Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:13:09 AM



Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:13:09 AM
Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập VIII
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia
Năm xuất bản: 2008
Số hóa: macbupda

CHỈ ĐẠO NỘI DUNG
Thiếu tướng, TS, PHẠM VĂN THẠCH

CHỦ BIÊN
Đại tá, PGS, TS. HỒ KHANG

TÁC GIẢ
Đại tá, PGS, TS. HỒ KHANG
Đại tá, ThS. TRẦN TIẾN HOẠT
Đại tá, TS. NGUYỄN XUÂN NĂNG
Đại úy NGUYỄN VĂN QUYỀN
Đại úy LÊ QUANG LẠNG

Với sự công tác của
Thiếu úy TRẦN HŨU HUY


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:16:08 AM
LỜI NHÀ XUẤT BẢN


Nhân kỷ niệm 64 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 - 22-12-2008) và ngày quốc phòng toàn dân, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp với Viện Lịch sử quân sự Việt Nam xuất bản tập VIII mang tiêu đề Toàn thắng của bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), gồm 9 tập. Đây là tập phản ánh tiến trình lịch sử ở giai đoạn cuối cùng - giai đoạn toàn thắng của sự nghiệp kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta chống lại tên đế quốc đầu sở của thời đại.

Thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, với việc ký Hiệp định Pari vào ngày 27-1-1973, quân và dân ta đã đánh đuổi đội quân viễn chinh Mỹ có lúc đông tới hơn nửa triệu tên và quân các nước phụ thuộc ra khỏi miền Nam nước ta. Ngày 29-3-1973, Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ làm lễ cuốn cờ rút khỏi miền Nam Việt Nam.

Nắm vững thời cơ chiến lược ngàn năm có một được mở ra sau gần 20 năm chiến đấu, Bộ thống soái tối của của cuộc kháng chiến, sau khi phân tích thế và lực của ta và của địch, tình hình quốc tế phức tạp lúc đó, đã triệu tập lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường ra Hà Nội làm việc để củng cố quyết tâm giải phóng miền Nam trong thời gian sớm nhất. Từ sau Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa III) họp hai đợt (đợt I từ ngày 19-6 - 6-7-1973, đợt II từ ngày 1-10 - 4-10-1973) toàn dân tộc từ Bắc chí Nam đã nỗ lực cao độ dốc sức cho cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Miên Bắc đã làm hết sức mình chi viện tối đa sức người, sức của cho cách mạng miền Nam.

Bộ đội Trường Sơn đã tổ chức lại lực lượng, mở rộng mạng đường chiến lược, nâng cao năng lực vận chuyển đảm bảo đủ hậu cần cho miền Nam đánh thắng.

Trước khi Hiệp định Pari được ký kết, Mỹ đã ồ ạt thăng viện cho chính quyền và quân đội Sài Gòn cùng với vũ khí, khí tài, đạn dược, phương tiện chiến tranh để lại sau khi phải rút quân, tạo thành kho vũ khí khổng lồ, hy vọng quân đội Sài Gòn đứng vững.

Hiệp định Pari ký chưa ráo mực, Nguyễn Văn Thiệu lập tức tung quân “tràn ngập lãnh thổ” đánh phá vùng giải phóng để lấn đất, giành dân.

Nhận rõ bản chất hiếu chiến, phản động của chính quyền Sài Gòn, khả năng thống nhất Tổ quốc hòa bình là không hiện thực, quân và dân ta ở miền Nam đẩy mạnh phản công và tiến công mạnh mẽ trừng trị quân địch để bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng.

Năm 1974 quân và dân ta mở cuộc tiến công tạo thế trên khắp các chiến trường miền Nam, làm cho quân địch bị động đối phó. Với chiến dịch đường 14 - Phước Long, quân và dân Đông Nam Bộ đã giải phóng toàn tỉnh Phước Long, nhưng quân đội Sài Gòn không đủ sức tái chiếm địa bàn vừa bị mất, trong khi đó người Mỹ buộc phỉa chấp nhận nhìn quân đội Sài Gòn sụp đổ. Đây là liều thuốc thử quan trọng để cơ quan Tổng hành dinh xây dựng và củng cố quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975-1976, nếu có thời cơ thì giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975, thậm chí là trước mùa mưa năm 1975.

Với đánh đánh điểm huyệt Buôn Ma Thuột tạo một đột biến về chiến dịch và chiến lược làm cho chính quyền và quân đội Sài Gòn choáng váng dẫn đến sai lầm chiến lược rút bỏ toàn bộ Tây Nguyên, quân và dân ta đã lập tức giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải miền Trung. Mất địa bàn chiến lược, sự sụp đổ của chính quyền và quân đội Sài Gòn chỉ còn là vấn đề thời gian, không gì có thể cứu vãn nổi.

Tiếp đó, bằng chiến dịch Huế - Đà nẵng, với sức mạnh tổng hợp của các binh đoàn chủ lực cũng như lực lượng vũ trang địa phương và sự nổi dậy của quần chúng, ta đã giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên, đánh chiếm cố đô Huế, đặc biệt là căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong một thời gian ngắn.

Với tầm nhìn chiến lược xa rộng, sau khi giải phóng Đà Nẵng, quân đội ta đã lập tức tổ chức các hải đoàn đánh chiếm ngay các đảo ven bờ và quần đảo Trường Sa, làm cho cả ngụy quân, ngụy quyền vav các thế lực âm mưu nhòm ngó bờ cõi nước ta không kịp trở tay.

Trước tình thế cách mạng khẩn trương “một ngày bằng 20 năm”, chấp hành mệnh lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và quyết thắng”, các binh đoàn chủ lực đã kiên quyết đánh địch trong hành tiến, lần lượt giải phóng Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng, Khánh Hòa và các tỉnh miền Đông Nam Bộ, hình thành thế bao vây chia cắt Sài Gòn, Sài Gòn - Gia Định đã nắm trong tầm ngắm của xe tăng và pháo binh Quân giải phóng.

Thể theo nguyện vọng của đồng bào đồng chí miền Nam, theo đề nghị của Bộ Tư lệnh chiến dịch, Bộ Chính trị đã đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Từ ngày 267-3-1975, chiến dịch tổng công kích giải phóng Sài Gòn - Gia Định mang tên Bác bắt đầu. Từ năm hướng, năm quân đoàn chủ lực với tinh thần quyết chiến và toàn thắng đã lần lượt đánh chiếm các địa bàn đầu cầu, các địa bàn vùng ven rồi cùng một lúc với các mũi thọc sâu táo bạo đánh thẳng vào các cơ quan đầu não của chính quyền và quân đội Sài Gòn.

11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc Dinh Độc lập - ghi nhận thời khắc huy hoàng của ngày toàn thắng.

Tổng thống Dương Văn Minh và toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn bị bắt, phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Ngay sau đó các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các hải đảo còn lại như Thổ Chu, Côn Đảo, Phú Quốc đã được giải phóng.

Toàn bộ diễn biến lịch sử trong giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến từ năm 1973 đến năm 1975 đã được Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập VIII mang tiêu đề Toàn thắng ghi lại một cách toàn diện và tương đối đầy đủ với tinh thần trách nhiệm cao của các nhà viết sử chiến tranh.

Xin trận trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 11 năm 2008           
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:21:38 AM
Chương 32

ĐẤU TRANH BUỘC MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN
SÀI GÒN THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PARI,
TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG
CỦNG CỐ THẾ TRẬN KHÁNG CHIẾN

I - ĐẤU TRANH BUỘC MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN SÀI GÒN
THI HÀNH HIỆP ĐỊNH PARI

Thắng lợi to lớn, toàn diện trong năm 1972 và Hiệp định Pari được ký kết đã tạo ra bước ngoặt căn bản cho cách mạng Việt Nam, đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước sang giai đoạn phát triển mới.

Theo Hiệp định Pari, cuối tháng 3-1973, tất cả các đơn vị quân viễn chinh Mỹ và quân đồng minh của Mỹ sẽ rút khỏi lãnh thổ Việt Nam(1).

Tuy nhiên, vấn đề lớn đặt ra đối với chúng ta là liệu Mỹ và chính quyền Sài Gòn có nghiêm chỉnh thực hiện ngừng bắn, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, thành lập Chính phủ liên hiệp theo Hiệp định Pari đã quy định hay không? Phía Mỹ có thực hiện cam kết “không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam” hay là vẫn ngoan cố tiếp tục can thiệp bằng những cách khác?

Đây là những vấn đề đặc biệt quan trọng và có tính cấp thiết đặt ra đối với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộc hòa bình trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, đều mong muốn sớm chấm dứt cuộc chiến tranh lâu dài, đã gây ra nhiều đau khổ, tổn thất, hy sinh này cho cả hai bên. Tuy nhiên, trên thực tế, trước ngày Hiệp định Pari ký kết hai tuần, từ ngày 14 đến ngày 17-1-1973, Tổng thống Mỹ Níchxơn đã liên tiếp gửi thư cho Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu mà ở đó, một mặt, “Mỹ đã gây một sức ép để Thiệu ký hiệp định”(2) và một mặt khác, “một khi Thiệu đã ký, thì họ cho Thiệu mọi phương tiện để vi phạm hiệp định”(3) bằng việc cam kết tiếp tục viện trợ đầy đủ về kinh tế và quân sự”(4) cho Sài Gòn; chỉ công nhận chính quyền của Nguyễn Văn Thiệu là “Chính phủ hợp phát duy nhất ở miền Nam Việt Nam”(5); không thừa nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam như đã thỏa thuận trong Hiệp định Pari mà Chính phủ Mỹ buộc phải ký kết ít ngày sau đó. Đồng thời, Níchxơn còn hứa sẽ gặp lại Nguyễn Văn Thiệu trong thời gian sớm nhất tại San Clemente, bang Caliphoócnia để tiếp tục xác nhận những cam kết và đi vào bàn bạc các phương án hợp tác cụ thể với nhau sau khi Hiệp định Pari được ký kết và chính thức có hiệu lực.

Ngày 23-1-1973, Tổng thống Mỹ Níchxơn ra tuyên bố tiếp tục khẳng định quan điểm của Mỹ là sẽ không ủng hộ cuộc tổng tuyển cử tự do ở miền Nam Việt Nam và Mỹ sẽ làm những gì có thể để bảo vệ cho sự tồn tại của chính quyền Sài Gòn.

Ngày 27-1-1973, tại Pari, Thủ đô nước Cộng hòa Pháp, hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Ngay sau đó, ngày 28-1-1973 tại Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu lập tức công khai tuyên bố lập trường của phía chính quyền Sài Gòn:

- Không liên hiệp;

- Không thương lượng với đối phương;

- Không có hoạt động của cộng sản hoặc đối phương trong nước;

- Không để lọt vào tay đối phương bất cứ lãnh thổ nào, tiền đồn nào do Quân đội Việt Nam Cộng hòa chiếm giữ và khẳng định “không có hòa bình với cộng sản”, “phải xóa thế da beo”, “bắn bỏ những ai chứa chấp cộng sản”.


(1) Thực tế, ngày 29-3-1973, tướng Uâyen (Weyand), Tổng Chỉ huy và Bộ Tham mưu quân viễn chinh Mỹ cùng với. 2.051 lính Mỹ cuối cùng làm lễ cuốn cờ, lên máy bay rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.
(2), (3) Dẫn theo Gabrien Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, t.2, tr.138.
(4), (5) Gabrien Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, tr.138.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:27:00 AM
Ngày 3-4-1973, tại San Clemente thuộc bang Caliphoócnia (Mỹ) diễn ra cuộc hội đàm giữa Tổng thống Mỹ Níchxơn và Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu. Hai bên đã ra thông cáo chung, trong đó, phía Mỹ tái khẳng định cam kết sẽ tiếp tục viện trợ cho chính quyền Sài Gòn và “Mỹ sẽ trả đũa không thương tiếc mọi vi phạm lệnh ngừng bắn”. Trên thực tế, thay vì phải phá hủy các căn cứ quân sự của quân đội Mỹ trên lãnh thổ miền Nam Việt Nam như đã quy định tại Điều 6 của Hiệp định Pari, thì ngược lại, phía Mỹ đã chuyển giao toàn bộ những cơ sở này cho chính quyền và quân đội Sài Gòn. Đối với số lượng máy bay chiến đấu, quân đội Mỹ không chuyển về nước mà phân tán sang các căn cứ quân sự ở Thái Lan nhằm sẵn sàng chi viện cho quân đội Sài Gòn và can thiệp vào miền Nam Việt Nam khi cần thiết. Từ cuối năm 1972 đến đầu năm 1973, phía Mỹ đã khẩn trương chuyển gấp cho quân đội Sài Gòn tổng cộng 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép, bổ sung dự trữ vật tư chiến tranh là 2 triệu tấn và những viện trợ khác trị giá lên tới 2.670 triệu đô la (năm 1973)(1).

Trong năm 1973, Mỹ đưa thêm vào miền Nam 90 máy bay, 100 khẩu pháo và một khối lượng lớn các loại phương tiện chiến tranh. Bộ Chỉ huy và viện trợ quân sự Mỹ ở Việt Nam - MACV (Military Assistance and Command in Vietnam) giờ được đổi thành Cơ quan tùy viên quân sự Mỹ ở Việt Nam - DAO (Defence Attache Office). Các cố vấn quân sự Mỹ chuyển sang khoác áo dân sự, dưới sự chỉ huy của Đại sứ quán Mỹ. Tổ chức và nhân viên tình báo CIA tại miền Nam Việt Nam cũng chuyển sang hoạt động dưới danh nghĩa của Tổ chức viện trợ và phát triển - USAID (United States Agency International Development). Tổng số cố vấn quân sự và dân sự Mỹ ở miền Nam tính đến giữa năm 1973, có tới 24.000 người. Với lực lượng cố vấn dông đảo này ở mọi cấp, mọi ngành, từ trung ương xuống tới các địa phương, cả ở hệ thống chính quyền và lực lượng quân đội, đế quốc Mỹ tiếp tục can thiệp sâu vào công việc nội bộ của miền Nam, quyết định những chủ trương lớn về quân sự, chính trị, kinh tế, bố trí nhân sự cao cấp của chính quyền và quân đội Sài Gòn.

Được Mỹ tăng viện và khuyết khích, chính quyền, quân đội Sài Gòn, ngay từ đầu đã ngang nhiên vi phạm các điều khoản của hiệp định, đẩy mạnh các hoạt động quân sự, nhằm cải thiện tình hình, mở rộng vòng chiếm đóng, tăng cường nhanh chóng sức mạnh quân sự của Việt Nam cộng hòa. Dưới sự chỉ đạo chỉ huy trực tiếp của đội ngũ cố vấn Mỹ khoác áo dân sự, quân đội Sài Gòn ráo riết xúc tiến thực hiện Kế hoạch chiến tranh 3 năm (1973-1975) hòng lấn chiếm vùng giải phóng, tiêu diệt các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam, tiến tới xóa bỏ tình trạng hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng hiện có ở miền Nam, độc chiếm và biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

Để xóa “thế da báo” trên chiến trường miền Nam, quân đội Sài Gòn liên tiếp mở các hoạt động “tràn ngập lãnh thổ” trong khuôn khổ Kế hoạch Lý Thường Kiệt. Theo thống kê của Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, năm 1973, địch đã mở 11.365 cuộc hành quân lấn chiếm quy mô từ chấp trung đội trở lên, trong đó có 10.072 cuộc từ cấp tiểu đoàn trở lên, 50 cuộc từ 5 tiểu đoàn trở lên. Cùng trong năm 1973, địch còn tiến hành 49.676 cuộc hành quân cảnh sát trên khắp miền Nam. Với những cố gắng mới, địch đã lấn chiếm được nhiều vùng giải phóng, kiểm soát được 11.430 ấp, trong đó có 5.008 ấp loại A với số dân là 19.049.000 người(2).

Ở Trị - Thiên - Huế, địch tập trung tới 51.000 quân (33.000 quân chủ lực, 18.0000 quân địa phương, cảnh sát, phòng vệ dân sự) mở hàng trăm cuộc tiến công càn quét, lấn chiếm. Tại Quảng Trị, từ ngày 27-1 đến 31-1-1973, chúng huy động 2 lữ đoàn bộ binh, 2 thiết đoàn thiết giáp, 3 tiểu đoàn pháo binh, 5 khu trục hạm, 72 lần chiếc máy bay B52 chi viện, mở cuộc hành quân Sóng thần tái chiếm Cửa Việt. Từ ngày 6 đến 19-3, địch tiếp tục huy động 25.000 quân thuộc Lữ đoàn 147 và các đơn vị tăng cường mở cuộc hành quân lấn chiếm lại các lõm căn cứ của ta ở Hải Lăng - Triệu Phong. Từ ngày 1-3 đến 15-3, 2 lữ đoàn bộ binh cùng 20 xe tăng, 45 khẩu pháo của quân đội Sài Gòn có máy bay chi viện mở cuộc tiến công lấn chiếm Tích Tường - Như Lệ. Ở Thừa Thiên, từ ngày 28-1 đến 31-1, địch dùng 5 đại đội bảo an và hắc báo lấn chiếm, líp lại An Đô, Lại Bằng. Từ ngày 28-1 đến ngày 2-2-1973, địch huy động 5 tiểu đoàn, 5 đại đội, 2 chi đoàn thiết giáp lấn chiếm, líp lại nam Phổ Cần, Dưỡng Mong. Tiếp đó, từ ngày 15-2 đến ngày 15-3 các đơn vị quân Sài Gòn chiếm làng loạt các vị trí quan trọng ở tây và tây nam Thừa Thiên như Khe Thai, bắc Mỏ Tàu, Ly Hy, Cảnh Dương, Cồn Tre, các điểm cao: 502, 303, 165. Tới tháng 4-1973, địch nối thông lại được tuyến đường sắt Huế - Đà Nẵng và hình thành tuyến phòng ngự theo hình vòng cung hòng ngăn chặn và đẩy lùi các cuộc tiến công của lực lượng cách mạng từ các hướng bắc, tây xuống khu vực đồng bằng và thành phố Huế. Tuyến phòng ngự mới này của địch bao bọc một vùng quan trọng, gồm đồng bằng Thưa Thiên và phần còn lại của đồng bằng Quảng Trị và được bố trí thành ba tuyến: bắc, tây, tây nam Huế.

- Tuyến phòng ngự phía bắc kéo dài từ Thanh Hội đến bắc Cổ Thành, qua động Ông Do, các điểm cao 367, 300, khoảng 60 km.

- Tuyến phòng ngự phía Tây bao gồm các điểm cao Cổ Bi, Núi Gió, Sơn Na, Chúc Mao.

- Tuyến phòng ngự phía tây nam Huế kéo dài từ Mỏ Tàu, Ly Hy, qua các điểm cao 224, 303, Kim Sắc.


(1) Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và Bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.316.
(2) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.611.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:31:56 AM
Trên địa bàn Khu 5, chỉ tính trong tháng 1-1973, ở Phú Yên, quân đội Sài Gòn mở 449 cuộc hành quân càn quét vào vùng giải phóng, bắn hơn 54.000 quả đạn pháo và ném hàng ngàn quả bom vào làm cháy 590 nhà, phá hủy 710 tấn lúa gạo của nhân dân. Trước sự đánh phá ác liệt của địch, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên xuất hiện tâm lý và những biểu hiện mong muốn hòa hoãn, ngại va chạm với địch, trở lên lúng túng và bị động trong ứng phó với các hành động lấn chiếm của địch, thậm chí ở một số địa phương còn chủ trương rút hết các lực lượng vũ trang đang cắm sâu trong vùng địch về vùng giải phóng để xây dựng và củng cố. Ở một số vùng căn cứ lõm, vùng mà trước đây ta vẫn làm chủ và giữ được thế hợp pháp thì nay, do ta thực hiện chủ trương “cắm cờ”, “giành đất” nên ta đã bị bộc lộ lực lượng và vì thế bị kẻ địch đàn áp, đánh phá quyết liệt. Chỉ trong vòng 6 tháng đầu năm 1973, ở nhiều địa phương trên địa bàn Khu 5, địch đã lấn chiếm được những vùng ta mới mở trước ngày lệnh ngừng bắn có hiệu lực và cả một số khu vực mà nhiều năm trước đây, cho dù tập trung đánh phá quyết liệt, chúng không thể nào lấn chiếm được. Tính riêng năm tỉnh: Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, địch đã đóng thêm 450 chốt điểm và cụm chốt điểm(1).

Ở Khu 8, từ sáng sớm ngày 28-1-1973, địch đã xua quân tiến công, lấn chiếm, giành giật quyết liệt với ta ở hai bên đường 4 và các vùng ven thành phố Mỹ Tho. Ngày 7-2-1973, đại bộ phận Sư đoàn 7 và các tiểu đoàn bảo an cơ động quân đội Sài Gòn đánh sâu vào Vùng 20-7, nam đường 4 Mỹ Tho của ta. Liên tiếp từ ngày 15t đến ngày 19-2-1973, quân địch lần lượt đánh chiếm các khu vực nam Giồng Trôm, Bến Tre, bắc đường 4 Mỹ Tho. Trên vùng chữ U của An Giang, từ ngày 28-1-1973, địch đẩy bật toàn bộ lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta ra khỏi các xã Vĩnh Xương, Tân Phú, Phú Hữu; quân ta buộc phải lui về khu vực giáp biên giới Campuchia.

Ở miền Đông Nam Bộ, ngay khi hiệp định có hiuệ lực, địch tăng cường các hoạt động chiến tranh tâm lý đi đôi với đàn áp, khủng bố, phủ nhận các quyền tự do, dân chủ, cấm đoàn người dân về với chốn cũ làng xưa làm ăn sinh sống; thậm chí, chúng còn mở các hoạt động tiêu diệt cơ sở cách mạng và thủ tiêu tù chính trị mới được thả. Trên mặt trận quân sự, chúng dồn sức mở nhiều cuộc tiến công lấn chiếm nhằm vào các địa bàn xung yếu, các trục đường giao thông quan trọng, giành đất, giành dân; mở rộng phạm vi kiểm soát khu vực đường số 7 Bến Cát, đường số 2 Bà Rịa - Long Khánh, đường số 23 Long Tân - Long Phước - Bà Rịa, đường xe lửa Hưng Lộc - Gia Ray (Long Khánh)… Ở những khu vực này, ngay khi vừa lấn chiếm, địch lập tức ủi phá địa hình, xóa “thế da báo” hòng chiếm đóng lâu dài. Ở Thù Dầu Một, trung tuần tháng 2-1973, địch tiến công lấn chiếm và cho lực lượng đốt phá các cánh rừng ở Cò Mi (Lái Thiêu), Vĩnh Lợi (Châu Thành), bố trí hàng chục chốt trên vùng 14, dọc theo sông Đồng Nai để bảo vệ sân bay Biên Hòa và làm bàn đạp tiến công mở rộng vùng kiểm soát. Trên địa bàn hai tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa - Long Khánh, toàn bộ Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn và lực lượng bảo an, dân vệ với sự yểm trợ của phi pháo, xe tăng, thiết giáp, mở các cuộc tiến công lấn chiếm các vùng xung yếu do ta làm chủ, chiếm các khu vực xung quanh các trục đường giao thông quan trọng như đường số 1, 2, 20, 15, 23, 44; tiếp tục ấn sâu vào các vùng giải phóng của ta ở ven Chiến khu Đ, ủi phá các cánh rừng ở Đại An, Tân Định, Thiện Tân (Vĩnh Cửu), Hưng Lộc, Hưng Nghĩa, Bàu Hàm (Trảng Bom), khu Lòng chảo (Nhơn Trạch), tây đường 15 (Long Thành). Phi pháo của địch đã hủy diệt trên 10 xã, 17 ấp, làm chết 79 người, bị thương 192, cháy 237 ngôi nhà dân. Cuộc chiến diễ ra ngày càng khốc liệt do âm mưu và hành động phá hoại hiệp định của chính quyền và quân đội Sài Gòn đặc biệt ở các vùng đông dân cư có ý nghĩa chiến lược. Trên tuyến vành đai phòng thủ Sài Gòn, các khu vực trọng yếu ven thị xã Tây Ninh, đường số 10, tây bắc Hậu Nghĩa, đông tây đường số 2, bắc chi khu Đức Thạch, Bà Rịa… do ta lúng túng sai lầm(2) trong nhận thức và hành động, nên chỉ hơn hai tháng sau khi Hiệp định Pari ký kết, nhiều vùng ta mới giải phóng được trước ngày 27-1-1973 ở miền Đông Nam Bộ gần như rơi vào tay quân đội Sài Gòn.

Tại miền Tây Nam Bộ, ngày 28-1-1973, cuộc míttinh chào mừng Hiệp định Pari của 36.000 quần chúng Cần Thơ bị địch đàn áp. Tiếp đó, ngày 30-1-1973 chúng lại nã hàng nghìn quả đạn pháo vào ấp Cái Nai (xã Long Trị, huyện Long Mỹ, Cần Thơ) và đốt hàng chục nghìn giạ lúa của nhân dân xã Lương Phi (Châu Hà). Ngay 2-2, Bộ Tư lệnh Vùng 4 và quân đoàn 4 quân đội Sài Gòn tuyên bố “trên hòa bình, dưới chiến tranh”, sẵn sàng bắn chết tại chỗ bất cứ những ai công khai chào mừng Hiệp định Pari, đòi hòa bình, những binh lính nào bỏ trốn. Chúng buộc các gia đình trong vùng chính quyền Sài Gòn kiểm soát phải treo cờ ba sọc trước nhà và các phương tiện xuồng ghe. Đặc biệt, ngày 9-3-1973, địch huy động Sư đoàn bộ binh 21, một phần Sư đoàn 9, các tiểu đoàn bảo an, thiết giáp 6 (52 xe M.113), 4 tiểu đoàn pháo binh, 2 giang đoàn đánh vào Chương Thiện - “vùng ruột” của Hậu Giang, một địa bàn quan trọng giáp ranh các tỉnh: Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu. Cuối tháng 4-1973, địch tiếp tục huy động tới 46 tiểu đoàn đánh chiếm vùng giải phóng của ta thuộc các huyện: Long Mỹ, Gò Quao, Giồng Riềng… Có thể nói, trên địa bàn miền Tây Nam Bộ, với số quân vượt trội so với lực lượng cách mạng, chỉ trong thời gian ngắn, địch đã chiếm thêm được một vùng khá rộng lớn, đóng thêm 78 đồn và 105 chốt dã ngoại.


(1) Bộ Tổng tham mưu: Chiến tranh nhân dân địa phương trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) chuyên đề: Chống phá bình định giành dân và giữ dân trên địa bàn Khu 5, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997, tr.52.
(1) Đầu năm 1973, Ban Binh vận Miền triệu tập hội nghị cán bộ binh vận từ cấp huyện trở lên có phổ biến 5 điều cấm chỉ ở Nam Bộ (cấm tiến công, cấm pháo kích, cấm đánh càn, cấm xây dựng xã ấp chiến đấu, cấm đánh đồn bốt) và đưa ra lập luận rằng: nếu địch vi phạm mà ta cứ dùng vũ khí đánh lại thì đến bao giờ mới ngừng bắn, bao giờ mới ổn định tình hình cho nhân dân ta để khẩn trương tạo thế và lực mới. Dẫn theo: Hội đồng chỉ đạo Ban biên soạn Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ: Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr.474.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:36:30 AM
Đẩy mạnh các cuộc hành quân lấn chiếm, bình định vùng giải phóng, chính quyền và quân đội Sài Gòn đồng thời thẳng tay đàn áp, khủng bố những đảng phái đối lập và những người yêu nước, tiến bộ muốn thực hiện hòa bình, hòa hợp dân tộc. Ngay 16-5-1973, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh giải tán 26 đảng và tổ chức chính trị; ra lệnh bắn bỏ bất cứ ai kêu gọi nhân dân biểu tình đòi hòa bình, hòa hợp dân tộc; bắt giam những người thuộc phe đối lập và trung lập, những người mà chúng cho là khuyến khích việc gây rối hoặc xúi giục dân chúng từ những vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát sang các vùng giải phóng làm ăn, sinh sống. Đối với các ban liên hiệp quân sự các bên, chúng tìm mọi cách gây khó khăn, ngăn chặn việc thực thi nhiệm vụ, thậm chí còn đe dọa khủng bố các nhân viên; rút quyền ưu đãi bất khả xâm phạm đối với các thành viên thuộc phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cắt điện thoại, cắt điện và nước sinh hoạt.

Hỗ trợ cho các hành động phá hoại Hiệp định Pari của chính quyền và quân đội Sài Gòn, chính quyền Níchxơn đồng thời vi phạm các điều khoản đã được quy định trong hiệp định cũng như các cam kết đã thỏa thuận với phía Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Ngày 30-1-1973, Tổng thống Mỹ Níchxơn gửi công hàm cho Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng thôn báo rằng theo chính sách truyền thống của mình, phía Mỹ sẽ đóng góp vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng sau chiến tranh ở Việt Nam 3,250 tỉ đô la trong 5 năm (1973-1975); khẳng định phía Hoa Kỳ sẽ chịu trách nhiệm về việc quét sạch các loại bom, mìn tại các sông ngòi thuộc nội địa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong quá tình thực hiện phá gỡ các loại bom, mìn, phía Hoa Kỳ sẽ cung cấp đầy đủ các phương tiện cũng như hướng dẫn về kỹ thuật để đảm bảo cho công việc được tiến hành một cách thuận lợi nhất.

Ngày 8-2-1973, cố vấn của Tổng thống Mỹ, H.Kítxinhgiơ đến Hà Nội. Trong chuyến đi này, H. Kítxinhgiơ và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thảo luận rõ hơn về chác thức thực hiện vấn đề viện trợ của Hoa Kỳ cho miền Bắc Việt Nam, đồng ý thành lập Ủy ban kinh tế hỗn hợp Việt - Mỹ để cùng nhau soạn thảo chi tiết chương trình viện trợ của Hoa Kỳ dành cho Đông Dương. Ngày 10-3-1973, Ủy ban kinh tế hỗn hợp Việt - Mỹ chính thức khai mạc phiên họp đầu tiên tại Pari, Thủ đô của nước Cộng hòa Pháp. Tiếp đó, ngày 19-3-1973, Hội nghị hiệp thương giữa hai miền Nam, Bắc cũng được triệu tập.

Chỉ một thời gian sau đó, đâu tháng 4-1973, chính quyền của Tổng thống Níchxơn ngang nhiên đơn phương đình chỉ các cuộc họp của Ủy ban kinh tế hỗn hợp Việt - Mỹ, đình chỉ các cuộc họp hiệp thương hai bên miền Nam, cản trở các hoạt động của Phái đoàn Liên hiệp quân sự, kéo dài thời gian rà phá bom, mìn trên vùng biển miền Bắc Việt Nam. Và cuối cùng, ngày 5-4-1973, Thượng viện Mỹ bỏ phiếu cấm Tổng thống Mỹ viện chọ miền Bắc Việt Nam.

Mặc dù bị hạn chế bới các quân đội của Quốc hội Mỹ, nhưng chính quyền của Tổng thống Níchxơn vẫn âm mưu tiếp tục duy trì chế độ thực dân mới ở miền Nam. Sau khi buộc phải hết quân viễn chinh ra khỏi miền Nam, chính quyền Mỹ vẫn hy vọng quân đội Sài Gòn có đủ sức mạnh để đương đầu một cách hiệu quả với quân đội đối phương nhờ vào các nguồn viện trợ của Mỹ, vào các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại và các căn cứ quân sự khổng lồ mà quân đội Mỹ để lại, đội ngũ cố vấn quân sự khoác áo dân sự Mỹ và cả sự răn đe của các lực lượng quân sự Mỹ đang có mặt tại các khu vực như đông bắc Thái Lan, Guam, Philippin và Hạm đội 7.

Hơn nữa, chính quyền Mỹ tiếp tục xúc tiến mạnh mẽ con bài ngoại giao thân thiện với cả Liên Xô và Trung Quốc, khoét sâu vào mâu thuẫn giữa hai cường quốc này để nhằm hạn chế tới mức thấp nhất sự ủng họ và giúp đỡ của hai nước đối với sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Các hoạt động ngoại giao xỏa quyệt của phía Mỹ đã tạo ra những khó khăn và ảnh hưởng nhất định tới cuộc kháng chiến của nhân dân ta(1). Trên thực tế, từ năm 1969 trở đi, Liên Xô đã từng bước thực hiện cắt giảm viện trợ cho Việt Nam, đặc biệt là về viện trợ quân sự; Việt Nam đã không nhận thêm được quả tên lửa nào(1). Cho tới những năm 1974 -1975 thì nguồn viện trợ của hai nước Liên Xô, Trung Quốc dành cho Việt Nam gần như không đáng kể. Nếu như năm 1973, viện trợ quân sự của Liên Xô cho Việt Nam trị giá 248 triệu rúp thì sang năm 1974 đã tụt giảm còn 98 triệu rúp và năm 1975 chỉ còn 76 triệu rúp. Tương tự, viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Việt Nam cũng không ngừng giảm, năm 1973 trị giá 1.415 triệu tê nhưng năm 1974 chỉ còn 452 triệu tệ và năm 1975 là 196 triệu tệ. Tính riêng về vũ khí, trang bị năm 1973, viện trợ hai nước đã giảm 60% so với năm 1972, năm 1974 giảm còn 34% và năm 1975 lại tiếp tục giảm chỉ bằng 11% so với năm 1972(3). Phía Mỹ đã không tính hết được rằng, về đường lối đối nội và đối ngoại của Việt Nam những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tỏ ra tương đối độc lập: tranh thủ được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của đông đảo nhân dân và các quốc gia trên thế giới; không bị chi phối lớn bởi Liên Xô và Trung Quốc. Mặt khác, lúc này, toàn thể dân tộc Việt Nam đang nỗ lực tới mức cao nhất, dồn sức người sức của thực hiện quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


(1) Chính phía Mỹ thừa nhận rằng: “Sau khi ký kết Hiệp định Pari, Liên Xô đã chấm dứt viện trợ quân sự cho miền Bắc theo mong muốn của Washinhton. Tương tự như vậy, năm 1974, Trung Quốc đã giảm đán kể viện trợ của mình cho Bắc Việt Nam”, dẫn theo Kissinger, Henry A. White House Years, Boston; Little, Brown and company, 1979, page, 1465, White House Years, tr, 1465.
(2) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh tron mùa xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.16.
(3) Tổng cục Hậu cần: Tổng hợp viện trợ quân sự của các nước cho Việt Nam (1954-1975), tờ số 1-24.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:40:08 AM
Về phần mình, nước Mỹ kể từ sau khi Hiệp định Pari được ký kết, tiếp tục lâm vào một loạt vấn đề nan giải về chính trị, kinh tế, quân sự, đối ngoại… Cuộc chiến tranh Việt Nam đã gây ra cho nước Mỹ những khó khăn chồng chất cả về kinh tế, chính trị, quân sự và ngoại giao. Cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm 1969 đến năm 1971 ở Mỹ vừa lắng xuống thì lại diễn ra cuộc khủng hoảng trong hai năm 1973 và năm 1974 khiến cho tình trạng nhập siêu, thất nghiệp, lạm phát ngày càng tăng lên, làm nhức nhối đời sống kinh tế, xã hội Mỹ. Phong trào phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã lôi cuốn hàng triệu người Mỹ tham gia gồm đủ các thành phần. Trên trường quốc tế, vị thế của nước Mỹ cũng bị ảnh hưởng sâu sắc do những tác động của cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhật Bản, Tây Âu và Liên Xô lần lượt vươn lên vượt Mỹ trong một số lĩnh vực công nghiệp như: khoa học - kỹ thuật quân sự, khai thác than đá, dầu mỏ… Không những vậy, Tây Âu và Nhật Bản đã phản đối quyết liệt chính sách của Mỹ ở Trung Đông. Hy Lạp rút khỏi khối NATO, khối SEATO do Mỹ lập ra(1) đứng trước nguy cơ tan vỡ. Tháng 9-1973, khối Cộng đồng chung châu Âu (EEC) chống lại một số chính sách độc quyền của Mỹ. Phong trào chống chiến tranh của các nước không liên kết, phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới làm cho chính quyền Mỹ càng thêm lúng túng. Chưa bao giờ, nước Mỹ lại phải đối diện với một loạt vấn đề nóng bỏng và bị phản ứng như thời điểm này.
Trong khi đó, mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ tiếp tục có những diễn biến mới. “Những cuộc xét xử Oatơhết, triển khai đầy đủ vào tháng 3-1973, củng cố sự sẵn sàng và khả năng của Quốc hội thách thức chính quyền”(2). Ngày 30-4-1973, Níchxơn buộc phải cho hai trợ lý cao cấp của mình là H.R Hanđơman và Giônơlisơman từ chức vì bị tố cáo là liên quan tới vụ bê bối Oatơghết. từ ngày 4 đến hai ngày 14 và 15-3-1973, Hạ viện và Thượng nghị viện Mỹ đã tiến hành bỏ phiếu yêu cầu Chính phủ Mỹ chấm dứt mọi hoạt động quân sự tại chiến trường ba nước Đông Dương và không được thực hiện bất cứ khoản viện trợ quân sự nào cho Campuchia và Lào.

Liên tiếp từ ngày 17-5 đến ngày 7-11-1973, Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Mỹ lại thêm bốn lần bỏ phiếu thông qua đạo luật hạn chế quyền của Tổng thống Mỹ trong việc đưa các lực lượng chiến đấu của Mỹ ra nước ngoài tham chiến. Nếu tính tổng số từ cấp Tiểu ban chuẩn chi quốc phòng đến Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, Quốc hội Mỹ đã 11 lần ra nghị quyết buộc phe chính quyền cắt mọi khoản viện trợ cho Nguyễn Văn Thiệu, ngăn cấm tổng thống không được tự tiện tiến hành chiến tranh không tuyên bố nếu không được phép của Quốc hội.

Bắt đầu từ ngày 17-5-1973, Thượng nghị viện Mỹ công khai điều tra vụ Oatơghết(3). Vụ này đã trực tiếp góp phần làm tiêu tan sự nghiệp chính trị của Tổng thống Mỹ Níchxơn và vì vậy, tác động mạnh tới những toan tính tiếp tục can thiệp sâu vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam của chính quyền Mỹ cũng như những dự định sẽ ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam nếu Hà Nội vi phạm các điều khoản của Hiệp định như phía Mỹ đã cam kết với chính phủ Sài Gòn(4). Theo yêu cầu của Tòa án tối cao liên bang Mỹ, Níchxơn phải gửi giấy khai trước Tòa án liên bang và Ngoại Trưởng H. Kítxinhgiơ cũng phải ra toàn điều trần về những sai phạm xung qunh vụ Oatơghết. Trước tình hình phức tạp trong nội bộ, ngày 10-10-1973, Phó Tổng thống Mỹ Spairơ Acniu (Spiro Agnew) buộc phải từ chức sau khi bị kết án 3 năm tù án treo và bị phạt 1 vạn đôla vì tội trốn thuế.


(1) Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO (South East Asia Treaty Organization), khối quân sự bao gồm Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtraylia, Niu Dilân, Thái Lan Philíppin, Pakixtan do Mỹ chi phối nhằm chống lại phong trào giải phóng và tiến bộ xã hội đang phát triển mạnh mẽ ở Đông Nam Á được thành lập theo Hiệp ước Malina (Philíppin ngày 8-9-1954. Lợi dụng khối hiệp ước này, Mỹ lôi kéo một số nước trong khối tham gia chiến tranh ở Việt Nam. Do ảnh hướng của chủ nghĩa xã hội, sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc và do mâu thuẫn trong nội bộ ngày càng sâu sắc, nhất là tác động bởi thất bại của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, tháng 9-1975, SEATO tuyên bố giải thể. Tháng 6-1977, tổ chức này chấm dứt hoàn toàn sự tồn tại.
(2) Dẫn theo Gabrien Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, t.2, tr.160.
(3) Đêm ngày 17-6-1972, cảnh sát Mỹ bắt được 5 kẻ đột nhập vào tụ sở Đảng Dân chủ đặt tại khách sạn Oatơghết để đặt máy nghe trộm những hoạt động của Đảng Dân chủ đang trong thời kỳ tranh cử Tổng thống Mỹ vào cuối năm 1972. Trong số bị bắt có Giêm Mắccô phụ trách an ninh của Ủy ban vận động tái cử đương kim Tổng thống Níchxơn. Đảng Dân chủ phát đơn kiện và đòi phạt Đảng Cộng hòa 1 triệu đôla. Níchxơn từ chối trách nhiệm nhưng trước những chứng cứ do các Ủy ban điều tra đặc biệt của Tòa án liên bang và Ủy ban Tư pháp Hạ viện, Ủy ban điều tra Thượng viện Quốc hội Mỹ, ngày 30-4-1973, Níchxơn phải lên truyền hình liên bang thừa nhận những trách nhiệm liên quan tới vụ bê bối này. Ngày 24-4-1973, Ủy ban Tư pháp Hạn viện bắt đầu điền trần chuẩn bị cơ sở pháp lý tiến tới truy bố và bãi chức tổng thống. Ngày 31-5-1974, Ủy ban điều tra Thượng viện đã công bố những sai phạm của Níchxơn. Trước những căn cứ pháp lý và sai phạm của mình ubộc Níchxơn phải tuyên bố từ chức vào đêm ngày 9-8-1974.
(4) Theo TS. Nguyễn Tiến Hưng và Jerold L.Schecter: “Trong các cuộc hội đàm riêng với Nguyễn Văn Thiệu tại San Clemete, Níchxơn lặp lại những cam kết mà Níchxơn đã hứa trong thư, Hoa Kỳ sẽ đáp ứng mọi yêu cầu nếu hiệp định vi phạm. Một bản thông cáo chung nhấn mạnh sự phát triển kinh tế và viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ, đồng thời đe dọa: Hoa Kỳ sẽ trả đũa không thương tiếc mọi vi phạm lệnh ngừng bắn” và trên thực tế theo hồi tưởng của Kissinger “chúng tôi đã quyết định cho ném bom. Chúng tôi đã đề ra những mục tiêu hoanh tạc trên đường mòn Hồ Chí Minh và ở Vinh… Chúng tôi đã lên kế hoạch ném bom trong một tháng kể từ trung tuần tháng 4… nhưng vụ bê bối Oatơghết đã xen vào… Ảnh hưởng của Níchxơn đã suy sụp đến mức ông ta không còn đủ sức đưa ra quyết định vấn đề ném bom nữa… Đến cuối tháng 4 thì chiến lược (ném bom) của chúng tôi về Việt Nam chỉ còn là mớ giẻ vụn”. Dẫn theo TS. Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L.Schecter: Từ toa Bạch Ốc đến dinh Độc Lập, Nxb. Trẻ, 1990, tr. 231, 258, 259. Cũng theo Giáo sư chính trị học Mỹ Larry Berman thì: “Oatơghết đã làm hỏng kế hoạch của Tổng thống nhằm đập tan Hà Nội, và rằng vào lúc đó tình trạng tâm thần của Níchxơn quá bất ổn để tái oanh tạc”. Dẫn theo Larry Berman: Không hòa bình, chẳng danh dự Níchxơn, Kítxinhgiơ và sự phản bội ở Việt Nam, Nxb. Trẻ, 2003, tr. 346.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:46:47 AM
Ở miền Nam Việt Nam, mặc dù trước và sau khi hiệp định được ký kết, Mỹ tăng cường tuồn vũ khí, phương tiện chiến tranh nhưng việc quân Mỹ và quân một số nước đồng minh của Mỹ rút ra, đã tạo nên một khoảng trống, khiến so sánh lực lượng nghiêng hẳn về phía quân và dân Việt Nam. So với tháng 3 năm 1969, thời kỳ số lượng quân Mỹ và quân một số nước đồng minh của Mỹ lên tới đỉnh cao, thì đến năm 1973, bộ binh địch giảm 43%, pháo binh giảm 34%, thiết giáp giảm 52%, không quân giảm 67%. Hơn nữa, do một số khó khăn về nhiên liệu nên sức cơ động của quân đội Sài Gòn giảm đi 50%(1). Hàng nghìn máy bay không hoạt động được vì thiếu nhiên liệu và các phụ tùng thay thế. Việc Mỹ cắt giảm viện trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã khiến sức chiến đấu của quân đội Sài Gòn chẳng những giảm mà còn đẩy tình hình kinh tế, xã hội của chế độ Sài Gòn càng lâm vào tình trạng khó khăn.

Chính quyền Sài Gòn lại tìm cách tăng nguồn thu ngân sách bằng cách ban hành thuế giá trị gia tăng. Biện pháp này khiến giá cả càng tăng vọt, đẩy đời sống nhân dân càng gặp khó khăn. Thu nhập của nhiều gia đình binh lính, sĩ quan, quân đội Sài Gòn chủ yếu dựa vào các dịch vụ cho quân đội Mỹ giờ đã không còn, hai phần ba thu nhập từ lương của sĩ quan, binh sĩ phải chi trả cho cuộc sống hằng ngày. Tinh thần chiến đấu của quân đội Sài Gòn vì thế ngày càng sa sút mạnh, nạn đào ngũ tăng nhanh và phát triển đấu tranh chống bắt lính của nhân dân càng làm cho quân số của quân đội Sài Gòn thiếu hụt. Sức chiến đấu của quân đội Sài Gòn bị giảm sút nghiêm trọng.

Các khó khăn lớn về kinh tế, chính trị cùng những thất bại quân sự liên tiếp trên khắp các chiến trường khiến cho mâu thuẫn nội bộ chính quyền Sài Gòn càng trở nên gay gắt, Nguyễn Cao Kỳ, Phó Tổng thống và các địch thủ chính trị của Nguyễn Văn Thiệu như Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm âm mưu tiến hành đảo chính lật đổ Thiệu. Tòa thánh Vaticăng cũng lên án Thiệu, để tạo uy tín cho chính sách “canh tân hòa giải”(2).

Về phía ta, ngay sau khi Hiệp định Pari được ký kết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra lời kêu gọi đồng bào cần phải “Tăng cường đoàn kết, luôn luôn đề cao cảnh giác, ra sức phấn đấu để củng cố những thắng lợi đã giành được, giữ vững hòa bình lâu dài, hoàn thành độc lập, dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc"(3).

Cuối tháng 1-1973, Bộ Chính trị họp đểa chủ trương “Kiên quyết giữ vững hòa bình, không chủ động gây ra xung đột quân sự, gây ra nội chiến, ra sức phát huy thắng lợi đã giành được, củng cố và tăng cường thế lực mọi mặt, tranh thủ thuận lợi mới, khả năng mới để đưa cách mạng tiến lên bằng cao trào chính trị, có lực lượng vũ trang làm hậu thuẫn”, nhưng “nhất thiết lực lượng vũ trang ta phải mạnh và luôn luôn sẵn sàng chiến đấu. Bất kể trong tình huống nào, địch gây hấn trở lại nhất định phải bị giáng trả đích đáng và ta sẽ giành được thắng lợi hoàn toàn”(4).

Tiếp sau đó, ngày 27-3-1973, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta họp hội nghị mở rộng nhằm đánh giá tình hình miền Nam. Kết luận hội nghị, đồng chí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn khẳng định: “Mỹ đã thực sự rút quân nhưng chưa chấm dứt dính líu, ngụy còn ngoan cố phá hoại hiệp định. Ta cần tranh thủ xây dựng lực lượng mọi mặt ở miền Nam, miền Bắc, quy trách nhiệm của Mỹ, buộc đối phương phải thi hành Hiệp định Pari(5).

Theo phương hướng đó, trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, chúng ta khẩn trương thúc đẩy công tác chuẩn bị họp Hội nghị quốc tế về Việt Nam ở Pari nhằm góp phần xác lập vững chắc cơ sở pháp lý của Hiệp định Pari. Sau một quá trình tích cực chuẩn bị, ngày 2-3-1973, Hội nghị quốc tế về Việt Nam gồm bốn bên tham gia ký Hiệp định Pari: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; bốn nước thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc: Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, bốn nước trong Ủy ban kiểm soát và giám sát quốc tế: Ba Lan, Canađa, Hunggari, Inđônêxia và Tổng thư ký Liên hợp quốc đã ký vào bản Định ước ghi nhận và bảo đảm thi hành Hiệp định Pari. Đây là một thắng lợi lớn về ngoại giao của Việt Nam. Ở trong nước, ta đẩy mạnh công tác tuyên truyền về hiệp định, về ý nghĩa “hòa hợp” dân tộc, về chính phủ ba thành phần: khẩn trương tổ chức phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để tiam gia vào Ban liên hợp quân sự bốn bên(6). Phái đoàn quân sự này mang mật danh Đoàn 315 B, do Trung tướng Trần Văn Trà (Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam) làm Trưởng đoàn. Song song với việc thành lập phái đoàn quân sự ở cấp trung ương của Chính phủ Cách mạng lâm thới, ta còn thành lập các phái đoàn quân sự cấp khu vực; xây dựng các nhà hòa hợp tại các tuyến trực tiếp tiếp xúc giữa địch và ta để quân đội hai bên trao đổi về ngừng bắn, hòa hợp, hòa bình.


(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tổng kết tác chiến chiến lược trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), Sđd, tr. 611.
(2) Theo TS. Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L.Schecter thì trên đường từ San Clemente, bang California (Mỹ) trở về nước, “Thiệu dừng lại ở Rome để gặp Đức giáo hoàng, người mà trong cuộc hội kiến riêng đã khuyên ông ta cố gắng đi đến một hòa giải với chính quyền Cách mạng lân thời. Điều này đã làm Thiệu sửng sốt…” (Sách Từ tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập, Sđd, tr. 237-238).
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 34, tr. 13.
(4) Dựa thảo Nghị quyết Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam gửi Trung ương Cục và các khu cuối tháng 1-1973, lưu tại Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
(5) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Sđd, tr. 55.
(6) Ban Liên hiệp quân sự Trung ương bốn bên bao gồm: Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, làm Trưởng đoàn; Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Trung tướng Trần Văn Trà, Phó Tư lệnh Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, làm Trưởng đoàn; Đoàn đại biểu quân sự Mỹ do Thiếu tướng Útoát (Woodward) làm Trưởng đoàn; Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Cộng hòa do Trung tướng Ngô Du, nguyên Tư lệnh Quân đoàn II và Vùng II chiến thuật, làm Trưởng đoàn. Theo hiệp định, Ban Liên hợp quân sự bốn bên trung ương hoạt động trong 60 ngày kể từ ngày 28-1-1973 đến hết ngày 28-3-1973 và có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp của các bên thực hiện các điều khoản về ngừng bắn, rút quân Mỹ và quân đội nước ngoài ra khỏi miền nam Việt Nam, trao trả nhân viên quân sự các bên và thường dân nước ngoài bị bắt, giúp đỡ lẫn nhau tìm kiếm thông tin về những người mất tích trong chiến đấu. Ban Liên hợp quân sự làm việc theo nguyên tắc hiệp thương và nhất trí giữa bốn bên.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:51:04 AM
Nhiệm vụ chính của các phái đoàn quân sự ta là đấu tranh pháp lý với phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn nhằm đạt được các mục tiêu:

- Chấm dứt sự dính líu quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, rút hết quân, phá bỏ các căn cứ quân sự, giữ vững lập trường nước Việt Nam là một, giới tuyến quân sự chỉ là tạm thời, thực tế miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng, đấu tranh giữ vững và phát triển lực lượng ta, làm suy yếu địch, tạo thế trận ngày càng có lợi cho ta.

- Bảo đảm ngừng bắn, giữ vững hòa bình, ngăn chặn địch khiêu khích, lấn chiếm, kết hợp đòi tự do, dân chủ cho nhân dân.

- Buộc địch trao trả hết nhân viên quân sự của ta và trao trả tối đa nhân viện dân sự của ta bị địch bắt.

- Đấu tranh để giữ vững hoạt động của Ban liên hiệp quân sự bốn bên và triển khai tổ chức, hoạt động của Ban liên hiệp quân sự hai bên, xây dựng mối quan hệ tốt với Ủy ban quốc tế, nhất là với Ba Lan và Hunggari.

Phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn, ngay từ những ngày đầu khi Hiệp định Pari có hiệu lực, đã tìm mọi cách ngăn trở, phá hoại các cuộc trao đổi tiếp xúc giữa hai bên. Hải quan chính quyền Sài Gòn liên tiếp gây ra những khó khăn nhập cảnh cho phái đoàn ta tại sân bay Tân Sơn Nhất. Nghiêm trọng hơn, quân đội Sài Gòn còn cho máy bay ném bom uy hiếp xuống các khu vực hẹn đón các phái đoàn Trung ương và khu vực ta(1)  . Chính quyền Sài Gòn bố trí cho hai phái đoàn quân sự của ta một trụ sở sinh hoạt và làm việc tại trại Đavít trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất, nhưng trụ sở này bị cách ly hoàn toàn với bên ngoài bởi rất nhiều lớp rào kẽm gai, đồn bốt. Mặc dù địch tìm mọi cách gây khó khăn, né tránh nhưng trước sự đấu tranh kiên quyết của đoàn ta, ngày 29-1-1973, Ban liên hiệp quân sự bốn bên đã tổ chức được phiên họp đầu tiên ở cấp phó đoàn, tiếp đó, ngày 2-2-1973, bắt đầu phiên họp các trưởng đoàn. Tại các phiên họp tiếp theo, cuộc đấu tranh diễn ra gay go và phức tạp. Trong hai tháng, hai đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tập trung đấu tranh trên ba vấn đề lớn:

- Rút hết quân và hủy bỏ tất cả các căn cứ quân sự của Mỹ và đồng minh ở Việt Nam.

- Trao trả tất cả các nhân viên dân sự, nhân viên quân sự của các bên và thường dân nước ngoài bị bắt.

- Buộc phía Mỹ và chính quyền, quân đội Sài Gòn ngừng bắn, không lấn chiếm vùng giải phóng.

Về vấn đề rút quân viễn chinh Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam, phía Mỹ cố tình trì hoãn, không thông báo cho Ban liên hiệp quân sự theo quy định. Bị ta kiên quyết phản đối, ngày 16-2-1973, phía Mỹ mới gửi công hàm chính thức thông báo cho ta biết các địa điểm quy định để giám sát việc rút quân Mỹ. Tuy nhiên, trong quá tình rút quân, phái Mỹ để toàn bộ số súng đạn lại cho quân đội Sài Gòn. Phái đoàn ta kiên quyết đấu tranh buộc phía Mỹ phải chấp nhận để các thành viên phái đoàn ta cùng tham gia giám sát việc rút quân viễn chinh Mỹ tại các sân bay Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng, Nha Trang.

Ngày 27-3-1973, những người lính Mỹ cuối cùng bắt đầu rút khỏi miền Nam Việt Nam. Ngày 29-3-1973, Bộ Tham mưu quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam làm lễ cuốn cờ. Tướng Uâyen, Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ ở miền Nam Việt Nam cùng với 2.510 lính Mỹ cuối cùng lặng lẽ ra sân bay Tân Sơn Nhất rời khỏi Việt Nam dưới sự kiểm soát và giám sát của Ủy ban quốc tế và các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ban liên hiệp quân sự bốn bên. Cùng ngày, những người lính Nam Triều Tiên và Philíppin cũng lên đường rút về nước. Tuy nhiên: “Thay vì triệt thoái các căn cứ của mình, Mỹ đã trao lại cho Nam Việt Nam trước khi Hiệp định Pari có hiệu lực. Hàng tiếp tế được dán nhãn phi quân sự và được coi là đủ điều kiện để chuyển giao. Đoàn cố vấn quân sự được thay thế bằng tổ chức dân sự 9.000 người, trong đó, rất nhiều người được cho giải ngũ và đưa vào phục vụ chính quyền Việt Nam”(2).


(1) Theo Gabrien Côncô, thì: “Thiệu ngăn cản có hệ thống ngay từ đầu công việc của Ban liên hiệp quân sự bốn bên. Ngoài việc ném bom và hầu như tiêu diệt Phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời trong Ban liên hiệp trong dịp tết 1973, thỉnh thoảng Thiệu cũng không chíu giúp phái đoàn Mỹ” (Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, t.2, tr. 139). Và cũng trong ngày 28-1-1973, địch sử dụng 2 máy bay chiến đấu ném bom xuống sân bay Thiện Ngôn, địa điểm hẹn đón đoàn của Trung tướng Trần Văn Trà, nhưng do ta cảnh giác kịp thơi di chuyển nên không bị tổn thất gì. Còn với các đoàn đại iểu của ta ở các khu vực quân đội Sài Gòn tổ chức phục kích, bắn pháo tại các điểm hẹn đón (Khu 5, 6). Ở Plâycu, Buôn Ma Thuột, Hếu, Đà Nẵng, Đức Phổ, Tam Kỳ…, chúng tổ chức cảnh sát trá hình hành hung các sĩ quan liên lạc ta làm nhiệm vụ.
(2) Dẫn theo George C.Herring: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.334.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:54:51 AM
Việc thực hiện trao trả nhân viên quân sự các bên, thường dân nước ngoài và nhân viên dân sự Việt Nam bị bắt và giam giữ là vấn đề quan trọng đối với cả Mỹ và ta. Về phía ta, do có sự phối hợp nhịp nhàng giữa phái đoàn ở Tân Sơn Nhất với Bộ Tư lệnh Miền và Bộ Tư lệnh các quân khu ở miền Nam, nên việc trao trả luôn được tuân thủ và bảo đảm đúng kế hoạch, đúng thời gian, đúng địa điểm(1). Trong khi đó, quân đội và chính quyền Sài Gòn lại thường xuyên gây cản trở, trì hoãn hoặc lẩn tránh việc trao trả tù chính trị. Họ tỏ ra không mấy quan tâm tới số người của họ bị bắt. Phía Mỹ, do mong muốn nhận được tù binh Mỹ, nên buộc phải đáp ứng đòi hỏi của ta, kể cả gây sức ép đối với chính quyền Sài Gòn trong việc trao trả người của các bên bị bắt.

Để việc trao trả diễn ra đúng kế hoạch, bảo vệ được tính mạng của tù chính trị, phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam một mặt, hết sức tranh thủ sự ủng hộ của dư luận trong nước và quốc tế, dựa vào Ủy ban quốc tế, kiên quyết yêu cầu phía chính quyền Sài Gòn phải thực hiện đúng theo tinh thần Hiệp định Pari, theo đúng các kế hoạch, mặt khác, chủ động và kịp thời tìm ra các giải pháp đúng đắn, xử lý tốt những tình huống bất trắc xảy ra. Các thành viên phái đoàn của ta liên tục đấu tranh với phái đoàn của chính quyền Sài Gòn đòi được trực tiếp đến các trại giam xét xét tình hình ăn, ở, sinh hoạt của tù binh. Mặc dù tìm mọi cách ngăn cả, nhưng trước áp lực của dự luận và trước sự đấu tranh kiên quyết của phái đoàn quân sự ta, phía chính quyền Sài Gòn buộc phải đồng ý để cho phái đoàn đi thăm một số trại giam. Tại những nơi đó, các thành viên phái đoàn ta đã kịp thời thông báo về tình hình thực hiện Hiệp định Pari và động viên các chiến sĩ đang bị giam cầm trong lao tù của chính quyền Sài Gòn kiên cường đấu tranh, giữ vững khí tiết cách mạng; đồng thời, yêu cầu phía chính quyền Sài Gòn phải có biện pháp cải thiện chế độ sinh hoạt cho các tù nhân. Tính đến cuối tháng 3-1973, kết thúc thời kỳ hoạt động của Ban Liên hiệp quân sự bốn bên, ta đã trả cho phía Mỹ 128 nhân viên quân sự Mỹ và nước ngoài bị bắt, trả cho chính quyền Sài Gòn 5.426 nhân viên quân sự, đồng thời nhận về 26.492 cán bộ, chiến sĩ. Con số này rất nhỏ so với thực tế trên 20 vạn cán bộ, chiến sĩ cách mạng còn đang bị chính quyền Sài Gòn cầm tù(2).

Cuộc đấu tranh đòi phía chính quyền và quân đội Sài Gòn thực hiện ngừng bắn, chấm dứt các hành động lấn chiếm các vùng giải phóng diễn ra quyết liệt không chỉ trên chiến trường mà cả trên bàn nghị sự. Ngay từ khi Hiệp định Pari chưa ký kết, chính quyền Sài Gòn đã chủ trương phá hoại hiệp định; đến khi hiệp định có hiệu lực thì kẻ địch vẫn không ngừng chống phá ta, thậm chí có mặt còn quyết liệt hơn trước(3). Tại các diễn đàn trong nước và quốc tế, Phái đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phối hợp chặt chẽ với phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, bằng những chứng cứ cụ thể và lập luận vững chắc, bác bỏ sự vu khống và tố cáo những hành động phá hoại hiệp định của phía Sài Gòn. Không chỉ đấu tranh về mặt pháp lý tại các diễn đàn hội nghị, phái đoàn ta còn tổ chức cho Ủy ban quốc tế xuống tận các địa phương, thực tiếp kiểm tra và giám sát thực tế tình hình thi hành hiệp định của hai phía. Hằng tuần, tại trại Đavít (nơi ở và làm việc của phái đoàn ta trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn), phía đoàn ta đều đặn tổ chức các cuộc họp báo, thông báo về tình hình thi hành Hiệp định Pari, về chính sách hoa bình, hòa hợp dân tộc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tố cáo quân đội và chính quyền Sài Gòn vi phạm hiệp định. Các cuộc họp báo này ngày càng thu hút đông đảo phóng viên báo chí trong và ngoài nước tham dự. Nhiều nhà báo nước ngoài đã yêu cầu đoàn ta trực tiếp dẫn đi thăm các vùng giải phóng, thăm chiến trường. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn mấy tháng đầu năm 1973, phái đoàn của ta đã quan hệ, tiếp xúc và trả lời phỏng vấn với các phóng viên của hơn 80 tờ báo, hãng thông tấn, vô tuyến truyền hình và phát thanh của 21 nước trên thế giới, làm cho dư luận chung ngày càng hiểu rõ thiện chí của phía cách mạng và đồng tình với ta trong việc ngăn chặn và đẩy lùi các hoạt động lấn chiếm vùng giải phóng của chính quyền, quân đội Sài Gòn. Nhân dịp lễ, tết cố truyền của dân tộc, hai đoàn đại biểu quân đội của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thường tổ chức các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao có mời đại biểu các phái đoàn quân sự của Mỹ, của quân đội Sài Gòn và phái đoàn bốn nước trong Ủy ban quốc tế tham gia. Những hoạt động hày đã góp phần gây thêm ấn tượng tốt đẹp với báo giới và các thành viên của Ủy ban quốc tế.


(1) Ngày 12-2-1973, cuộc trao trả tù binh đầu tiên giữa ba bên: Hoa Kỳ, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa tại sân bay Lộc Ninh đã diễn ra tốt đẹp dưới sự kiểm soát của các sĩ quan trong tổ chức quốc tế kiểm soát và giám sát đình chiến cùng các sĩ quan Ban liên hiệp quân sự bốn bên.
(2) Cũng trong những tháng ngày đen tối ấy, hàng chục nghìn cán bộ, chiến sĩ cách mạng đã bị phía chính quyền Sài Gòn lén lút thủ tiêu. Chỉ tính riêng các nhà lao miền Tây Nam Bộ, trong vòng hai tháng, từ 27-1-1973 đến hết tháng 3-1973, đã có 18.00 tù chính trị bị đưa đi mất tích. Trong hai ngày 17 và 18-3-1973, đã có 1.500 tù chính trị ở Côn Đảo bị mất tích. Đêm ngày 15-4-1973, đồng bào ta lại phát hiện thêm 25 xác tù chính trị ở Tây Ninh bị kẻ địch đâm chết cột đá thả trôi sông. Đến tháng 9-1973, trên các sông Tiền, sông Hậu, nhân dân phát hiện có hàng chục xác chết trần truồng, cụt đầu, trói vào cọc tre thả trôi sông mỗi ngày. Dẫn theo Nguyễn Thị Bình (và các tác giả): Mặt trận dân tộc giải phóng và Chính phủ Cách mạng lâm thời, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 399.
(3) Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố: Hiệp định Pari không có nghĩa là chúng ta cùng chung sống với cộng sản, cùng ngồi uống cà phê, ăn hủ tiếu với cộng sản. Chúng ta phải chống cộng sản tới cùng và tiêu diệt đến tên cộng sản cuối cùng.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:58:00 AM
Ngày 28-3-1973, Ban liên hiệp quân sự bốn bên kết thúc nhiệm vụ. Từ ngày 29-3-1973, Ban liên hiệp quân sự hai bên Trung ương (gồm phái đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và phái đoàn quân sự chính quyền Sài Gòn) bắt đầu hoạt động và họp phiên đầu tiên. Phái đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn do là Trưởng đoàn. Đoàn đại biểu quân sự Việt Nam Cộng hòa do Trung tướng Phạm Quốc Thuần làm Trưởng đoàn. Theo quy định của Hiệp định Pari, Ban liên hiệp quân sự hai bên Trung ương có nhiệm vụ bảo đảm sự phối hợp hành động của hai bên miền Nam trong việc thực hiện các điều khoản về các vấn đề quân sự và trao trả tù binh bị bắt. Tuy nhiên, ngay từ phiên họp đầu, Phái đoàn Sài Gòn đã biểu lộ thái độ không nghêm chỉnh. Cùng với những hoạt động lấn chiếm vùng giải phóng đang gia tăng, thái độ và hành động của Phái đoàn đại biểu quân sự Sài Gòn khiến cuộc đấu tranh ở Ban liên hiệp quân sự hai bên diễn ra căng thẳng và quyết liệt, đặc biệt là việc trao trả số nhân viên quân sự và dân sự còn lại của hai bên. Dựa trên cơ sở pháp lý của Hiệp định Pari, đồng thời hiểu rõ về việc Chính phủ Mỹ muốn sớm nhận được hài cốt lính Mỹ chết tại Việt Nam, đoàn ta đã đấu tranh đòi Mỹ dùng ảnh hưởng của mình buộc chính quyền Sài Gòn, từ tháng 4-1973, đến tháng 3-1973, trao trả thêm cho ta 5.078 nhân viên dân sự và 130 nhân viên quân sự; ta cũng trao trả cho phía chính quyền Sài Gòn tổng cộng 637 nhân viên dân sự và 410 nhân viên quân sự.

Phối hợp với các hoạt động của Phái đoàn quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, tại Lộc Ninh, đại diện quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời, do đồng chí Lê Văn Tưởng, Phó Chính ủy Miền phụ trách, cũng tổ chức các buổi tiếp đón và làm việc với một số thành viên trong Ủy ban quốc tế về việc kiểm tra, giám sát công tác trao trả tù binh; tổ chức các cuộc biểu tình, đưa đơn tố cáo chính quyền và quân đội Sài Gòn vi phạm ngừng bắn, phá hoại hiệp định. Nhiều vụ việc đã được Ủy ban quốc tế xác nhận và phê phán mạnh mẽ hành động vi phạm của phía Sài Gòn, điển hình là vụ máy bay của quân đội Sài Gòn ném bom giết hại nhiều thường dân tại khu vực Lộc Tấn thuộc Lộc Ninh tỉnh Bình Phước, ngày 12-5-1973.

Điều 12 của Hiệp định Pari quy định trong thời gian 90 ngày sau khi Hiệp định Pari có hiệu lực, hai bên miền Nam sẽ thương lượng với nhau để ký kết một hiệp định về các vấn đề nội bộ của miền Nam Việt Nam. Tại diễn đàn Hội nghị hiệp thương hai bên miền Nam Việt Nam tổ chức tại La Xen Xanh Clu (La Celle Saint Cloud)(1) Cộng hòa Pháp, cuộc đấu tranh tiếp tục diễn ra căng thẳng giữa Phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa chủ yếu xoay quanh các vấn đề ngừng bắn, trao trả tù binh, bảo đảm tự do dân chủ, lập hội đồng tiến tới tổn tuyển cử. Cử đại diện tham gia diễn đàn này, chính quyền Sài Gòn chỉ nhằm đối phó với dư luận trong và ngoài nước, tìm mọi cách trì hoãn, không chịu đi vào giải quyết về thực chất các điều khoản đã được quy định; đồng thời tìm cách hạn chế tối đa những ảnh hưởng của hội nghị này đối với phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân trong vùng họ chiếm giữ, nhất là ở các thành phố lớn. Do sự cố tình trì hoãn từ phía Sài Gòn mà đoàn ta sang từ đầu tháng 2-1973, nhưng mãi cho tới ngày 19-3-1973, Hội nghị hiệp thương giữa hai miền Việt Nam mới chính thức được khai mạc. Suốt từ ngày 19-3-1973 đến ngày 30-5-1973, trong 13 phiên họp, đoàn Sài Gòn tiếp tục bám vào luận điệu ”miền Bắc xâm lược miền Nam” để yêu cầu miền Bắc rút quân; phủ nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, phủ nhận thực tế hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát, ba lực lượng chính trị ở miền Nam; đòi giải quyết vấn đề miền Nam trong khuôn khổ Hiến pháp của chế độ Sài Gòn.

Trong khi kiên quyết bác bỏ những luận điệu vu khống của phía Sài Gòn, ngày 25-4-1973, Bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu đã chủ động đưa ra đề nghị 6 điểm:

“1 - Chấm dứt ngay mọi cuộc xung đột, triệt để tuân theo mọi điều khoản về ngừng bắn;

2 - Trao trả ngay tất cả nhân viên dân sự bị bắt, bị giam giữ ở miền Nam Việt Nam;

3 - Bảo đảm ngay và đầy đủ các quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam;

4 - Thành lập Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc;

5 - Tiến hành tổng tuyển cử tự do và dân chủ ở miền Nam Việt Nam;

6 - Giải quyết vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam”(2).

Đề nghị trên đây của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được đông đảo dư luận trong nước và trên thế giới đồng tình ủng hộ. Ngày 28-6-1973, Hội nghị hiệp thương hai miền họp trở lại nhưng rồi bị gián đoạn, các trưởng đoàn hai bên rút về nước. Đến phiên họp thứ 47 ngày 12-4-1973, phía Sài Gòn rút bỏ hội nghị và bốn ngày sau, ngày 16-4-1973, họ tuyên bố đình chỉ họp hội nghị vô thời hạn. Trước đó, một ngày, ngày 15-4-1974, ta cũng tuyên bố ngừng các cuộc đàm phán tại La Xe Xanh Clu.


(1) Đây là một lâu đài cổ nằm ở tây nam Thủ đô Pari, cách trung tâm 40 km được Chính phủ Pháp cho ta mượn làm trụ sở họp Hội nghị hiệp thương hai miền Việt Nam. Tại đây, đã diễn ra 47 phiên họp lớn, nhỏ giữa hai bên. Đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thòi do Bộ trưởng Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu, còn đoàn Việt Nam Cộng hòa do Phó Thủ tướng, Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên làm trưởng đoàn.
(2) Dẫn theo Nguyễn Thị Bình: Mặt trận dân tộc giải phóng - Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam, Sđd, tr. 127.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 08:00:51 AM
Trên mặt trận quân sự, trong khi chúng ta nghiêm chủ chấp hành lệnh ngừng bắn, thi hành các điều khoản đã ký kết thì phái Mỹ và chính quyền Sài Gòn liên tiếp mở hàng chục nghìn cuộc hành quân lớn nhằm giành dân, chiếm đất, mở rộng địa bàn kiểm soát. Trên thực thế, thời gian đầu, hành động tiến công lấn chiếm của quân đội Sài Gòn làm cho vùng giải phóng của ta ngay càng bị thu hẹp; thậm chí chúng còn ngang nhiên sử dụng các loại máy bay, xe tăng, xe thiết giáp sơn ký hiệu của Ủy ban quốc tế, Ủy ban liên hiệp quân sự xâm phạm vùng giải phóng của ta, trong khi không ngớt vu cáo ta vi phạm hiệp định.

Trước những hành động vi phạm các điều khoản Hiệp định Pari một cách có hệ thống và ngày càng nghiêm trọng của Mỹ và chính quyền quân đội Sài Gòn, cuộc họp Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng ngày 24-5-1973, bàn về vấn đề cách mạng miền Nam, đã chỉ rõ: “Trong khi địch dùng hành động quân sự đánh ta, ta vẫn cần phải chủ động tiến công địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và pháp lý… Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động, chỉ có qua đó mà từng bước đánh bại mọi hành động vi phạm của địch”(1).

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Bộ chính trị Trung ương Đảng, nhiều địa phương như Khu 5, Tây Nguyên, Khu 9 bắt đầu sử dụng lực lượng vũ trang đánh trả, thu hồi nhiều vùng đất bị địch lấn chiếm như Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Ngô Trung, Đắc Rơcót (Kon Tum), Cái Bè, Bắc Cai Lậy, Vùng 4 Kiến Tường, Chương Thiện (đồng bằng sông Cửu Long), Củ Chi, Trảng Bàng, Tống Lê Chân (Đông Nam Bộ).

Quảng Trị là một địa bàn có ý nghĩa chiến lược cả về quân sự lẫn chính trị và ngoại giao đối với cả phía ta và phía chính quyền Sài Gòn. Tại đây, đã diễn ra cuộc chiến đấu quyết liệt giữa hai bên, đặc biệt là ở khu vực Cửa Việt. Trước khi hiệp định được ký kết, quân đội Sài Gòn đã nhiều lần tiến công hòng lấn chiếm lại Cửa Việt nhưng không thành công. Đúng vào đêm ngày ký kết Hiệp định Pari, ngày 27-1-1973, lợi dụng thời tiết xấu, thủy triều rút, quân đội Sài Gòn sử dụng 4 chi đoàn thiết giáp và 3 đại đội bộ binh luồn lách sâu, bất ngờ tiến công vào các khu vực phòng ngự của Sư đoàn 320 B. Phát hiện địch đột nhập, Trung đoàn 101 (đơn vị phòng ngự trên hướng chính) liên tục phản kích buộc địch phải co cụm đội hình(2). Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Mặc dù được tăng cường lực lượng nhưng các đợt phản kích của Trung đoàn 101 trên hướng tiến công chính không mang lại kết quả, không đẩy được địch ra khỏi trận địa. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 B hạ quyết tâm tập trung mọi lực lượng, bố trí đội hình chiến đấu, tổ chức hiệp đồng chặt chẽ giữa các đơn vị nhằm đánh bật địch ra khỏi khu vực trận địa. Từ đêm ngày 29, ta dùng cả xung lực và hỏa lực liên tục đánh vào đội hình địch, không cho chúng có thời gian củng cố; đồng thời, đưa lực lượng chủ lực vào triển khai chiếm lĩnh các vị trí như đã định, hình thành thế bao vây, chia cắt, chặn đánh quân địch. Địch tiếp tục đưa lực lượng phía sau lên tăng cường cho các lực lượng phía trước nhưng lực lượng này đều bị Trung đoàn 64 của ta chặn đánh. Tầu chiến địch ngoài khơi áp vào khu vực gần bờ, chi viện hỏa lực cho quân bộ, cũng bị hỏa lực bờ đối biển của ta đánh trả mãnh liệt; một chiếc bị bắn cháy, số còn lại buộc phải lùi ra xa. Đúng 6 giờ 30 ngày 31-1-1973, các đơn vị thuộc Sư đoàn 320 B và các đơn vị tăng cường được hỏa lực pháo, cối chi viện đồng loạt nổ súng tiến công lần lượt tiêu diệt các cụm quân địch. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, quân ta cơ bản khôi phục lại toàn bộ khu vực phòng ngự ở Cửa Việt.

Trên chiến trường Trị - Thiên - Huế, ngay từ khi Hiệp định Pari chưa được ký kết, Khu ủy và Quân khu ủy chủ trương sử dụng đại bộ phận lực lượng của Sư đoàn 324, Trung đoàn 6 và lực lượng vũ trang hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên mở đợt hoạt động quân sự kéo dài khoảng từ 7 đến 10 ngày nhằm giành thêm thắng lợi, giữ vững thế trận xen kẽ giữa ta và địch, góp phần trực tiếp cải thiện thế trận chiến tranh nhân dân ở vùng giáp ranh.

Thực hiện chủ trương trên đây, quân và dân Trị - Thiên đẩy mạnh tiến công địch cả về quân sự và chính trị, mở rộng vùng giải phóng, trọng tâm là khu vực đồng bằng Quảng Trị, Phong Điền, nam Huế. Với sự hỗ trợ của các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang Quân khu 5, quân và dân các địa phương tỉnh Quảng Trị tiến công chiếm lĩnh 10 thôn thuộc 5 xã của huyện Triệu Phong và 10 thôn thuộc 3 xã của huyện Hải Lăng hình thành các căn cứ lõm trong vùng địch chiếm. Ở Thừa Thiên, chủ lực quân khu phối hợp với lực lượng tại chỗ tiến công chiếm lĩnh 5 thôn huyện Phú Lộc, 4 thôn thuộc huyện Hương Trà, 3 thôn thuộc huyện Phú Vang, 3 thôn thuộc huyện Phong Điền và một số khu vực khác… Tuy nhiên, tại những địa phương vừa giải phóng, toàn bộ lực lượng vũ trang được dàn ra chiếm lĩnh trên diện rộng, không còn lực lượng dự bị, trong khi các vùng mới giải phóng lại tách rời nhau, ta chưa tạo được thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn, vững chắc. Vì vậy, chỉ trong 10 ngày sau khi Hiệp định Pari có hiệu lực, hầu hết các khu vực này đều bị địch tiến công lấn chiếm.


(1) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Sđd, tr.67.
(2) Chúng đóng thành 4 cụm: cụm số 1 ở nam Cảng Mỹ 700 m với lực lượng có 2 đại đội bộ binh và 8 xe tăng, thiết giáp; cụm số 2 ở tây Đông Hà Tây 1.500 m với lực lượng 3 đại đội bộ binh và 21 xe tăng, thiết giáp; cụm số 3 ở bắc Gò Cao 4 khoảng 200 m với lực lượng gồm 2 đại đội bộ binh và 7 xe tăng, thiết giáp; cụm số 4 đóng ở nam Gò Cao 4 khoảng 600 m với lực lượng gồm 1 đại đội bộ binh và 4 xe tăng, thiết giáp.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 08:04:24 AM
Đầu tháng 3-1973, Thường vụ Quân khu Trị - Thiên - Huế họp nhận định: “Tình hình hiện nay vẫn là tiếp tục xung đột vũ trang bộ phận, diễn ra bằng hình thức lấn chiếm và chống lấn chiếm, từ đó đề ra phương hướng hành động cho quân và dân các địa phương trong quân khu: “Không chủ động tấn công về quân sự mà lấy phòng ngự tích cực để giữ vững thế trận hiện nay là chính, đồng thời phải chuẩn bị chu đáo để đánh trả quân địch lân chiếm một cách kiên quyết, đánh thật đau, tiêu diệt nhanh gọn, và có điều kiện thì phát triển tiến công giành thắng lợi mới”(1).

Tiếp đó, đâu tháng 4-1973, Hội nghị Quân khu ủy Quân khu Trị - Thiên(2) chủ trương phải: “Xây dựng lực lượng, nâng cao chất lượng chiến đấu của ba thứ quân, tích cực thành công chiến trường, xây dựng hậu phương quân đội; tham gia xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng, sẵn sàng mọi mặt nếu địch gây lại chiến tranh thì cùng quân và dân toàn miền đánh bại chúng, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn”(3).

Theo phương hướng đó, trong khi khẩn trương củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, bố trí và tăng cường lực lượng quân sự, chính trị, quân và dân Quân khu Trị - Thiên đồng thời kiên quyết giáng trả mọi hành động phá hoại Hiệp định Pari của chính quyền và quân đội Sài Gòn; chặn đứng, đẩy lùi các cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm của địch ở các khu vực như: Tích Tường - Như Lệ, Phong Sơn, Tà Lương, Khe Thai, Mỏ Tầu.

Trên chiến trường Tây Nguyên, trước ngày Hiệp định Pari được ký kết, nhằm cải thiện thế phòng ngự và làm giảm áp lực của ta đối với hai thị xã Kon Tum và Plâycu, quân đội Sài Gòn liên tục tiến công lấn chiếm những vị trí, những khu vực quan trọng trên hai các trục đường 14, 19, 21.

Nhằm đánh bại mọi âm mưu và hành động lấn chiếm của địch, tạo điều kiện cho việc pnòng giữ vững chắc vùng giải phóng ở phía tây đường 19, ngay từ ngày 24-1-1973, Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 320A đã tăng cường Tiểu đoàn bộ binh 12 cho Trung đoàn 48 đánh cắt đường 14 đoạn từ nam Phú Mỹ đến bắc Mỹ Thạch (khoảng 8 km)(4). Khu vực hai bên đường 14, đoạn từ điểm cao 751 qua căn cứ Lam Sơn đến Kôngtrăngkla, Ngọc Bai tới điểm cao 674 (bắc thị xã Kon Tum) thuộc địa bàn do Sư đoàn 10 bộ đội Tây Nguyên phòng ngự. Cuộc chiến đấu dọc trục đường 14 diễn ra ác liệt. Các đơn vị thuộc Trung đoàn 48 và Sư đoàn 10 đã cùng với nhân dân địa phương đào đắp hàng nghìn mét khối đất đá, hàng trăm kilômét giao thông hào, xây dựng hệ thống phòng ngự liên hoàn, vững chắc. Dựa vào hệ thống trận địa phòng ngự đó, các đơn vị Quân giải phóng Tây Nguyên đã phối hợp nhịp nhàng, liên tiếp đánh bại các đợt tiến công của địch nhằm chiếm lại đường 14, hoàn thành nhiệm vụ phòng ngự, giữ vững vùng giải phóng.

Tại Khu 5, thực hiện chủ trương chống địch lấn chiếm, Sư đoàn 2 sử dụng một số phân đội của hai Trung đoàn 31 và 38 cùng Tiểu đoàn công binh 15 tổ chức trận địa phòng ngự ở khu vực Châu Sơn, Liệt Kiểm, Lạc Sơn, Núi Giai (huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam). Ta đã xây dựng nên một hệ thống công sự trận địa với 1.021 hầm chiến đấu, 42 trận địa pháo cối, hơn 200 m địa đạo, hơn 10 km hào giao thông, 18 km đường cơ động cho xe cơ giới… Với hệ thống công sự hầm hào liên hoàn, kiên cố và vững chắc này, Sư đoàn bộ binh 2 - chủ lực của Quân khu 5 của ta đã trụ bám vững chắc, cơ động linh hoạt, tiến công vào sườn và phía sau đội hình các cánh quân của Sư đoàn 3 quân đội Sài Gòn, đẩy lùi nhiều đợt tiến công của địch, giữ vững trận địa phòng ngự.

Ở Nam Bộ, sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, địch đẩy mạnh các hoạt động tiến công lấn chiếm, giành dân, giành đất, giành những vị trí và các trục đường giao thông quan trọng có ý nghĩa chiến lược. Các hành động phá hoại Hiệp định Pari của chính quyền và quân đội Sài Gòn đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của quân và dân các địa phương. Tại Thủ Dầu Một, ta liên tiếp tiến công tiêu diệt nhiều đồn bốt của địch. Ở Tây Ninh, từ cuối tháng 1-1973, lực lượng vũ trang tỉnh kết hợp với quần chúng đồng loạt đánh chiếm 61 trong tổng số 120 ấp chiến lược; riêng huyện Tòa Thánh, ta đánh chiếm 20 ấp và đánh bại các cuộc phản kích của bảo an và chủ lực quân đội Sài Gòn. Trên chiến trường Bà Rịa - Long Khánh, quân và dân huyện Long Đất đã giành toàn bộ khu vực từ Hội Trường đến Lợi Chí, cắt đứt và làm chủ các đoan đường số 14 và đường số 52. Địch phản ứng quyết liệt, chúng tập trung hỏa lực pháo binh bắn phá và dùng máy bay ném bom hủy diệt hoàn toàn ấp Hội Trường.


(1) Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1985, tr. 223.
(2) Đầu tháng 4-1973, Trung ương Đảng quyết định hợp nhất B4 và B5 lấy tên là Quân khu Trị - Thiên.
(3) Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng, Nxb. Thuận Hóa, Huế, 1985, tr. 224.
(4) Nay thuộc địa phận hai xã Giá Lại và Dun, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 08:10:28 AM
Tại miền Tây Nam Bộ, mặc dù lực lượng còn mỏng, lại gặp nhiều khó khăn trong công tác bảo đảm hậu cần, tiếp tế vũ khí, đạn dược, nhưng Thường vụ Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 9 vẫn chủ trương: “Giữ vững thế tiến công, kiên quyết đánh địch lấn chiếm, bình định”(1).

Quán triệt và thực hiện nghị quyết của Khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu, các lực lượng vũ trang ta trên địa bàn đã chủ động tổ chức nhiều trận đánh phục kích hoặc tập kích vào đội hình quân địch khi chúng tổ chức hành quân càn quét, lấn chiếm. Từ ngày 28-1 đến ngày 14-2, liên tiếp diễn ra các trận đánh của Trung đoàn 1 chủ lực quân khu, loại khỏi vòng chiến đấu gần 300 tên địch tại Bắc Long Mỹ (Cần Thơ); Tiểu đoàn 308, phục kích diệt tiểu đoàn bảo an tại xã Hiên Thành (Vĩnh Trà); Tiểu đoàn 306 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương phục kích diệt gọn Tiểu đoàn 472 của quân đội Sài Gòn ở Chùa Dơi (An Giang).

Ở Rạch Giá, sau nhiều lần càn quét hòng đánh bật lực lượng vũ trang ta ra khỏi khu vực Vĩnh Hòa Hưng không thành công, đầu thán 6-1973, địch quyết định tập trung một lực lượng mạnh, bao gồm Liên đoàn 41 biệt động quân, hai tiểu đoàn bảo an của Châu Đốc và An Giang, Chi đoàn 1 thiết giáp thuọc Trung đoàn 9 quân đội Sài Gòn cùng với sự chi viện hỏa lực của 6 trận địa pháo binh, mở cuộc tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, hòng thiết lập nên tuyến phòng ngự Vĩnh Hòa Hưng - Giồng Riềng - Ba Hồ.

Được Bộ Tư lệnh Quân khu 9 giao nhiệm vụ kiên quyết đánh bại cuộc hành quân lấn chiếm của địch, bảo vệ vùng giải phóng Vĩnh Hòa Hưng, Trung đoàn 20 chủ lực quân khu phối hợp với nhân dân và lực lượng vũ trang địa phương khẩn trương xây dựng trận địa dọc bờ sông Cái Tư. Dựa vào đó, Trung đoàn 20 và lực lượng vũ trang địa phương đã chặn đánh quyết liệt các mũi tiến quân của hai Tiểu đoàn biệt động quân 76, 86 và Tiểu đoàn bảo an từ Vị Thanh tiến vào Vĩnh Hòa Hưng trên hai hướng. Kết quả, về cơ bản, chúng đã bị lực lượng ta chặn đứng không thể tiếp tục phát triển được về phía Vĩnh Hòa Hưng.

Tại Chương Thiện, ngày 21-6-1973, địch sử dụng một lực lượng mạnh bao gồm Trung đoàn 16 thuộc Sư đoàn 9 quân Sài Gòn, hai tiểu đoàn bảo an 428, 477 của Tiểu khu Chương Thiện cùng với một chi đoàn thiết giáp, được sự chi viện hỏa lực hỏa lực của pháo binh, không quân, tổ chức tiến công lấn chiếm vùng bắc Long Mỹ, thọc sâu vào vùng hậu cứ, nơi Tỉnh ủy Cần Thơ đóng tại xã Long Bình, huyện Long Mỹ.

Kiên quyết khôi phục lại địa bàn và thế làm chủ của ta trong khu vực, ngay trong ngày 25-6, Tiểu đoàn 309 được tăng cường một đại đội trinh sát, một phân đội hỏa lực tổ chức tiến công địch tại rạch Cái Cao thuộc khu vực hậu cứ của Tỉnh ủy. Bất ngờ trước sức tiến công của bộ đội ta, địch bị tổn thất nặng nề, buộc phải tháo chạy khỏi khu vực”.

Nhìn chung, trên toàn chiến trường miền Nam, 6 tháng đầu năm 1973, quân và dân ta đã bước đầu tổ chức và thực hiện nhiều trận đánh có hiệu suất cao trước các hoạt động tiến công lấn chiếm các vùng giải phóng của quân đội Sài Gòn. Đặc biệt, cuộc chiến đấu của quân và dân ta trên địa bàn Quân khu 9, không những tiêu hao, tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch mà còn bảo vệ được địa bàn. Tuy nhiên, ở nhiều địa phương và một số đơn vị, do quá tin tưởng vào khả năng hòa bình, không lường hết được âm mưu và các thủ đoạn nham hiểm của địch, nên lơ là mất cảnh giác, trong đó, cũng có một phần nguyên nhân do chỉ thị “năm cấm chỉ”(2) của Đoàn cán bộ công tác chính trị, binh vận Miền. Trên thực tế, địch đã tiến công lấn chiếm được nhiều địa bàn, chiếm giữ được một số trục lộ giao thông huyết mạch có ý nghĩa chiến lược.

Năm 1973, trên toàn miền Nam, địch đóng thêm 500 đồn bốt, chiếm thêm 70 xã, 740 ấp, kiểm soát thêm 650.00 dân. Cụ thể: Khu 5, địch đóng thêm 200 đồn bốt, chiếm thêm 45 xã, 320 ấp với 25 vạn dân; ở Khu 8, địch đóng thêm gần 300 đồn bốt, chiếm thêm 24 xã, 120 ấp với 100.00 dân; ở Khu 6 và Khu 7, địch líp lại hầu hết các vùng ta mới mở gồm 300 ấp và gần 300.000 dân(3).

Trước âm mưu và hành động phá hoại hiệp định một cách có hệ thống của chính quyền và quân đội Sài Gòn, cũng trong cuộc họp tháng 5 năm 1973, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã bàn kỹ về vấn đề cách mạng miền Nam với sự tham gia của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy từ khắp các chiến trường miền Nam ra. Hội nghị đã nghiêm túc kiểm điểm lại những sai lầm, thiếu sót trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng miền Nam những tháng đầu năm 1973 và chỉ rõ nguyên nhân chính “là do ta có khuyết điểm chứ không phải do địch mạnh, do lúc đầu ta không đánh giá hết âm mưu của địch và khả năng của chúng thực hiện âm mưu ấy. Chúng ta đã không có chủ trương kịp thời, nhất quán từ đầu về vị trí, nội dung của tiến công quân sự. Địch cứ tiến công lấn chiếm, mà ta thì ngồi im, có nơi còn rút lui”. Hội nghị đã thống nhất quyết định: “Trong khi địch dùng hành động quân sự đánh ta, ta vẫn cần phải chủ động tiến công địch, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và pháp lý…. Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động, chỉ có qua đó mà từng bước đánh bại mọi hành động vi phạm của địch”(4).


(1) Quân khu 9 - 30 năm kháng chiến, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 532.
(2) “Năm cấm chỉ” là: cấm tiến công, cấm pháo kích, cấm đánh càn, cấm xây dựng xã, ấp chiến đấu, cấm đánh đồn bốt.
(3) Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr. 316.
(4) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Sđd, tr. 56.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Hai, 2011, 08:16:16 AM
Quán triệt Nghị quyết của Bộ chính trị mở rộng, Quân ủy Trung ương đã kịp thời chỉ đạo các chiến trường: Tiến công quân sự bằng phản công của ta là chủ động tiến công, chủ động phản công, không phòng ngự đơn thuần. Không những phản công ở địa bàn địch tiến công ta, mà còn hiệp đồng với các lực lượng chính trị, quân sự, binh vận phản công ở các địa bàn khác, nơi ta có chủ lực mạnh”(1).

Tiếp theo đó, từ ngày 19-6 đến ngày 6-7-1973, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã họp Hội nghị lần thứ 21 tại Hà Nội. Tại hội nghị quan trọng này, hàng loạt vấn đề lớn, có tính cấp thiết đã được Đảng ta đặt ra và từng bước giải quyết như liệu Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu có nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pari hay không? Ta có thể thực hiện thống nhất đất nước bằng con đường hòa bình không? Liệu Mỹ có quay trở lại hay không? Và nếu can thiệp thì mức độ can thiệp của Mỹ đến đâu khi ta quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam bằng bạo lực cách mạng? Quan điểm, thái độ của hai đồng minh chiến lược Liên Xô và Trung Quốc sẽ ra sao, ủng hộ ta với mức nào khi ta thực hiện quyết tâm giải phóng miền Nam?

Sau khi điểm lại những thắng lợi to lớn có tính chất bước ngoắt và nguyên nhân thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhận định tình hình trên chiến trường miền Nam, hội nghị chỉ rõ: từ khi Hiệp định Pari về Việt Nam được ký kết, đế quốc Mỹ tuy phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết các đơn vị quân đội của chúng và chư hầu ra khỏi miền Nam nước ta, chấm dứt chiến tranh phá hoại và phong tỏa đối với miền Bắc, “nhưng ở miền Nam vẫn chưa có ngừng bắn, hòa bình chưa thật sự được lập lại. Ngụy quyền Sài Gòn được Mỹ giúp đỡ vẫn tiếp tục gây chiến nhằm lấn chiếm vùng giải phóng và vùng tranh chấp, đặc biệt là vùng đồng bằng đông dân, nhiều của để xóa thế xen kẽ; chiến sự có nơi còn diễn ra ác liệt, tuy cường độ và quy mô chiến tranh nói chung không bằng trước, đồng thời, chúng liên tiếp mở các cuộc hành quân cảnh sát, kìm kẹp, đàn áp nhân dân trong vùng chúng kiểm soát. Hiệp định Pari về Việt Nam đã và đang bị vi phạm hết sức nghiêm trọng”(2).

Về phía đế quốc Mỹ, hội nghị cho rằng: “Chính sách cơ bản của đế quốc Mỹ ở Việt Nam vẫn là thực hiện “học thuyết Níchxơn”, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta”(3). Để thực hiện mục tiêu chiến lược ấy, đế quốc Mỹ tiếp tục hỗ trợ cho chính quyền Sài Gòn tăng cường lực lượng mọi mặt, dùng bạo lực phản cách mạng để duy trì và củng cố ách thống trị, dùng mọi thủ đoạn hòng làm suy yếu lực lượng cách mạng, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn lực lượng cách mạng miền Nam. Đồng thời, Mý sẽ triệt để lợi dụng xu thế hòa hoãn trên thế giới, lợi dụng mâu thuẫn trong phe xã hội chủ nghĩa, xây dựng những thủ đoạn ngoại giao, kinh tế và chính sách cân bằng lực lượng giữa các nước lớn để ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Trong những điều kiện đó, Trung ương Đảng ta dự kiến xu thế vận động của cách mạng miền Nam có thể diễn ra theo hai khả năng:

1 - Do cuộc đấu tranh tích cực của ta trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao mà ta có thể từng bước buộc địch phải thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam, hòa bình được lập lại thực sự, cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam nhằm hoàn toàn độc lập, dân chủ tuy còn lâu dài, khó khăn, phức tạp, nhưng ngày càng phát triển và ở thế tiến lên mạnh mẽ.

2 - Mặt khác, do âm mưu chiến lược của đế quốc Mỹ cố bám giữ khu vực Đông Dương và Đông Nam Á, do bản chất cực kỳ phản động, ngoan cố của Mỹ và tập đoàn thống trị tư sản mại bản, quan liêu quân phiệt tay sai Mỹ, Hiệp định Pari về Việt Nam tiếp tục bị địch phá hoại, xung đột quân sự có thể ngày càng tăng, cường độ và quy mô chiến tranh ngày càng lớn, chúng ta lại phải tiến hành chiến tranh cách mạng gay go, quyết liệt để đánh bại địch, giành thắng lợi hoàn toàn”(4).

Hội nghị khẳng định; “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Bất kể trong tình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linh hoạt để đưa cách mạng miền Nam tiến lên”(5).

Hội nghị đề ra nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự, ngoại giao; nhiệm vụ của miền Bắc là ra sức chi viện chiến trường, phục hội phát triển kinh tế, làm cho miền Bắc luôn luôn là chỗ dựa vững chắc của cách mạng miền Nam nhằm hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


(1) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Sđd, tr. 67.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr. 226-227.
(4), (5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr. 231-233.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 06:43:10 PM
II. ĐÁNH ĐịCH LẤN CHIẾM, TĂNG CƯỜNG
LỰC LƯỢNG, CỦNG CỐ THẾ TRẬN TRÊN
CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM

Quán triệt tinh thần của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21, toàn thể nhân dân và các lực lượng vũ trang trên khắp các chiến trường miền Nam đẩy mạnh các hoạt động phản công và tiến công giáng trả lại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, bảo vệ nhân dân, bảo vệ địa bàn, bảo tồn lực lượng cách mạng, tăng cường thế trận chiến tranh nhân dân trên cả ba vùng chiến lược, củng cố, mở rộng vùng giải phóng.

Trên chiến trường Trị - Thiên - Huế, đầu tháng 7-1973, Thường vụ Quân khu ủy chủ trương; “Phải làm chuyển biến mạnh mẽ tư tưởng tấn công các lực lượng vũ trang với nội dung và yêu cầu mới, là duy trì áp lực mạnh của địch, buộc chúng phải thi hành hiệp định”(1).

Cụ thể là:

- Kiên quyết đánh trả địch vi phạm hiệp định, bảo vệ vững chắc các vùng giải phóng và vùng tự do ta làm chủ;

- Tấn công và phát triển cải thiện thế trận ở vùng giáp ranh;

- Mở rộng đường hành lang, hỗ trợ cho phong trào đồng bằng phát triển.

Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng và Quân khu ủy, các lực lượng vũ trang trên địa bàn Trị - Thiên - Huế đã chủ động tích cực hơn trong đánh địch lấn chiếm, vừa tấn công quân sự vừa đẩy mạnh công tác binh địch vận. Do đó, ta không những đánh bại hầu hết các cuộc hành quân lấn chiếm của địch mà còn chủ động tiến công cải thiện thế trận ở một số vùng như: Tích Tường, điểm cao 262 (Quảng Trị), điểm cao 673 (Thừa Thiên). Về kết quả chiến đấu, năm 1973, các lực lượng vũ trang Trị - Thiên - Huế đã diệt được khoảng 9.000 tên địch, còn về ta, riêng B4 từ tháng 1 đến tháng 8-1973, thương vong 2.811 đồng chí, trong đó hy sinh 885 đồng chí.

Song song với chỉ đạo các lực lượng vũ trang đánh địch phản kích lấn chiếm, giữ vững và cải thiện thế trận kháng chiến, Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên cũng kịp thời chỉ đạo các cấp, ngành gấp rút kiện toàn về tổ chức, ra sức xây dựng quân khu vững mạnh toàn diện, đặc biệt là xây dựng bộ đội chủ lực thật mạnh làm nòng cốt trong cuộc đấu tranh sắp tới, nhanh chóng tạo chuyển biến vững chắc về thế và lực của ta trên khắp cả ba vùng chiến lược. Hàng loạt các mặt công tác cơ bản đã được Khu ủy và Quân khu ủy ấp rút khẩn trương thực hiện như: xây dựng căn cứ địa miền núi và vùng giải phóng Quảng Trị, xây dựng hệ thống đường sá vận chuyển cơ giới, tiếp nhận và xây dựng hệ thống các cở hậu cần, triển khai hệ thống hỏa lực pháo binh, huấn luyện chiến thuật cho bộ đội, rút bộ đội chủ lực khỏi tuyến phòng thủ bắc Quảng Trị về xây dựng và củng cố, đồng thời đưa bộ đội địa phương giữ tuyến tiếp xúc trực tiếp với địch.

Tại các vùng địch kiểm soát, các cơ sở cách mạng của ta cũng tranh thủ vận động quần chúng nhân dân đấu tranh với địch. Ta dựa chắc vào các căn cứ của hiệp định, nêu khẩu hiệu hòa bình, độc lập, dân chủ, cải thiện dân sinh và hòa hợp dân tộc, đòi địch để dân được tự do làm ăn, chống khủng bố thanh lọc; các hoạt động binh địch vận cũng được đẩy mạnh và bước đầu góp phần chuyển biến nhận thức của một số binh lính, sĩ quan ngụy, tạo điều kiện cho ta gây dựng một số cơ sở cách mạng trong lòng địch. Đến cuối năm 1973, đầu năm 1974, hệ thống các cơ sở cách mạng của ta trong vùng địch kiểm soát đã từng bước được củng cố và phát triển. Thưa Thiên có hai hệ thống cơ sở mật và công khai song song hoạt động với hơn 3.000 cơ sở thuộc các đoàn thể quần chúng, hơn 270 cơ sở nội tuyến, 315 du kích mật, gần 850 cán bộ phong trào. Tại Quảng Trị, mặc dù địch kiểm soát gắt gao nhưng ta cũng móc mối được cơ sở ở 23/58 thôn của 14/19 xã. Tuy nhiên, vì lực lượng tại chỗ của ta ít và yếu, địch bình định hết sức khốc liệt, lực lượng vũ trang hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị chưa đủ mạnh, chưa trực tiếp, địa bàn đứng chân còn khó khăn và chưa vững chắc; sức manh tổng hợp giữa ba vùng, ba thứ quân, ba mũi giáp công ở cơ sở chưa được phát huy nên phong trào đấu tranh chính trị và pháp lý ở các vùng đồng bằng và thành phố chưa có chuyển biến lớn.


(1) Chiến trường Trị - Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng, Sđd, tr. 225.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 06:44:31 PM
Trong các vùng mới giải phóng ở Quảng Trị, nhân dân ùng với các lực lượng vũ trang khẩn trương rà phá các loại bom và mìn, nhanh chóng phục hồi sản xuất nông nghiệp. Hàng chục nghìn quả bom, mìn đã được ta tháo gỡ, có khoảng hơn 37.0000 ha đất hoang hóa đã được nhân dân khai thác đưa vào sản xuất lương thực. Ở vùng giải phóng miền núi Trị - Thiên liên hoàn từ nam Thừa Thiên tới bắc Quảng Trị, nối liền với miền Bắc, Khu ủy Trị - Thiên đã chỉ đạo các cấp, ngành sớm kiện toàn về cơ cấu tổ chức, lực lượng, kịp thời hướng dẫn nhân dân nhanh chóng ổn định cuộc sống, đẩy mạnh sản xuất tại các vùng Nam Đông, Khe Tre, A So, A Lưới, Ka Kê (Thừa Thiên); Ba Lòng, Khe Sanh, dọc đường số 9 (Quảng Trị). Vì vậy, về sản xuất lương thực, cả năm 1973, Thừa Thiên gieo trồng được 3.620 ha lúa, thu hoạch 106.000 thúng thóc; Quảng Trị gieo trồng được 7.780 ha và thu hoạch được trên 10.000 tấn thóc. Năm 1974, Thừa Thiên đã thu hoạch được 3.900 tấn lương thực, còn Quảng Trị thu được tổng cộng 12.000 tấn. Riêng đối với lực lượng vũ trang của Quân khu Trị - Thiên, trong 2 năm 1973-1974, cũng gieo trồng được hơn 50 ha cây lương thực và thu hoạch 330 tấn lương thực quy ra gạo.

Bên cạnh việc chỉ đạo quân và dân đẩy mạnh tăng gia sản xuất, sớm ổn định cuộc sống, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên cũng chủ trương điều chỉnh bố trí lại lực lượng, bổ sung quân số, tăng cường vũ khí trang bị(1) ngày càng hợp lý trên cơ sở ưu tiên cho lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu. Tính đến tháng 6-1974, lực lượng vũ trang Quân khu Trị - Thiên đã phát triển được 3 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh cơ gới, 1 trung đoàn cao xạ cơ giới, 1 trung đoàn công binh, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn bộ binh đánh giao thông, 1 tiểu đoàn vận tải cơ giới; về lực lượng vũ trang tỉnh có 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn đặc công; về lực lượng vũ trang các huyện có tổng số 12 đại đội, 13 trung đội, 16 đội vũ trang công tác.

Để đáp ứng yêu cầu tác chiến trong tình hình mới, Khu ủy và Quân khu Trị - Thiên cũng chủ trương đẩy mạnh xây dựng hệ thống đường sá, hệ thống kho tàng dự trữ chiến lược, các công trình quân sự. Ngay từ đầu năm 1973, quân khu đã huy động bộ đội không trực tiếp làm nhiệm vụ chiến đấu và nhân dân các vùng giải phóng tập trung vào nâng cấp, mở rộng các đường 15 N, 71, 72, 73A, 73 B và đường số 9b nối liền với đường số 14 từ hướng tây xuống hướng nam và bắc Trị - Thiên nhằm đủ sức nhanh chóng cơ động lực lượng, vận chuyển các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật, lương thực, thực phẩm đáp ứng yêu cầu tác chiến của các lực lượng vũ trang ta trên chiến trường Trị - Thiên và Quảng Nam - Đà Nẵng. Tính đến tháng 9-1973, Quân khu Trị - Thiên đã xây dựng được 97 km đường ôtô, bảo đảm cho vận tải cơ giới chạy suốt mùa khô. Các sông Mỹ Chánh, sông Tả Trạch, sông Bồ cũng được ta triệt để khai thác vận chuyển các loại vận chuyển từ phía tây xuống các vùng giáp ranh và đồng bằng Trị - Thiên - Huế. Cùng với việc phát triển các tuyến đường giao thông thủy, bộ, quân khu còn triển khai xây dựng một loạt các cụm kho tàng bám sát các trục đường giao thông vừa thuận tiện cho bốc dỡ, vận chuyển cơ động vừa sử dụng cho dự trữ lâu dài. Theo đó, các cụm kho ở Cam Lộ (tây Quảng Trị), ở đường 71, 15 N, 73 (tây Thừa Thiên) đã được nhanh chóng xây dựng và hoàn thành. Nguồn dự trữ lương thực đã đủ sức cung cấp cho các đơn vị chiến đấu đến cuối năm 1973 đầu năm 1974.

Nhìn chung, qua một năm tiếp tục chiến đấu và xây dựng về mọi mặt, thế và lực ta trên chiến trường Trị - Thiên - Huế đã được tăng cường mạnh mẽ. Ta làm chủ được vùng giáp ranh, giữ vững được vùng giải phóng. Địch bị buộc phải lùi vào phòng ngự và luôn luôn bị uy hiếp nhưng chúng còn chiếm giữ được các vùng đông dân nhiểu của cải và kịm kẹp chặt đồng bào ta, thực hiện được phân tuyến, phân vùng, gây cho ta nhiều khó khăn ở các vùng giáp ranh. Còn về phía tay, tuy bước đầu đã mạnh hơn địch, song sức mạnh đó chưa hoàn toàn áp đảo, riêng các vùng địch kiểm soát ở nông thôn đồng bằng thì ta còn yếu hơn địch.


(1) Đến cuối tháng 6-1973, Bộ Quốc phòng bổ sung cho Quân khu Trị - Thiên 2.000 quân, trong đó có 2 tiểu đoàn lựu pháo 122 mm, 1 đại đội pháo 85 mm. Quân khu tự điểu chỉnh được 1.394 đồng chí và tuyển chọn đưa vào bộ đội chủ lực khu 425 đồng chí, đưa 2.700 đồng chí thương binh nhẹ, lạc ngũ trở lại đơn vị tham gia chiến đấu.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 06:47:24 PM
Trên địa bàn Khu 5, quán tiệt tinh thần của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 21 và chỉ đạo của Bộ Chính trị, tháng 7-1973, Khu ủy Khu 5 tổ chức hợp hội nghị để rút kinh nghiệm và triển khai thực hiện nhiệm vụ trong thời gian tới. Hội nghị đã nghiêm túc đấu tranh phê phán tư tưởng hữu khuynh, không lường định hết được mọi âm mưu và các thủ đoạn của địch; đồng thời vạch rõ những lệch lạc trong việc chỉ đạo phương châm, phương pháp đấu tranh trước đây đã dẫn tới những tổn thất mất đất, mất dân của ta. Hội nghị cũng xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của toàn khu trong thời gian tới là; “Ra sức đánh bại bình định lấn chiếm của địch, giành dân, giữ đất, mở rộng quyền làm chủ, phát triển thực lực ta”(1).

Quán triệt nghị quyết của Khu ủy, nhân dân và các lực lượng vũ trang trên địa bàn các tỉnh đã kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công tiến công địch cả phía trước và phía sau.

Với những kinh nghiệm chống phá địch bình định, lấn chiếm từ những năm trước đây, cấp ủy các tỉnh chủ trương tăng cường đưa thêm lực lượng cán bộ xuống địa bàn cơ sở[58] bám lại vào trong vùng địch; đưa lực lượng du kích và bộ đội địa phương xuống các huyện bám thôn, bám xã, chỉ đạo đưa các tiểu đoàn tập trung tỉnh về đánh tiêu diệt một số chốt, điểm địch vừa lấn chiếm sau ngày ký Hiệp định Pari, để nhằm tạo thế cho phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển.

Theo tinh thần chỉ đạo đó, những bờ rào, bãi mìn, bãi chông của các làng chiến đấu phải gỡ bỏ sau khi Hiệp định Pari được ký kết, nay đã được các địa phương lần lượt tổ chức lại. Chiến tranh du kích bắt đầu lan rộng ra khắp các vùng thôn, xã ở cả đồng bằng cho đến tận miền rừng núi Tây Nguyên. Du kích thuộc các huyện Điện Bàn, Hòa Vang (Quảng Đà) diệt gọn từng tiểu đội, trung đội địch. Bộ đội địa phương Quảng Ngãi tiêu diệt lực lượng địch đóng trên núi Răm, Tịnh Bắc… ở Phú Yên, lực lượng du kích và bộ đội địa phương bao vây buộc quân ngụy Sài Gòn phải rút chạy 7 chốt, điểm mà bọn chóng mới chiếm đóng thêm trên đường số 7. Ngày 26-9-1973, du kích và bộ đội địa phương huyện Đồng Xuân (tỉnh Phú Yên) đã tổ chức đánh mìn phá hủy 2 đầu máy xe lửa quân sự. Cũng trong thời gian này, chỉ trong vòng khoảng chưa đầy 20 ngày của đầu tháng 10-1973, lực lượng du kích và bộ đội địa phương thuộc 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum đã giết, làm bị thương tổng số 600 lính ngụy. Tháng 8-1973, Trung đoàn 31 thuộc Sư đoàn 2 của bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng bộ đội địa phương tỉnh Quảng Nam tiến công tiêu diệt các chốt điểm của địch ở khu vực Giamốcxa, khôi phục lại vùng du kích phía đông huyện Quế sơn. Trung đoàn 12 thuộc Sư đoàn 3 phối hợp với các lực lượng địa phương tỉnh Bình Định đẩy lùi và đánh bại hoàn toàn các cuộc hành quân lấn chiếm của Sư đoàn 22 ngụy, giữ vững vùng giải phóng phía tây huyện Hoài Hơn. Ở Tây Nguyên, Sư đoàn 10 cũng đẩy lui và đánh bật lực lượng địch ra khỏi các khu vực Trung Nghĩa, Ngọc Bai, Krong. Trung Thành, Plây Klâu, buộc quân địch phải lùi sát vào thị xã Kon Tum. Tháng 9-1973, phối hợp với cuộc đấu tranh diễn ra sôi nổi của các lực lượng vũ trang trên khắp địa bàn trọng khu, Sư đoàn bộ binh 320 tổ chức tiến công tiêu diệt cứ điểm Chư Nghé (Gia Lai). Ngay sau đó, sư đoàn đánh bại hoàn toàn cuộc phản kích hòng tái chiếm lại cứ điểm của Quân đoàn 2 ngụy, giữ vững được địa bàn mới mở.

Ngày 4-11-1973, một bộ phận bộ đội chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên tiến công tiêu diệt hàng loạt các cứ điểm Bù Bông, Bu Prăng, Đắc Song.

Ngày 4-12-1973, bộ đội chủ lực của ta tiếp tục tiêu diệt quận lỵ Kiến Đức, mở rộng tuyến đường hành lang chiến lược từ nam Đắc Lắc vào tới Phước Long thuộc Đông Nam Bộ.

Bên cạnh việc chỉ đạo tập trung sử dụng đại bộ phận lực lượng vũ trang của khu liên tiếp tiến công vào những địa bàn có ý nghĩa chiến lược, trực tiếp hỗ trợ cho phong trào đấu tranh ở các địa phương phát triển Khu ủy Khu 5 cũng chỉ đạo các cấp ủy đảng phát động quần chúng nhân dân các địa phương đứng lên đấu tranh tố cáo vạch trần các tội ác của địch đã vi phạm, phá hoại trắng trợn Hiệp định Pari trước dư luận trong nước và trên thế giới; tố cáo Mỹ - ngụy gây cản trở, khó khăn cho các tổ liên hiệp đình chiến của ta hoạt động, yêu cầu Ủy ban quốc tế phải điều tra, làm rõ việc Mỹ - ngụy vi phạm hiệp định…

Dưới sự hướng dẫn và chỉ đạo trực tiếp của các cấp ủy đảng, hàng chục nghìn nhân dân các huyện Quế Sơn, Tam Kỳ, Duy Xuyên (Quảng Nam) kéo đến trụ sở của ngụy quyền tố cáo tội ác đốt nhà, cướp của của bọn ác ôn. Chẳng hạn như nhân dân ở xung quanh cứ điểm Plâyme (Gia Lai) đấu tranh buộc bọn địch phải làm giấy cam đoan không được tùy tiện bắn pháo bừa bãi, càn quét, quấy nhiễu các thôn xóm; đồng bào các dân tộc vùng Bramai, Đắc Còn (Gia Lai), Ama Hrok (Đắc Lắc) thành công trong đấu tranh buộc địch phải phá rào, dỡ các bãi chông, mìn để bà con đi lại được tự do. Ở Nha Trang, ta còn thành công trong việc xây dựng được một số tổ chức, cơ sở cách mạng trong các nghiệp đoàn xí nghiệp, công sở, bến cảng, trong đội ngũ nhân sĩ, trí thức và tầng lớp trên.

Thắng lợi của những đòn giáng trả địch quyết liệt của lực lượng vũ trang ba thứ quân và sự phát triển mạnh mẽ của phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân trên địa bàn Khu 5 khẳng định sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng kể từ sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tiễn của cách mạng. Nhờ đó, đã thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh lên một khí thế tiến công mới của quân và dân ta trên địa bàn Khu 5 nói riêng và toàn miền nói chung, từng bước đẩy quân địch từ chỗ hung hăng bung lực lượng ra càn quét, lấn chiếm buộc chúng phải bị đông co kéo lực lượng về phòng giữ nhiều địa bàn xung yếu phía sau. Đồng thời, với những thắng lợi đó, đã tạo đà mạnh mẽ cho những bước phát triển tiếp theo của phong trào đấu tranh cách mạng của khu cũng như phong trào đấu tranh trên toàn miền.

Tuy nhiên, biên cạnh những thành tích chiến đấu của toàn thể quân và dân Khu 5 suốt những tháng cuối năm 1973, nhưng do những sơ hở của ta trong 6 tháng đầu năm, mà tính đến cuối tháng 12-1973, chính quyền và quân đội Sài Gòn vẫn kiểm soát được khá nhiều vùng giải phóng cũ của ta thuộc các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Số dân các vùng giải phóng do ta quản từ 918.000 vào cuối tháng 1-1973 tụt xuống chỉ còn khoảng 564.000 người vào cuối tháng 12-1973.


(1) Nghị quyết Hội nghị Khu ủy Khu 5 tháng 7-1973, dẫn theo Bộ Tư lệnh Quân khu 5: Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, t.III: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (thời kỳ 1969-1975), Nxb. Quân đội nhân dân Hà Nội, 1989, tr. 132.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 06:49:17 PM
Trên địa bàn Quân khu 6, quán triệt tinh thần Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21, Hội nghị quân chính toàn Quân khu 6, Hội nghị Khu ủy Khu 6 mở rộng, sau khi nghiêm túc đấu tranh, kiểm điểm với tư tưởng hữu khuynh không chủ động tiến công và đánh trả địch dẫn tới mất đất, mất dân, đã chủ trương kiên quyết lãnh đạo lực lượng vũ trang ba thứ quân và nhân dân các địa phương đứng lên đấu tranh theo phương châm: “Tiếp tục trụ, bám, tấn và xây; chuyển mạnh phương thức, ra sức giữ vững và mở rộng vùng tranh chấp, xóa bỏ đại bộ phận vùng trắng, tích cực mở vào vùng sâu, vùng yếu, kết chặt với phá kèm giành dân, giành quyền làm chủ”(1).

Theo phương hướng đó, các đơn vị chủ lực của khu, của các tỉnh nhanh chóng điều chỉnh lại thế bố trí, bảo đảm vừa có thể đánh trả kịp thời, hiệu quả các hành động tiến công lấn chiếm của địch, vừa tiếp tục củng cố, xây dựng lực lượng, nâng cao sức mạnh chiến đấu. Đẩy mạnh tiến công địch. Tiểu đoàn 15 thuộc bộ đội chủ lực Quân khu 6 đã chặn đánh, đẩy lùi cuộc hành quân của 5 tiểu đoàn địch ở khu Tam giác (Bình Thuận); kết hợp chặt chẽ ba mũi giáp công, bộ đội địa phương các tỉnh Ninh Thuận, Bình Tuy tiến công và vây ép liên tục, buộc các đơn vị quân đội Sài Gòn phải rút bỏ các cứ điểm Tây Sa, Ô Cam, Thạch Mỹ, Quảng Hà, Nam Ga, Sông Phan, Xã Dú…; lực lượng vũ trang Tuyên Đức kiên cường bám trụ địa bàn, đánh bật lực lượng địch nống lấn tại các khu vực Nam Ban, Hồ Tiêu, vùng Núi Chai…

Kịp thời tổng kết rút ra những bài học và kinh nghiệm trong chiến đấu sau một thời gian đẩy mạnh tiến công và phản công quân địch lấn chiếm vùng giải phóng, đề ra những mục tiêu đấu tranh sát hợp với thực tiễn tình hình và khả năng của địa phương trong thời gian sắp tới, tháng 11-1973, tại Bình Tuy, Khu ủy Khu 6 triệu tập hội nghị chống địch lấn chiếm. Sau khi đánh giá lại tình hình thực hiện nhiệm vụ theo tinh thần chỉ đạo của Hội nghị Khu ủy Khu 6 mở rộng, Hội nghị quân chính toàn khu, hội nghị chủ trương tiếp tục lãnh đạo và phát động nhân dân đẩy mạnh đấu tranh chính trị, kết hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực của khu, của các tỉnh, kiên quyết tiến công giành lại và giữ vững những địa bàn có tầm quan trọng. Sau hội nghị, cuối tháng 11-1973, lực lượng vũ trang tỉnh Bình Thuận đã phục kích, bất ngờ đánh bại hai cuộc hành quân cảnh sát của địch ở Xa Ra và Rạng, đánh phá đoạn đường sắt đoạn từ Tháp Chàm đi Ma Lâm; lực lượng vũ trang tỉnh Ninh Thuận tiến công đánh chiếm một cứ điểm quan trọng trong cụm cứ điểm Ô Cam. Du kích và bộ đội địa phương các huyện Bác Ái, Anh Dũng kịp thời chặn đánh, đẩy lùi địch lấn chiếm, ủi phá địa hình ở những vùng giáp ranh.

Kết hợp với đòn tiến công quân sự, nhân dân trong các vùng địch chiếm đóng đẩy mạnh đấu tranh đòi chính quyền và quân đội Sài Gòn nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pari, phản đối các hành động tiến công lấn chiếm vùng giải phóng, đàn áp, khủng bố các cuộc đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, đòi trở về ruộng, vườn cũ làm ăn. Phong trào đấu tranh sôi nổi của các tầng lớp nhân dân đã lôi cuốn được một bộ phận thuộc tầng lớp trung gian, tầng lớp trên, công chức, sĩ quan ngụy tham gia. Tính đến cuối năm 1973, trên địa bàn Khu 6, đã có tới 620 cuộc đấu tranh chính trị sôi nổi với tổng số 38.445 lượt người tham gia.

Vừa chiến đấu, bảo tồn lực lượng, bảo vệ nhân dân vừa tiến hành xây dựng cơ sở mọi mặt, cuối năm 1973, toàn khu đã phát triển được tổng số 589 đảng viên, 434 đoàn viên, 783 du kích mật, 8.773 hội viên các đoàn thể quần chúng ở trong các vùng địch kiểm soát.

Song song với quá trình lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng vũ trang và quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh chống lại các cuộc càn quét, lấn chiếm của địch, nhăm bảo tồn lực lượng cách mạng, bảo vệ địa bàn, bảo vệ nhân dân, ngay sau Hiệp định Pari, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chủ trương củng cố, tăng cường lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trên những mặt công tác này, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đặc biệt chú trọng viện xây dựng, củng cố hệ thống căn cứ địa và vùng giải phóng, coi đây là nền tảng bảo đảm chỗ đứng chân vững chắc cho lực lượng kháng chiến của Quân khu; nâng cấp và mở rộng mạng đường giao thông nối liền giữa các vùng với hậu phương miền Bắc thành một hệ thống liên hoàn, chặt chẽ. Đồng thời với quá trình này, Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chỉ đạo các địa phương, các đơn vị trong toàn quân khu đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giác ngộ quần chúng đứng lên đấu tranh chống địch phá hoại hiệp định, kiên quyết và chủ động tổ chức các trận đánh nhằm tiêu hao, tiêu diệt, căng kéo địch theo ý định chiến lược của ta, từng bước tạo ra tương quan so sánh về lực lượng và thế trận có lợi cho ta, bất lợi cho địch. Tính đến tháng 12-1973, quân số ta trên chiến trường Tây Nguyên có: bộ binh 18.562 người, trinh sát 389, đặc công 578, pháo binh 3.018, thiết giáp 691, cao xạ 2.708, công binh 1.159, thông tin 817, vận tải 4.687, cơ quan và các đơn vị trực thuộc 5.065, quân xây dựng kinh tế cò 1.576; lực lượng vũ trang địa phương gồm: bộ binh 1.200 người, đặc công 93, pháo binh 300, công binh 200, các huyện, thị đội và cơ quan thuộc tỉnh 3.788 người.


