Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: binhyen1960 trong 23 Tháng Hai, 2011, 10:09:03 PM



Tiêu đề: Cuộc đời và chiến trận
Gửi bởi: binhyen1960 trong 23 Tháng Hai, 2011, 10:09:03 PM
(http://i973.photobucket.com/albums/ae216/hieu1960/021-1.jpg)


BẠN ĐỌC THÂN MẾN!


“Cuộc đời và chiến trận” của Trung tướng Lê Nam Phong đã miêu tả chân thực cuộc đời chính chiến của một vị tướng Quân đội nhân dân Việt nam.
Tôi và anh Lê Nam Phong ở cùng một trung đoàn từ những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp từ chiến dịch Biên Giới đến chiến trường Điện Biên Phủ. Rồi sau đó, chúng tôi gặp nhau trong các trận mạc thời chống Mỹ, mặt trận biên giới Tây nam… Ở Lê Nam Phong toát lên bản lĩnh của người chỉ huy dũng cảm, xông xáo, quyết đoán, thông minh. Anh có một tấm lòng thương yêu đồng chí, đồng đội hết mực. Cuộc sống của anh giản dị, gần gũi thân thiết với cán bộ, chiến sỹ dưới quyền. Những ngày tháng quân ngũ của anh gắn liền với những trận đánh ác liệt trên các chiến trường Biên Giới, Điện Biên Phủ, Nam Bộ, biên giới Tây nam và trên đất nước bạn Lào, Campuchia.
Rất hoan nghênh anh đã hoàn thành cuốn tự chuyện “Cuộc đời và chiến trận” vào đúng dịp kỷ niệm 63 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt nam (22.12.1944-22.12.2007). Cuộc đời và chiến trận phong phú những sự kiện và những hoạt động thực tế, văn phong mộc mạc, dễ hiểu mà không dễ dãi mang đạm chất “Nam Phong”.
Cuốn sách “Cuộc đời và chiến trận” là một câu chuyện thực của chàng trai xứ Nghệ nghèo đi theo Cách mạng với niềm ti và ý chí vươn lên, từ chiến sỹ bộc phá phấn đấu trở thành Trung tướng, Hiệu trưởng một trường Đại học của Quân đội. Cuộc đời và chiến trận là cuốn sách rất có giá trị giáo dục đạo đức, lý tưởng và để lại những kinh nghiệm trận mạc cho thế hệ mai sau.


Thiếu tướng Bùi Nam Hà.
(Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88 Đại đoàn 308)


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 23 Tháng Hai, 2011, 10:20:03 PM
I   THỜI NIÊN THIẾU

Tôi sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, lớn lên trong cảnh ngộ tối tăm cùng cực, suốt ngày phải đi chăn trâu, cắt cỏ, lam lũ trên ruộng đồng. Tuổi thơ tôi chưa từng được cắp sách tới trường, dù chỉ một ngày.
Làng quê tôi vốn là vùng đất trù phú, các đáng tổ tiên đã từng khai phá tạo dựng, trải qua cả ngàn năm cùng những thăng trầm theo lịch sử… Ngày xưa tên làng là Phú Mỹ (có nghĩa là giàu đẹp) thuộc tổng Phú Hậu, nay thuộc xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An.
Đó là vùng đất địa linh nhân kiệt, đã sản sinh ra nhiều người anh hùng và các bậc sỹ phu yêu nước trải qua nhiều triều đại. Trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, người dân xứ Nghệ với lòng yêu nước nồng nàn, đã đóng góp công lao và sự hy sinh to lớn của mình cho Tổ quốc, làm rạng rỡ truyền thống anh hùng, dũng cảm, góp phân tô thắm trang sử vàng chói lọi của dân tộc ta.
Tương truyền rằng làng tôi có 100 cái giếng nước trong và 99 cây thị quý. Đã có 100 con chim phượng hoàng bay về đậu lại, muốn cư đô, nhưng thiếu một cây thị nên cả đàn bay đi… Nếu không nơi đây đã trở thành đất Đế đô!
Mấy ngàn năm trước, đất làng tôi còn có một cửa biển, nương dâu bãi biển, vật đổi sao rời, đã tạo lập nên vùng đất ngày nay. Trước cửa làng tôi bây giờ còn mang tên cửa Gan, chỉ rõ đó là một cửa biển lớn. Nay biển đã lùi ra xa. Quê tối có hai cửa sông lớn chảy ra biển, gọi là Lạch Cờn và Lạch Quèn. Nên tôi đã vịnh mấy câu thơ tức cảnh:
“Đây cửa Gan bến nước ngàn xưa
Thuyền vua Lê, vua Nguyễn ghé bờ
Sơn thuỷ hữu tình, lòng người mến cảnh
Chim phượng hoàng năm nào hạ cánh
Soi bóng mình đáy giếng nghiêng nghiêng
Ngắm Quỳnh Hoa với cảnh thần tiên
Thời dĩ vãng, bồng lai là thế”
Khi tôi vừa được sinh ra thì cũng là lúc ngọn lửa Cách mạng bùng cháy, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh ra đời báo hiệu thời kỳ bùng nổ của cao trào đấu tranh Cách mạng, giải phóng dận tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản.
 Tiếp thu truyền thống yêu nước lâu đời của nhân dân ta, sẵn có ý chí kiên cường bất khuất, dòng máu nhiệt tình và lòng căm thù sâu sắc đối với thực dân phong kiến, nhân dân quê tôi nhất tề vùng lên ủng hộ và tham gia trực tiếp phong trào Xô Viết năm 1930.
Các bậc cha anh quê tôi đã một lòng đi theo tiếng gọi của Cách mạng.
Từ sau cuộc "khủng bố đỏ" đẫm máu của thực dân Pháp, sau những năm 30-31, quê hương tôi lại trìm đắm trong bóng tối của áp bức bóc lột của thực dân Pháp, sau đó là phát xít Nhật, đã quàng lên đầu, lên cổ; sưu cao thuế nặng, tô tức ngập đầu. Tuổi thơ đói nghèo kham khổ của tôi cùng gia đình mình phải đi qua thời gian đó, vì vậy mới mười một tuổi tôi phải đi ở chăn trâu cắt cỏ, rồi đi làm thuê, cuốc mướn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, không được học hành như con cái nhà giàu có ở trong làng.
Nhưng nhờ có thể chất khoẻ mạnh, tư chất lanh lợi, lại có lòng say mê thèm khát được học hành, ngày đêm mong mỏi và ước nguyện được cắp sách tới trường…, cuối cùng bằng nỗ lực bản thân tôi cũng đã tự học để biết đọc, biết viết.
Hồi bấy giờ cha mẹ đặt tên tôi là Thống. Chữ Thống hiểu theo nghĩa Hán tự là thống khổ. Hàng ngày tôi lem luốc trên ruộng đồng, chăn trâu, cắt cỏ, tát nước, be bờ. Đến quãng 12-13 tuổi, tôi còn phải làm thêm việc giúp mẹ, bồng em. Đây là cơ hội may mắn vì được giữ em mới có điều kiện tự học.
Ở trong làng có một trường dạy học trẻ em từ lớp đồng ấu đến lớp sơ học, có thày giáo hương thôn Lê Văn Truyền dậy thêm cả lớp vỡ lòng. Những buổi bồng em đi chơi, tôi lân la đến trường. Dần dà, do lòng ham học thôi thúc, tôi để em ngồi quanh quẩn rồi đến cạnh cửa sổ, xem bọn học trò đánh vần học chữ. Tôi nhìn chữ thày Truyền trên bảng rồi đọc hoạ theo. Ngày lại ngày, chăm chú và đều đặn, dùng cục gạch non đỏ vạch trên nền nhà, tự học viết. Mấy tháng sau tôi đã đọc và viết được chữ quốc ngữ…
Đó là niềm vui sướng đầu tiên, rất có ý nghĩa trong cuộc đời tôi. Đến năm 13 tuổi, cũng bằng cách “học mót”, học lỏm như thế, tôi đã làm được phép tính cộng - trừ - nhân - chia.
Người lớn trong làng kháo nhau “thằng cu Thống nghịch thế mà giỏi, đi học mót mà cũng biết chữ”.
Tôi lấy làm đắc chí và tự hào trước mọi người. Thủa nhỏ tôi không phải là đứa lêu lổng, nhưng rất nghịch và hiếu động, chơi đùa với bọn cùng trang lứa không biết mệt mỏi. Ở trong làng, tôi nổi tiếng là đứa đầu têu bọn trẻ, bày ra các trò trêu chọc con gái (kể cả những cô gái lớn tuổi). Tôi không phải là học trò “Thứ thiệt” nhưng câu ngạn ngữ “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò” đã vận đúng vào tính cách tôi hồi ấy.
Những đêm trăng thanh gió mát, tôi cùng bọn con trai bày trò đánh trận giả, bắt chước vua Đinh Bộ Lĩnh chia phe bày trận cờ lau, la hét, nô đùa ầm ĩ.
 Những đêm hè oi bức rủ nhau lén bôi nhọ, trét bùn dơ vào mặt mũi, đùi vế các cô gái phường vải sau ngày làm việc, đêm say giấc nồng.
Những ấn tượng sôi động của thời trẻ con ấy trong tôi phảng phất chút thèm khát cuộc sống vui thú, được hoạt động hoà đồng trong sức trẻ ở dạng ngây thơ, chưa ý thức được việc mình làm.
Lớp bạn bè cùng trang lứa hồi ấy nay đã ngoài tuổi 80, có nhiều người còn sống ở quê nhà như ông Võ Văn Bài, Võ Văn Tân. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, họ đều tích cực tham gia công tác Cách mạng.
Làng tôi tựa lưng vào triền núi mé đông dãy Trường Sơn hùng vĩ, quay mặt ra Biển Đông, hướng mặt trời mọc. Phía trước làng là cánh đồng lúa mênh mông trải dài dọc theo quốc lộ 1A, song song với đường xe lửa, chạy xuyên qua làng xã. Địa lý thuận lợi và phong cảnh tươi đẹp như vậy nhưng người nông dân ở đây bao đời vẫn chịu sự nghèo khổ là do bị áp bức bóc lột quá nặng nề. Ngày nay cuộc sống đã được đổi thay và khá dần lên nhiều. Trải qua hơn 60 năm thoát ly gia đình, đi theo cách mạng với 56 năm quân ngũ, tôi - người nông dân - đã trở thành người chiến sỹ và trưởng thành như hôm nay, cũng nhờ có quê hương nuôi dưỡng từ lúc sinh thành đến hết tuổi ấu thơ. Hồi tưởng mọi kỷ niệm, không bao giờ tôi quên hình ảnh quê hương mình. Tôi sinh ra được một tuổi thì có một dòng sông đào dẫn thuỷ ngập điền - gọi là nông giang - đã đưa nguồn nước sống Lam chảy về tận quê nhà. Tuổi thơ tôi đã nhiều năm tháng đắm mình trong dòng nước mát lành thân yêu ấy.
Rồi Cách mạng tháng Tám thành công, rồi kháng chiến bùng nổ. Từ giã bạn bè, gia đình, làng quê xóm cũ, ra đi theo tiếng gọi của chiến trường.
60 năm xa cách đằng đẵng, tôi mang bàn chân người lính đi tới mọi dòng sông trên khắp miền giang sơn - Tổ quốc.
Từ sống Lam, sông Hồng, sông Lô, sông Chảy đến sông Mã oai hùng, sống Thao bát ngát, sống Đuống lững lờ và sông Đáy trầm tư.
Rồi 10 năm chống đế quốc Mỹ, tôi lại được đến với dòng sông Cửu Long hùng vĩ, Vàm Cỏ oai hùng, với sông Bé nối dòng Đồng Nai bất khuất!…
Cho dù ở đâu, tôi vẫn luôn nhớ về con sông đào của tuổi thơ tôi.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 23 Tháng Hai, 2011, 10:31:19 PM
II. BƯỚC KHỞI ĐẦU

Khi tôi bước vào tuổi vị thành niên thì phát xít Nhật vào Đông Dương. Cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra vô cùng ác liệt, tàn khốc. Ở trong nước. phong trào cách mạng dâng cao, mặt trận Việt Minh ra đời. Khởi nghĩa Bắc Sơn dẫn đến sự ra đời của lực lượng tuyên truyền vũ trang cách mạng, có tác động mạnh mẽ rộng lớn và trực tiếp kích thích tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân ta, đặc biệt trong công nhân, nông dân và thanh niên trí thức, học sinh tiến bộ ở khắp mọi miền đất nước.
Đó cũng là những ngày tháng đánh dấu bước ngoặt đầu cuộc đời mà tôi không bao giờ quên.
Vào những năm 1943-1944, tôi may mắn được ông Kỳ, lão thành cách mạng, đảng viên từ những năm 1930, dìu dắt hướng dẫn giúp đỡ, giao cho làm liên lạc Việt Minh. Ngoài ra còn có ông Thiết là cán bộ chuyên trách của Việt Minh đi sát bồi dưỡng năng lực công tác để giúp tôi làm tròn nhiệm vụ được giao.
Ông Kỳ rất thọ, đến năm 99 tuổi mới mất. Ngày ông mất tôi ở xa không về được để có thể trực tiếp phúng điếu và tri ân người thày đã dìu dắt tôi trong thời gian đầu theo Cách Mạng.
Cuối năm 1944 là giai đoạn Cách mạng xây dựng tổ chức bí mật tiền khởi nghĩa, tôi được bổ sung vào đội bảo vệ, chính thức được nhận công tác bí mật mà cơ sở Việt Minh ở địa phương giao cho.

***

Một đêm lạnh giá của tiết đầu Xuân, chúng tôi vừa hoàn thành những công việc trên giao cho địa phương. Làng quê im lìm yên ngủ sau một ngày lao động mệt nhọc trên ruộng đồng. Những ngày tháng ấy đói lê thê, trai gái gày guộc, dân làng còm cõi, xóm thôn không còn tiếng nói cười, ca hát. Đêm đen trĩu nặng với gió và rét.
Bỗng có những tiếng súng nổ dồn dập, liên hồi, rồi tắt ngấm ở phía đồn Giát của quân Pháp đóng trên sườn núi phía Tây ga xe lửa và huyện lỵ. Nơi đó cách làng tôi 3km. Cả vùng quê phụ cận bị tiếng súng nổ dựng dậy, tỉnh giấc trong sự ngơ ngác bàng hoàng, thoảng thốt.
Đến khi gà gáy sáng thì liên lạc báo tin: Quân Nhật đánh chiếm huyện lỵ và đồn Tây; nó bắn chết tên quan đồn rồi”. Đó là sự kiện diễn ra ngày 9 tháng 3 năm 1945 ở quê tôi.
Vài ngày sau, cơ sở Việt Minh đã phát đi tài liệu “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chúng tôi đi rải truyền đơn chuyển tài liệu mật và hướng dẫn nhiệm vụ cụ thể, vận động các tầng lớp nhân dân bình tĩnh, tin tưởng, chuẩn bị tinh thần sẵn sàng chờ lệnh của Việt Minh và uỷ ban Khởi nghĩa Trung ương. Các lực lượng tự vệ nơi nơi sẵn sàng tham gia chiến đấu.
Ít lâu sau, không quân của phe đồng minh tấn công quân Nhật ở Đông Dương. Các biên đội máy bay cường kích B29 của Mỹ được sử dụng, máy bay hai thân từ hạm đội và căn cứ Thái Bình Dương vào ném bom các mục tiêu quân sự, kho tàng, trại lính, cảng biển, nhà máy xe lửa do quân Nhật chiếm đóng ở thành phố Vinh - Bến Thuỷ.
Có lần, một chiếc máy bay tiêm kích của đồng minh bị súng phòng không của quân Nhật bắn trúng ở Vinh, phải bay về phía bắc hạ cánh khẩn cấp trên một đồng lúa nước, trong khu ruộng nằm sâu tại vùng đồi núi của làng Tràm (nay thuộc xã Quỳnh Thạch).
Một giờ sau, xe hiến binh Nhật đuổi tới, các phi công đã kịp trốn thoát xuống phía bờ biển. Nhưg chỉ qua một đêm, ngày hôm sau quân Nhật đã truy tìm được 3 phi công đồng minh đem về huyện lỵ chờ chuyển đi. Trong thời gian các phi công bị tạm giữ tại đó, thanh niên, học sinh, trẻ em, người lớn, túm tụm đến xem… Đó là lần đầu tiên họ trông thấy người Nga và người Mỹ. Trong 3 phi công có một người Nga biết nói tiếng Pháp nên dân chúng mới biết được. Ông ta trắng, cao gầy nhất trong phi hành đoàn.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 23 Tháng Hai, 2011, 10:36:55 PM
III. CHIẾN SỸ VỆ QUỐC ĐOÀN.

Những ngày có trào Cách mạng thời kỳ Tổng khởi nghĩa đã hun đúc cho tôi ý trí quyết tâm làm tròn nhiệm vụ mà Đảng và quân đội giao phó. Khi tôi là là liên lạc của Việt Minh (do ông Triết, ông Kỳ, ông Biên giác ngộ). Đến khi được gia nhập vệ quốc, tôi thường được các bậc cha chú và lớp đàn anh động viên, giáo dục, khuyến khích, ân cần chỉ bảo. Tôi biết rõ lý tưởng Cách mạng của thanh niên và nỗ lực rèn luyện tinh thần sẵn sàng chiến đấu hy sinh.
Tham gia đội tư vệ hồi ấy còn có các ông Chước, ông Thành, ông Du.
Cách mạng tháng Tám thành công là lúc tôi vừa bước sang tuổi 17. Cơ quan Việt Minh và Uỷ ban nhân dân Cách mạng địa phương đã chọn, cử tôi đi học khoá quân sự đầu tiên của tỉnh nhà (tháng 8 năm 1945) do trung đoàn 57 mở ở huyện Thanh Chương. Sau khoá huấn luyện cấp tốc đó, tôi được bổ sung vào lực lượng tự vệ thành Vinh, trong biên chế của đại đội Hồng Sơn. Ngày nay, nhiều đồng chí đồng đội của tôi hồi đó còn sống, trong đó có đồng chí Thực và đồng chí Hoàng Thời là cán bộ đơn vị.
Bấy giờ tôi chưa đủ tuổi nhập ngũ, sức khoẻ, trọng lượng, chiều cao đều thiếu, nên gia nhập vệ quốc đoàn là việc khó khăn. Lần thứ nhất dự tuyển quân, dù đã bí mật bỏ đá vào túi quần, nhưng vẫn không lọt. Tôi ra đồi ngồi khóc, không dám về nhà vì xấu hổ với bạn bè. Lần thứ hai, tôi tăng lượng đá và may mắn trúng tuyển. Cùng với lòng tha thiết và quyết tâm cao, công thêm sự láu lỉnh cần thiết, tôi đã đạt được nguyện vọng, được ông Khiếng (tức đồng chí Lê Nam Thắng, sau này là thiếu tướng thanh tra Quân đội) và đồng chí Nguyễn Cận (sau này là đại tá, cán bộ sư đoàn 341) tiếp nhận, cho vào làm liên lạc trung đoàn 57. Hồi đó đồng chí Trần Văn Quang là chính uỷ (sau này là Thượng tướng thứ trưởng Bộ Quốc Phòng) chấp nhận. Tôi gia nhập Vệ quốc đoàn, vào chi đội Đội Cung do đồng chí Nguyễn Cận làm tiểu đoàn trưởng. Từ đó tôi trở thành chiến sỹ Vệ quốc đoàn. Nhớ lúc đi chân đất, quần cộc vào thành phố Vinh học quân sự, trong bộ quân phục Vệ quốc đoàn, tôi trở thành anh bộ đội cụ Hồ oai phong dũng mãnh. Niềm vinh dự đó làm tôi hân hoan, vui sướng và cũng là nguồn cổ vũ, khích lệ động viên tôi hoàn thành nhiệm vụ do cán bộ và ban chỉ huy giao cho. Được sự khích lệ của cấp chỉ huy, tôi sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì, dù khó khăn, nặng nhọc.
Tuổi trẻ chúng tôi hồi ấy hồn nhiên và sôi động, hăng say và vui nhộn. Tôi còn nhớ câu thơ vui, đồng đội thường đọc cho nhau nghe những đêm đông rét lạnh, phải dùng bao bố bì gai làm mền đắp :
Anh em du kích thành Vinh
Đêm nằm chăn “Mỹ” rung rinh cái đùi
Nửa đêm thức dậy, hùi hùi
Tưởng rằng chăn Mỹ? Úi giời bì gai!”
Những lúc đó, chúng tôi quây quần ôm ấp sưởi ấm cho nhau bằng lòng tin và tình đồng chí, bằng hơi nóng của lý tưởng Cách mạng, với cả lòng yêu nước dạt dào và trái tim sôi nổi tràn đầy nhiệt huyết. Những ngày đầu vào Vệ quốc đoàn, bản thân tôi cũng gặp sự cố đau xót. Đó là ngày cha tôi mất ở quê, tôi không được biết!
Vì thế, tôi mang nỗi buồn chưa làm tròn được chữ hiếu. Sau đó, cứ có dịp được cấp trên cho phép, dù thời gian ngắn ngủi, tôi cũng tranh thủ đi bộ, có khi vừa đi vừa chạy, để về thăm mẹ và gia đình. Quãng đường từ đơn vị về nhà tôi rất xa, mà chỉ trong một ngày một đêm tôi đã kịp về đơn vị đúng thời lệnh cho phép. Tôi vô cùng thương nhớ và kính trọng mẹ tôi. Người chịu goá bụa lúc 40 tuổi, một mình lam lũ nuôi đàn con nhỏ, sống một đời nhân hậu, giản dị, yêu lao động, cả một đời hy sinh vì chồng con. Mẹ tôi hưởng thọ 93 tuổi, Cha tôi mất sớm. Ông để lại cho bà 6 người con đó là :
Anh cả, Lê Văn Thừa
Lê Hoàng Thống (tôi)
Lê Thị Thái
Lê Thị Thông
Lê Quang Thục
Lê Thị Thuỷ.
Sau Cách mạng tháng Tám, cô Thái đã mất, còn lại 5 anh em đều hăng say tham gia kháng chiến. Tôi, Thục, Thuỷ đều là quân nhân và thanh niên xung phong. Em tôi, Lê Quang Thục, là một thương binh, hiện đang công tác ngành điện lực. Em gái Lê Thị Thuỷ là nữ thanh niên xung phong trong đơn vị nổi tiếng hồi đánh Mỹ, nay đã về hưu.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Liên khu Bốn tiến hành cuộc tiêu thổ kháng chiến triệt để và quyết liệt nhất. Quân dân ta san bằng thành phố Vinh, thị xã Hà Tĩnh và thị xã Thanh Hoá, phá huỷ toàn bộ cầu cống, đường giao thông, đường sắt, đường xe lửa. Chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả đã trở thành bãi bằng, với những đống gạch vụn… Sự hy sinh của dân ta thật vô bờ bến. Ngày ấy, tham dự trực tiếp phá huỷ thành phố của quê hương mình, chúng tôi không khỏi bùi ngùi nuối tiếc và xúc động. Những tấm lòng của đồng bào quyết đi lên theo tiếng gọi của Bác Hồ: “Ta thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, vì sự toàn thắng của kháng chiến và hàng chục vạn đồng bào các thành phố ừ bỏ tài sản, nhà cửa để bồng bế nhau “tản cư” đi kháng chiến. Đó là quang cảnh “bi hùng” trong những ngày đầu kháng chiến ở Liên khu Bốn mãi mãi để lại dấu ấn lịch sử chiến tranh Việt nam thời hiện đại và hiệu quả của tư tưởng chiến lược, tổ chức chỉ đạo chiến tranh nhân dân của Đảng ta.
Nhờ nỗ lực phấn đấu, sau khi gia nhập Vệ quốc đoàn, trước khi ra Việt Bắc, tôi được kết nạp vào Đảng cộng Việt Nam. Buổi lễ kết nạp Đảng được tổ chức ở chùa Hưng Thông huyện Hưng Nguyên. Ông Bảy và ông Từ là người giới thiệu tôi vào Đảng. Chi bộ lúc đó có các ông Toàn, Bạy, Ngọ, Từ và ông Ngô Trí Bình. Tuổi trẻ đầy ước mơ và lãng mạn. Chuẩn bị rời quê hương lên Việt Bắc, tôi nghĩ mình đã hết khổ rồi, cái tên Hoàng Thống không còn thích hợp, phải có cái tên mới, đẹp và bay bổng. Tôi chọn tên Hồng Phong; Hồng Phong là gió đỏ tức là gió Cách mạng. Nhưng bạn bè bảo đó là tên lãnh tụ của Đảng, đồng chí Lê Hồng Phong, bị giặc sát hại năm 1942. Tôi nghe cũng sợ, bèn đổi chữ Hồng ra chữ Nam, Nam Phong là gió Nam - thứ gió mát lành nhất của quê tôi.
Năm 1947, lực lượng quân sự hậu phương Thanh - Nghệ - Tĩnh được tiếp tục huy động cho chiến trường Bình - Trị - Thiên và Trung, Thượng Lào. Những đoàn quân Nam tiến, Tây tiến rầm rộ lên đường đến các mặt trận gần xa. Tháng 3 năm 1948, tôi cùng một số đồng chí ở khu Bốn được điều ra Việt Bắc để học khoá huấn luyện quân sự - chính trị ở trường lục quân Hoàng Hữu Nam, Liên khu Mười. Chính ở đây, tháng 9 năm 1948, tôi được vinh dự chuyển Đảng chính thức. Trở về chiến khu Việt Bắc sau khi kết thúc khoá học, đến đầu tháng 1 năm 1949 tôi được bổ sung vào đơn vị của Đại đoàn 308. Cũng từ ngày ấy, tôi vinh dự trở thành cán bộ chỉ huy ở đại đoàn Quân tiên phong. Tại đây, thời kỳ đầu, tôi được giao làm cán bộ chỉ huy các đại đội Tô Văn, 211, 225, 213 của tiểu đoàn 322 thuộc trung đoàn 88. Bắt đầu đơn vị bước vào đội hình chiến đấu trên các chiến trường và các chiến dịch ở Việt Bắc, Tây Bắc, trung du Bắc Bộ và cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 23 Tháng Hai, 2011, 10:44:20 PM
IV. CHIẾN TRƯỜNG VIỆT BẮC.

