơ hội đó, các nước Triệu, Tần, Yên, Lương, Hạ, Hán nổi dậy chiếm cả vùng đất phía Bắc sông Trường Giang. Nhà Tấn chỉ còn lại vùng đất ở Đông Nam, phải rời về Nam Kinh, từ đó gọi là Đông Tấn. Năm 420, Lưu Du cướp ngôi nhà Đông Tấn, lập ra nhà Tấn ở phía Nam. Trung Quốc lúc đó phân chia ra thành Nam - Bắc triều: Nam triều gồm Tống, Tề, Lương, Trần kế nhau cai trị; Bắc triều gồm Nguỵ, Tề, Chu nối nhau cai trị(1) (Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, Sách đã dẫn, tr. 27).


Sau khi nhà Tấn suy sụp, ở Trung Quốc diễn ra cục diện Nam - Bắc triều. Nước Âu Lạc bị đặt dưới ách đô hộ của Nam triều gồm các triều Tống, Tề, Lương, Trần: Khoảng đầu thế kỷ V, Giao Châu bị nhà Tống thống trị, năm 470 nhà Tống tách Hợp Phố sáp nhập vào nội địa Trung Quốc, bản đồ Giao Châu còn lại trong phạm vi vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, vùng Nghệ An, Hà Tĩnh vẫn gọi là Cửu Đức; năm 479, nhà Tề thay thế nhà Tống; năm 505, Giao Châu thuộc nhà tưởng, năm 523 nhà Lương đặt Ái Châu ở Thanh Hoá, đổi quận Cửu Đức thành Đức Châu, đặt thêm hai huyện mới là Lợi Châu và Minh Châu, năm 535 đặt thêm một châu mới là Hoàng Châu (Quảng Ninh).


Năm 542, Lý Bí lãnh đạo nhân dân Giao Châu tấn công quân Lương, chiếm được hầu hết các quận, huyện và thành Long Biên. Năm 543, Lý Bí đánh tan quân Lương ở Hợp Phố. Cũng năm 543, quân Lâm ập kéo sang cướp phá quận Nhật Nam, Lý Bí sai lão tướng Phạm Tu đưa quân tiến đánh vào Cửu Đức, quân Lâm Ấp bỏ chạy. Với hai thắng lợi này, cương vực lãnh thổ nước ta bấy giờ được bảo vệ suốt từ Hoành Sơn đến Hợp Phố. Năm 544, Lý Bí xưng Nam Việt Đế (Lý Nam Đê), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Long Biên (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay)(2) (Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, Sách đã dẫn, tr. 28, 29).


Năm 545, nhà Lương đem quân đánh Vạn Xuân. Năm 548, trước khi mất ở động Khuất Lão (vùng Tây Vĩnh Phú), Lý Nam Đế trao quyền cho Triệu Quang Phục tiếp tục kháng chiến chống quân Lương, Triệu Quang Phục lên ngôi vua, xưng là Triệu Việt Vương. Năm 550, Triệu Quang Phục khôi phục lại được nền độc lập, nhưng từ đó nội bộ Vạn Xuân bị chia rẽ. Lý Thiên Bảo (anh họ của Lý Bí) và Lý Phật Tử (người cùng họ) không quy phục Triệu Việt Vương. Năm 549, Lý Thiên Bảo xưng là Đào Lang Vương. Năm 555, Đào Lang Vương chết, toàn bộ binh quyền được trao cho Lý Phật Tử. Năm 571, Lý Phật Tử bất ngờ diệt Triệu Việt Vương để giành ngôi vua, tự xưng là Hậu Lý Nam Đế, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú)(1) (Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức, Sách đã dẫn, tr. 32).


Năm 589 nhà Trần ở Trung Quốc bị tiêu diệt, nhà Tuỳ lên thay thế, dẹp yên Nam - Bắc triều. Lúc này, mặc dù chưa xâm lược được Vạn Xuân nhưng nhà Tuỳ đã tìm mọi cách để khẳng định quyền đô hộ đối với Vạn Xuân. Năm 598, nhà Tuỳ đổi Hưng Châu làm Phong Châu, đổi Hoàng Châu làm Ngọc Châu, Đức Châu làm Hoan Châu, Lợi Châu làm Trí Châu. Năm 602, nhà Tuỳ sai mười vạn quân xâm lược Vạn Xuân, Lý Phật Tử đầu hàng, từ đó Vạn Xuân lại bị nhà Tuỳ đô hộ. Khoảng từ năm 603 - 607, sau khi đánh bại nhà nước Vạn Xuân, ổn định được nền đô hộ, nhà Tuỳ bỏ các tên châu, gọi là quận như thuở trước. Giao châu được chia là bảy quận: Giao Chỉ (các tỉnh Bắc Bộ); Cửu Chân (Thanh Hoá); Nhật Nam (Nghệ An); ba quận Tỵ Ảnh, Hải Âm và Lâm Ấp tương đương Bình - Trị Thiên ngày nay; Ninh Việt gồm Ngọc châu và Khâm châu. Nhà Tuỳ chuyển trị sở châu từ Long Biên về Tống Bình Hà Nội)(2) (Trương Hữu Quýnh, Sách đã dẫn, tr. 67-68).


Năm 618, nhà Tuỳ đổ, nhà Đường thay nhà Tuỳ trị vì Trung Hoa. Thái thú Giao Châu của nhà Tuỳ thần phục nhà Đường, từ đó đến năm 904, Giao Châu bị nhà Đường đô hộ. Nhà Đường đổi các quận thành châu như cũ. Năm 622, đổi Giao Châu thành An Nam Tổng Quản Phủ. Năm 679 lại đổi thành An Nam Đô Hộ Phủ, chia thành 12 châu:

- Có 3 châu là Giao Châu, Phong Châu, Trường Châu bắc Bộ ngày nay);

- Có 4 châu là Thang Châu, Chi Châu, Vũ Nga Châu, Vũ An Châu (Quảng Đông, Quảng Tây);

- Có 4 châu là Ái Châu, Phúc Lộc Châu, Diễn Châu, Hoan Châu bắc Trung Bộ);

- Lục Châu (thuộc đất Trung Quốc và vùng Quảng Ninh).


Năm 757, do tình hình rối loạn ở Trung Quốc, nhiều cuộn nổi dậy của nhân dân đánh phá các châu huyện, nhà Đường đã đổi An Nam Đô Hộ Phủ thành Trấn Nam Đô Hộ Phủ, đến năm 768 lại đổi thành An Nam Đô Hộ Phủ như cũ. Năm 863, nhà Đường bãi bỏ phủ đô hộ. Đến năm 866, sau khi đánh bại được quân Nam Chiếu, chiếm lại thành Tống Bình, phủ đô hộ mới được đặt lại ở đây(1) (Trương Hữu Quýnh, Sách đã dẫn, tr.68).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Hai, 2012, 09:52:35 PM
III. CƯƠNG GIỚI LÃNH THỔ ĐẠI VIỆT TRONG KỶ NGUYÊN ĐỘC LẬP
Năm 938, Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân Văn Lang - Âu Lạc đánh bại quân Nam Hán xâm lược, chấm dứt hơn 1000 năm đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ, cương vực lãnh thổ nước Văn Lang - Âu Lạc về cơ bản được khôi phục. Các triều đại phong kiến Việt Nam kế tiếp nhau về sau từ Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ, Trịnh - Nguyễn đã không ngừng bảo vệ cương giới và phát triển mở rộng lãnh thổ của đất nước.

1. Thời kỳ tự chủ Khúc - Ngô - Đinh - Tiền Lê
Năm 905, nhân lúc nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ khởi binh đánh chiếm thành Tống Bình, quan quân đô hộ nhà Đường rút chạy về nước. Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết Độ sứ. Nhà Đường buộc phải công nhận Khúc Thừa Dụ là người đứng đầu nước Việt(2) (Hà văn Thư, Trần Hồng Đức, Sách đã dẫn, tr.36). Họ Khúc cai quản đất nước tự chủ từ năm 905 đến năm 938, "đóng đô" ở Đại La (Tống Bình đổi thành), lãnh thổ thuộc quyền cai quản của chính quyền mới được mở rộng hơn trước, được chia thành năm cấp hành chính là lộ, phủ, châu, giáp và xã. Năm 907, Khúc Thừa Dụ chết, Khúc Hao lên thay. Năm 917, Khúc Hao chết, Khúc Thừa Mỹ lên thay.


Cũng trong năm 905, nhà Đường đổ, nhà Hậu Lương thành lập ở Trung Quốc. Năm 917, Lưu Nham không quy phục nhà Hậu Lương, thành lập tiểu quốc Nam Hán trên vùng đất Quảng Châu.

Năm 923, quân Nam Hán đánh chiếm thành Đại La, bắt được Khúc Thừa Mỹ, rồi tiến quân xuống phía nam cướp phá.

Năm 931, Dương Đình Nghệ kéo quân từ Thanh Hoá ra bao vây công phá, chiếm lại được thành Đại La, quân Nam Hán thua phải rút chạy về nước. Dương Đình Nghệ được suy tôn làm Tiết Độ Sứ, tiếp tục sự nghiệp của họ Khúc.


Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ, giành quyền Tiết độ sứ. Ngô Quyền là con rể của Dương Đình Nghệ (được cha giao cai quản Ái châu) đã tập hợp lực lượng, tiến quân ra Giao Châu trừng trị Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn bị giết, nhưng trước đó vì quá khiếp sợ đã sai người sang Nam Hán cầu cứu. Nhân cơ hội này, vua Nam Hán đã sai quân xâm lược nước Việt. Mùa đông năm 938, đại binh Nam Hán tiến vào sông Bạch Đằng, bị Ngô Quyền đánh tan.


Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Ngô Quyền làm vua được 5 năm thì mất (939 - 944), truyền ngôi vua cho con trưởng là Ngô Xương Ngập. Người em vợ Ngô Quyền là Dương Tam Kha cướp ngôi và tự xưng là Dương Bình Vương. Từ đó diễn ra cuộc tranh chấp giữa các con của Ngô Quyền là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn với Dương Tam Kha. Năm 950, Ngô Xương Văn (em Ngô Xương Ngập) lật đổ Dương Tam Kha, giành lại ngôi vua, xưng là Nam Tấn Vương, Ngô Xương Ngập xưng là Thiên Sách Vương (lúc này nước ta có hai vua), đóng đô ở Cổ Loa.


Năm 954, Ngô Xương Ngập chết. Năm 965, Ngô Xương Văn chết. Đất nước rơi vào tình trạng chia cắt, hỗn loạn. Nổi lên mười hai vùng đất biệt lập do mười hai thủ lĩnh đứng đầu, đem quân đánh chiếm lẫn nhau, sử cũ gọi là "loạn mười hai sứ quân":

- Ngô Xương Xí giữ Bình Kiều (Nông Cống, Thanh Hoá);

- Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang (Thanh Oai, Hà Tây);

- Trần Lãm giữ Bố Hải Khẩu (thị xã Thái Bình);

- Kiều Công Hãn giữ Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú);

- Nguyễn Khoan giữ Tam Đái (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc);

- Ngô Nhật Khánh giữ Đường Lâm (Phúc Thọ, Hà Tây);

- Lý Khuê giữ Siêu Loại (Thuận Thành, Bắc Ninh);

- Nguyễn Thủ Tiệp giữ Tiên Sơn (Bắc Ninh);

- Lữ Đường giữ Tế Giang (Văn Giang, Hưng Yên);

- Nguyễn Siêu giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Nội);

- Kiều Thuận giữ Hởi Hồ (Cẩm Khê, Phú Thọ);

- Phạm Bạch Hổ giữ Đằng Châu (Hưng Yên).


Loạn mười hai sứ quân không chỉ dẫn đến đất nước bị chia cắt mà còn gây ra rất nhiều khó khăn cho cuộc sống của nhân dân. Vì vậy, cuộc đấu tranh để thống nhất đất nước lại trở thành một nhu cầu sống còn của dân tộc. Sứ mệnh lịch sử đó được trao cho Đinh Bộ Lĩnh.


Nổi lên ở đất Hoa Lư từ đầu những năm 50 của thế kỷ X, lực lượng của Đinh Bộ Lĩnh nhanh chóng mạnh lên nhờ sự hưởng ứng của nhân dân. Đến cuối năm 967, Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong loạn mười hai sứ quân. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên làm vua, hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đổi tên nước thành Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (Ninh Bình), chia nước thành mười "Đạo". Đất đai lãnh thổ không có gì thay đổi lớn so với thời Ngô Vương. Từ năm 970, vua Đinh đã cử sứ thần sang giao hảo với nhà Tống. Năm 973, vua Tống phong Đinh Bộ Lĩnh là Giao Chỉ Quận Vương. Trong nhiều năm, quan hệ giữa Đại Cồ Việt và nhà Tống hoà hiếu tốt đẹp.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Hai, 2012, 09:54:25 PM
Cuối năm 979, Đĩnh Bộ Lĩnh và con trai là Đinh Liễn bị ám hại. Đinh Toàn mới sáu tuổi lên ngôi vua. Nhân cơ hội này, nhà Tống đã sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Lưu Trừng đem hơn ba vạn quân thuỷ, bộ sang đánh Đại Cồ Việt. Để tổ chức cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, triều đình nhà Đinh quyết định đưa Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi vua thay Đinh Toàn. Lê Hoàn đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi, tiếp tục củng cố nền độc lập của đất nước.


Từ những năm 70, nước Chăm Pa ở phía Nam nước Đại Cồ Việt đã cố ý lấn chiếm. Năm 980, sau khi lên ngôi vua, Lê Hoàn sai sứ sang giao hảo với Chăm Pa để vỗ yên cương vực phía Nam, tập trung lực lượng chống giặc ngoại xâm ở cương vực phía Bắc. Vua Chăm Pa đã bắt giữ các sứ thần của Đại Cồ Việt. Năm 982, sau khi đánh tan quân xâm lược nhà Tống, Lê Hoàn quyết định cầm quân đi đánh Chăm Pa. Quân Chăm Pa thua to. Vua Chăm Pa bị tử trận. Lê Hoàn sai quân phá hết thành trì của Chăm Pa rồi rút quân về nước. Quan hệ Đại Cồ Việt - Chăm Pa tạm hoà hoãn trong một thời gian.


Lên ngôi vua, Lê Hoàn xưng là Lê Đại Hành (sử gọi là nhà Tiền Lê), vẫn giữ tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, đổi mười "Đạo" thời Đinh thành mười “Lộ", phủ, châu (tương đương đơn vị hành chính cấp tỉnh ngày nay). Căn cứ vào địa danh chép trong hai đời nhà Đinh và nhà Tiền Lê và theo chú thích của Viện Sử học khi xuất bản bản dịch Đại Việt Sử Ký Toàn Thư năm 1972, người ta tìm được các địa danh thời Tiền Lê ngày nay là:

- Thuộc Ninh Bình (Hoa lư, Cổ Lãm, Đàm Gia Loan);

- Thuộc Thanh Hoá (Vũ Lũng, Hà Đông, Cử long, Châu Ái, Chi Long, Đinh Sơn);

- Thuộc Nghệ An (kênh Đa Cái);

- Thuộc Hà Tĩnh thạch Hà, Hoàn Đường, Kỳ La, cửa biển Nam Giới) 

- Thuộc Quảng Bình (Đại Lý);

- Thuộc Nam Định (cửa Đại Ác, sông Đại Hoàng);

- Thuộc Thái Bình (Bố Hải Khẩu);

- Thuộc Hưng Yên (Châu Đằng, trại Phù Lan, Mại Liên);

- Thuộc Hải Dương (Nam Sách Giang, phủ Đái);

- Thuộc Quảng Ninh (Trấn Triều Dương, châu Tô Mậu, Bạch Đằng);

- Thuộc Bắc Ninh (Tiên Du, Siêu Loại);

- Thuộc Bắc Giang (Bắc Giang, An Châu);

- Thuộc Lạng Sơn (Lạng Châu, Chi Lăng);

- Thuộc Hà Nội (Tây Phù Liệt);

- Thuộc Hà Tây (Đường Lâm, Đỗ Động Giang);

- Thuộc Phú Thọ (Châu Phong, Tam Đái);

- Thuộc Tuyên Quang (Vị Long, Đô Lương);

- Thuộc Hà Giang (Vị Long)(1) (Ban Biên giới của Chính phủ, Tập san Biên giới và Lãnh thổ (Số 5 tháng 4-1999), tr. 31-32).


Như vậy, cương vực lãnh thổ nước Đại Cồ Việt thời kỳ nhà Đinh - Tiền Lê đã bao trùm lên hầu hết các tỉnh miền Bắc Việt Nam ngày nay từ Quảng Bình trở ra cho đến Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Giang. Tuy nhiên, ở thời Tiền Lê, biên giới phía Tây vẫn chưa được định hình. Cương vực phía Nam giáp Chăm Pa ở khu vực đèo Ngang. Phía Bắc và Đông Bắc giáp đất Tống, phía Tây Bắc gần với Đại Lý (tức Nam Chiếu ở vùng Vân Nam) đều chưa ổn định. Đất đai lãnh thổ không có thay đổi gì so với thời Đinh.


Năm 1005, Lê Đại Hành chết, con là Long Việt nối ngôi cha, xưng là Lê Trung Tông, nhưng chỉ được ba ngày thì bị em là Long Đĩnh giết, cướp ngôi vua. Long Đĩnh bị bệnh trĩ, không ngồi được, phải nằm để hội thầu nên sử gọi là vua "Ngoạ triều”. Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết, triều đình suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua. Triều đại nhà Tiền Lê chấm dứt, mở ra một triều đại mới - triều đại nhà Lý.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Hai, 2012, 09:55:48 PM
2. Nước Đại Việt thời Lý (1010 - 1 225)
Lý Công Uẩn lên ngôi vua, xưng là Lý Thái Tổ, vẫn lấy tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, chia đặt mười "Lộ", phủ, châu thời Tiền Lê thành hai mươi bốn "Lộ". Năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô về thành Đại La, đặt tên kinh đô là Thăng Long. Năm 1054, đặt quốc hiệu mới là Đại Việt. Căn cứ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, người ta biết được một số địa danh thời Lý ngày nay như sau:

- Thuộc Nam Định (lộ Thiên Trường, lộ Hoàng Giang);

- Thuộc Hà Tây (lộ Quốc Oai, châu Cổ Lãm, châu Thượng Oai);

- Thuộc Quảng Ninh (lộ Hải Đông);

- Thuộc Thái Bình (lộ Kiến Xương, lộ Long Hưng);

- Thuộc Hải Dương (lộ Hồng);

- Thuộc Bắc Ninh (lộ Bắc Giang, phủ Thiên Đức);

- Thuộc Ninh Bình (lộ Trường Yên, phủ Thiên Trường);

- Thuộc Thanh Hoá (lộ Thanh Hoá);

- Thuộc Nghệ An (lộ Diễn Châu, phủ Nghệ An);

- Thuộc Hà Tỉnh (châu Hoàn Đường);

- Thuộc Quảng Bình (châu Bố Chính, Địa Lý);

- Thuộc Quảng Trị (châu Ma Linh);

- Thuộc Hà Nội (phủ Ứng Thiên);

- Thuộc Thái Nguyên (phủ Phú Lương, châu Tư Nông, châu Tuyên Hoá);

- Thuộc Cao Bằng (châu Quảng Nguyên, Thông Nông, Tư Lang, Thảng Po, Định Biên);

- Thuộc Lạng Sơn (châu Lang, Vạn Nhai, Thất Nguyên);

- Thuộc Bắc Cạn (châu Tượng Nguyên, Hạ Nông, Cảm Hoá);

- Thuộc Yên Bái (châu Định Nguyên, Trệ Nguyên);

- Thuộc Phú Thọ (châu Chân Đăng);

- Thuộc các tỉnh Tây Bắc (trấn Đà Giang)(1) (Ban Biên giới của Chính phủ, Tập san Biên giới và lãnh thổ) (số 5 tháng 4-1999), tr. 32-34).


Nhà Lý đã có những cố gắng bước đầu để quản lý cương vực đất nước, nhưng biên giới Đại Việt bấy giờ vẫn chưa rõ ràng và ổn định. Đầu thời Lý, vùng biển tiếp giáp Chiêm Thành (Chăm Pa) được tổ chức thành trại Định Phiên; dọc sông Mê Công là vùng đất thuộc quốc của Chân Lạp, vùng rừng núi phía Đông sông Mê Công vẫn còn là lãnh địa tự do của nhiều bộ tộc ít người; ở phía Tây và Tây Bắc không xác định được ranh giới với Nam Chiếu. Phải đến cuối thời Lý, biên giới Đại Việt giáp đất Tống ở phía Bắc và Đông Bắc mới tương đối ổn định. Thêm vào đó, nhà Lý luôn phải tiến hành cuộc đấu tranh để chống lại các hành động xâm lấn, quấy rối của các láng giềng. Năm 1164, nhà Tống đã buộc phải thừa nhận Đại Việt là một quốc gia riêng và kể từ đây người Trung Quốc gọi nước ta là An Nam quốc.


Đầu thời Lý, có nước Nam Chiếu ở tiếp giáp đất Tây Bắc của Đại Việt. lợi dụng địa thế xa xôi hiểm trở, người Nam Chiếu kích động thủ lĩnh châu Vị Long là Hà Trắc Tuấn nổi loạn chống lại triều Lý. Nam Chiếu còn đem hai mươi vạn quân chiếm đất để tiếp ứng cho Hà Trắc Tuấn. Châu mục Quảng Nguyên là Hoàng An Vinh không chống nổi giặc, sai quân cấp báo triều đình. Năm 1014, Dực Thánh vương được lệnh đem quân lên biên giới, cùng thổ binh đánh tan quân Nam Chiếu, thu phục lại đất Ngũ Hoa. Năm 1015, quân triều đình dẹp được loạn, bắt Hà Trắc Tuấn đem về kinh chém đầu.


Tại cương giới giáp đất Tống, nhà Lý luôn phải đối phó với những âm mưu thủ đoạn xâm lấn của người Tống. Nhà Tống thường mua chuộc các thổ tù của Đại Việt để chiếm đất đai, xúi giục dân Tống ven biên tràn sang quấy phá Đại Việt: Năm 1022, quan nhà Tống ở biên hạt Khâm Châu (Quảng Đông) liên tục xúi giục dân tràn qua biên giới lấn đất và cướp bóc của dân Đại Việt, nhà Lý phải điều động một lực lượng lớn quân đội, cùng thổ binh ở biên giới truy đuổi người Tống tới tận Khâm Châu lỵ, tình hình mới yên; trên đoạn biên giới giữa Ung Châu của nhà Tống giáp đất Lạng Châu, Thái Nguyên, năm 1023, thủ lĩnh châu Thất Khê là Lý Tự bị nhà Tống mua chuộc định đem đất ấy sáp nhập vào đất Tống, phò mã Thân Thừa Quý đem quân biên hạt Lạng Châu tiến vào đất Tống bắt được Lý Tự mặc dù bọn quan lại Ung Châu cố tình che chở v.v...


Khi vương triều Lý bắt đầu thành lập, Chiêm Thành có sai sứ sang cống (năm 1011), nhưng đến năm 1020, Lý Thái Tổ đã sai con là Khai Thiên Vương và tướng Đào Thục Phụ vào đánh Bố Chánh. Năm 1044, Lý Thái Tông đem quân tiến vào kinh đô của Chiêm Thành là Chà Bàn (Bình Định ngày nay) giết vua Chiêm là Xạ Đẩu. Bị thất bại nặng nề, Chiêm Thành bề ngoài phải thần phục, cống nạp nhà Lý, nhưng bên trong luôn tìm cơ hội đánh lại nhà Lý để báo thù. Từ những năm 1050, vua Chiêm Thành là Chế Củ thường khiêu khích Đại Việt, ra sức chuẩn bị về quân sự để chờ thời cơ đánh Đại Việt. Từ năm 1065, được nhà Tống ủng hộ, Chế Củ cắt đứt hẳn quan hệ với Đại Việt. Năm 1068, Chiêm Thành đưa quân xâm lấn biên giới, vượt biển vào cướp phá Nghệ An. Để dẹp nguy phương nam, phòng hoạ phương bắc, vua Lý Thánh Tông quyết định đánh Chiêm Thành. Năm 1069, vua Thánh Tông hạ chiếu thân chinh cầm quân đánh Chiêm Thành, bắt sống vua Chế Củ. Chế Củ phải cắt cho nhà Lý ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh (Quảng Bình và bắc Quảng Trị) để được tha về(1) (Trương Hữu Quýnh, Sách đã dẫn , tr. 135-136).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 19 Tháng Hai, 2012, 09:56:29 PM
Đến cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII, biên thuỳ và bờ biển của Đại Việt phía Nam giáp Chiêm Thành, phía Tây Nam (đoạn tây Nghệ An, Quảng Bình ngày nay) giáp Chân Lạp. Thời kỳ này, Chiêm Thành và Chân Lạp thường cấu kết với nhau liên tục xâm lấn và cướp phá vùng biên Đại Việt, nhất là trong các năm 1126, 1132, 1137, 1150, 1203, 1216. Có năm, quân Chiêm Thành và Chân Lạp tấn công Đại Việt tới hai, ba lần. Tất cả các cuộc xâm chiếm cướp phá của Chiêm Thành và Chân Lạp đều bị quân của triều đình, thổ biên và nhân dân địa phương vùng biên Đại Việt đẩy lùi. Song các cuộc chiến đó cũng gây không ít thiệt hại cho nhân dân Đại Việt. Điển hình là tháng 7-1203, một viên tướng Chiêm Thành là Bố Trì đem một số quân đến xin cư trú ở cửa biển Cơ La (cửa Nhượng, Hà Tĩnh) với lý do bị chủ đánh đuổi. Do cả tin, mất cảnh giác, tri châu Nghệ An là Đỗ Thanh và châu mục Phạm Diên đã bị Bố Trì đánh úp rồi giết chết, sau đó Bố Trì tàn phá, cướp bóc nhân dân ven biển và rút về Chiêm Thành an toàn.


Nhà Lý giữ đất không chỉ bằng sức mạnh quân sự, mà còn bằng chính sách ngoại giao. Nổi bật nhất trong lịch sử bang giao thời Lý là cuộc đấu tranh đòi vùng đất Quảng Nguyên (thuộc Cao Bằng ngày nay) ở ven biên giới bị nhà Tống bao chiếm từ sau khi Tống bị bại trận ở sông Như Nguyệt. Năm 1078, một năm sau khi đánh bại cuộc xâm lược của nhà Tống, nhà Lý đã cử một sứ bộ do Đào Nguyễn Tông dẫn đầu sang biếu vua Tống ba thớt voi với chủ trương đòi lại đất Quảng Nguyên, Bảo Lạc bị nhà Tống chiếm. Với chủ trương hoà hiếu và kiên trì, cuộc đàm phán đã đạt được thoả thuận: Nhà Lý trao trả tù binh cho Tống và Tống trả lại đất Quảng Nguyên cho Đại Việt vào năm 1079; năm 1084, Thị lang binh bộ Lê Văn Thịnh dẫn đầu một sứ bộ sang trại Vĩnh Bình (Ung Châu) để cùng nhà Tống tranh biện về vùng đất phía Tây Bắc Quảng Nguyên. Lê Văn Thịnh đã buộc nhà Tống trả lại cho Đại Việt vùng đất sáu huyện, ba động phía Tây Bắc Quảng Nguyên và định 8 cửa ải làm giới hạn phân chia lãnh thổ hai nước. Về các cuộc bang giao đòi đất giành được thắng lợi của Đại Việt, nhà sử học Phan Huy Chú bình luận: "Việc biên giới ở đời Lý được nhà Tông trả lại đất rất nhiều. Bởi vì trước có oai thắng trận, đủ làm cho nhà Tống phải phục. Sau khi sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung càng thêm khéo léo, cho nên cần gì được nấy, làm cho lời tranh biện của người Trung Quốc phải khuất và thế lực của Nam giao được mạnh. Xem đó cũng có thể biệt qua thêm cường thịnh của thời bấy giờ”(1) (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương, Tập IV, tr. 196).


Qua các sử liệu trên đây cho thấy cương vực lãnh thổ Đại Việt thời Lý đã bao trùm lên toàn bộ miền Bắc Việt Nam ngày nay, từ các tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc đến tỉnh Quảng Trị. Ngoài ra trên biển, tất cả các hải đảo ven bờ bao gồm hàng nghìn hòn đảo trên vịnh Hạ Long đã đặt dưới sự kiểm soát của vương triều nhà Lý. Năm 1172 vua Lý Anh Tông đã đi kinh lược, kiểm tra các hải đảo ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Trị ngày nay và cho vẽ bản đồ, ghi chép phong vật. Và như vậy, triều Lý đã giữ vững cương giới phía Bắc, mở rộng cương vực về phía Nam đến tỉnh Quảng Trị và kiểm soát toàn bộ hải đảo ngoài khơi vịnh Bắc Bộ ngày nay.


Năm 1028, Lý Thái Tổ mất, thái tử Lý Phật Mã lên ngôi vua, xưng là Lý Thái Tông. Năm 1054, Lý Thái Tông mất, Lý Nhật Tôn lên ngôi vua, xưng là Lý Thánh Tông, đổi tên nước là Đại Việt. Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Lý Càn Đức lên ngôi vua, xưng là Lý Nhân Tông. Năm 1127, Lý Nhân Tông mất, Lý Dương Hoán lên ngôi vua, xưng là Lý Thần Tông. Năm 1138, Lý Thần Tông mất, Lý Thiên Tộ lên ngôi vua, xưng là Lý Anh Tông. Năm 1175, Lý Anh Tông mất, Lý Long Cán (tên khác là Lý Long Trát) lên ngôi vua, xưng là lý Cao Tông. Năm 1210, Lý Cao Tông mất, Lý Hạo Sảm lên ngôi vua, xưng là Lý Huệ Tông. Năm 1224, Lý Huệ Tông truyền ngôi vua cho công chúa Chiêu Thánh, hiệu là Lý Chiêu Hoàng, rồi đi tu. Năm 1225, Lý Chiêu Hoàng trao ngôi vua cho chồng là Trần Cảnh. Vương triều Lý đến đây chấm dứt sau 216 năm cầm quyền, mở ra một trang lịch sử mới của dân tộc Việt Nam - triều đại nhà Trần.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 20 Tháng Hai, 2012, 08:23:32 AM
3. Nước Đại Việt thời Trần - Hồ (1225 - 1407)
Tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Triều Trần được dựng lên từ đó. Thời Trần, Đại Việt là một trong những quốc gia hùng cường có uy danh lừng lẫy, ngoại xâm phải kiêng sợ, lân bang phải kính nể.


Nhà Trần trải qua mười hai đời vua, trị vì được 175 năm: Năm 1225, Trần Cảnh lên ngôi vua, xưng là Trần Thái Tông (mất năm 1277); năm 1258, Thái Tông nhường ngôi cho thái tử Trần Hoảng, hiệu Trần Thánh Tông (mất năm 1290); năm 1278, Thánh Tông nhường ngôi cho thái tử Trần Khâm, hiệu Trần Nhân Tông (mất năm 1308); năm 1293, Nhân Tông nhường ngôi cho thái tử Trần Thuyên, hiệu Trần Anh Tông (mất năm 1320); năm 1314, Anh Tông nhường ngôi cho thái tử Trần Mạnh, hiệu Trần Minh Tông (mất năm 1357); năm 1329, Minh Tông nhường ngôi cho thái tử Trần Vượng, hiệu Trần Hiến Tông; năm 1341, Hiến Tông mất, Trần Hạo (con của Minh Tông) lên ngôi vua, hiệu Trần Dụ Tông; năm 1369, Dụ Tông mất, Hiến từ Tuyên Thánh Hoàng thái hậu đưa Dương Nhật Lễ lên ngôi vua; năm 1370, các tôn thất nhà Trần khởi binh giết chết Dương Nhật Lễ, đưa Trần Phủ (con của Minh Tông) lên ngôi vua, hiệu Trần Nghệ Tông; năm 1372, Nghệ Tông nhường ngôi cho em là Trần Kính làm vua, hiệu Trần Duệ Tông; năm 1376, vua Duệ Tông chết, con trưởng là Trần Hiện lên thay, hiệu Trần Phế Đế, năm 1388, Phế Đế bị ép thắt cổ chết, Trần Nhung (con của Nghệ Tông) lên làm vua, hiệu Trần Thuận Tông. Năm 1397, vua Thuận Tông bị ép dời kinh đô từ Thăng Long về Tây Đô (Thanh Hoá). Năm 1398, vua Thuận Tông lại bị ép nhường ngôi cho con trai là Trần Án làm vua, hiệu là Trần Thiếu Đế.


Dựa trên nền tảng xã hội thời Lý, nhà Trần tiếp tục xây dựng và củng cố đất nước về mọi mặt. Năm 1242, nhà Trần đổi hai mươi bốn "Lộ" thời Lý chia đặt thành mười hai "Lộ", ở phía Nam còn đặt thêm phủ Lâm Bình (vùng Quảng Bình và Quảng Trị ngày nay).


Thời Lý, biên giới Đại Việt với Trung Quốc mới chỉ được xác định khá rõ ràng ở đoạn từ Tây Bắc châu Quảng Nguyên (Cao Bằng) tới châu Vểnh An (Hải Ninh). Đến dời Trần, đoạn biên giới phía Bắc và Tây Bắc Đại Việt dần định hình. Như vậy, đến đời Trần, biên giới giữa Đại Việt và Trung Quốc cơ bản đã định hình rõ ràng, trừ đoạn cực Tây Bắc tới giữa thế kỷ XIV mới có Mường Lễ (Lai Châu) thuộc trấn Gia Hưng. Cùng với việc không ngừng củng cố cương vực lãnh thổ ở phía Bắc, nhà Trần đã ba lần đánh lui và đè bẹp hoàn toàn ý chí xâm lược của quân Nguyên Mông (các năm 1258, 1285, 1288), bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Đại Việt.


Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1242, nhà Trần chia đất nước làm 12 lộ, nhưng sử không thép rõ tên mười hai "Lộ” là gì (đơn vị hành chính như cấp tỉnh ngày nay). Song, dưới thời Trần người ta thấy ngoài các đơn vị hành chính được gọi là "Lộ" còn có các đơn vị hành chính được gọi là "Phủ” và "Trấn" vào những thời điểm khác nhau, tuỳ theo đặc điểm địa lý của từng đơn vị hành chính.


Theo biên niên sử trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thu, người ta tìm thấy các đơn vị hành chính sau đây:

Những đơn vị hành chính gọi là "Lộ":

- Thiên Trường (1246) nay thuộc Nam Định.

- Long Hưng (1246) nay thuộc Hưng Yên, Thái Bình.

- Trường Yên (1248) nay thuộc Ninh Bình.

- Kiến Xương (1246) nay thuộc Thái Bình.

- Khoái (1246) nay thuộc Hưng Yên.

- Hải Đông (1266) nay là Quảng Ninh, tồn tại đến 1397.

- Yên Khang (1292) nay thuộc Ninh Bình.

- Diễn Châu (1375) nay thuộc Nghệ An.

- Quốc Oai Thượng (1394) nay thuộc Vĩnh Phúc.

- Đông Đô (1397) nay là Hà Nội.

- Bắc Giang (1397) nay thuộc Bắc Ninh.

- Tam Giang (1397) nay thuộc các vùng ở xung quanh ngã ba Việt Trì, trong đó có những phần đất thuộc các tỉnh Hà Tây, Phú Thọ, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc.

- Sơn Nam (1397) xuất hiện vào cuối đời Trần. Giới hạn lộ này không được rõ, nhưng vào đời Lê Hồng Đức, lộ này bao gồm các tỉnh phía Nam châu thổ sông Hồng.

- Kinh Bắc (1397), xuất hiện cuối đời Trần, bao gồm những nơi nào không rõ, vì lúc này vẫn có lộ Bắc Giang, ở vào địa phận tỉnh Bắc Ninh ngày nay.


Những đơn vị hành chính gọi là "phủ”:

- Thanh Hoá, nay là tỉnh Thanh Hoá, được gọi là "phủ” suốt thời Trần.

- Thiên Trường, thấy chép vào các năm 1261, 1299, năm 1246 gọi là "lộ (đã đề cập ở trên).

- Long Hưng, chép vào những năm 1288, 1312 mà năm 1246 gọi là "Lộ Long Hưng" (đề cập ở trên).

- Trung Đô, nay là Hà Nội, chép vào năm 1377, năm 1397 gọi là "Lộ Đông Đô" (đề cập ở trên).

- Lâm Bình, nay là Quảng Bình, chép vào năm 1361, 1372, năm 1375 đổi là "phủ Tân Bình".

- Nghệ An, nay gồm Nghệ An, Hà Tĩnh, chép vào năm 1390. Có lúc chỉ chép địa danh "Nghệ An" (1313) hoặc chép là "Trấn Nghệ An" (1351, 1356), "Trại Nghệ An" (1372).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 20 Tháng Hai, 2012, 08:24:23 AM
Những đơn vị được gọi là "Trấn" gồm có:

- Đà Giang, gồm các tỉnh Tây Bắc ngày nay, chép năm 1370.

- Thái Nguyên, gồm tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, chép năm 1375.

- Quảng Oai, nay thuộc tỉnh Hà Tây, chép năm 1375 và 1383.

Ngoài ra, còn có hai châu có vị trí tương đương đơn vị hành chính cấp lộ, phủ, trấn là "Châu Hoá" và "Châu Thuận". Địa danh Châu Hoá chép vào năm 1535, 1316 và 1374, Châu Thuận chép vào năm 1374. Đây là hai châu được thành lập trên đất Ô - Lý do vua Chiêm Thành Chế Mân dâng vua Trần Anh Tông (1293-1314) làm lễ vật cưới Huyền Trân Công Chúa vào năm 1306. Châu Thuận nay thuộc tỉnh Thừa Thiên. Châu Hoá nay thuộc Bắc Quảng Nam.


Địa danh cấp huyện hoặc thị trấn thời Trần thấy chép Gia Lâm, Vũ Ninh, Đông Ngàn, Vân Đồn, Khâu ôn, Tây Kết, Phả Lại, Vạn Kiếp (1266), Tiên Du (1383), Thuỷ Vĩ (1384), Đồng Đăng (1395).


Qua các địa danh trên thấy rõ, cương giới nước Đại Việt đời Trần có mở rộng chút ít về phía Nam so với cương giới nước Đại Việt đời Lý, được giới hạn bởi các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang ngày nay ở phía Bắc, sông Thu Bồn ở phía Nam, quần đảo Hạ Long ở phía Đông. Nếu ghi tên các lộ, phủ đời Trần được chép trong sử sách trên bản đồ hiện đại, chúng ta sẽ thấy lãnh thổ nước Đại Việt đời Trần bao gồm các tỉnh thuộc Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (ngày nay đến sông Thu Bồn tỉnh Quảng Nam ngày nay)(1) (Ban Biên giới của Chính phủ, Tập san Biên giới và Lãnh thổ (Số 6), tr. 29-30).


Đại việt vào cuối thế kỷ XIV, ở phía Bắc nhà Minh ngày càng lộ rõ ý đồ xâm lược; ở phía Tây nước Lạng Xang thống nhất đang phát triển mạnh trên đất Lào; ở phía Nam quân Chiêm Thành không ngừng gây nạn cướp bóc ven biên giới. Trong khi đó, nội bộ triều Trần đã trở nên mục nát, suy yếu.


Năm 1400, Hồ Quý Ly là một đại thần của nhà Trần phế truất vua Thiếu Đế, tự xưng vua lập ra triều Hồ, đổi tên nước thành Đại Ngu, đóng đô ơ Tây Đô (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá).

Hồ Quý Ly làm vua được một năm, đến năm 1401 bắt chước nhà Trần nhường ngôi cho con thứ hai là Hồ Hán Thương lên làm vua, còn mình thì xưng là Thái thượng hoàng điều khiển triều đình. Năm 1402, nhà Hồ tiến đánh Chiêm Thành, buộc vua Chiêm Thành phải nộp hai vùng đất Chiêm Động và Cổ Luỹ (vùng đất bắc Quảng Ngãi ngày nay), nhà Hồ đổi tên thành 4 châu là Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa (sau đó lại ghép thành hai châu là Thăng Hoa và Tư Nghĩa). Năm 1404, tiếp tục đánh Chiêm Thành lần nữa nhưng không đạt kết quả gì, phải rút quân về. Trên biên giới phía Bắc, để cầu sự hoà hoãn với nhà Minh, cha con họ Hồ đã phạm một sai lầm mà các sử gia phong kiến về sau cho rằng "dù giết cũng chưa hết tội". Đó là việc năm 1405 họ Hồ cắt đất Lộc Bình (trấn Lạng Sơn) cho nhà Minh.


Cuối năm 1406, nhà Minh mượn cớ phù Trần diệt Hồ đã đem quân đánh Đại Ngu, quân nhà Hồ thua to, Hồ Quý Ly cùng đình thần phải rút về Tây Đô. Năm 1417, quân Minh tấn công chiếm Tây Đô, bắt được cha con Hồ Quý Ly. Triều đại Hồ chấm dứt từ đây. Trong thời gian trị vì đất nước, họ Hồ đổi tên một số trấn, trong đó có Thanh Hoá đổi thành trấn Thanh Đô. Sau năm 1417, quân Minh tiếp tục đánh vào Thuận Hoá, chiếm nốt vùng đất phía nam. Trong lúc đó, quân Chiêm Thành cũng thừa cơ đánh ra, lấy lại vùng Thăng Hoa (Quảng Nam, Quảng Ngãi).


Năm 1407, một số người yêu nước lập Trần Ngỗi (con thứ của Trần Nghệ Tông) lên làm vua, hiệu Giản Định Đế, đổi tên nước trở lại tên Đại Việt (sử cũ gọi là nhà Hậu Trần). Năm 1409, Trần Quý Khoáng (cháu nội của Trần Nghệ Tông) làm vua thay Giản Định Đế, hiệu Trung Quang Đế lãnh đạo nhân dân chống lại quân Minh. Đến cuối năm 1413, do lực lượng yếu không thể chống lại được quân Minh, Trùng Quang Đế và quần thần bị quân Minh bắt đưa về Trung Quốc, trên đường đi vua tôi nhà Trần đã nhảy xuống biển tự tử. Nhà Hậu Trần chấm dứt từ đó.


Đến thời điểm này, cương giới Đại Việt ở phía Bắc cơ bản giữ nguyên như thời Lý (ngoài việc vùng Lộc Bình bị nhà Hồ cắt cho nhà Minh), ở phía Nam lãnh thổ đã mở rộng thêm đến địa phận thuộc tỉnh Quảng Ngãi ngày nay.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 20 Tháng Hai, 2012, 08:31:24 AM
4. Nước Đại Việt thời thuộc Minh (1407 – 1427)(1)
(Ban Biên giới của Chính phủ, Tập san Biên giới và Lãnh thổ (Số 7), tr.36-37)

Từ năm 1414 đến năm 1427, nước Đại Việt một lần nữa trở thành quận huyện của phong kiến phương Bắc.
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quân Minh vào Đông Đô (Hà Nội ngày nay) tháng 12 năm Bính Tuất (1406). Tháng tư năm Đinh Hợi (1407), đặt "Giao Chỉ thừa tuyên bố chính sứ ty" biến nước Đại Việt thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh của Trung Quốc. Theo quy chế hành chính của Trung Quốc thời đó, dưới cấp "bố chính sứ ty" có phủ, châu, huyện. Đối với Đại Việt, nhà Minh đặt làm "bố chính sứ ty", bên dưới cũng đặt các đơn vị phủ, châu, huyện. Theo sách Thiên hạ quận quốc lợi bệnh thư của Cố Viêm Vũ đời Thanh thì năm 1407, nhà Minh đặt 15 phủ và 5 châu trực thuộc. Dưới phủ là châu, dưới châu là huyện dựa trên cơ sở hệ thống hành chính thời Trần - Hồ. Tuy nhiên, trong thời kỳ thuộc Minh một số châu, huyện được tách ra hoặc nhập lại, hoặc thay tên mới. Song về cơ bản các đơn vị hành chính từ cấp phủ đến cấp huyện vẫn giữ nguyên tên cũ thời Trần - Hồ. Cụ thể:

- Phủ Giao Châu gồm 5 châu, 23 huyện thuộc vùng Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc ngày nay;

- Phủ Bắc Giang gồm 3 châu, 13 huyện ở vào vùng Bắc Ninh và huyện Việt Yên ngày nay, vùng huyện Đa Phúc trước đây;

- Phủ Lạng Giang gồm 3 châu, 15 huyện ở vào vùng Bắc Giang, Hải Dương ngày nay Phủ Tam Giang gồm 3 châu, 9 huyện ở vùng Phú Thọ, Tuyên Quang ngày nay;

- Phủ Kiến Bình (phủ Kiến Hưng cũ) gồm 1 châu, 9 huyện ở vào vùng Ninh Bình ngày nay;

- Phủ Tân Yên (phủ Tân Hưng cũ) gồm 3 châu, 21 huyện ở vào vùng Quảng Ninh, Hải Phòng ngày nay;

- Phủ Kiến Xương gồm 1 châu, 9 huyện ở vào vùng Hưng Yên, Thái Bình ngày nay;

- Phủ Phụng Hoá (phủ Thiên Trường cũ) gồm 4 huyện ở vào vùng Nam Định ngày nay;

- Phủ Thanh Hoá gồm 3 châu, 19 huyện ở vào vùng Thanh Hoá ngày nay Phủ Trấn Man gồm 4 huyện ở vào vùng Thái Bình ngày nay;

- Phủ Lạng Sơn gồm 7 châu, 16 huyện ở vào vùng Lạng Sơn ngày nay;

- Phủ Diễn Châu gồm 1 châu, 4 huyện ở vào vùng Diễn Châu, Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An ngày nay;

- Phủ Nghệ An gồm 2 châu, 12 huyện ở vào vùng Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay;

- Phủ Tân Bình gồm 2 châu, 9 huyện ở vào vùng Quảng Bình ngày nay;

- Phủ Thuận Hoá gồm 2 châu, 11 huyện ở vào vùng Quảng Trị, Thừa Thiên ngày nay;

- Châu Thái Nguyên gồm 11 huyện ở vào vùng Thái Nguyên ngày nay;

- Châu Tuyên Hoá (trấn Tuyên Quang cũ) gồm 9 huyện ở vào vùng Tuyên Quang, Hà Giang ngày nay;

- Châu Gia Hưng gồm 3 huyện ở vào vùng Thanh Sơn (Phú Thọ), Phúc Yên, Mộc Châu (Sơn La) ngày nay;

- Châu Quy Hoá gồm 4 huyện ở vào vùng Yên Bái, Lào Cai ngày nay;

- Châu Quảng Oai gồm 2 huyện ở vào vùng Quảng Oai, Tùng Thiện (Sơn Tây) ngày nay.


Cùng năm 1407, hai châu Thái Nguyên, Tuyên Hoá được nâng lên thành phủ. Năm 1415, nhà Minh đặt thêm phủ Thăng Hoa trên phần đất Chiêm Thành mà nhà Hồ đã đặt 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa năm 1402, lãnh 4 châu, 11 huyện. Tổng cộng Đại Việt thời thuộc Minh có 18 phủ, 43 châu, 177 huyện. Cương giới lãnh thổ không có biến đổi lớn ngoài việc một số phủ, châu, huyện bị đổi tên hoặc điều chỉnh lại địa giới.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 20 Tháng Hai, 2012, 08:37:28 AM
5. Nước Đại Việt thời Lê Sơ (1428 - 1788)
Năm 1418, Lê Lợi lãnh đạo nhân dân không nhà Minh. Năm 1428, lật đổ ách cai trị của nhà Minh, giành lại Đại Việt, lập nên triều đại nhà Lê. Lê lợi lên ngôi vua, hiệu Lê Thái Tổ, giữ tên nước là Đại Việt đóng đô ở Đông Đô (Hà Nội). Năm 1433, Thái Tổ mất, con là Lê Nguyên Long lên làm vua, hiệu Lê Thái Tông. Năm 1442, Thái Tông bị bạo bệnh chết, con là Lê Bang Cơ (mới hai tuổi) lên làm vua, hiệu Lê Nhân Tông. Năm 1459, Nhân Tông bị thái tử Nghi Dân giết chết, cướp ngôi. Năm 1460, triều thần truất ngôi Nghi Dân, lập hoàng tử Lê Tư Thành lên làm vua, hiệu Lê Thánh Tông. Năm 1497, vua Thánh Tông mất, thái tử Lê Tăng lên làm vua, hiệu Lê Hiến Tông. Năm 1504, vua Hiến Tông mất, con là Lê Thuần lên làm vua, hiệu Lê Túc Tông, trị vì được 6 tháng thì bị bệnh mất, trước khi chết đã chỉ định anh trai là Lê Tuấn lên thay ngôi. Năm 1504, Lê Tuấn làm vua, hiệu Lê Uy Mục, rất tàn ác, dân gian gọi là "vua quỷ". Năm 1509, Lê Uy Mục bị bức tự tử, Lê Oanh (cháu nội vua Lê Thánh Tông) lên làm vua, hiệu Lê Tương Dực, rất gian dâm, người đương thời gọi là “vua lợn". Năm 1516, Tương Dực bị đâm chết, Lê Huệ (cháu bốn đời của Lê Thánh Tông) lên ngôi, hiệu Lê Chiêu Tông (năm 1526 bị Mạc Đăng Dung giết chết). Năm 1522, Lê Chiêu Tông bị truất ngôi, em là Lê Xuân lên làm vua, hiệu Lê Cung Hoàng. Năm 1527, Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi (sau đó ép vua và thái hậu tự tử). Như vậy, kể từ khi Lê Thái Tổ lên ngôi năm 1428 đến khi Lê Cung Hoàng bị giết năm 1527, trải qua 10 đời vua, trị vì cả thảy 99 năm, các nhà sử học gọi là triều Lê Sơ.


Năm 1428, sau khi khôi phục lại nền độc lập cho Đại Việt, nhà Lê Sơ chia nước làm năm đạo là Đông, Tây, Nam, Bắc (tương ứng với Bắc Bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hoá vào đến Thuận Hoá). Cụ thể là(1) (Ban Biên giới của Chính phủ, Tập san Biên giới và Lãnh thổ (Số 8 ), tr. 11-12):

- Đông Đạo gồm các tỉnh Hải Dương, Quảng Yên (nay là tỉnh Quảng Ninh);

- Tây Đạo gồm các tỉnh Sơn Tây (cũ), Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu ngày nay;

- Nam Đạo gồm các tỉnh Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình ngày nay;

- Bắc Đạo gồm các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Cao Bằng, dạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn ngày nay;

- Hải Tây Đạo gồm các tỉnh từ Thanh Hóa trở vào cho đến đèo Hải Vân.  


Năm 1466, lại chia nước thành 12 "Đạo thừa tuyên" (tên gọi đơn vị hành chính cấp tỉnh thời đó):

- Thanh Hóa (sau đổi là Thanh Hoa, nay là tỉnh Thanh Hóa);

- Nghệ An (bao gồm cả tỉnh Hà Tĩnh ngày nay);

- Thuận Hóa (bao gồm cả Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và Bắc Quảng Nam ngày nay (huyện Điện Bàn và huyện Hoà Vang);

- Thiên Trường năm 1469 đổi là Sơn Nam) bao gồm các tỉnh Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam và phía Nam tỉnh Hà Tây ngày nay);

- Quốc Oai (năm 1469 đổi thành Sơn Tây) bao gồm tỉnh Sơn Tây cũ và các tỉnh Vĩnh Phúc, một phần tỉnh Phú Thọ ngày nay;

- Bắc Giang (năm 1469 đổi thành Kinh Bắc), bao gồm Bắc Ninh, Bắc Giang ngày nay; An Bang nay là Quảng Ninh);

- Hưng Hóa (bao gồm các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu ngày nay);

- Tuyên Quang (gồm tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang - Thái Nguyên (bao gồm cả Bắc Cạn, Cao Bằng ngày nay);

- Phủ Trung Đô, tức kinh thành Thăng Long (năm 1 469 đổi làm phủ Phụng Thiên).


Qua phạm vi địa giới năm đạo năm 1428 và 12 đạo thừa tuyên năm 1466 thấy rõ cương giới lãnh thổ nước Đại Việt thời Lê Sơ bao trùm lên các tỉnh Bắc bộ và các tỉnh Bắc Trung Bộ ngày nay, bao gồm cả hai huyện Điện Bàn và Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, bên kia là đèo Hải Vân.


Năm 1469, nhà Lê Sơ xác lập bản đồ các phủ, huyện châu thuộc 12 thừa tuyên và phủ Trung Đô. So sánh thấy địa giới hành chính 12 thừa tuyên và Phủ Trung Đô không thay đổi, chỉ đổi tên 5 thừa tuyên như trên đã đề cập và định rõ địa giới phủ, huyện, châu thuộc 12 thừa tuyên và Phủ Trung Đô.


Năm 1471, sau khi chiến vùng đất ở phía Nam Thuận Hoá cho đến đèo Cù Mông (từ phía Nam huyện Điện Bàn đến Đèo Cả ngày nay), nhà Lê Sơ lập thêm thừa tuyên Quảng Nam. Như vậy, đến thời gian này nước Đại Việt gồm 13 thừa tuyên (cấp tỉnh ngày nay) và phủ Trung Đô (tức kinh thành Thăng Long).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 20 Tháng Hai, 2012, 08:40:32 AM
Vào năm Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông cho ban hành tập "Bản đồ Thiên hạ”, thường được gọi là Bản đồ Hồng đức được làm trên cơ sở bản đồ do các thừa tuyên gửi về được thực hiện theo chỉ dụ của vua Lê Thánh Tông năm Quang Thuận thứ 8 (1467). Sự kiện này được Đại Việt Sử Ký Toàn Thu chép như sau: "Mùa Hạ, tháng Tư, ngày mồng năm, định bản đồ thiên hạ: 13 xứ thừa tuyên có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6.851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguyên, 30 trường".


Tập Bản đồ Hồng Đức gồm có 15 tấm bản đồ. Trong đó có một bản đồ cả nước, một bản đồ phủ Trung Đô, 13 bản đồ các thừa tuyên cùng bản liệt kê tên phủ, huyện, châu thuộc cả nước. Trên mỗi bản đồ, hình thế núi sông tổng quát cùng vị trì các phủ, huyện, châu, danh lam thắng cảnh của đơn vị hành chính liên quan đều được thể hiện.


Bản đồ cả nước mang tên An Nam đồ được thể hiện phía Đông giáp biển cả. Phía Tây giáp nước Ai-lao. Phía Bắc giáp Trung Quốc với núi Phân Mao ở Quảng Đông, ải Quan (tức ải Nam Quan, nay là Hữu Nghị Quan) ở Quảng Tây, Bạch Thành (tức Bạch Mã thành, nay là huyện Mã Quan) ở Vân Nam. Phía Nam giáp Chiêm Thành ở núi Thạch Bi (nay là Đèo Cả, dải núi ngăn cách tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa ngày nay).


Qua địa giới hành chính thể hiện trên bản đồ này có thể thấy rõ phạm vi cương giới, lãnh thổ nước Đại Việt thời Lê Sơ bao gồm miền Bắc Việt Nam và được mở rộng về phía Tây giáp nước Lào, kéo dài xuống phía Nam đến tỉnh Phú Yên ngày nay.


Bản đồ Phủ Trung Đô thể hiện phía Đông là sông Hồng. Phía Tây là sông Tô Lịch bên ngoài bức tường thành Thăng Long. Phía Nam là dải đất ven đô bên ngoài bức tường thành nay là đường Đại La, đường Đại Cồ Việt và đường Trần Khát Chân. Phía Bắc là Hồ Tây. Ở giữa là thành Thăng Long với Cấm Thành hình vuông mà tâm là Điện Kính Thiên.


Bản đồ các thừa tuyên được xếp theo thứ tự: Thanh Hoa, Nghệ An, Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn, An Bang, Thuận Hóa, Quảng Nam.


Thanh Hoa là thừa tuyên được đặt ở hàng đầu, có thể do nhà Lê Sơ coi đây là nơi Lê Thái Tổ dựng nên cơ nghiệp, là quê hương của triều Lê. Trên bản đồ người ta thấy Tây Kinh được thể hiện ở miền thượng du Thanh Hóa ngày nay.


Sau đây là các đơn vị hành chính phủ, huyện, châu của các thừa tuyên và phủ Trung Đô được thể hiện trong tập bản đồ này.

- Phủ Trung Đô: 1 phủ, 2 huyện.

+ Phủ Phụng Thiên.

+ 2 huyện (Vinh Xương, Quảng Đức).

- Thừa tuyên Thanh Hoa: 6 phủ, 22 huyện, 4 châu.

+ Phủ Thiệu Thiên: 8 huyện (Lương Giang, Vĩnh Ninh, Côn Dương, Đông Sơn, An Định, Cẩm Thuỷ, Bình Giang, Thạch Thành).

+ Phủ Hà Trung: 4 huyện (Hoẵng Hóa, Thuần Hậu, Nga Giang, Tống Giang).

+ Phủ Tĩnh Ninh: 3 huyện (Nông Cống, Quảng Xương, Ngọc Sơn).

+ Phủ Trường Yên: 3 huyện (Gia Viễn, Yên Mô, Yên Ninh).

+ Phủ Thiên Quan: 3 huyện (Phụng Hóa, An Hóa, Lạc Thổ). Hai phủ Trường Yên và Thiên Quang năm 1831 được đặt thành tỉnh Ninh Bình.

+ Phủ Thanh Đô: 1, huyện, 4 châu (Thọ Xuân, Gia Quan, Lương Chính, Tầm Châu, Sầm Châu). Hai huyện Tầm Châu và Sầm Châu nay thuộc Lào.

- Thừa tuyên Nghệ An: 9 phủ, 25 huyện, hai châu.

+ Phủ Đức Quang: 6 huyện (La Giang, Thiên Lộc, Nghi Xuân, Châu Phúc, Hương Sơn, Thanh Giang).

+ Phủ Diễn Châu: 2 huyện (Đông Thành, Quỳnh Lưu).

+ Phủ Anh Đô: 2 huyện (Hưng Nguyên, Nam Đàn).

+ Phủ Hà Hoa: 2 huyện (Thạch Hà, Kỳ Hoa).

+ Phủ Trà Lân: 4 huyện (Kỳ Sơn, Hội Ninh, Tương Dương, Vĩnh Khang).

+ Phủ Quỳ Châu: 2 huyện (Trung Sơn, Thuỳ Vân).

+ Phủ Ngọc Ma: 1 huyện (Trịnh Cao).

+ Phủ Lâm An: 1 châu (Quy Hợp).

+ Phủ Trấn Ninh: 7 huyện (Khang Vinh, Minh Quảng, Cảnh Thuần, Kim Sơn; Thanh Vị, Chu Lương, Trung Thuận nay thuộc Lào).

- Thừa tuyên Sơn Nam: 8 phủ, 36 huyện.

+ Phủ Thường Tín: 3 huyện (Long Đàm, Thượng Phúc, Phù Vân).

+ Phủ Khoái Châu: 5 huyện (Đông An, Thiên Thi, Kim Động, Tiên Lữ, Phù Dung).

+ Phủ Ứng Thiên: 4 huyện (Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh, Hoài An).

+ Phủ Lỵ Nhân: 5 huyện (Duy Tân, Kim Bảng, Thanh Liêm, Nam Xương, Bình Lục).

+ Phủ Thiên Trường: 4 huyện (Mỹ Lộc, Thượng Hiền, Tây Châu, Giao Thuỷ).

+ Phủ Tân Hưng: 4 huyện (Ngự Thiên, Diên Hà, Thần Khê, Thanh Lan)

+ Phủ Kiến Xương: 3 huyện (Thủ Trì, Vũ Nga, Chân Định).

+ Phủ Thái Bình: 4 huyện (Quỳnh Côi, Đông Quan, Phụ Dực, Thụy Anh).

- Thừa tuyên Sơn Tây: 6 phủ, 26 huyện.

+ Phủ Quốc Oai: 5 huyện (Từ Liêm, Đan Phượng, Phúc lộc, Ninh Sơn, Thạch Thất).

+ Phủ Tam Đới: 6 huyện (Yên Lãng, Yên Lạc, Bạch Hạc, Phú Ninh, Lập Thạch, Tân Phong).

+ Phủ Thao Giang: 4 huyện (Sơn Vi, Thanh Ba, Hoa Khê, Hạ Hoa).

+ Phủ Đoan Hùng: 5 huyện (Đông Lan, Tây Lan,Để Giang, Đương Đạo Tam Dương).

+ Phủ Đà Dương: 2 huyện (Tam Nông, Bất Bạt).

+ Phủ Quảng Oai: 2 huyện (Mỹ Lương, Ma Nghĩa).

- Thừa tuyên Kinh Bắc: 4 phủ, 20 huyện.

+ Phủ Thuận An: 5 huyện (Gia Lâm, Thiệu Tài, Siêu Loại, Tế Giang, Gia Định).

+ Phủ Từ Sơn: 5 huyện (Tiên Du, Yên Phong, Quế Dương, Đông Ngàn, Vũ Ninh).

+ Phủ Bắc Hà: 4 huyện (Tân Phúc, Hiệp Hòa, Kim Hoa, Yên Việt).

+ Phủ Lạng Giang: 6 huyện (Phượng Nhỡn, Hữu Lũng, Yên Dũng, Yên Thế, Lục Ngạn, Bảo Lộc).

+ Phủ Cao Bình: 4 châu (Thượng Lang, Hạ Lang, Thạch Lam, Quảng Uyên).

- Thừa tuyên Tuyên Quang: 1 phủ, 1 huyện, 5 châu.

+ Phủ Yên Bình: 1 huyện, 5 châu (Sùng Yên, Thu Vật, Lục Yên, Đại Man, Bình Nguyên, Bảo Lạc).

- Thừa tuyên Hưng Hóa: 3 phủ, 4 huyện, 17 châu.

+ Phủ Gia Hưng: 1 huyện, 5 châu (Thanh Nguyên, Phủ Hoa, Mộc Châu, Mai Châu, Việt Châu, Thuận Châu).

+ Phủ Quy Hóa: 3 huyện, 2 châu (Trấn Yên, Yên Lập, Văn Chấn, Văn Bàn, Thuỷ Vỹ).

+ Phủ Yên Tây: 10 châu (Luân Châu, Lai Châu, Quỳnh Nhai, Chiêu Tấn, Tung Lăng, Lễ Tuyên, Hoang Nham, Hợp Phì, Khiêm Châu, Tuy Phụ).

- Thừa tuyên Lạng Sơn: 1 phủ, 7 châu.

+ Phủ Trường Định: 7 châu (Thất Tuyền, Văn Lãng, Văn Uyên, Ôn Châu, Thoát Lãng, Lộc Bình, An Bác).

- Thừa tuyên Hải Dương: 4 phủ, 18 huyện.

+ Phủ Thượng Hồng: 3 huyện (Đường Hào, Đường Yên, Cẩm Giàng).

+ Phủ Hạ Hồng: 4 huyện (Trường Tân, Thanh Miện, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại).

+ Phủ Nam Sách: 4 huyện (Thanh tâm, Chí Linh, Bình Hà, Tân Minh).

+ Phủ Kinh Môn: 7 huyện (Giáp Sơn, Đông Triều, An Lão, Nghi Dương, Kim Thành, Thuỷ Đường, An Dương).

- Thừa tuyên Thái Nguyên: 3 phủ, 8 huyện, 6 châu.

+ Phủ Phú Bình: 8 huyện, 1 châu (Phổ Yên, Đại Từ, Tư Nông, Bình Tuyền, Động Gia, Phú Lương, Văn Lãng, Tuyên Hóa, Vũ Nhai).

+ Phủ Thông Hóa: 1 huyện, 1 châu (Cảm Hóa, Bạch Thông).

- Thừa tuyên An Bang: 1 phủ, 3 huyện, 4 châu.

+ Phủ Hải Đông: 3 huyện, 4 châu (Hoành Bồ, Yên Hưng, Chi Phong, Tân Yên, Vạn Ninh, Vĩnh An, Vân Đồn). Châu Vĩnh An đời Mạc đã cắt cho Trung Quốc, nay thuộc huyện Phòng Thành, tỉnh Quảng Tây.

- Thừa tuyên Thuận Hóa: 2 phủ, 6 huyện, 4 châu.

+ Phủ Tân Bình: 2 huyện, 2 châu (Kiến Lộc, Lệ Thuỷ, Minh Linh, Bố Chính).

+ Phủ Triệu Phong: 6 huyện, 2 châu (Vũ Xương, Đan Điền, Hải Lăng, Kim Trà, Tư Vang, Điện Bàn, Thuận Bình, Sa Bôi).

- Thừa tuyên Quảng Nam: 3 phủ, 9 huyện.

+ Phủ Thăng Hoa: 3 huyện (Lê Giang, Hà Đông, Hy Giang).

+ Phủ Tư Nghĩa: 3 huyện (Bình Sơn, Mộ Hoa, Nghĩa Giang).

+ Phủ Hoài Nhân: 3 huyện (Bồng Sơn, Phù Ly, Trung Viễn).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 20 Tháng Hai, 2012, 08:42:53 AM
Năm 1497, Lê Thánh Tông qua đời, nhà Lê bắt đầu suy yếu. Đặc biệt từ đời Duy Mục đến đời Cung Hoàng đế (1505 - 1527), các vua Lê hoang dâm, tàn bạo hoặc yếu hèn không điều khiến nổi công việc triều chính, khiến các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổi lên ở khắp nơi. Năm 1527, Mạc Đăng Dung sau khi dẹp yên các cuộc khởi nghĩa nông dân, đã phế truất vua Lê, lên làm vua và lập ra nhà Mạc. Năm 1529, Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con trai là Mạc Đăng Doanh. Năm 1540, Mạc Đăng Doanh chết, con trưởng là Mạc Phúc Hải lên làm vua. Năm 1546, Mạc Phúc Hải chết, con trưởng là Mạc Phúc Nguyên kế vị. Năm 1564, Mạc Phúc Nguyên chết, con cả là Mạc Mậu Hợp kế vị. Từ khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê Sơ, một số cựu thần của nhà lê đã tập hợp lực lượng trung hưng nhà Lê (lập Lê Duy Ninh lên làm vua, hiệu Lê Trang Tông). Năm 1592, hợp quân Lê - Trịnh bắt được Mạc Mậu Hợp, mang ra chém đầu ở bãi cát Bồ Đề. Như vậy, họ Mạc từ Mạc Đăng Dung đến Mạc Mậu Hợp truyền ngôi được 5 đời thì mất, trị vì tổng cộng 65 năm. Tuy nhiên, con cháu họ Mạc đã rút lên Cao Bằng, đến năm 1677 mới bị diệt hẳn (gồm Mạc Toàn năm 1592; Mạc Kính Chỉ từ 1592 - 1593; Mạc Kính Cung từ năm 1593 - 1625; Mạc Kính Khoan từ năm 1625 - 1638; Mạc Kính Vũ từ năm 1638 - 1677).


Trong thời gian trị vì đất nước, nhà Mạc đã dựa vào nhà Minh ở Trung Quốc để đối phó với lực lượng trung hưng của nhà Lê. Từ năm 1536, nhà Minh thực hiện thủ đoạn răn đe, khống chế nhà Mạc, đã lập một đạo quân xâm lược lớn với danh nghĩa phò Lê diệt Mạc. Năm 1438, đạo quân gồm hai mươi tám vạn quân Minh áp sát Đại Việt. Quân Minh ra điều kiện cha con Mạc Đăng Dung đầu hàng thì chúng sẽ không tấn công. Triều đình Mạc đã chấp nhận điều kiện của quân Minh và cho sứ giả lên biên giới hẹn ngày "tự trói mình chịu tội". Tháng 11-1540, Mạc Đăng Dung đem cháu là Văn Minh cùng văn võ bá quan của triều thần gồm bốn mươi hai người "mỗi người đều cầm thước, buộc dây vào cổ, đi chân không đến bờ rạp ở mạc phủ nhà Minh, dập đầu quỳ dâng tờ biểu xin hàng, biên hết đất đai, quân dân, quan chức trong nước để xin phân xử, nộp cát động Tê Phù, Kim Đặc, Cổ Vân, Liễu Cát, An Lương, La phù của châu”(1) (Ngô Sỹ Liên, Toàn thư, Tập IV, tr. 132 (Các địa danh này nằm sâu trong địa phận Quảng Đông của Trung Quốc ngày nay)). Nhà Minh nhanh chóng chấp nhận món quà sáu động đất đai ven biên giới Đông Bắc Đại Việt và ra lệnh bãi binh.


Năm 1533, nhà Lê trung hưng, Lê Duy Ninh (con vua Lê Chiêu Tông) làm vua, hiệu Lê Trang Tông. Năm 1548, Trang Tông chết, con là Lê Huyên lên làm vua, hiệu Lê Trung Tông. Năm 1556, Trung Tông chết, Lê Duy Bang (cháu ruột năm đời của Lê lợi) lên ngôi, hiệu Lê Anh Tông. Năm 1573, Anh Tông bị bức hại chết, con thứ năm là Lê Duy Đàm kế vị, hiệu Lê Thế Tông. Năm 1599, Thế Tông chết, con là Lê Duy Tân lên làm vua, hiệu Lê Kính Tông. Năm 1619, Kính Tông bị bức thắt cổ chết, con là Lê Duy Kỳ lên làm vua, hiệu Lê Thần Tông. Năm 1643, Lê Thần Tông nhường ngôi cho con trưởng là Lê Duy Hựu, hiệu Lê Chân Tông, đến năm 1469 Chân Tông chết không có con trai nối ngôi nên Lê Thần Tông lại làm vua lần thứ hai. Năm 1663, Thần Tông chết, con thứ là Lê Duy Vũ lên làm vua, hiệu Lê huyền Tông. Năm 1671, Huyền Tông chết không có con nối dõi, con Thần Tông là Lê Duy Hội làm vua, hiệu Lê Gia Tông. Năm 1675, Gia Tông chết, con Thần Tông là Lê Duy Hợp lên làm vua, hiệu Lê Hy Tông. Năm 1705, Lê Hy Tông nhường ngôi cho con là Lê Duy Đường, hiệu Lê Dụ Tông. Năm 1729, Dụ Tông nhường ngôi cho con là Lê Duy Phường làm vua. Năm 1732, Duy Phường bị truất ngôi, con trưởng của Lê Dụ Tông là Lê Duy Tường lên làm vua, hiệu Lê Thuần Tông. Năm 1735, Thuần Tông chết, con thứ mười một của Lê Dụ Tông là Lê Duy Thìn lên làm vua, hiệu Lê Ý Tông. Năm 1740, nhường ngôi cho con trưởng của Lê Thuần Tông là Lê Duy Diêu lên làm vua, hiệu là Lê Hiển Tông. Năm 1786, Hiển Tông chết, con trưởng Lê Duy Vĩ phạm tội bị phế làm thứ dân nên cháu đích tôn là Lê Duy Kỳ (con trai của Lê Duy Vĩ) lên làm vua, hiệu là Lê Chiêu Thống.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 20 Tháng Hai, 2012, 03:26:45 PM
6. Cương giới lãnh thổ Việt Nam thời Nguyễn
Năm 1594, Trịnh Tùng xưng vương và thiết lập quyền hành của phủ chúa Trịnh, biến triều đình nhà Lê và vua Lê trở thành bù nhìn, thực quyền nằm trong tay các chúa Trịnh. Họ Trịnh duy trì được mười lăm đời chúa: Trịnh Kiểm (1545 - 1569); Trịnh Cối (1569 – 1570); Trịnh Tùng (1570 - 1623); Trịnh Tráng (1623 - 1657); Trịnh Tạc (1657 - 1682); Trịnh Căn (1682 - 1709); Trịnh Bách (1684); Trịnh Bính (1688); Trịnh Cương (1709 - 1729); Trịnh Giang (1729 - 1740); Trịnh Doanh (1740 - 1767); Trịnh Sâm (1767 - 1782); Trịnh Cán (1782); Trịnh Khải (1782 - 1786); Trịnh Bồng (1786)(1) (Nguyễn Khắc Thuần (2000), Thế thứ các triều vua Việt Nam, Nxb Giáo dục, tr. 93-98).


Năm 1600, Nguyễn Hoàng sau khi tham gia đánh dẹp nhà Mạc đã tìm cách trở về Thuận Hoá nhằm tránh xa sự khống chế của họ Trịnh. Từ năm 1619, con trai Nguyễn Hoàng là Nguyễn Phúc Nguyên cự tuyệt chính quyền Lê - Trịnh, đắp thành luỹ ở Quảng Bình để chống lại quân Trịnh. Từ năm 1627 - 1672, hai thế lực Trịnh - Nguyễn đã tiến hành bảy cuộc giao tranh với quy mô lớn để tranh giành quyền lực. Nhưng kết cục không bên nào thắng, đã chia cắt đất nước thành hai phần, lấy sông Linh Giang (sông Gianh) ở châu Bố Chính làm ranh giới Đàng ngoài (họ Trịnh) và Đàng trong (họ Nguyễn). Họ Nguyễn duy trì được chín đời chúa: Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên 1600 - 1613); Nguyễn Phúc Nguyên (Chúa Phật 1613 - 1635); Nguyễn Phúc Lan (Chúa Thượng 1635 - 1648); Nguyễn Phúc Tần (Chúa Hiền 1648 - 1687); Nguyễn Phúc Trăn (Chúa Nghĩa 1687 - 1691); Nguyễn Phúc Chu (Quốc Chúa 1691 - 1725); Nguyễn Phúc Chú (Ninh Vương 1725 - 1738); Nguyễn Phúc Khoát (Vũ Vương 1738 - 1765); Nguyễn Phúc Thuần (Định Vương 1765 - 1777)(1) (Trần Quỳnh Cư, Trần Việt Quỳnh (2004), Các đời vua chúa nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hoá).


Ở Đàng ngoài, họ Trịnh tiếp tục duy trì các trấn thời Lê Sơ. Bốn trấn gần kinh kỳ là Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương gọi là nội trấn". Thanh Hoá và Nghệ An gọi là "trọng trấn". Các trấn Yên Bang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hoá đều gọi là "ngoại trấn". Biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc, có hệ thống quan ải khá ổn định tại các trấn "ngoại trấn". Biên giới phía Tây ở các trấn Hưng Hoá, Thanh Hoá, Nghệ An, nhưng chưa rõ ràng do việt quản lý của chính quyền Lê - Trịnh ở đây còn lỏng lẻo, chủ yếu bằng cách bắt dân ở các đất ấy phải thuần phục cống nạp.


Lúc bấy giờ nhà Minh suy rồi đổ. Nhà Thanh thay thế nhà Minh thống trị Trung Quốc, bắt đầu tăng cường ảnh hưởng ra các nước xung quanh. Nhiều châu động Tây Bắc Đại Việt bị nhà Thanh chiếm. Nhà Mạc thua trận ở đồng bằng đã nhạy lên Cao Bằng và nhờ vua Thanh can thiệp để chiếm giữ đất Cao Bằng. Năm 1667, chúa Trịnh sai quân tướng đánh nhà Mạc, chiếm lại Cao Bằng, nhưng phải đến năm 1677 sau khi diệt được họ Mạc, nhà Lê - Trịnh mới hoàn toàn làm chủ đất Đàng ngoài. Ở phía Bắc, năm 1726 nhà Thanh trả lại cho Đại Việt dải đất thuộc hai châu Vị Xuyên (Tuyên Quang) và Thuỷ Vĩ (Hưng Hoá), đến năm 1727 trả nốt dải đất rộng thuộc Vị Xuyên trong đó có mỏ đồng lớn Tụ Long.


Ở Đàng trong, năm 1570 khi Đoan quận công Nguyễn Hoàng được trao quyền trấn thủ Thuận Hoá và Quảng Nam thì đất của hai trấn này chỉ gồm từ phía Nam đèo Ngang (Bắc Quảng Trị) tới đèo Cù Mông (Phú Yên). Những người nối nghiệp Nguyễn Hoàng như Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Tần một mặt củng cố việc phòng thủ đất Thuận Quảng chống lại các cuộc tấn công của quân Trịnh, mặt khác tìm cách mở rộng đất đai vào phía Nam.


Năm 1611, nhân việc quân Chiêm Thành cướp phá ở vùng biên, Nguyễn Hoàng sai chủ sự Văn Phong đánh vào chiếm đất, đặt ra phủ Phú Yên trên vùng đất từ Cù Mông đến núi Thạch Bi. Cùng trong năm này, chúa Nguyễn giúp Chân Lạp đánh đuổi quân Xiêm, để trả công, vua Chân Lạp đồng ý cho chúa Nguyễn đưa dân Việt đến khai khẩn, sinh sống ở vùng đất vốn hoang vu ở Đồng Nai, Biên Hoà, lập dinh điền ở Mỗi Xuy (Bà Rịa) và để đất xứ Phay Nokas (Chợ Lớn), xứ Kris Krobey (Bến Nghé) làm nơi thu quan thuế.


Năm 1623, Chân Lạp cho chúa Nguyễn lập một thương điếm ở Sài Gòn để thu thuế (trả ơn việc năm 1620, quốc vương Chân Lạp Chey Chettha II cưới công chúa Ngọc Vạn con của chúa Nguyễn).

Năm 1653, chúa Nguyễn Phúc Tần cho quân đánh chiếm vùng đất của Chiêm Thành từ Nam Phú Yên đến bờ sông Phan Rang (từ núi Thạch Bi đến sông Phan Rang) đặt ra hai phủ là Thái Thượng (Thái Khang) và Diên Ninh (Diên Khánh) - tỉnh Khánh Hoà ngày nay.

Năm 1679, chúa Nguyễn thu nạp quan binh nhà Minh (chạy sang Đại Việt do không phục nhà Thanh), cho đến lập ấp ở vùng đất cửa Xoài Rạp, khai khẩn ở xứ Mỹ Tho và cửa Cần Giờ, lập phố chợ buôn bán ở cù lao Phố (Biên Hoà). Họ đã vỡ đất hoang, dựng phố xá, buôn bán và đều thần phục và nộp thuế cho chúa Nguyễn.


Năm 1691, đặt ra phủ Bình Thuận trên vùng đất từ sông Phan Rang đến Tân Lý. Đến năm 1693, tướng Nguyễn Hữu Cảnh (Hữu Kính) được cử đem quân chiếm nốt phần đất còn lại của Chiêm Thành, đến đây nước Chiêm Thành hoàn toàn hoà nhập vào Đại Việt.


Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam kinh lược, đặt xứ Đồng Nai thành huyện Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên ở Biên Hoà, đặt đất Sài Côn thành huyện Tân Bình, dựng Phiên trấn ở Gia Định. Sau đó đặt ra phủ Gia Định (gồm các tỉnh Bà Rịa, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho, Gò Công sau này) trên vùng đất Sài Côn (Sài Gòn).


Năm 1708, Mạc Cửu đem đất Mang Khảm thần phục chúa Nguyễn, chúa Nguyễn đổi vùng Mang Khảm thành trấn Hà Tiên và phong cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên. Năm 1731, quân Chân Lạp cướp phá Gia Định. Chúa Nguyễn đã sai binh đi đánh, để chuộc tội, vua Chân Lạp cắt đất Mô Sa (Mỹ Tho ngày nay) và Long Hôr (Vĩnh Long ngày nay) cho chúa Nguyễn. Trên đất Long Hôr, chúa Nguyễn đặt châu Định Viễn, lập dinh Long Hồ (Sa Đéc nay) bao gồm cả châu Định Viễn. Riêng đất Mỹ Tho vẫn để như cũ vì đã có người Việt ở đấy từ lâu, đến năm 1722 mới đặt chính quyền chính thức.


Năm 1751, hai bộ lạc Hoả Xá và Thuỷ Xá xứ Hoa Anh thần phục (các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông ngày nay).

Năm 1755, bộ lạc Côn Man xứ Nam Bàn thần phục chúa Nguyễn (tỉnh Lâm Đồng ngày nay).

Năm 1753, vua Chân Lạp chống lại chúa Nguyễn. Trong hai năm 1754 và 1755, chúa Nguyễn tổ chức một đạo quân lớn chinh phạt Chân Lạp. Do bị thất bại, năm 1756 vua Chân Lạp phải cầu hoà và dâng đất hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp để chuộc tội. Chúa Nguyễn cho đặt hai vùng đất ấy vào châu Định Viễn thuộc phủ Gia Định. Đất Tầm Bôn và Lôi Lạp tương đương đất Cần Thơ, Long Xuyên ngày nay.


Năm 1757, Chân Lạp xảy ra cuộc nội chiến giữa các phe phái trong triều đình để tranh giành quyền lực. Chân Lạp lụi tàn dần, không đủ sức cai quản được lãnh thổ của mình, đã lần lượt cắt đất cho họ Nguyễn ở các vùng: Trapeang (tỉnh Trà Vinh nay), Basaak (hay Bác Thắng, hay Ba Xuyên tương đương tỉnh Sóc Trăng), Tầm Phong Long tương đương Đồng Tháp, Sa Đéc và Châu Đốc). Chúa Nguyễn dời sở dinh Long Hồ về xứ Tầm Bào (tỉnh lỵ Vinh Long ngày nay), rồi đặt đạo Đông Khẩu Sa Đéc, đạo Tân Châu xứ Tiền Giang, đạo Châu Đốc xứ Hậu Giang đều thuộc dinh Long Hồ. Năm 1758, để trả ơn Mạc Thiên Tứ che chở, giúp đỡ chống quân Xiêm, vua Chân Lạp là Nặc Tôn còn chính thức cắt 5 phủ phía Nam và Đông Nam Chân Lạp cho Hà Tiên gồm Hương Úc, Cần Vọt, Châu Sum, Sài Mạt, Linh Quýnh. Chúa Nguyễn cho nhập đất ấy vào trấn Hà Tiên rồi đặt Giá Khê (Rạch Giá) làm đạo Kiên Giang, Cà Mau (gồm cả Phú Quốc) làm đạo Long Xuyên, đặt quan lại, chia thôn ấp giao Mạc Thiên Tứ quản lĩnh.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 20 Tháng Hai, 2012, 03:27:35 PM
Như vậy, đến năm 1758 toàn bộ lãnh thổ Đàng trong đã liền một dải từ Nam Bố Chính (Quảng Trị) tới vùng biển đảo Tây Nam bao gồm cả một phần đất tỉnh Kăm-pôt của Campuchia nằm dọc theo bờ biển nối từ Hà Tiên đến Thái Lan đều nằm trong bản đồ nước Đại Việt. Toàn bộ vùng đất Thuỷ Chân Lạp thuộc quyền hành của chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn chia đất Đàng trong thành 12 đơn vị hành chính, gọi là "dinh". Sau 200 năm kể từ khi Nguyễn Hoàng vào Nam dựng nghiệp, công cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn được xem là đã hoàn tất về mặt chủ quyền. Chúa Nguyễn đã thâu tóm toàn bộ đất đai vùng Thuỷ Chân Lạp - vùng đất gốc của nước Phù Nam cổ đại (Nam Bộ ngày nay) và lần lượt đặt các cơ quan hành chính để cai trị. Kể từ đây, giữa Việt Nam và Campuchia đã hình thành một đường biên giới thực tế, nhưng chưa thực sự rõ ràng và còn có những biến động. Sau khi chúa Nguyễn đã khẳng định chủ quyền của mình trên các vùng đất phía Nam, đến nửa đầu thế kỷ XIX vẫn liên tiếp xảy ra các cuộc chiến tranh giữa quân của chúa Nguyễn với quân triều đình Chân Lạp, với quân triều đình Xiêm La và có những lúc lại là liên quân Nguyễn - Chân Lạp đánh nhau với quân Xiêm La để tranh giành đất đai. Xiêm -La lúc bấy giờ là một quốc gia hùng mạnh, đã từng bước thôn tính Chân Lạp và phần đất rộng lớn hai bên bờ sông Mê Công của Ai-lao, nhưng vẫn luôn thèm khát vùng đất đồng bằng sông Cửu Long màu mỡ các chúa Nguyễn đã khai phá và xác lập chủ quyền. Kết quả là, sau nhiều cuộc chiến tranh đẫm máu giữa Việt và Xiêm, không những các chúa Nguyễn vẫn giữ vững chủ quyền của mình trên vùng đất Nam Bộ, phía Xiêm còn phải chia sẻ quyền tôn chủ đối với Chân Lạp cho chúa Nguyễn. Nước Chân Lạp trở thành chư hầu của vua Xiêm và vua Nguyễn cho đến khi thực dân Pháp xâm chiếm Đông Dương.


Cũng trong hơn hai trăm năm Trịnh - Nguyễn phân tranh, ở Đàng ngoài chúa Trịnh đã kiên quyết bảo vệ toàn vẹn cương giới phía Bắc của mình. Không những thế, trong những năm 1726 - 1728 còn đòi lại nhà Thanh một dải đất rộng lớn thuộc hai châu Vị Xuyên (Tuyên Quang) và Thuỷ Vĩ (Hưng Hoá).


Nước Đại Việt trong thời Trịnh - Nguyễn phân tranh về thực chất chỉ là sự tranh giành quyền lực giữa hai thế lực cát cứ giữa hai miền Bắc và Nam. Các chua Trịnh và Nguyễn vẫn lấy niên hiệu của vua Lê. Đất nước tạm thời bị chia cắt, nhưng cương vực lãnh thổ vẫn được bảo vệ và mở rộng phù hợp với tiến trình lịch sử phát triển của toàn dân tộc.


Năm 1771, ba anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa. Từ năm 1782 - 1783, đánh đổ chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng trong, năm 1785 đánh tan năm vạn quân Xiêm xâm lược trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút. Đối với Đàng ngoài, năm 1786 chính quyền Lê - Trịnh bị lật đổ. Như vậy sau mười lăm năm khởi nghĩa, đánh Nam, dẹp Bắc, nhà Tây Sơn đã hoàn thành sức mạnh to lớn là đánh đổ ba tập đoàn phong kiến thống trị Lê - Trịnh - Nguyễn. Nhưng phải đến năm 1789, sau khi đại phá quân Thanh, nhà Tây Sơn mới thực sự làm chủ cả đất nước thống nhất từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Triều chính của nhà Tây Sơn khá phức tạp, gồm ba chính quyền: Một là Nguyễn Nhạc năm 1773 xưng là Tây Sơn Đệ Nhất Trại Chủ, năm 1776 xưng là Tây Sơn Vương, năm 1778 lên ngôi hoàng đế hiệu Thái Đức, năm 1786 xưng là Trung ương Hoàng đế (mất năm 1793 vì bệnh, con là Nguyễn Bảo nối ngôi, nhưng chỉ được phong là Hiếu Công); hai là Nguyễn Huệ năm 1776 được phong làm Phụ chính, năm 1778 được phong làm Long Nhương Tướng Quân, năm 1786 được phong làm Bắc Bình Vương, năm 1788 lên ngôi Hoàng đế hiệu là Quang Trung (năm 1792 mất, con là Nguyễn Quang Toàn nối ngôi, năm 1802 bị Nguyễn ánh giết chết); ba là Nguyễn Lữ năm 1776 được phong làm Thiếu Phó, năm 1778 được phong làm Tiết Chế, năm 1786 được phong làm Đông Định Vương (mất năm 1787 vì bệnh).


Sau khi thống nhất đất nước, nhà Tây Sơn chia toàn bộ vùng đất Đàng trong thành năm trấn: Biên, Phiên, Định, Vĩnh Thanh, Hà Tiên. Địa danh Đàng ngoài giữ nguyên như thời Lê - Trịnh.


Năm 1802, sau khi lật đổ nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, hiệu là Gia Long, lập nên vương triều nhà Nguyễn, lấy Huế làm kinh đô, đặt tên nước là Nam Việt sau đổi thành Việt Nam. Vương triều Nguyễn thừa hưởng một quốc gia thống nhất do nhà Tây Sơn dựng lên sau khi xoá bỏ cục diện đất nước bị chia cắt ngót 200 năm. Triều Nguyễn duy trì được mười ba đời Vua: Gia Long Hoàng đế (Thế Tổ: 1802 - 1819); Minh Mệnh Hoàng đế (Thánh Tổ: 1820 - 1840); Thiệu Trị Hoàng đế (Hiến Tổ: 1841 - 1847); Tự Đức Hoàng đế (Dực Tông: 1848 - 1883); Nguyễn Dục Đức (1883); Nguyễn Hiệp Hoà (6/1883 - 11/1883); Nguyễn Kiến Phúc (Giản Tông: 1883 - 1884); Nguyễn Hàm Nghi (1884 - 1885); Đồng Khánh (Cảnh Tông: 1885 - 1888); Nguyễn Thành Thái (1889 - 1907); Nguyễn Duy Tân (1907 - 1916); Nguyễn Khải Định (Hoằng Tông: 1916 - 1925); Nguyễn Bảo Đại (1925 - 1945).


Ban đầu Gia Long vẫn đặt các dinh hoặc trấn trên cơ sở các đơn vị hành chính thuộc Đàng trong - Đàng ngoài. Ở phía Nam, năm 1802 Gia Long đổi gọi "phủ Gia Định" làm "trấn Gia Định". Năm 1808 đổi gọi làm "thành Gia Định", dưới thành là trấn, dưới trấn là phủ, dưới phủ là huyện. Thành Gia Định quản lý năm trấn là Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Thanh, Định Tường, Hà Tiên. Năm 1832, Minh Mạng tổ chức lại địa giới hành chính thành Gia Định, chuyển 5 trấn của thành Gia Định thành 6 tỉnh là Phiên An (trấn Phiên An cũ), Biên Hoà (trấn Biên Hoà cũ), Định Tường (trấn Định Tường cũ), Vĩnh Long (trấn Vĩnh Thanh cũ), An Giang (gồm 3 đạo của trấn Hà Tiên là Đông Khẩu, Tân Châu và Châu Đốc), Hà Tiên (gồm 2 đạo còn lại của trấn Hà Tiên cũ là Long Xuyên và Kiên Giang).


Năm 1833, Lê Văn Khôi khởi nghĩa chống triều Nguyễn, chiếm được thành Phiên An (dinh Gia Định cũ). Năm 1836, sau khi dẹp được Lê Văn Khôi, Minh Mạng cho phá thành cũ, cho xây thành mới ở nơi khác, đổi tên tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định và gọi toàn bộ vùng đất thành Gia Định cũ là Nam Kỳ gồm sáu tỉnh. Tên gọi “Lục tỉnh Nam Kỳ" ra đời từ đó.


Đến năm Minh Mạng thứ 12, các trấn đước đổi thành tỉnh trên cơ sở điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính. Khi ấy trên toàn bộ đất nước ta có 30 tỉnh và kinh sư (thủ đô). Cụ thể:

- Kinh sư: Là kinh đô nước Việt Nam thời Nguyễn. Huế nguyên là thành Phú Xuân được xây dựng năm 1687. Dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, thành Phú Xuân được gọi là đô thành và xây dựng cung điện, lầu các không khác gì một đế đô. Đầu triều Nguyễn, thành Phú Xuân được xây dựng lại hoàn toàn theo quy mô và diện mạo của cố đô Huế ngày nay, bao gồm Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành.

- Các tỉnh trên cả nước (30 tỉnh) là: Hà Nội, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Yên, Thái Nguyên, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, và Hà Tiên. Lấy Kinh sư làm trung tâm (Kinh kỳ). Từ tỉnh Biên Hoà trở vào đến Hà Tiên gọi là "Nam Kỳ"; từ tỉnh Bình Thuận ra đến tỉnh Thanh Hoá gọi là “Trung Kỳ"; các tỉnh còn lại gọi là "Bắc Kỳ".


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 20 Tháng Hai, 2012, 03:33:33 PM
IV. BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN GIỮA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG TRONG THỜI KỲ ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP
Tháng 8- 1858, thực dân Pháp bắn súng vào cửa biển Đà Nẵng, mở màn cuộc xâm chiếm Việt Nam. Năm 1859, chuyển hướng tấn công vào thành Gia Định, sau đó mở rộng phạm vi tấn công, lần lượt đánh chiếm các tỉnh miền Đông Nam Kỳ là Định Tường (tháng 4 - 1861), Biên Hoà (tháng 12-1861) và Vĩnh Long (tháng 3-1862). Đến ngày 5-6-1862, triều Nguyễn ký hòa ước, theo đó "nhượng" ba tỉnh Đông Nam Kỳ cho Pháp. Sau đó, Pháp đã nhanh chóng đánh chiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên chỉ trong năm ngày (từ ngày 20 đến ngày 24-6-1867). Đến đây, toàn bộ "lục tỉnh Nam Kỳ" đã bị thực dân Pháp cai quản.


Chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp càng có thêm điều kiện ráo riết chuẩn bị cuộc tấn công chinh phục toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong hai năm 1873 và 1874, Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất. Ngày 15-3-1874, triều đình Huế và Pháp ký hoà ước tại Sài Gòn, gồm hai 22 điều khoản, theo đó phong kiến triều Nguyễn chính thức dâng toàn bộ đất đai Nam Kỳ cho thực dân Pháp, công nhận quyền đi lại, buôn bán, kiểm soát và điều tra tình hình của Pháp ở Việt Nam.


Từ năm 1882, thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai. Trong thời gian này, triều đình nhà Thanh đã cho quân đội xâm nhập Bắc Kỳ, đóng quân rải rác trên một tuyến kéo dài từ Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hoá sàng đến Cao Bằng, Lạng Sơn và xuống đến Bắc Ninh. Tình hình đó buộc Pháp phải thương lượng với nhà Thanh, cuối cùng hai bên thoả thuận là Pháp và nhà Thanh sẽ cùng nhau chia đôi Bắc Kỳ với điều kiện quân Thanh rút khỏi Bắc Kỳ và Pháp không được tăng quân. Tuy nhiên, khi quân Thanh vừa rút hết khỏi Bắc Kỳ thì thực dân Pháp đã tăng cường quân từ Nam Kỳ ra và viện binh từ Pháp sang với dã tâm độc chiếm Bắc Kỳ. Quân Pháp đã lần lượt đánh chiếm những tỉnh có ví trí chiến lược quan trọng ở Bắc Kỳ. Ngày 25-8-1883, triều đình Huế ký với thực dân Pháp một hiệp ước mới, theo đó chính thức thừa nhận sự bảo hộ của Pháp, mọi công việc chính trị - kinh tế - ngoại giao của việt Nam đều do Pháp nắm. Khu vực do triều đình cai trị chỉ còn lại từ tỉnh Khánh Hoà ra tới đèo Ngang; tỉnh Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kỳ; ba tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá sáp nhập vào Bắc Kỳ.


Từ đầu năm 1884, chiến sự diễn ra ngày một thêm ác liệt trên Bắc Kỳ, các tỉnh còn lại lần lượt bị Pháp đánh chiếm. Ngày 6-6-1884, Chính phủ Pháp và triều đình Huế ký một hiệp ước thay thế cho hiệp ước năm 1883 (gọi là Hiệp ước Pa-tơ-nốt), gồm 19 điều khoản, đặt cơ sở lâu dài và chủ yếu cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam.


Sau khi hiệp ước 1884 được ký kết, với mục đích cắt đứt hoàn toàn và vĩnh viễn mọi quan hệ giữa phong kiến hai nước Việt Nam và Trung Quốc, thực dân Pháp còn bắt triều đình Huế đem nấu chảy chiếc ấn của phong kiến Trung Quốc cấp cho phong kiến Việt Nam. Ngày 7-5- 1885, Hiệp ước Pa-tơ-nốt được Chính phủ Cộng hoà Pháp thông qua. Đến đây, giai cấp phong kiến Việt Nam đã hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp. Nhà nước phong kiến Việt Nam, với tư cách là một nhà nước độc lập có chủ quyền đã hoàn toàn sụp đổ, nước Việt Nam đã thực sự trở thành thuộc địa của tư bản Pháp.


Sau khi hoàn tất việc xâm chiếm Đông Dương, đặt xong chế độ thuộc địa đối với Việt Nam, Lào và Campuchia, năm 1887 Pháp đã thành lập Liên bang Đông Dương gồm xứ thuộc địa Nam Kỳ và bốn xứ bảo hộ là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Ai-lao và Cao-miên. Trên cơ sở hiện trạng ranh giới lịch sử tập quán đã hình thành từ lâu đời giữa Việt Nam với Lào và giữa Việt Nam với Campuchia, chính quyền thực dân Pháp đã đàm phán, ký kết hiệp ước biên giới với Trung Quốc và Thái Lan để xác lập đường biên giới chính thức của xứ Đông Dương thuộc Pháp trong thời cận đại. Chính quyền thực dân Pháp cũng đã ấn định đường biên giới hành chính giữa ba xứ thuộc địa Việt Nam, Lào và Campuchia căn cứ theo ranh giới tập quán hình thành từ lâu trong lịch sử. Căn cứ vào Hiệp ước Pa-tơ-nốt giữa Chính phủ Cộng hoà Pháp và triều đình Huế ký ngày 6-6-1884, Pháp thay mặt nhà nước Việt Nam trong quan hệ đối ngoại, trong đó có vấn đề phân định biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam với các nước láng giềng.


1) Biên giới giữa Bắc Kỳ (Việt Nam) và Ai-lao (Lào): Sau khi chiếm xong Cao-miên (1868) và Việt Nam (1884), Pháp đã gây sức ép buộc Xiêm La (Thái Lan) trả lại cho Pháp các vùng đất phía Đông sông Mê Công mà Xiêm La đã chiếm của Việt Nam, Cao-miên và Ai-lao. Theo Hiệp ước Pháp - Xiêm ký ngày 3-10-1893(1) (Xem toàn văn trong Phần phụ lục), Xiêm La phải trả lại toàn bộ những vùng đất mới xâm chiếm của Việt Nam, Lào và Campuchia nằm ở phía Đông sông Mê Công. Đổi lại, Pháp công nhận quyền của Xiêm La đối với các tỉnh phía Bắc của Thái Lan ngày nay.


Năm 1893, chính quyền Pháp thành lập hai cụm Thượng Lào và Hạ lào trên cơ sở những đất đai của Ai-lao cũ được Xiêm La trả lại, gồm khu vực phía Bắc Viêng Chăn, Luổng-phạ-băng, Huổi Hu (cụm Thượng Lào) và khu vực phía Nam gồm Bassac, Sa-la-van, Ắt-tạ-pư (cụm Hạ Lào). Đáng chú ý là trong giai đoạn này, Pháp đã ghép một phần đất thuộc vùng Tây Nguyên của Việt Nam (Hoả Xá, Thuỷ Xá) và vùng Strung-treng của Cao-miên vào cụm Hạ Lào. Cụm Thượng Lào và cụm Hạ Lào lúc đó là hai đơn vị hành chính độc lập. Pháp đặt mỗi cụm thành một đạo quan binh do một viên chỉ huy cấp cao trực thuộc Toàn quyền Đông Dương trực tiếp cai quản. Về địa lý, hai cụm Thượng Lào và Hạ Lào ở xa nhau, phân cách bởi một vùng đất rộng lớn thuộc quyền cai quản của Trung Kỳ của Việt Nam (khi đó bao gồm cả phần đất Sông Khôn và Cam Môn thuộc Hạ Lào ngày nay).