(1) Báo cáo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên chiến trường Khu 6, Phòng Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh Quân khu 6, tài liệu lưu hành nội bộ, tháng 10-1984, tr.257.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 06:52:13 PM
Tháng 7-1973, Khu ủy Khu 5 quyết định thành lập Binh đoàn xây dựng kinh tế 773,. Binh đoàn này, sau ngày thành lập, vừa sắp xếp và từng ước ổn định biên chế, tổ chức, vừa kết hợp với nhân dân các địa phương sử dụng các nguồn lực tại chỗ và cơ sở vật chất, máy móc, phương tiện kỹ thuật, nhân công lao động chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào, đã biến nhiều vùng căn cứ rộng thàng vạn kilômét vuông thành cơ sở sản xuất nông nghiệp như ở Khâm Đức (Quảng Đà), Diên Bình (Kon Tum), Ba Tơ (Quảng Ngãi), An Lão (Bình Định)… Khắc phục nhiều thiếu thốn và những khó khăn do hạn hán, tính tại thời điểm giữa năm 1974, sản lượng lương thực ở nhiều vùng căn cứ ước tăng khoảng gấp đôi năm 1972. Việc giao lưu hàng hóa giữa vùng địch và vùng ta ngày càng mở rộng. Cơ quan kinh - tài các tỉnh và khu đã trực tiếp tiếp xúc với một số nhà buôn, kinh doanh trong các thành phố, thị xã để thỏa thuận việc buôn bán và trao đổi những hàng hóa nhu yếu phẩm như: gạo, muối, thuốc chưa bệnh, vải…

Từ giữa tháng 3-1973, tuyến đường cơ giới của Khu 5 đã nối liền được hậu phương lớn miền Bắc. Một lượng lớn vật chất, vũ khí, phương tiện chủ trương từ hậu phương lớn miền Bắc liên tục ngày đêm được vận chuyển vào các chiến trường, trong đó có địa bàn Khu 5, phục vụ kịp thời cho các hoạt động tác chiến trước mắt và tăng nguồn dự trữ chiến lược lâu dài. Lúc này, lực lượng hậu cần của khu hoàn thành quy hoạch hệ thống kho tàng phía trước, phía sau và hệ thống kho cấp phát. Kho dự trữ xăng, dầu được tổ chức thành hai khu vực, trữ lượng mỗi kho 1.000 tấn. Các kho dự trữ quân giới, quân y, quân nhu cũng từng bước được hình thành.

Ở Tây Nguyên, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên cũng chủ trương: “Nhanh chóng xây dựng căn cứ và vùng giải phóng, xây dựng hậu phương quân đội, đặc biệt là xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất tăng nhanh tiềm lực kinh tế và tiềm lực quân sự tại chỗ để đánh thắng địch trong bất kỳ tình huống nào”(1).

Khu ủy Khu 5 chủ trương và chỉ đạo việc gấp rút xây dựng một số trường học như Trường Văn hóa thiếu nhi ở Tây Nguyên để bước đầu thu nhận đưa vào đào tạo con em của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ nòng cốt để kiến thiết Tây Nguyên sau này.

Nhìn chung, sau những lúng túng trong chỉ đạo, điều hành, nửa đầu của năm 1973, mà hậu quả là để địch lấn chiếm khiến nhiều nơi ta bị mất đất, mất dân, đến cuối năm, ở Khu 5 và Tây Nguyên, do kịp thời khắc phục những sai lầm và thiếu sót, đề ra và chỉ đạo thực hiện các biện pháp hiệu quả của lãnh đạo và chỉ huy các địa phương, các đơn vị, nên ta đã khôi phục thế trận, lực lượng, hình thành và củng cố những nhân tố cơ bản, bảo đảm cho bước phát triển tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên địa bàn quan trọng này.

Về bộ đội chủ lực, ở Tây Nguyên, ta có hai sư đoàn bộ binh (10 và 320); ở đồng bằng ta có ba sư đoàn (2, 3 và 711); còn về lực lượng vũ trang địa phương, mỗi tỉnh đồng bằng đều có từ 3 đến 7 tiểu đoàn tập trung, các huyện cũng có từ một đến hai đại đội. Ngoài ra, bộ đội chủ lực Quân khu 5 còn có một trung đoàn, 7 tiểu đoàn và 10 đại đội đặc công cơ động, đặc công căn cứ(2). Trong năm 1973, toàn khu đã huy động 534.507 ngày công lao động, mở 977 km đường cơ giới mới, sửa hàng trăm kilômét đường cũ hình thành nên 4 trục đường dọc và 11 trục đường ngang. Ở Tây Nguyên, đường cơ giới đã nối thông từ bắc Kon Tum đến đèo Mang Giang. Còn ở đồng bằng, đường cơ giới đã nối thông được với đường 559, tuyến sường đông của dãy Trường Sơn, suốt từ Quảng Đà đến bắc Bình Định. Đường Thanh niên men theo sông Tranh, xuyên qua dãy Ngọc Linh, nối với đường 14 ở bắc Kon Tum. Đường mở đến đâu, vật chất, vũ khí, trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện chủ trương được đưa vào tới đó. Cả năm 1973, khối lượng vận chuyển trên các tuyến đường này lớn gần bằng cả tổng khối lượng vận chuyển bằng 4 năm trước đó. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ mạng đường cơ giới là việc hình thành hệ thống kho tàng dự trữ chiến lược được bố trí men theo các tuyến từ bắc Kon Tum đến nam Đắc Lắc và từ Tổng kho Làng Hồi (Quảng Nam) đến Bình Định. Mạng thông tin liên lạc cũng không ngừng được củng cố và mở rộng. Bên cạnh đó, cấp ủy các địa phương, các mặt trận khẩn trương tổ chức tổng kết, nghiên cứu kinh nghiệm chiến thuật, chiến dịch; tổ chức các lớp nghiên cứu về Nghị quyết Trung ương 21, nhằm nâng cao tư tưởng và trình độ tổ chức tác chiến cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong lực lượng vũ trang.

Trên cơ sở những kết quả đạt được và nhằm đẩy mạnh phong trào cách mạng toàn khu tiếp tục phát triển một bước mới, tháng 12-1973, Hội nghị đại biểu Đảng bộ toàn khu lần thứ III được triệu tập. Hội nghị đã nghiêm túc kiểm điểm, rút ra bài học và tổng kết những kinh nghiệm về công tác lãnh đạo, chỉ đạo trên các mặt công tác thời gian qua. Căn cứ vào diễn biến tình hình và thực tiến của khu, Hội nghị đề ra nhiệm vụ trọng tâm của toàn đảng bộ là: đánh bại bình định lấn chiếm của địch, giành dân, giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng, đồng thời nỗ lực xây dựng lực lượng để giành thắng lợi lớn hơn trong thời gian tới.


(1) Nghị quyết Đản ủy Mặt trận Tây Nguyên, tháng 5-1973, dẫn theo: Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1980, tr. 271.
(2) Theo thống kê của Cục Tổ chức động viên - Bộ Tổng Tham mưu, tính đến cuối tháng 12-1973, lực lượng vũ trang chủ lực Quân khu gồm có 19.581 người, trinh sát có 462, đặc công có 1.557, pháo binh có 2.247, thiết giáp có 905, cao xạ có 763, công binh có 3.275, thông tin có 1.316, vận tải có 5.056, cơ quan và các đơn vị trực thuộc có 10.2991, quân xây dựng kinh tế có 1.060; lực lượng vũ trang địa phương gồm: bộ binh có 8.690 người, đặc công có 3.520, pháo binh có 1.800, cao xạ có 200, các huyện, thị đội và cơ quan thuộc tỉnh có 7.346 người.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 06:53:48 PM
Hòa chung với khí thế tiến công địch của các lực lượng vũ trang trên toàn miền, những tháng cuối năm 1973, trên địa bàn Khu 8, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu khẩn trương bổ sung quân số, vũ khí đạn dược cho các lực lượng vũ trang; thực hiện các kế hoạch phản công, tiến công địch nếu khắp các tỉnh, đặc biệt tập trung ngăn chặn và đẩy lùi các mũi lấn chiếm, bình định của địch ở trọng điểm nam - bắc đường số 4 và Vùng 4 Kiến Tường, Vùng 20-7, quyết tâm đánh thắng một số trận hình thành cho được thế phối hợp giữa các chiến trường trên cả ba vùng tạo ra thế căng kéo, kìm chân địch.

Thực hiện ý định đó, quân khu quyết định thành lập các bộ chỉ huy tiền phương J10 và J25(1) chỉ huy các lực lượng vũ trang đánh địch. Đầu tháng 6-1973, địch tập trung lực lượng khoảng 3 trung đoàn và 1 chi đoàn M 113 tấn công vào căn cứ J10 tại Long Tiên, phối hợp với cuộc tiến công này, địch sử dụng đồng thời các tiểu đoàn bảo an 403, 465, 466 và Sư đoàn 7 quân đội Sài Gòn mở rộng lấn chiếm vào đông, tây lộ Ba Dừa. Đối phó với âm mưu và thủ đoạn của địch, Bộ Chỉ huy J10 sử dụng Đại đội bảo vệ 419 và Đại đội trinh sát 410 phối hợp với du kích địa phương bám đánh, ghìm chân địch tại chỗ, đồng thời bí mật sử dụng Tiểu đoàn đặc công 269 được tăng cường thêm đại đội biệt động thị trấn Cai Lậy bất ngờ tiến công thị trấn Cai Lậy, tập kích các cụm pháo binh, đại đội bảo an địch; các đại đội công binh đánh phá trên đường số 4, đông tây Cai Lậy. Bị ta uy hiếp tứ phía sau buộc địch phải co kéo lực lượng về phòng giữ thị xã, thị trấn và các đường giao thông. Chớp thời cơ, Bộ Chỉ huy J10 lập tức ra lệnh cho hai Trung đoàn 1 và 24 đồng loạt phản công đánh chiếm các đồn bốt của địch dọc sông Ba Rài, đường 28, các xã Phú Phong, Tam Bình, Hội Sơn, Mỹ Long, đường Thầy Thanh, Bà Ụt tạo điều kiện khôi phục và mở rộng những vùng đã mất. Liên tiếp trong tháng 7-1973, các đơn vị thuộc tiền phương quân khu đã đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 14 - Sư đoàn 9, Trung đoàn 15 - Sư đoàn 9, 2 chi đoàn thiết giáp M-113 quân đội Sài Gòn giữ vững Vùng 4 Kiến Tường của ta.

Tại mảng 4 Cai Lậy, lực lượng vũ trang ta cũng đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 12 - Sư đoàn 7 địch, mở lại hàng loạt các vùng giải phóng ở bắc đường 4 (Mỹ Tho), Hậu Kiến Văn (Cao Lãnh), Thường Thới Hậu (Hồng Ngự), bắc Giồng Trôm và Mỏ Cày (Bến Tre), thông được 8 km kênh Nguyễn Văn Tiếp từ Thiên Hội đến Bang Dầy, tiếp tục mở thêm các lõm ở Mỹ Thành nối từ kênh Nguyễn Văn Tiếp với bắc Cai Lậy. Ngày 6-8-1973, một bộ phận thuộc Trung đoàn 3 (Trung đoàn 88), Trung đoàn 2 (Trung đoàn 320) tiến công diệt và bao vây bức rút 5 đồn địch dọc kênh Nguyễn Văn Tiếp. Ngày 10-8-1973, tiếp tục tiến công vào hệ Bang Dầy diệt cụm đồn Chà Là, đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 12 - Sư đoàn 7, Trung đoàn 14 - Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn, phá hủy 10 xe thiết giáp M 113. Ngày 15-8-1973, Trung đoàn 2 bộ đội chủ lực quân khu tiến công bức rút 3 đồn kênh 10, vàm Chà Là, Thạch Phú, diệt gọn 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn bảo an địch ở bắc đường 4, bức rút đồn kênh Xáng Ngang (huyện Cái Bè), tiêu diệt đồn Hà Khăng. Cùng ngày, lực lượng vũ trang tỉnh Kiến Phong cũng tiến công tiêu diệt được 4 đồn, 2 chốt, giải phóng kênh 3 Mỹ Điền dài 17 km.

Cùng thời gian này, tại vùng 20-7, Trung đoàn 1 bộ đội chủ lực quân khu diệt đồn Xuân Kiểm, chặn đánh, tiêu hao kìm chân Trung đoàn 12 - Sư đoàn 7 địch tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 4 - trung đoàn 24 quân khu tiêu diệt đồn Ông Khậm, bức rút 4 đôn khác, giải phóng vùng phía đông và tây sông Ba Rài.

Phát huy những thắng lợi, trong các tháng 9, 10, 11-1973, quân khu chủ trương tiếp tục đẩy mạnh phản công và tiến công địch. Kết quả ta đã tiêu diệt, bức rút hàng trăm đồn bốt địch, khôi phục lại các vùng giải phóng Kiến Văn (Kiến Phong), giải phóng xã Tân Phú (mảng 3), phần lớn các xã thuộc Vùng 20-7. Ở Mỹ Tho, đến cuối năm 1973, lực lượng vũ trang ta đã tiêu diệt trên 8.000 tên địch, bức rút và diệt gần 100 đồn, giải phóng 10 xã và 50 ấp với khoảng 50 vạn dân, đưa 7.000 gia đình từ vùng địch về vùng ta, xây dựng được nhiều lõm du kích ở các vùng Gò Công, Chợ Gạo, vành đai Bình Đức, Củ Chi và nam bắc Cái Bè. Lực lượng du kích trong tỉnh phát triển thêm được hơn 1.000 người, đưa tổng số du kích toàn tỉnh lên 3.600 người, phát triển 1.800 dân quân, bổ sung cho bộ đội các huyện 530 tân binh, bộ đội tỉnh 270 tân binh, đạo tạo hơn 500 cán bộ quân sự cấp tỉnh, huyện.


(1) Bộ Chỉ huy tiền phương J10 phụ trách khu vực nam, bắc đường 4 (Mỹ Tho) do các đồng chí Võ Văn Thạnh (Ba Thắng) làm Tư lệnh, đồng chí Phan Lương Trực làm Tham mưu trưởng, đồng chí Tám Điện làm Chủ nhiệm chính trị. Lực lượng của J10 gồm có: 2 trung đoàn 1 và 24, Tiểu đoàn 269 đặc công, Đại đội 318 đặc công nước, Tiểu đoàn 309 pháo binh, Tiểu đoàn trinh sát đặc công, Bộ Chỉ huy tiền phương J25 phụ trách khu vực mảng 4 bắc Cai Lậy, bắc Cái Bè, Vùng 4 Kiến Tường do các đồng chí Huỳnh Công Thân làm Tư lệnh, đồng chí Bảy Nam lam Tham mưu trưởng, đồng chí Phu làm Chủ nhiệm chính trị. Lực lượng của J25 gồm có: Trung đoàn 2 (Trung đoàn 320), Trung đoàn 2 (Trung đoàn 88), Tiểu đoàn 283 đặc công, Đại đội 342 công binh.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 06:55:28 PM
Như vậy, liên tiếp từ tháng 6 đến hết tháng 12-1973, sau 6 tháng phản công và tiến công địch, lực lượng vũ trang ba thứ quân Khu 8 - Trung Nam Bộ đã khôi phục và mở rộng được các Vùng quan trọng ở Nam - bắc đường 4, đông - tây sông Bà Rài - Cai Lậy Nam, mảng 3 Cai Lậy Bắc - Mỹ Tho, vùng 4 Kiến Tường, khu vực dọc theo kênh Nguyễn Văn Tiếp A và B, kênh 3 Mỹ Điền, Mỹ An, Kiến Phong, vùng từ Định Thủy, Minh Đức, Tân Trung, Bình Khánh lên gần sát thị trấn Mỏ Cày - Bến Tre; đánh thiệt hai nặng nhiều đại đội, tiểu đoàn của Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9, lực lượng bảo an quân đội Sài Gòn. Phong trào đấu tranh của quần chúng có nhiều chuyển biến mới, công tác xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, phong trào chiến tranh du kích ở cơ sở không ngừng được phát triển và chuyển lên thế tiến công địch. Tuy nhiên, ta vẫn chưa hoàn toàn giành lại được các vùng địch lấn chiếm, chưa khôi phục được thế trận như trước ngày ký Hiệp định Pari. Hơn nữa, trong tháng 12-1973 và những tháng đầu của năm 1974, địch vẫn tiếp tục đẩy mạnh càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng của ta, gây cho ta nhiều thiệt hại ở khu vực nam - bắc đường 4 Mỹ Tho, ba huyện phía nam tỉnh Kiến Phong. Vùng 4, Vùng 8 Kiến Tường, tái lập được 29 đồn, dồn dân trở lại vùng chúng chiếm đóng.

Sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21, từ ngày 6 đến ngày 18-9-1973, Trung ương Cục họp Hội nghị lần thứ 12 để quán triệt tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị đã nghiêm khắc kiểm điểm lại công tác lãnh đạo trong thời gian từ Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 11 đến tháng 9-1973 và chỉ rõ: “Bên cạnh mặt ưu điểm, ta có khuyết điểm là khi chuẩn bị kế hoạch thời cơ, tuy có nhận định chắc chắn địch sẽ lật lọng, phá hoại ngừng bắn, nhưng chưa dự kiến đúng mức địch phản kích đâm kéo dài và sau đó khi địch đẩy mạnh hành quân lấn chiếm nhiều nơi, Trung ương Cục thiếu hướng dẫn kịp thời cho địa phương chủ động, kiên quyết và linh hoạt ứng phó với tình huống này”(1). Đồng thời, hội nghị chỉ ra những nhiệm vụ cụ thể của B2 trong thời gian tới để nhanh chóng khắc phục những yếu kiểm, khuyết điểm, đưa phong trào cách mạng tiếp tục tiến lên, trong đó chủ yếu tập trung vào các mặt công tác quân sự, công tác ở vùng nông thôn phía trước, đô thị, công tác xây dựng vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng, công tác tư tưởng và tổ chức.

Tiếp theo Hội nghị Trung ương Cục, nhằm tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động theo tinh thần của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 và Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 12, tháng 9-1973, Bộ Tư lệnh Miền triệu tập Hội nghị quân chính toàn miền với sự tham dự của đại biểu đại diện cho các quân khu, các tỉnh; các sư đoàn, trung đoàn trên toàn địa bàn thuộc phạm vi Trung ương Cục phụ trách. Tại hội nghị này, nhiều đại biểu là cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp, trên cơ sở phân tích diễn biến tình hình cụ thể, đã cho rằng thực tế chiến trường đang diễn biến theo khả năng thứ hai chứ không phải khả năng thứ nhất như nhận định của Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 - tức là ta buộc phải tiếp tục đẩy mạnh tiến công địch cả về quân sự, chính trị, ngoại gao để giải quyết vấn đề miền Nam. Đây mới là khả năng hiện thực nhất. Vì vậy, Hội nghị quân chính của Bộ Tư lệnh Miền chủ trương kiên quyết đẩy mạnh phản công và tiến công địch, khôi phục lại những vùng địch chiếm đóng, đồng thời ra sức xây dựng căn cứ địa vững chắc và tăng cường lực lượng ta về mọi mặt.

Quán triệt tinh thần của các hội nghị trên, ngày 15-10-1973, Bộ Tư lệnh Miền lệnh cho các lực lượng vũ trang B2 được phép trừng trị các hoạt động lấn chiếm của quân đội và chính quyền Sài Gòn “bất kỳ ở đâu, bằng các hình thức và lực lượng thích đáng”.

Thực hiện chủ trương của Trung ương Cục và mệnh lệnh của bộ Tư lệnh Miền, bước vào mùa khô 1973-19734, Bộ Tư lệnh Miền xác định tiếp tục tập trung mọi nỗ lực đẩy mạnh đánh phá bình định lấn chiếm của địch, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, phá hậu phương trực tiếp của địch; đánh tiêu hao, tiêu diệt địch trên các địa bàn rừng núi, mở rộng hành lang vận chuyển và tiếp nhận nguồn chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào, tổ chức tiếp nhận xuống các chiến trường; tạo bàn đạp, từng bước tiến công và hoàn chỉnh vùng giải phóng miền Đông Nam Bộ, đưa lực lượng vũ trang áp sát xung quanh các đô thị lớn, đặc biệt là Sài Gòn, nhằm phân tán địch và trực tiếp hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chống bình định ở Khu 8 và Khu 9; đồng thời, đẩy mạnh tiến công mở rộng vùng ta, thu hẹp vùng địch; kết hơp chặt chẽ giữa tiến công với phản công, giữ vững vùng giải phóng, tạo điều kiện để các đoàn hậu cần miền thu mua, tích trữ lương thực; ra sức xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, nâng cao chất lượng bộ đội; tích cực chuẩn bị lực lượng, chuẩn bị thế trận, chuẩn bị dữ trữ chiến lược về vũ khí, lương thực thực phẩm…

Theo đó, hai Sư đoàn 7 và 9 bộ đội chủ lực miền cùng các đoàn biệt động, đặc công được Bộ Tư lệnh Miền bố trí áp sát, xung quanh Sài Gòn. Đoàn đặc công 115 bố trí ở hướng bắc Sài Gòn; Đoàn đặc công 116 (Long Thành), Đoàn 10 (Rừng Sác) bố trí ở hướng đông Sài Gòn; Đoàn 117 nằm phía tây Sài Gòn; Đoàn 113 ở phía Biên Hòa; trong thành phố có Đoàn biệt động nội thành 316. Lực lượng vũ trang Quân khu 7 được giao nhiệm vụ ghìm chân các sư đoàn 5, 18, 25 quân đội Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ đội, du kích và nhân dân các địa phương đánh phá địch bình định ở các xã, ấp.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34r, tr. 485 - 486.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 07:42:32 PM
Trên địa bàn miền Tây Nam Bộ, từ ngày 17-12-1973 đến hết tháng 1-1974, Trung đoàn 10, Trung đoàn 3 và Trung đoàn 1 phối hợp với bộ đội địa phương tỉnh và hai huyện Thạnh Trị, Châu Thành tiến công các đồn bốt ở phía tây - nam Chi khu Thạnh Trị; Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 10) diệt đồn Đường Tắt và 1 đại đội bảo an địch, đánh thiệt hại nặng đồn Chùa Miêu ở xã Ninh Quới (huyện Phước Long) và đẩy lùi hai tiểu đoàn bảo an quân đội Sài Gòn đến ứng cứu; Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 10) diệt đồn tề xã và yếu khu Kha Na Rộn, giải phóng xã Mỹ Quới (huyện Thạnh Trị); Đại đội trinh sát thuộc Trung đoàn 10 diệt các đồn Xóm Tre, Cau Hột Bé (xã Xà Phiên, huyện Long Mỹ) loại khỏi vòng chiến đấu 1 đại đội bảo an địch. Bộ phận còn lại của Trung đoàn 10 chặn đánh Tiểu đoàn 3 (thuộc Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn) và 1 chi đoàn xe M113 định tái chiếm các vùng đã mất, bao vây, buộc địch phải rút khỏi căn cứ Dì Oán, giải phóng ấp thuộc xã Vĩnh Quới với 4.000 dân. Ở phía đông - bắc Chi khu Thạnh Trị, Trung đoàn 1 bao vây buộc địch phải rút khỏi hai đồn ở Vĩnh Tân và Tân Long, tiếp tục gỡ 8 đồn thuộc xã Long Phú, huyện Long Mỹ. Lực lượng vũ trang tỉnh Cần Thơ diệt 9 đồn, riêng xã Vĩnh Tưởng chỉ với lực lượng nhỏ 20 đồn (9 du kích xã, 9 du kích ấp, 3 an ninh vũ trang) diệt đồn Bàu Kiến, chặn quân viện, sau đó giỡ tiếp hai đồn Kênh Hãng và Miếu Trắng). Ở Giồng Riềng (Rạch Giá), Trung đoàn 20 tiêu diệt gọn Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 31, Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn), diệt 5 đồn và giải phóng xã Ngọc Hòa. Tính đến cuối tháng 1-1974, lực lượng vũ trang toàn tỉnh Rạch Giá đã gỡ được 81 đồn, giải phóng 6 xã với 160.000 dân.

Cùng thời gian này, lực lượng vũ trang của Quân khu 9 đã đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân lớn nhất của 75 tiểu đoàn quân ngụy ở Chương Thiện, bảo vệ vững chắc căn ứ U Minh. Thắng lợi này của ta đã đập tan ý đồ lấn chiếm Chương Thiện và tiêu diệt căn cứ U Minh của địch.

Ở miền Đông Nam Bộ, từ ngày 3 đến ngày 15-11-1973, Bộ Tư lệnh miền và Khu ủy, Quân khu miền Đông Nam Bộ quyết định mở chiến dịch Bù Bông - Kiến Đức (Phước Long), Đức Lập (Quảng Đức) nhằm xây dựng các địa bàn đứng chân, khai thông hành lang tuyến vận chuyển chiến lược 559 phía đông Trường Sơn từ Tây Nguyên xuống Đông Nam Bộ - địa bàn thường xuyên bị địch uy hiếp, đánh phá quyết liệt. Lực lượng tham gia chiến dịch là hai trung đoàn 271 và 429 dưới sự chỉ huy trực tiếp của các đồng chí Thiếu tướng Hoàng Cầm, Trần Độ, Nguyễn Đức Trúng, Đoàn phó Đoàn 27. Bù Bông là một cứ điểm lớn cấp chiến đoàn của địch, được bảo vệ bởi hệ thống công sự hầm ngầm vững chắc. Đêm ngày 3-11-1973, Đoàn 429 đặc công miền do đồng chí Nguyễn Xuân Tĩnh chỉ huy đã triển khai chiếm lĩnh xong các mục tiêu theo kế hoạch. Đúng 1 giờ 40 phút rạng sáng ngày 4-11-1973, đơn vị bất ngờ nổ súng đánh tiêu diệt lần lượt các mục tiêu trên mặt đất rồi chuyển giao địa bàn cho Trung đoàn 205 tiếp tục diệt và phá hủy hệ thống lô cốt và hầm ngầm của địch trong cứ điểm Bù Bông. Sau đó, hai tiểu đoàn 13 và 14 của Trung đoàn đặc công 429 tiếp tục bất ngờ tập kích tiêu diệt toàn bộ Ban chỉ huy Chiến đoàn 52 và Sở Chỉ huy Chi khu Kiến Đức. Kết quả ta tiêu diệt 700 tên địch, bắt sống 224 tên khác, đồng thời đánh thiệt hại nặng Sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn đến ứng cứu. Cùng ngày, chủ lực miền tiến công tiêu diệt Chi khu Kiến Đức; ngày 5-11-1973, tiếp tục giải phóng Đắc Soong, cắt đứt hoàn toàn giao thông của địch từ Gia Nghĩa đi Đức Lập và Quân khu 2. Như vậy, ta giải phóng một vùng rộng lớn từ ngã ba Đắc Soong (Quảng Đức) nối đến Bù Gia Mập, Bù Đốp, Lộc Ninh, nối thông tuyến chiến lược 559 với tuyến chiến dịch của các đoàn hậu cần miền, trực tiếp góp phần tạo thế, tạo lực cho Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và nam Tây Nguyên.

Ở hướng nam Sài Gòn, phối hợp với chiến dịch Bù Bông - Kiến Đức, đêm ngày 2 sáng ngày 3-12-1973, Đội 5 thuộc Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác do đồng chí Hà Quang Vóc, Nguyễn Thế Hồng chỉ huy, đánh vào kho xăng Nhà Bè, phá hủy 70 bồn chứa 140 triệu lít xăng, 12 bồn butagaz, 1 tầu dầu 12.000 tấn, 1 cơ sở trộn nhớt, 1 cơ sở lọc dầu, 1 kho lương thực, 1 khu nhà lính, góp phần quan trọng làm suy giảm nguồn dự trữ chiến tranh của chính quyền và quân đội Sài Gòn.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 07:45:35 PM
Trước những hoạt động mạnh mẽ của ta, địch buộc phải từng bước điều chỉnh lại kế hoạch Lý Thường Kiệt, từ “tái thiết phát triển 1973” sang “an ninh phát triển 1974”. Mục tiêu chính của sự điều chỉnh này là nhằm đối phó với các cuộc tiến công và phản công của Quân đội giải phóng, củng cố những vùng đang kiểm soát, tiếp tục lấn chiếm các khu vực tranh chấp. Để củng cố các vùng đang kiểm soát, chính quyền và quân đội Sài Gòn chủ trương cải tiến việc xây dựng lực lượng, đẩy mạnh việc tăng quân số cơ động cho chủ lực và quân dự bị, sử dụng triệt để bộ máy chiến tranh ở các xã vào công cuộc bình định tại địa bàn cơ sở. Đồng thời, chúng sử dụng lực lượng dân vệ, bảo an đánh phá vùng tranh chấp. Bằng những thủ đoạn và biện pháp quyết liệt, trong khoảng thời gian ngắn, địch đã phát triển được 1,5 triệu phòng vệ dân sự, đưa hơn 20% sĩ quan của các đơn vị chủ lực tăng cường cho bộ máy kìm kẹp ở cơ sở xã, ấp(1). Xã, ấp được chính quyền Sài Gòn xác định là hạt nhân của cuộc “Chiến tranh diện địa” - tức cuộc chiến lấn đất, giành dân, tiến hành “bình định”. Trong hoạt động lấn chiếm, đã có lúc địch sử dụng lực lượng tương đương hoặc lớn hơn cấp sư đoàn, mở các cuộc tiến công vào những nơi ta sơ hở, kết hợp với việc ủi phá địa hình, lập đồn bốt, di dân, lập dinh điền. Các hoạt động này, một mặt nhằm cải thiện thế trận; mặt khác, còn để giải quyết những khó khăn về kinh tế, chính trị. Ngày 23-8-1973, đích thân tổng thống Nguyễn Văn Thiệu xuống Cần Thơ giao nhiệm vụ cho Vùng 4 chiến thuật, bên cạnh việc đẩy mạnh bình định lấn chiếm phải đặc biệt chú ý nắm lúa gạo để cứu nguy cho kinh tế của Sài Gòn, vì Mỹ đã giảm viện trợ tài chính cho Nam Việt Nam chỉ còn 300 triệu đôla (tài khóa 1974-1975). Thực hiện chủ trương đó, địch ráo riết thực hiện kế hoạch Trần Khánh Dư kết hợp cả hai mục tiêu của bình định lấn chiếm vừa cướp vơ vét lúa gạo. Chúng sử dụng Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn hỗ trợ cho cướp lúa ở vùng Bạc Liêu - Ba Xuyên, còn Sư đoàn 21 chuyên làm nhiệm vụ bình định các tỉnh Chương Thiện, An Xuyên, Kiên Giang.

Trước những âm mưu, thủ đoạn mới của địch, trong khi cơ bản giữ vững phương hướng hoạt động như kế hoạch quân sự mùa khô 1973-1974, Bộ Tư lệnh miền kịp thời chỉ đạo các đơn vị, địa phương tập trung lực lượng, vật chất vào nhiệm vụ chống bình định, lấn chiếm, giải phóng những vùng đông dân, nhiều của cải nhất của đồng bằng sông Cửu Long. Mặc dù đã có tuyên bố ngày 15-10-1973(2) nhưng Bộ Tư lệnh Miền vẫn chỉ đạo các địa phương vừa đánh vừa thăm dò, kịp thời phát hiện ý đồ và khả năng của địch, từng bước nâng mức tiến công lên cao hơn, đều hơn và mạnh hơn.

Cho tới mùa khô 1973-1974, chiến trường Tây Nam bộ vẫn còn gặp nhiều khó khăn sau một quá trình tác chiến liên tục trong hai năm 1972-1973; địa bàn lại cách khá xa các cơ quan đầu não, đường hành lang chi viện chưa ổn định. Dù vậy, chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Miền, Quân khu 9 chỉ đạo các trung đoàn 1 và 20 chủ lực khu kết hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương và dân quân, du kích đẩy mạnh tiến công và phản công, đánh bại các cuộc phản kích của địch, mở rộng vùng giải phóng vùng ruột 4 tỉnh Hậu Giang (Bạc Liêu, Cần Thơ, Sóc Trăng, Rạch Giá). Kết quả là ta đã gỡ được 324 căn cứ, đồn bốt địch, giải phóng 156 ấp. Có những mảng, ta giải phóng liên hoàn từ 5 đến 10 ấp hoặc vài chục ấp, tổng diện tích hàng nghìn km2, bao gồm nhiều cánh đồng rộng lớn và  khoảng 110.000 dân, nối thông hành lang căn cứ giữa vùng U Minh Thượng với vùng U Minh Hạ và từ vùng U Minh đi các vùng trọng điểm khác(3).

Thất bại liên tiếp trên chiến trường Quân khu 9, một mặt, địch tìm cách chuyển dần sang thế giằng co với ta ở đây và mặt khác, chúng lại tập trung lực lượng bình định, lấn chiếm các vùng ở địa bàn Quân khu 8. Tại địa bàn này, cũng như ở Quân khu 9, ta gặp rất nhiều khó khăn do quân số và trang bị không được bổ sung kịp thời. Tuy vận, Quân khu 8 vẫn kiên quyết sử dụng hai trung đoàn chủ lực của khu là 1 và 320 liên tiếp tiến công địch. Kết quả là ta giữ được các vùng mới giải phóng những tháng cuối năm 1973, tiêu diệt và bức rút 76 đồn bốt, giải phóng thêm 16 ấp với 8.000 dân.


(1) Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước - Thắng lợi và bài học, Sđd, tr. 316.
(2) Ngày 15-10-1973, Bộ Tư lệnh Miền ra lệnh cho các quân khu và các địa phương: “Kiên quyết đánh trả những hành động chiến tranh của chính quyền Sài Gòn; kiên quyết đánh trả bất cứ ở đâu, bằng các hình thức và lực lượng thích đáng”.
(3) Báo cáo sơ kết tình hình đợt 1 mùa khô 1974 (20-12-1973 - 20-3-1974), lưu tại Phòng Khoa học công nghệ - môi trường Quân khu 9, số 45/1974/TWC.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 07:48:11 PM
Ở miền Đông Nam Bộ, Bộ Tư lệnh Miền tiếp tục sử dụng các sư đoàn chủ lực miền (Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9) duy trì thế áp sát vùng trung tuyến như trước, buộc phần lớn chủ lực Quân đoàn 3 Sài Gòn phải căng lực lượng làm nhiệm vụ giữ phòng tuyến cơ bản (Sư đoàn 25 trên hướng Tây Ninh, Sư đoàn 5 ở Lai Khê - Bến Cát, các bộ phận Sư đoàn 18 phòng giữ hướng đông -bắc trên trục đường 16 Tân Uyên đi Phú Giáo). Bộ phận còn lại của Quân đoàn 3, gồm một phần lực lượng của Sư đoàn 18 và một số chiến đoàn đặc nhiệm mới lập, được địch sử dụng làm lực lượng cơ động.

Việc ta phân tán, ghìm chặt được đại bộ phận lực lượng Quân đoàn 3 địch vào làm nhiệm vụ phòng giữ không chỉ ngăn cản chúng tiếp tục thực hiện kế hoạch tiến công lấn chiếm vùng căn cứ đầu não của ta ở miền Đông Nam Bộ, mà còn tạo thêm điều kiện thuận lợi cho Quân khu 7 và Quân khu 6 đưa lực lượng ra phía trước hoạt động trên các địa bàn vùng tuyển tuyến, các địa bàn giáp ranh và ven đô, hỗ trợ cho chiến tranh du kích phát triển, trực tiếp chặn đứng các cuộc hành quân lấn chiếm của quân đội Sài Gòn và ngăn chặn các hoạt động di dân lập ấp, lập dinh điền, ủi phá địa hình, lập tuyến của địch. Những hoạt động tiến công và phản công của ta trên những địa bàn này khiến cho địch phải bị động quay sang đối phó phòng giữ đất đai và vì vậy, các cuộc hành quân lấn chiếm vùng tranh chấp, vùng giải phóng cũng như những cố gắng hòng xóa các vùng lõm căn cứ xung quanh Sài Gòn của địch bị chững lại, bì đẩy lùi.

Nhìn chung, trong đợt 1 mùa khô 1973-1974 (từ 17-12-1973 đến hết tháng 1-1974), lực lượng vũ trang ta trên địa bàn Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ đã đẩy mạnh hoạt động phản công, tiến công, chặn đứng và đẩy lùi các cuộc tiến công lấn chiếm của quân đội Sài Gòn, mở rộng và giữ vững các vùng giải phóng, các căn cứ địa, căn cứ lõm của ta. Đòn tiến công quân sự của chủ lực cùng phong trào chiến tranh du kích tạo điều kiện cho công tác tuyên truyền vận động quần chúng, gây dựng các cơ sở, thu mua tích trữ lương thực của các địa phương ngày càng phát triển.

Vừa đẩy mạnh tiến công quân sự, chống địch bình định, lấn chiếm, quân và dân các địa phương vừa khẩn trương tăng cường lực lượng và thế trận. Dự thảo kế hoạch quân sự năm 1973 của Trung ương Cục miền Nam chỉ rõ: “Trước mắt, trong năm 1973, lực lượng vũ trang B2 tập trung vào bốn công tác lớn: xây dựng lực lượng vũ trang, huấn luyện cán bộ và bộ đội, bảo đảm hậu cần và xây dựng hậu phương quân đội, xây dựng khu giải phóng và căn cứ địa miền Đông Nam Bộ”(1).

Theo phương hướng đó, ngay từ cuối tháng 1-1973, Bộ Tư lệnh Miền quyết định chuyển sở chỉ huy từ đất Campuchia về sóc Tà Thiết tại xã Lộc Thành, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước(2) và chỉ thị cho bộ tư lệnh các quân khu cũng di chuyển sở chỉ huy và các cơ sở hậu cần của mình về nước. Thực hiện chủ trương của Bộ Tư lệnh Miền, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 trở lại Chiến khu Đ. Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định về lại Hố Bò (Củ Chi) và Lộc Thuận (Trảng Bàng); Bộ Tư lệnh Quân khu đóng tại căn cứ Nam Sơn (phía nam đường 20, Bình Tuy); Bộ Tư lệnh Quân khu 9 đặt cơ quan chỉ huy ở vùng Long Mỹ (Chương Thiện, Cần Thơ); riêng Bộ Tư lệnh Quân khu 8 vẫn đứng chân ở Thavét (Campuchia) thêm một thời gian. Từ đây cho đến hết cuộc chiến tranh, Lộc Ninh là nơi Bộ chỉ huy Miền và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đứng chân, nơi đón tiếp các phái đoàn Ban Liên hiệp quân sự bốn bên, phái đoàn Ủy ban quốc tế kiểm soát và giám sát.

Cùng với việc ổn định căn cứ đầu não, tổ chức triển khai có hiệu quả của Ban Liên hiệp quân sự các cấp, theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền cũng đồng thời chú trọng tới công tác xây dựng lực lượng và thế trận, vừa bảo đảm đáp ứng nhu cầu trước mắt, vừa tạo nguồn dự trữ cho những nhiệm vụ chiến lược lâu dài.

Sau khi di chuyển toàn bộ lực lượng hậu cần từ Campuchia về nội địa, các cơ quan hậu cần miền khẩn trương chấn chỉnh lực lượng, củng cố tổ chức: thành lập thêm các phòng quản lý xăng xe, phòng kiến thiết cơ bản, các trạm sửa chữa xe, xưởng quân giới, các phân đội, kho trạm bảo đảm xăng dầu, phát triển thêm một trung đoàn vận tải ôtô để nâng cao khả năng cơ động trong vận chuyển chi viện.


(1) Dự thảo kế hoạch công tác quân sự năm 1973, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
(2) Cuối tháng 1 năm 1973, lực lượng công binh, thông tin đi trước đã hoàn thành xây dựng xong về cơ bản căn cứ mới. Đầu tháng 2 đến đầu tháng 3-1973, ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần và sở chỉ huy cơ bản lần lượt chuyển về Tà Thiết an toàn.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 07:51:14 PM
Việc xây dựng mạng đường nối giữa các vùng căn cứ, giữa các đoàn hậu cần khu vực và từ miền xuống các địa phương vừa bảo đảm cho chiến trường B2 tiếp nhận nguồn chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc một cách thuận lợi với khối lượng lớn, tốc độ nhanh, kịp thời bổ sung cho lực lượng vũ trang miền và các quân khu; vừa tạo nguồn dự trữ chiến lược để đón bắt khi thời cơ đến; giúp cho việc cơ động lực lượng và vận chuyển vật chất phục vụ cho các chiến dịch hay đợt hoạt động của các lực lượng vũ trang ta là một trọng tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện của Bộ Tư lệnh Miền và Bộ tư lệnh các quân khu. Giữa năm 1973, Bộ Tư lệnh Miền thành lập Bộ Tư lệnh Công binh, điều động và tăng cường một số đơn vị công binh để tạo lực cho các đoàn hậu cần. Sau khi chiến dịch Bù Bông - Kiến Đức (từ ngày 5 đến 15-11-1973) thắng lợi, tuyến đường Hồ Chí Minh đông Trường Sơn được khai thông từ miền Bắc qua Khu 5, Tây Nguyên… Bộ Tư lệnh Miền chỉ đạo các cơ quan chức năng khẩn trương phát triển, nối dài tuyến đường từ Sêrêpok qua Bù Gia Mập tới Lộc Ninh và tỏa đi xuống các địa phương, hình thành mạng đường cơ giới liên hoàn.

Cùng với việc xây dựng, phát triển mạng đường, đồng thời, việc khai thông, xây dựng và củng cố vững chắc các hành lang nối từ Sở Chỉ huy Miền xuống các quân khu và giữa các quân khu với nhau cũng được xúc tiến khẩn trương. Đó là các tuyến hành lang từ bắc Tây Ninh uống Quân khu 8 và Quân khu 9; từ Lộc Ninh đi Bến Cát, Củ Chi; từ Chiến khu Đ nối sang Long Phước, Xuyên Mộc (Bà Rịa). Hành lang được khai thông đến đâu, đường vận chuyển cũng được xây dựng tới đó. Trong thời gian này (1973-1974), ba tuyến đường vận chuyển có ý nghĩa chiến lược được xây dựng, đó là tuyến đường vận chuyển dọc địa bàn phía đông từ Lộc Ninh, Bù Đốp xuống Đoàn hậu cần 814 nối với các quân khu 6, 7; tuyến đường vận chuyển dọc địa bàn phía tây từ Lộc Ninh qua Đoàn hậu cần 220 nối sang Đoàn 230 với xuống các quân khu 8, 9; tuyến đường vận chuyển dọc địa bàn phía bắc từ Lộc Ninh qua Đoàn hậu cần 220 xuống Đoàn 235 tới các vùng ven Sài Gòn. Riêng trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, trong hai năm 1973, 1974, ta đã mở được 910 km đường ô tô và hàng trăm kilômét đường vận tải dành cho các phương tiện thô sợ. Do đó, từ căn cứ trung tâm Mã Đà (nơi đứng chân của Khu ủy và Quân khu ủy), ta có thể đi bằng ôtô về Phước Hòa, Phước Tiến, Bình Mỹ, Bình Cơ, Cây Gáo, Vĩnh An, ngoài ra, nhiều cầu ngầm đã được công binh xây dựng vượt qua sông Đồng Nai (đoạn Tà Lài, Vĩnh An). Thông tin liên lạc giữa miền Đông Nam Bộ với Trung ương Cục có thể theo đường vận chuyển Đoàn 814 từ Đồng Xoài, Bù Na về Phú Riềng qua Lộc Ninh; các đường giao liên từ Mã Đà về Biên Hòa, Bà Rịa - Long Khánh đều được mở thông.

Công tác tạo nguồn dự trữ vật chất cũng được Bộ Tư lệnh, Cục Hậu cần miền hết sức coi trọng và nỗ lực thực hiện bằng nhiều phương pháp sáng tạo. Bên cạnh việc chủ động tăng cường lực lượng bốc dỡ, cơ giới hóa các loại phương tiện vận chuyển, mở rộng các trại an dưỡng, bệnh viên, lập thêm các kho tàng, xưởng sửa chữa vũ khí đạn dược(1), Bộ Tư lệnh Miền cũng chỉ đạo tăng cường thu mua, tích trữ lương thực, thực phẩm, sẵn sàng đáp ứng cho những nhiệm vụ chiến lược lớn. Cửa khẩu thu mua lớn nhất của hậu cần miền được dời chuyển về Đoàn 230 (Tân Châu, Hồng Ngự) vì thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa từ miền Tây Nam Bộ qua Kôngpông Trạch (Campuchia) lên miền Đông Nam Bộ. Đồng thời, Đoàn 230 đã phối hợp với lực lượng vũ trang các Quân khu 8 và Quân khu 9 đẩy mạnh thu mua lương thực ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu phong tỏa kinh tế và vơ vét lúa gạo của quân đội và chính quyền Sài Gòn.

Song song với việc đẩy mạnh thu mua lương thực, thực phẩm để tăng nguồn dự trữ; tăng cường năng lực tiếp nhận các nguồn vật chất chi viện từ hậu phương lớn miền Bắc vào, quân và dân các quân khu còn đẩy mạnh công tác sản xuất tự cấp, tự túc về lương thực, thực phẩm, dược phẩm, vũ khí, tổ chức rà phá bom, mìn, để mở rộng diện tích trống cấy, cung cấp giống cây trồng, vật nuôi và dụng cụ lao động giúp bà con nông dân ở những vùng giải phóng phát triển sản xuất. Ở miền Đông Nam Bộ, Khu ủy chỉ đạo Ban Kinh tài khu cử người sang Campuchia mua trâu, bò cấp cho nhân dân vùng căn cứ và vùng giải phóng; đẩy mạnh xây dựng các nông trường trồng lúa, bắp, mì ở Đồng Trường, Vĩnh An, Tà Lài, Bù Cháp, Lý Lịch, Hiếu Liêm, Cây Gáo, Mã Đà; hình thành các khu vực chuyên sản xuất ở suối Ổi, Ông Lình, Nước Vàng, Vàm Giá, Sình, Bà Đã; vận động đồng bào dân tộc Ch’ro và S’tiêng ở Bù Cháp, Lý Lịch, Tà Lài, bắc Vĩnh Long định canh, định cư. Nhờ đó, đến cuối năm 1973, nhân dân các vùng giải phóng không những đã tự túc được lương thực, thực phẩm mà còn đóng góp một phần để ủng hộ bộ đội, còn các đơn vị hậu cần khu gieo trồng được 6.000 ha cây lương thực và huy động được 8.000 tấn lương thực(2). Ở miền Tây Namn Bộ, Khu ủy và Quân khu ủy cũng chỉ đạo bộ đội ra sức giúp đỡ nhân dân dựng lại nhà cửa, ổn định cuộc sống. Vì vậy, vụ mùa năm 1973, nhân dân cày cấy được 807.681 ha (tăng 101.681 ha so với năm 1973), khôi phục 15.000 ha rẫy (khóm, khoai, rua quả và khôi phục 29.000 ha vườn, đóng góp được 48.000 tấn lúa nuôi quân. Lực lượng du kích các xã và ấp tăng thêm 4.5712 người, đồng thời 4.737 thanh niên khác hăng hái lên đường tham gia quân ngũ. Bên cạnh đó, các mặt y tế, giáo dục cũng được chú trọng phát triển, toàn khu có 40 huyện lập được trạm dân y, 13 huyện có y sĩ; 4/7 huyện thuộc vùng căn cứ có bác sĩ, 229 xã có 601 ấp có trạm y tế; năm học 1973-1974, vùng giải phóng miền Tây Nam Bộ tổ chức khai giảng 942 trường phổ thông với 58.261 học sinh(3).


(1) Mức vận chuyển cơ giới của các đoàn hậu cần miền đạt trên 80% lượng hàng hóa; hệ thống kho của Đoàn 770 ở Bù Gia Mập trở thành tổng kho lớn nhất toàn miền; tính đến cuối năm 1973, hậu cần miền đã tiếp nhận được 5.839 tấn đạn dược, xăng dầu, vật tư, kỹ thuật và tổng số gần 24.612 quân, dẫn theo Tổng cục hậu cần: Tổng kết công tác hậu cần chiến trường Nam Bộ - cực Nam Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, Hà Nội, 1986, tr. 546, 554.
(2) Dẫn theo Hội đồng chỉ đạo biên soạn Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ: Lịch sử Đảng bộ miền Đông Nam Bộ lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), Sđd, tr. 488.
(3) Dẫn theo Ban Chỉ đạo biên tập truyền thống Tây Nam Bộ: Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945-1975), 2000, tr. 716-717.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Hai, 2011, 07:53:29 PM
Với sự nỗ lực vượt bậc của quân và dân trên khắp chiến trường, cùng sự chi viện từ hậu phương miền Bắc cho tiền tuyến miền Nam, dự trữ vật chất bao gồm lương thực, thuốc men, vũ khí, thiết bị phương tiện kỹ thuật của ta trên chiến trường ngày càng tăng. Tính từ tháng 1-1973 đến tháng 11-1974, các đoàn hậu cần của miền đã tiếp nhận 37.000 tấn vật chất từ miền Bắc, trong đó có nhiều loại binh khí, kỹ thuật hiện đại, xe cơ giới; thu mua và tự sản xuất được 80.500 tấn vật chất (chủ yếu là lương thực, thực phẩm). Ngoài việc bảo đảm cho hoạt động trước mắt của các đồng chí hậu cần miền còn tích lũy được 28.000 tấn ở các khu vực trọng điểm chuẩn bị cho các kế hoạch chiến lược lớn của ta; hậu cần của các quân khu cũng dự trữ được hơn 3.000 tấn vũ khí đạn dược.

Trên lĩnh vực công tác xây dựng và tăng cường lực lượng, Bộ Chỉ huy Miền khẩn trương sắp xếp kiện toàn một số cơ quan trực thuộc Bộ Tư lệnh Miền theo hướng tinh gọn, bảo đảm hoạt động có hiệu quả và tăng cường lực lượng trực tiếp chiến đấu. Theo đó, Đoàn 315 A - cơ quan chuyên theo dõi các hoạt động của Ban Liên hiệp quân sự bốn bên và Phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền miền Nam Việt Nam thành Phòng Nghiên cứu thi hành Hiệp định Pari; Tỉnh đội căn cứ - tức Bộ Chỉ huy bảo vệ căn cứ miền chuyển thành Ban Căn cứ; sau đó, thành lập hàng loạt binh chủng như: Bộ Tư lệnh Thông tin (phiêu hiệu Đoàn 23, có 8 tiểu đoàn, 10 đại đội, 4 trung đội); Bộ Tư lệnh Công binh; Bộ Tư lệnh Đặc công, Bộ Tư lệnh Thiết giáp, Bộ Tư lệnh Phòng không; Bộ Tư lệnh Pháo binh(1)… Trên toàn miền, các đơn vị địa phương đẩy mạnh công tác tuyển quân, sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức; mở các đợt huấn luyện nhằm nâng cao trình độ kỹ thuật, chiến thuật cho lực lượng vũ trang ba thứ quân(2).

Nhìn chung lại, trong năm 1973, vượt qua những vấp váp, khuyết điểm ban đầu, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời của Trung ương Đảng và các cấp ủy đảng địa phương, quân và dân ta trên các chiến trường miền Nam đã nỗ lực cao độ, vừa chiến đấu chống địch càn quét, lấn chiếm, vừa tạo sự ổn định về tư tưởng, tổ chức, mau chóng triển khai thế trận phản công và tiến công địch. Nhờ sự chuyển hướng kịp thời đó, quân và dân ta ở miền Tây Nam Bộ đã đập tan cuộc hành quân lân chiếm dài ngày nhất của 75 tiểu đoàn quân đội Sài Gòn trên địa bàn Chương Thiện. Tiếp đó, trong các tháng từ tháng 9 đến tháng 11-1973, ta lại chủ động mở hàng loạt các cuộc tiến công vào các vùng quan trọng của địch, buộc chúng phải phân tán lực lượng chống đỡ làm phá sản các kế hoạch bình định, lấn chiếm, vơ vét lúa gạo của chính quyền Sài Gòn. Tính đến cuối năm 1973, quân và dân Tây Nam Bộ đã khoại khỏi vòng chiến đấu 36.500 tên địch, bức rút, bức hàng 103 đồn bốt, mở rộng vùng giải phóng với 666 ấp, 390.000 dân. Ở miền Trung Nam Bộ, quân ta đã tích cực phản công, tiến công địch khôi phục lại các vùng giải phóng ở nam bắc đường 4, Mỹ Tho, Bến Tre như trước ngày 28-1-1973. Tại miền Đông Nam Bộ, ta giải phóng Bù Bông (Tuyên Đức), tiến công mạnh sân bay Biên Hòa, Kho xăng Nhà Bè, đưa lực lượng vũ trang bố trí áp sát các vùng ven Sài Gòn. Ở miền Trung Trung Bộ, chúng ta đã giành lại nhiều vùng ở Duy Xuyên, Điện Bàn (Quảng Nam), Phù Mỹ, Hoài Nhơn (Bình định), Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Trên chiến trường Tây Nguyên, lực lượng vũ trang giải phóng Chứ Nghé, mở rộng vùng giải phóng và mở thông tuyến vận tải chiến lược đông Trường Sơn nối vào mạng đường từ nam Tây Nguyên đến miền Đông Nam Bộ… Bên cạnh đấu tranh quân sự, phong trào đấu tranh chính trị đòi vãn hồi hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử tự do, đòi thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Pari, đòi được tự do đi lại làm ăn, chống thuế giá trị gia tăng của các tầng lớn nhân dân miền Nam cũng diễn ra mạnh mẽ, khiến cho tình hình chính trị - xã hội ở các đô thị miền Nam ngày một rối ren và mâu thuẫn nội bộ chính quyền và quân đội Sài Gòn càng thêm sâu sắc.

Trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, chúng ta đã từng bước vạch trần âm mưu và thủ đoạn mới của Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong việc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động đánh phá, lấn chiếm; đồng thời tranh thủ được dư luận quốc tế phản đổi Mỹ và chính quyền Sài Gòn phá hoại Hiệp định Pari.

Năm 1973 khép lại với những thắng lợi quan trọng của quân và dân ta trên toàn chiến trường miền Nam; cục diện chiến trường xoay chuyển ngày càng có lợi cho ta, bất lợi cho địch; khối chủ lực ta phục hồi và phát triển lớn mạnh, trụ vững ở những địa bàn chiến lược và hình thành được thế trận tiến công hệ thống phòng thủ của quân đội Sài Gòn; phong trào đấu tranh chính trị vươn dậy mạnh mẽ, vững chắc. Đó là những thuận lợi cơ bản thúc đẩy cuộc kháng chiến của ta tiến lên giành nhiều thắng lợi mới.


(1) Bộ Tư lệnh Thông tin (phiên hiệu Đoàn 23, có 8 tiểu đoàn, 10 đại đội, 4 trung đội); Bộ Tư lệnh Công binh (phiên hiệu Đoàn 25, có 7 tiểu đoàn); Bộ Tư lệnh Đặc công (phiên hiệu Đoàn 27, có 8 đoàn); Bộ Tư lệnh Thiết giáp (phiên hiệu Đoàn 26, có 4 tiểu đoàn); Bộ Tư lệnh Phòng không (phiên hiệu Đoàn 77, có 2 trung đoàn cao xạ, 4 tiểu đoàn xe kéo); Bộ Tư lệnh Pháo binh (phiên hiệu Đoàn 75, có 3 trung đoàn pháo mặt đất).
(2) Tháng 3-1973, Bộ Tư lệnh Miền mở hội nghị chiến tranh nhân dân tại Bù Đốp (Bình Phước) bàn về phương hướng, biện pháp đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang địa phương. Tiếp theo đó, Bộ Chỉ huy Miền ra Chỉ thị 03/CTDK gửi các đơn vị, địa phương nhấn mạnh: công tác huấn luyện phải được coi là công tác trọng tâm trong nâng cao chất lượng bộ đội, đặc biệt là khâu bồi dưỡng cán bộ. Việc huấn luyện vừa đáp ứng yêu cầu đánh bại bình định lấn chiếm trước mắt, vừa chuẩn bị nếu phải giải quyết vấn đề miền Nam bằng chiến tranh lớn. Huấn luyện chủ yếu bằng cách mở các lớp tập huấn và tổng kết kinh nghiệm năm 1972, huấn luyện ngay trong thực tế chiến đấu.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Ba, 2011, 06:36:26 PM
Chương 33

TẠO VÀ NẮM BẮT THỜI CƠ, HẠ QUYẾT TÂM
CHIẾN LƯỢNG GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN
MIỀN NAM

I - TIẾN CÔNG TẠO THẾ TRONG NĂM 1974

Thắng lợi trên chiến trường nửa cuối năm 1973 là cơ bản và quan trọng. Thắng lợi đó tạo thêm điều kiện thuận lợi mới cho sự phát triển của cách mạng miền Nam, cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Để kịp thởi chỉ đạo hoạt động của chiến trường, từ tháng 10-1973, Bộ Chính trị, quân ủy Trung ương đã tổ chức các cuộc họp bàn biện pháp thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 đề ra. Nhiệm vụ của quân và dân ta ở miền Nam trong năm 1974 được Quân ủy Trung ương xác định là: Tiếp tục đẩy mạnh tiến công đánh bại một bước quan trọng kế hoạch bình định lấn chiếm phân tuyến của địch, giành dân, giành quyền làm chủ ở vùng đồng bằng và vùng ven đông dân, nhiều của; từng bước đưa phong trào đấu tranh chính trị ở thành thị tiến lên; đồng thời, chuẩn bị lực lượng cơ sở, tạo điều kiện và thời cơ đẩy tới cao trào cách mạng(1).

Trên cơ sở tinh thần Nghị quyết Trung ương 21, giữa tháng 11-1973, trong thư gửi lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng nói rõ thế về khả năng phát triển của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới và nhấn mạnh: “Cách mạng miền nam chỉ có thể giành được thắng lợi bằng con đường cách mạng không ngừng, bằng bạo lực”. Đồng chí yêu cầu các chiến trường, các mặt trận, các địa phương trên toàn miền Nam cần phải làm tốt các mặt công tác, trong đó “đánh phá kế hoạch bình định. Lấn chiếm của địch là công tác trung tâm số một”(2).

Tiếp thu sự chỉ đạo của Trung ương, nửa đầu tháng 9-1973, Trung ương Cục họp bàn và xác định rõ phương hướng chỉ đạo cụ thể các mặt công tác ở miền Nam trong năm 1974 là: “Quyết tâm đánh bại một bước quan trọng kế hoạch bình định mới của địch, thu hồi về cơ bản vùng giải phóng và tranh chấp mạnh trước ngày 28-1-1973; đồng thời, tùy điều kiện từng nơi, ra sức mở rộng thêm vùng giải phóng và tranh chấp mới, mở rộng diện lỏng kìm, giành quyền làm chủ với nhiều mức độ ở vùng nông thôn do địch kiểm soát, song song với tăng cường phát triển thực glực của ta về mọi mặt, làm cho hậu phương của địch bị thu hẹp và luôn luôn không ổn định”(3).

Thực hiên chủ trương trên, ở miền Đông Nam Bộ, từ tháng 3-1974, Quân khu 7 mở chiến dịch đường số 2 Bà Rịa - Long Khánh. Chiến dịch diễn ra trên địa bàn trọng điểm Bà Rịa. trong chiến dịch này, Quân khu 7 sử dụng Trung đoàn 4 và Trung đoàn 33 cùng lực lượng tại chỗ và nhân dân địa phương tiến công và nổi dậy, bức rút 12 đồn bốt ở đông và tây đường số 2, khôi phục vùng giải phóng ven trục lộ dài 10km; đồng thời, chặn đứng các cuộc hành quân lấn chiếm của hai chiến đoàn 43 và 48 - Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn ở Long Tân, Long Phước. Phát huy thắng lợi, lực lượng vũ trang Quân khu 7 phối hợp với Quân khu 6 tiến công các căn cứ quân đội Sài Gòn ở phía tây đường số 1, mở rộng hành lang khu Rừng Lá (Long Khánh). Thắng lợi của ta ở Bà Rịa - Long Khánh đã thúc đẩy phong trào du kích chiến tranh ở miền Đông Nam Bộ phát triển. Cũng trong thời gian này, ở tây nam Sài Gòn, quân ta đẩy mạnh các cuộc tiến công ở Tabăngrôboong (Tây Ninh)(4), khôi phục, mở rộng vùng giải phóng Tây Ninh - khu vực giáp biên giới Campuchia, khai thông hành lang chiến lược từ miền Đông Nam Bộ xuống miền Trung Nam Bộ và Tây Nam Bộ (địa bàn thuộc Quân khu 8, Quân khu 9).


(1) Viện Mác - Lênin - Viện Lịch sử Đảng: Những sự kiện lịch sử Đảng, tập III: Về kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 1954-1975, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1985, tr. 711.
(2) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985 tr.345, 346.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.3, tr.504. Tại tập văn kiện này, phần Phụ lục ghi rõ đây là “Nghị quyết hội nghị lần thứ 12 của Trung ương Cục, tháng 12-1973”. Về nội dung này, công trình Lịch sử biên niên Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, đã cho biết: “Hội nghị Trung ương Cục lần thứ 12 không ra Nghị quyết ngay mà (chỉ) có dự thảo nghị quyết. Bản dự thảo nghị quyết được đưa ra nghiên cứu và thảo luận tại Hội nghị cán bộ toàn miền được tổ chức vào cuối tháng 9 đầu tháng 10-1973. Sau khi xem xét, nghiên cứu lại, tháng 12-1973, Trung ương Cục quyết định ra Chỉ thị số 123/CTT3, thay cho Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12”.
(4) Địa danh này ghi theo sách: Miền Đông Nam Bộ kháng chiến (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Ba, 2011, 06:37:58 PM
Các cuộc tiến công rộng khắp của quân và dân miền Đông Nam Bộ buộc quân đội Sài Gòn phải căng mỏng lực lượng chống đỡ. Trong điều kiện đó, lực lượng vũ trang ba thứ quân phối hợp với nhân dân các địa phương tiếp tục đẩy mạnh tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, bóc gỡ đồn bốt, mở rộng vùng giải phóng.

Sau chiến dịch Bà Rịa - Long Khánh, tháng 5-1974, Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch đường số 7 ngang trên khu vực Bến Cát - Rạch Bắp, nhằm phá vỡ tuyến phòng ngự trung gian trong hệ thống phòng thủ Sài Gòn, kìm chân lực lượng cơ động, phá ý đồ điều quân tăng viện cho đồng bằng sông Cửu Long và Lộc Ninh của quân đội Sài Gòn.

Chiến dịch đường số 7 ngang diễn ra trên khu vực thuộc vành đai trung tuyến ở phía bắc Sài Gòn, kéo dài từ Rạch Bắp ở phía tây, qua Ri Nét đến Bết Cát và từ Tân Uyên phía đông đến đường số 1. Khu vực này tiếp giáp với vùng giải phóng rộng lướn của ta và chỉ cách Sài Gòn từ 30 km đến 40 km, với nhiều đường giao thông huyết mạch chạy vào “Thủ đô” của chính quyền Sài Gòn. Do tầm quan trọng đó, tại đây, quân đội Sài Gòn bố trí nhiều cụm phòng ngự kiên cố: Rạch Bắp, Ri Nét, Bến Cát, Tân Uyên; phía trên có căn cứ Lai Khê, phía dưới có căn cứ Đồng Dù. Đây vừa là tuyến phòng thủ bảo vệ Sài Gòn nhưng đồng thời cũng là bàn đạp tiến công của quân đội Sài Gòn vào vùng giải phóng của ta. Địa hình dọc theo tuyến phòng thủ được phát quang, có hệ thống hào chống xe tăng và hệ thống rào chống thâm nhập. Đóng giữ tuyến phòng ngự này là lực lượng của Quân khu 3 quân đội Sài Gòn, được tổ chức thành những chiến đoàn hỗn hợp mạnh (bộ binh - pháo binh - xe tăng, thiết giáp).

Trước khi ta mở chiến dịch, trong tháng 3 và tháng 4-1974, địch sử dụng Sư đoàn 25, được tăng cường một số tiểu đoàn biệt động quân và một chi đoàn thiết giáp từ Đồng Dù, mở cuộc tiến công lên phía tây sông Sài Gòn. Phối hợp với Sư đoàn 25, các đơn vị quân Sài Gòn đồn trú ở Ri Nét, Rạch Bắp mở cuộc hành quân lên Bưng Còng, nhằm thực hiện âm mưu lấn chiếm và hoàn chỉnh tuyến phòng ngự dọc theo đường số 7 ngang.

Kiên quyết chặn đứng cuộc tiến công lấn chiếm này của địch, Trung đoàn 16 độc lập của miền, Tiểu đoàn Quyết thắng của Quân khu Sài Gòn - Gia Định và lực lượng du kích Củ Chi phối hợp chiến đấu, đẩy lui các đợt tiến công của Sư đoàn 25, giữ vững vùng giải phóng phía đông Sài Gòn.

Trong lúc Sư đoàn 25 đang bị ghìm chân ở phía đông Sài Gòn, Sư đoàn 9 và Sư đoàn 7 chủ lực miền, từ hai hướng, nổ súng tiến công các căn cứ phòng thủ của địch, mở màn chiến dịch đường số 7 ngang.

Trên hướng chủ yếu của chiến dịch, giữa tháng 5-1974, Sư đoàn 9 đánh chiếm cụm phòng thủ Ri Nét, cô lập cụm Rạch Bắp và uy hiếp trực tiếp căn cứ Bến Cát, làm chủ đoạn đường 7 dài 10 km từ Rạch Bắp đến Bến Cát. Quyết tâm lấy lại khu vực vừa mất, quân đội Sài Gòn huy động một lực lượng lớn, tổ chức nhiều đợt phản kích quyết liệt vào các đơn vị của quân ta trong suốt hai tháng (tháng 5 và 6-1974), Bộ đội ta kiên trì bám trụ trận địa, đánh trả quyết liệt, bẻ gãy hàng trăm đợt tiến công của chúng.

Ở hướng phối hợp, một bộ phận lực lượng Sư đoàn 7 tiến công căn cứ Phước Hòa trên đường 16, gây cho địch nhiều thiệt hại. Bộ phận khác của Sư đoàn 7 đánh chiếm căn cứ cầu Nha Bích, Tống Lê Chân, giải phóng đường số 14 đoạn Chơn thành - Đồng Xoài, tiến ra bờ sông Đồng Nai, diệt các căn cứ của quân đội Sài Gòn ở khu vực Lạc An - Bà Sầm. Để đối phó với Sư đoàn 7 Quân giải phóng, Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn được tăng cường Lữ đoàn 33 thiết giáp, Liên đoàn 7 biệt động quân và một lực lượng lớn không quân, pháo binh chi viện hỏa lực, mở các đợt phản kích hòng đánh bật lực lượng ta khỏi các vị trí mà chúng vừa để mất.

Mặc dù huy động một lực lượng đông gấp ba lần Quân giải phóng, lại được xe tăng, pháo binh và không quân chi viện, nhưng nỗ lực phản kích của quân đội Sài Gòn đã bị chặn đứng, chúng không thể giành lại được những căn cứ phòng ngự đã mất. Không những thế, chỉ trong hai tháng 5 và 6-1974, quân đội Sài Gòn đã bị đánh thiệt hại nặng 11 tiểu đoàn trong tổng số 26 tiểu đoàn cơ động, 4 trong 14 tiểu đoàn biệt động, 4 trong 18 chi đoàn thiết giáp, 84 trong số 325 xe tăng và thiết giáp(1).

Chiến dịch đường 7 ngang giành thắng lợi góp phân quan trọng tạo ra thế chiến lược mới trên chiến trường miền Đông, lực lượng vũ trang trụ vững trên tuyến vành đai Sài Gòn - Gia Định, uy hiếp trực tiếp khu vực phòng thủ của địch ở phía bắc Sài Gòn.


(1) Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945-1975, Sđd, tr.518.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Ba, 2011, 06:41:10 PM
Vào thời gian ta mở chiến dịch đường số 7 ngang, một bộ phận lực lượng của Quân khu 7 phối hợp với Quân khu Sài Gòn - Gia Định mở mặt trận tiến công dịch ở phía đông Sài Gòn, làm chủ trục đường số 2 và khu vực Bảo Bình, đường số 20 đoạn Định Quán. Quân ta đã tiêu diệt 4 đồn, giải tán 17 toán phòng vệ dân sự, phá lỏng, phá rã 7 ban tề ấp, xóa toàn bộ ấp trắng và tạo được thế tranh chấp với địch ở 12 ấp với 22.600 dân(1). Trung đoàn 16 chủ lực miền phối hợp với lực lượng tại chỗ đánh chiếm, bức rút các đồn Đồng Ớt, Biện Sen (Trảng Bàng), Đất Mọi (Gò Dầu), giải phóng một vùng rộng lớn kéo dài từ Trảng Bàng đến chiến khu Dương Minh Châu.

Lúc này, trước yêu cầu nhiệm vụ đặt ra ngày càng nặng nề, và để chuẩn bị tốt cho nhiệm vụ quân sự trong thời gian tới, đặc biệt là việc đánh chiếm các mục tiêu trong nội đô Sài Gòn, tháng 4-1974, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền quyết định thành lập Lữ đoàn 316 đặc công - biệt động, gồm chủ yếu cán bộ, chí tình báo, biệt động dày dạn kinh nghiệm ở chiến trường Sài Gòn - Gia Định. Với lực lượng tinh nhuệ này, chỉ trong hai tháng 9 và 10-1974, lữ đoàn đã tiến công 82 mục tiêu trong số 90 mục tiêu được phân công ở vùng ven, gây cho địch nhiều thiệt hại về lực lượng và phương tiện chiến tranh.

Trước sức uy hiếp mạnh mẽ của ta. ở miền Đông Nam Bộ, quân đội Sài Gòn buộc phải co cụm và ở vào trạng thái phòng thủ triệt để. Lúc này, trên toàn bộ địa bàn này, mục tiêu của quân đội Sài Gòn là gắng giữ chắc các khu vực chiếm đóng và hậu phương, đặc biệt là Sài Gòn, bởi trên thực tế chúng không còn đủ lực lượng để có thể tiến hành các hoạt động tiến công lấn chiếm và bình định. Thế nên, thay vì hô hào và huy động lực lượng “tràn ngập lãnh thổ” như trước kia, thì thừ tháng 4-1974, trước sự thiếu hụt về ngân sách, về quân cụ chiến tranh, Nguyễn Văn Thiều yêu cầu quân đội Việt Nam Cộng hòa phải “đánh theo kiểu con nhà nghèo”.

Trước tình hình đó, để tăng cường lực lượng và thế tiến công ở vùng ven và nội thành Sài Gòn, bên cạnh việc củng cố địa bàn đứng chân của khối chủ lực, Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền giao trách nhiệm cho Thành ủy Sài Gòn đẩy mạnh hoạt động, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để quần chúng nội đô, khi thời cơ đến, phối hợp với đòn tiến công quân sự nổi dậy giành quyền làm chủ. Thực hiện chủ trương này, lực lượng hoạt động ở nội đô nhanh chóng khôi phục lại đội biệt động, đội vũ trang của các ban ngành, đoàn thể, các lõm chính trị và các lực lượng tại chỗ. Đoàn biệt động 19-5 được thành lập gồm các đội 1, 3, 4, 5 tương đương các đại đội. Các đội biệt động độc lập như 7, 8, 9, 11, Z 17, V 20, V 16, V 22 cũng nhanh chóng được tổ chức và bước vào hoạt động. Các đội vũ trang của Thành đoàn, Hoa vận, Tuyên huấn, Công an, Phụ vận, Binh vận được khôi phục. Ban chỉ huy quân sự các quận nội thành cũng được củng cố. Đến cuối năm 1974, lực lượng ta ở Sài Gòn có 13 đội biệt động, 40 lõm chính trị và nhiều cơ sở, kho tàng cất giấu vũ khí ở nội thành. Tại các khu vực vùng ven, ta phát triển thêm 218 đội du kích xã, 548 du kích ấp, 71/85 xã có xã đội, 270/360 ấp có cơ sở chính trị vũ trang(2).

Nhìn chung, đến cuối năm 1974, thế và lực của ta ở miền Đông Nam Bộ có bước phát triển mới. Thế và lực đó có đủ sức bao vây, ghìm chân khối chủ lực cơ động lớn nhất của quân đội Sài Gòn, đồng thời trực tiếp uy hiếp Sài Gòn trên hướng Tây Bắc.

Trên chiến trường Trung Nam Bộ, cuộc đấu tranh giành đất, giành dân giữa ta và địch diễn ra quyết liệt. Từ ngày 11-12-1974, quân đội Sài Gòn tập trung 15 tiểu đoàn, 5 chi đoàn thiết giáp M113, 42 khẩu pháo các loại, tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm Vùng 4 Kiến Tường - địa bàn quan trọng nối căn cứ Đồng Tháp Mười với hành lang chiến lược của ta ở biên giới Campuchia. Sau khi chiếm được vị trí quan trọng này, quân đội Sài Gòn nhanh chóng mở rộng diện chiếm đóng ra các khu vực khác ở mảng bốn Cai Lậy Bắc, gây cho ta những khó khăn, lúng túng. Cuối tháng 2-1974, Thường vụ Khu ủy Khu 8 quyết định mở cuộc tiến công và phản công địch trên toàn chiến trường quân khu. Để nắm tình hình và chỉ huy trực tiếp hoạt động tác chiến, quân khu thành lập hai bộ chỉ huy tiền phương trên hướng lộ 4 - Mỹ Tho (J10) và hướng Vùng 4 - Kiến Tường (J25). Bộ Tư lệnh J10 đóng tại nam lộ 4 - Mỹ Tho, do đồng chí Võ Văn Thạnh lam Tư lệnh. Hoạt động trên hướng này có các đơn vị: Trung đoàn 24, Tiểu đoàn 269 đặc công, Đại đội 318 đặc công nước, Tiểu đoàn 309F pháo binh. Bộ Tư lệnh J25 đóng tại Vùng 4 - Kiến Tường, do đồng chí Huỳnh Văn Mến (Tư Thân) làm Tư lệnh. Chiến đấu và công tác trên hướng này gồm các Trung đoàn 320, Trung đoàn 88, Tiểu đoàn 283 đặc công, Đại đội 432 công binh. Trong suốt mùa khô và đầu mùa mưa, các đơn vị chủ lực quân khu phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị tại chỗ, đẩy mạnh tiến công vào hệ thống đồn bốt địch, nhất là khu vực 20-7, mảng ba Cai Lậy Bắc, Châu Thành (Mỹ Tho). Tại đây, vận dụng hình thức chiến thuật chốt chặn kết hợp với tập kích địch co cụm, lực lượng vũ trang ta đã đẩy địch ra sát lộ 4, uy hiếp thị xã, thị trấn, mở rộng vùng giải phóng ở nam, bắc lộ 4 và vùng ruột Đồng Tháp Mười. Trong đợt tiến công này, trên địa bàn Mỹ Tho, ta đã bức rút 150 đồn, giải phóng hoàn toàn 10 xã, 50 ấp, với 50.000 dân. Phối hợp với hướng trọng điểm Mỹ Thuận lợi, Kiến Tường, quân và dân các tỉnh Bến Tre, Kiến Phong, An Giang, Long An cũng đã ngăn chặn có hiệu quả hành động lấn chiếm của địch, giữ vững khu vực xung quanh các căn cứ của quân Sài Gòn như; kênh Quận, Năm Ngàn, Phụng Thớt, Hai Hạt, Trại Lòng, Bằng Lăng, kênh Bùi, kênh Bích.


(1) Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945-1975, Sđd, tr.518.
(2) Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945-1975, Sđd, tr.523-524.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Ba, 2011, 06:44:39 PM
Đến hết mùa mưa năm 1974, ta vẫn chưa chiếm lại được Vùng 4 - Kiến Tường. Dù vậy, nhìn chung đến những tháng cuối năm 1974, lực lượng vũ trang Quân khu 8 đã có bước phát triển mới, đủ sức ngăn chặn các cuộc hành quân lấn chiếm của quân đội Sài Gòn, giữ vững vùng giải phóng. Ngày 22-10-1974, theo quyết định của Bộ Tư lệnh Miền, Quân khu 8 thành lập Sư đoàn 8 bộ binh gồm các Trung đoàn 88, Trung đoàn 24 và Trung đoàn 320. Đồng chí Huỳnh Văn Mến, Phó Tư lệnh Quân khu, làm Sư đoàn trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Thạnh, Phó Chính ủy Quân khu làm Chính ủy(1). Sư đoàn 8 ra đời đánh đấu bước trưởng thành của lực lượng vũ trang Quân khu 8. Đây là quả đấm chủ lực quan trọng, tạo sức mạnh mới cho lực lượng ta trên chiến trường Trung Nam Bộ khi bước vào mùa khô 1974-1975. Cùng với việc củng cố, phát triển khối chủ lực, quân khu quyết định dời chuyển sở chỉ huy cơ bản từ vùng biên giới Campuchia về đứng chân trên chiến trường Mỹ Tho để tiện cho việc nắm bắt diễn biến chiến trường, tiến hành chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp, kịp thời lực lượng vũ trang quân khu trong giai đoạn mới.

Trên chiến trường Tây Nam Bộ, lực lượng vũ trang Quân khu 9 bước vào đợt hoạt động quân sự sớm hơn so với Đông Nam Bộ và Trung Nam Bộ. Tại đây, quân đội Sài Gòn, sau thất bại lớn ở Chương Thiện, đã có bước điều chỉnh lực lượng và thực hiện ngay một kế hoạch quân sự mới. Ngày 30-11-1973, Quân đoàn 4 - Quân khu 4 quân đội Sài Gòn sử dụng một bộ phận lực lượng gồm 1 sư đoàn bộ binh, 2 thiết đoàn, 8 tiểu đoàn bảo an, 4 giang đoàn mở cuộc tiến công vào khu vực tây nam Long Mỹ; đồng thời, sử dụng Trung đoàn 33 - Sư đoàn 21 yểm trợ lực lượng địa phương quân, tiến công khu vực Thới Bình (Cà Mau). Dồn một lực lượng lớn cho đợt hoạt động mùa khô 1973-1974, quân đội Sài Gòn quyết tâm thực hiện mục tiêu đặt ra trong năm 1974 - năm được chúng gọi là “năm chiến tranh lúa gạo”. Mục tiêu này đã được Trần Thiện Khiêm - Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, tuyên bố tại Cần Thơ ngày 20-11-1973, và giao cho Quân đoàn 4 - Quân khu 4 quân đội Sài Gòn thực hiện. Bước vào mùa khô 1974-1975, địch tăng cường hoạt động nhằm khóa chặt biên giới, bảo vệ an ninh lãnh thổ, đồng thời mở các cuộc tiến công đánh phá căn cứ và vùng giải phóng của ta. Song song với hoạt động quân sự, tại các vùng chiếm đóng, một mặt, địch sử dụng chính quyền cấp tiểu khu làm hạt nhân và cho phép cấp chính quyền này triệt để tận thu lương thực, trưng dụng tất cả các phương tiện vận tải của nhân dân, gấp rút tổ chức xây dựng các sân phơi, kho chứa; mặt khác, chúng thực hiện “quân sự hóa” bộ máy kìm kẹp cấp xã, ấp, trước hết, đưa 1.000 công chức về khu vực Chương Thiện nắm giữ chức vụ xã trưởng, ấp trưởng. Bằng các biện pháp trên đây, địch hy vọng chỉ trong một thời gian ngắn, lực lượng kháng chiến của cách mạng miền Nam trên địa bàn Tây Nam Bộ mặc dù ở khu vực vựa lúa vẫn sẽ bị thiếu đói, sức chiến đấu sụt giảm.

Nửa tháng sau khi quân đội Sài Gòn mở đợt hoạt động mới, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 9(2) giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 10, Trung đoàn 1, Trung đoàn 20 và Trung đoàn 3 phối hợp với lực lượng tại chỗ của các địa phương, mở các đợt phản công, tiến công vào hệ thống đồn bốt của quân đội Sài Gòn trên các địa bàn, kiên quyết đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm, bình định, cướp lúa gạo của địch, đồng thời mở rộng vùng giải phóng của ta.

Tại Sóc Trăn,g Trung đoàn 10 và lực lượng tại chỗ tiến công hệ thống đồn bốt địch ở tây nam chi khu Thạnh Trị, giải phóng xã Mỹ Quới; Trung đoàn 1 bao vây, bức rút hai đồn ở Vĩnh Tân và Tân Long phía đông bắc Chi khu Thạnh Trị. Ở huyện Châu Thành, ta giải phóng xã Mỹ Phước, hình thành vùng giải phóng liên hoàn từ kênh Mỹ Phước đến kênh Cái Trầu.

Trên địa bàn tỉnh Rạch Giá, Trung đoàn 20 mở các cuộc tiến công đạt hiệu suất chiến đấu cao, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 31 - Sư đoàn 21 quân đội Sài Gòn, giải phóng xã Ngọc Hòa (huyện Giồng Riềng, tỉnh Rạch Giá). Cùng với lực lượng vũ trang tỉnh Rạch Giá, trung đoàn tiến công bóc gỡ 81 đồn, bộ phận 6 xã với gần 160.000 dân. Phong trào tiến công bóc gỡ đồn bốt địch ở Cà Mau, Bạc Liêu(3), Sóc Trăng, Vĩnh Long và Trà Vinh đã thu được kết quả tốt. đến cuối năm 1974, quân và dân ở đây đã bức rút được 114 đồn, giải phóng cơ bản 16 xã và hơn 200.000 dân(4).


(1) Khu VIII - Trung Nam Bộ kc chống Mỹ, cúu nước (1954-1975), Sđd, tr. 691-694.
(2) Tháng 11-1973, sau khi Trung ương điều đồng chí Lê Đức Anh về Bộ Chỉ huy Miền, quân ủy Miền bổ nhiệm đồng chí Phạm Ngọc Hưng làm Tư lệnh quân khu, đồng chí Vũ Đình Liệu làm Chính ủy quân khu; ngoài ra, Bộ Tư lệnh quân khu còn có các đồng chí Bùi Như Nho, Phó Chính ủy; Nguyễn Đệ, Phó Tư lệnh kiêm Tư lệnh tiền phương Chương Thiện, chỉ huy khối chủ lực và lực lượng vũ trang 3 tỉnh Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng; Nguyễn Đình Chức (Tư Chức), Phó Tư lệnh kiêm Tư lệnh tiền phương Châu Hà, thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận Trung đoàn 101, Tiểu đoàn 6 được Bộ Chỉ huy Miền tăng cường và tổ chức bảo vệ tuyến đườngg 1 C xuống U Minh.
(3) Thực hiện nghị quyết của Hội nghị Khu ủy, ngày 27-11-1973, tỉnh Bạc Liêu được thành lập trên cơ sở chia tách từ tỉnh Ba Xuyên, đồng chí Nguyễn Văn Đáng (Tư Hờn) làm Bí thư Tỉnh ủy.
(4) Ban Chỉ đạo và Ban biên tập truyền thống Tây Nam Bộ: Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr. 727.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Ba, 2011, 06:46:02 PM
Đầu năm 1974, quân và dân các địa phương miền Tây Nam Bộ tiếp tục đẩy mạnh tiến công địch trên các hướng Chương Thiện, Vĩnh lợi (Bạc Liêu), quốc lộ 4 - đoạn qua huyện Châu Thành B, phía nam thành phố Cần Thơ, phía bắc vùng lòng chảo Giồng Riềng (giáp phía nam lộ Cái Sắn), khu vực Tân Hiệp (Rạng Giá). Tại Bác Liêu, lực lượng vũ trang của tỉnh tiến công đich ở những vùng tranh chấp để giành dân, giành lúa với địch. Tiểu đoàn 7 - Trung đoàn 10 luồn sâu xuống khu vực Vĩnh Lợi, mở các hoạt động diệt đồn tề ở xã Vĩnh lợi, kết hợp ba mũi giáp công bao vây 2 đồn khác. Tiếp đó, đơn vị đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 486 bảo an và 3 trung đội dân vệ khi chúng đang hành quân lấn chiếm, bắt 21 tù binh. Tiểu đoàn còn đánh thiệt hại nặng thêm một đại đội trinh sát (thuộc Sư đoàn 21), có 1 chi đoàn xe M113 yểm trợ, diệt 39 tên, buộc bộ phận còn lại phải bỏ chạy về Chi khu Thạnh Trị.

Phối hợp cùng với Tiểu đoàn 7, tỉnh đội Bạc liêu sử dụng một tiểu đoàn, tiến công địch ở xã Phong Thạnh và Phong Thạnh Tây, gây thương vong nặng cho 1 trung đội biệt kích, 1 tiểu đoàn bảo an của Tiểu khu Bạc Liêu và tiêu hao 2 tiểu đoàn bảo an khác. Tiểu đoàn đã phá được 7 trong số 23 đồn do quân bảo an chốt giữ, giải phóng hoàn toàn xã Phong Thạnh.

Trên hướng Sóc Trăng, Tiểu đoàn 1 phối hợp với lực lượng huyện Mỹ Xuyên, tiêu diệt 4 đồn, bức rút 13 đồn khác, giải phóng cơ bản hai xã Gia Hòa và Hòa Tú.

Trong đợt hoạt động này, Tiểu đoàn Tây Đô (Cần Thơ) vượt lộ 4, phối hợp với bộ đội huyện Châu Thành B và Phụng Hiệp vây ép hệ thống đồn bốt của địch dọc lộ 4, uy hiếp tuyến phòng thủ của địch ở phía nam thành phố Cần Thơ; tạo điều kiện để Trung đoàn 20 chủ lực khu đánh hại nặng 2 đại đội của địch tại nam chi khu Giồng Riềng, bức rút 6 đồn bốt.

Cùng trong thời gian này, Tiểu đoàn 2 của tỉnh Rạch giá bức rút 2 đồn Xẻo Cạn Ngọn và Xẻo Cạn Vàm, giải phóng kênh Xẻo Cạn và phối hợp với Đoàn 6 pháo binh, đánh phá đồn Cái Nước Vàm. Trên hướng Vĩnh Long, Trà Vinh, Trung đoàn 3 chủ lực của quân khu phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang của các địa phương này, bức rút 7 đồn địch tại hai xã Tích Thiện và Vĩnh Xuân; đồng thời, đánh bại các cuộc hành quân của nhiều đơn vị bảo an địch hòng tái chiếm lại các vị trí vừa mất.

Hoạt động đều khắp, mạnh mẽ của lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta buộc quân đội Sài Gòn trên địa bàn này phải căng kéo, dàn mỏng lực lượng để đói phó. Do luôn trong tình trạng phân tán lực lượng, ở nhiều khu vực, quân đội Sài Gòn đã không đứng vững trước sức tiến công của quân ta. Cho đến cuối tháng 1-1974, quân và dân Tây Nam Bộ đã bóc gỡ thêm được 123 đồn địch, giải phóng 9 xã với hàng vạn dân.

Từ kết quả hoạt động tiến công và phản công đánh bại các đợt hoạt động lấn chiếm, phá hoại Hiệp định Pari của địch trên địa bàn Tây Nam Bộ, Hội nghị sơ kết đợt đầu chiến dịch mùa khô của Quân khu 9 họp vào cuối tháng 1-1974 đã phân tích ý nghĩa quan trọng của những kết quả này và chỉ rõ: ta đã chủ động phá được âm mưu, kế hoạch mùa khô của địch; chống không cho địch chiếm đất, giành dân, bảo vệ vững chắc các vùng giải phóng. Hội nghị cũng rút ra những kinh nghiệm về mở rùng, chuyển vùng, sử dụng lực lượng phối hợp cả ba thứ quân và kết hợp ba mũi giáp công trong quá trình chống địch lấn chiếm.

Nhận thấy kế hoạch bình định lấn chiếm bị chống trả quyết liệt, lại bị mất nhiều địa bàn quan trọng, tinh thần chiến đấu của binh lính sút giảm mạnh, cuối tháng 1-1974, Nguyễn Văn Thiệu xuống Cần Thơ họp bàn với Bộ Tư lệnh Quân khu 4 - Vùng 4 chiến thuật tìm biện pháp cải thiện tình hình, xác định rõ mục tiêu và địa bàn tranh chấp chủ yếu với ta vẫn là Chương Thiện, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 - Vùng 4 chiến thuật tiến hành săp xếp lại thế bố trí lực lượng. Trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn 21 được điều sang hoạt động ở Thạnh Trị (Sóc Trăng), Trung đoàn 15 thuọc Sư đoàn 9 giao khu vực Lái Thiêu cho lực lượng bảo an để chuyển xuống hoạt động ở khu vực Châu Thành và Mỹ Xuên (Sóc Trăng). Trung đoàn 33 thuộc Sư đoàn 21 từ tây nam Long Mỹ (Cần Thơ) chuyển sang Giồng Riềng (Rạch Giá). Với cách bố trí như vậy, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 - Vùng 4 chiến thuật hy vọng sẽ chặn đứng được hoạt động của ta ở địa bàn Rạch Giá, Sóc Trăng, Cần Thơ, đồng thời ghìm một bộ phận lực lượng ta ở những địa bàn này nhằm làm giả sự uy hiếp đối với Chương Thiện.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Ba, 2011, 06:46:53 PM
Trong lúc địch đang bố trí lại lực lượng và thế trận, thì ngày 16-2-1974, ta đã đồng loạt nổ súng mở màn đợt tiến công mới trên chiến trường miền Tây Nam Bộ.

Mở đầu cho đợt tiến công này, Trung đoàn 1 cùng lực lượng địa phương huyện Phùng Hiệp phối hợp diệt 19 đồn, giải phóng tuyến kênh Ngang từ ngã tư Cây Dương đế ngã năm Búng Tàu, giải phóng cơ bản xã Hiệp hưng, nối liền khu vực phía đông bắc Long Mỹ với tây lộ 4. Trước tình hình đó, Trung đoàn 15 - Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn đánh phải bỏ cuộc hành quân tái chiếm Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) quay về Phụng Hiệp và lực lượng này đã chiếm lại được 4 đồn xung quanh thị trấn Phụng Hiệp.

Ở khu vực phía tây nam Long Mỹ, Trung đoàn 10 tiến công tiêu diệt 1 đồn do tề xã chiếm giữ và một số đồn bốt khác, uy hiếp Chi khu Long Mỹ. Địch vội điều Trung đoàn 31 đang hành quân ở kênh Xà Nó chung chi đoàn xe M113 tới giải tỏa. Thế nhưng, lực lượng chi viện này của địch đã bị ta phục kích, đánh diệt 8 xe M113. Tại Giồng Riềng, Trung đoàn 210 diệt đồn tề xã Vĩnh Thạnh, kìm chân Trung đoàn 33 quân đội Sài Gòn.

Phối hợp với các địa bàn xung quanh, trong các ngày từ 17 đến 22-2-1974, dân quân, du kích các xã Biển Bạc, Trí Phải (Cà Mau) đã bức rút thêm 5 đồn bốt. Trong lúc đó, trên toàn tỉnh lực lượng ta bao vây 46 đồn bốt, buộc địch phải sử dụng máy bay để tiếp tế cho lực lượng tại các đồn bốt này. Ở Vĩnh Long và Trà Vinh, Trung đoàn 3 phối hợp với lực lượng địa phương bóc gỡ 9 đồn thuộc khu vực phía nam sông Mang Thít, đẩy lùi nhiều cuộc hành quân bình định lấn chiếm của địch, giải phóng hoàn toàn xã Thuận Thới.

Tiếp đó, trong tháng 3-1974, Đoàn 6 pháo binh cùng Tiểu đoàn 2 của tỉnh Rạch Giá đánh chiếm 2 đồn địch và kết hợp với lực lượng tại chỗ bức rút 11 đồn khác, giải phóng cơ bản 2 xã Đông Yên và Tây Yên. Địch điều 1 giang đoàn từ căn cứ Xẻo Rô vào giải tỏa, nhưng lực lượng này đã bị Đoàn 6 pháo binh bắn chìm và bắn cháy 3 tàu. Cũng trong tháng 3, lực lượng bộ đội ở Rạch Giá còn gỡ và diệt thêm 32 đồn bốt địch.

Ngày 5-3-1974, Trung đoàn 101 chủ lực miền diệt căn cứ Trà Tiên, đánh thiệt hại năng Trung đoàn 16 - Sư đoàn 9 của địch, giải phóng xã Phú Mỹ (huyện Hà Tiên).

Ngày 21-3-1974, bộ đội huyện Cái Nước cùng du kích bao vây, bức rút 1 đồn và uy hiếp 1 đồn khác thuộc xã Tân Hưng Tây. Địch tung quân tái chiếm. Tỉnh đội Rạch Giá điều 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn U Minh 3 và 1 đại đội pháo binh tiến công, bắn phá đồn địch. Lúc này, Tiểu đoàn bảo an cơ động 412 được trực thăng đổ xuống khu vực Bình Hưng. Các Tiểu đoàn U Minh 2 và U Minh 3, đại đội huyện Cái Nước, trung đội nữ pháo binh đã bố trí lực lượng phục kích, đón đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn bảo an này, loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên, bắt sống 47 tên, thu toàn bộ vũ khí và 21 máy thông tin.

Đầu tháng 4-1974, địch tập trung một bộ phận lực lượng bộ binh, xe tăng và xe thiết giáp cùng các giang đoàn, hải đoàn chủ lực mở cuộc hành quân giải tỏa, hòng nối lại trục sông Cái Lớn. Đoàn 6 pháo binh Quân khu 9 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương tập kích căn cứ hải quân Xẻo Rô, diệt 1 giang đoàn với 16 tàu và 1 chi đội xe M113 ở Bầu Môn, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn bộ binh khác, đập tan cuộc hành quân giải tỏa này của địch.

Trên đà thắng lợi, ngày 26-4-1974, Tiểu đoàn U Minh 2 tập kích phân khu Cái Rắn, tiêu diệt và bắt sống 44 tên, thu 36 súng, trong đó có 1 cối 106,7mm và 5 máy thông tin.

Từ tháng 5-1974, địch phải điều Trung đoàn 15 - Sư đoàn 9 tăng cường cho khu chiến thuật Tiền Giang. Nắm bắt kịp thời kế hoạch này của địch, lực lượng vũ trang Quân khu 9 tiến công Tiểu khu Bạc Liêu, Tiểu khu Phong Dinh. Cùng thời gian, quân và dân các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh kết hợp hai mũi tiến công, phát triển phong trào “bao vây, đánh lấn” nhằm vào hệ thống đồn bốt địch. Kết quả, trong 15 ngày đầu tháng 5, bộ đội địa phương của ta đã bóc gỡ thêm 22 đồn. Quân và dân tỉnh Rạch Giá diệt thêm 14 đồn; giải phóng hoàn toàn 2 xã Vĩnh Hòa (Vĩnh Thuận) và xã Thúy Liễu (Gò Cao); mở rộng vùng giải phóng ở 2 xã Hóa Quản và Bình An (Châu Thành B). Ngày 20-5-1974, Ủy ban nhân dân Cách mạng lâm thời tổ chức cuộc míttinh ra mắt nhân dân ở 2 xã vừa mới giải phóng; hơn 5.000 người và hàng trăm trí thức, nhân sĩ yêu nước tham gia buổi lễ này.

Trước sự phát triển thuận lợi của phong trào tiến công địch, Sở Chỉ huy tiền phương tỉnh Cà Mau quyết định dời chuyển từ căn cứ U Minh Hạ lên sông Ông Đốc để trực tiếp chỉ huy các đơn vị đánh chiếm căn cứ Bình Tây (Phân chi khu chữ Y). Ta sử dụng 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội pháo binh, vượt sông Ông Đốc để đánh căn cứ này. Căn cứ Bình Tây nằm trên địa bàn xã Khánh Bình, do 1 đại đội bảo an địch chốt giữ. Đây là căn cứ được xây dựng khá kiên cố, do đó, ta đã dùng kế nghi binh, kéo địch thoát ly khỏi căn cứ để Tiểu đoàn U Minh 2 phục kích, tiêu hao một số sinh lực địch. Bọn còn lại cố thủ trong căn cứ. Lực lượng ta bao vây, dùng súng cối 120 mm bắn phá công sự và đồn trại của chúng. Không chịu nổi sức ép của ta, địch bỏ căn cứ hòng thoát thân. Quân ta truy kích, diệt thêm một số; số còn lại chạy về đồn Trảng Cò. Căn cứ Bình Tây mất, lực lượng bảo an ở đồn kênh Công Nghiệp Giữa cũng tháo chạy. Phát huy thắng lợi, ta tiếp tục bao vây đồn Trảng Cò, pháo kích buộc địch phải rút khỏi đồn Rạch Cui Phố, đồn Chủ Kịch (xã Trần Hợi) và đồn Ông Tự (xã Phong Lạc). Đêm 30 rạng 31-5-1974, ta bức rút thêm 5 đồn, khiến cho quân địch ở đồn Rạch Cui Phố cũng hoảng sợ bỏ chạy. Chỉ trong một thời gian ngắn, trên tuyến sông Ông Đốc, địch chỉ còn đóng ở thị trấn sông Ông Đốc, Chi khu Rạch Giá, nhưng trong thế bị quân ta bao vây, cô lập.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Ba, 2011, 06:48:09 PM
Cùng với đoàn tiến công quân sự, phong trào nổi dậy của quần chúng ở nhiều địa phương cũng có bước phát triển mới, tiêu biểu là cuộc đấu tranh của hơn 1.000 tăng ni, phật tử thuộc 46 chùa của tỉnh Rạch Giá vào ngày 13-6-1974. Đây là cuộc xuống đường tương đối lớn, thu hút đông đảo quần chúng tham gia, với khẩu hiệu đấu tranh chống bắt lính, chống tàn sát sư sãi chùa Cù Là (thị trấn Minh Lương, Rạch Giá). Thường vụ Khu ủy Khu 9 kịp thởi cử đồng chí Ma Hanh Thông, Khu ủy viên, Trưởng ban Khme vận, cùng với tỉnh Rạch Giá phát động quần chúng biẻu dương lực lượng, thị uy trước các cơ quan chính quyền và quân đội Sài Gòn trong các thị xã, thị trấn. Cuộc đấu tranh này buộc địch phải cón những nhượng bộ, không còn dám mạnh tay đàn áp như trước được nữa.

Như vậy, cho đến mùa hè năm 1974, quân và dân miền Tây Nam Bộ đã giành được những thắng lợi quan trọng trên mặt trận đấu tranh quân sự và chính trị. Lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta đã giải phóng thêm được đất, giành thêm được dân, củng cố thế đứng an toàn ở vùng giải phóng. Địch chẳng những không thực hiện được kế hoạch lấn chiếm, không cướp được lúa gạo, mà còn chịu nhiều tổn thất về lực lượng và suy giảm về thế trận. Nhiều đồn bốt dọc các hành lang vận chuyển đã bị bóc gỡ, nhiều địa bàn quan trọng có ý nghĩa về quân sự, chính trị, kinh tế cũng bị ta đánh chiếm. Trên thực tế, ở Tây Nam Bộ, địch chỉ còn chiếm giữ các thành phố, thị xã, vùng giáp ranh và một phần khu vực Chương Thiện - lộ 4. Cùng với quá trình giành đất, giành dân, lực lượng vũ trang của quân khu đã có bước phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng. Trước tình hình đó, quân khu quyết định mở tiếp đợt tiến công trên diện rộng vào mùa mưa, nhằm chuẩn bị cho đợt hoạt động vào mùa khô 1974-1975. Trong đợt này, hướng trọng điểm Rạch Giá, quân khu sử dụng Trung đoàn 3, Trung đoàn 10, Tiểu đoàn 6 và các đơn vị vũ trang địa phương tiến công bức rút 65 đồn địch trên các tuyến kênh Xẻo Rô, kênh Tân Hội, kênh Mỹ Lâm, mở rộng hành lang vận chuyển, nối Châu Hà xuống căn cứ U Minh, tạo điều kiện để củng cố căn cứ Ba Hòn và xây dựng căn cứ Bảy Núi.

Trên hướng Sóc Trăng, Trung đoàn 1 sau khi đánh chiếm một loạt đồn bốt của địch ở Phân chi khu Đức Bà, Phương Bình 2, Phương Phú, Phương Phú 2, đã làm chủ một đoạn kênh xáng Quảng Lộ, đoạn từ Trà lĩnh đến Búng Tàu. Trước sức tiến công của ta, địch điều một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 31 - Sư đoàn 21 và 1 tiểu đoàn bảo an đến giải tỏa khu vực này. Dựa vào công sự, trận địa được chuẩn bị, Trung đoàn 1 của ta chặn đánh lực lượng này ở Xẻo Xu và Xẻo Cỏ. Cuối tháng 7-1974, địch điều thêm 1 chi đoàn xe M113, 2 tiểu đoàn và 1 đại đội thuộc Trung đoàn 15 - Sư đoàn 9 mở cuộc tiến công tái chiếm khu vực này nhưng không thành công.

Ở Cần Thơ, Tiểu đoàn Tây Đô và Tiểu đoàn 303 đánh chiếm Phân chi khu Thạnh An (Châu Thành B), bức rút đồn Mù U (Thường Thạnh), đồn Kế Sách, mở rộng diện làm chủ của ta ở khu vực ven sông Hậu. Trong lúc đó, bộ đội địa phương huyện Phụng Hiệp phối hợp với lực lượng tại chỗ, giải phóng kênh xáng Rạch Gòi, đoạn từ Rạch Gòi đến ngã ba Cây Dương.

Trung đoàn 20, sau khi mở rộng vùng giải phóng Giồng Riềng, đã bàn giao địa bàn này cho Trung đoàn 2 để chuyển qua hoạt động trên địa bàn huyện Ô Môn. Tại đây, trung đoàn tổ chức nhiều trận đánh, bức rút 30 đồn địch, giải phóng các xã Trường Xuân, Trường Long, Thới Lai và Nhon Thành (huyện Châu Thành).

Tại Trà Vinh và Vĩnh Long, phối hợp với đòn tiến công quân sự, ban binh vận tỉnh mở đợt tiến công binh vận ở thị xã Trà Vinh, Vĩnh Long và các thị trấn Tam Bình, Trà Ôn, Cầu Kè, Vũng Liêm, Càng Long. Lực lượng binh vận đã phối hợp với 60 cơ sở nội tuyến, sử dụng chất nổ, đánh phá cơ quan chính quyền, căn cứ quân sự, kho tàng, bến bãi, diệt nhiều tên ác ôn. Trong đợt này, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.300 tên địch, gỡ 40 đồn bốt, thu 1.000 súng.

Cuộc tiến công mùa mưa năm 1974 của quân và dân Quân khu 9 thu được những kết quả quan trọng. Trong cuộc tiến công này, phong trào chiến tranh nhân dân phát triển rộng khắp, uy hiếp hệ thống đồn bốt, căn cứ địch trên một diện rộng gồm 315 trong số 420 xã và 2.444 ấp trong số 3.400 ấp trên địa bàn quân khu; giải phóng hoàn toàn 56 xã, giành quyền làm chủ cho hơn hai triệu nhân dân. Đến cuối năm 1974, quân số của địch trên địa bàn Tây Nam bộ chỉ còn 15 vạn tên (giảm hơn 4 vạn so với năm 197); quân bảo an không còn khả năng cơ động và mất dần khả năng tiến công lấn chiếm vùng giải phóng(1).


(1) Ban Chỉ đạo và Ban biên tập truyền thống Tây Nam Bộ: Tây Nam Bộ 30 năm kháng chiến (1945-1975), Sđd, tr. 749.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Ba, 2011, 06:50:39 PM
Trên chiến trường Tây Nguyên, vào đầu năm 1974, Quân đoàn 2 - quân đội Sài Gòn vẫn giữ thế bố trí theo hai hướng Gia Lai và Kon Tum. Trên hướng Gia Lai, địch sử dụng 11 tiểu đoàn, 3 chi đội thiết giáp và hai tiểu đoàn pháo binh làm nhiệm vụ phòng giữ địa bàn và tiến công lấn chiếm khu vực Đức Cơ - phía tây đường 19. Hướng Kon Tum, địch tập trung một bộ phận lực lượng khá mạnh gồm Sư đoàn 23 tăng cường, 9 tiểu đoàn biệt động, 2 trung đoàn thiết giáp và 15 trận địa pháo, đồng thời, trên hướng này, chúng thường xuyên sử dụng máy bay ném bom, bắn phá vùng giải phóng, vùng căn cứ của ta. Trên cả hai hướng, kể từ sau Hiệp định Pari được ký kết, địch thường xuyên tiến hành các cuộc tiến công lấn chiếm căn cứ và vùng giải phóng của ta.

Sau chiến thắng Chư Nghé (Lệ Minh) của Sư đoàn 320 đánh bại các hoạt động lấn chiếm của địch, bảo vệ vùng giải phóng ở Gia lai, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định tách trung đoàn 95 ra khỏi đội hình Sư đoàn 10, sử dụng Trung đoàn này làm nhiệm vụ đánh phá thường xuyên đoạn đường 19 chạy qua đèo An Khê - Mang Yang. Bộ Tư lệnh mặt trận cũng quyết định tổ chức lực lượng mở đường 220 nối từ Võ Định qua Kon Rẫy vòng xuống phía đông, phục vụ việc cơ động lực lượng và bảo đảm hậu cần cho Trung đoàn 95 hoạt động ở phía bắc đường 19. Nhằm rút ngắn thời gian mở đường, ngoài lực lượng thi công cơ giới, ta bố trí lực lượng chiến đấu sẵn sàng đánh trả các cuộc hành quân ngăn chặn, phá hoại của địch. Ngay trong những này đầu mở đường, Trung đoàn 28, được tăng cường Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24, đã đánh chiếm căn cứ Kon Rẫy do Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 40 quân đội Sài Gòn đóng giữ.

Đầu tháng 3-1974, địch sử dụng Tiểu đoàn 95 và 2 đại đội hòng ngăn chặn lực lượng mở đường của ta. Được sự chi viện hiệu quả của pháo binh bắn thắng, Trung đoàn 28 và Tiểu đoàn 6 chủ lực Mặt trận Tây Nguyên đã đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 95 và 2 đại đội địch.

Mở con đường chỉ cách thị xã Kon Tum 20 km để vận chuyển vũ khí - trang bị kỹ thuật, hậu cần đảm bảo cho lực lượng ta hoạt động trên đường 19 là một bước đi có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ chiến trường Tây Nguyên. Đây là hướng vu hồi quan trọng nhằm kéo và ghìm lực lượng địch tại khu vực đường 19, tạo điều kiện cho hoạt động của ta trên hướng Kon Tum. Do vậy, cuộc đụng độ giữa ta và địch trong những tháng đầu của năm 1974 chủ yếu diễn ra ở các khu vực mà con đường 220 đi ngang qua. Mặc dù liên tiếp ở các cuộc hành quân đánh phá ngăn chặn quyết liệt, nhưng địch đã không thể nào cản được quyết tâm mở đường của ta. Cho đến đầu tháng 3-1974, trên toàn tuyến đường, địch chỉ còn giữ cứ điểm Kon Rốc - điểm cao 1.227 m thuộc khu vực đông bắc thị xã Kon Tum, do 1 tiểu đoàn bảo an và các phân đội quân báo, biệt động chốt giữ. Nhưng ngay cả cứ điểm này, địch cũng không giữ được bao lâu. Ngày 3-4-1974, được pháo binh bắn thắng chi viện, sau 2 giờ chiến đấu, Trung đoàn 24 đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ lực lượng địch ở Kon Rốc. Con đường 220 từ đây vươn nhanh tới khu vực bắc đường 19 - nơi Trung đoàn 95 đứng chân, thực hiện nhiệm vụ đánh phá giao thông địch.

Cuối tháng 4-1974, ở Kon Tum, địch còn lại 3 căn cứ, căm sâu vào vùng giải phóng của ta, gồm Đắc Pét án ngữ đường 14, sát biên giới Việt Nam - Lào; Chi khu quận lỵ Mặng Đen và Chi khu quận lỵ Măng Búc (bắc Kon Tum). Bộ Tư lệnh Mặt trận giao cho Trung đoàn 66 và Trung đoàn 28 - Sư đoàn 10 đảm nhiệm đánh chiếm các căn cứ này.

Ngày 15-5-1974, Trung đoàn 66 được xe tăng, pháo binh chi viện, tiến công tiêu diệt và bắt sống toàn bộ Tiểu đoàn biệt động quân 88 ở căn cứ Đắc Pét (tây bắc Đắc Lắc). Phối hợp với Trung đoàn 66, Trung đoàn 3 (Quân khu 5) cùng lực lượng địa phương tiến công giải phóng Chi khu quận lỵ Đắc Pét. Khu vực Đắc Pét giải phóng, đường 14 được nối thông với tuyến vận tải chiến lược đông Trường Sơn.

Trong lúc các lực lượng ta đang tiến đánh các căn cứ địch ở Kon Tum thì tại Đắc Lắc, Trung đoàn 25 tiến công tiêu diệt căn cứ Ea Súp, giải phóng toàn bộ khu vực xung quanh căn cứ này.

Trên hướng bắc Kon Tum, Trung đoàn 28 cũng nhanh chóng đánh chiếm căn cứ Măng Đen, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ Ban chỉ huy Tiểu khu Chương Nghĩa và Ban Chỉ huy Tiểu đoàn bảo an 254, với gần 400 tên, trong đó có viên trung tá chỉ huy trưởng tiểu khu và 25 sĩ quan khác.

Đắc Pét, Măng Đen mất, địch ở quận lỵ Măng Búc lo sợ. Nhân lúc địch đang hoang mang, bộ đội địa phương cùng với nhân dân tiến công và nổi dậy, bức rút chi khu quận lỵ Măng Búc(1).

Từ đây, toàn bộ khu vực phía bắc và đông bắc thị xã Kon Tum trở thành vùng hoàn toàn giải phóng. Như vậy, ở Kon Tum địch chỉ còn giữ được thị xã và một só vị trí vùng ven.

Cũng vào thời gian này, trên hướng Gia Lai, Sư đoàn 320 đẩy mạnh các hoạt động vùng sau lưng địch. Sau khi đánh chiếm căn cứ Lệ Ngọc - thuộc tuyến bảo vệ vòng ngoài thị xã Plâycu, ngày 14-14-1974, sư đoàn sử dụng Trung đoàn 48, tiến công cụm quân hỗn hợp của địch gồm bộ binh, pháo binh, xe tăng - thiết giáp ở căn cứ 711 và điểm cao 601, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn biệt động quân số 82, 1 chi đoàn xe tăng, bắn rơi 5 máy bay, thu 2 pháo 155mm, 1 khẩu cối 106,7mm và nhiều quân trang, quân dụng(2). Đây là trận đánh có quy mô lớn nhất trên chiến trường Tây Nguyên kể từ sau ngày Hiệp định Pari được ký kết. Trong trận này, phần lớn các loại pháo mặt đất của ta được cơ động vào sát vị trí địch, ngắm bắn trực tiếp, nên hiệu quả và sức uy hiếp mạnh . Mặt khác, pháo cao xạ được bố trí tập trung trên hướng chủ yếu và trong đội hình chính, đã đánh trả rất hiệu quả không quân địch, bảo vệ vững chắc đội hình tiến công ta.

Bước vào những tháng cuối năm 1974, trên chiến trường Tây Nguyên, địch đã bị đẩy vào thế co cụm ở các thị xã và một số vị trí quan trọng trên các trục đường giao thông huyết mạch 14, 19, 21. Giờ đây, quân Sài Gòn ngày càng lún sâu vào thế bị động chống đỡ, tinh thần và khả năng chiến đấu của binh lính và sĩ quan giảm sút nghiêm trọng. Trên thực tế, quân địch ở đây không còn đủ sức làm nòng cốt cho kế hoạch “lấn chiếm, bình định” được nữa.

Như vậy, sau gần hai năm đẩy mạnh hoạt động tiến công địch trên chiến trường Tây Nguyên, ta đã đập tan các hoạt động lấn chiếm của địch; bảo vệ, mở rộng và nối thông vùng giải phóng, vùng căn cứ từ bắc Kon Tum đến nam Đắc Lắc, nối liền tuyến vận tải chiến lược từ miền Bắc vào tới chiến trường Nam Bộ. Trải qua những tháng ngày chiến đấu quyết liệt với địch, lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã có bước phát triển vững mạnh, có điều kiện và có khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô vừa và lớn.


(1) Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp: Ký ức Tây Nguyên (Đại tá Lê Hải Triều thể hiện), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 378-381.
(2) Lực lượng vũ trang nhân dân Tây Nguyên trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sđd, tr. 269.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Ba, 2011, 06:47:42 AM
Trong khi đó, ở các tỉnh đồng bằng Nam Trung Bộ, ta và địch ở thế giằng co. Tại vùng giáp ranh, mặc dù ta vẫn giữ vững được một số khu vực quan trọng như Hiệp Đức (Quảng Nam), Ba Tơ (Quảng Ngãi), Hoài Ân (Bình Định), nhưng ở đây, căn cứ Thượng Đức - vị trí trọng yếu nằm phía tây nam Đà Nẵng, uy hiếp tuyến đường cơ giới phía tây của ta, quân Sài Gòn vẫn chiếm giữ. Căn cứ Thượng Đức là mục tiêu tiến công của yếu của lực lượng vũ trang Quân khu 5 và nhiệm vụ này đã được Hội nghị mở rộng của Thường vụ Khu ủy Khu 5 xác định cho hoạt động quân sự trong năm 1974. Bên cạnh nhiệm vụ tiến công dứt điểm các cứ điểm địch, Hội nghị nghị Thường vụ Khu ủy cũng nhấn mạnh yêu cầu thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị, gây rối loạn hậu phương địch, nhất là ở các đô thị.

Trong đợt xuân - hè, Quân khu 5 chỉ sử dụng 1 phần 3 lực lượng chủ lực phối hợp với lực lượng tại chỗ đẩy mạnh tiến công quân sự, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ, mở rộng vùng giải phóng. Trong nửa đầu năm 1974, quân và dân Quân khu 5 đã bức rút 300 cứ điểm, giải phóng thêm 60.000 dân, giành quyền làm chủ khu vực Đức Phú (Quảng Nam).

Tiếp đó, tháng 6-1974, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chủ trương sử dụng phần lớn lực lượng chủ lực mở đợt tiến công trên các địa bàn trọng yếu là Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi nhằm vào các khu vực Thượng Đức, Nông Sơn - Trung Phước, đường 16 - Quế Sơn và Nghĩa Hành. Quân khu quyết định thành lập Mặt trận A4 phụ trách hoạt động của chủ lực tại 4 khu vực kể trên và Mặt trận này đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu 5, do đồng chí Chu Huy Mân làm Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Chánh làm Phó Tư lệnh.

Trên cơ sơ lực lượng và nhiệm vụ đã xác định, Bộ Tư lệnh Mặt trận A4 quyết định mở chiến dịch Nông Sơn - Trung Thượng Đức, nhằm đánh bật quân địch ra khỏi khu vực này, mở thông hành lang vận chuyển từ căn cứ của ta từ tây Quảng Đà xuống vùng đồng bằng Quảng Nam, Đà Nẵng, đồng thời tạo thế thuận lợi cho đợt hoạt động mùa khô 1974-1975.

Lực lượng Quân khu 5 sử dụng trong chiến dịch này gồm: Sư đoàn 2, Sư đoàn 304 (có 2 trung đoàn 66 và 3), một bộ phận Trung đoàn pháo binh 572 Trung đoàn phòng không 573, Trung đoàn công binh 270, Trung đoàn thiết giáp 574; lực lượng tại chỗ có 9 tiểu đoàn và hàng ngàn du kích trụ bám địa bàn .

Để chuẩn bị cho chiến dịch, quân khu điều gần 1.500 cán bộ, chiến sĩ công binh, cùng với hàng trăm phương tiện xe máy, mở mới 126 km đường cơ động lực lượng; hậu cần quân khu vận chuyển hơn 4.000 tấn hàng hóa, 50 tấn thuốc nổ, tổ chức 2 đội điều trị, 9 đội phẫu thuật và 14 bệnh xá dã chiến.

Sau khi hoàn thành mọi công tác chuẩn bị và chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công, rạng sáng ngày 17-7-1974, Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5, được pháo binh của mặt trận chi viện, nổ súng tiến công cụm cứ điểm Nông Sơn - Trung Phước là cụm cứ điểm dài 4 km, rộng 3 km, nằm bên bờ sông Tĩnh Yên, thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Trong cụm cứ điểm này, Nông Sơn là cứ điểm trung tâm, nằm trên một mỏm núi, với hệ thống công sự vững chắc, kiên cố với 3 tầng hỏa lực. Ta tiến công cụm cứ điểm này vào lúc địch vừa điều Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 56 - Sư đoàn bộ binh 3 - tăng cường cho Tiểu đoàn biệt động biên phòng 78, nâng số đơn vị phòng giữ cứ điểm này lên 2 tiểu đoàn chủ lực, cùng với lực lượng địa phương quân gồm Đại đội 4 thuộc Tiểu đoàn bảo an 146, 10 trung đội dân vệ và 10 toán phòng vệ dân sự. Với một lực lượng mạnh và hệ thống công sự vững chắc, địch chủ quan tưởng rằng, vào thời điểm này, Quân giải phóng chưa đủ sức đánh chiếm một cụm cứ điểm có hướng chính diện rộng như Nông Sơn - Trung Phước. Chính vì thế, khi ta nổ súng tiến công, địch bị bất ngờ, choáng váng. Đặc biệt, trong trận này, ta sử dụng nhiều pháo lớn, ngắm bắn trực tiếp tiêu diệt 38 trong tổng số 41 lô cốt, hòa điểm địch. Sau gần một ngày chiến đấu, ta hoàn toàn làm chủ cụm cứ điểm quan trọng này.

Hôm sau, ngày 18-7-1974, Tư lệnh Quân đoàn 1 quân đội Sài Gòn lệnh cho viên Tư lệnh Sư đoàn 3 - Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, tổ chức lực lượng tái chiếm Nông Sơn - Trung Phước. Ngay sau đó, địch sử dụng Trung đoàn 2 - Sư đoàn 3, chi đoàn 2 thiết giáp cùng 3 pháo đội cơ động tới khu vực phía nam An Hòa, mở cuộc hành quân Sóng thần Nam nhằm chiếm lại các khu vực vừa bị mất.


(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 399.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Ba, 2011, 06:50:27 AM
Theo dõi sát các động thái mới của địch, ta chủ động tổ chức trận địa đón đánh; đồng thời, sử dụng Tiểu đoàn 60 - Trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia) - Sư đoàn 2 và 1 đại đội công binh mở các trận đánh nhỏ, tiêu diệt một bộ phận lực lượng đi đầu, nhử địch vào khu vực điểm cao Kỳ Vỹ, Văn Chỉ, sông Sử, Khương Quế, 136, 238, 284, bãi bằng Dương Côi và đồi Dương Côi.

Ngày 23-7, Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 2 - Sư đoàn 3 quân đội Sài Gòn đã lọt vào trận địa chuẩn bị sẵn của ta. Mờ sáng ngày 24-7, sau những loạt pháo bắn phá chuẩn bị, bộ đội ta bắt đầu tiến công. Địch chống cự quyết liệt, đặc biệt là ở Kỳ Vỹ. Đây là điểm cao gồm 2 mỏm, có vách núi dựng đứng, do hai đại đội địch đóng giữ. Ta phải tổ chức lực lượng nhỏ, bám vào vách núi, leo lên đánh chiếm từng bàn đạp để nhích dần đội hình.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn trong quá tình triển khai đội hình và vấp phải sự chống trả quyết liệt của địch, nhưng với thế trận tiến công vững chắc, khả năng đột phá tốt, bộ đội ta đã mau chóng dứt điểm trận đánh vào sáng ngày 25-7. Trong trận này, ta đã đánh thiệt hại nặng cả hai tiểu đoàn của Trung đoàn 2 quân Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 700 tên. Cuộc phản kích lần thứ nhất của quân Sài Gòn hòng chiếm lại Nông Sơn - Trung Phước bị đập tan; lực lượng phản kích buộc phải rút về An Hòa củng cố.

Trong lúc địch đang dồn sức đối phó với ta ở Nông Sơn - Trung Phước, thì 5 giờ ngày 29-7-1974, Sư đoàn 304(1) (thiếu) được tăng cường Trung đoàn 3 Sư đoàn 324(2), nổ súng tiến công Chi khu quân sự - quận lỵ Thượng Đức. Chi khu - quận lỵ Thượng Đức(3) cùng với Nông Sơn là tiền đồn trọng yếu của địch, bảo vệ cửa ngõ phía tây, ngăn chặn Quân giải phóng tiến xuống vùng đồng bằng Khu 5 và khu liên hợp quân sự Đà Nẵng. Nơi đây, địch bố trí ba khu vực phòng thủ: khu vực chính gồm sở chỉ huy và 1 đại đội của Tiểu đoàn biệt động biên phòng 79, 2 khẩu pháo 105mm, 2 khẩu cối 106,7mm, 2 khẩu cối 81mm, 3 khẩu đại liên và một sân bay trực thăng; khu vực ngoại vi (khu biệt động) do 1 đại đội biệt động đóng giữ, khu quận lỵ - khu hành chính của Thượng Đức. Ngoài ra, địch còn bố trí 1 đại đội biệt động đóng ở chợ Hà Tân, Đại đội bảo an 704 ở Đông Phước 2 và 17 trung đội dân vệ ở các khu vực tiền đồn A, B, C. Hệ thống công sự, vật cản được địch tổ chức vững chắc, xen kẽ với các khu dồn dân, tạo thành “lá chắn sống” bảo vệ căn cứ chính Thượng Đức(4).

Hệ thống phòng ngự kiên cố này đã khiến cho phương châm tiến công ban đầu của ta là “vây chặt, đánh mạnh, đánh dứt điểm trong thời gian ngắn” không thể thực hiện được. Trong 3 ngày đầu, Trung đoàn 66 - lực lượng chủ công của chiến dịch, tiến công theo hai hướng tây bắc và tây nam, nhưng không thể đột phá vào khu trumg tâm căn cứ địch, buộc phải lui về giữ bàn đạp, chuẩn bị cho đợt tiến công mới.