Là một chiến sỹ Vệ Quốc đoàn tuổi còn rất trẻ, may mắn tôi được cử dự lớp huấn luyện quân sự đặc biệt cấp tốc ở trường Lục quân Hoàng Hữu Nam. Là một Đảng viên mới được kết nạp, tôi trở thành một cán bộ quân sự sơ cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam để từ đó hăng hái lên đường chiến đấu, mang theo bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ yêu đời, say mê hoài bão, khát khao thực hiện ý tưởng Cách mạng cao đẹp của đời mình. Trở về đơn vị công tác một thời gian, tôi được bổ sung lên Việt Bắc và nằm trong biên chế của đoàn cán bộ bổ sung cho Trung đoàn 88, sau này thuộc Đại đoàn 308. Sau Thu Đông 1947, cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta bước qua một thời kỳ mới. Ở khắp các chiến trường từ Nam Bộ đến cực bắc Nam Trung bộ, ở Liên Khu 3, Liên Khu 10, ở Bình - Trị - Thiên (Liên Khu 4) cuộc chiến tranh du kích của nhân dân chúng ta được đẩy cao thêm một bước. Ta thu được nhiều thắng lợi tại các thành phố lẫn vùng nông thôn, ở đồng bằng và cả ở các chiến trường Tây Bắc, Việt Bắc, trên chiến trường Thượng và Trung, Hạ Lào. Nơi nào cũng ầm vang tiếng súng. Quân dân kháng chiến lập được nhiều chiến công lẫy lừng. Cuộc chiến tranh Cách mạng của nhân dân ta đang nằm trong thời kỳ cuối của “chiến lược phòng ngự”. Bộ đội chủ lực đã bắt đầu củng cố, xây dựng lớn mạnh dần. Chiến tranh nhân dân phát triển sâu rộng. Dân quân du kích trên đà được kiện toàn với bình diện và quy mô ngày càng lớn.
1947 - 1948, chúng ta thắng lớn ở chiến dịch Sông Lô, ở Phố Ràng, Phủ Thông (Việt Bắc), ở mặt trận Nha Trang - Khánh Hoà, ở Liên Khu 5 cùng Tây Nguyên (Kon Tum - Đắc Lắc), phá tan cuộc hành quân càn quét lớn của địch. Có những trận chiến vang dội ở Bà Rịa - Vũng Tàu, ở nội đô cũng như ngoại vi Sài Gòn - Gia Định, ở Đà Lạt - Lâm Đồng, Mỹ Tho, Cần Thơ…vv.
Cuộc chiến tranh đang chuyển dần sang “Thời kỳ cầm cự”. Khi tôi về Đại Đoàn 308 để chuẩn bị đi chiến dịch Đông - Xuân 1949 - 1950, thì ở Việt Bắc dưới sự lãnh đạo của Bộ Quốc Phòng, lãnh đạo của lực lượng vũ trang chủ lực của chúng ta bắt đầu chuẩn bị cho chiến dịch lớn, mang ý nghĩa quyết định cho sự thay đổi cán cân lực lượng giữa ta và địch. Bước vào Đông - Xuân 1949 - 1950, ở đồng bằng Bắc Bộ và Tây Bắc cũng như ở Trung, Thượng Lào, quân ta chủ động tấn công các căn cứ địch; quyết định chống càn, bẻ gãy các mưu đồ tiến quân lên Tây Bắc và Việt Bắc của giặc Pháp. Phối hợp với đồng bằng Bắc Bộ, các chiến trường đẩy mạnh chiến tranh du kích, đẩy quân thù vào sự lúng túng, phải đối phó với chiến lược mới của quân chủ lực chúng ta.
Ngày 1.10.1949, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập. Cuối năm 1949 đơn vị tôi nhận nhiệm vụ bí mật vượt qua biên giới Việt Trung sang Vân Nam nhận trang thiết bị, vũ khí do Trung Quốc chi viện. Chuẩn bị cho chiến dịch biên giới Cao - Bắc - Lạng, năm 1950, công tác tổ chức chiến trường diễn ra gấp rút và rất bí mật.
Để đi qua biên giới, chúng tôi phải cải trang thành những người dân địa phương, mặc quần áo màu sắc của các bà con dân tộc H’mông, Tày, Nùng… và phải nhanh chóng, bí mật vượt qua biên giới trong đêm tối…
Hồi đó, thực dân Pháp sau thất bại ở Tuyên quang và thất bại khi nhảy dù tập kích Thủ đô kháng chiến Bắc Cạn (1947), chúng đã tổ chức chiếm đóng và bố phòng chặt chẽ vòng cung biên giới 6 tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên và thêm Lào Cai - Yên Bái… Ngoài các thị xã, đồn bốt chính, chúng tổ chức những đơn vị canh gác, tuần tra cơ động trên toàn tuyến biên giới, đặc biệt là sau ngày Cách mạng Trung Quốc thành công. Vì vậy, nhiệm vụ lần này của đơn vị chúng tôi được cấp trên phổ biến, quán triệt tỷ mỉ mục đích yêu cầu và triển khai những việc cần làm, phải hoàn thành trong một thời gian ngắn và phải tuyệt mật.
Lần đầu tiên ra khỏi biên giới Việt nam đi làm một nhiệm vụ bí mật, lòng chúng tôi không khỏi lo lắng, hồi hộp, xúc động. Trên khuôn mặt và ánh mắt anh em đồng chí trong đơn vị đều rạng ngời lên một niềm hân hoan phấn khởi.
Khi đã qua được biên giới đến vùng tự do của nước bạn, chúng tôi vui mừng và phấn khởi vô hạn.
Chuyến công tác ấy để lại cho chúng tôi một kỷ niệm khá thú vị, khó quên. Câu chuyện như sau:
Hồi ấy bộ đội ta còn kham khổ thiếu thốn. Việc cung ứng dự phòng lương thực, nước uống mang theo khi sang Trung Quốc là vấn đề khó khăn, eo hẹp. Quan những ngày trèo đèo lội suối, tất cả đều khát, đói và mệt nhọc. Sang tới đất nước bạn, tới vùng Quảng Đông giáp Quảng Tây, khi đi qua ruộng dưa trên các cánh đồng lớn vắng vẻ của đồng bào dân tộc, chúng tôi đã tự động hái dưa hấu ăn để chống khát.
Sau đó, cấp chỉ huy biết liền ra lệnh cấm. Mệnh lệnh là: “Tuyết đối không được xâm phạm đến củ khoai, hạt lúa của người dân Trung Quốc”.
Lúc quay trở về, cấm lệnh tuy đã được phổ biến kỹ nhưng vì mang vác vũ khí nặng, đói và khát quá, một số anh em vẫn quỳ xuống chắp hai tay lạy xin đồng bào tha thứ, để rồi mỗi người hái một quả dưa ăn vội ăn vàng, kịp lên đường trước buổi tối trời.
Chuyến công tác xuất ngoại hoàn thành tốt đẹp. Ở nhà, các đơn vị trong sư đoàn đang khẩn trương học tập kỹ thuật, chiến thuật, sử dụng vũ khí, khí tài mới được trang bị. Lúc này, toàn quân đang phát động phong trào “Rèn cán, chỉnh quân”, một đợt học tập chính trị sâu rộng và một buổi diễn tập thao trường sôi động. Khi đó tôi mới là cán bộ trung đội, về sau được đề bạt lên chỉ huy đại đội cấp phó, chuẩn bị tham gia chiến dịch Biên Giới.
Năm 1950, gần 5 năm ta thực hiện chống Pháp bằng chiến tranh du kích với những trận chiến nhỏ, diễn ra chủ yếu là chống càn quét, đánh phá các cuộc hành quân chiến thuật của giặc. Đến nay lực lượng ta đã đủ mạnh để có thể tổ chức những chiến dịch tiến công quân sự lớn trên cả ba miền đất nước.
Viên tướng Đờ Tát-si-nhi (De Lattre Tassigni) sang Việt Nam thực hiện âm mưu và thủ đoạn quân sự mới nhằm tiêu diệt lực lượng kháng chiến của chúng ta. Chúng xây dựng nguỵ quân, củng cố nguỵ quyền. Tăng cường hành quân càn quét ở khắp ba vùng đất nước. Chúng mở rộng vùng chiếm đóng, xây dựng đồn bốt, boong ke kiên cố làm bàn đạp và lập căn cứ tiến công Cách mạng. Xây dựng và sử dụng các binh đoàn cơ động chủ lực. Dựa vào sự viện trợ của Đế quốc Mỹ, thực dân Pháp, lập kế hoạch bình định Việt Nam trong vòng 18 tháng.
Chúng củng cố những vùng chiếm đóng quan trọng ở đồng bằng Bắc Bộ, Trung bộ và Nam bộ. Hành quân lên hướng Tây Nguyên và Trung, Hạ Lào. Xây dựng trục căn cứ ở Thượng Lào và Tây Bắc. Ở phía Bắc, chúng đưa lực lượng cơ động tinh nhuệ lên kiểm soát vòng cung biên giới Việt - Trung.
Tháng 6 năm 1950, sau khi lực lượng và chuẩn bị chiến trường, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên Giới nhằm mục đích:
- Tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch.
- Nối liền đường giao thông quan trọng với Trung Quốc và khối dân chủ tiến bộ cùng Liên Bang Xô Viết, tạo ra hậu phương chính trị vững chắc cho Cách mạng Việt Nam.
- Mở rộng và củng cố vững chắc vùng căn cứ địa Việt Bắc.
Đây là một chiến dịch được tiến hành với nhịp độ khẩn trương, ráo riết, được Trung ương Đảng và bộ Tổng tư lệnh đặc biệt quan tâm.
Một hôm, dân công và bộ đội thấy có nhiều tốp cán bộ đi ngựa rẽ vào một xóm nhỏ trong vùng Quảng Yên… Tối hôm ấy một tin loan báo rất nhanh khắp các đơn vị:
“Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp tới thăm Trung đoàn 88”
Cuộc viếng thăm của Đại tướng đối với cán bộ, chiến sỹ đơn vị tôi là một niềm vinh dự, mang lại một nguồn động viên mạnh mẽ. Đại đội của tôi cũng như toàn thể cán bộ, chiến sỹ Trung đoàn 88 vô cùng phấn khởi, cảm khích! Đồng chí Tổng tư lệnh ân cần thăm hỏi cán bộ chiến sỹ rồi kiểm tra cặn kẽ việc chuẩn bị tư tưởng, sẵn sàng chiến đấu. Đồng chí thân mật, vui vẻ hỏi mọi người: “Đã chuẩn bị kỹ chưa?”.
Sau đó đồng chí thông báo cho biết:
- Hồ Chủ Tịch đã ra lệnh cho quân ta “Chỉ có thắng - không cho thua”. Tổng Quân uỷ sẽ trực tiếp chỉ đạo chiến dịch.
Các chiến sỹ đại đội tôi (Đại đội Tô Văn) hoan hô nồng nhiệt nhiều lần, khi được nghe Đại tướng cho biết tin này. Mấy ngày sau lại có tin loan truyền trong đơn vị, làm xôn xao náo nức tình cảm của chiến sỹ khắp Đại đoàn. Ấy là tin “Bác Hồ cùng đi chiến dịch!”. Đối với chúng tôi, đó cũng là lần đầu tiên được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngay trên thềm chiến dịch Biên Giới năm 1950, ở trong hàng quân xung kích của Trung đoàn 88 lừng danh!
Đại đoàn 308 chúng tôi bấy giờ là lực lượng nòng cốt, cùng Trung đoàn 209, Trung đoàn 174, tiến công giải phóng biên giới. Mở màn chiến dịch Đông Khê, một cứ điểm phòng thủ mạnh của địch. Trận đánh kéo dài, qua một ngày một đêm mới kết thúc. Hồi bấy giờ Trung đoàn 209, Trung đoàn 174 đánh chủ công ở Đông Khê. Đại đoàn 308 đánh phối hợp, chủ yếu đánh đoạn đường chiến lược nối Đông Khê - Thất Khê - Cao Bằng (đường số 4)
Lực lượng quân địch vùng biên giới phía Bắc gồm có hai binh đoàn cơ động. Binh đoàn Lơ Pa-giơ (Le Page) và binh đoàn Sác-tông (Charton) cùng với các lữ đoàn thiết giáp và một số đơn vị cấp tiểu đoàn lính Âu - Phi cơ động. Phần lớn quân giặc trên chiến trường này là quân tinh nhuệ. Nhiều sỹ quan binh lính của chúng từng tham chiến ở Bắc Phi và Châu Âu trong thế chiến thứ 2. Một số đơn vị lính lê dương gồm người Tuy-ni-di, Ma -rốc, Sê-nê-gan và An-ge-ri khét tiếng hiếu chiến. Thực dân Pháp sử dụng chúng như những quân bài xung kích, làm con dao nhọn và bia đỡ đạn trong các trận đánh quan trọng, giáp chiến sinh tử với quân ta. Dù như thế, quân ta vẫn dũng cảm xông pha trên các trận địa quyết chiến tiêu diệt địch. Sau khi Đông Khê thất thủ chúng ta tiến đánh Thất Khê nhằm giải phóng ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 23 Tháng Hai, 2011, 10:46:05 PM
Đêm 18 tháng 9 năm 1950, Trung đoàn 209 dưới sự chỉ huy của đồng chí Lê Trọng Tấn, Trần Độ; Trung đoàn 174 dưới sự chỉ huy của đồng chí Đặng Văn Việt, Chu Huy Mân đã tiêu diệt cứ điểm Đông Khê, tiêu diệt viện binh. Phòng tuyến số 4 của địch bị phá vỡ một mảng nghiêm trọng. Bị thất thủ tại căn cứ Đông Khê và Thất Khê, binh đoàn cơ động chủ lực địch chiếm đóng các căn cứ đồn bốt ở Lạng Sơn, Cao Bằng bị ta tiêu diệt và tháo chạy.
Đại đoàn 308 làm nhiệm vụ đánh địch cứu viện Đông Khê. Tôi không thể quên những vất vả gian nan khi chờ đánh viện binh của Pháp. Đói cơm. Mệt mỏi. Rối ruôt. Một câu hỏi lớn đặt ra : Địch có đến không? Đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo Bác Hồ. Bác quyết định chờ. Và địch đã đến. 308 diệt địch gọn ở Trọc Ngà, đập tan cụm phòng ngự ở Khâu Lương. Tổ chức cuộc vận động truy kích binh đoàn Lơ-pa-giơ trên đường số 4. Cùng lúc thị xã Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn được giải phóng. Quân ta ào ạt chiếm lĩnh trận địa và các căn cứ đồn bốt của thực dân Pháp, nơi chúng đã dày công xây dựng phòng thủ kiên cố trên tuyến biên giới. Tôi vẫn nhớ kỷ niệm sôi động, vui tếu của lính Vệ quốc đoàn, khi chiến thắng quân thù lúc đó còn ở độ tuổi thanh niên, thật tươi sáng, hồn nhiên, dũng mãnh, vô tư. Sau khi chiếm được đồn giặc, bọn chúng tôi cùng nhau thu chiến lợi phẩm và làm công tác thu dọn chiến trường. Một số anh em thả cửa mà ăn đồ hộp và bơ sữa của giặc. Một số thích ăn kem hộp. Thích quá anh em ăn quá đà. Một số ăn nhằm thuốc đánh răng, bị phồng cả môi, miệng, nói không ra lời. Một số biết uống rượu, lôi những thùng rượu vang đỏ của Tây ra cứ thế mà uống, say bí tỉ, đi lại khật khưỡng, chếnh choáng…
Chiến dịch biên giới kéo dài hàng tháng và kết thúc thắng lợi. Riêng trận đánh đồn Đông Khê mãi mãi khắc sâu vào tiềm thức của cán bộ chiến sỹ ta. Nó có một vị trí đặc biệt trong lịch sử quân sự Cách mạng Việt Nam về “Một trận đánh công kiên cứ điểm phòng thủ vững chắc của địch”. Ở thời điểm đó, Đông Khê là một vị trí chiến lược then chốt và quan trọng của địch nằm trong mắt xích các căn cứ chiếm đóng phòng thủ biên giới. Mất Đông Khê là mất Cao Bằng, Lạng Sơn. Chính vì vậy mà quân địch bố phòng ở đây rất kiên cố, vững chắc.
Đánh Đông Khê và Thất Khê, lần đầu tiên quân đội ta tổ chức một chiến dịch tiến công vào các cứ điểm phòng thủ kiên cố mang dạng tập đoàn (ở cấp thấp) và đã giải quyết thành công trận công kiên có ý nghĩa quyết định này. Bộ đội chủ lực của chúng ta đã thu được thắng lợi trọn vẹn.
Hồi đó, Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung ương đặc biết quan tâm đến những trận đánh ở hai cứ điểm nói trên, đã cử cán bộ phải viên trực tiếp xuống chỉ đạo chiến dịch. Chúng ta ai cũng còn nhớ, đích thân Bác Hồ, vị lãnh tụ tối cao, là người thống soái của quân đội ta đã đích thân lên tận Đông Khê, trực tiếp thị sát vị trí và cách bố phòng đồn địch trước giờ quân ta xuất kích. Hình ảnh của Bác Hồ ở Đông Khê trong chiến dịch biên giới năm 1950 mãi mãi in sâu trong tâm hồn, ký ức của cán bộ, chiến sỹ quân đội ta. Chúng ta đặc biệt cám ơn một nhiếp ảnh gia đã ghi lại được khoảnh khắc Hồ Chủ Tịch ngồi ở đài quan sát trên núi Báo Đông nhìn toàn cảnh Đông Khê trước giờ nổ súng. Tấm ảnh đó vừa cụ thể vừa có tầm khái quát rất lớn, thể hiện chủ đề Hồ Chủ Tịch là “người Cha thân yêu của lực lượng vũ trang Cách mạng Việt Nam”. Và cũng ở nơi này, Bác đã xúc động làm bài thơ tứ tuyệt để đời cho con cháu :
Chống gậy lên non xem trận địa
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây
Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu
Thề diệt xâm lăng lũ sói cày.
Nguyên văn chữ Hán :
Huề trượng đăng sơn quan trận địa
Vạn trùng vân ủng vạn trùng sơn.
Tam quân tỳ hổ thôn Ngưu Đẩu
Thệ diệt sài lang xâm lược quân.
Đại đoàn 308, Trung đoàn 209, Trung đoàn 174 đã lập công vẻ vang, rất xứng đáng với lòng tin yêu của Bác.
Chiến thắng biên giới đã mở ra một chặng đường mới cho Cách mạng Việt Nam. Từ đây, căn cứ Cách mạng Việt Nam được nối liền với hậu phương lớn hùng cường là Trung Quốc, Liên Xô và hệ thống Xã hội chủ nghĩa. Đó là ý nghĩa chính trị quan trọng và to lớn, có tác động sống còn đối với chúng ta bây giờ.
Sau chiến thắng Biên Giới, quân đội ta trưởng thành thêm một bước cả về lượng và cả về chất. Đường lối chiến tranh và các chiến lược quân sự của chúng ta cũng đang chuyển sang một thời kỳ mới. Thời kỳ của chiến lược “Kháng chiến cầm cự và tiếp tục trường kỳ”.
Chúng tôi, trong những bộ quân phục mới, đầy đủ, chỉnh tề và tươm tất hơn, trang bị thiết yếu của người lính được cải thiện rõ rệt, lại hiên ngang bước tiếp cuộc hành quân chiến đấu.
Cuối năm 1950, tạm thời xa Việt Bắc, chúng tôi về trung du. Đông - Xuân 1950 - 1951, một bộ phận của Đại đoàn 308 cùng một số đơn vị thuộc Đại đoàn 312 về lập thế trận đánh giặc ở trung du Bắc Bộ. Quân đội ta từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến xây dựng các vùng chiến khu, lấy núi rừng Tây Bắc, Việt Bắc làm căn cứ. Ở Trung Bộ và Nam Bộ cũng dựa vào địa hình rừng núi mà thành lập nhiều chiến khu du kích.
Đên bây giờ, sau chiến thắng Biên Giới, tình hình đã khác. Quân ta nhanh chóng trưởng thành, lớn mạnh mau lẹ, có đủ điều kiện đáp ứng những yêu cầu về chiến lược và chiến thuật quân sự của thời kỳ mới. Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng đã cho phép chuyển quân về trung du trực tiếp tham chiến, tiến công quân địch, mở rộng vùng giải phóng, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch, bao vây, chia cắt cô lập và uy hiếp chúng ngay tại vùng chiến trường do chúng chiếm giữ. chúng ta quyết phá tan kế hoạch “Bình định” của tướng Đờ-lát -đờ Tát-si-nhi và bộ chỉ huy xâm lược Pháp; quyết bẻ gẫy, đập tan các cuộc hành quân chiến thuật và chiến lược của chúng.
Năm 1951, trong chiến dịch Hà - Nam - Ninh, đơn vị tôi trực tiếp đánh đồn giặc ở chùa Cao, đồn Non Nước (Ninh Bình). Lúc bấy giờ tôi là cán bộ đại đội phụ trách cáo mũi “Dao Nhọn”, tiến công trung tâm đồn giặc. Những trận đánh ở chùa Cao và trên núi Non Nước là những trận đánh táo bạo, bất ngờ, mưu trí, dũng cảm, mau le. Sau khi bọc phá mở cửa, quân ta khống chế hoả lực địch từ các miệng súng, hầm lô cốt địch và xung kích ào vào, lựu đạn cầm tay, lưỡi lê tuốt sẵn. Cuộc xung phong đánh giáp lá cà ác liệt diễn ra trong bóng tối mờ ảo, loé anh sáng xanh lè của lưỡi lê và đỏ rực của lửa đạn, những ánh chớp loé khi bọc phá và lựu đạn nổ.
Lo nhất khi đánh địch ở đồng bằng Bắc Bộ là lúc đánh xong rồi rút. Ban ngày, đồng không mông quạnh. Bộ đội phải dấu mình dưới gốc lúa chiêm, nghe rõ tiếng “xà lù” của bọn lính Âu Phi dàn quân phản kích.
Đối với cá nhân tôi, sau Đông Khê, những ngày đêm ác chiến lại đến với chùa Cao, đồn Pheo, giằng co nhau với quân thù trong lửa đạn. Tuổi trẻ chúng tôi hồi ấy đạp bằng chông gai, xem thường máu lửa, núi Non Nước còn ghi lại hình ảnh đồng chí chiến sỹ sư đoàn 308 Giáp Văn Khương gan dạ, mưu trí, thông minh, mà sau này anh được Bác Hồ gọi là “Chiến sỹ thi đua, anh dũng tuyệt vời”. Rất nhiều cán bộ chiến sỹ thuộc sư đoàn đã tham gia chiến đấu ngày ấy cùng tôi, hiện vẫn còn sống như đồng chí Thái Dũng, Trung đoàn trưởng; đồng chí Quốc Bảo, Chính uỷ; đồng chí Nam Hà, Trung đoàn phó. (khi đánh Điện Biên Phủ, anh là Trung đoàn trưởng, chỉ huy Trung đoàn 102) có đồng chí Vũ Yên, đồng chí Sơn Hùng ở Trung đoàn 36.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận.
Gửi bởi: binhyen1960 trong 23 Tháng Hai, 2011, 10:49:35 PM
Sau khi quân ta về Trung du trực tiếp công đồn diệt giặc ngay tại “vùng hậu phương” của chúng, chiến tranh du kích lan rộng ra khắp vùng, từ hữu ngạn để tả ngạn sông
Hồng, từ vùng duyên hải Thái Bình, Hải Phòng, Hồng Gai và Cẩm Phả… Thực dân Pháp chống đỡ bằng những cuộc càn quét lớn với quy mô ngày càng tăng. Chúng sử dụng tối đa lực lượng không quân, dung máy bay bắn phá vùng tự do của chúng ta, đồng thời chuẩn bị những cuộc hành quân chiến lược lên Tây Bắc - Thượng Lào. Ở trung bộ, đặc biệt là chiến trường Liên khu 5, giặc huy động binh lực lớn, tiến công lên Cao nguyên và Hạ Lào.
Chiến tranh đã bước sang giai đoan cám go, tranh chấp quyết liệt. Thời kỳ vận dụng sách lược và chiến lược “Kháng chiến trường kỳ” đang ở thời kỳ cầm cự, cán cân lực lượng thay đổi dần theo chiều hướng có lợi cho ta.
Năm 1951, quân ta mở chiến dịch Hòa Bình, đánh giặc trên đường số 6. Đường số 6 là một con đường chiến lược nối đồng bằng Bắc Bộ với Tây Bắc để đi sang Thượng Lào. Giặc Pháp chiếm đóng, xây dựng tuyến phòng thủ chiến lược này nhằm đảm bảo vững chắc cho các căn cứ ở đồn Lai Châu, Điện Biên, Nà Si-Nà Sản ở Tây Bắc và Thượng Lào, bao quanh cả cánh đồng Chum, giữ ảnh hưởng khống chế cả vùng Trung Lào.
Quân đội ta quyết phá tan sự chiếm đóng của thế gọng kìm, cùng lực lượng cơ động của chúng, giành quyền kiểm soát một phần đường số 6; giải phóng số đồn bốt, căn cứ ở Hòa Bình, Tây Bắc; chặn đánh các cuộc hành quân cơ giới của chúng.
Đơn vị chúng tôi được tham gia chiến đấu trong chiến dịch này. Từ các mặt trận ở Việt Bắc về, lực lượng của Đại đoàn 308 cùng Đại đoàn 312 đã phối hợp đánh địch trên dọc tuyến đường số 6. Quân ta đánh tiêu diệt một số đồn bốt, lô cốt, cụm phòng vệ của địch, đánh thiệt hại nặng các đơn vị cơ giới trong các cuộc hành quân ứng cứu của chúng. Chính trên chiến trường sôi động và ác liệt này đã xuất hiện những tấm gương anh dũng, hy sinh chiến đấu quên mình của các chiến sỹ Đại đoàn 308, 312, 304; nổi bật là hình ảnh Anh hùng dũng sỹ diệt xe tăng địch Cù Chính Lan. Đồng chí đã hy sinh trong chiến dịch Hòa Bình.
Lần đó đơn vị chúng tôi đánh đồn Tu Vũ. Đây là một cứ điểm phòng ngự quan trọng của địch. Hệ thống phòng thủ gồm đồn chính ở vùng chân núi cùng một hệ thống lô cốt. bốt kiểm soát, boong-ke ở dưới, sát mặt đường quốc lộ số 6. Khi tiến công vào khu tung thâm, bọc phá đã mở được cửa, nhưng hỏa lực của địch rất mạnh. Sơn pháo hạng nhẹ và pháo 37 ly của ta bị cát đóng kín vào nòng không khai hỏa được. Trong số cán bộ tham mưu chỉ huy trung đoàn, có ý kiến đề nghị kéo pháo ra. Nhưng đúng thời điểm đó thì các đơn vị của Đại đoàn 312 đã chiếm lĩnh được 2 điểm cao 600, 555 và tiêu diệt được ổ đề kháng của chúng. Nhờ đó Trung đoàn 88 có điều kiện thừa thắng xông lên san bằng hoàn toàn cứ điểm Tu Vũ. Đây là một trận ác chiến đầy khó khăn, thử thách của Đại đoàn 308 hồi bấy giờ, mà tôi được trực tiếp chỉ huy một mũi dao nhọn.
Đã 55 năm trôi qua, nhớ lại thời tuổi trẻ ấy, xông pha trong đội ngũ những cán bộ chiến sỹ của quân xung kích, làm “ mũi dao nhọn “ của tiểu đoàn 29, Trung đoàn 88. Trận công đồn Tu Vũ (1951) để lại trong ký ức tôi nhiều hình ảnh sinh động và kỷ niệm sâu sắc về chiến trường chống Pháp.
Đại tướng Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ cho Trung đoàn trưởng Thái Dũng: “Tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, mở màn chiến dịch Hòa Bình! Trận đầu phải thắng và chỉ được phép thắng!”.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử toàn quân ta, ta bắt đầu dung 1 trung đoàn đánh 1 tiểu đoàn của địch được tăng cường hỏa lực mạnh và được bố trí trong một cứ điểm kiên cố. Binh hỏa lực gồm 1 tiểu đoàn bộ binh Ma-rốc (1/1RTM) được tăng cường một đại đội ngụy thuộc tiểu đoàn Mường số 6, một phân đội xe tăng thiết giáp (2 xe tăng, 2 xe thiết giáp) tổ chức phòng ngự thành hai cụm. Trung đoàn 88 đặt tên nó là “Khu A+ Khu B và Khu C”.
Đại đội chúng tôi được tham gia mũi chủ yếu của tiểu đoàn và trung đoàn, đột phá vào Khu A, cắt ngang đồn địch, thọc vào sở chỉ huy địch như một mũi dao nhọn.
Khi phân công nhiệm vụ chiến đấu, thủ trưởng đại đội cùng với chi bộ đã phát huy dân chủ bằng hình thức: Bầu chọn từng người trong tiểu đội bọc phá để nhận từng số thứ tự để đánh bộc phá thích hợp, các tiểu đội xung kích đã xung phong nhận nhiệm vụ khó khăn nhất.
Đêm 10 tháng 12 năm 1951, trận Tu Vũ mở màn, chiến dịch bắt đầu. Toàn Trung đoàn 88 từ dãy núi Yên Lãnh xuất kích thành 3 mũi tiến ra cánh đồng bằng phẳng, chiếm lĩnh trận địa. 20 giờ. Chợt sung máy của địch nổ lên ở phía Ngòi Lát (Khu C) cách cứ điểm 800m. Cuộc tấn công của quân ta bị lộ. Chỉ mấy phút sau, trọng pháo của địch ở các căn cứ dội lửa đạn vào tọa độ “ cánh đồng Tu Vũ “. Toàn đơn vị bị phơi lưng dưới làn đại bác của địch.
Rừng núi chung quanh rung lên ầm ầm như sấm dậy. Cánh đồng Tu Vũ mịt mờ khói lửa.
Nhưng bộ đội vẫn tiếp tục tiến lên với một tinh thần dũng cảm phi thường. Đội hình đứt quãng. Quân số thương vong tăng dần lên.
Lúc ấy, đại đội Tô Văn phải dừng lại. Đại đội phó Nguyễn Quốc Trị trao đổi với chính trị viên Đặng Quốc Thịnh:
- Dừng lại rất nguy hiểm, anh ạ! Tốt nhất phải nhanh chóng tiếp cận địch, vào sát hàng rào.
Sau đó, mặc dù đại bác địch đang dựng lên một hang rào lửa, nhưng bộ đội đã vọt lên băng qua.
Sau khi tiếp cận được hang rào, chúng tôi xác định lại lần cuối đột phá khẩu của đại đội. Bên cạnh tôi, đại đội trưởng Vũ Kỳ trở ra đón đơn vị thì gặp đại đội Tô Văn đã kịp vào tới tuyến xuất phát xung phong.
Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 29 Trương Đình Mậu, Chính trị viên Hùng Phong và đại đội phó Nguyễn Quốc Trị đều đã bị thương.
Chiến trường Tu Vũ đã diễn ra trận đấu giữa hỏa lực của pháo địch và lòng dũng cảm, trí thông minh, hành động mau lẹ sang tạo của quân ta.
Đúng 1 giờ 45 phút ngày 11 tháng 12 năm 1951, lệnh nổ súng tổng công kích được phát ra bằng hỏa lực của sơn pháo 75. Tôi dẫn đầu đơn vị tiến lên. Từ đó đến nay đã hơn nửa thế kỷ rồi mà tôi vẫn nhớ: Các chiến sỹ đánh bộc phá Nguyễn Văn Ty, tiểu đội trưởng bộc phá Phùng Văn Kiểm, Vũ Văn Nghĩa, tung hoành trong trận tuyến, phá sạch được 6 lớp hàng rào thép gai, mở đột phá khẩu và sau đó cả 12 chiến sỹ trong tiểu đội đều hy sinh!.
Anh Nguyễn Quốc Trị (Sau này được phong tặng danh hiệu Anh Hùng) là một đại đội phó cùng Trung đoàn và là đồng hương Nghệ An của tôi. Tôi đã đánh giá tư chất cùng tác phong đạo đức của anh rất cao. Tôi rất quý trọng anh.
Ở đại đội Tô Văn còn trong tôi nhiều dấu ấn tốt đẹp như trung đội trưởng Đào Đình Phong, tiểu đội trưởng Vũ Đức Chư… Sau khi Vũ Đức Chư giật bộc phá và bắn tiểu liên và nhảy thẳng vào lô cốt địch, quân ta đã đánh sang được dãy nhà mái bằng của sở chỉ huy địch, đánh vào trung tâm “mắt thần” của giặc. Đại đội tôi được lệnh tiến lên theo đường mở của đại đội Tô Văn, lần lượt đánh chiếm các lô cốt D - E và truy kích địch ra phía bãi cát sông Đà, tiếp tục bắn cháy 1 xe tăng bên cạnh lô cốt C.
Đại đội trưởng Vũ Kỳ ra lệnh “Thổi kèn chiến thắng!”.
Người thổi kèn - thông hiệu viên, tên là Khải, lung túng đưa kèn lên thổi, hơi và máu trong lỗ thủng bên má phì ra, bởi anh vừa bị một viên đạn xuyên thủng má. Anh bịt vết thương, dung hết hơi sức cố gắng thổi. Tiếng kèn đồng báo hiệu quân ta chiến thắng đã vang lên khắp đồn Tu Vũ, vang qua sông Đà đến vách núi Chẹ, làm quân giặc them kinh hồn, khiếp sợ. Tiếng kèn vang lên hùng tráng cí mang theo cả bụi máu của người chiến sỹ Cách mạng ở tuổi thanh xuân.
Chiến thắng Tu Vũ đã tạo điều kiện tốt để quân ta tiến đánh đường số 6 và giải phóng thị xã Hòa Bình.
Hai ngày sau trận đánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đích than đến Tu Vũ xem xét. Sau đó ông kết luận: “Chiến thắng Tu Vũ là trận công kích lớn nhất mở màn chiến dịch. Nó chứng tỏ sự tiến bộ của trung đoàn nói riêng và toàn quân nói chung. Tiến bộ không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật mà cả về mặt tư tưởng của một quân đội Cách mạng, chỉ có biết tiến, không biết lùi. Tôi gửi lời khen các đồng chí Trung đoàn 88 đã nêu gương anh dũng tuyệt vời của quân độ”.
Với chiến thắng Tu Vũ, Tiểu đoàn 29 chúng tôi được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng hai. Trung đoàn trưởng Thái Dũng và đại đội trưởng Vũ Kỳ được vinh dự thay mặt Trung đoàn 88 lên báo cáo thành tích với Bác Hồ và Hội đồng chính phủ ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang). Bác Hồ gọi đó là đại biểu của Trung đoàn Tu Vũ! Từ đó Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 được mang danh hiệu vẻ vang: “Trung đoàn Tu Vũ”.
Đồng chí Nguyễn Chí Thanh, chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đã nhận xét và đánh giá cao việc giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu của bộ đội trong trận đánh Tu Vũ.
Sau này, vào miền Nam đánh Mỹ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh thường lấy gương trận đánh Tu Vũ và nhều trận đánh Pháp tiêu biểu khác, để xây dựng ý trí quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ cho bộ đội ta.
Những đồng đội chiến sỹ cùng tôi tham gia trận đánh Tu Vũ ngày nay không còn nhiều. Nhưng suốt đời tôi nhớ mãi hình ảnh tất cả các anh, những chiến sỹ đánh bộc phá can trường, những chiến sỹ xung kích anh hung, lẫm liệt!
Thời gian trôi đi, nhưng lịch sử sẽ ghi lại công lao của các anh, đó là điều mơ ước của tôi.
Tiếp theo chiến thắng Tu Vũ, đại đội do tôi chỉ huy dự trận đồn Pheo. Đây là một trận đánh không thành công trong chiến dịch Hòa Bình. Nguyên nhân thất bại trong cuộc tiến quân, công kích đồn Pheo của quân ta hồi ấy cho đến nay vẫn còn là vấn đề bàn cãi, đặc biệt là về mặt chỉ đạo chiến thuật và thủ đoạn tác chiến. Theo tôi, bấy giờ chúng ta đã mắc sai lầm chủ yếu là phương án chỉ đạo tác chiến không rõ. Chúng ta đánh đồn Pheo theo kiểu du kích chiến, tập kích chớp nhoáng đồn bốt yếu lẻ, không tính kỹ đến khả năng liên hoàn ứng cứu và chi viện hỏa lực của địch; khi gặp khó khăn, không giải quyết được chiến trường, ta đưa lực lượng dự bị vào không kịp, gây them tình thế rối ren, khó phòng đỡ khi địch đánh phản kích. Ký ức đời tôi còn lưu giữ những gì mình nhận thức trong chiến đấu sau thất bại ở đồn Pheo 1951. Khi công kích thì “Bộc phá nhập nhằng, tung thâm bị rối loạn”, không giữ được cửa mở. Cuộc đời chinh chiến của tôi, sau trận đồn Pheo, còn dài dài và bài học của sự tổn thất năm ấy, bám tôi dai dẳng mỗi lần tổ chức cường tập. Tôi không nhớ tác giả của cuốn sách nổi tiếng “Máu người không phải là nước lã” mà tôi đã đọc qua tên là gì, nhưng ngòi bút của ông ta thật tuyệt vời. Hãy tính toán kỹ mỗi khi hạ bút ký quyết tâm để tiết kiệm tối đa xương máu chiến sỹ!