Đến năm 1895, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định chuyển phần đất Sông Khôn và Cam Môn vào cụm Hạ Lào và trả về Việt Nam phần đất Hoả Xá và Thuỷ Xá thuộc vùng Tây Nguyên ngày nay. Năm 1899, Tổng thống Cộng hoà Pháp ký Sắc lệnh hợp nhất hai cụm Thượng Lào và Hạ Lào thành một đơn vị hành chính thống nhất, gọi là xứ Ai-lao thuộc Pháp. Từ đây, xứ Ai-lao trở thành một đơn vị hành chính độc lập trong thuộc địa Đông Dương. Sau khi thành lập xứ Ai-lao, từ năm 1893 đến năm 1905, nhà cầm quyền Pháp đã ban hành một số văn bản điều chỉnh đất đai giữa Ai-lao với các xứ khác trong thuộc địa Đông Dương. Đồng thời tiến hành việc phân định ranh giới giữa các xứ Đông Dương. Giữa Ai-lao và Việt Nam, việc phân định ranh giới mới chỉ thực hiện được một phần thuộc Trung Kỳ và đoạn từ Hà Trại đến ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia theo nghị định ngày 27-12-1913 và ngày 12-10-1916 của Toàn quyền Đông Dương(2) (Xem toàn văn trong Phần phụ lục). Các đoạn ranh giới còn lại giữa hai nước Việt Nam và Lào chưa có văn bản pháp lý.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Hai, 2012, 11:53:30 AM
2) Biên giới giữa Nam Kỳ và Trung Kỳ (Việt Nam) với Cao-miên (Campuchia): Năm 1863 Pháp đặt chế độ bảo hộ ở Campuchia và đến năm 1868 xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ quốc gia này. Năm 1867, Pháp chiếm xong "Lục tỉnh Nam Kỳ". Năm 1874, Nam Kỳ chính thức trở thành thuộc địa của Pháp. Năm 1884, triều đình Huế ký hiệp ước đầu hàng Pháp, thừa nhận chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ, chế độ bảo hộ ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Ngay trong thời gian tiến hành xâm chiếm Đông Dương, để phục vụ mục đích cai trị lâu dài của mình, ở Nam Kỳ chính quyền thực dân Pháp đã tiến hành hoạch định biên giới giữa Nam Kỳ và Cao-miên. Đến năm 1887, khi tiến trình xâm chiếm thuộc địa hoàn tất, chính quyền Pháp đã tuyên bố thành lập “Liên bang Đông Dương" gồm thuộc địa Nam Kỳ và bốn xứ bảo hộ là Cao-miên, Ai-lao, Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Các đường ranh giới giữa các xứ được coi là "ranh giới hành chính" và được xác định theo trình tự, thủ tục do pháp luật của Cộng hoà Pháp quy định. Riêng với Campuchia, căn cứ theo Thoả ước Pháp - Cao-miên ký ngày 09-7-1870 và tiếp đó là Công ước Pháp - Cao-miên ký ngày 15-7-1873(1) (Xem toàn văn trong Phần phụ lục) giữa Pháp và triều đình Campuchia, các chuyên gia Pháp và Campuchia đã tiến hành công việc khảo sát song phương trên thực địa để xác định đường biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia. Trong các năm từ 1876 đến 1896, Pháp và Campuchia đã ký được một loạt văn bản pháp lý về hoạch định và phân giới cắm mốc. Sau này Toàn quyền Đông Dương chỉ ban hành một số nghị định để điều chỉnh chi tiết những đoạn biên giới nhỏ. Cùng với việc hoạch định biên giới và phân giới cắm mốc trên thực địa, Sở Địa dư Đông Dương đã in ấn bản đồ thể hiện khá rõ ràng đường biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia. Phần biên giới giữa Trung Kỳ và Campuchia được xác định trong các nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 6-12-1904 và ngày 4-7-1905 (khi ấn định ranh giới các tỉnh Trung Kỳ)(2) (Xem toàn văn trong Phần phụ lục). Đường biên giới đất liền giữa Việt Nam và Campuchia do thực dân Pháp để lại theo tài liệu và bản đồ cũ dài khoảng 1.137 km. Gồm hai đoạn chính: Đoạn biên giới giữa Nam Kỳ với Campuchia như nêu ở trên đã được Pháp và Campuchia tiến hành hoạch định và phân giới cắm mốc; đoạn biên giới giữa Trung Kỳ và Campuchia chưa được phân giới cắm mốc. Tính đến thời điểm năm 1954 khi Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết, toàn bộ đường biên giới giữa Việt Nam và Campuchia đã được thể hiện trên 26 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương xuất bản. Về cơ bản, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Campuchia thể hiện trên các bản đồ này không khác biệt gì lắm so với đường biên giới đã được hoạch định và phân giới cắm mốc trong giai đoạn lịch sử trước đây giữa chính quyền thực dân Pháp và triều đình Campuchia cũng như so với đường biên giới hiện tại giữa hai nước Việt Nam và Campuchia.



3) Biên giới giữa Bắc Kỳ (Việt Nam) và Trung Quốc: Sau khi chiếm xong Bắc Kỳ, để khẳng định chủ quyền thuộc địa của mình đối với Việt Nam, ngày 11-5-1884 Chính phủ Pháp và triều đình nhà Thanh đã ký Công ước "Hữu nghị và Láng giềng" tại Thiên Tân (Trung Quốc). Theo nội dung của công ước này Pháp tôn trọng và bảo vệ biên giới phía Nam của nhà Thanh; nhà Thanh rút ngay các lực lượng quân sự đóng tại Bắc Kỳ và tôn trọng hiện tại cũng như tương lai các hiệp ước đã ký hoặc sẽ ký giữa Pháp và triều đình Huế (thực tế từ bỏ cái gọi là quyền tôn chủ đối với Việt Nam); Pháp không buộc nhà Thanh bồi thường chiến tranh, nhà Thanh đồng ý tự do trao đổi hàng hoá hai bên biên giới và sẽ ký kết một hiệp ước thương mại với Pháp. Tuy nhiên, chỉ 15 ngày sau khi ký kết, nhà Thanh đã có những hành động vi phạm công ước, đòi Pháp phải công nhận biên giới truyền thống của nhà Thanh vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam mà Pháp đang quản lý. Phía Pháp đã không chấp nhận yêu sách đó của nhà Thanh. Cuộc chiến tranh Pháp - Thanh xảy ra trong tám tháng mới kết thúc và hai bên lại đi vào cuộc thương lượng mới. Kết quả là, ngày 9-6-1885 tại Thiên Tân (Trung Quốc), đại diện của Pháp và nhà Thanh đã ký Công ước hoà bình và thương mại Pháp - Thanh.
Về vấn đề biên giới, điều 3 của Công ước Pháp - Thanh năm 1885 ghi: "Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày ký kết công ước này, các uỷ ban do các bên ký kết cử ra sẽ đến tại chỗ để hội khám biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ, ở nơi nào có nhu cầu, họ sẽ đặt những mốc nhằm làm rõ đường biên giới. Trong trường hợp họ không thể thoả thuận về vị trí những mốc đó hoặc về những điều chỉnh chi tiết cần có đối với đường biên giới hiện tại của Bắc Kỳ, họ sẽ vì lợi ích chung của cả hai nước báo cáo lên Chính phủ của mỗi bên quyết định".


Nhằm thực hiện công ước nói trên, Pháp và nhà Thanh đã chia biên giới giữa Bắc Kỳ (Việt Nam) và Trung Quốc thành ba đoạn để hoạch định và phân giới cắm mốc:

(1) Đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Đông (tương ứng đoạn biên giới giữa Quảng Ninh và Quảng Tây ngày nay);

(2) Đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây;

(3) Đoạn biên giới Bắc Kỳ - Vân Nam.


Từ tháng 01- 1886, Pháp và nhà Thanh tiến hành đàm phán để xác định biên giới. Hai bên đã tiến hành hoạch định thí điểm khu vực từ Chi Ma đến Bình Nghi, thuộc đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây. Trong quá trình đàm phán, phía nhà Thanh không muốn phân giới mà chỉ muốn hoạch định trên bản đồ. Do lúc đó chưa có bản đồ nên hai bên thống nhất cử các đoàn đi đo vẽ thực địa, lập bản đồ đường biên giới hiện có. Từ ngày 20-3-1886 đến ngày 13-4-1886, hai bên đã vẽ bản đồ và hoạch định thí điểm khu vực từ Chi Ma đến Bình Nghi thuộc đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây. Trên cơ sở hoạch định thí điểm, Pháp và nhà Thanh đã lần lượt ký biên bản hoạch định các đoạn biên giới Bắc Kỳ - Vân Nam ngày 29-10-1886, đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Đông và đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây ngày 29-3-1887. Trong các biên bản hoạch định này, còn nhiều đoạn biên giới nhỏ chưa được hai bên thống nhất. Ngày 26-6-1887, hai bên ký Công ước hoạch định biên giới Pháp - Thanh, trong đó hoạch định lại một số đoạn biên giới tiếp giáp giữa Bắc Kỳ với Vân Nam và nói rõ đường kinh tuyến 105°43' là đường phân chia chủ quyền các đảo. Ngày 26-5-1895, hai bên ký Công ước bổ sung, thống nhất hoạch định các đoạn biên giới mà hai bên còn gác lại trong các văn bản hoạch định trước và hoạch định mới đoạn biên giới giữa Bắc Kỳ và Vân Nam từ sông Đà đến sông Mê Công.


Công tác phân giới và cắm mốc được hai bên chính thức thực hiện từ năm 1889 và hoàn thành vào năm 1897. Theo đó, ngày 15-4-1890 hai bên ký biên bản cắm mốc đoạn biên giới từ bờ biển vào đến ngã ba sông Ka Long gồm 10 mốc đôi được đánh số từ số 1 đến số 10 theo chiều từ Đông sang Tây; ngày 29-12-1893 ký biên bản cắm mốc từ ngã ba sông Ka Long đến Bắc Cương ải gồm 24 mốc được đánh số từ số 11 đến số 23 theo chiều từ Đông sang Tây.


Đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây được chia làm hai đoạn: Từ ngày 20-2-1892 đến ngày 14-4-1892, hai bên cắm được 67 mốc được đánh số từ số 1 đến số 67 theo chiều từ Tây sang Đông đoạn biên giới từ Bình Nghi về Bắc Cương ải gọi là Đông Bình Nghi; từ ngày 19-11-1893 đến ngày 19-6-1894 cắm được 140 mốc được đánh số từ số 1 đến số 140 theo chiều từ Đông sang Tây trên đoạn biên giới từ Bình Nghi đến giáp Vân Nam gọi là Tây Bình Nghi.


Đoạn biên giới giữa Bắc Kỳ và Vân Nam được chia thành năm đoạn nhỏ. Từ năm 1896 đến năm 1897 hoàn thành cắm mốc 4 đoạn: Đoạn I từ hợp lưu sông Long Pô với sông Hồng đến sông Chảy, hai bên cắm 22 vị trí mốc đánh số từ số 1 đến số 22 theo chiều từ Tây sang Đông; đoạn II từ sông Chảy đến Sin Ngai, cắm 17 mốc được đánh số từ số 1 đến số 17 từ Tây sang Đông; đoạn III và IV, cắm 24 mốc đánh số từ 1 đến 24 theo chiều từ Tây sang Đông. Đoạn V từ hợp lưu sông Hồng với sông Long Pô đến ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc được xác định 5 mốc đánh số từ số 1 đến số 5 theo hướng từ Đông sang Tây.


Như vậy, trên toàn bộ tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, Pháp và nhà Thanh đã xác định 314 vị trí mốc và cắm 341 mốc giới. Quá trình phân giới và cắm mốc kéo dài trong 12 năm từ tháng 6-1885 đến tháng 6-1897. Về cơ bản, hai công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895 thừa nhận đường biên giới lịch sử truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, trong quá trình phân giới cắm mốc, phía Pháp đã nhân nhượng một số vùng lãnh thổ của Việt Nam cho Trung Quốc như Giang Bình, Bát Trang (Quảng Ninh), Đèo Luông (Cao Bằng), Tụ Long (Hà Giang). Trong giai đoạn chế độ Quốc dân đảng ở Trung Quốc, quan hệ biên giới giữa Pháp và Trung Quốc cơ bản ổn định, hệ thống mốc giới được bảo vệ, nhưng lợi dụng tình hình Pháp bị sa lầy và thất bại liên tiếp trong chiến tranh thế giới thứ hai, chính quyền Tưởng Giới Thạch đã có hành động di chuyển, phá hoại một số mốc giới, lấn chiếm quản lý nhiều khu vực đất đai sang phía Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Hai, 2012, 11:55:55 AM
V. BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM TỪ SAU NĂM 1945 ĐẾN NAY
Ngay từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858) và trong suốt thời gian gần 100 năm dưới ách thống trị của thực dân, nhân dân Việt Nam trên mọi miền đất nước đã liên tục vùng lên đấu tranh phong Pháp. Điển hình là những cuộc khởi nghĩa vũ trang như: Khởi nghĩa Trương Định (1859 - 1864); khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực (1861 - 1868); khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887); khởi nghĩa Bãi Sậy (1885 - 1889); khởi nghĩa Hùng Lãnh (1886 - 1892); khởi nghĩa Hương Khê (1885 - 1896); khởi nghĩa Yên Thế (1887 - 1913); khởi nghĩa Thái Nguyên (1917 - 1918); khởi nghĩa dạng Sơn (1921); khởi nghĩa Yên Bái (1930).


Các cuộc đấu tranh trên đây biểu thị tinh thần quật cường của nhân dân Việt Nam đã liên tục vùng lên đấu tranh để tự giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, phải đến từ sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương (tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay) ra đời ngày 3-2- 1930, dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ thiên tài Nguyễn Ái Quốc, nhân dân Việt Nam đã làm cuộc khởi nghĩa Cách mạng ngày 19-8-1945 thành công, đánh đổ đế quốc Pháp và phát xít Nhật. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam lâm thời đã đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập, tuyên bố trước quốc dân và toàn thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời. Mở đầu một kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam.


Ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử đã diễn ra sôi nổi trong cả nước, bầu được 333 đại biểu Quốc hội (57% số đại biểu thuộc các đảng phái dân chủ khác nhau, 43% số đại biểu không đảng 'phái). Thắng lợi của Tổng tuyển cử đánh dấu mốc phát triển đầu tiên trong tiến trình xây dựng thể chế dân chủ trên đất nước Việt Nam. Ngày 2-3-1946, khoảng 300 đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã tiến hành Kỳ họp thứ nhất tại Nhà hát lớn (Hà Nội). Trong Kỳ họp này, Quốc hội đã quyết định thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến. Chính phủ gồm 10 vị Bộ trưởng và Hồ Chí Minh (1890 - 1969) được bầu làm Chủ tịch Chính phủ. Trong lễ tuyên thệ của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc: "Chúng tôi, Chính phủ kháng chiến nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Tối cao cố vấn đoàn và uỷ viên kháng chiến, trước bàn thờ thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, xin thề cương quyết lãnh đạo nhân dân kháng chiến, thực hiện nền Dân chủ Cộng hoà Việt Nam, mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc...". Trước khi bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu thay mặt Chính phủ và đề ra khẩu hiệu: Kháng chiến thắng lợi - Kiến quốc thành công - Việt Nam độc lập muôn năm!


Cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền của nhân dân Việt Nam còn non trẻ, nhưng đã phải giải quyết những khó khăn cực kỳ to lớn và quyết liệt để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Nạn đói đầu năm 1945 làm cho hơn 2 triệu đồng bào bị chết, hơn 90% dân không biết chữ; ở miền Bắc, hơn hai mươi vạn quân Tưởng Giới Thạch mượn tiếng tước vũ khí quân đội Nhật, tràn vào cướp phá; ở miền Nam, ngày 23-9-1945, Pháp gây hấn ở Sài Gòn rồi lần lượt đánh chiếm miền Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Chính phủ Việt Nam đã phải nhân nhượng ký với Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946(1) (Theo Hiệp định này, Chính phủ Pháp phải công nhận nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà là một nước tự do, có Chính phủ, có nghị viện, có quân đội và tài chính của mình) và Tạm ước ngày 14-9-1946 để đẩy 20 vạn quân Tưởng ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Tháng 9-1946, Pháp đánh chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn, ở Hà Nội, Pháp liên tiếp nổ súng ở nhiều nơi.


Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, khơi dậy mạnh mẽ chủ nghĩa dân tộc anh hùng bất khuất trong mọi con dân Việt Nam, đứng lên chiến đấu với một ý chí và thái độ dứt khoát "Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, nhân dân Việt Nam đã đánh giặc bằng cả ba thứ quân: Bộ đội chính quy, bộ đội địa phương, dân quân du kích; với chiến lược từng bước từ phòng ngự, cầm cự rồi tới tổng phản công; tiến hành những chiến dịch điển hình như: Chiến dịch biên giới, chiến dịch Trần Hưng Đạo, chiến dịch Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Quang Trung, chiến dịch Hoà Bình; cuối cùng là trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ (từ ngày 13-3 đến ngày 7-5-1954) toàn thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, là "tiếng chuông báo tử của chủ nghĩa thực dân", làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở cho đấu tranh ngoại giao của Việt Nam thắng lợi.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Hai, 2012, 11:58:29 AM
Ngày 20-7-1954, tại hội nghi ở Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ), các hiệp định đình chỉ chiến sự ở Đông Dương được ký kết. Bản tuyên bố cuối cùng về việc lập lại hoà bình ở Đông Dương đã được đại diện các nước dự hội nghị chính thức cam kết chấp thuận. Ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia giành được độc lập hoàn toàn. Đại diện Hoa Kỳ ra tuyên bố riêng thừa nhận tôn trọng các hiệp định.

Bản Tuyên bố cuối cùng của hội nghị Giơ-ne-vơ gồm 13 điểm với những nội dung chính là:

1. Xác nhận những văn bản hiệp định về về đình chỉ chiến sự ở ba nước Đông Dương và về tổ chức kiểm soát quốc tế.

2. Khẳng định sự hài lòng của các bên tham gia hội nghị về việc lập lại hoà bình ở ba nước Đông Dương.

3. Xác nhận những tuyên bố của đại diện Campuchia và đại diện Lào về tổng tuyển cử tự do sẽ được tổ chức ở hai nước này trong năm 1955.

4. Cấm đưa quân đội và nhân viên quân sự nước ngoài vào lãnh thổ của các nước Đông Dương.

5. Cấm đặt căn cứ quân sự nước ngoài ở Đông Dương và cấm các nước Đông Dương tham gia các liên minh quân sự với nước ngoài.

6. Quy định lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam.

7. Khẳng định các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Việt hiệp thương giữa hai miền bắt đầu từ ngày 20-7-1955 và việc tổng tuyển cử trên cả nước tiến hành vào tháng 7-1956.

8. Cam kết tôn trọng quyền tự do lựa chọn nơi sinh sống của nhân dân trong mỗi nước.

9. Cam kết không có hành động trả thù đối với những người hợp tác đối phương trong thời kỳ chiến tranh.

10. Quy định việc quân đội Pháp rút khỏi các nước Đông Dương.

11. Pháp cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Đông Dương.

12. Quy định những nguyên tắc trong quan hệ giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, tôn trọng chủ quyền, độc lập thống nhất, không can thiệp vào nội bộ của nhau.

13. Quy định những biện pháp cần thiết để đảm bảo việc tôn trọng hiệp định.


Thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, quân đội liên hiệp Pháp phải tập kết từ vĩ tuyến 17 trở vào. Ngày 10-10-1954, Hà Nội được giải phóng. Ngày 13-5-1955, Hải Phòng được giải phóng, đến ngày 16-5-1955 toán lính Pháp cuối cùng rút ra khỏi đảo Cát Bà. Miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng, tạo cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam để tiến tới xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và hoà bình.


Nhưng chính phủ bù nhìn tay sai Pháp được Mỹ trợ giúp đã phá hoại hiệp định. Ngày 18-6-1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về làm thủ tướng thay Bửu Lộc. Tháng 9-1954, Mỹ quyết định viện trợ trực tiếp cho Ngô Đình Diệm. Ngày 13-12-1954, Pháp buộc phải ký với Mỹ bản hiệp ước giao trách nhiệm huấn luyện, trang bị cho quân ngụy ở miền Nam Việt Nam cho Mỹ. Ngày 19-12-1954, Pháp ký hiệp định trao quyền hành chính, chính trị ở miền Nam cho Ngô Đình Diệm. Giữa năm 1955, Chính phủ Pháp tuyên bố chấm dứt chế độ Cao uỷ ở miền Nam Việt Nam, thực chất là Pháp từ bỏ trách nhiệm của một bên phải thực hiện các điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ.


Ngày 17-7-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố từ chối hiệp thương tổng tuyển cử. Ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm tổ chức trưng cầu dân ý để phế truất chức quốc trưởng bù nhìn của Bảo Đại và đưa Ngô Đình Diệm lên làm tổng thống Việt Nam Cộng hoà, nhằm chia cắt Việt Nam lâu dài.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Hai, 2012, 12:00:18 PM
Ngày 01-11-1963, Hội đồng tướng lĩnh đứng đầu là Dương Văn Minh tiến hành đảo chính, lật đổ Ngô Đình Diệm và chế độ gia đình trị của họ Ngô. Ngày 30-01-1964, Hội đồng quân lực do Nguyễn Khánh đứng đầu tiến hành đảo chính, lật đổ Dương Văn Minh. Ngày 27-8-1964, Hội đồng quân lực lập "Tam đầu chế: Minh - Khánh - Khiêm". Ngày 13-9-1964, Lâm Văn Phát và Dương Văn Đức đảo chính nhưng không thành. Cùng thời gian này, Nguyễn Khánh lật đổ Minh - Khiêm. Ngày 20-10-1964, Mỹ ép Nguyễn Khánh ra khỏi ngụy quyền, đưa Phan Khắc Sửu lên làm quốc trưởng và Trần Văn Hương lên làm thủ tướng. Ngày 25-01-1965, Hội đồng quân lực đưa Phan Huy Quát lên làm thủ tướng thay Trần Văn Hương. Ngày 19-2-1965, Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu Hội đồng quân lực, đã loại Nguyễn Khánh ra khỏi quân đội. Năm 1965, Hội đồng quân lực đã lật đổ phe dân sự của Phan Khắc Sửu và Phan Huy Quát, lập Uỷ ban Quốc gia do Nguyễn Văn Thiệu làm chủ tịch và Nguyễn Cao Kỳ làm thủ tướng.


Ngày 4-8-1964, Mỹ dựng lên sự kiện "Vịnh Bắc Bộ", lấy cớ cho không quân ném bom đánh phá một số nơi ở miền Bắc Việt Nam như cửa sông Gianh, Vinh - Bến Thuỷ, lạch Trường, thị xã Hồng Gai. Ngày 13-2-1965, Mỹ quyết định đánh phá miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân, nhằm mục tiêu là: Phá tiềm lực kinh tế và quốc phòng, phá công cuộc xây dựng phủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; ngăn chặn chi viện từ miền Bắc vào miền Nam; uy hiếp tinh thần, làm lung lay ý chí chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam ở cả hai miền của đất nước.


Cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân bắn phá miền Bắc Việt Nam đã biến cả nước thành có chiến tranh. Quân và dân ở cả hai miền Nam - bắc đã quyết liệt chống trả. Trong hơn bốn năm từ tháng 8- 1964 đến tháng 11-1968, quân và dân miền Bắc đã bắn rơi và bắn cháy 3.243 máy bay Mỹ (trong đó có 6 máy bay B.52 và 3 máy bay F.111), diệt và bắt sống hàng ngàn phi công Mỹ, bắn chìm và bắn bị thương 143 tàu chiến và tàu biệt kích Mỹ, kể từ ngày 31-3-1968 Mỹ buộc phải tuyên bố ném bom hạn chế miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở vào và ngừng ném bom bắn phá miền Bắc từ ngày 01-11-1968; ở miền Nam, từ ngày 30-01 đến ngày 31-3-1968, quân dân miền Nam tổng tiến công và nổi dậy ở hầu khắp các thành phố, thị xã, thị trấn, các ấp chiến lược ở 37 trong tổng số 44 tỉnh, 4 thành phố, 64 thị xã thị trấn quận lỵ.


Ngày 31-3-1968, Tổng thống Mỹ Giôn Xơn tuyên bố không ra tranh cử nhiệm kỳ hai và cử người đàm phán hai bên từ ngày 13-5-1968 và đàm phán bốn bên bắt đầu từ ngày 25-01-1969.

Sau cuộc họp trù bị ngày 18-01-1968, Hội nghị bốn bên về Việt Nam chính thức họp phiên đầu tiên ngày 25-01-1969 tại Paris (Pháp). Hội nghị Paris về Việt Nam đã tiến hành 202 phiên họp công khai, 24 cuộc tiếp xúc riêng trong thời gian 4 năm và 9 tháng (từ ngày 13-5- 1968 đến ngày 27-01-1973).


Ngày 6-4-1972, Mỹ cho không quân và hải quân đánh phá một số nơi thuộc khu Bốn cũ. Ngày 16-4-1972, Ních Xơn tuyên bố chính thức mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam lần thứ hai. Đỉnh điểm là “Điện Biên Phủ trên không" 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng, quân dân Việt Nam đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B. 52 của Mỹ.


Ngày 30-12-1972, Chính phủ Mỹ tuyên bố ngừng mọi hoạt động chống phá miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra, và đến ngày 15-01-1973 thì tuyên bố ngừng hoàn toàn các hoạt động chống phá miền Bắc Việt Nam để ký kết Hiệp định Pan. Ngày 23-01-1973, đại diện hai chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Hoa Kỳ ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam. Đến ngày 27-01-1973, Hiệp định này được chính thức ký kết giữa bốn bên (Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Hoa Kỳ, Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Việt Nam Cộng hoà).


Ngày 2-3-1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam được triệu tập tại Paris, gồm đại diện các nước Liền Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, bốn bên tham dự ký Hiệp định và bốn nước trong Uỷ ban giám sát và kiểm soát quốc tế là Canađa, Ba Lan, Hungari, Inđônêsia, với sự có mặt của Tổng Thư ký Liên hợp quốc. Đại diện các nước tham dự hội nghị đã ký Định ước Hiệp định Paris về Việt Nam và đảm bảo cho Hiệp định được thi hành nghiêm chỉnh. Với Hiệp - định này, nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi to lớn là đã buộc "Mỹ cút", tạo thời cơ thuận lợi tiến đến "đánh cho ngụy nhào".


Từ ngày 12-12-1974, quân dân tỉnh Phước Long (thuộc hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước ngày nay) đã tiến đánh địch, giải phóng đường 14, thị xã và đến ngày 6-01-1975 giải phóng toàn tỉnh. Đây là tỉnh đầu tiên ở miền Nam Việt Nam được giải phóng hoàn toàn.


Từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-01-1975, diễn ra Hội nghị mở rộng Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam bàn kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam, định hướng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 của quân và dân Việt Nam.


Từ ngày 4-3 đến ngày 24-3-1975, quân đội Việt Nam dùng lực lượng chủ lực mạnh mở Chiến dịch Tây Nguyên với trận then chốt mở màn tiến công Buôn Ma Thuột.

Ngày 10-3-1975, giải phóng Buôn Ma Thuột. Ngày 24-3-1975, vùng Tây Nguyên rộng lớn với hơn 60 vạn dân hoàn toàn giải phóng.

Từ ngày 21-3 đến ngày 3-4-1975, mở Chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Ngày 24-3-1975, Sư đoàn II ngụy bị diệt, Tam Kỳ được giải phóng, ngày 25-3-1975 Quảng Ngãi được giải phóng. Ngày 26-3-1975, Sư đoàn I ngụy bị diệt, thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên được giải phóng, cùng ngày Chu Lai được giải phóng. Với tinh thần "kịp thời nhất, nhanh chóng nhất, táo bạo nhất và với lực lượng có thể chuyển tới sớm nhất", ngày 28-3-1975, Quân đoàn I quân đội nhân dân Việt Nam cùng với các lực lượng của Quân khu V đã chia thành năm mũi Bắc, Tây - Bắc, Tây - Nam, Nam, Đông - Nam đồng loạt tiến công vào Đà Nẵng, đến 15 giờ ngày 29-3-1975, thành phố Đà Nẵng được hoàn toàn giải phóng. Trên đà thắng lợi đó ngày 01-4-1975 giải phóng các tỉnh Bình Định với thành phố Quy Nhơn, tỉnh Phú Yên với thị xã Tuy Hoà. Ngày 3-4-1975 giải phóng tỉnh Khánh Hoà với thành phố Nha Trang và quân cảng Cam Ranh. Như vậy, chiến dịch Huế - Đà Nẵng làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống phòng ngự của ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ở miền Trung, tạo điều kiện thuận lợi cho trận quyết chiến cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Với quyết tâm "Nắm vững thời cơ chiến lược hơn nữa, với tư tưởng chỉ đạo thần tốc - táo bạo - bất ngờ - chắc thắng, thực hiện tổng công kích trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4- 1975, không thể chậm trễ", ngày 3-4-1975 Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam quyết định thành lập Bộ Tư lệnh và Đảng uỷ mặt trận, và ngày 14-4-1975 quyết định tên chiến dịch đánh vào Sài Gòn là Chiến dịch Hồ Chí Minh.


Sau khi giải phóng Đà Nẵng, Quân đoàn II được lệnh hành quân thần tốc, ngày 16-4-1975 giải phóng tỉnh Ninh Thuận, phối hợp với quân dân địa phương nổi dậy giải phóng các tỉnh ven biển khu VI một số hải đảo miền Trung được giải phóng, Quân khu V phối hợp với Bộ Tư lệnh Hải quân lần lượt giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.


Ngày 21-4-1975, Xuân Lộc và toàn tỉnh long Khánh được giải phóng, mở rộng cánh cửa phía Đông Sài Gòn.
Cùng ngày 21-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức Tổng thống. Ngày 23-4-1975, Tổng thống Mỹ tuyên bố "Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã chấm dứt đối với Mỹ". Ngày 26-4-1975, Trần Văn Hương vừa lên làm Tổng thống thay Nguyễn Văn Thiệu được mấy hôm đã phải tuyên bố nhường chức cho Dương Văn Minh.
Ngày 26-4-1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu. Năm cánh quân gồm bốn quân đoàn chủ lực và Đoàn 232 hình thành thế bao vây Sài Gòn, từ 17 giờ bắt đầu nổ súng tấn công lớn vào Sài Gòn. Đến 10 giờ 45 phút ngày 30-4-1975, binh đoàn hỗn hợp của Quân đoàn II bằng xe tăng và pháo binh tiến thẳng vào Dinh Độc lập, bắt sống toàn bộ chính quyền trung ương ngụy quyền Sài Gòn, buộc Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Đúng 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Phủ Tổng thống ngụy Sài Gòn, báo hiệu sự toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí linh lịch sử. Đến ngày 2-5-1975, toàn bộ ngụy quân ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam tan rã hoàn toàn. Nước Việt Nam thống nhất.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 21 Tháng Hai, 2012, 12:02:25 PM
Ngày 2-7-1976, Kỳ họp thứ nhất Quốc hội Khoá VI nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà quyết định đổi đặt tên nước là Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhất trí Hà Nội là Thủ đô của cả nước, Quốc kỳ là cờ đỏ sao vàng, Quốc ca là bài Tiến quân ca, Quốc huy mang dòng chữ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh.


Vấn đề kế thừa di sản của các đường biên giới xác lập trong thời kỳ thực dân đã được đặt ra, coi đó là căn cứ chính để các bên đàm phán thoả thuận về một đường biên giới mới - đường biên giới quốc tế giữa các quốc gia độc lập có chủ quyền.


Trước năm 1975, đất nước Việt Nam đang còn trong tình trạng bị chia cắt, cả dân tộc Việt Nam còn phải tập trung sức người sức của vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nên công tác đàm phán, giải quyết các vấn đề về biên giới, lãnh thổ với các nước láng giềng chưa có điều kiện đặt ra để giải quyết một cách thực chất. Sau ngày giải phóng miền Nam, đất nước thống nhất, công tác đàm phán giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ với các nước láng giềng mới trở thành một trong những ưu tiên của Đảng và Nhà nước Việt Nam nhằm mục tiêu tạo dựng môi trường hoà bình, ổn định, phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.


Trong vòng 30 năm qua (từ năm 1975 đến năm 2005), nhà nước Việt Nam đã tích cực tiến hành đàm phán, giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ trên cả đất liền và trên biển thông qua thương lượng, đàm phán hoà bình và đã ký kết được một khối lượng lớn các hiệp ước, hiệp định về biên giới với các nước láng giềng. Đây là những công cụ pháp lý cơ bản nhằm bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia. Trên đất hến, nước ta phải bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và giải quyết vấn đề biên giới, lãnh thổ trong tình hình sau:

- Giữa Việt Nam, Lào và Campuchia chưa có đường biên giới được hoạch định bởi các hiệp ước giữa hai nhà nước có chủ quyền, chỉ có ranh giới nội bộ của năm xứ trong Đông Dương thuộc Pháp do chính quyền thực dân quy định. Ranh giới đó chưa có giá trị pháp lý quốc tế;

- Giữa Việt Nam và Trung Quốc có một đường biên giới được hoạch định bởi hai Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895. Hai Công ước này có giá trị pháp lý quốc tế. Đường biên giới đó đã được phân giới trên thực địa và cắm 341 mốc quốc giới. Tuy vậy, đường biên giới này có bị biến dạng trên một số đoạn do những hành động lấn chiếm, xâm canh, xâm cư diễn ra trong gần một thế kỷ.


Từ tình hình trên, sau khi đất nước thống nhất, có một loạt vấn đề biên giới lãnh thổ phải giải quyết:

(1) Việt Nam phải đàm phán hoạch đinh biên giới quốc gia với ba nước Trung Quốc, Lào và Campuchia, tạo ra cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc để xây dựng đường biên giới hữu nghị lâu dài với ba nước đó;

(2) Từng bước xây dựng hệ thống pháp luật về quản lý biên giới lãnh thổ.


Thực tế tiến trình đàm phán hoạch định biên giới có những thuận lợi và khó khăn:

Thuận lợi: Đất nước ta giành được độc lập, chủ quyền, nhân dân ta có ý chí độc lập dân tộc cao, từ xa xưa đã kiên trì đấu tranh giữ vững bờ cõi và biên cương tổ quốc. Do tính chất hệ trọng của vấn đề biên giới nên lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo sát sao việc đàm phau giải quyết vấn đề biên giới và quyết tâm giải quyết dứt điểm vấn đề biên giới lãnh thổ với các nước láng giềng;

Khó khăn: Đất nước ta vừa trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt là chống Pháp và chống Mỹ, nên điều kiện kinh tế - xã hội gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn tìm cách chống phá, chia rẽ đoàn kết dân tộc, phá hoại quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước láng giềng. Đường biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng còn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, nhạy cảm do lịch sử để lại, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết và xử lý thận trọng mọi sự kiện biên giới; hồ sơ, tài liệu về biên giới còn thiếu, lưu trữ phân tán cả trong và ngoài nước, đặc biệt là tư liệu về quá trình giải quyết vấn đề biên giới của Việt Nam với các nước láng giềng trong thời kỳ thực dân.


Trong hơn 30 năm, Việt Nam đã kiên trì đàm phán thương lượng hoà bình vấn đề biên giới lãnh thổ với các nước láng giềng và đã đạt được những kết quả quan trọng.

Với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, đường biên giới hiện tại giữa hai nước có chiều dài khoảng 1.406 km, từ ngã ba biên giới Việt Nam - Trung Quốc - Lào đến bờ biển vịnh Bắc Bộ (Quảng Ninh - Vân Nam). Đi qua 7 tỉnh biên giới phía Việt Nam, tiếp giáp với hai tỉnh phía Trung Quốc. Cơ sở pháp lý hiện nay về biên giới đất liền giữa hai nước là:

1/ Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, ký ngày 7-11-1991;

2/ Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, ký ngày 19-10-1993;

3/ Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, ký ngày 30-12-1999.


Với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, đường biên giới hiện tại giữa hai nước có chiều dài khoảng 2.067 km, từ ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc (tỉnh Điện Biên) đến ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia tỉnh Kon Tum). Đi qua 10 tỉnh biên giới phía Việt Nam, tiếp giáp với 10 tỉnh biên giới phía Lào. Đường biên giới này đã được phân giới cắm mốc sau kết quả mười năm đàm phán ký kết các văn bản pháp lý giữa hai nước. Những văn bản pháp lý quan trọng chủ yếu bao gồm:

1/ Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, ký ngày 18-7-1977;

2/ Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, ký ngày 24-01-1986;

3/ Nghị định thư về phân giới cắm mốc đường biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, ký ngày 24-01-1986;

4/ Nghị định thư bổ sung về phân giới cắm mốc đường biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, ký ngày 16-10-1987;

5/ Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, ký ngày 01-3-1990;

6/ Nghị định thư bổ sung Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, ký ngày 31-8-1997.


Với Vương quốc Campuchia, đường biên giới hiện tại giữa hai nước có chiều dài khoảng 1.137 km, từ ngã ba biên giới Việt Nam - Campuchia - Lào (Kon Tum) đến bờ biển tiếp giáp giữa tỉnh Kiên Giang và Kăm-pôt. Đi qua 10 tỉnh biên giới phía Việt Nam, tiếp giáp với 9 tỉnh biên giới phía Campuchia. Đường biên giới này đã được hai bên thống nhất hoạch định trên văn bản và bản đồ. Cơ sở pháp lý hiện tại để duy trì việc quản lý biên giới trên đất liền hiện nay giữa hai nước là:

1/ Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Campuchia, ký ngày 20-7-1983;

2/ Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Campuchia, ký ngày 20-7-1983;

3/ Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Campuchia, ký ngày 27-12- 1985;

4/ Hiệp ước giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985, ký ngày 10-10-2005.

5/ Về vùng biển tiếp giáp của hai nước trong vịnh Thái Lan, ngày 7-7-1982 nước ta và Campuchia đã ký "Hiệp định về vùng nước lịch sử giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Campuchia".


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Hai, 2012, 07:49:46 PM
VI. KHÁI QUÁT CÁC TỈNH BIÊN GIỚI ĐẤT LlỀN(1)
(Nội dung trong phần này được tổng hợp từ cuốn sách "Non nước Việt Nam" của Trung tâm Công nghệ thông tin du lịch, Tổng cục Du lịch xuất bản năm 2005 và "Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam" của tác giả Lê Thông, Nxb Giáo dục 2004 - 2005, các Tập có liên quan)

1. Tỉnh Quảng Ninh

Diện tích khoảng 5.899 km2.

Dân tộc: Việt, Tày, Dao, Sán Chỉ, Cao Lan, Sán Dìu, Hoa...

Tỉnh lị là thành phố Hạ Long. Có 3 thị xã (Cẩm Phả, Uông Bí, Móng Cái), 10 huyện: Bình Liêu, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên, Ba Chẽ, Vân Đồn, Hoành Bồ, Đông Triều, Cô Tô, Đông Hưng.

(http://desmond.imageshack.us/Himg7/scaled.php?server=7&filename=bandoquangninh.jpg&res=medium)

Quảng Ninh là một vùng đất cổ, có rừng, có biển, nhiều hải sản quý đặc biệt là có trữ lượng than đá chiếm 90% tổng trữ lượng than đá của Việt Nam. Cùng với sự thăng trầm của lịch sử, địa phận Quảng Ninh đã nhiều lần thay đổi với các tên gọi khác nhau. Năm Minh Mạng thứ 18, vùng đất Quảng Ninh nay chia thành hai tỉnh Quảng Yên và Hải Ninh. Thời kỳ trước năm 1947, khu vực miền Đông của Quảng Ninh trước đây được gọi là Hải Ninh, còn khu vực miền Tây gọi là Quảng Yên và đặc khu Hồng Gai. Năm 1947, hợp nhất tỉnh Quảng Yên và đặc khu Hồng Gai thành tỉnh Quảng Hồng. Năm 1948, tỉnh Quảng Hồng tách thành hai tỉnh Quảng Yên và Hồng Gai. Năm 1955, lại hợp nhất hai tỉnh thành Hồng Quảng, cắt 4 huyện về Hải Dương (Chí Linh, Nam Sách, Kinh Môn, Đông Triều) và cắt ba huyện nhập về Hải Phòng (Cát Bà, Cát Hải, Thuỷ Nguyên). Đầu thập kỷ 60, nhập huyện Đông Triều vào tỉnh Hồng Quảng. Năm 1969, Hồng Quảng và Hải Ninh sáp nhập thành một tỉnh mới và được Bác Hồ đặt tên là Quảng Ninh.


Tỉnh Quảng Ninh hiện nay là một tỉnh thuộc miền Đông Bắc của Việt Nam. Phía Bắc giáp Trung Quốc. Phía Nam giáp tỉnh Hải Phòng. Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ, bờ biển dài khoảng 250 km. Phía Tây giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Hải Dương.


Tỉnh Quảng Ninh tiếp giáp Trung Quốc với 170 km đường biên giới. Có 1 thị xã và 2 huyện, 15 xã, phường biên giới(1) (Số liệu các huyện, thị, xã, phường biên giới của các tỉnh biên giới đất liền được ghi theo Nghị định số 34/2000/NĐ-CP ngày 18-8-2000 của Chính phủ về Quy chế khu vực biên giới đất liền nước CHXHCN Việt Nam và Thông tư số 179/2001/TT-BQP ngày 22-01-2001 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn thực hiện Nghị định 34 của Chính phủ):

- Thị xã Móng Cái có 7 xã, phường biên giới (Hải Sơn, Hải Yên, Hải Hoà, Ninh Dương, Ka Long, Trần Phú, Trà Cổ);

- Huyện Quảng Hà có 2 xã (Quảng Sơn, Quảng Đức); Huyện Bình Liêu có 6 xã (Đồng Văn, Hoành Mô, Lục Hồn, Đồng Tâm, Tình Húc, Vô Ngại).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Hai, 2012, 07:52:51 PM
2. Tỉnh Lạng Sơn

Diện tích khoảng 8.305 km2.

Dân tộc: Việt, Tày, Nùng, Dao, Mông, Sán Chay, Ngái...

Tỉnh lị là thành phố Lạng Sơn. Có 10 huyện: Tràng Định, Văn Lãng, Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn, Hữu Lũng, Chi Lăng, Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập.

(http://desmond.imageshack.us/Himg263/scaled.php?server=263&filename=bandolangson.gif&res=medium)

Ngay từ thời xa xưa, hai từ "xứ Lạng" đã được ghi vào sử sách. Thời các vua Hùng, vùng đất Lạng Sơn nằm trong bộ Lục Hải. Đời Trần gọi là lộ Lạng Giang. Năm 1397 đổi làm trấn Lạng Giang. Đời Minh gọi là phủ Lạng Sơn. Năm 1466 đặt làm thừa tuyên Lạng Sơn.  Năm 1490 đổi là xứ Lạng Sơn. Năm 1509 đổi là trấn Lạng Sơn. Năm 1831 đổi là tỉnh Lạng Sơn. Năm 1975, hợp nhất tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng. Năm 1978 lại tánh thành hai tỉnh cũ là Lạng Sơn và Cao Bằng.


Hiện nay, Lạng Sơn là một tỉnh nằm ở phía Bắc của Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng. Phía Nam giáp tỉnh Bắc Giang. Phía Đông giáp tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc. Phía Đông Nam giáp tỉnh Quảng Ninh. Phía Tây Nam giáp tỉnh Bắc Cạn. Thành phố Lạng Sơn cách Hà Nội 154 km theo quốc lộ 1A.


Địa hình chủ yếu là rừng núi. Hệ thống sông, suối tương đối dày đặc đã tạo nên những cánh đồng thung lũng màu mỡ thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Khí hậu ôn đới mát mẻ, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 21,5°C. Là tỉnh có tiềm năng về khoáng sản và nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử, văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc.


Tỉnh Lạng Sơn có đường biên giới giáp Trung Quốc dài 253 km. Có 5 huyện, 20 xã biên giới:

- Huyện Đình Lập có 2 xã (Bắc Xa, Bính Xá);

- Huyện Lộc Bình có 4 xã (Tam Gia, Tú Mịch, Yên Khoái, Mẫu Sơn);

- Huyện Cao Lộc có 4 xã, 1 thị trấn (Xuất Lễ, Cao Lâu, Lộc Thanh, Bảo Lâm, thị trấn Đồng Đăng);

- Huyện Văn Lãng có 5 xã (Tân Mỹ, Tân Thanh, Thanh Long, Thụy Hùng, Trùng Khánh);

- Huyện Tràng Định có 4 xã (Đào Viên, Tân Minh, Đội Cấn, Quốc Khánh).


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Hai, 2012, 07:57:34 PM
3. Tỉnh Cao Bằng

Diện tích khoảng 6.691 km2.

Dân tộc: Việt, Tày, Nùng, Dao, Mông, Sán Chay, Hoa...

Tỉnh lị là thị xã Cao Bằng. Có 12 huyện: Bảo Lạc, Bảo Lâm, Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Nguyên Bình, Hoà An, Phục Hoà, Quảng Uyên, Hạ bang, Thạch An.

(http://est.congdulich.com/uploads/diachi/tinhthanh/1200469762cao%20bang.JPG)


Cao Bằng là địa danh đã xuất hiện từ lâu đời ở nước ta. Vào thời các vua Hùng, vùng đất này thuộc bộ Vũ Định. Đến đời Lý, thuộc vào đất Thái Nguyên. Đầu triều Lê, Cao Bằng thuộc đạo Bắc rồi đặt vào thừa tuyên Ninh Sóc, sau đổi thành phủ Cao Bình. Nhà Mạc thất thế chạy lên đóng đô ở Cao Bình với 3 đời vua. Khi nhà Lê dẹp xong nhà Mạc mới đặt đất riêng không để thuộc Thái Nguyên nữa. Nhà Tây Sơn kỵ huý (vì tên vua Quang Trung là Nguyễn Quang Bình), đổi tên Cao Bình thành Cao Bằng. Triều Nguyễn, năm 1808 đổi phủ Cao Bằng thành phủ Trùng Khánh thuộc trấn Cao Bằng. Năm 1831 đổi là tỉnh Cao Bằng. Cuối năm 1975, hợp nhất tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Cao Bằng thành tỉnh Cao Lạng. Đến năm 1978 lại tách thành hai tỉnh cũ là Lạng Sơn và Cao Bằng.


Hiện nay, Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam. Phía Bắc và phía Đông giáp Trung Quốc. Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Hà Giang. Phía Nam giáp tỉnh Bắc Cạn và tỉnh Lạng Sơn. Thị xã Cao Bằng cách Hà Nội 286 km theo Quốc lộ 3.


Địa hình của tỉnh tương đối phức tạp vì vậy giao thông giữa các huyện trong tỉnh bị hạn chế. Cao Bằng có khí hậu ôn đới, mát mẻ quanh năm, có nhiều núi cao, phong cảnh thiên nhiên hữu tình rất thích hợp cho nghỉ ngơi, du lịch.


Tỉnh Cao Bằng có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dài km. Có 9 huyện, 42 xã biên giới:

- Huyện Thạch An có 1 xã Đức Long;

- Huyện Quảng Hoà có 4 xã (Mỹ Hưng, thị trấn Tà Lùng, Đại Sơn, Cách Linh);

- Huyện Hạ Lang có 8 xã (Cô Ngân, Thị Hoa, Thái Đức, Việt Chu, Quang Long, Đồng Loan, Lý Quốc, Minh Long);

- Huyện Trùng Khánh có 7 xã (Đàm Thuỷ, Chi Viễn, Đình Phong, Ngọc Khê, Phong Nậm, Ngọc Chung, Lãng Yên);

- Huyện Trà Linh có 5 xã (Tri Phương, Xuân Nội, Hùng Quốc, Quang Hán, Cô Mười);

- Huyện Hà Quảng có 9 xã (Tổng Cọt, Nội Thôn, Cải Viên, Vân An, Lũng Nậm, Kéo Yên, Trường Hà, Nà Xác, Sóc Hà);

- Huyện Thông Nông có 2 xã (Vị Quang, Cần Viên);

- Huyện Bảo Mạc có 5 xã (Xuân Trường, Khánh Xuân, Cô Ba, Thượng Hà, Cốc Pàng);

- Huyện Bảo Lâm có 1 xã Đức Hạnh.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Hai, 2012, 07:59:27 PM
4. Tỉnh Hà Giang

Diện tích khoảng 7.884 km2

Dân tộc: Việt, Tày, H'mông, Nùng, Dao, Cao Lan, Hoa...

Tỉnh lị là thị xã Hà Giang. Có 9 huyện: Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, Bắc Mê, Hoàng Su Phì, Vị Xuyên, Xỉn Mần, Bắc Quang.

(http://est.congdulich.com/uploads/diachi/tinhthanh/1200469817hagiang.JPG)


Thuộc Khu quân sự thành lập năm 1891 gồm một phủ Tương Yên tách từ tỉnh Tuyên Quang ra gồm ba châu Bảo Lạc, Vị Xuyên và Vĩnh Tuy. Năm 1900 gọi là tỉnh Hà Giang. Năm 1976, hợp nhất hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên. Năm 1991, Hà Tuyên lại tách thành hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang.
Hiện nay, Hà Giang là mảnh đất địa đầu cực Bắc của Việt Nam. Phía Bắc giáp Trung Quốc. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng. Phía Tây giáp tỉnh Yên Bái và tỉnh Lào Cai. Phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang. Thị xã Hà Giang cách Hà Nội 320 km.


Địa hình của tỉnh Hà Giang khá phức tạp. Có thể chia làm ba vùng. Vùng cao núi đá phía Bắc nằm sát chí tuyến Bắc, có độ dốc khá lớn, thung lũng và sông, suối bị chia cắt nhiều, khí hậu ôn đới chia làm hai mùa khô và mưa, nhiệt độ trung bình hàng năm 24 - 28°C. vùng cao núi đất phía Tây thuộc khối núi thượng nguồn sông Chảy, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp, khí hậu cũng có hai mùa mưa và khô. Vùng thấp gồm đồi, núi, thung lũng sông Lô và thị xã Hà Giang, nhiệt độ trung bình hàng năm 21 - 23°C.


Tỉnh Hà Giang có đường biên giới tiếp giáp với Trung Quốc dài 274 km. Có 7 huyện, 34 xã biên giới:

- Huyện Mèo Vạc có 3 xã (Sơn Vĩ, Xín Cái, Thượng Phùng);

- Huyện Đồng Văn có 8 xã, 1 thị trấn (Đồng Văn, Lũng Cú, Mã Lé, Lũng Táo, Xà Phin, Sủng Là, thị trấn Phố Bảng, Phố Là, Phố Cáo);

- Huyện Yên Minh có 4 xã (Thắng Mỗ, Phú Lũng, Bạch Đích, Na Khê);

- Huyện Quản Bạ có 5 xã (Bát Đại Sơn, Nghĩa Thuận, Cao Mã Pờ, Tùng Vải, Tả Ván);

- Huyện Vị Xuyên có 5 xã (Minh Tân, Thanh Thuỷ, Thanh Đức, Xin Chải, Lao Chải);

- Huyện Hoàng Su Phì có 4 xã (Thèn Chu Phin, Pố Lồ, Thàng Tín, Bản Máy);

- Huyện Xín Mần có 4 xã (Nàn Xỉn, Xín Mần, Chí Cà, Pà Vầy Sử).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Hai, 2012, 08:02:52 PM
5. Tỉnh Lào Cai

Diện tích khoảng 6.357 km2

Dân tộc: Việt, Tày, Nùng, Dao, H'mông, Thái, Giáy, Lự, Bố Y, Kháng, La Chi, Phù Lá, Hà Nhì, Mường, La Ha...

Tỉnh lị là thành phố Lào Cai. Có 8 huyện: Mường Khương, Bát Xát, Bắc Hà, Bảo Thắng, Sa Pa, Bảo Yên, Văn Bàn, Si Ma Cai.

(http://sapapathfinder.com/images/image/sapa/laocaimap.jpg)


Nguyên là đất Lão Nhai (Phố Cũ) đọc trại ra thành Lào Cai. Tỉnh thành lập năm 1886. Năm 1907, Lào Cai gồm châu Thuỷ Vĩ và châu Bảo Thắng. Năm 1975 hợp nhất với tỉnh Nghĩa Lộ và tỉnh Yên Bái thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Năm 1991, tỉnh Hoàng Liên Sơn tách thành hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái.


Lào Cai hiện nay là một tỉnh vùng cao phía Bắc của Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu. Phía Đông giáp tỉnh Hà Giang. Phía Nam giáp tỉnh Yên Bái và tỉnh Sơn La. Thành phố Lào Cai cách Hà Nội 330 km.


Địa hình của tỉnh gồm có núi, đồi và thung lũng. Hệ thống sông, suối chằng chịt, lắm thác ghềnh. Có nhiều dải rừng lớn, giàu tài nguyên và có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp. Nhiệt độ trung bình hàng năm 18-28°C.


Tỉnh lào Cai có đường biên giới tiếp giáp Trung Quốc dài 203 km. Có 1 thị xã, 4 huyện, 26 xã, phường biên giới:

- Huyện Bắc Hà có 3 xã (Sán Chải, Xí Ma Cai, Xã Nàn Sán);

- Huyện Mường Khương có 9 xã (Tả Gia Khâu, Dìn Chin, Pha Long, Tả Ngải Chồ, Tung Trung Phố, Mường Khương, Nậm Chẩy, Lùng Vai, Bản Lầu);

- Huyện Bảo Thắng có 1 xã Bản Phiệt;

- Huyện Bát Xát có 10 xã (Quang Kim, Bản Qua, Bản Vược, Cốc Mỹ, Trịnh Tường, Nậm Chạc, A Mú Sung, Ngài Thầu, A Lù, Y Tý);

- Thị xã Lào Cai có 3 xã, phường (Lào Cai, Xuyên Hải, Đông Tuyến).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Hai, 2012, 08:04:07 PM
6. Tỉnh Lai Châu

Diện tích khoảng 9.065 km2

Dân tộc: Thái, Mông, Việt, Khơ Mú, Hà Nhì, Giãy, La Hủ, Lào, Cống, Mảng, Phù Lá, Kháng, Si La ...

Tỉnh lị là thị xã Lai Châu. Các huyện: Tam Đường, Phong Thổ, Sìn Hồ, Than Uyên, Mường Tè.

(http://est.congdulich.com/uploads/diachi/tinhthanh/1200470020lai%20chau.JPG)


Vùng đất Lai Châu thuộc phủ Điện Biên tỉnh Hưng Hoá xưa. Năm 1909, tỉnh Lai Châu được thành lập gồm 3 châu là châu Lai, châu Quỳnh Nhai và châu Điện Biên được tách ra từ tỉnh Sơn La. Trải qua nhiều triều đại và các giai đoạn lịch sử, ranh giới tỉnh Lai Châu hầu như vẫn giữ nguyên, không bị sáp nhập hoặc thay đổi nhiều. Năm 2004, tỉnh Lai Châu tách thành hai tỉnh Điện Biên và Lai Châu.


Tỉnh Lai Châu hiện nay mới tách ra từ tỉnh Lai Châu Cũ là một tỉnh miền núi cao nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam, được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Phía Bắc giáp Trung Quốc. Phía Đông giáp tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái. Phía Nam giáp tỉnh Sơn La. Phía Đông Nam giáp tỉnh Điện Biên. Thị xã Lai Châu cách Hà Nội 450 km đường bộ.


Địa hình của tỉnh chủ yếu là núi đồi cao và dốc, xen kẽ nhiều thung lũng sâu và hẹp, có nhiều cao nguyên, sông, suối. Sông có nhiều thác ghềnh, dòng chảy lưu lượng lớn nên tiềm năng thuỷ điện rất lớn. Khí hậu mang tính chất gió mùa chí tuyến, nhiệt độ trung bình hàng năm 21 - 23°C, chia làm hai mùa mưa và khô.


Tỉnh Lai Châu tiếp giáp với tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, với đường biên giới dài 273 km. Có 2 huyện, 15 xã biên giới:

- Huyện Sìn Hồ có 3 xã (Huổi Luông, Pa Tần, Nậm Ban);

- Huyện Phong Thổ có 12 xã (Ma Li Pho, Vàng Ma Chải, Pa Vây Sử, Mồ Sì San, Sì Lờ Lầu, Ma Li Chải, Dào San, Tông Qua Lìn, Mù Sang, Nậm Se, Bản Lang, Sìn Suối Hồ); sau khi tách một số huyện thành lập tỉnh Điện Biên, có thêm huyện Mường Tè là huyện biên giới.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Hai, 2012, 08:05:34 PM
7. Tỉnh Điện Biên

Diện tích khoảng 9.544 km2

Dân tộc: Thái, H'mông, Việt, Dao, Giáy ...

Tỉnh lị là thành phố Điện Biên Phủ. Có 1 thị xã (Mường Lay) và các huyện: Tủa Chùa, Tuần Giáo, Điện Biên Đông, Điện Biên, Mường Nhé, Mường Chà.

(http://est.congdulich.com/uploads/diachi/tinhthanh/1200469530dien%20bien.JPG)

Tỉnh mới tách ra từ tỉnh Lai Châu cũ, nằm ở phía Nam sông Đà, thuộc vùng núi cao phía Tây bắc của Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Phía Đông Bắc giáp tỉnh Lai Châu. Phía Đông Nam giáp tỉnh Sơn La. Phía Tây Nam giáp nước Lào. Thành phố Điện Biên Phủ cách Hà Nội 474 km theo quốc lộ 6 và 279.


Địa hình tỉnh khá phức tạp, nhiều núi cao, những thung lũng hẹp, cao nguyên nhỏ, sông, suối hẹp và có độ dốc lớn. Khí hậu có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm 21 - 23°C.


Tỉnh Điện Biên có đường biên giới tiếp giáp với nước Lào dài 360 km và tiếp giáp với Trung Quốc dài 50 km. Có 1 huyện Mường Nhé mới tách ra từ Mường Tè với 6 xã biên giới giáp Trung Quốc (Hùa  Bum, Pa Vệ Sử, Pa Ủ, Ka Lăng, Thu Lũm, Mù Cả) và 3 huyện, 17 xã biên giới tiếp giáp nước Lào: Huyện Mường Nhé có 4 xã (Mường Nhé, Mường Tong, Xín Thầu, Chung Chải); huyện Mường Chà có 5 xã (Mường Mươn, Mường Pồn, Nà Hi, Si Pha Phìn, Chà Nưa); huyện Điện Biên có 8 xã (Thanh Luông, Thanh Hưng, Thanh Chăn, Pa Thơm, Na Ư, Mường Lói, Mường Nhà).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Hai, 2012, 08:07:27 PM
8. Tỉnh Sơn La

Diện tích khoảng 14.055 km2

Dân tộc: Việt, Dao, Xinh Mun, Khơ Mú, Kháng, La Ha, Thái, Mường ...

Tỉnh lị là thị xã Sơn La. Các huyện: Quỳnh Nhai, Mường La, Thuận Châu, Phù Yên, Bắc Yên, Mai Sơn, Sông Mã, Yên Châu, Mộc Châu, Sốp Cộp.

(http://est.congdulich.com/uploads/diachi/tinhthanh/1200470262son%20la.JPG)


Tỉnh thành lập năm 1886, lúc đầu gọi là tỉnh Tạ Bú (còn gọi là Vạn Bú vì khi đó tỉnh lị đặt ở Vạn Bú). Đến năm 1904, tỉnh lị chuyển về Sơn La nên đổi tên tỉnh là Sơn La. Cuối năm 1975 được sáp nhập thêm hai huyện là Phú Yên và Bắc Yên trích từ tỉnh Nghĩa Lộ.


Sơn La hiện nay nằm ở vùng Tây Bắc của Việt Nam. Phía Bắc giáp các tỉnh Yên Bái và Lào Cai. Phía Tây giáp tỉnh Lai Châu. Phía Đông giáp tỉnh Phú Thọ và tỉnh Hoà Bình. Phía Đông nam giáp tỉnh Thanh Hoá và Hoà Bình. Phía Nam giáp nước Lào. Thị xã Sơn La cách Hà Nội 328 km theo Quốc lộ 6.


Địa hình chủ yếu là núi và cao nguyên. Mạng lưới sông, suối dày đặc nguồn nước dồi dào có tiềm năng về thuỷ điện. Là tỉnh có khí hậu đa dạng, nhiều nét đặc thù nhưng vẫn mang tính chất khí hậu gió mùa chí tuyến. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 21°C, rất thích hợp cho nghỉ dưỡng.


Tỉnh Sơn La có đường biên giới tiếp giáp nước Lào dài 250 km. Có 4 huyện, 19 xã biên giới:

- Huyện Sông Mã có 10 xã (Mường Lèo, Púng Bánh, Dồm Càng, Nậm Lạnh, Mường Và, Mường Lạn, Mường Cai, Chiềng Khương, Mường Hung, Mường Sai);

- Huyện Mai Sơn có 1 xã Phiêng Pằn;

- Huyện Yên Châu có 4 xã (Phiêng Khoài, Chiềng On, Chiềng Tương, Lồng Phiêng);

- Huyện Mộc Châu có 4 xã (Lóng Sập, Chiềng Khừa, Xuân Nha, Chiềng Sơn).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Hai, 2012, 08:08:47 PM
9. Tỉnh Thanh Hoá

Diện tích khoảng 11.106 km2

Dân tộc: Việt, Mường, Thái, Lào, Lự ...

Tỉnh lị là thành phố Thanh Hoá. Có 2 thị xã (Sầm Sơn, Bỉm Sơn) và các huyện: Mường Lát, Quang Hoá, Quang Sơn, Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Lang Chánh, Thạch Thành, Ngọc Lạc, Thường Xuân, Như Xuân, Như Thanh, Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn, Yên Định, Thọ Xuân, Hậu Lộc, Thiệu Hoá, Hoằng Hoá, Đông Sơn, Triệu Sơn, Quảng Xương, Nông Cống, Tĩnh Gia.

(http://pilot.vn/upload/files//2009/05/25/Bando%20tinh%20Thanh%20Hoa.jpg)


Nguyên là đất quận Cửu Chân đời Hán. Đời Lương Vũ Đế đổi gọi là Ái châu cho đến đời Ngô, Đinh, Lê. Đời Lý, năm 1010 đổi là trại. Năm 1029 đổi làm phủ Thanh Hoa. Năm 1397 sau khi dời kinh đô vào Tây Đô, Hồ Quý Ly đổi trấn Thanh Hoa thành trấn Thanh Đô, đổi phủ Thanh Hoá làm phủ Thiên Xương cùng với Cửu Chân và Ái châu làm miền phụ kỳ của Tây Đô. Đời Minh lại đặt làm phủ Thanh Hoa, Ái châu và châu Cửu Chân. Năm 1469 đổi làm Thanh Hoa vì là đất thang mộc, đất Lê Lợi dựng nghiệp để ví với đất Kỳ nhà Chu, đất Bái nhà Hán. Thừa tuyên xứ, trấn Thanh Hoa đòi Lê gồm cả phủ Trường Yên và phủ Thiên Quan trấn Ninh Bình sau này nhà Mạc giữ đất từ Tam Điệp trở ra, gọi hai phủ ấy là Thanh Hoa nội trấn. Nhà Lê giữ từ Tam Điệp trở vào. Đời Lê trung hưng (1592 - 1788) lấy 4 phủ Thiệu Thiên (Thiệu Hoá), Hà Trung, Tĩnh Gia, Thanh Đô (Thọ Xuân) làm Thanh Hoa nội trấn, hai phủ Trường Yên, Thiên Quan (Nho Quan) làm Thanh Hoa ngoại trấn, nhưng về mặt tổ chức cai trị hai bộ phận vẫn là một. Năm 1806, đổi ngoại trấn là trấn Thanh Bình, năm 1821 đổi trấn Thanh Bình làm đạo Ninh Bình, năm 1829 đổi làm trấn Ninh Bình, năm 1831 đổi trấn làm tỉnh gọi là tỉnh Ninh Bình và tỉnh Thanh Hoa. Năm 1840 đổi làm tỉnh Thanh Hoá.


Thanh Hoá ngày nay là một trong những tỉnh lớn của Việt Nam, nằm ở cửa ngõ nối liền Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ. Phía Bắc giáp các tỉnh Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình. Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An. Phía Đông giáp biển Đông. Phía Tây giáp nước Lào. Thành phố Thanh Hoá cách Hà Nội 150 km đường bộ.


Địa hình tương đối phức tạp, đa dạng, thấp dần từ Tây sang Đông gồm có vùng núi, trung du, đồng bằng, vùng ven biển. Khí hậu thuộc vùng chuyển tiếp giữa Bắc Bộ và Trung Bộ. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23 - 24°C. Nằm ở độ cao không lớn nên mùa đông không lạnh lắm, mùa hè dịu mát. Giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt đều thuận lợi.


Tỉnh Thanh Hoá có đường biên giới tiếp giáp với nước Lào dài 192 km. Có 5 huyện, 15 xã biên giới:

- Huyện Thường Xuân có 1 xã Bát Mọt;

- Huyện Lang Chánh có 1 xã Yên Chương;

- Huyện Quan Sơn có 6 xã (Tam Lư, Tam Thanh, Mường Mìn, Sơn Điện, Na Mèo, Sơn Thuỷ);

- Huyện Quan Hoá có 1 xã Hiền Kiệt;

- Huyện Mường Lát có 6 xã (Trung Lý, Pù Nhi, Mường Chanh, Quang Chiếu, Tẽn Tần, Tam Chung).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Hai, 2012, 08:12:40 PM
10. Tỉnh Nghệ An

Diện tích: 16.487 km2

Dân tộc: Việt, Khơ Mú, O Đu, Thổ, Sán Dìu, H'mông ...

Tỉnh lị là thành phố Vinh. Có 1 thị xã Cửa Lò và 17 huyện: Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Nam Đàn, Thanh Chương, Tân Kỳ, Anh Sơn, Con Cuộng, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn.

(http://desmond.imageshack.us/Himg404/scaled.php?server=404&filename=bandonghean.jpg&res=medium)


Xưa là đất quận Cửu Chân đời Hán, quận Cửu Đức đời Tần, quận Nhật Nam đời Tuỳ, năm 622 đời Đường đổi là Nam Đức lĩnh 6 huyện. Năm 628 lại đổi làm Đức Châu, rồi lại đổi làm châu Hoan và châu Diễn. Đời Đinh, Lê gọi là Hoan Châu. Năm 1101, Lý Nhân Tông đổi làm phủ Nghệ An. Năm Quang Thái đời Trần Thuận Tông (1397) đổi Nghệ An làm Lâm An trấn. Năm Quang Thuận thứ mười (1469) hợp cả Hoan, Diễn thành thừa tuyên Nghệ An, sau đổi làm xứ. Đời Lê Tương Dực đổi làm trấn cho đến hết đời hậu Lê (1788). Tây Sơn đổi Nghệ An làm Nghĩa An. Gia Long đổi lại làm Nghệ An. Năm Minh Mạng thứ mười hai (1831) đặt làm tỉnh Nghệ An, tách Hà Tĩnh làm tỉnh riêng. Năm 1975, Nghệ An và Hà Tĩnh hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.


Tỉnh Nghệ An hiện nay là một tỉnh lớn ở phía Bắc Trung Bộ của Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá. Phía Đông giáp biển Đông. Phía Tây giáp nước Lào. Phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh. Thành phố Vinh cách Hà Nội 291 km đường bộ.


Địa hình của tỉnh bao gồm đồi núi và thung lũng, độ dốc thoải dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Hệ thống sông ngòi dày đặc. Bờ biển dài hơn 80 km có Cửa Lò là cảng biển quan trọng của miền Trung. Giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không đều thuận lợi Vì nằm trong vùng chuyển tiếp khí hậu nên khí hậu vừa mang tính đông lạnh của miền Bắc, vừa mang tính nắng nóng của miền Nam. Nhiệt độ trung bình hàng năm 23 - 24°C.


Tỉnh Nghệ An có đường biên giới tiếp giáp với nước Lào dài 419 km. Có 6 huyện, 26 xã biên giới:

- Huyện Quế Phong có 4 xã (Thông Thụ, Hạnh Dịch, Nậm Giải, Tri Lễ);

- Huyện Tương Dương có 4 xã (Nhon Mai, Mai Sơn, Tam Hợp, Tam Quang);

- Huyện Kỳ Sơn có 11 xã (Mỹ Lý, Bắc Lý, Keng Đu, Na Loi, Đoọc May, Nậm Cắn, Tà Cạ, Mường Típ, Mường Ải, Ba Ngoi, Nậm Càn);

- Huyện Con Cuông có 2 xã (Châu Khê, Môn Sơn);

- Huyện Anh Sơn có 1 xã Phúc Sơn; Huyện Thanh Chương có 4 xã (Hạnh Lâm, Thanh Hương, Thanh Thịnh, Thanh Thuỷ).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 04:37:00 PM
11 . Tỉnh Hà Tĩnh

Diện tích khoảng 6.056 km2

Dân tộc: Việt, Chức ...

Tỉnh lị là thị xã Hà Tĩnh. Có 1 thị xã (Hồng Lạnh) và các huyện: Hương Sơn, Đức Thọ, Nghi Xuân, Can Lộc, Hương Khê, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Vũ Quang.

(http://gtvthatinh.gov.vn/images/news/bandohanhchinh.jpg)


Địa danh Hà Tĩnh có lẽ nghĩa là có con sông chảy êm đềm vì sông chảy qua giữa tỉnh là sông Minh (sông Nghẽn). Đời Tiền Lê là châu Thạch Hà. Đời Lý là huyện Thạch Hà. Đời Trần là châu Nhật Nam. Đời Minh gọi là Tĩnh Châu. Đời Lê thuộc trấn Nghệ An, sau là tỉnh Hà Tĩnh tách ra. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), cắt hai phủ Thọ Đức và Hà Hoa của Nghệ An để thành lập tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1848, vua Tự Đức bỏ tỉnh làm đạo gồm một phủ Hà Hoa, còn phủ Đức Thọ nhập vào tỉnh Nghệ An. Năm 1875 đặt lại làm tỉnh Hà Tĩnh. Hà Tĩnh là đất rất cổ của nước Văn Lang xưa, vùng đất này có tên là bộ Cửu Đức. Tục truyền Kinh Dương Vương lúc đầu đóng đô trên núi Hồng Lĩnh, sau mới rời ra Phong Châu ở Phú Thọ và Chử Đồng Tử đã vào ở núi Quỳnh Viên, tức là núi Nam Giới ở gần cửa Sót. Năm 1975, Hà Tĩnh và Nghệ An hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh. Đến năm 1991, tỉnh Hà Tĩnh được tái thành lập.


Hà Tĩnh ngày nay là một tỉnh ở dải đất miền Trung của Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An. Phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình. Phía Đông giáp biển Đông. Phía Tây giáp nước vào. Thị xã Hà Tĩnh cách Hà Nội 340 km đường bộ.


Địa hình đa dạng, chủ yếu là đồi núi. Đồng bằng chỉ là một dải đất hẹp ven biển và xung quanh các trụt đường quốc lộ. Có tới 14 con sông lớn nhỏ và nhiều hồ nước. Bờ biển dài 137 km. Giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt đều thuận lợi.


Tỉnh Hà Tĩnh có đường biên giới tiếp giáp với nước Lào dài 145 km.

Có 2 huyện, 8 xã biên giới:

- Huyện Hương Sơn có 2 xã (Sơn Hồng, Sơn Kim);

- Huyện Hương Khê có 6 xã (Vũ Quang, Hoà Hải, Phú Gia, Hương Lâm, Hương Liên, Hương Vĩnh).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 04:38:32 PM
12. Tỉnh Quảng Bình

Diện tích khoảng 8.052 km2

Dân tộc: Việt, Bíu, Vân Kiều, Chức, Lào...

Tỉnh lị là thành phố Đồng Hới.

Các huyện: Tuyên Hoá, Minh Hoá, Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ.

(http://nguoiquangbinh.net/forum/hinhanh/bandoqb_nguoiquangbinh.net.jpg)


Vùng đất Quảng Bình có lịch sử khá lâu dài, phức tạp. Thời các vua Hùng, cùng với Quảng Trị, nơi đây thuộc bộ Việt Thường. Sau đó, vùng đất này khi thì thuộc quận Cửu Chân thời Triệu Đà, khi thì nằm ngang quận Nhật Nam thời nhà Hán. Trong các triều Chiêm Thành, Quảng Bình là các châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh. Từ năm 1075, đổi làm châu Lâm Bình. Từ năm 1361, đổi gọi là phủ Tân Bình. Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, vùng đất này bị chia làm hai, từ Nam sông Gianh trở vào thuộc chúa Nguyễn, từ Bắc sông Gianh trở ra thuộc chúa Trịnh. Đời Lê trung hưng đổi thành Tiên Bình. Năm 1604 đổi là Quảng Bình. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên và Đào Duy Từ sai đắp các thành luỹ Trường Dục, luỹ Đồng Hới, Nguyễn Hữu Dật đắp luỹ Trường Sa, Nguyễn Hữu Tiến đắp luỹ Sa Phụ để chống nhau với Chúa Trịnh. Chúa Nguyễn Phúc Khoát chia Quảng Bình ra làm ba dinh là Bố Chánh (dinh Ngói), Lưu Đồn (dinh Mười) và Quảng Bình (dinh Trạm). Từ năm 1786, đổi gọi là Thuận Lý. Năm 1801, Gia Long lấy hai huyện Lệ Thuỷ và Phong Lộc và hai châu Bố Chính nội, ngoại (Bắc Bố Chính và Nam Bố Chính) làm dinh Quảng Bình. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đặt phủ Quảng Ninh và tỉnh Quảng Bình, năm thứ 17 đặt thêm phủ Quảng Trạch. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Quảng Bình có hai phủ là Quảng Ninh và Quảng Trạch. Năm 1976, hợp nhất ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên thành tỉnh Bình Trị Thiên. Từ ngày 01-7-1989, theo quyết định của Quốc hội Khoá VII kỳ họp thứ 5, tỉnh Quảng Bình được tái lập.


Tỉnh Quảng Bình hiện nay là tỉnh thuộc miền Trung của Việt Nam. Phía bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh. Phía Đông giáp biển Đông. Phía Tây giáp nước Lào. Phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị. Thành phố Đồng Hới cách Hà Nội 491 km đường bộ.


Địa hình tương đối phức tạp, núi rừng sát biển tạo thành độ dốc cao dần từ Đông sang Tây. Đồng bằng nhỏ hẹp, chủ yếu tập trung theo hai bờ sông chính. Có nhiều sông ngòi. Nhiệt độ trung bình 25 - 26°C. Giao thông thuận tiện.


Tỉnh Quảng Bình có đường biên giới giáp nước Lào dài 186 km. Có 5 huyện, 8 xã biên giới:

- Huyện Tuyên Hoá có 1 xã Thanh Hoá;

- Huyện Minh Hoá có 3 xã (Dân Hoá, Thượng Hoá, Hoá Sơn);

- Huyện Bố Trạch có 1 xã Thượng Trạch;

- Huyện Quảng Ninh có 1 xã Trường Sơn;

- Huyện Lệ Thuỷ có 2 xã (Ngân Thuỷ, Kim Thuỷ).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 04:57:08 PM
13. Tỉnh Quảng Trị

Diện tích khoảng 4.746 km2

Dân tộc: Việt, Bíu, Vân Kiều, Paco, Tà Ôi, Nùng, S'tiêng, Xu Đăng...

Tỉnh lị là thị xã Đông Hà. Có 1 thị xã Đông Hà và các huyện: Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hướng Hoá, Đak Rông, Cồn Cỏ.

(http://img43.imageshack.us/img43/8120/bandoquangtri.jpg)


Đời Trần là đất châu Thuận. Đời Lê là một phần của phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hoá gồm cả châu Thuận Bình và Sa Bôi ở phía Đông tỉnh Sa-vẳn-nạ-khệt nước Lào. Đời chúa Nguyễn là Chính Dinh. Năm 1831, tỉnh Quảng Trị được thành lập. Năm 1896 đời vua Thành Thái, hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên dưới quyền cai trị trực tiếp của Khâm sứ Trung Kỳ. Năm 1900 đặt tỉnh Quảng Trị riêng biệt và là một trong 19 tỉnh, thành phố của Trung Kỳ. Năm 1954, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ đặt giới tuyến quân sự tạm thời ở sông Bến Hải, vĩ tuyến 17. Năm 1976, hợp nhất các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và khu vực Vĩnh Linh tỉnh Thừa Thiên thành tỉnh Bình Trị Thiên. Từ ngày 01-7-1989, theo quyết định của Quốc hội Khoá VII kỳ họp thứ 5, tỉnh Quảng Trị được tái lập.


Ngày nay, Quảng Trị là một tỉnh ở miền Trung của Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình. Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế. Phía Tây giáp tỉnh Sa-vẳn-nạ-khệt của nước Lào. Phía Đông giáp biển Đông với đường bờ biển dài 75 km. Thị xã Đông Hà cách Hà Nội 582 km.


Địa hình đa dạng bao gồm núi, đồi, đồng bằng, cồn cát và bãi biển chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Bờ biển dài 75 km. Mạng lưới sông ngòi dày đặc. Khí hậu khắc nghiệt, có gió Tây Nam và gió Lào rất nóng.
Tỉnh Quảng Trị có đường biên giới giáp nước Lào dài 182 km. Có 2 huyện, 16 xã biên giới:

- Huyện Đak Rông có 4 xã (A Bung, A Ngo, A Vào, Pa Nang);

- Huyện Hướng Hoá có 12 xã (Hướng Lập, Hướng Phùng, thị trấn lao Bảo, Tân Long, Tân Thành, Thuận, Thanh, A Xing, A Túc, Xi, Pa Tầng, A Dơi).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 04:58:23 PM
14. Tỉnh Thừa Thiên - Huế

Diện tích: 5.054 km2

Dân tộc: Việt, Tà Ôi, Cà Tu, Bíu, Vân Kiều, Hoa...

Tỉnh lị là thành phố Huế. Các huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thuỷ, Phú Lộc, A Lưới, Nam Đông.

(http://web.vietecon.org/sedec/solieu/bando/images-bando/map-thuathienhue.gif)


Vùng đất sông Hương - núi Ngự có một lịch sử khá lâu dài, phức tạp Vùng đất này chính thức hoà nhập vào Việt Nam từ năm 1306 sau sự kiện sáp nhập đất châu Ô - Lý vào Đại Việt. Kể từ khi Nguyên Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá năm 1558, nơi đây trở thành trung tâm chính trị, văn hoá của Đàng Trong. Dưới vương triều Nguyễn, phủ sở tại của kinh đô Huế đặt năm 1821 thay cho tên cũ dinh Quảng Đức đời Gia Long. Phủ "phụ kỳ" của kinh đô. Sau năm 1945, phủ Thừa Thiên đổi gọi là tỉnh Thừa Thiên. Năm 1976, hợp nhất ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên thành tỉnh Bình Trị Thiên. Từ ngày 01-7-1989, theo quyết định của Quốc hội Khoá VII kỳ họp thứ 5, thành lập tỉnh Thừa Thiên - Huế.


Hiện nay, Thừa Thiên - Huế là một tỉnh ở miền Trung của Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị. Phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng. Phía Tây Nam giáp tỉnh Quảng Nam. Phía Tây dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ giáp nước Lào. Phía Đông giáp biển Đông. Thành phố Huế cách Hà Nội 660 km.


Địa hình của tỉnh có cấu tạo dạng bậc khá rõ. Vùng núi chiếm khoảng 1/4 diện tích nằm ở vùng biên giới Việt Nam - Lào và kéo dài đến Đà Nẵng. Địa hình trung du chiếm khoảng 1/2 diện tích độ cao phần lớn dưới 500 m, có đặc điểm chủ yếu là đỉnh rộng, sườn thoải, phần lớn là đồi bát úp với chiều rộng vài trăm mét. Đồng bằng của tỉnh là một phần của đồng bằng duyên hải miền Trung, bề ngang hẹp và chiều dọc kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam song song với bờ biển. Hầu hết các sông lớn của tỉnh đều bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn, chảy ngang qua đồng bằng, xuống đầm phá, chảy ra biển. Bờ biển của tỉnh dài 120 km có cảng biển Thuận An và vịnh Chân Mây có khả năng xây dựng cảng nước sâu. Khí hậu đủ bốn -mùa, nhiệt độ trung bình cả năm 25°C.


Giao thông rất thuận lợi. Tỉnh Thừa Thiên - Huế có đường biên giới tiếp giáp với nước Lào dài 68 km. Có 1 huyện A dưới, với 12 xã biên giới (Hồng Thuỷ, Hồng Vân, Hồng Trung, Hồng Bắc, Nhâm, Hồng Thái, Hồng Thượng, Hương Phong, Đông Sơn, A Đớt, A Ràng, Hương Nguyên).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 05:00:43 PM
15. Tỉnh Quảng Nam

Diện tích khoảng 10.408 km2

Dân tộc: Việt, Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Co...

Tỉnh lị là thị xã Tam Kỳ. Có 01 thị xã Hội An và các huyện: Tây Giang, Đông Giang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Nam Giang, Thăng Bình, Quế Sơn.

(http://img823.imageshack.us/img823/8716/bandoquangnam.jpg)


Trong tiến trình lịch sử, vùng đất Quảng Nam cùng với Đà Nẵng được tạo lập trên con đường phát triển về phía Nam của nhiều thế hệ người Việt. Xưa nguyên là đất Nhật Nam đời Hán, đến đời Tuỳ là đất Chiêm Thành. Đời Hồ Quý Ly lấy đất Đại Chiêm và Cổ Luỹ đặt làm bốn châu Thăng, Hoa (nay thuộc tỉnh Quảng Nam) và Tư, Nghĩa (nay thuộc tỉnh Quảng Ngãi). Đời Lê Sơ gọi là Nam Giới. Vua Hồng Đức lập ra đạo Quảng Nam. Chúa Nguyễn chia đặt các dinh Quảng Nam, Quảng Nghĩa và phủ Quy Nhơn. Năm 1808, Gia Long đổi dinh làm trấn. Năm 1832, Minh Mạng đổi trấn làm tỉnh, còn gọi là Nam Trực (ở phía Nam kinh kỳ Phú Xuân). Thời Mỹ ngụy chia tỉnh Quảng Nam thành hai tỉnh, Quảng Nam ở phía Bắc tỉnh lị là Đà Nẵng và tỉnh Quảng Tín tỉnh lị là Tam Kỳ. Chính phủ Cách mạng lâm thời gọi là tỉnh Quảng Đà ở phía Bắc, Quảng Nam ở phía Nam. Năm 1976 Quảng Nam cùng với Quảng Đà và thành phố Đà Nẵng hợp nhất thành tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày 6-11-1996, Quốc hội Khoá IX kỳ họp thứ 10 tách thành tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương.


Ngày nay, tỉnh Quảng Nam nằm ở giữa miền Trung của Việt Nam. Phía Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng. Phía Tây giáp nước Lào. Phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi. Phía Đông giáp biển Đông.
Quảng Nam là tỉnh có nhiều núi và đồi, chiếm 72% diện tích với nhiều ngọn núi cao như núi Lum Heo cao 2.045 m, núi Tiến cao 2.032 m, núi Gole Lang cao 1.855 m. Vùng đất thấp ven biển là đồng bằng châu thổ. Các con sông lớn đều chảy từ dãy núi Trường Sơn ra biển Đông. Tỉnh có hai loại khí hậu khá rõ rệt là khí hậu của vùng nhiệt đới ven biển và khí hậu ôn đới vùng cao. Nhiệt động trung bình hàng năm là 25°C.

Tỉnh có đường biên giới tiếp giáp với nước Lào dài 115 km. Có 2 huyện, 12 xã biên giới:

- Huyện Hiên có 8 xã (A Tiếng, Pha Lê, A Nông, Lăng, Tr'hy, A Xan, Ch"ơm, Ga Ri);

- Huyện Nam Giang có 4 xã (La Ê Ê, La Dê, Đăk Pre, Đăk Prinh).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 05:02:08 PM
16. Tỉnh Kon Tum

Diện tích khoảng 9.615 km2

Dân tộc: Việt, Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng, Gia Rai...

Tỉnh lị là thị xã Kon Tum. Các huyện: Đăk Glei, Ngọc Hồi, Đăk Tô, Kon Rẫy, Kon Plông, Đăk Hà, Sa Thầy, Tu Mơ Rông.

(http://web.vietecon.org/sedec/solieu/bando/images-bando/map-kontum.gif)


Vùng đất Tây Nguyên thuộc vào lãnh thổ của nước Đại Việt từ cuối thế kỷ XIV. Năm 1834 dưới triều vua Minh Mạng, Phan Huy Chú lập bản đồ toàn lãnh thổ nước Việt Nam (Đại Nam thống nhất toàn đồ). Trên bản đồ này, Tây Nguyên được thể hiện với những đường sông núi, đường phân thuỷ giữa lưu vực sông Cửu Long và Biển Đông. Từ năm 1900, bắt đầu thành lập các đơn vị hành chính tỉnh của Tây Nguyên. Năm 1905, tỉnh Kon Tum được thành lập. Năm 1907 bị chia thành hai đạo (đạo Kon Tum thuộc vào tỉnh Bình Định, đạo Cheo Reo thuộc vào tỉnh Phú Yên). Năm 1913 thành lập lại tỉnh Kon Tum gồm hai đại lý hành chính Buôn Mê Thuột và Cheo Reo, nhưng vì địa thế quá rộng, năm 1923 cắt Buôn Mê Thuột làm tỉnh Đắc Lắc. Năm 1932 lại tách đặt tỉnh Pleiku mà Nam triều gọi là tỉnh Trà Cú sau là tỉnh Gia Lai. Đến cuối thời kỳ Pháp thuộc, Việt Nam có 69 tỉnh thì Kon Tum là một trong 19 tỉnh của Trung Kỳ. Từ năm 1945, Kon Tum vẫn giữ tên cũ và là một trong 69 tỉnh của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Từ năm 1975, nhập hai tỉnh Kon Tum và Pleiku thành tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Từ năm 1991, tách tỉnh Gia Lai - Kon Tum, tỉnh Kon Tum tái thành lập.


Kon Tum là một tỉnh phía bắc cao nguyên Gia lai - Kon Tum. Phía Tây giáp nước Campuchia và giáp nước lào. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam. Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi. Phía Nam giáp tỉnh Gia Lai. Thị xã Kon Tum cách Buôn Mê Thuột 246 km, cách Quy Nhơn 215 km, cách Pleiku 49 km.


Phần lớn lãnh thổ Kon Tum nằm ở phía Đông của dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam. Có trên 50% diện tích là rừng. Tỉnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 23,4°C.


Kon Tum đường biên giới tiếp giáp Lào dài 150 km và tiếp giáp Campuchia dài 95 km.

Với Lào, có 2 huyện, 7 xã biên giới: Huyện Đăk Glei có 3 xã (Đăk Blô, Đăk Nhoáng, Đăk Long); huyện Ngọc Hồi có 4 xã (Đăk Dục, Đăk Nông, Đăk Sú, Bờ Y) với đường biên giới.

Với Campuchia có 2 huyện, 3 xã biên giới: Huyện Ngọc Hồi có 1 xã. Sa Loong; huyện Sa Thầy có 2 xã (Mo Rai, Cờ Rơi).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 05:03:31 PM
17. Tỉnh Gia Lai

Diện tích khoảng 15.496 km2

Dân tộc: Việt, Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng, Giẻ Triêng...

Tỉnh lị là thành phố Pleiku. Có 1 thị xã An Khê và các huyện: Ayun Pa, Chư Pah, Chư Prông, Chư Sê, Đức Cơ, Ia Grai, Kbang, Krông Pa, Krong Chro, Mang Yang, Đăk Đoa, Ia Pa.

(http://web.vietecon.org/sedec/solieu/bando/images-bando/map-gialai.gif)


Gia Lai là một đạo thành lập năm 1932 tách ra từ tỉnh Kon Tum. Đầu tiên gọi là đạo Trà Cú, sau gọi là Gia Lai. Pháp gọi là Pleiku. Đến cuối thời kỳ Pháp thuộc, Việt Nam có 69 tỉnh thì Pleiku là một trong 19 tỉnh của Trung Kỳ. Từ năm 1945, Pleiku vẫn giữ tên cũ và là một trong 69 tỉnh của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Từ năm 1975, nhập hai tỉnh Kon Tum và Pleiku thành tỉnh Gia Lai - Kon Tum. Từ năm 1991, tách tỉnh Gia lai - Kon Tum, thành lập tỉnh Kon Tum và tỉnh Gia Lai.


Tỉnh Gia Lai ngày nay là tỉnh ở phía Bắc Tây Nguyên trên độ cao 600 - 800 m so với mặt biển. Phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum. Phía Nam giáp tỉnh Đắc Lắc. Phía Tây giáp Campuchia. Phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Thành phố Pleiku cách Quy Nhơn 180 km.


Gia Lai là tỉnh đầu nguồn của nhiều hệ thống sông đổ về miền duyên hải và Campuchia. Có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, nhiệt độ trung bình 21 - 25°C.

Tỉnh Gia Lai có đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Ra-ta-na-ki-ri (Campuchia) dài 90 km. Có 3 huyện, 6 xã biên giới:

- Huyện Ia Grai có 2 xã (Ia O, Ia Chia);

- Huyện Đức Cơ có 3 xã (Ia Dom, Ia Nan, Ia Pnôn);

- Huyện Chư Prông có 1 xã Ia Puch.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 05:05:15 PM
18. Tỉnh Đắc Lắc

Diện tích khoảng 13.062 km2

Dân tộc: Việt, Ê Đê, Nùng, M'nông, Tày...

Tỉnh lị là thành phố Buôn Mê Thuột. Các huyện: Ea H'leo, Ea Súp, Buôn Đôn, Cư M'gar, Krông Búk, Krông Năng, Ea Kar, M'Đrắc, Krông Bông, Krông Păk, Krông Ana, Lăk.

(http://web.vietecon.org/sedec/solieu/bando/images-bando/map-daclac.gif)


Tỉnh Đắc Lắc thành lập năm 1900. Trong thời Mỹ ngụy Sài Gòn, tỉnh Đắc Lắc bị cắt một phần phía Tây sông Srêpôk để thành lập tỉnh Quảng Đức. Sau nhập lại làm một tỉnh Đắc Lắc và nay tách thành hai tỉnh mới là Đắc Lắc và Đắc Nông.


Tỉnh Đắc Lắc nằm trên cao nguyên Đắc lắc, có độ cao trung bình 400 - 800 m so với mặt biển. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Gia Lai. Phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Đắc Nông. Phía Tây giáp Campuchia. Phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hoà. Thành phố Buôn Mê Thuột cách Hà Nội 1.410 km.


Là tỉnh có nhiều núi, rừng, có vùng đất đỏ mầu mỡ và bằng phẳng rất thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp, chăn nuôi và trồng rừng. Khí hậu tương đối ôn hoà, nhiệt độ trung bình 24°C.


Tỉnh đắc Lắc có 73 km đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Môn-đun-ki-ri (Campuchia). Có 2 huyện, 4 xã biên giới:

- Huyện Ea Súp có 3 xã (Ya Tờ Mốt, Ea Bung, Ya Lốp);

- Huyện Buôn Đôn có 1 xã Krông Na.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 05:09:40 PM
19. Tỉnh Đắc Nông

Diện tích khoảng 6.514 km2

Dân tộc: Việt, M'nông, Ê Đê, Nùng, Tày...

Tỉnh lị là thị xã Gia Nghĩa. Các huyện: Đăk Glong, Đăk Rlấp, Đăk Mil, Đăk Song, Cư Jut, Krông Nô.

(http://tapchibcvt.gov.vn/Uploaded/admin/ban%20do%20dak%20nong.jpg)


Là tỉnh mới tách ra từ tỉnh Đắc Lắc cũ, nằm về phía Đông Nam của Tây Nguyên. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh đắc Lắc. Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng. Phía Nam giáp tỉnh Bình Phước. Phía Tây giáp Campuchia.


Địa hình tỉnh thoai thoải hình bát úp, là khu vực đầu nguồn của nhiều sông, suối nên có nhiều cảnh quan, nhiều thác nước, có nhiều tiềm năng thuỷ điện. Khí hậu ôn hoà, nhiệt độ trung bình năm 22 - 24°C.

Tỉnh có 120 km đường biên giới tiếp giáp với tỉnh Môn-đun-ki-ri (Campuchia). Có 3 huyện, 6 xã biên giới:

- Huyện Cư Jut có 1 xã Ea Pô;

- Huyện Đăk Mil có 3 xã (Đăk Lao, Thuận An, Thuận Hạnh);

- Huyện Đăk Rlấp có 2 xã (Quảng Trực, Đăk Buk So).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 05:13:25 PM
20. Tỉnh Bình Phước

Diện tích khoảng 6.856 km2

Dân số (2003): 764.600 người. Dân tộc: Việt, Siêng, Khơ-me, M'nông...

Tỉnh lị là thị xã Đồng Xoài. Các huyện: Đồng Phú, Phước Long, Lộc Ninh, Bù Đăng, Chân Thành, Bù Đốp, Bình Long.

(http://img840.imageshack.us/img840/388/bandobinhphuoc.jpg)


Là vùng đất thuộc tỉnh Biên Hoà xưa. Thời Pháp, thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Thời Mỹ ngụy, Bình Phước là một trong 44 tỉnh của miền Nam Việt Nam. Năm 1976, sáp nhập ba tỉnh Bình Phước, Phước Long và Bình Dương thành tỉnh mới gọi là Sông Bé. Năm 1996, tỉnh Sông Bé tách thành hai tỉnh Bình Dương và Bình Phước.


Bình Phước hiện nay là một tỉnh miền núi thuộc vùng Đông Nam Bộ của Việt Nam, ở vị trí tiếp giáp giữa đồng bằng và cao nguyên. Phía Bắc và Tây Bắc giáp Campuchia. Phía Nam giáp các tỉnh Đồng Nai và Bình Dương. Phía Đông giáp các tỉnh Đắc Nông và Lâm Đồng. Phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh. Thị xã Đồng Xoài cách thành phố Hồ Chí Minh 128 km.


Tỉnh Bình Phước có nhiều rừng, ở Đông Bắc có ngọn núi Bà Rá cao 733 mét và dãy núi thấp quanh Lộc Ninh, còn lại là rừng bạt ngàn. Có hai con sông chảy từ Bắc xuống Nam là sông Sài Gòn và sông Bé. Khí hậu ẩm thấp, chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô.


Tỉnh Bình Phước có đường biên giới dài 212 km giáp Campuchia. Có 2 huyện, 12 xã biên giới tiếp giáp với 3 tỉnh của Campuchia (Môn-đun-ki-ri, Cra-chê, Công-pông-chàm):

- Huyện Lộc Ninh có 10 xã (Lộc Thành, Lộc Thiện, Lộc Tấn, Lộc Hoà, Lộc An, Tân Thành, Tân Tiến, Thanh Hoà, Thiện Hưng, Hưng Phước);

- Huyện Phước Long có 2 xã (Đăk Ơ, Bù Gia Mập).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 05:14:42 PM
21 . Tỉnh Tây Ninh

Diện tích khoảng 4.028 km2

Dân tộc: Việt, Chăm, Khơ-me...

Tỉnh lị là thị xã Tây Ninh. Các huyện: Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu, Châu Thành, Hoà Thành, Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng.

(http://web.vietecon.org/sedec/solieu/bando/images-bando/map-tayninh.gif)


Tây Ninh là tỉnh biên giới của miền Đông Nam Bộ, là nơi có lịch sử hình thành từ rất sớm. Khi chưa hình thành lục tỉnh Nam Kỳ, Tây Ninh là đất Rung Dam Rey của nước Phù Nam cổ. Khi các trấn ở xứ Nam Kỳ hình thành, Tây Ninh thuộc trấn Phiên An, dinh Gia Định được đặt làm Phiên trấn năm 1779 từ đời chúa Nguyễn Ánh. Năm 1831, nhà Nguyễn bỏ đơn vị hành chính lớn Bắc thành, chia đặt từ Quảng Trị trở ra thành 17 tỉnh. Năm 1832, Minh Mạng đặt các tỉnh ở xứ Nam Kỳ, gọi là tỉnh Phiên An, đến năm 1838 đổi tên thành tỉnh Gia Định gồm ba phủ Tân Bình, Tân An, Tây Ninh. Sau khi chiếm xong "Lục tỉnh Nam Kỳ", năm 1889 thực dân Pháp tiến hành chia “Lục tỉnh Nam Kỳ" thành 20 tỉnh và hai thành phố, tỉnh Gia Định cũ được Pháp chia thành bốn tỉnh mới, trong đó thành lập tỉnh Tây Ninh trên đất phủ Tây Ninh cũ gồm 10 tổng và 50 làng. Thời Mỹ - ngụy, Tây Ninh là một trong 44 tỉnh của miền Nam Việt Nam.


Tây Ninh hiện nay là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ. Phía Bắc giáp Campuchia với 240 km đường biên giới. Phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và Long An. Phía Đông giáp các tỉnh Bình Dương và Bình Phước. Thị xã Tây Ninh cách thành phố Hồ Chí Minh 99 km.


Tây Ninh là nơi tiếp giáp vùng núi cao nguyên Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền đất cao của Nam Bộ. Phía Bắc của tỉnh từ thị xã Tây Ninh trở lên nhiều rừng núi, cao nhất là núi Bà Đen cao 986 m. Phía Nam đất khá bằng phẳng. Có hai con sông lớn chảy qua là sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn. Tỉnh có khí hậu nóng ấm, ôn hoà quanh năm, nhiệt độ trung bình hằng năm 26 - 27°C.


Tỉnh Tây Ninh có đường biên giới dài 240 km tiếp giáp với 3 tỉnh của Campuchia (Công-pông-chàm, Svey-riêng, Prây-veng). Có 5 huyện, 20 xã biên giới:

- Huyện Tân Châu có 4 xã (Tân Hoà, Tân Đông, Tân Hà, Suối Ngô);

¬- Huyện Tân Biên có 3 xã (Tân Lập, Tân Bình, Hoà Hiệp);

- Huyện Châu Thành có 6 xã (Phước Vinh, Hoà Thạnh, Hoà Hội, Thành Long, Ninh Điền, Biên Giới);

- Huyện Bến Cầu có 5 xã (Long Phước, Long Khánh, Long Thuận, Lợi Thuận, Tiên Thuận);

- Huyện Trảng Bàng có 2 xã (Phước Chỉ, Bình Thạnh).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 05:17:04 PM
22. Tỉnh Long An

Diện tích khoảng 4.492 km2

Dân tộc: Việt, Khơ-me...

Tỉnh lị là thị xã Tân An. Các huyện: Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Đức Hoà, Đức Huệ, Mộc Hoá, Tân Thạnh, Tân Trụ, Thạnh Hoá, Thủ Thừa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng).