Trong lúc cuộc giao tranh giữa ta và địch đang diễn ra quyết liệt tại Thượng Đức, chiều ngày 31-7-1974, Trung đoàn 38 nổ súng tiến công tuyến phòng thủ ngoại vi của địch ở thung lũng Quế Sơn. Trận Quế Sơn diễn ra tương đối thuận lợi. Sau khi ta đánh chiếm các điểm cao Hòn Chiêng, núi Giai, Lạc Sơn thuộc tuyến phòng thủ cơ bản của địch ở phía tây quân lỵ Quế Sơn, địch ở cứ điểm Việt An, Gò Mè, Chóp Chài hốt hoảng bỏ đồn tháo chạy. Nhân lúc địch hoang mang, trung đoàn phong trào tiến công tiêu diệt cụm quân địch đóng tại điểm cao 210, Đồng Mông, Đá Hàm. Trung đoàn 56 quân đội Sài Gòn chiếm giữ khu vực này buộc phải rút về cố thủ sát quận lỵ Quế Sơn.

Trên hướng Nông Sơn - Trung Phước, Liên đoàn biệt động số 12 được tung vào phản kích chiếm lại Nông Sơn - Trung Phước lần thứ hai nhưng không thành. Địch buộc phải từ bỏ ý định chiếm lại cụm căn cứ này để tập trung lực lượng đối phó với ta ở Thượng đức. Ngày 3-8, sau 4 ngày tiến công và liên tục vây ép, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 6 đại đội thuộc 3 tiểu đoàn trong đội hình lực lượng phản kích của địch.

Bị tiến công trên nhiều hướng, cả trước mặt và ngay sau lưng, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 quân đội Sài Gòn buộc phải điều Trung đoàn 54 - 3đ 1 từ Thừa Thiên tăng cương cho lực lượng phòng thủ An Hòa; Trung đoàn 4 - Sư đoàn 2 từ Quảng Ngãi ra phối hợp với Trung đoàn 56, giải tỏa khu vực Quế Sơn lúc bấy giờ đang bị vây ép mạnh.

Thế nhưng, khi Trung đoàn 4 quân đội Sài Gòn vừa rời khỏi vị trí đóng quân ở Quảng Ngãi, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lập tức cho Lữ đoàn 52 chuyển sang tiến công một loạt mục tiêu trên địa bàn Quảng Ngãi. Ngày 3-08-1974, sau 3 giờ chiến đấu, lữ đoàn đã làm chủ cụm cứ điểm ở khu vực cầu Cộng Hòa (Phú Lâm Tây). Tiếp đó, lữ đoàn đánh chiếm dãy điểm cao Định Cuông; phối hợp với lực lượng tại chỗ, giải phóng 3 xã phía nam huyện Nghĩa Hành. Tuyến phòng thủ của địch dọc theo đường số 5 bị vỡ, đường liên lạc, tiếp tế giữa Nghĩa Hành và Minh Long bị cắt đứt. Với thắng lợi ở khu vực này, ta đã hình thành thế uy hiếp quận lỵ Nghĩa Hành, đồng thời bao vây cô lập quận lỵ Minh Long.


(1), (2) Hai Sư đoàn này đều nằm trong đội hình Quân đoàn 2.
(3) Chi khu - quận lỵ Thượng Đức, nằm ở phía tây tỉnh Quảng Đà, cách Đà Nẵng hơn 40km. Vào các năm 1968, 1969, 1970, quân ta nhiều lần tiến đánh Thượng Đức nhưng đều không thành công. Sau mỗi lần bị ta tiến công, địch lại tăng cường hệ thống phòng ngự kiên cố, vững chắc hơn và chúng tuyên bố: “Bao giờ nước sông Vu Gia chảy nược thì Việt Cộng mới lấy được Thượng Đức”.
(4) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Một số trận đánh trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, t.5, tr. 393.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Ba, 2011, 06:52:53 AM
Cuộc chiến ở Thượng Đức diễn ra quyết liệt, đợt tiến công đầu tiên của Sư đoàn 304 không thành công. Ngày 1-8-1974, Bộ Chỉ huy chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức lệnh cho Sư đoàn 304 tạm dừng tiến công để bổ sung, củng cố lực lượng. Nhằm tăng cường công tác chỉ đạo, Thiếu tướng Nguyễn Chánh, Phó Tư lệnh Quân khu 5 và đồng chí Phan Hàm, phái viên của Bộ Quốc phòng, xuống Sư đoàn 304 nắm tình hình tại chỗ, củng cố tư tưởng và tổ chức, rút kinh nghiệm trận đánh. Phương châm tiến công lần này của sư đoàn được xác định rõ là đánh chắc thắng. Đồng chí Lê Đắc Long - Tham mưu trưởng Sư đoàn 304 được phân công làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66; đồng chí Nguyễn Văn Sơn - Trung đoàn phó Trung đoàn 66 trực tiếp làm tiểu đoàn trưởng(1). Cùng với việc sắp xếp lại tổ chức, Sư đoàn 304 khẩn trương hoàn chỉnh hệ thống công sự trận địa, làm đường đưa pháo 85 mm từ điểm cao 118 lên điểm cao 296, cách vị trí địch 1 km để chi viện cho bộ đội xung phong, lực lượng trên các hướng tiến công cũng được bố trí lại: Đại đội 5 - Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 66 cùng với Đại đội súng máy 12,7 mm được điều lên chốt ở Chảng Chổi, Hữu Trình; Tiểu đoàn 10 bộ đội địa phương cơ động sang phía nam sông Vu Gia, hình thành thế bao vây địch từ nam Thượng Đức.

Sau khi hoàn thành công tác chuẩn bị, 6 giờ sáng ngày 6-8-1974, đợt tiến công Thượng Đức lần thứ hai của ta bắt đầu. Khi hỏa lực bắn phá chuẩn bị vừa chuyển làn, Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 66 trên hướng tây bắc và Tiểu đoàn 9 - Trung đoàn 66 trên hướng tây nam đồng loạt xuất kích đánh chiếm các cứ điểm địch. Trên hướng chủ yếu, Tiểu đoàn 8 do vấp phải sự chống trả quyết liệt của lực lượng biệt động nên không phát triển tiến công được. Cùng lúc, trên hướng thứ yếu, Tiểu đoàn 9 tiến công thuận lợi hơn. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 304 quyết định chuyển mũi tiến công thứ yếu thành mũi tiến công chủ yếu; đồng thời, tập trung hỏa lực bắn thẳng chi viện tối đa cho Tiểu đoàn 9 tiến công. Được hỏa lực chi viện, Tiểu đoàn 9 sau khi chiếm khu vực đóng quân của lực lượng bảo an, nhanh chóng cơ động sang khu biệt động hỗ trợ cho Tiểu đoàn 8. Sáng ngày 7-8-1974, lực lượng chủ công của ta đánh chiếm dứt điểm các cứ điểm còn lại và hoàn toàn làm chủ Chi khu - quận lỵ Thượng Đức. Qua 10 ngày, với 2 đợt tiến công, Sư đoàn 304 đã loại khỏi vòng chiến đấu Tiểu đoàn biệt động biên phòng 79 và 10 trung đội bảo an, dân vệ, giải phóng Chi khu - quận lỵ Thượng Đức(2).

Mất Thượng Đức và bị tổn thất nặng ở khu vực nam An Hòa, địch buộc phải tổ chức tuyến phòng thủ từ nam An Hòa đến Hà Sống, đồng thời lập kế hoạch tái chiếm Thượng Đức. Theo đề nghị của viên Trung tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân khu 1 - Vùng 1 chiến thuật, Bộ Tổng Tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa tức tốc điều Lữ đoàn 1 quân dù từ Sài Gòn ra Đà Nẵng, Lữ đoàn 3 quân dù từ Thừa Thiên vào phía tây Đà Nẵng, Lữ đoàn 3 quân dù từ Thừa Thiên vào phía tây Đà Nẵng (khu vực Đại La). Cùng với việc lực lượng dự bị chiến lược được tung vào phản kích nhằm chiếm lại Thượng Đức, quân đội Sài Gòn còn khẩn trương tăng cường và điều chỉnh bố trí lực lượng trên tuyến phòng thủ; Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 57) tăng cường cho Trung đoàn 2 đang phòng thủ khu vực Hà Sống; Trung đoàn 54 thay thế Liên đoàn 12 biệt động, phòng thủ khu vực nam An Hòa; Trung đoàn 56 trở lại vị trí đóng quân trước đây ở phía tây Duy Xuyên (Quảng Nam). Trung đoàn 4 - Sư đoàn 2 giải tỏa Gia Mốc Xa và đánh chiếm lại các cụm cứ điểm trên đường 16.

Phán đoán được ý định của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định mở đợt tiến công thứ 3 nhằm phá kế hoạch phản kích chiếm lại Thượng Đức của quân địch. Từ ngày 14-8-1974, ta sử dụng Trung đoàn 3 - Sư đoàn 30 tiến công đập vỡ các cứ điểm Ba khe, Bàn Tân, Lâm Phụng trên tuyến phòng thủ của địch; đẩy lực lượng buộc Trung đoàn 57 và Trung đoàn 2 quân Sài Gòn lui về vùng ven quận lỵ Ái Nghĩa. Phát triển tiến công, từ ngày 15-8 đến 25-8, Trung đoàn 3 liên tục tập kích các cụm quân thuộc Lữ đoàn 1 dù ở khu vực phía đông và tây bắc Hà Sống, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 300 tên địch.

Cùng thời gian này, trên hướng tiến công của ta ở nam An Hòa và Quế Sơn, Sư đoàn 2 bằng các đòn đánh nhỏ và sử dụng chiến thuật chốt kết hợp với vận động tiến công, đánh đãnh bại cuộc phản kích của Trung đoàn 54 quân Sài Gòn. Tiếp đó, Sư đoàn 2 tổ chức lực lượng, chặn đánh hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 4 quân Sài Gòn trên khu vực đường 16. Mục tiêu chiến dịch đã hoàn thành, ngày 25-8-1974, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch tiến công Nông Sơn - Thượng Đức. Sau hơn một tháng liên tục tiến công, quân ta đã đánh chiếm hai cụm cứ điểm quận lỵ - chi khu, giải phóng các khu vực Nông Sơn - Trung Phước, Thượng Đức, tây nam Quế Sơn, tây bắc Tam Kỳ, với hơn 117.000 dân; loại khỏi vòng chiến đấu hơn 10.000 quân địch (trong đó bắt 2.338 tên), đánh tiêu diệt 4 tiểu đoàn, đánh thiệt hại 9 tiểu đoàn khác, thu hơn 2.000 súng, pháo các loại, phá hủy, phá hỏng nhiều phương tiện chiến đấu(3).


(1) Binh đoàn Hương Giang, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 37.
(2) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Sđd, tr.409-410.
(3) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Sđd, tr.410-413.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Ba, 2011, 06:54:19 AM
Vào lúc cuộc chiến ở Nông Sơn - Thượng Đức đang diễn ra và phần lớn lực lượng cơ động quân đội Sài Gòn ở Quân khu 1 - Vùng 1 chiến thuật bị hút vào khu vực nóng bỏng này, thì ở các địa phương, lực lượng vũ trang tại chỗ và nhân dân các địa phương Quân khu 5 đẩy mạnh tiến công và nổi dậy. Đêm 17-7-1974, lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Quảng Nam đánh chiếm các chốt điểm Đá Bàn, Đá Đen; tập kích quân địch ở đồn Kỳ Bích, đánh sập cầu Bà Bầu, phá đồn Dương An. Những đêm sau, ta nã pháo vào tiểu khu Quảng Tín và Sở chỉ huy Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn ở Chu Lai. Cứ điểm Chà Vu, Gia Mốc Xa, Hòn Giang, Hòn Đất của địch lần lượt bị đánh chiếm. Địch ở các cứ điểm khác như Dương Bà Bông, Lạc Sơn, Sơn Lộc, Bình Lãnh… hoang mang, bỏ đồn rút chạy. đầu tháng 8-1974, hơn 3.000 quần chúng ở các xã Sơn Trung, Sơn Thượng, Phú Thọ, Phú Hương, Phú Diên đổ về trụ sở chính quyền và sở chỉ huy quân đội Sài Gòn, đấu tranh đòi xác chồng con, kêu gọi binh sĩ quân đội Sài Gòn không ra trận.

Đêm 23-7, lực lượng vũ trang Quảng Đà tiến công cứ điểm ngã ba Trùm Giao, bao vây cứ điểm Giáng La và bắn phá các cứ điểm Bồ Bồ, Bình Long. Phối hợp với đòn tiến công Thượng Đức, Tiểu đoàn pháo phản lực 575 bắn phá sân bay Đà Nẵng, phá hủy, phá hỏng 11 máy bay của địch; lực lượng đặc công nước bí mật tiếp cận mục tiêu, đánh chìm 1 tàu chở hàng quân sự ở Cảng Sâu. Cũng trong thời gian này, lực lượng tại chỗ chặn cắt đường 100. Địch đưa một bộ phận lực lượng thuộc Trung đoàn 54 và lực lượng bảo an đến giải tỏa. Thế nhưng, lực lượng ứng cứu này vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của Tiểu đoàn 76 Hải Phòng - đơn vị kết nghĩa với Quảng Đà và bại tổn thất hơn 100 tên. Ngày 2-8-1974, một đoàn tàu chở vũ khí của địch bị trúng mìn, lật nhào ở khu vực đèo Hải Vân.

Hòa chung với khí thế tiến công địch đang dâng cao, quân và dân các tỉnh Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Phú Yên đẩy mạnh tiến công giành đất, giành dân, giành quyền làm chủ. Ở Quảng Ngãi, sau khi ta quét sạch địch ở 8 xã thuộc hai huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh, vùng giải phóng phía bắc của tỉnh nối liền từ vùng rừng núi Trà Bồng kéo dài đến vùng ven biển. Đêm 21-7-1974, Tiểu đoàn đặc công 407 của Khánh Hòa tập kích khu căn cứ của địch ở Nhà Trang và quân cảng Cam Ranh, phá nổ gần 3 vạn tấn bom đạn, đốt cháy 1 triệu lít xăng dầu. Cho đến cuối tháng 8-1974, trên địa bàn Phú Yên, ta đã phá tan hệ thống ấp chiến lược dọc tuyến quốc lộ 1, từ bắc quận lỵ Tuy An đến nam thị trấn Sông Cầu, làm chủ đoạn đường dài 20km; lực lượng vũ trang tại chỗ hỗ trợ tích cực cho nhân dân ba huyện Tuy An, Sông Cầu, Đồng Xuân nổi dậy giành quyền làm chủ phần lớn các xã của ba huyện này.

Trên địa bàn Bình Định, từ ngày 26-7, một bộ phận lực lượng Sư đoàn 3 chủ lực Quân khu 5 đánh chiếm nhiều vị trí thuộc khu vực phòng thủ của địch ở bắc Phù Mỹ và quận lỵ Hoài Ân. Ngày 27-7-1974, Liên đoàn 4 biệt động quân cùng một chi đoàn xe bọc thép từ Căn cứ Trà Quang, chia làm 2 mũi, tiến dọc theo hướng quốc lộ 1 và đường sắt, chiếm lại núi Nùng và Trực Đạo. Tại đây, địch bố trí phòng ngự thành ba cụm: một tiểu đoàn đóng ở khu vực Núi Nùng - Trà Lương, một tiểu đoàn ở khu vực Trực Đạo, còn sở chỉ huy liên đoàn cùng lực lượng dự bị đóng lui về phía sau.

Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 quyết định tập trung lực lượng, tiêu diệt cụm quân địch đóng tại Núi Nùng - Trà Lương. Sáng ngày 28-8, sau làn hỏa lực bắn thẳng của pháo binh, quân ta xung phong đánh chiếm các vị trí của địch. Địch chống trả mãnh liệt; ta đã không dứt điểm được Trà Lương, buộc phải quay sang bao vây cứ điểm và chuẩn bị đón đánh quân chi viện của địch. Ngày 29-8, từ Phù Mỹ, một tiểu đoàn thuộc Liên đoàn 6 biệt động quân được xe bọc thép yểm trợ, chia thành hai cánh, tiến công trận địa bao vây của ta. Ta bố trí lực lượng chặn đánh hai cánh quân của địch và tiếp tục bao vây Trà Lương. Đêm 30-7, quân ta chuyển sang tiến công Trà Lương, tiêu diệt và bắt sống toàn bộ địch khi chúng chạy qua núi Chóp Vung trên đỉnh Đèo Nhông.

Trên hướng bắc Bình Định, Trung đoàn 141 tiến công cụm cứ điểm trên các điểm cao Núi Chéo, Phú Văn, đồi 82, Long Quang, Thiết Đính, đồi 30, chiếm nhiều vị trí của địch từng cắm sâu vào khu vực làm chủ của ta. Quân địch buộc phải lùi xuống sát quốc lộ 1 và ven thị trấn Bồng Sơn lập các chốt phòng ngự.

Phối hợp với bộ đội chủ lực, lực lượng tại chỗ của ta ở Phù Cát, tiểu khu Bình Định cùng nhân dân các địa phương này tiến công giải phóng các khu dồn Mỹ Long, Hưng Mỹ, Càng Rang, An Nông…, đưa dân ở các khu dồn về quê cũ; đồng thời, bao vây, bức rút 28 chốt điểm, giải phóng hoàn toàn 5 xã Mỹ Cát, Mỹ Chánh, Cát Trinh, Cát Thắng, Cát Nhơn và làm chủ một phần 2 xã Mỹ Tài, Cát Tài.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Ba, 2011, 06:56:49 AM
Từ cuối tháng 8-1974, trên hướng Thượng Đức, quân ta gấp rút tiến hành các hoạt động chuẩn bị, sẵn sàng đón đánh cuộc phản kích của quân đội Sài Gòn hòng chiếm lại khu vực Thượng Đức. Bộ Chỉ huy chiến dịch sử dụng Trung đoàn 3 và Trung đoàn 66 tổ chức tuyến phòng ngự kéo dài từ điểm cao 52, qua Hà Nhà, Bàn Tân, qua sông Vu Gia vào thung lũng Hữu Trinh. Các trận địa phòng ngự đều được xây dựng trên những điểm cao có lợi thế chiến thuật. Ngoài lực lượng trên tuyến phòng ngự, Bộ Chỉ huy chiến dịch bố trí Tiểu đoàn 9 - Trung đoàn 66 bảo vệ Chi khu - quận lỵ Thượng Đức, Trung đoàn 24 làm lực lượng dự bị.

Dựa vào thế trận phòng ngự vững chắc, bộ đội ta ngay từ đầu đã đánh trả hiệu quả đợt phản kích của Lữ đoàn 1 quân dù Sài Gòn trên hướng đường số 4, làm thất bại ý đồ đánh chiếm khu vực điểm cao 52, Bàn Tân 2 của địch. Sau thất bại này, từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 9-1974, Lữ đoàn 1 dù chuyển hướng tiến công sang phía tây Thượng Đức. Chúng huy động trực thăng chở toàn bộ lực lượng cỉa Lữ đoàn 1 đổ xuống các điểm cao thuộc dãy Sơn Gà; sử dụng trực thăng vũ trang, máy bay A37 cùng pháo binh bắn phá từng chốt điểm của ta, tạo điều kiện cho quân dù phát triển tiến công. Tuy nhiên, các đơn vị ta đã kiên cường trụ bám trận địa, dựa vào công sự vững chắc, chờ cho địch đến gần mới bất ngờ nổ súng và dũng mãnh xuất kích đánh địch ngoài công sự. Không thành công trong các đợt tiến công ồ ạt, quân dù quay sang dùng thủ đoạn “lấn dũi”, đào hào vào sát trận địa ta, chờ đêm tối, lợi dụng lúc trời đổ mưa, bất ngờ đánh chiếm một số công sự của ta để làm bàn đạp cho đợt tiến công vào ban ngày. Trước thủ đoạn của địch, ta tăng cường lực lượng cơ động, liên tục xuất kích, chặn đánh địch ngay khi chúng vừa tiến đến chân chốt.

Ngày 20-9, địch sử dụng pháo 155mm, bắn 400 quả đạn và cho máy bay A37 ném gần 100 quả bom xuống điểm cao 383. Ngay sau đó, Lữ đoàn 1 dù liên tiếp mở các đợt tiến công đánh chiếm điểm cao này, nhưng đều bị chặn đứng và bị thiệt hại nặng nề, buộc phải lui về phía sau củng cố(1).

Cuối tháng 10 đầu tháng 11, những trận mưa lớn kéo dài làm cho hầm hào, công sự của ta ở khu vực Thượng Đức bị ẩm ướt, ngập nước. Sự khắc nghiệt của thời tiết thử thách tinh thần và ý chí chiến đấu của quân ta. Dù phải dầm mưa quần nhau với địch hàng tháng trời, sức khỏe giảm sút, quân số thiếu hụt, nhưng bộ đội ta vẫn kiên trì trụ bám trận địa, lần lượt chặn đánh và đẩy lùi các đợt tiến công của lực lượng dù quân đội Sài Gòn. Tiêu biểu trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thượng Đức là trận đánh trên điểm cao 1.062. Đây là điểm cao có lợi thế về chiến thuật, khống chế hầu hết khu vực xung quanh Thượng Đức. Do vậy, quân dù Sài Gòn quyết tâm đánh chiếm bằng được. Ngày 28-10-1974, địch sử dụng hai tiểu đoàn dù thuộc Lữ đoàn 3 tiến chiếm điểm cao 1.062. Cuộc giao tranh giữa ta và địch trên khu vực điểm cao này diễn ra quyết liệt; cả ta và địch giành giật với nhau từng mỏm đồi, từng hốc núi. Địch sử dụng hỏa lực của không quân và pháo binh bắn phá các trận địa phòng ngự của ta; ta sử dụng pháo binh đặt trên điểm cao 1.000 m sát điểm cao 1.062 ngắm bắn trực tiếp, chi viện cho bộ binh chiến đấu. Với quyết tâm giữ vững điểm cao 1.062, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn 24 tăng cường cho Trung đoàn 66, tổ chức nhiều trận đánh tiêu diệt, tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, buộc lực lượng phản kích thuộc Lữ đoàn 3 của địch phải lui quân.

Vào giai đoạn nửa cuối tháng 11-1974, quân Sài Gòn tung tiếp lực lượng dự bị của Sư đoàn dù - Lữ đoàn 2 vào để cứu nguy cho Lữ đoàn 1 và Lữ đoàn 3. Tuy nhiên, lực lượng này cũng chịu tổn thất nặng khi bị pháo binh ta bắn trúng đội hình, bị Trung đoàn 24 diệt gọn 1 tiểu đoàn ở phía tây điểm cao 700. Tiếp đó, ngày 25-11, lực lượng công binh thuộc Sư đoàn 304 dùng giàn phóng hỏa lực tự chế đánh trúng đội hình tiến công của địch ở khu vực điểm cao 338(2).

Đưa lữ đoàn cuối cùng vào cuộc phản kích chiếm lại Thượng Đức, quân Sài Gòn chẳng những không cứu vãn được tình thế thất bại của lực lượng dù, mà lữ đoàn này cũng không thể tránh khỏi những tổn thất nặng nề.

Với việc sử dụng sư đoàn dù - lực lượng dự bị chiến lược để chiếm lại Thượng Đức không thành công, từ đầu tháng 12-1974, quân Sài Gòn trên chiến trường Quảng Đà, Quảng Nam, Đà Nẵng chuyển sang phòng ngự nhằm giữ vững khu vực liên hợp quân sự Đà Nẵng, củng cố, tăng cường lực lượng và hệ thống công sự, trận địa ở các căn cứ lớn, các thị xã, thị trấn, một số vị trí quan trọng ở vùng ven đô thị và các con đường giao thông huyết mạch.

Chặn đứng, đẩy lùi các cuộc tiến công phản kích của địch, giữ vững Thượng Đức, đồng thời ghìm chặt một bộ phận thuộc lực lượng dự bị chiến lược cấp sư đoàn của địch, các đơn vị chủ lực bảo vệ Thượng Đức đã góp phần quan trọng vào chiến công của quân và dân ta trên toàn chiến trường miền Nam. Từ thực tiễn chiến trường, đặc biệt là qua các trận giao tranh ở Thượng Đức, cấp chiến dịch và chiến lược của ta nhận thấy: lực lượng chủ lực cơ động của ta đã có bước phát triển vượt bậc về trình độ và khả năng tác chiến phối hợp binh chủng hợp thành trong lúc lực lượng cơ động của địch không còn đủ sức đương đầu với chủ lực cơ động của ta.


(1) Bộ Tư lệnh Quân khu 5: Khu 5 - 30 năm chiến tranh giải phóng, Sđd, t. 3, tr. 161.
(2) Binh đoàn Hương Giang, Sđd, tr. 51-54.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Ba, 2011, 06:58:14 AM
Trên chiến trường Trị - Thiên, đầu tháng 8-1974, Quân đoàn 2 và lực lượng Quân khu Trị - Thiên quyết định mở chiến dịch tiến công La Sơn - Mỏ Tàu (chiến dịch mang mật danh K18), nhằm phá vỡ một phần tuyến phòng ngự của Sư đoàn 1 - Quân đoàn 1 quân đội Sài Gòn ở khu vực La Sơn - Mỏ Tàu(1) (phía tây nam Huế), đồng thời ghìm chân một bộ phận lực lượng địch, hỗ trợ tích cực cho mặt trận Thượng Đức. Địa bàn chiến dịch các Huế khoảng 40km, có trục đường 14B đi vào Huế. Tham gia chiến dịch có Sư đoàn 324 (thiếu Trung đoàn 3 bấy giờ đang tham gia chiến dịch Nông Sơn - Thượng Đức), Tiểu đoàn 2 công binh, 1 đại đội tên lửa vác vai A72 của Quân đoàn 2, Trung đoàn 6 (thiếu) của Quân khu Trị - Thiên, lực lượng địa phương có Tiểu đoàn 4 của tỉnh Thừa Thiên và lực lượng tại chỗ của hai huyện Phú Lộc, Hương Thủy.

Bộ Tư lệnh chiến dịch gồm đồng chí Nguyễn Duy Sơn - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 324 làm Tư lệnh, đồng chí Nguyễn Trọng Dần - Chính ủy Sư đoàn 324 làm Chính ủy. Đển nắm tình hình trực tiếp và chỉ đạo chặt chẽ chiến dịch, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 cử đồng chí Hoàng Đan - Phó Tư lệnh quân đoàn và một bộ phận cơ quan tăng cường cho Bộ Tư lệnh chiến dịch.

Sau khi hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến và hoàn thành công tác chuẩn bị lực lượng, hậu cần bảo đảm, ngày 28-8-1974, chiến dịch La Sơn - Mỏ Tàu mở màn. Pháo binh ta đã bắn phá chính xác, mãnh liệt vào các trận địa pháo của địch ở điểm cao 41, Bạch Thạch, Phú Bài và các cứ điểm ở các điểm cao 303, 224, kiềm chế có hiệu quả trận địa pháo địch đặt ở phía tây núi Ngự Bình. Khi pháo vừa chuyển làn, Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 - Sư đoàn 324 nhanh chóng đánh chiếm các điểm cao 75, 76, 303, 144, 204; Tiểu đoàn 6 đánh chiếm điểm cao 201. Tại điểm cao 224, cuộc chiến diễn ra quyết liệt, bởi nơi đây, tàn quân địch ở các điểm cao khác dồn về cố thủ. Trung đoàn 2 sử dụng Tiểu đoàn 4, có 2 khẩu súng máy 12,7 mm chi viện, tổ chức đột phá 3 lần đều không thành công. Địch ở điểm cao 224 dựa vào công sự, hầm hào kiên cố, chặn đánh hiệu quả và lần lượt đẩy lui các đợt tiến công của ta. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng 2 khẩu pháo 85mm và 8 khẩu pháo 105mm của Trung đoàn 78 pháo binh, bắn phá cứ điểm 224 trong thời gian 30 phút. Được hỏa lực pháo binh chi viện hiệu quả, Tiểu đoàn 4 - Trung đoàn 2 nhanh chóng đánh chiếm điểm cao.

Mất một loạt căn cứ dọc đường 14B, địch điều Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 51 - Sư đoàn 1 và 9 xe bọc thép tăng cường cho Trung đoàn 3 lập tuyến phòng ngự mới trên các điểm cao 31 (Hoàng Hà), 121, 141, núi Bông, núi Nghệ và khu vực sông Truồi. Đợt 1 chiến dịch kết thúc. Trong đợt 1 này, ta đã đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 129, Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 3, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 150 tên và bắt hơn 300 tên địch, thu nhiều quân trang, quân dụng.

Ngày 3-9-1974, Trung đoàn 1 - Sư đoàn 324 nổ súng tiến công cứ điểm địch ở điểm cao 31, mở màn đợt 2 chiến dịch. Được các khẩu đội pháo 85mm và cối 120mm ở điểm cao 75, 76 chi viện hỏa lực, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trong căn cứ, loại khỏi vòng chiến đấu Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 51 quân đội Sài Gòn, làm chủ điểm cao 300, 121, 142, núi Bông, núi Nghệ, loại khỏi vòng chiến đấu hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 3 và Trung đoàn 51 - Sư đoàn 1 Sài Gòn.

Bị mất nhiều cứ điểm quan trọng trong một thời gian ngắn, địch lúng túng chống đỡ. Chúng điều Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 51 từ Phú Bài tăng cường cho điểm cao 52 và 41 phía tây nam sông Nông; Tiểu đoàn 37 biệt động quân chiếm điểm cao 31; Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 1 chiếm giữ khu vực Truồi; Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 3 tăng cường cho khu vực Mỏ Tàu.


(1) Đây là khu vực phòng thủ có chiều rộng 20km, chiều dài 30km; tại đây, địch bố trí lực lượng ở 19 điểm cao xen kẽ với làng mạc vùng giáp ranh, có hàng rào kẽm gai và bãi mìn bảo vệ. Lực lượng địch chốt giữ khu vực này gồm: Trung đoàn 3 - Sư đoàn 1, Tiểu đoàn 3 - trung đoàn 51 và Tiểu đoàn bảo an 129, Sở chỉ huy Trung đoàn 3 được bố trí ở La Sơn, Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 3 ở Mỏ Tàu. Tiểu đoàn bảo an 129 phòng ngự phía trước thuộc khu vực Bến Tàu. Khi mục tiêu này bị tiến công, địch sẽ sử dụng các trận địa pháo 105mm, 155mm, 175mm bố trí ở ấp 5, Tân Ba, Phú Bài, điểm cao 41, Lương Điền, La Sơn bắn phá chi viện, có không quân và lực lượng của Sư đoàn 1 tăng cường.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Ba, 2011, 07:02:19 AM
Trong lúc lực lượng tăng cường của địch chưa ổn định đội hình, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho các đơn vị lập tức nổ súng tiến công địch. Từ ngày 14-9, các Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 đánh chiếm các mục tiêu phòng thủ của địch ở khu vực Mỏ Tàu. Địch sử dụng hỏa lực pháo binh và không quân nhằm vào đội hình xung phong của quân ta, đồng thời tung lực lượng dự bị cơ động vào chiến đấu. Cuộc tiến công của bộ đội ta bị chững lại, ta rút một số đơn vị ra ngoài để bổ sung, củng cố lực lượng, rút kinh nghiệm và chuẩn bị cho đợt tiến công mới, đánh chiếm khu vực Mỏ Tàu.

Mỏ Tàu là căn cứ quan trọng nhất trên tuyến phòng ngự phía tây nam thành phố Huế. Căn cứ này được bố trí thành 5 khu vực phòng ngự, với hệ thống công sự, trận địa kiên cố, liên hoàn vững chắc, do Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 51 đóng giữ. Chọn Mỏ Tàu làm nơi diễn ra trận đánh then chốt chiến dịch, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn 1 được tăng cường Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 6 Quân khu Trị - Thiên cùng các trung đội hỏa lực mạnh vào trận đánh này. Trong 2 ngày 27 và 28-9, mặc dù chống trả quyết liệt, nhưng các đơn vị địch ở mỏ Tàu không ngăn được các mũi tiến công của quân ta đang nhích dần vào tung thâm căn cứ của chúng. Đứng trước khả năng bị tiêu diệt, tối ngày 28-9, lực lượng còn lại của Tiểu đoàn 2 quân đội Sài Gòn buộc phải rút bỏ Mỏ Tàu, tháo chạy về hướng Đá Đen. Nhưng khi đến Đá Đen, chúng bị rơi vào thế trận đón lõng của Trung đoàn 6 Quân khu Trị - Thiên và bị hao tổn thêm lực lượng. Căn cứ Mỏ Tàu bị đánh chiếm. Trong trận đánh cuối cùng của chiến dịch, ta tiêu diệt và bắt sống hơn 200 tên, bắn rơi 1 máy bay A37. Về phía ta, 39 đồng chí hy sinh và 126 bị thương(1).

Trên một tháng chiến đấu liên tục, các lực lượng tham gia chiến dịch đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 2.500 tên địch, bắt sống gần 600 tên, bắn rơi 5 máy bay, thu và phá hủy gần 2.800 súng các loại(2). Thắng lợi của chiến dịch La Sơn - Mỏ Tàu cùng với những thắng lợi quan trọng trên khắp chiến trường Trị - Thiên là cho so sánh lực lượng giữa ta và địch trên khu vực này có những thay đổi rõ rệt, có lợi cho ta. Kể từ sau thắng lợi ở La Sơn - Mỏ Tàu, khối chủ lực Trị - Thiên đã tạo được bàn đạp quan trọng để lực lượng vũ trang ta hình thành thế tiến công Huế, áp sát và uy hiếp mạnh tuyến đường bộ nối Hếu với Đà Nẵng. Đồng thời, với chiến thắng này, ta đã ghìm chân một bộ phận quan trọng lực lượng thuộc Quân đoàn 1 - Quân khu 1 và Sư đoàn lính thủy đánh bộ quân đội Sài Gòn, góp phần làm thất bại mục tiêu tái chiếm Thượng Đức của quân đội Sài Gòn.

Với những thắng lợi quan trọng trên mặt trận tiến công quân sự ở miền Đông Nam Bộ, khu 8, Khu 9, Tây Nguyên, Khu 5, Khu 6, Trị - Thiên trong năm 1974, quân và dân ta đã giành và giữ được bàn đạp tiến công trên khắp các chiến trường, ở nhiều địa bàn quan trọng. Đòn tiến công quân sự đã hỗ trợ đắc lực cho phong trào đấu tranh chống địch lấn chiếm, bình định ở đồng bằng sông nước Cửu Long, đặc biệt là các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Ở Tây Nugyên, ta đánh chiếm và làm chủ nhiều cứ điểm quan trọng như Măng Đen, Măng Búc, Đắc Pét… Một bộ phận quan trọng thuộc lực lượng dự bị chiến lược và lực lượng Quân đoàn 1 quân đội Sài Gòn bị ghìm chặt trên chiến trường Trị - Thiên. Chiến thắng Nông Sơn - Thượng Đức cùng với kết quả của hoạt động làm thế trong năm 1974 của quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam chứng tỏ khả năng tổ chức tái chiếm những vị trí, những địa bàn trọng yếu của quân đội Sài Gòn giờ đây đã suy giảm mạnh.

Tại các đô thị trên khắp miền Nam, chế độ Sài Gòn ngày càng lún sâu vào khủng hoảng.

Từ sau Hiệp định Pari được ký kết, chính quyền và quân đội Sài Gòn mở cuộc thanh lọc lớn nhằm đưa ra khỏi bộ máy chính quyền và quân đội “những phần tử chống đối”. Cùng với quá trình đó, trong hai năm 1973-1974, Nguyễn Văn Thiệu sa thải 54.000 công nhân, viên chức, đưa số thất nghiệp lên con số 1.320.000 người. Những hành động trên đây của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu khiến cho mâu thuẫn nội bộ chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng hòa ngày càng thêm gay gắt, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân ở các đô thị bùng lên mạnh mẽ. Tháng 4-1974, giới lao động thuộc nhiều nghiệp đoàn thuộc Sài Gòn phát động cuộc đấu tranh chống sa thải lao động, trong đó, tiêu biểu là các nghiệp đoàn thuộc hãng thuốc lá Míc, hãng bột mì Sekibômi, Viphômicô, hãng Hàng không quốc gia Việt Nam Cộng hòa(3)… Lúc này, cuộc đấu tranh của giới ký giá ở Sài Gòn được xem như mũi xung kích nhằm vào chế độ độc tài Nguyễn Văn Thiệu. Khẩu hiệu đấu tranh của giới báo chí tập trung đòi Thiệu hủy bỏ Sắc luật số 007(4) - sắc luật cho phép chính quyền can thiệp sâu vào hoạt động báo chí, kiểm soát gắt gao các tờ báo đối lập với chế độ Thiệu, đòi tự do, dân chủ, hòa bình, hòa hợp dân tộc. Bên cạnh đó, nhiều nhà báo đã đấu tranh phản đối kế hoạch sao Chổi - một kế hoạch mà chính quyền Thiệu, dưới chiêu bài “thán toán phản động” ra tay đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ở các đô thị. Rầm rộ và có ảnh hưởng sâu rộng là cuộc xuống đường của giới báo chí, thanh niên, sinh viện, học sinh…, được gọi là “ngày ký giả ăn mày” - ngày 10-10-1974. Hoạt động này là sự kết hợp về mặt tổ chức và lực lượng của giới báo chí, sinh viên, học sinh và các tầng lớp nhân dân Sài Gòn. Đoàn biểu tình tuần hành từ Câu lạc bộ báo chí đến chợ Bến Thành - dẫn đầu là hơn 400 nhà báo mang theo bị, gậy; đầu đội nó rách; tiếp sau là đoàn sư nữ và đoàn đại biểu các tổ chức, các phong trào như Mặt trận nhân dân cứu đói, Ủy ban lao động đòi quyền sống. Lực lượng hòa giải dân tộc, trung tâm văn bút… Đoàn biểu tình hô vang và giơ cao khẩu hiệu “Tự do báo chí”, “Bỏ Sắc luật 007”, “Tổng thống Thiệu từ chức”; sinh viên, học sinh vừa đi vừa hát bài Dậy mà đi… Cuộc biểu tình thu hút hàng vạn người tham gia, hưởng ứng, ngay cả một số dân biểu, nghị sĩ của chế độ Sài Gòn cũng tỏ thái độ ủng hộ, thậm chí tham gia đoàn tuần hành. Chứng kiến sự biểu dương rầm rộ trên đây và nhận thấy tâm lý chán ghét chiến tranh, phản đối chính quyền lan rộng trong nhân dân các đô thị miền Nam, nhiều cơ quan thông tấn, báo chí nước ngoài nhận định, đây là cuộc xuống đường lớn nhất trong 9 năm (1965-1974). Tiếp đó, lực lượng báo chí còn tổ chức ba cuộc biểu tình lớn gọi là “Những ngày báo chí và công lý thọ nạn”. Trong khi đó, lực lượng thương binh, phế binh - nạn nhân chiến tranh và bộ phận quần chúng sống trong hoàn cảnh cơ cực cũng đã xuống đường đấu tranh chống chế độ độc tài, phản động. Cuối năm 1974, Ủy ban hành động cho công bằng xã hội được thành lập, thu hút hơn 1 vạn sinh viên và giới công giáo tham gia. Ngoài ra, trên đường phố, xuất hiện hình thức đấu tranh sáng tạo như: phong trào “báo nói”, “văn nghệ chạy” của ký giả, văn nghệ sĩ… Chỉ tính riêng ở Sài Gòn - Gia Định, đến cuối năm 1974, có đến 30 tổ chức chính trị, xã hội chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, đòi hiệp thương tổng tuyển cử giữa hai miền, đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống.


(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Sđd, tr.418-433.
(2) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Sđd, tr.418-433
(3) Miền Đông Nam Bộ kháng chiến 1945-1975, Sđd, tr. 520-521.
(4) Sắc luật 007 được ban hành ngày 4-8-1973, quy định chủ báo phải nộp trước 20 triệu đồng để bảo đảm án phí và tiền bồi thường khi báo bị coi là can tội. Như thế, chính quyền Nguyễn Văn Thệu mặc nhiên đặt báo chí vào chiếc ghế bị cáo.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Ba, 2011, 07:07:52 AM
Đối phó với các tổ chức chống đói và phong trào đấu tranh của các nghà, các giới, của quần chúng nhân dân, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ban hành nhiều sắc lệnh nhằm thủ tiêu nhiều quyền cơ bản của công dân; trấn áp, dẹp bỏ, hạn chế hoạt động của những lực lượng đối lập; bắt và giam cầm hàng nghìn người. Tính chất độc tài - phátxít của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chứng tỏ sự bất lực yếu kém của nó và làm gia tăng sự chống đối quyết liệt của các tầng lớp nhân dân miền Nam.

Nhìn chung, trong giai đonạ này, phong trào đấu tranh chính trị ở các đô thị trên toàn miền Nam, đặc biệt là ở Sài Gòn - Gia Định, lực lượng đối lập với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, được gọi là lực lượng thứ ba phát triển, đẩy mạnh nhiều hoạt động đấu tranh. Lực lượng này là tập hợp rộng rãi gồm các phe nhóm, các nhân sĩ, trí thức, binh sĩ, dân biểu, nhà báo, thương gia, các cựu sĩ quan cao cấp của quân đội Sài Gòn…, có khuynh hướng chống chiến tranh, đòi hòa bình, độc lập cho Việt Nam, đòi Thiệu phải từ chức. Tiêu biểu cho lực lượng thứ ba này là những nhân vật như bà Luật sư Ngô Bá Thành, ông Trần Ngọc Liễng (bấy giờ là Chủ tịch Hội quần chúng mang tên Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Pari), dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, dân biểu Lý Quý Chung, Giáo sư Lý Chánh Trung, linh mục Phan Khắc Từ, dân biểu Kiều Mộng Thu, ni sư Huỳnh Liên, nhà báo Nam Đình. Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Pari mà tiền thân là lực lượng quốc gia tiến bộ giữ vai trò nòng cốt trong hoạt động của lực lượng thứ ba. Cùng thời gian này, Ủy ban liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ, hòa bình khu Sài Gòn - Gia Định chính thức ra mắt, gồm các nhân sĩ, trí thức đã ra vùng giải phóng do Giáo sư Nguyễn Văn Chi đứng đầu. Bên cạnh đó, Mặt trận nhân dân cứu đói (ra mắt tháng 9-1974 do Đại đức Thích Hiến Pháp làm Chủ tịch và do dân biểu Nguyễn Văn Hân làm Tổng Thư ký, đã thu hút nhiều nhân vật có thế lực như Tổng vụ trưởng Vụ cư sĩ giáo hội Phật giáo thống nhất Thích Quảng Long, ni sư Huỳnh Liên, linh mục Phan Khắc Từ.

Ở nhiều đô thị khác, phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài Nguyễn Văn Thiệu cũng phát triển mạnh mẽ. Tại Huế, vào cuối năm 1974, các tầng lớp nhân dân ở đây đã tổ chức hai cuộc biểu tình lớn. Ngày 8-9, gần 5.000 người tuần hành qua nhiều đường phố, giương cao và hô vang các khẩu hiệu tố cáo Chính phủ Nguyễn Văn Thiệu độc tài, tham nhũng, đòi tự do, dân chủ, đòi hòa bình, đòi thi hành Hiệp định Pari. Trong cuộc tuần hành này, Bản cáo trạng số 1 đã được công bố, vạch rõ nhiều trọng tội của Nguyễn Văn Thiệu, trong đó có các tội: lợi dụng quyền hành để xây dựng và chiếm đoạt nhà cửa, đất đai, đầu cơ phân bón, lúa gạo, buôn lậu thuốc phiện… Một tuần sau, ngày 15-9, nhân dân Huế lại xuống đường biểu tình, tuần hành. Lần này, số người tham gia lên đến 5 vạn người. Đoàn biểu tình đấu tranh đòi Nguyễn Văn Thiệu trả lời về 6 tội đã công bố trong Bản cáo trạng số 1. Cùng vào thời gian này, một đài phát thanh bí mật xuất hiện, hằng ngày phát sóng 3 giờ, công bố Bản cáo trạng số 1 và vạch trần các tội trạng của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Phong trào đấu tranh của nhân dân Huế chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu độc tài, tham nhũng nhanh chóng phong trào thành cao trào của các đô thị trên khắp miền Nam.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, phong trào đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân được đẩy mạnh, đặc biệt là tại Cần Thơ - đô thị lớn nhất miền Tân Nam Bộ, trung tâm chính trị, kinh tế, quân sự của chế độ Sài Gòn. Tại đây, các cuộc đấu tranh chống chính quyền Nguyễn Văn thiệu độc tài, tham nhũng đã thu hút nhiều tầng lớp xã hội tham gia, hưởng ứng. Vào những tháng cuối năm 1974, phong trào đấu tranh chính trị ở đây bùng phát mạnh mẽ với nhiều hình thức đấu tranh phong phú và với sự góp mặt của nhiều giới như: các tăng ni, phật tử và nhà chùa tổ chức nhiều cuộc hội thảo, thu thập tài liệu chứng cứ, ra tuyên bố chống chính quyền Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng, đòi hòa bình, hòa hợp, hòa giải dân tộc; học sinh, sinh viên đấu tranh chống tăng học phí, tổ chức các hoạt động giúp đỡ tù chính trị, đồng thời tố cáo hành động tra tấn, đối xử hà khắc và điều kiện giam giữ tồi tệ trong các nhà tù của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Đáng chú ý, trong các cuộc biểu tình, tuần hành, phụ nữ thường chiếm số đông và luôn giữ vai trò nòng cốt trong các cuộc đấu tranh chính trị ở nông thôn cũng như thành thị. Lúc này, Phong trào phụ nữ đòi quyền sống, Ủy ban đòi thi hành Hiệp định Pari ra mắt, tập hợp lực lượng và tiến hành các cuộc đấu tranh trực diện với địch.

Gần hai năm sau Hiệp định Pari, cùng với mũi tiến công quân sự, phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị miền Nam phát triển ngày càng sâu rộng, thu hút các tầng lớp xã hội tham gia, góp phân thúc đẩy nhanh sự khủng hoảng toàn diện của chính quyền Sài Gòn.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Ba, 2011, 07:20:47 AM
Sau khi rút quân khỏi miền Nam, R. Níchxơn vẫn cam kết ủng hộ chính quyền Thiệu, nhưng những khó khăn nội bộ đã không cho phép R. Níchxơn giữ vững cam kết. Quốc hộ Mỹ đã tỏ ra kiên quyết hơn trong việc hạn chế quyền lực Tổng thống Mỹ trong các vấn đề về Nam Việt Nam. Vào ngày 3-4-1974, Ủy ban quân lực Thượng nghị viện, với quyền hạn của mình, đã bỏ phiếu phủ quyết việc tăng ngân sách viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa, giảm viện trợ trong năm tài khóa 1974-1975 cho Việt Nam Cộng hòa xuống dưới 1 tỉ đôla. Đây là lần đầu tiên trong vòng 10 năm (1964-1973), Quốc hội Mỹ chỉ chuẩn chi khoản ngân sách viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa ở mức dưới 1 tỉ đôla(1). Trước quyết định này của Quốc hội, Tổng thống mỹ R. Níchxơn tỏ thái độ rất thất vọng, nhưng ông ta không thể đảo ngược quyết định đó. Lúc này, vụ bê bối Oatơghết (Watergate) buộc Tổng thống R. Níchxơn phải từ chức vào ngày 9-8-1974. Người kế nhiệm R. Níchxxơn, G. Pho (Gerald Ford), tuy vẫn cma kết ủng hộ Thiệu, nhưng chỉ “trong giới hạn cho phép”.

Trong điều kiện nền kinh tế - quân sự Sài Gòn phụ thuộc vào nguồn viện trợ Mỹ tới 90%, thì việc chính quyền Mỹ không thể giữ đúng lời cam kết và việc Quốc hội nước này chi chuẩn chi 50% tổng số tiền đề nghị viện trợ cả gói cho Việt Nam Cộng hòa trong năm tài khóa 1974-1975 là đòn giáng nặng vào chính quyền Sài Gòn(2). Vào nửa cuối của năm 1974, kinh tế Sài Gòn đã bộc lộ sự sa sút nghiêm trọng. Lạm phát tăng vọt, trong khi sức sản xuất của nền kinh tế giảm hơn 75% (dự tính đạt 100 triệu đôla, nhưng chỉ đạt 25 triệu đôla). Cán cân thương mại thâm hụt tới 750 triệu đôla - biểu hiện rõ nét của một nền kinh tế phụ thuộc, với tỉ lệ nhập siêu lớn gấp 30 lần sơ với khả năng tự chi trả của chính bản thân nền kinh tế miền Nam. Việc Mỹ cắt giảm viện trợ kinh tế cho chính quyền Sài Gòn mặc dù được thực hiện thừng bước (năm tài khóa 1972-1973 là 753 triệu đôla, năm tài khóa 1973-1974 là 601 triệu đôla và năm tài khóa 1974-1975 là 400 triệu đôla), nhưng hiệu ứng do sự sụt giảm viện trợ kinh tế gây ra là rất to lớn, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế này đang phải đảm bảo cho bộ máy chiến tranh khổng lồ. Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, chính quyền Thiệu vẫn hối thúc và nỗ lực thực hiện kế hoạch lấn chiếm toàn bộ vùng giải phóng và ổn định tình hình miền Nam. Để phục vụ cho mục tiêu này, trên lĩnh vực xây dựng quân đội, chính quyền Sài Gòn thực hiện kế hoạch hiện đại hóa dài hạn (1973-1975), trong đó tổ chức hai lực lượng chiến lược: lực lượng dã chiến (gồm quân đoàn bộ binh, các sư đoàn dù, lính thủy đánh bộ, biệt động quân) và lực lượng lãnh thổ (bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự…) Gánh nặng của kế hoạch về ổn định chính trị -xã hội và phát triển quân đội mà chính quyền Sài Gòn vạch ra vượt quá khả năng nguồn tài chính có thể đảm đương. Từ đây, nảy sinh mâu thuẫn giữa yêu cầu với khả năng thực tế, và chính mâu thuẫn này đã khiến cho các lĩnh vực quốc phòng - an ninh lãnh thổ(3), cũng như kinh tế, chính trị - xã hội của chính quyền Sài Gòn rơi vào trạng thái khủng hoảng triền miên và không có lối thoát. Mâu thuẫn nội bộ chính quyền, vì vậy, đã gay gắt càng gay gắt thêm. Trong Chính phủ Sài Gòn, gia tăng sự chống đối lẫn nhau giữa các phe nhóm, đặc biệt, nhiều quan chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn tỏ rõ thái độ chống đối khá quyết liệt và đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức. Trong bối cảnh chính trị đó, các tướng lĩnh thất sủng nhưng chưa hết tham vọng quyền bính, đã đứng ra thành lập những nhóm chính trị mới, sẵn sàng tham gia vào công việc điều hành chính phủ và quân đội Sài Gòn. Một số quan chức trong chính quyền lâu nay dựa dẫm vào Mỹ và Nguyễn Văn Thiệu để thăng tiến, thì nay trở nên hoang mang, dao động mạnh. Trên nền tảng bất ổn của chính quyền Sài Gòn, quân đội - lực lượng nòng cốt của chế độ Sài Gòn, đang mất dần khả năng và tinh thần chiến đấu.

Kết thúc năm 1974, tình hình chiến trường và những nhân tố liên quan tới cuộc chiến Việt Nam đang trên đà chuyển biến mau lẹ. Cuộc tiến công của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đẩy quân đội Sài Gòn vào thế co cụm, phòng thủ. Phong trào đấu tranh chính trị ở một loạt đô thị trên toàn miền dâng cao. Nội bộ chính quyền Sài Gòn chia rẽ sâu sắc. Xuất hiện những lực lượng, những tổ chức chính trị, xã hội chống đối chính quyền và cá nhân Nguyễn Văn Thiệu ngay giữa lòng Sài Gòn. Trong khi đó, viện trợ quân sự, kinh tế của chính quyền Mỹ dành cho chế độ Thiệu đang suy giảm mạnh. Đó là những điều kiện quan trọng mà ta cần chớp lấy để đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tới thắng lợi cuối cùng.


(1) Được tin Ủy ban quân lực của Quốc hội Mỹ bỏ phiếu cắt bớt viên trợ cho Việt Nam Cộng hòa trong năm 1974, Nguyễn Văn Thiệu liền dựng lên sự kiện Quân giải phóng đánh chiếm Tống Lê Chân, một vị trí phòng mgự nhỏ phía tây Sài Gòn, vào ngày 11-4-1974. Thực ra, Quân giải phóng chỉ tiến vào vị trí này khi quân Sài Gòn đã di chuyển đi nơi khác. Lấy cớ Quân giải phóng đang mở cuộc tiến công lớn, ồ ạt vào tuyến phòng thủ Sài Gòn, Thiệu, một mặt, mở cuộc tuyên truyền rầm rộ trên các phương tiện thông tin đại chúng của Sài Gòn, rằng cộng sản Hà Nội đã phá hoại Hiệp định Pari; mặt khác, rút đoàn đàm phán chính trị của Việt Nam Cộng hòa tại Clêmentê (Honululu), đồng thời, chủ trương phá hoại hoạt động giám sát ngừng bắn của Ban liên hợp quân sự. Bằng cách làm này, Thiệu nhằm tạo ra tác động nhất định đối với Quốc hội Mỹ, nhằm có thể xoay chuyển quyết định cắt giảm viện trợ ngày 3-4-1974. Tuy nhiên, điều mà Thiệu trông mong đã không diễn ra; Quốc hội Mỹ vẫn giữ nguyên quyết định này và cắt giảm việt trợ cho Việt Nam Cộng hòa đã được Quốc hội Mỹ ban hành thành luật vào tháng 7-1974. Dẫn theo Giôdép A. Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985, tr. 447-450.
(2) Chính quyền Mỹ đề nghị: 1 tỉ 500 triệu đôla cho quân sự, 800 triệu đô la cho kinh tế, nhưng Quốc hội chỉ chuẩn chi lần lượt là: 700 triệu đôla cho quân sự, 400 triệu đola cho kinh tế.
(3) Theo phiếu trình về Tình trạng thiếu hụt các mặt của quân lực Việt Nam Cộng hòa tháng 10-1974 của Văn phòng Tham mưu trưởng - Bộ Tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa lên Tổng thống Nguyễn Văn thiệu, ngày 9-11-1974, thì, với mực viện trợ quân sự 700 triệu đôla, chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu: đạn dược thiếu 41%, nhiên liệu thiếu 71%; y phục thiếu 37%; truyền tin thiếu 60%; quân nhu thiếu ^85, quân cụ thiếu 65%; công binh thiếu 85%; không quân thiếu 75%; hải quân thiếu 83%. Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Quân khu 7: Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1954-1975), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 566.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Ba, 2011, 10:29:32 AM
II - MIỀN BẮC KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ,
VĂN HÓA - XÃ HỘI, TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH
QUÂN SỰ

Bước ra khỏi cuộc chiến tranh, hậu phương miền Bắc phải đối mặt với những khó khăn gay gắt trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội. Cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của không quân, hải quân Mỹ (từ tháng 4-1972 đến tháng 1-1973) đã gây ra cho miền Bắc những tổn thất nặng nề(1); để khắc phục hậu quả ấy, không thể trong ngày một, ngày hai. “Tính chung, thiệt hại trực tiếp về mặt vật chất do chiến tranh gây ra cho nền kinh tế (miền Bắc) lên đến 3.700 triệu đồng, bằng 40% tổng số tài sản cố định và tài sản lưu động có trước chiến tranh. Ngoài việc phá hoại nền kinh tế về mặt vật chất, cuộc chiến tranh ác liệt và kéo dài còn gây trở ngại hoặc có mặt lâm đảo lộn nền nếp công tác quản lý của Nhà nước cùng các mối quan hệ khác của đời sống xã hội…, nhất là về các mặt quản lý lao động, vật tư, quản lý khoa học, kỹ thuật, quản lý thị trường, giá cả v.v. từ đó phát sinh thêm những nhân tố tiêu cực tác động đến nên kinh tế vốn bị chiến tranh tàn phá… Chiến tranh làm cho sự phát triển của nền kinh tế miền Bắc chậm lại khoảng 12-13 năm”(2).

Bên cạnh nguyên nhân chiến tranh, trong công tác lãnh đạo và quản lý của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành cũng bộc lộ nhiều khuyết điểm, hạn chế, thiếu sót; nhất là việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng và tổ chức thực hiện. Bộ máy quản lý nhà nước, quản lý kinh tế chưa được tăng cường đúng mức, năng lực quản lý còn yếu. “Trong thời kỳ có chiến tranh, Bộ Chính trị tập trung sức vào các vấn đề đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và ngoại giao là đúng, nhưng còn coi nhẹ lãnh đạo kinh tế, lãnh đạo công tác quản lý nhà nước. Bộ Chính trị chưa dành thời gian thích đáng để giải quyết các vấn đề lớn về kinh tế. Trong khi đó, Ban Bí thư và Thường vụ Chính phủ chưa được kiện toàn để bao quát công việc tổ chức thực hiện, kiểm tra đôn đốc”(3).

Toàn bộ tình hình trên đây khiến cho đời sống kinh tế - xã hội ở miền Bắc sau chiến tranh gặp nhiều khó khăn gay gắt: lao động xã hội và tiềm lực kinh tế chưa được tận dụng; trong khi đó, mức sản xuất xã hội rất thấp, làm không đủ ăn, thu không đủ chi, xuất khẩu thấp xa so với nhập khẩu, nhiều mặt thiết yếu về sản xuất và tiêu dùng còn phải dựa vào bên ngoài, sản xuất trong nước không đảm bảo tái sản xuất, quan hệ sản xuất chưa được củng cố, hiện tượng tiêu cực và không lành mạnh trong xã hội còn nhiều, đơi sống của nhân dân còn khó khăn.

Trong khi miền Bắc đang phải gồng mình để khắc phục hiệu quả chiến tranh, thì cũng là lúc nguồn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là từ Liên Xô, Trung Quốc giảm mạnh. Nếu như năm 1969, viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đạt tới 1.000.796 tấn, thì đến năm 1973, con số đó sụt xuống còn 724.512 tấn. Năm 1972, viện trợ của Liên Xô là 332 triệu rúp và Trung Quốc là 120 triệu nhân dân tệ. Năm 1974, con số tương tự là: Liên Xô 98 triệu rúp, Trung Quốc 45 triệu nhân dân tệ. Chri riêng về viện trợ quân sự năm 1973, các nước anh em, mà chủ yếu là từ Liên Xô và Trung Quốc giành cho ta chỉ bằng 60% của năm 1972, năm 1974 bằng 34% và năm 1975 bằng 115. Sự giảm sút nguồn viện trợ từ bên ngoài tác động nhất định tới công cuộc khôi phục miền Bắc và chi viện cho chiến trường miền Nam. Hơn lúc nào hết, khi chiến tranh chuyển sang giai đoạn mới với yêu cầu đánh lớn, đánh mạnh, việc đảm bảo hậu cần, trang bị kỹ thuật, vũ khí đạn dược (đặc biệt là đạn pháo lớn), cũng như lương thực, thực phẩm, thuốc men ngày một tăng… Thực tiễn 20 năm chiến tranh giải phóng, đặc biệt là từ khi đế quốc Mỹ đưa chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, hậu phương chiến lược đã có những nỗ lực to lớn để cùng một lúc, đảm bảo duy trì và giữ vững sản xuất, ổn định đời sống nhân dân; đồng thời đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân, hải quân Mỹ, tăng sức chi viện cho chiến trường miền Nam, xứng đáng là nhân tố thường xuyên quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trước đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ trong giai đoạn mới, yêu cầu cấp bách đặt ra trong toàn dân, toàn quân ở hậu phương là phải nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, phục hồi và phát triển sản xuất, củng cố và tăng cường sức mạnh quân sự, chi viện toàn diện, mạnh mẽ sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng hai nước Lào và Campuchia.


(1) Trong hai lần đánh phá miền Bắc Việt Nam, không quân, hải quân Mỹ đã ném 9 triệu tấn bom; tính bình quân cứ 1 km2 phải hứng chịu 6 tấn, mỗi đầu dân phải chịu tới 45 kg gom. Bom đạn gây ra bao tổn thất, mất mát và đau thương: hơn 80.000 người chết và hơn 120.000 người bị thương; tất cả các cơ sở kinh tế và quốc phòng bị đánh phá; nhiều thành phố, thị xã và thị trấn bị hủy hoại; hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển cùng hệ thống kho tàng, bến bãi, trường học, chùa chiền, nhà thờ trên miền Bắc bị oanh tạc dữ dội… Chiến tranh phá hoại còn làm cho hàng trăm nghìn hécta đất trồng bị cày xới, hoang hóa; nhiều bến sống, lạch biển còn bị thủy lôi, bom từ trường.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr. 284, 290.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Ba, 2011, 10:32:25 AM
Một ngày sau khi Hiệp định Pari được ký tắt, ngày 24-1-1973, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị về những việc trước mắt trong giai đoạn cách mạng mới, lưy ý các ngành, các cấp phải chú trọng, khẩn trương ổn định đời sống và sản xuất, phục hội và bảo đảm giao thông, giúp đỡ những địa phương, những gia đình bị bom đạn Mỹ tàn phá nặng, giải quyết chỗ ở cho nhân dân thành thị. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ triệu tập hội nghị bàn biện pháp giải quyết nhà ở cho nhân dân các thành phố, thị xã bị chiến tranh tàn phá(1). Mội nhiệm vụ cấp bách khác là phải nhanh chóng khôi phục những tuyến giao thông huyết mạch, đặc biệt là cầu Long Biên. Ngay từ cuối tháng 1-1973, các công ty cầu 1, cầu 7 thuộc Tổng cục Đường sắt, Cục Công Trình II - Bộ Giao thông vận tải, công trường lắp máy - Bộ Kiến trúc, đã tổ chức lực lượng khôi phục cầu Long Biên bắc qua sông Hồng. Trong hai lần chiến tranh phá hoại, chiếc cầu dài 1.500 m này bị bom Mỹ phá hủy 9 nhịp và 4 trụ. Sau 3 tháng, ngày 4-3-1973, chiếc cầu quan trọng này đã được thông xe. Cùng thời gian, 7 ga đường sắt cùng hệ thống thông tin, tín hiệu giao thông cũng được khôi phục, đưa vào sử dụng.

Trong các ngày 15, 16, 18, 19-6-1973, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp, nghe Thường vụ Hội đồng Chính phủ và Ủy ban Kế hoạch Nhà nước báo cáo về nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế 3 năm (1973-1975), Bộ Chính trị chỉ rõ tầm quan trọng cũng như phương hướng cơ bản của kế hoạch này và khẳng định: “Kế hoạch nhà nước, 3 năm khôi phục và phát triển kinh tế phải được xây dựng và thực hiện một cách tích cực, vững chắc, chủ động, cân đối trên cơ sở phát huy mọi khả năng và thuận lợi của đất nước ta”(2).

Tiếp đó, cuối năm 1973, đầu năm 1974, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam họp Hội nghị lần thứ 22, đề ra kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế miền Bắc trong 2 năm (1974-1975) với nhiệm vụ: “Nhanh chóng hoàn thành việc hàn gắn những vết thương chiến tranh, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hóa, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thật của chủ nghĩa xã hội; củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mọi mặt, ổn định tình hình kinh tế và đời sống nhân dân; củng cố quốc phòng, ra sức chi viện cuộc đấu tranh cách mạng và xây dựng vùng giải phóng của đồng bào miền Nam”(3). Để hoàn thành nhiệm vụ cấp bách trước mắt đó, hội nghị thông qua phương hướng kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế trong 2 năm (1973-1974). Mục tiêu của kế hoạch này là:

1 - Đưa mức sản xuất của từng ngành kinh tế, từng đơn vị kinh tế lên bằng kế hoạch và cao hơn mức sản xuất đã đạt được trong hai năm 1965 và năm 1971 (là 2 năm kinh tế miền Bắc đạt tỷ lệ cao nhất trong 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, phấn đấu để tăng nhanh tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân đủ cho quỹ tiêu dùng xã hội và có tích lũy vào năm 1976;

2 - Củng cố và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong cả hai khu vực quốc doanh và tập thể, khắc phục những hiện tượng tiêu cực trong đời sống kinh tế và xã hội.

3 - Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý từ trung ương đến địa phương, giải quyết tốt các vấn đề trước mắt, đồng thời chuẩn bị cho kế hoạch lâu dài phát triển kinh tế, văn hóa;

4 - Bảo đảm đầy đủ các yêu cầu chi viện cho chiến trường miền Nam.

Để thực hiện nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội miền Bắc sau chiến tranh, Chính phủ tiến hành tổng kiềm kê tài sản (10-1973) và tổng điều tra dân số trên toàn miền Bắc (4-1974). Đồng thời, Hội đồng Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành các quyết định, chỉ thị, tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện các mục tiêu của kế hoạch 2 năm 1974-1975.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của các cấp bộ đảng, chính quyền, đoàn thể và với một khí thế của người chiến thắng, các tầng lớp nhân dân ta trên miền Bắc bền bỉ khắc phục khó khăn, thiếu thốn, ra sức phục hồi và đẩy mạnh sản xuất.


(1) Viện Sử học: Việt Nam - những sự kiện lịch sử (1945-1975), Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2002, tr. 485.
(2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr. 72, 397.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Ba, 2011, 10:36:55 AM
Trên lĩnh vực khôi phục kinh tế, ngay trong năm 1973, nhiều công trình như Nhà máy giấy Việt Trì, Đập nước Bái Thượng, nhà máy điện Hàm Rồng, Nhà máy điện Uông Bí, Lò cao số 1, số 2 Khu gang thép Thái Nguyên… được phục hồi và đi vào sử dụng. Năm 1974, một loạt các công trình khắc phục đang xây dựng mới, hoặc được phục hồi, đi vào sản xuất như Nhà máy điện Ninh Bình, Công trình thủy lợi Cống Lâm, Nhà máy chè Yên Bái, Nhà máy đóng tàu Bến Kiến (Hải Phòng), Nhà máy đóng tàu Sông Lô, các trại bò sữa Mộc Châu…

Phục hồi và phát triển giao thông vận tải là một nhiệm vụ cần kíp của miền Bắc những năm sau chiến tranh. Nhàn nước tập trung nhân lực, vật tư, ưu tiên khôi phục hệ thống cầu cống và các tuyến giao thông quan trọng.

Trên lĩnh vực nông nghiệp, tháng 8-974, Hội nghị nông nghiệp vùng đồng bằng và trung du được tổ chức tại Thái Bình, với sự tham gia của nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ. Hội nghị tập trung bàn bạc vấn đề tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; tiếp sau hội nghị này, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị mở cuộc vận động lớn Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp nhằm cải tiến một bước quản lý nông nghiệp từ cơ sơ theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Nội dung cuộc vận động là tổ chức sắp xếp lại ruộng đất, lao động, các cơ sở vật chất - kỹ thuật trong các hợp tác xã trên địa bàn cấp huyện.

Cùng với quá trình tổ chức lại sản xuất và cải tiến công tác quản lý, sản xuất nông nghiệp, Chính phủ còn dành một số vốn lớn đầu tư cho khu vực kinh tế nông nghiệp; chỉ riêng thủy lợi, nếu so với những năm từ 1955 đến 1957 thì những năm 1972-1975, số ốn đầu tư của Nhà nước tăng 6 lần. Những năm này, với sự đầu tư và hỗ trợ hiệu quả của Nhà nước, cơ sở vật chất, kỹ thuật của các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp được tăng cường. Phần lớn các hợp tác xã nông nghiệp đồng bằng được trang bị cơ khí. Bên cạnh nông nghiệp, thời kỳ này, Nhà nước dành một số vốn đầu tư cho công nghiệp, cho văn hóa, khoa học kỹ thuật, giáo dục, y tế.

Với những nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân ta, 2 năm sau Hiệp định Pari, kinh tế - xã hội miền Bắc đã có bước tiến mới trên tất cả các mặt. Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, năm 1974, sản lượng lúa cả năm đạt 5,5 triệu tấn (năm 1973 đạt 21,4 tạ/ha). Năm 1974, cả miền Bắc có 9 tỉnh, 107 huyện và 4.200 hợp tác xã đạt năng suất 5 tấn thóc/ha trên ruộng 2 vụ lúa. Thái Bình là tỉnh đi đầu về năng suất lúa của miền Bắc, đạt trên 7 tấn thóc/ha. Lần đầu tiên trên miền Bắc, có hợp tác xã đạt hơn 12 tấn thóc/ha ở trên ruộng 2 vụ lúa là hợp tác xã Bình Đà 1 và 2 của tỉnh Thái Bình, hợp tác xã Xuân Tiến của tỉnh Hà Nam Ninh. Năng suất hoa màu chủ yếu là ngô, cũng cho sản lượng cao, trên 16 tấn/ha, đạt tổng sản lượng 132.600 tấn vào năm 1974. Khoai tây trở thành một trong những cây trồng chính của vụ đông, diện tích tăng 3 lần, sản lượng tăng hơn 4 lần, nâng suất bình quân đạt trên 100 tạ/ha. Khoai lang đạt 731.000 tấn, v.v… Bên cạnh đó, công tác khai hoang, phục hóa và trồng mới rừng cũng đạt kết quả khá.

Bên cạnh những thành tựu trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nhiệp, thủ công nghiệp có bước tiến đáng kể. Giá trị sản lượng công nghiệp, thủ công nghiệp cũng vượt kế hoạch 4% so với năm 1973 và tăng 15%. Trên lĩnh vực khai khoáng, mặc dù chưa đạt như mức năm 1965, nhưng sản lượng than đã vượt 12% kế hoạch đề ra; sản lượng điện vượt kế hoạch 2% và tăng 56% so với năm 1965; sản lượng cơ khí tăng gấp đôi(1). Nhiều bến cảng, đường giao thông thủy, bộ được phục hồi nhanh chóng, nhiều cầu được sửa chữa, xây dựng lại.

Trên mặt trận rà phá, tháo gỡ bom mìn, thủy lôi nhằm khơi thông luồng sông, lạch biển, trung tuần tháng 3-1973, Quân chủng Hải quân sử dụng Trung đoàn 171 được tăng cường lực lượng và phương tiện của Trung đoàn 172 phối hợp với các ngành của Nhà nước và lực lượng vũ trang các địa phương bắt đầu triển khai thực hiện nhiệm vụ. Tính đến ngày 31-3-1973, lực lượng rà quét của ta đã phá nổ được 2.867 quả thủy lôi và mìn, trong số đó có 888 quả thuộc khu vực ven biển, cửa sông và luồng lạch dẫn vào cảng Hải Phòng. Ngoài số thủy lôi, bom từ trường do lực lượng rà quét của ta phá nổ, số còn lại, theo nguyên lý hoạt động, đã tự kích nổ hoặc mất hiệu lực trong khoảng thời gian nhất định. Sau đợt rà quét này, tàu biển trọng tải lớn bắt đầu vào được cảng Hải Phòng, tiếp đó là các cảng Hòn Gai, Cẩm Phả, sông Mã, sông Gianh, sông Nhật Lệ, cửa Tùng. Nhưng để đảm bảo chắc chắn và an toàn lâu dài, Chính phủ yêu cầu Bộ Quốc phòng tiếp tục công tác rà quét kiểm tra trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 6-1973. Đầu tháng 4, Quân chủng Hải quân và lực lượng các khác tiếp tục khoanh vùng, chia ô rà quét kiểm tra ở hai khu vực lớn là vùng biển Đông Bắc và vùng biển từ Hải Phòng trở vào. Sau hơn 3 tháng tiến hành rà quét thủy lôi, bom mìn ở các cửa sông, cửa biển, lực lượng quân đội cùng với các ngành và các địa phương đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, đưa hoạt động của tàu tuyền vào các cửa sông, cảng biển trở lại bình thường.


(1) Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.2, tr. 623.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Ba, 2011, 10:41:24 AM
Cùng trong thời gian này, thực hiện Nghị định thư được ký kết tại Hội nghị Pari, Mỹ đã triển khai lực lượng và phương tiện rà phá, tháo gỡ số bom, mìn và thủy lôi mà họ đã thả xuống các cửa sông, cửa biển luồng lạch trên miền Bắc trong cuộc chiến tranh phá hoại vừa qua. Đầu tháng 2-1973, Mỹ điều Biên đội đặc nhiệm số 18, gồm 503 sĩ quan, binh sĩ, cùng 17 tàu chiến và tàu vớt mìn, 45 máy bay lên thẳng, do Phó đô đốc Mác Câu (B. Mc Cauly) chỉ huy, thực thi nhiệm vụ rà phá thủy lôi, bom mìn. Trong đợt đầu tiên, từ ngày 6 đến ngày 20-3-1973, lực lượng Mỹ sử dụng 143 lần chiếc trực thăng, quét 1.547 lần, nhưng chỉ phá nổ được 3 quả thủy lôi ở cửa Nam Triệu (Hải Phòng)(1). Mặc dù đã cam kết tuân thủ các quy định của Nghị định thư về tháo gỡ, làm mất hiệu lực vĩnh viễn, phá hủy mìn ở vùng biển, các cảng và sông ngòi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhưng phía Mỹ chẳng những không thực hiện việc quét mìn ở các sông, mà còn không đưa ra một kế hoạch cụ thể, không điều đủ lực lượng, phương tiện cần thiết cho hoạt động này. Ngày 17-4-1973, vin cớ quân và dân ta ở miền Nam đánh chiếm các vị trí của quân đội Sài Gòn và xem đó là sự vi phạm Hiệp định Pari, phía Mỹ ngừng việc rà quét, rút Biên đội 18 về cảng Subích (Philíppin), thực chất là nhằm kéo dài việc rà quét, hạn chế hoạt động của tàu, thuyền, nhất là tàu của các nước Liên Xô, Trung Quốc chở hàng viện trợ cho ta. Trước thái độ và hành động cố tình dây dưa của Mỹ, ta đã kiên quyết, khôn khéo đấu tranh từng bước trên cơ sở pháp lý của bản Nghị định thư, buộc Mỹ phải nhận rõ trách nhiệm của mình; đại diện của ta đã gặp đại diện của Mỹ tại Pari đòi Mỹ phải nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết tại Hội nghị Pari.

Ngày 18-6-1973, Mỹ đưa lực lượng trở lại vùng biển miền Bắc, thực hiện rà quét có tính chất kiểm tra lần cuối và lần lượt ra thông báo sau khi rà quét ở từng luồng. Đợt quét kiểm tra của lực lượng Mỹ kéo dài gần 20 ngày, trên 10 luồn: Nam Triệu, Hòn Gai, Cẩm Phả, Lạch Huyện, cửa Cấm, cửa Hội, sông Gianh, Hòn La, cửa Sót, Quang Hưng. Sau khi hoàn thành công việc, ngày 4-7-1973, Mỹ trao cho ta thông báo chi tiết kết quả quét mìn trên 10 luồng (không phá nổ quả nào). Ngay sau phiên họp giữa đại diên của Chính phủ ta với đại diện của Mỹ, xác nhận kết quả rà quét, Biên đội đặc nhiệm 18 rời khỏi hải phận nước ta vào chiều 18-7-1973(2).

Thắng lợi của công tác, rà phá bom, mìn, thủy lôi trên vùng biển miền Bắc có ý nghĩa lớn về kinh tế, quân sự, chính trị, xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận nguồn hàng viện trợ từ bên ngoài.

Trên mặt trận văn hóa, miền Bắc đã giành được những kết quả đáng tự hào. Năm học 197e-1975, có 6.630.900 người đi học. So với số dân miền Bắc lúc ấy là 21.700.000 người thì cứ gần 4 người có 1 người đi học. Số lượng sinh viên có 55.475 người với 39 trường đại học, số học sinh, sinh viên hệ trung học chuyên nghiệp có 69.813 người với 195 trường. Hầu hết trẻ em đến độ tuổi đi học đều được đến trường. Xã có trường cấp I, cấp II, huyện có trường cấp III. Số người có trình độ học vấn lớp 4 trở lên trong tổng số nhân khẩu từ 11 tuổi trở lên chiếm 46,7%. Số người có trình độ học vấn lớp 7 trở lên trong tổng số nhân khẩu từ 14 tuổi trở lên chiếm 27,9% và số người có trình độc học đại học, trung học chuyên nghiệp từ lớp 10 trở lên trong tổng số nhân khẩu từ 18 tuổi trở lên là 2,8%. Năm 1974, miền Bức có 1.513 bác sĩ (năm 1965 có 1.525 bác sĩ); 21.035 y sĩ (năm 1965 có 8.043 y sĩ); 43.500 y tá (năm 1965 có 38.928 y tá). Tính bình quân cứ một vạn dân thì có 11,7 bác sĩ, y sĩ (năm 1965 là 5,2 bác sĩ và 7 sĩ); 45 giường bệnh (năm 1965 là 38 giường bệnh). Xã có trạm y tế và nhà hộ sinh, huyện có bệnh viện được trang bị khá(3). Những thành tựu về văn hóa, giáo dục và y tế nêu trên đã góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời thể hiện tính ưu việt của chế độ ta.

Nhìn chung, cho đến hết năm 1974, trên một số mặt quan trọng, miền Bắc đã đạt và vượt mức sản xuất năm 1965 và năm 1971. Đó là điều kiện đảm bảo cho miền Bắc vươn lên đáp ứng đòi hỏi của cuộc kháng chiến chống Mỹ trong giai đoạn cuối cùng.

Trong hoàn cảnh vừa phải khắc phục hậu quả của hai cuộc chiến tranh phá hoại, khôi phục sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, vừa không ngừng chi viện sức ngời, sức của cho đồng bào, chiến sĩ miền Nam và làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với cách mạng Lào và Campuchia, thì hành quân và thành tựu trên đây của nhân dân miền Bắc là rất quan trọng. Những thành tự đó đã được Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV khẳng định: “Sau 20 năm cải tạo, xây dựng miền Bắc đã bước đầu kiến thiết và xác lập được một hình thái kinh tế - xã hội xã hội chủ nghĩa với quan hệ sản xuất tiên tiến, cùng những cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội, cùng một nhà nước chuyên chính vô sản được củng cố và một thệ thống tư tưởng, nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được đặt trên những nền móng vững chắc, đem lại thay đổi sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực”(4).


(1) Trong đợt này, lực lượng rà phá của Mỹ bị thiệt hại 1 tàu quét và 1 máy bay lên thẳng CH 53.
(2) Nguyễn Quốc Dũng: Hải Phòng hai lần chống phong tỏa, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 138, 139, 140.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr. 34.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977, tr. 34.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Ba, 2011, 10:49:33 AM
Ngay từ tháng 3-1973, đoàn cán bộ Tổng cục Hậu cần gồm Chủ nhiệm và các Cục trưởng được điều vào chiến trường miền Nam để chuẩn bị kế hoạch chi viện 3 năm 1973-1`975, xây dựng các cơ sở hậu cần tại chỗ, cùng cố hệ thống giao thông vận tải, kho tàng, bến bãi, nâng cao khả năng tiếp nhận hàng hóa… Tiếp đó, tháng 6-1973, Tổng cục Hậu cần quyết định tổ chức lại các tuyến vận tải ở Quân Khu 4 thành 4 binh trạm, thành lập thêm 2 trung đoàn xe và đoàn phụ trách tuyến giao liên chuyển thương binh ra miền Bắc.

Đảng, Nhà nước và quân đội đã tập trung đầu tư mọi lực lượng, phương tiện cho việc củng cố và xây dựng chất lượng hệ thống vận tải chiến lược Trường Sơn; xây dựng, mở rộng cơ bản cả 2 hệ thống đường chiến lược phía đông và phía tây. Tập trung cho công tác mở đường, Nhà nước, quân đội, các ngành, các cấp, các địa phương đã huy động hơn 36.000 người, hàng vạn ôtô vận tải và hàng trăm xe máy các loại. Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 12-7-1973, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đã quyết định sắp xếp lại cơ cấu tổ chức của Bộ Tư lệnh 559. Từ đây, Bộ Tư lệnh 559 được đổi thành Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Phần lớn các trung đoàn và tiểu đoàn vận tải thực thuộc Bộ Tư lệnh được tập trung xây dựng lại thành 2 sư đoàn ôtô 571 và 471. Sư đoàn 571 có nhiệm vụ vận chuyển trên cung đường từ Đông Hà, Cam Lộ đến Ka Nốt, Sư đoàn 471 từ ka Nốt tới Ngã ba biên giới; Sư đoàn khu vực 470 vào tới Nam bộ. Các sư đoàn khu vực khác được tổ chức thành sư đoàn công binh phục vụ chiến đấu và mở đường. Từ tháng 11-1973 đến tháng 5-1974, lực lượng vận tải gồm 8 trung đoàn ôtô thuộc các Sư đoàn 571, 471, 472 và 470, tổ chức vận chuyển hàng chủ yếu theo các trục đường phía tây Trường Sơn đến các chiến trường Tây Nguyên, Lào, Campuchia và vào tới chiến trường miền Đông Nam Bộ.

Thực hiện yêu cầu của Bộ Tổng Tư lệnh, ngày 8-6-1972, Tổng cục Hậu cần quyết định chỉnh đốn tổ chức, xác định nhiệm vụ, phương hướng và phạm vi hoạt động cho Cục Vận tải. Trên tuyến phía Nam, Cục Vận tải sáp nhập 6 binh trạm (25, 8, 10, 11, 20 và 30) thành 4 binh trạm (30, 20, 8 và 11), trên cơ sở đó 16 tiểu đoàn xe gồm 49 đại đội tổ chức thành 2 đoàn xe trực thuộc là Đoàn xe 25 và Đoàn xe 10. đến tháng 10-1973, Bộ Quốc phòng quyết định chuyển Đoàn xe 10 thành Đoàn xe 510 và đoàn xe 25 thành Đoàn xe ôtô vận tải 525. Toàn bộ lực lượng ôtô tập trung vận chuyển chi viện cho chiến trường miền Nam. Các trạm chuyển quân, chuyển thương binh, bệnh binh được tổ chức thành những trạm lớn dọc theo quốc lộ 1A. Cuối năm 1973, Cục Vận tải thành lập Đoàn 174 phụ trách toàn bộ tuyến chuyển quân, chuyển thương bệnh binh từ nam Khu 4 ra hậu phương miền Bắc.

Cùng với việc chấn chỉnh tổ chức, các lực lượng vận tải chú trọng củng cố hệ thống kho tàng, bễn bãi. Trên tất cả các kho ở miền Bắc, đều được sắp xếp lại. Các kho của Đoàn 559 được tổ chức thành Trung đoàn kho cảng 541, có khả năng tiếp nhận từ 25.000 tấn đến 35.000 tấn hàng cùng một lúc. Một số kho có sức chứa từ 10.0000 đén 15.000 tấn được sắp xếp dọc các khu vực Cam Lộ, A Lưới, Bù Gia Mập… Đây là những kho nối liền hậu phương miền Bắc và cụm căn cứ chiến dịch, cụm hậu cần của các chiến trường trọng điểm ở Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ thông qua các tuyến đường vận tải chiến lược, chiến dịch.

Cục Vận tải có 2 trạm sửa chữa ôtô trực thuộc, 2 trạm sửa chữa của Đoàn ôtô 510 và 525, 2 trạm sửa chữa của Đoàn Hồng Hà và 1 trạm của Đoàn vận tải biển. Trên tuyến vận tải của hậu phương, hơn 500 xe các loại đã được trung tu, đại tu. 160.000 lượt xe đã được bảo dưỡng, 200 canô, xàlan được tiểu tu và trung tu. Còn trên tuyến vận tải chiến lược của Đoàn 559 có 3 xưởng trung tu, đại tu xe máy, mỗi xưởng có công suất từ 300 đến 500 xe một năm. Phong trào “sửa chữa nhanh, chất lượng tốt” do Bộ Quốc phòng đề ra đã được các tổng cục, các cơ quan và đơn vị trong toàn quân hưởng ứng sôi nổi. Trong 3 năm từ 1971 đến 1973, Đại đội 1 - đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thuộc Cục Vận tải đã chạy xe 2,3 triệu kilômét an toàn, trở thành lá cờ đầu trong phong trào bảo đảm chạy xe tốt trong toàn quân.

Cuối năm 1973, tình hình chiến trường đang trên đà chuyển biến nhanh chóng, việc chi viện cho cách mạng miền Nam càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Ngày 17-11-1973, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 243-TTg về việc xây dựng, củng cố, mở rộng đường chiến lược Trường Sơn nhằm đáp ứng đòi hỏi của công tác chi viện chiến trường. Được giao thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, Bộ Quốc phòng đã huy động một lực lượng lớn gồm 1 sư đoàn, 17 trung đoàn, 49 tiểu đoàn công binh trực thuộc Bộ Tư lệnh Trường Sơn, 2.741 thanh niên xung phong và dân công, hàng nghìn xe máy các loại phục vụ cho việc thi công.

Có thêm lực lượng và phương tiện, tốc độ làm mới, nâng cấp, mở rộng mạng đường cả ở phía tây và phía đông Trường Sơn được đẩy nhanh. Tháng 11-1973, trục đường phía tây từ Thạch Bàn đến Bù Gia Mập dài 873 km đã thông xe; trục đương phía đông từ Thạch Bàn tới Giàng (Quảng Nam) dài 336 km, Hướng Hóa, Bản Đông - Mường Phìn dài 104 km, Xanavan - Atôpơ dài 320 km… cũng được hoàn thành vào đầu năm 1974..


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Ba, 2011, 10:53:03 AM
Vừa khẩn trương phục hồi và phát triển sản xuất, sửa chữa và mở rộng, tuyến đường chiến lược Bắc - Nam, miền Bắc đồng thời tăng sức chi viện cho chiến trường. Trong năm 1973, theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ đã yêu cầu các ngành, các địa phương hy động sức người, sức của, gấp rút thực hiện kế hoạch vận tải đột xuất cho chiến trường miền Nam. Sau 10 tháng thực hiện nhiệm vụ, đến tháng 9-1973, hậu phương lớn miền Bắc đã đưa vào chiến trường miền Nam 140.000 tấn hàng, nhiều gấp 4 lần năm 1972. Trong số các mặt hàng này, có 80.000 tấn hàng quân sự và 10.000 tấn hàng dự trữ (chủ yếu là vũ khí). Bên cạnh đó, nửa đầu năm 1973, hơn 10 vạn cán bộ, chiến sĩ cùng nhiều sư đoàn, trung đoàn pháo binh, xe tăng, xe thiết giáp từ miền Bắc hành quân vào Nam, bổ sung cho chiến trường. Sự chi viện hiệu quả của hậu phương góp phần tăng cường thế và lực cho cách mạng miền Nam. Chỉ riêng lực lượng vũ trang, đến cuối năm 1972, khối chủ lực đã lên tới 310.000 cán bộ, chiến sĩ gồm 10 sư đoàn, 24 trung đoàn và 100 tiểu đoàn. Các sư đoàn chủ lực đều được biên chế đầy đủ số quân và trang bị(1). Quân ủy Trung ương, tại cuộc họp đoàn thể ngày 15-3-1974, nhận định: “So sánh tình hình địch, ta qua năm 1973, càng thấy rõ thế và lực cách mạng miền Nam đã tạo nên những chỗ mạnh rất cơ bản, đang trên đà phát triển, có đầy đủ điều kiện và khả năng tiến lên vững chắc”. Quân ủy Trung ương đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ quân sự cụ thể. Theo đó, trên chiến trường miền Nam, các đơn vị chủ lực Quân giải phóng vừa đánh, vừa xây dựng, từng bước nâng cao khả năng đánh tiêu diệt lớn, vừa đánh, vừa theo dõi phản ứng của địch để kịp thời có biện pháp đối phó. Ở miền Bắc, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, củng cố nền quốc phòng, tăng cường sức mạnh lực lượng vũ trang, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu của địch(2).

Ngay sau hội nghị Quân ủy Trung ương, các cơ quan của Bộ Tổng tham mưu khẩn trương triển khai nghiên cứu kế hoạch tác chiến hợp đồng binh chủng hợp thành, xây dựng và huấn luyện các binh chủng kỹ thuật, tổ chức kế hoạch bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho toàn quân(3). Theo đề nghị của Quân ủy Trung ương, Chính phủ và Bộ Quốc phòng, tháng 10-1973, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định việc thành lập các quân đoàn chủ lực nhằm đáp ứng yêu cầu tất yếu của cuộc chiến tranh trong giai đoạn cuối cùng.

Trên miền Bắc, ngày 14-10-1973, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 124/QF - QĐ, thành lập Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng. Đây là binh đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Quân đoàn được biên chế sư đoàn bộ binh: Sư đoàn 308, Sư đoàn 312 và Sư đoàn 320B, Sư đoàn phòng không 367, Lữ đoàn xe tăng 202, Lữ đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn công binh 299. Trung đoàn thông tin 240, các đơn vị binh chủng và cơ quan. Hầu hết các đơn vị đứng chân trong đội hình quân đoàn đều là những đơn vị có nhiều kinh nghiệm chiến đấu, trong đó có những đơn vị được thành lập ngay từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống thực dân pháp. Do đây là binh đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta, nên bộ đã cử những cán bộ lãnh đạo, chỉ huy cao cấp quân đội có kinh nghiệm tác chiến lâu năm như Thiếu tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng, Thiếu tướng Lê Quang Hòa - Phó Chủ niệm Chính trị làm Tư lệnh và Chính ủy đầu tiên của quân đoàn. Dãy núi Tam Điệp - vùng tiếp giáp giữa hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh Bình là nơi đứng chân của quân đoàn trong những ngày đầu mới thành lập.

Ở miền Nam, ngày 17-5-1974, tại khu vực Ba Lòng, Quân đoàn 2 mang tên Binh đoàn Hương Giang được thành lập(4). Quân đoàn gồm 3 sư đoàn bộ binh: Sư đoàn 304, Sư đoàn 325 và Sư đoàn 324; và các đơn vị binh chủng: Sư đoàn phòng không 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn thông tin 463 - Thiếu tướng Hoàng Văn Thái được cử làm Tư lệnh và Thiếu tướng Lê Linh được cử làm Chính ủy đầu triên của quân đoàn. Đây là binh đoàn chủ lực thứ hai của quân đội ta, thành lập ngay trên chiến trường. Căn cứ Ba Lòng (bên dòng sông Thạch Hãn) là nơi đứng chân của quân đoàn.

Tại miền Đông Nam Bộ, ngày 20-7-1974, Quân đoàn 4 mang tên Binh đoàn Cửu Long ra đời. Đồng chí Hoàng Cầm và đồng chí Hoàng Thế Thiện được cử làm Tư lệnh và Chính ủy đầu tiên của quân đoàn. Đứng chân trong đội hình Quân đoàn 4 gồm Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Trung đoàn pháo binh 24, Trung đoàn phòng không 71, Trung đoàn đặc công 249, Trung đoàn thông tin 69… Quân đoàn 4 đứng chân trên địa bàn chiến lược trọng yếu, ấp sát Sài Gòn - Gia Định làm quả đấm chủ lực mạnh, có sức uy hiếp trực tiếp trung tâm đầu não của chế độ Sài Gòn.

Sự ra đời của các quân đoàn ở cả hậu phương và ngay tại chiến trường đánh dấu bước trưởng thành và sự lớn mạnh của quân đội ta, đáp ứng đòi hỏi của giai đoạn kết thức chiến tranh; sử dụng những binh đoàn lớn, có sức cơ động cao, tác chiến hợp đồng binh chủng để thực hiện những trận quyết chiến chiến lược, tạo tiền đề tiến lên giải phóng miền Nam.


(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Tập II, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 458.
(2) Dẫn theo Viện Mác - Lênin - Viện Lịch sử Đảng: Những sự kiện lịch sử Đảng, Tập III Về kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, 1954-1975, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1985, tr. 710, 711.
(3) Ngày 5-4-1974, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết số 39 QUTƯ, thành lập Tổng cục Kỹ thuật trực thuộc Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ giúp Bộ Quốc phòng chỉ đạo công tác bảo đảm và quản lý trang bị, bảo đảm kỹ thuật trong toàn quân… Đồng chí Đinh Đức Thiện được cử giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục (Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần kiêm chức); các đồng chí Trần Sâm, Trần Đại Nghĩa, Vũ Văn Đôn, Nguyễn Văn Tiên giữ chức Phỏ Chủ nhiệm Tổng cục. Hơn 3 tháng sau, ngày 23-7-1974, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 18/QP-QĐ, thành lập Học viện Hậu cần trực thuộc Bộ Quốc phòng, trên cơ sở trường sĩ qnan hậu cần; có nhiệm vụ đào tạo, bổ thúc về công tác hậu cần cho cán bộ sơ cấp, trung cấp và cao cấp của ba quân chủng và ba thứ quân. Đồng chí Đại tá Hoàng Kiện được cử giữ chức Giám đốc; đồng chí Đại tá Trần Huy giữ chức Chính ủy.
(4) Quyết định số 67/QF - QP của Bộ Quốc phòng.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Ba, 2011, 10:54:59 AM
Lúc này, việc củng cố, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang trên hai miền Nam, Bắc, đặc biệt là các sư đoàn, trung đoàn chủ lực trực thuộc quân khu và bộ được đặt ra rất khẩn trương.

Ở Tây Nguyên, khối chủ lực của ta có 2 sư đoàn bộ binh (10 và 320A), 2 trung đoàn bộ binh (95 và25), 2 trung đoàn pháo binh (40 và 675), 2 trung đoàn phòng không (272 và 232), Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng 273, 2 trung đoàn công binh (7 và 545), Trung đoàn thông tin 29… Từ giữa năm 1974, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định xây dựng các đơn vị chủ lực theo hướng tập trung thành binh đoàn tác chiến hợp đồng binh chủng quy mô lớn. Các đơn vị khẩn trương được chấn chỉnh, sắp xếp lại tổ chức, biên chế, bổ sung thêm quân số và vũ khí, trang bị, thực sự trở thành khối chủ lực mạnh đứng chân trên địa bàn chiến lược trọng yếu, tạo thế trực tiếp uy hiếp Quân khu 2 - Quân đoàn 2 Sài Gòn.

Khối chủ lực Quân khu Trị - Thiên bao gồm 3 trung đoàn bộ binh là Trung đoàn 6, Trung đoàn 4 và Trung đoàn 271 cùng một số đơn vị binh chủng khác. Các Sư đoàn 2, Sư đoàn 3 chủ lực của Quân khu 5, mỗi sư đoàn được biên chế 3 trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo binh cùng một số tiểu đoàn binh chủng khác. Ngoài ra, Quân khu 5 còn được biên chế Trung đoàn pháo cao xạ 573, hai trung đoàn công binh 83 và 270. Khối chủ lực ở các Quân khu 6, Quân khu 8 và Quân khu 9 cũng được củng cố, kiện toàn nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới.

Trên miền Bắc, Sư đoàn bộ binh 316, sau một thời gian làm nhiệm vụ quốc tế ở chiến trường Lào, đã được bộ điều động về đứng chân tại miền tây Nghệ An, Hà Tĩnh để củng cố và bổ sung lực lượng. Sư đoàn bộ binh 341 chuyển toàn bộ khung huấn luyện quân tăng cường cho cho chiến trường sang sư đoàn cơ động có đủ quân số và trang bị theo biên chế, đứng chân ở nam Quân khu 4. Hai sư đoàn này thuộc lực lượng dự bị cơ động chiến lược của bộ(1).

Cùng với sự phát triển của lực lượng bộ binh, các binh chủng, quân chủng cũng phát triển nhanh, đồng bộ, theo hướng tác chiến hợp đồng binh chủng quy mô lớn.

Binh chủng Pháo binh được tổ chức ở 3 cấp: pháo binh thuộc lực lượng dự bị chiến lược của bộ, pháo binh của các quân khu, quân đoàn và pháo binh của các sư đoàn, tỉnh đội. Ở cấp sư đoàn, cuối năm 1972, quân đội ta mới chỉ có 2 sư đoàn được trang bị pháo là Sư đoàn 308 và Sư đoàn 304, mỗi sư đoàn biên chế 1 trung đoàn pháo binh. Đến cuối năm 1974, toàn quân đã có 6 lữ đoàn, 28 trung đoàn, 17 tiểu đoàn, 6 đại đội pháo binh chủ lực, 98 đại đội, 15 trung đội, 52 khẩu đội pháo địa phương. 16 sư đoàn bộ binh được trang bị pháo binh. Ở chiến trường miền Nam, lực lượng pháo binh có 3 lữ đoàn, 21 trung đoàn, 21 tiểu đoàn, 91 đại đội được trang bị 1.176 khẩu pháo các loại(2).

Binh chủng Tăng - Thiết giáp tổ chức lực lượng thành 4 lữ đoàn (gồm 2 lữ đoàn dự bị thuộc Bộ Tư lệnh, 1 lữ đoàn thuộc Quân đoàn 1 là Lữ đoàn 202, 1 lữ đoàn thuộc Quân đoàn 2 là Lữ đoàn 203), hai trung đoàn thuộc Mặt trận Tây Nguyên, Quân khu 5 và một đoàn xe tăng thuộc Bộ Tư lệnh Miền.

Binh chủng Đặc công tổ chức thêm các tiểu đoàn cơ động thuộc Bộ Tư lệnh binh chủng và các trung đoàn, tiểu đoàn phân bổ đều khắp trên các chiến trường. Thuộc Bộ Tư lệnh Miền có 6 trung đoàn, riêng nội thành Sài Gòn và vùng ven đô có 1 trung đoàn (cùng 13 cụm đặc công - biệt động. Mặt trận Tây Nguyên có 1 trung đoàn gồm 5 tiểu đoàn. Quân khu 5 có 3 tiểu đoàn cơ động và 5 tiểu đoàn bám đánh các căn cứ của địch ở Đà Nẵng, Cam Ranh… Quân khu Trị - Thiên có 3 tiểu đoàn và 3 đại đội bám đánh địch ở vủng ven thành phố Huế và căn cứ Phú Bài.

Ngoài những binh chủng trực tiếp chiến đấu trên đây, lực lượng hỗ trợ chiến đấu như Binh chủng Công binh và Binh chủng Thông tin cũng nhanh cóng tăng cường về quân số, trang bị. Binh chủng Công binh phát triển thêm một số trung đoàn công binh chuyên làm đường, làm cầu phà vượt sông, đáp ứng nhiệm vụ mới là mở đường chiến lược, chiến dịch và bảo đảm cơ động. Lực lượng công binh dự bị chiến lược trực thuộc Bộ Quốc phòng có 5 trung đoàn cầu đường và vượt sông. Lực lượng công binh thuộc các quân khu, quân đoàn và Bộ Tư lệnh 559 được tổ chức tới cấp lữ đoàn, trung đoàn. Binh chủng Thông tin chú trọng xây dựng cả 3 mạng vô tuyến, hữu tuyến và quân bưu, đặc biệt là tuyến đường dây trần mang tên Thống nhất từ Hà Nội vào đến chiến trường Đông Nam Bộ, cùng hệ thống vô tuyến hỗ trợ tiếp sức. Lực lượng thông tin trực thuộc Bộ Quốc phòng và các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng đến các chiến trường được tăng cường.

Quân chủng Phòng không - Không quân và Quân chủng Hải quân là hai lực lượng chính, có nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn vùng trời và vùng biển hậu phương miền Bắc. Vì thế, lực lượng và vũ khí, trang bị của hai lực lượng này không những được kiện toàn mà còn được hiện đại hóa, nâng cao khả năng tác chiến cũng như khả năng bảo vệ các yếu địa. Trong giai đoạn này, Quân chủng Phòng không - Không quân thực hiện bước điều chỉnh lại lực lượng về thế trận phòng không nhân dân trên phạm vi toàn miền Bắc, chuyển giao một sư đoàn cùng một nửa số trung đoàn cao xạ của quân chủng cho các quân đoàn mới thành lập và cho các chiến trường. Trên miền Bắc, lực lượng không quân giữ nguyên biên chế và tổ chức thành các trung đoàn không quân vận tải và không quân tiêm kích, trang bị máy bay chiến đấu thế hệ mới như MIG 17, MIG 19, MIG 21. Các đơn vị này được bố trí tại các sân bay Kép, Nội Bài, Gia Lâm, Hòa Lạc… Những đơn vị phòng không chiến lược trực thuộc bộ này vẫn đứng chân trên miền Bắc, Sư đoàn không quân 371 đứng chân ở Thái Nguyên, các sư đoàn phòng không 361, 363 và 375 bố trí ở các vị trí trọng yếu xung quanh Hà Nội.

Trong thời gian này, Quân chủng Hải quân cũng tiến hành củng cố, kiện toàn và bố trí lại lực lượng của mình trên các khu vực phòng ngự và vùng hải quân trực thuộc. Trung đoàn 172 được giao nhiệm vụ tuần tra, tuần tiễu từ bắc Vĩnh Linh ra tới vùng biển Đông Bắc (Hải Phòng, Quảng Ninh). Vùng biển ngoài khơi xa, quân chủng giao cho các Trung đoàn 121, 128 và 171 đảm nhiệm; các trung đoàn này vừa làm nhiệm vụ vận tải, đánh cá, vừa tuần tra, theo dõi và nắm bắt tình hình hoạt động của địch.

Cùng với việc tập trung xây dựng khối chủ lực cơ động dự bị chiến lược và lực lượng các quân khu, quân đoàn, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề ra những biện pháp nhằm phát triển lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích. Đây là đòi hỏi khác quan của chiến trường, bởi sau nhiều năm chiến đấu liên tục, nhất là trong năm 1972, lực lượng vũ trang địa phương chịu tổn thất lớn, trong lúc khả năng hồi phục chậm, do địch thường xuyên tiến hành các hoạt động bình định, giành dân và bắt lính… Tuy có nỗ lực nhưng trong những năm 1973-1974, công tác xây dựng lực lượng vũ trang địa phương chỉ đạt 30% kế hoạch đặt ra. Đến cuối năm 1974, lực lượng bộ đội địa phương ở miền Nam chỉ đạt 56.000 người và số lượng dân quân, du kích ở cấp xã, ấp cũng chỉ đạt 140.000 người.


(1) Tháng 3-1975, Sư đoàn bộ binh 341 đứng chân trong đội hình Quân đoàn 4. Ngày 26-3-1975, Sư đoàn bộ binh 316 đứng trong đội hình Quân đoàn 3.
(2) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Sđd, tr. 467.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Ba, 2011, 10:57:21 AM
Đối với công tác chi viện chiến trường, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21 xác định: Nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là phải xây dựng, phát triển và hoàn thiện hệ thống giao thông vận tải chiến lược, bảo vệ hành lang, kho tàng, dự trữ lương thực, vũ khí, trang bị, kỹ thuật, quân trang, quân dụng, bảo đảm chi viện đầy đủ hậu cần cho các lực lượng vũ trang trên chiến trường miền Nam.

Nhằm phục vụ nhu cầu tác chiến bằng lực lượng cơ giới và đánh lớn vào cuối năm 1974, việc cung cấp và vận chuyển xăng dầu cung cấp cho các binh đoàn cơ giới được đặt lên hàng đầu. Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 25-7-1974, Viện kỹ thuật xăng dầu trực thuộc Cục Xăng dầu được thành lập do Thiếu tá Trần Xanh làm Viện trưởng. Cùng với việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, chấn chỉnh lại tổ chức, Cục Xăng dầu khẩn trương mở các lớp đào tạo lại đội ngũ cán bộ công nhân viên, nâng cao năng lực tổ chức quản lý nhằm đáp ứng nhu cầu của tình hình mới, đặc biệt là nhiệm vụ xây dựng hệ thống đường ống dẫn dầu từ hậu phương lớn miền Bắc vào các chiến trường. Dọc theo tuyến vận tải và đường ống dẫn xăng dầu có chiều dài 1.700 km với 101 trạm bơm, trong đó có 1.300 km đường ống mới xây dựng trong hai năm 1973-1974. Vượt qua mọi khó khăn về điều kiện địa hình, thời tiết và kỹ thuật, trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, bộ đội xăng dầu đã xây dựng được hệ thống đường ống dẫn dầu vượt qua độ cao hàng nghìn mét so với mặt nước biển, trong đó có nhiều đoạn gấp khúc, tạo mặt bằng đặt máy bơm ở sườn đồi dốc đứng, v.v… Ở phía đông Trường Sơn, do địa hình hiểm trở, dốc cao, vực sâu, địa chất chủ yếu là đá vôi nên việc vận chuyển, xây dựng hệ thống đường ống gặp rất nhiều khó khăn. Với quyết tâm và sự nỗ lực cao của bộ đội xăng dầu, đến tháng 10-1974, hai tuyến đường ống phía đông và phía tây Trường Sơn ngày càng vươn xa vào phía nam và đã gặp nhau ở Plây Khốc - vùng ba biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia. Được sự chi viện to lớn, hiệu quả của hậu phương miền Bắc và sự hỗ trợ, giúp đỡ của các lực lượng trên tuyến vận tải chiến lược, bộ đội xăng dầu Trường Sơn đã xây dựng được một hệ thống đường ống dẫn xăng dầu hoàn chỉnh, liên hoàn, cả ở phía đông và tây Trường Sơn, nối liền hậu phương lớn với các chiến trường miền Nam dài gần 1.400 km, cùng 50 kho chứa lớn, nhỏ, trữ lượng 27.000 m3, 118 trạm bơm có sức đẩy hơn 700m3 một ngày đêm. Toàn tuyến ống chia thành 14 cung vận hành nối tiếp nhau; mỗi dung do 1 tiểu đoàn phụ trách. Trong những năm 1973 và 1974, việc đảm bảo xăng dầu trên tuyến vận tải Trương Sơn đạt 92,7%; cuối năm 1974 đầu năm 1975, đạt 100% kế hoạch đề ra. Tháng 11-1974, bộ đội xăng dầu đã tổ chức cấp phát xăng tại bắc Kon Tum và cuối tháng 1-1974 cấp phát ở Búp Răng - miền Đông Nam Bộ.

Tuyến giao liên hành quân và vận chuyển thương binh vào cuối năm 1974 chuyển dần sang vận chuyển cơ giới, bộ đội và các lực lượng hành quân vào chiến trường cùng thương binh, bệnh binh từ chiến trường ra hậu phương đều đi bằng ôtô. Tuyến giao liên đông Trường Sơn dài hơn 1.000 km tổ chức thành 10 trạm, với 10 cung xe bảo đảm hành quân tới các chiến trường Trị - thiên, Khu 5 và Tây Nguyên. Tuyến phía tây Trường Sơn dài hơn 800 km, tổ chức thành 3 trạm giao liên, với 5 cung xe(1).

Trải qua hơn 15 xây dựng, mở rộng và hoàn thiện, từ lối mòn cho người đi bộ gùi thồ là chính của buổi ban đầu, đến nay, trên tuyến vận chuyển chiến lược Trường Sơn, từng đoàn xe nối đuổi nhau đưa sức người, sức của từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Đường mòn Hồ Chí Minh không chỉ là con đường vận tải, mà nó đã trở thành con đường của nghĩa tình, của niềm tin chiến thắng và là sợi chỉ đỏ kết nối nghĩa tình của hậu phương lớn miền Bắc với tiền tuyến lớn miền Nam: đó còn là điều kiện nổi bật của tinh thần đoàn kết chiến đấu gắn bó keo sơn giữa ba dân tộc sinh tụ trên bán đảo Đông Dương - Việt Nam - Lào - Campuchia. Con đường còn là biểu tượng sinh động của sự ủng hộ, giúp đỡ chí nghĩa chí tình của các nước xã hội chủ nghĩa anh em như: Liên Xô, Trung Quốc, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc. Đặc biệt, Cuba - đất nước đang trong hoàn cảnh bị Mỹ và phương Tây cấm vận toàn diện, nhưng lãnh đạo và nhân dân Cuba vẫn luôn quan tâm sâu sắc và dành cho nhân dân Việt Nam sự ủng hộ và giúp đỡ đầy ý nghĩa. Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đồng chí Phiđen Cátxtơrô - lãnh tụ của nhân dân Cuba, đã không quản gian khổ, hiểm nguy, đến thăm Đông Hà. Thành cổ và Khe Sanh của tỉnh Quảng Trị khi vùng đất này vừa giải phóng. Tại Đông Hà, nói chuyện với quân và dân địa phương, đồng chí ca ngợi chiến thắng lừng lẫy của nhân dân Việt Nam, đặc biệt là của quân và dân Quảng Trị. Kết thúc chuyến thăm vùng giải phóng Quảng Trị trở về Hà Nội, Chủ tịch Phiđen Cátxtơrô đã chân thành nói với đồng chí Phạm Văn Đồng - Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Nếu Chính phủ Việt Nam đồng ý, Cuba xin tặng đường Hồ Chí Minh 6 triệu đôla bằng hiện vật làm đường (đồng bộ các máy công cụ làm đường do Nhật Bản sản xuất). Thủ tướng Phạm Văn Đồng xúc động cảm ơn sự ủng hộ, giúp đỡ chân tình của Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba anh em. Ngay sau chuyến thăm của Chủ tịch Phiđen Cátxtơrô, Chính phủ Cuba đã cử một đoàn chuyên gia gồm 23 kỹ sư và chuyên gia về cầu đường sang giúp Việt Nam. Chuyến tàu chở hàng viện trợ đặc biệt của Cuba vượt đại dương và cập cảng Hải Phòng an toàn. Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã cử người tiếp nhận 1.040 xe máy công binh, trong đó có 221 máy xúc, 632 xe ben, 51 xe lu, 99 máy ép hơi và 37 máy nghiền đá.

Gần 2 năm sau Hiệp định Pari, với khí thế cách mạng tiến công, nhân dân ta trên hậu phương miền Bắc đã khẩn trương hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Trên cơ sở phục hội mạnh mẽ đó, miền Bắc đã động viên to lớn sức người, sức của cho cách mang miền Nam, cách mạng Lào và Campuchia. Được sự chi viện to lớn, toàn diện, mạnh mẽ của hậu phương miền Bắc, lực lượng vũ trang ba thứ quân ở miền Nam nhanh chóng tăng cường về mọi mặt; các quân đoàn chủ lực cơ động được thành lập, đứng chân trên những địa bàn trọng yếu; thế trận chiến lược của cách mạng miền Nam có bước tiến vững chắc. Đó là điều kiện đảm bảo để bộ não lãnh đạo cách mạng Việt Nam hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam, hoàn thành thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


(1) Bộ Quốc phòng - Tổng cục Hậu cần: Lịch sử hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam, t.2 (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 499-506.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 06:43:33 AM
III - CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢC
VÀ KẾ HOẠCH GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, đặc biệt là từ cuối năm 1973 trở đi, đang trên đà phát triển toàn diện, mạnh mẽ; quân đội Sài Gòn ngày càng bị đẩy vào thế phòng thủ bị động, tinh thần binh lính, sĩ quan sa sút nhanh chóng; mâu thuẫn trong chính quyền Sài Gòn thêm gay gắt.

Sau những kết quả tạm thời về lấn đất, giành dân, cải thiện thế phòng ngự, hỗ trợ cho kế hoạch bình định, tư giữa năm 1973, trước những đòn phản công và tiến công kiên quyết, liên tục, ngày càng mạnh của quân và dân ta trên khắp chiến trường, hoạt động quân sự của địch bị chững lại, nhiều nơi địch buộc phải rút bỏ hoặc không chiếm lại được…

Bước sang năm 1974, địch đẩy mạnh hoạt động quân sự nhưng chủ yếu nhằm đối phó với các cuộc tiến công của ta, tập trung vào những vùng trọng điểm như Trị - Thiên, đồng bằng Khu 5, Kon Tum, Plâycu, xung quanh Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long… Từ giữa năm 1974 trở đi, quân độ Sài Gòn hầu như không còn tiến hành được các cuộc hành quân lấn chiếm nào quy mô đáng kể. Hơn nữa, sau những chiến thắng của chủ lực Quân giải phóng ở Thượng Đức, Minh Long, Tánh Linh, Măng Đen, Giá Vụt, Đắc Pét, Ya Súp, Măng Búc… quân đội Sài Gòn thậm chí đã không còn có thể tái chiếm những vùng vừa bị mất; phần lớn các hoạt động nặng về chống đỡ, mang tính chất phòng ngự hòng duy trì và giữ vững những vùng thuộc quyền kiểm soát của chúng.

Tuy được Mỹ trao lại vũ khí, trang bị và toàn bộ hệ thống căn cứ quân sự Mỹ sau khi quân Mỹ rút; cộng với số vũ khí và phương tiện chiến tranh mà Mỹ tuồn vào trước ngày ký kết Hiệp định Pari, đảm bảo cho quân đội Sài Gòn một khối lượng dự trữ chiến tranh(1), nhưng việc viện trợ quân sự, kinh tế Mỹ dành cho Sài Gòn giảm mạnh, khiến cho tinh thần và khả năng chiếm đấu của quân đội ngày càng thêm sa sút; kế hoạch hiện đại hóa quân đội không thực hiện được. Cho dù trong năm 1973, số lượng quân đội Sài Gòn tăng lên; trong đó, chủ lực tăng từ 650.000 (1-1973) lên tới 710.000 (12-1973), nhưng đến năm 1974 quân số bổ sung cho đội quân này bị giảm tới 15%, khả năng tuyển lính giảm tới 21% đối với lực lượng chủ lực. Đồng thời, nguồn dự trữ chiến lược ngày càng vơi cạn do bị tiêu hao nhiều trong chiến đấu nhưng không được bổ sung khiến quân Nguyễn Văn Thiệu đã phải lệnh cho các đơn vị “đánh theo kiểu con nhà nghèo”(1).

Trước sức tiến công liên tục, rộng khắp của quân và dân ta trên khắp chiến trường, địch tiếp tục lùi dần vào thế phòng ngự, lực lượng quân đội Sài Gòn bị căng ra, bị phân tán, bộc lộ nhiều chỗ yếu và sơ hở.

Thất bại trên chiến trường, cộng với nguồn viện trợ kinh tế, quân sự của Mỹ giảm khiến cho sự khủng hoảng kinh tế - xã hội của chế độ Sài Gòn ngày càng trầm trọng. Lạm phát gia tăng. Cuối năm 1974, giá cả ở vùng kiểm soát của chế độ Sài Gòn, đặc biệt ở vùng đô thị tăng 300%, trong khi lượng của viên chức, binh sĩ chỉ tăng 30%. Hàng triệu người thất nghiệp. Hàng chục vạn gia đình thiếu đói. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp xã hội với chính quyền Sài Gòn và mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trở nên rất gay gắt. Để xoa dịu tình hình, dưới sức ép của Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải bãi nhiệm 4 thành viên trong chính phủ, cách chức 400 sĩ quan cấp tướng, và thuyên chuyển 3 tư lệnh quân khu…

Sau những thắng lợi quan trong cả về quân sự, chính trị từ nửa sau năm 1973, so sánh lực lượng và thế bố trí chiến lược của cách mạng miền Nam chuyển biến tích cực. Trong năm 1974, các chiến trường đẩy mạnh các hoạt động tiến công và phản công, giành những kết quả quan trọng về tiêu diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh, giành đất, giành dân, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Các binh đoàn chủ lực được tổ chức, đứng chân trên những địa bàn chiến lược Đông Nam Bộ, Trị - Thiên, Tây Nguyên. Mạng đường chiến lược nhanh chóng được mở rộng và kéo dài, đáp ứng vận chuyển chi viện từ miền Bắc vào miền Nam và tới các chiến trường, các mặt trận. Hệ thống đường ống xăng dầu vươn sâu tới miền Đông Nam Bộ.


(1) Đến cuối năm 1973, dự trữ chiến tranh của quân đội Sài Gòn đạt tới 1.930.000 tấn, gồm 348.000 tấn đạn, 710.000 tấn xăng dầu, 690.000 tấn các loại phương tiện chiến tranh khác. So với năm 1972, đến năm 1974, hỏa lực quân đội Sài Gòn giảm tới 60%, sức cơ động giản 50%, giờ bay của không quân giảm 34% (so với năm 1973), khả năng vận chuyển của hải quân chỉ còn 1/3…
(2) Trước tình thế quẫn bách, tháng 6-1974, Nguyễn Văn Thiệu kêu gọi quân đội “đánh theo kiểu con nhà nghèo” và đưa ra 4 biện pháp: giảm quân số, hạn chế sử dụng phương tiện cơ động, tiết kiệm vật liệu và tài nguyên, quân đội tham gia làm kinh tế.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 06:48:33 AM
Trên miền Bắc, công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định tình hình kinh tế và đời sống nhân dân, củng cố quốc phòng - an ninh, thu được những kết quả quan trọng. Kết quả ấy thể hiện nổi bật sức sống mãnh liệt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đánh dấu những cố gắng lớn lao và khả năng tiềm tàng to lớn của quân dân ta, tạo cơ sở để chúng ta tiếp tục tiến lên trong những năm tới(2).

Trong khi đó, cách mạng Lào và Campuchia đang trên đà phát triển và thu được những thắng lợi quan trọng.

Theo dõi diễn biến tình hình trên chiến trường, trong nước và trên thế gới; nhận rõ âm mưu và hành động phá hoại của chiến quyền, quân đội Sài Gòn, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 khẳng định con đường phát triển của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng; tư tưởng chỉ đạo là nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công, phương hướng chiến lược của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là phải mạnh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao để buộc địch thi hành Hiệp định, đồng thời “chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho trường hợp phải tiến hành chiến tranh cách mạng trên khắp chiến trường miền Nam để giành thắng lợi hoàn toàn”(2).

Sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21, các cơ quan chiến lược tập trung giúp Quân ủy Trung ương chuẩn bị chủ trương và những giải pháp lớn về quân sự(3) mà trọng tâm là xây dựng Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam.

Để giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh khởi thảo kế hoạch chiến lược trình Bộ Chính trị, ngay từ tháng 4-1973, một tổ chức mang tên Tổ trung tâm được lập ra, bao gồm các đồng chí: Vũ Lăng - Cục trưởng Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu và các đồng chí Phó Cục trưởng Võ Quang Hồ, Lê Hữu Đức, do đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng trực tiếp phụ trách.

Trong vòng một năm (từ tháng 4-1973 đến tháng 5-1974), kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam được soạn thảo, chỉnh lý, bổ sung qua nhiều lần. Đó là cả một quá trình nắm bắt kịp thời mọi diễn biến chiến trường, trong nước và trên thế giới trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới cuộc chiến tranh; là quá trình bàn bạc, tính toán, cân nhắc, chọn lựa các giải pháp giữa cơ quan chỉ đạo chiến lược với lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường. Trong suốt quá trình đó, nhiều vấn đề lớn được đặt ra, đòi hỏi bộ não chỉ đạo cách mạng Việt Nam phải tập trung suy nghĩ: “Làm thế nào để tạo được thời cơ. Cần làm gì để chớp thời cơ, không được để lỡ? Hướng chiến lược là đâu? Đánh như thế nào để tiêu diệt chiến đoàn và sư đoàn quân ngụy?”(4). Khả năng can thiệp hoặc trở lại của Mỹ nếu ta đánh lớn?…

Trên những vấn đề này, Quân ủy Trung ương và Tổng hành dinh đã có nhiều cuộc họp bàn, đặc biệt là vấn đề chọn hướng tiến công chiến lược. Theo ý kiến của các đồng chí soạn thảo kế hoạch chiến lược và một số đồng chí trong Quân ủy Trung ương, nếu ta đánh Tây Nguyên sẽ gây chấn động lớn, địch sẽ tập trung lực lượng phòng giữ Sài Gòn và và đồng bằng Nam Bộ và chính điều đó khiến cho ta gặp khó khăn sau này. Do vậy, những người ủng hộ ý kiến đây cho rằng, nên chọn đồng bằng Nam Bộ là hướng tiến công chính, còn đối với Tây Nguyên chỉ nên đánh mục tiêu Đức Lập nhằm mục đích khai thông đường cơ động chiến lược vào đồng bằng Nam Bộ. Khác với ý kiến trên đây, một số đồn chí cho rằng, nên chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chính, bởi đây là địa bàn thuận lợi để ta thực hiện ý định đánh tiêu diệt quân địch, tạo bước ngoặt thay đổi cục diện chiến tranh. Các đồng chí Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, cùng Tổ trung tâm được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ tiếp tục suy nghĩ, phân tích, đánh giá thêm về thế và lực của cả ta và địch trên từng chiến trường làm cơ sở cho việc hạ quyết tâm chiến lược chính xác khi thời cơ đến.

Tiếp sau những cuộc trao đổi, thảo luận, bản dự thảo kế hoạch chiến lược đã được Tổ trung tâm chỉnh lý, bổ sung lần thứ năm với tên gọi Kế hoạch giành thắng lợi ở miền Nam sau vài ba lần thay đổi so sánh lực lượng, mang số 133/TG1, hoàn thành vào ngày 16-5-1974.



(1)  Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr. 278.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.34, tr. 278, 239.
(3) Sau khi có Nghị quyết 21, các cơ quan chiến lược khẩn trương triển khai các nội dung vừa cơ bản, vừa cấp bách, như: hình thành kế hoạch chiến lược chung và kế hoạch tác chiến cho từng chiến trường; tổ chức huấn luyện các binh đoàn dự bị chiến lược, các sư đoàn đang bổ sung quân số, trang bị cho các đơn vị trên cả 2 miền, kế hoạch chi viện chiến lược và kế hoạch xây dựng, mở rộng hệ thống đường cơ động chiến lược, chiến dịch…
(4) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Sđd, tr. 109.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 06:50:46 AM
Chuẩn bị cho Hội nghị Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng dự kiến họp vào tháng 9-1974, ngày 21-7-1974, tại khu điều dưỡng cán bộ cấp cao trên bờ biển Đồ Sơn (Hải Phòng), đồng chí Lê Duẩn trực tiếp làm việc với Tổ trung tâm của Bộ Tổng tham mưu, nghe Thượng tướng Hoàng Văn Thái và Trung tuớng Lê Trọng Tấn báo cáo về dự thảo kế hoạch chiến lược. Tại cuộc họp này, đồng chí Lê Duẩn nêu ba vấn đề lớn cần tập trung làm rõ:

1 - Đánh giá tình hình địch - ta;

2 - Phương hướng chiến lược của ta năm 1975 và hai năm sau;

3 - Kế hoạch xây dựng và bảo vệ miền Bắc.