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 25 Tháng Hai, 2011, 12:10:17 AM
 Chiến dịch Hòa Bình - đường số 6 kết thúc thắng lợi,cuối năm 1952 chúng ta đã mở thong tuyến bàn đạp nối liền với đồng bằng Bắc Bộ với chiến trường Tây Bắc rộng lớn.Từ đó,quân ta tiến lên Tây Bắc và chiến đấu trên vùng chiến trường Thượng Lào là vùng xung yếu về mặt chiến lược của giặc Pháp.
 Sau  khi quân ta chiến thắng oanh liệt, tiêu diệt hoàn toàn đồn Tu Vũ, chiến dịch Tây Bắc được mở màn vào ngày 14 tháng 10 năm 1952.
 Trong khi các Đại đoàn 316 và 312 đánh tiêu diệt các vị trí Ca Vịnh và Sài Lương, Đại đoàn 308 được lệnh tiến về bao vây Nghĩa Lộ.
 Trung đoàn 88 của chúng tôi được lệnh tiêu diệt đồn giặc ở Nghĩa Lộ phố-còn Trung đoàn 102 tấn công Nghĩa Lộ đồi.
 Căn cứ Nghĩa Lộ phố bên A (mặt Bắc, Nam,Tây đều là ruộng nước và đồi trọc, dân cư ở phía Đông rất đông đúc). Địch tổ chức nhiều trạm cảnh giới nhỏ gây khó khăn cho việc tổ chức tân công của quân ta.
 Các đơn vị đã lợi dụng pháo sang của địch tiến nhanh vào vị trí xuất phát xung phong.
 3 giờ sang ngày 18 tháng 10 năm 1952, trung đoàn hạ lệnh cho các đơn vị chuẩn bị sẵn sang phát hỏa. Đại đội 209 nghe lầm, truyền cho tiểu đoàn 23 thành “lệnh phát hoa”, nên đơn vị đã đánh ngay 5 quả bộc phá mở đột phá khẩu.
 Trước tình hình đó, trung đoàn trưởng lập tức hạ lệnh nổ súng tấn công.
 Tôi dẫn đại đội 211 đánh sang phía tiểu đoàn 29, chiếm lĩnh lô cốt đầu cầu, tạo điều kiện cho đại đội Tô Văn tiến lên mở cửa. Đại đội trưởng Lê Trần Quang cùng các chiến sỹ hành động mau lẹ, cắt gọn từng lớp dây thép gai.
 Quân địch chống trả quyết liệt. Chúng hy vọng máy bay đến chi viện cùng với quân dù ứng cứu. Quân ta dung trung liên áp chế, tạo thời cơ cho bộ đội bắc ván trải chăn, vượt qua hang rào kẽm gai, xông thẳng vào đồn giặc.
 Trung đội trưởng Phạm San nhanh chóng dẫn đội đột kích 1 nhảy vào chiếm ngay ụ sung địch, trung đội phó Bùi Thế Miến dẫn đội đột kích 2 vào theo, chiếm ngay luôn 2 căn nhà trước mặt. Quân địch lập tức châm lửa vào thùng xăngđốt ngay căn nhà sát liền đó, tạo thành bức tường lửa ngăn chặng quân ta. Đồng chí Bùi Thế Miến bị súng máy bắn trúng, tay phải gãy lủng lẳng. Anh nghĩ tới tấm gương của La Văn Cầu, can đảm, bình tĩnh bảo một chiến sỹ: ”Lưỡi lê đâu, chặt cánh tay mình đi cho khỏi vướng!”. Xong, anh buộc chặt phần cánh tay còn lại tiếp tục chỉ huy chiến đấu.
 Các mũi tấn công của quân ta mạnh nhưng địch chống trả quyết liệt. Trung đoàn lệnh tổ chức lại đội hình, chia khu trung tâm thành đôi, mỗi tiểu đoàn đánh địch trong từng khu vực.
 Tôi được lệnh dẫn một trung đội xung kích thọc sâu vào đánh bộc phá trong lô cốt Múi Khế cuối cùng của đồn giặc. Trong lô cốt có một tên lính Mẹo bị xích chân vào khẩu đại liên, nó chống cự đến cùng. Ngay khi tôi cùng các chiến sỹ đánh bộc phá thì DKZ lại bắn thẳng vào hỏa điểm, làm tôi trúng mảnh đạn và sức ép, bị thương nặng.
 Trận Nghĩa Lộ phố kết thúc lúc 5 giờ 30 phút sáng. Đây là trận đánh công kiên điển hình về thời gian quân ta chuẩn bị nhanh, tiêu diệt gọn và ít thiệt hai.
 Trong Đông - Xuân 1952-1953, nổi bật lên là 2 trận đánh lớn mang tính chiến dịch, đó là trận đánh tập đoàn cứ điểm Nà Si- Nà Sản.
 Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ở Bắc Bộ, lần đầu tiên cũng là lần duy nhất quân chủ lực của ta thất bại tại Nà Sản. Sau cả hai đợt tập trung sức mạnh cao của các đơn vị bộ đội chủ lực đánh vào Nà Sản,chúng ta đều không giải quyết được chiến trường.
 Đại đội tôi bấy giờ tiến công Nà Si. Nà Si-Nà Sản cùng một số đồn bốt, bãi mìn, lô cốt liên hoàn phụ cận ở vùng Thượng Lào này lập thành tập đoàn cứ điểm chiếm đóng, kiểm soát, kiềm chế một vùng chiến lược rộng lớn. Rút kinh nghiệm những khó nhăn thất bại ở Nà Sản, trong trận công kiên đánh đồn diệt giặc rất quyết liệt ở Nà Si, chúng tôi đã cùng các đơn vị bạn hợp đồng tác chiến dũng mãnh và chặt chẽ, làm quân địch không chống cự nổi. Lần đó tôi bị thương nặng khi vào đặt bọc phá đánh cửa mở bị sức nổ mạnh hất xuống suối cạn, nằm bất tỉnh. Tôi mê man nằm nằm cạnh một đồng chí tổ trưởng xung kích đã bị tử thương. Sau 3 ngày đêm đơn vị mới trở lại tìm kiếm, đón được tôi về căn cứ, thì xác đồng chí ấy đã trương sình, thối rữa…
 Lúc ấy, hình ảnh đồng chí liệt sỹ và cảnh tượng chiến trường mịt mù khói lửa sau khi quân ta tiêu diệt được đồn giặc rút đi, tôi chỉ còn mơ màng thoáng nhớ thoáng quên để rồi sau đó ngất lịm đi như một cái xác chết. Người ta thường cho tôi là "cao số", nhưng sau này suy nghiệm lại, mình sống được sau 3 ngày đêm một phần là do cơ thể và sinh lực của tuổi trẻ đang độ sung mãn, tiềm tang, lại nhờ có những cơn mưa nhỏ mát dịu về ban đêm dội lên thân thể.
 
 
Hết phần IV


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 09 Tháng Ba, 2011, 11:39:46 AM
 V. ĐIỆN BIÊN PHỦ , DẤU ẤN VÀNG SON
 
Sau những ngày hành quân đánh giặc từ Tây Bắc sang Thượng Lào, đơn vị đã trở về căn cứ của Đại đoàn.
 Bị thương nặng ở Na Sì, tôi được về thu dung điều trị một thời gian rồi quay về đơn vị. Đông- Xuân 1953, tôi  đã là đại đội trưởng đại đội mũi nhọn của lực lượng bộ binh xung kích của Đại đoàn 308, vẫn thuộc Trung đoàn 88, do các đồng chí Thái Dũng , Nam Hà chỉ huy. Từ cuối năm 1952 đến hết mùa đông 1953, phần lớn những hoạt động của Trung đoàn là đánh giặc trong chiến dịch Tây Bắc. Mùa Xuân 1953, các sư đoàn quân tinh nhuệ của chúng ta đã tập trung về Tây Bắc, từ Thượng Lào, từ Thanh Hóa đến đường số 6 Hòa Binh, chuẩn bị cho chiến trường Điên Biên Phủ lịch sử.
 Khi Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định tấn công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bộ đội các Đại đoàn 308, 312, 304, các đoàn công pháo 351… đã sẵn sàng; tinh thần, ý trí chiến đấu lên rất cao. Cán bộ chiến sỹ nô nức chờ đón chiến dịch. Và cùng với nhân dân, mà tiêu biểu là các đoàn dân quân hỏa tuyến, chính những chiến sỹ, cán bộ của các đơn vị này đã viết lên trang sử hào hung, góp phần to lơn trong tất cả những trận đánh trên mặt trận Điện Biên Phủ oai hùng, góp phần làm lên chiến thắng lịch sử mang ý nghĩa cực kỳ trọng đại về chính trị cũng như quân sự, đưa cách mạng giải phóng dân tộc lên bước phát triển mới .
 Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, ta mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại đoàn 312 tiêu diệt cứ điểm Him Lam. (Chỉ huy Pháp đặt tên là Pe’atrice) được quân địch mệnh danh là "pháo đài bất khả xâm phạm”. Đêm 14 rạng sáng ngày 15 tháng 3 năm 1954, Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) được giao nhiệm vụ đánh vào hướng đông bắc đồi Độc lập, Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) đảm nhiệm hướng đông nam đồi Độc lập. (Chỉ huy Pháp đặt tên là Gabrienlle). Đây là vinh dự cho Trung đoàn 88 của chúng tôi, vì là trận đánh đầu tiên của Đại đoàn 308.
  Các đại đội Tô Văn, 211,213,219,225 đều là quân xung kích của Trung đoàn 88, tôi được chỉ huy đại đội 225.
 Cứ điểm Độc lập có lô cốt và chiến hào vững chắc, bố trí trên toàn bộ một quả đồi, nằm độc lập với các cứ điểm khác. Nó án ngữ con đường từ Lai Châu về Mường Thanh. Cứ điểm này dài 700m rộng 200m, bao bọc bằng nhiều lớp hàng rào kẽm gai dày trên 100m.
 Lực lượng địch gồm có 1 tiểu đoàn An-giê-ri và 1 đại đội lính ngụy Thái, được tăng cường 4 khẩu cối 120 ly, có đại pháo ở Mường Thanh- Hồng Cúm chi viện mạnh. Đây là “cánh cửa sắt” của tập đoàn cứ điểm Điên Biên Phủ.
 Đơn vị của chúng ta mới hành quân vu hồi, trở về sau chiến dịch Thượng Lào.
 Trung đoàn 88 chịu trách nhiệm đột kích hướng đông bắc, tức là quay lưng về hướng cụm cứ điểm Mường Thanh, nằm đúng vào khu vực địch chú trọng kiểm soát và đã có sẵn tọa độ bắn cho pháo binh và máy bay.
 Ban đêm, bộ đội rải đội hình đào hào giao thông; ban ngày, nghe phổ biến bàn kế hoạch tác chiến, hiệp đồng chiến đấu, chuẩn bị trang bị vật chất, đạn dược.
 Tôi còn nhớ mãi một kỷ niệm. Trước ngày tiến công giặc, sáng 13 tháng 3 năm 1954, đại đội tôi quân phục chỉnh tề, đứng tập trung trong chiến hào. Ai cũng biết giờ phút quan trọng đã đến. Đồng chí chính trị viên đại đội đọc to: “Thư của Hồ Chủ Tịch gửi toàn thể cán bộ, chiến sỹ Điện Biên Phủ”. Tiếp đó công bố lệnh tổng động viên của Đại tướng Tổng tư lệnh: “Kiên quyết tiêu diệt quân địch tại Điện Biên Phủ”.
 Bộ đội ta vô cùng xúc đông. Người người phấn đấu trước trách nhiệm nặng nề của người chiến sỹ Cách mạng bừng bừng khí thế tấn công. Ngay chiều tối hôm đó, cứ điểm Him Lam bị tiêu diệt bởi Đại đoàn 312.
 Mất Him Lam nên suốt chiều ngày 14 tháng 3 địch bắn phá dữ dội xung quanh cứ điểm Đôc Lập hòng phá cuộc tiến công của quân ta.
 15 giờ chiều, những mũi giao thông hào đã đến sát đồn địch, cự ly gần nhất 150m.
 Tiểu đoàn 29 được làm mũi đột kích. Đại đội Tô Văn được làm mũi chủ công, đã dàn sẵn đội hình theo dọc đường giao thông hào, có trục xẻ sâu bên sườn núi, có cây cối rậm rạp che kín. Máy bay địch gầm rú trên bầu trời trận địa.
 Trung đoàn hạ lệnh cho đơn vị tiến ra chiếm lĩnh vị trí xuất phát tấn công. Lúc này, sơn pháo 75 ly phối thuộc vẫn chưa đến kịp.
Bộ đội chuyển động dưới trời mưa tầm tã. Quân ta bất chấp địch bắn pháo 105 và 155 ly mỗi lúc một dồn dập, các chiến sỹ cởi áo để che bộc phá và súng đạn, khẩn trương tiến vào chiếm lĩnh trận địa. Nhiều cán bộ, chiến sỹ đã hy sinh và bị thương trên đường tiến quân.
 Pháo địch bắn ác liệt, đến mức ở tuyến hỏa lực ngắm bắn trực tiếp sát bờ suối, cách đồn địch 150m, một tiểu đội trưởng của khẩu đội Mac-xim bị chấn động thần kinh, mất trí, đột nhiên hét toáng lên:” Xung phong!”trong khi toàn trận địa đang lặng im giữ bí mật suốt trong đêm. Chỉ huy tuyến hỏa lực phải lập tức ra lệnh đưa người tiểu đội trưởng này về tuyến sau, vào quân y trung đoàn.
 Bắt đầu từ 17 giờ, lựu pháo 105 ly của ta đã bắn vào đồi Độc Lập. Địch ở Mường Thanh bắn trả. Sự việc này đã diễn đi diễn lại đến nửa đêm. Lựu pháo của ta buộc phải bắn kéo dài để chờ sơn pháo 75 ly và cối 120 ly đến kịp.
 Trời đổ mưa to, giao thông hào ngập nước, bùn lầy quánh lại, di chuyển rất khó khăn. Bộ đội phải kiên nhẫn chờ đợi trong trận địa ngập nước dưới làn pháo hạng nặng của địch trút xuống liên hồi.
 Đúng 3 giờ 30 phút, từ phía Đông trọng pháo 105 ly gầm lên, trút bão lửa xuống đồn địch. Đồng thời tuyến hỏa lực ngắm bắn trực tiếp của tiểu đội và trung đoàn gồm 9 khẩu đội ĐKZ ở cự ly gần 150m đồng loạt bắn thẳng vào những ụ súng, từng hỏa điểm. Sáu khẩu đại liên Mac-xim nổ ròn, làn đạn liên thanh xia thẳng vào những hỏa điểm trong và bên sườn cứ điểm còn lập lòe. Ở tuyến hỏa điểm bắn thẳng cách đồn địch 100m, 10 khẩu đội Ba-zô-ka đồng thời phóng những quả đạn lõm vào đồn giặc.
  Bị hỏa lực ta áp chế, tuyến tiền duyên vòng ngoài của địch bị tê liệt. Thời điểm đột phá thuận lợi đã đến. Pháo 105 ly của ta đã chuyển làn vào trung tâm .
 Lúc ấy, Nguyễn Văn Ty nằm ở cuối đội hình trung đội cũng đã lên đến đường mở. Anh chợt lo lắng vì thấy ánh chớp của các quả bộc phá dần dần bị chếch đi. Đường mở lệch hướng chăng? Nguyễn Văn Ty từng là liên lạc của ban chỉ huy các tiểu đoàn ở các trận đánh Gối Hạc (Ninh Bình), Tu Vũ (Hòa Bình) và Nghĩa Lộ, nên hiểu rõ và thấm thía sự nguy hiểm của việc” Mở lệch đường”.
 Lợi dụng pháo sáng địch, Ty ngắm đúng hướng rồi xông xáo dẫn từng chiến sỹ bộc phá lao lên. Bộc phá nổ liên tiếp theo đúng hướng đã chỉnh. Mười chiến sỹ bộc phá đều đã hoàn thành xuất sắc công việc mở đường, mở cửa. Lô cốt địch đã hiện ra rất gần. Tôi lập tức dẫn đại đội 225 xông lên, đưa đơn vị bộc phá tiếp ứng cho đồng chí Ty và an hem đại đội Tô Văn mở đường thắng lợi.
 Đến 4 giờ 30 phút ngày 15 tháng 3 năm 1954, đại đoàn thông báo cho trung đoàn 88  biết, ở mũi Đông Nam, Trung đoàn 165 đã có một bộ phận vào đột phá tung thâm đồn địch. Nhưng pháo địch bắn chặn ác liệt, chưa một đồng chí nào vượt lên được. Đại đội trưởng gọi điện báo về trung đoàn. Chính ủy trung đoàn chỉ thị:”Dù khó khăn đến thế nào cũng phải tổ chức xung phong cho bằng được! Trên sẽ tạo điều kiện cho các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ”.
 Bộ chỉ huy mặt trận cho pháo binh áp chế pháo địchở Mường Thanh. Và một trận đấu pháo dữ dội diễn ra làm rung chuyển cả thung lũng Mường Thanh. Mười phút sau, các chiến sỹ xung ích đã nhất tề vùng dậy, xông thẳng vào đồn địch.
 Không phải ngẫu nhiên mà các tướng lĩnh đế quốc, kể cả đại tướng Mỹ Ô-đa-ni-en (O Daniel) người có trách nhiệm đôn đốc, giám sát việc thực hiện kế hoạch Na-va (H. Navarre) ở chiến trường Đông Dương, sau khi thị sát chiến trường Điện Biên Phủ đã đánh giá là cứ điểm bất khả xâm phạm. Địch còn ngạo mạn coi Điện Biên Phủ là Véc-đoong (Verdum) của Pháp trong chiến tranh Đông Dương. Những kẻ cầm đầu đội quân xâm lược Pháp quả là đã dương một cái bẫy bất lợi nhằm thu hút và tiêu diệt các binh đoàn chủ lực của ta. Chỉ nhìn vào đại đội 211 của tôi đã thấy sự hy sinh là khá lớn; sự thử thách ý chí, quyết tâm, lòng dũng cảm và trí tuệ đạt tới đỉnh cao. Quân số, súng đạn, trang bị liên tục bổ sung mà vẫn thiếu. Nhiều chiến sỹ mới tôi chưa kịp nhớ tên đã vĩnh viễn nằm lại mảnh đất này. Cực khổ, thiếu thốn thì không sao tả xiết. Suốt ngày dầm mưa để đào hào, đánh lấn. Nhìn anh em bùn đất từ đầu đến chân, tôi nảy ra sáng kiến cạo trọc đầu, vừa thể hiện quyết tâm chiến đấu vừa cho mát, cho tiện lúc đánh giáp lá cà không bị bọn lính Pháp cao hơn túm tóc. Sáng kiến này được cả đại đội đồng tình. Thế là người nọ cắt tóc, cạo đầu cho người kia, chả mấy chốc cả đơn vị đầu trọc lốc như sư. Từ đó, đại đội 211 có cái tên“ đại đội trọc đầu” và tôi mang biệt danh” đại đội trưởng trọc đầu”. Không ngờ cái biệt danh này trở lên ấn tượng, đến tai các anh ở sở chỉ huy mặt trận, 30 40 năm sau, khi Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp gặp tôi, vẫn còn gọi” đại đội trưởng trọc đầu”.

 Hết trang 56
 
 


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 09 Tháng Ba, 2011, 11:45:35 AM
 Chiều ngày 14 tháng 3 năm 1954, từ dưới công sự đường hầm , tôi đang đi kiểm tra lại vị trí xuất phát xung phong và động viên chiến sỹ chuẩn bị tinh thần cho trận đánh mang tính quyết định mở màn chiến dịch, thì trung đoàn trưởng điện xuống hỏi:
 “Đại đội đã sẵn sàng chưa?” Tôi trả lời:- “ Tất cả đã sẵn sàng xuất kích” . Tôi vừa nói xong thì pháo binh ta dội bão lửa xuống đồn giặc. Trời đất rung chuyển. Cứ điểm địch trên đồi Độc Lập mịt mù khói lửa.
 Bộc phá đã hoàn thành nhiệm vụ, xung kích ào ạt tiến công vào tung thâm. Trận địa sáng rực dưới ánh sáng của bãi mìn mà quân ta bắn trúng. Một hình ảnh vô cùng xúc động. Mặt đất đỏ lửa, không gian chói lòa ánh lửa màu vàng, với những tia chớp giật xanh lè ánh lên nền trời hòa đầy khói lửa.
 Tôi dẫn đầu đại đội xông lên, sau khi đại đội 211 bộc phá dọn đường qua bãi mìn và kẽm gai, đánh cùng với đơn vị đồng chí Nguyễn Ngọc Doãn trung đoàn 165- Đại đoàn 312.Quân địch dựa vào lô cốt chống trả quyết liệt. Đại đội chủ công của Trung đoàn 165 đang quần nhau quyết liệt với chúng. Chúng tôi đã phối hợp chặt chẽ với trung đoàn 165 đánh tiêu diệt sở chỉ huy và tiểu đoàn Âu- Phi.
 Đến 6 giờ 30 phút ngày 15 tháng 3 năm 1954, Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Độc Lập. Trong cuộc chiến này nổi lên gương hy sinh anh dũng chiến đấu của nhiều anh hùng, dũng sỹ. Những chiến sỹ của đại đội tôi cũng như các đại đội xung kích, đã nêu nhiều tấm gương anh dũng chiến đấu tuyệt vời, nhiều cán bộ chỉ huy trực tiếp và chiến sỹ ở chiến hào đã hy sinh lẫm liệt. Đại đội trưởng Đại đội 213 Nguyễn Phạm dung súng ngắn tiêu diệt giặc. Sau khi diệt được 3 tên địch, anh bị thương nặng và đã trút hơi thở cuối cùng ngay tại chiến trường khói lửa. Anh là cán bộ đại đội” dao nhọn” cùng lớp chúng tôi ở Điên Biên Phủ, đã cùng kề vai sát cánh trên chiến hào đỏ lửa. Họ là những cán bộ - chiến sỹ của Đại đoàn Quân tiên phong anh hùng.
 Mỗi lần nghĩ về trận chiến đồi Độc Lập, tôi là nhớ đến các anh, những chiến sỹ xung kích oai hùng ngày ấy.
 Đối với tôi, trận đánh đồi Độc Lập đã ghi dấu ấn sâu sắc về cách đánh giặc mưu trí và dũng cảm, khéo léo và linh hoạt. Đặc biệt quan trọng là bài học về “ mở đường” và "mở cửa” khi phát động công kích, xung phong.
 Bài học thực tế chiến đấu ở đồi Độc Lập ngấm sâu vào tâm trí tôi. Nhất là cách đánh thọc sâu, chia cắt vùng tung thâm, đánh vào sở chỉ huy. Đó cũng là những bài học cho bộ binh cấp phân đội sau ngày ứng dụng và phát huy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
 Trận đánh đồi Độc Lập để lại bao kỷ niệm sâu sắc. Những hình ảnh sinh động ở chiến trường cam go đầy máu lửa mãi mãi còn lại trong tâm trí mình, giữa muôn ngàn tấm gương hy sinh dũng cảm của đồng đội, với ý trí kiên cường bất khuất, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng xông lên tiêu diệt quân thù.
 Hơn 50 năm đã trôi qua, những hình ảnh và diễn biến chiến trường kể từ khi mở màn chiến dịch ở đồi Độc Lập trên chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa còn đọng lại trong tâm trí và tiềm thức của tôi rõ nét, sinh động. Từng giờ khắc của từng trận đánh, từng ngày , từng đêm,vật lộn với quân giặc trong từng đường hầm, lô cốt, rào kẽm gai, bãi mìn, dưới làn bom đạn của quân thù. Đại đội của tôi đã đứng vững, góp phần giành thắng lợi trong trận đánh lớn mang tính lịch sử.
 Sau này, khi đã trở thành cán bộ chỉ huy cấp cao, trong nhiều chiến dịch, tôi trực tiếp chỉ huy nhiều trận đánh Mỹ- Ngụy. Khi gặp những tình huống đánh công kiên, tiến công cứ điểm phòng ngự chắc, tôi lại nhớ các trận đánh và kinh nghiệm tác chiến đồi Độc Lập-1954, đồn Tu Vũ-1951.
 Tiếp theo chiến thắng đồi Độc Lập là thời gian chuẩn bị xây dựng trận địa bao vây tấn công. Đơn vị tôi tham gia xây dựng trận địa bao vây tấn công. Đơn vị tôi tham gia xây dựng trận địa ở phía Tây Mường Thanh, tổ chức lại đường hào phía nam đồi Độc Lập qua bản Kéo, chuẩn bị trận địa tấn công cứ điểm Huyghet (Huguette) trong trung tâm đề kháng của sân bay, và cứ điểm 311A.
 Bộ đội vừa qua những ngày đêm máu lửa nay lại hăng hái dũng cảm, bền bỉ vượt qua mệt nhọc và giá rét lạnh lẽo. Suốt đêm thâu, đào trận địa xuyên qua đất đá, ruộng lầy, đóng cọc dưới trời mưa xối xả. Chúng ta dũi tới bằng cách đào giao thông hào dưới lòng đất. Nhớ lại tôi càng thấy thấm thía cái dũng khí can trường của chiến sỹ quân đội Cách mạng, truyền thống đó được chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết thành câu nói ngắn ngọn và đầy đủ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”!.
 Chính trong những ngày tháng khó khăn, gian khổ thiếu thốn tại chiến hào, chúng tôi, những cán bộ chiến sỹ mặt trận Điện Biên Phủ, được nghe thư của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Đó là nguồn động viên, cổ vũ tinh thần to lớn đối với bộ đội ta. Nhận thức ý nghĩa đó, tôi cùng cả đội xung kích tổ chức đọc thư của Đại tướng. Từng tiểu đội, trung đội, sau khi nghe thư, có phát biểu thu hoạch, nhận thức tình hình và nhiệm vụ nặng nề của mặt trận.
 Sau khi nghe thư của Đại tướng, mọi cán bộ chiến sỹ đã nhận ra lợi ích sống còn của việc xây dựng trận địa. Bộ đội ta rất phấn khởi, rất hăng say, quên hết mọi mệt nhọc, làm rất tốt nhiệm vụ đào chiến hào để chuẩn bị tổng công kích.
 Gần đây khi viết hồi ký “Điện Biên Phủ- Điểm hẹn lịch sử”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết về chiến hào trong chiến dịch Điện Biên như sau:
 “Trận địa địch là những đường hào, hầm hố đỏ quạch, bố trí rất tập trung, khép kín, nằm chết cứng giữa rừng dây thép gai màu chì và bãi mìn, chi chít những chiếc dù sặc sỡ. Trận địa ta là những đường hào trục chạy dài ngút tầm mắt bao quanh trận địa địch không có vật cản thuần một màu đất đỏ tươi, bên trong có nhiều nhánh vươn về phía trận địa địch, trong quá trình phát triển tự nó lại mọc thêm những nhánh mới. Vòng dây khổng lồ sinh sôi nhanh chóng này, chính là cái đã quyết định số phận của con nhím thép Điện Biên Phủ”.
 Còn phía địch, một số sỹ quan Pháp có tuổi, giàu kinh nghiệm, đã cảnh báo Cô-nhi (Rene’ Cogny), Tư lệnh quân Pháp ở Bắc Bộ, người đã 11 lần đến cứ điểm Điện Biên Phủ, phải chuẩn bị cho Đờ-Cát sẵn sàng đối phó với "Chiến tranh chiến hào”.
 Quyết định đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là quân ta đã chính thức chấp nhận sự thách thức từ lâu của quân thù. Và lần đầu tiên, hình thức chiến đấu trận địa xuất hiện ở Điện Biên Phủ. Lịch sử của quân đội viễn chinh Pháp và lịch sử của quân đội Cách mạng non trẻ Việt nam, trên một bình diện chiến trị đối nghịch sẽ gặp nhau ở cánh đồng Mường Thanh. Nơi đây sẽ diễn ra trận chiến sinh tử, quyết định số phận của thực dân Pháp trên bán đảo Đông Dương. Đây cũng là lần đầu tiên quân ta chọn và áp dụng linh hoạt hình thức tác chiến bằng trận địa bao vây và tiến công.
 Còn một kỷ niệm không thể nào quên trong đợt tiến công sân bay Mường Thanh của đội quân xung kích chúng tôi. Vào đầu cuộc tiến công, ngày 20 tháng 4 năm 1954, đại đội 225 của tôi được sự hỗ trợ của đại đội 213, đã phản xung phong, khôi phục và giữ vững trận địa. Lúc đó đại đội 213 do chính trị viên Nguyễn Hữu Hiệp và đại đội trưởng Mai Viết Thiềng chỉ huy, vừa về tới hào giao thông thì bị súng cối và pháo 105 ly của địch bắn tới tập vào đúng trận địa của đại đội tôi, đồng thời pháo địch đồng loạt bắn cấp tập vào sau lưng đội hình của đại đội 211 và tổ chức phản kích giành lại địa bàn. Tiểu đoàn ra lênh cho đại đội 213 lập tức phản công xung phong, đẩy địch ra khỏi trận địa, dung một tiểu đội xông thẳng lên đánh giáp lá cà với địch dọc theo các đường hào hẹp. Theo kế hoạch hợp đồng trước đó, tiểu đoàn gọi pháo 105 ly và súng cối của trung đoàn kịp thời chi viện.
 Hai giờ sau, Đại đội 213 khôi phục được trận địa, yểm trợ cho đại đội tôi phản xung phong lần hai, khôi phục trận địa. Địch ngoan cố, đã chiếm mất một đoạn chiến hào. Đồng chí Nguyễn Quốc Trị, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 duyệt phương án kiềm chế địch ở hai mũi phụ, tập trung toàn lực cho bộ đội xung kích phản xung phong, quyết tử chiếm lại đoạn chiến hào đã mất.
 


