Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:28:32 AM



Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:28:32 AM
Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Nhà xuất bản: Chính trị quốc gia
Năm xuất bản: 2010
Số hóa: macbupda

Quân sử Việt Nam xin chân thành cám ơn
PGS, TSKH. Nguyễn Hải Kế đã gửi tặng diễn đàn cuốn sách này

(http://img87.imageshack.us/img87/7272/biaww.jpg)

(http://img218.imageshack.us/img218/4606/kinhbieu.jpg)

BAN BIÊN SOẠN
GS. NDND. PHAN HUY LÊ
Nhà sử học DƯƠNG TRUNG QUỐC
TRẦN XUÂN THANH


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:30:07 AM
LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một trong những người học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, vị Đại tướng của nhân dân. Tài năng và đức độ của ông được thể hiện tập trung nhất ở tinh thần “Dĩ công vi thượng” (đặt lợi ích của nhân dân, của đất nước lên trên hết). Trong suốt cuộc đời mình, ông luôn tâm niệm và làm đúng theo lời dạy đó của Bác Hồ. Tên tuổi và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với cuộc kháng chiến giành và bảo vệ độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam, giành trọn niềm tin yêu của toàn Đảng, của nhân dân, toàn quân, của bạn bè quốc tế và của cả những người trước đây là đối thủ của ông trên chiến trường.

Vốn xuất thân từ một thầy giáo dạy lịch sử, ông còn là tác giả của nhiều công tình, nhiều tập hồi ký, ký sự, bài viết có giá trị tái hiện lại những thời kỳ đầy gian khổ, khó khăn nhưng cũng rất anh hùng, vẻ vang của dân tộc ta, quân và dân ta. Các bài viết của ông được thể hiện bằng tâm hồn và ngòi bút của một nhà sử học, một nhà văn hóa, thể hiện niềm tự hào của ông về lịch sử oanh liệt của đất nước, về truyền thống dân tộc cùng những trăn trở trước những vấn đề mà giới sử học đang quan tâm. Từ năm 1990 đến nay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được tôn vinh là Chủ tịch danh dự Hội Khoa học lịch sử Việt Nam. Trên cương vị này, ông đã dành nhiều sự quan tâm cho nền sử học Việt Nam và có nhiều ý kiến chỉ đạo, định hướng cho hoạt động của Hội Khoa học lịch sử nhằm tôn vinh, bảo tồn các giá trị của nền văn hóa dân tộc và phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng của nhân dân ta.

Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của vị Đại tướng nhân dân, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia phối hợp cùng Hội Khoa học lịch sử Việt Nam xuất bản cuốn Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam. Cuốn sách gồm hai phần:

- Phần I: Những bài viết của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, tập hợp một số bài viết hoặc trích từ hồi ký của Đại tướng đã được đăng trên Tạp chí Xưa & Nay về hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc, về các sự kiện lịch sử, các nhân vật lịch sử và các hoạt động của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam.

- Phần II: Những bài viết về Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, gồm các bài viết của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng, những kỷ niệm, những ấn tượng vô cùng tốt đẹp và lòng khâm phục, kính trọng mà họ dành cho vị Tổng Tư lệnh thân yêu của nhân dân.

Cuốn sách là một món quà nhân dịp Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân ta vui mừng chúc thọ Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, một tài năng quân sự, một nhân vật đã trở thành huyền thoại không chỉ của Việt Nam mà còn đối với thế giới.

Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc

Tháng 8 năm 2010           
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:32:08 AM
LỜI NÓI ĐẦU

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là “người Anh Cả của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam”, là Đại tướng Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ giành lại trọn vẹn độc lập quốc gia và thống nhất Tổ quốc. Đại tướng là một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Đại tướng của nhân dân. Tên tuổi và sự nghiệp của Đại tướng đã được ghi nhận, tôn vinh trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong nước và trên thế giới, đã ghi danh vào nhiều bộ Từ điển bác khoa và Bách khoa thư của nhiều nước. Đặc biệt, con người, nhân cách và cống hiến của Đại tướng đã được ghi tạc vào lòng dân. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với những chiến thắng vĩ đại mà ông góp phần làm nên đã từng vang lên trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc của nhiều nước thuộc địa châu Á, châu Phi. Đại tướng Võ Nguyên Giáp được thế giới biết đến như là một trong những danh tướng của thế giới, một vị tướng huyền thoại của chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân.

Trước khi trở thành một Đại tướng lừng danh, Võ Nguyên Giáp đã từng là một nhà báo, nhà sử học, một thầy giáo dạy sử tại trường Thăng Long (Hà Nội). Và cùng với binh nghiệp rạng rỡ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn dành nhiều tâm sức cho sự nghiệp nghiên cứu và viết lịch sử. Những tập hồi ký của Đại tướng là những bộ sử kháng chiến trung thực, phong phú, sống động. Một số tác phẩm tổng kết chiến tranh của Đại tướng có giá trị như những bộ binh pháp hiện đại. Ngoài ra, Đại tướng còn nghiên cứu và công bố nhiều công trình, luận văn về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, về một số chiến công và sự kiện lịch sử tiêu biểu, về một số anh hùng dân tộc và danh nhân văn hóa, một số tướng lĩnh quân đội nhân dân hiện đại. Đại tướng vừa làm sử, vừa viết sử, một sự kết hợp hiếm có của tài năng quân sự với tài năng sử học.

Sau khi tổ chức lại và mở rộng hoạt động trên phạm vi toàn quốc, năm 1990 Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Trần Văn Giàu làm Chủ tịch danh dự của Hội. Tiếp theo, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ III (1995-2000), IV (2000-2005) và V (2005-2010) đều nhất trí tôn vinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Giáo sư Trần Văn Giàu làm Chủ tịch danh dự của Hội.

Tuy tuổi cao nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dành sự quan tâm đặc biệt cho nền sử học Việt Nam. Đại tướng đã trực tiếp tham dự các Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, một số hội nghị Ban Chấp hành Tư Hội, các diễn đàn và một số hội thảo khoa học do Hội tổ chức. Đại tướng thường xuyên nghe báo cáo về tình hình hoạt động của Hội và đưa ra những ý kiến chỉ đạo rất cơ bản. Đại tướng luôn luôn nhấn mạnh vai trò, sứ mạnh quan trọng của sử học trong nghiên cứu khoa học cũng như trong phổ cập tri thức lịch sử, giáo dục truyền thống dân tộc và cách mạng trong nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ. Trước tình trạng sa sút của việc giảng dạy môn lịch sử trong các trường phổ thông, Đại tướng rất lo lắng và đã tham gia diễn đàn cùng giới sử học, các thầy giáo, cô giáo, tìm các giải pháp khắc phục và đưa ra các kiến nghị nâng cao chất lượng dạy và học sử trong nhà trường. Đại tướng cũng rất chăm lo đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị của di sản văn hóa dân tộc và cách mạng. trong hoạt động của Hội Khoa học lịch sử, Đại tướng nhắc nhở yêu cầu tập hợp, đoàn kết giới sử học cả nước, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Theo đề nghị của Hội, Đại tướng đã vui lòng tiếp và trao đổi với một số nhà Việt Nam học nổi tiếng trên thế giới. Vài năm gần đây, tuy tuổi cao, sức yếu, Đai tướng vẫn dành sự quan tâm, ưu ái cho giới sử học, lắng nghe về những hoạt động của Hội.

Năm nay Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ở tuổi 100 tính theo tuổi ta và ngày 25 tháng 8 năm 2010 là ngày sinh nhật thứ 100 của Đại tướng. Để bày tỏ tấm lòng tôn kính, biết ơn đối với một vị khai quốc công thần của đất nước, đối với vị Chủ tịch danh dự của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Ban Thường vụ của Hội đã xin phép Đại tướng cho xuất bản một cuốn sách mang tên: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam.

Cuốn sách tập hợp một số bài Đại tướng viết hoặc trích trong hồi ký của Đại tướng về hai cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất Tổ quốc đã đăng trên Tạp chí Xưa & Nay của Hội, những bài viết về một số sự kiện và nhân vật lịch sử, một số tướng lĩnh quân đội nhân dân trong các hội thảo khoa học, những bài viết, bài phát biểu về các hoạt động của Hội và một số bài của giới sử học viết về Đại tướng. Chúng tôi cũng tuyển chọn một số ảnh kỷ niệm những lần Đại tướng gặp gỡ, trao đổi, tham dự hoạt động của Hội, những lần mừng sinh nhật của Đại tướng, đưa vào cuốn sách.

Chúng tôi coi cuốn sách này là một tặng phẩm kính tặng Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch danh dự của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhận dịp sinh nhật lần thứ 100 với tất cả tấm lòng tôn kính, quý mến, biết ơn của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và giới sử học cả nước.

Hà Nội, ngày 25 tháng 7 năm 2010  
GS, NGND. Phan Huy Lê           
Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:34:37 AM
Phần I

Những bài viết
của Đại tướng, Tổng Tư lệnh
Võ Nguyên Giáp

MỆNH LỆNH KHỞI NGHĨA CỦA ỦY BAN
CHỈ HUY LÂM THỜI KHU GIẢI PHÓNG(1)

Các đội trưởng chính trị viên, đội viên Giải phóng quân, các đội tự vệ các ủy ban nhân dân và các đoàn thể dân chúng,

Ngày 2 tháng Tám năm 1945, giặc Nhật đã hoàn toàn tan rã và xin đầu hàng quân Đồng Minh, cuộc hội nghị Nga, Anh, Mỹ họp ở Mạc Tư Khoa đã chuẩn y việc đầu hàng của Nhật, thế là cuộc chiến tranh Thái Bình Dương sắp kết liễu.

Giờ phút khởi nghĩa đã tới, cuộc chiến tranh chúng ta đến lúc quyết liệt. Các đồng chí hãy kiên quyết và bình tĩnh mà thi hành những chỉ thị dưới đây:

1. Huy động bộ đội đánh vào các đô thị, nếu đủ điều kiện thắng lợi.

2. Bố trí đánh chặn những bộ đội rút lui của địch.

3. Trước lúc hành động nên gửi tối hậu thư cho quân đội Nhật và lính bảo an, họ không đầu hàng hãy tiêu diệt.

4. Đối với quân đội Nhật đã hàng theo ta phải hết sức đối xử tử tế, một phần lớn cho vào tập trung dinh, còn một phần có thể tuyên truyền cho họ rồi tung họ về các bộ đội Nhật ở các nơi để gây ảnh hưởng. Binh lính người Việt Nam thì thả cho về sau khi tuyên truyền cho họ.

5. Khi đánh được một trận thì lập tức bổ sung bộ đội với số vũ khí thu được, trừ khi có bộ đội đặc biệt, còn thì một phần ba bộ đội lui về đóng ở địa phương. Hai phần ba chuẩn bị sẵn sàng kéo đi tới nơi khác cần chiến đấu hay chiếm đóng.

6. Sau khi chiếm các đô thị, tất cả những quân nhu lương thực không cần dùng đến ngay thì lập tức đưa vào những căn cứ của ta cất giữ.

7. Trong giờ phút này sự liên lạc cần giữ cho chặt, bộ đội bao giờ cũng phải liên lạc với đại bản doanh, có tình hình mới phải lập tức báo cáo.

8. Các ủy ban nhân dân và toàn thể dân chúng phải hết lòng, hết sức hợp với các bộ đội. Toàn thể quân và dân phải chuẩn bị cho đủ tinh thần để tiếp tục cuộc tranh đấu vì quyền hoàn toàn độc lập cho đất nước.

9. Đối với bọn Pháp Đờ Gôn thì cứ theo thông cáo cũ, còn đối với người ngoại quốc khác, thì sẽ có chỉ thị riêng.

10. Lúc này là lúc quân sự, hành động kỷ luật phải rất nghiêm.

Hỡi các đồng chí,

Để đảm bảo sự thành công của cuộc khởi nghĩa, các đồng chí hãy thi hành mệnh lệnh này cho nhanh chóng, kiên quyết, anh dũng, thận trọng.

- Tiêu diệt phát xít Nhật.

- Việt Nam hoàn toàn độc lập.

- Việt Nam giải phóng quân muôn năm.

- Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam muôn năm.

Ngày 12 tháng 8 năm 1945
Ủy ban Chỉ huy lâm thời  
Khu Giải phóng        
Văn                   


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 19, tháng 9 năm 1995.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:37:53 AM
THỦ ĐÔ HÀ NỘI
VỚI CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

(Lược ghi bài nói tại cuộc gặp mặt truyèn thống
Các chiến sĩ Việt Minh thành Hoàng Diệu ở Nhát hát lớn,
Nay 16-8-2000)
(1)

Hôm nay, tôi muốn phát biểu về tầm vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám. Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta cũng như lịch sử các nước trên thế giới, Cách mạng tháng Thám là một cuộc khởi nghĩa thành công vĩ đại nhất. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, nhân dân ta đã tự lực đứng lên để giải phóng, đưa nước ta trở hành một nước độc lập, tự do, với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

Vì đâu mà có sự kiện vĩ đại như vậy?

Một, trước hết là do có đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ anh minh của giai cấp và dân tộc. Đường lối đó được quyết định tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 họp vào tháng 5-1941. Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng của Bác Hồ: không sách vở, giáo điều, mà ngược lại xuất phát từ quan điểm thực tiễn: Đặt Tổ quốc lên trên hết, tạm gác cách mạng thổ địa, đoàn kết toàn dân, đoàn kết tất cả các lực lượng yêu nước, mọi giai cấp, giai tầng, cá nhân yêu nước trong một mặt trận - Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh - gọi tắt là Việt Minh, đánh đổ đế quốc xâm lược và bè lũ ay sai, giành lại độc lập và thống nhất cho nước nhà. Nếu không có quyết định lịch sử đó thì không có Cách mạng Tháng Tám. Không những thế, lúc đã có quyết định đúng đắn rồi, Đảng và Bác Hồ đã đề ra chủ trương chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa; theo dõi tình hình trong nước và thế giới, lúc thời cơ xuất hiện kịp thời chớp lấy thời cơ. Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã hướng dẫn cụ thể cho nhân dân, trong điều kiện nào, giờ phút nào, bằng cách nào thì đứng dậy khởi nghĩa.

Hai, nhờ có đường lối của Đảng, có truyền thống đấu tranh anh dũng bất khuất từ ngàn xưa được Đảng ta phát triển lên một tầm cao mới. Nhân dân ta đã nô nức tham gia Mặt trận Việt Minh chuẩn bị lực lượng, lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang của toàn dân. Lúc chuẩn bị khởi nghĩa, trong một cuộc họp ở hang Pác Bó, có cán bộ nêu vấn đề chuẩn bị khởi nghĩa nhưng mà không có súng. Bác Hồ nói: Không sợ, có người khắc có súng; người trước, súng sau; có dân thì có tất cả. Phong trào Việt Minh nhanh chóng lan rộng

Toàn dân trong cả nước theo lời kêu gọi của Đảng chuẩn bị sẵn sàng. Lực lượng to lớn nhất dưới bầu trời là lực lượng của toàn dân, trong đó có lực lượng nhân dân Hà Nội.

Ba, sức mạnh đoàn kết và nghị lực sáng tạo của quần chúng, đây là điểm nổi bật. Ngày 12 tháng 8, có tin Nhật sắp đầu hàng. Mệnh lệnh kinh nghiệm lập tức được ban hành trong Khu giải phóng. Ở Hà Nội, lúc thời cơ đến, tho đường lối của Đảng và chỉ thị của Trung ương, mặc dù Mệnh lệnh của Ủy ban Khởi nghĩa và Quân lệnh số Một chưa đến Hà Nội thì nhân dân Hà Nội, các chiến sĩ Việt Minh ở Hà Nội, tự vệ Hà Nội dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Hà Nội, lúc đó chỉ có mấy chục đảng viên, nhưng hết sức sáng tạo, gan dạ, đồng lòng cùng với đông đảo đồng bào đứng lên khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân.

Ngày nay, nước ta đã bước vào thời kỳ lịch sử mới. Kỷ niệm cuộc khởi nghĩa Tháng Tám, chúng ta càng phải ôn lại những bài học lịch sử, những nhân tố cơ bản đã đưa nhân dân ta đến thắng lợi vĩ đại: Đường lối đúng đắn, chỉ thị cụ thể, chuẩn bị lực lượng, nắm đúng thời cơ, phát huy sức mạnh đoàn kết và nghị lực sáng tạo của toàn dân.

Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã giành được những thắng lợi cực kỳ to lớn về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Tuy nhiên, chúng ta phải có dũng khí nhìn thẳng vào sự thật. Sự thật ấy là nước Việt Nam ta còn nghèo nàn và lạc hậu. Ham muốn tột bậc của Bác Hồ lầ nước nhà được độc lập, thống nhất, chúng ta còn có nhiệm vụ làm cho nhân dân được tự do, hạnh phúc. Bác cũng thường nhắc nhở: Cuộc chiến đấu chống nghèo nàn, lạc hậu còn khó khăn hơn cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Do vậy, chúng ta có quyền tự hào với những thắng lợi đã giành được, nhưng không được chút nào tự mãn. Nhiệm vụ của chúng ta làm làm sao khi bước vào thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ ba, thì đất nước Việt Nam sẽ vững bước tiến lên nhanh hơn nữa, tiến kịp các nước trung bình rồi các nước tiên tiến trên thế giới. Chúng ta có làm được điều đó không, biến ước mơ đó thành sự thật không? Có lẽ không một ai không tin rằng chúng ta sẽ làm và nhất định làm bằng được.


(1) Cuộc gặp mặt truyền thống do Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Mặt trận Tổ quốc thành phố Hà Nội tổ chức với sự có mặt của 361 cựu chiến sĩ Việt Minh đã tham gia cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tại Hà Nội năm 1945. Tổng Bí thư Lê Khá Phiêu, Cố vấn Đỗ Mười đã gửi lời chúc mừng, các ủy viên Bộ Chính trị Nông Đức Mạnh - Chủ tịch Quốc hội, Nguyễn Phú Trọng - Bí thư Thành ủy và nhiều vị lão thành cách mạng khác đã đến dự. Bài đăng trên Tap chí Xưa & Nay, số 78, tháng 8 năm 2000, tr.4-5.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:39:51 AM
Muốn làm được nhiệm vụ lớn lao ấy, trước hết, chúng ta phải nhận rõ tình hình của đất nước, dân tộc ta đã tỏ ra rất anh hùng, rất tài giỏi về nhiều mặt, nhưng như trên đã nói, chúng ta đang còn là một nước lạc hậu và nghèo trên thế giới. Thu nhập quốc dân và năng suất lao động còn thấp hơn hàng chục lần so với các nước trung bình của thế giới, thấp hơn hàng trăm lần so với các nước tiên tiến. Trong lúc nước ta còn là một nước nông nghiệp, bắt đầu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì có những nước đang tiến vào nền kinh tế tri thức, nền văn minh trí tuệ. Trào lưu toàn cầu hóa đang lôi cuốn cả hành tinh như một một cơn lốc, cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển với một nhịp độ siêu tốc. Chúng ta đang đứng trước những cơ hội mới đi đôi với những thác thức quyết liệt.

Trước đây, Mác đã từng tiên đoán thiên tài: đến một ngày nào đó, lực lượng lao động sẽ thay đổi, sẽ có một giai cấp công nhân khoa học, và hàm lượng lao động cơ bắp trong mỗi sản phẩm xã hội sẽ thu lại đến mức cực kỳ nhỏ bé (infiniment petit), còn hàm lượng chất xám, hàm lượng lao động trí tuệ sẽ ngày càng tăng. Hiện nay, lao động trí tuệ, chất xám đã trở thành lực lượng sản xuất tiên tiến nhất, lực lượng sản xuất hàng đầu. Trước đây, Lênin đã từng nói: Chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xô viết cộng với điện khí hóa. Nếu Lênin còn sống đến bây giờ tôi xin mạn phép Lênin nêu lên: Ở Việt Nam, chủ nghĩa xã hội là chính quyền nhân dân cộng với “tin học mới”, cộng với khoa học công nghệ tiên tiến nhất, những công nghệ mũi nhọn của nền văn minh trí tuệ, của nền kinh tế tri thức. Với tư cách là một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, chủ nghĩa xã hội phải có lực lượng sản xuất tiên têín nhất, cao hơn chủ nghĩa tư bản.

Chúng ta cũng cảm thấy rằng, hiện nay, một số nước tư bản phát triển đang sử dụng sức mạnh kinh tế, công nghệ và quân sự để khống chế thế giới, gây ra những cuộc xung đột, chiến tranh và nhiều hiện tượng tiêu cực; mặt khác, chủ nghĩa tư bản thông qua các tập đoàn xuyên quốc gia, cũng đang nắm những thành tựu tiên tiến nhất về khoa học và công nghiệp của nhân loại.

Trong suốt tiến trình lịch sử của mình, dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu nước, có tinh thần đoàn kết và có trí tuệ thông minh sáng tạo. Trong lịch sử, chúng ta đã từng có trạng nguyên của hai nước. Gần đây, chúng ta có đoàn học sinh Olympic tin học quốc tế, đứng đầu 65 nước, đáng lẽ phải hoan nghênh ít nhất thì cũng phải tương đương với các đội bóng đá, các cuộc thi thời trang…

Hà Nội, có được những thành tựu như ngày nay là vì Hà Nội là nơi biểu hiện tập trung của truyền thống yêu nước Việt Nam và trí tuệ sáng tạo Việt Nam.

Hôm nay tôi mong rằng, kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, các chiến sĩ Việt Minh năm xưa đã cùng với nhân dân ta làm nên những việc tưởng chừng như không làm được, làm nên huyền thoại, thì bước sang thế kỷ mới, nhân dân Hà Nội, đảng viên Hà Nội, Việt Minh cũ, Việt Minh mới, cả “Việt Minh carê” nữa, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy, Ủy ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và dưới sự lãnh đạo của Trung ương, dám nhìn rõ sự thật, dám xốc tới vươn lên phát huy tinh thần yêu nước cao nhất, trí tuệ cao nhất, sáng tạo cao nhất để làm chu Thủ đô Hà Nội trở thành một thủ đô giàu mạnh nhất, trí tuệ nhất.

Trước đây, Hà Nội có Văn Miếu (Quốc Tử Giám) là trường đại học đầu tiên của nước Việt Nam nghìn năm văn hiến, thì rồi đây, thực hiện bằng được nghị quyết của Trung ương và Chính phủ coi giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách số một, tiến hành một cuộc cách mạng mới về giáo dục và đào tạo, xác định phương hướng mục tiêu và mô hình tổ chức hợp lý về giáo dục, mà hiện nay đang xuống cấp, thì Thủ đô Hà Nội sẽ đề nghị với Trung ương và Chính phủ thành lập ở Thủ đô một trung tâm đại học tiêu biểu cho trí tuệ cả nước - một Quốc Tử Giám của thời đại Hồ Chí Minh.

Vào lúc này, tất cả chúng ta đều nhớ đến Bác Hồ kính yêu, đến các đồng chí lãnh đạo năm xưa, đến các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống để chúng ta có được ngày nay, hớ đến các thế hệ Việt Nam đã chiến đấu bảo vệ Thủ đô Hà Nội. Có thể nói, trên thế giới, chưa có một cuộc chiến đấu nào trong một thành phố lớn, một Thủ đô giữa một bên là nhân dân với bên kia là lực lượng vũ trang chính quy và hiện đại của kẻ địch mà lại giành được thắng lợi. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, lúc đầu Mác và Ăngghen có nói đến khởi nghĩa ở thành phố, nhưng sau thì cho rằng không thể khởi nghĩa được nếu phải đương đầu với quân đội chính quy của kẻ thù.

Như vậy, Hà Nội là Thủ đô văn hiến, có truyền thống thanh lịch và trí tuệ, lại là nơi đi trước, dũng cảm và sáng tạo trong Cách mạng Tháng Tám. Mong rằng, Hà Nội sẽ tiếp tục đi trước, sáng tạo và sáng tạo hơn nữa, xứng đáng với truyền thống Thăng Long - Hà Nội - Thủ đô của nước Việt Nam anh hùng.

Hà Nội vừa có vinh dự được Liên hợp quốc trao tặng danh hiệu “Thủ đô của Hòa Bình”. Chúng ta đều nhận thức, có được hòa bình là do thành quả chiến đấu và lao động của nhiều thế hệ nhân dân Hà Nội và nhân dân cả nước.

Cho nên, vừa rồi, được biết Hà Nội có ý sẽ xây dựng một tượng đài Hòa bình, đó là một sáng kiến tốt, cần phải xây dựng thật tốt vì đây là một công trình thế kỷ, công trình thiên niên kỷ, nhưng theo tôi, dưới chân tượng đài nên có một hệ thống phù điêu hoành tráng nói lên được cả quá trình chiến đấu và lao động của nhân dân Hà Nội.

Chúc Thủ đô Thăng Long - Hà Nội, ngày nay là Hà Nội của thời đại Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là Thủ đô của Việt Nam, tỏa sáng ở Đông Nam Á, ở Viễn Đông và trên thế giới


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:43:08 AM
TRẬN CUỐI CÙNG “ĐỂ CHO NHỮNG THẾ HỆ
SAU NÀY MÃI MÃI ĐƯỢC SỐNG VỚI ĐỘC LẬP
TỰ DO VÀ HẠNH PHÚC”
(1)

Thưa đồng bào,

Sau mấy chục năm tranh đấu quyết liệt chống bọn cướp nước, chúng ta đã gặp được thời cơ thuận tiện là cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai này. Bắt đầu từ năm 1940, nhân dân ta sửa soạn đứng lên đuổi người Pháp, rồi người Nhật để lấy lại nền độc lập. Trong bí mật, các tổ chức cách mạng của Mặt trận Việt Minh đã lan tràn trong cả nước, ở nơi rừng xanh núi đỏ các bộ đội du kích đã phát triển và tiến tới một khu giải phóng gồm sáu tỉnh miền Thượng du và Trung du Bắc Kỳ thành lập Việt Nam giải phóng quân đã mở đầu việc kiến thiết nước Nam mới. Rốt cuộc tổng khởi nghĩa đã đoạt được Chính quyền về tay nhân dân và thực hiện sự thống nhất quốc gia từ cửa Nam Quan đến núi Cà Mau. Trải muôn ngàn nỗi gian lao nguy hiểm trong đó biết bao chiến sĩ anh dũng của chúng ta đã hy sinh cho Tổ quốc, chúng ta mới có ngày nay. Giờ đây, mấy chục vạn đồng bào có mặt ở đây, cũng như hai mươi triệu đồng bào ở khắp nước, đều hồi hộp, phấn khởi dưới bóng cờ đỏ sao vàng và cùng với Chính phủ thề hy sinh đến cùng để giữ đất nước, chúng ta tuyên bố với thế giới cái quyền sống và cái kết quả cuộc chiến đấu của dân tộc ta, nó là một sự thực không ai có thể chối cãi được.

- Nước Việt Nam độc lập đã xuất hiện.

- Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập.

Sự nghiệp to tát đó sở dĩ thực hiện được là nhờ ba nguyên nhân:

Nguyên nhân thứ nhất là cuộc chiến đấu của các bậc tiên liệt đã đầu rơi rỏ máu trong bảy tám mươi năm dưới gót sắt của bọn xâm lược tàn ác, hoặc tại pháp trường, hoặc trong lao tù, hoặc ngoài mặt trận.

Nguyên nhân thứ hai là sự đoàn kết của các phần tử tiền phong trước đây và của toàn dân trong lúc này.

Nguyên nhân thứ ba là trào lưu dân chủ toàn thế giới. Sự đại thắng của Mặt trận chống phátxít đã có ảnh hưởng quyết định đến vận mệnh của nước ta.

Tuy vậy nước Việt Nam độc lập và Dân chủ Cộng hòa mởi vào những ngày đầu, hãy còn non nớt, nên chúng ta cần phải làm cho nó chóng đi đến bước trưởng thành, vững chãi, không có sức nào lấn át, lay chuyển được.

Do đó, Mặt trận Việt Minh vốn đã mở rộng, lại biến thành hẳn một phong trào cứu quốc cho toàn thể nhân dân, trong đó tất cả mọi đoàn thể, tất cả mọi cá nhân có ý chí phụng sự quốc gia đều đứng lên cùng gánh vác nhiệm vụ nặng nề là làm thực hiện sự đoàn kết của toàn dân chống mọi mưu đồ xâm lược. Một Chính phủ lâm thời có đại biểu của đủ các giới tham dự đã thay cho Ủy ban Nhân dân Cách mạng mà Quốc dân đại hội do Tổng bộ Việt Minh triệu tập đã cử ra.

Chính phủ Lâm thời bây giờ là ý chí của toàn quốc chứ không phải là ý chí của một tổ chức chính trị nào. Từ khi thành lập, nó đã kêu gọi quốc dân đoàn kết thêm, bố trí cuộc chiến đấu mạnh mẽ thêm. Tinh thần của dân ta ngày càng cao, lực lượng của nhân dân ta ngày càng lớn, Trung, Nam, Bắc cùng một lòng. Sĩ, Công, Nông, Thương, Binh cùng chung một chí. Cả đến các giáo sĩ đạo Phật và Cơ Đốc, cả đến vua Bảo Đại cũng đã nhiệt liệt hưởng ứng, tình nguyện góp sức đánh quân thù. Chính phủ Lâm thời là do sự đoàn kết, phấn đấu của nhân dân mà xuất hiện, nó lại làm cho sự đoàn kết, sâu rộng hơn nữa.

Để tăng gia và củng cố sự đoàn kết và phấn đấu ấy, chỉ nay mai Chính phủ Lâm Thời sẽ ra Sắc lệnh triệu tập Quốc hội theo nguyên tắc dân chủ. Các đại biểu của Quốc hội đều do dân bầu theo lối phổ thông đầu phiếu. Quốc hội sẽ đem lại cho chúng ta một hiến pháp và một Chính phủ chính thức.


(1) Ngày Lễ Độc lập diễn ra trên Quảng trường Ba Đình lịch sử 2-9-1945 là một sự kiện trong đại. Tạp chí í Xưa & Nay đã đăng bài tường thuật của nhà báo Hồng Hà trên tờ Cứu quốc 5-9-1945 Tạp chí ( Xưa & Nay, số 19, IX-1995) mô tả lại không khí hào hùng và những diễn biến chính của ngày lễ. Theo chương trình của buổi lễ, sau Bản Tuyên ngôn Độc lập do Bác Hồ đọc là bài phát biểu của Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp. Để bạn đọc hình dung được bối cảnh lịch sử và ý nghĩa của cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, Tạp chí Xưa & Nay, số 67, tháng 9 năm 1999 đăng lại toàn văn bài phát biểu của Bộ trưởng Võ Nguyên Giáp đăng trên báo Cứu quốc ngay sau ngày Lễ Độc lập. Tiêu đề do Tạp chí Xưa & Nay đặt.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:44:32 AM
Trong lúc chờ Quốc hội, Chính phủ Lâm thời có nhiệm vụ phải thi hành ngay những phương sách cấp bách về nội trị, ngoại giao, kinh tế, tài chính, văn hóa và cứu tế.

Về nội trị, chính sách của Chính phủ Lâm Thời là thống nhất và đoàn kết. Sự phân liệt Trung, Nam, Bắc sẽ không còn. Sự chia rẽ các dân tộc trên giải đất Đông Dương sẽ mất hẳn. Những người lầm lỗi mà biết quay lại con đường chính nghĩa sẽ được tha thứ. Tài sản và sinh mệnh của đồng bào ngoại quốc bao giờ cũng được tôn trọng. Chỉ có một điều đáng nêu cao là chính quyền của nhân dân kiên quyết bảo đảm tự do và hạnh phúc của nhân dân.

Bởi chú trọng đến điều đó, nên một mặt Chính phủ đã bắt đầu đặt sự liên lạc mật thiết giữa Trung ương và các địa phương để thi hành một chính sách duy nhất cho khắp nơi, đặng tránh những hiểu nhầm hoặc lạm dụng, một mặt Chính phủ đã sửa soạn nâng cao ý thức của quần chúng bằng tuyên truyền, cổ động và giáo dục để quần chúng biết “giữ” và biết “dùng” quyền tự do dân chủ đã giành được.

Về quân sự, đội quân Giải phóng thành lập trong những ngày lưu huyết trên chiến khu và đã ghi được những thành tích rực rỡ, đang chỉnh đốn và mở rộng thành quân đội Quốc gia đủ mạnh mẽ để bảo vệ nền Độc lập và Chính phủ Dân chủ Cộng hòa.

Việc đào tạo những cán bộ quân sự để chỉ huy quân đội chính thức cùng là du kích và dân quân sẽ thành công cấp tốc để đối phó với tình thế.

Mưu mô xâm lăng của đế quốc Pháp đang đe dọa chúng ta, nhưng với sự đoàn kết, hy sinh của toàn dân ở đằng sau những đội quân cảm tử, chúng ta sẽ thắng. Và nhất định chúng ta sẽ đập nát tất cả những cùm xích mà bọn xâm lược chực đeo vào cổ dân tộc ta một lần nữa.

Về kinh tế, sự bóc lột của Pháp và Nhật làm cho kinh tế nước ta nguy ngập. Năng lực sản xuất bị nạn độc quyền kìm hãm, những ngành công nghệ bị chế biến thành những cơ quan chết tạo vật phẩm chỉ hữu dụng cho bọn quân phiệt, những đường mối thương mại bị nạn đầu cơ tích trữ làm cho rối bét. Ngày nay để phục hưng nền kinh tế, có người tưởng Chính phủ phải quốc hữu hóa tất cả những công cuộc doanh thương. Nhưng Chính phủ sẽ không làm thế. Chính phủ sẽ kiến thiết nền quốc dân kinh tế để cho ai nấy được tự do kinh doanh. Và hơn nữa, Chính phủ còn khuyến khích, nâng đỡ tư nhân trong những công cuộc kinh doanh to tát.

Về tài chính, chúng tôi cũng không ngần ngại gì mà tuyên bố ngay rằng tình hình rất đáng lo ngại và chắc chắn là Chính phủ sẽ gặp nhiều sự khó khăn. Nhưng Chính phủ đang trù tính những phương pháp vượt qua những khó khăn ấy.

Mặc dầu những nỗi khó khăn mà Chính phủ đã lường trước được, Chính phủ cũng sẽ thi hành dần dần những điều mà quốc dân mong mỏi như bãi bỏ thuế thân, thuế chợ để giúp cho sinh kế của người nghèo được dễ dảng.

Nhưng chúng ta cũng không nên quên rằng các công cuộc kiến thiết và nhất là việc xây dựng quân đội quốc gia cần đến nhiều tiền. Cho nên để bù lại chỗ hao hụt của ngân quỹ, tất cả những phương sách đặc biệt như công trái, lạc quyên, đặt thuế lợi tức.

Trong những cách giải quyết ấy, Chính phủ trông cậy một phần lớn vào lòng ái quốc của đồng bào. Và chúng tôi tin rằng giờ phút nghiêm trọng này không còn một ai không nhận rõ là nước mất thì nhà cũng phải tan, nền Độc lập và chế độ Dân chủ Cộng hòa lung lay thì quyền lợi của riêng mình cũng sẽ không toàn vẹn. Quân thù mà trở lại đây được thì đừng nói là tự do của đồng bào, ngay đến tài sản của đồng bào cũng bị giày xéo.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:45:40 AM
Về văn hóa, Chính phủ đã lấy lượng khoan hồng mà đối đãi những nhà văn, nhà báo trước kia đi lạc đường. Ty kiểm duyệt tuy còn tam giữ là để tránh những việc thông tin hay tuyên truyền có hại đến những việc ngoại giao hay nội trị biến chuyển hàng ngày. Nhưng rồi đây, khi tình hình chính trị đã sáng tỏ, quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, sẽ ban bố ngay.

Nền giáo dục mới đang ở thời kỳ tổ chức. Chắc chắn là bậc sơ học sẽ cưỡng bách, bậc trung học sẽ không có học phí, học trò nghèo sẽ được cấp học bổng. Việc giảng dạy hết sức thiết thực sẽ đặc biệt chú trọng đến sự rèn luyện đức tính cần thiết trong cuộc đời đoàn thể rộng rãi và năng lực về kỹ thuật cần lao của con người. Trong thời gian rất ngắn sẽ ban hành lệnh bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ đến triệt đề. Vấn đề vô cùng quan trọng ấy chúng ta chẳng chờ đến lúc sự sinh hoạt trở nên bình thường mới giải quyết. Ngay trong cái hoàn cảnh eo hẹp này, chúng ta cũng quả quyết tiến hành.

Một nền học thuật Quốc gia sẽ gây dựng ngay và sẽ bắt đầu bằng việc thiết lập những ban chuyên môn nghiên cứu về từng ngành hoạt động tinh thần. Những tập quán, phong tục đồi bại, phản tiến bộ sẽ bị triệt bỏ cũng như tất cả những văn chương uế tạp bông lông đầu độc dân chúng!

Về cứu tế, nạn lụt hiện thời đặt chúng ta đứng trước một vấn đề lớn lao có ảnh hướng đến chính trị. Đó là vấn đề có gì ăn và một, hai tháng nữa phải tiếp tế cho dân những tỉnh thiếu gạo vì mất mùa. Cố nhiên là Chính phủ phải đẩm nhận cái trọng trách giữ cho nạn đói khỏi trở lại tàn sát đồng bào như mấy tháng trước đây.

Nhưng các nhà hằng sản ở khắp nơi trong nước cũng nên coi việc cứu giúp cho đồng bào như một bổn phận thiêng liêng chẳng những vì nhân đạo mà còn vì tương lai dân tộc.

Về ngoại giao, dư luận rất chú ý đến những phái bộ Đồng minh đã lục tục tới Hà Nội, và ai nấy đều băn khoăn về những kết quả ngoại giao của Chính phủ.

Trước hết, chúng tôi mong quốc dân hãy nhận định tình thế một cách trầm tĩnh để tránh những xu hướng quá chủ lạc quan, hay quá bi quan.

Chính sách ngoại giao của chúng ta dựa vào hai yếu tố: một là hoàn cảnh quốc tế, hai là lực lượng của chúng ta.

Hoàn cảnh quốc tế hiện thời có nhiều điều thuận lợi cho cuộc giải phóng dân tộc ta. Từ Hiến chương Đại Tây Dương cho đến các Hiệp định Têhêrăng, Yanta, Cựu Kim Sơn, nguyên tắc tự quyết dân tộc đã nêu cao. Các cường quốc trong Mặt trận dân chủ đã tuyên bố chiến đấu cho nền hòa bình thế giới, thì không có lý do gì mà ngày nay lại bảo vệ cho đế quốc Pháp đem quân đến gây chiến tranh với nước Việt Nam độc lập. Các cường quốc trong Mặt trận dân chủ đã tuyên bố chiến đấu cho sự bình đẳng giữa các nước, thì không có lý gì lại giúp cho đế quốc Pháp trở lại đè nén, bóc lột dân Việt Nam.

Chúng ta và cả thế giới không thể tưởng tượng được rằng sau khi đã tự ý đứng về phe Đồng minh đánh phátxít Nhật ở Đông Dương, sau khi đã góp xương máu vào cuộc chiến đấu của Đồng minh trên mặt trận Thái Bình Dương, chính chúng ta lại bị Đồng minh coi như sẽ phải ở dưới ách nô lệ của bọn thực dân Pháp là bọn đã bằng lòng cho phátxít Nhật chiếm đóng Đông Dương để làm căn cứ tiến công Phi Luật Tân, Mã Lai, Miến Điện, Hoa Nam, đã hàng phục phátxít Nhật, cộng tác với phátxít Nhật suốt thời kỳ chiến tranh. Kíp điến khi Nhật bị nguy hiểm, cướp đoạt cả quyền hành để tiện đối phó với Đồng minh, thì bọn Pháp tính đến việc trốn chạy hay đầu hàng hơn là chống lại. Trái lại, dân chúng Việt Nam đã hăng hái nổi lên đánh Nhật ở Thượng du và Trung du Bắc Kỳ, đã gây ra phong trào bài Nhật, bất hợp tác với Nhật ở khắp trong nước.

Chúng ta lại cần nói cho Đồng minh biết rằng trong suốt ba năm trời, Việt Minh luôn luôn kêu gọi người Pháp ở Đông Dương hợp tác kháng Nhật, thì họ, chẳng những đã làm lơ, mà còn thẳng tay đàn áp, bắt bớ, bắt giết những chiến sĩ chống phátxít. Ấy thế mà mỗi khi thắng trận gặp bọn Pháp bị Nhật cầm tù, chúng ta đều giải phóng cho họ.

Ngày nay, chúng đã nắm chính quyền trong tay, đối với người Pháp chúng ta vẫn đối đãi tử tế. Nhưng đó không phải là thái đội khiếp nhược hay trìu mến họ đâu. Họ nên biết điều mà công nhận quyền độc lập hoàn toàn của ta. Bằng như họ định dùng võ lực xâm phạm đến đất nước ta thì ta sẽ rỏ đến giọt mấu cuối cùng để chống lại họ. Và chắc chắn họ sẽ thất bại một cách đau đớn.

Đó là chính sách thân thiện của chúng ta đối với tất cả các nước. Riêng đối với Trung Hoa và Mỹ, chúng ta có một cảm tình đặc biệt. Trung Hoa là nước gần gũi ta nhất về địa thế và sinh hoạt, kinh tế cũng như văn hóa.

Những Hoa kiều ở đây đã bao lâu cùng với chúng ta chịu đau khổ dưới sức đè nén của Pháp rồi Nhật, đã sống giữa chúng ta một cách thân mật chẳng khác gì đồng bào ta, ngày nay đều mang sung sướng được thấy ngày giải phóng chung của hai dân tộc. Họ đã hoan nghênh, ủng hộ nền độc lập Việt Nam và Chính phủ Việt Nam sẽ bảo vệ quyền lợi của họ. Họ sẽ cùng chúng ta hưởng tự do, hạnh phúc trong một bầu không khí thân thiện, bình đẳng hoàn toàn.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:46:24 AM

Trong mọi việc ngoại giao hiện thời, điều đáng chú ý nhất là thái độ của Chính phủ Pháp Đờ Gôn đối với nền độc lập của chúng ta. Về mặt tuyên truyền, họ cố ý gây sự hiểu nhầm của các nước Đồng minh, hiểu nhầm hiện tình Đông Dương. Lúc thì họ nói là chúng ta trung thành với họ, vì họ mà đánh Nhật; lúc thì họ nói chúng ta là tay sai của Nhật, lúc thì họ vu cáo ta tàn sát đàn bà, trẻ em Pháp kiều. Nhưng chúng ta có đủ bằng cớ để đập tan những mưu mô xảo quyệt ấy. Về mặt chính trị thì họ đã bổ viên toàn quyền mới và ngầm xui những công chức người Pháp cứ âm mưu giành lại các công sở. Về mặt quân sự, họ sửa soạn đem quân vào Đông Dương. Nói tóm lại, cứ theo những tin thức nhận được gần đây thì rõ ràng là họ có ý lập lại chính quyền ở nước ta. Ta thề sống chết với họ. Dân tộc ta vốn chuộng hòa bình, song khi cần đổ máu thì cũng quả quyết đổ máu.

Thưa đồng bào.

Rồi đây tất cả mọi phương tiện, nhất là về ngoại giao, chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn. Chúng ta không ỷ lại vào ai hết. Chúng ta cũng không cầu một sự may mắn nào. Chúng ta phải tự lo liệu để định doạt lấy số phận của chúng ta. Muốn cho nội trị hoàn hảo, ngoại giao thắng lợi, chúng ta phải mau mau gây một lực lượng bằng sự thống nhất, đoàn kết, bằng sự rèn luyện chiến đấu hy sinh, bằng những hành động ủng hộ Chính phủ một cách thiết thực.

Trong lúc này, chia rẽ, hoài nghi, lãnh đạm đều là phản quốc. Trong lúc này, tâm trí mỗi người dân phải hướng cả về sự chiến đấu cho nền độc lập, sự lo lắng của mỗi người phải là một sự lo lắng chống ngoại xâm. Chỉ có thế mới thoát được họa diệt vong, mới tránh được ách nô lệ.

Hỡi đồng bào thân yêu, con cháu của Trần Quốc Tuấn, của Lê Lợi hãy đứng dậy, xếp chặt đội ngũ để đợi lệnh của Chính phủ Lâm thời.

Để cảnh cáo những kẻ định tái diễn thủ đoạn xâm lược, chúng tôi xin nhắc lời của ông Tưởng Giới Thạch nói về thái độ của các dân tộc phương Đông bị áp bức khi cuộc thế giới chiến tranh này kết liễu: “Nếu họ không được tự do, bình đẳng thì một cuộc thế giới chiến tranh thứ ba sẽ theo gót cuộc thế giới chiến tranh thứ hai này, như cuộc thế giới chiến tranh này đã học theo gót cuộc thế giới chiến tranh thứ nhất vậy”.

Dân tộc Việt Nam phải được độc lập, tự do, bình dẳng. Đó không phải chỉ là nguyện vọng riêng của dân chúng Việt Nam mà còn là nguyện vọng chung của tất cả các nước dân chủ. Dân chúng các nước ấy đã hy sinh chiến đấu để phụng sự công lý, chứ không phải để phụng sự áp bức. Nếu dân chúng các nước ấy đều thiết tha mong mỏi trông thấy các dân tộc nhỏ yếu được giải phóng thì họ cũng nghĩ như ông Tưởng Giới Thạch rằng: “Cuộc chiến tranh đã hết thì đế quốc chủ nghĩa cũng phải hết nốt, vì đế quốc chủ nghĩa tức là nguyên nhân của chiến tranh”.

Dân tộc Việt Nam đòi độc lập, tự do, bình đẳng đến cùng. Đòi bằng ngoại giao, ôn hòa chẳng được thì chúng ta hãy tuốt gươm. Chúng ta sẵn sàng nhận tất cả mọi sự có thể xảy đến. Chúng ta có thể không mạnh bằng kẻ địch, song chúng ta sẽ thắng kẻ địch như chúng ta đời Trần. Chúng ta có thể thua năm mươi trận, nhưng thắng lợi nhất định sẽ về tay chúng ta.

Dù sao đi nữa, chúng ta quyết chí nỗ lực chiến đấu thì nhất định chúng ta duy trì được những thắng lợi ngày hôm nay. Đúng như lời ông Rudơven, sự áp bức và tàn bạo đã làm cho chúng ta biết tự do nghĩa là gì.

Dưới sự lãnh đạo của Chính phủ Lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân ta sẽ đem hết của cải, xương máu ra xây đắp, tô điểm non sông, làm cho nước Việt Nam yêu quý của chúng ta lại được tươi sáng, phú cường bao năm lâm than kiệt quệ.

Noi theo truyền thống của các thế hệ trước, thế hệ chúng ta sẽ đánh một trận cuối cùng để cho những thế hệ sau này mãi mãi được sống với độc lập, tự do và hạnh phúc.

In trên báo Cứu quốc   
Số 40, 41, 42, 43 và 49,
Tháng 9-1945        


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:48:15 AM
MỘT MÙA XUÂN KHÔNG THỂ NÀO QUÊN(1)

…. Mùa xuân đến với chúng tôi cập rập trên lưng đèo, trong đêm mưa.

Không biết giờ này, Bác và các anh đang làm gì. Tết Độc lập đầu tiên ở Thủ đô chắc là vui lắm. Mười ngày trưóc, đã nghe thư Bác kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào chia sẻ cuộc vui chung với các chiến sĩ ngoài mặt trận, với gia đình các chiến sĩ. Chiều hôm nay, khi qua Đà Nẵng, được đọc thư chúc Tết của Bác, Bác đã dành những tình cảm thắm thiết cho các chiến sĩ đang “đốt thuốc súng để giữ gìn Tổ quốc trong khi đồng bào đốt pháo mừng xuân”. Trong thư, Bác có mấy câu thơ:

      Bao giờ kháng chiến thành công,
      Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.
      Tết này ta tạm xa nhau,
      Chắc rằng ta sẽ Tết sau xum vầy.


Lá thư đầu xuân Bác viết chung cho cả nước đó, mỗi người đọc, đều tưởng Bác viết cho chính mình.

Hôm sau, ra tới Huế. Chúng tôi cùng dự buổi mít tinh lớn đón xuân của đồng bào tại bến Thượng Bạc. Rừng người, cờ và biểu ngữ bát ngát. Chiều xuân chan hòa nắng ấm. Tất cả Huế đều có mặt. Đồng bào Huế sôi nổi khi nghe nói tình hình mặt trận, quyết tâm của Hồ Chủ tịch và Chính phủ là đẩy mạnh kháng chiến, tích cực chuẩn bị kháng chiến lâu dài đề phòng địch mở rộng chiến tranh. Những khẩu hiệu “Việt Nam độc lập muôn năm!”, “Hồ Chủ tịch muôn năm!”, “Chuẩn bị trường kỳ kháng chiến!”, “Ủng hộ kháng chiến Nam Bộ!” vang lên như sấm dậy kết thúc buổi mít tinh. Lần đầu trong lịch sử Huế, đồng bào ta đón mùa xuân bằng những lời hô “Quyết chiến”.

“Một năm mở đầu bằng mùa xuân”. Bác đã viết ba lá thư gửi đồng bào, chiến sĩ, thanh niên và nhi đồng nhân dịp xuân Bính Tuất. Xuân này lại là xuân mở đầu của những mùa xuân độc lập, tự do trên đất nước. Tết này, theo ý của Bác, là Tết thực hành Đời sống mới, Tết chia sẽ niềm vui chung của mọi người từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, Tết nghĩ đến các chiến sĩ đang chiến đấu ngoài mặt trận. Tối 30 Tết, tại Hà Nội. Như thường lệ, những đêm cuối năm, hai bên hè phố, các ngôi nhà, cửa đều khép kín. Đời sống vật chất còn nhiều khó khăn. Nhưng không khí của Tết Độc lập đã đến với mỗi căn nhà.

Dù giàu hay nghèo, nhà nào cũng đều có một bàn thờ Tổ quốc, có cờ nước, chân dung Hồ Chủ tịch, có đèn và hoa. Không còn ai phải đến chuyển lễ Tết các “quan trên”, các nhà chức trách, mối lo phổ biến của những người dân thành thị dưới thời Pháp thuộc. Sau bữa cơm cúng gia tiên, các chuyện ở mỗi gia đình đã là những câu chuyện mới, chuyện chính trị, chuyện về cuộc mít tinh lớn toàn thành để mừng xuân ngày mai, chuyện kháng chiến ở miền Nam. Mấy hôm trước, các khu đội tự vệ đã viết những bức thư chúc Tết, nhắc nhở đồng bào luôn luôn nhớ tới các chiến sĩ đang đem xương máu hi sinh chiến đấu ở tiền tuyến, ăn Tết Độc lập thật tươi vui nhưng tiết kiệm, dành tiền gửi cho các ủy ban Ủng hộ kháng chiến Nam Bộ.

Đồng chí Chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố vừa ăn cơm tối ở nhà riêng xong, thì Bác tới. Bác đến đột ngột, không báo trước. Bác muốn đi chúc Tết đồng bào Thủ đô nhân dịp năm mới.

Trời mưa lâm thâm. Đường phố lúc này vắng vẻ, thơm mùi thuốc pháo. Những lá cờ ban đêm thắm lại dưới ánh đèn.

Anh Hưng đưa Bác tới một gia định ở phố Cửa Nam. Chủ nhà là đại đội trưởng tự vệ. cả gia đình này đều hăng hái tham gia các hoạt động cứu quốc.

Ở nhà này ra, Bác muốn đến thăm một xóm lao động. Bác nói hãy đưa Bác tới một gia đình thật nghèo. Người nghèo trong thành phố còn nhiều lắm, nhưng đưa Bác đến nhà ai bây giờ?


(1) Tiêu đề do Tạp chí Xưa & Nay đặt, số 0, tháng 3 năm 1994, tr.7-8.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:49:01 AM
Bác bảo dừng xe trước một ngõ nhỏ ở phố Sinh Từ: Ngõ Hàng Đũa. Những ngõ, xóm này là cái mặt sau của thành phố mà bọn thực dân gần một trăm năm qua, không bao giờ nghĩ đến chuyện sửa sang, dù chỉ là xây một chiếc máy nước, hay bắc một ngọn đèn.

Trời tối. Đường mấp mô, lầy lội vì mưa. Những lá cờ treo trước các mái nhà lụp xụp, đụng cả vào đầu khách đi đường. Bác đi sâu vào trong ngõ.

Một căn nhà cửa để ngỏ, có ánh đèn dầu. Bác dừng chân, rồi rẽ vào.

Nhà khá đông người. Đây là nơi ở chung của mấy gia đinh. Giữa nhà, trên vách có treo quốc kỳ, ảnh Bác và những dây hoa giấy. Mọi người đang nói chuyện vui vẻ. Câu chuyện tạm ngừng khi ông một cụ mặc chiếc áo ka ki cao cổ, chống gậy bước vào.

Thoạt đầu, ai nấy nhìn nhau, người gia đình này tưởng ông cụ là khách của gia đình kia. Bác hỏi thăm việc chuẩn bị Tết. Những người trong nhà trả lời Bác vui vẻ. Nồi bánh chưng đặt ở góc sân, nước đang sôi. Đôi mắt Bác hiện lên ánh vui, Bác nói mấy lời chúc Tết. Mọi người bỗng nhận ra cụ già hồn hậu đến với các gia đình họ tối nay, chính là Hồ Chủ tịch. Đúng như là một giấc mộng đẹp. Người từ trên ảnh treo kia, bước ra, đứng giữa ngôi nhà nghèo nàn của họ. Khác với khi Bác tới, lúc này không ai nói nên lời. Mọi cặp mắt đều ngước nhìn Bác. Người nói:

- Nước nhà mới được độc lập. Miền Nam còn đang kháng chiến. Đồng bào lao động ta làm ăn bây giờ còn vất vả. Nhưng có độc lập rồi thì sẽ có tất cả.

Bác đi ra giữa lúc những người trong nhà còn bàng hoàng vì xúc động. Họ đã quên cả mời Bác và các đồng chí cùng đi uống nước. Tất cả đổ ra sân, đứng trông theo.

Tối hôm đó, Bác đi thăm khá nhiều nơi. Xuân độc lập đầu tiên, Người muốn mang lại niềm vui cho nhiều gia đình trong thành phố. Khi Bác tới nhà một viên chức nghèo ở phố Hàng Lọng, thì trời đã khuya. Người trong nhà sửa soạn đi ngủ. Nhưng chiếc màn đã được căng lên. Chiếc dây thép chăng giữa nhà, đầy quần áo. Không ai trong gia đình nghĩ có khách tới giờ này, và đó lại là cụ Chủ tịch nước.

Chương trình đi chúc Tết đồng bào của Bác đêm 30 đã xong. Ngày mai, mồng 1, Bác còn rất nhiều công việc. Bác sẽ tiếp các đồng chí trong Trung ương, trong Chính phủ và các đại biểu đoàn thể tới chúc Tết. Bác sẽ đi dự cuộc mít tinh đầu xuân của nhân dân toàn thành tổ chức tại Nhà hát lớn. Bác sẽ đến thăm và nói chuyện với một đơn vị Vệ quốc đoàn, vui chơi với các cháu thiếu nhi tại ấu trĩ viên, dự bữa cơm liên hoan với các chú cảnh vệ tại Bắc Bộ Phủ…

Tiễn Bác về xong, đồng chí Chủ tịch Ủy ban quay trở lại nhà. Sắp đến giao thừa, anh ra Bờ Hồ đón xuân. Phố xá lúc buổi tối vắng vẻ, giờ đã trở nên đông đúc. Người nào cũng muốn được hưởng không khí trong lành của mùa xuân độc lập đầu tiên. Chưa bao giờ, ở Hà Nội lại có một đêm giao thừa đông vui, nô nức như vậy.

Tiếng pháo đón xuân bắt đầu nổ ran khắp thành phố. Vui chân theo những người hái lộc, anh Hưng đến trước cổng đền Ngọc Sơn. Đang đi vào chùa, anh chợt nhìn thấy trong đoàn người tấp nập trên cầu Thê Húc, có một cụ già mặc áo dài, quấn chiếc khăn len quanh mặt. Chỉ thoáng nhìn đôi mắt sáng của ông cụ, anh đã nhận ra ngay đúng là Hồ Chủ tịch. Bác bước đi chầm chậm giữa những người đang chen chúc nhau vào chùa. Đồng chí Chủ tịch Ủy ban lại thấy một người đứng gần đó, đưa mắt ra hiệu cho mình. Đó là đồng chí bảo vệ của Bác. Bác không muốn để người chung quanh nhận ra. Bác đã thấy mùa xuân tại một gia đình hăng hái tham gia cách mạng. Bác đã thấy mùa xuân ở một xóm lao động, ở gia đình một viên chức nghèo. Bác còn muốn biết những giờ phút đón xuân độc lập tại đây, giữa đồng bào, trên đường phố, trong một ngôi chùa rất thân thuộc với người Hà Nội, nằm giữa hồ Hoàn Kiếm.

Đồng bào đi đón giao thừa ở đền Ngọc Sơn đêm ấy, có thấy những cành xuân của mình hái năm nay đầy lộc?

Những chuyện này khi trở về Hà Nội, tôi được biết qua lời thuật lại của các đồng chí cùng đi với Bác đêm 30 Tết. Và hầu như nhiều đêm 30 Tết sau này của Bác, cũng đều như vậy. Bác vẫn đi chúc Tết đồng bào. Những nơi Bác tới, vẫn là những gia đình có công với cách mạng, có con em đi bộ đội, những gia đình lao động, thường là những nhà neo đơn. Những cuộc đến thăm của Bác bao giờ cũng bất chợt. Người muốn đem lại cho các gia đình niềm hạnh phúc mà họ không chờ đợi. Người còn muốn hiểu không khí thật sự ở mỗi gia đình trong những ngày vui. Tất cả những việc làm đó đều đã trở thành những thói quen bình dị trong đời sống rất mực binh dị và vô cùng vĩ đại của Người.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp    
Những chặng đường lịch sử   
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2010, tr.364-310.        


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:51:01 AM
HỘI NGHỊ ĐÀ LẠT
NĂM 1946
(1)

Mấy ngày sau cuộc gặp gỡ giữa Hồ Chủ tịch và Đácgiăngliơ trên Vịnh Hạ Long, đầu tháng Tư, hãng thông tấn Roitơ đưa tin: Đácgiăngliơ được cử làm người cầm đầu phái đoàn đàm phán với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa… Thành phần của phái đoàn này gồm có đại biểu của các bộ kinh tế, tài chính, quốc phòng và Bộ Thuộc địa…

Nếu tin này đúng thì đây là một âm mưu của bọn phản động Pháp. Đácgiăngliơ là tín đồ trung thành của chủ nghĩa thực dân cũ xấu xa nhất. Cuộc nói chuyện giữa chúng ta với y sẽ không thể nào dẫn tới kết quả tốt. Việc chúng đưa đại biểu Bộ Thuộc địa vào trong phái đoàn có hàm ý: Việt Nam vẫn bị coi như một thuộc địa của Pháp.

Báo chí ta lập tức lên tiếng tố cáo đây là thủ đoạn của bọn phản động nhằm phá hoại Hiệp định. Chúng ta đòi cuộc đàm phán chính thức cần được tiến hành ở Pari theo nguyên tắc bình đẳng. Người Pháp phải từ bỏ ý định cử vào trong phái đoàn này một đại biểu của Bộ Thuộc địa. Người có quyền thay mặt cho Chính phủ Pháp trong cuộc nói chuyện với nước Việt Nam đã tự giải phóng phải là người trong Bộ Ngoại giao Pháp… Tin của hãng Roitơ không được xác nhận, cũng không bị cải chính.

Bác và các anh bàn việc tổ chức các phái đoàn đi Pháp và đi Đà Lạt. Phái đoàn Quốc hội đi thăm hữu nghị Quốc hội và nhân dân Pháp do anh Đồng làm trưởng đoàn. Tôi được chỉ định là Phó trưởng đoàn trong phái đoàn Chính phủ tới Đà Lạt để dự cuộc đàm phán trù bị. Đoàn này do Nguyễn Tường Tam, Bộ trưởng ngoại giao trong Chính phủ liên hiệp làm Trưởng đoàn. Ngày 16 tháng Tư, hai phái đoàn cùng lên đường một lúc. Phái đoàn đi Đà Lạt khởi hành từ Bắc Bộ Phủ lúc 6 giờ sáng. Bác có mặt từ sớm để tiễn đưa đoàn. Một lần nữa, Bác nhắc cúng tôi: “Cần đặt vấn đề Nam Bộ và vấn đề đình chiến lên đầu chương trình nghị sự”. Bác bắt tay từng người trước khi ra đi. Trời mưa lâm thâm. Phố xá còn yên tĩnh. Vì đồng bào được báo giờ lên đường của hai phái đoàn quá muộn nên không kịp đi tiễn. Từ mấy ngày hôm trước, khắp nơi đã tổ chức những cuộc mít tinh lớn để ủng hộ các phải đoàn sắp sửa lên đường.

Một số nhà báo kéo đến phỏng vấn phái đoàn về triển vọng của cuộc đàm phán. Thực khó trả lời. Mọi câu trả lời còn ở phía trước. Ta muốn đi đến một giải pháp chính trị với Pháp nếu Pháp thành thật thi hành những điều đã cam kết, tôn trọng những quyền cơ bản của nước Việt Nam tự do. Nhưng sự thành công của cuộc đàm phán không chỉ tùy thuộc vào ta mà còn ở cả đối phương. Cuộc đấu tranh giữa hai lực lượng tiến bộ và phản động tại Đông Dương và tại nước Pháp đang diễn ra gay gắt. Những dấu hiệu đầu tiên không hứa hẹn gì nhiều. Đã có tin phái đoàn đàm phán của Pháp do Mắc Ăngđơrê làm trưởng đoàn. Chính phủ Pháp đã chịu làm theo yêu cầu của ta cử những người thay mặt từ nước Pháp sang. Nhưng Mắc Ăngđơrê lại là người của nhà băng, một người thuộc phong trào Cộng hòa bình dân. Phong trào này vốn là đảng Thiên chúa giáo Pháp trước kia. Cầm đầu phong trào là những đại biểu của giới tư bản lũng đoạn có mối liến hệ chặt chẽ với Mỹ và tòa thánh Vanticăng. Với một người đối thoại như vậy, không thể trông đợi hội nghị sẽ diễn ra một cách thuận buồm xuôi gió. Còn về phía ta, thành phần phái đoàn đàm phán không thuần nhất. Nguyễn Tường Tam, tháng trước đã không chịu ký tên vào bản Hiệp đinh. Đến giờ phút chót, Vũ Hồng Khanh phải ký thay. Ngoài ra, một số đại biểu Nam Bộ, tên đã được công bố trong danh sách phái đoàn, nhưng vào giờ phút lên đường vẫn chưa có mặt.

7 giờ, máy bay cất cánh. Từ trên cao nhìn xuống, dưới các tầng mây, lúc là màu xanh ngọc lấp lánh của biển với những gợn sóng trắng, lúc là màu xanh lá cây rậm rì của núi rừng Trường Sơn trùng điệp. Có lúc là một dòng sông vàng rực ánh mặt trời, quanh co lượn khúc. Người xưa nói: Non sông gấm vóc. Đó chính là hình ảnh đất nước của ta hiện ra dưới cánh bay.

Ngày hôm đó, chúng tôi chỉ tới được Pắc Xế. Chiếc đakôta dừng lại đây để lấy xăng, nhưng khí sắp cất cánh đi tiếp thì máy móc trục trặc. Đoàn phải ở lại chờ máy bay dự bị ở Sài Gòn lên thay. Chúng tôi đi dạo quanh các phố, vào thăm một ngôi chùa cổ, rồi ra bờ sông Mê Công. Dòng sông rộng, đỏ quánh phù sa chia đôi hai nước Lào, Thái Lan, ở cả đôi bờ đều là những dải đất bằng phẳng. Việt kiều trong thành phố nghe tin phái đoàn Chính phủ qua, kéo đến thăm rất đông. Những cuộc gặp gỡ không chờ đợi, rất cảm động.

Ngày hôm sau, máy bay bay tiếp đến Đà Lạt. Xuống sân bay, thấy thời tiết khác hẳn. Khi chúng tôi ở Pắc Xế, trời nóng bức. Không khí ở đây thì mát lạnh như một ngày cuối thu. Đà Lạt là một nơi nghỉ mát, một thành phố du lịch dành cho người Pháp và những người Việt Nam thuộc giới gọi là “thượng lưu”. Khắp nơi đều thấy những biệt thự lớn, nhỏ, những khách sạn, những con đường để dạo chơi ngắm cảnh. Chung quanh thành phố là những đồi thông nối tiếp. Một thành phố xinh đẹp.

Đoàn ta ở khách sạn Lang Biang. Khách sạn này trông ra một cái hồ yên tĩnh, có những hàng cây bao quanh. Bên kia hồ là núi.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 150, tháng 10 năm 2003.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:51:46 AM
Ngày 18 tháng Tư, hồi 9 giờ sáng, phía Pháp cử người tới báo với ta: 10 giờ 15 phút, Đácgiăngliơ sẽ gặp các trưởng đoàn của hai phía tại dinh thự của y, sau đó viên cao ủy sẽ gặp cả hai phái đoàn để giới thiệu phái đoàn Pháp và trưởng đoàn mới được chỉ định là Mắc Ăngđơrê. Việc này phía Pháp không hề bàn bạc trước với ta. Viên đô đốc đã chơi lối trịch thượng. Y muốn lấy danh nghĩa cao ủy Pháp để tiếp hai đoàn đại biểu trong một dinh thự của Liên bang Đông Dương. Người Pháp còn nói thêm, sau khi các đoàn đại biểu gặp nhau thì cao ủy sẽ khai mạc ngay phiên họp toàn thể đầu tiên. Việc này cũng do phía Pháp tự ý định ra. Lẽ tất nhiên, chúng ta không thể tán thành.

Để đáp lại, chúng ta cử đồng chí thư ký của phái đoàn sang báo với phía Pháp là trưởng đoàn đại biểu Việt Nam đề nghị gặp Đácgiăngliơ để thương lượng về những vấn đề do phía Pháp vừa nêu ra.

10 giờ, phái đoàn Pháp đã có đủ mặt tại dinh thự của Đácgiăngliơ. Phóng viên các báo cũng kéo tới đông. Tất cả cứ ngồi đó đợi ta đến 11 giờ trưa. Đoàn ta kiên quyết bác bỏ cuộc gặp mặt trịch thượng của ông đô đốc. Không khí trở nên căng thẳng.

Phía Pháp thấy khó xử, bèn nghĩ ra một cách giải quyết cho đỡ bẽ mặt là mời đoàn ta tới dự một bữa tiệc. Thế là cuộc gặp gỡ đầu tiên của hai phái đoàn và ông cao ủy diễn ra quanh bàn ăn. Đácgiăngliơ hết cơ hội lấy danh nghĩa cao ủy để khai mạc hội nghị.

Tôi gặp Đácgiăngliơ lần đầu. Ông thầy tu phá giới này có cặp mắt nhỏ sắc sảo, tinh ranh nằm dưới vầng trán đầy nếp răn, và đôi môi mỏng dính. Ngồi với y một lát đã thấy ngay y là một con người từng trải và xảo quyệt, tự phụ và nhỏ nhen. Một con người như vậy chỉ có thể là con người của dĩ vãng, của chính sách thực dân.

Đácgiăngliơ tự khoe là đã biết nhiều về chúng tôi. Y hỏi thăm tôi về gia đình, về những năm hoạt động bí mật, về thời kỳ Nhật khủng bố và hẹn sẽ còn gặp để nói chuyện nhiều. Y rủ tôi chủ nhật tới sẽ cùng đi trèo núi. Hai bên cũng đề cập đến tương lai cuộc bang giao Việt - Pháp. Tôi nói: “Thế nào cũng còn gặp nhiều khó khăn nhưng đó là những khó khăn để mà vượt qua. Chúng tôi sẽ vượt qua những khó khăn đố nếu có được sự cố gắng của cả hai bên”.