Hai đồng chí Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn báo cáo tóm tắt dự thảo kế hoạch chiến lược, tình hình chính trị, quân sự ở miền Nam, những công việc lớn đang tiến hành, trong đó có việc đánh Thượng Đức ở khu 5; việc vận chuyển chiến lược của Đoàn 559, việc sửa sang, làm mới mạng đường chiến lược, chiến dịch, xây dựng căn cứ hậu cần ở Trị - Thiên, Khu 5, Tây Nguyên và Nam Bộ. Các đồng chí cũng bóa cáo cụ thể kết quả tuyển quân, xây dựng lực lượng, công tác huấn luyện, quân chiến đấu và việc chi viện sức người, sức của cho miền Nam. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Lê Duẩn hỏi kỹ về tình hình các chiến trường, về khả năng chiến đấu hiện tại của quân đội Sài Gòn. Đồng chí Lê Trọng Tấn khi trả lời đồng chí Bí thư thứ nhất, đã dẫn ra cuộc thẩm vấn của ta với viện Đại tá quân đội Sài Gòn Nguyễn Văn Thọ bị ta bắt làm tù binh từ năm 1971 trong chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào. Khi được hỏi về khả năng chiến đấu của quân đội Sài Gòn, Nguyễn Văn Thọ cho rằng: nếu không có hậu cần và vũ khí Mỹ, quân đội Sài Gòn chỉ trụ được 2 năm sau khi quân Mỹ rút khỏi miền Nam.

Trước khi kết thúc buổi làm việc đầu tiên, đồng chí Hoàng Văn Thái trình bày thêm với đồng chí Lê Duẩn về sự cần thiết phải có những đòn quyết định, tài chính những tập đoàn chủ lực lớn của địch để nhanh chóng làm thay đổi dục diện chiến trường, tạo ra bước nhảy vọt về thời cơ.

Sau khi trao đổi với đồng chí Hoàng Văn thái và đồng chí Lê Trọng Tấn về so sánh lực lượng giữa ta và địch sau Hiệp định Pari, đồng chí Bí thư thứ nhất phát biểu về những vấn đề chủ yếu của kế hoạch chiến lược và phân tích những điểm mấu chốt về thời cơ chiến lược, về tình hình thế giới có liên quan đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứ nước của nhân dân ta. Đồng chí nêu rõ vị trí của Việt Nam và Đông Dương trong khu vực Đông Nam Á, một địa bàn chiến lược mà nhiều cường quốc, kể cả các nước lớn ở châu Á đều có tham vọng giành ảnh hưởng. Đồng chí nhận định: một khi Mỹ thua, phải rút quân, nhiều nước sợ Việt Nam thắng và mạnh lên. Các thế lực đế quốc và phản động gặp nhau ở điểm này. Và, mặc dù không che đậy tham vọng của mình, nhưng các nước vẫn chưa sẵn sàng và chưa đủ mạnh. Từ tình hình khu vực và quốc tế đó, đồng chí Bí thư thứ nhất nhấn mạnh nhiệm vụ rất khẩn trương của chúng ta hiện nay là phải tạo thời cơ, chớp thời cơ, thúc đẩy thời cơ để giành thắng lợi hoàn toàn.

Về cách đánh, đồng chí nêu ý kiến để các cơ quan tham mưu chiến lược tiếp tục nghiên cứu, nhằm tìm ra cách giành thắng lợi to nhất nhanh nhất, khiến cho Mỹ trở tay không kịp và các nước khác cũng khó lòng can thiệp. Để làm được việc đó, đồng chí yêu cầu bộ đội chủ lực phải tiến lên tiêu diệt từng sư đoàn địch trong năm 1975, chia cắt lực lượng địch, mở rộng vùng giải phóng sau lưng địch, tạo thế có lợi cho ta. Đồng chí lưu ý, cần đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị, bởi vì phong trào này đang được các yếu tố khác thúc đẩy, nhất là mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ địch. Đồng chí cũng đưa ra nhận định: Sắp tới R. Níchxơn có thể đổ, G. Pho sẽ lên thay, nên ta cần thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân ta tiến lên một bước mới, kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao để tạo thêm thế và lực mới. Cuối cùng, đồng chí cho rằng, cần cố gắng giành được thắng lợi quyết định trong vài ba năm tới.

Lĩnh hội ý kiến chỉ đạo của đồng chí Lê Duẩn, Bộ Tổng tham mưu chỉ đạo Tổ trung tâm tiếp tục nghiên cứu, bàn bạc, hoàn chỉnh đề cương kế hoạch chiến lược, chuẩn bị trình Hội nghị Bộ Chính trị.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 06:56:43 AM
Căn cứ vào thực tế chiến trường, ý kiến chỉ đạo của các đồng chí trong Bộ Chính trị, Bộ Quốc phòng và lắng nghe ý kiến của các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong quân đội trên những cương vị khác nhau, Tổ trung tâm tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh bản đề cương kế hoạch chiến lược; bản đề cương này được hoàn thành ngày 26-8-1974(1), mang tên Kế hoạch giành thắng lợi lớn ở miền Nam. Đề cương chỉ rõ, chiến thắng Thượng Đức có ý nghĩa chiến lược, chứng tỏ thế và lực ta đã hơn hẳn địch; thời cơ lớn của cách mạng miền Nam đã xuất hiện, cho phép ta thực hiện các đòn tiến công chiến lược trên cả ba vùng, trong đó đô thị có tầm quan trọng quyết định, đặc biệt là Sài Gòn - Gia Định và Đà Nẵng; hướng tiến công chủ yếu là Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam dự định thực hiện theo hai bước: bước một, năm 1975, mà cuộc tiến công rộng khắp ba vùng, đánh bại về cơ bản chương trình bình định của địch, diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng chủ lực quân đội Sài Gòn; bước hai, năm 1976, thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa giải phóng hoan toàn miền Nam, hoàn thành sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Vào cuối tháng 8-1974, Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy Miền gửi ra Ban Chấp hành Trung ương và Quân ủy Trung ương bản kế hoạch hoạt động tác chiến mùa khô 1974-1975, với quyết tâm giành thắng lợi quyết định, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976. Hai bản kế hoạch, một do Bộ thống soái tối cao trực tiếp chỉ đạo, hướng dẫn soạn thảo, một được xây dựng ngay trên chiến trường, chứng tỏ cả phía trước và phía sau đều thống nhất quyết tâm giành thắng lợi quyết định trong vài ba năm. Vấn đề còn lại lúc này chính là việc tìm ra phương án hành động tối ưu để giành thắng lợi nhanh nhất, bất ngờ nhất, ít tốn xương máu nhất.

Ngày 10-9-1974, sau khi nghe đồng chí Võ Quang Hồ - Cục phó Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu, báo cáo dự thảo kế hoạch, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn chỉ rõ: “Năm 1975, căng địch ra trên cả chiến trường, đánh tập trung lớn trên từng khu vực. Mở Tây Nguyên là chính, Miền Đông cứ để như vậy, ép Sài Gòn lại, khi có thời cơ sẽ tung thêm 3-4 sư đoàn làm cú khác”(2). Đồng chí khẳng định: Hội nghị Bộ Chính trị sắp tới chủ yếu tập trung bàn về nhiệm vụ năm 1975 và lưu ý rằng lúc này: “chuẩn bị lực lượng là vấn đề lớn nhất”(3). Theo ý kiến đồng chí Lê Duẩn, lực lượng tại chỗ phải đủ mạnh, đồng thời nhanh cóng tăng cường lực lượng chủ lực ở cả hai miền; phải xây dựng lực lượng dự bị chiến lược đủ mạnh, chú trọng công tác chuẩn bị vật chất và đường sá. Trong khi đặt vấn đề thực hiện tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt, đồng chí nhấn mạnh: “Có quyết định là tổng công kích…, đòn quyết định vấn là quân sự. Đòn cơ bản là quân đội”(4).

Ngày 30-9-1974, tại Tổng hành dinh, Bộ Chính trị thảo luận tình hình miền Nam và bản dự thảo kế hoạch chiến lược do Bộ Tổng tham mưu chuẩn bị. Đồng chí Lê Duẩn chủ trì hội nghị. Các đồng chí trong Quân ủy Trung ương và đồng chí Võ Chí Công đang ở Hà Nội được mời tham dự(5).

Hội nghị dành ra hai ngày đầu để nghe Bộ Tổng tham mưu tình bày tình hình miền Nam và kế hoạch tác chiến chiến lược. Đồng chí Hoàng Văn Thái báo cáo về tình hình quân sự, chính trị trong 9 tháng của năm 1974. Báo cáo nêu rõ sự thất bại nghiêm trọng trong kế hoạch bình định, lấn chiếm, sự suy yếu và những khó khăn mới bộc lộ của chính quyền và quân đội Sài Gòn. Theo đó, số lượng các cuộc hành quân lấn chiếm của quân đội Sài Gòn giảm dần, tinh thần binh lính Sài Gòn ngày càng rệu rã, số đào ngũ, rã ngũ tăng gấp 3 lần so với năm 1973. Mặc dù địch đã đưa ra nhiều biện pháp để khắc phục khó khăn, thiếu thốn, để thực hành chiến đấu theo “kiểu con nhà nghèo”, song chúng không thể ngăn được bước suy sụp nhanh chóng cả về tinh thần và lực lượng. Trên thực tế, địch không còn khả năng tổ chức các cuộc hành quân đánh phá tuyến hành lang vận chuyển chiến lược của ta và buộc phải từ bỏ quyền kiểm soát ở một số địa bàn chiến lược thuộc Khu 5, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Nếu Mỹ tiếp tục cắt giảm viện trợ, chính quyền và quân đội Sài Gòn sẽ còn suy yếu nhanh hơn nữa. Lúc này, Mỹ khó có thể đưa quân chiến đấu vào chiến trường miền Nam và cho dù nếu Mỹ sử dụng hỏa lực không quân và hải quân ở mức nào đi chăng nữa thì cũng không thể cứu vãn chính quyền Sài Gòn khỏi sụp đổ.

Về ta, mặc dù phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân đô thị ngày càng thêm mạnh mẽ, vùng giải phóng được củng cố và mở rộng, lực lượng vũ trang, đặc biệt là chủ lực, có những tiến bộ vượt bậc, song trên căc mặt, đặc biệt là lực lượng, vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình mới. Do vậy, phải nhanh chóng nâng cao hơn nữa tình độ tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, đánh địch trong công sự, đánh tiêu diệt lớn. Trong trận Thượng Đức tuy ta giành được thắng lợi, nhưng chưa diệt gọn lực lượng địch ở đây.

Để tăng cường và bổ sung thực lực cho chiến trường, báo cáo đề nghị, cần tuyển thêm 15 vạn tân binh vào cuối năm 1974 và thêm 6 vạn nữa vào đầu năm 1975. So với tổng dân số quốc gia cho đến thời điểm ấy thì việc huy động nguồn lực này là rất cao, song đây là nhu cầu vô cùng cấp thiết, không thể khác được.


(1) Quá trình xây dựng, hoàn chỉnh bản dự thảo kế hoạch chiến lược, Tổ trung tâm tập trung nghiên cứu, thảo luận về vấn đề được cho là khó nhất: xác định hướng tiến công chủ yếu và mục tiêu chủ yếu của chủ lực ta khi thời cơ đến. Theo suy nghĩ và lập luận của nhiều đồng chí thuộc cơ quan tham mưu chiến lược, Buôn Ma Thuột sẽ là mục tiêu chủ yếu. Trong lần giảng bài tại Trường bổ túc quân sự cao cấp về “Chiến dịch tiến công”, Trung tướng Phó Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn đã nêu vấn đề “Nếu chọn Tây Nguyên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu thì mục tiêu đầu tiên ở đây?” để làm tình huống tập bài. Phần lớn học viên thống nhất ý kiến chọn Buôn Ma Thuột (trên hướng nam Tây Nguyên) làm mục tiêu tiến công đầu tiên và chủ yếu; chỉ có một số ý kiến chọn mục tiêu là Kon Tum. Theo ý kiến đa số học viên của lớp học này, nếu chọn đánh vào Buôn Ma Thuột, thị xã lớn nhất của Tây Nguyên và cũng là nơi hiểm yếu, nơi địch có nhiều sơ hở nhất, ta phải làm tốt khâu chuẩn bị chiến trường, hậu cần bảm đảm, bởi vì, trên khu vực này, mạng đường cơ động lực lượng, phương tiện, vũ khí, đạn dược chưa hoàn chỉnh.
(2) Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng: Một số văn kiện chỉ đạo Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 102.
(3), (4) Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng: Một số văn kiện chỉ đạo Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, Sđd, 106, 108.
(5) Hội nghị họp từ ngày 30-9 đến ngày 8-10-1974.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 06:58:01 AM
Tiếp đó, đồng chí Lê Trọng Tấn báo cáo Dự thảo kế hoạch chiến lược quyết tâm hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam trong 2 năm 1975-1976, trong đó tập trung vào kế hoạch chiến lược năm 1975.

Nội dung dự thảo kế hoạch chiến lược 2 năm 1975-1976 gồm hai bước:

Bước 1 (1975): tranh thủ yếu tố bất ngờ, tập trung lực lượng, phương tiện, vũ khí đánh địch trên phạm vi lớn toàn miền Nam.

Bước 2 (1976): thực hiện tổng công kích - tổng khởi nghĩa, giải phóng hoan toàn miền Nam.

Mục tiêu của bước 1 (1975):

- Đánh bại cơ bản kế hoạch bình định của địch; tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng quân chủ lực quân địa phương của chúng, giải phóng và làm chủ phần lớn nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, vùng ngoại ô thành phố Sài Gòn, đồng bằng Khu 5 và Trị - Thiên.

- Mở thông hành lang chiến lược từ nam Tây Nguyên xuống miền Đông Nam Bộ và ba tỉnh phía nam Khu 5; từ Tây Ninh xuống bắc Sài Gòn; từ Kiến Phong - Kiến Tường đến Mỹ Tho. Mở các căn cứ bàn đạp, áp sát các thành phố, thị xã và căn cứ trọng yếu của quân đội Sài Gòn.

- Phá hủy một bộ phận quan trọng phương tiện chiến tranh, vũ khí, trang bị quân sự, tiềm lực kinh tế, phá, cắt giao thông của địch;

- Thúc đẩy phong trào đấu tranh ở đô thị phát triển;

- Xây dựng lực lượng, củng cố vùng giải phóng, chuẩn bị chiến trường, tạo điều kiện cho bước 2.

Bước 1 chia làm ba đợt:

Đợt 1, từ tháng 12-1974 đến tháng 2-1975, là đợt tiến công có mức độ; hoạt động chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam Bộ.

Đơt 2, từ tháng 3 đến tháng 6-1975, là đợt chủ yếu, mở chiến dịch tiến công quy mô lớn trên chiến trường nam Tây Nguyên và các chiến dịch phối hợp ở miền Đông Nam Bộ, bắc Khu 5 và Trị - Thiên; ở đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục tiến công và nổi dậy, mở mảng, mở vùng, đánh phá bình định.

Đợt 3, từ tháng 8 đến tháng 10-1975. Đây là đợt phát triển thắng lợi bằng việc đẩy mạnh hoạt động ở Trị - Thiên, Khu 5, đồng thời chuẩn bị lực lượng, phương tiện, vũ khí sẵn sàng thực hiện phương án thời cơ.

Hướng chiến lược và nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường:

- Trị - Thiên, Quảng Đà là chiến trường đánh phá bình định, tiêu diệt sinh lực, giải phóng đại bộ phận nông thôn, thực hiện chia cắt chiến lược;

- Tây Nguyên (trọng tâm là nam Tây Nguyên) là chiến trường chủ yếu của bộ đội chủ lực nhằm tiêu diệt sinh lực lớn của địch.

- Nam Bộ, gồm đồng bằng sông Cửu Long và vùng ven Sài Gòn là chiến trường chủ yếu đánh phá “bình định”, nhằm hoàn thành thế bao vây và cô lập Sài Gòn.

- Miền Đông là chiến trường của chủ lực, tiêu diệt lực lượng địch, mở mảng, mở vùng, mở hành lang Tây Ninh và phối hợp với Khu 8, mở hành lang Kiến Phong - Kiến Tường, tạo bàn đạp áp sát Sài Gòn - Mỹ Tho.

Thời cơ chiến lược: dự kiến có thể xuất hiện thời cơ trong các tình huống sau:

Một là, khi ta đánh mạnh, nhất là vào đợt 2 năm 1975.

Hai là, ngay trong mùa mưa ở Nam Bộ.

Ba là, những tháng cuối năm 1975, khi chính quyền Sài Gòn tổ chức bầu cử tổng thống.

Về phương châm hành động: kiềm chế Mỹ, đánh đổ chính quyền, quân đội Sài Gòn, hạn chế chiến tranh ở phạm vi chiến trường miền Nam, đồng thời sẵn sàng đối phó với những hành động phản ứng quyết liệt của Mỹ bằng không quân, hải quân, thậm chí bằng quân “cứu hỏa”.

Bên cạnh những nội dung cơ bản trên đây, Dự thảo kế hoạch chiến lược cũng đề cập tới các vấn đề quan trọng khác như kế hoạch hậu cần chiến lược đảm bảo cho việc thực hiện kế hoạch tác chiến chiến lược và những mục tiêu cần đạt tới, trước hết là trong năm 1975; khả năng tái can thiệp của Mỹ khi ta đánh lớn; khả năng nổi dậy của quần chúng, nhất là ở Sài Gòn - Gia Định…


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 07:04:10 AM
Sau khi nghe báo cáo của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Chính trị tập trung thảo luận những nội dung quan trọng liên quan tới quyết tâm chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam: về đánh giá tình hình, về so sánh lực lượng, về thời cơ chiến lược, về khả năng can thiệp của đế quốc Mỹ.

Bộ Chính trị cho rằng, hiện nay, ta đã mạnh hơn hẳn địch; với tương quan lực lượng so sánh như vậy, thì Mỹ dù có can thiệp đến mức nào, cũng không cứu vãn nổi sự sụp đổ của quân đội và chính quyền Sài Gòn. Do vậy, về kế hoạch chiến lược, Bộ chính trị nhận định, 2 năm 1975 và 1976 đều có vị trí quan trọng, nhưng năm 1975 là năm bản lề - tạo điều kiện cho năm 1976 giành thắng lợi cuối cùng; phải thực hiện tốt kế hoạch năm 1975 để đón năm 1976, phải tạo được yếu tố bất ngờ có thể dẫn đế những bước phát triển nhảy vọt và trong bất kỳ tình huống nào cũng không được để lỡ thời cơ khi thờ cơ chiến lược xuất hiện. “Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975”. Để chủ động đón thời cơ chiến lược, lực lượng chủ lực cơ động phải chuẩn bị sẵn sàng tác chiến trên cả hai hướng chiến lược Tây Nguyên, trọng điểm là nam Tây Nguyên là hướng chiến lược quan trọng; miền Đông Nam Bộ là hướng quyết định cuối cùng, trong đó Tây Nguyên được chọn làm chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến công lớn và rộng khắp năm 1975.

Về phương thức tác chiến chiến lược, chiến dịch, Bộ Chính trị yêu cầu, cần kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và binh vận, đánh trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng và đô thị); bộ đội chủ lực cơ động phải đánh những trận quyết chiến chiến lược, đánh tiêu hao tiêu diệt lớn trên khắp chiến trường rừng núi, phối hợp với các chiến dịch tổng hợp ở đồng bằng sông Cửu Long và Khu 5.

Sau 9 ngày làm việc với tinh thần hết sức khẩn trương, ngày 8-10-1974, hội nghị tạm dừng, chờ một số đồng chí ở chiến trường ra. Phát biểu kết thúc phiên họp lần thứ nhất, sáng ngày 8-10-1974, đồng chí Lê Duẩn khẳng định: “Hơn một tuần làm việc, Bộ Chính trị chúng ta đã nhất trí hạ quyết tâm hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Đây là một sự kiện vô cùng trọng đại, để tiến tới kết thúc cuộc chiến tranh cách mạng kéo dài gần 30 năm, kể từ khi chúng ta giành được chính quyền, để hoàn thành trọn vẹn trách nhiệm vẻ vang đối với dân tộc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế lớn lao đối với thời đại. Đây là một quyết định rất dũng cảm, có thể nói là táo bạo. Song, quyết định này là kết quả của trí tuệ tập thể của Bộ Chính trị, là kết quả của những suy nghĩ đã nung nấu từ lâu, của sự cân nhắc chín chắn xuất phát từ kinh nghiệm được tích lũy qua mấy mươi năm chiến đấu, xuát phát từ thực tiễn cách mạng trên chiến trường, từ lực lượng so sánh trong nước và trên thế giới”(1). Phân tích toàn bộ những vấn đề liên quan tới cuộc chiến tranh, đánh giá tương quan lực lượng so sánh giữa ta và địch, đồng chí chỉ rõ: “Lúc này, chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này”, cần phải kịp thời nắm lấy đề “hoàn toàn giải phóng miền Nam, giành thắng lợi trọn vẹn cho cách mạng dân tộc dân chủ, đồng thời giúp Lào và Campuchia hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Ngoài thời cơ này không có thời cơ nào khác. Nếu để chậm mươi, mười lăm năm nữa, bọn ngụy gượng dậy được, các thế lực xâm lược được phục hồi… thì tình hình sẽ phức tạp vô cùng”(2). Do vậy, nhiệm vụ cấp bách lúc này là: “Động viên những nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân ngụy, đánh chiếm Sài Gòn, sào huyệt trung tâm của địch cũng như tất cả các thành thị khác, đánh đổ ngụy quyền ở trung ương và các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà. Ngay từ bây giờ, phải tiến hành mọi công việc chuẩn bị thật khẩn trương, tạo điều kiện và cơ sở vật chất đầy đủ nhất để đánh mạh, đánh nhanh, thắng gọn và thắng triệt để trong 2 năm 1975-1976”(3). Trên cương vị Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đồng chí Võ Nguyên Giáp khẳng định quyết tâm: Toàn quân kiên quyết thực hiện bằng được nhiệm vụ lịch sử mà đồng chí Bí thư thứ nhất thay mặt Đảng trao cho quân đội.

Sau Hội nghị Bộ Chính trị, các cơ quan thuộc Tổng hành dinh khẩn trương hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến chiến lược, đồng thời, lập tức truyền đạt nhiệm vụ và kế hoạch quân sự tới các chiến trường.


(1), (2), (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 35, tr. 172-173, 177-179, 185.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 07:05:43 AM
Nắm bắt và thực hiện chủ trương chiến lược của Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1974,quân và dân ta trên cả hai miền Nam Bắc bước vào giai đoạn chuẩn bị mới với nhịp độ khẩn trương hơn và quy mô rộng lớn hơn, nhằm đáp ứng đòi hỏi của tình hình chiến trường miền Nam đang diễn biến rất mau lẹ.

Từ miền Bắc, nhiều đoàn cán bộ của Đảng, của Bộ Quốc phòng, của các tổng cục và các đơn vị quân, binh chủng khẩn trương vào chiến trường để đôn đốc công tác chuẩn bị.

Trên chiến trường Tây Nguyên, ngay trong những ngày diễn ra Hội nghị Bộ Chính trị, quân và dân ta đã tích cực triển khai kế hoạch chuẩn bị cho chiến dịch nam Tây Nguyên, được Quân ủy Trung ương giao hồi đầu tháng 9-1974. Trong lần giao nhiệm vụ này, Quân ủy Trung ương yêu cầu các lực lượng vũ trang Tây Nguyên giải phóng Đức Lập, Thuần Mẫn, Kiến Đức và vùng đất bằng xung quanh Buôn Ma Thuột, xung quanh Plâycu và Cheo Reo. Để đưa ra quyết định giao nhiệm vụ bổ sung cho Mặt trận Tây Nguyên, Quân ủy Trung ương đã bàn bạc, thảo luận kỹ tình hình địch và ta, cân nhắc nhiều phương án tác chiến cho chiến dịch nam Tây Nguyên và trước khi giao nhiệm vụ cho Tây Nguyên, Quân ủy Trung ương đã chính thức phê duyệt kế hoạch chiến lược giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm 1975-1976 vào ngày 28-10-1974, bàn kế hoạch này được trình lên Hội nghị Bộ Chính trị đợt hai.

Lúc này, trên chiến trường miền Nam, quân và dân ta đang mở đợt hoạt động mùa khô 1974-1975. Trong lúc quân và dân Tây Nguyên gấp rút hoàn thành công việc mở đường thì lực lượng vũ trang Khu 9 đẩy mạnh các đòn tiến công quân sự, hô trợ quần chúng bức rút hùng chục đồn bốt, giành quyền làm chủ nhiều địa bàn quan trọng thuộc các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Mỹ Tho.

Trên chiến trường Đông Nam Bộ, sau thắng lợi của các Trung đoàn 16, Trung đoàn 205 (thuộc Bộ Tư lệnh Miền) tại khu vực núi Bà Đen, Suối Đá và của Sư đoàn tại Long An, Kiến Tường, địch ở Đông Nam Bộ tuy số lượng đông, nhưng bị căng kéo, kìm giữ khắp nơi. Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền nhận định: nếu ta tập trung lực lượng lớn, đánh dứt điểm từng khu vực thì sẽ gây nhiều khó khăn cho địch. Từ nhận định đó và trên cơ sở kế hoạch tác chiến được Bộ Tổng tham mưu xác định, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch đường 14 - Phước Long nhằm tiêu diệt một bộ phận chủ lực địch, mở rộng vùng giải phóng, tạo thêm bàn đạp tiến công Sài Gòn.

Địa bàn chiến dịch trải rộng trên bốn tỉnh Phước Long, Bình Long, Tây Ninh, Bình Dương, trong đó, thị xã Phước Long là mục tiêu chủ yếu của chiến dịch. Thị xã Phước Long cách Sài Gòn hơn 120 km về phía đông bắc, phía bắc giáp Campuchia, đông giáp Quảng Đức, nam giáp Bình Dương, tây giáp Bình Long và là giao điểm của bốn địa bàn chiến lược quan trọng: nam Tây Nguyên, Đông Bắc Campuchia, miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ (Khu 6), đồng thời là cửa ngõ phía tây bắc Sài Gòn. Tại đây, địch bố trí lực lượng phòng thủ thành ba khu vực:

Khu vực 1: gồm hệ thống đồn bốt trên đường 14, có Chi khu Đồng Xoài do Tiểu đoàn 341 bảo an (thiếu) đóng giữ; Chi khu Bù Đăng, do Tiểu đoàn 362 bản an đóng giữ; yếu khu Bù Na, do Tiểu đoàn bảo an 363 đóng giữ cùng với 50 đồn bốt nhỏ và căn cứ cấp tiểu đoàn.

Khu vực 2: gồm hệ thống đồ bốt dọc lộ 311, có Chi khu Bù Đốp, do một đo của Tiểu đoàn 341 bảo an đóng giữ và một số đồn bốt dân vệ.

Khu vực 3: khu vực tam giác Chi khu Phước Bình - Bà Rá - Tiểu khu Phước Long, có sân bay Phước Bình, các kho tàng trận địa pháo, cơ quan quân sự ngụy quyền tỉnh, có hệ thống phòng thủ nhiều lớp, do Tiểu đoàn 340 bảo an, 10 trung đội pháo (cỡ nòng 105mm, 155mm), 2 đại đội cảnh sát, 1 chi đội thiết giáp M113 (3 chiếc) cùng lực lượng dân vệ, phòng vệ dân sự đóng giữ. Ngoài ra, địch còn có các lực lượng chiến đấu khác như tề điệp, thanh niên chiến đấu, nhân viên ngụy quyền được trang bị vũ khí.

Về phía ta, lực lượng tham gia chiến dịch gồm có Sư đoàn 9, Sư đoàn 7, Trung đoàn đặc công 429, 1 trung đoàn pháo, 3 tiểu đoàn phòng không, 20 xe tăng, 1 trung đoàn công binh, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Phước Long và Bình Long. Lực lượng phối thuộc có Sư đoàn 3 (2 trung đoàn) trực thuộc Bộ Chỉ huy Miền và lực lượng vũ trang tại chỗ của các xã, huyện. Thiếu tướng Hoàng Cầm là Tư lệnh chiến dịch; Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện là Chính ủy và Đại tá Bùi Cát Vũ, Đại tá Huỳnh Ngân, Đại tá Hoàng Nghĩa Khánh là Phó Tư lệnh.

Đây là chiến dịch có tầm quan trọng đối với toàn bộ chiến dịch B2, do vậy, từ quá trình chuẩn bị, xây dựng kế hoạch, đến bố trí lực lượng diễn ra rất thận trọng, với phương châm chỉ đạo vừa đánh địch vừa thăm dò khả năng và phản ứng của địch. Lúc đầu ta huấn luyện bộ đội đánh chi khu, căn cứ địch bằng hiệp đồng binh chủng, có xe tăng và pháo 130 mm; sau khi điều chỉnh quyết tâm, ta chuyển hướng huấn luyện bộ đội tiến công bằng bộ binh và pháo mang vác.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 07:09:20 AM
Đêm ngày 13 rạng ngày 14-12-1974, quân ta nổ súng tiến công Chi khu Bù Đăng, căn cứ Vĩnh Thiện, khu hành chính quận và yếu khu Bù Na nằm trên đường 14, mở màn chiến dịch. Trong ngày 14-12, trên hướng chủ yếu, Trung đoàn 271 (thiếu) đánh chiếm căn cứ Vĩnh Thiện. Trên hướng thứ yếu, trong đêm 15-12, hai tiểu đoàn thuộc Trung đoàn đặc công 429 nhanh chóng dứt điểm yếu khu Bù Na, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn bảo an 363. Đến ngày 17-12, khi ta phát triển tiến công theo đường 311, đánh các chốt cầu 11, chốt km 19 trên đường 14, hình thành thế vây ép Chi khu Bù Đốp lưu vong(1) từ hướng nam, Quân đoàn 3 địch cũng chỉ chi viện cho lực lượng ở đây bằng hỏa lực của không quân chiến thuật và cũng chỉ hạn chế từ 2 đến 3 lần chiếc trong ngày mà thôi.

Sau 5 ngày chiến đấu, bộ đội ta đã đánh thiệt hại nặng 2 tiểu đoàn bảo an, 1 đại đội thám sát và nhiều trung đội dân vệ, thu nhiều vũ khí, đạn dược, giải phóng đoạn đường dài gần 80 km trên trục đường 14.

Sau thắng lợi của đợt 1 chiến dịch, Bộ Chỉ huy Miền và Bộ Chỉ huy chiến dịch thống nhất nhận đinh: về chiến lược, địch không có lực lượng chi viện cho đường 14; về chiến dịch, địch chưa phát hiện được ý đồ của ta; về chiến thuật, ta đã giải quyết tốt vấn đề đánh chi khu, căn cứ bằng bộ binh và pháo mang vác. Từ nhận định đó, Bộ Chỉ huy Miền và Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết tâm mở tiếp đợt tiến công mới, mục tiêu là khu vực Đồng Xoài, Chi khu Bù Đốp lưu vong, nhằm cô lập hoàn toàn thị xã Phước Long.

Trong lúc chiến dịch đường 14 - Phước Long khai triển và đang trên đà thắng lợi, thì ngày 18-12-1974, Bộ Chính trị họp hội nghị đợt hai tại “Nhà con rồng” Bộ Quốc phòng. Hơn hai tháng kể từ phiên họp trước, Bộ Chính trị có thêm những dữ kiện quan trọng để trong phiên họp lần này, thảo luận và chính thức hạ quyết tâm giải phóng miền Nam. Ngoài các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, tham dự phiên họp Bộ chính trị mở rộng còn có các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chiến trường Nam Bộ, Khu 5(2) và các Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách tác chiến. Trong lời khai mạc, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã nhấn mạnh yêu cầu quan trọng nhất của Hội nghị lần này là tập trung thảo luận thật kỹ các nhân tố như thời cơ, khả năng của địch, sự chuẩn bị của ta, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến trường ở miền Nam trong tình hình mới… làm cơ sở cho việc hạ quyết tâm chiến lược. Trong ba ngày đầu, sau khi nghe đồng chí Lê Ngọc Hiền - Phó Tổng tham mưu trưởng tình bày dự thảo kế hoạch chiến lược đã được chỉnh sửa, bổ sung từ sau Hội nghị Bộ Chính trị hồi tháng 10-1974, tất cả ủy viên Bộ Chính trị, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường đều có ý kiến phát biểu, trao đổi và đi đến nhất trí với phương án mà Thường trực Quân ủy Trung ương đề xuất: chọn hướng tiến công chính Tây Nguyên, mục tiêu then chốt là Buôn Ma Thuột để mở màn cho cuộc tiến công chiến lược năm 1975.

Ngày 22-12-1974, hội nghị nghỉ để tham dự buổi mít tinh trọng thể kỷ niệm 30 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân dịp này, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trường Chinh tuyên dương công trạng của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và ký lệnh thưởng Huân chương Sao vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước cho quân đội ta(4). Đồng chí Tôn Đức Thắng - Chủ tịch nước, trân trọng gắn Huân chương lên Quân kỳ quyết thắng. Thay mặt quân đội, đồng chí Võ Nguyên Giáp phát biểu nêu rõ quyết tâm của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam: kiên quyết giương cao lá cờ Quyết thắng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, xứng đáng với phần thưởng cao quý của Quốc hội, Chính phủ, xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng và nhân dân. Sự tôn vinh công trạng của quân đội trong lúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang dồn sức chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng là nguồn động viên, khích lệ to lớn đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nói riêng, nhân dân hai miền Nam - Bắc nói chung, góp phần nhân lên sức mạnh tổng hợp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Ngày 23-12, Bộ chính trị trở lại chương trình làm việc của hội nghị, đồng thời theo dõi và cập nhật tin tức từ chiến trường miền Nam, đặc biệt là diễn biến của chiến dịch đường 14 - Phước Long.


(1) Địa danh này ghi theo cuốn: Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 - tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước: Chiến thắng Phước Long (kỷ yếu hội thảo khoa học), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000.
(2) Chiến trường Nam Bộ có đồng chí Phạm Hùng, Trần Văn Trà, Phan Văn Đáng; Khu 5 có đồng chí Võ Chí Công, Chu Huy Mân. Đầu tháng 12-1974, Bộ chính trị đã làm việc riêng với các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chiến trường. Tiếp đó, trong các ngày từ 3 đến mùng 5-12-1974, Thường trực Quân ủy Trung ương lần lượt nghe các đồng chí này báo cáo về ý định và kế hoạch tác chiến của từng chiến trường. Đây được xem là bước trù bị quan trọng trước khi Hội nghị Bộ Chính trị họp chính thức.
(4) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.351.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 07:11:47 AM
Vào lúc này, chiến dịch đường 14 - Phước Long đã bước vào đợt 2; lực lượng ta đã hình thành được thế bao vây, chia cắt khu vực Đồng Xoài và Chi khu Bù Đốp lưu vong. Địch tại hai vị trí này hoàn toàn bị cô lập, không còn liên hệ được với nhau. Đồng Xoài là hướng tiến công chủ yếu của đợt hai chiến dịch. Tại căn cứ này, địch bố trí 3 chốt cấp đại đội, 3 chốt cấp trung đội, 8 chốt dân vệ; ngoài ra còn có chốt cầu số 2 trên đường 14, chốt Phước Thiện ở phía nam và đồn Tạ Tế ở phía bắc. Lực lượng địch tại Đồng Xoải có Tiểu đoàn 341 và Ban chỉ huy Chi khu Đồng Xoài.

Rạng sáng ngày 23-12-1974, trên hướng tiến công thứ yếu, Trung đoàn 12 (Sư đoàn 7) nổ súng tiến công Chi khu Bù Đốp lưu vong và đồn Phước Tín. Đến trưa, Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 7 - Sư đoàn 5 bộ binh Quân đoàn 3 quân đội Sài Gòn, được trực thăng đổ xuống sân bay Phước Bình, chi viện cho lực lượng của chúng đang bị bao vây ở Chi khu Bù Đốp lưu vong. Từ tối ngày 23-12 đến rạng sáng ngày 24-12, ta tiêu diệt chi khu này, đồng thời phát triển tiến công bức rút đồn Phước Lộc. Đến chiều ngày 24-12, ta đánh chiếm được đồn Phước Quả, trước khi Tiểu đoàn 1 kịp đến chi viện.

Trong lúc địch đang dồn tâm trí và lực lượng chống đỡ ở hướng Chi khu Bù Đốp lưu vong, rạng sáng ngày 26-12, Trung đoàn 14 - Sư đoàn 7 chủ lực miền nổ súng tiến công hướng Đồng Xoài. Phối hợp với Trung đoàn 14, các Trung đoàn 201 và 209 đánh chiếm các mục tiêu phụ. Cùng ngày, bộ đội ta đánh chiếm làm khủ Đồng Xoài, chốt cầu số 2 của địch, kết thúc thắng lợi đợt 2 chiến dịch sau 4 ngày liên tục tiến công.

Chỉ sau hai tuần và bằng hai đợt tiến công, lực lượng thuộc Quân đoàn 4 đã nhanh chóng làm chủ phần lớn các mục tiêu chiến dịch, đặt mục tiêu chủ yếu vào thế bị bao vây cô lập hoàn toàn. Mặc dù bị ta đánh mạnh, bị mất nhiều mục tiêu quan trọng nhưng phản ứng của địch rất yếu ớt, lực lượng bổ sung nhỏ giọt. Đây là một tín hiệu quan trọng nữa chứng tỏ khả năng rất hạn chế của địch trong việc đánh chiếm lại mục tiêu đã mất, bao gồm cả những mục tiêu chỉ nằm cách Sài Gòn hon 120 km.

Theo dõi sát diễn biến tình hình mọi mặt về chiến dịch đường 14 - Phước Long, đồng chí Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đồng ý với đề nghị của đồng chí Phạm Hùng và Trần Văn Trà, cho Quân đoàn 4 sử dụng xe tăng, pháo 130 mm để đánh thị xã Phước Long.

Thực hiện mệnh lệnh của Tổng hành dinh, Bộ Chỉ huy Miền và Bộ Chỉ huy chiến dịch lập tức triển khai đợt tiến công thứ 3, đánh chiếm Phước Long(1).

Được xe tăng (1 tiểu đoàn 20 chiếc) và pháo 130mm (2 tiểu đoàn) yểm trợ, rạng sáng ngày 31-12-1974, Trung đoàn 12 - Sư đoàn 7 và lực lượng tăng cường thuộc Trung đoàn 16 bộ binh (thiếu) nổ súng tiến công chi khu Phước Bình, mở màn cho đợt tiến công thứ 3 - đợt tiến công cuối cùng của chiến dịch. Trên hướng tiến công chủ yếu, bộ đội ta nhanh chóng đánh chiếm một số mục tiêu. Trong khi đó, ở hướng thứ yếu, Trung đoàn 271 không dứt điểm được mục tiêu Thác Mơ. Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 271 bỏ qua mục tiêu Thác Mơ tiến sang khu vực Tư Hiền 2 để kịp hình thành thế bao vây thị xã Phước Long.

Rạng sáng ngày 2-1, quân ta bắt đầu tiến công vào thị xã. Được không quân chiến thuật chi viện, địch kháng cự rất quyết liệt. Ta chỉ dứt điểm được một số mục tiêu nhỏ và diều đó làm ảnh hướng đến tốc độ phát triển của các mũi tiến công. Đêm 3-1, ta chấn chỉnh lại đội hình, điều động thêm lực lượng để tăng thêm sức đột phá trên hướng chủ yếu. Ngày 4-1, ta thu hẹp được phạm vi phòng ngự của địch ở hướng bắc thị xã. Địch đổ hai tiểu đội biệt kích xuống đông bắc thị xã, nhưng lực lượng này nhanh chóng bị tổn thương do hỏa lực pháo ta dội trúng đội hình. Ngày 4-1, ta đánh chiếm Chi khu Phước Bình, cứ điểm Bà Rá, thu hẹp 1 phần 3 phạm vi trận địa của địch. Lúc này, Trung đoàn 2 - Sư đoàn 9 được lệnh bước vào chiến đấu. Có thêm lực lượng, ta tổ chức mũi thọc sâu, với lực lượng đột kích chủ yếu là một đại đội xe tăng. Bỏ qua các ổ đề kháng vòng ngoài, lực lượng thọc sâu nhanh chóng đánh thẳng vào trung tâm thị xã, chiếm các mục tiêu quan trọng, thực hiện trong đánh ra, ngoài đánh vào. Chiều ngày 6-1, ta tiêu diệt số địch đang cố thủ tại hệ thống hầm ngầm ở trung tâm hành chính thị xã. Đến đây, ta kết thúc đợt tiến công thứ 3, đồng thời kết thúc thắng lợi chiến dịch đường 14 - Phước Long.

Sau hơn 20 ngày chiến đấu, ta đã tiêu diệt 1.160 tên địch, bắt 2.146(2) tên, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long, với hơn 50 vạn dân(3).


(1) Khu vực phòng thủ của địch ở Phước Long, mỗi chiều rộng 8 km; phía đông và bắc dựa lưng vào sông Bé, phái nam và đông nam là đường vòng cung 139-310-311, chạy vòng quanh chân núi Bà Rá. Ở đây, địch tổ chức thành thế phòng ngự chân kiềng với 3 vị trí: thị xã Phước Long - Phước Bình và núi Bà Rá. Phước Long có thế bố trí phòng ngự vững chắc nhất, với gần 2 tiểu đoàn bảo an, 1 chi đội xe M113; các vị trí khác do 3 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội đóng giữ.
(2) Theo cuốn sách của Giócgiơ Hơring (George C. Herring): Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, Sđd, tr. 340, thì số quân đội Sài Gòn bị tiêu diệt và bắt sống là 3.000 người.
(3) Bộ Quốc phòng - Viên Lịch sử quân sự Việt Nam: Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Sđd, tr.446-457.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 07:15:31 AM
Phước Long bị mất, thoạt đầu, Mỹ phản ứng bằng việc đặt Sư đoàn lính thủy đánh bộ số 3 Mỹ ở Ôkinaoa (Nhật Bản) trong tình trạng báo động khẩn cấp và điều một bộ phận Hạm đội 7 đến Việt Nam, sẵn sàng can thiệp… Về phần mình, ngay từ “ngày 2-1-1975, Thiệu chủ tọa một cuộc họp khẩn cấp ở phòng họp trong Dinh Độc Lâp. Trước tất cả những nhà lãnh đạo quân sự, Thiệu tuyên bố không tăng viện cho Phước Long hay cố gắng lấy lại tỉnh này nữa. Giá của việc này quá cao, không có máy bay thay thế và quân trù bị. Nếu muốn tăng viện Phước Long phải lấy từ nơi khác, mà những nơi này được tin tức tình báo cho biết, cũng đang bị Bắc Việt sửa soạn tiến công vào năm 1975(1).

Hai ngày sau khi Phước Long bị mất, ngày 8-1-1975, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Máctin thông báo cho Nguyễn Văn Thiệu biết việc Mỹ không thể sử dụng không quân yểm hộ cho quân đội Sài Gòn tái chiếm Phước Long. Ngày 22-1-1975, Tổng thống Mỹ J. Pho tuyên bố không có hành động nào ngoài việc bổ sung viện trợ cho Sài Gòn và sẽ không can thiệp vào miền Nam Việt Nam nếu xét ra không phù hợp với Hiến pháp và pháp luận Hoa Kỳ. Như vậy, thái độ của Mỹ đã rõ ràng, phản ứng của Mỹ nặng về hăm dọa, gâp áp lực từ xa. Và điều đó càng làm cho chính quyền, quân đội Sài Gòn thêm hoang mang, sa sút.

Vào thời điểm mở đầu của chiến cuộc mùa khô 1974-1975 trên chiến trường B2, chiến thắng đường 14 - Phước Long có ý nghĩa chiến lược Chiến thắng này đánh dấu bước suy sụp mới của quân đội Sài Gòn, đó là một đội quân đã không còn đủ sức phản kích để giành lại những địa bàn có tầm quan trọng chiến lược vừa bị mất vào tay đối phương; cho ta thấy rõ hơn ý đồ và khả năng can thiệp vào miền Nam Việt Nam của chính quyền Mỹ. Về phía ta, chiến dịch đường 14 - Phước Long góp phần làm thay đổi đáng kể lực lượng tương quan và thế bố trí trên chiến trường Đông Nam Bộ giữa ta và địch; chiến thắng đó bẻ gãy một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ vòng ngoài Sài Gòn, làm cho hướng phòng thủ của địch ở tây bắc Sài Gòn trở nên mỏng yếu. Chiến thắng này đánh dấu bước phát triển mới về nghệ thuật tổ chức, thực hành chiến dịch, đặc biệt về nghệ thuật tổ chức và tác chiến thọc sâu, kết hợp trong đánh ra, ngoài đánh vào đạt hiệu quả cao. Lần đầu tiên trên chiến trường B2, chủ lực vận dụng cách đánh hiệp đồng binh chủng gồm bộ binh, xe tăng, pháo cơ giới, đánh chiếm một thị xã được phòng thủ chặt chẽ.

Có thêm cơ sở từ thực tiễn chiến thắng Phước Long, ngày 8-1-1975, đồng chí Lê Duẩn kết luận các nội dung đã bàn bạc, thống nhất của Hội nghị Bộ Chính trị. Đồng chí nêu rõ: “Trong cuộc họp lần trước, Bộ Chính trị đã nhất trí về phương hướng chiến lược nhằm đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng. Lần này, Bộ Chính trị thảo luận thêm với một số đồng chí miền Nam. Các đồng chí phụ trách chủ yếu của các chiến trường Khu 5, Nam Bộ đều có mặt đông đủ. Tất cả chúng ta đều nhất trí hoàn toàn về các mặt: đánh giá tình hình sau Hiệp định Pari, đánh giá lực lượng so sánh giữa ta và địch, nhận định thời cơ lịch sử, khẳng định quyết tâm chiến lược hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam trong 2 năm 1975-1976, xác định nhiệm vụ, mục tiêu và các bước thực hiện”(2).

Về tình hình miền Nam, đồng chí Bí thư thứ nhất nhận định: Hiện nay khác với trước rất nhiều, Mỹ đã thua liên tiếp và phải rút quân về; ngụy quân, ngụy quyền không còn chỗ dựa như trước, quân đội ta sung sức, có mặt trên khắp miền Nam. Quần chúng nhân dân trong vùng địch đòi hỏi vùng dậy và có khí thế mới.

Năm 1974, trong khi thế và lực của ta lớn lên nhanh thì địch càng xuống dốc cả về quân sự, chính trị, kinh tế. Ta tiến công mạnh thì nhất định sẽ tạo ra những đột biến trong quá trình xuống dốc đó của địch.

Lần họp trước, chúng ta đã xem xét bối cảnh quốc tế của chiến tranh Việt Nam. Lần này, hội nghị đi sâu phân tích lực lượng so sánh giữa ta và địch. Căn cứ vào sự đánh giá trong cả hai lần họp, chúng ta thấy chính xác hơn thời cơ lịch sử và khả năng thực tế để quyết chiến những trận cuối cùng, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn. Chúng ta nhất trí phải gấp rút chuẩn bị mọi mặt để kết thúc thắng lợi cuộc chiến tranh cứu nước trong năm 1975 hoặc năm 1976. Quyết tâm này của Bộ chính trị phải gấp rút được truyền đến toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên và quần chúng nhân dân. Phải tiến hành công tác chính trị, tư tưởng sâu rộng, cổ vũ mạnh mẽ khí thế quyết chiến, quyết thắng”(3).

Về nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến, đồng chí Lê Duẩn nêu rõ: “Nhiệm vụ sắp tới của chúng ta là nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Trong khi thực hiện nhiệm vụ này, chúng ta sẽ cùng với và giúp đỡ hai nước Lào và Campuchia anh em tiến lên.

Để thực hiện quyết tâm nói trên, phải phấn đấu thực hiện những nhiệm vụ cụ thể, đạt được những yêu cầu sau đây:

Một là, thực hiện quyết tâm và nổi dậy trên quy mô lớn…

Hai là, mở những chiến dịch hợp đồng binh chủng…

Ba là, phát triển phong trào đấu tranh chính trị trên quy mô rộng lớn…

Bốn là, đẩy mạnh công tác binh vận…

Năm là, phá hủy các cơ sở hậu cần và phương tiện chiến tranh của địch”(4).


(1) Nguyễn Tiến Hưng: Từ tòa Bạch Ốc đến Dinh Độc Lập, Sđd, tr.341.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.35, tr. 187.
(3), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.35, tr. 191, 192.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 07:19:16 AM
Để thực hiện những nhiệm vụ và yêu cầu trên đây, đồng chí Bí thư thứ nhất chỉ rõ: Phải nắm vững cái đích là tạo ra sức mạnh tổng hợp, kết hợp quân sự với chính trị, khởi nghĩa với chiến tranh, phối hợp “ba mũi giáp công”, ba vùng chiến lược, tiêu diệt địch để làm chủ, làm chủ để tiêu diệt địch, tiến tới tổng tiến công và nổi dậy, thắng địch tại sào huyệt quan trọng nhất của chúng là Sài Gòn, để kết thúc chiến tranh.

Đánh trận cuối cùng này, trước hết là nhiệm vụ của các lực lượng quân sự, chính trị trên chiến trường Nam Bộ, tron đó có lực lượng của Sài Gòn - Gia Định, đồng thời là nhiệm vụ của quân và dân cả nước, trong đó khối chủ lực miền và các binh đoàn chủ lực từ các chiến trường khác đến, đóng vai trò quyết định(1).

Về Kế hoạch hoạt động năm 1975, đồng chí ra nhiệm vụ của từng chiến trường(2) và cho rằng, mọi hoạt động của các chiến trường đều nhằm tiến tới trận quyết chiến chiến lược tại sào huyệt cuối cùng của địch bằng con đường nhanh nất: “Kế hoạch tiếp theo cho năm 1976 sẽ do kết quả thực hiện kế hoạch năm 1975 quyết định. Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực”(3).

Nhằm thực hiện quyết tâm chiến lược trên đây, đồng chí Bí thư thứ nhất khẳng định: “Trung ương Đảng và Chính phủ sẽ làm hết sức mình để tăng cường lực lượng, bảo đảm đầy đủ nhu cầu về vật chất, kỹ thuật cho chiến trường, coi đó là điều kiện cơ bản để giành thắng lợi. Điều quan trọng cấp bách nữa là chuẩn bị sẵn lực lượng dự bị chiến lược; tuyển cho được 30 vạn tân binh, đẩy nhanh việc huấn luyện bộ đội, nắm chắc khâu đào tạo cán bộ. Làm thật tốt công tác chính trị, tư tưởng trong quân đội, trong nhân dân, động viên toàn quân, toàn dân nêu cao ý chí “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng”. Trên mặt trận đối ngoại: “Sử dụng khôn khéo vũ khí đấu tranh ngoại giao, góp phần giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, hòa hợp dân tộc, nhằm cô lập bọn tay sai ngoan cố; làm sáng tỏ chính nghĩa của ta, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các lực lượng cách mạng và nhân dân tiến bộ trên thế giới; ngăn chặn âm mưu và thủ đoạn can thiệp, phá hoại của đế quốc Mỹ và bọn phản động quốc tế”(4).

Kết luận của đồng chí Lê Duẩn được Hội nghị Bộ Chính trị nhất trí hoàn toàn và kết luận này trở thành Nghị quyết của Bộ Chính trị.

Bộ Chính trị nêu quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976 đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện so sánh lực lượng trên chiến trường miền Nam theo hướng có lợi cho ta; tiến hành khẩn trương và hoàn thành mọi mặt công tác chuẩn bị, tạo điều kiện chín muồi tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa, tiêu diệt và làm tan rã ngụy quân, đánh đổ ngụy quyền từ trung ương đến địa phương, giành chính quyền về tay nhân dân.

Quyết tâm chiến lược của Bộ chính trị được thể hiện trong kế hoạch chiến lược 2 năm 1975-1976: năm 1975 tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Ngoài kế hoạch chiến lược cơ bản 2 năm, trong kế hoạch năm 1975, Bộ Chính trị còn dự kiến một phương án khác: nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.35, tr. 193.
(2)Chiến trường Nam Bộ có ba nhiệm vụ quan trọng: đánh phá bình định; đánh quân chủ lực ngụy; vây ép thành thị. Để đánh phá “bình định”, mà trọng điểm là ở đồng bằng sông Cửu Long, phải sử dụng hai đến ba vạn quân chủ lực miền Đông Nam Bộ đánh xuống đồng bằng, kết hợp với những cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng quân sự, chính trị tại chỗ, mở vùng giải phóng liên hoàn nối liền miền Đông với Khu 8, Khu 9; đồng thời ép mạnh về phía Mỹ Tho - Sài Gòn, nhất là Sài Gòn, tạo thế cho quần chúng ở đây nổi dậy. Để góp phần vây ép Sài Gòn, quân chủ lực ta phải tiêu diệt cho được một bộ phận quan trọng quân chủ lực ngụy ở miền Đông.
Chiến trường Khu 5 - Tây Nguyên, dùng ba sư đoàn quân chủ lực Tây Nguyên, mở thông hành lang nối liền nam Tây Nguyên với Đông Nam Bộ, tạo điều kiện để bộ đội chủ lực cơ động nhanh vào miền Đông, phối hợp với quân chủ lực miền để tiến đánh Sài Gòn. Mở trận đầu đánh chiếm Buôn Ma Thuột, thọc thẳng xuống Tuy Hòa, Phú Yên, cắt đồng bằng Khu 5 ra làm đôi, tạo thêm một bước nữa để tiến nhanh vào phía nam vây ép Sài Gòn.
Sử dụng lực lượng của Quân khu 5 và lực lượng quân sự, chính trị các tỉnh ven biển miền Trung, giải phóng từ phía Bình Định trở ra để ép về phía Đà Nẵng.
Chiến trường Trị - Thiên, đánh chiếm đồng bằng, làm chủ vững chắc từ nam thành phố Huế trở vào, chia cắt Huế với Đà Nẵng, vây ép hai thành phố này, không cho địch co cụm về phía nam, thúc đẩy binh biến, ly khai ở miền Trung.
Khi có thời cơ, sẽ cơ động thêm ba sư đoàn vào miền Đông, sử dụng hai quân đoàn đánh chớp nhoáng, diệt mấy sư đoàn chủ lực ngụy ở đây, rồi thọc vào Sài Gòn.
Cần có kế hoạch chuẩn bị ở miền Nam cũng như ở miền Bắc nhằm đối phó với việc Mỹ có thể dùng không quân, hải quân đánh phá trở lại. Khả năng Mỹ quay lại can thiệp vào chiến tranh Việt Nam không nhiều. Nhưng dù khả năng đó chỉ năm, bảy phần trăm, chúng ta cũng phải đề phòng, vì Mỹ còn có mưu đồ duy trì chủ nghĩa thực dân mới. Mỹ muốn làm gì thì cũng chỉ ở mức độ, chẳng hạn như tăng thêm một ít viện trợ quân sự, kinh tế, hoặc nhiều lắm là chi viện bằng không quân, hải quân (với điều kiện ngụy chống cự lâu dài).
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.35, tr. 196.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.35, tr. 196.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Ba, 2011, 07:21:03 AM
Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh lập tức triển khai kế hoạch chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược năm 1975. Các phương án nắm địch, hiệp đồng giữa các tổng cục của Bộ Quốc phòng với các cơ quan nhà nước, gấp rút tính toán khả năng bổ sung tăng cường lực lượng, bảo đảm hậu cần, vũ khí, đạn dược, thuốc men cho các chiến trường, hoàn chỉnh hệ thống ống dẫn xăng dầu, mạng dây thông tin và đẩy mạnh việc sửa chữa, mở mới mạng đường cơ động phục vụ cho tiến công chiến lược.

Trên miền Bắc, Nhà nước tiến hành đợt động viên cục bộ, huy động thêm số người ở độ tuổi từ 26 đến 30 và một phần học sinh, sinh viên, cán bộ, công nhân, viên chức gia nhập quân đội. Trong hai tháng đầu năm 1975, quân đội đã được bổ sung 5,7 vạn người. đến đầu năm 1975, việc xây dựng, nâng cấp mạng đường chiến lược(1), chiến dịch, đường ống dẫn xăng dầu, hệ thống kho tàng, bến bãi trên tuyến vận tải chiến lược và của các chiến trường đã cơ bản hoàn thành. Nhờ có hệ thống cầu đường được nâng cấp và vươn xa vào tận chiến trường, nên thời gian hành quân từ hậu phương miền Bắc vào đến chiến trường Nam Bộ rút xuống còn 20 ngày, vào đến Tây Nguyên còn 13 ngày, Khu 5 còn 10 ngày và Trị - Thiên còn 6 ngày. Từ đầu năm 1974 đến đầu năm 1975, tuyến giao liên chiến lược đã đưa vào chiến trường 410.000 lượt người, trong đó có 68.000 quân bổ sung, 8.000 nhân viên kỹ thuật và các đơn vị binh chủng khác; đưa từ chiến trường ra miền Bắc hơn 290.000 lượt người, trong đó có 53.000 thương binh, 28.000 bệnh binh và 32.000 cán bộ.

Bám dọc theo mạng đương chiến lược, hệ thống ốn dẫn dầu cùng với mạng thông tin hữu tuyến không ngừng vươn sâu, vươn xa vào tận khu vực Bù Gia Mập (Đông Nam Bộ). Với gần 1.400km chiều dài đường ống, bộ đội xăng dầu đã tổ chức mạng cung cấp nhiên liệu trực tiếp cho các chiến trường bằng 113 trạm bơm và hon 27.000 m3 kho chứa; trong lúc đó, bộ đội thông tin cũng đã hoàn chỉnh mạng dây tải đôi, tải ba có chiều dài gần 10.000km, phục vụ cho công tác liên lạc kịp thời, chính xác, an toàn giữa Tổng hành dinh với các quân khu, quân đoàn.

Lực lượng vận tải của Nhà nước và quân đội tổ chức nhiều đoàn xe vận tải, ngày đêm hối hả đưa sức người, sức của vào chiến trường. Được miền Bắc chi viện mạnh mẽ, chiến trường miền Nam đã có bước phát triển nhảy vọt trong công tác tổ chức, bố trí lực lượng, chuẩn bị hậu cần bảo đảm và hình thành thế trận sẵn sàng mở cuộc tiến công chiến lược. Ngay tại chiến trường và trên những địa bàn chiến lược, khối chủ lực của ta đã được tổ chức thành 3 quân đoàn và tương đương (các quân đoàn 2, 4 và Đoàn 232 tương đương quân đoàn). Đây là những quả đấm mạnh giữ vai trò quyết định trong việc đập tan lực lượng quân đội khổng lồ của địch.

Cùng với việc tăng cường và phát triển lực lượng, trên các hướng chiến trường, mạng đường cơ động lực lượng, phương tiện chiến đấu và vũ khí đạn dược đã được khẩn trương hoàn thành, hòa vào mạng đường chiến lược Bắc - Nam. Trên chiến trường Trị - Thiên, ta mở mới 300km, cùng với khu vực nam Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, kéo dài đến Nam Đông, Khe Tre, giáp quốc lộ 1. Ở Khu 5 và Tây Nguyên, ta đã xây dựng được gần 700km đường trục dọc và hơn 1.200km đường trục ngang, hòa vào mạng đường chiến lược 559 để từ đó có thể đi vào bắc đường 19, vào miền Đông Nam Bộ bằng các con đường chạy dọc biên giới Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia; nối liền các trục dọc là hệ thống đường ngang không ngừng vươn dài, vươn sâu xuống vùng đồng bằng các tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.

Vào cuối năm 1974, quân và dân ở Đông Nam Bộ đã sửa chữa, nâng cấp và mở mới được nhiều tuyến đường, nâng tổng chiều dài của toàn bộ mạng đường ở đây lên hơn 900km; hình thành mạng lưới giao thông liên hoàn, từ căn cứ của miền tỏa xuống vùng giáp ranh Sài Gòn và phát triển sang hướng tây nam Đồng Tháp Mười.

Trên các đầu mối giao thông và dọc theo nhiều tuyến đường, hệ thống căn cứ hậu cần với các kho trạm được bố trí liên hoàn, vững chắc đã được hình thành, đủ sức đáp ứng yêu cầu của từng hướng chiến dịch. Cho đến đầu năm 1975, khối lượng hàng hóa, vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm và xăng dầu dự trữ của từng hướng chiến trường, cụ thể: Trị - Thiên dự trữ được 29.000 tấn vật chất, trong đó có 2.000 tấn vũ khí đạn dược và hàng chục nghìn mét khối xăng dầu; khu 5 dự trữ hơn 77.000 tấn, trong đó có hơn 10.500 tấn vũ khí, đạn dược, 5.200 tấn xăng dầu, 36.300 tấn lương thực, thực phẩm; Tây Nguyên dự tữ được hơn 53.000 tấn, trong đó có gần 800 tấn đạn và 28.000 tấn lương thực, thực phẩm. Đông Nam Bộ, hậu cần Miền dự trữ được 102.000 tấn, và tổ chức khai thác tại chỗ hơn 900 tấn.

Song song với hoạt động chuẩn bị hậu cần bảo đảm, từ cuối năm 1974, Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo các quân khu, quân đoàn, quân, binh chủng tăng cường công tác huấn luyện cán bộ, chiến sĩ, trọng tâm là huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật và tổ chức chỉ huy, Bộ Tổng tham mưu cử nhiều đoàn cán bộ xuống các đơn vị phổ biến công tác huấn luyện bổ sung theo xuống các đơn vị phổ biến công tác huấn luyện bổ sung theo yêu cầu chiến đấu mới trên chiến trường; cùng với quá trình này, cán bộ của Bộ Tổng tham mưu còn truyền đạt những kinh nghiệm về chiến dịch tiến công tổng hợp ở đồng bằng, kinh nghiệm tiến công địch trong thành phố, chi khu, quận lỵ và kết quả nghiên cứu cách đánh hiệp đồng tổ chức tiêu diệt sư đoàn địch.

Kết quả chuẩn bị về lực lượng và hậu cần bảo đảm trong những tháng cuối năm 1974 và đầu năm 1975 đã cho phép cơ quan chỉ đạo chiến lược mau chóng hình thành thế trận tác chiến trên chiến trường. Lúc này, ta đã triển khai ba cụm lực lượng chiến lược quy mô quân đoàn trên các chiến trường chủ yếu Trị - Thiên, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và một phần đồng bằng sông Cửu Long, sẵn sàng cho việc mở ba đòn tiến công chiến lược kế tiếp nhau. Với các bố trí lực lượng như thế, đã ghìm chặt lực lượng chủ yếu của quân đội Sài Gòn ở hai đầu (Trị - Thiên và Đông Nam Bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho đòn tiến công mở màn trên chiến trường Tây Nguyên giành thắng lợi.

Hơn hai năm từ sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, quân và dân ta trên cả hai miền Nam, Bắc đã nỗ lực không ngừng tranh thủ thời cơ để thúc đẩy sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mau tới thắng lợi hoàn toàn. Hậu phương miền Bắc vừa khẩn trương khắc phục hậu quả chiến tranh. ổn định đời sống nhân dân, vừa dồn sức cho việc tăng cường lực lượng và thế trận chiến tranh nhân dân trên cả nước; tiền tuyến miền Nam vừa củng cố, xây dựng, tổ chức lực lượng, vừa đẩy mạnh các hoạt động đấu tranh toàn diện trên cả ba mặt quân sự, chính trị, binh địch vận ở cả ba vùng chiến lược. Thắng lợi to lớn, toàn diện của ta trong hơn hai năm, cùng với sự suy yếu, khủng hoảng sâu sắc của chính quyền và quân đội Sài Gòn đã tạo ra những điều kiện vô cùng thuận lợi để Bộ thống soái tối cao từng bước hoạch địch kế hoạch tiến công chiến lược và khi thời cơ cho phép, hạ quyết tâm mở đòn tiến công chiến lược năm 1975, trong đó, Tây Nguyên được chọn làm điểm đột phá đầu tiên.


(1) Đáp ứng yêu cầu đưa nhanh, đưa nhiều, đưa đủ sức người, sức của vào chiến trường miền Nam, đường chiến lược Trường Sơn được khẩn trương mở rộng và nâng cấp. Cho đến đầu năm 1975, mạng đường này có tổng chiều dài hơn 20.000km, bao gồm 6 trục dọc (đường 128, 14, 22, 24A, 24B, 23) có chiều dài gần 7.000km; 13 trục ngang có chiều dài gần 5.000km. Bên canh đó, mạng đường kết nối các trục đường chính gồm có hệ thống đương vượt khẩu dài gần 700km, hệ thống đường vòng tránh dài hơn 4.700km và hệ thống đường kín dài hơn 3.100 km. Lực lượng tham gia mở đường, bảo vệ đường và lực lượng vận tải thuộc Đoàn 559 giờ đây được tổ chức thành các sư đoàn ôtô vận tải, các sư đoàn, trung đoàn công binh, các sư đoàn, trung đoàn phòng không, với quân số lên đến 9 vạn 7 nghìn người.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2011, 06:37:13 AM
Chương 34

TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG TÂY NGUYÊN
MỞ ĐẦU CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG
VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975

I - CHỦ TRƯƠNG CHIẾN LƯỢNG TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG
TÂY NGUYÊN

Ngay sau phiên họp ngày 8-1-1975 của bộ Chính trị, Thường vụ Quân ủy Trung ương tổ chức quán triệt Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị và bàn việc tổ chức thực hiện bước một kế hoạch tác chiến chiến lược, trọng tâm là bàn về chiến dịch Tây Nguyên - đòn tiến công mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Tham dự hội nghị, ngoài các đồng chí trong Thường vụ Quân ủy Trung ương, còn có các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chiến trường Khu 5, Tây Nguyên là Võ Chí Công, Chu Huy Mân, Hoàng Minh Thảo và hai Phó Tổng tham mưu trưởng phụ trách tác chiến Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái.

Thực ra, từ tháng 4-1973, khi Bộ Tổng tham mưu thành lập Tổ trung tâm và bắt tay vào xây dựng kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam, thì vấn đề lựa chọn chiến trường, chọn hướng tiến công chiến lược đã được Tổ trung tâm và nhiều tướng lĩnh ở Bộ Tổng tham mưu đề cập đến. Trên vấn đề này, đại đa số ý kiến đều cho rằng, nam Tây Nguyên là một địa bàn chiến lược quan trọng. đánh chiếm được Tây Nguyên, ta sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền và nhiều điều kiện thuận lợi để tổ chức các chiến dịch tiến công tiếp theo, thực hiện chia cắt địch về chiến lược và mở đường phát triển nhanh về hướng Sài Gòn. So với các nơi khác, nam Tây Nguyên là nơi địch yếu, sơ hở, dễ bị chia cắt và cô lập. Đây cũng là chiến trường ta có kinh nghiệm tác chiến và có sự chuẩn bị khá hơn. Đến tháng 2-1974, khi dự kiến phương hướng chiến lược trong 2 năm 1975-1976, trên cơ sở ý kiến của Bộ Tổng tham mưu và bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên, bộ đã bước đầu xác định đòn tiến công chính của chủ lực ta ở Tây Nguyên với hai mức: “Tiêu diệt địch, giải phóng hai tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn. Cắt đường 19, bao vây cô lập Kon Tum, Plâyku. Mức cao nhất tập trung giải phóng các tỉnh Tây Nguyên, trước hết tiêu diệt địch, giải phóng Kon Tum, Plâyku”(1). Việc bộ sớm xác định hướng tiến công chiến lược của ta ở Tây Nguyên và chỉ rõ từng mức phải đạt đã tạo điều kiện để Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chủ động nghiên cứu, chuẩn bị trước một bước về mọi mặt cho chiến trường quan trọng này.

Nhằm ở phía tây miền Trung Trung Bộ, gồm các cao nguyên và rừng núi nối tiếp nhau chạy theo hướng bắc - nam, Tây Nguyên là vùng đất có chiều dài từ bắc xuống nam khoảng 450 km, chiều rộng từ đông sang tây khoảng 150km, gồm địa bàn các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Phú Bổn Đắc Lắc và một phần tỉnh Quảng Đức. Phía bắc, Tây Nguyên giáp tỉnh Quảng Nam; phía nam, giáp tuyến miền Đông Nam Bộ; phía đông, giáp các tỉnh duyên hải miền Trung; phía tây, giáp hai nước Lào và Campuchia với đường biên giới chung dài khoảng 700km. Tây Nguyên có diện tích rộng gần 60.000km2, dân số (cuối năm 1974, đầu năm 1975) khoảng 1 triệu người gồm nhiều dân tộc như: Kinh (chiếm hơn 40%), Giarai, Êđê, Bana, Xơđăng, Cơho, Mơnông, Mạ, Giẻtriêng, Chu Ru, Brâu, Rơnăm, Bru, Chăm, Xtiêng, Hoa, Tày, Thái.

Phía bắc Tây Nguyên, địa hình chia cắt mạnh, núi cao, rừng rậm hiểm trở; nam Tây Nguyên, từ đường 19 trở vào, địa hình bằng phẳng hơn. Về giao thông, Tây Nguyên có đường 14 chạy dọc từ bắc xuống nam, nối thị xã Kon Tum qua Plâyku, Buôn Ma Thuột, Đức Lập xuống đường 20 ở miền Đông Nam Bộ. Mạng trục ngang gồm đương 7, đường 19, đường 21 nối Tây Nguyên với các tỉnh đồng bằng ven biển. Tây Nguyên có hai con sông lớn là Pôkô và Sêrêpốc. Vào mùa mưa, lưu tốc của hai con sông này rất lớn, việc cơ động hai phương tiện qua sông gặp nhiều khó khăn. Các sân bay Kon Tum, Cù Hanh, Ares (Plâyku), Hòa Bình (Buôn Ma Thuột) đều là sân bay cấp 2 và cấp 3, tương đối hiện đại.

Được ví như nóc nhà của Đông dương, Tây Nguyên chiếm giữ vị trí đặc biệt quan trọng; mất Tây Nguyên là mất các tỉnh duyên hải miền Trung, các tỉnh Đông Nam Bộ, các tỉnh đông bắc Campuchia và các tỉnh Hạ Lào. Vì thế, ngay sau khi độc chiếm miền Nam, đế quốc Mỹ đã biến Tây Nguyên thành căn cứ chiến lược lớn hòng đè bẹp phong trào cách mạng của ba nước Đông Dương, ngăn chặn sự chi viện từ miền Bắc vào vừa từ rừng núi xuống các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung. Trong những năm tiến hành chiến tranh cục bộ, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Mỹ (MACV) đã bố trí Sư đoàn 1 kỵ binh không vận đóng ở An Khê và Sư đoàn 4 bộ binh ở Hòn Rồng - Bàu Cạn thuộc tỉnh Gia Lai để phối hợp với quân Mỹ trên toàn chiến trường, mở các cuộc hành quân “tìm giệt” chủ lực Quân giải phóng. Sau Hiệp định Pari, mặc dù phải rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, Mỹ vẫn tăng cường trang bị quân đội Sài Gòn củng cố hệ thống phòng thủ trên địa bàn chiến lược này. Dọc đường số 14, quân đội Sài Gòn bố trí hệ thống căn cứ quân sự dày đặc, trong đó có các căn cứ lớn cấp quân đoàn và sư đoàn ở Kon Tum, Plâyku, Buôn Ma Thuột. Hệ thống phòng ngự đường 14 được tổ chức vững chắc, là tuyến phòng ngự cơ bản của toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch ở Tây Nguyên, đồng thời là tuyến ngăn chặn chủ lực Quân giải phóng từ phía tây xuống đông Tây Nguyên. Dọc trục đường số 19 và 21, địch tổ chức các tuyến phòng thủ mạnh để bảo đảm mạch máu giao thông từ Tây Nguyên xuống các tỉnh đồng bằng duyên hải, đồng thời cũng là tuyến ngăn chặn từ Bắc vào Nam.


(1) Điện số 01/TK-G6/1 của Quân ủy Trung ương ngày 14-2-1974


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2011, 06:38:57 AM
Đến cuối năm 1974, đầu năm 1975, lực lượng địch ở Quân khu 2 được bố trí trên hai vùng:

- Vùng duyên hải: có Sư đoàn bộ binh 22, 45 tiểu đoàn bảo an, 5 tiểu đoàn pháo (146 khẩu), 1 thiết đoàn và 8 chi đội thiết giáp (117 chiếc), 12 phi đoàn không quân (337 máy bay, trong đó có 102 máy bay chiến đấu, 164 trực thăng). Toàn bộ lực lượng này được bố trí dọc theo trục đường số 1 trong hệ thống phòng ngự vững chắc và khu vực các sân bay Quy Nhơn, Đông Tác (Tuy Hòa), Nha Trang, Cam Ranh (Khánh Hòa), Thành Sơn (Phan Rang).

- Vùng Tây Nguyên: có Sư đoàn bộ binh 23 (gồm 3 trung đoàn: 44, 45, 53), 7 tiểu đoàn biệt động quân (4, 6, 21, 22, 23, 24, 25), 36 tiểu đoàn bảo an, 4 thiết đoàn thiết giáp, 230 khẩu pháo, Sư đoàn không quân số 6 (150 máy bay trong đó có 24 máy bay chiến đấu). Sở chỉ huy Quân đoàn 2 - Quân khu 2 được đặt tại Plâyku, Sở chỉ huy Sư đoàn 23 đặt ở Buôn Ma Thuột. trong tổ chức phòng ngự ơ Tây Nguyên, địch bố trí lực lượng phòng ngự mạnh ở phía bắc (Kon Tum, Plâyku) còn khu vực Buôn Ma thuột phía nam, chúng xem như hậu phương chiến dịch nên bố trí lực lượng mỏng hơn.

Tháng 12-1974, Thiếu tướng Phạm Văn Phú - chỉ huy Trung tâm huấn luyện Quang Trung được Nguyễn Văn Thiệu điều tới thay Trung tướng Phạm Văn Toàn làm Tư lệnh Vùng 2 - Quân khu 2.

Về phía ta, sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đã tập trung chỉ đạo quân và dân Tây Nguyên triển khai các bước chuẩn bị, sẵn sàng đón thời cơ mới. Để mở rộng vùng giải phóng, tạo thế đứng chân cho các đơn vị chủ lực của ta, sau khi đánh chiếm căn cứ Chư Nghé ở phía tây thị xã Plâyku, tháng 4-1974, Sư đoàn 320A tiếp tục tiến công các căn cứ Lệ Ngọc, 711 và 601. Tháng 5-1974, Trung đoàn 25 đánh chiếm căn cứ Ea Súp, giải phóng một vùng khá rộng lớn ở phía tây vùng đất nằm giữa hai tỉnh Gia Lai và Đắc Lắc, dồn địch vào sát các thị trấn, thị xã.

Trên hướng Kon Tum, tháng 3-1974, Sư đoàn 10 mở cuộc tiến công địch ở cao điểm Kon Rốc, tiêu diệt 1 tiểu đoàn và 2 đại đội. Tiếp đó, hai quận lỵ Đắc Pét và Mang Đen cũng bị Sư đoàn 10 đánh chiếm. Phối hợp với dòn tiến công của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương Kon Tum bức rút địch ở quận lỵ Măng Bút, ép địch sát vào thị xã Kon Tum, giải phóng một vùng phía bắc thị xã Kon Tum, tạo ra thế đứng chân vững chắc cho các đơn vị Quân giải phóng.

Giữa năm 1974, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh cử đồng chí Vũ Lăng làm Tư lệnh, đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên, thay đồng chí Hoàng Minh Thảo và đồng chí Trần Thế Môn đi nhận nhiệm vụ khác. Trước khi vào chiến trường, đồng chí Vũ Lăng được các đồng chí ở Cục Tác chiến Bộ Tổng tham trao đổi, gợi ý sơ bộ về nhiệm vụ năm 1975, trong đó có nhiệm vụ của khối chủ lực Tây Nguyên.

Trước yêu cầu của nhiệm vụ trong thời kỳ mới, từ tháng 6-1974, Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên đã ra nghị quyết về xây dựng khối chủ lực Tây Nguyên theo hướng tổ chức thành binh đoàn chiến dịch, đảm bảo cho khối chủ lực này có khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng và có sức cơ động cao. Theo phương hướng đó, các sư đoàn pháo binh, lực lượng pháo binh của mặt trận được tổ chức thành 2 trung đoàn hoàn chỉnh. Lực lượng phòng không thành công lại thành 2 trung đoàn (234 và 575). Trung đoàn 198 đặc công, Trung đoàn 273 xe tăng, Trung đoàn 29 thông tin đều được bổ sung thêm quân số, vũ khí, trang bị, khí tài hiện đại. Công tác huấn luyện nhằm nâng cao sức mạnh chiến đấu của các đơn vị được xúc tiến khẩn trương, trong đó rất chú trọng huấn luyện tác chiến hiệp đồng binh chủng. Bộ tư lệnh Mặt trận mở các lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức, lý luận về nghệ thuật tác chiến chiến dịch cho đội ngũ cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên. Thực tiễn các chiến dịch đường 9 - Nam Lào năm 1971, chiến dịch tiến công năm 1972 và một số chiến dịch trong năm 1973-1974 đều được đem ra thảo luận, phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng lúc này tập trung vào việc quán triệt Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21, triển khai các cuộc vận động: “Nâng cao chất lượng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu”; “Nâng cao ý thức sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật đạt hiệu quả cao”, phát động phát triển thi đua giết giặc lập công trong các đơn vị…


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2011, 06:39:41 AM
Đảm bảo đường cơ động lực lượng và đường vận chuyển vật chất từ bắc xuống nam Tây Nguyên là một nhiệm vụ cấp bách, nặng nề đặt ra cho cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận. Từ tháng 9-1974, hệ thống đường cơ động chiến dịch ở Nam Tây Nguyên bắt đầu được triển khai. Phía bắc Đức Lập, các đường 6B, 2B, N1, N5, 14C, 22, 23, 128 được xây dựng. Lực lượng công binh của các sư đoàn và các binh chủng mở các trục đường nhánh đảm bảo cơ động cho đơn vị mình. Tháng 11-1974, công binh ta bắc 3 cầu: Pô Cô Hạ, Diên Bình, Đắc Mót và tiếp tục là cầu phao lớn trọng tải 50 tấn qua sông Pôkô và sông Sêrêpốc. Từ cuối tháng 1-1975, ta tập trung khôi phục đường 50 và đường 48 ở bắc Buôn Ma Thuột; đến tháng 2-1975 mở thêm tuyến đường mới 503, 500, 50B dài 61 km; các đường 51, 57B, 57C dài 75 km. Việc mở đường 20C ở phía tây sông Sêrêpốc và làm 2 bến phà 3A và 3B trên sông này, chúng ta gặp rất nhiều trở ngại, khó khăn. Để đảm báo bí mật khi mở đường, lực lượng công binh có sáng kiến là chỉ cưa các cây lớn (khoảng 2/3 tiết diện cây). Hai bến phà máy chỉ được triển khai khi bộ đội bắt đầu nổ súng (2 giờ sáng ngày N) tiến công Buôn Ma Thuột để giữ bí mật bất ngờ. Ngoài ra, bộ đội công binh còn trinh sát và lập kế hoạch tận dụng hệ thống đường lâm nghiệp để phục vụ cơ động bộ đội khi cần. Hệ thống đường lâm nghiệp và hệ thống đường mới mở khoảng 560 km, đảm bảo cho lực lượng và các phương tiện tham gia chiến dịch cơ động triển khai thuận lợi.

Đường chiến dịch mở rộng, vươn xa tới đâu, hệ thống kho tàng, dự trữ vật chất, hậu cần bảo đảm cho chiến dịch cũng được xây dựng tới đó. Các trạm kho ở Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc mỗi đêm tiếp nhận khoảng 120 xe tăng. Nhờ sự nỗ lực vượt bậc của Đoàn 559, những tháng đầu của năm 1975, số vật chất mà hậu cần chiến dịch nhận được đã vượt 10% so với kế hoạch cả năm. Đến tháng 3-1975, hục chiến dịch đã chuyển giao cho các đơn vị đạt 78% kế hoạch, trong đó, lương thực, thực phẩm đạt 114%, vũ khí 83%, xăng dầu 24%. Trước ngày chiến dịch mở màn, mỗi cán bộ, chiến sĩ được cấp phát 2 bộ quân phục, 50% quân số được cấp bổ sung giày, dép, mũ cứng, 30% được phát nilông che mưa. Lúc này, hậu cần chiến dịch tổ chức được căn cứ ở suối Đắc Đam và phân cụm ở tây Ea Hleo, bảo đảm phục vụ trên cả hai hướng chiến dịch. Những yếu tố trên góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của bộ đội ta.

Cùng với công tác chuẩn bị chiến trường, công tác trinh sát nắm địch cũng được Bộ Quốc phòng và mặt trận hết sức chú trọng. Từ tháng 9-1974, ta đã tổ chức lực lượng trinh sát vào nam Tây Nguyên để nắm địch và địa hình; mọi hoạt động của địch từ Đức Lập đến Cẩm Ga, đặc biệt là thị xã Buôn Ma Thuột, đều được báo cáo kịp thời về Bộ Tư lệnh Mặt trận.

Tháng 9-1974, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh chính thức giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh B3 mở chiến dịch nam Tây Nguyên. Khu vực tác chiến lúc đầu được xác định chủ yếu la Thuần Mẫn, Đức Lập. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận đã nghiên cứu, quán tiệt nhiệm vụ và phổ biến sơ bộ cho các đơn vị liên quan chuẩn bị trước.

Để mở rộng vùng giải phóng, tạo thế trận mới ở bắc đông bắc Kon Tum, nam - tây nam Gia Lai, từ ngày 3 đến ngày 10-10-1974, lực lượng vũ trang Tây Nguyên mở các cuộc tiến công tiêu diệt các chi khu quân sự, quận lỵ Măng Đen, Măng Bút, cùng hệ thống đồn bốt cứ điểm dọc đường 19 từ đồn Tầm, làng Dịt đến Thanh Bình… Ngày 13-11-1974, Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ lần thứ hai cho Mặt trận Tây Nguyên, theo đó, phạm vi, quy mô và mục tiêu của chiến dịch nam Tây Nguyên được mở rộng với yêu cầu lớn hơn:

- Tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch: diệt, làm bị thương từ 4 đến 5 vạn tên, trong đó diệt từ 3 đến 4 trung đoàn bộ binh, thiết giáp, đánh thiệt hại nặng từ 1 đến 2 sư đoàn chủ lực quân đội Sài Gòn, diệt nhiều tiểu đoàn bảo an, trung đội dân vệ, làm tụt nhanh quân số của chúng; mở rộng hành lang chiến lược từ đường 14 qua Gia Nghĩa xuống đường 20 nối với miền Đông Nam Bộ và từ Tây Nguyên xuống ba tỉnh Khu 5.

- Giải phóng nhân dân và phần lớn vùng đất nam Plâycu và Cheo Reo, xung quanh Buôn Ma Thuột; đánh bại kế hoạch bình định nống lấn và thủ đoạn giải tỏa của địch, giữ vững, phát huy quyền làm chủ chiến trường, thực hiện chia cắt chiến lược; tích cực phối hợp với mặt trận chống phá bình định ở đồng bằng. Cụ thể, diệt từ 1 đến 3 tiểu khu, chi khu từ 1 đến 2 tỉnh lỵ (Gia Nghĩa, Cheo Reo).

- Đánh phá giao thông và hậu cứ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, làm cho tiềm lực kinh tế địch bị giảm sút nghiêm trọng; khi có thời cơ, thực hiện chia cắt hẳn các đường 14, 12, 21 - trọng điểm là đường 19.

- Phát triển đấu tranh chính trị trong các thị xã; ra sức xây dựng cơ sở tự vệ mật, các tổ chức biệt động, diệt ác ổn đầu sỏ, tạo thế làm chủ cơ sở.

- Xây dựng ba thứ quân, xây dựng vùng giải phóng, đường chiến dịch, chiến lược, hoàn thành mọi công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ tiếp theo.

Trong 5 mục tiêu trên, yêu cầu tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng địa bàn được xác định là nhiệm vụ trung tâm quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới thắng lợi của chiến dịch.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2011, 06:41:44 AM
Từ ngày 1 đến ngày 5-12-1974, Đảng ủy Mặt trận họp mở rộng quán triệt nhiệm vụ Quân ủy Trung ương giao. Trên cơ sở đánh giá quân đội Sài Gòn đang có bước suy yếu mới, toàn diện không gượng dậy được, xu thế của chúng là lùi về phòng ngự bị động; ta đang có bước phát triển mới cả về thế và lực, Đảng ủy Mặt trận cho rằng phải nắm vững khâu chủ yếu là tiêu diệt sinh lực địch, phá hủy phương tiện chiến tranh, giải phóng địa bàn; đồng thời, phải tích cực khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho đánh tiêu diệt lớn khi thời cơ đến. Căn cứ nhiệm vụ được giao, Đảng ủy Mặt trận xác định phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến của chiến dịch nam Tây Nguyên là: “Mạnh bạo, chắc thắng, chủ động, cơ động, linh hoạt, bí mật bất ngờ”; đồng thời chủ trương: “Bằng mọi biện pháp thích hợp với tình hình cụ thể, tiến hành công tác tư tưởng và tổ chức một cách tích cực, kể cả phía trước và phía sau, cơ quan và đơn vị, nhằm tạo nên chuyển biến căn bản, toàn diện, có khí thế và hành động cách mạng sục sôi, tự giác”, bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ ý chí quyết tâm chiến đấu cao, “vững vàng trước mọi diễn biến của tình hình, tích cực tiến công địch trong mọi hoàn cảnh; mục tiêu nào cũng đánh được, lực lượng nào cũng đánh, đánh liên tục, dẻo dai, dũng cảm mưu trí, sáng tạo, đạp bằng mọi khó khăn, gian khổ, quyết tâm giành thắng lợi cao nhất, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao”(1).

Lúc này, trên khắp chiến trường, quân và dân ta đang đẩy mạnh tiến công địch về quân sự và chính trị. Ở Khu 9, từ tháng 12-1974 đến tháng 2-1975, địch đã bị mất 800 đồn bốt, chi khu, căn cứ, 287 ấp với 400.000 dân. Ở Khu 8, địch mất 320 đồn bốt, 193 ấp với 100.000 dân. Đặc biệt, khi toàn bộ tỉnh Phước Long (miền Đông Nam Bộ) bị quân ta đánh chiếm, địch phản ứng yếu ớt và tỏ ra bất lực trong việc tổ chức lực lượng phản kích nhằm giành lại địa bàn quan trọng này.

Trước thời cơ và những diễn biến thuận lợi ở các chiến trường, ngày 21-1-1975, đồng chí Lê Ngọc Hiền - Phó Tổng tham mưu trưởng, được Bộ Tư lệnh cử vào Tây Nguyên phổ biến chỉ thị của Thường vụ Quân ủy Trung ương về nhiệm vụ mới của chiến dịch nam Tây Nguyên. Đây là lần giao nhiệm vụ thứ ba của Quân ủy Trung ương cho Mặt trận Tây Nguyên, trong đó xác định một số yêu cầu, mục tiêu chủ yếu như:

- Tiêu diệt sinh lực địch; xác định phải tiêu diệt được bộ phận quan trọng (cỡ sư đoàn địch), đánh thiệt hại nặng Quân đoàn 2 Sài Gòn, diệt 4 đến 5 trung đoàn bộ binh, 1 đến 2 thiết đoàn, nhiều liên đoàn, tiểu đoàn, đại đội bảo an, trung đội dân vệ; phá rã mảng hệ thống kìm kịp trong khu vực tác chiến của chiến dịch; bắt nhiều tù binh, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, thu nhiều binh khí kỹ thuật của địch để đánh địch và làm dự trữ cho ta.

- Giải phóng, mở hành lang: mục tiêu đặt ra là giải phóng các tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức (trọng điểm là Đắc Lắc), 3 thị xã Che Reo, Gia Nghĩa, Buôn Ma Thuột và ba quận lỵ quan trọng là Đức Lập, Cẩm Ga, Kiến Đức, mở rộng hành lang chiến lược nối liền Tây Nguyên với Nam Bộ và đồng bằng Liên khu 5, từ đường số 14 qua Gia Nghĩa xuống đường số 20 đi Nam Bộ và từ Tây Nguyên xuống ba tỉnh vùng duyên hải; thực hiện chia cắt chiến lược, cô lập địch, mở địa bàn, tăng thêm khả năng cơ động mới cho bộ đội chủ lực Tây Nguyên, tạo cục diện mới về chiến lược; củng cố, xây dựng vùng giải phóng, phát triển lực lượng tại chỗ (du kích, bộ đội địa phương), đánh bại mọi âm mưu lấn chiếm và thủ đoạn giải tỏa của địch, giữ vững vùng ta mới mở.

- Kết hợp với lực lượng địa phương phá bình định, giành dân ở các khu trọng điểm và vùng đất bằng Tây Nguyên.

- Rèn luyện nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy tác chiến cấp chiến dịch và chiến đấu hiệp đồng binh chủng quy mô tương đối lớn, đánh vận động và đánh địch trong công sự vững chắc, đặc biệt là trong thị xã, đánh thành phố, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tiếp theo.

Từ cuối năm 1974 đầu năm 1975, Bộ Tổng Tư lệnh đã tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên các sư đoàn bộ binh và nhiều đơn vị binh chủng, đồng thời tiến hành các hoạt động nghi binh lừa địch.

Sư đoàn 968 (thiếu Trung đoàn 39)(2) lúc bấy giờ đang đứng chân tại Nam Lào) được lệnh phải có mặt ở Tây Nguyên trước ngày 6-1-1975 để nhận nhiệm vụ. Khi sư đoàn về đến Tây Nguyên, đồng chí Hoàng Minh Thảo thay mặt Bộ Chỉ huy chiến dịch giao nhiệm vụ cụ thể cho Sư đoàn 968: nhanh chóng thay cho Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A đang đứng chân trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum để hai sư đoàn này cơ động về hướng chính làm nhiệm vụ. Yêu cầu mà Bộ Tư lệnh chiến dịch đặt ra là khi thay phiên, các đơn vị phải tuyệt đối giữ bí mật, không để địch nghi ngờ hoặc phát hiện việc ta đã rút hai sư đoàn đó đi. Với Sư đoàn 968, bằng mọi biện pháp, sư đoàn phải thu hút sự tập trung đối phó của địch lên hướng bắc Tây Nguyên, ghìm chân địch ở hướng này càng lâu càng tốt cho đến ngày hướng chính nổ súng.


(1) Nghị quyết Đảng ủy Mặt trận Tây Nguyên tháng 12-1974.
(2) Trung đoàn 39 ở lại Nam Lào hoạt động nhưng lấy phiên hiệu của Sư đoàn 968 để liên lạc.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2011, 06:43:28 AM
Để giữ bí mật, Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A không sử dụng vô tuyến diện để liên lạc. Theo quy ước chung trong lúc thay phiên, Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A để lại toàn bộ các mật danh vô tuyến liên lạc, bộ và Sư đoàn 968 giữ mối liên lạc thường xuyên như cũ. Ngày 17-1-1975, Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A di chuyển hết lực lượng về nam Tây Nguyên nhận nhiệm vụ mới mà địch vẫn tưởng hai sư đoàn chủ lực này của ta vẫn còn đang ém quân sát Plâyku và Kon Tum.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, Sư đoàn 968 sử dụng một tiểu đoàn tăng cường vào đánh giao thông trên đường 19, đoạn từ Thanh An, Bầu Cạn kéo dài từ đường 19 đến đường 21, cắt đứt vận chuyển tiếp tế của địch, buộc địch phải sử dụng lực lượng chủ lực giải tỏa và bảo vệ giao thông vận chuyển, hình thành thế bao vây, chia cắt Plâyku, cô lập chi khu quận lỵ Thanh An, Lệ Ngọc; làm sẵn các trận địa pháo ở các khu vực điểm cao 946, bắc Ngọc Quặn (Kon Tum) và bắc đường 5A (Plâyku), chuẩn bị trước các điều kiện xạ kích để khi được lệnh, sẽ bắn vào thị xã Kon Tum, sân bay Củ Hanh và La Sơn; mở đường mới ở tây Plâycu, bắc đường 5A đến điểm cao 734, mở đường ở nam Lệ Ngọc, nam Thanh An ra sát đường 14 (cách đường 14 khoảng 4 km), sửa chữa đường 220 xuống đến bắc thị xã Kon Tum; đồng thời, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để sẵn sàng giải phóng Kon Tum, Plâyku.

Trong khi Sư đoàn 968 nhận lệnh vào thay phiên cho sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A, thì tại Nghệ An, ngày 15-1-1975, Sư đoàn 316 được lệnh hành quân bằng xe cơ giới vào Tây Nguyên. Ngày 3-2-1975, sư đoàn vào tới Đắc Đam. Tại khu vực giấu quân này, sư đoàn khẩn trương triển khai mọi công tác chuẩn bị theo mệnh lệnh tác chiến, sẵn sàng tham gia chiến dịch Tây Nguyên.

Để tăng cường sự lãnh đạo và chỉ huy chiến dịch tiến công chiến lược Xuân 1975, đặc biệt là bảo đảm cho chiến dịch Tây Nguyên, với trận mở màn then chốt Buôn Ma Thuột, giành thắng lợi, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định cử các đồng chí Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng, Đinh Đức Thiện - Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Lê Ngọc Hiền - Tổng Tham mưu phó và một số cán bộ của Bộ Tổng tham mưu vào chiến trường, hình thành bộ phận đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh ở chiến trường miền Nam (mang mật danh Đoàn A75). Như vậy, cơ quan chỉ huy quân sự của Bộ Tổng Tư lệnh - Bộ Tổng tham mưu đã được hình thành ở cả phía trước và phía sau, vừa sâu sát mặt trận, nắm bắt diễn biến tình hình tại chỗ; vừa bao quát ở thầm chiến lược, đảm bảo chỉ huy đúng đắn, kịp thời.

Trước ngày đoàn lên đường, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Hoàng Văn Thái có cuộc họp bàn về cách đánh trong chiến dịch Tây Nguyên; tất cả đều thống nhất: đòn tiến công chiến lược đầu tiên phải tranh thủ bất ngờ, tập trung cao độ giải quyết Buôn Ma Thuột, bảo đảm chắc thắng trận đầu; tiếp đó, nhanh chóng phát huy thắng lợi, tiến công liên tục, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, giải phóng và giữ cho được địa bàn chiến lược quan trọng ở Tây Nguyên. Để đảm bảo bí mật, theo quy ước, đồng chí Võ Nguyên Giáp có mật danh là Chiến; đồng chí Văn Tiến Dũng mang mật danh là Tuấn; các đồng chí thủ trưởng Bộ Tổng tham mưu, các tổng cục Chính trị, Hậu cần đều có mật danh riêng.

Ngày 5-2-1975, Đoàn A75 lên đường. Những biện pháp bảo mật, nghi binh được thực hiện nghiêm ngặt. Một số đồng chí do yêu cầu nhiệm vụ đã lên đường vào chiến trường trước, một số đồng chí gia nhập đoàn trên đường hành quân(1). Ngay khi vào đến Sở Chỉ huy của bộ ở phía tây nam thị xã Buôn Ma Thuột, đồng chí Văn Tiến Dũng đã thay mặt Quân ủy Trung ương công bố quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên gồm: Tư lệnh - Trung tướng Hoàng Minh Thảo; Chính ủy - Đại tá Đặng Vũ Hiệp; Phó Tư lệnh - Thiếu tướng Vũ Lăng và các Đại tá Phan Hàm, Nguyễn Năng, Nguyễn Lang; Phó Chính ủy - Đại tá Phí Triệu Hàm.

Khu ủy Khu 5 cử đồng chí Bùi San - Phó Bí thư Khu ủy và các đồng chí lãnh đạo khác cùng đồng chí Nguyễn Cần - Bí thư, Lê Chí Quyết - Phó Bí thư tỉnh ủy Đắc Lắc và một số đồng chí Tỉnh ủy viên ở bên cạnh Bộ Tư lệnh và đảng ủy chiến dịch chỉ đạo hoạt động nổi dậy của quần chúng; đồng chí Ma H’Oanh - Bí thư Thị ủy Buôn Ma Thuột cùng một số cơ quan khu ủy, tỉnh ủy ở Tây Nguyên chỉ đạo các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực, đồng thời lãnh đạo phong trào nổi dậy của quần chúng đứng lên giành quyền làm chủ, thiết lập chính quyền cách mạng và các vùng giải phóng.


(1) Đồng chí Đinh Đức Thiện nhập vào Đoàn A75 trên đường hành quân, còn trước đó, đồng chí Lê Ngọc Hiền đã vào chiến trường từ cuối tháng 1-1975.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2011, 06:45:58 AM
Từ ngày 17 đến ngày 19-2-1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên họp mở rộng để bàn phương án tác chiến. Đánh giá về các khả năng ứng phó của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch dự kiến: ngoài lực lượng hiện đang chiếm đóng, Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn có thể huy động cao nhất từ 5 đến 7 trung đoàn bộ binh để lần lượt tổ chức phản đột kích(1). Trong điều kiện nếu không phải đối phó trên nhiều hướng, địch có thể huy động cả lực lượng ở các quân khu khác và lực lượng dự bị chiến lược, khoảng 9 đến 12 trung đoàn. Lực lượng này sẽ được cơ động bằng ô tô, theo các trục đương 19, 14, 21; nếu phải đối phó trên nhiều hướng, địch chỉ có thể huy động được 3 đến 4 trung đoàn. Nếu địch tổ chức đổ bộ đường không, thì mỗi ngày chỉ có thể thực hiện được khoảng một trung đoàn. Ngoài ra, địch có khả năng chi viện từ 1 đến 2 tiểu đoàn thiết giáp, từ 3 đến 5 tiểu đoàn pháo cơ giới cho hướng chủ yếu, 60 đến 80 lần chiếc máy bay; nếu có không quân Mỹ tham gia, có thể huy động từ 100 đến 120 lần chiếc/ngày.

Về phía ta, lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn bộ binh (10; 320A; 316; 968; 3) và 4 trung đoàn bộ binh (25; 271; 95A, 95B); Trung đoàn đặc công 198 và 2 tiểu đoàn đặc công (14; 27); Trung đoàn xe tăng - thiết giáp 273; 2 trung đoàn pháo binh (40; 675); 3 trung đoàn pháo phòng không (232; 234; 593); 2 trung đoàn công binh (7; 575); Trung đoàn thông tin 29; Trung đoàn ôtô vận tải và lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh Đắc Lắc, Kon Tum, Gia Lai.

Trên cơ sở so sánh lực lượng giữa ta và địch, căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ chiến đấu được giao, Bộ Tư lệnh chiến dịch xác định:

- Hướng và khu vực tác chiến chủ yếu: Buôn Ma Thuột - Đức Lập. Mục tiêu quyết định là thị xã Buôn Ma Thuột.

- Hướng và mục tiêu quan trọng: Thuần Mẫn (Cẩm Ga), nhằm cắt đứt đường 14, thực hiện chia cắt địch về chiến dịch, ngăn chặn dự bị địch từ Plâyku xuống Buôn Ma Thuột.

- Hướng phát triển: Phú Bốn, Quảng Đức, chủ yếu là Phú Bổn - bao gồm cả thị xã Cheo Reo.

- Hướng bao vây chia cắt chiến dịch: khu vực đường số 19 (cắt đoạn từ đông Plâyku qua An Khê tới đông Bình Khê), chặn đứng mọi sự chi viện từ đồng bằng lên Plâyku và ngăn không cho địch từ Plâyku cơ động về đồng bằng; cắt đường số 21 (trên đoạn đông tây Chư Cúc), chặn địch từ Khánh Hóa lên Buôn Ma Thuột và từ Buôn Ma Thuột tháo chạy về đồng bằng.

- Hướng nghi binh: có nhiệm vụ nghi binh, kiềm chế, giam chân khối chủ lực Quân khu 2 ở Kon Tm, Plâyku.

Về trận then chốt quyết định giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, Bộ Tư lệnh chiến dịch dự kiến hai phương án:

Một là, đánh địch khi chúng chưa phòng ngự dự phòng (địch chưa đưa Sư đoàn 23 về phòng thủ Buôn Ma Thuột). Đây là phương án lý tưởng nhất, đảm bảo đánh chiếm nhanh các mục tiêu mà ít gây thiệt hại cho thị xã. Vấn đề cốt yếu nhất của phương án này là làm sao nghi binh, thu hút, giam hân được 8 trung đoàn chủ lực quân đội Sài Gòn ở bắc Tây Nguyên, không cho chúng về Buôn Ma Thuột trước khi quân ta nổ súng đánh vào thị xã.

Hai là, đánh địch đã tăng cường phòng ngự dự phòng. Đây là tình huống sẽ diễn ra chiến đấu giằng co rất gay go, ác liệt. Bộ Tư lệnh chiến dịch yêu cầu các đơn vị trong công tác chuẩn bị lấy phương án 2 làm cơ bản, nhưng trong thực hiện phải hết sức tạo thời cơ và điều kiện đánh địch theo phương án thứ nhất.

Quá trình bàn bạc kế hoạch tác chiến, đại diện Quân ủy Trung ương và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chiến dịch nhất trí nhanh về nhiệm vụ và mục tiêu của chiến dịch, “nhưng về cách đánh đã phải suy nghĩ, cân nhắc rất nhiều, phải mất nhiều thì giờ thảo luận mới đi đến nhất trí và có những sự phát triển mới”(2).

Rút kinh nghiệm những chiến dịch trước đây và xuất phát từ yêu cầu chiến lược của giai đoạn kết thúc chiến tranh, căn cứ vào điều kiện chiến trường, vào thế và lực của ta, đại diện Quân ủy Trung ương và bộ Tư lệnh chiến dịch, sau một quá trình bàn bạc, đã xác định rõ cách đánh trong chiến dịch Tây Nguyên là:

- Sử dụng lực lượng tương đối lớn (cỡ trung đoàn, sư đoàn) để cắt các đường giao thông (14, 19, 21), tạo ra thế chia cắt địch về chiến lược, tách Tây Nguyên với đồng bằng ven biển; phải cô lập Buôn Ma Thuột với Plâyku, Plâyku với Kon Tum; đồng thời, tích cực hoạt động nghi binh, giam chân địch, thu hút sự chú ý và lôi kéo lực lượng của chúng về phía bắc Tây Nguyên, tạo điều kiện cho ta có thể giữ bí mật bất ngờ ở phía nam cho đến khi nổ súng đánh Buôn Ma Thuột.

- Tổ chức thực hiện chắc thắng trận then chốt mở màn chiến dịch, đánh chiếm Buôn Ma Thuột bằng cách tổ chức lực lượng đột kích binh chủng hợp thành tương đối mạnh cỡ trung đoàn; tập kích từ xa vận động đến, bỏ qua các mục tiêu địch bảo vệ vòng ngoài, bất ngờ thọc sâu vào bên trong thị xã, phối hợp với các đơn vị đặc công và bộ binh bí mật bố trí sẵn từ trước, nhanh chóng tiêu diệt ngay các mục tiêu chỉ huy đầu não và vị trí xung yếu, đánh chiếm vững chắc các bàn đạp bên trong xong rồi mới từ trong thị xã đánh ra ngoài tiêu diệt những cứ điểm cô lập đã mất chỉ huy. Trong quá trình đó, ta phải nhanh chóng hình thành ngay một lực lượng dự bị binh chủng hợp thành mạnh, sẵn sàng đánh bại các cuộc phản kích của địch hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột.


(1) Phản đột kích: công kích của liên binh đoàn được tiến hành trong chiến dịch phòng ngự nhằm tiêu diệt, tiêu hao lực lượng đột nhập trận địa, khôi phục một phần hoặc toàn bộ khu vực phòng ngự đã mất, tạo điều kiện chuyển sang tiến công, phản công hoặc cho các hoạt động tác chiến tiếp theo.
(2) Đại tướng Văn Tiến Dũng: Cuộc kháng chiến chống Mỹ thoàn thắng, Sđd, t.2, tr. 187.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2011, 06:51:20 AM
Do trước đó tại Tây Nguyên, ta đã bố trí lực lượng mạnh ở quanh Đức Lập tới Đắc Song để tiêu diệt địch và mở đoạn đường số 14 đánh thông hành lang chiến lược vào Nam Bộ nên việc đánh chiếm Buôn Ma Thuột ngay từ đầu chiến dịch sẽ rất khó thực hiện. Vì thế, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định cứ đánh Đức Lập trước rồi đánh tiếp Buôn Ma Thuột ngay ngày hôm sau. Khi ta đã cô lập được thị xã Buôn Ma Thuột thì việc triển khai lực lượng cài thế tiến công sẽ gặp thuận lợi.

Ngày 25-2-1975, tại khu rừng bên bờ sông Đắc Đam, sau khi nghe Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên báo cáo quyết tâm chiến đấu, Đại tướng Văn Tiến Dũng - đại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, đã bổ sung thêm những nội dung quan trọng về sử dụng lực lượng, cách đánh; đồng thời ký phê chuẩn quyết tâm chiến đấu của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên.

Căn cứ vào quyết tâm chiến đấu đã được thông qua, cuối tháng 2-1`975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên tiến hành giao nhiệm vụ chiến đấu cụ thể cho các lực lượng tham gia chiến dịch.

Về phía địch, do phán đoán ta sẽ đánh Plâyku, Kon Tum nên địch đã tập trung khối chủ lực giữ bắc Tây Nguyên. Khoảng giữa tháng 2-1975, qua các cuộc lùng sục ở bắc thị xã Buôn Ma Thuột, phát hiện một số dấu hiệu chuyển quân của ta, địch có nghi ngờ ta chuẩn bị đánh Buôn Ma Thuột, chúng định đưa Sư đoàn 23 về phòng thủ thị xã nhưng tình báo Mỹ lại khẳng định Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A vẫn còn ở bắc Tây Nguyên nên chúng chỉ đưa Trung đoàn 45 từ Plâyku về khu vực Ea Hleo để sục sạo phát hiện lực lượng Sư đoàn 320A.

Lúc này, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên cho rằng, mặc dù địch nghi ta chuẩn bị đánh Đức Lập, Gia Nghĩa, Buôn Ma Thuột, cắt đường 14 ở Cẩm Ga, nhưng do chỉ nắm được một số bằng chứng riêng lẻ nên chúng vẫn chưa phát hiện được ý định và lực lượng chiến dịch của ta. Vì thế, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho các đơn vị phải tuyệt đối đảm bảo bí mật, không để địch phát hiện ra ý định chiến dịch và lực lượng ta ở hước tác chiến chủ yếu (Buôn Ma Thuột); tích cực hoạt động nghi binh trên hướng Kon Tum - Plâyku, kiềm giữ Trung đoàn 44 và các lực lượng khác ở lại Tây Nguyên. Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ thị Sư đoàn 320A tạm lùi đội hình về phía tây, tránh đụng độ với Trung đoàn 45 quân đội Sài Gòn, đồng thời lệnh cho Sư đoàn 968 đẩy mạnh các hoạt động nghi binh bằng việc huy động lực lượng mở gấp 3 tuyến đường:

- Tuyến thứ nhất ở bắc Kon Tum (từ ngã ba Võ Định chạy thẳng xuống An Khê);

- Tuyến thứ hai: từ Đức Cơ trên đường 19 kéo dài đến tây Plâyku, cách Sở chỉ huy Quân đoàn 2 ngụy từ 7 đến 10 km.

- Tuyến thứ ba: cũng từ Đức Cơ qua nam Lệ Ngọc xuyên đường 14.

Hàng nghìn người dân thuộc các huyện số 4 và 5 (nay gọi là huyện Chư Prông) được huy động cùng bộ đội mở đường, vận chuyển lương thực, thực phẩm. Những hoạt động này của Sư đoàn 968 trên hướng bắc Tây Nguyên đã thu hút sự chú ý của Quân khu 2 địch. Các báo cáo về sự gia tăng lực lượng cảu Quân giải phóng ở bắc Tây Nguyên càng củng cố nhận định của Phạm Văn Phú - Tư lệnh Quân khu 2, rằng Quân giải phóng sắp mở chiến dịch Tây Nguyên mà hướng chính là bắc Tây Nguyên nhằm đánh chiếm Plâyku và Kon Tum. Vì thế, địch tăng cường các hoạt động đánh phá các tuyến đường ở bắc Tây Nguyên, tăng thêm lực lượng bảo vệ Plâyku, Kon Tum.

Để củng cố thêm nhận định sai lầm của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 968 tiếp tục đẩy mạnh hoạt động. Chấp hành chỉ thị, Sư đoàn 968 khẩn trương triển khai bước hai nghi binh chiến dịch:

- Trên hướng Kon Tum, sư đoàn sử dụng sư đoàn 29 triển khai lực lượng sẵn sàng đánh chiếm Ngọc Bay và Ngọc Quận, uy hiếp địch ở phía tây bắc và đông bắc thị xã Kon Tum, cắt đường 14 đoạn Tân Phú đi Chư Thoi;

- Hướng Plâyku, triển khai lực lượng của Trung đoàn 19 sẵn sàng tiến công thị xã Plâyku từ phía tây.

Trong các ngày từ 28-2 đến 1-3-1975, các đơn vị của Sư đoàn 968 lần lượt tiêu diệt các vị trí địch trên đường 19 (tây Plâyku); đánh chiếm dãy Chư Kara, Chư Gôi, 605, uy hiếp quận lỵ Thanh Bình, Thanh An (tây nam Plâyku), đồng thời dùng pháo binh bắn phá sân bay Cù Hanh, thị xã Plâyku. Ở hướng Kom Tum, ta mở các trận đánh nhỏ, huy động dân công rầm rộ, làm đường, làm trận địa pháo, đồng thời sử dụng một bộ phận lực lượng khác đánh địch trên đường số 14 ở đoạn giữa Kon Tum và Plâyku. Địch điều Liên đoàn 4 biệt động quân từ tây nam Chư San (bắc đường RA) về đứng chân ở La Sơn. Thấy địch đã “mắc câu”, Đại tướng Văn Tiến Dũng lệnh cho Sư đoàn 968 đánh mạnh hơn nữa, thực hiện “đánh 1 la 10”. Trước các hoạt động ráo riết ta trên hướng tây thị xã Plâyku, địch buộc phải tung Liên đoàn biệt động quân số 23 ra để đối phó. Trong khi đó, Trung đoàn 53 địch lùng sục ở phía bắc Buôn Ma thuột, Trung đoàn 45 lùng sục ở tây đường số 14 vẫn không phát hiện được Sư đoàn 320A của ta nên địch lại điền Trung đoàn 45 từ Thuần Mẫn trở về Plâyku. Những cuộc điều quân này của địch chứng tỏ đòn nghi binh của ta đã đạt kết quả, còn địch càng lún sâu vào những nhận định sia lầm, đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để quân ta mở màn chiến dịch Tây Nguyên.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2011, 06:58:01 AM
II - BUÔN MA THUỘT - ĐÒN ĐIỂM HUYỆT TẠO
ĐỘT BIẾN VỀ CHIẾN DỊCH VÀ CHIẾN LƯỢC

Ngày 4-3-1975, chiến dịch Tây Nguyên chính thức bắt đầu.

Trên hướng Gia Lai, Trung đoàn 95 tiến công tiêu diệt một loạt các vị trí địch dọc đường 19, trong đó có căn cứ pháo binh Adun do một tiểu đoàn bảo an đóng giữ, làm chủ một đoạn đường dài khoảng 20 km từ Plâyku đến ấp Phú Yên, cắt đứt đường 19 ở phía đông Plâyku. Cũng thời gian này, Sư đoàn 3 (thiếu) chủ lực Quân khu 5 cắt đường 19 đoạn Thượng Giang - Bình Khê, tiêu diệt các vị trí Cây Rui, Chóp Nón, Hòn Kiềng, Cột Cờ, Truông Ổi, Che Chẻ, Đồi Đá, lăng Mai Xuân Thưởng, điểm cao 309, 334… diệt và bắt hàng trăm tên, trong đó có 2 đại đội và Tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 4, thu 20 súng, có 2 pháo 105 mm. Đường số 19, con đường huyết mạch nối từ cảng Quy Nhơn lên Sở Chỉ huy Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn bị cắt đứt, thị xã Plâyku bị uy hiếp mạnh. Để đối phó với tình hình mới nảy sinh, địch điều thiết đoàn 3 và Liên đoàn biệt động quân số 4 ra phía đông Plâyku phối hợp với Sư đoàn 22 từ bắc Bình Định vào phản kích nhằm thông lại đường 19.

Theo dõi sát mọi hoạt động đối phó của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm: đánh thị xã Buôn Ma Thuột theo phương án địch không phòng ngự dự phòng. Phương án tác chiến trên được đồng chí Văn Tiến Dũng - đại diện Bộ Tổng Tư lệnh chấp thuận. Để giữ bí mật đến cùng trận đánh then chốt quyết định vào Buôn Ma Thuột, đồng chí Văn Tiến Dũng chỉ thị Quân khu 5 đôn đốc Sư đoàn 3 tích cực hoạt động đánh địch trên đường 19, đồng thời yêu cầu Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên lệnh cho các đơn vị dẩy mạnh hoạt động thu hút và ghìm chân quân địch ở hướng bắc Tây Nguyên:

- Sư đoàn 968 tăng cường hoạt động nghi binh thu hút địch. Từ ngày 4 đến ngày 9-3, sư đoàn được sử dụng thêm đạn pháo bắn vào Kon Tum, Plâyku, kết hợp với tiến công, kiên quyết kiềm giữ khối chủ lực địch ở bắc Tây Nguyên.

- Sư đoàn 320A tiếp tục giữ bí mật, đồng thời đưa Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 9 ra phục kích trên đường số 14 (đoạn nam cầu Ea Hleo), sẵn sàng cắt đương 14 khi có lệnh.

- Sư đoàn 316, đêm 4-3, cho Trung đoàn 149 cơ động (vượt đường số 14 đoạn tây cầu Sêrêpốc) vào nam thị xã Buôn Ma Thuột đợi lệnh.

- Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 triển khai ngay lực lượng đánh địch ở Mê Van.

Đêm 4 rạng ngày 25-3-1975, Trung đoàn 25 cắt đường số 21, diệt 1 đoàn xe địch, làm chủ phía đông Chư Cúc. Con đường tiếp tế quan trọng thứ hai nối các tỉnh đồng bằng với Tây Nguyên bị cắt đứt. Cũng trong ngày 5-3, Sư đoàn 320 cho một bộ phận của Trung đoàn 9 cắt đường 14, đoạn Ea H’leo. Đối phó với các hoạt động của ta, địch sử dụng Trung đoàn 53 và 1 tiểu đoàn bảo an tiếp tục lùng sục ở bắc thị xã Buôn Ma thuột, đồng thời cử Đại tá Vũ Thế Quang - Sư đoàn phó Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn về Buôn Ma Thuột để nắm tình hình. 16 giờ ngày 5-3, đoàn xe gồm 15 chiếc, trong đó có xe của Vũ Thế Quang, từ Plâyku về Buôn Ma Thuột bị rơi vào trận địa phục kích của Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 9. Ta diệt 8 xe, 7 xe còn lại (trong đó có xe của Vũ Thế Quang) phải quay về Plâyku. Mặc dù chú ý đến những dấu hiện về sự chuyển quân không bình thường của ta ở tây và bắc Buôn Ma Thuột nhưng địch vẫn không phán đoán được ý định đánh Buôn Ma Thuột của ta. Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn và CIA vẫn khẳng định hướng tiến công chính của ta là Plâyku và Kon Tum. Chúng cho rằng hành động cắt đường 19, 14, 21 của ta chỉ là hoạt động phối hợp.

Sáng ngày 6-3, Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận định: “Đường số 14, 21 tuy đã xuất hiện một bộ phận lực lượng của ta nhưng chưa có gì buộc địch phải xử trí lớn. Tuy địch có phát hiện một số chi tiết nhưng chúng chưa chú ý nhiều. Trong mấy ngày tới có thể địch chưa có phản ứng gì lớn”. Từ nhận định trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định: “Kiên trì khôn khéo, giữ bí mật đến cùng cho trận đánh ở thị xã theo phương án đã định”(1).

Để tạo điều kiện cho các đơn vị ở phía bắc thị xã Buôn Ma Thuột hoàn thành công tác chuẩn bị, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Sư đoàn 320A sử dụng một bộ phận đánh chiếm điểm cao Chư Xê (nam Thuần Mẫn) trên đường 14. Thực hiện nhiệm vụ được giao, sáng ngày 7-3, đại đội 7 - Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 48 đánh chiếm điểm cao Chư Xê, diệt 1 trung đội bảo an. Đến 6 giờ ngày 8-3, được 3 khẩu pháo 105 mm đặt trên đồi cao chi viện hỏa lực trực tiếp, Trung đoàn 48 mở cuộc tiến công quận lỵ Thuần Mẫn - quận lỵ nằm trên ngã ba đường 14 và tỉnh lộ số 7B đi Cheo Reo, cách Buôn Ma Thuột khoảng 80 km và cách Plâyku khoảng 120 km, do 1 tiểu đoàn bảo an chiếm giữ. Sau gần 2 giờ chiến đấu, Trung đoàn 48 đã tiêu diệt phần lớn quân địch, chiếm quận lỵ, bắt 121 tên địch, thu 200 súng, có 2 pháo 105 mm, 1 cối 106,7mm. Quận lỵ Thuần Mẫn bị mất, đường 14 bị chặn chắt, Buôn Ma Thuột bị cô lập với bắc Tây Nguyên. Nhân dân quanh vùng Cẩm Gia (Thuần Mẫn) nổi dậy phá 7 ấp chiến lược gồm 27 buôn với hơn 7.000 dân. Tiếp đó, ngày 10-3, ta giải phóng khu dồn Fasol gồm 18 buôn với 6.000 dân.


(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Chiến dịch tiến công Tây Nguyên Xuân 1975, Sđd, tr. 45.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Ba, 2011, 06:58:37 AM
Về phía địch, từ ngày 7-3-1975, Tướng Phạm Văn Phú đã cử Vũ Thế Quang làm Tư lệnh lãnh thổ nam cao nguyên. Sau khi về Buôn Ma Thuột, Vũ Thế Quang ra lệnh báo động ở Buôn Ma Thuột và Đức Lập, đồng thời lệnh cho Trung đoàn 53 (thiếu) trưa ngày 8-3 phải kéo về thị xã. Khi Thuần Mẫn bị mất, chiều ngày 8 và sáng gày 9-3, địch đã dùng máy bay chở Liên đoàn biệt động quân 21 (tương đương trung đoàn) từ bắc Tây Nguyên đổ xuống sân bay Hòa Bình và đưa số quân này lên Buôn Hồ (nam Thuần Mẫn 30 km) để bảo vệ phía bắc thị xã Buôn Ma Thuột.

Kiên quyết ngăn chặn địch tiếp viện đường không, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Tiểu đoàn 33 đang trụ bám ở đông bắc Plâyku bắn phá mãnh liệt sân bay Cù Hanh. Cụm pháo của Trung đoàn 675 ở phía tây bắc thị xã Buôn Ma Thuột cũng được lệnh đưa 1 tiểu đoàn pháo nòng dài vào chiếm lĩnh trận địa lâm thời sẵn sàng bắn vào sân bay Hòa Bình (Buôn Ma Thuột) khi địch đổ quân.

Trên hướng Đức Lập, chiều ngày 7-3, kế hoạch đánh Đức Lập của Sư đoàn 10 đã cơ bản hoàn tất, Bộ Tư lệnh Sư đoàn do Sư đoàn trưởng Hồ Đệ và Chính ủy Lã Ngọc Châu xem xét lần cuối và chính thức thông qua. Theo đó, ta sử dụng trung đoàn 66 (thiếu Tiểu đoàn 9) tiêu diệt căn cứ chỉ huy hành quân Sư đoàn 23 từ hướng đông và tây nam; Trung đoàn 28 (thiếu Tiểu đoàn 2) tiêu diệt căn cứ Núi Lửa; Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66) và Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 28) bao vây quận lỵ Đức Lập trên hai hướng tây và đông nam.

Sáng ngày 9-3, B9ộ Tư lệnh Sư đoàn 10 sử dụng Trung đoàn 66 đánh chiếm căn cứ chỉ huy hành quân của Sư đoàn 23; Trung đoàn 28 đánh chiếm căn cứ Núi lửa. Được pháo binh chi viện hỏa lực, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 28) hình thành hai mũi đột phá trung tâm căn cứ Núi Lửa, áp đảo quân địch. Sau 45 phút chiến đấu, toàn bộ quân địch trong căn cứ này bị tiêu diệt và bắt sống.

Cùng thời gian, Trung đoàn 66 tiến công căn cứ chỉ huy hành quân Sư đoàn 23. Địch cho xe tăng và bộ binh ra bịt cửa mở ngăn chặn mũi tiến công của quân ta. Tiểu đoàn 7 ở hướng tây mưu trí dũng cảm bắn cháy xe tăng địch, rồi tràn qua cửa mở, đánh thẳng vào trung tâm. Tiểu đoàn 8 ở hướng tây cũng đánh bật tất cả các đợt phản kích của địch. buộc chúng phải co lại đối phó. Bị đánh mạnh từ nhiều phía, bộ binh địch phải dồn về khu chỉ huy cố thủ. Bộ đội ta dùng thủ pháo, súng phun lửa tiêu diệt từng ổ đề kháng của địch. Đến 9 giờ 30 phút, căn cứ chỉ huy hành quân của Sư đoàn 23 đã bị Trung đoàn 66 tiêu diệt.

Ở quận lỵ Đức Lập, cuộc chiến đấu của Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 28) và Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 66) gặp nhiều khó khăn. Càng vào sâu trong quận lỵ, bộ đội ta càng vấp phải sự chống trả quyết liệt của địch và bị thương vong nhiều. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 buộc phải chỉ thị cho hai tiểu đoàn dừng lại củng cố.