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 09 Tháng Ba, 2011, 11:48:49 AM
 Đứng trước tình thế nhạy cảm và khẩn trương đó, tôi tuy còn bình tĩnh hơn nhưng trong lòng vẫn còn sự hồi hộp lo lắng cho trận đánh ác liệt.
 Đại đội trường Mai Văn Thiềng nhận lệnh: "Phải kiên quyết chiếm lại đoạn hào đã mất”. Giây phút nóng bỏng đó in sâu mãi mãi vào tâm trí của cán bộ, chiến sỹ quân xung kích. Khi thấy chính trị viên đại đội cùng đơn vị không chút ngần ngại lao vụt ra sân bay, chiến sỹ trẻ Nguyễn Quốc Ân, một thiếu sinh quân Việt Nam mới nhập ngũ, lại vừa qua cơn ốm, mặc quần đùi xách súng xông ra bám tổ chiến đấu Phan Văn Diện. Trung liên, súng trường quét hạ gục quân thù như ngả rạ. Từ điểm cao 206, các anh dũng cảm diệt địch, bảo vệ sườn trái cho đại đội tôi phối hợp đánh phản xung phong thắng lợi.
 Và giờ phút hào hùng, khoảnh khắc lịch sử vinh quang đã điểm: Quân ta đánh bại hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Đó cũng là ánh hào quang chiến thắng tỏa sáng cuộc đời chiến trận của tôi.
 53 năm đã qua, bao giờ nhớ về buổi chiều hôm ấy, lòng tôi vẫn còn hồi hộp xúc động. Buổi chiều quang vinh của quân ta và buổi chiều dịnh mệnh của quân thù. Sau này, văn học và phim ảnh đã làm sống lại khúc khải hoàn ca hùng tráng ấy. Nhưng có lẽ không ai hết, những người trong trận, những chiến sỹ cơm vắt ngủ hầm ngày ấy, mới thấm thía hết giá trị thiêng liêng và ý nghĩa sâu sắc và to lớn của chiến thắng Điện Biên Phủ.
 Sau này, khi đối đầu với giặc Mỹ và quân Ngụy ở chiến trường Nam Bộ, tôi đã vận dụng kinh nghiệm Điên Biên để áp dụng linh hoạt các kế sách như: Bao vây và tấn công, phòng ngự trận địa và tiến công, tấn công linh hoạt trong hành tiến, đánh tiêu diệt cứ điểm và cụm cứ điểm, tấn công tiêu diệt địch phòng ngự kiên cố v.v…
 Có thể nói cách đánh địch ở Điện Biên Phủ của quân đội ta thời chống Pháp được lặp lại, nâng cao, linh hoạt, biến hóa, đạt hiệu quả cao trong cuộc chiến đấu kiên cường khốc liệt của quân và dân ta chống quân xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai sau này.
 Trong các trận công đồn diệt địch ở Điện Biên Phủ tôi là một đại đội trưởng xung kích; đến khi đánh Xuân Lộc tôi đã là sư đoàn trưởng. Dù ở cương vị chỉ huy nào tôi vẫn xông pha cùng đồng đội, đi với từng đơn vị nhỏ,không chỉ cùng họ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi, mà cùng cán bộ chiến sỹ tiếp cận tình thế chiến đấu để cùng họ bàn cách đánh giặc sao cho có hiệu quả và ít tổn thất thương vong.
 Tôi ở trong quân ngũ trên 56 năm, ba phần tư cuộc đời có mặt trên các chiến trường. Dấu ấn sâu đậm trong ký ức tôi vẫn là Điện Biên Phủ oai hùng, lừng lẫy chiến công, vô vàn gian khổ, đầy hy sinh. Chính tại nơi đó, qua thực tế đầy biến động, những người” lính Cụ Hồ” như tôi đã được rèn luyện để trưởng thành.
 Sau này, giữa thập niên 80, tôi được Đảng, Nhà nước, quân đội cho đi học ở các trường  học viện quân sự cấp cao. Khi tiếp thu bài giảng về lý luận quân sự, về nghệ thuật tổ chức, chỉ đạo chiến tranh Cách mạng, tổ chức thực hành chiến dịch, tôi tâm niệm phải luôn ôn lại thực tiễn chiến đấu trên chiến trường Điện Biên Phủ; lấy nó làm trung tâm so sánh, đối chiếu và áp dụng. Tôi hiểu rõ vì sao chiến thắng Điện Biên Phủ đã được học thuyết về lý luận quân sự Cách mạng Việt Nam lên một tầm vóc mới về chất và lượng. Chiến thắng Điện Biên 1954, soi sáng ý nghĩa tác dụng to lớn và quyết định của chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của chúng ta.
 Tôi là một trong số anh em may mắn còn sống và khỏe mạnh sau khi toàn quân và toàn dân ta thực hiện trọn vẹn Di chúc của Bác Hồ: “ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Hình dung lại toàn cảnh hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ kéo dài tới 30 năm, thì thấy rõ một điều: Điện Biên Phủ là một trường học lớn, như một thao trường vĩ đại, mà ở đó đã đào tạo ra nhiều tướng lĩnh tài ba cho dân tộc, cho quân đội. Lớp cán bộ có mặt trong 55 ngày đêm ở Điện Biên Phủ, nếu không bị hy sinh, đã trưởng thành nhanh chóng để nối tiếp nhau đi tiếp cuộc trường chinh dưới ngọn cờ” Quyết chiến quyết thắng” của Đảng và của Bác, để giành toàn thắng vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Rồi khi Tổ quốc bị xâm lăng, cùng với lớp đàn em kế cận, nhiều chiến sỹ Điện Biên tiếp tục chiến đấu, không chỉ làm tròn nhiệm vụ giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc mà còn giúp nước bạn Cam-pu-chia thoát khỏi nạn diệt chủng. Tại dinh Độc Lập, trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi đã gặp các đồng đội, nhiều người là đồng cấp, hồi chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Tại Phnom Penh, ngày 17 tháng 1 năm 1979, tôi lại cùng nhiều anh em chiến sỹ Điện Biên hân hoan chúc mừng thắng lợi. Nếu tôi nhớ không lầm thì những người làm công tác nghiên cứu nghệ thuật quân sự trên thế giới xác định, chiến dịch Biên Giới (1950) và chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) nằm trong số ít trận đánh hay nhất lịch sử chiến tranh của nhân loại.
 Thật tự hào thay được làm “ CHIẾN SỸ ĐIỆN BIÊN”!
    


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 26 Tháng Tư, 2011, 12:09:50 AM
  Những chiến sỹ Điện Biên năm xưa, ngày nay còn lại đều là những nhân chứng lịch sử và họ được quyền tự hào, được nhân dân kính trọng. Tôi lại thầm nhủ từ đáy lòng mình; trong cuộc đời chiến trận, mình đã chứng kiến bao nhiêu kỳ tích anh hùng, nhìn thấy những tấm gương hy sinh cao cả, đã từng được kề vai sát cánh với những đồng đội, đồng chí đã vĩnh viễn ra đi vì sự nghiệp của Tổ quốc. Họ nằm lại trên đồi Him Lam, đồi Độc Lập, Hồng Cúm, trên những cánh đồng Mường Thanh đầy máu lửa, và trên đồi A1 vinh quang, mang đầy sự tích anh hùng.
 Hàng năm, những ngày kỷ niệm chiến thắng Điên Biên Phủ, tôi lại tìm kiếm thăm hỏi, gặp gỡ, tâm sự cùng đồng đội, cán bộ chiến sỹ Điện Biên năm xưa. Nếu còn sống, lớp người đó đều trên tuổi “Thất Thập”. Phần lớn đều đã trưởng thành. Nhiều người trong số đó đã trở thành những vị tướng thao lược, tài năng, dày dạn kinh nghiệm trận mạc của quân đội chúng ta.
 Bản thân tôi những lúc chỉ huy đơn vị đánh giặc, khi gặp trở ngại khó khăn, dù nguy hiểm đến bao nhiêu hay trong hoàn cảnh và tình huống xấu đến đâu tôi cũng quyết tâm xác định;”nếu biết cách đánh giặc thì có thể thắng giặc”. Bài học Điên Biên Phủ đã ngấm sâu vào tâm can và đầu óc của tôi.
 Chính nhờ đó, những ngày gian lao nhất trong chiến dịch Nguyễn Huệ, đường 13 lịch sử, đối với quân thù trang bị hiện đại, được yểm trợ hỏa lực máy bay, pháo binh, tên lửa, xe tăng thiết giáp tối đa, chúng tôi, Sư đoàn 7 Anh hùng, vẫn trụ vững hơn 150 ngày đêm với hàng trăm trận đánh ác liệt. Cuối cùng, cũng giống như Điện Biên Phủ năm xưa, chúng tôi đã thắng, thắng oanh liệt, oai hùng và giòn giã.
 Khi gặp khó khăn trên chiến trường Xuân Lộc trong chiến dịch lịch sử mùa xuân 1975, tôi suy nghĩ đến việc thay đổi cách đánh ở trận Đông Khê, việc “kéo pháo vào, kéo pháo ra”, việc Đại đoàn Quân tiên phong tạm thời rời Điện Biên Phủ tiến quân sang Thượng Lào. Nên mới hiến kế sách cùng lãnh đạo quân đoàn tìm phương án giải tỏa bế tắc, rút quân ra vòng ngoài, tổ chức bao vây, tiến công ngăn chặn, diệt viện chia cắt lực lượng của cả cụm phòng ngự, cô lập khu trung tâm đề kháng Xuân Lộc. Phải quan niệm, Mỹ- Ngụy tổ chức phòng ngự ở đây như một dạng cứ điểm quy mô kiên cố.  So với Điện biên Phủ, không gian tác chiến của nó rộng lớn hơn, đầy đủ hơn. Thời gian lịch sử tuy xa, địa hình đặc điểm địa lý khác nhau, cứ điểm phòng thủ Xuân Lộc lại nằm ngay trong đô thị, xen kẽ với nhân dân.
 Nhờ thay đổi cách đánh, áp dụng chiến thuật mới, đánh địch từ ở vòng ngoài, sau đó tiêu diệt từng cứ điểm nhỏ, tiến lên tiêu diệt cứ điểm lớn của địch, để cuối cùng bao vây chặt khu trung tâm đề kháng Xuân Lộc, đánh bại chúng ngay trận tuyến thép này, mở ra chiến thắng lịch sử cho Quân đoàn 4 năm 1975, phá tan cánh cửa thép Đông Bắc cho Đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn - Gia Định.
 Đó chính là bài học kinh nghiệm quý báu mà chiến dịch Điện Biên Phủ đã để lại cho quân đội ta.
 Chiến thắng Điện Biên Phủ là “cây cột mốc bằng vàng” (lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh) trong lịch sử đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc ta.
 Ngày nay khi nghiên cứu học tập về “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, tôi càng thấy được sự anh minh sáng suốt của Người về những luận điểm và phương pháp tổ chức, chỉ đạo chiến tranh cách mạng, tư tưởng “tất thắng” trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện của Người, tạo ra niềm tin “Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi!”. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chia cuộc chiến tranh dài lâu làm 3 giai đoạn: Phòng ngự- cầm cự- tổng phản công. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chứng minh điều đó.
 Khi cờ trắng đầu hàng của thực dân Pháp xuất hiện ngày càng nhiều ở chiến trường Điện Biên Phủ và quân đội ta ào ạt xông lên, tung mũ, tung nguy trang lên trời mừng chiến thắng, chúng tôi tưng bừng khí thế, bây giờ nhớ lại lòng còn rưng rưng xúc động. Không hiểu sao lúc ấy, sau khi chấm dứt chiến sự ở Điện Biên, tôi tin chắc có một cuộc mít tinh, và như vậy tôi sẽ thấy mặt mấy ông sư đoàn trưởng. Một nhà lý luận quân sự thế giới đã nói một câu rất hay: Làm người lính chân chính phải có ước mơ trở thành tướng giỏi. Thật tình khi làm đại đội trưởng, tôi đã mơ có ngày làm sư đoàn trưởng như các ông Vương Thừa Vũ, Sư trưởng Sư 308. Lê Trọng Tấn, Sư Trưởng Sư 312, Lê Quảng Ba, Sư trưởng Sư 316, Hoàng Minh Thảo, Sư trưởng Sư 304. Nhưng ngoài cả sức tưởng tượng của tôi, trong lễ mừng chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi không chỉ thấy mấy vị “Sư” mà còn được nhìn thấy Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, người trực tiếp cầm quân đánh Điện biên, người đã viết thư động viên từng chiến sỹ ở chiến hào. Sau này về Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu hoặc xuống chỉ huy đơn vị, nhiều lần được tiếp xúc và gần gũi Đại tướng, tôi nhận ra rằng, nhìn vào đôi mắt của ông, ta sẽ nhận ra được hai điều: mắt ông vừa sắc sảo vừa ấm áp. Sắc sảo là tài thao lược và ấm áp là tấm lòng nhân hậu. Anh em có điều may mắn làm việc bên cạnh anh Văn kể với tôi rằng, kết thúc mỗi trận đánh lớn nhỏ, sau khi hỏi kết quả, bao giờ Đại tướng Tổng tư lệnh cũng hỏi đến thương vong của ta và nhiều lần ông đã khóc! Tài năng và đức độ của người Anh cả trong quân đội hòa quyện vào nhau – đó là hạnh phúc của toàn quân.
 Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ta đạt được ký kết Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ. Hòa bình được lập lại trên toàn cõi Đông Dương.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 27 Tháng Tư, 2011, 07:35:47 PM
  Quân đội ta lại bắt tay vào những nhiệm vụ mới, Đại đoàn Quân tiên phong cùng các đơn vị bạn, vinh quang được về tiếp quản Thủ đô sau ngày chiến thắng. Nhớ khi quân Pháp mở rộng chiến tranh, đoàn quân Cách mạng rời Thủ đô khói lửa ngập trời và “Người ra đi đầu không ngoảnh lại "Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”. Sau chín năm kháng chiến trường kỳ và gian khổ, chúng tôi hiên ngang và tự hào đi trong rừng cờ rừng hoa. Bộ đội Cụ Hồ ngày nay trở về trong quân phục chỉnh tề, đội ngũ trang nghiêm, hùng dũng . Hàng chục vạn đồng bào Thủ đô hân hoan náo nức chào đón, đúng như lời ca “Năm cửa Ô đón mừng đoàn quân tiến về”.
 Tôi là người nông dân trở thành chiến sỹ, đã cầm súng mười năm, lòng tự hào phơi phới, nghĩ thấy bản thân mình được vinh dự lớn trong ngày 10 tháng 10 năm 1954 vẻ vang này, được tiếp quản và làm quân quản Thủ đô là điều mấy tháng trước trên chiến trường chưa hề nghĩ tới. Đó là lần thứ nhất tôi đi tiếp quản, để rồi 21 năm sau lại tiếp quản Thủ đô của ngụy ở Sài Gòn - Gia Định. Và 25 năm sau tiếp quản Thủ đô Phnom Penh của nước bạn trong chiến thắng thắm tình hữu nghị Việt Nam _ Căm-pu-chia. Thực là vinh dự và sung sướng cho đời một người lính ba lần được dự phần đại thắng trên một chiều dài thời gian 30 năm chiến đấu liên tục.

 Mùa đông năm 1954 sang Xuân 1955 là những ngày tháng vui vẻ, hòa bình phấn khởi trên đất Thăng Long ngàn năm văn vật. Bộ đội 308 được giao làm công tác quân quản Thủ đô; đồng chí Vương Thừa Vũ, Đại đoàn trưởng, làm Trưởng ban Quân quản. Đồng chí Trần Duy Hưng làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố, đồng chí Trần Quốc Hoàn, Bộ Công an, là đại diện của Trung ương ở bên cạnh.
 Ngày 1 tháng 1 năm 1955, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng và Chính phủ làm lễ ra mắt nhân dân Thủ đô ở quảng trường Ba Đình lịch sử. Đơn vị tôi được tham gia lễ diễu binh trong dịp đó. Bộ đội chủ lực và các đơn vị phòng không, pháo binh, thiết giáp rồi hải quân, dân quân, du kích, tự vệ diễu hành qua lễ đài. Lần đó, Bác Hồ cùng đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có mặt trên lễ đài và đích thân Đại tướng duyệt đội quân danh dự.
 Bác Hồ vui cười, vẫy chào đoàn quân chiến thắng trở về. Nhân dân vô cùng xúc động phấn khởi. Sau khi Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc diễn văn khai mạc, Bác Hồ đã nói chuyện với nhân dân Thủ đô và bộ đội. Buổi lễ đó mang tính chất lễ mừng chiến thắng của cả dân tộc ta sau 9 năm kháng chiến.
  Những năm tháng làm công tác quân quản ở Hà Nội, chúng tôi phải vừa công tác vừa học hỏi để có thể hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao cho. Chúng tôi chưa am hiểu nếp sống của một thành phố nhiều năm bị giặc chiếm đóng, bị tuyên truyền xuyên tạc và nô dịch. Việc đoàn kết các tầng lớp nhân dân, phát động quần chúng giữ an ninh trật tự, xây dựng nếp sống văn minh là những nhu cầu lớn. Cần phải tuyên truyền giải thích, phổ biến chính sách của Đảng và Nhà nước cho toàn dân hiểu biết để thực hiện.
 Sau một thời gian làm công tác quân quản, tôi được cấp trên cho nghỉ phép. Thế là sau 9 năm xa cách, tôi được về thăm gia đình, quê hương, xóm làng xưa. Bấy giờ tôi đã là cán bộ tiểu đoàn. Từ cậu bé thanh niên nghịch ngợm ngày xưa, từ chàng Lê Hoàng Thống ở làng quê Phú Mỹ, nay về làng trở thành anh chỉ huy bộ đội “oai phong hùng dũng”, súng ngắn, quân phục chỉnh tề. Gia đình quá đỗi mừng vui, làng quê xôn xao chào hỏi, thanh niên trai gái trong làng ríu rít đến gặp gỡ chuyện trò. Tôi hỏi chuyện quê hương còn bà con bạn bè hỏi chuyện chiến đấu và thành tích của tôi. Tôi được chính quyền địa phương tuyên dương thành tích công trạng. Quê nhà vừa hoàn thành công tác cải cách ruộng đất, xóm làng đã có nhiều thay đổi. Lớp nông dân nghèo khó ngày trước đã bắt đầu mở mày mở mặt. Sau khi được chia quả thực công điền và ruộng đất của địa chủ, một quan hệ sản xuất mới được hình thành để chuẩn bị bước vào thời kỳ sản xuất tập thể dưới hình thức “hợp tác xã” nông nghiệp.
 Mẹ già cùng các em và bà con đều mong tôi sớm lập gia đình. Tôi cũng thấy đây là một việc cần thiết cho bản thân. Thế là trong một buổi gặp mặt với thanh niên phụ nữ trong làng, vẫn lối tếu nghịch ngày xưa, sau khi kể chuyện chiến đấu ở Điện Biên Phủ, tôi hỏi: “Có O mô ưng lấy tau không?”. Nhiều người tưởng tôi nói đùa. Chị em có nhiều người giơ tay, trong đó có O Mai là người giơ tay lên nhanh nhất và cao nhất, O Mai chính là vợ tôi sau này. Mấy ngày sau mẹ tôi nói, O Mai là con người cô họ Lê của tôi. Tôi tìm tới, bà nói: “Tau có hai đứa con gái, cho mi một đứa, tùy mi chọn”. Hết kỳ nghỉ phép, được hai gia đình ưng thuận, tôi đón O Mai ra Hà Nội, lên đơn vị ở bên cầu Chui, Gia Lâm, ngoại ô Hà Nội. Lễ thành hôn do Trung đoàn 88 tổ chức, đồng chí Trung đoàn trưởng Bùi Nam Hà làm chủ hôn.
 Khi đã yên bề gia thất, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn, sang năm 1956 tôi nhận được quyết định đi học bổ túc văn hóa gấp rút tại Kiến An, bồi dưỡng trình độ để đi học ở Học viện Quân sự nước ngoài. Trường này do đồng chí Lê Quang Hòa làm hiệu trưởng. Hồi đó văn hóa của tôi mới hết cấp một (tương đương lớp 4). Hoàn thành chương trình bổ túc cơ bản, tôi phải nỗ lực phấn đấu hết mình, ngày đêm phấn đấu, học tập không biết mệt mỏi, và tự đặt mục tiêu phải học tập để còn học cao nữa. Nhờ ý chí và quyết tâm đó, cuối cùng tôi đã hoàn thành các khóa học bổ túc văn hóa.
 Cùng trong năm đó, ở nhà vợ tôi sinh cháu trai đầu lòng đặt tên là Lê Việt Hà.
 Tiếp sau trường bổ túc văn hóa quân đội, tôi được Bộ quốc phòng tuyển chọn cho đi học ở Học viện Quân sự Hoàng Phố (Nam Kinh-Trung Quốc). Đây là một Học viện quy mô với nhiều phân ban và chuyên ngành, đào tạo bồi dưỡng các sỹ quan cấp cao. Trường này có lịch sử từ thời nhà đại Cách mạng Tôn Trung Sơn sáng lập, đến thời Quốc-Cộng hợp tác chống Nhật. Nơi đây từng có nhiều nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc giảng dạy, nhiều cán bộ quân sự cao cấp của Hồng Quân-Bát Lộ Quân, Tân Tứ Quân đã học tập trưởng thành ở đây. Trong quân đội ta, nhiều cán bộ chỉ huy, tướng lĩnh từng học tập ở Học viện Hoàng phố. Vì vậy, được đến học ở Hoàng Phố là một vinh dự lớn. Nó đánh dấu giai đoạn trưởng thành của tôi về mặt tri thức quân sự, tư duy chiến thuật, nghệ thuật tổ chức chỉ huy tác chiến. Sau này tôi đã vận dụng vào thực tế chiến đấu trên chiến trường.
 Sau 5 năm học tập tại Học viện, tốt nghiệp trở về nước năm 1960, tôi được điều về Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu. Là sỹ quan mới ra trường về nhận nhiệm sở, ban đầu tôi rất e dè, khiêm tốn học hỏi các cán bộ đi trước, đến trước. Phần lớn, họ đều có trí thức, văn hóa cao, chững chạc và oai vệ. Tôi tuy có kinh nghiệm chiến đấu, nhưng dù sao vẫn là người chưa quen nếp làm việc cơ quan, nhất là ở cơ quan Bộ, cấp chiến lược, phần tôi văn hóa thấp hơn, lại xuất thân từ một nông dân mộc mạc. Phải xong một thời gian tôi mới phát huy được năng lực công tác, và bộc lộ được năng khiếu tham mưu của mình.
 Thời gian công tác ở Cục tác chiến, tôi học hỏi them ở các đàn anh, mở rộng nhiều hiểu biết về lý luận quân sự cũng như thực tế tham mưu ở các chiến trường.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 17 Tháng Tám, 2011, 02:27:50 PM
  Tháng 4 năm 1964, Bộ Quốc phòng điều động tôi đi bổ sung chiến đấu ở chiến trường B. Ngày 18 tháng 4 năm 1964, tôi được gọi lên giao làn Đoàn trưởng Đoàn 707 với 100 cán bộ quân sự chính trị của Quân đội gồm đủ ba miền, tập trung ở trạm 66 Hà Nội, sau đó tập kết ở Thành Nhà Hồ thuộc xã Yên Định, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Trước ngày xuất quân, Cục Cán bộ Tổng cục chính trị giữ 3 đồng chí lại để nhận nhiệm vụ khác, Đoàn 707 còn 97 đồng chí. Từ Thanh Hóa ngày 18 tháng 5 năm 1965 đoàn chúng tôi hoàn toàn đi bộ suốt gần 5 tháng, vào thẳng Chiến Khu D - miền Đông Nam Bộ. (chiến trường B2)
  
 Nhớ buổi tiễn đưa, anh em trong Đoàn đã lên xe để vào Thanh Hóa. Đến điểm tập kết, vợ tôi rất lo âu và bịn rịn, nghẹn ngào nức nở. Tôi đứng lại làm công tác tư tưởng động viên an ủi, khích lệ lòng tin tưởng để vợ tôi an tâm ở lại, thay tôi làm nhiệm vụ nuôi dưỡng giáo dục các con, chăm sóc gia đình nội ngoại. Cuộc chia tay dùng dằng khiến tôi trễ giờ. Tôi đành phải vội vã ngồi nhờ thùng xe tải chở nước mắm đuổi theo đoàn. Ngồi trên xe, lòng tôi xúc động xao xuyến vô cùng. Tôi nghĩ đến mẹ già ở quê hương, nghĩ về 3 đứa con nhỏ, trong lòng trào dâng thương yêu vợ con đến vô hạn. Mai sẽ phải gánh trên vai trách nhiệm và bổn phận nặng nề của người mẹ, giống như ngàn vạn phụ nữ việt Nam chúng ta trong thời chiến, đảm đương việc nhà, vẹn toàn việc nước. Tôi liên tưởng đến mẹ già, nhớ hồi còn nhỏ, bà ru những câu trong Chinh phụ ngâm. Tôi loáng thoáng nhớ đoạn bà Đoàn Thị Điểm tả cảnh chia ly và tâm sự người vợ lính tiễn chồng ra trận:

                        " Ngoài đầu cầu nước trong như lọc
                             Đường bên cầu cỏ mọc còn non
                             Đưa chàng lòng dằng dặc buồn
                             Bộ không bằng ngựa thủy không bằng thuyền
                             Nước có chảy mà buồn không chảy
                             Cỏ có xanh mà dạ chẳng khuây
                             Nhủ rồi tay lại trao tay
                             Bước đi một bước giây giây lại dừng ..."


  Thật đúng tình, đúng cảnh của vợ chồng tôi khiến người tôi nao nao, lòng dạ trùng hẳn xuống!