Trong câu chuyện, Đácgiăngliơ nói có người đã gọi y là “con người của im lặng và khổ hạnh”. Chắc viên cao ủy muốn khoe mình vốn là một nhà chân tu. Thực ra, y là một chính khách nham hiểm hơn là một kẻ thủ hành.

Qua cuộc gặp này, hai bên thỏa thuận sẽ họp phiên toàn thể vào ngày hôm say. Phiên khai mạc sẽ do người của phái đoàn Việt Nam chủ tọa. Đây là sự nhượng bộ đầu tiên của Pháp. Nhưng sự nhượng bộ này hoàn toàn không có ý nghĩa là những khó khó khăn đã giảm bớt, đôi bên đã nhích lại gần nhau hơn. Hội nghị đàm phán trù bị giữa Việt Nam và Pháp họp phiên toàn thể đầu tiên vào sáng ngày 19 tháng Tư tại trường trung học Yécxanh. Trong đoàn Pháp có mặt nhiều viên quan cai trị cũ như: Métxme, Bútxkê, Pinhông… Một số người đã tới Đông Dương từ hồi đầu Cách mạng tháng Tám. Riêng Métxme, được thả dù xuống miền Bắc hồi tháng Chín năm 1945, bị dân quân ta bắt nhưng sau đó đã trốn thoát.

Ngày 20 tháng Tư, tiểu ban chính trị họp. Cúng tôi đòi phải ghi ngay vào chương trình nghị sự vấn đề thực hiện một không khí chính trị thuận tiện cho cuộc đàm phán, và vấn đề đình chiến tại Nam Bộ. Phía Pháp bắt đầu có những luận điệu quanh co. Họ lẩn tránh yêu cầu của ta bằng cách nói những vấn đề này vượt quá thẩm quyền của hai phái đoàn. Ta đã viện những cơ sở pháp lý của Hiệp định Sơ bộ mồng 6 tháng Ba và những lẽ phải thông thường buộc Pháp phải nhận. Tranh cãi hồi lâu, Pháp nhượng bộ một phần. Họ đồng ý ghi vấn đề: “Thực hiện một không khí chính trị thuận tiện cho cuộc đám phán”. Ta đòi phải ghi cả vấn đề định chiến tại Nam Bộ.

Trong giờ giải lao, người Pháp bàn bạc với nhau. Khi cuộc họp tiếp tục, Pinhông, cố vấn chính trị của phái đoàn Pháp, lại nói là họ không có đủ quyền hạn để xét vấn đề đình chiến tại Nam Bộ. Chúng tôi hỏi lại Pinhông:

- Ông hãy cho biết phái đoàn Pháp có đủ quyền hạn để thảo luận những vấn đề ghi trong Hiệp định mồng 6 tháng Ba không?

Pinhông đáp lại một cách miễn cưỡng:

- Có.

- Vậy trong Hiệp định phải chăng là đã ghi: “Hai chính phủ lập tức quyết định mọi phương sách cần thiết để đình chỉ cuộc xung đột”?

Người Pháp bị đẩy vào một thế lúng túng. Chờ đến hết giờ là việc buổi sáng, họ vẫn chưa tìm ra cách trả lời. Vấn đề đành để gác lại.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:52:48 AM
Buổi chiều, tôi đi dạo một lát trên bờ suối Cam Ly. Đã có thể thấy rõ thái độ phản động của người Pháp. Không thể trông đợi gì nhiều ở cuộc đàm phán này. Dù sao, cuộc thương lượng giữa ta và Pháp vẫn còn tiếp tục… Đường đi ngập lá thông. Bên bờ suối, nhiều hoa sim dại. Thành phố yên tĩnh, không khí trong lành, quang cảnh lại đẹp. Đà Lạt thật là một thắng cảnh của đất nước ta. Chỉ muốn đi mãi trên con đường có gió mát và tiếng thông reo. Trời sắp tối, tôi quay về khách sạn. Ngồi vào bàn làm việc vừa ghi chép thì có tiếng gõ cửa gấp. Tôi chưa kịp đứng dậy, cửa đã mở. Một đồng chí ngó đầu vào, nói vội vàng:

- Mời anh lên phòng trên, anh Thạch tới rồi!

Đồng chí Phạm Ngọc Thạch đang chiến đấu tại Nam Bộ. Tên anh đã được công bố trong danh sách của phái đoàn, nhưng chúng tôi vẫn nghĩ là anh sẽ không có mặt trong cuộc đàm phán. Không hiểu anh Thạch đã tìm cách nào tới được đây đúng vào lúc cuộc họp bắt đầu. Bọn Pháp cũng chưa biết anh tới.

Chỉ một lát sau, cả đoàn, trừ Nguyễn Tường Tam, đều kéo đến. Người anh Thạch đen sạm, gầy, nhưng rắn rỏi. Chúng tôi ôm chầm lấy anh. Mừng rỡ, cảm động. Giọng nói của anh còn mang khí thế chiến đấu của Nam Bộ. Anh Thạch kể lại chuyến đi từ Sài Gòn lên. Một cuộc đi mạo hiểm. Anh nói về tình hình Nam Bộ, những gương hi sinh dũng cảm của chiến sĩ và đồng bào. Chúng tôi hàn huyên với nhau đến rất khuya.

Ngày hôm sau, anh Thạch bị bọn Pháp bắt trước khách sạn Parc. Đoàn ta phản kháng mạnh mẽ. Chính phủ ta lên tiếng phản đối việc làm trái phép của Pháp. Đồng bào ở nhiều nơi họp mít tinh đòi Pháp phải trả lại tự do cho anh Thạch. Nhưng anh Thạch chỉ được chúng thả ra sau khi cuộc đàm phán kết thúc.

Hội nghị tiến hành khẩn trương. Ngoài những phiên họp toàn thể, những phiên họp ở các tiểu ban, còn có nhiều cuộc trao đổi cả ngoại hành lang. Mắc Ăngđơre, Métxme, Buốcgoanh… đôi khi có cả Đácgiăngliơ cũng dự vào những cuộc trao đổi ý kiến không chính thức này. Tuy vậy, trên tất cả các vấn đề được đặt ra, cuộc đám phán hầu như không tiến triển.

Đoàn ta đã giữ được sự nhất trí trong tất cả các buổi thảo luận. Riêng Nguyễn Tường Tam đã lẩn tránh phần lớn các phiên họp, và cũng ít tham gia và các cuộc bàn bạc trong đoàn.

Vấn đề đình chiến dây dưa nhiều buổi. Không khí hội nghị trở nên nặng nề. Phía Pháp biết rằng nhất định phái đoàn ta sẽ không bỏ qua. Chúng ta đã nêu lên vấn đề định chiến tại Nam Bộ một cách kiên quyết, và có lý lẽ. Người Pháp tỏ ra khó xử. Buốcgoanh, một chuyên viên về kinh tế ở Đông Dương, phải thốt ra: “Vấn đề đó gây phiền toái cho chúng tôi ghê quá. Họ (y muốn chỉ chúng ta) rất có lý”. Một vài người Pháp cũng có ý nghĩ như Buốcgoanh.

Sau mấy phiên họp, người dân ở Đà Lạt bắt đầu bàn tán xôn xao về những lập luận vô lý của phía Pháp. Ngay trong phái đoàn Pháp cũng có người nói thẳng với chúng ta: “Các ông có những nhà biện chứng đáng gờm”.

Phía Pháp không viện được lý lẽ gì để bác bỏ yêu cầu của ta, nhưng vẫn không chịu ghi vấn đề này vào chương trình nghị sự. Rõ ràng là Pháp không muốn đình chiến tại Nam Bộ.

Một câu hỏi được đặt ra trong đoàn ta: Nên tiếp tục cuộc đàm phán hay nên cắt đứt?

Ngày 23 tháng Tư, hai phái đoàn họp phiên toàn thể. Đoàn ta lại đưa ra vấn đề đinh chiến ở Nam Bộ ra trước cuộc họp. Người Pháp có một nhượng bộ. Họ đề nghị thành lập một ủy ban hỗn hợp hạn chế, gồm những người không có chân trong hai phái đoàn hiện nay, để thực hiện ngừng bắn ở Nam Bộ đồng thời giải quyết những vấn đề có tính cấp bách khác. Ủy ban này lúc đầu sẽ đóng ở Đà Lạt, sau đó sẽ đóng ở Hà Nội.

Ta biết đây là một cách trì hoãn. Tuy nhiên, cũng do sự nhượng bộ này của phía Pháp mà các phiên họp vẫn tiếp tục.

Cuối tháng 4, tướng Gioăng, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp trên đường từ Nam Kinh trở về Pari, ghé thăm hội nghị Đà Lạt. Trong cuộc gặp Gioăng khoảng hai mươi phút, tôi đã nói thẳng:

- Người Pháp phải thực hiện đình chiến ở Nam Bộ theo đúng tinh thần của bản Hiệp định. Nếu không, nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục chiến đấu đến cùng. Tôi muốn nói với ông điều này với tư cách là một người kháng chiến.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 08 Tháng Một, 2011, 06:55:35 AM
Ngoài những cuộc tranh luận gay gắt tại tiểu ban chính trị, ở tất cả các tiểu ban quân sự, kinh tế, văn hóa đều có những cuộc tranh cãi giằng co.

Về kinh tế, ta chủ trương giữ vững những quyền lợi kinh tế.(*)

Muốn cho cuộc bỏ phiếu được hợp pháp, công bằng, ta chủ trương bảo đảm tự do cho những người dân bỏ phiếu. Ta đề nghị một chế độ chấp chính tạm thời của một hội đồng ba mươi người ở Nam Bộ. Hội đồng bầu lên ủy ban chấp hành, có nhiệm vụ trong một thời gian ngắn thực hiện đình chiến triệt để, thả hết tù chính trị, đình chỉ hết khủng bố, làm cho các tổ chức chính trị của nhân dân được hoạt động tự do. Phía Pháp trả lời một cách mơ hồ là sẽ bảo đảm tự do cho cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ; họ không đồng ý để người Việt Nam tham gia vào việc chấp chính hiện thời ở Nam Bộ.

Lập trường của ta và của Pháp rõ ràng là khác xa nhau. Những người thay mặt cho nước Pháp mới tới dự cuộc đàm phán đã tỏ ra rất lạc hậu trước tình hình đã đổi thay tận gốc trên bán đảo này. Họ vẫn còn mang nặng tư tưởng chủ nghĩa thực dân cổ truyền của đế quốc Pháp. Trưởng đoàn của Pháp Mắc Ăngđơrê ngày càng bộc lộ bản chất phản động. Có lần trong một bữa tiệc, y đã nói: “Với Việt Nam, người Pháp đã tỏ ra rất rộng rãi, Pháp nhượng bộ như thế là đã quá lắm rồi, không thể cứ nhượng bộ mãi, không thể theo truyền thống Muyních”.

Cũng vào những ngày đầu tháng Năm này, tại Pháp, bản dự thảo hiến pháp mới đã bị bác bỏ trong cuộc trưng cầu ý dân. Đây lại là một khó khăn lớn nữa đối với phong trào đấu tranh cho các quyền dân chủ ở nước Pháp. Phái hữu đã giành được một thắng lợi. Bọn phản động Pháp ở thuộc địa sẽ ngóc đầu dậy. Cuộc đấu tranh của chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.

Ngày 10 tháng Năm, lại họp phiên toàn thể. Đoàn ta tiếp tục nêu lên chủ trương của mình về việc thực hiện trưng cầu ý dân tại Nam Bộ. Các đại biểu Pháp vẫn giữ thái độ ngoan cố. Chúng ta đã nói thẳng với họ là một số người Pháp có âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam, âm mưu đó không thể dung thứ, nhất định sẽ thất bại. Sau một cuộc tranh luận gay go, cả đoàn ta đứng dậy bỏ phòng họp.

Đêm hôm đó, sau buổi hội ý trong đoàn, tôi thức khuya. Nhìn ra cửa sổ trời tối đen. Không còn nhận ra đâu là hồ, đâu là núi. Những quả đồi thông xinh đẹp, những cánh rừng hoang vu của cao nguyên Lang Biang chìm trong bóng đêm. Cuộc chiến đấu của đồng bào ta, của các chiến sĩ du kích trong những mỏm núi cao, những khu rừng rậm nơi xa kia đang tiếp tục và sẽ còn phải tiếp tục. Từ hôm đi đến giờ, chúng tôi vẫn thường xuyên báo cáo tình hình hội nghị với Bác và các anh. Báo chí và đài phát thanh của ta đã phản ánh kịp thời cuộc đấu tranh của phái đoàn ta tại hội nghị. Bác và các anh ở nhà đang theo dõi rất sát diễn biến của cuộc đàm phán. Trong phiên họp sáng nay, tôi đã nói với đoàn Pháp: “Các chiến sĩ Việt Nam đã trải qua nhiều khó khăn trong cuộc chiến đấu giành tự do cho Tổ quốc, chỉ có thể chấp nhận hòa bình trong công bằng và danh dự… Nhân danh một dân tộc đã có hàng ngàn năm tôi luyện trong lao động và đấu tranh, tôi khẳng định với các ông rằng: Ngày nào Nam Bộ còn bị tách khỏi Việt Nam thì ngày ấy mỗi người dân Việt Nam còn không ngừng dốc hết nghị lực của mình vào cuộc đấu tranh để đưa Nam Bộ trở về trong lòng Tổ quốc. Nếu tiếng nói của chúng tôi không được đáp lại, bản Hiệp định không được tôn trọng thì chúng tôi sẽ không chịu trách nhiệm về tất cả những gì xảy ra trong tương lai… Lịch sử sẽ chứng minh lời nói của chúng tôi là đúng…”. Chúng ta đã nói với người Pháp những điều cần nói. Nhưng người Pháp vẫn giữ nguyên lập trường thực dân của họ. Ta đã đánh giá thêm được sức chống đối quyết liệt của bọn phản động. Qua cuộc đàm phán này, càng thấm thía một điều: Trong đấu tranh chính nghĩa đòi độc lập, tự do cho đất nước, ngoại giao nhất thiết phải dựa trên lực lượng của nhân dân. Mỗi người dân Việt Nam cần phải có đầy đủ nghị lực và quyết tâm bồi bổ thực lực của mình. Dân tộc ta phải mạnh. Công việc ngoại giao phải bắt đầu từ đó. Lại nhớ lời Bác nói hôm trước: “Thực lực như cái chiêng, ngoại giao như cái tiếng; chiêng có to tiếng mới lớn”…

Phiên họp sáng nay đã trở thành phiên họp cuối cùng của hội nghị Đà Lạt. Dù sao cuộc đàm phán này cũng chỉ mới là cuộc đàm phán tại chỗ có tính cách trù bị. Sợi dây liên lạc giữa ta với Pháp chưa hoàn toàn bị cắt đứt.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp   
Những chặng đường lịch sử, Sđd
tr.364-310.             


(*) Đến đây trong sách bị thiếu một đoạn nên hơi khó hiểu và không liền mạch, người số hóa bổ sung nội dung đoạn dưới đây từ nguồn khác:
Về kinh tế, ta chủ trương giữ vững những quyền lợi kinh tế cơ bản của ta, bảo đảm điều kiện cho kinh tế Việt Nam phát triển, đồng thời có những nhân nhượng nhất định đối với quyền lợi kinh tế Pháp ở Đông Dương. Những vấn đề được đặt ra trong tiểu ban này là:

- Vấn đề thuế quan.

- Vấn đề tiền tệ.

- Vấn đề những doanh nghiệp hiện tại của Pháp ở nước ta.

Những bất đồng lớn xoay quanh vấn đề tiền tệ và việc kinh doanh của người Pháp tại Việt Nam.

Về văn hóa, hai bên đã đạt được một số thỏa thuận. Ta chỉ còn không đồng ý việc Pháp đòi đặt một số cơ quan văn hóa ở Đông Dương trực thuộc với liên bang và đề nghị dùng tiếng Pháp làm tiếng chính thức thứ hai sau tiếng Việt.

Về quân sự, qua nhiều buổi trao đổi, không giải quyết được gì. Vấn đề quân sự phải phụ thuộc vào vấn đề chính trị. Không thể nào có được những thỏa thuận về quân sự chừng nào vấn đề chính trị còn chưa giải quyết xong.

Vấn đề chính trị là cơ bản, gay go, chiếm nhiều thời gian nhất trong suốt quá trình đàm phán.

Lập trường có tính nguyên tắc của ta là: Nước Việt Nam phải là một nước tự do. Liên bang Đông Dương chỉ mang tính chất kinh tế không được phương hại đến những quyền cơ bản của Việt Nam.

Về mối quân hệ giữa các nước trong liên bang Đông Dương với Pháp, đoàn ta tuyên bố chấm dứt chế độ toàn quyền. Ta chủ trương tổ chức một liên bang thực tế chỉ có tính chất kinh tế. Đại diện của Pháp ở liên bang chỉ có tính cách một nhân viên ngoại giao. Liêng bang Đông Dương sẽ phối hợp về chính sách thuế quan và tiền tệ, về việc đặt kế hoạch kiến thiết cho các nước trong liên bang theo nguyên tắc không làm phương hại đến chủ quyền của các nước.

Phía Pháp chủ trương viên cao ủy Pháp vừa là đại diện cho liên hiệp Pháp vừa là chủ tịch liên bang Đông Dương. Họ đòi các ngành tư pháp, ngoại thương, tài chính, hối đoái, vận tại, y tế, các cơ quan nghiên cứu và phát minh về văn hóa, khoa học, kinh tế, viện thống kê, nhà bưu điện và vô tuyến điện, cơ quan phụ trách di dân đều phải thuộc về liên bang… Với chủ trương này, người Pháp đã để lộ rõ ý đồ muốn làm sống lại chế độ toàn quyền trước đây.

Người Pháp đề nghị Việt Nam công nhận bản tuyên ngôn về quyền lợi của người dân trong liên hiệp Pháp. Ta hoan nghênh nguyên tắc dân chủ của bản tuyên ngôn nhưng chưa công nhận nó. Chính dân chúng Pháp cũng chưa công nhận bản tuyên ngôn này. Thực ra, người Pháp cũng chưa xác định được cái “liên hiệp Pháp” họ đưa ra là thế nào.

Về ngoại giao, lập trường của ta là Việt Nam sẽ có đại sứ ở Pháp và viên cao ủy Pháp ở đây là đại diện của Pháp ở Việt Nam. Nước Việt Nam tự do phải có quyền đặt đại sứ ở các nước trong liên hiệp Pháp và ở các nước ngoài. Pháp chủ trương người đại diện Pháp ở Việt Nam là một viên chức Pháp do viên cao ủy Pháp cử ra và nước Việt Nam chỉ có đại diện ngoại giao với các nước khác thông qua liên hiệp Pháp.

Về vấn đề Nam Bộ, Hiệp định Sơ bộ mồng 6 tháng Ba đã đề ra sẽ giải quyết bằng một cuộc trưng cầu ý dân. Ta chủ trương mục đích bỏ phiếu không phải là để hỏi chủ quyền Nam Bộ thuộc về đâu vì lãnh thổ Việt Nam không phải gồm có ba kỳ; cuộc đầu phiếu chỉ nhằm hỏi ý kiến nhân dân Nam Bộ có muốn giữ giới hạn “kỳ” hay không trong khuôn khổ nước Việt Nam thống nhất. Pháp chủ trương đầu phiếu để hỏi cả chủ quyền Nam Bộ thuộc về đâu.

Theo quan điểm của ta, và đó cũng là lẽ đương nhiên, cuộc trưng cầu ý dân chỉ tiến hành ở Nam Bộ. Nhưng Pháp đòi phải bỏ phiếu ở cả Trung Bộ và Bắc Bộ để hỏi chủ quyền từng kỳ thuộc về đâu.}


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Một, 2011, 09:26:11 AM
PHẢI LÀM CHO NƯỚC TA
VỪA ANH HÙNG, VỪA GIÀU MẠNH
(1)

… Ngày 19-12-1946, ngày mở đầu cho cuộc kháng chiến 30 năm chống thực dân, đế quốc đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi về tinh thần yêu nước quật khởi của dân tộc ta trước những kẻ thù xâm lược tàn bạo, ngạo mạn.

Phát động toàn quốc kháng chiến vào ngày 19-12 thể hiện sự lãnh đạo của Bác Hồ và Đảng ta hết sức sáng suốt, đã bám sát tình hình thực tiễn, nắm vững thời cơ, chọn đúng mặt trận chính, tính toán thời điểm nổ súng chính xác, biến bị động thành chủ động, tạo nên thế trận mới cho mặt trận Hà Nội có điều kiện giam chân quân địch hai tháng để cả nước chuyển vào kháng chiến trường kỳ. Nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19-12 giữa thủ đô là một trường hợp hiểm thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng đúng dắn, quả cảm, sáng tạo.

Trong tình thế nền độc lập mới giành được, đất nước đang trong tình hình ngàn cân treo sợi tóc, địch mạnh, ta yếu mà dám kiên quyết, kịp thời hạ lệnh toàn quốc kháng chiến vào đêm 19-12-1946 là thể hiện Bác Hồ và Đảng ta đã có niềm tin mãnh liệt vào nhân dân ta, dân tộc ta - một dân tộc đã có truyền thống yêu nước anh hùng bất khuất, qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước; đã có đường lối kháng chiến đúng đắn, động viên toàn dân, vũ trang toàn dân, dựa vào sức mạnh to lớn của toàn dân ta. Đồng thời, Bác Hồ và Đảng ta cũng đã thể hiện tấm gương hết lòng vì nước, vì dân nên nhân dân ta đã có niềm tin vững chắc vào lãnh tụ kính yêu, vào Đảng, mới nhất tề đứng lên quyết chiến như vậy.

Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, lời kêu gọi kháng chiến thiêng liêng của Bác Hồ như một lời hịch của non sông cổ vũ tinh thần yêu nước quật khởi của cả dân tộc ta đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược.

Tinh thần quật khởi quyết chiến quyết thắng của ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12 được kế tục và phát huy suốt cuộc kháng chiến 30 năm đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập, thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc, rửa được mối nhục mất nước hàng trăm năm.

Ngày nay, dân tộc ta đang bước vào một thời kỳ lịch sử mới, thời kỳ tiến hành công cuộc đổi mới vĩ đại, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Với thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến 30 năm, mở đầu vào ngày 19-12-1946, Việt Nam đã trở thành một nước anh hùng, đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc.

Trải qua 30 năm xây dựng, đặc biệt là 20 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, nước ta vẫn còn là một nước nghèo, khoảng cách tụt hậu về kinh tế và khoa học còn xa so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Chúng ta đã gia nhập WTO. Đây là một bước tiến quan trọng trong chủ trương chủ động hội nhập nền kinh tế quốc tế; cơ hội mới mở ra, nhưng thách thức mới không nhỏ.

Công cuộc chiến thắng nghèo nàn lạc hậu xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, làm cho nước ta trở thành một nước vừa anh hùng vừa giàu mạnh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ mong muốn là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, một thách thức mới hết sức to lớn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải có một sự nỗ lực vượt bậc, một tinh thần quật khởi mới.

Kỷ niệm 60 năm ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12 là một dịp để chúng ta khởi dậy tinh thần yêu nước và ôn lại những bài học sâu sắc của ngày lịch sử ấy vận dụng vào công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đó là tinh thần yêu nước, quật khởi của toàn dân tộc, trước đây là không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ; ngày nay là không chịu nghèo nàn lạc hậu, không chịu tụt hậu thua kém bạn bè, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế và khoa học công nghệ, phải bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Đó là bài học lãnh đạo phải bám sát thực tiễn, đánh giá đúng tình hình, nắm đúng ghời cơ, chọn đúng mặt trận chính, đề ra quyết định kịp thời, đúng đắn, giành chủ động trong thế bị động.

Đó là bài học về niềm tin mãnh liệt vào lòng yêu nước của nhân dân ta và có đường lối cách mạng đúng đắn, đoàn kết toàn dân tộc, động viên toàn dân, dựa vào sức mạnh to lớn của toàn dân, của cả dân tộc; đồng thời Đảng ta phải luôn tiên phong gương mẫu để giữ vững niềm tin của nhân dân ta đối với Đảng.

Tôi nghĩ rằng những bài học ấy đang rất cần thiết, rất thời sự đối với chúng ta trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay…


(1) Trích thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Hội thảo khoa học “60 năm Ngày toàn quốc kháng chiến” (19-12-1946 - 19-12-2006). Tiêu đề do Tạp chí Xưa & Nay đặt. Tạp chí Xưa & Nay, số 247, tháng 12 năm 2006.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Một, 2011, 09:28:31 AM
HÀ NỘI
NHỮNG NGÀY ĐẦU KHÁNG CHIẾN
(1)

Sau này nhìn lại mới biết ngày đầu toàn quốc kháng chiến chúng ta đã làm một điều mà theo nhiều nhà lý luận quân sự kinh điển thì khó mà làm được.

Cuộc tổng giao chiến đầu tiên giữa bộ đội ta với quân viễn chinh đương nhiên bắt đầu từ Thủ đô Hà Nội và nhiều thành phố, thị xã.

Trong các cuộc chiến tranh cách mạng, chưa có trường hợp một lực lượng vũ trang yếu kém đương đầu thắng lợi với một quân đội chính quy tại thành phố. Ănghen đã có nhận xét: “Dù cho không đông về số lượng, quân đội vẫn có ưu thế về trang bị và huấn luyện, về chỉ huy thống nhất, về việc sử dụng lực lượng chiến đấu một cách có kế hoạch và kỷ luật. Do đó, ngay cả trong những trận chiến đấu bằng chướng ngại vật trong đó xuất hiện chủ nghĩa anh hùng vĩ đại nhất của lực lượng vũ trang cách mạng (ở Pari tháng 6 năm 1848, ở Viên tháng 10 năm 1848. ở Đresđen tháng 5 năm 1849) cũng kết thúc bằng sự thất bại”. Sau đó, ông còn nói thêm với sự xuất hiện của pháo binh, tình thế ngày càng bất lợi cho những người khởi nghĩa trong cuộc chiến đấu ở thành phố. Chúng ta đã biết, trong cuộc chiến tranh kháng Nhật, Hồng quân Trung Hoa đã nhận chỉ thị không xâm nhập vào “những thành thị lớn, những ga xe lửa và một số miền đồng bằng nào đó mà địch dùng một lực lượng lớn mạnh để khống chế”. Mao Trạch Đông có lần nói: “Mađrít của Trung Quốc ở đâu? Trước kia ta chưa có một Mađrít nào, từ nay về sau phải tranh thủ tạo ra mấy chỗ như thế, nhưng hoàn toàn phải xem điều kiện như thế nào”.

Như vậy, lịch sử chưa để lại cho chúng ta tiền đề chiến thắng trong những trận đánh sắp tới. Chúng ta phải tự tìm lấy qua những kinh nghiệm không nhiều từ trận đánh ở Thái Nguyên trong Tổng khởi nghĩa, từ trận đánh anh dũng, kiên cường nhưng không có thời gian chuẩn bị ở Sài Gòn, sau đó ở Nha Trang, và gần đây nhất là Hải Phòng. Chúng ta phải xây dựng một kế hoạch chiến đấu cho bộ đội và nhân dân lần đầu chiến đấu với một kẻ địch bội phần mạnh hơn mình.

Chúng ta đã sớm nghĩ tới việc chuẩn bị chiến đấu bảo vệ Hà Nội và các thành phố.

Ngày 19 tháng 10 năm 1946, khi cuộc đàm phán ở Phôngtenblô không đạt kết quả, Hội nghị cán bộ Trung ương đã có nhận định: Trước sau Pháp cũng đánh ta, ta phải cảnh giác, phải chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Sau Hội nghị, Bộ Tổng tham mưu được chỉ thị nghiên cứu ba vấn đề: cách đánh trong thành phố, lấy Hà Nội làm trung tâm; cách đánh xe tăng, thiết giáp; cách phá hoại đường sá. Cơ quan tham mưu thành lập một tổ nghiên cứu ba vấn đề trên, trọng tâm là vấn đề đánh địch trong thành phố. Tôi thường xuyên dự những cuộc thảo luận của tổ. Khi anh Văn Tiến Dũng được Đảng điều về Bộ phụ trách Cục Chính trị, tôi trao đổi với anh sớm nghiên cứu cách tiến hành công tác chính trị trong trường hợp chiến tranh bùng nổ trên cả nước.

Ngày 16 tháng 9 năm 1946, Bác rời cảng Tulông (Pháp) trở về nước. Ngày 16 tháng 10, Bác gặp Đácgiăngliơ ở vịnh Cam Ranh. Thỏa thuận ngừng bắn trong Tạm ước 14 tháng 9 không được thực hiện ở Nam Bộ. Ngày 5 tháng 11, Bác viết bản bút kí nổi tiếng “Công việc khẩn cấp bây giờ” mà mãi sau này ta mới biết. Trung tuần tháng 11, trong một buổi làm việc, Bác hỏi tôi:

- Nếu vạn nhất không tránh được chiến tranh thì Hà Nội có thể giữ trong bao lâu?

Tôi đáp:

- Phải cố giữ ít nhất là nửa tháng. Thời gian qua, cơ quan tham mưu đã chuẩn bị xây dựng một kế hoạch chiến đấu ở thành phố trong trường hợp địch gây chiến.

Sau khi địch chiếm thành phố Hải Phòng ngày 23 tháng 11, Thường vụ nhận định nhất định địch sẽ gây hấn ở Thủ đô, chiến tranh trên cả nước là không thể tránh khỏi. Bác và Thường vụ nghị quyết: Nếu quân Pháp tái diễn ở Hà Nội việc chúng đã làm ở Hải Phòng thì cả nước sẽ nhất tề đứng lên kháng chiến chống quân xâm lược. Chủ trương quân sự trong thời gian đầu toàn quốc kháng chiến là tiêu hao, tiêu diệt một một bộ phận địch, bảo tồn lực lượng ta, giam chân cô lập địch càng lâu càng tốt ở từng thành phố, tạo điều kiện cho cả nước chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Bác nhấn mạnh: “Quân Pháp chỉ chờ có cơ hội là lập tức đánh ta. Ta cần tìm mọi cách để tránh nổ ra chiến tranh. Trong khi hết sức tích cực, khẩn trương chuẩn bị kháng chiến, tuyệt đối không sa vào âm mưu khiêu khích để địch lợi dụng đánh ta sớm. Ở thành thị, biến mỗi đường phố thành một chiến hào, ở nông thôn, mỗi làng thành một pháo đài. Kháng chiến của ta là toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến”

Sau cuộc họp, Bộ Tổng tham mưu và Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội được trao nhiệm vụ gấp rút xây dựng một kế hoạch tác chiến cho cả nước và riêng tại Thủ đô Hà Nội. Với tư cách là người được Đảng phân công phụ trách công tác quân sự, tôi triệu tập nhiều cuộc họp cán bộ dân, chính, đảng của Thủ đô để phổ biến chủ trương chuẩn bị kháng chiến của Thường vụ.


(1) Kỷ niệm 60 năm ngày Toàn quốc kháng chiến, Tạp chí Xưa & Nay trích đăng một đoạn trong hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định về cuộc chiến tranh nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược dưới sự lãnh đạo tài tình và kiên quyết của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những ngày đầu chỉ đạo cuộc cầm cự ở Hà Nội đã hé mở những thiên tài quân sự của các tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, sẽ đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi vẻ vang ở Điện Biên Phủ. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 273, tháng 12 năm 2006, tr.7-9, 23-24.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Một, 2011, 09:29:23 AM
Cuối tháng 11, Thường vụ họp mở rộng với Bộ chỉ huy và Ủy ban Bảo vệ Chiến khu đặc biệt Hà Nội (Khu 11) mới thành lập. Các anh Nguyễn Quyết, Vương Thừa Vũ, Lâm Kính, Quang Trung, Lê Quảng Ba đã lần lượt làm Khu trưởng Hà Nội từ sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công. Anh Lê Trung Toản phụ trách tự vệ chiến đấu, tự vệ thành và dân quân tự về toàn thành. Sau khi các anh Nguyễn Quyết, Quang Trung lần lượt đi Nam tiến, anh Lê Quảng Ba về Khu 12, Bộ chỉ huy Chíến khu Hà Nội lúc này gồm anh Vương Thừa Vũ, Chỉ huy trưởng, anh Trần Độ, chính ủy. Trong phòng khách lớn tại Bác Bộ Phủ, nay là phòng việc, ngoài Bộ chỉ huy Khu còn các anh: Trần Quốc Hoàn, phái viên của Trung ương theo dõi Mặt trận Hà Nội, anh Nguyễn Văn Trân, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ.

Tôi trình bày vắn tắt tình hình khẩn trương do Pháp quyết tâm tái chiếm nước ta bằng vũ lực, và nêu rõ nhiệm vụ bảo vệ Thủ đô theo nghị quyết của Bác và Thường vụ: Một là, phải tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quân địch, chiến đấu giam chân chúng càng lâu càng tốt tại Hà Nội cũng như những thành phố khác, tạo điều kiện về thời gian cho cả nước chuyển sang chiến tranh. Hai là, đi đôi với tiêu diệt địch cần thấu triệt chủ trương gìn giữ lực lượng của ta, theo dõi sát tình hình mặt trận để lúc cần thì chủ động rút lực lượng ra ngoài cùng toàn quân và toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài. Ba là, Thủ đô phải nêu cao tinh thần anh dũng và sáng tạo chiến đấu làm gương cho cả nước, đoàn kết chặt chẽ giữa bộ đội, tự về chiến đấu, tự về thành, lực lượng công an, đoàn kết và giúp đỡ đồng bào chưa kịp tản cư và ngoại kiều.

Từ những đặc điểm địch, ta trên cả nước và ở Thủ đô, tôi nêu lên biện pháp tác chiến chủ yếu là “phải sử dụng những lực lượng nhỏ, triệt để lợi dụng địa hình, địa vật ở từng khu, dựa vào những ngôi nhà có cấu trúc kiên cố, xây dựng nhiều chướng ngại vật trên các đường phố đánh địch bằng mọi hình thức, tránh tung lực lượng vào những trận quyết chiến lớn, gây khó khăn, lúng túng cho địch bằng nhiều chiến thắng nhỏ…”.

Tổng số quân viễn chính Pháp ở Đông Dương lúc này đã lên tới 90.000. Về phía ta, lực lượng bộ đội cả nước khoảng 82.000. Không có chênh lệch lớn về số lượng. Nhưng về trình độ tổ chức trang bị, kỹ thuật, thì đây là một khoảng cách có tính thời đại.

Quân viễn chinh Pháp là một quân đội nhà nghề, với những đơn vị bộ binh, thiết giáp, pháo binh, không quân, hải quân vừa chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Họ có những trang bị hiện đại nhất của phương Tây. Chỉ riêng sự xuất hiện khẩu tiểu liên Thompson cũng đủ làm nản lòng những đơn vị bạch binh kiêu dũng của Nhật hoàng năm trước trên quần đảo Xalômông. Còn quân đội ta, đơn thuần là bộ binh, hầu hết là người dân mới khoác áo lính, trang bị yếu kém. Mỗi đơn vị, nhiếu nhất là một phần ba chiến sĩ có súng, toàn là súng cũ đủ loại với rất ít đạn. Những chiến sĩ khác trang bị bằng giáo, mác, đại đao, gậy gốc. Mỗi trung đoàn có từ ba đến bốn khẩu trung liên hoặc đại liên, vài ba khẩu súng cối. Những đơn vị ít nhiều rèn luyện trong chiến tranh chống Nhật ở Việt Bắc thì hoặc đã lên đường Nam tiến, hoặc phân tán đi làm cán bộ ở những đơn vị mới tổ chức. Vì phải bắt tay ngay vào làm nhiệm vụ tiếp phòng với quân Pháp, nên các chiến sĩ ít được huấn luyện về kỹ thuật, số đông chưa qua bắn đạn thật. Bộ đội ta được tổ chức thành trung đoàn, mỗi trung đoàn gắn với một, hai hoặc ba tỉnh. Ở Bộ Tổng chỉ huy và các Khu, ngoài đại đội cảnh vệ chưa có một đơn vị chủ lực nào.

Thủ đô Hà Nội là nơi quân Pháp tập trung đông, gồm một trung đoàn bộ binh, một trung đoàn xe tăng, thiết giáp, một tiểu đoàn pháo, một bộ phận biệt kích, một bộ phận dù, cùng với không quân và thủy quân. Tất cả khoảng 6.500 người. Ở đây còn phải kể tới 7.000 Pháp kiều đã được phân phát vũ khí. Một cuốn sách của Pháp viết là ở Hà Nội lúc đó có 4.500 binh lính và 7.000 Pháp kiều được trang bị súng và lựu đạn; có thể là không kể số quân Pháp bị Nhật bắt làm tù binh, được thả ra sau ngày Nhật đầu hàng.

Lực lượng ta ở Hà Nội có 5 tiểu đoàn vệ quốc quân, 2.515 người, khoảng trên 8.000 tự vệ, gồm tự vệ chiến đấu cứu quốc, tự vệ các xí nghiệp, tự vệ thành Hoàng Diệu và một lực lượng công an xung phong. Bộ Tổng chỉ huy đã chỉ thị tăng cường trang bị chiến đấu cho Hà Nội nhưng cũng không hơn những nơi khác bao nhiêu.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Một, 2011, 09:30:53 AM
Bộ Tổng chỉ huy quyết định: Chiến khu Hà Nội không thể bị rơi vào thế bất ngờ, nếu địch đánh trước, ta có thể quật lại ngay. Trận đánh ở Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải tiêu biểu cho tinh thần kháng chiến của cả nước. Hà Nội cần giam chân quân địch ít nhất là một tháng tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang chiến tranh.

Mặt trận Hà Nội được coi là chiến trường chính trong trận tổng giao chiến đầu tiên.

Trong quá trình bàn bạc cách đánh ở Hà Nội, mặc dù mục tiêu, biện pháp tác chiến đã được phổ biến, vẫn có đồng chí đề nghị tập trung một số đơn vị bộ đội và tự vệ thành gan dạ bí mật đột nhập thành Hà Nội, đánh thẳng vào đại bản doanh của quân Pháp. Đây là cách quân Nhật đã làm đêm mồng 9 tháng Ba. Kế hoạch này có nhiều tính phiêu lưu, vì quân viễn chinh Pháp hoàn toàn không giống đội quân thuộc địa Pháp đầu năm 1945, và các chiến sĩ ta còn xa mới có được trang bị và trình độ thiện chiến của quân đội Nhật. Một sĩ quan cũ của Nhật đã sang hàng ngũ ta, nêu ý kiến nên thiết lập ba phòng tuyến bằng công sự vững chắc bao quanh Hà Nội để ngăn chặn quân địch từng bước. Đây là cách phòng ngự cổ điển. Ta không chủ trương phòng ngự theo cách này và cũng không đủ người và cơ sở vật chất để thực hiện.

Tôi lưu ý Bộ chỉ huy Hà Nội trường hợp một tiểu đoàn vệ quốc quân và một tiểu đội xung phong tuyên truyền đã cầm chân quân Pháp suốt cả một ngày tại Nhà hát lớn Hải Phòng. Những công thự có kiến trúc vững chắc và cần được bảo vệ như Bắc Bộ Phủ, Tòa thị chính, Nhà bưu điện… cùng với Trại bảo an binh cũ có thể kết hợp thành một khu vực chiến đấu liên hoàn cầm cự với quân địch một thời gian. Những khu vực có nhiều đường phố nhỏ và nhiều ngõ ngách như Liên khu 1 rất thuận lợi cho việc xây dựng chiến lũy, tạo vật chướng ngại ngăn cản xe tăng, xe cơ giới và bộ binh địch đột nhập để kéo dài cuộc chiến đấu. Một vị trí hỏa lực xuất hiện bất ngờ từ những ngôi nhà cao có tác dụng rất lợi hại. Trong trận đánh Thái Nguyên, tôi đã chứng kiến một khẩu súng máy quân Nhật đặt trên ngôi nhà hai tầng đã kiểm soát suốt dọc phố. Cần đặc biệt nghiên cứu cách đưa bộ đội ra an toàn khi có lệnh, nên tìm hiểu hệ thống cống ngầm; trường hợp cấp bách, những con đường nằm dưới lòng đất này có thể giúp ích cho ta. Cán bộ đi điều tra về báo cáo những cửa cống thông ra cửa sông đều bị ngăn bằng song sắt. Ta đã chuẩn bị để khi cần phá bỏ ngay những song sắt này.

Nửa năm qua, người Hà Nội đã làm quen với chiến thuật bari-cát những lần Pháp gây hấn, qua bàn bạc, thấy những vật chướng ngại như bàn, ghế, giường, tủ… chất đống giữa đường, ngả cây, cột điện, đẩy xe ôtô, toa xe lửa, toa tàu điện chắn ngang cũng chỉ gây cản trở cho quân địch một thời gian ngắn. Cần phải xây dựng nhiều lớp chiến lũy, kết hợp với đào chiến hào và bố trí lực lượng chặn đánh thì mới có thể chống xe tăng, cơ giới và bộ binh địch có hiệu quả. Vì đường phố đã có những chiễn lũy chắn ngang nên cần đục tường nhà nọ thông sang nhà kia để đảm bảo sự cơ động lực lượng của ta.

Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Bộ chỉ huy Khu 11 trình bày kế hoạch “Trong đánh - ngoài vây”, theo cách nói của đồng chí Vương Thừa Vũ là “trùng độc chiến”. Liên khu 1 của Hà Nội với những đường phố cổ tiếp giáp Thành Hà Nội, nơi tập trung quân Pháp, được chọn làm khu vực cố thủ bên trong thành phố. Ngày đầu nổ súng, năm tiểu đoàn Vệ quốc quân cùng với tự vệ sẽ tiêu diệt những vị trí lẻ của địch, phá hoại những vị trí lẻ của địch, phá hoại những cơ sở vật chất quan trọng như Nhà máy điện, Nhà máy nước, Kho xăng dầu, phá cầu Long Biên, đánh sân bay, chiến đấu bảo vệ một số cơ quan tiêu biểu như Bắc Bộ Phủ, Tòa thị chính, Nhà bưu điện… Sau vài ngày chiến đấu, một tiểu đoàn vệ quốc quân sẽ rút vào Liên khu I, cùng với lực lượng tự vệ cố thủ tại đây. Bốn tiểu đoàn khác cùng với tự vệ Liên khu II và III sẽ giản ra các đầu ô dựa vào chiến lũy tiếp tục chiến đấu, thường xuyên đột kích để yểm trợ cho Liên khu I và ngăn chặn quân Pháp đánh ra ngoại thành.

Tôi tán thành kế hoạch này, một kế hoạch “nội công ngoại kích” gây cho quân địch sự lúng túng phải đối phó ở cả hai mặt, bên trong và bên ngoài, đồng thời bảo đảm tính cơ động của lực lượng ta, không bị cố định trong những phòng tuyến cứng nhắc.

Trung tuần tháng 12 năm 1946, tôi báo cáo với Bác có thể giữ được Hà Nội từ một tháng trở lên.

Bộ Tổng chỉ huy quyết định nổ súng vào 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, nhưng chỉ có Hà Nội thực hiện mệnh lệnh đúng thời gian. Những nơi khác đều chậm từ hai đến bảy giờ. Có nơi bộ đội ta bị địch tiến công trước.

Kể cả Hà Nội, quân Pháp cũng không hoàn toàn bị bất ngờ. Tác giả cuốn Lịch sử Việt Nam(1) đã kể lại, 18 giờ ngày 19, một người Pháp lai, nhân viên phản gián của Pháp trà trộn trong hàng ngũ ta, đã báo tin: “ba đại đoàn Việt Nam và lực lượng tự vệ đã được lệnh tiến công vào tối nay”. Moóclie, tư lệnh quân viễn chinh ở miền Bắc Đông Dương, lập tức đặt toàn bộ quân Pháp trong trạng thái báo động cao.

Như vậy, ở tất cả mọi nơi, quân Pháp đều sẵn sàng. Điều bất ngờ đối với họ chỉ ở chỗ: có lẽ nào một đội quân non trẻ với những trang bị yếu kém lại dám nổ súng vào quân viễn chinh? Đó là lợi thế duy nhất mà ta giành được khi khởi đầu chiến tranh trên cả nước.


(1) Philíp Đờvile: Historie du Viet Nam.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Một, 2011, 09:32:15 AM
*
*   *

Hiệu lệnh nổ súng ở Hà Nội là đèn điện tắt, đại bác của pháo đài Láng bắn những phát đầu tiên. Chúng ta cần bóng tối trở lực khi khởi sự. Làm được việc này không dễ. Trung tâm phát điện là nhà máy điện Yên Phụ do lực lượng hỗn hợp Việt, Pháp cùng canh gác. Cần bí mật đưa vào nhà máy một lượng thuốc nổ đặt vào nơi cần thiết sát giờ nổ súng. Nếu địch phát hiện, quân Pháp có cớ chiếm ngay nhà máy và tiến công trước vào bộ đội trên toàn thành phố.

Từ làng Tây Mỗ, cách Hà Nội 10km, tôi chờ đợi giờ phút này. Anh Hoàng Văn Thái túc trực tại tổng đài điện thoại của Bộ đặt ở thị xã Hà Đông, nắm tình hình tác chiến, theo quy định cứ hai giờ báo cáo với tôi một lần.

20 giờ...

20 giờ 03 phút. Đèn điện Hà Nội phụt tắt. Đại bác từ pháo đài Láng gầm lên. Công nhân nhà máy điện Yên Phụ do đồng chí Giang phụ trách đã hoàn thành nhiệm vụ một cách tuyệt vời! Ngay sau đó cả Hà Nội rền vang tiếng súng. Chớp lửa đại bác. Hỏa châu. Luồng sáng của đạ. Chân mây dần đỏ rực màu hồng của những đám cháy. Những người có mặt ở Hà Nội đêm Nhật đảo chính nói đêm nay mới thực sự là chiến tranh.

Có thể thấy địch lập tức đối phó. Phần lớn những tiếng súng lúc này là của địch. Các chiến sĩ ta được lệnh tiết kiệm đạn ngay từ khi khởi đầu tiến công.

Nhìn chung, ta đã giành được lợi thế trong những giờ giao chiến đầu tiên.

Tiêu biểu cho trận tổng giao chiến đầu tiên phải nói đến Thủ đô Hà Nội.

Hà Nội chia thành ba liên khu. Theo đúng kế hoạch, sau ba ngày giao chiến trên khắp thành phố và tổ chức cho đồng bào tản cư khỏi nội thành, lực lượng vũ trang các liên khu 2, 3, bắt đầu giãn dần ra cửa ô, nơi đã được xây dựng chiến lũy để ngăn chặn quân địch. Bộ đội và tự vệ Liên khu 1 cũng thu hẹp phạm vi chiến đấu, rút vào khu vực cố thủ nằm tiếp giáp với Thành Hà Nội.

Từ ngày 30-12, địch mở liên tiếp nhiều cuộc tiến công ra các cửa ô. Mỗi cuộc đều có xe tăng, xe bọc thép đi kèm và máy bay, pháo binh phối hợp.

Vệ quốc đoàn và tự vệ với súng trường, lựu đạn, dao kiếm, dáo mác, chai xăng krếp, bom ba càng, dựa vào chiến lũy, chướng ngại vật, công sự, hầm hố, lợi dụng nhà gác, mái nhà đã đánh chặn, giành giật từng quãng đường, từng ngôi nhà.

Ở Khâm Thiên, Hàng Bột, Đội Cấn, địch bị thiệt hại nhiều mà vẫn không vượt qua được chiến lũy. Quân Pháp cuối cùng phải bỏ ý định đánh thẳng vào chiến lũy mà đi vòng theo đường khác. Thiếu sót của ta ở một số nơi chưa tính tới trường hợp địch đi theo đường vòng.

Trận đánh ở nhà thương Vọng(1) ác liệt nhất. Lực lượng vũ trang ta dùng bom ba càng phá xe tăng, rồi rút lên gác đánh lui nhiều đợt xung phong của địch. Địch bị loại khỏi vòng chiến đấu hàng trăm tên và bị phá hủy một số xe tăng, xe cơ giới. Phía ta, hai trung đội Vệ quốc đoàn và năm mươi tự vệ hi sinh.

Một số trận phục kích diễn ra ở Đống Đa, Hòa Mục, đường Nguyễn Công Trứ, diệt từng trung đội địch. Kinh nghiệm mặt trận ngã ba Hồng Phúc đã được vận dụng.

Cho đến ngày 25 tháng 1 năm 1947, địch mới đẩy lùi lực lượng Liên khu 2 và Liên khu 3 ra tới cửa ô. Từ trung tâm thành phố ra tới đây chỉ 5 kilômét nhưng quân Pháp đã đi mất 27 ngày, với tốc độ bình quân 200 mét một ngày theo cách tính của một nhà báo Pháp.

Khi bàn về trận đánh Hà Nội, nhiều người đã quên hoặc ít nói về Liên khu II và Liên khu III. Ở hai liên khu này, cuộc chiến đấu đã diễn ra 38 ngày đêm, trong đó có 27 ngày đánh địch trên khắp các trục đường ra ngoại ô kết hợp với những tổ luồn vào khu vực địch đã kiểm soát thường xuyên tập kích địch. Nếu không có sự phối hợp này, chiến sĩ Liên khu I khó trụ sát nách địch một thời gian dài như vậy.


(1) Bệnh viện Bạch Mai.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Một, 2011, 09:33:56 AM
Tuy nhiên, Liên khu I vẫn là tiêu biểu nhất cho cuôc chiến đấu ở Thủ đô.

Liên khu I nằm kề đại bản doanh của Bộ chỉ huy Pháp giữa lòng Hà Nội giống như một cái “chốt chặn” hay một cái “nhọt tụ độc” ta thường gặp trong chiến tranh. Đây là một lực lượng những chiến sĩ quyết tử có nhiệm vụ thu hút, ngăn chặn địch, sẵn sàng hi sinh tính mệnh cho lợi ích toàn cục trong một trận đánh quan trọng.

Theo kế hoạch, sẽ có một tiểu đoàn vệ quốc quân cùng ở lại với tự vệ tại liên khu. Nhưng ngay từ những phút đầu chiến đấu, tiểu đoàn này đã bị cắt làm đôi. Một đại đội ở khu vực phố Yên Phụ, không rút vào được khu vực cố thủ. Như vậy, trong Liên khu chỉ có hai đại đội vệ quốc đoàn cùng với một bộ phận tự vệ chiến đấu, lực lượng vũ trang trung kiên được Thành ủy Hà Nội tổ chức sau ngày Tổng khởi nghĩa. Họ là nòng cốt cho cuôc chiến đấu của hàng nghìn tự vệ gồm những người dân thuộc mọi thành phần, lứa tuổi, phần lớn là thanh niên, lần đầu làm quen với chiến trận. Hạt nhân lãnh đạo của liên khu, với hàng vạn dân chưa kịp tản cư, là ba chục đảng viên cộng sản, cả nam lẫn nữ, được chỉ định ở lại. Điều đáng ngạc nhiên là các chiến sĩ Liên khu I, từ em nhỏ, cô gái đến anh Vệ quốc quân, ngay giờ phút đầu tiên đã hiên ngang tiến hành trận đánh “mặt đối mặt với kẻ thù mạnh hơn mình gấp nghìn lần.

Ngày 23 tháng 12 năm 1946, anh Trần Quốc Hoàn và anh Lê Quang Đạo được Trung ương cử vào Liên khu 1 để xem xét tình hình tại chỗ. Khi trở về, các anh báo cáo với Bác và Thường vụ: Nếu được tiếp tế đều đặn về lương thực, đạn dược, trung đoàn vẫn có thể trụ lại vượt thời gian dự định.

Tinh thần căm thù quân cướp nước, sẵn sàng hi sinh tính mệnh cho Tổ quốc đã mang lại cho các chiến sĩ sự lạc quan, bình tĩnh, sáng tạo, sớm tìm ra cách bảo vệ mình và tiêu diệt địch. Họ rút kinh nghiệm qua mỗi trận đánh. Từ chia quân khắp nơi ngăn chặn địch với công sự chiến đấu giản đơn, nhanh chóng chuyển sang chiến đấu cơ động dựa vào chiến hào, đánh địch cả trước mặt, bên sườn và phía sau. Họ biết nghi binh, nhử địch, biết tổ chức và sử dụng lực lượng dự bị. Một chiến thuật mới cùng với hình thức tổ chức thích hợp đã hình thành. Bộ đội chia thành những tổ nhỏ, dựa vào những đường hào, đường luồn trong nhà, thường xuyên di động. Họ không khi nào lộ mặt trước quân địch và luôn luôn reo rắc những tai họa bất ngờ.

Tuy vậy, không phải không có những khó khăn mới đã nảy sinh. Khi lực lượng vũ trang ta thu hẹp phạm vi chiến đấu vào khu vực cố thủ thì dân chúng ở vùng chung quanh cũng ùa vào theo, đưa số dân tại đây lên tới hàng vạn người. Số nhân khẩu đông đảo này đã nhanh chóng làm cạn nguồn lương thực dự trữ trù liệu cho năm nghìn người trong vòng ba tháng. Con đường bí mật nằm ở ven sông Hồng, nối liên khu với hậu phương trong những đêm tối trời, đã bị địch chú ý. Không thể để tình hình này kéo dài. Chúng ta thống nhất với lãnh sự Trung Hoa, Anh và Mỹ, thỏa thuận cùng phía Pháp một thời gian ngừng bắn 24 giờ, đưa Hoa kiều, Ấn kiều và thường dân ra khỏi khu vực chiến sự. Bộ Tổng chỉ huy quyết định chỉ để lại Liên khu I một bộ phận nhỏ của Trung đoàn Thủ đô là 500 người, gồm những chiến sĩ chọn lọc, đại bộ phận sẽ rút ra cùng với dân trong ngày ngừng bắn. Nhưng qua ngày đó trung đoàn báo cáo ra, vẫn còn lại 1.200 người, trong số này có cả 200 phụ nữ và 175 em nhỏ. Điều ta không dự kiến được là có những người đã trốn ở lại để được tiếp tục chiến đấu.

Vòng vây các vị trí địch quanh liên khu ngày càng dày thêm. Sau khi ngoại kiều đã rời khỏi đây, máy bay, trọng pháo không dè dặt trong những trận oanh tạc. Valluy ra lệnh: “Đừng ngần ngại gì mà không đánh mạnh bằng bom và đại bác! Phải kết thúc sớm đi! Phải làm cho kẻ thù hiểu rõ ưu thế áp đảo của chúng ta”. Ngày 16 tháng 1 năm 1947, tại khu Đông Thanh, một tổ súng trường do đồng chí Bạch Ngọc Liễn chỉ huy đã bắn rơi một máy bay Spitfire đang lao xuống bắn phá. Đây là chiếc máy bay đầu tiên bị hạ bằng súng bộ binh tại Hà Nội. Bộ Tổng chỉ huy đã tặng Huân chương Chiến sĩ hạng ba cho chiến công này.

Tết Đinh Hợi (năm 1947) mở đầu cho nhiều cái Tết tiếp theo trong chiến tranh trrên cả nước. Các chiến sĩ Liên khu I nhận được cả một cành đào Tết Nhật Tân và những bó hoa tươi. Đêm 30 Tết, họ mở một đợt tiến công ở nhiều nơi trong thành phố và cắm cờ đỏ sao vàng trên Tháp Rùa để khẳng định sự có mặt của mình tại Thủ đô.

Sau Tết Nguyên Đán, ngày 29 tháng 1 năm 1947, tôi tới gặp Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội ở Tây Mỗ, nêu vấn đề phải tính ngay tới việc đưa bộ phận còn lại của trung đoàn Thủ đô ra ngoài. Tôi nhắc anh Vũ đặc biệt chú ý hai vị trí ở phía đông Liên khu là nhà Xôva và Trường Ke, nằm trên đường bộ đội sẽ rút qua. Tôi biết việc rút khỏi liên khu sẽ tác động lớn tới tư tưởng, tình cảm của chiến sĩ. Chừng nào còn một lực lượng chiến đấu dù nhỏ tại Liên khu thì Hà Nội vẫn chưa phải là rơi vào tay quân địch.

(Trích Chiến đấu trong vòng vây,
Nxb Quân đội nhân dân -        
Nxb. Thanh niên, 1994).      


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Một, 2011, 09:36:30 AM
ATK ĐỊNH HÓA, TRUNG TÂM CỦA THỦ ĐÔ
KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1)

Hôm nay tôi rất vui mừng đến dự Hội thảo khoa học thực tiễn “Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc xây dựng ATK Định Hóa trong căn cứ địa Việt Bắc (1947-1997)” do Tỉnh ủy Thái Nguyên và Viện Lịch sử Đảng tổ chức. Đây là một hoạt động rất có ý nghĩa để kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ về sống và làm việc tại Định Hóa, tuyên truyền và giới thiệu ATK Định Hóa với đồng bào, chiến sĩ cả nước, giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân các dân tộc Thái Nguyên trong công cuộc xây dựng đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khu an toàn là một trong những yếu tố quan trọng quyết định thắng lợi của cách mạng.

Nói đến ATK, chúng ta không thể không nhắc đến Pác Bó (Cao Bằng), Định Hóa, Đại Từ (Thái Nguyên), Tân Trào, Yên Sơn, Chiêm Hóa (Tuyên Quang), tập trung vào ba tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Cạn. Như vậy, ATK bao gồm bao nhiêu tỉnh, bao nhiêu huyện, bao nhiêu xã, chúng ta cũng phải làm rõ trong hội thảo này. Thời kỳ tiền khởi nghĩa khi Bác về Pác Bó đã có ý định phát triển cơ sở xuống Thái Nguyên, vì Thái Nguyên là một địa bàn quan trọng “tiến có thể đánh, lui có thể giữ” và nhân dân ở đây có truyền thống cách mạng, về sau này có thẻ di chuyển cơ quan của Bác gần Trung ương Đảng hơn, do đó Bác đã chỉ thị cho tổ chức con đường Nam tiến “con đường trong lòng dân”! Đến cuối năm 1943, con đường đã thông. Sau ngày Nhật đảo chính (9-3-1945), tôi đã cùng Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân về Chợ Chu (Định Hóa - Thái Nguyên) và thống nhất hai đội quân Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với đội quân Cứu quốc thành Việt Nam Quân giải phóng tại Định Biên Thượng (Định Hóa). Tiếp đó, tôi nhận được chỉ thị của Bác Hồ bố trí cho Bác về làm việc ở Chợ Chu. Tôi đã bàn với hai anh Tấn và Song Hào đề nghị Bác chọn Tân Trào vì Chợ Chu tuy cơ sở chính trị, kinh tế đều tốt nhưng có đường thông với Thái Nguyên dễ bị uy hiếp, còn Tân Trào dân cư thưa thớt, kinh tế khó khăn nhưng địa thế hiểm trở hơn. Châu Sơn Dương còn cách tỉnh lỵ Tuyên Quang bởi con sông Lô, tiện bảo vệ. Bác quyết định thành lập Khu giải phóng gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Tân Trào được coi như là thủ đô Khu giải phóng để chỉ đạo tổng khởi nghĩa tháng 8-1945. Sơn Dương (Tuyên Quang), Định Hóa, Đại Từ (Thái Nguyên) là ATK. Sau ngày tuyên bố độc lập một thời gian, Bác và Thường vụ Trung ương đã chủ trương tích cực củng cố căn cứ địa Việt Bắc để nếu bắt buộc chúng ta phải kháng chiến, các cơ quan lãnh đạo Trung ương có thể di chuyển trở lại Việt Bắc.

Vì vậy, các anh Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh đã được Bác giao nhiệm vụ bí mật đi xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, lấy các huyện Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương (Thái Nguyên), Chợ Mới, Chợ Đồn (Bắc Cạn), Sơn Dương, Yên Sơn, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) làm địa bàn chính. Quá trình kháng chiến, cơ quan Trung ương, cơ quan của Bác, cơ quan Chính phủ, cơ quan Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Quốc phòng di chuyển nơi này nơi khác một thời gian ngắn, nhưng trọng tâm vẫn dựa vào các huyện nói trên, đặc biệt là huyện Định Hóa không có một nhà dân nào không có cơ quan ở. Trong kháng chiến chống Pháp, cơ quan của Bác, cơ quan của Trung ương, các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Chính phủ đều tập trung đóng ở Định Hóa, tuy cũng có thời gian chuyển sang Sơn Dương hay Bắc Cạn nhưng với thời gian ngắn rồi lại trở về Định Hóa, có khi đôi ba lần. Ví dụ: Bác ở Tỉn Keo, Khuôn Tát tới bốn năm lần. Cơ quan Chính phủ ở cả đất của hai tỉnh, thường trực Chính phủ, anh Lê Văn Hiến ở bên Sơn Dương là chủ yếu, nhưng Hội đồng Chính phủ khi họp ở Định Hóa, khi hợp ở Đại Từ, khi thì ở Sơn Dương (Tuyên Quang). Cơ quan Trung ương Đảng, cơ quan đồng chí Trường Chinh thường ở gần cơ quan của Bác và Tổng quân ủy, bộ Tổng tư lệnh, chủ yếu là ở Lục Rã (Phú Đình), cũng có lúc cơ quan chuyển sang Tân Trào nhưng ít lâu sau lại trở về chỗ cũ.

Trường Nguyễn Ái Quốc cũng có thời gian ở Quảng Nạp… Anh Phạm Văn Đồng lúc ở Khu V ra ở thôn Lập Bình (khu núi đá gần sông Phó Đáy) sau chuyển về Phú Đình (Định Hóa) gần chỗ các đồng chí Tôn Đức Thắng, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt, cơ quan Tổng Quân ủy, Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp đều ở Định Hóa, Đại Từ, Phú Lương (Thái Nguyên). Tôi cũng muốn lưu ý Định Hóa là ATK tuyệt mật nhằm bảo đảm an toàn và ổn định để các đồng chí lãnh đạo chủ chốt lúc bấy giờ làm việc ít nhất phải di chuyển.

Vừa qua, tôi được tin Định Hóa được đề nghị lên Trung ương Đảng và Chính phủ tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tôi rất đồng tình triệt để ủng hộ. Theo tôi không những Thái Nguyên anh hùng mà cả 6 tỉnh Khu giải phóng cũ cũng thật xứng đáng Anh hùng.

Các quyết sách lớn của Đảng và Chính phủ phân lớn đều quyết định trên đất Định Hóa, như hạ quyết tâm tiêu diệt địch tiến công lên Việt Bắc, quyết định triển khai đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung trên toàn quốc; quyết định chiến lược biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta (1948-1949); quyết định mở các chiến dịch nhỏ ở Đông Bắc và Tây Bắc, hạ quyết tâm mở chiến dịch giải phóng biên gới, các chiến dịch Trung Du, Hoàng Hoa Thám, Hà Nam Ninh, chiến dịch Hòa Bình, Tây Bắc, Sầm Nưa, chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, đồng chí Phạm Văn Đồng từ đây đi họp Hội nghị Giơnevơ và sau khi ký Hiệp nghị cũng trở lại đây.

Các hoạt động ngoại giao cũng diễn ra chủ yếu trên đất Thái Nguyên. Bác gặp Paul Mus, đại diện cho Cao ủy Pháp tại thị xã Thái Nguyên. Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp do Léo Figuères dẫn đầu, các đoàn cố vấn Trung Quốc, đoàn điện ảnh Liên Xô (trước đây) và nhà đạo diễn nổi tiếng Cácmen, nhiều nhà ngoại giao, nhà báo quốc tế… được Bác Hồ tiếp tại Định Hóa. Các đồng chí lãnh đạo đảng bạn như Chủ tịch Xuvanuvông, đồng chí Cay Xỏn, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào, đồng chí Sơn Ngọc Minh, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia… trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp đã ở và làm việc nhiều ngày trên đất Đại Từ…

Rõ ràng Thái Nguyên là thủ đô của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta chống thực dân xâm lược Pháp. Nhiều chủ trương, đường lối kháng chiến, kiến quốc được quyết định ở đây và từ đây Trung ương Đảng, Bác Hồ, Chính phủ lãnh đạo toàn quốc thực hiện.

Tình nghĩa của đồng bào Việt Bắc nói chung, Định Hóa, Thái Nguyên nói riêng đối với cách mạng, với kháng chiến hết sức sâu đậm. Tôi cũng nhiều lần trở lại thăm đồng bào, gặp gỡ ôn lại những kỷ niệm xưa rất xúc động, thấy đời sống của nhân dân địa phương ATK còn nhiều khó khăn thiếu thốn. Tôi đề nghị chúng ta phải góp sức quan tâm, đầu tư nhiều hơn để cuộc sống của đồng bào được nâng cao hơn nữa.

Cuối cùng tôi xin chúc Hội thảo của chúng ta ngày hôm nay thành công tốt đẹp, chúc sức khỏe các đồng chí và các bạn.


(1) Phát biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hội thảo “Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc xây dựng ATK Định Hóa trong căn cứ địa Việt Bắc” tổ chức tại Thái Nguyên ngày 12-5-1997. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 105, tháng 12 năm 2001.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Một, 2011, 09:39:34 AM
THƯ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
VỀ CHỦ TRƯƠNG TÁC CHIẾN MỚI
Ở ĐIỆN BIÊN PHỦ
(1)

Kính gửi Hồ Chủ tịch,

Đồng chí Trường Chinh và Chính trị Bộ.

Chúng tôi đã nghiên cứu chủ trương tác chiến mới của ta ở Điện Biên Phủ và chủ trương quân sự của ta trên các chiến trường toàn quốc với đồng chí Quốc, nay xin phân bốn điểm báo cáo như sau:

I - Chủ trương tác chiến mới ở Điện Biên Phủ. Ngày 25, bộ đội ta đã đến đủ ở vị trí tập kết, phần lớn pháo binh cũng đã vào trận địa. Chúng tôi đã nghiên cứu lại lần cuối cùng tình hình địch ta để ra lệnh nổ súng thì nhận thấy:

a) Địch tăng đến 15 tiểu đoàn, một số pháo; sự bố trí ở phía Bắc và Tây đã mạnh hơn trước; vị trí Hang Cang ở phía Nam trước chỉ có 2 tiểu đoàn thì nay đã có 4 tiểu đoàn, thêm 12 khẩu lựu pháo, có trường bay mới làm, biến thành một tập đoàn cứ điểm thứ hai để yểm hộ cho Mường Thanh.

b) Lựu pháo và cao pháo của ta bố trí ở Bắc và Tây Bắc chỉ hợp với kế hoạch đánh nhanh, không hợp với kế hoạch đánh từng bước vì từ đường ôtô kéo vào phải dùng trên một đại đoàn bộ binh kéo trong 8 đêm, trước báo cáo là chỉ cần hai đêm, nếu chiến sự phát triển không thuận lợi thì tiến lui đều khó.

c) Việc chuẩn bị về mọi mặt phải tăng cường mới bảo đảm lâu được.