Sáng hôm sau, ngày 10-3, Sư đoàn 10 tăng cường thêm lực lượng gồm Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 66, Tiểu đoàn pháo cao xạ - Trung đoàn 234, Đại đội pháo 85 bắn thắng, Tiểu đoàn 17 công binh và bộ phận còn lại của Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 9 tiếp tục mở cuộc tiến công đánh chiếm quận lỵ Đức Lập. Được hỏa lực pháo binh chi viện mạnh, bất chấp máy bay địch bắn phá cản đường, bộ đội ta đồng loạt xung phong đè bẹp mọi kháng cự của địch. Thấy đồng bọn trong quận lỵ bị tiêu diệt, binh lính Sài Gòn ở căn cứ Đắc Song vô cùng hoảng sợ. Khi bị ta tiến công, chúng chống cự yếu ớt rồi bỏ chạy. Huyện ủy Đức Lập chỉ đạo các đội công tác phát động quần chúng nổi dậy làm chủ quận lỵ và các xã ấp xung quanh, xóa bỏ tề điệp. Sau khi giải phóng hoàn toàn quận Đức Lập, Sư đoàn 10 tổ chức một lực lượng cơ động về phía đông thị xã Buôn Ma Thuột, sẵn sàng chi viện cho các đơn vị đánh chiếm thị xã và đánh địch phản kích.

Trưa ngày 9-3, trong khi chiến sự đang diễn biến quyết liệt ở Đức Lập, Phạm Văn Phú - Tư lệnh Quân đoàn 2 - Quân khu 2 quân đội Sài Gòn đáp máy bay xuống Buôn Ma Thuột gặp Vũ Thế Quang - Sư đoàn phó Sư đoàn 23 và Nguyễn Trọng Luật - Tỉnh trưởng Đắc Lắc để đánh giá tình hình. Cho đến lúc ấy, địch vẫn tin rằng, hướng tiến công chính của Quân giải phóng vẫn là Plâyku và Kon Tum. Phú chỉ thị cho Vũ Thế Quang sử dụng lực lượng mà Quang hiện có để giữ Buôn Ma Thuột. Chiều ngày 9-3, Vũ thế Quang điều liên đoàn biệt động quân từ Buôn Hồ về đứng chân ở Đạt Lý, đông bắc thị xã Buôn Ma Thuột 10 km; điều Tiểu đoàn bảo an 24 từ Bản Đôn về tăng cường cho phía nam thị xã; đồng thời rút 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 53 về giữ khu vực chỉ huy Sư đoàn 23. Như vậy, cho đến trước khi ta nổ súng tấn công Buôn Ma Thuột, quân địch vẫn chưa phán đoán ra ý định và hướng tấn công chính của ta. Trong khi đó, hoạt động tạo thế chiến dịch của ta diễn ra đã thành công. Ta đã đánh chiếm được các tuyến giao thông, thực hiện việc chia cắt Tây Nguyên với đồng bằng và phía bắc với phía nam Tây Nguyên; bí mật bao vây cô lập hoàn toàn Buôn Ma Thuột.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2011, 07:58:54 AM
Thị xã Buôn Ma Thuột là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của địch ở Tây Nguyên. Đây là thị xã nằm ở ngã ba quốc lộ 14 và quốc lộ 21, phía bắc đi Cheo Reo, Plâyku, phía nam đi Gia Nghĩa, Đồng Xoài, phía đông đi Nha Trang, Khánh Hòa. Diện tích thị xã khoảng 25 km2, không tính các căn cứ quan trọng ở ngoại vi, dân số, tính đến cuối năm 1974, khoảng 115.000 người, sinh sống trong 35 buôn, 9 khu ấp (trong đó có 5 khu dinh điền). Phía tây bắc thị xã có dãy điểm cao Chư Bua, bình độ khoảng 600 m; phía tây nam có điểm cao Chư Blúc, bình độ khoảng 500 m. Trên các điểm cao này, địch đều bố trí các đồn bốt kết hợp với hệ thống ấp chiến lược cách thị xã từ 3 đến 12 km, để ngăn chặn bộ đội ta tiến công từ ngoài vào.

Trong thị xã, nhà cửa, phần lớn là một tầng, có khoảng 40 nhà từ 2 đến 4 tầng. Xen kẽ giữa các khu vực cư dân đông đúc là các mục tiêu quân sự được cấu trúc kiên cố, liên hoàn và phức tạp.

Sân bay thị xã nằm ở phía đông bắc các trung tâm thị xã khoảng 3 km. Đây là loại sân bay nhỏ, chỉ có máy bay L.19 và trực thăng xuống được. Quanh sân bay có hàng rào bao bọc. Hệ thống đèn pha soi đêm chống xâm nhập bố trí xung quanh, cứ 30 mét có một chiếc. Các lô cốt ở các góc sân bay có lính canh gác ngày đêm.

Kho hậu cần của Sư đoàn 23 nằm ở phía nam thị xã, rộng từ 400 m đến 1.000 m, chiều dài gần 20.000 m, chạy dọc ven đường 14. Địch chia khu này thành từng tiểu khu và giao cho từng đơn vị bộ binh và binh chủng trực thuộc đảm nhiệm. Giữa các tiểu khu có hàng rào dây thép gai ngăn cách, có đường ra vào riêng, có công sự làm sẵn. Các ụ chiến đấu và chiến hào, hào giao thông có nắp xen kẽ với vật chướng ngại. Trong khu vực Sở chỉ huy Sư đoàn 23, ngoài các đơn vị bộ binh còn có một chi đội xe thiết giáp trực tiếp bảo vệ.

Sở chỉ huy Tiểu khu Đắc Lắc và cơ quan hành chính nằm ở phía đông Sở chỉ huy Sư đoàn 23, cách sân bay thị xã khoảng 2 km về phía bắc. Đây là nơi tập trung đầu não chỉ huy lực lượng bảo an, dân vệ và bộ máy chính quyền tỉnh.

Hậu cứ Thiết đoàn 8, Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 45, Tiểu đoàn 32 pháo binh nằm trong cùng một khu vực. Nhà ở khu vực này được cấu trúc nửa chìm, nửa nổi. Các xe pháo đều nằm trong công sự nắp dày bảo vệ.

Trung tâm huấn luyện Sư đoàn 23 được xây dựng cách thị xã 4 km về phía đông, bên cạnh hậu cứ Trung đoàn 45, Tiểu đoàn 23 công binh và các đơn vị pháo binh. Binh lính thuộc Sư đoàn 23 và Quân khu 2 sau mỗi lần hoạt động thường về để chấn chỉnh, bổ sung quân số và trang bị vũ khí chuẩn bị cho các cuộc hành quân mới.

Nằm ở phía đông, cách trung tâm thị xã khoảng 10 km là sân bay Hòa Bình cùng hậu cứ Trung đoàn 53. Trung đoàn 44, hợp thành một khu quân sự liên hoàn (còn gọi là khu B 50). Khu này nằm trên một dãy đồi cao, phần trước là trại của lực lượng đặc nhiệm Mỹ. trong khu có nhiều hầm ngầm kiên cố có thể chống được đạn pháo 130 mm. Nhà cửa được bố trí dựa vào địa hình nửa chìm nửa nổi, xung quanh có các công sự bằng ximăng cốt thép hoặc bằng gỗ, đất tăng cường bao cát xung quanh. Chân đồi là một khoảng đất rộng có hào chống tăng và giao thông hào chằng chịt. Do đặt ở địa thế cao, các vọng quan sát của địch tại đây có thể phát hiện được các hành động của ta từ xa. Quân số trong khu B50 thường xuyên có hơn 4.000 binh lính, sĩ quan gồm cả quân chiến đấu và quân luân phiên về nghỉ trong các trại; riêng Trung đoàn 53 có 3.500 tên là lực lượng cơ động mạnh để bảo vệ sân bay, bảo vệ thị xã Buôn Ma thuột và các vùng xung quanh.

Khu kho Mai Hắc Đế nằm ở phía tây nam thị xã, ven phía nam tỉnh lộ 429, dài 1.500 m, rộng 500 m. Tất cả bao gồm 4 dãy kho. Mỗi kho có sân rộng 10 m, dài từ 30 đến 4 m. Phía ngoài có bảy lớp rào kẽm gai, phía trong tường có đường bao quanh. Các góc đều có lô cốt, chòi gác, đèn pha chiếu sáng suốt ngày đêm. Lực lượng địch bảo vệ kho có một đại đội bảo an.

Ngoài các khu vực phòng ngự chính của quân chính quy, địch còn tổ chức một số điểm chốt độc lập do các lực lượng cảnh sát, dân vệ đảm nhiệm, nằm rải rác ở khắp quanh thị xã.

Khu ngoại vi thị xã có các cứ điểm Bản Đôn, Buôn Hồ, Chư Phao, Lạc Thiện, Phước An, Chư Cúc, Đức Lập. Địch bố trí tại các cứ điểm này khoảng 2.500 quân và 16 khẩu pháo 105 mm. Từ các điểm trên, địch có thể cơ động lực lượng hoặc dùng pháo chi viện đắc lực cho thị xã khi bị quân ta tiến công. Do phán đoán nếu đánh Tây Nguyên, ta sẽ đánh từ ngoài vào và đánh từ hướng bắc xuống, nên chúng tập trung giữ chắc Plâyku và Kon Tum là hai điểm địa đầu có thể ngăn chặn quân ta tiến công. Thị xã Buôn Ma Thuột nằm sâu trong tỉnh Đắc Lắc nên chúng để lực lượng phòng giữ ít hơn. Hơn nữa, tuy các khu quân sự của địch có cấu trúc phức tạp nhưng địa hình nội thị và vùng ven tương đối bằng phẳng, rừng cà phê lại bao phủ rộng nên bộ đội ta có điều kiện áp sát thị xã mà vẫn giữ được bí mật.

Như vậy, ở Buôn Ma thuột, hướng phòng thủ chính của địch là hướng tây bắc, khu phòng thủ then chốt của địch là căn cứ Sư đoàn 23. Trước khi ta nổ súng tiến công, tổng số quân địch trong thị xã có gần 8.000 tên, kể cả lực lượng chủ lực, địa phương và cảnh sát. Tại đây, chúng có 17 khẩu pháo (13 khẩu 105 mm; 4 khẩu 155 mm), 16 xe tăng, 50 xe M 113 và 6 trực thăng ở mỗi sân bay. Lực lượng địch trong thị xã tuy động nhưng với tính chất một hậu cứ, thành phần chiến đấu bị hạn chế, nhiều sắc lính, nhiều binh chủng đóng quân xen kẽ trong phạm vị rộng cũng gây ra nhiều khó khăn trong việc tổ chức chỉ huy, điều hành lực lượng.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2011, 07:59:38 AM
Căn cứ hình thái bố trí lực lượng, tính chất, mục tiêu và địa hình trong thị xã, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định tiến công mạnh từ bên ngoài kết hợp với đánh trực tiếp vào thị xã, lấy đánh trực tiếp vào thị xã làm chủ yếu; kết hợp đột phá bộ binh có xe tăng yểm hộ với đặc công luồn sâu, chia cắt và cô lập địch từng khu vực; dùng đột phá kết hợp với thọc sâu làm chủ yếu để tiêu diệt địch. Năm khu vực, mục tiêu quan trọng trong khu vực được xác định là Sở chỉ huy Sư đoàn 23, Tiểu khu Đắc Lắc, khu pháo binh - thiết giáp, khu kho Mai Hắc đế và sân bay thị xã.

Sư đoàn 316 tập trung lực lượng đánh chiếm ba hướng bắc, nam và đông, lấy hướng bắc làm chủ yếu. Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10 tổ chức mũi thọc sâu binh chủng hợp thành từ hướng tây đánh vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Trung đoàn 95B đánh chiếm Ngã Sáu, phát triển đánh sang Tiểu khu Đắc Lắc và phối hợp với mũi thọc sâu đánh vào Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Trung đoàn 198 đặc công luồn sâu lót sẵn, nổ súng trước, bất ngờ đánh chiếm sân bay thị xã, khu kho Mai Hắc Đế và sân bay Hòa Bình, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh cơ giới trên các hướng đột nhập thị xã.

Chọn đánh Buôn Ma Thuột, khó khăn lớn nhất của ta là phải cơ động hàng vạn quân, nhiều xe thiết giáp, pháo binh,và xe cơ giới vào sâu phía nam nên dễ lộ bí mật; phải khắc phục khó khăn về hậu cần và việc đưa xe tăng qua sông Sêrêpốc. Tuy nhiên, nếu kiên quyết khắc phục được các trở ngại đó và đạt được yêu cầu bất ngờ cao cho chiến dịch thì ta lại có lợi thế rất lớn. Thị xã Buôn Ma Thuột là vị trí chiến lược quan trọng ở nam Tây Nguyên nhưng lại tương đối cô lập, xa các trung tâm quân sự khác nên nếu bị tiến công, đó sẽ là đòn gây rung động mạnh đối với thế trận chiến lược của địch trên chiến trường và sự chi viện của địch cho Buôn Ma Thuột bị hạn chế. Điều quan trọng nữa là địa thế Buôn Ma Thuột khá thuận lợi cho tác chiến hiệp đồng binh chủng lớn. Giữa khó khăn và thuận lợi thì thuận lợi nhiều hơn và cơ bản hơn.

16 giờ ngày 9-5-1975, các đơn vị tham gia tiến công Buôn Ma Thuột được lệnh rời khu vực tập kết lên tuyến tiến công. Do khoảng cách vận động của các đơn vị khác nhau (đơn vị xa nhất khoảng gần 40 km, đơn vị gần nhất cũng hơn 10 km) nên việc tính toán thời gian được các cấp chỉ huy cân nhắc rất lỹ lưỡng. Yêu cầu đặt ra là vừa phải đảm bảo bí mật, bất ngờ vừa phải đảm bảo thời gian, quân số, vũ khí trang bị. Trong suốt quá trình cơ động triển khai lực lượng, dưới sự chỉ huy điều hành của Bộ Tư lệnh chiến dịch, cả 12 trung đoàn bộ binh và binh chủng trên năm hướng đều tổ chức cơ động lực lượng tương đối nhanh gọn. Những khó khăn trong quá trình vượt sông Sêrêpốc của các đơn vị xe tăng, pháo binh cơ giới, pháo phòng không được giải quyết kịp thời đã tạo điều kiện để các đơn vị đưa lực lượng vào triển khai chiến đấu đúng thời gian quy định.

2 giờ sáng ngày 10-3-1975, các đại đội đặc công 1, 3, 18 thuộc Trung đoàn đặc công 198 nổ súng tiến công sây bay thị xã, mở màn trận Buôn Ma Thuột. Trận đánh diễn ra suôn sẻ, đến 3 giờ 30, ta làm chủ phần lớn sân bay và đường Phan Chu Trinh, tạo thế cho bộ binh và xe tăng tiến vào Ngã Sáu. Cùng thời gian, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 198 đặc công) tiến công sân bay Hòa Bình và hậu cứ Trung đoàn 53 đặt ở phía đông nam sây bay. Địch tổ chức phản kích quyết liệt. ở sân bay thị xã, lực lượng bảo vệ dồn về góc phía đông bắc, bám công sự tiếp tục chống cự. Trong khi đớ, ở khu vực sân bay Hòa Bình, Tiểu đoàn 5 sau khi chiếm được một số mục tiêu trong sân bay phải chuyển sang chốt giữ chờ bộ binh, xe tăng vào chi viện.

 Ở phía tây bắc, Đại đội 22 đặc công đánh chiếm khu kho Mai Hắc Đế, làm chủ đoạn đường 429, bảo đảm hành lang cho mũi thọc sâu vào thị xã. Phối hợp với bộ đội đặc công, hỏa lực H12, ĐKB của ta dội xuống Sở chỉ huy Sư đoàn 23, Sở chỉ huy tiểu khu, trung tâm thông tin, doanh trại pháo binh, thiết giáp và các kho tàng của địch trong thị xã, phá hủy nhiều kho tàng, trận địa pháo, làm hư hỏng hệ thống thông tin chỉ huy địch. Gần sáng, cửa ngõ phía đông bắc và tây bắc của Buôn Ma Thuột đã được mở.

Nhận được tin thị xã Buôn Ma Thuột bị tiến công, Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Quân đoàn 2 Sài Gòn lập tức mở cuộc họp khẩn cấp. Tại cuộc họp này, cả Phạm Văn Phú và Vũ Thế Quang đều cho rằng, quân giải phóng chỉ dùng pháo binh và đặc công đánh phá thị xã như những lần trước, và sẽ sớm rút lui. Vì vậy, Phạm Văn Phú lệnh cho các đơn vị đồn trú phải sử dụng lực lượng tại chỗ cầm cự, cố giữ cho được các mục tiêu, đồng thời sử dụng lực lượng pháo binh ở vòng ngoài chế áp các trận địa pháo của ta. Tuy nhiên, vào lúc đó, các trận địa pháo của địch đã bị lực lượng luồn sâu và pháo binh ta khống chế chặt nên hầu hết bị tê liệt.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2011, 08:00:58 AM
Đồng thời với cuộc tiến công của đặc công và pháo, các đơn vị bộ binh, xe tăng, pháo cơ giới, pháo cao xạ nhanh chóng cơ động chiếm lĩnh bàn đạp, mạnh mẽ đột kích vào các mục tiêu được phân công nằm trong thị xã.

Trung đoàn 95 B, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Đặng Tụ và Chính ủy Vũ Quang Thọ, được tăng cường 1 tiểu đoàn đặc công, 1 đại đội xe tăng, triển khai đội hình tiến công trên hướng đông bắc thị xã. Đêm 9 rạng ngày 10-3, Trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 6 tiêu diệt quân địch ở các điểm cao 596, Chư Bua. 6 giờ ngày 10-3, Trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 5 theo đường Phan Chu Trinh tiến vào đánh chiếm Ngã Sáu. Địch cho bộ binh, xe tăng ra phản kích, đồng thời sử dụng máy bay ném bom ngăn chặn đội hình tiến quân của ta. Mặc dù bị bắn phá và phản kích rất quyết liệt, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 vẫn kiên cường chiến đấu giữ vững bàn đạp, tạo điều kiện cho trung đoàn phát triển tiến công. Vào lúc 9 giờ, Tiểu đoàn 4 và 4 xe tăng được tung vào trận đánh. Sức tiến công mãnh liệt của bộ binh và xe tăng ta buộc địch phải bỏ Ngã Sáu, rút sâu vào cố thủ phía trong thị xã. Theo đường 14, trung đoàn tiếp tục phát triển tiến công, đánh chiếm tiểu khu Đắc Lắc. Địch chống trả rất quyết liệt. Phải bằng nhiều đợt tiến công, trung đoàn mới tiêu diệt được các ổ đề kháng của địch. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, trung đoàn hoàn toàn làm chủ tiểu khu Đắc Lắc. Tiếp đó, bộ đội ta đánh chiếm khu hành chính; xe tăng cùng một số đơn vị bộ binh chi viện bộ đội đặc công tiêu diệt đại đội biệt kích địch còn lại ở sân bay thị xã.

Trên hướng tây nam thị xã, mặc dù gặp trở ngại trong quá trình cơ động lực lượng (các đơn vị xe tăng, pháo binh phối thuộc đi lạc đường, nhưng Trung đoàn 148 - Sư đoàn 316 vẫn nêu cao quyết tâm khắc phục khó khăn vào chiếm lĩnh trận địa đúng thời gian quy định. 5 giờ 30 phút ngày 10-3, hai mũi tiến công, do Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 đảm nhận, nổ súng đánh chiếm khu pháo binh và khu thiết giáp. Tuy nhiên, hỏa lực pháo binh của cấp trên và của trung đoàn chi viện chưa đủ mạnh đã phần nào khiến cho nhịp độ tiến công bị hạn chế. Khi trời sáng, địch dùng hỏa lực đánh mạnh vào đội hình tiến công của ta, gây thương vong cho lực lượng mở cửa. Sau khi điều chỉnh lại đội hình chiến đấu, được hỏa lực pháo binh chiến dịch và pháo binh sư đoàn yểm trợ, Trung đoàn 148 mở tiếp các đợt tiến công. 10 giờ 40 phút, Tiểu đoàn 4 hoàn thành mở cửa trên hướng tiến công chính. Cùng lúc này, các xe tăng đi lạc trước đó, đã kịp tới tham gia chiến đấu. Được tăng cường thêm Đại đội 4 - Tiểu đoàn 6 và một số xe tăng, Tiểu đoàn 4 mở đợt tiến công quyết định vào thị xã, lần lượt đánh chiếm khu pháo binh, thiết giáp và hậu cứ Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 45(1). Sau khi đánh chiếm xong các mục tiêu được giao, theo đường Phan Bội Châu, trung đoàn tiến sâu vào trong thị xã đánh chiếm khu Trường trung học Bồ Đề, rồi tiến ra Ngã Sáu, hợp cùng Trung đoàn 95B giữ vững các mục tiêu vừa chiếm.

Ở phía tây thị xã, Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10) cùng xe tăng làm nhiệm vụ thọc sâu chiến dịch đã theo đường số 429 triển khai đội hình tiến công Sở chỉ huy Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn. Trên đường tiến quân, do chiếc xe tăng đi trước bị sa lầy, đội hình bị ùn. Sau đó, máy bay địch nhào tới ném bom, đồng chí Tiểu đoàn trưởng hy sinh. Không dừng lại, tiểu đoàn đánh chiếm khu quân y và khu truyền tin. Địch tung quân phản kích liên tục, lực lượng thọc sâu kiên cường đánh trả địch giữ vững khu vực đã chiếm.

Ở hướng tây bắc, cuộc chiến đấu của lực lượng đặc công và bộ binh ta vào khu kho Mai Hắc Đế và điểm cao Chư Duê gặp khó khăn. Cho đến 5 giờ sáng ngày 10-3, Đội 2 đặc công mới đánh chiếm được một nửa khu kho và cũng phải đến lúc đó, Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 174 mới nổ súng tiến công Chư Duê. Sau gần 1 giờ chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 3 làm chủ điểm cao, bắt 20 tên địch. 6 giờ sáng, địch tung một lực lượng gồm 2 xe M113 và 2 xe GMC chở đầy quân ra phản kích hòng chiếm lại khu kho Mai Hắc Đế. Đội 2 đặc công phối hợp với 1 đại đội của Tiểu đoàn 3 chặn đánh quyết liệt, giữ vững khu kho đã chiếm. 8 giờ sáng, Trung đoàn 174 đã áp sát thị xã. Tuy nhiên, lúc này các đơn vị xe tăng và pháo binh tăng cường chưa vào kịp. Trong lúc đó, địch dùng không quân đánh phá ngăn chặn. Vì thế, các mũi tiến công của ta không phát triển được. Đến 10 giờ sáng, được sự chi viện của pháo binh và xe tăng, các mũi tiến công của trung đoàn theo trục đường 14 vòng qua khu kho Mai Hắc Đế đánh vào thị xã. Địch dùng máy bay đánh phá dữ dội đường tiến quân của trung đoàn; đồng thời bộ binh địch liên tiếp mở các đợt phản kích. Bộ đội ta lần lượt tiêu diệt từng điểm cố thủ của địch, chiếm ấp Ba Lê, khu Phạm Ngũ Lão, sau đó chiếm toàn bộ kho xăng và khu các đại đội trực thuộc của Sư đoàn 23 ở phía nam đường số 429. Tuy đã tiến sát khu vực Sở chỉ huy Sư đoàn 23 nhưng khi chiếm được khu truyền tin của địch, bộ đội ta tưởng nhầm đó là Sở chỉ huy Sư đoàn 23 nên đội hình tiến công của Trung đoàn 24 và Trung đoàn 174 đều dừng lại ở đó.


(1) Đợt chiến đấu này, xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm như Vi Anh Dôi ba lần bị thương vẫn quyết tâm tiến lên cửa mở cùng bộ binh đánh chiếm mục tiêu; Nguyễn Quang Trung - trước tình hình cán bộ đại đội bị thương đã chủ động thay thế chỉ huy mở cửa mở rồi hiệp đồng cùng xe tăng tiến công địch; y tá Tống Viết Bá vừa làm tốt nhiệm vụ cấp cứ, băng bó kịp thời cho thương binh, vừa sử dụng nhiều loại súng tiêu diệt địch.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2011, 08:02:02 AM
Trên hướng nam thị xã, bị Tiểu đoàn 5 - Trung đoàn 198 tiến công bất ngờ vào sân bay Hòa Bình, lực lượng quân đội Sài Gòn tại đây vẫn còng khá đông dựa vào lô cốt, chiến hào nhiều tầng chống trả quyết liệt. Đến sáng ngày 10, Tiểu đoàn 5 đánh chiếm được một số mục tiêu quanh đài kiểm báo và khu cảnh sát sân bay. Địch phản kích quyết liệt. tiểu đoàn 5 chuyển sang chốt giữ mục tiêu đã chiếm, tạo bàn đạp cho bộ binh tập kết lực lượng, triển khai tiến công.

Trong khi Tiểu đoàn 5 đặc công đánh địch trong sân bay, Trung đoàn 149 (Sư đoàn 316) tiến công điểm cao 491 và Chư Lom. Đến 5 giờ sáng ngày 10-3, Tiểu đoàn vượt đường Thống Nhất, đánh địch ở khu vực nhà thờ đạo Tin lành, nhà thờ quân đội, sau đó phát triển vào khu vực Ngã Sáu, cổng chính hậu cứ Sư đoàn 23. Địch dùng hỏa lực không quân và pháo binh đánh phá ác liệt khu vực suối Ea Tan và đường Thống Nhất nhằm chặn bước tiến của quâ ta. Mặc dù lực lượng bị tổn thất nhưng các đơn vị của trung đoàn vẫn kiên quyết giữ vững nhịp độ tiến công. đến 17 giờ, Tiểu đoàn 7 chiếm thêm khu cư xá sĩ quan. Được pháo binh sư đoàn chi viện, Tiểu đoàn 8 từ khu vực suối Ea Tan tiến công Khu Tiếp viện, Sở Thú y, Ngân khố. Trưa ngày 10-3, các mũi tiến công của tiểu đoàn đã áp sát phía đông nam tiểu khu Đắc Lắc; một bộ phận đánh chiếm khu nhà lao. Địch tập trung hỏa lực ngăn chặn và cho bộ binh liên tục phản kích. Đến 15 giờ ngày 10-3, Tiểu đoàn 8 bắt liên lạc được với các đơn vị của Trung đoàn 95B, sau đó phối hợp cùng đơn vị bạn triển khai lực lượng bảo vệ các mục tiêu đã chiếm.

Cùng với mũi tiến công trên các hướng, Tiểu đoàn 9 - Trung đoàn 149 làm nhiệm vụ luồn sâu cùng đăc công đánh chiếm sân bay Hòa Bình, do đường hành quân xa, phải vòng tránh nên khi các đơn vị bản nổ súng, tiểu đoàn vẫn chưa tới được khu vực tiến công sân bay. Vì thế, phải đến 11 giờ, tiểu đoàn mới tiếp cận mục tiêu, tổ chức bao vây, tiến công Chi khu quận lỵ Hòa Bình. Địch trong chi khu chống cự quyết liệt. Lực lượng ta bị tổn thất. Đến 17 giờ, tiểu đoàn đã làm chủ quận lỵ. 17 giờ 30, Tiểu đoàn tiến vào sân bay Hòa Bình, bắt liên lạc với các đơn vị của Trung đoàn 198 đặc công, tổ chức đánh vào khu cố thủ chính của địch trong sân bay nhưng không thành công. Đêm xuống, tiểu đoàn cùng Tiểu đoàn 5 đặc công tổ chức trụ bám để giữ vững các khu vực đã chiếm được. Trong ngày 10-3, địch sử dụng 73 lần chiếc máy bay đánh phá đội hình tấn công của ta, đồng thời sử dụng một số đơn vị của Liên đoàn 21 phản kích vào khu kho Mai Hắc Đế, Ngã Sáu, Tiểu khu Đắc Lắc và yểm trợ cho Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Ta đánh bật các đợt phản kích của địch, giữ vững các mục tiêu, bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép, bắn rơi 6 máy bay địch. Trước sức tiến công của Quân giải phóng, Nguyên Văn Thiệu triệu tập phiên họp khẩn cấp với các tướng lĩnh chóp bu quân đội Sài Gòn, ra lệnh cho Phạn Văn Phú phải tử thủ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá và đưa ngay Sư đoàn 23 về cứu nguy Buôn Ma Thuột. Tuy không còn vững tin như trước nhưng Phạm Văn Phú và cả Bộ Tư lệnh Quân khu 2 - Quân đoàn 2 vẫn chủ quan nhận định rằng mức độ tiến công của Quân giải phóng cao lắm cũng chỉ như dịp Tết Mậu Thân 1968, nếu giữ vững Buôn Ma Thuột từ 3 đến 4 ngày thì Quân giải phóng buộc phải rút khỏi thị xã và thế phòng thủ của quân đội Sài Gòn ở Buôn Ma Thuột sẽ được khôi phục như trước ngày 9-3.

Rạng sáng ngày 10-3, trên cơ sở nắm bắt diễn biến của tình hình cụ thể, Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận định: trong ngày đầu tiến công vào thị xã, trên các hướng, ta đều giành được thắng lợi lớn. Các cứ điểm ngoại vi như Chư Bua, Chư Duê, 491, Chư Lom cùng các khu thiết giáp, pháo binh, hậu cứ Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 45, khu truyền tin, khu quân y Sư đoàn 23, kho Mai Hắc Đế đều bị quân ta chiếm gọn. Đặc biệt, ta đã chiếm được hai trong số ba mục tiêu quan trọng nhất là Sở chỉ huy tiểu khu, sân bay thị xã, khống chế được sân bay Hòa Bình. Tuy ở hướng nam ta có gặp khó khăn do suối Ea Tan nước lớn, chảy xiết, địa hình chống trải, địch có điều kiện xây dựng máy bay, pháo binh đánh phá gây cho ta một số tổn thất nhưng ở các hướng khác, ta hoàn toàn có điều kiện mở tiếp các đợt tiến công tiêu diệt quân địch, tiến tới làm chủ hoàn toàn thị xã. Trong những điều kiện đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch hạ quyết tâm tập trung lực lượng dứt điểm nhanh hậu cứ Sư đoàn 23 và các mục tiêu còn lại trước khi địch kịp đưa lực lượng dự bị chiến dịch tới tăng cường cho Buôn Ma Thuột.

Rạng sáng ngày 11-3, theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh chiến dịch, ngoài một bộ phận để lại làm nhiệm vụ giữ bàn đạp và tiếp tục mở rộng các khu đã chiếm, còn lại, Sư đoàn 316 tập trung lực lượng phối hợp với các đơn vị bạn, tổ chức bao vây đột phá Sở chỉ huy Sư đoàn 23 và các mục tiêu còn lại trong thị xã:

- Từ Tiểu khu Đắc Lắc, Tiểu đoàn 5 - Trung đoàn 95B cùng 2 xe tăng đánh vào cổng chính Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Trong khi đó, ở hướng tây bắc, Trung đoàn 148 sử dụng Tiểu đoàn 5 cùng 3 xe tăng theo đường Phan Bội Châu vòng ra Ngã Sáu, tiến vào tiểu khu Đắc Lắc rồi từ đó đánh sang Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Từ phía tây nam, Trung đoàn 174 sử dụng Tiểu đoàn 3 (thiếu Đại đội 11), được tăng cường 4 xe tăng và 1 đại đội của Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 24 - Sư đoàn 10) đánh vào Bộ Chỉ huy Sư đoàn 23 từ phía tây. Trong quá trình tiến công, quân ta gặp một kho nhiên liệu lớn của địch bị đạn pháo ta làm nổ cháy dữ dội. Các đơn vị không sao vượt qua được, buộc phải vòng lên phía bắc, rồi tiếp cận khu vực Sở chỉ huy địch. Khi đến trước khu Sở chỉ huy, lực lượng đột kích bị hàng rào thép gài dày đặc cản đường. Mặc dù đã dùng hết số bộc phá mang theo, nhưng lực lượng mở cửa vẫn không phá hết được các lớp hàng ròa. Đội hình tiến công của ta bị ùn trước cửa mở, địch tập trung pháo binh máy bay bắn phá dữ dội vào các đơn vị. Trước tình thế đó, xe tăng ta được lệnh vượt lên, phá nốt các hàng rào còn lại, mở đường cho bộ binh. Sau khi đột nhập căn cứ, ta và địch giành giật từng lô cốt, tưng căn hầm. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Đại đội 11 thuộc Tiểu đoàn 3 đánh chiếm ấp Ba Lê 2, rồi từ đó đánh thốc sang khu tham mưu Sở chỉ huy, chiếm khu Hùng Vương, bắt liên lạc với Trung đoàn 149. Từ hướng tây nam, Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 174 được tăng cường 3 xe tăng, đột phá khu Đài phát thanh đánh sang Sở chỉ huy Sư đoàn 23. Ở hướng nam,. Tiểu đoàn 7- Trung đoàn 149 tiến công thẳng vào khu tham mưu địch. Tại đây, vấp phải sự chống trả quyết liệt của địch, ta buộc phải dừng lại củng cố. 9 giờ 50 phút, quân ta mở đợt tiến công mới tiêu diệt một số tên, đẩy số địch còn lại chạy về bắc điểm cao 491 rồi co cụm trong sân bay Hòa Bình. Bấy giờ, Tiểu đoàn 9 - Trung đoàn 149 đang làm nhiệm vụ vây ép sân bay Hòa Bình đã kịp thời chặn đánh số quân trên đây của địch, diệt 2 xe, bắt sống 2 xe; diệt và bắt sống nhiều tù binh. Thừa thắng, Tiểu đoàn 7 đánh chiếm khu tham mưu, diệt và bắt sống hàng trăm tên rồi tiến vào tủng tâm Sở chỉ huy. 11 giờ ngày 11-3, quân ta làm chủ Sở chỉ huy Sư đoàn 23.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2011, 08:05:01 AM
Chiều ngày 11-3, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Bộ Tư lệnh chiến dịch: “Ở Buôn Ma Thuột nhanh chóng tiêu diệt địch còn lại, vừa phát triển ra xung quanh, vừa sẵn sàng đánh viện của địch, nhanh chóng phát triển về hướng Cheo Reo, hình thành thế bao vây ngay Plâyku để tiến tới tiêu diệt Plâyku, cô lập Kon Tum, mở rộng phạm vị kiểm soát đường số 19, thực hiện chia cắt chiến lược tiến tới tiêu diệt quân địch ở An Khê”(1).

Tối ngày 11-3, sau khi tổng hợp kết quả chiến đấu trên các hướng, Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận định: qua hai ngày chiến đấu, ta đã chiếm được các mục tiêu quan trọng nhất, làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột, khống chế được sân bay Hòa Bình, nhưng ở một số căn cứ quan trọng ven thị xã, địch vẫn còn chiếm giữ. Chúng có thể đổ quân xuống các căn cứ đó để phản kích chiếm lại thị xã. Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ thị cho các đơn vị nhanh chóng phát triển thắng lợi, tiêu diệt địch ở ngoại vi thị xã, các vùng phụ cận, trọng điểm là căn cứ trung đoàn 45 và 53, quét sạch tàn quân địch, củng cố vững chắc khu vực đã chiếm, sẵn sàng đánh địch phản kích tư các hướng vào thị xã.

Về phía địch, sau khi bị mất thị xã Buôn Ma Thuột, Nguyễn Văn Thiệu lệnh cho Phạm Văn Phú phải cố thủ các cứ điểm còn lại, đồng thời tập trung các đơn vị của Sư đoàn 23 (gồm hai trung đoàn 44; 45) cơ động xuống Buôn Ma Thuột, kết hợp với lực lượng còn lại của Trung đoàn 53, Lữ đoàn 21 biệt động quân, tổ chức phản kích, Sư đoàn không quân số 6 ở sân bay Thành Sơn (Phan Rang) cũng được lệnh huy động tối đa máy bay chi viện hỏa lực cho các lực lượng phản kích chiếm lại thị xã.

Tiếp tục tiến công những mục tiêu còn lại, ngày 12-3, Tiểu đoàn 4 - Trung đoàn 95B đánh chiếm khu nhà lao, bắt hơn 100 tên địch, giải phóng toàn bộ số tù nhân bị địch giam giữ ở đây. Trong thời gian này, Trung đoàn 24 và 1 đại đội xe tăng đánh chiếm hậu cứ Trung đoàn 45 và khu trung tâm huấn luyện Sư đoàn 23, diệt và bắt sống 350 tên, thu 400 súng các loại; Trung đoàn 174 tiến công cụm quân địch ở cầu Sêrêpốc, bắt 300 tên địch; Trung đoàn 64 - Sư đoàn 320A đánh chiếm quận lỵ Buôn Hồ, điểm cao Chư Bao, ấp Đạt Lý. Đội cán bộ chính trị của tỉnh Đắc Lắc gồm 83 người, do đồng chí Bí thư Thị ủy Buôn Ma Thuột phụ trách, tiến vào thị xã phát động quần chúng nổi dậy truy lùng ác ôn, tề diệp, giải tán chính quyền cũ, thành lập chính quyền cách mạng ở các khu phố. Nhiều thanh niên, học sinh tham gia giúp bộ đội truy quét tàn binh, kêu gọi binh lính Sài Gòn hạ vũ khí. Đo 1 - Trung đoàn 301 bộ đội địa phương tỉnh đảm nhiệm công tác giữ gìn an ninh, trật tự trong thị xã.

Ngày 12-3, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương gử điện khen ngợi cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận đã nêu cao tinh thần quyết thắng, anh dũng, mưu trí, sáng tạo, đã nhanh chóng giành thắng lợi ngay trong những ngày đầu chiến dịch. Quân ủy Trung ương chỉ thị cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận cần nắm lấy những thời cơ thuận lợi giành thắng lợi to lớn hơn nữa.

Ngày 13-3, một bộ phận Trung đoàn 148 đánh chiếm ấp Châu Sơn. Ngày 14-3, Tiểu đoàn 21 giải phóng Bản Đôn, gọi hàng tiểu đoàn bảo an và phá rã một căn cứ của tổ chức Fulrô; Tiểu đoàn 6 đánh chiếm Chư M’ga.

Cùng với đòn tiến công giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 968 đánh chiếm hai chốt địch ở đông tnam thị xã Plâyku, áp sát sây bay Thanh Bình, uy hiếp Thanh An; pháo kích dữ dội vào sân bay Kon Tum và Cù Hanh. Trung đoàn 95A diệt cụm quân địch ở Ngã Ba sân bay Plâyku, đánh địch đến giải tỏa đường 19, diệt hai chi đoàn thiết giáp, sau đó phát triển xuống đèo Măng Giang. Sư đoàn 3 (Quân khu 5) tiếp tục đánh địch ở các khu vực Bình Tân, Bình Tường, Đồng Phó. Trung đoàn 25 chặn đánh 1 đoàn xe cơ giới địch từ Khánh Dương lên giải tỏa đường 21.

Chiếm được thị xã Buôn Ma Thuột, ta có điều kiện đẩy mạnh tiến công địch trên các hướng theo đường 14 ra hướng bắc, ta có thể uy hiếp thị xã Plâyku; vào hướng nam, ta có thể đánh chiếm Gia Nghĩa và tiến vào Nam Bộ; theo hướng tỉnh lộ 7B, ta có thể tiến công thị xã Cheo Reo và từ đó phát triển về Tuy Hòa; theo đường 21, ta có thể tiến xuống Nha Trang và Cam Ranh, cắt đôi miền Nam - điều mà chính quyền Sài Gòn lo sợ nhất lúc bấy giờ. Như vậy, đòn tiến công Buôn Ma Thuột đã “điểm trúng huyệt”, làm rung động thế trận của địch, “tạo ra đột biến về chiến dịch, dẫn đến đột biến về chiến lược, gây tác động dây chuyền, tạo thời cơ cho những trận then chốt tiếp theo, tạo nên bước ngơặt quyết định của sự phát triển chiến dịch và cả chiến lược dẫn đến sự phá vỡ chiến lược”(2). Chính vì thế, báo chí Sài Gòn, đặc biệt báo chí các nước tới tấp đưa tin, bình luận về trận Buôn Ma Thuột, coi trận Buôn Ma Thuột là một thắng lợi thần kỳ. Báo Le Mon (Pháp) số ra ngày 21-3-1975 viết: “Trong vài ngày, bản đồ quân sự miền Nam bị đảo lộn. Chỉ có trận Buôn Ma Thuột mà khiến cho mảng cấu trúc do chế độ Thiệu dựng lên bị sụp đổ. Hóa ra Buôn Ma Thuột mang cái đà của một bước ngoặt trong cuộc xung đột đến nay đã được 30 năm”.


(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Chiến dịch tiến công Tây Nguyên Xuân 1975, Sđd, tr. 56.
(2) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 478.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2011, 08:05:58 AM
III - ĐẬP TAN CUỘC PHẢN KÍCH TÁI CHẾM
BUÔN MA THUỘT, TRUY KÍCH ĐỊCH TRÊN ĐƯỜNG
THÁO CHẠY, GIẢI PHÓNG TÂY NGUYÊN
VÀ CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

Buôn Ma Thuột thất thủ, số còn lại của quân đội Sài Gòn dồn về căn cứ 45, 53, Trường huấn luyện 23, ấp Châu Sơn, co cụm tại những nơi này hòng giữ các bàn đạp ở ngoại vi, chờ lực lượng tăng viện đến hỗ trợ để phản kích chiếm lại thị xã. Ngày 12-3, Nguyễn Văn Thiệu điện cho Phạm Văn Phú phải bằng mọi cách tái chiếm Buôn Ma Thuột. Ngay sau đó, Phạm Văn Phú dùng trực thăng bay đến vùng căn cứ Trung đoàn 53 để thị sát tình hình, đồng thời lệnh cho chỉ huy Trung đoàn 53 tập trung lực lượng cố thủ, chờ Sư đoàn 23 đến cùng phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. Chiều ngày 12 và sáng ngày 13-3, địch sử dụng 81 lần chiếc máy bay ném bom, bắn phá khu vực đông bắc thị xã. Tiếp đó, chúng sử dụng 145 lần chiếc máy bay lên thẳng đổ Trung đoàn 45 và một đại đội pháo binh xuống khu vực điểm cao 581 ở phía đông Buôn Ma Thuột.

Về phia ta, sau trận Buôn Ma Thuọt thắng lớn, ngày 12-3, Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương điện thông báo cho Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên biết các chiến trường khác đang tích cực tiến công phối hợp, yêu cầu Bộ Tư lệnh chiến dịch đôn đốc, chỉ đạo các đơn vị phải nhanh chóng củng cố lực lượng và thế trận, sẵn sàng tiêu diệt quân địch phản kích, kiên quyết giữ vững thị xã Buôn Ma Thuột.

Trong kế hoạch tác chiến đề ra ban đầu, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã lượng định về thành phần của lực lượng phản kích (chủ yếu là Sư đoàn 23 địch), về cả thời gian, hướng, khu vực triển khai cũng như phương pháp cơ động lực lượng dự bị của địch khi chúng tổ chức và thực hành phản kích tái chiếm Buôn Ma Thuột. Về thời gian, ta dự kiến sau 2 đến 3 ngày bị ta tiến công, đánh chiếm Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 23 có thể cơ động về giải cứu; chúng sẽ có thể dựa vào trục đường 21 để triển khai lực lượng ở khu vực hậu cứ trung đoàn 45, hoặc cũng có thể dựa vào trục đường số 14 để triển khai ở khu vực Buôn Hồ, Đạt Lý. Về phương pháp cơ động, ta dự kiến khi đường bộ bị cắt, sân bay bị đánh chiếm, địch chỉ còn cách duy nhất là sử dụng máy bay lên thẳng. Với khả năng hiện có, địch chỉ có thể lần lượt vận chuyển từng trung đoàn mỗi ngày.

Từ những phán đoán trên, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định đánh chiếm các căn cứ 45, Buôn Hồ, Đạt Lý, Chư Bao nhằm xóa bỏ khu vực đổ quân và triển khai của lực lượng phản kích. Bộ Tư lệnh giao cho Sư đoàn 10 nhiệm vụ đánh địch phản đột kích, giao cho Sư đoàn 320 A sẵn sàng vào trận khi được lệnh.

Như vậy, tại Buôn Ma Thuột và vùng phụ cận, thế trận chuẩn bị đánh địch phản kích của ta đã hình thành. Sư đoàn 320A sử dụng một bộ phận lực lượng tiến công quận lỵ Buôn Hồ, đuổi địch chạy về Đạt Lý, một bộ phận khác đánh lên phía bắc tiến sát Ia Hleo, làm chủ vững chắc đường số 14 trên một đoạn dài 80 km. Sư đoàn 10 phát triển về hướng đông Buôn Ma Thuột. Trưa ngày 12-3, quân ta hình thành thế bao vây chi khu và quận lỵ Phước An. Viên chỉ huy chi khu bỏ chạy. Các cụm pháo tầm xa của ta đã hiệu chỉnh các phần tử bắn, sẵn sàng dội đạn xuống mục tiêu ở phía đông thị xã và quanh sân bay Hòa Bình. Bộ đội đặc công bám chắc sân bay Hòa Bình, đánh bật các đợt phản kích của địch từ căn cứ 53 sang hòng chiếm lại sân bay. Các cụm pháo cao xạ dồn đội hình về phía đông thị xã, sẵn sàng đánh quân đổ bộ đường không của địch. Các phân đội xe tăng, xe bọc thép của ta sẵn sàng xuất kích theo trục đường Buôn Ma Thuột - Lạc Thiện - Phước An vừa mới mở.

Đêm ngày 12-3, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 họp nhận định: căn cứ 45 đã bị ta chiếm, một phần căn cứ 53 bị ta khống chế. Vì thế, nếu muốn chiếm lĩnh khu vực này, địch sẽ buộc phải dồn quân xuống khu vực chưa được chuẩn bị. Nếu ta chủ động tổ chức đánh ngay, chắc chắn địch sẽ sớm rơi vào tình trạng hỗn loạn, tan vỡ nhanh. Bộ tư lệnh Sư đoàn quyết định đánh Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 45 quân đội Sài Gòn vừa mới đổ bộ trưa ngày 12-3 xuống điểm cao 581; tiếp đó, sẽ tiến đánh Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 45 cũng đa đổ bộ xuống đường 21.

Để đảm bảo cho Trung đoàn 24 bi đánh chắc thắng, Bộ Tư lệnh chiến dịch và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 10 đã tăng cường 2 đại đội xe tăng, xe bọc thép, 1 đại đội pháo 122 mm, 1 đại đội cối 120 mm, 1 tiểu đoàn cao xạ, 1 đại đội công binh. Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 66 chốt chặn cầu A1, đón lõng và sẵn sàng đánh địch tháo chạy.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2011, 08:07:40 AM
7 giờ sáng ngày 14-3, được pháo binh chi viện, Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 và 2 đại đội xe tăng, xe bọc thép Trung đoàn 273 chia thành hai mũi bắt đầu đột phá lên điểm cao 581. Khi bộ binh và xe tăng ta đến gần, nhiều binh lính hoảng loạn hoặc xin hàng, hoặc hốt hoảng tháo chạy. Tiểu đoàn 6 cùng xe tăng tiếp tục truy kích địch. Bị truy kích mạnh từ nhiều phía và lại rơi đúng vào trận địa đón lõng của Tiểu đoàn 4, toàn quân địch tan rã. Tiểu đoàn 2 quân đội Sài Gòn bị xóa sổ. Thừa thắng, Trung đoàn 24 tiến thẳng ra đường 21 bao vây, tiêu diệt Tiểu đoàn 1. Không chịu nổi những đòn tiến công mãnh liệt của Trung đoàn 24, cả Tiểu đoàn 1 tháo chạy tán loạn. Vừa truy kích, ta vừa gọi địch ra hàng. Đến 12 giờ ngày 14-3, Trung đoàn 24 và lực lượng phối thuộc đã tiêu diệt và làm tan rã Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 45 và một tiểu đoàn bảo an, diệt 220 tên, bắt sống 180 tên, thu 4 pháo 105 mm và hàng trăm súng các loại.

Trong lúc đó, ở phía đông nam sân bay Hòa Bình, Sư đoàn 316 tiến công căn cứ Trung đoàn 53 cách trung tâm thị xã khoảng 10 km. Căn cứ Trung đoàn 53 do Trung tá Võ Ân chỉ huy. Đây là căn cứ có hệ thống công sự trận địa phòng ngự vững chắc. Lực lượng địch trong căn cứ gồm Trung đoàn 53 (thiếu 1 tiểu đoàn), 1 đại đội thiết giáp M113 và một số tàn quân của Liên đoàn biệt động quân số 21, Trung đoàn 44… dồn về.

5 giờ 35 phút ngày 14-3, sau 30 phút pháo bắn cấp tập, Trung đoàn 149, được tăng cường 1 đại đội xe tăng, mở các đợt xung phong đánh vào căn cứ Trung đoàn 53. Địch huy động phi pháo đánh chặn quyết liệt rồi dùng bộ binh liên tiếp phản kích. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch giằng co đến chiều. Các mũi tiến công của Trung đoàn 149 gặp khó khăn, không phát triển được, phải tạm dừng để củng cố đội hình. 17 giờ cùng ngày, sau khi được bổ sung quân số và đạn dược, Trung đoàn 149 tổ chức tiến công lần thứ hai. Chiến sự diễn ra vô cùng quyết liệt(1). Trời tối, lực lượng bị hao tổn, Trung đoàn 149 phải tạm dừng để củng cố đội hình chuẩn bị cho các đợt tiến công tiếp theo.

Ngày 15-3-1975, trong khi ta điều chỉnh lực lượng, chuẩn bị đánh tiếp thì địch dùng trực thăng đổ quân xuống phía đông bắc căn cứ 53. Được tăng viện, lực lượng cố thủ trong căn cứ chống trả quyết liệt. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định đưa Trung đoàn 66 (Sư đoàn 10) và đại đội xe tăng (6 chiếc) vào chiến đấu; đồng thời tăng cường hỏa lực pháo binh mặt trận chi viện cho các lực lượng tiến công.

165 giờ ngày 16-3, trận tiến công quyết định vào căn cứ Trung đoàn 53 được bắt đầu bằng một đòn hỏa lực pháo binh dữ dội của Trung đoàn pháo 40. Nhiều mục tiêu quan trọng của địch bị hỏa lực pháo binh phá hủy. Trong khi lực lượng phòng thủ trong căn cứ chưa kịp hoàn hồn thì từ hướng tây bắc, Trung đoàn 66 được phối thuộc một đo xe tăng nhanh chóng cơ động áp sát căn cứ. Trên hướng tây nam, Trung đoàn 149 cùng xe tăng đã trong tư thế xuất phát tiến công. Lúc này, địch huy động máy bay, pháo binh đánh phá ngăn chặn quyết liệt vào đội hình chiến đấu của ta; bộ binh và xe tăng phản kích mạnh mẽ trên những hướng bị tiến công. 20 giờ ngày 16-3, sau nhiều đợt đánh bộc phá liên tục, Trung đoàn 66 đã mở được cửa cho mũi tiến công thứ nhất. Hai giờ sau đó, Trung đoàn 66 cùng Trung đoàn 149 mở thông cửa mở thứ hai. Bộ binh, xe tăng ta nhanh chóng tràn vào đánh chiếm khu vực đầu cầu rồi phát triển vào sâu trong căn cứ. Địch chống trả quyết liệt. Trận đánh kéo dài suốt đêm. Sáng ngày 17-3, khi trời vừa hửng, ta mở đợt xung phong đồng loạt đánh vào các mục tiêu ở trung tâm căn cứ. Trước sức tiến công mãnh liệt của bộ binh và xe tăng ta, nhiều tên địch bị diệt, số còn lại ra hàng hoặc tháo chạy về phía đông. Đến 8 giờ cùng ngày, ta làm chủ hoàn toàn căn cứ Trung đoàn 53, ta diệt 400 tên, bắt sống hơn 100 tên, phá hủy và thu nhiều trang bị, vũ khí như thiết giáp, pháo và trên 300 súng bộ binh các loại. Căn cứ Trung đoàn 53 bị tiêu diệt, bàn đạp triển khai lực lượng phản kích bị mất, hy vọng tái chiếm lại Buôn Ma Thuột của Sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn, vì vậy, càng trở lên mong manh. Ngày 15 và 16-3, địch đổ tiếp Trung đoàn 44 và Sở chỉ huy nhẹ của Sư đoàn 23 xuống Phước An. Như vậy, đến đây địch đã tung toàn bộ lực lượng của Sư đoàn 23 hòng tổ chức phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột. Thế nhưng, các cuộc đổ bộ của địch đều nằm trong dự kiến và tầm kiểm soát của ta nên ngay từ đầu, chúng đã bị hỏa lực pháo binh của ta chế áp mãnh liệt, làm cho nhiều tên vừa tiếp đất đã bị tiêu diệt.


(1) Trong trận đánh này, Đại đội trưởng Đại đội 9 Hồ Đức Bảy bị thương rất nặng ở phần bụng vẫn kiên quyết chỉ huy các đơn vị chiến đấu và đã anh dũng hy sinh khi quân ta đánh chiếm được lô cốt đầu cầu.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2011, 08:09:21 AM
Chiều ngày 15-3, Sư đoàn 10 dùng pháo bắn phá cụm quân địch ở đông điểm cao 581. Sáng hôm sau, ngày 16-3, Trung đoàn 24 được tăng cường Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 66 tiến công vào Nông Trại, tiêu diệt gần hết tàn quân của Trung đoàn 45 quân đội Sài Gòn dồn về đây. Kết thúc trận đánh, ta diệt hàng trăm tên và bắt sống 1.669 tên (trong đó có tên chỉ huy Trung đoàn 45), thu 1.806 súng các loại. Tàn quân địch chạy về Phước An, Chư Cúc. Ngăn chặn quân ta truy kích, máy bay địch đánh phá ác liệt trục đường 21.

Ngày 18-3, Trung đoàn 66 phối hợp với Trung đoàn 25 tiến công Chư Cúc, nơi đặt Sở chỉ huy nhẹ Sư đoàn 23. mà lúc bấy giờ, trở thành chỗ tập hợp của tàn quân Trung đoàn 45 và một số đơn vị bảo an. Tuy tương đối đông nhưng quân địch đang ở trong tình trạng hoang mang, dao động nên lực lượng này nhanh chóng bị đánh tan. Ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 500 tên. Viên tướng Lê Trung Tường - Tư lệnh Sư đoàn 23 và một số sĩ quan tham mưu được trực thăng cứu thoát.

Phát huy thắng lợi, Trung đoàn 149 đánh quét rộng ra các ấp ngoại vi Chi Lăng, Trung Hòa, Kim Châu Phát; Trung đoàn 174 diệt các đồn bảo an dân vệ dọc đường 14 từ Buôn Ma Thuột đi 771 và đường 21B từ Buôn Ma Thuột đi Lạc Thiện… Nhân dân Phước An kịp thời nổi dậy phá 35 ấp chiến lược và 11 dinh điền, xóa bỏ ngụy quyền, thành lập chính quyền nhân dân.

Như vây, trong 5 ngày (từ ngày 14 đến ngày 18-3-1975), bằng 4 trận tiến công trong hành tiến trên chặng đường dài khoảng 50 km, Sư đoàn 10 (thiếu) và các lực lượng phối thuộc đã tiêu diệt Sư đoàn 23 (thiếu) và Liên đoàn biệt động số 21, đập tan ý định phản kích của lực lượng dự bị Quân đoàn 2, góp phần quan trọng thúc đẩy chiến dịch phát triển.

Trên hướng Sư đoàn 968, ngày 16-3, Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 19 triển khai phía đông Thanh Bình 1, hình thành thế bao vây phía tây Sở chỉ huy Liên đoàn số 26; Tiểu đoàn 2 triển khai phía nam Thanh Bình 2, sẵn sàng đánh quân tăng viện. Trong lúc đó, Tiểu đoàn 3 được lệnh tiến công phía bắc Sở chỉ huy Liên đoàn 25, các trận địa pháo 122 mm, 85 mm và cối 120 mm bắn phá mãnh liệt quận lỵ Thanh An.

5 giờ sáng ngày 17-3-1975, các mũi tiến công của Trung đoàn 19 đồng loạt nổ súng đánh vào quận lỵ Thanh An, nhanh chóng tiêu diệt quân địch đồn trú ở đây, bắt hơn 100 tên. Số còn lại bỏ chạy về Bàu Cạn. Trung đoàn 19 phát triển tiến công giải phóng Bàu Cạn, Hòn Rồng. Cùng ngày, Tiểu đoàn 5 - trung đoàn 29 cắt đường 14 (đoạn từ Tân Phú đi Chư Thoi), chặn đánh Tiểu đoàn 153 bảo an, diệt 52 tên, bắt 14 tên, thu 23 súng các loại. 11 giờ 30 phút ngày 17-3, Trung đoàn 95A chủ lực Quân khu 5 và Trung đoàn 19 tiến vào giải phóng Plâyku, Trung đoàn 29 giải phóng Kon Tum. Ngày 19-3, Bộ Tư lệnh Mặt trận lệnh cho Sư đoàn 968 đưa Trung đoàn 29 về làm nhiệm vụ tiếp quản Buôn Ma Thuột

Buôn Ma Thuột bị đánh chiếm. Đường 19 và đường 21 bị cắt. Plâyku, Kon Tum bị bao vây. Sư đoàn 23 đi tái chiếm bị quân ta tấn công. Trước tình thế này, ngày 13-3-1975, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu họp khẩn cấp Hội đồng an ninh quốc gia quyết định rút bỏ một số vùng không quan trọng, hoặc không thể giữ được để đưa quân về giữ những vùng có tính chất sống còn. Ở Quân khu 1, địch dự kiến rút khỏi Quảng Trị, đưa Sư đoàn dù về bảo vệ Sài Gòn. Ở Quân khu 2, chúng rút bỏ Tây Nguyên về giữ duyên hải miền Trung, chủ yếu là Nha Trang, Cam Ranh. Ngày 14-3, Nguyễn Văn Thiệu ra Cam Ranh triệu tập cuộc họp khẩn cấp với Phạm Văn Phú. Cùng đi với Thiệu có Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn Quang. Nhận thấy không còn khả năng tái chiếm Buôn Ma Thuột, và trong điều kiện đang bị đối phương uy hiếp dữ dội ở Plâyku, Kon Tum, các đường chiến lược lên Tây Nguyên bị cắt, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút khỏi Kon Tum và Plâyku về giữ đồng bằng. Toàn bộ lực lượng rút lui sẽ theo đương số 7. Sở dĩ quyết định chọn đường 7 vì địch cho rằng tuy mặt đường xấu vì đã lâu không dùng, tạo được yếu tố bất ngờ, đảm bảo cho cuộc rút lui chiến lược an toàn(1).

Trở về Plâyku, ngay đêm 14-3, Phạm Văn Phú đã triệu tập chuộc họp khẩn cấp truyền đạt lại ý kiến của Nguyễn Văn Thiệu và giao cho Trần Văn Cẩm - phụ tá của Tư lệnh quân đoàn, làm kế hoạch rút lui với yêu cầu phải tuyệt đối bảo đảm bí mật, đến câp tỉnh trưởng cũng không được cho biết. Triển khai kế hoạch triệt thoái các lực lượng của Quân đoàn 2 ra khỏi Tây nguyên, ngày 15-3, địch sử dụng liên đoàn biệt động số 6 và 23 cùng lữ đoàn kỵ binh số 2 làm nhiệm vụ bảo vệ đường, liên đoàn công binh đi trước để chữa đường, bắc cầu. Đêm ngày 14 rạng ngày 15-3, Bộ Chỉ huy tiền phương Quân đoàn 2 cùng Phạm Văn Phú và Chuẩn tướng Lê Trung Tường - Tư lệnh Sư đoàn 23 về Nha Trang bằng máy bay.

Về phia ta, đồng thời với việc chỉ đạo lực lượng ở hướng nam đánh tan đợt phản kích chiếm lại Buôn Ma Thuột, các cấp chỉ huy chiến dịch, chiến lược cũng tập trung chỉ đạo lực lượng ở hướng bắc bao gồm Sư đoàn 320A, Sư đoàn 968, Sư đoàn 3 vừa chuẩn bị tiến công các mục tiêu được phân công, vừa theo dõi chặt chẽ mọi động thái mới của địch. Trước những diễn biến hết sức thuận lợi và mau lẹ sau trận đánh thị xã Buôn Ma Thuột, ngày 13-3, Quân ủy Trung ương điện cho Bộ Tư lệnh chiến dịch trong đó dự kiến: “Nếu địch bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực lớn, thị xã Buôn Ma Thuột và nhiều quận lỵ khác bị mất, đường số 19 bị cắt thì lực lượng còn lại ở Tây Nguyên sẽ cụm lại ở Plâyku và cũng có thể chúng buộc phải rút lui chiến lược bỏ Tây Nguyên”. Quân ủy Trung ương chỉ thị: “Cần hình thành ngay việc bao vây Plâyku, triệt cả đường bộ lẫn đường không của địch, chuẩn bị tốt cho việc tiêu diệt địch trong cả hai tình huống”. Như vậy, ta đã đi trước một bước trong dự kiến địch sẽ rút lui chiến lược khỏi Tây Nguyên. Đây là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng tạo điều kiện để các đơn vị ta chủ động và kịp thời đánh quân địch rút chạy.


(1) Cao Văn Viên trong cuốn Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, VietNambibliography, 2003, cho biết, liên tỉnh lộ 7B lúc bấy giờ “là một con đường phụ, tách khỏi quốc lộ 14 khoảng 32 km ở nam Plâyku, chạy theo hướng đông nam qua Hậu Bổn (Cheo Reo) về Tuy Hòa ở miền duyên hải. Liên tỉnh lộ 7B là một đường nhỏ, lồi lõm, bị bỏ hoang từ lâu. Trừ một đoạn ngắn bắt đầu từ nhánh ở quốc lộ 14 về Hậu Bổn có thể sử dụng được, tất cả các đoạn đường còn lại không ai biết tình trạng như thế nào. Nhưng có hai chi tiết chúng ta biết chắc về con đường 7B là, (1) cầu bắc qua sông Ba ở phía nam của Củng Sơn bị phá hủy không còn sử dụng đợc, (2) đoạn đường chót đi vào Tuy Hòa rất nguy hiểm vì quân đội Đại Hàn, trong thời gian trấn giữ, đã gài mìn phong tỏa”.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Ba, 2011, 08:10:12 AM
Chiều ngày 15-3-1975, giữa lúc đang tiếp tục chỉ đạo các đơn vị đánh Trung đoàn 45 và Trung đoàn 53 quân đội Sài Gòn thì Bộ Tư lệnh chiến dịch nhận được điện của Đại tướng Văn Tiến Dũng thông báo về việc địch có khả năng rút chạy khỏi Kon Tum và Plâyku.

Cùng với việc tăng cường trinh sát nắm địch trên các hướng hướng, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh triển khai kế hoạch truy kích địch rút chạy.

Trước đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã có phương án giao cho Sư đoàn 320A nhiệm vụ giải phóng Cheo Reo, Phú Bổn. Vì vậy, ngay từ khi triển khai thế trận, sư đoàn đã tổ chức xoi đường, chuẩn bị sẵn đường cơ động để có thể tiếp chận Cheo Reo bất cứ lúc nào. Để đảm bảo giữ vững khu vực bàn đạp cho sư đoàn khi triển khai nhiệm vụ, sư đoàn đã ém sẵn Tiểu đoàn 9 - Trung đoàn 64 ở phía tây cách Cheo Reo 7 km. Ngày 16-3, đội hình chiến đấu của Sư đoàn 320A bố trí như sau:

- Trung đoàn 64 (thiếu Tiểu đoàn 9) được tăng cường Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48) đang đánh địch ở vùng Đạt Lý, Phước An.

- Trung đoàn 9 đang cơ động đánh địch ở phía Kênh Săn.

- Trung đoàn 48 trừ Tiểu đoàn 3 (tăng cường cho Trung đoàn 64). Tiểu đoàn 2 đang làm đường ở tây Cheo Reo, còn lại đang bố trí ở khu vực Cẩm Ga.

Do tập trung cho nhiệm vụ giải phóng Cheo Reo nênn tình hình trên đường số 7, sư đoàn chưa có điều kiện nắm chắc, nhất là đoạn phía đông từ Cheo Reo qua Phú Túc đến Củng Sơn. Với đội hình chiến đấu đang triển khai từ Chư Phao, đạt Lý đến Cẩm Ga, các đơn vị phân tán như vậy nên trong một thời gian ngắn, sư đoàn khó có thể tập trung lực lượng vào nhiệm vụ truy kích địch trên quãng đường hơn 50 km từ Cẩm Ga đến Cheo Reo.

19 gờ ngày 16-3-1975, Đại tướng Văn Tiến Dũng điện cho Bộ Tư lệnh chiến dịch: “Địch rút chạy trên đường số 7, tổ chức truy kích ngay!”. Địch vỡ quá nhanh, thời cơ lớn xuất hiện, phải kiên quyết chớp thời cơ tiêu diệt sinh lực địch. Với tinh thần khẩn trương nhất, kiên quyết nhất, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng Sư đoàn 320A được tăng cường Trung đoàn 95B, 1 tiểu đoàn xe tăng và một bộ phận pháo binh của Trung đoàn 675 truy kích tiêu diệt địch rút chạy trên đường số 7 đoạn từ Cheo Reo đến Củng Sơn. Bộ Tư lệnh chiến dịch phân công đồng chí Phó Tư lệnh chiến dịch và một bộ phận cơ quan trực tiếp đi cùng với Sư đoàn 320A, đồng thời đề nghị Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lệnh cho lực lượng vũ trang Phú Yên kịp thời tổ chức chặn địch ở Củng Sơn.

20 giờ 30 phút ngày 16-3, nhận lệnh tổ chức lực lượng truy kích địch trên đường số 7, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320 tổ chức lực lượng như sau:

- Tiểu đoàn 9 (Trung đoàn 64) ngay trong đêm phải cơ động lực lượng ra chặn địch ở nam Cheo Reo.

- Tiểu đoàn 48 (thiếu) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng cơ động ấp sát chuẩn bị tiến công Cheo Reo.

- Trung đoàn 9 nhanh chóng đánh chiếm vị trí Kênh Săn, rồi phát triển lên quận lỵ Phú Nhơn, khu vực Mỹ Trạch; sau đó, hình thành một mũi theo đường 7 từ hướng tây bắc qua Phú Thiện đánh xuống thị xã Cheo Reo.

- Trung đoàn 95 B ở tây nam Thuần Mẫn làm lực lượng dự bị.

Đẻ đuổi kịp quân địch, Bộ Tư lệnh Sư đoàn ra lệnh huy động toàn bộ các loại xe, kể cả xe con, xe kéo pháo của sư đoàn và Trung đoàn pháo 593 lên đón Trung đoàn 64 đang đánh địch ở hướng Phước An, nhanh chóng cơ động toàn bộ lực lượng này tới nam Cheo Reo.Trong ngày 17-3, toàn trung đoàn phải thiết lập xong tuyết chống chặn địch trên đường 7, khóa chặt quân địch ở thung lũng Cheo Reo.

Ngay sau khi nhận lệnh, Tiểu đoàn 9 tổ chức hành quân thần tốc cắt đường xuyên rừng hướng về nam Cheo Reo. Bộ đội được lệnh bỏ lại mọi thứ cồng kềnh, chỉ mang theo súng đạn để tiện cơ động. Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định cho bộ đội đốt đuốc hành quân ban đêm. Yếu tố bí mật bây giờ không còn quan trọng bằng bảo đảm thời gian, toàn tiểu đoàn lao đi như cơn lốc với quyết tâm: “Đi nhanh nhất, đến đủ nhất, đến nơi chiến đấu được ngay, quyết không để quân địch chạy thoát”.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Ba, 2011, 07:39:43 PM
3 giờ ngày 17-3, Tiểu đoàn 9 triển khai đội hình chiến đấu sát đường 7 cách phía đông Cheo Reo khoảng 4 km. Ít phút sau, toàn tiểu đoàn nổ súng chặn địch. Nhiều xe tăng, xe thiết giáp địch bị bộ đội ta bắn cháy trên đường. Địch tập trung xe tăng, xe thiết giáp và bộ binh đánh tràn ra hai bên đường hòng mở đường máu tháo chạy. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt, nhiều cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 9 trở thành dũng sĩ diệt xe tăng, xe thiết giáp địch.

Vào thời điểm Tiểu đoàn 9 nổ súng chặn địch trên đường 7, địch đã lập tuyến trung chuyển ở Cheo Reo để điều hành đoàn quân rút chạy về Tuy Hòa. Các loại xe địch tập trung trên tuyến đường này rất nhiều, khi bị ta chặn đánh, đường 7 ngay lập tức bị tắc nghẽn, thị xã Cheo Reo nhỏ hẹp lúc này trở thành tụ điểm của hàng vạn dân chúng và binh lính địch. Hơn 2.000 xe bị chặn lại trên đường, tiến không được, lui cũng không xong càng làm cho tình hình địch hoang mang dao động đến cực độ.

Trong khi các trận đánh của Tiểu đoàn 9 trên đường 7 đang diễn ra quyết liệt, các lực lượng còn lại của Trung đoàn 64, Trung đoàn 48 và các lực lượng tăng cường khác tiếp tục cơ động đến Cheo Reo. Các đơn vị của Trung đoàn 64 đến nam Cheo Reo nhanh chóng bước vào chiến đấu cùng Tiểu đoàn 9 tiêu diệt quân địch trên đường 7, khóa chặt đường rút lui của chúng. Các đơn vị của Trung đoàn 48 cơ động đến Cheo Reo cũng nhanh chóng triển khai chuẩn bị tiến công. Trung đoàn 9, sau khi đánh chiếm xong quận Phú Nhơn trên đường số 14, tiếp tục đánh chiếm đèo Ban Blếch; sau đó thừa thắng đánh chiếm quận lỵ Phú Thiện (bắc Cheo Reo), cắt đứt đường số 7, hình thành thế bao vây tiến công từ phía sau đội hình rút chạy của địch. Ngày 17-3, pháo binh ta bắn phá thị xã Cheo Reo càng làm cho quân địch trong thị xã thêm hỗn loạn.

Chiều ngày 18-3, Sư đoàn trưởng Kim Tuấn, Tham mưu trưởng Sư đoàn Ngô Huy Phát cùng chỉ huy Trung đoàn 48 và các cán bộ tham mưu di chuyển tới dãy điểm cao phía tây Cheo Reo. Từ trên đèo cao, ta quan sát được thị xã Cheo reo và nhận thấy: các cụm xe tăng, xe thiết giáp, trận địa pháo binh, các bãi đỗ ôtô xen kẽ nhau. Do mật độ xe, pháo quá dày, chen lấn nhau, địch rất khó cơ động tác chiến khi bị ta tiến công. Để tận dụng thời cơ, Bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định; Trung đoàn 48 sử dụng 2 tiểu đoàn đánh vào khu vực sân bay, 1 tiểu đoàn đánh vào khu vực trại Ngô Quyền, sau đó hợp vây lần lượt đánh chiếm các mục tiêu còn lại trong thị xã. Trung đoàn 64 vừa chốt chặn đánh địch trên đường 7, vừa chuẩn bị sẵn lực lượng đón đánh quân địch từ trong thị xã chạy ra các khu vực xung quanh.

Sau 30 phút bắn phá chuẩn bị của pháo binh, 16 giờ 30 ngày 18-3, Trung đoàn 48 nổ súng tiến công sân bay Cheo Reo. Các ổ đề kháng bảo vệ sân bay của địch nhanh chóng bị quân ta tiêu diệt. Các đơn vị tiếp tục phát triển chiến đấu vào trong thị xã. Khó khăn đối với Tiểu đoàn 2 lúc này là số tù binh địch ra hàng quá nhiều, trời lại sắp tối. Trước tình hình đó, Tiểu đoàn 2 ra lệnh cho đại đội 7 tạm dừng, vừa củng cố đội hình vừa làm công tác thu gom tù binh, giải thích sơ bộ để họ hiểu chính sách khoan hồng của Quân giải phóng, đồng thời cử người canh giữ, sau đó mới tiếp tục phát triển chiến đấu. Càng vào sâu trong thị xã, tình hình càng trở nên phức tạp do quân địch chạy về đây nhiều và lại ở trong tình trạng hỗn loạn. Thị xã mất diện. Trong đêm tối, việc phối hợp hiệp đồng giữa các mũi, các hướng gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Sư đoàn ra lệnh cho Trung đoàn 48 tạm dừng để củng cố đội hình. Sáng ngày 19-3, ta tiếp tục truy quét quân địch còn lại và làm chủ hoàn toàn thị xã Cheo Reo.

Trong thời gian này, ở hướng Trung đoàn 64, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Bị đánh mạnh trong thị xã, tàn quân địch tháo chạy về phía đông. Trong đêm 18 và ngày 19-3, các chốt của Trung đoàn 64 liên tục bám đuổi và tiêu diệt nhiều xe tăng, xe thiết giáp, bắt sống hàng ngàn tù binh địch. Cả một đạo quân hàng vạn tên với đầy đủ các sắc lính, được trang bị xe tăng, pháo binh hiện đại của Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn giờ đây đã tan nát trên đường 7; khối chủ lực mạnh của địch ở Tây Nguyên cơ bản bị tiêu diệt, ý định rút quân bảo toàn lực lượng để về giữ các tỉnh đồng bằng ven biển phía Sài Gòn đã hoàn toàn bị đập tan.

Khi Sư đoàn 320A truy kích tiêu diệt địch trên đường số 7, thì ở bắc Tây Nguyên, ngày 18-3, Trung đoàn 29 - Sư đoàn 968 cùng lực lượng vũ trang địa phương giải phóng thị xã Kon Tum. Trung đoàn 95A từ đông đường 19 gấp rút hành quân lên cùng lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai giải phóng Plâyku.

Ngày 19-3, Trung đoàn 19 thuộc Sư đoàn 968 giải phóng Thanh Bình.

Đêm 19-3, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320A họp nhận định; ta đã cơ bản tiêu diệt quân địch ở Tây Nguyên (trừ Liên đoàn 6 biệt động quân và một bộ phận Thiết đoàn 19 vượt qua trước). Ta loại khỏi chiến đấu hơn 4.000 tên địch, bắt sống 3.000 tên, thu nhiều súng đạn, phá hủy hầu hết trang bị và phương tiện của Quân đoàn 2 quân đội Sài Gòn. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận khá lớn bộ binh cơ giới địch chạy thoát do ta cắt đường muộn. Hành động tiếp theo của sư đoàn và lực lượng thiết giáp tăng cường là nhanh chóng vượt lên tổ chức tiến công chặn địch lại; nếu chúng co cụm chống cự thì bao vây chặt, tích cực tiêu hao địch chờ lực lượng cơ động của sư đoàn đến cùng tiến công tiêu diệt.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Ba, 2011, 07:40:53 PM
Ngày 20-3, Bộ Chính trị điện cho các chiến trường: địch đã bắt đầu thời kỳ suy sụp và đã bắt đầu thực hiện việc co cụm chiến lược của chúng. Dự kiến địch có thể co cụm ba nơi là Đà Nẵng, Cam Ranh và xung quanh Sài Gòn. Nhưng địch đang hoang mang dao động mạnh, nên phải tận dụng thời cơ rất thuận lợi này, vận dụng sức mạnh tổng hợp của ta, kiên quyết mạnh bạo, liên tục tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược, nhằm chia cắt, bao vây tiêu diệt địch, ngăn chặn không cho chúng rút lui về để co cụm.

Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Bộ chính trị, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên chỉ thị các đơn vị tập trung lực lượng đẩy mạnh tốc độ tiến công.

Ngày 21-3, Trung đoàn 64 giải phóng quận lỵ Phú Túc trong hành tiến. Ngày 22-3, trung đoàn tiến đến sông Ga Pui, tiêu diệt bộ phận địch chốt chặn ở khu vực này. Cũng trong ngày 22 và ngày 23-3-1975, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương 96 và 13 của tỉnh Phú Yên đã ra đường số 7 phá cầu Sơn Hòa và tổ chức chốt chặn trên đường 7 đoạn phía đông Củng Sơn, diệt và bắt nhiều tên địch. Ngày 23-3, toàn bộ đội hình Trung đoàn 64 đến Củng Sơn bắt liên lạc với bộ đội địa phương Phú Yên và bộ phận đi trước, hình thành thế bao vây quân địch ở Củng Sơn.

Tại thị trấn Củng Sơn, quân địch ùn lại khoảng hơn 6.000 tên, 40 xe tăng, xe thiết giáp và hàng trăm xe vận tải.

Do cầu Ai Nu đã bị phá, tốc độ hành quân của các đơn vị đi sau và phương tiện vật chất kỹ thuật bị chậm nên Sư đoàn 320A chủ trương tiêu diệt quân địch ở Củng Sơn trong hai tình huống:

- Một là, nếu địch co cụm sẽ sử dụng Trung đoàn 64 kết hợp cùng Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương bao vây, kìm giữ quân địch ở Củng Sơn, sư đoàn sẽ điều thêm Trung đoàn 48 và binh khí kỹ thuật lên để cùng Trung đoàn 64 tiến công tiêu diệt quân địch co cụm.

- Hai là, nếu quá trình bao vây phát hiện địch chuẩn bị tháo chạy, Trung đoàn 64 phải tổ chức tiến công ngay, dù pháo binh và các phương tiện kỹ thuật, vật chất chưa lên kịp.

Được sự giúp đỡ tận tình của bộ đội địa phương và chính quyền cách mạng tỉnh, huyện nên công tác chuẩn bị của Trung đoàn 64 tiến hành rất thuận lợi. Tiểu đoàn 96 địa phương tích cực tham gia chiến đấu và được đặt dưới sự chỉ huy chung của cán bộ chỉ huy trung đoàn và đại diện Tỉnh đội Phú Yên. 10 giờ ngày 24-3, pháo binh vẫn chưa lên được (do cầu Ai Nu bị phá, công binh phải làm đường vòng tránh chưa xong), lực lượng tăng cường cho Trung đoàn 64 vẫn chỉ có 6 xe bọc thép K63 và 2 khẩu cối 120 mm đi cùng. 11 giờ cùng ngày, phát hiện thấy địch có dấu hiệu tháo chạy, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 Phạm Quang Bào đề nghị sư đoàn cho đánh theo phương án 2: đánh với lực lượng của bản thân trung đoàn, không có sự chi viện của pháo binh cấp trên.

Tiểu đoàn 96 bộ đội địa phương, lần đầu tiên tham gia chiến đấu trong đội hình lớn của bộ đội chủ lực, đã lập công xư. Ngay từ những phút đầu, tiểu đoàn đã cắt đứt cầu phao, và tiêu diệt một số thiết giáp, xe ô tô chặn đứng đường rút lui duy nhất của địch. Trong tuyệt vọng, một số binh lính, sĩ quan quân đội Sài Gòn liều lĩnh vượt sông Ba nhưng vừa sang đến bờ bên kia đã bị các chiến sĩ bộ đội địa phương bắt làm tù binh.

Ở hướng chủ yếu, được xe bọc thép K63 mở đường, Tiểu đoàn 8 đánh thẳng vào trung tâm quận lỵ, nơi bộ binh địch đang chuẩn bị hành quân. Địch tháo chạy tán loạn. Phía tây bắc quận lỵ, Tiểu đoàn 7 được tăng cường 3 xe bọc thép K63 nhanh chóng đánh chiếm khu hành chính và trại huấn luyện biệt kích, bắn cháy 5 xe tăng, dồn địch đến bờ sông. Một lực lượng bộ binh, xe thọc thép địch co cụm trên điểm cao Hòn Một giáp bờ sông Ba điên cuồng chống trả. Trước tình hình đó, một đại đội bộ đội địa phương Phú Yên bí mật lợi dụng bờ sông đánh lên, phối hợp với Đại đội 5 và Đại đội 7 (Tiểu đoàn 7) trên hướng chính diện. Bị tiến công quyết liệt từ ba hướng, quân địch ở Hòn Một phải đầu hàng. Trong lúc đó, cụm quân địch ở Củng Sơn hoàn toàn bị tan rã, ta thu 400 xe các loại, trong đó có 41 xe tăng, xe thiết giáp và hơn 10 khẩu pháo lớn.

Như thế, trong khoảng thời gian từ ngày 17 đến ngày 24-3-1975, cuộc truy kích kịp thời và táo bạo của ta đã kết thúc thắng lợi. Ta loại khỏi vòng chiến đấu 6 liên đoàn biệt động quân, 4 thiết đoàn, 1 liên đoàn công binh, 20 tiểu đoàn bảo an, cảnh sát dãchiến và một bộ phận cơ quan Quân khu 2, bắt 8.000 tù binh, thu và phá hủy 1.400 xe, có 90 xe tăng và 25 xe M113, 8 khẩu pháo 175mm, 19 khẩu pháo 155mm, 5 khẩu pháo 105mm(1).


(1) Cao Văn Viên trong cuốn Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa thừa nhận: “Cuộc triệt thoái khỏi cao nguyên là một thất bại chiến lược về phương diện quân sự: 75% lực lượng của Quân đoàn 2, gồm Sư đoàn 23, biệt động quân, thiết kỵ, pháo binh, truyền tin và công binh bị hao tổn chỉ trong 10 ngày. Kế hoạch tái chiếm Buôn Ma Thuột cũng bị thất bại và quân đoàn không còn quân. Cộng sản chiếm được Kon Tum và Plâyku không thốn một viên đạn. Với chiến thắng này, 3 sư đoàn F.10, 316, 320 càng phấn khởi đánh mạnh hơn”.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Ba, 2011, 07:42:32 PM
Ngày 25-3-1975, Bộ chính trị họp nhận định; “Thời cơ chiến lược đã tới, trong suốt 20 năm chống Mỹ, cứu nước chưa bao giờ thuận lợi bằng lúc này; do đó cần nắm vững thời cơ chiến lược mới, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, kịp thời, làm cho địch không dự kiến kịp và không kịp trở tay. Bộ Chính trị quyết định: quyết tâm hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền Nam trước mùa mưa (tháng 5-1975)”(1).

Trước đòi hỏi của tình hình mới, ngày 26-3-1975, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên). Quân đoàn có 3 sư đoàn bộ binh (10, 316, 320A), 2 trung đoàn pháo binh (40 và 675), 3 trung đoàn phòng không (232, 234, 593), Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng 273; 2 trung đoàn công binh (7 và 275). Trung đoàn công binh 29 và các cơ quan, đơn vị bảo đảm phục vụ. Tư lệnh Quân đoàn là Thiếu tướng Vũ Lăng; Chính ủy là Đại tá Đặng Vũ Hiệp. Quân đoàn 3 được thành lập trên chiến trường Tây Nguyên là bước phát triển mới tạo điều kiện và tăng thêm sức mạnh để khối chủ lực Tây Nguyên vươn lên đáp ứng yêu cầu đánh to thắng lớn với tốc độ “một ngày bằng 20 năm” của diễn biến chiến trường.

Phối hợp chặt chẽ với quân và dân Tây Nguyên, trên toàn miền Nam, quân dân ta dồn dập tiến công và nổi dậy. Ở Nam Bộ, Sư đoàn 7 thuộc Quân đoàn 4 đánh chiếm quận lỵ Định Quán, Hoài Đức, Giá Rai. Lực lượng vũ trang Quân khu 7 tiêu diệt chi khu Dầu Tiếng, đánh chiếm các vị trí Bến Củi, Cầu Khởi, suối Ông Hùng, ngã ba Đất Sét. Quân và dân Quân khu 5 giải phóng Tiên Phước, Phước Lâm (Quảng Nam), tiến công và bức địch rút khỏi Sơn Hà, Trà Bồng (Quảng Ngãi). Sư đoàn 2 chủ lực Quân khu 5 cùng lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương tiến công giải phóng Tam Kỳ, Tuần Dưỡng. Quân và dân Quảng Ngãi tiến công và nổi dậy giải phóng thị xã Quảng Ngãi. Từ bốn phía, các lực lượng ta nhanh chóng hình thành thế bao vây tiến công quân địch ở Đà Nẵng.

Để mở rộng liên hoàn địa bàn chiến lược Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, ngày 21-3-1975, khi chiến dịch Tây Nguyên chưa kết thúc, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã giao nhiệm vụ bổ sung cho các đơn vị chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên: “Tiếp tục phát triển chiến đấu trên ba trục đường 19, 7, 21; giải phóng Phú Yên, Khánh Hòa, phối hợp với Sư đoàn 3 - Quân khu 5 giải phóng Bình Định. Mục tiêu chủ yếu là diệt Lữ dù 3, Trung đoàn 40 địch ở Khánh Dương, Phượng Hoàng và tiến xuống chiếm Nha Trang, Khánh Hòa”.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh; Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nhanh chóng tổ chức lực lượng phát triển tiến công trên ba hướng xuống các tỉnh Nam Trung Bộ. Ba cánh quân của ta trên các trục đường 19, 7 và 21 như ba dòng thác lớn từ vùng cao nguyên cuồn cuộn đổ về xuôi. Để ngăn chặn bước tiến của quân ta, ngày 24-3-1975, Nguyễn Văn Thiện đã gửi công điện thượng khẩn cho các tư lệnh quân khu, quân đoàn, tiểu khu ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Trị Thiên yêu cầu phải tử thủ nhằm giữ bằng được những phần đất còn lại, đồng thời lên kế hoạch lập tuyến phòng thủ ngăn chặn quân ta từ xa.

Sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, Sư đoàn 23 bị tiêu diệt, đường 21 từ Tây Nguyên xuống Cam Ranh bị bỏ ngỏ, địch phải điều Trung đoàn 40 (Sư đoàn 22) từ Bình Định lên tổ chức phòng ngự tại Khánh Dương. Lực lượng còn lại của Sư đoàn 22 co cụm thành từng cụm, liên hoàn trên một tuyến kéo dài khoảng 20 km dọc đương 19 từ Phú Phong đến Phú An. Trung tâm của tuyến phòng ngự là cụm quân địch ở Lai Nghi - khu căn cứ này do quân Nam Triều Tiên xây dựng. Ngày 21-3, Trung đoàn 93 bộ đội địa phương tỉnh Bình Định cùng lực lượng vũ trang huyện Tuy Phước tiến công quân địch ở Phước Hiệp và chợ Huyện. Cùng thời gian này, Tiểu đoàn đặc công của tỉnh Bình Định tiêu diệt cứ điểm Truông Úc. Ngày 26-3, Trung đoàn 92 và lực lượng vũ trang huyện Hoài Nhơn tiến công giải phóng thị trấn Tam Quan. Ngày 27-3, Mộ Đức và Bồng Sơn được giải phóng. Ngày 29-3, quân địch ở Gò Nổi rút chạy, nhân dân các xã phía đông huyện Tuy Phước nổi dậy giải phóng quê hương. Tuyến phòng thủ phía bắc Quy Nhơn bị phá vỡ. Trên tuyến đường 129, Trung đoàn 2 và Trung đoàn 141 (Sư đoàn 3) tiến công cụm quân địch ở Lai Nghi, chốt chặn cầu Thủ Thiện Hạ, chặn đường rút chạy của Sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn.

Nhằm chốt giữ phần đất còn lại, địch điều Trung đoàn 47 về lập tuyến phòng thủ mới ở ven thị xã Quy Nhơn, Trung đoàn 41 phòng thủ từ Diêu Trì đến Quy Nhơn, Trung đoàn 42 phòng thủ khu vực Diêu Trì - Cù Mông và giao cho Hoàng Cơ Minh - Phó đô đốc hải quân, Tư lệnh Vùng 2 duyên hải làm Tư lệnh chiến trường Quy Nhơn.

Để tiêu diệt Sư đoàn 22, đập tan ý đồ co cụm lực lượng của địch, giải phóng tỉnh Bình Định, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã thành lập Sở chỉ huy tiền phương quân khu do đồng chí Nguyễn Nam Khánh - Phó Chính ủy quân khu phụ trách. Lúc này, Sư đoàn 968, Trung đoàn 95A, Trung đoàn 12 (Sư đoàn 3) sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh địch ở Tây Nguyên, An Khê được Bộ Tư lệnh Tây Nguyên giao nhiệm vụ tiến xuống cùng nhân dân địa phương giải phóng Bình Định.


(1) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Việt Nam những sự kiện quân sự thế kỷ XX, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 505.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Ba, 2011, 07:43:21 PM
Ngày 29-3, Trung đoàn 19 thuộc Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A tiến xuống Bình Định hợp điểm với Sư đoàn 3 của Quân khu 5 tiến công địch ở khu vực Thủ Thiện, Lai Nghi., Phú Phong, Bình Khê, hỗ trợ đắc lực cho nhân dân Bình Định nổi dậy giành quyền làm chủ. Sáng ngày 30-3, Sư đoàn 3 tiếp tục tiến công các cụm quân địch còn lại ở Lai Nghi, Phú Xuân, Phú Hòa 2 và tổ chức lực lượng chốt chặn không cho quân địch tháo chạy về Quy Nhơn. Trung đoàn 2 (Sư đoàn 3) đánh chiếm ga Diêu Trì và Sở chỉ huy Sư đoàn 22 Quân đội Sài Gòn ở An Nhơn. Phối hợp với Sư đoàn 3, Trung đoàn 19 (Sư đoàn 968) đánh chiếm núi Trà Lam Sơn ở phía tây Gò Quánh, diệt Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 40), Trung đoàn 95A đánh chiếm Phú Phong, làng Mai Xuân Thưởng. Ngày 31-3, ta giải phóng các quận lỵ An Túc, Bình Khê, Tam Quan, Hoài Nhưn, Hoài Ân, Phú Mỹ thuộc tỉnh Bình Định. Quân địch ở trung tâm huấn luyện Phù Cát tháo chạy về Quy Nhơn bị ta chặn đánh ở thị trấn Đập Đá. Tại thị xã Quy Nhơn, Trung đoàn 93, hai tiểu đoàn đặc công 220, 405; Tiểu đoàn 51 và lực lượng thị đội do Tỉnh đội trưởng Vũ Tấn Hạt chỉ huy từ 4 hướng đánh vào thị xã.

Ngày 1-4-1975, Trung đoàn 19 (Sư đoàn 968) tiêu diệt Trung đoàn 47 quân đội Sài Gòn, làm chủ sân bay Gò Quánh. Lực lượng vũ trang địa phương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị quân chủ lực tiến công giải phóng thị xã Quy Nhơn. Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 95A vượt biển giải phóng các đảo Hòn Tre, Cù lao Thu.

Trong 3 ngày tiến công, các sư đoàn 3, 968; trung đoàn 95A và lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Bình Định đã xóa sổ Sư đoàn 22 - Sư đoàn chủ lực cuối cùng của Quân đoàn 2 Sài Gòn.

Trên hướng Phú Yên, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 yêu cầu Phú Yên điều động toàn bộ lực lượng của địa phương tổ chức chốt chặn đường số 7 đoạn đông Củng Sơn đi Tuy Hòa, không cho địch rút chạy xuống đồng bằng. Lúc này, đoạn đường phía đông Củng Sơn đi Tuy Hòa đã bị phá hỏng từ lâu. Do vậy, tỉnh đội Phú Yên nhận định: địch sẽ vượt sông Yên Ba về Phú Yên theo trục đường 5, địch không thể rút chạy tiếp theo đường số 7. Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Duy Luân và Tỉnh đội trưởng Ông Văn Bưu quyết định để lại một lực lượng tiếp tục chốt chặn địch trên đường số 7, còn lại, chuyển đại bộ phận lực lượng sang đánh địch trên đường số 5 và phối hợp với bộ đội chủ lực tiêu diệt quân địch ở Củng Sơn, kiên quyết đánh bại mọi cố gắng mở thông đường của địch.

Ngày 19-3-1975, quân ta tiến công tiêu diệt các cứ điểm Phước Bình, Phước Thứ, Hòn Sặt, hỗ trợ nhân dân nổi dậy giải phóng 5 xã Hòa Bình, Hòa Phong, Hòa Đông, Hòa Mỹ, Hòa Thịnh, làm chủ đoạn đường số 5 dài khoảng 10 km. để chặn đánh quân địch rút chạy, các lực lượng vũ trang địa phương đã tổ chức các chốt chặn ở Cầu Tổng, Mỹ thành, Lương Phước, tây Hòn Kén; lực lượng bộ đội địa phương huyện Tuy Hòa tổ chức một bộ phận đánh cắt đường số 1 đoạn từ Hòa Xuân đến Đèo Cả.

Trong các ngày 20 và 21-3-1975, diễn ra một số trận đánh của lực lượng vũ trang địa phương trên tuyến đường số 5. Đặc biệt là ngày 22, địch cho 1 tiểu đoàn biệt động quân cải trang làm dân thường, mang theo vũ khí gọn nhẹ dùng xe môtô cơ động, bất ngờ đánh chiếm khu chốt của Tiểu đoàn 9 ở Mỹ Thành Tây - Lương Phước. Do tổ chức chốt giữ trận địa chặt chẽ, ta đã sớm phát hiện ra thủ đoạn mới của địch và tổ chức đánh trả kịp thời. Trong trận này, ta diệt và bắt hơn 400 tên địch, thu và phá hủy hơn 300 xe môtô; sau đó, địch tiếp tục sử dụng các tiểu đoàn địa phương quân 268, 924 và một số đo biệt lập đánh vào chốt của ta hòng khai thông đường nhưng đều bị quân ta đánh bại. Sau khi địch ở Củng Sơn bị Sư đoàn 320A tiêu diệt, tuyến đường 7 bị tắc, tàn quân địch tháo chạy sang tuyến đường 5 càng nhiều. những ngày cuối tháng 3, các trận địa chốt trên đường 5 đã đánh nhiều trận, diệt và bắt gần 2.000 tên địch, thu hàng chục xe, pháo các loại.

Cùng với tàn quân địch từ các tỉnh Tây Nguyên đổ về, lực lượng tại chỗ của địch ở Tuy Hòa được Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm huy động lên chiếm lĩnh các điểm cao trong và xung quanh thị xã Tuy Hòa. Ở ngoài biển, chúng huy động hơn 10 tàu chiến lớn nhỏ hỗ trợ cho quân chiến đấu trên bộ. Quân địch tuy còn đông nhưng tinh thần chiến đấu đã rệu rã, ở nhiều nơi lính địch bỏ trốn. Đây là thời cơ thuận lợi để quân dân ta giải phóng Phú Yên.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Ba, 2011, 07:44:07 PM
Sau những ngày truy kích liên tục trên đường 7 và đường 5, ngày 28-3, các đơn vị bộ đội chủ lực đã cùng lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương giải phóng miền Tây Phú Yên. Nhân dân các xã Phú Nhiêu, Mỹ Thạnh Đông, Mỹ Thạnh Tây, Phú Hiệp, Hòa Hiệp, Hòa Bình… sát cánh chiến đấu cùng bộ đội. Ngày 31-3, được dân quân du kích dẫn đường và phối hợp chiến đấu, Tiểu đoàn 9 thuộc Trung đoàn 64 tiến công cứ điểm Hòn Một, Tiểu đoàn 8 đánh chiếm đoạn đường số 1 từ Phú Khê đến cầu ván Hòa Xuân. Ở phía bắc Phú Yên, dân quân du kích và bộ đội địa phương đánh chiếm cầu Ngân Sơn, cắt đường số 1 ở phía nam Tuy An, không cho địch dồn về thị xã Tuy Hòa. 5 giờ sáng ngày 1-4-1975, Sư đoàn 320A sử dụng 2 trung đoàn (48 và 9) và lực lượng xe tăng của Trung đoàn 273 tiến công thị xã Tuy Hòa. Ta sử dụng pháo binh bắn phá ác liệt că cứ địch ở núi Nhạn Tháp. Xe tăng Trung đoàn 273 nhanh chóng đánh chiếm cầu Ông Chừ, chi viện cho Trung đoàn 9 đánh chiếm ngã năm, khống chế đường Trần Hưng Đạo rồi phát triển vào trung tâm thị xã. Trên hướng bắc, Trung đoàn 48 đánh chiếm că cứ Chóp Chài, tiếp đó phát triển thành hai mũi dọc đường số 1 và ven biển, tiến công sân bay Đông tác. Một bộ phận Trung đoàn 64 vượt sông Đà Rằng đánh vào sân bay phối hợp với Trung đoàn 48. Sau khi chiếm được sân bay, Trung đoàn 48 phát triển đánh chiếm Ty Cảnh sát, Tiểu khu Phú Yên. Từ hướng nam, Trung đoàn 64 tiến công quận lỵ Phú Lâm, cầu Bàn Thạch, Tiểu đoàn 96 và Đại đội 29 đặc công tỉnh đánh chiếm cứ điểm núi Sầm, Quy Hậu, Phước Khánh. Tiểu đoàn 9 của Trung đoàn 64 và Tiểu đoàn 13 bộ đội địa phương diệt địch ở Hòa Hiệp, tiến về bị chặt mặt phía đông sân bay. Bị quân ta đánh mạnh từ nhiều phía, quân địch ở thị xã Tuy Hòa buộc phải tháo chạy. Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm cùng nhiều sĩ quan tùy tùng bị quân ta bắt sống. 9 giờ ngày 1-4, ta làm chủ thị xã Tuy Hòa.

Cánh quân Sư đoàn 10, Trung đoàn 25 bộ binh, Trung đoàn 40 pháo binh và một số xe tăng của Trung đoàn 273 sau khi giải phóng Khánh Dương, tiến đánh Lữ dù 3 ở đèo Phượng Hoàng, tiến xuống giải phóng Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh. Lữ đoàn dù số 3 quân đội Sài Gòn chiếm lĩnh đèo Phượng Hoàng cùng với bọn bảo an hình thành các điểm chốt, ngăn chặn quyết liệt quân ta. Cuộc chiến đấu trên đèo Phượng Hoàng trong hai ngày 29 và 30-3 diễn ra ác liệt. Địch huy động máy bay ném bom trục đường 21, đoạn từ Khánh Dương đến Phượng Hoàng. Để tiêu diệt Lữ dù 3, đập tan lá chắn phía tây Ninh Hòa của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho các đơn vị phòng không bám đánh máy bay địch bảo vệ đội hình chiến đấu của bộ binh; pháo binh tập trung hỏa lực chế áp, tiêu diệt các trận địa pháo địch, chi viện đắc lực cho bộ binh, xe tăng đột kích mạnh phía trước, kết hợp với các mũi luồn sâu đánh vào phía sau và hai bên sườn địch, chia cắt tiêu diệt các cụm chốt địch, không để chúng liên kết hỗ trợ nhau. Sáng 1-4, Sư đoàn 10 mở đợt tiến công quyết định tiêu diệt Lữ dù 3, đập tan hệ thống phòng ngự của địch trên đèo Phượng Hoàng, tràn xuống giải phóng thị trấn Ninh Hòa.

Ngày 2-4-1975, Sư đoàn 10 tiến vào giải phóng Nha Trang. Hôm sau, sư đoàn thẳng tiến vào Cam Ranh - quân cảng lớn nhất miền Nam. Địch dùng máy bay chi viện cho bộ binh chống cự quyết liệt, nhưng với sức mạnh áp đảo, Sư đoàn 10 nhanh chóng đè bẹp quân địch, đánh chiếm, làm chủ quân cảng Cam Ranh. Phối hợp chặt chẽ với bộ đội, nhân dân Nha Trang, Khánh Hòa nổi dậy giành chính quyền, giúp đỡ bộ đội truy quyét tàn quân địch. Như vậy, đến ngày 4-4-1975, ta đã tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2 - Quân khu 2 cùng một bộ phận cơ động chiến lược của quân đội Sài Gòn, diệt Sư đoàn 22, Sư đoàn 23, lữ dù 3 và 8 liên đoàn biệt động quân, 1 liên đoàn công binh, 4 thiết đoàn, 10 tiểu đoàn pháo binh; đánh thiệt hại Sư đoàn 6 không quân, tiêu diệt và làm tan rã 7 tiểu khu, 26 chi khu, 50 tiểu đoàn, 51 đại đội bảo an và toàn bộ lực lượng cảnh sát, dân vệ, phòng vệ dân sự; giải phóng Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ.

Toàn bộ lực lượng Quân đoàn 2 - Quân khu 2 của chính quyền và quân đội Sài Gòn bị xóa sổ. Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải miền Trung được hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng này đã mở ra cục diện mới rất có lợi cho ta, làm đảo lộn toàn bộ thế trận chiến lược của địch, uy hiếp mạnh địch ở Quân khu 3, cô lập địch ở Quân khu 1; đẩy địch từ những sai lầm về chiến thuật, chiến dịch đến sai lầm về chiến lược. Với chiến thắng to lớn và toàn diện cả về quân sự và chính trị ở Tây Nguyên và các tỉnh duyên nhải miền Trung, trên thực tế, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam đã bắt đầu.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Ba, 2011, 07:45:59 PM
Chương 35

TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG HUẾ - ĐÀ NẴNG
VÀ CÁC TỈNH TRUNG TRUNG BỘ

I - MỞ CHIẾN DỊCH TRỊ - THIÊN GIẢI PHÓNG
THÀNH PHỐ HUẾ

Cùng với đòn tiến công Tây Nguyên mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, trên hướng phối hợp quan trọng Trị - Thiên và Khu 5, hoạt động tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng cũng diễn ra mạnh mẽ và rộng khắp.

Theo phân định của chính quyền Sài Gòn thì địa bàn Trị - Thiên và Khu 5 thuộc Quân khu 1, bao gồm các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Đà, Quảng Tín và Quảng Ngãi, với 2 thành phố lớn là Huế và Đà Nẵng. Do vị trinh sát đặc biệt quan trọng của địa bàn chiến lược này, nhất là khu vực Trị - Thiên, nơi tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa; hướng phòng thủ chủ yếu hòng ngăn chặn tiến công của ta từ miền Bắc vào, nên trong suốt cuộc chiến tranh, cùng với miền Đông Nam Bộ, nơi đây địch bố trí lực lượng phòng thủ mạnh. Đầu năm 1975, lực lượng đóng tại đây có 134.000 tên (trong đó có 84.000 quân chủ lực, 50.000 quân địa phương), bao gồm 5 sư đoàn (là các sư đoàn bộ binh 1, 2, 3, Sư đoàn dù, Sư đoàn thủy quân lục chiến), 4 liên đoàn biệt động quân (11, 12, 14, 15), 5 thiết đoàn (4, 7, 11, 17, 20), 13 chi đội xe tăng, thiết giáp (449 xe), 21 tiểu đoàn pháo binh (418 khẩu từ 105 mm đến 175 mm), 1 sư đoàn không quân (373 máy bay, trong đó có 96 máy bay chiến đấu), 3 duyên đoàn và giang đoàn (185 tàu, thuyền), chưa kể 50 tiểu đoàn và 5 đại đội bảo an, 6 đại đội cảnh sát dã chiến. Lực lượng trên đây được tổ chức phòng ngự thành 3 tuyến.

Tuyến 1, với mật danh “da cam”, là tuyến giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đây là tuyến bàn đạp để địch mở các cuộc hành quân càn quét đánh phá các vùng căn cứ, ngăn chặn ta xâm nhập từ miền Bắc vào. Chính vì vây, chúng bố trí xung lực và hỏa lực mạnh.

Tuyến giữa, với mật danh là “lục”, chúng bố trí lực lượng vừa phải.

Tuyến cuối, được đặt mật danh là “xanh”, có nhiệm vụ bảo vệ các khu vực xung yếu, bao gồm cơ quan đầu não Quân khu 1. Có thể nói, cho đến đầu năm 1975, Quân khu 1 là một trong những địa bàn địch tổ chức bố phòng mạnh nhất Nam Việt Nam nhằm ngăn chặn mọi cuộc tiến công của chủ lực ta từ miền Bắc vào.

Địa bàn Trị - Thiên - Huế từ đầu tháng 3-1975, địch có khoảng 56.000 tên, trong đó có 28.500 quân chủ lực, bao gồm: Sư đoàn bộ binh 1, Sư đoàn thủy quân lục chiến, Sư đoàn dù, 1 liên đoàn biệt động quân, 2 liên đoàn và 21 đại đội bảo an, 318 trung đội dân vệ, 10 tiểu đoàn và một số đại đội, trung đội pháo binh (với 194 khẩu pháo các loại từ 105 mm đến 175 mm), 1 lữ đoàn kỵ binh thiết giáp (với 3 thiết đoàn (gồm 260 xe tăng, xe bọc thép), 1 tiểu đoàn cao xạ (27 xe M42 gắn pháo 40 mm loại 2 nòng, 37 xe gắn súng máy 12,7 mm loại 4 nòng và 6 nòng), 3 duyên đoàn và 3 giang đoàn (81 tàu thuyền chiến đấu), 1 phi đoàn trực thăng vũ trang, 2 phi đội máy bay trinh sát, chưa kể lực lượng không quân ở sân bay Đà Nẵng chi viện trực tiếp. Lực lượng này, chúng bố trí cụ thể như sau:

Từ Quảng Trị đến Mỹ Chánh có 2 lữ đoàn thủy quân lục chiến (258, 369), Liên đoàn bảo an 913, Trung đoàn thiết giáp 17 cùng lực lượng của Tiểu khu Quảng Trị và các chi khu Hải lăng, Triệu Phong, Mai Lĩnh.

Từ Mỹ Chánh đến bắc Huế có Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147, Trung đoàn thiết giáp 20, căn cứ pháo binh Đồng Lâm, một số tiểu đoàn bảo an và lực lượng địa phương quân thuộc các chi khu Quảng Điền, Phong Điền.

Ở tây bắc Huế (Cổ Bi, Núi Gió, Sơn Na, Chúc Mao, An Độ, Lai Bằng) có Trung đoàn 51 thuộc Sư đoàn bộ binh 1 cùng lực lượng địa phương quân thuộc Chi khu Hương Trà.

Từ tây nam Huế đến Phú Lộc có các trung đoàn 1, 3, 54 thuộc Sư đoàn bộ binh 1, Liên đoàn biệt động quân 15, Trung đoàn thiết giáp 17, Duyên đoàn 106 (ở cửa Thuận An) và một số tiểu đoàn bảo an cùng lực lượng địa phương quân thuộc Tiểu khu Thừa Thiên, các chi khu Hương Thủy, Phú Vang, Phú Thứ, Nam Hòa.

Từ Phú Lộc đến đèo Hải Vân có Lữ đoàn dù 2, Liên đoàn bảo an 914, một giang đoàn (ở cửa Tư Hiền) cùng lực lượng Chi khu Phú Lộc.

Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 1 do tướng Lâm Quang Thi - Phó Tư lệnh quân đoàn phụ trách, đóng tại thành phố Huế. Đây cũng là một trong hai trọng điểm mà địch tập trung bảo vệ (cùng với thị xã Quảng Trị).


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Ba, 2011, 07:48:47 PM
Đối với ta, Trị - Thiên và Khu 5 có vị trí rất quan trọng.

Trị - Thiên là mảnh đất dài và hẹp, gồm hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên, kéo dài từ sông Bến Hải đến đèo Hải Vân. Đây là đầu mối hành lang vận chuyển chiến lược chi viện cho miền Nam, là địa bàn trực tiếp đối đầu với địch nhằm ngăn chặn âm mưu mở rộng chiến tranh ra miền Bắc và sang chiến trường Lào. Đây cũng là nơi ta có thể tổ chức các chiến dịch lớn tiêu diệt lực lượng cơ động chiến lược của địch, thu hút giam chân chúng, tạo điều kiện cho các chiến trường khác phát triển. Trong quyết tâm chiến lược năm 1975, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh đã đánh giá: “Chiến trường Trị - Thiên - Huế là chiến trường có nhiều thuận lợi hơn với các chiến trường khác vì gần Trung ương, có điều kiện chuẩn bị, bổ sung cơ sở vật chất kịp thời. Nếu ta tiến công mạnh, làm chủ chiến trường Trị - Thiên - Huế, phá vỡ hệ thống phòng ngự ở Quân khu 1, giam chân lực lượng cơ động chiến lược của địch, sẽ tạo nên sự chuyển biến mới về so sánh lực lượng và thế chiến lược, tạo điều kiện vận chuyển vận chuyển, kỹ thuật và cơ động lực lượng xuống phía nam, giải phóng các tỉnh Nam Bộ”(1). Chính vì vậy, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng tư lệnh quyết định chọn Trị - Thiên - Huế làm hướng tiến công phối hợp quan trọng. Nhiệm vụ của chiến dịch Trị - Thiên trong năm 1975 được Quân ủy Trung ương giao là: “Đánh bại về cơ bản bình định của địch, tạo ra ở Trị - Thiên - Huế một tình thế mới có ý nghĩa quyết định để chuẩn bị cho giành thắng lợi trong năm 1976, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế”(2). Cụ thể hơn: “Trị - Thiên - Huế phải tiến hành các chiến dịch tổng hợp cả quân sự và chính trị, bằng lực lượng cả chủ lực của bộ, của địa phương, quân khu, phối hợp chặt giữa ba thứ quân, ba mũi giáp công. Trong chiến dịch tổng hợp đó, phải nhằm tiêu diệt và làm tan rã một phần quan trọng sinh lực địch, phải diệt gọn được từng tiểu đoàn, trung đoàn địch, tạo điều kiện đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của địch ở đồng bằng, giành phần lớn nhân dân, giành quyền làm chủ; khi địch đã hoang mang dao động mạnh thì phải nhanh chóng chớp lấy thời cơ, tiến lên hành động mạnh bạo, giành thắng lợi lớn nhất. Phải có hai kế hoạch: kế hoạch cơ bản và kế hoạch thời cơ”(3).

Lực lượng ta trên chiến trường Trị - Thiên lúc này gồm Quân đoàn 2 và lực lượng của Quân khu Trị - Thiên. Quân đoàn 2 có 3 sư đoàn bộ binh (304, 324, 325), Lữ đoàn phòng không 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn thông tin 463 và một số đơn vị trực thuộc khác. Quân khu Trị - Thiên có 3 trung đoàn bộ binh (4, 6, 271), 1 trung đoàn pháo binh cơ giới, 1 trung đoàn cao xạ, 1 trung đoàn công binh, 1 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn bộ binh đánh giao thông, 1 tiểu đoàn vận tải cơ giới… chưa kể các tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh, đại đội, trung đội địa phương huyện và dân quân, du kích xã.

Nhằm bảo đảm tính thống nhất trong lãnh đạo chỉ huy và hiệp đồng tác chiến, phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng chủ lực và địa phương trên chiến trường Trị - Thiên, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định thành lập đảng ủy Mặt trận gồm các đồng chí trong Thường vụ Khu ủy, Quân khu ủy Quân khu Trị - Thiên và Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn 2 do đồng chí Lê Tự Đồng làm Bí thư.

Ngày 21-2-1975, Đảng ủy Mặt trận đã họp đi đến thống nhất mở hai chiến dịch tiến công tổng hợp là chiến dịch xuân hè (còn gọi là chiến dịch K175) dự kiến từ tháng 3 đến đầu tháng 5-1975 và chiến dịch thu dự kiến vào tháng 7 đến tháng 8-1975. Ngoài kế hoạch cơ bản như đã nêu, Đảng ủy Mặt trận còn dự kiến kế hoạch thời cơ và kế hoạch nghi binh đánh lạc hướng đề phòng của địch. Mục tiêu đặt ra cho chiến dịch xuân hè là: Tập trung toàn bộ lực lượng của Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2, đẩy mạnh tiến công tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh bại về cơ bản kế hoạch bình định của chúng ở Trị - Thiên, giành 35 vạn dân ở nông thôn đồng bằng, phát động cao trào đấu tranh chính trị ở thành phố, đánh mạnh các kho tàng, hậu cứ, tiệt phá giao thông, tích cực tạo thời cơ, tiến lên giành thắng lợi lớn, giải phóng thành phố Huế.

Đảng ủy Mặt trận đề ra yêu cầu đối với chiến dịch xuân hè là: Phải phá lỏng, làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch ở đồng bằng, giàn thừ 7 đến 10 vạn dân, tiêu diệt được từ 5 đến 7 tiểu đoàn địch, phá vỡ thế phân tuyến, chiếm lĩnh một số địa bàn có lợi, cắt đứt từng phần tiến tới cắt đứt hoàn toàn tuyến giao thông chiến lược đường số 1 từ Huế đi Đà Nẵng, đồng thời thu hút, giam chân lực lượng cơ động chiến lược của địch ở đây, tạo thuận lợi cho các chiến trường khác phát triển. Thời cơ đến thì tung hết lực lượng ra tiến công giải phóng toàn bộ nông thôn, bao vây uy hiếp thành phố Huế, nếu có điều kiện thì giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế.


(1) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử chiến dịch Trị - Thiên và chiến dịch Đà Nẵng Xuân 1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 34.
(2), (3) Trung tướng Lê Tự Đồng: Trị - Thiên - Huế Xuân 1975, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1983, tr. 42, 43.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Ba, 2011, 07:50:11 PM
Hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch được xác định từ tây nam Huế, theo đường 14 đến tây nam Phú Lộc (nam Thừa Thiên). Mục tiêu tiến công chủ yếu là khu vực Mỏ Tàu, điểm cao 303 đến bắc đèo Hải Vân. Hướng này do Sư đoàn 324 (thiếu Trung đoàn 3) và Sư đoàn 325 (thiếu Trung đoàn 95) của Quân đoàn 2 đảm nhiệm(1). Các lực lượng khác do Quân khu Trị - Thiên phụ trách. Cụ thể:

Bắc Thừa Thiên (gồm các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà) có Trung đoàn 4 bộ đội chủ lực quân khu, Đại đội 25 đặc công, Tiểu đoàn 10 của tỉnh và bộ đội địa phương huyện, các đội vũ trang công tác.

Khu vực thành phố Huế và vùng ven do lực lượng vũ trang và các đội công tác của thành phố đảm nhiệm.

Khu vực đồng bằng phía nam thành phố Huế gồm các huyện Hương Thủy, Phú Vang có Tiểu đoàn 4 bộ binh, 1 đại đội đặc công của tỉnh cùng bộ đội địa phương huyện và các lực lượng vũ trang công tác.

Phía tây nam Huế và huyện Phú Lộc, ngoài lực lượng của Quân đoàn 2, có Tiểu đoàn bộ binh 5 (thiếu 1 đại đội), Tiểu đoàn 2 chủ lực quân khu, 1 đại đội đặc công thuộc Tiểu đoàn 2 đặc công tỉnh, bộ đội địa phương huyện và các đội vũ trang công tác.

Đồng thời với xây dựng kế hoạch tác chiến, công tác chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch cũng được tiến hành khẩn trương nhất là bảo đảm đường cơ động cho các lực lượng. Thực hiện nhiệm vụ này, Lữ đoàn công binh 219, Trung đoàn công binh 414 của Quân khu Trị - Thiên cùng các tiểu đoàn công binh của các sư đoàn 324, 325, 673, Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203 và các đại đội công binh của các trung đoàn bộ binh đã không ngoại khó khăn, ngày đêm phá núi, bạt rừng mở đường, bắc cầu. Nhờ vậy, chỉ trong 40 ngày đêm, các tuyến đường cơ động trọng yếu như đường 73, 74 từ đường 14 (đông Trường Sơn) tỏa xuống các địa bàn chiến dịch với chiều dài 65 km đã nhanh chóng được khôi phục, mở rộng. Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên còn mở thêm một đường đất từ A Lưới nối với đường 14 bảo đảm cho xe cơ giới cơ động và làm các đường nhánh xung quanh Động Truồi, tả và hữu ngạn sông Truồi bảo đảm cho Sư đoàn 325 vào vị trí tập kết, triển khai tiến công, khi có thời cơ, cơ động ra cắt đường 1.

Để bảo đảm vật chất phục vụ cho chiến dịch, Đoàn 559 huy động tối đa các phương tiện vận tải, cùng hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang quân khu và nhân dân hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên vận chuyển lương thực, thực phẩm và đạn dược. Chỉ sau một thời gian ngắn, hàng ngàn tấn vũ khí, lương thực, thuốc chữa bệnh, quân trang, quân dụng được chuyển gấp vào lót ổ ở các kho trận địa bàn chiến dịch. Các tỉnh, huyện còn tổ chức các trạm thu mua lương thực tại chỗ, vận chuyển về tập kết ở các cơ sở bí mật. Các tuyến bảo đảm hậu cần, quân y, thông tin, các trẩm chữa xe máy, vũ khí, khí tài được thiết lập trên các hướng. Có thể nói, chưa bao giờ chiến trường Trị - Thiên - Huế được chuẩn bị đầy đủ vật chất cho chiến dịch như lúc này.

Về tổ chức chỉ huy, Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tổng tham mưu trực tiếp chỉ đạo quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên trong quá trình thực hiện chiến dịch. Trên các hướng chiến dịch, Bộ Tư lệnh Quân khu và Quân đoàn 2 tổ chức các sở chỉ huy. Quân khu Trị - Thiên tổ chức hai sở chỉ huy: Sở chỉ huy cơ bản và Sở chỉ huy tiền phương. Sở chỉ huy cơ bản đóng ở Cốc Ba Bó gồm các đồng chí Hồ Tú Nam, Dương Bá Nuôi, Trần Văn Ân và một số đồng chí đại diện địa phương như Nguyễn Vạn - Khu ủy viên, Trưởng ban Dân vận, Nguyễn Trung Chính - Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, Trịnh Đình Phung - Tỉnh đội phó. Sở chỉ huy cơ bản trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy cánh bắc Huế và Quảng Trị. Sở chỉ huy tiền phương có các đồng chí; Lê Tự Đồng - Bí thư Đảng ủy Mặt trận, Tư lệnh Quân khu; Nguyễn Văn Thanh (Thanh Quảng) - Phó Chỉ huy; Nguyễn Chi - Tham mưu trưởng; Nguyễn Mạnh Thoa - Tham mưu phó. Sở chỉ huy tiền phương có nhiệm vụ chỉ huy toàn bộ mặt trận nam Thừa Thiên (kể cả khu vực đường 12, thành phố Huế) và trực tiếp hiệp đồng với Quân đoàn 2.

Quân đoàn 2 đặt Sở chỉ huy cơ bản (có các đồng chí Nguyễn Hữu An - Tư lệnh quân đoàn, đồng chí Lê Linh - Chính ủy) ở Động Truồi, nam Thừa Thiên).

Nhằm đánh lạc hướng phán đoán của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng tham gia chiến dịch cơ động vào vị trí tập kết an toàn, bí mật, tại Quảng Trị, Quân khu Trị - Thiên tổ chức cuộc diễn tập tiến công địch ở Thanh Hội, Cửa Việt, sua đó là Ái Tử, Tích Tường, Như Lệ. Cuộc diễn tập khiến địch lúng túng trong việc xác định hướng tiến công chủ yếu của ta. Trong khi đó, Trung đoàn 9 thuộc Sư đoàn 304 bí mật rút khỏi Quảng Trị, về đứng chân rong đội hình Sư đoàn làm nhiệm vụ lực lượng dự bị của quân đoàn; Trung đoàn 46 tăng cường cho Trị - Thiên thay cho Sư đoàn 325 ở hướng Quảng Trị, cũng vào chiếm lĩnh vị trí an toàn.


(1) Trung đoàn 3 - Sư đoàn 324 đang cùng Sư đoàn 304 làm nhiệm vụ ở Thượng Đức, Trung đoàn 95 - Sư đoàn 325 đang ở Tây Nguyên.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 12 Tháng Ba, 2011, 07:51:41 PM
Chỉ một ngày sau khi chiến dịch Tây Nguyên mở màn, ngày 5-3-1975, phối hợp với chiến trường chính đánh địch, chiến dịch tiến công tổng hợp xuân hè 1975(*) ở Trị - Thiên cũng bắt đầu. Lực lượng vũ trang địa phương mở một số trận đánh trên các trục đường giao thông, trong đó, điển hình là trận phục kích của Tiểu đoàn bộ binh 21 chặn đánh đoàn xe địch trên đèo Hải Vân làm tắc nghẽn giao thông của địch từ Huế đi Đà Nẵng; trận đánh sập cầu An Lỗ trên đường số 1, cách Huế 25 km về phía bắc của Đại đội 25 gây khó khăn cho địch trong việc cơ động lực lượng và vận chuyển hàng quân sự từ Huế ra Quảng Trị; trận vây ép điểm cao 367, động Ông Do của Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị; trận pháo kích vào căn cứ Đồng Lâm, sân bay Phú Bài của pháo binh Quân khu Trị - Thiên.

Các hoạt động trên đây của lực lượng vũ trang địa phương làm lac hướng sự chú ý của địch. Lợi dụng tình hình này, từ ngày 6 đến ngày 8-3-1975, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị, Tiểu đoàn 10 bộ đội địa phương tỉnh Thừa Thiên, Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 21 chủ lực quân khu, Tiểu đoàn 3 đặc công của thành phố Huế cùng hơn 100 đội công tác vũ trang nhanh chóng cơ động xuống đồng bằng phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ đồng loạt tiến công các chi khu, quận lỵ, phân chi khu, vũ trang tuyên truyền ở 53 xã với trên 20 vận dân. Ta làm chủ quận lỵ Mai Lĩnh và 11 phân chi khu. Lúc này, trên hướng tiến công chủ yếu ở tây nam Huế, Sư đoàn 324 của Quân đoàn 2 đã triển khai xong lực lượng, chuẩn bị tiến công địch ở Mỏ Tàu và trên điểm cao 303.

Sáng ngày 8-3-1975, sau loạt đạn pháo bắn cấp tập của các điểm cao 303, 75, 76, 324, Mỏ Tàu, cuộc tiến công của Sư đoàn 324 bắt đầu. Ở mũi tiến công chủ yếu, Trung đoàn bộ binh 2 đánh mạnh vào 2 mục tiêu then chốt là điểm cao 303 và 324. Ở mũi thứ yếu, Trung đoàn 1 tiến công điểm cao 75, 76. Cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Đến 10 giờ ngày 8-3, ta chỉ mới chiếm được mỏm E 6, E 7 thuộc điểm cao 324.

