Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu nước ngoài => Tác giả chủ đề:: quansuvn trong 03 Tháng Hai, 2011, 02:50:14 PM



Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Hai, 2011, 02:50:14 PM
Tên sách: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (Giơ-ne-ve-1954)
Tác giả: Phơ-răng-xoa Gioay-ô (Francois Joyaux)
Tiến sĩ văn chương
Trường Đại học Xooc-bon
Viện nghiên cứu lịch sử
Những vấn đề quan hệ quốc tế hiện đại
Nhà xuất bản: Thông tin lý luận
Năm xuất bản: 1981
Số hoá: quansuvn




(https://scontent.fhan3-3.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/57390050_2099134297050693_4671483555304439808_n.jpg?_nc_cat=100&_nc_oc=AQkdbN_fbp7POuWqJybG8WHD64Dhk04Weyj_m1RfvWC4uLIaeP2TQRHRosaP8mYycJ5JGsZ4f_DbfyNmO_6zm0nA&_nc_ht=scontent.fhan3-3.fna&oh=de5ae6941f65f8a0b6d7f0355450fb0c&oe=5D62C245)


LỜI GIỚI THIỆU

Cuốn “Trung Quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương” là một công trình soạn thảo rất công phu của Phơ-răng-xoa Gioay-ô (Francois Joyaux) một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp, đồng thời là một chuyên gia về Trung Quốc. Công trình này được hoàn thành vào tháng 3 năm 1976 và được xuất bản vào quí I năm 1979, đúng vào thời điểm tập đoàn phản động Bắc Kinh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc nước ta.


Để biên soạn công trình này, tác giả đã được phép khai thác nhiều tài liệu mật của cơ quan lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp như các biên bản các cuộc họp tay đôi giữa phía Pháp với phía Trung Quốc, những điện mật của đoàn Pháp báo cáo về thái độ của các nước dự hội nghị, những biên bản các phiên họp hẹp kéo dài của hội nghị đó, những điện mật của các đại diện Ngoại giao Pháp ở những nước tham dự hội nghị v.v… Như mọi người đều biết, trong hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương, những người lãnh đạo Trung Quốc đã cùng với đế quốc Pháp thoả hiệp về một giải pháp có lợi cho Trung Quốc và Pháp, không có lợi cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Cam-pu-chia. Họ đã hy sinh lợi ích của nhân dân ba nước Đông Dương để bảo đảm an ninh cho Trung Quốc ở phía nam, để thực hiện mưu đồ nắm Việt Nam và Đông Dương, đồng thời giữ vai trò là một nước lớn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, trước hết là ở châu Á. Cho nên những tài liệu mật được tác giả nêu lên trong cuốn sách này là những tư liệu có giá trị, cung cấp cho chúng ta nhiều điểm làm sáng thêm một số vấn đề trước đây đã được nghiên cứu về hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954.


Khi biên soạn công trình này, tác giả còn tham khảo hầu hết các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về hội nghị này, những cuốn hồi ký của nhiều nhân vật đóng vai trò chủ chốt trong hội nghị, đồng thời đọc rất nhiều báo chí của những nước tham dự hội nghị hoặc liên quan mật thiết đến hội nghị để dẫn ra những tư liệu cần thiết cho chủ đề cuốn sách. Có thể nói đây là bản tổng hợp những tài liệu chứng minh chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh đối với nước ta và các nước khác ở Đông Dương.


Như vậy, tác giả đã cung cấp cho chúng ta những tài liệu phong phú và đầy đủ, giúp chúng ta hiểu sâu hơn về chiến lược, âm mưu và thủ đoạn của Bắc Kinh đối với Việt Nam và Đông Dương trước, trong và sau hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương.


Giá trị của cuốn sách không phải chỉ dừng ở đó. Là một nhà nghiên cứu lịch sử, tác giả không chỉ hạn chế ở việc dẫn ra những tư liệu phân tích sâu sắc về thái độ của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh trong việc giai đoạn cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương. Chính từ sự phân tích đó, qua các chính sách của Trung Quốc từ lịch sử xa xưa cho đến hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương, tác giả đã khách quan làm rõ “sợi chỉ đen” xuyên suốt trong chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Trung Quốc đối với ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia.


Cuốn sách này gồm bốn phần:

Phần thứ nhất chủ yếu phân tích những nhân quyết định thái độ của Bắc Kinh trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương. Đó là:

Vào năm 1954, Mao Trạch Đông “hoàn toàn chế ngự” Đảng, quân đội, Nhà nước, song rõ ràng tình hình kinh tế có khó khăn. Hơn nữa đã có những rạn nứt trong quan hệ Trung - Xô mà “sự liên minh chỉ bền vững trong chừng mực cần thiết cho chính sách đối ngoại của Trung Quốc"1 (Từ trang này trở đi, những đoạn trong ngoặc kép là trích dẫn lời của tác giả). Trước tình hình đó, lại muốn đạt quy chế cường quốc, Bắc Kinh “có nhu cầu cấp thiết lập lại các mối quan hệ bình thường với các nước phương Tây” để công nghiệp hoá đất nước. Vì vậy, phá thế cô lập với các nước phương Tây là một yêu cầu chiến lược của Trung Quốc lúc đó. Pháp, Mỹ đã đánh giá rằng các nhu cầu kinh tế đó “có thể đóng vai trò quyết định trong thái độ của Bắc Kinh”. Đó là “đề tài cua sự mặc cả ngầm” (Pháp), “lợi ích của Trung Quốc là phải chứng tỏ một thái độ mềm dẻo nào đó về vấn đề Đông Dương" (Mỹ).


Nhưng những nhân tố trên không phải là nhân tố quyết định duy nhất thái độ của Trung Quốc. “Tính truyền thống lâu đời trong quan hệ Trung-Việt”, và ở mức độ thấp hơn đối với Lào và Cam-pu-chia, cũng sẽ đóng vai trò quyết định".


Lịch sử mối quan hệ đó từ các triều đại phong kiến Trung Quốc đến Tôn Dật Tiên, Mao Trạch Đông, đều cho thấy các chế độ chính trị ở Trung Quốc luôn luôn coi Việt Nam có một vị trí đặc biệt đối với họ. “Các đế chế Trung Hoa có ý đồ không thay đổi áp đặt một thứ hoà bình kiểu Trung Quốc đối với các bờ cõi phía nam…, ngày nay cũng như trước đây; điều đó đã được thật sự đặt lên hàng đầu trong suốt thời gian thương lượng ở Giơ-ne-vơ”.


Giới cầm quyền Bắc Kinh “quan tâm sát sao” đến vấn đề Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam thành công. Một mặt họ phái cán bộ sang Việt Nam “để tiến hành hoạt động tuyên truyền trong đông đảo Hoa kiều” ở Việt Nam, mặt khác họ tăng cường viện trợ và ảnh hưởng đối với cách mạng Việt Nam, nhất là từ sau khi Trung Quốc được giải phóng.


Trước hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, trong khi ở phương Tây người ta lo ngại Trung Quốc có thể can thiệp trực tiếp vào Đông Dương thì ngược lại, Bắc Kinh lại làm rùm beng và tỏ ra lo sợ Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông Dương. “Vào mùa xuân năm 1954, Trung Quốc đã lựa chọn sự cùng tồn tại hoà bình” và đối với Bắc Kinh, “Đông Dương không được trở thành một Triều Tiên mới”. Thái độ đó bắt đầu từ sau khi đình chiến ở Triều Tiên. Trên thực tế, Bắc Kinh nhấn mạnh việc giải quyết vấn đề Đông Dương bằng thương lượng từ mùa thu năm 1953, trước cả Việt Nam, và chỉ viện trợ cho Việt Nam “đủ để tạo thuận lợi cho Việt Minh giành thắng lợi, song không vì thế mà viện trợ vô hạn độ để Việt Minh có thể làm cho Mỹ và đồng minh của Mỹ can thiệp, dù cho lúc đó Bắc Kinh có thể “viện trợ to lớn hơn viện trợ mà họ đã thực sự dành Việt Minh".


Do đó, việc tiền hành thương lượng về Đông Dương hoàn toàn đáp ứng các lợi ích dân tộc của Trung Quốc: làm dịu tình hình căng thẳng ở Viễn Đông cần thiết cho sự phát triển kinh tế của Trung Quốc, gạt bỏ nguy cơ can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột ở Đông Dương, tạo khả năng cho Trung Quốc chấm dứt được sự bài xích của phương Tây, chứng tỏ Trung Quốc là một cường quốc trên sân khấu thế giới và tạo cơ hội cho Trung Quốc tiến hành các cuộc đàm phán thương mại với phương Tây”.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Hai, 2011, 02:51:53 PM
Phần thứ hai và thứ ba của cuốn sách chủ yếu nói về diễn biến của hội nghị Giơ-ne-vơ và thái độ của giới cầm quyền Bắc Kinh đến Giơ-ne-vơ “không phải để ủng hộ quan điểm của Việt Minh mà để cố gắng lập lại hoà bình”.


Trong giai đoạn đầu của hội nghị, đồng thời là bước đầu của Trung Quốc vào sân khấu quốc tế, thái độ của Bắc Kinh trên công khai là “cứng rắn và lập trường triệt để đứng về phía Liên Xô". Nhưng Bắc Kinh cũng đã để lộ ra là “tránh không tố cáo” tuyên bố giữa Pháp và bù nhìn ngày 28-4-1954 về việc Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam. Và từ giữa tháng 5, chỉ ít ngày sau khi khai mạc hội nghị (8 tháng 5), Bắc Kinh “nhanh chóng chứng tỏ rằng lập trường của Trung Quốc không phải chỉ phản ánh một cách đơn giản lập trường của Liên Xô". Trong các phiên họp và những cuộc tiếp xúc tay đôi với Anh và đặc biệt với Pháp, họ đã nói rõ:

Ngày 18 tháng 5: “Chúng tôi đến đây không phải để ủng hộ quan điểm của Việt Minh mà để cố gắng lập lại hoà bình”; “Trung Quốc không nhất thiết khuyến khích hoạt động quân sự của Việt Minh tiến về đồng bằng".

Ngày 27 tháng 5: “Về Lào và Cam-pu-chia, quan điểm của Trung Quốc phù hợp với quan điểm của Pháp”; “Các vùng tập kết phải được xác định trên cơ sở hình thái quân sự chứ không phải chính trị”.

Ngày 7 tháng 6: “Chúng tôi không có điều kiện nào cả, chúng tôi chỉ đơn giản muốn hoà bình”.

Vì vậy hội nghị về vấn đề Đông Dương vẫn không tiến triển được. Ngày 15 tháng 6, hội nghị Giơ-ne-vơ về vấn đề Triều Tiên thất bại. Bắc Kinh lo sợ hội nghị về vấn đề Đông Dương chịu chung số phận đó. Trong khi đó ở Pháp, chính phủ Măng-đét Phrăng (Mendès France) lên cầm quyền, Bắc Kinh đã chọn thời điểm trùng hợp này để triển khai trở lại hội nghị về vấn đề Đông Dương “bằng cách đưa ra một đề nghị cốt tử về các vấn đề Lào và Cam-pu-chia”. Đề nghị đó “có tính chất thúc đẩy quyết định" mà Mỹ cũng hoan nghênh. Đó là:

Ngày 16 tháng 6: Chu Ân Lai gặp Ngoại trưởng Anh, đã nói là “có thể thuyết phục Việt Minh rút quân khỏi Lào và Cam-pu-chia” và sẵn sàng công nhận tính chất hợp pháp của các chính phủ Vương quốc Lào và Cam-pu-chia. Trong phiên họp toàn thể ngay chiều hôm đó, Bắc Kinh đưa ra đề nghị 6 điểm tách riêng việc giải quyết các vấn đề Lào và Cam-pu-chia khỏi vấn đề Việt Nam. Còn phía Việt Nam thì vẫn đòi công nhận Pa-thét Lào và Khơ-me Ít-xa-rắc. Và ngày hôm sau, 17 tháng 6, Chu Ân Lai nói với Ngoại trưởng Pháp nội dung cụ thể giải pháp về vấn đề Cam-pu-chia, được đánh giá là “chưa có một bản trình bày nào lại rõ ràng và chính xác hơn thế”. Trong bản trình bày đó, Chu Ân Lai còn nói đến một vùng tập kết quân Pa-thét Lào ở biên giới Việt Nam và Trung Quốc, nhưng cùng ngày, phía Việt Nam đòi Pa-thét Lào kiểm soát một nửa nước Lào.

Ngày 23 tháng 6, khi gặp Măng-đét Phrăng (Mendès France), Chu Ân Lai nói rằng Trung Quốc “không đòi đền bù gì về những sự nhượng bộ đối với vấn đề Lào và Cam-pu-chia, không lợi dụng khó khăn của Pháp để đòi chính phủ Pháp phải nhân nhượng điều gì”. Về hội nghị thì “cần thảo luận các vấn đề quân sự trước các vấn đề chính trị, và giải pháp chính trị có thể tiến hành theo nhiều bước trong một thời gian khá dài: cần đẩy nhanh việc thương lượng về việc tập kết quân đội Việt Nam, thời hạn là ba tuần”.

Tác giả nhận xét là tiếp đó, với nội dung Măng-đét Phrăng (Mendès France) chỉ thị cho đoàn Pháp thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (tập kết quân, đường ranh giới ở vào vĩ tuyến 18…) thì “kể từ nay việc chia cắt Việt Nam đã trở thành mục tiêu chính của đoàn đại biểu Pháp”.

Giai đoạn chót của hội nghị bắt đầu từ trung tuần tháng 7, sau ba tuần lễ dẫm chận tại chỗ trong khi vắng mặt các trưởng đoàn và diễn ra cuộc gặp giữa Chu Ân Lai và Chủ tịch Hồ Chí Minh từ 3 đến 5 tháng 7 vì “sự tồn tại mối bất hoà giữa Trung Quốc và Việt Minh vào cuối tháng 6 năm 1965 là không thể nghi ngờ được”.

Ngày 13 tháng 7, gặp lại Măng-đét Phrăng (Mendès France) đề cập đến vấn đề ranh giới tạm thời giữa Nam và Bắc Việt Nam, Chu Ân Lai tin rằng nếu Pháp “tiến lên một bước thì phía bên kia sẽ đi nhiều bước hơn để đón các ngài” và “theo sự thoả thuận”, ngay chiều hôm đó phía Pháp đưa đến cho Trung Quốc bản dự thảo về tuyên bố chính trị cuối cùng của hội nghị.

Từ đó, phía Trung Quốc “đóng vai trò nổi bật” trong việc giải quyết những vấn đề tồn tại của hội nghị, với những nhượng bộ “có ý nghĩa quyết định" của phía Trung Quốc đối với đòi hỏi của Pháp, và việc gây sức ép đối với phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong những vấn đề then chốt:


Về thời hạn tuyển cử: Trong khi phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đòi thời hạn 6 tháng, Chu Ân Lai đề nghị một cách phải chăng rằng “các cuộc tuyển cử nên lùi lại 2 năm cho đến năm 1956, các đại biểu hai miền Nam Bắc sẽ thoả thuận với nhau về thời hạn chính xác”.


Về giới tuyến: trong khi phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vẫn giữ ý kiến vĩ tuyến 16 thì Chu Ân Lai nói “thực tế là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyệt đối không cần đến con đường số 9” mà phía Pháp coi đó là con đường ra biển của Lào. Sau đó tự ý khẳng định với phía Pháp là đã làm cho Việt Minh chấp nhận” ý kiến của Trung Quốc.


Kết thúc hội nghị Giơ-ne-vơ tối 22 tháng 7, Chu Ân Lai mời cơm các trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Vương quốc Lào và Vương quốc Cam-pu-chia và cả Ngô Đình Luyện, “tập hợp các đại biểu của bốn nước Đông Dương". Trong bữa cơm, Chu Ân Lai chúc sức khoẻ Bảo Đại, gợi ý Nam Việt Nam đặt một Công sứ quán tại Bắc Kinh, “một gợi ý mà Việt Minh tuyệt nhiên không được báo trước”.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 03 Tháng Hai, 2011, 02:52:59 PM
Phần thứ tư của cuốn sách chủ yếu nói lên thái độ của giới cầm quyền Bắc Kinh đối với việc thi hành hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương, đặc biệt về vấn đề thống nhất Việt Nam và chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Đông Dương.


Về vấn đề thống nhất Việt Nam, sau hội nghị Giơ-ne-vơ, “Trong khi các nhà lãnh đạo và báo chí Việt Nam luôn luôn lên tiếng ủng hộ các tuyên bố của Trung Quốc liên quan đếm vấn đề Đài Loan thì việc Trung Quốc bỏ qua một cách có hệ thống không nói đến vấn đề thống nhất của Việt Nam lại càng trắng trợn”. Điện mừng của Mao Trạch Đông, khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, phát biểu của Chu Ân Lai khi tiếp thủ tướng Phạm Văn Đồng đi qua Bắc Kinh đầu tháng 8 năm 1954, phát biểu của Đại sứ La Quý Ba khi trình quốc thư đều không nói đến vấn đề đó. Ngược lại, phía Việt Nam “không ngừng khẳng định rằng mục tiêu cuối cùng là thống nhất đất nước”.


Từ thực tế trên, tác giả nhắc lại rằng Măng-đét Phrăng (Mendès France) khi đàm phán với Chu Ân Lai, đã tin tưởng là Trung Quốc rõ ràng tán thành chia cắt lâu dài Việt Nam, tán thành sự tồn tại của phía nam Trung Quốc nhiều quốc gia đa dạng. Cho nên Bắc Kinh đã hạn chế các yêu sách của Việt Minh ở hội nghị Giơ-ne-vơ, đặc biệt đã gây sức ép với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải giảm bớt “tham vọng” đối với miền Nam Việt Nam và đối với các nước khác ở Đông Dương, để tạo nên một sự cân bằng mới ở ngay Việt Nam và cả trên bán đảo Đông Dương. Ý đồ của Bắc Kinh còn ở chỗ là “bị cắt mất vùng lúa gạo thừa thãi ở Nam kỳ, Bắc Việt chỉ còn có thể hướng về Trung Quốc để bổ sung nguồn thực phẩm còn thiếu”; “sau khi Việt Nam bị chia cắt, miền Bắc gắn bó mật thiết hơn với nền kinh tế Trung Quốc từ nay duy nhất có khả năng cung cấp cho những nhu cầu chủ yếu của một nước không thể tự cung tự cấp được. Tình trạng đó từ nay sẽ là một chủ bài quan trọng đối với chính sách của Trung Quốc ở Việt Nam".


Về chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Đông Dương, sự khác nhau cũng thể hiện ngay trên các tuyên bố công khai. Từ đó, tác giả cho rằng quan điểm của Trung Quốc về một Đông Dương đa dạng có nghĩa là “Lào và Cam-pu-chia phải là đối trọng với Việt Nam". Và “Lập trường của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa muốn tạo ra nhiều nước riêng biệt ở Đông Dương, muốn ban-căng hoá Đông Dương dĩ nhiên dẫn đến sự chia rẽ tình đoàn kết giữa những người yêu nước ở các nước Đông Dương, làm suy yếu các mặt trận cách mạng và dân chủ ở Lào và Cam-pu-chia đang hướng về chủ nghĩa xã hội trên thế giới”. Đó là: “một chính sách Đông Dương nối tiếp chính sách của các triều đại hoàng đế xưa kia”, mà một trng những nét nổi bật nhất của chính sách đó là ý muốn thường xuyên duy trì hoà bình ở sườn phía nam, dựa trên thế cân bằng lập ra từ nhiều sự cạnh tranh giữa các nước khác nhau ở trong vùng… một chính sách khá gần gũi với chính sách chia để trị cổ xưa”.


Tóm lại, tác giả kết luận, “phải chăng người ta thấy lại cách đối xử “vô tư” xưa kia, dưới cái vỏ trật tự nho giáo, thường chỉ phục vụ lợi ích chính trị của đế chế Trung Hoa”.

Thái độ của Trung Quốc đối với Việt Minh là thái độ của một cường quốc ủng hộ kiên quyết đồng minh của mình chừng nào mà mục tiêu của đồng minh có thể khớp với thế cân bằng (Bắc Kinh) đang tìm kiếm, nhưng cũng biết áp đặt một vài điều bó buộc trong trường hợp ngược lại”. Và Đông Dương thống nhất trong cuộc cách mạng như trước đây ở dưới chế độ thực dân nhường chỗ cho Đông Dương trở nên phức tạp biểu hiện ở bữa cơm của Chu Ân Lai ngày 27 tháng 7”.


Chiến lược của Bắc Kinh rõ ràng là muốn Đông Dương bị xé ra thành nhiều nước nhỏ, “đa dạng” về chính trị, dễ dàng bị Trung Quốc chi phối và buộc phải đi theo quỹ đạo của giới cầm quyền Bắc Kinh. Cho nên, Bắc Kinh ngầm tán thành sự tồn tại lâu dài của một Nhà nước Nam Việt Nam, duy trù các chính phủ Vương quốc ở Lào và Cam-pu-chia. Đó chỉ là một sự nối tiếp chính sách của các đế chế Trung Hoa. Và trong suốt mấy chục năm qua, mặc dầu bối cảnh quốc tế và tình hình nội bộ Trung Quốc có những đảo lộn lớn, song Bắc Kinh vẫn duy trì một cách liên tục chính sách không thay đổi đó. Sau khi Việt Nam đã thống nhất năm 1976, quan hệ Việt-Lào được tăng cường, bối cảnh căn bản khác với năm 1954 và những năm sau đó, nhưng Bắc Kinh vẫn “tiếp nối thẳng tắp thái độ ở Giơ-ne-vơ “nhằm duy trì cái gì còn có thể giữ được trong chính sách “chia để trị” ở Đông Dương. Vì vậy nếu ngày hôm qua, vào giữa những năm 1950, họ muốn có một Cam-pu-chia theo “Chủ nghĩa quốc gia” và là một đối tượng với Việt Nam thì ngày nay, vào giữa những năm 1970, họ tạo nên một Cam-pu-chia “cách mạng" để thống nhất lại nước Việt Nam thống nhất. Đó là mục tiêu không thay đổi trong chính sách Đông Dương mà tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Trung Quốc theo đuổi.


“Trung Quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương" là một cuốn sách mà mọi người chúng ta nên đọc để hiểu thêm về kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm của nhân dân ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Tuy nhiên, do tác giả đứng trên lập trường tư sản để viết nên cuốn sách cũng có những nhận định sai lầm. Chúng ta đã có cuốn “sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”, một công trình nghiên cứu có hệ thống, một tài liệu đấu tranh sắc bén chống chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh.


Chúng tôi trích dịch cuốn sách này để bạn đọc tham khảo.


Tháng 3 năm 1981
Nhà xuất bản Thông tin Lý luận


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Hai, 2011, 12:11:33 PM
LỜI NÓI ĐẦU

Phải thẳng thắn thừa nhận sự ngu dốt của mình, không đem tưởng tượng và bịa đặt thay thế cho điều mình không biết. Phải kể lại chính xác các sự kiện, và sau đó chỉ đưa ra những điều suy nghĩ ngắn gọn đối với những cái mà những sự suy nghĩ ấy có thể có giá trị.

Hồi ký của Xanh Xi-mông


Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa phương Đông và phương Tây, có sự tham dự của Trung Hoa-Bắc Kinh", đại sứ Giăng Sô-ven (Jean Chauvel) trong hồi ký của mình đã nêu lên việc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tham gia hội nghị Giơ-ne-vơ như vậy1 (Jean Chavel, Commentaire (Bình luận). Pari Phay-át, 1975, tập H, tr.59).


Cuộc gặp gỡ đầu tiên ư? Chắc chắn là như vậy: Nếu cuộc đàm phán quan trọng giữa Trung Quốc và Liên Xô trong những năm 1949-1950 ở nhiều điểm được coi là “một cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây thì ngược lại, sự giống nhau về lý tưởng của hai chế độ xã hội hiện diện đã làm cho cuộc gặp gỡ có tính chất một sự bình thường hoá quan hệ trong nội bộ khối hơn là một sự chạm trán giữa hai hệ thống. Còn cuộc thương lượng tại Bàn Môn Điếm, kết thúc chín tháng trước hội nghị Giơ-ne-vơ thì chưa bao giờ vượt qua giai đoạn của một cuộc thảo luận hạn chế về quân sự nhằm đi đến ngừng bắn ở một giới tuyến đã được số phận vũ khí định đoạt.
“Cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây”? Triển vọng là to lớn. Nhưng chúng tôi thấy gọi như thế có vẻ đúng. Ý niệm đó thể hiện rõ ý hơn là dùng thuật ngữ “gặp gỡ Đông – Tây”. Đúng là chúng ta đang ở bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh vào thời kỳ quyết liệt, hai khối đối chọi nhau gay gắt. Thái độ cư xử của một Bi-đơn Xmit (Bedell Smith), của một Đa-let (Foaster Dulles), một Bi-đơn (Georges Bidault), một Mô-lô-tốp (Molotov) gần như luôn luôn nhắc tới điều đó.


Tuy vậy, chúng tôi thích dùng “giữa phương Đông và phương Tây” hơn. Bởi vì Giơ-ne-vơ cũng là thái độ ôn hoà khôn khéo của một I-đơn (Anthony Eden), hay niềm tin còn nóng vội của một Măng-đét Phrăng (Mendès Frangce) đứng trước ngoại giao quỷ quyệt khôn lường của một Chu Ân Lai hoặc hơn nữa là sự giận giữ lo âu của Phạm Văn Đồng. Tấn thảm kich của một Đông Dương chia cắt đang thoát khỏi sự ràng buộc thuộc địa. Sự cố gắng căng thẳng của một Trung Quốc mong muốn thế giới cũ và thế giới mới chấp nhận. Một châu Á đang vươn lên, mong muốn người ta hiểu mình trên diễn đàn quốc tế lâu nay bị châu Âu hay Hoa Kỳ chi phối. Đối với chúng tôi, thuộc loại các cuộc thương lượng quan trọng, từng thời kỳ một, chúng ghi lại những sự biến đổi của thế giới.


Nhưng tại sao lại tìm cách tách riêng thái độ đặc biệt của Trung Quốc như vậy?

Ít nhất là vì hai lý do, bổ sung cho nhau là đằng khác:

Trước hết, bởi vì việc nghiên cứu lịch sử chính sách đối ngoại của Trung Quốc hiện đại-chưa được phát triển ở Pháp-đòi hỏi phải xem xét kỹ càng, từng cái một và kiên nhẫn những thời điểm có ý nghĩa nhất trong một thời kỳ lịch sử. Giơ-ne-vơ, cuộc đối mặt lớn lao đầu tiên của nước Trung Hoa mới với thế giới phương Tây, đối với chúng tôi là một trong những thời điểm đó-thời điểm đáng để chúng ta bỏ công nghiên cứu đề tài đó-đáng để chúng ta bỏ công phân tích việc nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa bước vào “hệ thống quan hệ liên quốc” (quan hệ giữa quốc gia này với quốc gia khác) như các nhà xã hội học về quan hệ quốc tế đã viết.


Từ nhận xét này chúng tôi đi thẳng đến lý do thứ hai phải ưu tiên nghiên cứu thái độ của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương. Đây còn là một lý do về phương pháp nữa. Chúng tôi cho rằng nghiên cứu các mối quan hệ quốc tế hiện đại mà chỉ dựa vào kinh nghiệm phương Tây thì không hợp lý lắm, còn nói gì vè lý thuyết? Làm sao có thể thúc đẩy việc nghiên cứu tiến triển nếu chúng ta xem nhẹ tính đặc thù của các thế giới xa lạ nhất với chúng ta? Trong một tác phẩm của Vôn-te (Voltaire), khi xem xét “Trích Dự án hoà bình vĩnh cửu của ông thày dòng Xanh Pi-e (Saint-Pierre)” do Rút-xô (J.J.Rousseau) công bố, Hoàng đế Trung Hoa đã nói: “Nhưng trẫm rất ngạc nhiên khi đã đi tìm mãi mà không thấy tên Trẫm trong danh sách”. Hai thế kỷ sau, ý nghĩ trào lộng này hình như vẫn không mất đi tính thời sự của nó.


Thật vậy trong chừng mừng nào đó (nói thì dễ quá đi thôi) hệ thống quốc tế có cái lô-gích riêng của nó và nó buộc các nhà đương cục là các quốc gia phải tuân theo. Nhưng sự phản ứng của các quốc gia đó về căn bản cũng cón thể hiện nhân cách của mỗi nước. Bởi vậy, chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng không nên đề cập đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc ít nhất là ở Đông Dương, giống như chính sách của Mỹ hay của Liên Xô mà công trình nghiên cứu này không đả động đến. Phải chăng đây là cuộc tranh luận triền miền giữa những “nhà nghiên cứu cái phổ biến” và những “nhà nghiên cứu cái đặc thù”? Có thể như vậy.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Hai, 2011, 12:13:37 PM
Có nhiều công trình nói đến một phần đề tài chúng tôi đang quan tâm, đã được xuất bản đặc biệt là ở nước ngoài.

Một nhận xét đầu tiên, về hình thức: ở nước Trung Hoa nhân dân chưa hề có một công trình nghiên cứu lịch sử có liên quan xa, gần đến thái độ của chính phủ Bắc Kinh đối với vấn đề Đông Dương năm 1954. Điều đó không có nghĩa là không có các nguồn Trung Quốc liên quan đến vấn đề đó, chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này khi nói về báo chí. Giờ đây, chúng tôi chỉ muốn nói rằng một vài cuốn sách tuyên truyền về vấn đề Đông Dương xuất bản trong những năm 1950 ở nước Trung Hoa nhân dân có thể đem lại những dữ kiện đáng chú ý. Chẳng hạn như cuốn sách nhỏ của Hu Ch’ i-an tên là “Trình bày về vấn đề Đông Dương" xuất bản ở Thượng Hải năm 1954 trong đó có một chương nói về hội nghị Giơ-ne-vơ và một chương khác về việc giải quyết cuộc khủng hoảng (chương IX và X)2 (Trong bảng thư mục sẽ liệt kê rõ các công trình và tạp chí nói đến trong lời nói đầu này). Một vài tạp chí chuyên ngành hiếm hoi xuất bản ở Bắc Kinh như “Nghiên cứu về các vấn đề quốc tế” cũng có thể cung cấp những tư liệu có ích.


Ngoài ra ở Đài Loan và Hồng Công cũng đã xuất bản nhiều công trình, sách nhỏ hay bài báo liên quan đến khía cạnh này, khía cạnh khác của vấn đề, và đó là những nguồn thông tin đáng quan tâm. Ví như cuốn sách nhỏ của Chang Tachiin “Vấn đề cộng sản Lào” nói về quan hệ giữa Việt Minh, Đảng cộng sản Trung Quốc và Pathet Lào. Hoặc nữa, các bài trong tạp chí của Trung Hoa quốc gia như “Nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc" (đó là tạp chí nghiên cứu về Bắc Kinh), “Những vấn đề và những đề tài nghiên cứu" xuất bản ở Đài Bắc, hoặc là “triển vọng”, “Xuân Thu” xuất bản ở Hồng Công, v.v… Đối với những nguồn như vậy, cần phải phê phán nghiêm túc về mặt lịch sử, nhưng sự đóng góp của chúng đôi khi có giá trị.


Ở Pháp,-người ta có thể nói cả ở châu Âu-chúng tôi chỉ biết có một cuốn “Sự kết thúc của một cuộc chiến tranh" của Giăng La-cu-tuya (Jean Lacouture) và Phi-lip Đơ-vi-le (Philippe Devillers) xuất bản ở Pa-ri năm 1960.


Cũng như thường xảy ra, sự đóng góp về nguồn tư liệu chủ yếu là của Mỹ. Sự can thiệp ngày càng tăng của Mỹ vào bán đảo Đông Dương kể từ khoảng năm 1960 đã lôi cuốn các trường đại học và trung tâm nghiên cứu Mỹ vào việc phát triển các công trình nghiên cứu về lịch sử Đông Dương, nhất là về chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản Việt Nam cũng như về việc thủ tiêu chủ nghĩa thực dân Pháp. Một công trình tiêu biểu của Men-vin Guốc-tốp (Melvin Gurtov) là cuốn Cuộc khủng hoảng Việt Nam đầu tiên có một tiểu đề mục “Chiến lược của cộng sản Trung Quốc và sự dính líu của Mỹ, 1953-1954” do trường Đại học Cô-lum-bi-a xuất bản năm 19673 (Như tên sách đã chỉ rõ, cuốn này dành nhiều vào việc nghiên cứu cuộc khủng hoảng hơn là cách giải quyết nó, điều này trái ngược với yêu cầu của chúng tôi). Hoặc công trình của King C.Chen, Trung Quốc và Việt Nam, 1938-1954, do trường Đại học Prin-xơ-tơn xuất bản hai năm sau đó, phản ánh cùng một mối quan tâm của một nước Mỹ phiền muộn, muốn tìm hiểu sự thật4 (Công trình này một phần dựa vào nguồn của những người theo chủ nghĩa quốc gia ở Trung Hoa, có dành một chương về thái độ của Trung Hoa nhân dân trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương năm 1954). Phải kể đến công trình nghiên cứu quan trọng của Rô-be Ran-đơn (Robert Randle) Giơ-ne-vơ 1954: việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương cũng do trường Đại học Prin-xơ-tơn xuất bản năm 1969, theo chúng tôi biết, đó là công trình duy nhất nghiên cứu một cách tổng thể về hội nghị Giơ-ne-vơ kể từ khi có cuốn sách của Giăng La-cu-tuya và Phi-lip Đơ-vi-le. Hết thảy các công trình nghiên cứu đó dựa một phần vào những nguồn tư liệu gốc. Đặc biệt R.F.Ran-đơn đã cố gắng khai thác những hồ sơ lưu trữ riêng của J.F.Đa-let cũng như “Sưu tập lịch sử về Đa-lét” của trường Đại học Prin-xơ-tơn5 (Sưu tập này gồm những biên bản của hàng chục nhân vật Mỹ và nước ngoài có tiếp xúc với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Đa-lét). Nhưng nếu nguồn này có thể cung cấp những dữ kiện đáng chú ý để tìm hiểu thái độ của Mỹ trong việc giải quyết (cuộc chiến tranh Đông Dương) thì hiển nhiên nó lại không thể đem lại những tư liệu quyết định về thái độ của Trung Hoa nhân dân, vì các cuộc tiếp xúc giữa Mỹ và Trung Quốc, như người ta thấy, là rất sơ sài trong thời gian hội nghị Giơ-ne-vơ. Không kể một vài cuộc nói chuyện với các nhân vật chính trị, những tác giả nói trên chủ yếu đã phải dựa vào các hồi ký của các nhà chính trị và các báo chí Mỹ và Trung Quốc.


Đồng thời chúng tôi cũng phải nói đến các công trình nghiên cứu của Liên Xô đã tăng lên gấp bội trong những năm gần đây, nhất là các công trình của Viện nghiên cứu Viễn đông-Mát-xcơ-va. Rõ ràng sự phát triển mối xung đột Trung-Xô đã đưa các sử gia Nga ngày càng nhấn mạnh đến những sự bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc về chính sách đối ngoại. Do đó các công trình nghiên cứu của Liên Xô là một kho thông tin tư liệu quý báu có thể khai thác được. Nhưng cũng chắc chắn rằng nếu ở đâu cần phải chú ý đặc biệt đến việc phê chuẩn về mặt lịch sử thì chính là ở các công trình này. Việc so sánh giữa hai công trình nghiên cứu của M.S.Ca-pít-sa (M.S.Kapitsa) (nguyên là thành viên của đoàn đại biểu Liên Xô tại Giơ-ne-vơ), cuốn “Quan hệ Xô-Trung” xuất bản năm 1958 và cuốn “Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa: hai chục năm-hai chính sách” xuất bản năm 1969, có tác dụng đặc biệt soi sáng về phương diện này. Các công trình mới xuất bản đó cũng thường đưa lại những dữ kiện mới không thể phủ nhận được. Chính vì vậy chúng tối sẽ coi trọng các công trình đó.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Hai, 2011, 12:15:03 PM
Sự đóng góp chủ yếu của công trình nghiên cứu của chúng tôi, theo chúng tôi nghĩ, là ở chỗ công trình đó dựa trên những hồ sơ lưu trữ, trong trường hợp đặc biệt này là những hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao Pháp.


Những hồ sơ này là của đoàn đại biểu Pháp tại hội nghị Giơ-ne-vơ, của Vụ chính trị và của Bộ các quốc gia liên kết trước đây. Tức là những biên bản của các cuộc nói chuyện bán chính thức đã diễn ra tại Giơ-ne-vơ giữa hai đoàn đại biểu Trung Quốc và Pháp và đó là những nguồn tư liệu đáng chú ý nhất. Trong số này có cả thư từ trao đổi giữa Pa-ri với Giơ-ne-vơ và Sài Gòn, cũng như giữa Pháp và các đồng minh của mình6 (Những hồ sơ này chưa được công bố. Việc những tài liệu nào đã dùng chỉ được trích dẫn tóm tắt, nói rõ nguồn, ngày, tháng, trích yếu mà không nói rõ ở tập  nào. Về chi tiết của các hồ sơ này, xem mục, “Nguồn và thư mục tham khảo” ở cuốn sách.


Việc sử dụng những hồ sơ lưu trữ này đặt ra một vấn đề phương pháp mà chúng tôi không có ý định lẩn tránh: có thể chấp nhận đến mức nào việc phân tích chính sách đối ngoại của một Nhà nước, trong trường hợp này là Trung Quốc, bằng cách dựa rất nhiều vào hồ sơ của một nước khác, như trong trường hợp này là nước Pháp, như chúng tôi sẽ làm? Cách tiến hành như vậy-có cần phải nhấn mạnh điều này không? Không thể coi là hoàn hảo. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng con đường phải đi là như vậy vì ba lý do chính:


Trước hết, vì cho đến lúc kết thúc, Đông Dương chủ yếu vẫn là một vấn đề của nước Pháp. Trong quá trình hội nghị, Pháp vẫn là người đối thoại được Trung Quốc ưu đãi. Vậy thì nếu những hồ sơ lưu trữ của Pháp rõ ràng là không thể đem ra thay thế hồ sơ lưu trữ của Trung Quốc, người ta có thể thừa nhận rằng, ngoài hồ sơ lưu trữ của Trung Quốc ra, đó là những tài liệu bổ ích nhất để nắm được đâu là những phương hướng chủ yếu của nền ngoại giao Trung Quốc.


Thứ hai, vì các biên bản của các cuộc tiếp xúc hẹp và bí mật mà lần đầu tiên chúng tôi có thể khai thác được, cho phép nắm được, nếu không phải là nguyên nhân thì ít nhất cũng là điều kiện, bối cảnh của chính sách Trung Quốc như đã được diễn đạt như thế.


Cuối cùng, vì trong một chế độ xã hội chủ nghĩa như là Trung Quốc, báo chí, đài phát thanh hoàn toàn do Nhà nước kiểm soát, cũng là một nguồn thông tin không thể xem thường được. Báo chí Trung Quốc tự một mình nó-chủ yếu là báo hàng ngày như Nhân dân nhật  báo và bản tin Tân Hoa xã-không thể là một cơ sở đủ cho việc nghiên cứu lịch sử. Trái lại, đem đối chiếu với các tư liệu gốc thì ngược lại báo chí trở thành một loại tư liệu bổ sung cần thiết. Một thứ bổ sung cứ mỗi bước lại đưa ra những so sánh đôi khi khá phong phú7 (Ví như, chúng tôi nghĩ tới bài xã luận tờ Nhân dân nhật báo ra ngày 22 tháng 2 năm 1954 về nghị quyết hội nghị Béc-lin mà người ta chú ý đem so sánh với các bài xã luận Liên Xô vào cùng thời gian đó (xem chương III) hoặc nữa, bài xã luận cũng của tờ Nhân dân nhật báo ra ngày 22 tháng 7 năm 1954 về việc kết thúc hội nghị Giơ-ne-vơ mà người ta đem so với các bài xã luận Việt Minh và Liên Xô trong ngày hôm đó). Về phương diện này, chúng tôi coi báo chí Trung Quốc như một nguồn nếu không phải là chủ yếu thì ít nhất cũng là quan trọng hàng đầu.


Như vậy, tính chất của ngay các hồ sơ lưu trữ của chúng tôi chắc sẽ đưa đến chỗ nói quá nhiều về quan hệ Trung-Pháp. Chắc chắn là trong các cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Trung Quốc và phương Tây, nước Anh cũng đóng vai trò quyết định. Vậy mà, để phân tích quan hệ Trung-Anh, chúng tôi chỉ có tập Hồi ký của Ngài I-đơn (Sir Anthony Eden) người dẫn đầu đoàn đại biểu Anh tại Giơ-ne-vơ, cũng như tập Hồi ký của đại sứ Hăm-phrây Tơ-ri-vi-li-an (Humphrey Trevelyan) đại diện tại Bắc Kinh, tuỳ tùng của I-đơn và những thông báo mà đoàn đại biểu Anh đã có nhã ý trao đổi với đoàn đại biểu Pháp. Thật là ít. Chắc chắn rằng đến ngày nào có thể khai thác được hồ sơ lưu trữ của Bộ Ngoại giao Anh thì sẽ hài lòng được thấy rõ hơn tầm quan trọng của các cuộc hội đàđại đội giữa người đứng đầu nền ngoại giao Anh và Chu Ân Lai nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng Đông Dương.


Những tập hồi ký của nhiều nhân vật chính giới được xuất bản từ 1954 cũng giúp đỡ chúng tôi ít nhiều. Nhưng ở lĩnh vực này, việc phê phán các nguồn tư liệu cũng phải đặc biệt nghiêm túc.


Trước hết, bởi vì thể loại văn học này cực kỳ phức tạp. Thế nào gọi là hồi  ký? Hiển nhiên là không thể nghi ngờ gì được các tập Hồi ký của I-đơn, Nhật ký bảy năm của Ô-ri-ôn (Vincent Auriol), Bình luận của Sô-ven, Hồi ký của các tướng Sa-lăng (raoul Salan) hoặc của tương Ê-ly (Paul Ely) thuộc thể loại này và được sử dụng như các loại hồi ký. Nhưng những trang (171-176) trong cuốn Đảng cộng sản Trung Quốc cầm chính quyền mà Ghi-éc-ma (Jacques Guillermaz) viết về hội nghị Giơ-ne-vơ phải chăng được coi là “hồi ký” bởi lẽ tác giả là thành viên của đoàn đại biểu Pháp tại hội nghị? Hay là những trang (108-117)-không bổ ích gì lắm-trong cuốn Vấn đề Đông Dương từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai của La-vrit-sép (Alexandr Lavrisev) cũng được coi là “hồi ký” chăng? Bởi vì tác giả cũng đã tham dự Hội nghị với tư cách Tổng thư ký của đoàn đại biểu Liên Xô. Hoặc những trang (401-403) trong cuốn Quan hệ Xô-Trung của M.S.Ca-pít-sa cũng thế, bởi vì cũng như La-vrit-sép, M.S.Ca-pít-sa có mặt ở Giơ-ne-vơ lúc đó? Chắc chắn không phải như vậy. Vì chúng tôi đã cố ý chọn những cuốn sách mà việc biên soạn đã làm cho các công trình mang tính chất nghiên cứu bậc đại học, hoặc nghiên cứu chính thức chứ không phải hồi ký. Nhưng giữa những thái cực đó, chúng ta sẽ xếp vào loại nào cuốn sách nhỏ nhan đề Tiếng vang trung thực của đại tá Ê-vôn (Robert B.Ekvall) nguyên là phiên dịch tiếng Trung Quốc của đoàn đại biểu Mỹ tại Giơ-ne-vơ? Đó là kỷ niệm của một cuộc hội nghị hay là những điều khó hiểu về chính trị bắt nguồn từ những sự khó khăn trong việc phiên dịch8 (Thực ra Ê-vôn làm phiên dịch ở hai cuộc hội nghị. Trước đó ông ta đã làm phiên dịch ở hội nghị Bàn Môn Điếm). Hoặc cuốn sách của Hoàng Văn Chỉ nhan đề Từ chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa cộng sản. Đó là một công trình nghiên cứu về cải cách ruộng đất của Việt Minh trong những năm 1953-1956 hay là chuyện kể của một nhân vật đặc biệt nhạy cảm đối với sự bành trướng về ý thức hệ của Trung Quốc ở Việt Nam?


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Hai, 2011, 02:29:39 PM
Nhưng đương nhiên, những lầm lẫn về tài liệu hoặc việc “viết lại” lịch sử là những khó khăn nghiêm trọng nhất. Nhớ nhầm chăng? Đại sứ Sô-ven là người đã có mặt tại hội nghị này từ đầu đến cuối đã nhớ lại rất kỹ “cái động tác rất tiêu cực của Đa-lét” lúc 20 giờ ngày 15 tháng 6 khi ông này giơ tay tỏ ý không muốn hội nghị tiếp tục bàn về vấn đề Triều Tiên nữa9 (G. Sô-ven, sách đã dẫn, tr.48). Vậy mà Đa-lét đã rời Giơ-ne-vơ ngày 3 tháng 5 và không bào giờ trở lại đó nữa cho đến khi đạt được thoả thuận ngày 21 tháng 7. Hoặc nữa là cuộc nói chuyện dài với Chu Ân Lai ngày 19 tháng 6 khiến cho phiên họp của hội nghị phải lùi lại bốn tiếng đồng hồ, nhưng cuối cùng cuộc nói chuyện, đại sứ Sô-ven đã giành được điều ông ta muốn10 (G. Sô-ven, sách đã dẫn, tr.72). Vậy mà hồ sơ của Bộ Ngoại giao thì lại chứng minh một cách không thể bác bỏ được rằng cuộc nói chuyện đó đã diễn ra ngày 22 tháng 6 và Chu Ân Lai đã hoãn câu trả lời đến ngày hôm sau. Và người ta thường ngờ rằng nhiều tập hồi ký khác cũng có thể đưa ra nhiều ví dụ tương tự.


Tuy nhiên, nhiều công trình về thể loại đó là những nguồn thông tin có giá trị. Đặc biệt là tập hồi ký của I-đơn, được viết ra một cách tỉ mỉ và chính xác, hồi ký của đại sư Tơ-ri-vi-li-an đã bổ sung cho hồi ký của I-đơn hay của đại sứ Sô-ven là những tư liệu, mặc dù có những nhầm lẫn mà chúng tôi nêu lên ở trên, đã phác một bức tranh không phải là không bổ ích về hội nghị. Chúng tôi cúng nhớ những hồi ký của các vị chỉ huy quân sự (các tướng Sa-lăng, G. Ca-tơ-ru, H. Na-va, P. Ê-li) đã cung cấp những nguồn tin quý giá về sự giúp đỡ của Trung Quốc cho Việt Minh trong năm 1953-1954 hoặc về cách thức các tướng lĩnh đó đánh giá sự “đe doạ” của Trung Quốc. Cuối cùng là những hồi ký của các chính khách nhà nước Pháp và nước ngoài (D. Ai-xen-hao, J. La-ni-on, V. Ô-ri-ôn) là những người trước và trong cuộc khủng hoảng đã cầm vận mệnh của những nước trực tiếp dính líu đến.


Phần lớn những nhận xét của chúng tôi đối với các tập hồi ký mà chúng tôi sẽ sử dụng, cũng áp dụng đối với các cuộc hỏi chuyện các nhân vật Pháp và nước ngoài trực tiếp liên quan đến các sự kiện đó11 (Xem tiếp ở cuối sách trong phần “Nguồn tư liệu và thư mục tham khảo”). Chắc chắn rằng khả năng có thể hỏi chuyện trực tiếp những người có vai trò chính lúc bấy giờ là một chủ bài đáng kể. Nhưng cũng có mối nguy hiểm hiển nhiên không kém.


Một phần bởi hai chục năm đã trôi qua kể từ năm 1954, những kỷ niệm và cảm tưởng lúc bấy giờ đã dần dần phai nhạt trong những sự giải thích sau này. Làm sao những nhân chứng của năm 1954 mà phần lớn tiếp tục theo dõi sát hoặc nhiều hoặc ít tiến trình chính trị ở Viễn đông, ngày nay lại có thể dừng lại ở những điều họ đã biết, từng suy nghĩ năm 1954 mà không xen lẫn những ý nghĩ nảy sinh do những sự kiện mới đây hơn? Đó là một nhận xét chung nhưng càng tỏ ra thích hợp khi đối với một vấn đề mà từ hội nghị Giơ-ne-vơ đến nay luôn luôn chiếm vị trí thời sự hàng đầu.