(http://est.congdulich.com/uploads/diachi/tinhthanh/1200470043long%20an.JPG)


Long An là tỉnh có nhiều biến đổi nhất về địa giới hành chính trong lịch sử so với các tỉnh khác của Nam Bộ Việt Nam. Năm 1698, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam lập đất Nông Nại thành phủ Gia Định, gồm hai huyện Phước Long và Tân Bình, đất Long An thuở ấy nằm lọt trong huyện Tân Bình. Năm 1802, vua Gia Long đổi phủ Gia Định làm trấn Gia Định. Năm 1808 lại đổi làm thành Gia Định thống quản 5 trấn là Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên. Huyện Tân Bình được nâng lên thành phủ thuộc trấn Phiên An. Năm 1832, vua Minh Mạng cải 5 trấn của thành Gia Định thành 6 tỉnh: Phiên An tỉnh thành, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Phủ Tân Bình được tách ra, lập thành phủ mới lấy tên là Tân An thuộc Phiên An tỉnh thành. Năm 1833, Lê Văn Khôi khởi nghĩa, chiếm Phiên An tỉnh thành. Năm 1836, sau khi dẹp được Lê Văn Khôi và thu phục lại thành Gia Định thì Minh Mạng đã cho phá bỏ thành cũ, xây thành mới ở nơi khác, đổi Phiên An tỉnh thành thành tỉnh Gia Định gồm 3 phủ Tân Bình, Tân An và Tây Ninh. Khi đó, tỉnh Gia Định bao trùm cả một vùng đất rộng lớn ngày nay thuộc thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh và tỉnh Long An. Năm 1867, Pháp chiếm xong "Lục tỉnh Nam Kỳ". Tháng 6-1867, thực dân Pháp tổ chức tỉnh Sài Gòn lập thành 7 Khu Tham, khi đó vùng đất Long An ngày nay gồm có 3 Khu Tham biện là Chợ Lớn, Phước Lộc và Tân An. Từ năm 1865 đến nam 1877 tiếp tục có những thay đổi, Khu Tham biện Tân An thuộc kiểm soát của hạt Mỹ Tho. Sau này, thực dân Pháp chia đặt Nam Bộ thành 22 tỉnh, tỉnh Tân An khi đó có 3 quận là Châu Thành, Thủ Thừa và Mộc Hoá. Năm 1951, huyện Châu Thành và một số xã của huyện Thủ Thừa được tách ra, nhập vào với tỉnh Gò Công và tỉnh Mỹ Tho lập thành một tỉnh mới có tên là Mỹ Gò, huyện Mộc Hoá và 3 xã còn lại của huyện Thủ Thừa nhập vào với 7 xã của tỉnh Sa Đéc lập thành tỉnh mới có tên là Đồng Tháp (khác với tỉnh Đồng Tháp ngày nay), hai huyện Đức Hoà và Trung Huyện nhập vào hai tỉnh Gia Định và Tây Ninh lập thành tỉnh mới có tên là Gia Định Ninh. Mãi đến sau năm 1954, mới phục hồi nguyên trạng hai tỉnh Tân An và Chợ Lớn như trước chiến tranh. Từ sau năm 1954 đến năm 1956, chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn giữ nguyên trạng ranh giới hành chính cũ của tỉnh Tân An và tỉnh Chợ Lớn. Đến tháng 2-1956, quận Mộc Hoá bị tách ra khỏi tỉnh Tân An, nâng lên thành tỉnh Mộc Hoá. Đến tháng 10-1956, tỉnh Mộc Hoá được đổi tên thành tỉnh Kiến Tường, gồm 4 quận là Châu Thành, Kiến Bình, Tuyên Bình và Tuyên Nhơn, phần đất còn lại của tỉnh Tân An sáp nhập vào tỉnh Chợ Lớn và lấy tên chung là tỉnh Long An (bỏ tên tỉnh Chợ Lớn). Cùng năm 1956, quận Châu Thành của tỉnh Tân An cũ đổi tên thành quận Bình Phước. Năm 1959, cắt 3 xã của quận Đức Hoà và 5 xã phía bắc của quận Thủ Thừa lập thành quận Đức Huệ. Năm 1963, lập một tỉnh mới có tên là Hậu Nghĩa gồm các quận Đức Hoà và Đức Huệ (cắt ra từ tỉnh Long An), Trảng Bàng (cắt ra từ tỉnh Tây Ninh) và Củ Chi (cắt ra từ tỉnh Gia Định). Năm 1976, tỉnh Long An cũ hợp nhất với tỉnh Kiến Tường thành tỉnh Long An ngày nay.


Tỉnh Long An ngày nay bao gồm phần lớn đất của tỉnh Chợ Lớn và tỉnh Tân An cũ hợp lại, có diện tích khoảng 4.500 km2. Điểm cuối cùng phía Nam của tỉnh nằm trên vĩ độ 10°23'40" bắc, phía Bắc trên vĩ độ 11°02'00 bắc, điểm cực Đông trên kinh độ 106°47'02" đông, cực Tây trên kinh độ 105°30'30" đông. Thị xã Tân An nằm trên vĩ độ 10°33'44" bắc và trên kinh độ 106°25'06" đông(1) (Thạch Phương, Lưu Quang Tuyến (Chủ biên - 1989), Địa chí Long An, Nxb Long An và Nxb KHXH). Long An là một tỉnh cửa ngõ của đồng bằng sông Cửu Long. Phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh và Campuchia. Phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang. Phía Đông giáp thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 47 km. Phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp.


Là một tỉnh nông nghiệp, đất Long An mầu mỡ trải ra trên hai triền sông của hai con sông lớn Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, phía Bắc có một số gò, đồi thấp, còn lại là bằng phẳng, phần đất phía Tây thuộc vùng trũng Đồng Tháp Mười. Long An có mạng lưới sông rạch chằng chịt nối liền nhau, chia cắt địa bàn tỉnh thành nhiều vùng. Có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình hàng năm 27,4°C.


Tỉnh Long An có đường biên giới dài 136 km tiếp giáp với Campuchia. Có 05 huyện, 19 xã biên giới, tiếp giáp với tỉnh Svey-riêng (Campuchia):

- Huyện Đức Huệ có 4 xã (Mỹ Quý Đông, Mỹ Quý Tây, Mỹ Thạnh Tây, Bình Hoà Hưng);

- Huyện Thạnh Hoá có 2 xã (Thuận Bình, Tân Hiệp);

- Huyện Mộc Hoá có 5 xã (Bình Thạnh, Bình Hoà Tây, Thạnh Trị, Bình Hiệp, Bình Tân);

- Huyện Vĩnh Hưng có 5 xã (Tuyên Bình, Thái Bình Trung, Thái Trị, Hưng Điền A, Khánh Hưng);

- Huyện Tân Hưng có 3 xã (Hưng Hà, Hưng Điền, Hưng Điền B).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 05:18:20 PM
23. Tỉnh Đồng Tháp

Diện tích khoảng 3.238 km2

Dân tộc: Việt, Khơ-me, Hoa, Chăm, Ngái...

Tỉnh lị là thành phố Cao Lãnh.

(http://web.vietecon.org/sedec/solieu/bando/images-bando/map-dongthap.gif)


Có 1 thị xã Sa Đéc và các huyện: Tân Hồng, Hồng Ngự, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Châu Thành, Lai Vung.

Tỉnh Đồng Tháp được hình thành trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh cũ dưới thời Mỹ ngụy là tỉnh Kiến Phong và tỉnh Sa Đéc. Kiến Phong (tên cũ là Phong Thạnh) là tỉnh được thành lập năm 1956, có tỉnh lị là Cao Lãnh. Sa Đéc thành lập năm 1966 gồm 4 quận cắt ra từ tỉnh Vĩnh Long.


Đồng Tháp hiện nay là một trong ba tỉnh của vùng Đồng Tháp Mười. Phía Bắc giáp Campuchia. Phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long. Phía Đông giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Phía Tây giáp các tỉnh An Giang và Cần Thơ. Thị xã Cao Lãnh cách thành phố Hồ Chí Minh 162 km.


Tỉnh có hệ thống sông rạch chằng chịt. Sông chính là sông Tiền (một nhánh của sông mê Công) chảy từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh với chiều dài 132 km. Có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt.

Tỉnh Đồng Tháp tiếp giáp Campuchia với 49 km đường biên giới. Có 2 huyện với 8 xã biên giới, tiếp giáp với tỉnh Prây-veng (Campuchia):

- Huyện Hồng Ngự có 5 xã (Bình Thạnh, Tân Hội, Thường Thới Hậu B, Thường Thới Hậu A, Thường Phước I);

- Huyện Tân Hồng có 3 xã (Thông Bình, Tân Hộ Cơ, Bình Phú).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 05:20:52 PM
24. Tỉnh An Giang

Diện tích khoảng 3.406 km2

Dân tộc: Việt, Khơ-me, Hoa, Chăm...

Tỉnh lị là thành phố Long Xuyên. Có 1 thị xã Châu Đốc và các huyện: An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, Tịnh Biên, Tri Tôn, Chợ Mới, Châu Thành, Thoại Sơn.

(http://img444.imageshack.us/img444/8108/bandoangiang.jpg)


Vùng đất An Giang được người Việt khai phá định cư từ lâu đời. Xưa là đất Tầm Phong Long do quốc vương Chân Lạp dâng cho chúa Nguyễn năm 1757, đặt làm đạo Châu Đốc. Đầu đời Gia Long, dân được mộ đến ở gọi là châu Đốc Tân Cương. Năm 1832, thành lập tỉnh An Giang gồm vùng Châu Đốc và huyện Vĩnh An tỉnh Vĩnh Long. Năm 1876, chính quyền Pháp chia tỉnh An Giang thành 5 hạt là Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Sa Đéc. Năm 1899, bãi bỏ các hạt đổi thành tỉnh, tỉnh An Giang bao gồm Châu Đốc và Long Xuyên. Thời kỳ 1945 - 1954, Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ chia đặt địa giới hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc thành hai tỉnh mới là Long Châu Tiền và Long Châu Hậu. Năm 1950, sáp nhập tỉnh Long Châu Hậu với Hà Tiên thành tỉnh Long Châu Hà. Năm 1951, sáp nhập tỉnh Sa Đéc với tỉnh Long Châu Tiền thành lập tỉnh Long Châu Sa. Hai tỉnh Long Châu Hà và Long Châu Sa tồn tại đến năm 1954. Năm 1956, thành lập tỉnh An Giang trên cơ sở hai tỉnh Châu Đốc và Long Xuyên cũ. Năm 1964 lại tách tỉnh An Giang thành hai tỉnh là long Xuyên và Châu Đốc. Năm 1975, tỉnh An Giang được thành lập trên cơ sở hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc.

An Giang hiện nay là một tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ. Phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang. Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp. Phía Tây giáp nước Campuchia.


Khác với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh vùng đồng bằng phù sa, An Giang còn có một vùng núi nhỏ dài 30 km, rộng 15km. Tỉnh có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình hàng năm 27°C.


Tỉnh An Giang có đường biên giới tiếp giáp Campuchia dài 96 km. Có huyện, 17 xã biên giới, tiếp giáp với 2 tỉnh của Campuchia (Kần-đan, Tà-keo):

- Huyện Tân Châu có 2 xã (Vĩnh Xương, Phú Lộc);

- Huyện An Phú có 7 xã (Phú Hữu, Quốc Thái, Khánh An, Khánh Bình, Nhơn Hội, Phú Hội, Lĩnh Hội Đông);

- Thị xã Châu Đốc có 2 xã (Vĩnh Ngươi, Vĩnh Tê);

- Huyện Tịnh Biên có 4 xã (Nhơn Hưng, An Phú, Xuân Tô, An Nông);

- Huyện Tri Tôn có 2 xã (Lạc Quới, Vĩnh Gia).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Hai, 2012, 05:21:59 PM
25. Tỉnh Kiên Giang

Diện tích khoảng 6.269 km2

Dân tộc: Việt, Khơ-me, Hoa...

Tỉnh lị là thị xã Rạch Giá. Có 1 thị xã Hà Tiên và các huyện: Kiên Lương, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Giềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, Phú Quốc, Kiên Hải.

(http://est.congdulich.com/uploads/diachi/tinhthanh/1200469974kien%20giang.JPG)


Thuộc vùng cực Nam của nước Phù Nam xưa. Từ năm 1708, là đất trấn Hà Tiên thuộc cai quản của chúa Nguyễn. Kiên Giang là tên Mạc Thiên Tứ đặt cho đất Rạch Giá, tên Khơ-me là Kramonsar nghĩa là nến trắng. Là huyện thuộc phủ An Biên đặt năm Gia Long thứ bảy (1808) thuộc đạo An Giang. Năm 1832, Minh Mạng đổi gọi là tỉnh Hà Tiên. Năm 1899, chính quyền thực dân Pháp chia tỉnh Hà Tiên thời Nguyễn thành hai tỉnh là Hà Tiên và Rạch Giá, đến năm 1900 lại tách thành ba tỉnh là Hà Tiên, Rạch Giá và Bạc Liêu. Năm 1913, sáp nhập tỉnh Hà Tiên vào tỉnh Châu Đốc, đến năm 1924 lại tách ra như cũ. Từ năm 1951 - 1954, không có tên hai tỉnh Hà Tiên và Rạch Giá vì khi đó Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ tách nhập để thành lập hai tỉnh Long Châu Sa và Long Châu Hà. Năm 1954, chính quyền Sài Gòn đặt lại hai tỉnh Hà Tiên và Rạch Giá. Năm 1956 - 1957, sáp nhập tỉnh Hà Tiên và tỉnh Rạch Giá thành tỉnh Kiên Giang. Từ năm 1976, tỉnh Kiên Giang mới gồm tỉnh Rạch Giá cũ, Hà Tiên, Phú Quốc và Hòn Đất.


Hiện nay Kiên Giang là một dải đất nằm ở phía Tây Nam của tổ quốc, cánh thành phố Hồ Chí Minh 250 km. Phía Bắc giáp Campuchia. Phía Nam giáp tỉnh Cà Mau. Phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh An Giang và Cần Thơ.

Là một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Kiên Giang có những cánh đồng lúa phì nhiêu, với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng về nông sản, hải sản, khoáng sản và du lịch. Nằm bên vịnh Thái Lan, lưu thông quốc tế bằng đường biển rất thuận lợi. Có hệ thống sông, rạch chằng chịt. Giao thông đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không thuận lợi. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm 27 75°C.


Tỉnh Kiên Giang tiếp giáp với Campuchia với 48 km đường biên giới. Có 2 huyện thị, 5 xã phường biên giới, tiếp giáp với tỉnh Kăm-pốt (Campuchia): Huyện Kiên cường có 3 xã (Vịnh Điều, Tân Khánh Hoà, Phú Mỹ); thị xã Hà Tiên có 1 xã và 1 phường (Mỹ Đức, phường Đông Hồ).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Hai, 2012, 09:52:14 PM
PHẦN II
BIÊN GIỚI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC

(http://img.vietnam.vn/2011/10/07/11/03/u10834t1239191047Qe3hq.jpg)         (http://desmond.imageshack.us/Himg831/scaled.php?server=831&filename=trungquoc24.jpg&res=medium)


KHÁI LƯỢC VỀ NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA:

Diện tích: Tổng cộng khoảng 9.596.960 km2 (mặt đất 9.326.410 km2, mặt nước 270.550 km2.

Số dân: 1.246.872.000 người (1999). Cơ cấu dân số ước tính: 0 - 14 tuổi 26%, 15 - 64 tuổi 68%, trên 64 tuổi 6%. Tỷ lệ tăng dân số: 0,77% (1999). Mật độ dân số: Khoảng 125 người/km2. Lực lượng lao động: 700.000.000 người (1998). Tỷ lệ sinh: 15,1/1.000 (1999). Tỷ lệ tử vong: 6,98/1.000 (1999). Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh: 43,31/1.000 (1999). Tuổi thọ trung bình (1999): 69,92 tuổi (nam 68,57 tuổi, nữ 71,48 tuổi).

Thủ đô: Bắc Kinh.

Các thành phố lớn: Thượng Hải, Thiên Tân, Thẩm Dương, Vũ Hán, Quảng Châu...

Các dân tộc: Người Hán (91,9%), Choang, Hồi, Uygur, Yi, Tây Tạng, Miêu, Mãn Châu, Mông Cổ, Triều Tiên và các dân tộc khác (8,1%).

Ngôn ngữ chính: Tiếng Hán trên cơ sở âm ngữ Bắc Kinh. Tiếng Quảng Đông và nhiều thổ ngữ khác cũng được sử dụng.

Tôn giáo: Đạo Lão, đạo Phật, đạo Hồi (2% - 3%), đạo Thiên chúa ( 1%).

Đơn vị tiền tệ: Đồng nhân dân tệ có đơn vị là Quan (nguyên).

Quốc khánh: Ngày 01-10 (năm 1949).

Lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam: Ngày 18-10-1950.

Vị trí: Nằm ở Đông Á, có đường biên giới đất liền giáp 14 nước là Mông Cổ, Nga, Cộng hoà dân chủ nhân dân Triều Tiên, Việt Nam, Lào, Mianma, Bu Tan, Nê Pan, Ấn Độ, Pakixtan, Apganixtan, Tatgikixtan, Cưrơgưxtan, Cadăcxtan. Là nước có diện tích lãnh thổ đất liền lớn thứ ba thế giới (sau Nga và Canada).

Toạ độ địa lý: 35°00 vĩ Bắc, 105°00 kinh Đông.

Địa hình: Phần lớn là đồi núi, cao nguyên và sa mạc ở phía Tây, ở phía Đông có đồng bằng và đồi.
Khí hậu: Rất đa dạng, nhiệt đới ở phía Nam đến cận Bắc. Nhiệt độ trung bình tháng - 28°C ở phía Phắc, 18°C ở phía Nam (tháng 01), từ 20 - 28°C (tháng 7). Lượng mưa trung bình hàng năm 2000 mm ở phía Đông, 250 mm ở phía Tây.

Tài nguyên thiên nhiên: Than đá, quặng sắt, dầu mỏ, khí tự nhiên, thuỷ ngân, thiếc, vônfram, ăngtimoan, ma ngan, môlypđen, vanadi, magie, nhôm, chì, kẽm, uranium...

Có tiềm năng thuỷ điện lớn nhất thế giới.

Thiên tai: Thường xuyên có bão lớn dọc bờ biển phía Nam và phía Đông, lũ lụt lớn, động đất, một số vùng bị hạn hán.

Các vấn đề môi trường: Ô nhiễm không khí do việc dùng nhiều than đá, gây ra mưa axit. Tình trạng thiếu nước, đặc biệt là ở miền Bắc. Ô nhiễm nước do các chất thải chưa xử lý. Nạn phá rừng. Xói mòn đất. Nguy cơ sa mạc hoá đang tăng lên. Tình trạng buôn bán các loài thú hiếm đang gia tăng.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Hai, 2012, 09:53:13 PM
Lịch sử: Trung Quốc là một trong những quốc gia hình thành sớm nhất trên thế giới và có nền văn minh rất lâu đời. Đầu thế kỷ XIX, Trung Quốc trở thành đối tượng xâm lược của nhiều nước tư bản, trước hết là Anh, Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Đức... Năm 1911, Tôn Trung Sơn lãnh tụ của Quốc dân Đảng lãnh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi lật đổ chế độ chuyên chế thống trị Trung Quốc mấy nghìn năm, thành lập Trung Hoa Dân Quốc. Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, Tưởng Giới Thạch lên nắm quyền lãnh đạo Quốc dân Đảng. Năm 1937, phát xít Nhật mở rộng chiến tranh xâm lược Trung Quốc. Tháng 8-1945, quân đội Liên Xô đánh tan đạo quân Quan Đông của Nhật, giải phóng Mãn Châu, buộc phát xít Nhật đầu hàng dộng minh. Ngay sau đó, ở Trung Quốc diễn ra cuộc nội chiến giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản. Năm 1949, lực lượng của Tưởng Giới Thạch thất bại phải chạy ra Đài Loan. Ngày 01- 10-1949, nước cộng hoà nhân dân Trăng Hoa được thành lập.


Chính thể: Nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Các khu vực hành chính: (Có 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố trực thuộc): An Huy, Bắc Kinh, Trùng Khánh, Phúc Kiến, Cam Túc, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hải Nam, Hà Bắc, Hắc Long Giang, Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Giang Tô, Tế Lâm, Liêu Ninh, Nội Mông, Ninh Hạ, Thanh Hải, Thiểm Tây, Sơn Đông, Thượng Hải, Sơn Tây, Tứ Xuyên, Thiên Tân, Tân Cương, Tây Tạng, Vân Nam, Triết Giang. Trung Quốc vẫn xếp Đài Loan là một tỉnh.

Hiến pháp: Được công bố gần đây nhất vào ngày 04-10-1982.

Cơ quan hành pháp: Đứng đầu nhà nước là Chủ tịch. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng. Bầu cử Chủ tịch và Phó Chủ tịch do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc bầu nhiệm kỳ 5 năm. Thủ tướng do Chủ tịch đề cử, được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc thông qua.

Cơ quan lập pháp: Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nhiệm kỳ 5 năm. Các thành viên do Đại hội đại biểu nhân dân các tỉnh, thành phố, khu vực bầu, tổng số 2.979 ghế.

Cơ quan tư pháp: Toà án nhân dân Tối cao, các thẩm phán do Hội nghị nhân dân toàn quốc bổ nhiệm.
Chế độ bầu cử: Từ 18 tuổi trở lên, phổ thông đầu phiếu.

Đảng phái chính: Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập năm 1921.

Kinh tế. Từ cuối năm 1978, Trung Quốc đã tiến hành cải cách mở cửa, cố gắng chuyển nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa linh hoạt hơn dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhằm thực hiện hiện đại hoá, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội mang dặc sắc Trung quốc. Khi cơn bão tài chính tiền tệ năm 1997 tác động nặng đối với nền kinh tế của nhiều quốc gia Đông Nam Á, Trung Quốc đã chấp nhận để mức thu ngân sách giảm xuống còn 14% GDP, cam kết không phá giá đồng tiền để khuyến khích sức sản xuất của các thành phần kinh tế trong nước. Nhờ đó vẫn bao đảm nhịp độ tăng trưởng GDP hàng năm trên 8%. Kết quả là Trung Quốc đã thành công trong việc tránh được tác động của cuộc khủng hoảng. Bước sang thế kỷ XXI, Trung Quốc phấn đấu trong 10 năm đầu thực hiện tăng gấp đôi tổng sản phẩm quốc dân so với năm 2000; đến giữa thế kỷ về cơ bản thực hiện hiện đại hoá, xây dựng thành công một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa văn minh, dân chủ, giầu mạnh.


GDP theo PPP: 4.800 tỷ USD (1999). Tỷ lệ tăng GDP thực tế: 7,8% (1998). GDP bình quặm đầu người theo PPP: 3.800 USD (1999). Cơ cấu GDP theo khu vực (1999): Nông nghiệp 15%, Công nghiệp 35%, Dịch vụ 50%. Tỷ lệ lạm phát tiêu dùng: -1,3% (1999).


Quan hệ quốc tế: Tham gia các tổ chức quốc tế AFLDB, APEC, AsDB, BIS, ESCAP, G-77, IAEA, IBRD, ICAO, IFAD, ILO, IMF, IMO, IOC, ISO, ITU, UN, UNCTAD, UNESCO, UNIDO, UPU, WHO, WIPO, Interpol, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc...


Danh lam thắng cảnh: Cấm Thành, Cố cung, Điếu Ngư đài... ở Bắc Kinh; Vạn Lý Trường Thành, Thượng Hải, Tây An, Hàng Châu, Nam Kinh, Tây Tạng, Côn Minh, Quảng Châu...

Khu hành chính đặc biệt Hồng Công: Gồm hai bộ phận là đảo Hồng Công và một phần bán đảo Cửu Long, nằm ở bờ biển phía Đông nam Trung Quốc. Diện tích: 1.092 km2. Số dân: 7.116.302 người (2000). Năm 1842, thực dân Anh chiếm Hồng Công. Năm 1898, thực dân Anh mua Hồng Công của Trung Quốc với thời hạn 99 năm. Năm 1941, phát xít Nhật chiếm Hồng Công. Theo hiệp ước được ký kết giữa Anh và Trung Quốc năm 1984, ngày 01-7-1997 Anh trao trả Hồng Công cho Trung Quốc. Các cuộc đàm phán về Hồng Công giữa Chính phủ Trung Quốc và Anh đã diễn ra bởi nhiều phiên họp để tìm ra một giải pháp trong việc bàn giao và tương lai về chính trị - kinh tế của Hồng Công. Hồng Công được coi là khu hành chính đặc biệt của Trung Quốc. Kinh tế: Phụ thuộc vào thương mại quốc tế, xuất khẩu. GDP theo PPP 158,2 tỷ USD (1999); tỷ lệ tăng GDP thực tế 1,8% (1999); GDP bình quân đầu người theo TPPP 23.100 USD (1999). Xuất khẩu 169,98 tỷ USD (1999). Nhập khẩu 174,4 tỷ USD (c.i.f. 1999).


Khu hành chính đặc biệt Ma Cao: Lãnh thổ nằm ở miền duyên hải phía Nam Trung Quốc. Diện tích: 16 km2. Số dân: 445.590 người (2000). Năm 1553, các lái buôn Bồ Đào Nha đến Ma Cao và thuê mảnh đất này của triều đình phong kiến Trung Quốc. Năm 1557, Bồ đào Nha thành lập cơ quan hành chính ở đây. Năm 1850, Ma Cao trở thành đất tô nhượng của Bồ Đào Nha. Năm 1887, theo hiệp định ký với triều đình Trung Quốc thì Bồ Đào Nha được cai quản "vĩnh viễn" Ma Cao. Thực hiện hiệp định ký ngày 13-4-1987 giữa Chính phủ Trung Quốc và Bồ Đào Nha, Ma Cao trở thành Khu hành chính đặc biệt của Trung Quốc từ ngày 20-12-1999. Kinh tế. Chủ yếu dựa vào du lịch (chiếm một phần tư GDP) và ngành dệt (chiếm ba phần tư số thu từ xuất khẩu), công nghiệp được đa dạng hoá với các ngành sản xuất đồ chơi, điện tử và hoa giả. GDP theo PPP 7,6 tỷ USD (1999); tỷ lệ tăng GDP thực tế 4% (1998); GDP bình quân đầu người theo PPP 17.500 USD (1998). Xuất khẩu 1,7 tỷ USD (1999). Nhập khẩu 1,5 tỷ USD (c.i.f 1999).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Hai, 2012, 09:54:51 PM
Chương I
TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

1. Đường biên giới

Đường biên giới đất liền giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa dài khoảng 1.406 km (điểm khởi đầu ở vùng A Pa Chải tại vị trí ngã ba biên giới Việt Nam - Trung Quốc - Lào, điểm cuối ở trên bờ cửa sông Bắc Luân):

- Tỉnh Điện Biên (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Đường biên giới dài khoảng 56 km.

- Tỉnh Lai Châu (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Đường biên giới dài khoảng 279 km.

- Tỉnh Lào Cai (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Đường biên giới dài khoảng 178 km.

- Tỉnh Hà Giang (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Vân Nam trung Quốc). Đường biên giới dài khoảng 247 km.

- Tỉnh Cao bằng (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Đường biên giới dài khoảng 285 km.

- Tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Đường biên giới dài khoảng 208 km.

- Tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Đường biên giới dài khoảng 109 km.

(http://sotaydulich.com/userfiles/image/Duc/2010/11/27/Sotaydulich_Doc_mien_dat_nuoc_A_Pa_Chai_diem_cuc_tay_cua_to_quoc_01.jpg)
Cột mốc ngã ba biên giới A Pa Chải


(http://tintuc.thieunien.vn/Portals/0/users/2010/10.2010/4.10/tdtv.jpg.jpg)
Cột mốc cửa sông Bắc Luân


Phía Trung Quốc có 14 huyện biên giới:

- Tỉnh Vân Nam có bảy huyện là Phú Linh, Ma Ly Pho, Mã Quan, Bình Biên, Kim Bình, Lục Xuân và Giang Thành.

- Khu tự trị dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây có bảy huyện là Phòng Thành, Ninh Minh, Bằng Tường, Long Châu, Đại Tân, Nà Po và Trịnh Tây.

Đường biên giới trên đi qua 7 tỉnh biên giới phía Việt Nam (với 31 huyện thị, 102 xã phường biên giới) và tỉnh Vân Nam, khu tự trị dân tộc Choang tỉnh quảng Tây phía Trung quốc.


Phía Việt Nam có 33 huyện, thị xã, thành phố biên giới:

- Tỉnh Điện Biên có một huyện Mường Nhé.

- Tỉnh Lai Châu có ba huyện là Mường Tè, Phong Thổ và Sìn Hồ.

- Tỉnh Lào Cai có bốn huyện là Bắc Hà, Mường Khương, Bảo Thắng và Bát Xát.

- Tỉnh Hà Giang có bảy huyện là Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ, Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và Xín Mần.

- Tỉnh Cao Bằng có chín huyện là Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thông Nông, Hà Quảng, Trà Lĩnh, Trùng Khánh, Hạ Lang, Hà Quảng và Thạch An.

- Tỉnh Lạng Sơn có năm huyện là Tràng Định, Văn Lãng, Cao Lộc, Lộc Bình và Đình Lập.

- Tỉnh Quảng Ninh có hai huyện là Quảng Hà và Bình Liêu.


Phần lớn đường biên giới chạy qua vùng núi cao phức tạp theo hướng chung Tây - phắc và Đông - Nam (khoảng 63,5% theo đường phân thuỷ). Một phần đường biên giới đi theo các sông, suối (26,3%). Còn lại là đi theo các đoạn kẻ thẳng hoặc các dạng địa hình khác (khoảng 10%).


Trên vùng biên giới hiện còn tồn tại một số mốc giới và dấu vết mốc giới do chính quyền Pháp và nhà Thanh cắm trong những năm 1889 - 1897 trên cơ sở hai Công ước hoạch định biên giới Pháp - Thanh năm 1887 và 1895. Hầu hết các cột mốc này đã bị hư hong, biến dạng, có nhiều mốc ở sai vị trí ban đầu.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 26 Tháng Hai, 2012, 09:59:30 PM
2. Địa hình

Đường biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc chạy qua một vùng địa hình có cấu trúc rất phức tạp, có mức độ chia cắt dịa hình lớn. Các dãy núi được cấu tạo chủ yếu từ nham thạch, đá vôi và đá gres bị xói mòn, về hình dáng thì phần lớn có hình vòng cung với hướng chính Tây bắc - Đông Nam. Độ dốc chung của vùng biên giới từ Tây sang Đông, phía Tây có những dải núi cao hơn 2000 mét, cá biệt có ngọn núi cao hơn 3000 m như ngọn Phăng-xi-phăng cao 3.143 m, thấp dần về phía Đông và cuối cùng là dải đồng bằng nhỏ hẹp ven Vịnh Bắc Bộ.


Đoạn biên giới thuộc tỉnh Điện Biên chạy theo đường phân thuỷ giữa hai nước, phần lớn có độ cao trên 2000 m đến 3000 m, đồng thời có mức độ chia cắt địa hình lớn, việc đi lại khó khăn.

Đoạn biên giới thuộc tỉnh Lai Châu chạy theo đường phân thuỷ giữa hai nước, phần lớn có độ cao trên 2000 m đến 2.900 m, có mức độ chia cắt địa hình lớn, cứ khoảng một km lại có khe, suối làm cho việc đi lại rất khó khăn.


Đoạn biên giới thuộc tỉnh Lào Cai có dãy núi Hoàng Liên Sơn với ngọn núi cao nhất Phăng-xi-phăng được gọi là nóc nhà của Đông Dương, vươn ra biên giới với hàng loạt đỉnh cao từ 1.300 m đến 2.900 m.

Đoạn biên giới thuộc tỉnh Hà Giang có cao nguyên Đồng Văn cao từ 1 500 m đến 2.300 m với nhiều đỉnh cao ở dọc biên giới.

Đoạn biên giới thuộc tỉnh Cao Bằng, đi về phía Tây địa hình dọc biên giới nhanh chóng chuyển thành núi non hiểm trở với nhiều núi đá nhiều dãy núi cao trên 1.000 m đến 2.000 m.

Đoạn biên giới thuộc tỉnh Lạng Sơn có một phần là những đồi thấp, còn lại là những đỉnh núi cao trung bình từ 300 m đến 800 m, cá biệt có núi Mẫu Sơn cao 1.200 m.

Đoạn biên giới thuộc tỉnh Quảng Ninh xuất phát là một dải đồng bằng ven biển có cửa sông Bắc Luân, tiếp đó là địa hình cao dần lên trên một vùng toàn đồi núi, chuyển dần từ đồi trọc tương đối thấp đến núi cao, độ cao trên dưới 500 m nối liền phía Tây là dãy núi Bắc Cương cao hơn 800 m.


Trước đây, khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc được che phủ chủ yếu là rừng, nhưng do sự khai thác không có kế hoạch và tình trạng đốt rừng làm nương rẫy nên diện tích che phủ của rừng bị giảm sút nghiêm trọng. Mặt khác, khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc là đầu nguồn của nhiều con sông, suối quan trọng như sông Hồng, sông Đà, khi bị mất thảm thực vật che phủ dẫn đến xói lở, lũ ống, lũ quét không chỉ cho miền đồng bằng ở hạ lưu mà còn tác động trực tiếp đến các vùng dân cư ở miền núi.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 28 Tháng Hai, 2012, 08:21:37 AM
3. Sông, suối biên giới

Nhìn chung, mỗi tỉnh biên giới của Việt Nam giáp Trung Quốc đều có đường biên giới đi theo sông, suối.
Các sông này là những sông miền núi, độ dốc lớn, mùa kiệt ít nước, nhiều sông có thể lội qua được. Mùa lũ nước thường chảy hung dữ, có thể gây ra lũ quét có sức tàn phá lớn. Sông, suối biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong điều kiện tự nhiên ít biến đổi. Tuy nhiên, khi có sự can thiệp của con người xây dựng các công trình trên sông làm thay đổi trục dòng chảy, lạch sâu, gây xói lở bờ, dẫn đến thay đổi hướng đi của đường biên giới.


Theo Hiệp ước biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc ký ngày 30-12-1999, trong tổng số 1.406 km chiều dài đường biên giới trên toàn tuyến, có hơn 369 km đường biên giới đi theo sông, suối (chiếm khoảng 26,3%) - Bảng 1.

Bảng 1. Các đoạn đường biên giới Việt – Trung

(http://img836.imageshack.us/img836/2023/songsuoitrenboviettrung.jpg)


Đường biên giới trên sông, suối thuộc từng tỉnh có chiều dài dược xác định cụ thể như sau:

Lai Châu có khoảng 80,278 km (bao gồm cả Điện Biên);

Lao Cai có khoảng 135,549 km;

Hà Giang có khoảng 30,397 km;

Cao Bằng có khoảng 33,999 km;

Lạng Sơn có khoảng 6,892 km;

Quảng Ninh có khoảng 82,67 km.


Sông, suối biên giới đa số là sông, suối nhỏ, lòng chảy có độ dốc lớn, nước chảy xiết, nhiều ghềnh thác, ít có giá trị về giao thông thuỷ. Thực tế chỉ có một đoạn sông Hồng, một đoạn sông Ka long và một đoạn sông Bắc Luân là có thể sử dụng vào mục đích giao thông đường thuỷ cho tàu, thuyền có trọng tải nhỏ nhưng cũng phải cải tạo cho thông thoáng mới sử dụng được luồng.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 28 Tháng Hai, 2012, 08:26:39 AM
4. Khí hậu, thời tiết
Khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa đặc trưng vùng Đông Nam Á. Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11 (dương lịch), lượng mưa cao nhất vào khoảng tháng 7, tháng 8. Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, khô nhất là khoảng tháng 12, tháng 01. Tuy nhiên, hầu như tháng nào cũng có mưa, nên các sông, suối ở khu vực biên giới có nước quanh năm.


5. Giao thông trong khu vực biên giới
Cơ sở hạ tầng ở khu vực biên giới kém phát triển, đường ô tô chủ yếu đến các cửa khẩu, các đường vành đai ở quá xa biên giới, chưa thông tuyến và xuống cấp nghiêm trọng. Hệ thống đường liên xã còn nghèo nàn, nhiều vị trí trên đường biên, vị trí mốc giới phải di bộ nhiều ngày đường mới tới nơi.


6. Cửa khẩu biên giới
Đến thời điểm tháng 5-2005, trên toàn quyền biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc có 21 cặp cửa khẩu, gồm 4 cặp cửa khẩu quốc tế, 3 cặp cửa khẩu quốc gia và 14 cặp cửa khẩu địa phương. Ngoài ra, các tỉnh biên giới của hai bên còn thoả thuận mở các đường qua lại tạm thời - Bảng 2. 

Bảng 2 - Cửa khẩu biên giới Việt - Trung
(http://img543.imageshack.us/img543/899/cuakhaubiengioiviettrun.jpg)

Trong số các cửa khẩu nêu trên, có bốn cặp cửa khẩu là Đồng Đăng - Bằng Tường, Hữu Nghị - Hữu Nghị quan, Móng Cái - Đông Hưng, Lào Cai - Hà Khẩu là cửa khẩu cho người mang hộ chiếu có thị thực xuất - nhập cảnh và những người mang giấy thông hành xuất - nhập cảnh hoặc quá cảnh của nước thứ ba cũng như hàng hoá mậu dịch qua lại.


Ba cặp cửa khẩu là Tà Lùng - Thuỷ Khẩu, Ma Lu Thàng - Kim Thủy, Thanh Thuỷ - Thiên Bảo cho những người mang hộ chiếu có thị thực xuất - nhập cảnh và những người mang giấy thông hành xuất - nhập cảnh vùng biên giới của hai bên cũng như các hàng hoá mậu dịch địa phương và mậu dịch biên giới.

Các của khẩu còn lại chỉ mở cho những người mang giấy thông hành xuất - nhập cảnh vùng biên giới và các hàng hoá mậu dịch biên giới.


7. Dân cư trong khu vực biên giới
Dân cư ở khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc đại bộ phận là dân tộc thiểu số, gồm hơn 20 dân tộc như: Tày, Nùng, Mông, Dao, Hoa, Lô Lô, Dáy, Hà Nhì, Tu Dí, Phù Lá, Mường, U Nì, Sán Chỉ, Mãn, Cỏ Xung, Xạ Phong v.v... Dân cư tập trung đông nhất ở vùng giáp biển (Móng Cái), ở các thị xã, thị trấn biên giới, dọc các thung long lớn như thung lũng sông Hồng xung quanh Lào Cai và ven bờ sông, suối lớn. Ngược lại, ở những vùng khác, đặc biệt về phía Tây sông Hồng, mật độ dân cư thấp, nhiều khu vực hẻo lánh không có dân. Do đã có quá trình phát triển từ lâu đời, trong khu vực biên giới (trừ Điện Biên, Lai Châu) đều là những vùng dân cư cư trú sinh sống khá đông đúc ở sát đường biên giới, có quan hệ mật thiết lâu đời, thường có quan hệ thân tộc, cùng dòng họ, cùng phong tục tập quán, tiếng nói. Cũng từ những đặc điểm này đã nảy sinh nhiều phức tạp về hôn nhân, ma chay, cư trú, đi lại quá biên giới.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 28 Tháng Hai, 2012, 08:29:26 AM
Chương II
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LỊCH SỬ CỦA ĐƯỜNG BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC


1. VÀI NÉT VỀ ĐƯỜNG BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC TRƯỚC KHI THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC VIỆT NAM

Lịch sử đã đặt nước Việt Nam ở bên cạnh Trung Quốc, một nước mà toàn bộ lịch sử mấy ngàn năm là một quá trình chinh phục, xâm chiếm các vùng lãnh thổ láng giềng. Vào thế kỷ thứ III trước Công nguyên, quốc gia của người Hán là Tây Chu lúc đó có diện tích chỉ khoảng 320.000 km2 vậy mà đến thế kỷ XVIII diện tích của quốc gia này đã mở rộng thành 9,6 triệu km2 trong đó có hàng trăm vương quốc bị xoá, hàng chục dân tộc bị tiêu diệt. Cũng từ cuối thế kỷ thứ III trước Công nguyên, nhân dân Việt của nước Văn Lang - Âu Lạc đã phải chiến đấu hơn 10 năm chống lại hàng chục vạn quân xâm lược của nhà Tần. Tính từ đầu Công nguyên đến nay, dân tộc Việt Nam đã phải sống hơn 10 thế kỷ dưới ách đô hộ vô cùng khắc nghiệt với một chính sách đồng hoá hết sức thâm độc của các triều đại phong kiến phương Bắc. Trong một đạo sắc của Minh Thành Tổ gồm 10 điều gửi Tổng tư lệnh Chu Năng ngày 21 tháng 8 năm 1406 khi Chu Năng cầm quân sang xâm lược Đại Việt, có đoạn viết đại ý: Một khi binh lính đã vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão, ngoài ra hết thảy mọi sách vở, văn tự, cho đến cả các loại sách ca lý dân gian sách dạy trẻ... một mảnh, một chữ đều phải đốt hết; phàm những bia do thiên triều dựng từ trước đến nay thì đều phải giữ gìn cẩn thận, còn các bia do người An Nam dựng thì phá sạch, một mảnh, một chữ chớ để còn. Một năm sau, hắn ra lệnh thu hồi các bản viết thuộc loại nói trên vì "nếu có một chữ bỏ lại, lọt vào tay bọn kia thì rất bất tiện".


Trong Bình Ngô Đại Cáo viết năm 1427, Nguyễn Trài đã tố cáo tội ác của các chính quyền cai trị nhà Minh ở nước Nam là "Nướng dân đen trên lò bạo ngược, vùi con đỏ dưới hố tai ương", và tội ác của chúng là không kể hết được, dẫu “có chẻ hết trúc Nam Sơn không ghi đầy tội ác, tát cạn nước Đông Hải không rửa hết tanh nhơ".


Trong tiến trình lịch sử nước Việt Nam luôn luôn là đối tượng dòm ngó của các triều đại thống trị phương Bắc. Suốt gần 20 thế kỷ qua, tất cả các triều đại phong kiến phương Bắc từ Tần, Hán, Ngô, Tấn, Lương, Tuỳ, Đường, Nam Hán, Tống, Nguyên, Minh, Thanh... đều đã sử dụng quân đội để xâm lược và lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam. Mưu đồ thôn tính, đồng hoá của các thế lực phong kiến phương Bắc đối với Việt Nam thật là dai dẳng. Chúng không những sử dụng lực lượng quân sự đông đảo để xâm lược mà còn thường xuyên lấn chiếm, gậm nhấm lãnh thổ Việt Nam ở vùng biên giới. Từ thế kỷ thứ X, phong kiến phương Bắc đã dùng mọi thủ đoạn để lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam như dụ dỗ, cưỡng ép, mua chuộc các tù trưởng để họ mang đất nộp cho thiên triều; lợi dụng những khi nội triều Việt Nam không ổn định, việc phòng bị ở biên giới lơi lỏng để tiến hành xâm lấn; nuôi dưỡng, xúi giục các lực lượng chống đối cũng như gây áp lực với các tập đoàn cai trị khi họ vừa dành được chính quyền để họ dâng nộp đất đai.


Để giữ gìn sự ổn định về cơ bản ranh giới truyền thống giữa hai nước, dân tộc Việt Nam đã phải chịu thiều sự hy sinh sức người, sức của mới bảo vệ được cương vực lãnh thổ cho đến khi bị thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và các nước Đông Dương. Đường biên giới truyền thống đó đã là cơ sở lịch sử - pháp lý để Pháp và nhà Thanh xác định một đường biên giới chính thức giữa Việt Nam và Trung Quốc bởi hai Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895.


Lịch sử hình thành đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc có từ rất lâu đời. Theo những di chỉ lịch sử và các truyền thuyết, từ hàng nghìn năm trước Công nguyên, lưu vực hai con sông Hoàng Hà và Trường Giang (sông Dương Tử) đã là địa bàn cư trú của cộng đồng người Hán, còn ở các khu vực thuộc châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả là nơi các bộ lạc Việt sinh sống(1) (Lịch sử thế giới cổ đại (1998) NXB Giáo dục Hà Nội).


Thời kỳ nước Văn Lang ra đời, sử sách chi chép cương vực chung chung, không ghi chép rõ ràng cụ thể cương giới ở đâu. Song cũng có thể hình dung quan niệm về lãnh thổ của một quốc gia thời kỳ này giống như một trung tâm, có các vùng bị khống chế xung quanh, đường biên giới không vạch ra liên tục mà nói dân các vùng giáp ranh, rìa ngoài (biên giới vùng)(1) (Nhà pháp luật Việt - Pháp (1997), “Luật quốc tế về biên giới, lãnh thổ quốc gia”. Hội thảo, Hà Nội). Đời Đường (618 - 907), sách sử Trung Hoa chép rõ tên nước ta thời Hùng Vương là “Văn Lang", sách Thông Điển của Đỗ Hựu đời Đường cũng chép “Phong Châu là nước Văn Lang xưa". Sách xưa của Trung Quốc thường nói đến cương giới Việt Nam và Trung Quốc ở núi Phân Mao(2) (Lưu Văn Lợi (1990), Việt Nam Đất - Biển - Trời, Nxb công an nhân dân. Hà Nội. tr.18) (núi Cỏ Rê: Trên đất Việt Nam thì cỏ ngả về Việt Nam, trên đất Trung Quốc thì cỏ ngả về Trung Quốc). Tương truyền Mã Viện sau khi dẹp xong Giao Chỉ đã dựng một cột đồng ở núi Phân Mao ở vùng Đông Cổ Sâm. Như vậy, cùng với quá trình hình thành và xây dựng nhà nước đầu tiên của người Việt cổ biên giới chung giữa Việt Nam và Trung Quốc từ xa xưa đã từng bước được định hình, hình thành trong một quá trình lịch sử lâu dài trên cơ sở sự tồn tại của những vùng lãnh thổ nước Việt Nam từ thời cổ đại.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 28 Tháng Hai, 2012, 08:30:05 AM
Thời kỳ sơ khai, biên giới chung giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ dừng lại ở khái niệm vùng biên giới, trên địa bàn cư trú và sinh sống của cư dân Lạc Việt và Âu Lạc. Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, lãnh thổ Việt Nam bị các triều đại phong kiến phương Bắc đô hộ, ranh giới giữa hai nước không được phân định rõ ràng. Đến năm 938 khi Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân đập tan cuộc xâm lược của quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, vấn đề lãnh thổ và chủ quyền quốc gia mới được phân định rõ nét trong mối quan hệ giũa nước Việt với đế chế phong kiến phương Bắc. Vấn đề này luôn trở thành mối quan tâm hàng đầu của các triều đại phong kiến Việt Nam. Theo Tống sử, Tống Cao là sứ giả nhà Tống được phái sang nước Việt năm 990 (tức là 9 năm sau chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai) đã báo cáo lên vua Tống rằng khi họ đến “hải giới" Giao Chỉ thì vua Lê Đại Hành đã cho 9 thuyền và 300 quân lên đón ở Thái Bình Tưởng (Trân Châu) và dẫn đoàn sứ thần đến địa điểm quy định. Như vậy, ngay trong nghi thức tiếp đón sứ thần khi đó đã đề cập đến cương vực "hải giới" và chủ quyền lãnh thổ.


Năm 1078, vua Lý Nhân Tông gửi thư cho vua Tống đòi lại vùng Quảng Nguyên (Quảng Hoà và Thạch An thuộc tỉnh Cao Bằng ngày nay) và vùng Tô Mậu (Đình Lập và An Châu thuộc tỉnh lạng Sơn ngày nay) mà nhà Tống đã chiếm trên đường rút quân trong cuộc (chiến tranh xâm lược thất bại năm 1076, nhưng phải đến sáu lần vua Lý đi đòi đất vẫn không thành. Năm 1127, trong di chiếu vua Lý Nhân Tông đã điểm lại việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ cương vực lãnh thổ và hài lòng nhận thấy "bốn biển yên lành, biên thuỳ ít biến". Năm 1171, 1172, vua Lý Anh Tông đích thân đi xem xét biên cương, vùng biển phía Nam, phía Bắc, biên soạn ra cuốn sách "Nam Bắc phân giới địa đồ" ghi chép về hình thế núi sông, cương vực đất nước. Đến thế kỷ 12, nhà Trần giao nhiệm vụ chỉ đạo bảo vệ các hướng biên giới cho các trọng thần. Trần Hưng Đạo phụ trách hướng Lạng Sơn; Trần Nhật Duật phụ trách hướng Tuyên Quang; Trần Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn, bảo vệ hướng biển Đông Bắc. Năm 1349, nhà Trần nâng vị trí trang Vân Đồn thời Lý lên thành một trấn trực thuộc triều đình với nhiệm vụ tổ chức bảo vệ vùng biển Đông Bắc và quản lý việc thông thương với nước ngoài.


Năm 1432, vua Lê Thái Tổ cho khắc vào vách núi ở Hoà Bình “Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu an"(1) (Quốc sử Quán triều Nguyễn. Đại Nam Thống Nhất Chí (1971), Tập IV, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội, tr.307, 308). Năm 1446, vua Lê Thánh Tông đã phản kháng nhà Minh cho quân cướp bóc vùng Thông Nông, bảo Lạc (Cao Bằng ngày nay) và đòi họ phải bồi thường, mặt khác ra lệnh đày hai viên quan cai quản Cao Bằng đi xa vì tội phòng giữ biên cương không cẩn mật.


Chính nhờ cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ và khôn khéo của các thế hệ người Việt Nam nối tiếp nhau qua các triều đại, dù so sánh lực lượng chênh lệch nhưng biên cương phía Bắc nước ta vẫn được bảo tồn và cơ bản ổn định cả từ nghìn năm nay.


Từ sau kỷ nguyên độc lập và suốt trong thời kỳ phong kiến, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hình thành mà đặc điểm chính của sự hình thành này là sự đan xen giữa biên giới tập quán và biên giới được xác định. Trên toàn tuyến là biên giới tập quán được sự thừa nhận của hai bên dựa trên ranh giới các đơn vị hành chính, các khu dân cư thuộc quyền quản lý của mỗi bên và sự phân biệt đó thường được dựa vào địa hình tự nhiên như sông, suối, núi, đồi... lâu dần hình thành đường biên giới tập quán cùng được hai bên tôn trọng. Tại những nơi có đường giao thông đi qua biên giới (cắt đường biên giới), hai bên đặt đồn ải để quản lý việc qua lại, duy trì an ninh cho dân cư của các vùng biên giới. Song, cá biệt cũng có những đoạn biên giới được nhà nước phong kiến hai bên cùng xác định. Đó là đoạn biên giới phía Bắc Cao Bằng ngày nay đã được ấn định từ năm 1084 và đoạn sông Đỗ Chú phía Tây Bắc huyện Vị Xuyên được dựng bia làm dấu năm 1732.


Tuy nhiên, toàn bộ đường biên giới cũng có sự khác biệt giữa đoạn biên giới phía Đông và đoạn biên giới phía Tây. Đoạn biên giới phía Đông từ biển đến đỉnh cao Đồng Văn nói chung ổn định, hai bên có hệ thống đồn ải hình thành trong quá trình lịch sử. Ngược lại, ở phía Tây từ đỉnh cao Đồng Văn đến Điện Biên, do dân cư thưa thớt, địa hình phức tạp nên đường biên giới nói chung không rõ ràng.


Đến thời Nguyễn, một đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc đã hình thành, tồn tại khá ổn định, được hai bên tôn trọng. Tạp chí Geographer của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã nhận xét: "Sau 10 thế kỷ bị đô hộ, năm 939, Bắc Kỳ đã phá vỡ ách đô hộ của Trung Quốc và thành lập vương quốc Đại Cồ Việt. Được sự che chở của vùng thượng du ở phía Bắc đồng bằng Bắc Kỳ, nhà nước mới này đã bảo vệ được nền độc lập dân tộc của mình... một đường biên giới gần giống như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia. Trừ một số ít ngoại lệ, mặc dù trong nhiều thế kỷ, cuộc chiến lúc tăng, lúc giảm nhưng tình hình chủ yếu là như vậy cho đến khi Pháp đến"(1) (Bộ Ngoại giao Mỹ, "Biên giới Trung Quốc - Việt Nam", Tạp chí Geographer (tiếng Việt Số 38, ngày 29-10-1964)). Và trong bài "Tổng Tụ Long và đường biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ công bố năm 1924, Bonifaci Tư lệnh đạo quan binh Hà Giang viết "đường biên giới lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được xác định một cách hoàn hảo. Khi cần người Việt Nam biết bảo vệ các quyền của họ, mặc dầu người Trung Quốc cho rằng không thể có đường biên giới giữa Việt Nam và thiên triều”. Cho đến cuối thế kỷ XIX, trước khi Pháp đến, giữa Việt Nam và Trung Quốc đã tồn tại một đường biên giới tương đối ổn định và rõ ràng như đã được chép trong Đại Nam Nhất Thống Chí, Đông Khánh Dư Địa Chí cũng như trong Đại Thanh Nhất Thống Chí, cùng những dấu hiệu đường biên giới trên thực địa.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2012, 08:10:18 AM
2. BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC TRONG THỜI KỲ THỰC DÂN PHÁP ĐÔ HỘ VIỆT NAM

2.1. Hoạch định biên giới Việt - Trung theo hai Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895

Pháp đã chú ý đến Việt Nam từ thế kỷ XVII - XVIII, đặc biệt là từ cuối thế kỷ XVIII khi Nguyễn Ánh móc nối dựa vào Pháp để chống lại nhà Tây Sơn. Nhưng phải đến giữa thế kỷ XIX, Pháp mới có điều kiện xâm lược Việt Nam.


Năm 1858, thực dân Pháp bắn súng vào cửa biển Đà Nẵng mở đầu cuộc tiến công xâm lược Việt Nam. Do có sự chống trả quyết liệt của quan quân nhà Nguyễn, Pháp phải từ bỏ hướng tấn công ở Đà Nẵng.

Năm 1859 Pháp chuyển hướng tấn công thành Gia Định, mở rộng chiếm đóng Sài Gòn. Sau 4 năm kháng cự, đến năm 1862, triều đình Huế ký hàng ước giao nộp cho Pháp ba tỉnh miền Đông của Nam Kỳ (Biên Hoà, Gia Định, Định Tường).


Đến năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây của Nam Kỳ (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên).

Năm 1873, lấy cớ việc thông thương trên sông Hồng bị phía Việt Nam gây trở ngại, Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất, nhưng sau đó phải rút khỏi Hà Nội do lực lượng mỏng và do sự kháng cự của quan quân triều đình Nguyễn.


Ngày 15-3-1874, triều đình Huế ký điều ước nhượng "Nam Kỳ lục tỉnh" cho Pháp.

Ngày 31-8-1874, Pháp ép triều đình Huế ký Hiệp ước thương mại Pháp - An Nam, mở đường Hồng Hà cho tàu của Pháp đi lại, cho Pháp đóng quân ở Hà Nội và Hải Phòng.

Pháp tấn công hà Nội lần thứ hai, đến ngày 25-4-1882, Hà Nội thất thủ.

Sau năm ngày tấn công vào cửa biển Thuận An, ngày 25-8-1883, Pháp ép triều đình Huế ký Hiệp ước Harmand tại Sài Gòn, chia đặt Việt Nam thành ba chế độ thuộc Pháp: Nam Kỳ là xứ thuộc địa, Trung Kỳ là xứ bảo hộ, Bắc Kỳ là xứ bảo hộ nửa thuộc địa.


Đến ngày 6-6-1884, triều đình Huế và Pháp ký Hiệp ước Pa-tơ-nốt thay thế cho các hiệp ước đã ký trước đó. Kể từ đây, Pháp đã thực sự là nước bảo hộ Việt Nam, "thay mặt" triều đình Huế bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và đại diện cho Việt Nam trong mọi quan hệ đối ngoại, đưa thêm ba tỉnh là Bình Thuận, Thanh Hoá và Nghệ An - Hà Tĩnh vào Trung Kỳ, vẫn giao triều đình Huế cai quản Trung Kỳ nhưng dưới sự bảo hộ của Pháp.


Về phía triều đình nhà Nguyễn, ngay trong những năm 1876, 1877 và 1882 đã cử nhiều đoàn sứ thần sang Trung Quốc cầu viện nhà Thanh với ảo tưởng là nhờ vào thanh thế của nhà Thanh làm áp lực đối với quân Pháp.

Về phía triều đình nhà Thanh (Trung Quốc), mặc dù lúc đó đang gặp khó khăn về đối ngoại, đang bị nhiều đế quốc xâu xé, nhưng với tham vọng bành trướng cố hữu, triều Thanh đã bàn tính về vấn đề Việt Nam. Trương Thụ Thanh, Tổng đốc Trực Lệ nguyên là Tổng đốc Lưỡng Quảng đã mật tâu lên vua Thanh: "Nước Nam và Trung Quốc tiếp giáp nhau, thế lực nước Nam bây giờ thật là suy yếu, không thể tự chủ được nữa. Vậy nên mượn tiếng sang đánh giặc mà đóng giữ các tỉnh ở miền thượng du, đợi khi có biến thì chiếm lấy những tỉnh phía Bắc sông Hồng”. Vua Thanh đã chuẩn y. Theo đó, lợi dung sự cầu viện của triều Nguyễn, từ mùa thu năm 1882 hàng chục vạn quân Thanh đã vượt biên giới vào đóng quân trên những địa bàn chiến lược ở Bắc sông Hồng (Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang...).


Nhà Thanh có chủ trương đưa quân sang Việt Nam để mặc cả với Pháp trong ý đồ phân chia Bắc Kỳ bằng biện pháp thương lượng, không sử dụng lực lượng quân sự. Do vậy, các đội quân của Pháp và Thanh đóng quân ở gần nhau, xen kẽ ở nhiều nơi ở Bắc Kỳ nhưng không xảy ra đụng độ. Henry Rivière đã báo cáo "Từ ngày quân Trung Quốc bao vây chúng tôi, chúng tôi lại ở trong một tình trạng hoàn toàn yên ổn, không có một cuộc xung đột nhỏ nào".


Ngày 26-11-1882, tại Thiên Tân, Lý Hồng Chương là đại thần phụ trách đối ngoại của nhà Thanh đã đưa ra đề nghị với đại diện Pháp là Bourée: "Trung Quốc thừa nhận chủ quyền của Pháp ở nơi nào mà Pháp đã có chủ quyền rồi (nghĩa là Nam Kỳ lục tỉnh), Pháp thừa nhận quyền tôn chủ của Trung Quốc ở phần còn lại của Việt Nam, hai bên cùng nhau đô hộ và như vậy danh nghĩa của Trung Quốc được bảo vệ mà quyền lợi của Pháp cũng không thiệt hại gì".


Trên bàn đàm phán thì như vậy, trên thực tế để phối hợp với ngoại giao, Trung Quốc đã phô trương thanh thế ở Thiên Tân tỏ rõ quyết tâm nếu cần sẵn sàng giải quyết bằng vũ lực vấn đề Bắc Kỳ của Việt Nam. Thủ đoạn này không phải không đạt được kết quả, thậm chí Bourée đại diện của Pháp đã dao động và đồng ý dự thảo hiệp định chia Bắc Kỳ thượng cho nhà Thanh, phần còn lại là của Pháp. Dự án này cũng đã được Thủ tướng Pháp kiêm Bộ trưởng Ngoại giao đồng ý.


Nhưng các giới chức thực dân ở Hà Nội và Sài Gòn lại kịch liệt phản ứng. Ngày 15-01-1883, Henry Rivière chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Kỳ đã viết thư về Chính phủ Pháp: "Ông Bouree mà Bắc Kinh và Paris đều thừa nhận ý kiến đang làm một hoà ước ngu ngốc, theo hoà ước đó thì cả Bắc Kỳ lúa gạo sẽ về tay ta, còn Bắc Kỳ mỏ sẽ về tay Trung Quốc", và "nếu quả thật người ta bỏ cả vùng mỏ thì thật là đáng tiếc". Ngay sau đó, Pháp đã triệu hồi Bouree về nước, đồng thời tăng viện quân đội gồm bốn đại đội cho Henry Rivière.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2012, 08:12:00 AM
Trước sự can thiệp của nhà Thanh, để tạo thế hợp pháp trong việc giải quyết lãnh thổ của Việt Nam, Pháp đã nhanh chóng ép buộc triều đình Huế ký hoà ước thừa nhận sự bảo hộ chặt chẽ của Pháp. Trên biển, Pháp tiến hành phong toả bờ biển Bắc và Trung Bộ đối với tàu thuyền của Trung Quốc.


Giữa tháng 9-1883, Pháp đưa ra đề nghị: "Một đường tạm thời lấy từ một điểm ven biển giữa vĩ tuyến 21 và 22 để chạy lên đến Lào Cai, giữa đường đó và biên giới Trung Quốc, hai bên không đóng quân, lập đồn. Mở một thương cảng trên sông Hồng trong địa phận Vân Nam (Mãn Hảo)". Như vậy là Pháp muốn có một vùng trung lập để khỏi phải xung đột với nhà Thanh, sau khi hoàn thành việc xâm lược Việt Nam, sẽ quay lại chiếm vùng trung lập ấy.


Ngày 18-9-1883, trong cuộc đàm phán ở Paris, Tăng Kỷ Trạch đại sứ Trung Quốc đưa ra đề nghị "vùng chia cho Pháp là hữu ngạn sông Hồng, còn tả ngạn sông Hồng và lưu vực sông Thái Bình thuộc nhà Thanh".

Ván bài đã lật ngửa, rõ ràng Trung Quốc không muốn lấy đề nghị của Pháp làm cơ sở và Pháp cũng không chịu chia phần đất đai Bắc Kỳ cho Trung Quốc. Như vậy, giải pháp thương lượng đã bế tắc, tất yếu dẫn đến giải pháp quân sự. Pháp đã nhanh chóng điều một sư đoàn hải quân đến Hương Cảng nhằm đe doạ Trung Quốc.


Ngày 19-11-1883, Tổng lý Nha môn gửi thư cho De Samani đại sứ Pháp tại Trung Quốc rằng việc Pháp dùng vũ lực bắt buộc Việt Nam ký điều ước nhằm mục đích tước quyền chính trị của Trung Quốc đối với An Nam và cảnh cáo: "Nếu Pháp cố tình xâm chiếm những vùng mà quân Thiên triều đóng ở Bắc Kỳ thì Pháp là người chịu trách nhiệm chấm dứt hoà bình, khi ấy quân Thanh triều bị bắt buộc tự vệ, dùng vũ lực đối phó với vũ lực".


Ngày 12-3-1884, Pháp tập trung lực lượng tấn công Bắc Ninh (Bắc Kỳ), đánh thiệt hại nặng hơn một vạn quân Thanh đồn trú tại đây và chiếm đóng toàn bộ vùng này. Trận Bắc Ninh là đòn choáng váng đối với quân Thanh trong khi đó thì Nga hoàng lại khích lệ quân Pháp "Pháp chỉ cần 400 triệu thì giải quyết gọn".


Nhà Thanh một mặt trị tội các tướng lĩnh thất trận, một mặt phải ký hiệp ước Thiên Tân ngày 11-5-1884, gồm 15 điều. Trong hiệp ước này, có ba điều khoản quan trọng là:

- Nhà Thanh cam kết rút hết quân khỏi các vùng giáp Quảng Tây vào ngày 6-6-1884 và khỏi các vùng giáp Vân Nam vào ngày 26-6-1884, tôn trọng hiện tại cũng như tương lai các hiệp ước đã ký hoặc sẽ ký giữa Pháp và triều đình Huế.

- Pháp cam kết tôn trọng và bảo vệ biên giới phía Nam của Trung Quốc giáp Bắc Kỳ, chống lại mọi cuộc tấn công của bất cứ nước nào và bất cứ trường hợp nào.

- Pháp buộc nhà Thanh bồi thường. Nhà Thanh đồng ý tự do trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và Pháp một bên, Trung Quốc một bên trên suốt dọc biên giới phía Nam của Trung Quốc và cả hai bên sẽ ký một hiệp ước thương mại có lợi nhất cho Pháp.


Có thể nói là, nhà Thanh đã ký với Pháp một hiệp ước từ bỏ cái gọi là quyền tôn chủ của họ đối với Việt Nam trong suốt nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, ngay sau khi ký Hiệp ước Thiên Tân, nhà Thanh vẫn chưa từ bỏ ý đồ đối với đất đai của Việt Nam, quân đội của nhà Thanh cũng chưa tán thành việc rút quân như đã thoả thuận trong Hiệp ước năm 1884, họ vin vào việc "chưa nhận được lệnh rút quân" để tiếp tục đóng quân ở Bắc Kỳ. Tình hình đó đã dẫn đến cuộc nổ súng lớn tại cầu Quan Âm thuộc địa giới Lạng Sơn ngày 23-6-1884, do bị bất ngờ và thiếu sự chuẩn bị, quân Pháp ở đây đã bị thiệt hại nặng. Đáng chú ý là, sau trận Quan Âm, quân Thanh thực hiện án binh bất động và không chịu rút quân về nước.


Tình hình trên đã dẫn đến cuộc chiến ác liệt giữa quân Thanh và quân Pháp cả trên biển và trên bộ, cuộc chiến này kéo dài 8 tháng từ cuối tháng 5-1884 đến tháng 02-1885. Trên biển, quân Pháp đã phá tan hạm đội của nhà Thanh tại Phúc Châu, phong toả Trường Giang và Đài Loan. Trên bộ, lúc đầu Pháp đã đẩy lùi quân Thanh khỏi Lạng Sơn nhưng sau đó quân Thanh phản công, quân Pháp thua và rút nhạy về Bắc Giang.


Cuộc chiến giữa quân Pháp và quân Thanh dẫn đến cuộc đàm phán thương lượng mới. Phía Trung Quốc vẫn tiếp tục đề nghị Pháp nhượng bộ đất đai ở Bắc Kỳ. Trong đàm phán ngày 01-11-1884, Lý Hồng Chương đề nghị "Trung Quốc chấp nhận Hiệp ước Thiên Tân, đồng thời Pháp để cho Việt Nam cống nạp cho Bắc Kinh như cũ và sửa đổi đường biên giới Trung Quốc - Việt Nam theo một đường ranh giới ở phía dưới tỉnh Lạng Sơn, Đông ra tới biển, Tây về phía Miến Điện". Đề nghị này rõ ràng là trái hẳn với tinh thần hiệp ước Thiên Tân 1884, phía Pháp đã không chấp nhận. Sau hai tháng hội đàm, Pháp và Trung Quốc ký tạm ước Paris ngày 04-4-1885, tại Điều 1 ghi "Phía Trung Quốc thoả thuận phê chuẩn hiệp ước Thiên Tân ngày 11-5-1884; phía Pháp tuyên bố không theo đuổi mục đích nào khác ngoài sự chấp hành hoàn toàn và đầy đủ hiệp ước đó".


Thực hiện điều 3 Tạm ước Paris ngày 4-4-1885 (dự kiến ký hiệp ước chính thức Pháp - Trung). Ngày 9-6-1885, tại Thiên Tân, Pháp và nhà Thanh đã ký Hiệp ước Hoà bình - Hữu nghị - Thương mại. Hiệp ước này gồm có 10 điều khoản, trong đó có điều 3 đề cập đến việc khảo sát và cắm mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc: "Trong thời hạn 6 tháng kể từ khi ký hiệp ước này, các uỷ viên do các bên ký kết củ ra sẽ đến tại chỗ để xác nhận lại đường biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ. Họ sẽ đặt ở nơi nào xét thấy cần thiết những mốc giới để làm cho giới tuyến được nhìn thấy rõ ràng. Trong trường hợp họ không thể thoả thuận được với nhau về vị trí những mốc đó hoặc về những sửa đổi chi tiết có thể cần làm đối với biên giới hiện tại giữa Trung Quốc và Bác Kỳ, thì vì lợi ích chung của hai nước, họ sẽ phải xin ý kiến của Chính phủ của họ". Theo điều này, Pháp và nhà Thanh đã lựa chọn cơ sở để xác định đường biên giới giữa Việt Nam và trung Quốc là đường biên giới tập quán đã tồn tại từ lâu.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2012, 08:13:02 AM
Có một số vấn đề được đặt ra đối với đường biên giới tập quán nêu trên:

- Việc hoạch định biên giới dựa trên cơ sở một đường biên giới "hiện tại" hoặc "hiện nay" tức là một đường biên giới đã sẵn có lúc bấy giờ giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, nhưng vì đường biên giới sẵn có đó chưa được ký kết hoặc được thể hiện bằng sự ghi nhận trên một biên bản pháp lý nào giữa hai nước, nay phải được xác lập vững chắc trên cơ sở ký kết và quy định chung của cả hai nước. Thực tế, đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có từ lâu đời, nhưng hai nước chưa có sự ký kết gì, Việt Nam đã cố gắng thể hiện quốc giới của mình như việc lập các đồn ải, cá biệt có chỗ có mốc giới, nhưng đó chỉ là. việc làm đơn phương. Về phía Trung Quốc, vì luôn coi Việt Nam là nước phiên thuộc và luôn có dã tâm lấn chiếm đất đai nên Trung Quốc không eo ý định làm thật rõ ràng đường biên giới giữa hai nước. Điều này đã dẫn đến những thiệt hại cho phía Việt Nam.

- Việc hoạch định biên giới được tiến hành chủ yếu là dựa trên bản đồ của Trung Quốc, do trình độ kỹ thuật thời đó hạn chế nên các bản đồ này thường không chính xác.

- Pháp là một bên giải quyết biên giới, nhưng Pháp lại không nắm chắc biên giới truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhiều vùng Pháp chưa đặt chân tới, trong khi đó đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc không ổn định, thường xuyên có sự xáo trộn về dân cư, nhiều vùng là lãnh thổ của Việt Nam, nhưng thực tế lại do các lực lượng của phía Trung Quốc kiểm soát trong đó có cả những lực lượng đối lập với triều đình như lực lượng "cờ đen", "cờ vàng".

- Việc giải quyết đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc tiến hành song song với vấn đề bình định ở Bắc Kỳ, lực lượng cần vương thống Pháp vẫn còn hoạt động, ở các vùng núi tình hình nhiều nơi Pháp không kiểm soát được. Điều kiện giao thông, đường sá đi lại rất vất vả, dân cư ở vùng biên giới thưa thớt... là những khó khăn thường trực cho phía Pháp. Hơn nữa, phía nhà Thanh cử hai đoàn đại diện cho hai đoạn biên giới, phía Pháp chỉ có một đoàn nên càng gặp nhiều khó khăn.


Tháng 8-1885, Pháp và nhà Thanh thành lập Uỷ ban hoạch định biên giới. Phía Pháp cử Bourcier de Saint Chaffrey (sau này là Dillon) làm Trưởng đoàn. Phía nhà Thanh cử Đặng Thừa Tu làm Trưởng đoàn khi hoạch định đoạn biên giới Lưỡng Quảng (Quảng Đông, Quảng Tây) và Chu Đức Nhuận làm Trưởng đoàn khi hoạch định đoạn biên giới Vân Nam.


Việc thực hiện Điều 3 hiệp ước 1885 ngay từ đầu đã gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn đầu tiên là việc gặp gỡ, thống nhất giữa đại diện hai bên do nhiều yếu tố đã dẫn đến việc hai đoàn chỉ họp được phiên chính thức đầu tiên ở Nam Quan (Đồng Đăng) ngày 7-01-1886 và ở Lào Cai ngày 23-7-1886; khó khăn thứ hai chính là nội dung thực chất đem ra bàn bạc khi ngồi vào bàn thương lượng. Một khó khăn chung nữa là địa hình vùng biên giới vô cùng hiểm trở, hơn nữa nội bộ Pháp trong lúc bấy giờ lại hết sức lủng củng, đặc biệt là sự thiếu thiện chí của đoàn đại biểu của phía nhà Thanh(1) (Lưu Văn Lợi (1990), Việt Nam Đất - Biển - Trời, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội).


Trong phiên họp đầu tiên của Uỷ ban hoạch định ở Đồng Đăng ngày 7-01-1886, Trưởng đoàn phía nhà Thanh Đặng Thừa Tu đã đưa ra đề nghị: "Trước đây không có vấn đề quan tâm đến biên giới vì An Nam là một thuộc quốc của Trung Quốc, một đường giới tuyến giữa hai nước là không cần thiết. Vì Trung Quốc đã nhường toàn bộ An Nam cho Pháp, nên điều cần thiết là Trung Quốc phải thu được về cho mình một số nhân nhượng về lãnh thổ". Theo đó, đòi đường biên giới phải đi từ Tiên Yên theo sông Kỳ Cùng tới ngọn nguồn của nó đến điểm gặp nhau giữa biên giới Quảng Tây - Vân Nam, nghĩa là đòi cả vùng Thất Khê, Lạng Sơn và Cao Bằng về Trung Quốc (tổng diện tích khoảng 14.000 km2), còn ở khu vực Nam Quan thì đòi đường biên giới khác xa so với đường biên giới Pháp vạch ra. Cuối cùng hai bên chỉ thống nhất được hai điểm ở hai đầu của khu vực này, phía Pháp yêu cầu dừng cuộc họp vì những đòi hỏi quá đáng của phía nhà Thanh. Một tháng sau, Uỷ ban họp lại, Đặng Thừa Tu lại từ chối ra thực địa và đòi chỉ hoạch định biên giới trên bản đồ. Do thái độ kiên quyết của phía Pháp, cuối cùng đoàn Trung Quốc chấp nhận cùng đi thực địa, Pháp đã nhân nhượng để vùng Hải Ninh, Bạch Long - một dải đất rộng 1.500 m dọc theo biên giới hiện tại từ Bình Nhi đến Ái Điểm dài 120 km, phía Pháp giữ Lạng Sơn, Đồng Đăng, Thất Khê, đoạn sông Kỳ Cùng ở Thất Khê đến cửa Chi Ma (Lộc Bình, Lạng Sơn ngày nay). Như vậy từ tháng 01-1886, hai bên đã tiến hành hoạch định thí điểm khu vực từ Chi Ma đến Bình Nghi thuộc đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây. Trong quá trình đàm phán, phía Trung Quốc không muốn phân giới, chỉ muốn hoạch định trên bản đồ. Do lúc đó chưa có bản đồ nên hai bên thống nhất cử các đoàn đi đo vẽ thực địa, lập bản đồ đường biên giới hiện tại. Từ ngày 20-3-1886 đến 13-4-1886, hai bên đã vẽ bản đồ và hoạch định xong đoạn biên giới thí điểm.


Từ tháng 6-1886 đến tháng 11-1886, Pháp và nhà Thanh tiến hành đàm phán hoạch định đoạn biên giới Vân Nam - Bắc Kỳ.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2012, 08:14:33 AM
Để mở đường cho việc hoạch định biên giới ở khu vực này, ngay từ tháng 3-1886 quân Pháp do Jamont chỉ huy đã hành quân giải toả đẩy quân Thanh và các lực lượng thổ phỉ ra khỏi các vùng Tuyên Quang, dọc sông Hồng cho tới Lào Cai và đã thiết lập một hệ thống đồn bốt dọc sông Hồng. Ngày 23-7-1886, Uỷ ban biên giới Pháp - Thanh bắt đầu làm việc, vì đang mùa mưa nên hai đoàn chỉ có thể hoạch định biên giới trên bản đồ, hai bên thoả thuận mỗi bên lập một bản đồ riêng rồi cùng nhau so sánh. Trong khi đó thì phía nhà Thanh đã có một số hành động vi phạm nghiêm trọng. Họ cho đặt mốc giới ở Phong Thổ và Lai Châu, đưa ra bản đồ vẽ vùng Phong Thổ và Lai Châu thuộc Trung Quốc, đòi trao vùng Tụ Long cho Trung Quốc, phục kích giết chết hai sĩ quan Pháp cùng 5 lính lê dương, 5 lính bản xứ ở Long Pô (Ngòi Mít) khi lực lượng này đi khảo sát biên giới. Khi đoàn Pháp từ Lào Cai trở về, còn bị phục kích nhiều lần dọc theo sông Hồng. Việc hoạch định biên giới Vân Nam - Bắc Kỳ được chia thành năm đoạn đánh số từ 1 đến 5:

(1) Đoạn 1 từ ngã ba sông Hồng đến Cao Đại Trại (vùng Long Pô đến vùng Đông Bắc huyện Mường Khương ngày nay);

(2) Đoạn 2 từ Cao Đại Trại đến Cao Mã Bạch (một làng ở Đông bắc nguồn sông Lô);

(3) Đoạn 3 từ Cao Mã Bạch đến Lũng Cú;

(4) Đoạn 4 từ Lũng Cú đến Lũng Làn;

(5) Đoạn 5 từ sông Hồng đến sông Đà.

Trong năm đoạn biên giới kể trên, hai bên thống nhất được các đoạn số 1, 3 và 4, không thống nhất được một số điểm trên đoạn số 2 và toàn bộ đoạn số 5. Ngày 19-10-1886, Pháp và nhà Thanh đã ký biên bản hoạch định đoạn biên giới Bắc Kỳ - Vân Nam.


Đoạn biên giới Quảng Đông - Bắc Kỳ là đoạn biên giới đã được phía nhà Thanh rút kinh nghiệm sau khi đã sử dụng các thủ đoạn đòi đất trong suốt 10 tháng đàm phán năm 1886. Đầu tháng 11-1886, nhà Thanh dùng 3.000 quân chiếm vùng lõm Giang Bình - Pắk Lung, ép dân Việt Nam sống tại đây phải cắt tóc theo kiểu người Trung Quốc và ký tên vào kiến nghị nhận là lãnh thổ Trung Quốc, tổ chức các toán thổ phỉ ngăn chặn phá rối việc đo vẽ ở thực địa, tập kích giết hại uỷ viên đoàn đàm phán, tập kích vào đội trắc địa Pắk Lung, tập kích đồn Hà Cối. Các hoạt động của quân Thanh nhằm gây sức ép buộc Pháp phải nhân nhượng cho Trung Quốc vùng đất phía Đông Móng Cái, vùng Tiên Yên, Hà Cối và Hải Ninh (tức là thung lũng sông Tiên Yên đến đầu nguồn sông Kỳ Cùng là thuộc Trung Quốc). Đối phó với tình hình lấn chiếm của phía nhà Thanh, phía Pháp đã tăng cường lực lượng đến Hải Ninh và vùng lõm Giang Bình, bố trí tàu chiến ở ngoài khơi yểm trợ hoả lực cho Giang Bình - Pắk Lung khi cần thiết.


Tranh chấp quyết liệt giai đoạn này là khu vực Pắk Lung - Giang Bình. Đây là khu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam nằm ở phía Bắc sông Bắc Luân, phía Đông Đông Hưng, kéo dài theo ven biển, Việt Nam đã có chủ quyền từ lâu đời, dân Việt Nam sinh sống tại đây có nhà thờ, phong tục tập quán, ngôn ngữ đều thuộc Việt Nam.


Sau những cuộc thương lượng căng thẳng, cuối cùng đến ngày 29-3-1887, đại diện Pháp (Dillon) và đại diện nhà Thanh (Đặng Thừa Tu) đã ký biên bản và bản đồ hoạch định các khu vực: Từ Trúc Sơn đến Ái Điểm, từ Bình Nhi đến Nà Lạng, từ Nà Lạng đến Thượng Kiều và từ Thượng Kiều đến giáp ranh giới Vân Nam. Biên bản hoạch định này quy định việc hai bên vẫn giữ quyền sở hữu ruộng, vườn, nhà cửa ở bên kia biên giới từ Trúc Sơn đến giáp Vân Nam sau khi đã xác định đường biên giới giữa hai nước.


Với kết quả ba đợt hoạch định, Pháp và nhà Thanh đã cơ bản hoàn thành việc hoạch định biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc từ cửa sông Bắc Luân đến ngã ba sông Hồng và sông Long Pô. Việc hoạch định chủ yếu dựa trên cơ sở đường biên giới lịch sử vốn có giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, trong quá trình hoạch định, hai bên còn bất đồng một số đoạn phải báo cáo lên Chính phủ hai nước giải quyết vùng mũi Bạch Long, đoạn 2 và đoạn 5 giữa Vân Nam - Bắc Kỳ, tức là đoạn giữa sông Chảy đến Cao Mã Bạch thuộc huyện Quản Bạ và đoạn từ sông Hồng đến sông Đà). Vì vậy, đại diện Pháp và nhà Thanh đã đàm phán ở Bắc Kinh để giải quyết tranh chấp về các khu vực này.


Đến ngày 26-6-1887, tại Bắc Kinh, hai bên Pháp và nhà Thanh đã ký hai Công ước: Công ước hoạch định biên giới trên bộ giữa Việt Nam (Bắc Kỳ) và Trung Quốc, kèm theo ba bản đồ. Cùng ngày, hai bên ký Công ước thương mại Pháp - Thanh. Thực chất, hai công ước này có sự liên quan rất chặt chẽ đến nhau. Phía Pháp muốn nhanh chóng giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Trung Quốc tạo thuận lợi cho quan hệ thương mại giữa hai nước, trong đó có vấn đề cốt lõi là Pháp nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường Hoa Nam, đặt các lãnh sự quán Pháp tại một số tỉnh Hoa Nam. Quyền lợi kinh tế của tư bản Pháp đã khiến Pháp có thái độ nhân nhượng đối với một số vùng đất đai Việt Nam mà Trung Quốc đang đòi hỏi. Về phía nhà Thanh, họ đã lợi dụng tham vọng của Pháp, khai thác khả năng dành lợi thế trong việc đàm phán biên giới lãnh thổ.


Nội dung của Công ước hoạch định biên giới năm 1887 gồm hai điều(1) (Xem toàn văn Công ước trong Phần Phụ lục):

Điều 1: Chuẩn y các biên bản và bản đồ kèm theo đã được đại diện của Pháp và nhà Thanh trong Uỷ ban hoạch định biên giới hai bên ký kết.

Điều 2 : Ghi nhận việc giải quyết những điểm hai đoàn trong Uỷ ban hoạch định biên giới chưa thống nhất được và những điều chỉnh được nêu ra trong phần 2 Điều 3 Hiệp ước Thiên Tân ngày 9-6-1885 như sau:

- Đoạn biên giới Quảng Đông - Bắc Kỳ: Thoả thuận các điểm tranh chấp nằm ở phía Đông và Đông Bắc Móng Cái, ở quá đường biên giới do Uỷ ban hoạch định quy định thuộc về Trung Quốc; Các đảo nằm ở phía Đông đường kinh tuyến Paris 105°43' kinh độ Đông, tức là đường thẳng Bắc Nam chạy qua mũi Đông đảo Trà Cổ và tạo thành biên giới đều thuộc về Trung Quốc. Đảo Cô Tô và các đảo khác nằm ở phía Tây đường kinh tuyến này thuộc về An Nam.

- Đoạn biên giới Vân Nam - Bắc Kỳ: Quy định đường biên giới đoạn 2 từ Cao Đại Trại đến Cao Mã Bạch mà trong hoạch định năm 1886 chưa thoả thuận, nhường tổng Tụ Long và một phần Phấn Vũ cho Trung Quốc. Hoạch định biên giới đoạn 5 từ sông Hồng đến sông Đà mà năm 1886 Uỷ ban hoạch định biên giới chưa thoả thuận được. Theo đường này, biên giới chạy sát tỉnh lị Lai Châu, một vùng rộng lớn phía Bắc Phong Thổ, cả huyện Mường Tè thuộc Lai Châu là của Trung Quốc.


Về việc thi hành Công ước, hai bên đã thống nhất các nhà chức trách địa phương Trung Quốc và các viên chức do Thống sứ Cộng hoà Pháp ở An Nam và Bắc Kỳ chỉ định sẽ được giao trách nhiệm tiến hành việc cắm mốc giới theo đúng các bản đồ do Uỷ ban hoạch định lập và ký, theo đường phân giới đã nói ở trên.


Như vậy, việc ký Công ước hoạch định biên giới năm 1885 giữa Pháp và nhà Thanh đã giải quyết cơ bản toàn bộ đường biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thực ra trong quá trình hoạch định biên giới, Pháp chưa đi khảo sát thực tế khu vực Tây sông Hồng do không thể vào được khu vực này, vì lúc bấy giờ ở đó có nhiều nhóm vũ trang chiếm đóng như "cờ đen", "cờ vàng" và lực lượng Cần Vương của Tôn Thất Thuyết. Thủ lĩnh dân tộc vùng này là Đèo Văn Trí lúc đó làm Tuần phủ Lai Châu còn đứng về phía Cần vương chống Pháp.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2012, 08:15:11 AM
Về phía Pháp, những tháng đầu năm 1887, quân Pháp do thiếu tá Pelletier chỉ huy tiến lên chiếm Phong Thổ, cuối năm 1887 và đầu năm 1888 đạo quân do đại tá Pernot chỉ huy chiếm Tuần Giáo, đặt đồn bốt ở Lai Châu. Cao uỷ Pháp ở Lào là Pavie và Tư lệnh quân khu IV là đại tá Pennequin cũng đưa quân ngược sông Đà lên vào mùa xuân 1888. Như vậy, trên thực tế Pháp đã giải toả và chiếm đóng một số vùng vượt quá đường hoạch định năm 1887, đó là vùng lãnh thổ của Việt Nam những trước đây do chưa nắm vững tình hình, khi hoạch định lai dựa vào bản đồ của Trung Quốc vạch cho Trung Quốc và thực tế kiểm tra lại thì Pháp vẫn chiếm đóng dúng ở phần đất của Việt Nam.


Một lợi thế khác là Đèo Văn Trí lúc đầu dựa vào nhà Thanh chống Pháp, đến năm 1890 Đèo Văn Trí bỏ Tôn Thất Thuyết về hàng Pháp, mang theo toàn bộ vùng đất rộng lớn phía hữu ngạn sông Hồng do Trí cai quản về dưới sự cai quản của Pháp (Pháp đã tiếp tục giao cho Đèo Văn Trí cai quản vùng đất này). Đồng thời, Pháp đặt vấn đề dừng công tác phân giới thực địa và chuyển sang lĩnh vực đấu tranh ngoại giao. Trong khi đó, triều đình nhà Thanh đang gặp khó khăn khi tuyên chiến với Nhật ngày 31-7-1894 và bị thiệt hại lớn phải ký Hiệp ước Simonoseki ngày 17-4-1895 đình chiến với Nhật, đánh dấu thời kỳ suy sụp của Trung Quốc.


Đầu năm 1894, giới cầm quyền Pháp ở Đông Dương cùng thống nhất vạch ra một đường biên giới theo ranh giới truyền thống của Việt Nam và cả vùng Phông-sa-lỳ và vùng Mường Sinh thuộc Lào đang bị nhà Thanh chiếm đóng. Ngày 10-10-1894, Pháp và nhà Thanh đã cùng nhượng bộ, theo đó nhà Thanh trao trả địa hạt Đèo Văn Trí ở hữu ngạn sông Hồng trong đó có một phần Phong Thổ, Mường Tè, Lai Châu; Pháp nhượng lại cho nhà Thanh một số thôn Mường Đông ở vùng Tụ Long. Theo thoả thuận biên giới mới của hai bên, phía Pháp cử Pavie là Trưởng đoàn trong Uỷ ban biên giới Pháp - Thanh. Ngày 26-11-1894, Pavie cử thiếu tá Tournier phụ trách khảo sát đoạn sông Hồng, sông Đà. Ngày 03-01-1895, hai đoàn trong Uỷ ban biên giới Pháp - Thanh gặp nhau tại Long Pô để tiến hành khảo sát thực địa, đến ngày 29-3-1895 hoàn thành việc đo vẽ ở thực địa.


Ngày 20-6-1895, tại Bắc Kinh, Gérard đại diện phía Pháp và Khánh Thân Vượng đại diện nhà Thanh cùng nhau ký kết Công ước hoạch định biên giới bổ sung cho Công ước năm 1887.

Như vậy, Công ước Bắc Kinh ngày 20-6-1895 là văn kiện duy nhất bổ sung cho Công ước ngày 26-6-1887. Cả hai Công ước này không những hoạch định hoàn chỉnh và dứt khoát biên giới giữa Việt Nam - Trung Quốc mà còn hoạch định cả biên giới vào - Trung.


Tóm lại, tính từ khi có điều khoản đầu tiên về biên giới ngày 09-6- 1885 đến khi ký kết Công ước bổ sung hoạch định biên giới ngày 20-6- 1895 phải mất đúng 10 năm.

Kết quả hoạch định đạt được trải qua quá trình pháp lý và hoạt động thực tiễn sau: Trước hết, hai bên thoả thuận nguyên tắc khảo sát và cắm mốc biên giới (Điều 3 Hiệp ước Thiên Tân 1885), tiếp đó Uỷ ban hoạch định biên giới hai bên đi khảo sát xác nhận đường biên giới tại thực địa theo từng đoạn, phân chia đoạn và đặt tên đoạn theo địa giới hành chính các tỉnh phía Trung Quốc, cuối cùng đại diện có thẩm quyền của hai bên xem xét chuẩn y những nơi Uỷ ban đã thống nhất, quyết định phương thức giải quyết những nơi chưa thống nhất hoặc có tồn tại, đồng thời cùng nhau xây dựng kết quả thoả thuận thành Công ước hoạch định biên giới và ký kết chính thức.


Nói đến việc hoạch định biên giới giữa Pháp và nhà Thanh là phải trên cơ sở cả hai Công ước 1887 và 1895, vì nếu chỉ nêu ra Công ước 1887 thì chưa đủ vì công ước này chưa hoạch định đoạn cực Tây của biên giới Việt - Trung từ sông Đà đến giáp với đất Lào.


Việc ký kết hai công ước năm 1887 và 1895 đã cho phép chính quyền thực dân Pháp xác lập sự thống trị đầy đủ trên toàn bộ lãnh thổ Bắc Kỳ, giải quyết dứt khoát quan hệ về chính trị và lãnh thổ giữa Việt Nam thuộc Pháp và Trung Quốc lúc bấy giờ.


Quá trình hoạch định là một cuộc đấu tranh gay go giữa Pháp và nhà Thanh cả trên thực địa và trên bàn đàm phán. Tuy nhiên, trước những yêu sách đất đai của phía nhà Thanh và vì lợi ích thương mại cho chính quốc, Pháp đã nhân nhượng một bộ phận đất đai quan trọng của Việt Nam cho phía Trung Quốc, đó là những vùng đất: Giang Bình - Pak Lung (200 km2), tổng Bát Tràng - Kiến Duyên nằm giữa Bắc Thị và Bắc Cương ải (450 km2), tổng Tụ Long (700 km2).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2012, 08:17:47 AM
2.2. Phân giới và cắm mốc biên giói trên thực địa

Sau khi ký kết Công ước 1887, việc thực hiện công ước (phân giới trên thực địa và cắm mốc giới) lại trở thành một cuộc đấu tranh mới rất phức tạp giữa một bên là các quan lại nhà Thanh với những thủ đoạn lắt léo mà họ đã giành được những lợi ích cụ thể, với một bên là các nhân viên Pháp có một số người bộc lộ rõ thái độ vô trách nhiệm khi tiến hành phân vạch biên giới trên thực địa khiến cho một lần nữa Việt Nam lại bị thiệt hại về đất đai.


Công ước năm 1887 chỉ mới hoạch định biên giới về mặt lý thuyết và trên bản đồ. Cần phải cụ thể hoá đường biên giới đó trên thực địa bằng việc xây dựng một hệ thống mốc giới trên toàn tuyến biên giới.

Khác với các nhà ngoại giao Pháp, nhà cầm quyền và giới quân sự Pháp ở Đông Dương đã tỏ ra thất vọng về kết quả hoạch định, cho rằng đường biên giới hoạch định trong công ước 1887 là không tốt và không muốn xác nhận nó bằng một đường biên giới được cắm mốc ở thực địa. Tướng Bichot cho rằng: "Khi đến nơi mới thấy rằng đường biên giới đó đã làm cho Pháp mất nhiều đất đai và gây ra cho Pháp nhiều điều không lợi, nhất là về quân sự. Phía Trung Quốc đã sắp xếp theo cách mà các con đường nối liền hai đồn bốt Pháp ở biên giới hầu hết đều có một phần chạy trên đất Trung Quốc. Nhiều vị trí tiền tiêu của Pháp do vậy bị chia cắt hoặc cô lập giữa đồn này và đồn khác, trường hợp bị tấn công không thể ứng cứu cho nhau được. Trên thực địa, đường hoạch định 1887 không có giá trị chiến lược gì, không cho phép khép kín biên giới một cách hoàn chỉnh, điều đó buộc phải có những sửa đổi chi tiết mới bảo đảm cho việc cắm mốc giới, đưa đến việc thủ tiêu nguồn gốc các cuộc tranh chấp địa phương. Hơn nữa, lời lẽ chung chung của văn bản với câu chữ không rõ ràng cũng dẫn đến những tranh cãi liên miên" - (Bichot, ngày 4-4-1889).


Một nguyên nhân quan trọng khác là tình hình chính trị và quân sự ở Bắc Kỳ lúc bấy giờ. Đến đầu năm 1887, giới hạn chiếm đóng của Pháp mới đến Lục An Châu trên sông Chảy, Bắc Quang trên sông Lô, Chiêm Hoá trên sông Gâm, tức là còn một vùng lãnh thổ đệm nằm trong tay các nhóm thổ phỉ Trung Quốc. Điều kiện đặt ra cho việc phân giới cắm mốc là phải đưa lực lượng vũ trang giải toả một địa bàn rừng núi xa xôi, hiểm trở sát đất Trung Quốc, hơn nữa lúc đó Pháp còn phải đối phó với lực lượng kháng chiến của nhân dân Việt Nam.


Vì những lý do trên, Toàn quyền Đông Dương và Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương đã không chấp nhận một cách dễ dàng ý muốn của Chính phủ Pháp là chuyển sang giai đoạn phân giới cắm mốc ở thực địa. Tháng 12-1887, tướng Constan đã gửi thư cho Bộ trưởng Ngoại giao Pháp nêu rõ: "Vì quyết định lập Phủ Toàn quyền nên việc cắm mốc chậm lại, nếu không sẽ xảy ra những lúng túng mới".


Pháp càng chậm triển khai cắm mốc thì phía nhà Thanh càng tranh thủ lấn chiếm đất đai vì lúc đó chưa có bản đồ biên vẽ chính xác vùng biên giới. Họ đã thay đổi địa danh, tên làng bản Việt Nam và thay vào đó bằng các tên gọi Trung Quốc cho phù hợp với địa danh đã ghi trong Công ước hoạch định biên giới 1887. Năm 1888, tướng Pháp Begin đã phát hiện ít ra là hai khu vực đã bị quân Thanh chiếm đóng là tổng Đèo Luông thuộc huyện Hạ Lang, tỉnh Cao -Bằng và ở vùng cao sông Gậm. Tình hình tương tự xảy ra ở vùng Hoành Mô (Quảng Ninh) và ở vùng Tây Bắc.


Thực tế là cả hai bên đều có những khó khăn nội bộ. Về phía Pháp, Bộ Ngoại giao Pháp chủ trương cắm mốc theo đường biên giới đã hoạch định bởi Công ước 1887 và chỉ sửa đổi đôi chút, theo đó "Uỷ ban phải tuân theo, không phải sự mở rộng lãnh thổ mà là những điều chỉnh để ngăn ngừa những sự tranh chấp trong tương lai... bằng con đường bù trừ và chấp nhận những nhượng bộ ở những nơi ít quan trọng nhất đối với chúng ta". Trái lại, Toàn quyền Đông Dương và giới quân sự Pháp ở Đông Dương lại muốn vạch một đường biên giới mới, Toàn quyền Piquet khẳng định: đường biên giới 1887 là không tốt, cần phải thay đổi, phải sửa đường biên giới đó". Phía nhà Thanh cũng có những bất đồng nội bộ. Tướng Phùng Tử Tài chỉ huy lực lượng biên phòng Quảng Đông, Quảng Tây và các con trai rất thù địch với Pháp do những cuộc đối đầu trong chiến tranh Pháp - Thanh năm 1884 - 1885. Chính vì vậy, Phùng Tử Tài đã ra sức cản trở đàm phán giải quyết phân giới cắm mốc.


Sau một thời gian cân nhắc trong nội bộ cũng như giằng co nhau nhằm tạo lợi thế ở trên thực địa. Cuối cùng thì việc phân giới cắm mốc đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc cũng được Pháp và nhà Thanh triển khai thực hiện. Việc phân giới, cắm mốc được chia thành từng đoạn theo biên giới các tỉnh của Trung Quốc: Quảng Đông - Phắc Kỳ; Quảng Tây - Bắc Kỳ; và Vân Nam - Bắc Kỳ.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2012, 08:18:56 AM
Phân giới và cắm mốc biên giới Quảng Đông - Bắc Kỳ

Biên giới Quảng Đông - Bắc Kỳ dài khoảng 100 km, việc cắm mốc kéo dài bốn năm. Các cuộc tranh cãi chủ yếu là về vấn đề lựa chọn đường biên giới nào để cắm mốc, vì Công ước 1887 không mô tả hướng đi của đường biên giới. Việc cắm mốc gồm có hai đoạn:

Đoạn I (dài khoảng 50 km từ cửa biển Móng Cái đến ngã ba sông Ka Long):

Toàn quyền Đông Dương Piquet đã chỉ định thiếu tá De Labastide, một sĩ quan tham mưu làm Trưởng đoàn. Phía Trung Quốc cử Lý Thụ Đông làm Trưởng đoàn.

Ngày 01-11-1889, Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh họp tại Đông Hưng. Sau hơn 5 tháng bàn cãi, đàm phán bị gián đoạn nhiều lần, đến ngày 15-4-1890 hai bên đã ký biên bản hoàn thành việc cắm mốc đoạn I biên giới Quảng Đông - Bắc Kỳ. Hai bên đã cắm một hệ thống mốc kép trên hai bờ sông biên giới, cắm ở mỗi bên 10 mốc, đánh số từ số 1 đến số 10 theo hướng từ Đông sang Tây.


Tiến độ cắm mốc diễn ra chậm chạp chủ yếu là do phía nhà Thanh gây ra. Họ đã ngăn cản việc đo vẽ của các nhân viên phái đoàn Pháp, đơn phương tác động dòng chảy trên sông biên giới, đánh lừa đoàn Pháp để cắm mốc sai vị trí và có lợi cho Trung Quốc, tạo những chứng cứ giả, xuyên tạc lời văn trong Công ước. Đối với hai đảo (bãi) Lục Lầm và Tử Kinh Sơn, họ vin vào sơ đồ kèm theo Công ước để đòi là của Trung Quốc, nhưng phái đoàn Pháp kiên quyết bác bỏ vì sơ đồ đã vẽ sai, hai đảo này nằm ở phía Nam dòng chảy sâu nhất của sông biên giới. Cuối cùng phái đoàn nhà Thanh chấp nhận nhượng bộ, nhưng phía Pháp cũng đã phải chấp nhận đất Nam Lý cho Trung Quốc.


Phái đoàn nhà Thanh còn lợi dụng văn bản tiếng Trung dịch sai so với văn bản tiếng Pháp để đòi chủ quyền đối với cụm đảo Sư Tử, là nơi sẽ đặt một mốc giới. Có sự khác biệt lớn giữa văn bản tiếng Pháp và văn bản tiếng Trung khi miêu tả khu vực này. Văn bản tiếng Pháp ghi "Les iles qui sont à l'est méndien de Paris 105°43' de longitude est, céstè dire de la ligne Nord - Sud Passant par la point oriental de l'ile de Tra Co (Techaeou) et formant la frontierè, sont attribueés à la Chine". Văn bản tiếng Trung lại ghi "Les iles qui sont à l'est de la ligne Nord - Sud Passant par le sonmmet de li le de Tra Co (Techacou) et formant la frontière, sont attribueés à la Chine". Nhưng đỉnh của đảo Trà Cổ lại ở một vị trí thuộc kinh tuyến thấp hơn nhiều phút so với mũi Đông đảo Trà Cổ và trong những điều kiện đó, các đảo Sư Tử sẽ thuộc về Trung Quốc. Căn cứ vào đó, Trưởng đoàn Lý Thụ Đông cho rằng các đảo liên quan đều thuộc Trung Quốc.


Trong báo cáo của Trưởng đoàn Pháp De Labastide nói rõ thêm về vấn đề trên: "Sau khi phải giải thích rất nhiều, cuối cùng Lý Thụ Đông mới thoả thuận lấy bản tiếng Pháp làm bằng. Ông ta còn nói thêm là sự khác nhau giữa hai văn bản không có gì là lạ vì người ta không thể chuyển sang tiếng Trung các từ longitude, méridien... do vậy các người phiên dịch cho rằng tốt hơn là bỏ qua các từ ngữ đó. Như vậy là viên quan chức đó không đòi các đảo Sư Tử nữa, nhưng họ còn băn khoăn là làm sao đặt được mốc trên biển cả, trên con đường Nam - Bắc chạy qua mũi phía Đông đảo Trà Cổ. Tôi phải vất vả chứng minh cho ông ta rằng hai bên không cần phải cắm mốc phân ranh vùng nước An Nam và vùng nước Trung Quốc vì có công ước quốc tế là đủ rồi".


Đoạn II (dài khoảng 50 km nối tiếp từ ngã ba sông Ka Long):

Ngày 26-4-1890, hai bên họp tại Hoành Mô. Trong cuộc họp, hai bên đã có sự tranh cãi quyết liệt để bảo vệ đường phân vạch của phía mình.

Phía Pháp vạch đường biên giới theo đúng biên bản hoạch định ngày 29-3-1887 (kèm theo Công ước 1887), nhưng không chấp nhận đường biên giới trên bản đồ đính kèm theo biên bản đó vì là dựa trên bản đồ có sai sót của Trung Quốc. Đoàn Pháp đề nghị sửa lại hoạch định đoạn biên giới từ ngã ba sông Ka Long đến Bắc Cương ải và đề nghị chấp nhận trên toàn bộ chiều dài của đoạn này là biên giới cũ của An Nam và Trung Quốc.