Chúng tôi nhận thấy đối với một kẻ địch đã tăng cường như ở Điện Biên Phủ thì phải dùng cách đánh tiêu diệt từng bước, trong giai đoạn đầu tiêu diệt sinh lực chúng ở ngoại vi, đồng thời tìm cách tiêu hao chúng, khống chế sân bay để hạn chế hoặc triệt đường tiếp tế của chúng trong một thời gian khá dài. Vì vậy chúng tôi quyết định:

a) Tạm định ngày nổ súng, điều chỉnh lại bộ đội cho hượp với kế hoạch mới. Vận chuyển các cao pháo và trọng pháo trở lại phía Đông để có thể sử dụng cơ động và đợi khi hệ thống đường kéo pháo phía Đông Điện Biên Phủ làm xong sẽ sử dụng. Lệnh chuyển pháo đã được thi hành trong đêm 26, cần phải bảy hôm mới hoàn thành.

b) Nghiên cứu kế hoạch tiếp tục chuẩn bị về các mặt tân binh, đạn dược, lương thực, đủ đánh cho đến cuối tháng 4. Đường sá từ Yên Bái đến Điện Biên Phủ phải bảo đảm cho xe chạy được trong cả thời gian đó. Làm thêm nhiều con đường cho xe kéo pháo chạy đến gần Điện Biên Phủ để có thể điều động pháo theo nhu cầu chiến đấu. Kế hoạch này chia từng bước để tiến hành, định đến 10-2 thì hoàn thành bước thứ nhất.

c) Trong lúc ở đây tích cực chuẩn bị thì nhanh chóng và bí mật điêu động toàn Đại đoàn 308 sang phía lưu vực sông Nậm hu, bao vây và tiêu diệt từ 4 đến 5 tiểu đoàn địch hiện đóng từ Mường Khoa đến Mường Ngòi. Chiều 26, trung đoàn đầu tiên của Đại đoàn 308 đã lập tức xuất phát, 27 toàn bộ xuất phát, dự liều vào khoảng 30 hay 31 thì hoàn thành bao vây địch. Nếu địch bỏ chạy thì truy kích. Nếu ta thắng ở mạn đó thì tình hình ở Điện Biên Phủ và ở Luông Phabăng có thể thay đổi ít nhiều.

Trên đây là chủ trương tác chiến mới hướng này. Chúng tôi sẽ điện những nhu cầu cụ thể về nhân lực, vật lực để phục vụ một trận chiến đấu rất lớn trong thời gian khá dài như trên đã nói, mong Trung ương phê chuẩn và cho chỉ thị.

II - Chủ trương quân sự của ta trên các chiến trường toàn quốc và Lào - Miên. Cuộc chiến đấu lớn của ta ở Điện Biên Phủ và Thượng Lào có liên quan rất mật thiết với tình hình toàn quốc. Ta tiêu diệt được nhanh chóng quân dịch ở Điện Biên Phủ hay chưa tiêu diệt được mà vẫn bao vây kiềm giữ chủ lực địch ở đây được thì đối với các chiến trường toàn quốc đều có một tác dụng rất lớn. Chúng tôi xin phân tích tình hình quân sự trước mắt và đề nghị chủ trương quân sự trong toàn quốc như sau:

1. Tình hình quân sự hiện nay có hai điểm đáng chú ý:

a) Từ khi ta bắt đầu kế hoạch Đông Xuân thì khắp các chiến trường đều thu được thắng lợi lớn: Lai Châu, Trung Lào, đồng bằng Bắc Bộ, Liên khu V, Nam Bộ.

b) Chủ lực địch trước tập trung phần lớn ở địch hậu Bắc Bộ thì nay đã phân tán đến Điện Biên Phủ và Xavanakhẹt. Không những thế, bộ phận chủ lực còn lại ở địch hậu Bình Trị Thiên, Tây Nguyên, Nam Bộ và Miên, nay cũng bị thu hút một phần lớn lên trung Lào và sa lầy vào cuộc tấn công không đúng lúc của Nava ra Tuy Hòa. Địch đã phải bị động đối phó với ta, khiến chủ lực phải phân tán vào những chiến trường không lợi cho chúng như Điện Biên Phủ, khiến các chiến trường địch hậu sơ hở hơn trước nhiều.

2. Căn cứ vào tình hình địch, ta nói trên, chủ trương quân sự của ta là tiếp tục hoạt động Đông Xuân theo những phương châm sau đây:

a) Sự hoạt động ở chiến trường chính diện và sự hoạt động ở chiến trường địch hậu toàn quốc phải kết hợp chặt chẽ với nhau: chiến trường chính diện ra sức kiềm chế, giam giữ địch để tất cả các chiến trường địch hâu đẩy mạnh chiến tranh du kích và tiêu diệt sinh lực dịch. Sự phối hợp chính diện và địch hậu trước đây đã được thực hiện chặt chẽ ở Bắc Bộ trong chiến dịch Hòa Bình, nay phải được thực hiện trên chiến trường toàn quốc. Sự phối hợp toàn quốc và giữa các chiến trường Việt - Miên - Lào bắt đầu thực hiện trong một tháng nay, nay phải đẩy mạnh lên nữa. Đặc điểm của hoạt động Đông Xuân là bao gồm chiến trường toàn quốc và Việt - Miên - Lào, chứ không phải hạn chế trong một chiến trường nào.

b) hoạt động Đông Xuân của ta cần phải liên tục từ nay cho đến mùa hè, chứ không phải hạn chế trong một thời gian ngắn; càng kéo dài thì càng khơi sâu nhược điểm của địch, càng tiêu diệt được nhiều địch và buộc địch càng phải phân tâm lúng túng. Ngay đến trong mùa hè cũng cần phải nghiên cứu tiếp tục hoạt động một phần nào, thay đổi quy luât mới nắm. Đặc biệt ở Điện Biên Phủ nếu trước Hè chưa tiêu diệt toàn bộ quân địch thì phải kiên trì chiến đấu ngay trong mùa Hè.

c) Trong kế hoạch hoạt động Đông Xuân, vì ta sẽ giải phóng được nhiều địa phương mới, vì tác chiến kéo dài, nên cần kết hợp nhiệm vụ tác chiến với nhiệm vụ củng cố vùng giải phóng, kết hợp nhiệm vụ tác chiến với nhiệm vụ chấn chỉnh xây dựng bộ đội. Nếu đợi tác chiến xong rồi mới xây dựng bộ đội, mới củng cố địa phương, thì sẽ không duy trì được sự hoạt động bền bỉ và không củng cố được thắng lợi.


(1) Đây là một tư liệu còn giữ ở Kho lưu trữ Trung ương Đảng (phồng số 11, mục lục số 2, đơn vị bảo quản số 742) được xác định là của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc đó lấy bí danh là “Hưng”. Thư được gửi hỏa tốc ngày 30-1`-1954 từ tiền tuyến Điện Biên Phủ đến các đồng chí lãnh đạo Đảng lúc bấy giờ là Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Bộ Chính trị. Đây là một minh chứng cho thấy quyết định sáng suốt của Đại tướng, chuyển từ phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 209, tháng 4 năm 2004, tr.18-20.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Một, 2011, 09:41:25 AM
III - Phương châm hoạt động trên từng chiến trường. Trên cơ sở những phương châm chung cho toàn quốc, phương pháp tác chiến cụ thể cho mỗi chiến trường thì tùy điều kiện mỗi chiến trường mà định.

a) Ở Điện Biên Phủ thì bao vây kiềm giữ địch, tiêu diệt từng bộ phận, tạo điều kiện tiêu diệt toàn bộ. Trường hợp địch tình biến hóa có lợi thì có thể dùng cách đánh nhanh để tiêu diệt địch. Trường hợp địch tăng cường thì có thể dùng một bộ phận chủ lực tiến về phía Luông Phabăng, Phongxalỳ tiêu diệt địch và giải phóng địa phương, cô lập địch ở Điện Biên Phủ.

b) Ở Trung và Hạ Lào: hiện đã giải phóng phần lớn tỉnh Thà Khẹt, cần nắm vững phương châm đánh nhỏ ăn chắc, đẩy mạnh hoạt động ở Hà Lào, mở rộng vùng giải phóng ở đó, liên lạc với Liên khu V, buộc địch từ chỗ chiếm đóng thành điểm đi vào chỗ bố trí tuyến trên đường số 13 và đường số 9. Đẩy mạnh công tác vùng giải phóng và tiến hành gấp rút tổ chức con đường từ Banafao đi đến đường số 9.

c) Liên Khu V: hiện chiến dịch miền Tây đã thắng lợi bước đầu, cần hoàn thành chiến dịch, giải phóng cả miền Bắc Kon Tum, liên lạc với Hạ Lào và bắt đầu công tác củng cố vùng mới giải phóng. Sau đó sẽ dùng một bộ phận chủ lực mà phát triển về hướng địch yếu giữa Kon Tum và Pleiku hoặc giữa Pleiku và An Khê. Ở vùng địch đánh ra thì phát triển chiến tranh du kích. Ở toàn địch hậu liên khu cũng vậy.

d) Ở đồng bằng Bắc Bộ, cần tiếp tục thực hiện kế hoạch Xuân - Hè nhằm đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt sinh lực địch, phá kế hoạch khinh quân, mở rộng căn cứ du kích, phát triển vào vùng tạm chiếm, nhất là Sơn Tây, cần đẩy hoạt động các chiến trường lên cho đều. Cần tích cực hoạt động, nhưng đề phòng khắc phục tư tưởng ham ăn to đánh lớn, bỏ mất cơ hội diệt địch, cần chú trong việc xây dựng lực lượng.

e) Nam Bộ: đẩy mạnh chiến tranh du kích có trọng điểm, mở lại những căn cứ du kích ở vùng địch hậu một cách có trọng điểm, tranh thủ xây dựng bộ đội địa phương vầ dân quân du kích, kiện toàn các tiểu đoàn chủ lực trong tác chiến.

f) Cao Miên: cần đẩy mạnh hoạt động có trọng điểm chú trọng gây cơ sở ở Đông Miên và Đông Bắc Miên (Stungtreng và Kompongthom) để liên lạc với Hạ Lào. Tranh thủ khuếch trương lực lượng vũ trang.

IV. Triển vọng: Nếu chúng ta thực hiện được kế hoạch trên thì không những trên chiến trường chính diện sẽ tiêu diệt được sinh lực địch, không những ở địch hậu Bắc Bộ sẽ thu được nhiều thắng lợi mà khắp chiến trường miền Nam và Lào - Miên ta sẽ thu được nhiều thắng lợi mới. Chúng ta có thể giải phóng được toàn Tây Bắc và một phần quan trọng của Thượng Lào, mở được con đường vào Nam đi qua Trung và Hạ Lào, giải phóng miền Bắc Kon Tum, uy hiếp Tây Nguyên, mở những căn cứ du kích mới ở Miên, ở Nam Bộ, tạo được điều kiện để thực hiện việc tiến quân vào Nam. Địch sẽ bị tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng, khó thực hiện âm mưu khuếch trương ngụy quân, buộc phải phân tán chủ lực và ngày càng đi vào bị động. Chúng cũng ít có khả năng đánh ra vùng tự do của ta, do đó cuộc cải cách ruộng đất của ta được bảo đảm. Đứng về mặt quốc tế thì lại càng có lợi cho ta. Nói tóm lại, chúng ta sẽ phá được kế hoạch Nava.

Chúng ta cần thấy trước bọn Pháp - Mỹ còn ra sức cố gắng mang thêm viện binh, tăng thêm vũ khí; hoặc điều chỉnh lực lượng thay đổi bố trí để mưu củng cố địch hậu, củng cố và đánh rộng ra ở miền Nam, nhưng chúng khó cứu vãn được cục diện khắp toàn quốc và cả ở Lào - Miên.

Nhưng, muốn tranh thủ được những thắng lợi trên thì toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải có một cố gắng rất lớn, rất tích cực và bền bỉ:

a) Các cấp chỉ đạo trong quân đội và cấp ủy của Đảng cần nhận rõ tình hình và thấu triệt chủ trương quân sự của Trung ương.

b) Các cấp ủy cần nắm vững nhiệm vụ đánh giặc là công tác trung tâm thứ nhất, là có quyết tâm huy động nhân vật lực đầy đủ để phục vụ tiền tuyến, đồng thời chú trọng đúng mức đến công tác củng cố vùng giải phóng về mọi mặt (cán bộ, lực lượng võ trang, đường sá, dân sinh).

V. Đề nghị Hội Chủ tịch và Chính trị Bộ cho chỉ thị về sự nhận định tình hình và chủ trương quân sự nói trên.

30-1-1954
Hưng    


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:10:43 PM
ĐIỆN BIÊN PHỦ,
BIỂU TƯỢNG CỦA SỨC MẠNH VIỆT NAM
(1)

Trong buổi bình minh của thiên niên kỷ mới, tên Tổ quốc Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất, công cuộc đổi mới xây dựng phát triển dất nước đang từng ngày khởi sắc, nhân dân ta kỷ niệm trọng thể 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chúng ta còn nhớ: Thu - Đông 1953, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân xâm lược Pháp bước sang năm thứ tám. Sau 5 năm tự lực chiến đấu trong vòng vây, từ năm 1950 trở đi, chủ lực ta liên tiếp mở nhiều chiến dịch lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở biên giới Việt - Trung, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào. Chiến tranh du kích phát triển mạnh, làm “ruỗng nát” vùng tạm chiếm của đối phương.

Trước tình hình nguy khốn ở Đông Dương, Chính phủ Pháp cử tướng bốn sao Hăngri Nava sang làm Tổng chỉ huy thứ bảy của đội quân viễn chinh xâm lược. Ta được biết nội dung kế hoạch Nava do bạn Trung Quốc cung cấp. Theo kế hoạch này, Nava đề ra mục tiêu trong vòng mười tám tháng, tập trung lực lượng cơ động chiến lược để tiến công tiêu diệt phần lớn chủ lực của ta, buộc Chính phủ ta phải chấp nhận tìm “lối thoát danh dự” cho cuộc chiến tranh xâm lược.

Trong Đông - Xuân 1953-1954, Nava tập trung các binh đoàn cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ nhằm đối phó với cuộc tiến công có thể xảy ra của chủ lực ta, càn quét bình định vùng sau lưng chúng, cho quân nhảy dù xuống Lạng Sơn, đánh ra Ninh Bình, uy hiếp các căn cứ kháng chiến của ta ở Việt Bắc và Thanh Nghệ Tĩnh.

Để phá tan kế hoạch buộc chúng phải phân tán lực lượng, bị động đối phó, Bộ thống soái tối cao của ta chủ trương dùng một bộ phận quân chủ lực, phối hợp với các lực lượng địa phương, chủ động mở các cuộc tiến công lên Tây Bắc, Trung Lào và Hạ Lào, Bắc Tây Nguyên, lấy Tây Bắc làm hướng chính. Đó là những hướng chiến lược hiểm yếu mà địch tương đối yếu, ta có thể tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, tiếp tục khoét sâu mâu thuẫn cơ bản giữa tập trung và phân tán binh lực của địch, tạo nên thế trận mới, thời cơ mới. Tình hình có thể phức tạp, ta cần theo dõi diễn biến, khi thời cơ xuất hiện thì nhanh chóng tập trung lực lượng, tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân địch, làm chuyển biến cục diện chiến tranh có lợi cho ta.

Tháng 11-1953, khi phát hiện chủ lực ta tiến lên Tây Bắc, Nava cho quân nhảy dù xuống Điện Biên Phủ để yểm trợ cho các đơn vị ở Lai Châu rút chạy, đồng thời bảo vệ Thượng Lào. Sau khi biết chắc phẩn lớn chủ lực ta đã tiến lên Tây Bắc, Nava chủ trương tăng cường lực lượng, gấp rút xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương nhàm thu hút và đánh bại chủ lực ta.

Đầu tháng 12 nam 1953, quân ta mở cuộc tiến công tiêu diệt phần lớn quân địch ở Lai Châu rút chạy, bao vây Điện Biên Phủ. Hạ tuần tháng 12, quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân giải phóng Pathét Lào mở cuộc tiến công vào Trung Lào, giải phóng Thà Khẹt và phát triển xuống Hạ Lào, giải phóng cao nguyên Bôlôven. Tháng 1 năm 1954, tuy có tin địch sẽ tiến công vào vùng tự do ven biển Liên khu V, nhưng chủ lực ta vẫn nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, kiên quyết mở cuộc tiến công lên Bắc Tây Nguyên, giải phóng Kon Tum và một vùng rộng lớn, nối liền với khu giải phóng Hạ Lào. Hạ tuần tháng 1 năm 1954, trong khi tạm đình cuộc tiến công vào Điện Biên Phủ, một đơn vị chủ lực ta đã bất ngờ mở cuộc tiến công sang Thượng Lào. Đòn tiến công này đã giải phóng lưu vực sông Nậm Hu, uy hiếp thủ đô Luông Phabăng.

Bằng năm đòn tiến công chiến lược nói trên, ta đã điều động được lực lượng địch, thu hút chúng đến những chiến trường có lợi cho ta, buộc khối cơ động chủ lực của Nava phải chia năm xẻ bảy để tiêu diệt chúng.

Phối hợp với các đòn tiến công của bộ đội chủ lực, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ ở các vùng địch hậu, đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Hàng chục đoàn tàu bị lật đổ, hàng chục máy bay bị phá hủy trên các sân bay, hàng trăm đồn bốt bị san bằng, nhiều vùng căn cứ du kích được mở rộng.


(1) Bài viết gửi Hội thảo “Kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và công cuộc đổi mới, phát triển đất nước” do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên tổ chức ngày 7-3-2004. Bài đăng trên Tại chí Xưa & Nay, số 209, tháng 4 năm 2004, tr.4-7, 39-40.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:11:32 PM
Thắng lợi to lớn của các chiến trường phối hợp trong giai đoạn đầu của chiến cuộc Đông Xuân 53-54 đã làm cho kế hoạch Nava bị đảo lộn và bắt đầu phá sản. Ở chiến trường chính, Điện Biên Phủ, lúc đầu chưa có trong kế hoạch Nava và cũng chưa có trong kế hoạch tác chiến của ta, đã trở thành nơi diễn ra trận quyết chiến chiến lược, cuộc đọ sức quyết liệt nhất giữa ta và địch. Thực hiện quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, bộ phận tham mưu của ta và của đoàn cố vấn đi trước để chuẩn bị chiến trường, đã đề nghị phương án tranh thủ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” khi địch còn đứng chân chưa vững, dốc toàn lực đánh trong ba đêm, hai ngày, tiêu diệt toàn bộ quân địch giành thắng lợi. Tôi và đồng chí trưởng đoàn cố vấn đi sau, lên đến mặt trận đã nghe báo cáo phương án đánh nhanh.

Tại cuộc họp đầu tiên của đảng ủy chiến dịch, tôi đã nêu những khó khăn lớn mà bộ đội ta chưa thể vượt qua nếu đánh theo phương án đó. Nhưng ý kiến chung đều cho rằng bộ đội ta đã được huấn luyện về cách đánh tập đoàn cứ điểm, hiện nay sung sức, quyết tâm chiến đấu rất cao, lại có lựu pháo và cao xạ pháo lần đầu xuất trận, với sức mạnh mới, có thể gây bất ngờ và sẽ chiến thắng. nếu không đánh sớm, để địch tăng thêm quân và củng cố công sự, khiến tập đoàn cứ điểm trở nên rất mạnh, ta sẽ bỏ lỡ cơ hội đánh tiêu diệt lớn trong Đông - Xuân này.

Chiến dịch kéo dài sẽ không giải quyết được khó khăn về hậu cần. Đồng chí trưởng đoàn cố vẫn cũng tán thành phương án này. Tuy không tin vào thắng lợi của phương án đánh nhanh thắng nhanh nhưng tôi tự thấy mình vừa mới đến chiến trường, chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ ý kiến của đa số, nên đã đồng ý triệu tập Hội nghị cán bộ để phổ biến kế hoạch tác chiến theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Đồng thời tôi chỉ thị cơ quan tham mưu theo dõi chặt chẽ tình hình địch từng ngày, từng giờ, kịp thời báo cáo; nếu tình hình thay đổi ta có thể thay đổi kế hoạch.

Suốt 11 ngày đêm theo dõi tình hình, tôi thấy địch ngày càng tăng cường lực lượng, ra sức củng cố trạn địa, và những khó khăn của ta chưa có cách khắc phục.

Nhiều đêm trăn trở, cân nhắc, đêm cuối cùng thức trắng, tôi đi đến kết luận; đánh theo cách này nhất định thất bại. Sáng ngày 26 tháng 1, tô đã trao đổi ý kiến thống nhất với đồng chí trưởng đoàn cố vấn, tiếp đó dưa ra Đảng ủy mặt trận bàn thay đổi cách đánh. Cuộc thảo luận trong Đảng ủy đã diễn ra gay go sôi nổi, tất cả đều cho rằng bộ đội quyết tâm cao, mọi mặt đã chuẩn bị, phải đánh nhanh, nếu không sẽ khó khăn, mất thời cơ. Nhưng khi đặt ra câu hỏi: vậy đánh nhanh có bảo đảm chắc thắng 100% như Bác Hồ căn cặn không? thì không ai dám khẳng định. Cuối cùng Đảng ủy đã đi đến nhất trí phải chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc” - một phương án đã từng dự kiến trước đây. Mặc dầu mấy vạn quân ta đã dàn trận, đạn đã lên nòng sẵn sàng nổ súng vào đêm 26 tháng 1, nhưng chúng ta đã kiên quyết dừng lại, cho lui quân về vị trí tập kết, kéo pháo ra để chuẩn bị trận địa đánh theo phương án mới. Quyết định thay đổi phương châm đã được triển khai, sau đó báo cáo về Trung ương bằng thư hỏa tốc, được Bác Hồ và Bộ Chính trị nhất trí và cho biết sẽ động viên hậu phương đem toàn lực chi viện cho tiền tuyến đánh thắng.

Thay đổi cách đánh trong tình thế toàn mặt trận từ trên xuống dưới quyết tâm chiến đấu theo phương án đánh nhanh giải quyết nhanh, các đơn vị đã lâm vào vị trí chiến đấu, chờ giờ nổ súng là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của tôi.

Chúng ta chuyển sang cách đánh chắc tiến chắc, tức là bao vây đánh dần từng bước, tiêu diệt từng bộ phận, từ ngoại vi vào trung tâm. Đánh theo cách này, ta có điều kiện tập trung binh hỏa lực ưu thế tuyệt đối trong từng trận, tạo nên sức mạnh áp đảo đánh thắng địch.

Để bảo đảm bao vây, tiêu diệt địch từng bước, theo kinh nghiệm chiến đấu của giải phóng quân Trung Quốc mà đoàn cố vấn giới thiệu, chúng ta đã xây dựng một hệ thống đường kéo pháo bằng cơ giới và các trận địa pháo có hầm đào sâu vào vách núi; xây dựng một hệ thống trận địa bao vây và tiến công quy mô chiến dịch, với hàng trăm kilômét hào giao thông để cơ động tiếp cận địch, với hàng vạn công sự chiến đấu, công sự ẩn nấp cho người và vũ khí, có hầm nghỉ ngơi, sinh hoạt, cấp cứu thương binh trong lòng đất, bảo đảm cho bộ đội chiến đấu liên tục ngày đêm trên cánh đồng Mường Thanh, dưới sự đánh phá ác liệt của không quân và pháo binh địch.

Trải qua một quá trình chiến đấu dài ngay, chúng ta đã lần lượt tiêu diệt từng cụm cứ điểm của địch, xiết chặt vòng vây, vận dụng chiến thuật đánh lấn, bắn tỉa, chia cắt sân bay, triệt đường tiếp tế… làm cho tập đoàn cứ điểm ngày càng bị bóp nghẹt, không phận ngày càng bị thu hẹp, khó khăn ngày càng chồng chất, tinh thần chiến đấu của địch ngày càng sa sút. Cuối cùng ta mở đợt tiến công quyết định vào sở chỉ huy đầu não, bắt sống tướng Đờ Cát và bộ chỉ huy, buộc toàn bộ quân địch đầu hàng, giành toàn thắng cho chiến dịch.

Như vậy, quân đội ta từ chỗ mới tiêu diệt được từng tiểu đoàn địch phòng ngự trong công sự vững chắc và thường chỉ đánh trong đêm, đã tiến lên tiêu diệt 21 tiểu đoàn phòng ngự trong một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, với 8 trung tâm đề kháng, 49 cứ điểm và đánh liên tục trong 56 ngày đêm, đã tiêu diệt, bắt sống hơn 1 vạn 6 nghìn quân địch, đại bộ phận là lính Âu - Phi tinh nhuệ.

Đây là trận tiêu diệt chiến lớn nhất, tiêu biểu nhất, một bước trưởng thành vượt bậc về trình độ tác chiến của quân đội ta.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:17:15 PM
Kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác Hồ viết: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng trong lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”(1). “Đó là thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, mà cũng là thắng lợi chung của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới”(2).

Năm nay, kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, nhìn lại tiến tình lịch sử của dân tộc ta và của nhân loại qua nửa thế kỷ, chúng ta càng thấy ý nghĩa to lớn và sâu sắc của chiến thắng ví đại Điện Biên Phủ.

Điện Biên Phủ là trận đánh tiêu diệt và bắt sống quân viễn chinh xâm lược lớn nhất, gọn nhất của quân đội ta, dân tộc ta và của phong trào giải phóng dân tộc trong thế ỷ XX.

Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân xâm lược.

Ông cha ta trước đây từng tiêu diệt quân xâm lược ở Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa… để giải phóng Thăng Long. Đến thời đại Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã đánh một trận tiêu diệt lớn quân xâm lược ở Điện Biên Phủ, buộc đối phương phải đi đến ký Hiệp nghị Giơnevơ, giải phóng nửa nước, giải phóng Thủ đô Hà Nội. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, được xây dựng ngày càng vững mạnh trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước, trở thành hậu phương lớn của tiền tuyến lớn miền Nam. Đó là “nhân tố quyết định nhất” trong khi phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam thành đồng Tổ quốc là “nhân tố quyết định trực tiếp” của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.Như chúng ta đã biết, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ta bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước với sức mạnh mới của một nửa nước được hoàn toàn giải phóng, xây dựng chế độ xã hội mới, với sự giúp đỡ của các nước anh em cả về kinh tế và quốc phòng. Ta có một quân đội nhân dân được xây dựng theo phương hướng chinh quy và hiện đại, gồm nhiều binh chủng và quân chủng, với một đội ngũ cán bộ dạn dày kinh nghiệm, đã được bồi dưỡng, đào tạo trưởng thành. Trong quá trình kháng chiến chống Mỹ, hàng triệu thanh niên lên đường vào Nam chiến đấu, trong đó hàng vạn “chiến sĩ Điện Biên Phủ” đã lập công xuất sắc. Hàng ngàn “chiến sĩ Điện Biên Phủ” đã tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đại thắng Mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có ba trong bốn tư lệnh quân đoàn từng là trung đoàn trưởng chiến đấu ở Điện Biên Phủ.

Như vậy, chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo nên chỗ dựa vững chắc, tạo nên lực lượng, ý chí, niềm tin và kinh nghiệm để quân và dân ta tiến lên, đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, thống nhất hoàn toàn, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, qua 9 năm kháng chiến, nhân dân ta đã làm nên trận địa thắng Điện Biên Phủ, giải phóng nửa nước, tạo điều kiện để 21 năm kháng chiến tiếp theo, làm nên trận toàn tháng Mùa Xuân 1975, giải phóng nửa nước còn lại, đưa giang sơn về một mối. Điều trùng lặp kỳ lạ là về thời gian, hai trận quyết chiến chiến lược ấy đều diễn ra trong 56 ngày đêm chiến đấu liên tục và chiến thắng vẻ vang. Cũng một điều trùng lập nữa là khi tình thế thay đổi thì cả hai trận đã kịp thời thay đổi quyết định. Trận trước dự định đánh trong hai ngày ba đêm đã chuyển sang đánh gần hai tháng; trận sau dự định đánh trong hai năm nhưng khi thời cơ đến đã tiến công thần tốc chỉ đánh trong gần hai tháng.

Chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa trong thời đại mới.

Ý nghĩa to lớn của chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ đối với dân tộc ta là như vậy.

Trên phạm vi thế giới, với chiến thắng Điện Biên Phủ, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại: một đất nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, đất không rộng, người không đông, kinh tế còn lạc hậu, vũ khí kém cỏi đã đánh thắng quân đội xâm lược của một cường quốc phương Tây có tiềm lực kinh tế va quân sự lớn, trang bị vũ khí hiện đại.

Trong lần đến Việt Nam gần đây, Chủ tịch Phiđen Caxtrô đã nói: “Tôi đã đọc lịch sử chiến tranh. Từ trước đến nay chưa từng có một cuộc chiến tranh nào mà một nước nhỏ, kinh tế lạc hâu như Việt Nam mà vẫn đánh thắng Pháp và Mỹ. Đó là điều vô song. Trên thế giới chưa từng có. Trong lịch sử chưa từng thấy”.

“Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm cho các dân tộc thuộc địa ngửng cao đầu”(3). Tiếng sấm Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, vang tới những vùng xa xôi còn chìm đắm trong đêm dài nô lệ, thức tỉnh và tạo niềm tin cho các dân tộc bị áp bức vùng lên. Gần hai thập kỷ sau Điện Biên Phủ, hàng loạt nước thuộc địa ở châu Á, châu Phí, Mỹ latinh đã lân lượt giành độc lập, với hình thức và mức độ khác nhau. Phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội phát triển sâu rộng.

Với Điện Biên Phủ, Việt Nam trở thành nước đi tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh đánh đổ chủ nghĩa thực dân cũ - một vết nhơ trong lịch sử nhân loại.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã góp phần làm thay đổi cục diện thế giới. Ý nghĩa quốc tế lớn lao của Điện Biên Phủ là như vậy.

Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ bắt nguồn từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, va Bác Hồ kính yêu, từ tinh thần chiến đấu đầy dũng cảm và mưu trí sáng tạo của quân và dân ta; từ sự phối hợp chiến đấu của nhân dân hai nước Lào, Campuchia anh em, sự giúp đỡ quan trọng của Trung Quốc, Liên Xô và sự đồng tình ủng hộ của bạn bè quốc tế, kể cả nhân dân Pháp.

Chiến thắng Điện Biên Phủ bắt nguồn sâu xa từ truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí quật cường, bất khuất, trí thông minh sáng tạo; tình đoàn kết nhân ái là những nhân tố chủ yếu tạo nên bản sắc văn hóa của dân tộc ta được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử. Trong thời đại mới, sức sống mãnh liệt của văn hóa Việt Nam đã được khơi dậy mạnh mẽ, được nâng lên tầm cao mới, dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin va tư tưởng Hồ Chí Minh để tạo nên sức mạnh phi thường, lần lượt đánh thắng hai đế quốc to, giành thắng lợi trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.11, tr.261, 220.
(3 Ôman Uxêđích, Trưởng đoàn đại biểu Quân đội Angiêri nói trong dịp sang thăm Việt Nam năm 1960.)


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:18:28 PM
*
*   *

Ngày nay sau 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, cục diện thế giới và đất nước đã và đang có những biến đổi lớn lao, sâu sắc.

Đất nước ta đang đứng trước thời cơ và vận hội mới, đồng thời phải đương đầu với những nguy cơ và thác thức mới. Trong khi kinh tế và khoa học trên thế giới đang có những bước phát triển vượt bậc thì nước ta vẫn còn là một trong những nước nghèo, GDP bình quân đầu người mới bằng 1/3 của Thái Lan, 1/50 Xingapo, 1/70 của Mỹ.

Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, điều thiết thực nhất là chúng ta hãy phát huy tinh thần Điện Biên Phủ trong cuộc chiến đấu mới - cuộc chiến đấu chống nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho toàn dân ta.

Tinh thần Điện Biên Phủ trước hết là tinh thần yêu nước, “không có gì quý hơn độc lập, tự do”, không cách mạng chịu làm nô lệ, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, quyết chiến, quyết thắng, kết hợp tinh thần dũng cảm kiên cường với trí thông mình sang tạo, nỗ lực phi thường để khắc phục những việc tưởng chừng không thể làm nổi, tạo nên bước tiến vượt bậc về khả năng và sức mạnh chiến đấu để đánh bại kẻ thù lúc chúng có những cố gắng chiến tranh cao nhất.

Ngày nay, phát huy tinh thần Điện Biên Phủ chúng ta hãy nêu cao lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, tự tôn dân tộc, tự lực tự cường, không cam chịu nghèo nàn và lạc hậu, quyết tâm vượt qua thách thức, phát huy trí thông minh sáng tạo, dám nghĩ dám làm, làm nên một “Điện Biên Phủ” mới trong sự nghiệp đổi mới. Mỗi người, mỗi tổ chức có những nỗ lực vượt bậc, làm nên những đỉnh cao thành tích mới, những “Điện Biên Phủ” lớn, nhỏ trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học, giáo dục, văn hóa, xã hội. Như chúng ta đã từng thực hiện được bước tiến vượt bậc trong sản xuất, xuất khẩu lương thực, biến những vùng, những hộ nghèo đói trở thành giàu có, đạt đỉnh cao trong thi tài văn hóa, khoa học trên thế giới, đạt được một bước tiến vượt bậc về thành tích thi đấu của tuổi trẻ Việt Nam trong SEA Games 22. Điều cực kỳ quan trọng là chúng ta phải thực hiện cho được chủ trương coi khoa học và giáo dục là quốc sách hàng đầu, làm cho con người Việt Nam tiến lên chiếm những đỉnh cao của khoa học, làm cho khoa học - giáo dục thật sự trở thành động lực, nhất định chúng ta sẽ tạo nên những bước phát triển vượt bậc về kinh tế - xã hội, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 9 vừa qua của Đảng, góp phần sớm khắc phục sự tụt hậu, từng bước đưa nước ta tiến lên nhanh và vững, sánh vai cùng các nước trung bình rồi các nước tiên tiến trên thế giới.

Trong lúc tập trung vào nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế, phải thường xuyên coi trọng nhiệm vụ tăng cường an ninh, củng cố quốc phòng. Có kế hoạch chống lại các mâm ưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, nghiên cứu những phát triển của khoa học quân sự hiện đại thế giới, các hình thức chiến tranh kiểu mới, vận dụng và phát triển sáng tạo kinh nghiệm quý báu của hai cuộc kháng chiến, hoàn thiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chuẩn bị cho các lực lượng vũ trang, cho đất nước sẵn sàng đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược mà kẻ địch có thể gây ra với nước ta, bảo vệ vững chắc vùng đất, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.

Tinh thần Điện Biên Phủ là tinh thần tôn trọng thực tế, nắm vững quan điểm thực tiễn, không chủ quan duy ý chí, luôn bám sát sự phát triển của thực tiễn, khi thấy tình hình thay đổi thì mục tiêu tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ vẫn giữ vững, nhưng kiên quyết thay đổi cách đánh, dù cách đánh ấy đã thành Nghị quyết đang triển khai, tìm ra cách đánh phù hợp để giành thắng lợi. Đây là bài học sâu sắc nhất về lãnh đạo và chỉ huy trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Ngày nay, bài học ấy đang hết sức có ý nghĩa đối với chúng ta, Đảng ta từ Đại hội VI đến Đại hội IX đã xuất phát từ tình hình thực tiễn, từng bước phát triển sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đưa sự nghiệp đổi mới tiến lên giành được thắng lợi to lớn, quan trọng. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội ở một nước kinh tế chậm phát triển như nước ta là chưa có tiền lệ. Tình hình thực tiễn của thế giới và nước ta đã và đang cón hững biến đổi sâu sắc và những phát triển mới chưa từng có. Quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội còn nhiều vấn đề đặt ra.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:21:11 PM
Chúng ta hãy phát huy tinh thần thực tiễn và sáng tạo của Điện Biên Phủ vào công cuộc đổi mới. Luôn gắn lý luận với thực tiễn, thấm nhuần quan điểm coi thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, luôn bám sát thực tiễn, phân tích và phát hiện, nhận thức đúng đắn những phát triển mới của tình hình thế giới và trong nước. Nghiên cứu tổng kết thức tiễn, phát triển sáng tạo lý luận. Khi thực tiễn thay đổi thì mục tiêu xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh vẫn giữ vững, nhưng kiên quyết thay đổi, bổ sung những chủ trương, chính sách, biện pháp, dù có những vấn đề đã thành quyết định, nghị quyết nhưng không còn phù hợp, không có hiệu quả. Không chủ quan, duy ý chí, không bảo thủ giáo điều, dừng lại ở nhận thức và quan điểm cũ đã lỗi thời. Có như vậy, mới đưa sự nghiệp đổi mới đến thắng lợi.

Sức mạnh làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, sức manh của toàn dân, của cả nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, chúng ta đã động viên được toàn quân toàn dân, từ tiền tuyến đến hậu phương vào trận quyết chiến Điện Biên Phủ. Lần đầu tiên chúng ta đã tập trung gần 5 sư đoàn chủ lực mạnh vào một trận đánh, động viên các chiến trường trong cả nước và hai nước bạn Lào, Campuchia chiến đấu phối hợp với chiến trường chính Điện Biên Phủ. Chúng ta đã huy động sức người sức của từ vùng tự do Thanh Nghệ Tĩnh, Tây Bắc, Việt Bắc đến nhiều tỉnh vùng địch tạm chiếm ở Bắc Bộ chi viện cho Điện Biên Phủ. Hàng chục vạn đồng bào đã hăng hái đi dân công, thanh niên xung phong tham gia làm đường, vận tải tiếp tế, phục vụ chiến dịch, bảo đảm hậu cần cho một mặt trận xa hậu phương hàng năm, bảy trăm cây số, trong điều kiện đường sá khó khăn, phương tiện vận tải thô sơ thiếu thốn, địch đánh phá ác liệt; làm được một việc mà kẻ thù không thể ngờ tới ta có thể làm được.

Ngày nay, sức mạnh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vẫn là một sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của toàn dân.

Chúng ta phải luôn luôn coi trọng nêu cao tinh thần dân tộc, quán triệt sâu sắc Nghị quyết của Đại hội IX về phát huy sức mạnh khối đoàn kết dân tộc. Đoàn kết 54 dân tộc anh em, đoàn kết các tôn giáo, đoàn kết đồng bào trong nước và đồng bào định cư ở nước ngoài, làm thất bại âm mưu chia rẽ của các thế lực thù địch, phải thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với các vùng đồng bào dân tộc, trong đó có Điện Biên Phủ và Tây Bắc, vùng căn cứ kháng chiến, vùng sâu, vùng xa, giúp đồng bào phát triển kinh tế, văn hóa, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, khắc phục tình trạng quá chậm trễ như hiện nay, làm cho miền núi sớm tiến kịp miền xuôi như Bác Hồ mong muốn.

Thưc hiện các Nghị quyết của Trung ương về phát huy thế mạnh của các vùng kinh tế - phát huy vai trò của các thành phần kinh tế, động viên toàn dân ra sức làm kinh tế để thực hiện dân giàu, nước mạnh, với một khí thế thi đua sôi nổi như toàn dân đã hăng hái tham gia hai cuộc kháng chiến trước đây. Phải luôn luôn ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ trong Di chúc đối với công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh: “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khống lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”(1).

Thực sự mở rộng dân chủ, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, tránh dân chủ hình thức, tạo nên sự nhất trí giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, sự gắn bó của người dân với chế độ xã hội, với lãnh đạo, như dân đã từng gắn bó với cách mạng trong thời kỳ kháng chiến. Thực hiện dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương phép nước.

Chỉ trên cơ sở sự đồng tình ủng hộ và tham gia tự nguyện của nhân dân, giữ vững được lòng dân, ta mới giữ vững được ổn định chính trị, tạo nên sức mạnh đưa công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đến thành công.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.12, tr.505.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:22:11 PM
Nhân tố quyết định đưa đến thắng lợi Đông Xuân 1953-1954 và chiến thắng Điện Biên Phủ là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Sự lãnh đạo đó không những thể hiện ở đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn, sự chỉ đạo chiến lược tài tình mà điều quan trọng còn thể hiện ở vai trò tiên phong gương mẫu của đảng viên.

Trước thách thức quyết liệt của trận Điện Biên Phủ, biết bao đảng viên ưu tú đã một lòng vì nước vì dân, nêu cao tinh thần gương mẫu trong chiến đấu, không quản gian khổ, hy sinh, sẵn sàng xả thân để giành chiến thắng. Tại mặt trận, trước tình huống khó khăn, gay go, quyết liệt đã vang lên tiếng thét: “Các đảng viên cộng sản tiến lên! Ai là người theo Đảng hãy tiến lên!”. Hai tiếng đảng viên thiêng liêng và hành động tiên phong gương mẫu của đảng viên đã có sức mạnh cổ vũ đồng đội xông lên tiêu diệt quân thù, giành thắng lợi.

Ngày nay, sự lãnh đạo của Đảng, vai trò tiên phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn là nhân tố quan trọng, quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta có một đội ngũ cán bộ, đảng viên kế tiếp xứng đáng, có phẩm chất và năng lực, năng động, sáng tạo, làm hạt nhân lãnh đạo trong các cấp, các ngành, đưa công cuộc đổi mới tiến lên đạt những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, điều mà hiện nay toàn Đảng, toàn dân quan tâm và lo ngại là bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng, đang làm giảm uy tín và sức mạnh lãnh đạo của Đảng, đe dọa sự tồn vong của Đảng. Vì vậy, toàn Đảmg, toàn quân, toàn dân ta đồng tâm, nhất trtí, tìm ra nguyên nhân yếu kém và biện pháp có hiệu lực, thực hiện bằng được nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, làm cho đội ngũ đảng viên thật sự hết lòng vì nước, vì dân, tiếp tục nêu cao vai trò tiên phong gương mẫu trong nhiệm vụ cách mạng mới, như đã từng tiên phong gương mẫu trong chiến đấu. Đây cũng là nhân tố quyết định đưa sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc tiến lên đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đối với nhân loại, Điện Biên Phủ là điểm hẹn tất yếu của lịch sử dành cho những cuộc chiến tranh xâm lược trong thời đại ngày nay. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã chứng minh một chân lý của thời đại là các dân tộc bị áp bức, bị xâm lược, nếu biết đoàn kết đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do, vì quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của mình, có đường lối đúng đắn, dám đấu tranh và biết đấu tranh thì dân tộc đó nhất định thắng lợi Trong thời đại ngày nay, bất cứ dân tộc nào để áp đặt ý muốn của mình lên dân tộc khác thì cuối cùng nhất định sẽ thất bại.

Các lực lượng hiếu chiến dù có tàn bạo đến đâu thì cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình, hữu nghị và phong trào, vì một trận tự thế giới công bằng, dân chủ nhất định thắng lợi.

*
*   *

Kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại, nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, nhớ ơn các bà mẹ Việt Nam anh hùng đã hiến dâng cho đất nước những người con thân yêu. Chúng ta gửi lời thăm hỏi thân thiết nhất đến các đồng chí thương binh, bệnh binh, cựu chiến binh, thanh niên xung phong, dân công, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng đã góp phần xứng đáng vào thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, của cuộc kháng chiến 30 năm chống đế quốc xâm lược.

Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ đã làm cho ba tiếng “Điện Biên Phủ trở thành biểu tượng của sức mạnh Việt Nam.

Tinh thần Điện Biên Phủ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:24:01 PM
ĐIỆN BIÊN PHỦ XƯA VÀ NAY(1)

Điện Biên Phủ là một sự kiện lịch sử trọng đại. Cũng như mọi sự kiện lịch sử khác, người ta chỉ có thể nhận thức đầy đủ tầm vóc và ý nghĩa của sự kiện khi đặt nó trong dòng chảy liên tục của thời gian, phân tích nó trong biện chứng vận động và phát triển của lịch sử.

Nói “Điện Biên Phủ xưa và nay” không chỉ là sự so sánh đơn giản một thực tế ở hai thời điểm xưa và này. Lịch sử, nói chính xác hơn là hiện thực lịch sử chỉ xảy ra một lần, duy nhất và không thể chữa lại, nhưng nhận thức lịch sử, cũng như viết sử có thể làm đi làm lại nhiều lần. Thời gian như một thứ thuốc hiện hình sẽ làm cho các hiện thực của quá khứ ngày một rõ nét hơn, chân xác hơn; tất nhiên cũng có một lúc, một hoàn cảnh nào đó cùng với thời gian là sự lãng quên, thậm chí làm lu mờ hay méo mó lịch sử. Song thời gian với phép màu nhiệm của nó chắc chắn sẽ giúp chúng ta và các thế hệ con cháu chúng ta ngày một hiểu biết sâu sắc hơn về quá khứ, về Điện Biên Phủ. Với từng trải của 40 năm, giờ đây chúng ta nhìn lại Điện Biên Phủ sẽ thấy rõ hơn, sáng hơn những ý nghĩa và bài học lịch sử bổ ích cho công cuộc cách mạng hiện nay.

Trước tiên, Điện Biên Phủ là một chiến dịch lớn, là một trận đánh diễn ra trên lòng chảo Mường Thanh suốt 55 ngày đêm giao tranh quyết liệt và kết thúc vào ngày 7-5-1954, như một trận quyết chiến chiến lược.

Trở lại Mường Phăng vừa rồi, trong “lán chỉ huy” anh em bảo tàng vẫn để lại mấy tấm bản đồ tác chiến. Ngoài bản đồ khu vực Điện Biên, còn có cả một tấm bản đồ lớn khu vực Đông Dương, vì lúc đó tôi vừa là Chỉ huy trưởng của Mặt trận Điện Biên Phủ, vừa là Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam chỉ đạo toàn bộ các mặt trận phối hợp với Điện Biên Phủ ở Khu V, Nam Bộ, kể cả chiến trường Lào và Campuchia. Ở đồng bằng Bắc Bộ đã có các anh Văn Tiến Dũng, Nguyễn Chí Thanh. Điện Biên Phủ thắng to là do ta đánh thắng trên chiến trường Đông Dương, thắng trong từng trận cụ thể, nhưng quan trọng hơn là thắng vì ta giành được quyền chủ động trên toàn chiến trường, địch bị căng lực lượng ờ khắp nơi trong khi ta tập trung được sức mạnh ở Điện Biên Phủ.

Bức tranh Điện Biên Phủ sẽ hiện rõ tầm vóc của nó nếu ta đặt trong một cái khung thời gian của toàn bộ sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, chấm dứt 100 năm đô hộ của thực dân Pháp và nhất là của 30 năm chiến tranh bảo vệ nền độc lập, tự do mở đầu bằng Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, được kết thúc bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975 và Điện Biên Phủ là một cái mốc khẳng định ý chí và sức mạnh của dân tộc Việt Nam chúng ta. Nó là sự kế thừa của cách mạng Tháng Tám, nó cũng là tiền đề của thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước sau này.

Trong sự nghiệp đánh đuổi xâm lược Pháp, ông cha ta đã biểu thị truyền thống yêu nước rất sâu sắc. Từ ngày đầu giặc Pháp đánh Đà Nẵng (1958), nhân dân ta đã chứng minh điều đó, nhưng cũng với thất bại của nhiều phong trào khởi nghĩa vũ trang, lòng yêu nước ấy đứng trước câu hỏi: làm thế nào để chiến thắng? (Rồi đây các nhà sử học thử phân tích vì sao khi quân Pháp xâm lược nước ta, với một đội quân không đông lắm, thạm chí có lú chỉ vài trăm quân cũng có thể đánh thắng đội quân của triều đình lúc đó rất đông lại có những vị chỉ huy rất anh hùng như Nguyễn Tri Phương hay Hoàng Diệu?). Niềm khao khát chiến thắng ấy chẳng đã một thời vang lên trong những “Hồi trống tự do”, “Tiếng chuông chiều hồn” hay những lời da diết “Gọi hồn nước” của Phan Bội Châu và các bậc chí sĩ ái quốc thời trước khi có Đảng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh với Chánh cương, sách lược vắn tắt từ hồi dựng Đảng được phát triển qua Cương lĩnh Mặt trận Việt Minh (1941) đã trở thành tư tưởng chủ đạo, tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc trong cao trào Cách mạng Tháng Tám 1945 giành lại non sông gấm vóc, tạo dựng nền Dân chủ Cộng hòa của một quốc gia độc lập.

Tư tưởng ấy cùng với sự hình thành lực lượng vũ trang cách mạng. Quân đội nhân dân Việt Nam mà cuối năm nay, chúng ta sẽ long trọng kỷ niệm vừa tròn nửa thế kỷ, chính là nền tảng lịch sử của thắng lợi của cuộc kháng chiến thần thánh chống đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ mà Điện Biên Phủ là một đỉnh cao quyết định.

Nếu ta ngược về quá khứ xa hơn nữa của lịch sử dân tộc, truyền thống giữ nước của tổ tiên ta đã hình thành rất sớm trong thời các vua Hùng và được kết tinh trong hình tượng Thánh Gióng mang tính huyền thoại kỳ vĩ. Dưới thời Bắc thuộc, truyền thống ấy đã dấy lên cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Hai Bà phát động nhân dân vùng dậy chống quân đô hộ, trong một thời gian ngắn lấy lại được 65 thành, giải phóng đất nước, xác lập quyền tự chủ. Nhưng nói theo ngôn ngữ hiện đại, Hai Bà đã thực hiện thành công cuộc khởi nghĩa dân tộc, nhưng cuộc kháng chiến giữ nước tiếp theo bị thất bại.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 2, tháng 3 năm 1994, tr.6-9.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:25:14 PM
Ở thế kỷ XIII, nhân dân ta thời Trần cũng tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài 30 năm với ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên - Mông. Đó là một chiến công rất hiển hách. Nhưng nếu phân tích kỹ thì trong 30 năm ấy quân xâm lược đã ba lần tiến công vào đất nước ta: Lần đầu 1 tháng, lần thứ hai khoảng 6 tháng, lần thứ ba cũng khoảng 6 tháng. Cả ba lần quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh tài ba khác trên dưới vua tôi đồng lòng đánh bại không chỉ đội quân xâm lược mà cả ý chí xâm lược của giặc Nguyên - Mông. Tuy nhiên thời gian giữa ba cuộc chiến tranh ấy nước ta thời nhà Tràn vãn thanh bình và thịnh trị. Còn trong 30 năm tiến hành chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cả nước chúng ta đã trải qua một cuộc chiến tranh liên tục và khốc liệt.

Với khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi ở thế kỷ XV thì bắt đầu bằng một cuộc khởi nghĩa ở địa phương, quy tụ lực lượng từ nhiều nơi, từ châu Hoan Diễn tiến tới lấy thành Đông Quan, giải phóng đất nước. Chúng ta biết thêm rằng, trước đó ách đô hộ của giặc Minh cũng mới chỉ có 10 năm, sau khi quân xâm lược đã đánh bại nhà Hồ, một triều đại có quân đội rất mạnh, có truyền thống thượng võ cao.

Đến thời Tây Sơn, Nguyễn Huệ Quang Trung bắt đầu bằng một cuộc khởi nghĩa nông dân địa phương, đánh đổ các thế lực phong kiến đương thời, định đô ở Phú Xuân, tích lũy quân lương ở Hoan Diễn rồi tiến quân ra Bắc thần tốc đánh bại đại quân của giặc Thanh đúng với ý nghĩa của một trận quyết chiến chiến lược.

Nhắc lại những chiến công của cha ông vừa để tự hào vừa để so sánh những nét giống và khác với sự nghiệp cách mạng của thế hệ chúng ta, chính là để thấy được tính kế thừa, học hỏi tiền nhân cũng như sự sáng tạo và phát triển trong thời đại mới.

Đặt vào một bối cảnh rộng lớn hơn, chúng ta còn có thể sánh Điện Biên Phủ với nhiều trận đánh nổi tiếng trong lịch sử chiến tranh thế giới như Oatéclô, Bôrôđinô, Xtalingrát… Mỗi một sự kiện có ý nghĩa với thời đại của nó cũng như trong lịch sử chung của nhân loại. Với Điện Biên Phủ, không chỉ là sự kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam mà còn là sự khởi đầu cho cao trào cách mạng giải phóng dân tộc của các dân tộc nhược tiểu khỏi ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân trong lịch sử cận - hiện đại. Bởi vì Điện Biên Phủ là thắng lợi đầu tiên, thắng lợi chấn động địa cầu của một dân tộc vốn là thuộc địa, kinh tế lạc hậu, đánh bại quân đội hiện đại của một cường quốc công nghiệp, một đế quốc phương Tây. Bởi vì Việt Nam với Điện Biên Phủ đã nêu cao tấm gương, bài học: một dân tộc nhỏ yếu có thể đánh bại một cường quốc hùng mạnh một khi nhân tố con người trở thành quyết định vượt lên trên tất cả yếu tố tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự. Nhà viết sử phương Tây Jules Roy chẳng đã mô tả Điện Biên Phủ là nỗi “Kinh hoàng khủng khiếp, là thất bại lớn nhất của phương Tây báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ và sự cáo chung của nột nền cộng hòa ở Pháp”.

Sau này, khi tướng Đờ Gôn, Tổng thống Pháp đang có mặt ở Phnôm Pênh đã nhắn vọng cho Mỹ lúc này đã can thiệp sâu vào Việt Nam rằng: Mỹ nên học bài học của Pháp. Nhưng đế quốc Mỹ lại cho rằng Pháp đã thua nhưng Mỹ sẽ thắng. Và thực tiễn đã cho thấy: Tô đậm thêm cho bài học lịch sử của Điện Biên Phủ chính là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc kết thúc bằng chiến dịch mang tên Bác hồ vào mùa xuân 1975.

Bài học lớn ấy phải đã được thực hiện bằng một nghệ thuật chỉ đạo cách mạng và chiến tranh đúng đắn, sáng tạo. Một trong những tư tưởng chủ đạo của Bác Hồ ngay từ khi mới thành lập lực lượng vũ trang cách mạng là “Đánh phải chắc thắng”, bởi vì dân ta nghèo, xương máu của nhân dân và quân đội phải được quý trọng.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, cái tư tưởng ấy luôn thường trực trong suy nghĩ của bản thân tôi cũng như của nhiều đồng chí khác, mỗi khi quyết định một trận đánh, một cách đánh… Ở Điện Biên Phủ, chính vào thời điểm quyết định, tư tưởng ấy đã giúp tôi đi tới một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy quân sự của mình. Bởi vì như lúc đầu, xuất phát từ sự phân tích cho rằng địch vừa đổ quân xuống một chiến trường mới, hệ thống phòng ngự chưa được củng cố, lực lượng của ta lớn hơn hẳn lại có sự chi viện mạnh của pháo binh, ở xa hậu phương nếu kéo dài sẽ gặp khó khăn về tiếp tế, phải đánh nhanh đề phòng sự leo thang can thiệp của Mỹ… Nên lúc đầu đã từng đề ra quyết định “Đánh nhanh thắng nhanh”.

Quyết tâm rất cao, nhất trí từ trên xuống dưới, gần như không ai có ý kiến khác và trên chiến trường thì pháo đã kéo vào trận địa, quân đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Chuyên gia của bạn cũng nhất trí từ đầu. Dự kiến sẽ đánh trong 3 đêm 2 ngày.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:26:36 PM
Chính vào thời điểm ấy, như một linh cảm, hay đúng hơn là kết quả của một quá trình suy nghĩ theo theo tư tưởng đánh chắc, thắng chắc, theo lời dặn của Bác: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”, tôi đã cho đi sâu theo dõi thực tiễn tình hình địch, đánh giá cho đúng mọi vấn đề trước giờ nổ súng. Mặc dù, như mọi lần vào trước trận đánh, tôi còn có thới quen yêu cầu mọi người phát biểu cho hết những khó khăn của mình, nhưng lần này tất cả đều nhất trí với cách đánh nhanh. Đảng ủy mặt trận họp cũng quyết định như vậy, mà Bác và Trung ương thì lại ở xa.

Tôi yêu cầu anh em quân báo ở Cục 2 trinh sát kiểm tra lại tình hình thì được biết: địch có chiều hướng đổ quân thêm càng đông, công sự và hệ thống phòng ngự xây ngày càng kiên cố. Những động thái của địch cần được đánh giá lại. Thí dụ trước đó thấy địch càn quét đốt phá một số bản làng chỉ cho rằng nó khủng bố nhân dân, sau theo dõi mới biết chúng lấy gỗ, đá về củng cố công sự…

Phân tích lại thì thấy, đến lúc này mà ta thực hiện chủ trương đánh 3 đêm 2 ngày thì cánh quân của ta từ hướng tây vượt qua cánh đồng Mường Thanh bằng phẳng chẳng khác gì phơi mình cho hỏa lực của địch gây thương vong. Ở Điện Biên Phủ, địch có hỏa lực rất mạnh về pháo binh, xe tăng, lại được tăng cường bằng không quân. Lực lượng pháo binh của ta lần đầu ra quân với quy mô lớn hợp đồng tác chiến với bộ binh trên toàn chiến trường, sau một nỗ lực phi thường và rất gian khổ đã đưa được một bộ phận quân pháo vào trận địa sẵn sàng tác chiến. Đồng chí Phạm Kiệt đi sát pháo binh bằng điện thoại đã cho biết lúc này pháo vẫn phơi mình trên mặt đất, chỉ kịp làm công sự dã chiến ban ngày địch mà phát hiện thì thật nguy hiểm.

Cũng qua đường dây điện thoại, tôi kiểm tra lại cánh quân của anh Lê Trọng Tấn đánh từ phía bắc đánh xuống. Anh Tấn là một tướng đánh giỏi, từng trải, đã trả lời rằng: Nếu thực hiện cách đánh nhanh, quân của anh phải đột phá liên tục qua ba phòng tuyến, rất khó khăn nhưng sẽ cố gắng…

Tổng hợp lại tình hình, tôi thấy rằng quan trọng của chiến sĩ ta rất cao nhưng nếu đánh nhanh thắng nhanh thì tổn thất sẽ rất lớn, chắc chắn sẽ thất bại… Ta đã xây dựng các đại đoàn từ trước khi mở thông biên giới (1950), nhưng kinh nghiệm đánh thì mới chỉ tiêu diệt cỡ tiểu đoàn địch phòng ngự trong công sự, chưa lần nào đánh lớn như Điện Biên Phủ, cũng lại là lần đầu hợp đồng tác chiến lớn với pháo binh mà chưa từng lâm trận…

Những ý nghĩa ấy khiến tôi đi đến quyết định thay đổi cách đánh gần như vào giờ chót. Lúc đầu ta đã quyết định giờ N là 17 giờ ngày 25 tháng 1 năm 1954, sua đó do có một chiến sĩ ta bị bắt nên quyết định lùi lại 24 tiếng. Và, trong buổi sáng của ngày nổ súng, tôi đã đưa vấn đề ra Đảng ủy, đi đến quyết định hoãn cuộc tiến công, lui quân ra và chuyển sang cách đắng chắc - thắng chắc… Và thực tế đã chứng minh đó là một quyết định đúng đắn và kịp thời.

Về quyết định này, tôi đã viết khá kỹ trong bài “Quyết định khó khăn nhất” đăng trong báo Nhân dân tháng 5 năm 1989 và vừa rồi đăng lại dưới nhan đề “Mùa xuân Điện Biên Phủ” trên Tạp chí Lịch sử Quân sự 2 số đầu năm nay, nhưng ở đây tôi nuốn nhắc lại một lần nữa rằng, bài học sâu sắc đối với tôi qua quyết định này chính là làm sao có thể phát huy được cao nhất trí tuệ và sức sáng tạo của con người vào những thời điểm quyết định. Nhớ lại cái không khí “Dân chủ nôi bộ” khi đó, ta thấy rất quý cái quyết tâm, sự nhất trí của mọi người, nhưng rõ ràng nếu chưa trình bày hết thực chất của vấn đề, chưa tạo được không khí dẫu chưa đánh thức tính chủ động, bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm của mỗi người thì sự nhất trí ấy, quyết tâm ấy có thể trở thành “duy ý chí”, hay chỉ là sự nhất trí không có cơ sở của cấp dưới với ý kiến đề xuất của cấp trên. Ngay sau khi có quyết định thay đổi cách đánh, tôi xin ý kiến của Bác và anh Trường Chinh. Cũng như sự tin cậy của Trung ương đã giao phó trước khi vào chiến dịch, tôi đã nhận được sự ủng hộ hoàn toàn. Còn khi tôi ra lệnh cho các đơn vị: Đình chỉ nổ súng, kéo pháo ra, Đại đoàn 308 lập tức hành quân nghi binh sang Lào… thì sự đáp lại không chỉ là sự chấp hành tuyệt đối mệnh lệnh cấp trên mà phần nào còn là sự giải tỏa những băn khoăn mà cấp dưới chưa dám nói ra… Sau khi tôi hỏi anh Phạm Ngọc Mậu nghĩ gì khi được lệnh rút pháo khỏi trận địa, anh cười và nói rằng: “Được lời như cởi tấm lòng”… Nhiều anh em khác sau này cũng tâm sự như vậy. Nhưng không phải như hồi kỷ niệm 30 năm, có người nói rằng ngay từ khi đưa ra cách đánh nhanh thắng nhanh, “nhiều người đã thắc mắc”. Cần nhắc lại rằng ngay trong buổi họp Đảng ủy cuối cùng để quyết định thay đổi cách đánh, chi khi đặt vấn đề: “Đánh nhanh có chắc thắng 100% không?” thì mọi người nhất trí và đi đến quyết định cuối cùng.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:27:24 PM
Và như thế, từ ý định đánh 3 đêm 2 ngày cuối cùng Điện Biên Phủ đã diễn ra trong 55 ngày vả đêm. Để thực hiện phương châm này ta cũng phải khắc phục vô vàn khó khăn, ví dụ như hậu cần: Phải đưa vũ khí, lương thực cung cấp cho hàng vạn chiến sĩ ở một vùng rừng núi xa hậu phương tới từ 5 đến 7 trăm cây số. Đồng bào Mông ở vùng cao dùng ngựa đưa lương thực xuống, đồng bào Sơn La chắt chiu chia sẻ bữa ăn hàng ngày của mình, đồng bào khắp các địa phương từ Nghệ An trở ra bằng mọi phương tiện đưa lên. Có lúc biểu đồ theo dõi dự trữ hậu cần tụt sát số không, Bác đã ra chỉ thị tất cả các đồng chí Trung ương tỏa đi khắp nơi để lo chi viện cho chiến trường. Về vũ khí đạn dược, càng về sau ta càng khai thác được nhiều quân dụng của địch từ máy bay thả xuống trận địa ta. Trong khi đó, ngược lại hậu cần của địch ngày càng kiệt quệ vì vòng vây ta thắt càng chặt. Mùa mưa sắp đến, chiến sĩ ta càng gian khổ, nhưng khó khăn của địch cũng lại tăng lên gấp bội. Cho đến lúc vòng vây của ta đã dồn địch vào một trận địa khoảng 1 cây số và 800m, giao thông hào của ta cắt ngang sân bay thì ưu thế của ta tăng lên theo cấp số nhân, một viên đạn cối hiệu quả như pháo lớn, mọi thứ súng tập trung bắn thẳng khiến địch thực sự ở trong địa ngục… Như thế là rõ ràng có nhiều yếu tố quyết định chiến thắng trên chiến trường nhưng yếu tố cơ bản nhất là phải biết chác đánh cho phù hợp với thực tế, quy luật vận động, cục diện chiến trường và nắm chắc thời cơ.

Sau này, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là trong giai đoạn quyết định vào Mùa Xuân 1975, bài học biết vận dụng quy luật và thòi cơ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Ở Điện Biên Phủ, ta đã chuyển ý đồ đánh nhanh trong 3 đêm 2 ngày thành một trận tiến công và bao vây 55 ngày đêm và đánh giành toàn thắng. Mùa Xuân 1975 ta đã đề ra kế hoạch kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ trong vòng 2 hoặc 3 năm, hậu cần phải chuẩn bị trong một năm rưỡi. Nhưng khi chiến sự diễn ra tấn công thắng lợi Buôn Ma Thuột, tiếp đó tiêu diệt phần lớn quân địch rút chạy từ Pleiku thì cục diện đã thay đổi. Chúng tôi đề ra với Bộ Chính trị cần dứt điểm trong năm 1975. Và ngày 26-3, Bộ Chính trị họp trong lúc địch cố thủ ở Đà Nẵng và cánh quân của các anh Lê Trọng Tấn và Chu Huy Mân cũng đang tiến tới đó. Địch ở Đà Nẵng đang bị tiêu diệt. Chính trong bối cảnh như thế, tôi đã đưa ra phương châm, cũng là khẩu hiệu: “Thần tốc, Táo bạo, Bất ngờ, Chắc thắng” và rút thời gian xuống trước mùa mưa. Ngày 29-3 ta giải phóng Đà Nẵng. Và với phương châm “Thần tốc, Thần tốc hơn nữa” và quyết tâm của quân dân cả nước, ta đã toàn thắng ngày 30-4-1975. Như vậy từ ý định 2,3 năm cuối cùng thắng lợi hoàn toàn của chúng ta được thực hiện trong vòng 2 tháng. Ở đây, tôi cũng muốn nhắc lại rằng nắm được thơi cơ, quyết tâm thực hiện được mục tiêu cuối cùng với tinh thần quyết chiến quyết thắng phải trên cơ sở một tư tưởng đúng đắn và xuyên sốt cả một quá tình tích lũy kinh nghiệm và theo dõi phân tích những thay đổi mau lẹ trhên chiến trường, phát hiện cái mới, phát hiện quy luật và hành động theo quy luật.

Từ Pác Bó thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám, Bác đã vạch trước con đường Nam tiến từ Cao Bằng đến Thái Nguyên, tiếp đó là cuộc Nam tiến khi kháng chiến bùng nổ. Như vậy con đường Hồ Chí Minh bắt nguồn từ Pác Bó, phát triển thành con đường Hồ Chí Minh trong chống Mỹ, góp phần để kết thúc thắng lợi hoàn toàn cho sự nghiệp độc lập, tự do và thống nhất đất nước của dân tộc.

Tôi cũng muốn nhắc lại nời nói của Người rằng nước nhà có độc lập mà nhân dân không được hưởng hạnh phúc thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì. Chúng ta đang đi trên con đường làm cho nền độc lập dân tộc càng ngày càng có ý nghĩa. Đó là con đường đổi mới, con đường xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và hạnh phúc.

Trên con đường ấy đương nhiên không ít gian nan, thử thách. Để đi tới đích, chúng ta phải tiếp tục học hỏi những bài học lịch sử từ trong hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của ông cha, trong lịch sử hơn nửa thế kỷ cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, trong đó có những bài học quý báu của Cách mạng Tháng Tám 1945, của Điện Biên Phủ 1954 và của Tổng tiến công Mùa Xuân 1975. Có quyết tâm cao, biết nắm thời cơ, đi vào thực tiễn, phát hiện quy luật và hành động theo quy luật, có tinh thần tự lực tự cường, kiên định con đường phấn đấu vì sự nghiệp chính nghĩa… Những bài học ây đã giúp ta chiến thắng ở Điện Biên Phủ năm xưa, nay cũng đang giúp ta thực hiện thành công bước đầu công cuộc đổi mới.

Tôi nghĩ rằng một trong những nội dung chống “diễn biến hòa hình” của kẻ thù chính là làm sao cho mọi người chúng ta, đặc biệt là thế hệ trẻ không được quên quá khứ vinh quang của dân tộc, những bài học quý giá mang tính thời sự nóng hổi của lịch sử, những chiến công hiển hách và thành tựu to lớn của cha ông đã được trả bằng mồ hôi và xương máu.

Chính vì thế, vai trò của sử học là rất quan trọng, tôi hy vọng nhiều đồng chí đã từng đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của Đảng trong đó có lớp những chiến sĩ Điện Biên Phủ hãy cùng nhau góp phần viết lại những trang sử đã qua để cho các thế hệ cùng nhau học hỏi và tiếp tục đóng góp vào sự phát triển trường tồn của dân tộc. tôi cũng mong và tin rằng, kế tục và phát triển truyền thống quý giá vẻ vang ấy, thế hệ trẻ sẽ làm nên những Điện Biên Phủ mới của nước nhà.

Điện Biên Phủ xưa - nay và mãi mãi như vậy.