Vả lại,-có cần phải nói rõ ra không-trong các cuộc hỏi chuyện đó, không thể hoàn toàn loại trừ ý muốn dựa vào kinh nghiệm đã qua để bào chữa cho thái độ này hoặc thái độ khác. Những cuộc tranh luận giữa các vị thủ tướng Bi-đôn và Măng-đét Phrăng về vấn đề Đông Dương đã được biết đến đủ đến nỗi không cần thiết phải nhấn mạnh nhiều hơn đến những giới hạn vốn có của loại nguồn tư liệu lịch sử nói trên.


Những khó khăn đó, quá hiển nhiên, đã không làm chúng tôi hoàn toàn xa lánh việc nhờ cậy các cuộc nói chuyện để bổ sung cho thiếu sót này hoặc thiếu sót khác trong hồ sơ lưu trữ hoặc để soi sáng trường hợp này hoặc trường hợp khác. Nhưng nói chung, chúng tôi chỉ sử dụng những thông tin lượm được qua các cuộc nói chuyện như những nguồn phụ mà thôi. Không bao giờ chúng tôi dựa trên một kết quả duy nhất của một cuộc nói chuyện để nói một điểm quyết định trong luận văn của chúng tôi. Trong phần lớn trường hợp, những thông tin tập hợp được theo cách đó chỉ sử dụng ở phần chú thích ở cuối trang.


Còn về các hồ sơ lưu trữ thì điều mong muốn là có được các cuộc hội đàm với các nhân vật Trung Quốc. Chắc chắn là nếu không có thể hỏi chuyện được những người có vai trò hàng đầu, thì tình hình có thể khác khi hỏi đến các nhân vật cấp thấp hơn. Một vài lần tiếp xúc với ông Đào Quý Sinh (Tsao Kuei-sheng), bí thư (hoặc phó bí thư) ở Bộ Ngoại giao Trung Quốc năm 1951, thành viên của đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ, mới đây là tham tán Đại sứ quán Trung Quốc tại Pháp đã mau chóng chỉ cho thấy điều mong muốn của chúng tôi là ảo tưởng. Có nghĩa là những cuộc hỏi chuyện về vấn đề này chỉ có thể thực hiện được với những nhân vật không cộng sản của Pháp hay của nước ngoài.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Hai, 2011, 02:30:18 PM
Còn một điểm cuối cùng về phương pháp mà chúng tôi muốn đề cập đến.

Thái độ của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất là do một loạt nhân tố bên trong-việc phân tích những nhân tố đó là giai đoạn đầu của cuộc điều tra của chúng tôi-và bên ngoài. Về nhân tố bên ngoài không thể đem cô lập một cách độ đoán so sánh lực lượng trong nội bộ phe xã hội chủ nghĩa với so sánh lực lượng giữa Đông và Tây. Tất cả những nhân tố đó gắn quá chặt chẽ với nhau mà không thể tách rời nhau. Tuy nhiên chúng tôi sẽ dành phần chủ yếu trong sự trình bày của chúng tôi cho thái độ của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đứng trước các cường quốc phương Tây. Nếu chúng tôi cố ý hạn chế phạm vi điều tra của chúng tôi là chính vì những hồ sơ lưu trữ mà chúng tôi dựa vào không cho phép chúng tôi đi xa hơn. Chắc chắn là chúng tôi sẽ phải luôn luôn đề cập đến mối quan hệ giữa Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và đồng minh (Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) hay với các nước bạn bè (Ân Độ, nhất là Miến Điện). Vì một lần nữa, tất cả các mối quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể đề cập đến một cách nào hơn là xem xét tổng thể các mối quan hệ đó. Nhưng cũng phải rõ là mức độ “đúng đắn” của các dữ kiện của chúng tôi sẽ không ngang nhau tuỳ theo khi nói về quan hệ giữa Trung Quốc và phương Tây hoặc ngược lại, giữa Trung Quốc và các đồng minh xã hội chủ nghĩa hay các nước bạn bè và châu Á. Có nghĩa là công trình nghiên cứu này có thẻ đi đến một vài kết luận vững chắc đối với quan niệm của Trung Quốc về cùng tồn tại hoà bình với phương Tây năm 1954 chẳng hạn, nhưng không nên trông đợi nhiều vào những kết quả dứt khoát khi nghiên cứu về tình hình quan hệ Trung-Xô hoặc Trung Quốc-Việt Minh trong cùng thời gian đó. Thiếu nguồn tư liệu gốc, lại phải giới hạn mục tiêu của cuộc điều tra, một vài kết luận có thể đạt được còn mỏng manh, vậy thì làm sao lẩn tránh được câu hỏi cuối cùng nhưng cơ bản này: ngày nay liệu người ta có thể viết lịch sử về vai trò của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất hay không?


Thực ra, vấn đề này trùm lên một vấn đề khác, nghiêm trọng hơn: có thể viết lịch sử thời đại hiện nay không? Bởi vì năm 1954 đó chính là thời đại chúng ta. Không thể chối cãi rằng những sự kiện chúng ta muốn phân tích và giải thích hiện vẫn còn tồn tại một cách kỳ lạ. Vào lúc chúng tôi biên soạn công trình này, vấn đề Đông Dương chưa hoàn toàn giải quyết. Những con người, nhiều khi vẫn là những con người ấy, Phạm Văn Đồng, Xu-pha-nu-vông, và những người khác, 25 năm sau, vẫn còn đứng ở hàng đầu thời cuộc. Có nghĩa là những ham muốn cách đây 20 năm vẫn còn là một phần những ham muốn hiện nay. Vậy thì, phải chăng đó là lịch sử?


Chúng tôi ý thức được những khó khăn do một tình hình như vậy gây ra. Nhưng chúng tôi càng không chịu bỏ cuộc.

Tất nhiên lịch sử cần một bước lùi để hiểu biết nó. Nhưng nó cũng cần nhân chứng, kể cả nhân chứng còn sống. Lịch sử không thể vô tình theo cách cảm thụ cả bản thân những người đương thời đối với những sự kiện đó. Việc khai thác báo chí, nhất là biên bản các cuộc hỏi chuyện những người có vai trò hoặc có mặt tại cuộc thương lượng có thể, theo chúng tôi, đem lại những nhân tố quan trọng để hiểu biết các sự việc. Về phương diện đó, một lịch sử nào đó có thể và phải viết cùng với sự kiện diễn ra.


Vả lại,-nhưng phải chăng đó là một lý lẽ?-trông chờ có được hồ sơ lưu trữ của Trung Quốc, tức là chịu bó tay không viết được lịch sử trong một tương lai thấy trước. Vậy mà chính sách của Trung Quốc tiếp diễn, ở Đông Dương cũng như ở nơi khác. Những phương tiện điều tra của chúng tôi dù không hoàn hảo thì ngay từ giờ phải cố mà tìm hiểu. Chúng tôi cảm thấy những lý lẽ đó làm sục sôi cuộc thảo luận bất tận về chức năng của lịch sử. Bảo tồn quá khứ ư? Hướng dẫn tương lai ư? Chúng tôi không đi vào con đường đó. Nhưng có lẽ chúng tôi nhớ rằng lịch sử bao giờ cũng là con đẻ của thời đại, đã và sẽ không bao giờ có lịch sử chung cục.


Vậy thì tại sao, ngay từ hôm nay ít nhất lại không trình bày những nhân tố sẵn có trong tay? Chúng tôi biết rằng có những giới hạn không thể vượt qua. Giá trị duy nhất của công trình nghiên cứu của chúng tôi có lẽ sẽ là bản liệt kê những cái gì chúng tôi còn chưa biết. Nhưng phải chăng đó đã là một cách góp phần vào tìm hiểu lịch sử?


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 04 Tháng Hai, 2011, 02:31:04 PM
Công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ phát triển thành bốn phần.

Phần thứ nhất muốn giới thiệu tình hình Trung Quốc năm 1954 (chương I). Vấn đề Đông Dương nhìn từ Bắc Kinh (chương II) đồng thời các cuộc thương lượng quốc tế sẽ phải dẫn đến việc mời Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tham dự hội nghị Giơ-ne-vơ (chương III).


Quả thực, việc nghiên cứu tình hình chính trị và kinh tế Trung Quốc mùa xuân 1954 là cần thiết để phân tích và tìm hiểu những mục tiêu chủ yếu mà Chu Ân Lai theo đuổi khi đến Giơ-ne-vơ. Sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, mức độ ưu tiên dành cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, tình hình bên ngoài của quốc gia trẻ tuổi và những tham vọng của nó trong lĩnh vực này sẽ quyết định ở mức độ lớn nền ngoại giao Trung Quốc tại cuộc hội nghị. Thêm vào đó là cách nhìn đặc biệt và truyền thống đối với mối quan hệ Trung-Việt mà chúng tôi thấy cần nêu lên một số chi tiết, bởi vì cách nhìn đó sẽ đóng vai trò có lẽ là không thể coi thường được, về phía Trung Quốc cũng như về phía Việt Nam trong việc tiến hành cuộc thương lượng.


Nhưng một chính sách đối ngoại không phải chỉ là tổng hợp các lực lượng bên trong: đó còn là sự thích nghi thường xuyên các biện pháp và mục tiêu của dân tộc với các trở ngại và khả năng mà hệ thống quốc tế đem lại. Có nghĩa là cần phải đồng thời chú ý đến viện trợ chính trị, kinh tế và quân sự của Trung Quốc cho cộng sản Việt Nam và những phản ứng của phía Pháp và các cường quốc phương Tây khác đối với sự viện trợ đó.


Cuối cùng, chương III, một loại chuyển tiếp đi đến nghiên cứu chính hội nghị Giơ-ne-vơ, nói về cuộc gặp gỡ ở Béc-lin có nghĩa là việc bốn “nước lớn” khác mời Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đến Giơ-ne-vơ và các phản ứng của chính phủ Bắc Kinh đối với lời mời đó.


Với phần thứ hai, chính là nghiên cứu diễn biến bản thân cuộc thương lượng, đánh dấu bằng sự thất bại của cuộc đàm phán về vấn đề Triều Tiên ngày 15 tháng 6 năm 1954. Giai đoạn Triều Tiên của hội nghị Giơ-ne-vơ không bao giờ được các cường quốc coi như một cuộc gặp vỡ quốc tế có tầm quan trọng hàng đầu, khi rõ ràng là không một thoả thuận nào có thể đạt được từ cuộc hội nghị đó. Tuy nhiên chắc chắn sẽ đánh giá rất sai lầm, nhất là đối với Trung Quốc, nếu tách rời hoàn toàn các vấn đề Triều Tiên và Đông Dương. Việc nghiên cứu đơn thuần trình tự thời gian các sự kiện sẽ chỉ ra rằng sự thất bại của cuộc hội nghị về Triều Tiên đã thay đổi đến mức độ nào thái độ của Chu Ân Lai. Vấn đề này, được đề cập ngay từ chương IV nói về việc khai mạc hội nghị, sẽ là kết luận lô-gích của chương IV, đồng thời của cả phần hai. Đồng thời chúng tôi cũng sẽ nói đến các cuộc gặp diễn ra “song song” ngay từ đầu, giữa đoàn đại biểu Trung Quốc với những người phương Tây trong nhiều vấn đề chính trị và kinh tế (chương V). Nếu cuộc hội nghị Giơ-ne-vơ, theo con mắt phương Tây, còn tương ứng với việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, thì đó cũng là cơ hội để Trung Quốc tiến hành nhiều cuộc thương lượng khác, không trực tiếp ảnh hưởng đến Đông Dương nhưng lại có tầm quan trọng chủ yếu đối với việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của Trung Quốc trong thời kỳ này.


Thái độ của Trung Quốc trong giai đoạn hai của hội nghị-giai đoạn bổ ích nhất-sẽ là đề tài chính của phần thứ ba. Đó sẽ là dịp đề cập chi tiết hơn vấn đề Lào và Cam-pu-chia trong đó, thủ tướng Trung Quốc đóng vai trò quyết định (chương VII). Cũng là dịp chúng tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu đến toàn bộ chính sách Trung Quốc ở Nam Á và Đông Nam Á bằng cách theo dõi chuyến đi thăm của Chu Ân Lai ở Niu Đê-li và Răng-gun (chương VIII). Cuối cùng, Chu Ân Lai trở lại Giơ-ne-vơ để tiến hành mười ngày thương lượng cuối cùng (chương IX): mười ngày thiết yếu để hiểu được những mục tiêu của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng này.


Đối với ba phần đầu của công trình này, chúng tôi đã đưa ra ba đề mục chung: “Tự khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế”, “Ngăn cấm Mỹ vào Đông Dương" và “Áp đặt các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”. Sự lựa chọn của chúng tôi là các đề tài chủ chốt trong mỗi phần: vị trí của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trong hàng ngũ các “nước lớn” khi nói về hội nghị Béc-lin, vấn đề quốc tế hoá cuộc chiến tranh vào giờ phút khai mạc hội nghị Giơ-ne-vơ và vấn đề năm nguyên tắc, khi nói đến quan hệ giữa Trung Quốc, Lào và Cam-pu-chia, cũng như khi nói đến cuộc đi thăm của Chu Ân Lai ở Ấn Độ và Miến Điện. Như vậy, rất rõ ràng đó là ba tư tưởng chủ đạo toàn bộ chính sách Trung Quốc của năm 1954 vào bất cứ thời kỳ nào, bất cứ vấn đề gì và ở bất cứ vùng nào trên thế giới.Cuối cùng, phần thứ tư dành cho kết luận và suy nghĩ có thể rút ra từ cuộc gặp gỡ ở Giơ-ne-vơ giữa Trung Quốc và các cường quốc phương Tây. Để làm việc đó, chúng tôi đi theo ba hướng: nghiên cứu các điều đã thoả thuận, cách thức Trung Quốc giải thích và tôn trọng (hiệp định) để đưa chúng ta đến xác định rõ bản chất của chính sách Trung Quốc ở Đông Dương (chương X). Rồi vượt qua khỏi khuôn khổ địa lý chật hẹp đó, chúng tôi thử lường các hậu quả của việc giải quyết cuộc khủng hoảng đó đối với “hình ảnh” và vị trí của Trung Quốc mới trên thế giới (chương XI). Cuối cùng đi từ cái riêng nhất đến cái chung nhất, chúng tôi cố gắng nêu bật điều chủ yếu mà việc nghiên cứu kỹ lưỡng cuộc hội nghị này có thể đem lại là phân tích những phương hướng cơ bản trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc (chương XII).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Hai, 2011, 12:21:11 PM
PHẦN THỨ NHẤT
TỰ KHẲNG ĐỊNH VỊ TRÍ CỦA MÌNH
TRÊN TRƯỜNG QUỐC TẾ


CHƯƠNG I
NHỮNG NHU CẦU CỦA TÌNH HÌNH
VÀ SỨC NẶNG CỦA QUÁ KHỨ

NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA VÀO MÙA XUÂN 1954


Khi hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, vào tháng tư năm 1954, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa mới chỉ được bốn năm rưỡi1 (Về lịch sử 4 năm này, xin tham khảo cuốn sách tiếng Pháp của J.Guillerman: Le Parti Communiste Chinois au pouvoir 1949-1972 (Đảng cộng sản Trung Quốc cầm chính quyền 1949-1972) Pa-ri, Payot, 1972, tr.13-79. Về tiếng Anh có cuốn của A.Doak Barnett: Communist China: The Early years 1949-1955 (Trung Hoa cộng sản những năm gần đây 1949-1955) Niu Oóc, Praeger 1964 của L.Richard Walker: China under Communist-The First Five Years (Trung Hoa dưới chế độ cộng sản-5 năm đầu tiên) New Haven, Yale University Press, 1955, XV. Về các sách khác nói đến thời kỳ này hoặc trong thời kỳ này, xin xem thư mục sách tham khảo). Thời gian khá ngắn đối với một chế đọ phải quản lý gần 600 triệu dân trên một lãnh thổ rộng gần 10 triệu kilômét vuông bị tàn phá hầu hết sau nhiều năm nội chiến và chiến tranh với bên ngoài. Tuy nhiên dù phải vượt qua những trở ngại lớn lao, quãng đường đã đi là khả quan. Từ nay, Nhà nước mới đã yên vị vững chãi, những thế lực đối lập trực tiếp nguy hiểm nhất đã bị thanh toán, trật tự được xắp đặt khắp nơi, nền kinh tế đang trong quá trình phục hồi.


Sức mạnh của chế độ

Người có công xây dựng công trình vĩ đại đó là Đảng Cộng sản Trung Quốc qua hai mươi năm đấu tranh đã thu thập được kinh nghiệm bậc nhất về chính trị, quân sự và hành chính. Có tới 7-8 triệu đảng viên, những năm 1950-1954, Đảng bị tầm vóc của người đứng đầu, chủ tịch Mao Trạch Đông hoàn toàn chế ngự, thậm chí đè bẹp. Họ Mao đã dần dần tự đặt mình lên địa vị lãnh đạo tối cao. Và để đạt tới đó, đã phải loại trừ mọi đối thủ trong nước cũng như trong phong trào cộng sản quốc tế. Thành tự năm 1949 và thắng lợi năm 1949 còn làm nổi bật “thiên tài đặc biệt” của người lãnh đạo. Ngay dù có một số người phải chịu nhận nó một cách dè dặt, quyền lực cá nhân của Chủ tịch ban chỉ huy Trung ương vẫn không thấp hơn quyền hạn chủ yếu của Đảng. Hơn bao giờ hết, Mao Trạch Đông là tượng trưng cho sự thống nhất trong đảng và đường lối đúng đắn do Đại hội lần thứ VII họp năm 1945 đề ra. Vả lại văn kiện của Đại hội này, đặc biệt là điều lệ Đảng, nói đến “tư tưởng Mao Trạch Đông", đến năm 1954 vẫn còn có hiệu lực2 (Đến năm 1954, Đảng Cộng sản Trung Quốc mới đưa ra Điều lệ mới).


Chắc chắn rằng, trong thời gian sắp đến hội nghị Giơ-ne-vơ, sự thống nhất trong đảng đã bị lung lay. Đúng như vậy, vụ Cao Cương-Nhiêu Thấu Thạch xảy ra vào mùa xuân 1954 nhắc nhở rằng trong đảng vẫn tồn tại một sự đối lập nào đó3 (J. Ghi-éc-ma, sách đã dẫn, tr.105-111). Người thứ nhất trong hai nhân vật đó, nguyên là một trong các phó chủ tịch Chính phủ từ năm 1949, và từ 1952 là Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch, đến năm 1953 đã bị quy vào tội âm mưu cướp quyền lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Còn người thứ hai, Nhiêu Thấu Thạch đã là một trong những người lãnh đạo quan trọng vùng Thượng Hải và từ 1953 là Trưởng ban Ban tổ chức của ban chỉ huy Trung ương đã bị quy kết ngay trong năm đó là hữu khuynh và câu kết với Cao Cương. Cả hai người đó bị kết án trong những điều kiện đến nay còn chưa rõ ràng về những hoạt động “chống Đảng” tại hội nghị lần thứ 4 của ban chỉ huy Trung ương khoá VII (từ 6 đến 10 tháng 2 năm 1954). Việc họ bị hạ bệ kéo theo một số người phụ trách cao cấp khác. Vụ Cao-Nhiêu, năm sau (tháng 3 năm 1955) mới được công bố, là sự việc đầu tiên làm rung chuyển Đảng Cộng sản kể từ khi lên cầm quyền. Sự việc đó không đe doạ căn bản sự thống nhất trong Đảng, tuy nhiên, nó đã phản ánh sự bất đồng của một số người lãnh đạo đối với đường lối chính trị phải tuân theo trong những ngành khác nhau (đồng thời cũng phản ánh những sự tranh giành quyền lực cá nhân đã chia rẽ nhiều người trong bọn họ)4 (Chúng tôi nói thêm rằng vụ Cao Cương gắn liền với những khó khăn trong quan hệ Trung-Xô. Năm 1956, Mao Trạch Đông dùng luận điệu “gián điệp cho nước ngoài” là có ý ám chỉ Liên Xô. Xem Tuyển tập Mao Trạch Đông, tập 5 (tiếng Pháp) tr.368).


Quân đội Giải phóng nhân dân, về phía mình, là một công cụ tin cậy và đồng nhất. Với quân số trên hai triệu người, quân đội đó được cải tổ sâu sắc. Việc hiện đại hoá nhanh chóng (dù chỉ từng phần) trong chiến tranh Triều Tiên thể hiện không những trang bị hoàn hảo hơn, mà còn trong việc cải tiến tổ chức và chỉ huy5 (Xem Ellis Joffe: Party and Army: Professionalism and Political Control in the Chinese Officer Corps 1949-1964 (Đảng và quân đội, chế độ chuyên nghiệp và kiểm tra chính trị trong đội ngũ sĩ quan Trung Quốc) Cambridge (Mass). University Press, 1965, tr.1-45). Kinh nghiệm cách mạng không còn đủ với người sĩ quan hiện đại. Từ nay cần được huấn luyện kỹ thuật, chuyên môn hoá, theo chiều sâu, như một bài xã luận tờ Nhân dân nhật báo tháng 7-19546 (Nhân dân nhật báo (xã luận) 24-7-1954) đã nhấn mạnh. Người ta đã hướng vào việc thành lập đội ngũ sĩ quan nhà nghề, một năm sau được xác nhận bằng quy định ngày 8 tháng 2 năm 19557 (Xem: Quy định về chế độ công tác của sĩ quan quân đội Giải phóng nhân dân, tin Tân Hoa xã (tiếng Pháp) 9-2-1955). Song song với việc đó, chế độ tình nguyện, đến lúc đó là quy tắc tuyển quân dần dần được thay thế bằng chế độ đăng ký nghĩa vụ được chấp nhận về nguyên tắc từ 19498 (Điều 8, Cương lĩnh chung Hội nghị chính trị hiệp thương). Tháng 3-1953 đã thành lập Uỷ ban nghiên cứu luật nghĩa vụ quân sự và năm 1954, một năm trước khi Quốc hội chính thức thông qua (ngày 30 tháng 7 năm 1955) quân đội bắt đầu gọi nhập ngũ qua chế độ đăng ký nghĩa vụ9 (E.Giơ-phơ, sách đã dẫn, tr.38-39).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Hai, 2011, 12:22:37 PM
Tóm lại, có nghĩa là năm 1953-1954, quân đội thật sự trở thành một tổ chức độc lập, vừa bằng chế độ tuyển quân, vừa bằng cơ cấu tổ chức. Tuy tách khỏi tổ chức Đảng như vậy, quân đội vẫn phải triệt để phục tùng Đảng. Vả lại, từ hai năm nay, vai trò chính trị và hành pháp của quân nhân đã dần dần giảm đi: Chính là như vậy mà ở các tỉnh, những trách nhiệm dân sự và quân sự đã chính tức tách biệt nhau từ tháng 11 năm 1952. Ngay cả trong một số trường hợp, uỷ ban quân sự của Đảng hãy còn đóng vai trò quan trọng, quân đội Giải phóng nhân dân năm 1954 không còn chút nào là một nhóm để gây sức ép nhằm bảo vệ, bên trong hoặc bên ngoài, đường lối chính trị riêng biệt này hay đường lối chính trị riêng biệt khác. Đây là một điểm không phải không bổ ích để phân tích thái độ của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc khủng Đông Dương.


Về mặt các thể chế chính trị, thời kỳ chuyển tiếp đã qua. Một uỷ ban hiến pháp, đứng đầu là Chủ tịch Mao Trạch Đông, đã được thành lập tháng 1 năm 1953; tháng rưỡi sau đó, ngày 1 tháng 3, một đạo luật tuyển cử đã được thông qua, dự kiến một hệ thống bầu cử gián tiếp để chọn đại biểu vào Quốc hội tương lai. Ngay trong năm đó, các cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên để bầu các hội đồng địa phương đã được tổ chức và đến năm 1954 được kết thúc bằng các cuộc bầu cử Quốc hội. Vả lại, chính nhằm chuẩn bị bầu cử đã tiến hành cuộc điều tra dân số đầu tiên ngày 30 tháng 6 năm 1953. Vào ngày đó Trung Hoa lục địa có 582 triệu dân.


Trong khi các hoạt động bầu cử tiếp dẫn ở nhiều cấp và nhiều vùng khác nhau, dự thảo Hiến pháp đầu tiên do ban chỉ huy Trung ương Đảng đưa ra, đã được Uỷ ban hiến pháp chấp nhận tháng 3 năm 195410 (Về vấn đề này, xem Report on the Draft Constitution of Peopl’e s Republic of China (Báo cáo về Dự thảo Hiến pháp của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa) Bắc Kinh, Nhà xuất bản Ngoại văn, 1954). Được đem ra thảo luận trong số cán bộ cao cấp nhất trong hai tháng, bản dự thảo cuối cùng đã sửa đổi lại, được đem công bố ngày 14 tháng 6 năm 1954, một ngày trước khi hội nghị Giơ-ne-vơ về Triều Tiên tan vỡ. Điều đó có nghĩa là khi hội nghị này khai mạc ngày 26 tháng 4 thì việc định ra các thể chế mới đã tiến khá xa. Giai đoạn chủ yếu, Đảng khởi thảo dự thảo Hiến pháp-đã vượt qua và ngay dù về hình thức văn bản chưa được Quốc hội thông qua, vào mùa xuân 1954, Trung Quốc về phương diện lập hiến đã là một nước ở vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.


Về mặt chính trị, việc phân tích kỹ càng tình hình Trung Quốc đem lại ấn tượng về một Đảng rất đoàn kết, nhất trí xung quanh Chủ tịch Mao Trạch Đông và về một chế độ từ nay hoàn toàn ổn định. Đó là kết luận của W W. Rô-xtốp (W.W.Rostow) lúc bấy giờ là chủ nhiệm của “Dự án về Trung Quốc" tại Trung tâm nghiên cứu quốc tế trường Đại học kỹ thuật Mát-sa-su-sét (Mỹ) trong cuốn sách nhan đề Triển vọng của Trung Hoa cộng sản xuất bản tháng 8 năm 1954: “Công việc này (xem xét tình hình Trung Quốc giữa năm 1954) làm chúng ta nghĩ rằng mặc dù có sự bất mãn quan trọng nhưng vô tổ chức về chính trị của quyết chiến, địa vị hiện thời của chế độ cộng sản Trung Quốc ở lục địa Trung Hoa đã được đảm bảo về đối nội, do có sự đoàn kết và các công cụ kiểm soát”11 (Uôn-tơ, W.Rô-xtôp và những người khác: The Prospects for Communist China (Tương lai của nước Trung Hoa cộng sản) Cambrigde Technology Press of Massachussetts Institute of Technology, 1954, tr.311). Hoặc một đánh giá khác nữa cũng của chuyên gia đó: “Kết luận chung của chúng tôi (…) là ê-kíp lãnh đạo ở Bắc Kinh hiện nay có sức mạnh đoàn kết của một cường quốc hiếm có và cả duy nhất nữa trong lịch sử chủ nghĩa cộng sản. Sự đoàn kết đó tập trung vào con người của Mao”12 (Như trên, tr.131). Cuối cùng, ông ta viết về quân đội: “Ngoài ra, chừng nào Mao còn giữ được quyền kiểm soát, thì không chắc rằng quân đội thừa nhận và ủng hộ một lập trường chính trị nào độc lập với các cấp cao nhất trong chính phủ"13 (Như trên, tr.134). Với câu, chữ kém câu nệ hơn, người ta báo cáo về Bộ Ngoại giao (Pháp): “Không nên hi vọng chế độ độc tài chuyên chế sụp đổ, một nền độc tài thiết lập bằng cuộc chinh phục quân sự năm 1949, có bộ máy cảnh sát hùng hậu và vũ trang tốt, có thể đàn áp mọi mưu toan nổi dậy”14 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương) 13-3-1954. Bản ghi nhớ về vấn đề Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ. Cùng một ý kiến trong cuốn The China Prbolem and U.S.Policy (Vấn đề Trung Quốc và chính sách của Mỹ) Department of State Publication 5460 Far Eastern Series 64, tháng 5-1954, tr.4 (bài của Et-uyn Ma-tin, Phó vụ trưởng, Vụ Trung Quốc Bộ Ngoại giao Mỹ).


Ngay cả đôi khi cách đánh giá tuyệt đối đó không phản ánh đúng tình hình thực tế15 (Bộ Ngoại giao Pháp thắc mắc về sự thay đổi một vài thành viên chính phủ Bắc Kinh tháng 9-1953. Đặng Tiểu Bình thay Bạc Nhất Ba làm Bộ trưởng Bộ Tài chính, Xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương ngày 15-10-1953). Bản ghi nhớ về “Trung Quốc". Ngoài ra, phân tích bài diễn văn của Trần Vân ngày 5-3-1954 có một chú thích như sau: “Nội dung bao hàm sự tồn tại một nhóm cơ hội trong Đảng Cộng sản Trung Quốc đối lập với Mát-xcơ-va”. (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp châu Á-châu Đại dương) 12-3-1954. Bản ghi nhớ về “hội nghị Giơ-ne-vơ”. Ngoài ra, việc Cao Cương không xuất hiện trước công chúng đã được chú ý (Nói chuyện với J. Ghi-éc-ma, 14-3-1954). Ngược lại, một bài xã luận báo Economist (Nhà kinh tế học) ngày 19-6-1954 nhan đề “The Men at the To”. (Những người ở tột đỉnh) còn nhấn mạnh thế mạnh của Cao Cương ở Mãn Châu). Rõ ràng là cho đến trước hội nghị Giơ-ne-vơ, sức mạnh và sự đồng nhất của chế độ mới ở Trung Quốc không còn là điều phải hoài nghi nữa.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Hai, 2011, 12:25:41 PM
Hiện đại hoá nền kinh tế

Trong lĩnh vực nền kinh tế, con đường trải qua kể từ khi cộng sản lên cầm quyền cũng là đáng kể. Dù cho người ta có đề cập đến vấn đề thông qua lĩnh vực nông nghiệp-thu hút 85% dân số, các cơ sở hạ tầng, lĩnh vực công nghiệp mới thành hình, hoặc lĩnh vực tài chính công cộng thì cũng không chối cãi được rằng đến mùa xuân 1954 chế độ mới đã phục hồi được nền kinh tế quốc dân. Chắc chắn là đã phạm phải những sai lầm, có những mục tiêu không đạt được nhưng những thiếu tót đó không thể che lấp được mặt chủ yếu là Trung Quốc từ nay có một nền sản xuất chưa cao lắm nhưng đang tiến triển, ít nhất là về số lượng.


Trong nông thôn, cuộc cải cách ruộng đất gần hoàn thành. Năm 1952, hầu như tất cả các mức sản xuất cao nhất trước cách mạng đã được đuổi kịp. Nhất là, theo thống kê chính thức, sản lượng ngũ cốc từ 108,1 triệu tấn năm 194916 (Xem bảng 1. Năm 1949 đúng là một năm thu hoạch đặc biệt kém. Về sản lượng nông nghiệp và công nghiệp năm 1952-1953, xem thống kê chính thức của Trung Quốc, nhưng chắc số liệu cần được phê phán), đã tăng lên 154,4 triệu tấn năm 1952 và 156,9 triệu tấn năm 1953. Mức tăng như vậy không phải là thấp. Tuy nhiên, sản lượng đạt được còn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, như Đặng Tử Khôi phụ trách về nông nghiệp đã thừa nhận. Năm 1953, nhu cầu về ngũ cốc của Trung Quốc là 275 hoặc 300 triệu tấn17 (Nhân dân nhật báo, 23-9-1953, Ghi-éc-ma trích dẫn, Xem J. Ghi-éc-ma, sách đã dẫn, tr.38). Trong lĩnh vực công nghiệp, nhiều ngành đã vượt qua sản lượng cao nhất trước cách mạng. Nói riêng về than năm 1955 đạt 69 triệu tấn, vượt năm 1942; về thép với 1,7 triệu tấn, đã nhiều hơn gần 2 lần năm 1943, về bông với 107 triệu tấm vải, đã vượt hơn 2 lần năm 193618 (Xem bảng 2. Những năm để tham chiếu là những năm có sản lượng cao nhất trước cách mạng).

(http://img94.imageshack.us/img94/3907/bang1w.jpg)


(http://img138.imageshack.us/img138/8292/bang2w.jpg)


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Hai, 2011, 12:27:16 PM
Tổng quát lại, so với năm 1949, sản lượng công nghiệp năm 1953 tăng gấp ba lần, còn sản lượng nông nghiệp tăng 53%19 (Xem bảng 3, tiếp theo).

(http://img201.imageshack.us/img201/5874/bang3w.jpg)

J. Ghi-éc-ma ghi nhận như sau:
“Cuối năm 1952, theo nguồn tin chính thức mặc dù có nhược điểm và sai lầm trong xây dựng cơ bản-chỉ thực hiện được 85% kế hoạch-có nhiều kết quả đã đạt được trong các lĩnh vực: cải cách ruộng đất gần hoàn thành, công nghiệp đã triển khai, vận tải đã phục hồi và phát triển, ngân sách cân đối, đồng tiền ổn định. Tất cả các ngành đều đạt mức thống kê cao nhất trước chiến tranh. Việc chấm dứt chiến tranh Triều Tiên, viện trợ quan trọng của người Nga mà giá phải trả là đắt nhưng cần thiết, sẽ làm cho chế độ mới đi vào kỷ nguyên kế hoạch hoá, vừa đi vào tập thể hoá, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội sắp có thể bắt đầu20 (J. Ghi-éc-ma, sách đã dẫn, tr.45).


Quả vậy, từ tháng 11 năm 1953, Uỷ ban kế hoạch đã thành lập trực thuộc Hội đồng Chính phủ21 (Uỷ ban này thay thế Uỷ ban Kinh tế và Tài chính trực thuộc Hội đồng Quốc vụ viện) và từ đầu 1953, đưa ra về mặt lý thuyết kế hoạch 5 năm đầu tiên. Vậy mà việc lãnh đạo Uỷ ban kế hoạch lại đã giao cho Cao Cương, người còn cầm vận mệnh khu đông bắc Trung Quốc là nơi chiếm phần chủ yếu trong tiềm lực công nghiệp của đất nước. Những cuộc đả kích đánh vào nhân vật quan trọng này bắt đầu từ 1953 vì những hoạt động chống Đảng của ông ta và sau đó việc hạ bệ vào tháng 2 năm 195422 (Xem đoạn trước) cũng đã làm xáo động mạnh mẽ việc xây dựng kế hoạch23 (Việc quản lý kế hoạch chỉ được cải tổ từ cuối năm 1954 khi thành lập nhiều cơ quan mới. Vào lúc này, Lý Phú Xuân vốn là Phó chủ nhiệm nay lên làm Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch). Thêm vào những thiếu sót trong bộ máy thống kê, việc thiếu những cán bộ kỹ thuật kinh tế trong ê-kíp lãnh đạo và việc Liên Xô chậm xác định ý đồ viện trợ cho Trung Quốc, những khó khăn về chính trị nói trên, đã làm chậm trễ rất nhiều công việc nghiên cứu càn thiết phải có trước để thực sự kế hoạch hoá. Thực tế, đến đầu năm 1955 những mục tiêu của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất mới được quyết định một cách chính xác tức là chậm hai năm kể từ lúc chính thức đề ra kế hoạch và đến tháng bẩy năm đó, Quốc hội mới thông qua. Lý Phú Xuân, người thay thế Cao Cương đã đưa những lý do của tình hình chậm trễ đó:

“… Điều đó được giải thích là ở chỗ công tác điều tra nghiên cứu các nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng ta chưa đẩy mạnh, chúng ta có ít số liệu thống kê, chúng ta lại có nhiều thành phần kinh tế khác nhau cùng tồn tại, chúng ta thiếu kinh nghiệm trong việc lập kế hoạch dài hạn. Chúng ta lại chỉ có kinh nghiệm vụn vặt không hoàn chỉnh trong công tác xây dựng"24 (Lý Phú Xuân: Báo cáo về kế hoạch 5 năm lần thứ nhất về phát triển nền kinh tế quốc dân của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 1953-1957, Bắc Kinh Nhà xuất bản Ngoại văn, 1956, tr.7).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Hai, 2011, 12:29:16 PM
Tháng 4 năm 1954 khi hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, công tác kế hoạch hoá của Trung Quốc mới ở giai đoạn đề ra những ý định hơn là giai đoạn thực hiện. Nhưng nếu những mục tiêu bằng con số chưa được ấn định thì đường lối chủ đạo đã được đề ra. Chính vì vậy, Đổng Tất Vũ, chẳng hạn, là người đứng đầu Uỷ ban công tác chính trị và pháp luật đã trình bày trong một bài báo đăng trên tờ Sự thật ngày 1 tháng 1, như sau:

“Chúng ta đều biết, việc xây dựng nền công nghiệp nhất là công nghiệp nặng đòi hỏi một số vốn khổng lồ. Theo lời dạy của Lê-nin và Xta-lin, và theo kinh nghiệm của Liên Xô, chỉ có thể có được công nghiệp bằng cách tiết kiệm và tích luỹ xã hội chủ nghĩa"25 (Đổng Tất Vũ: Nhân dân Trung Quốc đấu tranh xây dựng chủ nghĩa xã hội, Pra-vơ-đa, 1-1-1954, Ghi-éc-ma trích trong sách đã dẫn, tr.91).


Chính vì vậy mà những người phụ trách kinh tế đã quyết định dành ưu tiên tuyệt đối cho việc phát triển công nghiệp nặng, vì chỉ có công nghiệp nặng mới có khả năng phát động quá trình tích luỹ về sự phát triển. Chính là để cung cấp một phần về tài chính cho việc phát triển công nghiệp nặng mà tháng 1 năm 1954 đã phát hành công trái 6.000 tỷ nhân dân tệ (cũ) hạn 8 năm, lãi suất mỗi năm 4%. Ở phương Tây người ta cũng đã biết được ý định của Trung Quốc là ráo riết công nghiệp hoá theo mô hình Liên Xô. Bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao (Pháp) tháng 3 năm 1954 nhắc đến rõ ràng: “Các người lãnh đạo Trung Quốc đã tập hợp lực lượng chủ chốt của đất nước để hướng vào mục đích chủ yếu nếu không phải là duy nhất, hiện nay được tóm tắt thành ba chữ: “công nghiệp hoá”26 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 30-3-1954). Bản ghi nhớ về vấn đề Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ).


Cũng như kế hoạch hoá, việc tập thể hoá (nông nghiệp) mới ở bước đầu. Đúng như vậy, từ tháng 12 năm 1951 trong lúc cuộc cải cách ruộng đất đang tiếp diễn, ban chỉ huy Trung ương đã khởi thảo dự thảo quyết định về tương trợ và hợp tác. Đến tháng 2 năm 1953 mới phổ biến dự thảo này27 (J. Ghi-éc-ma, sách đã dẫn, tr.96). Nhưng mục tiêu của những biện pháp ban đầu đó còn hạn chế: mới chỉ là thúc đẩy việc thành lập các tổ tương trợ ở nông thôn, một số có tính chất tạm thời, một số khác hoạt động thường xuyên. Năm 1954 khoảng một nửa tổng số nông hộ đã được tổ chức theo cách trên.


Giai đoạn sau này mới là tập thể hoá thực sự, nghĩa là thành lập các hợp tác xã nửa xã hội chủ nghĩa và hoàn toàn xã hội chủ nghĩa nhiều khi từ các tổ tương trợ phát triển lên. Từ 1952-1953 một vài địa phương đã tổ chức làm thử để rút kinh nghiệm nhưng phong trào chỉ thực sự phát động kể từ ngày 16 tháng 12 năm 1953. Cùng với việc ban chỉ huy Trung ương thông qua “Quyết định phát triển các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp” và đem công bố ngày 8 tháng 1 sau đó28 (Xem “Hợp tác xã nông nghiệp ở Trung Quốc-Quyết định về việc phát triển các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp” do ban chỉ huy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua ngày 16-12-1953-Bắc Kinh, Nhà xuất bản Ngoại văn, 1954. Cũng xem bản tin Tân Hoa xã, 8-1-1954. Quyết định của ban chỉ huy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về việc phát triển các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp).


Tuy nhiên, vào mùa xuân 1954, chính sách tập thể hoá hãy còn chưa đi vào giai đoạn thực hiện tích cực29 (Tháng 12-1953, ban chỉ huy Trung ương quyết định thành lập 45.000 hợp tác xã trong năm 1954, nhưng từ tháng 3-1954 có tin đã lập xong 90.000 hợp tác xã (mục tiêu cho năm 1957 là 800.000 hợp tác xã). Xem W.W. Rô-xtâu, sách đã dẫn, tr.94 và chú thích 43, tr.98).


Như vậy có nghĩa là về mặt này cũng như về kế hoạch hoá, tình hình không rõ ràng mấy. Về nguyên tắc, những người lãnh đạo Trung Quốc luôn luôn nhắc đi nhắc lại rằng nước Trung Hoa từ nay kiên quyết đi vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng thực ra một phần khá lớn nền kinh tế quốc dân còn được quản lý giống như khi cồn ở thời kỳ quá độ tức là với khá nhiều tính chất thực dụng.


Vả lại, phải thừa nhận rằng đến đầu năm 1954, viện trợ của Liên Xô (và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu) dành cho Trung Quốc còn khá hạn chế30 (Về quan hệ giữa Trung Quốc và phe xã hội chủ nghĩa vào khoảng năm 1954, xem trang sau). Chắc chắn là tiếp sau đó, nhất là sau khi ký các hiệp định giữa Bắc Kinh và Mát-xcơ-va ngày 12 tháng 10 năm 195431 (Đặc biệt, một hiệp định vay nợ 520 triệu rúp (khoảng 130 triệu đôla Mỹ). Xem D.M Giôn-xơn và Hung dahchiu: Agreement for the People’s Republic of china, 1949-1967 (những hiệp định của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa) Harvard University press. Cambrigde (Mass.), 1968, trang 30, 31), sự tham gia của Liên Xô vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất trở nên lớn lao hơn. Không những Liên Xô cung cấp một phần quan trọng về tài chính mà cả chuyên gia, cơ sở kỹ thuật cần thiết cho việc xây dựng nền công nghiệp Trung Quốc. Nhưng đến mùa xuân 1954, viện trợ kinh tế của Liên Xô hãy còn ít. Yếu tố chủ yếu của viện trợ này là hiệp định ký ngày 14 tháng 2 năm 1950 ở Mát-xcơ-va32 (Xem Hiệp ước Xô-Trung, ngày 14-2-1950, People’s China 1-3-1950), theo đó Liên Xô đã cho Trung Quốc vay 300 triệu đôla Mỹ để mua thiết bị công nghiệp của Liên Xô. Khoản vay này, lãi suất hằng năm 1%, đem sử dụng trong 5 năm mỗi năm 60 triệu. Như vậy đến năm 1954 số tiền vay đã sử dụng gần hết và từ nay Trung Quốc đã phải bắt đầu trả nợ dưới hình thức giao nguyên liệu và thực phẩm, giải ra trong mười năm (từ 1954 đến 1963) và theo giá thị trường thế giới. Đúng là giữa 1950 và 1954 nhiều hiệp định khác nhau về hợp tác kinh tế và kỹ thuật được ký kết giữa Trung Quốc và Liên Xô, nhất là vào tháng 3 và tháng 9 năm 1953, hai bên ký văn kiện về việc Liên Xô giúp xây dựng 91 “dự án lớn” mới, nhưng phần lớn các hiệp định đều là thứ yếu so với hiệp định tháng 2 năm 195033 (Về vấn đề này, tham khảo Sydney Klein: The Road Divides: Economic Aspects of the Sino-Soviet Dispute (con đường chia rẽ-Khía cạnh kinh tế của cuộc tranh chấp Trung-Xô) Hồng Công, 1966, tr.45-85).


Các giới ngoại giao phương Tây đã đánh giá khá đúng về những sự lựa chọn chủ yếu của kế hoạch 5 năm và những vấn đề đặt ra khi bắt đầu triển khai. Những thiếu sót trong sản xuất nông nghiệp được mọi người biết đến và được coi như một trong những yếu tố chủ yếu của tình hình kinh tế Trung Quốc. Một vài tác giả không do dự nói đến nạn đói và thậm chí xem đó là một trong những lý do có thể đưa đến cuộc khủng hoảng chính trị nội bộ34 (W.W. Rô-tâu, sách đã dẫn, tr.294 và 303).


Ngoài ra, người ta được biết rằng chế độ mới đã quyết định dành phần lớn phương tiện của mình vào việc công nghiệp hoá đất nước, W.W Rô-xtốp (W.W. Rostow) viết: “Thực chất mô hình cộng sản Trung Quốc nằm trong những mô hình chủ trương phát triển công nghiệp dựa vào sự phát triển của nông nghiệp”35 (Như trên, tr.257). Tóm lại, Trung Quốc theo hoàn toàn mô hình Xta-lin về xây dựng chủ nghĩa xã hội36 (Như trên, tr.256). Vậy mà, đã không thể bảo đảm đủ lương thực cho nhân dân và còn phải cung cấp phần dư thừa có thể xuất khẩu để bù đắp cho nhu càu nhập khẩu thông thường, nông nghiệp chắc chắn là không thể là nguồn cung cấp quan trọng về tài chính cho công nghiệp37 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, (châu Á-châu Đại dương 30-3-1954) Bản ghi nhớ về những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 05 Tháng Hai, 2011, 12:31:38 PM
Về phần Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân Đông Âu thì chính các nước này cũng phải đối phó với những vấn đề kinh tế nghiêm trọng; theo các nhà quan sát phương Tây, thì họ tỏ ra không đủ sức “cung cấp cho Trung Quốc khối lượng viện trợ cần thiết để triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”38 (Như trên, cũng xem W.W Rô-xtốp, sách đã dẫn, tr.276). Phải chăng như thế là đã gợi ý rằng xét cho cùng, công nghiệp hoá của Trung Quốc chỉ có thể đi qua con đường mở cửa ra phương Tây? Quả vậy, rõ ràng rằng tình hình kinh tế Trung Quốc năm 1954 như đã được phân tích ở phương Tây, thúc giục Chính phủ Bắc Kinh phải phát triển bằng mọi cách nền ngoại thương với các nước không phải là xã hội chủ nghĩa39 (W.W. Rô-xtốp, sách đã dẫn, tr.272 và 302). Đó cũng là lập trường của Bộ Ngoại giao (Pháp).


“Muốn đạt được quy chế cường quốc, Trung Hoa phải có đủ cố gắng khổng lồ trong những năm tới để công nghiệp hoá, Trung Hoa chỉ làm được như vậy bằng cách nhập khẩu ồ ạt sắt, thép và thiết bị các loại của các nước tư bản chủ nghĩa. Vậy mà nông nghiệp Trung Quốc lúc này đang ở trong tình thế khó khăn, do các biện pháp tập thể hoá được quyết định hơi hấp tấp nhằm mục đích thuần tuý chính trị. Dù thế nào nữa, vì sản phẩm dư thừa có thể xuất khẩu lại quá ít, hệ thống trao đổi hàng nông sản và chăn nuôi lấy sản phẩm công nghiệp hoàn toàn không thích nghi với nhu cầu hiện tại. Vậy Trung Hoa có nhu cầu cấp thiết lập lại các mối quan hệ quốc tế bình thường với các nước phương Tây để có thể, nhờ các khoản vay dài hạn, mua của các nước đó, tất cả những thứ cần thiết cho việc xây dựng nền công nghiệp của mình”40 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 13-3-1954). Bản ghi nhớ về vấn đề Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ (Tác giả gạch dưới)).