Phía nhà Thanh thì vạch ra một đường biên giới theo đó cả vùng Bát Trang và Kiến Duyên của Việt Nam thuộc vào đất Trung Quốc.

Hai bên đã không thống nhất được Đoạn II và thoả thuận chuyển vấn đề này lên hai Chính phủ giải quyết.
Nhà cầm quyền Pháp đánh giá nguyên nhân thất bại là De Labastide không tuân theo chỉ đẫn của các văn bản hoạch định biên giới của Uỷ ban hoạch định do Dillon dẫn đầu. Do đó, Toàn quyền Đông Dương Piquet quyết định De Labastide không làm Trưởng đoàn trong Uỷ ban cắm mốc nửa: "Cần chấm dứt Uỷ ban cắm mốc do quân sự chỉ huy vì mục đích không phải là để mở rộng lãnh thổ mà là để xác lập càng nhanh càng tốt một đường biên giới tự nhiên và dễ dàng bảo vệ, đó là cái giá phải trả để giữ yên ổn ở Bắc Kỳ". Theo yêu cầu của Toàn quyền Đông Dương, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp đã cử Frandin, một cán bộ ngoại giao làm Trưởng đoàn cắm mốc thay thế De Labastide.


Ngày 25-12-1890, hai bên chấp nhận đường phân giới do Frandin dựa vào bản đồ vạch ra trên thực địa. Đường phân giới này có sự nhân nhượng đôi với Trung Quốc. Giai bên đồng ý báo cáo biên bản về việc phân giới này lên hai Chính phủ. Ba năm sau, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định ngày 27-10-1893 và ngày 3-11-1893 chỉ định đoàn đại biểu Pháp để hoàn thành việc cắm mốc ở đoạn biên giới này.


Thành phần đoàn Pháp do đại tá Calliéni làm Trưởng đoàn, các uỷ viên là thiếu tá Amar, trung uý Audié và sĩ quan trắc địa trung uý Trestournel. Phía Trung Quốc vẫn do Lý Thụ Đông làm Trưởng đoàn.

Cuộc họp bàn về việc cắm mốc bắt đầu từ ngày 13-11-1893. Một trong những nội dung mà hai bên thoả thuận là một khi có mâu thuẫn thì lấy văn bản tiếng Pháp làm căn cứ.

Việc cắm mốc tiến hành thuận lợi. Hai bên đã cắm tiếp các mốc giới từ số 11 đến số 33, theo sông thì cắm mốc kép ở hai bên bờ, còn trên đất liền thì cắm mốc đơn và gọi là “mốc chung". Theo đó, cắm trên đất phía Việt Nam 14 mốc và cắm ở phía Trung Quốc 14 mốc; trên đất liền đã cắm 1 0 mốc chung, trong đó có một mốc không đánh số đặt trên đỉnh núi Khanh Hoài. Đáng lưu ý là, ở khu vực giáp ranh với làng Trình Tường của Việt Nam, phía Trung Quốc còn cắm thêm các mốc số 31, 32 và 33. Như vậy, tổng số mốc đã cắm ở hai đoạn I và II biên giới Quảng Đông - Bắc Kỳ là 41 mốc. Việc cắm mốc được thể hiện trong các biên bản ký ngày 6-12-1893, ngày 15-12-1893 và biên bản kết thúc ký ngày 29-12-1893.


Việc phân giới và cắm mốc đoạn biên giới Quảng Đông - Bắc Kỳ với độ dài khoảng 100 km trong đó có hơn hai phần ba là đường biên giới chạy theo sông, đã phải tiến hành hơn bốn năm (từ tháng 11-1889 đến tháng 12-1893).


So với đường biên giới truyền thống thì Pháp lại làm mất cửa Việt. Nam các tổng Bát Trang và Kiến Duyên (thuộc Vạn Ninh và Tiên Yên). Hai tổng Bát Trang và Kiến Duyên là những đơn vị hành chính của Việt Nam (thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay): Tổng Bát Tràng thuộc châu Vạn Ninh, trấn An Quảng, gồm 9 xã, xóm (Bắc Nham, Thượng Lại, Mông Sơn, Cố Hoẵng, Vụ Khê, Tiêu Sơn, Tuỵ Lai. Hoẵng Mông, Đông Sơn); tổng Kiến Duyên thuộc châu Tiên Yên, trấn An Quảng, gồm 4 xã (Kiến Duyên, Đồng Tâm, Đồng Tông, Hoành Mô). Bình luận về vấn đề này, viên đại uý Pháp là Senèque chỉ huy Tiểu khu Móng Cái đã viết trong cuốn sách "Đấu tranh và chiến đấu” rằng: Năm 1893, một Uỷ ban cắm mốc đã được chỉ định. Bằng một giải pháp "hữu nghị", tất cả quyền của chúng ta đã bị bỏ rơi và các mốc giới được đặt theo đường vạch do phía Trung Quốc đưa ra. Việc nhân nhượng tổng Bát Trang và Kiến Duyên là đáng tiếc, không những vì nó tước đi của chúng ta một khu vực có mật độ dân số nào đó mà bởi vì sự sáp nhập vào thiên triều mảnh đất đó tạo ra một lỗ hổng trong hệ thống phòng thủ chung thọc vào bắc Kỳ mà chúng ta chỉ có thể khoá lại một cách không hoàn toàn. Hơn nữa, sự giao dịch trực tiếp giữa các đồn biên phòng của chúng ta trở thành không đi lại được, một loạt các thung lũng song song, những đỉnh cao với độ cao trung bình 1.000 m là những bức tường thực sự giữa hai điểm Hoành Mô và Bắc Phong sinh. Việc nhường tổng Bát Trang là một sự thú nhận bất lực, một bằng chứng của sự yếu đuối của Pháp, làm cho người Trung Quốc ngẩng đầu lên. Cách thức ngoại giao kiên trì, ranh mãnh, xảo quyệt của Trung Quốc đã thắng thêm một lần nữa. Từ chỗ từ bỏ Pak Lung (công ước 1887), chúng ta đã nhân nhượng nhiều cho Trung Quốc trên đoạn biên giới này và nhân nhượng cuối cùng càng làm cho tình hình rõ nét, đó là sự nhân nhượng đã không nâng cao được uy tín của chúng ta". Thực tế đúng như vậy, phái đoàn phía nhà Thanh đã khai thác và lợi dụng ngay sự nhân nhượng của Pháp để tiếp tục giành thêm đất đai trong các cuộc phân giới cắm mốc ở các đoạn biên giới tiếp sau này.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2012, 08:20:03 AM
Phân giới và cắm mốc đoạn biên giới Quảng Tây - Bắc Kỳ

Biên giới giữa Quảng Tây - Bắc Kỳ khi phân giới cắm mốc được chia làm hai đoạn: Đoạn I được gọi là Đông Quảng Tây tính từ Bình Nghi (một điểm trên bờ sông Kỳ Cùng) đến Bắc Cương ải (ranh giới giáp tỉnh Quảng Đông). Đoạn II gọi là Tây Quảng Tây tính từ Bình Nghi về phía Tây đến giáp Lũng Làn (ranh giới giáp tỉnh Vân Nam).

Đoạn I: (Đông Quảng Tây - Bắc Kỳ)

Từ tháng 01-1891, Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh (phía Pháp do Frandin làm Trưởng đoàn, phía nhà Thanh do Tri phủ Hướng Vạn Ninh làm Trưởng đoàn) đã đi dọc theo đường biên giới từ Bắc Cương ải tới Bình Nghi trong suốt thời gian 120 ngày. Kết quả là Uỷ ban đã đo vẽ và lập được bản đồ địa hình đường biên giới Quảng Tây - Bắc Kỳ. Uỷ ban cũng dự kiến các vị trí mốc trên bản đồ đó, đồng thời đặt 15 mốc nhỏ ở đoạn biên giới giữa Nam Quan ban Bình Nghi - những mốc nhỏ này có tác dụng làm chuẩn cho việc đặt các mốc lớn sau này.


Ngày 21-4-1891, hai phái đoàn đã ký biên bản và bản đồ phân giới và dự kiến các vị trí sẽ đặt mốc giới. Trong nội dung biên bản nêu số lượng mốc sẽ đặt ở từng đoạn là: Từ Bắc Cương ải đến Chi Ma sẽ đặt 25 mốc giới; từ Chi Ma đến Nam Quan sẽ đặt 25 mốc; từ Nam Quan đến bình Nghi sẽ đặt 18 mốc. Tổng số là 67 mốc (do có hai mốc số 12 đặt chồng lên nhau). Trên bản đồ phân giới, hai bên đã thể hiện rõ đường biên giới và không có vấn đề gì bất đồng. Đoạn biên giới từ của Nam Quan đến núi Khẩu Thiết trước đây khi hoạch định chưa giải quyết được thì nay đã được giải quyết và thể hiện rõ trên bản đồ. Tuy nhiên, việc cắm mốc chưa triển khai ngay vì là mùa mưa.


Đến tháng 8-1891, Toàn quyền Đông Dương tổ chức các đạo quan binh và quyết định thành lập Uỷ ban cắm mốc biên giới trên cơ sở các quân khu (đạo quan binh) và do Tư lệnh quân khu có liên quan đến đoạn biên giới đó chủ trì. Theo đó, đại tá Serviere, Tư lệnh quân khu 2 làm Trưởng đoàn phân giới cắm mốc biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây. Phía nhà Thanh do quan Đạo sái Thái Hy Mân làm Trưởng đoàn.


Ngày 13-01-1892, Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh họp tại Bình Nghi. Uỷ ban đã cử Petthelaz và Ngũ Khởi Tường chịu trách nhiệm tiến hành cắm mốc đoạn I. Cũng trong cuộc họp này, hai bên đã quyết định về kế hoạch phân giới và cắm mốc đoạn II.


Việc cắm mốc đoạn I được chính thức tiến hành ngày 20-2-1892 và hoàn thành vào ngày 14-4-1892. Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh đã đặt xong 67 mốc, đánh số thứ tự từ số 1 đến số 67 theo hướng Tây sang Đông, tức là từ Bình Nghi đến Bắc Cương ải. Biên bản cắm mốc đã được Petthelaz và Ngũ Khởi Tường cùng ký kết.

Đoạn II: (Tây Quảng Tây - Bắc Kỳ)

Theo thoả thuận trong cuộc họp ngày 13-01-1892 của Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh, hai bên đã cử ra 5 Đội trắc địa hoạt động từ tháng 01-4-1892, đã hoàn thành việc đo vẽ và lập bản đồ địa hình đường biên giới dự định sẽ cắm mốc. Trong các ngày 28, 29 và 31-5-1892, Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh đã họp để xem xét kết quả làm việc của các đội đo vẽ và quyết định dứt khoát một đường biên giới.


Như ở phần trên đã nêu ra, biên giới đoạn II giữa Quảng Tây và Bắc Kỳ được chia thành 5 đoạn nhỏ. Việc thảo luận phân giới cắm mốc ở các đoạn 1, 3, 4, 5 nói chung không có vấn đề gì gay cấn. Riêng đoạn 2 giải quyết khá căng thẳng vì có sự tranh chấp vùng tổng Đèo Luông.


Vùng tổng Đèo Luông (thuộc châu Hạ Lang, trấn Cao Bằng, gồm 6 xã, trại, chợ: Điều Lang, Pha Lăng, Đô Mông Sơn, Linh Lang Trạch, trại Lũng Uyển, chợ Giản Long) từ lâu thuộc Việt Nam và theo Công ước 1887 cũng thuộc Việt Nam. Trong những năm 1888 và 1889, phía Trung Quốc đã lấn chiếm vùng này và họ đã thay đổi tên các làng, xã, lập các cửa ải mới, viện dẫn một số chứng cứ giả để yêu sách. Trong đàm phán, phía nhà Thanh đã đưa ra một đường biên giới hoàn toàn khác với đường biên giới đã hoạch định theo Công ước 1887.


Phía Pháp kiên quyết bác bỏ yêu sách của phía nhà Thanh. Phái đoàn Pháp lập luận rằng: Uỷ ban hiện nay là Uỷ ban cắm mốc chứ không phải là Uỷ ban hoạch định. Uỷ ban cắm mốc có tư cách xác định các điểm chưa được hoạch định đầy đủ, nhưng trong bất cứ giá nào cũng không được sửa đổi đường biên giới đã do Chính phủ chấp nhận và xác nhận. Phái đoàn Pháp không thể coi tư liệu của phía phái đoàn nhà Thanh là có giá trị.
Trong khi vấn đề Đèo Luông chưa giải quyết được, trong cuộc họp ngày 31-5-1892 phía phái đoàn nhà Thanh lại tiếp tục đưa ra yêu sách các thôn Lý Vạn, Bản Không, Lũng Ba là của Trung Quốc. Họ lập luận rằng các thôn này bị cầm cố cho Việt Nam để lấy tiền và số tiền đó ngày nay đã được trả lại (các làng bản này nằm ở Tây Bắc Đèo Luông, đã được hoạch định trong Công ước 1887 quy định là đất thuộc Việt Nam và thực tế cũng vẫn là đất Việt Nam từ lâu đời).


Cuối cùng hai bên ghi nhận những ý kiến của nhau chuyển lên trên quyết định. Đồng thời, ngày 7-6-1892 hai bên ký một loạt biên bản và bản đồ phân giới các khu vực đã đạt được thoả thuận.

Sau hơn một năm bị gián đoạn, đến tháng 10-1893 Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh hoạt động trở lại, tiến hành đặt mốc ở những nơi không có tranh chấp. Từ ngày 19-11-1893 đến ngày 30-11-1893, phía Pháp do Dumas dẫn đầu và phía nhà Thanh do Khao Chu dẫn đầu đã đặt xong 16 mốc giới ở đoạn I, đánh số từ số 1 đến số 16. Từ ngày 07-12-1893 đến ngày 13-12-1893 hai bên tiếp tục hoàn tất việt đặt thêm 13 cột mốc nữa. Tuy nhiên, việc đặt các mốc này đã diễn ra khá vất vả. Mặc dù đã có biên bản và đã được thể hiện rõ trên bản đồ phân giới cắm mốc, phía Trung Quốc vẫn tìm cách gian lận để lấn đất. Điển hình là khi đặt mốc số 15, họ đã đặt sâu vào lãnh thổ Việt Nam 200m để lấn một quả núi có độ cao 820 m có tên là Khau Mươi. Trong nhật ký của phái đoàn Pháp đã ghi lại rằng "hầu hết các mốc này (mốc đã cắm) đều bị Pháp coi là bị đặt ít nhiều lấn vào đất Việt Nam".


Tháng 12-1893, đại tá Galliéni thay thế Serviere làm Tư lệnh quân khu 2, Serviere chuyển sang làm Tư lệnh quân khu 3. Các viên Tư lệnh này tiếp tục thi hành nhiệm vụ cắm mốc ở khu vực biên giới có liên quan đến quân khu. Viên đại tá Galliéni chủ trương nhân nhượng cho Trung Quốc Đèo Luông với điều kiện Trung Quốc có sự đền bù thoả đáng nhằm đạt tới một biên giới thiên nhiên hoàn hảo nhất và hạn chế các nhóm vũ trang Trung Quốc xâm nhập vào đất Bắc Kỳ.


Theo đó, trong cuộc họp ngày 13-3-1894 tại Long Châu, Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh đã thoả thuận cơ sở tiến hành cắm mốc là pháp chấp nhận đường biên giới do phái đoàn nhà Thanh vạch ra ở vùng Đèo Luông và nhường Đèo Luông cho nhà Thanh; phía phái đoàn nhà Thanh rút khỏi các làng của tổng Phong Đăng (tức vùng Lý Vạn, Tây Bắc huyện Hạ Lang, Cao Bằng) và các làng phía Hắc Sóc Giang, trả lại cho Bắc Kỳ". Galliéni đã uỷ quyền cho thiếu tá Famin giải quyết các vấn đề chi tiết tại thực địa.


Cuối tháng 5-1894, hai bên đã đặt xong toàn bộ mốc giới còn lại theo thoả thuận của Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh ở đoạn biên giới Quảng Tây - Bắc Kỳ. Ngày 19-6-1894, hai Trưởng đoàn trong Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh đã cùng nhau ký biên bản hoàn thành việc cắm mốc biên giới Quảng Tây - Bắc Kỳ (việc cắm mốc đoạn I Quảng Tây - Bắc Kỳ cũng được ghi nhận chung trong biên bản này). Tổng cộng số mốc đã cắm trên biên giới Quảng Tây - Bắc Kỳ là 209 mốc trong đó có hai mốc số 23 bis và số 74 bis ở đoạn II).


Việc phân giới cắm mốc đoạn biên giới Quảng Tây - Bắc Kỳ được tiến hành trong hơn ba năm (từ tháng 01-1889 đến tháng 6-1894) với tổng chiều dài biên giới gần 500 km. Quá trình đàm phán và đi thực địa, phái đoàn nhà Thanh đã thực thi mọi tiểu xảo để lấn từ hàng trăm km vuông đến vài chục mét vuông đất đai của Việt Nam. Lớn nhất là vùng tổng Đèo Luông diện tích khoảng 250 km vuông. Trong khi cắm mốc ở thực địa thì tiến hành hàng loạt các hoạt động di dời, xê dịch hoặc cố tình cắm mốc ở sai vị trí đã thoả thuận trong phòng để lấn đất. Viên trung uý Pháp Querette, người đã tham gia đặt 46 mốc giới (từ mốc số 94 đến mốc số 140) ở đoạn II Quảng Tây - Bắc Kỳ đã ghi trong hồi ký rằng: "Các quan lại Trung Quốc đã đặt các mốc số 98 và số 99 hơi sâu đường biên giới một ít. Tôi muốn đi xác nhận xem vị trí chính xác của nó phải ở đâu theo như đã vẽ trên bản đồ: Tôi đã bị chặn lại bởi một hàng rào lính Trung Quốc và tôi không thể nào vượt qua được. Họ muốn ngăn cản tôi xem xét mặt biên giới về phía Pháp như tôi đã có ý muốn với lý do nêu ra là các làng An Nam ở vùng này hầu hết là thổ phỉ" và "cần phải thừa nhận rằng, Trung Quốc đã có tài đạt được trong các Uỷ ban biên giới một biên giới mà hầu như khắp nơi đều có lợi cho họ. Họ có thể đặt các đồn trên các vị trí khống chế và nắm hầu hết các đầu con đường, đồng bằng An Nam hầu như khắp nơi đều ở dưới sự kiểm soát của họ". Tuy nhiên, để tỏ ra "có đi, có lại", phía nhà Thanh cũng đã nhân nhượng một nửa quả đồi ở trước cửa Nam Quan cho Pháp, vài chục héc-ta đất bãi ven sông gần Thuỷ Khẩu nơi đặt mốc số 23 bis, làng Lũng Ba và Lũng Vực gần Đèo Luông. Thực ra những khu vực này từ lâu đời vẫn là đất của Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 04 Tháng Ba, 2012, 08:21:29 AM
Phân giới và cắm mốc biên giới Vân Nam - Bắc Kỳ

Ngày 29-11-1892, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh. Phía Pháp do Serviere làm Trưởng đoàn. Phía nhà Thanh do Thần đạo sái Mông Tự làm trưởng đoàn.

Đoạn biên giới Vân Nam - Bắc Kỳ dài hơn hai đoạn biên giới trên đây và việc cắm mốc cũng phức tạp và kéo dài hơn. Ngoài những tranh cãi về những vùng đất nhỏ hơn, nổi lên hai vấn đề chính, với kết quả là: Vấn đề tả ngạn sông Hồng đã được các nhà cầm quyền Pháp quan tâm ngay từ sau khi Công ước 1887 được ký kết. Nếu dựa vào bản đồ đính kèm Công ước 1887 mà Pháp cho là rất sai sót để cắm mốc thì vùng Phong Thổ, Mường Tè, Lai Châu sẽ thuộc về Trung Quốc, Pháp cho rằng đó là một trọng điểm phải sửa chữa vì từ lâu các vùng này vốn là đất Việt Nam. Cuối cùng, Uỷ ban cắm mốc thoả thuận được việc đo vẽ và phân giới xong đoạn biên giới từ tả ngạn sông Hồng đến sông Chảy và đoạn từ tả ngạn sông Lô đến chỗ giáp giới tỉnh Vân Nam - Quảng Tây. Về đoạn hữu ngạn sông Hồng, hai bên không thoả thuận được về việc lựa chọn bản đồ để làm cơ sở cho việc phân giới và cắm mốc.


Năm 1894, tại Bắc Kinh, đại diện Pháp và đại diện nhà Thanh đã cùng nhau thương lượng về các điểm tồn tại của Uỷ ban cắm mốc và nhân vấn đề này đã nêu việc sửa lại đường biên giới ở hữu ngạn sông Hồng. Do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, nhà Thanh buộc phải nhân nhượng Pháp, trả lại vùng Phong Thổ, Mường Tè, Bắc Lai Châu cho Việt Nam. Đáp lại, Pháp nhân nhương cho nhà Thanh một số thôn Mường Đông thuộc tổng Tụ Long. Hai bên thoả thuận hoạch định đoạn biên giới từ sông Đà đến sông Mê Công, trong đó có đoạn ngắn là biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Những thoả thuận mới này cũng chính là những nội dung cơ bản của Công ước bổ sung Công ước hoạch định biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc ngày 26-6-1887 do hai bên ký kết ngày 20-6-1895 tại Bắc Kinh(1) (Xem toàn văn Công ước trong Phần Phụ lục).


Thực hiện Công ước bổ sung nêu trên, đến ngày 19-4-1896, hai bên đã hoàn thành việc cắm 4 mốc giới ở đoạn biên giới từ sông Hồng đến sông Đà (đoạn 5). Ngoài ra còn một mốc giới ở đoạn biên giới từ sông Đà đến nơi mà sau này được coi là ngã ba biên giới Việt Nam - Trung Quốc - Lào là một trong số 16 mốc giới cắm ơ đoạn biên giới từ sông Đà đến sông Mê Công theo Công ước bổ sung năm 1895, có tên là Mouka).
Tóm tắt diễn biến việc phân giới cắm mốc trên thực địa cụ thể như sau:

Tháng 2-1893, Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh họp tại Khai Hoa. Đánh giá việc hoạch định trước đây, hai bên thống nhất nhận xét phần lớn các điểm đã được hoạch định trước đây là cực kỳ sơ lược, thậm chí có khi không tồn tại vì vậy cần phải đo vẽ toàn bộ trên thực địa để làm cơ sở cho Uỷ ban xác định chính xác biên giới. Uỷ ban đã chia thành ba đoạn nhỏ tương ứng với ba huyện phía Trung Quốc để đo vẽ và phân giới.


Trong năm 1893, hai bên chỉ đo vẽ được đoạn từ tả ngạn sông Hồng đến giáp sông Chảy và từ tả ngạn sông Hồng đến giáp ranh giới tỉnh Quảng Tây. Khu vực giữa sông Chảy và sông Lô trong đó có vùng đất tổng Tụ Long chưa đo vẽ được. Riêng khu vực hữu ngạn sông Hồng có tầm quan trọng hơn thì lại chưa được đo vẽ. Tại khu vực này, duy nhất chỉ có bản đồ kèm theo Công ước 1887, nhưng theo Serviere thì bản đồ này là cực kỳ sai và không thể cung cấp bất cứ thông tin nào eo ích, được lập ra không phải bằng một cuộc khảo sát thực địa mà chỉ dựa vào bản đồ do Trung Quốc vẽ. Một vấn đề phức tạp nữa là ngay trong nội bộ Pháp cúng chưa nhất trí cách giải quyết và xác định biên giới mà Công ước năm 1887 đã quy định. Pháp đang tìm cách thu lại vùng đất hữu ngạn sông Hồng hoàn toàn là của Việt Nam mà Cống ước năm 1887 đã cắt cho Trung Quốc.


Năm 1894, Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh tập trung vào giải quyết hai vấn đề tồn tại nêu trên.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Ba, 2012, 12:47:51 PM
Về vấn đề tổng Tụ Long: Là một vùng đất ở phía Bắc liền kề và đối diện ở bên kia đường biên giới (đối diện với các huyện hiện nay là Xỉn Mần, Hoàng Su Phì, Vị Xuyên thuộc tỉnh Hà Giang). Đây là vùng có những mỏ đồng lớn của miền Bắc Việt Nam.

Cuối thế kỷ XVII và dầu thế kỷ XVIII, nhà Thanh đã lấn chiếm vùng này của Việt Nam. Triều đình Lê - Trịnh thời kỳ đó đã cùng nhân dân Việt Nam đấu tranh rất kiên quyết và buộc nhà Thanh phải trả lại vùng đất này. Cuối năm 1728, hai bên cử quan lại đến tại chỗ để xác định biên giới. Cuối cùng hai bên đặt mốc giới trên bờ sông Đỗ Chú để thể hiện đường biên giới giữa hai nước.


Đến thế kỷ XIX, biên giới Việt Nam luôn luôn bị các toán cướp có vũ trang của Trung Quốc với số lượng hàng nghìn tên sang cướp phá, thậm chí chiếm đóng trong khi đó quân triều đình nhà Thanh cũng tràn sang với danh nghĩa dẹp giặc cướp nhưng cũng vơ vét, cướp bóc của cải không kém gì bọn giặc “cờ đen", "cờ vàng". Lợi dụng khi triều đình nhà Nguyễn tập trung đối phó với quân Pháp, nhà Thanh đã cho quân chiếm đóng vùng này.


Khi Uỷ ban hoạch định Pháp - Thanh tiến hành hoạch định biên giới Trung Quốc - Bắc Kỳ, lợi dung sự hiểu biết hạn chế của phía Pháp về đất đai lãnh thổ của Việt Nam ở vùng biên giới, phái đoàn nhà Thanh đã ép phía Pháp nhường tổng Tụ long cho Trung Quốc (diện tích khoảng 700 km2 gồm toàn bộ đất đai 8 xã của Việt Nam). Việc cắt nhượng này đã được hai bên ghi nhận trong Công ước hoạch định biên giới năm 1887.
Tháng 8-1893, quân Pháp tiến lên vùng hữu ngạn sông Hồng và đánh bật quan quân nhà Thanh và các lực lượng “cờ đen" ra khỏi vùng này. Lực lượng quân "cờ đen" rút về chiếm đóng vùng Tụ Long và đánh bật quân triều đình Thanh ra khỏi vùng đó.


Tháng 12-1893, nhà Thanh đề nghị trao trả vùng Tụ Long cho Pháp. Thực chất, nhà Thanh muốn mượn tay Pháp tiêu diệt quân "cờ đen".

Thấy rõ giá trị kinh tế và quân sự của vùng Tụ Long, mặc dù đang gặp khó khăn, Pháp đã điều động lực lượng tấn công quân "cờ đen" ở vùng này. Ngày 16-3-1894, quân Pháp chiếm được làng Xỉn Mần và tổng Tụ Long. Ngày 31-5-1894, Pháp lập tổng Hoàng Su Phì gồm ba xã thuộc đạo quan binh thứ 3 của Pháp ở bắc Kỳ.


Phân giới vùng hữu ngạn sông Hồng: Cuối năm 1887, Pháp đánh chiếm Tuần Giáo và Lai Châu, phạm vi chiếm đóng vượt cả vùng hoạch định của Công ước năm 1887. Một điều quan trọng khác là Pháp nắm được Đèo Văn Trí nguyên là Tuần phủ Lai Châu, một thủ lĩnh của các dân tộc ít người ở hữu ngạn sông Hồng. Đèo Văn Trí hàng Pháp, mang theo cả vùng đất đai do Trí cai quản đã giúp cho Pháp nắm được đường biên giới truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc ở vùng hữu ngạn sông Hồng.


Đầu năm 1894, Pháp đòi nhà Thanh phải trả lại vùng Phong Thổ, Lai Châu và một số vùng đất của Lào nhà Thanh đang chiếm đóng. Tháng 7-1894, Trung Quốc tuyên chiến với Nhật và bị thất bại nặng nề. Tháng 4-1895, Trung Quốc phải ký hiệp ước đình chiến với Nhật. Tình hình đó đã buộc nhà Thanh nhượng bộ trước đòi hỏi của Pháp. Ngày 10-10-1894, Tổng lý nha môn nhà Thanh chấp nhận đường biên giới ở vùng hữu ngạn sông Hồng do Pháp đề nghị.


Từ đầu năm 1895, Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh tiến hành phân giới và đo vẽ tại thực địa. Phía Pháp uỷ quyền cho Pavie (Cao uỷ Pháp tại Lào) làm Trưởng phái đoàn, trực tiếp phụ trách việc phân giới trên thực địa đoạn biên giới từ sông Hồng đến sông Đà. Ngày 29-3-1895, việc đo vẽ và phân giới ở thực địa hoàn thành trên toàn bộ vùng biên giới từ hữu ngạn sông Hồng đến sông Mê Công. Theo kết quả này, ngày 20-6-1895, tại Bắc Kinh; Gerard đại diện Pháp và Khánh Thân Vương đại diện nhà Thanh ký công ước hoạch định biên giới bổ sung trong đó quy định sửa đổi lại đoạn biên giới từ sông Hồng đến sông Đà và vạch biên giới tiếp về phía Tây đến sông Mê Công.


Cắm mốc đoạn biên giới giữa sông Hồng và sông Đà: Được tiến hành vào tháng 3-1896, chia thành hai phân đoạn. Phân đoạn 1 từ sông Hồng đến Nậm Na (vùng Phong Thổ), phía Pháp do đại uý Pasquyer phụ trách, đặt hai mốc số 1 và số 2; phân đoạn 2 từ Nậm Na đến sông Đà (vùng Lai Châu), phía Pháp do đại uý Dubois de Saint Vincent phụ trách, đặt hai mốc số 3 và số 4. Ngày 19-4-1896, trung tá Vinmard Tư lệnh quân khu 4 báo cáo với Tổng chỉ huy quân đội Pháp là đã kết thúc việc cắm mốc ở vùng Lai Châu.


Về việc cắm mốc đoạn biên giới từ giữa sông Đà đến giáp biên giới với Lào, đoạn này nằm chung trong kế hoạch cắm mốc biên giới giữa sông Đà đến sông Mê Công, trong đó đại bộ phận là biên giới giữa Lào với Trung Quốc (vì lúc bấy giờ chưa chia địa giới giữa Lào với Bắc Kỳ nên gọi chung là biên giới giữa Vân Nam và An Nam). Ngày 5-2-1896, Uỷ ban Pháp - Thanh đã đặt mốc đầu tiên gọi là mốc I-meuka. Đây là mốc cuối cùng về phía Tây của đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Ngoài mốc Mouka còn có một mốc cắm ở ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc sau này.


Cắm mốc đoạn biên giới tả ngạn sông Hồng: Được Uỷ ban cắm mốc Pháp - Thanh bắt đầu tiến hành từ tháng 10-1896. Ngày 13-6-1897, hai bên đã ký một loạt các biên bản liên quan đến việc cắm mốc ở tả ngạn sông Hồng. Uỷ ban đã cắm 65 cột mốc, chia làm ba đoạn nhỏ, đánh số thứ tự theo từng đoạn theo hướng từ Đông sang Tây. Đoạn I cắm 22 mốc, đoạn II cắm 19 mốc, đoạn III cắm 24 mốc.


Việc phân giới và cắm mốc biên giới Vân Nam - Bắc Kỳ đã tiến hành trong hơn bốn năm (từ tháng 11-1892 đến tháng 6-1897). Pháp đã nhân nhượng cho phía Trung Quốc đất đai ở vùng Tụ Long, nhưng Pháp cũng đòi lại được vùng đất do Đèo Văn Trí cai quản ở vùng hữu ngạn sông Hồng. Hiên giới Vân Nam - Bắc Kỳ được cắm 70 mốc, trong đó có 65 mốc cắm ở vùng tả ngạn sông Hồng và 5 cột mốc cắm ở vùng hữu ngạn sông Hồng (kể cả mốc I-Mouka - ghi thung trong biên bản cắm 16 mốc biên giới ký tại Mường Xê về đoạn biên giới từ sông Đà đến sông Mê Công).


Việc hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới Vân Nam - phắc Kỳ cũng là kết thúc việc phân giới cắm mốc đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Ngày 19-6-1897, Gerard đại diện Pháp ở Bắc Kinh báo cáo Bộ Ngoại giao Pháp việc cắm mốc toàn bộ biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã hoàn thành.


Với việc hai bên ký Hiệp ước bổ sung, thống nhất hoạch định các đoạn biên giới hai bên còn gác lại trong các văn bản hoạch định trước đây và hoạch định mới đoạn biên giới giữa Bắc Kỳ và Vân Nam từ sông Đà đến sông Mê Công. Trên cơ sở các Hiệp ước hoạch định biên giới, từ năm 1889, Pháp và nhà Thanh đã tiến hành công tác phân giới cắm mốc trên thực địa và hoàn thành công việc này vào năm 1897. Tổng hợp toàn bộ kết quả phân. giới cắm mốc từ tháng 6-1885 đến tháng 6- 1897, hai bên đã xác định 314 vị trí mốc và cắm được 341 mốc giới.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Ba, 2012, 12:48:47 PM
3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH BIÊN GIỚI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC

1- Biên giới lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc hình thành cùng với sự ra đời của nhà nước đầu tiên ở mỗi nước. Biên giới này gắn liền với lịch sử hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong hơn hai nghìn năm, mặc dù có một thời gian dài gần như biên giới này không tồn tại trên thực tế (hơn một nghìn năm Việt Nam bị các triều địa phong kiến Trung Quốc đô hộ từ năm 179 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên. Tuy nhiên, từ sau khi Việt Nam thoát khỏi ách thống trị cửa phong kiến phương Bắc vào thế kỷ X, đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc lại được hình thành, hoàn thiện dần, tồn tại tương đối ổn định, được hai bên thừa nhận và tôn trọng cho đến khi Pháp xâm lược Đông Dương.


2- Trong thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc được xác lập chính thức trong Công ước hoạch định biên giới năm 1887 và Công ước hoạch định biên giới bổ sung năm 1895, được ký kết giữa đại diện Chính phủ Cộng hoà Pháp (nhân danh Việt Nam) và đại diện triều đình Mãn Thanh (Trung Quốc). Với hai công ước này, đã khẳng định lại về mặt pháp lý đường biên giới truyền thống Việt Nam - Trung Quốc, đồng thời đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc đã trở thành đường biên giới quốc tế đầu tiên của Việt Nam. Tiếp đó, trên cơ sở hai Công ước hoạch định biên giới năm 1887 và 1895, chính quyền Pháp và nhà Thanh đã cụ thể hoá toàn bộ đường biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc ở trên thực địa bằng một hệ thống mốc giới.


3- Việc phân giới và cắm mốc biên giới toàn bộ đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc được tiến hành trong hơn bảy năm (từ tháng 11-1889 đến tháng 6-1897). Hai bên đã cắm ở biên giới Quảng Đông - Bắc Kỳ 61 mốc giới, ở biên giới Quảng Tây - Bắc Kỳ 210 mốc giới, ở biên giới Vân Nam - Bắc Kỳ 70 mốc giới. Tổng cộng toàn tuyến biên giới đã cắm 341 mốc giới. Phần lớn mốc giới được làm bằng đá đẽo, có một số ít là mốc xây bằng gạch, toàn bộ mốc giới đều được đánh số (theo từng đoạn khác nhau và theo hướng khác nhau). Cho đến trước khi Việt Nam và Trung Quốc đàm phán hoạch định đường biên giới mới, trong tổng số 314 mốc (không kể 27 mốc nằm trên đất Trung Quốc) thì có: 22 mốc đã bị mất, còn trên thực địa 294 mốc (200 mốc đúng vị trí cũ, 91 mốc bị xê dịch, 73 mốc bị hư hỏng, chỉ còn 219 mốc khá nguyên vẹn).


Dù đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã được chính quyền Pháp và nhà Thanh thoả thuận hoạch định, nhưng khi bước vào giai đoạn phân giới cắm mốc, đã diễn ra sự đấu tranh khá gay gắt nhằm giành giật chủ quyền đất đai, ở cả trên bàn đàm phán lẫn trên thực địa. Tuy nhiên, do sự tính toán lợi ích của các bên liên quan, với chính quyền Pháp lúc bấy giờ lợi ích hàng đầu là chính trị, thương mại và quân sự, còn với phía triều đình nhà Thanh lợi ích hàng đầu, muôn thuở vẫn là đất đai, lãnh thổ đã dẫn đến những thiệt hại cho Việt Nam. Tổng hợp toàn bộ tiến trình hoạch định và phân giới đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc giữa chính quyền Pháp và triều đình nhà Thanh, so với đường biên giới ích sử truyền thống, Việt Nam đã bị mất gần 2.000 km2 lãnh thổ bao gồm: Vùng Tụ Long khoảng 1.000 km2, vùng Bát Trang - Kiến Duyên khoảng 450 km2, vùng Đèo Luông khoảng 250 km2 và vùng Giang Bình - Pak Lung khoảng 200 km2.


4- Việc xác lập toàn bộ đường biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc được hoàn tất trong một thời gian khá dài (12 năm, từ tháng 6-1885 đến tháng 6-1897). Điều này chứng tỏ công việc xác định biên giới quốc gia là công phu và phức tạp, ngay cả trong trường hợp giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có sẵn một đường biên giới lịch sử truyền thống.


5- Khi nói biên giới Việt Nam - Trung Quốc là "nguyên trạng đường biên giới lịch sử" hay nói đường biên giới do lịch sử để lại" chính là nói đến đường biên giới đã được hoạch định bởi hai Công ước năm 1887 và 1895 đã được hai bên tôn trọng. Đường biên giới này cơ bản là đường biên giới lịch sử vốn có, tồn tại từ lâu đời giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào lời văn của hai Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895 thì khó xác định chính xác hướng đi của đường biên giới, vì nhìn chung lời văn mô tả nhiều chỗ thiếu cụ thể, không rõ ràng, kém chính xác.


6- Trong quá trình đàm phán thương lượng về biên giới, chính quyền Pháp và nhà Thanh đã vận dụng một số nguyên tắc phổ biến của pháp luật quốc tế cũng như thực tiễn quốc tế trong quá trình xác lập đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung quốc, thực hiện đầy đủ các bước từ xác định nguyên tắc, hoạch định, phân giới và tiến hành cắm mốc trên thực địa cũng như các thủ tục pháp lý khác. Về mặt pháp lý, Công ước năm 1887 và Công ước bổ sung năm 1895 cùng các biên bản, bản đồ phân giới cắm mốc thực hiện hai Công ước là một thể thống nhất các văn bản pháp lý bổ sung cho nhau, cung cấp khá đầy đủ các yếu tố về đường biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc.


Tuy nhiên, văn ban hai Công ước, biên bản, bản đồ và việc phân giới, cắm mốc trên thực địa còn có nhiều hạn chế về chất lượng, kỹ thuật là nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp phức tạp về sau này. Mặt khác, việc xác lập đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc theo hai Công ước năm 1887 và năm 1895 phải mất hơn mười năm. Quá trình này cũng không thể tách khỏi bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, có những thời điểm các quyền và lợi ích trong thương mại, buôn bán và chính trị lấn át lợ ích lãnh thổ, biên giới quốc gia của Việt Nam - quốc gia đượm Pháp đại diện trong mọi mối quan hệ đối ngoại. Do vậy, đường biên giới theo hai Công ước 1887 và 1895 thực tế đã dành cho Trung Quốc một số vùng đất đai rộng lớn của Việt Nam so với đường biên giới truyền thống lịch sử vốn có từ lâu đời giữa hai nước.


Mặc dù còn có những hạn chế nêu trên, với hai Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895 về hoạch định biên giới, lần đầu tiên trong lịch sử đã xác lập được một đường biên giới trên đất liền có tính pháp lý quốc tế, đồng thời là một đường biên giới có cơ sở lịch sử trong đời sống chính trị lâu đời của hai dân tộc Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ là yếu tố vật chất và địa - chính trị quan trọng nhất để hai nước Việt Nam và Trung Quốc cùng nhau dựa vào đó để thống nhất một đường biên giới mới trong danh nghĩa hai quốc gia độc lập thực sự có chủ quyền.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Ba, 2012, 12:51:01 PM
Chương III
TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN GIẢI QUYẾT ĐƯỜNG BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC


Từ sau khi nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời (năm 1945) và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời (năm 1919), trên thực tế hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã duy trì sự quản lý biên giới thực tế cơ bản dựa trên đường biên giới đã được hoạch định biên giới bởi hai Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895 và kết quả thực hiện hai Công ước đó (kết quả phân giới, cắm mốc trên thực địa giữa chính quyền Pháp và nhà Thanh) nhằm giữ sự ổn định ở vùng biên giới chung giữa hai nước. Tuy nhiên, từ sau khi trở thành quốc gia độc lập thực sự có chủ quyền (với Việt Nam và trong bối cảnh một Chính phủ cầm quyền mới ở Trung Quốc, hai nước cần thiết phải cùng nhau xem xét lại đường biên giới này với những lý do sau:

- Trải qua sự biến động lịch sử hàng trăm năm qua, do tác động của thiên nhiên, do sự chuyển dịch dân cư, việc xâm canh, xâm cư cũng như tác động của chiến tranh đã làm cho "đường biên giới Pháp - Thanh" có những biến dạng cần xem xét, điều chỉnh.

- Toàn bộ hệ thống "mốc giới Pháp - Thanh" đều không được xác định bằng lưới toạ độ chuẩn, vị trí mốc giới không được miêu tả chính xác trên văn bản và thể hiện rõ trên sơ đồ, bản đồ. Thực tế dã có nhiều mốc giới bị hư hỏng, bị mất do sự xâm thực của thiên nhiên hoặc do sự phá hoại vô tình hay hữu ý của con người; có một số mốc giới không còn ở đúng vị trí cắm ban đầu theo quy định của hai Công ước 1887 và 1895 nên hệ thống mốc giới này đã không còn giữ vai trò pháp lý tin cậy để làm cơ sở chính cho việc quản lý đường biên giới ở thực địa. Thậm chí tạo ra những sự nhận thức khác nhau của mỗi bên, trở thành nguyên cớ tranh chấp đất đai, lãnh thổ ở biên giới.

- Biên giới lãnh thổ là một vấn đề rất phức tạp và nhạy cảm. Trong khi đó, do những hạn chế đương thời về kỹ thuật và kiến thức chuyên ngành pháp luật về biên giới lãnh thổ, lời văn trong hai Công ước cũng như các sơ đồ và bản đồ kèm theo hai Công ước đó còn có nhiều điểm chưa rõ ràng, không có chứng cứ để kiểm chứng, thậm chí một số văn bản và bản đồ có liên quan đã bị thất lạc, không tìm được tài liệu gốc, dẫn dện có sự nhận thức khác nhau của mỗi bên về hướng đi của đường biên giới, làm cho tình hình vốn đã phức tạp càng trở nên phức tạp hơn, thậm chí có nơi có lúc đã trở nên mâu thuẫn khá căng thắng.

Từ tình hình trên đây, hai Đảng và Chính phủ Việt Nam - Trung quốc đều thống nhất việc cùng nhau hoàn chỉnh đường biên giới chung giữa hai nước là một nhu cầu cấp thiết, coi đó là một trong những vấn đề rất quan trọng nhằm tạo tiền đề cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước của mỗi quốc gia.


1. TÌNH HÌNH BIÊN GIỚI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC TRƯỚC KHI HAI BÊN ĐÀM PHÁN KÝ KẾT HIỆP ƯỚC BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN NĂM 1999
Trước khi hai nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chính thức ký kết các văn bản song phương có liên quan đến quan hệ về biên giới giữa hai nước, đường biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc theo hai Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895 hàng trăm năm qua đã là căn cứ để hai bên thực hiện việc quan lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, trai qua những biến cố lịch sử, những thay đổi về chính trị, xã hội trong mỗi nước và trên thế giới đã có những tác động rất phức tạp đến quan hệ biên giới và có ảnh hưởng mạnh mẽ đón đường biên giới của hai nước.

1.1. Giai đoạn quan hệ Pháp - Thanh và Tưởng (1887 - 1945)

Trong giai đoạn này, về vấn đề biên giới, hai bên chỉ tiến hành các hoạt động kiêm tra, sửa chữa mốc giới hoặc thay đổi vị trí một số mốc giới như đã thoả thuận, cùng nhau duy trì nguyên trạng đường biên giới đúng theo kết quả thực hiện Công ước 1887 và 1895. Các bên không ký kết thêm một văn bản pháp lý nào liên quan đến việc thay đổi hoặc sửa đổi đường biên giới.


Trên thực tế, từ sau khi được chính thức xác lập bởi hai Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895, đường biên giới đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc thường xuyên không ổn định. Khi so sánh các bản đồ cắm mốc từ năm 1890 đến 1897 và bản đồ tỷ lệ 1/100.000 về đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc do Sở Địa dư Đông Dương(1) (Cơ quan đo đạc và kỹ thuật bản đồ cao nhất của Cộng hoà Pháp ở Đông Dương, thành lập năm 1927, giải thể năm 1954) xuất bản trong những năm 1905 - 1907, phía Pháp đã nhận thấy rằng một số mốc giới cắm tại các địa bàn quan trọng đã bị mất, một số mốc giới bị xê dịch vào đất Việt Nam.


Về nguyên nhân của tình trạng nghiêm trọng trên, chính ông Fauchon Giám đốc Sở Địa dư Đông Dương năm 1948 đã khẳng định "trước một nước Trung Hoa hoàn toàn vô chính phủ và bất lực, đặc biệt trong những năm 1900, những sáng kiến và hành động của các quan lại, đồn trưởng và thuộc hạ của họ đã đóng vai trò rất quan trọng, đó là nguồn gốc của việc nhiều mốc giới bị xê dịch vào đất Bắc Kỳ, đặc biệt kéo dài hầu như trên toàn bộ đường biên giới giữa Bắc Kỳ và Quảng Tây Trung Quốc"(2) (Ban Biên giới của Chính phủ (1997), Quản lý Nhà nước về biên giới lãnh thổ, các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, Hà Nội).


Sau khi Việt Nam giành được độc lập vào năm 1945, quân đội Tưởng Giới Thạch lợi dụng việt vào giải giáp quân đội Nhật, đã công khai lấn chiếm đường biên giới vào lãnh thổ của Việt Nam ở nhiều nơi, di chuyển nhiều mốc biên giới như ở Quảng Ninh, Lào Cai. Sau này, khi nói về biên giới giữa Vân Nam (Trung Quốc) và Việt Nam, về tình hình mốc giới bị di chuyển về phía Việt Nam, ngày 10 tháng 12 năm 1959 chính ông Chủ nhiệm Văn phòng Ngoại sự xứ Vân Nam là Hoàng Phượng Linh đã thừa nhận: "Biên giới giữa Việt Nam và Vân Nam có hơn 70 mốc, đoạn I có 22 mốc thì hai mốc bị xê dịch, có một mốc xê dịch vào đất Việt Nam 2 km; đoạn II có 19 mốc thì có hai mốc bị đẩy sang Việt Nam, một mốc bị Quốc dân đảng vứt đi"(3) (Ban Biên giới của Chính phủ, Tài liệu đã dẫn).


Như vậy, một loạt bia mốc biên giới đã bị di chuyển ngay sau những năm 1897, trước khi có bản đồ hình quy do Sở Địa dư Đông Dương biên vẽ (năm 1905 - 1907), một số mốc đã không được cắm đúng vị trí đã thoả thuận vì sự ranh ma của quan lại nhà Thanh và sự vô trách nhiệm của một số nhân viên Pháp được giao đi đặt mốc. Trong những năm 1940 - 1945, có một loạt bia mốc nữa lại bị di chuyển, đặc biệt là năm 1945 khi chính quyền Pháp ở Đông Dương bị đánh đổ, quân Quốc dân đảng khi vượt qua biên giới tràn vào Bắc Kỳ đã lợi dụng cơ hội này di chuyển và phá hỏng nhiều mốc giới.


Trong giai đoạn này, không xảy ra tranh chấp lớn ở trên biên giới. Tuy nhiên, mặc dù biết phía Trung Quốc thường xuyên lấn chiếm đất đai của Việt Nam nhưng do chính quyền Pháp không có khả năng và điều kiện để quan tâm đến biên giới, nên đã không duy trì quản lý bảo vệ đường biên giới nguyên trạng đã thoả thuận theo hai Công ước 1887, 1895 và chấp nhận chỉ ghi nhận những việt đã rồi trên bản đồ xuất bản năm 1904. Nghiên cứu các tài liệu để lại cho thấy, từ sau khi hoàn thành việc thực hiện Công ước bổ sung năm 1897 cho đến năm 1945, Pháp và nhà Thanh đã không tổ chức được một cuộc kiểm tra biên giới song phương nào.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Ba, 2012, 12:52:39 PM
1.2. Giai đoạn từ sau năm 1945 đến năm 1979

Từ sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập (năm 1949) đến năm 1966, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc là đường biên giới hữu nghị.

Trong những năm từ 1950 đến năm 1960, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là quan hệ hữu nghị, vừa là đồng chí vừa là anh em. Đường biên giới giữa hai nước là biên giới hữu nghị. Thời gian này cũng là những tháng năm đầu tiên nhân dân Việt Nam ở vùng biên giới được sống trong khung cảnh hoà bình và yên tâm sản xuất. Việc quản lý biên giới của chính quyền địa phương hai bên biên giới không quan tâm nhiều đến pháp lý, chủ yếu quản lý theo tập quán và theo các bản đồ Pháp vẽ hoặc theo bản đồ hiện hành do Trung Quốc xuất bản giúp Việt Nam.


Về mặt nhà nước, mặc dù trong thời gian này Việt Nam và Trung Quốc không ký kết văn bản mới nào về biên giới giữa hai nước, nhưng Trung ương hai Đảng cầm quyền của hai bên đã có sự thoả thuận tôn trọng đường biên giới pháp lý do lịch sử để lại, cụ thể là tôn trọng đường biên giới đã được xác lập trên cơ sở hai Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895, được thể hiện trong việc ký kết một số văn bản như: Tháng 12-1952, hai Chính phủ Việt Nam và Trung Quốc ký Hiệp định phối hợp công tác biên phòng Việt - Trung, đến năm 1954 hai bên tiếp tục ký một hiệp định bổ sung; tháng 5-1955, ký kết Hiệp định về việc mở mậu dịch tiểu ngạch ở biên giới Việt - Trung; năm 1963, ký kết Hiệp định hiệp đồng bảo vệ an ninh khu vực biên giới; năm 1955, ký Hiệp định đường sắt biên giới Việt - Trung (đến năm 1971 ký lại Hiệp định này).


 Từ ngày 6 đến ngày 9-11-1956, năm tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc (Hải Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Đông, Quảng Tây) đã gặp nhau hội đàm 10 vấn đề về biên giới và đã đi đến những thoả thuận về quản lý đường biên giới chung.


Ngày 02-11-1957, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc xác nhận biên bản thoả thuận giữa năm tỉnh biên giới hai bên họp tháng 11-1956, và đề nghị: "vấn đề quốc giới là một vấn đề quan trọng cần giải quyết theo những nguyên tắc pháp lý hiện có hoặc xác định lại do Chính phủ hai nước quyết định. Nhất thiết cấm các nhà chức trách và các đoàn thể địa phương không được thương lượng với nhau để cắm mốc lại hoặc cắt nhượng đất cho nhau. Đề nghị này được đưa ra với thiện chí bảo đảm tôn trọng đường biên giới lịch sử do hai Công ước 1887 và 1895 hoạch định và đã được phân giới cắm mốc(1) (Lưu Văn Lợi (1990), Việt Nam Đất - Biển - Trời, Nxb Công an nhân dân, trang 75). Tháng 4-1958, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trả lời đồng ý với những ý kiến của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về công tác biên giới Việt - Trung, đồng ý với phía Việt Nam tôn trọng nguyên trạng của đường biên giới theo các Công ước 1887 và 1895(2) (Long Việt, "Vietnam - Chia Lanh Border Treaty - a common victory of two nations”, Vietnam Law and Legal Forum, No 65, 1/2000). Trong những năm 1958 - 1959, hai bên còn tiến hành trao trả cho nhau ruộng đất, rừng cây hỗn canh và giải quyết những tồn tại phức tạp do lịch sử để lại hoặc mới nảy sinh như: Bia mốc bị xê dịch, ruộng đất hỗn canh, xâm canh, xâm phạm tài nguyên rừng, thuỷ lợi, chăn trâu bò, chôn cất mồ mả, nợ của hai bên, thông hôn, quốc tịch và kiều dân, di cư, trị an, quản lý biên giới v.v...


Tuy nhiên, những năm đầu sau khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng, tình hình mất ổn định của biên giới Việt Nam - Trung Quốc vẫn tiếp diễn mà nguyên nhân chính là do phía Trung Quốc gây ra. Trên thực tế trong quan hệ lúc bấy giờ mặc dù là hữu nghị anh em, nhưng do sự phức tạp và những tồn tại của đường biên giới lịch sử để lại và những phát sinh mới ở biên giới, có một số vấn đề tranh chấp quản lý khá căng thẳng cần phải được giải quyết như: Một số bia mốc bị xê dịch vào đất Việt Nam ở các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng; tranh chấp đất đai ở khu vực Lũng Phắc, xã Chí Hoà, huyện Trùng Khánh...


Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt biên giới Việt Nam - Trung Quốc đến Yên Viên gần Hà Nội, phía Trung Quốc đã ghi trong biên bản điểm nối ray sâu vào lãnh thổ Việt Nam gần 300 m. Họ còn ủi mất mốc biên giới số 18 ở cách cửa Nam Quan 100 m để xóa dấu tích đường biên giới lịch sử, rồi đặt cột km số 0 đường bộ sâu vào lãnh thổ Việt Nam trên 100 m, coi đó là vị trí đường biên giới giữa hai nước ở khu vực này(1) (Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc (1979), Nxb Sự Thật, Hà Nội, trang 10).


Năm 1956, Trung Quốc đã chiếm một vùng đất đai Việt Nam dài 6.000 m, rộng hơn 1.300 m tại khu vực Trình Tường, tỉnh Quảng Ninh. Lấn chiếm các khu vực như: Các mốc số 25, 26, 27 thuộc xã Thanh Loà, huyện Cao Lộc, Tỉnh Lạng Sơn; từ mốc số 17 đến số 19 ở Khảm Khan, Cao Bằng; khu vực mốc số 14 ở Tả Lũng, Lân Phù Phìn, Minh Tân, tỉnh Hà Tuyên; khu vực từ mốc số 2 đến số 3 ở Nậm Chảy ở Hoàng Liên Sơn. Cũng từ năm 1955 đến năm 1956, khi được Việt Nam nhờ đo vẽ bản đồ Việt Nam tỷ lệ 1/100.000, phía Trung Quốc đã sửa ký hiệu một số đoạn biên giới dịch về phía Việt Nam ở khu vực mốc số 53 ở thác Bản Giốc và cồn Pò Thoáng thuộc tỉnh Cao Bằng(2) (Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc (1979), Nxb Sự Thật, Hà Nội, trang 19, 12).


Năm 1957, phía Trung Quốc lấn chiếm khu vực mốc số 136 và 137 ở Trà Mần - suối Lũng thuộc huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng và cắm cờ biểu thị chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực này(3) (Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc (1979), Nxb Sự Thật, Hà Nội, trang 15).


Năm 1967 - 1968, Trung Quốc đưa nhiều hộ người H'mông (Mèo) thuộc huyện Mã Quan, tỉnh Vân Nam sang định cư ở khu vực giữa mốc số 2 và số 3 thuộc xã Nậm Chảy, huyện Mương Thương tỉnh Hoàng Liên Sơn (nay là tỉnh Lào Cai). Mặc dù phía Việt Nam đã phản đối nhưng phía Trung Quốc làm ngơ, tiếp tục đưa người sang ở rồi đặt tên cho xóm người Mèo này là "Sìn Sài Thàng” giống tên một bản của Trung Quốc ở bên kia biên giới cách khu vực này 03 km. Đến năm 1976, Trung Quốc cho quân sang chiếm khu vực này và coi là đất của Trung Quốc(4) (Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc (1979), Nxb Sự Thật, Hà Nội, trang 15).


Năm 1976 Trung Quốc cho xây một đập kiên cố ngang qua nhánh sông biên giới ở khu vực thác Bản Giốc của Việt Nam và chiếm cồn Pò Thoáng của Việt Nam, đồng thời lấn chiếm các khu vực như mốc số 43 ở Chi Ma thuộc tỉnh Lạng Sơn, mốc số 114 ở Sóc Giang thuộc tỉnh Cao Bằng, khu vực giữa mốc số 63 và số 65 ở Trà Lĩnh thuộc tỉnh Cao Bằng, khu vực giữa mốc số 1 và 2 ở Cao Ma Pờ thuộc tỉnh Hà Tuyên dài 4 km sâu vào đất Việt Nam 2 km(1) (Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc (1979), Nxb Sự Thật, Hà Nội, trang 12, 14).


Tình hình biên giới Việt Nam - Trung Quốc ngày càng trở nên phức tạp. Đặc biệt trong ba năm từ 1977 đến 1979, tình hình biên giới giữa hai nước rất căng thẳng. Số vụ tranh chấp ngày càng gia tăng: Năm 1974, trên biển Trung Quốc đưa quân ra chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, trên đất liền xảy ra 179 vụ tranh chấp; năm 1975 có 294 vụ (Trung Quốc nói có hơn 400 vụ); năm 1976 tranh chấp 812 vụ (Trung Quốc nói hơn 900 vụ), có những vụ hai bên xô xát xảy ra thương vong; năm 1977 có 873 vụ; năm 1978 có 2.175 vụ. Trung Quốc gây ra sự kiện nạn kiều ở hữu Nghị Quan, cầu Bắc Luân, cầu Hồ Kiều, cắt viện trợ, rút chuyên gia, cắt giao thông đường sắt, đường bộ, đóng cửa biên giới(2) (Vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc (1979), Nxb Sự thật, Hà Nội, trang 18).


Theo báo cáo kết quả khảo sát biên giới năm 1977, có khoảng 950/0 mốc giới còn tồn tại trên thực địa trong đó khoảng 60% đúng vị trí, xê dịch vào đất Việt Nam khoảng 15%, xê dịch vào đất Trung Quốc khoảng 4%(3) (Trần Việt Hùng, Tài liệu đã dẫn, trang 37).


Tóm lại, trong giai đoạn này về cơ bản đại bộ phận đường biên giới được hai bên quản lý khớp với đường biên giới lịch sử theo hai Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895. Tuy nhiên, đường biên giới này đã không còn giữ được nguyên trạng.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 17 Tháng Ba, 2012, 12:54:08 PM
1.3. Giai đoạn từ đầu năm 1979 đến trước khi ký kết Hiệp ước biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc năm 1999

Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là đến năm 1990, Trung Quốc thi hành chính sách không hữu nghị với Việt Nam. Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục xấu đi nhanh chóng và lên tới đỉnh điểm - xung đột biên giới. Phía Trung Quốc đã dùng vấn đề biên giới hai nước làm công cụ, tạo sức ép đối với Việt Nam. Đây cũng là một giai đoạn đầy sóng gió trong quan hệ hai nước nói chung và quan hệ về biên giới Việt Trung nói riêng trong thời kỳ hiện đại.


Các cuộc tranh chấp ở biên giới ngày càng tăng dần cả về số vụ và mức độ nghiêm trọng và đỉnh điểm là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Trung Quốc năm 1979. Ngày 17-2-1979, Trung Quốc đã sử dụng lực lượng vũ trang với 60 vạn quân vượt qua biên giới Việt - Trung tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc, gây thiệt hại năng nề về người và của cho nhân dân 6 tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam. Trước sự phản công quyết liệt của quân và dân Việt Nam và sự lên án mạnh mẽ của dư luận thế giới, sau một tháng chiếm đóng vùng biên giới, Trung Quốc đã rút quân về nước. Đến ngày 5-5-1979, Trung Quốc tuy đã tuyên bố rút toàn bộ quân đội về nước, nhưng trên thực tế lực lượng vũ trang Trung Quốc vẫn chốt giữ nhiều điểm cao và cụm điểm cao quan trọng ở trên đường biên giới và trên lãnh thổ Việt Nam. Lúc đó, Trung Quốc đã chiếm đóng khoảng 50 cao điểm trên đất Việt Nam. Tình trạng chiếm đóng này kéo dài suốt thập kỷ 80 và trong thời gian này Trung Quốc liên tục gây ra các vụ lấn chiếm, khiêu khích, tấn công các mục tiêu của Việt Nam, điển hình trong các năm 1980 gây ra 2.500 vụ và năm 1981 gây ra 1.800 vụ trong đó có việc đánh chiếm bình độ 400 ở Cao Lộc. Đến cuối năm 1989, đầu năm 1990, Trung Quốc rút quân trên hầu hết các điểm cao đã lấn chiếm của Việt Nam nhưng vẫn chiếm giữ một số điểm cao để khống chế khu vực biên giới như điểm cao 583 - Pò Pùn Léo Cao, điểm cao 371 - Hữu Nghị Quan, bình độ 400 núi Pha Khả mốc số 26 Đông, một số điểm cao khác ở phía Bắc Thanh Thuỷ và phía Đông - Tây sông Lô(1) (Ban Biên giới của Chính phủ (5-2000), Quản lý nhà nước về biên giới lãnh thổ).


Từ nửa cuối năm 1990, tình hình biên giới Việt - Trung dần dần trở lại yên tĩnh, phía Việt Nam đã chủ động rút bộ đội chủ lực về tuyến sau và cho nhân dân hai bên biên giới qua lại thăm thân, mua bán hàng hoá thiết yếu phục vụ đời sống và sinh hoạt hàng ngày. Cuối năm 1991, Việt Nam và Trung Quốc đã bình thường hoá quan hệ và vấn đề biên giới giữa hai nước đã được quan tâm giải quyết tích cực với thiện chí hoà bình. Mặc dù hai bên đã ký Hiệp định tạm thời về việc giải quyết các công việc trên vùng biên giới hai nước ngày 07-11-1991 và Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ ngày 19-10-1993, nhưng tình trạng tranh chấp và lấn chiếm biên giới vẫn tiếp tục xảy ra chủ yếu do phía Trung Quốc gây ra. Điển hình là sự kiện năm 1997 Trung Quốc xây dựng kè đá trên sông biên giới ở cửa khẩu Đông Hưng (Trung Quốc) và cửa khẩu Hoành Mô (Việt Nam) đã gây thiệt hại lớn cho phía Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến vị trí đường biên giới. Đến cuối năm 1999, vẫn còn hàng trăm điểm tranh chấp trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:41:53 PM
2. ĐÀM PHÁN HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC

Việc giải quyết vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc là một trong những vấn đề quan trọng trong mối quan hệ giữa hai nước. Từ những năm 50 cho đến khi hai nước bình thường hoá quan hệ năm 1991, tuy quan hệ hai nước Việt Nam - Trung Quốc có nhiều biến động, thăng trầm, thậm chí đã xảy ra xung đột biên giới, nhưng hai Đảng và Chính phủ của Việt Nam và Trung Quốc đã và đang hợp tác đàm phán, thương lượng giải quyết những vấn đề về biên giới lãnh thổ giữa hai nước.

Giữa Việt Nam và Trung Quốc có ba vấn đế về biên giới lãnh thổ:

Xác định đường biên giới trên đất liền;

Phân định Vịnh Bắc Bộ;

Vấn đề trên biển Đông (thực nhất là vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa).
Trên đất liền, với đường biên giới dài khoảng 1.406 km (chiều dài chính xác sẽ được xác định rõ hơn khi đi phân giới trên thực địa), đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc là đường biên giới đã được hoạch định từ cách đây hàng trăm năm, cụ thể là trong Công ước hoạch định biên giới ngày 26-6-1887 và Công ước hoạch định biên giới bổ sung ngày 20-6-1895 được ký kết giữa Pháp và nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi các Công ước này được ký kết, đường biên giới đó đã được phân giới, cắm mốc với 341 mốc được xác nhận trong các biên bản và bản đồ.


Tuy nhiên, đường biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc được hoạch định trên đây trong hoàn cảnh trình độ khoa học kỹ thuật hạn chế và điều kiện chính trị xã hội có nhiều khó khăn, phức tạp và trong hơn một trăm năm qua trên thực tế đã diễn ra nhiều sự biến đổi về địa lý tự nhiên cũng như chính trị - xã hội và quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, do đó đã nảy sinh nhận thức khác nhau đối với một số khu vực trên đường biên giới.


Qua nghiên cứu cho thấy, việc hoạch định biên giới giữa chính quyền Pháp và nhà Thanh được xúc tiến cách đây đã hơn một trăm năm với những điều kiện và phương tiện đương thời nên lời văn và bản đồ về nhiều đoạn biên giới không được đầy đủ, rõ ràng, chính xác. Các cột mốc biên giới được cắm ở cuối thế kỷ trước không được xác định bằng lưới toạ độ, cùng với thời gian nhiều mốc đã bị hư hỏng, bị mất, bị xê dịch hoặc không còn ở đúng vị trì. Nhiều mảnh bản đồ gốc có chữ ký và con dấu đã bị thất lạc, không tìm thấy. Ngoài ra, tại nhiều khu vực trên đường biên giới cũng xảy ra sự chuyển dịch của dân cư và quản lý không phù hợp với đường biên giới pháp lý. Hơn nữa, trong lịch sử quan hệ hai nước đã từng xảy ra xung đột vũ trang và tranh chấp phức tạp. Vì những lẽ đó, điều dễ hiểu là đã nảy sinh nhận thức khác nhau, thậm chí tranh chấp.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên và với mục tiêu xác định lại chính xác đường biên giới để quản lý được tốt hơn, tránh xảy ra các vụ tranh chấp ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc, việc đàm phán và ký Hiệp ước mới về biên giới đất liền Việt Nam Trung Quốc và sau đó phân giới, cắm mốc lại đường biên giới là công việc vô cùng cấp bách và cần thiết.


Sau một quá trình đàm phán thương lượng lâu dài, có nhiều gián đoạn (cả không chính thức và chính thức kể từ năm 1956), đến ngày 30-12-1999, Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết Hiệp ước biên giới trên đất liền đúng theo thoả thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước. Đây là một sự kiện rất quan trọng không những chỉ đối với Việt Nam trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, mà còn đối với cả khu vực.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:43:28 PM
2.1. Giai đoạn trước năm 1991

Từ khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập (năm 1949) và sau khi miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng (năm 1954), hai nước đã có những cuộc trao đổi tiếp xúc về các vấn đề biên giới. Trên thực tế, hai bên vẫn thừa nhận và tôn trọng đường biên giới hiện tại. Ngày 02-11-1957, Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã gửi thư cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trao đổi về quan hệ vùng biên giới, trong đó nhấn mạnh tôn trọng đường biên giới lịch sử và đề nghị cách thức giải quyết trên cơ sở sự thật lịch sử và pháp luật quốc tế. Tháng 4-1958, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã trả lời, đồng ý với những ý kiến đề nghị của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.


Chiến tranh chống Mỹ đã làm gián đoạn việc thực hiện ý tưởng tốt đẹp của Đảng và Chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-01-1973 về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình tại Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà bắt đầu kế hoạch khôi phục lại đất nước, mà vấn đề đầu tiên là xác định lại đường biên giới(1) (Hoàng Linh, Long Việt, "Hiệp ước ngày 30/12/1999 về biên giới trên bộ Việt Nam - Trung Quốc", Tạp chí Thông tin Công tác tư tưởng (Số 1/2000), trang 37).


Trên tinh thần đó, từ năm 1973, Việt Nam đặt vấn đề với phía Trung Quốc nghiên cứu toàn diện cơ sở pháp lý của đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc và vấn đề quản lý đường biên giới. Các cuộc đàm phán giải quyết các công việc về biên giới lãnh thổ của hai nước cũng được tổ chức.


Hội đàm cấp địa phương:

1) Cuộc hội đàm giữa đại biểu các tỉnh Hải Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng (Việt Nam) và các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc họp tại Nam Ninh từ ngày 6 đến ngày 9-11-1956. Đã trao đổi mười vấn đề:
Vấn đề quốc giới;

Vấn đề ruộng đất hỗn canh;

Vấn đề rừng cỏ ở bên kia biên giới;

Vấn đề thuỷ lợi;

Vấn đề chăn trâu bò qua biên giới;

Vấn đề nợ;

Vấn đề quốc tịch và kiều dân;

Vấn đề thông hôn ở biên giới;

Vấn đề di cư ở biên giới;

Vấn đề trị an, quản lý biên giới, cư dân biên giới ra vào qua biên giới


2) Cuộc hội đàm giữa đại biểu Uỷ ban hành chính tỉnh Lạng Sơn - Cao Bằng với đại diện Khu Tự trị dân tộc Choang (Quảng Tây), họp tại Nam Ninh ngày 23-5-1958. Hai bên tập trung trao đổi các vấn đề sau:
Phối hợp chống buôn lậu qua biên giới;

Mở đường phụ qua biên giới;

Vấn đề cư dân biên giới quá cảnh, tặng quà, quà biếu.


3) Cuộc hội đàm giữa đại biểu Uỷ ban hành chính tỉnh Lạng Sơn - Cao Bằng với đại biểu Khu Tự trị dân tộc Choang (Quảng Tây), họp tại Lạng Sơn từ ngày 16 đến ngày 26-01-1959. Hai bên tập trung trao đổi các vấn đề sau:

Ruộng đất xâm canh;

Rừng cây ở bên kia biên giới;

Việc chăn nuôi qua biên giới;

Vấn đề thuỷ lợi, nguồn nước, đánh bắt cá trên sông, suối biên giới;

Vấn đề vay nợ;

Vấn đề quốc tịch, kiều dân;

Vấn đề thông hôn;

Vấn đề di cư;

Vấn đề trị an;

Vấn đề quốc giới.


4) Cuộc hội đàm giữa đại biểu các tỉnh Cao Bằng - Lạng Sơn và đại biểu tỉnh Quảng Tây. Họp tại Lạng Sơn từ ngày 5 đến ngày 15-3- 1977. Hai bên tập trung trao đổi các vấn đề sau:

Xác định mục đích đàm phán;

Đánh giá tình hình biên giới;

Xác định căn cứ pháp lý về đường biên giới;

Xác định cách thức giải quyết vấn đề biên giới.

Phía Trung Quốc nêu nguyên tắc duy trì hiện trạng biên giới với 5 ý kiến cụ thể về biện pháp thực hiện.

Phía Việt Nam tập trung làm sáng tỏ quan điểm cơ bản giữ nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại, vạch rõ các nguyên nhân và trách nhiệm do phía Trung Quốc gây ra ảnh hưởng đến biên giới. Trên cơ sở đó, đưa ra 10 biện pháp cụ thể về lãnh thổ và dân sinh, không chấp nhận 5 biện pháp do phía Trung Quốc đề nghị.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:46:18 PM
Đàm phán cấp Chính phủ:

1) Bắt đầu từ ngày 15-8-1974, tại Bắc Kinh, diễn ra cuộc đàm phán chính thức đầu tiên cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, trong đợt đàm phán này hai bên chỉ trao đổi các vấn đề liên quan đến vịnh Bắc Bộ nhưng không thoả thuận được gì vì quan điểm hai bên cách xa nhau. Đến cuối tháng 11-1974, kết thúc đợt đàm phán.


2) Đợt đàm phán lần thứ hai về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra ở Bắc Kinh từ tháng 10-1977 đến tháng 6-1978, gồm 4 vòng họp ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Trưởng đoàn phía Việt Nam là Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền. Trưởng đoàn phía Trung Quốc là Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Nghiệm Long. Cuộc đàm phán này diễn ra trong bối cảnh quan hệ hai nước đang có nhiều bất đồng về chính trì và tình hình trên vùng biên giới đất liền và tình hình trong vịnh Bắc Bộ rất căng thẳng. Các tranh chấp xảy ra liên tục, tính chất ngày càng phức tạp với quy mô ngày càng mở rộng.


Trong cuộc đàm phán này, tuy hai bên đều đồng ý căn cứ vào Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và năm 1895, nhưng lập trường đàm phán có hai điểm khác biệt cơ bản: Đoàn Việt Nam kiên trì nguyên tắc "giữ nguyên trạng đường biên giới" theo đúng Công ước Pháp - Thanh đã hoạch định và phân giới, cắm mốc. Phía Trung Quốc cũng đồng ý căn cứ vào Công ước Pháp - Thanh để đàm phán, nhưng cho rằng “cần phải tính đến hiện trạng quản lý và cần có sự điều chỉnh" để đi đến một đường biên giới mới gần với hiện trạng quản lý thực tế. Về biên giới trên biển, Việt Nam cho rằng Công ước Pháp - Thanh đã "hoạch định rõ ràng đường biên giới cả trên đất liền và trong vịnh Bắc Bộ". Phía Trung Quốc cho rằng Công ước Pháp - Thanh "chỉ hoạch định đường biên giới đất liền giữa hai nước, trong vịnh Bắc Bộ chưa bao giờ có đường biên giới", hai bên cần bàn để phân chia vịnh Bắc Bộ. Diễn biến cụ thể:

* Trong các phiên họp của vòng I (từ ngày 15 đến ngày 21-10-1977, đoàn Việt Nam nêu quan điểm đường biên giới "đã được hai Công ước 1887 - 1895 hoạch định rõ ràng cả trên đất liền và trong vịnh Bắc Bộ" và đề nghị thảo luận giải quyết đồng thời cả biên giới trên đất liền và trong vịnh Bắc Bộ. Đoàn Trung Quốc bác bỏ quan điểm về vịnh Bắc Bộ đã được hoạch định theo Công ước Pháp - Thanh, yêu cầu trước tiên cần tập trung bàn vấn đề biên giới trên đất liền.

Theo hướng đó, ngày 11-10-1977, đoàn Trung Quốc đưa ra đề nghị 5 điểm giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền với nội dung:

- Đường biên giới lục địa giữa Trung Quốc và Việt Nam đã được hoạch định bằng các điều ước biên giới do Chính phủ nhà Thanh, Trung Quốc và Chính phủ Pháp ký từ năm 1887 đến năm 1895;

- Bất cứ bên nào quản lý vượt quá đường biên giới được quy định của các điều ước nói trên đều phải trao trả vô điều kiện, trong đó đối với một ít vùng, nếu hai bên đồng ý, thì có thể điều chỉnh thích đáng trên cơ sở công bằng, hợp lý, có chiếu cố lợi ích dân cư nơi đó;

- Sau khi đối chiếu nhiều lần theo điều ước, nếu vẫn còn bất đồng về hướng đi cụ thể của đường biên giới ở một số khu vực đoạn biên giới thì hiệp thương hữu nghị giải quyết trên cơ sở nhân nhượng và thông cảm lẫn nhau, đảm bảo công bằng, hợp lý;

- Đối với đường biên giới trên sông, suối, phàm là sông, suối tàu bè đi lại được thì lấy trung tuyến đường đi chính làm biên giới, còn sông, suối thuyền bè không đi lại được thì lấy đường nước sâu làm biên giới;

- Sau khi giải quyết xong các vấn đề biên giới (trên bộ), thì ký chính thức điều ước biên giới giữa hai nước thay thế cho điều ước Pháp Thanh, ấn định lại mốc giới và cắm mốc giới mới.

Đoàn Việt Nam kiên quyết yêu cầu phía Trung Quốc thừa nhận đường biên giới giữa hai nước theo Công ước Pháp - Thanh đã được xác định cả trên đất liền và trong vịnh Bắc Bộ. Đàm phán do đó không tiến triển.


* Trong các phiên họp của vòng II (từ ngày 9-11 đến ngày 26-12- 1977). Phía Việt Nam khẳng định lại các nguyên tắc cơ bản và đưa ra đề nghị về trình tự bước đàm phán để hai bên thảo luận, cụ thể là:

- Bàn về nguyên tắc giải quyết các vấn đề về biên giới trên bộ; Thành lập Uỷ ban liên hợp, trong khi Uỷ ban liên hợp xuống thực địa, thực hiện các nguyên tắc được thoả thuận ở bước 1, hai đoàn tiếp tục bàn về nguyên tắc giải quyết biên giới trong vịnh Bắc Bộ và giao cho Uỷ ban liên hợp thực hiện nguyên tắc đã thoả thuận;

- Ký hiệp ước về biên giới sau khi đã thoả thuận thực hiện nguyên tắc giải quyết các vấn đề biên giới trên đất liền và vịnh Bắc Bộ.

Phía Trung Quốc khước từ bàn về vấn đề nguyên tắc cơ bản, khẳng định vịnh Bắc Bộ chưa có đường biên giới.

Để thúc đẩy đàm phán, ngày 14-11-1977, phía Việt Nam đưa ra đề nghị 6 điểm về giải quyết các vấn dề về biên giới trên đất liền. Nội dung cụ thể là:

- Hai bên giữ nguyên trạng đường biên giới đã được Công ước năm 1887 và năm 1895 xác định, không có sự điều chỉnh;

- Nếu vùng đất nào quản lý quá trì phải trao trả vô điều kiện, không có ngoại lệ;

- Trong thời hạn thoả thuận, dân cư ở vùng đất phải trao trả sẽ trở về sống ở nước mình mang quốc tịch, nếu ở lại phải được nước đó đồng ý, việc giải quyết tài sản sẽ do Uỷ ban liên hợp quy định ở điểm dưới đây bàn bạc;

- Nghiêm cấm việc dân cư nước này sang canh tác và làm ăn trái phép trên lãnh thổ bên kia dưới mọi hình thức;

- Thành lập Uỷ ban liên hợp với thành phần ngang nhau có nhiệm vụ đi thực địa thực hiện các thoả thuận nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới trên bộ và trong vịnh Bắc Bộ;

- Ký hiệp ước biên giới mới bao gồm cả biên giới trên bộ và trong vịnh Bắc Bộ. Phía Việt Nam sẵn sàng cùng phía Trung Quốc trao đổi trước vấn đề biên giới trên đất liền.

Đoàn Trung Quốc tiếp tục khước từ bàn về vấn đề nguyên tắc cơ bản, khẳng định vịnh Bắc Bộ chưa có đồng biên giới, đồng thời phê phán tính không thực tế trong đề nghị của phía Việt Nam và yêu cầu phía Việt Nam rút lại các điểm có liên quan tới vịnh Bắc Bộ. Đàm phán do đó không tiến triển được gì.


* Trong các phiên họp của vòng III (từ ngày 1.2-01 đến ngày 09-3- 1978). Phía Việt Nam đưa ra dự thảo hiệp định về đường biên giới trên đất liền ngày 12-01-1978) để hai bên thảo luận, có nội dung chủ yếu như sau:

- Hai bên chính thức xác nhận đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được hoạch định, cắm mốc theo Công ước Pháp - Thanh là đường biên giới quốc gia giữa hai nước;

- Hai bên cam kết tôn trọng đường biên giới quốc gia giữa hai nước được nêu ở trên, các vùng đất nào do phía bên này quản lý quá đường biên giới thì phải trả lại cho phía bên kia;

- Trường hợp có một số ít khu vực sau khi hai bên cùng nhau đối chiếu, nghiên cứu nhiều lần theo quy định của Công ước pháp - Thanh vẫn không xác định được thuộc bên nào, thì hai bên sẽ đi khảo sát thực địa, hiệp thương giải quyết theo nguyên tắc công bằng, hợp lý;

- Đối với sông, suối biên giới, các cồn bãi trên sông, suối, hai bên triệt để tuân thủ quy định của Công ước Pháp - Thanh. Đối với cầu, đập trên sông, suối biên giới, đường giữa cầu là đường biên giới;

- Trong thời hạn một năm, dân ở vùng đất bên này phải trao trả cho phía bên kia, sẽ phải trở về sinh sống ở nước mà mình mang quốc tịch, hoặc đặng ký với chính quyền địa phương để trở thành công dân của bên được trả đất;

- Mỗi bên không để dân bên mình quá canh và làm ăn trái phép tại vùng đất thuộc phía bên kia;

- Khi hiệp định này có hiệu lực, hai bên thành lập Uỷ ban liên hợp có thành phần ngang nhau để thực hiện nhiệm vụ: Xác định cụ thể trên thực địa toàn bộ đường biên giới được nêu ở mục 1; giải quyết các vấn đề về trao trả đất, khu vực không rõ ràng; kiểm tra xác định các mốc giới và đặt lại các mốc không đúng quy định của Công ước Pháp - Thanh; soạn thảo Nghị định thư phân giới cắm mốc;

- Nghị định thư phân giới cắm mốc và bản đồ kèm theo là bộ phận cấu thành của hiệp định.

Phía Trung Quốc không đồng ý với quan điểm của Việt Nam nêu ra và cho rằng nếu phía Việt Nam không thay đổi quan điểm, nhận thức thì hai bên khó có thể đi tới thống nhất và họ nêu ra đề nghị 9 điểm để hai bên trao đổi (ngày 24-01-1978), nội dung cụ thể là:

- Đường biên giới Trung Quốc - Việt Nam đã được hoạch định cắm mốc theo Công ước Pháp - Thanh, hai bên cùng nhau đối chiếu xác định lại toàn bộ đường biên giới và vị trí mốc giới theo quy định Công ước Pháp - Thanh. Để tiện đối chiếu, xác định vị trí đường biên, hai bên trao đổi cho nhau cùng một lúc bản đồ thể hiện đường biên giới giữa hai nước với tỷ lệ 1/100.000;

- Trong quá trình đối chiếu, nếu hai bên có sự nhìn nhận khác nhau về ví trí đường biên thì có thể giải quyết thông qua thương lượng với tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, công bằng, hợp lý;

- Sau khi đối chiếu, những khu vực nào quản lý quá đường biên thì phải trao trả không điều kiện, đối với một số ít khu vực nếu hai bên đồng ý có thể điều chinh thích đáng trên cơ sở công bằng, hợp lý, có tính đến lợi ích dân cư ở nơi đó;

- Đối với đoạn sông, suối biên giới tàu bè đi lại được thì lấy trung tuyến luồng chính làm đường biên giới, đoạn tàu bè không đi lại được lấy đường nước sâu làm biên giới. Đối với cầu bắc qua sông biên giới thì trên mặt cầu lấy đường giữa cầu làm biên giới, dưới cầu thì xác định theo nguyên tắc sông, suối;

- Sau khi đối chiếu và giải quyết xong các vấn đề biên giới trên bộ, hai bên sẽ cùng nhau soạn thảo hiệp ước biên giới mới;

- Sau khi hiệp ước biên giới giữa hai nước có hiệu lực, hai bên thành lập Uỷ ban liên hợp có thành phần bằng nhau, có nhiệm vụ phân giới cắm mốc giới mới, quy thuộc cồn bãi, giải quyết các vấn đề liên quan khác, soạn thảo nghị định thư phân giới cắm mốc;

- Sau khi hiệp ước có hiệu lực, những vùng đất nào phải trao trả, thì do Uỷ ban liên hợp bàn bạc quyết định thời gian, biện pháp và cách thức thực hiện;

- Sau khi hiệp ước có hiệu lực, hai bên nghiêm cấm dân bên mình sang canh tác và làm ăn trái phép trên vùng đất thuộc quản lý của bên kia;

- Để giữ gìn ổn định biên giới, hai bên cam kết giữ nguyên trạng đường biên giới, không được đơn phương thay đổi thực trạng quản lý dưới bất kỳ hình thức nào.

Phía Việt Nam không chấp nhận đề nghị trên là cơ sở để trao đổi và chỉ ra rằng, tuy phía Trung Quốc có nêu nội dung mới trong đề nghị này, nhưng lập trường quan điểm vẫn cơ bản giống đề nghị 5 điểm phía Trung Quốc đã nêu ra trước đó. Do vậy đàm phán không đạt kết quả.  


* Trong các phiên họp của vòng IV (từ ngày 14-4 đến ngày 9-6- 1978). Phía Việt Nam nêu đề nghị hai bên cùng nhau đối chiếu các điểm đề nghị của mình để thống nhất các vấn đề trao đổi trong đàm phán. Đồng ý bàn nguyên tắc, bước đi, cách thức giải quyết tranh chấp lãnh thổ trước khi ký hiệp định biên giới trên bộ. Phía Trung Quốc bác bỏ dự thảo hiệp định của phía Việt Nam, đồng thời khẳng định tính hợp lý, thực tế đề nghị 9 điểm về giải quyết tranh chấp lãnh thổ, nhấn mạnh khi giải quyết xong vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên đất liền thì sẽ ký hiệp ước về biên giới trên đất liền. Đàm phán do đó không đạt được kết quả.
Đợt đàm phán 1977 - 1978 không đạt được kết quả do tác động của các yếu tố sau:

- Trong thời gian này, quan hệ giữa Việt Nam và trung Quốc đã nảy sinh bất đồng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt tình hình tranh chấp ở khu vực biên giới giữa hai nước ngày càng được mở rộng về quy mô lẫn tính chất dẫn tới quan hệ hai nước trở nên căng thẳng. Để cải thiện tình hình quan hệ và giảm mức độ đối đầu trên khu vực biên giới, hai bên đồng ý tổ chức đàm phán, nhưng chưa sẵn sàng để đi vào đàm phán thực chất.

- Thực tế phía Việt Nam lúc đó chưa có sự chuẩn bị tốt về nhiều vấn đề (tài liệu thiếu, chưa nắm được tình hình thực tế khu vực biên giới, lực lượng cán bộ làm công tác biên giới còn ít, thiếu kinh nghiệm thực tiễn, cơ sở khoa học pháp lý), do đó vẫn còn cứng nhắc trong việc đề xuất các chủ trương, biện pháp thúc đẩy đàm phán với phía Trung Quốc giải quyết các vấn đề liên quan tới biên giới lãnh thổ.

- Trong đàm phán, phía Trung Quốc đã nắm rõ cơ sở thực tế và đặc điểm của khu vực biên giới hai nước cũng như thực tiễn quốc tế nên đã đề ra các bước đi, biện pháp giải quyết cụ thể từng vấn đề tương đối hợp lý. Tuy nhiên, do kinh nghiệm hạn chế của phía Việt Nam lúc đó nên đã không chấp nhận đề xuất của phía Trung Quốc.

Từ sau khi cuộc đàm phán của hai bên tạm dừng, các vụ việc tranh chấp ở biên giới ngày càng gia tăng, tình hình rất căng thẳng, đến đầu năm 1979 Trung Quốc cho quân xâm lược Việt Nam, những tranh chấp ở vùng biên đã lên tới đỉnh điểm - xung đột biên giới.

3) Kết thúc xung đột biên giới, việc đàm phán được nối lại. Đợt đàm phán thứ ba diễn ra qua hai vòng họp cấp Thứ trưởng Ngoại giao. Vòng I họp tại Hà Nội từ ngày 18-4-1979 đến ngày 18-5-1979 với 5 phiên họp toàn thể. Tại vòng họp này, phía Việt Nam đưa ra đề nghị "ba điểm" trong điểm 3 nêu rõ việc giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ lửa hai nước tuân theo nguyên tắc tôn trọng nguyên trạng đường biên giới do lịch sử để lại và đã được hoạnh định bởi các Công ước 1887 và 1895 do Chính phủ Pháp và nhà Thanh ký kết và đã được phía Việt Nam và phía Trung Quốc đồng ý chấp nhận". Vòng II họp tại Bắc Kinh từ ngày 25-6-1979 đến ngày 6-3-1980 với 10 phiên họp toàn thể. Cuộc họp này chủ yếu hai bên chỉ trích lẫn nhau về việc để xảy ra chiến tranh biên giới tháng 2-1979, không đề cập gì đến giải quyết thực chất vấn đề biên giới. Tuy nhiên, hai bên cũng đã bàn bạc về những biện pháp đảm bảo hoà bình, ổn định trên vùng biên giới, thoả thuận không bên nào đóng quân trên các điểm cao biên giới và dàn quân đội về phía sau.

Trong những năm 80, hai bên cũng có những cuộc thương lượng về vấn đề biên giới lãnh thổ, nhưng vì tình hình quan hệ hai nước chưa thuận lợi nên vấn đề vẫn chưa được giải quyết.

Tóm lại, cho đến trước khi Việt Nam và Trung Quốc ký kết Hiệp định tạm thời năm 1991, do quan hệ hai nước có nhiều trở ngại cùng với những tác động của nhiều nhân tố tiêu cực khác, nên nặc dù đã có những sự nỗ lực chung trong đàm phán giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa hai nước, song kết quả là đã không đạt được thoả thuận nào.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:48:02 PM
2.2. Đàm phán ký kết Hiệp định tạm thời năm 1991 và Thoả thuận nguyên tắc năm 1993

1) Từ sau năm 1980, tình hình quan hệ Việt Nam - Trung Quốc lắng dịu dần. Đến cuối năm 1990, hai nước bình thường hoá quan hệ ngoại giao. Hai bên nối lại đàm phán nhằm đi đến một giải pháp lâu dài cho vấn đề biên giới lãnh thổ Việt - Trung và tập trung trước tiên vào vấn đề biên giới trên đất liền. Việc bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đã đáp ứng mong mỏi của nhân dân hai nước, phù hợp với xu thế mở rộng hợp tác đối thoại trong khu vực và trên toàn thế giới, đồng thời là cơ sở để hai nước cùng nhau giải quyết những vấn đề còn tồn đọng, trong đó có vấn đề biên giới lãnh thổ.


Từ ngày 7 đến ngày 10-11-1991, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Kiệt thăm chính thức nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, đã mở ra một chương mới trong quan hệ hai nước Việt Nam - Trung Quốc. Tổng Bí thư Đỗ Mười và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Giang Trạch Dân đã thoả thuận: "Hai bên đồng ý thông qua thương lượng giải quyết hoà bình vấn đề biên giới lãnh thổ... tồn tại giữa hai nước" và đồng ý tiếp tục có những biện pháp cần thiết nhằm giữ gìn hoà bình và an ninh ở vùng biên giới, xây dựng đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành đường biên giới hoà bình, hữu nghị.


Nhân dịp này, ngày 7-11-1991 tại Bắc Kinh, đại diện Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã ký kết "Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới hai nước giữa Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa", tạo ra bước ngoặt mới cho việc giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc.


Hiệp định gồm 7 chương, với 14 điều khoản chủ yếu sau:

Chương I có một điều quy định về giữ gìn biên giới, với nội dung chính là quy định về quyền và nghĩa vụ của hai bên trong việc quản lý, giữ gìn đường biên giới và mốc giới giữa hai nước. Xác định việc giải quyết mọi vấn đề về biên giới thuộc thẩm quyền của Chính phủ Trung ương hai nước.

Chương II gồm 4 điều từ điều 2 đến điều 5, quy định về sản xuất và các hoạt động khác ở vùng biên giới.
Các hoạt động liên quan đến dòng chảy ở biên giới phải tiến hành theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng lợi ích của nhau, tránh làm thay đổi dòng chảy biên giới.

Các hoạt động ở vùng gần biên giới phải bảo đảm an toàn cho mốc giới, người và gia súc. Cấm dân vượt biên thực hiện các hoạt động phi pháp. Bảo đảm an mình trên không vùng biên giới.

Chương III gồm điều 6 và điều 5, quy định việc qua lại của nhân dân vùng biên giới.

Quy định cụ thể về việc xuất nhập cảnh và quản lý việc xuất nhập cảnh của nhân dân vùng biên giới hai nước.

Quyết định mở 21 cặp cửa khẩu trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, trong đó có 4 cặp cửa khẩu quốc tế (Đồng Đăng - Bằng Tường, Hữu Nghị - Hữu Nghị Quan, Móng Cái - Đông Hưng, Lào Cai - Hà Khẩu); 03 cặp cửa khẩu quốc gia (Tà Lùng - Thuỷ Khẩu, Ma Lu Thàng - Kim Thuỷ Hà, Thanh Thuỷ - Thiền Bảo) và 14 cặp cửa khẩu địa phương. Ngoài 21 cặp của khẩu nói trên, chính quyền các tỉnh biên giới Trung Quốc và Việt Nam còn thoả thuận mở các đường qua lại tạm thời trong các trường hợp đặc biệt.

Chương IV có một điều 8, quy định về quản lý trị an biên giới.

Quy định về sự hợp tác giữ gìn trật tự trị an xã hội vùng biên giới hai nước.

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc phòng chống tội phạm, xử lý những vi phạm về quy định quản lý biên giới.

Chương V gồm điều 9 và điều 10, quy định về mậu dịch biên giới và mậu dịch địa phương.

Quy định việc mở các điểm chợ và chợ biên giới, biện pháp thực hiện cụ thể về mậu dịch biên giới và mậu dịch địa phương thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương cấp tỉnh biên giới hai bên.

Quyền thu thuế, trách nhiệm ngăn cấm hàng cấm và hàng buôn lậu.

Chương VI gồm điều 11 và điều 12, quy định về chế độ liên hệ giữa chính quyền địa phương hai bên vùng biên giới.

Xây dựng chế độ liên hệ tương ứng giữa chính quyền địa phương hai nước ở các tỉnh có chung đường biên giới theo phương thức hội đàm.

Chính quyền địa phương hai bên giải quyết và thực hiện những việc được Chính phủ trung ương uỷ quyền.

Quản lý, kiểm tra, giừ gìn đoạn biên giới và các mốc giới trong địa phận mình quản lý.

Vấn đề dân sự, trị an ở vùng biên giới. Những việc khác được Chính phủ hai nước đồng ý để chính quyền địa phương hai bên giải quyết.

Chính quyền địa phương cấp huyện hai bên vùng biên giới có thể liên hệ nghiệp vụ với nhau nếu được chính quyền cấp tỉnh phê duyệt.

Các ngành liên quan quản lý đường biên giới, vùng biên giới của hai bên có thể liên hệ nghiệp vụ với nhau.

Chương VII gồm điều 13 và điều 14, quy định điều khoản cuối cùng.

Giải thích các cụm từ "dòng chảy biên giới", “dân biên giới", "vùng biên giới" được gọi trong Hiệp định và quy định thời gian bắt đầu có hiệu lực của Hiệp định là kể từ ngày ký.

Như vậy trong khi chờ đợi một văn bản chính thức về quản lý hành chính biên giới quốc gia giữa hai nước (thường gọi là Hiệp định về quy chế biên giới), hai bên đã thoả thuận tạm thời giải quyết các công việc trên vùng biên giới hai nước theo quy định của hiệp đính tạm thời trên đây. Vì vậy, Hiệp định tạm thời năm 1991 có ý nghĩa rất to lớn, góp phần giữ gìn ổn định, an ninh, trật tự ở vùng biên giới, xây dựng đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành đường biên giới hoà bình, hữu nghị lâu dài.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:51:42 PM
2) Tháng 12-1992, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Bằng cùng tuyên bố. "Hai bên khẳng định lại những thoả thuận đạt được trong cuộn gặp cấp cao hai nước năm 1991 là thông qua đàm phán hoà bình giải quyết các vấn đề tranh chấp về biên giới lãnh thổ giữa hai nước". Lãnh đạo hai nước quyết định: "đồng thời với việc tiếp tục đàm phán cấp chuyên viên sẽ sớm bắt đầu đàm phán cấp Chính phu”.

Thực hiện thoả thuận trên, đợt đàm phán lần thứ tư bắt đầu diễn ra qua hai vòng họp cấp Vụ trưởng, vòng I họp tại Bắc Kinh từ ngày 12 đến ngày 17-10-1992, vòng II họp tại Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 18-2- 1993. Trong đợt đàm phán này, hai bên chuẩn bị xong dự thảo Thoả thuận, được lãnh đạo hai nước phê duyệt. Đến ngày 19-10-1993, tại Hà Nội, Thứ trưởng Ngoại giao hai nước đã ký "Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa". Trong Thoả thuận này, hai bên đề ra mục tiêu đàm phán để giải quyết ba vấn đề là xác định đường biên giới trên đất liền, phân định vịnh Bắc Bộ và tìm ra một giải pháp lâu dài cho vấn đề trên biển. Thoả thuận này gồm ba phần, với những nội dung chủ yếu sau:

Phần I quy định những nguyên tắc cơ bản mà hai bên sẽ tuân thủ khi giải quyết các vấn đề về biên giới lãnh thổ:

Thông qua thương lượng giải quyết hoà bình các vấn đề biên giới lãnh thổ.

Trong khi đàm phán giải quyết vấn đề, hai bên sẽ không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tranh chấp, không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực.

Hai bên căn cứ vào tiêu chuẩn và nguyên tắc pháp luật quốc tế được công nhận và tham khảo thực tiễn quốc tế để giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ.

Phần II nêu ra một loạt các nguyên tắc quan trọng liên quan đến cách thức giải quyết vấn đề biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

Một là, Việt Nam và Trung Quốc đồng ý căn cứ vào Công ước ngày 26-6-1887 và Công ước ngày 20-6-1895, các biên bản và bản đồ hoạch đỉnh, phân giới kèm theo cũng như các mốc giới cắm đúng quy định để xác định lại đường biên giới.

Hai là, hai bên trao trả cho nhau vô điều kiện các khu vực do hai bên quản lý quá đường biên giới được hoạch định. Đối với một số vùng cá biệt hai bên có thể xem xét điều chỉnh nhằm tạo thuận lợi cho việc quản lý biên giới trên tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, công bằng, hợp lý.

Ba là, đường biên giới trên sông, suối sẽ được giải quyết theo pháp luật và thực tiễn quốc tế.

Bốn là, hai bên sẽ lập nhóm công tác liên hợp (cấp chuyên viên) để đàm phán giải quyết. Sau khi giải quyết xong các khu vực có nhận thức khác nhau thì sẽ soạn thảo để trình ký hiệp ước về biên giới Việt Nam - Trung Quốc.

Phần III nêu ra các nguyên tắc liên quan đến phân định vịnh Bắc Bộ.

Hai bên đồng ý áp dụng luật biển quốc tế và tập quán quốc tế để đàm phán phân định vịnh Bắc Bộ. Tuân theo nguyên tắc công bằng và hoàn cảnh hữu quan trong vịnh Bắc Bộ để đi đến một giải pháp công bằng.
Hai bên sẽ lập nhóm công tác hên hợp phân định để xác định đường biên giới trong vịnh Bắc Bộ, dự thảo và trình đại diện toàn quyền hai nước ký hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ.


Tóm lại, bản Thoả thuận đã đề ra các nguyên tắc, cách thức để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền và trên biển giữa hai nước. Ngoài ra nó còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tạo ra một nền tảng căn bản để sau này các bên trong quá trình đàm phán giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ phải tuân theo những tiêu chí đã được lãnh đạo cấp cao hai nước thoả thuận, góp phần phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện giữa hai nước trên cơ sở năm nguyên tắc đã nêu trong khoản 1 phần I: Thoả thuận này là: "Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình".


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:54:54 PM
2.3. Đàm phán ký kết Hiệp ước biên giới trên đất liền năm 1999

Thực hiện Thoả thuận về nguyên tắc năm 1993, từ năm 1994 đến cuối năm 1999, hai bên tiến hành 6 vòng đàm phán cấp Chính phủ và 16 vòng đàm phán ở cấp Nhóm công tác liền hợp, 3 vòng họp Nhóm soạn thảo Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

Hai bên thành lập Nhóm công tác liên hợp (Nhóm chuyên viên) để đàm phán. Từ năm 1994, Nhóm công tác liên hợp đã xúc tiến các cuộc đàm phán giải quyết các vấn đề cụ thể về biên giới.

Vấn đề đầu tiên cần phải giải quyết là xây dựng hoặc lựa chọn bộ bản đồ địa hình làm cơ sở thể hiện đường biên giới theo Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và 1895. Hai bên thống nhất tiến hành việc thể hiện biên giới theo Công ước Pháp - Thanh lên bản đồ theo quan điểm và nhận thức của mỗi bên về vị trí đường biên giới. Thực tế là hai bên tự xác định "đường biên giới chủ trương" của mình rồi cùng nhau trao đổi. Phía Việt Nam đã đề nghị hai bên cùng đo vẽ lập bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 ở khu vực biên giới, trên cơ sở đó sẽ thể hiện đường biên giới chủ trương để làm cơ sở đàm phán.