26-4-1994


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:29:05 PM
TẾT MẬU THÂN - TRẬN QUYẾT CHIẾN
CHIẾN LƯỢC LỊCH SỬ
(1)

Cách đây 30 năm, đúng vào lúc giao thừa Tết Mậu Thân, hưởng ứng hiệu lệnh của Bộ Thống soái tối cao đứng đầu là Bác Hồ kính yêu, toàn quân và toàn dân ta ở miền Nam đã mở cuộc tổng tấn công và nổi dậy mà lúc bấy giờ đề ra là tổng công kích - tổng khởi nghĩa, đồng loạt đánh vào hầu hết các thành phố lớn, đặc biệt là Sài Gòn và Huế, các thị xã, thị trấn, chi khu, quận lỵ, vào các sân bay và căn cứ hậu cần của Mỹ, trên toàn chiến trường miền Nam Việt Nam.

Cuộc tiến công táo bạo và bất ngờ đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực cấp cao của Mỹ - ngụy, đánh chiếm những mục tiêu hiểm yếu như Đài Phát thanh, Tòa Đại sứ Mỹ, đánh vào Bộ Tổng Tham mưu, Tổng Nha cảnh sát ngụy ở Sài Gòn, đánh vào nội thành và làm chủ trong một thời gian dài cố đô Huế, phá hủy một khối lượng quan trọng các phương tiện chiến tranh và cơ sở hậu cần hiện đạy nhất của Mỹ - ngụy.

Bất ngờ về thời gian: lúc giao thừa.

Bất ngờ về mục tiêu: các đô thị và các căn cứ quan trọng.

Bất ngờ về quy mô: không phải đánh vào vài chục điểm nhỏ như phán đoán của tình báo địch, mà đánh đồng loạt, trên khắp chiến trường miền Nam.

Cuộc Tổng tiến công đã diễn ra trong tình hình địch đã leo thang đến đỉnh cao: trên 50 vạn quân đội viễn chinh Mỹ và chư hầu, cùng với đội quân được hiện đại hóa của ngụy, tất cả là 1 triệu 20 vạn quân; và trong khi tướng Oétmôlen đang chuẩn bị đợt tấn công thứ ba sau những trận tiến công thất bại của quân đội Mỹ trong hai mùa khô qua, trước mắt thì đang khẩn trương cứu nguy cho căn cứ Khe Sanh, ở đó 2/5 lực lượng chiến đấu Mỹ đã bị ta vây hãm và tiến đánh trong một cuộc nghi binh tài giỏi nhằm đánh lạc hướng quân địch.

Như nhận định của một nhà lịch sử quân sự Mỹ, cuộc tấn công đã gây cho Mỹ một cú “choáng đột ngột”, đã làm đảo lộn thế bố trí, phá vỡ kế hoạch tác chiến dự định của Mỹ. Nó đã làm rung chuyển không những toàn bộ chiến trường miền Nam mà còn làm rung chuyển Lầu Năm Góc và cả nước Mỹ. Cuộc tổng tấn công đã đưa cảnh tượng chiến tranh vào mỗi gia đình Mỹ, vào Quốc hội Mỹ. Trong phút chốc, nhân dân Mỹ bừng tỉnh, thấy nước Mỹ đang lao vào một cuộc chiến tranh đẫm máu, đang lún sâu vào đường hầm không có lối thoát; cao trào chống chiến tranh ở Mỹ lan rộng và lên cao chưa từng có. Té ra những câu chuyện “chiến thắng ở Việt Nam” mà Lầu Năm Góc thường tung ra đều là những điều dối trá. Cả thế giới theo dõi, khâm phục ý chí giành độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, phong trào ủng hộ nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của Mỹ phát triển mạnh.

Thắng lợi quan trọng nhất của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân là đã làm lay chuyển ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Tổng thống Giônxơn phải xuống thang chiến tranh, chịu ngồi lại đàm phán với ta ở Pari, thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Giônxơn thôi không ra ứng cử tổng thống nhiệm kỳ hai.

Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu thân về cơ bản đã đánh bại chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, mở ra khả năng cho ta thực hiện chiến lược “đánh cho Mỹ cút”, để tiến tới “đánh cho ngụy nhào”, giành lại độc lập thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc Việt Nam.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân có được những kỳ tích ấy là do cả nột quá trình đấu tranh của đồng bào và chiến sĩ trên cả hai miền Nam - Bắc, do ta đã có một kế hoạch chuẩn bị gian khổ, kiên trì và mưu trí trên chiến trường miền Nam trong nhiều tháng, có nơi hàng năm như ở Sài Gòn, Huế… Do vậy khi nỏ súng tấn công thì các lực lượng tinh nhuệ của ta đã ém sẵn ở các vị trí hiểm yếu của địch, ở hầu khắp các vùng nội thành.


(1) Tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hội thảo Khoa học “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968” do Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12-3-1998. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 49, háng 3 năm 1998, tr.7-8.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Một, 2011, 03:29:52 PM
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công Mậu Thân thật là to lớn. Song, trong khi đánh giá cao thắng lợi, tại cuộc hội thảo khoa học này, chúng ta không thể không nói đến một số khuyết điểm, mà sau này Trung ương Đảng ta cũng đã nêu rõ. Do nhận thức và đánh giá chưa thật sát đúng tình hình, nên lúc đầu ta đã đề ra chủ trương tổng khởi nghĩa ngay trong lúc chiến tranh đang diểna quyết liệt, địch còn khá mạnh là không thực tế; cuộc tổng không khởi nghĩa đã không diễn ra. Ta đã kéo dài cuộc tổng tiến công vào các đô thị trong khi yếu tố bất ngờ không còn, địch đã củng cố. ta đã chậm chuyển hướng về nông thôn rộng lớn, ở đó một thời gian quân địch hầu như bị tan vỡ từng mảng, trước những cuộc nổi dậy của nhân dân. Khuyết điểm, sai lầm ấy đã gây cho ta những tổn thất và khó khăn về sau.

Tổ quốc mãi mãi ghi nhớ tấm gương nghĩa liệt của biết bao anh hùng liệt sĩ, của bộ đội biệt động và đặc công, bộ đội chủ lực, địa phương và du kích, của các cơ sở Đảng, cơ sở cách mạng, của đồng bào yêu nước đã có công lớn tham gia chiến đấu và nổi dậy, hưởng ứng và ủng hộ cuộc tổng tiến công để cho chúng ta giành được thắng lợi to lớn nói trên.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đánh dấu một bước phát triển mới trong học thuyết và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Lần đầu tiên, ta đã tổ chức và phát động một cuộc tấn công đồng loạt trên khắp chiến trường rộng lớn và các sào huyệt của địch mà vẫn giữ được bất ngờ đến giờ nổ súng.

Bài học lớn là: biết dựa vào dân, biết kết hợp chủ nghĩa anh hùng cách mạng vô song của nhân dân Việt Nam với trí tuệ sáng tạo Việt Nam, từ Bộ thống soái tối cao cho đến đông đảo quần chúng, thì sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam trở nên một sức mạnh vô tận, có thể làm nên những chiến công hiển hách, những kỳ tích phi thường, tưởng chừng như không thể làm được.

Diễn biến cuộc Tổng tiến công còn cho thấy: trong chiến tranh, thực tiễn địch ta biến chuyển mau lẹ, biết địch biết ta không những lúc đầu mà phải bám sát tình hình trong cả quá trình chuyển biến. Xuất phát từ thực tiễn luôn luôn vận động, với tinh thần tích cực, chỉ động và cơ động, linh hoạt, tìm ra quy luật, kịp thời điều chỉnh chủ trương cho sát đúng, luôn hành động đúng quy luật thì nhất định tránh được khuyết điểm, giành được thắng lợi to lớn hơn, trọn vẹn hơn.

Ngày nay, trong quá tình xây dựng, những bài học kinh nghiệm của trận quyết chiến chiến lược Mậu Thân vẫn còn có giá trị lớn.

Chúng ta hãy đem tinh thần cách mạng tiến công của Tết Mậu Thân vào công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Hãy luôn phát huy ý chí và quyết tâm cao, phối hợp với trí tuệ sáng tạo tuyệt vời của con người Việt Nam trong cuộc chiến đấu mới chống nghèo nàn và lạc hậu, xây dựng cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân lao động, cho toàn dân.

Hãy luôn xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, dựa vào dân, tin tưởng ở dân, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, kịp thời đề ra những bước đi, những quyết sách phù hợp với quy luật của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam ta nhất định vượt qua mọi thử thách, tranh thủ mọi vận hội, tiến lên giành thắng lợi ngày càng to lớn, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, đáp ứng lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:33:01 AM
TRẬN QUYẾT CHIẾN CHIẾN LƯỢC
TRÊN BẦU TRỜI HÀ NỘI
(1)

Năm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm trận quyết chiến chiến lược trên bầu trời Hà Nội. Cho đến nay, các nhà quân sự, các nhà sử học trong nước và ngoài nước đã viết khá nhiều về trận đại thắng không quân chiến lược Mỹ, một trận mà nhiều nhà báo nước ngoài đã gọi là trận Điện Biên Phủ trên không.

Chúng ta đều biết, với thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Mỹ đã phải bắt đầu xuống thang chiến tranh. Qua 4 năm đàm phán với ta, đến tháng 10-1972, trước ngày bầu cử tổng thống một tháng thì Việt Nam và Mỹ đã đi đến thỏa thuận về một văn bản của “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam”, dự kiến sẽ ký kết ở Hà Nội ngày 22-10-1972 và sau đó ký chính thức vào ngày 31-10 tại Pari. Ngày 23-10, Níchxơn đột nhiên gửi công hàm cho Chính phủ ta đề nghị tạm hoãn việc ký kết vì có “trục trặc” với chính quyền Thiệu.

Ngày 26-10, Chính phủ ta đã có tuyên bố về tình hình cuộc đàm phán và công bố toàn văn bản dự thảo hiệp định trước dư luận thế giới, khẳng định “chính quyền Níchxơn phải chịu trách nhiệm trước nhân dân Mỹ về việc trì hoãn ký kết hiệp định làm cho cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài”.

Níchxơn và Kítxingiơ lập tức mở một đợt tuyên truyền rộng rãi cho rằng hòa bình đã trong tầm tay, chỉ còn một số vấn đề kỹ thuật. Và ngày 7-11-1972, Níchxơn đã thắng cử.

Trong cuộc đàm phán được nối lại, Kítxingiơ đòi sửa đổi gần 200 điểm trong văn bản hiệp định, điểm quan trọng nhất là trong khi quân Mỹ rút khỏi nước ta thì lực lượng quân đội miền Bắc phải rút khỏi miền Nam. Thực chất, Mỹ muốn kéo dài cuộc đàm phán để chuẩn bị hành động quân sự buộc ta phải chấp nhận điều kiện của chúng. Tổng thống Níchxơn đã có thư cho Kítxingiơ chỉ thị sẵn sàng ngừng đàm phán, phía Mỹ sẽ tiếp tục hoạt động quân sự nếu cần. Trong thời gian đó, Níchxơn đã ra lệnh tăng cường phong tỏa Hải Phòng và tăng cường chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc.

Đến ngày 14-12, trong một cuộc họp của Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Níchxơn phê chuẩn kế hoạch mở cuộc tập kích lớn bằng không quân chiến lược vào khu vực Hà Nội và Hải Phòng. Sau này, trong hồi ký, ông ta viết rằng: “Đây là quyết định khó khăn nhất của tôi trong cuộc chiến tranh này”. Mỹ đã huy động 193 máy bay B52, 999 máy bay chiến thuật, lập ra Bộ Chỉ huy lam thời để điều hành cuộc tập kích chiến lược lớn. Và chính vào lúc quả bom B52 đầu tiên của Mỹ ném xuống Hà Nội thì ở Pari, cũng vào lúc đó, phía Mỹ lại giử cho đại sứ ta đề nghị nối lại đàm phán.

Rađa ta đã phát hiện ngay từ khi các đội B52 của Mỹ từ Guam và từ Utapao bay về hướng bắc, đến Paksê thì theo dõi sát. Chúng vượt đèo Mụ Giạ thì Hà Nội và Hải phòng được lệnh báo động. Các đơn vị bộ đội sẵn sàng chiến đấu. Vấn đề là phải gấp rút sơ tán trong đêm hàng chục vạn thường dân vửa trở về, bằng mọi phương tiện, trên mọi nẻo đường, công tác dân phòng được tiến hành tốt, vội vã, khẩn trương.

Trong 12 ngày đêm, từ ngay 18 đến ngày 30-12-1972, địch đã sử dụng tới 663 lần chiếc B52 và 3.920 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá vào thủ đô Hà Nội, trung tâm lãnh đạo và trái tim của cả nước ta, đánh phá thành phố cảng Hải Phòng, không phân biệt mục tiêu quân sự hay dân sự, đánh phá bừa bãi vào vùng đông dân cư.

Theo các nhà sử học quân sự Mỹ, trong 12 ngày đêm Mỹ đã tiến hành một cuộc ném bom rải thảm mà sự tàn phá đã lớn hơn sự tàn phá của các cuộc ném bom suốt trong cả cuộc chiến tranh từ trước cho đến lúc bấy giờ. Khối lượng bom đạn ném xuống trong cuộc tập kích tương đương với 5 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Nhật Bản năm 1945. Níchxơn và các nhà chiến lược quân sự Mỹ tin chắc rằng với sức mạnh tàn phá ấy, Hà Nội nhất định phải khuất phục.

Trái với dự đoán chủ quan của Lầu Năm Góc, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích của Mỹ, gây cho không quân chiến lược Mỹ những tổn thất nặng nề, buộc Níchxơn phải chấm dứt cuộc tập kích tàn bạo và đề nghị nối lại cuộc đàm phán ở Pari theo những điều khoản đã được thỏa thuận trước đây.

Qua 12 ngày đêm, quân và dân miền Bắc đã đánh bại hoàn toàn cuộc tập kích đường không chiến lược của Mỹ trên bầu trời Hà Nội, bắn rơi 81 máy bay địch, trong đó có 34 máy bay B52, đạt tỷ lệ trên 17%, một tổn thất mà chính Bộ Tư lệnh không quân chiến lược Mỹ đã thú nhận là không thể chịu đựng được.

Đây là một thắng lợi vĩ đại, có thể nói là một thắng lợi kỳ diệu của quân và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.


(1) Ngày 16-12-1997, tại Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam tổ chức cuộc Hội thảo: “Kỷ niệm 25 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không”. Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử trong và ngoài quân đội đã tham dự. Bài tham luận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày tại Hội thảo được đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 46, tháng 12 năm 1997, tr.5-6.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:34:57 AM
Thắng lợi “Điện Biên Phủ trên không” cổ vũ mạnh mẽ nhân dân cả nước ta, nhân dân tiến bộ trên thế giới. Ta còn nhớ suốt mấy ngày đêm, trong khi đài Hà Nội báo tin chỏ cả nước, thì đài Giải phóng đã phát thanh liên tục: “Lửa miền Bắc đang giục lửa miền Nam, lửa Hà Nội đang giục lửa Sài Gòn. Từ ngoài vô trong, từ tiền tuyến lớn anh hùng đến hậu phương bất khuất đều vang lên tiếng nói đanh thép: đánh!”.

Thắng lợi ấy đã góp phần quyết định thực hiện cho “Đánh cho Mỹ cút”, chuẩn bị đầy đủ tiên đề tiến lên “Đánh cho ngụy nhào”, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, hoàn thành sự nghiệp độc lập, thống nhất nước nhà.

Có được thắng lợi to lớn như vậy, trước hết là do sự chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Rất sớm, từ cuối năm 1967, Người đã chỉ rõ: Sớm muộn rồi đế quốc My cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội, có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống càng sớm càng tốt để có thời gian mà suy nghĩ và chuẩn bị. Nhớ là trước khi thua ở Triều Tiên, đế quốc Mỹ đã hủy diệt Bình Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta đã đẩy mạnh công cuộc xây dựng lực lượng phòng không và không quân, từ năm 1967 đã đưa một số đơn vị vào chiến trường để trực tiếp nghiên cứu đánh B52. Từ đó, quân và dân ta luôn luôn chuẩn bị về mọi mặt để sẵn sàng đánh bại nấc thang cao nhất của địch trong chiến tranh phá hoại.

Dưới sự lãnh đạo của Bội Chính trị, Quân ủy Trung ương và sự chỉ đạo của Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh quần chúng phòng không - không quân đã dày công nghiên cứu, xây dựng kế hoạch tác chiến đánh B52, bảo vệ Hà Nội. Qua nhiều bước, tháng 7, tháng 9, tháng 10 với những kinh nghiệm từ chiến trường miền Nam, kế hoạch ấy ngày càng được hoàn thiện: từ thực tiễn chiến trường và qua công tác nghiên cứu, vấn đề phát hiện và đánh B52 đã được biên soạn thành tài liệu để huấn luyện bộ đội, đặc biệt là cho các đơn vị tên lửa và rađa.

Suốt trong 12 ngay đêm, chúng tôi luôn có mặt ở sở chỉ huy của Bộ Tổng Tư lệnh. Các đồng chí ở Bộ Chính trị đều chú ý theo dõi và chỉ đạo. Chủ tịch Tôn Đức Thắng, mặc dù tuổi cao sức yếu, vẫn cùng các đồng chí lãnh đạo khác đến thăm bộ đội và nhân dân, đặc biệt là ở những nơi chiến đấu ác liệt hoặc bị tàn phá nặng nề.

Đêm đêm, bầu trời Hà Nội đỏ rực từng phía, soi sáng màn bạc những màn dây nhiễu tua tủa phán ánh hành động tàn bạo của địch, và biết bao cảnh hy sinh tang tóc của đồng bào ta, nhà cửa đổ nát, bệnh viện hoang tàn, trường học, công trình văn hóa có nơi hầu như bị san phẳng. Ba ngày, đi thăm bộ đội và nhân dân, trước cảnh hố bom nối tiếp hố bom hàng chục mét, tưởng chừng như cảnh trên mặt trăng. Thế mà nhìn vào những thanh niên gái trai trên các nẻo đường, vẫn thấy ánh mắt bình tĩnh, cương quyết phản ánh niềm tin của dân tộc ta ở thắng lợi cuối cùng.

Thắng lợi của quân va dân ta đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không của Mỹ là thắng lợi của ý chí “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của dân tộc ta. Như Hồ Chủ tịch đã nói: Dù chúng có B57, B52 hay B gì đi nữa, chúng ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ chứ nhiều hơn nữa ta cũng đánh. Mà đã đánh là nhất định thắng.

Thực hiện lời dạy của Chủtịch Hồ Chí Minh, quân và dân miền Bắc đã vượt qua mọi mất mát, hy sinh, trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Có thể nói, đây là cuộc chiến tranh toàn dân phát huy đến trình độ cao, trong đó không những bộ đội mà cả dân quân tự vệ và mọi người dân đều cùng một ý chí quyết chiến quyết thắng.

Thắng lợi của quân và dân ta đánh bại cuộc tập kích chiến lược đường không của Mỹ còn là thắng lợi của trí tuệ Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Mỹ đã huy động tới 50% lực lượng không quân chiến lược B52. Mỗi máy bay B52 là một trung tâm tác chiến điên tử, một kho bom di động trên không. Trong khi đó, chúng ta chưa phải đã tập trung lực lượng lớn lắm. Rõ ràng, đây là một cuộc đối chọi vô cùng quyết liệt về ý chí và trí tuệ giữa ta và địch. Điều mà Mỹ bất ngờ nhất là trong điều kiện các sân bay bị đánh phá và khống chế liên tục, không quân ta vẫn cất cánh đánh địch; trong điều kiện tác chiến điện tử hiện đại rất mạnh mà chúng cho rằng nhất định sẽ làm tê liệt hệ thống rađa và tên lửa Việt Nam, bộ đội ta vẫn phát hiện được chúng và bắn rơi nhiều B52 tại chỗ, có chiếc rơi ngay mà chưa kịp ném bom.

Thắng lợi đó là một biểu hiện thành công mới của học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh: lấy đại nghĩa để thắng bạo tàn, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của mọi lực lượng, kết hợp phòng tránh và đánh địch nhiều, lấy thô sơ và tương đối hiện đại thắng hiện đại, mang đầy đủ những nhân tố của một chiến dịch phòng không tạo nên sức mạnh và thế mạnh hơn địch để thắng địch.

Ở đây, chúng ta muốn nói lên lòng biết ơn chân thành đối với sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, đối với sự ủng hộ của bạn bè quốc tế.

Kỷ niệm 25 năm trận quyết chiến chiến lược trên bầu trời Hà Nội, nhân dân ta càng tin tưởng vào sức mạnh vô địch của chủ nghĩa anh hùng Việt Nam kết hợp với trí tuệ Việt Nam, của lý tưởng độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội kết hợp với khoa học và công nghệ, luôn trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn đổi mới và phát triển sáng tạo, ổn định vững chắc, tiến lên mạnh mẽ, chuẩn bị cho dân tộc ta với khí thế tin tưởng và tự hào tiến vào thế kỷ XXI dưới ngọn cờ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:42:36 AM
TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG(1)

Trận “Điện Biên Phủ trên không” đánh thắng cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B.52 của đế quốc Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng đã diễn ra trong 12 ngày đêm tháng 12-1972. Đối với Mỹ, đây là trận cuối cùng, trận thất bại lớn kết thúc 8 năm chiến tranh cục bộ xâm lược Việt Nam bằng chính lực lượng của quân đội Mỹ. Đối với nhân dân ta và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, đây là trận thắng Mỹ theo dự báo của Bác Hồ: Đế quốc Mỹ chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội.

Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã thất bại sau nỗ lực chiến tranh nhiều năm, và đi đến Hiệp định Pari về Việt Nam. Trải qua 4 năm rưỡi thương lượng, ngay 17-10-1972 ta và Mỹ đã thỏa thuận toàn bộ nội dung Hiệp định, trong đó quy định Mỹ chấm dứt dính líu quân sự, rút hết quân Mỹ và quân đội các nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam. Hiệp định sẽ ký tắt tại Hà Nội ngay 22-10-1972, ký chính thức tại Pari ngày 31-10-1972.

Níchxơn lợi dụng thỏa thuận đó, tung ra chiến dịch tuyên truyền “Hòa bình trong tâm tay” để tạo thế cho y tái cử tổng thống bầu vào tháng 11-1972. khi đã biết chắc sẽ được tái cử, Níchxơn giờ trò lật lọng, chỉ thị cho Kítxinhgiơ đòi ta sửa đổi văn bản Hiệp định, đáng chú ý nhất là đòi sửa điều khoản “rút quân Mỹ khỏi miền Nam” điều khoản “cả quân Mỹ và quân miền Bắc đều rút khỏi miền Nam”.

Ngày 13-12 Mỹ hoãn các cuộc thương lượng, ngày 14-12 Tổng thống Níchxơn, Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Mỹ, ra lệnh ném bom Hà Nội, Hải Phòng bằng B.52. Mỹ huy động 50% lực lượng B.52 của nước Mỹ và hàng ngàn máy ban chiến thuật - lực lượng không quân lớn nhất trong một chiến dịch từ trước đến thời điểm đó, tin rằng chỉ cần mấy vạn tấn bom ồ ạt đánh phá Hà Nội trong 4-5 ngày thì chắc chắn buộc Việt Nam chấp nhận những điều khoản của Mỹ. Ngày 18-12, Níchxơn gửi công hàm cho Chính phủ Việt Nam, như một tối hâu thư, yêu cầu sau ngày 26-12 họp lại Hội nghị Pari, và ngay tối hôm đó cho không quân chiến lược B.52 tiến công Hà Nội để buộc Việt Nam chấp nhận điều kiện của Mỹ. Nhưng đế quốc Mỹ đã gặp phải một đối phương không hề lùi bước trước sức mạnh của kẻ thù.

Quân dân ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh báo trước: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B.52 ra đánh Hà Nội, có thua nó mới chịu thua… nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Theo chỉ thị của Bác, Bộ Tổng tư lệnh đã vạch kế hoạch tiến hành chuẩn bị đánh B52, đưa lực lượng phòng không vào phía Nam để nghiên cứu và thực tập đánh B52 Mỹ. Quân dân Hà Nội không thể biết trước ngày giờ kẻ địch tiến công, nhưng đã sẵn sàng, sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang và sẵn sàng phòng tránh của nhân dân. Ngày 18-12-1972 khi không quân chiến lược Mỹ bắt đầu cuộc tập kích đường không, quân dân Hà Nội lập tức nghênh chiến. Những con người dũng cảm và thông minh của đất Thăng Long đã trừng trị đích đáng lũ giặc đường không. Mấy đêm trên không quân chiến lược Mỹ đã trút hàng vạn tấn bom xuống các mục tiêu dân sự và quân sự ở Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên. Lực lượng phòng không và không quân ta bắn tan xác nhiều máy bay B52 và nhiều máy bay chiến thuật của Mỹ, dân quân tự vệ Hà Nội cùng nhân dân bắt nhiều giặc lái.

Lịch sử chiến tranh đã ghi thêm một chiến công hiển hách của quân dân ta đập tan cuộc tiến công của lực lượng không quân mạnh nhất của Hoa Kỳ.

Tổng thống Níchxơn đành phải chấp nhận ký Hiệp định Pari y nguyên như bản Hiệp định đã thỏa thuận. Quân Mỹ đã rút hết khỏi nước ta vào đầu năm 1973. Dự báo của Bác hồ đã thành sự thật: đế quốc Mỹ đã chịu thua cuộc chiến tranh, sau khi thua trên bầu trời Hà Nội.

Chiến công oanh liệt của quân dân Hà Nội, Hải Phòng đánh thắng không quân chiến lược Mỹ tháng 12-1972 là một biểu tượng rực rỡ về sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ sáng tạo Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, một chiến công vẻ vang của lực lượng Phòng không - Không quân, của sức mạnh tổng hợp to lớn của chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ.[


(1) Bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân dịp kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không (12-1972 - 12-2002). Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 129, tháng 12 năm 2002..


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:46:00 AM
TRẬN SÀI GÒN BẮT ĐẦU
CHIẾN DỊCH MANG TÊN BÁC
(1)

Những tấm lá chắn của địch ở phía Bắc đã bị phá toang. Con đường chiến thắng dẫn tới sào huyệt cuối cúng của chế đô Sài Gòn đang mở rộng

Ngay trước khi giải phóng hoàn toàn Đà nẵng, chiều 29-3-1975, đồng chí Bí thư thứ nhất gửi điện cho Trung ương Cục miền Nam: … “Tình hình biến chuyển mau lẹ, Cuộc cách mạng miền Nam đang bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt… Trên thực tế, có thể coi chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu từ đây”(2).

Chiến thắng lớn, dồn dập, như một phản ứng dấy chuyền, nhanh chóng lan ra, càng làm suy yếu bộ máy ngụy quân, ngụy quyền từ trung ương đến cơ sở. Bài toán thời gian lúc nay không dừng lại ở đáp số tính bằng tháng mà phải tính bằng ngày. Thế trận chiến tranh nhân dân, với lực lượng bố trí sẵn tại chỗ trên từng chiến trường, từng khu vực, tỏ rõ khả năng chủ động tiến công của quân ta, còn nhanh hơn cả “trực thăng vận” và “cầu hàng không” của Mỹ. Địch ở đâu cũng bị đánh, bị bao vây chia cắt. Chiến lược tổng hớp của ta kết hợp đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị vầ binh vận, căng địch ra mà tiêu diệt và đánh trả.

Sáng 31-3, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp mở rộng. Đây là cuộc họp lịch sử bàn về đòn chiến lược thứ ba, đòn cuối cùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Không khí phấn khởi tràn ngập “Nhà con rồng”. Những nét mặt rạng rỡ, những ánh mắt sáng ngời, những cái bắt tay hứa hẹn.

Bắt đầu cuộc họp, anh Ba nêu những vấn đề cần bàn. Thay mặt Quân ủy Trung ương, tôi báo cáo tổng quát tình hình chiến trường một tháng qua, đặc biệt nêu rõ diễn biến chiến sự trong hạ tuần tháng 3. Từ Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng đến Cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ, quân và dân ta đã tiêu diệt và làm tan rã hai quân đoàn chủ lực mạnh của quân nguỵ và khoảng 40% các binh chủng kỹ thuật hiện đại, thu và phá hủy trên 40% cơ sở vật chất và hậu cần của chúng; giải phóng địa bàn hai quân khu gồm 12 tỉnh và gần một nửa số dân ở miền Nam. Âm mưu co cụm chiến lược của địch đã bị phá sản. Chúng đang lâm vào tình trạng hoang mang, bế tắc. Tuy vậy, địch vẫn ngoan cố lập tuyến phòng ngự từ xa, từ Phan Rang trở vào. Chúng hy vọng ngăn chặn và đẩy lùi cuộc tiến công của ta, giữ thế cầm cự cho tớị mùa mưa, sau đó sẽ củng cố những lực lượng còn lại, phản công tái chiếm các vùng đã mất.

Địch tập trung ở Phan Rang một lực lượng khoảng hai sư đoàn gồm Sư đoàn 2 bộ binh vừa được khôi phục. Lữ đoàn 2 dù, Liên đoàn 31 biệt động quân, có Sư đoàn 6 không quân đóng ở sân bay Thành Sơn yểm trợ. Đồng thời, chúng tập trung mọi cố gắng thu thập tàn quân, chấn chỉnh các đơn vị còn lại, điều chỉnh thế bố trí nhằm tăng cường phòng thủ khu vực Sài Gòn - Gia Định và đồng bằng sông Cửu Long.

Về phía ta, với trận Huế - Đà Nẵng, ta đã bắt đầu chuyển sang Tổng tiến công chiến lược. Quân ta đang trong thế thừa thắng xông lên. Ta hoàn toàn có khả năng tập trung lực lượng cả nước đến mức cao nhất, áp đảo địch trên chiến trường trọng điểm là Sài Gòn. Thời cơ lớn đã xuất hiện. Chắc chắn ta sẽ giành toàn thắng trong trận quyết chiến chiến lược cuối cùng này. Tôi đề nghị cần khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến, thực hiện bao vây chiến lược ở phía đông và phía tây Sài Gòn - Gia Định, sử dụng nắm đấm chủ lực, bất ngờ thọc sâu tiêu diệt địch. Đánh một trận là thắng. Phương châm là “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng!”.

Các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị phát biểu ý kiến, đồng ý với đề nghị của Quân ủy Trung ương. Anh Trường Chinh tâm đắc với phương án thọc sâu mà anh gọi là “percée stratégique” (thọc sâu chiến lược).

Hội nghị nhất trí nhận định những nhân tố mới đã xuất hiện rõ nét trong trận Đà Nẵng. Ta hơn hẳn địch cả về thế chiến lược lẫn lực lượng quân sự, chính trị. Dù Mỹ có tăng viện cũng không thể cứu vãn nguỵ sụp đổ. Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm thực hiện tổng công kích, tổng khới nghĩa trong thời gian sớm nhất.

Phương thức tác chiến chiến lược của ta là phát huy sức mạnh của ba đòn chiến lược (chủ lực, nông thôn và thành thị), từ ngoài đánh vào, kết hợp với lực lượng tại chỗ từ trong đánh ra, lấy chủ lực từ ngoài đánh vào là quyết định, tập trung lực lượng tiến công địch, nhanh chóng lợi dụng thời cơ, dồn dập phát triển thắng lợi.

Về bố trí lực lượng chiến lược, Bộ Chính trị chủ trương gấp rút tăng thêm lực lượng ở hướng tây Sài Gòn, chia cắt và bao vây chiến lược ở hướng tây nam, triệt đường số 4, cô lập Sài Gòn với đồng bằng sông Cửu Long. Các lực lượng phía đông đánh chiếm các mục tiêu quan trọng, bao vây Sài Gòn từ hướng Bà Rịa - Vũng Tàu. Quả đấm chu lực phải thật mạnh, kể cả binh khí kỹ thuật, sẵn sàng đánh thẳng vào các mục tiêu hiểm yếu và quan trọng nhất của địch ở trung tâm Sài Gòn khi thời cơ xuất hiện. Ở đồng bằng sông Cửu Long, các lực lượng quân sự, chính trị hoạt động mạnh, giải phóng các địa phương, phối hợp với mặt trận trọng điếm.

Ngay từ bây giờ, cần có kế hoạch hành động với lực lượng sẵn có trên chiến trường miền Đông Nam Bộ. Các lực lượng của ta ở Tây Nguyên cần nhanh chóng tiên vào chiến trường trọng điểm. Bộ Tổng Tham mưu đôn đốc cho Quân đoàn I khẩn trương vào kịp thời gian.

Cuộc họp kết thúc.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 17, tháng 7 năm 1995, tr.14-21. Nội dung bài này, đã được sửa chữa, bổ sung theo cuốn sách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 (B.T).
(2) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, tr.383.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:48:09 AM
Đồng chí Bí thư thứ nhất điện ngay vào chiến trường: “… Cách mạng nước ta đang phát triển với nhịp độ “một ngày bằng hai mươi năm”. Do vậy, Bộ Chính trị quyết định: Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất.

Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm. Phải hành động “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”, phải tiến công ngay lúc địch hoang mang, suy sụp. Tập trung lực lượng lớn hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trên từng hướng, trong từng lúc”(1).

Từ cuộc họp ngày 31-3-1975, số phận của chế độ Sài Gòn đã được định đoạt. Quyết tâm của Bộ Chính trị cổ vũ mạnh mẽ nhiệt tình cách mạng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

Tất cả cho ngày toàn thắng.

Chiến trường Nam Bộ, Cực Nam Trung Bộ đẩy mạnh tiến công và nổi dậy, chuẩn bị đón thời cơ lịch sử. Trên các trục đường chiến lược, các cánh quân lớn thần tốc đổ vào chiến trường trọng điểm. Từ núi rừng Tây Nguyên vừa giải phóng, Quân đoàn III cùng các binh khí kỹ thuật tiến về hướng Sài Gòn với khí thế chiến thắng. Từ hậu phương lớn miền Bắc, Quân đoàn I tiến vào miền Nam không kể ngày đêm. Cánh quân phía đông mới được thành lập, ngoài dự kiến ban đầu, khẩn trương tiến dọc miền duyên hải theo đường số 1. Hậu phương, lớn huy động tối đa sức người, sức của, chi viện tiền tuyến. Các cơ quan Tổng hành dinh luôn mắt luôn tay, khẩn trương, phấn khởi. Lúc này, ai cũng thấm thía về giá trị của thời gian. Kim đồng hồ như chạy nhanh hơn. Ngày tháng như ngắn lại.

Ngay sau Hội nghị Bộ Chính trị, tôi suy nghĩ nhiều về trận chiến đấu sẽ diễn ra trên chiến trường trọng điểm là Sài Gòn - Gia Định. Sau khi nghiên cứu, trao đổi với Tổng Tham mưu phó Cao Văn Khánh và Cục trưởng Tác chiến Lê Hữu Đức, ngày 1-4, tôi điện vào B2: “… Đúng như Bộ Chính trị đã nhận định, chiến tranh cách mạng ở miền Nam đang bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt. Hiện nay ta đã có đầy đủ lực lượng và khả năng để giành thắng lợi hoàn toàn trong một thời gian ngắn hơn dự kiến rất nhiều.

Vấn đề quyết định là phải kịp thời nắm lấy thời cơ,… tranh thủ vào trung tuần tháng 4 thì bắt đầu cuộc tiến công quy mô lớn vào Sài Gòn. Làm được như vậy thì thuận lợi nhất, bảo đảm thắng lợi giòn giã nhất. Bất ngờ hiện nay không còn ở phương hướng lớn nữa. Địch biết nhất định ta sẽ đánh Sài Gòn nhưng chúng cho rằng ta cần chuẩn bị một - hai tháng. Vì vậy, bất ngờ hiện nay chủ yếu là ở khâu thời gian. Một mặt cần cơ động lực lượng nhanh chóng, thần tốc, mặt khác sử dụng ngay lực lượng hiện có để kịp thời hành động, không chờ đợi tập trung lực lượng đông đủ mới làm ăn. Chính theo ý nghĩa đó mà Bộ Chính trị đã khẳng định từ giờ phút này trận quyết chiến chiến lược Sài Gòn đã bắt đầu”.

Giữa hai phương án cơ bản, một là bao vây dài ngày tạo điều kiện rồi dứt điểm, hai là tiến công táo bạo từ đầu, đánh nhanh, dứt điểm nhanh, thì nay nên chọn phương án 2, tức là làm thật nhanh, thật táo bạo; đồng thời có sự chuẩn bị trong điều kiện nào đó nếu cần thì chủ động chuyển sang phương án 1 cũng nhằm giành thắng lợi cuối cùng trong một thời gian ngắn. Với lực lượng sẵn có, cần hành động kịp thời để lợi dụng mọi thời cơ cụ thể do địch hoang mang và lúng túng đưa lại, tiến công liên tiếp, giành thắng lợi liên tiếp, làm đảo lộn mọi mưu đồ chấn chỉnh lực lượng hoặc tăng cường viện trợ của Mỹ.

Thời gian hiện nay phải tính từng ngày. Phải “thần tốc, thần tốc, toàn thắng, nhất định toàn thắng”.

Ngày 2-4, trong buổi giao ban, trên cơ sở phân tích tình hình các mặt trận, Quân ủy Trung ương điện khẩn cho Quân ủy Miền và Bộ Tư lệnh B2: “Trong lúc chuẩn bị kế hoạch lớn, ta cần có kế hoạch tức khắc tập trung pháo lớn, phần nào xe tăng và bộ binh nhân lúc địch hoang mang diệt bọn bại binh mới chạy về, tiêu diệt một bộ phận F18, đánh chiếm Xuân Lộc, áp sát Biên Hoà. Khống chế được sân bay Biên Hòa thì không quân mất tác dụng, địch ở Sài Gòn sẽ hoang mang to”.

Ngoài các nguồn tin kỹ thuật của Cục Quân báo, tin tức công khai do các phóng viên nước ngoài ở miền Nam đánh đi từ Sài Gòn mà Thông tấn xã Việt Nam thu được cung cấp thêm nhiều tình hình sốt dẻo.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr.387


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:49:46 AM
Quân ủy Trung ương điện tiếp cho anh Phạm Hùng, đồng điện cho anh Văn Tiến Dũng và anh Trần Văn Trà:

… “2. Sài Gòn hiện bắt đầu hoảng loạn, có thể xảy ra biến động chính trị trong nội bộ địch. Mặt trận Cam Ranh - Phan Rang vỡ, bọn tàn quân chạy về sẽ gây rối lớn.

3. Theo tinh thần hành động táo bạo, kịp thời của Bộ Chính trị, chúng tôi có ý kiến Trung ương Cục và Quân ủy Miền cần có một kế hoạch hành động ngay với lực lượng sẵn có, dựa vào kế hoạch bước 1 của anh Tư(1), nhưng nay làm nhanh và mạnh, không điều động xáo trộn.

4. Cụ thể:

a) Phía đông tập trung lực lượng tăng, pháo thật mạnh đánh ngay bọn F18, tiêu diệt Xuân Lộc, áp sát Biên Hoà, triển khai ngay pháo nặng khống chế sân bay Biên Hoà, có điều kiện tốt hay lực lượng mới sẽ đánh chiếm Ô Cấp(2) cắt sông Lòng Tàu.

b) Phía tây, với lực lượng hiện có, nên giao bộ đội địa phương bao vây Mộc Hoá, còn chủ lực Miền và khu thì tập trung đánh xuống đường số 4 nhanh hơn, thực hiện nhanh chia cắt và bao vây chiến lược. Nghiên cứu kế hoạch tăng lực lượng tiếp.

c) Hiện nay, tình hình có thể chuyển biến mau lẹ. F9 cần nằm trong tay Trung ương Cục, sẵn sàng hành động khi có thời cơ, chưa nên điều đi hướng khác trong khi lực lượng mới chưa vào.

5. Trong lúc đó, tiếp tục nghiên cứu kế hoạch hành động tiếp với lực lượng và binh khí kỹ thuật được tăng thêm”.

Biết các anh ở Miền đang rất cần thêm lực lượng cho chiến trường trọng điểm, tôi thông báo cho anh Trà biết Quân ủy Trung ương đã điện cho anh Văn Tiến Dũng tranh thủ thời gian đưa lực lượng từ Tây Nguyên xuống càng nhanh càng tốt; Quân đoàn I và các đơn vị kỹ thuật cũng đang khẩn trương tiến vào tăng cường cho B2.

Các nguồn tin cho biết:

  Trong khi quân ta thần tốc từ các hướng tiến về Sài Gòn, thì Bộ Tổng Tham mưu nguỵ tính toán: đối phương chỉ có khả năng tăng cường cho miền Đông Nam Bộ nhiều nhất là một quân đoàn, và muốn đưa lực lượng ấy vào tới chiến trường, phải mất ít nhất là hai tháng. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Sơlétxinhgiơ thì coi việc mất Đà Nẵng là “một trận chiến chính, nhưng tương đối nhỏ”. Còn Tổng thống Mỹ Giêrôn Pho sau này đã viết hồi ký về thời đó: “Mọi người đều biết rằng những vấn đề ở Nam Việt Nam rất nghiêm trọng, nhưng dường như không ai biết được nguy kịch đến mức nào!”.

Kiểm lại lực lượng, Thiệu chủ trương giữ toàn bộ Quân khu III và Quân khu IV, lập tuyến phòng thủ từ Phan Rang trở vào, giữ chặt Tây Ninh, lấy Tây Ninh làm hướng phòng thủ chính ngăn chặn quân ta thọc vào Sài Gòn, giữ trục đường 13, giữ thị trấn Xuân Lộc, ngăn không để “Việt cộng” áp sát đường 15, Nhơn Trạch để pháo kích vào Sài Gòn.

Ngày 2-4, Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân nguỵ hò hét: “Cố thủ từ Phan Rang trở lại”. Viên tướng phụ trách hậu cần Đồng Văn Khuyên hùng hổ tuyên bố. “Bằng bất cứ giá nào, phải cố thủ từ Ninh Thuận trở vào, nếu cần sẽ đem hết lực lượng đánh xả láng tại đó!”.

Thiệu cử Nguyễn Văn Toàn, Tư lệnh Quân đoàn III ra trấn giữ Phan Rang, đồng thời ra lệnh gấp rút khôi phục một số tàn quân từ phía bắc chạy vào, củng cố tuyến phòng ngự chung quanh Sài Gòn. Trong khi đó, Thiệu bí mật chở vàng bạc, đá quý sang Đài Loan và Canađa. Toàn lại chỉ thị cho Nguyễn Vĩnh Nghi thành lập sở chỉ huy tiền phương ở Phan Rang, còn mình lui về phía sau, nói là “để tăng cường cho Xuân Lộc!”

Tổng thống Mỹ cử Tham mưu trưởng lục quân Hoa Kỳ đến Sài Gòn để nắm tình hình, mang theo một liều thuốc an thần cuối cùng gồm một số súng cỡ lớn được bốc dỡ ở sân bay Tân Sơn Nhất trước ống kính camêra giữa thanh thiên bạch nhật, và chiếu ngay lên màn ảnh truyền hình.

Thế nhưng lần này, trò lừa mị vụng về xem ra không còn tác dụng, vì con bệnh đang hấp hối đã quen thuốc mất rồi! Thật ra, quân nguỵ lúc này cần đạn hơn cần súng. Và các khẩu pháo đâu có thể thay được việc ném bom bằng B52 như Thiệu đã van xin! Phrêđêrích Uâyen, viên tướng bốn sao đã phải cuốn cờ rút khỏi miền Nam Việt Nam tháng 3-1973, không thể làm gì hơn trước sự thất vọng của Thiệu. Ông ta chỉ có nhiệm vụ “xem xét những khả năng mà Mỹ có thể làm để ủng hộ Nam Việt Nam”, và sẽ trở về Mỹ tường trình với Tổng thống Pho lúc này đang còn đi nghỉ mát!


(1) Đồng chí Trần Văn Trà.
(2) Vũng Tàu.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:50:29 AM
Trở lại với chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ.

Từ khi mở màn chiến dịch Tây Nguyên, nhất là sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, tình hình phát triển rất nhanh.

Báo cáo của Quân ủy Miền và Bộ Tư lệnh B2 cho biết:

- Thực hiện kế hoạch đợt hai mùa khô 1974-1975 của Bộ Tư lệnh Miền đã được Trung ương Cục thông qua, từ đêm 9 rạng ngày 10-3-1975, phối hợp với các chiến trường toàn miền Nam, quân và dân ta từ núi rừng Khu 6 đến đồng bằng sông Cửu Long tiến công và nổi dậy, đồng loạt xông lên diệt địch, giành thắng lợi giòn giã.

Ở đồng bằng sông Cửu Long, quân và dân Quân khu IX tiêu diệt phân chi khu Hựu Thành, vây lấn yếu khu Thầy Phó, diệt gọn hai tiểu đoàn địch đến tăng viện, giải phóng chi khu Thuận Thới, đồn Cầu Sắt. Trước sức tiến công của ta, quân địch ở yếu khu Thầy Phó tháo chạy. Ta tiếp tục tiến công lên hướng Tam Bình, diệt phân chi khu Ba Kè, làm chủ đoạn sông Mang Thít, tiếp đó phát triển tiến công diệt 50 đồn địch, làm chủ đường 16, uy hiếp đường 4, áp sát Vĩnh Long. Được quân chủ lực hỗ trợ, bộ đội và du kích Vĩnh Trà tiến công giải phóng Càng Long, Châu Thành, Cầu Ngang, Trà Cú, Duyên Hải, Cầu Kè. Tỉnh ủy và tỉnh đội Trà Vinh lập thêm được ba tiểu đoàn tập trung, tổ chức lực lượng chính trị, binh vận, đưa vũ khí và cán bộ vào thị xã phát động quần chúng chuẩn bị nổi dậy giành chính quyền. Ngày 13-3, quân ta đánh chiếm chi khu Bình Minh, diệt phân chi khu Mỹ Thuận, giải phóng vùng bắc sông Hậu, đặt pháo 105mm ở bắc Cái Vồn bắn vào sở chỉ huy Quân đoàn 4 nguỵ và sân bay Trà Nóc. Sư đoàn 4 diệt đồn ông Tháp, đánh chiếm căn cứ Bà Đầm, vây ép Ô Nai, Ô Môn, chuẩn bị tiến công Cần Thơ. Ở Quân khu VIII, quân ta diệt hai tiểu đoàn địch ở căn cứ Ngã Sáu, phá vỡ hệ thống đồn bốt địch ở khu vực kênh mới và kênh Nguyễn Văn Tiếp B, mở vùng giải phóng rộng lớn từ huyện Cái Bè (Mỹ Tho) đến Mỹ An, Kiên Văn (Sa Đéc), diệt địch ở bắc Cai Lậy, cắt đường 12, vây ép Mỹ Tho. Trên hướng Kiến Tường - Long An, quân ta tiến công đánh thông hành lang Tây Ninh xuống Đồng Tháp Mười, làm chủ một vùng rộng lớn ở bờ tây sông Vàm Cỏ Đông, cắt đứt đường 4, tạo bàn đạp tiến công Sài Gòn từ hướng tây. Đoàn 232 được anh Lê Đức Anh, Phó Tư lệnh Miền trực tiếp chỉ huy, chuẩn bị tiến công Sài Gòn từ hướng tây và hướng nam.

Ở miền Đông Nam Bộ, các đội biệt động, đội công tác bí mật và bộ đội đặc công áp sát các vị trí xung yếu xung quanh thành phố Sài Gòn, diệt địch ở Phú Hòa Đông, bốt đường 8, Tân Thạnh Tây, Tổng Thôn, Thới Mỹ, sở chỉ huy tiểu đoàn địch ở Tân Túc, bức hàng, bức rút hàng loạt đồn bốt dọc hành lang vào nội đô, tiêu hủy kho chứa chất độc hoá học ở Thủ Đức, kho xăng Vũng Bèo. Sư đoàn 9 tăng cường tiến công chi khu quân sụ Tri Tâm, giải phóng quận Dầu Tiếng, Bến Củi, diệt cứ điểm Suối Ông Hùng, đánh chiếm Cầu Khởi, diệt và làm bị thương trên 3.000 tên địch, phá hủy và thu 61 xe quân sự, 6 khẩu pháo, 1.000 súng các loại… giải phóng Dầu Tiếng, thị xã An Lộc và toàn tỉnh Bình Long, tạo địa bàn đứng chân cho quân ta tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch từ hướng tây bắc. Miền Đông Nam Bộ đã mở được một vùng giải phóng kéo dài từ bắc Tây Ninh qua Lộc Ninh, Dầu Tiếng, Chơn Thành, từ Mỏ Vẹt đến La Ngà qua Hoài Đức, Tánh Linh, từ đường số 1 đến nam đường số 2, Bà Rịa.

Như vậy là trong vòng một tháng, quân và dân Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ tích cực phối hợp với chiến trường Tây Nguyên và chiến trường Trị - Thiên - Huế, Quảng Đà đã tiêu diệt và làm tan rã nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng rộng lớn ở đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và Quân khu VI, hình thành bao vây, tạo thế cho các cánh quân trên các hướng tiến công Sài Gòn - Gia Định.

Các hoạt động chống phá “bình định” của đồng bào và chiến sĩ phát triển nhanh chóng. Phong trào đấu tranh chính trị, binh vận lên mạnh. Khắp miền sông Tiền, sông Hậu, liên tiếp nổ ra hàng nghìn cuộc đấu tranh trực diện với địch. Đồng bào nổi dậy tố cáo tội ác của địch, trừng trị bọn ác ôn có nhiều nợ máu… Nhân dân đắp cản, ngăn sông, chặn tàu chiến địch, cắt đứt những con đường thủy huyết mạch như kênh Mang Thít ở Vĩnh Long, kênh Xáng Xẻo Rô ở nam Rạch Giá. Thanh niên hăng hái tòng quân, lực lượng vũ trang ở đồng bằng phát triển rất nhanh. Đông đảo quần chúng phục vụ bộ đội, tham gia các tổ chức cách mạng ở địa phương.

Trên cơ sở tình hình chung do Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông báo, căn cứ vào các bức điện chỉ đạo của đồng chí Bí thư thứ nhất, của Quân ủy Trung ương và tình hình thực tế của chiến trường trọng điểm, ngày 29-3-1975, Trung ương Cục miền Nam ra Nghị quyết 15-TWC nêu rõ: “… Cuộc chiến tranh cách mạng miền Nam không những đã bước vào thời kỳ phát triển nhảy vọt mà thời cơ chuẩn bị để tiến hành cuộc Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa vào sào huyệt của địch cũng đã chín muồi. Từ giờ phút này, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng của quân và dân ta đã bắt đầu, nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà”. Nghị quyết nêu rõ cần tăng cường lãnh đạo đòn nổi dậy của quần chúng làm hậu thuẫn cho đòn tiến công quân sự và nhấn mạnh: “Phải thật tập trung từng giờ, từng ngày, từng tháng, từ đầu tháng 4-1975 này”. Đây là một Nghị quyết phù hợp với tinh thần các Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, chứng tỏ sự sáng suốt, nhạy bén của các đồng chí lãnh đạo B2, được các địa phương chấp hành tích cực và có hiệu quả.

Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Cục, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền vạch kế hoạch tiến công Sài Gòn với lực lượng bản thân hiện có. Kế hoạch dự kiến tiến công vào nội đô trên năm hướng: hướng đông do Quân đoàn IV đảm nhiệm; hướng tây bắc do Sư đoàn 9 và các Trung đoàn 16, 271B; hướng tây do Đoàn 232 gồm Sư đoàn 5, Sư đoàn 3/B2 và các lữ đoàn binh chủng; hướng nam do Trung đoàn 88 và 24 của Quân khu VIII phụ trách; hướng bắc được giao cho Trung đoàn Gla Định, sẽ được tăng cường thêm lực lượng đặc công, biệt động và lực lượng của Trung ương điều vào, nếu có. Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền chủ trương tiến công diệt địch ở Xuân Lộc, áp sát Biên Hoà, Đoàn 232 chuẩn bị chiếm Mộc Hoá, đưa lực lượng xuống cắt đường số 4 kết hợp với chủ lực Quân khu VIII diệt Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 nguỵ. Thực hiện thắng lợi bước này, sẽ gây biến động lón về quân sự, chính trị trong nguỵ quân, nguỵ quyền. Nắm lấy thời cơ ấy, sẽ phát động nhân dân nổi dậy, kết hợp công kích quân sự với khởi nghĩa của quần chúng, trong đánh ra ngoài đánh vào, nhằm năm mục tiêu chủ yếu là sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham mưu nguỵ, Biệt khu Thủ đô, Tổng Nha cảnh sát và dinh Độc Lập. Kế hoạch được Trung ương Cục nhất trí và báo cáo ra Trung ương.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:50:58 AM
Hạ tuần tháng 3-1975.

Ngay sau chiến thắng Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị chủ lực thừa thắng phát triển tiến công về hướng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ theo các trục đường số 19, số 7 và số 21. Sư đoàn 10 tiến theo đường 21, tiêu diệt lữ đoàn dù trên đèo Phượng Hoàng, giải phóng quận lỵ Khánh Dương. Sư đoàn 320 sau khi giải phóng Củng Sơn, theo đường số 7 tiến xuống Tuy Hoà. Sư đoàn 3 Quân khu V tiêu diệt căn cứ địch ở An Khê, sau đó phối hợp với Sư đoàn 968 tiêu diệt phần lớn Sư đoàn 22 nguỵ trong một trận từ Phú Phong đến sân bay Gò Quánh. Bọn tàn quân của Sư đoàn 22 bị quân và dân Bình Định tiến công làm tan rã hoàn toàn.

Ngày 27-3, tại cuộc họp với Bộ Tư lệnh Tây Nguyên, trong không khí phấn khởi, quyết tâm, anh Văn Tiến Dũng công bố thành lập Quân đoàn III gồm các Sư đoàn 10, 320 và 316 theo quyết định của Bộ Tổng tư lệnh. Sự kiện này đánh dấu một bước phát triển mới, càng đánh càng mạnh của quân đội ta trong quá trình cuộc tiến công chiến lược.

Với khí thế tiến công và nổi dậy mạnh mẽ, quân và dân ta đã tích cực đánh địch trên khắp các tỉnh ven biển miền Trung, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ lực lượng địch còn lại, liên tiếp giải phóng các tỉnh, thành phố thuộc vùng Quân khu II nguỵ. Ngày 1-4, hai tỉnh Bình Định, Phú Yên với thành phố Quy Nhơn và thị xã Tuy Hòa được giải phóng. Từ ngày 2 đến ngày 3-4, tỉnh Khánh Hòa với thành phố Nha Trang và quân cảng Cam Ranh được giải phóng. Trước đó, ngày 24-3, tỉnh Quảng Đức với thị xã Gia Nghĩa được giải phóng.

Lúc này có một sự kiện đáng ghi nhớ. Đó là việc điều động sử dụng Sư đoàn 10 của Quân đoàn III. Như trên đã nói, sau ngày giải phóng Đà Nẵng, chủ trương của Quân ủy Trung ương được sự nhất trí của Bộ Chính trị là tập trung toàn bộ lực lượng ở nam Tây Nguyên nhanh chóng tiến thẳng xuống, miền Đông Nam Bộ. Trên đường vào B2, anh Lê Đức Thọ cũng đã phổ biến cho Bộ Tư lệnh Tây Nguyên về chủ trương này. Nhưng trước đó, trong tình hình bộ đội ta đang truy kích tiêu diệt địch, anh Văn Tiến Dũng và Bộ Tư lệnh Tây Nguyên đã lệnh cho Sư đoàn 10 tiến ra hướng biển, xuống Nha Trang, Cam Ranh. Khi biết chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, các anh băn khoăn đến mất ngủ, lo lắng, như vậy có trái với ý định của cấp trên hay không. Cuối cùng các anh xác định là báo cáo lên Trung ương và chịu trách nhiệm. Ngay sau đó anh Văn Tiến Dũng điện ngay cho tôi trình bày về vấn đề này, nói rõ cuộc tiến quân đang phát triển thuận lợi, Nha Trang, Cam Ranh là hai mục tiêu chiến lược quan trọng, tính toán thời gian sư đoàn có thể hoàn thành nhiệm vụ giải phóng hai nơi này, sau đó quay lên đường 11 rồi theo đường 20 tiến xuống vị trí tập kết ở miền Đông, thời gian cũng không chậm là bao.

  Nhận điện của anh Dũng, lại có tin ta đã giải phóng Quy Nhơn, địch đang rút khỏi Tuy Hoà, chuẩn bị bỏ Nha Trang, Cam Ranh, tôi lập tức trả lời bằng bức điện số 940 ngày 20-3-1975: “Chúng tôi bàn với anh Ba nhất trí cho rằng ta cần có chủ trương thật linh hoạt để lợi dụng thời cơ cụ thể này, tức là tập trung Sư đoàn 10 nhanh chóng tiêu diệt quân dù và bọn địch còn lại, đánh chiếm Nha Trang, Cam Ranh rồi tiến về phía nam…”.

Bức điện làm cho các anh rất yên lòng. 8 giờ sáng ngày 31-3, anh Dũng điện ngay cho tôi: “… Tôi mừng quá. Thật là tâm đầu ý hợp giữa lãnh đạo và người ở chiến trường…”.

Thực tế đã cho thấy việc điều động và sử dụng Sư đoàn 10 như vậy là đúng. Sau khi giải phóng Nha Trang, Cam Ranh, sư đoàn đã từ Ba Ngòi nhanh chóng xuyên qua căn cứ Bác Ái sang đường 11, lên Tuyên Đức rồi theo đường 20 tiến về vị trí tập kết của Quân đoàn III trên hướng Sài Gòn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Trong khi Quân đoàn III tiến công địch trong hành tiến, ào ạt tiến quân vào chiến trường trọng điểm, thì Quân đoàn I từ miền Bắc theo đường số 1 rồi theo tuyến Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn và đường 14, khắc phục mọi khó khăn về cầu đường, thời tiết, thần tốc tiến như một dòng thác mạnh đổ xuống phía nam. Trên đường tiến quân, quân đoàn tổ chức thành từng khối, hành quân bằng cơ giới, có pháo cao xạ bảo vệ. Núi rừng Trường Sơn sôi động. Các đoàn xe, pháo nối đuôi nhau chạy suốt ngày đêm, quyết tâm đến vị trí tập kết ở Đồng Xoài đúng thời gian vào trung tuần tháng 4, kịp tham gia chiến đấu. Binh đoàn dự bị chiến lược ra quân với khí thế hào hùng, phấn khởi mang theo cả mềm tin quyết thắng của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, tăng cường thêm một “quả đấm thép” cho chiến trường trọng điểm trong trận quyết chiến cuối cùng.

Trong thời gian này, Sư đoàn 7 cùng một bộ phận Sư đoàn 341 và lực lượng địa phương đánh chiếm chi khu quân sự Định Quán, diệt yếu khu Gia Ray, khống chế đường 20. Ngày 28-3, sư đoàn dùng xe cơ giới theo đường 20, phối hợp với các lực lượng ém sẵn, tiến công giải phóng thị xã Lâm Đồng, sau đó cùng bộ đội Khu 6 đánh chiếm cao nguyên Di Linh, ngày 4-4 phát triển lên đánh chiếm thành phố Đà Lạt. Trung đoàn 812 truy kích địch từ Đà Lạt đến sân bay Thành Sơn, tạo điều kiện cho Sư đoàn 10 từ Cam Ranh xuyên qua Bác ái theo đường 11 và đường 20 tiến vào miền Đông Nam Bộ. Ở hướng Bình Tuy, Long Khánh, Sư đoàn 6 cùng bộ đội địa phương và du kích tiến công giải phóng đường số 4, phát triển tiến công địch trên đường số 1 từ Suối Cát đến Rừng Lá (Bình Tuy).

Đến lúc này, quân ta đã tiêu diệt và làm tan rã hai quân đoàn, hai quân khu mạnh của địch, giải phóng các tỉnh đồng bằng miền Trung, Tây Nguyên, nhiều vùng ở đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, hình thành thế bao vây Sài Gòn - Gia Định.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:53:06 AM
Ngày 3-4, anh Văn Tiến Dũng cùng Đoàn A.75(1) vào đến Sở chỉ huy Miền. Anh Đinh Đức Thiện đến liền sau đó. Mấy hôm sau, anh Lê Đức Thọ cũng vào đến nơi. Với tinh thần tích cực, khẩn trương, ngày 7-4-1975, Trung ương Cục duyệt kế hoạch tiến công Sài Gòn - Gia Định.

  Tư liệu sau này cho biết: anh Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục chủ trì cuộc họp. Kế hoạch tác chiến chiến dịch do anh Lê Ngọc Hiền trình bày gồm hai bước: Trước mắt, từ ngày 8-4 tiến công chia cắt chiến lược và bao vây đánh trận “rúng động”, đánh vùng ven và 8 mục tiêu trong nội thành, chuẩn bị cho tổng tiến công. Nếu thuận lợi địch tan rã, thì phát triển thọc sâu ngay, phối hợp với quần chúng nổi dậy đánh chiếm thành phố.

Bước hai dự kiến từ ngày 15 đến 20-4, thực hiện đột kích Sài Gòn trên năm hướng. Lực lượng sử dụng từ ba đến năm sư đoàn chủ lực, bảy đoàn đặc công, 60 tổ biệt động, cùng với lực lượng du kích và khoảng 50 ngàn quần chúng nổi dậy tại chỗ. Anh Trần Văn Trà báo cáo thêm về địa hình vùng phụ cận Sài Gòn, về bố trí của địch trong nội thành, lực lượng không quân và hải quân nguỵ, và nêu rõ tiêu diệt được Sư đoàn 18 nguỵ, thực hành bao vây cô lập Sài Gòn, sẽ làm “rúng động” toàn bộ và nảy ra thời cơ mới. Nếu địch co cụm thì chuẩn bị thêm lực lượng, nhưng phải giải quyết xong trong tháng 4. Các anh Ba Trần(2), Trần Lương, Hai Xô(3), Hai Văn(4), Đồng Văn Cống, Lê Văn Tưởng, Đinh Đức Thiện biểu thị nhất trí với kế hoạch, đề nghị cần tranh thủ bất ngờ, bảo đảm hậu cần, đẩy mạnh binh vận, chú trọng tổ chức quân quản thành phố. Anh Võ Văn Kiệt tin tưởng nhất định thắng, nhấn mạnh cần đưa ngay chủ lực vào sâu trong thành phố, vận động quần chúng bung ra, giành thắng lợi thật nhanh, thật kịp thời, đỡ vất vả. Anh Nguyễn Văn Linh thấy cần tiến công liên tục, không nên có khoảng cách, làm cho địch không kịp trở tay. Hào hứng, phấn khởi, đầy trách nhiệm, các anh phân tích sâu sắc tình hình, đề ra nhiều ý kiến đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể.

Kết luận hội nghị, anh Phạm Hùng nêu rõ sự nhất trí, phấn khởi đối với kế hoạch tiến công. Nếu cắt được đường số 4 và diệt được Sư đoàn 18 thì đột kích ngay, không chờ lực lượng vào đủ. Cần tổ chức hiệp đồng, tập trung lãnh đạo bảo đảm các mặt để giành chiến thắng. Về tổ chức chỉ huy, sẽ bàn thêm với anh Lê Đức Thọ.

Anh Văn Tiến Dũng thay mặt cơ quan tiền phương Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh phát biểu ý kiến. Rất mừng trước việc Trung ương Cục, Quân ủy Miền biểu thị sự nhất trí về kế hoạch tiến công Sài Gòn, anh nhấn mạnh ta có ưu thế về lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, cần dứt điểm càng nhanh càng tốt. Anh nói đã điện ra đề nghị Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đốc thúc tăng cường lực lượng vào chiến trường trọng điểm.

Ngày hôm sau, trong buổi làm việc với Trung ương Cục và Quân ủy Miền, anh Lê Đức Thọ phổ biến Nghị quyết của Bộ Chính trị về tình hình chiến sự, âm mưu của địch, chủ trương của ta, công bố quyết định ngày 6-4 của Bộ Chính trị thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch Sài Gòn - Gia Định: Anh Văn Tiến Dũng là Tư lệnh; anh Phạm Hùng, Chính ủy; các anh Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện, Phó Tư lệnh; anh Lê Quang Hoà, Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị; anh Lê Ngọc Hiền, quyền Tham mưu trưởng. Anh Lê Đức Thọ tham gia Trung ương Cục và Đảng ủy mặt trận. Trong dịp này, Trung ương Cục phân công anh Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung ương Cục, đặc trách phong trào nổi dậy của quần chúng, nhất là ở Sài Gòn. Anh Võ Văn Kiệt, ủy viên Thường vụ Trung ương Cục, chỉ đạo việc tiếp quản thành phố.

Đảng ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch khẩn trương bắt tay vào việc. Đầu tiên, các anh nhất trí điện ra Trung ương đề nghị đặt tên của Bác Hồ kính yêu cho chiến dịch quyết định sắp diễn ra.

Ngày 14-4-1975, thể theo đề nghị của Bộ chỉ huy chiến dịch và nguyện vọng của đồng bào, chiến sĩ cả nước, trong bức điện số 37 TK, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị đã đáp ứng kịp thời ý nguyện thiết tha và thiêng liêng ấy: “Đồng ý chiến dịch Sài Gòn lấy tên là chiến dịch Hồ Chí Minh”.

Trận quyết chiến chiến lược cuối cùng kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm được vinh dự mang tên vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.


(1) Mật danh của cơ quan tiền phương Bộ Tổng Tư lệnh.
(2) Đồng chí Trần Văn Danh.
(3) Đồng chí Nguyễn Văn Xô.
(4) Đồng chí Phan Văn Đáng.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:54:35 AM
Theo kế hoạch đã định, ngày 9-4, những trận đánh cắt đường số 4 ở phía tây Sài Gòn và trận tiến công Xuân Lộc bắt đầu.

Sư đoàn 5 tiến công địch ở thị trấn Thủ Thừa và thị xã Tân An không thành công. Tuy vậy, sư đoàn đã đánh thiệt hại nặng một trung đoàn bộ binh của Sư đoàn 7 nguỵ và một trung đoàn thiết giáp, diệt 80 đồn bốt lớn nhỏ, giải phóng một vùng rộng, uy hiếp đường số 4. Lực lượng vũ trang Quân khu VIII tiến công làm chủ từng thời gian đường Tân Hiệp - Cái Bè (Mỹ Tho). Các lực lượng vũ trang Quân khu IX tiến công địch ở Cái Vồn, Ba Càng (Vĩnh Long).

Trên hướng đông, Quân đoàn IV dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của các anh Hoàng Cầm, Tư lệnh và Hoàng Thế Thiện, Chính ủy, mở cuộc tiến công vào Xuân Lộc, “cánh cửa thép” trên tuyến phòng ngự Sài Gòn và Vùng III chiến thuật. Nơi đây, địch bố trí một lực lượng khá mạnh gồm Sư đoàn 18 và một số tiểu đoàn bảo an, cảnh sát phòng ngự trong công sự kiên cố. Tham mưu trưởng lục quân Mỹ, tướng Phrêđêrích Uâyen cho rằng: “Mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn”. Lê Minh Đảo, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 18 hò hét “tử thủ” bằng mọi giá.

Trận đánh diễn ra quyết liệt và phức tạp.

Theo báo cáo, trong đêm 9 rạng ngày 10-4, bằng nhiều mũi tiến công, quân ta chọc thủng tuyến phòng ngự thị xã, chiếm được nhiều mục tiêu, cắm cờ cách mạng lên dinh tỉnh trưởng nguỵ. Tuy bị thiệt hại nặng, địch vẫn cố thủ. Ngày 10-4, chúng dùng trực thăng đổ bộ một lữ đoàn dù xuống ven thị xã, tiếp đó, tăng viện thêm hai lữ đoàn thủy quân lục chiến, một liên đoàn biệt động quân, một trung đoàn bộ binh của Sư đoàn 5, tám tiểu đoàn pháo binh và hai chiến đoàn xe tăng, thiết giáp. Dựa vào quân tăng viện và sự chi viện của không quân, địch điên cuồng phản kích, gây cho ta nhiều tổn thất. Nhiều vị trí ta đã chiếm được phải lần lượt rút bỏ, hoặc thay đổi chủ nhiều lần. Chúng đã dùng đến các loại bom có sức sát thương và hủy diệt lớn.