Đúng là báo chí Trung Quốc, nhất là từ lúc ký kết đình chiến Triều Tiên, luôn luôn cổ vũ việc bình thường hoá quan hệ thương mại với tất cả các nước trên thế giới. Xã luận Nhân dân nhật báo, ngày 3 tháng 9 năm 1953, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 8 cuộc bại trận của Nhật, trong khi chào mừng “tương lai tươi sáng của các dân tộc châu Á” đảm bảo rằng ngoài những hậu quả khác, đình chiến Triều Tiên phải đem lại ”Việc phục hồi và phát triển mối quan hệ bình thường và quan hệ kinh tế giữa các nước châu Á, nhất là giữa Nhật Bản và các nước khác”41 (Nhân dân nhật báo 3-9-1953). Những hiệp định đầu tiên ký kết với các nước trung lập hoặc phương Tây đã được hoan nghênh nhiệt liệt nhất. Trong xã luận dài của báo People’s China Khai Bái Niên (K’o-Pai-nien) Uỷ viên ban lãnh đạo Viện quan hệ với nước ngoài, thành viên của đoàn đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ, khi nhắc lại rằng Trung Quốc “mong muốn phát triển quan hệ buôn bán với tất cả các nước trên thế giới”, còn nói rõ: “nước Trung Hoa không có định kiến với bất kỳ nước tư bản chủ nghĩa nào muốn phát triển quan hệ buôn bán trên cơ sở bình đẳng và hai bên đều có lợi”42 (Peple’s chian, 1-10-1953, tr.16-17. Về yêu cầu kinh tế của Trung Quốc và về ý muốn thương lượng xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Điện số 9 Tuỳ viên quân sự/Hồng Công/8-3-1954;-Cao uỷ Pháp tại Đông Dương/Tổng cục tư liệu/Bản ghi nhớ về vấn đề “Hoà bình ở Đông Dương"/số 467/22-3-1954 (châu Á-châu Đại dương 12-3-1954). Bản ghi nhớ về hội nghị Giơ-ne-vơ; Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (Bản ghi nhớ J.Sô-ven 9-4-1954). Về vấn đề hội nghị Giơ-ne-vơ). Và “những lời kêu gọi” đó thường nhằm vào Nhật Bản"43 (Nhân dân nhật báo “quan hệ Trung Quốc-Nhật Bản" 30-10-1953).


Như vậy, vào lúc sắp họp hội nghị Giơ-ne-vơ, các cường quốc phương Tây đánh giá rằng các nhu cầu kinh tế mà Trung Quốc buộc phải nghĩ tới có thể đóng  vai trò quyết định trong thái độ của chính phủ Bắc Kinh. Bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao (Pháp) nói ở trên đã kết luận là “được phép nghĩ rằng các vấn đề kinh tế đó sẽ ở đằng sau các mối quan tâm của Trung Quốc mặc dù những nhà thương lượng phương Tây có quyền từ chối cuộc thảo luận, những vấn đề đó sẽ vẫn có khả năng là đề tài của một sự mặc cả ngầm”44 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp 13-3-1954. Bản ghi nhớ về vấn đề Những nhân tố kinh tế có thể ảnh hưởng đến lập trường của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ hai mươi năm sau, đại sứ Sô-ven viết rằng năm 1954 nước Pháp không có lý do để nghĩ rằng Bắc Kinh có thể nhân nhượng những nguyên tắc của mình để có được đầu máy xe lửa thậm chí những khoản vay dài hạn. Xem sách đã dẫn của Sô-ven, tr.41. Tuy vậy vào lúc bấy giờ đó không phải là một ý kiến được chấp nhận rộng rãi). Nếu thật sự nước Trung Hoa có nhu cầu tăng cường trao đổi với phương Tây, thì lợi ích của họ là phải chứng tỏ một thái độ mềm dẻo nào đó về vấn đề Đông Dương, một vấn đề mà không khí chính trị căng thẳng do Trung Quốc kéo dài ở Đông Á đã gây trở ngại cho việc chấm dứt việc cấm buôn bán đề ra từ năm 195145 (W.W Rô-xtốp. Sách đã dẫn tr.95 Về cấm vận do Liên hợp quốc quyết định năm 1951, xem đoạn sau. Vấn đề đàm phán thương mại giữa Trung Quốc và phương Tây diễn ra trong thời gian hội nghị Giơ-ne-vơ sẽ được nghiên cứu ở chương V).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Hai, 2011, 02:09:42 PM
Phá thế cô lập với phương Tây

Quả vậy, triển vọng của sự cần thiết mở cửa vấn đề kinh tế với bên ngoài đặt ra vấn đề quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và cộng đồng quốc tế không xã hội chủ nghĩa.

Khi hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, chỉ mới có 20 nước có quan hệ ngoại giao với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, trong đó 11 nước là những nước xã hội chủ nghĩa. Đi đầu là Liên Xô, đặt quan hệ với Bắc Kinh ngày 3 tháng 10 năm 1949, theo sau là tám nước dân chủ nhân dân khác, trong cùng tháng đó, rồi đến lượt An-ba-ni ngày 23 tháng 11 năm 1949, và sau cùng trong loạt đầu tiên các nước đặt quan hệ với Trung Hoa nhân dân là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 18 tháng 1 năm 195046 (Về sự thừa nhận lẫn nhau giữa Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, xem chương II), chậm 3 tháng so với các nước xã hội chủ nghĩa khác.

(http://img832.imageshack.us/img832/848/bang4w.jpg)

Nước Trung Hoa theo cách diễn đạt của Mao Trạch Đông, đã “đứng hẳn về một bên”. Quan hệ với phe xã hội chủ nghĩa nhất là với Liên Xô, trong nhiều năm, là trung tâm của chính sách đối ngoại. Vào mùa xuân năm 1954, hiệp ước đồng minh Trung-Xô, ngày 14 tháng 2 năm 1950 chắc chắn là một trong những luận cứ chủ yếu của sự cân bằng chiến lược ở Viễn Đông47a (Xin nhắc lại rằng “Hiệp ước hữu nghị đồng minh và tương trợ” trước hết là một hiệp định phòng thủ chống mọi cuộc xâm lược mới” của Nhật Bản hoặc của một nước đồng minh của Nhật” (điều 1)).


Tuy nhiên, việc kéo dài đàm phán mới ký kết được hiệp ước nói trên, việc Liên Xô áp đặt thời hạn cho việc từ bỏ những lợi ích của họ ở Trung Quốc, việc đòi bồi hoàn trong một số trường hợp, ý muốn của Liên Xô muốn lập các công ty Xô-Trung để tham gia khai thác ở Tân Cương là bấy nhiêu dấu hiệu của những mối bất đồng giữa Liên Xô và Trung Quốc, đằng sau những hiệp định nói trên. Việc nước Nga Sa hoàng tham dự vào việc phân chia đế quốc Trung Hoa cũ và mối quan hệ khó khăn giữa Xta-lin và Đảng Cộng sản Trung Quốc trong những năm trước “giải phóng" hãy còn mới trong tâm trí nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc để trong một ngày có thể xoá đi hằng chục năm giữ kẽ với nhau, hoặc thậm chí kình địch thật sự với nhau. Có nghĩa là nếu sự liên minh với Liên Xô đem lại cho chế độ mới của Trung Quốc một sự ủng hộ bên ngoài về quân sự và kinh tế tuyệt đối cần thiết với Trung Quốc thì ngược lại sự liên minh đó không phải là không đặt ra với Trung Quốc một vài vấn đề quan trọng. Kể từ năm 1956 Mao Trạch Đông đã công khai nói ra những khó khăn ông ta đã phải vượt qua trong năm 1949-1950 để ký được hiệp ước 14 tháng 247b (Mao Trạch Đông: Tuyển tập, tập V. tr.328).

Nói chung, phần đông các chuyên gia và những người có trách nhiệm về chính trị ở phương Tây đều tin rằng có những khó khăn đó.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Hai, 2011, 02:12:08 PM
W.W. Rô-xtốp, chẳng hạn, chỉ tin ở tính bền vững của liên minh Trung-Xô trong chừng mực sự liên minh đó cần thiết cho chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Đối với Rô-xtốp, sự bành trướng cộng sản, dù là của lịch sử ở châu Âu hay của Trung Quốc ở châu Á, chỉ giải thích được rằng các chính phủ Mát-xcơ-va và Bắc Kinh liên minh với nhau là để chống kẻ thù chung: Mỹ và Nhật Bản. Nhưng ông ta thêm:

“Điều cũng có thể đúng sự thật là một số đông những người cộng sản Trung Quốc, trong khuôn khổ các mối quan hệ chặt chẽ và liên tục với Liên Xô, gây sức ép nhằm những mục tiêu như sau: Các lực lượng vũ trang Trung Quốc ngày càng độc lập đối với cố vấn và trang bị của Liên Xô; Liên Xô thu hẹp quyền lực và giảm bớt sự mặc cả ở vùng biên giới; Trung Quốc phụ thuộc đến mức tối thiểu về ngoại thương với khối cộng sản; và nói chung Liên Xô chỉ có khả năng tối thiểu tác động trực tiếp, kiểm soát, hoặc thậm chí theo dõi sự phát triển bên trong của chế độ cộng sản Trung Quốc48 (W.W. Rostow, sách đã dẫn, tr.131).


Một nhà quan sát thành thạo như Rô-bớt Noóc (Robert C.North) cũng cho rằng “sẽ phạm sai lầm nếu nghĩ rằng chính sách của Trung Quốc tất yếu là chính sách của Nga”49 (Robert C. North: Moscow and the Chinese Communists (Mát-xcơ-va và cộng sản Trung Quốc) Stanford University Press, 1953, tr.270). Ông ta viết “Chắc chắn là những xung khắc giữa cộng sản Trung Quốc và cộng sản Nga có thể sẽ ngày càng trầm trọng mà Mỹ và đồng minh phải tìm cách phát hiện và khai thác”50 (Rô-bớt C.Noóc, sách đã dẫn, tr.277).


Như vậy, Bộ Ngoại giao (Pháp) cũng nghĩ là có thể thấy rõ “một vài sự khác trinh sát" giữa Trung Quốc và Liên Xô. Theo bộ đó, chuyến đi thăm Mát-xcơ-va của Kim Nhật Thành cuối 1953 đã “rõ ràng đưa ra ánh sáng sự sa sút ảnh hưởng của Trung Quốc và việc lập lại ưu thế Nga ở Bắc Triều Tiên”. Nhưng lời phát biểu của Kim Nhật Thành về “Liên Xô” là người bạn trung thành và gần gũi nhất của nhân dân Triều Tiên” đã được đặt ra một cách cẩn thận. Đồng thời, theo các nhà quan sát nước ngoài, lập trường của Trung Quốc và Liên Xô trong việc tổ chức hội nghị bàn về vấn đề chính trị ở Triều Tiên, tỏ ra có sự khác nhau. Tháng 8 năm 1953, Liên Xô đề nghị với các nước trung lập ngoài châu Á (Ba Lan, Tiệp Khắc, Xy-ri, Ai Cập, Mếch-xi-cô) tham gia hội nghị trong khi Trung Quốc, hồi tháng 9 cùng năm đó, lại đề nghị một danh sách các nước trung lập châu Á (Miến Điện, In-đô-nê-xi-a, Pa-ki-xtan, Ấn Độ). Cuối cùng, Bộ Ngoại giao Pháp cho rằng “sự vụng về của Vi-xin-xki (Visinskij) đưa ra không đúng lúc vấn đề Trung Quốc gia nhập Liên hợp quốc” “có lẽ không phải hoàn toàn là ngẫu nhiên”51 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 15-101-1953), bản ghi nhớ về Trung Quốc, tr.5-6). Bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao Pháp cũng nói thêm rằng “tuy nhiên cũng phải đề phòng là không nên cường điệu ý nghĩa của các dấu hiệu đó. Chính phủ Bắc Kinh-mà sự trung thành về mặt học thuyết là không có gì phải hoài nghi trong hoàn cảnh hiện nay, hết sức cần đến sự viện trợ của Liên Xô để thực hiện kế hoạch công nghiệp hoá". Tóm lại, mặc dù có nhiều dấu hiệu tỏ ra có sự không ăn ý nhau giữa Mát-xcơ-va và Bắc Kinh, người ta còn do dự trong việc chấp nhận rằng hai nước có thể tiến hành những chính sách đối ngoại khác biệt: “Người ta sẽ chứng kiến một ngày kia sự phân chia lãnh thổ Âu-Á này ra hai khu vực ảnh hưởng, một ở phía tây dành cho Mát-xcơ-va, một ở Viễn Đông dưới sự bảo trợ của Bắc Kinh. Tuy nhiên, có thể là vô ích và nguy hiểm nếu xây dựng một chính sách dựa trên những hi vọng xa xôi và có thể sẽ là ảo tưởng”52 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-chấu Đại dương 26-11-1953) Bản ghi nhớ vè Trung Hoa nhân dân, tr.5-6).


Đó cũng là sự phân tích gần giống với những điều mà các bộ trưởng ngoại giao Pháp, Anh Mỹ trình bày trong cuộc gặp gỡ tại Béc-muýt (từ 4 đến 7 tháng 12 năm 1953). G. Bi-đôn, trong cuộc gặp ngày 4 tháng 12, đã nhấn mạnh rằng “theo ông ta, những mối quan hệ giữa hai nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và Liên Xô không thoải mái như người ta tưởng”. Việc gọi đại sứ Liên Xô tại Trung Quốc Ku-dơ-nét-xốp về Mát-xcơ-va tỏ ra có ý nghĩa đối với cách nhìn đó của ông ta”.


Ba ngày sau, trong cuộc họp ngày 7, Đa-lét đưa ra một luận điểm rất gần với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp. Trong khi thừa nhận rằng “tình trạng quan hệ giữa Bắc Kinh và Mát-xcơ-va có vẻ không rõ ràng đối với ông ta”. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng có sự “khó khăn giữa hai thủ đô”, ông ta nói thêm rằng “tính chất tế nhị của các mối quan hệ đó (…) là do Mao Trạch Đông, một lãnh tụ quan trọng có uy tín nhiều hơn cả bản thân Ma-len-cốp, khó mà các nhà lãnh đạo mới của Liên Xô có thể ra lệnh cho ông ta. Nếu người Nga đề cao Mao, chính là vì họ cảm thấy bắt buộc phải cư xử với ông ta như là người cùng phe cánh và bình đẳng”* (Từ đây, những dấu “*” là để chỉ những nguồn tài liệu chính thức chưa được phép công bố). Điều đó dẫn Đa-lét đến một kết luận: “Ở đó có một nhân tố có thể sử dụng nếu người ta muốn khai thác một vài sự chia rẽ trong phe cộng sản”*.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Hai, 2011, 02:14:47 PM
Những khó khăn tiềm tàng trong quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô càng tô đậm thêm quan hệ giữa Bắc Kinh với các thủ đô của thế giới trung lập châu Á, mặc dù những mối quan hệ đó còn chưa mở rộng lắm. Đến trước hội nghị Giơ-ne-vơ, mới có bốn nước của thế giới thứ ba thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, tất cả đều là những nước trung lập ở Nam Á và Đông Nam Á: Ấn Độ, Miến Điện, In-đô-nê-xi-a năm 1950, Pa-ki-xtan năm 1951.

(http://img199.imageshack.us/img199/518/bang5w.jpg)


Quan hệ Trung-Ấn là trụ cột của toàn bộ các quan hệ giữa Trung Quốc với các nước trung lập châu Á. Tuy nhiên, cho đến mùa xuân 1954, quan hệ Trung-Ấn còn rất sơ sài, mới chỉ có vài hợp đồng cung cấp ngũ cốc được ký kết năm 1951 và 1952. Chỉ đến khi ký hiệp ước về Tây Tạng ngày 29 tháng 4 năm 1954, sau hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc được ít ngày53 (Xem chương IV), mới đánh dấu bước khởi đầu thật sự của sự xích lại gần nhau giữa Trung Quốc và Ấn Độ54 (Về đại cương mối quan hệ Trung-Án trước 1954, xem chương VIII). Một tình hình tương tự trong quan hệ ngoại giao của Trung Quốc với Miến Điện và In-đô-nê-xi-a từ tháng 6 năm 1950, với Pa-ki-xtan từ tháng 5 năm 1951, cho đến năm 1954 mới chỉ đem lại những kết quả hết sức hạn chế. Hiệp định thương mại đầu tiên với Miến Điện chỉ được ký vài ngày trước khi khai mạc hội nghị Giơ-ne-vơ, ngày 22 tháng 4 năm 195455 (Về đại cương mối quan hệ Trung-Miến vào thời kỳ này, xem chương VIII). Hai hiệp định thương mại với In-đô-nê-xi-a được ký ngày 12 tháng 4 năm 1952 và 30 tháng 11 năm 1953 (hiệp định đầu chỉ là bán chính thức); ba hiệp định với Pa-ki-xtan ký ngày 12 tháng 4 năm 1952 (bán chính thức) và 14 tháng 3 năm 195356 (Về các hiệp định này (xem D.M. Giônston và Hungdach-chiu, sách đã dẫn)).


Năm 1954, những quan hệ đó là một trong những “cửa sổ” hiếm hoi của Trung Quốc mở ra với thế giới bên ngoài không phải là xã hội chủ nghĩa. Việc mở cửa này càng có ý nghĩa ở chỗ hai trong số các nước đó, Ấn Độ và Pa-ki-xtan, đều là thành viên của khối Thịnh vượng chung (Liên hiệp Anh), và chính phủ Bắc Kinh có thể hy vọng, bằng con đường này, thiết lập một vài cuộc tiếp xúc có ích với người Ăng-lô Sắc-xông. Nhưng phạm vi hạn chế của những quan hệ đó cũng nói lên sự cô lập của Trung Quốc trên trường quốc tế. Thật là ít ỏi nếu sau ba năm Trung Quốc mới đi đến chỗ khai thác những quan hệ ngoại giao đã được thiết lập với châu Á trung lập trong những năm 1950-1951.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Hai, 2011, 02:15:58 PM
Ngoài ra, ở Tây Âu, mới có sáu nước công nhận nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Vương quốc Liên hiệp Anh lo lắng duy trì quyền lợi ở Hồng Công và ở Trung Hoa lục địa, đã đi đầu trong việc này ngày 6 tháng 1 năm 1950, nhưng 4 năm sau quy chế đại diện Anh tại Trung Quốc vẫn chưa được quy định và sự rắc rối giữa Luân-đôn và Bắc Kinh vẫn còn nguyên vẹn57 (Về sự tiến triển quan hệ Anh-Trung Quốc, xem chương V). Hà Lan đã công nhận Trung Hoa nhân dân ngày 27 tháng 3 năm 1950, nhưng vẫn chưa trao đổi đại diện ngoại giao mà đáng lẽ phải được phái đến rồi. Thuỵ Điển và Đan Mạch, ngược lại, đã đặt quan hệ ngoại giao bình thường với chế độ mới từ tháng 5 năm 1950, trong lúc Thuỵ Sĩ và Phần Lan nối tiếp nhau công nhận Trung Hoa nhân dân vào những tháng sau. Cuối cùng, đến trước hội nghị Giơ-ne-vơ, khả năng bình thướng hoá quan hệ giữa Trung Quốc và Na Uy được đặt ra58 (Việc này sẽ diễn ra ngày 5-10-1954).


Con số hạn chế các nước Tây Âu đặt quan hệ với Trung Quốc chủ yếu là do “sự phủ quyết” do Mỹ áp đặt đối với mọi hình thức, làm dịu tình hình căng thẳng, về ngoại giao hoặc về thương mại, với “Trung Hoa đỏ” trong thời kỳ khủng hoảng Triều Tiên. Các cường quốc châu Âu, tất cả đều bận tâm xây dựng lại nền kinh tế của họ, và do đó tất cả đều phụ thuộc nhiều, ít về tài chính với Mỹ, không thể tự cho phép có một lập trường căn bản khác với Mỹ trong thái độ với Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Đúng là cách cư xử của các nước xã hội chủ nghĩa châu Âu cũng không khuyến khích các nước Tây Âu công nhận Trung Quốc.


(http://img17.imageshack.us/img17/776/bang6w.jpg)


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Hai, 2011, 02:17:01 PM
Sau cùng, cuộc chiến tranh Triều Tiên đã khiến cho Mỹ vội vã thành lập một hệ thống an ninh quan tọng ở châu Á và Thái Bình Dương.

Ngay từ ngày 17 tháng 10 năm 1950, chính phủ Oa-sinh-tơn đã ký với Thái Lan một hiệp ước viện trợ, theo đó, Mỹ cung cấp vũ khí cho quân đội Thái Lan và cử một phái đoàn quân sự đến Băng Cốc59 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 30-11-1950) Bản ghi nhớ về vấn đề an ninh Thái Bình Dương). Sau đó, với hội nghị Xan Phran-xi-xcô, những hiệp định tương trợ tăng thêm nhiều. Ngày 31 tháng 8 năm 1951, Mỹ ký với Phi-líp-pin-mà Mỹ đã trao trả độc lập cách đây mấy năm-một hiệp ước tương trợ được Ma-ni-la chuẩn y vào tháng 8 năm 1952. Ngày 1 tháng 9, khối ANZUS được thành lập (gồm Ô-xtrây-li-a (Australia), Niu Di-lơn (New Zeland), Hoa Kỳ). Đó là một hiệp ước an ninh ba bên, theo đó Oa-sinh-tơn cam kết bảo vệ hai nước Thái Bình Dương chống lại sự đe doạ “có thể từ nước Nhật Bản tái vũ trang hoặc từ Trung Hoa cộng sàn”60 (như trên, tr.2). Cuối cùng ngày 8 tháng 9 năm 1951, Mỹ và Nhật Bản ký hiệp ước hoà bình và hiệp ước phòng thủ đối chọi với liên minh Xô-Trung ký kết trước đó một năm rưỡi.


Hệ thống an ninh Mỹ đã được mở rộng từng phần đến cả Đông Dương, ít nhất cũng là một cách gián tiếp. Tuyên bố của Tơ-ru-man (Truman) ngày 27 tháng 6 năm 1950 đã liên kết cố gắng của Pháp với chính sách của Mỹ ở biển Trung Hoa (tức biển Đông-N.D.), bởi vì trong các biện pháp do Tổng thống Mỹ quyết định nhằm đối phó với sự xâm lược cộng sản ở châu Á, có việc trang bị cho quân đội liên hiệp Pháp cũng như đặt một phái đoàn quân sự Mỹ ở Đông Dương61 (The Department of State Bulletin, 3-7-1950. Bản tiếng Pháp trong Bulletin quotidien de press étrangére số 1614, 28-6-1950). Ngày 18 tháng 5 năm 1951, đã có một cuộc họp ban tham mưu Mỹ-Pháp-Anh ở Xin-ga-po nhằm xây dựng chiến lược phòng thủ chung ở Đông Nam Á, đặc biệt ở Đông Dương62 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 30-11-1953), tr.4-6). Các cuộc tham khảo ý kiến khác, tiến hành đầu năm 1952 đã đưa đến cuộc họp vào tháng 10 năm đó, giữa năm nước, ngoài đại biểu Pháp, Anh, Mỹ, còn có có đại biểu Oa-sinh-tơn và Niu Di-lơn. Tháng 4 năm 1953, một cuộc hội nghị mới, họp ở Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) quyết định thành lập Bộ tham mưu đồng minh thường trực (“Staff Agency”) gồm năm nước, có nhiệm vụ đảm bảo việc tiếp xúc thường xuyên giữa các thủ đô có liên quan cũng như phối hợp các cố gắng quân sự ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương63 (“Staff Agency” họp ba lần, 15-30 tháng 6 năm 1953 ở Trân Châu Cảng, tháng 2-1954 ở Xin-ga-po, xem chương II).


Các buổi họp này, về thực chất, đã báo hiệu các cuộc thương lượng, vào cuối năm 1953, nhằm đi đến một hiệp ước an ninh nhiều bên ở vùng này64 (Vấn đề phòng thủ Đông Dương chống lại sự can thiệp của Trung Quốc sẽ đề cập ở chương II).


Vào thời gian trước hội nghị Giơ-ne-vơ, ngoài hệ thống các hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Triều Tiên ký ngày 8 tháng 8 năm 1953 và khoảng cuối năm 1953 và đầu năm 1954, triển vọng hợp tác quân sự chặt chẽ giữa Hoa Kỳ và Pa-ki-xtan65 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (châu Á-châu Đại dương 30-11-1953). Bản nhớ về vấn đề giao lại các căn cứ Pa-ki-xtan cho Hoa Kỳ. Cũng xem Chronique de politique étrangère (Biên niên chính sách đối ngoại) quyển VII, số 3, tháng 5-1954. Một hiệp định quân sự Mỹ-Pa-ki-xtan được thực sự ký kết tháng 5-1954).


Bấy nhiêu yếu tố gắng liền với nhau, chỉ có thể làm cho Bắc Kinh thấy đó là sự đe doạ trực tiếp đến nền an ninh của Trung Quốc.

Nhưng những nhân tố chính trị, kinh tế hoặc chiến lược trong lúc này không phải là những nhân tố duy nhất quyết định thái độ của Trung Quốc đối với vấn đề Đông Dương. Tính truyền thống lâu dài trong quan hệ với Việt Nam và ở trình độ thấp hơn với Lào và Cam-pu-chia cũng sẽ đóng vai trò quyết định.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Hai, 2011, 08:30:43 AM
TẦM CỠ LỊCH SỬ CỦA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT66
(66. Vấn đề quan hệ Trung Quốc-Lào-Cam-pu-chia, căn bản khác với quan hệ Trung-Việt, sẽ được đề cập ở chương VIII)


Quả thực, ít có thể hiểu được bản chất sâu xa của mối quan hệ Trung-Việt, sự quan tâm của Trung Quốc đối với bán đảo Đông Dương và ngược lại thái độ của nhân dân các nước Đông Dương đối với Trung Quốc mà không tham khảo thường xuyên quá khứ xa xưa nhất. Không phải vì quá khứ đó không tránh khói quyết định hướng phát triển hiện nay, ngay cả khi nó chứng kiến những điều không thay đổi hằng nghìn năm nay. Nhưng dần dần, các thế kỷ trau dồi ý thức dân tộc đến nỗi lịch sử không chỉ là một chuỗi tình hình nối đuôi nhau theo trình tự thời gian; lịch sử cũng tự nó là một nhân tố tự trị, giải thích từng phần mỗi lúc trong cuộc sống của một dân tộc. Phải chăng thông qua khái niệm mà các nhà lãnh đạo đã làm cho lịch sử tiến hoá có vai trò khi họ đưa ra những quyết định.


Có lẽ không phải là vấn đề nhắc lại đầy đủ mọi khía cạnh trong quan hệ Trung-Việt trải qua các thế kỷ67 (Về quan hệ Trung-Việt, có thể xem hai cuốn sách kinh điển bằng tiếng Pháp của Deveria: Histoire des ralations de la Chine avec I’Annam-Việt Nam du XVIe siècle au XIXe siècle (Lịch sử quan hệ Trung Quốc-An-nam-Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Pa-ri, E. Le Roux, 1880, 102 trang và Le fontière sino-annamite: description gèographiquet et ethnographique d’apès dé documents officiels chinois (Biên giới Trung-Việt mô tả địa lý và dân tộc học, theo những tư liệu chính thức của Trung Quốc) Pa-ri, E.Le Roux, 1886, 182 trang. Đối với những tác phẩm phổ cập hơn, có thể xem Lê Thành Khôi: Le Việt Nam, Pa-ri, Ed. De Minuit, 1955, 587 trang, hoặc sách tiếng Anh của J Buttinger: “The Smaller Dragon” (con rồng nhỏ hơn), Niu-Oóc. Praeger, 1958, 587 trang. về các sách khác, xem mục lục tham khảo ở cuối sách). Nhưng có lẽ sẽ không phải là vô ích khi nêu lên những kết luận chủ yếu rút ra trong việc nghiên cứu tỉ mỉ các mối quan hệ đó.


Việt Nam: một nước đã từng triều cống Trung Quốc

Thực thế, trong chừng mực nước Việt Nam hiện thời là một quốc gia duy nhất trong vùng chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn minh Trung Hoa, thì đó là một trường hợp duy nhất ở Đông Nam châu Á. Việt Nam vốn là một nước từ Trung Hoa mà hình thành nên68 (Xem Philippe Langlet La tradition Vietnamienne: Unetat national au sein de la civilsation chinoise (truyền thống Việt Nam: một quốc gia dân tộc trong lòng văn minh Trung Hoa) B.S.E.E. Sài Gòn, 1970, 395 trang (nhất là lời nói đầu)). Từ cuối đời Tần (thế kỷ thứ III trước công nguyên)69 (Các cuộc viễn chinh đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu tiến đánh các bộ lạc Việt ở phía nam Trung Quốc bắt đầu từ năm 221 trước công nguyên), cho đến cuối đời Đường (thế kỷ thứ V) đất Việt gần như thường xuyên bị sáp nhập vào đế chế Trung Hoa, với quy chế của một phong địa quân sự (đất phong cho tướng võ có công-N.D.) như dưới thời Hán, hoặc của một đất bảo hộ như dưới thời Đường70 (An-nam đô hộ phủ). Thế kỷ X, khi Đại Việt thành một vương quốc “độc lập” thì đất nước cũng vẫn theo văn minh Trung Hoa. Không phải là cư dân Việt không muốn duy trì được bản sắc văn hoá của riêng họ, không phải là không có những ảnh hưởng khác từ bên ngoài vào như Mã Lai, In-đô-nê-xi-a hoặc Ấn Độ và để lại dấu ấn trên nền tảng văn hoá bản địa. Nhưng sự xâm nhập của Trung Quốc có địa vị ưu thế đến nỗi không thể bác bỏ được rằng Vương quốc (Đại Việt) là sự kéo dàu của thế giới Trung Hoa. Đặc biệt là Nho giáo được đưa vào dần dần từ đời Hán, đã làm cho bộ máy Nhà nước xã hội Việt mang những đặc điểm rất Trung Hoa, nhất là các thể chế công cộng và tư nhân: tổ chức vương quốc, bộ máy quan lại, quan hệ xã hội, v.v…


Vừa mới giành được “độc lập”, quốc gia mới mẻ này đã nhận phiên thuộc Trung Quốc (từ năm 972 sau công nguyên). Suốt 9 thế kỷ, quan hệ phiên thuộc của Đại Việt đối với Trung Quốc đã duy trì Đại Việt trong phạm vi chư hầu của Trung Quốc. Tuỳ theo tình hình bên trong nước Trung Hoa hoặc bên trong vương quốc (Đại Việt) mà mối liên hệ phiên thuộc đó có thể nới lỏng một thời gian. Ở những thời kỳ khác, ngược lại sự áp chế của Trung Quốc có nhiều tính chất xâm lược hơn. Dưới triều Tống, Nguyên, Minh và Thanh, Đại Việt nhiều lần chịu ách chiếm đóng quân sự của nước láng giềng hùng mạnh. Nhưng nhìn toàn cục, trong quan hệ hai nước hình thành một thế cân bằng nào đó, được xác nhận bằng việc Đại Việt triều cống đều đặn Trung Quốc.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Hai, 2011, 08:31:59 AM
Cần có đôi lời bình luận về chế độ triều cống này, kéo dài cho đến khi Pháp chiếm Việt Nam71 (Triều đình Huế nộp cống lần cuối cùng cho Bắc Kinh vào năm 1883), là chỗ dựa độc nhất của mối quan hệ Việt-Trung cho đến cuối thế kỷ XIV, thật ra, lệ triều cống không đơn giản nói lên sự quy phục của một nước ở biên cương đế chế Trung Hoa. Giữa hai nước cùng theo Nho giáo như Đại Việt và Trung Hoa, lệ triều cống đánh dấu sự quy phục thật sự, đồng thời còn là biểu hiện của một thứ “quan hệ qua lại”. Tất nhiên, mối quan hệ giữa bá chủ và chư hầu chủ yếu dựa trên sự bất bình đẳng, nhưng việc nộp cống cũng phản ánh một dạng liên kết nào đó của Đại Việt vào đế chế Trung Hoa, một ý thức nào đó tham gia cùng  một trật tự chung. Triều Đại Việt cần được Trung Quốc tấn phong để mọi người phải thừa nhận mình cũng giống như một quốc gia hiện đại thời nay không thể bỏ qua sự thừa nhận quốc tế để tồn tại. Vả lại, theo quan điểm của Trung Quốc, khái niệm hai quốc gia riêng biệt tỏ ra không thích hợp mấy. Đúng hơn là thay bằng khái niệm hai thế giới tiếp giáp nhau: thế giới văn minh và thế giới không văn minh. Thế giới văn minh, theo Nho giáo, phải tuân lệnh Hoàng đế (chúng ta gọi là Hoàng đế Trung Hoa): muốn tham dự vào thế giới văn minh đó, bao gồm cả Đại Việt vì Đại Việt dùng chữ viết Trung Hoa, theo lễ giáo Trung Hoa là những biểu tượng của văn minh, thì Đại Việt không có lối thoát nào khác là tỏ ra thân thuộc đối với Hoàng đế72 (Các công trình nghiên cứu mẫu mực về chế độ triều cống cuối đời Thanh có J.K. Fairbank và S.Y. Teng, On the Ch’ing tributary system (Về chế độ triều cống đời Thanh), Havard, Journal of Asiatic Studies, Vol VI số 1 tháng 3-1941, trang 135-256. Các tác phẩm mới hơn có Fairbank, The Chinese World Order (Traditional China’s Foregin Ralations) (Trật tự thế giới Trung Hoa-Quan hệ đối ngoại của nước Trung Hoa cổ xưa), Havard, University Press, Cambridge (Mass), 1968, 416 trang (đặc biệt xem hai công trình nghiên cứu của Lien Sheng Yang và Mark Mancall)).


Như thế có nghĩa là việc triều cống, thật ra, bao gồm một hệ thống quan hệ hết sức phức tạp. Đối với Trung Quốc, nó phản ánh sự lệ thuộc tối đa, trong đó, Trung Quốc có thể hy vọng duy trì sự bảo hộ đối với nước Việt mà không gây nên một sự phản ứng “dân tộc” nào của người Việt. Đối với Đại Việt, trái lại, việc triều cống lại phản ánh nền độc lập tối đa có thể có được, nhưng lại không gây ra sự phản ứng “đế quốc” của Trung Hoa. Trong trường hợp này cũng như trường hợp kia, vì cả hai nước đều theo Nho giáo nên việc triều cống chứng tỏ ít ra một phần là cả hai nước73 (Nếu nghiên cứu quan hệ Trung Quốc-Khơ-me, chúng ta sẽ thấy rất khác vì đây là quan hệ giữa một nước theo Nho giáo và một nước theo Phật giáo. Về quan hệ truyền thống giữa Trung Quốc-và Lào-Khơ-me, xem chương VII), cùng chung một quan niệm về giá trị của cống vật.


Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên rằng Đại Biệt và sau đó từ thế kỷ XIX, Việt Nam74 (Năm 1803, đến đời Gia Long, Đại Việt đổi là Việt Nam) luôn luôn đã được Trung Quốc coi như là một quốc gia có một vị trí đặc biệt đối với Trung Quốc. Vào đầu thế kỷ XX Tôn Dật Tiên coi Việt Nam nằm trong “phần đất đã mất của Trung Quốc75 (Pascal, MD. Elia, Le triple dé misme de Suen Wen (chủ nghĩa tam dân của Tôn Văn) Thượng Hải, Phòng Trung Quốc học của Zi-ka Wei: 1930, tr.39). Gần chúng ta hơn, chủ tịch Mao Trạch Đông, năm 1939 đã kết tội Pháp chiếm An-nam bằng cùng một lời lẽ giống như khi kết tội Anh chiếm Hồng Công hay Bồ Đào Nha chiếm Ma Cao76 (Mao Trạch Đông: Cách mạng Trung Hoa và Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 12-1939-Bản dịch tiếng Anh trong Current Back-ground, U.S Consulate General Hong Kong, số 135, 10 tháng 11-1951. Đáng chú ý là trong cuốn lần xuất bản cuối cùng của Tuyển tập Mao Trạch Đông, bài viết này đã được sửa lại và có thêm sự phân biệt giữa “nước láng giềng trước đây dưới sự bảo hộ củ Trung Quốc" và “lãnh thổ thuần tuý Trung Quốc". Mao Trạch Đông Tuyển tập. Bắc Kinh, Nhà xuất bản Ngoại văn, 1967, tập 2, tr.331-332). Thực tế là trở lại việc sát nhập, như Tôn Dật Tiên đã làm, An-nam vào “phần đất đã mất”.


Không tính đến ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thống đó chắc chắn sẽ là một sai lầm lớn. Di sản của lịch sử để lại là Trung Quốc không thể xem vấn đề Việt Nam là hoàn toàn “xa lạ” đối với mình77 (Đối với Triều Tiên, tình hình một phần cũng như vậy). Vả lại đế chế Trung Hoa có ý đồ không thay đổi áp đặt một thứ “hoà bình kiểu Trung Quốc" đối với vùng đất biên cương phía nam. Và điều đó sẽ được thật sự đặt lên hàng đầu trong suốt thời gian thương lượng tại Giơ-ne-vơ. Một mặt, một yêu cầu bức thiết về quân sự: nền an ninh của các tỉnh phía nam Trung Hoa tuỳ thuộc vào hoà bình ở Việt Nam, đó là một thực tế. Mặt khác, một yêu cầu bức thiết về kinh tế: thung lũng sông Hồng là thị trường tự nhiên của các tỉnh phía nam của Trung Quốc78 (Một thành viên đoàn đại biểu Pháp tại Giơ-ne-vơ đã ghi chép như sau ngay trong thời gian hội nghị: “Người Trung Quốc lo lắng (…) lợi dụng trên bình diện quốc gia những thuận lợi về kinh tế và an ninh mà việc Việt Minh kiểm soát Bắc Kỳ đem lại. Cân nhắc lại rằng thung lũng sông Hồng là lối ra thiên nhiên và đã được trang bị của ba hay bốn tỉnh miền Tây Nam. “Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp. Bản ghi nhớ về vấn đề hội nghị Giơ-ne-vơ và chính sách đối ngoại của Trung Quốc, Giơ-ne-vơ, 12-6-1954), đó là một thực tế nữa.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 07 Tháng Hai, 2011, 08:32:58 AM
Về phía Việt Nam, cũng cái di sản lịch sử đó bắt họ phải chịu những sức ép buộc như thế, muốn coi thường cũng không được. Về mặt văn hoá, sự hấp dẫn đối với một nền văn minh đã ngự trị và thấm sâu vào toàn bộ lịch sử của dân tộc Việt Nam, nhưng ngược lại về phía Việt Nam một ý chí mạnh mẽ và kiên trì, muốn trút bỏ ảnh hưởng của nền văn minh đó để khẳng định hơn nữa cá tính sâu sắc của Việt Nam. Về mặt chính trị: mối quan tâm tha thiết bảo vệ nền độc lập mỏng manh và khó khăn trong khi thừa biết rằng nền độc lập đó chỉ có thể đảm bảo và duy trì được với sự thoả thuận của Trung Quốc.


Ngoài ra, phải chăng cần nhắc lại rằng chính sự can thiệp của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã chấm dứt tình trạng phiên thuộc kéo dài hằng nghìn năm của Việt Nam đối với Trung Hoa? Chính là thắng lợi của Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp-Trung (1884-1885), đã buộc đế quốc Mãn Thanh đang suy vong phải từ bỏ, bằng hiệp ước Thiên Tân (9-6-1885), quyền bá chủ của mình và thừa nhận nền bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam. Giai đoạn lịch sử này là thiết yếu đối với ai muốn tìm hiểu thái độ của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ. Không những cái “hiệp ước bất bình đẳng” mới mẻ đó làm hại đến uy tín đã bị sứt mẻ của đế chế Trung Hoa mà còn làm mất đi ở sườn phía nam mọi sự phòng thủ chống lại sự bành trướng của Pháp. Năm 1881, Tseng Chi-tse đã nói: “nước An-nam ở sát bên cạnh Trung Hoa: an ninh sứ này có liên quan đến chúng ta. Việc bảo vệ an An-nam chẳng khác gì bảo vệ những tỉnh phía nam Trung Quốc"79 (K.C. Chen trích, sách đã dẫn, tr.3. Về việc Pháp chiếm Đông Dương làm thuộc địa và quan hệ Pháp-Trung, xem các sách sau đây: A.Yeng: Các bài ghi chép về chiến tranh Trung-Pháp, Bắc Kinh, Trung Hoa 1957, 470 trang, chứng tỏ Trung Hoa nhân dân quan tâm nghiên cứu quan hệ Trung-Pháp vào thời kỳ này; Shao Hsun-cheng: Lai lịch các mối quan hệ Trung-Pháp liên quan đến vấn đề Việt Nam, Bắc Kinh, trường đại học Thanh Hoa, 1945, 215 trang, cuốn này dựa chủ yếu vào nguồn tư liệu của Pháp; Wang Wen-yuan: Les relations entre l’ Indochine francaise et la Chine (quan hệ giữa Đông Dương thuộc Pháp và Trung Quốc) Pa-ri, Bossuet (P), 1937, 199 trang; Henri Cordier: Le conflit entre la France et la Chine (Cuộc xung đột giữa Pháp và Trung Quốc)-Etude d’histoire coloniale et le droit international-(nghiên cứu về lịch sử thuộc địa và luật quốc tế), Pa-ri, xe-phơ 1883, 48 trang năm 1962, Đài Loan đã xuất bản một phần lớn các hlst về quan hệ Trung-Pháp liên quan đến vấn đề Việt Nam, in thành sách nhan đề “lưu trữ về các cuộc thương lượng Trung-Pháp về vấn đề Việt Nam" Dài Bắc, 1962, 7 tập, 4696-49-50 trang).


Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tướng Xa-lăng (Raoul Salan), người đã thương lượng một trong các hiệp định Trùng Khánh (28-2-1946) quy định việc quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa ở Đông Dương, còn ghi nhận: “Trung Quốc còn giữ lại từ thời kỳ đó, một mối ác cảm ít nhiều đối với Pháp và Anh”80 (Raoul Salan: Mémoires (Hồi ký) Paris, Presses de la Ci té, 1970 tập I. (“Sự cáo chung một đế quốc”), tr.266). Đại tá Li Tsi-ou trong ban tham mưu Trung Quốc cũng nhận xét: “Chúng tôi khó chịu khi trao trả Đông Dương cho các ông. Như Mông Cổ và Tây Tang, Đông Dương của các ông vốn thuộc Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, đó là một trong những nước chư hầu của chúng tôi”81 (Như trên, tr.281).


Cuối cùng, công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp nhất là ở Nam Kỳ, và những nhu cầu về nhân công, đã lôi cuốn một số dân Trung Hoa vào Đông Dương tạo nên cho Trung Quốc có thêm một mối liên hệ với Việt Nam. Cuộc điều tra dân số cuối cùng năm 1937, đã đưa đến kết quả sau: Nam Kỳ có 171.000 Hoa kiều, Bắc Kỳ 35.000, và Trung Kỳ 11.000, tổng cộng 217.000 Hoa kiều trên toàn Việt Nam82 (Victor Purcell: The Chinesein Southeast Asia (người Hoa ở Đông Nam Á) Luân-đôn, Oxford University Press 1951, tr.210. Cũng vào thời gian này, có 106.000 Hoa kiều ở Cam-pu-chia và 3.000 ở Lào). Nhưng sau chiến tranh thế giới, số dân Hoa kiều này tăng lên khá nhanh. Đúng là năm 1948, ước tính bao gồm cả Cam-pu-chia và Lào, là 850.000 Hoa kiều. Và đến năm 1953, một nguồn khác đưa ra con số 544.000 Hoa kiều “hợp pháp và được kiểm tra” riêng ở miền Nam Việt Nam83 (Tsai Maw-kuey: Les Chinois au Sud Việt Nam (Người Hoa ở miền Nam Việt Nam), Thư viện quốc gia Pa-ri, 1968, tr.72). Nếu Hoa kiều ở Việt Nam chưa phải chiếm số đông nhất so với các nước khác ở Đông Nam Á thì đó là một cộng đồng chính trị quan trọng không kém ở ngay sát biên giới Trung Hoa và sẽ rất mau chóng trở thành một đối tượng giành giật giữa Bắc Kinh và Đài Bắc, sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập84 (Vào thời kỳ đế chế, chính phủ Trung Quốc càng quan tâm hơn đến cộng đồng Hoa kiều ở Việt Nam, cộng đồng này thường đón nhận người Trung Quốc phải bỏ đất nước ra đi sau những cuộc đảo lộn chính trị hay thay đổi triều đại).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Hai, 2011, 07:40:13 PM
Cách mạng Việt Nam và Trung Quốc

Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, nhưng không phải vì vậy mà thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Vào cuối thế kỷ XIX, những tư tưởng cải lương của Lương Khải Siêu hoặc Khang Hữu Vi, đã có ảnh hưởng rộng lớn trong một số sĩ phu Việt Nam. Vả lại cũng chính là qua các bản dịch tiếng Trung Quốc, nhất là của Nghiêm Phúc (1853-1921) mà những sĩ phu này đã tìm đến triết học thế kỷ XVIII của châu Âu, từ đó hình thành những trào lưu tư tưởng dân tộc chủ nghĩa đầu tiên của Việt Nam85 (Paul Mus: Việt Nam, Sociologie d’une guerre (Việt Nam, xã hội học một cuộc chiến tranh) Pa-ri. Le Seuil, 1952, tr.214-215. “Tinh thần luật pháp” được Nghiêm Phúc dịch năm 1906). Đầu thế kỷ thứ XX Trung Hoa đã gắn bó mật thiết với chủ nghĩa dân tộc hiện đại Việt Nam. Chính là lúc cách mạng thắng thế ở đế chế Trung Hoa mà Phan Bội Châu (1867-1940), chuyển từ chủ nghĩa quân chủ sang luận thuyết cộng hoà, dưới ảnh hưởng của Tôn Dật Tiên và Đồng minh hội, năm 1912, ông tổ chức Việt Nam phục quốc đồng minh hội (đúng ra là Việt Nam Quang phục hội-N.D.) ở Quảng Châu, tập hợp phần lớn những người Việt Nam lưu vong, theo chủ nghĩa dân tộc. Từ đó, nước Trung Hoa nhờ tư tưởng cũng như nhờ nơi ẩn náu và những thuận lợi mà Trung Hoa đem lại, không ngừng là trung tâm của cách mạng Việt Nam.


Phong trào Ngũ Tứ (mồng 4 tháng 5 năm 1919) cũng như việc Tôn Dật Tiên đề ra chủ nghĩa Tam dân cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam. Đảng quốc gia của Việt Nam (Việt Nam Quốc dân đảng) thành lập năm 1927 tại Hà Nội là một tiếng vang trung thành của Quốc dân đảng Trung Hoa: tổ chức giống nhau, chủ nghĩa giống nhau và hi vọng chấm dứt chế độ thống trị của Pháp với sự giúp đỡ của Trung Hoa dân quốc86 (K.C Chen, sách đã dẫn, tr.19). Chính là ở miền Nam Trung Quốc, ở Quảng Tây, ở Vân Nam và nhất là ở Côn Minh mà những nhà lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng tìm được nơi ẩn náu tự nhiên khi họ bắt buộc phải lưu vong để tránh khủng bố của Pháp ở Đông Dương kể từ 1939-1940.


Ngay từ đầu những năm 1920, chính người cộng sản Trung Quốc và người cộng sản Việt Nam, cũng đã có những mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Năm 1922 chính Hồ Chí Minh đã gặp Chu Ân Lai ở Pa-ri87 (Văn Hối báo, Hồng Công, 2-11-1956, KC, Chen trích trong sách đã dẫn, tr.21). Nơi đây cả hai người dốc sức tổ chức những người châu Á trong những nhóm cực tả ở thủ đô. Ba năm sau, sau một thời gian ở Mát-xcơ-va, Hồ Chí Minh được Quốc tế cộng sản phái về Quảng Châu. Ở đây, ông thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (hoặc gọi tắt là Thanh niên), đồng thời mở lớp huấn luyện chính trị, theo học có Phạm Văn Đồng, sau này là Phó thủ tướng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, người dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Minh tại Giơ-ne-vơ88 (Hsiao Yang: Giải phóng Việt Nam, Thượng Hải 1951, tr.65, Wu Chih-ying (nxb): Chuyện Hồ Chí Minh, Thượng Hải, 1951, tr.13. Từ 1928, Trường Chinh đã gia nhập Thanh niên. Béc-na Phôn: Trường Chinh, Primer for Revolt (Trường Chinh, người đi đầu trong cách mạng), Niu Oóc, 1963, tr.11). Được Đảng Cộng sản Trung Quốc giúp đỡ, nhóm này có quan hệ một thời gian với trường Đại học quốc gia về phong trào nông dân, bấy giờ do Mao Trạch Đông làm hiệu trưởng trong khuôn khổ Quốc-Cộng hợp tác. Ngoài ra, nhiều hội viên “Thanh niên: thi nhau gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc (đôi khi họ mang tên Trung Quốc) như Hồ Tùng Mậu sau này được Hồ Chí Minh giao cho lãnh đạo Hội Thanh niên, sau cuộc khủng hoảng 192789 (K.C. Chen, sách đã dẫn, tr.23 và 25).