  Đến Thanh Hóa quần áo mình mẩy hôi dình mùi nước mắm. Có người trong đoàn nói vui:

  " Nam Phong là dân xứ Nghệ đi đâu cũng mang theo mùi nước mắm !". Trước đó 2 ngày, anh em trong Cục tác chiến chia tay tiễn chào tôi và anh Hoàng Dũng (nay là thiếu tướng hưu trí ở Thành phố Hồ Chí Minh) mời mỗi người ăn một que kem. Nhiều năm tháng đi xa, tôi vẫn nhớ và thèm que kem Hà nội thuở nào. Những việc nhỏ nhặt đó, đến nay tuổi đã già tôi vẫn không bao giờ quên!

  Chỉ huy đoàn 707 còn có đồng chí Trần Tấn Hưng là chính trị viên, đồng chí Đoàn Mạnh Sấn làm phó trưởng đoàn. Trong thời gian ngắn nhất, đoàn đã nỗ lực hoàn tất mọi mặt về biên chế, tổ chức, làm tốt công tác bảo đảm hậu cần "trên đôi vai" của từng người để đúng thời gian quy định của Bộ cấp tốc hành quân đi bộ từ Thanh Hóa vào đến bờ Bắc sông Bến Hải. Trước đó là những đoàn cán bộ vượt Trường Sơn năm 1959: đoàn B500 gồm 28 người do đồng chí Tăng Thiện Kim làm trưởng đoàn; họ được xe ô tô chở vào Vĩnh Linh. Năm 1960, đoàn "Phương Đông" lên đường vào dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ (ngày 7 tháng 5) gồm 600 đồng chí do đồng chí Trần Văn Quang làm trưởng đoàn, cũng hành quân bằng ô tô vào đèo Mụ Giạ rồi theo dọc tuyến biên giới của rừng Trường Sơn, sau đó lội bộ vào Nam. Đặc biệt lần này, đoàn chúng tôi đi bộ từ Bắc vào Nam. Từ Thanh Hóa vào tới làng Ho, đoàn đã hành quân ròng rã một tháng trời. Đêm vượt sông Gianh, có nữ du kích chèo thuyền. Không biết do nguyên tắc bí mật hay do cả thẹn mà mấy o nón đội đầu, khăn che kín mặt. Chúng tôi tán mãi, cuối cùng mấy o cũng xúc động thương người ra trận, đã đáp lời. Có o còn bạo dạn đề nghị bộ đội làm thơ tặng người ở lại. Anh Phan thiệu Cơ đã ứng khẩu đọc thơ, trong đó có đoạn khá hóm:

                                  Hai ả cùng chèo một chiếc thuyền
                                     Mắt nhìn bộ đội miệng cười duyên
                                     Hẹn ngày thống nhất anh gặp lại
                                     Bến cũ đò xưa... em vẫn nguyên

  
  Con đò chao nghiêng bởi cả bộ đội, dân quân cùng ôm bụng ... nín cười! Anh Phan Thiệu Cơ trong cuộc họp truyền thống Đoàn 707 mới đây kể rằng, 13 năm sau, tức là sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, anh gặp lại một trong hai cô chở đò năm ấy. Có điều bây giờ Hoa đã là bà nội, không vẫn nguyên như lời thơ!

  Điểm dừng chân cuối cùng là làng Ho, chúng tôi được nghỉ 1 ngày để bổ sung lương thực, vũ khí, trang bị cho mỗi người, có cả súng ngắn lẫn súng dài. Ngày đầu tiên của cuộc vượt Trường Sơn, sau khi đã vượt qua sông Bến Hải, chúng tôi qua đèo 1001, đèo này có tên là dốc Tù Mù hay dốc Nguyễn Chí Thanh. Từ đó bằng đôi chân và dũng khí của tuổi trẻ, chúng tôi cắt rừng vượt suối băng đèo, nhìn về miền Nam mà tiến bước. Những ngày hành quân đầy gian nan vất vả, đói cơm thiếu áo, thiếu nước uống, thời tiết khắc nghiệt bệnh tật hoành hành...
  


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 18 Tháng Tám, 2011, 11:35:05 AM
  Dù đã là cán bộ, có sự rèn luyện kỹ càng về ý chí và thể lực trước lúc đi "B", một số đồng chí vẫn phải tìm cách giảm nhẹ trọng lượng trên vai: Xén ngắn tay áo, ống quần, cắt bớt nút áo, bỏ đình màn, bẻ ngắn cán bàn chải đánh răng và thậm chí có người đòi trả súng dài, vì "là cán bộ rồi, chỉ đeo súng ngắn"...Vượt sông Sê-rê-pốc được hai ngày, tiểu đội trinh sát gom quần áo đổi được con heo (lợn) nhỏ, chỉ đủ luộc lên ăn một bữa. Nào ngờ đồng chí Lê Văn Đặng bị "Tào Tháo đuổi", đành phải nằm lại trạm. Thật xui xẻo. Nhờ "đi bằng đầu", vài ngày sau Đặng đã đuổi kịp đoàn.

  Cuộc hành quân bí mật 125 ngày đêm xuyên rừng vượt núi ấy từng ngày từng đêm, từng trạm đều có những chuyện vui buồn đầy ấn tượng. Nó trở thành kỷ niệm không quên của mọi thành viên trong đoàn.

  Hồi đó, để cải thiện bữa ăn, chống lại sự thiếu thốn đói khát, anh em trong đoàn thường xuyên phải tự túc tìm thêm rau củ, săn bắt thú rừng, và liên hệ với dân bản làng đổi thực phẩm. Sáng sớm, khi hai đồng chí ra đi thì trời quang mây tạnh nhưng đến chiều mây đen vần vũ, sấm chớp ì ầm, giông tố nổi lên, rồi một cơn mưa rừng dữ dội... Đã gần chín giờ đêm mà hai đồng chí vẫn chưa về. Anh em sợ họ bị lạc rừng, sợ gặp phải thú dữ, chia nhau nhiều tốp đi tìm kiếm. Thời gian kéo dài, không gặp ! Đang lo lắng bồn chồn thì một đồng chí nghe tiếng hú ban đêm, lần tới nghe rõ tiếng người. thì ra hai đồng chí tới bản xa, lúc trở về gặp cơn mưa, nước suối dâng cao chảy xiết, đêm tối mịt mù, thấp thoáng nhớ đường mà không về được. Gần 10 giờ đêm mò mẫm tới khu vực này, hai người vừa đi vừa hú để liên lạc với nhau và mong báo hiệu cho đoàn biết.

  Đón được hai anh, mọi người vô cùng mừng rỡ. Họ thân thể nhem nhuốc và súng nước, mỗi người chỉ còn một chiếc xà lỏn che thân. Lạ nhất là đồng chí Mười Khoan lại cõng một con chó to, chân bị buộc vào lưng người giống như phụ nữ người dân tộc địu con... Hình ảnh đó thật ý nghĩa. Nó thể hiện tinh thần trách nhiệm trước tập thể, ý thức tận tụy phục vụ đồng đội, tấm lòng vì mọi người. Chuyện có vẻ hài hước những lại vô cùng cảm động.

  Lại một không may mắn khác, đáng nhớ. Trong một đêm mưa to gió lớn, người đi sau dán mắt vào lân tinh của miếng gỗ mục trên ba lô người đi trước, miệng nhắc nhau đừng ngủ gật. Sau một tiếng đồng hồ hành quân căng thẳng và mệt mỏi, tôi ra lệnh nghỉ chân. Chợt có tiếng kêu chói lói trong hàng quân. Anh em báo cáo "nhà thơ" Phan Thiệu Cơ bị con dao găm trong ba lô đâm vào mông, vết thương khá sâu, máu chảy loang cả quần dài. Bác sĩ Nguyễn Sanh Dân, người con Nam Bộ Tập kết ra Bắc, nay trở về Nam, đã có mặt, cầm máu và khâu vết thương lại. Mọi người xúm lại san hết đồ đạc trên lưng để anh Thiệu cơ ráng chống gậy theo đoàn. Nhờ có tình đồng đội, nhất là sự tận tình của bác sĩ Sanh Dân và đồng chí Văn Lâm,  thương binh Thiệu Cơ đã về được tới đích mặc dù đã sút mất 21 ký !

  Làm trưởng đoàn 707 suốt hơn 4 tháng trời, tôi mới thấm thía rằng, làm Tư lệnh một đơn vị đoàn là quan rất khổ. Họ dễ hồi tưởng về thời làm thủ trưởng chỉ huy đơn vị, vất vả đấy nhưng có quyền; nhớ lúc công tác ở cơ quan, chiều thứ bảy là mặc nhiên "cắt cơm bơm xe", nhớ lúc ở trường quần là áo lượt, thậm chí có anh tiếc lúc đi không treo đôi giầy " Cô-xư-ghin" da thiệt nơi cổ để lúc này ninh nhừ cho vào bụng ! Một đêm, tôi đang ngủ say thì bất chợt tỉnh giấc bởi tiếng cãi cọ la lối om sòm. Tưởng gì, hóa ra có một cán bộ đêm đến sợ biệt kích, sợ rắn độc, thú rừng... Đã đại tiện ngay đầu võng người khác. Do nhiều lý luận, họ đấu khẩu "bất phân thắng bại", phải kéo đến yêu cầu trường đoàn phân xử! Bệnh thương vợ nhớ con là căn bệnh chung của mọi người trong đoàn và phương thuốc chữa trị hữu hiệu là chuyện tiếu lâm, cần thiết nữa thì kích thích ngọn lửa vì miền Nam ruột thịt.

  Còn biết bao chuyện vui buồn, kì lạ và xúc động trong những ngày anh em đoàn 707 hành quân xuyên rừng Trường Sơn ngày ấy. Nếu ghi chép được hết mọi chuyện lớn nhỏ thấm đậm tình cảm đồng chí đồng đội thì sẽ có một tập sách gồm những bài ký sự trường thiên sinh động và hấp dẫn.

  Gặp muôn ngàn gian khổ, các cán bộ, chiến sỹ kiên trung đã không bị quật ngã. Cùng với chiếc gậy Trường Sơn, sau 4 tháng 15 ngày, Đoàn 707 đã vào tới đích là trạm T14 ở suối Dây, sông Tha La (chân núi Bà Đen tỉnh Tây Ninh).

  Từ đầu năm 1965, qua các chiến dịch ở các chiến trường, anh em trong Đoàn 707 đã thể hiện là một tập thể anh hùng, có tinh thần ngoan cường dũng cảm trên mọi mặt công tác và chiến đấu. Một số đồng chí đã hy sinh anh dũng như đồng chí Đoàn Mạnh Sấn quê miền Bắc, hy sinh ở Dầu Tiếng năm 1965; đồng chí Huỳnh Thìn quê Tiền Giang, đồng chí Mười Trí quê Sài Gòn, về Sư đoàn 5, hy sinh ở khu vực quốc lộ 2 Đồng Nai, đồng chí Phước (Chuột) hy sinh trong trận chống càn Chen La 2 trên đất Cam-pu-chia và đồng chí Khánh Trường, Võ Văn Thời, Nguyễn Văn An quê Tiền Giang cũng đã hy sinh anh dũng...

 Trong 30 năm gần đây, có đồng chí qua đời vì bệnh tật như đồng chí Đỗ Mạnh Thứ, có đồng chí tuổi cao sức yếu gặp bệnh hiểm nghèo.

  Hàng năm, mỗi lần họp mặt truyền thống, Đoàn 707 chúng tôi lại cùng nhau ôn lại kỷ niệm sâu lắng và thắm đậm tình đồng đội, an ủi động viên cổ vũ lẫn nhau, mong cùng tiếp tục giữ gìn truyền thống và dũng khí của chiến sĩ Đoàn 707 từng vượt Trường Sơn thắng lợi. Ngày nay còn sống và làm việc, phải cố gắng cống hiến phần còn lại của đời mình cho sự nghiệp chung của quân đội và nhân dân.

  

 


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 18 Tháng Tám, 2011, 09:13:32 PM
  Cuối năm 1964, tôi được Bộ Tư lệnh Miền phân công về công tác ở Phòng Tham mưu. Một lần đi chiến dịch ở Dầu Tiếng, đêm nằm nói chuyện với đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh Quân giải phóng Miền. Đồng chí thăm hỏi quá trính công tác và nguyện vọng cá nhân. Tôi nói, tôi từ chiến sĩ bộc phá đi lên, sinh ra có sở trường và sở thích là trực tiếp chiến đấu. Nay vào chiến trường, tôi có một nguyện vọng duy nhất được xuống đơn vị chứ không hề muốn làm cán bộ phòng ban. Tôi đề nghị đồng chí cho tôi xuống đơn vị nào, địa phương nào, mặt trận nào cũng được.

  Nhờ vậy, ngay sau chiến dịch Dầu Tiếng, đồng chí Trần Văn Trà cho tôi về ngay Trung đoàn 3, Sư đoàn 9.
  Như vậy là đã 10 năm kể từ ngày trực tiếp dẫn đại đội "đầu trọc" đánh đồi Độc Lập, Bản Kéo, Mường Thanh, nay tôi được trực tiếp chỉ huy cả trung đoàn bộ binh đánh thẳng vào các trận tiền của giặc Mỹ. Mười năm ấy là chặng đường dài, tôi được Đảng, quân đội rèn luyện, giáo dục rất nhiều.

  Lúc tôi đi B, vợ ở nhà sinh hạ thêm cháu trai Lê Anh Dũng. Đằng đẵng xa gia đình, xa quê hương 10 năm, tôi lăn lộn mỏi nẻo đường chiến trường cam go, máu lửa, đối mặt với quân thù.

  Vợ tôi, người đàn bà xuất thân từ nông thôn, vốn dĩ chất phát, hiền thục, đã phải cố gắng rất nhiều, qua bao năm tháng khó khăn cực nhọc ở hậu phương, nuôi dạy 3 con nhỏ và phụng dưỡng mẹ già. Nhờ vậy, sau ngày đất nước thống nhất, gia đình tôi được xum họp đầy đủ. Đó là công lao của người vợ đảm đang mang lại cho anh bộ đội Cụ Hồ. Trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, những người mẹ anh hùng, những người vợ chung thủy, giỏi giang đã làm tròn phận sự thiêng liêng, cao cả của mình để góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

  Họ xứng đáng được thưởng 8 chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu ban tặng: ANH HÙNG - BẤT KHUẤT - TRUNG HẬU - ĐẢM ĐANG.



                                     VI. TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ.


  Năm 1964, tôi vừa tròn 35 tuổi, được Bộ điều vào B2. Sau khi thành lập Sư đoàn 9 ở suối Nhung ( Phước Thành), tôi được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng một trung đoàn. Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9 là đồng chí Hoàng Cầm, chính ủy là đồng chí Nguyễn Văn Tưởng, tức Hai Chân. Anh Tưởng tôi không thật rành nhưng anh Hoàng Cầm tôi đã nghe tiếng từ Điện Biên Phủ. Hồi ấy, khi tôi là "đại đội trưởng đầu trọc" trong Sư đoàn 308 thì anh là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 209, Sư đoàn 312. Chính anh chỉ huy giải phóng Him Lam, tạo thế cho Trung đoàn 88 (Sư 308) và Trung đoàn 165 (Sư 312) giải quyết đồi Độc Lập. Năm 1963 anh Hoàng Cầm đang làm Sư trưởng Sư đoàn 312 thì được "đi B" bằng đường công khai tới Cam-pu-chia rồi về Nam, làm Sư trưởng Sư đoàn 9 ngay từ lúc mới thành lập và mang tên mới: Năm Thạch. Suốt thời kỳ ở Sư đoàn 9 rồi Quân đoàn 4 (anh Hoàng Cầm làm Quân đoàn trưởng đầu tiên - Tháng 7 năm 1974), tôi đã học tập được nhiều điều ở anh Năm Thạch - Hoàng Cầm và các đồng chí khác. Tham mưu trưởng là anh Nguyễn Thế Bôn. Tôi biết anh Thế Bôn từ lâu. Nay làm cấp dưới trực tiếp của anh cũng dễ làm việc, đặc biệt là khi anh lên làm Sư đoàn trưởng và tôi lên làm Tham mưu trưởng sư đoàn. Anh và tôi cùng máu mê chinh chiến, ham tác chiến chính quy, bài bản và đời thường đều khoái vui vẻ, tiếu lâm, bom đạn ngập đầu vẫn không mất tiếng cười. Năm 1969 tình hình hết sức khó khăn. Anh Bôn ốm rất nặng, dái huyết sắc tố; cấp trên cấp dưới đều lo, cả sư đoàn tình nguyện hiến máu để cứu sư trưởng. Khi thảo luận quyết tâm chiến đấu, anh Thế Bôn rất chú trọng và kĩ tính với bản đồ. Biết tính thủ trưởng cơ quan. Tham mưu, Tác chiến chuẩn bị bản đồ thật công phu nhưng rồi vẫn bị anh bỏ. Có lần, bao nhiêu công sức đổ ra sông ra bể, tôi tức quá, bảo: "Tham mưu mà không vẽ được bản đồ thì làm gì. Thôi, sư trưởng làm luôn cho tiện!". Sau vụ ấy, tưởng anh Tám Bôn sẽ giận, nhưng không, lần sau, thay vì vứt bản đồ đi, anh yêu cầu Tham mưu làm lại.

  Trở lại chuyện về Sư đoàn 9 nhận công tác. Đúng lúc tôi có mặt thì Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 Tạ Minh Khâm được điều về cơ quan làm tham mưu phó. Anh Sáu Khâm là bạn cũ, đích thân tôi xuống trung đoàn nhưng vừa tới nơi thì có điện Tư lệnh Trần Văn Trà gọi về. Tưởng lại phải về làm việc ở cơ quan Bộ Tư lệnh Miền, tôi hoảng hồn. Nhưng không, trên quyết định bổ nhiệm tôi làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 3. Ở đây tôi gặp đồng chí Lê Thanh (chính ủy), anh Chính Hiền, trung đoàn trưởng anh Ba Hồng, trung đoàn phó; sau đó nhận bàn giao trực tiếp của ah Chính Hiền. Vậy là từ đây tôi thực sự trở lại vị trí chỉ huy đơn vị chiến đấu như bấy lâu hằng mong ước. Ở Sư đoàn 9, tôi gặp lại những người quen cũ như các anh Tạ Minh Khâm (Sáu Khâm), Bùi Thanh Vân (Út Liêm), Nguyễn Văn Tưởng (Hai Chân), Nguyễn Văn Quảng (Năm Phòng), Nguyễn Thới Bưng (Út Thới) và Trương Văn Đàn (Năm Đàn) v.v...

  Trước ngày diễn ra trận Bông Trang - Nhà Đỏ các trung đoàn 1, 2, 3 của Sư đoàn 9 đã chuẩn bị chiến trường chờ đón đánh giặc, khi quân ta biết tin Mỹ sẽ đổ mấy lữ đoàn xuống đây để đánh vào chiến khu Đ. Tôi chỉ huy Trung đoàn 3, đồng chí Bùi Thanh Vân (Út Liêm) chỉ huy Trung đoàn 1. Những ngày nhộn nhịp chuẩn bị và bình tĩnh chờ đợi trước khi mở màn chiến dịch, lãnh đạo chỉ huy và chiến sĩ của sư đoàn có dịp tiếp xúc với các nhà báo, các nhà quay phim, các nhạc sĩ, cùng lực lượng văn công xung kích của sư đoàn và của Miền đi chiến dịch. Các anh Phạm Khắc, Hồng Sến , nhà nhiếp ảnh Chí Anh, nhà báo Đinh Phong, Ngọc Anh, Anh Ngọc đều ra sát tiền duyên cùng bộ đội. Tôi đã từng gặp anh Đinh Phong mấy lần. Có lần gặp anh trên đường hành quân, thấy anh chỉ có một chiếc dao găm để tự vệ, tôi rất lo, liền tháo dây lưng đeo khẩu súng ngắn và chiếc bi đông đưa cho anh Đinh Phong. Nhà báo thốt lên: "cám ơn anh". Tôi chúc anh "an toàn, viết tốt". Lúc anh vừa quay đi tôi chợt nhớ trong bình-toong là rượu, vội nói, giọng thân mật: "Này, cho súng nhưng trả lại tớ cái bình-toong".
 
  Với tôi, Đinh Phong là một nhà báo chiến trường xông xáo, sôi nổi, có tài lại vừa là em ruột của bác sĩ Nguyễn Văn Lâm, người đồng đội trong đoàn cán bộ 707 vượt Trường Sơn đi "B" cùng tôi.

  Mãi tới bây giờ, mỗi khi gặp lại Đinh Phong, tôi vẫn nhớ mãi câu chuyện "cho súng, không cho bình-toong rượu" của mình.

  Tôi vào miền Đông Nam Bộ được gần một năm, cũng là lúc quân ta chuẩn bị các trận đánh lớn ác liệt, đối mặt với quân thù trong mùa khô năm 1965-1966. Lúc này kẻ địch đã tăng cường tối đa hỏa lực, đủ cả pháo binh, xe tăng, thiết giáp, không quân chiến lược, kể cả B52.

  Chúng thay đổi thủ đoạn tác chiến, gây cho ta những tổn thất và khó khăn nhất định. Đầu năm 1966, Bộ Tổng tư lệnh điều vào chiến trường B2 những đơn vị thiện chiến như Trung đoàn bộ binh 141, Trung đoàn bộ binh 165 (Sư đoàn 312), đó là những đơn vị lừng lẫy chiến công trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân đội ta.

  Tôi chỉ huy trung đoàn đánh trận dã ngoại Bầu Bàng, sau đó trận tập kích quân Mỹ tại Bông Trang - Nhà Đỏ. Chiến thắng Bầu Bàng để lại trong ký ức tôi những kỷ niệm đáng nhớ. Hồi đó, sau chiến thắng Play Me - Vạn Tường, Bầu Bàng là đòn đánh phủ đầu trực tiếp vào quân đội viễn chinh Mỹ. Sau 3 giờ chiến đấu, chúng tôi đánh thẳng vào sở chỉ huy của cụm đóng quân dã ngoại. Trung đoàn đã thọc sâu đánh trúng vào sở chỉ huy và đài thông tin địch. Bộ đội bất ngờ và dũng mãnh hiệp đồng chia cắt quân địch thành nhiều mảng, làm chúng rối loạn, hoảng sợ. Gần 2000 lính của sư đoàn "Anh cả đỏ" bị thương hoặc bỏ xác nơi chiến trường, 30 xe tăng xe bọc thép bị phá hủy. Đó là lần đầu tiên lực lượng chủ lực Miền đánh trực diện quân xâm lược Mỹ với quy mô lớn nhất, tổ chức hiệp đồng chặt chẽ, thu được thắng lợi vang dội. Cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 9 vô cùng tự hào về chiến thắng Bầu Bàng được vinh dự đi vào thơ chúc Tết của Bác Hồ:
   "Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Play-me, Đà Nẵng"/ Giặc Mỹ leo cao ngày càng thua nặng.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 25 Tháng Tám, 2011, 11:55:01 AM
  Ngày nay những kỷ niệm về Bầu Bàng cũng như Bông Trang - Nhà Đỏ - Dầu Tiếng còn in đậm trong ký ức tôi. Những ngày tháng gian lao, hào hùng nhưng đầy thử thách và khốc liệt trong thời quân ta "tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt:, thắng lợi trong trận Bầu Bàng chứng minh luận điểm "dám đánh Mỹ sẽ tìm ra được cách đánh Mỹ và sẽ thắng Mỹ" mà đồng chí  Đại tướng Nguyễn Chí Thanh từng nêu lên. Ngày 3 tháng 6 năm 1966, Sư đoàn bộ binh 7 ra đời gồm 2 trung đoàn 141, 165, rồi đến giữa năm 1968, trung đoàn 209 vào chiến trường, được về Sư đoàn 7; như vậy là cả 3 trung đoàn của Sư đoàn 312 thời kháng chiến chống Pháp, nay vào chiến trường chống Mỹ lại tập hợp trong đội hình Sư đoàn bộ binh 7 - Sư đoàn Chiến thắng của Miền Đông Nam Bộ. Năm 1967, từ Trung đoàn 3 Sư đoàn 9, tôi được điều động về làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 141 của Sư đoàn 7.

  Đơn vị chúng tôi chuyển về Tây Ninh - Bình Long, chiến đấu trong đội hình của khối chủ lực Miền.

  Miền Đông Nam Bộ, miền đất gian lao mà anh dũng, vang dội chiến công, từ nay lại đùm bọc và nuôi dưỡng thêm những đứa con trung thành và dũng cảm quyết hy sinh chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ Quốc. Đó là những đơn vị chủ lực đã lớn mạnh  như các Sư đoàn 9 - Sư đoàn 7 - Sư đoàn 5, những đơn vị xây đắp nền móng cho sự ra đời của một binh đoàn chủ lực sau này của miền Đông và cả chiến trường Nam Bộ - Binh đoàn Cửu Long - tức Quân đoàn 4 Anh hùng bây giờ.

  Bộ đội được đồng bào chăm lo đùm bọc, yêu thương vô hạn. Tình cảm cao quý xuất phát từ lòng yêu nước thiêng liêng của nhân dân Việt Nam nói chung, của đồng bào các dân tộc ở miền Đông Nam Bộ nói riêng. Trong đạn lửa và bão táp của chiến tranh cách mạng, quân đội ta tồn tại, phát triển và trưởng thành khắp các chiến trường đều nhờ vào lòng dân, dựa vào sức dân và tinh thần đoàn kết quân dân keo sơn như máu thịt.

  Tôi được sống nhiều năm cùng đồng bào đồng chí ở miền Đông Nam Bộ , cũng là người có mặt từ đầu trong đội quân chủ lực Miền, liên tục tham gia chiến đấu trên chiến trường này, nên vô cùng thấm thía. Tôi luôn mang theo lòng tri ân, kính mộ đồng bào các dân tộc ở vùng căn cứ cách mạng anh hùng nơi đây.

  Sư đoàn 7 sau khi thành lập, đã xuất trận chiến đấu trực tiếp với đội quân xâm lược Mỹ. Bấy giờ quân viễn chinh Mỹ trên chiến trường lên tới 30 vạn tên.

  Tập trung 20 vạn quân, Mỹ - ngụy mở cuộc phản công chiến lược lần thứ 2, có tên Át-tơn-bo-rơ đánh vào căn cứ Dương Minh Châu.

  Tiếp theo, chúng mở cuộc hành quân, tổ chức trận càn lớn mang tên Sê-đa-phôn đánh vào Củ Chi, Bến Lức, Bến Súc. Sư đoàn 9 Quân giải phóng đã đập tan mọi kế hoạch của chúng.

  Tháng 2 năm 1967, quân Mỹ mở cuộc càn quét lớn mang tên Gian-xơn Ci-ty. Viên tướng Oét-mo-len (C.Westmoreland) đã huy động 4 5000 ngàn quân lính,11.000 xe cơ giới, 600 máy bay các loại cùng 200 khẩu pháo để tiến công. Dựa vào thế trận để chuẩn bị, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 đã đập tan, làm thất bại hoàn toàn âm mưu tiến công của địch. Đánh bại cuộc càn quét quy mô chưa từng có này, quân dân ta đã làm sụp đổ và phá sản hoàn toàn cuộc phản công chiến lược lần thứ 2 của Mỹ, góp phần to lớn và cơ bản làm thất bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ.

  Cuối năm 1967, và tháng 1 năm 1968, hướng tới cuộc tấn công qui mô lớn vào Tết Âm Lịch năm sau, khắp các chiến trường đều sôi sục. Ở chiến trường B2, khẩu hiệu "Tiến về đồng bằng giải phóng thành phố" càng thôi thúc trong lòng mỗi người. Mặt trận B2 có thêm 2 trung đoàn hỏa tiễn, các đơn vị được bổ sung quân số và súng đạn. Mục tiêu số 1 của cuộc tổng tấn công và nổi dậy là Sài Gòn - Gia Định.

  Đêm rạng sáng ngày 30 tháng 1 năm 1968, là đêm giao thừa Tết Mậu Thân, các chiến trường phát hỏa. Trong lúc các đơn vị đánh lớn và tiến về Sài Gòn, thì nhiệm vụ của Sư đoàn 7 là chốt chặn đường 13, đoạn từ Bầu Bàng - Bến Cát đến đường 16 đi Tân Uyên, nhằm ngăn chăn Sư đoàn bộ binh 1 và Trung đoàn thiết giáp 11 của Mỹ về cứu viện Sài Gòn. Trận chiến đối kháng ở đây cực kỳ ác liệt. Chúng tôi đã đội bom đạn của kẻ thù, tổ chức chốt kết hợp với vận động tấn công, quần nhau với địch. Có một chuyện vui trong chiến dịch này mà đến nay tôi vẫn nhớ như in, đó là Phó Tư Lệnh Quân giải phóng B2, Lê Trọng Tấn xuống kiểm tra. Anh hỏi tôi:

  - Cả hai chiến đoàn nó xuống, cậu lấy gì chặn?

  - Báo cáo anh, phải cắt nó làm nhiều đoạn.

  - Cắt bằng gì?

  Câu hỏi nhằm ngay chỗ bí, nên tôi đành nói thật:

  - Dựa vào lòng dũng cảm hy sinh, cộng với linh hoạt sáng tạo sử dụng lực lượng và hỏa lực đang có trong tay.

  Không ngờ Phó Tư Lệnh truy tiếp:

  - Thằng nào lập kế hoạch này?

  - Báo cáo anh, thằng Miền. Anh chứ ai!

  Đến đay thì anh dịu hẳn đi, tình thương yêu hiện rõ nơi ánh mắt:

  - Không, mình ở hướng Đông cơ. Nhiệm vụ trên giao, cố gắng phấn đấu.