Ngày 10-3-1975, với sự chi viện của pháo binh Sư đoàn 325, Trung đoàn 2 đã chiếm được điểm cao 224 và 273, loại khỏi vòng chiến đấu 2 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 1 và Trung đoàn 54 - Sư đoàn 1 quân đội Sài Gòn. Cùng thời gian này, Sư đoàn 324 tổ chức một bộ phận trinh sát luồn sâu, bí mật tập kích tiêu diệt cụm xe tăng địch ở núi Nghệ, uy hiếp địch ở phía tây và vùng đồng bằng nam Huế.

Mất điểm cao 224 và một số vị trí quan trọng khác, Mỏ Tàu và điểm cao 303 bị đe dọa, dẫn tới nguy cơ đường số 1 bị cắt, Trị - Thiên - Huế sẽ bị cô lập. Trước tình hình đó, địch vội điều thêm lực lượng tăng cường cho tuyến phòng thủ này và tổ chức phản kích để chiếm lại cao điểm 224; Tiểu đoàn 61 thuộc Liên đoàn biệt động quân 15 được điều ra núi Bông; Tiểu đoàn biệt động quân 94, 96 và Chi đoàn thiết giáp 27 giữ điểm cao 31; Chi đoàn thiết giáp 37 cùng 1 đại đội của Tiểu đoàn 154 án ngữ điểm cao 52; Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn 1 - Sư đoàn 1 ra tăng cường chuẩn bị phản kích chiếm lại điểm cao 224.

Ngày 13-3-1975, cuộc phản kích của địch bắt đầu. Địch dùng phi pháo bắn phá ác liệt vào trận địa ta, yểm trợ cho bộ binh tiến công liên tục vào điểm cao 224. Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt và dằng dai kéo dài 7 ngày không phân thắng bại. Cuối cùng ta phải chịu nhường cho địch chiếm một phần điểm cao 224.

Nhìn chung trên hướng chủ yếu của chiến dịch, cho đến thời đểm này, ta đã phá vỡ một mảng lớn hệ thống phòng ngự của địch ở khu vực đường 14, diệt và bắt sống gần 1.000 tên địch, trong đó, 1 tiểu đoàn bị diệt gọn, 1 tiểu đoàn khác bị đánh thiệt hại nặng. Kết quả đạt được tuy còn khiêm tốn, song điều quan trọng là ta đã thu hút, giam chân một lực lượng lớn chủ lực địch tại đây, tạo thuận lợi cho hướng khác hoạt động mạnh.

Phối hợp với hướng chủ yếu, ngày 8-3-1975, trên các địa bàn do Quân khu Trị - Thiên đảm nhiệm, lực lượng vũ trang địa phương đồng loạt tiến công địch ở nhiều địa điểm.

Tại khu vực đường số 12, Tiểu đoàn 9 - Trung đoàn 271 cùng Trung đoàn 6 chủ lực quân khu tiến công căn cứ La Sơn, Chúc Moa, điểm cao 300. Địch phá đoán đây là hướng tiến công chủ yếu của ta nên chúng tổ chức phòng ngự rất kiên cố và tổ chức phản kích quyết liệt. Trung đoàn 6 vừa tiến công vừa bao vây, tạo thế uy hiếp, thu hút lực lượng địch, làm cho chúng bị căng kéo, dàn mỏng đối phó, tạo điều kiện cho quân và dân các địa phương vùng đồng bằng đẩy mạnh tiến công địch.

Ở phía nam Huế, ta đồng loạt tiến công vào 6 phân chi khu ở Phú Vang, 1 phân chi khu ở Hương Thủy, các phân chi khu Vĩnh Giang, Vĩnh Hải, Vĩnh Hiến và Chi khu quân sự Vĩnh Lộc, phá rã, phá lỏng hệ thống kìm kẹp của chúng ở nhiều xã, ấp.

Phía bắc Huế, Trung đoàn bộ binh 4 được pháo binh Trung đoàn 16 và Trung đoàn 224 chi viện, đã tiến công và làm chủ căn cứ Phổ Lại. Địch phản kích quyết liệt hòng chiếm lại địa bàn quan trọng này. Trung đoàn 4 đã kiên cường chiến đấu trụ vững trong 6 ngày, bẻ gãy các đợt phản kích của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 530 tên, bắn rơi 1 máy bay, phá hủy 6 xe quân sự, 3 khẩu pháo, thu nhiều vũ khí. Cùng với đòn tiến công của Trung đoàn 4, lực lượng vũ trang huyện Phong Điền cùng các đội công tác vũ trang đồng loạt tiến công diệt gọn 5/9 phân chi khu, làm tan rã chính quyền cơ sở địch ở thôn, xã.

Tại Quảng Trị, lực lượng vũ trang địa phương tập kích địch ở điểm cao 122, 118, 90, đồng thời chế áp trận đia pháo ở Dốc Bầu, Tân Điền. Đáng chú ý, đêm ngày 8 rạng ngày 9-3, Đại đội 12 phối hợp cùng Đại đội trinh sát 130, Tiểu đoàn đặc công 10 của tỉnh tiến công chi khu quân sự Mai lĩnh - một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ của địch ở Quảng Trị, diệt 100 tên.

Hoạt động mạnh của ta ở vùng giáp ranh đã cổ vũ phong trào ở đồng bằng phát triển. Vùng đồng bằng Quảng Trị - từ ngày 8-3, các đội vũ trang công tác cùng bộ đội địa phương, dân quân, du kích tiến công các phân chi khu Hải Nhi, Hải Kinh, Hải Vân, diệt và bức rút 11 chốt địch đóng xung quanh điểm cao 235 và 21 chốt ở tây Hải Lăng. Ở đồng bằng Thừa Thiên, lực lượng vũ trang tại chỗ hỗ trợ nhân dân Phú Lộc, Phú Thứ, Phong Quảng, Hương Trà nổi dậy diệt ác, phá kìm giành quyền làm chủ 13 xã, giải phóng hơn 30.000 dân.

Vào thời điểm này, trên chiến trường Tây Nguyên, ta giành thắng lợi hết sức quan trọng, giải phóng Buôn Ma Thuột, làm đảo lộn thế phòng ngự của địch ở Tây Nguyên. Bộ Chính trị họp ngày 11-3-1975 nhận định: Ta giành thắng lợi lớn trên các chiến trường, đặc biệt là Tây Nguyên và Khu 5 làm tinh thần quân địch suy sụp rất nhanh, ta có khả năng giành thắng lợi với nhịp độ nhanh hơn. Quân ủy Trung ương trong bức điện gửi các chiến trường cũng khẳng định: Tây Nguyên giành thắng lợi lớn và còn có khả năng giành thắng lợi lớn hơn, với nhịp độ tiến công nhanh hơn… Địch đang lúng túng điều động lực lượng cơ động chiến lược để đối phó. Ta cần khẩn trương, tận dụng điều kiện thuận lợi, nhanh chóng tập trung lực lượng tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch và có kế hoạch chớp thời cơ như đã dự kiến.

Quán triệt tinh thần trên của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, quân và dân Trị - Thiên đẩy mạnh tiến công và nổi dậy. Đáng chú ý, ngày 13-3-1975, Trung đoàn 6 chủ lực quân khu mở đợt tiến công địch ở Chúc Mao, điểm cao 300, đồng thời dùng hỏa lực bắn phá La Sơn, đồi Không tên, uy hiếp địch ở Động Tranh, Bình Điền. Trước áp lực mạnh của ta ở phía tây Huế, ngày 14 và 15-3-1975, Trung đoàn 3 - Sư đoàn bộ binh số 1 quân đội Sài Gòn phải rút bỏ khu vực phía tây đường 12 đoạn từ Đèo Đông đến điểm cao 551 về phòng ngự giữ Động Tranh, Bình Điền bảo vệ thành phố Huế.


(*) Sau gọi là chiến dịch Trị - Thiên.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Ba, 2011, 03:42:18 PM
Tình hình diễn biến hết sức mau lẹ. Ở Tây Nguyên, những thắng lợi liên tiếp của ta đã đưa Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đến một quyết định sai lầm là ra lệnh rút bỏ Kon Tum, Plâyku về co cụm ở đồng bằng. Thiệu còn lệnh điều Sư đoàn dù ở Đà Nẵng vào tăng cường phòng thủ Sài Gòn. Thay vào đó, Sư đoàn thủy quân lục chiến được điều từ Quảng Trị vào Đà Nẵng, Lữ đoàn 369 và Lữ đoàn 258 thủy quân luc chiến cũng được điều vào Quảng Nam và bắc Hải Vân. Sự điều động trên đây của Thiệu khiến lực lượng quân đội Sài Gòn ở Quảng Trị suy giảm đáng kể, cho dù được tăng cường Liên đoàn biệt động quân 14; thế bố trí bị đảo lộn, tuyến phòng thủ trở lên lỏng lẻo, khó có thể giữ vững khi bị đối phương tiến công.

Trước tình hình đó, theo sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, ngày 17-3-1975, Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy Trị - Thiên đã họp và hạ quyết tâm: “Dùng toàn bộ lực lượng chủ động, táo bạo bất ngờ tiến công trên hai hướng: hướng Tích Tường, Như Lệ theo trục đường 68 và hướng tây từ Tích Tường, Như Lệ theo đường số 1 tiến vào phía nam. Trên hướng bắc, đưa toàn bộ Trung đoàn bộ binh 4 ra cắt địch ở An Lỗ. Trên hướng nam, bỏ khu vực điểm cao 303, 224 chuyển sang tiến công cắt giao thông địch ở đường số 1 khu vực Lương Điền - Đá Bạc (Phú Lộc). Thời gian bắt đầu tiến công chậm nhất là ngày 19-3-1975”(1).

Chỉ một ngày sau cuộc họp trên, đồng chí Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam gửi điện cho Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2. Bức điện chỉ rõ: “Địch rút khỏi Kon Tum - Plâyku. Yêu cầu phải táo bạo, hành động khẩn trương. Quân khu Trị - Thiên gấp rút đưa lực lượng xuống và đẩy mạnh hoạt động ở vùng sâu đồng bằng. Không chỉ đưa các tiểu đoàn mà đưa cả trung đoàn xuống phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân, du kích và các đội công tác đánh chiếm và làm chủ vùng sâu, diệt ác phá kìm… Quân đoàn 2 nhanh chóng tiêu diệt quận lỵ Phú Lộc, cắt đứt đường số 1, gấp rút chuẩn bị hỏa lực đánh Đà Nẵng”(2).

Cùng ngày, Bộ Tổng tham mưu gửi tiếp một bức điện với nội dung: “Có khả năng địch bỏ từ Huế đến sông Thạch Hãn. Việc điều chỉnh bố trí này nằm trong kế hoạch co cụm lớn về chiến lược toàn miền Nam. Trước tình hình đang rất thuận lợi, các đồng chí cần chỉ huy các đơn vị thuộc quyền hoạt động một cách táo bạo, khẩn trương, không cho địch rút lui bỏ vùng bắc Huế một cách an toàn mang theo cả bọn phản động về co cụm ở Đà Nãng, sau này sẽ rất khó khăn cho ta. Phải nhanh chóng đánh xuống đường số 1, cắt đường, đánh sân bay, kho tàng ở Phú Bài”(3).

Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu và quyết tâm của Khu ủy, Quân khu ủy, từ đêm 18 rạng ngày 19-3-1975, các lực lượng vũ trang ta đồng loạt tiến công vào tuyến phòng thủ của địch ở Quảng Trị.

Ở hướng đông, Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị được tăng cường 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo binh hỗn hợp chia làm hai mũi, mũi chủ yếu theo tỉnh lộ 68 diệt địch ở Tài Lương, Đạo Đầu sau đó phát triển sang Phù Lưu, Triệu Dương. Mũi thứ hai đánh địch ở Thanh Hội, Gia Đẳng, Mỹ Thủy và phát triển vào Thẩm Khế.

Hướng tây bắc, Tiểu đoàn 14 cùng Đại đội Lê Hồng Phong đánh chiếm điểm cao 15, Phước Môn, Tích Tường, Như Lệ, La Vang…

Hướng tây, Tiểu đoàn 8, Tiểu đoàn 812 và Tiểu đoàn 10 tiến công địch ở Dốc Bầu, Mỹ Chánh, Hồ Lầy…

Cùng với lực lượng vũ trang đánh địch, du kích các địa phương cũng chuyển từ vây ép địch ở tây nam Hải Lăng sang  tiến công truy kích diệt địch ở các điểm cao 235, 367, 222, động Ông Do…. Nhân dân các huyện vùng giáp ranh, vùng đồng bằng nổi dậy phá bỏ các khu vực tập trung chiếm trụ sở chính quyền địch ở cơ sở, giành quyền làm chủ.

18 giờ 30 phút ngày 19-3-1975, tỉnh Quảng Trị hoàn toàn được giải phóng. Tuyến phòng thủ phía bắc của địch đứng trước nguy cơ bị phá vỡ hoàn toàn.

Lúc này, trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên, Tiểu đoàn 15 - Trung đoàn 3 chủ lực quân khu và Đại đội 10 đặc công tỉnh cùng lực lượng tại chỗ đánh trả các cuộc phản kích của địch ở phía bắc tỉnh. Đồng thời, pháo binh Quân đoàn 2 bắn phá các căn cứ Hiệp Khánh, cầu An Lỗ, Tập Lộc, Mang Cá, gây cho địch nhiều thiệt hại.

Trước sức tiến công mạnh mẽ và bất ngờ của ta trên toàn tuyến phòng thủ phía bắc, địch hoảng sợ rút chạy về phía nam, co cụm ở tuyến Mỹ Chánh - Thanh Hương.


(1) Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử chiến dịch Trị - Thiên và chiến dịch Đà Nẵng Xuân 1975, Sđd, tr. 66-67.
(2)  Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2: Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-1994), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 154-155.
(3) Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2: Lịch sử Quân đoàn 2 (1974-1994), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 154-155.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Ba, 2011, 03:44:44 PM
Ngay khi địch rút khỏi Quảng Trị và bắt đầu rút chạy khỏi Tây Nguyên, ngày 18-3-1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã họp nhận định; Ta đã tiêu diệt đại bộ phận Quân đoàn 2 ngụy, giải phóng Tây Nguyên. Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược của ta đã đánh dấu một bước mới trong cục diện chung. Trên cơ sở đánh giá này, Bộ Chính trị hạ quyết tâm khẩn trương chuyển sang thực hiện phương án thời cơ hoàn thành kế hoạch giải phóng miền Nam ngay trong năm 1975. Hướng tiến công chiến lược là Sài Gòn, song trước mắt phải nhanh chóng tiêu diệt toàn bộ lực lượng địch ở Vùng 1 chiến thuật, giải phóng Huế - Đà Nẵng.

Ngày 20-3-1975, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ thị cho Mặt trận Trị - Thiên: Tiếp tục tiến công địch. Quân khu Trị - Thiên sử dụng 2 trung đoàn (4, 46) hình thành mũi tiến công từ phía bắc, Quân đoàn 2 hình thành mũi tiến công từ phía nam đánh ra tiêu diệt địch ở Huế, bịt chặt cửa Thuận An, chặn địch rút chạy theo đường biển vào Đà Nẵng.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị và chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, Quân khu Trị - Thiên quyết định: “Tranh thủ thời cơ dốc toàn lực giải phóng Thừa Thiên - Huế bằng một cuộc tiến công tổng hợp, toàn diện, lấy chia cắt và bao vây chiến dịch kết hợp với các mũi thọc sâu của chủ lực làm biện pháp then chốt, đồng thời sử dụng lực lượng vũ trang địa phương trực tiếp đánh địch, hỗ trợ và vận động quần chúng nổi dậy giành dân và giữ dân, đưa chiến dịch đến toàn thắng. Hết sức chú ý: không cho địch co cụm lại trong thành phố Huế”(1). Đồng thời, quân khu thống nhất với Quân đoàn 2 phương án giải phóng thành phố Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên.

Lúc này ở Thừa Thiên - Huế, địch có 5 trung, lữ đoàn với tổng quân số 45.500 quân (27.500 quân chủ lực, 19.000 quân địa phương) chưa kể 36.000 phòng vệ dân sự. Toàn bộ lực lượng này được bố trí như sau: Lữ đoàn 147 - Sư đoàn 1 bộ binh đóng ở Hòn Vượn, Trung đoàn 1 và Trung đoàn 54 (Sư đoàn 1) đóng ở Mỏ Tàu. Trung đoàn 3 của sư đoàn này đứng chân ở Hương Thủy, Liên đoàn bảo an 913 ở Hương Điền, Liên đoàn 914 ở An Lỗ, Liên đoàn 15 biệt động quân và Thiết đoàn 17 ở Đa Nghi - Đơn Quế, Thiết đoàn 7 ở Phú Bài, Thiết đoàn 20 ở Phong Điền.

Phương án tiến công giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên - Huế được Quân khu Trị - Thiên và Quân đoàn 2 bàn bạc thống nhất:

Hướng nam Huế do Quân đoàn 2 (thiếu Sư đoàn 304) đảm nhiệm, trong đó, Sư đoàn 325 (thiếu) được giao nhiệm vụ đánh phá hệ thống phòng thủ của địch ở các điểm cao 560, 520, 494, dãy Kim Sắc, cắt đường số 1 (đoạn giữa Hướng Điền - Phú Lộc) và sẵn sàng đánh địch giải tỏa trên cả hai hướng từ Huế vào và từ Đà Nẵng ra; Sư đoàn 324 có nhiệm vụ tiêu diệt địch ở điểm cao 303, Mỏ Tàu sau đó hình thành hai mũi: một mũi đánh chiếm La Sơn - Phú Bài và theo đường số 1 đánh thẳng vào Huế; một mũi bí mật vu hồi xuống đồng bằng đánh cảng Tân Mỹ, bịt cửa Thuận An.

Hướng bắc Huế, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị được sự hỗ trợ của pháo binh và xe tăng tiến công quận lỵ Hướng Điền, sau đó phát triển vào cửa biển Thuận An, ngã ba Sình. Trung đoàn 4 bộ binh Quân khu Trị - Thiên được tăng cường Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị và pháo binh chi viện đánh Lữ đoàn 147 thủ quân lục chiến ở tuyến sông Bồ, sau đó cũng phát triển ra cửa Thuận An, ngã ba Sình.

Hướng tây Huế (đường 12), hai trung đoàn bộ binh 6 và 271 Quân khu Trị - Thiên có pháo binh chi viện đánh chiếm Đình Môn, Kim Ngọc. Trung đoàn 6 vượt sông Hương, phát triển tiến công vào khu tam giác, chặn địch từ đường số 2 chạy về. Trung đoàn 271 sau khi vượt qua sông Hương tiến về phía đông thành phố Huế và Phú Bài rồi phát triển về quận lỵ Phú Vang hợp vây cùng Quân đoàn 2 diệt địch ở Phú Vang, cửa Thuận An, cảng Tân Mỹ.

Cùng với các hướng tiến công, pháo binh của Quân khu và Quân đoàn 2 đánh phá Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 1 quân đội Sài Gòn ở Mang Cá (Huế); đơn vị K5 đặc công nước của hải quân đặt thủ lôi khống chế địch ở cửa biển Thuận An, cửa Tư Hiền và Cảng Tân Mỹ. Lực lượng vũ trang địa phương tỉnh, huyện và dân quân, du kích xã tích cực phối hợp với bộ đội chủ lực đánh địch, đồng thời phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm giành quyền làm chủ.

Phương án trên được Bộ Tổng Tư lệnh chấp thuận. Mọi công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương. Theo đúng phương án đã xác định, 5 giờ 40 phút ngày 21-3, cuộc tiến công giải phóng toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế bắt đầu.


(1) Lê Tự Đồng: Trị Thiên - Huế Xuân 1975, Sđd, tr. 82-83.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Ba, 2011, 03:46:48 PM
Hướng nam thành phố Huế, Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 nhanh chóng làm chủ các điểm cao 494, 520, đồi Yên Ngựa và mỏm 1 điểm cao 560, nơi Tiểu đoàn 61 biệt động quân đóng chỉ huy sở. cùng thời gian này, Trung đoàn 1 - Sư đoàn 324 đánh chiếm núi Bông nhưng ngay sau đó, địch phản kích chiếm lại. Trung đoàn 2 (Sư đoàn 324) đánh chiếm điểm cao 224 và phát triển tiến công chiếm được một nửa điểm cao 303. Trung đoàn 18 sau khi chiếm mỏm 1 điểm cao 560 đã phải dừng lại và do vậy, khả năng cắt đứt đường số 1 không thể thực hiện được. Trước tình hình này, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 325 lệnh cho Trung đoàn 18 đưa lực lượng dự bị (Đại đội 7 - Tiểu đoàn 8) tăng cường tiếp tục đánh chiếm điểm cao 560; đồng thời, lệnh cho Trung đoàn 101 (Sư 325) đưa Tiểu đoàn 2 tiến công điểm cao 329 hỗ trợ cho Trung đoàn 18. Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 101) làm nhiệm vụ bao vây cũng chuyển sang tiến công tiêu diệt địch ở điểm cao 310, 312. Trưa ngày 21-3-1975, Trung đoàn 101 đã hoàn thành việc tiêu diệt các mục tiêu được giao, chiếm được dãy Kim Sắc, đập tan hệ thống phòng ngự phía tây đường số 1 từ nam Lương Điền đến bắc Phú Lộc. 15 giờ cùng ngày, Trung đoàn 19 hoàn thành nhiệm vụ, diệt Tiểu đoàn 61 biệt động quân, làm chủ điểm cao 560, bắt sống tên Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng. Đây cũng là lúc quân đoàn nhận được chỉ thị của Bộ. Chỉ thị nêu rõ: Địch bắt đầu rút khỏi Trị - Thiên - Huế, phải khẩn trương đưa lực lượng xuống đồng bằng cắt đứt đường 1, bịt cửa Thuận An, diệt Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn Trị - Thiên - Huế(1). Thực hiện mệnh lệnh đó, ngay trong đêm ngày 21-3, Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 tổ chức hành quân theo hướng đông, tiến xuống đồng bằng làm nhiệm vụ đánh cắt đường số 1. Rạng sáng ngày 22-3, hai tiểu đoàn 7 và 8 của Trung đoàn 18 đã cắt đường 1. Trung đoàn khẩn trương triển khai đội hình chiến đấu. Đến 10 giờ 30 phút ngày 22-3, ta đã tiêu diệt các vị trí địch ở hai bên đường số 1, làm chủ một đoạn dài 4 km từ Ràng Bò đến làng Bạch Thạch.

Cũng trong đêm ngày 21-3, đơn vị K5 đặc công nước của hành quân đã đánh sập cầu Thừa Lưu (Phú Lộc) trên đường 1, Trung đoàn 24 (Sư đoàn 324) chiếm lại điểm cao 224 và đánh bại nhiều đợt phản kích quyết liệt của địch ở điểm cao 303 và khu vực Mỏ Tàu.

Đường số 1, con đường bộ duy nhất để rút về cố thủ ở Đà Nẵng đã bị cắt, chiến dịch ở Thừa Thiên - Huế bị cô lập hoàn toàn. Hàng ngày xe cộ các loại đang trên đường từ Huế chạy vào Đà Nẵng phải quay trở lại. địch hoang mang cực độ. Sự hỗn loạn diễn ra chẳng khác gì khi địch rút khỏi Tây Nguyên. Không còn cách nào khác, ngay trong ngày 22-3, chúng phải huy động lực lượng phản kích nhằm giải tỏa đường 1, song cố gắng này của địch đã không thành.

Tình hình Thừa Thên - Huế hết sức nguy cấp, Tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân đoàn 1 - Quân khu 1 phải yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu rút cơ quan Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 1 vào Đà Nẵng. Được sự đồng ý của Thiệu, tối ngày 22-3-1975, Ngô Quang Trưởng ra lệnh rút toàn bộ lực lượng và phương tiện chiến tranh ra khỏi thành phố Huế theo ba cánh: Cánh thứ nhất gồm Lữ 147 thủ quân lục chiến, Liên đoàn 14 biệt động quân, Trung đoàn 5 thuộc Sư đoàn 1, Lữ đoàn 1 kỵ binh thiết giáp rút theo đường biển qua cửa Thuận An vào Đà Nẵng. Cánh thứ hai có Trung đoàn 3 - Sư đoàn 1, Liên đoàn 15 biệt động quân rút ra trụ tại khu vực Cự Lại (nam Thuận An 6 km). Cánh thứ ba là Trung đoàn 1, Trung đoàn 54 của Sư đoàn 1 rút theo cửa biển Tư Hiền vào Đà Nẵng.

Khi ta cắt đường 1, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 cũng đã kịp thời nhận định, địch không thể lui quân theo đường bộ, buộc phải rút theo đường biển qua cửa Thuận An và Tư Hiền. Đây là thời cơ tốt nhất để ta tiêu diệt và làm tan rã lớn quân địch, giải phóng Huế và toàn tỉnh Thừa Thiên. Kế hoạch phối hợp tác chiến với Quân khu Trị - Thiên nhằm chặn địch rút bằng đường biển vào Đà Nẵng, tiêu diệt chúng ngay tại Thừa Thiên - Huế được quân đoàn gấp rút hình thành. Theo đó, Trung đoàn 101 của Sư đoàn 325 tiến công tiêu diệt căn cứ Lương Điền, sau đó phối hợp với Sư đoàn 324 theo đường 1 đánh ra Phú Bài - Huế; Trung đoàn 8 (Sư đoàn 325) đánh vào phía nam diệt Chi khu Phú Lộc - chiếm đèo Mũi Né, Phước Tượng, bịt chặt cửa Tư Hiền, sẵn sàng đánh địch giải tỏa; Trung đoàn 1 và 2 của Sư đoàn 324 bỏ qua các mục tiêu núi Bông, núi Nghệ, điêm cao 303, Mỏ Tàu, đánh thẳng xuống đồng bằng ven biển, hợp với Sư đoàn 325 tạo thành thế bao vây từ phía đông - đông nam, ngăn địch chạy ra cửa biển Thuận An, Tư Hiền; Trung đoàn 3 (Sư đoàn 324) được tăng cường 1 đại đội xe tăng (của Lữ đoàn 203) diệt căn cứ La Sơn sau phát triển lên phía bắc cùng các đơn vị đánh địch giải phóng thành phố Huế; Lữ đoàn pháo binh 164 của quân đoàn có nhiệm vụ chi viện các đơn vị chiến đấu và chế áp địch ở cửa biển Thuận An, Tư Hiền; Lữ đoàn 219 bảo đảm cầu phá và đường cơ động cho xe tăng vượt sông Truồi, An Nông, Phú Bài tiến vào thành phố Huế.


(1) Trong bài Bàn thêm về cuộc tạo dựng và nắm bắt thời cơ trong chiến dịch Quảng Nam - Đà Nẵng, đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự, số tháng 4-2007, tác giả Đồng Thoại cho biết: “Vào sáng ngày 21-3, tại Sở chỉ huy của Bộ, có một cuộc điện thoại trực tuyến giữa Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn và đồng chí Nguyễn Hữu An - Tư lệnh Quân đoàn 2. Sau khi nhắc lại tình hình và truyền đạt lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh cho Quân đoàn 2 phải bằng mọi cách cắt đường 1, đồng chí Lê Trọng Tấn nói: “Nếu Quân đoàn 2 không cắt được đường 1, để địch rút lui về cố thủ Đà Nẵng thì Quân đoàn 2 (cả Tư lệnh quân đoàn nữa) có tội với lịch sử”. Theo tác giả: sau này, qua tổng kết, được biết, toàn bộ Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 chỉ để lại Sở chỉ huy cơ bản, có Chỉ huy và Tham mưu phó, còn lại đã trực tiếp xuống đốc chiến và kết quả là sáng 22-3, lực lượng Sư đoàn 325 đã xuống chiếm được đường 1 và mở rộng ra 4 km, chặn đứng đường rút của địch. Khẩu hiệu của Sư đoàn 325 lúc đó là: “Vị trí chỉ huy của sư đoàn, các trung đoàn và toàn đơn vị là đường số 1”; “Hãy tiến ngay xuống đường số 1, lấy mắt đường làm điểm hiệp đồng!”…


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Ba, 2011, 03:48:17 PM
Thực hiện kế hoạch đề ra, ngày trong đêm ngày 22-3-1975, các đơn vị hành quân vào vị trí tập kết. Sáng ngày 23-3, Tiểu đoàn 8 thuộc Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325) nổ súng tiến công Mũi Né - một căn cứ quan trọng của địch ở điểm cao 134, diệt phần lớn quân địch đóng tại đây, số còn lại tháo chạy tán loạn. Nhân cơ hội này, tiểu đoàn phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương truy kích địch và phát triển tiến công đánh chiếm quận lỵ Phú Lộc. Thừa thắng, tiểu đoàn đánh tiếp đèo Phú Gia và Lăng Cô, tiêu diệt hoan toàn Tiểu đoàn bảo an 128, kịp thời chặn đứng âm mưu phá hoại Lăng Cô dù trước đó, chúng đã gài sẵn thuốc nổ.

Trong thời gian Trung đoàn 18 tiến đánh quận lỵ Phú Lộc, Trung đoàn 101 (Sư đoàn 325) cùng nổ súng tiến công căn cứ Lương Điền do Liên đoàn biệt động 15 đóng giữ. Địch hốt hoảng tháo chạy về Phú Bài. Lương Điền được giải phóng, cánh cửa phía nam tiến vào thành phố Huế được mở. Trung đoàn 1 và 2 của Sư đoàn 324 lập tức hành quân vượt qua đường 1 xuống đồng bằng và thọc thẳng ra cửa biển Thuận An. Trung đoàn 3 (Sư đoàn 324) đánh diệt địch ở núi Bông, núi Nghệ, điểm cao 303, sau đó cũng phát triển xuống đường 1 cùng Trung đoàn 101 của Sư đoàn 325 đánh ra Phú Bài, Huế.

Như vậy, ở phía nam, đến ngày 23-3, các mũi tiến công của Quân đoàn 2 từ hướng nam và hướng đông nam đã hình thành thế bao vây, kẹp chặt thành phố Huế và cửa biển Thuận An.

Trong khi đó, ở hướng bắc, dưới sự chỉ đạo của Quân khu Trị - Thiên, Tiểu đoàn 812 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị đánh địch co cụm ở xóm Bồ, Phổ Trạch (ngày 21-3), sau đó phát triển đánh chiếm Lương Mai, Bao Vinh. Tiểu đoàn 3 (bộ đội tỉnh Quảng Trị) được tăng cường 1 đại đội xe tăng, 1 đại đội pháo binh đánh diệt 2 tiểu đoàn bảo an ở Xuân Viên, Thanh Hương (ngày 22-3). Địch rút chạy về Đại Lộc. Ta tiếp tục truy kích và chiếm quận lỵ Hương Điền, bị chặt cửa Thuận An (ngày 24-3). Cùng thời gian này, Trung đoàn 4 chủ lực Quân khu Trị - Thiên tiến công căn cứ Lữ đoàn 47 thủy quân lục chiến ở nam sông Bổ và đánh địch phản kích. Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương tinh Quảng Trị theo đường số 1 đánh sang bờ nam sông Mỹ Chánh, sau đó phát triển tiến công đánh chiếm quận lỵ Hương Trà, uy hiếp địch ở Huế và phía tây bắc.

Phối hợp với lực lượng vũ trang đánh địch, nhân dân các địa phương Thừa Thiên cũng nổi dậy diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ. Ở huyện Hương Trà, được các đội vũ trang công tác hỗ trợ, quần chúng các xã Hương Cần, Huơng Sơ, Hương Mai, Hương Thanh, Hương Thái nổi dậy truy lùng tìm diệt những tên ác ôn có nợ máu với nhân dân và kêu gọi binh lính địch quay súng trở về với gia đình, người thân.

Tại huyện Phong Điền, nhân dân các xã Phương Bình, Phong Hòa, Phong Chương rồi tuyên truyền, vừa hù dọa, khiến địch hoang mang, hàng trăm tên đã bỏ ngũ. Đặc biệt, tại xã Phong Thu, đêm ngày 22-3, đội vũ trang công tác cùng du kích xã diệt lực lượng dân vệ gác cầu Phó Trạch, sau đó đánh chiếm quận lỵ.

Tại huyện Quảng Điền, khi lực lượng vũ trang địa phương tiến công chi khu quân sự, nhân dân ác xã Quảng Lợi, Quảng Đại đã nổi dậy cùng bộ đội truy lùng ác ôn và dẫn đường cho bộ đội truy kích địch.

Tại Hương Thủy, dưới sự lãnh đạo của cơ sở mật, nhân dân xã Hải Thủy đã vận động lực lượng dân vệ và phòng vệ dân sự bỏ súng quay về với cách mạng. Trong lúc đó, du kích xã Mỹ Thủy sau khi đột nhập vào cắm cờ ở ấp 5 đã vận động hơn 3 ngàn người mít tinh rồi cùng bộ đội tiến vào giải phóng quận lỵ.

Huyện Phú Vang, bộ đội địa phương huyện phối hợp với lực lượng nội ứng trong hàng ngũ địch mở cuộc tiến công, loại khỏi vòng chiến đấu 1 đại đội bảo an ở Phú Đa. Một lực lượng khác đánh địch co cụm ở Trường Lưu, bao vây diệt địch ở Thuận An, Tân Mỹ. Ngày 24-3, nhân dân xã Phú Hồ nổi dậy phá ác kìm kẹp của địch giành chính quyền về tay.

Ở Phú Lộc, được sự hỗ trợ của các đội vũ trang công tác và lực lượng vũ trang huyện, nhân dân bị địch dồn trong trại tập trung Phước Long, Cảnh Dương vận động được đại đội bảo an đóng tại đây quay súng cùng nhân dân nổi dậy phá khi tập trung, giành quyền làm chủ. Ngày 22 và 23-3, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực đánh chiếm quận lỵ Cầu Hai.

Ngày 24-3-1975, khi các cánh quân của Quân đoàn 2 và Quân khu Trị - Thiên hình thành thế bao vây địch ở thành phố Huế và Phú Bài thì cả sĩ quan và binh lính cơ quan Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 1 quân đội Sài Gòn ở Mang Cá Lớn cũng như các đơn vị chủ lực, bảo an tháo chạy về hướng cửa Thuận An và Tư Hiền hòng theo đường biển rút vào Đà Nẵng, cho dù mãi tới tối hôm đó, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 mới có quyết định rút bỏ Huế.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Ba, 2011, 03:49:10 PM
Được giao nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Phú Bài mở đường cho Quân đoàn 2 tiến vào giải phóng thành phố Huế, đêm ngày 24-3, Trung đoàn 101 thuộc Sư đoàn 325 và Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 324 bắt đầu tổ chức triển khai đội hình chiến đấu. Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn 101 bí mật luồn ra phía sau căn cứ, đánh chiếm quận lỵ Hương Thủy. Trung đoàn 3 được tăng cường 1 đại đội xe tăng, theo đường 1, tiến công thẳng vào căn cứ Phú Bài.

Rạng sáng ngày 25-3, theo kế hoạch, Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 101 nổ súng tiến công quận lỵ Hương Thủy. Sau ít phút chiến đấu, tiểu đoàn đã làm chủ trận địa. Cùng lúc, Trung đoàn 3 đánh chiếm cầu và căn cứ Phú Bài. Bị đánh trước mặt và sau lưng, địch trong căn cứ tháo chạy tán loạn, bỏ cả xe pháo. Ta nhanh chóng làm chủ trận địa.

Sau khi chiếm được Hương Thủy, Phú Bài, theo đường 1, ta đánh thẳng vào nội đô thành phố Huế.

Với sự hỗ trợ của xe tăng và sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, Trung đoàn 101 và Trung đoàn 3 nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trong thành phố. Đúng 13 giờ ngày 25-3-1975, lá cờ quyết chiến quyết thắng của Trung đoàn 101 đã tung bay trên đỉnh Phu Văn Lâu.

Ở hướng đông, Trung đoàn 1 - Sư đoàn 324 sau khi vượt đường 1, tiếp tục phát triển tiến công xuống dải đồng bằng ven biển. Đêm ngày 24-3, Trung đoàn “chạm trán” với Sư đoàn 1 và Liên đoàn 15 biệt động quân của địch lúc ấy đang co cụm ở Lương Thiện. Lập tức, trung đoàn tổ chức bao vây, tiến công diệt và bắt sống hàng trăm tên. 10 giờ ngày 25-3, trung đoàn tiến công vào Lữ đoàn 147 thủ quân lục chiến khi lữ đoàn này đang chuẩn bị bãi đón tàu vào hòng rút chạy về Làng Cư, Kê Sung, Cự Lại. Tiếp đó, trung đoàn tiếp tục phát triển đánh chiếm cảng Tân Mỹ và khu vực phía nam cửa Thuận An. Lúc này, Trung đoàn 2 - Sư đoàn 324 cũng phát triển tiến công đến đây. Hai trung đoàn họp lực bịt chặt cửa Thuận An không cho địch rút chạy theo đường biển.

Chiều ngày 25-3, các đơn vị thuộc Sư đoàn 325 đánh chiếm nhiều mục tiêu quan trọng trong thành phố như căn cứ Mang Cá, Trại Cao Vận, Nhà lao Thừa Phủ…

Hướng tây (đường 12), đêm ngày 24-3, Trung đoàn 6 và Trung đoàn 2371 Quân khu Trị - Thiên tổ chức vượt sông Hương, tiến vào thành phố Huế. Do thiếu phương tiện vượt sông, hơn nữa vừa hành quân, vừa phải đánh địch nên lực lượng tiến công trên hướng này tiếp cận mục tiêu bị chậm so với kế hoạch. Một bộ phận của cánh này phải chuyển sang hướng sông Tả Trạch, đánh chiếm Đình Môn, Kim Ngọc rồi mới cơ động vào Huế. Đến ngày 26-3, hai trung đoàn 6 và 24 mới đánh vào các mục tiêu thuộc khu Tam giác trong thành phố Huế.

Hướng tây bắc, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Trị sau khi đánh chiếm quận lỵ Hương Trà, sáng ngày 25-3 đã tiến thẳng vào nội đô.

Phối hợp với đòn tiến công của lực lượng vũ trang, Thành ủy và các quận ủy, huyện ủy lãnh đạo nhân dân nổi dậy giành chính quyền.

Đến tối ngày 25-3-1975, ta đã đập tan toàn bộ địch ở Trị Thiên - Huế, làm thất bại ý đồ rút chạy về Đà Nẵng của chúng. Sáng ngày 26-3-1975, toàn bộ Thừa Thiên - Huế hoàn toàn được giải phóng, chiến dịch Trị - Thiên kết thúc thắng lợi.

Kết quả, sau 21 ngày đêm chiến đấu (từ ngày 5 đến ngày 26-3-1975), quân và dân Trị - Thiên - Huế cùng Quân đoàn 2 đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch đóng trên địa bàn Thừa Thiên - Huế bao gồm: Sư đoàn 1 bộ binh, Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến, 2 liên đoàn biệt động quân (14 và 15), Lữ đoàn 1 kỵ binh thiết giáp, 3 thiết đoàn, 8 tiểu đoàn pháo binh, 18 tiểu đoàn bảo an, 319 trung đội dân vệ, 7.000 cảnh sát cùng các đơn vị bảo đảm, thu 140 xe tăng, thiết giáp, 800 xe tải, 1 vạn tấn đạn. Chỉ tính số địch bị bắt và ra trình diện đã lên tới 58.772 tên, trong đó có 3.781 sĩ quan, 14.000 nhân viên ngụy quyền. Đây là một trong những thắng lợi to lớn nhất, triệt để nhất của quân và dân ta ở Trị Thiên - Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Với thắng lợi này, ta đã đập tan lá chắn mạnh nhất của địch ở phía bắc, mở toang cánh cửa để quân và dân ta tiếp tục phát triển cuộc tiến công về phía nam, giải phóng thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Trung Trung Bộ, làm thất bại ý đồ rút quân co cụm về Đà Nẵng cố thủ. Thắng lợi của ta giáng một đòn mạnh vào ý chí, tinh thần binh lính địch, gây phản ứng dân chuyển làm địch suy sụp, tan rã nhanh hơn, tạo thuận lợi để ta đẩy nhanh nhịp độ tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Ba, 2011, 03:51:11 PM
II - TIẾN CÔNG GIẢI PHÓNG ĐÀ NẴNG
VÀ CÁC TỈNH TRUNG TRUNG BỘ

Nằm trong kế hoạch chiến lược chung của Bộ Tổng tư lệnh, đồng thời với chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Trị - Thiên, từ đầu tháng 3 năm 1975, Quân khu 5 mở chiến dịch Nam - Ngãi. Hướng chủ yếu của chiến dịch là tây nam Quảng Nam và bắc Quảng Ngãi. Hướng phối hợp là đường 19 - An Khê. Sở dĩ ta chọn tây nam Quảng Nam và tây bắc Quảng Ngãi làm hướng tiến công chủ yếu vì đây là khu vực yếu nhất trong toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch ở địa bàn chiến lược trọng yếu Quân khu 1. Về phía ta, đây là nơi ta có điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động tác chiến tập trung của bộ đội chủ lực quân khu. Tham gia chiến dịch có Sư đoàn 2, một bộ phận Sư đoàn 3, Lữ đoàn 52 chủ lực Quân khu 5 và bộ đội địa phương các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Trên địa bàn chiến dịch, địch có 1 sư đoàn bộ binh, 1 liên đoàn biệt động quân, 1 thiết đoàn tăng - thiết giáp và lực lượng địa phương quân.

Nhằm tạo thuận lợi cho hướng chủ yếu của chiến dịch phát triển, ngày 5-3-1975, Sư đoàn 3 sử dụng một bộ phận lực lượng đã đánh cắt đường số 19 đoạn qua đèo An Khê. Cùng thời gian này, bộ đội đặc công và công binh của tỉnh Quảng Đà tập kích kho đạn Sủng Mây, bãi xe cơ giới Xuân Thiều, đánh sập cầu Trắng và cắt đường số 1, đoạn trên đèo Hải Vân.

Đúng 4 giờ 30 sáng ngày 10-3-1975, trên hướng chủ yếu của chiến dịch, ta bắt đầu nổ súng tiến công, đánh chiếm Tiên Phước và Phước Lâm. Đây là hai huyện giáp ranh của tỉnh Quảng Nam, cách tây nam Tam Kỳ khoảng 10 km và nằm gọn trong một thung lũng rộng khoảng 200 km2, bao quanh nó là những dãy núi cao. Những năm trước đây, Tiên Phước - Phước Lâm được địch sử dụng như một trong những bàn đạp tiến công đánh phá vùng căn cứ rừng núi của ta, nhất là căn cứ Mang Xim (địch gọi là Đỗ Xá) và trước khi bị tiến công, nơi đây được địch xây dựng thành cụm cứ điểm tiền tiêu trong hệ thống phòng ngự cơ bản của chúng. Nếu Tiên Phước - Phước Lâm bị mất, thị xã Tam Kỳ cũng như tuyến phòng thủ dọc đường số 1 của địch đã lập tức bị uy hiếp trực tiếp. Chính vì vây, chúng tập trung lực lượng tại đây khá mạnh với khoảng 3.000 tên gồm 6 tiểu đoàn bảo an, 2 đại đội biệt lập, 41 trung đội dân vệ, 2 pháo đội (10 khẩu) 105 mm và 155 mm. Toàn cụm cứ điểm gồm 77 cứ điểm, hình thành ba khu vực lớn là: chi khu quân sự quận lỵ Tiên Phước, chi khu quân sự quận lỵ Phước Lâm và dãy điểm cao Suối Đá. Trong ba khu vực phòng thủ trên, chi khu quân sự quận lỵ Tiên Phước là khu vực then chốt, là điểm tựa trung tâm. Tiên Phước có những điểm cao lợi hại như điểm cao 211, núi Vú, núi Ngọc, Dương Côn. Mất Tiên Phước, các khu vực phòng thủ khác khó có thể giữ vững. Suối Đá cũng là khu vực không kém phần quan trọng. Đây là một dãy điểm cao gồm Suối đá, Núi Sấu, Dãy Thám, Dương Huê, Dương Bà Quân. Chiếm giữ dãy điểm cao này, địch tạo ra thế liên hoàn giữa Tam Kỳ và Tiên Phước, giữ được bàn đạp để triển khai lực lượng phản kích lại ta khi bị tiến công, đồng thời, cũng là tuyến ngăn chặn ta phát triển xuống Tam Kỳ và đường số 1.

Với chủ trương đánh nhanh, diệt gọn để chiếm lĩnh bàn đạp đánh địch phản kích, Sơ chỉ huy tiền phương quân khu gồm các đồng chí Nguyễn Chánh - Phó Tư lệnh và Đoàn Khuê - Phó Chính ủy quyết định sử dụng Lữ đoàn 52 diệt cứ điểm Suối Đá; Trung đoàn 31 và 38 - Sư đoàn 2 diệt chi khu quân sự quận lỵ Tiên Phước. Trung đoàn 36 bao vây bức hàng quận lỵ Phước Lâm khi các đơn vị bạn đã giải quyết xong các mục tiêu then chốt.

Theo phương án đã xác định, từ sáng sớm ngày 10-3, sau hai phát pháo hiệu phát lệnh, các đơn vị đồng loạt nổ súng đánh chiếm các mục tiêu. Chiến sự diễn ra quyết liệt ngay từ đầu, nhất là ở khu vực Suối Đá và điểm cao 311.

Suối Đá là là căn cứ chỉ huy của Liên đoàn bảo an 916, nơi tập trung những tên ác ôn khét tiếng. Tại đây, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Sau đợt tiến công đầu tiên không thành, Tiểu đoàn 7 - Lữ đoàn 52 buộc phải tạm dừng để tổ chức lại lực lượng. 14 giờ cùng ngày, được hỏa lực pháo binh chi viện, bộ đội ta mở tiếp đợt tiến công lần thứ hai. Đến 16 giờ, trận đánh kết thúc. Địch buộc phải rút bỏ căn cứ sau khi bị thiệt hại nặng và viện binh không kịp đến ứng cứu.

Điểm cao 211 năm ở phía bắc quận lỵ Tiên Phước khoảng 1,5 km. Tại đây, địch xây dựng cứ điểm kiên cố, xung quanh có từ 3 đến 5 lớp rào dây thép gai bùng nhùng. Trung tâm cứ điểm, địch xây dựng hàng chục lô cốt và doanh trại cấu trúc nửa nổi, nửa chìm… Chính vì vậy, cuộc chiến ở điểm cao 211 diễn ra trong thế giằng co. Lúc này, các đơn vị đánh vào hệ thống phòng thủ của địch ở phía bắc quận lỵ Tiên Phước đã quét sạch địch ở các cứ điểm Dương Công, Hố Bạch, núi Vú. Với phương châm “đưa pháo lên cao, vào gần bắn thẳng”. Tiểu đoàn 15 công binh đã mở đường đưa được pháo lên điểm cao núi Vú và Hàn Thôn sẵn sàng nhả đạn vào Tiên Phước. Không thể để mất thời cơ đánh địch, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 quyết định cho đơn vị đánh chiếm điểm cao 211.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Ba, 2011, 03:52:25 PM
Đúng 11 giờ ngày 10-3, pháo binh ta bắt đầu bắn thẳng vào các mục tiêu ở điểm cao 211. Bị hỏa lực pháo binh tập kích bất ngờ và mãnh liệt, thoạt đầu, địch lúng túng đối phó. Lợi dụng tình hình này, Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 31 từ ấp Phước Hòa chia thành hai mũi đánh chiếm các tiền đồn Đồi Tranh, Yên Sơn ở phía bắc và phía tây điểm cao 211. Địch bị cô lập hoàn toàn trong cứ điểm. Một số lô cốt, công sự và doanh trại địch, bị pháo ta dập nát. Địch hoảng sợ, nhiều tên hốt hoảng bỏ chạy về quận lỵ. 13 giờ cùng ngày, bộ đội ta mở đợ tiến công thẳng vào trung tâm căn cứ địch. Kết hợp xung lực và hỏa lực, ta lần lượt đánh chiếm từng mục tiêu. 15 giờ 30, cờ chiến thắng của ta đã tung banh trên nóc hầm chỉ huy ở trung tâm điểm cao 211. Trong tình thế nguy khốn, tên Quận trưởng quận Tiên Phước điện về Tam Kỳ xin rút chạy, nhưng đã quá muộn. Từ điểm cao 211, quân ta chia làm ba mũi đánh thẳng vào quận lỵ. 16 giờ, ta đã làm chủ hoàn toàn quận lỵ Tiên Phước.

Ở Phước Lâm, ngay từ sáng sớm ngày 10-3, ta đã diệt cứ điểm Hàm Thôn và đưa pháo lên chốt giữ tại đây. Đồng thời, Tiểu đoàn 10 diệt các cứ điểm Cửa Rừng, Đèo Liêu, Hòn Ghềnh, sau đó phát triển tiến công vây ép quận lỵ. Trước sức tiến công mãnh liệt của ta và trong điều kiện đồng bọn ở cứ điểm 211, Tiên Phước lần lượt bị diệt, địch ở quận lỵ Phước Lâm nhanh chóng tháo chạy để bảo toàn lực lượng. 16 giờ 30, ta làm chủ toàn bộ quận lỵ.

Như vậy, chỉ sau một ngày chiến đấu, trên hướng chủ yếu của chiến dịch, ta đã diệt 2 chi khu quận lỵ, uy hiếp trực tiếp thị xã Tam Kỳ.

Vào thời điểm này, trước diễn biến mau lẹ của tình hình, Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh điều Sư đoàn dù về lại miền Đông Nam Bộ nhằm tăng cường phòng thủ Sài Gòn. Lực lượng địch ở Quân khu 1 đã mỏng lại càng mỏng. Mặc dù vậy, Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân khu 1 - Quân đoàn 1 vẫn cho rằng, chủ lực ta hiện tại chưa đủ mạnh để có thể tiến công Huế, Đà Nẵng. Trước tình thế Tam Kỳ bị uy hiếp, ngay trong đêm ngày 10-3, Ngô Quang Trưởng lệnh cho Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn ngay trong ngày 11-3 phải tổ chức phản kích chiếm lại các địa bàn đã mất. Theo lệnh của Ngô Quang Trưởng, ngày 11-3, Liên đoàn biệt động quân số 12 cùng 1 tiểu đoàn bảo an, 1 chi đoàn xe bọc thép (Chi đoàn 1/11) từ Tuần Dương tiến lên Cẩm Khê, Dương Côn. Ngày 12-3, Trung đoàn 5 - Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn mới từ Quảng Ngãi ra cùng với 2 tiểu đoàn bảo an, 1 chi đoàn thiết giáp (Chi đoàn 1/4) đánh lên Dương Leo, Dãy Thám. Ngô Quang Trưởng còn ra lệnh cho Sư đoàn 3 khẩn trương đưa Trung đoàn 2 từ Quảng Đà vào Tam Kỳ để tăng cường cho lực lượng phản kích.

Địch chưa kịp hành động thì lực lượng vũ trang địa phương ba tỉnh Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi lần lượt nổ súng đánh địch ở khắp nơi.

Tại Quảng Đà, ngày 11-3, bộ đội địa phương tỉnh pháo kích sân bay Đà Nẵng, phá sập 2 cầu trên đường số 1 và đường 100. Trung đoàn 96 tiến công các cứ điểm Điện Nhơn, Điện Tân, Ngũ Giáp.

Tại Quảng Nam, trong hai ngày 14 và 15-3, bộ đội địa phương tỉnh tiêu diệt và bức rút 11 cứ điểm, giải phóng 3 xã ở phía tây huyện Thăng Bình. Từ ngày 16 đến 20-3, Tiểu đoàn 70 và Tiểu đoàn 72, sau khi vượt đường số 1 đã tiến công giải phóng 4 xã ở phía đông huyện.

Trước sự uy hiếp mạnh mẽ của ta, Trung đoàn 2 - Sư đoàn 3 quân đội Sài Gòn đang trên đường vào Tam Kỳ buộc phải quay về ứng phó.

Ở Quảng Ngãi, ngày 16-3, Trung đoàn 94 bộ đội tỉnh cùng lực lượng vũ trang huyện Bình Sơn, cắt đường số 1 ở bắc Châu Ổ. Được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân tại chỗ nổi dậy giải phóng một mảng lớn các xã dọc hai bên quốc lộ 1. Trung đoàn 4 - Sư đoàn 2 ngụy theo lệnh của Ngô Quang Trưởng phải hành quân ra Tam Kỳ để tăng cường phản kích. Song hoạt động của ta đã buộc Trung đoàn 4 phải ở lại đối phó. Lực lượng phản kích của địch vì vậy chỉ có Liên đoàn biệt động quân số 12, Trung đoàn 5 - Sư đoàn 2 và lực lượng bảo an. Kế hoạch tạo thế của ta đến đây đã thành công bước đầu.

Thời gian này, trên toàn chiến trường, ta đang đánh mạnh và thắng lớn, nhất là ở Tây Nguyên. Địch phải điều động lực lượng ứng phó khắp nơi. Tại Quân khu 1, sau khi Sư đoàn dù cơ động về Quân khu 3 ở miền Đông Nam Bộ, Ngô Quang Trưởng phải đưa Sư đoàn lính thủy đánh bộ từ Quảng Trị vào Đà Nẵng; thế vào đó, Liên đoàn biệt động quân số 14 từ Quảng Ngãi được lệnh cơ động ra Quảng Trị. Binh lực bị phân tán, dàn mỏng, tư tưởng hoang mang, chiến lược bế tắc, địch phải chuyển ý đồ từ phản kích giải tỏa sang phòng ngự bị động. Ngày 20-3, toàn bộ lực lượng phản kích của địch lui về chiếm giữ tuyến điểm cao Dương Huê, Dãy Thám, đông Suối Đá, đông Dương Côn… Ở Quảng Ngãi, địch rút bỏ quận lỵ Trà Bồng, quận lỵ Sơn Hà, đưa quân về tăng cường phòng ngự trên tuyến đường 1. Nhân cơ hội này, Tiểu đoàn 6 - Lữ đoàn 52, Tiểu đoàn 403 đặc công và lực lượng vũ trang tỉnh đã đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 69 biệt động quân và Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn 4 trên đường chúng rút quân. Nhân dân hai huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nổi dậy giải phóng hoàn toàn khu vực phía tây huyện Sơn tịnh và 6 xã của huyện Bình Sơn. Ở Quảng Nam, ta cơ bản giải phóng huyện Thang Bình. Thế trận đang mở ra rất thuận lợi cho ta. Trước tình hình đó, ngày 16-3, Thường vụ Khu ủy và Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định tập trung lực lượng tiêu diệt Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi, giải phóng đại bộ phận nông thôn tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 14 Tháng Ba, 2011, 03:54:14 PM
Về phía quân đội Sài Gòn, Sở chỉ huy tiền phương của Sư đoàn 2 đóng ở Tam Kỳ, Trung đoàn 5 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 4 đang tổ chức phòng thủ trên tuyến Dương Huê, Dãy Thám, đông Suối Đá; Trung đoàn 4 (thiếu) đóng ở Chu Lai; Trung đoàn 6 đang ở thị xã Quảng Ngãi. Với sự bố trí binh lực của địch như thế, lúc này, để tiêu diệt Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn, giải phóng Quảng Ngãi, ta phải phá vỡ được tuyến ngăn chặn của địch bằng cách tiến công tiêu diệt cụm quân địch đang phòng thủ trên tuyến đông Suối Đá, trực tiếp uy hiếp thị xã Tam Kỳ, buộc địch phải đưa Trung đoàn 4 ở Chu Lai, Trung đoàn 6 ở Quảng Ngãi ra ứng cứu; tạo điều kiện thuận lợi cho Lữ đoàn 52 cùng lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Quảng Ngãi đánh địch tại chỗ, giải phóng tỉnh.

5 giờ 30 phút ngày 21-3-1975, Sư đoàn 2 - Quân khu 5 bắt đầu nổ súng tiến công vào tuyến ngăn chặn địch ở đông Suối đá. Mãi tới 12 giờ trưa, ta mới đánh quỵ được Trung đoàn 5, tiêu diệt 1 tiểu đoàn thuộc Liên đoàn biệt động quân 12. Tuyến ngăn chặn phía tây thị xã Tam Kỳ bị phá vỡ. Địch buộc phải đưa Trung đoàn 4 từ Chu Lai ra cùng lực lượng còn lại tổ chức tuyến ngăn chặn mới dọc theo trục Cẩm Khê - Chà Gó - Chóp Chài - Tân Lợi.

Diễn biến chiến sự trên toàn chiến trường miền Nam thay đổi từng giờ. Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, ngày 23-5, Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy quyết định đẩy nhanh tốc độ tiến công, giải phóng toàn khu trong thời gian ngắn nhất. Quyết tâm của Thường vụ Khu ủy và Quân khu ủy Khu 5 là tập trung lực lượng, đánh diệt bằng được Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn, chiếm Tam Kỳ, giải phóng Quảng Ngãi, hình thành thế chia cắt chiến dịch có ý nghĩa chiến lược; tiếp đó, sẽ phát triển tiến công đánh chiếm căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng, giải phóng toàn tỉnh Quảng Đà và Quảng Nam.

Thị xã Tam Kỳ là thủ phủ của tỉnh Quảng Nam(1). Thị xã nằm dọc theo đường số 1. Ở trung tâm thị xã và ngoại vi, địch, tổ chức nhiều cụm điểm tựa khá kiên cố, trong đó hai điểm chốt quan trọng là sân bay Kỳ Bích và ngã ba Trường Xuân. Với hai điểm chốt này, địch có thể khống chế hướng tiến công của ta từ phía tây xuống.

Trung đoàn Ba Gia - Trung đoàn làm lực lượng dự bị chiến dịch, giờ đây được giao nhiệm vụ cùng Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 31, Tiểu đoàn 5 - Trung đoàn 38 và 10 xe tăng, xe bọc thép đột phá trên hướng chủ yếu cánh phải từ Suối Đá đến giáp bờ bắc sông Tam Kỳ. Phối hợp với Trung đoàn Ba Gia, Trung đoàn 38 (thiếu Tiểu đoàn 5) tiến công bên cánh trái từ Suối Đá đến Cẩm Khê.

Ngày 24-3, cuộc tiến công đánh chiếm thị xã Tam Kỳ bắt đâu. Từ sáng sớm, sau loạt đạn pháo bắn dọn đường của hai trung đoàn 368 và 572, từ hai hướng, Tiểu đoàn 90 nhanh chóng đánh chiếm ngã ba Trường Xuân - cửa ngõ quan trọng để tiến vào thị xã Tam Kỳ và sân bay Kỳ Bích. Phối hợp với Tiểu đoàn 9, Tiểu đoàn 60 nổ súng tiến công một số mục tiêu của địch ở cánh phải. Chỉ sau 20 phút nổ súng, Tiểu đoàn đã diệt một bộ phận Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 4 địch ở Phú Tân 3. Tiểu đoàn 40 và Tiểu đoàn 5 của Trung đoàn 38 đánh địch ở cánh trái. Tiểu đoàn 90 với sự chi viện của xe tăng cũng nhanh chóng tiêu diệt cụm quân địch ở tây bắc Phú Trà 2 và Núi Lân, sau đó, phát triển tiến công tiêu diệt trận địa pháo và Sở chỉ huy Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 5 địch ở Phú Trà 2.

Đến 7 giờ 30 phút ngày 24-3, trên hướng chủ yếu, ta đã diệt gần hết cả 3 tiểu đoàn của Trung đoàn 4 và Tiểu đoàn còn lại của Trung đoàn 5 quân đội Sài Gòn.

Trên hướng thứ yếu, Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 38 đột phá vào tuyến phòng ngự của Tiểu đoàn 37 và Tiểu đoàn 39 - Liên đoàn biệt động quân 12. Sau 1 giờ 30 phút chiến đấu, ta đã diệt phần lớn 2 tiểu đoàn này, chiếm được các khu vực Cẩm Khê 2, Khánh Thọ Đông, Đức Tân 4. Tuyến ngăn chặn cuối cùng của địch ở phía tây thị xã Tam Kỳ bị đập tan. Trong thị xã, địch hoảng loạn. Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn lệnh cho các trung đoàn 4, 5, Liên đoàn 12 biệt đông quân bỏ Sở chỉ huy chạy trốn. Thời cơ để giải phóng thị xã Tam Kỳ đã đến. Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 lệnh cho các hướng đồng loạt tiến nhanh vào thị xã.

Từ ngã ba Trường Xuân và sân bay Ngọc Bích, Tiểu đoàn 90 cùng xe tăng đánh chiếm ngã tư đường sắt rồi thọc thẳng vào trung tâm thị xã.

Ở phía bắc, Tiểu đoàn 60 cùng 1 đại đội xe bọc thép diệt khu lô cốt cố thủ của địch ở đầu cầu Tam Kỳ. Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 31 đánh chiếm khu vực phía tây tỉnh đường và cầu Kỳ Lý. Tiểu đoàn 7 - Trung đoàn 31 phối hợp với Tiểu đoàn 8 đánh chiếm Tỉnh đường, sau đó phát triển chiếm trận địa pháo 175 mm, Ty Cảnh sát ngụy và Nhà lao.

10 giờ sáng ngày 24-3, Trung đoàn Ba Gia đã làm chủ thị xã. 11 giờ, Trung đoàn 31 chiếm tiểu khu. Đến đây, thị xã Tam Kỳ hoàn toàn giải phóng.


(1) Theo phân định địa giới hành chính của chính quyền Sài Gòn, Quảng Nam lúc ấy gọi là Quảng Tín.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 07:02:50 AM
Cùng với việc đánh chiếm thị xã Tam Kỳ, ở phía nam thị xã Tam Kỳ, Trung đoàn 36 đánh chiếm cầu Bà Bầu rồi phát triển xuống An Xuân, tiến công giải phóng quận lỵ Lý Tín, cắt đường tháo chạy của tàn quân địch về Chu Lai. Ở phía bắc, Trung đoàn 38 sau khi làm chủ Cẩm Khê và Phú Trà 2 đã đánh cắt đường số 1 ở Chiêu Đàn. Song do tiến công chậm nên một bộ phận quân địch ở Tam Kỳ chạy thoát. Ở phía đông, các tiểu đoàn 70-72 cùng lực lượng vũ trang địa phương huyện Tam Kỳ đánh chiếm các xã Kỳ Trung, Kỳ Phú. Nhân dân nổi dậy làm chủ các xã ven biển.

Trong khi địch đang lo đối phó ở Tam Kỳ thì thại Quảng Ngãi, từ ngày 21-3, lực lượng vũ trang địa phương đã cắt đứt đướng số 1, đoạn từ bắc Châu Ổ đến Dốc Sỏi. Ở một số địa phương, nhân dân nổi dậy phá ách kìm kẹp của địch, giành quyền làm chủ. Lúc này, trên địa bàn Quảng Ngãi, số quân địch gồm có Trung đoàn 6 (thiếu), Liên đoàn Biệt động quân số 1 (thiếu), Thiết đoàn 4… Thời cơ để giải phóng tỉnh đã chín muồi. Quân khu lệnh cho Lữ đoàn 52 khẩn trương hành quân vào tăng cường cho Quảng Ngãi.

7 giờ sáng ngày 24-3, Trung đoàn pháo 576 bắt đầu nã đạn vào thị xã. Khi pháo vừa chuyển làn, 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 52, các tiểu đoàn đặc công 403, 406 của quân khu, Tiểu đoàn 7 bộ đội địa phương tỉnh với sự chi viện của xe tăng, xe bọc thép của trung đoàn 574 đồng loạt tiến công các mục tiêu sân bay, ga Ông Bố, xóm Xiếc (thị trấn Nghĩa Hành)… Cùng thời gian, bộ đội địa phương các huyện Mộ Đức, Đức Phổ đánh chiếm núi Vỏ, phá sập cầu Ô Sông. Đường số 1, đoạn từ Sơn Tịnh đi Bình Sơn bị cắt hoàn toàn. Địch lâm vào thế cô lập và bị tiến công từ các phía. 14 giờ cùng ngày, chúng tìm đường tháo chạy về Cu Lai. Dự đoán được âm mưu địch, tiền phương Bộ Tư lệnh quân khu ở Quảng Ngãi lệnh cho Trung đoàn 94 nhanh chóng bịt chặt đường số 1 không để địch lợi dụng đêm tối trốn thoát. Theo chỉ đạo của quân khu, Trung đoàn 94 cùng lực lượng vũ trang địa phương đã tổ chức trận địa phục kích trên đoạn đường dài 15 km từ cầu Nước Mặn (Bình Bắc) đến Dốc Trạm (Sơn Tịnh). Khi đội hình địch lọt vào trận địa phục kích, bộ đội ta nổ súng diệt gần 600 tên, bắt 3.500 tên thuộc Trung đoàn 6 - Sư đoàn 2, Liên đoàn 11 và Thiết đoàn 4 quân đội Sài Gòn. Cùng lúc đó, bộ đội ta nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu và làm chủ toàn bộ thị xã lúc 23 giờ 30 phút ngày 24-3. Trong lúc đó, tại các huyện, bộ đội địa phương tỉnh, huyện và dân quân du kích cùng nhân dân nổi dậy tiến công tiêu diệt các đồn bốt địch, giải phóng toàn tỉnh vào sáng 25-3.

Như vậy, chỉ sau 1 ngày đêm, ta đã diệt một nửa lực lượng cơ động, hai phần ba quân địa phương cùng một bộ phận quan trọng binh khí kỹ thuật và phương tiện chiến tranh của địch trên địa bàn ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Đà, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Ngãi, đại bộ phận tỉnh Quảng Nam. Tuyến phòng ngự ở vùng đồng bằng ven biển miền Trung của địch bị cắt đôi; căn cứ liên hợp quân sự cũng như thành phố Đà Nẵng bị cô lập.

Đến đây chiến dịch Nam - Ngãi kết thúc thắng lợi. Hơn 10.000 tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu. Thắng lợi của chiến dịch Trị - Thiên và chiến dịch Nam - Ngãi mở ra thời cơ mới rất thuận lợi cho ta tiến công giải phóng Đà Nẵng và toàn tỉnh Quảng Đà.

Từ ngày 24-3-1975, khi chiến dịch Trị - Thiên và chiến dịch Nam - Ngãi còn chưa kết thúc, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã họp và nhận định: Sau khi mất Huế và Tam Kỳ, dù muốn giữ Đà Nẵng, địch cũng không thể giữ nổi. Bộ Chính trị khẳng định: “Thời cơ chiến lược lớn đã tới”. Vì thế, quyết tâm của ta là nắm vững thời cơ chiến lược, tranh thủ thời gian cao độ, nhanh chóng tập trung lực lượng vào hướng chủ yếu, hành động táo bạo, bất ngờ, làm cho địch không kịp dự kiến, không kịp trở tay, “hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa”. Trước diễn biến hết sức mau lẹ ở chiến trường, nhất là cơ hội mà chiến dịch Trị - Thiên và Nam - Ngãi mở ra, ngày 25-3-1975, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch Đà Nẵng (Mặt trận Quảng Đà), với mật danh là Mặt trận 475, nhằm tiêu diệt toàn bộ quân địch co cụm tại đây, tạo thuận lợi cho quân và dân ta đánh đồn quyết định cuối cùng giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Để lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch thành công, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh và Đảng ủy Mặt trận với nhiệm vụ:

1 - Lãnh đạo chỉ huy tác chiến diệt toàn bộ sinh lực địch ở Đà Nẵng trong phạm vi tỉnh Quảng Đà;

2 - Lãnh đạo, chỉ đạo đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị và công tác binh vận, thực hiện tiến công và nổi dậy ở Quảng Đà, đặc biệt là thành phố Đà Nẵng;

3 - Giành lại toàn bộ cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của địch ở căn cứ liên hợp Đà Nẵng.

4 - Lãnh đạo và chỉ huy công tác hậu cần, hậu phương đối với các lực lượng vũ trang hoạt động ở Quảng Đà;

5 - Lãnh đạo và tổ chức thực hiện tốt các chính sách tiếp quản tỉnh Quàng Đà, đặc biệt là thành phố Đà Nẵng sau khi được giải phóng.

Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương chỉ định Trung tướng - Tổng Tham mưu phó Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh Mặt trận, Thượng tướng Chu Huy Mân - Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 làm Chính ủy; các đồng chí Giáp Văn Cương, Nguyễn Bát Phát - Phó Tư lệnh; Bùi Nghinh Phước - Phó Chính ủy. Đảng ủy Mặt trận gồm các đồng chí: Chu Huy Mân - Bí thư; Lê Trọng tấn - Bùi Nghinh Phước - Phó Bí thư; các đồng chí Giáp Văn Cương, Nguyễn Bá Phát - Ủy viên.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 07:03:47 AM
Vào lúc ấy, Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Đà, là thành phố lớn thứ hai mở miền Nam, với số dân gàn 1 triệu người. đây không chỉ là trung tâm kinh tế, chính trị của chế độ Sài Gòn ở miền Trung, mà còn là một căn cứ quân sự liên hợp hải - lục - không quân lớn vào loại bậc nhất của địch ở miền Nam. Tại đây, có đến 3 sân bay, trong đó có 1 sân bay cấp 1; 4 cảng lớn với nhiều kho chứa hàng vạn tấn vũ khí, phương tiện chính trị, lương thực, thực phầm.

Sau chiến dịch Trị - Thiên và Nam - Ngãi, hầu hết lực lượng còn lại của Quân đoàn 1 - Quân khu 1 địch rút về co cụm tại Quảng Đà, tập trung tại Đà Nẵng. Lực lượng đó bao gồm:
Sư đoàn 3 bộ binh, Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến (thiếu 1 lữ đoàn), lực lượng còn lại của Sư đoàn 1, Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 147 thủy quân lục chiến, các liên đoàn biệt động quân 11, 12, 14, 15, Thiết đoàn 11, một bộ phận của Thiết đoàn 20, 12 tiểu đoàn pháo (trong đó có 1 tiểu đoàn pháo 175 mm, 3 tiểu đoàn pháo 155 mm, 8 tiểu đoàn pháo 105 mm), 1 Sư đoàn không quân, 15 tiểu đoàn bảo an, một lực lượng lớn hải quân cùng cảnh sát, lực lượng dân vệ… Tổng quân số lên tới khoảng 75.000 tên.

Nhận lệnh của Nguyễn Văn Thiệu phải “tử thủ Đà Nẵng” (25-3-1975), với lực lượng này, Ngô Quang Trưởng tổ chức hệ thống phòng thủ Đà Nẵng thành hai tuyến:

Tuyến ngoài (tuyến ngoại vi) do Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến, Sư đoàn 3 bộ binh và một số đơn vị biệt động, bảo an đảm nhiệm. Trên tuyến này chúng bố trí: Lữ đoàn 258 (Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến) ở nam - bắc đèo Hải Vân (từ Phước Tường đến Liên Chiểu); Lữ đoàn 369 (Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến) ở tây nam Đà Nẵng (Đại Lộc, Đồng Lâm); Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến và lực lượng còn lại của Lữ đoàn 147 được bố trí tại căn cứ Nước Mặn; Trung đoàn 56 của Sư đoàn 3 ở Vĩnh Điện; Trung đoàn 57 ở Đại Lộc; Trung đoàn 2 ở Ninh Quế; Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3 đóng ở Phước Tường; Liên đoàn 15 biệt động quân phòng ngự ở khu vực cầu Bà Rén.

Tuyến trong do lực lượng còn lại của Sư đoàn 1, một bộ phận Sư đoàn 2 bộ binh, các liên đoàn biệt động quân và các đơn vị địa phương quân đảm nhiệm. Trên tuyến này, Liên đoàn bảo an 911, Thiết đoàn 11, một bộ phận của Thiết đoàn 20 đảm trách nhiệm vụ phòng thủ khu vực Phước Tường - Hòa Mỹ; lực lượng còn lại của Sư đoàn 1, một bộ phận của Sư đoàn 2 bộ binh và một số đơn vị biệt động quân kết hợp với lực lượng tại chỗ phòng giữ các căn cứ Hòa Cầm, Nước Mặn, quân cảng; lực lượng cảnh sát đảm trách việc phòng thủ trong thành phố Đà Nẵng; Liên đoàn 914 bảo an và các tiểu đoàn bảo an độc lập cùng lực lượng dân vệ kết hợp với các đơn vị chủ lực phòng thủ các địa bàn do mình đảm trách. Xung quanh thành phố Đà Nẵng, chúng còn bố trí 12 tiểu đoàn pháo. Sư đoàn 1 không quân với 274 máy bay, trong đó có 96 máy bay chiến đấu, được bố trí tại sân bay Đà Nẵng và sân bay Nước Mặn, sẵn sàng chi viện cho các lực lượng phòng thủ ngăn chặn các cuọc tiến công của ta vào thành phố Đà Nẵng.

Căn cứ thực tế tình hình địch - ta và diễn biến trên chiến trường, Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh dự kiến hai phương án tác chiến: “Một là địch co lại phòng thủ Đà Nẵng có tổ chức và tương đối vững chắc thì ta sử dụng Quân đoàn 1 và nhanh chóng đưa Quân đoàn 1 vào cùng với lực lượng của Quân khu 5 tổ chức một trận hiệp đồng binh chủng quy mô đánh chiếm Đà Nẵng trong trường hợp có chuẩn bị. Hai là địch tan vỡ và bị tiêu hao nặng thì nắm thời cơ nhanh chóng phát triển tiến công đánh chiếm Đà Nẵng với lực lượng tại chỗ là chính”(1). Với dự kiến như vậy, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Quân đoàn 2 và Quân khu 5 gấp rút chuẩn bị đánh địch theo phương án 1, đồng thời sẵn sàng chuyển sang thực hiện phương án 2 khi thời cơ đến.

Ngày 26-3-1975, đồng chí Giáp Văn Cương được Bộ Tổng Tư lệnh cử vào Đà Nẵng để chuẩn bị chiến trường. Đồng thời, tại Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Quân ủy, Tổng Tư lệnh triệu tập cuộc họp gồm các đồng chí Lê Trọng Tấn - Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, Cao Văn Khánh - Phó Tổng tham mưu trưởng, Nguyễn Bá Phát - Tư lệnh Hải quân, Phan Bình - Cục trưởng Cục Quân báo, Lê Hữu Đức - Cục trưởng Cục Tác chiến và một số đồng chí khác bàn kế hoạch tiến công Đà Nẵng.


(1) Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2: Lịch sử Quân đoàn 2, Sđd, tr. 151.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 07:08:50 AM
Trên cơ sở phân tích các tình huống và phán đoán khả năng thực tế của địch trong thời điểm hiện tại, đồng chí Bí thư Quân ủy nhận định: “Địch kêu gọi tử thủ, nưhng tình hình có thể diễn biến đột ngột, khả năng địch rút vẫn tồn tại. Vậy phải có phương án đánh thật nhanh, thực hiện đúng phương châm khẩn trương, táo bạo, bất ngờ”(1).

Sau cuộc họp này, Thường trực Quân ủy họp và giao nhiệm vụ cho đồng chí Lê Trọng Tấn. Nhận danh Bí thư Quân ủy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ thị: Chiến tranh đã chuyển sang giai đoạn phát triển nhảy vọt. Bố trí của địch ở Đà Nẵng tuy chưa đảo lộn, mặc dù chúng kêu gọi tử thủ, nhưng tinh thần quân lính đang suy sụp, cần nắm vững phương châm táo bạo, bất ngờ, kịp thời, chắc thắng, khẩn trương tiến công bao vây tiêu diệt địch, khống chế sân bay, hải cảng, chú ý làm tốt việc tiếp quản thành phố một triệu dân này, thực hiện tốt chính sách tù, hàng binh và chính sách chiến lợi phẩm. Nhanh chóng tổ chức tăng cường lực lượng phát triển vào phía Nam…

Nhận nhiệm vụ xong, đồng chí Lê Trọng Tấn cùng một số đồng chí lên đường vào chiến trường. Trong điều kiện thời gian quá gấp, không thể họp Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch, hai đồng chí Tư lệnh và Chính ủy Mặt trận trực tiếp trao đổi ý kiến với nhau qua điện đài và chỉ đạo việc triển khai công tác chuẩn bị cho chiến dịch được tiến hành trong quá trình hành quân. Để tranh thủ thời cơ đánh địch rút chạy, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định huy động Quân đoàn 2 - Quân đoàn vừa cùng Quân khu Trị - Thiên thực hiện thắng lợi chiến dịch Trị - Thiên giải phóng hoàn toàn thành phố Huế, cùng lực lượng vũ trang Quân khu 5 tiến công giải phóng Đà Nẵng.

Ngay trong ngày 26-3, Quân đoàn 2 và Quân khu 5 đã nhận được điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương phải chuẩn bị lực lượng “hành động táo bạo, bất ngờ làm cho địch không kịp trở tay, tập trung lực lượng diệt sinh lực địch ở Đà Nẵng, chủ yếu là Sư đoàn thủy quân lục chiến và Sư đoàn 3 ngụy, giành thắng lợi trong trận quyết chiến này, tạo điều kiện cho trận quyết chiến chiến lược sau”(2).

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Quân đoàn 2 đã huy động gần như toàn bộ lực lượng của mình cho trận quyết chiến này: Sư đoàn 325, Sư đoàn 304, Lữ đoàn tăng - thiết giáp 203, Lữ đoàn pháo binh 164 (thiếu 1 tiểu đoàn), 3 trung đoàn cao xạ 245, 284, Lữ đoàn công binh 219. Cùng với lực lượng Quân đoàn 2, lực lượng Quân khu 5 được sử dụng trong chiến dịch Đà Nẵng gồm: Sư đoàn bộ binh 2, Trung đoàn 36 và Trung đoàn 3 độc lập, Lữ đoàn bộ binh 52, Trung đoàn pháo binh 572, Trung đoàn cao xạ 573, Trung đoàn xe tăng 574, Trung đoàn công binh 83, Tiểu đoàn công binh vượt sông 25, Tiểu đoàn cao xạ 124 (của Quân chủng Phòng không - Không quân), 2 trung đoàn 96, 97, Tiểu đoàn pháo phản lực ĐKB 575, các đại đội bộ binh, đặc công, biệt động, du kích của tỉnh Quảng Đà, 3 tiểu đoàn bộ binh của tỉnh Quảng Nam.

Hướng tiến công chủ yếu vào thành phố Đà Nẵng được xác định từ phía bắc, tây nam và phía nam, đông nam; trong đó, Quân đoàn 2 được giao nhiệm vụ tiến công từ phía bắc và tây bắc, Quân khu 5 được giao nhiệm vụ tiến công từ phía nam và đông nam.

Hướng bắc, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 sử dụng Sư đoàn 325 (thiếu Trung đoàn 95) được tăng cường thêm một tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh theo đường số 1 đánh chiếm Sở chỉ huy Quân đoàn 1 - Quân khu 1, Sở chỉ huy Sư đoàn 1 không quân địch ở sân bay Đà Nẵng; sau đó, phát triển tiến công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà. Hướng này do đồng chí Hoàng Đan - Phó Tư lệnh quân đoàn trực tiếp chỉ huy.

Hướng tây bắc do Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304) được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn cao xạ 37 và 57 mm (của Sư đoàn 673), 1 tiểu đoàn công binh đảm nhiệm, theo trục đường 14 (cũ) đánh chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 3 bộ binh ở Phước Tường; sau đó, phối hợp với các đơn vị đánh chiếm sân bay Đà Nẵng và các mục tiêu khác trong thành phố. Hướng này do đồng chí Nguyễn Hữu An - Tư lệnh quân đoàn trực tiếp chỉ huy.


(1) Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng, Sđd, tr.240, 242. Về hạn định thời gian đánh chiếm Đà Nẵng, trong bài Bàn thêm về việc tạo dựng và nắm thời cơ trong chiến dịch Quảng Nam - Đà Nẵng, tác giả Đồng Thoại cho biết: “Khi Tổng Tư lệnh hỏi đồng chí Tấn: “Thời gian dự kiến dứt điểm Đà Nẵng là bao lâu”. Anh Tấn báo cáo xin 7 ngày, rồi rút xuống 5 ngày đều không được chấp nhận. Đại tướng Tổng Tư lệnh nói: “Chỉ 3 ngày thôi!”. Thấy anh Tấn do dự chưa dám nhận, Đại tướng nổi nóng: “Nếu không phải anh là Tư lệnh, thì tôi đã ra lệnh rồi!”. Một vị tướng chỉ huy giỏi như anh Tấn mà còn rất lo trước mệnh lệnh “Chỉ 3 ngày thôi”. Cuối cùng, thực tế cả 4 hướng đánh vào Đà Nẵng đều nổ súng vào ngày 27-3, và ngày 29-3-1975 chiếm xong Đà Nẵng.
(2) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử Nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945-1975, Sđd, tr. 493.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 07:10:27 AM
Hướng nam và đông nam do Sư đoàn 2 - Quân khu 5 được tăng cường 2 trung đoàn bộ binh (3 và 36), 1 tiểu đoàn tăng - thiết giáp (của Trung đoàn 574), 1 tiểu đoàn pháo binh (của Trung đoàn 572), 1 tiểu đoàn cao xạ 37 mm (của Trung đoàn 573), 1 phân đội tên lửa B72 đảm nhiệm (Lữ đoàn 52 lúc này đang ở Quảng Ngãi chưa kịp cơ động ra được Quân khu sử dụng làm lực lượng dự bị chiến dịch). Nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị được Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 xác định: Trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia) và Trung đoàn 2 (Trung đoàn 38) cùng các lực lượng tăng cường (gồm 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 1 tiểu đoàn tăng - thiết giáp…) theo trục đường 1 đánh vào sân bay Đà Nẵng và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 sau đó phát triển tiến công vào nội đô thành phố. Trung đoàn 31 và 36, theo tục đường sắt đánh vào Đà Nẵng. Trung đoàn 3 làm lực lượng dự bị của sư đoàn. Hướng này do đồng chí Nguyễn Chơn - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 2 chỉ huy.

Cùng với các hướng trên, Sư đoàn 304 - Quân đoàn 2 (thiếu Trung đoàn 9) đang phòng ngự ở Thượng Đức được giao nhiệm vụ tiến công vào Đà Nẵng từ phía tây nam, diệt Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến ở khu vực Ái Nghĩa; sau đó, phát triển tiến công đánh chiếm sân bay, căn cứ Nước Mặn. Thực hiện nhiệm vụ này, sư đoàn quyết định sử dụng Trung đoàn bộ binh 66 được tăng cường Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 24 tiến công tiêu diệt lực lượng Lữ đoàn 369 trên tuyến phòng ngự Thượng Đức - Ái Nghĩa - Hiếu Đức, sau đó phát triển đánh chiếm căn cứ và sân bay Nước Mặn. Trung đoàn 24 (thiếu Tiểu đoàn 6) tiến công tiêu diệt lực lượng Lữ đoàn 369 phòng ngự tại các điểm cao 1025, 1078 trên dãy Đồng Lâm, sau đó vượt qua dãy Sơn Trà đánh vào Hòa Cầm, phát triển tiến công đánh vào Tòa thị chính thành phố Đà Nẵng.

Phối hợp với bộ đội chủ lực có lực lượng vũ trang địa phương hai tỉnh Quảng Đà và Quảng Nam. Trung đoàn 96 làm nhiệm vụ đánh chiếm thị trấn Duy Xuyên, thị trấn Nam Phước sau đó cùng với Sư đoàn 2 hình thành mũi thọc sâu đánh chiếm cầu Trịnh Minh Thế, căn cứ Du Hải. Trung đoàn 97 đánh địch tại thị xã Hội An, sau đó phối hợp với Sư đoàn 1 tiến công căn cứ, sân bay Nước Mặn, bán đảo Sơn Trà. Các đơn vị khác tiến công địch tại các chi khu, quận lỵ, các phân chi khu ở Đại Lộc, Hòa Vang, hỗ trợ nhân dân các địa phương nổi dậy giành quyền làm chủ.

 Chiến dịch tiến công Đà Nẵng là chiến dịch được hình thành trên cơ sở của thế chiến lược được tạo ra trong quá trình tiến công địch ở miền Trung vào mùa Xuân 1975, vì vậy, công tác bảo đảm các mặt cho chiến dịch gặp nhiều khó khăn, nhất là về hậu cần và đường cơ động. Song các đơn vị tham gia chiến dịch đã tìm mọi cách khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ.

Chuẩn bị cho tác chiến xuân hè 1975, Quân đoàn 2 đã tiếp nhận một khối lượng lớn vật chất từ hậu phương lớn chuyển vào. Tính đến ngày 8-3, quân đoàn đã tiếp nhận từ Đoàn 559: 989 tấn vật chất, trong đó có 240 tấn đạn, 349 tấn xăng dầu, 155 tấn gạo, 240 tấn thực phẩm và các háng hóa khác tại A Sầu. Bên cạnh đó, quân đoàn đã chuẩn bị được 3.331 tấn. Sau chiến dịch Trị - Thiên, để bảo đảm cho các đơn vị tham gia tiến công Đà Nẵng, từ chiều ngày 26-3, hậu cần quân đoàn khẩn trương vận chuyển đạn, gạo từ Quảng Trị vào nam Thừa Thiên. Đồng thời, quân đoàn cũng đề nghị Đoàn 559 chuyển hàng vào giao cho quân đoàn ở La Sơn để kịp thực hiện kế hoạch thời cơ. Mặc dù vậy, ý định này không thực hiện được do thời tiết không thuận lợi và thông tin chậm, hàng không đưa vào được theo đúng thời gian. Trong điều kiện đó, một mặt, quân đoàn phải chuyển sang phương án lấy ngay vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm thu được của địch bảo đảm cho bộ đội tham gia chiến dịch; mặt khác, tiếp tục tìm cách vận chuyển vật chất từ phía sau lên.

Tại Quân khu 5, để bảo đảm vật chất cho các lực lượng tham gia tiến công Đà Nẵng, ngày 25-3, hậu cần quân khu đã tổ chức bộ phận tiền phương hục Khu A đặt ở Khánh Sơn để bảo đảm cho Sư đoàn 2 và Lữ đoàn 523 cơ động từ phía nam ra. Bảo đảm cho Sư đoàn 304 ở hướng tây nam, quân khu huy động lượng dự trưc vật chất ở kho làng Hồi được 320 tấn, trong đó có 180 tấn vũ khí và ở khu vực Quế Sơn được 40 tấn gạo. Bên cạnh đó, hậu cần quân khu đã lót sẵn một lượng vật chất đáng kể tại Binh trạm H1 (Đại Lộc), Binh trạm H2 (Bình Sơn), đồng thời tích cực thu gom vật chất thu được của địch tại các địa bàn ta vừa đánh chiếm ở Quảng ngãi, Tam Kỳ, Chu Lai…

Là chiến dịch binh chủng hơp thành tiến công địch trong hành tiến, thời gian chuẩn bị gấp, việc bảo đảm các công tình, các tuyến đường cơ động cho các đơn vị tác chiến trên các hướng tiến công, bảo đảm cho bộ đội vượt sông, bảm đảm thông tin phục vụ cho công tác chỉ huy được đặt ra rất cấp bách và có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo công binh Quân khu 5 và Quân đoàn 2 chủ động chuẩn bị tuyến đường cơ động của mình, liên hệ chặt chẽ với các địa phương bảo đảm cho bộ đội cơ động tốt trong quá trình thực hành chiến dịch. Bằng nỗ lực vượt bậc, với tinh thần tất cả để giải phóng Đà Nẵng, giải phóng miền Trung, lực lượng công binh của Quân khu 5 và Quân đoàn 2 đã tìm mọi cách khắc phục vật cản, mở đường, chuẩn bị các vến vượt trên các trục đường cơ động chủ yếu.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 07:11:26 AM
Song song với quá trình chuẩn bị các mặt bảo đảm, trên các hướng chiến dịch, các đơn vị triển khai thực hiện nhiệm vụ đã được phân công.

Trên hướng Quân đoàn 2, ngay sau khi nhận chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, quân đoàn khẩn trương tổ chức các phân đội trinh sát của quân đoàn, sư đoàn và các trung đoàn làm công tác nắm địch, nắm địa hình khu vực tác chiến. Công tác bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ huy chiến dịch cũng được Trung đoàn thông tin 463 gấp rút triển khai. Các đơn vị chiến đấu thực hiện việc giao nhiệm vụ và triển khai đội hình tiến công áp sát các mục tiêu. Trung đoàn 18 (Sư đoàn 3250 bấy giờ đang đứng chân ở Đại Lộc (Thừa Thiên) ra sức chuẩn bị tiến công địch ở Phước Tường, Nước Ngọt, Thừa Lưu, Thổ Sơn, Phú Gia… để mở đường cho lực lượng tiến đánh Đà Nẵng theo quốc lộ 1. Trung đoàn 9 và các đơn vị phối thuộc trung đoàn nhanh chóng cơ động lực lượng, chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công, sẵn sàng đánh chiếm Ti Tu, Đá Đen làm bàn đạp tiến công vào Đà Nẵng từ hướng tây bắc. Các đơn vị binh chủng cũng triển khai đội hình, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ được giao. Trung đoàn cao xạ 284 và Tiểu đoàn 6 pháo cao xạ 23 mm cơ động theo trục đường 1 làm nhiệm vụ chi viện cho Sư đoàn 325. Trung đoàn cao xạ 243 cơ động theo trục đường 14 chi viện cho Trung đoàn 9, Trung đoàn 164 pháo binh đưa Tiểu đoàn 4 vào xây dựng trận địa ở đèo Mũi Trâu (cách Đà Nẵng 12 km), sẵn sàng pháo kích vào Đà Nẵng chi viện cho các mũi tiến công.

Trên hướng Quân khu 5, Sư đoàn 2 sau khi giải phóng Tam Kỳ, đã cơ động ra khu vực Thăng Bình. Trung đoàn cao xạ 573 cơ động theo trục đường 1, có nhiệm vụ bảo vệ đội hình chiến đấu của Sư đoàn 2. Trung đoàn 36, Trung đoàn pháo binh 572, Tiểu đoàn hỏa tiễn 575, Tiểu đoàn cao xạ 124 (của Quân chủng Phòng không - Không quân) cơ động ra khu vực Sơn Thạch, Sơn Khánh (Quế Sơn). Một bộ phận Lữ đoàn 52 từ Quảng Ngãi hành quân ra đã tiến công căn cứ Chu Lai (ngày 25-3).

Sau khi nhận lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 304 đã họp xác định phương án tác chiến và giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Ngay sau đó, theo nhiệm vụ đã được phân công, các đơn vị khẩn trương đội hình chiến đấu: Trung đoàn 68 cơ động sang phía bắc sông Vu Gia, Trung đoàn cao xạ 245 cơ đông theo đường 4 và đường 14B, sẵn sàng chi viện cho các đơn vị chiến đấu của sư đoàn.

Tại Quảng Đà, sau khi nhận chỉ thị của Khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu, Đặc khu ủy Quảng Đà họp dự thảo kế hoạch tác chiến do Mặt trận Quảng Đà đề xuất. Theo dự thảo kế hoạch, có ba phương án tác chiến được đặt ra:

Phương án 1: trong trường hợp chủ lực của ta chưa cơ động đến kịp, địch tan rã rút chạy thì ta sử dụng lực lượng vũ trang địa phương kết hợp với nổi dậy của quần chúng đánh chiếm Đà Nẵng.

Phương án 2: nếu chủ lực đến kịp thì lực lượng địa phương vượt qua tuyến vòng ngoài của địch, phối hợp với bộ đội chủ lực, phát động quần chúng nổi dậy cùng chủ lực giải phóng Đà Nẵng.

Phương án 3: trong trường hợp địch co cụm và chống trả quyết liệt, phải có lực lượng lớn mới giải phóng được thì tỉnh ém sẵn lực lượng trong thành phố chờ thời cơ phối hợp với chủ lực thực hiện trong đánh ra, ngoài đánh vào để giải phóng thành phố.

Trong ba phương án trên, Đặc khu ủy coi trong phương án 1 và xác định mục tiêu: Tiêu diệt và làm tan rã đại bộ phận quân địch, kiên quyết không cho chúng tháo chạy bằng bất cứ giá nào. Thực hiện quyết tâm trên đây, ngoài Trung đoàn 96, tỉnh Quảng Đà gấp rút thành lập Trung đoàn 97 (ngày 22-3-1975) và 29 liên trung đội du kích và làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy. Trong khi đó, tại các quận của thành phố Đà Nẵng, cơ sở chính trị, lực lượng tự vệ và biệt động thành cũng khẩn trương được củng cố, phát triển, đảm bảo mỗi quận có 200 tự vệ và lực lượng vũ trang. Các ban cán sự hoạt động bí mật trong thành phố nay được chuyển thành các Ủy ban khởi nghĩa hoạt động công khai và nửa công khai, sẵn sàng phối hợp với các lực lượng đánh chiếm mục tiêu trong thành phố, phá nhà lao, giải thoát tù chính trị, bảo vệ các công sở, không cho địch phá hoại trước khi rút chạy. Trung đoàn 96 cũng được bố trí lót sẵn ở phía đông Đà Nẵng để khi có lệnh nhanh chóng tiến vào, phối hợp với bộ đội chủ lực tiêu diệt lực lượng chủ yếu của địch, giải phóng thành phố.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 07:12:09 AM
Theo phương án đã xác định, từ ngày 20-3, trên các hướng, bộ đội ta bắt đầu tiến công các vị trí phòng thủ vòng ngoài của địch, mở đường tiến vào thành phố Đà Nẵng.

Ở hướng bắc, Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 sau khi đánh chiếm căn cứ của Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến ở Phước Tường, đã áp sát đội hình, sẵn sàng tiến công hệ thống mục tiêu phòng thủ của địch trên đường 1. Lúc này, địch đã xây dựng tuyến phòng thủ mới từ Phước Tường đến Lăng Cô nhằm ngăn chặn ta đánh vào Đà Nẵng từ phía nam Huế. Trên tuyến này, chúng bố trí Tiểu đoàn 8 - Lữ đoàn 258 ở Phú Gia, Lăng Cô; tiểu đoàn 1 - Lữ đoàn 258 chốt giữ đèo Hải Vân, Liên Chiểu. Từ Thừa Lưu đến Phú Gia, chúng bố trí Liên đoàn bảo an 914. Ngoài ra, chúng còn bố trí các trận địa pháo dã chiến trên đường 1, sẵn sàng chi viện hỏa lực cho các lực lượng trên tuyến phòng thủ.

Mục tiêu đầu tiên của Trung đoàn 18 nhằm vào là căn cứ Nước Ngọt. khi đơn vị đi đầu của trung đoàn là Tiểu đoàn 8 mối tiến đến gần căn cứ thì địch ở đây đã bỏ chạy. Tiểu đoàn lập tức tổ chức truy kích. Trên đường truy kích, tiểu đoàn phát hiện địch bố trí một tuyến ngăn chặn ta tại ga Thừa Lưu. Trung đoàn giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 8 đánh chiếm mục tiêu này. Để chắc thắng, trung đoàn tăng cường hỏa lực cối 120 mm và pháo 85 mm cho tiểu đoàn, đồng thời cử đồng chí Nguyễn Văn Xứng - Trung đoàn phó xuống tiểu đoàn trực tiếp chỉ huy trận đánh.

14 giờ ngày 26-3, trận đánh vào ga Thừa Lưu bắt đầu. Sau loạt pháo cối bắn chi viện, các mũi tiến công của Tiểu đoàn 8 nhanh chóng tiếp cận và tiến công các ổ đề kháng của địch. Địch chống trả quyết liệt, song với sự kết hợp chặt chẽ giữa mũi tiến công chính diện theo trục đường chính và các mũi tiến công vu hồi từ bên sường đội hình phòng ngự của địch nên sau 4 giờ chiến đấu, Tiểu đoàn 8 đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Đến 20 giờ cùng ngày, Trung đoàn 18 đã chiếm toàn bộ khu vực Thừa Lưu, Trung Kiên, Thổ Sơn. Địch buổi phải rút về phòng thủ ở đèo Phú Gia, Lăng Cô và Hải Vân, đồng thời, chúng cho phá cầu Thừa Lưu để chặn quân ta tiến vào Đà Nẵng từ phía bắc.

Không để cho địch có thời gian củng cố, ngay từ 5 giờ sáng ngày 27-3, Trung đoàn 18 tổ chức tiến công vào tuyến phòng ngự lâm thời của địch ở đèo Phú Gia. Trung đoàn pháo binh 84 vừa cơ động từ trên núi xuống cũng được lệnh của sư đoàn cho sử dụng pháo thu được của địch ở Phước Tường, Phú Lộc chi viện hỏa lực cho Trung đoàn 18. Địch ngoan cố chống cự quyết liệt. Chúng sử dụng cả máy bay từ sân bay Đà Nẵng, pháo từ Lăng Cô, Hải Vân đánh mạnh vào đội hình tiến công của ta, song không ngăn chặn nổi bước tiến của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 18. Đèo Phú Gia nhanh chóng bị quân ta tiêu diệt. Thừa thắng, ta đánh chiếm luôn cả Sơn Hải, An Bảo, Loan Lý. Chiều ngày 27-3, quân ta đã tiến tới ga Lăng Cô (dưới chân dèo Hải Vân). Cuộc chiến đấu ở khu vực ga Lăng Cô diễn ra ác liệt. Địch dựa vào trận địa phòng ngự kiên cố có sẵn trong ga với hỏa lực mạnh quyết chặn bằng mũi tiến công của ta. Ta cũng quyết giành cho được khu vực này để mở đường đưa binh khí kỹ thuật vào đánh Đà Nẵng. Sau nhiều lần tổ chức tiến công không đạt kết quả, Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 18 buộc phải thay đổi cách đánh. Một mặt, tiểu đoàn lợi dụng doi cát ngằm sát ga Lăng Cô để bí mật tiếp cận địch từ phía biển; mặt khác, tiểu đoàn tổ chức mũi vu hồi dọc theo tuyến đường sắt để áp sát địch từ bên sường khu vực ga Lăng Cô. Pháo binh chi viện được tăng cường và hiệp đồng với bộ binh chặt chẽ hơn. Sau khi điều chỉnh thế bố trí, khi hoàn hôn buông xuống, lợi dụng lúc địch chủ quan cho rằng cuộc tiến công của ta đã tạm dừng, Tiểu đoàn 8 bất ngờ nổ súng tiến công địch từ hai hướng. Đến 20 giờ ngày 27-3, Tiểu đoàn 8 đã hoàn toàn làm chủ khu vực Lăng Cô, mở toang cửa để đột phá đèo Hải Vân.

Hướng tây bắc, từ đêm ngày 26-3, Trung đoàn 9 - Sư đoàn 304 cùng các đơn vị binh chủng tăng cường gồm 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn cao xạ hành quân theo đường 14 tiến xuống, triển khai đội hình ở khu vực Thủy Tú, Đá Đen.

Hướng nam và đông nam, trong hai ngày 26 và 27-3, Sư đoàn 2 (Quân khu 5) và các lực lượng tăng cường cơ động lực lượng đến vị trí tập kết và gấp rút triển khai đội hình chiến đấu.

Hướng tây nam, Sư đoàn 304 (thiếu Trung đoàn 9) đang làm nhiệm vụ phòng ngự ở Thượng Đức khi nhận được điên của Bộ Tổng tư lệnh “ngày 28 phải tiến công ngay”, đã khẩn trương cơ động lực lượng, chiếm lĩnh các vị trí xuất phát tiến công. Trung đoàn 66 và Tiểu đoàn 6 của Trung đoàn 24 đánh diệt Lữ đoàn 369 thủy quân lục chiến trên tuyến phòng thủ ở hướng tiến công chủ yếu của Sư đoàn, giải phóng quận lỵ Ái Nghĩa, sau đó đánh chiếm sân bay Nước Mặn; Trung đoàn 24 (thiếu Tiểu đoàn 6) từ điểm cao 1.062 qua núi Sơn Gà đánh thẳng vào căn cứ Hòa Cầm và Tòa thị chính thành phố Đà Nẵng.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 07:14:15 AM
Hỗ trợ cho các hướng tiến công, từ đêm 25 rạng ngày 26-3, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lệnh cho Trung đoàn pháo binh 572 bắn phá các cửa biển từ Non Nước đến Hội An, ngăn không cho địch rút chạy bằng đường biển; Tiểu đoàn pháo hỏa tiễn 575 Quảng Đà bắn phá sân bay Đà Nẵng để khống chế đường không của địch.

Trước thế tiến công áp đảo của bộ đội chủ lực và trong tình trạng hoang mang cực độ, theo chỉ đạo của Thường vụ Đặc khu Quảng Đà, lực lượng vũ trang tại chỗ đã chủ động phối hợp với bộ đội trên các mũi, các hướng đánh địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ một số huyện, xã. Đặc biệt, tại căn cứ huấn luyện Hòa Cầm, cơ sở của ta đã hướng dẫn lực lượng nội ứng lôi kéo binh lính địch nổi dậy diệt bọn chỉ huy, bỏ hàng ngũ địch quay về với nhân dân.

Giữa lúc bộ đội ta trên các mũi, các hướng khẩn trương triển khai đội hình tiến công Đà Nẵng, sáng ngày 27-3-1975, Bộ Tổng tư lệnh chỉ thị cho Quân đoàn 2 và Quân khu 5: Tình hình Đà Nẵng rất khẩn trương, càn có những biện pháp đặc biệt nhanh chóng tiến công địch, bỏ qua những mục tiêu ở dọc đường, tiến thẳng vào Đà Nẵng, nhanh chóng nhất, kịp thời nhất, táo bạo nhất với các lực lượng có thể chuyển tới sớm nhất”(1).

Thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tư lệnh chiến dịch lệnh cho Quân đoàn 2 và Quân khu 5 khẩn trương huy động toàn bộ lực lượng pháo binh của mặt trận tham gia chiến đấu. đến ngày 27-3, phát huy truyền thống “chân đồng vai sắt, đánh giỏi, bắt trúng”, các chiến sĩ pháo binh của ta đã vượt qua mọi khó khăn, trở ngại về địa hình, thời tiết và cả thời gian, hành quân gấp, nhanh chóng đưa pháo lên chiếm lĩnh các khu vực có lợi, sẵn sàng cho trận đánh vào căn cứ quân sự lớn nhất miền Trung.

Đúng 5 giờ 30 phút sáng ngày 28-3-1975, các trận địa pháo của ta ở Sơn Thạch, Sơn Khánh, đèo Mũi Trâu… bắt đầu nã đạn chế áp các mục tiêu Hòn Bằng, Trà Kiệu, Vĩnh Điện, sân bay Đà Nẵng, sân bay Nước Mặn, bán đảo Sơn Trà… hỗ trợ cho các lực lượng trên các hướng của chiến dịch tiến công vào Đà Nẵng. Đòn tập kích hỏa lực mãnh liệt và dồn dập của pháo binh càng khiến cho địch thêm hoang mang, hoảng loạn. được sự chi viện của hỏa lực pháo binh, trên các hướng, quân ta tiến công vào các mục tiêu được phân công.

Trên hướng bắc, sau khi chiếm được Lăng Cô, Trung đoàn 18 - Sư đoàn 325 tiếp tục đánh lên đèoe Hải Vân. Tuy nhiên vào lúc đó, địch tập trung pháo binh và không quân đánh phá ác liệt khu vực Lăng Cô, đồng thời tổ chức lực lượng phản kích hòng chiếm lại khu vực này lên mũi tiến công của Trung đoàn 18, gặp rất nhiều khó khăn. Với sự hỗ trợ của pháo binh Quân đoàn 2, Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 18 đã kiên cường đánh lui 4 đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa và phát triển tiến công. Đến 4 giờ 20 phút ngày 29 tháng 3, Tiểu đoàn 8 đã chiếm được điểm cao 168 và một số vị trí địch trên đèo Hải Vân. Lực lượng tiến công tái chiếm Lăng Cô của địch buộc phải rút về chốt giữ đỉnh đèo. Sau khi tiêu diệt cụm quân địch ở điểm cao 186 và ở một số vị trí trên đèo Hải Vân, Sư đoàn 325 lập tưc tổ chức đội hình tiến công địch trong hành tiến, lấy Trung đoàn 18 được tăng cường các tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp, cao xạ, pháo có xe kéo là lực lượng tiến công chủ yếu, đánh thẳng vào thành phố Đà Nẵng. 6 giờ 30 phút sáng ngày 29-3, bộ phận đi đầu của Trung đoàn 18 gồm Đại đội 6 - Tiểu đoàn 8, 1 đại đội xe tăng PT85(2), một phân đội trinh sát đã tiến đến đỉnh đèo Hải Vân. Lực lượng địch phòng ngự tại đây đã ngăn chặn quyết liệt. Xe tăng được thành công thành lực lượng đột kích mạnh, đánh thẳng theo trục đường, đổng thời các mũi vu hồi của bộ binh đánh mạnh vào bên sường đội hình phòng ngự của địch. Trước sức tiến công của ta, tuyến ngăn chặn của địch ở khu vực đèo Hải Vân bị phá vỡ. 8 giờ, đội hình của Trung đoàn 18 đã vượt qua đỉnh đèo Hải Vân tiến xuống chân đèo phía nam. Tại đây, trung đoàn chạm trán với một bộ phận lực lượng địch khoảng 1 tiểu đoàn cao xe tăng hộ tống đang cơ động lên chi viện cho đồng bọn trên đỉnh đèo. Ngay lập tức, lực lượng này bị Tiểu đoàn 8 tiêu diệt. Tiếp đó, bộ đội ta nhanh chóng phát triển tiến công đánh chiếm kho xăng Liên Chiểu. 9 giờ 30 phút, cánh quân phía bắc của ta đã tiến đến cầu Nam Ô. Lúc này, địch hoảng loạn, tháo chạy tán loạn. 10 giờ 30 phút, Trung đoàn 18 vào đến trung tâm thành phố Đà Nẵng. Vượt qua cầu Trịnh Minh Thế, trung đoàn tiến ra bán đảo Sơn Trà. Mục tiêu đầu tiên ở bán đảo mà trung đoàn nhằm vào là quân cảng, nơi có hàng chục ngàn sĩ quan, binh lính quân đội Sài Gòn đang chờ tàu của Mỹ đến để di tản. Sau khi chiếm quân cảng, trung đoàn đánh thốc vào trung tâm bán đảo. Biết không thể giữ được bán đảo, quân địch ở đây bỏ chạy tháo thân. Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn 1 - Quân khu 1 lúc này cũng không thể chỉ huy được sĩ quan và binh lính thuộc quyền đành bỏ mặc cấp dưới, tìm cách chạy trốn theo đường biển. 13 giờ 30 phút, Trung đoàn 18 đã làm chủ bán đảo Sơn Trà, diệt và bắt toàn bộ quân địch ở đây, trong đó có Bộ chỉ huy hành quân của Quân đoàn 1, thu hơn 100 tàu, xuồng và toàn bộ hàng hóa trong khu kho liên hiệp của chúng.

Hướng tây bắc, sáng ngày 28-3, Trung đoàn 9 - Sư đoàn 304 cùng các đơn vị tăng cường sau khi vượt qua chặng đường dài tới 70 km, mới đến vị trí tập kết để chuẩn bị đánh các vị trí Thủy Tú, Đá Đen. Nhưng địch ở đây đã bỏ chạy. Tư lệnh Quân đoàn 2 Nguyễn Hữu An trực tiếp chỉ huy hướng này lệnh cho Trung đoàn 9 và lực lượng tăng cường triển khai ngay đội hình tiến công địch trong hành tiến đánh thẳng vào Sở Chỉ huy Sư đoàn 3, Thiết đoàn 11 và Liên đoàn bảo an 911 ở Phước Tường - Hòa Khánh. 9 giờ 30 phút ngày 29-3, Trung đoàn 9 đã hành quân đến phía bắc núi Phước Tường và tiến đánh các mục tiêu. 12 giờ 30 phút, quân ta chiếm được Sở chỉ huy Sư đoàn 3 và làm chủ toàn bộ khu vực Phước Tường - Hòa Khánh. Sau đó, bộ đội ta phát triển vào trong thành phố. Lúc này, Sư đoàn 2 - Quân khu 5 và lực lượng vũ trang địa phương đã chiếm được các mục tiêu chủ yếu trong thành phố nên Tiểu đoàn xe tăng phối thuộc trung đoàn được lệnh nhanh chóng cơ động sang cùng Trung đoàn 18 giữ bán đảo Sơn Trà. Lực lượng còn lại cùng các đơn vị bạn làm nhiệm vụ chốt giữ thành phố Đà Nẵng.


(1) Điện số 3 - ĐB/TK ngày 27-3-1975, lưu tại Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng.
(2) Do công binh chưa kịp khắc phục cầu Thừa Lưu nên lực lượng tăng - thiết giáp tăng cường cho Trung đoàn 18 chỉ có 1 đại đội xe tăng lội nước PT85 kịp thời tham gia vào mũi tiến công chủ yếu.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 07:16:46 AM
Hướng nam, Trung đoàn 38 - Sư đoàn 2 - Quân khu 5 do Sư đoàn phó Vũ Đình Nã trực tiếp chỉ huy, được tăng cường xe tăng và pháo binh, tổ chức đánh địch theo trục đường 1. 9 giờ ngày 28-3, trung đoàn diệt cụm quân địch chốt chặn ở phía bắc cầu Bà Rén. Cùng thời gian này, Trung đoàn 96 bộ đội địa phương tỉnh Quảng Đà đánh chiếm quận lỵ Duy Xuyên và thị trấn Nam Phước. Hòng cản phá cuộc tiến công của quân ta vào Đà Nẵng từ phía nam, địch dùng máy bay ném bom đánh sập cầu Bà Rén và cầu Câu Lâu. Không để lỡ thời cơ, với sự giúp đỡ của nhân dân địa phương, bằng ghe, xuồng, Trung đoàn 38 nhanh chóng tổ chức vượt sông. Song, xe tăng, pháo binh, cao xạ không thể vượt sông bằng ghe, xuồng nên phải nằm lại phía nam cầu Bà Rén; chỉ có 2 chiếc xe tăng lội nước PT 85 vượt được sông cùng bộ binh. Ngay sau khi vượt sông, trung đoàn 38 tổ chức nắm địch và quyết định tập trung toàn bộ lực lượng tổ chức tiến công Vĩnh Điện - cứ điểm phòng thủ vòng ngoài cuối cùng của địch còn lại ở phía nam Đà Nẵng. Lực lượng địch tại đây có 2 đại đội bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh (12 khẩu) và 6 xe tăng. Vợi sự hỗ trợ của du kích, 3 mũi tiến công của Tung đoàn bí mật tiếp cận mục tiêu và bất ngờ nổ súng. Địch không kịp phản ứng. Chỉ sau 30 phút chiến đấu, đến 5 giờ 55 phút ngày 29-3, bộ đội ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở đây, thu 12 khẩu pháo, 4 xe tăng và nhiều trang thiết bị khác. Vĩnh Điện bị diệt, cách cửa để tiến vào Đà Nẵng từ phía nam đã được mở. Sau khi đánh chiếm căn cứ Vĩnh Điện, Trung đoàn 38 cơ động đến ngã ba Bồ Mưng, được nhân dân dẫn đường tiến đánh ra khu vực Non Nước rồi phát triển ra bán đảo Sơn Trà. Trong khi đó, Sư đoàn 2 sử dụng Trung đoàn Ba Gia (Trung đoàn 1) theo quốc lộ 1 đánh thẳng vào Đà Nẵng. Đến Viêm Tây, trung đoàn đụng phải lực lượng địch chốt chặn tại đây. Trung đoàn tổ chức cho Đại đội 6 - Tiểu đoàn 60 bao vây địch, còn lại, toàn đội hình trung đoàn vòng sang phía tây đường tiếp tục tiến về Đà Nẵng. đến Viêm Tây, được tăng cường 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 31, Trung đoàn Ba Gia tổ chức 2 mũi tiến công vào thành phố. Mũi chủ yếu đánh vào sân bay, mũi thứ yếu đánh vào Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1.

Lúc này, trong thành phố Đà Nẵng, Đặc khu ủy đã phát lệnh tổng tiến công và nổi dậy. Vì vậy, các mũi tiến công của Trung đoàn Ba Gia sau khi vào thành phố đã được lực lượng tại chỗ dẫn đường nhanh chóng đánh diệt các mục tiêu của địch.

Mũi tiến công chủ yếu của trung đoàn có nhiệm vụ đánh vào Sở chỉ huy Sư đoàn 1 không quân và sân bay Đà Nẵng có Tiểu đoàn 60, Tiểu đoàn 90 và Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 31. Ở mũi này, sau khi vượt qua cầu Đỏ, Tiểu đoàn 60 đánh thẳng theo quốc lộ 1 ra ngã ba Huế rồi vào trung tâm thành phố ; Tiểu đoàn 90 đánh Sở chỉ huy Sư đoàn 1 không quân và cùng Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 31 đánh chiếm toàn bộ sân bay Đà Nẵng.

Mũi tiến công vào Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 do Tiểu đoàn 40 đảm nhiệm. Mũi này, sau khi vượt qua sông Cẩm Lệ tiến đến bến đò Sư thì bị một tiểu đoàn thủy quân lục chiến của quân đội Sài Gòn chặn đánh. Ngay lập tức, tiểu đoàn sử dụng toàn bộ hỏa lực đi cùng bắn chế áp mãnh liệt vào đội hình địch; đồng thời, bộ binh nhanh chóng xung phong chiếm lĩnh trận địa. Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, địch kháng cự yếu ớt rồi bỏ lại vũ khí tháo chạy tán loạn. Tiểu đoàn 40 truy kích bắt được 310 tên địch, thu 1 xe M 113 và dùng ngày xe này hỗ trợ bộ binh tiếp tục tiến đánh Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1. Đúng 12 giờ ngày 29-3, lá cờ chiến thắng của ta đã tung bay giữa Trung tâm Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 - Quân khu 1 địch. Thời điểm này, hầu hết các mục tiêu trọng yếu trong thành phố như sân bay Đà Nẵng, Tòa thị chính thành phố, Đài phát thanh, Ty Cảnh sát, Ngân hàng, Quân vụ… đều bị các lực lượng của Sư đoàn 2 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương (Trung đoàn 96, Tiểu đoàn đặc công 491, Đội đặc nhiệm Lê Độ) chiếm lĩnh.

Hoạt động phía bên phải đội hình Sư đoàn 2 là Trung đoàn 97 của tỉnh Quảng Đà do đồng chí Hà Bân - Trung đoàn trưởng chỉ huy. Trong lúc các mũi của Sư đoàn 2 đánh vào trung tâm thành phố thì Trung đoàn 97 đánh chiếm thị xã Hội An. Sau đó, trung đoàn phát triển tiến công ra khu vực Non Nước và đánh chiếm sân bay Nước Mặn. từ 13 đến 15 giờ ngày 29-3, trung đoàn đánh tiếp lực lượng thủy quân lục chiến đang co cụm ở An Đông, Mỹ Khê, gọi hàng và bắt sống hàng trăm tên.

Hướng tiến công từ phía tây nam, nhận được điện của Bộ Tổng tư lệnh lúc 2 giờ sáng ngày 29-3: “Địch đang rút lui, sư đoàn phải truy kích địch về hướng sân bay Nước Mặn”, Tư lệnh Sư đoàn 304 lệnh cho Trung đoàn 66 truy kích địch theo đường 14B ra Đà Nẵng, sau đó phát triển về sân bay Nước Mặn. 5 giờ ngày 29-3, Trung đoàn 66 đã tiến đến gần Ái Nghĩa. Gặp địch ngăn chặn, trung đoàn tổ chức tiến công đánh tan quân địch ở Gò Cao và một số vị trí khác trên đường 14B, sau đó phát triển về Đà Nẵng. Khoảng 9 giờ, trung đoàn tiêu diệt cụm quân địch ở Hải Châu, phát triển đánh chiếm căn cứ Hòa Cầm. Lúc 10 giờ, trung đoàn tổ chức thành hai mũi tiến vào thành phố: một mũi phối hợp với lực lượng của Sư đoàn 2 đánh chiếm sân bay Đà Nẵng; mũi khác do Tiểu đoàn 7 đảm nhiệm, đánh chiếm khu vực ngã ba Nhà Thờ.

Với sự phối hợp tiến công đồng loạt giữa các mũi, các hướng trên toàn mặt trận, đến 15 giờ ngày 29-3-1975, quân ta đã làm chủ căn cứ quân sự liên hợp Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà, giải phóng hoàn toàn thành phố Đà Nẵng và toàn tỉnh Quảng Đà. Chiến dịch Đà Nẵng kết thúc chỉ sau hơn ngày tiến công tàn tốc. Với chiến dịch này, ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng còn lại của Quân đoàn 1 - Quân khu 1 địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 90.000 tên địch gồm Sư đoàn 3 bộ binh, Sư đoàn 1 thủy quân lục chiến, Sư đoàn 1 không quân, Thiết đoàn 11 và một bộ phận của thiết đoàn 20, 12 tiểu đoàn pháo binh, lực lượng còn lại của Sư đoàn 1, một bộ phận của Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 147, các liên đoàn biệt động 11, 12, 14, 15 cùng lực lượng bảo an, dân vệ, cảnh sát… Ta thu được một khối lượng lớn vũ khí, trang bị khí thuật, phương tiện chiến tranh gồm 129 máy bay các loại, 80 xe tăng - thiết giáp, 47 tàu xuồng, 216 khẩu pháo các loại, 184 xe vận tải cùng toàn bộ kho tàng lương thực, thực phẩm và đạn dược.

Thắng lợi của chiến dịch Đà Nẵng đã đập tan âm mưu co cụm chiến lược của địch. Thuận lợi đó “đã góp phần rất quan trọng đập tan một bộ phận quân sự lớn và bộ máy kìm kẹp của địch trên toàn bộ Quân khu 1 của chúng…, đẩy địch vào thế thất bại hết sức nghiêm trọng không gì cứu vãn nổi, thúc đẩy thế tiến lên tất thắng của quân và dân ta”(1). Cùng với thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên, chiến dịch Nam - Ngãi và chiến dịch Trị -Thiên làm thay đổi căn bản so sánh tương quan lực lượng địch - ta, tạo bước phát triển nhảy vọt về cục diện chiến tranh theo hướng có lợi cho ta. Với việc tiêu diệt một bộ phận lớn quân địch, làm tan rã lớn về tổ chức, đẩy chúng vào thế bế tắc cả về chiến thuật, chiến lược và đặt đội quân này đứng trước nguy cơ sụp đổ không gì cứu vãn nổi. Chiến dịch Đà Nẵng đã mở ra thời cơ thuận lợi để ta thực hiện trận quyết chến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, 2004, tr. 234-235.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 06:39:13 PM
III - ĐÁNH CHIẾM QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
VÀ CÁC ĐẢO TRÊN BIỂN ĐÔNG

Ngay sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, theo đề xuất của Bộ Tổng tham mưu, Quân ủy Trung ương trình Bộ Chính trị về việc giải phóng Trường Sa. Ngày 25-3-1975, kiến nghị này của Quân ủy Trung ương được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị. Vào thời gian này, đồng chí Hoàng Trà - Chính ủy Quân chủng Hải quân được điều động về làm việc cạnh Bộ Tổng tham mưu, giúp theo dõi tình hình địch trên biển và đề xuất nhiệm vụ của hải quân trong các đòn tiến công chiến lược cuối cùng. Đồng thời, Bộ Tồng tham mưu quyết định điều Sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Hải quân di chuyển vào Đà Nẵng vừa tiếp quản căn cứ hải quân của quân đội Sài Gòn, vừa chuẩn bị cho nhiệm vụ tác chiến giải phóng khu vực biển đảo. Ngày 30-3-1975, Quân ủy Trung ương điện gửi các đồng chí Chu Huy Mân, Võ Chí Công, trong đó chỉ rõ: “Theo chỉ thị của Bộ chính trị, Thường vụ giao cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất, đánh chiếm các đảo hiện do quân ngụy miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Nam Sa (Trường Sa). Trong việc này, anh Nguyễn Bá Phát - Phái viên của Bộ Tổng tham mưu và các cán bộ hải quân cùng đi sẽ do Khủ ủy và Quân khu ủy chỉ đạo để thực hiện kế hoạch”(1).

Thực hiện nhiệm vụ này, ngay từ đầu tháng 4-1975, Bộ Tư lệnh Hải quân một măt sử dụng Đoàn 125 vận chuyển bộ đội, vũ khí, trang bị kỹ thuật cho chiến trường Nam Bộ; mặt khác, khẩn trương tổ chức lực lượng sẵn sàng tiến công giải phóng các đảo khi thời cơ đến.

Ngày 4-4-1975, trong lúc quân ta trên các mũi, các hướng dồn dập tiến công địch trên các mặt trận, Bộ Tư lệnh Hải quân nhận được chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh: “Dùng lực lượng hiện có, phối hợp với lực lượng đặc công của Quân khu 5, tranh thủ thời cơ có lợi đánh chiếm quần đảo trường Sa - một quần đảo có ý nghĩa chiến lược về chính trị, quân sự và kinh tế, góp phần giải phóng đất nước”.

Trường Sa là một quần đảo nằm ở phía nam biển Đông từ kinh tuyến 111030 đến kinh tuyến 117020 kinh độ Đông Green wich, từ vĩ tuyến 6050 đến vĩ tuyến 120 Bắc, cách Vịnh Cam Ranh khoảng 480km, cách đảo Hải Nam khoảng 1.150km, cách Đài Loan khoảng 1.780km(2), với trên 100 đảo lớn, nhỏ và bãi san hô ngầm, có diệt kích khoảng 180.000km2.Trong số trên 100 đảo lớn nhỏ, vào thơi kỳ cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ chỉ có 11 đảo có người ở, 5/11 đảo do quân ngụy Sài Gòn đóng giữ. Đó là các đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa. Tổng số quân địch đóng trên 5 đảo này chỉ khoảng 160 tên thuộc Tiểu đoàn 371 Phước Tuy. Lực lượng này được bố trí như sau: Đảo Nam Yết - nơi đóng Sở chỉ huy chung có 50 tên, đảo Song Tử tây có 39 tên, đảo Sơn Ca có 25 tên, đảo Sinh Tồn có 19 tên và đảo Trường Sa có 30 tên.

Quyết tâm của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Hải quân trong việc đánh chiếm Trường Sa làm bám sát tình hình, tranh thủ thời cơ có lợi nhất để giải phóng đảo, kiên quyết không để lực lượng nào khác đến đánh chiếm đảo trước ta, như chỉ thị của Bộ Tổng tư lệnh đã xác định.