Như vậy có nghĩa là, ngay từ đầu, phong trào cộng sản Việt Nam đã gắn bó chặt chẽ với phong trào cộng sản Trung Quốc, ở đó những người cộng sản Việt Nam đã tìm thấy sự giúp đỡ to lớn và cả sự phác hoạ về tư tưởng chính trị, đáp ứng một phần sự quan tâm đến dân tộc của chính họ. Vì vậy, Đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh thống nhất ngày 3 tháng 2 năm 1930 ở Hồng Công, đã gần gũi lâu dài với Đảng Cộng sản Trung Quốc, ngay cả trong những lúc gian nan nhất, sau thất bại của cuộc nổi dậy ở Nghệ An (mùa xuân 1930), cuộc nổi dậy chịu ảnh hưởng một phần của phong trào các Xô-viết Trung Hoa nổ ra năm 1927.


Những năm Hồ Chí Minh hoạt động ở Trung Quốc, từ 1938 đến 194590 (Như trên, tr.33-98. Cũng xem Chiang Yung-chinh: Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, Đài Bắc, 1972, 292 trang), làm cho mối liên hệ đó bền chặt thêm. Ở đó, ông đã tiếp xúc thường xuyên với Chu Ân Lai, sau đó, nhất là với tướng Diệp Kiếm Anh (lúc này Hồ Chí Minh có quan hệ với Bát lộ quân ở Quế Dương, Quế Châu và Hàm Dương, Hồ Nam). Những biện pháp khủng bố gắt gao của nhà đương cục Pháp đối với những người cách mạng Việt Nam cuối 1939-đầu 1940 đã làm số đông những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương cùng với những người theo chủ nghĩa quốc gia, nhất là những đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng chạy sang Vân Nam. Rất nhiều người làm ăn sinh sống ở dọc đoạn đường sắt Côn Minh-Hải Phòng trên đất Trung Quốc, và với sự giúp đỡ của Đảng bộ cộng sản Trung Quốc ở Vân Nam, đã lập lại cơ sở hạ tầng của Đảng được che giấu dưới tên “Hội ủng hộ Trung Quốc chống Nhật”.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Hai, 2011, 07:42:11 PM
Từ tháng 5 năm 1940, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp từ trong nước ra, đến liên lạc với nhóm này ở Côn Minh. Mối quan hệ giữa hai đảng còn được khẳng định rõ nét hơn nữa khi hai đảng ký kết một bản thoả thuận về hợp tác, tháng 8 năm 1940: Trong lúc Đảng Cộng sản Trung Quốc hướng dẫn cho Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động, nhất là nhận đào tạo cán bộ Việt Nam tại trường Đại học chống Nhật ở Diên An, thì Đảng Cộng sản Đông Dương, về phần mình, cam kết hoạt động trong khuôn khổ Mặt trận thống nhất kháng Nhật đồng thời đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Pháp91 (Các vấn đề chủ nghĩa cộng sản Việt Nam và vấn đề Việt Nam hôm qua và ngày nay, Studies on Special Subjects, Đài Bắc, 1955, số 21, tr.12-13 (ban thứ 6 Quốc dân đảng) K.C. Chen trích, sách đã dẫn, tr.41, chú thích 21).


Về điểm sau, những người Việt Nam cũng như người Trung Quốc, cộng sản hay theo chủ nghĩa quốc gia đều có lập trường gần với nhau nhất. Vì vậy, rất nhiều người coi những sự nhượng bộ của nhà đương cục Pháp trước tối hậu thư của Nhật năm 1940 như là “sự hợp tác” thật sự chống lại Trung Quốc. Tháng 5 năm 1941, tại cuộc hội nghị ở Tĩnh Tây (Quảng Tây) đã thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội (hoặc Việt Minh) với chương trình vừa đơn giản vừa rõ ràng: Đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít Pháp và Nhật, Việt Nam độc lập, và xây dựng chế độ cộng hoà dân chủ. Nhưng nhà đương cục Trung Hoa hiểu rất rõ là Mặt trận mới này, không thể chối cãi được, là do cán bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương bí mật chi phối. Tình hình quan hệ của những người này với Đảng Cộng sản Trung Quốc thúc đẩy họ có thái độ hết sức dè dặt đối với Việt Minh, khiến cho Việt Minh không tránh khỏi khó khăn trong hoạt động và người ta không thể đảm bảo là đường lối chính trị của Việt Minh trùng hợp lâu dài với lợi ích của bản thân Trung Hoa quốc gia. Vì vậy từ 1943, người Trung Quốc và nhất là tướng Trương Pháp Khuê, người chỉ huy mặt trận gần biên giới Việt Nam, đã xúi giục những người Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia thuộc đủ mọi khuynh hướng tập hợp lại để đấu tranh tốt hơn chống Nhật, Pháp. Đó là nguồn gốc của Việt Nam cách mệnh đồng minh hội (Đồng minh hội). Thực ra đáng lẽ đó phải là công cụ trong tay người Trung Quốc thì lại phục vụ một cách tuyệt diệu cho tham vọng của Việt Minh do họ đã nhận tham gia Đồng minh hội, và chỉ có họ mới có cơ cấu tổ chức có khả năng sử dụng Đồng minh hội có lợi cho họ92 (Sau 18 tháng, bị tù, Hồ Chí Minh (lấy biệt hiệu này vào lúc đó) mới nhận tham gia tổ chức này. Lịch sử quan hệ giữa những người cộng sản Việt Nam và những người theo) chủ nghĩa quốc gia Trung Hoa và Việt Nam trong thời kỳ này còn rất mập mờ và chưa biết mấy. So sánh sách đã dẫn của K.C. Chen, tr.33-98 và cuốn Histoire du Việt Nam de 1949 và 1952 (lịch sử Việt Nam từ 1949-1952) của Phi-lip Đơ-vin-lơ, Pa-ri Le Seuil, tr.96-113 thấy rất khác nhau ở nhiều điểm, ở trang 109, Ph. Đơ-vin-le nói đến việc thành lập tại Trung Quốc một chính phủ cộng hoà lâm thời Việt Nam vào tháng 3-1944 mà có lẽ có sự tham gia của Hồ Chí Minh (điều này được B. Phôn thừa nhận trong cuốn sách A.D. Barnett: Communist Strategies in Asia (Chiến lược cộng sản ở châu Á) New York, Praeger, 1963 tr.202-209), nhưng theo K.C. Chen thì chính phủ lâm thời đó không có bao giờ. Về toàn bộ những năm 1940, và đặc biệt về nguồn gốc của Việt Minh, ngoài hai công trình nói trên, xem thêm B. Phôn, Việt Minh, Pa-ri, A. Colin, 1960, 377 trang và cùng tác giả, Les deux Việt Nam (Hai Việt Nam), Paris, Payot, 1967, 478 trang).


Từ 1943 đến 1954, thế lực của Việt Minh không ngừng được củng cố đặt biệt ở phía bắc Bắc kỳ. Các khu du kích trong rừng dần dần được xây dựng, ngày càng được vũ trang tốt hơn và ngày càng mở rộng, nhất là dưới sự thúc đẩy của Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Đồng thời Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì những quan hệ tốt nhất với nhà đương cục Trung Hoa, đặc biệt với tướng Trương Pháp Khuê, thông qua Đồng minh hội. Ông ta đi tới đặt những mối quan hệ khá bổ ích với cả O.S.S (cơ quan tình báo chiến lược của Mỹ).


Cuộc đảo chính Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945 còn thắt chặt hơn nữa những mối liên hệ đó với Trung Quốc. Thực vậy, Chính phủ Trùng Khánh, ủng hộ nền độc lập của Đông Dương, sẵn sàng khi thời cơ đến, phái quân vào Đông Dương đánh Nhật; ngoài ra, cuộc hành quân này nhằm mục đích chuẩn bị về mặt chính trị cho nền độc lập đó làm cho nó phù hợp với lợi ích của Trung Quốc. Vì vậy người Trung Quốc đã nhận tăng cường giúp đỡ sẵn sàng chiến đấu chống Nhật, Pháp. Việt Minh đã quyết định đúng, lợi dụng sự giúp đỡ đó, thậm chí còn nắm độc quyền về sự giúp đỡ của Trung Quốc.


Thực vậy, từ tháng 7 năm 1945, gần đến ngày Nhật thua trận, một việc không còn hoài nghi mấy nữa, Việt Minh, có ảnh hưởng mạnh mẽ ở sáu tỉnh phía bắc93 (Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ và Thái Nguyên), bắt đầu chơi ván bài của họ. Khi tướng Trương Phát Khuê muốn đưa những phần tử Đồng minh hội đầu tiên vào Việt Nam, thì những người cộng sản đã phản đối không cho họ đi vào vùng kiểm soát của họ.


Nhưng, những sự kiện dồn dập xảy đến. Việc nội các thân Nhật Trần Trọng Kim từ chức ngày 7 tháng 8, việc đầu hàng ngày 14, và vua Bảo Đại thoái vị ngày 24 đã đột ngột để trống chính quyền. Chỉ có Việt Minh biết lợi dụng tình thế. Ngày 2 tháng 9, trước khi người Trung Quốc có thể mưu toán bất kỳ việc gì, Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Một Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh lãnh đạo, ra đời, và chính Hồ Chí Minh giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Bộ Nội vụ do Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm, và Phạm Văn Đồng nắm Bộ Tài chính. Trong mười ba Bộ trưởng, sáu người là của Việt Minh. Không có sự giúp đỡ nào từ bên ngoài, nhưng với một sự khôn khéo và mau lẹ xuất sắc, Việt Minh đã chiếm được chính quyền. Chỉ trừ có Hoa Kỳ là tiếp nhận thuận lợi sự biến đổi, còn Đồng minh, kể cả Chính phủ Trùng Khánh thì bị đặt trước một việc đã rồi.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 19 Tháng Hai, 2011, 07:44:11 PM
Tuy vậy, chế độ mới hãy còn cực kỳ yếu ớt. Chẳng bao lâu, chế độ đó đã phải tính đến khả năng Pháp sẽ quay trở lại. Vậy cần thiết phải thoả thuận, nhất là với Trung Quốc-nước chiếm đóng miền Bắc Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở ra để tước vũ khí quân đội Nhật94 (Xem K.C. Chen, The Chinese Occupation of Việt Nam (sự chiếm đóng của Trung Quốc tại Việt Nam) bài đăng trong tạp chí France-Asie, số 196, 1969, tr.3-28). Mặc dù ngày 24 tháng 8, Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch đã nhắc lại rằng “Trung Quốc không hề có tham vọng lãnh thổ ở Việt Nam"95 (Trùng dương nhật báo (Chung-yang Jih-pao), 25-8-1945-Niu Oóc thời báo, 25-8-1945), mối nguy cơ lớn là ở chỗ quân đội Trung Hoa áp đặt ở Hà Nội một chính phủ của Việt Nam Quốc dân đảng-Đồng minh hội là những tổ chức trung thành với họ. Hiểm nguy càng lớn khi việc chiếm đóng, bắt đầu cuối tháng 8 do tướng Lư Hán chỉ huy, mà viên tướng này, có trong tay 15 vạn quân, lại không tán thành chính sách (đối với) Việt Nam của chính phủ Trùng Khánh. Trong khi chính phủ này, vì những lý do quốc tế, lại mong muốn từ nay giữ thái độ trung lập giữa Pháp và Việt Nam dưới một số điều kiện nào đó, tướng Lư Hán trái lại, chủ trương chiếm đóng lâu dài để cho phép ông ta tăng cường được thế lực cá nhân ở Vân Nam trong khi chuẩn bị cho Việt Nam độc lập, dưới sự lệ thuộc vào Trung Quốc và chống lại nước Pháp96 (K.C. Chen sách đã dẫn, tr.118-120. Nguồn chủ yếu của Trung Quốc về thời kỳ này là Chu Hsieh; Nhật ký về sự đầu hàng của Nhật ở Việt Nam, Thượng Hải, 1947. Chu Hsieh là thành viên của tiểu ban hành chính của Trung Quốc thành lập trong thời kỳ Quốc dân đảng chiếm đóng Đông Dương. Cũng xem bằng chứng của tướng Xa-lăng, sách đã dẫn, tr.226 và 339).


Trong khi tìm cách cô lập Việt Nam Quốc dân đảng và Đồng minh hội, Việt Minh cố gắng xúc tiến những quan hệ đúng đắn với kẻ chiếm đóng để trung lập hoá chúng. Ngày 18 tháng 11, Hồ Chí Minh bảo đảm với nhà đương cục Trung Hoa là sẽ “tuân lệnh” họ. Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn tuyên bố sẵn sàng để các đảng phái chính trị khác (thân Trung Quốc) tham gia Chính phủ lâm thời97 (Báo cáo của Trương Pháp Khuê, ngày 17-9-1946, trong Chiang Yung-ching, sách đã dẫn, K.C. Chen, trích trong sách đã dẫn, tr.123). Sự “hợp tác” đã đi khá xa vì người Trung Quốc nhận bán vũ khí cho Việt Minh đổi lấy một phần số vàng quyên góp được trong “tuần lễ Vàng” tổ chức hồi tháng 9 năm 194598 (Thư của Nghiêm Kế Tổ gửi cho K.C. Chen (31-3-1969) xem sách đã dẫn của K.C. Chen, tr.127. Xem thêm Hồ Chí Minh: De la Revolution (Nói về cách mạng) 1920-1966 Tập hợp các bài viết của Hồ Chí Minh, B. Phôn Pa-ri, Plon, 1968, 495 trang. Chú thích của B. Phôn; tr.194).


Khi những vấn đề chính tồn tại giữa Pháp và Trung Quốc đã được giải quyết bằng hiệp định 28 tháng 2 năm 194699 (Những vấn đề thuộc về đặc quyền nước ngoài của Pháp ở Trung Quốc, quy chế của Hoa kiều ở Đông Dương, quy chế cảng Hải Phòng và đường sắt Vân Nam cũng như việc quân đội Trung Hoa rút khỏi Đông Dương: Bài trong Notes et Etudes documentaires, La Documentation franCaise Pa-ri, số 555, 24-2-1947), và một thoả hiệp tạm thời đã ký được với Việt Minh ngày 6 tháng 3100 (Nước Pháp thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng nhưng ở trong “Liên bang Đông Dương" và khối “Liên hiệp Pháp”; 15.000 lính Pháp sẽ được đóng quân ở phía Bắc vĩ tuyến 16; quân đội Việt Nam sẽ thay thế quân Pháp trong 5 năm (Hiệp ước, hiệp định, thoả ước ký giữa Việt Nam và Pháp 1787-1946. Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam, Hà Nội, 1948). Nói thêm rằng thoả thuận này chặn đứng khả năng liên minh Việt-Trung chống lại nước Pháp), quân đội Pháp bắt đầu đổ bộ lên Hải Phòng cùng ngày hôm đó (sau một cuộc đọ súng kịch liệt với quân đội Trung Hoa). Ngày 18 tháng 3, quân đội Pháp vào Hà Nội.


Nhng, đồng thời với việc nhận cho Pháp quay trở lại miền Bắc. Hồ Chí Minh gửi đi Trùng Khánh một phái đoàn để xin Trung Quốc viện trợ chống Pháp101 (Báo cáo của Hsing Shen-chou ngày 6 tháng 14-4-1946 trong sách đã dẫn của Chiang Yung-ching, K.C. Chen trích lại trong sách đã dẫn, tr.148-149. Có lẽ Hồ Chí Minh đã mong muốn quân đội Trung Hoa chỉ rút đi sau khi có hiệp định chính thức với Pháp). Tình hình yết ớt nhiều mặt của đất nước lúc này buộc Việt Minh phải có một chính sách giữ cân bằng khôn khéo và thận trọng giữa Trung Quốc và Pháp102 (Vì vậy mà trong mùa hè 1946, Hồ Chí Minh, nhờ sự giúp đỡ của Pháp đã có thể loại trừ một số phần tử thân Trung Quốc trong Chính phủ (M. Guốc-tốp, sách đã dẫn, tr.3)). Tuy nhiên, đến tháng 6 khi những đơn vị cuối cùng của quân đội Trung Hoa đã rút đi mà không có một thoả thuận dứt khoát nào được ký kết với Pa-ri. Tuy nhiên, đến tháng 6 khi những đơn vị cuối cùng của quân đội Trung Hoa đã rút đi mà không có một thoả thuận dứt khoát nào được ký kết với Pa-ri. Tuy nhiên, với sự ra đi của quân đội Trung Quốc, những hi vọng chính trị cuối cùng của Việt Nam Quốc dân đảng và Đồng minh hội đã phai mờ và những đối thủ quan trọng và cuối cùng ở trong nước của Việt Minh cũng biến mất. Hồ Chí Minh và những đồng chí của ông ta từ nay có thể và phải chiến đấu đơn độc chống lại nước Pháp. Việc bắn phá Hải Phòng ngày 23 tháng 11 năm 1946 rồi việc nổi dậy ở Hà Nội ngày 19 tháng 12, đánh dấu cuộc chiến tranh bắt đầu và sẽ phải kéo dài 7 năm rưỡi.


Việc chiếm chính quyền nhanh chóng của Việt Minh, chắc chắn chẳng phải là kết quả của chính sách của Trung Quốc. Trên một mức độ rất lớn, việc đó đã diễn ra ngược lại với ý muốn của Chính phủ Trùng Khánh, và chống lại cả hai tổ chức chính trị Việt Nam được chính phủ này bênh vực: Việt Nam Quốc dân đảng và Đồng minh hội. Làm sao có thể khác dược trong khi Quốc dân đảng Trung Hoa núp dưới Mặt trận thống nhất chống Nhật cùng với Đảng Cộng sản Trung Quốc, thực ra, lao vào cuộc chiến đấu sinh tử với những người cộng sản?


Nhưng nếu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mầm mống của Nhà nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng nên chủ yếu do những người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương trở lại hoạt động bí mật đã được thành lập ngược lại ý muốn của Trung Hoa dân quốc thì: cuộc cách mạng Việt Nam trong cái cốt lõi dân tộc chủ nghĩa của nó, có một phần không kém quan trọng là kết quả của chính sách của Trung Quốc. Chính nhờ có Trung Quốc ủng hộ, đôi khi tiêu cực nhưng thường là tích cực, mà Việt Minh có thể trưởng thành nhanh chóng như vậy (tuyệt đối nhanh hơn cả Đảng Cộng sản Trung Quốc). Cho đến cuối chiến tranh thế giới thứ hai, Việt Minh như nhiều phong trào dân tộc khác của Việt Nam đã phát triển trong sự phụ thuộc vào Trung Quốc.


Một nền độc lập do Trung Quốc đồng thời chống lại Trung Quốc: đó là một quá trình lịch sử quan hệ Trung-Việt còn đưa ra khá nhiều ví dụ khác nữa.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:16:10 AM
Viện trợ của cộng sản Trung Quốc cho Việt Minh trước năm 1949

Nhìn bề ngoài, chính là bắt đầu từ năm 1946, những người cộng sản Trung Quốc mới quan tâm sát sao đến vấn đề Việt Nam. Tháng 8 năm đó khoảng 350 cán bộ đã được phái sang Việt Nam để tiến hành hoạt động tuyên truyền trong đông đảo cộng đồng Hoa kiều103 (Báo cáo của Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại Hà Nội 12-11-1945, trong Chiang Yung-ching, sách đã dẫn, K.C. Chen, trích trong sách đã dẫn, tr.187). Từ năm 1947, ở vùng biên giới Trung-Việt, thành lập “quân đội dân chủ thống nhất Hoa Nam” đông tới 5.000 người đã giúp Việt Minh đào tạo cán bộ. Vả lại cũng kể từ ngày đó, quan hệ giữa Việt Minh và Đảng Cộng sản Trung Quốc được tăng cường nhất là nhân dịp Lưu Thừa Chí, phụ trách Cục Hoa Nam của Đảng Cộng sản Trung Quốc và tướng Phương Dương cùng làm việc với Chí cùng đến thăm các vùng do cộng sản kiểm soát ở vùng này vào khoảng tháng 6 đến tháng 7 năm 1947. Từ Băng Cốc những người cộng sản Trung Quốc giúp đỡ Việt Minh mua vài chuyến vũ khí Mỹ của người Thái Lan và người Anh bán. Như vậy đến tháng 9 năm 1947, Việt Minh, qua những người cộng sản Trung Quốc làm trung gian, đã có được một số lượng lớn trang bị (trị giá 12 triệu đồng) được gửi tới Bắc kỳ bằng đường biển104 (K.C. Chen, sách đã dẫn, tr.188-189. Một nguồn tin Trung Hoa quốc gia cho biết việc mua bán vũ khí ở Băng Cốc như sau: 6.000 súng trường, 400 tiểu liên, 5 súng phòng không, 200 mìn và 1000 lựu đạn. Đến năm 1950, Văn phòng đại diện (của Việt Minh) ở Băng Cốc mới đóng cửa, rồi chuyển về Răng-gun (B. Phôn, sách đã dẫn, tr.90-91). Tướng P. Boi-ơ đơ La-tua, trong cuốn De l’Indochine à l’ Algérie: le martye de l’armée francaise (Từ Đông Dương đến An-giê-ri: Nỗi thống khổ của quân đội Pháp) Pa-ri, les Presses du mail, 1962, tr.46, khẳng định sự việc này và nói thêm rằng đó là nguồn tiếp tế chủ yếu của Việt Minh).


Ngoài ra, Việt Minh, từ lúc này nhận được sự giúp đỡ mạnh mẽ của phía Trung Quốc từ bên kia biên giới mặc dù Quảng Tây và Vân Nam vẫn còn nằm dưới sự kiểm soát của Trung Hoa quốc gia. Ví như viên Tổng đốc Vân Nam là Lư Hán đã để cho một đơn vị “Quân giải phóng nhân dân" của cộng sản được hoạt động và cộng tác với Việt Minh105 (Tuy nhiên, tướng P. Boi-ơđơ La-tua, trong sách đã dẫn, tr.48, ghi nhận rằng năm 1947, “gần như không có sự giúp đỡ gì từ phía Trung Quốc"). Trong một chừng mực nào đó, Trung Quốc đã trở thành “đất thánh” cho các lực lượng của tướng Giáp. Cuối năm 1948, tình hình đó được củng cố thêm khi hai đơn vị mới của cộng sản xuất hiện ở biên giới Trung-Việt: Quân giải phóng nhân dân của Trần Canh và Quân giải phóng Vân Nam-Quảng Tây106 (K.C Chen, sách đã dẫn, tr.193-195).


Về phía Pháp, ban tham mưu biết rõ những sự phát triển đó và khá lâu trước khi quân Trung cộng tiến sát biên giới Việt Nam, nhà đương cục Pháp đã lo ngại về tác động của các sự kiện ở Trung Quốc đến tình hình Đông Dương. Tháng 5 năm 1947, khi các cuộc phản công lớn của Trung cộng chưa bắt đầu, Ma-ri-uýt Mu-lê (Marius Moulet), Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại đã thổ lộ với tướng Xa-lăng (Salan) khi viên tướng này lên đường trở lại Đông Dương để nắm quyền chỉ huy miền Bắc Đông Dương: “Trung hoa đỏ đang nổi lên và bắt đầu tiến xuống phía nam rồi đó. Tôi yêu cầu ông làm mọi việc để không cho Việt Minh có thể tiếp xúc được với các đơn vị của Mao”107 (K.C. Chen, sách đã dẫn, tr.193-195).


Đặt chân tới Hà Nội, tướng Xa-lăng lập tức quan tâm ngay đến vấn đề đó. Chiến dịch đầu tiên tổ chức ở Bắc kỳ từ tháng 10 năm 1947 nhằm, ngoài những mục tiêu khác, “khoá chặt” biên giới Trung Hoa. Chính tướng Bô-phrê (Beauré) được giao phụ trách một phần của cuộc hành quân này108 (Như trên, tr.100 và tiếp theo). Nhưng việc bố trí một vài đơn vị dọc biên giới Trung Hoa và từ sông Hồng (Lao Cai) đến vịnh Bắc bộ chỉ đạt được một thời gian im ắng rất ngắn ngủi. Trước hết bởi lẽ, một phần vũ khí đưa vào Bắc kỳ bằng đường biển và cung cấp cho nhiều du kích trong rừng rất khó kiểm soát, đặc biệt ở phía nam Hải Phòng109 (Như trên, tr.126). Nhưng phần lớn bởi vì ở Trung Quốc, thế chủ động dần dần chuyển sang tay những người cộng sản quốc từ đầu 194. Vào mùa xuân, cộng sản vượt sông Hoàng Hà ở vùng Lạc Dương và Khai Phong110 (J. Guillermaz, sách đã dẫn, tr.39 và tiếp theo).


Để tìm cách đối phó với tình hình, tướng Xa-lăng, từ tháng 2 năm 1948 nắm quyền chỉ huy toàn Đông Dương, đã ra lệnh tổ chức lại ban chỉ huy vùng biên giới do đại tá Vi-ke (Vicaire) từ nay kiêm nhiệm các chức trách dân sự lẫn quân sự, và yêu cầu Cao uỷ Bô-la-éc (Bollaert) triệu tập đại tá Ghi-éc-ma (Guillermaz), tuỳ viên quân sự Pháp tại Nam Kinh về đánh giá tình hình diễn biến tại Trung Quốc. Viên đại tá này đã theo dõi các vấn đề Trung Quốc từ nhiều năm, đến Sài Gòn tháng 3 và phân tích cho tướng Xa-lăng tình hình quân sự ở Trung Quốc. Theo ông ta, quân cộng sản có thể sẽ đến sông Dương Tử vào khoảng tháng 3, tháng 4 năm 1949 và sẽ tiến tới sát biên giới Việt Nam vào cuối năm111 (R.Salan, sách đã dẫn, tr.143).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:17:26 AM
Vào đầu năm 1949, các giới Pháp ở Trung Quốc ngày càng tỏ ra bi quan về khả năng của Chính phủ Trung Hoa dân quốc có thể khôi phục được tình hình. Đại sứ Pháp Mây-ri-ê (Meyrier) ngày 22 tháng 2 năm 1949 đánh điện về Pháp, tỏ ra không còn nghi ngờ gì về tương lai:

“Không thể phủ nhận rằng các cuộc hành quân mùa đông này ở miền Bắc Trung Quốc là tai hại đối với quân đội chính phủ mà lực lượng đã bị tổn thất nặng. Bây giờ sự đe doạ nghiêm trọng nhất đối với Chính phủ Nam Kinh là ở sông Dương Tử. Ngài Tống Tử Văn112 (Em vợ Tưởng Giới Thạch, cựu Chủ tịch Viện hành pháp, tổng đốc Quảng Đông) đã không giấu tôi việc phải tính đến cuộc rút lui của Chính phủ trước sự uy hiếp của cộng sản (…). Phải thừa nhận quân cộng sản có tinh thần chiến đấu phi thường trước một đối thủ hoàn toàn thất vọng và suy sụp (…)”113 (Ra-un Xa-lăng, sách đã dẫn, tr.139-140).


Đối với Đông Dương, nguy cơ càng nghiêm trọng hơn với việc du kích Việt Minh vùng thượng du Bắc kỳ đã liên lạc được với phong trào khởi nghĩa đang phát triển ở Quảng Tây và Quảng Đông114 (Như trên, tr.11-142).


Những lời dự đoán đó đã tỏ ra đặc biệt chính xác. Quả vậy, quân cộng sản bắt đầu vượt sông Dương Tử ngày 20 tháng 4 năm 1949. Trong vài ngày, cuộc hành quân đã hoàn thành mà không gặp sự kháng cự nghiêm chỉnh nào của phe quốc gia. Đối với bộ chỉ huy quân sự Pháp, hiểm hoạ Trung Hoa lớn lên từ những tháng qua, nay đã trở thành hiện thực. Vậy cần phải tập trung các phương tiện đối phó với nguy cơ đó. Nếu quân giải phóng Trung Quốc nối liền được với du kích Việt Minh và thường xuyên tiếp xúc với họ thì người ta nghĩ rằng việc bình định Bắc kỳ thực tế là không thể được.
Tuy nhiên, tất cả những người có trách nhiệm tại chỗ đều không tiếp nhận sự giải thích tình hình như vậy. Lê-ông Pi-nhông (Léon Pignon) thay Bô-la-éc giữ chức Cao uỷ, đánh giá rằng cần đặt ưu tiên vào mục tiêu bình định ở miền Nam và miền Trung115 (Như trên, sách đã dẫn, tr.159-160). Trước sự khác nhau giữa các đương cục quân sự và dân sự, tháng 5 năm 1949, chính phủ quyết định cử tướng Rơ-ve (Revers). Tham mưu trưởng lục quân, tiến hành điều tra tại chỗ. Sau một tháng thanh tra, tướng Rơ-ve đi đến kết luận rằng cần “phải đối phó với một sự đe doạ có thể xảy ra từ phía Trung Quốc bằng cách thực hiện một hệ thống liên hoàn cho phép bảo đảm việc phòng thủ biên giới từ Móng Cai đến Thất Khê”. Nhưng đồng thời, để tập trung lực lượng quân sự ở đồng bằng, Rơ-ve quyết định “rút khỏi Bắc Cạn và Nguyên Bình và để một lực lượng mỏng ở Cao Bằng, với dự kiến là nếu bị uy hiếp nghiêm trọng116 (Như trên, tr.162. Việc tiết lộ báo cáo của Rơ-vê (6 tháng đầu năm 1950) chứng tỏ cho Việt Minh thấy rõ những mối lo sơ bộ của bộ tham mưu Pháp trước sự đe doạ của Trung Quốc. Một số chỉ huy quân sự không hoan nghênh kế hoạch Rơ-vê. Sau này, tướng Na-va viết: “Bằng cách mở toang cửa với Trung Quốc, địch có thể nối liền hệ thống đường sá của mình với hệ thống đường bộ của Trung Quốc; kế hoạch đã tạo cho địch mọi thuận lợi tiếp nhận sự viện trợ vật chất tăng lên không ngừng và thành lập, bên cạnh lực lượng du kích, một quân đội chính quy, bắt đầu lúc này sẽ được tăng cường thường xuyên (Henri Navarre, Agonie de l’ Indochine 1953-1954 (Đông Dương hấp hối 1953-1954 Pa-ri, Pilon, 1956, tr.19)) thì trung tâm Cao Bằng sẽ rút nốt”.


Thực tế, ngày tháng trôi qua, những lời cảnh cáo của đại tá Ghi-éc-ma càng tỏ ra có cơ sở “Đúng là cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1949, quân Trung cộng tiến đến biên giới Việt Nam. Một đơn vị quân quốc gia 30.000 người do tướng Huang Chinh chỉ huy đã phải vượt biên để thoát khỏi quân cộng sản. Đơn vị này đã bị quân Pháp tước vũ khí và được đưa về đảo Phú Quốc, phía tây nam bờ biển Nam kỳ117 (Guillermaz: Historie du Parti Communiste Chinois (lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc) sách đã dẫn, tr.412. Về điểm này, xem thêm K.C.Chen, sách đã dẫn, tr.201-211. Tháng 5-6-1953 các đơn vị Trung Hoa quốc gia này được đưa về Đài Loan).
Tướng Xa-lăng kết luận (trong Hồi ký của mình):

“Trong những tháng tiếp theo và cho đến gần tới mùa hè năm 1950 (…) bi kịch đã không xảy ra, Việt Minh “giả tảng chết”, nhưng với huấn luyện viên Trung Quốc, chuyên gia về chiến tranh cách mạng, Việt Minh rèn công cụ chiến tranh của mình. Đó là khởi đầu việc thành lập các đơn vị lớn”118 (Ra-un Xa-lăng, sách đã dẫn, tr.161).


Gần ba năm đã trôi qua từ lúc Ma-ri-uýt Mu-tê yêu cầu, tướng Xa-lăng “là hết thảy mọi việc để cho Việt Minh không liên lạc được với các đơn vị của Mao”. Ngày nay Trung cộng đã ở cửa ngõ Bắc kỳ. Có nghĩa là từ nay cuộc xung đột ở Đông Dương đã thay đổi tầm cỡ về quân sự cũng như về chính trị. Một mặt nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã có thể viện trợ ồ ạt cho Việt Minh, bằng cách cung cấp vũ khí, giúp đỡ về hậu cần trên lãnh thổ Trung Quốc và phái cg quân sự tới. Mặt khác, bộ chỉ huy Pháp không còn chỉ đối phó với cuộc nổi dậy có tính dân tộc mà là một sự nghiệp, không phải là không có vài lý do, sẽ có thể được xem như một trong những biểu hiện của cuộc chạm trán Đông-Tây trong khung cảnh chiến tranh lạnh.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:21:20 AM
CHƯƠNG II
TRUNG HOA NHÂN DÂN ĐỨNG TRƯỚC CÁC
CƯỜNG QUỐC PHƯƠNG TÂY TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐÔNG DƯƠNG


SỰ ỦNG HỘ CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA DÀNH CHO VIỆT MINH: GIÚP ĐỠ TÍCH CỰC NHƯNG KHÔNG TRỰC TIẾP CAN THIỆP


Những quan hệ chính trị giữa Trung Hoa nhân dân và Việt Minh

Khi Trung Quốc tuyên bố thành lập nền Cộng hoà nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tồn tại được bốn năm rưỡi. Bốn năm đấu tranh gian khổ, qua những bước đường quanh co, thương lượng, khủng bố, chiến tranh du kích, có thắng lợi và có thất bại, nhưng đã chứng minh cho các nhà quan sát khách quan1 (Đại sứ Sô-ven hai mươi năm sau viết rằng lúc đó ở Pháp chưa có những nhà quan sát khách quan) rằng cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam có những nguồn gốc sâu xa và vững chắc2 (Thư mục về Việt Nam trước năm 1954 khá phong phú. Trong số các sách Pháp có Philippe Devillers: Historie du Viet-nam de 1940 là 1952 (Lịch sử Việt Nam, từ 1940 đến 1952), sách đã dẫn-Paul Mus, Việt Nam, Sociologie d’une guerre, (Việt Nam xã hội học của một cuộc chiến tranh), sách đã dẫn-Bernard Fall, Le Việt Minh, sách đã dẫn. Xem mục lục sách tham khảo ở cuối sách). Chúng ta hãy đọc lại Pôn Muýt (Paul Mus). Ông đã nhấn mạnh điều đó ngay từ những trang đầu trong cuốn sách xuất bản năm 1952. Đối với xã thôn Việt Nam là tế bào chủ yếu của đời sống xã hội và chính trị, “thiên minh” (+) (+: Dẫn trong nguyên bản, tác giả viết là “thiên minh”, chúng tôi ngờ là phiên âm sai, đúng ra phải là “thiên mệnh” mới đúng cách dịch của tác giả là madát céleste có nghĩa là”sứ mệnh trời cao”), “mệnh trời”-điều này tôi không biết thế nào vì không có tên gọi trong ngôn ngữ của chúng ta, nhưng nó nói về chế độ chính trị đến lúc thích hợp sẽ lập lại sự hài hoà giữa trời và con người-đã đi đến Cộng hoà dân chủ. Vị Hoàng đế cuối cùng đã chẳng trao lại cho nó cái ấn, sau khi thoái vị đó sao?


Cuộc cách mạng mà hiện thân là chế độ Cộng hoà dân chủ, cơ bản là cách mạng dân tộc. Chắc chắn đó là sự nghiệp của những người mác-xít nhưng là những người mác-xít yêu nước nồng nàn, có thể là những người yêu nước nhiều hơn là mác-xít, những người coi “độc lập” là mục đích tối cao. Đối với họ, cuộc cách mạng chỉ có ý nghĩa bởi vì nó tạo điều kiện tất yếu của độc lập. Vì vậy họ cố gắng giữ cho phong trào có được tính chất dân tộc cao cả. Các nhà lãnh đạo Việt Minh luôn luôn nhấn đến sự cần thiết cấp bách đối với cách mạng Việt Nam là “tự lực cánh sinh” (như kiểu chủ nghĩa cộng sản Trung Hoa). Sự đòi hỏi càng bức thiết hơn đối với một nước như Việt Nam mà nguy cơ lớn là thất Trung Quốc lợi dụng thế mạnh của họ để hướng cách mạng Việt Nam phục vụ lợi ích dân tộc của chính họ.


Nhưng, mặc dù có những dè dặt như vậy, chắc chắn là đối với Việt Minh, việc quân cộng sản Trung Hoa đến sát biên giới làm thay đổi tận gốc những dữ kiện về chiến lược. Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này viết:

“Năm 1949 là năm cách mạng Trung Quốc đại thắng, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời. Sự kiện lịch sử vĩ đại đó đã làm thay đổi cục diện ở châu Á và thế giới, nó đã có ảnh hưởng lớn đến cuối cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Nước Việt Nam đã thoát khỏi hoàn canh chiến đấu trong vòng vây của địch và từ nay về địa lý sẽ được nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa”4 (Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954) trong tập “chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân”, Paris, Maspero, 1966, tr.21).


Về mặt chính trị, việc cộng sản nắm chính quyền ở Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đối với Việt Minh. Một mặt, thế cân bằng trong nội bộ ban lãnh đạo (của Việt Minh) sẽ thay đổi. Từ tháng 7 năm 1949, khuynh hướng của Trường Chinh và những người khác, cũng là khuynh hướng của những người chủ trương đánh đến cùng, áp đặt một phần đường lối thiên về các triển vọng chính trị và quân sự đang được thể hiện ở Trung Quốc5 (Philippe Devillers, sách đã dẫn, tr.451. Bửu Lộc “Aspects of the Vietnamese Problem” (Những khía cạnh của vấn đề Việt Nam)-Pacific Affairs, XXV, số 3-tháng 9-1952, P.239. Ph. Devillers, “Việt Nam" trong tập san “L’ Asie du Sud-Est” (Đông Nam châu Á), Paris, Sirey. 1971, tập II, tr.848-849). Cùng với sự giúp đỡ bên ngoài và sự tiến triển của bối cảnh quốc tế, điều đó sẽ giải thích sự cứng rắn một cách mau lẹ về chiến lược của Việt Minh và việc họ mở chiến dịch lớn năm 1950.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 27 Tháng Hai, 2011, 07:22:27 AM
Mặt khác, việc thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, đồng thời tăng cường vị trí của Việt Minh trên sân khấu quốc tế. Cho đến cuối tháng 12 năm 1949, thái độ của Việt Minh đối với nước Trung Hoa mới, ít ra về công khai, còn hết sức thận trọng bởi vì mặc dù tình hình xảy ra ở Bắc Kinh, những người ở phe quốc gia còn giữ được chính quyền ở vài vùng phía nam. Khi thất bại của phe quốc gia đã rõ ràng, tình hình hoàn toàn khác hẳn. Đầu tháng 1 năm 1950, Võ Nguyên Giáp bí mật đến Nam Ninh (Quảng Tây) ở đó, ông đã gặp nhiều nhân vật quan trọng của Trung Quốc6 (Nguồn tin của Ph. Đơ-vi-le. Xem K.C. Chen, sách đã dẫn, tr.231). Mấy ngày sau, ngày 14 tháng 1 Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra lời kêu gọi các nước bạn dành cho sự ủng hộ về ngoại giao7 (Hồ Chí Minh, sách đã dẫn, tr.249-250). Hôm sau, 15 tháng 1, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, về phần mình, công nhận Cộng hoà nhân dân Trung Hoa8 (Việt Nam News Agency (Đài phát thanh Việt Minh) 16 tháng 1 năm 1950). Ngày 18 đến lượt Trung Hoa nhân dân công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và mời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi đến Bắc Kinh một đại biểu để thành lập Đại sứ quán9 (Tin của đài phát thanh Bắc Kinh ngày 18 tháng 1 năm 1950. Xem Nhân dân nhật báo Bắc Kinh ngày 19-1-1950. Cùng ngày Cộng hoà nhân dân Trung Hoa gửi đến Bộ Ngoại giao Pháp công hàm phản đối việc quân đội Pháp bạc đãi Hoa kiều ở Đông Dương). Khởi đầu quá trình bình thường hoá với các nước xã hội chủ nghĩa10 (Đến lượt Liên Xô công nhận chế độ Việt Minh ngày 30-1-1950 (Hãng TASS ngày 31-1-1950) Bắc Triều Tiên ngày 31-1, Tiệp Khắc ngày 2-2, Ru-ma-ni ngày 3-2, Ba Lan và Hung-ga-ri ngày 4-2, Bun-ga-ri ngày 5-2 và An-ba-ni ngày 13-3). Đến ngày nay, những sự kiện này còn khó hiểu ở nhiều khía cạnh, khi Trung Hoa quyết định công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì Mao Trạch Đông còn ở Mát-xcơ-va và đang thương lượng để ký Hiệp ước Đồng minh tương trợ Trung-Xô. Lưu Thiếu Kỳ, đảm nhiệm quyền chủ tịch, có phải tham khảo ý kiến Mao trước khi quyết định không? Người Liên Xô có được hỏi ý kiến không? Phải chăng chính quyết định của Trung Quốc đã làm Liên Xô chấm dứt sự dè dặt từ bố năm nay đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để Trung Quốc không thu lợi một mình trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Minh? Xem Phi-líp Đơ-vi-le, sách đã dẫn, tr.454-455). Trung Quốc đã dành sự giúp đỡ to lớn cho Việt Minh. Ngoài ra, Trung Quốc còn gián tiếp cải chính những tin đồn về những sự bất đồng được coi là có giữa người Việt Nam và Trung Hoa về khả năng có thể có một sự trung lập giữa phương Đông và phương Tây11 (Trong lúc Cộng hoà nhân dân tuyên bố không thể có sự trung lập giữa hai khối (ngả hẳn về một bên) Hồ Chí Minh đã để cho người ta hiểu rằng Việt Minh có thể đứng trung lập nếu chiến tranh xảy ra giữa Liên Xô và Mỹ).


Vả lại, những sự kiện diễn ra rất mau lẹ khẳng định sự nhất trí về quan điểm giữa Trung Hoa mới và Việt Minh về một vài điểm căn bản. Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 1949 đại biểu Việt Minh (là Nguyễn Duy Tinh tức Lưu Đức Phổ) tại hội nghị các công đoàn châu Á và Ô-xtrây-li-a, họp ở Bắc Kinh, đã ủng hộ mạnh mẽ những quan điểm của Trung Quốc do Lưu Thiếu Kỳ đưa ra về cách mạng tại các nước thuộc địa: “Những nguyên tắc chủ yếu… do đồng chí Lưu Thiếu Kỳ đưa ra trong lời khai mạc (hội nghị)… phải được coi là kim chỉ nam cho hết thảy mọi người lao động ở Đông Nam châu Á”12 (Việt Nam News Agency, 8-3-1950 (tiếng Anh)). Vài tuần sau, hội nghị Công đoàn toàn quốc của Việt Nam, cuối tháng 12 năm 1949-nửa đầu tháng 1 năm 1950, có đại biểu của Công đoàn Trung Quốc tham dự, tuyên bố nhất trí với những nguyên tắc đề ra tại Bắc Kinh13 (Tân Hoa xã, Bắc Kinh 19-11-1949). Một tháng sau, ngày 11 tháng 2 năm 1950, hội nghị Việt-Trung tuyên bố thành lập, chào mừng “sự giống nhau trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Trung Quốc và ở Việt Nam" và nhấn mạnh những mối quan hệ nồng nhiệt giữa hai dân tộc, “hai đồng minh gần gũi nhất ở mặt trận phía đông của cuộc đấu tranh chống đế quốc”14 (Việt Nam News Agency, 11-9-1950 (tiếng Anh)).


Trong những tư tưởng đó, một số đã được nhắc lại thường xuyên hơn. Từ khi Đảng lao động thành lập (tháng 2 năm 1951), được Trung Quốc hoan nghênh như là một sáng kiến thích hợp và quan trọng15 (Nhân dân nhật báo, 27-3-1951. Cương lĩnh của Đảng được đăng trong tạp chí People’s China. 1-5-1951. G. La-cu-tuya và Ph. Đơ-vi-le còn đi xa hơn khi giải thích việc thành lập Đảng lao động như là kết quả của sức ép Trung Quốc (La fin d’une guerre (Kết thúc một cuộc chiến tranh), sách đã dẫn, tr.31). Sự cần thiết có một Đảng mác-xít-lê-nin-nít mạnh (ngoài Mặt trận thống nhất và quân đội) thường được đặt lên hàng đầu. Tuyên truyền của Việt Minh cũng nhấn mạnh đến liên minh giữa công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc.


Nhưng nếu giai đoạn này là một trong những giai đoạn trong đó mối quan hệ Trung-Việt thân thiết nhất, thì sẽ rất sai lầm khi chỉ thấy rằng đường lối chính trị của Việt Minh những năm đó là sự phỏng theo một cách đơn giản mô hình Trung Quốc.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2019, 07:58:16 PM
Viện trợ quân sự của Trung Hoa nhân dân cho Việt Minh

Viện trợ quân sự nhận được của cộng sản Trung Quốc bắt đầu từ trước năm 1949 khá lâu16 (Xem chương I), tất nhiên đã tăng cường khi Quân Giải phóng nhân dân tiến sát biên giới Việt Nam17 (Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không bao giờ nhận đã viện trợ quân sự cho Việt Minh. Ngược lại, một số sách của Liên Xô ngày nay đã có nói đến. Xem G.V. A-xta-phi-ép, A.M. Đu-bin-xki, Chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Mát-xcơ-va, Nhà xuất bản Tư tưởng, 1974, tập I, tr. 87-88)


Từ cuối tháng 12 năm 1949, một phái đoàn quân sự của Việt Minh có lẽ đã đến Bắc Kinh để thương lượng xin thêm viện trợ nhiều hơn nữa. Ngày 18 tháng 1 năm 1950, cùng ngày, Trung Hoa mới công nhận Việt Nam dân chủ cộng hòa, một hiệp định đầu tiên về viện trợ quân sự được ký kết mà theo những nguồn tin Trung Hoa quốc gia, thì Bắc Kinh sẽ giao 150.000 súng trường tịch thu được của Nhật và 10.000 súng các-bin Mỹ cùng với đạn dược tương ứng. Việt Minh bắt đầu nhận được số vũ khí này kể từ mùa xuân18 (Chiang Yung Ching, sách đã dẫn, tr.14-15. K.C.Chen trích trong sách đã dẫn tr.261, vấn đề Trung Quốc viện trợ cho Việt Minh được nghiên cứu chi tiết ở các tr.260-278. Frédéric Dupont, Mission de la France en Asie (Sư mệnh của nước Pháp ở châu Á), Paris, France-Emprie 1956, tr.116 nói đến việc xây dựng các con đường quan trọng ở biên giới Trung-Việt kể từ tháng 1 năm 1950. Nói chung, về viện trợ của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho Việt Minh, nên tham khảo các sách: Joseph. J.Zasloff, The role of the Sanctuary in Insurgency: Communist China's Support to the Việt Minh 1946-1954 (Vai trò của đất thánh trong cuộc nổi dậy: Ủng hộ của cộng sản Trung Quốc cho Việt Minh 1946-1954) Santa Monica (California) The Rand Corporation, 1967, tr.80 (Memorandum R.M, 4618, P.R)). Từ thời kỳ này, các đơn vị chủ lực của Việt Minh (20.000 người) được đưa sang Trung Quốc huấn luyện19 (Ra-un Xa-lăng, sách đã dẫn, tr.166. Xem thêm J.Laniel: Le drame indochinois de Dien Bien Phu au pari de Geneve (Tấn thảm kịch Đông Dương từ Điện Biên Phủ đến trận đánh cuộc ở Giơ-ne-vơ) Paris, Plon, 1957, tr.87 ). Viện trợ này đã đem lại sức nặng đáng kể cho cuộc tiến công lớn của Việt Minh khoảng tháng 9 - tháng 10 năm 1950 (chiến dịch Lê Hồng Phong đợt 1). Như mọi người đều biết, cuộc tiến công này đã đưa lại thảm bại cho quân đội Pháp-Việt (Đông Khê, Thất Khê, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lao Cai đều thất thủ). Cuối năm 1950, khoảng bốn chục tiểu đoàn đã được Trung Quốc trang bị hoàn toàn20 (Bernard Fall, Le Viet-Minh, sách đã dẫn, tr.195).