  Khi làm Đại đội trưởng, Đại đội 211, tôi đã ước có ngày ngồi vào ghế sư trưởng như anh Lê Trọng Tấn. Mừng chiến thắng Điện Biên ở Mường Thanh ngày 13 tháng 5 năm 1954, tôi không chỉ thấy anh mà còn thấy cả Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Bây giờ tôi đã là Sư đoàn trưởng, anh là Phó Tư Lệnh Miền. Trước Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), gặp tôi ở Thành Phố Hồ Chí Minh, Đại tướng Lê Trọng Tấn là Tổng Tham mưu trưởng còn tôi là Phó Tham mưu trưởng tiền phương Bộ Quốc phòng . Đồng chí Lê Trọng Tấn là niềm tự hào của Quân đội nói chung và của Sư đoàn 312 nói riêng.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 31 Tháng Ba, 2012, 02:32:27 PM
 Quay lại năm 1968, sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, tôi được bổ nhiệm Tham mưu trưởng Sư đoàn 7 và có một kỷ niệm nhớ đời ở Trung đoàn 209 - đó là trận Núi Cậu (Dầu Tiếng). Nhận lệnh xuống giúp 209, tôi đã không thường xuyên tự dặn mình rằng mới ở Bắc vào, chưa có kinh nghiệm chiến trường, dễ xảy ra bố phòng không khoa học, cảnh bị thiếu chu đáo. Tối hôm đó cán binh đều chủ quan, liên hoan một bữa rau càng cua xào thịt heo cuốn bánh tráng rồi lăn ra ngủ như chết bởi vừa trải qua cuộc hành quân chiến đấu căng thẳng. Rạng sáng, nghe tiếng động cơ thì xe tăng địch đã lù lù trước mặt. Sư đoàn 4 Mỹ tấn công rồi! Tiểu đoàn 7 dính. Trong thế bị động, đơn vị phải rút. May mà chỉ huy Mỹ không gan, nếu vào tôi, tôi sẽ dùng kế Khổng Minh cho Quan Công phục binh ở Hoa Dung tiểu lộ, nhất định Trung đoàn 209 sẽ ... bể!

 Về nơi an toàn, tôi kiểm tra, tổng hợp rồi báo cáo Sư đoàn trưởng Nguyễn Thế Bôn, Chính ủy Vương Thế Hiệp, xin bổ sung quân số, vũ khí đạn được và phương tiện thông tin liên lạc để tổ chức đánh Mỹ ngay. Chắc sợ tôi cay cú làm ẩu mà anh Tám trả lời cả 3 thứ đều không có. Tôi bốc máu nóng lên đầu nhưng vẫn kịp nhớ mình vừa rút chạy và anh Tám rất nguyên tắc, đành đấu dịu bằng câu nói đùa: " Sư trưởng thêm cái lắc "đặc sản" nữa cho đủ "bốn lắc".

 Kỷ niệm nhớ đời thứ hai, cũng năm 1968, là với Trung đoàn 141, khi tập kích quân Mỹ ở Lộc Ninh. Chính ủy Vương Thế Hiệp gọi tôi lên nói, có một tiểu đoàn Mỹ đang hành quân dã ngoại ở Lộc Ninh. Sư đoàn định sử dụng 3 tiểu đoàn Quân giải phóng (Trung đoàn 141) tiêu diệt nó. Trung đoàn trưởng Doãn Khiết ốm, tôi xuống chỉ huy thay. Tôi vui ra mặt, nhận lệnh đi liền, trước khi đi tôi không quên nhắc đồng chí Nhung, trợ lý tác chiến mang thêm bình-toong rượu. Tôi có tật đánh nhau hay nhấp ngụm nước cho mát giọng và nhai vài búp ổi non cho tỉnh. Thói quen thứ hai là đi với trinh sát đến tận thực địa quan sát rồi mới hạ quyết tâm.

 Lần này cũng vậy, mắt nhìn rõ Mỹ đào chiến hào, giao thông hào đỏ lừ ở chân đồi cách con suối không xa. Về chỗ tập kết quân, tôi gọi điện cho Sư đoàn trưởng và Chính ủy: "Tôi sẽ bóp tiểu đoàn Mỹ này". Đêm sắp đến giờ G. (Giờ nổ súng tập kích), để chắc ăn, tôi cho trinh sát lên kiểm tra trước. Trinh sát báo cáo không có địch. Tôi thót tim, khi biết bị lừa thì đã muộn. Bộ đội đồng loạt ào lên, kẻ bắn găm người ném lựu đạn hô xung phong và lướt tới, nhưng đánh vào chỗ không người. Hóa ra quân Mỹ đã bí mật lội qua nằm im bên này suối. Tôi ra lệnh rút. Pháo địch bấy giờ mới lên tiếng chặn đường mòn. Lần này nữa, tôi thấy chỉ huy Mỹ không biết đón lõng. Trên đường rút, tôi vừa xấu hổ vì đã cẩn thận thế còn bị địch lừa vừa uất vì qua trăm trận còn dại, liền ngửa cổ nốc cạn bi đông rượu. Về sở chỉ huy sư đoàn, Chính ủy nhìn thấy quay ngay mông lại. Tôi im lặng sẵn sàng chịu lôi đình ... Tôi không sợ lôi đình và biết rõ trách nhiệm của mình. Mấy ông bạn trong hội tiếu lâm trêu: "Nam Phong định bóp d. Mỹ không ngờ bị nó bóp lại, đau há miệng mà không dám kêu". Thật chỉ muốn chui xuống lỗ nẻ!

 Là người lính trận mạc, sau này tôi vẫn thường tranh thủ thời gian nghe đài, đọc các sách, xem phim nói về hai cuộc chiến tranh giành độc lập và cuộc chiến bảo vệ Tổ Quốc - làm nghĩa vụ quốc tế xem họ viết gì. Có những "tác giả" cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử cũng có những cây bút non nớt, thiếu vốn sống nên tác phẩm còn hời hợt. Lương tâm tôi nổi giận, phản ứng mạnh mẽ khi có kẻ bôi nhọ người lính chúng tôi và tâng bốc kẻ thù, viết sai bản chất cuộc chiến và cũng khó chịu khi có người nói lính Pháp và lính Mỹ đều kềnh càng, ngớ ngẩn, lính cổ da Mỹ (lính thủy quân lục chiến) công tử bột. Quân đội Mỹ chỉ biết ăn đồ hộp, nhai kẹo cao su và chờ trực thăng chở nước từ Hô-nô-lu-lu (Honolulu) sang làm mưa để tắm thôi, chẳng biết đánh chác gì. Cả Mỹ và Ngụy, chỉ huy thì dốt mà lính thì nhát vân vân và vân vân. Còn ta, dùng chông tre, ong vò vẽ, phân trâu cũng thắng được địch.

 Trong chiến tranh, có thể ta phải tô đậm mảng này làm nhạt mảng kia để động viên sĩ khí, nhưng cũng phải chừng mực. Nay chiến tranh đã lùi xa, người cầm bút hãy cố gắng tái tạo cuộc chiến như nó vốn có. Dù thế nào cũng phải thừa nhận, thế kỷ trước, do sự sắp đặt oái oăm của lịch sử, Việt Nam - Lào - Cam-pu-chia, những đất nước không rộng người không đông, kinh tế kém phát triển, đã phải đụng độ với hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Pháp là thực dân cáo già, tham lam còn Mỹ là một đế quốc cực kỳ giàu có, hiện đại, bài bản, thực dụng và ... không kém phần ranh ma. Có ý kiến cho rằng quân Mỹ rất máy móc, điều đó chỉ đúng với bọn sỹ quan, binh lính mới sang Việt Nam. Thực ả chỉ huy Mỹ khá thông minh được đào tạo tốt, thực dụng, rút kinh nghiệm và thay đổi cách đánh, thay đổi thủ đoạn nhanh. Quân đội rất cơ động, phản ứng mau lẹ, hỏa lực phát huy uy lực kịp thời.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 19 Tháng Mười, 2012, 12:41:37 PM
 Với một đối thủ mạnh như vậy, làm sao ta thắng - đó là một bài toán cực khó. trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, nhất là chống Mỹ, từ các đồng chí trung ương đến người dân thường, từ các tư lệnh người chiến sĩ đã chung sức chung lòng tìm đáp số. Tôi nghĩ, Đảng, Bác Hồ giỏi ở chỗ tập trung trí tuệ của toàn dân tộc để tìm ra lời giải để thắng Pháp và thắng Mỹ. Không phải ngay khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam trực tiếp tham chiến. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có được khẩu hiệu "nắm thắt lưng Mỹ mà đánh" hay "tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt", nhưng lúc đó anh đã nêu được phương châm chỉ đạo rất sáng suốt: "Cứ đánh Mỹ đi rồi sẽ tìm ra cách đánh". Và khi một chiến sĩ đã trực tiếp đánh được Mỹ rồi, trả lời Đại tướng: "Đánh Mỹ phải đánh thật gần, luôn bám chặt lấy chúng để hạn chế được phi pháo địch" thì Đại tướng Nguyễn Chí Thanh "chớp" ngay được đáp án: "Nắm thắt lưng Mỹ". Tôi cũng như vậy, (dĩ nhiên ở tầm thấp hơn), từ thực tế đánh nhau với Mỹ, tôi tìm ra cách tránh chỗ mạnh của họ. Phi pháo Mỹ là chỗ mạnh đáng gờm, bởi nó nhanh, chính xác và dữ dội như bão lửa. Để tránh phi pháo Mỹ (và cả ngụy), đánh mà san bằng được trận địa thì rút nhanh theo con đường bất ngờ nhất. Đánh không dứt hết thì không rút ngay, dừng lại ép sát, đợi phi pháo địch dập nát chung quanh và đường về rồi mới rút. Nhờ hiểu được sức mạnh và thói quen của Mỹ mà nhiều phen tôi đã "dĩ dật đãi lao". Lại nữa, nên hiểu rằng đánh Mỹ là phải huy động tổng lực của toàn dân tộc, có dùng chông tre, ong vò vẽ, muỗi mòng, phân trâu vv... nhưng không thể thiếu Mích, SAM, xe tăng, pháo lớn.

 Ngoài sức mạnh quân sự còn phải huy động tối đa ưu thế chính nghĩa của ta trong hoạt động chính trị, ngoại giao; huy động sức mạnh của phe Xã hội chủ nghĩa và loài người tiến bộ, kể cả nhân dân Pháp và Mỹ.

 Đánh giá thấp kẻ thù là tự hạ thấp mình.

 Mặt khác, nói "trăm trận trăm thắng" phải nhớ gắn bó với vế trước trong câu nói của nhà quân sự thiên tài Tôn Vũ: "Biết người, biết mình", "Tri bỉ tri kỉ" mới có "Bách chiến bách thắng". Ta thắng được Pháp, được Mỹ vì ta đánh giá đúng mặt yếu và cả mặt mạnh của họ. Tôi nhớ hồi đó, nói về mặt mạnh của Mỹ ta thường thêm "mặt mạnh tạm thời" cho kín kẽ. Người bình luận nói vậy rồi còn phân tích sâu thêm: Nếu ta khéo điều hành thì sẽ chuyển hóa mặt mạnh của Mỹ thành mặt yếu của chúng. Tài thật!

 Cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân thực sự đã làm rung chuyển nước Mỹ, buộc lầu Năm góc phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán và tổng thống Lin-đơn Giôn-Xơn (Lydon B.Johnson) không ứng cử nhiệm kỳ hai. Thắng lợi Xuân 1968 có tầm chiến lược thì đã rõ. Tuy vậy, đánh giá cho thật khách quan, khoa học thật đầy đủ và toàn diện nó là cả một vấn đề, cần phải có thời gian và sự đầu tư về trí tuệ. Tôi có may mắn được dự nhiều cuộc hội thảo "Xuân 68" ở nhiều cấp, trong lòng đau đáu một lỗi lo, thời gian trôi mau, nhiều người góp phần quan trọng chủ chốt làm lên chiến thắng Mậu Thân và những chứng nhân lịch sử khác sẽ vê cõi vĩnh hằng ...

 Đến cuối tháng 4 năm 1970, Tổng thống mới của Mỹ là Ních-xơn (R.Nixon) ra lệnh huy động 34% lực lượng quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam, tiến công trên toàn tuyến biên giới Việt Nam - Camphu-chia.

 Sư đoàn 7 chúng tôi cùng Sư đoàn 9 phối hợp với các đơn vị chủ lực cấp lữ đoàn của bạn, cùng đồng bào các dân tộc Camphu-chia, chủ động và kiên quyết phản công, tiến công địch, loai khỏi vòng chiến đấu 4 vạn tên, giải phóng một vùng rộng lớn gồm hàng chục tỉnh sát biên giới, tạo nên một hậu phương vững chắc rộng lớn cho cách mạng Việt Nam và Camphu-chia.

 Tuy bị thất bại nặng nề, đế quốc Mỹ không chịu từ bỏ dã tâm xâm lược. Đầu năm 1971, dưới sự chỉ huy và chi viện của Mỹ, cùng một lúc quân địch mở 3 cuộc hành quân chiến lược:

 - Đường số 9 Nam Lào.

 - Tây Nguyên.

 - Đông Bắc Cam-pu-chia.

 Các sư đoàn 9, Sư đoàn 5, Sư đoàn 7 lại chặn đánh địch trên toàn tuyến, từ đường 22 lên đường 7 đi xuống Chúp, đường liên tỉnh số 2 đi Xơ-nun, đánh bại cuộc hành quân lên vùng đông Bắc Cam-pu-chia của quân ngụy Sài Gòn.

 Chúng ta rút kinh nghiệm kịp thời, lập cơ quan chỉ huy tiền phương (thống nhất) của Bộ Tư lệnh Miền (vào ngày 17 tháng 3 năm 1971) mật danh là "Đoàn 301". Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ, một cơ quan chỉ huy cấp quân đoàn được thành lập. Lực lượng Đoàn 301 gồm Sư đoàn 9, Sư đoàn 7, Sư đoàn 5 và Trung đoàn pháo binh 28, một tiểu đoàn súng máy phòng không và các đơn vị binh chủng phục vụ.

 150 ngày đêm trong chiến dịch Nguyễn Huệ (đường số 13) để lại trong tâm khảm tôi những hình ảnh và kỷ niệm sâu đậm của một đời chiến trận.

 Trung đoàn 3 Sư đoàn 9 tăng cường cho Sư đoàn bộ binh 5, tiêu diệt một chiến đoàn thiết giáp ngụy ở bắc Lộc Ninh. Sư đoàn bộ binh 5 tiêu diệt chiến khu Lộc Ninh. Trung đoàn 209 thuộc Sư đoàn bộ binh 7 tăng cường cho Sư đoàn 9 tiêu diệt chiến đoàn 52 ngụy ở ngã ba Đồng Tâm.

 Tháng 3 năm 1972, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam.

 Ở miền Đông Nam Bộ, chiến dịch Nguyễn Huệ bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 năm 1972. Sư đoàn 9, Sư đoàn 7 và sư đoàn 5 mở hướng tiến công chủ yếu, đột phá tuyến phòng thủ của địch trên đường 13, sau khi Sư đoàn 5 cùng Trung đoàn 209 của Sư đoàn 7 diệt gọn bọn địch đóng tại Đồng Tâm, giải phóng huyện Lộc Ninh. Đến tháng 5 năm 1972, quân địch tăng cường chi viện và tiếp tế cho An Lộc, chúng phản kích quyết liệt để giải phóng đường 13. Sư đoàn 5 giải phóng Lộc Ninh, Trung đoàn 209 (Sư 7) diệt chiến đoàn 52 tại Hồng Tâm, Sư đoàn 9 làm lực lượng dự bị, đã đánh chiếm Hớn Quảng.

 Bộ Tư lệnh Đoàn 301 quyết định chuyển từ tiến công sang bao vây, kiềm chế địch ở An Lộc, tổ chữ đánh xuống trung tuyến, dựng trận địa chốt chặn trên đường 13, không cho địch cứu nguy cho An Lộc. Nhiệm vụ tổ chức chiến đấu từ thị xã Bình Long tới Chơn Thành, dài 25km được giao cho Sư đoàn 7. Khi tôi thay cho Sư đoàn trưởng Đàm Văn Ngụy, lên Bộ Tư lệnh Miền báo cáo quyết tâm, Tư lệnh trưởng Trần Văn Trà nghe xong, nói: "Nhiệm vụ chốt chặn đường 13 rất quan trọng và rất khó khăn. Tớ mà có một sư đoàn nữa sẽ giao cho cậu".

 Trong cuộc đời chiến trận kéo dài gần 30 năm của tôi có biết bao kỷ niệm, bao dấu ấn hào hùng oanh liệt lẫn với bao hình ảnh bi tráng trên mọi chiến trường.

 Những đồng đội cùng vào sinh ra tử, những anh hùng dũng sĩ đã lẫm liệt hy sinh trong những giờ phút khốc liệt của chiến tranh.

 Từ Điện Biên Phủ năm xưa xuống đến đường 13 hôm nay, tôi đã trải qua gần 20 năm rèn luyện thử thách, vượt qua mọi gian nguy, hiểm nghèo, cùng đồng bào đồng chí xốc tới ...

 Giờ đây, trên đường 13 máu lửa, sư đoàn chúng tôi sẽ đối mặt với một đội quân hung bạo, được trang bị vũ khí hiện đại và tối tân.

 Đây là những trận đánh kéo dài, liên tiếp, với cường độ bão lửa to lớn, giằng co, khốc liệt ...


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 19 Tháng Mười, 2012, 02:31:51 PM
 Nó khắc sâu vào tâm khảm tôi nhiều kỷ niệm, đồng thời để lại cho tôi nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu về thực tế chỉ huy chiến đấu cũng như lý luận về nghệ thuật tác chiến của chiến tranh nhân dân. Tôi là Sư đoàn trưởng của Sư đoàn 7. Đơn vị chốt chặn chúng tôi trên chiến trường sôi sục, rực lửa ấy có ý nghĩa rất đặc biệt. Đây là tuyến bàn đạp cực kỳ quan trọng về mặt chiến lược cũng như giá trị tác chiến, chiến thuật. Nếu giữ được, quân ta có thể phát triển xuống trung tuyến; nếu mất, địch sẽ có cơ hội để chiếm lại các vùng giải phóng Lộc Ninh, Tây Ninh, Bình Long, Phước Long.

 Vì vậy, quân địch đã huy động 3 sư đoàn bộ binh (21,25,5), 2 lữ đoàn dù, 3 lữ đoàn biệt động quân, 2 trung đoàn thiết giáp cùng hàng trăm khẩu pháo, hàng ngàn lượt máy bay cùng phi pháo luân phiên và liên tục phản kích hòng đẩy chúng tôi ra khỏi trận địa chốt chặn.

 Có lúc quân địch đã chiếm được một số chốt cô lập, gây tổn thất cho các chốt còn lại. Nhưng với ý chí kiên cường, lòng dũng cảm và hy sinh, Sư đoàn 7 đã chiến đấu quyết liệt, giành giật và giữ vững từng tấc đất của trận địa, ngoan cường, đứng vững trong các chốt hầm chữ A dưới mưa bom bão đạn của quân thù.

 Khi cuộc chiến đấu đang diễn ra rất quyết liệt thì ngày 15 tháng 8 năm 1972, tôi được giao nhiệm vụ Sư đoàn trưởng thay cho anh Đàm Văn Ngụy. Đồng chí Nguyễn Hải Bằng được bổ nhiệm làm Sư đoàn phó, đồng chí Nguyễn Văn Thái được bổ nhiệm làm Phó Chính ủy Sư đoàn 7 bộ binh.

 Hơn 150 ngày đêm, Sư đoàn 7 Anh Hùng, Sư đoàn 9 Anh Hùng và Sư đoàn 5 - cả 3 đều lập thành tích kỳ diệu, nêu cao tấm gương sáng chói về tinh thần, chiến đấu ngoan cường, sự hy sinh oanh liệt, dũng cảm của quân đội cách mạng Việt Nam.

 Ngọn cờ Quyết chiến quyết thắng rách tươm trong đạn lửa, thấm máu bao cán bộ, chiến sĩ ta vẫn ngạo nghễ dương cao cho đến ngày kết thúc chiến dịch thắng lợi.

 Tổng kết chiến dịch, Sư đoàn 7 được thưởng cờ "Quyết chiến quyết thắng" có gắn ảnh Chủ Tịch Hồ Chí Minh; cũng giống như  năm 1954 Sư đoàn 312 được trao cờ Quyết chiến quyết thắng có gắn ảnh Bác  ở mặt trận Điện Biên Phủ.

 Tôi bồi hồi nhớ lại những ngày tháng gian khổ và oanh liệt đó. Hình ảnh oai phong, dũng mãnh của hàng trăm, hàng ngàn cán bộ dũng cảm, chiến sĩ thân quý đã chiến đấu kiên cường bất khuất. Tôi càng vô cùng thương tiếc và nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ của đơn vị đã hy sinh trong chiến cuộc đường 13 năm 1972. Cũng trong những ngày đỏ lửa ấy, đồng chí Cao Xuân Tới, chiến sĩ nuôi quân, được phong tặng danh hiệu Anh Hùng của lực lượng vũ trang nhân dân.

 Hàng năm, cứ vào tháng 7 là tôi về thăm đường 13 - viếng mộ chiến sĩ, thăm đài liệt sĩ và bia tưởng niệm, khắc sâu chiến công của Sư đoàn 7 trên chiến trường năm xưa ở Tầu Ô, Xóm Ruộng.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 19 Tháng Mười, 2012, 03:26:56 PM
                                                                             VII. KỶ NIỆM  
                                                                               VỀ QUÂN ĐOÀN 4 ANH HÙNG.



 Tháng 10 năm 1973, hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung ương Đảng họp, bàn thực hiện phương hướng và nhiệm vụ của Cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới.

 Sau hội nghị đó, nghị quyết được triển khai. Hai Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 xuống Tây và Đông  đường 13 để xây dựng thế trận mới ở vùng trung tuyến, vùng căn cứ. Chiến trường nhiều năm tôi hoạt động, chiến đấu và quen thuộc.

 Bấy giờ quân Mỹ đã rút, tình thế đã khác trước. Ta và địch (ngụy quyền, ngụy quân) đóng xen kẽ ở thế da báo. Chúng tôi phải gấp rút tổ chức dân quân du kích, xây dựng lực lượng tự vệ, củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, để sau đó từ thế phản công đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm, bộ đội ta phải bắt đầu chuyển qua tiến công mở rộng vùng giải phóng.

 Đầu năm 1973, trước khi đi đến ký kết hiệp định Pa-ri, ở miền Đông Nam Bộ, Mỹ-ngụy tiếp tục đưa quân đi phản kích hòng lập lại cân bằng thế trận, vì ở một số địa phương quan trọng chúng không còn chỗ đứng chân. Chúng âm mưu đẩy khối chủ lực của ta ra khỏi địa bàn vùng tam giác Chơn Thành - Bến Cát - Dầu Tiếng.

 Trận tác chiến mang tính chiến thuật của Dầu Tiếng hồi đó để lại trong ký ức tôi những hình ảnh sinh động, nổi bật là tính sáng tạo của Sư đoàn 7 trong khi thực hiến chiến thuật phản kích, vây ép địch. Lúc này, quân địch huy động toàn bộ Sư đoàn 5, Chiến đoàn 46 (Sư đoàn 25), các liên đoàn biệt động của Quân đoàn 3 (ngụy), cùng các cụm pháo địch của các sư đoàn, với sự yểm trợ của không quân, để tiến công ta.

 Chúng chia làm 4 mũi:

 - Chiến đoàn 8 từ Bến Cát đánh vào vùng Chơn Thành - Bến Cát - Dầu Tiếng.

 - Chiến đoàn 7 cùng lữ đoàn tâng thiết giáp ở Bầu Bàng sẵn sàng đưa một mũi vào vùng tam giác.

 - Chiến đoàn 46 ở Dầu Tiếng, từ hướng tây bắc đánh xuống. Chúng dùng thủ đoạn "áp sát trước mặt, ép chặt bên sườn, bịt kín phía sau để có thể tiến công vững chắc". Chúng muốn tiêu diệt lực lượng quân chủ lực ta và đẩy Sư đoàn 7 chúng tôi lên hướng Minh Hòa, Minh Thạnh.

 Ở hướng Sư đoàn 7, quân địch dùng Chiến đoàn 8 (Sư đoàn 5) ngụy được xe tăng thiết giáp yểm trợ đánh thẳng vào Rạch Bắp - Bến Súc - Thanh An. Chúng tách tiểu đoàn 3 ra khỏi đội hình, hành quân từ Bến Tranh băng lên.

 Theo dõi quá trình hành quân của địch, tôi cùng Bộ Tư Lệnh sư đoàn và đồng chí Đỗ Mười Thứ, tham mưu trưởng và các đồng chí Vũ Việt Hồng, Trung đoàn trưởng trung đoàn 209, Nguyễn Văn Lối, Trung đoàn trưởng trung đoàn 141cunfg phân tích, phán đoán và quyết định phải dụ địch vào một trảng trống trên hướng hành quân của chúng để tiêu diệt.

 Thực hành kế sách đó, chúng tôi đưa tiểu đoàn 1 Trung đoàn 141 cùng 2 Tiểu đoàn 8 và 9 của Trung đoàn 209 bám sát 2 bên sườn đội hình Chiến đoàn 8 (ngụy), buộc chúng phải đi vào khu vực dự kiến. Sau đó bí mật chuyển 2 tiểu đoàn của trung đoàn 209 tách khỏi đội hình, vòng lên phía bắc trảng trống ở Đồng Tranh (Dầu Tiếng), bố trí đội hình đón lõng đó, sẵn sàng tiêu diệt địch. Dùng Trung đoàn 165 bao vây, đón lõng.

 Đêm 18 tháng 1, địch ném bom rải thảm khu vực phía bắc trảng trống mở đường cho Chiến đoàn 8 rút chạy. Nhưng chúng đã lọt vào vòng vây hiểm yếu của quân ta.

 5 giờ sáng ngày 19 tháng 1 năm 1973, tôi lệnh cho các đơn vị đồng loạt tiến công vào đội hình Chiến đoàn 8 ngụy.

 Bộ đội 2 trung đoàn 209 và 141 linh hoạt dùng 12 khẩu đại liên 12,8 ly hạ nòng quét thẳng vào quân địch, đồng thời xung kích xung phong mãnh liệt, tiến công bất ngờ, chớp nhoáng. Quân địch không kịp chống trả, bị tiêu diệt ngay tại trận từ những phút đầu.

 Sau 5 giờ chiến đấu, quân ta tiêu diệt hoàn toàn Chiến đoàn 8, tiêu diệt hai tiểu đoàn và ban chỉ huy nhẹ của chúng, bắt sống 500 tên, thu toàn bộ vũ khí, khí tài và nhiều đồ dùng quân sự.

 Trận đánh đó, nhờ mưu trí, linh hoạt, sáng tạo trong cách đánh và dũng cảm trong chiến đấu, Sư đoàn 7 đã lập công hiển hách, được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì. Phá tan cuộc hành quân đánh chiếm của giặc lần này, Sư đoàn 7 góp một phần công lao có ý nghĩa chính trị quan trọng đối với mặt trận ngoại giao trong thời kỳ chuẩn bị ký kết hiệp định đình chiến Pa-ri (1973).

 Đó là một bài học quý giá cho bản thân tôi về: "Vận dụng linh hoạt và sáng tạo nghệ thuật chỉ huy tác chiến chiến thuật vận động tấn công".

 Hiệp định Pa-ri ký kết là một thắng lợi to lớn của nhân dân và quân đội ta. Quân Mỹ và chư hầu buộc phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam; quân ta vẫn được duy trì. Ta có một hậu phương liên hoàn từ Nam ra Bắc. So sánh lực lượng trên chiến trường thấy rõ là rất có lợi cho ta. Thế và lực của quân ngụy tiếp tục bị suy yếu. Cục diện chiến trường có nhiều thay đổi lớn và nhanh chóng. Chiến tranh như đã có dấu hiệu bước vào giai đoạn cuối.

 Đến tháng 10 năm 1973, Bộ Chính trị đã phê chuẩn việc thành lập các quân đoàn chủ lực theo dự án của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng.

    


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 19 Tháng Mười, 2012, 08:03:20 PM
 Ngày 20 tháng 7 năm 1974, đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Cục, chính thức công bố thành lập Quân đoàn 4.

 Hơn 30 năm đã trôi qua, tôi còn nhớ như in không khí trang trọng, thiêng liêng cùng tình cảm phấn khởi chan chứa tình đồng chí chiến đấu trong buổi lễ dưới ngôi nhà lợp lá trung quân bên suối Bà Chiêm năm xưa.

 Các đồng chí trong Bộ tư lệnh Miền: Phạm Hùng, Trần Văn Trà, Lê Văn Tưởng và đồng chí Tham mưu trưởng Nguyễn Minh Châu, chủ nhiệm chính trị Trần Văn Phác, chủ nhiệm hậu cần Bùi Phùng đều có mặt tại hội trường.

 Đồng chí Hoàng Cầm được thụ phong Tư lệnh Quân đoàn.

 Sư đoàn 9 có các đồng chí Võ Văn Dần và Tám Tùng.

 Sư đoàn 7 có tôi (Lê Nam Phong) và anh Phan Liêm.

 Sư đoàn 5 có anh Bùi Thanh Vân và anh Ba Cúc.

 Các ngành chuyên môn có đồng chí Hai Phong (đặc công), Nam Lê (pháo binh), đồng chí Xuyên Khung và Bảy Triết (công binh), Tư Hải (thiết giáp).

 Không khí buổi lễ thành lập Quân đoàn tràn đầy niềm phấn khởi, xúc động và tự hào. Mọi người ôm lấy nhau ôn lại những kỷ niệm sâu nặng của chặng đường 10 năm gian khổ, vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng chủ lực để có được ngày hôm nay. Ước mơ bao nhiêu năm để bây giờ chúng ta có được một đơn vị quân đoàn chủ lực hùng mạnh ngay tại chiến trường trọng điểm: Miền Đông Nam Bộ.