Thực tế tại thời điểm này phía Việt Nam chưa có một bộ bản đồ địa hình hoàn chỉnh nào bao trùm toàn bộ chiều dài biên giới hai nước (mọi tỷ lệ). Các loại bản đồ khu vực biên giới hiện có thì có độ chính xác không cao. Phía Trung Quốc đồng ý tỷ lệ bản đồ địa hình để thể hiện đường biên giới là tỷ lệ 1/50.000 và để tiết kiệm thời gian, Trung Quốc sẽ trao cho phía Việt Nam bộ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 hiện có, nếu phía Việt Nam chấp nhận thì sẽ lấy bộ bản đồ đó để thể hiện đường biên giới chủ trương của mỗi bên và coi bộ bản đồ này là bộ bản đồ công tác của hai bên.


Sau khi nhận bộ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 của Trung Quốc, các cơ quan kỹ thuật của Việt Nam đã kiểm tra và đối chiếu địa hình thực tế và kiến nghị có thể sử dụng bộ bản đồ này làm bộ bản đồ công tác giữa hai bên.


Về phần địa danh trên bản đồ, phía Việt Nam đề nghị sẽ tiến hành hiệu chỉnh phần địa danh phía Việt Nam bằng tiếng Việt và kết quả giải quyết biên giới lãnh thổ giữa hai nước sẽ thể hiện trên bản đồ đã được phía Việt Nam hiệu chỉnh địa danh.


Ngày 30-6-1994, hai bên đã trao cho nhau bộ bản đồ thể hiện đường biên giới chủ trương do mỗi bên tự xác định trên cơ sở căn cứ vào việc giải thích các Công ước Pháp - Thanh. Qua đối chiếu, phần lớn đường biên giới chủ trương của hai bên trùng khớp với nhau. Các khu vực khác biệt không nhiều, gồm ba loại: Loại A là các khu vực khác nhau do lỗi kỹ thuật; loại B là các khu vực cả hai bên cùng chưa vẽ tới; loại C là các khu vực khác nhau do hai bên có quan điểm khác biệt. Cụ thể:

Trong tổng chiều dài 1.406 km đường biên giới thì đường chủ trương của hai bên trùng khớp nhau gần 900 km, tức là không có tranh chấp (chiếm khoảng 67% tổng chiều dài đường biên giới bộ giữa hai nước). Còn lại khoảng 506 km (33%) đường biên giới còn có sự khác biệt giữa hai bên, gồm 289 khu vực, cụ thể:

+ Loại A có 74 khu vực do hai bên vẽ chồng lấn lên nhau (gọi là các khu vực do lỗi kỹ thuật, tổng diện tích khoảng 1,87 km2).

+ Loại B có 51 khu vực do cả hai bên đều chưa vẽ tới (tạo thành vùng bỏ trắng, với tổng diện tích khoảng 3,062 km2).

+ Loại C có 164 khu vực do hai bên có nhận thức khác nhau, có tranh chấp, tổng diện tích khoảng 227 km2.

Tổng diện tích các khu vực loại A và loại B không lớn (chỉ khoảng 5 km2). Hai bên chủ yếu tập trung vào bàn giải quyết các khu vực C (tổng diện tích rộng khoảng 227 km2).

Trong đàm phán, đối với các khu vực loại A và các khu vực loại B, hai bên thống nhất giải quyết khá nhanh. Riêng các khu vực loại C, do quan điểm của hai bên khác nhau và còn có một số khu vực đang có tranh chấp ở trên thực địa nên giải quyết khó khăn.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2012, 07:58:20 PM
Đến vòng họp 12 của Nhóm công tác liên hợp (từ ngày 26-5-1998 đến ngày 5-6-1998), hai bên đã hoàn thành việc đối chiếu sơ bộ hướng đi của đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc đối với 164 khu vực C nói trên. Qua đối chiếu sơ bộ thì thấy việc giải quyết các khu vực này không thể giải quyết được theo thẩm quyền của Nhóm. Vì vậy hai bên nhất trí báo cáo lên cấp trên giải quyết. Theo đó, trong cuộc họp vòng VI cấp Chính phủ, hai bên đã thoả thuận phân loại 164 khu vực C thành ba loại và thống nhất nguyên tắc giải quyết đối với từng loại cụ thể như sau:

Lấy các Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và năm 1895 cùng các văn kiện, bản đồ hoạch định và cắm mốc biên giới kèm theo cũng như các mốc giới cắm theo quy định làm căn cứ để đối chiếu và phân các khu vực hai bên có nhận thức khác nhau thành loại "rõ ràng" và loại “không rõ ràng" để giải quyết theo hướng:

+ Loại rõ ràng thì căn cứ vào các quy định của hai Công ước Pháp - Thanh để giải quyết, nếu bên nào giải quyết quá thì trao lại cho bên kia.

+ Loại không rõ ràng thì sử dụng tổng hợp các yếu tố khác nhau (lịch sử, quản lý, địa hình, bản đồ lịch sử, mốc giới, tiện lợi cho quản lý) để giải quyết theo tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, công bằng, hợp lý.

Các khu vực dân cư hai bên đã sinh sống lâu đời thì duy trì cuộc sống ổn định của dân cư.

Đối với những đoạn biên giới theo sông, suối, những đoạn đã được hai công ước Pháp - Thanh quy định rõ ràng thì theo hai Công ước, còn những đoạn chưa được hai Công ước quy định rõ ràng thì giải quyết theo những nguyên tắc của pháp luật quốc tế và thực tiễn quốc tế, cụ thể là:

+ Đường biên giới trên các đoạn sông, suối, tàu, thuyền đi lại được thì theo trung tâm luồng chính tàu thuyền qua lại.

+ Đường biên giới trên các đoạn sông, suối tàu thuyền không đi lại được thì đi theo trung tâm của dòng chảy hoặc dòng chính.

Đối với các khu vực có pháo đài lịch sử của các bên thì giải quyết trên cơ sở tôn trọng quyền của bên hữu quan đối với các pháo đài đó.

Cũng trong cuộc họp vòng VI cấp Chính phủ, hai bên thoả thuận thúc đẩy nhanh cường độ đàm phán, số lần đàm phán để hoàn thành việc đối chiếu xử lý 164 khu vực C tuần tự từ Tây sang Đông để có báo cáo kết luận cuối cùng lên cuộc họp vòng VII cấp Chính phủ vào năm 1999 để thực hiện quyết tâm của lãnh đạo cấp cao hai nước là sẽ ký Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc trước năm 2000.


Thực hiện quyết tâm của lãnh đạo cấp cao hai nước, Nhóm công tác liên hợp về biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã tập trung lực lượng, thời gian cùng nhau nghiên cứu đề xuất các giải pháp trình lãnh đạo các cấp giải quyết dứt điểm các vấn đề.


Theo các nguyên tắc đã đạt được trên đây, các vấn đề lần lượt được hai bên tháo gỡ, giải quyết. Hai bên đã cơ bản giải quyết xong toàn bộ các khu vực có nhận thức khác nhau và thống nhất được một đường biên giới duy nhất được thể hiện trên bản đồ, trong đó có bốn khu vực đường biên giới còn vẽ nét đứt (186, 188, 189, 289) sẽ giải quyết sự quy thuộc cồn bãi theo nguyên tắc sông, suối khi hai bên tiến hành phân giới, cắm mốc.


Đối với các khu vực loại C, là những khu vực phức tạp, nhạy cảm, hai bên đã tập trung nhiều thời gian đàm phán giải quyết, kết quả cụ thể như sau: Trong 164 khu vực (với tổng diện tích thực tế là 225,4 km2), quy thuộc cho Việt Nam khoảng 110,6 km2, quy thuộc cho Trung Quốc khoảng 114,8 km2. Về số lượng khu vực đã giải quyết có 46 khu vực theo đường biên giới chủ trương của Việt Nam, 44 khu vực theo đường chủ trương của Trung Quốc và 70 khu vực theo địa hình và thực tế quản lý. Trong đó có 18 khu vực gắn với đường chủ trương của Việt Nam, 21 khu vực gắn với đường chủ trương của Trung Quốc, 31 khu vực theo đường "đại để chia đôi" trên cơ sở đường chủ trương của cả hai bên.


Đối với một số ít khu vực dân cư hai bên đã sinh sống lâu đời thì duy trì ổn định cuộc sống của dân cư, kể cả ở khu vực dân cư Việt Nam ở giữa đường biên giới pháp lý.

Các khu vực sông, suối được giải quyết theo các nguyên tắc đã nêu ở trên và trong Hiệp ước sau này cũng chỉ ghi nguyên văn các nguyên tắc đó.

Đối với các pháo đài của chính quyền Pháp và nhà Thanh thì của bên nào, thuộc bên đó. Đối với các điểm cao có chốt quân sự Trung Quốc đóng sau năm 1979, giải pháp đạt được là: Phù hợp với quy định của Công ước Pháp - Thanh, các điểm cao nằm trong lãnh thổ Việt Nam được trả lại cho Việt Nam, còn đối với các điểm cao nằm trên đường biên giới thì đường biên giới đi qua chúng, theo luật pháp quốc tế không bên nào được phép đóng quân trên đường biên giới. Riêng ở khu vực 74C thuộc xã Thanh Thuỷ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang (có bốn chốt quân sự của Trung Quốc) thì đường biên giới đi theo đường chủ trương của Việt Nam, chỉ tránh một phần nhỏ (khoảng 0,77 ha) đối với một đỉnh cao.


Khu vực cửa khẩu Hữu Nghị (khu vực 249 C) bao gồm cột km số 0 điểm nối ray đường sắt được giải quyết như sau: ở khu vực cửa khẩu biên giới đi qua cột km số 0; ở khu vực đường sắt biên giới đi qua phía Bắc điểm nối ray và "nhà mái bằng" mà phía Trung Quốc xây tháng 5 năm 1992 khoảng 148 m (tức là điểm nối ray, "nhà mái bằng" đề nằm ở phía Việt Nam).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2012, 08:00:37 PM
Từ năm 1998, đồng thời với việc đàm phán giải quyết các khu vực có nhận thức khác nhau, hai bên xúc tiến ba vòng đàm phán tập trung soạn thảo Hiệp ước biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

Tại các cuộc họp vòng I và vòng II của Nhóm soạn thảo Hiệp ước, hai bên đã cơ bản thống nhất được khung pháp lý của Hiệp ước gồm 8 điều, trong đó riêng điều II được quy định để mô tả hướng đi của đường biên giới và phân chia biên giới thành 61 đoạn, thống nhất được 62 giới điểm.


Tại cuộc họp vòng III, trên cơ sở kết quả đạt được của Nhóm công tác liên hợp và đường biên giới được hai bên thống nhất trên bộ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000. Nhóm soạn thảo Hiệp ước đã hoàn thành toàn bộ việc soạn thảo văn bản Hiệp ước biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc.


Ngày 30-12-1999, Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã được Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đại diện Chính phủ Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đường Gia Triền, đại diện Chính phủ Trung Quốc cùng nhau ký kết tại Hà Nội.


Nội dung của Hiệp ước gồm Phần mở đầu và 8 điều khoản, trong đó có 7 điều mang tính nguyên tắc chung và một điều mô tả chi tiết hướng đi của đường biên giới (Điều II). Những nội dung chủ yếu của Hiệp ước là:

Phần mở đầu của Hiệp ước đã khẳng định mục đích của việc ký kết hiệp ước này là nhằm giữ gìn và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước, xây dựng đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc thành biên giới hoà bình, ổn định và bền vững mãi mãi trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình.

Điều I xác định cơ sở để hai bên giải quyết vấn đề biên giới và xác định lại đường biên giới đất liền giữa hai nước là dựa vào các Công ước lịch sù về biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc (Công ước Pháp - Thanh năm 1887 và năm 1895), các nguyên tắc pháp luật quốc tế được công nhận và các thoả thuận đạt được trong quá trình đàm phán về vấn đề biên giới Việt Nam - Trung Quốc.

Việc hai bên lấy các Công ước lịch sử về biên giới hiện nay giữa Việt nam và Trung Quốc làm cơ sở để giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước đã thể hiện sự thừa nhận của hai nước đối với tính pháp lý của đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc đã được hoạch định trong hai Công ước trên.

Điều II là điều khoản quan trọng nhất và cũng là điều khoản dài nhất của Hiệp ước. Điều này mô tả chi tiết, cụ thể hướng đi của đường biên giới.

Đường biên giới được mô tả trong Điều II cơ bản như đường biên giới đã được chính quyền Pháp và nhà Thanh hoạch định trước đây, tức là đi theo đường phân thuỷ, theo sống núi, theo sông, suối hoặc theo các dạng địa hình đặc trưng khác.

Phân chia toàn bộ đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc thành 61 đoạn có chung tính chất về địa hình, được xác định bằng 62 giới điểm, đánh số từ giới điểm số 1 đến số 62 theo hướng từ Tây sang Đông, trong đó:

Có 21 giới điểm có độ cao xác định.
 
Có 19 giới điểm ở giữa sông, suối biên giới.

Có 9 giới điểm ở hợp lưu sông, suối.

Có 5 giới điểm ở khe núi, đỉnh núi.

Còn lại là các giới điểm ở các địa điểm khác (như giữa đường giao thông, bằng khoảng cách bởi điểm cao xác định).


Trừ giới điểm số 62 là điểm cắt của trung tuyến luồng chính tàu thuyền đi lại được của sông Ka Long với đường đóng cửa sông cũng là điểm tiếp nối đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Còn lại từ giới điểm số 1 đến giới điểm số 61 đều được mô tả xác định vị trí trên cơ sở các điểm chuẩn ở gần đường biên giới, mỗi giới điểm được xác định bằng ba điểm chuẩn nằm trong lãnh thổ hai nước (thông thường là ở giới điểm này có một điểm chuẩn nằm trên lãnh thổ Việt Nam và hai điểm chuẩn nằm trên lãnh thổ Trung Quốc thì ở giới điểm khác sẽ có một điểm chuẩn nằm trên lãnh thổ T rung Quốc và hai điểm chuẩn nằm trên lãnh thổ Việt Nam). Theo đó, các điểm chuẩn có độ cao xác định với tổng số 183 điểm trong đó có 96 điểm trong lãnh thổ Việt Nam và 87 điểm trong lãnh thổ Trung Quốc.


Ngoài ra, Hiệp ước còn mô tả đường biên giới đi qua 496 điểm có độ cao xác định. Tổng số các điểm chưa có độ cao xác định nêu trong Hiệp ước là 679 với độ cao thấp nhất là 100 m, cao nhất là trên 2.000 m.

Điểm cực Đông của đường biên giới đất hến giữa hai nước là điểm gặp nhau giữa đường trung tuyến luồng chính tàu thuyền đi lại được của sông Bắc Luân với điểm tiếp nối của hai đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam và Trung Quốc. Điểm cực Tây là vị trí ngã ba biên giới ba nước Việt Nam, Trung Quốc và Lào.


Những cồn bãi trên sông, suối đã được xác định thuộc bên này hoặc bên kia thì được thể hiện trên bản đồ kèm theo Hiệp ước, đồng thời lời văn hiệp ước cũng khẳng định rõ là những cồn bãi nằm hai bên đường đỏ trên bản đồ làm theo hiệp ước đã được quy thuộc.


Toàn bộ đường biên giới được thể hiện trên bộ bản đồ tỷ lệ 1/50.000 gồm 34 mảnh có chữ ký của đại diện toàn quyền hai nước, là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước.

Việc thống nhất mô tả đường biên giới giữa hai nước theo Điều II của Hiệp ước này cho thấy hai bên đã có nhận thức giống nhau về đường biên giới khi hoạch định giữa hai nước. Điều này có nghĩa là trong khoảng 1.350 km đường biên giới đã được hoạch định trong hai Công ước Pháp - Thanh, ngoài hai phần ba đường biên giới (khoảng 900 km) hai bên đã thống nhất thì còn khoảng một phần ba đường biên giới hai bên có nhận thức khác nhau nhưng đã được giải quyết xong. Việc giải quyết này dựa vào thoả thuận mà hai bên đạt được trong quá trình đàm phán từ năm 1993 đến năm 1999.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 24 Tháng Ba, 2012, 08:01:34 PM
Điều III quy định rằng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa sẽ cùng với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào xác định chính xác điểm gặp nhau của đường biên giới giữa ba nước.

Điều IV quy định vùng trời (biên giới trên không và vùng lòng đất (biên giới lòng đất) giữa Việt Nam và Trung Quốc được xác định dựa trên mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới trên đất hến giữa hai nước nói tại điều II của Hiệp ước này.

Điều V quy định nguyên tắc xác định đường biên giới theo sông, suối: Đối với những đoạn lấy sông, suối làm biên giới thì ở những đoạn sông, suối tàu thuyền không đi lại được, đường biên giới đi theo trung tuyến của dòng chảy hoặc của dòng chảy chính; ở những đoạn sông, suối tàu thuyền đi lại được, đường biên giới đi theo luồng chính tàu thuyền đi lại được. Việc xác định chính xác vị trí của đường biên giới theo sông, suối cũng như tiêu chẩn để xác định sẽ được hai bên tiến hành khi phân giới cắm mốc.

Trong phần cuối của Điều V khẳng đinh mọi sự thay đổi xảy ra đối với sông, suối biên giới đều không làm thay đổi hướng đi của đường biên giới, không ảnh hưởng đến vị trí của đường biên giới giữa hai nước trừ khi hai bên có thoả thuận khác.

Điều VI của Hiệp ước quy định việc hai bên thành lập Uỷ ban liên hợp phân giới cắm mốc, với nhiệm vụ:
Tiến hành phân giới và cắm mốc, cụ thể là xác định vị trí chính xác của đường sống núi, đường phân thuỷ, trung tuyến dòng chảy, dòng chảy chính, luồng chính tàu, thuyền đi lại và các đoạn đường biên giới khác.
Xác định rõ sự quy thuộc của các cồn bãi trên sông, suối.

Cùng nhau cắm mốc giới trên thực địa.

Soạn thảo Nghị định thư về biên giới đất liền giữa hai nước.

Vẽ bộ bản đồ chi tiết đính kèm Nghị định thư thể hiện hướng đi của đường biên giới và vị trí các mốc giới trên toàn tuyến biên giới để hai Chính phủ ký kết.

Sau khi có hiệu lực, Nghị định thư sẽ trở thành một bộ phận không tách rời của Hiệp ước và bộ bản đồ chi tiết đính kèm Nghị định thư sẽ thay thế bộ bản đồ đính kèm Hiệp ước.

Uỷ ban liên hợp phân giới cắm mốc bắt đầu công việc ngay sau khi Hiệp ước có hiệu lực và chấm dứt hoạt động sau khi Nghị định thư và bản đồ chi tiết đính kèm về đường biên giới trên đất liền giữa hai nước được ký kết và có hiệu lực.

Điều VII của Hiệp ước quy định về việc ký kết một hiệp định về quy chế quản lý biên giới giữa hai nước thay thế cho Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ký ngày 07 tháng 11 năm 1991.
Điều VIII là điều khoản cuối cùng của Hiệp ước quy định về thời gian bắt đầu có hiệu lực của Hiệp ước là kể từ ngày hai bên trao đổi các văn kiện phê chuẩn.


Tóm lại, Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc là sự tuân thủ và áp dụng một cách sáng tạo các nguyên tắc pháp luật quốc tế và thực tiễn quốc tế của Việt Nam và Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền giữa hai nước. Hiệp ước đã giải quyết toàn bộ, không để lại khu vực tranh chấp nào, những khu vực mà trước đây hai nước có nhận thức khác nhau cũng được giải quyết một cách thoả đáng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với nguyên tắc pháp luật quốc tế và thực tiễn quốc tế.


Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc ký năm 1999 tại Hà Nội là một sự kiện có ý nghĩa trọng đại đối với Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc. Với Hiệp ước này, lần đầu tiên trong quan hệ hai nước, Việt Nam và Trung Quốc đã giải quyết dứt điểm được một trong những vấn đề khó khăn, phức tạp nhất do lịch sử để lại và cũng là một trong ba vấn đề biên giới lãnh thổ tồn tại lâu nay với Trung Quốc (vấn đề biên giới trên đất liền, vấn đề phân định vịnh Bắc Bộ, vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa). Việc xác định rõ ràng hơn đường biên giới trên đất liền tạo điều kiện quản lý và duy trì ổn định vùng biên giới, biến biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định lâu dài, góp phần tăng cường sự tin cậy lẫn nhau và thúc đẩy quan hệ hợp tác mọi mặt giữa hai nước. Hiệp ước biên giới Việt - Trung năm 1999 còn là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết và tiến tới loại trừ những mầm mống nảy sinh tranh chấp trong tương lai, đảm bảo sự ổn định bền vững lâu dài của đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc.


Việc ký kết Hiệp ước biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc là một bước tiến rất quan trọng của cả hai nước. Cái được lớn nhất là từ nay giữa hai nước có một đường biên giới rõ ràng và ổn định. Hiệp ước đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước, trước hết là nhân dân vùng biên giới và đáp ứng yêu cầu gìn giữ hoà bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á. Sau Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam - Lào năng 1977 và Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam - Campuchia năm 1985, Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc 1999 đã hoạch định xong tuyến biên giới trên đất liền cuối cùng nhưng lại là tuyến biên giới quan trọng nhất của Việt Nam, khẳng định trên thực tế thoả thuận 16 chữ vàng giữa hai Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc là xây dựng quan hệ Việt Nam - Trung Quốc "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Hiệp ước là thắng lợi của nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, tạo điều kiện xây dựng một đường biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định và bền vững lâu dài, mở ra bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt - Trung cũng như tập trung xây dựng đất nước. Hiệp ước đánh dấu bước mở đầu và thể hiện rõ quyết tâm của hai Đảng, hai Chính phủ, hai dân tộc Việt Nam - Trung Quốc trong việc giải quyết bằng thương lượng hoà bình tất cả các vấn đề biên giới lãnh thổ còn tồn đọng trong quan hệ hai nước. Đồng thời, hiệp ước này phản ánh xu thế chung của thời đại và đóng góp vào việc khẳng định các nguyên tắc chung của luật quốc tế: đàm phán hoà bình giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ; không sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp quốc tế. Hiệp ước góp phần củng cố hoà bình, an ninh trong khu vực, khẳng định vai trò của hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong đảm bảo hoà bình, ổn định của khu vực cũng như trong phạm vi thế giới.


Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc chỉ là giai đoạn đầu - giai đoạn hoạch định. Để có một đường biên giới thực sự hoàn chỉnh, rõ ràng, hai nước còn phải tiếp tục thực hiện công tác phân giới cắm mốc trên thực địa. Đây là công việc khó khăn, phức tạp, gian nan, đòi hỏi không ít thời gian, nhân lực, vật lực phải làm việc nghiêm túc với tinh thần trách nhiệm cao. Hiện nay, cả hai bên Việt Nam và Trung Quốc đã cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị chu đáo mọi điều kiện, phương tiện kỹ thuật và đang phối hợp chặt chẽ với nhau tiến hành công tác này. Trong tương lai gần, giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc sẽ có một đường biên giới quốc tế trên đất liền hoàn chỉnh.


Ngày 9-6-2000, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định phê chuẩn "Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa". Trước đó, ngày 29-4-2000, Uỷ ban Thường vụ Quốc vụ viện Trung Quốc đã ra quyết định về việc phê chuẩn và Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã phê chuẩn Hiệp ước này.


Ngày 6-7-2000, tại trụ sở Bộ Ngoại giao Trung Quốc (Bắc Kinh), hai Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới Việt Nam và Trung Quốc được sự uỷ nhiệm của Chủ tịch nước mình, đã tiến hành trao đổi văn kiện phê chuẩn Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa hai nước và cùng ký biên bản trao đổi văn kiện phê chuẩn.
Như vậy, phù hợp với Điều VIII của Hiệp ước, kể từ ngày 6- 7- 2000, "Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa" đã chính thức có hiệu lực thi hành.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 31 Tháng Ba, 2012, 09:51:17 AM
3. ĐÀM PHÁN VỀ PHÂN GIỚI, CẮM MỐC BIÊN GIỚI ĐẤT LIỀN VIỆT NAM - TRUNG QUỐC

Sau khi Hiệp ước được Quốc hội hai nước phê chuẩn và có hiệu lực thi hành từ tháng 7-2000, Việt Nam và Trung Quốc đã thành lập Uỷ ban liên hợp phân giới, cắm mốc biên giới đất liền để tiến hành phân giới và cắm mốc giới trên toàn tuyến biên giới đất liền giữa hai nước (gồm 12 đoạn biên giới được đánh số theo chiều từ Tây sang Đông với 1.373 vị trí mốc tương ứng 1.532 cột mốc - 1.246 mốc đơn, 95 mốc đôi, 32 mốc ba và 01 mốc ngã ba biên giới Việt - Lào - Trung). Công việc này được chính thức triển khai từ năm 2001, dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2008(1) (Điểm 5 Thông cáo chung Việt Nam - Trung Quốc trong chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đức Lương từ ngày 18 đến ngày 22-7-2005).


3.1. Các nguyên tắc cơ bản của phân giới, cắm mốc biên giói đất liền Việt Nam - Trung Quốc

Công việc hoạch định và phân giới cắm mốc thường phải do hai quốc gia hữu quan (có chung đường biên giới) cùng tiến hành theo những nguyên tắc, thủ tục, phương pháp phù hợp nguyên tắc pháp luật quốc tế và thực tiễn quốc tế. Hoạch định biên giới là việc hai bên thương lượng về vị trí và hướng đi của đường biên giới, thể hiện rõ tính chính trị và pháp lý của đường biên giới. Phân giới cắm mốc là việc cụ thể hoá đường biên giới đã được hoạch định ở trên thực địa, tức là hai bên cùng nhau di phân vạch cụ thể đường biên giới, đánh dấu rõ ràng, chính xác đường biên giới đã được phân vạch ở thực địa và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình phân giới, cắm mốc. Nói cách khác, phân giới cắm mốc là một công tác mang tính chất kỹ thuật để thi hành kết quả hoạch đỉnh biên giới. Xuất phát từ tính chất đó, khi tiến hành phân giới, cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

1) Hai bên cùng tiến hành việc phân giới, cắm mốc (nguyên tắc song phương)
Biên giới quốc gia là ranh giới chung, của chung hai quốc gia láng giềng liền kề nhau. Vì vậy, việc giải quyết các công việc về biên giới quốc gia giữa các quốc gia dốc lập có chủ quyền nhất thiết phải do cả hai quốc gia có chung đường biên giới tiến hành. Việc này phải được thực hiện trong cả quá trình xác định nguyên tắc, hoạch định và phân giới, cắm mốc. Các kết quả đạt được dù ở mức độ, tính chất như thế nào, thì đều phải được hai bên cùng đánh giá, cùng kết luận và xác nhận. Không bên nào được đơn phương tiến hành bất kỳ một công việc gì liên quan đến công tác phân giới cắm mốc (trừ trường hợp giữa hai bên có thoả thuận phân công cho một bên tổ chức thực hiện trên lãnh thổ bên đó). Theo đó, việc phân giới cắm mốc phải do hai bên tiến hành bao gồm những nội dung sau:

- Xác định thủ tục pháp lý và phương pháp kỹ thuật tiến hành phân vạch từng đoạn biên giới;

- Lập kế hoạch tổ chức thực hiện;

- Thiết kế một hệ thống mốc quốc giới;

- Cắm từng cột mốc tại thực địa;

- Giải quyết và kết luận những vấn đề phát sinh;

- Ghi nhận kết quả của việc phân giới, cắm mốc ở từng đoạn biên giới và toàn tuyến biên giới.

Để thực hiện các nội dung nêu trên, hai bên cần phải thành lập một tổ chức song phương để đàm phán và tổ chức phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới. Tổ chức song phương này thường được gọi là Uỷ ban liên hợp về phân giới, cắm mốc biên giới. Ngày 29-11-2000, Việt Nam và Trung Quốc đã chính thức thành lập Uỷ ban liên hợp phân giới, cắm mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc.


2) Đường biên giới được phân vạch trên thực địa phải phù hợp với đường biên giới đã được hoạch định
Hiệp ước hoạch định biên giới là văn bản pháp lý có giá trị pháp lý cao nhất làm cớ sở cho việc phân giới, cắm mốc trên thực địa. Vì vậy, công việc phân giới cắm mốc bắt buộc phải phù hợp với quy định của Hiệp ước, Tức là đường biên giới được phân vạch trên thực địa phải phù hợp với đường biên giới đã được mô tả trong Hiệp ước hoạch định biên giới.


Trong thực tiễn, nếu trong quá trình hoạch định có sai sót hoặc chưa chính xác hay chưa rõ ràng, thì trong quá trình phần giới hai bên có thể thoả thuận điều chỉnh, sửa đổi những bất hợp lý nhỏ. Tuy nhiên, về nguyên tắc, mọi sự đàm phán thương lượng về điều chỉnh bổ sung kết quả hoạch định đều phải được báo cáo và có ý kiến nhất trí của Uỷ ban liên hợp với sự uỷ quyền của Chính phủ hai bên hữu quan. Những vấn đề phát sinh trong quá trình tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới có liên quan đến biên giới lãnh thổ vượt quá thẩm quyền của Uỷ ban liên hợp đều phải được báo cáo Chính phủ hai bên xem xét quyết định. Trường hợp cần phải được bàn lại về vị trí đường biên giới và hướng đi của đường biên giới, xem xét lại việc phân chia đất đai ở khu vực biên giới nhất thiết phải do hai Chính phủ quyết định và phải thống nhất trong một hiệp ước bổ sung về hoạch định biên giới.


3) Phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, khoa học
Khi tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới phải chính xác, khách quan, khoa học. Điều này đòi hỏi người làm công tác phân giới cắm mốc phải có đủ trình độ, kinh nghiệm để nhận biết các đặc trưng địa hình trên thực địa, xác định chính xác vị trí của đường biên giới qua các dạng địa hình và các khu vực có khó khăn phức tạp về tự nhiên và xã hội.


4) Đường biên giới được vạch ra phải là một thể thống nhất liên tục các mốc quốc giới được cắm phải đúng các vị trí là một hệ thông thống nhất
Theo đó, việc phân vạch đường biên giới trên toàn tuyến phải tuân thủ phương pháp, quy trình và quy phạm kỹ thuật thống nhất thông qua việc sử dụng các trang thiết bị kỹ thuật phù hợp để thực hiện có hiệu quả theo đúng thoả thuận. Các mốc giới phải được xây dựng đúng vị trí và đúng quy cánh đã được quy định theo các nguyên tắc được hai bên xác định thống nhất trên toàn tuyến biên giới.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 31 Tháng Ba, 2012, 09:52:33 AM
3.2. Yêu cầu công tác phân giới, cắm mốc biên giói Việt Nam - Trung Quốc

Công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới là một công tác rất quan trọng. Do đó việc tiến hành công tác này và kết quả đạt được phải đạt được những yêu cầu cơ bản của xác lập đường biên giới:

1) Đường biên giới trên thực địa phải được phân giới chính xác, cụ thể, rõ ràng, hoàn chỉnh và được đánh dấu bằng một hệ thống mốc giới đầy đủ chính quy và bền vững. Theo đó:

- Đường biên giới giữa hai quốc gia trên thực địa phải được hai bên đến tận nơi và xác định tại chỗ bằng các phương pháp kỹ thuật chính xác nhất có thể được. Theo đó, đường biên giới phải được xác định:

+ Rõ ràng, không mập mờ, bằng thị giác mọi người có thể nhìn thấy được, biết được phạm vi và giới hạn lãnh thổ của mỗi bên.

+ Liên tục, không ngắt quãng, không để còn các khu vực chưa được xác định hoặc mới chỉ được xác định chung chung.


Đây là một công việc khó khăn vì biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc đi qua các địa hình phức tạp, núi cao, rừng rậm hoặc đồng bằng, nhiều khu vực không có đủ các yếu tố địa hình, địa vật dễ nhận biết. Do đó, để thuận tiện cho việc phân giới, cắm mốc cũng như quản lý biên giới sau này, ngay từ khi hoạch định, những người làm công tác hoạch định đã phải tính đến điều này để xác định hướng đi của đường biên giới (như theo sống núi, theo sông, suối, theo đường thẳng...) bảo đảm hợp lý nhất và thuận tiện nhất cho bước phân giới cắm mốc. Nhiều khi sau khi phân giới cắm mốc xong, hai bên phải tạo ra những dấu hiệu dễ nhận biết (đường rào, bờ đê, đường nước, đường phát quang xuyên rừng...). Tuy nhiên, trong thực tế có những đoạn biên giới đi thông tuyến quá khó khăn, những khu vực không thể đi thông tuyến được mà địa hình thể hiện trên bản đồ rõ ràng thì hai bên có thể thoả thuận phân giới trên bản đồ. Cũng có trường hợp địa hình trên bản đồ và địa hình ở thực địa không khớp nhau, việc đo đạc, đọc bản đồ và đo xác định vị trí thực tế của đường biên giới phải làm rất tỉ mỉ, cụ thể và phải có quy định chi tiết việc bổ sung, điều chỉnh địa hình, địa vật địa danh lên bản đồ hoặc đo vẽ bản đồ địa hình tỷ lệ lớn ở khu vực đó để thể hiện đường biên giới.

- Hệ thống mốc quốc giới phải đủ về số lượng để đảm bảo đánh dấu chính xác vị trí của toàn bộ đường biên giới. Các mốc giới phải được xây dựng bền vững, chắn chắn ở các vị trí cần thiết và có quy cách hợp lý, dễ nhận biết, bảo đảm tính trang nghiêm, mỹ thuật và thống nhất trên toàn tuyến biên giới. Để đáp ứng yêu cầu bền vững của mốc giới, phải sử dụng vật liệu làm thân mốc, đế mốc có chất lượng cao nhất, ổn định nhất. Để đáp ứng yêu cầu trang nghiêm, thẩm mỹ phải thiết kế hình dáng mốc, chữ viết, phù hiệu trên thân mốc rõ ràng, cân đối, dễ nhận biết. Để thuận tiện cho quản lý, mốc giới phải có mầu sắc và kích thước phù hợp. Để đảm bảo tính thống nhất trên toàn tuyến, phải thiết kế mốc, sản xuất các loại mốc cắm được ở khu vực núi cao, địa hình hiểm trở, vận chuyển khó khăn, khu vực dễ ngập lụt, dễ bị che khuất.

Ngoài ra, căn cứ vào tình hình thực tế, xã hội và quan hệ dân cư ở khu vực biên giới, khả năng kỹ thuật và hoàn cảnh kinh tế, hai bên có thể thống nhất xây dựng bổ sung các công trình khác để xác định vị trí đường biên giới, như: Làm hàng rào, làm dải phát quang hoặc bỏ trống đất không canh tác, làm bờ đường bê tông liên tục hoặc đứt quãng...


2) Giải quyết tốt vấn đề dân cư và tài sản của công dân hoặc của quốc gia của hai bên phát sinh trong quá trình phân giới cắm mốc

Khi tiến hành phân vạch đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc có thể sẽ phát sinh vấn đề dân cư và vấn đề tài sản của công dân hoặc của quốc gia. Tại những khu vực mà đường biên giới chính thức được giải quyết khác với đường biên giới quản lý trên thực tế trước đây của hai bên sẽ phải bàn giao cho nhau các khu vực đất đai này. Nếu ở các khu vực đó có dân cư sinh sống, canh tác hoặc bất động san của công dân hay quốc gia của bên giao đất thì hai bên phải dựa vào pháp luật quốc tế, thực tiễn quốc tế và hoàn cảnh thực tế của biên giới đê thương lượng, bàn bạc, giải quyết thoả đáng.


Có thể có nhiều biện pháp và quy định cụ thể nhằm giải quyết vấn đề trên tuỳ thuộc vào những yếu tố như quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia. Lịch sử, truyền thống của dân cư khu vực biên giới. Chính sách và pháp luật của từng quốc gia... nhưng phải bảo đảm các nguyên tắc sau:

- Tôn trọng độc lập chủ quyền và lợi ích quốc gia.

- Công bằng, hợp tình hợp lý.

- Tôn trọng quyền tự do cư trú, tự do lựa chọn quốc tịch và đảm bảo quyền lợi hợp pháp đời sống của nhân dân.

- Bảo đảm ổn định biên giới, tạo điều kiện xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị và hợp tác.

Về vấn đề quốc tịch: Đối với cư dân ở các vùng đất có điều chỉnh, có trường hợp giải quyết nếu đã mang quốc tịch nước nào thì trở lại lãnh thổ mà mình mang quốc tịch sinh sống và bên có dân phải thu xếp nơi ăn, ở và điều kiện sinh sống cho người dân trở về. Có trường hợp giải quyết cho dân ở đâu vãn ở đấy nhưng quốc tịch sẽ do luật pháp sở tại điều chỉnh. Có trường hợp được tự do lựa chọn, nếu ở lại phải thay đổi quốc tịch, còn muốn giữ quốc tịch thì trở về bên nước mình mang quốc tịch sinh sống và cũng có trường hợp đăng ký ở lại sinh sống và trở thành ngoại kiều.


Về hoa màu: Đối với hoa màu của công dân bên này canh tác trên đất bên kia sẽ được bàn giao cho bên kia, thông thường giải quyết theo hướng: Với cây lâu năm thì tiếp tục khai thác trong thời hạn nhất định; với cây ngắn ngày thì sau vụ thu hoạch số cây đang trồng cấy.


Về bất động sản. Đối với các bất động sản của cá nhân, tập thể hoặc quốc gia thì tuỳ theo quan hệ của hai bên, thông thường được giải quyết theo hướng: Với công trình phúc lợi công cộng thường được bàn giao cho bên tiếp quản đất đai và dân cư để họ tiếp tục sử dụng như trường học, bệnh viện; đối với các công trình kinh tế thì hai bên thoả thuận trên cơ sở nhu cầu và lợi ích của hai bên. Nếu bên nhận đất có nhu cầu sử dụng thì hai bên thoả thuận đền bù hoặc thanh toán cho bên có tài sản một cách thoả đáng, nếu không có nhu cầu thì bên có công trình của bên giao đất có thể dỡ bỏ, chuyển về nước; đối với các công trình bất động sản của công dân cũng được giải quyết theo hướng như vậy.


Nhìn chung, dù giải quyết theo hướng nào thì chính quyền của hai bên vẫn phải tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân hai bên thực hiện một cách có hiệu quả nhất, không được gây khó khăn, cản trở, gây ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia cũng như quyền lợi hợp pháp của công dân hai nước.


3) Thành lập bộ bản đồ đường biên giới giữa hai nước
Sau khi hoàn thành công tác phân giới cắm mốc, Việt Nam và Trung Quốc sẽ căn cứ vào kết quả phân giới trên thực địa và các mốc đã cắm để lập một bộ bản đồ đường biên giới, trên đó thể hiện đầy đủ, chính xác đường biên giới đã được giải quyết ở trên thực địa, vị trí các mốc đã cắm và các công trình có liên quan ở trên đường biên giới (nếu có).

Đây là việc làm có tính chất bắt buộc vì đường biên giới về cơ bản thực hiện theo đúng quy định trong hiệp ước hoạch định nhưng phản ánh đầy đủ hơn, khách quan hơn và thể hiện đúng tình hình thực tế, đồng thời là kết quả thoả thuận của hai bên trong quá trình làm việc song phương ở thực địa. Về mặt kỹ thuật, bộ bản đồ mới xây dựng có chất lượng tốt hơn, hiện đại hơn và thể hiện đầy đủ các yếu tố địa hình cần thiết đáp ứng yêu cầu của một bộ bản đồ chuyên ngành biên giới. Sau khi thành lập xong bộ bản đồ, đại diện có thẩm quyền của hai bên ký xác nhận, và bộ bản đồ này sẽ thay thế cho bộ bản đồ đính kèm Hiệp ước biên giới năm 1999.


4) Chấp nhận đầy đủ của cả hai bên đối với kết quả phân giới cắm mốc
Toàn bộ kết quả tiến hành công việc phân giới cắm mốc ở thực địa, bàn giao đất, bàn giao dân và kết quả giải quyết các vấn đề khác có liên quan phải được hai bên chấp nhận và được ghi nhận trong một văn bản pháp lý chung về công tác phân giới cắm mốc, do đại diện có thẩm quyền của hai bên ký kết. Tài liệu cuối cùng ghi nhận kết quả phân giới, cắm mốc của hai bên, thông thường là Nghị định thư được hai bên xây dựng, ký kết theo một trình tự pháp lý rất chặt chẽ. Kèm theo văn bản pháp lý này phải có đầy đủ các biên bản, bản đồ, sơ đồ ghi nhận kết quả các nội dung cụ thể của công tác phân giới cắm mốc được hai bên cùng thành lập phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế, phù hợp với thủ tục và quy trình được hai bên thoả thuận và phù hợp với điều kiện kỹ thuật cần thiết và quan hệ thực tế của hai nước.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 31 Tháng Ba, 2012, 09:54:03 AM
3.3. Nội dung công tác phân giới, cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc

Các nội dung được thống nhất phân chia thành ba giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị; Giai đoạn tổ chức phân giới và cắm mốc trên thực địa; Giai đoạn hoàn thiện kết quả phân giới cắm mốc.

1) Giai đoạn chuẩn bị
Trước khi tiến hành các công việc cụ thể ở trên thực địa, hai bên cần thống nhất giải quyết các vấn đề sau:

- Thành lập các tổ chức lực lượng thực hiện công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc giới. Tổ chức tập huấn pháp lý, kỹ thuật phục vụ phân giới cắm mốc.

- Thống nhất nguyên tắc, căn cứ phân vạch đường biên giới và cắm mốc quốc giới. Thực chất là xác lập nguyên tắc và khẳng định cơ sở pháp lý cho công tác này.

- Thống nhất thiết kế một hệ thống mốc giới hoàn chỉnh trên toàn tuyến biên giới; số lượng mốc; phân loại mốc; quy cách, chất liệu xây dựng; cách đánh số, xác định vị trí; vật chuẩn hoặc các công trình khác (nếu có).

- Thống nhất các văn bản pháp lý, kỹ thuật phục vụ phân giới cắm mốc, bao gồm các nhóm văn bản sau: Các văn bản về quy trình kỹ thuật phân giới trên thực địa; các văn bản về quy trình cắm mốc quốc giới; các văn bản xử lý, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình phân giới cắm mốc; các văn bản ghi nhận kết quả phân giới cắm mốc.


Tuỳ theo điều kiện cho phép và tình hình cụ thể quan hệ về biên giới giữa hai nước, trong giai đoạn này, sau khi được thống nhất thành lập, Uỷ ban liên hợp về phân giới cắm mốc hai nước sẽ tiến hành các vòng họp để cùng nhau soạn thảo và thông qua những văn bản (văn kiện) chuẩn bị cho công tác phân giới, cắm mốc. Mục tiêu cơ bản mà các văn bản được xác lập trong giai đoạn này hướng tới là nhằm hoàn thành công việc phân giới, cắm mốc, do vậy chúng đặc biệt quan trọng, chúng hợp thành một hệ thống đầy đủ bao gồm những vấn đề chung nhất, có tính nguyên tắc và là kim chỉ nam để mọi cá nhân và tổ chức trong khuôn khổ Uỷ ban liên hợp Phân giới, cắm mốc buộc phải áp dụng và thực hiện khi văn bản phân giới, cắm mốc đó được Uỷ ban liên hợp Phân giới, cắm mốc thông qua. Theo đó, trong giai đoạn chuẩn bị, hai bên tiến hành các cuộc họp thống nhất một loạt các vấn đề cả về tổ chức lực lượng, trang thiết bị kỹ thuật, bảo đảm phương tiện, trang bị, hậu cần, bảo đảm an mình, an toàn, thông tin liên lạc và toàn bộ cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho các công việc ở trên đường biên.


Về hình thức, các văn bản được xác lập trong giai đoạn này có thể là những văn bản riêng biệt, những thường là cụm các phụ lục kèm theo một văn bản, ví dụ như Biên bản cuộc họp của Uỷ ban liên hợp có kèm theo Phụ lục bao gồm các Quy định về kỹ thuật phân vạch đường biên giới trên thực địa, Quy định về kỹ thuật cắm mốc giới trên thực địa. Toàn bộ các văn bản đó đều được diễn đạt thành văn, thông thường bằng hai ngôn ngữ có nghĩa giống nhau, với những nội dung rõ ràng, cụ thể để mọi người cùng hiểu thống nhất.


Về nội dung, các văn bản được xác lập trong giai đoạn này thường đề cập đến tất cả những vấn đề có tính định hướng, khuôn mẫu và quy ước thống nhất, bao gồm: Tổ chức, chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của Uỷ ban liên hợp và của các tổ chức trực thuộc Uỷ ban liên hợp; kỹ thuật phân giới và cắm mốc; công tác báo cáo và việc xây dựng văn kiện; nguyên tắc giải quyết những vấn đề phát sinh trong khi phân giới cắm mốc. Do vậy, Uỷ ban liên hợp hai bên cần phải trao đổi với nhau trên tinh thần khách quan, khoa học và thực sự cầu thị để thống nhất xây dựng được một "khuôn mẫu” hoàn hảo nhất về phân giới, cắm mốc, trong đó định liệu toàn bộ những việc phải làm và cách làm, những việc có thể sẽ phát sinh phải giải quyết và cách giải quyết trong khi tiến hành phân giới cắm mốc tại thực địa.


Một số văn bản thường được xác lập trong giai đoạn này là: Quy định về nguyên tắc, căn cứ phân vạch đường biên giới và cắm mốc quốc giới; Điều lệ của Uỷ ban liên hợp phân giới cắm mốc; Quy định về tổ chức và hoạt động của Nhóm liên hợp phân giới, cắm mốc; Quy định về kỹ thuật phân vạch đường biên giới trên thực địa; Quy định về kỹ thuật cắm mốc giới trên thực địa; Quy định về xử lý các vấn đề phát sinh trong khi thực hiện phân giới, cắm mốc trên thực địa; Quy định về các vấn đề có liên quan đến biên giới trên sông, suối và sông, suối biên giới; Quy định về công tác báo cáo, xây dựng văn kiện trong và sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc; Kế hoạch tổng thể về phân giới, cắm mốc trên thực địa v.v...


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 31 Tháng Ba, 2012, 09:55:07 AM
2) Giai đoạn tổ chức phân giới và cắm mốc trên thực địa

Chủ yếu là quá trình hoạt động của các Nhóm phân giới cắm mốc liên hợp (Đội phân giới cắm mốc), tiến hành phân vạch đường biên giới trên thực địa và xây dựng các mốc giới theo chương trình kế hoạch và sự chỉ đạo trực tiếp của Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc. Do vậy, trong giai đoạn này, hai bên sẽ tiến hành các cuộc đàm phán trong khuôn khổ của Uỷ ban liên hợp (bao gồm các cuộc họp cấp Uỷ ban liên hợp, cấp Chủ tịch Uỷ ban liên hợp, cấp Nhóm liên hợp, cấp Tổ chuyên gia v.v...). Các cuộc họp này được tiến hành đúng theo quy định hai bên đã thống nhất trong các quy chế hoạt động song phương. Kết thúc các cuộc họp, đều phải làm biên bản chung, được đại diện có thẩm quyền của hai bên cùng ký xác nhận. Biên bản các cuộc họp sẽ là những văn bản pháp lý của quá trình phân giới, cắm mốc.


Nội dung các cuộc họp cấp Uỷ ban liên hợp và cấp Chủ tịch Uỷ ban liên hợp thường giải quyết các vấn đề sau:

+ Thống nhất chương trình, kế hoạch triển khai phân giới trên thực địa và cắm mốc giới;
Giao nhiệm vụ cho các tổ chức trực thuộc Uỷ ban liên hợp tiến hành các công việc cụ thể;
Thống nhất xác lập các văn bản song phương thuộc quyền hạn và do Chính phủ hai bên giao.

+ Đánh giá kết quả thực hiện các công việc triển khai trên thực địa theo chương trình, kế hoạch đã thống nhất (theo quyền hạn được giao và đã được Chính phủ hai bên duyệt).

+ Giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới (theo quyền hạn được giao hoặc thống nhất báo cáo Chính phủ hai bên xem xét, quyết định).

+ Giải quyết những vấn đề trong quan hệ biên giới hai nước trong thời gian tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới, hoặc những vấn đề khác có liên quan đến biên giới hai nước (đã được Chính phủ hai bên giao thực hiện).


Nội dung hoạt động của các tổ chức trực thuộc Uỷ ban liên hợp:

+ Thống nhất kế hoạch, nội dung công việc và phân công công tác chuẩn bị.

+ Song phương tiến hành phân vạch đường biên giới trên thực địa và xây dựng mốc giới.

+ Song phương đánh giá, kết luận và thoả thuận giải quyết các vấn đề phát sinh ở  thực địa, báo cáo Uỷ ban liên hợp xem xét, quyết định.

+ Lập biên bản chung ghi nhận kết quả phân giới trên thực địa và cắm mốc giới.

+ Phối hợp giải quyết các công việc khác do Uỷ ban liên hợp giao.


- Về việc xác lập một số văn bản song phương trong giai đoạn tổ chức thực hiện phân giới cắm mốc tại thực địa:

Trong giai đoạn này, Uỷ ban liên hợp và các tổ chức trực thuộc Uỷ ban liên hợp tiến hành các hoạt động cụ thể trên cơ sở các văn bản đã được xác lập trong giai đoạn chuẩn bị. Do vậy, các văn bản được xác lập nhằm ghi lại kết quả hoạt động cụ thể của Uỷ ban liên hợp và các tổ chức trực thuộc Uỷ ban liên hợp từ khi bắt đầu đến khi kết thúc việc phân giới cắm mốc tại thực địa.

Các văn bản do cấp Uỷ ban liên hợp xác lập thông thường là: Biên bản các cuộc họp của Uỷ ban liên hợp; các văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều khoản trong văn bản đã được xác lập trong giai đoạn chuẩn bị nếu thấy những điều khoản đó không phù hợp trong quá trình thực hiện.

Các văn bản do các tổ chức trực thuộc Uỷ ban liên hợp xác lập bao gồm: Biên bản các vòng họp của mình; Biên bản ghi nhận kết quả phân giới trên thực địa các đoạn biên giới; Biên bản cắm mốc quốc giới; Biên bản giải quyết các vấn đề phát sinh trong khi tiến hành việc phân giới cắm mốc; Biên bản thực hiện nhiệm vụ cụ thể khác do Uỷ ban liên hợp giao; Báo cáo tổng kết công tác của tổ chức mình sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 31 Tháng Ba, 2012, 09:56:09 AM
3) Giai đoạn hoàn thiện kết quả phân giới cắm mốc

Sau qua trình triển khai phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới, Uỷ ban liên hợp phải tổ chức hoàn thiện tất cả các văn bản ghi nhận kết quả của toàn bộ quá trình phân giới cắm mốc trên thực địa và soạn thảo văn bản xác nhận kết quả trình Chính phủ hai nước. Công việc này thường được tiến hành từ ngay trong giai đoạn phân giới cắm mốc trên thực địa, theo phương pháp "cuốn chiếu'” bao gồm các văn bản chủ yếu sau:

- Các biên bản, bản đồ, sơ đồ và ảnh ghi nhận kết quả phân giới cắm mốc đều là các tài liệu pháp lý nên phải được lập theo đúng quy trình thống nhất và chặt chẽ, do hai bên cùng lập, cùng ký xác nhận:

+ Biên bản phân giới trên thực địa (của từng đoạn biên giới).

+ Biên bản cắm mốc quốc giới (của từng mốc giới).

+ Sơ đồ đường biên giới đã phân giới (của từng đoạn biên giới).

+ Ảnh mốc giới (của từng mốc giới).

+ Biên bản giao nhận đất đai, dân cư và các vấn đề khác có liên quan đã được thống nhất giải quyết ở thực địa.


Như vậy, trong các giai đoạn của quá trình phân giới cắm mốc, Uỷ ban liên hợp phân giới cắm mốc và các tổ chức trực thuộc Uỷ ban liên hợp sẽ phải tiến hành xác lập một loạt các văn bản song phương. Các văn bản này hợp thành một hệ thống (bộ hồ sơ) hoàn chỉnh, phản ánh toàn bộ việc phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới giữa hai nước có chung đường biên giới.


Trên cơ sở kết quả phân giới cắm mốc đã đạt được, Uỷ ban liên hợp tiến hành soạn thảo Nghị định thư về phân giới cắm mốc để trình lên Chính phủ hai nước xem xét, quyết định. Thông thường, trong Nghị định thư có kèm theo các văn bản, tài liệu như sau: Báo cáo tổng kết của Uỷ ban liên hợp phân giới cắm mốc; Biên bản phân giới trên thực địa (kèm theo bản đồ đường biên giới); Biên bản mốc giới (kèm theo sơ đồ vị trí mốc, ảnh mốc); Biên bản giải quyết biên giới theo sông, suối và các vấn đề liên quan đến sông, suối biên giới; Biên bản giải quyết các vấn đề phát sinh do việc phân giới cắm mốc gây ra.


Nghị định thư phân giới cắm mốc là văn bản pháp lý cao nhất, tổng hợp toàn bộ tiến trình phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới và kết quả giải quyết các vấn đề có liên quan đến biên giới ở  trên thực địa. Việc xây dựng Nghị định thư thông thường được tiến hành theo hai bước:

Bước 1: Ngay trong quá trình phân vạch trên thực địa và cắm mốc quốc giới, các Nhóm liên hợp phân giới cắm mốc tiến hành xác lập các văn bản song phương để mô tả toàn bộ hướng đi của đoạn biên giới đã được Uỷ ban liền hợp Phân giới cắm mốc giao cho Nhóm phụ trách. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các Nhóm liên hợp phân giới cắm mốc và có ý nghĩa hết sức quan trọng vì các văn bản mô tả đường biên giới do các Nhóm liên hợp phân giới cắm mốc xác lập sẽ là thành tố chủ đạo cấu thành Nghị định thư, là nội dung chính của Nghị định thư. Nói cách khác, các văn bản mô tả đường biên giới do các Nhóm liên hợp phân giới cắm mốc xác lập quyết định nội dung của Nghị định thư, không có các văn bản đó thì không thể xác lập được Nghị định thư.

Bước 2: Sau khi nhận được các văn bản mô tả đường biên giới của các Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc. Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc tiến hành xem xét, thống nhất tu chỉnh lại những chỗ chưa hợp lý, ghép các văn bản của các Nhóm thành một văn bản chung là Dự thảo Nghị định thư và trình lên Chính phủ để xem xét và quyết định ký kết. Nghị định thư Phân giới cắm mốc sẽ có giá trì pháp lý khi hai bên ký kết chính thức, được Chính phủ hai nước phê duyệt và có hiệu lực thi hành kể từ khi các bên tham gia ký kết trao đổi công hàm phê duyệt.


Về cách thức tiến hành công việc soạn thảo lời văn mô tả đường biên giới trong Nghị định thư:

- Đối với các Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc, cần quán triệt các vấn đề sau:

+ Phải dựa vào nguyên tắc Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc đã thoả thuận để xác lập văn bản và các văn bản phải được người có thẩm quyền của hai bên trong Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc cùng. ký xác nhận. Thiếu một trong hai yếu tố này, văn bản do Nhóm xác lập sẽ không có giá trị pháp lý.

+ Các văn bản mô tả biên giới của các Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc phải thống nhất về hình thức và cấu trúc, bảo đảm sự hài hoà về các thông tin được cập nhật trong văn bản.

+ Mỗi Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc chỉ có trách nhiệm mô tả những đoạn biên giới đã được phân công. Phải mô tả toàn bộ đoạn biên giới được giao, không được thoả thuận chia đoạn biên giới đó ra để mỗi bên mô tả một phần rồi ghép lại.

+ Các bên trong Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc phải chủ động căn cứ vào kết quả phân vạch đường biên giới tại thực địa để soạn thảo lời văn mô tả và trao đổi với nhau để thống nhất một văn bản chung. Không nên thoả thuận giao cho bên này hoặc bên kia "chủ trì" việc dự thảo văn bản.

+ Nhóm trưởng của mỗi bên trong Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc là người chịu trách nhiệm chính trước Đoàn đại biểu của nước mình trong Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc về các văn bản do mình đã ký…
Dựa vào mẫu văn bản chung do Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc quy định và kết quả làm việc trên thực địa, Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc điền viết mô tả chi tiết đường biên giới đã được phân giới trên thực địa và mốc giới đã cắm. Việc mô tả này phải được thực hiện liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi giải quyết xong đoạn biên giới được giao. Điều này cũng có nghĩa là khi Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc hoàn thành việc phân giới và cắm mốc quốc giới đoạn biên giới được giao thì cũng là lúc hoàn thành việc mô tả toàn bộ đoạn biên giới đó. Đại diện có thẩm quyền của hai bên trong Nhóm (thường là các Nhóm trưởng) cùng ký văn bản mô tả biên giới của Nhóm mình và trình văn bản đã được ký lên Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc.


- Đối với Uỷ ban liên hợp phân giới cắm mốc:
Thông thường, để việc soạn thảo Nghị định thư Phân giới cắm mốc được tiến hành thuận lợi, khách quan, khoa học và chính xác, Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc sẽ thành lập một Nhóm gồm các chuyên gia pháp lý, kỹ thuật chuyên trách giúp Uỷ ban liên hợp dự thảo và hoàn chỉnh toàn bộ văn bản. Trong Nhóm chuyên trách này lại có sự phân công thành hai bộ phận, một bộ phận chịu trách nhiệm về pháp lý, một bộ phận chịu trách nhiệm về kỹ thuật.

Nhóm chuyên trách sẽ tiến hành thẩm định toàn bộ các văn bản của các Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc, sơ bộ "lắp ghép" các văn bản đó thành một "khung" Nghị định thư chi tiết, trình Uỷ ban liên hợp để thảo luận và từng bước hoàn chỉnh thành Dự thảo Nghị định thư Phân giới cắm mốc.

Dự thảo Nghị định thư do Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc xác lập phải đảm bảo các yêu cầu sau: Phải tổng hợp được toàn bộ kết quả phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới (gồm tất cả các đoạn biên giới đã được phân giới trên thực địa, các mốc đã được cắm, các vấn đề phát sinh đã được giải quyết...); việc mô tả đường biển giới phải nhất quán về hướng, chính xác về các yếu tố địa lý - tự nhiên và địa danh; văn phong phải chặt chẽ, rõ ràng, dễ hiểu, tuyệt đối tránh dùng các từ ngừ không rõ nghĩa hoặc đa nghĩa, nếu phải dùng thuật ngữ chuyên biệt thì phải có giải thích rõ nghĩa; các thuật ngữ có liên quan đến kỹ thuật, ban đồ phải được sử dụng thống nhất trong toàn bộ văn bản.


Về cấu trúc nội dung Nghị định thư Phân giới cắm mốc: Ngoài phần mở đầu, các nội dung chính của Nghị định thư thường là những điều khoản. Nội dung chính trong phần mở đầu là nêu rõ các chủ thể tham gia ký kết và tên người cụ thể được cử làm đại diện toàn quyền trực tiếp ký tên vào Nghị định thư. Số lượng điều khoản trong Nghị định thư Phân giới cắm mốc nhiều hay ít tuỳ thuộc vào số đầu việc đã giải quyết trong quá trình phân giới cắm mốc (việc phân loại các đầu việc cụ thể do Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc thống nhất, thoả thuận). Mỗi một điều khoản sẽ chỉ trình bày một vấn đề cụ thể.


Về hình thức văn bản: Văn bản Nghị định thư Phân giới cắm mốc và các bảng thống kê phụ lục cấu thành Nghị định thư đều phải được diễn đạt thành văn. Việc quyết định sử dụng những ngôn ngữ nào để trình bày văn bản cần phải được Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc bàn bạc, cân nhắc kỹ để việc sử dụng các ngôn ngừ được dễ dàng nhưng vẫn bảo đảm được tính văn hoá truyền thống. Thực tế, khi xây dựng Nghị định thư Phân giới cắm mốc nên chỉ sử dụng hai ngôn ngữ là tiếng Việt và tiếng Trung (trường hợp bất khả kháng phải sử dụng ngôn ngữ của nước thứ ba thì cũng chi để giải thích cho các thuật ngứ chuyên biệt).


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 31 Tháng Ba, 2012, 09:57:17 AM
3.4. Thành lập Uỷ ban liên hợp phân giới, cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc

Trong phiên họp từ ngày 19-11-2000 đến ngày 01-12-2000, tại Bắc Kinh, Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc được chính thức thành lập.

1) Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc có nhiệm vụ sau:

Tiến hành phân vạch toàn bộ đường biên giới giữa hai quốc gia trên thực địa.

Thiết kế và tổ chức xây dựng hệ thống mốc quốc giới.

Lập bộ bản đồ đường biên giới giữa hai quốc gia.

Soạn thảo các văn bản pháp lý ghi nhận kết quả công tác phân giới, cắm mốc (thường là Nghị định thư) trình Chính phủ hai bên ký kết. Thoả thuận và tổ chức việc bàn giao đất đai, dân cư và xử lý tài sản quốc gia (nếu có).

Giải quyết các vấn đề có liên quan đến hợp tác quản lý, bảo vệ biên giới và các vấn đề khác có liên quan đến quan hệ biên giới lãnh thổ trong quá trình tiến hành phân giới, cắm mốc.

Soạn thảo các văn bản pháp lý về hợp tác quản lý, bảo vệ biên giới (thường là Hiệp định về quy chế biên giới) trình Chính phủ hai bên ký kết.

Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc sẽ hết nhiệm vụ sau khi hoàn thành toàn bô công tác phân giới cắm mốc biên giới giữa hai nước.


2) Về quy chế hoạt động của Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc
Trong quá trình làm việc, Uỷ ban liên hợp sẽ làm việc thông qua các cuộc họp để bàn bạc, thống nhất kế hoạch, chương trình, phương pháp tổ chức công tác và trực tiếp chỉ đạo các lực lượng tham gia công tác của hai bên song phương tiến hành từ giai đoạn chuẩn bị cho đến khi kết thúc công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới. Theo đó Quy chế làm việc của Uỷ ban liên hợp bao gồm các nội dung sau:

- Quy chế về các cuộc họp của Uỷ ban liên hợp và các tổ chức trực thuộc Uỷ ban liên hợp:

+ Quy định tổ chức các cuộc họp.

+ Nội dung của từng cuộc họp.

+ Thời gian, địa điểm họp.

+ Thành phần dự họp.

+ Thủ tục tổ chức họp.

+ Người phát ngôn và tiếng nói chính thức trong cuộc họp.

+ Trình tự và thủ tục làm biên bản, chữ viết chính thức.

+ Trình tự và thẩm quyền thông qua, phê duyệt các văn bản.

- Quy chế về việc đi lại, quan hệ làm việc của Uỷ ban liên hợp, các tổ chức thuộc Uỷ ban liên hợp và các thành viên chính thức.

+ Vấn đề giấy tờ, thủ tục qua lại biên giới của các thành viên cũng như phương tiện của hai bên trong quá trình công tác.

+ Vấn đề trao đổi thông tin giữa hai đoàn đại biểu trong Uỷ ban liên hợp và các tổ chức thuộc Uỷ ban liên hợp giữa các cuộc họp , các đợt công tác song phương (qua đường ngoại giao hay trực tiếp, địa điểm, địa chỉ).

+ Vấn đề hoạt động đi lại của các tổ chức và cá nhân của hai bên ở  khu vực biên giói trong quá trình tiến hành công việc tại thực địa.

Về cơ bản, hai bên nhất trí việc phân giới, cắm mốc đường biên giới trên đất liền giữa hai bên phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế, tuân thủ các nguyên tắc và yêu cầu thang của công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới.

Hai bên đã thống nhất được thời gian sẽ hoàn thành từ 3 đến 5 năm, thống nhất chia đường biên giới thành 12 đoạn để phân cho 12 Nhóm đồng thời tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban liên hợp.

Để chuẩn bị cho công tác phân giới, cắm mốc, hai bên đã thống nhất thông qua hàng loạt văn bản pháp lý và kỹ thuật như:

- Điều lệ của Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

- Quy định chi tiết về tổ chức hoạt động của Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

- Quy định chi tiết về đánh dấu vị trí mốc giới trên biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

- Quy định đo xác định vị trí mốc giới biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

- Quy định đơn giản hoá thủ tục xuất - nhập cảnh và tạm trú đối với thành viên tham gia phân giới, cắm mốc và thủ tục tạm nhập, tái xuất đối với phương tiện giao thông, thiết bị kỹ thuật phục vụ phân giới, cắm mốc biên giới trên đất hến Việt Nam - Trung Quốc.

- Quy định chi tiết về đo đạc thuỷ văn sông, suối biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

- Quy định chi tiết về soạn thảo Nghị định thư biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc.

- Quy định chi tiết về chỉnh lý các văn kiện phân giới, cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc v.v...


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 31 Tháng Ba, 2012, 09:57:59 AM
3.5. Quy định về mốc quốc giói biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc

Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc đã thương lượng, đàm phán để đi đến thống nhất các vấn đề liên quan đến mốc giới.

Hai bên đã thống nhất được 1.373 vị trí (gồm các mốc đơn, mốc đôi và mốc ba) với 1.532 cột mốc cần cắm và 01 mốc cắm ở vị trí ngã ba biên giới Việt Nam - Trung quốc - Lào. Ngoài ra, trong quá trình phân giới cắm mốc, đối với các khu vực khó nhận biết đường biên giới, các Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc có thể thoả thuận cắm thêm các mốc phụ và các mốc phụ này có giá trị như các mốc chính. Hai bên trao cho nhau thiết kế mốc, theo đó thống nhất mốc gồm các loại: Mốc lớn, mốc trung bình, mốc nhỏ và mốc khắc trên vách đá. Mỗi bên tự thiết kế và sản xuất mốc do bên mình chịu trách nhiệm cắm.


Hai bên đã thống nhất mỗi bên tự đảm bảo kinh phí cho hoạt động của đoàn phân giới, cắm mốc phía bên mình. Riêng việc xây dựng mốc, mỗi bên đảm nhận cắm khoảng một phần hai tổng số mốc. Việt Nam cắm các mốc số chẵn. Trung Quốc cắm các mốc số lẻ.


Các cụm mốc đôi, mốc ba thì cột mốc nằm trên lãnh thổ bên nào thì bên đó cắm. Việc cắm mốc được tiến hành dưới sự chứng kiến của phía bên kia.

Mốc chính gồm có mốc đơn, mốc đôi cùng số và mốc ba cùng số.

Mốc đơn gồm một cột mốc, cắm trực tiếp trên đường biên giới.

Mốc đôi cùng số gồm hai cột mốc cắm ở hai bên bờ sông, suối biên giới.

Mốc ba cùng số gồm ba cột mốc cắm ở trên bờ sông tại điềm hợp lưu của sông trong nội địa với sông, suối biên giới.

Hai bên quy định đánh số mốc từ Tây sang Đông, từ ngã ba biên giới Việt Nam - Trung Quốc - Lào đến điểm cực Đông của đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Hai bên cũng quy định về vị trì cắm các loại mốc cụ thể như sau: Mốc lớn được cắm ở  các của khẩu quốc tế và cửa khâu quốc gia; mốc trung bình được cắm ở các vị trí bình thường; mốc nhỏ được cắm ở  trên đinh núi cao, những nơi khó đi lại, khó thi công; mốc khác trực tiếp vào các mỏm đá, vách đá trong một số trường hợp đặc biệt.


Việc cắm mốc trung bình và mốc nhỏ do hai bên tự xác định, đồng thời thông báo cho nhau tại các Nhóm liên hợp Phân giới cắm mốc. Sau khi mỗi bên cắm xong mốc, sẽ có một tổ liên hợp đi đo, kiểm tra lại vị trí mốc đã cắm.

Mốc ngã ba biên giới Việt Nam - Trung Quốc - Lào sẽ do ba nước thoả thuận.

Tính đến cuối năm 2005, Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành 19 vòng họp trong khuôn khổ Uỷ ban liên hợp (01 vòng trù bị, 3 vòng chính thức và 13 vòng cấp Chủ tịch, 6 vòng cấp Chuyên gia kỹ thuật) và đã thống nhất được các văn bản có tính chất pháp lý, kỹ thuật cơ bản, làm cơ sở cho việc triển khai công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới như: Thống nhất về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, quy chế hoạt động của Uỷ ban liên hợp và các Nhóm phân giới cắm mốc; quy phạm kỹ thuật và các quy định pháp lý để tổ chức thực hiện công tác phân giới cắm mốc; các tiêu chuẩn mốc giới; kế hoạch tổ chức thực hiện; phân chia kinh phí; phân chia đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc thành 12 đoạn cho 12 Nhóm, đồng thời tiến hành phân giới cắm mốc; quy định ưu đãi về việc qua lại biên giới cho người, phương tiện, máy móc tham gia phân giới cắm mốc; nguyên tắc quy thuộc cồn bãi của sông, suối biên giới; kết quả của quá trình phân giới cắm mốc của các Nhóm và của Uỷ ban liên hợp; quy định sửa đổi sửa đổi bổ sung của Uỷ ban liên hợp phân giới cắm mốc khi cần.


Tại phiên họp lần thứ nhất của Uỷ ban liên hợp Phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc (Biên bản ký ngày 29-11-2000 tại Bắc Kinh), hai bên đã nhất trí hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc trong thời gian từ 3 đến 5 năm.


Sau khi cùng nhau hoàn tất công tác chuẩn bị, từ năm 2002 hai bên đã phối hợp tiến hành phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, thoả thuận quyết tâm hoàn thành công việc này vào trước cuối năm 2008.


Cùng với việc triển khai phân giới cắm mốc trên thực địa, Việt Nam và Trung Quốc cũng đã phối hợp với Lào tiến hành các cuộc họp đa phương, trao đổi thống nhất việc xác định vị trí mốc giới ở  ngã ba biên giới Việt - Trung - Lào. Từ tháng 2-2002, trên cơ sở kết quả giải quyết biên giới Việt Nam - Trung Quốc và biên giới Lào - Trung Quốc, ba nước đã phối hợp nghiên cứu xác định điểm giao nhau của ba đường biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Trung Quốc và Lào - Trung Quốc, đã thống nhất xác định được vị trí, cắm được mốc ngã ba biên giới tại đỉnh Khoan La San (tháng 6-2005). Ngày 10-10-2006, tại Bắc Kinh, đại diện có thẩm quyền ba nước đã cùng nhau ký Hiệp ước xác định giao điểm đường biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 01 Tháng Bảy, 2012, 08:58:02 AM
PHẦN III
BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO


KHÁI LƯỢC VỀ NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO:

Diện tích: Tổng cộng 236.800 km2 (mặt đất 230.800 km2, mặt nước 6.000 km2).

Số dân: 5.497.000 người (2000).

Cơ cấu dân số ước tính: 0 - 14 tuổi 43%, 15 - 64 tuổi 54%, trên 64 tuổi 3%. Tỷ lệ tăng dân số 2,5% (2000). Mật độ dân số. Khoảng 20 người/km2. Lực lượng lao động: 1 - 1,5 triệu người. Tỷ lệ sinh: 38,29/1.000 dân (2000). Tỷ lệ tử vong: 13,35/1.000 dân (2000). Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh: 94,8/1.000 (2000). Tuổi thọ trung bình (2000): 53,09 tuổi (nam 51,22 tuổi, nữ 55,02 tuổi).

Thủ đô: Viêng Chăn.

Các thành phố lớn: Sa-vẳn-nạ-khệt, Luổng-phạ-băng.

Các dân tộc: Lào Loum (68%), Lào Theung (22%), Lào Soung (9%), và một số dân tộc khác (1%).

Ngôn ngữ chính: Tiếng Lào. Tiếng Pháp, Anh và một số ngôn ngữ khác cũng được sử dụng.

Tôn giáo: Đạo Phật (60%), tín ngưỡng truyền thống và tôn giáo khác (40%).

Đơn vị tiền tệ: Kíp (NK).

Quốc khánh: Ngày 02-12 (năm 1975).

Lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam: Ngày 05-9-1962.

Vị trí: Nằm trên bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á, có đường biên giới đất liền giáp Việt Nam, Campuchia, Myanma, Thái Lan và Trung Quốc. Toạ độ địa lý: 18°00 vĩ bắc, 105°00 kinh đông.

Địa hình: Phần lớn là núi, có một số vùng đồng bằng và cao nguyên.

Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình tháng 1 là 15°C, tháng 7 là 28°C ở  phía Bắc; tương ứng là 25°C và 30°C ở  miền Nam và miền Trung. Lượng mưa trung bình hàng năm ở  vùng núi 3.500 mm, ở  đồng bằng 1.000 - 2.000 mm.

Tài nguyên thiên nhiên: Gỗ, thuỷ điện, thạch cao, thiếc, vàng, đá quý

Thiên tai: Lũ lụt, hạn hán, bệnh tàn rụi cây cối.

Các vấn đề môi trằơng: Rừng bị tàn phá, đất đai bị xói mòn, thiếu nước uống.

Danh lam thắng cảnh: Viêng Chăn, Thạt Luông, Cánh đồng Chum...

Lịch sử: Vào thế kỷ XIV, vua Phạ Ngừm thống nhất nước Lào, đặt tên là Lạn Xang. Năm 1893, thực dân Pháp thôn tính nước Lào. Ngày 12-10-1945, nước Lào độc lập. Đầu năm 1946, Pháp quay lại xâm lược Lào. Tháng 7 năm 1954, Pháp ký Hiệp đính Giơ-ne-vơ công nhận nền độc lập của Lào. Từ năm 1955, Mỹ tiến hành chiến tranh chống lại nhân dân Lào. Ngày 21-02-1973, Hiệp định Viêng Chăn lập lại hoà bình và thực hiện hoà hợp dân tộc ở  lào được ký kết giữa Mặt trận Lào yêu nước và phái hữu Viêng Chăn. Ngày 02-12-1975, Đại hội đại biểu nhân dân Lào họp ở Viêng Chăn tuyên bố thành lập nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

Chính thể: Nhà nước dân chủ nhân dân.

Các khu vực hành chính (Có 16 tỉnh, 01 thành phố trực thuộc và 01 vùng đặc biệt): At-ta-pư, Bo-keo, Bô-ly-khăm-xay, Chăm-pa-sac, Hủa-phăn, Khăm-muộn, Luông-pha-băng, Luông-nậm-thà, U-đôm-xay, Phông-sa-ly, Sa-la-văn, Sa-van-na-khet, Viêng Chăn, Xai-na-bo-ly, Xai-som-bun, Sê-kông, Xiêng-khoảng.

Hiến pháp: Thông qua ngày 14-8-1991.

Cơ quan hành pháp: Đứng đầu nhà nước là Chủ tịch. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu nhiệm kỳ 5 năm. Thủ tướng do Chủ tịch nước bổ nhiệm với sự phê duyệt của Quốc hội, nhiệm kỳ 5 năm.

Cơ quan lập phập: Quốc hội được bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5 năm, 99 ghế.

Cơ quan tư pháp: Toà án nhân dân Tối cao, Chánh Toà án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu dựa trên đề cử của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Phó Chánh toà án nhân dân tối cao và các thẩm phán do Uỷ ban thường vụ Quốc hội bổ nhiệm.

Chế độ bầu cử: Từ 18 tuổi trở lên, phổ thông đầu phiếu.

Chính đảng: Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (LPRP).

Kinh tế: Lào là một nước nằm trong đất liền với cơ sở hạ tầng còn thô sơ, chưa có đường sắt, hệ thống đường sá mới hình thành, hệ thống truyền thông còn hạn chế. Điện chủ yếu chỉ có ở  khu vực đô thị. Nền nông nghiệp sử dụng 80% lực lượng lao động. Cây lương thực chủ yếu là lúa nếp. Trong những năm không bị hạn hán, Lào tự cung cấp đủ lương thực cho mình, nhưng những năm lũ lụt, sâu bệnh và hạn hán cục bộ thì thường xảy ra thiếu lương thực ở nhiều vùng trong nước.

GDP theo PPP: 7 tỷ USD (1999). Tỷ lệ tăng GDP thực tế: 5,2% (1999). GDP bình quân đầu người theo PPP: 1.300 USD (1999). Cơ cấu GDP theo khu vực (1999): Nông nghiệp 51%, Công nghiệp 22%, Dịch vụ 27%. Tỷ lệ lạm phát tiêu dùng: 140% (1999).

Quan hệ quốc tế: Tham gia các tổ chức quốc tế ASEAN, ASDB, FAO, G-77, IBRD, ICAO, IFAD, ILO, IMF, IOC, ITU, UN, UNCTAD, UNESCO, UNIDO, UPU, WFTU, WHO, WIPO, WMO, Interpol...


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 01 Tháng Bảy, 2012, 08:59:27 AM
Chương I
TỔNG QUAN VỀ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
KHU VỰC BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO

Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng đối với an ninh của nhau, có lịch sử văn hoá phát triển lâu đời, có mối quan hệ và lợi ích kinh tế - xã hội gắn bó, có chung số phận là thường phải chiến đấu chống ngoại xâm trong nhiều thời kỳ lịch sử. Cách đây hàng trăm năm, trong thời kỳ phong kiến, hai nước Việt Nam và Lào đã có mối quan hệ láng giềng thân thiện, bang giao kinh tế và hỗ trợ nhau chống ngoại xâm. Nhưng chỉ từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập (1930), đặc biệt là từ năm 1945 đến nay, trải qua hai cuộc kháng chiến chống kẻ thù chung của hai dân tộc là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ và trong thời kỳ xây dựng đất nước, mối quan hệ truyền thống Việt Nam - lào mới thực sự được tôi luyện, thử thách và trở thành mối quan hệ đặc biệt.


Hai nước có chung đường biên giới với tổng thiều dài khoảng 2.067 km, đi qua 10 tỉnh biên giới của Việt Nam là Điện Biên, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và Kon Tum; tiếp giáp với 10 tỉnh biên giới của Lào là Phông-sa-lỳ, Luổng-phạ-băng, Hủa-phăn, Xiêng-khoảng, Bô-ly-khăm-xay, Khăm-muộn, Sa-vẳn-nạ-khệt, Sa-la-van, Xê-kông và Ắt-tạ-pư. Điểm khởi đầu của đường biên giới ở vị trí ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc (tỉnh Điện Biên), kết thúc ở  vị trí ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia (tỉnh Kon Tum).


1. ĐƯỜNG BIÊN GIỚI

Theo Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam - Lào ký ngày 18-7-1977 và Hiệp ước bổ sung ký ngày 24-01-1986, hai nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào có chung đường biên giới dài khoảng 2.067 km (điểm khởi đầu tại vị trí ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc, điểm cuối ở ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia). Đi qua 10 tỉnh biên giới phía Việt Nam với 31 huyện, 140 xã biên giới)(1) (Theo Nghị định số 34/2000/NĐ-CP ngày 18/8/2000 của Chính phủ) và 10 tỉnh biên giới phía Lào, cụ thể:

- Tỉnh Điện Biên (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Phông-sa-lỳ, Luổng-phạ-băng (Lào): Đường biên giới dài khoảng 360 km. Có 03 huyện, 17 xã biên giới.

- Tỉnh Sơn La (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Luổng-phạ-băng, Hủa-phăn (Lào): Đường biên giới dài khoảng 250 km. Có 4 huyện, 19 xã biên giới.

- Tỉnh Thanh Hoá (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Hủa-phăn (Lào): Đường biên giới dài khoảng 192 km. Có 5 huyện, 15 xã biên giới.

- Tỉnh Nghệ An (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Hủa-phăn, Xiêng-khoảng (Lào): Đường biên giới dài khoảng 419 km. Có 6 huyện, 26 xã biên giới.

- Tỉnh Hà Tĩnh (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Bô-ly-khăm-xay, Khăm-muộn (Lào): Đường biên giới dài khoảng 145 km. Có 2 huyện, 8 xã biên giới.

- Tỉnh Quảng Bình (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Khăm-muộn (Lào): Đường biên giới dài khoảng 186 km. Có 5 huyện, 8 xã biên giới.

- Tỉnh Quảng Trị (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Xa-vẳn-nạ-khệt, Sa-la-van (Lào): Đường biên giới dài khoảng 182 km. Có 2 huyện, 16 xã biên giới.

- Tỉnh Thừa Thiên - Huế (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Sa-la-van, Sê kông (Lào): Đường biên giới dài khoảng 68 km. Có 1 huyện, 12 xã biên giới.

- Tỉnh Quảng Nam (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Sê-kông (Lào): Đường biên giới dài khoảng 115 km. Có 2 huyện, 12 xã biên giới.

- Tỉnh Kon Tum (Việt Nam) tiếp giáp với tỉnh Sê-kông, Ắt-tạ-pư (Lào): Đường biên giới dài khoảng 150 km. Có 2 huyện, 7 xã biên giới.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 01 Tháng Bảy, 2012, 09:00:18 AM
2. ĐỊA HÌNH

Địa hình khu vực biên giới Việt Nam - Lào là một dải núi rừng trùng điệp, hiểm trở và rất phức tạp. Đây là một vùng đồi núi, được hình thành trong quá trình chuyển động phá huỷ biến dạng cùng với các chuyển động nâng trong thời kỳ Kainozoi (cách đây khoảng 65 triệu năm).


Ở phía Bắc, phần lớn được tạo bởi các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao trung bình thay đổi từ 1.500 m đến 1.800 m. Sông, suối thảy xuyên qua các thung lũng bậc thang nằm xen kẽ giữa các khối đá hoa cương, đã vôi và đá sa khoáng tạo thành một hình thái phong cảnh địa hình bị chia cắt khá hùng vĩ. Nửa phần phía Nam của đường biên giới đi theo đường phân thuỷ của dấy Trường Sơn. Dấy núi này trải dài từ phía Tây Bắc đến Đông Nam song song với sông Mê- Công. Vùng này không được được tạo bởi các dãy núi mà là tập hợp khá nhiều cao nguyên bị bào mòn rõ rệt và nằm độc lập với nhau. Sườn dốc có độ nghiêng lớn hơn của dãy núi quay mặt về phía Việt Nam, còn phía sườn dốc nhỏ hơn thì trải dần đều và ăn sâu về phía Lào. Khu vực vĩ tuyến 16°30' ngang với Thà Khẹc đường biên giới đi vào vùng núi đá vôi (phía Việt Nam thuộc Phong Nha tỉnh Quảng Bình), có các thung lũng nằm bao bọc xung quanh các đỉnh núi đá hiểm trở. Tiếp đến là một vùng núi đá hoa cương và đất ba-zan bằng phẳng thuộc tỉnh Quảng Trị của Việt Nam và Sa-vẳn-nạ-khẹt của Lào. Về phía Nam là nơi địa hình núi cao hiểm trở của dãy Trường Sơn có độ cao được nâng lên trên 2.000 m, với địa hình đá hoa cương gồ ghề. Cuối cùng là vùng đá hoa cương với các ngọn đồi tròn và các đỉnh núi nhô cao nằm độc lập với nhau. Các dòng dung nham mỏng rải khắp cao nguyên có dạng gấp nếp mềm mại chạy dài từ vĩ tuyến 16°00' đến cao nguyên Đắc Lắc trên vùng biên giới Việt Nam - Campuchia.


Đường biên giới chủ yếu đi theo núi, có nhiều núi cao (thấp nhất là 250 m, cao nhất là 2.711 m). Dọc theo biên giới phần lớn có rừng già che phủ, cũng có một vài nơi xen kẽ bình nguyên, thung lũng với những thảm thực vật thưa, thấp như cỏ tranh v.v...


Trên thực địa, đường biên giới đi theo các dạng địa hình rất phức tạp, trừ các đoạn biên giới đi theo sông, suối biên giới, còn lại đều đi trên các sống núi và triền núi cao của các dãy Phu Xam Xấu và Trường Sơn (qua 319 ngọn núi cao trên 1.000 m, trong đó có 18 ngọn núi cao trên 2.000 m, cao nhất là ngọn Phu Sai Lai Leng cao tới 2.711 m, còn lại đều có độ cao trên 300 m so với mặt nước biển), đa phần là rừng sâu khí hậu khắc nghiệt, nhiều nơi đường biên giới không đi theo các sống núi liên tục, tạo thành đường thẳng cắt qua mọi địa hình (tổng số có 21 đoạn với 190 km đường biên giới kẻ thẳng), dài nhất là đoạn biên giới kẻ thẳng giữa tỉnh Quảng Bình (Việt Nam) và Khăm Muộn (Lào) gần 40 km.


3. KHÍ HẬU, THỜI TIẾT

Nhìn chung, thời tiết khí hậu ở  khu vực biên giới Việt Nam - Lào chịu sự chi phối của gió mùa điển hình ở
Đông Nam Á, còn có ảnh hưởng bởi độ cao và phương hướng, trung bình cứ 100 mét nhiệt độ giảm đi 0,6°C, phân chia thành hai mùa tương đối rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 11, mùa khô từ tháng 12 năm trước đến hết tháng 3 năm sau (thực tế mùa khô cũng không tháng nào là hoàn toàn không có mưa vì mùa dông cũng có thể có mưa bão). Khí hậu, thời tiết giữa Bắc và Nam, giữa Tây và Đông rất khác nhau và rất khắc nghiệt. Mùa nóng thì rất nóng, mùa mưa thì mưa nhiều, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 20°C độ đến 25°C (tháng nóng nhất là tháng 4 nhiệt độ trung bình là 30°C, tháng lạnh nhất là tháng 12, nhiệt độ trung bình là 26°C), lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.030 mm đến 3.050 mm (lượng mưa tối đa thường vào tháng 7, tháng 8 với trên 500 mm mỗi tháng). Vì là khí hậu nhiệt đới gió mùa nên độ ẩm tương đối cao, nhiều khu vực dọc theo biên giới thường xuyên có mây mù che phủ, thậm chí có một số nơi mây mù che phủ quanh năm.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 03:55:35 PM
4. SÔNG, SUỐI BIÊN GIỚI

Theo Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam - Lào ký năm 1977 và Hiệp ước bổ sung hoạch định biên giới ký năm 1986, ở khu vực biên giới Việt Nam - Lào có trên 60 sông, suối. Trong đó có 47 đoạn sông, suối biên giới (có đường biển giới - thuỷ giới) với tổng chiều dài 289,25 km, còn lại là những sông, suối cắt đường biên giới - Bảng 1.

BẢNG 1: CÁC ĐOẠN SÔNG, SUỐI BIÊN GIỚI VIỆT - LÀO

TT   Tên sông, suối   Dài (km)   Thuộc tỉnh
1
   
Nậm Chim
   
8,5
   
Điện Biên
2
   
Nậm Mức (Nậm Meuk)
   
1,1
   
Điện Biên
3
   
Nậm Rốn (Nậm Noua)
   
16
   
Điện Biên
4
   
Huổi Mo
i
   
12
   
Điện Biên
5
   
Suối Chén
   
3
   
Điện Biên
6
   
Huổi Hua
   
2
   
Điện Biên
7
   
Suối không tên
   
2,5
   
Điện Biên
8
   
Sông Mã
   
0,7
   
Sơn La
9
   
Suối Ái
   
2
   
Sơn La
10
   
Suối Co Phay
   
1
   
Thanh Hoá
11
   
Suối Piềng
   
0,15
   
Thanh Hoá
12
   
Nhánh Suối Khiết I
   
0,75
   
Thanh Hoá
13
   
Nhánh Suối Khiết II
   
0,25
   
Thanh Hoá
14
   
Huổi Xia Nhầy (Pa Khốm)
   
2,2
   
Thanh Hoá
15
   
Huổi Ta Ngươn (Ta Ngơn)
   
8
   
Thanh Hoá
16
   
Nậm Phùn
   
1
   
Thanh Hoá
17
   
Nậm Sôi
   
3
   
Thanh Hoá
18
   
Áng Ngước Tớp
   
1,5
   
Thanh Hoá
19
   
Nậm Niêm
   
0,3
   
Thanh Hoá
19
   
Nậm Niêm
   
0,3
   
Thanh Hoá
20
   
Áng Ngước Nọi
   
0,7
   
Thanh Hoá
21
   
Nậm Hàn
   
13,2
   
Nghệ An
22
   
Huổi Lơi (Huổi Pá)
   
2
   
Nghệ An
23
   
Huổi Mai (Huổi May)
   
7
   
Nghệ An
24
   
Sông Cả
   
36
   
Nghệ An
25
   
Nậm Sủng
   
18,3
   
Nghệ An
26
   
Huổi Duộc
   
0,4
   
Nghệ An
27
   
Huổi Khắc
   
1
   
Nghệ An
28
   
Nậm Than (Tấm)
   
2
   
Nghệ An
29
   
Huổi Mẹt (Nậm Thăm)
   
3
   
Nghệ An
30
   
Nhánh suối Phỉ Nha Vai
   
0,8
   
Nghệ An
31
   
Suối Phỉ Nha Vai
   
0,8
   
Nghệ An
32
   
Nậm Cắn
   
1,2
   
Nghệ An
33
   
Nậm Mô
   
33
   
Nghệ An
34
   
Huổi Hằng
   
0,5
   
Nghệ An
35
   
Huổi Na Than (Buốc Thuộc)
   
1,5
   
Nghệ An
36
   
Nhánh Huổi Cù Bai (Pơ Rền)
   
1,5
   
Quảng Trị
37
   
Huổi Cù Bai
   
4
   
Quảng Trị
38
   
Suối nhỏ không tên
   
0,5
   
Quảng Trị
39
   
Suối Xà Ợt
   
0,2
   
Quảng Trị
40
   
Suối A Dơi (Khe A Giơi)
   
1,2
   
Quảng Trị
41
   
Suối Sê Pôn (Tchepone)
   
59
   
Quảng Trị
42
   
Suối A Ling (Rào Lao)
   
11
   
Thừa Thiên Huế
43
   
Suối Đak Nông (Đăk Lây 1)
   
7
   
Kon Tum
44
   
Suối Đak Va (Đăk Lây 2)
   
5
   
Kon Tum
45
   
Huổi Táp Trê (Đăk Lây 3)
   
3,5
   
Kon Tum
46
   
Suối Đak Cai (Đak Lây 4)
   
8
   
Kon Tum
47
   
Nhánh suối Đak Cai (Đak Lây 5)
   
1
   
Kon Tum


Do đặc điểm địa hình và khí hậu khu vực biên giới Việt Nam – Lào, thực trạng sông, suối giữa hai nước có những đặc điểm khá khác biệt giữa hai miền.

Sông, suối biên giới ở khu vực phía Bắc từ đỉnh Khoan La San đến Phu Luông, với những sông, suối biên giới ở khu vực này thường là các nhánh sông, suối nhỏ có tính khu vực, ít có liên quan đến hệ thống sông lớn của hai nước. Do địa hình phức tạp nên lượng nước thay đổi lớn theo mùa. Mùa mưa lượng nước dâng cao, dòng chảy mạnh. Sông, suối biên giới ở đây chịu ảnh hưởng của quá trình xói mòn theo chiều đứng là chủ yếu, quá trình xói lở bờ có thể xảy ra nhưng do cấu tạo địa chất vững chắc của địa hình nên ít ảnh hưởng đến việc thay đổi vị trí và hướng của dòng chảy.


Sông, suối biên giới ở khu vực phía Nam chủ yếu chạy theo đường phân thuỷ chính của dãy Trường Sơn, kéo dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam chạy song song với dòng sông Mê Công, sườn dốc đứng của dãy núi thường quay về phía Việt Nam còn những dốc thoai thoải hơn mở rộng sang phía Lào. Sông, suối biên giới thuộc các tỉnh miền Trung (Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh) lớn hơn các sông, suối biên giới ở phía Bắc cả về chiều dài và chiều rộng, thường có mối liên hệ trực tiếp với các hệ thống sông lớn như sông Cả, sông Mã, sông Chu. Độ dốc của dòng chảy lớn do vậy nó cũng chịu tác động mạnh mẽ hơn của quá trình xâm thực của dòng chảy, dặc biệt là về mùa mưa. Địa hình các khu vực sông, suối biên giới ở đây tương đối ổn định, bờ sông dốc được cấu tạo bởi dá mẹ là chủ yếu, đoạn bờ sông được hình thành do phù sa thường rất nhỏ hẹp. Quá trình xâm thực dòng chảy ở đây chủ yếu theo chiều sâu và sạt lở đất đá do đất trượt về mùa mưa. Sông, suối biên giới thuộc các tỉnh Trung bộ (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế) dòng chảy có lưu vực sông tương đối lớn, độ dốc lớn và địa hình bờ sông được hình thành chủ yếu do phù sa bồi tụ, vào mùa mưa dòng chảy với lưu lượng lớn, tốc độ lũ quét nhanh, cũng có đoạn đi qua địa hình dạng gò đồi thấp có độ cao chênh lệch ít nên dòng chảy khá ổn định. Sông, suối biên giới ở các tỉnh Trường Sơn Nam (Quảng Nam, Kon Tum) đi qua địa hình rất phức tạp, tiết diện dòng chảy hẹp chủ yếu theo khe núi có độ dốc tương đối lớn, nhưng do bờ sông được cấu tạo chủ yếu là đá gốc nên khá ổn định.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 04:15:47 PM
5. CỬA KHẨU BIÊN GIỚI

Theo Hiệp định Quy chế biên giới quốc gia Việt Nam - Lào ký ngày 01-3-1990, hai bên thoả thuận mở tám cặp cửa khẩu chính.


Thực tế, nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực biên giới hai nước đòi hỏi mở mới và nâng cấp một số cửa khẩu. Hiệp định quy chế biên giới năm 1990 cũng đã quy định: ở những nơi xa các cửa khẩu (tám cặp cửa khẩu nói trên), nếu xét thấy cần thiết, chính quyền tỉnh hai bên có thể thoả thuận mở thêm các cửa khẩu phụ để thuận tiện cho công dân cư trú ở khu vực biên giới qua lại. Việc kiểm soát qua lại biên giới ở các của khẩu phụ phải theo nguyên tắc kiểm soát chung.


Căn cứ Nghị định thư bổ sung Hiệp định quy chế biên giới ký ngày 31 - 8- 1997, hai bên đã thống nhất nâng cấp hai cặp cửa khẩu Cầu Treo - Nậm Pao và Lao Bảo - Đen Xa Vắn thành cửa khẩu quốc tế. Đến nay, trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào đã mở mới và nâng cấp một loạt cửa khẩu, như nâng cấp ba cặp cửa khẩu Cha Lo - Thông Khảm, Bờ Y- Giang Giơn, Tây Trang - Sốp Hùn thành cửa khẩu quốc tế, một số cặp cửa khẩu phụ nâng cấp thành cửa khẩu chính; mở mới một số cặp cửa khẩu phụ - Bảng 2.


Bảng 2: CỬA KHẨU BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO

TT
     
Tên
     
Thuộc tỉnh
     
Loại
     
Phạm vi (xã: VN-Lào)
1
     
Tây Trang - Xốp Hùn
      Điện Biên – Phông-sa-lỳ     
Quốc tế
     
Na Ư – Pang Hốc
2
     
Chiềng Khương - Bản Đan
      Sơn La - Hủa-phăn     
Chính
     
Chiềng Khương - Bản Đan
3
     
Pa Hàng - Sốp Bau
      Sơn La - Hủa-phăn     
Chính
     
Lóng Sập – Pa Hang
4
     
Na Mèo - Bản Lơi
      Thanh Hoá - Hủa-phăn     
Quốc tế
     
Sơn Thuỷ - Bản Lơi
5
     
Nậm Cắn - Nậm Cắn
      Nghệ An – Xiêng Khoảng     
Quốc tế
     
Nậm Cắn - Nậm Cắn
6
     
Cầu Treo - Nậm Phao
      Hà Tĩnh – Bô-ly-khăm-xay     
Quốc tế
     
Sơn Kim - Nậm Phao
7
     
Cha Lo – Thông Khảm
      Quảng Bình – Khăm-muộn     
Quốc tế
     
Dân Hoá – Na Phậu
8
     
Lao Bảo – Đen Xa Vẳn
      Quảng Trị - Xa-vẳn-nà-khệt     
Quốc tế
     
Lao Bảo – Đen Xa Vẳn
9
     
La Lay – Kriêng
      Quảng Trị-Sa-la-van     
Chính
     
A Ngo – A Soi
10
     
Bờ Y – Giang Giơn
      Kon Tum – At-tạ-pư     
Quốc tế
     
Bờ Y – Giang Giơn


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 04:17:25 PM
6. ĐƯỜNG GIAO THÔNG TRONG KHU VỰC BIÊN GIỚI

Do địa hình khu vực biên giới phần lớn là núi cao hiểm trở và kinh tế xã hội kém phát triển nên hệ thống giao thông đi lại qua biên giới còn rất khó khăn và hạn chế. Ngoài một số tuyến đường quốc lộ, còn lại chủ yếu là các đường đất, đường mòn, đường sông rất hạn chế, đường sắt không có.


Một số tuyến đường giao thông chính từ Bắc xuống Nam gồm có:

- Quốc lộ 6 nối Điện Biên với các tỉnh Tây Bắc của Lào như Phông-sa-lỳ, Mường-xay, Luông-pha-băng, qua cửa khẩu Tây Trang.

- Quốc lộ 15 nối liền Thanh Hoá với Sầm-nưa, Luông-pha-băng, Xiêng-khoảng, qua cửa khẩu Na Mèo.

- Quốc lộ 7 nối liền Nghệ An với Xiêng-khoảng, Viêng Chăn qua cửa khẩu Nậm Cắn.

- Quốc lộ 8 nối liền Nghệ An, Hà Tĩnh với Bô-ly-khăm-xay, Khăm- muộn qua cửa khẩu Cầu Treo.

- Quốc lộ 9 nối liền Quảng Trị với các tỉnh trung và hạ Lào như Xa-vẳn-nạ-khẹt, Xa-la-van qua của khẩu Lao Bảo.

- Quốc Lộ 18 B nối liền Kon Tum với Át-tạ-pư, Chăm-pa-xắc qua cửa khẩu Bờ Y.


7. DÂN CƯ, DÂN TỘC

Do điều kiện địa lý tự nhiên giữa hai nước "núi liền núi, sông liền sông", ở khu vực biên giới hai nước có nhiều dân tộc anh em cùng sống chung, có những dân tộc cùng chung một nguồn gốc lịch sử, một tiếng nói, thậm chí có bộ phận cùng chung một tổ tiên sinh ra rồi chia nhau đi tìm đất đai làm ăn nên có quan hệ thân thuộc họ hàng rất thân thiết. Họ sống gần gũi với nhau đến nỗi một đám cháy rừng, một ngọn gió lốc, một cơn nắng hạn, một trận mưa rào đều chịu chung một hậu quả. Những ngày mùa, ngày hội đều cùng nhau vui hưởng, lúc thiếu thốn khó khăn đã cùng nhau chia sẻ ngọt bùi. Do đó có thể nói nhân dân đang cư trú sinh sống ở hai bên đường biên giới Việt Nam - Lào có quan hệ trực tiếp, gần gũi không những về mặt địa lý, phong tục tập quán, nguồn gốc lịch sử mà còn cả về quan hệ kinh tế và quá trình lịch sử của hai dân tộc, hai đất nước. Tuy nhiên, do điều kiện địa hình phức tạp, khí hậu thời tiết lại rất khắc nghiệt nên nói chung mật độ dân cư trú, sinh sống ở hai bên đường biên giới cả phía Việt Nam và phía Lào đầu rất thưa thớt, có nơi dân ở cách xa đường biên giới tới ba đến bốn ngày đường đi bộ. Mặt khác, trình độ dân trí ở khu vực biên giới đang còn hạn chế, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hoá còn rất nghèo nàn, còn có nhiều bộ phận dân sống du canh du cư, chưa có ý thức rõ ràng về quốc gia, lãnh thổ, còn mang nặng tư tưởng lạc hậu và nếp sống tự do. Do vậy thực tế đã gây không ít khó khăn cho việc quản lý bảo vệ đường biên giới và mốc quốc giới cũng như việc tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân biên giới tham gia thực hiện quy chế biên giới chung.