Cùng thời gian này, quân Trung Quốc vào Triều Tiên: xuất hiện mối lo sợ là "quân chí nguyện" Trung Quốc cũng sẽ tràn ngập Bắc Kỳ. Tháng 12 năm 1950, tướng Đờ Lát đờ Ta-xi-nhi (De Laltre de Tassigny) thay thế tướng Các-păng-chi-ê (Carpentier) chỉ huy quân đội Pháp-Việt21 (Tướng Đờ-Lát đơ Tát-xi-nhi giữ quyền Tổng chỉ huy cho đến khi chết tháng 1 năm 1952, sau đó đến lượt tướng Xa-lăng kế tục đến tháng 5 năm 1953, rồi sau đó đến tướng Na-va đến tháng 6 năm 1954).


Bắt đầu từ năm 1951, viện trợ Trung Quốc được cung cấp cho Việt Minh theo hiệp định ký kết mùa hè hoặc mùa thu năm đó22 (K.C.Chen, sách đã dẫn tr.269 P.Recolle: Pourquoi Dien Bien Phu? (Tại sao có trận Điện Biên Phủ?). Paris, Flam marion, 1968 tr.67). Nam Ninh (Quảng Tây) có lẽ là nơi ký hiệp định, trở thành trung tâm tiếp tế chủ yếu cho Việt Minh.


"Sau này tướng Xa-lăng viết về tình hình mùa thu năm 1951 rằng tướng Giáp nhận được của Trung Quốc khối lượng viện trợ quan trọng. Các con đường đi từ Trung Quốc-từ Ninh Minh, từ Long Châu (ở Quảng Tây, phía bắc Lạng Sơn) tới miền châu thổ (Bắc kỳ) bằng xe lửa và là những đường tốt. Tôi đã có thể cho thiếu tá La-ta-pi (Latapy) bay trên những trung tâm quan trọng đó của Trung Quốc đối diện với Lạng Sơn. Ông ta đã đem về những tấm ảnh chụp không để lại chút nghi ngờ gì về giá trị, khối lượng xe ô-tô vận tải của Trung Quốc và phát hiện được những kho hàng lớn ở đó. Các xe vận tải đó đi lại không ngừng trên các con đường đi về hướng Bắc kỳ (...)"23 (Ra-un Xa-lăng sách đã dẫn, tập II, tr.244).


Viện trợ của Trung Quốc còn tăng lên nữa trong năm 1952, khối lượng đạt khoảng 6.000 tấn24 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện ngoại giao từ Pa-ri gửi đến đoàn đại biểu Béc-lin/số 991-1002, ngày 10-2-1954). Bắt đầu từ năm đó, còn có thêm một số lớn vũ khí từ các nước xã hội chủ nghĩa khác đưa tới. Một kho vũ khí do Trung Quốc cung cấp cho Việt Minh thu được ở Phủ Đoan ngày 9 tháng 11 năm 1952, đã cho biết 50% trung liên là do Tiệp Khắc sản xuất, và hơn nữa đa số vũ khí khác có nguồn gốc Mỹ hoặc Nhật Bản25 (Ra-un Xa-lăng sách đã dẫn, tập II, tr.340). Cũng trong năm 1952, ngày 7 tháng 4, Trung Quốc và Việt Minh ký "Hiệp định trao đổi hàng", theo đó Chính phủ Bắc Kinh cam kết cung cấp cho Việt Nam dân chủ cộng hòa máy công cụ, dược phẩm, v.v... và cả thiết bị quân sự, tất cả đổi lấy gỗ và sản phẩm nông nghiệp26 (Quan hệ bang giao của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Bắc Kinh, tập 2, tr.136-137. Tướng Xa-lăng, sách đã dẫn, tập 2, tr.385, nói đến việc thanh toán bằng thuốc phiện của dân Mèo trồng ở Lào?).


Các thứ hàng hóa này được ước tính gần 1.000 tấn mỗi tháng trong năm 1953. Nhưng trong tổng số đó, số vũ khí này chiếm phần ngày càng lớn: 4 đại bác cỡ 105 ly, 296 trọng liên phòng không, 152 moóc-chi-ê 120 ly hoặc 81 ly, v.v... Ngoài ra, cũng trong năm đó, 500 xe vận tải được giao cho Việt Minh, tăng khối lượng xe vận tải của Việt Minh lên khoảng 1.000 xe, trong đó có một số là xe vận tải Liên Xô kiểu Mô-lô-tô-va. Ngoài các thứ đó, có thêm vũ khí nhẹ: 710 trung liên, 1.500 súng tiểu liên, 6.000 súng cá nhân, cùng với đầy đủ đạn dược; 300.000 bộ quân phục, thiết bị thông tin liên lạc; 120 máy thu-phát, 20 tổng đài, 70 máy điện thoại, v.v...


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2019, 08:11:05 PM
Các con đường giao hàng viện trợ đó đều hoàn toàn công khai. Trung tâm phân phối lớn Bằng Tường (Quảng Tây) nơi đây hàng đưa tới bằng xe lửa. Từ đó phần lớn hàng được đưa tới Cao Bằng qua Long Châu rồi về hướng Thái Nguyên (bằng con đường thuộc địa số 3) hoặc Lạng Sơn (bằng đường thuộc địa số 1). Các con đường khác đi từ Vân Nam, bắt đầu từ Vân Sơn (Wenshan) qua Hà Giang rồi Tuyên Quang hoặc qua Lao Cai và sông Hồng hoặc qua đường mòn Lào Cai-Lai Châu. Việc chuyên chờ từ Bình Tường hoặc Vân Sơn do xe vận tải Việt Minh đảm nhiệm (hoặc do các xe vận tải Trung Quốc nhưng chỉ đến biên giới thì dừng lại) rồi tùy trường hợp, bằng các đoàn ngựa thồ, thuyền ván, xe đạp thồ, hoặc người gánh27 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp. Điện đã nói ngày 10-2-1954, do R.Xa-lăng xác nhận trong sách đã dẫn, tập 2, tr.394. Cần lưu ý rằng nhiều tác giả khác đưa ra con số viện trợ năm 1953 cao hơn nhiều 1.000 tấn mỗi tháng. K.C. Chen, sách đã dẫn, tr.276 (3.000 tấn); Bác-na Phôn trong cuốn Le Viet-Minh đưa ra con số từ 3.000-5.000 tấn mỗi tháng. Những sự ước tính đó rất gần với sự thật hơn là trong hồ sơ lưu trữ chính thức của Bộ tham mưu Đông Dương muốn giảm nhẹ một cách có hệ thống sự đe dọa của Trung Quốc để không làm chính phủ Pa-ri phải lo sợ vì Bộ tham mưu Đông Dương cảm thấy Pa-ri sẵn sàng bỏ rơi họ (nói chuyện với đại tá Buốc-gioa, ngày 17-10-1974). Từ những điểm này, một phần hàng viện trợ Trung Quốc được phân phối về miền Trung, nhất là qua ngả Hòa Bình, đến tận miền Bắc Trung Bộ28 (Ra-un Xa-lăng, Hồi ký, sách đã dẫn, tập 2, tr.263 và 271). Nhưng những hàng này không đi vào tới miền Nam29 (Như trên).


Từ cuối năm 1952 viện trợ quân sự của Trung Quốc bao gồm cả việc đưa sang Việt Nam một số lượng lớn hàng vạn kỹ thuật viên nhiều ngành khác nhau: truyền tin, bộc phá, bảo quản vật tư, pháo binh, v.v...30 (Xem "Handbook for Political Woker Going to Viet Nam (sổ tay cho người công tác chính trị đi Việt Nam) 15-12-1952 trong Allan B.Cole Conflict in Indochina and International Repercussions: A Documentary History. 1945-1955 (xung đột ở Đông Dương và ảnh hưởng quốc tế. Tư liệu lịch sử. 1945-1955). Cornell University Press, 1956, tr.125-130 (Hoàng Hoa người phát ngôn đoàn đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ, hôm 14-5, khẳng định rằng tài liệu này hoàn toàn bịa đặt do Chính phủ Mỹ đưa ra để chuẩn bị dư luận cho việc mở rộng chiến tranh (tin Tân Hoa Xã, Giơ-ne-vơ, 14-5-1954)). Ngoài ra các cố vấn Trung Quốc cộng tác với bộ tham mưu Việt Minh xây dựng các kế hoạch chiến lược, chuẩn bị chiến tranh tâm lý, hoặc huấn luyện và phát triển quân đội. Tuy vậy, đến cuối năm 1953, không có một chiến binh Trung Quốc nào đứng trong hàng ngũ quân đội Việt Minh và không một huấn luyện viên Trung Quốc nào dính líu trực tiếp đến các trận chiến đấu31 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện đã nói, ngày 10-2-1954. Về vấn đề này, người ta ghi nhận những ý kiến táo bạo của Julas Roy: La bataille de Điện Biên Phủ (trận Điện Biên Phủ), Paris, Juliard, 1963, tr.243-244. Có lẽ Giuyn Rôi đã đi quá xa khi ông ta viết: "Trung Quốc không có tại chỗ một cố vấn quân sự nào có thể ra quyết định, không có một pháo thủ nào, một chuyên gia nào (chúng tôi nhấn mạnh)").


Ngoài ra, binh lính Việt Minh, các sĩ quan và chính trị viên còn được Trung Quốc dành cho những điều kiện thuận tiện đáng kể cho việc huấn luyện và nghỉ ngơi32 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện đã nói, ngày 10-2-1954. Về vấn đề này, người ta ghi nhận những ý kiến táo bạo của Julas Roy: La bataille de Điện Biên Phủ (trận Điện Biên Phủ), Paris, Juliard, 1963, tr.243-244. Có lẽ Giuyn Rôi đã đi quá xa khi ông ta viết: "Trung Quốc không có tại chỗ một cố vấn quân sự nào có thể ra quyết định, không có một pháo thủ nào, một chuyên gia nào (chúng tôi nhấn mạnh)") ở "đất thánh", cần thiết cho việc tránh khỏi các cuộc phản công của lực lượng Pháp-Việt.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 12 Tháng Năm, 2019, 08:13:46 PM
Bắt đầu từ khi có đình chiến Triều Tiên, nhất là sau hội nghị Béc-lin mà kết quả là thông báo sẽ có hội nghị Giơ-ne-vơ, khối lượng viện trợ của Trung Quốc tăng nhiều khoảng gần 4.000 tấn hàng mỗi tháng, gần 2.000 tấn lương thực33 (Hồ sơ lưu trữ của G.Ph, Đa-lét dự thảo diễn văn ở Câu lạc bộ báo chí hải ngoại của Mỹ (Oversea Press Club of America) đề ngày 24-3-1954 (xem đoạn sau) do M.Guốc-tốp, trích trong sách đã dẫn, tr.188 chú thích 58). Tháng 4 năm 1954, Tướng Na-va đã tóm tắt tình hình mới như sau:

"Chiến tranh bắt đầu gia tăng từ khi có tin sẽ họp hội nghị Giơ-ne-vơ (...). Nhờ viện trợ Trung Quốc, đây là một "cuộc chiến tranh khác" mà bộ chỉ huy Việt Minh đang tiến hành. Đó là cuộc chiến tranh hiện đại thật sự có sự can thiệp của pháo binh, súng phòng không, vận chuyển bằng ô-tô trên những con đường có giá trị, việc thông tin liên lạc không thể coi thường được"34 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Sài Gòn/24-4-1954/ bản ghi nhớ số 1807/Giơ-ne-vơ/C.C. "Tình hình quân sự ở Đông Dương trước hội nghị Giơ-ne-vơ" (chúng tôi nhấn mạnh). Xem thêm trả lời của tướng Na-va gửi Đại sứ Sô-ven có nói một phần đến viện trợ Trung Quốc (20-4-1954, đoạn 4). Những câu trả lời đó là nội dung của công văn số 1809 trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp. Viên tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương cho rằng nếu giả định ném bom cắt đường tiếp tế từ Trung Quốc thì Việt Minh "không còn có đủ trang bị cần thiết để mở một chiến dịch mới cũng qui mô như vậy trong năm 1954 với những phương tiện như họ đang sử dụng hiện nay". Về việc gia tăng viện trợ của Trung Quốc trước khi hội nghị Giơ-ne-vơ họp, xem thêm H.Na-va Đông Dương hấp hối 1953-1954, sách đã dẫn, tr.183, 205-208 và 253).



Sự có mặt của một tướng Trung Quốc nào đó tên là Li Chen Hu (?) và khoảng hai chục cố vấn Trung Quốc của Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc tại Tổng hành dinh của tướng Giáp còn làm cho bộ chỉ huy Pháp35 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao/điện của Bon-nê/Oa-sinh-tơn/số 2294-2296/5-4-1954. Xác nhận bằng phiếu số 485/F.T.N.V. của Phòng nhì, Ban tham mưu của tướng chỉ huy lục quân Bắc Việt Nam, 7-2-1955, lời khai của tướng Na-va trước Ủy ban điều tra, phần thứ nhất, tr.48 (P.Rô-cô-le trích trong sách đã dẫn, tr.92. Không có tập "tiểu sử nhân vật" Who's Who "hồ sơ cá nhân" nào mà chúng tôi có thể tra cứu được, lại đưa ra một tư liệu dù là sơ sài nhất về nhân vật của tướng Li Chen-hu (có lẽ chỉ là một tên mượn). Ngược lại, một vài nguồn khác lại nói đến sự có mặt từ năm 1950 của tướng La Quý Ba, bên cạnh các lực lượng Việt Minh (Hoàng Văn Chỉ, sách đã dẫn, tr.65) và cả ở Điện Biên Phủ (Huan Chen Hsia, Tiểu sử cá nhân quân đội Trung cộng, Hồng-công, Research Institute of Contemporary History 1968, tr.725-726). Phải chăng Li Chen-hu chỉ là bí danh của La Quý Ba? Theo một vài nguồn tin, La Quý Ba có thể được cử tham gia đoàn đại biểu Trung Quốc tại Giơ-ne-vơ. Xem Donald W.Klein, Anne B.Clark, Từ điển tiểu sử của cộng sản Trung Quốc, 1921-1965, Cambridge (Mass), Harvard University Press, 1971, tr.649. Từ lúc hội nghị Giơ-ne-vơ kết thúc, La Quý Ba được cử lam Đại sứ tại Việt Nam dân chủ cộng hòa (xem chương X). Cần lưu ý rằng một vài nguồn tin nói đến có mặt của tướng Lâm Bưu tại Mặt trận Điện Biên Phủ (Tạp chí Xuân thu, số 349, 16-1-1972, tr.26) và những nguồn khác lại nói đến Diệp Kiếm Anh cũng có mặt tại Điện Biên Phủ (Trần Minh, Hồng Công, tháng 8 năm 1978, là người có quan hệ với Hồ Chí Minh từ đầu chiến tranh Trung-Nhật) lo ngại hơn nữa. Bộ chỉ huy Pháp cũng biết từ đầu 1954, Việt Minh đã yêu cầu Trung Quốc viện trợ bổ sung đạn dược, xe, và vũ khí36 (Phiếu tình hình Đông Dương cuối tháng 2-1954 do tướng Na-va trình bày để viết chỉ thị số 222/OPS ngày 25-2-1954, tr.2 P.Rô-cô-le trích lại trong sách đã dẫn, tr.264). Cuối tháng 2, Trung Quốc lại giúp đỡ trang bị cho một trung đoàn pháo phòng không37 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện của Bon-nê/ngày 5-4-1954. Cũng xem phiếu số 208/F/EMIFT/2S: của Phòng nhì Bộ tham mưu của Tổng chỉ huy quân đội Pháp ngày 2-3-1954. P. Rô-cô-le trích lại trong sách đã dẫn, tr.339-340. Lời khai của tướng Na-va trước Ủy ban điều tra. Phần thứ nhất, tr.52. P.Rô-cô-le trích lại trong sách đã dẫn, tr.444. Na-va, sách đã dẫn tr.211-212 và 243. J.Laniel, Jours de gloire et jours cruells (Những ngày vinh quang và những ngày tàn khốc), Paris, Presses de la cité, 1971 tr.235 và Le drame Indochinois Tấm thảm kịch Đông Dương, sách đã dẫn, tr.84 (Có đoạn viết: "sự có mặt của pháo thủ Trung Quốc trong chiến đấu đã được xác định")). Đầu tháng 3, có vài máy bay MIG-15 của Trung Quốc xuất hiện trên bầu trời Bắc kỳ, càng làm tăng thêm nỗi lo ngại của Bộ tham mưu Pháp38 (Về mối lo ngại của Bộ tham mưu liên quan đến sự can thiệp bằng không quân Trung Quốc ở Bắc kỳ. Xem Dwight D.Eisenhower, The White House Years. Mandate for Change 1955-1956 (Những năm ở Nhà Trắng-"Nhiệm kỳ có những đổi thay" 1953-1956). New York. Double day, 1963, tr.361-362. Người ta đã tính với 120 máy bay, Trung Quốc có thể ngăn cản quân đội viễn chinh không rút được khỏi vùng châu thổ, nếu cần phải rút. Về quan điểm này, xin chú ý đến lời khai của tướng Na-va trước Ủy ban điều tra, phần thứ 2, tr.2: như sau: Tướng Lô-duyn đã nói với tôi đến 20 lần rằng nếu máy bay đến bắn phá hoặc ném vài quả bom trên lãnh thổ Bắc kỳ, không quân của chúng ta sẽ có lẽ bị phá hủy đến hai phần ba lực lượng. Điều đó càng có thể đúng khi các bãi đậu máy bay đã được tổ chức (...) không phải để chống máy bay địch oanh tạc mà lại để chống các đội biệt động, điều này khiến cho đáng lẽ máy bay đậu phân tán thì lại tập trung càng sát với nhau càng tốt, có dây thép gai bao bọc để giám sát. Có một sự bế tắc về không quân. Chúng ta không có một máy ra-da nào, chúng ta lại không có súng phòng không (...). P.Rô-cô-le trích lại trong sách đã dẫn, tr.69). Tuy nhiên khối lượng hàng giao sang những năm 1951-1954, ước lượng chừng 50.000 tấn và xét cho cùng cũng dưới 100.000 tấn, hãy còn kém xa mức nước Pháp nhận của Mỹ cũng trong thời gian đó40 (Xem đoạn sau. Tuy nhiên, cần chú ý rằng viện trợ Trung Quốc, do tính chất thô sơ, phù hợp hơn với kiểu cách hoạt động của Việt Minh, có hiệu lực hơn là viện trợ của Mỹ cho quân đội Pháp).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2019, 07:50:18 PM
Khả năng Trung Quốc can thiệp trực tiếp vào Đông Dương


Tới giữa năm 1953, không ai nghĩ đến một cuộc can thiệp trực tiếp của Trung Quốc vào bán đảo Đông Dương. Rõ ràng là những cuộc hành quân của Quân đội liên hiệp Pháp ở Đông Dương không thể coi như một sự đe dọa đối với nền an ninh của Trung Quốc. Nhưng nhất là sự cố gắng lớn lao do cuộc chiến tranh Triều Tiên đòi hỏi, cộng thêm những khó khăn của một chế độ mới thiết lập và của công cuộc phục hồi kinh tế, đã tạm thời ngăn cấm Trung Quốc không nghĩ đến một hành động gì ở sườn phía nam. Chắc chắn, nguy cơ chủ yếu là ở trên sông Áp Lục chứ không phải trên biên giới Việt Nam. Bởi vậy, lợi ích dân tộc đã buộc Trung Quốc phải dốc hết sức lực ra ngăn cản sức ép tối đa của các lực lượng Mỹ-Nam Triều Tiên.


Hiệp định đình chiến Bàn Môn Điếm được ký kết thì vấn đề Trung Quốc thay đổi thái độ có thể được đặt ra. Mặt trận Đông Bắc được giải tỏa, liệu Trung Quốc có xem xét cuộc chiến tranh Đông Dương một cách hoàn toàn khác trước hay không? Nếu Việt Minh gặp khó khăn41 (Xem J.Laniel: Le drame indochinois (Tấm thảm kích Đông Dương), sách đã dẫn, tr.111), thì như một số người nghĩ, liệu Việt Minh có kêu gọi Trung Quốc nhảy vào cuộc xung đột để xoay chuyển cán cân lực lượng có lợi cho họ hay không?42 (Giả thiết này sẽ hoàn toàn đứng vững nếu điều nói trong tập "Hồi ký Khơ-rút-sốp" được xác nhận là có thật. Khơ-rút-sốp kể lại (trong Hồi ký) rằng phong trào kháng chiến của Việt Nam sắp tan rã vì Chu Ân Lai đã tuyên bố với ông ta: "Đồng chí Hồ Chí Minh đã nói với tôi (tức với Chu Ân Lai-N.D) rằng tình hình Việt Nam là tuyệt vọng và nếu chúng ta không có được một cuộc ngừng bắn thì người Việt Nam sẽ không kháng cự được lâu hơn nữa với Pháp. Cho nên, họ đã quyết định lui đến biên giới Trung Quốc và nếu việc đó là cần thiết, thì họ muốn Trung Quốc sẵn sàng đưa quân vào Việt Nam như Trung Quốc đã làm với Bắc Triều Tiên. Nói một cách khác, người Việt Nam muốn chúng tôi giúp họ đuổi người Pháp", Khrouchetchev, Souvenirs (Hồi ký), Paris, R.Lafont, 1971, tr.456-457). Và nhất là việc Mỹ tăng thêm viện trợ cho quân đội Liên hiệp Pháp43 (Về vấn đề này, xem đoạn sau) ở Đông Dương liệu có nguy cơ bị Chính phủ Bắc Kinh từ nay coi như một sự đe dọa thực tế mà họ cần phải trả đũa hay không? Đến cuối năm 1953 đầu năm 1954, vấn đề được trình bày ở phương Tây đại thể theo những lời lẽ như vậy.


Không đi vào chi tiết một lập luận không thể có căn cứ vững chắc vì thiếu những nguồn tin đầy đủ về phía Trung Quốc, tuy nhiên chúng ta nên nhớ rằng đến trước hội nghị Giơ-ne-vơ, có ba loại vấn đề cần xem xét: kinh tế, quân sự và ngoại giao, xem ra loại trừ việc Trung Quốc can thiệp trực tiếp vào cuộc xung đột.


Về mặt kinh tế, việc triển khai kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đòi hỏi những khoản đầu tư lớn lao đến nỗi việc thực hiện kế hoạch chắc chắn sẽ bị trở ngại nếu Trung Quốc dính líu vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương mà bất cứ lúc nào cũng có thể mở rộng quy mô như cuộc chiến tranh Triều Tiên. Lập luận này đã gây ra cả một cuộc luận chiến ở phương Tây, nhất là ở Pháp. Một bài diễn văn của Trần Vân đọc ngày 5 tháng 3 năm 1954 ở Bắc Kinh nhân dịp kỷ niệm một năm ngày Xta-lin từ trần đã đánh dấu điểm xuất phát của cuộc luận chiến. Trong bài diễn văn, Trần Vân đã giải thích rằng một trong những công trạng lớn lao của Xta-lin là sự phát triển tiềm lực kinh tế của Liên Xô44 (Tin Tân Hoa Xã-Bắc Kinh, ngày 6-3-1954). Ngày hôm sau phóng viên hãng thông tin Pháp AFP tại Hồng Công, bình luận về bài diễn văn đó như sau: "Bài diễn văn đó hình như chỉ ra rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc do dự trước nguy cơ cuộc cách mạng Trung Quốc trước khi truyền bá chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, cho dù để làm việc đó, phải hy sinh Hồ Chí Minh45 (Pháp tấn xã (AFP), ngày 6-3-1954. Chúng tôi nhấn mạnh). Báo chí cánh tả, kết tội Chính phủ Pháp đã xuyên tạc bài diễn văn của Trần Vân vì lý do chính trị nội bộ, đã phát động cả một cuộc luận chiến46 (L' observateur d' au jourd'hui (Báo Người quan sát ngày nay), ngày 18-3-1954, Libération (Giải phóng) ngày 18-3-1954; L' Humanite (Nhân đạo), ngày 19-3-1954). Ở Mỹ, một phần giới báo chí đã bình luận bài nói của người lãnh đạo Trung Quốc theo cùng một hướng đó. Đặc biệt hai anh em An-xốp (Alsop) cho rằng có thể Trung Quốc đề nghị đình chỉ viện trợ cho Việt Minh đánh đổi lấy việc các cường quốc phương Tây thừa nhận nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa gia nhập Liên hợp quốc và lập lại quan hệ kinh tế bình thường với phương Tây47 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Đa-ri-đan/Oa-sinh-tơn/số 2027-2035/26-3-1954). Với những người khác, trái lại, giả thuyết này tỏ ra không có căn cứ. Đó là trường hợp của các nhà quan sát ở Hồng Công, theo họ thì Trung Quốc mong muốn có một thời kỳ hòa bình để thực hiện công cuộc xã hội hóa nhưng không có thể kết luận rằng như vậy chính phủ Bắc Kinh sẵn sàng bỏ rơi Việt Minh48 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Buy-đôn/Hồng Công/số 29-92/23-3-1954; hoặc điện Buy-đôn/Hồng Công/số 105-108/31-3-1954 kể lại tình cảm của ông Đan-tơn, cố vấn chính trị của Chính phủ Hồng Công).


Thật ra, hai quan điểm trên đây không phải hoàn toàn không thể dung hòa được. Nếu những mục tiêu kinh tế của Trung Quốc đối lập hoàn toàn với việc quốc tế hóa cuộc xung đột thì cũng không phải vì thế mà chúng loại trừ việc duy trì một sự viện trợ có giới hạn cho những du kích Việt Minh.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2019, 07:51:23 PM
Việc phân tích tình hình quân sự của Trung Quốc cũng dẫn đến những kết luận tương tự. Một mặt, về phương diện hậu cần, tình hình căn bản khác với cuộc chiến tranh Triều Tiên. Phương tiện giao thông đường bộ và đường sắt ở các tỉnh miền Nam không có nhiều, không thể so sánh được với hệ thống giao thông ở Mãn Châu dùng vào việc chi viện cho mặt trận Triều Tiên bốn năm trước đây. Vả lại, Việt Nam ở xa các trung tâm tiếp tế của Trung Quốc về vật tư cũng như lương ăn cho bộ đội. Có nghĩa là các cuộc hành quân quy mô lớn ở Đông Dương sẽ đặt ra các vấn đề hậu cầu lớn hơn nhiều so với Triều Tiên.


Về phương diện chiến lược, những điều kiện cũng rất khác nhau. Một mặt, ngược lại với các tỉnh ở đông bắc, các tỉnh miền nam không có một tiềm lực công nghiệp quan trọng nào. Vì vậy sự thúc bách phải can thiệp chống lại sự đe dọa có thể xảy ra có lẽ không gay gắt trong trường hợp Đông Dương như trong năm 1950, khi đó, Mãn Châu, ở phía bên kia Triều Tiên, xem ra có thể bị trực tiếp uy hiếp. Mặt khác, ở Đông Dương, Trung Quốc không thể được Liên Xô bảo đảm ủng hộ về hậu cầu và về chiến lược với mức độ ngang như trường hợp Triều Tiên. Thực thể, sự cách xa về địa lý có thể dẫn những người có trách nhiệm ở Liên Xô đến chỗ coi vấn đề Đông Dương hoàn toàn khác với vấn đề Triều Tiên. Từ đó, đối với Trung Quốc, nguy cơ bị cô lập về quân sự càng tăng lên. Cuối cùng, từ đầu năm 1954, tình hình căng thẳng ở eo biển Đài Loan49 (Xem D.D. Ai-xen-hao, sách đã dẫn, tr.462) tăng lên, bắt buộc nước Trung Hoa nhân dân phải thận trọng hơn đối với Đông Dương.


Tình hình ngoại giao của Chính phủ Bắc Kinh cũng buộc Trung Quốc phải có một thái độ hết sức dè dặt về đường lối quốc tế. Ý muốn nới lỏng bao vây về kinh tế mà Trung Quốc phải chịu đựng và bình thường hóa quan hệ với càng nhiều quốc gia càng tốt, nhất là ở châu Á tất nhiên cũng buộc Trung Quốc phải tránh một cuộc can thiệp chỉ có thể gặp phải sự chống đối của hầu hết các thủ đô, sau cuộc can thiệp của "chí nguyện quân" ở Triều Tiên. Mấy năm sau, I-đơn viết: "Tôi biết Trung Quốc do dự, ít nhất là trong giai đoạn này trong việc làm cho Ấn Độ chống lại mình và Trung Quốc có những cố gắng lớn lao để hòa giải với dư luận châu Á nói chung"50 (I-Đơn, Hồi ký, sách đã dẫn, tr.106). Đúng như vậy, vào tháng 4 năm 1954 trước khi khai mạc hội nghị Giơ-ne-vơ ít hôm, Liên Xô, Trung Quốc và Việt Minh họp hội nghị trù bị ở Mát-xcơ-va. Theo nguồn tin Liên Xô, tại cuộc họp, Chu Ân Lai đã tuyên bố rằng trong trường hợp cuộc xung đột ở Đông Dương mở rộng, chính phủ của ông ta không thể viện trợ thêm cho Việt Minh được nữa, "bởi vì điều đó làm Trung Quốc đối lập với các nước khác ở Đông Nam châu Á và tạo cho Hoa Kỳ khả năng thành lập một khối kéo dài từ Ấn Độ đến In-đô-nê-xi-a". Vây là, theo Thủ tướng Trung Quốc, "cần phải tìm khả năng tiến hành thương lượng với Pháp"51 (M.S. Ka-pit-sa "Hai chục năm-Hai chính sách". Sách đã dẫn, tr.109, G.V.A-xtafi-ép, A.M. Dy-bin-xki, sách đã dẫn, tập I, tr.93. Không ước đoán về tính chân thực của tập Hồi ký Khơ-rút-sốp, người ta ghi nhận rằng những dòng viết về hội nghị trù bị Mát-xcơ-va nói trên phù hợp hoàn toàn với điều được kể lại hiện nay trong các sách Liên Xô. Thủ tướng Trung Quốc có lẽ đã tuyên bố như sau: "Chúng tôi hoàn toàn không có thể đáp ứng yêu cầu (Trung Quốc can thiệp vào Việt Nam) của đồng chí Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã mất quá nhiều quân ở Triều Tiên, nơi đây chúng tôi đã trả giá đắt cho cuộc chiến tranh. Trong tình hình hiện nay, chúng tôi không thể lao vào một cuộc xung đột mới được nữa" (sách đã dẫn, tr.457)). Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất nhằm đặt nền móng cho sự phát triển xã hội chủ nghĩa của mình, Trung Quốc phải chú ý đến dư luận quốc tế để hy vọng được nhiều sự thừa nhận về ngoại giao và có nhiều quan hệ kinh tế hơn. Vào mùa xuân 1954, Trung Quốc đã lựa chọn "cùng tồn tại hòa bình" mà họ cho rằng chỉ có như thế mới phù hợp với lợi ích dân tộc của mình. Điều đó tuyệt nhiên không hề ngăn cấm Trung Quốc ủng hộ Việt Minh về quân sự và kinh tế chừng nào sự viện trợ đó có khối lượng và tính chất thế nào để phương Tây không thấy ở đó một sự can thiệp công khai trong cuộc xung đột. Nhưng hiển nhiên là điều đó loại trừ sự dính líu trực tiếp của quân đội Trung Hoa trên chiến trường Đông Dương. Đối với Trung Quốc, Đông Dương không được trở thành một Triều Tiên mới.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2019, 07:57:37 PM
Phản ứng của phương Tây52
(Tiêu đề mục này không bao gồm một sự phán xét đáng giá nào. Đồng ý là thái độ của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng có thể hiểu là sự "phản ứng" đối với chính sách của phương Tây)


Tới năm 1949, nước Mỹ còn chia rẽ ý kiến về vấn đề Đông Dương. Một mặt, Mỹ từ chối tỏ thái độ có thể gây cảm tưởng rằng Mỹ ủng hộ sự có mặt của thực dân Pháp ở bán đảo Đông Dương53 (Từ năm 1944, Tổng thống Ru-dơ-ven đã cho rằng không nên giữ nguyên trạng các thuộc địa ở Đông Dương, nhất là do chính sách lạc hậu Pháp đang tiến hành ở đó. Bộ Ngoại giao Mỹ: Quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, hồ sơ ngoại giao: Các cuộc Hội nghị Man-ta và Y-an-ta, 1945. Oa-sinh-tơn. D.C.1955, tr.770). Nhưng mặt khác, Mỹ rất lo ngại về những khuynh hướng đang trở thành cộng sản của Việt Minh. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Gioóc-giơ Mác-san (George C.Marshall) đã xác định sự bối rối của Mỹ trong một bức điện gửi Đại sứ quán Mỹ tại Pa-ri: "Chúng ta hoàn toàn thừa nhận lập trường tự chủ của nước Pháp và chúng ta không muốn tỏ ra bằng bất cứ cách nào là chúng ta đang thay đổi lập trường đó. Đồng thời, chúng ta không thể làm ngơ trước sự thực rằng đây là một vấn đề có hai mặt. Các tin tức của chúng ta nói đến việc Pháp vừa thiếu hiểu biết đối phương vừa duy trì ở vùng này những biện pháp và cách nhìn có tính cách thực dân đã lỗi thời một cách nguy hiểm. Mặt khác, chúng ta không được quên rằng Hồ Chí Minh gắn bó trực tiếp với những người cộng sản và hiển nhiên là chúng ta chẳng có lợi ích gì khi thấy các chính quyền ở các thuộc địa được thay thế bằng một triết lý và tổ chức chính trị ở Krem-li và do Krem-li trực tiếp kiểm soát. Thật thà mà nói chúng ta chẳng có giải pháp nào để gợi ý về vấn đề này"54 (Tài liệu mật Bộ quốc phòng, sách đã dẫn, tr.7-8. (không nói rõ ngày gửi điện). Tuy nhiên, cần nhắc lại vài thời kỳ về chính sách Mỹ ở Việt Nam đối với người Pháp  năm 1945. Xem B.Phôn, sách đã dẫn, tr.89-91).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2019, 08:06:28 PM
Ngăn cản Trung Hoa nhân dân can thiệp vào Đông Dương

Nhưng khi cộng sản giành được thắng lợi ở Trung Hoa lục địa, lập trường của Mỹ được xác định rất nhanh chóng. Từ ngày 30 tháng 12 năm 1949-quân cộng sản vừa mới đến sát biên giới Trung-Việt-Tổng thống Tơ-ru-man thông qua một văn kiện của Hội đồng an ninh quốc gia, nhấn mạnh đến sự cần thiết phải ngăn chặn cộng sản bành trướng xuống Đông Dương bằng cách cung cấp viện trợ chính trị, kinh tế và quân sự cho các chính phủ hữu quan55 (Tài liệu NSC. 48/2/ Xem tài liệu mật Bộ quốc phòng, sách đã dẫn, tr.9). Sau đó, khi Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Liên Xô công nhận Việt Nam dân chủ cộng hòa tháng 1 năm 1950, Mỹ trả đũa lại bằng cách cùng với Anh, công nhận Quốc gia Việt Nam ngày 7 tháng 2. Cùng trong tháng đó, một văn kiện mới của Hội đồng an ninh quốc gia trình bày rõ ràng cái sau này gọi là "thuyết Đô-mi-nô" và nhấn mạnh rằng Mỹ cần khẩn thiết bảo vệ Đông Dương nếu muốn tránh cho cán cân lực lượng ở Đông Nam châu Á không ngả về phía những người cộng sản56 (Như trên, tr.6).


Từ đầu năm 1952, Mỹ bắt đầu tính đến một số biện pháp quân sự chống lại Trung Quốc trong trường hợp Trung Quốc can thiệp trực tiếp hơn nữa vào cuộc xung đột Đông Dương. Một bản nghiên cứu của Hội đồng an ninh quốc gia vào thời kỳ này đã nêu ra khả năng về một hành động chung chống Trung Quốc, hoặc dưới sự bảo trợ của Liên hiệp quốc, hoặc ít nhất hợp tác với Pháp và Anh57 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng, sách đã dẫn, tr.27-32. Khó mà nghe theo R.F.Ran-đơn, sách đã dẫn, tr.31, khi ông ta viết rằng tháng 1-1954, Mỹ không có chính sách ở Đông Nam châu Á. Nhưng tác phẩm của ông đã hoàn thành trước khi công bố tài liệu mật Bộ Quốc phòng. cũng xem A. I-Đơn, Hồi ký, sách đã dẫn, tr.93). Một hành động như vậy có thể bào gồm một cuộc bao vây đường biển đối với Trung Quốc (đoạn 11a), những hoạt động du kích chống cộng ở ngay trên lãnh thổ Trung Quốc để phá hoại đường giao thông và quấy rối việc Trung Quốc tiếp tế quân sự cho Việt Minh (đoạn 11b), sử dụng các lực lượng của người Trung Quốc chống cộng hoặc theo chủ nghã quốc gia ở Đông Nam châu Á, ở Triều Tiên và ở ngày trên đất Trung Quốc (đoạn 11c), thậm chí, trong trường hợp xung đột mở rộng, mở những cuộc hành quân trên biển và trên không của Mỹ-Anh-Pháp nhằm vào các mục tiêu quân sự của Trung Quốc, trừ những mục tiêu nào ở quá gần biên giới Liên Xô (đoạn 12). Nếu Pháp và Anh từ chối thì lúc đó Mỹ có thể tính đến hành động một mình (đoạn 13).


Chính là vừa để chuẩn bị đối phó với mọi tình huống, vừa để cân đối với việc Trung Quốc đưa vũ khí và dụng cụ vào Đông Dương và để tăng cường cuộc chiến đấu chống Việt Minh mà bắt đầu từ tháng 5 năm 1950, Mỹ đã quyết định cung cấp dụng cụ quân sự cho Pháp với số lượng ngày càng tăng58 (Tập san Bộ Ngoại giao Mỹ, 2-5-1950, tr.821. Tuyên bố của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đin A-chi-sơn (Dean Acheson) ngày 8-5-1950. Phái đoàn cố vấn quân sự (MAAG) ở Đông Dương được thành lập tháng 8-1950). Từ năm 1950 đến năm 1953, những dụng cụ quân sự chuyển giao không phải trả tiền tăng gấp 10 lần, từ 11.000 lên 117.000 tấn.


(https://scontent.fhan3-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/60354622_2064413926989882_1941137179828813824_n.jpg?_nc_cat=111&_nc_oc=AQmS_K2ApQiPfhdvvXuvlBSuf_nmerr6NoHszF3ned0PQox3kZDHGPZz4n3KVNm2iL8&_nc_ht=scontent.fhan3-1.fna&oh=61e693842a17ce3e1792e190816a7fae&oe=5D6A9AEF)


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 18 Tháng Năm, 2019, 08:16:12 PM
Song song với việc trên, Mỹ không ngừng tăng mức viện trợ tài chính cho Pháp. Năm 1952, viện trợ tài chính là 115 tỷ phrăng chiếm gần 40% chi phí cho các cuộc hành quân59 (Theo một nguồn tin Mỹ, năm 1952, viện trợ tài chính của Mỹ chiếm 65% chi phí chiến tranh. Đó là do có sự khác nhau trong phương pháp tính toán, do sự phức tạp của các thủ tục viện trợ của Mỹ cho nước ngoài. Tường trình trước Ủy ban đối ngoại Hạ nghị viện Mỹ-Quốc hội khóa 83, phiên họp thứ 2 về luật viện trợ vì an ninh chung, năm 1954 Oa-sinh-tơn, 1954, tr.35. Cũng xem A.B. Cô-le, sách đã dẫn tr.260-261). Năm 1954, viện trợ tài chính của Mỹ đạt khoảng 300 tỷ phrăng (905 triệu đôla) trong đó 135 tỷ phrăng (bi vong lục ngày 29 tháng 9 năm 1953) để chi phí cho các kế hoạch mà Chính phủ Pháp đã xây dựng nhằm tăng cường các cuộc hành quân chống Việt Minh60 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, viện trợ Mỹ cho Đông Dương, bản ghi nhớ đã nêu ở trên, bảng 7).


Có nghĩa là, cuối năm 1953-đầu năm 1954, viện trợ Mỹ chiếm ưu thế trong chi phí của cuộc chiến tranh. Điều đó giải thích rộng rãi tại sao Việt Minh đã tố cáo gay gắt viện trợ đó61 (Xem Trả lời phỏng vấn của các nhà báo về sự can thiệp của Mỹ ở Đông Dương, ngày 25-7-1950 trong Hồ Chí Minh, sách đã dẫn, tr.251-252, trong đó Hồ Chí Minh viết "Thực dân Pháp theo đuổi chiến tranh ở Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào theo chỉ thị của Mỹ và nhờ đôla, vũ khí Mỹ, nhưng đồng thời đế quốc Mỹ cũng tìm cách hất cẳng thực dân Pháp để độc quyền thống trị Đông Dương"). Và tại sao Trung Quốc lại tỏ ra lo ngại. Các cuộc hội nghị quân sự của đồng minh nối tiếp nhau họp ở Xin-ga-po và Trân Châu Cảng từ đầu năm 1951 còn củng cố thêm mối lo ngại của Trung Quốc về khả năng quốc tế hóa cuộc xung đột theo qui mô đã xảy ra ở Triều Tiên. Thực thế, Bộ tham mưu đồng minh (Staff Agency) được thành lập ở Trân Châu Cảng tháng 4 năm 1953 giữa Mỹ, Anh, Pháp, Ô-xtrây-li-a và Niu Di-lơn62 (Xem đoạn trước, chương I). Lần thứ nhất đã họp một phiên làm việc, tiếp đó lại họp ở Trân Châu Cảng từ 15 đến 30 tháng 5. Sau nhiều cuộc thảo luận dài, hội nghị đã kiến nghị là trong trường hợp Trung Quốc xâm lược sẽ có một phản ứng kép của phương Tây. Một mặt là có thể yểm hộ bằng không quân và thủy quân cho quân đôi liên hiệp Pháp. Nhằm mục đích đó, Bộ tham mưu trên đã đề nghị phân chia ngay sự chỉ huy giữa một vùng phòng thủ Đông Dương đặt dưới quyền trách nhiệm của Pháp và ở bên ngoài vùng đó, một ban chỉ huy hành quân của Mỹ, cũng như xây dựng một cơ sở hạ tầng thích đáng (sân bay ra-đa, v.v...) Mặt khác, đề nghị phong tỏa các bờ biển Trung Quốc kèm theo ném bom chiến lược và hoạt động du kích ở lục địa. Mọi người cũng thỏa thuận rằng Chính phủ Pháp sẽ cộng tác xây dựng kế hoạch và sẽ là người duy nhất đánh giá thời cơ thuận lợi cho việc triển khai kế hoạch đó63 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, Hội nghị Luân-đôn lời ghi do ông Rút chuẩn bị và ông Bi-đôn đọc tại hội nghị tháng 10-1953. Cũng xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về: "biện pháp dự kiến trong trường hợp Trung Quốc xâm lược Đông Dương. Tiêu chuẩn của sự xâm lược đó"/15-10-1953).


Một cuộc họp thứ hai cũng ở Trân Châu Cảng ngày 21 tháng 9 đến 2 tháng 10 năm 1953, còn cụ thể hóa thêm nữa những kiến nghị đầu tiên ấy. Trong cuộc họp, người Ăng-lô Xăc-xông đã nêu bật ý muốn duy trì một đầu cầu ở Bắc kỳ, trong trường hợp Trung Quốc xâm lược, bảo vệ Mã Lai, lấy điểm tựa của việc phòng thủ (Mã Lai) trên eo đất Kra, và chiếm đảo Hải Nam để sau này dùng vào việc đổ bộ lên lục địa Trung Quốc (nếu cần)64 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương, Bản ghi nhớ "Chiến lược chung ở Đông Nam châu Á"/30-11-1953. Ý kiến chiếm đảo Hải Nam có từ trước vì trong cuộc nói chuyện của tổng thống Ô-ri-ôn ngày 2-2-1953. Xem V.Auriol, Journal du Sptennat 1947-1954, Nhật ký 7 năm (1947-1954). Paris, Colin, 1971, tr.44. Cần lưu ý rằng ai cũng biết đến kế hoạch này vì chính một nhà báo của AFP đã trình bày ý kiến đó lên tổng thống Ô-ri-ôn). Sau cuộc họp đó, ngày 7 tháng 10, các đại sứ Pháp, Anh và Mỹ có nhiệm vụ hỏi Bộ Ngoại giao Anh và Mỹ xem bắt đầu lúc nào các Chính phủ Anh và Mỹ nghĩ rằng có cuộc xâm lược thực sự của Trung Quốc65 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp. Bản ghi nhớ chuẩn bị cho..., sách đã dẫn).


Mấy hôm sau, Bi-đôn trở lại ý kiến này trong cuộc hội đàm Pháp-Anh-Mỹ tại Luân-đôn (từ 16 đến 18 tháng 10). Trước hết, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp đã trình bày rằng những tin tức nhận được ở Pari đã làm cho người ta nghĩ rằng có thể khẳng định được khả năng một cuộc xâm lược như vậy. Một nguồn tin chắc chắn nói đến việc thành lập một trường dạy lái máy bay ở Nam Ninh (Quảng Tây). Một nguồn tin khác kém tin cậy hơn, từ Đài Loan đưa về66 (Thực ra, Bộ Ngoại giao Pháp ít chú ý đến các nguồn tin nhận được từ Đài Loan, kể cả những báo cáo của đại sứ quán Pháp tại Đài Bắc gửi về vì cho rằng những tin tức đó quá thiên về tuyên truyền (nói chuyện với một nhân vật Pháp ngày 5-7-1973)). Nói đến việc tập trung máy bay phản lực ở miền Nam Trung Quốc67 (Ở Đông Dương, Pháp không có một chiếc máy bay phản lực nào). Một đường bay có lẽ đã được xây dựng ở ngay Lạng Sơn. Như vậy, Bi-đôn nói tiếp, có lẽ đến lúc các nhà quân sự nghiên cứu những tiêu chuẩn của một cuộc xâm lược của Trung Quốc có thể xảy ra, để áp dụng các biện pháp do Bộ tham mưu đồng minh đề ra, ví dụ như cung cấp một số dụng cụ nhất định và nhất là việc sử dụng không quân.
Hai vị Bộ trưởng (Anh và Mỹ) đã đáp ứng tích cực các đề nghị đó. I-đơn đã nhấn mạnh sự phát triển của tình ình Đông Dương đã ảnh hưởng trực tiếp đến Mã Lai68 (Sự quan tâm đó đến an ninh ở Mã Lai à do các cuộc nổi dậy mới đây của cộng sản mà Anh đang phải đối phó. Về vấn đề này, xem chương V). Và do đó, ông ta đồng ý sẽ tiến hành việc nghiên cứu các vấn đề đó. Đồng thời Đa-lét cũng tuyên bố sẵn sàng xem xét giới hạn của việc Trung Quốc viện trợ, vượt qua giới hạn của việc Trung Quốc viện trợ, vượt qua giới hạn đó thì sẽ phải có biện pháp can thiệp mà chắc chắn người Mỹ sẽ là những người đứng ra tổ chức chủ yếu.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Sáu, 2019, 12:03:45 PM
An ninh tập thể ở Đông Nam châu Á và việc Mỹ không can thiệp vào Đông Dương


Từ tháng 1 năm 1951, trong một cuộc họp giữa ba nước Anh, Pháp, Mỹ ở Oa-sinh-tơn, đại biểu Pháp đã đề nghị nên tính "làm một cái gì đó để Trung Quốc hiểu rằng một cuộc xâm lược vào Đông Dương sẽ gây ra một cuộc trả đũa tập thể". Còn đại biểu Mỹ thì đề nghị công bố một lời cảnh cáo long trọng với chính phủ Bắc Kinh mà Pháp cho rằng có lợi cho việc đánh dấu tình đoàn kết giữa các nước đồng minh nhưng cũng "bất lợi là Bắc Kinh có thể giải thích rằng đó là một sự khiêu khích"69 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ liên quan đến dự thảo tuyên bố chung về Đông Nam châu Á. 1-12-1952, tr.6-7. Vấn đề được đề cập ngay từ hội nghị Luân-đôn (5-1950), nhưng với những lời lẽ mơ hồ hơn nhiều. Xem P.Ely, sách đã dẫn, tr.18).