Lực lượng đánh chiếm quần đảo Trường Sa gồm Đội 1 - Đoàn 126 đặc công từng đánh chìm nhiều tàu địch ở Cửa Việt và một bộ phận hỏa lực thuộc Tiểu đoàn 471 - Quân khu 5 do đồng chí Đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy. Các tàu vận tải 673, 674, 675 của Đoàn 125 từ Hải Phòng vào tiếp quản Đà Nẵng, có nhiệm vụ chở lực lượng tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa. Những con tàu “không số” này đã từng qua lại khu vực quần đảo Trường Sa, quen đường, có kinh nghiệm tránh đá ngầm. Chỉ huy chung toàn bộ lực lượng tiến công giải phóng đảo Trường Sa là đồng chí Mai Năng - Đoàn trưởng Đoàn 126.

Theo phương án tác chiến, mục tiêu tiến công đầu tiên là đảo Song Tử Tây, tiếp đó là các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, Trường Sa và phương châm tác chiến là: bí mật, bất ngờ tiến công. Thời cơ đánh chiếm đảo được xác định là từ 0 đến 2 giờ sáng là lúc ta có thể lợi dụng yếu tố thủy văn để bí mật đổ quân lên đảo.


(1) Dẫn theo Bộ Tổng tham mưu - Cục Tác chiến: Lịch sử Cục Tác chiến (1945-2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr.683, 684.
(1) Lưu Văn Lợi: Những điều cần biết về đất, biển, trời Việt Nam, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2007, tr. 42, 43.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 06:41:03 PM
Ngày 9-4-1975, mệnh lệnh tiến đánh Song Tử Tây được truyền xuống các đơn vị tham gia đánh chiếm đảo.

Ngay ngày hôm sau (ngày 10-4,), phân đội tàu gồm 3 chiếc của Đoàn 125 cấp tốc hành quân vào Đà Nẵng.

Cùng thời gian này, Đội 1 - Đoàn 126 đang làm nhiệm vụ bảo vệ một số căn cứ ở bán đảo Sơn Trà cũng được lệnh bàn giao cho Quân khu 5 để nhận nhiệm vụ mới.

4 giờ sáng ngày 11-4, toàn bộ Đội 1 - Đoàn 126 và bộ phận hỏa lực thuộc Tiểu đoàn 417 - Quân khu 5 rời quân cảng Đà Nẵng, hành quân ra đảo. Mặc dù Song Tử Tây ở giữa biển Đông cách xa Đà Nẵng tới 800 km nhưng các con tàu của Đoàn 125 đã đưa lực lượng đổ bộ tới đúng mục tiêu, đúng thời gian quy định. 19 giờ ngày 13-4, tàu 673 đã tiếp cận đảo. Hai tàu 674, 675 vòng ra án ngữ ở bắc và nam đảo Song Tử Tây. Rạng sáng ngày 14-4, các phân đội bí mật đổ bộ lên đảo theo 3 mũi: Mũi 1, gồm 4 tổ đặc công có trang bị hỏa lực B40, B41 và 1 khẩu ĐKZ 82 đánh từ hướng nam lên; Mũi 2, gồm 3 tổ đặc công có hỏa lực B40, B41 đánh từ hướng tây vào; Mũi 3, gồm 2 tổ đặc công đánh từ hướng đông nam sang.

3 giờ sáng ngày 14-4, các mũi bí mật áp sát mục tiêu. 4 giờ 30 phút, trận đánh bắt đầu. Sau phát đạn ĐKZ của mũi 1 làm hiệu lệnh tiến công, các mũi đồng loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch lúng túng chống trả yếu ớt. Bộ đội ta nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa sau 30 phút. Ngay sau đó, lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được treo lên cột cờ ở phía đông đảo. Ta diệt 6 tên,bắt sống 33 tên, trong đó có tên thiếu úy chỉ huy đảo, thu 2 đại liên, 1 ĐKZ, 2 cối 60, 2 trung liên và một số súng bộ binh các loại.

Mất đảo Song Tử Tây, hệ thống phòng thủ của địch ở quần đảo Trường Sa bị de dọa. Địch vội điều hai tàu HQ 16 và HQ 402 từ Vũng Tàu ra định phản kích hòng chiếm lại đảo. Song, trước sự bố phòng chặt chẽ và tinh thần cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao của ta; mặt khác, lúc này, trên chiến trường, ta đã giành được thắng lợi giòn giã, tuyến phòng thủ Phan Rang của địch bị vỡ, quân địch hoang mang, không dám tổ chức tiến công. Chúng đành quay về tăng cường phòng thủ đảo Nam Yết - nơi đặt Sở chỉ huy trung tâm của chúng ở quần đảo Trường Sa.

Sau trận đánh đảo Song Tử Tây, ta để lại một bộ phận (Phân đội 1) chốt giữ đảo. Lực lượng còn lại quay về Đà Nẵng củng cố và chuẩn bị đánh tiếp các đảo khi có thời cơ. Thời gian này, hải quân ngụy vẫn tiếp tế và yểm trợ cho các đảo, song bị thất bại nặng và phải đối phó ở khắp nơi nên sự chi viện, tiếp tế bị hạn chế; nhất là đảo Song Tử Tây bị ta đánh chiếm nên tinh thần binh lính và sĩ quan địch trên các đảo rất hoang mang, dao động. Đây là thời cơ thuận lợi để ta tiến công giải phóng các đảo còn lại.

Tiền phương Bộ Tư lệnh Hải quân ở Đà Nẵng đã làm việc và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 thống nhất kế hoạch đánh chiếm các đảo còn lại của quần đảo Trường Sa. Theo đó, ta sử dụng hai tàu 673 và 641 của Đoàn 125 chở Phân đội 2 và 3 của Đội 1 (Đoàn 126) và một bộ phận lực lượng đặc công Quân khu 5 đi giải phóng các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn; đánh đồng loạt các mục tiêu này trong cùng một đêm.

4 giờ sáng ngày 21-4, các tàu nhổ neo hướng ra Trường Sa. Chiều 24-4, tàu ta đã tiến sát mục tiêu. Chờ tới đêm, tàu 673 địch đổ quân lên đảo Nam Yết thì gặp tàu khu trục của địch hoạt động gần đó đang tuần tiễu. ta buộc phải đưa lực lượng đổ bộ về Song Tử Tây chờ thời cơ. Cùng thời điểm này, tàu 641 áp sát đảo Sơn Ca chuẩn bị đổ bộ lên đảo, song do ngược dòng, nước chảy xiết nên cuộc đổ bộ không thành. Tàu 641 phải di chuyển lên thướng tây bắc chọn vị trí đổ bộ thuận lợi hơn. 0 giờ 30 phút ngày 25-4, lực lượng đổ bộ (Phân đội 2) do Thiếu úy Đỗ Viết Cường chỉ huy đã lên được đảo Sơn Ca. Sau khi trinh sát nắm chắc mục tiêu, đúng 2 giờ 30 phút ngày 25-4, trận đánh đảo Sơn Ca bắt đầu. Các mũi tiến công của ta đồng loạt nổ súng. Địch hoàn toàn bất ngờ, chống trả yếu ớt rồi bỏ chạy tán loạn. Trận đánh kết thúc nhanh chóng sau nửa giờ chiến đấu. 3 giờ sáng, ta làm chủ hoàn toàn đảo Sơn Ca. địch bị diệt 2 tên, bị thương 3 tên, số còn lại bị bắt sống. Ta thu 2 máy vô tuyến diện, 4 máy điện thoại, 2 xuống máy, 1 máy nổ, 40 phuy xăng và toàn bộ vũ khí đạn dược.

Mất tiếp đảo Sơn Ca, địch ở quần đảo Trường Sa càng hoang mang. Từ trưa ngày 26-4, chúng đưa các tàu tuần dương, khu trục lùng sục quanh đảo, song không làm được gì đành quay về Nam Yết.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 06:41:35 PM
20 giờ 15 phút ngày 26-4, đài trinh sát kỹ thuật của ta bắt được điện của chỉ huy địch lệnh rút quân khỏi Nam Yết. 2 giờ 45 phút ngày 26-4, Sở chỉ huy Quân chủng Hải quân lệnh cho tàu 673 lập tức đưa Phân đội 3 và tổ đặc công Quân khu 5 lên chiếm đảo, quyết không để lực lượng nào khác lợi dụng cơ hội này chiếm đảo.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng Hải quân, 1 giờ 30 phút ngày 27-4, tàu 673 rời Sơn Ca hướng về Nam Yết. 10 giờ 30 phút cùng ngày, tàu ta đã vào gần đảo Nam Yết. Phát hiện lực lượng ta, các tàu địch chở quân rút khỏi đảo vội vàng tháo chạy. Ta nhanh chóng đổ bộ chiếm lĩnh đảo. 11 giờ 30 phút ngày 27-4, ta hoàn toàn làm chủ đảo Nam Yết.

Nam Yết - nơi đặt Sở chỉ huy toàn bộ quần đảo Trường Sa bị mất, địch ở các đảo còn lại hoang mang cực độ, tìm cách thoát thân. Sau khi chiếm đảo Nam Yết, tàu 673 tiếp tục đưa một bộ phận Đội 1 đi đánh đảo Sinh Tồn thì địch ở đây đã rút chạy hết. 10 giờ 30 phút ngày 28-4, ta làm chủ đảo Sinh Tồn.

Phát huy khí thế tiến công thần tốc, táo bạo của quân và dân ta trên các chiến trường nói chung ở vùng biển đảo nói riêng, 16 giờ ngày 28-4, bộ đội ta tiếp tục hành quân đi giải phóng đảo Trường Sa - đảo xa nhất ở phía nam của quần đảo. 9 giờ ngày 29-4, lực lượng ta đổ bộ lên đảo. 9 giơ 30 phút, ta làm chủ đảo Trường Sa, kết thúc nhiệm vụ đặc biệt quan trọng mà Quân ủy Trung ương giao cho Quân chùng Hải quân là giải phóng quần đảo Trường Sa thân yêu. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, góp phần to lớn vào thắng lợi chung của toàn dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Cùng với tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 chỉ đạo lực lượng vũ trang phối hợp với du kích và nhân dân tiến công và nổi dậy giải phóng Cù lao Xanh (1-4), Cù lao Chàm, Cù lao Ré (30-4). Đặc biệt, từ ngày 10-4-1975, bộ đội đặc công tỉnh Khánh Hòa và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 19 - Sư đoàn 968 đã giải phóng đảo Hòn Tre. Đồng thời, Hải quân nhân dân Việt Nam phối hợp với các lực lượng khác tiến đánh Cù lao Thu và một số đảo lớn thuộc địa bàn cực Nam Trung Bộ.

Cù lao Thu là một đảo lớn nằm ở phía đông nam cách Phan Thiết 60 hải ly, cách Cam Ranh 82 hải lý. Đảo rộng khoảng 21 km2, có khoảng 12.000 dân. Lực lượng địch ở đảo, ngoài một liên đội “nghĩa quân”, còn có 1 trung đội cảnh sát và 4.000 “đoàn viên nhân dân tự vệ”. Đầu tháng 4-1975, khi thị trấn Hàm Tân thất thủ, có khoảng 800 lính quân đội Sài Gòn trốn chạy ra đảo. Bị tấn công mạnh trên đất liền, trước nguy cơ các đảo bị đe dọa, từ ngày 22-4-1975, địch cho hai tàu HQ11 và WPB tăng cường hoạt động để bảo vệ đảo.

Trong thế tiến công như vũ bão trên đất liền thuộc địa bàn Khu 6 những ngày đầu tháng 4-1975. Bộ Chỉ huy Mặt trận Nam Trung Bộ thống nhất với Bộ Tư lệnh hải quân giao nhiệm vụ cho đơn vị hải quân ở Nha Trang cùng Ban chỉ huy quân sự các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận phối hợp tổ chức lực lượng đánh chiếm Cù lao Thu.

Theo kế hoạch đã được thống nhất, Đoàn 125 sử dụng tàu 643 cùng một số tàu đánh cá của nhân dân ở Nha Trang và một số thuyền gỗ của dân ở Ninh Thuận chở lực lượng tham gia chiến đấu giải phóng đảo. Lực lượng này gồm có một bộ phận của Quân chủng Hải quân, một phân đội đặc công nước của Tiểu đoàn 407 - Quân khu 5, 1 đại đội bộ binh của Trung đoàn 95 - Sư đoàn 3 chủ lực Quân khu 5.

Ngày 26-4, tàu chở lực lượng đi giải phóng Cù lao Thu rời cảng Cam Ranh. 1 giờ sáng ngày 27-4, các tàu đánh cá T2, T3 chở bộ phận thuộc cánh 1, cánh 2 vào đến vị trí tập kết. 50 phút sau, quân ta bắt đầu đổ bộ lên đảo. Lực lượng còn lại trên tàu 643 làm nhiệm vụ cảnh giới ở bên ngoài. Đúng 5 giờ 15 phút, các mũi đổ bộ lên đảo nhất loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, địch tháo chạy tán loạn vào trong dân. Riêng ở khu nhà hành chính của đảo, chúng ngoan cố chống cự nhưng sự kháng cự này nhanh chóng bị đè bẹp. Trận đánh kết thúc sau hơn một giờ chiến đấu. Đến 6 giờ 30 phút ngày 27-4, quân ta làm chủ hoàn toàn Cù lao Thu.

Trong lúc lực lượng trên đảo nổ súng tiến công địch thì tàu 643 ngoài biển chạm trán với hai tàu tuần tiễu của địch. Chúng dùng cối bắn sang tàu ta. Ngay lập tức, bộ đội ta trên tàu 643 dùng B40, B41 và súng máy 12,7 mm bắn trả quyết liệt làm bị thương một tàu địch. Chiếc còn lại vội vàng rút lui.

Trận đánh Cù lao Thu giành được thắng lợi lớn. Ta diệt và bắt sống 382 tên địch, thu 900 súng các loại, bắn bị thương 1 tàu, 1 xuồng máy, thu 2 vô tuyến và nhiều đồ dùng quân sự khác của địch.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 06:42:36 PM
Cùng trong ngày 30-4-1975, thực hiện Nghị quyết của Trung ương Cục miền Nam: “Phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp ba mũi giáp công, ba thứ quân, ba vùng, vùng lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, nhanh chóng đánh sụp toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân với khí thế quyết liệt, thần tốc, táo bạo và quyết giành toàn thắng”(1), các đảng bộ địa phương ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, nắm vững thời cơ, thừa thắng xốc tới giải phóng hàng loạt tỉnh như Long An, Bình Dương, Tây Ninh, Cần Thơ, Trà Vinh, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu, Gò Công, Kiến Phong, Mỹ Tho.

15 giờ ngày 30-4, trước sự hoang mang, rệu rã của binh lính, sĩ quan và nhân viên của quân đội và chính quyền Sài Gòn, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với quần chúng tại chỗ nổi dậy giải phóng đảo Phú Quốc.

Ngày 1-5-1975, ta tiếp tục giải phóng các tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Kiến Tường (nay thuộc Long An), Cà Mau, Long Xuyên, Châu Đốc (nay thuộc An Giang), Sa Đéc, Chương Thiện (nay thuộc Hậu Giang).

Cùng thời gian này, Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Hải quân tổ chức lực lượng ra giải phóng Côn Đảo, giải thoát cho các chiến sĩ cách mạng bị địch giam giữ, đày ải nhiều năm tại đây.

Côn Đảo là quần đảo gồm 16 đảo lớn nhỏ nằm ở cực nam của Tổ quốc với diện tích 77,28km2, cách Vũng Tàu 97 hải lý (180 km). Trước năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), Côn Đảo thuộc tỉnh Gia Định, sau đó thuộc tỉnh Vĩnh Long. Năm 1862, sau khi thực dân pháp hoàn thành việc chiếm ba tỉnh miền Đông, chúng đã dựng lên ở đây nhà tù đầu tiên ở Việt Nam và cũng là nhà tù đầu tiên ở Đông Dương. Trong gần 100 năm thực dân Pháp thống trị Việt Nam, nhà tù Côn Đảo đã trở thành “địa ngục trần gian”. Hàng ngàn người Việt Nam yêu nước đã bị thực dân pháp đảy ải, giết hại một cách dã man.

Thế chân Pháp nhảy vào miền Nam Việt Nam dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, từ năm 1954, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã biến Công Đảo thành một trại tập trung khổng lồ để đày ải, giết hại những nguồi yêu nước và cách mạng theo kiểu thực dân mới.

Đến đầu năm 1975, tại nhà tù Côn Đảo, đã có trên 7.000 người, trong đó có khoảng 4.000 tù chính trị, còn lại là tù thường phạm, quân phạm bị giam giữ, đày ải. Trại II, Trại III, địch dùng để giam tù thường phạm, quân phạm, còn lại tù chính trị được giam rải rác từ trại I đến trại VIII và một số trại phụ như Chuồng Bò, Cỏ Ống, Sở Muối…

Lực lượng địch đóng trên đảo có khoảng 2.000 tên, bao gồm: 1 tiểu đoàn bảo an khoảng 500 tên, 1 đại đội cảnh sát khoảng 100 tên, gần 1.000 tên làm nhiệm vụ bảo vệ trật tự, an ninh (được chọn trong đám quân phạm lưu manh nhất để khủng bố, đàn áp tù nhân) và lực lượng giám thị trại. Tiểu đoàn bảo an, chúng bố trí 2 đại đội ở 2 đồn khống chế trung tâm thị trấn Côn Đảo. Đại đội còn lại của tiểu đoàn này đóng ở sân bay Cỏ Ống và chi khu quân sự Bến Đầm.

Khi ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng Tây Nguyên và cả miền Trung, quân địch ở Côn Đảo bắt đầu hoang mang Chúng đưa toàn bộ tù chính trị giam rải rác ở các trại về giam tập trung ở trại cầm cố biệt lập (trại VII). Trong khi đó, ở đất liền, Nguyễn Văn Thiệu ra sức tăng cường tuyến phòng thủ quanh Sài Gòn và hô hào “từ thủ”. Mặt khác, phái hiếu chiến do Thiệu đứng đầu đã tính đến phương án nếu mất Sài Gòn sẽ rút về các tỉnh miền Tây Nam Bộ, giữ Côn Đảo - Phú Quốc làm bàn đạp để phản kích chiếm lại. Chính vì vậy, Thiệu lệnh cho Tỉnh tưởng kiêm Quản đốc nhà lao tổ chức phòng thủ Côn Đảo và lập phương án ngăn chặn, đối phó với sự nổi dậy của tù chính trị.

Thực hiện phương án này, bên trong, chúng quản lý chặt chẽ các trại, nhất là trại VII; bên ngoài, chúng củng cố con đường từ thị trấn Côn Đảo qua Hàng Dương lên Sở Tiêu. Đây là con đường chạy bọc sau lưng suốt 8 trại. Từ con đường này, địch còn mở thêm 2 đường nhánh nữa, một chạy từ đường chính vào trại I, IV, V, một chạy thẳng vào trại VI, VII, VIII. Với hệ thống đường như vậy, địch có thể khống chế cả 8 trại từ phía chân núi. Nếu các trại nổi dậy, bằng con đường này, chúng có thể bố trí hỏa lực và cơ động lực lượng đến đàn áp, dồn lực lượng nổi dậy ra phía biển và dễ dàng tiêu diệt. Thậm chí, địch còn dự kiến một phương án nếu Quân giải phóng từ đất liền đánh ra, chúng sẽ sử dụng lực lượng tù thường phạm, quân phạm vốn là những tên lưu manh, côn đồ hung hãn để đàn áp lực lượng nổi dậy và dùng lựu đạn thủ tiêu tù chính trị.

Với sự quản chế gắt gao của địch, thông tin bị hạn chế, các chiến sĩ cách mạng của ta bị giam giữ ở đây không nắm được diễn biến tình hình bên ngoài, nhất là tình hình ở đất liền. Mối liên hệ giữa các trại và hoạt động của Ban lãnh đạo các trại càng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, Đảng ủy đảo vẫn tìm cách để hai đồng chí trong Thường vụ giả bệnh ra nằm ở bệnh xá để có điều kiện nghe ngóng, nắm bắt tình hình, chỉ đạo phong trào. Phát hiện những biểu hiện bất thường của địch, Đảng ủy đảo nhận định ở đất liền có biến cố lớn, thời cơ để giải thoát tù chính trị sắp đến. Đảo ủy chỉ đạo các trại hết sức cảnh giác với địch, đồng thời chuẩn bị tinh thần sẵn sàng khi có thời cơ sẽ nổi dậy. Đây cũng là thời điểm sắp đến ngày Quốc tế lao động 1-5, các trại đều chuẩn bị tổ chức lễ kỷ niệm. Riêng trại VII, trại cầm cố biệt lập mà địch tập trung giam các tù chính trị, các chiến sĩ cách mạng chủ trương kỷ niệm ngày 1-5 thật lớn để động viên tinh thần anh em tù nhân và thăm dò phản ứng của địch.


(1) Nghị quyết đặc biệt của Hội nghị Trung ương Cục miền Nam lần thứ V, ngày 29-3-1975.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 06:43:46 PM
Ngày 29-4-1975, các cánh quân của ta tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh sau khi đập tan tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch đã áp sát Sài Gòn. Lực lượng cố vấn Mỹ và quan chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn tìm đường chạy ra nước nogài. Sân bay Cỏ Ống ở Côn Đảo lúc này trở thành trạm trung chuyển quan chức của chính quyền Sài Gòn di tản từ sân bay Tân Sơn Nhất ra các tàu Mỹ đậu ngoài khơi. Địch ở Côn Đảo đã hoang mang càng hoang mang hơn. Đêm ngày 29-4, thấy cố vấn Mỹ ở đảo rút chạy, chỉ huy đảo cùng vợ con cũng bí mật trốn ra bàu, bỏ lại kế hoạch thủ tiêu tù chính trị và cả đám thuộc hạ thân tín. Đa số công chức, giám thị và lính bảo an hoảng sợ, rệu rã. Số ít tỏ ra thức thời muốn liên hệ với tù chính trị để lập công chuộc tôi, hy vọng được cứu sống khi chính quyền cũ bị lật đổ. Phái hiếu chiến chủ yếu gồm những tên ác ôn khét tiếng biết rằng cách mạng sẽ không dung tha cho những tội ác mà chúng đã gây ra thì ngoan cố, tìm cách chống trả đến cùng và dự định sẽ thủ tiêu tù chính trị như kế hoạch đã định trước.

Song, diễn biến quá mau lẹ của chiến dịch Hồ Chí Minh đã làm chúng không kịp thực hiện âm mưu thủ tiêu tù chính trị. Trưa ngày 30-4-1975, Sài Gòn đã được giải phóng, Tổng thống Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Nhận được tin này, phái hiếu chiến ở trên đảo vội vàng tháo chạy thoát thân. Cuộc di tản hỗn loạn của đám tàn quân quân đội Sài Gòn diễn ra trong suốt cả đêm 30-4.

Trên đảo lúc đó vẫn còn 442 gia đình bính sĩ, công chức và giám thị. Họ hoang mang chưa biết xử trí thế nào khi bọn ác ôn tìm cách tháo chạy, bọn trật tự an ninh vốn là những phần từ lưu manh quân phạm thừa cơ nổi lên cướp phá. Tình thế đã buộc họ phải tìm đến với tù chính trị, dựa vào tù chính trị với hy vọng may ra còn được yên thân.

Nửa đêm ngày 30-4, trong lúc các trại vẫn tích cực chuẩn bị cho lễ kỷ niệm ngày Quốc tế lao động vào sáng hôm sau, thì nhóm công chức, giám thị và binh sĩ bảo an kéo đến trại VII mở cửa phòng 1 thuộc khu H báo tin Sài Gòn đã về tay Quân giải phóng, bọn cầm quyền đảo đã bỏ chạy. Họ đề nghị anh em tù chính trị ra trừng trị bọn lưu manh, quân phạm, giải phóng đảo và bảo vệ trật tự trị an trên đảo. Lãnh đạo khu H hội ý chớp nhoáng và quyết định hành động, ra lệnh cho binh sĩ, giám thị, công chức nộp vũ khí và chìa khóa trại VII, đồng thời yêu cầu họ vận động giám thị các trại khác mở cửa giải phóng cho tù nhân. Có được chìa khóa trong tay, anh em vừa mở cửa, vừa phát loa thông báo cho cả trại VII biết tin Sài Gòn đã được giải phóng, chính quyền Sài Gòn đã bị lật đổ, đồng thời phát lệnh cho tù chính trị nổi dậy giải phóng đảo vào lúc 1 giờ sáng ngày 1-5-1975. Sau 1 tiếng đồng hồ, toàn bộ 496 xà lim của trại VII đã hoàn toàn giải phóng.

3 giờ sáng ngày 1-5, lãnh đạo trài VII họp quyết định thành lập Đảo ủy lâm thời và đề ra chương trình hành động gồm ba điểm chính:

1 - Cử người đi mở cửa giải phóng toàn bộ các trại, trước hết là các lao giam giữ phụ nữ.

2 - Tổ chức ngay lực lượng vũ trang, triển khai đánh chiếm các trại lính và các vị trí xung yếu trên đảo.

3 - Thành lập Ủy ban hòa giải, hòa hợp dân gộc để quản lý và giải quyết mọi công việc trên đảo.

Thực hiện chương tình này, 1 trung đội vũ trang được thành lập bao gồm các thanh niên khỏe mạnh, trang bị súng vừa thu được của địch và các loại vũ khí thô sơ, trung đội thực hiện ngay nhiệm vụ đánh chiếm trại lính Bắc Bình Vương ở khu vực Lò Vôi, gần trại VI, trại VII. Ngay sau đó, trung đội thứ 2 được tổ chức làm nhiệm vụ đánh chiếm trại Bình Định Vương ở gần Sở Ruộng. khu vực trại I, trại IV, Trại V. Lính bảo an ở hai trại này đều đã bỏ chạy hết chỉ để lại một số lựu đạn và mấy khẩu súng không còn sử dụng được.

Cùng thời gian này, một bộ phận của trại VII đã được giải thoát đến giải phóng các trại khác.

Gần với trại VII có trại VI B. Tại đây, có khoảng 500 nữ tù nhân, trong số đó, một số vừa bị đưa từ đất liền ra. Nhờ giấu được một chiếc rađiô, chị em biết được tin tức ở đất liền. Khi nghe tin Sài Gòn đã giải phóng ngày 30-4-1975, chị em đã kiên trì vận động và cuối cùng, gần sáng ngày l1-5, đã thuyết phục tên phụ trách trại mở cửa cho ra. Ngay sau đó, chị em cử đại diện sang liên lạc với trại VII và nhận được sự chỉ đạo của Đảo ủy lâm thời.

Ở khu vực trại I, trại IV, trại V, các trại viên hầu như không nắm được thông tin gì về tình hình chiến sự đang điễn ra nên khi bộ phận của trại VII đến ở cửa giải thoát cho họ, họ rất ngỡ ngàng, tỏ vẻ nghi ngờ. Có người ở trại V còn cảnh giác đòi phải gặp được đại diện của trại VI B mới tin.

Rạng sáng ngày 1-5-1975, Trung đội vũ trang thứ ba của Côn Đảo được thành lập, nâng lực lượng vũ trang ở đây lên 1 đại đội. Ngay sau khi thành lập, trung đội này được giao nhiệm vụ đánh chiếm trụ sở cảnh sát đảo, mở các kho vũ khí của địch lấy súng đạn trang bị cho ta. Được tăng cường lực lượng, trang bị thêm vũ khí, ta tiếp tục mở cửa giải phóng các trại còn lại như trại II, trại VIII và chiếm các công sở của địch ở khu vực thị trấn. Cho đến 8 giờ sáng ngày 1-5-1975, ta đã làm chủ thị trấn Côn Đảo, giải phóng gần 8.000 tù nhân ở 8 trại chính và các trại phụ.

10 giờ sáng ngày 1-5-1975, tin Côn Đảo được giải phóng và danh sách Ủy ban hòa giải, hòa hợp đã được công bố trên đài phát thanh Côn Đảo.

Cùng trong sáng ngày 1-5, cuộc họp Đảo ủy lâm thời lần thứ hai được triệu tập. Cuộc họp đã quyết định thành lập Ban Dân vận để vận động, quản lý số binh sĩ và công chức và gia đình họ còn ở lại trên đảo. Cùng với việc thành lập Ban Dân vận, Ban Binh vận cũng đợc thành lập để quản lý số quân phạm, thường phạm và bọn trật tự, giám thị ác ôn. Bên cạnh đó, Ban Quản trị cũng ra đời để quản lý các kho vật chất và tổ chức đời sống trên đảo.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Ba, 2011, 06:44:24 PM
Đến chiều ngày 1-5-19754, lực lượng vũ trang ở Côn Đảo đã phát triển lên đến 1 tiểu đoàn. Với lực lượng này, ta tổ chức đánh chiếm các mục tiêu còn lại như Chi khu quân sự Bến Đầm, Đài rađa trên núi Thánh Giá, sân bay Cỏ Ống. Tại khu vực sân bay, Trung đội bảo an và nhân viên bảo vệ nộp vũ khí đầu hàng. Ta thu 27 máy bay các loại, trong số đó, nhiều chiếc còn nguyên vẹn.

18 giờ ngày 1-5, ta hoàn toàn làm chủ Côn Đảo. Buổi tối, Đảo ủy lâm thời họp mở rộng có đầy đủ đại diện các trại tham dự bàn việc tổ chức quản lý, bảo vệ đảo. Tại cuộc họp này, Đảo ủy được củng cố gồm 14 đồng chí.

Cho đến thời điểm ấy, Côn Đảo vẫn chưa liên lạc được với đất liền nên không nắm được chủ trương của Trung ương đối với đảo. Trong khi đó, một số tàu của Mỹ vẫn lớn vởn quanh đảo. Một số binh lính bảo an rã ngũ chưa nộp vũ khí, bọn ác ôn còn trốn ở các đảo xung quanh. Chúng có thể tập hợp lực lượng để chiếm lại đảo. Đề phòng tình huống bất trắc có thể xảy ra, Đảo ủy xây dựng kế hoạch phòng thủ đảo nhằm đối phó khi địch phản kích, kiên quyết bảo vệ đảo. Đảo ủy cùng toàn bộ trại VII quyết định rời về trại VI B, một địa điểm sát chân núi.. Các trại đào hầm lâp phòng tuyến sẵn sàng phương án tác chiến đánh địch phản kích. Đảo ủy còn dự kiến, nếu địch dùng lực lượng mạnh tấn công thì sẽ rút vào núi lập hai căn cứ ở núi Thánh Giá và bãi Ông Dung để chiến đấu lâu dài.

Vấn đề cấp bách đối với đảo lúc này là phải tìm mọi cách liên lạc được với đất liền để nhận sự chỉ đạo của Trung ương và xin lực lượng ra bảo vệ đảo. Với nỗ lực vượt bậc, tối ngày 2-5-1975, trạm vô tuyến trên đảo đã bắt được liên lạc với đất liền. Mọi tin tức trên đảo được báo cáo với Trung ương và Bộ Chính trị. Trong khi đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cũng đã có phương án giải phóng đảo và triển khai phương án sử dụng lực lượng hải - lục - không quân tiến công, giải phóng Côn Đảo từ ngày 1-5-1975. Ngày 2-5, khi các lực lượng tiến ra giải phóng đảo còn đang trên đường thì nhận được tin các chiến sĩ cách mạng của ta ở Côn Đảo đã nổi dậy diệt địch từ giải phóng đảo. Đêm ngày 4, rạng ngày 5-5-1975, tàu ta ra đến đảo. Lực lượng vũ trang trên đảo phối hợp với lực lượng từ đất liền ra truy quét tàn quân địch, bắt gọn số ác ôn lẩn trốn ở Hòn Cau và các đảo nhỏ xung quanh.

Ngày 7-5-1975, kỷ niệm 21 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, tại Côn Đảo, Đảo ủy và Ủy ban cách mạng Côn Đảo đã thành công một cuộc mít tinh trọng thể mừng Côn Đảo hoàn toàn giải phóng. Côn Đảo được giải phóng góp phần vào thắng lợi vĩ đại của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Việc giải phóng các đảo và quần đảo trên biển Đông do quân đội Sài Gòn chiếm đóng có ý nghũa rất lớn, bởi đây là một phần lãnh thổ Việt Nam, có vị trí chiến lược quan trọng cả về quân sự và kinh tế mà nhiều nước từng nhòm ngó muốn chiếm. Nhờ có đánh chiếm các đảo sớm, ta ngăn chặn ý đồ của một số nước, bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Nhìn chung lại, cùng với đòn tiến công chiến lược Tây Nguyên, đòn tiến công giải phóng Huế - Đà Nẵng và các tỉnh Trung Trung Bộ đã góp phần quyết định làm thay đổi so sánh tương quan lực lượng về mặt chiến lược, tạo sự nhảy vọt về cục diện chiến tranh hoàn toàn có lợi cho ta. Nét độc đáo của đòn tiến công chiến lược giải phóng Huế - Đà Nẵng là chúng ta đã đập tan âm mưu co cụm chiến lược của địch, tạo điều kiện rất thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, giải phóng Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Chính đòn tiến công này gây cho địch tổn thất lớn về vật chất, kỹ thuật (trang bị vũ khí) cũng như tan rã lớn về tổ chức, bế tắc về chiến thuật, chiến lược và quan trọng hơn là làm cho địch suy sụp về tinh thần. Đà Nẵng là căn cứ liên hợp quân sự lớn nhất của địch ở miền Nam. Sau khi mất Tây Nguyên và Huế, chúng hy vọng Đà Nẵng sẽ là nơi có thể tập trung lực lượng từ các nơi khác dồn về hòng ngăn chặn, làm chậm bước tiến của ta để có thời gian củng cố các tuyến phòng ngự ở phía nam, chờ sự can thiệp trở lại của Mỹ. Chính vì vậy, Nguyễn Văn Thiệu hô hào phải “tử thủ Đà Nẵng”. Song ý đồ này đã nhanh chóng đổ vỡ. Trước sức tiến công như vũ bão của ta, Tướng Ngô Quang Trưởng - Tư lệnh Quân đoàn 1 - Quân khu 1 cũng bỏ mặc cấp dưới để chạy thoát thân. Binh lính, sĩ quan quân đội Sài Gòn càng trở nên hoang mang, tan rã về tổ chức, đã tháo chạy tán loạn. Đà Nẵng trở thành nỗi kinh hoàng của binh lính, sĩ quan quân đội Sài Gòn. Các hãng thông tấn phương Tây khi ấy đã bình luận: việc Đà Nẵng thất thủ, sự sụp đổ chế độ Sài Gòn chỉ tính bằng ngày và giờ.

Không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng giải phóng Sài Gòn, đòn tiến công chiến lược giải phóng Huế - Đà Nẵng còn tạo điều kiện để ta tổ chức lực lượng tiến công giải phóng các vùng biển đảo ở phía nam - một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc - có vị trí chiến lược rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Ba, 2011, 08:16:31 AM
Chương 36

CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH TOÀN THẮNG,
KẾT THÚC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ,
CỨU NƯỚC

I - TẬP TRUNG SỨC MẠNH CỦA CẢ NƯỚC
CHO ĐÒN TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC CUỐI CÙNG

Sau một tháng tổng tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, liên tục, quân và dân ta trên khắp chiến trường miền Nam đã giành được những thắng lợi to lớn, toàn diện của về chính trị, quân sự. Ta đã tiêu diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực và đập tan toàn bộ hệ thống chính quyền địch ở hai quân khu - quân đoàn; giải phóng một vùng rộng lớn gồm 16 tỉnh và 5 thành phố (Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt) cùng một số quận lỵ, chi khu, yếu khu quân sự thuộc miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Thế trận và lực lượng so sánh trên chiến trường nghiêng mạnh về phía ta. Cục diện chiến tranh đang ở bước nhảy vọt “một ngày bằng hai mươi năm”.

Về phía chính quyền và quân đội Sài Gòn, sau khi mất Quân khu 1 và Quân khu 2, tình hình càng trở nên hỗn hoạn. Tinh thần binh lính, sĩ quan quân đội Sài Gòn sa sút rất mạnh, “nhiều quân nhân không chờ đợi sự giúp đỡ của chính phủ, họ bỏ đơn vị tự động đi tìm kiếm vợ con, người thân của họ”(1). Trong khi đó, nhiều nơi “cảnh sát và lực lượng an ninh địa phương biến mất vào đám đông tị nạn…; công chức, cảnh sát, lính địa phương tự động bỏ đơn vị, đào nhiệm”(2). Để trì hoãn cuộc tiến công của ta, ổn định phần nào tình hình đang vượt ra ngoài tầm kiểm soát, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, một mặt, kêu gọi Chính phủ Mỹ chi viện binh khí kỹ thuật để bù lại số lượng vật chất khổng lồ đã bị phá hủy hoặc rơi vào tay Quân giải phóng; mặt khác, nhanh chóng củng cố hai quân khu 3 và 4, thiết lập hệ thống phòng thủ nhằm trấn giữ những phần đất còn lại. Với gần nửa triệu quân chủ lực (kể cả tàn binh từ Quân khu 1 và 2 chạy vào), Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn tăng cường biên chế cho 7 sư đoàn bộ binh, 5 liên đoàn biệt động quân, 33 tiểu đoàn pháo binh, 12 thiết đoàn xe tăng thiết giáp (1.100 xe), 1.360 máy, 1.496 tàu chiến các loai. Căn cứ vào vị trí, vai trò từng địa bàn chiến lược, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn quyết định bố trí lại lực lượng, hình thành 5 khu vực phòng thủ bảo vệ Sài Gòn - Gia Định.

Ở phía bắc, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn đi lấy hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận - hai phòng tuyến cuối cùng của Quân khu 2, đặt dưới quyền điều khiển của Quân đoàn 3 kể từ ngày 4-4-1975. Trên hướng này, địch tăng cường lực lượng, lập tuyến phòng ngự từ xa ở Phan Rang. Lực lượng đó bao gồm Sư đoàn bộ binh 2, Liên đoàn 31 biệt động quân, Sư đoàn 6 không quân, lực lượng bảo an, dân vệ địa phương. Bộ Tư lệnh tiền phương của Quân đoàn 3 dưới quyền chỉ huy của viên Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, được thiết lập tại sân bay Phan Rang. Đây là cố gắng của quân đội Sài Gòn nhằm ngăn chặn cuộc tiến công của ta dọc theo đường số 1 vào, đường số 11 từ Đà Lạt xuống, tạo điều kiện cho lực lượng chủ yếu của Quân đoàn 3 thiết lập phòng tuyến Xuân Lộc - Long Khánh. Trên hướng Tây Ninh - Long An, ngoài việc điều Sư đoàn bộ binh 22 (Quân đoàn 4) ra bảo vệ Long An, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn sử dụng Sư đoàn bộ binh 25, hai liên đoàn biệt động quân, 3 thiết đoàn tăng thiết giáp, 2 tiểu đoàn địa phương quân khẩn trương củng cố các vị trí trọng yếu Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng, Củ Chi, Hậu Nghĩa, hòng chặn phá các đợt tiến công của ta từ hướng tây bắc vào. Hướng quan trọng Bình Dương - đường 13, địch tăng cường cho Sư đoàn bộ binh 5 hai liên đoàn biệt động quân, 2 thiết đoàn tăng thiết giáp, lực lượng bảo an, cảnh sát địa phương, gấp rút củng cố tuyến phòng ngự Bến Cát, Lai Khê, Tân Uyên hòng phá thế tiến công của ta từ hướng bắc xuống. Khu vực chủ yếu Xuân Lộc - Long Khánh được mệnh danh là “lá chắn thép” bảo vệ Sài Gòn - Gia Định, địch bố trí Sư đoàn bộ binh 18 (lực lượng mạnh nhất của Quân khu 3), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 thiết đoàn tăng thiết giáp, lực lượng bảo an dân vệ địa phương quyết ngăn chặn bằng được tất cả các đợt tiến công của ta từ Lâm Đồng theo quốc lộ 20 xuống, đồng thời sẵn sàng hỗ trợ cho phòng tuyến Phan Rang. Tuyến trong cùng Sài Gòn - Biên Hòa, địch bố trí lực lượng dự bị chiến lược gồm Sư đoàn dù, Sư đoàn lính thủy đánh bộ (thiếu), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 thiết đoàn tăng thiết giáp, lực lượng cảnh sát, bảo an quân khu và biệt khu.

Ở phía Quân khu 4 (đồng bằng sông Cửu Long), lúc này, địch còn 3 sư đoàn bộ binh của Quân đoàn 4, một sư đoàn không quân, 5 trung đoàn thiết giáp… Địch tập trung một lực lượng mạnh tăng cường phòng thủ đường số 4, đoạn Tân An - Mỹ Tho, hòng bịt cửa ngõ vào Sài Gòn từ phía tây.

Với nỗ lực trên đây, chính quyền và quân đội Sài Gòn “hy vọng có thể bảo vệ được nửa phía nam của nước này và đi đến cuộc đám phán “công bằng” với Hà Nội”(3)[/sup; hy vọng giữ được phần lãnh thổ còn lại đến mùa mưa và sẽ tổ chức phản công đánh chiếm lại những vùng đã mất.


(1), (2) Cao Văn Viên: Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, Sđd, tr. 184, 188-189.
(3) Frank Snepp: Cuộc tháo chạy tán loạn, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1985, tr. 200.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Ba, 2011, 08:19:12 AM
Nắm bắt thời cơ hết sức thuận lợi về quân sự, chính trị của ta và âm mưu, thủ đoạn mới của địch, trong phiên họp ngày 25-3-1975, Bộ chính trị chủ trương tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí, kỹ thuật và vật chất, giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa. Để đáp ứng yêu cầu chi viện ngày càng lớn về mọi mặt của chiến trường, theo đề nghị của Quân ủy Trung ương, cũng trong ngày 25-3, Bộ chính trị ra Nghị quyết số 241-NQ/TW thành lập Hội đồng chi viện miền Nam của Trung ương do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, đồng chí Lê Thanh Nghị làm Phó Chủ tịch. Nhiệm vụ của hội đồng là: “tính toán, quyết định những chủ trương, kế hoạch, biện pháp tích cực nhất, có kết quả nhất để chỉ đạo và kiểm tra, đôn đốc các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền huy động sức người, sức của thật đầy đủ, kịp thời để đáp ứng mọi yêu cầu của miền Nam trong tình hình mới(1).

Lúc này, ở miền Nam, quân và dân ta trên các chiến trường đang tiến công và nổi dậy mạnh mẽ. Ngày 25-3, Bộ Tổng tư lệnh cho Quân đoàn 1 chuyển trục hành quân từ đường số 1 lên đường Trường Sơn, nhanh chóng cơ động xuống miền Đông Nam Bộ. Ngày 27-3, Quân đoàn 3 được thành lập. Tình hình biến chuyển mau lẹ. Cách mạng miền Nam đang bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt. Trong bức điện chiều ngày 29-3 gửi Trung ương Cục miền Nam, Bộ Chính trị chỉ rõ: “Lúc này, cần hành động hết sức kịp thời, kiên quyết và táo bạo. trên thực tế có thể coi chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu từ đây.

Trong khi gấp rút xúc tiến thực hiện quyết tâm chiến lược đã định…, một điểm cấp thiết phải làm ngay là mạnh bạo tăng thêm lực lượng thực hiện chia cắt và bao vây chiến lược từ phía tây Sài Gòn, ở vùng Mỹ Tho và Tân An”(2).

Ngày 31-3-1975, Bộ Chính trị họp nghe Quân ủy Trung ương báo cáo sự phát triển của tình hình cuộc chiến. Bộ Chính trị nhận thấy: “Về chiến lược, về lực lượng quân sự, chính trị, ta đã có sức mạnh áp đảo, địch đang đứng trước nguy cơ sụp đổ và diệt vong. Mỹ tỏ ra hoàn toàn bất lực, dù có tăng viện cũng không cứu vãn được tình thế của ngụy. Cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam không những đã bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt, mà thời cơ để mở tổng tiến công và nổi dậy tại Sài Gòn - Gia Định đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược của quân và dân ta đã bắt đầu”(3). Bộ Chính trị quyết định: Nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian sớm nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm(4). Yêu cầu mà Bộ Chính trị đặt ra cho trận quyết chiến chiến lược này là: phải hành động “thần tốc, táo bạo, bất ngờ” phải tiến công ngay lúc địch hoang mang, suy sụp; phải tập trung lực lượng lớn hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trên từng hướng trong từng lúc. Trước mắt, Bộ Chính trị yêu cầu gấp rút tăng cường lực lượng, vũ khí và phương tiện chiến tranh vào hướng tây Sài Gòn, thực hiện chia cắt và bao vây chiến lược, triệt hẳn đường số 4, áp sát Sài Gòn, đồng thời nhanh chóng tập trung lực lượng ở hướng đông và đông nam, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng, thực hiện bao vây cô lập Sài Gòn từ phía Long Khánh, Bà Rịa - Vũng Tàu; tổ chức sẵn những đơn vị binh chủng hợp thành mạnh để khi thời cơ xuất hiện thì tức khắc đánh chiếm các mục tiêu quan trọng nhát ở trung tâm thành phố Sài Gòn. Ở đồng bằng sông cửu Long, cần thúc đẩy lực lượng quân sự, chính trị của ta hành động mạnh bạo, khẩn trương, phát triển tiến công và nổi dậy. Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận Sài Gòn để tập trung thống nhất cao độ sự lãnh đạo và chỉ đạo đối với chiến trường trọng điểm này. Ba đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Văn Tiến Dũng, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ được cử làm đại diện của Bộ Chính trị tại mặt trận. Bộ Chỉ huy mặt trận Sài Gòn - Gia Định do Đại tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng làm Tư lệnh; đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị làm Chính ủy, các đồng chí Thượng tướng Trần Văn Trà, Trung tướng Lê Đức Anh, Trung tướng Đinh Đức Thiện là Phó Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền làm quyền Tham mưu trưởng chiến dịch. Ngày 22-4-1975, Bộ Chính trị bổ sung Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng tham mưu trưởng làm Phó Tư lệnh, Trung tướng Lê Quang Hòa, Phó Chủ nghiệm Tổng cục Chính trị làm Phó Chính ủy chiến dịch.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr. 82-83.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr. 91-92.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr. 95.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr. 96.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Ba, 2011, 08:20:54 AM
Nghị quyết về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn của Bộ Chính trị được nhanh chóng quán triệt đến toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Trên khắp mọi miền đất nước từ nông thôn đến thành thị, từ biên giới đến hải đảo, từ hậu phương tới chiến trường, quân và dân ta khẩn trương tập trung sức người, sức của cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Trên rẻo cao Tây Bắc, Việt Bắc, đồng bào các dân tộc thiếu số mặc dù còn thiếu thốn nhiều nhưng vẫn chủ động đề nghị Trung ương tạm dừng việc cung cấp và vận chuyển hàng hóa (kể cả các mặt hàng thiết yếu gạo, muối, thuốc chữa bệnh) lên địa phương mình để tập trung cho tiền tuyến. Nhiều nhà máy, công trường, nông trường, lâm trường, cơ quan, xí nghiệp, trường học đã động viên 30% đến 50% số người trong biên chế để lên đường vào miền Nam chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Bộ Quốc phòng tập trung hơn 10.000 xe vận tải của tuyến đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn, 2.745 xe của các đơn vị kỹ thuật, 3.929 xe của các quân khu, quân đoàn, quân, binh chủng vào phục vụ chiến dịch. Các bộ, ngành ngoài quân đội huy động hơn 1.000 ôtô, 32 tầu vận tải biển (5.000 tấn phương tiện), 130 toa tầu hỏa (9.000 tấn phương tiện) và hàng trăm lần chiếc máy bay phục vụ theo yêu cầu của chiến trường. Tại các ga xe lửa, bến ôtô, bến cảng, bến sông ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa, Vinh, Đồng Hới, Đông Hà… hàng đoàn tàu, đoàn xe, đoan thuyền hối hả hướng vào Nam, chuyển vận người và vận chuyển từ hậu phương miền Bắc ra tiền tuyến. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 sử dụng 1.800 lần chiếc ôtô vận chuyển hàng nghìn quân và hơn 4.000 tấn vũ khí đạn mới thu được của địch ở các tỉnh miền Trung Trung Bộ, bổ sung cho các lực lượng tham gia chiến dịch lịch sử giải phóng Sài Gòn.

Để khẩn trương vận chuyển hàng chục nghìn quân, hàng vạn tấn phương tiện vật chất, vũ khí, kỹ thuật phục vụ chiến dịch, bộ đội công binh, ngành cầu đường Bộ Giao thông vận tải, Thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và nhân dân các địa phương ngày đêm chạy đua với thời gian, khắc phục biết bao trở ngại, khó khăn, thông đuờng, thông tuyến giữ vững mạch máu giao thông. Đường 1A từ Quảng Trị vào Sài Gòn dài 1.150 km, có 52.614 cầu bị phá hủy cần phải được sửa chữa hoặc thay thế. Đường 14 từ Đắc Tô (Kon Tum) đến Chơn Thành (Bình Phước) dài 569 km, có 9/45 cầu bị địch đánh phá nghiêm trọng. Các tuyến đường 19, 21, 13, 20, 22 có tới 96 cầu phải gia cố hoặc làm mới. Lực lượng giao thông các cung, chặng, với sự giúp sức của nhân dân địa phương, đã sửa chữa kịp thời, đảm bảo cho bộ đội vận tải, các lực lượng bộ binh cơ giới, các đơn vị binh chủng kỹ thuật trên hai trục chính đông, tây Trường Sơn tiến vào Đông Nam Bộ.

Ở Nam Bộ, trên cơ sở thế trận và lực lượng hậu cần B2 - được Tổng cục Hậu cần, Tổng cục Kỹ thuật chi viện tối đa về mọi mặt, hậu cần chiến dịch gấp rút điều chỉnh thế trận, bổ sung lực lượng, vật chất, bảo đảm cho các hướng tiến công của chiến dịch vào Sài Gòn - Gia Định: hướng tây bắc, Đoàn hậu cần 235 kết hợp với hậu cần Quân đoàn 3 thành thế liên hoàn, đảm bảo tác chiến của quân đoàn và các lực lượng hoạt động trên hướng: hướng bắc, Đoàn hậu cần 210 từ bắc Đồng Xoài chuyển dịch xuống nam Đồng Xoài vào đến Bến Bầu, hình thành thế liên hoàn với hậu cần Quân đoàn 1, bảo đảm cho hoạt động tác chiến của quân đoàn và các lực lượng phối thuộc; hướng đông, Đoàn hậu cần 814 từ nam Đồng Xoài dịch chuyển xuống nam sông Đồng Nai - quốc lộ 20 - quốc lộ 1 gần Bà Rịa, tạo thành thế liên hoàn với hậu cần Quân khu 7, Quân đoàn 4, Quân đoàn 2 đểm bảo đảm cho hai quân đoàn (2, 4) và lực lượng bộ đội địa phương, biệt động, đặc công hoạt động trên hướng đông Sài Gòn; hướng tây nam, Đoàn hậu cần 240 (vừa được xây dựng), bố trí ở bắc quốc lộ 4 (Tân An đi Bến Lức) cùng với Đoàn hậu cần 230 ở nam - bắc quốc lộ 1 qua Đồng Tháp Mười, quốc lộ 4 xuống Quân khu 8, bảo đảm cho Đoàn 232 và các lực lượng đặc công, biệt động trên hướng này; hướng nam, hậu cần Quân khu 8 đảm nhiệm, tổ chức thêm một cánh hậu cần lấn sâu ở Cần Giuộc, kết hợp với hậu cần nhân dân, đảm bảo cho Sư đoàn 8, Quân khu 8, lực lượng đặc công, biệt động ở nam Sài Gòn.

Bộ tư lệnh chiến dịch chỉ đạo hậu cần chiến dịch điều chỉnh Đoàn hậu cần 770 từ đầu cầu tiếp nhận cũ ở Bù Gia Mập xuống lập khu tiếp nhận mới ở Đồng Xoài và tổ chức tổng kho của chiến dịch; điều chỉnh lực lượng của Đoàn hậu cần 220 và 340 cùng lực lượng hậu cần trực thuộc miền để thành lập cụm hậu cần dự bị đặt ở An Lộc, do Đoàn 220 phụ trách và tăng cường lực lượng cho phía trước. Về cơ bản, việc điều chỉnh lực lượng, bố trí thế trận hậu cần, từ ngày 8 đến ngày 20-4-1975, đã hoàn tất. Tổng cục Hậu cần đã điều thêm ra phía trước trên 10.000 người, thành lập 8 tiểu đoàn cơ động phục vụ bốc xếp, làm đường; tổ chức 15 bệnh viện dã chiến, 17 đội điều trị có khả năng thu dung 10.000 thương binh.

Để hoàn thành việc chuẩn bị và vận chuyển bổ sung 20.000 tấn vật chất (trong tổng số 60.000 tấn)(1) chủ yếu là đạn pháo lớn và xăng dầu còn thiếu so với nhu cầu chiến dịch, hậu cần chiến lược đã chỉ đạo việc tổ chức thu gom vật chất từ miền Trung, Tây Nguyên, tuyến 559, cấp cho hậu cần chiến dịch 5.700 tấn (có 5.100 tấn đạn và 600 tấn xăng dầu). Bên cạnh đó, hậu cần các quân đoàn, đơn vị quân binh chủng mang theo vào 9.347 tấn (có 500 tấn đan, 1.500 tấn xăng dầu). Sau nửa tháng (từ ngày 11-4 đến ngày 15-4-1975) tập trung tổng lực vận chuyển “nước rút” vật chất bổ sung, hậu cần chiến dịch đã đảm bảo được 55.000 tấn vật chất, đạt 90% so với kế hoạch đặt ra.


(1) Đến ngày 15-4-1975, ở B2 đã có 40.000 tấn vật chất.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Ba, 2011, 08:22:00 AM
Đồng thời với việc khẩn trương huy động và vận chuyển một khối lượng rất lớn vật chất đảm bảo cho chiến dịch, từ những ngày cuối tháng 3, đầu tháng 4-1975, theo quyết định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh đã điều động các binh đoàn tham gia trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn - Gia Định.

Từ hậu phương miền Bắc, ngày 31-3-1975, Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết thắng - đang làm nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và cùng nhân dân Ninh Bình đắp đê sông Hoàng Long phòng chống úng lụt, đã nhận lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, khẩn trương hành quân cấp tốc vào Nam Bộ tham gia chiến dịch. Thực hiện mệnh lệnh, quân đoàn để lại Sư đoàn 308 - Sư đoàn Quân tiên phong - làm nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc. Trước đó, Sư đoàn 320 B vào Trị - Thiên từ cuối tháng 3 làm lực lượng dự bị cho Quân đoàn 2. Các đơn vị còn lại của quân đoàn gồm Sư đoàn 312 - Sư đoàn Chiến thắng, các lữ đoàn, trung đoàn tăng, thiết giáp, pháo mặt đất, pháo phòng không, công binh, thông tin, quân đoàn bộ và các tiểu đoàn trực thuộc được lực lượng cơ giới của Cục Vận tải (Tổng cục Hậu cần, gồm 1.053 xe) và 893 xe của Quân đoàn chuyển vận theo đường 1 vào Đông Hà, rẽ lên tây Trường Sơn(1), tiến thẳng vào miền Đông Nam Bộ. Từ Trị - Thiên, Sư đoàn 320B được lệnh của các đơn vị trong quân đoàn hành quân vào mặt trận Sài Gòn - Gia Định.

Sau khi phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương đập tan tập đoàn phòng ngự chiến lược của quân đội Sài Gòn tại Vùng 1 chiến thuật, giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng và các tỉnh miền Trung, ngày 4-4-1975, Quân đoàn 2 - Binh đoàn Hương Giang nhận lệnh hành quân khẩn cấp vào tham gia chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn. Lúc này, đội hình của quân đoàn vẫn đang phân tán trên nhiều khu vực: một bộ phận lực lượng Trung đoàn pháo cao xạ 245 và Trung đoàn pháo mặt đất 164 đang ở khu vực đường 9 - Quảng Trị; cụm pháo mặt đất chi viện cho Sư đoàn 304 còn đứng chân ở Thượng Đức (Quảng Nam); hơn một nửa số xe, pháo của Sư đoàn phòng không 673 còn ở trên đường 14, 73, 74. Nhưng, với sự nỗ lực vượt bậc của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong quân đoàn, lại được Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Đoàn 559 tạo điều kiện về vật chất, kỹ thuật, nên chỉ vài ngày sau khi nhận lệnh tập trung, Quân đoàn đã hoàn tất mọi công việc chuẩn bị.

Ngày 5-4-1975, đồng chí Lê Trọng Tấn, Lê Quang Hòa, Nam Long đến Đà Nẵng chỉ huy Quân đoàn 2 và lực lượng của bộ tăng cường tác chiến dọc theo vùng duyên hải và tiến vào khu vực tập kết tham gia giải phóng Sài Gòn.

Sáng ngày 7-4-1975, để lại Sư đoàn 324 bảo vệ Huế - Đà Nẵng mới đuộc giải phóng, cánh quân Duyên hải gồm đại bộ phận Quân đoàn 2 và lực lượng của bộ tăng cường với 2.588 xe ôtô, xe tăng, thiết giáp, xe kéo pháo, xe cơ giới chở quân, chia làm 5 khối bắt đầu tiến về phía nam, theo trục đường số 1. Dọc đường hành quân, nhân dân các tỉnh duyên hải miền Trung mới được giải phóng đổ ra đường đón chào bộ đội.

Thực hện phương châm hành quân thần tốc để kịp thời tham gia chiến dịch, cán bộ, chiến sĩ cánh quân Duyên hải không chỉ triệt để chấp hành mệnh lệnh bám xe, bám đường, giữ nghiêm tốc độ hành quân, mà khi gặp sự cố, khó khăn như cầu gãy, đường hỏng, xe chết máy là cùng tìm mọi biện pháp sửa chữa. Vì thế, tốc độ hành quân luôn đạt trung bình 150 km mỗi ngày. Vừa hành quân, cán bộ, chiến sĩ vừa tranh thủ học tập sử dụng các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật thu được của địch chiếm một tỷ lệ khá lớn trong số vũ khí trang bị của quân đoàn. Sau một tuần hành quân hết sức khẩn trương, bộ phận đi đầu của quân đoàn vào tới Cam Ranh bắt liên lạc với Sư đoàn 3 - Quân khu 5 vừa được bộ quyết định tăng cường cho đội hình quân đoàn. Ngày 16-4, toàn quân đoàn vào tới cửa ngõ Phan Rang - nơi quân đội Việt Nam Cộng hòa đang dồn sức lập tuyến phòng thủ ngăn chặn quân ta tiến công từ xa để bảo vệ sào huyệt Sài Gòn - Gian Định.

Trong khi Quân đoàn 1 và Quân đoàn 2 đang thần tốc tiến vào thì ở Tây Nguyên, ngày 4-4-1975, Quân đoàn 3 - Binh đoàn Tây Nguyên được lệnh hành quân gấp vào miền Đông Nam Bộ. Hơn 3.000 xe ôtô của Sư đoàn 471 (Đoàn 559) và của quân đoàn được huy động vào cuộc hành quân này. Hai trung đoàn công binh (7, 675) đi trước mở đường, bắc cầu đảm bảo giao thông cho quân đoàn cơ động. Từ thị xã Tuy Hòa mới được giải phóng, Sư đoàn 320A - Sư đoàn Đồng Bằng - gấp rút quay trở lại Tây Nguyên bằng đường số 7, sau đó, theo đường 14, đường 13 tiến vào Bến Súc ở phía tây sông Sài Gòn. Sư đoàn 316, Sở chỉ huy nhẹ quân đoàn, Trung đoàn đặc công 198, Trung đoàn xe tăng 273, hai trung đoàn pháo mặt đất (40, 6750, hai trung đoàn pháo cao xạ (232, 234) xuất phát từ Đắc Lắc theo đường 14 qua Bình Long vào khu vực Dầu Tiếng phía tây bắc Sài Gòn. Sư đoàn 10, lúc bấy gờ đang truy quét địch ở Nha Trang, Cam Ranh được lệnh nhanh chóng thu quân, rồi theo tỉnh lộ 11 hành quân lên quốc lộ 20 Lâm Đồng để vào Nam Bộ.


(1) Tây Trường Sơn dù nhiều đèo dốc, sông núi chia cắt nhưng chọn con đường phía tây, quân đoàn và các đơn vị binh chủng phối thuộc sẽ giữ được bí mật, bất ngờ, không bị ùn tắc, tránh được sự chú ý của địch bấy giờ đang tập trung ở hướng đường số 1.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Ba, 2011, 08:24:04 AM
Tại Nam Bộ, đầu tháng 4-1975, sau khi giải phóng Chi khu Dầu Tiếng, thị xã An Lộc và Chơn Thành, Quân đoàn 4 - Binh đoàn Cửu Long chuyển xuống phía đông, tiến công giải phóng Đà Lạt, Di Linh và toàn tỉnh Lâm Đồng. Tiếp đó, theo đường 20, quân đoàn cơ động xuống áp sát tuyến phòng thủ Xuân Lộc (Long Khánh), lúc bấy giờ do Sư đoàn bộ binh 18, Vùng 3 chiến thuật và các lực lượng dự bị chiến lược của quân đội Sài Gòn trấn giữ, chuẩn bị thế trận từ hướng đông của chiến dịch. Ở hướng tây nam, Đoàn 232 mới thành lập, bao gồm ba sư đoàn bộ binh (5, 3, 8), Sư đoàn 9 (Quân đoàn 4) và hai trung đoàn chủ lực 24, 88 của Quân khu 8 tăng cường, cũng tích cực chuẩn bị lực lượng, thế trận ở khu vực Tây Ninh, Long An, Tiền Giang, tạo nên hướng tiến công chia cắt chiến lược giữa Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long và tạo thế đưa lực lượng áp sát các mục tiêu của chiến dịch từ hướng này.

Phối hợp chặt chẽ với các hướng tiến công của các binh đoàn chủ lực vào sào huyệt cuối cùng của địch, Quân khu 7, Thành ủy và Thành đội Sài Gòn - Gia Định đã đưa 1.700 cán bộ cơ sở xuống các xã, phường, quận, huyện nội thành và ngoại thành thâm nhập các xí nghiệp, công sở, trường học, các đoàn thể xã hội, tổ chức tuyên truyền, vận động quần chúng sẵn sàng nổi dậy, tiếp lương thực, thực phẩm cho bộ đội khi các cánh quân chủ lực đánh vào nội đô. Nhiều nơi, quần chúng in truyền đơn, may cờ, viết biểu ngữ háo hức chờ đón bộ đội và giải phóng thành phố. Thành ủy và Thành đội cử hàng trăm chiến sĩ biệt động, tự vệ thành ra ngoại ô dẫn đường cho các cánh quân của ta tiến công vào các mục tiêu then chốt như sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Dinh Độc Lập, Biệt khu Thủ đô và Nha Cảnh sát đô thành.

Ngày 7-4-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh ra mệnh lệnh cho các cánh quân: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và quyết thắng”(1).

Ngày 10-4-1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định họp bàn, thống nhất phương thức lãnh đạo, chỉ huy tác chiến chiến dịch. Bộ Tư lệnh xác định: Đây là đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng, kết thúc chiến tranh, giành thắng lợi triệt để, vì thế, cần phải tập trung lực lượng và binh khí, kỹ thuật, phát huy sức mạnh tổng hợp, tạo thành ưu thế áp đảo nhanh chóng tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch còn lại, đập tan ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở, giải phóng Sài Gòn - Gia Định, tạo điều kiện giải phóng miền Nam. Quá trình tiến hành chiến dịch, cần kết hợp chặt chẽ giữa tiến công và nổi dậy của quần chúng, nhưng tiến công quân sự phải đi trước một bước, giữ vai trò quyết định. Từ tư tưởng chỉ đạo đó, Bộ Chỉ huy chiến dịch đã thống nhất phương án tác chiến chiến dịch: “Dùng một bộ phận thích hợp trên từng hướng, đủ sức hình thành bao vây, chia cắt, tiêu diệt và làm tan rã tại chỗ các sư đoàn chủ lực của địch phòng thủ vòng ngoài, đồng thời dùng lực lượng mạnh, nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các địa bàn then chốt ở vùng ven, mở đường cho các binh đoàn đột kích binh chủng hợp thành cơ giới hóa mạnh đã được tổ chức mạnh đã được tổ chức chặt chẽ, tiến nhanh theo các tục đường lớn đánh thẳng vào năm mục tiêu đã được chọn lựa trong nội thành”(2).

Lúc này, ở Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ, thực hiện kế hoạch đợt 2 mùa khô 1974-1975 của Bộ Tư lệnh Miền, bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang địa phương cùng các đơn vị đặc công, biệt động, pháo binh chuyên trách đẩy mạnh hoạt động quân sự, tiến công địch ở khắp nơi từ Ninh Thuận, Bình Thuận đến Cần Thơ, Rạch Giá…, giải phóng nhiều vùng lõm ở Long An, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, mở rộng hành lang từ miền Đông Nam Bộ qua Đồng Tháp Mười xuống miền Tây Nam Bộ, làm chủ được nhiều đoạn đường giao thông quan trọng trên quốc lộ 1, quốc lộ 4, quốc lộ 22.

Những thất bại liên tiếp trên chiến trường cùng với thái độ “hờ hững” của phía Mỹ lúc bấy giờ càng khiến chính quyền và quân đội Sài Gòn thêm hoang mang. Trong một nỗ lực nhằm cứu vãn phần nào tinh thế đang rất nguy ngập, từ ngày 13-3 đến ngày 6-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu cử phái đoàn gồm nhiều dân biểu Quốc hội sang Oasinhtơn, tìm cách vận động Quốc hội Mỹ tăng viện trợ cho chế độ Sài Gòn. Cố gắng đó nhanh chóng trở thành vô vọng(3). Ngày 28-3-1975, Tổng tham mưu trưởng lục quân Mỹ Uâyan (Frederick C. Weyand) cùng một số chuyên gia về Việt Nam được cử sang Sài Gòn xem xét tình hình. Tại Sài Gòn, Uâyan thống nhất với Nguyễn Văn Thiệu về việc tổ chức tuyến phòng ngự từ xa và đề ra các giải pháp nhằm cầm cự, chờ đến mùa mưa sẽ tổ chức phản công hòng giành lại những địa bàn đã mất. Trở về Oasinhtơn, Uâyan mang theo đề nghị của Nguyễn Văn Thiệu, xin thêm 722 triệu đôla viện trợ khẩn cấp. Đề nghị này đã bị Quốc hội Mỹ thẳng thừng bác bỏ.


(1) Điện số 157/ĐK: TK gửi lúc 0 giờ 30 phút ngày 7-4-1975, số lưu 450/ĐB.
(2) Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.11, tr. 432.
(3) Trong phái đoàn này, có Đinh Văn Đệ - một cơ sở tình báo của ta, lúc bấy giờ là Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ nghị viện của chế độ Sài Gòn. Đinh Văn Đệ tìm cách mô tả tình hình nguy ngập không phương cứu chữa của chế độ Sài Gòn cho đến thời điểm đó, nhằm làm nản lòng hơn nữa Quốc hội Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Ba, 2011, 08:24:55 AM
Trong khi đó, trên chiến trường, quân đội Sài Gòn gấp rút xây dựng, củng cố tuyến Xuân Lộc - Phan Rang, đồng thời tăng cường phòng giữ tuyến đường số 4 phía nam Sài Gòn nối với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, hình thành tuyến phòng ngự bảo vệ Sài Gòn với các mắt xích Xuân Lộc - Phan Rang, Tây Ninh, bắc Củ Chỉ, Long An - Bến Lức.

Xuân Lộc (tỉnh lỵ tỉnh Long Khánh cũ) nằm cách Sài Gòn 80 km về phía đông. Đây là địa bàn án ngữ các trục giao thông quan trọng như quốc lộ 1, quốc lộ 20 nối Sài Gòn với Đà Lạt, quốc lộ 15 nối Sài Gòn với Bà Rịa - Vũng Tàu.

Vào đầu tháng 4-1975, Xuân Lộc trở thành một trong những mục tiêu được đặt ra trong tính toán của của cơ quan chỉ đạo chiến lược của ta, trở thành một nhân tố có ý nghĩa quyết định tới khả năng tận dụng thời cơ, đánh địch bất ngờ để nhanh chóng giải phóng Sài Gòn - Gia Định trước mùa mưa năm 1975. Cho đến lúc này, địch vẫn còn trong tay 7 sư đoàn bộ binh, 5 tiểu đoàn biệt động quân, 33 tiểu đoàn pháo binh, 12 tiểu đoàn xe tăng và xe thiết giáp, 1.360 máy bay, 1.496 tàu, xuống chiến đấu trên sông, trên biển. Đồng thời, vào lúc đó, Mỹ cấp tốc lập cầu hàng không chuyên chở vũ khí hạng nặng gồm xe tăng và đại bác tiếp viện cho quân đội Sài Gòn, lệnh cho tàu sân bay Hencốc cùng 300 lính thủy đánh bộ Mỹ tiến vào khu vực biển Đông.

Ở Xuân Lộc, địch bố trí một lực lượng mạnh gồm Sư đoàn 18 còn nguyên vẹn và một số tiểu đoàn bảo an, cảnh sát phòng ngự trong công sự kiên cố. Khi Xuân Lộc bị ta tiến công, địch còn tăng viện thêm Lữ dù số 1, Lữ đoàn 3 thiết giáp, chiến đoàn 3 (của Sư đoàn 5), Liên đoàn biệt động quân và các trung đoàn thiết giáp số 315, 318, 320 và toàn bộ hỏa lực pháo binh của Quân đoàn 3 và của không quân từ hai sân bay Biên Hòa và Tân Sơn Nhất. Trong khi đó, bên trong thị xã, bộ máy kìm kẹp của địch hầu như còn nguyên vẹn với tổng cộng khoảng 1.522 tên. Báo chí phương Tây lúc bấy giờ xem “Xuân Lộc là ốc xoáy cuối cùng” quyết định số phận Sài Gòn; còn chính quyền Nguyễn Văn Thiệu mệnh danh Xuân Lộc là “phòng tuyến thép”. Sư đoàn trưởng Sư đoàn 18 Lê Minh Đảo lớn tiếng tuyên bố “tử thủ” Xuân Lộc bằng mọi giá!

Về phía ta, do tầm quan trọng của Xuân Lộc nên Bộ Tư lệnh chiến dịch và Bộ Tư lệnh Miền quyết định giao cho quân đoàn 4 với lực lượng hiện có (Gồm Sư đoàn bộ binh 7, Sư đoàn bộ binh 341, Sư đoàn bộ binh 6), 4 lữ đoàn phòng không, pháo binh, công binh, thông tin (71, 24, 25, 26), 2 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Long Khánh mở chiến dịch tiến công phá vỡ tuyến phòng thủ Xuân Lộc. Trước trọng trạch được giao, ngày 3-4-1975, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã họp bàn, đưa ra hai phương án tác chiến:

Phương án một, với cụm cứ điểm phòng thủ mạnh của địch ở cửa ngõ Sài Gòn, ta phải lấy diệt địch bên ngoài là chính, tạo thế bao vây cô lập, khi có thời cơ sẽ tiến công dứt điểm.

Phương án hai, trong tình hình địch đang hoang mang dao động, ta cần phải khẩn trương, táo bạo dùng lực lượng bộ binh, xe tăng, pháo binh đánh thẳng vào sở chỉ huy tiểu khu và Sư đoàn 18, nhanh chóng chiếm Xuân Lộc tạo thế và lực cho hướng tiến công chủ yếu của ta ở hướng đông áp sát Biên Hòa và Bà Rịa - Vũng Tàu, chuẩn bị cùng đại quân tiến công vào Sài Gòn - Gia Định. Với quyết tâm cao độ, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 quyết định chọn phương án hai và giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 7 tiến công hướng chủ yếu, từ hướng đông đánh chiếm căn cứ Sư đoàn 18 địch; Sư đoàn 341 đảm nhiệm hướng thứ yếu, từ phía bắc đánh xuống, chiếm Tiểu khu Long Khánh và các mục tiêu trong thị xã; Sư đoàn 6 chia cắt quốc lộ 1 (đoạn giáp ngã ba Dầu Giây), tiêu diệt các chốt vòng ngoài của địch từ ấp Hưng Lộc đến đèo Mẹ Bồng Con, đánh viện binh và quân địch rút chạy.

Sau 4 ngày khẩn trương chuẩn bị (trinh sát mục tiêu, điều động lực lượng, xây dựng phương án tác chiến và quán triệt nhiệm vụ chiến đấu), 5 giờ 40 phút ngày 9-4-1975, bốn cụm pháo binh của chiến dịch và của quân đoàn bắn phá cấp tập vào các mục tiêu trong và ngoài thị xã, mở màn chiến dịch. Sau đợt tập kích hỏa lực, bộ binh và xe tăng ta trên các hướng tiền tiêu được lệnh xung phong. Trung đoàn 165 - Sư đoàn 7 đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu, được 8 xe tăng yểm trợ, đồng loạt đánh Sở chỉ huy Sư đoàn 18, hậu cứ Trung đoàn 5 thiết giáp địch. Dựa vào các bãi rào và hầm hào kiên cố đã được chuẩn bị kỹ, địch chống cự quyết liệt,. Trong vòng 1 giờ, chúng đã bắn cháy của ta 3 xe tăng, hàng chục chiến sĩ bị thương vong. Trung đoàn 165 - buộc phải dừng lại đánh địch phản kích, tìm cách chuyển hướng tiến công. Trên hướng thứ yếu, Trung đoàn 226 và Trung đoàn 266 - Sư đoàn 341 được hỏa lực súng cối 82, ĐKZ 75, súng 12,7mm trực tiếp hỗ trợ, ồ ạt đánh chiếm khu thông tin, khu cố vấn, ty cảnh sát, khu bảo an, khu gia binh. Khi đến gần dinh tỉnh trưởng, lực lượng tiến công bị chặn lại. Trong khi đó, Trung đoàn 209 - Sư đoàn 7 và Trung đoàn 270 - Sư đoàn 341 chốt giữ ở vòng ngoài đánh bại 2 tiểu đoàn địch đến giải tỏa, ứng cứu cho Sở chỉ huy Sư đoàn 18 và dinh tỉnh trưởng, diệt và bắt gần 200 tên, bắn cháy 7 xe tăng, giải phóng ấp Bảo Toàn. Tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Bà Rịa diệt 1 đại đội địch ở Suối Cát, bắt 21 tù binh. Trên hướng phối hợp, Sư đoàn 6 phát triển ra đường số 1, tiến công ấp Trần Hưng Đạo, diệt 6 chốt địch trên đoạn từ Hưng Nghĩa đến đèo Mẹ Bồng Con, phá hủy 11 xe tăng, diệt và bắt hơn 300 tên địch, thu 100 súng (có 2 khẩu pháo 105 mm).


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Ba, 2011, 08:26:42 AM
Để tiếp tục tiến công làm chủ những mục tiêu trọng yếu còn lại trong thị xã, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã tung toàn bộ lực lượng, kể cả lực lượng dự bị, vào cuộc chiến đấu. Trong hai ngày 10 và 11-4, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 đã cho 2 trung đoàn (141, 165) có xe tăng và pháo binh yểm trợ, từ bàn đạp đã chiếm được, mở cuộc tiến công hậu cứ Sư đoàn 18, Chiến đoàn 52 và Trung đoàn 5 thiết giáp. Trung đoàn 209, sau khi tiêu diệt 1 đại đội địch nống ra vùng ngoài, được lênh chuyển sang tiến công vào hướng nam thị xã, phối hợp với Trung đoàn 165 và Trung đoàn 141, đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu của địch. Tuy nhiên, cả ba mũi tiến công trên hai hướng của Sư đoàn 7 đều bị địch chặn lại. Ở khu vực thứ yếu, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 341 quyết định đưa Trung đoàn 270 vào thị xã kết hợp với Trung đoàn 266 đánh địch phản kích, giữ vững các vị trinh sát đã chiếm. Đồng thời, Sư đoàn sử dụng 2 tiểu đoàn (5, 7) có hỏa lực yểm trợ tập kích sân bay Cáp Rang, hậu cứ chiến đoàn 43. Cuộc tập kích không thành, bộ đội ta bị địch tập trung đẩy lùi. Trên hướng Sư đoàn 6y, Trung đoàn 33 đánh chiếm Chi khu Dầu Giây, đánh bại các đợt phản kích của 2 tiểu đoàn hỗn hợp thuộc Chiến đoàn 52, buộc lực lượng này phải co về vị trí cố thủ.

Qua ba ngày tiến công đột phá liên tục, các đơn vị tham gia chiến dịch, đặc biệt là Sư đoàn 341, đã chiến đấu hết sức dũng cảm, chiếm được nhiều mục tiêu quan trọng như khu cố vấn, khu thông tin, ty cảnh sát; đánh bại hầu hết các đợt phản kích của các chiến đoàn địch. Những ngày sau đó, địch tăng cường lực lượng chặn đánh quyết liệt các đợt tiến công của ta. Từ ngày 11 đến ngày 14-4, đã thêm ba lữ đoàn (2 lữ đoàn lính thủy, 1 lữ đoàn dù), 1 liên đoàn biệt động quân, 1 trung đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pháo binh, 2 thiết đoàn tăng thiết giáp được tung vào mặt trận Xuân Lộc. Nếu tính cả Sư đoàn 18 và các đơn vị bố trí ở Xuân Lộc, thì địch đã tập trung ở đây 50% lực lượng bộ binh, 60% pháo binh, phần lớn xe tăng, xe thiết giáp của Quân đoàn 3 (300 chiếc) và lực lượng tổng dự bị chiến lược tương đương một sư đoàn. Ngoài ra, chúng còn huy động lực lượng không quân từ các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, chi viện hỏa lực tiến công tối đa, trung bình 80 lần chiếc/ngày, gây cho ta nhiều khó khăn tổn thất(1). Đặc biệt, trong tình thế tuyệt vọng, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn được Mỹ cho phép, đã sử dụng máy bay C-130 ném 2 quả bom CBU-55(2) xuống khu vực tập kết của quân ta lúc 14 giờ ngày 12-4-1975. Đây là loại vũ khí có sức hủy diệt lớn, lần đầu tiên được sử dụng ở chiến trường miền Nam. Do vội vàng, địch ném xuống xã Xuân Vinh - địa bàn xát thị xã Xuân Lộc, đốt cháy toàn bộ không khí trong vùng, làm hàng trăm người chết và bị thương.

Trước tình hình địch tăng cường lực lượng quyết “tử thủ” ở Xuân Lộc, Bộ Chỉ huy Miền và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 quyết định đưa Quân đoàn 4 ra ngoài chiếm giữ ngã ba Dầu Giây, đánh tiêu diệt các đơn vị địch đến phản kích đứng chân chưa vững, thiếu công sự ẩn nấp; cắt đường 1, cô lập Xuân Lộc và Biên Hòa; cắt đường số 2 đi Bà Rịa; dùng pháo tầm xa bắn khống chế sân bay Biên Hòa… Thay mặt Bộ Tư lệnh chiến dịch và Bộ Tư lệnh Miền, Thượng tướng Trần Văn Trà từ Lộc Ninh xuống Quân đoàn 4 chri đạo và đôn đốc Quân đoàn thực hiện cách đánh mới.

Cùng thời gian Quân đoàn 4 tiến đánh Xuân Lộc, cánh quân Duyên hải - Quân đoàn 2 và lực lượng tăng cường đã vượt tỉnh Khánh Hòa, gần tiến vào địa phận tỉnh Ninh Thuận, chuẩn bị tiến công thị xã Phan Rang - một trong ba cụm phòng ngự then chốt bảo vệ Sài Gòn của Quân đoàn 3 quân đội Sài Gòn. Tại đây, trong tuần đầu tháng 4-1975, thấy sức ép ngày càng gia tăng của ta, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn vừa tăng cường thêm lực lượng và phương tiện ra Phan Rang, vừa khẩn trương bố trí lại thế trận phòng ngự. Ở khu vực trung tâm và sân bay Thành Sơn - nơi có Bộ Chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 quân đội Sài Gòn do viên Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi trực tiếp phụ trách, Bộ Tư lệnh sư đoàn 2 địch (vừa tái thành lập) sử dụng Trung đoàn 5 lập trận địa phòng ngự phía tây, tây nam bảo vệ sân bay Thành Sơn và đường vào thị xã; Trung đoàn 11 bảo vệ ngã ba quốc lộ 1 và tỉnh lộ 11; Lữ đoàn dù 2 (lực lượng dự bị chiến lược) bảo vệ Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 3 đặt tại căn cứ không quân Thành Sơn. Tại Du Long, khu vực cách phía bắc Phan Rang 20 km, Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 bố trí Liên đoàn 31 biệt động quân lập chiến tuyến ngăn chặn bảo vệ sân bay. Hai trận địa pháo binh 105mm và 155 mm gồm 20 khẩu được bố trí ở phía sau, có nhiệm vụ bắn ngăn chặn quân ta tiến công trên các hướng. Với tuyến phòng ngự này, địch hy vọng có thể cản phá hoặc làm chậm tốc độ tiến công của ta.


(1) Đợt tác chiến 1 (ngày 9-4 đến ngày 11-4), Sư đoàn 7 thương vong hơn 300 cán bộ, chiến sĩ; Sư đoàn 341 thương vong 1.200 đồng chí, 6 xe tăng bị phá hủy, pháo 85 và 57 bị hủy gần hết vì bom pháo địch.
(2) CBU-55 là loại bom được Mỹ nghiên cứu, chế tạo từ cuối những năm 60 thế kỷ XX và được trang bị cho lực lượng không quân chiến thuật quân đội Mỹ. CBU-55 là loại bom chùm hàng không dạng cátxét, nổ theo nguyên lý xon khí, có chiều dài 2,3 m, đường kính 0,36 m, sải cánh đuôi 0,72m, trọng lượng 235 kg. Mỗi quả bom mẹ chứa 3 bom con. Bom con nặng 45 kg, nạp 32,6 kg êtylen lỏng, có dù hãm để giảm tốc độ rơi xuống còn 33m/s (giây). Khi chạm đất, ngòi nổ hoạt động gây nổ ống thuốc đặt giữa trục hơn, phá vỡ vỏ bom, làm văng ôxít êtylen thành các giọt, tạo ra đám mây xon khí (nhiên liệu và không khí) có đường kính 15-17m, cao 2,5-3m. Đám mây này được một trạm nổ kích nổ ở độ cao 1m sau khi hình thành 0,125s. Bán kính sát thương của một bom con là 50m. CBU-55 được thiết kế cho máy bay tốc độ dưới âm (như A37, OV10 và máy bay trực thăng UH1 ở độ cao bay 600m, tốc độ bay 120km/h). Loại bom này sử dụng trong chiến tranh Việt Nam với mục đích diệt sinh lực đối phương, dọn bãi cho máy bay trực thăng đổ bộ.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Ba, 2011, 08:27:34 AM
Nắm chắc lại lực lượng địch, ta trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, xét thấy thời cơ đánh địch trong hành tiến đã chín muồi, sáng ngày 14-4, Bộ Tư lệnh cánh quân Duyên hải lệnh cho Sư đoàn 3 Sao Vàng được tăng cường Trung đoàn 25 Tây Nguyên, tiến công vào cụm phòng ngự tiền duyên của tuyến phòng thủ Phan Rang. Phối hợp với cánh quân duyên hải, Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 6 do đồng chí Trần Lê làm Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy, đồng chí Nguyễn Trọng Xuyên làm Tư lệnh quân khu, đã chỉ thị cho Sở chỉ huy tiền phương quân khu trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận chỉ đạo các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương tăng cường đánh địch ở vùng ven, kìm chân, chia cắt, không cho chúng hỗ trợ nhau. Hàng nghìn dân công (phần lớn là người thiểu số) khu căn cứ Bác Ái tham gia sửa đường, bắc cầu trên đoạn đường từ Trại Cá (Khánh Hòa) xuyên rừng qua Suối Ra, Tà Lú, Ma Ty ra đường 11, đảm bảo đường hành quân cho các đoàn xe chở quân vào miền Đông Nam Bộ.

Ngày 14-4-1975, giữa lúc quân và dân ta trên các hướng tiến công đang khẩn trương tạo thế,tạo lực cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, theo đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn, Bộ Chính trị gửi đến mặt trận bức điện số 37/TK vào hồi 19 giờ: “Đồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là chiến dịch Hồ Chí Minh”. Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ký tên.

Quyết định chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh của Bộ Chính trị không chỉ đáp ứng được nguyện vọng của toàn dân tộc đối với vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu suốt đời hy sinh vì dân, vì nước, mà còn khẳng định ý chí, niềm tin quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vào chiến dịch lịch sử mang tên Người - giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Như được tiếp thêm sức mạnh chiến đấu, ngày 14-4-1975, Sư đoàn 3 - Quân khu 5 và Trung đoàn 25 Tây Nguyên tiếp tục đột phá vào tuyến phòng thủ Phan Rang, chiếm một số chốt điểm quan trọng án ngữ vùng ngoại vi thị xã, trong đó có cảng Ninh Chữ, chặn đường rút chạy ra biển của địch. Địch tập trung lực lượng, dựa vào trận địa phòng ngự kiên cố, chống trả quyết liệt. Trước tình hình đó, Trung đoàn 52 - Sư đoàn 3 sử dụng Tiểu đoàn 2 luồn sâu vào phía nam, bất ngờ đánh chiếm hai chốt điểm, giải phóng ấp chiến lược Ba Râu, chia cắt đường số 1. Trong khi đó, từ hướng tây bắc, Trung đoàn 25 Tây Nguyên theo đường 11 đánh bại các đợt phản kích của Lữ đoàn dù 2, áp sát sân bay Thành Sơn, chiếm toàn bộ dải phòng ngự vòng ngoài thị xã Phan Rang.

Sáng hôm sau, ngày 15-4, Sư đoàn 3 tiếp tục cho Trung đoàn 2 tiến công cứ điểm Kiền Kiền, Ba Tháp, phá vỡ dải phòng ngự bên trong (còn gọi là tuyến 2). Cùng lúc, Trung đoàn 141 có xe thiết giáp hỗ trợ, đã vượt qua quốc lộ 1. đè bẹp các ổ đề kháng của địch, tiến về hướng đông; Trung đoàn 25 Tây Nguyên được tăng cường Tiểu đoàn 6 - Trung đoàn 12 phát triển áp sát phía bắc sân bay Thành Sơn. Toàn bộ các mục tiêu trọng yếu của địch trong thị xã Phan Rang bị ta vây chặt. để nhanh chóng phá vỡ tuyến phòng thủ chiến lược Phan Rang, Trung đoàn 101 - Sư đoàn 325 và 1 tiểu đoàn xe tăng của Lữ đoàn xe tăng 203 - Quân đoàn 2 được đưa vào chiến đấu.

Sáng sớm ngày 16-4, được hỏa lực pháo binh chi viện, bộ binh và xe tăng ta đồng loạt tiến công vào tất cả các mục tiêu trong thị xã. Trước sức tiến công mãnh liệt của ta, lực lượng phòng thủ hoang mang, núng thế; xuất hiện sự rối loạn trong hàng ngũ địch. 9 giờ 30 phút cùng ngày, Trung đoàn 101 ở hướng bắc đã chiếm được dinh tỉnh trưởng, bắt toàn bộ nhân viên trong bộ máy hành chính tỉnh, trong đó có viên Đại tá Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tư. 10 giờ, Trung đoàn 25 Tây Nguyên trên hướng tây cũng đánh chiếm được sân bay Thành Sơn, khóa chặt mọi con đường tháo chạy của địch. Nguyễn Vĩnh Nghi - Trung tướng, Tư lệnh và Phạm Ngọc Sang - Chuẩn tướng, Phó Tư lệnh cùng Bộ Tham mưu tiền phương Quân đoàn 3 quân đội Sài Gòn bị bắt. Tối ngày 16-4-1975, tỉnh Ninh Thuận và một phần phía bắc tỉnh Bình Thuận được giải phóng.

Cùng thời gian bộ đội cánh quân duyên hải tiến công tuyến phòng thủ Phan Rang, trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, lực lượng vũ trang Khu 6 tích cực tác chiến thu hút, kìm giữ, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch. Trong bốn ngày (từ ngày 14 đến ngày 17-4), Trung đoàn bộ binh 812 và Tiểu đoàn đặc công 200C (bộ đội chủ lực Khu 6) được dân quân, du kích địa phương hỗ trợ, mở cuộc tiến công cụm cứ điểm Chi khu Thiện Giáo (Ma Lâm) cách Phan Thiết 30 km về phía tây bắc, diệt và bắt hơn 100 tên địch. Mất Chi khu Thiện Giáo, 2 tiểu đoàn bảo an địch chốt giữ tỉnh lộ 8 dao động mạnh, tự động lui dần về phía sau. Bộ đội địa phương và dân quân, du kích lợi dụng tổ chức truy đuổi địch ở Phú Long, Tân Điền, kêu gọi đồng bào nổi dậy phá ấp chiến lược Tân Hưng, Bình Lâm, An Phú. Trung đoàn 812 phát triển, tiến công đánh chiếm các điểm cao phía bắc thị xã, bức địch rút khỏi Lương Sơn rút về giữ cầu Sông Cái cách thị xã Phan Thiết 9 km về phía bắc.

Trước sự mất còn của thị xã Phan Thiết, các lực lượng còn lại của địch gồm Liên đoàn 21 biệt động quân, 6 tiểu đoàn bảo an và phòng vệ dân sự, được pháo hạm và không quân yểm trợ, nống ra phản kích hòng chiếm lại các chốt điểm Gộp, Tuy Hòa, Phú Long… phía bắc và đông bắc thị xã. Mặc dù bị thương vong do phi pháo địch, nhưng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 812 và Tiểu đoàn 200C vẫn kiên cường bám trụ, đánh bật các đợt phản kích, giữ vững các bàn đạp Phú Long, Tân Điền, chuẩn bị cho trân đánh then chốt giải phóng thị xã Phan Thiết.

Trưa ngày 18-4, sau khi giải phóng 4 quận lỵ Phan Rí, Tuy Phong, Sông Mao, Hòa Đa, Quân đoàn 2 đã áp sát thị xã Phan Thiết. Vào lúc đó, Trung đoàn 812 và lực lượng vũ trang địa phương Khu 6 bắt đầu đột phá phía tây bắc phòng tuyến Sông Cái. Mũi tiến công thọc sâu của Quân đoàn 2 - Trung đoàn 18 bộ binh, Tiểu đoàn 5 xe tăng, thiết giáp, tiểu đoàn pháo cao xạ thuộc - Trung đoàn 284 đột phá đánh chiếm cầu Sông Cái, hỗ trợ cho Trung đoàn 812 phát triển sâu vào bên trong đánh chiếm ty cảnh sát, dinh tỉnh trưởng… Đến 21 giờ cùng ngày, hai mũi tiến công của Trung đoàn 18 thuộc Sư đoàn 325 - Quân đoàn 2 và Trung đoàn 12 - Khu 6 đã làm chủ thị xã Phan Thiết.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Ba, 2011, 07:46:51 PM
Tình hình chiến trường miền Nam chuyển biến rất mau lẹ. Những chiến thắng trên chiến trường miền Nam tác động mạnh mẽ đến tình hình cách mạng Campuchia và cách mạng Lào. Hạ tuần tháng 3-1975, quân và dân Campuchia đồng loạt tiến công, phá vỡ tuyến phòng thủ phía tây và tây bắc Phnôm Pênh, hơn 1000 vị trí địch bị tiêu diệt. Mặc dù dốc sức phản kích trên các hướng Ba Xót, Tun Liep, Angxnúc, Takhaman, nhưng quân Lonnon vẫn liên tiếp bị đánh bại. Cuối tháng 3, đường tiếp tế duy nhất còn lại của chúng sông Mê Công cũng bị cắt đứt. Ngày 1-4-1975, căn cứ Neck Luông - căn cứ duy nhất còn lại ở phía đông, bị tiêu diệt. Thành phố Phnôm Pênh hoàn toàn bị cô lập.

Trên đà thắng lợi lịch sử của quân và dân các nước Đông Dương, ngày 10-4, quân và dân Campuchia mở cuộc tổng tiến công vào Phnôm Pênh. Không còn có thể cứu vãn được sự sụp đổ của chính quyền và quân đội Lonnon, ngày 12-4, Mỹ buộc phải tổ chức cuộc hành quân Diều hâu, rút cố vấn khỏi Phnôm Pênh. Ngày 15-4, sân bay Pôchengtông bị đánh chiếm. Ngày 17-4-1975, sau một tuần tiến công vào một loạt vị trí then chốt sào huyệt địch, Quân giải phóng Campuchia đã làm chủ Phnôm Pênh, quân đội và chính quyền Lonnon buộc phải đầu hàng không điều kiện. Phnôm Pênh được giải phóng là sự kiện chính trị lớn của đất nước Chùa Tháp. Sự kiện này cho thấy rõ đế quốc Mỹ đã bị suy yếu nhiều mặt trên chiến trường Đông Dương. Ở Lào, trung tuần tháng 4-1975, được sự hỗ trợ của quân tình nguyện Việt Nam, lực lượng vũ trang Pathét Lào liên tiếp tiến công lực lượng phái hữu Viên Chăn, nổi bật là trận đánh Lữ đoàn 2 Vàng Pao ở ngã ba Xala Phukhum. Tiếp đó, với sự yểm trợ của pháo binh và xe tăng quân tình nguyện Việt Nam, bộ đội Lào liên tục truy kích địch dọc đường số 13, thu thắng lợi lớn. Bị thất bị nặng nề, Vàng Pao bỏ vị trí chỉ huy, để mặc cho các đơn vị thuộc quyền “tùy nghi di tản”. Thừa thắng, lực lượng Pathét Lào và lực lượng trung lập yêu nước đã triển khai 40 trên 44 tiểu đoàn vào các khu vực thuộc lực lượng của Chính phủ Viên Chăn kiểm soát, tạo thế vững chắc về quân sự trên những địa bàn quan trọng, làm chỗ dựa cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam (30-4-1975) và Campuchia (17-4-1975) thúc đẩy tình thế cách mạng trực tiếp ở Lào thêm chín muồi, làm cho tình hình chính trị chuyển biến mau lẹ. Làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của các tầng lướp nhân dân đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình phân hóa, suy sụp và tan rã của chính quyền phái hữu và quân ngụy Lào.

Tình hình Campuchia và Lào càng khiến cho chính quyền Sài Gòn thêm hoang mang, lo sợ. lúc này, trong nội bộ chính quyền Sài Gòn mâu thuẫn giữa các phe phái đang gia tăng rất nhanh. Ngày 2-4-1975, Thượng viện Việt Nam Cộng hòa với 42 phiếu thuận và 10 phiếu chống, đã quyết định kết tội Nguyễn Văn Thiệu về những thất bại đang xảy ra, yêu cầu Thiệu thành lập nội các mới với đại diện của nhiều thành phần chính trị đối lập. Ba ngày sau, ngày 5-4, Chủ tịch Hạ nghị viện Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Bá Cẩn được chỉ định làm Thủ tướng thay cho Trần Thiện Khiêm vừa từ chức trước đó. Trong những ngày đầy bi đát này, Trần Văn Đôn, Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng Sài Gòn trong một báo cáo gửi Nguyễn Văn Thiệu đã thừa nhận: “Quốc gia đang trong tình trạng nguy ngập thật sự. Sự sống còn chỉ có thể tính từng ngày, từng tuần, không thể tính từng tháng. Với khả năng trù bị dồi dào, hỏa lực của địch trội hẳn so với các đơn vị của ta, việc chống trả sẽ rất khó khăn”(1).

Tại Xuân Lộc, sáng ngày 15-4, thực hiện cách đánh mới, Sư đoàn 6, Trung đoàn 95B mở đợt tiến công mãnh liệt vào một loạt vị trí Túc Trưng, Kiệm Tân, ngã ba Dầu Giây tiêu diệt Chiến đoàn 52, thu 12 khẩu pháo 105 mm và toàn bộ xe tăng, xe thiết giáp của Chi đoàn 13 quân đội Sài Gòn. Để giữ vững Xuân Lộc, Bộ Chỉ huy Quân đoàn 3 địch sử dụng một lực lượng lớn với hơn 200 xe tăng, xe thiết giáp, 100 khẩu pháo ở căn cứ Nước Trong, Hốc Bà Thức, Long Bình, Đại An và trên 100 lần chiếc máy bay chiến đấu chi viện cho khu vực này. Các trận chiến đấu diễn ra ác liệt, kéo dài hàng giờ liền ở Hưng Nghĩa, điểm cao 122. Nhiều cuộc phản kích của địch bị đẩy lùi buộc chúng phải rút về Bàu Cá.

Trên chiến tuyến bao quanh thị xã Xuân Lộc, Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 được hỏa lực pháo binh và pháo phòng không chi viện, liên tục phản công, tiến công, đánh thiệt hại nặng hai chiến đoàn 43 và 48 thuộc Sư đoàn 18 và 1 tiểu đoàn dù quân đội Sài Gòn. Bộ đội địa phương và du kích Long Khánh phối hợp với bộ đội chủ lực, tổ chức các trận phục kích, tập kích, bức rút nhiều đồn bốt của địch trên các trục đường giao thông và vùng ven thị xã.

Cuối trung tuần tháng 4-1975, sau khi giải phóng Phan Thiết, Hàm Tân, cánh quân Duyên Hỉa tiến vào khu Rừng Lá thuộc tỉnh Long Khánh (cách thị xã Xuân Lộc 10 km). Sự xuất hiện của cánh quân Duyên Hải ở cửa ngõ Xuân Lộc càng tăng thêm áp lực đối với Sư đoàn 18 quân đội Sài Gòn. Lúc này, đường bộ tiếp vận từ Biên Hòa lên đã bị Quân giải phóng khống chế. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, Tướng Lê Minh Đảo đề nghị rút bỏ Xuân Lộc và đề nghị đó được Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn chấp thuận. Nhưng để bảo toàn lực lượng, Bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 chỉ thị cho Lê Minh Đảo phải thành công “dư tản” thật chặt chẽ và phải hết sức bí mật để khỏi bị truy diệt. Nhằm nghi binh thu hút sự chú ý của ta, tối 20-4, hàng chục khẩu pháo đặt ở Nước Trong, Trảng Bom bắn hàng trăm quả đạn vào các khu vực trận địa Quân đoàn 4 đang chốt giữ. Cùng lúc đó, lực lượng địch ở thị xã Xuân Lộc được lệnh rút quân. Hơn 200 xe chở đầy binh lính tranh nhau tháo chạy theo đường số 2 về hướng Bà Rịa rồi vòng về Biên Hòa. Mặc dù Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 đã có phương án đánh dịch rút chạy theo hai hướng đường số 1 và đường số 2, nhưng do phát hiện và xử lý tình huống chậm, nên khi truy kích, bộ đội ta chỉ tiêu diệt được một bộ phận đi sau cùng, bắt giữ hàng chục tên, trong đó có Phạm Văn Phúc là Đại tá Tỉnh trưởng Long Khánh. Ngày 21-4-1975, tuyến phòng thủ Xuân Lộc - “cánh cửa thép” bảo vệ phía đông Sài Gòn, đã bị đập tan, thị xã Xuân Lộc và tỉnh Long Khánh hoàn toàn giải phóng. Chiến thắng Xuân Lộc - Long Khánh tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân trên hướng đông - đông bắc chuẩn bị lực lượng, thế trận cùng quân và dân trên các hướng sau này tiến công vào Sài Gòn - Gia Định.


(1) Dẫn theo Lịch sử quân sự Việt Nam, Sđd, t.11, tr. 437.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Ba, 2011, 07:47:47 PM
Cùng thời gian này, để góp phần cùng quân và dân miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trong Bộ chiến đấu tạo thế, tạo lực cho trận quyế chiến chiến lược trong chiến dịch Hồ Chí Minh, quân và dân các tỉnh miền Tây Nam Bộ đẩy mạnh tiến công và nổi dậy. trong tuần đầu tháng 4-1975, hai Bộ Tư lệnh Quân khu 8 và 9 chỉ đạo lực lượng vũ trang ba thứ quân mở đợt hoạt động quân sự ở hầu khắp các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, trọng điểm là Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Mỹ Tho, Long An - nơi có quốc lộ 4 đi qua, nhằm cắt đứt sự chi viện đường bộ từ Cần Thơ đi Sài Gòn và ngược lại của quân đội Sài Gòn.

Ở Mặt trận đường vòng cung - nam sông Hậu, ngày 8-4, mặc dù thời gian chuẩn bị chiến đấu gấp (2 ngày) nhưng bộ đội địa phương tỉnh Cần Thơ chủ yếu là lực lượng biệt động thành đội và phân đội pháo binh quân khu) đã táo bạo tập kích, pháo kích vào sân bay Trà Nóc và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 địch liên tục trong 4 ngày, hỗ trợ đắc lực cho bộ đội Sư đoàn 4 chủ lực quân khu đột phá hàng loạt chốt điểm quan trọng trên đường vòng cung nhằm tạo bàn đạp đánh vào thành phố Cần Thơ.

Tại Vĩnh Long, đêm 11 rạng ngày 12-4, Trung đoàn 1 chủ lực Quân khu 9 tập kích Chi khu Ba Càng, phá hủy 2 khẩu pháo 105 mm; Trung đoàn 3 đánh chiếm Chi khu Bình Minh, diệt và bức rút 13 đồn bốt, giải phóng vùng bắc sông Hậu. Sau đó, Trung đoàn 3 kết hợp với Tiểu đoàn 1 bộ đội địa phương tỉnh Vĩnh Long diệt Phân chi khu Mỹ Thuận A, Mỹ Thuận B và Thành Lợi. Phần lớn các chi khu, phân chi khu, đồn bốt này đều nằm trên quốc lộ 4. Phân đội pháo (dùng pháo 105 mm mới thu được của địch đặt ở phía bắc Cái Vồn bắn vào Sở chỉ huy Quân đoàn 4 ở Cần Thơ và sân bay Trà Nóc. Bộ Chỉ huy Quân đoàn 4 địch phản ứng mạnh. Ngày 12-4, chúng sử dụng Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 16 - Sư đoàn 9 và chi đoàn xe thiết giáp M113 từ thị xã Vĩnh Long xuống giải tỏa, đánh bật Tiểu đoàn 307 - Trung đoàn 1 khỏi Ba Càng. Hôm sau, sáng 13-4, địch dùng trực thăng đổ Trung đoàn 31 - Sư đoàn 21 từ Cần Thơ xuống đông nam Chi khu Bình Minh để truy tìm trận địa pháo ta. Chiều cùng ngày, địch đổ tiếp Trung đoàn 16 - Sư đoàn 9, Trung đoàn 32 - Sư đoàn 21, 4 tiểu đoàn bảo an, 2 chi đoàn M 113. Toàn bộ lực lượng này, tỏa ra lùng sục khắp các cánh đồng thuộc xã Mỹ Hòa, Đông Thành (huyện Bình Minh) Mãi Tứ (huyện Tam Bình) để tìm trận địa pháo ngăn không cho bắn vào thành phố Cần Thơ. Trung đoàn 1, Trung đoàn 3 chủ lực Quân khu 9 lúc này chuyển sang hoạt động phân tá, đánh nhỏ lẻ, kìm chân địch ở đường 4 và vùng ven, sẵn sàng chớp thời cơ đánh chiếm hai thị xã Vĩnh Long, Trà Vinh…

Trên hướng Quân khu 8, Bộ Tư lệnh Miền sử dụng Sư đoàn 5, Sư đoàn 3 và lực lượng vũ trang địa phương đánh dịch mở thông hành lang Tây Ninh - Đồng Tháp Mười, phát triển xuống vùng sâu Châu Thành, Cai Lậy (Mỹ Tho), chia cắt đường 4, tạo bàn đạp tiến công Sài Gòn - Gia Định từ hướng tây. Ngày 6-4, Trung đoàn 88, Trung đoàn 24 và 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh Long An tiến công diệt 50 đồn, bốt, giải phóng 12 xã thuộc khu vực phía nam tỉnh Long An. Trong khoảng thời gian này, theo mệnh lệnh tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh, Đoàn 232 được bổ sung lực lượng và phương tiện tương đương biên chế cấp quân đoàn, gồm Sư đoàn 5, Sư đoàn 3, Sư đoàn 9 và một số đơn vị chủ lực Quân khu 8, và một số đơn vị xe tăng, pháo binh, công binh, do Trung tướng Lê Đức Anh làm Tư lệnh, đồng chí Lê Văn Tưởng làm Chính ủy, đang chuẩn bị vượt sông Vàm Cỏ Đông tiến vào Sài Gòn từ hướng tây và tây nam.

Ở miền Đông Nam Bộ, phối hợp với đon tiến công của Quân đoàn 4 vào phòng tuyến Xuân Lộc, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 chỉ đạo bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, các đột biệt động thành, đặc công, các đội công tác bí mật đưa lực lượng vào vùng căn cứ Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Thủ Đức (Sài Gòn), Bến Cát, Tân Uyên (Bình Dương), Dĩ An, Thống Nhất (Đồng Nai)…, đẩy mạnh hoạt động tác chiến ở Phú Hòa Đông, Tân Thông Hội, Tân Thạnh Tây, Tổng Thôn, Thới Mỹ; đánh chiếm Sở chỉ huy Tiểu đoàn 86 biệt động quân ở Tân Túc, tiêu hủy kho hóa chất Sicôna Thủ Đức, kho xăng Vũng Béo, gây áp lực bức hàng, bức rút nhiều đồn. bốt địch đóng trên hành lang dẫn vào khu vực nội đô.

Nhìn chung cho đến khi chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, quân và dân ta trên chiến trường miền Nam đã lần lượt đập tan các tuyến phòng ngự then chốt vòng ngoài từ Bà Rịa, Long Khánh Đồng Nai, Bình Dương đến Tây Ninh, Long An, Mỹ Tho, Gò Công; hình thành các bàn đạp bao quanh sào huyệt địch, hoàn thành những mặt chuẩn bị rất cơ bản về lực lượng, thế trận cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng. Trên miền Bắc, thanh niên nô nức tòng quân. Hậu phương lớn dốc toàn bộ sức mạnh tiềm tàng, to lớn cho miền Nam tổng tiến công và nổi dậy giành toàn thắng.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Ba, 2011, 07:49:22 PM
II - ĐÁNH CHIẾM ĐỊA BÀN VÙNG VEN
TỔNG CÔNG KÍCH VÀO NỘI ĐÔ

Những chiến thắng liên tiếp của chiến trường Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ (đặc biệt là chiến thắng Xuân Lộc - Long Khánh) mở toang “cánh cửa thép” phía đông Sài Gòn của quân và dân ta đã làm cho giới lãnh đạo Mỹ và chính quyền Sài Gòn vô cùng hoảng sợ. Đại sứ Mỹ Martin tại Sài Gòn phải khẩn cấp báo cáo với Tổng thống G. Pho: “Các đơn vị quân Bắc Việt Nam đang cùng một lúc hội tụ về khu vực Sài Gòn từ mọi hướng với một lực lượng hậu bị to lớn… Có khả năng bao vây và cô lập thành phố này trong một hay hai tuần nữa. Chính phủ (Việt Nam Cộng hòa) có thể tăng viện một hoặc hai mặt trận bằng các rút lực lượng từ khu vực Cân Thơ hoặc Mỹ Tho, nhưng cũng không thể làm gì hon là sư kéo dài thêm sự tồn tại của Sài Gòn khoảng một tuần, bởi vì quân Bắc Việt có khả năng hầu như lập tức, loại trừ những lực lượng tăng cường này”(1). Đối với Mỹ, lúc này, việc cấp bách là đảm bảo an toàn cho người Mỹ rút khỏi Sài Gòn và ráo tiết tìm giải pháp hòng dựng lên một chính phủ có khả năng “thương lượng” với đối phương. Trước áp lực của tình hình và sức ép của Mỹ, Nguyễn Văn Thiệu buộc phải miễn cưỡng chấp nhận tự chức để được an toàn ra nước ngoài, sống lưu vong trước khi bị lật đổ. Sáng ngày 21-4-1975, trước 200 nhân vật cao cấp của chính quyền Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu đọc bài diễn văn kịch liệt đả kích sự “bội ước” của Mỹ và tuyên bố từ chức, giao lại quyền cho Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Hương.

Ngay sau khi lên làm Tổng thống Trần Văn Hương được Mỹ ủng hộ, đã ra nhật lệnh “Chống cộng đến giọt máu cuối cùng”, yêu cầu Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn lập tức chấn chỉnh, khôi phục lực lượng, điều chỉnh thế bố trí, giữ các địa bàn còn lại của Quân khu 3 và Quân khu 4.

Trận địa bàn Quân khu 4 - Quân đoàn 4, địch có khoảng 175.000 quân, trong đó chủ lực là 66000 được biên chế thành 3 sư đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn, 366 khẩu pháo, 493 xe tăng thiết giáp, 409 máy bay (118 máy bay chiến đấu các loại. Toàn bộ lực lượng này được bố trí thành các cụm phòng ngự xung quanh các thành phố, thị xã, các trục đường giao thông (chú trọng bảo vệ thành phố Cần Thơ và quốc lộ 4).

Trên địa bàn Quân khu 3, dựa vào lực lượng chủ yếu của Quân đoàn 3 với 245.000 quân, 406 khẩu pháo, 624 xe tăng, 800 máy bay, 852 tàu chiến cùng số tàn quân của Quân đoàn 1, Quân đoàn 2 dồn về và lực lượng tổng trù bị còn lại, địch tổ chức hệ thống phòng thủ Sài Gòn thành ba tuyến (vòng ngoài, ven đô và nội thành). Tuyến vòng ngoài địch bố trí 5 sư đoàn, 2 lữ đoàn, trong đó, Sư đoàn 22 bộ binh ở Long An, Bến Lức chốt giữ đường 4; Sư đoàn bộ binh 25 chốt giữ căn cứ Đồng Dù, chịu trách nhiệm phòng giữ Tây Ninh, Trảng Bàng, Củ Chi, Hậu Nghĩa; Sư đoàn bộ binh 5 ở Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương; Sư đoàn lính thủy đánh bộ (có 2 lữ đoàn) chốt giữ Long Bình; Sư đoàn bộ binh 18 ở Bàu Cá, Trảng Bom, Suối Đĩa; Lữ đoàn kỵ binh 3 chốt giữ Biên Hòa - Long Bình; Lữ đoàn dù 1 chốt giữ Bà Rịa.

Tuyến ven đô, ban đầu, địch bố trí 3 liên đoàn biệt động có các chi đoàn thiết giáp hỗ trợ cơ động bảo vệ khu vực Bình Chánh, Hóc Sơn, Bình Triệu, ngăn chặn ta tiến công vào Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Nhưng đến ngày 24-4-1975, khi phát hiện được 12 sư đoàn Quân giải phóng đã triển khai trên tất cả các hướng từ Biên Hòa, Tân Uyên đến Củ Chi, Long An, sẵn sàng tiến vào nội thành,địch vội vàng thành lập bốn khu chiến vành đai cách trung tâm đô thành từ 14 đến 20 km. Khu chiến bắc gồm khu vực Hóc Môn, Cầu Bông (dọc trục đường số 10 vào đến sây bay Tân Sơn Nhất, do Liên đoàn biệt động quân 9, 2 liên đoàn công binh và binh lính, sĩ quan thuộc Trung tâm huấn luyện Quang Trung chốt giữ. Khu chiến tây gồm khu vực Vĩnh Lộc, Tân Hiệp, Bà Hom, Bình Chánh do 2 liên đoàn biệt động quân (7, 8) và Liên đoàn bảo an 239 đảm nhiệm. Khu chiến nam gồm Nhà Bè, Nhân Trạch, do lực lượng bảo an và dân vệ tại chỗ bảo vệ. Khu chiến đông gồm khu vực Gò Vấp, quận 9, Thủ Đức do Lữ đoàn dù 4, Liên đoàn địa phương quân 931 và lực lượng tại Quân trưởng Thủ Đức phòng giữ.

Ở nội thành, địch tổ chức thành năm liên khu, mỗi liên khu gồm hai quận (liên khu 1: quận 1 và 3, liên khu 2: quận và 6; liên khu 3, quận 2 và 4; liên khu 4: quận 7 và 8; liên khu 5: quận 10 và 11), do toàn bộ lực lượng cảnh sát, phòng vệ dân sự phụ trách. Nhiệm vụ của các liên khu là chống quân Giải phóng xâm nhập và ngăn chặn sự nổi dậy của quần chúng.

Bênh cạnh việc tổ chức các liên khu, địch còn phân chia các khu vực được cho là tối quan trọng, thành các yếu khu, yếu điểm. Yếu khu Tân Sơn Nhất do lực lượng phòng thủ tại sân bay canh phòng, trường hợp sân bay bị tấn công mạnh, có nguy cơ bị mất, sẽ có lực lượng tăng viện từ Bộ Tổng tham mưu; yếu điểm Bộ Tổng tham mưu chủ yếu do Liên đoàn biệt kích dù 81 và lực lượng bảo vệ Bộ Tổng tham mưu đảm nhiệm. Dinh Tổng thống, ngoài lực lượng Liên đoàn an ninh Thủ đô canh giữ, con được tăng cường 1 lữ đoàn dù bảo vệ. Ngoài ra, mỗi đặc khu ở ven đô còn có 2 đại đội địa phương quân; mỗi khóm (phố) trong nội thành có 1 trung đội nghĩa quân tham gia bảo vệ. Ở các ngã ba, ngã tư, trên các tòa cao ốc, địch gấp rút xây dựng hệ thống chướng ngại vật, thiết lập các ổ đề kháng có cả xe tăng, xe thiết giáp hỗ trợ, hòng ngăn chặn các mũi tiến công của ta và phong trào nổi dậy của quần chúng.


(1) Bộ Quốc phòng - Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương - Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh: Đại thắng mùa Xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.213.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Ba, 2011, 07:51:25 PM
Nắm bắt kịp thời toàn bộ diễn biến của tình hình chiến trường trong nước, trong khu vực có liên quan, trong bức diện gửi cho Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 22-4-1975, Bộ Chính trị chỉ trõ: “Thời cơ để mở cuộc tiến công về quân sự và chính trị vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày để kịp thời phát động tiến công. Hành động trong lúc này là đảm bảo chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Nếu để chậm sẽ không có lợi về quân sự và chính trị”(1).

Căn cứ sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và thông qua diễn biến mới về hình thái địch, ta trên chiến trường Nam Bộ (đặc biệt là chiến trường miền Đông Nam Bộ), ngày 22-4-1975, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh đã họp thông qua và phê duyệt kế hoạch tiến công tiến công Sài Gòn - Gia Định. Nắm chắc lực lượng và thế trận phòng thủ của địch ở thành phố có diện tích gần 120 km2, dân số trên 3 triệu người là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế đầu não của chế độ Sài Gòn, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh xác định rõ tư tưởng chỉ đạo: Phải chuẩn bị chu đáo, phải đánh chắc thắng; chú trọng những trận đánh quan trọng ở vòng ngoài, ven đô, không cho địch co cụm về Sài Gòn, tạo và thúc đẩy sự tan rã lớn và nhanh. Tổ chức các mũi thọc sâu, có đầy đủ sức mạnh để đột kích thật nhanh, đánh thẳng vào các mục tiêu chủ yếu để nhanh chóng “đánh ngã” địch. Tiến công quân sự phải đi trước một bước và phải giữ vai trò quyết định. Phát huy sức mạnh tổng hợp, đột kích liên tục, dồn dập cho đến toàn thắng. Coi trọng công tác bảo đảm vật chất, bảo đảm cơ động,bảo đảm thông tin liên lạc, bảo đảm dẫn đường… Phải giữ bí mật về thời gian, về lực lượng, về triển khai khu vực tập kết và công tác chuẩn bị chiến trường. Tăng cường và đẩy mạnh công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch.

Với quyết tâm giành thắng lợi trọn vẹn cho chiến dịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tập trung chỉ đạo Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng toàn bộ các quân đoàn chủ lực cơ động 1, 2, 3, 4 và Đoàn 232 (tương đương quân đoàn) gồm 15 sư đoàn, 5 trung đoàn, lữ đoàn bộ binh; 20 lữ đoàn binh chủng kỹ thuật (pháo mặt đất, pháo phòng không, công binh); 3 lữ đoàn, trung đoàn và 6 tiểu đoàn tăng thiết giáp; 8 trung đoàn, lữ đoàn đặc công; 4 trung đoàn thông tin; 1 trung đoàn tên lửa; một số đơn vị không quân, hải quân; 2 sư đoàn ôtô vận tải. Lực lượng vũ trang địa phương trong khu vực tác chiến có 2 trung đoàn, nhiều tiểu đoàn, đại đội tỉnh, thành đội, huyện đội; 6 trung đoàn đặc công, 60 tổ biệt động; toàn bộ lực lượng chính trị, binh vận… thuộc Quân khu 7 và thành phố Sài Gòn - Gia Định. Tổng cộng lực lượng tham gia chiến đấu là 270.000 (trong đó 250.000 bộ đội chủ lực, 20.000 bộ đội địa phương) và 180.000 lực lượng hậu cần chiến dịch.

Hầu hết các binh đoàn chủ lực tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh vừa lập nên những chiến thắng lẫy lừng ở Tây Nguyên, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Phan Rang, Xuân Lộc. Những đơn vị đặc công, biệt động thành, những đội công tác vũ trang bi mật rất thông thuộc địa bàn, nắm chắc mục tiêu, đã vào trong nội đô để phát động và tổ chức các lực lượng nổi dậy phối hợp với các đơn vị chủ lực từ ngoài vào. Như thế, trong chiến dịch lịch sử này, ta đã tạo được sức mạnh quân sự, chính trị ưu thế hơn hẳn địch cả về số lượng và chất lượng. Trên cơ sở thế trận và lực lượng áp đảo, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh xác định cách đánh: “Dùng một lực lượng thích hợp trên từng hướng đủ sức hình thành bao vây, chia cắt, chặn giữ quân địch không cho chúng rút chạy hoặc lùi dần về Sài Gòn. Tiêu diệt và làm tan rã tại chỗ các sư đoàn chủ lực của địch phòng thủ vòng ngoài; đồng thời dùng đại bộ phận lực lượng nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các địa bàn then chốt ở vùng ven, mở đường cho các binh đoàn đột kích cơ giới mạnh đã được tổ chức chặt chẽ, tiến nhanh theo các trục đường lớn đánh thẳng vào 5 mục tiêu chủ yếu đã được chọn trong nội thành: Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, Tổng nha cảnh sát và Dinh Độc Lập”(2).

Để tiến vào nội đô, các binh đoàn tham gia chiến dịch phải thành công những trận đánh lớn, ác liệt với quân địch ở vòng ngoài. Trên hướng Hố Nai - Biên Hòa, Long Bình, Nước Trong xuống Bà Rịa, Vũng Tàu, các binh đoàn đảm nhiệm tiến công từ hướng đông phải tiêu diệt Sư đoàn 18, Sư đoàn lính thủy đánh bộ và 2 lữ đoàn dù. Các binh đoàn đảm nhiệm tiến công từ hướng bắc, tây bắc phải đột phá các căn cứ Phú Lợi, Lai Khê, Bến Cát, thị xã Thủ Dầu Một (thuộc Bình Dương), căn cứ Gò Dầu, Trảng Bàng (Tây Ninh), Đồng Dù (Củ Chi) diệt Sư đoàn 25. Binh đoàn đảm nhiệm thướng tây nam phải tiêu diệt các căn cứ Tân An, Bến Lức (Hậu Nghĩa) diệt Sư đoàn 22 và cắt đứt đường số 4. Đồng thời, để phát triển vào nội đô được thuận lợi, việc bảo vệ và ngăn chặn địch phá hoại cầu Đồng Nai, cầu Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn (phía đông), cầu Ghềnh, cầu Mới, cầu Bình Phước, cầu Bình Triệu (phía tây bắc), cầu Tân An, cầu Bến Lức (tây nam) là hết sức quan trọng.

Do đó, để kết hợp với các binh đoàn chủ lực mạnh từ ngoài đánh vào, tiến nhanh, đánh đúng lúc vào các mục tiêu đã định, nhiệm vụ của các lực lượng đặc công, biệt động, an ninh, tự vệ, các tổ chức chính trị quần chúng (tại chỗ) là phải chủ động đánh chiếm và giữ các cầu không để địch phá; hướng dẫn và chỉ đường cho các mũi đột kích của chủ lực, khống chế các lực lượng địch tại địa bàn, ngăn cản địch cơ động chi viện lẫn nhau, phát động quần chúng nổi dậy.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.167.
(2) Văn Tiến Dũng: Đại thắng mùa Xuân 1975, Sđd, tr. 229.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Ba, 2011, 07:52:09 PM
Trên cơ sở nắm chắc thế trận và lực lượng của ta và của địch trên từng hướng, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định không tổ chức đội hình thê đội trong quá trình tác chiến, không chia bước, chia đợt như các chiến dịch thông thường mà giao khu vực tác chiến và mục tiêu tiến công cụ thể cho từng quân đoàn trên từng hướng.

Đảm nhiệm hướng tây bắc - hướng chủ yếu là Quân đoàn 3 (gồm 3 sư đoàn bộ binh 10, 320A, 316, các trung đoàn, lữ đoàn trực thuộc) do Thiếu tướng Vũ Lăng làm Tư lệnh, Đại tá Đặng Vũ Hiệp làm Chính ủy cùng với lực lượng vũ trang Tây Ninh, Củ Chi, 2 trung đoàn Gia Định (1 và 2), các tiểu đoàn đặc công, biệt động của Thành đội Sài Gòn, được hỏa lực pháo mặt đất và pháo phòng không chiến dịch chi viện. Trên hướng này, trong giai đoạn 1, dùng 1 sư đoàn bộ binh có tăng cường một số tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật, bao vây tiến công tiêu diệt các cụm địch ở Gò Dầu, Trảng Bàng, chiếm cắt đường 1, không cho địch lùi về căn cứ Đồng Dù và quận lỵ Củ Chi phòng thủ. Giai đoạn 2, sử dụng 1 sư đoàn bộ binh được tăng cường các tiểu đoàn cơ giới tiến công căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt và ngăn chặn Sư đoàn bộ binh 25 không cho chúng co cụm về Sài Gòn; đồng thời, tổ chức mũi đột kích binh chủng hợp thành quy mô sư đoàn tăng cường, nhanh chóng thọc sâu vào nội đô, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, chiếm lĩnh các quận Tân Bình và Phú Nhuận, đưa một bộ phận lực lượng cơ động về hợp điểm ở Dinh Độc Lập.