Dân cư sinh sống ở vùng biên giới Việt - Lào chủ yếu là dân tộc thiểu số. Tại vùng núi cao phía Bắc, từ ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc đến thung lũng sông Cả, các nhóm dân tộc chính cực kỳ khác nhau và vô cùng pha trộn. Tộc người A Kha của nhóm Tây Tạng - Miến Điện chiếm các khu vực phía Bắc trước khi bị tộc người Thái thay thế. Phía Nam Điện Biên Phủ là tộc người Mèo (Mán, Dao) và Kha (Môn Khơ-me). Phần còn lại cho đến sông Cả, dân cư chủ yếu là các tộc người Thái (Đỏ Đen, Trắng) và Mèo, tộc người Mèo xuất hiện như những đảo người sống tách biệt trong biển rộng lớn người Thái.


Từ khu vực Quảng Bình đến ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia chủ yếu là các tộc người Sui, Xơ Đăng và Trâu (Môn Khơ'me) với một số ít tộc người Thái và Kinh sống xen kẽ, khu vực biên giới giáp Quảng Trị có nhiều người Kinh sinh sống. Nhìn chung mật độ dân số trên vùng biên giới rất thấp, mật độ trung bình dưới 10 người/km2.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 04:23:35 PM
Chương II
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LỊCH SỬ
CỦA ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO


1. SỰ CHUYỂN DỊCH LÃNH THỔ VIỆT NAM VÀ LÀO QUA CÁC TÀI LIỆU LỊCH SỬ

Theo sử sách của ta và của Trung Quốc, đến khoảng đầu thế kỷ XXI, ở trên bán đảo Đông Dương ngày nay có bốn quốc gia đã hình thành(1) (Đại sử ký Biên giới Việt Nam - Lào, quyển 1, Vụ Biên giới phía Tây, ban Biên giới (Bộ Ngoại giao)):

(1) Nước Đại Việt ở phía Bắc và Đông Bắc;

(2) Nước Chiêm Thành ở phía Trung Đông;

(3) Nước Ai-lao ở phía Trung Tây;

(4) Nước Chân Lạp ở phía Nam và Tây Nam.


Ngoài các quốc gia nói trên, còn có một số bộ lạc tồn tại riêng lẻ, tự do, trong đó có bốn bộ lạc lớn là:

(1) Bộ lạc Lão Qua ở về phía Tây Bắc (thuộc Vân Nam - Trung Quốc ngày nay), có đất đai từ Luổng-phạ-băng trở lên đến Bo Keo, Nậm Thà, Phông-sa-lỳ của Lào hiện nay;

(2) Bộ lạc Húa Mường ở giữa bộ lạc Lão Qua và Đại Việt, đất đai là tỉnh Hủa-phăn của Lào hiện nay;

(3) Bộ lạc Bồn Man ở giữa nước Ai-lao và bộ lạc Lục Hoàn với nước Đại Việt đất đai là hai tỉnh Xiêng-khoảng và Khăm-muộn của Lào hiện nay;

(4) Bộ lạc Lục Hoàn ở hai bên sông Mê Công nằm giữa nước Ai-lao với bộ lạc Bồn Man.


Bốn bộ lạc trên, trừ bộ lạc Lão Qua nội thuộc tỉnh Vân Nam của phong kiến Trung Quốc, ba bộ lạc còn lại đều theo chế độ tự trị, chưa hình thành quốc gia hoàn chỉnh và cũng chưa chính thức nội thuộc vào quốc gia nào trong khu vực.


Nước Đại Việt lúc bấy giờ (năm 1054) phía Đông giáp biển và hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc ngày nay; phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vân Nam của Trung Quốc (trong đó có bộ lạc Lão Qua); phía Tây giáp bộ lạc Hùa Mường và bộ lạc Bồn Man; phía Nam giáp nước Chiêm Thành (giới hạn cương vực ở dãy núi Hoành Sơn đến đèo Ngang - phía Nam tỉnh Hà Tĩnh ngày nay).


Từ đầu thế kỷ XII đến đầu thế' kỷ XIX, lãnh thổ Đại Việt có sự chuyển dịch về phía Tây và Tây Nam. Sử cũ đã ghi chép khá đầy đủ những sự kiện liên quan đến sự chuyển dịch này:


Bộ lạc Bồn Man:

- Năm 1338, Bồn Man và một bộ tộc nhỏ ở Bắc lũng Nậm Ca Đinh có tên là Ngọc Mạ thuần phục Đại Việt (nhà Trần), sau đó lại thuần phục Lạn Xang, quấy nhiễu Đại Việt.

- Năm 1435, vua Lê Thái Tôn bình định Ngọc Mạ, đổi thành phủ Ngọc Mạ sáp nhập vào Đại Việt. Tiếp đến, đánh chiếm lũng Xê Băng Phay Nam, lũng Nậm Ca Đinh và sáp nhập hai lũng này thành châu Trịnh Cao thuộc phủ Ngọc Mạ. Năm 1437, cắt một phần đất của Bồn Man tiếp giáp với phủ Ngọc Mạ đặt thành châu Quỳ Hợp. Năm 1478, sau khi thuần phục Lạn Xang, Lê Thánh Tôn lấy đất còn lại của Bồn Man đặt thành phủ Trấn Ninh gồm bảy huyện.

- Năm 1804, vua Gia Long cắt ba vùng thuộc Thừa tuyên Nghệ An (phủ Ngọc Mạ, phủ Trấn Ninh và châu Quỳ Hợp) cho Quốc vương Lạng Xang để trả công đã giúp Gia Long đánh Tây Sơn. Năm 1827, vua Minh Mệnh lập phủ Trấn Ninh trên đất Trấn Ninh cũ cho thuộc Nghệ An, còn lấy đất Căm Môn, Căm Cớt và Phàm Linh thuộc châu Trịnh Cao của phủ Ngọc Mạ, đổi thành huyện thuộc phủ mới là Trấn Định. Năm 1828, đặt ba huyện Mông Sơn, Thâm Nguyên và Yên Sơn của châu Quỳ Hợp lập thành phủ Trấn Tịnh. Đến năm 1829, khi Lạng Xang bị Xiêm diệt, các tù trưởng phủ Ngọc Mạ, phủ Trấn Ninh và châu Quỳ Hợp chính thức quay trở về nội thuộc Việt Nam. Năm 1832, Minh Mệnh lấy thêm đất Mường đặt thành huyện Liệm cho thuộc phủ Trấn Ninh (lúc này Trấn Ninh đã gồm tám huyện).

Như vậy, đến năm 1829, toàn bộ đất đai của bộ lạc Bồn Man và một số bộ tộc nhỏ ở khu vực này qua nhiều lần tách, nhập đã chính thức được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam.


Bộ lạc Lục Hoàn:

- Năm 1353, khi Phạ Ngừm thống nhất các bộ tộc Lào, lập nước Lạn Xang thì bộ lạc Lục Hoàn vẫn chưa bị sáp nhập vào Lạn Xang.

- Năm 1448, Lục Hoàn xin nội thuộc Đại Việt. Đến đời vua Lê Thánh Tông chia nước thành 12 Thừa tuyên, Lục Hoàn vẫn chỉ được coi là xứ Lục Hoàn Cống Man thuộc Thừa tuyên Nghệ An.

- Năm 1827, Xiêm La đưa quân đánh Lạng Xang, tấn công cả Lục Hoàn Cống Man nhưng đã bị quân của triều đình Nguyễn đánh trả quyết liệt. Để củng cố đất đai lâu dài, Minh Mệnh đã chia đặt đất đai phía Tây thành các huyện, phủ dưới sự quản lý chặt chẽ của trung ương, Lục Hoàn Cống Man được đổi thành phủ Lạc Biên thuộc tỉnh Nghệ An.


Bộ lạc Húa Mường:

- Trước năm 1435, Húa Mường vẫn là một bộ lạc tự do. Từ sau năm 1435, Hùa Mường có lúc nội thuộc nhà Lê, có lúc không. Năm 1448, Lê Thánh Tông đổi Hùa Mường thành Sầm Châu thuộc phủ Thành Đô, Thừa tuyên Thanh Hoá.

- Từ năm 1802 đến 1804, vua Gia Long cắt đất Hùa Mường cho Quốc vương Lạn Xang thu thuế.

- Năm 1827, tù trưởng Húa Mường xin nội thuộc Việt Nam. Minh Mệnh chia đặt Húa Mường thành hai phủ: Phủ Trấn Biên (gồm 4 huyện là Mường Tôn, Mường Lan, Sầm Tộ và Mường Hổ) thuộc vào tỉnh Nghệ An; phủ Trấn Man (gồm 3 huyện là Man Xôi, Sầm Nưa và Trình Cô) thuộc vào tỉnh Thanh Hoá.

Như vậy, đến năm 1829, toàn bộ đất đai của bộ lạc Hùa Mường đã chính thức sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 04:24:19 PM
Cam lộ Cửu Châu:
- Đất này xưa là miền thượng du của châu Ô thuộc Chiêm Thành. Năm 1306, vua Chiêm Thành dâng đất châu Ô, châu Lý làm hồi môn cho nhà Trần. Nhà Trần lấy vùng thượng du của châu Lý đặt thành hai châu là Thuận Bình và Sa Bôi.

- Đời Lê chia nước thành 12 Thừa tuyên thì hai châu Thuận Bình và Sa Bôi thuộc phủ Triệu Phong, Thừa tuyên Thanh Hoá (sau đó gọi là nguồn Cam Lộ gồm hai châu). Đời Hồng Đức gọi là Cam Lộ Nguyên, châu Thuận Bình tách thành hai châu là Tỉnh Yên và Mường Vang.

- Năm 1802, triều Nguyễn đổi thành đạo Cam Lộ, gồm ba châu là Mường Vang, Sa Bôi, Tỉnh Yên. Đến thời Minh Mệnh lấy thêm bốn nguồn thuế man đặt ra châu Hướng Hoá thuộc đạo Cam Lộ. Năm 1827, sáp nhập châu Hướng Hoá cùng chín châu đều do đạo Cam Lộ cai quản. Năm 1831, đổi đạo Cam Lộ thành phủ, đặt một tri phủ Cam Lộ kiêm lý châu Hướng Hoá và thống hạt chín châu Cống Man. Năm 1834, đổi châu Hướng Hoá thành huyện Hướng Hoá. Năm 1852, phủ Cam Lộ được phiên chế thành chín châu thuộc huyện Thành Hoá, tỉnh Thuận Hoá.


Tây Nguyên(1) ("Gia Lai, Đất Nước, Con Người", Tạp chí Việt Nam và Đông Nam Á ngày nay (Số tháng 5-1999), tr. 52-60):

Trước khi người Việt mở mang bờ cõi vào phía Nam, vùng đất Tây Nguyên vốn là của châu Thượng Nguyên thuộc nước Chiêm Thành cũ (Chiêm Thành có ba châu là Ô - Lý, Thị - Bi và Thượng Nguyên). Sau Khi chinh phạt Chiêm Thành, đến năm 1471 vua Lê Thánh Tông lấy đất châu Thượng Nguyên chia đặt thành hai xứ Nam Bàn (Côn Man - Lâm Đồng ngày nay) và Hoa Anh (gồm hai bộ lạc Thuỷ Xá và Hoả Xá - các tỉnh Tây Nguyên ngày nay), tấn phong cho con cháu của vua Chiêm cai quản.


Từ năm 1691 đến 1693, chúa Nguyễn lấy hết đất Chiêm Thành còn lại (từ Phan Rang đến Tân Lý) đặt thành phủ Bình Thuận. Từ đây toàn bộ đất đai đồng bằng và trung du của nước Chiêm Thành đã sáp nhập vào Đại Việt, riêng châu Thượng Nguyên chủ yếu là các dân tộc thiểu số nên chúa Nguyễn chỉ đặt ở chế độ thuộc quốc. Đến năm 1751, khi chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh đi kinh lý miền Tây (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà) thì hai bộ lạc Thuỷ Xá và Hoả Xá thuộc xứ Hoa Anh mới về thần phục chúa Nguyễn. Năm 1753, dân xứ Nam Bàn nổi loạn, đánh phá vùng Bình Thuận, chúa Nguyễn sai Nguyễn Cư Trinh đem binh đi dẹp, đến cuối năm 1754 thì dân xứ này mới chịu thần phục chúa Nguyễn.


Để quản lý dân cư và mở rộng quyền lực ở vùng đất duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, các chúa Nguyễn đặt ra một loạt đơn vị hành chính đặc biệt gọi là "nguồn". Chính sách của chúa Nguyễn đối với các "nguồn" ở Tây Nguyên mà cụ thể là với bộ lạc Thủy Xá và bộ lạc Hoả Xá là phủ dụ rồi dần dần lập quyền khống chế. Ví dụ năm 1711, chúa Nguyễn Phúc Chu cử viên thuộc ký thông thạo tiếng nói và phong tục của man dân" đem hàng hoá đi ngược lên phía Tây tỉnh Quảng Ngãi, tặng quà chiêu dụ được các bộ lạc ở Trà Lai (Jarai) khiến cho dân ấy tuân theo luật thuế của chúa Nguyễn. Bên cạnh việc phủ dụ, thu thuế, mua bán hàng hoá qua lại, các chúa Nguyễn còn tổ chức đặt quân trấn giữ các “nguồn" để bảo vệ biên giới chống lại sự cướp bóc của người Chân Lạp, người Lào và người Xiêm. Ví dụ năm 1697, người Lào quấy rối "nguồn" Hương Bình, chúa Nguyễn sai binh lên dẹp và thu phục thêm hai sách là Man Ala và Abát. Mỗi khi thu phục được đất mới, chúa Nguyễn dùng ngay người "man" cai quản người "man" ở đấy. Chính nhờ những biện pháp rất mềm dẻo và thuyết phục mà các nguồn người man ở Tây Nguyên dần dần hoà nhập vào Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 04:26:30 PM
2. BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO TRONG THỜI KỲ PHONG KIẾN

Như đã trình bày ở trên, đầu thế kỷ XI, phía Tây Đông Dương có nước Ai-lao. Phía Tây - Bắc Đông Dương còn có bộ tộc lão Qua lệ thuộc Vân Nam (Trung Quốc). Tuy cùng là chủng tộc Thái Lào, nhưng Vương quốc Ai-lao và Lão Qua từ xa xưa vốn là hai quốc gia riêng biệt.


Lão Qua là một bộ lạc đã thuần phục Nam Chiếu (một bộ lạc lớn ở vùng Vân Nam - Trung Quốc ngày nay khi ấy được nhà Đường tấn phong là Vân Nam Vương). Từ năm 1277, nhà Nguyên đổi Nam Chiếu thành phủ Đại Lý và sau này đổi thành tỉnh Vân Nam. Thế kỷ XIII, chính quyền tỉnh Vân Nam không quản lý tới, nên bộ lạc Lão Qua tự tách ra và lập thành Vương quốc độc lập có kinh đô là Luổng-phạ-băng, có đất đai từ Luổng-phạ-băng đến Tây-bắc Huổi Sai và Phông-sa-lỳ của Lào ngày nay.


Ai-lao hình thành từ thế kỷ II, kinh đô là Viêng Chăn. Đất đai gồm có: Phía Bắc và Nam ở phía tả ngạn sông Mê Công (Viêng Chăn và Chăm-pa-xắc ngày nay); một phần đất giữa về phía hữu ngạn sông Mê Công là từ Nọng Khai đến U Bon (các tỉnh Đông Bắc của Thái Lan hiện nay). Đến thế kỷ VII, đế quốc Chân Lạp cường thịnh thôn tính hết đất đai các bộ lạc đã thuần phục Ai-lao ở hữu ngạn sông Mê Công và vùng Chăm Pa Xắc. Nước Ai-lao chỉ còn vùng đất Viêng Chăn.


Vào cuối thế kỷ XIII, đầu thế kỷ XIV, giữa lúc các quốc gia trên bán đảo Trung Ấn nói chung và Tây Trường Sơn nói riêng đang trên đà phát triển, thì ở Lào vẫn còn duy trì hình thái các Mường cổ đại cát cứ trên lưu vực tả, hữu ngạn sông Mê Công. Sau khi người Lào trong nhiều thế kỷ tràn dần từ bắc xuống và chiếm lĩnh vai trò chủ thể của các dân tộc bản địa thuộc nhóm Môn - Khơ-me, lập nên các tiểu Vương quốc riêng lẻ như Vương quốc Mường Xoa (757) hay còn gọi là Xiêng Đông, Xiêng Thong (Luổng-phạ-băng ngày nay), Mường Phuôn (Xiêng- khoảng), Mường Viêng Chăn, Mường Ka Boong (Khăm-muộn), Mường Chăm Pa Na Khon (Chăm-pa-xắc), Mường Xiêng Xẻng Na Khon (miền Đông bắc Thái Lan). Trong các Mường Lào cổ đại này thì các mường lớn thường thống lĩnh các mường nhỏ và giữa các mường lớn cũng thường xảy ra những mâu thuẫn về đất đai, rừng núi và các quyền lợi kinh tế khác nên các cuộc chiến tranh nhỏ thường diễn ra giữa các mường với nhau.


Tuy nhiên, do cát cứ nhỏ bé và yếu đuối, các mường ở Lào hầu hết bị phong kiến ngoại bang thống trị: Từ thế kỷ XIII về trước là do đế quốc Khơ-me và từ thế kỷ XIV là do phong kiến Su-khô-thay. Nhân dân các bộ tộc Lào ở trong các mường cát cứ phải chịu đựng hai gánh nặng là sự thống trị của phong kiến ngoại bang và sự bóc lột của bọn quý tộc trong nội bộ Vương quốc và những cuộc chiến tranh triền miên giữa các Vương quốc Lào thôn tính lẫn nhau.


Từ đầu thế kỷ IX, Khơ-me đã được giải phóng khỏi sự thống trị của Vương triều Sailendra (Java), thống nhất Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp, phát triển thành đế quốc Angkor hùng mạnh. Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII, bành trướng thế lực sang phía Bắc đến tận miền Nam Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, lào, phía Nam đến tận Bắc Mã Lai, phía Đông đến Vương quốc Chăm Pa.


Tại Miến Điện, sự thống nhất giữa Pagan và Pê gu đã hình thành nên quốc gia độc lập và thống nhất đầu tiên từ thế kỷ XI.

Tại lưu vực sông Mê Nam, năm 1238 một quốc gia Thái ra đời gọi là Su-khôi-thay dưới thời Ro-ea-ra-goa, và tiếp theo con của Ro-ca-ra- goá là Ra-ma-kham-heng (1283 - 1317) đã bành trướng thế lực chiếm vùng trung lưu sông Mê Công (1287) và bán đảo Mã Lai, kiểm soát Tam-bra-lin-ga của người Môn ở vùng Linga (1294) đều là những vùng đất đai trước đó phụ thuộc vào đế quốc Angkor.


Cục diện phía Tây của bán đảo Trung ấn cũng thay đổi. Từ cuối thế kỷ XIII, đế quốc Angkor bước vào thời kỳ suy tàn, quốc gia Thái hình thành và bành trướng thế lực, thay thế cho vai trò của đế quốc này, đẩy lùi thế lực của Angkor từ phía Bắc dồn xuống phía Nam và uy hiếp cả kinh đô Angkor.


Sự phát triển của các quốc gia lân bang độc lập, thống nhất và hùng mạnh lúc đó đã thúc đẩy các Tiểu vương quốc Lào phải nhanh chóng thống nhất, độc lập để giải quyết những yêu cầu bức thiết của nhân dân các bộ tộc Lào đương thời là giải phóng khỏi sự thống trị của ngoại bang và chấm dứt cuộc chiến tranh đang xảy ra liên miên giữa các Tiểu vương quốc.


Đến giữa thế kỷ XIV (1353), vua Phạ Ngừm đánh đuổi quân Chân Lạp, lấy lại đất đai cũ, thôn tính bộ lạc Lão Qua và một số bộ tộc nhỏ khác thành lập nước Lạn Xang (Vạn Tượng) gồm 21 mường từ Huổi Sai, Phông-sa-lỳ đến U Bon, Bassac.


Từ năm 1750 đến 1770, nước Lạn Xang bi Xiêm La (Thái Lan) xâm chiếm lần thứ nhất. Xiêm La chiếm 13 mường gồm đất đai ở phía Nam từ Nong Khai đến U Bon (hữu ngạn sông Mê Công) và vùng Chăm-pa-xắc (tả ngạn sông Mê Công). Đất đai ở Lạn Xang chỉ còn 8 mường chung quanh Viêng Chăn (tả ngạn sông Mê Công), nhưng cũng bị Xiêm La quản chế. Mặt khác, nước Lạn Xang lúc bấy giờ thần phục Đại Việt (nhà Lê). Bộ lạc Lão Qua cũng tánh khỏi nước Lạn Xang năm 1405 và thần phục Trung Quốc nhà Minh), sau đó lại thần phục Vương quốc Miến Điện, giữa thế kỷ XVII lại thần phục Trung Quốc (nhà Thanh) và được nhà Thanh phong Nam Chưởng Quốc vương nhưng cũng bị Xiêm La quản chế trong thời gian nước Lạn Xang bị Xiêm La xâm chiếm.


Từ năm 1558, Đại Việt bị chia làm hai miền và tình trạng cát cứ đó kéo dài hơn 200 năm (1558 - 1771). Đến năm 1771, nhà Tây Sơn khởi nghĩa chiếm đất Quy Nhơn rồi dần dần chiếm toàn bộ đất đai thuộc phạm vi quản lý của chúa Nguyễn từ sông Gianh trở vào. Năm 1786, nhà Tây Sơn tiến ra Bắc diệt họ Trịnh. Năm 1789 tiến ra Bắc lần nữa đánh tan 20 vạn quân Thanh, thống nhất nước Đại Việt từ Lạng Sơn đến Cà Mau, Phú Quốc. Năm 1802, Nguyễn ánh lật đổ triều đại Tây Sơn và thống lĩnh toàn bộ đất đai nước Đại Việt thống nhất, lên làm vua hiệu là Gia Long, đổi tên nước Đại Việt thành Việt Nam. Năm 1804, Gia Long cắt đất các xứ Sầm Châu thuộc trấn Thanh Hoá (tỉnh Hủa-phăn), các phủ Trấn Ninh, Ngọc Ma, Lâm An xứ Lục Hoàn thuộc trấn Nghệ An (tỉnh Xiêng-khoảng và tỉnh Khăm-muộn) cho Quốc vương Lạn Xang vì có công giúp Gia Long đánh quân Tây Sơn.


Năm 1829, Minh Mạng cho cắt đất Sầm Châu đật ra phủ Trấn Nam thuộc tỉnh Thanh Hoá và phủ Trấn Biên thuộc tỉnh Nghệ An, phục hồi phủ Trấn Ninh, lấy đất Ngọc Ma cũ đổi thành phủ Trấn Định, lấy đất Lâm An cũ đổi thành phủ Trấn Tịnh, lấy xứ Lục Hoàn đổi thành phủ Lục Biên và đều thuộc tỉnh Nghệ An. Như vậy, các vùng đất này sau 24 năm bị cắt cho Lạn Xang nay lại trở về Việt Nam.


Đến đầu thế kỷ XVIII dưới triều Minh Mạng, lãnh thổ phía Tây của Việt Nam đã bao gồm các vùng đất rộng lớn gồm các trấn, phủ ở phía tả ngạn sông Mê Công là: Trấn Man Phủ thuộc tỉnh Thanh Hoá (vị trí tỉnh Hủa-phăn của Lào ngày nay); trấn Ninh Phủ thuộc tỉnh Nghệ An (vị trí tỉnh Xiêng-khoảng của Lào ngày nay); trấn Định Phủ thuộc tỉnh Nghệ An (vị trí tỉnh Khăm-muộn của Lào ngày nay); trấn Tịnh Phủ thuộc tỉnh Nghệ An (vị trí tính Khăm-muộn và tỉnh Sa-vẳn-nạ-khệt của Lào ngày nay); Lạc Biên phủ thuộc tỉnh Nghệ An (vị trí tỉnh Khăm-muộn của Lào và một phần đất ở phía Tây sông Mê Công của Thái Lan ngày nay); chín châu thuộc phủ Cam Lộ - Cam Lộ cửu châu thuộc tỉnh Quảng Trị (vị trí tỉnh Sa-vẳn-nạ-khệt của Lào ngày nay).


Năm 1827, Lạn Xang bị Xiêm La xâm chiếm lần thứ hai. Sau khi Quốc vương Lạn Xang là A Nô bị quân Xiêm giết tháng 10 năm 1829, Xiêm La chiếm hết phần đất còn lại gồm 8 mường xung quanh Viêng Chăn. Nước Lạn Xang đến đây bị Xiêm La xâm chiếm toàn bộ đất đai và năm 1831 còn bị Xiêm La đặt thành một tỉnh của Vương quốc Xiêm La. Vương quốc Nam Chưởng lại thần phục nhà Nguyễn, các tù trưởng và bộ lạc ở các xứ Sầm Châu, Trấn Ninh, Ngọc Ma, Lâm An, Lục Hoàn kéo về Nghệ An xin trở về Việt Nam.


Vào cuối thế kỷ XIX (1858 - 1884), trong lúc triều đình nhà Nguyễn bận đối phó với thực dân Pháp, Xiêm La được thực dân Anh ủng hộ đem quân xâm lược các nước láng giềng ở Đông Dương: Năm 1865 đánh chiếm các tỉnh Bát Tam Boong, Xiêm Rệp và Trung Trong của Cao-miên; năm 1880, đánh chiếm Vương quốc Nam Chưởng; năm 1884 đánh chiếm một số vùng đất của Việt Nam ở phía Tây Trường Sơn (các phủ Lục Biên, Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Tịnh thuộc tỉnh Nghệ An và 9 châu Cam lộ của tỉnh Quảng Trị). Như vậy, đến thời điểm này (1868 - 1884), khi Pháp đặt xong ách thống trị ở Việt Nam và Cao-miên thì Vương quốc Nam Chưởng và toàn bộ đất đai nước Lạng Xang của vua Phạ Ngừm xây dựng từ đầu thế kỷ XIV đã hoàn toàn bị Xiêm La thôn tính. Đến khi thực dân Pháp hoàn tất việc chiếm đóng Đông Dương thì không còn tồn tại nước Ai-lao trên thực tế.


Tuy nhiên, như ở trên đã nói, trong lịch sử lâu đời của hai nước Việt Nam và Lào, giữa các dân tộc sống ở hai bên đường biên giới đã có những mối quan hệ mật thiết qua lại về nhiều mặt; ở nhiều nơi, từ xa xưa đã có những nhóm tộc người sinh sống phân tán, rải rác trên những triền núi cao với lối sống du canh, du cư, quan hệ giao tiếp rất hạn chế, nên họ không quan tâm đâu là đường biên giới, đâu là lãnh thổ của bên này hay bên kia. Các tập đoàn phong kiến cầm quyền các cấp ở địa phương hai bên đường biên giới thì tuỳ theo lợi ích của mình đã quy thuận triều đình phong kiến bên này, rồi lại quy phục bên kia. Tuy vậy, do đặc điểm địa lý của một đường ranh giới thiên nhiên chạy dọc theo các triền núi cao ngăn cách giữa hai nước, đến khi thực dân Pháp đánh chiếm Đông Dương, thực tế đã có một đường biên giới Việt Nam - Lào hình thành từ lâu đời.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 04:33:28 PM
3. BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO TRONG THỜI KỲ ĐÔNG DƯƠNG THUỘC PHÁP

Từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1945, Việt Nam và Lào bị thực dân Pháp thống trị. Trong thời kỳ này, hai nước cùng bị thực dân Pháp thống trị, do vậy đường biên giới giữa hai nước chỉ là ranh giới hành chính giữa hai xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Ai-lao trong cái gọi là liên bang Đông Dương" thuộc Pháp. Để phục vụ việc quản lý và khai thác thuộc địa, thực dân Pháp đã làm rất tuỳ tiện, một số vùng đất tiếp giáp giữa Việt Nam và Lào bị chia đi cắt lại nhiều lần(1) (Đại sử ký Biên giới Việt Nam - Lào, Quyển 2, Vụ Biên giới phía Tây, Ban Biên giới (Bộ Ngoại giao)).


Ngày 30-9-1893, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định thành lập hai đạo Căm Môn và Sông Khôn (bao gồm vùng đất nằm giữa sông Mê Công và các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An ngày nay). Trong từng địa hạt, Pháp cử đại diện thuộc sự quản lý trực tiếp của Khâm sứ Trung Kỳ người Pháp. Theo đó: Đạo Căm Môn gồm đất đai các phủ Trấn Định (Căm Môn, Căm Cớt, Căm Linh), Lạc Biên (xứ Lục Hoàn) và phủ Trấn Tịnh (Yên Sơn, Mộng Sơn và Thâm Nguyên); đạo Sông Khôn gồm 9 châu Lào Cam Lộ, Mường Vang (Mường Vang Cận), Na Pan (Sê Pôn), Thượng Kế (Mường Nòng), Tầm Bôn (Mường Phong), Mường Bổng (Nậm Nam, Chăm Thon), Ba Lan (Pha Lan), Xương Thịnh (Xiêng Hom), Tà Bang (Pa Păng), Làng Thìn (Mường Phía).


Nhận thấy các vùng đất phía Đông sông Mê Công do Xiêm La (Thái lan) đánh chiếm trước đây là của Campuchia và Việt Nam, Pháp đã gây sức ép buộc Thái Lan trả lại. Theo đó, ngày 03-10-1893, Thái Lan buộc phải ký với Pháp một hiệp ước, trả lại cho Pháp những vùng đất đai mà Thái lan đã chiếm của Campuchia và Việt Nam, kể cả một số mường Lào ở phía Đông sông Mê Công. Theo đó, Thái Lan phải rút hết quân đội và trả lại đất đai ở tả ngạn sông Mê Công cho Việt Nam thuộc Pháp. Cuối năm 1893, thực dân Pháp tập hợp những đất dai còn lại của Ai-lao cũ được Thái Lan trả lại ở tả ngạn sông Mê Công gồm các mường phía Bắc là Viêng Chăn, Luổng-phạ-băng, Buổi Hu thành lập cụm Thượng Lào; tập hợp các mường phía Nam gồm Bassac, Sa-la-van, Ắt-tạ-pư thành lập cụm Hạ Lào.


Đáng chú ý là, Pháp đã ghép cả vùng Tây Nguyên của Việt Nam (Thủy Xá, Hoả Xá) và vùng Stung-treng của Campuchia vào cụm Hạ Lào. Các cụm Thượng Lào và Hạ Lào là hai đơn vị hành chính dốc lập, Pháp đặt mỗi cụm thành một đạo quan binh do một viên chỉ huy người Pháp trực thuộc Toàn quyền Đông Dương trực tiếp cai quản. Về địa lý, hai cụm Thượng Lào và Hạ Lào ở cách xa nhau bởi một vùng đất đai rộng lớn của Việt Nam (Trung Kỳ).


Đến năm 1895, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định sáp nhập hai đạo Căm Môn và Sông Khôn vào cụm Hạ Lào.

Ngày 29-8-1896, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cắt 3 huyện Man Duy, Sầm Nưa, Sầm Tơ và sáp nhập vào tỉnh Thanh Hoá.

Đến năm 1899, Tổng thống Pháp ký sắc lệnh hợp nhất hai cụm Thượng Lào và Hạ Lào thành một đơn vị hành chính Ai-lao thuộc Pháp. Như vậy, kể từ đây xứ Ai-lao trong Đông Dương thuộc địa ra đời trên cơ sở những mường Lào còn lại của Ai-lao cũ và những vùng đất đai rộng lớn của Việt Nam trước đây.

Năm 1900, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cắt một phần đất của tỉnh Stung-treng để thành lập tỉnh Đắc Lắc thuộc Ai-lao.

Đến ngày 22-11-1904, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách tỉnh Đắc Lắc của Ai-lao và đặt tỉnh này dưới quyền quản lý hành chính và chính trị của Khâm sứ Trung Kỳ.

Ngày 6-12-1904, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định sáp nhập tỉnh Stung-treng vào lãnh thổ Cao-miên.

Ngày 2-7-1923, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định chuyển tỉnh Đắc Lắc về Ai-lao, sau đó ngày 30-4-1929 ban hành tiếp một nghị định bác bỏ Nghị định ngày 2-7-1923, tỉnh Đắc Lắc trở lại lãnh thổ Trung Kỳ.

Ngày 15-6-1903, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định cắt 4 mường thuộc xứ Trung Kỳ là Sầm Tơ, Mường Ven, Sầm Nưa và Mường Sôi sáp nhập vào Ai-lao, đặt dưới quyền của ông quản hạt Mường Sôi. Ngày 27-8-1904, Hội đồng Tối cao Đông Dương đã tán thành nguyên tắc sáp nhập lại tỉnh Kon Tum vào xứ Trung Kỳ (theo báo cáo ngày 4-7-1905 của Phó Toàn quyền Đông Dương lên phủ Toàn quyền Đông Dương, tỉnh này về sau chia thành hai tỉnh Kon Tum và Pleiku). Đến ngày 4-3-1933, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định quy định ranh giới của tỉnh do Nghị định ký ngày 24-5-1932 thành lập tỉnh mới ở Trung Kỳ lấy tên là tỉnh Pleiku.


Ngày 27-12-1913, Toàn quyền Đông Dương ban hành Quyết định thành lập Hội đồng xác định biên giới giữa Trung Kỳ và Ai-lao từ Hà Trại đến biên giới với Campuchia. Ngày 12-10-1916, Toàn quyền Đông Dương ký nghị định ghi nhận việt phân định biên giới giữa Trung Kỳ (các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên) một bên và Ai-lao (Căm Môn, Sa-vẳn-na-khệt) một bên.


Đồng thời với việc điều chỉnh đất đai theo các Nghị định của Toàn quyền Đông Dương, thực dân Pháp đã tiến hành điều chỉnh đường biên giới hành chính và biên vẽ bản đồ biên giới để phục vụ cho mục đích cai trị và khai thác thuộc địa.


Từ năm 1908 đến 1934, Pháp xuống thực địa đo đạc và vẽ bản đồ đường biên giới giữa Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Ai-lao. Nơi nào chưa đi thực địa được thì dùng máy bay chụp ảnh rồi ghép lại để vẽ bản đồ. Theo báo cáo đánh giá của Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước (nay là Cục Đo đạc và Bản đồ - Bộ Tài nguyên và Môi trường) về bản đồ Bonne tỷ lệ  1/100.000(1) (Bản đồ Bonne: Loại bản đồ do Sở Địa dư Đông Dương (Service Géographique de L'indochine - SGI), thành lập bằng phương pháp chụp ảnh máy bay có kết hợp đo đạc thực địa, theo hệ toạ độ độc lập, lưới chiếu hình nón giả giữ diện tích (các yếu tố biến dạng là chiều dài và góc), sử dụng Elipxoid thực dụng Clark có kinh tuyến gốc là kinh tuyến đi qua Paris. Tỷ lệ 1/100.000 có nghĩa là 01 cai trên mặt phẳng bản đồ tương ứng với 100 mét trên mặt đất ở thực địa) hai bên sử dụng để hoạch định và đính kèm Hiệp ước hoạch định thì Pháp mới tiến hành đo đạc trên thực địa 812 km (trong tổng số chiều dài biên giới Việt Nam – Lào là 2.067 km), đạt 38,7 %, còn 61,3 % chưa đi đo đạc được.


Những vùng chưa đi đo đạc ở thực địa thì Pháp dùng sơ đồ vẽ nháp để can vẽ bản đồ tạm thời nên sơ sài, không chính xác; những đoạn biên vẽ theo ảnh chụp bằng máy bay thì nội dung địa hình nói chung tỉ mỹ, đầy đủ nhưng chưa được kiểm tra ngoài thực địa nên có những sai số so với thực địa, nhất là địa danh. Trên hai loại bản đồ này thường có ghi chú là "bản đồ tạm thời hoặc sơ đồ kém chính xác, yêu cầu người sử dụng chú ý". Có những đoạn trên bản đồ vẽ một đường thẳng cắt qua núi, sông, suối; có những đoạn vẽ theo sườn núi; có những đoạn còn để trắng chưa vẽ địa hình (Theo thống kê của Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước thì tỉnh Lai Châu có một đoạn dài 8 km, tỉnh Bình Trị Thiên cũ có một đoạn dài 6 km, Quảng Nam - Đà Nẵng có ba đoạn dài 17 km, Gia Lai - Kon Tum có hai đoạn dài 14 km); gần 200 km có ký hiệu đường biên giới vẽ một bên bờ (tả hoặc hữu ngạn) sông, suối biên giới; có đoạn biên giới giữa hai tỉnh Quảng Trị và Sa-vẳn-nạ- phệt mặc dù Nghị định ngày 12-10-1916 của Toàn quyền Đông Dương đã quy định rõ ràng và Pháp dựa vào đó để vẽ sau các lần đi đo đạc ở thực địa vào các năm 1911, 1912, 1913 và sửa chữa lại vào năm 1943, nhưng Pháp vẫn ghi trên bản đồ là "ranh giới vẽ trên bản đồ không được chính thức thừa nhận".


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:17:10 PM
Chương III
TIẾN TRÌNH ĐÀM PHÁN GIẢI QUYẾT BIÊN GIỚI
VIỆT NAM - LÀO


1. QUAN HỆ VỀ BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO TRƯỚC KHI HAI BÊN BƯỚC VÀO ĐÀM PHÁN

1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954


Ngày 14-10-1945, hai ngày sau khi nước lào tuyên bố độc lập, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra tuyên bố công nhận. Ngày 16-10-1945, đại diện hai Chính phủ Việt Nam và Lào ký hiệp định Hợp tác liên minh chiến đấu chống thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam và Lào" và ngày 30-10-1945 ký "Hiệp định Tổ chức liên quân Việt Nam - Lào". Nhân dân hai nước dưới sự lãnh đạo cua Đảng Cộng sản Đông Dương tập trung cho cuộc kháng chiến chống Pháp, vì vậy vấn đề biên giới giữa hai nước khi đó không có điều kiện đặt ra. Những sự kiện sau đây nói lên sự hợp tác liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào ở vùng biên giới Việt Nam- Lào:

Ngay sau khi Cách mạng Tháng tám thành công, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã cử cán bộ lên xây dựng tổ chức đoàn thể quần chúng ở hai xã Ta Lê và Ta Hưng lấy tên là xã Phú Ninh và xã Quý Ninh. Vào khoảng năm 1950, Ban cán sự Trung ương Pa Thét Lào yêu cầu tỉnh Quảng Bình cho Lào mượn hai xã này để làm căn cứ hoạt động trong tỉnh Khăm Muộn và Trung Lào. Tỉnh Quảng Bình đã làm lễ chuyển giao hai xã này cho Ban cán sự Pa Thét Lào.


- Ở khu vực hai bản Phà Xoong, Cà Toọc, sau Cách mạng Tháng Tám, ngụy quyền Lào bỏ chạy, nhân dân hai bản này sang quan hệ với bên ta, huyện Tuyên Hoá (Quảng Bình) cử cán bộ lên tổ chức chính quyền, sáp nhập hai bản này vào xã Dân Hoá, huyện Tuyên Hoá.


- Ở khu vực hai bản Lao Kho, Xê Lep (huyện Yên Châu, Sơn La), năm 1949, cơ sở nội địa Yên Châu bị vỡ, nhân dân bị đứt liên lạc với chính quyền cách mạng bên ta, cán bộ của Pa Thét Lào đến đây giúp ta xây dựng cơ sở quần chúng.


- Cuối năm 1946, quân đội giải phóng Việt Nam từ đất ta sang đất Lào đánh đuổi quân Pháp ở một số nơi và giúp bạn xây dựng chính quyền và đoàn thể quần chúng ở Na Pê, Khăm Cợt, Lạc Xao (Khăm- muộn), Sê Pôn, Mường Phía (Sa-vẳn-nạ-khệt). Đặc biệt ở Sầm Nưa, quân giải phóng Việt Nam đã giải phóng tỉnh lỵ Sầm Nưa và giúp bạn xây dựng chính quyền ở đó. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, nhưng nơi đó đã bị thực dân Pháp chiếm lại và các lực lượng Việt Nam và Lào tạm rút về Việt Nam để củng cố, chỉ để lại một số đội công tác của Quảng Bình, Hà Tĩnh, Quảng Trị bám trụ xây dựng cơ sở ở Bua La Pha, Tha Phay Ban (Khăm-muộn), Sạ Muôi, Tà Ôi, Mường Nong, Huội Xan, ba xã là Ta Lia, Ra An và Xa Liêng của Sê Pôn (Sa-vẳn-nạ-khệt).


- Cuối năm 1947, Mặt trận Tây Lào gồm lực lượng Lào và Việt Nam của Đặc khu I (từ Bắc Viêng Chăn lên Thượng Lào), Đặc khu II (Khăm-muộn), Đặc khu III (Chăm-pa-xắc - Hạ Lào) không thể dựa vào Thái Lan và khối Việt kiều gồm Việt kiều cũ ở Thái Lan và Việt kiều ở Lào tản cư sang Thái Lan đầu năm l946), do bọn quân phiệt Thái Lan thân Mỹ làm đảo chính lên cầm quyền. Theo chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương, lực lượng các đặc khu nói trên chuyển về phía Đông và dựa vào Việt Nam làm hậu phương để hoạt động từ Đông sang Tây Lào. Về cơ quan lãnh đạo, phía Việt Nam thành lập Ban Bưu chính, phía Lào thành lập Uỷ ban Đông Lào (tháng 10 năm 1946) và các cơ quan đó đóng ở vùng biên giới của tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.


- Cuối năm 1948, trước sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào, thực hiện âm mưu chia để trị, thực dân Pháp tập trung nhân dân quanh vùng sông Luồng (trong đó có khu vực Na Mèo hiện nay) lập Khu tự trị trong Liên bang Thái tự trị, nhưng ít lâu sau Pháp rút, ta lại tiếp tục xây dựng chính quyền cách mạng ở đây.


- Từ năm 1953, đế quốc Mỹ can thiệp sâu hơn, tích cực hơn vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Với sự phối hợp của quân tình nguyện Việt Nam, quân dân Lào đã mở chiến dịch Thượng lào và giành được thắng lợi to lớn, hầu hết địa bàn tỉnh Sầm Nưa, Xiêng Khoảng và một phần tỉnh Luổng Pha Băng, tỉnh Phông Sa Lỳ được giải phóng (tháng 4-1953). Tiếp đó, hoà với chiến thắng ở các chiến trường Việt Nam, chiến dịch Đông Xuân năm 1953 - 1954 ở Lào cũng giành được thắng lợi lớn, tạo bước ngoặt mới cho cách mạng Lào. Các vùng giải phóng Lào liên hoàn gồm nhiều huyện, nhiều tỉnh có địa giới giáp nhau, đặc biệt ở phía Đông Bắc Lào cũng như ở phía Đông của Trung và Hạ Lào đều có những vùng nối liền với khu tự do hoặc vùng mới giải phóng của Việt Nam.


Như vậy, ngay sau khi hai nước tuyên bố độc lập, thực dân Pháp đã đưa quân tấn công vào Nam Bộ năm 1945, xâm chiếm Lào năm 1946 và từ đó bắt đầu một cuộc kháng chiến lâu dài quyết liệt của hai dân tộc Việt Nam và Lào nhằm đánh bại sự xâm lược của Pháp, bảo vệ độc lập và tự do cho đất nước. Đến năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ lập lại hoà bình ở Đông Dương được ký kết, long trọng công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân ba nước Đông Dương là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp, vấn đề quyết định là giành cho được độc lập, tự do nên chưa bên nào đề cập đến vấn đề biên giới và cũng chưa có sự kiện nào nảy sinh về tranh chấp biên giới. Đường biên giới truyền thống Việt Nam - Lào được nhân dân hai nước tôn trọng. Việc qua lại biên giới để chi viện cho nhau, để phối hợp chiến đấu không gặp một trở ngại nào. Tình hình lịch sử đó đã để lại nhiều phức tạp tất yếu cho việc giải quyết vấn đề biên giới sau này mặc dù có thuận lợi cơ bản là biên giới đó đã được hình thành từ lâu.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:23:26 PM
1.2. Giai đoạn từ sau năm 1954 đến 1974

Từ sau năm 1954, mối quan hệ giữa cách mạng Lào và cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới, nhất là từ sau ngày ra đời của Đảng Nhân dân Lào (sau này là Đảng Nhân dân Cách mạng lào) ngày 23-3-1955. Đó là thời kỳ quan hệ giữa hai Đảng: Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.


Đường biên giới Việt Nam - Lào cũng mang màu sắc mới: Từ vĩ tuyến 17 trở ra là biên giới giữa Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Vương quốc Lào (biên giới đối nghịch) và từ vĩ tuyến 17 trở vào là biên giới giữa chính quyền nguỵ Sài Gòn và Vương quốc Lào (biên giới hữu nghị giữa hai chính quyền đều là tay sai của đế quốc Mỹ).


Đế quốc Mỹ tích cực can thiệp vào Việt Nam và Lào, thúc đẩy bọn tay sai công khai chống lại Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tại Việt Nam, đế quốc Mỹ và tay sai Ngô Đình Diệm một mặt cự tuyệt thương lượng, hô hào "Bắc tiến”, mặt khác dùng phỉ và gián điệp lũng đoạn biên giới, hòng phá hoại công cuộc củng cố cách mạng ở miền Bắc. Tại Lào, đế quốc Mỹ và phản động Lào một mặt ra sức đưa quân đội xâm chiếm hai tỉnh tập kết của Pa Thét Lào là Phông-sa-lỳ và Sầm Nưa, mặt khác tạo lập thổ phỉ, biệt kích dọc biên giới Lào - Việt Nam hòng phá hoại hậu phương của Pa Thét Lào để tiến đến tiêu diệt lực lượng chủ yếu của cách mạng lào. Dưới sự tài trợ và chỉ huy của đế quốc Mỹ, bọn phản động ở vùng biên giới Việt Nam - Lào cấu kết chặt chẽ với nhau ra sức phá hoại biên giới hai nước, gây tình hình căng thẳng hòng cắt đứt quan hệ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào.


Về phía Việt Nam, trong việc củng cố biên giới, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nhận định: Từ khi hoà bình lập lại đến nay, công tác củng cố cơ sở biên giới đã thu được một phần kết quả, cụ thể như Tây Bắc Việt Nam đã hoàn thành hai đợt vận động củng cố biên giới trên 18 xã trong tổng số 27 xã, khu IV hiện đang tiến hành củng cố cơ sở ở các xã dọc biên giới Việt Nam - Lào. Phía Lào cũng có kế hoạch tổ chức cơ sở ở một số xã biên giới ở tỉnh Phông Sa Lý và Sầm Nưa, cơ quan Trung ương Mặt trận Lào yêu nước đóng ở vùng Na Mèo (trước đây khu vực này thuộc quản lý của tỉnh Thanh Hoá). Nhưng trước hoạt động ráo riết của địch, nhìn chung biên giới hai bên chưa được củng cố để làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng Lào và thiết thực củng cố miền Bắc Việt Nam.


Từ tình hình trên đây, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra 5 công tác lớn để củng cố biên giới là:

(1) Xây dựng và củng cố cơ sở nhân dân, tổ chức lực lượng vũ trang, bảo vệ làng mạc, bảo vệ sản xuất;

(2) Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, phát triển mậu dịch biên giới, cải thiện dân sinh;

(3) Tiễu phỉ, trừ gian;

(4) Xây dựng và củng cố công tác quản lý biên giới với nội dung: phân định ranh giới, quản lý việc đi lại giữa hai bên và bố phòng biên giới;

(5) Đào tạo cán bộ dân tộc địa phương.


Trong công tác xây dựng và củng cố công tác quản lý biên giới, Trung ương đã đề ra phương hướng và biện pháp cụ thể là:

- Về phân định ranh giới, hướng giải quyết của ta nhằm phân định rõ ràng biên giới giữa hai nước trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của nhau, dựa vào thực tế lịch sử và chứng cứ của nhân dân địa phương hai bên, kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh cua nhân dân. Đối với vùng giáp giới địa phận nhà vua Lào: phía Việt Nam, với sự giúp đỡ của Pa Thét Lào, tiếp tục sưu tầm tài liệu, xây dựng phương án phân định biên giới để đặt lại vấn đề với nhà cầm quyền Vương quốc Lào nhằm vào các vùng Hướng Lập (khu Vĩnh Linh), đèo Mụ Giạ và Cà Toọc (Quảng Bình), Keng Đu và Nậm Cắn (Nghệ An). Giáo dục nhân dân giữ vững tinh thần, đồng thời tránh những hành động khiêu khích. Những nơi còn mốc cũ và tài liệu lịch sử giáo dục và bố trí nhân dân giữ gìn. Đối với vùng giáp Pa Thét Lào, mở hội nghị nội bộ giữa hai bên để tìm biện pháp giải quyết những nơi nhập nhằng trên ranh giới, tiến đến việc tổ chức cắm mốc và giữ gìn mốc biên giới.

- Về quản lý biên giới, việc kiểm soát sự qua lại biên giới hai nước Việt Nam - Lào phải chặt chẽ để hạn chế mọi hoạt động của thổ phỉ, biệt kích, gián điệp, nhưng phải chiếu cố đến quan hệ giữa nhân dân biên giới hai nước, dễ dàng đối với những người dân lương thiện thường qua lại biên giới để làm ăn, thăm thân. Đối với bọn phản động thì không cho qua biên giới, nghiên cứu việc tự động qua lại biên giới, đem vũ khí, đồ vật, hàng hoá trái phép và tài liệu bí mật của nhà nước qua biên giới. Khi bắt được người phạm pháp thì lập biên bản đưa lên trên giải quyết; đối với nhân dân lương thiện thường xuyên qua lại làm ăn, thăm thân thì Uỷ ban hành chính các xã biên giới phải điều tra nắm danh sách, phân loại, cùng với công an hoặc bộ đội biên phòng duyệt và công nhận cho qua lại, nhưng không cấp giấy. Danh sách đó phải báo cho dân biết và thông báo cho Uỷ ban xã sát biên giới nước bạn biết để tiện việc kiểm soát; nơi giáp với Vương quốc Lào, việc cho qua biên giới phải thận trọng và phải có sự kiểm soát nghiêm ngặt; dân trong nội địa của Việt Nam và Pa Thét Lào, bên này muốn sang bên kia phải xin phép từ cấp tỉnh trở lên.

- Về công tác bố phòng biên giới, nghiên cứu để có kế hoạch thống nhất công tác biên phòng giữa bộ đội và công an, đặt quan hệ phối hợp hai bên Việt Nam - Lào. Tăng cường lực lượng cơ động để có thể với số lượng ít mà kiểm soát được rộng. Rà soát lại việc bố trí và tăng cường các đồn biên phòng, thực hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội, công an biên phòng và dân quân địa phương. Tiến lên làm một con đường biên giới để tiện cho việc tuần tra.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:24:25 PM
Để việc chỉ đạo công tác biên giới được thống nhất và tập trung ở Trung ương và các cấp uỷ địa phương, các cơ quan có liên quan đến công tác biên giới, Trung ương uỷ nhiệm Tiểu ban Dân tộc Trung ương và các Tiểu ban Dân tộc địa phương phụ trách, phối hợp với các bộ phận công tác khác để nắm tình hình và đề ra cách giải quyết giúp Trung ương và cấp uỷ lãnh đạo.


Ngày 24-8-1955, Thủ tướng Chính phủ ra Chi thị số 574-TTG về việc điều tra biên giới Việt Nam - Lào nhằm phục vụ cho nhiệm vụ phân định biên giới và quan lý biên giới, trong đó ghi rõ: Đến cuối năm 1955, Bộ Nội vụ cùng Bộ Quốc phòng, bộ đội biên phòng và Ban dân tộc Trung ương phối hợp điều tra biên giới theo các tài liệu và trên thực địa dọc biên giới Việt Nam - Lào từ A Pa Chải đến vĩ tuyến 17; hướng điều tra chính là vùng giáp giới địa phận nhà vua Lào, chủ yếu là các vùng đang tranh chấp, rồi đến các vùng có địch, phỉ đang hoạt động mạnh, nhưng cũng phải điều tra vùng giáp giới với khu vực tập kết của Pa Thét Lào.


Bộ Nội vụ đã tổ chức hai đợt điều tra gồm nhiều đoàn cán bộ của các Bộ Nội vụ, Quốc phòng, Công an và cán bộ địa phương. Đợt thứ nhất tiến hành cuối năm 1955 giữa các tỉnh Phông Sa Lý, Sầm Nưa (khu vực tập kết của Pa Thét Lào) và các tỉnh Lai Châu, Thanh Hoá. Đợt thứ hai tiến hành cuối năm 1957 từ vĩ tuyến 17 trở ra. Phía Pa Thét Lào cũng nhất trí về mục tiêu khảo sát và đã cử nhiều cán bộ cộng tác và giúp đỡ tiến hành điều tra.


Với phương pháp điều tra là đối chiếu biên giới do Pháp vạch trên bản đồ với đường biên giới mà nhân dân hai bên thừa nhận, đối chiếu với lịch sử hành chính, các đoàn đã hoàn thành một công trình nghiên cứu có giá trị. Qua điều tra, các đoàn đã xác nhận trên biên giới Việt Nam - Lào, Pháp không cắm mốc quốc giới rõ ràng và đầy đủ như tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc. Pháp chỉ cắm những bảng gỗ trên các đường qua lại quan trọng giữa Việt Nam và Lào, đến nay những bảng gỗ này đã hư hỏng, không còn bảng nào có chữ ghi rõ ràng là biên giới giữa Việt Nam và Lào. Tại nhiều địa phương có nhiều mốc bằng đá, hoặc cọc gỗ, hoặc một ụ đất, hoặc chất đống đá hoặc trồng cây hay chất đá vào cây to để làm dấu biên giới song những mốc giới này chỉ có tính cách ranh giới của những khu vực bộ lạc hay sự chiếm hữu đất của chúa đất phong kiến, hoặc nhân dân đi phu cho Pháp nghe Pháp nói rồi làm dấu, không có đủ cơ sở để khẳng định là mốc giới của quốc gia, những mốc giới đó có nơi còn, nơi mất, chỉ còn trong trí nhớ của nhân dân.


Qua thực tế điều tra và khảo sát khu vực biên giới trong giai đoạn này, các đoàn công tác đã phát hiện 19 khu vực (khoảng 2.100 km2) đường biên giới do Pháp vạch ra không đúng với thực tế quản lý hành chính của hai bên, cũng như mâu thuẫn với địa lý tự nhiên, nhiều vị trí dấu mốc mâu thuẫn với bản đồ và sai với văn bản. Trong tổng số 2.100 km2 Lào quản lý ở phía Đông đường biên giới do Pháp vạch trên bản đồ, có 800 km2 ở Quảng Bình (xã Phú Ninh và Quý Ninh) Việt Nam cho Mặt trận Lào yêu nước mượn làm căn cứ vào năm 1949.


Về bản đồ Pháp vẽ, các đoàn công tác cũng đã phát hiện nhiều đoạn biên giới vẽ trên bản đồ mâu thuẫn với địa lý thiên nhiên theo nguyên tắc' thông thường về biên giới, nhiều đoạn vị trí bảng dấu mốc mâu thuẫn với bản đồ và không khớp với văn bản, nhiều đoạn bản đồ mâu thuẫn với lịch sử hành chính. Trong quá trình điều tra, các đoàn cũng đã thu thập được hàng trăm tài liệu có giá trị chứng cứ lịch sử như bằng sắc, biên lai thu thuế, dấu, triện của các chức dịch xã, bản và một điều quan trọng là nhân dân hai bên biên giới không thừa nhận những đoạn biên giới do Pháp vạch ra vì không phù hợp với đường biên giới tập quán truyền thống mà họ vẫn tôn trọng từ lâu đời. Các đoàn tuy có chú ý sưu tầm tài liệu lịch sử hành chính của từng vùng qua các thời kỳ, điều tra tình hình địa lý, dân tộc, có chú ý thu nhận vật chứng nhưng vẫn chưa đầy đủ, nhất là phần vật chứng.


Tất cả các đoàn đi điều tra cuối năm 1957 có thuận lợi là đều có cán bộ Lào và cán bộ của Việt Nam trong các đoàn đi điều tra cuối năm 1955 tham gia (trừ một số vùng không có phía lào tham gia như vùng Na Khoa, Pu Cắt - Lai Châu; Na Luống, Na Ún, Na Son - Luổng-phạ- băng; Bất Mọt - Thanh Hoá). Sau khi điều tra xong, nói chung hai bên đều thống nhất ý kiến với nhau (trừ vùng áng Ngước - Thanh Hoá, bạn thống nhất ý kiến với phía Việt Nam nhưng còn do dự vì theo dư luận một số dân bên Lào thì đường biên giới còn lấn sang ta một ít nữa). Khu vực ba bản Na xuống, Na ùn, Na Son các đoàn công tác thấy chưa đạt yêu cầu.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:27:53 PM
Trong báo cáo về kết quả điều tra biên giới năm 1955 - 1957, Bộ Nội vụ đã kiến nghị chủ trương giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Lào như sau: Theo Bộ Nội vụ, chính sách ngoại giao của ta dựa trên 5 nguyên tắc chung sống hoà bình là thiết lập quan hệ hữu hảo với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng. Chúng ta không thể giải quyết vấn đề biên giới bằng vũ lực; chúng ta cũng không thể chủ trương đưa vấn đề biên giới ra trước toà án quốc tế hay một nước thứ ba làm trọng tài vì chỉ làm cho tình hình trở nên phức tạp hơn, việc xây dựng quan hệ Việt Nam - Lào thêm gặp khó khăn hơn. Vì vậy, chủ trương giải quyết bằng thương lượng là phù hợp hơn cả. Khả năng này có thể thành sự thật trước tình hình biến chuyển ở Lào. Chính phủ Vương quốc Lào đã tuyên bố tán thành năm nguyên tắc chung sống hoà bình và theo chính sách trung lập và lập trường quan điểm của Việt Nam là:

- Không thừa nhận đường biên giới Pháp vạch trước đây trên bản đồ theo văn bản hay trên thực địa là biên giới Việt Nam - Lào, lý do là khi vạch biên giới này Pháp hoàn toàn đứng trên lợi ích thực dân.


- Để ấn định đường biên giới Việt Nam - Lào, sẽ căn cứ vào lịch sử các vùng biên giới, nguyện vọng của nhân dân và địa lý thiên nhiên của các vùng đó, kết hợp với lợi ích của hai quốc gia.


- Vấn đề biên giới Việt Nam - Lào xét toàn diện không phải chỉ là vấn đề Cà Toọc, Keng Đu, Sen Nhôm do chính phủ Vương quốc Lào nêu ra, vì chỉ là một bộ phận nhỏ. Thực chất, yêu sách của phía Lào là vấn đề các tỉnh Sầm-nưa, Xiêng-khoảng, Thà-khẹt, Sa-vẳn-nạ-khệt vì những tỉnh này nằm trong hệ thống tổ chức cơ quan nhà nước Lào từ trên 30 năm nay, đó là một thực tế không thể phủ nhận mặc dù Việt Nam không thừa nhận biên giới Việt Nam - Lào do Pháp quy định. Tuy nhiên, nếu nêu vấn đề các tỉnh đó ra thì cũng còn phải điều tra khá lâu mới có những dẫn chứng cụ thể về lịch sử, kể cả về nguyện vọng của nhân dân cũng không có điều kiện để khêu gợi bồi dưỡng. Vì vậy vấn đề các tỉnh trên không thể đặt ra để giải quyết dứt khoát, song lãnh đạo cần nắm được tình hình để nhìn nhận sâu sắc và toàn diện về vấn đề biên giới Việt Nam - Lào. Hiện nay chỉ cần thoả thuận về những vùng mà bản đồ của Pháp mâu thuẫn với địa lý thiên nhiên, với lịch sử hành chính và ý nguyện của nhân dân (kể cả vùng biên giới tiếp giáp với Pa Thét Lào) nhằm phân định rõ ràng đường biên giới tạm thời, tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng đúng đắn nguyên tắc chung sống hoà bình, xây dựng quan hệ hữu hảo giữa hai nước.


- Để giải quyết những vấn đề trên, cần lập một uỷ ban hỗn hợp gồm một số đại biểu ngang nhau của mỗi bên và có nhiệm vụ điều tra, nghiên cứu địa lý, lịch sử, ý nguyện nhân dân các vùng có tranh chấp một cách thật khách quan và dân chủ.


- Trong khi chờ đợi giải quyết theo hướng trên, hai bên giữ nguyên trạng hiện thời về mặt quản lý hành chính để đảm bảo trật tự an ninh chung. Hai bên cam kết không bên nào dùng vũ lực để uy hiếp bên nào, cam kết đảm bảo tự do dân chủ cho nhân dân.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:28:49 PM
Thực hiện âm mưu phá hoại quan hệ biên giới Việt Nam - Lào, đế quốc Mỹ và tay sai dùng nhiều thủ đoạn rất thâm độc và xảo quyệt. Đi đôi với việc tuyên truyền xuyên tạc, nói xấu chế độ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Pa Thét Lào, gây kỳ thị chia rẽ Việt Nam - Lào giữa các dân tộc thiểu số ở hai bên biên giới. Về quân sự, quân phái hữu lào phối hợp với nguỵ quyền Sài Gòn liên tục đưa quân ra khiêu khích, lấn chiếm những vùng còn nhập nhằng (giữa ban đồ Pháp vẽ và lịch sử hành chính). Tình hình biên giới hai nước diễn biến rất phức tạp:

- Cuối tháng 12 -1954, Vương quốc Lào vin vào bản đồ và Nghị định ngày 12-10-1916 của Toàn quyền Đông Dương cho là Việt Nam xâm lấn đất đai của họ ở hai bản Phà Xoong, Cà Toọc (Quảng Bình) nên họ đã mời Uỷ ban quốc tế đến điều tra tại chỗ. Tháng 01-1955, bộ đội Việt Nam có lệnh rút khỏi hai bản này, quân đội Vương quốc Lào đến đóng.

- Tháng 3-1955 Chính phủ Vương quốc Lào gửi cho Uỷ ban quốc tế phản kháng Việt Nam xâm chiếm vùng Keng Đu của Lào gồm 13 bản.

- Do có sự phối hợp giữa Sài Gòn và Viêng Chăn, cuối năm 1954 và đầu 1955 chính quyền Diệm cho quân đến khủng bố đồng bào Việt Nam ở xã Hướng Lập, Hướng Phùng, Hướng Việt (Nam giới tuyến quân sự tạm thời). Nhân dân ở các khu vực này đã đấu tranh đòi chính quyền Diệm thực hiện nghiêm chỉnh hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954. Năm 1956 chính quyền Diệm đưa quân đến càn quét và thiết lập chính quyền của chúng ở vùng này.

- Từ tháng 4-1955 đến tháng 01-1956, quân phái hữu Lào đã 10 lần cho quân ra quấy phá ở bản Keng Đu và Bản Nhạn, một lần chúng đã đánh úp bộ đội Việt Nam ở bản Sen Nhôm ngày 26-01-1956 (cả ba bản trên đều nằm trong khu vực Keng Đu).

- Năm 1957, quân phái hữu Lào đến đóng ở bản Pa Kô (xã Hướng Việt) nhiều lần xâm phạm biên giới, tiến công làng Cù Bai (xã Hướng Lập, Bắc giới tuyến quân sự tạm thời), nhưng ít lâu sau thì rút ra khỏi Pa Kô. Năm 1958, họ lại đóng đồn Pa Kô và đóng thêm các đồn ở Chiếng Túc , Pa Nai, Bản Na (từ năm 1961, vùng Hướng Lập được hoàn toàn giải phóng và Việt Nam Dân chủ cộng hoà thiết lập chính quyền ở vùng này).

- Vùng Sa Muôi, A Sốc, A Cha (nam giới tuyến quân sự tạm thời), đầu năm 1955, chính quyền Diệm đưa quân đến đóng đồn Trầm (gần A Sốc) và đồn Đức Hàn. Cuối năm 1955, quân phái hữu Lào lên đóng đồn ở Sa Muôi và Pơ Rin. Một tháng sau, quân Diệm và quân phái hữu Lào đánh nhau. Năm 1961, các vùng A Sốc, A Cha được giải phóng, phía Việt Nam đã thiết lập chính quyền ở các vùng này.


Ngày 29-8-1956, trong cuộc hội đàm giữa đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và đoàn đại biểu Chính phủ Vương quốc Lào, Thủ tướng Lào Phu Ma đã nêu lên hai vùng làng Ec và Mường Et và đề nghị Việt Nam trả lại cho Lào. Tiếp Sau cuộc hội đàm, ngày 3-9- 1956, Thủ tướng Phu Ma lại gửi công hàm cho Chính phủ Việt Nam đề nghị cử phái đoàn sang điều tra vùng Bắc Nọng Hét.


Từ ngày 29-9-1956 đến ngày 4-10-1956, hai bên đã đàm phán tại Nong Hét (Xiêng Khoảng). Khi đoàn Việt Nam đến Nong Hét và bắt đầu làm việc ngày 29-9-1956 thì phái đoàn lào viện lý do địa phương thiếu an toàn, thời tiết xấu, phương tiện giao thông khó khăn, đề nghị không đi điều tra trên thực địa, chỉ làm việc tại Nọng Hét và căn cứ những tài liệu, bản đồ hai bên đưa ra (trong công hàm gửi Chính phủ Việt Nam, Chính phủ Lào có nói đến việc đi điều tra tại chỗ). Nhận thấy việc đi thực địa chỉ để kiểm tra lại những tài liệu đã có (chưa chắc sự kiểm tra ấy đã có lợi cho Việt Nam) và để giữ tình hữu nghị, tránh làm cho phía Lào có thể hiểu lầm là Việt Nam gây khó khăn trong việc tiếp xúc đầu tiên, nên phái đoàn Việt Nam thuận theo đề nghị của phái đoàn Lào.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:33:06 PM
Để giải quyết vấn đề tranh chấp biên giới giữa hai nước Việt Nam Lào công bằng và đúng đắn bằng phương pháp thương lượng, Chính phủ Việt Nam chủ trương: Căn cứ vào đường lối chung là một mặt cố gắng tranh thủ Vương quốc Lào để xây dựng cho được quan hệ hữu hảo với Lào, ủng hộ chính sách hoà bình, trung lập của họ; mặt khác là giữ vừng chủ quyền và lãnh thổ toàn vẹn của Việt Nam; phái đoàn Việt Nam xác định có ba mức đấu tranh như sau:

(1) Mức tối đa: Đoàn Việt Nam yêu cầu hai bên cùng nhau đi điều tra những vùng xung quanh Nong Hét như vùng Cà Trọc (Quảng Bình), Hướng lập (Quảng Trị) vì hai vùng Cà Trọc và Hướng Lập là của Việt Nam, hiện nay quân đội Vương quốc Lào chiếm đóng, Việt Nam có nhiều lý lẽ để đòi lại. Đi điều tra thêm hai vùng này là để cho Vương quốc Lào thấy rằng vấn đề biên giới Lào - Việt Nam phức tạp, muốn giải quyết ổn thoả cần có thời gian lâu dài. Ngoài vùng xung quanh Nong Hét, còn có những vùng khác dọc biên giới Việt Nam - Lào còn nhập nhằng, muốn gây dựng tình hữu hảo lâu dài, hai bên cần phải giải quyết những vấn đề biên giới cần thiết để khỏi có sự hiểu lầm theo đúng nguyên tắc tôn trọng chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Đoàn Việt Nam sẽ cố gắng thuyết phục phái đoàn Lào đồng ý với quan điểm của Việt Nam và đề nghị ghi ý kiến của Việt Nam vào biên bản đồng thời yêu cầu phái đoàn lào báo cáo lên Chính phủ Vương quốc Lào. Phía Việt Nam cũng sẽ đề nghị lên Chính phủ thương lượng với Chính phủ Vương quốc Lào;


(2) Mức trung bình: Yêu cầu hai bên cùng đi điều tra cả vùng xung quanh Nọng Hét bao gồm Keng Đu, Xén Nhôm, Nậm Cắn. Mục đích của việc điều tra Nậm Cắn là có thêm tài liệu để chứng minh cả vùng xung quanh Nọng Hét của Việt Nam. Quân đội Vương quốc Lào đóng ở Nậm Cắn là xâm phạm lãnh thổ Việt Nam, phía Việt Nam đã nắm được chứng cứ về Nậm Cắn;


(3) Mức tối thiểu: Đoàn Việt Nam sẽ đồng ý với phái đoàn Lào chỉ đi điều tra hai bản Keng Đu và Xén Nhôm với điều kiện là những ý kiến trên của Việt Nam được ghi vào biên bản và được đề đạt lên Chính phủ Vương quốc Lào. Nhưng trong cuộc điều tra này, Việt Nam sẽ cố gắng tìm đủ tài liệu để chứng minh rằng hai bản Keng Đu và Xén Nhôm này còn nhập nhằng chưa rõ thuộc về ta hay về Lào.


Diễn biến và kết quả cuộc điều tra vùng Mường Sốc (Keng Đu) và Nậm Cắn:

- Vùng Mường Sốc: Xét cả tài liệu của hai bên đều thấy lịch sử hành chính Mường Sốc từ ba bốn chục năm lại đây thì chứng cứ hai bên đều chưa đủ chứng mình thuộc về bên nào; lịch sử hành chính từ ba bốn chục năm về trước thì chứng cứ thuộc về Việt Nam vững hơn, bên Lào không có chứng cứ. Nói chung vùng Mường Sốc là vùng nhập nhằng và lý lẽ thuộc về Việt Nam trong lịch sử tương đối vững hơn. Sau khi thấy tài liệu của Việt Nam, thái độ của phái đoàn Lào có thay đổi, bớt chủ quan và bớt hiểu lầm Việt Nam xâm chiếm đất đai của Lào. Phía Lào cũng thấy được là vấn đề biên giới là phức tạp và cũng thấy Mường Sốc là nơi nhập nhằng không rõ ràng là của ai. Vì vậy không đặt vấn đề yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Mường Sốc để đặt chính quyền Lào như lúc đầu, phía Lào đồng ý hai bên làm biên bản báo cáo lên Chính phủ.


- Vùng Nậm Cắn: Xét chung tài liệu hai bên thì thấy vấn đề Nậm Cắn là nơi có tranh chấp từ trước và là nơi nhập nhằng. Phái đoàn Lào cũng nhận thấy chỗ nhập nhằng ấy. Đoàn Việt Nam cần tìm thêm tài liệu (nhân chứng và vật chứng) mới đủ lý lẽ để đấu tranh. Ngày 4-10-1956, cuộc gặp gỡ kết thúc sau khi thông qua bản thông cáo chung. Hai bên không đi thực địa. Trong đàm phán, phái đoàn Việt Nam đã nhắc lại và được sự đồng tình của phái đoàn Lào là hai bên sẽ đề nghị Chính phủ hai nước chú ý việc nối lại và thắt chặt quan hệ địa phương ở biên giới.


Ngày 9-11-1956, Thủ tướng Phu Ma gửi Thủ tướng Phạm Văn Đồng công thư số 303-PCMP. Kèm theo bức thư có các văn bản về các cuộc trao đổi ý kiến giữa phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà và phái đoàn Chính phủ Vương Quốc Lào. Trong thư có đoạn viết: "Trong bức thư số 1014-VPNG ngày 14-9-1956 của Ngài mà ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã trả lời Ngài trong khi tôi đi vắng - Ngài có hoi ý kiến tôi có nên giải quyết khi hoàn cảnh cho phép, tất cả các sự tranh chấp khác về biên giới Lào chăng? Theo ý kiến tôi đó là một việc hình như sớm nếu hiện nay mà đả động đến những ranh giới hiện có giữa hai nước như đã ổn định trước năm 1945 và đã được công nhận qua một thời kỳ dài chung sống hoà bình. Về phần mình ít ra trong lúc này, Chính phủ Vương quốc Lào không có ý định dựa vào những biện pháp của chính quyền bảo hộ Pháp đã áp dụng về phương diện lãnh thổ, như biện pháp sát nhập 12 tổng Thái xưa kia thuộc Vương quốc Lạng Xang vào Bắc bộ Việt Nam sau phái đoàn Paris hoặc biện pháp gần đây đã do Nghị định ngày 22-11-1904 tách tỉnh Đắc Lắc khỏi lãnh thổ Lào để nhập vào Trung bộ Việt Nam. Trong vụ Tassang Chăng (tức vùng Mường Sốc), Chính phủ Vương quốc đã không thấy còn nêu vấn đề điều chỉnh lãnh thổ mà ngược lại cần duy trì nguyên trạng trước ngày 14-12-1954".


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:33:50 PM
Để tiếp tục việc thương lượng nhằm giải quyết vấn đề biên giới đã đặt ra trong đàm phán ở Nọng Hét (từ ngày 29-9 đến ngày 4-10-1956), hai Chính phủ Việt Nam và lào đã trao đổi công hàm và đi đến thoả thuận là cử hai phái đoàn cùng nhau tiến hành đàm phán về hai vấn đề: Định việc rút quân tạm thời ra khỏi hai vùng Mường Sốc và Nậm Cắn; tìm những yếu tố để giúp hai Chính phủ giải quyết một cách thỏa đáng vấn đề biên giới ở hai vùng đó. Cuộc đàm phán diễn ra tại Hà Nội từ ngày 16-9-1957 đến ngày 2-10-1957, có 6 buổi họp toàn thể hai đoàn và 8 ngày làm việc ở tiểu ban, hai đoàn đã thoả thuận:

- Về vấn đề rút quân: Sẽ tạm thời rút các lực lượng chính quy, địa phương, công an, biên phòng. Các tổ chức quân sự du kích thì tạm thời bãi bỏ, các vũ khí đạn dược đưa ra khỏi vùng qui định. Còn công an để đảm bảo an ninh trật tự thì sẽ bàn đến khi thảo luận vấn đề quy chế các vùng rút quân; về thời gian, đồng ý là sẽ rút hết trong vòng 20 ngày kể từ ngày ký kết; hai bên sẽ lập một Uỷ ban liên hợp có đại biểu chính quyền hai tỉnh Nghệ An và Xiêng-khoảng đảm nhận kiểm soát việc rút quân, thi hành các quy chế về giải quyết các vụ vi phạm quy chế sau này. Hai bên cũng thoả thuận về địa điểm và ngày gặp gỡ của Uỷ ban liên hợp và một số thể thức làm việc khác. Trong điểm này có một vấn đề hai bên chưa thoả thuận được đó là quyền hạn bắt người của cơ quan kiểm soát, phía vào đề nghị giao cho Uỷ ban có quyền bắt người vi phạm quy chế, phía Việt Nam đề nghị quyền đó là của cơ quan hành chính địa phương.


- Vấn đề khu vực rút quân ở hai vùng Mương Sốc và Nậm Cắn, hai bên không thoả thuận được.

Tuy hai bên đã đạt được một số thoả thuận, song vấn đề quan trọng là khu vực rút quân không thống nhất được nên không ký biên bản làm việc chung, chỉ có thông cáo chung ngắn gọn là Hội nghị tạm dừng, còn các vấn đề khác chưa đả động gì đến.


Ngày 23-2-1957, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà gửi công hàm cho Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Lào với nội dung: "Trong khi chờ đợi giải quyết vấn đề này, để tăng cường tình hữu nghị giữa hai dân tộc chúng ta và theo đúng tinh thần bản tuyên bố chung đã ký giữa hai Chính phủ chúng ta, tôi nghĩ rằng đã đến lúc nên có những cuộc tiếp xúc giữa các nhà chức trách địa phương tỉnh Nghệ An và tỉnh Xiêng-khoảng để trao đổi về vấn đề mở rộng quan hệ biên giới nhằm đem lại lợi ích cho nhân dân hai nước Việt Nam - Lào".


Ngày 20-3-1957, Thủ tướng Chính phủ Vương quốc Lào trả lời về vấn đề này, đại ý: Muốn đặt quan hệ hữu nghị giữa các nhà đương cục địa phương trên biên giới thì một mặt quyền quản lý hành chính ở nơi đó phải được chính thức thừa nhận trong một thời gian dài, mặt khác không nên có những hoạt động có tính chất phô trương ở vùng biên giới. Phía Lào cho biết đã chỉ thị cho chính quyền địa phương và quân đội Lào về vấn đề trên. Riêng giữa Nghệ An và Xiêng-khoảng, cho rằng chính quyền địa phương phía Việt Nam vừa hất cẳng chính quyền địa phương Lào ra khỏi Mường Sốc mà nay lại nói việc đặt quan hệ hữu hảo giữa hai bên là không thể được.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:36:22 PM
Trước tình hình trên, Chính phủ Việt Nam chủ trương: Củng cố biên giới về mọi mặt và trong những điều kiện có thể hiện nay, duy trì và phát triển quan hệ qua lại giao dịch giữa nhân dân hai bên biên giới rồi trên cơ sở đó và đường lối quan hệ ngoại giao với Vương quốc Lào, sẽ tranh thủ sự đồng tình của họ để cùng nhau chính thức đặt việc mở rộng quan hệ địa phương dọc theo biên giới, trước tiên là những nơi hiện nay nhân dân hai bên qua lại nhiều như giữa vùng Nọng hét (Xiêng-khoảng) và Mường Xén (Nghệ An), giữa vùng Pua La Phơ (Khăm-muộn) và xã Thượng Trạch (Quảng Bình) hoặc giữa xã Hướng Lập (khu vực Vĩnh Linh) và Sê Pôn (Sa-vẳn-nạ-khệt).


Trong báo cáo về kết quả đàm phán ở Nong Hét, Trưởng phái đoàn Việt Nam kiến nghị lên bộ Nội vụ:

- Đề nghị Bộ Nội vụ tiếp tục sưu tầm thêm tài liệu hai vùng Mường Sốc và Nậm Cắn. Rút kinh nghiệm trong việc xây dựng hồ sơ của hai vùng này để xây dựng hồ sơ cho các vùng Cà Toọc, Phú Ninh, Qúy Ninh, Hướng Lập và chuẩn bị phương án đấu tranh về các vùng này.

- Về việc tiếp tục quan hệ với Vương quốc Lào trong vấn đề biên giới, dự kiến như sau: Có hai khả năng, hoặc giai quyết xong vùng Mường Sốc, Nậm Cắn và đặt vấn đề tiếp tục điều tra các vùng khác nhất là vùng Hướng Lập là một vùng quan trọng mà lý lẽ của Việt Nam khá vững; hoặc tiến hành điều tra xong các vùng khác rồi giải quyết chung cho các vùng.

- Qua cuộc điều tra vừa rồi, phía lào đã thấy vấn đề biên giới nói chung là phức tạp, vấn đề Mường Sốc và Nậm Cắn nói riêng còn nhập nhằng. Vì mục đích tranh thủ về ngoại giao, nên có sự nhân nhượng, tìm biện pháp để hai bên cùng có lợi. Nhìn chung toàn bộ vấn đề biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia thì các biện pháp giải quyết hiện nay chỉ có tính chất tạm thời. Có thể giải quyết được theo khả năng thứ nhất. Giải quyết chung cho hai vấn đề Mường Sốc và Nậm Cắn có thể bằng ba biện pháp: Việt Nam rút khỏi vùng Mường Sốc, lào rút khỏi vùng Nậm Cắn, trở thành vùng phi quân sự trong một thời gian nào đó, nhưng hai bên vẫn giữ nguyên chủ quyền hành chính của mình; theo biên giới trên bản đồ tỷ lệ 1/400.000, Việt Nam giao lại cho Lào sáu bản là Kẹo Nhôm, Con Me, Piêng Phát, Ngước Bun, Xén Nhôm, Nhọt Súng ở vùng Mường Sốc và Lào giao cho Việt Nam ba bản là Đen Đin, Lý Tường và Huội Tầng ở vùng Nậm Cắn; hai bên cùng rút quân khỏi hai vùng và hai bên cùng tiến hành trưng cầu dân ý.


Về việc Việt Nam in lại bản đồ: Dựa vào kết quả điều tra và xác định đường biên giới năm 1955 - 1957, mặc dù chưa có sự thoả thuận của hai bên, năm 1964 phía Việt Nam đã điều chỉnh lại đường biên giới do Pháp vạch ra trên bản đồ và sau đó các bản đồ do Việt Nam xuất bản đều in đường biên giới đã điều chỉnh theo tài liệu khảo sát năm 1955 - 1957. Việc Việt Nam đơn phương điều chỉnh lại đường biên giới trên bản đồ không những làm cho Pa Thét Lào nghi ngờ Việt Nam lấn đất mà ngay trong năm 1965 Vương quốc Lào và ngụy quyền Sài Gòn cũng phản ứng:

- Ngày 12-2-1965, Bộ Ngoại giao Vương quốc Lào đã gửi đến sứ quán Việt Nam công hàm số 31 AE-PD nhờ sứ quán chuyển về Chính phủ, phản đối việc Việt Nam tự ý sửa lại nhiều chỗ biên giới Việt Nam - Lào trên bản đồ tỷ lệ 1/1.600.000 do Việt Nam xuất bản năm 1964 và Lào cho là phía Việt Nam có ý đồ lấn đất. Trong công hàm có đoạn viết: "Thật lấy làm lạ vì Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà vẫn dai dẳng khẳng định một cách vô liêm sỉ rằng Tarua, Tapăng, Tapoi thuộc Việt Nam Dân chủ cộng hoà, ba làng trên thuộc làng Tchépon (thực ra là huyện Tchépon) cùng với Sang, Ra mai Travigne là một bộ phận thuộc lãnh thổ quốc gia Lào. Những làng trên đã bị quân đội Việt minh chiếm đóng trái phép năm 1957 và từ đó nhà cầm quyền Hà Nội luôn làm cho người ta tưởng rằng các địa phương trên thuộc lãnh thổ Việt Nam Dân chủ cộng hoà. Ngài Phạm Văn Đồng, người ký Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 đã chấp nhận bản đồ 1/100.000 về miền đông của Tchépon để vạch ranh giới vùng phi quân sự. Bản đồ này được tất cả các bên tham dự Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 chấp nhận, chi rõ ràng những làng nói trên đây luôn luôn là lãnh thổ lào. Bản vẽ mới về biên giới Việt Nam - Lào trên bản đồ 1/1.600.000 do Hà Nội xuất bản ngày 10-7-1964 ở nhiều nơi đã lấn sang lãnh thổ Lào" - (Phía Việt Nam không trả lời Lào, chỉ có công văn số 170-VPNC ngày 2-3-1965 do Bộ Ngoại giao gửi Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước, đề nghị cơ quan này cho biết bản đồ nói trên có đúng là của Việt Nam xuất bản không?).


- Ngày 19-5-1965, Đổng lý văn phòng Bộ Ngoại giao (Sài Gòn) gửi Đổng lý văn phòng nguỵ Sài Gòn báo tin sứ quán Lào tại Sài Gòn cho biết là Việt cộng vừa cho in lại bản đồ Việt Nam tỷ lệ 1/1.600.000 với một vài sửa đổi về đường ranh giới, có nơi ăn sâu thêm vào nội địa Lào. Đề nghị Nha Địa dư Quốc gia đối chiếu bản đồ này với bản đồ chính thức, nhất là về phần đất Bắc Việt coi có phù hợp không, nếu có đoạn nào sai đề nghị cho biết để phúc đáp Chính phủ Ai-lao. Đề nghị cung cấp một bản đồ chính thức để tặng Chính phủ Ai-lao làm tài liệu.


- Ngày 29-5-1965, Bộ Tổng tư lệnh P2 gửi công văn cho Nha Địa dư quốc gia Sài Gòn: Để có đủ tài liệu phúc đáp Chính phủ Ai-lao về việc Việt cộng Bắc Việt sửa chữa ranh giới trong bản đồ Việt Nam, yêu cầu: Đối chiếu đường biên giới Việt Nam - Lào trong bản đồ 1/1.600.000 với các tài liệu căn bản; cho biết những điểm sai lầm đầy đủ và chi tiết.


- Trong công văn của Giám đốc Nha Địa dư Sài Gòn gửi Bộ tổng tư lệnh P2 trả lời công văn ngày 29-5-1965 có đoạn viết: "Tóm lại, đường biên giới đó (của Lào) phù hợp với đường biên giới trên bản đồ 1/400. 000 từ vĩ tuyến 16 trở ra và trái lại từ vĩ tuyến 16 trở vào đến vĩ tuyến 14 (vùng ba biên giới Việt - Miên - Lào) thì không theo đường biên giới trên bản đồ 1/400.000 mà có lẽ đã dựa trên bản đồ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương. Đường biên giới đen (của Việt cộng) thì ngược lại tương tự với đường biên giới vẽ trên bản đồ 1/500.000 của Nha Địa dư ở phần trên từ vĩ tuyến 16 trở ra ngoài trừ những đoạn biên giới tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị thì không giống bản đồ căn bản nào cả và trái lại từ vĩ tuyến 16 đến vĩ tuyến 14 thì giống với đường biên giới trên bản đồ 1/400.000.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:41:37 PM
Từ ngày 10 đến ngày 14-12-1973, Trung ương hai Đảng đã họp tại Đồ Sơn (Hải Phòng). Trong hội đàm, đồng chí Nu Hắc Phum Sa Văn, Uỷ viên Bộ chính trị Trung ương Đảng Nhân dân lào thông báo: “Vấn đề biên giới gần đây có cái phức tạp, anh em công an tự ý lấn đất như ở Na Mèo cắm mốc vào sâu quá biên giới 3 km gây ra nhiều khó khăn trong việc làm ăn đi lại của nhân dân và gây phản ứng trong nội bộ Lào và đề nghị cần giải quyết vấn đề biên giới không chỉ ở Na Mèo mà cả ở một số nơi khác như Keng Đu, Làng Mộ".


Đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam nói: "Chúng tôi cho rằng vấn đề biên giới có thể giải quyết nhanh và tốt vì trong vấn đề này giữa hai nước chúng ta không có gì nghiêm trọng, phức tạp. Điều trọng đại nhất đối với chúng ta là sự đoàn kết và nương tựa lẫn nhau, nhân dân hai bên có quan hệ đi lại làm ăn thuận lợi. Hai bên sẽ xúc tiến việc nghiên cứu toàn bộ các vấn đề liên quan đến qui chế biên giới và sẽ cử các phái đoàn đàm phán để giải quyết".


Đồng chí Kay Sỏn Phon Vi Hẳn, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Lào nói: “Đối với 10 cái lớn (tuy đã có vấn đề biên giới) mà hai bên đã thoả thuận, cần có chỉ đạo cụ thể, kinh nghiệm không có chỉ đạo chặt thì thường làm chậm. Tôi đề nghị hai bên nên bàn, có kế hoạch cụ thể trong từng vấn đề. Về kế hoạch giải quyết vấn đề biên giới, chúng tôi đồng ý không có vấn đề gì lớn, nhưng nên có sự thông suốt trên dưới, nhất là cho anh em biên phòng. Sau cuộc hội đàm này, chúng tôi sẽ tích cực chuẩn bị để có thể họp Trung ương vào cuối tháng".


Sau cuộc hội đàm trên, Phủ Thủ tướng chủ trương nghiên cứu để làm rõ thêm tình hình đường biên giới Việt Nam - Lào. Văn phòng Phủ Thủ tướng xây dựng kế hoạch chung cho việc nghiên cứu, trong đó có kế hoạch tổ chức điều tra, khảo sát ở một số điểm trong nam 1974 để rút kinh nghiệm và sau đó tiếp tục khảo sát tất cả các điểm trên đường biên giới Việt Nam - Lào. Đoàn khảo sát do Văn phòng Phủ Thủ tướng tổ chức tiến hành từ ngày 6 tháng 3 năm 1974, với nhiệm vụ: Thu thập, xác minh, phân tích các tài liệu cần thiết về đường biên giới Việt Nam - Lào nhằm xây dựng luận cứ cho việc xác định những điểm chưa rõ ràng trên đường biên giới, chuẩn bị cho Chính phủ đàm phán với nước bạn. Trước mắt, đến cuối tháng 8-1974 phải hoàn thành việc nghiên cứu các điểm Na Mèo, Nậm Cắn, Phú Ninh, Quý Ninh và Pa Thơm.


Đoàn tổ chức làm hai nhóm: (1) Nhóm nghiên cứu địa hình và bản đồ có nhiệm vụ: Căn cứ vào các loại bản đồ đã có, kết hợp với việc tìm hiểu sự hiểu biết của nhân dân về một đường biên giới tập quán, nghiên cứu, khảo sát lại thực địa, đối chiếu với bản đồ để phân tích sự khác nhau về đường biên giới giữa các loại bản đồ, sự khác nhau giữa bản đồ và đường biên giới theo tập quán cổ truyền của nhân dân; (2) Nhóm nghiên cứu lịch sử có nhiệm vụ: Thâm nhập vào nhân dân, tìm hiểu về quá trình lịch sử hành chính của địa phương, tình hình kinh tế văn hoá, ngôn ngữ, dân tộc, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân về vấn đề biên giới, thu thập những tư liệu, di vật, tang chứng liên quan đến biên giới, phân tích về sự hình thành các mường, tìm hiểu lịch sử các địa danh, các truyện cổ tích gắn liền với đời sống của địa phương để nghiên cứu rút ra những kết luận, những vấn đề liên quan đến đoạn đường biên giới mà nhóm phải khảo sát điều tra.


Theo kế hoạch, giai đoạn một khảo sát thí điểm khu vực Na Mèo, Tân Lập và Khăm Nàng thuộc tỉnh Thanh Hoá trước. Sau gần một tháng điều tra, khảo sát tại thực địa từ ngày 21-3-1974 đến ngày 15-4- 1974, tổ khảo sát đã thống nhất kết luận:

- Đoạn biên giới ở đoạn đầu trên trục đường 21 đa thuộc phạm vi đồn Na Mèo quản lý đã được nhân chứng chỉ dẫn xác minh tại chỗ thì: Từ Khua Hộp lên dãy Puêng lấy sống núi Puêng làm ranh giới chụp xuống mỏm Puêng phía Đông Nam (còn gọi là Puêng Tơ) cắt qua đường 217a qua Nậm Pun, sang Aicôle lên đỉnh Puvia, lên Puxámđạn (hoặc Punưa Lào); đối chiếu đường biên giới trên đây thì ý kiến của một vài đồng chí lãnh đạo bạn nói đất Lào xuống đến tận ngã ba sông Sôi, sông Pan là không đúng với thực tế địa hình, không phù hợp với đường biên giới tập quán mà nhân dân đang tôn trọng; đồn công an vũ trang Na Mèo hiện nay đang quản lý đến suối Vía phía trái trường Thương nghiệp của bạn cũng không đúng so với đường tập quán và theo lời văn ghi trong khoán ước chia cắt đất Lào thì đúng là đã lấn vào đất Lào 200 m.

- Về phạm vi hai bản Tân Lập và Na Hàm, theo tài liệu điều tra năm 1955 - 1957 đã xác nhận Tân Lập là của Vịt Nam, Na Hàm là của Lào là đúng, nhưng đường biên giới ở hai điểm này thể hiện trên bản đồ sai với thực tế ngoài thực địa. Như vậy, bản đồ do Pháp vẽ năm 1943 (biên vẽ lại năm 1954) và bản đồ do ta điều chỉnh năm 1964 theo tài liệu điều tra năm 1955 - 1957 là không đúng so với thực trạng địa hình.

- Về đất Khăm Nàng: Theo tài liệu điều tra 1955 - 1957 có cả cán bộ của bạn tham gia đã cùng xác nhận đất Khăm Nàng là thuộc xã Pù Nhi, huyện Quan Hoá, tỉnh Thanh Hoá và đồn công an nhân dân vũ trang Pù Nhi đã dựa vào đó để quản lý cho đến nay. Nhưng gần đây dân bạn sang lấy măng và cán bộ của Na Hàm (Lào) nói đất Khăm Nàng là của Lào. Sau khi đã tìm hiểu về lịch sử hành chính đất Khăm Nàng và nghiên cứu ở thực địa, được một số cụ già chỉ tại chỗ thì nhân dân ở đây vẫn tôn trọng đường ranh giới từ Pukhôm cắt qua suối Sâu lên Pachim. Như vậy về lịch sử cũng như hiện tại đất Khăm Nàng vẫn thuộc Lào.


Về những nguyên nhân làm cho đường biên giới ở các khu vực Na Mèo, Tân Lập, Khăm Nàng không rõ dẫn đến sự nhầm lẫn trong công tác quản lý gây nên nhiều thắc mắc trong nhân dân hai bên, tổ khảo sát đã thống nhất: Đường biên giới ở các khu vực nói trên chỉ là đường biên giới do Pháp vẽ nháp trên bản đồ, không đi khảo sát đo đạc ngoài thực địa và không khớp với lịch sử hành chính của địa phương về đường biên giới tập quán. Từ năm 1955 - 1957, hai bên đã phối hợp điều tra biên giới, đã thu thập được nhiều tài hệt chứng minh một đường biên giới tập quán đã được nhân dân địa phương hai bên tôn trọng, nhưng trên bản đồ lại vẽ khác với thực địa (vùng Tân Lập của Việt Nam lại vẽ sang Lào, vùng Na Hàm của Lào lại vẽ về Việt Nam, bản Khăm Nàng là của Lào thì lại xác nhận là của Việt Nam). Đáng tiếc là khi đó đoàn khảo sát đã không lập những văn bản cần thiết để làm cơ sở pháp lý cho việc quản lý của cả hai bên.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:42:27 PM
Sau cuộc họp sơ kết đợt khảo sát đường biên giới ở các khu vực Na Mèo, Tân Lập, Pù Nhi, đoàn công tác chuẩn bị đi khảo sát vùng Keng Đu trên đoạn biên giới giữa Nghệ An và Xiêng Khoảng thì Phủ Thủ tướng quyết định, một mặt vẫn tiếp tục đi khảo sát vùng Keng Đu, mặt khác phải chuẩn bị cho một phái đoàn của Chính phủ sang Viêng Xay đàm phán với bạn theo yêu cầu của Bộ chính trị Đảng bạn. Về mục đích cuộc đàm phán, bạn nêu: Nhằm củng cố và tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa hai Đảng và hai dân tộc Việt Nam - Lào (đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào không phải chỉ thể hiện ở trên hai Trung ương ở Sầm Nưa và Hà Nội mà cần phải được thể hiện giữa nhân dân hai dân tộc), để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hai nước, cùng nhau bảo vê biên giới, giúp đỡ nhau làm ăn sinh sống; về căn cứ để giải quyết, bạn nêu là dựa vào đường biên giới mà Pháp vẽ trên bản đồ, dựa vào ý kiến của nhân dân, dựa vào mốc biên giới hiện có. Bạn đề nghị nghiên cứu rút kinh nghiệm hai điểm Na Mèo và Keng Đu; về thời gian, bạn đề nghị đầu tháng 5-1974 giải quyết điểm Na Mèo, đầu tháng 6-1974 giải quyết điểm Keng Đu; về thành phần đoàn, bạn mời một phái đoàn gồm một vài cán bộ ở Trung ương, Bí thư sáu tỉnh có chung biên giới với Lào, đại diện lực lượng công an nhân dân vũ trang địa phương. Bạn mời sang Viêng Xay cuối tháng 4-1974 (nhân có lớp học của các Bí thư các tỉnh bạn đang học ở Na Cai) để cùng nhau trao đổi giải quyết.


Thực hiện quyết định của Phủ Thủ tướng, trong cuộc họp nội bộ gồm đại diện Bộ Ngoại giao, Văn phòng Phủ Thủ tướng, Bộ Tư lệnh công an nhân dân vũ trang, CP 38 đã nhất trí các phương án đàm phán là: Trước mắt, giải quyết một số điểm để rút kinh nghiệm, sau đó mới tiến hành ở tất cả các điểm trên đường biên giới Việt Nam - Lào; về căn cứ giải quyết vấn đề biên giới, nhất trí dựa vào đường biên giới  tập quán truyền thống mà nhân dân đã thừa nhận và tôn trọng là chính, còn đường biên giới do Pháp vẽ trên bản đồ chỉ để tham khảo; về tổ chức thành phần đoàn, gồm 12 người do đồng chí Nguyễn Văn Ngọc làm Trưởng đoàn, đồng chí thiếu tướng Huỳnh Thủ làm Phó đoàn và đã được Bộ chính trị Trung ương Đảng duyệt.


Khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có ý kiến chỉ đạo là, bạn đã nêu ra thì ta phải giải quyết với bạn, phải nghiên cứu tại sao bạn muốn làm như thế. Bây giờ nên tiến hành theo bạn, tuy làm mấy điểm nhưng đã làm thì phải làm đàng hoàng. Và ý kiến của đồng chí Nguyễn Duy Trinh là, chủ trương ta sang để nghe bạn nói gì, thu hẹp lại sự căng thẳng, chỗ nào giải quyết được thì giải quyết còn chỗ Hà Tĩnh nên thôi vì Na Pê căng thẳng, phải dựa trên tinh thần đoàn kết hữu nghị lâu dài giữa hai dân tộc hai nước, khi giải quyết phải có căn cứ vững chắc, phải nghiên cứu, cân nhắc dựa vào bản đồ nơi nào rõ thì giải quyết cho vững chắc, giải quyết phải thận trọng, các đồng chí bạn còn phải lo vấn đề trong kia, ta còn vấn đề miền Nam, nếu giải quyết không tốt sẽ trở thành vấn đề về sau này, khi tìm hiểu các vấn đề thì tìm hiểu cả vấn đề mậu dịch nữa.


Đoàn đã nhất trí nhiệm vụ như sau: Tìm hiểu thêm ý đồ của bạn; bàn bạc và tổ chức làm việc để chuẩn bị cho việc giải quyết sau này trên phương châm cái gì rõ ràng, dễ giải quyết thì giải quyết, cái gì phức tạp thì giải quyết sau. Đoàn lên đường đi Sầm Nưa ngày 27-4-1974. Ngày 29-4-1974 đoàn đến chào Bộ chính trị Trung ương Đảng bạn. Trong buổi tiếp, đồng chí Nu Hắc Phum Xa Văn nhắc lại tinh thần hội đàm giữa hai Bộ Chính trị ở Đồ Sơn năm 1973, đồng chí nói: "Trước đây chúng ta đã đoàn kết, có đoàn kết mới đánh thắng được hai tên đế quốc, ngày nay càng phải đoàn kết hơn nữa. Biên giới năm đến sáu cây số không thành vấn đề mà vấn đề lớn nhất, vấn đề sống còn là làm sao củng cố được đoàn kết hữu nghị giữa hai Đảng, hai dân tộc. Thực tế, không phải vấn đề giành giật với nhau bốn hay năm cây số, đừng để cho kẻ địch lợi dụng vấn đề này. Do đó trong khi làm việc với nhau, chúng tôi đề nghị hai bên phải nắm vững tinh thần đó".


Từ ngày 01-5 đến ngày 11-5-1974 đã diễn ra hai cuộc họp mở rộng giữa hai đoàn, sáu cuộc họp giữa các Trưởng, Phó đoàn và năm cuộc họp chuyên viên. Để bạn khỏi nghi ngờ, suốt quá trình làm việc, đoàn Việt Nam thể hiện thái độ chân thành, trình bày với bạn thiện chí mong muốn giải quyết tốt những vấn đề tồn tại trên đường biên giới là Việt Nam không hề có thủ đoạn gì với bạn trong vấn đề này, mong muốn củng cố và tăng cường được mối quan hệ, tình đoàn kết lâu dài giữa hai dân tộc, sẵn sàng khẩn trương cùng với bạn giải quyết những điểm mà bạn nêu ra. Hai bên đã nhất trí với nhau một số điểm:

(1) Mục đích của việc giải quyết một số điểm tồn tại thiên đường biên giới là: Củng cố và tăng cường tình đoàn kết lâu dài giữa hai Đảng, hai dân tộc để bảo vệ và tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm ăn qua lại của nhân dân, cán bộ hai bên biên giới, đồng thời phòng ngừa và ngăn chặn hoạt động phá hoại của phần tử xấu và địch;

(2) Theo đề nghị của Việt Nam, phía Lào đồng ý rút những yêu cầu “công bằng bình đẳng, để cho nhân dân hai bên biên giới được hoàn toàn tự do dân chủ trong việc giải quyết đường biên giới" và thay vào đó các yêu cầu "giải quyết có căn cứ khoa học, đúng với thực tế và hai bên cùng thoả mãn";

(3) Về căn cứ để giải quyết, hai bên thống nhất: Bản đồ do Pháp làm ra (bạn nêu chỉ dùng các bản đồ của Pháp làm ra cho đến năm 1945), đường biên giới tập quán truyền thống, trí nhớ của dân, các chứng cứ và vết tích lịch sử;


Về biện pháp giải quyết, bạn vẫn muốn hai bên ký một văn bản có tính nguyên tắc và cho tổ chức đi khảo sát nhiệm vụ giáo dục nhân dân hai bên biên giới.