Một năm sau, tháng 5 năm 1952, Phủ cao ủy Pháp tại Đông Dương và Bộ phụ trách quan hệ với các quốc gia liên kết đã nêu lại vấn đề và đưa ra ý kiến về một bản tuyên bố Anh-Pháp-Mỹ "trong đó ba cường quốc trình bày những mục đích hành động của họ ở Đông Nam châu Á và nhất là khẳng định lại ý chí kiên quyết giúp đỡ các quốc gia trong vùng được độc lập hoàn toàn, bảo vệ họ chống lại sự đe dọa của bên ngoài và bên trong và cuối cùng, xây dựng lại nền kinh tế của họ"70 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Sài Gòn/bản ghi nhớ về "Lịch sử vấn đề dự thảo tuyên bố giữa các nước đồng minh gọi là "Hiến chương Thái Bình Dương"/23-6-1953). Mục đích dài hạn của dự án là giành được việc ký kết một hiệp ước tương trợ giữa các cường quốc hữu quan về Đông Nam châu Á và mở rộng sang khu vực này những nghĩa vụ và bảo đảm đã có đối với khu vực Bắc Đại Tây dương". Nhưng trước mắt có lẽ thực tế hơn nếu ấn định một mục tiêu ít tham vọng hơn dưới hình thức một tuyên bố, tương tự như Hiến chương Đại Tây dương năm 1940, có thể gọi là Hiến chương Thái Bình dương. Ô-xtrây-li-a và Tân-tây-lan phải được mời tham gia. Giữa năm cường quốc có thể thành lập một cơ quan liên lạc quân sự, kinh tế và chính trị71 (Như trên).


Cuối tháng 5 năm 1952, trong cuộc họp ban bên ngày 28, Bộ trưởng ngoại giao A-chi-sơn (Acheson) đã giải thích rằng chính phủ Mỹ đang định rõ chính sách nhằm ngăn ngừa mọi sự mở rộng mối đe dọa quân sự của Trung Quốc ở Viễn đông. Mỹ luôn luôn nghĩ đến việc gửi một lời cảnh cáo chung của ba nước đồng minh72 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Vụ chính trị/bản ghi nhớ về vấn đề "Hiến chương Đông Nam Á"/12-6-1952). Từ đó đối với chính phủ Pari, những ý muốn của Oa-sinh-tơn có lẽ có thể điều hòa được với dự án của Pháp. Lúc bấy giờ, Vụ chính trị Bộ Ngoại giao Pháp nhận xét "theo cách nào đó, chúng ta hãy thử quy tụ vào một hướng những ý định cùng Mỹ đối với Trung Quốc, rút bỏ cái mũi nhọn hiếu chiến và thay bằng một bản tuyên bố long trọng về viện trợ quân sự, chính trị và kinh tế cho các quốc gia Đông Nam châu Á (...)"73 (Như trên). Giữa tháng 6 hội đồng chính phủ Pháp đã xác nhận những đề nghị của Bộ Ngoại giao và, từ cuộc họp các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ba nước Anh, Pháp, Mỹ ngày 27 tháng 6 năm 1952 ở Luân-đôn, Rô-be Su-man (Robert Schuman) đã báo cáo cho các đồng nghiệp của ông về ý muốn của Pháp74 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ đã kể trên, ngày 23-6-2953). Các cuộc thăm dò đã được tiến hành ở Luân-đôn và Oa-sinh-tơn bằng con đường ngoại giao, người ta nhấn mạnh cần phải ngăn ngừa tuyên truyền cộng sản có nguy cơ phát triển nhân có Đại hội hòa bình sẽ họp ở Bắc Kinh75 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Ngoại giao Pari gửi các đại sứ quán Pháp tại Luân-đôn và Oa-sinh-tơn/16-9-1952).


Nhưng Luân-đôn, tuy có thiện cảm với gợi ý của Pháp, lại đánh giá rằng thời cơ chưa thuận lợi và muốn đợt kết quả hội nghị quân sự giữa các nước đồng minh, dự kiến sẽ họp ở Oa-sinh-tơn vào tháng 10. Về phần Mỹ, họ mong muốn được giải thích rõ ràng về dự án của Pháp và trước hết cần nghiên cứu tường tận tình hình quân sự ở Đông Nam châu Á trước khi dính líu vào76 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ đã trích dẫn tên/ngày 23-6-1953).


Cuối cùng, vào tháng 9 năm 1952, Pháp ngả theo ý kiến của Anh và quyết định chờ xem kết quả của các cuộc hội đàm quân sự tại Oa-sinh-tơn77 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện đã trích dẫn trên/ngày 19-9-1952). Chỉ đến cuối năm 1952, người ta mới mở lại hồ sơ đó. Nhưng việc Đa-lét thay A-chi-sơn ở Bộ Ngoại giao Mỹ và Bi-đôn thay Su-man ở Bộ Ngoại giao Pháp vào tháng 1 năm 1953, rồi những triển vọng về đình chiến ở Triều Tiên, nhất là diễn biến tình hình Đông Dương và kèm theo là sự mệt mỏi của dư luận Pháp, rốt cuộc đã dẫn đến việc bỏ rơi dự án đó vào mùa xuân năm 195378 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ đã dẫn trên, ngày 23-5-1953. Hồ sơ sẽ chỉ được mở lại sau khi ký Hiệp nghị Giơ-ne-vơ khi Pháp sẵn sàng ký hiệp ước Ma-ni-la thành lập Tổ chức liên phòng thủ chung Đông Nam châu Á (SEATO) (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ về vấn đề "Tuyên bố quốc tế liên quan đến Đông Dương" 21-7-1954)). Tuy nhiên, đến tháng 7, Bộ tham mưu Pháp nghĩ rằng những lực lượng nước ngoài được Trung Quốc ủng hộ tấn công vào Lào phải được khai thác về mặt ngoại giao bằng cách yêu cầu Mỹ và Anh cam kết có những biện pháp trả đũa lại Bắc Kinh trong trường hợp xảy ra xâm lăng Vương quốc Lào và Khơ-me79 (Thông báo số 3430/12-OM ngày 17-7-1953, dưới đóng dấu của bộ tham mưu đồng minh các lực lượng vũ trang. Ký tên: Blanc, Fay, Nomy. P.Rocolle trích trong sách đã dẫn, tr.52-53. H.Na-va sách đã dẫn, tr.86-87).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Sáu, 2019, 12:09:03 PM
Nhưng từ lúc này, tình hình quân sự "ruỗng nát" đòi phải có những giải pháp căn bản khác trước. Từ đầu năm 1954, tướng E-li (Ely) Tổng tham mưu trưởng lục quân đã được phép qua trung gian của tướng Va-luy (Valluy), yêu cầu Oa-sinh-tơn tăng cường viện trợ cho Đông Dương, nhất là dưới hình thức bổ sung thêm những phương tiện không quân80 (Về quan hệ Pháp-Mỹ trong giai đoạn này, có thể chủ yếu xem Ph.Devillers, La Fin d'une guerre (Kết thúc một cuộc chiến tranh), sách đã dẫn, tr.70-108. R.Ph. Ran-đơn, sách đã dẫn, tr.53-135 và Coral bell, Survey of International Affairs, 1954 (Điểm lại các vấn đề quốc tế) Luân-đôn, Niu Oóc và Tô-rôn-tô, Oxford University Press, 1957, 329 trang, tr.21-42). Ngoài ra Mỹ còn nhận đáp ứng một phần yêu cầu của Pháp đặc biệt là máy bay B.26, cùng với thợ máy bảo dưỡng và phi công81 (Về những vấn đề này, xem những đoạn trích trong Bọ vong lục của Ủy ban đặc biệt về Đông Dương gửi Tổng thống Ai-xen-hao, ngày 30-1-1954. Tài liệu mật Bộ Quốc phòng, sách đã dẫn, tr.32-35. Quyết định này được công bố bằng một thông cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ ngày 6-2. Về phản ứng của Trung Quốc. Xem bản tin ngày 8-2-1954 của Tân Hoa xã đưa lại trong Surprise of China Mainland Press (Điểm lại báo chí Trung Hoa lục địa), Tổng lãnh sự Mỹ, Hồng Công, số 744, ngày 10-2-1954). Chính là để phối hợp việc sử dụng sự viện trợ từ nay rất quan trọng đó mà mấy tuần sau, tướng Ô Đa-ni-en (O Daniel) thay thế tướng Tơ-ráp-nen (Trapnell) đứng đầu phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (MAAG) tại Sài Gòn82 (Sự có mặt của tướng Ô Đa-ni-en tại Sài Gòn không thể không giống sự có mặt của tướng Trung cộng Li Chen-hu bên cạnh Bộ tham mưu của Việt Minh).


Cuộc tiến công căn cứ Điện Biên Phủ, bắt đầu từ ngày 13 tháng 3, nhất là việc đánh chiếm nhanh chóng các đồn tiền tiêu của cứ điểm83 (Xem P.Rô-cô-le, sách đã dẫn, chương VII (La surprise tactique-Chiến thuật bất ngờ), tr.343-390). Điện Biên Phủ từ những ngày đầu chiến sự, đã làm các giới hữu trách trong chính phủ Pari ngạc nhiên84 (G.Sô-ven, sách đã dẫn, tr.44. Về thời kỳ này, xem thêm M.Guốc-topps, sách đã dẫn, tr.68-115). Trong mấy tuần, các giới chính trị và quân sự, ở Pháp cũng như ở Mỹ và ở Anh đều trải qua một cơn sốt đặc biệt. Ngày 20 tháng 3, tướng Ê-li, có nhiệm vụ đi Mỹ cầu cứu, đã tới Oa-sinh-tơn và hội đàm nhiều ngày với Tổng thống Ai-xen-hao, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đa-lét và đô đốc Chủ tịch Ủy ban các tham mưu trưởng Rát-pho (Radford) giải thích cho họ rằng nếu không có sự can thiệp ồ ạt của không quân Mỹ thì sẽ không thể thắng được ở Điện Biên Phủ, nơi quyết định số phận của Đông Dương. Ngay lúc đó, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và đô đốc Chủ tịch Ủy ban các tham mưu trưởng tỏ ý rất tán thành một hành động như vậy và tướng Ê-li trở về Pari ngày 26 tháng 3 khá lạc quan về khả năng Mỹ có thể sẽ hành động trong trường hợp ít nhất là có sự can thiệp bằng không quân của Trung Quốc85 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng, sách đã dẫn, tr.11 (Operation Vautour-Chiến dịch Chim ưng), và nhất là xem P.E-ly, sách đã dẫn, tr.59-81 (Mission a Washington-Sứ mệnh ở Oa-sinh-tơn). Tướng E-ly chú thích rằng... đô đốc Rát-pho không tin Trung Quốc sẽ can thiệp quân sự trực tiếp vào Đông Dương (tr.63). Xem thêm J.Laniel, (Le drame Indochinois (Tấn thảm kịch Đông Dương), sách đã dẫn, tr.83-84).


Chính lúc đó, Bộ Ngoại giao Mỹ lại tung ra ý kiến về một hiệp ước an ninh tập thể ở Đông Nam châu Á. Theo ý của Mỹ, liên minh đó phải vừa làm xoa dịu dư luận (nhất là Quốc hội Mỹ) đang lo ngại một cuộc phiêu lưu quân sự có thể xảy ra ở Viễn Đông mà không được Anh và các đồng minh khác ủng hộ, vừa ngăn đe phe cộng sản, đặc biệt là Trung Quốc không được can thiệp trực tiếp vào Đông Dương86 (P.E-ly, sách đã dẫn, tr.66). Ngày 29 tháng 3, trong một diễn văn quan trọng đọc tại "Câu lạc bộ báo chí hải ngoại của Mỹ", Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đa-lét kịch liệt tố cáo Trung Quốc can thiệp vào Đông Dương:

"Một phần lớn những người lính đang chiến đấu dưới lá cờ của Hồ Chí Minh đã được Trung hoa cộng sản huấn luyện và trang bị (...) khoảng 2.000 cộng sản Trung Quốc đóng vai trò cố vấn quân sự và kỹ thuật. Họ giữ những vị trí then chốt trong các lực lượng của Hồ Chí Minh, nhất là ban tham mưu của Bộ tổng tư lệnh, ở cấp sư đoàn và trong các binh chủng chuyên môn: thông tin liên lạc, công binh, pháo binh và vận tải (...) Cộng sản Trung Quốc tránh sử dụng công khai quân đội của chính họ để tiến hành xâm lược trực tiếp Đông Dương. Tuy nhiên họ đã tăng cường đáng kể sự ủng hộ đối với cuộc xâm lược vào vùng này của thế giới. Thực tế, họ tạo mọi phương tiện dễ dàng cho cuộc xâm lược đó trừ sự xâm lược thuần túy (...)87 (P.E-ly, "Diễn văn của Đa-lét về các vấn đề Viễn Đông" USA (bản tin hàng ngày của các cơ quan thông tin Mỹ), Pari, 30-3-1954. Bản tiếng Anh trong Thời báo Niu Oóc, 30-3-1954, tr.4. Về điểm này, xem thêm H.Na-va, sách đã dẫn, tr.243 và J.Laniel, La drame Indochinois (Tấn thảm kích Đông Dương), sách đã dẫn, tr.84).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Sáu, 2019, 12:12:56 PM
Để đối phó với sư đe dọa của Liên Xô và Trung hoa nhân dân, đối với thế giới tự do như vậy, theo Đa-lét, chỉ có một giải pháp, đó là "hành động chung" ("united action").

Bài diễn văn này còn xác nhận sự lạc quan đã được tướng Ê-li bày tỏ ở Pari. Người ta nói đến các ý kiến của Phó tổng thống Ních-xơn về một chiến lược mới của Mỹ: "Thà trông vào sức mạnh cơ động ghê gớm sẽ được sử dụng kín đáo để trả đũa chống lại nguyên nhân chính của sự xâm lược, vào thời gian và địa điểm do chính chúng ta lựa chọn, còn hơn là để cộng sản đưa chúng ta vào chỗ chết bằng những cuộc chiến tranh nhỏ, nhen lên ở khắp mọi nơi trên thế giới"88 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Sài Gòn/bản ghi nhớ về Chiến lược mới của Mỹ và việc quốc tế hóa chiến tranh Đông Dương/5-4-1954, tr.2-3). Trong các giới chính phủ Pháp, người ta gợi lên việc sử dụng "sức mạnh hải quân và không quân và có lẽ cả sức mạnh nguyên tử (của Mỹ) chống lại Trung Quốc"89 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp (như trên), tr.3. Chúng tôi nhấn mạnh). Người ta cũng cho là tự nhiên khi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ, trong diễn văn ngày 22 đa ám chỉ đến những "nguy cơ nghiêm trọng" do "hành động chung" đem lại vì "người ta đương nhiên nghĩ đến việc sử dụng vũ khí nguyên tử"90 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Như trên. Chúng tôi nhấn mạnh. Cần nhận xét rằng tướng E-ly trong chương nói về nhiệm vụ của ông ta sang Oa-sinh-tơn (tháng 3-1954) không nói gì đến một khả năng như thế).


Điều đó hình như là kết quả lô-gích của cái lúc đó người ta gọi là "cách nhìn mới" về chiến lược của Mỹ, được hiểu chủ yếu là giảm lục quân Mỹ và đương nhiên ám chỉ một khả năng có nhiều hơn là việc sử dụng vũ khí nguyên tử91 (Về chính sách "cách nhìn mới", xem D.D.Ai-xen-hao, sách đã dẫn, tr.445-458, cũng như G.Guốc-tốp, sách đã dẫn, tr.53-55 ("Strategy, the Neww Look and Massive Retaliation"-"Chiến lược, cách nhìn mới và trả đũa ồ ạt"). Về phản ứng của Trung Quốc đối với chiến lược đó, xem chương VIII ở đoạn sau). Đứng trước một sự đe dọa như vậy, có lẽ Trung Quốc sẽ nhượng bộ. Vì Trung Quốc không chắc chắn được sự ủng hộ của Liên Xô. Đó có lẽ là con chủ bài lớn của Pháp tại hội nghị Giơ-ne-vơ92 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, bản ghi nhớ đã dẫn, ngày 5-4-1954, tr.5-6).


Nhưng, cùng lúc đó, những người lãnh đạo của Mỹ tiếp tục tự hỏi về khả năng sử dụng lực lượng Mỹ ở Đông Dương. Đã có nhiều sự dè dặt kể cả trong nội bộ lục quân, ví như của bản thân tướng Rít-uây (Ridg-way)93 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng, sách đã dẫn, tr.11. Tướng Rít-uây, Tổng tham mưu trưởng lục quân, là một trong những người chống lại "cách nhìn mới" về chiến lược của Mỹ (Xem Matthew Ridway H.H.Martin. Soldier: memoirs of M.B.Ridgway người lính chiến: Hồi ký của M.B.Rít-uây), New York Harper and Brothers, 1956, tr.274-278). Nhiều người sợ rằng một hành động của hải quân và không quân sẽ nhanh chóng lôi kéo theo một sự can thiệp trên bộ, và không chắc chắn được sự ủng hộ của đồng minh Anh, Mỹ sẽ phải dính líu vào một cuộc chiến tranh mới ở Đông Dương chống Trung Quốc theo kiểu chiến tranh Triều Tiên. Vậy, một cuộc chiến tranh như vậy đòi hỏi một số lớn sư đoàn, điều đó không phù hợp với "cách nhìn mới" về chiến lược. Theo họ, người ta không thể vừa giảm lục quân Mỹ, lại vừa tăng những cuộc can thiệp hoặc ngay cả tăng nguy cơ can thiệp ở hải ngoại.


Cuối cùng, ngày 3 tháng 4, những người đứng đầu Quốc hội từ chối không ủng hộ một cuộc hành động do Đa-lét và đô đốc Rít-uây đưa ra như vậy. Hay đúng hơn là họ đặt ra ba điều kiện: các đồng minh, nhất là Anh, phải đồng tình và tham gia, Pháp phải trao trả độc lập thật sự cho các quốc gia liên kết và Chính phủ Pari cam kết duy trì quân đội viễn chinh ở Đông Dương94 (D.D.Ai-xen-hao, sách đã dẫn, tr.347. Tổng thống Ai-xen-hao nhận xét rằng sự tham gia của các nước đồng minh lại càng cần thiết hơn, nếu người ta muốn tránh cho hành động đó khỏi mang tính chất đế quốc, khi "không có chứng có rõ rệt là Trung Hoa đỏ tham gia công khai vào cuộc xung đột Đông Dương" (Như trên, tr.340)).


Cùng ngày, Đa-lét tiếp Đại sứ Pháp Bô-nê (Bonnet) và yêu cầu ông ta chuyển về chính phủ một dự án về liên hiệp chống cộng ở Đông Nam châu Á, có thể bao gồm, ngoài Pháp và Mỹ, các nước Anh, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lơn, Thái Lan và Phi-lip-pin95 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Khả năng lập nhóm phòng thủ chống cộng ở Đông Nam Á"/5-4-1954, tr.1). Đề nghị này, phù hợp với ý kiến của Phủ cao ủy Pháp tại Đông Dương và Bộ phụ trách quan hệ với các quốc gia liên kết đưa ra cách đây hai năm, đã đặt Chính phủ Pari vào thế khó xử. Một mặt, không thể trả lời hoàn toàn tiêu cực đối với đề nghị của Mỹ trong lúc đang cần đến sự viện trợ quân sự ngày càng khẩn cấp của Mỹ. Nhưng, ngược lại, việc thành lập một liên minh quân sự ngay trước khi đi vào thương lượng để giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương rõ ràng là trái ngược với đường lối hành động của chính phủ Pháp96 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/như trên, tr.2). Trước mắt, Pháp yêu cầu Oa-sinh-tơn nói rõ hơn về ý muốn của Mỹ, nhất là về phạm vi của hiệp ước đã dự kiến, về việc thành lập một lực lượng quân sự chung, về tính hợp thời của sự tham gia của các quốc gia như Thái Lan, Phi-líp-pin, v.v... vào hiệp ước đó97 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/như trên, tr.4. Tuy nhiên, việc thương lượng vẫn tiếp tục giữa Mỹ và Anh, và khi được Bộ Ngoại giao Mỹ mời tham gia (cuối tháng 7-1954), Pháp đã đứng trước những dự án đi rất xa rồi (G. Sô-ven, sách đã dẫn, tr.91-93). Thái Lan nhận lời đề nghị của Mỹ từ 9-4-1954. Tài liệu riêng của G.Ph.Đa-lét, 5-4-1954. Tài liệu riêng của G.Ph.Đa-lét, bản thảo ngày 9-4-1954. R.Ph.Ran-đơn dẫn trong sách đã dẫn, tr.76).


Thực ra, từ ngày 4 tháng 4, tổng thống Ai-xen-hao chú ý đến phản ứng của Quốc hội Mỹ, đã quyết định không can thiệp98 (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng, sách đã dẫn, tr.11). Mặc dầu ngày 5 tháng 499 (Như trên, tr.38 (Điện của Đâu-glớt gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đa-lét, 5-4-1954). Yêu cầu mới này đưa ra sau khi Na-va chấp nhận ngày 4-4 kế hoạch "Chim ưng". Việc chấp nhận này được Chính phủ Pari tán thành cùng ngày hôm đó. Xem P.E-ly, sách đã dẫn, tr.85-86, J.La-ni-en, Tấn thảm kịch Đông Dương, sách đã dẫn, tr.85), Chính phủ Pháp lại yêu cầu nữa, Mỹ đã báo cho Pari trong ngày hôm đó rằng không thể thực hiện yêu cầu can thiệp ngoài khuôn khổ của "hành động chung" với các nước hữu quan của Khối thịnh vượng chung100 (Như trên, tr.39-40 (Điện ngày 5-4-1954 của G.Ph.Đa-lét gửi Đại sứ Đin-lơn). Bi-đôn bèn trả lời ngay rằng ông ta hiểu rất rõ lập trường của Mỹ, nhưng thời điểm thương lượng để thành lập liên minh đã qua rồi vì chính là 10 ngày sau đó đã quân đội số phận Điện Biên Phủ và của Đông Dương101 (Như trên, tr.10 (Điện của Đin-lơn gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đa-lét nagfy 5-4-1954. Về các yếu tố của cuộc thương lượng này mà ít lâu sau; giới báo chí đã biết, xem báo Bưu điện Oa-sinh-tơn, ngày 7-6-1954. "U.S. Twice Proposed Intervention in Indochina" (2 lần Mỹ đề nghị can thiệp vào Đông Dương) của A.F. and Carrier. Based Planes"; Le Monde ngày 1-7-1954 bài "Comment les Américains rininteverviennent pas en Indochine" (Mỹ không can thiệp vào Đông Dương như thế nào?", C.H.Roberts. "The Day we didn't go to war" (Ngày chúng tôi không ra trận), Reporter, 14-9-1954, tr.31-35. Cũng xem John Robinson Beal, John Foster Dulles, New York, 1957, tr.207-209. M.Guốc-tốp, sách đã dẫn, tr.94-98).


Tuy nhiên, đáp ứng lời mời thân hành đi Luân-đôn và Pari để giải thích chính sách Mỹ, Đa-lét đến Anh ngày 11 tháng 4. Trong hai ngày 12 và 13, ông ta hội đàm với Sơớc-sin và I-đơn về vấn đề Đông Dương. Các nhà lãnh đạo Anh, chủ trương không đưa ra một sáng kiến nào có thể gây trở ngại cho cuộc thương lượng tại Giơ-ne-vơ và làm cho năm cường quốc châu Á sắp gặp nhau ngày 28 tháng này tại Cô-lôm-bô (Colombo) có thể hiểu một cách không có lợi102 (Ấn Độ, Pa-ki-xtan, Xây-lan, Miến Điện và In-đô-nê-xi-a ba trong số các nước này là thành viên của khối thịnh vượng chung của Anh. Về cuộc họp này, xem chương IV ở đoạn sau), đã nhắc lại cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ rằng trước mắt, Chính phủ Anh loại trừ một hành động quân sự ở Đông Dương. Một thông cáo chung công bố ngày 13 cho biết, hai nước tuyên bố sẵn sàng xem xét nguyên tắc của "một sự phòng thủ chung trong khuôn khổ Hiến chương Liên hiệp quốc, để bảo đảm hòa bình, an ninh và tự do ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình dương". Thông cáo đó viết tiếp: "Chúng tôi tin tưởng vững chắc rằng triển vọng của việc thành lập một kế hoạch phòng thủ chung đồng nhất trong toàn bộ Đông Nam châu Á và Tây Thái Bình dương góp phần đem lại hòa bình trong danh dự ở Đông Dương"103 (Thông cáo chung công bố sau hội đàm Đa-lét-I-đơn Textes du jour (Documentation francaise), 15-4-1954. Về thái độ của Anh trong cuộc thương lượng tháng 4, xem Hồi ký I-đơn, tr.104-120). Tuy vậy, mấy ngày sau, I-đơn chỉ thị cho đại sứ Anh tại Oa-sinh-tơn, Ma-kinh (Makins) không tham dự cuộc họp đầu tiên bàn về vấn đề đó, do Đa-lét dự định triệu tập ngày 20 tháng 4.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Sáu, 2019, 12:15:02 PM
Từ ngày 13, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ đến Pari, ông xác nhận với La-ni-en và Bi-đôn lập trường của Mỹ đã đưa ra trước đây: Mỹ không can thiệp nhưng thương lượng về một hiệp ước tập thể. Đa-lét kết luận: "Có thể tạo điều kiện để trục cộng sản Mát-xcơ-va-Bắc Kinh phải thừa nhận rằng họ không thể mở rộng ảnh hưởng ra Đông Nam châu Á và Thái Bình dương. Chỉ có như vậy mới có thể thương lượng ở Giơ-ne-vơ về một giải pháp dẫn đến hòa bình thực sự". Rồi Bi-đôn khẳng định lại lập trường của Pháp. Chưa đến lúc nói đến việc quốc tế hóa cuộc xung đột mà trước hết cần khai thác khả năng do hội nghị Giơ-ne-vơ đem lại. Các cuộc nói chuyện bán chính thức giữa ông ta và người Nga ở Béc-lin cho ông ta nghĩ rằng họ thực sự lo ngại "chiến tranh mở rộng ở Đông Nam châu Á do Trung Quốc chủ động gây ra". Điều đó giải thích những sự nhân nhượng của Mô-lô-tốp. Dù còn rất mỏng manh, nhưng dấu hiệu đó cho phép hy vọng những kết quả cụ thể tại Giơ-ne-vơ. Tiếp theo các cuộc hội đàm Pháp-Mỹ, một thông cáo tương tự như thông cáo Luân-đôn đã được công bố.


Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ phải trở lại Pari ngày 21 tháng 4 để tham dự một cuộc họp của khối NATO. Một cuộc gặp mới ngày 22 tháng 4 giữa Bi-đôn, Đa-lét và I-đơn, trong đó, một lần nữa, vị bộ trưởng người Mỹ bênh vực dự án tổ chức phòng thủ tập thể ở Đông Nam châu Á. Cuối cùng, một cuộc gặp được tiến hành ngày 24 giữa ba người, ban đầu họp riêng, về sau có cố vấn tham dự. Tin tức từ Điện Biên Phủ là đáng lo ngại. Đa-lét hỏi riêng Bi-đôn: "Ông tính sao, nếu chúng tôi cho các ông hai quả bom nguyên tử?"104 (Georges Bidault, D'une résistance à l'autre (Từ cuộc kháng chiến này đến cuộc kháng chiến khác). Paris, Les Presses du Siècle, 1965, tr.198, được G.Sô-ven xác nhận trong sách đã dẫn, tr.46. Ngược lại I-đơn lại không nói điều gì tương tự. Tuy nhiên, ông viết trong Hồi ký "rằng hội nghị Giơ-ne-vơ" là cuộc hội nghị quốc tế đầu tiên, trong đó ông ý thức sâu sắc về sức mạnh răn đe của bom khinh khí" ("Hồi ký", sách đã dẫn, tr.140). Nhưng nhận xét đó liên quan đến Liên Xô hơn là Trung Quốc (như trên, tr.141). Gioóc-giơ Bon-nê trong "Le Quai d' Orsay sous trois Républiques" (Bộ Ngoại giao Pháp dưới ba chế độ Cộng hòa), Paris, Fayard, 1961, tr.465, nói đến đề nghị của Mỹ về "những cỗ pháo nguyên tử", Tổng thống Ai-xen-hao không ám chỉ gì việc đó. Nhưng trong cuộc nói chuyện năm 1978 (với tác giả), ông Su-man khẳng định một lần nữa đề nghị của Mỹ: "Tôi nói được hai thứ tiếng và ông Ph.Đa-lét kéo tôi ra một chỗ và nói với tôi hết sức thản nhiên: "Liệu điều đó có thể giúp ích gì cho nước Pháp hay không, nếu tôi không nói là trong lúc này, người ta cho Pháp mượn hai quả bom nguyên tử?". Tạp chí Historia, số 375, tháng 2-1978, tr.46. Chúng tôi không tìm thấy tài liệu gì trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp liên quan đến vấn đề này).


Thực ra, khó mà xác định rõ các nhà quân sự đã thực sự nghiên cứu đến mức nào và trong điều kiện nào sẽ đem ra sử dụng vũ khí nguyên tử. Về phần tướng Na-va, hai năm sau đó, ông ta khẳng định rằng chưa bao giờ tính đến việc dùng bom nguyên tử trong khu vực Điện Biên Phủ105 (H.Na-va, sách đã dẫn, tr.244, chú thích 2. Tuy vậy, việc sử dụng vũ khí nguyên tử ở ngay trên đất Đông Dương đã được Bộ tham mưu Mỹ tính đến đầy đủ (Tài liệu mật-Bộ Quốc phòng, sách đã dẫn, tr.46). Về vấn đề này, xem thêm sự phán xét của tướng E-ly, sách đã dẫn, tr.90) và không bao giờ ông ta được biết đến một dự án nào đó về việc Mỹ sẽ ném bom nguyên tử trên đất Trung Quốc106 (H.Na-va, sách đã dẫn, tr.245, chú thích 1). Hơn nữa, đề nghị của Đa-lét càng đáng ngạc nhiên hơn khi một tháng trước đó, Đa-lét đã bảo đảm dứt khoát rằng một chiến lược trả đũa ồ ạt là "không áp dụng" đối với Đông Dương107 (Tuyên bố ngày 19-3-1954. R.Ph.Ran-đơn, sách đã dẫn, tr.71). Bởi vậy, đâu là ý nghĩa thực sự của đề nghị đó, mà chính Bi-đôn cũng không nêu ra? Phải chăng đó là một quả bóng thăm dò các ý định của Pháp? Hay là một đề nghị thực sự để tránh cho tập đoàn cứ điểm khỏi thất thủ và ngăn cản một chính phủ quyết tâm thương lượng bằng mọi giá với cộng sản khỏi lên cầm quyền ở Pháp? Đó là bấy nhiêu câu hỏi mà lúc này thật rất khó giải đáp rõ ràng108 (Tuy nhiên chúng ta lưu ý đến một tài liệu quân sự Mỹ ngày 26-5 trong đó một lần nữa nêu khả năng dùng bom nguyên tử (Tài liệu mật  Bộ Quốc phòng, sách đã dẫn, tr.45-46. Xem chương V phần sau)).


Dù thế nào chăng nữa, cuộc gặp cuối cùng ngày 24 tháng 4 không đem lại kết quả tích cực nào. Người Anh vẫn bám lấy chủ trương không can thiệp109 (Xem diễn văn của Sơớc-sin tại Hạ nghị viện Anh ngày 27-4-1954. "Parliamentary Debates" (Tranh luận tại Quốc hội), Hạ nghị viện, Loại 5, tr.526, ngày 27-4-1954, tr.1455-1456), và vì lý do đó, cả người Mỹ cũng không hành động gì. Một cố gắng cuối cùng của I-đơn với Nội các Anh cũng không thay đổi gì hơn110 (G.Sô-ven, sách đã dẫn, tr.47. Xem thêm, A.I-đơn, Hồi ký, sđ, tr.117-120). Người ta đã không cứu được Điện Biên Phủ. Hai ngày sau, hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc. Ngày 7 tháng 5, những người sống sót tại Điện Biên Phủ đầu hàng.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 02 Tháng Sáu, 2019, 12:17:41 PM
Về phía đồng minh, hai tháng hoạt động ngoại giao ráo riết chỉ minh họa quá rõ khoảng cách giữa Pari, Luân-đôn và Oa-sinh-tơn về vấn đề Đông Dương.

Chính nước Mỹ cũng chia rẽ về vấn đề này. Những người có trách nhiệm như Phó tổng thống Ních-xơn, Thứ trưởng Ngoại giao Bơ-đen Xmít hay đô đốc Rát-pho tán thành can thiệp. Thậm chí Ních-xơn, trong một diễn văn đọc ngày 16 tháng 4, còn đề nghị gửi "lính Mỹ" đến Việt Nam kẻo quá chậm111 (D.D.Ai-xen-hao, sách đã dẫn, tr.353), và đô đốc Rát-pho cũng nói đến đổ bộ một lực lượng vào khu vực Hải Phòng-Hà Nội, dù cho có nguy cơ xảy ra chiến tranh với Trung Hoa đỏ112 (Ga-vin (lúc này phụ trách tác chiến của lục quân). We can get Out of Viet Nam (Chúng ta có thể ra khỏi Viet Nam), báo Saturday Evening Post, 24-2-1968, tr.24. K.C.Chen trích trong sách đã dẫn, tr.303, chúng tôi gạch dưới. Chính phủ Pháp khi đưa ra yêu cầu ngày 5 tháng 4 đã tính đến nguy cơ đó (Tài liệu mật Bộ Quốc phòng, sách đã dẫn, tr.39. Về phần minh, Đa-lét phải cố gắng thuyết phục I-đơn về việc Mỹ không hề có ý đồ xâm lược Trung Quốc. (D.D.Ai-xen-hao, sách đã dẫn, tr.355). Tổng thống Ai-xen-hao và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của ông ta ngược lại lo ngại những tác động chính trị mà một quyết định như vậy có thể gây ra chỉ mấy tháng sau khi đạt được cuộc đình chiến ở Bàn Môn Điếm một cách rất vất vả, và nhất là trong năm tuyển cử. Vì vậy, hai người này mong muốn các nước đồng minh ký một hiệp ước trước khi hội nghị Giơ-ne-vơ họp. Theo họ, đó là cách duy nhất để tránh cho nước Pháp khỏi đi vào thương lượng trên thế quá yếu, và cũng là cách duy nhất để giữ gìn tương lai trong trường hợp hội nghị thất bại, như ý kiến rất phổ biến ở Oa-sinh-tơn.


Nhưng vụ Ma-kinh (Makins) đã chứng tỏ rằng nước Anh không muốn ký hiệp ước trước Giơ-ne-vơ. Để làm giảm tình hình căng thẳng quốc tế, Anh thấy nên khai thác những khả năng của một cuộc thương lượng thực sự, và để cho cuộc thương lượng đó đi đến kết quả, hình như Anh cho rằng cần phải tránh va chạm trực tiếp với Mát-xcơ-va và Bắc Kinh bằng việc thành lập một liên minh như thế. Những nhân tố trong nhiều cái khác, giải thích đường lối của Sơớc-sin và I-đơn là: Ý muốn giữ gìn sự thống nhất trong Khối thịnh vượng chung và như vậy, quan tâm hết sức đến thái độ của Niu Đê-li đối với vấn đề Đông Dương, việc Bơ-vin (Bevan) ngoi lên địa vị cầm đầu Công đảng đang mở chiến dịch chống lại sự lệ thuộc quá đáng về chính sách của Anh đối với Mỹ, lòng mong muốn của Luân-đôn có "cách nhìn mới" về chiến lược mà trong trường hợp này có nghĩa là giảm đến mức tối thiểu khả năng can thiệp ở hải ngoại, nhất là ở Đông Nam Á, nơi đây quân đội Anh đã dính líu vào cuộc chiến đấu chống cộng sản ở Mã Lai, hoặc còn có nghĩa là phát hiện những khả năng thương mại với Liên Xô và Trung Quốc.


Bởi vậy, "hành động chung" là không thể được. Nghiêm trọng hơn nữa, sự việc đã ra công khai. Các cường quốc cộng sản biết rằng trước mắt họ, ở Giơ-ne-vơ, không có một mặt trận đồng minh đồng nhất. Thế của Pháp càng tỏ ra yếu hơn nữa.


Cuối cùng có hai vấn đề đối lập nhau giữa Pari và Oa-sinh-tơn. Vấn đề thứ nhất là mức độ độc lập của các nước Đông Dương mà người Mỹ cho rằng không đầy đủ113 (Về điểm này, M.Guốc-tốp, sách đã dẫn, tr.35-52 ("Washington and Paris: The Political Tangle") (Oa-sinh-tơn và Pari: Rối ren về chính trị). Tình cảm của Chính phủ Anh không khác mấy. Xem I-đơn, sách đã dẫn, tr.189. Kết luận "Các kế hoạch trao trả độc lập của người Pháp đến quá chậm và xem ra đã tuột khỏi tay họ, v.v..."). Sự thật là những nhượng bộ của Pháp cho các quốc gia liên kết ở Đông Dương nhiều khi được quyết định dưới sức ép duy nhất của tình hình. Chính thứ tự thời gian của các sự việc diễn ra chứng tỏ rằng các nước Đông Dương đã vượt qua những chặng đường lớn tiến tới độc lập trong các thời kỳ mà nỗi lo sợ về Trung Quốc là lớn nhất. "Hiệp định Ê-li-dê" (Elysée), trao đổi thư giữa Ô-ri-ôn và Bảo Đại114 (Văn bản trong "Notes et Etudes documentaires" số 1295, ngày 14-3-1950), thừa nhận nền thống nhất của Việt Nam chỉ được ký ngày 8 tháng 3 năm 1949, vào lúc cuộc tiến công của cộng sản đã đến trung tâm đất nước. Chỉ đến 6 tháng cuối năm 1949, cũng mới ký được các Hiệp định Pháp-Lào (19 tháng 7), Pháp-Khơ-me (ngày 8 tháng 11) thừa nhận nền "độc lập" của hai Vương quốc. Ở Việt Nam, chỉ sau khi Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố thành lập, và Việt Minh được sự giúp đỡ của Trung Quốc, đã có thể mở chiến dịch tháng 9 năm 1950, thì nước Pháp mới thật sự chấp nhận nguyên tắc thành lập một đội quân tự trị của Việt Nam (Hội nghị Đà Lạt tháng 9 năm 1950). Cũng như thế, chỉ sau đình chiến Triều Tiên và tính đến nguy cơ Trung Quốc quay về mặt trận Đông Dương, nước Pháp mới nhận ký ngày 8 tháng 10 năm 1953 với Lào một hiệp ước hữu nghị và liên kết thừa nhận nền độc lập hoàn toàn của vương quốc này cũng như hai hiệp định ký ngày 29 tháng 8 và 17 tháng 10 năm 1953, công nhận chủ quyền của Cam-pu-chia về cảnh sát và quân đội. Với Việt Nam, tiếp theo tuyên bố ngày 3 tháng 7, mãi đến mùa thua mới bắt đầu tiến hành các cuộc thương lượng nhằm "hoàn thành" độc lập của quốc gia này. Ngày 8 tháng 3 năm 1954 nối lại các cuộc thương lượng với hoàng thân Bửu Lộc kéo dài đến 21 tháng 4 mới kết thúc, chỉ mấy ngày trước khi họp hội nghị Giơ-ne-vơ bàn về Triều Tiên và Điện Biên Phủ thất thủ. Hai dự án hiệp định đã được soạn thảo, một thừa nhận Việt Nam hoàn toàn độc lập, còn dự án kia thì định ra các cơ sở chợ liên kết với Pháp trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp115 (Văn bản hai hiệp ước này đăng trong Textes du Jour số 67, ngày 15-6-1954). Tuy nhiên, khi hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, hai văn bản đó vẫn chưa được ký kết chủ yếu là do có những tin đồn gây nên lo ngại ở Việt Nam về khả năng chia cắt đất nước, một dự án đã được nghĩ đến từ nhiều tháng nay ít nhất là ở Luân-đôn và Pari116 (A.I-đơn, sách đã dẫn, tr.97-99, 103. Các tin đồn công khai trong "The times" ngày 19-4-1954. Về dự án của Pháp chia cắt Việt Nam, xem Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/bản ghi nhớ của Tùy viên quân sự Pháp tại Thái Lan gửi ông Tổng thư ký thường trực Bộ Quốc phòng về vấn đề "Vài nhận xét về các cuộc thương lượng sắp tới về hòa bình ở Đông Dương", số 76/AM/Băng Cốc/25-2-1954. Báo chí Mỹ truyền đi nhanh chóng những dự án tương tự ở Mỹ, The New York Herald Tribune, ngày 1-5-1954).


Vấn đề thứ hai, đối lập giữa Pháp và Mỹ có lẽ còn quan trọng hơn, đó là vấn đề hiệp ước thành lập Cộng đồng phòng thủ châu Âu (C.E.D). Trong khi Liên Xô phản đối kịch liệt hiệp ước này, thì Mỹ ngược lại, coi đó là một bộ phạn chủ chốt của nền phòng thủ Tây Âu. Vậy mà từ nhiều tháng qua, chính phủ Pháp bác bỏ việc phê chuẩn nó. Vì vậy ở Oa-sinh-tơn, người ta lo ngại rằng việc phê chuẩn hiệp ước C.E.D, thậm chí nếu được Bi-đôn bênh vực, thì cũng sẽ trở thành đối tượng mặc cả giữa Pari và Mát-xcơ-va, Pháp sẽ bác bỏ C.E.D đổi lấy một giải pháp danh dự ở Đông Dương. Tất cả mọi vấn đề đó, mọi sự bất đồng đó đều đem tranh luận công khai trên báo. Chắc chắn là điều đó góp phần làm suy yếu thế đàm phán của phương Tây tại hội nghị.


Trung Quốc, ngược lại, đề cập đến hội nghị trong một hoàn cảnh tương đối thuận lợi. Trong khi viện trợ ồ ạt cho Việt Minh, họ đã biết làm cho Việt Minh giành được thế mạnh mà Bộ tham mưu Pháp tìm kiếm từ đầu năm mà không được. Nhưng nhất là Chính phủ Bắc Kinh đã khéo léo giúp đỡ vừa đủ để tạo thuận lợi cho Việt Minh giành được thắng lợi, song không vì thế mà viện trợ vô hạn độ để Việt Minh có thể làm cho Mỹ hoặc đồng minh của Mỹ can thiệp. Bởi vì chắc chắn rằng khi chiến tranh Triều Tiên đã chấm dứt, Trung Quốc có thể có phương tiện cung cấp cho Việt Minh một sự viện trợ về vật chất to lớn hơn là sự viện trợ mà Trung Quốc thực sự đã dành cho họ.


Vậy thì, đâu là những chủ bài của Pháp trước chính phủ Bắc Kinh? Phải chăng là triển vọng công nhận ngoại giao mà Anh đã vạch đường chỉ lối? Hay là chấp nhận những trao đổi thương mại quan trọng đó sẽ nới lỏng bao vây kinh tế mà Mỹ và Liên hiệp quốc áp đặt năm 1951? Hoặc cho hưởng những đặc quyền ở Bắc Việt Nam, nhất là ở Hải Phòng như năm 1946 đã nhượng cho Trung Hoa quốc gia? Chắc chắn là Pháp đã có sẵn mấy con bài, nhưng tất cả đều khó chơi, vì phải tính đến sự "phủ quyết" của Mỹ. Tình hình tài chính của Pháp, và do đó đưa đến sự lệ thuộc của chính phủ Pari đối với Mỹ về phương diện kinh tế cũng như về quân sự, đã đặc biệt giảm đi quyền tự do hành động mà Pháp có được.


Cuối cùng, phải chăng sự suy yếu của Pháp là con chủ bài duy nhất có trọng lượng? Theo con mắt người Trung Quốc, 8 năm chiến tranh đã chứng minh quá rõ ràng, không thể coi sự có mặt của Pháp ở Đông Dương là mối đe dọa đối với Trung Quốc, dù sao, sự có mặt đó cũng không đáng ngại bằng sự có mặt của Mỹ. Xét cho cùng cái lô-gisch đó, việc duy trì một sự có mặt nào đó của Pháp, tức là một cuộc thương lượng có kết quả giữa Pháp và Việt Minh, có thể là biện pháp duy nhất để ngăn cản sự đe dọa của Mỹ. Đó có lẽ là "điểm mạnh" duy nhất của nước Pháp đối với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2019, 07:03:31 PM
Chương III
BỐN "NƯỚC LỚN" MỜI TRUNG QUỐC ĐẾN GIƠ-NE-VƠ


"Một cuộc hội nghị bao gồm cả Trung Quốc tự nó là một bước tiến trên con đường dẫn đến cải thiện quan hệ giữa các nước lớn và giảm tình hình căng thẳng. Các nước lớn có trách nhiệm đặc biệt bảo vệ hòa bình và an ninh các dân tộc" - Nhân dân nhật báo, 22-2-1954


Tiến tới một cuộc thương lượng quốc tế về Đông Dương


Trung Quốc lo sợ Mỹ can thiệp vào Đông Dương

Từ bốn năm nay, Trung Quốc không ngừng tố cáo Mỹ can thiệp vào cuộc xung đột ở Đông Dương, nhất là tố cáo viện trợ quân sự của Mỹ cho quân đội Liên hiệp Pháp từ 1950. Ngũ Tu Quyền, được Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc mời đến trình bày quan điểm của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đối với cuộc chiến tranh Triều Tiên đã tuyên bố: "Cuộc vũ trang xâm lược của Mỹ đối với Đài Loan không tách rời sự can thiệp của Mỹ vào công việc nội bộ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, việc Mỹ ủng hộ bọn xâm lược Pháp và chế độ bù nhìn Bảo Đại và việc chúng tiến công vũ trang chống lại nhân dân Việt Nam (...). Ủng hộ cuộc xâm lược đó và chế độ bù nhìn chống lại nhân dân Việt Nam, Chính phủ Mỹ không phải chỉ kéo dài cuộc xâm lược Việt Nam mà còn đe dọa biên giới nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Nhân dân Trung Quốc không thể không lo ngại sâu sắc về sự phát triển của mưu đồ xâm lược của Chính phủ Mỹ chống lại Việt Nam1 (Đại sự ký về các sự kiện chính liên quan đến vấn đề Đông Dương (Tân Hoa xã, Bắc Kinh, 23-28-4-1954), 26-4-1954, tr.17).


Từ năm 1950 đến năm 1953, tuyên truyền của Trung Quốc tiếp diễn không mệt mỏi theo cùng một giọng điệu như vậy. Mọi hành động và cử chỉ của Mỹ đã được ghi chép cẩn thận và khai thác. Không phải là không tùy tiện ít nhiều đối với sự thật lịch sử, ngay từ sau khi Nhật Bản thua trận, Trung Quốc kết tội Mỹ đã làm mọi việc có thể làm để giúp đỡ "thực dân pháp lấy lại" Đông Dương2 (Peoplé's' China, số 7 ngày 1-4-1954, tr.8 ), và lập Chính phủ "bù nhìn" của cựu hoàng Bảo Đại. Một cách có ý nghĩa, tập biên niên sử quan trọng về các sự kiện Đông Dương do tạp chí thế giới tri thức công bố trước khi hội nghị Giơ-ne-vơ họp, dành 85 đề mục trong tổng số 181, nói về các hoạt động của Mỹ ở bán đảo Đông Dương trong thời gian từ năm 1950 đến 19543 (Đại sự ký về các sự kiện chính liên quan đến vấn đề Đông Dương, sách đã dẫn. Một bản tổng kết của đại sự ký đó đã đăng trong tạp chí People's China số 13, ngày 1-7-1954 tr.34-37). Đặc biệt Trung Quốc nêu bật động cơ kinh tế và chiến lược xâm lược của Mỹ là muốn chiếm lấy các mỏ chính và sản phẩm nông nghiệp Việt Nam4 (Như trên, (báo People's China) các ngày 13, 15-2-1950, 13-3-1952), biến các cảng Hải Phòng và Sài Gòn thành những căn cứ của Mỹ hoặc bằng cách đặt chân ở đó, kiểm soát bán đảo Mã Lai5 (Như trên, các ngày 13-15-2-1950). Từ nhiều năm nay, Chính phủ Bắc Kinh không ngừng trình bày chính sách của Mỹ về Đông Dương như là một trong những yếu tố của kế hoạch xâm lăng Trung Quốc cũng như việc Mỹ chiếm đóng Triều Tiên và Đài Loan.