Trận đánh chưa dứt điểm.

Tình hình hết sức khẩn trương.

Sau ngày Đà Nẵng giải phóng, theo lệnh của Bộ Tổng tư lệnh, anh Lê Trọng Tấn, Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà, bay ra Hà Nội nhận nhiệm vụ mới.

Trong buổi giao ban sáng ngày 2-4, Bộ Tổng Tham mưu báo cáo: Địch hoang mang cực độ. Chiến sự ở ven biển Nam Trung Bộ diễn biến rất nhanh, rất có lợi cho ta.

 Anh Tấn nêu ý kiến cần hình thành cánh quân ven biển, gồm các lực lượng vừa giải phóng Đà Nẵng, nhanh chóng tiến quân đánh địch trong hành tiến, tiêu diệt địch và làm chủ các địa bàn chiến lược từ Nha Trang trở vào, không cho địch co cụm về Sài Gòn. Đây cũng là ý kiến đề nghị của Thường vụ và Bộ Tư lệnh Quân khu V và của Thường vụ và Bộ Tư lệnh Quân đoàn II vừa lập chiến công ở Đà Nẵng.

Tôi tán thành đề nghị này và cử ngay anh Tấn sang trình bày với anh Ba. Sau khi trao đổi thêm với tôi, anh Ba hoàn toàn đồng ý.

Ngay lập tức, Thường trực Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh lập cánh quân phía đông, gồm Quân đoàn II (thiếu Sư đoàn 324 ở lại Huế). Sư đoàn 3 (Quân khu V) và các đơn vị pháo binh, cao xạ, xe tăng, công binh. Nhiệm vụ là vừa đánh địch, vừa mở đường với tốc độ thật nhanh, khẩn trương đến kịp thời gian cùng các đơn vị bạn tham gia giải phóng Sài Gòn. Anh Lê Trọng Tấn được cử làm Tư lệnh. Ban cán sự Đảng lâm thời do anh Lê Quang Hòa làm Bí thư. Khi vào đến miền Đông Nam Bộ, cánh quân này sẽ thuộc quyền lãnh đạo, chỉ huy của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh mặt trận Sài Gòn; đồng thời thường xuyên báo cáo với Bộ Tổng tư lệnh.

Trước khi anh Tấn lên đường, thay mặt Thường trực Quân ủy Trung ương, tôi giao nhiệm vụ cho cánh quân phía đông nhanh chóng tiến theo đường số 1 chọc thủng phòng tuyến địch ở Phan Rang, tiếp đó cùng với các lực lượng B2 đánh chiếm Bà Rịa, Ô Cấp, khống chế sông Lòng Tàu, đặt pháo tầm xa ở Nhơn Trạch hoặc Thành Tuy Hạ chế áp các mục tiêu quan trọng ở Sài Gòn, có phương án vượt sông thọc sâu vào trung tâm thành phố. Vì đường dài, cần tổ chức hành quân tốt, cho đơn vị nhẹ đi trước, bảo đảm đi thật nhanh, dọc đường chú ý phòng tránh pháo trên tàu chiến của địch. Bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, lãnh đạo bộ đội giữ kỷ luật dân vận, đối xử nhân đạo với tù, hàng binh. Vào đến nơi bắt liên lạc ngay với anh Dũng.

Cuộc tiến quân lịch sử của Quang Trung - Nguyễn Huệ lại hiện về trong ký ức. Ngày 4-4, tôi gửi điện cho cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn II đang hành quân: “… Các đồng chí lên đường làm nhiệm vụ rất vẻ vang. Cần hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”.

Ngày 6-4, điện của Quân ủy Trung ương gửi Bộ Tư lệnh Đoàn 559 nêu rõ: “Cần chú trọng coi công tác bảo đảm chi viện và bảo đảm cơ động lực lượng ta vào B2 là công tác trung tâm số 1. V vậy, cần có kế hoạch tổ chức thật tốt công tác này, nhất là bảo đảm việc hành quân của các đơn vị, binh khí kỹ thuật và các nhu cầu đạn dược theo đúng thời gian đã định”. Tôi chỉ thị cho anh Đồng Sĩ Nguyên bố trí sở chỉ huy ở Quy Nhơn và anh Hoàng Minh Thảo ở Nha Trang, tổ chức bảo đảm, đôn đốc các đơn vị hành quân theo đường số 1, tuyệt đối không để ảnh hưởng đến việc bảo đảm hậu cần cho các đơn vị đang tiến quân.

Bức điện của Quân ủy Trung ương gửi anh Đồng Sĩ Nguyên và Thường vụ Đảng ủy 559, đánh đi hồi 22 giờ ngày hôm ấy lại nhấn mạnh: “… Yêu cầu của mặt trận hết sức gấp, từng ngày, từng giờ. Thời gian lúc này là lực lượng, là sức mạnh. Các đồng chí dùng mọi biện pháp tổ chức và đôn đốc các đơn vị hành quân hết sức nhanh, chi viện hết sức gấp, hoàn thành xuất sắc chiến dịch chi viện thần tốc này”.

Trên hai trục chính là đường số 1 và đường Trường Sơn, với sự tổ chức khẩn trương của Đoàn 559, sự hỗ trợ tích cực của Quân khu V, bằng đôi chân vạn dặm và mọi phương tiện có thể có được, các đơn vị khắc phục khó khăn đánh địch mà đi, mở đường mà tiến. Đường sụt lở thì nhân dân quanh vùng ra góp công sửa chữa. Cầu bị địch phá thì ngoài cầu, phà tự hành của công binh, còn có thuyền bè lớn nhỏ của dân. Xe hỏng thì tìm mọi cách sửa chữa, cứu kéo.

Ngày 7-4, tôi ra lệnh cho các đơn vị đang đổ vào chiến trường:

“Mệnh lệnh: 1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nũa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng.

2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:55:36 AM
Tốc độ hành quân nâng lên không ngừng. Tuy vậy, vẫn còn thấy chậm! Công tác bảo đảm hậu cần hầu như không gặp khó khăn. Đoàn 559 có kế hoạch chu đáo, lại có thêm gạo, đạn, xăng, dầu chiếm được của địch. Quân no, xe pháo đủ nhiên liệu, đạn dược, bộ đội được nhân dân ven đường động viên, giúp đỡ, tốc độ hành quân lại càng tăng.

Ngày 10-4, điện của cánh quân phía đông báo cáo: Các anh Lê Trọng Tấn và Lê Quang Hòa đã đến Nha Trang, đang chuẩn bị đánh Phan Rang.

Phan Rang, nơi cắt rốn chôn rau của Nguyễn Văn Thiệu, là thị xã của tỉnh Ninh Thuận, cách Sài Gòn 315 km về phía bắc. Ở đây có hai hải cảng Tân Thành và Ninh Chữ, có sân bay Thành Sơn với lực lượng một sư đoàn không quân. Đường số 1 và đường sắt chạy qua thị xã, nối hền Sài Gòn với các tỉnh miền Trung vừa được giải phóng. Theo sự đạo diễn của Uâyen, Tham mưu trưởng lục quân Mỹ, địch điều lực lượng dự bị chiến lược ra lập ở đây tuyến phòng thủ từ xa: Phan Rang - Xuân Lộc Tây Ninh. Với hơn một vạn quân tổ chức phòng ngự trên địa hình có lợi, được sự chi viện của cả hải quân và không quân, chúng hy vọng ngăn chặn, cầm chân các binh đoàn chủ lực của ta ở đây cho đến mùa mưa; lúc đó, thời tiết sẽ khó khăn, ta không thể tổ chức đánh lớn ở Sài Gòn và Nam Bộ ít nhất là trong sáu tháng nữa.

Ngày 11-4, có tin địch tăng cường lực lượng cho Phan Rang. Bộ Tổng Tham mưu điện cho anh Tấn hết sức chú ý đến tốc độ tiến quân, nếu thấy đánh Phan Rang không thuận lợi, lại mất thời gian, thì chỉ để một lực lượng bao vây thị xã, còn đại bộ phận tìm cách vòng qua, khắc phục khó khăn về hậu cần và đường sá, tiến nhanh vào miền Đông Nam Bộ.

Ngày 13-4, anh Tấn điện ra báo cáo về hướng phát triển và kế hoạch tác chiến của cánh quân phía đông, về tình hình hậu cần của bộ đội đang tiến quân. Dự kiến giải quyết xong Phan Rang thì phát triển đánh chiếm Bà Rịa, Vũng Tàu, cắt đường Biên Hòa - Vũng Tàu, khống chế sông Lòng Tàu, nhanh chóng đưa pháo 130mm vào Nhơn Trạch bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Nếu địch co cụm về phòng thủ Biên Hòa thì tuỳ tình hình cụ thể, có thể tiến công vòng về đông và đông nam Sài Gòn, vượt sông đột phá vào trọng điểm.

Sáng 14-4, quân ta nổ súng đánh Phan Rang. Trận tiến công diễn ra quyết liệt. Với ý thức sâu sắc về giá trị của thời gian, bộ đội ta nêu cao tinh thần quyết thắng, dũng mãnh xung phong đánh chiếm các mục tiêu trong thị xã. Quân địch được phi pháo yểm hộ, dựa vào hệ thống công sự và địa hình có lợi, ngoan cố chống cự.

Hai ngày đầu, ta chỉ mới chiếm được một số mục tiêu ở ngoại vi Phan Rang. Sáng ngày 16-4, Tư lệnh Quân đoàn II Nguyễn Hữu An đưa Sư đoàn 325 bước vào chiến đấu. Phương án tác chiến là tổ chức một đội hình thọc sâu mạnh, dùng xe bánh hơi kết hợp với xe tăng vận chuyển lực lượng, đánh thẳng theo đường số 1 vào chiếm thị xã Phan Rang rồi toả ra tiến sang phía đông chiếm cảng Tân Thành và cảng Ninh Chữ, vít chặt đường biển; đồng thời theo đường số 11 đánh ngược lên phía tây bắc, vu hồi vào sườn phía tây của địch, chiếm sân bay Thành Sơn, khoá nốt đường bộ, phối hợp cùng quân và dân địa phương nhanh chóng bao vây, tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn quân địch.

Kết quả, ta đã đập tan tuyến phòng ngự từ xa của địch ở Phan Rang, tiêu diệt Bộ Tư lệnh tiền phương Quân khu III nguỵ, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 bộ binh, Lữ đoàn 2 dù, Liên đoàn biệt động 3 1, một trung đoàn của sư đoàn mới khôi phục, toàn bộ lực lượng của tiểu khu Ninh Thuận, làm chủ cảng Tân Thành và cảng Ninh Chữ, chiếm sân bay Thành Sơn, thu gần 40 máy bay còn nguyên vẹn. Bọn chỉ huy đầu sỏ và hàng nghìn sĩ quan, binh lính bị bắt sống trong đó có viên Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và viên Chuẩn tướng không quân Phạm Ngọc Sang. Quân ta giải phóng hoàn toàn thị xã Phan Rang và tỉnh Ninh Thuận.

Được tin chiến thắng, Quân ủy Trung ương điện gửi lời chào quyết thắng đến toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên Quân đoàn II, Quân khu V, thăm hỏi đồng bào vùng mới giải phóng, kêu gọi tiếp tục anh dũng tiến lên giành toàn thắng cho chiến dịch lịch sử. Bộ chỉ thị dùng máy bay đưa ngay Nguyễn Vĩnh Nghi và Phạm Ngọc Sang ra Hà Nội.

Tin chiến thắng từ mặt trận dồn dập báo về: Các đơn vị thuộc Quân đoàn II đánh chiếm quận lỵ Tuy Phong, vừa đánh chiếm tàu địch, bắn rơi máy bay địch, vừa tác chiến tiêu diệt bộ binh địch, giải phóng các vùng đất trên đường tiến quân, trong đó có các quận lỵ Phan Rí, Hòa Đa và Sông Mao. Thừa thắng, bộ binh và xe tăng của quân đoàn chia thành nhiều mũi xông thẳng vào trung tâm thị xã Phan Thiết, đánh chiếm Sở chỉ huy tiểu khu Bình Thuận, giải phóng quận lỵ Hàm Tân.

Sáng ngày 20-4, bộ phận đầu tiên của cánh quân phía đông gồm Sư đoàn 325 và binh khí, kỹ thuật vào đến Rừng Lá, gần Xuân Lộc. Anh Tấn và anh Hòa cũng đến hền sau đó, và nhanh chóng bắt liên lạc với Bộ chỉ huy mặt trận Sài Gòn. Với tư cách Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, anh Tấn quyết định tăng cường cho Quân đoàn IV Trung đoàn 95 B (Sư đoàn 325) và pháo, đạn thu được của địch để tiến công dứt điểm Xuân Lộc.

Cuộc tiến quân thần tốc của cánh quân phía đông với hơn 32.000 quân và 2.276 xe, pháo, tăng, thiết giáp qua gần một nghìn kilômét, vượt lên mọi khó khăn, trở ngại, đánh địch trong hành tiến, là một đòn chiến lược sáng tạo, kịp thời, tạo bất ngờ lớn cho quân địch, đập tan ý định co cụm lớn của chúng trên dọc miền duyên hải, đánh thông tuyến đường số 1 từ miền Bắc vào tận cửa ngõ phía đông và đông bắc Sài Gòn, mở thêm một đường tiếp tế hậu cần chiến lược, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng giữa ta và địch trên chiến trường, tạo điều kiện hết sức quan trọng và một thế chiến lược rất thuận lợi cho cuộc tiến công giải phóng Sài Gòn - Gia Định.

Trước tình hình quân địch ở Xuân Lộc còn ngoan cố chống cự, Đảng ủy và Bộ chỉ huy Miền chỉ thị cho Quân đoàn IV rút kinh nghiệm. Anh Trần Văn Trà đến trực tiếp chỉ đạo tác chiến. Xuất phát từ nhận định Xuân Lộc chỉ có thể cố thủ khi được nối liền với Biên Hoà, Bộ chỉ huy Miền quyết định thay đổi cách đánh: từ tiến công thẳng vào thị xã chuyển sang đánh các lực lượng tiếp viện của địch mới được điều đến còn đứng chân chưa vững ở vòng ngoài, thực hành chia cắt Xuân Lộc với Biên Hoà, cắt đường số 2 từ Xuân Lộc đi Bà Rịa, chặn quân địch từ Biên Hoà, Trảng Bom lên phản kích.

Thực hiện quyết tâm mới, Quân đoàn IV vừa được tăng cường lực lượng bộ binh và pháo cỡ lớn, tiến công tiêu diệt Chiến đoàn 52 nguỵ và một chi đoàn thiết giáp, đánh chiếm ngã ba Dầu Giây, cắt đường số 1 từ Xuân Lộc đến Bàu Cá, làm chủ đoạn cuối cùng của đường 20 từ Túc Trung đến Dầu Giây, chiếm Núi Thị, Túc Trưng, Kiệm Tân, tiêu diệt quân địch phản kích từ Trảng Bom ra. Hai chiến đoàn 43 và 48 của Sư đoàn 18 nguỵ cùng với Lữ đoàn 3 thiết giáp bị đánh thiệt hại nặng. Bộ đội địa phương và du kích diệt và bức rút một số đồn địch trên các trục đường giao thông và ven thị xã.

Không chiếm lại được ngã ba Dầu Giây, lực lượng bị tổn thất nặng, trước nguy cơ bị bao vây, bị tiêu diệt và sức uy hiếp của cánh quân lớn từ phía đông mới tới, ngày 20-4, địch phải rút chạy khỏi Xuân Lộc.

Chiến thắng Xuân Lộc làm rung chuyên toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch xung quanh Sài Gòn, làm cho tinh thần của quân nguỵ càng thêm suy sụp.

Tin chiến thắng làm nức lòng nhân dân cả nước.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:56:49 AM
Ngày 6-4, trong khí thế chiến thắng, 98,26% trong số mấy chục triệu cử tri trên hậu phương lớn phấn khởi đi bỏ phiếu bầu Quốc hội khoá V, củng cố thêm vững chắc chế độ dân chủ cộng hoà. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta trúng cử với tỷ lệ phiếu cao nhất.

Tất cả cho tiền tuyến.

Cả nước vào trận cuối cùng với mềm tin tất thắng.

Hậu phương lớn tổng động viên nhân, tài, vật lực chi viện cho tiền tuyến lớn. Hầu như toàn bộ lực lượng vận tải trên miền Bắc đều được huy động trong một chiến dịch chi viện lớn nhất từ trước đến nay. Anh Phan Trọng Tuệ, Bộ trưởng Giao thông vận tải, Phó Chủ tịch Hội đồng chi viện miền Nam ngày đêm lo lắng cùng các ngành, các địa phương điều động hàng chục ngàn xe vận tải, hàng trăm toa xe lửa, hơn 30 tàu biển, hàng trăm lần chiếc máy bay vận tải đưa cán bộ, chiến sĩ, nhân viên kỹ thuật cùng hàng vạn tấn vũ khí, phương tiện vào chiến trường.

Từ Hà Nội, Nam Định, từng đoàn xe lửa chở đầy bộ đội và vũ khí, đạn dược, hối hả chạy thăng vào Vinh. Từ đây bằng các phương tiện ô tô, tàu thủy, người và súng đạn được chuyển tiếp vào miền Đông Nam Bộ.

Các cảng sông, cảng biển ở miền Bắc khẩn trương nhộn nhịp. Tàu thuyền của hải quân, của ngành giao thông vận tải liên tục chở xe tăng, pháo lớn và bộ đội vào Đà Nẵng, từ đó cơ động bằng đường bộ theo đường số 1 vào địa điểm tập kết của hậu cần Miền ở khu vực Dầu Giây.

Các loại máy bay vận tải, máy bay lên thẳng cũng được huy động để chở quân, chở đạn vào chiến trường trọng điểm.

Tại Tổng hành dinh, anh Hoàng Văn Thái, Phó Tổng Tham mưu trưởng thứ nhất, theo dõi lực lượng ở chiến trường, nắm chắc đến từng kho đạn, kho xăng dầu, kho lương thực, chỉ đạo chặt chẽ và ráo riết việc tổ chức hành quân và bao đảm hậu cần.

Trên các trục đường vào Nam, các anh Đồng Sĩ Nguyên, Hoàng Minh Thảo đêm ngày lo đủ đạn dược, nhiên liệu, lương thực, thuốc men cho bộ đội hành quân. Anh Phùng Thế Tài, Phó Tổng Tham mưu trưởng, luôn có mặt trên các đỉnh đèo Tây Nguyên, đôn đốc bộ đội đi nhanh, đến đủ.

Từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1975, Đoàn vận tải Trường Sơn vận chuyển vào Nam Bộ 11 vạn 5 nghìn quân và 9 vạn tấn hàng (trong đó có 37.000 tấn vũ khí, 9.000 tấn xăng dầu). Riêng trong những ngày “chuẩn bị nước rút” từ ngày 5 đến 26-4, vừa khai thác vừa vận chuyển, ta đã đưa vào chiến trường 10.100 tấn đạn, 2.300 tấn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, 2.600 tấn xăng dầu. Nhiều trạm sửa chữa ôtô, sửa chữa pháo và tăng được bố trí dọc đường, phục vụ cơ động của chiến dịch.

Ở Khu V, Khu ủy và Bộ Tư lệnh quân khu dưới sự lãnh đạo của anh Võ Chí Công và anh Chu Huy Mân, mặc dù đang phải tiếp quản các tỉnh, thành phố, ổn định đời sống cho hàng triệu nhân dân vùng mới giải phóng, vẫn đặt lên hàng đầu nhiệm vụ vận chuyển chi viện cho phía trước. Một đoàn xe vận tải hơn một trăm chiếc do anh Võ Thứ, Phó Tư lệnh quân khu trực tiếp chỉ huy, mang đạn pháo 130mm hành quân không nghỉ vào tới B2.

Bảo đảm hậu cần để thực hiện phương châm “thần tốc” trong điều kiện của ta lúc này không phải là chuyện dễ. Đường sá sụt lở, cầu cống bị phá hỏng, địch ở dọc, đường, địch ngoài biển ra sức ngăn chặn, thời tiết khắc nghiệt, mưa gió đầu mùa. Phải vượt qua tất cả, bằng sức mạnh của chiến tranh toàn dân, của lòng dũng cảm và trí thông minh, sáng tạo. Nhân dân vùng mới giải phóng ủng hộ hết mình. Chỉ cần một mảnh giấy có chữ ký và con dấu đỏ của ủy ban quân quản là có thể huy động được hàng chục, hàng trăm xe tải và cả lái xe chuyển bộ đội, vũ khí, đạn dược ra phía trước.

Trên đường hành quân, có đơn vị do không nắm được tình hình, đã báo cáo về Bộ Tổng tư lệnh là bộ đội thiếu gạo. Lo lắng tốc độ hành quân có thể bị ảnh hưởng, Thường trực Quân ủy Trung ương dành gần một ngày bàn cách giải quyết. Sau khi kiểm tra lại, anh Hoàng Văn Thái báo cáo gạo không thiếu, các kho đã được bố trí ở dọc đường và điện ngay cho các đơn vị hành quân, nói rõ ở Cam Ranh đã có từ hai đến ba nghìn tấn gạo, xăng dầu cũng đã có ở Quy Nhơn, Nha Trang và Cam Ranh.

Trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh, nổi lên tác dụng to lớn của hậu cần tại chỗ. Ở miền Nam, được sự hỗ trợ tích cực của anh Đinh Đức Thiện, hậu cần Miền do anh Bùi Phùng chỉ huy đã huy động mọi lực lượng vận chuyển vũ khí vào các kho, trạm của chiến dịch, tập trung sửa chữa xe máy, mở đường, bắc cầu. Trục đường 14 từ Đồng Xoài đi Cây Gáo, Bến Bầu được gấp rút thi công. Các đoàn quân hậu cần ở các hướng củng cố và mở rộng tuyến đường chiến dịch với tổng chiều dài hơn 3.000 km. Đặc biệt, trong những ngày hạ tuần tháng 4, hậu cần Miền đã đưa 10.000 cán bộ, chiến sĩ từ tuyến sau lên thành lập 8 tiểu đoàn cơ động, huy động gần 4.000 xe vận tải, hơn 600 thuyền máy, canô, hàng nghìn xe đạp thồ và hơn 60 nghìn dân công hoả tuyến, lập 15 bệnh viện dã chiến, 17 đội điều trị với tổng số 10 nghìn giường, phục vụ bộ đội tiến công Sài Gòn - Gia Định.

Lúc này, việc vận chuyển đạn dược và xăng dầu đến ngay các cửa ngõ vào Sài Gòn còn là một vấn đề lớn. Ngày 20-4, Quân ủy Trung ương điện khẩn cho Bộ Tư lệnh 559:

“… Ưu tiên vận chuyển đạn dược: đạn 130mm, 100mm, Đ74, ĐKZ 75 và ĐKZ 82, đạn cối 120mm; pháo 85mm, lựu 122mm. Ưu tiên về xăng dầu thì trước hết là madút và dầu mỡ phụ. Chậm nhất 29-4 có ở Đồng Xoài”.

Trận quyết chiến chiến lược cuối cùng được bảo đảm hậu cần, kỹ thuật mạnh mẽ và hết sức khẩn trương.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp:             
Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010,      
Tr.255-288.                      


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 08:59:50 AM
TỔNG HÀNH DINH
NGÀY 30-4-1975
(1)

Lời Toàn soạn: Vào dịp kỷ niệm 25 năm ngày Giải phóng miền Nam (1975-2000), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sẽ cho ra mắt bạn đọc cuốn hồi ức: “Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Nhân toàn bộ cuốn hồi ức được phát hành, được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi xin trích một đoạn trong chương IX mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”, đoạn viết về những động thái diễn ra tại Tổng hành dinh trong ngày 30-4-1975.


Ngày 30-4-1975.

Gần ba mươi năm qua, mà ngày lịch sử ấy vẫn hiện lên đậm nét trong ký ức, như mới hôm nào.

“Nhà con rồng” hôm nay hình như rạng rỡ hơn trong gió xuân ấm áp. Ngôi nhà cũ, thềm sân rộng và cả bốn con rồng đá chầu ở bậc lên xuống như tươi tắn hơn mọi ngày. Những cây ngọc lan tán lá sum suê, toả hương thơm ngát.

Sớm hơn thường lệ, tôi ngồi vào bàn làm việc ở Sở chỉ huy. Trên tấm bản đồ ở mặt bàn, các mũi tên đỏ đã tiến vào trung tâm thành phố. Tôi phác hoạ trong đầu một chương trình cho ngày hôm ấy, với bao nhiêu công việc phái làm: hội ý Bộ Chính trị, nắm thêm phản ứng của Mỹ, dự kiến các hoạt động quân sự, chính trị trong trường hợp chưa dứt điểm được ngay, chỉ đạo tác chiến và nổi dậy ở phần đất còn lại sau khi Sài Gòn giải phóng, điện động viên bộ đội, nhắc nhở chấp hành nghiêm các chính sách vào thành.

Bất giác, tôi nhớ lại ngày toàn thắng ở Điện Biên Phủ, ngày 7-5-1954. Lẽ tất nhiên ở đây có rất nhiều điểm khác. Thế nhưng, cũng cái không khí phấn khởi sôi nổi ở Sở chỉ huy, cũng những giờ phút nao nức đón tin vui từ phía trước điện về, những suy nghĩ về công việc ở cuối và sau chiến dịch. Và nhất là cũng cái cảm giác lâng lâng khó tả, vừa khẩn trương, sôi nổi, vừa đàng hoàng, chủ động, vừa lo lắng chờ đợi, vừa vui sướng, tự hào, lúc này không còn là của riêng ai trong ngày toàn thắng của dân tộc.

Anh Ba, anh Trường Chinh, anh Đồng cũng đến đây sớm hơn thường lệ. Các anh khác trong Bộ Chính trị lần lượt đến sau, đông đủ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp theo dõi tình hình chiến trường Sài Gòn - Gia Định, thảo luận công việc và đón tin toàn thắng. Anh Cao Văn Khánh, trực ban ngày hôm ấy, túc trực tại phòng tác chiến, chốc chốc lại sang báo cáo tình hình mới nhất. Các mũi tiến công của quân ta phát triển rất nhanh về hướng trung tâm thành phố. Mục tiêu cuối cùng của chiến dịch đã tới gần, chỉ còn tính từng giờ. Tin đến thường cắt ngang cuộc họp, đang phát biểu phải dừng lại giữa chừng, nhưng mọi người đều vui vẻ chấp nhận.

Anh Khánh báo cáo: Đại sứ Mỹ Matin chuồn khỏi Sài Gòn lúc 4 giờ 15 phút sáng. Hy vọng của ông ta thoả hiệp, đàm phán với “Việt cộng” tan vỡ như bọt xà phòng.

Binh đoàn thọc sâu của Quân đoàn II trong cánh quân phía đông của anh Lê Trọng Tấn đang vượt cầu xa lộ trên sông Đồng Nai, diệt ổ đề kháng của địch ở Thủ Đức phía bắc cầu Rạch Chiếc. Trận địa pháo của ta ở Nhơn Trạch đã bắn hơn 300 viên đạn vào sân bay Tân Sơn Nhất. Các đơn vị đầu tiên đang tiến từ cầu Tân Cảng vào Sài Gòn. Quân đoàn IV tiến về Hố Nai. Địch liều mạng chống giữ. Ta tiêu diệt Hố Nai, đang tiến công sở chỉ huy Quân đoàn III nguỵ, chuẩn bị tiến vào nội đô.

Sư đoàn 10 Quân đoàn III đang tiến vào ngã tư Bảy Hiền.

Quân đoàn I đánh vào Lai Khê, phú Lộc, Lái Thiêu, đang tiến vào Gò Vấp; một cánh quân khác đánh địch từ cầu Bình Phước đến cầu Bình Triệu.

Đoàn 232 đang tiến về hướng Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát nguỵ.

Trên đường số 4, quân ta đã chiếm Thủ Thừa, thị xã Tân An.

Trung đoàn 1 và Trung đoàn 2 Gia Định áp sát bắc sân bay Tân Sơn Nhất, mở hành lang vào ngã tư Bảy Hiền. Bộ đội đặc công chiếm giữ cầu Rạch Chiếc, cầu xa lộ Biên Hoà.

Lực lượng vũ trang Biên Hòa phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng Nhơn Trạch. Thành Tuy Hạ.

Ở vùng ven đô và nội đô, nhân dân nổi dậy phối hợp với bộ đội tiến công địch. Ở nhiều quận, nhiều phường xóm, đồng bào vùng lên chiếm đồn bốt địch, trụ sở nguỵ quyền. Cờ cách mạng đã tung bay ở phường Tây Nhì, quận Phú Nhuận từ trưa ngày 29-4.

Một cảnh tượng điển hình của chiến tranh nhân dân Việt Nam diễn ra hết sức hào hùng. Tiến công kết hợp với nổi dậy. Quân sự, chính trị, binh vận giáp công. Sức mạnh tổng hợp của cách mạng áp đảo nguỵ quân, nguỵ quyền đang tan rã.

Trên hướng đồng bằng sông Cửu Long, các lực lượng vũ trang ta đã ém sẵn quanh các mục tiêu quan trọng. Ở Bạc Liêu, quân ta đã vào thị xã. Ở Sóc Trăng, ta đang tiến công thị xã và sân bay.


(1) Tiêu đề do Tạp chí Xưa & Nay đặt. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 74, tháng 4 năm 2000, tr.4-6. Nội dung bài này được sửa chữa theo cuốn sách: Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng, Sđd (B.T).


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 09:01:06 AM
Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trao đổi về những công việc cấp thiết. Thay mặt Bộ Chính trị, tôi điện vào chiến trường: … “ủy ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh mệnh lệnh đầu tiên. Nội dung:

a) Quân giải phóng tiến vào để giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định, hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam.

b) Quân đội nguỵ quyền Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khí đầu hàng.

c) Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp.

d) Kêu gọi đồng bào đứng dậy, cùng Quân giải phóng đập tan mọi sự chống cự của địch, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài san của nhân dân, hoàn thành công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam thân yêu”.

Vừa theo dõi tin kỹ thuật của Cục 2, tôi vừa liên lạc bằng vô tuyến điện thoại tiếp sức với Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh. Các cánh quân của ta đang tiến rất nhanh. Địch đang trong tình trạng vô cùng nguy khốn.

10 giờ sáng. Đồng chí Nguyễn Thanh, trưởng phòng 70 vào báo cáo tin vừa nhận được: Theo Đài phát thanh Nhật Bản, Quân giải phóng miền Nam có xe tăng dẫn đầu đang tiến vào Sài Gòn. Mấy phút sau, có tin thêm: Dương Văn Minh đề nghị ngừng bắn để thương lượng.

Mọi người cùng nói: “Chỉ có đầu hàng vô điều kiện. Còn gì đâu mà thương lượng?!”.

Tôi viết ngay một bức điện, lệnh cho các cánh quân tiếp tục tiến công. Nội dung bức điện được đọc lên, tất cả đều nhất trí. Cùng lúc đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh cũng điện cho các quân đoàn và đoàn 232 không vì có tin ấy mà dừng lại.

10 giờ 50 phút. Cục 2 báo cáo quân ta đã vào dinh Tổng thống nguỵ. Ngay sau đó, các đài phát thanh phương Tây cũng đưa tin này.

11 giờ 30 phút. Đồng chí Nguyễn Duy Phê, Cục phó Cục cơ yếu mang vào phòng họp một bức điện của anh Lê Trọng Tấn báo cáo: một đơn vị thuộc cánh quân phía đông đã cắm cờ lên dinh Độc Lập.

Mọi người vây quanh tấm bản đồ chiến sự. Tin từ các hướng tới tấp điện về. Năm cánh quân của ta hợp điểm giữa Sài Còn. Quân đoàn II chiếm dinh Tổng thống; Quân đoàn IV chiếm Bộ Quốc phòng, cảng Bạch Đằng và Đài phát thanh; Quân đoàn I chiếm Bộ Tổng Tham mưu và khu vực các bộ tư lệnh các binh chủng; Quân đoàn III chiếm sân bay Tân Sơn Nhất; Đoàn 232 chiếm Biệt khu thủ đô và Tổng nha cảnh sát. Kế hoạch tác chiến chiến dịch Hồ Chí Minh đã hoàn thành thắng lợi.

Trong không khí hân hoan, hội nghị sôi nổi trao đổi về những biện pháp cuối cùng. Tôi điện ngay vào chiến trường thông báo ý kiến của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: “… Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách Tổng thống mà với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân. Đã nhận tin ta cắm cờ lên dinh Độc Lập lúc 11 giờ. Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui”

Bức điện gửi đi lúc 12 giờ 25 phút.

Hội nghị ngừng họp.

Các đồng chí lãnh đạo ra cả ngoài hành lang. Tiếng cười nói rộn ràng, vui vẻ. Phấn khởi, nghẹn ngào, xúc động đến trào nước mắt.

Anh Ba, các anh trong Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ai nấy đều nhớ đến Bác Hồ. Ước mơ nước nhà độc lập, thống nhất mà Bác hằng mong đã thành sự thật, nhưng Người đã đi xa! Đồng bào, chiến sĩ miền Nam không còn được đón Bác vào thăm. Mọi người nghĩ đến biết bao đồng chí, đồng đội, đồng bào đã ngã xuống, không được thấy giờ phút khải hoàn. Ngay trong chiến dịch cuối cùng, bao nhiêu cán bộ, chiến sĩ đã vĩnh viễn ra đi trước ngày toàn thắng.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 09:01:40 AM
Tôi chỉ thị cho Cục Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị điện ngay cho Việt Nam Thông tấn xã và Đài Tiếng nói Việt Nam kịp thời truyền tin thắng lợi, và chuẩn bị viết thông cáo chiến thắng. Chỉ mười lăm phút sau, đài đã ngừng buổi phát thanh thường lệ, phát đi phát lại những dòng tin phấn khởi mà muôn vạn con tim Việt Nam đón đợi: chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Lẫn vào tiếng loa phóng thanh, tiếng reo hò, hoan hô chiến thắng vang dậy khắp phố phường.

12 giờ 50 phút.

Tại Sở chỉ huy, có mặt Thiếu tướng Cao Văn Khánh, Phó Tổng Tham mưu trưởng, Đại tá Lê Hữu Đức, Cục trưởng Cục tác chiến, Đại tá Nguyễn Trọng Yên và Thượng tá Phạm Chí Nhân, Cục trưởng và Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn. Không ai chú ý đến nghỉ ngơi, cơm nước. Được sống trong giờ phút lịch sử của dân tộc, ai cũng muốn được ghi lại hình ảnh kỷ niệm vô giá này Trước tấm bản đồ thành phố Sài Gòn - Gia Định, mọi người đứng dậy, chăm chú nhìn theo hướng tay tôi chỉ. Thượng uý Nguyễn Tiến Trỗ, cán bộ bảo vệ thường xuyên đi với tôi, nhà nhiếp ảnh nghiệp dư với chiếc máy ảnh hiệu Kiép, đã bấm liền ba kiểu ở góc độ thích hợp nhất.

Buổi chiều, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tiếp tục họp.

Mở đầu, Hội nghị nghe qua dây ghi âm tiếng nói đầu hàng của Tổng thống nguỵ Dương Văn Minh: “Tôi là Dương Văn Minh, Tổng thống của chính quyền Sài Gòn. Tôi kêu gọi bỏ vũ khí đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng, giải tán cơ cấu chính quyền từ trung ương đến địa phương và giao quyền cho Chánh phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”.

Tiếp đó là đại biểu Quân giải phóng chấp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh.

Hội nghị tiếp tục thảo luận về công việc sắp tới và nêu lên những vấn đề sẽ bàn trong cuộc họp Bộ Chính trị ngày 3-5, chuẩn bị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp hội nghị toàn thể.

Gần cuối buổi họp, mọi người nghe đọc hai bức điện của các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng vừa nhận được, trong đó các anh nói rõ: Dương Văn Minh đã đầu hàng, các cánh quân của ta tiếp tục phát triển theo kế hoạch. Ta kêu gọi quân địch nộp vũ khí… Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long sôi sục nổi dậy, lật đổ nguỵ quyền, lập chính quyền cách mạng.

Hội nghị nhất trí gửi ra phía trước bức điện khen: “… Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Sài Gòn - Gia Định, khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên thuộc các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội đặc biệt tinh nhuệ, dân quân tự vệ đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập chiến công chói lọi, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc nguỵ quyền Sài Gòn phải đầu hàng không điều kiện, giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định, đưa chiến dịch mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng.

Toàn thể các đồng chí hãy nêu cao tinh thần quyết thắng, cùng đồng bào tiếp tục tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu của Tổ quốc”(1).

Các anh trong Bộ Chính trị ra về. Các đồng chí trong Thường trực Quân ủy ngồi lại trao đổi, chuẩn bị cho cuộc họp của Quân ủy Trung ương dự định tiến hành vào ngày 2-5. Tôi nhắc thêm một số công tác cần chú ý làm thật tốt, nhất là việc quản lý vùng mới giải phóng, đặc biệt các thành phố lớn, vừa xây dựng chính quyền cách mạng vừa truy quét tàn binh, bắt giữ bọn phản động đầu sỏ, giữ vững trật tự trị an, bảo vệ tài sản, tính mạng của dân và tài sản công cộng, ổn định đời sống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải là một cán bộ dân vận, biết phát động nhân dân cùng với bộ đội và các lực lượng cách mạng làm chủ địa bàn. Tôi cũng lưu ý Bộ Tổng Tham mưu giải quyết số quân địch ở đồng bằng sông Cửu Long và các đảo Côn Sơn, Phú Quốc, đón anh chị em tù chính trị trở về. Việc xây dựng và điều chỉnh lực lượng trong điều kiện đất nước thống nhất và số lượng rất lớn trang bị kỹ thuật của địch vừa thu được cũng phải khẩn trương nghiên cứu đề xuất với Bộ Chính trị và Quân ủy.


(1) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Sđd, tr.395.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Một, 2011, 09:02:08 AM
Mặt trời đã khuất bóng sau rặng cây xà cừ trên đường Hoàng Diệu. Hà Nội đã lên đèn.

Còn lại một mình trong phòng làm việc với niềm vui náo nức, mà sao nước mắt tôi cứ trào ra.

“Giá như còn Bác…”.

Tư tưởng cách mạng và tư tưởng quân sự của Bác đã mang về thắng lợi trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Câu thơ xuân “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” đã vạch đường đi nước bước để có thắng lợi hôm nay.

Tôi lên xe đi một vòng quanh Hà Nội. Cả một rừng cờ hoa dậy lên tự lúc nào. Người đi chật phố, chật đường, vui như trảy hội. Đêm nay, Thủ đô đốt pháo hoa mừng toàn thắng. Đêm nay, Hà Nội, cả nước vui với Sài Gòn, vui với miền Nam.

Trở lại cửa tây, tôi vào Sở chỉ huy tiếp tục làm việc.

Hình ảnh các anh lãnh đạo, chỉ huy bộ đội ở chiến trường lúc này hiện về rõ nét. Chắc các anh đã nhiều đêm không ngủ. Chắc các anh cũng hân hoan, xúc động như chúng tôi ở ngoài này. Dưới sự chỉ huy của các anh, quân ta đã “tiến vào Sài Gòn!” ca vang câu hát: “Đồng bào ơi, ta đã về đây” của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, như ngày nào bộ đội ta từ năm cửa ô tiến về giải phóng Thủ đô Hà Nội, ca vang bài hát của nhạc sĩ Văn Cao.

Trong điện gửi anh Văn Tiến Dũng và các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, thay mặt Quân ủy Trung ương, tôi tuyên dương công trạng các lực lượng vũ trang ta đã cùng đồng bào Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng Sài Gòn - Gia Định, giành thắng lợi vang dội, làm nức lòng quân và dân cả nước và bè bạn năm châu.

Một khuôn mặt trìu mến, thân quen chợt hiện lên trong tôi: Trung tướng Lê Trọng Tấn, người chỉ huy cánh quân đầu tiên tiến vào dinh Tổng thống nguỵ quyền. Tôi viết ngay một bức điện vượt ra ngoài khuôn phép thông thường về quân sự: “18 giờ 30 phút. Anh Tấn ơi! Làm ăn tốt quá! Phấn khởi quá! Chúc các anh rất khoẻ và chuyển lời mừng chiến thắng của mình cho các tướng trong đó. Ký tên: Văn”.

Sau này được biết: Khi nghe báo cáo quân ta đã chiếm dinh Độc Lập, Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng, cả Sở chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh reo mừng trong niềm vui chiến thắng. Không còn là chuyện bất ngờ mà ai nấy đều giàn giụa nước mắt, siết chặt tay nhau, phấn khởi, tự hào. Các anh Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng xúc động ôm hôn mọi người. Anh Đinh Đức Thiện, vui tính là thế, mà giờ lại là người khóc ra tiếng to nhất. Anh Trần Văn Trà, đôi mắt đỏ hoe, nghẹn ngào sung sướng. Riêng anh Phạm Hùng, mở phanh chiếc áo bà ba, vừa cười to vừa bình luận sảng khoái, vừa ra lệnh chuẩn bị tiếp quản Sài Gòn.

Mấy ngày sau, tôi cùng anh Ba vào thăm miền Nam hoàn toàn giải phóng. Quên sao được niềm vui mừng phấn khởi khi đặt chân trở lại trên thành phố mang tên Bác, xúc cảm trước cảnh hân hoan mừng chiến thắng của đồng bào, đồng chí trên phố phường còn nguyên vẹn, tưởng như được đón Bác trở về từ nơi Người đã ra đi.

Chúng tôi về thăm các cơ sở cách mạng ở Sài Gòn, Biên Hoà, Cần Thơ, Rạch Giá, những chiếc nôi đã nuôi dưỡng, chở che cho bao cán bộ kiên trung đi làm cách mạng không hẹn có ngày về. Vui mừng, xúc động, anh Ba giới thiệu các Ba, các Má đã nuôi anh những ngày hoạt động bí mật trong lòng địch. Trước cảnh cũ người xưa, tôi bồi hồi nhớ lại những lần vào Nam thực hiện các nhiệm vụ cách mạng được giao. Năm 1929, với tư cách phái viên của Tổng bộ Tân Việt và nhóm cộng sản trong Tân Việt, tôi đến Sài Gòn với nhiệm vụ chuyển kỳ bộ Tân Việt sang hàng ngũ cộng sản. Sau đó, năm 1935, tôi lại vào gặp nhóm đảng viên hoạt động nửa công khai, nhận tài liệu của Đông Dương Đại hội mang ra Hà Nội. Tìm đến các cơ sở cũ thì hầu hết đã không còn nữa. Nhiều ân nhân của cách mạng không còn được thấy ngày khải hoàn của dân tộc.

Tiếp đó, tôi đến thăm các binh đoàn chủ lực, các đơn vị đặc công, biệt động, các đơn vị bộ đội địa phương. Những “Anh bộ đội Cụ Hồ” vừa làm nên kỳ tích, nhưng hết sức gian dị, thân tình. Tôi khen ngợi chiến công của cán bộ, chiến sĩ, lòng bùi ngùi thương tiếc bao đồng chí, đồng đội vừa ngã xuống để Tổ quốc trường tồn.

Tôi cũng đã đến quan sát Bộ Tổng Tham mưu quân đội nguỵ. Tại phòng làm việc của Tổng Tham mưu trưởng, tôi chú ý đến tờ lịch ngày 28 tháng 4 còn bóc dở. Trong phòng triển lãm vũ khí, nhiều loại vũ khí trang bị hiện đại đều được trưng bày. Trên một tấm bản đồ Đông Dương chi chít những dấu chấm xanh, đỏ, đánh dấu những nơi mà vũ khí, trang bị điện tử phát hiện các căn cứ của ta, nhất là trên đường vận chuyển chiến lược Trường Sơn. Cảm tưởng sâu sắc nhất của tôi là: vũ khí kỹ thuật Mỹ dù hiện đại đến đâu cũng không thể cứu kẻ thù khỏi thất bại. Quyết định thắng lợi là con người Việt Nam yêu nước, dũng cảm, thông minh.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Một, 2011, 07:47:43 AM
CUỘC KHÁNG CHIẾN CỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
THẮNG LỢI VĨ ĐẠI, BÀI HỌC LỊCH SỬ
(1)

“Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những chiến công chói lọi nhất, một biểu trưng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế và có tính thời đại sâu sắc”.

Trong lịch sử chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam đã đối diện với những thách thức ghê gớm: một nghìn năm Bắc thuộc; một nghìn năm bảo vệ độc lập chống lại các triều đại phong kiến phương Bắc, đặc biệt là ba lần chống quân Nguyên - Mông - đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới trong thế kỷ XIII; gần một trăm năm chống ách thống trị thực dân và chiến tranh xâm lược của đế quốc Pháp và hai mươi mốt năm chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc ta. Chúng ta đã phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất, giàu có nhất, tàn bạo, nham hiểm và hiếu chiến nhất. Cuộc chiến tranh kéo dài qua năm đời tổng thống Mỹ với một tương quan lực lượng chênh lệch nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân ta về phương thức sản xuất và tiềm lực kinh tế quân sự.

Việt Nam trở thành tiêu điểm của một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới, là nơi đọ sức điển hình giữa tiến bộ và phản động, giữa chính nghĩa và phi nghĩa trong cuộc đấu tranh của nhân loại vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhìn thấy âm mưu can thiệp đen tối của Mỹ từ cuối cuộc chiến tranh Đông Dương. Để tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ Tơruman. Trên chiến trường Điện Biên Phủ còn chưa tan mùi thuốc súng, Người đã dặn “Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bắt đầu”, “Chúng ta còn phải đáy Mỹ!”.

Tháng 7-1954, tại Hội nghị Trung ương lần thứ sáu họp trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết mấy ngày, Đảng ta đã xác định: “Đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Trung ương”.

Kế thừa những thành quả của cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dân tộc ta bước vào một cuộc kháng chiến chống Mỹ, trở thành hậu phương lớn cho tiền tuyến miền Nam. Đội ngũ lãnh đạo Đảng và quân đội ta đã dày dạn kinh nghiệm chỉ đạo kháng chiến và chiến tranh cách mạng. Quân và dân ta trong cả nước đã trải qua thử thách và trưởng thành nhiều mặt sau 9 năm chống Mỹ trường kỳ.

Bác Hồ và Đảng ta đã xác định đúng đắn đường lối cách mạng trong giai đoạn mới: tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng ở hai niềm nhằm mục tiêu chung là chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc; chỉ rõ mối quan hệ chiến lược giữa hai miền: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc để tạo sức mạnh giải phóng miền Nam, đẩy mạnh đấu tranh cách mạng ở miền Nam là để giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc; miền Bắc có vai trò quyết định nhất, miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp với sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. đó cũng là ý chí mọi người con Việt Nam: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi cói thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Đảng ta đã kết hợp và phát huy sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, xây dựng liên minh chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương, đoàn kết với các trào lưu cách mạng trên thế giới, với Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, hình thành và phát triển một mặt trận rộng lớn của nhân loại yêu chuộc hòa bình và công lý trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ, đoàn kết ủng hộ Việt Nam chống chiến tranh xâm lược.

Bác Hồ và Đảng ta đã xây dựng cho toàn quân, toàn dân ta từ Nam chí Bắc “quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, trên cơ sở truyền thống quật cường bất khuất, quyết thắng mọi kẻ thù xâm lược của dân tộc Việt Nam.

Quyết đánh và biết đánh, anh dũng và thông minh, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và năng lực sáng tạo là bản lính và trí tuệ Việt Nam, là sức sống mãnh liệt của dân tộc để vượt qua thử thách lịch sử này.


(1) Bài viết cho Hội thảo khoa học: Đại thắng mùa Xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam do Bộ Quốc phòng, Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương tổ chức ngày 14 và 15-4-2005, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 234, tháng 4 năm 2005, tr.7-13, 37.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Một, 2011, 07:48:14 AM
Quyết đánh và biết đánh là quá tình sáng tạo, sáng tạo của lãnh đạo và sáng tạo của quần chúng trên cơ sở đi vào thực tiễn chiến đấu, phát hiện và nắm vững quy lụật thực tiễn cách mạng và chiến tranh cách mạng, biết địch biết ta, đánh giá đúng tương quan lực lượng thực tế hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch, tập trung đánh đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh, kiên trì giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi cuối cùng.

Dưới ánh sáng “Đề cương cách mạng miền Nam” của đồng chí Lê Duẩn năm 1956, đặc biệt là Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng năm 1959, đồng bào miền Nam anh dũng đã tự lực vượt qua thời kỳ đen tối, vùng lên khởi nghĩa từng phần; làm tan rã bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền ở cơ sở, giành lại phần lớn nông thôn.

Cao trào Đồng khởi vĩ đại đã đưa cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công, vô hiệu hóa chế độ thống trị độc tài thực dân kiểu mới do Mỹ dựng lên.

Năm 1960, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời tập hợp ý chí và sức mạnh to lớn của mọi tầng lớn nhân dân vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng.

Năm 1961, Bộ Chính trị quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam do đồng chí Nguyễn Văn Linh là Bí thư, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên toàn miền Nam, thúc đẩy cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn mới.

Trước sự phát triển của cách mạng miền Nam, Đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, một hình thức trong chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” dùng để đối phó lại trào lưu cách mạng trên thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Đánh bại “chiến tranh đặc biệt” là một quá trình phát triển sáng tạo từ đấu tranh chính trị, khởi nghĩa từng phần lên chiến tranh cách mạng. Với phương châm “Hai chân, ba mũi, ba vùng” tổng kết từ thực tiễn, quân và dân miền Nam đã đẩy mạnh chiến tranh nhân dân, bẻ gãy các cuộc càn quét của quân ngụy, phá rã hệ thống ấp chiến lược, đẩy mạnh đấu tranh chính trị và binh vận ở nông thôn và thành thị, từng bước phát triển đấu tranh vũ trang.

Năm 1963, thắng lợi vang dội trong trận chống càn tại Ấp Bắc đã chứng minh khả năng đánh thắng quân ngụy có cố vấn Mỹ giúp bằng chiến tranh du kích. Các chiến dịch tiếp theo Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài, tiêu diệt từng tiểu đoàn đến chiến đoàn quân ngụy đánh dấu sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, Mỹ buộc phải thay đổi chế độ ngụy quyền, quyết định chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”.

Năm 1965, bằng quyết định đưa nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh tại một nưoi các Mỹ nửa vòng trái đất, tiến hành chiến lược “chiến tranh cục bộ” với sự tham chiến trực tiếp trên quy mô lướn của Lục quân, Hải quân và Không quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam, phát động cuộc “chiến tranh phá hoại” ác liệt bằng không quân và hải quân ra miền Bắc Việt Nam, chính quyền Giônxơn đặt mục tiêu đầy tham vọng là đập tan ý chí giải phóng và quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam, thiết lập tiền đồ thực dân mới và ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á, chặn đứng phong trào giải phóng dân tộc trên quy mô toàn cầu.

Cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỷ bắt đầu.

Dân tộc ta đứng trước một thách thức chưa từng có trong lịch sử.

Bác Hồ và Đảng ta đã đánh giá tình hình cục diện mới một một cách bình tĩnh, sáng suốt, tạo sự nhất trí cao độ trong toàn Đảng, toàn quân, toan dân quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Năm 1966, tại “Hội nghị Diên Hồng của thời đại Hồ Chí Minh”, tinh thần “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” của Cách mạng Tháng Tám “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của kháng chiến chống Pháp đã biến thành lời Hịch “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”.

Trong hoàn cảnh khó khăn, ác liệt, hiểm nghèo, dân tộc ta đã tỏ rõ bản lính quyết đánh và biết đánh. Cả nước đánh Mỹ trong cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Đồng bào và chiến sĩ miền Nam “bám thắt lưng Mỹ mà đánh”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Trên miền Bắc, quân dân ta “Nhằm thẳng quân thù mà bắn”, hậu phương lớn bảo đảm “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, các thế hệ nối tiếp nhau “xẻ dọc trường Sơn đi cứu nước”.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Một, 2011, 07:49:19 AM
Các trận đánh ở Núi Thành, Vạn Tường, Plâyme, Bầu Bàng là những cuộc đọ sức đầu tiên làm lộ những điểm yếu cụ thể của quân viễn chinh Mỹ. Trên miền Bắc, chúng ta đã đánh trả quyết liệt không quân và hải quân Mỹ, bắn rơi máy bay hiện đại, bắt sống phi công Mỹ. Dưới mưa bom bão đạn, sự chi viện chiến lược cho miền Nam vẫn được tăng cường từng ngày qua tuyến vận tải Trướng Sơn và những đoàn tàu không số trên biển Đông.

Đế quốc Mỹ đã huy động vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một khối lượng bom đạn, vật chất kỹ thuật chưa từng có trên một địa bàn hẹp; sử dụng mọi loại vũ khí hiện đại và dã man nhất trừ bom nguyên tử; đưa số quân Mỹ vào miền Nam lên tới hơn nửa triệu quân với một lực lượng lớn hải quân, không quân chiến lược, chiến thuật, 7 vạn rưỡi quân các nước theo Mỹ và hơn một triệu quân ngụy, một quân số kỷ lục cho cuộc chiến tranh cục bộ. Chính quyền Mỹ đã thực hiện mọi chiến lược, chiến thuật về chính trị, quân sự, ngoại giao, dùng những thủ đoạn chiến tranh tàn bạo nhất; bao vây phong tỏa, khủng bố toàn diện, tàn phá kinh tế, triệt hạ làng xóm và thành phố, tiêu diệt con người, hủy diệt môi trường thiên nhiên… Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã đưa ra các chiến lược gia, các tướng lĩnh bậc nhất của họ để đấu trí với ta.

Trong tính toán chiến lược của đế quốc Mỹ, với sự huy động tiềm lực nhân lực và vật chất khổng lồ như vậy, sau hai hoặc ba mùa khô chúng sẽ đánh gãy xương sống quân chủ lực Việt cộng, tiêu diệt Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, tàn phá và phong tỏa miền Bắc, cắt đứt đường Hồ Chí Minh, găn chặn sự chi viện Bắc Nam, làm lung lay ý chí kháng chiến của chúng ta, áp đặt lại chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam.

Trả qua hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 19t5-1966 và 1966-1967 với những cuộc hành quân lớn như Attenbôrô Gianxơnxiti và quân Mỹ không những không diệt được Quân giải phóng, không bắt được cơ quan đầu não kháng chiến, ngược lại phải chịu những tổn thất nặng nề.

Trên mặt trận Tây Nguyên và Quảng Trị, chúng ta đã giành thắng lợi áp đảo trong những cuộc đối đầu quy mô và ác liệt giữa các đơn vị chủ lực ta và các sư đoàn chiến đấu tinh nhuệ của quân viễn chinh Mỹ, có ưu thế tuyệt đối về khả năng cơ động đường không, hỏa lực phi pháo và bảo đảm hậu cần. Trong các chiến dịch Sa Thầy năm 1966, Đăk Tô năm 1967, A Sầu - A Lưới năm 1969, ta đã hạn chế được chỗ mạnh của quân Mỹ trên chiến trường rừng núi, dụ địch vào bẫy chiến dịch, vận dụng chiến thuật “vận động tấn công kết hợp chốt” giáng cho địch những đòn tiêu diệt bất ngờ nhất. Đây là sự phát triển mới của chiến lược quân sự, của nghệ thuật chỉ huy chiến dịch, ”lấy ít thắng nhiều, lấ yếu thắng mạnh” trong chiến tranh hiện đại.

Đến mùa khô thứ ba, khi Mỹ chưa kịp ra tay và tập trung chú ý vào căn cứ Khe Sanh đang bị vây hãm thì cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 nổ ra, đồng loạt đánh vào tất cả các đô thị miền Nam. Đây là đòn chiến lược bất ngờ làm rung chuyển toàn nước Mỹ. Tướng Mỹ Oétmôlen bị cách chức. Bộ trưởng Quốc phòng MácNamara từ chức. Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố đơn phương ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20, chấp nhận vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari,

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân là một sáng tạo quân sự độc đáo, tạo ra bước ngoặt cơ bản làm thay đổi cục diện chiến tranh, mở ra quá trình “xuống thang chiến tranh” của đế quốc Mỹ. Chúng ta đã đánh bại một bước ý chí xâm lược của Mỹ trong lúc quân Mỹ đông nhất, mạnh nhất và những cố gắng chiến tranh cao nhất. Chiến lược “chiến tranh cục bộ” bị phá sản, chính quyền Mỹ phải phi Mỹ hóa” - “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Chống lại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” là cuộc đọ sức dai dẳng và quyết liệt trong một giai đoạn rất khó khăn của cuộc kháng chiến. Địch dùng quân ngụy được hỏa lực Mỹ yểm trợ xâm lược Campuchia, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương, tăng cường cố gắng “bình định” miền Nam, khủng bố ác liệt các cơ sở cách mạng bộc lộ trong tổng tiến công và nổi dậy năm 1968. Sát cánh cùng nhân dân hai nước Lào và Campuchia anh em, tăng cường sự chi viện từ miền Bắc vào Nam, chúng ta đã từng bước khôi phục lại cơ sở chiến tranh nhân dân ở những nơi bị suy yếu, giành lại chỗ đứng của quân chủ lực ở nhiều vùng nông thôn.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Một, 2011, 07:50:45 AM
Xuân năm 1969, trong thơ chúc mừng năm mới Bác Hồ có câu: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Người đã vạch ra quá trình chiến lược hai bước để tiến tới thắng lợi cuối cùng. Trong câu đầu tiên của Di chúc, Người khẳng định: “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”.

Quân và dân ta đã thực hiện trọng vẹn lời dạy của Bác. Sau khi cùng quân và dân Lào đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở Đường 9 - Nam Lào năm 1971, đầu năm 1972, chúng ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam.

Tháng 12-1972, quân dân ta đã đập tan cuộc tập kích ồ ạt bằng không quân chiến lược B52 của Mỹ, giành thắng lợi quyết định trong trận “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng.

Tháng 1-1973, chính quyền Níchxơn buộc phải ký Hiệp định Hòa binh Pari, rút hết quân Mỹ về nước trong khi quân chủ lực ta vẫn ở nguyên tại chỗ, tạo nên một sự thay đổi cơ bản về so sánh lực lượng có lợi cho ta trong 18 năm kháng chiến chống Mỹ.

Trận quyết chiến chiến lược Mùa Xuân 1975 đánh dấu bước phát triển mới của chiến tranh nhân dân, nghệ thuật tổ chức và chỉ đạo những trận then chốt, đặc biệt là nghệ thuật điều hành chiến tranh ở giai đoạn cuối. Sau khi hoàn thành chuẩn bị chiến lược về thế và lực ở cả hai miền Nam - Bắc, chiến dịch giải phóng Tây Nguyên mở đầu bằng chiến thắng Buôn Mê Thuột đã tạo ra sự đột biến trong cuộc diện chiến tranh

Nhạy bén nắm bắt thời cơ và chủ động tạo ra thời cơ. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã liên tục bổ sung quyết tâm chiến lược theo nhịp độ thay đổi nhanh chóng của chiến tranh, thay đổi quyết sách từ kế hoạch giải phóng miền Nam trong vòng hai năm sang kế hoạch thời cơ một năm. Và sau thắng lợi của chiến dịch Huế - Đà Nẵng, hạ quyết tâm cuối cùng giải phóng miền Nam trước mùa mưa năm 1975.

Với khí thế “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa”, chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử được tiến hành với tinh thần quyết chiến và toàn thắng. Cuộc tổng tiến công và nổi dậy sau 55 ngày đêm, với sức mạnh áp đảo về quân sự và chính trị, bằng ba đòn chiến lược then chốt và cuộc tấn công và nổi dậy ở đồng bằng sông Cửu Long, hơn một triệu quân ngụy bị tiêu diệt và tan rã, cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Ngụy quyền sụp đổ. Những tên xâm lược Mỹ cuối cùng phải tháo chạy khỏi đất nước ta. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ la thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ huy ở tầm vĩ mô của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, của Trung ương Cục miền Nam và Bộ Chỉ huy Quân giải phóng, các Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh các chiến trường, Bộ Tư lệnh các chiến dịch và đường Trường Sơn… và thắng lợi của hoạt động chiến đấu ngoan cường và đấu tranh sáng tạo của từng chiến trường, từng đơn vị… không chỉ riêng một chiến trường nào, một bộ phận nào. Thắng lợi này là kết quả của toàn dân tộc trong cuộc đấu trí, đấu lực quyết liệt và lâu dài của nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ.

Vì sao nhân dân Việt Nam, từ không một tấc sắt trong tay, vùng lên bẻ gãy gông xiềng nô lệ, lại đánh thắng “hai đế quốc to” trong một cuộc chiến tranh không cân sức, giành lại non sông đất nước, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội?

Để tìm được câu trả lời cho câu hỏi này, phải nhìn sâu vào chiều dày lịch sử hàng nghìn năm, vào nền văn hóa dân tộc, tìm hiểu truyền thống và di sản quân sự của dân tộc Việt Nam và đường lối cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Một điều hiếm thấy trong lịch sử các bộc tộ người Việt cổ sinh sống trên mảnh đất này đã sớm có một triết lý sống, một nền văn hóa dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất để làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội, cố kết với nhau trong một quốc gia dân tộc thống nhất, chống lại thiên tai và giặc ngoại xâm. Chính nhờ sức mạnh của nền văn hóa ấy mà dưới ách đô hộ hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc, dân tộc ta không bị đồng hóa và đã vùng lên giành lại nền độc lập. Cho đến khi vị tổ Trung hưng đầu tiên là Anh hùng dân tộc Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, thì kỷ nguyên một nghìn năm độc lập tự chủ đã được mở ra. Suốt trong một nghìn năm ấy, dân tộc ta đã đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn nhiều lần, từ Tống, Nguyên đến Minh, Thanh, quân Mông - Nguyên - đội quân xâm lược mạnh nhất thời bấy giờ, đã từng chinh phục nhiều lãnh thổ từ Á sang Âu.

Mỗi khi kẻ thù đụng đến nước ta thì “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước chung sức” bảo vệ xã tắc. Từ Hịch tướng sĩDi chúc Canh Tý đến Bình Ngô đại cáo, một học thuyết quân sự Việt Nam đã hình thành: “Trăm họ là binh”, “Lấy đoản binh chống trường trận”, “Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh”. Học thuyết đó đã dẫn dắt các cuộc đấu tranh giành lại và giữ vững chủ quyền dân tộc với những tư tưởng vượt thời đại: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, “Dập tắt muôn đời chiến tranh”, “Đem lại thái bình muôn thuở”.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, có sự phát triển mới về bản chất so với các thời kỳ lịch sử trước là: giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, đem lại tự do và ấm no hạnh phúc cho toàn dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ là những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng chính nghĩa, thực sự vì dân và do toàn dân tiến hành. Sự thay đổi về bản chất đó là giải phóng sức mạnh tinh thần và vật chất vô cùng to lớn của nhân dân ta trong cách mạng và chiến tranh cách mạng.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Một, 2011, 07:53:27 AM
Trên nền tảng tinh thần quyết chiến thắng, không có gì quý hơn độc lập tự do, tư tưởng cơ bản của học thuyến quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh là tiến hành kháng chiến toàn dân, toàn dân đánh giặc, cả nước đánh giặc. Trong chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Bác Hồ viết: “cuộc kháng chiến toàn dân, vũ trang toàn dân”(1). Người kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chống thực dân pháp: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”(2). Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Người khẳng định: Cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là một cuộc chiến tranh nhân dân. “31 triệu đồng bào ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ cứu nước”(3). Người nêu cao chính sách đại đoàn kết dân tộc: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công đại thành công”(4).

Chúng ta đã kế thừa và phát triển nghệ thuật đánh giặc truyền thống của dân tộc “lấy nhỏ đánh lớn, lấy yếu đánh mạnh”, sáng tạo ra hàng loạt cách đánh thông minh của các lực lượng vũ trang, của mọi quân binh chủng, của từng cán nhân chiến sĩ,… đem ý chí quyết thắng và trí tuệ của ta để chiến thắng mọi chiến lược, chiến thuật và kỹ thuật hiện đại của quân xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần.

Tuy nhiên, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, việc không nắm vững đường lối quân sự của Đảng và tư tưởng quân sự của Bác Hồ, sự nôn nóng chủ quan và không sát thực tiễn, có lúc có nơi đã hạn chế không ít thắng lợi và dẫn đến tổn thất.

Trng thời kỳ đầu chiến tranh, nhiều cán bộ quân sự ở chiến trường đã hiểu sai mối quan hệ giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, chỉ chủ trương đấu tranh chính trị và dân quân du kích, coi nhẹ xây dựng bộ đội chủ lực. Đảng ta không bao giờ có một chiến lược quân sự thuần túy, đồng thời chưa bao giờ hạn chế đấu tranh vũ trang trong phạm vi chiến tranh du kích. Đối mặt với sức mạnh vật chất to lớn của đối phương, chỉ có xây dựng bộ đội chủ lực từ đại đội, tiểu đoàn đến những sư đoàn, quân đoàn mạnh, mới đủ sức đánh những đòn tiểu đoàn lớn quyết định chiến trường. Quan điểm này cũng dẫn đến những cố gắng lớn lao khắc phục tổn thất do địch đánh phá, quyết đưa tuyến vận tải Trường Sơn lên cơ giới hóa, đáp ứng yêu cầu chiến lược của chiến trường miền Nam.

Lại do chủ quan duy ý chí, không nắm vững quy luật của khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng nên đã chủ trương tiến hành tổng khởi nghĩa, bộc lộ toàn bộ cơ sở cách mạng của quần chúng trong chiến tranh ngay khi trên chiến trường còn hơn một triệu quân Mỹ - ngụy và các nước chư hầu. Việc tiếp tục kéo dài tấn công vào các đô thị, chậm chuyển hướng hoạt động về nông thôn trong Mậu Thân 1968 đã gây ra nhiều tổn thất về thế và lực cho cách mạng.

Áp dụng sai tư tưởng cách mạng tiến công trong chiến tranh cũng là bài học phải trả giá bằng xương máu. Tư tưởng chiến lược của chiến tranh cách mạng là tiến công, còn hình thức tác chiến thì có tiến công và phòng ngự cả về chiến lược, chiến dịch và chiến đấu. Việc phủ nhận phòng ngự, thậm chí coi phòng ngự là hữu khuynh đã dẫn đến thương vong cho bộ đội trong một số trận đánh.

Trong suốt quá tình chiến tranh 30 năm, Học thuyết quân sự Việt Nam luôn bám sát mục tiêu cam, xuất phát từ thực tiễn cụ thể của chiến tranh, tìm ra quy luật hành động. Trên cơ sở thế trận và sức mạnh to lớn của chiến tranh nhân dân, chúng ta luôn giữ thế chủ động trên chiến trường trong mọi tình huống, buộc địch phải bị động đối phó theo chiến lược và cách đánh của ta. Kẻ địch muốn đánh nhanh nhưng lại buộc phải kéo dài chiến tranh, muốn tạo nên hình thái chiến tranh có chiến tuyến thì lại phải tác chiến trong thế xen kẽ, cài răng lược, muốn tập trung lực lượng thì lại bị chiến tranh nhân dân của ta căng ra trên các chiến trường… Mọi tính toán chiến lược của bọn xâm lược đều sai lầm. Càng cố gắng, địch càng sa lầy và bất lực, dẫn đến thất bại cuối cùng không thể tránh khỏi trên chiến trường Việt Nam.