Đoàn đàm phán đã kiến nghị lên trên: Khẩn trương cùng với bạn giải quyết việc xác minh đường biên giới để bạn khỏi hiểu lầm và để giúp bạn ổn định tình hình nội bộ; tiếp tục thuyết phục bạn thấy rõ tính chất phức tạp của vấn đề, giải quyết một cách vững chắc khỏi gây hậu quả xấu sau này, muốn vậy phải cân nhắc các biện pháp bạn đã nêu ra; trong khi chờ đợi việc giải quyết, cần chỉ thị cho các địa phương tiến hành giáo dục cho cán bộ, bộ đội, công an, nhân dân hết sức tôn trọng bạn, tránh để bạn hiểu lầm và những thiếu sót gì có thể sửa được thì cần kịp thời sửa và kiên quyết sửa.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 02 Tháng Chín, 2012, 08:44:09 PM
Sau cuộc đàm phán ở Viêng Xay, bạn đề nghị hai bên gặp nhau ở Na Mèo ngày 15-7-1974 để bàn về điểm Na Mèo và ở Mường Xén, và gặp nhau ngày 25-7-1974 để bàn về điểm Keng Đu. Thực tế không đơn giản và thời điềm bạn đề nghị hai bên làm việc ở Keng Đu và Na Mèo rơi vào đúng mùa mưa. Thời gian qui định để làm việc lại quá gấp rút. Tuy nhiên nếu đề nghị khác đi hoặc hoãn lại một thời gian khác, bạn có thể hiểu lầm. Vì thế ngày 15-7-1974 đồng chí Nguyễn Duy Trinh thay mặt Thủ tướng Chính phủ đã ký kết quyết định của Hội đồng Chính phủ cử đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam do ông Lưu Văn Lợi, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao làm Trưởng đoàn để đàm phán với đoàn đại biểu Ban chấp hành Trung ương mặt trận Lào yêu nước và cử hai đội khảo sát (Đội khảo sát ở Na Mèo do Hà Văn Ban, Phó chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh Thanh Hoá làm Đội trưởng; Đội khảo sát ở Keng Đu do Hà Quang Kình, Phó chủ tịch Uỷ ban hành chính tỉnh Nghệ An làm Đội trưởng) nhằm xác định những điểm chưa rõ ràng.


Từ ngày 15-4-1974 đến ngày 28-9-1974 hai bên đàm phán tại Mường Xén và Na Mèo.

Lúc đầu, bạn nêu biên giới Lào xưa kia ở Con Cuông (tức huyện lỵ huyện Con Cuộng thuộc tỉnh Nghệ An trên đường số 7, sâu vào đất Việt Nam khoảng 145 km so với đường biên giới hiện nay và cũng là biên giới theo bản đồ Pháp từ năm 1923, biên giới đến Sa La Ep (trên đường số 6 ở Bắc Mường Xén 7 km) nhưng nay tạm gác vấn đề Con Cuộng và Sa La Ep lại, bạn đề nghị giải quyết cả một khu vực từ vùng Keng Đu đến Nậm Cắn trên đường 7, nhưng cuối cùng bạn cũng nhận đóng khung cuộc đàm phán trong phạm vi Keng Đu như đã thoả thuận. Về vùng Keng Đu, quan điểm của bạn là 18 bản của vùng này thuộc đất Lào (bạn đưa ra đường biên giới Chính phủ Phuma đã đưa ra trong cuộc đàm phán năm 1956 - 1957), đề nghị lấy đường biên giới theo bản đồ Pháp năm 1938 (tuy không nói rõ thế) nhằm cắt 15 bản của vùng Keng Đu về Lào, để ba bản cho Việt Nam, sau đó bạn nhiều lần tỏ ý đồng tình với gợi ý do đoàn đàm phán phía Việt Nam đã đưa ra ngày 6-7-1974 ở Mường Xén (tuy chưa có ý kiến của Trung ương và tỉnh Nghệ An), tức là lấy đường biên giới theo bản đồ Pháp năm 1930 - 1940 - 1943 Việt Nam in lại năm 1961 và thay đổi đôi chút nhằm cắt ba bản là Keng Đu, Kẹo Cớn (cũ) và Pha Xàng về Lào (nếu ý kiến này được chấp nhận thì trong 18 bản của vùng Keng Đu sẽ chia 11 bản về Lào và 7 bản về Việt Nam). Trong cuộc đàm phán ở Mường Xén, đồng chí Nguyễn Duy Trinh đã điện phê phán đoàn đàm phán đã không thực hiện đúng nguyên tắc, tuy có thỉnh thị nhưng chưa được phép đã tự ý giới thiệu phương án, và chỉ thị tạm hoãn đàm phán.


Về điểm Na Mèo, lúc đầu bạn nói mốc biên giới Lào - Việt Nam ở Kẹo Đen Bai sâu vào đất ta khoảng 17 km (so với biên giới hiện nay ở Aicolụ) và hơn 5 km so với biên giới trên các bản đồ Pháp mà ta có. Về sau bạn đề nghị lấy điểm Kẹo Đen Bai và làng Duốc (cách Aicolụ khoảng 600 m về phía Việt Nam) rồi chia đôi, lấy một điểm thích hợp nhất xê xích ba hoặc năm km cũng được. Tuy vậy trong đàm phán bạn vẫn chưa đưa cụ thể điểm giữa đó là điểm gì với lý do đưa cụ thể thì đụng chạm đến quan hệ đặc biệt Lào - Việt Nam nhưng lại yêu cầu đoàn Việt Nam nêu cụ thể trước.


Như vậy, hai cuộc đàm phán ở hai điểm Mường Xén và Na Mèo của hai bên đều chưa đạt được thoả thuận. Có những nguyên nhân: Động cơ giải quyết vấn đề biên giới chưa thống nhất, đoàn Lào có ấn tượng Việt Nam lấn đất, đến hội đàm với một ý thức là đòi lại đất vì vậy nhận thức về lịch sử không đúng, đề ra yêu cầu cao, không thực tế, làm cho các vấn đề trở nên phức tạp; đoàn Việt Nam chuẩn bị không đầy đủ không nắm chắc được ý đồ quan điểm của bạn từ đầu, nhận thức việt đàm phán và giải quyết vấn đề với bạn đơn giản. Các cơ quan hữu quan ở Trung ương cũng như giữa Trung ương với tỉnh có một số vấn đề chưa bàn bạc kỹ, chưa thống nhất.


Qua cuộc đàm phán của hai bên ở Viếng Xay tháng 5-1974 và hai cuộc đàm phán tiếp theo về hai điểm Na Mèo và Mường Xén, Văn phòng Phủ Thủ tướng nhận định về triển vọng đàm phán giải quyết vấn đề biên giới: "Vấn đề biên giới tự nó đã phức tạp, vừa qua chính những đồng chí bạn trực tiếp làm công tác đàm phán với ta về biên giới, do những ý nghĩ về tình cảm lệch lạc, làm cho vấn đề thêm phức tạp triển vọng của cuộc đàm phán là kéo dài và càng phức tạp hơn. Vấn đề càng kéo dài thì càng khó giữ bí mật. Ta cần cảnh giác đề phòng sự tác động của các bên khác nhằm chia rẽ Việt Nam - Lào, cần đề phòng những luận điệu xuyên tạc và vu cáo của phía Viêng Chăn và ngụy quyền Sài Gòn".


Từ tình hình trên, Văn phòng Phủ Thủ tướng báo cáo Bộ Chính trị Trung ương Đảng: Qua thực tế đàm phán ở Na Mèo và Mường Xén, ta nên đề nghị với các đồng chí Lào vì lợi ích của cả hai bên nên hoãn cuộc đàm phán của hai bên về vấn đề biên giới Việt Nam - Lào đến thời gian khác thích hợp và sau này ta sẽ tiếp tục đàm phán với bạn để giải quyết hợp tình hợp lý, phù hợp lợi ích của cả hai bên và theo tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trong khi chờ đợi, hai bên sẽ nghiên cứu những biện pháp để bảo đảm đường biên giới hiện nay là biên giới hữu nghị Việt Nam - Lào, trước hết là thi hành ngay một số biện pháp sau đây:

(1) Giữ nguyên trạng biên giới hiện nay, triệt để tôn trọng biên giới và lãnh thổ của nhau;

(2) Tiến hành giáo dục nhân dân vùng biên giới nhằm củng cố và phát huy quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào. Nêu rõ sự bức thiết phải bảo vệ tình đoàn kết chiến đấu đó, vạch rõ vấn đề biên giới do lịch sử để lại, một số trường hợp biên giới nhập nhằng hiện nay đã nảy sinh chủ yếu là trong quá trình phối hợp chống kẻ thù chung của hai dân tộc, chi rõ trách nhiệm của nhân dân hai bên biên giới là triệt để tôn trọng biên giới và giúp nhau bảo vệ biên giới và lãnh thổ;

(3) Bàn bạc để đi đến thoả thuận một quy chế tạm thời cho vùng biên giới Việt Nam - Lào (qua lại biên giới, mậu dịch biên giới, thể thức qua lại làm ăn của nhân dân hai bên biên giới, vấn đề biên phòng...)  

(4) Thành lập Ban biên giới liên hợp của hai tỉnh có biên giới chung để giải quyết mọi sự va chạm ở biên giới hai tỉnh;

(5) Tuy ta đề nghị hoãn cuộc đàm phán để giải quyết cơ bản vấn đề biên giới đến một thời gian thích hợp hơn, nhưng ta cũng cần tính tới khả năng bạn yêu cầu giải quyết ba điểm Na Mèo, Keng Đu, Na Pê, hoặc yêu cầu ta giải quyết xong hai điểm Na Mèo, Keng Đu (thậm chí một điểm nào để giải quyết nhất trong hai điểm đó) rồi hãy gác vấn đề lại.


Ngày 16-9-1974, đồng chí Kaysỏn Phôn Vi Hẳn điện cho đồng chí Lê Duẩn đại ý: Về vấn đề biên giới vừa qua, tôi nghe báo cáo lại thì muốn rõ tình hình bàn bạc ở hai điểm thí điểm (Sầm-nưa và Xiêng-khoảng) đã kéo dài mà vẫn chưa đi đến thống nhất với nhau được. Tôi mới chỉ được nghe phía anh em Lào phản ánh nhưng cũng thấy có vấn đề. Trước tình hình trên, chúng tôi nghĩ rằng có thể các đồng chí đi làm nắm không chắc tinh thần bàn bạc giữa hai Bộ Chính trị do đó cách làm cũng chưa phù hợp và hơn nữa hình như cũng đã xảy ra những việc không thật hiểu nhau, nếu cứ tiếp tục có thể không lợi cho đoàn kiểm tra. Vì vậy chúng tôi đề nghị trước mắt, hãy đình lại đã và hai bên cho gọi các đoàn đàm phán về nghiên cứu, quán triệt tinh thần của vấn đề và rút kinh nghiệm tìm cách giải quyết gọn nhất có lợi cho đoàn kết, vào khoảng cuối tháng 10 hoặc sau một ít, chúng tôi sẽ cử một phái đoàn (có thể sẽ do một đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị cầm đầu) sang gặp các đồng chí có trách nhiệm để trao đổi cho rõ thêm về chủ trương và cách tổ chức thực hiện đúng với tinh thần hội đàm.


Ngày 20-9-1974, đồng chí Lê Duẩn điện trả lời đồng chí Kaysỏn Phân Vi Hẳn: "Tôi đã nhận được điện ngày 16-9-1974 của Anh, tôi có nghe báo cáo tóm tắt tình hình các đoàn bàn về vấn đề biên giới, nhưng không nắm cụ thể. Tuy vậy tôi cũng thấy như Anh rằng bàn bạc kéo dài như hiện nay dễ gây hiểu lầm giữa các đoàn, không có lợi cho tình đoàn kết. Tôi đồng ý với Anh là trước mắt hai bên đình chỉ cuộc đàm phán ở Na Mèo và ở Mường Xén, gọi các đoàn đàm phán về để chờ ý kiến của hai Trung ương. Với truyền thống đoàn kết trong quan hệ đặc biệt gắn bó hai đảng và nhân dân hai nước chúng ta, tôi nghĩ rằng vấn đề biên giới dù có phức tạp cũng sẽ được giải quyết tốt đẹp trên tinh thần anh em đồng chí".


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Chín, 2012, 09:26:44 AM
2. ĐÀM PHÁN KÝ KẾT HIỆP ƯỚC HOẠCH ĐỊNH BIÊN GIỚI QUỐC GIA VIỆT NAM - LÀO

Sau năm 1975, Việt Nam thống nhất, Lào cũng giành được thắng lợi trong cả nước. Vấn đề biên giới giữa hai nước không những là vấn đề cần giải quyết mà còn có điều kiện thuận lợi để giải quyết. Tuy nhiên, vấn đề nguyên tắc và chính trị - pháp lý đặt ra là: Việt Nam và Lào có chấp nhận đường biên giới hiện có giữa hai nước và trên cơ sở đó ký kết một hiệp ước biên giới không? nếu không chấp nhận thì phải thương lượng một đường biên giới mới và ký một hiệp ước ghi nhận đường biên giới mới đó và trong trường hợp này thì việc trước tiên phải thống nhất căn cứ vào nguyên tắc nào để thương lượng đường biên giới mới?


Trước sự cần thiết phải hoạch định một đường biên giới rõ ràng, theo đúng các nguyên tắc của pháp luật quốc tế và phù hợp với đặc điểm của đường biên giới Việt Nam - Lào, phía Việt Nam đã chủ trương lấy đường biên giới đã hình thành trên thực tế và thể hiện trên bản đồ của Pháp làm căn cứ để hoạch định biên giới giữa hai nước. Nhưng lúc đó, phía lào không phải chỉ muốn hoạch định đường biên giới nói chung mà còn muốn giải quyết cụ thể một số điểm nóng. Vì thế, trong phiên họp hai Bộ Chính trị Trung ương Đảng hai nước ngày 10-02-1976 tại Hà Nội, phía Việt Nam đề nghị nguyên tắc giải quyết là: Lấy đường biên giới trên bản đồ của Pháp (in) năm 1945 khi hai nước tuyên bố độc lập làm căn cứ chính, nơi nào không có bản đồ của Pháp in năm 1945 thì dùng bản đồ Pháp in trước, sau đó một thời gian. Ngoài ra, phía Việt Nam còn đề nghị một số điểm cụ thể để hai bên giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Lào được nhanh chóng, thuận lợi(1) (Các Văn bản pháp lý về việc giải quyết biên giới Việt Nam - Lào, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 24-28):

- Việt Nam trả ngay cho Lào các vùng đất rõ ràng là mượn của Lào trong kháng chiến thống Pháp và chống Mỹ, như các vùng Sa Muôi, Tà Ôi (Tây Trị Thiên).


- Với các vùng chưa xác minh rõ ràng, hai bên sẽ điều tra rồi báo cáo hai Bộ Chính trị giải quyết, như các vùng Cà Lưm (Tây Trị Thiên) và Đắc Chưng (Tây Kon Tum).


- Đường biên giới ở khu vực Lao Bảo là suối Xà ợt như trên bản đồ Pháp vẽ (bên này suối là Lao Bảo của Việt Nam, bên kia suối là Huội Nhơn của Lào).


- Những nơi đường biên giới thể hiện trên bản đồ của Pháp (bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương) không phù hợp với thực tế quản lý hành chính thì:

+ Thống nhất giải quyết về Lào các vùng Phú Ninh, Quý Ninh, Phà Xòng, Cà Toọc, Keng Đu và Na Hàm (do phía Lào đã quản lý quá sang Việt Nam từ lâu đời).

+ Thống nhất giải quyết về Việt Nam các vùng Việt Nam quản lý quá sang Lào từ lâu đời như vùng Na Mèo, Hướng Lập, Mường Lát và ba bản Đen Đin, Lý Tưởng, Huội Tầng.

+ Các điểm khác, hai bên sẽ tiếp tục điều tra và nghiên cứu để giải quyết.


- Về vấn đề cư dân ở những vùng có sự điều chỉnh: Dù là dân Việt Nam hay dân Lào đều là những người đã tích cực tham gia chiến đấu chống kẻ thù chung vì độc lập, tự do của mỗi nước, hai Đảng đều coi trọng quyền lợi và nguyện vọng của họ. Do đó, khi giải quyết cả hai bên đều phải giải quyết tốt vấn đề dân ở địa phương. Bên nào quản lý vùng nào trước thì phải có trách nhiệm khuyên dân địa phương ở lại, đồng thời cả hai bên đều phải tôn trọng quyền tự do lựa chọn quốc tịch và nơi cư trú của họ, nếu họ ở lại thì nhập quốc tịch mới, nếu họ không muốn ở lại thì có quyền sang phía bên kia cư trú.


- Hai bên thống nhất sẽ cử đoàn đàm phán cấp Trung ương để giải quyết cần phổ biến quyết định của hai Bộ Chính trị do địa phương của hai bên chấp hành triệt để mọi sự thoả thuận giữa hai Bộ Chính trị về biên giới và lãnh thổ. Hai bên sẽ cử Uỷ ban liên hợp đẻ thực hiện quyết định của hai Bộ Chính trị. Giải quyết ngay những điểm có thể giải quyết được điều tra nghiên cứu gấp những điểm chưa rõ ràng để cùng bàn cách giải quyết.


- Về thời gian giải quyết, hai bên có thể bàn một số việc có thể làm ngay thì giải quyết xong trong tháng 2-1976, các việc còn lại cố gắng giải quyết xong trong tháng 4-1976. Tinh thần chung là làm khẩn trương, nhanh gọn. Sau khi hai bên thoả thuận về đường biên giới chính thức sẽ ký văn bản về mặt nhà nước và sau đó sẽ tiến hành cắm mốc đường biên giới.


- Về quy chế biên giới, cấp Trung ương hai bên sẽ thoả thuận một quy chế gồm một số quy định lớn nhưng tương đối cụ thể về qua lại, hôn nhân, làm ruộng nương, chăn trâu bò, cắt cỏ, đánh bắt cá, lấy củi, buôn bán tiểu ngạch. Hai Chính phủ sẽ ký văn bản này.


- Về nguyên tắc làm việc, do tính chất đặc thù của công tác biên giới, vì lợi ích của cả hai bên, hai bên thống nhất các cuộc hội đàm và ký kết về biên giới là vấn đề nội bộ không công bố.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Chín, 2012, 09:28:14 AM
Những vấn đề trên đây đã được phía Lào hoàn toàn đồng ý. Và như vậy, vấn đề biên giới Việt Nam - Lào coi như đã có những nguyên tắc để giải quyết phù hợp với luật pháp quốc tế và phù hợp với quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào. Đáng lưu ý là, trong hội đàm còn có hai vấn đề phía Việt Nam đã nêu ra nhưng phía Lào không có ý kiến gì:

(1) Đề nghị phía Lào tiếp tục cho Việt Nam mượn một đoạn của con đường Trường Sơn Đông đi qua khu vực thuộc đất Lào (theo đường biên giới trên bản đồ của Pháp) ở phía Tây A Sầu hoặc đổi khu vực có đoạn đường đó lấy khu vực khác tương đương;

(2) Với dân ở vùng đất có điều chỉnh, nếu họ ở lại thì nhập quốc tịch mới hoặc trở thành kiều dân.


Tuy nhiên, khi đi vào giải quyết trong thực tế còn có những khó khăn:

- Đối với thoả thuận ngày 10-2-1976:

(1) Có vấn đề đã dứt khoát, rõ ràng như lấy đường biên giới trên bản đồ Pháp tỷ lệ 1/100.000 năm 1945 làm căn cứ để giải quyết, hoặc đất nào Việt Nam mượn của Lào thì trả cho Lào;

(2) Trong vấn đề dứt khoát cũng có điều chưa rõ ràng như nói vùng Na Mèo về Việt Nam, vùng Na Hàm về lào, nhưng đó là mới chỉ nói "vùng" chứ không phải là "biên giới";

(3) Những chỗ quan trọng nhất lại chưa có quyết định dứt khoát như Cà Lum, Đắc Chưng, Keng Đu, Hướng Lập phải đợi điều tra ở thực địa xong mới giải quyết.


- Về bản đồ của Pháp:

(1) Bản đồ quá nhỏ, cũ, có nhiều chỗ không phù hợp với địa hình, nhiều chỗ không chính xác;

(2) Bản đồ tỷ lệ 1/100.000 mà ta và bạn dùng làm căn cứ để giải quyết đường biên giới gồm 48 mảnh, chiều dài biên giới vẽ trên bản đồ tổng cộng khoảng 2.095 km, trong đó có 812 km được biên vẽ trên cơ sở kết quả đo đạc tại thực địa chiếm 38,7%), còn lại 1.282,8 km được biên vẽ trên cơ sở ảnh chụp từ máy bay chưa đo đạc ở thực địa (chiếm 61,3%);

(3) Trong 48 mảnh bản đồ, có 7 đoạn đường ranh giới với tổng chiều dài khoảng 4,5 km được thể hiện ở các khu vực chưa có địa hình (địa hình để trắng) và có 8 đoạn chưa vẽ đường biên giới;

(4) Bản đồ của Pháp tái bản nhiều lần, sau mỗi lần tái bản đều có sửa chừa nên các mảnh bản đồ cùng ký hiệu nhưng năm in khác nhau thì có đường ranh giới thể hiện khác nhau.


- Trong cán bộ, nhân dân có những hồi ức đơn giản, sai lệch về địa danh nhưng lại có tác động đến ý nghĩa và phương án hoạch định (ví dụ nói "tôi đã hoạt động ở vùng này" hay "con suối đó là suối biên giới" tuy chẳng biết đó là suối nào!); có những nhầm lẫn giữa đường do biên phòng quản lý với đường biên giới (ví dụ như ở vùng Phú Ninh, Quý Ninh - Khún Xê, Nọng Mạ); có những biểu hiện của tư tưởng địa phương cục bộ khiến cho nguyên tắc hoạch định không được tôn trọng; đặc biệt, một số cán bộ cả của Việt Nam và của Lào chưa hiểu nguyên tắc pháp lý quốc tế nên có lúc phải giải quyết gượng ép (ví dụ một số đoạn đường biên giới đi theo sông Sê Pôn, sông Cả, Nậm Mộ, phía Lào yêu cầu vẽ ký hiệu đường biên giới một cách cứng nhắc, trên bản đồ Pháp vẽ ở bờ bên nào thì đoạn sông, suối đó thuộc về bên kia).


Trên cơ sở nguyên tắc đã thoả thuận trong hội đàm hai Bộ Chính trị tại Hà Nội ngày 10-2-1976, hai bên đã tiến hành 4 đợt đàm phán, tổng cộng 90 ngày trong khoảng thời gian hơn 9 tháng (đợt 1 bắt đầu ngày 01-3-1976, đợt 4 kết thúc ngày 11-12-1976), cuối cùng đã thoả thuận xong toàn bộ 2.067 km đường biên giới giữa hai nước (giữ nguyên đường biên giới trên bản đồ của Pháp là 1.734 km, thay đổi khác với đường biên giới trên bản đồ của Pháp là 333 km). Diễn biến cụ thể như sau:

Đợt đàm phán từ ngày 01 đến ngày 5-3-1976 ở Hồ Tây (Hà Nội), hai bên đã nhất trí;

- Chọn được 27 mảnh bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 của Pháp in mà chuyên viên kỹ thuật hai bên đã đối chiếu thấy đường biên giới thể hiện thống nhất, để sử dụng trong đàm phán (mỗi mảnh có 2 tờ, Việt Nam 1 , Lào 1).

- Thể hiện trên bản đồ một số đoạn biên giới mà hai Bộ Chính trị đã thoả thuận và hai đoàn đã thống nhất để quy thuộc về Việt Nam hay về Lào.

- Giải quyết về nguyên tắc một số khu vực mà hai bên sẽ trao cho nhau từ Thanh Hoá trở vào.
- Thoả thuận sơ bộ cách giải quyết một số khu vực mà trong hội đàm hai Bộ Chính trị chưa nêu ra (chủ yếu là giữa Hủa-phăn với Sơn La và Thanh Hoá).

Để có cơ sở cho công tác hoạch định được chính xác và khẩn trương, hai bên nhất trí tổ chức 03 Tiểu ban liên hợp đi khảo sát song phương tại thực địa một số điểm cần xác minh giữa các tỉnh: Thanh Hoá, Sơn La với Hủa-phăn; Nghệ Tĩnh với Xiêng-khoảng; Bình Trị Thiên với Khăm-muộn và Sa-vẳn-nạ-khệt.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Chín, 2012, 09:34:04 AM
Đợt đàm phán từ ngày 12 đến ngày 21-7-1976 ở Viêng Chăn: Hai bên bắt đầu chính thức hoạch định biên giới giữa hai nước, đã giải quyết được nhiều đoạn biên giới từ ngã ba Việt Nam - Lào - Trung Quốc đến hết địa phận tỉnh Quảng Bình, nhưng chưa giải quyết được khu vực Hướng Lập. Hai bên đã thống nhất:

- Chọn đủ 48 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Pháp in để sử dụng trong đành phán.

- Xác định đường biên giới ở các khu vực do Tiểu ban khảo sát liên hợp đã thoả thuận.

- Giải quyết đường biên giới ở khu vực Xốp Pén, Huội Pá (Nghệ Tĩnh).

- Giải quyết đường biên giới ở các khu vực còn lại từ Lai Châu đến Quảng Bình.

- Nối lại các đoạn biên giới mà trên bản đồ của Pháp in chưa có đường biên giới từ Lai Châu đến Quảng Bình.

- Giải quyết A Xốc, A Cha về Lào (theo đường biên giới trên bản đồ Pháp in).


Đợt đàm phán từ ngày 18 đến ngày 30- 8-1976 ở Viêng Chăn: Hai bên đã giải quyết được khu vực Hướng Lập và các đoạn từ Quảng Trị đến Kon Tum, nhưng chưa giải quyết được đoạn biên giới dài khoảng 40 km do trên bản đồ của Pháp không vẽ đường biên giới (vùng Dak Lay). Hai bên đã thoả thuận:

- Giải quyết khu vực Hướng Lập về Lào theo đường biên giới trên bản đồ của Pháp in. Riêng khu vực Cù Bai rộng 16 km2 để về Việt Nam tiếp tục quản lý.

- Nối lại các đoạn biên giới mà trên bản đồ của Pháp in chưa có đường biên giới thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.


Đợt đàm phán từ ngày 11-10-1976 đến ngày 11-12-1976 ở Viêng Chăn: Hai bên đã giải quyết xong vùng Dak Lay, gồm 40 km đường biên giới mà trên bản đồ của Pháp in chưa có đường biên giới. Kết thúc việc đàm phán về hoạch định đường biên giới giữa hai nước.


Tóm tắt diễn biến các cuộc đàm phán:

1) Hội đàm giữa hai Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ hai nước Việt Nam - Lào, tại Hà Nội từ ngày 01-3-1976 đến ngày 08-3-1976.

Thành phần Đoàn Việt Nam gồm 13 người, do ông Ngô Thuyền, Uỷ viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 13 người, do ông Thao Ma Kháy Khăm Phi Thun, Uỷ viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước làm Trưởng đoàn.


Trong cuộc họp, phía Việt Nam đề nghị giải quyết các vấn đề trên toàn tuyến biên giới theo tinh thần hai Bộ Chính trị đã thoả thuận ngày 10 tháng 02 năm 1976. Phía Lào đề nghị đất Việt Nam mượn của Lào thì trả cho Lào (Tà ôi, Sa Muội, Cà Lưm). Hai bên đã thống nhất thành lập các Tiểu ban để đi điều tra tình hình biên giới tại thực địa. Gồm ba Tiểu ban:

I/ Tiểu ban Sơn La, Thanh Hoá - Hủa-phăn;

II/ Tiểu ban Nghệ An - Xiêng-khoảng;

III/ Tiểu ban Bình Trị Thiên - Khăm-muộn. Đồng thời hai bên cũng thống nhất về việc biên soạn các tài liệu cần thiết bằng tiếng Việt và tiếng Lào để tuyên truyền và giải thích cho nhân dân ở vùng biên giới của hai nước.


Từ ngày 8-3-1976 đến ngày 30-5-1976, các tiểu ban liên hợp trên đây đi thực địa khảo sát nắm tình hình và đã ký kết các biên bản song phương về các khu vực cụ thể:

Tiểu ban I: Ngày 10-3-1976 ký biên bản về Khúa Hốp. Ngày 11-3- 1976 ký biên bản về Sốp Chía. Ngày 13-3-1976 ký biên bản về Kéo Hượn, Khăm Nàng, Na Hàm, Văng Áng Ngước. Ngày 14-3-1976 ký biên bản về Piềng Tần. Ngày 15-3-1976 ký biên bản về Xốp Xim (Noỏng Tầu). Ngày 23-3-1976 ký biên bản xác định biên giới giữa các tỉnh Thanh Hoá, Sơn La và Hủa-phăn. Ngày 30-4-1976 ký biên bản về Chiềng Khương, Bản Đán.


Tiểu ban II: Ngày 11-3-1976 ký biên bản xác định mốc từ cồn Nậm Cắn đến sông Nậm Mộ. Ngày 21-3-1976 ký biên bản trao đổi nguyên tắc chung. Ngày 04-5-1976 ký biên bản về khảo sát đường biên giới giữa Nghệ An và Xiêng-khoảng. Ngày 15-5-1976 ký biên bản khảo sát biên giới và lập báo cáo chung kết quả khảo sát đoạn biên giới từ Pù Kéo Miêng đến Nậm Mộ (ngày 16-5-l976). Ngày 20-5-1976 ký biên bản khảo sát đoạn biên giới từ Suối Sủng đến Bắc sông Nậm Mộ. Ngày 30-5-1976 ký biên bản chung về toàn bộ kết quả đợt công tác.


Tiểu ban III chia thành bốn tổ đi theo các hướng dọc tuyến để kiểm tra từng khu vực cụ thể. Ngày 19-3-1976 cắm tạm thời mốc bằng gỗ tại vị trí giao điểm giữa đường số 20 và đường biên giới. Ngày 25-3-1976 cắm tạm thời mốc bằng gỗ tại vị trí giao điểm giữa đường số 12 và đường biên giới (đèo Mụ Giạ). Ngày 30-3-1976 cắm tạm thời mốc bằng gỗ tại vị trí giao điểm giữa đường số 9 và đường biên giới (cầu Xà Ợt). Ngày 02-4-1976 ký biên bản chung về toàn bộ kết quả đợt công tác. Ngày 07-5-1976 ký biên bản thoả thuận tạm nghỉ khảo sát để báo cáo cấp trên.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Chín, 2012, 09:38:57 AM
2) Hội đàm giữa hai Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam - Lào, tại Viêng Chăn từ ngày 18-8-1976 đến ngày 30-8-1976.

Thành phần Đoàn Việt Nam gồm 12 người, do ông Hoàng Văn Kiểu, Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 13 người, do ông Thao Ma Kháy Khăm Phi Thun làm Trưởng đoàn.


Ngày 30-8-1976, hai bên ký Biên bản làm việc chung, trong đó thống nhất:

- Thống nhất sử dụng bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương xuất bản năm 1945 hoặc trước sau một vài năm để giải quyết đoạn biên giới từ tỉnh Bình Trị Thiên đến tỉnh Gia Lai - Kon Tum, tiếp giáp từ tỉnh Sạ-vẳn-nạ-khệt đến Ắt-tạ-pư.

- Về vùng Hướng Lập (phía Lào gọi là Sê Pôn Nứa): Trong biên bản hội đàm tại Viêng Chăn ngày 21-7-1976, vùng này chưa được giải quyết vì hai bên có quan điểm khác nhau nên cùng báo cáo lên Bộ Chính trị mỗi bên giải quyết. Sau khi có ý kiến của hai Bộ Chính trị, phía Lào nhất trí giải quyết vùng này theo đề nghị của Việt Nam. Theo đó hai bên đã nhất trí mô tả hướng đi của biên giới ở vùng này theo những điểm cao, toạ độ và địa hình địa vật cụ thể trên bản đồ Pháp vẽ, có Phụ lục I kèm theo biên bản này là sơ đồ vùng Hướng Lập.

- Đoạn biên giới từ điểm cao 1020 (động Ta Púc) đến điểm có toạ độ 17G48'90"-116G51'55" thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, hai bên đã nhất trí mô tả hướng đi của biên giới ở vùng này theo những điểm cao, toạ độ và địa hình địa vật cụ thể trên bản đồ Pháp vẽ.

- Thoả thuận vạch lại đường biên giới do Pháp chưa vẽ trên bản đồ từ điểm có toạ độ 17G48'90"- 116G51'55" đến điểm có toạ độ 17G48'75"- 116G56'00" (thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, tiếp giáp với tỉnh Sa-ra-van của Lào). Có Phụ lục II kèm theo biên bản là sơ đồ đoạn biên giới mới vạch.

- Về đoạn biên giới giữa tỉnh Gia Lai - Kon Tum với tỉnh Sa-ra-van và Ắt-tạ-pư, hai bên nhất trí lấy theo đường biên giới trên bản đồ Pháp vẽ. Nhưng hai đoàn chưa nhất trí hướng đi của đường biên giới từ toạ độ 17G12'20"-116G94'00" đến toạ độ 16G69'95"-116G93'75". Phía Việt Nam cho rằng bản đồ tỷ lệ 1/100.000 Pháp vẽ đã rõ ràng. Phía Lào cho rằng bản đồ Pháp vẽ năm 1945 chưa rõ ràng, vùng này có nhiều loại bản đồ để so sánh, chính quyền và nhân dân địa phương đều xác nhận vùng này từ lâu là đất Lào. Vì vậy, hai bên nhất trì đưa lên Bộ Chính trị giải quyết.

- Hai bên nhất trí nguyên tắc quản lý biên giới theo nguyên trạng cho đến khi hoàn thành việc hoạch định và bàn giao dân, giao đất cho nhau ở nơi có điều chỉnh. Cử các tiểu ban liên hợp đến những vùng có điều chỉnh xử lý các vấn đề cụ thể. Định hướng xúc tiến ký Hiệp ước hoạch định biên giới, Hiệp định quy chế biên giới và thành lập Uỷ ban liên hợp cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào.


3) Hội đàm giữa hai Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Việt Nam và Lào, tại Viêng Chăn từ ngày 11-10-1976 đến ngày 11-12-1976.

Thành phần Đoàn Việt Nam gồm 6 người, do ông Hoàng Văn Kiểu, Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động việt Nam, Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 6 người, do ông Thao Ma Kháy Khăm Phi Thun làm Trưởng đoàn.

Hai bên đã thông báo cho nhau ý kiến của Bộ Chính trị bên mình và cùng nhau thống nhất giải quyết các đoạn biên giới tồn đọng giữa tỉnh Gia Lai - Kon tum với tỉnh Sa-la-van và Ắt-tạ-pư. Theo đó, hai đoạn biên giới mới vạch ra đã được hai bên miêu tả chi tiết hướng đi của đường biên giới bằng các toạ độ cụ thể và có Phụ lục I và II là sơ đồ thể hiện các đoạn biên giới đó kèm theo biên bản hội đàm.

Đối với những vùng hai bên đã thống nhất điều chỉnh, hai bên thoả thuận cần khuyên dân ở lại, đồng thời tôn trọng các quyền tự do dân chủ và nguyện vọng của dân về lựa chọn quốc tịch và nơi cư trú.


4) Hội đàm giữa hai Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Việt Nam và Lào, tại Hà Nội từ ngày 01-3-1976 đến ngày 05-3-1976.

Thành phần Đoàn Việt Nam gồm 6 người, do ông Ngô Thuyền làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 6 người, do ông Thao Ma Kháy Khăm Phi Thun làm Trưởng đoàn.

Hai bên cùng nhau xem xét, rà soát kết quả làm việc trong các cuộc hội đàm hai bên đã đạt được và nhất trí tiếp tục tổ chức hội đàm tại Viêng Chăn để thảo luận đoạn biên giới giữa hai nước từ tỉnh Lai Châu đến Quảng Bình của Việt Nam, tiếp giáp từ tỉnh Phông-sa-lỳ đến tỉnh Khăm-muộn của Lào.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Chín, 2012, 09:50:34 AM
5) Hội đàm giữa hai Đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ Việt Nam và Lào, tại Viêng Chăn từ ngày 10-7-1976 đến ngày 21-7-1976.

Thành phần Đoàn Việt Nam gồm 12 người, do ông Hoàng Văn Kiểu, Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 13 người, do ông Thao Ma Kháy Khăm Phi Thun làm Trưởng đoàn.


Hai bên nhất trì sử dụng bốn tám (48) mảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương năm 1945 và trước hoặc sau đó một vài năm, lập danh mục và làm thành Phụ lục I kèm theo biên bản hội đàm.


Hai bên thông qua các biên bản do các tiểu ban liên hợp đã lập từ tháng 3-1976 đến tháng 5-1976 gồm: Tám (08) biên bản do đại diện hai bên ký về đoạn biên giới giữa tỉnh Sơn La, Thanh Hoá với Hủa-phăn; tám (08) biên bản do đại diện hai bên ký về đoạn biên giới giữa tỉnh Nghệ Tĩnh với Xiêng-khoảng; ba (03) biên bản do đại diện hai bên ký về đoạn biên giới giữa tỉnh Bình Trị Thiên với tỉnh Khăm-muộn và Sạ-vẳn-nạ-khệt. Các biên bản này được lập danh mục làm thành Phụ lục II kèm theo biên bản hội đàm.


Hai bên thoả thuận: Đối với những khu vực được nêu ở hai hoặc ba biên bản, việc giải quyết cuối cùng được coi là chính thức, điều gì nêu trong các biên bản trước trái với cách giải quyết cuối cùng thì không có giá trị. Hai bên giao chuyên viên kiểm tra lại các toạ độ các điểm cho đúng với tinh thần hai bên đã thoả thuận trong biên bản. Hai bên không chấp nhận những đề nghị nêu trong đoạn D của biên bản làm việc chung ngày 30-5-1976 của tiểu ban liên hợp Nghệ Tĩnh - Xiêng-khoảng.


Hai bên thống nhất giải quyết các điểm Sốp Pén, Huội Pa (thuộc huyện Quế Phong tỉnh Nghệ Tĩnh, tiếp giáp huyện Sầm Tớ tỉnh Hủa-phăn). Theo đó, hướng đi của đường biên giới ở hai điểm này được mô tả chi tiết bằng toạ độ và địa danh địa hình trên bản đồ.


Thoả thuận giải quyết đoạn biên giới giữa tỉnh Lai Châu với tỉnh Phông-sa-lỳ và Luổng-phạ-băng theo đường biên giới Pháp vẽ trên mười (10) mảnh bản đồ mà hai bên đã đối chiếu và thoả thuận sử dụng. Các đoạn biên giới đã thống nhất được thể hiện trên các sơ đồ được đánh số từ số 01 đến số 13 trong Phụ lục III kèm theo biên bản hội đàm.


Các đoạn biên giới khác từ tỉnh Lai Châu đến hết tỉnh Quảng Bình, tiếp giáp từ tỉnh Phông-sa-lỳ đến tỉnh Khăm-muộn, lấy theo đường biên giới trên bản đồ Pháp vẽ tỷ lệ 1/100.000 đã được hai bên đối chiếu và thoả thuận sử dụng, có chữ ký của đại diện hai bên. Hai bên cũng nhất trí xác định đường biên giới ở bốn (04) điểm trong bản đồ Pháp chưa vẽ đường biên giới (điểm số 01 trên mảnh bản đồ Mường Hun Xiêng Hùng Đông số 22E; điểm số 02 trên mảnh bản đồ Mường Khoa Đông 44E và mảnh Sốp Cộp Tây 45W; điểm số 03 và số 04 trên mảnh bản đồ Pha Bo Đông 94E và mảnh Vĩnh Tây 95W).


Hai bên thoả thuận chấm dứt việc khảo sát song phương đoạn biên giới từ tỉnh Lai Châu đến Quảng Bình, tiếp giáp từ tỉnh Phông-sa-lỳ đến Khăm-muộn. Đề nghị đi điều tra song phương đoạn biên giới từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng đến tỉnh Gia Lai - Kon Tum, tiếp giáp từ tỉnh Sa-la-van đến tỉnh Ắt-tạ-pư.


Hai bên nhất trí: Giao các vùng Sa Muôi, A Cha và A Số, hai bản I Neng và Cô Ta ở Tà Ôi về Lào (theo thoả thuận của hai Bộ Chính trị ngày 10-02-1976). Riêng vùng Hướng Lập, hai bên có quan điểm khác nhau nên đề nghị đưa lên hai Bộ Chính trị giải quyết.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Chín, 2012, 08:00:12 PM
Thống kê 48 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương xuất bản, hai bên thông nhất sử dụng


TT
   
Tên
     
Số hiệu
     
               Về
   
   
Năm in
   
        
West
   
Est
   
1
   
Mường Ou Tây
     
12
   
   
E
   
1938
2
   
Mường Tè
     
13
   
W
   
   
3
   
Mường Hun Xiêng Hung
     
22
   
W
   
   
1955
4
   
Mường Hun Xiêng Hung
     
22
   
   
E
   
1954
5
   
Luân Châu
     
23
   
   
E
   
1955
6
   
Bản Kha Na
     
33
   
   
E
   
1954
7
   
Điện Biên Phủ
     
34
   
W
   
   
1954
8
   
Mường Khoa
     
44
   
   
E
   
1954
9
   
Sốp Cộp
     
45
   
W
   
   
1954
10
   
Sốp Cộp
     
45
   
   
E
   
1955
11
   
Mường Son
     
57
   
   
E
   
1955
12
   
Sam Nuea
     
58
   
W
   
   
1955
13
   
Mường Hét
     
46
   
W
   
   
1955
14
   
Mường Hét
     
46
   
   
E
   
1955
15
   
Vạn Yên
     
47
   
W
   
   
1948
16
   
Sam Nuea
     
58
   
   
E
   
1950
17
   
Hồi Xuân
     
59
   
W
   
   
1955
18
   
Sam Teu
     
70
   
W
   
   
1955
19
   
Sam Teu
     
70
   
   
E
   
1955
20
   
Quỳ Châu
     
79
   
W
   
   
1955
21
   
Quỳ Châu
     
79
   
   
E
   
1955
22
   
Nọng Hét
     
78
   
   
E
   
1955
23
   
Nọng Hét
     
78
   
W
   
   
1953
24
   
Khe Kiên
     
86
   
W
   
   
1953
25
   
Khe Kiên
     
86
   
   
E
   
1954
26
   
Cửa Rào
     
87
   
W
   
   
1955
27
   
Pha Bo
     
94
   
W
   
   
1953
28
   
Pha Bo
     
94
   
   
E
   
1953
29
   
Vinh
     
95
   
W
   
   
1950
30
   
Na Pê
     
102
   
   
E
   
1953
31
   
Hương Khê
     
103
   
W
   
   
1950
32
   
Hương Khê
     
103
   
   
E
   
1950
33
   
Mụ Giạ
     
110
   
   
E
   
34
   
Ron
     
111
   
W
   
   
35
   
Kê Bang
     
114
   
W
   
   
1949
36
   
Kê Bang
     
114
   
   
E
   
1949
37
   
Tchépone
     
118
   
   
E
   
1949
38
   
Quảng Trị
     
119
   
W
   
   
1950
39
   
Lao Bảo
     
124
   
W
   
   
1950
40
   
Lao Bảo
     
124
   
   
E
   
1950
41
   
Haute Sê Kông
     
130
   
   
E
   
1952
42
   
An Diêm
     
131
   
W
   
   
1952
43
   
Ban Phone
     
135
   
   
E
   
1933
44
   
Bến Giàng
     
136
   
W
   
   
1953
45
   
Bến Giàng
     
136
   
   
E
   
1953
46
   
Đak Sút
     
142
   
W
   
   
1954
47
   
Đak Sút
     
142
   
   
E
   
1933
48
   
Đak Tô
     
148
   
W
   
   
1954


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 03 Tháng Chín, 2012, 08:01:13 PM
Từ ngày 15-01-1977, hai bên tiếp tục gặp nhau tại Viêng Chăn để cùng nhau soạn thảo Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước.

Ban đầu, phía Lào muốn hai bên tiến hành phân giới và cắm mốc rồi mới ký hiệp ước hoạch định biên giới. Phía Việt Nam cho rằng nếu làm như vậy thì không phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế cũng như luật pháp của Việt Nam. Sau khi trao đổi thảo luận, hai bên đã thống nhất sẽ chuẩn bị văn bản để ký kết hiệp ước hoạch định biên giới.


Về nguyên tắc làm việc, hai bên thống nhất: Cùng thoả thuận nội dung của hiệp ước và các điều khoản cần có để thể hiện nội dung đó; căn cứ vào nguyên tắc cơ bản đã được hai Bộ Chính trị thoả thuận tháng 02-1976 và các biên bản họp của hai đoàn đã được hai Bộ Chính trị xác nhận, không bàn lại những vấn đề đã được hai Bộ Chính trị thống nhất giải quyết; hai bên sẽ sử dụng 48 mảnh bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 đã được hai đoàn chuyên viên đối chiếu và ký xác nhận để miêu tả đường biên giới trong văn bản hiệp ước và thể hiện đường biên giới chính thức.


Trong quá trình cùng nhau làm việc, cũng có lúc hai bên có quan điểm khác nhau dẫn đến có vấn đề phải kéo dài mấy tháng mới giải quyết xong. Ví dụ như vùng Hướng Lập, Bộ Chính trị ta phải họp hai lần, hay để giải quyết vùng Dak Lay phải họp ba lần mới giải quyết được. Tuy nhiên, điều thuận lợi cơ bản là hai bên ngày càng hiểu nhau, sự nhất trí giữa hai Bộ Chính trị hai Đảng về vấn đề biên giới ngày càng cao, cả phía ta và bạn đều có thêm nhiều bài học kinh nghiệm. Các cuộc đàm phán, thương lượng đều được tiến hành trong không khí hữu nghị và dự thảo Hiệp ước đã được hai Bộ Chính trì hai Đảng nhất trí thông qua. Ngày 18-7-1977, Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã được đại diện hai nhà nước Việt Nam và Lào ký kết chính thức tại Thủ đô Viêng Chăn (Lào). Nội dung cơ bản của Hiệp ước được thể hiện ở 6 Điều, có thể tóm tắt như sau(1) (Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Tài liệu lưu trữ hoạch định biên giới, Ban Biên giới (Bộ Ngoại giao)):

Điều 1 quy định nguyên tắc hoạch định đường biên giới quốc gia giữa hai nước. Hai bên thoả thuận lấy đường biên giới vẽ trên bản đồ của Pháp tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Dông Dương xuất bản năm 1945 hoặc gần năm 1945 nhất làm căn cứ chính để hoạch định đường biên giới giữa hai nước; ở nơi nào cần phải điều chỉnh và những nơi đường biên giới chưa được vẽ trên bản đồ, hai bên hoạch định đường biên giới trên cơ sở hoàn toàn nhất trí và tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào.

Điều 2 miêu tả đường biên giới Việt Nam - Lào đã được hai bên thoả thuận hoạch định theo hướng chung từ Bắc đến Nam, gồm 7 đoạn được thể hiện bằng ký hiệu chữ thập màu đỏ (+) vẽ trên bản đồ tỷ lê 1/100.000 gồm 48 mảnh hoàn chỉnh trên toàn tuyến biên giới, điểm khởi đầu là ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc, kết thúc tại điểm ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia.

Điều 3 quy định các nguyên tắc xác định đường biên giới theo sông, suối, cụ thể: Đối với các cầu bắc trên sông, suối, biên giới đi chính giữa cầu; căn cứ theo đường biên giới xác định trên bản đồ, những cù lao và bãi bồi nằm về phía bên nào của đường biên giới sẽ thuộc bên đó; trường hợp sông, suối biên giới đổi dòng, đường biên giới vẫn giữ nguyên không thay đổi theo dòng chảy mới nếu hai bên không có thoả thuận nào khác.

Điều 4 quy định việc thành lập Uỷ ban liên hợp phân giới và cắm mốc trên thực địa và nêu rõ nhiệm vụ của Uỷ ban này. Uỷ ban liên hợp bắt đầu hoạt động ngay sau khi Hiệp ước hoạch định có hiệu lực thi hành, và chấm dứt hoạt động khi đã làm xong những nhiệm vụ được giao.

Điều 5 ghi nhận hai bên thoả thuận sớm đàm phán để ký kết Hiệp định về quy chế biên giới giữa hai nước nhằm bảo đảm chủ quyền của mỗi nước và tạo điều kiện thuận lợi cho việc làm ăn, sinh sống của nhân dân hai bên biên giới và việc hợp tác về mọi mặt giữa hai nước.

Điều 6 quy định về điều khoản thi hành, theo đó hai bên sẽ trao đổi văn kiện phê chuẩn và Hiệp ước hoạch định biên giới có hiệu lực kể từ ngày trao đổi văn kiện phê chuẩn.

Ngày 31-10-1977, hai bên trao đổi văn kiện phê chuẩn và Hiệp ước bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày đó.


Trong lịch sử của dân tộc, đây là lần đầu tiên người Việt Nam trực tiếp đàm phán và ký kết với một nước láng giềng một hiệp ước về biên giới quốc gia theo đúng các nguyên tắc của pháp luật quốc tế và thực tiễn quốc tế. Đây là cơ sở pháp lý cơ bản đầu tiên để xác định đường biên giới lãnh thổ, thực hiện chủ quyền, tổ chức tiến hành quản lý biên giới giữa hai nước Việt Nam và Lào.


Từ cuối năm 1977, sau khi ký Hiệp ước hoạch định biên giới, hai bên bắt đầu tiến trình khảo sát và xác định đường biên giới đã được hoạch định trên thực địa. Quá trình cùng làm việc ở thực địa, hai bên đã đồng ý thoả thuận điều chỉnh một số chỗ khác với đường biên giới đã được hoạch định trong Hiệp ước và thống nhất chỉnh sửa một số nguyên tắc hoạch định biên giới theo sông, suối cho phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế. Những sửa đổi có tính nguyên tắc này đã được hai bên xác định trong Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới 1977. Hiệp ước bổ sung đó được hai bên chính thức ký ngày 24-01-1986 tại thủ đô Viêng Chăn. Hiệp ước bổ sung gồm có 11 điều khoản:

Điều 1 ghi nhận thoả thuận sửa đổi vị trí đường biên giới ở khu vực ba bản Na Luống, Na Ún, Na Son (giữa tỉnh Lai châu và Luổng-phạ-băng) để 3 bản này thuộc về Lào.

Điều 2 ghi nhận thoả thuận sửa đổi vị trí đường biên giới ở khu vực Na Cay, Na Hói (giữa tỉnh Sơn La và Hủa-phăn) để phần đất ở phía Bắc đường biên giới theo Hiệp ước hoạch định thuộc về Lào.

Điều 3 ghi nhận thoả thuận sửa đổi vị trí đường biên giới ở khu vực Phu Ta

Điều 4 ghi nhận thoả thuận sửa đổi vị trí đường biên giới ở khu vực Na Hàm (giữa tỉnh Thanh Hoà và Hủa-phăn) để phần đất phía Đông Nam đường biên giới theo Hiệp ước hoạch định thuộc về Lào.

Điều 5 ghi nhận thoả thuận sửa đổi vị trí đường biên giới ở khu vực Văng Áng Ngước (giữa tỉnh Thanh Hoá và Hủa-phăn).

Điều 6 ghi nhận thoả thuận sửa đổi vị trí đường biên giới ở khu vực Piêng Tần, Bản Đục (giữa tỉnh Thanh Hoá và Hủa-phăn) để Bản Ruộng, Bản Kheo, Bản Đục thuộc về Việt Nam.

Điều 7 thoả thuận sửa đổi Điều III của Hiệp ước hoạch định biên giới nói về sông, suối biên giới để toàn bộ sông, suối biên giới Việt Nam Lào là sông, suối biên giới chung; huỷ bỏ những mốc không cần thiết; quy định một số nguyên tắc về đường biên giới qua cầu trên sông, suối biên giới, về cách giải quyết cù lao và bãi bồi trên sông, suối biên giới; trong trường hợp sông, suối biên giới đó đổi dòng thì đường biên giới vẫn giữ nguyên nếu hai bên không có thoả thuận nào khác.

Điều 8 quy định về việc phá huỷ những mốc biên giới không cần thiết và cắm các mốc mới theo Điều 7 của Hiệp ước bổ sung này.

Điều 9 quy định các điều khoản khác của hiệp ước hoạch định không được Hiệp ước bổ sung này sửa đổi vẫn có hiệu lực.

Điều 10 nói về các mảnh sơ đồ ghi nhận các sửa đổi như đã nêu từ điều 1 đến điều 6 của Hiệp ước bổ sung này.Tổng số gồm 13 mảnh sơ đồ tỷ lệ 1/25.000 là phụ lục của Hiệp ước bổ sung.

Điều 11 quy định Hiệp ước bổ sung cần được phê chuẩn và có hiệu lực từ ngày trao đổi thư phê chuẩn Hiệp ước.


Tiêu đề: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: dungnuocgiunuoc trong 23 Tháng Chín, 2013, 09:06:10 PM
BẢN ĐỒ ĐÍNH KÈM HIỆP ĐỊNH BIÊN GIỚI QUỐC GIA VIỆT NAM-LÀO


A. Bản đồ phía Việt Nam

TT
   
Tên bản đồ
   
Số hiệu
   
Năm đo
   
Năm xuất bản
    Cơ quan xuất bản        
Tính chất
   
Chú thích
   
   
   
   
   
   
Chữ Việt
   
Chữ Pháp
   
   
   
1
   
Mường Ou Tây
   
12-E
   
           
   
1938
   
Sở Địa dư Đông Dương
   
Servicegeographique de L’indochine
   
Chính quy
   
   


TT   Tên bản đồ   Số hiệu   Năm đo   Năm xuất bản   Cơ quan xuất bản   Tính chất   Chú thích
               Chữ Việt   Chữ Pháp      
1   Mường Ou Tây   12-E      1938   Sở Địa dư Đông Dương   Servicegeographique de L’indochine   Chính quy   
2   Mường Tè   13-W   1934
1936      nt   nt   nt   
3   Mường Hun Xiêng Hung   22-W      1955   nt   nt   nt   
4   Mường Hun Xiêng Hung   22-E   1954   1954   nt   nt   nt   
5   Luân Châu   22-E   1950
1954   1955   nt   nt   nt   
6   Điện Biên Phủ   34-W   1933
1934   1954   nt   nt   nt   Ô vuông UTM
7   Bản Kha Na   33-E   1953
1954   1954   nt   nt   nt   
8   Mường Khoa   44-E   1954   1954   nt   nt   nt   
9   Sốp Cộp   45-W   1953
1954   1954   nt   nt   nt   
10   Sốp Cộp   45-E   1953
1954   1955   nt   nt   nt   
11   Mường Son   57-E   1954   1955   nt   nt   nt   
12   Sam Neua   58-W   1954   1955   nt   nt   nt   
13   Mường Hét   46-W   1954   1955   nt   nt   nt   
14   Mường Hét   46-E   19281936   1954   nt   nt   nửa chính quy   
15   Vạn Yên   47-W   1908
1909   1948   nt   nt   chính quy   Ô vuông Bonne
16   Hồi Xuân   59-W   1953
1954   1955   nt   nt   tạm thời   
17   Sam Neua   58-E   1939
1943   1950   nt   nt   chính quy   ô vuông Bonne
18   Sam Teu   70-W   1953
1954   1955   nt   nt   tạm thời   
19   Sam Teu   70-E   1953
1954   1955   nt   nt   nt   
20   Quỳ Châu   79-E   1952
1954   1955   nt   nt   nt   
21   Quỳ Châu   79-W   1953
1954   1955   nt   nt   nt   
22   Nọng Hét   78-E   1937
1954   1955   nt   nt   nt   
23   Nọng Hét   78-W   1937
1954   1953   nt   nt   nt   
24   Khe Kiên   86-W   1937
1952   1953   nt   nt   nt   
25   Khe Kiên   86-E   1942
1954   1953   nt   nt   nt   
26   Cửa Rào   87-W   1953
1954   1955   Sài Gòn in lại   Servicegeographique national du Vietnam      
27   Pha Bo   94-W   1953   1953   Sở Địa Dư Đông Dương   Servicegeographique de L’indochine      
28   Pha Bo   94-E   1953   1953   nt   nt   nt   
29   Vinh   95-W   1905
1938   1950   nt   nt   nt   
30   Na Pê   102-E   1922
1944   1950   nt   nt   nửa chính quy   ô vuông Bonne
31   Hương Khê   103-W   1925
1943   1950   nt   nt   Tạm thời   
32   Hương Khê   103-E   1909
1943   1950   nt   nt   chính quy   
33   Mụ Giạ   110-E   1909
1943   1950   nt   nt   nt   
34   Ron   111-W   1910
1938      nt   nt   nt   
35   Kê Bang   114-W   1922
1935   1954   nt   nt   nt   ô vuông UTM
36   Kê Bang   114-E   1910
1954   1954   nt   nt   nt   nt
37   Tchépone   118-E         nt   nt   nt   nt
38   Quảng Trị   119-W   1910
1935   1950   nt   nt   Tạm thời   ô vuông Bonne
39   Lao Bảo   124-W   1911
1943   1950   nt   nt   nt   nt
40   Lao Bảo   124-E   1911
1943   1950   nt   nt   nt   
41   Haute Sê Kông   130-E   1950   1952   nt   nt   nt   
42   An Diêm   131-E   1950   1952   nt   nt   nt   
43   Ban Phone   135-E   1950   1953   nt   nt   nt   
44   Bến Giàng   136-W   1950   1953   nt   nt   Tạm thời   
45   Bến Giàng   136-E   1950   1953   nt   nt   nt   ô vuông Bonne
46   Đak Sút   142-E   1936
1952   1953   nt   nt   nt   ô vuông UTM
47   Đak Sút   142-W   1950   1954   nt   nt   nt   
48   Đak Tô   148-W   1950   1954   nt   nt   nt   ô vuông UTM


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 26 Tháng Mười, 2015, 08:35:19 PM
B. Bản đồ phía Lào

1Mường Ou Tây12-E1936, 19421953Mỹ in lạiServicegeographique de L’indochine AMSChính quyô vuông UTM
2Mường Tè13-W1934, 19361950Sở Địa dư Đông dươngServicegeographique de L’indochinentô vuông Bonne
3Nam Po22-W1924, 19541955Sài Gòn in lạiServicegeographique national du Vietnamtạm thờiô vuông UTM
4Mường Hun Xiêng Hung22-E19541954Sở Địa dư Đông dươngServicegeographique de L’indochinent
5Luân Châu22-E1950, 19541955ntntntô vuông UTM
6Điện Biên Phủ34-W1933, 19341954ntntntnt
7Bản Kha Na33-E1953, 19541954ntntnt
8Mường Khoa44-E19541954ntntnt
9Sốp Cộp45-W1953 , 19541954ntntnt
10Sốp Cộp45-E1953, 19541955ntntnt
11Mường Son57-E19541955nttạm thờint
12Sam Neua58-W19541955ntntnt
13Mường Hét46-W19541955ntntntô vuông UTM
14Mường Hét46-E192819361954ntntnửa chính quynt
15Vạn Yên47-W1923, 1954, 19091954ntnttạm thờint
16Hồi Xuân59-W1953, 19541955ntntnt
17Sam Neua58-E1939, 19431950ntntchính quy
18Sam Teu70-W1953, 19541955ntnttạm thời
19Sam Teu70-E1953, 19541955ntntnt
20Quỳ Châu79-E1952, 19541955ntntnt
21Quỳ Châu79-W1953, 19541955ntntnt
22Nọng Hét78-E1937, 19541955ntntnt
23Nọng Hét78-W1937, 19521953ntntnt
24Khe Kiên86-W1937, 19521953ntntnt
25Khe Kiên86-E1942, 19541954ntntnt
26Cửa Rào87-W19351955Sài Gòn in lạiServicegeographique national du Vietnamntô vuông UTM
27Pha Bo94-W19531953Sở Địa Dư Đông DươngServicegeographique de L’indochinentnt
28Pha Bo94-E19531953ntntntnt
29Vinh95-W1905, 19381953ntntChính quynt
30Na Pê102-E1922, 19441950ntntnửa chính quyô vuông Bonne
31Hương Khê103-W1925, 19431950ntntntnt
32Hương Khê103-E1909, 19431950Sở Địa Dư Đông DươngServicegeographique de L’indochinechính quynt
33Mụ Giạ110-E1909, 194319503Mỹ in lạiServicegeographique de L’indochine AMSntnt
34Ron111-W19431953ntntntnt
35Kê Bang114-W1922, 19351954ntntntnt
36Kê Bang114-E1910, 19541954Sở Địa Dư Đông DươngServicegeographique de L’indochinentnt
37Tchépone118-E19421953Mỹ in lạiServicegeographique de L’indochine AMSntnt
38Quảng Trị119-W1910, 19351950Sở Địa Dư Đông DươngServicegeographique de L’indochinent
39Lao Bảo124-W1911, 1943195…ntntntô vuông UTM
40Lao Bảo124-E1911, 19431950ntntntô vuông Bonne
41Haute Sê Kông130-E19501952ntnttạm thờiô vuông UTM
42An Diêm131-W19501952ntntnt
43Ban Phone135-E19501953ntntnt
44Bến Giàng136-W19501953ntntnt
45Bến Giàng136-E19501953ntntntô vuông Bonne
46Đak Sút142-E1936, 19521953ntntntô vuông UTM
47Đak Sút142-W19501954ntntntô vuông UTM
48Đak Tô148-W19501954ntntntnt


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 27 Tháng Mười, 2015, 03:52:38 AM

3. ĐÀM PHÁN VỀ PHÂN GIỚI, CẮM MỐC TRÊN THỰC ĐỊA VÀ KÝ KẾT NGHỊ ĐỊNH THƯ PHÂN GIỚI CẮM MỐC ĐƯỜNG BIÊN GIỚI QUỐC GIA VIỆT NAM - LÀO

        Theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, sau khi hoạch định xong đường biên giới trong văn bản và trên bản đồ, các quốc gia liên quan cần cùng nhau đi phân giới và ấn định đường biên giới ở trên thực địa, nghĩa là xây dựng các công trình (cắm mốc giới) để đánh dấu, cố định đường biên giới. Đây là một công việc rất cần thiết vì nếu chưa đi phân giới và cắm mốc đường biên giới ở trên thực địa thì bên này, bên kia vẫn có cớ để tranh chấp đất đai và điều đó đã từng là nguồn gốc của rất nhiều cuộc chiến tranh giữa các quốc gia có chung đường biên giới. Mặt khác, thực địa nói chung là phù hợp với bản đồ, nhưng không phải bản đồ nào cũng phản ánh đúng thực địa vì bản đồ hai bên thoả thuận sử dụng thường là bản đồ cũ, phần lớn được biên vẽ theo phương pháp cũ, tỷ lệ nhỏ, những điểm có dân cư thường có biến động, nhất là hai nước Việt Nam và Lào lại vừa trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ kéo dài, nếu không cùng nhau ra thực địa thì không thể vạch cụ thể và chính xác đường biên giới. Việc hoạch định mới chỉ là vạch ra một đường biên giới trên bản đồ và miêu tả nó trong văn bản Hiệp ước, trong khi những sai sót trong quá trình hoạch định là điều không thể tránh khỏi.

        Thực tế, việt phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới biên giới Việt Nam - Lào là một công việc vô cùng khó khăn và phức tạp. Khó khăn lớn nhất là Việt Nam và Lào đều chưa có kinh nghiệm, chưa từng giải quyết vấn đề biên giới với ai, chưa bao giờ đi phân vạch đường biên giới trên thực địa và cắm mốc giới nên chưa biết phải làm thế nào. Khi đó, đã cử cán bộ đi tham quan một số đường biên giới quốc tế ở châu Âu như biên giới Áo - Hunggari, biên giới Tiệp Khắc- Hunggari nhưng cũng chỉ thấy hệ thống mốc giới trên thực địa và hình thức, quy cách của mỗi cột mốc. Có hàng loạt vấn đề đặt ra là, cần phải đi thực địa như thế nào? Trung ương đứng ra làm hay địa phương làm? đi phân giới xong toàn bộ đường biên giới rồi mới cắm mốc hay phân giới đến đâu cắm mốc đến đó? Giải quyết dân ở khu vực hai bên có điều chỉnh đất đai và bàn giao cho nhau như thế nào?

        Công tác phân giới cắm mốc đòi hỏi có đội ngũ cán bộ đo đạc, can vẽ chuyên ngành. Về phía Việt Nam, không thiếu những cán bộ kỹ thuật nhưng phải bồi dưỡng cho họ những kiến thức về Hiệp ước hoạch định biên giới, quan niệm về phân giới cắm mốc và đặc biệt là thái độ làm việc với bạn và yêu cầu pháp lý khi làm văn bản. Về phía Lào thì thiếu cán bộ. Để xúc tiến công việc phân giới cắm mốc, phía Lào đã cử một số bộ đội làm công tác bản đồ và bồi dưỡng họ về kiến thức phân giới cắm mốc. Chính vì thiếu cán bộ chuyên môn cả về số lượng và chất lượng đã làm cho công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới không những chậm trễ mà còn có lúc trở thành căng thẳng giữa hai bên vì phải bàn đi bàn lại cách làm.

        Toàn tuyến biên giới Việt Nam - Lào dài khoảng 2.067 km phần lớn đi trên đỉnh núi hoặc theo triền núi cao, có một vài đoạn qua chỗ thấp nhất cũng là những đèo cao 250 đến 400 m. Nhiều đoạn còn dày đặc bom mìn cả hai bên đều không vào được. Việc tìm ra hướng đi của đường biên giới ở thực địa cũng như việc vận chuyển vật tư lên đường biên giới (xi măng, sắt thép, cát sỏi, có khi cả nước sạch) cũng là một trở ngại lớn kéo dài suốt từ ngày bắt đầu cho đến ngày cắm cột mốc cuối cùng.

        Thời tiết ở vùng biên giới hai nước có hai mùa khô và mưa. Mùa mưa thì không thể ra thực địa được, thậm chí lũ lớn còn làm tắc nghẽn giao thông, bão làm sụt lở đất đá làm cho một số cán bộ, chiến sĩ của Việt Nam hy sinh. Do vậy cần phải có trang bị đặc biệt cho cán bộ, chiến sĩ và phải có phương pháp làm việc thích hợp thì công việc mới đạt hiệu quả và đẩy nhanh tiến độ.

        Một khó khăn nữa là, hai nước mới giải phóng năm 1975 mà năm 1976 (sau một năm chuẩn bị) đã bắt đầu công tác phân giới cắm mốc thì tình trạng thiếu vật tư cũng là cản trở lớn. Thậm chí khi đã có vật tư rồi thì việc chuyên chở lên biên giới cũng là một công việc quá khó khăn, đòi hỏi một số lượng nhân công và phương tiện rất lớn, trong khi cả hai nước đang còn rất nghèo, các địa phương hai bên đường biên giới lại càng nghèo.

        Về phía Việt Nam còn phải đơn phương giải quyết một số vấn đề rất phức tạp như phải xác định việc phân giới cắm mốc là trách nhiệm của ai? Có thể lập những đội của Trung ương chuyên đi làm hay có thể giao cho các tỉnh làm? Sau đợt làm thí điểm, Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng thấy cần giao công tác phân giới cắm mốc cho các tỉnh biên giới liên quan vì tỉnh là cấp chịu trách nhiệm về mọi mặt ở địa phương mình trong đó có vấn đề biên giới lãnh thổ. Nhưng việc phân giới cắm mốc là việc chung của hai quốc gia, cho nên tỉnh làm nhưng phải dưới sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương, phải theo quy cách cũng như thể lệ và chương trình thoả thuận với phía Lào. Việc chuẩn bị lực lượng đi phân giới cắm mốc, tỉnh nào tỉnh ấy lo, chủ yếu là dựa vào lực lượng bộ đội biên phòng, cán bộ và nhân dân biên giới. Trung ương có trách nhiệm cử cán bộ nghiệp vụ biên giới và các kỹ sư, cán bộ đo đạc và bản đồ xuống cùng làm với tỉnh. Về việc chuẩn bị vật tư và ngân sách, từng tỉnh phải tự làm và có sự góp ý của các cơ quan chuyên môn ở Trung ương. Các tỉnh làm công tác này rất vất vả vì phải lo cả cái lớn như lương thực, thực phẩm, quần áo bảo hộ lao động cho đến cái nhỏ nhất như tất chống vắt, bi đông đựng nước, dao phát quang đường đi trong rừng.

        Một vấn đề khác là phải giải quyết tốt chính sách đối với cư dân ở những vùng có sự điều chỉnh qua lại về đất đai, những nơi dân đã sinh sống và canh tác từ lâu đời, trong đó có vấn đề công tác tư tưởng để người dân biết và thực hiện. Đây là vấn đề cực kỳ khó khăn vì tất cả họ đã đi theo Đảng đánh Pháp, đánh Mỹ, nay chiến tranh chấm dứt lại không được ở chỗ cũ an cư lập nghiệp, thậm chí phải thay đổi quốc tịch. Tiếp đến là vấn đề chuẩn bị đón người ở nơi khác đến, lo địa bàn sản xuất, nhà ở, trợ cấp vốn ban đầu; giải quyết chính sách cho những người có công, cán bộ hưu trí gia đình thương binh liệt sĩ, các tổ chức cơ sở cũng như cơ sở vật chất công cộng, trường học, trạm y tế. Có thể nói đây là vấn đề vô cùng khó khăn, phức tạp nhưng các tỉnh đã thi hành nghiêm chỉnh chỉ thị của Đảng và Chính phủ và đã giải quyết tốt mọi vấn đề, cả vấn đề đối với phía Lào cũng như vấn đề của Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 28 Tháng Mười, 2015, 05:13:41 AM
        Yêu cầu chính trị là phải hoàn thành công tác phân giới càng nhanh càng tốt, nhưng khó khăn trở ngại thì nhiều, công tác phân giới cắm mốc lại là công tác song phương. Tình hình đó đặt ra cho hai bên một loạt vấn đề phải giải quyết như cách thức đi thực địa, cách cắm mốc, một độ, kích thước, chất liệu, vị trí; lực lượng tham gia phân giới cắm mốc; hồ sơ, tài liệu công tác, văn bản, sơ đồ, bản đồ; vật tư, lương thực, trang bị.

        Hai đoàn đại biểu Chính phủ trong Uỷ ban liên hợp về phân giới cắm mốc Việt Nam - Lào đã giành khá nhiều thời gian bàn bạc, thảo luận chi tiết từng vấn đề trên và cuối cùng đã đi đến nhất trí và ghi những thoả thuận đó thành những chỉ thị chung bằng hai thứ tiếng Việt và Lào để cả hai bên và các các cấp thực hiện thống nhất. Đó cũng chính là những văn bản cơ bản bảo đảm sự thắng lợi của quá trình phân giới cắm mốc của hai nước Việt Nam và Lào.

        Từ ngày 23-5 đến ngày 3-7-1978, Uỷ ban liên hợp phân giới cắm mốc Việt Nam - Lào họp khoá đầu tiên tại Viêng Chăn để thông qua chủ trương, kế hoạch và phương pháp phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới; đồng thời trao đổi thống nhất phương pháp giải quyết những nội dung có liên quan như vấn đề chuyển giao các khu vực cần chuyển giao, vấn đề xây dựng quy chế biên giới. Hai bên thống nhất chia toàn tuyến biên giới hai nước thành 19 đoạn từ Bắc xuống Nam nối tiếp nhau bằng ký hiệu các chữ cái từ A đến U. Phân giới đến đâu, cắm mốc đến đó. Việc phân giới và cắm mốc được thực hiện làm nhiều đợt, bắt đầu từ ngày 25-7-1978, kết thúc ngày 24-8-1984. Kết quả cụ thể:

        - Từ ngày 25-7-1978 đến ngày 31-3-1979, tiến hành làm thí điểm đoạn biên giới giữa tỉnh Bình Trị Thiên và Sa-vẳn-nạ-khệt, mở đầu bằng đoạn 24 km ở phía Nam và phía Bắc cầu Xà Ợt trên đường 9 (Lao Bảo), sau đó tiếp tục làm đoạn 192 km còn lại.

        - Tiếp đó, hai bên tiến hành ba đợt công tác liên tục để hoàn thành công tác phân giới, cắm mốc đường biên giới Việt - Lào. Tiến trình đàm phán về phân giới và cắm mốc quốc giới trên thực địa diễn biến cơ bản thuận lợi, theo một số bước như sau:

        + Từ ngày 4-7-1979 đến ngày 31-01-1980, hai bên tiến hành phân giới và cắm mốc các đoạn biên giới phía Nam giữa ba tỉnh Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng và Gia Lai - Kon Tum với hai tỉnh Sa-la- van và Ắt-tạ-pư dài 337 km.

        + Từ ngày 7-5-1980 đến ngày 3-01-1981, hai bên tiến hành phân giới và cắm mốc các đoạn biên giới giữa hai tỉnh Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên với hai tỉnh Xiêng Khoảng và Khăm Muộn dài 620 km.

        + Từ ngày 25-01-1981 đến ngày 27-6-1981, hai bên tiến hành phân giới và cắm mốc các đoạn biên giới phía Bắc giữa bốn tỉnh hai Châu, Sơn La, Thanh Hoá và Nghệ Tĩnh với ba tỉnh Phông-sa-lỳ, Luổng-phạ-băng và Hủa-phăn dài 875 km.
Đến tháng 6-1981, hai bên đã phân giới trên thực địa và cắm mốc xong 95% đường biên giới giữa Việt Nam và Lào. Nhưng trong quá trình phân giới và cắm mốc, do Hiệp ước hoạch định biên giới có sai sót do thực tế của đường biên giới cần có sự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu của cả hai bên và còn một số nơi chưa đi phân giới cắm mốc được hoặc đã đi nhưng chưa phân giới cắm mốc, nên Bộ Chính trị Trung ương hai Đảng đã hai lần phải trao đổi, thoả thuận và cuối cùng trong cuộc hội đàm ngày 28-01-1984, hai Bộ Chính trị mới giải quyết xong hoàn toàn các khu vực tồn tại trên biên giới giữa hai nước.

        Ngày 24-8-1984, thực hiện thoả thuận của hai Bộ Chính trị, hai bên đã cắm xong mốc G-12 ở khu vực Na Hàm (Thanh Hoá), kết thúc công tác phân giới cắm mốc đường biên giới Việt - Lào theo Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia ký ngày 18-7-1977. Tổng cộng trong giai đoạn này, hai bên đã phân giới được 1.877 km trong tổng số 2.067 km đường biên giới và cắm được 202 mốc quốc giới.

        Tóm tắt diễn biến đàm phán phân giới cắm mốc:


        1) Cuộc họp Khoá I của Uỷ ban liên hợp phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới Việt Nam - Lào, tại thủ đô Viêng Chăn từ ngày 23-5-1978 đến ngày 03-7-1978

        Đoàn Việt Nam gồm 12 người do ông Hoàng Văn Kiểu, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ lâm nghiệp làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 21 người do ông Ma Kháy Khăm Phi Thun, Uỷ viên Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào, chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước làm Trưởng đoàn.

        Ngày 3-7-1978, hai bên ký Biên bản làm việc chung, trong đó thoả thuận những vấn đề sau:

        - Tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc phải làm đúng Hiệp ước đã ký kết và lấy bản đồ tỷ lệ 1/100 000 có chữ ký của đại diện hai Nhà nước làm căn cứ thực hiện, người thực hiện cũng phải làm đúng như vậy nhằm bảo đảm sự trong sáng của Hiệp ước và nguyện vọng của nhân dân hai nước.

        - Hai bên nhất trí tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc trên toàn tuyến biên giới theo nhiệm vụ đã quy định trong điều IV của Hiệp ước. Để thực hiện phân giới trên thực địa và cắm mốc có kết quả tốt hai bên nhất trí chọn một điểm nào đó (lấy tỉnh làm cơ sở) làm thí điểm và rút kinh nghiệm cho việc tiến hành phân giới và cắm mốc trên toàn tuyến.

        - Hai bên nhất trí lấy tỉnh Bình Trị Thiên (Việt Nam) và tỉnh Sa-vẳn-nạ-khệt (Lào) làm nơi thí điểm. Để thực hiện cụ thể, hai bên thoả thuận lấy cầu Xà Ợt (đường 9) làm trung tâm, từ cầu Xà Ợt về phía Nam khoảng 10 km (đến cửa suối By Hiên), từ cầu Xà Ợt về phía Bắc khoảng 10 km (đến đường 16) có chiều dài khoảng 20 km, từ đó tiếp tục tiến hành phân giới cắm mốc trên toàn tuyến tỉnh Bình Trị Thiên (Việt Nam) và Sa-vẳn-nạ-khệt (Lào) rồi tiến hành phân giới cắm mốc trên toàn tuyến.

        - Trong việc thực hiện cụ thể hai bên nhất trí như sau:

        Trong khi tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc, lấy Hiệp ước hoạch định biên giới ngày 18-7-1977 và bản đồ tỷ lệ 1/100.000 làm căn cứ nhưng để tiện cho việc đối chiếu với địa hình hai bên nhất trí lấy bản đồ 1/50.000 để tham khảo.
Để xác định và đối chiếu với địa hình được dễ dàng hơn , hai bên nhất trí phóng bản đồ 1/50.000 ra 1/25.000.

        Việc vẽ sơ đồ cần có ba mầu: đen, nâu, lơ (nền trắng). Bản đồ 1/50.000 hoặc 1/25.000 đem đi đối chiếu địa hình phải được sự thỏa thuận của hai trưởng đoàn của Uỷ ban liên hợp và có chữ ký của hai Trưởng đoàn của Uỷ ban liên hợp và có chữ ký của hai Trưởng tiểu ban liên hợp phân giới trên thực địa.

        - Cách cắm mốc, cách làm mốc phải căn cứ vào tình hình và địa hình cụ thể để cùng nhau quy định:

        + Dự kiến vị trí cắm mốc:

        (1) Từng cửa khẩu;
        (2) Nơi đường mòn quan trọng mà nhân dân hay đi lại;
        (3) Nơi đường biên giới có sự thay đổi mới theo quy định của Hiệp ước;
        (4) Nơi đường biên giới chuyển từ địa hình này sang địa hình khác;
        (5) Nơi đường giao thông quan trọng;
        (6) Nơi đường biên giới chuyển hướng.

        + Mốc phải làm bằng xi măng cốt sắt hoặc đá, hình dáng, kích thước to nhỏ, cao rộng như thế nào sẽ tiếp tục bàn bạc.

        + Trong khi chờ đợi dựng mốc kiên cố, hai bên nhất trí: khi đi phân giới trên thực địa, phải dự kiến vị trí các mốc và cắm mốc sau khi đã được Uỷ ban liên hợp quyết định; mốc đó lúc đầu làm bằng gỗ tốt.

        + Vị trí của từng mốc coi như chính thức lâu dài. Đồng thời phải vẽ sơ đồ 1/10 000 và 1/5000 kèm theo để làm bằng chứng cho thế hệ mai sau biết rõ việc phân giới trên thực địa và cắm mốc. Công tác này phải đặt dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban liên hợp; chính quyền địa phương và nhân dân của hai nước, góp phần xây dựng và bảo vệ, cấm không được di chuyển, phá hoại hoặc làm mốc giả.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 29 Tháng Mười, 2015, 12:14:23 AM
        - Về việc phân giới trên thực địa, hai bên nhất trí vẽ sơ đồ tỷ lệ 1/25.000 để thể hiện địa hình ở hai bên biên giới, để làm chứng cho thế hệ mai sau, nhưng việc vẽ sơ đồ dọc hai bên đường biên giới đó nhằm ghi địa hình để làm rõ vị trí đường biên giới, không có nghĩa là quy định khu vực không có chủ quyền hoặc không có quản lý hành chính.

        - Để bảo đảm việc thực hiện phân giới và cắm mốc, mỗi bên phải có một số lực lượng dưới sự chỉ đạo của đoàn mình trong Uỷ ban liên hợp:

        Lực lượng phát quang nơi sẽ đi phân giới và cắm mốc;
        Lực lượng xây và cắm mốc;
        Lực lượng cán bộ chuyên môn kỹ thuật đo đạc bản đồ đi thực địa phân giới và cắm mốc;
        Lực lượng giúp việc và phục vụ khác như hậu cần, bảo vệ, y tế, cán bộ giúp việc và các nhu cầu vật chất.

        Khi hai bên làm việc trên đường biên giới mà mỗi bên đường biên giới đó do một bên quản lý, hai bên phối hợp với nhau để bảo đảm công tác bảo vệ. Khi hai bên làm việc ở một khu vực do một bên đang quản lý bên đó chịu trách nhiệm về công tác bảo vệ.

        Để việc thực hiện nhiệm vụ lịch sử của hai dân tộc giao phó cho chúng ta là những người đi thực hiện cụ thể đạt kết quả tốt, tất nhiên không tránh khỏi khó khăn thiếu thốn. Nhưng mỗi bên đều có trách nhiệm trước lịch sử của dân tộc mình, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nhau để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ lịch sử đó.

        - Sau khi tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc xong, hai bên cùng nhau làm biên bản để chính thức báo cáo lên Uỷ ban liên hợp.

        - Nguyên tắc chuyển giao và tiếp nhận:

        + Việc chuyển giao những khu vực cần chuyển giao phải tiến hành trên toàn tuyến biên giới và hai bên cùng nhau thực hiện nguyên tắc theo trình tự dưới đây:

        Phân giới trên thực địa;
        Cắm mốc biên giới;
        Tiến hành chuyển giao những khu vực cần chuyển giao;

        Khi tiến hành việc chuyển giao trong một khu vực nào đấy, hai bên cùng nhau thực hiện đúng những nguyên tắc trên.

        + Trước khi chuyển giao những khu vực cần chuyển giao, Uỷ ban liên hợp cùng với các cấp chính quyền địa phương hai bên xuống giáo dục nhân dân các dân tộc, cán bộ, dân quân du kích, tổ chức quần chúng nơi đó, quán triệt tinh thần nội dung thoả thuận của Bộ Chính trị hai Trung ương đảng về vấn đề biên giới, tinh thần và nội dung của Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia, những quy định về quy chế biên giới.

        + Về việc giải quyết vấn đề nhân dân ở các khu vực cần chuyển giao, cần thực hiện theo thoả thuận của hai Bộ Chính trị hai đảng ngày 10/02/1976 là: bên nào đã quản lý nhân dân trước đây có nhiệm vụ khuyên nhân dân ở lại chỗ cũ, đồng thời hai bên phải tôn trọng quyền tự do dân chủ, nguyện vọng chính đáng của họ trong việc lựa chọn quốc tịch và nơi cư trú.

        Hai bên tôn trọng quyền tự do và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân các dân tộc trong vùng biên giới đã sơ tán lánh lạn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước muốn trở về quê cũ hoặc ở lại tại chỗ.

        + Việc chuyển giao các khu vực cần chuyển giao ở tỉnh nào do Uỷ ban liên hợp cùng với các cấp chính quyền địa phương trong khu vực đó chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện.

        + Sau khi tiến hành lễ chuyển giao các khu vực cần chuyển giao ở nơi nào, bên chuyển giao hết chủ quyền và trách nhiệm quản lý hành chính của mình trong khu vực đó.

        Bên nhận đất có chủ quyền toàn vẹn, có trách nhiệm quản lý hành chính đầy đủ của mình trong các khu vực đã nhận (kẻ cả đất, người và các công trình) kể từ ngày đó trở đi.

        - Nội dung chuyển giao:

        + Các khu vực cần chuyển giao là các khu vực theo Hiệp ước hoạch định biên giới đã quy định và đã được hai bên tiến hành phân giới trên thực địa và cắm mốc.

        + Bên giao đất báo cho bên nhận biết tình tình hình, số lượng và tên xã, bản, dân, cán bộ đảng viên, hội viên hội phụ nữ, đoàn viên thanh niên, lực lượng bảo vệ an ninh bản, dân quân du kích cư trú trong các khu vực cần chuyển giao.

        + Bên chuyển giao giao các công trình công cộng đã xây dựng để phục vụ nhân dân các dân tộc trong khu vực cần chuyển giao như: trụ sở Uỷ ban, doanh trại các đồn, trạm biên phòng, trường học, trạm xá xã cầu đường, thuỷ lợi.

        Những người dân không tự nguyện ở lại các khu vực cần chuyển giao có quyền trở về nước và mang theo tài sản riêng của họ trở về, nếu không cần mang về họ có quyền bán và đổi hoặc nhường lại cho người khác còn ở lại. Trong thời gian chưa chuyển đi họ phải tôn trọng luật lệ của nước tiếp nhận đất.

        Người chủ hoa màu chưa thu hoạch theo thời vụ của năm đó được phép đi lại chăm sóc hoa màu đó cho đến khi thu hoạch xong vụ đó thôi.

        + Các gia đình hoặc cá nhân có công với cách mạng đang công tác hoặc đã về hưu còn tiếp tục ở lại địa phương đó, bên chuyển giao đất báo cho bên nhận biết để chú ý giúp đỡ săn sóc họ theo đường lối chính sách của Đảng và Chính phủ của nước đó.

        + Trước khi giao đất, bên chuyển giao nhiệm vụ thu hồi vũ khí mà mình đã trang bị cho chính quyền, cán bộ, lực lượng vũ trang bảo vệ an ninh của nhân dân và dân quân du kích trong các khu vực do mình quản lý trước đây.

        + Đối với mồ mả của gia đình bộ đội, cán bộ, nhân dân các dân tộc không tự nguyện ở lại các khu vực cần chuyển giao, họ có quyền cất bốc mồ mả về hoặc họ được phép đi lại chăm sóc mồ mả của họ theo phong tục tập quán, nhưng sự đi lại đó phải được phép của chính quyền địa phương hai bên.

        - Hình thức, biện pháp chuyển giao:

        + Bên giao phải chủ động chuẩn bị đầy đủ, đồng thời phải phối hợp chặt chẽ với bên nhận để làm cho công tác chuyển giao đạt kết quả tốt.

        + Địa điểm chuyển giao được tổ chức tại một khu vực nào của xã biên giới thuận tiện cho việc đi lại của cả hai bên.

        + Lễ chuyển giao từng khu vực cần có Uỷ ban liên hợp, đại diện chính quyền tỉnh, huyện, xã, tổ chức quần chúng và nhân dân các dân tộc hai bên biên giới trong khu vực đó tham dự. Trong lễ chuyển giao, đại diện Uỷ ban liên hợp hai bên phát biểu ý kiến về việc chuyển giao và tiếp nhận, có chụp ảnh, có khẩu hiệu thống nhất bằng tiếng Việt Nam và tiếng Lào, có quốc kỳ Việt Nam và quốc kỳ hào.

        Hai bên trong Uỷ ban liên hợp cùng làm biên bản về việc chuyển giao và tiếp nhận và ký tên để chính thức xác nhận việc chuyển giao và tiếp nhận.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 30 Tháng Mười, 2015, 04:55:31 AM
        2) Cuộc họp Khoá II của Uỷ ban liên hợp về phân giới trên thực địa và cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào, tại Lao Bảo, huyện Hướng Hoá tỉnh Bình Trị Thiên từ ngày 17-11-1978 đến ngày 20-11-1978.

        Đoàn Việt Nam gồm 10 người do ông Hoàng Văn Kiểu làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 10 người do ông Ma Kháy Khăm Phi Thun làm Trưởng đoàn.

        Ngày 20-11-1978, hai bên ký biên bản làm việc chung, trong đó đã thoả thuận những vấn đề sau:

        - Hai đoàn nhất trí cho rằng việc làm thí điểm đạt kết quả tốt, đã phân giới trên thực địa được 24 km đường biên giới và cắm được 8 mốc gỗ cứng, rút được nhiều kinh nghiệm tốt trong từng mặt về phân giới và cắm mốc lần này, làm cơ sở cho việc tiến hành phân giới và cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Lào.

        Thành viên của hai đoàn đã cố gắng đem hết khả năng của mình, nêu cao tinh thần trách nhiệm, chịu dựng gian khổ, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ, hợp tác làm việc với nhau trên tinh thần đoàn kết hữu nghị, tin cậy và giúp đỡ lẫn nhau và đã góp phần tăng cường mối quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào ngày càng chặt chẽ.

        Sở dĩ đạt được kết quả như vậy là do sự chỉ đạo đúng đắn của hai Bộ Chính trị, hai Chính phủ, sự đóng góp tích cực của cấp uỷ, chính quyền và nhân dân hai tỉnh Bình Trị Thiên và Sa-vẳn-nạ-khệt, sự hợp tác chặt chẽ của các thành viên của hai đoàn. Tuy nhiên, công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc là một công tác lớn, quan trọng, có tính chất lịch sừ, còn mới mẻ đối với cả hai bên, nên phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Trong lúc đó, thời tiết mưa bão liên tiếp cũng gây trở ngại khá lớn và làm cho thời gian kéo dài.

        - Phương hướng nhiệm vụ công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc sắp tới:

        + Tiếp tục phân giới trên thực địa và cắm mốc phần còn lại của đoạn thí điểm Bình Trị Thiên - Sa-vẳn-nạ-khệt. Để hoàn thành nhanh chóng đoạn thí điểm này, thường trực của hai đoàn trong Uỷ ban liên hợp và hai tỉnh Bình Trị Thiên với Sa-vẳn-nạ-khệt sẽ cùng nhau bàn kế hoạch và xúc tiến chuẩn bị khẩn trương để sau khi sơ kết rút kinh nghiệm xong phải triển khai ngay. Mỗi bên tổ chức hai đội cùng đi: một đội bắt đầu từ suối By Hiên (Mỹ Yên) xuống phía Nam, một đội bắt đầu đi từ đường 16 đến điểm cao 1080. Đi đôi với việc phân giới trên thực địa và cắm mốc, hai bên cần chuẩn bị kế hoạch để tiến hành việc chuyển giao các khu vực cần chuyển giao cho nhau theo nội dung biên bản ngày 3 tháng 7 năm 1978 về vấn đề chuyển giao.

        + Sau khi hoàn thành đoạn thí điểm trên, sẽ triển khai ở các tỉnh Lai Châu, Sơn La với Luổng-phạ-băng, Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng, Gia Lai - Kon Tum với Sa-la-van. Phải tập trung lực lượng làm trước ở những khu vực cần chuyển giao cho nhau. Các tỉnh nói trên phải chuẩn bị mọi mặt để triển khai được thuận lợi. Kế hoạch cụ thể hai bên sẽ bàn sau. Việc triển khai ở các tỉnh trên đều do Uỷ ban liên hợp trực tiếp chỉ đạo.

        + Đi đôi với việc phân giới trên thực địa và cắm mốc, hai tỉnh Bình Trì Thiên và Sa-vẳn-nạ-khệt cùng nhau nghiên cứu mở các cửa khẩu và trạm kiểm soát báo cáo lên Uỷ ban liên hợp.

        + Hai bên trao đổi để soạn thảo quy chế bảo vệ và quản lý mốc và tổ chức phát quang đường biên giới trên các đoạn biên giới đã được phân giới và cắm mốc.

        - Chia đoạn biên giới để tổ chức và xây dựng kế hoạch phân giới trên thực địa và cắm mốc:

        + Cần chia toàn tuyến biên giới thành nhiều đoạn để tiện cho việc tổ chức và xây dựng kế hoạch phân giới trên thực địa và cắm mốc, có thể tổ chức triển khai tất cả các đoạn cùng một lúc hoặc làm một số đoạn trước, sau đó làm tiếp cho đến xong toàn tuyến. Chia đoạn còn tiện cho việc đánh số thứ tự các mốc theo một quy cách thống nhất và có thể phân vạch đoạn nào thì đánh số ngay đoạn đó. Giai bên thoả thuận chia toàn tuyến biên giới ra 19 đoạn và đặt tên cho từng đoạn từ Bắc đến Nam như sau:

        A. Ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc đến điểm cao 1533.
        B. Điểm cao 1533 đến đỉnh đèo Tây Trang.
        C. Đỉnh đèo Tây Trang đến Phou Sam Sao (1879).
        D. Phou Sam Sao đến Chiềng Khương (Sông Mã).
        E. Chiềng Khương (Sông Mã) đến Pa Háng.
        G. Pa Háng đến cầu Na Mèo.
        H. Cầu Na Mèo đến toạ độ 114G02'05" - 22G21'46" (tỉnh giới Thanh Hoá - Nghệ An).
        I. 114G02'05" - 22G21'46" đến sông Cả (Nậm Nơn).
        K. Sông Cả (Nậm Nơn) đến cầu Nậm Cắn (đường 7).
        L. Cầu Nậm Cắn (đường 7) đến Phau Nhọt Pung (tỉnh giới Xiêng Khoảng - Khăm Muộn).
        M. Phau Nhọt Pung đến đỉnh đèo Keo Nưa (đường 8).
        N. Đỉnh đèo Keo Nưa (đường 8) đến đỉnh đèo Mụ Giạ (đường 12) .
        O. Đỉnh đèo Mụ Gịa (đường 12) đến đường 20.
        P. Đường 20 đến điểm cao 1080.
        Q. Điểm cao 1080 đến cầu Xà Ợt (đường 9).
        R. Cầu Xà Ợt đến điểm cao 1050.
        S. Điểm cao 1050 đến toạ độ 116G8063" - 17G80'42" (tỉnh giới Bình Trị Thiên và Quảng Nam - Đà Nẵng).
        T. 116G80'63" - 17G80'42" đến tỉnh giới Sa-la-van và Ắt-tạ-pư.
        U. Tỉnh giới Sa-la-van và Ắt-tạ-pư đến ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia.

        + Khi tổ chức triển khai làm từng đoạn thì phải làm từ Bắc xuống Nam để tiện cho việc đánh số thứ tự và tổ chức cắm mốc sau khi phân vạch (trừ đoạn thí điểm Bắc đường 9).

        - Tổ chức phân giới trên thực địa và cắm mốc:

        + Hai bên tổ chức lực lượng cùng làm gồm có lực lượng phân vạch và lực lượng cắm mốc.

        + Lực lượng đi phân giới trên thực địa và cắm mốc gồm có cán bộ phận như:

        Cán bộ chỉ đạo chuyên viên nhân viên đo đạc và bản đồ, chuyên viên mốc giới, chuyên viên làm biên bản, báo cáo, phiên dịch, chụp ảnh, thông tin liên lạc, y tế, bảo vệ dẫn đường, phát quang, quản lý, nấu ăn, lực lượng làm và cắm mốc, vận chuyển.

        Trong các thành phần nói trên, các thành phần chủ yếu hai bên đều phải có là: cán bộ chỉ đạo, cán bộ đo đạc và bản đồ, cán bộ mốc giới. Các thành phần khác tuỳ theo sự cần thiết mà bố trí, số lượng hai bên không nhất thiết bằng nhau, hai bên sẽ giúp đỡ lẫn nhau theo khả năng.

        + Đoàn phân giới và cắm mốc trên thực địa của hai bên có nhiệm vụ:

        Căn cứ vào Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào ký ngày 18-7-1977 và bản đồ tỷ lệ 1/100 000 đính theo Hiệp ước, các biên bản về phân giới trên thực địa và cắm mốc của Uỷ ban liên hợp, tổ chức thực hành việc phân giới và cắm mốc đoạn biên giới do Uỷ ban liên hợp giao và chuyển giao các khu vực cần chuyển giao cho nhau.

        Dự kiến vị trí mốc theo các biên bản về phân giới và cắm mốc của Uỷ ban liên hợp đã quy định, sau khi được đại diện của hai đoàn trong Uỷ ban liên hợp đồng ý tổ chức thì cắm mốc.

        Dựa vào kết quả phân giới trên thực địa và cắm mốc, thể hiện lên sơ đồ đường biên giới đã được phân vạch, vẽ sơ đồ, chụp ảnh và làm biên bản cắm mốc của từng vị trí mốc.

        Làm biên bản báo cáo kết quả công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc lên Uỷ ban liên hợp.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 31 Tháng Mười, 2015, 03:48:01 AM
        + Để hoàn thành nhiệm vụ trên đạt kết quả tốt, đoàn phân giới trên thực địa của hai bên phải chú ý làm những việc sau đây:

        Nghiên cứu kỹ Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước Việt Nam - Lào và bản đồ tỷ lệ 1/100 000 đính kèm Hiệp ước, các biên bản và chỉ thị của Uỷ ban liên hợp (nếu có).

        Nếu chỗ nào hai bên chưa thống nhất ý kiến và không đủ quyền hạn giải quyết tại thực địa thì báo cáo lên Uỷ ban liên hợp (làm báo cáo chung ghi rõ ý kiến của mỗi bên, có sơ đồ kèm theo, hoặc từng bên báo cáo lên cấp trên của mình). Trong khi chờ ý kiến quyết định của cấp trên, hai bên cứ tiếp tục phân vạch chỗ khác.

        Hai bên cùng nhau xây dựng kế hoạch chung đi phân giới trên thực địa và cắm mốc đoạn biên giới được giao.

        Trước khi đi thực địa, hai bên cùng nhau nghiên cứu Hiệp ước và bản đồ tỷ lệ 1/100 000 đính theo Hiệp ước vẽ đường biên giới lên sơ đồ tỷ lệ 1/25 000 để đối chiếu địa hình, thống nhất các phương pháp kỹ thuật phân vạch đường biên giới trong từng đoạn, dự kiến các vị trí mốc lớn, dự kiến các khu vực phức tạp cần chú ý.

        Hai bên thống nhất dùng sơ đồ tỷ lệ 1/25 000 phóng từ bản đồ tỷ lệ 1/50 000 UTM ra để xác định và đối chiếu địa hình. Dựa vào những căn cứ đã quy định (Hiệp ước hoạch định biên giới và bản đồ tỷ lệ 1/100 000 đính theo Hiệp ước), hai bên dùng các phương pháp kỹ thuật đo đạc bản đồ để đi phân giới trên thực địa được chính xác.

        Có trường hợp trong thực tế giữa Hiệp ước, bản đồ tỷ lệ 1/100 000 đính kèm Hiệp ước và địa hình không ăn khớp nhau, lúc đó hai bên cùng nhau trao đổi bàn bạc, nghiên cứu giải quyết sao cho vừa đúng với Hiệp ước, vừa đúng với thực tế địa hình.

        Sau khi phân vạch và cắm mốc xong, hai bên cùng nhau thống nhất làm biên bản báo cáo kết quả về công tác phân giới và cắm mốc lên Uỷ ban liên hợp một cách cụ thể, rõ ràng, chính xác và có kèm theo: Sơ đồ tỷ lệ 1/25 000 vẽ đường biên giới quốc gia và vị trí các mốc; Sơ đồ và biên bản cắm mốc của từng vị trí mốc (tỷ lệ khác nhau 1/10.000, 1/1.000, 1/5.000 tuỳ theo điều kiện địa hình từng nơi). Các mẫu sơ đồ đường biên giới tỷ lệ 1/25.000 sơ đồ vị trí mốc, mẫu biên bản phân giới trên thực địa, biên bản cắm mốc, hình vẽ cột mốc sẽ có phụ lục riêng.

        Hai bên nhất trí phân công nhau in sơ đồ tỷ lệ 1/25 000 như sau: Phía Việt Nam in từ sông Cả (Lào gọi là Nậm Nơn) đến ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia; Phía Lào in từ ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc đến sông Cả (Lào gọi là Nậm Nơn) ; Mỗi bên in cho phía bên kia mỗi mảnh 30 bản; Bản sơ đồ phải in trên giấy tốt (150gr/m2) và theo quy cách thống nhất. Trước khi in hai bên cùng nhau thông qua và ký duyệt trên bản in thử; Bản in gốc nếu bên nào thiếu thì bên kia cho mượn (nếu có); Hai bên giúp đỡ nhau về phương tiện kỹ thuật và bồi dưỡng nhân viên đo đạc bản đồ.