Sau hiệp định đình chiến Bàn Môn Điếm, việc Mỹ tăng cường viện trợ cho Pháp, xem ra không phải là không có lý do, có quy mô đáng lo ngại hơn nữa đối với Trung Quốc6 (People's China số 7, 1 tháng 4 năm 1954, tr.9). Như vậy Trung Quốc cho là có mối hiểm nguy lớn, khi thấy Mỹ, do phải cung cấp phần lớn chi phí của Pháp ở Viễn Đông đòi hỏi tham gia ngày càng nhiều trong việc chỉ huy các cuộc hành quân. Cũng không cần nói đến những khía cạnh thuần túy quân sự và quốc tế của vấn đề, có phải Chính phủ Oa-sinh-tơn quả thấy ngày càng khó để cho tiền của người đóng thuế ở Mỹ bị đem phung phí trong một cuộc chiến tranh mà theo một số người chỉ huy quân sự đang sa lầy ví nó không được tiến hành một cách đủ kiên quyết. Hiểu kỹ về tình hình dư luận ở Pháp, Trung Quốc biết rằng một bộ phận dư luận đó là cánh tả, tha thiết mong muốn mở cuộc thương lượng. Báo chí Trung Quốc trong những năm 1953-1954 không ngừng đăng lại những ý kiến đặc sắc nhất của bộ phận dư luận đó7 (Xem đoạn sau). Nhưng chính phủ Bắc Kinh cũng biết rằng có một khuynh hướng quan trọng trong cánh hữu mong muốn Mỹ thay thế quân đội Pháp ở Đông Dương8 (Người ta có thể ghi nhận trong báo chí Pháp có những đề mục cũng có ý nghĩa như "Lính Mỹ cần thay thế quân đội chúng ta ở Đông Dương" (Paris Presse, 19-5-1953). Bản tin kỷ yếu của bá tước Pari đưa ra giải pháp cho cuộc xung đột "Rút đi, để cho kẻ mạnh hơn, bảo đảm thay thế quân ta (báo Combat, ngày 1-6-1953)). Đó lại là một lý do phụ nữa cho mối lo sợ của Trung Quốc về việc "Mỹ hóa" cuộc xung đột.


(https://scontent.fhan3-2.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/62181421_2097265913704683_551600983377969152_n.jpg?_nc_cat=107&_nc_eui2=AeHb9MwiBXTbpLJVlxcNlfyxsH015Uo5hqzJBmkrY63FoB6T5Cl2xP7tAn4MT0gJfx3EV8j-xuGDRB1bdQ3OlbUUhx5w0P70w4n9RCKJ7d_buA&_nc_oc=AQlf3Sk6VXewHoovB5wfDVVz-3gt0m8hx0DnW9N55oD5msvujV3Yv8bwIW_yQ0_i_g5DimU1cKUVAdxhwRYdwjX8&_nc_ht=scontent.fhan3-2.fna&oh=151403b145d6754fab05ed9d5e26443e&oe=5D995069)


Thêm vào những đòi hỏi cấp thiết của chính sách kinh tế nội bộ, tình hình quốc tế cũng thúc đẩy Trung Quốc từ giữa năm 1953 hướng về một giải pháp thương lượng mà chỉ có như vậy mới tránh được sự can thiệp ồ ạt của Mỹ ở Đông Dương. Vì vậy, từ lúc đình chiến Triều Tiên, chính phủ Bắc Kinh bắt đầu nói rõ ràng, đối với Trung Quốc, sự kiện đó phải được coi là bước đầu tiên tiến tới một nền hòa bình chung ở châu Á. Ngay hôm sau Hiệp định đình chiến Bàn Môn Điếm, Nhân dân nhật báo viết rằng: "Không có cuộc xung đột quốc tế nào không thể giải quyết được bằng thương lượng9 (Nhân dân nhật báo, ngày 28-7-1953). Ngày 24-8 Chu Ân Lai tuyên bố công khai rằng có thể thảo luận "các vấn đề khác" sau khi giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên10 (Hồ sơ Bộ Ngoại giao Pháp châu Á-châu Đại dương, bản ghi nhớ về vấn đề "thương lượng hòa bình ở Đông Dương", 9-10-1953). Quách Mạt Nhược, Chủ tịch Ủy ban hòa bình của Trung Quốc, cũng viết rằng đình chiến tháng bảy là một "thí dụ điển hình về việc có thể giải quyết các cuộc tranh chấp quốc tế bằng thương lượng"11 (People's China, 16-8-1953). Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 8 ngày Nhật Bản thua trận, bài xã luận quan trọng của Nhân dân nhật báo một lần nữa tố cáo "Bọn xâm lược Mỹ chiếm đóng Đài Loan, một đảo của Trung Quốc, công khai can thiệp vào các cuộc chiến tranh giải phóng của các dân tộc Việt Nam và Phi-líp-pin và bằng đe dọa, mua chuộc cùng các phương tiện gian dối khác, tìm cách mở rộng sự xâm lược đối với các nước láng giềng của Trung Quốc ở Đông Nam châu Á". Nhưng đồng thời, bài xã luận viết tiếp: "Dư luận ở châu Á và phần còn lại của thế giới đòi hỏi rằng cuộc đình chiến Triều Tiên phải đưa đến hòa bình ở toàn châu Á (...)12 (Nhân dân nhật báo 3-9-1953). Ý muốn đi đến thương lượng về Đông Dương còn được đại diện của Pháp tại Bắc Kinh xác nhận13 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp châu Á-châu Đại dương, bản ghi nhớ về vấn đề "Thương lượng hòa bình ở Đông Dương" 7-10-1953. Mặc dù không có quan hệ ngoại giao bình thường giữa nước Pháp, và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, một đại diện của Pháp vẫn ở lại Bắc Kinh cho đến tháng 10 năm 1953).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2019, 07:09:37 PM
Bắt đầu từ tháng 9 năm 1953, thái độ của Trung Quốc được xác định rõ hơn nữa14 (Ví dụ: Tân Hoa xã, Bắc Kinh 2-9-1953. Đăng lại trong tạp chí Survey of China Mainland Press (Điểm báo chí ở lục địa Trung Quốc) số 643, 2-3-9-1953). Ngày 13, đài phát thanh Trung Quốc đã gợi ý mở các cuộc đàm phán, bằng cách khẳng định rằng "lực lượng đã buộc đồng minh ký Hiệp định đình chiến về Triều Tiên cũng có thể buộc bọn đế quốc hạ vũ khí ở Việt Nam"15 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, bản ghi nhớ 6-10-1953 đã dẫn). Ngày 1 tháng 10, nhân dịp quốc khánh, chính phủ Trung Quốc nhắc lại một trong những nghị quyết của Đại hội hòa bình ở Bắc Kinh họp tháng 10 năm 1952 và đã thêm vào những khẩu hiệu quen thuộc về vấn đề Đông Dương một câu nhấn mạnh đến khả năng thương lượng hòa bình16 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, bản ghi nhớ 9-10-1953 đã dẫn).


Tuy nhiên, luận diệu của Trung Quốc, cho tới lúc đó, còn khá dè dặt trong chừng mực Việt Minh, về phần mình, hình như còn có thái độ rất dè dặt đối với phương hướng mới đã phát triển ở Bắc Kinh (và nhất là Mát-xcơ-va). Tuyên truyền của Việt Minh tiếp tục nhấn mạnh cần phải kháng chiến trường kỳ, nhấn mạnh những nguy cơ của "hòa bình giả hiệu" và "độc lập giả hiệu".


Trong lời kêu gọi ngày 2 tháng 9 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh bác bỏ mọi tư tưởng thỏa hiệp và khẳng định hòa bình chỉ có thể là kết quả của "thắng lợi cuối cùng". Bề ngoài, người lãnh đạo Việt Minh, trông chờ rất nhiều ở mùa khô tới việc Trung Quốc cung cấp nhiều vũ khí hiện đại17 (Như trên).


Chính phủ Bắc Kinh, mà những lợi ích dân tộc và quốc tế khác với lợi ích của Việt Minh ở một số điểm càng tỏ ra thận trọng và các cuộc thương lương có thể diễn ra. Đa số các bài xã luận trong mùa hè 1953 cũng chỉ có thể diễn ra. Đa số các bài xã luận trong mùa hè 1953 cũng chỉ có thể đả kích mạnh mẽ chính sách của Mỹ ở Viễn Đông và nhấn mạnh đến khả năng giải quyết mọi vấn đề bằng thương lượng. Nhưng vấn đề cụ thể về Việt Nam thì được đề cập một cách thưa thớt như trước đây, và nay thường chỉ nói đến khi tố cáo hành động của Mỹ ở bán đảo Đông Dương18 (Như vậy, trong số các bài xã luận đã kể ra ở tên, hiếm có những bài nói về chiến tranh Đông Dương. Xã luận Nhân dân nhật báo ra ngày 14-8-1953 (cách đúng đắn để giảm căng thẳng quốc tế) không nói gì đến cuộc chiến tranh Đông Dương. Bài xã luận ngày 3-9-1953 cũng vậy (Một tương lai tươi sáng cho nhân dân các nước Á Phi), hay bài của Quách Mạt Nhược trong People's China ngày 16-8-1953 cũng vậy).


Tuy nhiên, trong khi mở rộng chiến dịch ủng hộ thương lượng vào tháng 9 năm 1953, Trung Quốc, từ tháng 10 năm 1953 đã nói rõ lập trường của mình. Hưởng ứng công hàm ngày 28 tháng 919 (Xem đoạn sau), của Liên Xô, ngày 8 tháng 10 Thủ tướng Chu Ân Lai, sau khi nhắc lại sự cần thiết phải khôi phục quyền của Trung Quốc ở Liên hiệp quốc, đã nhấn mạnh ý muốn đóng góp vào việc "củng cố hòa bình ở Viễn Đông và trên thế giới"20 (Tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, ngày 8-10-1953). Hôm sau tờ Nhân dân nhật báo đã nhắc lại luận điệu đó và ủng hộ ý kiến về một cuộc hội nghị của 5 nước lớn để giải quyết vấn đề còn tồn tại ở châu Á cũng như phần còn lại của thế giới21 (Nhân dân nhật báo, 9-10-1953, Cũng xem Thế giới trí thức, ngày 18-10-1953, số 20, tr.3).


Vài ngày sau (27 tháng 10), Tổng thống La-ni-en tuyên bố sẵn sàng nắm mọi thời cơ đi đến hòa bình ở Đông Dương và quốc hội Pháp biểu quyết ủng hộ chính phủ trong việc đi tìm một giải pháp thương lượng22 (Công báo-Các cuộc thảo luận tại Quốc hội 28-10-1953, tr.4066. Tổng thống La-ni-en đã tuyên bố về dịp đó: "Một cuộc thương lương với Trung Quốc để làm dễ dàng việc giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam, đối với con mắt của chúng ta, không phải như là một liên minh với quỷ sứ"). Cuối cùng, tại hội nghị hòa bình họp ở Viên (Vienne) từ 23 đến 28 tháng 11, đại biểu Việt Minh, Lê Đình Thám, Chủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình của Việt Nam lần đầu tiên chấp nhận khả năng thương lượng về Việt Nam23 (Tân hoa xã, Bắc Kinh 26-11-1953; Nhân dân nhật báo 27-11-1953). Quách Mạt Nhược, đại biểu Trung Quốc, đã lập tức ủng hộ tham luận của Lê Đình Thám. Trong lúc đó Chủ tịch Hồ Chí Minh xác nhận với báo Thụy Điển Ét-xprêt-xen, ý muốn thương lượng24 (Expressen, 29-11-1953. Bản dịch trong AB Cô-lơ, sách đã dẫn, tr.148-149). Từ ngày 1 tháng 12, Nhân dân nhật báo đăng lại lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kèm theo một bài xã luận ủng hộ hoàn toàn lập trường đó25 (Nhân dân báo, ngày 1-12-1953). Về thái độ của Trung Quốc trong cuộc khủng hoảng này, đây là lúc quyết định. Ba tuần sau, chính phủ Bắc Kinh rầm rộ tổ chức ở Thủ đô một ngày đoàn kết với nhân dân Việt Nam, nhân dịp đó, Lê Đình Thám và Lưu Ninh Nhất, Phó chủ tịch Tổng công hội Trung Quốc, đã nhắc lại những luận điểm26 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-12-1953), nói trên, và ngày hôm sau được tất cả các báo Trung Quốc tường thuật rộng rãi27 (Như trên, 20-12-1953).


Diễn biến của các sự kiện dường như chứng tỏ rõ ràng việc Việt Minh quân đội chấp nhận nguyên tắc thương lượng có lẽ là kết quả gây sức ép của phe xã hội chủ nghĩa, bao gồm cả Trung Quốc. Trong sức ép chung này, phần Liên Xô có lẽ chiếm ưu thế. Nhưng cần phải nhấn mạnh rằng việc sắp mở ra các cuộc thương lượng về Đông Dương đáp ứng hoàn toàn lợi ích dân tộc của Trung Quốc: tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảm căng thẳng ở Viễn Đông, cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế của Trung Quốc; loại trừ được, nếu cuộc thương lượng đi đến kết quả, nguy cơ can thiệp ồ ạt của Mỹ vào cuộc xung đột; tạo khả năng cho chính phủ Bắc Kinh chấm dứt được tình trạng phân biệt đối xử ở Liên hiệp quốc mà Trung Quốc là nạn nhân; làm nổi bật qui chế cường quốc của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên sân khấu quốc tế; cuối cùng tạo cơ hội có được cuộc thương lượng về thương mại với phương Tây. Đó là bấy nhiêu lý do không thể bác bỏ được đáng để Trung Quốc đấu tranh cho một cuộc hội nghị quốc tế rộng rãi bàn về các vấn đề lớn trên thế giới28 (Người ta sẽ nhận xét rằng nếu đạt được hết thảy mục tiêu đó thì sẽ có hậu quả là đưa Trung Quốc ra khỏi ảnh hưởng của Liên Xô. Phải chăng đó là mục đích mà Trung Quốc tìm kiếm? Không có chứng cớ nào để khẳng định điều đó nhưng giả thuyết không phải là không có được).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2019, 07:15:18 PM
Những cuộc thương lượng giữa những nước phương Tây và mối quan hệ của họ với Liên Xô


Hiệp định đình chiến Bàn Môn Điếm vừa mới ký kết (27-7-1953), trong công hàm ngày 4-8-195329 (Văn bản đăng trong Thời sự chính sách đối ngoại, tập 6, số 5, tháng 9-1953, tr.700-702. Về các cuộc thương lượng này, cũng xem A.E-đen, Hồi ký, sách đã dẫn, tr.60 và tiếp theo), lần đầu tiên Liên Xô gợi ý triệu tập hội nghị năm nước lớn, có Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tham dự, có nhiệm vụ nghiên cứu các biện pháp nhằm làm giảm tình hình căng thẳng ở Viễn Đông. Đề nghị này làm cho các nước phương Tây lúng túng.


Ba cường quốc phương Tây đến lúc đó bao giờ cũng tự hạn chế trong việc cùng nhau yêu cầu triệu tập hội nghị bốn nước lớn để giải quyết các vấn đề châu Âu (chủ yếu là vấn đề Đức và vấn đề Áo), đặc biệt đó là điều được gợi ý trong công hàm của các nước phương Tây ngày 15 tháng 7 vừa qua30 (Như trên, tr.698-699). Nhưng đằng sau sự thống nhất bề ngoài đó của phương Tây, những sự bất đồng quan trọng đã xuất hiện giữa Mỹ, Anh và Pháp. Mỹ có thái độ "cực kỳ dè dặt"31 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, châu Á-châu Đại dương, bản ghi nhớ về vấn đề "Hội nghị 5 nước lớn", 20-1-1954) nếu không nói là hoàn toàn chống đối mọi ý nghĩ thương lượng khi nó có nghĩa, ngay cả gián tiếp, thừa nhận trên thực tế quy chế cường quốc của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Về phần mình, nước Anh đã công nhận chế độ Bắc Kinh từ 1950, tán thành Trung Quốc gia nhập Liên hiệp quốc và chỉ chấp nhận một cách rất dè dặt sự ngoan cố của Mỹ32 (Trong một bị vong lục trao cho Bộ Ngoại giao Pháp mùa thu năm 1953, người Anh tuyên bố họ không đẩy Mỹ phải từ bỏ Đài Loan (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, châu Á-châu Đại dương, bản ghi nhớ về vấn đề "Công nhận Trung hoa cộng sản", 21-11-1953) còn nước Pháp thì đang phân vân. Được Mỹ cung cấp viện trợ cho các cuộc hành quân ở Đông Dương, Pháp không thể có một thái độ khác biệt với Chính phủ Oa-sinh-tơn. Nhưng đồng thời ở Pari, người ta hoàn toàn nhận thức được sự cần thiết phải thương lượng với Trung Quốc. Một bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao nhắc lại rằng hiện nay, chính sách tự chế "là không thể chấp nhận và không thể thực hiện được (...). Rõ ràng không thể có một giải pháp vững bền cho các cuộc xung đột ở châu Á nếu không có Trung Quốc tham gia"33 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Công nhận Trung Hoa cộng sản", 21-22-1953).


Ngoài ra, các nước phương Tây, luôn luôn khẳng định rằng các cuộc hành quân ở Triều Tiên và Đông Dương là cùng một cuộc chiến đấu, và từ nhiều tháng nay, không ngừng nhắc lại một cách lô-gích rằng việc tìm kiếm hòa bình ở hai bán đảo này cũng không thể tách rời nhau. Ngày 16-4-1953, Tổng thống Ai-xen-hao đã tuyên bố gắn việc lập lại hòa bình ở Triều Tiên với việc chấm dứt các cuộc tiến công trực tiếp và gián tiếp ở Đông Nam châu Á. Trong cuộc hội đàm ba bên ở Oa-sinh-tơn từ 10 đến 14 tháng 7, Thủ tướng Bi-đôn luôn luôn nêu lên trước nguyên tắc "hòa bình không thể phân chia" ở Viễn Đông34 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Thương lượng hòa bình ở Đông Dương", 6-10-1953). Trong phiên họp ngày 13 tháng 7, ông ta đã tuyên bố với các đồng nghiệp Mỹ và Anh như sau:

"Hòa bình sắp lập lại ở Triều Tiên, cũng cần làm sao cho Đông Dương có thể sớm đến giai đoạn hòa bình như thế. Bằng mọi giá, cần phải tránh không để cho hiệp định về Triều Tiên có tính cách riêng rẽ, nếu không Chính phủ Pháp sẽ lâm vào tình thế nguy ngập là hòa bình đã được lập lại ở Triều Tiên mà chiến tranh còn tiếp tục ở Đông Dương. Tất nhiên, gắn hai vấn đề đó với nhau sẽ gặp nhiều khó khăn, nhưng không phải vì thế mà bỏ không làm. Mối quan tâm lớn nhất của phương Tây là không để cho cộng sản có thể vừa thỏa mãn lòng mong muốn chấm dứt một sự nghiệp đã thất bại trông thấy lại vừa tiếp tục duy trì một tai họa công khai ở Đông Nam châu Á".


Cuối cùng ít lâu sau cuộc đình chiến Bàn Môn Điếm có hiệu lực, bản tuyên bố ngày 7 tháng 8 của Bộ chỉ huy Liên hiệp quốc nhấn mạnh vài ngày sau do ý muốn của "16 nước" là không muốn thấy hiệp định đó làm hại đến việc lập lại hay duy trì hòa bình ở một phần khác của châu Á"35 ("Thời sự chính sách đối ngoại", tháng 8 năm 1954, tr.499).


Hơn nữa, nếu Pháp gạt bỏ ý kiến về một cuộc thương lượng trực tiếp với Bắc Kinh, thì ngược lại Pháp cho rằng "sẽ có nhiều cơ hội tốt nhất đi đến một giải pháp thương lượng về vấn đề Đông Dương nếu nó được đem ra bàn bạc trong khuôn khổ một cuộc hội nghị nhiều bên" trong đó vấn đề Đông Dương chỉ còn là một vấn đề trong các vấn đề khác và Mỹ, Anh sẽ đứng về phía Pháp. Vả lại, rõ ràng là không thể nghĩ rằng Trung hoa nhân dân lại không có mặt ở một cuộc họp như thế nếu người ta mong muốn giải quyết có hiệu quả cuộc xung đột Đông Dương.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 06 Tháng Sáu, 2019, 07:17:43 PM
Như vậy đề nghị ngày 4 tháng 8 của Liên Xô đã nêu lên những khó khăn về thực chất trong nội bộ phương Tây. Tuy nhiên, dưới sức ép của Mỹ, phương Tây đã trả lời trong một công hàm ngày 2 tháng 936 (Văn bản trong "Thời sự chính sách đối ngoại" tập 7, số 1, tháng 1 năm 1954, tr.81-82. (Văn bản các công hàm của Pháp, Mỹ và Anh đều giống nhau) rằng họ mong muốn ưu tiên họp hội nghị bốn nước lớn, và hội nghị đó được giới hạn trong các vấn đề Đức và Áo, có thể được tổ chức ở Lu-a-ga-nô ngày 15 tháng 10. Nhưng không nói gì đến sự tham gia của Trung hoa nhân dân và cả vấn đề Triều Tiên là vấn đề phải được đề cập trong khuôn khổ Hội nghị chính trị theo điều khoản IV của hiệp định đình chiến37 (Điều khoản IV ghi như sau: "Nhằm giải quyết hòa bình vấn đề Triều Tiên, các bộ chỉ huy hai bên sẽ khuyến cáo các chính phủ các nước và hai bên hữu quan rằng trong thời hạn 3 tháng sau khi đình chiến được ký kết và có hiệu lực, đại biểu do 2 bên chỉ định sẽ họp hội nghị chính trị tổ chức ở bình diện cao hơn nhằm giải quyết bằng thương lượng vấn đề rút tất cả quân đội nước ngoài ra khỏi Triều Tiên, vấn đề giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên v.v.. (Văn kiện về đình chiến Triều Tiên-Notice et Documentaries-La Documentation francaise, Paris, số 1791, 6-10-1953, tr.18. Thực ra thời hạn ba tháng nêu ra trong điều khoản IV sẽ không được tôn trọng (mặc dù sự khẩn khoản của các nước xã hội chủ nghĩa là các nước mong muốn quân đội Mỹ rút nhanh chóng ra khỏi bán đảo). Thực vậy ngày 28 tháng 8, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua một nghị quyết yêu cầu các nước hữu quan chỉ định các thành viên đại diện Liên hiệp quốc tại cuộc hội nghị nói trên và giao cho Mỹ, nhân danh các nước đó, sẽ tiếp xúc với các bên Trung-Triều để triệu tập cuộc họp. Cuối tháng 10, Mỹ cử Đại sứ A-tơ Đin thảo luận vấn đề này tại Bàn Môn Điếm. Sau sáu tuần thương lượng không đi đến đâu, đại biểu Mỹ cắt đứt các cuộc tiếp xúc ngày 12 tháng 2, mấy ngày sau cuộc họp ở Béc-muýt (xem đoạn sau)). Tuy vậy Liên Xô đã nhấn mạnh lại đề nghị của mình. Đi xa hơn một công hàm mới của Liên Xô ngày 28 tháng 938 (Văn bản trong phần Phụ lục bản tin hàng ngày số 2587, 3-10-1953. Thời sự chính sách đối ngoại, tập 7, số 1, tháng 1 năm 1954, tr.83-87) đề nghị họp hội nghị năm nước lớn để làm giảm tình hình căng thẳng trên thế giới và gợi ý một chương trình nghị sự bao gồm những vấn đề rất khác nhau như các vấn đề Triều Tiên, Trung Quốc, Đông Nam châu Á, khối Đại Tây dương, quân bị, căn cứ quân sự và tuyên truyền chiến tranh. Họp ở Luân-đôn từ 16 đến 18 tháng 10, ba cường quốc một lần nữa quyết định giữ vững dự án ban đầu là họp bốn nước lớn ở Lu-a-ga-nô, cho rằng mọi giải pháp khác đều là không hợp thời39 (Văn bản công hàm ngày 18 tháng 10 trong Thời sự chính sách đối ngoại, tập 7, số 1, tháng 1 năm 1954, tr.88-90. Văn bản công hàm của Anh, Pháp và Mỹ đều giống nhau. Văn bản thông cáo chính thức của Hội nghị Luân-đôn (18 tháng 10) trong bản tin hằng ngày, số 2601, 20-10-1953). Hai công hàm khác (một của Liên Xô ngày 3 tháng 11 và một của phương Tây, ngày 6 tháng 11 không đem lại yếu tố gì mới40 (Văn bản hai công hàm trong Thời sự chính sách đối ngoại tập 7, số 1, tháng 1 năm 1954, tr.90-96 và 103-104).


Cuối cùng, ngày 26 tháng 11, về nguyên tắc Liên Xô tán thành hội nghị bốn nước lớn có thể họp ở Béc-lin và tại hội nghị này, Chính phủ Mát-xcơ-va dành quyền đặt vấn đề triệu tập một hội nghị năm nước lớn41 (Văn bản công hàm ngày 26 tháng 11 của Liên Xô trong Thời sự chính sách đối ngoại, tập 7, số 1, tháng 1 năm 1954, tr.105-108). Họp ở Béc-muýt (Bermudes) từ 4 đến 7 tháng 12, ba nước phương Tây cuối cùng đã chấp nhận gợi ý của Liên Xô, tuy vẫn giữ ý kiến của phương Tây vẫn là "họp hội nghị chính trị như Hiệp định đình chiến Triều Tiên đã dự liệu". Thông cáo cuối cùng của cuộc hội nghị Béc-muýt nói thêm rằng "đó là cách tốt nhất đi đến một giải pháp chính trị cho vấn đề Triều Tiên và có những bước tiến bộ nhằm lập lại những điều kiện bình thường hơn ở Viễn Đông và Đông Nam châu Á42 (Thông cáo cuối cùng của Hội nghị Bermudes đăng trong Bản tin hàng ngày, số 2643, 9-12-1953. Văn bản công hàm ngày 8-12 của phương Tây đăng trong Thời sự chính sách đối ngoại, tập 7, số 1, tháng 1 năm 1954, tr.109 (văn bản các công hàm Pháp, Mỹ và Anh như nhau)-Cũng xem V.Ô-ri-ôn, sách đã dẫn, tr.558. Về lập trường của Mỹ đối với Trung hoa nhân dân tại Hội nghị Béc-muýt xem D.D.Ai-xen-hao, sách đã dẫn, tr.248-249). Ngày 26-12-1953, Liên Xô nói là đã nhận được công hàm ngày 8 tháng 1 của các nước phương Tây, tỏ ý vui mừng về sự thỏa thuận họp hội nghị bốn nước lớn ở Béc-lin và về việc phương Tây đồng ý sẽ thảo luận về khả năng họp hội nghị năm nước lớn43 (Văn bản công hàm ngày 26 tháng 12 của Liên Xô đăng trong Thời sự chính sách đối ngoại tập 7, số 1, tháng 1 năm 1954, tr.122). Chính phủ Mát-xcơ-va đề nghị ngày 25 tháng 1 sẽ khai mạc hội nghị Béc-lin và điều này cũng đã được chấp nhận.


Hiển nhiên rằng, việc Liên Xô, ngày 26 tháng 12 nhận họp bốn nước lớn chỉ là một nhượng bộ sách lược, và vấn đề Trung Quốc tham dự hội nghị năm nước sẽ trở thành trung tâm của hội nghị Béc-lin sắp tới.


Cũng trong thời gian đó, chính phủ Bắc Kinh có nhiều tuyên bố về khả năng họp năm nước lớn. Ngày 4-1-1954, bà Tống Khánh Linh Phó chủ tịch Hội đồng Chính phủ nhân dân Trung ương đã liệt kê tại cuộc Hội nghị đó: Trung Quốc gia nhập Liên hiệp quốc, cấm bom nguyên tử và bom khinh khí, thống nhất Triều Tiên, ngăn ngừa phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Đức và Nhật44 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, châu Á-châu Đại dương, bản ghi nhớ về vấn đề "Xác định thái độ của Pháp về vấn đề Triều Tiên", 14-1-1954). Một chương trình nghị sự như thế có nghĩa rõ rệt là Trung hoa nhân dân phải được chấp nhận tham dự hội nghị như một trong năm nước lớn và do đó, có thể thảo luận với bốn đoàn đại biểu khác về những vấn đề quốc tế lớn nhấy không phải chỉ là những vấn đề Viễn Đông: Nước Trung Hoa muốn trở thành không những là cường quốc châu Á mà cũng là cường quốc thế giới.


Cuối cùng, ngày 9 tháng 1, bản thân Chu Ân Lai đã nói thẳng ra lập trường của Trung Quốc là đòi nối lại các cuộc thương lượng về vấn đề Triều Tiên, các đoàn đại biểu Trung-Triều được tham gia các cuộc thảo luận tại Liên hiệp quốc nếu tổ chức này quyết định xem xét vấn đề Triều Tiên và cuối cùng, đòi tham dự hội nghị năm nước lớn, kết thúc ý cuối cùng, Chu khẳng định: "Chúng tôi cho rằng hội nghị này sẽ phục vụ lợi ích của việc làm dịu tình hình trên thế giới, bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế, nếu cuộc hội nghị sắp tới của bốn bộ trưởng ngoại giao tại Béc-lin sẽ mở đường dẫn tới Hội nghị năm nước lớn với sự tham dự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa nhằm giải quyết các vấn đề quốc tế cấp bách nhất"45 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, ngày 9-1-1954).


Cả hai phía, đều đặt ra những đòi hỏi của mình. Cuộc thương lượng ắt là phải khó khăn.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Bảy, 2019, 10:36:43 AM
Hội nghị Béc-lin


Sự thỏa thuận giữa "bốn nước lớn" về quyền đại diện của Trung Quốc.

Như đã dự kiến, cuộc hội nghị khai mạc ngày 25 tháng 1 tại Béc-lin trong ngôi nhà trước đây của Hội đồng giám đồng minh, dưới quyền chủ tọa của Đa-lét46 (Về toàn bộ cuộc thương lượng, có thể tham khảo bài "Hội nghị Béc-lin" trong Thời sự chính sách đối ngoại Brúc-xen, tập 7, số 2, tháng 3-1954, tr.182-183. Cũng xem A.E-đen, sách đã dẫn, tr.69-85 (vấn đề châu Âu) và 98-100 (Trung Quốc)).


Hai ngày đầu (25 và 26 tháng 1), dành cho các bản tuyên bố sơ bộ của bốn bộ tưởng ngoại giao47 (Về văn bản các tuyên bố và đề nghị, xem hồ sơ "Văn kiện hội nghị Béc-lin" 25 tháng 1-18-2-1954 của Bộ Ngoại giao Pháp Paris, La Documentation francaise, 99 trang). Lập trường của hai phe như người ta có thể trông đợi, căn bản khác nhau. Trong lúc Bi-đôn ghi tên phát biểu đầu tiên đi thẳng vào vấn đề châu Á (không nêu rõ về vấn đề Đông Dương), tuyên bố phản đối mọi cuộc hội nghị gắn về vấn đề châu Âu với vấn đề Viễn Đông48 (Chúng tôi không thấy tại sao số phận nước Áo lại tùy thuộc vào vấn đề Triều Tiên, tại sao phải đặt mối liên hệ giữa việc thống nhất nước Đức với việc thay đổi quy chế quốc tế của Trung Quốc-Văn kiện hội nghị Béc-lin, sách đã dẫn, tr.5). I-đơn về phần mình, thận trọng tránh đả động đến vấn đề châu Á, rồi Mô-lô-tốp, người thứ ba phát biểu, trình bày dài dòng mọi lý lẽ hình như hướng về việc triệu tập hội nghị năm nước lớn có sự tham gia của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Đối với ông ta, một cuộc hội nghị như vậy là cần thiết không những để giải quyết vấn đề châu Á, mà cũng là nhằm chấm dứt chạy đua vũ trang" và phát triển trao đổi buôn bán giữa các nước. "Lập luận đó cuối cùng đưa Bộ trưởng Bộ ngoại giao Liên Xô đến một chương trình nghị sự ba điểm mà điểm một sẽ là những biện pháp nhằm giảm căng thẳng trong quan hệ quốc tế và triệu tập Hội nghị cấp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao giữa Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa"49 (Văn bản tham luận của Mô-lô-tốp đăng trong Văn kiện Hội nghị Béc-lin, sách đã dẫn, tr.8-13. Hai điểm tiếp theo của chương trình nghị sự là dành cho: "2/ vấn đề Đức và vấn đề  bảo vệ an ninh châu Âu. 3/ Hòa ước nước Áo". Cùng ngày, Liên Xô đưa ra đề nghị như sau: vì cần thiết  bảo vệ hòa bình thế giới và an ninh của các dân tộc, loại trừ mối đe dọa hòa bình thế giới và an ninh của các dân tộc, loại trừ mối đe dọa của một cuộc chiến tranh mới. Cũng như tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc phát triển các mối quan hệ chính trị và kinh tế giữa các nước, phù hợp với hiến chương Liên hiệp quốc, việc triệu tập vào tháng 5, tháng 6 năm 1954 một cuộc hội nghị các bộ trưởng ngoại giao Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa để xem xét các biện pháp khẩn cấp nhằm làm giảm căng thẳng trong quan hệ quốc tế được xem là thích đáng). Về điểm này, Đa-lét phản ứng lại bằng cách công kích kịch liệt Trung Quốc, "cái đuôi của chủ nghĩa cộng sản Liên Xô" và chỉ ra hết sức rõ ràng và không ai có thể hiểu lầm điều mà Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô đã biết rõ là "Mỹ sẽ không nhận họp một hội nghị năm cường quốc với bọn xâm lược cộng sản Trung Quốc để giải quyết các vấn đề chung của hòa bình thế giới"50 (Như trên, tr.15). Tuy nhiên, đại biểu Mỹ nhận xem xét chương trình nghị sự do Liên Xô đề nghị.


Vấn đề họp hội nghị năm nước được thảo luận bắt đầu từ 27 tháng 1 nhưng ngay ngày hôm sau, một cuộc thương lượng công khai như vậy đã tỏ ra không bổ ích. Mỹ không muốn nhượng bộ gì về vấn đề Trung Quốc: Đa-lét nói "Chu Ân Lai là ai mà việc để ông ta ngồi họp với chúng ta khiến cho mọi vấn đề lâu nay không thể giải quyết được lại có thể giải quyết được. Đó là người đứng đầu một chế độ nắm quyền hành thực tế ở Trung Hoa lục địa sau khi đã cướp quyền bằng một cuộc chiến tranh đẫm máu, và lấy việc thủ tiêu hàng triệu người Trung Quốc làm phương tiện duy nhất để bám lấy quyền lực"51 (Như trên, tr.20.21.22). Cho nên, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ đề nghị chuyển ngay sang hai điểm khác trong chương trình nghị sự: vấn đề Đức và vấn đề Áo.


Tuy nhiên, Anh và Pháp trong khi thừa nhận một cách chung chung những nguyên tắc Mỹ bênh vực, lại có một lập trường mềm dẻo hơn nhiều. Trong diễn văn ngày 28, I-đơn đề cập đến Hội nghị năm nước bằng những lời lẽ cực kỳ ôn hòa, không đưa ra một lời đả kích nào đối với Liên Xô cũng như Trung Quốc và chỉ thận trọng đề nghị hoãn chưa bàn điểm 1 trong chương trình mà chuyển ngay sang các điểm tiếp theo52 (Như trên, tr.20.21.22).


Còn về lập trường của Bi-đôn, các đồng nghiệp Mỹ và Anh cũng đã biết quá rõ, nó không khác lập trường của Luân-đôn bao nhiêu. Tại cuộc hội nghị Béc-muýt, bảy tuần lễ trước đó, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp đã nói toạc ra:

"Những hình thức có thể của một cuộc thương lượng là gì?

1. Có thể đàm phán tay đôi với Việt Minh (...) nhưng tôi không tin sự thành thật của Hồ Chí Minh.

2. Có thể tìm trung gian. Nhưng phải trả giá đắt cho người trung gian và không chắc tìm được một người được cả hai bên đều chấp nhận.

3. Có thể tìm cách đàm phán với Trung Quốc53 (Có thể từ lâu trước khi họp hội nghị Giơ-ne-vơ, Bi-đôn đã nghiêm chỉnh nghĩ đến một cuộc thương lượng trực tiếp với Trung hoa nhân dân (Sô-ven) là người mà Bi-đôn tâm sự cởi mở, đã nói đến điều này trong cuốn sách Commentaire (Bình luận) của ông, tr.40). Chắc là bị từ chối ngay lập tức vì chính sách nước này cung cấp trang bị cho Việt Minh nhưng lại không muốn công khai thừa nhận. Vậy phải đi đến đàm phán trên bình diện quốc tế. Bản thân tôi cũng chống lại việc triệu tập Hội nghị năm nước nhưng nếu muốn có hòa bình, một ngày kia phải thương lượng với đối phương"* (Tài liệu chưa được phép công bố nguyên văn)


Nếu ở Béc-lin, Bi-đôn tỏ ra cứng rắn hơn I-đơn thì trong bản tuyên bố ngày 28, ông ta đành lòng đưa ra một yêu sách bằng cách đặt câu hỏi:

"Có gì đáng ngạc nhiên (...) khi chính phủ Pháp cảm thấy có quyền đòi Trung Quốc chứng minh tinh thần hòa bình mà họ thường đề cao? Liệu người ta có thật sự tin rằng việc họp hội nghị năm nước để nghiên cứu, chẳng hạn như các nguyên nhân của tình hình căng thẳng trên thế giới lại được biện hộ bằng sự ngoan cố của Trung hoa nhân dân ủng hộ cuộc xâm lược chống lại chúng ta".


Và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp, để ngỏ cửa cho một sự thỏa hiệp có thể đạt được, nói thêm:

"Tất cả các hình thức nói chuyện nào đưa đến tiến bộ trên con đường lập lại hòa bình ở Đông Dương đều được hoan nghênh"54 (Văn kiện hội nghị Béc-lin, sách đã dẫn, tr.19-20).


Thực ra, cuộc thương lượng đã bắt đầu. Từ ngày 29 trong lúc các phiên họp toàn thể dành hoàn toàn cho việc bàn bạc các vấn đề châu Âu, một số các cuộc họp hẹp đã cho phép bốn nước lớn cuối cùng đi đến một thỏa thuận về một văn bản chung.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Bảy, 2019, 10:38:02 AM
Ngày 8 tháng 2*, họp phiên đầu tiên trong lúc họp toàn thể tiếp tục thảo luận vấn đề Đức. Lập tức Đa-lét khẳng định lại rằng "Chính phủ Mỹ không thể nhận họp một hội nghị dẫn đến thành lập một hội đồng chấp chính của "năm nước lớn", có Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thamg gia. Tuy nhiên, như đã để lộ từ bài diễn văn ngày 26 tháng 1 Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ nói thêm: "Chính phủ Mỹ thừa nhận tình hình thực tế do sự tồn tại nước Trung Hoa cộng sản tạo nên và sẵn sàng thảo luận với Trung Quốc về các vấn đề cụ thể bất cứ ở đâu nếu điều đó phục vụ sự nghiệp hòa bình". Chính theo phương hướng đó, ông ta đưa ra một dự thảo nghị quyết gồm ba điểm, làm một trong những cơ sở thảo luận trong những ngày tiếp theo.


1. Mời Cộng hòa nhân dân Trung Hoa dự hội nghị bàn về vấn đề Triều Tiên;

2. Khả năng triệu tập một cuộc hội nghị khác về Đông Dương "ngay khi thái độ cư sử của Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa tại cuộc hội nghị chính trị về vấn đề Triều Tiên và ở Đông Nam châu Á đem lại những chứng cớ về tinh thần yêu chuộng hòa bình";

3. Cả 2 cuộc hội nghị nói trên không thể dẫn đến việc công nhận ngoại giao trong trường hợp chưa đạt được sự công nhận đó55 (Cần nhắc lại rằng lúc này chiều hướng dư luận ở Mỹ là thù nghịch với Trung Quốc. Tướng E-ly ghi nhận chẳng hạn như có một kiến nghị chống lại việc công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã thu được một triệu chữ ký khi ông ta đang ở Oa-sinh-tơn (tháng 3-1954) P.Ely, sách đã dẫn, tr.65).


Tuy nhiên phiên họp đầu tiên đó kết thúc mà chưa đưa lại kết quả khả quan nào. Người ta chỉ ghi nhận rằng tại phiên họp đó Bi-đôn, sau khi xác nhận lại lập trường của Pháp ngay từ đầu hội nghị là ("Không có hội nghị năm nước lớn về các vấn đề thế giới (...) nhưng luôn luôn sẵn sàng xem xét với Trung Quốc về những vấn đề cụ thể"), đã không quên kết thúc bản trình bày của mình bằng cách khẳng định nước Pháp, về phần mình, sẽ sẵn sàng xem xét lại ngay vấn đề Trung Quốc khi vấn đề Đông Dương cũng sẽ được Trung Hoa cộng sản xem xét lại", điều được hiểu là một sự mở cửa trực tiếp với Chính phủ Bắc Kinh. Một cuộc họp hẹp thứ hai tổ chức ngày 11. Tại cuộc họp này, có 2 dự thảo nghị quyết được đưa ra. Một của Mô-lô-tốp trở lại ý kiến triệu tập Hội nghị năm nước, có thể có những nước khác tham dự tùy theo vấn đề đem ra thảo luận* (Tài liệu chưa được phép công bố). Một của Bi-đôn đề nghị triệu tập ở Giơ-ne-vơ ngày 15 tháng 4 một cuộc hội nghị về vấn đề Triều Tiên gồm bốn nước lớn dự, hai nước Triều Tiên, Trung hoa nhân dân và những nước đã tham gia lực lượng Liên hiệp quốc ở Triều Tiên mà muốn tham dự; nếu cuộc hội nghị này và tình hình ở Đông Nam Á đem lại những triển vọng thuận lợi cho hòa bình56 (Mấy ngày truwcs đó, Su-man đã điện cho Bi-đôn "ông Đơ-giăng, Cao ủy ở Sài Gòn, nói rõ rằng việc tăng cường và mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương một phần lớn là do Trung Hoa cộng sản tăng thêm viện trợ. Cần nhấn mạnh điều này ngay trong lúc mà ở Béc-lin, Liên Xô đang tìm cách đưa Trung Quốc của Mao Trạch Đông vào "hội đồng chấp chính" thế giới với nhiệm vụ chủ yếu là tìm các biện pháp làm dịu tình hình thế giới". Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Su-man/Pari/số 653-656/1-2-1954) thì có thể bốn nước lớn triệu tập một cuộc hội nghị khác để bàn về vấn đề Đông Dương, cả hai cuộc hội nghị đó không dẫn đến việc công nhận ngoại giao* (Tài liệu chưa được phép công bố). Trong phiên họp hẹp thứ ba vào ngày 12, Mô-lô-tốp nói rằng theo quan điểm Liên Xô, đề nghị của Pháp còn nhiều điều bất tiện quan trọng: có hai cuộc hội nghị khác nhau, mối liên hệ giữa việc giải quyết vấn đề Triều Tiên và vấn đề Đông Dương, và Trung Quốc phải chịu một "thời kỳ thử thách"* (Tài liệu chưa được phép công bố).


Để vượt qua mọi khó khăn đó trong cuộc họp hẹp thứ tư ngày 15 tháng 2, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Liên Xô đưa ra một đề nghị mới, dự kiến rằng ngoài năm nước tham dự hội nghị để xem xét vấn đề Triều Tiên còn có hai bên Triều Tiên, và những nước đã tham chiến ở Triều Tiên, và để xem xét vấn đề Đông Dương, các đại diện các nước hữu qua ở châu Á* (Tài liệu chưa được phép công bố). Về thực chất, như Đa-lét nhận xét, đề nghị đó khá gần với lập trường ngày 11 tháng 2 chắc chắn rằng Liên Xô thừa nhận là vấn đề Đông Dương được đưa vào chương trình nghị sự như đoàn đại biểu Pháp mong muốn, nhưng ngược lại, Trung Hoa cộng sản cũng bao gồm trong trung tâm năm nước lớn và được coi như một cường quốc đứng ra mời và ngoài ra cuộc hội nghị này có tư cách để xem xét các vấn đề "làm dịu tình hình thế giới". Hiển nhiên là các cuộc họp hẹp như các phiên họp toàn thể có nguy cơ không đi đến kết quả.


Chính là để thoát khỏi bế tắc mà I-đơn, người duy nhất đến lúc đó chưa đưa ra một kế hoạch nào, tại phiên họp này đã đưa ra một phản đề nghị gồm hai điểm:

1. Hội nghị về Triều Tiên giữa Mỹ, Pháp, Anh, Liên Xô, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Triều Tiên, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên và những nước nào đã nhân danh Liên hiệp quốc tham chiến ở Triều Tiên mà muốn tham dự.

2. Một cuộc hội nghị mới về Đông Dương giữa Mỹ, Pháp, Anh, Liên Xô Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các nước hữu quan ở Đông Nam châu Á, chừng nào các cuộc thảo luận tại hội nghị nói ở trên và tình hình ở Đông Nam châu Á đem lại những triển vọng thuận lợi cho hòa bình (công thức của Pháp đưa ra ngày 11 tháng 2).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Bảy, 2019, 10:45:56 AM
Đưa cho tiểu ban các chuyên viên đến ngày 18 tháng 2, bốn nước lớn mới bàn lại vấn đề ở phiên họp hẹp thứ sáu. Cuối cùng đạt được thỏa thuận về văn bản cuối cùng sau đây:

"Các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ, Pháp, Anh và Liên Xô họp ở Béc-lin.

"Cho rằng việc thành lập bằng phương thức hòa bình, một nước Triều Tiên thống nhất, độc lập sẽ là một nhân tố quan trọng để giảm căng thẳng trên thế giới và lập loại hòa bình ở các phần khác của châu Á.

"Đề nghị triệu tập tại Giơ-ne-vơ, ngày 26 tháng 4, một cuộc hội nghị các đại biểu Mỹ, Pháp, Anh, Liên Xô Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Triều Tiên, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên và các nước khác có quân đội tham chiến ở Triều Tiên mà muốn được tham dự, nhằm đi đến một giải pháp hòa bình cho vấn đề Triều Tiên,

"Thỏa thuận rằng vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương cũng sẽ được xem xét tại hội nghị có sự tham dự của các đại biểu Mỹ, Pháp, Anh, Liên Xô Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và các nước hữu quan khác,

"Thỏa thuận rằng việc mời dự Hội nghị nói trên, việc họp hội nghị đó đều sẽ không được coi như dẫn đến sự công nhận về ngoại giao trong trường hợp chưa có sự công nhận đó"57 (Văn kiện Hội nghị Béc-lin, sách đã dẫn, tr.23. Về ảnh hưởng của Nghị quyết Béc-lin đối với tình hình quân sự ở Đông Dương, xem ý kiến của Na-va, sách đã dẫn, tr.182, 255, 296, 297. Cuối cùng người ta ghi nhận rằng trong quan niệm của Trung Quốc, về luật quốc tế, việc hai nhà nước tham dự vào cùng một hội nghị quốc tế sẽ dấn đến sự công nhận trên thực tế, trừ khi có bảo lưu rõ ràng. Xem Về vấn đề kiến lập quan hệ ngoại giao, Thời sự thủ sách, số 11, 10-6-1956, tr.41-43).