Bước vào thế kỷ XXI, cục diện thế giới đang có những biến chuyển to lớn. Bên cạnh nguyện vọng và xu hướng xây dựng một thế giới hòa bình và công bằng của đại đa số các dân tộc và loài người tiến bộ, các siêu cường và các thế lực hiếu chiến cùng các tập đoàn công nghiệp quân sự siêu quốc gia đang muốn thiết lập một trật tự thế giới mới trong điều kiện toàn cầu hóa toàn diện do họ chi phối, đồng thời gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược, kích động ly khai, xung đột sắc tộc và tôn giáo, hoạt động bạo loạn lật đổ, phục vụ những mục tiêu bá quyền, lôi cuốn thế giới vào cuộc chạy đua vũ trang chưa từng có. Môi trường an ninh thế giới biến đổi khôn lường.

Trong tình hình mới hiện nay, đánh giá đúng những thay đổi của tình hình để thích nghi với sự phát triển và vận động của chiến tranh hiện đại, xây dựng và hoàn thiện Học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại mới, chúng ta hoàn toàn tin tưởng và khả năng giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược dù hiện đại đến đâu và bất kể từ đâu tới.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.507.
(2) Sđd, t.4, tr.480.
(3) Sđd, t.12, tr.323.
(4) Sđd, t.10, tr.67.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Một, 2011, 07:54:05 AM
Ngày toàn thắng 30-4-1975 đã đi vào lịch sử như một sự kết thúc trọn vẹn của cuộc chiến tranh mười ngàn ngày. Dân tộc Việt Nam, một dân tộc luôn khát khao hào bình, đã phải trải qua cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ. Với ba mốc son Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Điện Biên Phủ và Mùa Xuân 1975 toàn thắng, dân tộc ta đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cứu nước, đất nước ta sạch bóng quân thù, Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập thống nhất.

Trên phạm vi thế giới, lần đâu tiên trong lịch sử đấu tranh của các dân tộc nhược tiểu, một dân tộc vốn là thuộc địa nửa phong kiến đã vùng lên tự giải phóng và liên tiếp đánh thắng hai cường quốc đế quốc chủ nghĩa chủ yếu bằng sức của chính mình. Cụm từ “Việt Nam - Hồ Chí Minh” đi vào ngôn ngữ của các dân tộc đồng nghĩa với chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, tượng trưng cho lương tri và phẩm giá con người. Thắng lợi của nhân dân ta cũng là thắng lợi của nhân loại tiến bộ yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới.

Thắng lợi của chúng ta khẳng định một chân lý thời đại: “Bất kỳ một quốc gia nào dù có hùng mạnh đến đâu, nếu dùng bạo lực để áp đặt ý chí của mình lên dân tộc khác thì cuối cùng nhất định thất bại”. Điện Biên Phủ, và kết cục chiến tranh trong Mùa xuân 1975 là những Điểm hẹn mà Lịch sử giành cho những cuộc chiến tranh xâm lược.

30 năm sau ngày toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, chúng ta cũng đang tiến tới kỷ niệm 60 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với những thay đổi sâu sắc trên đất nước.

60 năm sau, trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta và nhân dân ta vẫn đang nỗ lực đưa vào cuộc sống những tư tưởng đi trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dựng nước và giữ nước. Ngay sau ngày độc lập và cũng là ngay trước khi dân tộc ta sắp phải bước vào cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối phát triển mối quan hệ hòa bình hữu nghị và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, đồng thời thực hiện hòa những bước đi đầu tiên để thiết lập một nhà nước pháp quyền do dân và vì dân, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, hòa hợp, văn minh và hạng phúc cho nhân dân.

Trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ thực tiễn, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn và sáng tạo, đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng, giành được nhưng thắng lợi to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và đối ngoại, bước đầu nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Tuy nhiên, dù thành tích đạt được to lớn như thế nào, chúng ta cũng phải dũng cảm nhìn vào thực trạng tụt hậu của đất nước ta so với các nước phát triển, khắc phục bằng được những cản trở trên con đường tiến lên. Đó là sự yếu kém về trình độ quản lý và lỏng kẻo kỷ cương, sự lạc hậu về công nghệ và khả năng cạnh trang của nền kinh tế chậm phát triển, tệ quan liêu, tham nhũng và sự tha hóa của một bộ phận cán bộ, đảng viên, những suy thoái đạo đức và tệ nạn xã hội do lối sống hưởng thụ mang lại. các thế hệ ngày nay hãy kế tục truyền thống của cha anh, kiên quyết đấu tranh loại bỏ những trở lực, phấn đấu rèn đức, luyện trí, luyện tài, sống có hoài bão, thi đua lập nghiệp lớn trên mọi lĩnh vực, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa nước ta tiến nhanh và vững, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong ước.

Kỷ niệm toàn thắng 30 tháng Tư, chúng ta càng nhớ đến Bác Hồ kính yêu, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng ta và dân tộc ta, người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân, các đồng chí lãnh đạo, các tướng lĩnh, các cán bộ lãnh đạo chỉ huy các mặt trận, các chiến trường, những người đã có những đóng góp lớn lao cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc mà ngày nay không còn nữa.

Chúng ta vô cùng xúc động nhớ tới biết bao cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng để Tổ quốc ta, nhân dân ta có được ngày nay. Nhân dịp này, tôi thân ái gửi đến các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước cùng toàn thể đồng bào trong cả nước lời thăm hỏi ân cần và lòng biết ơn sâu sắc.

Tôi thân ái gửi tới cán bộ, chiến sĩ, các lực lượng vũ trang, các đồng chí thương bệnh binh, các cựu chiến binh, các nạn nhân chiến tranh, nạn nhân chất độc màu da cam, các cựu chiến binh, nam nữ thanh niên xung phong, dân công, giao liên, lời thăm hỏi ân cần và những tình cảm thân thiết nhất.

Tôi xin gửi tới nhân dân các nước anh em cùng bạn bè quốc tế lời cảm ơn chân thành về sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn và quý báu đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.

Nhân dịp này, chúng ta kêu gọi Mỹ và các nước đã tham gia với Mỹ trong cuộc chiến tranh tội ác ở Việt Nam, hãy thực hiện nghĩa vụ pháp lý và nhân đạo của họ, bằng mọi cách giúp đỡ nhân dân Việt Nam hàn gắn những vết thương và khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng đất nước, giúp những nạn nhân của cuộc chiến tranh trở lại cuộc sống bình yên.

Tôi tin tưởng vững chắc rằng, dưới ngọn cờ tất thắng của Đảng và Bác Hồ vĩ đại, với hoài bão lớn, kiên định trong mọi tình huống, phát huy bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam trong thời đại mới, nhân dân ta đoàn kết, đại đoàn kết, sẽ biến ước mơ thành hiện thức, tiếp tục tiến lên vững chắc trong sự nghiệp đổi mới, làm cho nước ta, một nước anh hùng nhưng còn nghèo sớm khắc phục tình trạng lạc hậu, đuổi kịp và sánh vai các nước tiên tiến trên thế giới, trở thành một nước anh hùng, giàu mạnh, cho toàn dân ta được sống hạnh phúc trong một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Một, 2011, 07:57:24 AM
CỨU QUỐC QUÂN - MỘT BỘ PHẬN HỢP THÀNH
VIỆT NAM GIẢI PHÓNG QUÂN - ĐỘI QUÂN CHỦ LỰC,
ĐỘI QUÂN ĐÀN ANH CỦA CÁCH MẠNG
(1)

Hôm nay, tôi rất xúc động về tham dự cuộc họp mặt các bạn chiến đấu Việt Nam Giải phóng quân, được gặp mặt đồng chí đã tham gia từ ngày thống nhất một bộ phận các lực lượng vũ trang lúc bấy giờ thành Việt Nam Giải phóng quân, bao gồm các đồng chí trong đội du kích Pác Bó, các đội cứu quốc quân I, II, III, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đội quân Nam tiến. Tôi nói: một bộ phận, bởi vì chính đến Hội nghị cán bộ Trung ương toàn quốc họp ở Tân Trào vào tháng 8 năm 1945 thì mới có nghị quyết thống nhất toàn bộ lực lượng vũ trang cả nước, lấy tên là Việt Nam Giải phóng quân.

Để có cuộc họp mặt truyền thống hôm nay là do sáng kiến của đồng chí Thượng tướng Đàm Quang Trung, một đồng chí trung kiên của Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Tôi xin tỏ lời hoan nghênh và cảm ơn đồng chí Quang Trung, các đồng chí trong Ban trù bị đã có nhiều cố gắng để tổ chức cuộc họp mặt hôm nay. Tôi cũng xin xám ơn đồng chí Bí thư và các đồng chí thường vụ tỉnh ủy, đồng chí chủ tịch và các đồng chí thường trực trong Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái, cảm ơn đồng chí Tư lệnh và Bộ Tư lệnh Quân khu I đã giúp đỡ mọi mặt cho tổ chức cuộc họp hôm nay; cảm ơn các cơ quan thông tin báo chí đã đến họp góp phần vào thành công của cuộc gặp gỡ thân mật này. Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí Thượng tướng Lê Khả Phiêu, đại diện Ban Bí thư Trung ương Đảng, với những lời phát biểu giản dị, đã nói lên sự quan tâm của Đảng đối với lực lượng vũ trang nói chung và với các đơn vị tiền thân của lực lượng vũ trang nói riêng.

Đến đây, tôi cứ mải nhìn các anh, các chị. Ừ, sao bây giờ chúng mình tuổi đã cao cả mà vẫn cứ gọi nhau là các anh, các chị, không gọi các cụ ông, cụ bà. Bé Hồng ngày đánh Phai Khắt mới 13 tuổi, nay đã 64 tuổi mà vẫn cứ là bé Hồng. Đây là cách gọi rất hay, hễ đi làm cách mạng là mọi người giữ được tuổi thanh xuân. Nhìn các anh các em, không thể không nhớ lại hình ảnh lúc các anh, các chị còn thẻ thật. Quang Trung chẳng hạn, bấy giờ là một chàng trai rất là thanh niên. Lúc ấy các anh còn rất trẻ, mà bây giờ cũng còn trẻ chứ. Rồi đến các em như chị Châu, chị Quế, chị Loan, chị Nhung, chị Thanh (đã mất), chị Cầm và nhiều chị hôm nay không đến được, lúc bấy giờ là những cô gái trẻ và đẹp, có người có thể đi thi “hoa hậu” cũng được, bây giờ gặp nhau lại, kẻ mất người còn, nhưng năm mươi năm ấy biết bao tình, thương yêu nhau, đùm bọc nhau.

Quang Trung có nhận khuyết điểm là tổ chức cuộc họp mặt chậm, tôi cũng có khuyết điểm. Tôi đã bao lần đi dự các cuộc họp truyền thống của các đơn vị trung đoàn, sư đoàn mấy hôm nữa sắp hợp tuyền thống của 308, của Trung đoàn Thủ đô, tự vệ Thủ đô. Thế mà đối với những đơn vị vũ trang đầu tiên của Cao - Bắc - Lạng thì vẫn chưa tổ chức được cuộc họp. Vì vậy hôm nay chúng ta hoan nghênh bài phát biểu của đồng chí Quang Trung. Khi nghe có cuộc họp này, tôi rất mừng, mong được tiến hành sớm, đến nay cuộc họp đã được thực hiện, như vậy là rất tốt. Giữa lúc tỉnh đang phải giải quyết vụ tai nạn mới xảy ra, nên cũng có sự cân nhắc, nhưng cuối cùng đã quyết định tốt nhất là tiến hành cho được cuộc họp mặt này. Và đến hôm nay, chúng ta với anh Ngô Hai - Bí thư Tỉnh ủy, đếu thấy tổ chức được cuộc họp mặt lần này là rất đúng, rất tốt.

Hôm kia, trước khi lên đây, nhớ đến các đồng chí đã khuất, tôi đã đi thăm mộ anh Phùng Chí Kiên là đồng chí Ủy viên Trung ương tôi được gặp ở Côn Minh và ở Pác Bó, người được Bác hồ cử về chỉ huy đội du kích Bắc Sơn lúc bấy giờ cùng với anh Lương Văn Tri và anh Tân Hồng (anh Chu Văn Tấn); đã đến thăm mộ anh Lê Quảng Ba là người đội trưởng đội vũ trang thoát ly đầu tiên của Cao Bằng, hoạt động ở biên giới từ trước lúc Bác về nước và sau về bảo vệ cơ quan Bác ở Pác Bó. Tôi cũng đã thăm mộ anh Hoàng Sâm, đội trưởng đầu tiên của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Thế là đến nay nhiều anh không còn nữa, nhưng chúng ta luôn nhớ đến các đồng chí, đồng đội thân yêu và những thành tích của các anh mãi mãi còn trong lòng chúng ta. Cũng rất tiếc anh Hoàng Quốc Việt thì đamg mệt nặng nên không đến họp được, tôi đã vào thăm mấy lần. Đôi với Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là đội chủ lực đầu tiên thành lập ngày 22-12-1944 theo chỉ thị của Bác, thì hôm nay Đội trưởng Hoàng Sâm, Chính trị viên Xích Thắng (đồng chí Dương Mạc Thạch) rồi đến cán bộ tham mưu như Hoàng Văn Thái, bây giờ cũng đã ra đi. Các trung đội Cứu quốc quân, hôm nay cũng không còn đông đủ nữa.


(1) Bài nói của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong cuộc họp nặt của Việt Nam Giải phóng quân ngày 15-8-1992, tại Thái Nguyên, đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 355, tháng 5 năm 2010.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Một, 2011, 07:58:24 AM
Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân lúc đó có ba đồng chí tiểu đội trưởng, trong đó có đồng chí Quý người Dao tiền, năm kia (1989) tôi gặp vẫn khỏe mạnh, gần đây thì đã ốm nặng, giá mà đồng chí ấy kể lại được tất cả việc đã làm, có người ghi lại tấm gương của đồng chí cho chúng ta thì thốt bao nhiêu.

Tôi còn nhớ rõ Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân một tuần sau khi thành lập đã được phát triển thành đại đội, rồi ba, rồi bốn trung đội, có đầy đủ đại đội trưởng, chính trị viên đại đội, trung đội trưởng và chính trị viên trung đội, trong đó có một số đồng chí cán bộ trung kiên của Cứu quốc quân tham gia từ đầu. Đáng lẽ đến bây giờ đã có những qiuyển sách ghi lại tên tuổi các cán bộ và chiến sĩ đội du kích Pác Bó, các đơn vị Cứu qốc quân I, II, III là những ai, trung đội vũ trang tuyên truyền là những ai, đại đội đầu tiên trên với ba rồi bốn trung đội phát triển một tuần sau là những ai, bây giờ là chậm, nhưng vẫn còn kịp và phải làm.

Hôm nay gặp nhau tại đây, trước hết, lòng chúng ta bồi hồi nhớ đến Bác Hồ, người lãnh tụ của Đảng, của dân tộc, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Nhớ đến những ngày Bác ở Pác Bó và cảm thấy như Bác vẫn còn ở bên cạnh chúng ta. Chúng ta nhớ đến tất cả các anh chị em đồng chí, đồng đội thân thiết cũng chiến đấu bên nhau gian khổ, ngọt bùi có nhau mà đến nay không còn nữa.

Tôi nhớ lại và suy nghĩ về đội quân của chúng ta từ đâu mà ra. Ở Bắc Sơn, nhân dân nổi dậy, Đảng kịp thời chỉ đạo, đội du kích Bắc Sơn ra đời từ nhân dân. Các đội Cứu quốc quân cũng vậy, cũng từ nhân dân mà ra, chứ không phải do một đội quân cũ nào đó chuyển thành. Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân cũng thế, cũng là do nhân dân mà ra, tất cả là con em nhân dân các dân tộc địa phương. Hầu hết các đồng chí lúc đó là người Tày, người Nùng, người Dao, người Mông, một số là người Kinh. Hơn nữa, chúng ta đều thấy từ đội du kích Pác Bó, đến các đội Cứu quốc quân, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đều thành lập trên vùng đất quê hương của các dân tộc thiểu số, được đồng bào thương yêu đùm bọc, đó là đặc điểm nổi bật của cách mạng nước ta và của lực lượng vũ trang ta mà chúng ta cần nhớ. Nhớ nguồn là phải nhớ cho rõ điều ấy.

Bác Hồ là người lãnh đạo cách mạng Bác đề xuất những chủ trương lớn về tổ chức quân đội. Bác là người con của nhân dân Nghệ - Tĩnh, từ Nghệ - Tĩnh đi khắp đó đây trên thế giới, rồi trở về Cao Bằng cùng với Đảng chủ trì lãnh đạo cách mạng, nhưng dù quê ở đâu thì Bác cũng là từ trong nhân dân mà ra.

Chúng tôi một số cán bộ người Kinh làm việc và chiến đấu bên cạnh nhân dân các dân tộc, được nhân dân đùm bọc như con em của mình, chúng tôi cũng tự thấy mình là người của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, không có phân biệt gì cả.

Như vậy, quân đội ta là một quân đội thực sự từ nhân dân mà ra, một quân đội của dân tộc, của toàn thể cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mà lúc đầu ở Cao - Bắc - Lạng thì chủ yếu là của đồng bào thiểu số. Nói như vậy để chúng ta càng thấy rõ vai trò của căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng.

Chúng ta mãi mãi nhớ ơn đồng bào các dân tộc, các pố, mế, các ví noọng, các cháu nhi đồng đã hết lòng giúp đỡ và phối hợp hoạt động với chúng ta.

Vì là từ trong nhân dân mà ra, nên ngay từ đầu đã được nhân dân nuôi dưỡng, đùm bọc và ủng hộ. Bên cạnh đơn vị bộ đội chủ lực tập trung, còn có cả một lực lượng dân quân du kích tự vệ, cả nam lẫn nữ. Đó là những người dân tự đứng lên cầm súng chiến đấu để giải phóng đất nước. Khi bàn về vũ trang khởi nghĩa, chúng tôi lo là không có vũ khí thì làm thế nào? Bác nói: Các chú không lo, cứ đi vào nhân dân mà vận động và tổ chức quần chúng đi, chú trọng các cháu thanh niên, có dân sẽ có súng. Tư tưởng của Bác Hồ là “Người trước súng sau, có dân thì có tất cả”. Khi ta bắt đầu xây dựng lực lượng vũ trang, thì ta hầu như không có một cây súng nào, mà trong nhân dân cũng không có súng, trừ mấy cây súng kíp, nhưng về sau ta dựa vào nhân dân thì có tất cả. Lúc đó tôi mới 29, 30 tuổi, đến đâu tôi cũng tổ chức thanh niên trước, cả nam lẫn nữ. Từ trong thanh niên tổ chức ra các đội tự vệ, các đội tự vệ chiến đấu, những tổ vũ trang tự túc được súng đạn, rồi mới tổ chức ra các tiểu đội, trung đội. Trong sổ công tác của tôi hồi đó nay xem lại, thấy có ghi: Hăng hái nhất: 1/ Phụ nữ. Đúng như vậy, trong lúc cách mạng và lực lượng vũ trang có nhiều khó khăn nhất, thì chính các chị là người giúp đỡ nhiều nhất. Lúc ấy, ai tiếp tế cho chúng ta nếu địch phát hiện là có thể bị xử bắn, thế mà các chị vẫn rất hăng hái, rất dũng cảm và mưu trí tìm mọi cách tiếp tế cho chúng tôi. Chị Toàn, chị Nga, chị Bạch Lan, chị Phù Dung, chị Xuân Dung, còn nhiều các chị khác nữa hôm nay không có mặt. trong sự giúp đỡ của nhân dân phụ nữ đã góp phần quan trọng.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Một, 2011, 08:00:10 AM
Việc thống nhất Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân thành Việt Nam Giải phóng quân nói lên sự lớn mạnh đoàn kết thống nhất của các lực lượng vũ trang cách mạng trong những ngày tháng lịch sử của cao trào cách mạng 1945. Trước đó đã có đội du kích Pác Bó, Du kích Bắc Sơn, các đội Nam tiến… khi tôi nhận nhiệm vụ đã tổ chức 19 đội xung phong Nam tiến. Tôi có cuộc họp ở Lũng Hoàng với anh Chu Văn Tấn, anh có giới thiệu cho tôi năm đồng chí du kích Bắc Sơn và Cứu quốc quân để tham gia vào đội Nam tiến, sau này phần lớn trở thành đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân như anh Hoàng Thịnh, anh Thái (đã hy sinh ở Nam Bộ), còn anh Hiên hôm nay vẫn còn nhưng hơi mệt. Trong Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân có bốn anh là Cứu quốc quân, trong các đội Nam tiến cũng có. Như vậy là ngay từ lúc đó đã có sự đoàn kết giữa lực lượng vũ trang Cao Bằng với Cứu quốc quân. Sự đoàn kết đó đã được xây dựng từ đầu, nhất là từ ngày tổ chức các đội xung phong Nam tiến. Trong lúc các đội Nam tiến từ Cao Bằng đi xuống thì ở dưới này anh Chu Văn Tấn cũng tổ chức đi lên. Khi mở đường thông qua được núi Phìa Bioóc (nghĩa là núi Đá Hoa, tôi đặt tên là núi Cứu Quốc), ở trên kia xuống có anh Nông Văn Lạc, chị Hựu, anh Đức Xuân; đi xa về phía chợ Đồn có anh Lý Công (anh Quang), anh Lê Thùy, Bảo Ngọc… Chúng ta đi trên triền núi, gặp nhau lần đầu ở xã Nghĩa Tá, tôi đặt tên là xã Thắng Lợi, rồi tiến về phía Nam nữa, gặp anh Tân Hồng ở bản Pìng. Anh Tân Hồng bắn được một con nai, khao chúng ta một bữa có cái giò nai đem nướng, nướng cháy quá thế mà cũng cùng nhau chén hết. Nhớ những chuyện như thế, lúc còn đương gian khổ thì càng thấy thương yêu nhau. Xung phong Nam tiến thành công, tôi trở về gặp Bác Hồ và Tổng bộ Việt Minh tặng một lá cờ “Xung phong Nam tiến thắng lợi”. Nhưng sau đó thực dân Pháp khủng bố trắng, khủng bố ghê gớm, khủng bố từ trên Cao Bằng xuống dưới này, nhưng do có nhân dân ra sức bảo vệ, lực lượng vũ trang đoàn kết thống nhất, nên cách mạng không những tồn tại mà còn tiếp tục phát triển, đường Nam tiến vẫn được giữ vững.

Tháng 4 năm 1945, Trung ương họp Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ dưới sự chủ trì của anh Trường Chinh quyết định thống nhất Cứu quốc quân, các lực lượng vũ trang khác, các chiến khu phía Bắc của Đảng với độ quân chủ lực là Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân thành Việt Nam Giải phóng quân. Làm lễ thống nhất tại Định Biên Thượng, tôi nhận nhiệm vụ Tư lệnh Việt Nam Giải phóng quân, anh Tân Hồng làm Chính trị viên Việt Nam Giải phóng quân. Tôi nhắc lại là đến Hội nghị cán bộ Trung ương ở Tân Trào - thủ đô của Khu Giải phóng thì có nghị quyết thống nhất lực lượng vũ trang trong cả nước, lấy tên là Việt Nam Giải phóng quân. Nghị quyết của Hội nghị đó có nội dung khá đầy đủ về thành công lực lượng vũ trang cả nước.

Hạ tuần tháng 5 năm 1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tân Trào, Khu Giải phóng được lập ra. Trường Quân chính kháng Nhật được thành lập, học viên khóa I là các đồng chí ở các đơn vị chiến đấu, các đồng chí công tác ở địa phương được triệu tập về, có mấy chục đồng chí ở dưới xuôi lên nữa.Bác Hồ nói: Khu Giải phóng là hình ảnh của nước Việt Nam mới sau này. Ở Khu Giải phóng có quân đội, có trường Quân chính kháng Nhật. Đội tuyên truyền Nước Nam Mới, báo Nước Nam mới, báo Quân giải phóng đều xuất bản ở Tân Trào. Các đồng chí làm báo Nước Nam mới với tôi hôm nay cũng có mặt ở đây. Tôi làm chủ nhiệm, chủ bút, tổng biên tập, còn đồng chí Nguyễn Tài thì làm biên tập, in ấn, phát hành. Báo ra được mấy số thì cách mạng thành công, những tư liệu lịch sử này rất quý.

Hôm nay, nhìn lại, thấy thấm thoắt mới đó mà đã gần 50 năm cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi. Chúng ta được sống trong cảnh Tổ quốc được hoàn toàn thống nhất đã gần 20 năm. Lúc đi vào Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, tôi nghĩ rằng đấu tranh vũ trang là rất quyết liệt, mình chắc sẽ nằm lại trên một miền rừng núi nào đó của Cao - Bắc - Lạng; tôi có nói với anh Hoàng Văn Thái, tham mưu trưởng của đơn vị, nếu có xảy ra chuyện gì đối với tôi thì còn anh và các anh, công việc vẫn cứ phải tiếp tục.

Khu Giải phóng thành lập, có cử ra Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu Giải phóng. Khi anh Tân Hồng còn, anh ấy cứ hỏi tôi lịch sử Ủy bàn chỉ huy lâm thời Khu Giải phóng như thế nào? Ủy ban chỉ huy lâm thời này thành lập có năm người, có anh Vũ Anh, anh Phạm Văn Đồng (lúc đó còn ở Cao Bằng), anh Đức Thanh (tức Đàm Minh Viễn - anh ruột Đàm Quang Trung sau này hy sinh ở Buôn Ma Thuột), anh Tân Hồng và tôi. Tôi phụ trách tất cả công việc lúc đầu của Ủy ban. Lịch sử có những biến chuyển mau lẹ; Ủy ban chưa kịp họp phiên nào cả, vì các ủy viên chưa có ai về kịp tới Tân Trào thì tình hình đã thay đổi: Nhật đầu hàng, Đại hội Quốc dân họp. Rồi thời cơ đến, cách mạng thành công. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Và sau đó là cuộc Nam tiến về Hà Nội, rồi lại tiếp tục Nam tiến nữa để tiếp sức cho đồng bào Nam Bộ. Nhân thể nói thêm, quân đội ta là của toàn dân, của toàn dân tộc nên có nhiệm vụ Nam tiến. Con đường Hồ Chí Minh phải nói là bắt nguồn từ Pác Bó, Pác Bó về tân Trào, về Thái Nguyên, về Hà Nội và rồi Nam tiến nữa đến Nam Bộ. Các đồng chí đội viên Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân được vinh dự làm nhiệm vụ Nam tiến. Các đồng chí như Quang Trung, Nam Long, đồng chí Hữu Thành, đồng chí Thu Sơn, đồng chí Đàm Minh Viễn, đều đã tham gia Nam tiến, Riêng Nam Long, Quang Trung đã Nam tiến đến hai lần, lần đầu Nam tiến lúc miền Nam đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp; sau này lại Nam tiến nữa khi đồng bào miền Nam “Thành đồng của Tổ quốc” đứng lên kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Lịch sử của dân tộc ta là như vậy, có quân đội thống nhất và rồi có Nam - Bắc thống nhất. Nam - Bắc thống nhất là nguyện vọng của cả dân tộc, là chân lý không bao giờ thay đổi như Bác Hồ đã nói.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Một, 2011, 08:01:27 AM
Ý nghĩa cuộc họp mặt hôm nay nói lên sự đoàn kết thống nhất của lực lượng vũ trang. Như chúng ta đã biết, lúc đầu ta có các đội du kích ở Bắc Sơn, đội vũ trang Cao Bằng, các đội Cứu quốc quân, các đội Nam tiến, đã thành lập đội quân chủ lực đầu tiên là Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Ngay khi đó lực lượng cách mạng đã có ba thứ quân: đội quân chủ lực, các đội du kích thoát ly hoạt động ở các địa phương, các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu ở các bản mường, các làng xã, rồi đến Hội nghị cán bộ Trung ương họp ở Tân Trào - tôi nhắc lại - thì quyết định tất cả các lực lượng vũ trang từ Nam chí Bắc thống nhất lại thành Việt Nam Giải phóng quân, sau này đổi tên là Vệ quốc đoàn, rồi Quân đội quốc gia, rồi Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Sự đoàn kết thống nhất của Việt Nam Giải phóng quân dẫn đến sự đoàn kết lực lượng vũ trang Trung - Nam - Bắc thành một đội quân thống nhất của cả nước.

Nói đến lịch sử quân đội, tôi lại nhớ đến câu nói của Bác khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Bác nói: “Nó là đội quân chủ lực… là đội quân đàn anh, tuy lúc đầu còn bé nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang, nó sẽ đi từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam chúng ta”.

Đội quân bé nhỏ đó phát triển lên, rồi cùng với các đội quân của cả nước trở thành một đội quân trên một triệu, thực hiện đúng lời tiên đoán tài tình của Bác là đi suốt từ Nam chí Bắc, trên khắp nước Việt Nam của chúng ta.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, cho đến năm 1950 chúng ta đã chiến đấu trong vòng vây: bên kia là Tưởng, ngoài kia là biển và hạm đội của đế quốc, còn ở Lào và Campuchia thì lực lượng cách mạng còn yếu. Quân đội ta lúc đó phải tự lực tự cường, độc lập sáng tạo mà tiến lên với truyền thống yêu nước bất khuất. chiến đấu giành độc lập thống nhất dân tộc, và sau này nói rõ thêm mục tiêu tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Ngay từ ngày đầu cho đến ngày nay, người đảng viên cộng sản bao giờ cũng đi trước, ngay ở trong các lực lượng vũ trang ở Cao - Bắc - Lạng đều đã có tổ chức Đảng. Lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Bác nói: “Chi bộ là hạt nhân lãnh đạo”. Ta đã phát triển Đảng trong quân đội và Đảng đã lãnh đạo quân đội từ đó đến nay. Nói đến sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội khi đó chưa có luật lệ gì, chưa có hiến pháp ghi, song quân đội vẫn tin ở Đảng và chính nhờ có Đảng lãnh đạo mà có mối quan hệ giữa quân đội với nhân dân như máu và thịt. Vừa qua, tôi trở lại thăm Pác Bó, tôi nghĩ lại sao lúc khó khăn như thế, đi với Việt Minh là bị bắn, thế mà đồng bào vẫn tham gia Việt Minh. Đó là thực chất của mối quan hệ giữa Đảng với quân đội, giữa Đảng với nhân dân, đó là mối quan hệ thiêng liêng. Bây giờ chúng ta cũng phải làm sao để mối quan hệ đó ngày càng được củng cố và phát triển.

Cuộc họp mặt hôm nay là cuộc họp mặt Việt Nam Giải phóng quân của những người chiến sĩ đã kiên định đi theo đường lối của Đảng, luôn luôn đoàn kết thống nhất. Thống nhất ý chí, thống nhất hành động là ta có thể vượt qua mọi khó khăn. Gần đây khi đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, có người hỏi tôi: Xin Đại tướng cho biết so với năm 1946 thì như thế nào? Tôi đã nói: Năm 1945, mới thành lập nước Bác Hồ đề ra diệt ba thứ giặc. Diệt giặc dốt thì lúc đó cả nước mới có vài trăm học sinh đại học; bây giờ trường sở không những bình dân học vụ mà từ phổ thông cơ sở đến đại học và trên đại học, cả nền giáo dục đã phát triển khác trước nhiều lắm rồi. Diệt giặc đói, thì bây giờ có nơi này nơi kìa còn có khó khăn, nhưng nước ta đã là nước xuất khẩu gạo. Diệt giặc ngoại xâm thì bây giờ không còn giặc ngoại xâm, nữa, ta đã thắng hai đế quốc to; nhưng vẫn còn cái “giặc” diễn biến hòa bình và cũng còn nguy cơ xâm lược của các thế lực thù địch, như vậy ta phải đề cao cảnh giác bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, nhưng rõ ràng là tiềm lực quốc phòng của ta đã khác trước rất nhiều rồi.

Về đường lối đổi mới, tình hình mọi mặt của đất nước đã có nhiều tiến bộ, nhưng cũng còn những khó khăn. Nếu theo đúng tư tưởng của Bác Hồ, của Đảng, nắm vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đoàn kết các dân tộc, giữ mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân, giữa Đảng với nhân dân, có tinh thần tự lực tự cường, độc lập sáng tạo, thì chúng ta có thể làm được mọi việc.

Đó là lịch sử của quân đội tư từ lúc mới có những tổ chức vũ trang đầu tiên. Nhớ lại tình hình lúc đó, chúng ta càng thêm tin tưởng. Anh Quang Trung vừa nói, tuổi cao nhưng chí khí vẫn hăng hái. Bác Hồ có nói: “Tuổi cao thì chí khí càng cao”. Tôi muốn nói, tuổi tác tuy đã cao, nhưng tâm hồn thì vẫn trẻ. “Vài nươi năm nữa tròn trăm tuổi, tấm lòng cộng sản vẫn thanh xuân”, có đồng chí chúc tôi như vậy. tôi bây giờ làm việc cũng vẫn say sưa hăng hái như trước và tình cảm của tôi đối với các anh các chị cũng vẫn như trước. Hôm nay ta gặp nhau ở đây tuy không được đầy đủ, nhưng thật là quý hóa, thật là vui.

Năm trước, tôi vào Đồng Tháp Mười, có đến thăm nhà một đồng chí đặc công đã 70 tuổi, đồng chí ấy có cái tên là anh Ba Quốc Hội, vì khi được đi học phân viện Nguyễn Ái Quốc nghĩ tên mình phải làm sao có chữ Quốc, nên anh em đặt cho cái tên là Quốc + Hội, và mọi người gọi tên đồng chí ấy là Ba Quốc Hội. Đến nơi, thấy nhà anh đầy ắp thóc; trên tường nhà, trước mái hiên, đắp một hàng chữ nổi: “Gặp nhau được là quý rồi”. Đồng chí ấy nói: bao nhiêu năm nay cứ mong được gặp Đại tướng. Năm nay tôi đã 70 tổi, khi làm đặc công, nghe nói đến Đại tướng mà lo không được gặp, thế mà hôm nay đã được gặp Đại tướng. Cái nguyện vọng lớn nhất của tôi đã đạt được. “Gặp nhau được là quý rồi”. Hôm nay, đến dự cuộc họp mặt này một ngày, các anh các chị còn cho là ít thì giờ quá, nhưng tôi muốn nói với các anh các chi rằng: Năm mươi năm ấy biết bao nhiêu là tình cảm, bây giờ gặp nhau kẻ mất người còn, nhưng tình cả của đồng chí đồng đọi vẫn còn nguyên vẹn, vì vậy chúc các đồng chí dồi dào sức khỏe và chúng ta đều vui mừng vì “Gặp nhau được là quý rồi”.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Một, 2011, 07:03:07 PM
ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN,
NGƯỜI CHỈ HUY KIÊN CƯỜNG, LỖI LẠC,
NGƯỜI BẠN CHIẾN ĐẤU CHÍ THIẾT!
(1)

Đồng chí Lê Trọng Tấn là một vị tướng xuất sắc của quân đội và nhân dân ta. Từ một hội viên cứu quốc của Mặt trận Việt Minh, làm công tác binh vận trong thời kỳ hoạt động bí mật trước Cách mạng Tháng Tám, đồng chí đã trở thành một trong những nhà chỉ huy lỗi lạc trong các cuộc chiến tranh giải phóng và giữ nước của thời đại Hồ Chí Minh.

Sự nghiệp quân sự của đồng chí gắn liền với quá trình xây dựng và chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam, từ một đội quân du kích trở thành một đội chính quy - từ đơn thuần bộ binh trở thành một quân đội gồm nhiều binh chủng và quân chủng. Đồng chí là một trong những Trung đoàn trưởng và Đại đoàn trưởng đầu tiên của quân đội là trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, tham gia từ các chiến dịch nhỏ đến các chiến dịch lớn, góp phần xứng đáng vào các chiến thắng vang dội của quân đội ta ở Biên giới (1950), Hòa Bình (1951), Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953) và Điện Biên Phủ (1954).

Trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, lúc đầu trên cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam rồi Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, cùng với các tướng lĩnh tài ba khác, đồng chí đã góp phần cùng quân và dân ta đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt và chiến lược chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ xâm lược. Tiếp đó, trên cương vị Phó Tổng Tham mưu trưởng, đồng chí liên tục được cử làm Tư lệnh các chiến dịch lớn như Đường 9 - Nam Lào, Cánh Đồng Chum (1971), chiến dịch Trị Thiên (1972), chiến dịch Giải phóng Huế - Đà Nẵng (3-1975), v.v. trở thành một trong những tư lệnh chiến dịch, chỉ huy tác chiến hiệp đồng binh chủng giỏi nhất của quân đội ta.

Khi chỉ huy các đơn vị chiến đấu cũng như làm thủ trưởng cơ quan tham mưu chiến lược, làm Hiệu trưởng trường Sĩ quan Lục quân hay Viện trưởng Viện Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng, đồng chí đã thường xuyên coi trọng công tác tổng kết kinh nghiệm chiến tranh, nghiên cứu khoa học quân sự, kết hợp thực tiễn với lý luận trong việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ. Sau Hiệp định Pari (1973), dưới ánh sáng Nghị quyết 21 của Trung ương, đồng chí đã tham gia các công trình nghên cứu về chống phá bình định, cách đánh chi khu quận lỵ, đánh thành phố, đánh tiêu diệt các sư đoàn ngụy… để thiết thực phục vụ chiến trường. Đồng chí cũng đã cùng lãnh đạo Học viện quân sự cao cấp chỉ đạo học viên làm bài tập về phương án tác chiến chiến dịch ở Tây Nguyên.

Là một người chỉ huy dũng cảm và sáng tạo, mưu lược và quyết đoán, có ý thức trách nhiệm và tổ chức kỷ luật rất cao, trong hoàn cảnh gay go phức tạp như thế nào, đồng chí cũng tìm cách khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Sơn La, hoạt động ở vùng núi rừng Tây Bắc, đồng chí đã tạo một lòng tin tưởng ở đồng bào các dân tộc cùng đồng đội chịu bao gian khổ khó khăn, vừa đánh địch vừa xây dựng cơ sở cách mạng trong quần chúng, thực hiện có hiệu quả phương thức hoạt động vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung theo chỉ thị của Bộ Tổng Tư lệnh.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, theo kế hoạch tác chiến lúc đầu, trong 3 đêm 2 ngày, Đại đoàn 312 phải liên tục đột phá 3 phòng tuyến mạnh của địch từ phía Bắc xuống Mường Thanh. Mặc dù đây là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, nhưng đồng chí vẫn tích cực hoàn thành mọi mặt công tác chuẩn bị cho đến khi có lệnh lui quân để chuyển sang phương thức mới.


(1) Bài viết nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày mất của Đại tướng Lê Trọng Tấn (5-12-1986 - 5-12-1996), đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 34, tháng 12 năm 1996, tr.18-19.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Một, 2011, 07:03:40 PM
Trong trận đánh Cửa Việt năm 1973, trước thái độ chần chừ của một số cán bộ, đồng chí đã có những quyết định kịp thời, quả đoán để giành thắng lợi.

Trong cuộc tiến công Đà Nẵng tháng 3-1975, đồng chí xin cho 5 ngày để chuẩn bị, nhưng khi được lệnh phải mau lẹ chộp lấy thời cơ chiến lược, trong vòng 3 ngày phải đánh chiếm Đà Nẵng, đồng chí đã nghiêm chỉnh hoàn thành đúng thời gian quy định.

Vinh dự lớn lao của đồng chí là đã trực tiếp chỉ huy đánh thắng những trận có tính chất quyết định. Trong hai trận quyết chiến cuối cùng của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đồng chí đều trực tiếp chỉ huy hai binh đoàn cơ động đánh vào trung tâm sào huyệt địch, bắt sống bọn chỉ huy đầu não, góp phần kết thúc chiến tranh.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí đã chỉ huy Đại đoàn 312 đánh thắng trận đầu ở Him Lam. Sau 55 ngày đêm phối hợp chiến đấu cùng các đơn vị bạn, Đại đoàn đã tham gia tổng công kích vào Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, sau khi chỉ huy giải phóng Đà Nẵng, đồng chí được cử làm Tư lệnh cánh quân phía Đông, một cánh quân không nằm trong kế hoạch ban đầu, và là Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tư lệnh, cánh quân này đã thần tốc theo đường ven biển tiến về phía Nam, phá vỡ tuyến phòng thủ từ xa của địch ở Phan Rang, bắt sống tướng địch; tiếp đó, dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh chiến dịch, đã cùng các cánh quân khác của Đại quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn, cắm cờ giải phóng trên Dinh Độc Lập.

Qua hơn 30 năm lăn lộn với các chiến trường, trên nhiều cương vị, đồng chí đã trở thành một vị tướng tài ba, dày dặn, có kinh nghiệm phong phú và bản lĩnh vững vàng cả về chiến thuật, nghệ thuật chiến dịch và chiến lược.

Về đạo đức cách mạng, đồng chí là một đảng viên trung thành tuyệt đối với lợi ích của Đảng, của Quân đội và nhân dân, là một cán bộ trung trực, chí công vô tư, luôn giữ vững phẩm chất cao cả và đạo đức trong sáng. Đồng chí sống với đồng chí đồng đội với cả tấm lòng thủy chung. Là một người chỉ huy nhân hậu, đồng chí rất mực thương yêu cán bộ, chiến sĩ, quan tâm chăm sóc khi ốm đau, rộng lượng nang đỡ khi cán bộ phạm sai lầm, khuyết điểm. Đồng chí đã phấn đấu thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về 6 chuẩn mực của người tướng nên ở đâu cũng được cán bộ và chiến sĩ hết lòng tin yêu, kính trọng.

Đối với toàn quân, đồng chí Lê Trọng Tấn là một người chỉ huy kiên cường lỗi lạc. Đối với riêng tôi, đồng chí làn người bạn chiến đấu thân thiết, là một trong những cán bộ tin cậy nhất để thực hiện những ý đồ chiến lược của Bộ thống soái tối cao.

Đồng chí ra đi đột ngột ở tuổi 72 là một tổn thất lớn của Đảng, của quân đội và nhân dân ta; nhưng đồng chí đã để lại một tấm gương trong sấng và cao đẹp của một người đảng viên trung thành, của một vị tướng có đức, có tài, xông pha trăm trận với bao chiến công chói lọi.

Tôi phát biểu mấy lời này, nói lên lòng quý mến và tiếc thương vô hạn người đồng chí và người bạn chiến đấu chân thành, đã từng sát cánh trong cuộc trường chinh hơn 30 năm vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, đã từng chia xẻ niềm lo lắng khi gặp khó khăn và niềm hân hoan những ngày thắng lợi.

Một lần nữa, tôi nhiệt liệt hoan nghênh Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã có sáng kiến tổ chức những buổi sinh hoạt sử học tưởng niệm các danh nhân, danh tướng nhằm nêu gương tài đức của những người vì nước vì dân, để mọi người học tập, để góp phần giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Một, 2011, 07:05:18 PM
MỘT TÂM GƯƠNG TRUNG KIÊN - TÀI ĐỨC(1)

Tôi hoan nghênh Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cùng Ban Liên lạc truyền thống tổng cục Hậu cần tổ chức buổi sinh hoạt tưởng niệm đồng chí Thượng tướng Đinh Đức Thiện, một đảng viên cộng sản kiên cường đã mưu trí đấu tranh với kẻ địch trong nhà tù đế quốc, một tướng lĩnh tài năng trong hai cuộc kháng chiến, một cán bộ lãnh đạo sắc sảo đối với một số ngành kinh tế quan trọng trong hào bình xây dựng đất nước như gang thép, cơ khí luyện kim, dầu khí…

Đồng chí Đinh Đức thiện là người năng động và sáng tạo, có tinh thần cách mạng tiến công. Nhiệm vụ dù khó khăn đến đâu, đồng chí cũng suy nghĩ tìm mọi biện pháp để khắc phục. Đồng chí dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm về việc làm của mình. Đồng chí đã làm một số việc táo bạo, có người cho làm làm bừa, làm ẩu, nhưng thực ra đồng chí đã suy nghĩ, cân nhắc kỹ mới làm để phục vụ kịp thời cho chiến đấu. Nhiều việc quan trọng đồng chí đề xuất ý kiến, tập trung trí tuệ của cán bộ khoa học kỹ thuật, giải quyết thành công như xây dựng tuyến đường dẫn dầu vượt núi, băng đèo bằng các bộ đường ống dã chiến sử dụng trên địa hình trung bình, như tổ chức đưa xe tăng vào các chiến trường xa, như sản xuất xe và canô phá bom từ trường địch rải trên các tuyến đường sông, đường bộ.

Đồng chí Đinh Đức Thiện đã nhận thức được hướng phát triển của chiến tranh, vai trò của hậu phương đối với tiền tuyến, tầm quan trọng của kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Khi công tác ở ngành kinh tế, đồng chí chăm lo đến việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho quốc phòng, cho quân đội. Khi công tác trong quân đội, đồng chí quan tâm đến việc tham gia xây dựng hậu phương, tham gia xây dựng vùng giải phóng, xây dựng các căn cứ địa và các căn cứ hậu cần tại các chiến trường. Đồng chí và đồng chí Đồng Sĩ Nguyên cđã có công lớn trong việc xây dựng tuyến đường Trường Sơn 559, đã quyết tâm xây dựng hệ thống giao thông vận tải cho xe cơ giới từ hậu phương miền Bắc tới các chiến trường, trong đó có tuyến đường ống dẫn xăng dầu để bảo đảm chi viện cho miền Nam, tạo cơ sở hạ tầng cho cơ động lực lượng và vận chuyển lớn, phục vụ đắc lực cho các thời cơ chiến lược, nhất là Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

Đồng chí Đinh Đức Thiện luôn quan tâm tới đời sống của bộ đội, của các lực lượng vũ trang, của nhân dân. Là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, đồng chí luôn nghĩ đến việc nâng cao mức sinh hoạt của bộ đội, nhất là ở chiến trường, cải tiến quân trang, quân dụng, vũ khí trang bị cho gọn nhẹ, phù hợp với yêu cầu phải hành quân bộ đường dài. Đồng chí còn lo chuẩn bị để tham gia vào việc cứu giúp nhân dân ở các vùng tuyến lửa, vùng mới giải phóng. Lãnh đạo một số ngành kinh tế, đồng chí chăm lo cải thiện sinh hoạt cho cán bộ, công nhân, quan tâm tới việc học tập nâng cao trình độ kỹ thuật, nâng cao tay nghề…

Đồng chí Đinh Đức Thiện là người cương trực, thẳng thắn nói lên những điều suy nghĩ của mình khi thấy là đúng cũng như trong phê bình các sai lầm khuyết điểm. Đồng chí là một người có bản lĩnh, sống giản dị, bình thường.

Trong quan hệ công tác, với tư cách là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh, tôi làm việc nhiều với đồng chí Đinh Đức Thiện - Chủ niệm Tổng cục Hậu cần, Bí thư Đảng ủy hậu cần về các chủ trương hậu cần có tính chất chiến lược cũng như các công việc cụ thể lớn. Tôi đánh giá cao nhiệt tình cách mạng cũng như có tài năng tổ chức của đồng chí. Đồng chí đã có công lớn trong việc thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị nhanh chóng tăng cường lực lượng hậu cần cho miền Nam. Sau khi Mỹ rút quân, đồng chí đã lãnh đạo một đoàn cán bộ lớn gồm một đồng chí gồm các ngành hậu cần và một số binh chủng, quần chúng đi vào tiền tuyến lớn để nhanh chóng củng cố vùng giải phóng. Đồng chí đã có công lớn trong việc thực hiện chủ trương lãnh đạo của Quân ủy Trung ương: chuẩn bị hậu cần kkhông phải cho từng mùa như trước đây mà cho kế hoạch một năm rưỡi. Điều đó tạo điều kiện vật chất cho lãnh đạo tăng cường lực lượng với nhịp độ thần tốc, rút ngắn kế hoạch giải phóng miền Nam từ 2-3 năm xuống 1 năm rồi xuống 2 tháng.

Đối với tôi, đồng chí Đinh Đức Thiện là một người bạn chiến đấu thân thiết, quý mến nhau, tôn trọng nhau. Năm nào cũng như năm nào, dù mùa xuân ấm áp hay mùa đông giá lạnh, đến những ngày lễ lớn, đồng chí Đinh Đức Thiện không bao giờ quên mang hoa đến chúc mừng.

Đồng chí Đinh Đức Thiện là một tấm ngương của một cán bộ trung kiên, vừa có đức, vừa có tài, có bản lĩnh, cương trực bảo vệ chân lý, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, đoàn kết và thương yêu đồng chí, ăn ở thủy chung.


(1) Bài viết nhân dịp kỷ niệm 10 năm ngày mất Thượng tướng Đinh Đức Thiện, đang trên Tạp chí Xưa & Nay, số 35, tháng 1 năm 1997, tr.16.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Một, 2011, 07:06:39 PM
MỘT ĐỒNG CHÍ LÃNH ĐẠO XUẤT SẮC,
MỘT VỊ TƯỚNG TÀI BA
(1)

Tôi gặp anh Thanh lần đầu vào tháng 8 năm 1945 tại Tân Trào, lúc thời cơ đã đến, Bác và chúng tôi mong đợt từng ngày các đại biểu từ miền Trung, miền Nam ra dự Đại hội Quốc dân.

Lần thứ hai có dịp gặp lại anh là lúc trên đường đi vào kiểm tra mặt trận miền Nam theo chỉ thị của Bác. Tôi đã ghé lại Huế gặp anh và các đồng chí lãnh đạo Thưa Thiên Huế trao đổi cục diện tình hình chung và mặt trận Trị Thiên Huế. Anh và các đồng chí lãnh đạo bàn tổ chức cuộc míttinh ủng hộ Nam Bộ kháng chiến, các anh đề nghị tôi với tư cách là phái viên của Bác phát biểu động viên đồng bào và chiến sĩ ở Huế.

Đến năm 1950 sau khi cục diện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã có chuyển biến lớn, bắt đầu quốc tế hóa, ta vừa thoát khỏi vòng vây, đang chuẩn bị những chiến dịch lớn, Bác và Trung ương chủ trương củng cố các cơ quan lãnh đạo quân sự, đã điều động anh Thanh và anh Ninh vào quân đội cùng tôi tổ chức ra Tổng Quân ủy, hai anh là Phó Bí thư, tôi làm Bí thư. Tôi nhớ mãi những ngày cùng nhau làm việc trong Tổng Quân ủy. Càng nhớ lại và suy nghĩ, tôi càng nhận thấy, cơ quan Tổng Quân ủy gồm 3 đồng chí lúc bây giờ là một mẫu mực về tổ chức cơ quan lãnh đạo cấp cao vưa gọn nhẹ vừa có sức mạnh, điều kiện nhất trí cao, tôn trọng, yêu thương lẫn nhau, sâu sát tình hình thực tiễn, kịp thời thực hiện đường lối của Đảng bằng những chủ trương, kế hoạch cụ thể và sáng tạo, đã chỉ đạo, động viên và tổ chức quân dân ta nêu cao tinh thần quyết thắng, chủ nghãi anh hùng cách mạng giành thắng lợi lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ. Chúng tôi thường nói với nhau: làm việc như thế này thích thật, các cuộc họp ít kéo dài, có khi chỉ nói nửa câu là đã hiểu ý nhau và đi ngay đến quyết định.

Dưới sự lãnh đạo của Tổng Quân ủy, các mặt công tác tham mưu, chính trị, hậu cần trong quân đội được kiện toàn và thực hiện có chất lương. Công tác tham mưu đề ra các kế hoạch tác chiến thích hợp, công tác hậu cần với yêu cầu khối lượng vượt bậc đều được thực hiện, đặc biệt là anh Thanh được phân công phụ trách công tác chính trị và công tác Đảng đã tiến hành một cách sắc bén, có hiệu quả.

Về sau anh Thanh được điều động ra phụ trách mặt trận nông nghiệp thì đã phát động phong trào Đại Phong. Khi anh trở lại quân đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trong những ngày làm việc ở miền Bắc, chúng tôi thường xuyên trao đổi công việc, làm việc mật thiết với nhau.

Nói đến dây, tôi nhớ trước ngay chuẩn bị đi vào miền Nam, anh đã nêu ý kiến cả hai gia đình cùng đi dạo Hồ Tây để chụp ảnh kỷ niệm; nhớ buổi gặp nhau trước ngày anh lên đường, anh cùng tôi trải cả bản đồ lên sàn nhà, cùng nhau bàn bạc về tình hình, dự kiến những chuyển biến và cách đánh sắp tới, nhớ đến bữa cơm tiễn biệt tại nhà 28 Cửa Đông. Không nghờ hôm ấy lại là buổi gặp nhau cuối cùng.

Anh ra đi đột ngột quá, đối với Đảng, với quân đội là một tổn thất lớn, đối với bản thân tôi là một mất mát lớn không gì bù đắp được.

Qua những năm tháng cùng làm việc với nhau, tôi thấy ở anh Thanh có mấy điểm nổi bật:

Thứ nhất, anh là một người đồng chí lãnh đạo xuất sắc của Đảng, xông xáo năng động, sáng tạo. Anh hết lòng thương yêu nhân dân, thương yêu đồng chí, đồng đội. Anh là một con ngời có bản tính cương trực thẳng thắn, có tác phong quần chúng, giản dị, sâu sát thực tiễn, luôn học tập tìm tòi nghiên cứu. Anh đã có những đóng góp vào sự phát triển đường lối và nghệ thuật quân sự của Đảng.

Thứ hai, theo sự phân công của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, ở cương vị chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, anh Thanh đã có công lớn trong việc xây dựng quân đội về chính trị, tư tưởng, xây dựng hệ thống thành công Đảng, tổ chức công tác chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của anh, công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội đã có bước phát triển mới cả về nội dung và hình thức, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân ta.

Thứ ba, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt, anh Thanh vào miền Nam đã cùng với Trung ương Cục chỉ đạo phát triển chiến tranh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, đặc biệt là xây dựng bộ đội chủ lực. Anh đã góp phần xác định đúng bước chuyển biến chiến lược từ chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ, chủ động đánh quân Mỹ kéo vào miền Nam. Anh là người sắc sảo trong việc đánh giá thực chất sức mạnh của Mỹ, nêu cao quyết tâm, niềm tin đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Anh đã góp phần chỉ đạo động viên bộ đội đánh thắng Mỹ ngay từ trận đầu và đánh bại các kế hoạch chiến lược của Mỹ. Năm 1967, anh ra Bắc báo cáo tình hình, đã góp phần cùng Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương đánh giá đúng thất bại của Mỹ, sự phát triển của cách mạng miền Nam và bàn định chủ trương tổng tiến công năm 1968.

Hôm nay, nhớ anh Thanh, tôi tưởng nhớ và vô cùng thương tiếc một người bạn chiến đấu thân thiết, một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một đồng chí lãnh đạo xuất sắc của Đảng, một vị tướng tài ba của quân đội ta, người đã có những cống hiên quan trọng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dan tộc Việt Nam ta.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đang đứng trước những nhiệm vụ cực kỳ to lớn. Tôi nghĩ rằng nhớ tiếc và học tập anh Thanh, trước hết là học tập tinh thần cách mạng kiên cường, đạo đức trong sáng, một lòng một dạ vì nước vì dân, sống cần kiệm giản dị, chống quan liêu, tham nhũng, để góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta mãi mãi nhớ đến anh Nguyễn Chí Thanh.


(1) Bài viết nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày mất của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Bài dăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 41, tháng 7 năm 1997, tr.11-12.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Một, 2011, 07:08:06 PM
NHỚ ANH NGUYỄN CHÁNH,
MỘT CÁN BỘ LÃNH ĐẠO XUẤT SẮC CỦA ĐẢNG,
MỘT VỊ TƯỚNG TÀI CỦA QUÂN ĐỘI
(1)

Anh Nguyễn Chánh là một cán bộ lãnh đạo trung kiên của Đảng, một vị tướng tài của quân đội, đã có cóng hiến lớn vối cách mạng và kháng chiến. Anh ra đi quá sớm, năm 1957 lúc mới 43 tuổi, tài năng đang độ phát triển.

Lần đầu tôi biết và làm việc với anh vào những ngày đấu tranh hào hùng của Cách mạng Tháng Tám 1945, đặc biệt là vào những ngày cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ diễn ra sôi nổi. Cuối thu năm 1946, tôi được Trung ương và Chính phủ cử vào kiểm tra mặt trận phía Nam, tôi đã dừng chân tại Huế gặp anh Trần Hữu Dực lúc bấy giờ là Chủ tịch và anh Chánh là Ủy viên trưởng quốc phòng của Ủy ban kháng chiến Trung Bộ.

Về sau, trong 9 năm kháng chiến, anh Chánh đã mấy lần từ Liên khu V ra họp và làm việc ở Việt Bắc. Năm 1950 anh ra dự hội nghị tổng kết chiến dịch Biên giới, ở lại tham gia Đảng ủy các chiến dịch Đường 18 và Trung du đầu năm 1951 với cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Anh đã dự hội nghị Đảng toàn quốc lần thứ hai và được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Lúc này Trung ương đã có ý định giữ anh làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nhưng do nhu cầu của chiến trường nên anh lại trở về Liên khu V.

Năm 1953, anh lại ra Việt Bắc, lần này để nhận nhiệm vụ quan trọng về chiến cục Đông - Xuân - Hè 1953-1954.

Trong thời gian đầu tiếp xúc và trực tiếp làm việc với anh Chánh, anh đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc, và chúng tôi đã quý mến nhau ngay từ lúc đó.

Sau năm 1954, anh ra làm Tổng Tham mưu phó, rồi Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ, chúng tôi đã thường xuyên làm việc với nhau. Anh và cả chị Trinh, vợ anh, cũng trở nên thân thiết với gia đình và bản thân tôi.

Cuộc đời, sự nghiệp cống hiến của anh Nguyễn Chánh trước hết gắn liền với Liên khu V, tức vùng Nam Trung Bộ, một chiến trường khó khăn về kinh tế, bị địch bao vây bốn bề, lại ở xa Trung ương, nhưng lại có truyền thống cách mạng lâu đời và là vị trí chiến lược rất quan trọng. Đặc biệt, với vùng Tây Nguyên, chiến trường này có vị trí chiến lược rất quan trọng, khống chế cả khu vực Nam bán đảo Đông Dương và là hành lang huyết mạch nối với Nam Bộ.

Anh Chánh tham gia cách mạng rất sớm, từ những năm 1930-1931, là một chiến sĩ cộng sản đấu tranh kiên cường trong nhà tù đế quốc. năm 1945, sau khởi nghĩa Ba Tơ, được Tỉnh ủy Quảng Ngãi phân công trực tiếp tham gia lãnh đạo đội du kích Ba Tơ mới ra đời, anh Chánh đã có chủ trương rất sáng tạo, sáng suốt: không để đội du kích luẩn quẩn trên vùng rừng núi, trong vòng vây của quân thù mà đã có chủ trương đưa quân về đồng bằng, dựa vào phong trào quần chúng cách mạng để xây dựng và chiến đấu, đồng thời phát triển dân quân tự vệ và tham gia phát động phát triển cách mạng của quần chúng. Anh đặc biệt quan tâm đến việc củng cố sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng chi bộ Đảng trong đội du kích. Chính do chủ trương đúng đắn, sắc sảo này mà trong một thời gian rất ngắn, đội du kích Ba Tơ từ mười bảy người đã phát triển thành hai đại đội mạnh, cùng với hàng vạn dân quân tự vệ và quần chúng cách mạng, tạo nên cao trào mạnh mẽ, 14 tháng 8 năm 1954 đã tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Ngãi, một trong những địa phương đã sớm vùng lên giành chính quyền, trong thời cơ phátxít Nhật đầu hàng.

Sau đó đội du kích Ba Tơ đã thực sự trở thành nòng cốt vững chắc của Giải phóng quân ở Nam Trung Bộ. Đội du kích Ba Tơ xứng đáng là một tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân chúng ta.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 43, tháng 9 năm 1997.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Một, 2011, 07:09:10 PM
Nay nhìn lại, nghiên cứu kỹ cuộc kinh nghiệm Ba Tơ và lịch sử đội du kích Ba Tơ, chúng ta có thể thấy sự lãnh đạo của Đảng ở Quảng Ngãi và của anh Nguyễn Chánh hồi bấy giờ thật vững vàng, sắc sảo; ngay từ đầu đã nắm vững những vấn đề rất cơ bản trong việc xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng và của nhân dân. Những vấn đề về bản chất của quân đội nhân dân đã được khẳng định và thực hiện đúng đắn ngay từ đầu. Đó là điều hết sức quan trọng và không dễ chút nào, nhất là trong điều kiện cách mạng còn ở trong tình trạng trứng nước và ở xa sự chỉ đạo của Trung ương hồi bấy giờ.

Do vị trí đặc biệt của Liên khu V như đã nói trên, nên ngay từ ngày đầu kháng chiến toàn quốc được phát động, đồng chí Phạm Văn Đồng đã được cử vào làm đại diện của Trung ương và Chính phủ ở đây, trực tiếp chỉ đạo chiến trường này.

Trong thời kỳ này, có thể nói ở Liên khu V, Đảng bộ, đồng bào vvà chiến sĩ ta đã thực hiện được kỳ tích: giữa vòng vây của quan thù, vẫn giữ được một vùng tự do gồm gần trọn bốn tỉnh đồng bằng ven biển liên hoàn, không những đưng vững trước mọi o ép của địch mà còn xây dựng được cả một hệ thống chính quyền cách mạng hoàn chỉnh, có kinh tế tự túc ổn định, văn hóa giáo dục phát triển, trong nhiều năm giữ vững đường giao thông với vùng Cực Nam Trung Bộ, với Nam Bộ, thực sự trở thành một vùng hậu phương vững chắc cho kháng chiến lâu dài. Trong vùng địch tạm chiếm thì phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng và chiến tranh du kích đã phát triển khá đều khắp, ba thứ quân phát triển nhịp nhàng.

Với cương vị là Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu V, anh Nguyễn Chánh đã có sự đóng góp quan trọng vào kỳ tích nói trên.

Từ khoảng năm 1949 trở đi, đồng chí Phạm Văn Đồng, rồi một số đồng chí lãnh đạo khác lần lượt được điều về Trung ương. Trách nhiệm của anh Chánh ngày càng nặng nề hơn, từ năm 1951, đã giữ trọng trách vừa là Bí thư Liên khu ủy vừa Chính ủy kiêm Tư lệnh Liên khu V.

Đối với anh, đây là một thử thách lớn. Chính thử thách này càng làm bộc lộ bản lĩnh và tài năng của anh.

Phong trào cách mạng và kháng chiến ở Liên khu V không những tiếp tục được giữ vững, mà từ năm 1951 trở đi đã rõ ràng có những bước phát triển mạnh mẽ và nhanh hơn. Là Bí thư Liên khu ủy, anh tỏ ra là một người lãnh đạo toàn diện. Là Chính ủy Kiêm Tư lệnh, anh tỏ ra là một cán bộ có tầm nhìn chiến lược, đồng thời là một người chỉ huy kiên quyết và có tài năng tổ chức.

Có điều đặc biệt đáng nói rõ là ở Liên khu V trong thời kỳ này, đi đôi với sự phát triển của các lực lượng du kích và chiến tranh nhân dân du kích, lãnh đạo Liên khu và anh Nguyễn Chánh với chủ trương và sự chi viện của Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, đã chú trọng đúng mức, kiên định và liên tục xây dựng lực lượng chủ lực, biết sử dụng khéo quả đấm chủ lực để thúc đẩy kháng chiến phát triển, vừa tác chiến vừa xây dựng, trưởng thành khá vững và nhanh.

Chính đây là một trong những nhân tố quan trọng khiến liên khu V là một trong những chiến trường đã giành được thắng lợi rực rỡ nhất trong Chiến cục Đông - Xuân - Hè 1953-1954, phối hợp rất đắc lực với chiến trường chính Điện Biên Phủ.

Lúc này địch đưa ra một lực lượng khá lớn, mở chiến dịch Atlante hòng đánh chiếm vùng tự do đồng bằng Liên khu V. Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương ta không thụ động đối phó với địch ở vùng tự do mà chủ động đưa lực lượng chủ lực tập trung đánh lên Tây Nguyên, giành lấy địa bàn chiến lược này, đẩy địch vào thế bị động. Đó là cách tốt nhất để giữ vững vùng tự do đồng bằng. Bấy giờ một số đồng chí chủ chốt trong cơ quan lãnh đạo Liên khu và Bộ Tư lệnh Liên khu còn có chỗ chưa thông, sợ mất vùng tự do, muốn dùng chủ lực giữ đồng bằng. Nhiều đồng chí lãnh đạo ở các tỉnh đồng bằng cũng e ngại, lo lắng, bộ đội và đồng bào thì thắc mắt nhiều. Anh Chánh đã kiên trì thuyết phục và đấu tranh với mọi ý kiến trái ngược, anh đã kiên quyết chấp hành nghiêm chỉnh và tổ chức thực hiện rất tốt chủ trương của Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Một, 2011, 07:10:19 PM
Kết quả thật rực rỡ: một mang phòng ngự lớn của địch ở Bắc Tây Nguyên bị phá vỡ, tỉnh KonTum và cả vùng Bắc Tây Nguyên được giải phóng. Sau đó nhanh chóng phát triển chiến dịch, tiếp tục tiến xuống phía nam, đánh địch trên tuyến đường chiến lược số 19, tiêu diệt hoàn toàn Binh đoàn cơ động số 100 là một binh đoàn tinh nhuệ vào bậc nhất của quân viễn chinh Pháp vừa rút từ Triều Tiên về; bao vây Pleiku, thọc sâu vào cao nguyên Đăk Lăk, áp sát Buôn Ma Thuột, tạo điều kiện nối liên với chiến trường Nam Bộ, đồng thời tiến xuống cùng quân và dân địa phương đánh mạnh quân địch ở Phú Yên và uy hiếp ở Nha Trang. Ở các chiến trường địch hậu trong Liên khu, thừa thắng quân dân ta đã tiêu diệt, bức hàng hàng chục đồn bốt, giải phóng những khu vực rộng lớn với hàng chục vạn dân. Phía Nam Lào và Đông Bắc Campuchia, ta phối hợp với quân dân bạn giải phóng một vùng rộng lớn. Chiến dịch Atlante của địch bị đánh bại hoàn toàn, vùng tự do đồng bằng Liên khu V được giữ vững và mở rộng. Thế trận ở Tây Nguyên cũng như trên toàn Liên khu lúc này thật đẹp, tạo triển vọng giành thắng lợi lớn hơn nữa.

Tướng chỉ huy quân viễn chinh Pháp trên chiến trường Tây Nguyên và Tư lệnh chiến dịch Atlante (đợt I, II) là De Beaufort đã hết sức thán phục, và sau khi chiến tranh kết thúc đã tỏ ý muốn gặp “vị tướng đã làm cho tôi điêu đứng trên chiến trường…”. Tôi đã cho tổ chức và đã dự cuộc gặp gỡ lý thú ấy khi anh Chánh và cả tướng De Beaufort có mặt tại Hà Nội.

Sự phát triển tài năng của anh Nguyễn Chánh có thể nói là một trường hợp khá đặc biệt. Anh chưa từng được đào tạo qua trường lớp học nào, ngay việc được học tập văn hóa từ nhỏ, cũng rất hạn chế. Nhưng đó là một con người thông minh, có ý chí tiến thủ mạnh, khiêm tốn và ham học. Những bài học cơ bản về khởi nghĩa vũ trang và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính là anh đã học được từ trong nhà lao Buôn Ma Thuột, khi các đồng chí của ta ở đây đã thực hiện “biến nhà tù của đế quốc thành trường học cách mạng” và sau đó trong thực tiễn chiến đấu, anh đã vận dụng hết sức thành công.