        - Về phương pháp kỹ thuật, qua thực tế làm thí điểm phân giới trên thực địa và cắm mốc đoạn 24 km, hai bên đã nhất trí rút ra được những phương pháp kỹ thuật sau đây:

        + Đường biên giới qua cầu: Vạch đường biên giới qua chính giữa cầu không kể đường biên giới chạy theo dòng sông, dòng suối dưới cầu như thế nào. Hai bên quyết định lấy hai mép mồ cấu phía sông, suối để đo điểm giữa của cầu.

        + Đường biên giới theo bờ sông, bờ suối (như bản đồ Pháp vẽ):
Đối với đường biên giới đi theo bờ sông, suối đó, hai bên thống nhất rằng: (1) Bờ sông, bờ suối là chỗ địa hình từ mặt đất liền nhìn xuống có sự thay đổi độ dốc đột ngột đầu tiên một cách tự nhiên. Từ đó trở xuống mép nước gọi là mạn sông, suối. Ở mạn sông có thể có những bậc mà ở đó thay đổi đột ngột thì chỗ đó không gọi là là bờ sông, suối; (2) Bờ sông, suối ở thượng lưu thường bị chia cắt bởi các tụ thuỷ, các khe, các cửa suối, hai bên đã nhất trí khi tới các chỗ đó, đường biên giới cứ đi thẳng qua mà không phải đi vòng.

        Đối với những nơi dân cư ở dọc bờ sông, suối, hai bên thống nhất là: Nhà cửa, làng bản của dân cũng như các công trình công cộng như bệnh xá, trường học, chùa chiền, mồ mả, di tích lịch sử... đã xây dựng ở trên bờ sông, suối đó, nếu đường biên giới đi qua chỗ nào thì vẫn đi như thế. Nhưng những nhà cửa, làng bản, công trình đó trước thuộc bên nào nay vẫn thuộc bên đó quản lý. Hai bên cần làm biên bản ghi rõ (Ký hiệu biên giới không vẽ đè lên ký hiệu của những công trình đó). Về phương pháp vẽ đường biên giới theo bờ sông, suối hai bên đã thống nhất lấy bờ sông, suối là đường biên giới. Nhưng khi vẽ đường biên giới trên sơ đồ 1/25.000 thì vẽ ký hiệu biên giới đều nhau cách mép nước trong sơ đồ 2,5 mm.

        + Đường biên giới là một hình cong không theo một quy tắc hình học nhất đinh, qua địa hình phức tạp: Hai bên nhất trí dùng phương pháp vạch đường cơ sở để từ đó xác định các điểm khác trên đường biên giới cong đó. Phương pháp này có nhược điểm là tốn nhiều công phát đường và có thể có sai số kỹ thuật khi dùng máy đo, nên cần kiểm tra với một số vật chuẩn khác.

        + Đường biên giới đi theo địa hình phức tạp nhưng thành đường thẳng: Hai bên nhất trí là: Khi đi phân giới nếu địa hình phức tạp, rậm rạp thì không nhất thiết đi phân vạch theo đường thẳng mà có thể đi vòng để xác định ở thực địa điểm đầu và điểm cuối của đoạn biên giới đó Nếu thấy cần thiết thì có thể xác định một hoặc hai điểm nữa ở giữa đoạn đó. Phương pháp này nhanh nhưng vẫn đảm bảo chính xác và tính chất liên tục của đường biên giới.

        + Đường biên giới theo sống núi hoặc theo khe núi: Đường sống núi hoặc đường khe núi đều là những đường đặc trưng của địa mạo. Đường biên giới chạy theo đúng đường sống núi hoặc đường khe núi: Vấn đề kỹ thuật ở đây là tìm ra đúng mỏm núi hoặc khe núi mà đường biên giới phải đi theo. Để giải quyết vấn đề này, hai bên đã dùng phương pháp xét đoán địa hình giữa bản đồ, sơ đồ và thực địa. nếu có ảnh chụp bằng máy bay thì càng tốt.

        + Đường biên giới theo một đường thẳng dài trên bản đồ: Dùng máy ngắm đặt ở một điểm trên đường biên giới ngắm vào một điểm khác ở trên đường biên giới, rồi cố định tia ngắm đó để ngắm các điểm cần thiết ở giữa hai vị trí đó. Tất cả các điểm đó đều nằm trên một đường thẳng. Phương pháp này đạt độ chính xác cao. Nếu không có điều kiện ngắm vào một điểm cao ở xa thì có thể bằng phương pháp xét đoán địa hình chọn một điểm nào đó ở gần hơn nằm trên đường biên giới, rồi dùng máy để xác định các điểm khác như trên.

        + Đường biên giới đi theo dòng sông, suối: Đường biên giới đi theo dòng sâu nhất của sông, suối đó trong mùa nước thấp nhất.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 01 Tháng Mười Một, 2015, 02:52:21 AM
        -  Vấn đề mốc quốc giới:

        + Nguyên tắc chung:

        Mốc quốc giới là dấu thể hiện bằng vật chất cụ thể đường biên giới tại thực địa cắm ở ranh giới giữa hai nước.

        Mốc quốc giới phải chính xác, rõ ràng, vững chắc, thành một hệ thống thống nhất trên toàn tuyến Việt Nam - Lào.

        Căn cứ vào yêu cầu và tình hình thực tế của hai nước Việt Nam - Lào, việc tiến hành và hoàn chỉnh phân giới và cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào chia ra ba bước:

        Bước 1: Phân giới trên toàn tuyến, nhưng cắm mốc ở những nơi cần thiết (nếu cắm 400 - 500 mốc thì trung bình 4 - 5 km có một mốc, tuỳ địa hình cụ thể có đoạn cắm mốc dày hơn, có đoạn cắm mốc thưa hơn).

        Bước hai: Cắm thêm mốc giữa những mốc đã cắm trong bước một để tăng thêm mật độ mốc. Thời gian làm bước hai, hai bên sẽ thoả thuận sau.

        Bước ba: Kiểm tra vị trí các mốc để bảo đảm chính xác.

        + Quy cách làm và cắm mốc:

        Vị trí mốc: Mốc đặt trên đường biên giới, nơi không có điều kiện thì đặt mốc kép ở bên này và bên kia đường biên giới ở một cự ly do hai bên cùng thoả thuận.

        Loại mốc: có ba loại chính: Mốc lớn (cắm trong bước một). Mốc nhỏ (cắm trong bước hai giữa các mốc lớn). Mốc ba biên giới. Đối với các cửa khẩu, nếu đường biên giới đi trên đất liền thì cũng chỉ cắm mốc lớn trên đường biên giới; nếu đường biên giới qua cầu, không tiện cắm mốc ở trên đường biên giới chính giữa cầu thì cắm mốc kép ở bên này và bên kia đường biên giới. Ngoài ra, mỗi bên có thể làm một công trình theo sáng kiến của mình để chỉ dẫn cho người qua lại biết họ đến gần nước nào.

        Chất liệu: làm mốc kiên cố luôn trước mắt đoạn Nam Bắc cầu Xà Ợt cứ cắm mốc gỗ cứng như đã thoả thuận. Mốc kiên cố có thể là:

        (1) Mốc bằng đá đẽo hoặc tạc vào vào vách đá (phương hướng chủ yếu của chúng ta là tận dụng nguyên liệu tại chỗ để bớt tốn vật tư và công vận chuyển);
        (2) Mốc làm bê tông cốt sắt, nếu không có đá tại chỗ;
        (3) Nếu không có đá hoặc bê tông, làm mốc bằng gỗ, khi có điều kiện sẽ thay.

        Kích thước: Mốc bê tông là cỡ 25 x 40 x 200 cm, chôn xuống đất 110 cm, nổi trên mặt đất 90 cm, kể cả chóp cao 10 cm, trên đỉnh chóp có vẽ hình chữ thập (+) và đặt trên tim đường biên giới có đế rộng cách chân cột mốc 20 cm và dày 20 cm; Mốc đá: 40 x 25 x 170 cm, chôn xuống đất 100 cm, nổi trên mật đất 70 cm, trên mặt mốc có chữ thập (+) không có đế. Nếu tại chỗ có tảng đá đứng hoặc nằm thì tận dụng tạc vào tảng đá đó luôn. Mốc nhỏ và mốc ba biên giới sẽ bàn sau.

        Sơn màu, kẻ chữ: Mốc sơn trắng, kẻ chữ đen. Ký hiệu và chữ trên mốc làm đơn giản, có hai hàng: Phía Việt Nam thì viết Việt Nam, ví dụ A23 (A là tên đoạn, 23 là thứ tự mốc trong đoan A). Phía Lào thì viết Lào.

        Cách đánh số mốc: Căn cứ theo các đoạn chia như trên, khi tiến hành phân vạch thì bắt đầu từ đầu đoạn, từ Bắc xuống Nam đến cuối đoạn đó, dự kiến vị trí mốc và xác định luôn từ số 1 trở đi, từ Bắc xuống Nam theo hướng đi của đường biên giới.

        - Tổ chức thực hiện làm và cắm mốc: Hai bên cần có cán bộ và lực lượng chuyên trách làm và cắm mốc, được trang bị và bồi dưỡng về kỹ thuật làm bê tông, làm đá, gỗ. Khi đi phân vạch trên thực địa thì hai bên dự kiến luôn vị trí cắm mốc, vẽ sơ đồ vị trí mốc, làm dấu vị trí mốc bằng cây gỗ dài khoảng 100 cm đường kính khoảng 15 cm chôn sâu khoảng 50 cm, có sơn đỏ trên đầu khoảng 10 cm. Việc làm mốc, vận chuyển và cắm mốc, hai bên chia nhau cùng làm theo đúng quy cách đã thống nhất mỗi bên chịu một nửa. Khi cắm mốc phải đảm bảo đúng vị trí đã thoả thuận, có người của hai bên cùng làm, số người cần thiết bao nhiêu hai bên cùng nhau thoả thuận, có tổ trưởng cắm mốc của hai bên chứng kiến. Sau khi cắm xong từng mốc, làm biên bản cắm mốc do hai tổ trưởng ký. Có sơ đồ vị trí và ảnh mốc kèm theo cỡ 18 x 24 chụp hai mặt cột mốc có chữ của hai nước và chụp toàn cảnh vị trí mốc.

        - Công tác hậu cần và một số mặt công tác đảm bảo khác:

        Công tác hậu cần cần phải phấn đấu vượt nhiều khó khăn, phải tổ chức chỉ đạo chặt chẽ mới đáp ứng được yêu cầu công tác.

        Công tác hậu cần phải quán xuyến toàn diện nhưng chủ yếu là phải chăm lo đảm bảo ăn, ở, trang bị cho các đội đi phân giới trên thực địa và cắm mốc sao cho ăn đủ no, mặc đủ ấm, trang bị gọn nhẹ, bền, đảm bảo sức khoẻ, an toàn để có thể đi rừng, leo núi, lội suối được dài ngày.

        Phải kết hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương, phải dựa vào địa phương là chính, nhưng Trung ương phải hết sức chú trọng tăng cường cho địa phương đủ sức hoàn thành nhiệm vụ.

        Trong những điều kiện khó khăn và trước yêu cầu như vậy, công tác hậu cần lại phải dựa vào địa phương, có địa phương thuận lợi về mặt cung cấp vật chất, có địa phương không đủ điều kiện để đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác, cho nên trong quá trình làm nhiệm vụ, cán bộ nhân viên của hai đoàn phải hết sức thông cảm với những khó khăn chung của nhau, phát huy tinh thần đoàn kết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ chung.

        Trong công tác đảm bảo chỉ đạo, cần chú trọng thông tin liên lạc để đảm bảo sự chỉ đạo được thông suốt, kịp thời, nhanh chóng, chính xác trong mọi điều kiện, hoàn cảnh khí hậu, thời tiết và địa hình khác nhau. Trong việc làm và cắm mốc, chú trọng trang bị vật tư và trong lao động đề phòng tai nạn, phải chuẩn bị sẵn sàng các loại phương tiện vận chuyển để có thể cấp cứu được nhanh chóng, kịp thời.

        Trong tình hình bọn đế quốc, bọn phản động quốc tế và tay sai đã và đang âm mưu tìm mọi cách phá hoại dưới nhiều hình thức khác nhau sự nghiệp cách mạng và tình hữu nghị đặc biệt giữa hai nước ở mọi nơi, mọi lúc, hai bên phải luôn luôn cảnh giác đề phòng, phải tổ chức bảo vệ chu đáo, phải có phương án bảo vệ an toàn trong mọi tình huống, chủ động đối phó với mọi huống xảy ra.

        Công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc mang tính chất lịch sử, công tác đảm bảo hậu cần cho phân giới và cắm mốc có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần quyết định vào sự thành công của công tác phân giới và cắm mốc, do đó phải được quan tâm một cách thích đáng. Công tác hậu cần càng tốt bao nhiêu thì công tác phân giới cắm mốc càng thuận lợi bất nhiêu.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 02 Tháng Mười Một, 2015, 04:24:26 AM
        3) Cuộc họp Khoá III của Uỷ ban liên hợp về phân giới trên thực địa và cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào, tại Viêng Chăn từ ngày 20-01-1979 đến ngày 24- 01-1979

        Đoàn Việt Nam gồm 3 người do ông Lưu Văn Lợi, Phó Trưởng ban Ban Biên giới làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 4 người do ông Thoáng Sa Vắt Kháy Khăm Phi Thun làm Trưởng đoàn. Hai bên đã thoả thuận những vấn đề sau:

        - Hai bên quyết tâm thực hiện ý định của hai Bộ Chính trị là làm nhanh, làm tốt, làm gọn, rõ ràng, đúng với Hiệp ước hoạch định biên giới và các biên bản chung.

        - Hai bên cố gắng làm xong toàn tuyến trong hai năm 1979 và 1980 (bao gồm đi phân giới trên thực địa toàn tuyến, vẽ sơ đồ biên giới toàn tuyến, cắm mốc toàn tuyến, chuyển giao các khu vực cần chuyển giao và bố trí các trạm kiểm soát biên giới cần thiết). Nhưng trước mắt, phân giới và cắm mốc các đoạn có đất chuyển giao như Hiệp ước đã quy định nhằm làm rõ đường biên giới; ổn định tư tưởng nhân dân, sau đó sẽ làm tiếp các đoạn còn lại cho đến xong hoàn toàn.

        - Phương pháp làm là làm xong, làm gọn từng đoạn, từng tỉnh. Trên mỗi đoạn, mỗi tỉnh như thế, hai bên đi phân giới trên thực địa, vẽ sơ đồ đường biên giới và cắm mốc, bố trí các trạm kiểm soát biên giới và cửa khẩu cần thiết. Phân giới xong từng đoạn thì chuyển giao nếu có khu vực cần chuyển giao. làm nhanh, gọn nhưng vẫn phải bảo đảm cách làm thống nhất cho toàn tuyến, bảo đảm những yêu cầu pháp lý tối thiểu; phân giới xong cần làm biên bản miêu tả chính xác đường biên giới chính thức mà hai đoàn đã phân vạch trên thực địa, vẽ sơ đồ đường biên giới ở đoạn đó; cắm xong mỗi mốc phải làm biên bản, vẽ sơ đồ vị trí mốc đó. Làm xong tất cả các đoạn rồi, cần làm Nghị định thư trình Chính phủ mỗi bên chuẩn y.

        - Vấn đề phân giới trên thực địa và cắm mốc do Trung ương trực tiếp làm. Công việc của bước 2 (cắm mốc nhỏ giữa các mốc lớn) vẫn do Trung ương trực tiếp chỉ đạo.

        - Mỗi bên đều cố gắng góp phần vào việc phân giới cắm mốc, đồng thời hai bên luôn luôn hỗ trợ nhau để giải quyết khó khăn nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ phân giới cắm mốc.

        - Lịch triển khai:

        + Tháng 1-1979 tiếp tục phân giới cắm mốc đoạn Q, R giữa tỉnh Bình Trị Thiên và Sa-vẳn-nạ-khệt. Cố gắng trong tháng 2-1979 phân vạch xong, để tháng 3-1979 tiến hành công tác chuyển giao. Tiếp tục cắm mốc kiên cố cho xong cả hai đoạn đó, trường hợp chỗ nào khó khăn quá chưa cắm mốc kiên cố ngay được thì cắm mốc gỗ tạm thời sau này sẽ thay thế. Việc chuyển giao và triển khai các trạm kiểm soát biên giới không phải chờ việc cắm xong mốc kiên cố toàn đoạn.

        + Trong khi đang phân giới cắm mốc ở Bình Trị Thiên - Sa-vẳn-nạ-khệt, hai bên khẩn trương chuẩn bị cáo mặt để cuối tháng 3 triển khai phân giới cắm mốc ở đoạn B, C giáp hai tỉnh hai Châu, Sơn La, với Phông-sa-lỳ, Luổng-phạ-băng và ở đoạn S, T giáp tỉnh Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng, Gia Lai - Kon Tum với tỉnh Sa-la-van.

        + Tuỳ tình hình cụ thể, sau khi hoàn thành các đoạn trên sẽ tiếp tục triển khai ở các đoạn D, R, G, H giữa các tỉnh Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh với Hủa-phăn vào sáu tháng cuối năm 1979. Nếu còn thời gian thì có thể triển khai các đoạn I, K, L giữa Nghệ Tĩnh và Xiêng- khoảng. Riêng phía Nam khi làm đoạn S, T nếu còn thời gian thì làm tiếp đoạn U. Đến năm 1980 sẽ tiếp tục làm các đoạn còn lại trên toàn tuyến (bao gồm cả phân giới trên thực địa, vẽ sơ đồ đường biên giới và cắm mốc). Sau mỗi đợt sẽ sơ kết, rút kinh nghiệm để vạch kế hoạch cho đợt tiếp theo.

        + Đối với các tỉnh đã làm xong bước một (bao gồm cả phân vạch, cắm mốc, chuyển giao, đặt trạm kiểm soát) sẽ bắt đầu kế hoạch bước hai. Nội dung, kế hoạch cụ thể của bước hai sẽ bàn sau.

        - Tổ chức lực lượng, để đảm bảo thực hiện được kế hoạch trên đây, cần chuẩn bị sắp xếp tổ chức lực lượng như sau:

        + Trước mắt hai đội hiện nay tiếp tục làm ở Bình Trị Thiên - Sa- vẳn-nạ-khệt.

        + Sau khi hoàn thành hai đoạn Q, R giữa hai tỉnh trên, sẽ để một đội làm tiếp đoạn giữa tinh Bình Trị Thiên và Sa-la-van, tổ chức một đội nữa để làm đoạn giữa Quảng Nam - Đà Nẵng và Sa-la-van, đội này sẽ làm tiếp tục cho đến ngã ba biên giới ba nước. Nếu cắm mốc kiên cố chưa xong thì để lại một bộ phận tiếp tục làm cho xong. Phía Bắc cố gắng tổ chức hai đội để làm đoạn B, C giữa Lai Châu, Sơn La, với Phông-sa-lỳ, Luổng-phạ-băng. Sau đó sẽ phát triển xuống làm các đoạn giữa Sơn La, Thanh Hoá với Hủa-phăn.

        - Công tác bảo đảm:

        + Bảo đảm kỹ thuật: Hai bên có kế hoạch chuẩn bị nhân viên kỹ thuật và phương tiện đo đạc bản đồ, nếu có khó khăn thì hai bên hỗ trợ nhau. Về in sơ đồ tỷ lệ 1/25.000 theo sự phân công, cần in xong trong tháng 2-1979 những đoạn cần triển khai trong tháng 3-1979. Còn các đoạn khác in tiếp kịp theo kế hoạch trên. Nếu có khó khăn hai bên hỗ trợ nhau.

        + Bảo đảm vật chất hậu cần: Hai bên khẩn trương chuẩn bị để tháng 3 có thể triển khai được ở các đoạn đã thoả thuận. Hai bên sẽ hỗ trợ lẫn nhau. Cần thông báo cho nhau biết những khó khăn cụ thể để bên kia có thời gian chuẩn bị.

        - Một số vấn đề khác:

        + Việc hoàn chỉnh biên bản đoạn thí điểm Xà Ợt và việc duyệt các bản đồ in thử, hai bên sẽ gặp nhau để làm từ ngày 10-2-1979 tại Lao Bảo.

        + Cuối tháng 2-1979 hai bên sẽ thông báo cho nhau tình hình chuẩn bị của các hướng mới, đồng thời bàn kế hoạch tổ chức chuyển giao và đặt trạm kiểm soát thuộc các đoạn giữa Bình Trị Thiên - Sa- vẳn-nạ-khệt.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 03 Tháng Mười Một, 2015, 12:36:16 AM
        4) Cuộc họp Khoá IV của Ủy ban liên hợp về phân giới trên thực địa và cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào, tại Viêng Chăn từ ngày 06- 6-1980 đến ngày 10- 6-1980

        Đoàn Việt Nam gồm 4 người do ông Lưu Văn Lợi làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 4 người do ông Thoáng Sa Vắt Kháy Khăm Phi Thun làm Trưởng đoàn.

        Ngày 10-6-1980, hai bên ký biên bản làm việc chung, trong đó đã thoả thuận những vấn đề sau:

        - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch công tác năm 1979: Hai đoàn rất hài lòng nhận thấy trong năm 1979 và mấy tháng đầu mùa khô 1979 - 1980, mặc dù hai nước đang gặp nhiều khó khăn trên bước đường trưởng thành, đặc biệt là phải đối phó với âm mưu xâm lược, gây rối, uy hiếp chia rẽ của bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh cấu kết với đế quốc Mỹ, mặc dù thời tiết nhiều lúc không thuận lợi; nhờ sự quan tâm chỉ đạo của hai Bộ Chính trị Trung ương hai Đảng, sự nỗ lực của các cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương và của anh em cán bộ, nhân viên, lực lượng biên phòng, dân công đi thực địa, công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc, chuyển giao các khu vực cần chuyển giao đã đạt kết quả tốt, nổi bật:

        + Hai bên đã phân giới trên thực địa xong các đoạn Q, R, S, T, U giữa các các tỉnh Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng, Gia Lai - Kon Tum và các tỉnh Sa-văn-nạ-khệt, Sa-la-van, Ắt-tạ-pư dài khoảng 530 km và cắm được 76 mốc, trong đó có 7 mốc bằng gỗ cứng, 69 mốc kiên cố bằng bê tông cốt thép.

        Đường biên giới được xác định trên thực địa đúng với đường biên giới hoạch định trong hiệp ước và thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 đính theo Hiệp ước. Hai bên đã đi được trên thực địa theo đường biên giới, trừ 43 km gồm các đoạn có mìn, các đoạn thẳng và 6 km gần ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia chưa đi thực địa theo đường biên giới. Việc cắm mốc làm đúng với quy cách và chất liệu mà hai bên đã thống nhất ở Lao Bảo ngày 31-3-1979.

        Công tác phân giới cắm mốc làm xong đến đâu đều có làm biên bản miêu tả đường biên giới chính thức được phân vạch và cắm mốc, có vẽ sơ đồ đường biên giới tỷ lệ 1/25.000, có làm biên bản cắm từng mốc, có sơ đồ vị trí từng mốc và ảnh từng mốc kèm theo. Hiện nay đã có 4 biên bản phân giới và cắm mốc, 4 biên bản chuyển giao, 45 sơ đồ đường biên giới chính thức, 76 sơ đồ vị trí mốc.

        + Tổ chức tốt việc chuyển giao các khu vực cần chuyển giao giữa ba tỉnh Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng, Gia Lai - Kon Tum và hai tỉnh Sa-vẳn-nạ-khệt, Sa-la-van, cụ thể là: Khu vực Hướng Lập (các xã Hướng Phùng, Hướng Việt, Hướng Lập), Long Sa Muội (Bình Trị Thiên), 5 xã của huyện A Lưới (Bình Trị Thiên), xã Ba Lê (Quảng Nam Đà Nẵng), 3 xã của huyện Đak Lay (Gia Lai - Kon Tum). Nhân dân ở các vùng chuyển giao phấn khởi, quan hệ giữa nhân dân hai bên biên giới vẫn duy trì tốt.

        + Cả hai bên đã tổ chức tốt việc phổ biến những quy định đầu tiên về quy chế biên giới đã được ghi trong biên bản ngày 3 tháng 7 năm 1978 cho các cơ quan, các ngành các cấp, cán bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân cư trú vùng biên giới, nơi nào mà hai bên đã đặt các trạm kiểm soát biên giới rồi, phần lớn đã chú ý thực hiện đúng đằn việc kiểm soát qua lại biên giới, có sự phối hợp trao đổi ý kiến, giúp đỡ lẫn nhau tốt hơn giữa hai bên. Việc xâm canh, để trâu bò qua lại phá hoại sản suất của bên kia đã giảm nhiều.

        + Tuy nhiên, cả hai bên vẫn phải quán triệt hơn nữa và thực hiện đầy đủ tinh thần, nội dung của Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước, các biên bản có liên quan đến vấn đề giải quyết biên giới giữa Việt Nam và Lào và tiếp tục đẩy mạnh việc tuyên truyền giáo dục cán bộ, nhân dân vùng biên giới thực hiện nghiêm chỉnh những điều quy định đầu tiên về quy chế biên giới. Đồng thời hai bên cần tiếp tục có những cuộc gặp gỡ để bàn bạc, quy định một số vấn đề cụ thể về xuất nhập cảnh và về việc đặt thêm các trạm kiểm soát ở những nơi cần thiết.

        Nhìn chung việc thực hiện nhiệm vụ đề ra đầu năm 1979 đạt kết quả tốt, nổi bật là sự tin cậy giữa các đoàn, các đội, các tổ, các địa phương với nhau và tình đoàn kết hữu nghị gia nhân dân hai nước đã có bước phát triển mới, góp phần tích cực trong việc tăng cường tình đoàn kết đặc biệt và mọi sự quan hệ giữa hai nước, xây dựng đường biên giới hữu nghị lâu dài giữa hai nước. Hai đoàn nhiệt liệt biểu dương tinh thần quyết tâm, tích cực khắc phục mọi khó khăn vươn lên hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên kỹ thuật, lực lượng biên phòng, dân công trong thời gian qua; đồng thời nhiệt liệt hoan nghênh tinh thần phục vụ, đóng góp phần tích cực vào công tác phân giới và cắm mốc của nhân dân các dân tộc hai bên biên giới. Nhiệm vụ tuy nặng nề, khó khăn và rất mới mẻ đối với cả hai bên, nhưng với tinh thần đồng chí anh em, hai bên vừa làm vừa học tập lẫn nhau, làm đến đâu rút kinh nghiệm đến đó, nên công việc càng làm càng tốt, càng có kết quả, càng được nhanh chóng.

        + Hai đoàn khẳng định rằng những nguyên tắc, nội dung, biện pháp nêu trong Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước, các biên bản ngày 3-7-1978, ngày 24-01-1979 ký tại Viêng Chăn và ngày 20-11-1978 ký tại Lao Bảo của Uỷ ban liên hợp là đúng đắn và cần được tiếp tục thực hiện.

        Qua trao đổi ý kiến, hai đoàn nhất trí đúc rút một số kinh nghiệm thành 4 chỉ thị chính thực của Uỷ ban liên hợp để hướng dẫn các địa phương, chỉ đạo các đội, tổ tiếp tục tiến hành công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc các đoạn còn lại cho đến khi hoàn thành trên toàn tuyến:

        (1) Chỉ thị về nguyên tắc đi phân giới trên thực địa và cắm mốc;
        (2) Chỉ thị về quy cách làm, cắm mốc và chụp ảnh mốc quốc giới;
        (3) Chỉ thị về cách thức vẽ sơ đồ đường biên giới tỷ lệ 1/25.000 và sơ đồ vị trí từng mốc tỷ lệ 1/10.000;
        (4) Chỉ thị về cách thức làm các văn kiện sau khi phân giới trên thực địa và cắm mốc xong.

        - Phương hướng công tác phân giới và cắm mốc năm 1980 - 1981:

        + Hai bên quyết tâm thực hiện ý định của hai Bộ Chính trị Trung ương hai Đảng là làm nhanh, làm tốt, làm gọn, đúng với Hiệp ước và các biên bản của Uỷ ban liên hợp. Năm 1980 và mùa khô 1980 - 1981 cố gắng cơ bản thực hiện xong việc phân giới và cắm mốc trên toàn tuyến. Cụ thể:
Đầu năm 1980 triển khai làm các đoạn K, L, M, N, O, P giữa các tỉnh Bình Trị Thiên, Nghệ Tĩnh với các tỉnh Khăm-muộn, Xiêng-khoảng. Mỗi bên tổ chức 4 đội, cố gắng đến tháng 7-1980 đi thực địa xong để tháng 8, 9, 10 làm các văn bản.

        Cuối năm 1980 (từ tháng 11) sang đầu năm 1981 triển khai làm các đoạn I, H, G, E, D, C, B, A giữa các tỉnh Thanh Hoá, Sơn La, Lai Châu và tỉnh Hủa-phăn, Luổng-phạ-băng, Phông-sa-lỳ và phần còn lại của các tỉnh Nghệ Tĩnh và Hủa-phăn.

        Tổ chức lực lượng: Mỗi bên tổ chức bốn đội. Ngay từ bây giờ, các địa phương cần khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để đầu tháng 11-1980 triển khai được thì mới hoàn thành được kế hoạch vào cuối mùa khô 1980 - 1981.

        + Dự kiến lịch triển khai:

        Tháng 11-1980 đến tháng 12-1980: Một đội làm đoạn I dài khoảng 110 km giữa các tỉnh Nghệ Tĩnh và Hủa-phăn.

        Tháng 11-1980 đến tháng 02-1981: Một đội làm hai đoạn G, H dài khoảng 218 km giữa các tỉnh Thanh Hoá và Hủa-phăn.

        Tháng 11-1980 đến tháng 02-1981: Một đội làm hai đoạn D , E dài khoảng 192 km giữa các tỉnh Sơn La và Hủa-phăn.

        Tháng 11-1980 đến tháng 4-1981: Một đội làm hai đoạn A, B dài khoảng 290 km giữa các tỉnh Lai Châu và Phông-sa-lỳ.

        Đội nào làm xong trước sẽ tiếp tục làm đoạn C dài khoảng 102 km giữa các tỉnh Lai Châu và Luổng-phạ-băng.

        Trường hợp tỉnh Bình Trị Thiên, Nghệ Tĩnh và tỉnh Khăm-muộn phải kéo dài thời gian vì gặp nhiều khó khăn về điều kiện thời tiết, địa hình, vận chuyển tiếp tế, các tỉnh Thanh Hoá, Sơn La, hai Châu và các tỉnh Hủa-phăn, Luổng-phạ-băng và Phông-sa-lỳ cũng phải khẩn trương chuẩn bị để có thể triển khai được càng sớm càng tốt, tranh thủ tối đa thuận lợi về thời tiết mùa khô 1980 - 1981.

        + Củng cố kết quả đạt được trong công tác phân giới và cắm mốc các tỉnh phía Nam, bước đầu nghiên cứu việc phối hợp quản lý hệ thống mốc đã cắm và quản lý đường biên giới giữa hai nước.

        + Tăng cường giáo dục cho nhân dân giữ gìn đoàn kết hữu nghị, xây dựng đường biên giới hữu nghị lâu dài giữa hai nước, thực hiện quy chế biên giới giữa hai nước.

        + Chuẩn bị việc song phương kiểm tra đường biên giới và mốc ở các tỉnh phía Nam. Bên nào có điều kiện thì đơn phương kiểm tra sau đó sẽ thông báo cho bên kia biết, không được thay đổi vị trí mốc, nếu có vấn đề gì mới thì cùng với bên kia bàn bạc giải quyết.

        + Chuẩn bị Nghị định thư cho toàn tuyến (có thể bắt đầu từ giữa năm 1981).

        + Giữ đều sinh hoạt của Uỷ ban liên hợp (6 tháng một lần), một lần họp ở Việt Nam, một lần họp ở Lào.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 04 Tháng Mười Một, 2015, 02:34:57 AM
        5) Cuộc họp Khoá V của Uỷ ban liên hợp về phân giới trên thực địa và cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào, tại Viêng Chăn từ ngày 15-9-1981 đến ngày 16-10-1981

        Đoàn Việt Nam gồm 3 người do ông Lưu Văn Lợi làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 4 người do ông Thoáng Sa Vắt Kháy Khăm Phi Thun làm Trưởng đoàn.

        Ngày 16-10-1981, hai bên ký biên bản làm việc chung, trong đó đã thoả thuận những vấn đề sau:

        - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch công tác trong một năm qua:

        + Các tỉnh Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên cùng với các tỉnh Xiêng-khoảng, Khăm-muộn đã khắc phục nhiều khó khăn phức tạp về địa hình, thời tiết và vận chuyển tiếp tế, hoàn thành tốt công tác phân giới trên thực địa trên 60 km đường biên giới và cắm được 51 mốc bê tông cốt thép trên các đoạn K, L, M, N, O, P. Các văn kiện ghi nhận kết quả phân giới trên thực địa và cắm mốc các đoạn nói trên (Biên bản miêu tả đường biên giới và sơ đồ đường biên giới tỷ lệ 1/25.000, biên bản cắm từng mốc và sơ đồ vị trí mốc tỷ lệ 1/10.000, ảnh chụp từng cốt mốc) đã được ký kết chính thức ngày 22-8-1981 tại Huế (Việt Nam).

        + Các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh cùng với các tỉnh Phông-sa-lỳ, Luổng-phạ-băng, Hủa-phăn đã triển khai 5 đội đồng loạt đi thực địa và sau hơn 4 tháng đã hoàn thành cơ bản về công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc các đoạn A, B, C, D, E, G, H, I (phân giới được trên 80 km đường biên giới, cắm được 58 mốc bê tông cốt thép).

        Hiện nay, tuy còn khoảng 80 km đường biên giới chưa làm xong, hai đoàn tin tưởng rằng các tỉnh có liên quan sẽ nhanh chóng hoàn thành nốt các đoạn còn lại sau khi lãnh đạo Đảng và Nhà nước hai bên cho chủ trương giải quyết những vấn đề tồn tại ở thực địa ngoài phạm vi thẩm quyền của Uỷ ban liên hợp.

        + Việc chuyển giao các khu vực cần chuyển giao cho nhau cũng tiến hành tốt giữa các tỉnh Nghệ Tĩnh và tỉnh Xiêng-khoảng. Các biên bản xác nhận việc tỉnh Nghệ Tĩnh chuyển giao cho tỉnh Xiêng-khoảng khu vực bản Chuội Khăm và tỉnh Xiêng-khoảng chuyển giao cho tỉnh Nghệ Tĩnh khu vực bản Đen đen thuộc xã Phá Vén cũng được ký kết tại Huế ngày 22-8-1981. Còn việc tổ chức lễ chuyển giao, hai tỉnh nói trên sẽ tiến hành trong tháng 10-1981 này. Nhân dân ở các vùng chuyển giao phấn khởi, quan hệ giữa hai bên biên giới vẫn duy trì tốt.

        + Việc tuyên truyền giáo dục cho các cơ quan, các ngành, các cấp, cho cán bộ, lực lượng vũ trang và bán vũ trang và nhân dân cư trú hai bên biên giới thực hiện nghiêm chỉnh những điều quy định đầu tiên về Quy chế biên giới vẫn được tiếp tục đẩy mạnh. Các trạm kiểm soát biên giới cũng đã chú ý thực hiện đúng đắn việc kiểm soát qua lại biên giới, có sự phối hợp hoạt động ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả hơn giữa hai bên.

        + Việc phối hợp quản lý hệ thống mốc đã cắm và quản lý biên giới giữa hai nước: Hai đoàn thấy rằng công tác phân giới và cắm mốc sắp hoàn thành, đường quốc giới chính thức giữa hai nước được xác định trên thực địa, một hệ thống mốc quốc giới đã được cắm trên toàn tuyến. Do đó việc đề ra quy chế biên giới giữa hai nước là rất cần thiết. Nhưng hai bên nhất trí cho rằng, trong tình hình hiện nay, chỉ nên quy định những điều thật cần thiết nhằm mục đích để các nhà chức trách hai bên hiểu những việc cần làm để quản lý đường biên giới, hệ thống mốc quốc giới, hiểu trách nhiệm, quyền hạn và chế độ làm việc của mình: vấn đề qua lại biên giới; vấn đề giữ gìn an ninh vùng biên giới; vấn đề sử dụng sông, suối biên giới; vấn đề bảo vệ rừng; vấn đề săn bắn; nhiệm vụ quyền hạn và chế độ làm việc của đồn trưởng biên phòng hai bên. Hai đoàn nhất trí cho rằng bản Quy chế biên giới này là một văn kiện rất quan trọng cần làm dưới hình thức một Hiệp định do đại diện hai Chính phủ ký.

        + Tuyến biên giới Việt Nam - Lào là tuyến dài nhất so với các tuyến biên giới khác trong cả hai nước, địa hình toàn rừng núi, hiểm trở, thời tiết có vùng rất khắc nghiệt, lực lượng đi làm ở thực địa của cả hai bên đều chưa có kinh nghiệm. Tuy vậy, chỉ trong vòng 3 năm, hai bên đã cùng nhau đi phân giới thực địa xong khoảng 1985 km đường biên giới, cắm được 185 mốc (chiếm 95% chiều dài toàn tuyến đo trên bản đồ), chất lượng tốt, bảo đảm làm đúng pháp lý, giữ vững quan hệ hữu nghị. Đây là một thành tích chung rất to lớn của cả hai bên, mà nguyên nhân cơ bản là truyền thống đoàn kết, quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai đảng, hai dân tộc sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của hai Bộ Chính trị Trung ương hai Đảng, tinh thần trách nhiệm cao, hợp tác tốt của cả hai bên trong Uỷ ban liên hợp. Hai Đoàn nhiệt liệt hoan nghênh và biểu dương tinh thần quyết tâm chịu đựng gian khổ, khắc phục mọi khó khăn, vươn lên hoàn thành nhiệm vụ của các cấp uỷ và chính quyền địa phương từ tỉnh đến huyện, xã; của cán bộ, nhân viên kỹ thuật, lực lượng biên phòng, dân công và đồng bào các dân tộc ở hai bên biên giới.

        - Những công tác chính trong thời gian tới: Để hoàn thành việc thực hiện Hiệp ước hoạch định quốc giới giữa hai nước Việt Nam - Lào, trong thời gian tới cần hoàn thành một số công tác chính sau:

        + Tiếp tục hoàn thành công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc trên các đoạn A, B, C, D, E, G, G, H, I để đầu năm 1982 ký được. Địa điểm ký sẽ là ở một thị xã ở Lào.

        + Soạn thảo Nghị định thư cuối cùng kết thúc toàn bộ công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc trên toàn tuyến để đại diện hai Nhà nước ký.

        + Chuẩn bị một hình thức ký kết để ghi nhận những sự sửa đổi nội dung Hiệp ước hoạch định quốc giới giữa hai nước ký ngày 18-7-1977.

        + Soạn thảo Hiệp định về Quy chế biên giới để đại diện hai Chính phủ ký đầu năm 1982 tới.

        + Tổ chức kiểm tra song phương hệ thống mốc quốc giới (có thể bắt đầu từ mùa khô 1982 - 1983).

        Hai bên biểu thị quyết tâm khắc phục khó khăn, hoàn thành các văn bản về phân giới trên thực đỉa và cắm mốc càng sớm càng tốt nhằm lập thành tích chào mừng kỷ niệm lần thứ năm việc ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác, Hiệp ước hoạch định quốc giới giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

        - Các khu vực có sự điều chỉnh so với hiệp ước:

        + Hai đoàn nhất trí giải quyết những vấn đề tồn tại của công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc như sau:

        Khu vực hai bản Na Cay, Na Hói (ở biên giới Sơn La - Hủa-phăn), hiệp ước quy định thuộc về Việt Nam, hai đoàn nhất trí để khu vực Na Cay, Na Hói thuộc về Lào.

        Đường biên giới ở khu vực Chiềng Khương: Giai đoàn nhất trí đường biên giới đi qua vị trí mốc tạm thời cắm năm 1976 sau cuộc khảo sát song phương của hai đoàn Việt Nam do đồng chí Cầm Biên, phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La dẫn đầu và đoàn Lào do đồng chí Xay Nha Vông, chủ tịch Uỷ ban Chính quyền tỉnh Hùa- phăn dẫn đầu. 

        Đường biên giới ở khu vực Ten Luông (ở biên giới Sơn La - Hủa- phăn), hai đoàn nhất trí theo đường mà chuyên viên hai bên đã nhất trí đề nghị.

        Đường biên giới ở khu vực Pu Ta mê (ở biên giới Sơn La - Hủa- phăn), hai đoàn nhất trí theo đường sống núi liên tục để bản Kẹo Muông hiện nay do Việt Nam quản lý hoàn toàn về Việt Nam và phá mốc E-6 cũ làm lại mốc mới.

        Khu vực Văng áng Ngước, Giêng Tần (ở biên giới Thanh Hoá - Hủa-phăn) lời văn trong Hiệp ước, bản đồ 1/100.000 đính theo Hiệp ước và địa hình thực tế không khớp nhau. Hai đoàn nhất trí đề nghị có sự sửa đổi đoạn biên giới trong hai khu vực đó cho thích hợp.

        Khu vực ba bản Na Luông, Na Ùn, Na Son và khu vực bản Đục: Ba bản Na Luông, Na Ùn, Na Son trước đây thuộc Lào quản lý, Hiệp ước quy định thuộc về Việt Nam; Bản Đục trước đây thuộc về Việt Nam quản lý, Hiệp ước quy định thuộc về lào. Để chiếu cố nguyện vọng của nhân dân ở hai khu vực nói trên, hai đoàn nhất trí đề nghị có sự điều chỉnh, sửa đổi Hiệp ước đối với đoạn biên giới ở hai khu vực đó để Na Luông, Na Ùn, Na Son về Lào, bản Đục về Việt Nam.

        + Khu vực Na Hàm (ở biên giới Thanh Hoá - Hủa-phăn): Hiệp ước đã giải quyết đường biên giới ở đây theo Biên bản khảo sát ngày 13-3- 1976 của hai tỉnh Thanh Hoá và Hủa-phăn để Na Hàm về Lào. Phía Lào đề nghị có sự điều chỉnh theo nguyện vọng của nhân dân theo khu vực quản lý thực tế lịch sử của địa phương. Phía Việt Nam nói vấn đề này đã rõ sau cuộc khảo sát có cả đại diện các tỉnh, huyện và xã có liên quan tham gia, không nên đặt ra. Cuối cùng hai đoàn nhất trí hai tỉnh Thanh Hoá và Hủa-phăn nghiên cứu vấn đề này và báo cáo lên Trung ương giải quyết.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 05 Tháng Mười Một, 2015, 01:50:26 AM
        6) Cuộc họp Khoá VI của Uỷ ban liên hợp về phân giới trên thực địa và cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào, tại Viêng Chăn từ ngày 30-6-1984 đến ngày 05-7-1984

        Đoàn Việt Nam gồm 8 người do ông Lưu Văn Lợi làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 9 người do ông Thoáng Sa Vắt Kháy Khăm Phi Thun làm Trưởng đoàn.

        Ngày 05-7-1984, hai bên ký biên bản làm việc chung, trong đó đã thoả thuận những vấn đề sau:

        - Hoạch định lại đường biên giới khu vực Na Hàm: Qua nghiên cứu Biên bản ngày 13-4-1984 giữa hai tỉnh Thanh Hoá và Hủa-phăn và sau khi đã hỏi lần cuối cùng ý kiến của đồng chí Lê Ngọc Đồng, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, đại diện tỉnh Thanh Hoá và đồng chí Chui Cha Lơn Xúc, Uỷ viên chính quyền tỉnh, đại diện tỉnh Hủa-phăn. Hai đoàn đại biểu trong Uỷ ban liên hợp nhất trí chấp nhận đề nghị của hai tỉnh về việc hoạch định lại đường biên giới khu vực Na Hàm theo sơ đồ tỷ lệ 1/25.000 có chữ ký của hai đồng chí phụ trách kỹ thuật và hai trưởng đoàn đính theo biên bản này.

        Hai đoàn sẽ báo cáo sự thoả thuận đó lên Chính phủ của mình để hai Chính phủ chuẩn y và cho phép tiến hành trên thực địa và cắm mốc.

        - Hai bên sẽ chỉ thị cho hai tỉnh Lai Châu và Luổng-phạ-băng nhanh chóng hoàn thành việc cắm mốc C-5 và phân giới trên thực địa từ mốc C-5 đến mốc C-6 theo biên bản khoá V của Uỷ ban liên hợp và sơ đồ tỷ lệ 1/25.000 đính theo biên bản đó. Thực hiện thoả thuận của hai Bộ Chính trị trong cuộc hội đàm ngày 27-01-1984 đồng ý cho nhân dân ba bản sử dụng 8 km2 Púng Đẹt. Hai đoàn trong Uỷ ban liên hợp nhất trí giao cho hai tỉnh Lai Châu và Luổng-phạ-băng gặp nhau lại càng sớm càng tốt để bàn bạc việc cho nhân dân bản Na Luông, Na Ùn, Na Son được sử dụng khu vực đó trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam và trên tinh thần đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trên tình anh em.

        -   Hai đoàn nhất trí xúc tiến càng nhanh càng tốt kế hoạch hoàn chỉnh các biên bản phân giới và cắm mốc, sơ đồ đường biên giới, biên bản cắm từng mốc, sơ đồ vị trí từng mốc từ đoạn A đến đoạn I để kịp làm Nghị định thư cuối cùng. Để có đủ sơ đồ theo yêu cầu của công việc làm văn bản, hai đoàn thấy cần thiết phải in sơ đồ tỷ lệ 1/25 000 thêm một số nữa và thống nhất phía Lào gửi phim cho phía Việt Nam và phía Việt Nam đảm nhiệm việc in. Hai đoàn nhất trí sẽ tiến hành việc làm các văn bản nói trên tại Việt Nam. Về thời gian, hai đoàn sẽ quyết định sau.

        - Về Nghị định thư: Hai đoàn sẽ bàn việc soạn thảo Nghị định thư cuối cùng để kết thúc công tác phân giới và cắm mốc trên toàn tuyến trong khoá họp thứ VII của Uỷ ban liên hợp.

        - Hai đoàn nhất trí sẽ bàn việc soạn thảo Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước ký ngày 18-7-1977 ghi nhận những sự sửa đổi đường biên giới ở một số nơi trên một số đoạn so với đường biên giới miêu tả trong Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước và thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 đính theo Hiệp ước trong khoá họp thứ VII của Uỷ ban liên hợp.

        - Về Quy chế biên giới: Hai đoàn nhất trí giao chuyên viên hai bên soát lại và tu chỉnh những nội dung trong dự thảo Hiệp định về Quy chế biên giới mà trước đây chuyên viên hai bên đã bàn nhưng chưa xong, cố gắng hoàn thành để kịp báo lên Uỷ ban liên hợp trong khoá họp thứ VII tới của Uỷ ban liên hợp. Về thời gian, hai đoàn nhất trí sẽ tiến hành công việc này trong dịp chuyên viên hai bên làm các văn bản về phân giới và cắm mốc.

        - Hai bên sẽ chi thị cho các địa phương có liên quan chuẩn bị kế hoạch vật tư để sửa hoặc làm lại 18 mốc ở các đoạn C, D, E, G, H, O, Q, R, S, đã được kiểm tra song phương và làm biên bản xác nhận tình trạng hư hỏng hoặc bị mất, mỗi bên tăng cường việc giáo dục nhân dân biên giới có trách nhiệm quản lý và bảo vệ mốc, ngăn chặn những phần tử xấu cố tình phá hoại mốc.

        - Trong khoá họp thứ IV của Uỷ ban liên hợp ngày 10-6-1980 hai đoàn đã thoả thuận định kỳ sinh hoạt của Uỷ ban liên hợp 6 tháng một lần, nhưng thời gian qua không thực hiện được, do đó từ nay hai đoàn sẽ cố gắng thực hiện mỗi năm họp hai lần luân phiên, một lần ở Việt Nam, một lần ở Lào.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 06 Tháng Mười Một, 2015, 02:29:54 AM
        7) Cuộc họp Khoá VII của Uỷ ban liên hợp về phân giới trên thực địa và cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào, tại Viêng Chăn từ ngày 5-12-1985 đến ngày 11-12-1985

        Đoàn Việt Nam gồm 6 người do ông Lưu Văn Lợi làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 7 người do ông Khăm Phân Bút Đa Khăm, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, làm Trưởng đoàn.

        Ngày 24-01-1986, hai bên ký biên bản làm việc chung, trong đó hai bên đã thoả thuận những vấn đề sau:

        - Hai đoàn rất hài lòng nhận thấy mặc dù hai nước đang gặp nhiều khó khăn trên bước đường trưởng thành, đặc biệt là phải đối phó với âm mưu xâm lược, gây rối, uy hiếp, chia rẽ của bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh cấu kết vôi đế quốc Mỹ và bọn phản động tay sai khác, nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của hai Bộ chính trị Trung ương hai Đảng, sự nỗ lực của cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương và của anh em cán bộ, nhân viên, lực lượng biên phòng, dân công đi thực địa, công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Lào đã kết thúc thắng lợi với việc cắm xong mốc cuối cùng ngày 24-8-1984. Từ nay giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã có một đường biên giới chính thức xác định bằng Hiệp ước và đánh dấu bằng một hệ thống mốc chính quy.

        - Về việc soạn thảo các văn bản pháp lý của giai đoạn kết thúc: Qua nghiên cứu trao đổi, hai đoàn đã thống nhất nội dung của Hiệp ước bổ sung ghi nhận những sự sửa đổi đường biên giới ở một số đoạn so với đường biên giới đã được hoạch định theo Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước ký ngày 18-7-1977 và thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 đính theo Hiệp ước và nội dung của Nghị định thư xác nhận về mặt pháp lý công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Lào. Hai đoàn sẽ báo cáo sự thoả thuận đó lên Chính phủ của mình để hai Chính phủ chuẩn y trước khi ký kết chính thức Hiệp ước bổ sung.

        - Để chuẩn bị việc thi hành Điều IV của Hiệp ước bổ sung hai đoàn thống nhất:

        + Về các mốc quốc giới trên các đoạn sông, suối biên giới được sửa đổi theo nguyên tắc nói ở Điều VII của Hiệp ước bổ sung, hai đoàn thoả thuận xử lý như sau:

        Số mốc ở ngã ba sông, suối như các mốc B-13, K-1, K-2, L-5, R-2, R-7: Cắm thêm mỗi nơi hai mốc mới ở hai bên bờ đối diện với mốc cũ hình thành nhóm ba mốc, thống nhất với mốc cũ về quy cách và nội dung trên mặt mốc (trừ năm xây mốc, xây năm nào lấy năm ấy). Riêng mốc R-2 là mốc gỗ sẽ được thay thế bằng mốc bê tông cốt thép theo quy cách áp dụng cho toàn tuyến và thay lại dòng chữ "quốc giới giữa Việt Nam và Lào" bằng chữ "Việt Nam" nếu ở phía Việt Nam và chữ "Lào" nếu ở phía Lào, năm xây mốc vẫn lấy năm cũ;

        Số mốc ở ngã ba khe suối nhỏ như các mốc K-4, K-5 không cần cắm thêm theo nhóm mốc, chỉ sửa lại số đo trên sườn mốc cho đúng với cự ly đường biên giới qua điểm hợp lưu ở ngã ba khe và suối;

        Số mốc cắm trên đường biên giới ở điểm sống núi xuống sông, suối như các mốc B-7, B-8, B-12, L-3, R-8, S-4 giữ nguyên không thay đổi;

        Đối với các đoạn biên giới đi một bên bờ nay chuyển xuống giữa dòng sông, suối biên giới chỉ cần để mốc ở đầu vào và mốc ở đầu ra. Số thứ tự của hai mốc đó giữ nguyên như cũ. Sẽ phá hủy các mốc ở giữa hai mốc đó (L-4, R-3, R-4, R-5, R-6), cùng với việc xoá vị trí của nó trên sơ đồ liên quan.

        + Vẽ lại 21 (hai mươi mốt) sơ đồ tỷ lệ 1/25.000 mà trước đây vẽ ký hiệu đường biên giới đi theo một bên bờ của sông, suối biên giới nay được sửa đổi theo Điều VII của Hiệp ước bổ sung.

        - Hai đoàn thống nhất kế hoạch xây mới hoặc xây lại hoặc tu sửa những mốc bị nước cuốn trôi, bị hư hỏng, bị phá hoại sau đây:

        Cắm lại mốc L-1 và R-1 theo thể loại mốc đôi ở hai bên đầu cầu;

        Thay ba mốc gỗ Q-14, Q-16, Q-17 bằng mốc bê tông cốt thép theo đúng nội quy, quy cách, chất liệu như hệ thống mốc đã cắm. Chú ý thay dòng chữ "Quốc giới giữa Việt Nam - Lào" ở mặt mốc như các mốc khác;

        Tăng cường gia cố những mốc bị sụt lún, vỡ nền như các mốc B-9, D-6, E-8, H-6, K-6, O-2, Q-12, R-7, R-8, R-12, T-22, T-23, T-24. Yêu cầu bảo đảm đúng nguyên trạng về vị trí và tư thế cột mốc;

        Sửa chữa các mốc bị sứt mẻ, hỏng nhẹ như các mốc: B-3, B-4, C-6, E-7, G-2, G-9, H-5, I-5, I-7, K-2, K-3, K-4, K-5, L-2, L-7, N-3, Q-11, R-10, S-10.

        Việc xây mốc mới hoặc xây lại và tăng cường gia cố sửa chữa các mốc quốc giới trên đây sẽ được ghi vào biên bản chính thức, có sơ đồ vị trí, ảnh từng mốc kèm theo (riêng loại mốc được tăng cường gia cố, sửa chữa nhẹ thì không cần vẽ sơ đồ vị trí mốc). Những mốc huỷ bỏ cũng cần có biên bản ghi nhận.

        Khi tiến hành việc thay thế các loại mốc gỗ hoặc tăng cường gia cố những mốc bị sụt lún, vỡ nền, nếu thấy vị trí mốc cũ không bảo đảm thì được xác định vị trí mới nhưng không được làm thay đổi vị tn đường biên giới.

        - Hai đoàn thấy rằng việc kết thúc công tác phân giới và cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Lào là sự kiện chính trị có tác dụng cổ vũ tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân hai nước góp phần củng cố và tăng cường liên minh chiến đấu giữa hai nước Việt Nam - Lào, giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, đồng thời nêu rõ thiện chí hoà bình của hai nước, khác hẳn với chính sách biên giới của các nước láng giềng khác thù địch. Hai bên nhất trí kiến nghị lên chính phủ hai nước:

        Uỷ ban liên hợp ra thông cáo nói lên kết quả của công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Lào và ý nghĩa của thắng lợi đó;
        Lãnh đạo hai nước trao đổi điện chúc mừng;
        Báo, đài, hai bên đưa tin và có bài xã luận, bình luận;
        Bên này sẽ khen thưởng những tập thể, đơn vị có thành tích xuất sắc của bên kia trong quá trình phân giới trên thực địa và cắm mốc.

        - Về Hiệp định về Quy chế biên giới: Trên cơ sở những nội dung đã được trao đổi sơ bộ giữa hai đoàn trong khoá họp này, hai bên nhất trí cố gắng hoàn chỉnh các văn bản nói trên vào đầu năm 1986 tới.

        - Khi Nghị định thư về phân giới trên thực địa và cắm mốc ký ngày 25-12-1985 có hiệu lực, Uỷ ban liên hợp sẽ họp khoá cuối cùng để tổng kết công tác, rút kinh nghiệm quá trình hoạt động trong thời gian qua và kiến nghị chương trình công tác thời gian tới để các cơ quan có trách nhiệm trực tiếp thực hiện.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 07 Tháng Mười Một, 2015, 05:40:09 AM
        8) Cuộc họp Khoá VII của Uỷ ban liên hợp về phân giới trên thực địa và cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào, tại Viêng Chăn từ ngày 20-6-1986 đến ngày 21-6-1986

        Đoàn Việt Nam gồm 5 người do ông Lê Minh Nghĩa, Phó trưởng ban Ban Biên giới làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 6 người do ông Khăm Phân Bút Đa Khăm làm Trưởng đoàn.

        Ngày 21-6-1986, hai bên ký biên bản làm việc chung, trong đó hai bên đã thoả thuận những vấn đề sau:

        - Hai đoàn hài lòng nhận thấy việc kết thúc thắng lợi công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc toàn bộ đường biên giới Việt Nam - Lào với việc ký kết Hiệp ước bổ sung và Nghị định thư ngày 24-01-1986 là một công trình lịch sử, sản phẩm của tình hữu nghị đặc biệt và phương pháp giải quyết mẫu mực giữa hai Đảng và hai nước anh em. Đây là biểu hiện rực rỡ của nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa hai nước là tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính dáng của nhau, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế, đáp ứng lòng thiết tha của nhân dân hai nước mong muốn có một biên giới chung hữu nghị lâu dài, góp phần tăng cường quan hệ đặc biệt, sự tin cậy lẫn nhau giữa hai Đảng và hai nước và do đó góp phần củng cố liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia. Phát huy kết quả thắng lợi có ý nghĩa to lớn về mặt chính trị, pháp lý vừa qua, hai bên đã thoả thuận những vấn đề sau đây nhằm thực hiện Hiệp ước bổ sung, Nghị định thư và biên bản khoá họp thứ VII của Uỷ ban liên hợp Việt Nam - Lào ký ngày 24-01-1986.

        - Hai bên quyết tâm thực hiện chủ trương của hai Bộ Chính trị Trung ương hai Đảng và của hai Chính phủ xây dựng biên giới Việt Nam - Lào thành biên giới hữu nghị anh em lâu dài giữa hai nước.

        - Hai bên cố gắng hoàn thành nhanh, gọn, tốt việc cắm mốc mới, xử lý những mốc không cần thiết trên các đoạn sông, suối biên giới được sửa đổi theo điều VII của Hiệp ước bổ sung ký ngày 24-01-1986; tu sửa những mốc quốc giới bị hư hỏng theo điều IV của biên bản khoá VII của Uỷ ban liên hợp Việt Nam - Lào.

        - Yêu cầu là làm nhanh, gọn, tốt nhưng phải bảo đảm đúng Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước ký ngày 18-7-1977, Hiệp ước bổ sung ký ngày 24-01-1986 và theo đúng những nguyên tắc, thể thức mà hai bên đã thoả thuận qua các khoá họp của Uỷ ban liên hợp.

        - Việc thực hiện những nhiệm vụ trên đây ở các tỉnh liên quan vẫn do Chính phủ hai nước trực tiếp chỉ đạo.

        - Kế hoạch cụ thể:

        + Từ quý III năm 1986 đến hết quý I năm 1987:

        Tỉnh Bình Trị Thiên cùng với tỉnh Sa-vẳn-nạ-khệt kết hợp với với việc cắm mốc mới và xử lý các mốc không cần thiết, tiến hành việc kiểm tra song phương đường biên giới và hệ thống mốc quốc giới đoạn R.
Tỉnh Bình Trị Thiên cùng với bốn tỉnh Khăm-muộn, Sa-vẳn-nạ-khệt, Sa-la-van, Sê-kông: Cắm thêm ở vị trí mốc R-2, R-7 mỗi nơi hai mốc bằng bê tông cốt thép hình thành nhóm ba mốc. Mốc gỗ R-2 cũ nay thay bằng bê tông cốt thép; Huỷ bỏ các mốc R-3, R-4, R-5, R-6; Cắm mốc R-1(mốc đôi) ở hai bên cầu Chuội Xà Ợt; Xây lại mốc Q-8; Thay ba mốc gỗ Q-14, Q-16, Q-17 bằng bê tông cốt thép; Tăng cường gia cố chân móng các mốc N-13, O-2, Q-12, R-7, R-8, R-12 và sửa chữa, sơn lại các mốc Q-11, R-10, S-10.

        Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cùng với tỉnh Sê-kông: Tăng cường gia cố chân móng các mốc T-7, T-8; Sơn lại các mốc từ T-1 đến T-16.

        Tỉnh Gia Lai - Kon Tum cùng với ba tỉnh Sa-la-van, Sê-kông, Ắt-tạ-pư: Tăng cường gia cố chân móng các mốc T-20, T-23, T-24; Sửa chữa và sơn lại các mốc T-25, U-2.

        + Từ quý IV năm 1986 đến cuối năm 1987:

        Tỉnh Nghệ Tĩnh cùng với tỉnh Xiêng-khoảng kết hợp với việc cắm mốc mới, xử lý những mốc không cần thiết, tiến hành việc kiểm tra song phương đường biên giới và hệ thống mốc quốc giới hai đoạn K và L.

        Tỉnh Nghệ Tĩnh cùng với ba tỉnh Bô-ly-khăm-xay, Xiêng-khoảng, Hủa- phăn: Cắm thêm ở vị trí các mốc K-1, K-2, K-5 mỗi nơi hai mốc bằng bê tông cốt thép hình thành nhóm mốc ba mốc; Huỷ bỏ mốc L-4; Cắm mốc L- 1 (mốc đôi) ở hai bên cầu Nậm Cắn; Tăng cường gia cố chân móng mốc K-6; Sửa chữa, sơn lại' các mốc I-5, I-7, K-2, K-3, K-4, K-5, L-2, L-7, N-1, N-3; Sửa lại số đo khắc trên sương mốc K-4, K-5 cho đúng khoảng cách từ mốc đến điểm hợp lưu ở giữa ngã ba sông, suối biên giới.

        Tỉnh Thanh Hoá và tỉnh Sơn La cùng với tỉnh Hủa-phăn: Xây lại mốc H-6; Tăng cường gia cố chân móng các mốc D-6, E-8, G-9; Sửa chữa và sơn lại các mốc C-9, E-7, G-1, G-2, G-5, H-5.

        Tỉnh Lai Châu cùng với hai tỉnh Phông-sa-lỳ, Luổng-phạ-băng: Cắm thêm ở vị trí mốc B-13 hai mốc bằng bê tông cốt thép hình thành nhóm ba mốc; Tăng cường gia cố chân móng các mốc B-5, B-9; Sửa chữa và sơn lại các mốc B-3, B-4, C-6.

        + Làm các văn bản pháp lý, dự kiến làm hai đợt:

        Đợt 1: Sau khi các tỉnh Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng Gia Lai - Kon Tum và các tỉnh Khăm-muộn, Sa-vẳn-nạ-khệt, Sa-la-van, Sê-kông, Ắt-tạ-pư hoàn thành công việc ở thực địa, hai bên sẽ tiến hành làm các văn bản pháp lý liên quan.

        Đợt 2: Sau khi các tỉnh Nghệ Tĩnh, Thanh Hoá, Sơn La, Lai Châu và các tỉnh Khăm-muộn, Bô-ly-khăm-xay, Xiêng-khoảng, Hủa-phăn, Luổng-phạ-băng, Phông-sa-lỳ hoàn thành công việc ở thực địa, hai bên sẽ tiến hành làm các văn bản pháp lý liên quan (kể cả Nghi định thư xác nhận về mặt pháp lý việc cắm mốc mới, xử lý các mốc không cần thiết trên các sông, suối biên giới được sửa đổi theo Điều VII của Hiệp ước bổ dung). Địa điểm, hai bên sẽ thoả thuận sau.

        - Tổ chức lực lượng: Hai đoàn nhất trí kiến nghị ở các tỉnh có kết hợp kiểm tra song phương đường biên giới và hệ thống mốc quốc giới ở các đoạn K, L, R thì tổ chức mỗi bên một đội gọn, nhẹ nhưng phải có đủ thành phần cần thiết như đội trưởng, đội phó, cán bộ kỹ thuật đo đạc và bản đồ, cán bộ kỹ thuật mốc, y tế, thông tin, nhiếp ảnh, cán bộ địa phương (đồn biên phòng hoặc chính quyền cấp xã). Số lượng mỗi bên do tỉnh quyết định không nhất thiết phải ngang nhau nhưng phải cần phải có đủ thành phần như nói trên, tốt nhất là bố trí những đồng chí trước đây đã từng làm các công việc trên.

        Còn ở những đoạn chỉ có việc tăng cường gia cố nhân móng mốc, sửa chữa nhẹ thì tỉnh có liên quan tổ chức thành từng tổ nhỏ chủ yếu là dựa vào lực lượng đồn biên phòng tại chỗ, có cán bộ kỹ thuật xây mốc, cán bộ kỹ thuật đo đạc và bản đồ đi theo.

        Các tỉnh liên quan thống nhất kế hoạch huy động dân công tại chỗ phục vụ cho việc phát đường, dẫn đường,, việc vận chuyển tiếp tế, khai thác vật liệu.

        - Phương pháp:

        + Đối với ba đoạn K, L, R đi thông tuyến để kiểm tra đường biên giới có còn nhân biết được không? Tình trạng các mốc quốc giới đã cắm, tình hình xâm canh, xâm cư của nhân dân dọc biên giới. Sau khỉ kiểm tra xong từng đoạn, hai đoàn thống nhất làm biên bản ghi nhận kết quả báo cáo lên cấp trên.

        + Chú ý khi đi kiểm tra hai đoàn phát hiện thêm những mốc bị hư hỏng cần phải tu sửa, ngoài những mốc đã nói trên, nếu mốc bị hư hỏng nhẹ, hai đoàn có thể tu sửa ngay tại chỗ, những mốc hư hỏng nặng, hai bên báo cáo xin ý kiến cấp trên của mỗi bên.

        + Căn cứ đường biên giới đã được xác định chính thức tại thực địa để kiểm tra vị trí mốc đã cắm, xác định vị trí các mốc cần cắm mới hoặc xây mới hoặc xây lại.

        + Việc xây mới, hoặc xây lại, việc huỷ những mốc không cần thiết cũng như việc tăng cường gia cố, sửa chữa các mốc quốc giới nói trên xây cần làm theo đúng mục a của Điều 3, Điều 4 của biên bản khoá họp thứ VII của Uỷ ban liên hợp ký ngày 24-01-1986.

        Riêng đối với những mốc phải gia cố chân móng hoặc sửa chữa nhẹ, hai đoàn làm biên bản ngay tại chỗ.

        - Công tác bảo đảm:

        + Bảo đảm kỹ thuật:

        Kỹ thuật hai bên phải bảo đảm dầy đủ tài liệu, sơ đồ, bản đồ liên quan, máy đo đạc, phương tiện kỹ thuật khác bảo đảm về kỹ thuật. Nếu có khó khăn thì hai bên hỗ trợ lẫn nhau;

        Kỹ thuật hai bên phải bảo đảm độ chính xác của đường biên giới và vị trí mốc;

        Trong việc thi công mốc, yêu cầu làm đúng quy trình, quy tắc, bảo đảm chất lượng cao. Những mốc mới cần chú ý tăng cương gia cố chân móng cho vững chắc.

        + Bảo đảm vật chất hậu cần:

        Các tỉnh Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng, Gia Lai - Kon Tum và các tỉnh Khàm-muộn, Sa-vẳn-nạ-khệt, Sa-la-van, Sê-kông, Ắt-tạ-pu khẩn trương chuẩn bị đầy đủ mọi vật tư, phương tiện để cuối quý III năm 1986 có thể triển khai được;

        Hai bên sẽ hỗ trợ lẫn nhau để giải quyết khó khăn về bảo đảm vật chất, hậu cần. Cần thông báo cho nhau biết những khó khăn cụ thể của bên mình để bên kia có thời gian chuẩn bị.

        - Ngay sau khi Hiệp ước bổ sung và Nghị định thư ký ngày 24-01- 1986 có hiệu lực, hai bên sẽ thông báo cho các tỉnh có liên quan biết để gặp nhau bàn và thống nhất kế hoạch thực hiện.

        - Hai đoàn nhất trí kiến nghị hai Chính phủ giao cho Uỷ ban liên hợp phân giới trên thực địa Việt Nam - Lào tiếp tục công việc của mình để tổ chức thực hiện Điều VIII Hiệp ước bổ sung. Uỷ ban liên hợp sẽ chấm dứt hoạt động sau khi hoàn thành nhiệm vụ nói trên. Trong thời gian còn hoạt động, Uỷ ban liên hợp này được giao thêm nhiệm vụ tổ chức thực hiện Điều 4 biên bản khoá VII của Uỷ ban liên hợp và các công việc khác có liên quan.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 08 Tháng Mười Một, 2015, 04:36:06 AM
        9) Cuộc họp Khoá IX của Uỷ ban liên hợp về phân giới trên thực địa và cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào, tại Viêng Chăn từ ngày 14-10-1987 đến ngày 17-10-1987

        Đoàn Việt Nam gồm 5 người do ông Lưu Văn Lợi làm Trưởng đoàn. Đoàn Lào gồm 6 người do ông Khăm Phân Bút Đa Khăm làm Trưởng đoàn.
Ngày 17-10-1987, hai bên ký biên bản làm việc chung, trong đó hai bên đã thoả thuận những vấn đề sau:

        - Đánh giá tình hình thực hiện Hiệp ước bổ sung hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước Việt Nam - Lào và biên bản khoá họp thứ VIII của Uỷ ban liên hợp. Quán triệt tinh thần chủ trương làm nhanh, làm gọn, làm tốt của hai Bộ Chính trị Trung ương hai Đảng, hai đoàn hài lòng nhận thấy hai bên đã có nhiều cố gắng, khắc phục mọi khó khăn, chỉ trong thời gian 5 tháng kể từ ngày 27-12-1986 đến cuối tháng 5-1987, đã hoàn thành tốt việc thực hiện Hiệp ước bổ sung và Biên bản khoá họp thứ VIII của Uỷ ban liên hợp Việt Nam - Lào.

        - Kết quả công tác tiến hành ở thực địa:

        Tỉnh Lai Châu (Việt Nam) cùng với hai tỉnh Phông-sa-lỳ, Luổng-phạ-băng (Lào) đã hoàn thành việc cắm nhóm ba mốc B-13; gia cố chân móng các mốc B-5 và B-9; sửa chữa các mốc B-3, B-4, C-6.

        Hai tỉnh Sơn La, Thanh Hoá (Việt Nam) cùng với hai tỉnh Luổng-phạ-băng, Hủa-phăn (Lào) đã hoàn thành việc gia cố chân móng các mốc H-6, D-6, E-8, G-9; sửa chữa và sơn lại các mốc C-9, E-7, G-1, G-2, G-5, H-5.

        Tỉnh Nghệ Tĩnh (Việt Nam) công với ba tỉnh Hủa-phăn, Xiêng-khoảng, Bô-ly-khăm-xay (Lào), cắm mốc đôi L-1; huỷ bỏ mốc L-4; sửa lại số đo ở sườn hai mốc K-4, K-5; gia cố chân móng mốc K-6; sửa chữa và sơn lại các mốc K-3, L-2, L-7, N-l, N-3. Việc sửa chữa hai mốc I-5 và I-7, hai tỉnh Nghệ Tĩnh và Hủa-phăn thoả thuận sẽ tiến hành cuối tháng 11-1987.

        Tỉnh Bình Trị Thiên (Việt Nam) cùng với ba tỉnh Khăm-muộn, Sa-vẳn-nạ-khệt, Sê-kông (Lào) đã hoàn thành việc cắm 02 nhóm ba mốc R-2, R-7, cắm mốc đôi R-1, huỷ bỏ các mốc R-3, R-4, R-5, R-6; xây lại mốc Q-8; thay ba mốc gỗ Q-14, Q-16, Q-17 bằng mốc bê tông cốt thép; gia cố chân móng các mốc N-13, O-2, Q-12, R-8, R-12; sửa chữa và sơn lại các mốc Q-11, R-10, S-10.

        Tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (Việt Nam) cùng với tỉnh Sê-kông (Lào) đã hoàn thành việc gia cố chân móng các mốc T-7, T-8; sơn lại các mốc từ mốc T-1 đến mốc T-16.

        Tỉnh Gia Lai - Kon Tum (Việt Nam) cùng với hai tỉnh Sê-kông, Ắt-tạ- pu (Lào) đã hoàn thành việc gia cố chân móng các mốc T-20, T-23, T-24; sửa chữa các mốc T-25, U-2; sơn lại các mốc từ mốc T-17 đến mốc T-27.
Hai tỉnh Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên (Việt Nam) và hai tỉnh Xiêng-khoảng, Sa-vẳn-nạ-khệt (Lào) đã tiến hành kiểm tra song phương một số đoạn biên giới đầu tiên và đã thu được những kết quả như: hai bên hiểu rõ thêm về đường biên giới và sự bảo đảm tôn trọng đường biên giới, tình trạng mốc quốc giới, sự xâm canh, xâm cư của nhân dân hai bên biên giới. Tuy trong đợt kiểm tra lần này, hai bên chưa có có điều kiện thực hiện đầy đủ theo yêu cầu đã được đề ra trong Biên bản khoá họp thứ VIII của Uỷ ban liên hợp, hai bên cũng đã rút ra được một số kinh nghiệm cần thiết cho việc tổ chức, chỉ đạo việc kiểm tra song phương sau này.

- Hai đoàn hài lòng nhận thấy rằng việc thực hiện Hiệp ước bổ sung và Biên bản khoá họp VIII của Uỷ ban liên hợp đạt kết quả tốt. Công tác tiến hành trên thực địa, công tác làm các văn bản pháp lý ghi nhận kết quả đã làm ở thực địa đúng với thể thức, quy cánh mà hai bên đã thoả thuận.
Đây là một thành tích chung rất to lớn của cả hai bên mà nguyên nhân cơ bản là truyền thống đoàn kết, quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai Đảng, hai dân tộc, sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của hai Bộ Chính trị, Trung ương hai Đảng, tinh thần trách nhiệm cao, hợp tác tốt của cả hai bên trong Uỷ ban liên lợp.

        Hai đoàn nhiệt liệt hoan nghênh và biểu dương tinh thần quyết tâm chịu đựng gian khổ, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành  nhiệm vụ của các cấp uỷ và chính quyền địa phương từ tỉnh đến huyện, xã; của cán bộ, nhân viên kỹ thuật, lực lượng biên phòng, dân công và đồng bào các dân tộc ở hai bên biên giới.

        - Hai đoàn vui mừng là ngày 16-10-1987, đồng chí Lưu Văn Lợi, Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam, đồng chí Khăm Phân Bút Đa Khăm, Trưởng đoàn đại biểu Lào trong Uỷ ban liên hợp, được uỷ nhiệm của Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào đã ký Nghị định thư bổ sung Nghị định thư về việc phân giới trên thực địa và cắm mốc toàn bộ đường biên giới Việt Nam - Lào.

        - Về Hiệp định Quy chế biên giới: Hai đoàn đã trao đổi nhất trí dự thảo Hiệp định về Quy chế biên giới để trình hai Chính phủ thông qua. Địa điểm, thời gian ký chính thức Hiệp định đó sẽ do hai bên thoả thuận qua con đường ngoại giao.

        - Căn cứ khoản 2 Điều VI Nghị định thư bổ sung, Uỷ ban liên hợp phân giới trên thực địa Việt Nam - Lào sẽ chấm dứt hoạt động sau khi Nghị định thư bổ sung có hiệu lực, hai đoàn kiến nghị Chính phủ hai nước giao cho cơ quan Biên giới Trung ương hai nước tiếp tục thực hiện những công việc còn lại nói trong các khoản 2 và 5 Điều II và khoản 1 Điều IV Nghị định thư về việc phân giới và cắm mốc ký ngày 24-01-1986.

        Sau một quá trình chuẩn bị các văn bản pháp lý về công tác phân giới cắm mốc, ngày 24-01-1986, Nghị định thư về việc phân giới và cắm mốc toàn bộ đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào được ký kết tại Viêng Chăn. Nghị định thư đã miêu tả đầy đủ đường biên giới đã được phân giới trên thực địa giữa hai nước, các mốc quốc giới đã được cắm, các khu vực đã được chuyển giao giữa hai bên theo đúng trình tự thủ tục và nguyên tắc của pháp luật và thực tiễn quốc tế. Kèm theo có đầy đủ các văn bản, bản đồ, sơ đồ pháp lý ghi nhận kết quả quá trình phân giới và cắm mốc. Nghị định thư gồm có 6 điều khoản với những nội dung chủ yếu là:

        Điều 1 xác nhận kết quả xác định trên thực địa toàn bộ đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào gồm 14 đoạn thể hiện bằng ký tự chữ cái theo thứ tự từ A đến U, được miêu tả và thể hiện trong 14 biên bản phân giới cắm mốc trên thực địa và 173 mảnh sơ đồ tỷ lệ 1/25.000 đính kèm theo biên bản.

        Điều 2 xác nhận đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào được đánh dấu bằng một hệ thống mốc quốc giới theo đúng quy cách và cách làm mà hai bên đã thoả thuận.

        Điều 3 hai bên xác nhận việc chuyên giao các khu vực đất đai từ Việt Nam cho phía Lào và từ Lào cho phía Việt Nam.

        Điều 4 xác định những đoạn biên giới mà các đội phân giới cắm mốc liên hợp chưa đến thực địa do có những khó khăn khách quan chưa thể khắc phục (tổng số có 18 đoạn) và hai đoạn biên giới ở vùng ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc và Việt Nam - Lào - Campuchia.

        Điều 5 quy định về các phụ lục (3 phụ lục) là bộ phận cấu thành của Nghị định thư và trở thành những phụ lục của Hiệp ước hoạch định biên giới.

        Điều 6 quy định Nghị định thư này là một phụ lục của Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1977 và Hiệp ước bổ sung năm 1986, đồng thời quy định Nghị định thư cần được Chính phủ hai bên phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày hai bên trao đổi văn kiện phê chuẩn.

        Thực hiện Hiệp ước bổ sung hoạch định biên giới ngày 24 tháng 01 năm 1986, từ ngày 25-12-1986 đến ngày 06-4-1987, hai bên đã phối hợp thực hiện việc sửa đổi toàn bộ 196 km đường biên giới đi một bên bờ sông, suối thành đường biên giới đi ở giữa dòng trên cả thực địa và bản đồ; cắm mới 06 cụm mốc ba, 02 cụm mốc đôi và xây lại 01 mốc đơn, đồng thời đã phá bỏ 05 mốc không cần thiết trên sông, suối biên giới.

        Ngày 16-10-1987, tại Viêng Chăn, hai bên ký Nghị định thư bổ sung ghi nhận toàn bộ kết quả công tác phân giới cắm mốc theo Hiệp ước bổ sung, kèm theo đó có toàn bộ các văn bản pháp lý của quá trình này, kết thúc quá trình phân giới và cắm mốc toàn bộ đường biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào. Nội dung Nghị định thư bổ sung gồm có 4 điều cụ thể là:

        Điều 1 nêu thoả thuận của hai bên về việc xác định đường biên giới trên thực địa trên các đoạn sông, suối biên giới được sửa đổi theo Điều 7 của Hiệp ước bổ sung theo hướng từ Bắc xuống Nam ở các đoạn B, I, K, L, R và S. Kết quả sửa đổi này được thể hiện lên các sơ đồ đường biên giới tỷ lệ 1/25.000 bằng ký hiệu vẽ vào giữa hoặc hai bên bờ sông, suối biên giới.

        Điều 2 xác nhận việt xử lý các mốc không còn phù hợp và cắm một số mốc mới trên tất cả các đoạn sông, suối biên giới nêu trong Điều II Nghị định thư bổ sung này.

        Điều 3 quy định các phụ lục đính kèm Nghị định thư bổ sung là bộ phận cấu thành Nghị định thư bổ sung và trở thành những phụ lục của Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia. Hai bên xác nhận việc chuyển giao các khu vực đất đai từ Việt Nam cho phía Lào và từ Lào cho phía Việt Nam.

        Điều 4 quy định Nghị định thư bổ sung này là một phụ lục của Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1977 và Hiệp ước bổ sung năm 1986, đồng thời quy định Nghị định thư bổ sung cần được Chính phủ hai bên phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày hai bên trao đổi văn kiện phê chuẩn. Uỷ ban liên hợp phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào sẽ chấm dứt hoạt động sau khi Nghị định thư bổ sung có hiệu lực.

        Việc hoàn thành công tác hoạch định và phân giới cắm mốc đường biên giới đã hoàn tất tốt đẹp một giai đoạn quan trọng là đã xác định được một đường biên giới chính xác rõ ràng trên thực địa, nhưng lại mở ra một giai đoạn mới trong quan hệ về biên giới giữa hai nước - giai đoạn xây dựng một đường biên giới Việt - Lào hoà bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác phát triển lâu dài.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 09 Tháng Mười Một, 2015, 12:14:59 AM
        
        4. ĐÀM PHÁN KÝ KẾT HIỆP ĐỊNH VỀ QUY CHẾ BIÊN GIỚI QUỐC GIA VIỆT NAM - LÀO

        Sau khi ký Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1977, để tạm thời duy trì sự ổn định ở khu vực biên giới tạo điều kiện cho công tác phân giới, cắm mốc trên thực địa, trong Khoá họp đầu tiên của Uỷ ban liên hợp phân giới cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào tại Viêng Chăn từ ngày 23-5 đến ngày 3-7-1978, hai bên đã ký Thoả thuận những quy định đầu tiên về quy chế biên giới giữa hai nước (Tài liệu tập huấn quản lý biên giới đất liền Việt Nam - Lào, Ban Biên giới Bộ Ngoại giao, tí.96-97). Bản quy chế này gồm có 14 điều với những nội dung chủ yếu là:

        Điều 1. Những quy định đầu tiên về việc qua lại biên giới Việt Nam - Lào nhằm bảo đảm tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước đúng với Hiệp ước hoạch định biên giới ký ngày 18-7-1977, để tạo thuận lợi cho việc làm ăn sinh sống của nhân dân hai bên biên giới làm cho nhân dân hai bên biên giới tích cực góp phần xây dựng đường biên giới hữu nghị anh em lâu dài giữa hai nước.

        Điều 2. Nhân dân hai bên biên giới được phép qua lại để giải quyết sinh hoạt bình thường: đi chợ, mua bán, trao đổi các hàng hoá cần thiết cho sản suất, đồi sống và đi lại thăm viếng bà con thân thuộc ở vùng biên giới bên kia.

        Điều 3. Để tăng cường tình đoàn kết đặc biệt giữa nhân dân hai nước và để bảo vệ tài sản của nhân dân cư trú hai bên biên giới đang làm nhiệm vụ cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo đường lối riêng của mỗi nước. Nhân dân các dân tộc ở hai bên biên giới có nhiệm vụ bảo vệ tốt tài sản như gia súc, (voi, ngựa, bò, trâu..) và hoa màu trong khu vực đất đai của mình không cho gia súc sang phía bên kia.

        Trong trường hợp gia súc đó lạc qua bên kia biên giới, nhà chức trách và nhân dân bên kia phải 'giúp đỡ trông coi, đồng thời báo ngay cho nhà chức trách, chủ gia súc bên này biết để sang nhận và chủ gia súc phải trả tiền công cho người trông giữ gia súc đó. Trong lúc gia súc còn dưới sự quản lý của mình, cấm không làm cho gia súc bị thương hoặc bị chết; nếu gia súc bị thương hoặc chết do cố tình làm hại phải bồi thường thoả đáng.

        Trường hợp gia súc phá hoại hoa màu, người chủ gia súc đó phải bồi thường ít hoặc nhiều tuỳ theo sự thoả thuận của hai bên (chủ gia súc và chủ hoa màu cùng nhau báo cáo xin sự giúp đỡ của chính quyền địa phương của hai bên).

        Điều 4. Vì quyền lợi trước mắt và lâu dài giữa hai nước, nhân dân hai bên biên giới cấm không được phá rừng và không được làm rẫy sang bên phía bên kia nữa. Trường hợp nhân dân hai bên biên giới ở nơi nào đã làm rẫy và làm ruộng, trồng hoa màu như: ngô, lúa,, khoai và cây có bột khác trước khi công bố những quy định này nhưng chưa kịp thu hoạch thì họ được phép đi lại phía bên kia để chăm sóc và thu hoạch cho hết vụ mùa đó thôi.

        Điều 5. Nhân dân ở phía bên này hoặc bên kia biên giới trong sinh hoạt đời sống đã dùng nước đoạn sông, suối nào sát biên giới và thuộc về phía bên kia thì được phép dùng nước để tắm, giặt bình thường, còn về việc kiếm ăn như đánh cá, và dùng thuyền bè đi lại trên đoạn sông, suối đó phải tôn trọng chủ quyền, luật lệ của nước đó. Mỗi bên chỉ có một bến đò.

        Điều 6. Những đoạn sông, suối mà đường biên giới đi giữa dòng sông, suối đó, nhân dân hai bên được dùng nước sông, suối đó để ăn, tắm giặt, đánh cá và thuyền bè được được đi lại bình thường, nhưng không được lên bờ của phía bên kia khi chưa được phép, trừ trường hợp vì bị tai nạn mới lên bờ bên kia và hai bên phải giúp đỡ nhau giải quyết công việc.
Về việc làm thuỷ lợi hoặc mương phải to, nhỏ để đưa nước vào ruộng, vườn hoặc phục vụ chỏ một nhu cầu nào đó, chính quyền địa phương hai bên phải bàn bạc thoả thuận với nhau rồi mới xin ý kiến cấp trên của mình.

        Điều 7. Nhân dân các dân tộc cư trú hai bên biên giới khi có công việc cần đi lại với nhau, phải có giấy phép quá cảnh của chính quyền bên mình và phải qua trạm kiểm soát của công an biên phòng mới được sang phía bên kia. Trường hợp nơi đó không có trạm kiểm soát của công an biên phòng, nếu có giấy của chính quyền xã của mình cũng đi được. Khi đến nơi phải xuất trình giấy tờ do cho chính quyền địa phương. Chỉ được phép đi trong phạm vi xã biên giới đó thôi.

        Điều 8. Để thuận tiện cho việc đi lại của nhân dân giữa hai nước, mỗi bên lập các trạm kiểm soát cửa khẩu phía bên mình để kiểm soát hành khách, hành lý, hàng hoá, các phương tiện qua lại theo quy định luật lệ của nước mình và những quy định đã thoả thuận giữa các ngành chuyên môn cấp Trung ương và cấp tỉnh của hai nước, người của hai bên, hành lý, hàng hoá, phương tiện qua lại biên giới phải có đầy đủ giấy tờ hợp lệ và phải đi đúng đường qua trạm kiểm soát cửa khẩu đã ghi rõ trong giấy thông hành.

        Khi xuất nhập cảnh họ phải tôn trọng nghiêm chỉnh độc lập chủ quyền và luật lệ của phía bên kia, phải chịu sự kiểm soát của trạm công an bên đó và xuất trình đầy đủ giấy tờ.

        Việc quy định cụ thể cửa khẩu và trạm kiểm soát hai bên sẽ tiếp tục bàn bạc thoả thuận sau.

        Điều 9. Trường hợp nhân đần hai bên biên giới chưa hiểu nhau và không thể tự giải quyết được thì nhà chức trách, chính quyền địa phương hai bên chú ý giáo dục và giải quyết trên tinh thần đồng chí, anh em.

        Điều 10. Hai bên cần tăng cường hợp tác bảo vệ rừng, bảo vệ cây trồng hai bên biên giới. Khi một bên bị sâu bệnh phá hoại hoa màu, cây cối hoặc bị cháy rừng, bên đó phải nhanh chóng diệt trừ sâu bệnh và dập tắt đám cháy, đồng thời báo cho chính quyền địa phương xã, bản bên kia kịp thời có biện pháp phòng ngừa.

        Điều 11. Nếu có dịch bệnh của người và gia súc bên nào thì bên đó phải có biện pháp phòng ngừa và giải quyết kịp thời, đồng thời báo cho chính quyền xã bên kia biết. Trong khi có dịch bệnh của người và gia súc, tạm thời ngừng việc qua lại, trao đổi, mua bán gia súc giữa nhân dân hai bên biên giới.

        Điều 12. Trường hợp cấp cứu, nhân dân vùng biên giới bên này có thể liên hệ với cơ sở y tế gần nhất của bên kia để yêu cầu giúp đỡ, đồng thời phải báo cho nhà chức trách và chính quyền bên kia biết.

        Điều 13. Nhân dân bên này có việc cần đi thăm viếng bà con thân thuộc ở vùng biên giới bên kia được phép mang theo quà biếu theo quy định của hải quan hai bên.

        Điều 14. Việc xuất nhập cảnh các loại hàng hoá như: tiền, vàng và đồ quý hoặc đồ cấm phải tuân theo những quy định luật lệ của mỗi nước và theo những thoả thuận giữa hai chính phủ và giữa hai tỉnh có biên giới chung được hai Chính phủ uỷ nhiệm, nhưng phải báo cho địa phương biết để kiểm soát và tạo điều kiện thuận lợi.


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 10 Tháng Mười Một, 2015, 04:14:15 AM
        Những quy định đầu tiên trên đây có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 1978. Phía Việt Nam đã phổ biến, quán triệt, hướng dẫn các ngành, các cấp và nhân dân các xã biên giới tổ chức thực hiện. Qua đó, quần chúng đã nâng cao được ý thức bảo vệ biên giới lãnh thổ, các cơ quan quản lý và bảo vệ biên giới của hai nước bước đầu thực hiện công tác của mình dựa trên những quy định chính thức về biên giới, góp phần tích cực vào việc duy trì và củng cố mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa hai nước. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bản quy chế sơ bộ, nên mặc dù đã đề ra những nguyên tắc đầu tiên điều chỉnh hoạt động của hai bên trong khu vực biên giới chung, song còn có nhiều vấn đề chưa được đề cập chi tiết. Trong quá trình hai bên tiến hành phân giới, cắm mốc trên thực địa, công tác quản lý trong giai đoạn này có những đặc điểm sau:

        (1) Những nơi chưa phân giới cắm mốc thì quản lý theo hiện trạng;
        (2) Những nơi đã phân giới cắm mốc thì quản lý theo kết quả phân giới cắm mốc;
        (3) Việc giải quyết qua lại biên giới cũng như giải quyết những vụ việc phát sinh trong khu vực biên giới khá thuận lợi, là tiền đề quan trọng cho việc củng cố công tác quản lý bảo vệ biên giới của cả hai bên sau này.

        Sau khi hoàn thành công tác hoạch định và phân giới, cắm mốc toàn bộ đường biên giới, quan hệ về biên giới Việt Nam - Lào chuyển sang một giai đoạn mới, bắt đầu tiến trình củng cố đường biên giới giữa hai nước trở thành một đường biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định và hợp tác phát triển lâu dài.

        Từ năm 1988, hai bên chuyển sang đàm phán soạn thảo văn bản hiệp định về quy chế biên giới thay thế cho Biên bản quy định đầu tiên về quy chế biên giới giữa hai nước ký ngày 3-7-1978. Đến ngày 01-3-1990, Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã được đại diện hai Chính phủ ký kết tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 6-11-1990, hai bên trao đổi văn kiện phê chuẩn Hiệp định tại Viêng Chăn và Hiệp định chính thức có hiệu lực kể từ ngày 01-6-1991. Hiệp định gồm có 5 chương, 37 điều với những nội dung chủ yếu sau đây:

        Điều 1 khẳng định lại đường đường biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Lào là đường biên giới đã được hoạch định trong Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1977 và Hiệp ước bổ sung năm 1986 và các phụ lục đính kèm hai Hiệp ước đó.

        Điều 2 quy định đường biên giới quốc gia giữa hai nước phải được tôn trọng; các mốc quốc giới phải được bảo vệ, cấm xê dịch hoặc làm hư hại mốc quốc giới; việc giải quyết đường biên, mốc giới thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước cao nhất của hai bên.

        Điều 3 phân công rõ những mốc quốc giới nằm trên lãnh thổ nước nào thì nước đó phải bảo quản; những mốc nằm trên chính tâm đường biên giới có số lẻ do phía Lào bảo quản, mốc có số chẵn do phía Việt Nam bảo quản.

        Điều 4 quy định về việc phát quang xung quanh cột mốc và phát quang dọc đường biên giới để làm rõ đường biên và mốc giới.

        Điều 5 quý định phải giữ nguyên vị trí, loại mốc, hình dạng, kích thước, ký hiệu, chữ viết và mầu sắc của mỗi mốc giới như lúc mới cắm ở thực địa.

        Điều 6 quy định việc khôi phục, sửa chữa mốc giới khi mốc đó bị hư hỏng hoặc bị phá hoại.

        Điều 7 quy định về tuần tra để bảo vệ đường biển mốc giới đã được phân công phụ trách.

        Điều 8 quy định về tổ chức các đội kiểm tra liên hợp tiến hành kiểm tra song phương đường biên mốc giới.

        Điều 9 quy định hai bên phải thường xuyên tuyên truyền giáo dục nhân dân ở khu vực biên giới tham gia bảo vệ đường biên mốc giới, giúp đỡ các lực lượng chuyên trách quản lý biên giới.

        Điều 10 quy định hai bên phải có những biện pháp ngăn chặn mọi hành động dẫn đến làm thay đổi vị trí đường biên giới quốc gia trên các sông, suối biên giới.

        Điều 11 quy định những việc cần thiết khi phát hiện sông, suối biên giới đổi dòng có ảnh hưởng đến đường biên giới.

        Điều 12 quy định khu vực biên giới hai nước bao gồm các xã, hoặc đơn vị hành chính tương đương của hai bên tiếp giáp với đường biên giới quốc gia.

        Điều 13 quy định công dân cư trú trong khu vực biên giới từ 15 tuổi trở lên được nhà đương cục có thẩm quyền cấp giấy chứng minh thư biên giới.

        Điều 14 quy định việc qua lại trong khu vực biên giới chung của cư dân biên giới và hàng hoá tiêu dùng.

        Điều 15 quy định biện pháp xử lý, giải quyết và phối hợp ngăn chặn dịch bệnh đối với người, vật và cây trồng ở khu vực biên giới.

        Điều 16 quy định về việc giúp đỡ, cứu chữa công dân trong khu vực biên giới khi bị bệnh hoặc bị tai nạn.

        Điều 17 quy định nghĩa vụ, quyền lợi của công dân trong khu vực biên giới đối việc chăn thả gia súc và những rủi ro liên quan đến gia súc.

        Điều 18 quy định mở các cặp cửa khẩu biên giới và việc mở thêm cửa khẩu phục vụ qua lại biên giới.

        Điều 19 quy định những yêu cầu thủ tục bắt buộc khi qua lại biên giới.

        Điều 20 quy đinh việc kiểm soát qua lại biên giới đối với người, hành lý, hàng hoá và phương tiện vận chuyển.

        Điều 21 quy định xử lý các trường hợp dân di cư trong khu vực biên giới.

        Điều 22 quy định về sông, suối biên giới.

        Điều 23 quy định quản lý, sử dụng nguồn nước sông, suối biên giới, việc làm các công trình thuỷ lợi.

        Điều 24 quy định việc quản lý cầu biên giới, bảo dưỡng, sửa chữa cầu và làm cầu mới.

        Điều 25 quy định việc cư dân bên này sang bên kia làm ăn trong khu vực biên giới.

        Điều 26 quy định hợp tác bảo vệ rừng.

        Điều 27 quy định việc thăm dò, khảo sát khoáng sản và tài nguyên.

        Điều 28 quy định hợp tác về an ninh, hình sự, quản lý chất nổ.

        Điều 29 thống nhất nguyên tắc xử lý các trường hợp vi phạm quy chế biên giới.

        Điều 30 quy định nhiệm vụ của các đồn biên phòng.

        Điều 31 quy định nhiệm vụ của đồn trưởng đồn biên phòng.

        Điều 32 quy định chế độ làm việc giữa hai đồn trưởng biên phòng của hai bên.

        Điều 33 quy định nhiệm vụ của chính quyền các tỉnh biên giới hai bên.

        Điều 34 quy định về chỉ đạo của Ban Biên giới trung ương hai bên trong thực hiện Hiệp định.

        Điều 35 quy định Hiệp định có thể được sửa đổi, bổ sung.

        Điều 36 quy định về hiệu lực của Hiệp định. Hiệp định phải được phê chuẩn.

        Điều 37 thống nhất huỷ bỏ "Biên bản về quy định đầu tiên ký ngày 03-7-1978" kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực.

        Quá trình thực hiện Hiệp định, hai bên nhận thấy có những vấn đề phát sinh nên đã thống nhất sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Hiệp định quy chế biên giới năm 1990 bằng việc ký Nghị định thư bổ sung ngày 31-8-1997. Nghị định thư gồm 9 điều, ngoài quy định về thủ tục phê chuẩn, đã sửa đổi bổ sung một số khoản trong 8 điều của Hiệp định quy chế, đó là: Điều 1 khoản a; Điều 2 thêm đoạn 3; Điều 4 khoản a; Điều 18 khoản c; Điều 19 khoản d; Điều 21 khoản a; Điều 27 khoản a; Điều 29 bổ sung một số hình thức xù lý vi phạm (Xem thêm: Tài liệu tập huấn quản lý biên giới Việt Nam - Lào, Ban Biên giới Bộ Ngoại giao, Hà Nội năm 2003, tr 83 - tr91).


Tiêu đề: Re: Lịch sử biên giới trên đất liền giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Gửi bởi: Giangtvx trong 11 Tháng Mười Một, 2015, 01:33:19 AM
        5. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT

        (Tài liệu chương trình tuyên truyền và phổ biên pháp luật cho cán bộ chiến sỹ bộ đội biên phòng và nhân dân vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, hải đảo, Ban Biên giới - Bộ Ngoại giao, Hà Nội 2005, tr. 164-170)

        5.1. Hoàn thiện chất lượng đường biên giới

        Từ sau khi ký kết Nghị định thư bổ sung về phân giới cắm mốc đường biên giới quốc gia năm 1987, quan hệ về biên giới Việt Nam - Lào đã thay đổi về chất. Kể từ đây, giữa hai nước đã có một đường biên giới pháp lý chính thức được xác định bằng một điều ước quốc tế do hai quốc gia độc lập thực sự có chủ quyền ký kết, được thể hiện đầy đủ trên bản đồ, được phân vạch rõ ràng trên thực địa và được đánh dấu bằng một hệ thống mốc quốc giới khá vững chắc. Tuy nhiên, do lần đầu tiên hai nước cùng nhau giải quyết toàn diện vấn đề biên giới lãnh thổ trong hoàn cảnh cả hai bên có nhiều khó khăn cả về nhân lực, vật chất lẫn trình độ kỹ thuật, nên mặc dù đã đạt được kết quả cơ bản về mặt chính trị - pháp lý của đường biên giới chung, nhưng vẫn còn một số việc cần tiếp tục giải quyết để hoàn thiện đường biên giới.

        Lường trước những hạn chế trên đây, để có cơ sở tiếp tục hoàn thiện chất lượng đường biên giới, hai Chính phủ Việt Nam và Lào đã giao cho cơ quan Biên giới Trung ương hai nước phối hợp giai quyết những tồn đọng sau phân giới cắm mốc. Nhiệm vụ này được hai bên thống nhất ghi trong Điều II khoản 2, khoản 5 và Điều IV khoản 1 Nghị định thư phân giới cắm mốc. Cụ thể là:

        - Lập bản đồ đường biên giới chính thức giữa hai nước;
        - Giải quyết 18 đoạn biên giới tồn dọng (chưa đi phân giới ở thực địa);
        - Cắm mốc tại hai ngã ba biên giới Việt Nam - Lào - Trung Quốc và Việt Nam - Lào - Campuchia;
        - Cắm các mốc nhỏ trong hệ thống mốc quốc giới (tăng dày hệ thống mốc quốc giới).

        Từ năm 1990 đến năm 2005, hàng năm hai bên đã luân phiên tổ chức cuộc họp thường mến giữa hai Đoàn đại biểu biên giới Việt Nam và Lào nh