Văn bản này, đưa vào thông cáo cuối cùng của Hội nghị bốn nước lớn, công bố cùng ngày58 (Toàn văn thông cáo cuối cùng đăng trong Văn kiện hội nghị Béc-lin, sđ, tr.98. Phần thứ 2 của thông cáo nhận xét về thất bại của cuộc thương lượng về châu Âu đã được thảo ra như sau: "Các chính phủ Mỹ, Pháp, Anh, Liên Xô tin tưởng rằng việc ký một hiệp định về giải trừ quân bị, hay ít nhất bằng một hiệp định có giá trị thật sự về tài giảm binh bị sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các mối bất đồng quốc tế cần thiết cho việc thiết lập một nền hòa bình lâu dài. Thỏa thuận sẽ tiến hành trao đổi ý kiến để đi đến một giải pháp tích cực như điều khoản 6 của nghị quyết Liên hợp quốc ngày 28-11-1953 đã kiến nghị. Các vị bộ trưởng đã tiến hành trao đổi ý kiến đầy đủ về vấn đề Đức và vấn đề an ninh châu Âu cũng như vấn đề Áo, nhưng đã không đi đến thỏa thuận nào về vấn đề đó), chắc chắn là kết quả của một sự thỏa hiệp giữa hai phe. Đoạn 2 (cho rằng ...) là lấy lại từ dự thảo của Đa-lét ngày 8 tháng 2, đoạn 3 (đề nghị ...) là lấy lại từ dự thảo ngày 15 tháng 2 của I-đơn, đoạn 4 (thỏa thuận rằng ...) là do Liên Xô đề  nghị trong một cuộc họp chuyên viên, đoạn cuối cùng (thỏa thuận rằng ...) trực tiếp phỏng theo dự thảo ngày 8 tháng 2 của Đa-lét. Cuối cùng, chính theo gợi ý của Bi-đôn mà bốn Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đã thỏa thuận rằng Liên Xô sẽ đứng ra mời Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, còn Mỹ sẽ mời Nam Triều Tiên và các nước tham chiến ở Triều Tiên, dự hội nghị Giơ-ne-vơ.


Nhưng nếu đúng là một sự thỏa hiệp, thì cũng đúng không kém là chính Liên Xô đã có những nhượng bộ quan trọng nhất. Việc so sánh các dự thảo khác nhau và việc nghiên cứu các cuộc thương lượng bí mật không để lại chút nghi ngờ nào về điểm đó.


Chắc chắn rằng, người phương Tây, về phần mình, cũng đã nhân nhượng một số điểm. Họ đã chấp nhận rằng vấn đề Triều Tiên và vấn đề Đông Dương sẽ được thảo luận trong một cuộc hội nghị duy nhất (ngay cả trên thực tế hội nghị đó có hai giai đoạn rõ rệt); rằng vấn đề Đông Dương sẽ được đề cập dù kết quả của hội nghị bàn về Triều Tiên thế nào đi nữa; rằng mọi lời lẽ liên quan đến chứng cớ phải có trước về ý muốn hòa bình của Trung Quốc cũng không có trong văn bản cuối cùng. Nhưng so với những nhân nhượng của Liên Xô, sự nhượng bộ này là nhỏ.


Bộ trưởng Liên Xô trên thực tế đã chấp nhận:

1. Một cuộc hội nghị sẽ không phải là hội nghị năm nước và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không phải là nước lớn đứng ra mời59 (Ngày 21-4-1954, ngay trước ngày họp hội nghị Giơ-ne-vơ, Liên Xô gửi công hàm cho ba nước phương Tây, cố gắng một lần nữa để Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được chấp nhận như một trong năm cường quốc ngang với Liên Xô, Mỹ, Pháp, Anh. Ngày 23-4, ba nước phương Tây giữ chung một công hàm từ chối)

2. Chương trình nghị sự của cuộc họp giới hạn vào hai vấn đề Triều Tiên và Đông Dương: hội nghị Giơ-ne-vơ không phải là hội nghị có thẩm quyền quốc tế như lúc đoàn Mát-xcơ-va và Bắc Kinh mong muốn; Hội nghị đó cũng không giải quyết các vấn đề tồn tại khác ở châu Á như vấn đề Đài Loan; Trung Quốc bị loại khỏi các công việc ngoài châu Á60 (Bình luận về phiên họp toàn thể ngày 10 tháng 2, dành cho vấn đề Đức và an ninh châu Âu, Bi-đôn điện về Pari "Cũng cần lưu ý cố gắng của Mô-lô-tốp đưa Cộng hòa nhân dân Trung Hoa vào vị trí quan sát viên trong các vấn đề châu Âu. Khi đọc đến đoạn này, chỉ có đoạn này là bất ngờ-cả hội ngị cười ồ (...). Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Bi-đôn, Béc-lin, số 391-394, ngày 10-2-1954);

3. Đoạn liên quan đến việc không công nhận nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa do Mỹ khởi thảo, đã được giữ lại (trong khi Mô-lô-tốp, cho đến phút chót của các cuộc họp hạn chế, đã từ chối không chấp nhận đoạn đó);

4. Cuối cùng không một cường quốc trung lập châu Âu nào được mời dự Hội nghị chính trị về Triều Tiên như Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã đề nghị hồi tháng 9 năm 1953.


Tóm lại, Liên Xô đã không nhân nhượng tí gì về các vấn đề châu Âu (do đó hội nghị đã thất bại về điểm này), tất cả những nhân nhượng đối với phương Tây đều là về các vấn đề Viễn Đông và chỉ có Trung Quốc là bị thiệt mà thôi. Trong khi các vấn đề Đức và Áo gặp bế tắc, những điểm duy nhất mà những người cộng sản nhận thương lượng là những vấn đề châu Á và điều đó đã được giải quyết tại một cuộc hội nghị mà Trung Quốc không có mặt. Hai ngày sau trong một bức điện thông báo cho các đại diện ngoại giao Pháp trên thế giới, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp có thể tuyên bố một cách chính đáng:

"Những lập trường của các bên lúc đầu tưởng như không thể dung hòa được cuối cùng đã gặp nhau nhờ có sự nhượng bộ lẫn nhau. Nếu những nhượng bộ của các nước phương Tây, nhất là Mỹ là khá nhiều thì những nhân nhượng của phía Liên Xô còn lớn hơn nữa"61 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện thông báo số 20/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Kết quả hội ngị Béc-lin về các vấn đề châu Á", 20-2-1954).


Còn đối với Mỹ, việc tán thành mời Trung Hoa cộng sản dự hội nghị là sự nhượng bộ đáng kể nhất của họ. Dù cho về mặt pháp lý, cách giải thích cảu Mỹ đã giảm đi rất nhiều ý nghĩa của việc mời đó, Mỹ đã nâng cao không kém uy tín quốc tế của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, làm thiệt hại cho Đài Loan. Chẳng phải là Trung Hoa cộng sản sắp tham dự một cuộc hội nghị ở ngay một thành phố đã đăng cai nhiều hội nghị có tiếng nhất là các cuộc họp của Hội Quốc Liên trước đây đó sao? Nhưng Đa-lét hiểu rằng từ chối mọi thương lượng với Trung Quốc là trực tiếp đi ngược lại với ý muốn và lợi ích của Pháp cũng như với dư luận chung ở Pháp và ở Anh và chung cục là có thể có hại đến tính vững chắc của Liên minh Đại Tây dương và như vậy là trúng kế của Liên Xô ở châu Âu. Đó cũng sẽ là những lập luận mà Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ sử dụng để thuyết phục đảng viên Đảng cộng hòa của ông ta vốn chống đối kịch liệt nhất mọi bước đầu bình thường hóa với Trung Quốc, đặc biệt "nhóm Trung Quốc" như thượng nghị sĩ Nao-len (Knowland) hay Hâm-phrây (Humphrey)62 (Về vấn đề này, xem R.Ph.Ran-đơn, sách đã dẫn, tr.45-48).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Bảy, 2019, 10:48:20 AM
Phản ứng của Trung Quốc đối với nghị quyết Béc-lin và mối quan hệ Trung-Xô

Phản ứng chính thức đầu tiên của Trung Quốc đối với bản thông cáo Béc-lin là từ một xã luận Nhân dân nhật báo ngày 22 tháng 263 (Nhân dân nhật báo ngày 22-2-1954, bản dịch tiếng Anh của Tân hoa xã, Bắc Kinh, ngày 23-2-1954. Bản tiếng Pháp của nhóm kiểm soát điện đài (groupement des contrôles radio-électriques) 22-2-1954. Cùng ngày Quang minh nhật báo viết xã luận theo cùng một hướng đó. Xem Bản tin Tân hoa xã, Bắc Kinh ngày 22-2-1954. Đồng thời ngày 22 tháng 2 đài phát thanh Bắc Triều Tiên tán thành nghị quyết Hội nghị Béc-lin về việc triệu tập hội nghị Giơ-ne-vơ. (Thời sự chính sách đối ngoại, tập 7, số 4-5, tháng 9 năm 1954, tr.507). Về đại thể, Chính phủ Bắc Kinh tiếp nhận thuận lợi quyết định của hội nghị: "không nghi ngờ chút nào là sự thỏa thuận tại hội nghị Béc-lin sẽ góp phần làm dịu tình hình trên thế giới. Nhân dân Trung Quốc ủng hộ nghị quyết đó"64 (Việc mời Trung Quốc dự hội nghị Giơ-ne-vơ, do Liên Xô chuyển, được đài Bắc Kinh truyền đi ngày 3-3 (hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, châu Á-châu Đại dương, Bộ Ngoại giao về vấn đề "Phản ứng đầu tiên của Trung Quốc đối với Thông cáo Hội nghị Béc-lin, 15-3-1954. Cần lưu ý rằng Chính phủ Đài Bắc ngày 19-2 ra một tuyên bố chính thức rất láy làm tiếc về những điều khoản trong thông cáo Béc-lin ngày 7-3, Quốc hội của Trung Hoa quốc gia gửi các nước hội viên Liên hiệp quốc một thông điệp kịch liệt phản đối việc triệu tập hội nghị và bác bỏ trước tất cả những quyết định có thể sẽ được thông qua có liên quan đến Trung Quốc. Thời sự chính sách đối ngoại, tập 7, số 4-5, tháng 5 năm 1954, tr.508). Nhưng ngoài sự ủng hộ về nguyên tắc đó, bài báo nhấn mạnh một số điểm phản ánh thái độ dè dặt mà bản thông cáo gợi ra đối với Trung Quốc.


Chắc chắn là nước Cộng hòa nhân dân hoan nghênh thái độ của Liên Xô tại Béc-lin "Hiển nhiên (...) sự thỏa thuận đó là kết quả của những cố gắng không mệt mỏi của Liên Xô nhằm đi đến cuộc thương lượng giữa các cường quốc chủ yếu". Nhưng đồng thời giọng điệu của bài xã luận đã chứng tỏ mức độ dè dặt của Trung Quốc đối với giải pháp thông qua ngày 18 tháng 2.


Trước hết người Trung Quốc nhấn mạnh hội nghị Giơ-ne-vơ sẽ là một cuộc hội nghị của năm nước lớn: thuật ngữ này được dùng tới bảy lần trong bài xã luận. Cách nói đó khác hẳn ở Mát-xcơ-va, tại đó người ta nói đến "một cuộc hội nghị mà nòng cốt là các đoàn đại biểu của năm nước lớn"65 (Nhận xét của Bộ Ngoại giao Anh với Đại sứ Pháp ở Anh. Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện của Mát-xi-ghi (Luân-đôn) số 677-681/23-2-1954. Không thể hoàn toàn theo R.Ph. Ran-đin, sách đã dẫn, tr.145, khi ông ta đưa trên bình luận của Thời báo Niu-Oóc viết rằng Trung Quốc và Liên Xô có lập trường hoàn toàn như nhau về vấn đề này). Nhưng Chính phủ Bắc Kinh, về phần mình, muốn hiểu rằng cuộc họp ở Giơ-ne-vơ sẽ là "hội nghị của năm nước lớn" chứ không phải "Hội nghị của các nước có liên quan", điều mà Mát-xcơ-va chỉ có thể thừa nhận một cách khó khăn ở đó người ta hiểu rõ rằng đó không phải là tinh thần bản thông cáo Béc-lin. Đối với đại sứ Pháp ở Mát-xcơ-va, việc cố nhấn mạnh đến cách nói "hội nghị của năm nước lớn" chứng tỏ khá rõ ràng rằng ở Bắc Kinh người ta không hoàn toàn hài lòng về cách  bảo vệ lợi ích của Trung Quốc". Vẫn theo nhà ngoại giao Pháp ở Mát-xcơ-va, "trong chừng mực những "nhượng bộ duy nhất" của Liên Xô ở Béc-lin có hại cho Chính phủ Bắc Kinh người ta hiểu sự dè dặt của Trung Quốc và người Nga cũng đã chờ đợi trước thái độ đó, chứng cớ là ngay trong thời gian Hội nghị Béc-lin họp, báo chí Xô-viết đã có những bài giải thích, biện hộ, nhằm vào Bắc Kinh"66 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Lơ Rôi, Mát-xcơ-va, số 537-543/26-2-1954).


Ngoài ra, thông cáo Béc-lin nhắc lại rằng "việc mời dự hội nghị, và cả cuộc họp đều sẽ không được coi như dẫn đến sự công nhận về mặt ngoại giao trong trường hợp chưa có sự công nhận đó". Hiển nhiên là, sự dè dặt nhằm trước hết vào Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Bài xã luận của Nhân dân nhật báo ra ngày 22 tháng 2, không nói một chữ nào đến đoạn đó. Bài báo viết bản thân một cuộc hội nghị bao gồm nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, nó là một bước tiến trên con đường dẫn đến sự cải thiện quan hệ giữa các cường quốc và làm dịu tình hình trên thế giới. Cũng về điểm này, Liên Xô có lẽ đã gặp một số khó khăn trong việc làm cho Trung Quốc chấp nhận nghị quyết Béc-lin. Bình luận cho báo chí Xô-viết tỏ ra có sự nghi ngờ về điểm đó: hết thảy các bài báo đều cố gắng chứng minh cho Chính phủ Bắc Kinh biết rằng thông báo ngày 18 tháng 2 tương đương với một sự công nhận Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên thực tế. Báo Tin tức (Izvestia) ngày 28 tháng 2 nhận thấy trong nghị quyết Béc-lin "một chứng có có sức thuyết phục ở chỗ từ nay, không một ai có thể không biết đến vai trò và tầm quan trọng của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong sinh hoạt quốc tế. Nghị quyết đó có nghĩa là sự công nhận trên thực tế nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là cường quốc67 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Lơ Rôi, Mát-xcơ-va, số 575-583/ngày 1-3-1954, chúng tôi nhấn mạnh). Báo Sự thật (Pradva) ngày 1 tháng 3 nêu lại cùng một ý kiến như vậy. Đại sứ Pháp tại Mát-xcơ-va tiếp tục bình luận:

"Cả hai bài báo hết sức cố gắng chứng minh rằng đây không phải là cách giải thích của Liên Xô mà là sự đánh giá chung của báo chí hàng loạt nước". Rất nhiều trích dẫn xác minh cách đánh giá đó. Những trích dẫn bổ ích nhất là từ chính nước Mỹ. Các đối thủ của Đa-lét kết tội ông ta là làm việc cho thừa nhận Trung Quốc, và việc Trung Quốc vào Liên hiệp quốc trở thành điều không thể tránh khỏi. Báo chí Xô-viết chẳng khó khăn gì trong việc nêu bật những lời kết tội đó để chứng minh cho người Trung Quốc thấy rằng đại biểu Liên Xô tại hội nghị Béc-lin đã biết  bảo vệ chu đáo lợi ích của Trung Quốc68 (Như trên).


Có lẽ cũng để xoa dịu những mối lo ngại của Trung Quốc mà ngày 5 tháng 3, báo chí Xô-viết công bố một bản tuyên bố dài của Mô-lô-tốp trong đó ông ta đặc biệt nhấn mạnh: "Như vậy một cuộc hội nghị sẽ được triệu tập tại Giơ-ne-vơ ngày 26 tháng 4 với sự tham gia của năm cường quốc về hai vấn đề nóng bỏng nhất đang đặt ra ở châu Á: Vấn đề Triều Tiên và tình hình ở Đông Dương. Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa sẽ có địa vị hợp pháp với các cường quốc khác tại cuộc hội nghị đó"69 (Toàn văn tiếng Pháp trong báo Nhân đạo, ngày 6-3-1954, chúng tôi nhấn mạnh).


Cuối cùng trong xã luận Nhân dân nhật báo, ngày 22 tháng 2, Trung Quốc không giấu giếm ý muốn đóng góp với tư cách là một cường quốc vào việc lập lại hòa bình ở châu Á và vào cả việc giảm tình hình căng thẳng trên phần còn lại của thế giới. Trong khi thảo thông cáo ngày 18 tháng 2, người ta đã cẩn thận chỉ nói đến Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trong các đoạn liên quan đến Triều Tiên và Đông Dương. Trái lại, Chính phủ Bắc Kinh cố gắng một cách lộ liễu làm cho việc mơi Trung Quốc có tầm vóc quốc tế. Hội nghị Giơ-ne-vơ được hiểu là phải "dẫn đến làm dịu tình hình trên thế giới" và phải "tìm ra các giải pháp cho các vấn đề quốc tế sống còn". Điều đó có nghãi là nếu trong thời gian đầu Trung Quốc vui mừng được mời thảo luận hai vấn đề quốc tế khẩn cấp nhất là Triều Tiên và Đông Dương, thì không vì vậy mà Trung Quốc nghĩ rằng thẩm quyền của mình chỉ giới hạn vào các vấn đề châu Á mà thôi70 (Xã luận Nhân dân nhật báo, ngày 23-2-1954 (tiếng Pháp của nhóm kiểm soát điện đài (groupement dcs contrôles radioélectriques, 24-2-1954)). Còn đi xa hơn, dành phần lớn bài xã luận viết cho các vấn đề châu Âu (Đức và Áo) và giải trừ quân bị. Bài xã luận viết: "Hơn nữa, hội nghị năm nước có thể thảo luận một cách có hiệu quả vấn đề tài giảm binh bị ở tất cả các nước và đặc biệt ở năm nước lớn, vấn đề phát triển quan hệ thương mại quốc tế và giải quyết mọi tranh chấp quốc tế" (chúng tôi nhấn mạnh)).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 14 Tháng Bảy, 2019, 10:49:07 AM
Trung Quốc chấp nhận nguyên tắc họp hội nghị Giơ-ne-vơ, nhưng chắc chắn là quan điểm của Trung Quốc về hội nghị rất khác với các cường quốc phương Tây và với một sự oán thán nào đó, Bắc Kinh chê trách Liên Xô đã không bênh vực đầy đủ quy chế quốc tế của Trung Quốc. Vì vậy cho tới ngày 26 tháng 4, người Trung Quốc làm ra vẻ không biết đến những hạn chế trong thông cáo Béc-lin. Hội nghị Giơ-ne-vơ đối với họ sẽ là một hội đồng chấp chính có chức năng thế giới của năm cường quốc mà họ không mong muốn Trung Quốc không phải chỉ là một trong những nước được mời mà rõ là một trong năm nước lớn71 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về phản ứng của Trung Quốc đối với Thông cáo Hội nghị Béc-lin 4-3-1954, cũng xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Phản ứng đối với triển vọng hội nghị Giơ-ne-vơ", 15-3-1954). Thật vậy sự thất vọng tương đối đó của Trung Quốc có lẽ giải thích tình trạng có nhiều dấu hiệu về mối bất đồng Xô-Trung xuất hiện trong thời gian 10 tuần từ hội nghị Béc-lin đến hội nghị Giơ-ne-vơ. Ngay từ cuộc họp Béc-lin, Mô-lô-tốp đã tâm sự với I-đơn rằng người phương Tây khá may mắn là không như ông ta, phải bàn với Mao Trạch Đông "là người rất cứng rắn, rất cứng rắn"72 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Mát-xi-gli/Luân Đôn, số 677-681). Bề ngoài, "tất cả những sự thỏa mãn có lợi cho Bắc Kinh" mà Liên Xô tìm cách giành được trước khi họp hội nghị Giơ-ne-vơ phải "tương xứng với sức thúc ép của Trung Quốc"73 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp: điện Giô-xê/Mát-xcơ-va, số 1168-1180, 20-4-1954), như người ta phỏng đoán ở Mát-xcơ-va. Mặc dù phương Tây rất khó mà hình dung đâu là bản chất thật sự của mối quan hệ Trung-Xô, cảm tưởng chung cho rằng người đối thoại Trung Quốc phải là người khó tính.


Ngoài ra, cả giới báo chí cũng có thể nêu ra một số dấu hiệu theo hướng đó. Một số báo ở Ban-lơ (Bale) điểm lại những tuyên bố của các nhà ngoại giao Trung Quốc ở Đông Béc-lin viết rằng ở Giơ-ne-vơ, Trung Quốc sẽ có một thái độ độc lập với Liên Xô74 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/Ba-xlơ Nachrichten/203/1954. Báo cáo tổng kết của Đại sứ quán Pháp tại Thụy Sĩ, 23-3-1954). Tờ Thời báo (Times) ở Luân Đôn cũng vậy, dành bài xã luận ngày 30 tháng 3 cho vấn đề đó nhưng ngược lại, kết luận rằng phương Tây quá thiên về việc đặt cọc trên những bất đồng về quan điểm có thể có giữa Trung Quốc và Liên Xô75 (The Times, 30-4-1954. Tổng kết trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Mát-xi-gli/Luân Đôn/số 1320-1323/30-4-1954).


Tóm lại, có nghĩa là nếu Chính phủ Bắc Kinh coi lời mời của hội nghị Béc-lin là rất tích cực thì ít ra họ cũng đánh giá là địa vị quốc tế của Trung Quốc không được thừa nhận đầy đủ và gán một phần trách nhiệm cho Liên Xô. Đoạn nói về không công nhận ngoại giao ghi trong thông cáo ngày 18 tháng 2 theo đòi hỏi của Mỹ, đặc biệt làm cho Trung Quốc tức giận có lẽ vì họ đã hi vọng rằng nhờ sự ủng hộ của Liên Xô, vấn đề sẽ được bỏ qua.


Vậy hội nghị Giơ-ne-vơ sẽ diễn ra gay go, không phải vì các vấn đề sẽ đưa ra thảo luận mà cũng là do quy chế mập mờ của đoàn đại biểu Trung Quốc76 (Để khỏi nêu ra vấn đề đại diện của các quốc gia liên kết của Việt Minh và phe cực tả Lào và Cam-pu-chia).


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:55:02 PM
Trung Quốc chuẩn bị hội nghị Giơ-ne-vơ


Trung Quốc đả kích Mỹ

Phản ứng của Trung Quốc đối với tin triệu tập hội nghị Giơ-ne-vơ cũng nói lên mối lo sợ sâu xa của Trung Quốc về cách cư xử của Mỹ. Xã luận Nhân dân nhật báo ngày 22-2-1954, trong đó Trung Quốc cho biết cảm tưởng đầu tiên của mình, đã nhấn dài dòng đến những thái độ dè dặt của Mỹ đối với cuộc họp đã dự liệu và đến những mối nguy cơ mà một thái độ như vậy sẽ đem lại. Chính phủ Bắc Kinh không giấu diếm rằng họ rất lo ngại là ở Mỹ: những phần tử hiếu chiến tìm cách gây trở ngại cho thỏa thuận đạt được ở hội nghị Béc-lin. Theo tờ báo Trung Quốc, tình hình đó kêu gọi những ai yêu chuộng hòa bình phải cảnh giác cao độ77 (Nhân dân nhật báo, 22-2-1954).


Thực tế, trong tháng 3 và tháng 4, Trung Quốc tố cáo một cách có hệ thống mọi sáng kiến của chính sách Đa-lét, hàng ngày nhắc đi nhắc lại, dưới hình thức này hay hình thức khác rằng "phải chú ý nghiêm chỉnh đến những âm mưu của Mỹ phá hoại hội nghị Giơ-ne-vơ"78 (Thế giới tri thức, 15-3-1954. Dẫn trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Bu-đôn/Hồng Công/số 72-73/19-3-1954).


Theo Trung Quốc có nhiều nhân tố buộc Mỹ phải chấp nhận thương lượng tại Giơ-ne-vơ. Đầu tháng 3, tờ Quang minh nhật báo liệt kê một mớ nào là "Mỹ hết ảo tưởng nắm được bí mật nguyên tử", nào là "chiến dịch chạy đua vũ trang (của Mỹ và chư hầu) làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản", nào là "những khó khăn thương mại của các nước tư bản chủ nghĩa" và nhất là "sức mạnh của phe hòa bình dân chủ và chủ nghĩa xã hội". Vì tất cả những lý do đó, nhưng cũng là để khỏi bị "cô lập với các nước phương Tây khác", đoàn đại biểu Mỹ tại Béc-lin đã phải chấp nhận nguyên tắc họp hội nghị Giơ-ne-vơ79 (Quang minh nhật báo, 11-3-1954).


Nhưng một khi chấp nhận rồi, Mỹ làm mọi việc có thể được cho hội nghị thất bại. Một mặt, họ tiếp tục "phát triển nhanh các lực lượng của bù nhìn Lý Thừa Vãn (..) vi phạm hiệp định đình chiến Triều Tiên" và "ủng hộ Lý Thừa Vãn trong mọi hành động đe dọa và gây áp lực"80 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-3-1954). Mặt khác, về Đông Dương, Mỹ trắng trợn "đưa nhân viên không quân (...) đến tham gia trực tiếp vào việc tàn sát nhân dân các nước Việt Nam, Cam-pu-chia và Pa-thét Lào"81 (Peoplés china, 1-4-1954). Ngoài ra, Bộ Ngoại giao và nghị sĩ quốc hội Mỹ không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng "không thể giải quyết vấn đề (...) bằng phương thức hòa bình".


"Đồng thời hãng Thông tấn Tân hoa viết tiếp: Mỹ ép buộc Pháp phải theo đuổi cuộc chiến tranh mất lòng dân. Bộ máy tuyên truyền của Mỹ reo rắc câu chuyện hoang đường nói rằng địa vị cường quốc của Pháp sẽ lung lay nếu Pháp chấm dứt cuộc chiến tranh Đông Dương. Mỹ còn reo rắc không khí lạc quan về các trận đánh mặc dù bị thiệt hại nặng trên chiến trường. Mục đích của tất cả những việc đó là làm cho nước Pháp phản đối việc lập lại hòa bình ở Đông Dương, bên ngoài vòng cương tỏa của Mỹ"82 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-3-1954).


Ngoài những âm mưu thủ đoạn đó, theo Trung Quốc còn phải thêm việc Chính phủ Oa-sinh-tơn khuyến khích chính sách tái vũ trang Nhật Bản, việc xây dựng các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Lan, Phi-luật-tân, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ. "Nếu người ta gắn với những việc làm đó với mục đích của hội nghị Giơ-ne-vơ-như Mỹ cũng đã chấp nhận là giải quyết các vấn đề cấp bách ở châu Á bằng thương lượng nhằm làm dịu tình hình quốc tế-người ta buộc phải nhận thấy khoảng cách kỳ lạ giữa lời nói và việc làm của những nhà lãnh đạo Mỹ"83 (Như trên).


Trong ba tuần lễ tháng 4 trước ngày khai mạc Hội nghị Giơ-ne-vơ, Trung Quốc càng đả kích Mỹ nhiều hơn và kịch liệt hơn. Vì vậy "hành động chung" giữa các đồng minh do Đa-lét đề nghị trong diễn văn quan trọng ngày 28-3 ở Câu lạc bộ báo chí hải ngoại của Mỹ (Oversea Press Club of America): đã gây nên một sự phản ứng mạnh mẽ trong giới báo chí Trung Quốc. Mọi hình thức quốc tế hóa cuộc chiến tranh bao giờ cũng bị Trung Quốc kiên quyết tố cáo. Ví dụ như Trung Quốc đã tỏ ra rất lo ngại trước ý định của Thái Lan hồi tháng 4-tháng 5-1953, đưa ra trước Liên hiệp quốc84 (Về điểm này, cần nhấn mạnh là Pháp cũng lo sợ như Trung Quốc về sự can thiệp có thể xảy ra của Liên hiệp quốc. Việc đó có thể đẩy nhanh việc đưa đến Đông Dương những quân chí nguyện Trung Quốc như ở Triều Tiên (M.Guốc-tốp, sách đã dẫn, tr.39). Đại tá Ghi-éc-ma lúc đó là tùy viên quân sự Pháp tại Băng Cốc đã được giao trách nhiệm giải thích điều đó cho Chính phủ Phi-bun xong-khram. Về phương diện này, lập trường của Pháp gần với Trung Quốc hơn là với Mỹ hay với Anh. Ngoài ra cần lưu ý rằng chính Mỹ đã thúc đẩy Thái Lan đi theo con đường đó, nhưng Chính phủ Băng Cốc thì có vẻ do dự, sách đã dẫn, tr.165), lời kêu gọi ngày 25-12-1953 của Lào gửi các nước trong thế giới tự do chống lại sự xâm lược của Việt Minh, cũng như trước đề nghị của Nam Triều Tiên vào đầu tháng 2 năm 1954, gửi một sư đoàn tới Lào để chiến đống chống cộng sản xâm lược. Chính phủ Bắc Kinh luôn luôn khẳng định lại rằng toàn bộ chính sách của họ ngược lại, là làm cho "chiến tranh Triều Tiên không tái diễn ở bất cứ nơi nào ở châu Á"85 (People's China, 1-1-1954 và cả 1-4-1954). Vậy, đối với Trung Quốc, hành động chung của Mỹ đề nghị chỉ có thể đưa đến một xung đột mới theo kiểu Triều Tiên: "Cái gọi là hành động chung đó sẽ dẫn đến đâu? (...). Cuộc chiến tranh Triều Tiên đưa ra câu trả lời"86 (Tân Hoa xã, Bắc Kinh, 3-4-1954, Nhân dân nhật báo, 3-4-1954). Điều duy nhất mà Mỹ nghĩ đến chỉ là làm căng thẳng thêm tình hình mới về quân sự của Mỹ87 (Về thái độ của Trung Quốc đối với cánh nhìn mới. Xem bài của Cheng Wan, Thế giới tri thức, số 4, 20-2-1954), của sự đoa dọa hạt nhân, những cuộc thí nghiệm nhiệt hạch ở quần đảo Mác-san (Marshall) các ngày 1 và 26 tháng 3 năm 195488 (Phản ứng của Trung Quốc trong bản tin Tân hoa xã, Bắc Kinh, 1-4-1954 đăng lại trong Survet of China Mainland Press, số 780, 2-4-1954), và của những cuộc tập trận về không quân ở Nam Triều Tiên89 (Nhân dân nhật báo 3-4-1954, Survey of China Mainland Press, số 781, 3-5-1954. Cũng xem Nhân dân nhật báo, 30-3-1954, tr.4 (bản đồ các căn cứ quân sự của Mỹ ở Viễn Đông đe dọa các nước xã hội chủ nghĩa). Việc tăng cường tiềm lực quân sự của Trung Hoa quốc gia (với sự giúp đỡ của Mỹ) trên các đảo ven biển Kim Môn và Mã Tổ90 (H.C.Hinton, Communist China in world Politics (Cộng sản Trung Quốc trong chính trị thế giới) London, Melbourne Mac Milan 1966), cũng như tuyên bố của Thủ tướng Trần Thành ngày 18 tháng 4, nói rằng Trung Hoa quốc gia "sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu trong chừng mực mà sự can thiệp của Trung Hoa quốc gia là một bộ phận của kế hoạch chung"91 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Cat-tan Đài Bắc, số 212/20-4-1954. Tuyên bố nói tiếp như sau: "Một kế hoạch như vậy tùy thuộc vào việc thực hiện một mặt trận thống nhất giữa các quốc gia tự do. Sự thống nhất đó chưa có vì một vài cường quốc (Anh, Pháp) còn mang ảo tưởng về khả năng thỏa hiệp với Cộng sản". Xem hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp châu Á-châu Đại dương, bản ghi nhớ về vấn đề "Tình hình ở Đài Loan", 30-11-1953), chỉ làm tăng thêm mối lo ngại của Trung Quốc. Báo Nhân dân nhật báo, ngày 24 tháng 4 trả lời một cách lạnh lùng: chúng tôi tán thành hòa bình và phản đối chiến tranh. Nhưng chúng tôi không khoanh tay làm ngơ nếu có một cuộc xâm lược vũ trang chống lại chúng tôi"92 (Nhân dân nhật báo, 21-4-1954, hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Sài Gòn gửi các quốc gia liên kết 22-4-1954).


Cũng theo cách đó, hoạt động ngoại giao của Mỹ trong tháng 4 bị chỉ trích không kém dữ dội. Các thông cáo công bố về kết quả các cuộc gặp gỡ một mặt giữa Đa-lét và I-đơn, và mặt khác giữa Đa-lét và Bi-đôn, ngày 13 và 14 tháng 4 gây nên sự phản đối kịch liệt: trong cả hai trường hợp, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ bị lên án là phá hoại hội nghị Giơ-ne-vơ bằng cách lôi kéo Anh và Pháp đi theo chính sách xâm lược về "hành động chung"93 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 15-4-1954 và 21-4-1954, hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, điện Buy-đôn/Hồng Công/số 137-138, 20-4-1954). Diễn văn ngày 16 tháng 4 của Phó tổng thống Nich-xơn đơn thuần đề nghị gửi quân đội Mỹ đến Đông Dương, cũng bị tố cáo mạnh mẽ, như một "diễn văn của tên lái súng", một "lời kêu gọi chiến tranh"94 (Tân hoa xã, Bắc Kinh, 19-4-1954 và Tân hoa xã, 20-4-1954).


Khi hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, lập trường của Trung Quốc đối với Mỹ cứng rắn hơn bao giờ hết. Chính sách của Mỹ đã được giải thích, không phải là không có vài lý do, như một âm mưu lớn nhằm đè bẹp nước Trung Hoa mới. Ở Bắc Kinh người ta cho rằng Đông Dương chỉ là một yếu tố của hệ thống xâm lược mà Mỹ cố gắng xây dựng dọc biên giới và bờ biển Trung Quốc. Tuy nhiên, thái độ của Trung Quốc không phải là vì vậy mà hoàn toàn tiêu cực. Đôi khi ở Bắc Kinh người ta thích nói đến tình hữu nghị giữa nhân dân Trung Quốc và nhân dân Mỹ, và nói đến cả hy vọng được cùng tồn tại trong hòa bình với nhân dân Mỹ95 (Thế giới tri thức, số 8, 20-4-1954, tr.12). Khả năng thương lượng đã được sắp xếp như vậy.


Tiêu đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Gửi bởi: quansuvn trong 01 Tháng Mười Hai, 2019, 07:57:57 PM
Thái độ của Trung Quốc đối với Pháp

Giọng điệu của các bản tuyên bố của Trung Quốc đối với Pháp hoàn toàn khác hẳn. Chắc chắn là có thể lập một bảng dài về những lời lên án mạnh mẽ chống những hành động của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương, nhưng vẫn tưởng chúng toát ra khi đọc báo và nghe đài Trung Quốc. Về điểm này là một ý định có hệ thống đẩy Chính phủ Pari giữ những khoảng cách với Oa-sinh-tơn.


Đôi khi Anh cũng được trình bày như là nạn nhân của chính sách của Mỹ. Ví dụ như hồi tháng 8 năm 1953, Nhân dân nhật báo đã đánh giá những kết luận của hội nghị Oa-sinh-tơn (từ 10 đến 14 tháng 7) như là do Mỹ áp đặt và đi ngược lại lợi ích của Anh và Pháp trong chừng mực hội nghị đó đã hủy bỏ một dự án về hội nghị cấp cao bốn nước lớn và thay bằng cuộc họp chỉ ở cấp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao mà thôi96 (Nhân dân nhật báo, 14-8-1953). Cũng theo cách đó, việc giảm khối lượng buôn bán giữa Anh và Pháp đã được trình bày như là kết quả của chính sách Mỹ nhằm cố ý gạt Anh ra khỏi thị trường châu Á97 (People's China, 1-10-1953. Xem chương V ở đoạn sau).


Nhưng chính là hướng về nước Pháp mà Trung Quốc tăng lên nhiều lần những lời kêu gọi rời bỏ đường lối chính trị của Mỹ với hiểu biết rõ rằng những luận điểm như vậy có nhiều khả năng có được tiếng vang nào đó ở Pari hơn là Luân Đôn98 (Chính sách của Trung Quốc đối với Pháp (và ở mức thấp nhất đối với Anh) biểu hiện trước chừng nào một chính sách tương lai của Trung Quốc ở châu Âu, Xem chương XI).


Chắc chắn là chiến dịch dư luận đó đã được phát triển để làm hậu thuẫn cho một chính sách, còn khá cứng rắn ở nhiều khía cạnh. Ngày khai mạc Hội nghị Béc-lin, 25 tháng 1-sự trùng hợp ngày tháng này không phải là ngẫu nhiên-cũng là ngày các nhà đương cục Trung Hoa tịch thu tài sản của hai công ty Pháp: Tiết kiệm quốc tế và Địa ốc Trung Hoa (International Saving Society và Foncière de Chine) và của một công ty Anh-Pháp về đầu tư đất đai (Anglo-French Land Investment Company), cả ba đều đặt trụ sở ở Thượng Hải99 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Mát-xi-gli/Luân Đôn/số 297-298/25-1-1954). Tuy vậy ở một bình diện khác, những cuộc vận động qua trung gia Liên Xô và Thụy Sĩ để trả lại tự do những kiều dân Pháp cuối cùng còn bị giam giữ (đa số là những nhà tu hành) và cho phép một số người khác được rời khỏi Trung Quốc, đã đạt được vài kết quả phải chăng bởi vì trước khi hội nghị họp, có 11 nhà truyền giáo được thả và có thể rời Trung Quốc qua Hồng Công. Khi khai mạc hội nghị, ở Trung Quốc còn 17 người Pháp còn bị giam giữ, 2 người còn bị giam chặt và 2 người khác bị từ chối không được cấp thị thực xuất cảnh100 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Những người Pháp bị giam giữ ở Trung Quốc", 27-4-1954. Tướng Ra-đa Đại sứ Pakistan tại Trung Quốc cũng đã có một vai trò nhận định trong việc giao trả tự do này. Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Ô-giê/Karachi/số 89-91/26-2-1954). Nhưng các tháng 2, 3, 4 năm 1954 là những tháng Việt Minh được Trung Quốc viện trợ lớn nhất. Nếu việc chuyển giao viện trợ đó nằm trong lô-gích của một chính sách giúp đỡ công cuộc giải phóng nhân dân Việt Nam và nếu những viện trợ đó theo quan điểm của Trung Quốc, nhằm biện hộ cho sự cần thiết của cả Trung Quốc lẫn Việt Minh giành thế mạnh trong thương lượng một khi họ đã hướng về thương lượng thì theo quan điểm của Pháp, những viện trợ đó không phải là như vậy mà chỉ có thể coi là những bằng chứng rõ ràng về sự ngoan cố của Trung Quốc.


Ở Pari, thái độ ngoan cố đó chỉ có thể củng cố chiều hướng dư luận có lợi cho một cuộc can thiệp của Mỹ ở Đông Dương.

Vì vậy, có lẽ để giảm nhẹ hậu quả do chính sách của mình, có thể gây ra, Trung Quốc đã chủ động phát động ngay sau hội nghị Béc-lin một chiến dịch tuyên truyền rộng rãi nhằm tách càng xa càng tốt nước Pháp khỏi đồng minh là Mỹ, làm mọi việc để chứng minh lợi ích của Pháp chỉ có thể được bảo vệ nếu chống lại Mỹ. "Chính sách của Oa-sinh-tơn đối với Đông Dương-tạp chí People's China (nhân dân Trung Quốc) viết: không phải chỉ chống lại lợi ích của nhân dân các nước Đông Dương mà còn chống lại lợi ích của nhân dân Pháp"101 (People's China, 1-4-1954, tr.9).


Theo hướng đó, đại sự ký do tạp chí Thế giới trí thức công bố cuối tháng 4 năm 1954 đã đăng lại một số lớn những lời tuyên bố của các nhân vật Pháp đối lập các lợi ích của Pháp với lợi ích của Mỹ. Ví dụ như, một tuyên bố của Lê-ông Pi-nhông (Leon Pignon), Cao ủy Pháp ở Đông Dương, vào tháng 5 năm 1950, đã tố cáo những nguy cơ can thiệp của Mỹ vào các công việc chính trị Đông Dương đang tăng lên theo sự phát triển của viện trợ Mỹ102 (A Chronicle of Principal Events Relating to the Indo-China Question (Đại sự ký về các các sự kiện chính liên quan đến vấn đề Đông Dương), sách đã dẫn, 12-5-1950), hoặc là một báo cáo kinh tế Pháp năm 1951 nhấn mạnh đến việc Mỹ âm mưu chiếm đoạt tài nguyên của Việt Nam và chính sách của chính phủ Mỹ trái với lợi ích của tư bản Pháp ở Đông Dương103 (Như trên, ngày 16-3-1951, về điểm này cũng xem P.E-ly, sách đã dẫn, tr.32, đã khẳng định một phần sự phân tích này); hoặc một tuyên bố của Pôn Rây-nô (Paul Raynaud) tháng 8 năm 1951 nói rằng Đông Dương cung cấp cho Mỹ 89% nhu cầu về cao su thiên nhiên và 52% nhu cầu về thiếc và do đó, việc bảo vệ bán đảo phù hợp với việc  bảo vệ lợi ích của quốc gia họ104 (Như trên. Ngày 20-9-1951 (có vẻ như những con số liên quan đến cả Đông Nam châu Á hơn là chỉ nói riêng về Đông Dương). Hai năm sau, Hội nghị Giơ-ne-vơ, tướng Na-va viết không có gì khác: Nguy cơ nghiêm trọng nhất của viện trợ Mỹ là về mặt chính trị. Viện trợ đó sẽ đưa đến sự thay thế dần dần ảnh hưởng của chúng ta bằng ảnh hưởng của Mỹ bên cạnh các quốc gia liên kết. Chúng ta đã đi đến tình trạng trái ngược là nhận viện trợ Mỹ thì hầu như chắc chắn là chúng ta mất Đông Dương, ngay cả nếu sự viện trợ đó giúp chúng ta chiến thắng (H.Na-va, sách đã dẫn, tr.28, 66-67, 96-97/113-138)) v.v...


Theo Trung Quốc, cuộc chiến tranh Đông Dương, phân tích đến cùng đã bị các tổ chức độc quyền Mỹ lợi dụng. Một sự phân công lao động thực sự đã hình thành, Mỹ cung cấp vũ khí (do những người đóng thuế trả tiền) và nước Pháp "cung cấp xác chết". Nước Pháp đã kiệt quệ, trên bờ của sự phá sản, biên giới không còn được  bảo vệ, bấy nhiêu sự suy yếu đó cho phép mỹ kiểm soát chặt chẽ tốt hơn nước Pháp cũng như Đông Dương105 (People's China, 1-7-1954). Ngoài ra, Chính phủ Oa-sinh-tơn đã sẵn sàng thay thế Pháp ở Đông Dương. Nhân dân nhật báo kết luận: "Những âm mưu đen tối của Đa-lét đang đưa nước Pháp đến ngõ cụt, hiển nhiên là xung đột với lợi ích của Pháp"106 (Nhân dân nhật báo ngày 19-4-1954, dẫn trang hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Buy-đôn/Hồng Công/số 136-138, 20-4-1954).


Vậy thái độ duy nhất hợp lý, đáp ứng lợi ích căn bản của Pháp là chính sách hòa bình, độc lập với những âm mưu xâm lược của Mỹ. Theo Trung Quốc, nhân dân Pháp nhất trí đòi hỏi một chính sách nhằm giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương và giải phóng nước Pháp khỏi sự can thiệp và kiểm soát của người Mỹ107 (Nhân dân nhật báo, 16-3-1954, dẫn trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Buy-đôn/Hồng Công/số 66-70, 18-3-1954). Rất nhiều tuyên bố của các chính khách Pháp tán thành thương lượng đã được dẫn ra để chứng minh cho luận điểm đó, những tuyên bố của Guy Mô-lê, Mô-ri-xơ Pô-rơ, v.v... mà người ta còn nhớ rằng đã được phát biểu trong một cuộc hội nghị có Trung hoa nhân dân tham dự108 (People's China, ngày 1-4-1954, tr.4. Ngoài ra nên nhớ rằng tổng thống Ô-ri-ôn cũng như Mit-tơ-răng, Plee-ven bao giờ cũng tán thành một cuộc thương lượng như vậy (V.Ô-ri-ôn, sách đã dẫn, tr.195, 295, 507 v.v...)).


Vậy kết quả của hội nghị Giơ-ne-vơ tùy thuộc rộng rãi vào thái độ của Pháp: các đại diện bán chính thức của chính phủ Trung Quốc tại Hồng Công như Fei Yiming, Tổng biên tập của tờ Đại công báo ở địa phương và Pe-rey Chen, cố vấn pháp luật, luật sư bào chữa cho các cơ quan cộng sản ở Hồng Công, đã cho biết một trong những nhiệm vụ đầu tiên của đoàn đại biểu Trung Quốc sẽ là xác định "xem lập trường của Pháp lệ thuộc hoàn toàn vào chính sách đối ngoại của Mỹ, hoặc ngược lại Pháp có thể khẳng định rõ ràng ý muốn giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương hay không109 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Hồng Công/số 129-140 và 141-146/20-4-1954). Tờ Nhân dân nhật báo xác nhận điều đó một cách gần như chính thức: "Nhân dân toàn thế giới chăm chú theo dõi Chính phủ Pháp, chờ xem họ có chính sách như thế nào tại Hội nghị Giơ-ne-vơ. Không còn nghi ngờ gì nữa là nước Pháp có thể hy vọng nhìn vào tương lai với điều kiện Pháp khẳng định chính sách đối ngoại độc lập, và cố gắng lập lại hòa bình ở Đông Dương, phù hợp với lợi ích của nước Pháp"110 (Nhân dân nhật báo ngày 19-4-1954, dẫn trong hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/điện Buy-đôn/Hồng Công, số 137-138/20-4-1954. Cũng xem Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề "Lập trường của Trung hoa nhân dân sắp đến ngày họp Hội nghị Giơ-ne-vơ, 24-4-1954). Đó là những lý lẽ mà một số nhà quan sát và nhà thương lượng của Pháp không thể tỏ ra vô tình111 (Xem chương V ở đoạn sau).


Khi Hội nghị Giơ-ne-vơ khai mạc, lập trường quốc tế của Trung Quốc là tương đối rõ ràng. Xem ra lập trường đó được tóm tắt đầy đủ trong bản ghi nhớ của Bộ Ngoại giao Pháp đề ngày 24 tháng 4 năm 1954:

-Trung Hoa cộng sản mong muốn vai trò cường quốc thứ năm.

-Địa vị ưu thế của Trung Quốc ở châu Á phải được thừa nhận: Không có vấn đề nào ở đây có thể được giải quyết mà không có sự góp sức của Trung Quốc.

-Tự do trao đổi buôn bán giữa Đông và Tây phải được khôi phục vì lợi ích của tất cả các bên112 (Điểm này sẽ được nghiên cứu chi tiết ở chương V).

-Chính sách của Trung Quốc là một chính sách hòa bình dựa trên nền độc lập của các dân tộc.

-Ngược lại, chính sách của Mỹ là một chính sách chiến tranh. Mỹ tìm cách bao vây Trung Quốc bằng một vành đai căn cứ quân sự. Ở Đông Dương, họ cố gắng tăng cường chiến tranh và thay thế địa vị của Pháp.

-Hòa bình phải được lập lại ở Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập của các dân tộc. Lợi ích của nước Pháp là tách khỏi chính sách của Mỹ và ký kết hòa bình113 (Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp/châu Á-châu Đại dương/bản ghi nhớ về vấn đề: "Lập trường của Trung hoa nhân dân gần đến ngày họp hội nghị Giơ-ne-vơ" 24-4-1954. Bản này thêm một điểm cuối cùng: "Hòa bình ở Đông Dương phải được thương lượng trực tiếp hoặc giữa Pháp và Việt Minh hoặc giữa Việt Nam (ngụy-N.D) và Việt Minh". Vấn đề cụ thể về những thủ tục có thể có được của giải pháp cho cuộc xung đột Đông Dương theo quan điểm của Trung Quốc, sẽ được đề cập sau, xem chương IV: "Những bước đầu của Hội nghị về Đông Dương").


Đó là thực sự tinh thần các luận điểm mà đoàn đại biểu của Trung Quốc sẽ  bảo vệ và phát triển ngay từ những gia đoạn đầu của cuộc thương lượng.