Mấy lần anh từ Liên khu V ra Việt Bắc công tác, tôi luôn nhận thấy anh hết sức chăm chú tìm hiểu học tập với một tinh thần thật sự khiêm tốn và cầu thị. Nhiều anh em ở Liên khu V đều bảo rằng sau mỗi chuyến ở Việt Bắc về, anh Chánh lại tiến bộ hơn, vững vàng hơn, sắc sảo hơn.

Anh Chánh còn là một con người có đức tính đoàn kết, tập hợp được cán bộ và chiến sĩ, quân và dân. Trước hết, là vì anh luôn toàn tâm toàn ý vì sự nghiệp của cách mạng, chí công vô tư, có tâm hồn trong sáng và cuộc sống thanh bạch. Hơn nữa, tuy không được học hành nhiều ở trường lớp nào, nhưng từ nhỏ anh đã tiếp thu truyền thống quê hương gia đình, về sau đã nhanh chóng thấm nhuần đường lối của Đảng. Anh là một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một người chỉ huy nghiêm khắc, quyết đoán, nhưng cũng là một con người cởi mở, nhân hậu, giản dị, biết linh hoạt trong ứng xử, ăn ở thủy chung với đồng chí, đồng bào. Anh được cán bộ chiến sĩ, được nhân dân Liên khu V hồi bấy giờ hết sức quý mến và khâm phục.

Sau năm 19754, anh chỉ mới ra làm việc ở Trung ương mấy năm nhưng đã gây được lòng yêu mến và kính trọng của các cơ quan và đơn vị. Khi được cử làm Chủ nhiệm Tổng cục Cán bộ thì mọi người đều vui mừng, tin tưởng.

Anh Chánh mất sớm là một tổn thất của Đảng và của Quân đội ta, tôi mất đi một người bạn chí thiết.

Cuộc đời một con người mới 43 tuổi đã để lại sự nghiệp như vậy có thể nói là một cuộc đời thật đẹp: cuộc đời của một người cộng sản kiên cường, một cán bộ lãnh đạo xuất sắc, một vị tướng có đức có tài, một con người mẫu mực.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Một, 2011, 07:13:36 PM
CỤ PHAN BỘI CHÂU LÀ MỘT ĐÁNG THIÊN SỨ,
MỘT LÃNH TỤ CÁCH MẠNG,
MỘT NHÀ VĂN HÓA LỚN
(1)

Hôm nay, tôi rất cảm động được đến dự cuộc họp lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh của cụ Phan Bội Châu, tôi không có bài chuẩn bị, tôi xin nói một vài suy nghĩ của tôi về cụ Phan. Trong Bộ Chính trị, tôi và một số đồng chí vẫn nhiều lần trao đổi, đánh giá về cụ Phan. Cụ Phan không chỉ là một nhà trí thức yêu nước bình thường. Cụ Phan Bội Châu là một lãnh tụ cách mạng, một nhà văn hóa lớn

Thời thơ ấu, được nghe cha tôi đọc về Thất thủ kinh đô, được mẹ tôi kể chuyện về phong trào Cần Vương, những câu về và truyện kể đã sớm hun đúc tình yêu quê hương đất nước của tôi. Lớn lên, vào lúc 14 tuổi, vào học trường Quốc học Huế, tôi kết bạn với một số học sinh yêu nước. Rồi hăng hái tham gia phong trào sôi nổi đòi ân xá cụ Phan Bội Châu. Đến khi cụ bị đưa vào Huế thì hằng tuần cứ đến chiều thứ năm, tôi cùng với anh Nguyễn Chí Diểu, anh Hải Triều, chị Bội Lan, chị Thể Chi và một số học sinh trường Quốc học, trường Đồng Khánh đến nghe ông già Bến Ngự nói chuyện. Ấn tượng để lại trong tôi rất sâu đậm. Toàn là những câu chuyện yêu nước thương nòi. Cụ Phan không chỉ là một người trí thức yêu nước như đã viết trên băng khẩu hiệu treo ở đây. Cụ là một chí sĩ lớn. Đạo đức cách mạng là gì? Là suốt đời yêu nước thương dân. Cụ Phan tiêu biểu cho đạo đức ấy. Còn nói về văn chương yêu nước thì sức sáng tác của cụ có thể nói là vào bậc nhất. Cụ là một nhà chí sĩ yêu nước, một nhà văn hóa lớn. Đúng như Nguyễn Ái Quốc đã sớm đánh giá, cụ Phan là một vị “thiên sứ” thức tỉnh 20 triệu đồng bào ta.

Thường đến Tết chúng tôi cùng nhau đến chúc tết cụ.

Có Tết, bài chúc do cụ Võ Liêm Sơn thảo:

      Phan tiên sinh là người hào kiệt
      Mười lăm năm học hết sách thánh hiền
      Gặp lúc đất ngả trời nghêng
      Lòng mẫn thế ư thiên chan chứa…


Cụ Phan Bội Châu lại có bài thơ chúc Tết thanh niên, đến đây tôi còn nhớ:

      Dậy! Dậy! Dậy!
      Bên án một tiếng gà vừa gáy,
      Chim trên cây vừa cất tiếng chào mừng.
      Xuân ơi, xuân có biết chăng?
      Thẹn cùng sông, buồn cùng nước, tủi cùng trăng.


Buồi tủi là do phải sống kiếp người dân mất nước. Rồi đến những câu:

      Đời đã mới, người càng nên đổi mới
      Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội
      Xúm vai mà xốc vác cứu giang san.


Hoặc những câu:

      Đừng ham chơi, ham mặc, ham ăn,
      Đúc gan óc để rời non lấp bể,
      Xôi máu nóng rửa vết nhơ nô lệ
      Mời thế này là mới hỡi chư quân.
      Chữ rằng: Nhật nhật tân, hựu nhân dân.


Đổi mới, lúc đó đã nói đến đổi mới rồi. Chúng tôi mỗi học sinh nam nữ nghe cụ cất tiếng kêu gọi, lòng sáng bừng lên như một bó đuốc, cảm thấy làm gì cũng làm được, bất chấp quên mình như thế nào, hy sinh như thế nào. Sức kêu gọi, sức hô hào của cụ Phan Bội Châu là như vậy.

Lúc cụ Phan Châu Trinh mất thì học sinh ở Huế cùng học sinh cả nước có phong trào để tang cụ Phan Châu Trinh. Chúng tôi đều học thuộc bài văn tế do cụ Phan Bội Châu sáng tác, nhắc đến khí khái của các nhà yêu nước lúc bấy giờ bị đày ra Côn Đảo.

Tôi còn nhớ câu:

Đặng, Hoàng, Ngô, ba bốn bác hàn huyên,
Khi chén rượu, khi câu thơ, ngoài cửa ngục lầm than mà khẳng khái.


Tôi muốn nói thêm: cũng chính vào lúc bấy giờ, anh Diểu, anh Hải Triều và tôi đã hình thành một nhóm nhỏ, một thứ câu lạc bộ. Anh em đến đọc sách báo bí mật, đã có báo Việt Nam hồn, le Paria. Và một hôm Hải Triều mang đến một bức ảnh Nguyễn Ái Quốc còn rất trẻ, đội mũ phớt, chúng tôi rất vui mừng và cùng tôi đều vô cùng khâm phục Nguyễn Ái Quốc. Ít lâu sau tôi có dịp đọc cuốn sách ABC du Marxisme (ABC chủ nghĩa Mác) ở nhà cụ Võ Liêm Sơn. Thế la chúng tôi đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội, đi một mạch, liên tục, rất tự nhiên, không phải mất 10 năm đi tìm đường mà cũng chẳng trải qua một cuộc tranh luận nào cả. Cho nên tôi thường nói, tại Huế tôi đã đến với bình mình của nhân loại. Tôi nghĩ rằng đây cũng là con đường mà nhiều người trong thế hệ thanh niên lúc bấy giờ đã trải qua. Và tôi rất thích, rất mừng là tại ngôi nhà của cụ Phan, có treo ở giữa tấm ảnh của Lênin. Lúc sau này, tôi mới biết từ lâu còn ở Trung Quốc, cụ đã viết một cuốn tiểu sử Lênin.

Một điều hiếm thấy trong lịch sử cách mạng các nước là: Các nhà yêu nước lớn của ta từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đến Huỳnh Thúc Kháng cuối cùng đã đi đến nhất trí với con đường của Nguyễn Ái Quốc, cho là con đường đúng đắn duy nhất. Điều đó là một diễm phúc của dân tộc.

Ngày nay, chúng ta đi theo con đường chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chúng ta không quên những cống hiến của các vị tiền bối yêu nước trong đó có nhà chí sĩ, nhà văn hóa lớn, có vị “thiên sứ” Phan Bội Châu.

Tôi rất biết ơn cụ, rất nhớ cụ và hôm nay xin phát biểu mấy lời từ đáy lòng.


(1) Lời phát biểu của Đại tuóng Võ Nguyên Giáp trong lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh của cụ Phan Bội Châu tại Hà Nội (26-12-1967 - 26-12-1997), Bài đăng trên Tại chí Xưa & Nay, số 48, tháng 2 năm 1998, tr.9-10.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Một, 2011, 07:15:39 PM
TRUNG ƯỚNG VƯƠNG THỪA VŨ,
MỘT NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI,
MỘT VỊ TƯỚNG ƯU TÚ CỦA QUÂN ĐỘI
NHÂN DÂN VIỆT NAM
(1)

Trung tướng Vương Thừa Vũ sinh ra tại một làngq uê ngoại thành Hà Nội, nhưng tên tuổi của anh gắn với Hà Nội qua hai sự kiện lịch sử.

Trước hết là cuộc chiến đấu 60 ngày đêm của quân và dân Thủ đô, khởi đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp cách đây nửa thế kỷ. Sau này nhìn lại, mới biết và quân và dân Hà Nội lúc đó đã làm một điều mà theo nhiều nhà lý quận quân sự kinh điển thì khó mà làm được. Trong các cuộc chiến tranh cách mạng, chưa có trường hợp nột lực lượng vũ trang yếu kém đương đầu thắng lợi với một độ quân chính quy tại thành phố.

Hà Nội năm 1946 chiến đấu thắng lợi, tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận, giam chân một lực lượng chính quy khá đông, khoảng 6.500 quân Pháp trong thời gian khía dài là hai tháng, gấp đôi thời gian quy định, tạo điều kiện cho cả nước chuyển sang chiến tranh. Với cuộc rút lui thần kỳ của Trung đoàn Thủ đô, Hà Nội đã thực hiện xuất sắc chủ trương diệt địch đi đôi vứi giữ gìn lực lượng ta để kháng chiến lâu dài.

Đạt được kỳ tích trên là do đường lối đúng đắn sáng tạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo chỉ huy của Quân ủy và Bộ Tổng Quân ủy, sự phối hợp chiến trường của quân và dân toàn quốc đang hừng hực khí thế chiến đấu từ Nam Bộ kháng chiến, ở Hà Nội là sự vùng dậy của quân và dân Thủ đô với tinh thần quật khởi của Cách mạng Tháng Tám, tinh thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, của vệ quốc quân, tự vệ chiến đấu, tự vệ thành, tự vệ công nhân, công an xung phong… dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Thành ủy, Ủy ban bảo vệ và Bộ Chỉ huy chiến khu Hà Nội.

Sự kiện lịch sử thứ hai là cuộc tiếp quản tưng bừng “năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về” giải phóng Thủ đô sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ nhất.

Chúng ta đều biết Thủ đô ta nhiều lần đứng lên chống lại kẻ thù xâm lược. Chỉ đơn cử trận đại phá quân Thanh, Thăng Long đã được giải phóng bằng một cuộc tiến công trực diện của người anh hùng áo vải đánh ngay vào trung tâm, giải phóng Thủ đô.

Lần này, với đường lối chính trị, quân sự, sự chỉ đạo sáng suốt của Đảng, ta đã tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ đưa đến kết quả giải phóng Thủ đô. Đó là cách không trực tiếp đánh vào Thủ đô mà giải phóng Thủ đô và giải phóng toàn miền Bắc.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Đảng và Chính phủ chọn một đơn vị từ Thủ đô ra đi hẹn “ngày về”, nay trở lại: đó là Đại đoàn 308, trong đó có Trung đoàn thủ đô, thay mặt cho cả nước tiến vào tiếp quản Hà Nội, kéo lá cờ chiến thắng của Tổ quốc lên đỉnh cột cờ của Thủ đô giải phóng.

Trong hai sự kiện lịch sử kể trên, Trung tướng Vương Thừa Vũ có sự đóng góp quan trọng ở cương vị Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội năm 1948, Chủ tịch ủy ban Quân chính Hà Nội năm 1954. Với những cống hiến ấy, Vường Thừa Vũ, một người con của Hà Nội, xứng đáng với quê hương anh hùng, xứng đáng là một ngươi con ưu tú của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.

Vừa qua, Hội đồng nhân dân thành phố đặt tên Vương Thừa Vũ cho một địa phương Hà Nội, cùng với tên một số vị tướng khác. Đây là một việc làm đúng đắn, phù hợp với lòng dân, với truyền thống của dân tộc của nền văn hóa Việt Nam.

Đối với quân đội ta, Trung tướng Vương Thừa Vũ là một nhà lãnh đạo chỉ huy ưu tú. Sau mặt trận Hà Nội, anh được Đảng và Chính phủ cử vào Liên khu IV với cương vị Khu phó.

Năm 1949, anh được giao nhiệm vụ Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 308, đại đoàn được thành lập đầu tiên có nhiệm vụ đi tiên phong trong vận động chiến của bộ đội chủ lực. Cùng với các đồng chí lãnh đạo chỉ huy đại đội và các trung đoàn, anh đã dày công rèn luyện, xây dựng nên mô hinh binh đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, dẫn dắt Đại đoàn 308 đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thực hiện xuất sắc: “Hễ đánh là thắng, hễ đánh là quyết định chiến trường”, xứng đáng với danh hiệu “Đại đoàn quân tiên phong”.

Trung tướng Vương Thừa Vũ là một vị tướng mẫu mực, có tác phong chính quy, có tính kỷ luật cao, chấp hành mệnh lệnh nghiêm, chỉ huy kiên quyết.

Tôi trân trọng giữ gìn trong ký ức một kỷ niệm không bao giờ quên đối với anh Vương Thừa Vũ. Tôi đã kể, ở đây cần nhắc lại, để nêu một điển hình “quân lệnh như sơn”, một yêu cầu cao về tính kỷ luật tuyệt đối, cần thiết để xây dựng quân đội cách mạng tiến lên chính quy hiện đại. trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lúc đầu Đại đoàn 308 được giao nhiệm vụ đánh vào trung tâm Mường Thanh. Khi thay đoỏi phương châm tác chiến, lập tức thay đổi nhiệm vụ đánh sang phía Lao thu hút không quân địch để tạo điều kiện cho quân ta lui quân, thực hiện phương thức “đánh chắc, tiến chắc”. Thực hiện nhiệm vụ này khó khăn rất lớn, chiến trường chưa được chuẩn bị, tình hình địch chưa rõ, khó nhất là chưa có bảo đảm hậu cần. Nhận lệnh, anh Vương Thừa Vũ không ngại ngần, chỉ xin chỉ thị về quy mô sử dụng lực lượng. Tôi nói: “Toàn quyền quyết định, từ một tiểu đoàn đến cả đại đoàn. Hậu cần tự giải quyết. Đúng 4 giờ chiều nay xuất phát”. Lúc ra lệnh là 14 giờ 30. Tôi còn nhớ tiếng nói rắn rói của anh Vũ trong điện thoại: “Xin triệt để chấp hành mệnh lệnh”. Toàn đại đoàn lập tức lên đường tiến công thần tốc, vừa hành quân vừa đánh địch, tự giải quyết hậu cần, sau năm ngày giải phóng toàn bộ khu vực sông Nậm Hu, tiến sát Luông Phabăng. Được lệnh trở về, đại đoàn đã thần tốc quay lại kịp tham gia ngay đợt đầu cuộc tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. “Quân lệnh như sơn” là như vậy.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 56, tháng 10 năm 1998, tr.5-6.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Một, 2011, 07:17:35 PM
Anh Vường Thừa Vũ nhận nhiệm vụ gì cũng tận tâm, tận lực thi hành, hoàn thành bằng được.

Đại đoàn 308 thường được giao những nhiệm vụ khó khăn nhất, và “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”.

Những con người, những đơn vị như vậy, trong quân đội ta có nhiều; Trung tướng Vương Thừa vũ và Đại đoàn 308 là một điển hình tiêu biểu.

Thời gian chống Mỹ, cứu nước, anh đã được giao nhiệm vụ Tổng Tham mưu phó phụ trách công tác huấn luyện, rèn luyện cho các lực lượng chủ lực có nhiệm vụ bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc cũng như những lực lượng bộ đội và cán bộ có nhiệm vụ lên đườngvào tiền tuyến miền Nam chống Mỹ, cứu nước. Trong công tác quan trọng này, anh đã coi trọng cả rèn cán và chỉnh quân, và là một tấm gương về nghiên cứu và học tập, đặc biệt là về tổng kết thực tiễn của chiến trường, của từng cuộc chiến đấu. Anh luôn lấy kết quả chiến đấu và thực tập làm thước đo chất lượng huấn luyện. Anh coi trọng cả hai khâu rèn cán và chỉnh quân, coi trọng cả mặt quân sự và chính trị. Nắm vững đường lối quân sự của Đảng, tư tưởng chiến lược là tiến công, còn về hình thức tác chiến thì có tiến công có phòng ngự, khi có người hiểu sai, thì anh vẫn kiên trì chân lý. Anh nghiên cứu đặc điểm chiến trường, theo dõi thực tiễn từng trận đánh, đề ra nội dung huấn luyện cụ thể, góp phần phát triển lý luận và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Anh nói:

      “Bao năm chiến đấu nhiều thực tiễn,
      Xây dựng quân ta cách đánh riêng
      Cách đánh Việt Nam mang truyền thống
      Kết hợp thời đại với tổ tiên”.   

Có thể nói, Trung tướng Vương Thừa Vũ là một tấm gương về học tập, tổng kết thực tiễn và luyện quân.

Và bao trùm lên trên hết, Vương Thừa Vũ là một người cộng sản có đạo đức cách mạng, một vị tướng Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy.

Gần đây, Trung ương Đảng ta ra nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đặt trọng tâm từ nay đến năm 2000 vào nhiệm vụ xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết trong các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình.

Nói đến đạo đức cách mạng, Trung tướng Vương Thừa Vũ suốt đời tuyệt đối trung thành với đường lối của Đảng, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Anh được đao tạo trong một môi trường quân sự của chế độ Tưởng Giới Thạch, nhưng đến lúc giác ngộ cách mạng, anh đã theo đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng và sớm trở thành một vị tướng xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Anh là một con người suốt đời vì nước, vì dân, sống có lý tưởng. Con người Vương Thừa Vũ thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh. Bác Hồ thường nói: Suy cho cùng là vấn đề ở đờilàm người. Ở đời và làm người, phải thương nước, thương dân, thương những người bị áp bức, bóc lột… Bác nhắc nhớ: Đồng chí càng phải thương yêu nhau, ăn ở thủy chung, có thế mới là con người cách mạng… Con người Vương Thừa Vũ là con người trung thực, tính tinh nghiêm nghị với tấm lòng nhân hậu, cương trực thẳng thắn, nhưng coi trọng đoàn kết thống nhất; chỉ huy kiên quyết đòi hỏi cấp dưới rất cao, nhưng rất mực dân chủ và thương yêu chiến sĩ, thương yêu đồng chí. Anh được cấp trên cấp dưới, đồng cấp, cán bộ, chiến sĩ toàn quân yêu mến và tin tưởng. Ban thân anh rất tôn trọng tình nghĩa, rất quý đồng chí, đồng đội. Anh có lối sống cần kiệm, giản dị, liêm khiết, mẫu mực, không chạy theo danh lợi, luôn luôn nghĩ đến làm việc có ích cho xã hội, cho quân đội. Tôi đã đến thăm nhà anh ở ngoại thành Hà Nội, cùng ăn bữa cơm rất thôn dã. Chị Hợp, vợ anh Vũ nấu món cá kho rất ngon. Đó là một gia đình đầm ấm. Chị Hợp đã từng chịu đựng biết bao gian khổ từ khi anh Vũ bị bắt giam hết nhà ngục Hỏa Lò, căng Bá Vân đến Nghĩa Lộ. Đó là một gia đình cách mạng, có hạnh phúc, từ những lúc khó khăn, mức sống không khác gì của cán bộ khác.

Hôm nay, nhớ đến anh Vương Thừa Vũ, trước hết chúng ta cần học tập đạo đức, lối sống của anh, cũng tức là thực hiện đạo đức, lối sống, thể hiện được những gì tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam.

Có thể nói, trải qua các nhiệm vụ được giao, từ Chỉ huy trưởng mặt trận Hà Nội năm 1946, Đại đoàn trưởng 308, cho đến cương vị chỉ huy lãnh đạo các quân khu, Tổng Tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam, anh Vương Thừa Vũ luôn đem hết tinh thần và nghị lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, anh đã có đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng quân đội, đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dưới ngọn cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và củ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhân dịp này, chúng ta xin gửi đến chị Hợp, đến gia đình anh những tình cảm thân thiết nhất.

Chúng ta nhớ mãi hình ảnh của anh. Cán bộ và chiến sĩ ta, cựu chiến binh hay còn tại ngũ hãy học tập tấm gương sáng của Trung tướng Vương Thừa Vũ.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Một, 2011, 10:24:50 AM
NGƯỜI ANH HÙNG VÀ CẢ CHIẾN CÔNG
SỐNG MÃI VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC
(1)

Trong lịch sử hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm, đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc, đã có biết bao địa danh gắn liền với những chiến công hiển hách của các thế hệ người Việt Nam chúng ta. Từ Như Nguyệt, Chi Lăng, Xương Giang, Ngọc Hồi - Đống Đa, Rạch Gầm - Xoài Mút, Điện Biên Phủ cho đến chiến dịch Hồ Chí Minh Mùa xuân 1975 đã khắc sâu vào trang sử sách quốc gia và tâm khảm con người Việt Nam như những niềm tự hào to lớn.

Nhưng có lẽ, có một địa danh mang tên một con sông được nhắc đến không chỉ một lần rong lịch sử như những chiến công đánh giặc ngoại xâm mà cũng đưa con sông đó lên vị trí chiến lược trong sự nghiệp phòng thủ đất nước. Đó là con sông Bạch Đằng, cửa ngõ phía Đông Bắc ra biển của đất nước ta.

Chiến công Bạch Đằng của Ngô Vương Quyền đại phá quân Nam Hán mà hôm nay chúng ta long trọng kỷ niệm lần thứ 1.060 năm là một chiến công hiển hách không chỉ mang ý nghĩa một chiến thắng quân sự của quân và dân ta đối với quân xâm lược phương Bắc, mà quan trọng hơn, nó thể hiện sự chiến thắng của ý chí độc lập tự chủ của dân tộc ta. Chiến thắng Bạch Đằng với việc xác lập một triều đại Việt Nam độc lập, định đô tại Cổ Loa thực sự có một ý nghĩa to lớn như Đại Việt sử ký toàn thư đã viết: “Tiền ngô Vương có thể lấy quân mới hợp của đất Việt mà phá trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, cứu nước xưng vương làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể bảo là một con giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng Vương, chưa lên ngôi hoàng đế và đổi niên hiệu nhưng mà chính thống của nước Việt ta hầu ngõ đã nối lại được”.

Sau này, nhà yêu nước nổi tiếng thế kỷ XX, Phan Bội Châu đã tôn vinh Ngô Quyền với chiến công Bạch Đằng là “Vị tổ trung hưng của nước ta”.

Còn Bác Hồ trong diễn ca “Lịch sử nước ta” thì ca ngợi người anh hùng dân tộc một cách mộc mạc:

      Ngô Quyền người ở Đường Lâm
      Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.


Nói đến sông Bạch Đằng, chúng ta không thể quên chiến công của Lê Đại Hành chặn đánh quân nhà Tống vào năm Tây Tỵ (981), cùng với chiến công tiêu diệt quân bộ ở ải Chi Lăng đã ngăn chặn cuộc xâm lược của phong kiến phương Bắc.

Và cách đây 770 năm, năm 1228, quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy của người anh hùng kiệt xuất Trần Hưng Đạo đã một lần nữa lập lại chiến công của bậc tiền bối Ngô Vương Quyền, đánh ta 600 chiến thuyền với 60.000 quân giặc, giành thắng lợi hoàn toàn cho cuộc kháng chiến ba lần chống giặc Nguyên - Mông.

Đúng như cảm xúc của Tiến sĩ Phạm Sư Mạnh đời Trần viết trong câu thơ:

      Hung hung Bạch Đằng đào
      Tưởng tượng Ngô Quyền thuyền


Tạm dịch:

      Bạch Đằng cuồn cuộn sóng đào
      Nhớ thuyền Ngô chúa ào ào thuở xưa.


Tinh thần tự chủ, tự tôn về nền độc lập dân tộc cũng như tài nghệ quân sự kiệt xuất của Ngô Quyền trong chiến trận Bạch Đằng năm xưa mãi mãi trở thanh niềm tự hào và di sản quý báu của nhân dân ta.

Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo thực sự có ý nghĩa như một cột mốc thời gian khẳng định của quyền của dân tộc ta chấm dứt hơn một ngàn năm đô hộ của phương Bắc bằng một trận đánh mang tính chất quyết chiến chiến lược và “nhanh nhất trong lịch sử”. Thực tiến của một thiên niên kỷ tiếp theo kể từ chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, năm 938 cho đến sự nghiệp kháng chiến cứu nước của thời đại Hồ Chí Minh cũng khẳng định và làm phong phú thêm bản lính đánh giặc và chủ nghĩa anh hùng của dân tộc ta đúc kết trong chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Chính vì thế, nhớ lại người xưa, ôn lại chiến công xưa chính là giúp cho chúng ta tìm đến và làm giàu có hơn nguồn nội lực to lớn, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của chúng ta hôm nay. Với tinh thần phát huy chủ nghĩa yêu nước, bản sắc văn hóa như Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đề ra, chúng ta kỷ niệm chiến thắng Bạch Đằng và Anh hùng dân tộc Ngô Quyền như một việc làm thiết thực vì sự nghiệp bảo vệ, đổi mới và phát triển đất nước trước ngưỡng cửa của một thế kỷ mới đầy thử thách và triển vong.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 58, tháng 12 năm 1998, tr.6.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Một, 2011, 10:26:46 AM
HƯNG ĐẠO VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN
VỊ ANH HÙNG DÂN TỘC KIỆT XUẤT
(1)

(Bài đọc tại Hội thảo khoa học kỷ niệm
700 năm ngày mất của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
(1300-2000) tại Nam Định ngày 16-9-2000)

Nửa cuối thế kỷ XIII, trong vòng 30 năm (1257-1288), giặc Nguyên - Mông đã ba lần xâm lược nước ta và ba lần bị quân dân Đại Việt đánh bại hoàn toàn.

Bấy giờ, giặc Nguyên - Mông là đạo quân xâm lược mạnh nhất, hung bạo nhất thế giới. Từ những thảo nguyên bao la của miền Bắc Á, với tài phi ngựa bắn cung, đội quân Mông Cổ khét tiếng đã tung hoành khắp các lục địa từ Á sang Âu, nô dịch các dân tộc, thôn tính các quốc gia, lập nên một đế quốc rộng lớn từ Thái Bình Dương đến tận bờ Hắc Hải. Vó ngựa của chúng đi đến đâu gieo rắc sự hoang tàn hủy diệt đến đó.

Trong mưu đồ cuồng vọng của đế chế Nguyên - Mông, nước Đại Việt có vị trí đặc biệt quan trọng. Mục đích của chúng là thôn tính nước ta, mở đường tràn xuống vùng Đông Nam Á. Tuy nhiên, kẻ hiếu chiến đã không lường được rằng, chính Đại Việt là nơi chôn vùi uy danh của những đạo kỵ binh xâm lược đã từng là bách chiến bách thắng.

Tiến vào nước ta, giặc Nguyên - Mông đã gặp phải sức mạnh kháng chiến của cả một dân tộc. Nhân dân cả nước ta chung lưng đấu cật, kiên cường và mưu trí, liên tiếp chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Dân tộc ta không những đã bảo vệ quyền độc lập tự chủ của mình mà còn góp phần làm cho nhiều dân tộc khác thoát khỏi hiểm họa bị xâm lược và thôn tính.

Năm 1258, lần thứ nhất xâm lược Đại Việt, quân Nguyên - Mông tưởng rằng sẽ dễ dàng nuốt chửng nước An Nam nhỏ bé. Chúng nhanh chóng chọc thủng các tuyến phòng ngự của ta, tiến vào kinh đô. Triều đình và quân đội phải rút lui khỏi kinh thành để bảo toàn lực lượng. Kẻ địch không ngờ rằng chỉ chín ngày sau khi chiếm được Thăng Long, kỵ binh của chúng đã lâm vào tình trạng thiếu lương ăn, bị chặn đánh khắp nơi, ngày càng thế suy lực yếu. Đòn phản công mạnh mẽ của quân ta ở Đông Bộ Đầu đã khiến đoàn quân viễn chinh vừa qua khí thế hung hăng, nhanh chóng bị tan rã, hoảng loạn và tháo chạy. Đó là thất bại lớn đầu tiên của đội kỵ binh thiện chiến người Mông Cổ.

Hai mươi bảy năm sau (1285), sau khi đánh bại nhà Tống lập nên triều Nguyên ở Trung Quốc, giặc Nguyên - Mông lại phát động chiến tranh xâm lược Đại Việt với quy mô lớn gấp nhiều lần. Đại quân của chúng do Thoát Hoan và Toa Đô chỉ huy từ phía bắc đánh xuống, từ phía Nam tiến lên, hình thành hai gọng kìm giáp công xâm lược. Chúng đã đem sức mạnh sáu chục vạn đại quân, kết hợp kinh nghiệm chinh phạt còn nóng hổi của quân Mông Cổ với kinh nghiệm lâu đời của chủ nghĩa bành trướng phương Bắc, tưởng chừng như trong chốc lát tiêu diệt quân chủ lực của ta, bắt triều đình nhà Trần phải quy phục. Lần nữa, chúng lại không ngờ vấp phải sức mạnh kháng chiến quyết liệt của toàn dân ta. Tinh thần và ý chí “Sát Thát” từ Hội nghị Binh Than tới Hội nghị Diên Hồng đã được nhân lên trong cuộc chiến tranh giữ nước. Cả dân tộc không thể đội trời chung với kẻ thù, toàn dân thực hiện mệnh lệnh của triều đình: “Tất cả các quận huyện nơi có giặc đến phải liều chết mà đánh; nếu không đánh được cho phép trốn vào rừng núi, không được đầu hàng giặc”.

Quân xâm lược đi đến đâu cũng bị quân địa phương và dân binh của ta tiến đánh, lương thảo nơi đồng nội đều bị giấu sạch. Quân giặc phải rảu quân chiếm đóng, sức tiến công ngay càng giảm sút. Quân đội và triều đình nhà Trần thực hành rút lui chiến lược để tránh cái khí thế hăng hái lúc ban mai, đánh cái khí thế tàn lụi lúc buổi chiều của giặc. Trong vòng năm tháng liền, quân Nguyên - Mông muốn đánh mà không được đánh: càng ngày càng sa vào hao mòn, mệt mỏi, thiếu thốn “như bị treo lơ lửng ở khoảng giữa”, tài phi ngựa bắn cung không thi thố được. Nhằm thời cơ ấy, quân ta chuyển sang phản công. Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết, Vạn Kiếp - các trận quyết chiến liên tiếp diễn ra, giành thắng lợi dồn dập. Thành Thăng Long được giải phóng. Thoát Hoan thế cùng phải chui vào ống đồng mới thoát thân. Quân và dân Đại Việt lập nên chiến công hiển hách, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của giặc Nguyên - Mông.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 79, tháng 9 năm 2000, tr.5, 26-27,27.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Một, 2011, 10:27:38 AM
Năm 1288, lần thứ ba quân Nguyên - Mông lại một lần nữa xâm lược Đại Việt. Rút kinh nghiệm hai cuộc chiến tranh trước, lần này quân giặc hành quân thận trọng. Chúng chuẩn bị đầy đủ lực lượng, gồm cả bộ binh, kỵ binh và thủy binh tinh nhuệ, lại mang theo cả lương thảo và quyết chí phục thù, tiêu diệt bằng được quân chủ lực và bắt sống triều đình nhà Trần. Nhưng, cũng như hai lần kháng chiến trước, quân Nguyên đi đến đâu cũng bị gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của quân dân các địa phương, còn lương thảo thì đi đâu cũng bị giấu sạch. Lần này, ngay từ đầu Trần Quốc Tuấn đã chủ động rút lui, từng bước dẫn dắt quân địch vào thế trận đã bày sẵn. Quân giặc sa vào thế trận làng nước của chiến tranh nhân dân Việt Nam, thiếu lương ăn, thương vong ngày một nhiều, ốm đau do trời nóng nực, tinh thần sụp đổ. Khi bất ngờ nhận được tin đoàn thuyền lương Trương Văn Hổ bị tiêu diệt thì bọn tướng soái nhà Nguyên vô cùng hoảng loạn. Thoát Hoan cùng Ô Mã Nhi vội chia quân rút theo hai đường thủy, bộ. Nhưng với trận quyết chiến Bạch Đằng lịch sử, toàn bộ đạo thủy quân địch đã bị tiêu diệt và bị nhấn chìm trong sóng nước. Chủ tướng giặc là Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp bị bắt sống, quân của Thoát Hoan bị tiêu diệt phần lớn trên đường rút lui từ Vạn Kiếp đến biên cương. Cuộc kháng chiến lần thứ ba của quân và dân Đại Việt giành được thắng lợi rực rỡ. Tư đó giặc Nguyên - Mông từ bỏ ý đồ xâm lược nước ta.

Như vậy, hồi thế kỷ XIII, dưới triều Trần, dân tộc ta hoàn toàn dựa vào sức mình, không có sự chi viện từ bên ngoài đã phải ba lần đương đầu với những đạo quân xâm lược mạnh nhất và hung hãn nhất thời đại và đã đánh thắng chúng. Kẻ địch tiến vào nước ta ào ào như gió, như lửa. Chúng phá vỡ các phòng tuyến của ta, cả ba lần đều chiếm được kinh thành Thăng Long và nhiều địa bàn quan trọng khác.

Trước khí thế hung hãn chưa từng có của giặc Nguyên - Mông, dân tộc Việt Nam không hề biết sợ. “Tiểu dân thanh dã, đoản binh phục hậu”, từ miền ngược đến miền xuiôi, từ núi rừng đến sông biển, tất cả các quận huyện trong nước, hễ giặc đến đều đứng lên đoàn kết chiến đấu, dựa vào thôn xóm, làng bản, địa hình hiểm trở để kiên quyết chống trả. Tổng kết ba lần cuộc kháng chiến, cả nước chỉ có hai hương không chống giặc khi chúng đi qua, còn ở đâu cuộc chiến đấu cũng kiên cường, ở đâu quân và dân ta cũng gây cho quân xâm lược những tổn thất nặng nề và cuối cùng bị đánh bại.

Sức mạnh của nước Đại Việt thời Trần bắt nguồn từ sức sống mãnh liệt, từ nền văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc, từ lòng yêu nước, chí khí đấu tranh bất khuất, từ truyền thống nhân ái và cố kết, trí thông minh và sáng tạo được tôi luyện trong quá trình chiến đấu chống ngoại xâm. Dưới thời Trần, chế độ phong kiến tập quyền đang ở vào thời kỳ hưng thịnh: nhiều chính sách tiến bộ về kinh tế và văn hóa đã được thi hành. Nền văn minh Đại Việt đang trên đà phát triển rực rỡ với hào khí Đông A nổi tiếng. Chính nhờ vậy mà khi giặc đến thì cả nước cùng đánh, sức mạnh cả dân tộc đã được huy động; khi giặc lui thì toàn dân lại ráo riết chuẩn bị, đề phòng. Đánh một trận rồi đánh hai trận, ba trận, trận sau lớn hơn và thắng lợi to hơn, cuối cùng đã toàn thắng.

Trong sự nghiệp hiển hách ba lần chiến thắng quân xâm lược Nguyên - Mông thế kỷ XIII, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn có vai trò đặc biệt quan trọng. Ông là một nhà chính trị, quân sự đa tài, được vua Trần tin yêu, giao quyền Tiết chế, thống suất cả vương hầu, tông thất, tướng lĩnh, điều động binh nhung, khí giới. Khi quân Nguyên - Mông xâm lược lần thứ nhất (1258), ông được cử chỉ huy các tướng lĩnh điều quân thủy bộ bảo vệ vùng biên giới Tây Bắc. Trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), ông được cử làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn quân đánh giặc.

Bảnh lĩnh của Trần Quốc Tuấn thể hiện ở quyết tâm diệt địch và thắng địch không gì lay chuyển. Ngay những lúc gian nan nguy nhiểm nhất, ông vẫn tin vào thắng lợi, giữ vững lòng quân lòng dân. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến clân thứ hai (1285), khi sự mất còn của nền độc lập nước nhà chỉ con trong gang tấc, quân xâm lược đã chiếm được nhiều địa bàn trọng yếu, trong đó có cả kinh thành Thăng Long và phủ Thiên Trường, một bộ phận quý tộc và quan lại triều Trần đã có người nao núng, hàng giặc, Trần Quốc Tuấn đã hiên ngang bất khuất, giữ vững lòng tin son sắt vào thắng lợi. Câu nói bất hủ của ông: “Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu thần đi đã”, đã nêu một tấm gương lớn về tinh thần quyết chiến và ý chí “Sát Thát” trước triều định, trước toàn quân và toàn dân ta.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Một, 2011, 10:31:27 AM
Tài năng của Trần Quốc Tuấn biểu hiện ở chỗ ông nhận thức rất rõ dân ta là nguồn sức mạnh giữ nước. Nguồn sức mạnh đó phải được xây dựng, bồi dưỡng lâu dài trong thời bình cũng như trong thời chiến, bằng nhiều chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội. Ông chủ trương: “Khoan thư sức dân, làm kế sâu dễ bền gốc là thượng sách giữ nước”.

Ông xem việc đoàn kết nội bộ là một nhân tố cực kỳ quan trọng đê tọa thành sức mạnh. Nhìn lại ba cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông thắng lợi, ông xác định: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức” là nhân tố đã làm cho “quân địch phải chịu bị bắt” (bị tựu tự cầm). Ông rất coi trọng đoàn kết quân và dân, đoàn kết trong quân đội “như cha con một nhà”.

Chính nhờ nguồn sức mạnh đó mà dân tộc Việt Nam đã có thể đứng vững và vượt qua những thử thách ghê gớm của họa xâm lăng khốc liệt do Đế quốc Nguyên - Mông gây ra.

Trần Quốc Tuấn là vị thống soái có tài năng quân sự tuyệt vời. Nắm vững yêu cầu chiến lược lấy nhỏ thắng lớn, cả nước đánh giặc, ông chủ trương lấy đoản binh chống trường trận, xem đó là điều thường trong binh pháp nước ta; kết hợp tác chiến của quân triều đình với tác chiến và đấu tranh của lực lượng dân quân các địa phương: “Tiểu dân thanh dã, đoản binh phục hậu”.

Cái tài giỏi của Trần Quốc Tuấn là biết chuyển tình thế từ hiểm nghèo thành thuận lợi, xoay chuyển thế trận, tạo nên thời cơ. Và khi thời cơ đến thì chuyển sang phản công, tiến công, chọn đúng hướng, đúng mục tiêu, đánh những trận quyết định, khiến kẻ thù không kịp trở tay, trong chốt lát đã thất bại.

Tài thao lược của Trần Quốc Tuấn nổi bật là tính chủ độnglinh hoạt, “biết người biết mình”, chủ động điều địch, chủ động đánh địch, “xem xét quyền biến… tùy thời mà làm”.

Câu trả lời của ông với vua Trần Nhân Tông: “Năm nay đánh giặc nhàn” khi quân Nguyên tiến công xâm lược lần thứ ba (1288), chứng tỏ vị chủ tướng đã biết rõ địch, biết rõ ta, phân tích sâu sắc tình hình thực tiễn và làm chủ được quy luật của chiến trận. Trong cuộc kháng chiến này, giặc chưa bị đánh lớn mà đã sợ hãi rút chạy, rốt cuộc bị tiêu diệt trên sông Bạch Đằng và ở biên giới. Đó là kết quả kỳ diệu của phương pháp dùng binh độc đáo của ông.

Trần Quốc Tuấn quả là một vị tướng mưu lược, là con người của những quyết định lớn trong những thời cơ lớn.

Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông là đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân bỏa vệ Tổ quốc của dân tộc ta trong thời đại phong kiến. Người đề ra và vận dụng thiên tài chiến lược, chiến thuật chiến tranh nhân dân đó không ai khác là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta, đã xuất hiện hình thái thế trận của dân chúng đánh giặc ở khắp các xóm làng, kết hợp chiến đấu của quan triều đình với quân các lộ và dân binh, tiêu diệt địch trong những trận lớn, xây dựng một thế trận rộng mà sâu, mạnh mà vững, luôn luôn chủ động, luôn luôn tiến công, tạo nên sức mạnh to lớn, chiến thắng quân thù.

Trần Quốc Tuấn không chỉ là vị thống soái lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến mà ông còn là một nhà lý luận, một nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng. Từ lời Hịch kêu gọi tướng sĩ đầy khí phách hiên ngang đến bản Di chúc lịch sử, những nội dung tư tưởng tiên tiến của ông đã được khẳng định. Ông đã dày công nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của dân tộc, học tập những tư tưởng quân sự tiến bộ của nước ngoài, rút ra những điều tinh túy, kết hợp với những tri thức quân sự từ thực tiễn chỉ đạo chiến tranh của mình, viết thành những bộ binh thư có giá trị nhằm phục vụ cho sự nghiệp giữ nước. Trần Quốc Tuấn đã để lại cho đời nhiều tác phẩm lý luận quân sự có giá trị, khẳng định một bước phát triển quan trọng của khoa học quân sự Việt Nam. Với Trần Quốc Tuấn, một học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại phong kiến đã hình thành, học thuyết quân sự dân tộc trong chiến tranh giữ nước. Chính trên cơ sở này, Lê Lợi - Nguyễn Trãi phát triển thành học thuyến quân sự dân tộc trong khởi nghĩa nông dân, chiến tranh giữ nước.

Những quan điểm tư tưởng chính trị - quân sự của ông về dựa vào dân, khoan thư sức cho dân, về xây dựng khối đại đoàn kết trong hoàng tộc và triều đình, tronng toàn quân và cả nước, về phương châm chiến lược “dĩ đoản, chế trường”, “quân đội cốt tinh không cốt nhiều, trên dưới một dạ như cha con”… là những tư tưởng tiên tiến, đúng đắn và sáng tạo, vượt thời đại mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị”.

Trần Quốc Tuấn là anh hùng kiệt xuất không chỉ về tài năng quân sự, mà còn có đạo đức tiêu biểu của một vị chủ tướng. Ông luôn nêu tấm gương sáng ngời về lòng trung nghĩa, ý thức gạt bỏ mọi hiểm khích riêng tư để đoàn kết tông thất, triều đình và tướng lĩnh, tạo nên một cội nguồn của thắng lợi. Ông chủ trương “bạt dụng lương tướng”, dùng người hiền lương, biết chọn và đào tạo tướng giỏi, thường trọng dụng và tiến cử những người tài giúp nước. Ông quý trọng những người cộng sự, thương yêu binh lính và họ cũng hết mực trung thành với ông; đội quân phụ tử của ông đã trở thành đội quân bách thắng.

Triều đình nhà Trần đã xây dựng nên một đội ngũ tướng lĩnh kiên cường tài giỏi, đoàn kết nhất trí, phần đông là văn võ song toàn. Lịch sử đời đời ghi nhớ chiến công và thành tích của các vị tướng như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Lê Phụ Trần, Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng, Đỗ Khắc Chung cho đến Yết Kiêu, Dã Tượng…

Năm 1289, trong niềm vui toàn thắng, đô thành bị đổ nát, đất nước hoang tàn, vua Nhân Tông hạ chỉ gấp rút tu sửa lại thành trì Thăng Long. Trần Quốc Tuấn can rằng: “Việc sửa lại thành trì không cần kíp lắm. Việc cần kíp triều định phải làm ngay không thể chậm trễ được là việc úy lạo nhân dân. Hơn 4 năm quân giặc hai lần tràn sang đánh phá, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà dân chúng vẫn còn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuất lực, đi lính, đóng thuế làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua đã được trở về yên ổn, việc cần làm trước hết là chú ý ngay đến dân. Những nơi nào bị tàn phá, tùy tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế. Nơi nào bị tàn phá nặng có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: “chúng chí thành thành”. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay. Xin nhà vua xét kỹ”. Vua Trần Nhân Tông đã nghe theo lời khuyên.

Trần Quốc Tuấn quả là một nhân cách lớn, có tấm lòng vì dân, vì nước. Tuy ở ngôi cao chức trọng mà vãn giữ tiết nhã nhặn, không tự tiện làm những việc trái với kỷ cương phép nước, ông không ham lợi giàu sang, lòng trung trong sáng, được mọi người tôn quý và tin yêu. Ông không lạm dụng quyền hạn. Vì có công lớn, ông được phong làm “Thượng quốc công”, được quyền tự ban thưởng cho người khác. Sử sách chép lại rằng, ông đã cẩn trọng giữ gìn chưa hề tự mình ban thưởng cho ai.

Những chiến công đánh bại đế quốc Nguyên - Mông, những cống hiến trên lĩnh vực lý luận, tư tưởng và nghệ thuật quân sự của Trần Quốc Tuấn đã đưa ông lên hàng ngũ anh hùng dân tộc, thiên tài quân sự Việt Nam, xứng đáng là một danh nhân quân sự tầm cỡ thế giới.

Với tài năng chính trị, quân sự kiệt xuất, với tấm lòng tận trung với vua, với nước, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã cùng với triều đình nhà Trần và quân dân Đại Việt bảo vệ trọn vẹn độc lập dân tộc, đưa triều đại nhà Trần lên hàng triều đại thịnh trị trong lịch sử trung đại, để lại những bài học lịch sử có giá trị về dựng nước và giữ nước. Những thành tựu về võ công và văn trị, những giá trị vật chất và tinh thần thời Trần đã làm vẻ vang lịch sử dân tộc, là niềm tự hào lớn lao cho Tổ quốc ta.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Một, 2011, 10:32:44 AM
Lịch sử sang trang.

Bước vào thời kỳ cận đại và hiện đại, các nước đế quốc phương Tây, với nền kinh tế phát triển, đã mang quân xâm lược thuộc địa khắp các châu lục. Nhân dân ta đã phải sống kiếp ngựa trâu hàng trăm năm dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà yêu nước vĩ đại đến với chủ nghĩa Mác - Lênin tìm ra con đường cứu nước. Từ đó, giai cấp đã gắn với dân tộc, độc lập dân tộc đã gắn với chủ nghĩa xã hội, lợi ích quốc gia đã gắn với lợi kích quốc tế. Truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc đã phát huy lên tầm cao mới. Toàn dân ta đã vùng lên đưa Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đến thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Nhà nước kiểu mới ấy không những “khoan sức cho dân” mà đã trở thành nhà nước của dân, do dân, vì dân. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, nhân dân là người chủ của đất nước. Tiếp đó, trong khi chính quyền ma con đang trứng nước, toàn dân ta đã phải đương đầu với cuộc xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Pháp rồi chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Trong suốt 30 năm trường, trên đất nước ta đã diễn ra một cuộc đọ sức lịch sử khốc liệt nhất, dân tộc ta đã giành được thắng lợi oanh liệt nhất, với những kẻ thù mạnh hơn ta gấp nhiều lần, kể cả kẻ thù mạnh nhất thế giới. Chiến tranh nhân dân Việt Nam đã phát triển đến một trình độ cao chưa từng thấy. Học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh đã hình thành.

Với thị trấn “Không có gì quý hơn độc lập, tự do, toàn dân ta đã chịu đựng những hy sinh không bờ bến, cuối cùng giành được thắng lợi hoàn toàn.

Đó là vì với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh dân tộc không chỉ mang lại Độc lập, Thống nhất cho đất nước mà còn mang lại Tự do, Hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động, cho toàn dân ta và góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới. Chúng ta chiến đấu vì đại nghĩa, cho nên tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rộng khắp và mạnh mẽ của nhân loại tiến bộ. “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”; đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn chiến thắng mọi kẻ thù.

Từ khi hòa bình được lập lại, đất nước hoàn toàn độc lập và thống nhất, non sông thu về một mối, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. chỉ trong một phần tư thế kỷ, chúng ta đã giành được những thắng lợi mới hết sức to lớn về mọi mặt. Tuy nhiên, nhìn thẳng vào sự thật, ham muốn tột bậc của Bác Hồ: làm cho dân giàu nước mạnh, mang lại hạnh phúc cho dân, cho đến nay mới được thực hiện bước đầu. Nước ta vẫn còn là một nước đang phát triển, một ngước nghèo và lạc hậu, còn xa mới đáp ứng được yêu cầu rất cao về năng suất lao động, về hiện đại hóa khoa học và công nghệ, nhằm cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Do vậy, rõ ràng cuộc đấu tranh chống nghèo nàn và lạc hậu còn là một nhiệm vụ hết sức to lớn của dân tộc ta. Cuộc đấu tranh ấy, như Bác Hồ đã nói, còn khó khăn hơn nhiều so với cuộc chiến đấu chống đế quốc và phong kiến.

Như các nghị quyết của Trung ương đã đề ra, hướng đột phá có ý nghĩa quyết định là phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, vì đó là “tiền đề của mọi tiền đề” của chủ nghĩa xã hội như Mác đã nói, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng tiếp cận với nền kinh tế tri thức, giữ vững và phát huy nền văn hóa dân tộc, thực hiện bằng được giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, phát triển mạnh mẽ nội lực cho đất nước trước hết là tiềm năng to lớn của con người, trên cơ sở đó chủ động hôi nhập với khu vực và thế giới theo nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi. Và nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định là thực hiện bằng được Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch và vững mạnh, là lương tâm trí tuệ và danh dự của giai cấp và của dân tộc.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với trí tuệ và nghị lực sáng tạo của toàn dân, cả nước đoàn kết một lòng, chúng ta tin tưởng vững chắc trong thiên niên kỷ tới, dân tộc Việt Nam ta dưới ngọn cờ tất thắng của Đảng, của Bác Hồ nhất định sẽ biến ước mơ nói trên thành hiện thực, đưa đất nước ta sánh vai với các nước trung bình, các nước phát triển trên thế giới.

Tiến hành cuộc hội thảo về anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn trong thời điểm sắp bước vào thiên niên kỷ thứ ba, chúng ta càng tự hào về thành tự lớn lao của dân tộc ta từ 700 năm về trước cho đến cả thế kỷ XX. Chúng ta càng tưởng nhớ và biết ơn bao anh hùng và liệt sĩ thuộc biết bao thế hệ đã ngã xuống vì đại nghĩa để chúng ta có được ngày nay.

Với tinh thần ấy, hội thảo của chúng ta không những có ý nghĩa ôn lại truyền thống của cha ông mà còn nâng cao tinh thần trách nhiệm và niềm tin của mỗi một người dân vào tương lai của Tổ quốc Việt Nam.[


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Một, 2011, 10:34:28 AM
NHỚ PHAN BÔI(1)

Anh Phan Bôi - Hoàng Hữu Nam đối với tôi là bạn đòng học và bạn đấu tranh cách mạng ngay từ thơi niên thiếu, tại trường Quốc học, Huế. Về sau, trong những năm mặt trận dân chủ, đã từng là bạn đồng nghiệp cùng viết báo của Đảng và cùng hoạt động cách mạng tại Hà Nội.

Đặc biệt, từ những năm đầu Cách mạng Tháng tám thắng lợi, trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, anh đã từng là người cộng tác gần gũi với tư cách là Thứ trưởng Bộ Nội vụ mà tôi là Bộ trưởng, cùng nhau làm việc trong Hội đồng Bộ trưởng, dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ.

Anh Hoàng Hữu Nam là một cán bộ tốt của Đảng, có tinh thần hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, lại có tài năng, gần gũi với bạn bè, đoàn kết với đồng chí.

Anh ra đi đột ngột, để lại lòng tiếc thương vô hạn đối với chúng tôi.

Mong rằng con cháu trong nhà noi gương của ba, của ông, phục vụ cho nhân dân và Tổ quốc, gương mẫu trên mọi cơng vị học tập và công tác.

Hà Nội, ngày 12-10-2000
Võ Nguyên Giáp     



(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 90, tháng 4 năm 2001.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Một, 2011, 10:35:37 AM
PHÁT BIỂU CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
VỀ THƯỢNG TƯỚNG VŨ LĂNG
(1)

Hai cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã san sinh ra những vị tướng vừa có phẩm chất, vừa có tài năng trưởng thành từ cơ sở. Vũ Lăng từng đảm nhiệm cấp tiểu đoàn ngay từ những ngày đầu Thủ đô Hà Nội đứng lên kháng chiến. Tiếp theo đó đã từng là trung đoàn rồi sư đoàn, trung đoàn ở Điện Biên Phủ, sua đó là sư đoàn rồi Tư lệnh Quân khu, Phó Tư lệnh Tây Nguyên, rồi Quân đoàn trưởng, rồi cuối cùng trong cuộc tấn công và nổi dậy là Quân đoàn trưởng quân đoàn 3, quân đoàn trong chiến dịch Hồ Chí Minh đã đánh chiếm Bộ Tổng Tham mưu ngụy.

Vũ Lăng không những là một vị tướng quân sự giỏi mà còn là một nhà nghiên cứu khoa học quân sự đã từng nhận trách nhiệm Phó Cục trưởng Cục Khoa học quân sự, Phó Viện trưởng Viện Khoa học quân sự, và đã có thời gian là Cục trưởng Cục Tác chiến, cục quan trọng nhất trong Bộ Tổng Tham mưu và cuối cùng là Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt trong một thời gian dài.

Như vậy là đã lập được chiến công trên mặt trận trong hầu hết các chiến dịch từ Biên giới đến Điện Biên Phủ cho đến chiến dịch Hồ Chí Minh và trong nghiên cứu khoa học quân sự, làm tác chiến, đã có những đề xuất, những ý kiến sắc sảo, tỏ ra có trí tuệ sáng tạo tốt.

Vũ Lăng lúc làm việc có quyết tâm cao, bất cứ trong hoàn cảnh nào, thuận lợi hay khó khăn đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cho nên được các bạn đồng đội, các bạn chỉ huy rất mến phục, đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân rất tốt.

Tôi nhớ mãi những năm tháng làm việc với Vũ Lăng, tôi làm việc gần như thường xuyên. Vũ Lăng là một trong những cán bộ mà khi giao việc thì tin là nhiệm vụ được hoàn thành. Vũ Lăng là con người như thế.

Vũ Lăng mất đi nhưng đã để lại một tấm gương sáng cho cán bộ trong toan quân ta và cán bộ lực lượng vũ trang.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 153, tháng 12 năm 2003, tr. 13.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Một, 2011, 10:37:36 AM
MỘT CHIẾN SĨ CỘNG SẢN KIÊN ĐỊNH,
MỘT VỊ TƯỚNG CÓ TÀI NĂNG
(1)

Thưa đồng chí Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử,

Thưa toàn thể gia quyến của tướng Nguyễn Sơn.

Tôi rất xúc động hôm nay được đến dự buổi lễ tưởng niệm anh Sơn, nhân ngày sinh lần thứ 85 năm của anh. Tôi và anh Sơn có nhiều kỷ niệm trong những ngày cách mạng mới thành công, rồi trong những ngày cuối đời anh về nước.

Cũng như anh Phùng Chí Kiên, anh Nguyễn Sơn đã sớm tham gia phong trào thanh niên và đã có may mắn được theo học ở trường Hoàng Phố. Về thân thế và sự nghiệp thì trong buổi họp mặt hôm nay không có thời gian trình bày, nhưng chắc chắn lịch sử sẽ không quên. Hôm nay, tôi chỉ muốn nhắc lại một số kỷ niệm giữa tôi và anh trong những ngày chúng tôi cùng làm việc.

Lúc anh Sơn về nước thì quân Pháp đã gây ra chiến tranh xâm lược ở miền Nam, nước ta đã bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Trong Thường vụ, Bác, anh Trường Chinh và tôi đều muốn anh Sơn vào phía nam là nơi chiến sự đang diễn ra quyết liệt. Cuối 1946, tôi đi vào mặt trận Khánh Hòa gặp anh Phạm Kiệt, trao đổi ý kiến thấy cần tăng cường cán bộ chủ trì, nhất là về quân sự. Không lâu sau, anh Sơn được cử làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam, trong khi tôi giữ chức vụ Chủ tịch Quân sự ủy viên hộ toàn quốc (về sau đổi là Ủy ban Kháng chiến toàn quốc). Đó là một trọng trách rất lớn nói lên sự tín nhiệm của Đảng và Chính phủ đối với anh.

Anh Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cách mạng ưu tú của Đảng, một tướng có công của quân đội ta. Đặc biệt, anh là vị tướng nước ngoài duy nhất của Quân giải phóng Trung Quốc đã từng tham gia cách mạng và kháng chiến ở Trung Quốc trong nhiều năm. Do vậy các đồng chí bạn thường nhắc đến anh với tình cảm sâu sắc và trân trọng. Năm ngoái, trong dịp thăm Trung Quốc, tôi có gặp chị Sơn và các cháu, rất mừng thấy tinh thần rất tốt, các cháu ở bên đó cũng như các cháu ở nhà trong gia đình, đều cố gắng học tập và làm việc để xứng đáng với sự mong mỏi của bố.

Như vậy, có thể nói Nguyễn Sơn là một chiến sĩ quốc tế đã để lại tấm gương tốt đẹp và tình hữu nghị giữa Cách mạng Việt Nam và Cách mạng Trung Quốc.

Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cộng sản kiên định, một con người có khí phách, có chút ngang tàng (như có đồng chí vừa nói); nhưng phải nói anh là một vị tướng có tài năng. Anh Sơn chẳng những có tài về quân sự mà còn có khả năng về chính trị, về tuyên truyền, về văn nghệ. Anh lại có phong cách riêng - rất là Nguyễn Sơn. Vì dụ: làm chủ hôn mà bắt cô dâu và chú rể phải làm thơ thì chỉ có anh Sơn thôi!

Anh luôn chú trọng đào tạo cán bộ, ở trường Lục quân Quảng Ngãi, rồi trường quân chính Khu IV. Trong phong trào luyện quân lập công, anh đã tổ chức thành công “Đại hội tập”, một hình thức huấn luyện lôi cuốn cả quân đội và nhân dân.

Anh coi trọng bạn bè, coi trọng con người, coi trọng bồi dưỡng đội ngũ kế cận.

Có thể nói thời bấy giờ - Cách mạng Tháng Tám mới thành công, Cách mạng Trung Quốc chưa thắng lợi - là thời kỳ tiêu biểu cho chí khí tự lực tự cường, độc lập sáng tạo của Đảng ta, của nhân dân, kiên quyết giữ vững chính quyền còn non trẻ, chiến đấu trong vòng vây trong điều kiện cực kỳ khó khăn phức tạp. Dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ và của Đảng, toàn dân ta đã đoàn kết chiến đấu, xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, từ dân quân đến những đại đoàn chủ lực đầu tiên. Chúng ta đã đứng vững và trưởng thành, dã xây dựng nền tảng vững chắc để sau này tiếp thu và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ hết lòng của các nước anh em, nhất là của nước Trung Hoa mới.

Chính vào những ngày khó khăn ấy, anh hùng Sơn về nước. Trong các cuộc họp bàn về quân sự, về kháng chiến, anh đã tham gia tích cực, có nhiều ý kiến sâu sắc về đào tạo cán bộ cũng như tác chiến, về xây dựng chủ lực cũng như về xây dựng lực lượng dân quân - một vấn đề mà anh hết sức coi trọng. Trong các buổi họp, trên diễn đàn, anh nói chuyện sôi nổi, hấp dẫn. Trong quan hệ giao tiếp với bạn bè, anh quý trọng đồng chí, đồng đội, nhiều khi trò chuyện thâu đêm, say sưa, cởi mở.

Thời gian về nước tuy không lâu lắm, nhưng anh đã cống hiến hết sức mình. Sau chiến dịch giải phóng biên giới Việt - Trung năm 1950, do phân công công tác, anh đã trở sang Bắc Kinh. Đã nhiều năm bôn ba hoạt động cách mạng xa quê hương, bao giờ anh cũng luôn hướng về Tổ quốc. Cho đến khi lâm bệnh hiểm nghèo, mặc dù bạn đã hết lòng cứu chữa, kể cả gửi bệnh án sang Liên Xô, cũng không thể qua khỏi; theo đề nghị của anh, Đảng đã cho đón anh về nước, và anh đã từ trần nơi đất mẹ, trong niềm thương tiếc vô hạn của gia đình và các bạn chiến đấu của anh.

Nếu còn sống, đến nay, anh đã 85 tuổi. Tiếc rằng anh ra đi quá sớm. nhưng trong lịch sử cách mạng Việt Nam cũng như trong lòng mỗi người chúng ta, anh vẫn còn sống mãi với hình ảnh một người cộng sản kiên định, một người bạn, người đồng chí, một người chiến hữu thân thiết và rất mực chân thành, suốt đời phục vụ sự nghiệp cách mạng của nước ta và nước bạn.


(1) Phát biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại buổi sinh hoạt kỷ niệm 85 năm ngày sinh của tướng Nguyễn Sơn (31-12-1993) tại Hà Nội. Tiêu đề do Tạp chí Xưa & Nay đặt. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 269, tháng 10 năm 2006, tr.1-2.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2011, 07:51:05 PM
“CON NGƯỜI TƯỢNG TRƯNG
CHO LÒNG YÊU NƯỚC”
(1)

Đó là đánh giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn của nhân loại về cụ Phan Đình Phùng, người anh hùng của phong trào vũ trang yêu nước chống Pháp vào thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XIX mà hôm nay chúng ta trận trọng tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày mất của cụ.

Khi cụ Phan Đình Phùng hy sinh vì nghĩa lớn thì Bác Hồ của chúng ta mới lên 5 tuổi. Quê hương (làng Đông Thái, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh) cũng như vùng núi rừng Hương Sơn, Hương Khê (Vụ Quang) căn cứ địa kháng chiến của Phan Đình Phùng không xa quê hương Nam Đàn, Nghệ An của Bác. Chắc chắn, tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như trên những chặng đường hoạt động sau này, hình ảnh người thủ lĩnh nghĩa quân Phan Đình Phùng rất sâu đậm. Người còn nhấn mạnh đến nét đặc sắc trong tiểu sử cụ Phan là “một học giả nổi tiếng, một vị quan to, một chí sĩ yêu nước và là người đã tổ chức những phần tử trí thức và nông dân…” tham gia sự nghiệp cứu nước.

Lòng ngưỡng mộ và khâm phục của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cụ Phan đã nói lên tầm vóc của người tiêu biểu nhất của phong trào Cần Vương ở miền Trung (ở các tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh Bình), một vùng đất cũng tiêu biểu nhất cho tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của Tổ quốc chúng ta.

“Có thể nói, cho đến nay sự đánh giá vị trí của cụ Phan Đình Phùng gắn liền với cuộc khởi nghĩa Hương Khê là nhất trí. Cụ là người chí sĩ bất khuất, biết dùng người tài như Cao Thắng. Đã chọn núi rừng hiểm yếu làm căn cứ địa, tổ chức ra 15 quân thứ có kỷ cương, coi trọng chế tạo vũ khí cả thô sơ và súng mới, biết dựa vào dân mà tích trữ quân lương. Nghệ thuật đánh giặc thì chủ động và sáng tạo, khi tập kích, phục kích, khi đánh ngay vào đầu não của địch, khi dùng mưu trí để diệt địch trong trận Vụ Quang nổi tiếng, chiến đấu suốt mười năm, rõ ràng đã có tư tưởng đánh lâu dài với quân Pháp. Song để tìm thấy ở con người đó những bài học cho cuộc sống bảo vệ, xây dựng và đổi mới đất nước ngày hôm nay, chúng ta còn phải tiếp tục nghiên cứu, còn nhiều việc phải làm.

Cuộc hội thảo ngày hôm nay, chúng đã nghe nhiều tham luận khoa học nói về thân thế, sự nghiệp và vị trí của Phan Đình Phùng trong lịch sử. Nhưng làm sao cho những tri thức của các nhà khoa học trở thành tri thức của xã hội, nhất là của lớp trẻ sống trong một hoàn cảnh lịch sử khác xa thời mất nước, nô lệ như thuở cụ Phan đã sống. thực sự chúng ta thấy lo lắng khi chứng kiến hiểu biết về quá khứ, về lịch sử của xã hội ngày càng thấp. Một điều tra được công bố trên báo chí vừa qua cho biết, gần một nửa số người được hỏi mà chủ yếu là các cháu học sinh, không biết Vua Hùng là ai. Sự xuống cấp về tri thức lịch sử ấy được coi là một biểu hiện nghiêm trọng của sự xuống cấp về đạo đức xã hội. Bác Hồ luôn dạy chúng ta “Dân ta phải biết sử ta”, tổ tiên ta ngày trước cũng như Đảng ta ngày nay luôn coi việc học quốc sử là một phần tri thức tạo nên nhân chác một con người có ích cho xã hội.

Bởi vậy, tổ chức kỷ niệm nhân ngày giỗ lần thứ 100 của cụ Phan Đình Phùng cũng như nhiều cuộc sinh hoạt tưởng niệm các danh nhân hay sự kiện lịch sử khác, chúng ta không nên chỉ tổ chức cho long trọng ở hội trường, xây mộ hay dựng bia - đó là những việc cần làm - mà quan trọng hơn là làm sao cho những tri thức này được truyền bá rộng rãi trong quần chúng, đặc biệt là trong giới trẻ. Bởi vì, trong cuộc đời của các vị tiền bối như Phan Đình Phùng có biết bao điều cao quý có tác dụng lớn với việc xây dựng con người mới có chí lớn, có hoài bão, có nghị lực, tài năng và nhất là có lòng yêu nước và tự tôn dân tộc. Điều này càng có ý nghĩa thiết thực trong thời mở cửa, tiếp nhận nhiều thông tin, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa các nước. Thử nhắc lại câu trả lời của Phan Đình Phùng trước thủ đoạn trả thù hèn hạ của thực dân quật mồ mả tổ tiên của mình, dọa bắt giết người anh ruột, cụ đã khảng khái đáp rằng ngội mộ to nhất nên giữ là Tổ quốc Việt Nam, người thân, rất thân nhất là cả mấy triệu đồng bào… thì quả thực tấm gương ấy rất cần cho cuộc sống hôm nay. Xây dựng cuộc sống hòa bình càng phải giữ phẩm chất khí tiết để biết bảo vệ lợi ích dân tộc, lợi ích đồng bào, không chỉ nghĩ đến lợi ích của riêng mình.

Trong bất kỳ thời đại nào của lịch sử dân tộc, chủ nghĩa yêu nước cũng là một động lực cho sự tồn vong và phát triển của đất nước. Do đó, kỷ niệm cụ Phan Đình Phùng, một con người tượng trưng cho lòng yêu nước, chúng ta càng cảm nhận được sâu sắc ý nghĩa thiết thực của việc cần làm này.