Đảm nhiệm hướng bắc là Quân đoàn 1 gồm Sư đoàn 312, Sư đoàn 320 B, Lữ đoàn pháo binh 45, Lữ đoàn tăng - thiết giáp 202, Lữ đoàn công binh 299, Sư đoàn cao xạ 367, được tăng cường Lữ đoàn pháo binh 38, Trung đoàn tên lửa 263, 3 trung đoàn công binh 239, 249, 279, ba tiểu đoàn pháo độc lập, một trung đoàn cao xạ hỗn hợp, do Thiếu thướng Nguyễn Hòa làm Tư lệnh, Thiếu tướng Hoàng Minh Thi làm chỉ huy. Trên hướng này, ta sử dụng 1 sư đoàn bộ binh và lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Bình Dương đánh chiếm căn cứ Phú Lợi, Lai Khê, Bến Cát, Tây Uyên, tiêu diệt Sư đoàn bộ binh 5; tiếp đó, tổ chức mũi đột kích binh chủng hợp thành quy mô sư đoàn tăng cường, thọc sâu vào nội đô đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu và các bộ tư lệnh binh chủng quân đội Sài Gòn ở quận Gò Vấp; đồng thời, tổ chức một lực lượng cơ động tiến về dinh Độc Lập.

Hướng đông, Quân đoàn 4 gồm Sư đoàn 7, Sư đoàn 341 và Sư đoàn 6 (Quân khu 7) cùng các đơn vị binh chủng được tăng cường Lữ đoàn 52 bộ binh (Quân khu 5), một tiểu đoàn pháo 130 mm, 3 tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp, một trung đoàn cao xạ hỗn hợp, do Thiếu tướng Hoàng Cầm làm Tư lệnh, Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện làm Chính ủy. Nhiệm vụ của các đơn vị trên hướng này là đánh chiếm khu Biên Hòa, Hố Nai (trong đó có Sở chỉ huy Quân đoàn 3 - Quân khu 3 và Sư đoàn 18), tiếp đó, tiến thẳng vào Sài Gòn đánh chiếm Dinh Độc Lập, quận 1, quận 3, Bộ Tư lệnh hải quân, Bộ Quốc phòng, Đài Phát thanh Sài Gòn…

Hướng đông nam, Quân đoàn 2 gồm 3 sư đoàn bộ binh (304, 325, 3), Lữ đoàn pháo binh 164, Lữ đoàn xe tăng 203, Lữ đoàn công binh 219, Sư đoàn cao xạ 673 (khoảng 40.000 người) do Thiếu tướng Nguyễn Hữu An làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Linh làm Chính ủy, được sự phối hợp của Trung đoàn đặc công 116 miền, lực lượng vũ trang Bà Ria - Vũng Tàu, có nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Nước Trong, Chi khu Long Bình, chi khu Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, bến phà Cát Lái, Chi khu Đức Trạch, thị xã Bà Rịa, thị xã Vũng Tàu; vượt sông Đồng Nai đánh chiếm quận 9, quận 4; trong trường hợp nếu đơn vị bạn phát triển chậm thì chủ động đánh chiếm quận 1, quận 3 và Dinh Độc Lập.

Hướng tây và tây nam, Quân đoàn 232 có 3 sư đoàn bộ binh (3, 5 và Sư đoàn 9 thuộc Quân đoàn 4) và 4 trung đoàn độc lập (16, 88, 24, 27B), 1 trung đoàn đặc công, 3 tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật và một số đơn vị thuộc Quân khu 8 (quân số khoảng 42.000 người) do Trung tướng Lê Đức Anh làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Văn Tưởng làm Chính ủy. Sư đoàn 232 có nhiệm vụ: tiêu diệt 2 trung đoàn (Sư đoàn 25 quân đội Sài Gòn, mở tuyến sông Vàm Cỏ, phát triển xuống Tân An, cắt đứt triệt để đương số 4 (đoạn Bến Lức - Trung Lương), chặn địch rút chạy từ Sài Gòn về miền Tây, hoặc từ miền Tây lên tăng viện cho Sài Gòn, tiêu diệt hoàn toàn quân địch ở Hậu Nghĩa; sau khi hoàn thành các nhiệm vụ trên, tổ chức một mũi thọc sâu binh chủng hợp thành quy mô sư đoàn tăng cường đánh chiếm Biệt khu Thủ đô; một mũi khác (lực lượng tương đương sư đoàn), đánh chiếm cầu Nhị Thiên Đường, Tổng nha Cảnh sát, quận 5, 6, 7, 8.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Ba, 2011, 07:53:51 PM
Các đoàn đặc công, các đội biệt động của Miền, Quân khu 7 và Thành đội Sài Gòn(1) có nhiệm vụ chủ động tổ chức tập kích các sân bay, bến cảng, kho tàng, trận địa hỏa lực; phát động nhân dân nổi dậy diệt các đồn bốt nhỏ lẻ, mở rộng địa bàn đứng chân, đánh chiếm và giữ các đầu cầu. Khi chiến dịch nổ ra, các đội này sẽ đảm nhận việc dẫn đường, phối hợp cùng các hướng, các mũi đánh chiếm những mục tiêu trong thành phố, làm nòng cốt cho quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ. Với vị trí, tính chất, sở trường của từng đơn vị, Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ: Trung đoàn đặc công 116 phối hợp với lực lượng vũ trang huyện Thủ Đức luồn sâu, bí mật chiếm giữ các cầu Đồng Nai, cầu Rạch Chiếc, cầu Sài Gòn (trên xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn), diệt tàu chiến trên sông, dẫn đường cho Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2 thọc sâu đánh vào nội thành; Đoàn đặc công 112 được biệt động hỗ trợ đánh chiếm cầu Ghềnh, cầu Bình Triệu và dẫn đường cho bộ đội chủ lực thọc sâu đánh vào quận 1…; Đoàn đặc công 115 đánh chiếm cầu Bình Phước, dẫn đường vào phối hợp với Quân đoàn 1 tiến công Bộ Tư lệnh các binh chủng, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn; Đoàn đặc công 198 phối thuộc cùng Quân đoàn 3, giai đoạn đầu luồn sâu đánh chiếm và chốt giữ cầu Bông, cầu Sáng, bảo đảm đường cơ động cho Quân đoàn 3 tiến vào Hóc Môn, phát triển đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất; Đoàn đặc công 117 đánh chiếm cầu Bến Lức, cầu Bình Điền, tập kích trận địa pháo, khu truyền tin Phú Lâm, dẫn đường cho Sư đoàn 9 thọc sâu đánh chiếm Biệt khu thủ đô; Đoàn đặc công 429 đánh chiếm các trận địa pháo, dẫn đường và phối hợp cùng chủ lực đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát, cầu chữ Y và các quận 6, 7, 8; Đoàn 10 (đặc công Rừng Sát) phối hợp với đơn vị bạn đánh chiếm khu vực Nhà Bè, chặn cắt sông Lòng Tàu không cho tàu thuyền địch chạy ra biển.

Trong kế hoạch tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định, lực lượng binh khí, kỹ thuật, quân chủng, binh chủng tham gia chiến dịch sẽ được sử dụng như sau: pháo binh tầm xa triển khai trận địa ở Hiếu Liêm, Tân Phước Khánh, Tân Phước Trung, Mỹ Hạnh, Việt Cần, Nhơn Trạch… tập kích phá hủy và khống chế các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Dinh Độc Lập, Biệt khu Thủ đô, Tổng nha Cảnh sát… theo kế hoạch hiệp đồng và yêu cầu của bộ binh tác chiến trên từng hướng; đồng thời, chuẩn bị các trận địa, đài quan sát theo dõi, sẵn sàng bắn phá các tàu thuyền trên sông Sài Gòn, Lòng Tàu và phá hủy các trận địa hỏa lực cố định, hoặc cơ động của địch. Các trận địa pháo phòng không hỗn hợp bảo vệ tuyến vận tải chiến lược, chiến dịch, các trận địa pháo, sở chỉ huy binh chủng hợp thành trong hành tiến và chiến đấu; khi tiến công (nếu kỹ thuật xạ kích thuận lợi), bắn thẳng vào các mục tiêu xuất hiện trên đường phố, trên các nhà cao tầng. Các trận địa tên lửa bố trí ở hướng bắc và tây bắc sẵn sàng tiêu diệt mục tiêu trên không, bảo vệ đội hình chủ yếu của chiến dịch; khi phát triển tiến công, cơ động vào các khu vực khống chế vùng trời Sài Gòn. Không quân tham gia đánh phá sân bay, phối hợp, hỗ trợ bộ binh, hải quân đánh chiếm các đảo, vận tải và tiếp quản các sân bay. Hải quân phối hợp với bộ binh giải phóng các đảo, tiếp quản các căn cứ hải quân địch. Công binh bảo đảm đường cho bộ binh, cơ giới hành tiến, chuẩn bị vật chất, kỹ thuật khắc phục cầu phà hư hỏng. Thông tin liên lạc bảo đảm thông tin chỉ huy thông suốt, chú trọng hai hướng đông và tây nam, đặc biệt là các đơn vị binh chủng hợp thành thọc sâu chiến dịch. Bộ đội vận tải đảm nhiệm vận chuyển vật chất, đạn dược xuống các hướng và trực tiếp chở bộ đội cơ động chiến đấu, chủ yếu là lực lượng thọc sâu.

Do địa bàn tác chiến rộng lớn và tác chiến phức tạp của các khu vực mục tiêu, chiến dịch dự kiến sẽ diễn ra thành hai đợt, trong khoảng thời gian từ 4 đến 5 ngày.

Đợt một (từ ngày 26 đến ngày 28-4), thực hành tác chiến ở vùng ven (vòng ngoài; các quân đoàn trên hướng bắc, tây bắc bao vây tiêu diệt hai sư đoàn địch (5, 25) ở Tân Uyên, Phú Lợi (Bình Dương), Trảng Bàng (Tây Ninh), Đồng Dù (Củ Chi); các binh đoàn ở hướng đông và đông nam đồng loạt đánh chiếm các trọng điểm phòng thủ Trảng Bom, Biên Hòa, Long Bình, Nước Trong, Long Thành, Bà Rịa, cắt đường 15 và sông Lòng Tàu; cánh quân hướng tây nam bao vây Tân An, Hậu Nghĩa, diệt Sư đoàn 22, cắt đứt đường 4. Mục đích tác chiến của đợt một là tập trung cô lập và tiêu diệt cơ bản quân địch phòng thủ ở Biên Hòa, Bình Dương, Tây Ninh, Long An, tạo điều kiện cho các đơn vị binh chủng hợp thành trên từng hướng thọc sâu, áp sát khu vực nội đô, di chuyển các trận địa pháo tầm xa vào bên trong, phối hợp với không quân khống chế, bắn phá tất cả các mục tiêu chủ yếu.

Đợt hai (từ ngày 29 đến ngày 30-4): toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch hành tiến tiêu diệt những mục tiêu án ngữ ở các khu vực ven đô, chiếm các địa bàn, các trục đường quan trọng, sau đó nhanh chóng triển khai đội hình thọc sâu đột phá vào nội đô; lực lượng vũ trang ở vùng ven bao gồm bộ đội đặc công, biệt động thành dội, các đội vũ trang công tác của Thành ủy… chiếm giữ các đầu cầu, các mục tiêu kinh tế quan trọng, không cho địch phá hoại, đồng thời tổ chức vận động nhân dân nổi dậy phối hợp với đòn tiến công quân sự của bộ đội chủ lực đánh chiếm các mục tiêu then chốt trong nội thành.

Trên hai hướng đông - đông nam và tây nam, Bộ Tư lệnh chiến dịch phân công Trung tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng kiêm Phó Tư lệnh chiến dịch, trực tiếp chỉ huy Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4; Trung tướng Lê Đức Anh - Phó Tư lệnh chiến dịch trực tiếp chỉ huy Đoàn 232. Sở chỉ huy cơ bản chiến dịch được dự kiến sẽ chuyển từ Lộc Ninh lên khu vực Dầu Tiếng khi bộ đội tổng công kích vào các mục tiêu trong nội đô.


(1) Ngoại thành có 7 đoàn, 4 tiểu đoàn, hàng chục đội biệt động; nội thành có Trung đoàn Thành đội, 60 tổ biệt động, 300 quần chúng vũ trang và lực lượng quần chúng có tổ chức do bộ đội biệt động trực tiếp chỉ huy; các đại đội, tiểu đoàn địa phương các huyện, quận; chưa kể hàng trăm cán bộ, hàng trăm đội viên vũ trang tuyên truyền, hàng trăm đảng viên và hàng nghìn đoàn viên các đoàn thể Thành ủy Sài Gòn - Gia Định đã vào nội đô.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Ba, 2011, 07:57:24 PM
Sài Gòn đang trong những ngày trở nên hỗn loạn người Mỹ và nhiều nhân vật cao cấp của chế độ Sài Gòn gấp rút di tản khỏi miền Nam. Lực lượng đặc nhiệm Mỹ với 35 tàu chiến, 4 tàu sân bay cùng hàng trăm máy bay các loại được huy động vào chiến dịch di tản này. Núp dưới chiêu bài “nhân đạo”, Mỹ đã đưa hàng trăm trẻ em người Việt trong một số cô nhi viện ở miền Nam sang Mỹ nhằm phục vụ mưu đồ chính trị sau này.

Từ Hà Nội, trong khi chỉ đạo quân dân cả nước dồn sức cho chiến dịch lịch sử mang tên Bác, các cơ quan chiến lược đồng thời có những chủ trương, giải pháp nhằm ổn định những vùng mới giải phóng, chuẩn bị cho việc tiếp quản thành phố Sài Gòn. Ngày 18-4-1975, Ban Bí thư Trung ương ra chỉ thị Về chính sách đối với tù, hàng binh trong tình hình mới, trong đó chỉ rõ:

“1 - Binh sĩ khởi nghĩa: về chính trị, được coi như quần chúng cách mạng, về sinh hoạt vật chất được đãi ngộ như cán bộ, chiến sĩ ta, được sắp xếp công tác tùy theo trình độ giác ngộ chính trị và năng lực của từng người (…).

2 - Binh sĩ giác ngộ trở về với cách mạng: được hưởng quyền công dân, được đối xử về tinh thần và vật chất như những công dân bình thường.

3 - Tù binh: được đối xử nhân đạo theo đúng chính sách của ta”(1).

Lúc này, trước sức tiến công và nổi dậy mạnh mẽ của quân và dân ta, nhiều thành phố và tỉnh đã hoàn toàn được giải phóng; nhiều binh lính, sĩ quan nhân viên quân đội và chính quyền Sài Gòn ở lại địa phương. Để mau chóng thiết lập và ổn định trậ ttự an ninh, đưa sinh hoạt vùng mới giải phóng sớm trở lại bình thường, Đảng và Nhà nước đã cử nhiều đoàn cán bộ dân - chính - đảng từ miền Bắc vào, tăng cường cho các vùng giải phóng, đồng thời, ban hành một số chính sách, biện pháp đối với binh lính, sĩ quan, nhân viên quân đội và chính quyền cũ. Trong chỉ thị ngày 19-4-1975, Ban Bí thư cho rằng: “Chính sách của Mỹ - ngụy trong vùng tạm bị chiếm là bôi đen mọi người để bắt theo chúng. Cho nên trong công tác đấu tranh chống bọn phản cách mạng, ta phải đánh mạnh, đánh đúng những phần tử ác ôn ngoan cố, bọn chống phá cách mạng một cách có ý thức, bọn phản cách mạng hiện hành. Nhưng ta không được lẫn lộn bọn này với những người bị địch cưỡng ép vào những tổ chức chính trị hay vũ trang của chúng. Đối với những người bị địch cưỡng ép, ta phải thi hành chính sách khoan hồng, giáo dục cải tạo, mở đường cho họ tiến bộ”(2). Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu mới của tình hình, nhờ quản lý tốt các thành phố, thị xã và vùng nông thôn mới giải phóng, trong bức diện số 19, ngày 19-4-1975, gửi Trung ương Cục, Khu ủy Khu 5, Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế và Tỉnh ủy Quảng Trị, Ban Bí thư đã nêu rõ chủ trương và một số giải pháp cấp bách về tổ chức bộ máy đảng, nhà nước và các tổ chức quần chúng ở những vùng này. Đối với thành phố Sài Gòn, để chuẩn bị cho công tác tiếp quản, ngày 21-4-1975, Ban Bí thư gửi cho Thường vụ Trung ương Cục bức diện số 178, trong đó khẳng định: “Công tác tiếp quản Sài Gòn chẳng những có ý nghĩa quan trọng, biểu hiện trình độ chính trị và trình độ tổ chức của chính quyền cách mạng đối với nhân dân thành phố, mà còn đối với cả thế giới nữa”(3) Ban Bí thư yêu cầu công tác tiếp quản Sài Gòn - Chợ Lớn phải đạt được các yêu cầu sau đây:

“a) Tiếp quản tốt các cơ sở quân sự, kinh tế, chính trị, hành chính, văn hóa, v.v. của địch, giữ gìn tốt tài sản quốc gia.

b) Lập lại nhanh và giữ vững an ninh trật tự, quản lý tốt bọn ngụy quân, ngụy quyền, trấn áp kịp thời bọn phản cách mạng hiện hành.

c) Khôi phục nhanh chóng sinh hoạt bình thường của nhân dân.

d) Phát động được phong trào cách mạng của quần chúng.

e) Đạt được ảnh hướng chính trị tối trong và ngoài nước”(4).

Bên cạnh công tác chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn - Gia Định, Ban Bí thư cũng yêu cầu Trung ương Cục, Khu ủy Khu 5, hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế báo cáo ngay về tình hình an ninh, trật tự các địa phương; về kiểm kê, thu hồi,bảo quản, bảo vệ, quản lý tài sản quốc gia hiện có tại các vùng giải phóng; về những vấn đề cấp bách trong đời sống nhân dân, nhất là ở các thành phố, thị xã, thị trấn; việc phục hồi sản xuất, khôi phục kinh tế, văn hóa, tìm và tạo công ăn việc làm cho nhân dân.

Trước tội ác của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, trong những ngày còn lại của chế độ tay sai do Mỹ dựng lên cưỡng ép đồng bào ta di cư, đặc biệt là việc bắt các trẻ em đưa đi Mỹ và một số nước khác, trong bức diện số 191, ngày 26-4-1975, Ban Bí thư chỉ rõ âm mưu và thủ đoạn thâm độc của phía Mỹ và chính quyền Sài Gòn “là vấn đề chính trị nghiêm trọng…”. Vì thế, “phải kịp thời và liên tục tố cáo chúng, chặn đứng âm mưu “di tản đó”(5) của địch. Trên mặt trận thông tin, tuyên truyền, “đi đôi với đài, báo tiếp tục lên án, cần mở một chiến dịch tuyên truyền rộng rãi trong quần chúng vùng mới giải phóng, vạch trận hành động dã man này của địch… gây thành một phong trào rầm rộ trong quần chúng”(6).

Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, trước diễn biến mau lẹ của tình hình chiến trường, trước sức tiến công áp đảo của Quân giải phóng, nội bộ chính quyền, quân đội Sài Gòn tiếp tục có sự phân hóa mạnh mẽ. Ngày 26-4-1975, Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên và nhiều quan chức cao cấp của chính quyền Sài Gòn chạy ra nước ngoài. Lúc này, một số tướng lĩnh chóp bu của quân đội Sài Gòn đang xúc tiến chiếm ghế tổng thống nhưng tính toán ấy không nhận được sự ủng hộ của Mỹ và Pháp… Vào lúc đó, Sài Gòn đã bị vây chặt; các cánh quân của ta đã tập kết tại các bàn đạp tiến công.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.122.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.150.
(3), (4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.158-59, 173..
(5), (6) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr.173, 171


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Ba, 2011, 08:02:38 PM
Sáng ngày 26-4-1975, bộ phận tiền phương của Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh chuyển xuống Căm Xe phía bắc Dầu Tiếng.

17 giờ ngày 26-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu.

Các binh đoàn tham gia chiến dịch trên năm hướng(1) tiến công tuyến phòng thủ vùng ven, phá vỡ các mắt xích phòng thủ vòng ngoài của quân đội Sài Gòn, cắt đứt giao thông đường bộ, đường thủy xuống đồng bằng sông Cửu Long và ra biển, khống chế các sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất, Trà Nóc (Cân Thơ), chế áp các trận địa pháo quan trọng, vây ép Sài Gòn trên tất cả các hướng, không cho các sư đoàn chủ lực quân đội Sài Gòn co cụm về vùng ven và nội đô, tạo điều kiện cho bước kế tiếp tiến công đồng loạt vào sào huyệt địch.

Ở hướng đông và đông nam, 18 giờ ngày 26-4-1975, sau màn hỏa lực bắn phá dồn dập của hàng chục trận địa pháo binh dội xuống mục tiêu địch ở Trảng Bom, Hố Nai, Biên Hòa, Nước Trong, Long Thành, Đức Thạnh, Bà Rịa, các sư đoàn bộ binh của Quân đoàn 4 và Quân đoàn 2 bắt đầu mở cuộc tiến công.

Trên khu vực Quân đoàn 4 (hướng đông), Sư đoàn bộ binh 341 được tăng cường 1 tiểu đoàn xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ hỗn hợp và hỏa lực chiến thuật cấp trung đoàn, tiểu đoàn do Đại tá Trần Văn Trân làm Sư đoàn trưởng, Đại tá Nguyễn Đô làm Chính ủy trực tiếp chỉ huy, nổ súng đánh chiếm yếu khi Trảng Bom - mắt xích trọng yếu trên tuyến phòng ngự phía trước của địch. Nhiều trận chiến đấu dữ dội kéo dài hàng giờ giữa xe tăng, xe thiết giáp của ta và xe tăng, xe thiết giáp của địch diễn ra khốc liệt. Đến sáng ngày 27-4, địch bị thiệt hại nặng ở tiền duyên, núng thế và buộc phải lùi dần, nhưng vẫn ngoan cố dựa vào hệ thống công sự và nhà cao tầng trong thị trấn kháng cự điên cuồng. Bộ đội pháo cao xạ 23 mm, 37 mm và xe tăng của ta phải hạ thấp nòng ngắm bắn trực tiếp vào các ổ đề kháng để hỗ trợ cho bộ binh dùng những khối bộc phá 5 kg, 10 kg phá hủy lô cốt, hầm ngầm của địch. Không chịu nổi những đòn đánh táo bạo, quyết liệt, địch ở Trảng Bom phải tháo chạy về Hố Nai. 8 giờ 30 phút ngày 27-4, Sư đoàn bộ binh 341 làm chủ hoàn toàn yếu khu Trảng Bom, đánh thiệt hại nặng hai trung đoàn của Sư đoàn 18 địch, loại khỏi vòng chiến đấu 2.000 tên, thu và phá hủy gần 100 xe cơ giới các loại (một nửa là xe tăng, xe thiết giáp), làm chủ 14 km đường số 1.

Cùng thời gian, Sư đoàn bộ binh 6 do Sư đoàn trưởng Đặng Ngọc Sỹ chỉ huy được tăng cường Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7), 1 tiểu đoàn xe tăng, 2 tiểu đoàn pháo cao xạ tiến theo phía nam đường 1 để đập tan các khu vực phòng thủ của địch ở suối Ông Hoàng, làm tan rã Trung đoàn 5 thiết giáp địch ở ngã ba Yên Thế; nhưng khi phát triển đến Long Lạc, Hố Nai thì bị địch co cụm tại đây chống trả quyết liệt.

Mũi thọc sâu Sư đoàn bộ binh 7 (do đại tá Lê Nam Phong làm Sư đoàn trưởng, Đại tá Phạm Liên làm Chính ủy) được tăng cường Lữ đoàn bộ binh 52, 2 đại đội xe tăng, 50 xe cơ giới, tổ chức thành hai thê đội: thê đội 1 là Trung đoàn 165, thê đội 2 là Trung đoàn 141. Đêm ngày 28-4, mũi thọc sâu của Sư đoàn 7 hành tiến theo đường quân sự làm gấp đến Suối Đỉa, sau đó theo đường 1 vào Long Lạc, Hố Nai thì bị địch chặn lại. Tại đây, 2 Sư đoàn bộ binh (341, 6) đang tập trung lực lượng đột phá Hố Nai, nên Sư đoàn 7 phải tạm dừng. Đòn tiến công của Quân đoàn 4 từ Hốn Nai đến Tam Hiệp diễn ra cực kỳ ác liệt. Sử dụng tăng - thiết giáp 3, Lữ đoàn dù 4 và lực lượng địa phương quân Sài Gòn dựa vào hệ thống phòng thủ khá vững chắc, gồm nhiều tuyến hào chống tăng, trận địa hỏa lực, bãi mìn, vật cản dày đặc, ngoan cố chống trả các đợt tiến công của ta, khiến cuộc tiến công của quân đoàn gặp rất nhiều khó khăn. Trước sức tiến công liên tục, quyết liệt, áp đảo cả về xung lực, hỏa lực, nên rạng sáng ngày 29-4, địch phải di chuyển máy bay ở sây bay Biên Hòa về sân bay Tân Sơn Nhất, rút Sở chỉ huy Quân đoàn 3 về Gò Vấp, Sài Gòn.


(1) Hướng tây bắc: Quân đoàn 3, hướng bắc: Quân đoàn 1, hướng đông nam: Quân đoàn 2, hướng đông: Quân đoàn 4, hướng tây và tây nam: Đoàn 232 và Sư đoàn 8 thuộc Quân khu 8.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Ba, 2011, 02:02:28 PM
Phối hợp chặt chẽ với Quân đoàn 4, trên hướng đông nam, chiều ngày 28-4, Quân đoàn 2 cho Sư đoàn bộ binh 3, được tăng cường 1 đại đội xe tăng T.54 do Sư đoàn trưởng Lâm Bá Khuê chỉ huy, đánh chiếm chi khu Đức Thạnh. Sau 2 giờ chiến đấu trong thế áp đảo, bộ đội ta đã làm chủ các khu vực Bình Giã, Ngãi Giao, Núi Đất, hỗ trợ du kích và nhân dân địa phương nổi dậy giải phóng Xuyên Mộc, Long Lễ; sau đó, sư đoàn chuyển sang truy kích địch rút chạy. 21 giờ cùng ngày, Trung đoàn bộ binh 141 và Đại đội xe tăng 4 được pháo binh quân đoàn chi viện hỏa lực, tiến công thị xã Vũng Tàu. Trước sức mạnh vượt trội của lực lượng tiến công, quân địch phản ứng yếu ớt rồi bỏ chạy. Trưa ngày 27-4, quân ta giải phóng thị xã Bà Rịa, chiếm trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp, hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ. Trên đà thắng lợi, sư đoàn 3 cho bộ đội phát triển đánh chiếm Vũng Tàu. Địch tập trung lực lượng khá lớn ở phía đông cầu Cỏ May (đã bị phá sập) để chặn đường quân ta. Do vậy, sư đoàn phải đưa một bộ phận luồn sâu xuống Long Điều, dùng thuyền của dân vượt sông, tạo mũi vu hồi uy hiếp phía sau, buộc địch phải rút chạy khỏi cầu Cỏ May tạo điều kiện cho công binh khôi phục cầu. Được bộ đội chủ lực hỗ trợ, 2 tiểu đoàn bộ đội địa phương Bà Rịa, 2 đại đội địa phương Long Đất và du kích tại chỗ tiến công giải phóng Bình Đà, Hòa Long, Long Phước, Phú Nhơn. 17 giờ ngày 27-4, ta làm chủ khu vực Long Hải, Bà Rịa. 16 giờ ngày 29-4, ta giải phóng thị xã Vũng Tàu.

Ở mũi trung tâm của Quân đoàn 2, Sư đoàn bộ binh 325 do Sư đoàn trưởng - Đại tá Phạm Minh Tâm chỉ huy, được sự chi viện đắc lực của pháo binh chiến dịch, nhanh chóng đánh chiếm ngã ba đường 10 và 15. 17 giờ ngày 26-4, quân ta làm chủ trận địa. Tiếp đó, sư đoàn tiến công Chi khu quân sự Long thành. Qua gần một ngày, đêm chiến đấu dũng cảm, táo bạo, chiều ngày 27-4, Sư đoàn bộ binh 325 đã diệt 3 tiểu đoàn (trong đó có 1 tiểu đoàn dù), bắt 500 tù binh, làm chủ Chi khu Long Thành; một bộ phận của sư đoàn phát triển tiến công giải phóng Thái Lạc, Phước Thiềng, Phú Lợi, bao vây cứ điểm Long Tân. Một bộ phận khác của sư đoàn được giao nhiệm vụ đánh chiếm Nhơn Trạch để triển khai pháo chiến dịch tập kích vào sân bay Tân Sơn Nhất. ngày 27-4, ta bắt đầu tiến công Nhơn Trạch. Địch dựa vào hầm hào cố thủ chống trả quyết liệt, khiến quân ta không thể chiếm được mục tiêu theo đúng thời gian quy định. Sáng ngày 28-4, sư đoàn tập trung lực lượng và hỏa lực, chai thành nhiều mũi, đồng loạt tiến công, mãnh liệt vào Nhơn Trạch. Sau nhiều giờ chiến đấu, ta đã làm chủ Nhơn Trạch. Sư đoàn bộ binh 325 nhanh chóng đưa một bộ phận Lữ đoàn pháo binh 164 vào chiếm lĩnh trận địa, nã đạn xuống sân bay Tân Sơn Nhất.

Sư đoàn bộ binh 304 do Đại tá Nguyễn Ân làm Sư đoàn trưởng, Đại tá Trần Bình làm Chính ủy, là mũi tiến công bên phải đội hình Quân đoàn 2, có nhiệm vụ tiến công căn cứ Nước Trong. Chiều ngày 26-4, một bộ phận của sư đoàn gồm 2 trung đoàn 9, 24 được pháo binh và xe tăng chi viện, đánh chiếm Trường huấn luyện thiết giáp, Trường huấn luyện bộ binh, Trường huấn luyện biệt kích. Địch huy động toàn bộ lực lượng học viên, Lữ đoàn 468 phản kích. Không quân địch nhào tới đánh xuống đội hình tiến công của ta. Hỏa lực chống tăng và cả xe tăng chôn ngầm của quân đội Sài Gòn khống chế quyết liệt các mũi phát triển của Trung đoàn 24. Bốn xe tăng ta bị bắn cháy, lực lượng bị thương vong. Dù vậy, bộ đội ta vẫn trụ bám trận địa, tổ chức đánh địch phản kích, chờ thêm quân tăng viện. Được quân đoàn tăng cường 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội xe tăng, Sư đoàn 304 nhanh chóng giành lại ưu thế, đập tan các đợt phản kích của địch. Sáng ngày 29-4, ba mũi chính diện, thọc sâu, vu hồi chia cắt địch của sư đoàn mở cuộc tiến công vào các mục tiêu. 10 giờ ngày 29-4, sư đoàn đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, làm chủ căn cứ Nước Trong và các khu vực lân cận. Trên đà thắng lợi, Sư đoàn phát triển tiến công, đánh chiếm căn cứ Long Bình, tạo điều kiện cho mũi thọc sâu bộ binh cơ giới của quân đoàn phát triển ra xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn.

Phối hợp tác chiến với các binh đoàn chủ lực trên hướng đông và đông nam, các đơn vị bộ đội chủ lực miền bao gồm đặc công, biệt động được du kích ven đô hỗ trợ, cũng chủ động đánh chiếm các mục tiêu quan trọng theo kế hoạch. Đêm ngày 27-4, Đoàn đặc công 113 chia thành ba mũi luồn sâu mật tập cầu Ghềnh, cầu Rạch Chiếc, cầu Rạch Cát. Địch tập trung lực lượng phản kích quyết liệt, chiếm lại các đầu cầu. Đêm ngày 28-4, được tăng cường một bộ phận của Đoàn đặc công 193, Đoàn đặc công 113 mở cuộc tiến công giành lại và chốt giữ các đầu cầu. Cuộc chiến đấu diễn ra trong thế giằng cho hết sức ác liệt. Ở cầu xa lộ Đồng Nai, mặc dù địch tổ chức bố phòng nhiều tầng cả dưới sông và trên hai đầu cầu, nhưng sau hơn 3 giờ bí mật tiếp cận thành công, một bộ phận lực lượng của Đoàn đặc công 116 bất ngờ nổ súng đánh chiếm và trụ lại chốt giữ cầu, bảo đảm cho các mũi thọc sâu bộ binh cơ giới hành tiến vào nội đô. Ngày 29-4, Đoàn đặc công 116 cho 2 đại đội tăng cường mật tập, đánh chiếm Bộ chỉ huy tiếp vận và kho xăng trong khu vực tổng kho Long Bình. Đại đội 10 đánh chiếm cầu Bến Gỗ (Cát Lái). Đoàn 10 đặc công Rừng Sát tập kích đồn Phước Khánh, ngã ba Đồng Tranh, diệt 10 tàu chiến đấu trên sông Sài Gòn của địch.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Ba, 2011, 02:03:59 PM
Trên hướng tiến công chủ yếu tây bắc, Quân đoàn 3 vào trận với khí thế áp đảo địch, cho dù lực lượng địch trên hướng này còn đông(1), hỏa lực mạnh, phòng thủ theo chiều sâu, có nhiều cứ điểm vững chắc. Nhiệm vụ chủ yếu của Quân đoàn 3 là: “Tổ chức lực lượng đột kích liên tục, đánh ngã địch chiếm các mục tiêu then chốt trong thành phố. Đánh Sư đoàn 25 ở ngoài chỉ là điều kiện, không thể đánh sư đoàn này mà dùng nhiều lực lượng, hoặc giằng co mất nhiều thời gian. Đánh ngoài và đột kích vào trong là đồng thời, không chia thành bước. Nhiệm vụ chính là bên trong. Mục tiêu chiến của Quân đoàn 3 là sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu”(2) quân đội Sài Gòn. Để tạo điều kiện thuận lợi cho Sư đoàn 10 thọc sâu đánh chiếm Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu quân lực Việt Nam Cộng hòa, Sư đoàn bộ binh 316, Sư đoàn bộ binh 320A và Trung đoàn đặc công 198 phải đánh chiếm hoặc khống chế bằng được nhiều mục tiêu quan trọng, đặc biệt là bốn mục tiêu ở Trảng Bàng, Đồng Dù, cầu Bông, cầu Sáng trên đường số 1 và đường 15.

Trong hai ngày 25 và 26-4, với sự phối hợp chặt chẽ giữa pháo binh quân đoàn, trên cơ sở tính toán phân tử xạ kích chính xác, hỏa lực pháo binh ta đã chế áp có hiệu quả được một loạt trận địa pháo binh địch ở Lào Táo, Phước Hiệp, Suối Sâu, Trà Võ. Bông Tráng, Bến Nương, Bàu Nâu, Cẩm Giàng…, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bộ binh tiếp cận căn cứ địch. Được pháo binh chiến dịch chi vện đắc lực, chiều ngày 26-4, Sư đoàn bộ binh 316 do Đại tá Sư đoàn trưởng Đàm Văn Ngụy chỉ huy đã mở cuộc tiến công quét sạch một loạt đồn bốt địch dọc quốc lộ 1, các đoạn từ Phước Mỹ đến gần Trảng Bàng, từ Bàu Nâu đến Trà Võ trên đường 22, làm chủ Suối Ao, Trung Hàng, khống chế các trung đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh 25 địch ở Gò Dầu, Trảng Bàng, không cho chúng rút chạy về Đồng Dù, Củ Chi. Ngày 27-4, sư đoàn tiếp tục đánh bại hai đợt phản kích của bộ binh và xe tăng địch nằhm ở rộng vòng vây bảo vệ Trảng Bàng. Trước thế trận vây ép và liên tục công kích mạnh của ta, ngày 28-4, một tiểu đoàn của Trung đoàn 50 địch ra hàng. Rạng sáng ngày 29-4, được sự phối hợp của lực lượng vũ trang tỉnh Tây Ninh, Sư đoàn bộ binh 316 tập trung tiến công tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ 2 trung đoàn 46, 49 (thiếu), 1 chiến đoàn thiết giáp thuộc Sư đoàn bộ binh 25 địch, làm chủ Chi khu Trảng Bàng, giải phóng khu vực Gò Dầu Hạ đến giáp Củ Chi.

Trên khu vực địa đạo Củ Chi, Sư đoàn bộ binh 320A do Sư đoàn trưởng Bùi Đình Hòe chỉ huy, sau một đêm hành quân tiềm nhập trận địa, 5 giờ 30 phút sáng ngày 29-4, bất ngờ nổ súng tiến công căn cứ Đồng Dù - nơi đặt Sở chỉ huy cơ bản của Sư đoàn bộ binh 25. Chuẩn tướng Lý Tòng Bá - Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh 25 quân đội Sài Gòn huy động toàn bộ lực lượng hiện có trong căn cứ gồm 2 tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn thiết giáp và các tiểu đoàn huấn luyện, pháo binh, công binh, trinh sát…, quân số khoảng 3.000 được xe tăng ẩn sau bờ tường đất chi viện, chống trả ta quyết liệt. Ở cửa mở hướng tây bắc, hai tiểu đoàn 1 và 3 thuộc Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320A), mặc dù được pháo binh và xe tăng yểm trợ trực tiếp, nhưng qua 2 giờ tiến công với ba lần đột phá, vẫn chưa mở xong hàng rào cuối cùng. Trên cửa mở phía tây nam, Trung đoàn bộ binh 9 cũng gặp nhiều khó khăn, chỉ mở được 6 trong 9 hàng rào và bị 1 tiểu đoàn bộ binh của Trung đoàn 46 địch, có chi đoàn thiết giáp yểm trợ, từ Trảng Bàng về Đồng Dù phản kích, buộc trung đoàn phải san sẻ lực lượng đón đách quân cứu viện này.

Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320A lệnh cho Trung đoàn 48 đưa lực lượng dự bị gồm Tiểu đoàn 2 và đại đội xe tăng vào đột phá theo cửa mở Tiểu đoàn 1, chiếm khu công binh, trường huấn luyện, lập bàn đạp dột phá Sở chỉ huy Sư đoàn địch. Một bộ phận lực lượng bộ binh có xe tăng yểm trợ, đã đột phá mãnh liệt, vượt qua cửa mở. Chớp thời cơ, 2 tiểu đoàn 1 và 3 cùng bật dậy, phát triển ra hai bên rồi nhằm hướng cột ăngten lớn đánh tới. Sau hơn 1 giờ đột phá qua các cụm chốt trong căn cứ địch, Trung đoàn 48 và một bộ phận của Trung đoàn 9 đã làm chủ Sở chỉ huy Sư đoàn 25. Chuẩn tướng Lý Tòng Bá và cấp dưới cải trang chạy ra rừng cao su Bắc Hà lần trốn và tại đó, đã bị du kích Củ Chi bắt sống. 11 giờ ngày 29-4, Sư đoàn bộ binh 320A hoàn toàn làm chủ căn cứ Đồng Dù, mở toang cánh cửa tây bắc nội đô Sài Gòn.

Việc căn cứ Đồng Dù bị đánh chiếm đã tạo thêm điều kiện cho Sư đoàn bộ binh 316 chuyển từ vây ép sang phản kích, tiêu diệt phần lớn các cụm quân địch trên tuyến phòng thủ vòng ngoài từ Củ Chi qua Gò Dầu, tạo thơi cơ hết sức thuận lợi cho Sư đoàn bộ binh 10 và lực lượng tăng cường (gồm Trung đoàn 64 - Sư đoàn bộ binh 320A, Trung đoàn đặc công 198, các tiểu đoàn pháo binh, công binh) trên hướng thọc sâu phát triển đánh chiếm các mục tiêu vùng ven, áp sát bàn đạp tiến công sâu vào nội đô. Để tiến công các mục tiêu trong nội đô, Sư đoàn 10 tổ chức lực lượng thọc sâu do Sư đoàn trưởng Sư đoàn 10 Hồ Đệ chỉ huy. Lực lượng thọc sâu này được chia thành hai mũi. Mũi thứ nhất gồm Trung đoàn 24, Lữ đoàn xe tăng 273, 1 tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp. Mũi này cơ động qua phía bắc quận lỵ Củ Chi, đánh tan cụm địch có xe tăng và xe thiết giáp yểm trợ chạy từ Hậu Nghĩa về, rồi theo đường 1, phối hợp với Trung đoàn 64 và 1 tiểu đoàn đặc công (đã luồn sâu ém sẵn, nổ súng tiêu diệt 2 cụm địch chốt giữ cầu Bông. Tiếp đó, mũi thọc sâu thứ nhất tiến công đánh chiếm thành Quan Năm, quận Quang Trung, khu xưởng dệt Vinatếchcô và có mặt tại ngã ba Bà Quẹo. Ngày 29-4, mũi thứ hai gồm Trung đoàn 28, Lữ đoàn xe tăng 273, hai tiểu đoàn pháo binh hỗn hợp, 1 tiểu đoàn công binh. Mũi này cơ động trên trục đường 15, hỗ trợ cho 2 tiểu đoàn đặc công và bộ binh đánh chiếm cầu Sáng. Nhưng cầu Sáng yếu, xe cơ giới có trọng tải lớn không qua được. Trung đoàn 28, Trung đoàn 66 (lực lượng dự bị) và các đơn vị tăng cường phải vòng ra Ba Ri, Tân Quy, theo đường tỉnh lộ 8 qua Tân Thông Hội xuống cầu Bông, cầu Tham Lương, nhập vào đội hình thọc sâu sư đoàn, chuẩn bị tiến vào nội đô đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn.


(1) Quân địch trên hướng này có Sư đoàn bộ binh 25 (3 trung đoàn bộ binh, trung đoàn thiết giáp), Lữ đoàn dù 4, 2 liên đoàn biệt động quân (9, 23). Liên đoàn 5 công binh, tiểu đoàn biệt kích dù, 20 tiểu đoàn bảo an, Sư đoàn 5 không quân… Tổng số khoảng 24.000 tên.
(2) Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp: Ký ức Tây Nguyên, Sđd, tr. 457.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Ba, 2011, 02:05:07 PM
Khi Quân đoàn 3 tiến công trên hướng tây bắc, Quân đoàn 1 đảm nhiệm hướng bắc của chiến dịch cũng sử dụng một bộ phận lực lượng đánh chiếm các mục tiêu được phân công. Chiều ngày 27-4, trong khi Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 quân đội Sài Gòn đang họp bàn triển khai gấp kế hoạch phòng thủ phía bắc Sài Gòn theo chỉ thị của Tướng Nguyễn Văn Toàn - Tư lệnh Quân đoàn 3 thì toàn bộ tuyến phòng thủ vòng ngoài bao gồm Phú Giáo, Tây Nuyên, Lái Thiêu, Lai Khê, Thủ Dầu Một… bị rung lên bởi những trận pháo kích dữ dội kéo dài của Quân giải phóng. Lợi dụng thời cơ hỏa lực pháo binh, ta tập kích vào các trận địa pháo binh và các mục tiêu chủ yếu trên hướng bắc của địch, Sư đoàn bộ binh 312 do Sư đoàn trưởng Nguyễn Chuông chỉ huy, đã sử dụng Trung đoàn 141 và Tiểu đoàn 2 Phú Lợi (bộ đội Bình Dương) nổ súng tiến công cứ điểm Bình Cơ, Bình Mỹ dọc trục đường 16, mở đầu cho đợt hoạt động cìa thế chiến dịch của Quân đoàn 1. Sau hơn một giờ chiến đấu ác liệt, quân ta đã tiêu diệt Tiểu đoàn bảo an 305 và các lực lượng dân vệ chốt giữ nơi đây, khai thông đường 16, tạo điều kiện cho Trung đoàn 165 bao vây căn cứ Phú Lợi, Trung đoàn 209 đánh chiếm ngã ba đường 13 và đường 2 phía bắc thị xã Bình Dương, thực hiện bao vây, chia cắt và cô lập Sư đoàn 5 quân đội Sài Gòn.

Đêm ngày 27-4, Sư đoàn 320B - lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 1, được tăng cường 1 tiểu đoàn tăng, thiết giáp. 1 tiểu đoàn pháo phòng không, 1 tiểu đoàn công binh, do Sư đoàn trưởng Lê Ba Xảo chỉ huy, đã dùng một bộ phận tiến công sân bay Ông Lĩnh để mở lối ra đường 16 - tuyến đường lúc bấy giờ do Sư đoàn 312 của ta đã chiếm giữ. Khu vực này địch còn khá đông. Chúng dựa vào hầm hào, lô cốt kiên cố chống trả quyết liệt, nên trận đánh không đạt yêu cầu., lực lượng cơ bản đội hình thọc sâu phải tạm dừng ở khu vực phía đông đường. Để nhanh chóng khắc phục tình huống này, sáng ngày 28-4, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320B quyết định tập trung một bộ phận lực lượng của 2 trung đoàn (27, 48) và một số phân đội hỏa lực chiến thuật tiến hành đột phá dứt điểm sân bay Ông Lĩnh, mở toang cửa cho bộ đội cơ động sang đường 16, phát triển tiến công theo đúng kế hoạch. Tiếp theo đó, đêm 28 rạng ngày 219-4, sau khi đánh chiếm xong Tây Uyên (một mục tiêu nắm ngoài dự đinh của lực lượng thọc sâu), Sư đoàn 320B cho Trung đoàn 27 hành tiến theo trục đường Tân Uyên - Búng vào thắng Lái Thiêu. Trung đoàn 48 tiến theo trục Ông Lĩnh - Khánh Vân vào phía đông Lái Thiêu.

Với phương châm “gạt địch ra mà tiến” cho kịp thời gian quy định của chiến dịch, suốt quãng đường từ nam Tây Uyên vào Lái Thiêu, các lực lượng thọc sâu bỏ qua những mục tiêu không cần thiết. Tuy vậy, trên quãng đường hành tiến gần 60 km đó, lực lượng thọc sâu vẫn phải chiến đấu mở đường, đập tác các hành động chặn cắt của các tiểu đoàn bảo an 321, 346, 317… Nhiều trận đánh ác liệt đã diễn ra ở ngã ba Bình Chuẩn, ngã ba Thuận Giáo, Búng, Tân Hiệp… Có trận, hàng chục cán bộ, chiến sĩ ta đã thương vong.

Sau hơn một ngày tiến công trong hành tiến, Quân đoàn 1 đã có bản phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch ở bắc Sài Gòn. Các tuyến đường chiến lược 13, 14 đã bị Sư đoàn 312 chia cắt và phong tỏa. Sư đoàn 5 địch hoàn toàn bị bao vây cô lập. chẳng những không thể về ứng cứu được cho Sài Gòn mà các trung đoàn trong sư đoàn cũng không thể ứng cứu chi viện cho nhau. Ngày 28-4, ta bắn 10 quả đạn mang theo truyền đơn vào căn cứ Lai Khê, đồng thời dùng loa phóng thanh công suất lớn kêu gọi binh lính Sư đoàn 5 hạ vũ khí đầu hàng.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Ba, 2011, 02:05:50 PM
Hòa cùng bốn hướng tiến công của chiến dịch, ngày 26-4, Bộ Tư lệnh Đoàn 232 sử dụng Sư đoàn bộ binh 5, Sư đoàn bộ binh 8 (Quân khu 8) được tăng cường Tiểu đoàn công binh 341 và lực lượng vũ trang địa phương, tiến công một loạt vị trí do Sư đoàn 22 địch chốt giữ dọc hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây tỉnh Long An. Sư đoàn 5 do Sư đoàn trưởng Nam Thược chỉ huy, tập trung toàn bộ lực lượng đánh chiếm huyện lỵ thủ Thừa và thị xã Tân An. Sư đoàn 8 táo bạo luồn sâu được lực lượng vũ trang địa phương hỗ trợ, bất ngờ tiến công giải phóng thành phố Mỹ Tho. Việc Sư đoàn 5 và Sư đoàn 8 (Quân khu 8) làm chủ được các mục tiêu trọng yếu trên đây do Sư đoàn 22 chốt giữ đã cắt đứt hoàn toàn đường quốc lộ số 4, cô lập Sài Gòn và đồng bằng sông Cửu Long.

Ngày 27-4, Sư đoàn bộ binh 3 do Sư đoàn trưởng Đỗ Quốc Hùng chỉ huy đánh chiếm khu vực An Ninh, Lộc Giang; sau đó, sư đoàn vượt sông Vàm Cỏ Đông, mở rộng bàn đạp. Ngày 28-4, sư đoàn phát triển tiến công đánh chiếm Chi khu Đức Hòa, Chi khu Đức Huệ, diệt căn cứ Trà Cú. Tàn quân địch ở Hậu Nghĩa chạy về hướng Củ Chi, bị Tiểu đoàn 1 Gia Định mai phục diệt và bắt hơn 500 tên. Cùng thời gian, mũi thọc sâu Sư đoàn 9 tổ chức vượt sông Vàm Cỏ Đông. Nhân dân địa phương đã huy động lực lượng, đóng góp phương tiện, giúp bộ đội cơ động trên địa hình sình lầy. Đặc biệt, khi tiểu đoàn và các phân đội xe cơ giới tăng cường cho Sư đoàn 9 vượt sông Vàm Cỏ Đông thì trời đổ mưa. Xe tăng, xe thiết giáp và xe kéo pháo hạng nặng bị sa lầy không thể tiến lên được. Ngay lập tức, nhiều người dân vùng Đức Huệ đã tự nguyện tháo dỡ nhà ở của mhà, lấy gỗ, gạch, ngói lót đường, chốt lầy cho xe, pháo vượt qua. “Xe chưa qua nhà không tiếc” là quyết tâm, là khẩu hiệu hành động của nhân dân các địa phương Khu 4 trên miền Bắc những ngày chống chiến tranh phá hoại lại sống dậy trong những ngày cuối tháng 4-1975 ở vùng sông nước Nam bộ.

Cùng lúc 2 Sư đoàn 5 và Sư đoàn 3 tiến công tiêu diệt Sư đoàn 22 địch ở khu vực Thủ Thừa, Tân An, Đức Huệ, Đức Hòa, Trung đoàn 16 cũng tổ chức đánh chiếm hai cụm địch bảo vệ cầu Bình Điền và An Lạc, các trung đoàn đặc công 115 và 117 mật tập trung tâm truyền tin Phú Lâm ấp Bình Đông, ấp Bình Hưng, tạo bàn dạp cho lực lượng Sư đoàn 9 thọc sâu ấp sát vào nội đô.

Đêm ngày 29-4, Trung đoàn 3 - Sư đoàn 9 tiến vào triển khai đội hình ở khu vực Bà Lác - tuyến đê Đại Hàn, cánh bắc Bà Hom 2 km. Trung đoàn 28, Trung đoàn 24, Tiểu đoàn bộ binh tỉnh Long An mở rộng địa bàn đứng chân trên phía Cần Giuộc, Hưng Long, chuẩn bị thọc sâu vào nam Sài Gòn.

Mặc dù phải cơ động chiến đấu trên địa hình sông rạch, sình lầy nhiều, nhưng sau ba ngày đêm tiến công địch, các đơn vị tác chiến trên hướng tây - tây nam đã hoàn thành cơ bản nhiệm vụ được giao, đánh chiếm tuyến Hậu Nghĩa - Vàm Cỏ Đông; đưa toàn bộ lực lượng, binh khí kỹ thuật của bộ binh thọc sâu vào áp sát nội đô, sẵn sàng tiến công vào sào huyệt địch.

Phối hợp với năm mũi tiến công của các binh đoàn chủ lực trên các hướng của chiến dịch, các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương từ khu, tỉnh, thành phố đến huyện, xã đã chủ động đứng lên giải phóng quê hương. Lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương tỉnh Bà Rịa (hướng đông), được bộ đội chủ lực hỗ trợ, tiến hành giải phóng các huyện Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc và các xã, ấp hai bên quốc lộ 15, các hương lộ số 25, 19, 2. Lực lượng vũ trang Thủ Dầu Một (hướng bắc) phối hợp với chủ lực, tiến công giải phóng một số vùng nông thôn ở tây và nam Bến Cát - tây nam Tân Uyên. Ở Tây Ninh (tây bắc) lực lượng vũ trang địa phương được Sư đoàn 316 - Quân đoàn 3 hỗ trợ bao vây thị xã Tây Ninh, giải phóng nhiều xã, ấp dọc tỉnh lộ số 22 và quốc lộ số 1. Ở ven nội đô, một số đơn vị của Sài Gòn - Gia Định đã luồn sâu vào nội đô tích cực, chủ động đánh địch. Đêm ngày 27-4, Trung đoàn 1 Gia Định cho Tiểu đoàn 10 đánh chiếm cầu Chợ Mới, bí mật liên kết bộc phá trong hàng rào sân bay Tân Sơn Nhất, chuẩn bị mở hai cửa cho xung kích đánh chiếm sân bay. Tiểu đoàn 11 tiến công địch ở Tân Thới Nhật, Tân Thới Thượng (Tân Bình), hỗ trợ nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ, bức hàng một đại đội biệt động quân. Tiểu đoàn 80 tiến công trận địa pháo và Trại thiết giáp Phù Đổng (Gò Vấp), đánh chiếm An Phú Đông, diệt cụm cảnh sát ở Tân Sơn Nhì, hỗ trợ nhân dân nổi dậy làm chủ ấp Đông Xuyên và cầu Rạch Bà. Tiểu đoàn Thủ Đức và 1 đại đội địa phương đánh cầu xa lộ Sài Gòn. Nhiều nơi, nhân dân treo cờ cách mạng, hù dọa, kêu gọi binh lính địch rời bỏ hàng ngũ về với cách mạng.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Ba, 2011, 02:08:36 PM
Nhìn chung, trong đợt một, sau những ngày đêm chiến đấu liên tục, quyết liệt, các binh đoàn chủ lực và lực lượng tại chỗ đã hoàn thành cơ bản kế hoạch tác chiến của Bộ Tư lệnh chiến dịch giao. Trên các hướng, các mũi, bộ đội chủ lực đã tích cực, chủ động đánh chiếm các mục tiêu phân công, chặn địch ở vòng ngoài, diệt và làm tan rã một bộ phận quan trọng các trung đoàn, sư đoàn chủ lực cơ động chủ yếu của quân đội Sài Gòn, thu và phá hủy một khối lượng lớn vũ khí, phương tiện chiến tranh của chúng. Một bộ phận lớn Quân đoàn 3 Sài Gòn chốt chặn trên các hướng bỏ chạy hoặc tan rã và ra hàng Quân giải phóng, hàng ngũ sĩ quan và nhân viên chính quyền các cấp hoang mang lo sợ đến cực độ. Trong khi đó, nhân dân nhiều địa phương dưới sự lãnh đạo của các cơ sở đảng, các đội võ trang công tác của thành phố, quận, huyện đã đứng lên diệt ác, phá kìm giành quyền làm chủ. Mặc dù bị tiến công áp đảo, nhưng địch ngoan cố chống cự quyết liệt ở Hốn Nai, Biên Hòa, Nước Trong, Long Thành (hướng đông - đông nam); Tân Uyên, đường số 13 (Bình Dương), Đồng Dù (Củ Chi), cầu Bông (Hóc Môn) (hướng bắc - tây bắc); Tân An, Bến Lức (hướng tây nam).

Sự xuất hiện của các binh đoàn chủ lực Quân giải phóng hùng hậu xung quanh Sài Gòn càng làm cho nội bộ chính quyền Sài Gòn phân hóa mạnh mẽ. Đêm 27-4, “lưỡng viện” Sài Gòn bỏ phiếu, cho phép Trần Văn Hương trao quyền Tổng thống Việt Nam Cộng hòa cho Dương Văn Minh. Ngày 28-4, Cao Văn Viên - Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, sau khi ký lệnh “tử thủ đến cùng để giữ các phần đất còn lại” đã vội bỏ ra nước ngoài(1). Một loạt tướng tá quân đội Sài Gòn khác cùng gia đình hoảng hốt tìm cách di tản. 17 giờ 30 phút chiều ngày 28-4, Trần Văn Hương - “Tổng thống 8 ngày”, đã phải tổ chức trao quyền cho Dương Văn Minh, một vị tướng mà theo Mỹ đánh giá là có “xu hướng chính trị trung lập”, là “người đại diện cho lực lượng thứ ba” trên chính trường miền Nam Việt Nam. Dương Văn Minh sẽ cử Nguyễn Văn Huyền - nguyên Chủ tịch Thượng viện Sài Gòn làm Phó Tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng. Trong lễ tuyên thệ nhậm chức Tổng thống - Tổng tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Dương Văn Minh kêu gọi quân đội tiếp tục “giữ vững hàng ngũ, giữ vững vị trí để hoàn thành nhiệm vụ mới là bảo vệ phàn đất còn lại”. Đồng thời, ông ta đề nghị ngừng bắn và họp hội nghị hòa bình trong khuôn khổ Hiệp định Pari. Trong bức điện văn số 033TT/VN ngày 28-4-1975 gửi Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, Dương Văn Minh: “Trân trọng yêu cầu ông Đại sứ vui lòng ra chỉ thị cho các nhân viên cơ quan tùy viên quân sự DAO rời khỏi Việt Nam trong 24 giờ đồng hồ kể từ ngày 29-4-1975 để vấn đề hòa bình Việt Nam sớm được giải quyết”(2).

Không đầy 10 phút sau khi Dương Văn Minh kết thúc diễn văn nhậm chức, biên đội không quân gồm 4 chiếc A37 của ta, do đai úy Nguyễn Thành Trung(3) dẫn đường, từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) đã ném bom chính xác xuống đường băng, khu để máy bay sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy 24 máy bay các loại, diệt và làm bị thương hơn 100 tên, phá hỏng và làm tê liệt hệ thống chỉ huy, điều khiển tại sân bay. Trận tập kích bằng không quân táo bạo và bất ngờ càng làm tăng nỗ kinh hoàng, hỗn loạn trong hàng ngũ địch.

Trước tình hình quân sự, chính trị phát triển hết sức thuận lợi, 10 giờ ngày 29-4, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Lê Duẩn diện cho Bộ Chỉ huy chiến dịch. Bức điện viết: “Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đang họp thì được tin Dương Văn Minh ra lệnh ngừng bắn. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương chỉ thị:

“1 - Các anh ra lệnh cho quân ta tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch; tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân đội địch giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng.

2 - Công bố đặt thành phố Sài Gòn - Gia Định dưới quyền của Ủy ban quân quản do tướng Trần Văn Trà làm Chủ tịch”(4).


(1) Hồi ký Cao Văn Viên ghi nhận: Trước khi từ chức, Tổng thống Trần Văn Hướng đã ký một sắc lệnh giải nhiệm tác giả chức vụ Tổng Tham mưu trưởng. Trong khi chờ đợi tân Tổng thống Dương Văn Minh chính thức bổ nhiệm Tổng Tham mưu trưởng mới, tác giả chỉ định Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu, xử lý thường vụ chức Tổng Tham mưu trưởng. Sau đó, tác giả được di tản ra Hạm đội 7 vào trưa thứ hai, ngày 28-4-1975.
(2) Văn bản số 033TT/VT - Phủ Tổng thống Sài Gòn.
(3) Tên thật là Đinh khắc Chung, sinh năm 1947, năm 1968, đồng chí là cán bộ giao liên Ban Binh vận T2 (Khu 8). Năm 1969, đồng chí công tác ở Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam, nhận nhiệm vụ làm cơ sở nội tuyến trong không quân quân đội Sài Gòn và tu nghiệp ở Mỹ. Ngày 8-4-1975, Nguyễn Thành Trung đã lái chiếc máy bay F-5E, xuất phát từ sân bay Biên Hòa vượt qua sự theo dõi của địch đến ném bom Dinh Độc Lập, kho xăng Nhà Bè rồi hạ cánh an toàn xuống vùng mới giải phóng tỉnh Phước Long. Tiếp đó, đồng chí đã dẫn đầu biên đội máy bay A37 thu được của địch dội bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.36, tr. 176.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Ba, 2011, 02:09:31 PM
Vào lúc đó, 2 quân đoàn 2, 3 và Đoàn 232 đã triển khai đội hình tiến công vào những mục tiêu then chốt của địch; 2 quân đoàn 4 và 1 chưa vào đến bàn đạp tiến công theo quy định. Dù vậy, chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh chiến dịch vẫn quyết định tổng công kích vào nội đô theo kế hoạch dự kiến. Đồng thời, Bộ Tư lệnh chiến dịch cũng chỉ đạo Quân đoàn 4 và Quân đoàn 1 tập trung lực lượng khẩn trương tiêu diệt Sư đoàn 18 ở Biên Hòa, Sư đoàn 5 ở Lai Khê, tạo điều kiện cho các sư đoàn thọc sâu hành tiến nhanh, đột kích mạnh vào các mục tiêu được phân công trong thành phố. Trong trường hợp Quân đoàn 4 (hướng đông), Quân đoàn 1 (hướng bắc) vào chậm, thì Quân đoàn 2 sẽ thay thế đánh chiếm Dinh Độc Lập; Quân đoàn 3 đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch, đêm 29, rạng ngày 0-4-1975, các binh đoàn chủ lực trên từng hướng đồng loạt tiến công vào nội đô, đánh chiếm các mục tiêu then chốt của chiến dịch. Mở màn trận đột phá cuối cùng vào sào huyệt địch, trận địa pháo tầm xa đặt ở khu vực Nhơn Trạch (hướng đông), Củ Chi, Hóc Môn (hướng tây bắc) bắ phá dữ dội sân bay Tân Sơn Nhất. Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Sân bay Tân Sơn Nhất nhanh chóng bị tê liệt, một nửa số máy bay trên sân bay bị trúng đạn. Từ di tản bằng máy bay cánh cố định, Mỹ buộc phải chuyển sang dùng máy bay lên thẳng, đỗ xuống sân thượng của các nhà cao ốc trong thành phố. Cùng lúc đó, quân ta bắt đầu ào ạt tiến công!

Hướng tiến công từ tây bắc, 5 giờ ngày 30-4, Quân đoàn 3 với lực lượng đột kích thọc sâu chủ yếu là Sư đoàn 10 tăng cường, từ bàn đạp dọc đường số 1 (phía bắc ngã ba Bà Quẹo), được pháo binh chiến dịch và pháo quân đoàn chi viện bắn phá liên tục vào sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham mưu địch, Bộ Tư lệnh quân dù, Bộ Tư lệnh thiết giáp, Bộ Tư lệnh không quân…, đã đồng loạt hành tiến bằng cơ giới hướng vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Địch chống trả quyết liệt. Tại ngã tư Bảy Hiền, khoảng 7 giờ 30 phút, địch cho Tiểu đoàn 8 dù và 2 đại đội lính Lôi Hổ của Biệt khu Thủ đô (có 1 chi đội xe tăng M41, M48 yểm trợ) lợi dụng sân thượng, tháp nước cửa sổ nhà cao tầng, các ngã ba, ngã tư đường phố bố trí hỏa lực dày đặc ngăn chặn Quân giải phóng tiến công vào sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu. Để đập tan cụm phòng thủ của địch tại ngã tư Bảy Hiền, Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) - đội hình đi đầu mũi thọc sâu, đã sử dụng Đại đội 7 của Tiểu đoàn 5 (được tăng cường 8 xe tăng, thiết giáp), chai làm hai mũi đánh vào chính diện và bên sườn đội hình địch, nhanh chóng phá tan cụm quân này, tạo điều kiện cho quân ta tiếp tục phát triển tiến công. Sau khi Trung đội 1 (có biệt động dẫn đường) vòng qua bệnh viện Vì dân đánh thọc sườn, gây rối loạn đội hình địch, Đại đội trưởng xe tăng Nguyễn Xuân Trường chỉ huy đơn vị táo bạo mở mũi đột kích mạnh để chi viện cho bộ binh đánh vào quân địch phản kích. Xe tăng 979 vừa vượt lên thì bị xe tăng địch phúc sẵn bắn hỏng pháo. Không chần chừ, trưởng xe Mai Trọng Hoạt cho xe 985 vượt lên. Bằng một động tác mau lẹ, quyết liệt, lái xe Phùng Văn Tính cho xe của mình lao thẳng vào xe tăng địch. Chiếc xe tăng M48 của địch hoảng sợ chồm lên vỉa hè, tốp địch trong xe khiếp đảm phải ra đầu hàng.

Sau khi tiêu diệt quân địch cố thủ tại ngã tư Bảy Hiền, đội hình thọc sâu Sư đoàn 10 tiếp tục phát triển. Lúc 9 giờ 5 phút, Tiểu đoàn 5 - Trung đoàn 24 và Tiểu đoàn 1 - Trung đoàn xe tăng 273 tiến công cổng số 5 sân bay Tân Sơn Nhất. Tại đây, địch bố trí hỏa lực mạnh, có cả hỏa tiễn chống xe tăng X 2002 đặt trên xe di động và trên tháp nước. Đại đội 7 bộ binh mặc dù được xe thiết giáp chi viện vẫn bị hỏa lực địch chặn lại. Tiểu đoàn 5 nhiều lần đột phá nhưng vẫn không thành. Ba xe tăng T54 dẫn đầu của ta bị trúng đạn, bốc cháy, cản đường tiến. Pháo thủ xe tăng Nguyễn Trần Đoàn bị thương dập nát cánh tay vẫn không rời vị trí chiến đấu. Đoàn nhờ y ta cắt cụt cánh tay cho đỡ vướng. tiếp tục cùng đơn vị đánh chiếm Tân Sơn Nhất. Hành động quả cảm của pháo thủ Nguyễn Trần Đoàn đã cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, chiến sĩ ta xốc tới, đánh tan quân địch. Để nhanh chóng dật tắt ổ đề kháng của địch ở cổng số 5, Ban chỉ huy Trung đoàn 24 điều hai khẩu pháo 85 mm lên nã đạn trực tiếp chi viện cho bộ binh mở đợt xung phong mới.

9 giờ 45 phút, Trung đoàn 24 được Tiểu đoàn 1 xe tăng yểm trợ, do nữ biệt động Sài Gòn Nguyễn Trung Kiên dẫn đường, chia làm hai mũi đánh thẳng vào Tân Sân Nhất. Bộ đội Tiểu đoàn 5 tràn qua cổng số 5 tiến công khu truyền tin, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 5 không quân, bắt ba viên đại tá Lê Hữu Tiến, Trần Quang Thái, Nguyễn Duy Phung chỉ huy Sư đoàn 5 không quân. Tiểu đoàn 4, Tiểu đoàn 6 mở toang cửa số 4, đánh chiếm Bộ Tư lệnh dù, Bộ Tư lệnh không quân và các mục tiêu xung quanh, bắt liên lạc với phái đoàn quân sự ta ở Trại Đavít….

Cùng thời gian, Trung đoàn 28 - Sư đoàn 10 được Tiểu đoàn 2 xe tăng - Lữ đoàn thiết giáp 273 và 1 tiểu đoàn pháo cao xạ yểm trợ từ Lăng Cha Cả tiến công vào tiểu đoàn dù địch lúc bấy giờ đang trấn giữ, ngăn chặn lối vào khu vực bệnh viện Cổ Đốc. Lúc đầu, địch chống cự mạnh, sau đó yếu dần rồi bỏ chạy. Thừa thắng, cả trung đoàn phát triển về phía cổng số 1 Bộ Tổng tham mưu, diệt nhiều ổ đề kháng cản đường, bắn cháy 3 xe tăng. Đại đội lính Lôi Hổ của Biệt khu Thủ đô kéo đến bảo vệ cổng số 1 (cổng chính) và khu vực vòng ngoài, nhưng trước sức áp đảo của quân ta, lực lượng này hoảng sợ buông súng đầu hàng.

Đến trưa ngày 30-4, Trung đoàn 24 làm chủ hoàn toàn sân bay Tân Sơn Nhất, Trung đoàn 28 làm chủ Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Trung đội trưởng Trần Lực và Tiểu đội trưởng Duy Tân tiến lên tầng thượng, hạ lá cờ vang ba sọc của chế độ Việt Nam Cộng hòa, kéo lá cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lên trên nóc Sở chỉ huy của quân đội Sài Gòn. Trung đoàn 64 - Sư đoàn 320A (tăng cường cho Sư đoàn 10), theo lệnh của quân đoàn, tiến vào Dinh Độc Lập, hợp điểm với đơn vị bạn.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Ba, 2011, 02:10:24 PM
Trên hướng bắc Sài Gòn do quân đoàn 1 đảm nhận, suốt đêm 29 rạng ngày 30-4, theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh quân đoàn, Sư đoàn 312 cho Trung đoàn 209, Trung đoàn 141 (thiếu), các đơn vị binh chủng kỹ thuật tăng cường, được 1 tiểu đoàn bộ đội địa phương hỗ trợ, thực hiện bao vây, ngăn chặn Sư đoàn bộ binh 5 (thiếu 1 trung đoàn) quân đội Sài Gòn ở cụm cứ điểm Lai khê, kiên quyết không cho chúng co cụm về Bình Dương hoặc Sài Gòn. Gần trưa ngày 30-4, thấy không còn đường chạy thoát, gần 6.000 tên địch trong căn cứ kéo cờ trắng ra hàng. Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5 quân đội Sài Gòn Lê Nguyễn Vĩ bất lực đã tự sát.

Cùng thời gian, Bộ Tư lệnh quân đoàn sử dụng Trung đoàn 165 thuộc Sư đoàn 312 có 10 xe tăng yểm trợ và 2 đại đội bộ đội địa phương phối hợp, tiến công căn cứ Phú Lợi. Sau gần 1 giờ chiến đấu, Trung đoàn 165 và lực lượng phối thuộc đã diệt và bắt toàn bộ địch chốt giữ căn cứ, sau đó tiếp tục đánh chiếm thị xã và Tiểu khu Bình Dương, bảo đảm hành lang cho lực lượng đột kích thọc sâu của quân đoàn tiến vào thành phố.

Được Sư đoàn 312 tạo bàn đạp thuận lợi dọc quốc lộ số 13, đội hình thọc sâu Sư đoàn 320B chia làm hai mũi từ Tản Ba, Búng, phát triển xuống thị xã Bình Dương, Lái Thiêu, chuẩn bị đột phá vào các mục tiêu được giao trong nội đô. 3 giờ ngày 30-4, mũi thọc sâu Trung đoàn 27 hành tiến đến giáp Lái Thiêu, triển khai đội hình tiến công căn cứ này. Khoảng 4 giờ, sau 15 phút pháo binh bắn cấp tập vào căn cứ địch, lực lượng bộ binh Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 được xe tăng, xe thiết giáp yểm trợ, đột phá vào tất cả các mục tiêu từ cầu Văn Bình, Trung tâm huấn luyện Huỳnh Văn Lương đến Sở chỉ huy chi khu địch. Sau gần 2 giờ chiến đấu quyết liệt, Trung đoàn 27 đã đập tan hệ thống phòng ngự Chi khu quân sự Lái Thiêu, diệt và bắt gần 2.000 tên địch, mở toang “cánh cửa cứng” cuuối cùng trên hướng bắc tiến vào nội đô Sài Gòn - Gia Định.

Rạng sáng ngày 30-4, Trung đoàn 27 được tăng cường đại đội 3 xe tăng thuộc Lữ đoàn 202 phát triển tiến công cầu Bình Phước và Bộ Tư lệnh các binh chủng địch theo kế hoạch. Nhưng khi đến giáp cầu Vĩnh Bình, Trung đoàn 27 bị lực lượng địch phòng thủ ở đây chặn đánh quyết liệt. Đại đội 3 xe tăng và pháo bắn thẳng của ta phải đối đầu trực tiếp với khoảng 30 xe tăng, thiết giáp địch. Hai xe K63 đi đầu đội hình tiến công của Trung đoàn 27 bị trúng đạn bốc cháy. Mũi đột kích bị hỏa lực địch khống chế chững lại. Để nhanh chóng xử lý tình huống phức tạp này, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 6 bộ binh và Đại đội trưởng xe tăng Hoàng Thọ Mạc quyết định tổ chức mũi đánh chính diện (chủ yếu là xe tăng) và mũi vòng phải thọc sâu đánh tạt sườn (chủ yếu là bộ binh), nhằm phân tán sự đối phó của địch. Hơn 6 giờ, được hỏa lực pháo binh chi viện, Đại đội 3 xe tăng do Hoàng Thọ Mạc chỉ huy theo đường 13 đột kích chính diện đội hình địch, bắn cháy liền một lúc 3 xe M48 của địch. Lực lượng chốt giữ phía bắc cầu chưa kịp đối phó đã bất ngờ bị mũi thọc sâu của ta đánh vào sườn, lần lượt bắn chạy 10 xe tăng, xe M113, Bị thiệt hại nặng, đội hình chốt phía bắc cầu của địch bị rối loạn, tan rã.

Phát hiện địch chuẩn bị phá cầu hòng ngăn chặn quân ta tiến vào nội đô, bộ binh và xe tăng Trung đoàn 27 đánh tràn lên mặt cầu. Cuộc chiến đấu giành giật cầu Vĩnh Bình diễn ra vô cùng ác liệt. Trong cơn tuyệt vọng, địch chống cự điên cuồng. Đại đội trưởng xe tăng Hoàng Thọ Mạc trong trận kịch chiến đã phải xuống xe trực tếp chỉ huy tổ mũi nhọn đánh chiếm cầu. Giữa đạn lửa khốc liệt của quân thù, Hoàng Thọ Mạc cùng hàng chục cán bộ, chiến sĩ vẫn kiên cường bám trụ mặt cầu chiến đấu và đã anh dũng hy sinh. Noi gương tinh thần chiến đấu dũng cảm quên mình của anh, Đại đội xe tăng 3 và Đại đội 10 bộ binh nhanh chóng điều chỉnh đội hình chiến đấu, rồi đồng loạt xông lên đánh chiếm cầu, buộc địch ở bờ nam phải bỏ xe, pháo tháy chạy. 8 giờ 30 phút, Trung đoàn 27 làm chủ cầu Vĩnh Bình, sau đó được nhân dân địa phương dẫn đường, đánh chiếm cầu Bình Phước và Bộ Tư lệnh các binh chủng ở Gò Vấp.

Cùng thời gian Trung đoàn 27 đánh chiếm cầu Vĩnh Bình, mũi thọc sâu chủ yếu vào nội đô do Trung đoàn 48 đảm nhiệm cũng phát triển đến áp Mai Liên, chuẩn bị đột phá chiến tuyến phòng ngự địch chốt giữ cầu Bình Triệu. 7 giờ 30 phút, sau 15 phút hỏa lực pháo binh quân đoàn bắn chế áp trận địa, địch chốt giữ hai đầu cầu, Tiểu đoàn 2 bộ binh và đại đội thiết giáp dẫn đầu đội hình nổ súng đánh chiếm đầu cầu phía bắc. Trận đánh diễn ra ác liệt ngay từ những phút đầu. Lợi dụng hệ thống lô cốt bằng bêtông và bao cát lấp đầy, lại được hàng chục xe tăng, xe M 113 trong các thùng đào, thùng đấu yểm trợ hỏa lực, tiểu đoàn địch chốt giữ đầu cầu phía bắc hò hét chống cự quyết liệt, làm cho Tiểu đoàn 2 phải khựng lại chống đỡ. Trong chốt lát, gần 20 cán bộ, chiến sĩ bị thương vong, trong đó Chính trị viên phó tiểu đoàn bị thương nặng.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Ba, 2011, 02:11:06 PM
Nhận thấy nếu cứ điều lực lượng lên đánh chính diện vào trận địa phòng ngự của địch chẳng những mất thời gian mà lực lượng sẽ còn bị tiêu hao. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 quyết định cho bộ đội Tiểu đoàn 2 xuống xe, tổ chức thành ba mũi tiến công địch. Đại đội 5 (mũi 10 vòng sang phía tây đường 13 đánh thẳng vào sườn phải địch. Đại đội 6 (mũi 2) lợi dụng địa hình che khuất vòng sang phía đông đánh vào sườn trái địch. Đại đội 7 (mũi 3) được tăng cường 4 xe tăng đánh vỗ mặt, thu hút địch, tạo điều kiện cho 2 mũi tiếp cận mục tiêu. Được hỏa lực pháo binh chi viện, Đại đội 7 có xe tăng và pháo ĐKZ bắn ngắm trực tiếp hỗ trợ, dột phá đội hình địch. Giữa lúc địch đang dồn sức chống trả hướng chính diện, thì bất ngờ hai mũi bộ binh ta áp sát đánh thọc sườn. 8 xe tăng, xe thiết giáp của địch bị bắn cháy cùng một lúc. Địch không còn có thể chống đỡ, buộc phải tháo chạy tán loạn. 8 giờ, toàn bộ quân địch phòng thủ phía bức cầu Bình Triệu hạ vũ khí đầu hàng. Ta diệt và bắt 1.500 tên, thu và phá hủy hơn 100 xe cơ giới các loại.

Tiếp đó, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 320B cho Trung đoàn 27 phát triển vào Gò Vấp, đánh chiếm Bộ Tư lệnh các binh chủng địch; Trung đoàn 48 thọc sâu theo đường Bạch Đằng, Chi Lăng đánh vào Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn. Tại quận lỵ Gò Vấp, mũi hành tiến Trung đoàn 27 đánh chiếm Bộ Tư lệnh thiết giáp - lực lượng mạnh nhất trong Bộ Tư lệnh các binh chủng. Tại đây, dựa vào trận địa phòng ngự, sử dụng hỏa lực xe tăng, xe thiết giáp, địch chống trả quyết liệt. Hai lần, xe tăng ta xông thẳng vào đội hình xe tăng địch, nhưng không thành và bị thiệt hại. Quan sát đội hình phòng ngự xe tăng địch, thấy chúng không có bộ binh hỗ trợ, nên không dám nống ra phản kích, trung đoàn quyết định thay đổi cách đánh bằng cách sử dụng xe tăng nã pháo chế áp địch, đồng thời cho bộ binh chia thành nhiều mũi, dùng B 40, B41 áp sát, chia cắt và tiêu diệt xe tăng địch. Bằng cách đó, chỉ sau 15 phút tiến công quyết liệt, bộ binh ta đã bắn cháy 6 xe tăng. Bị thiệt hại nặng, địch phải co lực lượng về cố thủ trong khu vực Bộ Tư lệnh thiết giáp. Không để địch kịp trở tay, các chiến sĩ Trung đoàn 27 đã bao vây chặt khu vực. Không còn đường thoát, viên Trung tá Võ Chiểu buộc phải dẫn binh sĩ trong Bộ Tư lệnh ra hàng.

Mũi thọc sâu Trung đoàn 48 hành tiến theo đường Bạch Đằng, Chi Lăng hướng vào cổng số 2 Bộ Tổng tham mưu địch. Trên đường tiến quân, trung đoàn đã phải hai lần sử dụng các tiểu đoàn bộ binh hiệp đồng với cơ giới đột phá qua 4 cụm chốt của 2 tiểu đoàn địch có 2 chi đoàn xe tăng M48 yểm trợ. Tại Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, trong khi Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) đánh chiếm cổng số 1 và cắm cờ trên nóc sở chỉ huy đại bản doanh, thì Trung đoàn 48 - Sư đoàn 320 B (Quân đoàn 1) cũng đánh chiếm được cổng số 2, khu điện toán, khu trung tâm truyền tin và cắm cờ chiến thắng trên nóc nhà trung tâm hải quân. Ngay sau đó, 1 tiểu đoàn bộ binh kết hợp với cơ giới của trung đoàn đã tiến vào Dinh Độc Lập hợp điểm với đơn vị bạn theo kế hoạch.

Ở hướng tây nam, đêm ngày 29-4, lực lượng đột kích chủ yếu của Đoàn 232 do Sư đoàn 9 đảm nhiệm tiến vào nội thành Sài Gòn theo ba trục chính: Trung đoàn 1, được tăng cường 1 tiểu đoàn cao xạ, 2 đại đội xe lội nước và pháo 85 mm, đánh chiếm cầu Bà Lác, ngã năm Vĩnh Lộc, ngã tư Bảy Hiền, theo đường Lê Văn Duyệt đánh vào Biệt khu Thủ đô; Trung đoàn 2, được tăng cường 7 xe tăng T 54, 16 xe PTR 60, 2 xe M113, 4 pháo 85 mm, 2 tiểu đoàn pháo cao xạ, mở đường từ An Ninh đến Mỹ Hạnh, tiến vào nội thành, phối hợp với Trung đoàn 1 đánh chiếm Biệt khu Thủ đô; Trung đoàn 3 được tăng cường 3 xe tăng T54, 6 xe PTR60, 2 pháo 85 mm, 1 tiểu đoàn cao xạ, theo đường 10, qua cầu An Hạ, Bà Hom đánh chiếm trường đua Phú Thọ.

9 giờ ngày 30-4, các mũi tiến công chủ yếu của Sư đoàn 9 vượt qua tuyến phòng thủ cơ bản của địch, áp sát nội đô. Khi đội hình Trung đoàn 1 cách ngã tư Bảy Hiền khoảng 500 m thì máy bay A37 của địch từ Cần Thơ nhào tới đánh vào tiểu đoàn đi đầu. Gần 50 cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 9 và Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3) bị thương vong. 10 giờ 30 phút, sau khi tiêu diệt các trung đoàn địch cản đường, lực lượng thọc sâu Sư đoàn 9 (chủ yếu là Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2) đã vây chặt Biệt khu Thủ đô. Không còn đường thoát, Tướng Lâm Văn Phát - Tư lệnh Biệt khu Thủ đô đã dẫn thuộc cấp ra đầu hàng và kêu gọi sĩ quan, binh lính thuộc quyền hạ vũ khí.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2011, 07:36:04 PM
Trên hướng tiến công quan trọng đông - đông nam, trưa ngày 29-4, nhận được chỉ thị của Thường vụ Quân ủy Trung ương(1) và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã mật lệnh(2) cho Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4 “tiến công vào nội đô Sài Gòn” từ 16 giờ này 29-4-1975 (sớm hơn 12 giờ so với các hướng khác). Chấp hành mệnh lệnh, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 và Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 tổ chức thực hiện ngay.

14 giờ ngày 29-4, Sư đoàn 325 - Quân đoàn 2 sử dụng Trung đoàn 46 (có xe tăng - thiết giáp hỗ trợ) đánh chiếm các mục tiêu còn lại ở khu vực Nhơn Trạch, bến phà Cát Lái (phía bắc) và thành Tuy Hạ. Rạng sáng ngày 30-4, được pháo binh (chủ yếu là pháo 85mm bắn ngắm trực tiếp) và xe tăng yểm trợ, sư đoàn sử dụng thuyền của dân và các phương tiện chuyên dụng vượt sông Đồng Nai, đánh chiếm căn cứ hải quân Cát Lái, sau đó phát triển vào nội thành, đánh chiếm Bộ Tư lệnh hải quân địch, phát động và hỗ trợ cho nhân dân quận 9 nổi dậy giành chính quyền.

Mũi đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2 do Bộ Tư lệnh tiền phương quân đoàn trực tiếp chỉ huy gồm Lữ đoàn thiết giáp 203 (có Tiểu đoàn 7 - Trung đoàn 66 ngòi trên xe), Trung đoàn 66 (Sư đoàn 304, Tiểu đoàn 4 pháo nòng dài (Lữ đoàn pháo binh 164), đại đội pháo 85mm (Trung đoàn 68), Tiểu đoàn 7 pháo phòng không (Trung đoàn 284), phân đội tên lửa phòng không A72, Tiểu đoàn 2 công binh công trình (Lữ đoàn 219 công binh), Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325) đi cuối đội hình. Số đầu xe hỗn hợp của lực lượng thọc sâu lên tới 400 chiếc (trong đó có khoảng 1/3 xe pháo, đạn quân đàn thu hồi được trong các trận chiến đấu hoặc trên dọc đường tháo chạy địch bỏ lại. Thiếu tướng Nguyễn Hữu An - Tư lệnh và Đại tá Nguyễn Công Trang - Phó Chính ủy quân đoàn và cơ quan chỉ huy cơ động xen kẽ giữa đội hình hành tiến.

Sáng ngày 30-4-1975, đội hình thọc sâu của quân đoàn xuất phát từ sông Buông đã ra tới xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn. Sau đó 30 phút, Tiểu đoàn 1 xe tăng (Lữ đoàn 203) đi đầu đội hình đã liên lạc được với Trung đoàn đặc công 116 chốt giữ bắc cầu xa lộ (sông Đồng Nai). Tại đây, sau khi biết địch đã rút về lập tuyến phòng thủ ngăn chặn ở ngã ba Long Bình, căn cứ Nguyễn Huệ, Thủ Đức, Học viện Cảnh sát, cầu Sài Gòn; đồng thời rút kinh nghiệm Sư đoàn 325 và một số đơn vị hành tiến trong đêm nơi địa hình chưa quen biết, gặp nhiều khó khăn (thậm chí tổn thất), Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 2 đã lệnh cho toàn bộ đội hình tạm dừng để vừa nắm lại tình hình địch, vừa chờ đến giờ G sẽ đồng loạt tiến công vào sào huyệt cuối cùng của đối phương.

5 giờ sáng ngày 30-4, đội hình thọc sâu hành tiến trên quãng đường xa lộ Biên Hòa - Sài Gòn dài gàn 4 km cùng các cánh quân trên bốn hướng chiến dịch đồng loạt tiến công vào nội đô Sài Gòn.

Cùng lúc đó, để yểm trợ cho đội hình vượt cầu xa lộ Đồng Nai, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 lệnh cho Tiểu đoàn 4 pháo binh (Lữ đoàn 164) bắn phá trận địa địch ở ngã ba Long Bình và kiềm chế hỏa lực địc ở phía tây sông Đồng Nai. Cụm địch chốt giữ phía tây cầu xa lộ Đồng Nai lúc đầu chống cự khá mạnh, sử dụng hỏa lực xe tăng, xe M113 ngăn chặn quyết liệt. Dù vậy, chỉ trong khoảnh khắc, hỏa lực cối, ĐKZ, xe tăng ta đã khống chế hầu hết các hỏa điểm lộ của địch. Sau 10 phút chiến đấu, ta đã diệt 4 xe tăng, 6 ổ đề kháng. Địch chống cự yếu ớt rồi phát chạy.

Đến cầu Rạch Chiếc, đơn vị xe tăng và bộ binh đi đầu bất ngờ bị hỏa lực các loại của địch bắn tới tấp vào đội hình. Tư lệnh Quân đoàn 2 ra lệnh cho Đại đội 4 pháo 85 mm đưa pháo lên ngắm bắn trực tiếp vào các mục tiêu lộ. Sau hai loạt đạn đầu khá chính xác, hỏa lực pháo 85mm của ta đã tiêu diệt 2 xe tăng M41, 2 khẩu cối 81 của quân Sài Gòn. Biết không thể chống cự nổi, gần 100 tên địch còn lại hoảng sợ kéo ra hàng. Dọc đường hành tiến từ Thủ Đức, cầu Rạch Chiếc đến gần cầu Sài Gòn, đội hình thọc sâu Quân đoàn 2 tiếp tục quét sạch các đồn bốt, tuyến phòng ngự chốt chặn của địch.

Cũng trong buổi sáng ngày 30-4, tại khu vực thành phố Biên Hòa, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 lệnh cho Sư đoàn 6 (được tăng cường Trung đoàn 3 - Sư đoàn 341 tiến công Sở chỉ huy Quân đoàn 3 địch. Qua gần 2 giờ chiến đấu quyết liệt, Sư đoàn 6 và lực lượng phối hợp đã tiêu diệt 2 cụm địch ngoan cố chống cự làm chủ mục tiêu. Chỉ huy Sư đoàn 3 không quân và 2 tiểu đoàn bộ binh bảo vệ sân bay Biên Hòa biết tin Sở chỉ huy Quân đoàn 3 bị Quân giải phóng đánh chiếm, đã hoang mang dao động. Khi một bộ phận bộ binh kết hợp cơ giới của Sư đoàn 6 tiến công, binh lính trong sân bay đã tự động bỏ chạy. Cùng lúc, Sư đoàn 341 Quân giải phóng đánh chiếm khu vực Hốc Bà Thức và phát triển vào Thủ Đức. 10 giờ, Trung đoàn 209 đánh chiếm Sở chỉ huy Sư đoàn 18, khu biệt động quân. Khoảng hơn 11 giờ, Trung đoàn 3 vượt cầu Ghềnh, tiến vào thành phố.

Sư đoàn 7 (được tăng cường Trung đoàn 52 - Quân khu 5) và các đơn vị binh chủng phối hợp đánh thọc sâu, sáng ngày 30-4 tổ chức đánh địch ở ngã ba Tam Hiệp. Trận đánh diễn ra khá quyết liệt và phải kéo dài tới 8 giờ mới dứt điểm. Khi tổ chức vượt cầu Ghềnh, cầu yếu xe tăng, thiết giáp không thể qua được, nên đội hình thọc sâu phải chuyển hướng sau cầu xa lộ Đồng Nai theo hướng Quân đoàn tiến vào thành phố.


(1) Điện do Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký.
(2) Mật lệnh do Trung tướng Lê Trọng Tấn - Phó Tư lệnh chiến dịch trực tiếp điện.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2011, 07:37:43 PM
Phối hợp với các binh đoàn chủ lực trên các hướng chiến dịch, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương nhiều nơi từ ngoại thành đến nội thành nổi dậy giành quyền làm chủ. Ngày 29-4, ở Củ Chi, trong khi bộ đội chủ lực đánh chiếm căn cứ Đồng Dù, quần chúng nhân dân các xã Tân Thông Hôi, Phước Vĩnh An, Phước Hiệp, Tân Thanh Đông, Trung An được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang địa phương, đã nổi dậy chiếm các công sở của địch, lùng diệt ác ôn, giải tán phòng vệ dân sự. Má Nguyễn Thị Rành ở Phước Hòa tự tay treo cờ Mặt trận lên cây điệp đầu ấp. Ở xã Trung Lập, đồng bào xông vào chiếm các bốt, bắt ác ôn, làm chủ ấp. Trưa ngày 29-4, lực lượng vũ trang và nhân dân các xã chung quanh thị trấn Củ Chi kết hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân tại chỗ nổi dậy giải phóng quận lỵ. Ở Hóc Môn, được bộ đội Sư đoàn 10 - Quân đoàn 3 và Trung đoàn 1 Gia Định hỗ trợ, nhân dân thị trấn đã nỏi dậy diệt đồn bốt, truy lùng ác, giành quyền làm chủ. Đêm 29-4, Củ Chi đã cơ bản được giải phóng.

Khu vực Gò Vấp (hướng bắc), được bộ đội Quân đoàn 1 và Tiểu đoàn 80 đặc công (Lữ đoàn 316) hỗ trợ, ngày 29-4, nhân dân xã Tân Thới Hiệp và cơ sở binh vận nổi dậy tước vũ khí của phòng vệ dân sự giải phóng ấp 2, ấp 3, sau đó tiến lên giải phóng toàn xã. Cùng thời gian, nhân dân phường 12 (quận Phú Nhuân) cũng nổi dậy giành quyền làm chủ.

Ở quận 11 (hướng tây nam), lực lượng vũ trang và nhân dân nhiều phường, khóm được bộ đội đặc công và biệt động giúp đỡ đã nổi dậy lùng diệt ác ôn, hù dọa địch. Tối 29-4, tự vệ và nhân dân phường Bình Thới chiếm trụ sở khóm 5, khóm 5. Lực lượng vũ trang và các đội công tác của Thành ủy bám trụ ở quận 6 bí mật tập kích trụ sở phường Bình Phú… Từ trưa ngày 29 đến rạng sáng 30-4, trên địa bàn thành phố, được sự hỗ trợ đắc lực của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và các đội đặc công, biệt động đã có trên 30 điểm quần chúng nỏi dậy giành được quyền làm chủ phường, xã, khóm, phố.

Chế độ Sài Gòn đã đến giờ cáo chung. Lúc này, Đại sứ Mỹ Martin và một số quan chức cấp cao của Sứ quán Mỹ còn lại ở Sài Gòn vừa tổ chức những chuyến bay di tản cuối cùng để bảo vệ tính mạng của nhân viên và thân nhân của họ, vừa chờ đợi kết quả sử dụng “con bài thương lượng” với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thông qua Đại sứ Pháp Mêriông. Martin cũng thúc ép Dương Văn Minh kêu gọi quân lực Việt Nam Cộng hòa “cố thủ giữ vững những phần đất còn lại”. Đồng thời, một phái đoàn do Nguyễn Văn Diệp - bấy giờ là Tổng trưởng thương mại và kỹ nghệ trong nội các Dương Văn Minh, được cử tới Trại Đavít trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất vào trưa ngày 29-4, xin gặp phái đoàn trong Ban Liên hiệp quân sự bốn bên của ta để đưa ra giải pháp thương lượng về quân sự và chính trị(1). Tiếp đó, lúc 16 giờ cùng ngày, Dương Văn Minh cử tiếp ông Trần Ngọc Liễng trực tiếp đến Trại Đavít để thông báo việc nội các Dương Văn Minh chấp nhận “không kháng cự”(2)

Tổng thống Dương Văn Minh - người được Mỹ và các phe phái chính trị đối lập đánh giá “có vai trò quan trọng trong lực lượng thứ ba” cùng với những nhân vật thân tín như Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu tìm mọi biện pháp, kể cả việc tuyên bố “thả tù chính trị và đòi Mỹ phải rút khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ” để tỏ rõ thiện chí mong muốn hòa bình. Nhưng mọi toan tính cuối cùng của Martin và Dương Văn Minh đều không thành công. Trong khi đó, tiếng súng của Quân giải phóng đã vọng đến rất gần, buộc Martin cùng các nhân viên Đại sứ quán Mỹ phải lên máy bay lên thẳng bay ra hạm đội Mỹ ngoài biển Đông trở về Mỹ.

Trong lúc Martin và Dương Văn Minh đang tìm cách thương thuyết kéo dài giờ phút cáo chung của chính quyền Sài Gòn, thì các đảng viên của ta và những người giác ngộ cách mạng hoạt động trong “lực lượng thứ ba” tranh thủ thời cơ thực hiện nhiệm vụ trên giao. Đảng viên Triệu Quốc Mạnh (ta cài cắm trong “lực lượng thứ ba”) được chính quyền Dương Văn Minh bổ nhiệm chức Giám đốc Cảnh sát Đô thành chiều tối 28-4-1975 đã chủ động giải tán các phòng cảnh sát đặc biệt đô thành. Sau đó, để thực hiện “ý định thương lượng của Tổng thống”, đồng chí Triệu Quốc Mạnh ra lệnh giải tán ngay các tổ chức cảnh săt đặc biệt chuyên đánh phá cơ sở cách mạng, cán bộ chỉ huy cảnh sát quận và các tổ chức cảnh sát cơ sở. Ông cũng lệnh cho các đồn cảnh sát không được nổ súng và cho phép các sĩ quan cảnh sát về nhà lo thu xếp gia đình. Trên thực tế, lực lượng cảnh sát ở Sài Gòn đã bị vô hiệu hóa từ ngày 29-4.


(1) Tham gia phái đoàn này có cả ông Nguyễn Đình Đầu (sau này là thành viên Mặt trận Tổ quốc thành phố Hồ Chí Minh), đồng chí Tô Văn Cang (cán bộ tình báo của ta).
(2) Tham gia phái đoàn này còn có cả Linh mục Thân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luận. Tại Trại Đavít, các ông này được đề nghị nên ở lại trại để tránh nguy hiểm trên đường đi.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2011, 07:39:31 PM
Sáng ngày 30-4, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh - người được Dương Văn Minh giao quyền phụ tá Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn, sau khi được Trung tướng Nguyễn Vĩnh Lộc - Tổng Tham mưu trưởng giao toàn quyền ở Bộ Tổng tham mưu trước khi bỏ chạy(1) cùng Trung tướng Nguyễn Hữu Có đã lên gặp Dương Văn Minh, báo cáo với Dương Văn Minh về tình hình quân sự ở Sài Gòn đã “hết sức bí đát” nhằm mục đích thúc ép Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu đi đến quyết định tuyên bố thành phố Sài Gòn bỏ ngỏ. Tại cuộc họp nội các vào lúc 8 giờ sáng ngày 30-4-1975, sau khi nghe ông Nguyễn Hữu Hạnh báo cáo tình hình quân sự, Dương Văn Minh đã đồng ý trao quyền lại cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Theo lệnh của Dương Văn Minh, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa là Vũ Văn Mâu soạn thảo bản tuyên bố kêu gọi quân đội Sài Gòn đơn phương ngừng bắn và bàn giao chính quyền cho cách mạng. Bản tuyên bố trên được phát trên đài phát thanh Sài Gòn lúc 9 giờ 30 phút(2). Tuy nhiên, lời tuyên bố của Dương Văn minh lúc bấy giờ đã không có giá trị đối với Quân giải phóng vì trên thực tế, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa do Dương Văn Minh làm Tổng thống không còn gì để bàn giao và nhiều đơn vị quân đội Sài Gòn sau lời tuyên bố đó, vẫn tiếp tục chống cự.

Trên tất cả các hướng nội và ngoại thành Sài Gòn, quân và dân ta tiếp tục tiến công theo mệnh lệnh của Bộ Chính trị tiến công với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp, đập tan triệt để mọi sự chống cực của chúng.

Binh đoàn thọc sâu Quân đoàn 2 sau khi đè bẹp một số mục tiêu quan trọng ở quận Thủ Đức, đã tiến sát cầu Sài Gòn. Tại đây, lực lượng địch hỗn hợp án ngữ giữ cầu gồm hàng chục tên ở hai bên bờ sông và tàu chiến ở khu vực Tân Cảng hò hét phản kích dữ dội, quyết ngăn chặn bước tiến của quân ta. Trong chốt lát, hai chiếc xe tăng đi đầu của Tiểu đoàn xe tăng bị thương vong. Tiểu đoàn 8 bộ binh Trung đoàn 66 có hỏa lực cối, ĐKZ75, 12,7 mm yểm tợ (vừa được điều động lên), mặc dù nằm trong tầm hỏa lực địch khống chế ác liệt vẫn kiên gan tiêu diệt từng mục tiêu. Thấy đội hình phân đội xe tăng đi đầu bị dồn lại, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 xe tăng Ngô Quang Nhỡ cho lái xe vọt lên để xử lý tình huống này. Bất chấp hỏa lực địch tới tấp nã vào đội hình quân ta, Tiểu đoàn trưởng Ngô Quang Nhỡ vẫn bình tĩnh mở nắp xe, đứng lên chỉ huy bộ đội và đồng chí cùng một số cán bộ, chiến sĩ xe tăng, công binh Lữ đoàn 219 bị trúng đạn hy sinh. Tấm gương anh dũng hy sinh của người Tiểu đoàn trưởng và một số đồng chí đi đầu đội hình thọc sâu càng thôi thúc quân ta tiến lên. Phó Tư lệnh quân đoàn 2 Hoàng Đan lập tức lệnh cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66 điều động Tiểu đoàn 7 (đi sau đội hình Tiểu đoàn 45 xe tăng) khẩn trương vận động lên tiếp cận khu vực đầu cầu, tiêu diệt hoặc chế áp bằng được hỏa lực địch, bảo vệ Tiểu đoàn 5 xe tăng. Tiểu đoàn 9 cho 2 đại đội vòng sang bên phải, đánh thọc sườn cụm địch ở phía đông bắc khu vực đầu cầu. Về thiết giáp, Lữ đoàn phó - Tham mưu trưởng Trần Minh Công đi cùng Phó Tư lệnh quân đoàn lên chỉ huy Tiểu đoàn 5 và lực lượng phối thuộc đánh chiếm cầu. Sau khi 4 khẩu pháo 85 nòng dài của Trung đoàn 68 (mới điều động lên) hạ nòng ngắm bắn trực tiếp, tiêu diệt 2 tàu chiến địch ở phía hạ lưu, Trung đoàn phó Trung đoàn 66 Phạm Xuân Thệ đã lệnh cho Trung úy Hoàng Quốc Trị, Đại đội trưởng đại đội 15 ĐKZ, chỉ huy bộ phận hỏa lực bắn thẳng vào 6 cụm chốt của địch. Trong chốt lát, 4 chếc xe M113, hai chiếc xe M41 cố thủ ở mặt cầu và hai bên khu vực đầu cầu phía Nam, 2 chiếc tàu chiến đậu ở gần khu vực quân cảng (Tân Cảng) trúng đạn, bốc cháy dữ dội; hơn 100 tên địch còn lại kinh hoàng bỏ vũ khí tháo chạy. Hỏa lực của địch ở các lô cốt dã chiến gần như câm bặt.


(1) Trung tướng Nguyễn Vĩnh Lộc cùng gia đình di tản lúc 8 giờ sáng ngày 30-4-1975. Bấy giờ, Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh là người cón lại ở Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn, có thẩm quyền nhận và truyền lệnh của Tống thống Dương Văn Minh. Ở cương vị này, Nguyễn Hữu Hạnh đã lệnh cho các đơn vị quân đội Sài Gòn giữ nguyên vị trí, không di chuyển, đợi lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh.
(2) Toàn văn bản tuyên bố của Dương Văn Minh đọc trên Đài phát thanh Sài Gòn vào lúc 9 giờ 30 phút sáng ngày 30-4-1975 như sau: “Đường lối, chủ trương của tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ cộng hòa hãy bình tĩnh, ngưng nổ súng và ở đâu tại đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận bàn giao chánh quyền trung ương trong vòng trật tự, tránh sự dổ máu vô ích cho đồng bào”, tư liệu của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2011, 07:41:47 PM
9 giờ, lực lượng đi đầu binh đoàn đột kích thọc sâu của Quân đoàn 2 tiếp tục vượt cầu Sài Gòn, tiến về phía Dinh Độc Lập. Tại phía nam cầu, Phó Tư lệnh Quân đoàn 2 chỉ thị cho cán bộ Lữ đoàn xe tăng 203 điều chỉnh Tiểu đoàn 2 thiết giáp dàn đội hình, giữ cực ly, bám Tiểu đoàn 1 xe tăng đi đầu, chỉ thị cho Ban chỉ huy tiền phương Trung đoàn 66 do Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ phụ trách chỉ huy cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 7 bám sát đội hình xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập, Tiểu đoàn tiến vào đánh chiếm Đài phát thanh.

Đến cầu Thị Nghè, lực lượng thọc sâu vấp phải sự chống trả của quân Sài Gòn. Tay đây, dựa vào vật cản bằng thùng phi nhồi đất và bao cát, sử dụng hỏa lực xe tăng M41, xe bọc thép M113, binh linh Sài Gòn chống trả quyết liệt. Chiếc xe tăng mang số hiệu 307 của Đại đội 4 do kíp trưởng Lê Tiến Hùng chỉ huy bị hỏa lực địch bắn hỏng, phải dừng lại. Lập tức, hỏa lực xe tăng và bộ binh ta nã vào các xe tăng, xe bọc thép và các ổ đề kháng của địch bên kia cầu, 4 xe tăng, xe thọc thép của địch bị bắn cháy, các lô cốt dã chiến bị tung lên vì trúng đạn pháo xe tăng và ĐKZ. Sau 15 phút bị phản kích mãnh liệt, địch hoảng sợ vứt bỏ xe pháo, vũ khí, tháo chạy.

Vượt qua cầu Thị Nghè, lực lượng thọc sâu cơ động dọc theo tường rào Thảo Cầm Viên; Tiểu đoàn 1 xe tăng do Đại đội 4 dẫn đầu, tiếp cận cổng chính Dinh Độc lập, Xe tăng đi đầu mang số hiệu 843 do Đại đội trưởng Bùi Quang Thận chỉ huy quay nòng pháo, nhấn ga, húc vào cánh cổng bên trái (từ ngoài vào). Do đột ngột gặp sức cản lớn nên xe bị chết máy. Chiếc xe tăng mang số hiệu 390 do Chính trị viên Vũ Đăng Toàn chỉ huy đi sau vượt lên, lao vào húc đổ cánh cổng chính của Dinh Độc Lập. Ngay sau đó, xe tăng 843 nổ máy trở lại, vượt qua cổng cùng xe tăng 390 tiến thẳng vào sân dinh. Khi xe tăng 843 vừa dừng lại, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận thoát ngay ra khỏi xe, được đồng đội yểm trợ và được người trong dinh dẫn đường, tiến lên tầng thượng hạ lá cờ ba sọc của Chính quyền Sài Gòn, kéo lá cờ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên cột cờ cao nhất của Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Đó chính là thời khắc báo hiệu chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã toàn thắng.

Cùng lúc Đại đội trưởng Bùi Quang Thận lên kéo cờ, một số cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 66 do Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ chỉ huy tiến vào Dinh Độc Lập, nhanh chóng vào phòng Khánh Tiết. Tại đó, có mặt Dương Văn Minh và các thành viên nội các chính quyền Sài Gòn(1). Các đồng chí Trung đoàn 66 đưa Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu sang Đài phát thanh Sài Gòn đọc lời tuyên bố đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng. Tại đây, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ cùng các cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 656 tổ chức soạn thảo lời Tuyên bố đầu hàng cho Dương Văn Minh gần xong thì Trung tá Bùi Văn Tùng, Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203 xuất hiện. Từ đó, bộ phận cán bộ - chiến sĩ Trung đoàn 66 dưới sự chỉ đạo của Chính ủy Bùi Văn Tùng và Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ tiếp tục soạn thảo và hoàn chỉnh. Ngay sau đó, Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm toàn bộ tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh và phát trên Đài phát thanh Sài Gòn: “Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chánh quyền Sài Gòn, kêu gọi quân lực cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chánh quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, giao toàn chánh quyền từ trung ương đến địa phương cho Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”. Chính ủy Bùi Văn Tùng, thay mặt Quân giải phóng, soạn thảo và đọc lời tuyên bố chấp nhận đầu hàng không điều kiện của Tướng Dương Văn Minh - Tổng thống chính quyền Sài Gòn.

Như vậy, với chiến dịch Hồ Chí Minh (từ ngày 26-4 đến ngày 30-4-1975), quân và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng chủ lực, địa phương, cảnh sát thuộc Vùng 3 chiến thuật, các đơn vị dự bị chiến lược còn lại và tàn quân của Vùng 1, Vùng 2 chiến thuật chạy về, đập tan hệ thống chính quyền địch từ trung ương đến cơ sở, giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn - Gia Định và các tỉnh Tây Ninh, Long An, Bình Dương, Biên Hòa, Bà Rịa, Vũng Tàu thuộc miền Đông Nam Bộ. Quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 250.000 tên địch, trong đó có khoảng 160.000 tên bị thương vong, còn lại là tan rã(2). Ta đã thu 500 khẩu pháo, 400 xe tăng và xe bọc thép, 800 máy bay, 600 tàu chiến, 270.000 khẩu súng, 3.000 xe quân sự các loại. Về phía ta, bộ đội chủ lực bị thương vong hơn 6.000 người, gần 100 xe cơ gới bị phá hủy, trong đó có 33 xe tăng, xe thiết giáp…


(1) Nội các chính quyền Sài Gòn gồm: Dương Văn Minh - Tổng thóng, Nguyễn Văn Huyền, Phó Tổng thống, Vũ Văn Mẫu - Thủ tướng Chính phủ, Bùi Tường Huân - Phó Thủ tướng, Nguyễn Văn Hảo - Phó Thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Bộ kinh tế, Lý Quý Chung - Bộ Trưởng Bộ thông tin, Nguyễn Văn Diệp - Bộ Trưởng Bộ Thương mại và Kỹ nghệ, Lê Quang Trường - Bộ trưởng Bộ Tài chính, Nguyễn Văn Ba - Thứ trưởng Bộ Thông tin, Bùi Thế Dũng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Nguyễn Hữu Hạnh - Chuẩn tướng phụ tá Tổng Tham mưu trưởng, Vũ Trang Chiêm - Đại tá, Chánh Văn phòng Phủ Thủ tướng…
(2) Theo thống kê của Ủy ban quân quản các tỉnh và thành phố miền Nam (tính đến tháng 9-1975), đã có hơn 700.000 người tham gia quân đội, cảnh sát, nhân viên chính quyền địch ra trình diện, trong đó có 30 sĩ quan cấp tướng, 400 đại tá, 2.000 trung tá, 5.000 thiếu tá, 60.000 sĩ quan cấp ủy, còn lại là hạ sĩ quan, binh sĩ, nhân viên.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2011, 07:42:50 PM
Hòa nhịp với đòn tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định, quân và dân các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và các địa phương còn lại ở Nam Bộ, bằng sự chủ động, sáng tạo, đã nhất tề đứng dậy, kiên quyết tiến công với phương châm “tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, giải phóng xã”.

Trên địa bàn Quân khu 8, từ đêm 26 rạng ngày 27-4-1975, lực lượng vũ trang quân khu đẩy mạnh tiến công địch trên quốc lộ 4. Trung đoàn 320 sử dụng 1 tiểu đoàn đánh chiếm đoạn Cầu Chùa, 2 tiểu đoàn còn lại của trung đoàn bấy giờ đang đứng chân ở đông, tây lộ 4 liên tục đánh bại các cuộc phản kích của địch, giữ vững các chống, cắt đứt hoàn toàn lộ 4. Rạng sáng ngày 30-4-1975, Sư đoàn bộ binh 8 bao vây căn cứ quân sự Sư đoàn bộ binh 7 địch ở Đồng Tâm, tạo điều kiện cho việc đánh chiếm thành phố Mỹ Tho. Hơn 9 giờ, mặc dù bị quân ta bao vây chặt và nghe lệnh tuyên bố “ngừng nổ súng để bàn giao chính quyền cho cách mạng” của Dương Văn Minh, nhưng chỉ huy Sử dụng 7 quân đội Sài Gòn vẫn ngoan cố chấp hành lệnh của Nguyễn Khoa Nam - Tư lệnh vùng 4 chiến thuật, cho lực lượng ra quốc lộ 4 và các thị trấn tăng cường phòng thủ. Trưa ngày 30-4, được sự hỗ trợ của Sư đoàn 8 và lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng biệt động thành và các tổ chức cơ sở mật đã phát động nhân dân nổi dậy diệt ác ôn, vận động binh lính và cảnh sát hạ vũ khí ra hàng. 16 giờ cùng ngày, các đơn vị vũ trang địa phương và lực lượng quần chúng nhân dân kéo vào chiếm giữ khu hành chính, Ty Cảnh sát, phá nhà lao, giải phóng tù nhân. Lực lượng biệt động đánh chiếm tiểu khu Định Tường, khu quân sự nội thành. Chiều ngày 30-4, Trung đoàn 1 - Sư đoàn 8, hai tiểu đoàn bộ đội tỉnh, Tiểu đoàn 297 đặc công phối hợp đánh chiếm Dinh tỉnh trưởng, căn cứ quân sự Đồng Tâm, tạo điều kiện cho nhân dân nổi giải phóng toàn bộ phường xã.

Tỉnh vùng sâu Gò Công, sau khi được tin quân ta đã đánh chiếm Dinh Độc Lập, bắt nội các Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, cán bộ đảng, các đội võ trang công tác đã phát động quần chúng nổi dậy giải tán tề, phá đồn bốt, thu gom súng đạn. Bộ máy kìm kẹp ở tỉnh lỵ bị tan rã. Lực lượng vũ trang và nhân dân đã làm chủ thị xã lúc 16 giờ 30 phú ngày 30-4.

Ở Bến Tre, đêm 29-4, các tiểu đoàn 263, 596 và du kích địa phương đánh chiếm Chi khu Lương Quới. Sáng ngày 30-4-175, địch đưa các tiểu đoàn 418, 593, 401 đến hòng chiếm lại nhưng bị ta chặn đánh thiệt hại nặng. 9 giờ sáng, các đội biệt động, lực lượng an ninh vũ trang, được nhân dân hỗ trợ, đã tiến công tiêu diệt và giải tán toàn bộ các đơn vị bảo an, phòng vệ dân sự; bức hàng, bức rút hàng loạt đồn bốt ở vùng khu vực trong thị xã. Bị tiến công mạnh mẽ, rộng khắp, nhất là khi nghe tin chính quyền Dương Văn Minh đã đầu hàng, quân địch ở khắp các huyện, thị trong toàn tỉnh càng thêm rệu rã, hoang mang. Đêm 30-4, sĩ quan, binh lính, viên chức địch ở thị xã bỏ nhiệm sở. Sáng ngày 1-5, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, lực lượng vũ trang và nhân dân nổi dậy giành chính quyền, giải phóng toàn tỉnh.

Cũng trong hai ngày 30-4 và 1-5, quân và dân các tỉnh Kiến Tường, Sa Đéc tiến công và nổi dậy giải phóng quê hương.

Trên địa bàn Khu 9, Bộ Tư lệnh quân khu sử dụng phần lớn lực lượng chủ lực quân khu tiến công giải phóng thành phố Cần Thơ - thủ phủ của chế độ Sài Gòn ở miền Tây Nam Bộ. Đêm 29-4-1975, các đơn vị thuộc Sư đoàn bộ binh 4 vượt lộ Vòng Cung, bao vây sân bay Trà Nóc và một số mục tiêu quan trọng khác gần Bộ Chỉ huy vùng 4 chiến thuật. Sáng 30-4, sau khi được hỏa lực cối, ĐKZ75, 12,7 mm bắn phá và chế áp các mục tiêu lộ, Trung đoàn 20 (Sư đoàn 4) nhanh chóng đánh chiếm sân bay Trà Nóc. Bộ Tư lệnh Sư đoàn không quân số 4 và 1 tiểu đoàn bảo vệ sân bay quân đội Sài Gòn không chống cự, đầu hàng tại chỗ. Ta thu 113 máy bay (phần lớn là trực thăng) và nhiều kho tàng chứa đồ quân dụng. Phát huy thắng lợi, Trung đoàn 20 kết hợp với Trung đoàn 10 đánh chiếm Bình Thủy, sân bay Lộ Tẻ, bức hàng 1 tiểu đoàn địch chốt giữ phía tây bắc lộ Vòng Cung. Trưa ngày 30-4, một bộ phận Sư đoàn bộ binh đánh chiếm Bộ Tư lệnh Vùng 4 chiến thuật, Nha cảnh sát, căn cứ tiếp liệu của Bộ Tư lệnh hải quân địch. 11 giờ 30 phút, lực lượng vũ trang thành phố và cơ sở nội tuyến theo chỉ đạo của Ban khởi nghĩa, đã tổ chức phá trại giam, giải thoát gần 1.000 anh em tù chính trị. Cùng lúc, hai tiểu đoàn bộ đội địa phương đánh chiếm Dinh tỉnh trưởng Phong Dinh. 15 giờ 30 phút, thành phố Cần Thơ được hoàn toàn giải phóng.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2011, 07:43:32 PM
Ở Vĩnh Long, rạng sáng ngày 30-4, thực hiện mệnh lênh của Bộ Tư lệnh Quân khu 9, Trung đoàn 1 từ Ba Càng cơ động lên, phối hợp với Trung đoàn 3, cán bộ bàn đạp tiến công các mục tiêu trong và ngoài thị xã. 15 giờ, được lực lượng vũ trang địa phương hỗ trợ, Trung đoàn 3 bất ngờ tập kích sân bay. Sau hơn 1 giờ chiến đấu ác liệt, bộ đội ta đã diệt 2 đại đội địch cố thủ bảo vệ sân bay, bắn cháy 6 xe tăng, xe thiết giáp. 18 giờ, hai trung đoàn 1 và 3 bao vây hậu cứ Sư đoàn 9 và dùng loa kêu gọi Trung đoàn 18 địch ra hàng. Không còn đường thoát, phần lớn địch trong căn cứ ra hàng, số còn lại giả dân lẩn trốn. Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực, Tỉnh ủy Vĩnh Long chỉ đạo các chi bộ đảng ở địa phương phát động nhân dân nổi dậy giành chính quyền, bắt tỉnh trưởng, giải phóng toàn tỉnh vào sáng ngày 1-5-1975.

Ở Trà Vinh, đêm 29 rạng ngày 30-4-1975, được quân khu tăng cường 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 đại đội đặc công và được quân dân địa phương hỗ trợ, bộ đội chủ lực tỉnh đã đã đánh chiếm sân bay, trận địa pháo, bức hàng hàng chục đồn bốt bảo an, dân vệ địch. Trước đòn tiến công của ta, hàng trăm sĩ quan, binh lính quân Sài Gòn chạy vào Dinh tỉnh trưởng, ngoan cố chốing trả ta quyết liệt. Nhưng trước khí thế áp đảo của cách mạng, tàn binh địch trong dinh chống cự yếu ớt dần, đến 11 giờ ngày 30-4-1975 thì buông súng đầu hàng (trong đó có cả viên Tỉnh trưởng).

Tại vùng tôn giáo (chủ yếu là đạo Hòa Hảo) Long Xuyên, đêm 30-4, theo lệnh của Bộ Tư lệnh quân khu, Trung đoàn 101 - Sư đoàn bộ binh 4 được tăng cường 1 tiểu đoàn xe boc thép M113 đã cơ động cấp tốc bằng xe vận tải GMC từ Cần Thơ lên khu vực thị xã Long Xuyên. Sáng 1-5, Trung đoàn 101 phối hợp lực lượng vũ trang tỉnh và các tầng lớp nhân dân địa phương vây ép, bức hàng toàn bộ quân địch trong thị xã và các chi khu lân cận Thốt Nốt, Châu Phú, Châu Thành… Đến 10 giờ ngày 1-5-1975, toàn tỉnh Long Xuyên đã được giải phóng.

Ở Sóc Trăng, đêm 29-4-1975, lực lượng vũ trang tỉnh gồm 5 tiểu đoàn, 2 đại đội, được nhân dân địa phương hỗ trợ, đồng loạt tiến công vào thị xã. Bốn tiểu đoàn mang tên Tiểu đoàn Phú Lợi (1, 2, 3, 4) đánh chiếm trại Lý Thường Kiệt, sân bay ngã ba Vòng Hoàn, hai đồn Tà Lây, Bưng Cốc. Đại đội 301 và các đội võ trang công tác nội tuyến chiếm Chi khu Khánh Hưng, cầu Thuận Hòa. Đại đội bộ đội tập trung huyện Long Phú bức hàng đại đội địch chốt giữ khu vực chùa Năm Ông, làm chủ cầu An Hòa. Lực lượng an ninh tỉnh chiếm Ty Cảnh sát, áp sát Dinh tỉnh trưởng, cùng quần chúng diệt ác, trừ gian trong khu Hoàng Diệu. Sáng 30-4, các lực lượng vũ trang tỉnh từ hướng trung tâm và từ phía tây tiến công quyết liệt các mục tiêu còn lại. Hơn 100 tên địch cố thủ trong Dinh tỉnh trưởng buộc phải kéo cờ trắng ra hàng. Đến 14 giờ, quân và dân Sóc Trăng đã hoàn toàn làm chủ thị xã.

Ở Bạc Liêu, từ ngày 26 đến ngày 28-4-1975, lực lượng binh vận đã bắt mối và thuyết phục được 108 sĩ quan cấp úy, cấp tá, tiểu khu trưởng, tiểu khu phó ngã về phía cách mạng. Chiều ngày 29-4, lực lượng vũ trang và nhân dân thị xã nhất loạt tiến công địch. Sáng 30-4, được lực lượng vũ trang hỗ trợ, gần 10.000 quần chúng vùng ven và nội thị kéo đến bao vây tòa hành chính, buộc tên Tỉnh trưởng và thuộc hạ phải đầu hàng.

 Tại Cà Mau, đêm 29-4-1975, các tiểu đoàn chủ lực tỉnh tiến công địch ở vùng ven thị xã: Tiểu đoàn 2 tiêu diệt Chi khu Hòa Thành, Tiểu đoàn 5 diệt đồn Ao Kho, Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 4 diệt đồn Xí Cách, Cái khúc, Tân Thành và cầu số 2 (Tân Lộc). Thừa thắng, đêm 30-4, các tiểu đoàn tập trung lực lượng tiến công địch trong thị xã. Đến 5 giờ sáng ngày 1-5-1975, lực lượng vũ trang được quần chúng hỗ trợ lần lượt đánh chiếm các mục tiêu. 10 giờ 30 phút, quân và dân ta đã làm chủ thị xã.

Trên hướng Rạch Giá, ngày 29-4-1975, bốn tiểu đoàn chủ lực quân khu và chủ lực tỉnh tiến công Chi khu Rạch Sỏi (Châu Thành), đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu trên hướng đông và nam thị xã. Tiếp đó, Tiểu đoàn 6 ở vùng ven thị xã mở cuộc tiến công các mục tiêu then chốt của địch trong nội thị. Địch trên cả hai hướng phản công quyết liệt. Tiểu đoàn 6 buộc phải chốt giữ một phân thị xã và đánh trả các đợt phản công của chúng. Chiều 30-4, được lực lượng từ Rạch Sỏi lên chi viện, Tiểu đoàn 6 chuyển sang tiến công đánh chiếm tiểu khu trung tâm thị xã. 22 giờ ngày 30-4, quân và dân ta đã hoàn toàn làm chủ thị xã.

Trong hai ngày 30-4 và 1-5, quân và dân các tỉnh còn lại trên địa bàn Quân khu 9 gồm Chương Thiện, Hà Tiên và đảo Phú Quốc, bằng các hình thức tiến công vũ trang với nổi dậy và binh vận đã giành chính quyền, giải phóng quê hương.

Như vậy, đến ngày 1-5, toàn bộ các tỉnh, thành phố và các đảo, quần đảo ngoài khơi Nam Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng, chiến dịch lịch sử mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh toàn thắng, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng, kết thúc vẻ vang sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài hơn 20 năm của toàn dân tộc Việt Nam.


Tiêu đề: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 8
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Ba, 2011, 07:47:03 PM
KẾT LUẬN

Hiệp đinh Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, Mỹ rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, so sánh lực lượng địch - ta trên chiến trường thay