 Chúng tôi thăm hỏi nhau, hỏi thăm những đồng chí đồng đội hiện còn ở các đơn vị, cùng chia sẻ sự tiếc thương đối với những đồng chí đã hy sinh trong chặng đường 10 năm đánh Mỹ. Và tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ ở tất cả các đơn vị và các binh chủng hợp thành trên chiến trường Nam Bộ, mà hôm nay không còn nữa!

 Chúng tôi nắm tay nhau hẹn thề quyết thắng. Từ ngày hôm đó, Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long), đơn vị chủ lực cơ động gồm nhiều đơn vị và binh chủng hợp thành ra đời trong thế trận mới của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở miền Nam nước ta.

 Sau hội nghị, chúng tôi trở về sư đoàn, làm nhiệm vụ tổ chức huấn luyện nâng cao trình độ tác chiến và kỹ thuật chiến tranh với trang bị hiện có. Đặc biệt tổ chức nâng cao trình độ về nguyên tắc đánh địch trong công sự vững chắc, cách đánh vây, lấn, tấn diệt ..., tiến lên học cách đánh hiệp đồng binh chủng v.v ...

 Quân đoàn đã chỉ đạo cho Sư đoàn 7 chúng tôi diễn tập phương án đánh chiếm chi khu quân sự Đồng Xoài. Lấy căn cứ dã chiến Mỹ ở Bà Chiêm làm thao trường.

 Sau khi ổn định một bước về tổ chức, biên chế, tăng cường trang bị, bồi dưỡng trình độ chính trị cho các cấp cán bộ, chiến sĩ, Sư đoàn 7 lại ra quân cùng các đơn vị xây dựng ý chí quyết chiến quyết thắng trận đầu để lập công lớn mừng quân đoàn xuất trận.

 Theo kế hoạch của Bộ tư lệnh B2, ta sẽ đánh căn cứ Đồng Xoài. Biết căn cứ này của địch khá mạnh, tôi triển khai công tác điều nghiên rất kỹ lưỡng. Lực lượng trinh sát đặc công đã cắt xong ba lớp hàng rào kẽm gai. Đột nhiên có lệnh của Bộ là không đánh Đồng Xoài mà đánh Bù Đăng - Bù Na. Đồng chí Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Quân giải phóng Miền, yêu cầu Sư đoàn 7 phải nối lại hàng rào kẽm gai của địch ở căn cứ Đồng Xoài để giữ bí mật ý đồ của ta. Các chiến sĩ làm công việc này trong điều kiện nguy hiểm và với một tâm lý nặng nề. Dù thế nào thì mệnh lệnh vẫn là mệnh lệnh! Sàu này gặp đồng chí Lê Đức Anh, tôi nói vui: "Không thấy chỉ huy nào gắt như anh Sáu trong trận Đồng Xoài, bắt cấp dưới nối lại hàng rào của địch". Anh vỗ vai tôi: "Cậu phải học lại bài giữ bí mật bất ngờ". Tôi cười: "Học anh khó quá!" Mọi người đứng đó đều cười ý nhị.

 Quân ta đánh chiếm Bù Đăng, yếu khu Bù Na và một đoạn dài 100km trên quốc lộ 14. Đấy là một bất ngờ và là thất bại lớn của quân địch. Cùng lúc đó ở phía tây, quân ta chiếm được núi Bà Đen, uy hiếp Tây Ninh. Phía đông bắc, giải phóng Tánh Linh, bao vây chi khu Hoài Đức. Pháo binh bắn phá Phước Bình.

 Tình hình Phước Long trở lên sôi động.

 Do e sợ Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9, nên Sư đoàn 5 ngụy Lữ đoàn thiết giáp 3 không dám di động ứng cứu cho đường 14.

 Những ngày ấy, ngay sau khi quân đoàn 4 ra đời và xuất trận, diễn biến chiến trường miền Đông Nam Bộ rất mau lẹ. Tôi được lệnh đưa Trung đoàn 14 và Trung đoàn 209 cùng một tiểu đoàn bộ binh đơn vị bạn, hai tiểu đoàn pháo cao xạ, 7 khẩu pháo 85 ly, 105 ly và 122 ly cùng súng cối 120 ly và 160 ly chuẩn bị tiến công Đồng Xoài theo hướng chính.

 Đồng Xoài là một căn cứ quân sự khá lớn, dài 600m rộng 300m, một đầu mối giao thông chiến lược quan trọng ở miền Đông Nam Bộ.

 Ngày 22 tháng 12, đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141 Dương Liễu và Chính ủy Nguyễn Ngọc Doanh dẫn quân chiếm lĩnh trận địa. Đêm 25 tháng 12, các đơn vị các tiểu đoàn 1, 2 và 3 đến vị trí xuất phát xung phong. 5 giờ 7 phút ngày 26 tháng 12, pháo 85 ly nhanh chóng đánh phá các chốt ngoại vi và một đơn vị bộ binh thọc sâu vào tung thâm. Quân địch dựa vào hầm ngầm và công sự chống trả quyết liệt. Cuộc chiến đấu kéo dài và gay go đến 8 giờ 40 phút. Địch thấy nguy cơ bị tiêu diệt, lần lượt ra hàng. 19 giờ 30 phút quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa.

 Chi khu quân sự Đồng Xoài bị diệt gọn. Chiều ngày 26, Trung đoàn 141 phối hợp cùng các đơn vị bạn tiêu diệt nốt các đồn ngoại vi như Tà Bế, Phước Thiện ...

 Chiến thắng Đồng Xoài là chiến công của Sư đoàn 7 góp phần khai hỏa cho chiến thắng của Quân đoàn 4.

 


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 21 Tháng Mười, 2012, 02:56:03 PM
                                                                   VIII. TỪ PHƯỚC LONG
                                                                                             ĐẾN XUÂN LỘC



  Sau khi Đồng Xoài thất thủ, phạm vi chiếm đóng của địch còn lại ở thế chân vạc trong một hình tam giác, mà đỉnh của nó là thị xã Phước Long - chi khu Phước Bình và điểm cao Bà Rá (điểm cao 736m). Chúng ta quyết phá thế chân vạc để giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long.

  Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh và Bộ Tư lệnh Miền, Quân đoàn 4 khẩn trương điều động lực lượng hình thành một thế trận tiến công lớn. Sư đoàn 7 chúng tôi được vinh dự đóng vai trò công kích chính. Bộ đội pháo binh, cao xạ, các đơn vị hộ chiến đã bí mật tiếp cận khu vực tác chiến. Các đơn vị hiệp đồng theo lệnh của Tư lệnh quân đoàn đã sẵn sàng vào vị trí.

  Thời điểm đó, là người trực tiếp chỉ huy, tôi vô cùng hồi hộp, xúc động. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ đang nô nức phấn khởi chờ đón một trận đánh lớn. Trận chiến sẽ hiệp đồng quy mô lớn, có tổ chức chu đáo, kỹ lưỡng.

  Đánh Phước Long là một trận đánh lớn, bởi địch ở đây đông, mạnh và tổ chức trận địa phòng ngự kiên cố. Sư đoàn xin được tăng cường thêm hỏa lực. Lúc đầu cấp trên không cho vì còn đầu tư cho chiến dịch đánh lớn hơn. Sau, các anh đồng ý cho thêm một tiểu đoàn pháo 130 ly (4 khẩu) và một tiểu đoàn tăng 20 xe, (sử dụng 10 xe). Đánh giải phóng Phước Long vừa là yêu cầu mở rộng vùng giải phóng, vừa là thăm dò chiến lược thái độ của Mỹ đối với chiến tranh Việt Nam.

  Trong ngày sôi động để chuẩn bị chiến dịch Phước Long đường 14, cán bộ, chiến sĩ đoàn kết thân ái. Tình cảm của cán bộ, chiến sĩ hòa quyện trong một tập thể lớn trên khắp các đơn vị của sư đoàn, quân đoàn. Tôi cũng thường xuyên tiếp xúc thân mật, chuyện trò cởi mở, bình đẳng, thân ái với cán bộ chiến sĩ. Mặc dù cá tính tôi đôi lúc nóng nẩy, nhưng cán bộ chiến sĩ trong đơn vị vẫn đáp lại bằng sự ứng xử thân mật. Hôm chuẩn bị đến Phước Long, xe tôi đi sau xe tiểu đoàn vận tải. Tài xế bóp còi, xe tải không tránh. Tôi nổi nóng cho xe vòng ngược lên đầu, hỏi tiểu đoàn trưởng: "Tại sao không nhường đường cho xe của chỉ huy Sư đoàn?". Đồng chí ấy trả lời: "Chở "bộ đồ lòng" của ông Nam Phong nặng quá, tránh sợ đổ!". Tôi cười : "Tao thua mày 1-0". Câu nói của cậu em hồn nhiên mà ẩn dụ, mang hai hàm ý, vừa vui tếu lại vừa nghiêm chỉnh. Tôi bất giác liên tưởng đến sự vất vả khó nhọc của các chiến sĩ vận tải đi phục vụ chiến trường.

  Từ lâu cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 9 và Sư đoàn 7 cũng đã phong tặng cho tôi mấy biệt danh mà nhiều người còn nhắc tới ngày nay:

  - "Năm Bình Toong" (là vì tôi đánh trận hồi đó tôi thường đem theo bên mình bi-đông rượu đế. Chiến sĩ cần vụ cũng hăng hái mang theo rượu cho tôi).

  - "Năm Hỏa Lực" (là vì đi đánh trận, khi công đồn diệt giặc trên chiến trường, tôi luôn quyết đoán, khẩn trương và táo bạo, buộc chiến sĩ phải nhất mực tuân thủ để hành động kịp thời, không chần chừ bàn cãi. Tuyệt đối phải chấp hành mệnh lệnh khi đã có quyết định tiến công).

  Ngày nay, khi đã bước qua ngưỡng "cổ lai hi" rồi, nhớ lại những điều ấy, tôi càng thấy thấm thía, có lúc thấy tự hào, có lúc phải tư lự, suy ngẫm.

  Chỉ 4 ngày sau khi giải phóng Đồng Xoài, Quân đoàn 4 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích lại ào ạt xốc tới. Bản hùng ca chiến trận trên đường 14 lại vang lên rộn rã. Quân dân ta một lần nữa lại đổ lửa, thử sức gan hùng với quân đội ngụy đang trên đà suy thoái, rệu rã, mặc dù chúng còn đông quân, còn nhiều trang bị vũ khí, khí tài, nhiều bom đạn máy bay và xe tăng hỏa tiễn.
 
                                                                                                      ***

  Rạng sáng ngày 31 tháng 12 năm 1974, bộ đội ta nổ súng. Đạn pháo 130 ly bắt đầu dội xuống căn cứ Phước Bình. Đòn đánh phủ đầu bất ngờ của pháo binh đã phối hợp nhịp nhàng với cuộc tiến công mãnh liệt của Trung đoàn 165. Kẻ địch điên cuồng, phản kích quyết liệt. 11 giờ, chúng đưa thêm Tiểu đoàn 1, Chiến đoàn 7 tiến đánh vào sườn quân ta. Tốc độ tấn công bị chậm lại.

  Tôi đề nghị cấp trên cho xe tăng vào tham chiến, được đồng chí Hoàng Cầm, Tư lệnh quân đoàn nhất trí. Nhờ có xe tăng yểm trợ, các Tiểu đoàn 4 và 5 nhanh chóng đánh chiếm được các mục tiêu. Đến 15 giờ 39 phút, chi khu quân sự Phước Bình, căn cứ quấn sự án ngữ trực tiếp cho tiểu khu Phước Long, bị quân ta chiếm hoàn toàn.

  Sáng ngày 31 tháng 12, pháo 37 ly bắn thẳng lên chốt Bà Rá, tiếp theo là pháo và cao xạ của quân đoàn chi viện, Tiểu đoàn đặc công 479 đã đánh chiếm điểm cao Bà Rá; "Con mắt thần" của Phước Long bị "chột". Như vậy, chúng ta đã bẻ gãy được 2 chân vạc của địch.

  Chỉ còn lại thị xã Phước Long.

  Phước Long nằm trên một dãy đồi cao, phía tây bắc là núi Bà Rá, bao quanh là dòng sông Bé. Phía tây và nam là đồi Sai Giang, suối Dung và hồ Long Thủy. Sình lầy rậm rạp, quang cảnh thiên nhiên rất hùng vĩ, tạo lên vẻ đẹp đặc biệt của một tỉnh lỵ miền núi.

  Nhưng Phước Long lại là một cứ điểm thuận lợi cho việc tổ chức phòng ngự. Chính vì vậy, muốn đánh Phước Long, ta phải lựa chọn và vận dụng chiến thuật tác chiến trong thành phố.

  Từ mọi hướng, bộ đội ta nhanh chóng điều quân áp sát thị xã. Vòng vây của ta bắt đầu khép chặt. Thị xã Phước Long chỉ còn 2 ki-lô-mét vuông là phạm vi phòng thủ của địch. Chiều ngày 31 tháng 12, cảnh tượng hỗn loạn đã diễn ra trong toàn thị xã.

  Đêm ngày 1 tháng 1 năm 1975, lực lượng Quân đoàn 4 đã vào vị trí xuất phát xung phong. Kể từ trận đánh tiêu diệt chi khu ấp Hòa bình, đây cũng là lần đầu tiên ở Miền Đông Nam Bộ, được dùng xe tăng và pháo lớn.

  Sáng ngày 2 tháng 1 năm 1975, pháo ta bắt đầu trút đạn vào các mục tiêu quân sự trong thị xã, chế áp các trận địa pháo địch.

  5 giờ sáng ngày 4 tháng 1 năm 1975, pháo binh chiến dịch lại tiếp tục bắn phá dữ dội vào các mục tiêu quan trọng trong thị xã.

  Nhưng sang ngày 5 tháng 1 năm 1975, Trung đoàn 271 thuộc Sư đoàn 3, cùng phối hợp với Trung đoàn 165, được tăng cường 4 xe tăng, đột phá qua phía bắc sân vận động rồi tiến về dinh tỉnh trưởng. Đến đây tình huống chiến đấu càng thêm khó khăn, chiến sự càng khốc liệt. Đại đội 7 dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Phạm Xuân Thiệu đã qua 2 ngày đêm kiên cường độc lập chiến đấu trong trung tâm thị xã.

  Để nhanh chóng dứt điểm, Bộ Tư lệnh quân đoàn đã kịp thời tung Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 2 của Sư đoàn bộ binh 9 (lực lượng dự bị) do đồng chí Nguyễn Đăng Nguyện Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Nguyễn Văn Thành, Đại đội trưởng xe tăng vào tham chiến, phối hợp cùng trung đoàn 165 và trung đoàn 141 của Sư đoàn 7. Để tạo thêm sức mạnh, trên tăng cường thêm 10 xe tăng, đánh thẳng vào tung thâm đề kháng của quân địch. Lá cờ "Quyết chiến quyết thắng" của Trung đoàn 165, Trung đoàn 141 (Sư đoàn 7) và Trung đoàn 2 (Sư đoàn 9) đã cắm trên nóc tòa nhà tỉnh trưởng tỉnh Phước Long vào trưa ngày 6 tháng 1 năm 1975, báo hiệu thị xã Phước Long đã được giải phóng. Hình ảnh đồng chí Nguyễn Đăng Hoan lưu lại mãi trong tâm hồn và ký ức tôi. Người chiến sĩ dũng cảm đã cắm cờ lên dinh tỉnh trưởng Phước Long ấy, đến khi đánh chiếm chi khu Đinh Quán hạ tuần tháng 3 năm 1975 đã xông pha quyết liệt, đối mặt với quân thù trên từng lô cốt, gộp đá. Hoan chỉ huy Trung đội 3 của mình dẫn đầu trung đoàn tiến sát chân đồi, rồi cho một bộ phận nghi binh đánh chính diện, còn mình dẫn số còn lại đánh phía sau, dùng lối trồng người để leo lên gộp đá. Trong những phút giây quyết định của trận đánh cuối cùng, Hoan đã đứng được lên vai một chiến sĩ, dùng hai tay bíu vào bờ đá đu mình lên, rút trong bao một chùm lựu đạn tung vào sau lưng địch đang cố thủ trong lô cốt. Lựu đạn nổ. Anh quờ tay rút cây cờ dắt sẵn sau lưng ... Nhưng anh chưa kịp phất cờ thì một loạt đạn M16 của quân thù đã bắn trúng vào anh. Anh hy sinh rồi nhưng tay vẫn nắm chặt cán cờ.

  Tiếng thét vang lên đầy uất hận: "Trung đội trưởng hy sinh rồi! các đồng chí tiến lên! tiến lên!".

  Nguyễn Đăng Hoan, người chiến sĩ can đảm, trung đội trưởng xung kích, mưu trí và dũng cảm đến tuyệt vời trong cả hai trận đánh khốc liệt Phước Long và Đinh Quán đã hy sinh trên gờ đá Định Quán, để lại trong lòng đồng bào đồng chí, trong các đơn vị Sư đoàn 7 chúng tôi nỗi thương tiếc và lòng kính trọng, biết ơn vô hạn!.

  Trong ký ức đời trận mạc, tôi luôn ngưỡng mộ, đặt anh ngang tầm cùng các anh hùng liệt sỹ ở chiến trường Điện Biên Phủ năm xưa.

  Trở lại Phước Long. Sau 25 ngày đêm liên tục chiến đấu, Quân đoàn 4 đã giành toàn thắng giải phóng Phước Long vào ngày 6 tháng 1 năm 1975.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 21 Tháng Mười, 2012, 08:05:28 PM
  Đó cũng là ngày đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, quân ta đã giải phóng hoàn toàn một tỉnh ngay phía bắc Sài Gòn, một địa bàn có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng của giặc.

  Đối với những cán bộ chiến sĩ chúng tôi ở Sư đoàn 7 cũng như ở Quân đoàn 4, chiến thắng Phước Long là một bước nhảy vọt và là bước khởi động cho những chiến thắng sau này ở Định Quán, Lâm Đồng, Xuân Lộc trước khi bước vào cuộc quyết chiến mùa xuân lịch sử năm 1975 trong chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định.

  Chiến thắng Phước Long có tầm quan trọng trong thời điểm mà cuộc chiến đang sắp vào hồi kết thúc.  Nó báo hiệu một thời cơ mới đã xuất hiện. Nó tạo lên một bàn đạp vững chắc, trở thành một căn cứ hậu phương của các chiến dịch sau này. Chiến thắng Phước Long đóng vai trò quyết định để Bộ chính trị hạ quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong thời gian sớm nhất.

  Sau chiến thắng Phước Long, đối với Quân đoàn 4 là những nhiệm vụ được đặt ra trong cục diện mới, vừa tham gia chiến đấu vừa xây dựng lực lượng để tạo thế trận tiến công Sai Gòn - Gia Định. Quân đoàn được bố trí chuẩn bị địa bàn tạo thế trận phía đông bắc và tây bắc Sài Gòn. Chúng tôi bắt đầu tổ chức trinh sát chiến dịch trên hai hướng Dầu Tiếng và Định Quán (đường 20).

  Ngày 4 tháng 3 năm 1975, quân dân ta trên các chiến trường đồng loạt nổ súng tiến công địch. Ngụy quyền Sài Gòn hoàn toàn bất ngờ trước quy mô, thời điểm và hướng tiến công cùng lực lượng của quân ta.

  Bấy giờ, Sư đoàn 7 do tôi chỉ huy, phối hợp cùng một bộ phận lực lượng vũ trang Quân khu 7, Quân khu 6, chuẩn bị đánh chiếm chi khu Định Quán, giải phóng đường 20, tỉnh Lâm Đồng, mở hành lang và bàn đạp trên hướng tiến công vào Sài Gòn.

  Ở hướng bắc Sài Gòn, từ Dầu Tiếng xuống Chơn Thành, trên đường 13, Sư đoàn 9 và Sư đoàn 341 phụ trách tác chiến.

  Trước thời cơ chiến lược mới, Sư đoàn 9 đã đánh chiếm được chi khu quân sự Dầu Tiếng trong khi ở Tây Nguyên ta đã giải phóng được Buôn mê Thuột.

  Sư đoàn 7 đã nhanh chóng chuyển sang hướng đông, chuẩn bị tấn công hệ thống phòng ngự Xuân Lộc. Ngày 5 tháng 3 năm 1975 đồng chí Lê Đức Anh, phó Tư lệnh Quân giải phóng B2 trực tiếp giao nhiệm vụ cho Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 (tại căn cứ Đồng Xoài) khẩn trương mở mặt trận mới ở đông bắc Sài Gòn: Đánh chiếm Định Quán, giải phóng đường 20 và tỉnh Lâm Đồng.

  Khi đồng chí Lê Đức Anh giao nhiệm vụ cho Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Sư đoàn 7 khẩn trương đánh chiếm Xuân Lộc, mở cửa vào Sài Gòn, đội hình Sư đoàn 7 đang bố trí tại thị xã Phước Long đến Nam Đồng Xoài. Tôi còn nhớ trong hội nghị quân chính triển khai nhiệm vụ, đồng chí Nguyễn Can, Chính ủy Trung đoàn 165 nêu thắc mắc là trung đoàn hiện đứng sát thị xã Phước Long, theo bản đồ tỷ lệ 1/100.000 (hơn 3 gang tay) làm sao cơ động kịp được. Ngay lúc đó, Phó Tư lệnh Miền, đồng chí Lê Đức Anh, quyết định cho Sư đoàn 7 nhận 35 xe Zin để thực hiện việc cơ động lực lượng.

  Chi khu Định Quán là một cứ điểm kiên cố trên tuyến phòng thủ đông bắc Sài Gòn. Địa hình ở đây đặc biệt có lợi cho việc phòng thủ của địch. Hơn nữa, chúng vừa tăng cường thêm lực lượng.

  Để chuẩn bị đánh Định Quán, chúng tôi dùng các căn cứ cũ của địch ở cầu Nha Bích, cấu trúc lại gần giống cách bố phòng của địch ở chi khu Định Quấn để huấn luyện đơn vị, đồng thời tổ chức thao diễn trên sa bàn lần cuối ở Vĩnh An.

  Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 3 năm 1975, tôi ra lệnh nổ súng tiến công. Pháo binh ta bắn vào chi khu và các vị trí địch ở Phương Lâm, La Ngà, núi Tràm, đồi Đăng Ca, điểm cao 112. Trung đoàn 209 nhanh chóng tiêu diệt địch ở cụm phòng thủ núi Tràm, chia cắt Định Quán với Quân đoàn 3 ngụy.

  Đối với cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 7 nói chung, các đồng chí trong Bộ Tư lệnh Sư đoàn nói riêng. Trận Định Quán tháng 3 năm 1975 là trận đánh nhớ đời. Trong ba yếu tố "Thiên thời - địa lợi - nhân hòa" thì ta thiếu yếu tố "địa lợi" - địch chiếm mất địa lợi. Đánh ngày thứ nhất, đơn vị hết đạn bắn thẳng. Đại đội 7 bị lạc. Cao điểm 124, một điểm cao hết sức lợi hại, địch thực hiện tử thủ, ta sức không đủ tiêu diệt. Tư lệnh Hoàng Cầm điện hỏi và đốc liên tục. Anh còn vặn: " Sao Phước Long khó vậy mà mày đánh được?" và chỉ thị "Phải giải quyết cho được cao điểm 124". Tôi nói, Định Quán khác Phước Long ở chỗ gộp đá rải cùng khắp, có chỗ cụm lại thành thế liên hoàn. Anh có làm sư trưởng cũng chịu". Xe tăng không lên được, ông chửi. Tôi nói, xe tăng sao bò lên gộp đá được? Ông bảo, thế thì không dùng xe tăng nữa, dùng xung lực tiềm nhập. Tôi nói: "Anh quên rồi sao, xe tăng ngoài tính năng đột phá còn tính năng hù dọa". Anh đồng ý, cấp thêm đạn và cho thời gian chuẩn bị. Chúng tôi trong Bộ Tư lệnh suy nghĩ nội dung "la lối" của Tư lệnh Quân đoàn, cùng trao đổi và rút ra cách đánh phù hợp: Dùng phương pháp dương đông kích tây và tổ chức thật tốt đơn vị mật tập để giải quyết cao điểm 124. Chúng tôi thực hiện phương án trên đồng thời cho một đại đội xe tăng đồng loạt gầm rú. Địch trên cao điểm 124 mất tinh thần, bị ta tiêu diệt, một số tháo chạy. Toàn bộ thế trận của quân ngụy ở Định Quán bị vỡ.

  Ngày nay, mỗi lần đi qua Định Quán là lòng tôi lại bồi hồi, nước mắt ứa ra. Những hòn đá lớn như giả sơn, nhẵn nhụi, nằm ở tư thế khác nhau; có chỗ hòn nọ trồng lên hòn kia, chon von và ngoạn mục. Cảnh đẹp như tranh đấy, nhưng du khách đâu có biết cách đây mấy chục năm, người lính đã đổ biết bao nhiêu là xương máu! Tôi thường dừng xe, lững thững bước vào triền núi, tay sờ sẫm lên những gộp đá, miệng thầm thì trò chuyện với vong linh đồng đội đã ngã xuống nơi đây!

  Hồi đó, sau 2 ngày liên tục chiến đấu giằng co ác liệt, Sư đoàn 7 và các lực lượng địa phương đã diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng quân địch trong hệ thống đồn bốt từ Túc Trưng đến Phương Lâm dài gần 60km trên trục đường 20, bị tiêu diệt hoặc bị bức rút.

  Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Miền, Sư đoàn 7 để lai 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 209 giữ bắc Túc Trưng nhằm ngăn chặn Chiến đoàn 52 thuộc Sư đoàn bộ binh 18 ngụy.

  Chiều ngày 28 tháng 3 năm 1975, toàn bộ Sư đoàn 7 lần đầu thần tốc tiến công bằng cơ giới lên Lâm Đồng, nhằm đập tan ý đồ lập tuyến phòng thủ Sài Gòn từ xa - bắt đầu từ Tây Ninh, qua Lâm Đồng đến Nha Trang của ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu.

  Để bảo đảm chiến thắng, tôi đề nghị phương án tấn công giải phóng Lâm Đồng theo 2 hướng:

  - Trung đoàn 141 , hành quân theo đường bộ tiếp cận, thực hiện tiến công từ phía bắc đánh vào thị xã.

  _ Các lực lượng còn lại của sư đoàn: Trung đoàn bộ binh 209, Trung đoàn bộ binh 165, Trung đoàn pháo 210, các lực lượng pháo binh, xe tăng, cao xạ, hành quân tiếp theo trục đường 20. Từ 16 giờ ngày 28 tháng 3, vừa đi vừa đánh địch, mở đầu bằng trận đánh của Trung đoàn bộ binh 165, tiêu diệt chi khu quân sự Đạ Hoai rồi tiếp tục hành tiến đến cách thị xã Lâm Đồng 3 km (nam cầu Đại Lão) trước 4 giờ ngày 29 tháng 3.

  Đúng 0 giờ 30 phút ngày 29 tháng 3 năm 1975, sau khi liên lạc nắm chắc cả 2 cánh quân, tôi ra lệnh đồng loạt tiến công vào thị xã. 5 giờ 30 phút, ta làm chủ hoàn toàn thị xã. Trung đoàn bộ binh 165 tiếp tục truy kích địch đến thị trấn Di Linh (trên đường đi Đà Lạt) cách thị xã Bảo Lộc gần 60km.

  Sư đoàn 7 trong thế thắng, khí thế bừng bừng, đang nhằm tới Đà Lạt thì có lệnh của tê lệnh Quân giải phóng Miền (B2) quay trở về xuôi, chuẩn bị tham gia trận Xuân Lộc. Ngày mồng 4 tháng 4 phải có mặt ở điểm tập kết.

  Cuộc chiến ở Xuân Lộc là cuộc đọ sức đối mặt với kẻ thù hung hãn do đế quốc Mỹ tạo dựng ở giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Cứ điểm Xuân Lộc được trang bị đầy đủ và được chi viện hỏa lực tối đa. Chúng dùng đến cả vũ khí hủy diệt nguy hiểm nhất. Đó cũng là trận chiến sống mái của Sư đoàn 7 đối với kẻ thù của nhân dân và tổ quốc mình trước giờ giải phóng hoàn toàn miền Nam.

  Thị xã Xuân Lộc là điểm chốt quan trọng của tuyến phòng thủ mới, kéo dài từ Phan Thiết qua Xuân Lộc đến Tây Ninh mà quan thày Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã bày binh bố trận. Xuân Lộc là điểm trọng tậm để ngăn chặn quân ta, là điểm phòng ngự mạnh của địch ở cửa ngõ đông bắc Sài Gòn. Tướng Way-en, tham mưu trưởng lục quân Mỹ, sau khi thị sát chiến trường, đã cảnh báo Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu: Mất Xuân lộc là mất Sài Gòn!

  Quân đoàn giao cho Sư đoàn 7 tiến công ở hướng chủ yếu, đánh chiếm sở chỉ huy Sư đoàn 18 ngụy, Sư đoàn 341 đảm nhiệm hướng quan trọng, đánh chiếm dinh tỉnh trưởng ngụy quyền. Sư đoàn 6 đánh ngăn chặn địch từ ngã ba Dầu Giây đến đèo Mẹ Bồng Con.

  Trước khi đánh chiếm căn cứ Xuân Lộc, Quân đoàn 4 được biên chế thêm sư đoàn 341 (Sư đoàn Sông Lam) mới từ miền Bắc vào, rất sung sức, tinh thần chiến đấu cao, khí thế bừng bừng. Sư đoàn trưởng là đòng chí Trần Văn Trân, Chính ủy là đồng chí Trần Nguyên Độ.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 23 Tháng Mười, 2012, 05:58:45 PM
  Ngày 3 tháng 4 năm 1975, tại sở chỉ huy Quân đoàn ở đông cầu La Ngà có cuộc họp bàn về phương án đánh Xuân Lộc. Tất cả đều xác định căn cứ này rất vững chắc vì nó là cánh cửa thép của Thủ đô ngụy. Những căn cứ địch và hỏa lực chi viện cho Xuân Lộc đều được nêu ra. Tuy nhiên bàn về cách đánh thì lại có những ý kiến khác nhau. Một số đồng chí còn liên hệ Xuân Lộc với Điện Biên Phủ và sự kiện "kéo pháo vào kéo pháo ra" để đánh chắc thắng. Trong thế giành thắng lợi như chẻ tre từ sau khi địch rút chạy khỏi Tây Nguyên, vỡ luôn các tuyền miền Trung, nhiều ý kiến nghiêng về sức mạnh giải phóng Xuân Lộc.

  5 giờ 40 phút ngày 9 tháng 4 năm 1975, Quân đoàn 4 nổ súng tấn công Xuân Lộc. Các cụm pháo của Quân đoàn, Sư đoàn đồng loạt khai hỏa.

  Trong ngày chiến đấu đầu tiên, quân ta đã mau chóng chiếm được 2 phần 3 thị xã, đưa được 3 tiểu đoàn vào chốt trong thị xã. Riêng hướng Sư đoàn 7 không đột phá được, lực lượng bị tiêu hao.

  Bộ Tư lệnh vẫn quyết định tấn công, Sư đoàn 7 đưa lực lượng dự bị là Trung đoàn 141 và 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 165 tiến đánh căn cứ của Sư đoàn 18 ngụy.

  Quân ta bị Chiến đoàn 52 và Trung đoàn thiết giáp 5 phản kích quyết liệt, do đó không mở được cửa đột phá. Các đơn vị bạn vẫn tiếp tục tiến công đánh địch phản kích nhằm giữ các mục tiêu đã chiếm được.

  Ngày 11 tháng 4, chiến sự tiếp tục giằng co ác liệt. Qua 3 ngày chiến đấu, ta tuy đã chiếm được một số mục tiêu, tiêu diệt được một phần sinh lực địch và giữ một số bàn đạp quan trọng nhưng Sư đoàn 7 của chúng tôi bị thương vong nhiều.

  Chiến sự Xuân Lộc diễn biến phức tạp! Mặc dù về chiến lược, địch đang bị rối loạn, đổ vỡ, nhưng do Xuân Lộc là vị trí then chốt sống còn của quân địch, có tổ chức phòng ngự kiên cố, đã được chuẩn bị kỹ và được tăng cường mạnh nên địch gây cho ta nhiều tổn thất và tạm thời ngăn chặn được sức tiến công của quân ta.

  Trước tình hình khó khăn đó, chúng tôi đã phải nhanh chóng thay đổi cách đánh. Từ nhận định và kết luận: "Xuân Lộc là điểm phòng ngự mạnh chỉ khi nó được nối liền với Biên Hòa", ta đã ngừng tiến công các mục tiêu và vị trí trong thị xã, chuyển sang đánh đường 1 để cô lập Xuân Lộc. Cấp trên quyết định chỉ để lại lực lượng giữ những bàn đạp đã chiếm được. Sư đoàn bộ binh 6 thuộc Quân khu 7 được phối thuộc cho Quân đoàn 4 đánh Dầu Giây - Núi Thị, giải phóng thêm các cứ điểm đường số 20, đoạn còn lại từ Gia Kiệm xuống, đoạn đường quốc lộ 1 - đèo Mẹ Bồng Con.

  Địch lầm tưởng đã thực sự đẩy lùi được quân ta. Nguyễn Văn Thiệu quảng bá ầm ỹ tin "chiến thắng Xuân Lộc". Tướng Lê Minh Đảo, Sư trưởng Sư đoàn 18 ngụy huyênh hoang : "Việt Cộng dù có thêm mấy sư đoàn nữa cũng không chiếm được Long Khánh".

  Rạng sáng ngày 20 tháng 9, ta vận động đánh tập kích tiêu diệt Chiến đoàn 52 ngụy tại Gia Kiệm, sau khi ta bắn phá sân bay Biên hòa bằng pháo 130 ly.

  Trong hai ngày 16 và 17 tháng 4, quân ngụy sài Gòn với lực lượng 200 xe tăng và bọc thép, được hơn 100 khẩu pháo ở Nước Trong - hốc Bà Thức, Long Bình, Đại An bắn chi viện yểm trợ cùng 125 lần chiếc máy bay chiến đấu chi viện hỏa lực, quyết giữ vững thế trận. Những trận chiến ác liệt dồn dập diễn ra tại Hưng Nghĩa và ở cao điểm 122. Chúng ta quyết chiến ở Bầu Cá, đánh mạnh vào Chiến đoàn thiết giáp ở Trảng Bom ... Thế trận đã nghiêng về quân ta. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, Lê Minh Đảo đành phải xin rút bỏ khỏi Xuân Lộc. Và chúng đã bí mật rút chạy khỏi trong đêm mưa.

  Ngày 21 tháng 4 năm 1975, thị xã Xuân Lộc và toàn tỉnh Long Khánh  được hoàn toàn giải phóng.

  Quân đoàn 4 và lực lượng vũ trang Quân khu 7 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, lập chiến công có ý nghĩa to lớn và quan trọng trong thời điểm đó.

  Xuân Lộc là nơi xảy ra trận đánh vô cùng ác liệt được ghi nhận vào sử sách, là nơi quân dân ta đã bước qua những thử thách vô cùng to lớn đầy khốc liệt. Nơi đây lực lượng chúng ta tuy có tổn thất nhưng cũng là nơi quân đội ta đã nêu cao phí phách anh hùng quyết chiến, quyết thắng. Quân ta đã hy sinh nhiều xương máu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc thống nhất đất nước ngay ở cửa ngõ tiến về sài Gòn này.

  Chiến dịch đánh Xuân Lộc là trận công kích quy mô lớn nhất của Quân đoàn 4 kể từ ngày thành lập. Lần đầu tiên quân đoàn 4 sử dụng hết cả 3 sư đoàn bộ binh cùng toàn bộ hỏa lực, tăng, pháo, trang thiết bị kỹ thuật và hậu cần cho các trận đánh.

  Phá tung cánh cửa thép Xuân Lộc, Quân đoàn đã mở rộng cánh cửa phía đông bắc Sài Gòn cho đại quân ta tiến vào, làm rung chuyển toàn bộ tuyến phòng ngự chiến lược của giặc để chuẩn bị cho cuộc quyết chiến cuối cùng.

  Ngày 26 tháng 4, Quân đoàn 4 đã tiêu diệt và bức rút  quân địch ở Trảng Bom, nhanh chóng đập tan tuyến phòng thủ ở núi Ông Hoàng, đánh tan trung đoàn 5 thiết giáp ở ngã ba Yên Thế ... để rồi sau đó đánh thẳng vào giải phóng Hố Nai, Biên Hòa, Long Bình. Ngày 27 và 28 tháng 4, Quân đoàn 4 đánh chiếm sở chỉ huy Quân đoàn 3 - Vùng 3 chiến thuật ở Biên Hòa.

  Đến 9 giờ sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, Quân đoàn 4 vinh dự nhận mệnh lệnh mở đầu cuộc tiến công lịch sử vào sài Gòn - Gia định cùng với các cánh quân khác.

  Bộ Tư lệnh Mặt trận trong chiến dịch Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho cánh quân phía đông bắt đầu công kích vào nội đô Sài Gòn. 16 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, là thời khắc lịch sử tôi suốt đời ghi nhớ.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 25 Tháng Mười, 2012, 02:23:17 PM
                                                                         IX. KHÚC KHẢI HOÀN
                                                                                       CỦA MÙA XUÂN ĐẠI THẮNG.



  Sau khi giải phóng được Xuân Lộc, cả Quân đoàn chuẩn bị gấp rút, việc triển khai công tác tư tưởng để nhận nhiệm vụ mới, song song với việc tập trung những nỗ lực cao truy quét, tiêu diệt lực lượng còn lại của Sư đoàn 18 bộ binh ngụy và trung đoàn 5 thiết giáp của chúng, để đánh chiếm yếu khu Trảng Bom trên đường tiến quân về Hố Nai - Biên Hòa.

  Tôi còn nhớ không khí sôi động, khẩn trương của hội nghị Đảng ủy Quân đoàn họp bàn công tác lãnh đạo các đơn vị thực hiện các nhiệm vụ cấp bách của chiến dịch. Ngày 23 tháng 4 năm 1975, Đảng ủy đã nêu quyết tâm: "Tập trung mọi ưu thế binh lực, hỏa lực, phát huy sức mạnh đột kích cơ giới, xe tăng, nhanh chóng đạp tan tuyến phòng thủ Biên Hòa, mở cửa đột kích vào Sài Gòn, nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trong nội đô".

  Những ngày đó, quân ta ào ạt với khí thế một ngày bằng 20 năm, tiến công Trảng Bom, đánh chiếm từ Hưng Nghĩa đến Bàu Cá.

  Ngày 29 tháng 4, trước lúc xuất quân tiến công vào nội đô Sài Gòn, đồng chí Hoàng Cầm, Tư lệnh Quân đoàn 4, đã trao lá cờ "Quyết chiến, quyết thắng" cho Sư đoàn 7 chúng tôi để cắm trên nóc dinh Độc Lập.

  Đó là một vinh dự to lớn cho sư đoàn và cá nhân tôi và các cán bộ chỉ huy của Sư đoàn 7 Anh hùng. Vậy là sau 30 năm xông pha chiến trận để đánh giặc cứu nước, ngày hôm nay cùng toàn quân, toàn dân, tôi sắp được bước tới phút vinh quang và thiêng liêng của lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc, ngày quân ta xông thẳng vào sào huyệt cuối cùng của chế độ Mỹ - ngụy, chứng kiến sự thất bại thảm hại của chúng! Ngày quân ta tiến vào Sài Gòn - Gia Định để ca khúc khải hoàn.

  Cánh quân phía Đông, được sự chỉ huy của đồng chí Trung tướng Phó Tổng tham mưu trưởng, Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh - Lê Trọng Tấn, gồm hai Quân đoàn là Quân đoàn 2 và Quân đoàn 4.

  Bộ Tư lệnh QD4 đã gia nhiệm vụ đánh chiếm Sở chỉ huy Quân đoàn 3 ngụy (Biên Hòa), sân bay Biên Hòa, Sở chỉ huy vùng 3 chiến thuật và Sở chỉ huy Sư đoàn không quân ngụy cho Sư đoàn 6 và Sư đoàn 341. Còn Sư đoàn bộ binh 7 được tổ chức thành lực lượng thọc sâu, binh chủng hợp thành tiến thẳng vào nội đô tiêu diệt địch, đánh chiếm Quận I, mục tiêu chủ yếu là dinh Độc Lập và đài phát thanh.

  Cuộc tiến công đánh chiếm các mục tiêu ở Biên Hòa gặp nhiều khó khăn. Bọn địch ngoan cố nấp ở các nhà cao tầng vẫn bắn vào quân ta. Theo phương án đã duyệt, tôi ra lệnh giải quyết thật nhanh các cuộc cản phá của địch để thần tốc tiến vào Sài Gòn. Nhưng thật không may, đoàn quân đang hối hả chạy đua với thời gian thì chựng lại ở đầu cầu Ghềnh vì cầu quá hẹp và yếu, xe tăng không lọt qua được. Lòng tôi như lửa đốt, lệnh bỏ đường Biên Hòa - Thủ Đức, quay ra đường I.

  Trong hoàn cảnh khó khăn ác liệt và phức tạp ấy, bộ đội vẫn giữ vững khí thế tiến công là nhờ trước chiến dịch Hồ Chí Minh, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh rất chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng. Ngoài việc họp Đảng ủy, Bộ Tư lệnh sư đoàn đã quán triệt nhiệm vụ vinh quang được giao cắm cờ trên dinh Độc Lập, tôi và đồng chí Chính ủy Phan Liêm và Phó Chính ủy Nguyễn Văn Thái còn trao đổi và bàn bạc kỹ càng về công tác giáo dục chính trị, động viên khí thế quyết tâm cho bộ đội.

  Đồng chí Thái về làm Phó Chính ủy Sư đoàn 7 từ năm 1971. Khi đồng chí Phan Liêm bị thương, đồng chí Thái được bổ nhiệm quyền Chính ủy, rồi Chính ủy sư đoàn. Anh dường như sinh ra để làm chính trị. Với tác phong, phong độ trí thức, điềm đạm, sâu sát, hòa đồng, cách nói năng nhỏ nhẹ, có lý có tình, anh có khả năng thuyết phục quần chúng. Tôi nóng như lửa còn anh mát tính. Anh lo về tư tưởng tình cảm và đời sống tinh thần để tôi quyết tâm về phương án đánh địch và đời sống vật chất. Không những anh sâu về công tác Đảng, công tác chính trị và sáng kiến quân sự của anh khi lâm trận khá sắc sảo. Nhớ năm 1973, thời gian trước ngày hiệp định Pa-ri có hiệu lực, địch thực hiện âm mưu "tràn ngập lãnh thổ", chiếm đất. Trong trận Bố Lá (Bình Dương) tôi và anh Thái đi phía trước, bị máy bay B52 đánh trúng, sở chỉ huy bị thương vong gần hết. Anh Thái thoát được nhờ mảnh pháo băm trúng đuôi khẩu súng ngắn. Trong hòa cảnh ấy, mọi người trông vào những người chỉ huy lãnh đạo và anh Nguyễn Văn Thái đã góp phần quan trọng ổn định tư tưởng, xốc lại đội hình chiến đấu. Rồi lúc sư đoàn đánh Chiến đoàn 8 thuộc Sư đoàn 5 ngụy. Nó cơ động nhanh, ta toàn đánh vuốt đuôi. Ngày thứ hai, anh Thái góp ý: Trinh sát nắm địch không chắc. Địch ở rừng le rất khó quan sát. Nó lại đặt chốt tiền tiêu, ta nhầm là lực lượng chủ lực của địch nên phán đoàn sai. Tôi đồng ý, cho trinh sát lại và tổ chức lực lượng đánh chia cắt. Ngày thứ 3 đơn vị chiến đấu giành thắng lợi.

  Anh không chỉ kỹ càng trong việc lớn mà cả trong sinh hoạt thường ngày, điều đó tạo cho sư đoàn trưởng sự yên tâm, ổn định. Chẳng hạn đơn vị có chiếc Honda 90 để cơ động. Lái xe trở anh mà phóng nhanh vượt ẩu, anh bắt dừng lại, giảng một bài về luật lệ giao thông, về an toàn tính mạng "tòng đầu triệt vĩ" dài đến ... bàn chân mọc rễ, khiến lái xe cạch đến già!

  Trong cuộc đời binh nghiệp của tôi có một lần thử làm tuyên huấn. Ấy là năm 1953 ở Thái Nguyên, bộ đội học tập về chủ trương cải cách ruộng đất. Chính ủy Trung đoàn 88 (Sư đoàn 308) Đặng Quốc Bảo thấy tôi mồm mép cũng khá, xuất thân là bần cố nông, nên cho giảng một bài chính trị có đầu đề: "Ngồi mát ăn bát vàng" với nội dung lên án bọn địa chủ, cường hào. Sau màn dạo đầu xuôi sẻ, vào nội dung chính, tôi nói được đúng 15 phút thì hết vốn. Trung đoàn trưởng Thái Dũng, Chính ủy Đặng Quốc Bảo và Trung đoàn phó Nam Hà quyết định để tôi chuyển ngành quân sự và cho đi học trường Hoàng Phố.

  Kể lại chuyện trên đây để muốn nói rằng, làm công tác chính trị phải có năng khiếu mới giỏi được. Không rõ người khác nghĩ sao, còn tôi, chế độ chính uỷ, chính trị viên của quân đội ta là tuyệt vời! Từ khi là đại đội trưởng, trải qua các cấp, lên đến quân đoàn trưởng, tôi ở và làm việc với nhiều chính trị viên và chính ủy, nhưng chưa bao giờ cảm thấy mình không muốn có họ. Vì vậy, lúc biết tin bỏ chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội, tôi và anh Hoàng Cầm đã khóc. Khóc thật sự, bởi vì tiếc cho một cơ chế đã trở thành truyền thống quí báu của Quân đội nhân dân Việt Nam và vì lưu luyến, bịn rịn khi phải chia tay cơ chế ấy.

  Thực ra, tôi không chỉ nhìn cán bộ chính trị đồng cấp mà nhìn lên cả cấp trên. Đó là Chính ủy sư đoàn Vương Thế Hiệp (khi tôi là trung đoàn trưởng) và Chính ủy quân đoàn Hoàng Thế Thiện (khi tôi là cán bộ sư đoàn). Anh Vương Thế Hiệp rất tỉ mỉ, cụ thể trong công việc, có khả năng khái quát tư tưởng chỉ đạo bằng những khẩu hiệu ngắn gọn, dễ nhớ và đặc biệt anh rất chân tình với mọi người. Biết tôi mắc tật thích rượu, một lần anh vỗ vai: "Mày sẽ lên tướng nhưng phải bỏ rượu!". Tôi rút bi đông đặt trước mặt anh, xin bỏ. Tuy nhiên, sau đó, mấy em giúp việc thấy tôi thần sắc kém, đã dùng túi nhựa của xe tăng đựng rượu, nhét vào túi mìn clay-mo và bắt vòi lên cổ áo. Tất nhiên là việc này không qua được mắt Chính ủy Hiệp vì mọi khi, không bao giờ tôi dùng túi hay cặp. Sau này về làm Tư lệnh Quân đoàn I, Chính ủy Đỗ Mạnh Đạo cũng rất hợp với tôi và giúp đỡ tôi rất nhiều.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 27 Tháng Mười, 2012, 01:31:56 PM
  Trở lại sáng 30 tháng 4 năm 1975. Quay ra đường xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa, tôi ngồi trên chiếc xe bọc thép tiến về nội đô. Những đoàn xe bên đường ùn tắc lại do biển người chào đón chen lấn hò reo làm xe không đi được. Đã thấy có thể trễ thời gian, không kịp thực hiện nhiệm vụ trên giao cắm cờ chiến thắng trên dinh Độc Lập, nên tôi bàn giao nhiệm vụ liên lạc với quân đoàn cho đồng chí Chính ủy Nguyễn Văn Thái rồi nhảy khỏi xe bọc thép, gọi một chiến sĩ lái xe Honda chạy thẳng vào Thành phố. Đến đầu cầu Thị Nghè, gặp đồng chí Minh, trợ lý tác chiến, tôi nóng ruột hỏi ngay:

  - Đại đội 7 có cắm cờ được không?

  Đồng chí nét mặt trầm xuống, trả lời:

  - Quân đoàn 2 đã cắm cờ trước. Đại đội 7 chúng ta đến sau 30 phút. Gần 12 giờ trưa chiếc xe tăng đầu tiên của Đại đội 7 chúng ta mới tiến đến cửa dinh Độc Lập!

  Trong lòng tôi thoáng dậy một nỗi buồn tiếc; nhưng trấn tĩnh lại, tôi nói với đồng chí trợ lý tác chiến và cũng là an ủi mình:

  - Chúng ta mất nhiều thời gian trên đường tiến quân ở Biên Hòa. Thôi đồng chí ở lại đón Trung đoàn 12, Trung đoàn 209 và Trung đoàn 210 ... vào chiếm các mục tiêu đã được phân công. Tôi vào dinh Độc Lập, có việc gì liên lạc gặp tôi ở đó.

  Mấy phút sau, chiến sĩ lái xe Honda đưa thẳng tôi vào dinh Độc Lập.

  Tôi bước qua cổng, bỗng có nhiều tiếng gọi:

  - Nam Phong! Hoan hô Nam Phong!

  Tại đây, tôi gặp các anh Hoàng Đan, Phó Tư lệnh Quân đoàn 2; Trung tướng Nam Long, phái viên của Bộ; anh Nguyễn Ân, Sư trưởng Sư đoàn 304. Trước khi đi vào dinh, tôi gặp đồng chí Hoàng Cao Đại, chính trị viên Đại đội 7 đang chờ sẵn. Trong nét mặt anh buồn, tôi hiểu tâm trạng cán bộ của mình và an ủi:

  - Ta đến được thứ hai cũng là tốt lắm rồi. Các đồng chí cứ ở đây. Đại đội 7 sẽ vào tiếp quản dinh Độc Lập.

  Thông cảm với tôi anh Hoàng Đan thân mật nói:

  - Chúng tôi thuận lợi hơn nên vào được trước. Nhưng thôi, thế cũng là vui vẻ cả ... Chúng tôi đang đợi lệnh để "bàn giao mục tiêu" cho Quân đoàn 4 làm nhiệm vụ quân quản, chứ đâu đến phần chúng tôi. Nội các Dương Văn Minh đang ở trên tầng 2, chúng tôi đã cho canh gác cẩn thận.

  Ngày hôm đó, tôi luôn động viên an ủi các cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 7 và thường dùng câu nói đùa: "Quân đoàn 2 cắm cờ cao thì chúng ta cắm cờ thấp. Cũng đều cắm cờ "Quyết chiến quyết thắng" cả. Bởi vì tất cả chúng ta đều là người chiến thắng!".

  Trong những giờ phút thiêng liêng ấy, tôi nhớ đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cha thân yêu của lực lượng vũ trang đã sáng lập, giáo dục và rèn luyện quân đội ta. Vị lãnh tụ kính yêu của toàn dân tộc. Người vĩnh biệt nhân dân ta khi miền Nam chưa được giải phóng, đất nước chưa được thống nhất nhưng trong tim Người lúc nào cũng có hình ảnh miền Nam. Chính tư tưởng của Người đã dẫn dắt cho nhân dân ta, quân đội ta đi đến chiến thắng ngày hôm nay.

  Bộ đội ta với tinh thần quyết chiến quyết thắng và ý chí quyết tâm cao, đã nhanh chóng khai thác được thời cơ lịch sử của giai đoạn cuối cuộc chiến tranh, tạo được thế áp đảo, nâng cao tốc độ tiến công, thần tốc và táo bạo. Sư đoàn 7, Sư đoàn 6, Sư đoàn 9 đều lập công vang dội, tiêu diệt làm tan rã nhanh chóng từng trung đoàn, sư đoàn của địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch mang tên Bác Hồ kinh yêu.

  Cùng các cán bộ chiến sĩ trong đơn vị cũng như trong toàn quân, là người chỉ huy ở tư thế chiến thắng, lòng tôi vô cùng tự hào và tràn đầy xúc động, tin tưởng và hăng say mãnh liệt khi được nhận nhiệm vụ tiến quân vào Sài Gòn để giải phóng thành phố lớn nhất miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc giai đoạn chiến tranh đã kéo dài 30 năm của dân tộc ta.

  Tôi đã ra sức động viên cán bộ chiến sĩ thực hiện tốt những nhiệm vụ trong giai đoạn này. Cuộc tiến công của bộ đội ta kể từ Xuân Lộc đến Hố Nai - Biên Hòa là một chặng đường tuy ngắn mà đầy ác liệt, gian nguy, thử thách, nhiều hy sinh cao cả. Trong cuộc chiến cam go ác liệt ấy nổi lên nhiều tấm gương anh hùng dũng cảm vô song. Nhiều cán bộ chiến sĩ ta đã nằm xuống trong thời điểm lịch sử này. Đó là những tổn thất, những hy sinh mất mát vô cùng đau đớn ... Nó khắc sâu trong tâm trí và ký ức đời chiến trận của tôi.

  Mỗi khi nhớ lại hình ảnh hàng trăm, hàng ngàn cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 7, Sư đoàn 6, Sư đoàn 341 đã hy sinh và thương vong trong những ngày tháng đó, tôi vô cùng bùi ngùi thương tiếc. Một nỗi xúc động sâu xa tận đáy lòng hòa với lòng ngưỡng mộ chân thành đối với các đồng chí anh hùng liệt sỹ ấy.


Tiêu đề: Re: Cuộc đời và chiến trận .
Gửi bởi: binhyen1960 trong 28 Tháng Mười, 2012, 05:10:09 PM
                                                                           X. QUÂN QUẢN
                                                                           THÀNH PHỐ SÀI GÒN-GIA ĐỊNH.


  Sau khi giải phóng, ngay chiều 30 tháng 4 năm 1975, Quân đoàn được giao nhiệm vu quân quản thành phố. Nhiệm vụ thật mới mẻ, nặng nề và phức tạp. Chế độ cũ vừa xụp đổ, chính quyền mới bắt đầu thiết lập, quân đội ta vừa mới vào thành phố. Công tác duy trì và thực hiện nghiêm ngặt việc giữ gìn an ninh trong thành phố, trấn áp bọn phản cách mạng bảo vệ các cơ sở kinh tế, chính trị của cách mạng đặt ra những vấn đề vừa khó khăn vừa cấp bách. Nó đòi hỏi cấp lãnh đạo phải sâu sát, chặt chẽ và ý thức chính trị phải nhạy bén và hiểu biết về văn hóa - xã hội phải cao.

  Bộ đội phải nêu cao được phẩm chất và đạo đức cách mạng, ý thức "cần, kiệm, liêm, chính", phải hết lòng vì dân vì nước mới hoàn thành tốt các nhiệm vụ khó khăn giai đoạn này. Lực lượng quân quản phối hợp chặt chẽ với tổ chức Đảng và các đoàn thể cách mạng của Thành ủy, nhanh chóng xây dựng chính quyền và thiết lập trật tự xã hội. Chúng tôi đã nỗ lực vượt bậc, ngày đêm đem hết sức mình, dựa vào dân, cùng các đại phương ổn định đời sống của nhân dân, truy lùng bọn phản cách mạng và những kẻ trốn tránh khai báo trình diện. Tôi phổ biến và luôn nhắc nhở bộ đội, từ cán bộ đến chiến sĩ, phải nghiêm chỉnh chấp hành chính sách của Đảng và Nhà nước, sâu sát và chăm sóc tầng lớp nhân dân lao động nghèo; phải động viên khích lệ các nhân sỹ, trí thức và các nhà tư bản tiến bộ, các doanh nghiệp của người Việt người Hoa đã từng tích cực giúp đỡ đóng góp công sức tiền của cho cách mạng. Khi được nhận nhiệm vụ quân quản Sài Gòn, tôi nhớ lại có lần đã được vị tướng là một giáo viên trường Hoàng Phố (Trung Quốc) kể lại trong một tiết học về "tình quân dân".

  Tháng 5 năm 1949, Quân giải phóng trung Quốc vượt sông Dương Tử đánh bại quân Tưởng ở Hoa Nam, vào giải phóng và thực hiện chế độ quân quản thành phố Thượng Hải, một thành phố lớn bậc nhất Trung Quốc với trên 10 triệu dân. Công tác quân quản vô cùng khó khăn, phức tạp. Việc thực thi các chính sách của Đảng Cộng sản trung Quốc khi vừa mới lập chính quyền cách mạng chủ yếu dựa vào lực lượng của các Quân đoàn Quân giải phóng nhân dân trung Quốc, đồng thời phát động phong trào tự quản của nhân dân lao động và các tầng lớp thanh niên trí thức tiến bộ ở Thượng Hải. Có một lần, một vị chỉ huy cấp sư đoàn khi tiếp quản một doanh nghiệp tư doanh, ông ta tịch thu toàn bộ tài sản, nhà cửa, của cải, đẩy cả gia đình ấy vào hoàn cảnh khó khăn. Nhà tư sản ấy đã chửi rủa "Giải phóng quân" là vong ơn bội nghĩa! Vị chỉ huy tức giận bắt giam ông ta và đưa ra toàn án quân sự xét xử ... Sau đó nhờ Nguyên soái Bành Đức Hoài và một số cán bộ đảng ở Thượng Hải xác nhận mới biết người này là một trí thức tư bản tiến bộ, yêu nước, đã hết lòng phục vụ, cống hiến tài lực công sức cho cách mạng và giúp đỡ các cán bộ Quân giải phóng qua nhiều thời kỳ khó khăn. Do không đi sâu sát và không nắm vững chính sách chủ trương cụ thể nên vị sư đoàn trưởng nọ đã phạm sai lầm trong công tác "quân quản". Vị chỉ huy ấy bị kỷ luật, giáng xuống 3 cấp.

  Suy nghĩ từ ví dụ của giáo viên trường Hoàng Phố, tôi rất thận trọng cân nhắc, và hỏi ý kiến Đảng ủy Quân đoàn cũng như liên hệ với thành ủy, ủy ban nhân dân mỗi khi gặp những vấn đề phức tạp khó khăn.

  Quân đoàn trải trên địa bàn công tác rất rộng và kiểm soát nhiều mục tiêu quan trọng như: dinh Độc Lập, Bộ Quốc phòng (ngụy), Bộ chỉ huy sư đoàn thủy quân lục chiến, Bộ Tư lệnh hải quân, cảng Bạch Đằng, đài phát thanh. Và trực tiếp quân quản các quận 1, 2, 3, 4, 10, 11 ở nội thành và quận Bình Thạnh.

  Chiều ngày 1 tháng 5 năm 1975, Thiếu tướng, Chính ủy Quân đoàn Hoàng Thế Thiện giao nhiệm vụ cho tôi và anh Nguyễn Văn Thái, chiều ngày 2 tháng 5 năm 1975, tổ chức buổi lễ để ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định công bố quyết định của chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền nam Việt Nam, trả tự do cho các thành viên nội các ngụy quyền Sài Gòn, nội các Dương Văn Minh, và tổ chức đưa họ về với gia đình.

  Chiều ngày 2 tháng 5 năm 1975, sau buổi lễ, đồng chí Trung tướng Trần Văn Trà - Chủ tịch Ủy ban Quân quản, bảo anh Nguyễn Văn Thái, Chính ủy sư đoàn và tôi đưa tổng thống Dương Văn Minh, Phó Tổng thống Nguyễn Văn huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mậu lên gặp đồng chí Trà ở lầu trên. Sau đó, anh Nguyễn Văn Thái ở lại, còn tôi đi tổ chức anh em và chuẩn bị đưa họ về gia đình.