Nhân dịp ngày giỗ thứ 100 của cụ Phan Đình Phùng cũng là vào dịp sắp qua năm mới, xin chúc tất cả chúng ta sức khỏe, dốc lòng phấn đấu vì sự nghiệp chung của đất nước làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, khỏi phụ công ơn những bậc tiền bối đã từng chiến đấu và hy sinh cho Tổ quốc như cụ Phan Đình Phùng.


(1) Bài phát biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Hội thảo kỷ niệm 100 năm ngày mất của Phan Đình Phùng, tại Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, ngày 28-12-1995. Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, tháng 1 năm 1996, tr.9.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2011, 07:52:26 PM
BÀI PHÁT BIỂU
CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
TẠI HỘI NGHỊ BAN CHẤP HÀNH HỘI KHOA HỌC
LỊCH SỬ VIỆT NAM KỲ III KHÓA III
NGÀY 22-7-1996 TẠI ĐỒ SƠN, HẢI PHÒNG
(1)

Tôi xin gửi lời chúc mừng đến toàn thể các đại biểu về dự Hội nghị Ban Chấp hành của Hội Khoa học lịch sử hôm nay. Tôi rất vui mừng trước sự trưởng thành về đội ngũ những người làm công tác sử học nói chung và đặc biệt của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam trong những năm gần đây.

Nhân dịp này, tôi muốn phát biểu một vài ý kiến.

1. Quốc gia nào cũng có một nền sử học và dân tộc nào cũng có lịch sử của mình. Dân tộc Việt Nam chúng ta không những có lịch sử lâu dài của những cộng đồng cư dân sinh sống và phát triển trên lãnh thổ của đất nước ta, mà một đặc điểm không phải dân tộc nào cũng có, đó là tính cộng đồng sớm phát triển thành một ý thức dân tộc phản ánh trong một nền văn hóa phong phú, rất đậm nét bản sắc riêng và cùng với nền văn hóa ấy là tinh thần tự chủ của một quốc gia dân tộc hình thành từ rất sớm. Quốc gia dân tộc ấy mặc dầu luôn phải đương đầu với những cuộc xâm lăng từ bên ngoài, thậm chí nhiều lần bị ách thóng trị của nước ngoài đô hộ nhưng luôn quật khởi vùng dậy tự giải phóng và khẳng định nền độc lập của mình. Hàng ngàn năm lịch sử chống ngoại xâm và xây dựng nền văn hiến của các triều đại xa xưa cũng như sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong hơn một nửa thế kỷ vừa qua đã nói lên điều đó.

Và trong sự nghiệp ấy, ông cha ta luôn coi việc viết lịch sử, truyền bá tri thức lịch sử là một nền tảng cho việc xây dựng tâm hồn và bản lĩnh của người Việt Nam, tạo nên một chủ nghĩa yêu nước, một chủ anh hùng truyền từ đời này sang đời khác. Mặc dâu có nhiều pho sử bị thất tuyền nhưng những bộ sử còn lại của các thế hệ sử gia trong quá khứ cũng như những thành tựu của giới sử học trong thời kỳ vừa qua cho thấy những đóng góp to lớn của sử học đối với dân tộc.

Chúng ta biết rằng trong quá trình vận động cách mạng đào tạo cán bộ và giác ngộ quần chúng, Bác Hồ luôn quan tâm đến những tri thức lịch sử. Chương trình đào tạo cho những chiến sĩ cách mạng ở Quảng Châu giữa những năm 1920, hay khi viết bài diễn ca “Lịch sử nước ta” vào thời điểm trực tiếp chuẩn bị cho cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 là những bằng chứng.

Gần đây, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước đã phát biểu nhiều về vai trò của sử học và tầm quan trọng của việc viết và truyền bá tri thức lịch sử.

2. Chúng ta thấy một điều đáng mừng là càng ngày càng có nhiều tác phẩm sử học được in thành sách. Bên cạnh viêc nhiều bộ sử học lớn được dịch và in lại một cách trang trọng là nhiều công trình nghiên cứu mới do các trung tâm, các viện nghiên cứu tổ chức biên soạn, các ngành, các địa phương cũng quan tâm đến việc viết lịch sử của mình, giới nghiên cứu cũng có nhiều công trình cá nhân được công bố về với sự tiếp nhận của bạn đọc. Riêng giới lịch sử quân sự vừa tổng kết hoạt động của ngành đã cho thấy quy mô to lớn của công tác tổng kết chiến tranh với những thành tựu bước đầu đã đạt được.

Nhưng điều toi muốn nói là mặc dù những cố gắng của giới sử học là đáng khích lệ nhưng thực sự nó vẫn chưa tương xứng với tầm vóc và sự phong phú của hiện thực lịch sử mà nhân dân ta qua các thế hệ đã làm nên, trong đó có lịch sử cuộc Cách mạng Tháng Tám và hai cuộc kháng chiến của dân tộc ta trong những thập kỷ vừa qua. Đó là chưa nói đến, bên cạnh lịch sử các sự kiện chính trị, lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm còn biết bao lĩnh vực khác nữa như lịch sử kinh tế, xã hội, văn hóa, ngoại giao, v.v. mà những bài học của nó đáng tự hào vừa rất thiết thực góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước và đổi mới hiện nay…

Tôi cũng hoan nghênh một số công việc của Hội cùng với giới sử học đã góp phần nhắc nhở ý thức “uống nước nhớ nguồn” đối với nhiều sự kiện lịch sử trọng đại, việc tôn vinh những nhân vật lịch sử có công với dân với nước, trong đó có những nhân vật mà do những điều kiện lịch sử trước đây chúng ta chưa nhận thức được đầy đủ, lại quan tâm đến nhiều nhân vật lịch sử cùng thời với chúng ta, ví như việc tổ chức tưởng niệm các tướng lĩnh của quân đội ta có công với đất nước. Những việc làm nói trên là rất đáng hoan nghênh, chính xác, đúng với nguyên tắc cơ bản của những người làm lịch sử.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 30, tháng 8 năm 1996, tr.5-6.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2011, 07:53:38 PM
3. Tuy nhiên, tôi vẫn còn có điều băn khoăn và hơn thế nữa là sự lo lắng, đó là vì sao kiến thức lịch sử lại không phổ biến sâu rộng được trong quản đại quần chúng, như là giới trẻ? Báo chí đã nói nhiều về vấn đề này. Tôi nhớ khi còn trẻ, lúc đó đất nước còn bị thực dân đô hộ, tri thức lịch sử trở thành niềm tự hào, thành động lực để động viên mọi người làm cách mạng theo tấm gương của người xưa. Cụ Phan Bội Châu viết “Việt Nam vong quốc sử” để mọi người thấy được mối nhục mất nước mà phấn đấu để không hổ thẹn với các bậc tiền bối.

Giơ đây đặt câu hỏi ấy, vì sao lịch sử chưa hấp dẫn được người đọc? chúng ta có thể nói đến nhiều lý do nhưng điều đáng để chúng ta suy nghĩ còn là: giới sử học đã làm gì để những tác phẩm của mình đi được vào lòng quần chúng? Tô9i chợt nhớ đến những cuốn sách giáo khoa, hay lời giảng của các thầy dạy sử năm xưa, trong bối cảnh bị thực dân thống trị vẫn có cách để nói lên được lịch sử truyền thống hào hùng của dân tộc, rồi những câu viết kín đáo trong sách giáo khoa, những thể loại rất truyền thống của người Việt Nam như một khúc diễn ca, một câu ca dao cũng để mọi người học hỏi và ghi nhớ. Tôi cứ nghĩ nến chúng ta in lại cuốn “Đại Nam quốc sử diễn ca” của các cụ Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái với những câu mộc mạc: “Bà Trưng quê ở Châu Phong…” chắc người đọc, nhất là các cháu thiến niên nhi đồng vẫn thấy thích, lại dễ nhớ. Rồi để nâng cao dân trí có thể chú thích nhêm những ý, những nội dung mà thế hệ chúng ta ngày nay nhận thức cao hơn… Những tri thức lịch sử diễn ca viết thành thơ hay vẽ thành tranh chắc chắn sẽ hấp dẫn giới trẻ để họ hiểu về cội nguồn, về dân tộc chứ không phải chỉ say mê với những nhân vật, tích truyện của người nước ngoài. Tôi mong rằng giới sử học cùng với giới sáng tác nghệ thuật sẽ có nhiều hình thức chuyển tải tri thức lịch sử dân tộc cho giới trẻ…

Ngay cả những bộ sách lớn, các nhà xuất bản, các tác giả đâu tư rất nhiều công sức nhưng đôi khi lại không phát huy được tác dụng. Sách viết về các nền văn minh kim cổ rất nhiều mà lại sao nhãng giới thiệu về nền văn minh Việt Nam qua các di tích, di chỉ các thành tựu của nhiều thời đại, các gương mặt tiêu biểu… Trong lúc học giả nước ngoài có uy tín khi nghiên cứu lịch sử các nền văn minh trên thế giới đã trân trọng đặt nền văn hóa của dân tộc ta như một trong vài ba chục nền văn minh tiêu biểu của nhân loại, thì chính chúng ta lại coi thường, giới thiệu quá sơ lược. Mỗi một tác phẩm lịch sử phải truyền đạt được và để lại trong lòng người đọc một tình cảm yêu nước, một chí khí bất khuất. Đó mới là những tác phẩm sử học chân chính mà nhân dân đang mong đợi.

4. Một vấn đề đang trở thành bức xúc trong bối cảnh chúng ta đang mở cửa, đang công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xử lý mối quan hệ giữa những lợi ích kinh tế và yêu cầu văn hóa. Chúng ta biết rằng, nhân loại ngày càng nhận thức được rằng giữa văn hóa và kinh tế có một mối quan hệ hỗ tương rất chặt chẽ, coi văn hóa là động lực cho phát triển kinh tế. Nhưng đôi khi sự thiển chận dẫn tới việc hy sinh những giá trị văn hóa để đạt được những lợi ích vật chất trước mắt. Một phần do nhận thức về trình độ quản lý chúng ta đang đứng trước một hiện trang đángg báo động về việc cảnh qua môi trường thiên nhiên và lịch sử bị xâm phạm nghiêm trọng trước các hoạt động kinh doanh. Lẽ ra cần phải tạo ra một mối quan hệ hài hòa thì ta lại chứng kiến chúng trở thành đối lập. Nhiều công tình xây dựng vì những mục đích kinh tế phá vỡ và làm xuống cấp nghiêm trọng môi trường hiên nhiên, văn hóa và lịch sử. Nhiều di tích lịch sử (kể cả đã được Nhà nước xếp hạng) bị vi phạm. Dư luận xã hội và Hội Khoa học Lịch sử đã mạnh mẽ lên tiếng, nhưng để thức tỉnh được những người đặt lợi ích kinh tế trước mắt cao hơn cả nền văn hóa và tương lai tinh thần của dân tộc thì đây sẽ là một cuộc đấu tranh không dễ dàng. Đừng để Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây mất đi những cảnh quan và di tích văn hóa lâu đời, đừng để thành Cổ Loa bị xâm lấn… Bảo vệ bằng được những di tích lịch sử và văn hóa của dân tộc là mục tiêu và nhiệm vụ cao cả của Nhà nước và mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có vai trò quan trọng của các nhà sử học, các nhà văn hóa và kiến trúc. Ở đây không chỉ có vấn đề lợi ích mà còn là vấn đề phẩm giá, là thước đo đối với một dân tộc vốn có nền văn hiến như dân tộc Việt Nam ta.

5. Trở lại vấn đề giáo dục lịch sử. Tôi có dịp thăm một số trường chuyên, lớp chọn, các em rất giỏi về khoa học tự nhiên, toán, ly hóa, ngoại ngữ, tin học… nhưng do coi nhẹ giáo dục các môn khoa học xã hội và nhân văn, nên kiến thức về mặt này của các em rất kém. Tôi cũng dự lễ phát phần thưởng cho các học sinh giỏi toàn quốc, trong đó không thấy có học sinh giỏi môn sử. Hỏi ra mới biết là sử học không được xếp vào các môn thi học sinh giỏi toàn quốc. Đây là thiếu sót lớn.

Chúng ta có một lực lượng đông đảo các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn lịch sử ở các cấp từ phổ thông đến đại học và trên đại học, chúng ta có một đội ngũ rất đông đảo các nhà nghiên cứu và giảng dạy lịch sử, trong đó có nhiều người đạt tới trình độ cao về học hàm học vị. Đó là một lực lượng rất đáng quý. Nhưng điều quan trọng là làm sao cho đội ngũ ấy thông qua các hoạt động của mình: nghiên cứu, viết sách, giảng dạy… phải đưa những tri thức vào đông đảo quần chúng để rồi biến những tri thức ấy thành tình cảm và ý thức của mỗi người Việt Nam về lòng yêu nước, lòng tự hào đối với quá khứ cũng như trách nhiệm đối với hiện tại và tương lai, thành một trong những động lực tinh thần quan trọng cho sự nghiệp đổi mới hiện nay.

Sử học phải góp phần tích cực vào nhiệm vụ giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề ra. Sử học phải có vị trí xứng đáng trong đời sống tinh thần của dân tộc, nhất là ở một đất nước có văn hiến và truyền thống lịch sử như đất nước ta. Điều đó phụ thuộc nhiều và trước hết vào những việc làm của giới sử học chúng ta.

Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2011, 07:54:54 PM
MẤY SUY NGHĨ VỀ VẤN ĐỀ “VIỆT NAM HỌC”(1)

Cuộc hội thảo về Việt Nam học lần này là cuộc hội thảo đầu tiên tổ chức tại Hà Nội, nhưng từ lâu nhiều nhà khoa học ở trong nước và nước ngoài đã dày công nghiên cứu và đã có những công tình quan trọng giúp chúng ta hiểu biết thêm về đất nước và con người Việt Nam. Điều cơ bản là đối tượng của Việt Nam học là một lĩnh vực rộng lớn, nội dung phong phú, còn có những vấn đề quan trọng cần được đi sâu nghiên cứu và lý giải.

Việt Nam là một quốc gia dân tộc hình thành rất sớm, khác với các quốc gia dân tộc ở phương Tây.

Việt Nam có một nền văn hóa sớm phát triển. Những di chỉ của văn hóa Đông Sơn với những trống đồng nổi tiếng đã có từ giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Nói đến nhà nước Văn Lang - Âu Lạc với cố đô Cổ Loa - một trung tâm chính trị và quân sự với những thành quách, những mũi tên đồng thì cũng ở vào thế kỷ III trước Công nguyên. Có thể nói rằng những cư dân bản địa đầu tiên rất sớm đã có một triết lý sống, một triết lý hành động trong cuộc đấu tranh chống thiên tai và địch họa. Triết lý ấy được thể hiện trong cả một kho tàng ca dao, tục ngữ được lưu truyền từ đời này qua đời khác như dòng sữa nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách con người Việt Nam, những truyền thiết về nguồn gốc dân tộc với hình tượng “Con Lạc cháu Hồng”, “Con Rồng cháu Tiên”, “Mẹ Âu Cơ và bọc trứng trăm con”… luôn luôn răn dạy con người Việt Nam về côi nguồn cùng chung một gốc để gìn giữ tình nghĩa “đồng bào”, “tình làng nghĩa xóm. Đặc biệt là hình tượng Vua Hung với 18 đời kế vị đã trở thành tiềm thức của người Việt Nam. Những tuyền thuyết về “Sơn Tinh, thủy Tinh”, về “Thánh Gióng”… nhắc nhở mọi người dân ghi nhớ rằng chinh phục thiên nhiên cũng như chống giặc ngoại xâm là nghĩa vụ thiêng liêng đối với mọi thế hệ. Các tập tục cổ truyền như thờ cúng tố tiên, tôn vinh những người có công với nước, những lễ hội diễn xướng dân gian là những cách thức để giữ gìn và bồi đắp bản lĩnh cũng như đạo làm người của dân tộc Việt Nam.

Về sau, triết lý phổ biến và sâu sắc ấy mới được ghi vào lịch sử thành văn đã từng bước tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tinh thần đấu tranh bất khuất chống mọi kẻ địch xâm lược để làm chủ nước nhà; là đức tính lao động cần cù và bền bỉ để làm chủ thiên nhiên; là tinh thần nhân ái, cố kết, chung lưng đấu cật để bảo vệ, xây dựng cộng đồng; là tinh thần sống hòa bình và hữu nghị với các nước láng giếng và trải qua một cuộc đấu tranh biết bao gian khổ và lâu dài để dựng nước và giữ nước, tạo ra cho dân tộc Việt Nam một tinh thần thông minh sáng tạo khá đặc biệt, nhất là trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm.

Nền văn hóa nói đây đương nhiên bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà con người Việt Nam đã sáng tạo ra trong hoạt động sản xuất cũng như trong đấu tranh xã hội để đáp ứng mục tiêu tồn tại và phát triển, dựng nước và giữ nước.

Chính nền văn hóa truyền thống ấy đã tạo nên một điển hình hiếm thấy là trên lãnh thổ Việt Nam, 54 dân tộc với những tiếng nói khác nhau, phong tục tập quán khác nhau trong suốt quá trình lịch sử đã thường xuyên sát cánh bên nhau trong sản xuất cũng như trong chiến đấu, chưa hề xảy ra những cuộc chiến tranh sắc tộc. Trước thiên tai, đặc biệt là trước địch họa, các dân tộc càng đoàn kết với nhau trong khi vẫn giữ bản sắc của mỗi dân tộc, lại cùng tạo nên một nền văn hóa chung của một nước Việt Nam thống nhất. Tinh thần đoàn kết thống nhất ấy toát lên trong câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Đoàn kết là sức manh, tinh thần đoàn kết, đại đoàn kết nói trên, một nét tiêu biểu của nền văn hóa Việt Nam, đã mang lại cho dân tộc ta một sức sống mãnh liệt.

Do đâu mà trải qua hơn 1.000 năm đô hộ của phong kiến phương Bắc, dân tộc Việt Nam không những không bị đồng hóa, trái lại còn tích lũy lực lượng, cuối cùng vùng lên giành lại độc lập. Đó là nhờ người dân Việt Nam đã giữ vững được nền văn hóa vốn có.

Do đâu mà một nước nhỏ, đất không rộng, người không đông, mà đã đánh bại một kẻ xâm lược từ cuộc chiến thắng mấy vạn quân Tần vào đầu Công nguyên, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Bí và những vị anh hùng yêu nước khác ngay trong thời bị đô học cho đến chiến thắng hiển hách trên sông Bạch Đằng vào thế kỷ X, lập nên nước Đại Cồ Việt. Và từ đó, trải qua gần 1.000 năm nước nhà độc lập thì đã liên tiếp đánh thắng các độ quân xâm lược lớn mạnh của các triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh, đặc biệt là đã ba lần chiến thắng giặc Nguyên - Mông, đội quân xâm lược hung bạo nhất của thời trung cổ. Đó là nhờ ở sức mạnh của nền văn hóa truyền thống, trên cơ sở ấy đã biết hết hợp tinh thần quyết chiến giữ nước với tài thao lược sáng tạo xây dựng nên học thuyết quân sự Việt Nam độc đáo.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 54,tháng 8 năm 1998, tr.7-9.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2011, 07:56:38 PM
Trong suốt thời đại Đại Việt, chế độ phong kiến với tính chất và đặc điểm riêng, đã hình thành và ngày càng được củng cố; công cuộc xây dựng đất nước và không ngừng phát triển về nhiều mặt với nền văn minh lúa nước, hệ thống đê điều và các nghề thủ công tinh xảo, việc giao lưu hàng hóa với các nước đã được mở mang với một lực lượng hàng hải khá mạnh ở biển Đông. Xây dựng nhà nước tập quyền, ban hành các bộ luật, tổ chức quân đội, thực hiện chế độ thi thuyển chọn nhân tài, mở mang nền văn hiến… Hình thái kinh tế - xã hội có những đặc điểm gì liên quan đến cái gọi là phương thức sản xuất châu Á mà Mác đã đề cập; vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu, nhưng rõ ràng xã hội Việt Nam đã không trải qua chế độ nô lệ.

Có thể nói, nước Việt Nam thời bấy giờ được coi là cường thịnh so với các nước trong khu vực.

Về địa lý chiến lược, nước Việt Nam có một vị trí quan trọng nằm trên con đường giao lưu quốc tế giữa hai quốc gia lớn cũng là hai nền văn hóa vĩ đại của loài người: Trung Hoa và Ấn Độ. Nước Việt Nam còn nằm trên con đường giao thông hàng hải trọng yếu của khu vực giữa Đông Á và Nam Á. Trong lịch sử, Việt Nam cũng là một đối tượng trọng yếu của chủ nghĩa bành trướng, chủ nghĩa thực dân của các cường quốc. Do vậy mà Việt Nam là một trong số không nhiều dân tộc từ xa xưa đã có cơ hội tiếp xúc với nhiều nền văn minh lớn trên thế giới ở phương Đông cũng như ở phương Tây.

Nhìn chung về giao lưu văn hóa, Việt Nam luôn có thái độ rộng mở. Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo của phương Đông và sau này của Thiên chúa giáo của phương Tây đã được du nhập, được tiếp nhận và chuyển hóa phù hợp với tâm tính của người Việt Nam và lợi ích của dân tộc Việt Nam. Một ví dụ điển hình là những nhà nho nổi tiếng đều là những sĩ phu yêu nước, thực chất là những nhà yêu nước uyên bác về Nho học. chúng ta đã tiếp nhận chữ Hán để chuyển tải nền văn hóa của mình và làm nên những áng hùng văn như “Bình Ngô đại cáo”; về chữ viết, chúng ta chấp nhận việc latinh hóa và coi thữ chữ ấy là “quốc ngữ”; sự tiếp nhận ấy đã góp phần quan trọng phổ biến kiến thức và nâng cao dân trí của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Các thương gia cũng như các nhà truyền giáo nước ngoài nói chung đều được phép tự do hoạt động với điều kiện tôn trọng chủ quyền và lợi ích dân tộc Việt Nam. Mãi hco đến sau này, trong một thời gian nhất định, triều đình nhà Nguyễn đã cho thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng” và “bài trừ tà đạo”.

Bước sang thời kỳ cận đại, đã diễn ra cuộc đụng đầu lịch sử giữa các nước tư bản phương Tây với nền văn minh công nghiệp và các nước phong kiến phương Đông với nền văn minh nông nghiệp. Tiếp theo sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trọng thương là các cuộc chiến tranh xâm lược lớn nhỏ để chiếm lĩnh thuộc địa, phân chia lại thị trường. Thời gian này đặt ra cho “Việt Nam học” nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, đồng thời phải đặt nó nằm trong phạm vi rộng lớn hơn của dân tộc học phương Đông. Từ các nước Nam Á, Đông Nam Á, Nhật Bản, Trung Quốc cho đến Việt Nam nói riêng, tình hình đã diễn ra với những đặc điểm vừa có sự đồng nhất vừa có sự khác biệt nhất định.

Việt Nam, từ giữa thế kỷ XIX đã từng bước bị tiến thành thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp, một thuộc địa khai thác, đồng thời là đối tượng của chính sách chia để trị trong khuôn khổ liên bang Đông Dương.

Thế thì cái gọi là chính sách “khai hóa” với những thủ đoạn cưc kỳ độc ác, cực kỳ tàn bạo mà Người đã nêu trong Bản án chế độ thực dân Pháp đã nêu lên cũng cần được nghiên cứu cụ thể hơn để thấy cho hết chủ nghĩa thực dân thực sự là một vết nhơ trong lịch sử nhân loại.

Một đối tượng quan trọng hàng đầu của Việt Nam học là các cuộc khởi nghĩa, các phong trào kháng Pháp liên tiếp nổi dậy và liên tiếp bị thất bại, bị dập tắt trong biển máu. Nguyên nhân là ở đâu? Nền văn hóa truyền thống với chủ nghĩa yêu nước kiên cường bất khuất đã trải qua những bước biến hiên như thế nào mà lại đưa cả một dân tộc giàu tinh thần đấu tranh bất khuất đi đến một cảnh ngộ không có lối thoát?


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2011, 07:57:22 PM
Mãi cho đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra con đường cứu nước thì sự nghiệp giải phóng dân tộc mới từng bước tiến lên trên con đường thắng lợi. Nhà yêu nước vĩ đại sinh ra ở đất Lam Hồng hấp thụ sâu sắc tình hình hoa của tuyền thống văn hóa Việt Nam, lại có hiểu biết sâu rộng về văn hóa phương Đông; trải qua bao năm bôn ba khắp bốn biển năm châu, Người đã nhạy bén tiếp thu tinh hoa của các nền văn hóa trên thế giới của nền văn hóa phương Tây. Người nói: Phương Đông hay phương Tây có cái gì hay, cái gì tốt thì ta tiếp thu, tiếp thu có chọn lọc và phát triển thành thuần túy Việt Nam, “Có như thế mới là dân chủ”, nghĩa là mới biến thành tài sản của mỗi một người dân - người làm chủ đất nước. Và khi Người đã đi đến với Chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm ra chân lý cứu nước thì các mối quan hệ giữa dân tộc với giai cấp, quốc gia với quốc tế đã được giải quyết… Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã gắn liền với chủ nghĩa xã hội, do đó, đã tạo nên cho nền văn hóa Việt Nam truyền thống một chắt lượng mới, một sức mạnh mới. Người đã xây dựng nên một chủ nghĩa nhân văn cao cả, coi trọng quyền sống thiêng liêng của con người, một triết lý nhân văn hành động, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Người đã phát hiện sức mạnh vô tận của nhân dân, của toàn dân. Có phát động được lực lượng của mọi giai cấp, mọi tầng lớp yêu nước, nhằm mang lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, cho toàn dân thì mới có thể đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi.

Do đâu mà sau biết bao cuộc khởi nghĩa thất bại, nhân dân Việt Nam đã giành được, trong một thời gian ngắn, thắng lợi hoàn toàn trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đưa lại quyền độc lập cho nước Việt Nam, với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở châu Á.

Do đâu mà tiếp đó, trải qua 30 năm của cuộc chiến tranh xâm lược lâu dài nhất và khốc liệt nhất trong lịch sử, dân tộc Việt Nam đã làm nên được những chiến công hiển hách chưa từng có, tưởng chừng như không thể làm được, cuối cùng đã giành được thắng lợi hoàn toàn và trọn vẹn: một nước nhỏ đã đánh thắng hai đế quốc to là đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ. Đó chính là nhờ ở sức mạnh tổng hợp mà địch không lường hết của dân tộc Việt Nam, của toàn dân, sức mạnh của khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh toàn dân Việt Nam,của học thuyết quân sự Việt Nam phát triển đến đỉnh cao trong thế kỷ XX, của nền văn hóa Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đây cũng là thắng lợi của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp và Mỹ. Chính nhiều nhà chính khách và nhà khoa học Mỹ cũng đã nói: Mỹ thất bại vì không hiểu lịch sử Việt Nam, không hiểu văn hóa Việt Nam. Một chính khác của Mỹ lại nói: nếu Việt Nam chỉ có tinh thần chiến đấu anh hùng không thôi thì sức mạnh quân sự khổng lồ của Mỹ đã đánh bại, nhưng Việt Nam còn có trí thông minh sáng tạo. Tuy vậy cho đến nay câu hỏi: sao Việt Nam đã thắng còn đặt ra với nhiều người và Việt Nam học nên tiếp tục nghiên cứu.

Sau khi giành được độc lập và thống nhất hoàn toàn, nhân dân Việt Nam bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trải qua một thời gian đi theo mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xôviết, tuy có giành được những thành tựu quan trọng nhất định, nhưng tình hình kinh tế - xã hội ngày càng lâm vào trì trệ và khủng hoảng. Đảng Cộng sản Việt Nam, dưới ánh sáng của tư tưởng Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện vấn đề, tổng kết thực tiễn, đề ra đường lối đổi mới sáng tạo, đưa lại những thắng lợi quan trọng.

Tuy vậy, nhân dân Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ mới trong tình hình phải khắc phục những tổn thất lớn lao của mấy thập kỷ chiến tranh. Mặt khác, con đường của một nước đang phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội với nền kinh tế nhiều thành phần, và cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước lại là một con đường rất mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn, chưa hề có tiền lệ trong lịch sử Việt Nam học cần thực sự coi trọng vấn đề khắc phục sự chậm trễ cả về mặt lý luận, với quan điểm thực tiễn và tinh thần dân chủ. Tôi nghĩ rằng, đây không chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam mà cũng là một nhu cầu bức thiết đối với nhiều nước trên thế giới, một vấn đề lý luận của thời đại.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2011, 07:59:00 PM
Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong tình hình đất nước về cơ bản vẫn còn đang ở tình trạng chậm phát triển, khu vực nông nghiệp vẫn còn chiếm đến trên 70% lực lượng lao động. Rõ ràng, với chính sách đổi mới và mở cửa, Việt Nam đang đứng trước những vận hội mới, nhưng đồng thời cũng phải đương đàu với những thách thức mới.

Với sự tăng tốc của xu hướng toàn cầu hóa, sự xuất hiện của một nền văn minh được coi là “nền văn minh trí tuệ” ở một số nước tư bản, chúng ta đang chứng kiến sự phát triển nhanh chưa từng thấy của một cuộc cách mạng khoa học và công nghệ làm cho khối lượng của cải vật chất ngày càng tăng, trong khi tỷ lệ lao động trực tiếp trong mỗi sản phẩm làm ra ngày càng giảm bớt. có khi đến mức độ cực kỳ nhỏ bé, như Các Mác đã tiên đoán: cơ cấu kinh tế xã hội ở các nước tư bản phát triển cũng đang trải qua những biến đổi sâu sắc: tỷ lệ lao động trực tiếp trong nông nghiệp và công nghiệp giảm rất mạnh, tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực dịch vụ và thông tin đã chiếm trên 70% và còn tiếp tục tăng hơn nữa.

Chúng ta đang chứng kiến một nghịch lý: trong khi tổng số vốn của cải vật chất làm ra ngày càng có khả năng đáp ứng nhu cầu nhân loại thì hai phần ba dân số thế giới vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ và lạc hậu, khoảng cách giữa các nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn. Gần đây cuộc khủng hoảng trầm trọng về tài chính, tiền tệ và cơ cấu kinh tế ở châu Á lại làm cho tình hình thêm phực tạp.

Trước thực trạng ấy vấn đề đặt ra cho nước Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới là phải tìm ra những phương sách đúng và sáng tạo thích hợp cho một sự phát triển nhanh và bền vững.

Chúng tôi nghĩ rằng, phương sách ấy chính là sự phát triển nền văn hóa Việt Nam với văn học nghệ thuật là một bộ phận quan trọng, một nền văn hóa giữ vững truyền thống và cốt cách dân tộc đi đôi với tiếp thu nhanh chóng và thông minh tinh hoa của nền văn hóa nhân loại. Nền văn hóa ấy kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa nhân văn theo tư tưởng Hồ Chí Minh, coi con người là nội lực chủ yếu, thực hiện bằng được quốc sách về giáo dục, đào tạo nên những con người có đạo đức và trí tuệ, sống có nhân các và lý tưởng vì nước, vì dân, vì mình và vì mọi người. Nền văn hóa ấy là sự nghiệp giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của toàn dân với đội ngũ trí thức, đội ngũ nhân tài của đất nước làm nòng cốt.

Nền văn hóa ấy tạo ra động lực để xây dựng nên một nền kinh tế nhân dân với cơ cấu không ngừng đổi mới, mang lại năng suất lao động, hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng cao, một cộng đồng xã hội dân chủ và công bằng với cuộc sống lành mạnh và hạnh phúc ngay khi mức sống chưa cao. Nền văn hóa ấy là một tiền đề quan trọng hàng đầu góp phân tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn đưa dân tộc ta đến thắng lợi trong quá trình giữ vững độc lập chủ quyền đồng thời hội nhập với khu vực và thế giới.

Nền văn hóa ấy mang lại sức sống mãnh liệt cho nhân dân Việt Nam vững bước tiến lên trên con đường đổi mới, bước vào thiên niên kỷ mới với niềm tin tưởng và tự hào dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự hợp tác và giúp đỡ của bạn bè quốc tế.

Chúng tôi hoan nghênh những ý kiến của các nhà khoa học trong nước và quốc tế về những vấn đề đã đề ra.

Tại diễn đàn này, chúng ta khẳng định với một tinh thần trọng thị những đóng góp của giới Việt Nam học quốc tế. Đã từng có thời các công trình nghiên cứu Việt Nam có thể nhằm vào những mục đích từ bên ngoài (cai trị, xâm lược, truyền giáo, thăm dò thị trường…) nhưng giờ đây, chúng ta tin tưởng rằng những thành tựu nghiên cứu của giới Việt Nam học quốc tế ngày càng hướng vào mục tiêu tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, tăng cường tình hữu nghị, sự hợp tác và cùng nhau phát triển. Và chính cuộc hội thảo hôm nay là một biểu tượng của sự hợp tác giữa các giới nghiên cứu Việt Nam và các học giả quốc tế.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2011, 08:04:38 PM
THƯ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP,
CHỦ TỊCH DANH DỰ HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ
GỬI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC
HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
LẦN THỨ IV
(1)

Tôi đã nhận được giấy mời đến dự Đại hội Hội Khoa học lịch sử. Rất tiếc không về dự được. Tôi xin gửi đến các vị khách quý, đến Đoàn chủ tịch và toàn thể các đại biểu lời chúc mừng nhiệt liệt nhất.

Tôi xin bày tỏ sự nhất trí với nội dung cơ bản của bản báo cáo Ban Chấp hành Trung ương trình ra Đại hội, với những nhiệm vụ và phương hướng hoạt động của Hội trong Nhiệm kỳ tới.

Đại hội Đại biể toàn quốc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam diễn ra vào một thời điểm đặc biệt - năm 2000 - năm giao thời giữa hai thế kỷ, giữa hai thiên niên kỷ, cũng là năm chúng ta kỷ niệm lần thứ 70 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và nhiều ngày kỷ niệm trọng đại của dân tộc.

1. Đây là một dịp để chúng ta nhìn lại thế kỷ XX, một thế kỷ chiến tranh và cách mạng đầy thử thách và hy sinh khốc liệt, cũng là một nửa htế kỷ của những sáng tạo lớn về khoa học và công nghệ, một sự chuyển biến lớn về kinh tế và xã hội, đưa lại một trật tự thế giới mới vô cùng phức tạp.

Đối với nước ta, thể kỷ XX là một thể kỷ đầy thử thách quyết liệt nhất, với những thắng lợi vẻ vang nhất, những thắng lợi tưởng chừng như không thể có được, như “huyền thoại”, đặc biệt là từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ thịch Hồ Chí Minh sáng lập, xây dựng và rèn luyện.

Đây là một dịp để chúng ta nhìn lại không những thế kỷ XX mà cả thiên niên kỷ thứ hai của thế giới và trong nước ta, để thấy rõ hơn những xu thế lớn của thời đại cũng như những truyền thống và kinh nghiệm lịch sử của dân tộc đã từng là động lực to lớn xuyên suốt đưa nhân dân ta, sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nước ta tiến lên.

Bước sang thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ ba, thế giới sẽ có những thay đổi hết sức lớn lao. Trong khi một số nước đang tiến vào kỷ nguyên mới của “nền văn minh trí tuệ” thì chúng ta cũng như phần lớn các nước khác trên thế giới vẫn đang ở trong tình trạng kém phát triển. Chúng ta đang đứng trước những vận hội mới đồng thời với những thử thách lớn.

Vì vậy, trong năm 2009 và cả trong nhiệm kỳ thứ IV sắp tới, chúng ta cần tổ chức những cuộc Hội thảo khoa học để đánh giá một cách toàn diện và khách quan thực trạng của nền sử học nước ta, không những trong thế kỷ XX mà cả trong thiên niên kỷ thứ hai.

Từ đó, chúng ta có thể rút ra những bài học sâu sắc hơn về truyền thống và kinh nghiệm, như trên đã nói, đã từng là động lực to lớn, nguồn nghị lực và trí tuệ sáng tạo đưa nước ta tiến lên những chân trời mới, tiến lên mạnh, nhanh và vững. Đồng thời chúng ta cần và có thể có một tầm nhìn có tính logic lịch sử và biện chứng về những xu hướng của thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ ba, trên cơ sở ấy đề ra định hướng cho công tác nghiên cứu khoa học lịch sử, cho sự phát triển của nền sử học nước ta trong tương lại.

Muốn làm được những nhiệm vụ trên, cần đặt thành vấn đề quan trọng là phải có một kế hoạch bồi dưỡng và đào tạo một đội ngũ các nhà sử học có bản lĩnh, đạo đức và tài năng một việc mà Hội ta phải chủ trì, với sự quan tâm và lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và liên hiệp của các Hội Khoa học và Kỹ thuật.

2. Tôi nhất trí cao với báo cáo Đại hội đề ra nhiệm vụ có thể coi là quan trọng hàng đầu là tập trung lực lượng các nhà khoa học có đức và có tài trong cả nước về để biên soạn bằng được một Bộ Lịch sử Việt Nam với quan điểm và phương pháp khoa học, với nội dung bảo đảm được tính chân thực lịch sử, xứng đáng với tầm vóc của dân tộc Việt Nam anh hùng và của thời đại Hồ Chí Minh vĩ đại.

Cần bổ sung, hoàn chỉnh hoặc biên soạn lại với chất lượng cao hơn bộ giáo trình lịch sử cho học sinh phổ thông các cấp và cho sinh viên đại học, đi đôi với việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn lịch sử trong nhà trường.

Đồng thời, cần coi trọng hơn việc biên soạn những bộ sách nhỏ nhưng dễ hiểu, những bộ tranh truyện hấp dẫn về lịch sử nước nhà cho đông đảo thiếu niên và nhi đồng.

3. Vấn đề phát hiện, bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử và văn hóa là một vấn đề quan trọng, cần đạt thành một yêu cầu bắt buộc trong các kế hoạch, quy hoạch xây dựng và phát triển đất nước theo đường lối công nghiệp hóa, hiện địa hóa, đặc biệt là ở các đô thị lớn, các vùng căn cứ địa cách mạng, các địa danh lịch sử, các vùng lãnh thổ có danh lam thắng cảnh…

4. Về tổ chức, cần phấn đấu thực hiện ở mức cao hơn mục tiêu mà Đại hội lần thứ II đã đề ra làm cho “Hội Khoa học lịch sử thực sự trở thành tổ chức của giới sử học Việt Nam trên cả nước”, xứng dáng là một thành viên tích cực và quan trọng của Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

5. Trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, đặc biệt là cách mạng thông tin và viễn thông với mạng Internet đang diễn ra với nhịp độ siêu tốc, cần có kế hoạch xây dựng và tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật của Hội ta ở Trung ương, ở các địa phương, các cơ quan nghiên cứu, các trường học để phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, công tác giảng dạy và học tập, sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng trong công tác truyền bá những tri thức lịch sử, nhất là quốc sử, cho đông đảo quần chúng nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ, thực hiện lời dạy của Bác Hồ.

         Dân ta phải biết sử ta,
         Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam..


Xem đó là một nhiệm vụ quan trọng để góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, giữ gìn và phát huy các giá trị lịch sử và tuyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.

Nhân dịp đầu năm mới, xin gửi lời chúc tết đốt đẹp nhất đến toàn thể đội ngũ làm công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử trong cả nước. Chúng ta gửi lời chúc đồng bào và chiến sĩ cá tỉnh miền Trung, hiện đang ra sức khắc phục hậu quả thiên tai, sẽ có một cái Tết đầy niềm tin trong tình thương yêu đùm bọc của đồng bào cả nước.

Một lần nữa, chúc Đại hội thành công tốt đẹp.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 72, tháng 2 năm 2000, tr.12-13, 27.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2011, 08:06:36 PM
THƯ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP
GỬI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ V
HỘI KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM
(1)

“… Sử học là một khoa học nền tảng của khoa học xã hội và nhân văn, giữ vai trò rất quan trọng nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân, trong giáo dục truyền thống, xây dựng bản lĩnh con người Việt Nam, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và cung cấp các căn cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định đường lối, chính sách xây dựng và bảo vệ đắt nước, hội nhập kinh tế thế giới…”.

… Trước hết, tôi bày tỏ sự tán đồng đối với Báo cáo của Ban Cháp hành Trung ương Hội trình bày trước Đại hội lần thứ V. Tôi hoan nghênh và đánh giá cao những hoạt động của Hội trong 5 năm qua, nhất là việc thúc đẩy sự phát triển của nền sử học hiện đại Việt Nam về lý luận và phương pháp luận cũng như về nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ, việc phối hợp với cơ quan báo chí và tuyền thông phổ cập tri thức lịch sử kết hợp với giáo dục truyền thống trong nhân dân, đặc biệt là trong thế hệ trẻ, các hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần tích cực bảo vệ di sản văn hóa dân tộc.

Nhiệm kỳ 5 năm 2005-2010 sắp tới sẽ có Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhiều ngày kỷ niệm quan trọng và tiến tới nghìn năm Thăng Long - Hà Nội. Tôi mong rằng Hội Khoa học lịch sử Việt Nam trên cơ sở đoàn kết, tập hợp với sử học cả nước và phối hợp với cơ quan nghiên cứu và đào tạo của nhà nước, sẽ thực hiện thành công những phương hướng và chương tình hoạt động do Đại hội đề ra.

Sử học là một khoa học nền tảng của khoa học xã hội và nhân văn, giữ vai trò rất quan trọng nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân, trong giáo dục truyền thống, xây dựng bản lĩnh con người Việt Nam, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và cung cấp các căn cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong hoạch định đường lối, chính sách xây dựng và bảo vệ đắt nước, hội nhập kinh tế thế giới. Tôi hy vọng Hội Khoa học Lịch sử và giới sử học Việt Nam nhận thức đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình và có nhiều cống hiến góp phần khắc phục tình trạng nghèo nàn lạc hậu hiện nay của đất nước, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Tôi cũng mong rằng sau khi hoàn thành xong 4 bộ lịch sử Việt Nam cỡ trung bình hiện nay, Hội sẽ xây dựng kế hoạch biên soạn một bộ quốc sử lớn tương xứng với bề dày và nội dung phong phú của lịch sử dân tộc, tổng kết được toàn bộ kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới, tập hợp được trí tuệ của giới sử học trong cả nước. Để thực hiện kế hoạch đó, Hội cần kiến nghị lên cấp trên thành lập một chương tình khoa học công nghệ cấp nhà nước.

Tôi chúc Đại hội thành công tốt đẹp và gửi lời chào thân ái đến các vị khác quý cùng toàn thể đại biểu.

Hà Nội, ngày 6 tháng 6 năm 2005
Đại tướng Võ Nguyên Giáp    


(1) Bài đăng trên Tại chí Xưa & Nay, số 238, tháng 6 năm 2005, tr.3.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2011, 05:51:24 PM
Phần II

Những bài viết về
Đại tướng, Tổng Tư lệnh
Võ Nguyên Giáp

MỘT CUỘC GẶP GỠ ĐẦY ẤN TƯỢNG(1)

DƯƠNG TRUNG QUỐC

10 giờ 30 ngày 9-11-1995, tại Nhà khách Bộ Quốc phòng (phố Phạm Ngũ Lão, Hà Nội), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Rôbớc Mắc Namara (Robert Mc Namara) gặp nhau. Đối với giới báo chí thì đây là một cơ hội lịch sử, do vậy phải mất gần 10 phút hai cựu Bộ trưởng Quốc phòng của cuộc chiến năm xưa mới được giải thoát khỏi vòng vây cuồng nhiệt của những máy ảnh, máy quay phim, micro… và những câu phỏng vấn không bao giờ dứt của giới báo chí quốc tế và Việt Nam.

Phút gặp gỡ đầu tiên, hai ông đứng trao đổi với nhau về việc tập thể dục buổi sáng. Một người đã 85 tuổi, còn một người sắp bước vào tuổi 80 (ông Mắc Namara sinh năm 1916) nhưng cả hai đều tỏ ra nhanh nhẹn và minh mẫn.

Ông Mắc Namara mở đầu cuộc trao đổi bằng lời bày tỏ về ý định của Đoàn tiền trạm Hội đồng đối ngoại New York mà ông dẫn đần sang Việt Nam lần này để chuẩn bị cho một cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam dự kiến sẽ tổ chức tại Mỹ vào mùa thu năm tới và hy vọng tướng Giáp sẽ nhận lời mời tham dự. Ông Mắc Namara cũng nhấn mạnh rằng với một cuộc chiến tranh đã làm hơn ba triệu người Việt Nam với gần 6 vạn người Mỹ bị chết thì việc tìm cho ra những bài học lịch sử, đặc biệt là bài học về những cơ hội bị bỏ lỡ để tránh khỏi xảy ra chiến tranh là rất có ý nghĩa không chỉ cho hai nước xưa kia đã từng tham chiến nay đang hướng tới những quan hệ tốt đẹp mà còn là những bài học bổ ích cho một thế giới đang đầy rẫy các biến cố và xung đột. Ông Mắc Namara cũng kể lại rằng ngay sau khi thôi giữ chức Bộ trưởng bộ Quốc phòng (3-1968) ông đã trở thành Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (World Bank Group of Instiutions) và giữ cương vị đó 13 năm liên tục cho đến khi nghỉ hưu (6-1981). Cũng trên cương vị này, năm 1978, Ngân hàng Thế giới đã cho Việt Nam vay một khoản tín dụng 60 triệu USD cho các dự án về thủy lợi. Giờ đây mới có dịp sang Việt Nam, ông vừa gặp các quan chức của Ngân hàng Thế giới và được biết Việt Nam là một quốc gia đã sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính được đầu tư từ bên ngoài, đó là những dấu hiệu khẳng định tính tự chủ, khả năng vươn lên và phát triển của Việt Nam.

Bước vào chủ đề chính, vị cựu Bổ trưởng Quốc phòng Mỹ xin hỏi Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thưa ngài, quả thực cho đến bây giờ, tôi vẫn không rõ những gì xảy ra trong ngày 4-8-1964?” (Đó là người trước khi Tổng thống Mỹ Giônxơn mở màn cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc và trực tiếp đổ quân Mỹ can thiệp và mở rộng cuộc chiến tranh Việt Nam. Và hành động này được giải thích bằng việc trả đũa cho sự kiễn đã diễn ra trong ngày 4-8-1964 mà theo báo cáo của phía Mỹ thì chiến hạm Maddox đã bị hải quân Việt Nam tấn công ở vùng biển quốc tế).

31 năm sau sự kiện đó, Mắc Namara mới trực tiếp nhận được một câu trả lời chính xác. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói: “Ngày 2-8-1964, tùa Mỹ xâm phạm hải phận Việt Nam ở khu vực đảo Hòn Mê Một đơn vị hải quân địa phương của chúng tôi đã đánh đuổi. Còn ngày 4-8-1964, không có một hoạt động quân sự nào từ phía Việt Nam được tiến hành trên khu vực này”. Các vị khác Mỹ nghe rất chăm chú.

Đại tướng nói tiếp: “Nói điều này có thể là công việc nội bộ của Mỹ, nhưng theo tôi biết thì trước những ngày này, ở Mỹ người ta đã soạn thảo những văn bản để chuẩn bị cho việc mở rộng chiến tranh ở Việt Nam rồi”.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 21, tháng 11 năm 1995, tr.16, 34.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2011, 05:52:03 PM
Về vấn đề có những cơ hội nào có thể vãn hồi hòa bình ở Việt Nam mà đã bị cả hai bên bỏ qua, Đại tướng nói rằng trong khi kiên quyết chiến đấu chống xâm lược, Việt Nam cũng rất mong muốn kết thúc chiến tranh. Việt Nam đã theo dõi rất chặt và phân tích mọi nội dung được đề cập tới trong những bài diễn văn của Tổng thống Mỹ ở Bantimo về công thức Manila - Antôniô… Nhưng Việt Nam cũng nhận thấy rằng mỗi lần người đứng đầu nước Mỹ nói đến những sáng kiến hòa bình thì cũng là lúc tăng quân Mỹ ở Việt Nam. Như vậy chỉ có thể nghĩ đó là hòa bình giả và chiến tranh thật, hoặc một nền hòa bình trên sức ép quân sự của Mỹ. Có thể nói rằng phía Việt Nam đã không để lỡ một cơ hội nào vì dân tộc Việt Nam là một dân tộc yêu hòa bình hơn ai hết và chiến tranh sẽ mang lại đau khổ trước hết cho người Việt Nam. Đại tướng cũng kể lại cho các vị khách Mỹ câu chuyện cách nay ngót 50 năm, khi ông Pôn Muýt, một học giả được Chính phủ Pháp nhờ chuyển một giải pháp hòa bình cho Chính phủ kháng chiến Việt Nam, trong đó có một điều khoản đòi hỏi quân đội Việt Nam hạ vũ khí. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi lại Pôn Muýt rằng nếu như người Đức gửi một tối hậu thư như vậy thì thái độ của những người kháng chiến Pháp sẽ như thế nào?

Đại tướng cho rằng quan điểm mà ông Mắc Namara viết trong cuốn Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam cho rằng một trong những nguyên nhân Mỹ thua ở Việt Nam là do không hiểu về dân tộc Việt Nam và nhất là không hiểu về chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam là hoàn toàn đúng. Đại tướng nhấn mạnh rằng dân tộc Việt Nam là một dân tộc mà ý thức và quyết tâm bảo vệ độc lập đã trở thành một triết lý, bản sắc văn hóa và cũng là một nguyên tắc không gì lay chuyển của người Việt Nam. Sai lầm của Mỹ không những chỉ là không lường được sức chịu đựng và tinh thần quyết tâm của nhân dân Việt Nam mà còn thể hiện ở chỗ muốn tìm kiếm hòa bình ở Việt Nam bằng những cuộc thương lượng với những nước lớn khác. Tinh thần độc lập, tự chủ của dân tộc Việt Nam không chỉ có ý nghĩa trong quá khứ chiến tranh mà cả trong công cuộc xây dựng, đổi mới hiện nay. Việt Nam sẽ đổi mới bằng cách riêng của mình. Những yếu kém về công nghệ Việt Nam sẽ học tập ở nước ngoài nhưng Việt Nam luôn phải giữ vững tinh thần độc lập và bản sắc dân tộc.

Đại tướng kể lại rằng có lần, tại Angiê nhân tham dự ngày lễ kỷ niệm Quốc khánh của Angiêri, Brêdinxky, người được coi là kiến túc sư của chiến lược đánh phá chủ nghĩa cộng sản dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu đã gặp và hỏi Đại tướng rằng: “Chiến lược của ngài là gì?”. Câu trả lời: “Chiến lược của tôi là Hòa bình trong Độc lập và Tự do”.

Đại tướng cũng nhắc lại cuộc gặp gỡ mới đây với A.Tômát và nhóm cựu chiến binh của cơ quan OSS (Office of Strategic Services - Cục Công tác chiến lược) của Mỹ đã từng sát cánh cùng các chiến sĩ Việt Minh đánh phátxít Nhật hồi Cách mạng Tháng Tám 1945. Đại tướng nói rằng lúc đó chúng tôi đã nghĩ đến những bước phát triển tốt đẹp trong quan hệ giữa hai nước. Nhưng chính học thuyết đôminô và chống cộng đã dẫn đến những sai lầm của Mỹ ở Việt Nam trong những thập kỷ vừa qua. Việt Nam là một dân tộc quý trọng nền độc lập của mình nhưng cũng luôn tôn trọng độc lập của dân tộc khác. Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dẫn ra câu đầu tiên của bản Tuyên ngôn Độc lập Mỹ.

Ông Mắc Namara bày tỏ sự tán đồng với những ý kiến của Đại tướng và cả hai vị đều tán thành ý nghĩa và sự bổ ích của cuộc hội thảo dự định sẽ tổ chức.

Trước chính ngọ, hai nhân vật của cuộc chiến tranh năm xưa đã vui vẻ chia tay nhau giữa vòng vây của các nhà báo.

Ngày hôm sau (sáng 10-11) cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Namara đã phát biểu trước các nhà báo: “Tôi thực sự xúc động khi quay trở lại Việt Nam, điều mà tôi từng mong ước 21 năm qua. Thời gian quả là dài nhưng nó giúp con người ta nguôi đi những dằn vặt về những việc đã làm. Điều làm tôi thực sự cảm động là tôi không hề nhận thấy sự thù hận trong ánh mắt của người Việt Nam đối với tôi. Một Việt Nam thanh bình, dẫu chưa phồn vinh nhưng quả là đẹp. Một đất nước như thế, một dân tộc như thế thì họ từng đứng vững trong quá khứ và sẽ tiến lên trong tương lai là điều không thể tranh cãi”. Nói về cuộc gặp gỡ với tướng Giáp, ông mắc Namara cho rằng đó là một cuộc gặp gỡ đầy ấn tượng.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2011, 05:53:10 PM
CUỘC GẶP LẠI ĐẦY ẤN TƯỢNG(1)

DƯƠNG TRUNG QUỐC

15 giờ 30 ngày 23-6-1997, tại Nhà khách Chính phủ, cuộc gặp gỡ của ông Rôbớc Mắc Namara và Đại tướng Võ Nguyên Giáp diễn như hoạt động cuối cùng của cuộc Hội thảo Việt - Mỹ được coi là lần đâu tiên giữa các cựu quan chức và học giả hai nước trao đổi về quan hệ Việt - Mỹ trong quá khứ với mục đích rút ra những bài học cho tương lai như thư của hai vị đại diện cho hai nhà nước đã gửi đến Hội thảo: bà Nguyễn Thị Bình và ông Bin Clintiơ. Kết quả cuộc hội thảo kéo dài hơn 3 ngày (từ ngày 20 đến ngày 23-6) đã được hai bên công bố tại khách sạn Sofitel lúc 14 giờ càng kích thích giời báo chí kéo sang Nhà khách Chính phủ chứng kiến cuộc gặp mặt của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cựu Bộ trưởng Mắc Namara cùng các thành viên phía Mỹ vì 8 câu hỏi đã được phía Mỹ gửi trước mong được Đại tướng giải đáp.

10 phút dành cho các nhà báo thao tác nghiệp vu bằng những câu hỏi ngắn gọn, bằng những ánh chớp máy ảnh, những trường đoạn camera và chấm dứt khi ông Mắc Namara đưa ra một đề nghị kiên quyết yêu cầu mọi nhà báo đều phải rời khỏi phòng họp.

Khi yên tĩnh đã trở lại, hai vị cựu Bộ trưởng Quốc phòng của những năm tháng chiến tranh Việt - Mỹ mới bắt tay nhau một lần nữa và trao đổi những câu hỏi xã giao của những người đã từng quen biết, không còn dè dặt thăm dò lần đầu như câu chuyện về tập thể dục buổi sáng ở cuộc gặp đầu tiên hồi tháng 11-1995 tại Nhà khách bộ Quốc phòng.

Về phía Mỹ, ông Mắc Namara ưu tiên giới thiệu 2 trong cố 52 vị thành viên phía Mỹ (gồm 6 cựu quan chức, 6 học giả và 40 quan sát viên) là tướng Uyliam Xmít, nguyên trợ lý đặc biệt cho Tổng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Maxwell Taylor và ông Chester Cooper, nguyên là nhà phân tích khu vực Đông Nam Á, thành viên Hội đồng an ninh Quốc gia và trợ lý chính cho nhà thương lượng W.A. Harriman.

Là người không tham gia cuộc Hội thảo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mở đầu bằng những lời hoan nghênh và cho rằng cần có nhiều chộc hội thảo nữa để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau hướng tới tương lai về hòa bình, hợp tác trên cơ sở bình đẳng, đôi bên cùng có lợi.

“Tôi là quân nhân, tôi nói thẳng”

Nói về chiến tranh ở Việt Nam, người Mỹ hay nói đến giới hạn của sự dính líu từ năm 1961 đến năm 1969, Đại tướng cho rằng như thế là chưa đủ vì từ năm 1950 Mỹ đã can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương, đến Điện Biên Phủ, 80% chiến phí là của Mỹ. Thực chất sự dính líu của Mỹ vào chiến tranh Việt Nam dưới hình thức và mức độ khác nhau phải là một phân tư thế kỷ, từ năm 1950 đến năm 1975. Bị chi phối với một thứ “thần học” (théologie như cách nói của Mắc Namara) là học thuyết “đôminô, Mỹ cho rằng Việt Nam là vị trí quan trọng liên qnan đến an toàn của mình, cho nên Kennơđi coi Việt Nam là trọng điểm để tiêu diệt phong trào giải phóng dân tộc và đến Giônxơn thì phát động chiến tranh ra miền Bắc đổ quân vào miền Nam.

Trở lại vụ Vịnh Bắc Bộ (2 - 5-8-1964) và trận Plâycu (6-2-1965) phía Mỹ đạt câu hỏi ai ra lệnh và khi ra lệnh có nghĩ đến phản ứng của Mỹ ra sao? Đại tướng nói rằng việc này ông đã nói trong cuộc gặp mặt lần trước, nhưng vấn đề đơn giản là “lúc bấy giờ bộ đội Việt Nam ở miền Nam cũng như Hải quân ở miền Bắc được lệnh lúc nào quân địch xâm phạm, tiến vào lãnh thổ thì phải đánh, tôi là một quân nhân, nếu các ngài đồng ý, tôi nói thẳng rằng: “Chính sách (mở rộng chiến tranh của Mỹ) quyết định rồi nhưng phải tìm một cái cớ đưa ra Quốc hội!”. Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ là sai lầm chiến lược lớn nhất, và cũng là thảm bại đầu tiên và lớn nhất của lịch sử Mỹ”.

Ông Mắc Namara bật dậy ngắt lời: “Xin lõi Đại tướng, ngài nói không đúng”.

Đại tướng bình thản nói: “Ngài đánh chúng tôi trước khi có trận Plâycu, vả lại trận này cũng như trận đánh Maddox chỉ là hoạt động địa phương. Còn phản ứng của chúng tôi đối với việc mở rộng chiến tranh phá hoại là chuyển cả miền Bắc vào tình trạng chiến tranh để bảo vệ miền Bắc và đánh thắng chiến tranh không quân của Mỹ, làm trọn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn”.

“Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự Việt Nam”

Phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Những hành động quân sự nào của Mỹ làm tướng Giáp lo sợ nhất và vào những thời điểm nào?”.

Đại tướng cười và vui vẻ nói: “Chúng tôi trả lời từ “lo sợ” không có trong tư duy quân sự của chúng tôi, bởi vì với chúng tôi, không có gì quý hơn độc lập, tự do, chúng tôi quyết đánh Mỹ và chúng tôi luôn tin tưởng là sẽ thắng”.

Phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Nhìn lại quá khứ, tướng Giáp đánh giá thế nào về thành công và thất bại của Tổng tiến công Mậu Thân?”.

Đại tướng nói rằng: “Sức mạnh của Mỹ tuy lớn nhưng có những hạn chế cơ bản, Ví như Kỵ binh bay mạnh ở chỗ cơ động nhưng đối với chúng tôi thì cơ động nhất là lực lượng tại cỗ, quân Mỹ đến đâu thì đã có lực lượng của chúng tôi ở đó”.

“Còn về Tổng tiến công Mậu thân, mục đích chúng tôi là làm sao cho Mỹ rút. Về cách đánh mà nói thì đợt một là thắng lợi lớn, những đợt sau nếu theo ý kiến của Trung ương chuyển nhanh về nông thôn thì thắng to, nên vì vậy có tổn thất… Chiến tranh nhì chung là chiến lược tổng hợp. Mục tiêu của chúng tôi là Mỹ phải chấm dứt leo thang, ngồi lại đàm phán. Như thế cũng tôi đã đạt được buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari. Chỉ có điều chúng tôi không dự kiến đầy đủ Níchxơn lật lọng đến thế. Sắp ký rồi thì lại ném bom B.52…. Cuối cùng chúng tôi đã thắng lợi hoàn toàn trong toàn bộ cuộc chiến tranh bảo vệ nền độc lập và thống nhất Tổ quốc của một nước nhỏ, kinh tế lạc hậu đánh thắng hai đế quốc to. Đó là thắng lợi của ai? Của nhân dân Việt Nam đồng thời cũng là của các lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có những người Mỹ chống lại chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam”.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 41, tháng 7 năm 1997, tr.29-30.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2011, 05:55:30 PM
“Các ngài nên đọc Nguyễn Trãi”

Phía Mỹ nhận rằng Mỹ không thắng được Việt Nam là do Mỹ không hiểu Việt Nam và bỏ qua nhiều cơ hội để chấm dứt sự sính líu vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng về phía Việt Nam thì sao, có cơ hội nào bị bỏ lỡ không?

Câu trả lời của Đại tướng là: “Chúng tôi không bỏ qua một cơ hội nào”. Ông Mắc Namara ngắt lời: “Cái đố còn phải bàn lại…”.

Đại tướng đáp: “Mỹ xâm lược Việt Nam là sai lầm. Mỹ không hiểu Việt Nam. Chúng tôi là một dân tộc có tinh thần bất khuất hàng ngàn năm chống giặc ngoại xâm, nhưng rất mong muốn hòa bình. Thế kỷ XV, sau khi đánh thắng quân Minh đã từng có những lời tuyên ngôn trong các áng văn bất hủ Bình Ngô đại cáoPhú Chí Linh của Nguyễn Trãi:

         Đem lại thái bình muôn thuở
         Tắt muôn đời chiến tranh.

Các ngài nên đọc những sách đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước và phát triển học thuyết quân sự độc đáo Việt Nam động viên chiến tranh toàn dân, do dân, vì dân nên đánh thắng”.

“Nước nhỏ có vai trò của nước nhỏ”

Về quan hệ giữa Việt Nam và các nước lớn trong chiến tranh, Đại tướng nhắc lại nhiều lần: “Nước lớn có vai trò nước lớn, nhưng tôi muốn nhắc với ngài rằng nước nhỏ có vai trò nước nhỏ. Danh dự, sức mạnh độc lập tự do, sức mạnh văn hóa của một nước không thể đo bằng cây số vuông. Trong quá khứ, Liên Xô và Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam nhiều trong chiến tranh nhưng Mỹ đã sai lầm khi tìm giải pháp quyết định cho cuộc chiến tranh này ở những cuộc thương lượng với những nước lớn đó. Ngày nay, muốn gây dựng một trật tự thế giới mới thì các dân tộc phải bình đẳng và tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau. G7, G8 bàn với nhau, được, nhưng nếu không tính đến các nước nhỏ thì không bao giờ thế giới có hòa bình và ổn định phát triển”.

Kết thúc câu trả lời cho những câu hỏi về phía Mỹ đặt ra, Đại tướng nói: “Tôi mong rằng những điểm tôi suy nghĩ đã lâu, bây giờ nói rất ngắn sẽ giúp cho việc xây dựng quan hệ Việt Nam với Mỹ. Do vị trí địa lý chính trị và vai trò Việt Nam gắn liền với văn hóa và lịch sử của nó, quan hệ Việt - Mỹ sẽ góp phần vào sự ổn định khu vực và thế giới. Tôi nhất trí với ngài Mắc Namara là không có nước nào có thể áp đặt được ý định của mình cho các dân tộc khác, nhất là với Việt Nam, phải tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi trên nguyên tắc bình đẳng.

Sự bình thường hóa quan hệ giữa hai nước đã mở ra những cơ hội để chúng ta đẩy nhanh sự phát triển những quan hệ hòa bình trong hợp tác và cùng có lợi trên cơ sở bình đẳng tôn trọng chủ quyền của nhau vì lợi ích của nhân dân hai nước và sự ổn định phát triển thế giới.

“Vị tướng tôi đánh giá cao nhất là Tướng Nhân Dân”

Sau câu hỏi của tướng Xmít bằng cách nào Việt Nam đối phó được với những vũ khí hiện đại của Mỹ, một câu hỏi được mọi người chú ý đặt ra: vị tướng nào trong chiến tranh được tướng Giáp đánh giá cao nhất?

Đại tướng trả lời: “Quân đội nhân dân Việt Nam ở cả miền Bắc và miền Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng có tinh thần quyết chiến rất cao, thông minh và sáng tạo. Còn vị tướng đã có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng huyền thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình. Tôi hoàn thành nhiệm vụ cũng như những người lính hoàn thành nhiệm vụ. Trên bình diện nhiệm vụ thì tôi cũng như người lính là bình đẳng, cho nên tôi rất tôn trọng người lính.

Còn các ngài hỏi tôi rằng tướng ngụy nào tôi để ý đến nhất thì có lẽ sự đánh giá ấy nên hỏi Bộ Tư lệnh quân đội Mỹ”.

“Hôm nay, ngài lại thắng lớn về thời gian”

Người phát biểu cuối cùng của cuộc gặp mặt là ông Chester Cooper, vị tướng thành viên Hội đồng An ninh Quốc gia thời chiến tranh của Mỹ chân thành nói: “Thưa Ngài, tôi thán phục ngài từ 20 năm về trước, nay tôi cũng vẫn thán phục Ngài và chắc các bạn tôi ở đây cũng vậy. Chúng tôi sang đây với một tinh thần suy tư cởi mở và sẵn sàng muốn tìm hiểu dân tộc Việt Nam. Chúng tôi học hỏi được rất nhiều. Bài thuyết trình của Ngài cũng nhắn nhủ chúng tôi được nhiều điều”.

Đại tướng bình luận: “Các ngài chưa hiểu hết đâu”.

Ông Cooper: “Chính vì vậy chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc tìm hiểu này và hy vọng lần sau chúng tôi sẽ trình bành để Ngài hiểu hơn về nước Mỹ chúng tôi. Chúng tôi sẽ nhớ mãy ngày hôm nay”.

Lúc chia tay, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt tay ông Mắc Namara: “Bắt tay một con người dũng cảm và có thiện chí”.

Cuộc gặp mặt kết thúc mà không thực hiện được một dự kiến tất cả sẽ chụp một bức ảnh chung bởi vì dự tính cuộc gặp mặt chỉ diễn ra dưới 1 tiếng đồng hồ đã kéo dài thêm gần 30 phút. Ông Mắc Namara và tướng Xmít vội vã trở về khách sạn để ra sân bay kịp thời về nước.

Trong cuộc gặp mặt, cựu Bộ trưởng Mắc Namarra không trình bày nhiều nhưng luôn tỏ ra sốt ruột về thời gian, thỉnh thoảng ông lại ngắt lời Đại tướng với câu xin lỗi lịch sự nhưng không giấu được sự sốt ruột vì muốn dành thêm thời gian để các thành viên của mình trình bày quan điểm. Nhưng thản nhiên và cũng lịch sự, Đại tướng của động dành phần lớn thời gian để phát biểu quan điểm của mình. Không giữ được kiên nhận, ông Mắc Namara thốt lên: “Thế là Ngài lạ thắng về thời gian rồi”. Đại tướng lập luận: “Các ngài thua vì chưa hiểu, muốn hiểu nên lắng nghe”.

Sau cuộc gặp mặt, tôi gặp Stein Tonnesson, nhà sử học người Na Uy, thành viên duy nhất không có quốc tịch Mỹ của đoàn Mỹ, là tác giả của nhiều tác phẩm viết về lịch sử Việt Nam. S.Tonnesson bình luận về cuộc gặp mặt giữa hai cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: “Lần này, tướng Giáp lại thắng trong một trận chiến về ngôn từ” (une guerre des mots).


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2011, 05:57:16 PM
BÁC HỒ VÀ ĐỒNG CHÍ VÕ NGUYÊN GIÁP
TRÊN ÔTÔ Ở QUẢNG TRƯỜNG BA ĐÌNH
NGÀY 2-9-1945
(1)

VÕ AN NINH
(VŨ HẠNH HIÊN ghi)

Ngày 2-9-1945, có người Hà Nội nào mà ngồi yên được. Tôi cũng vậy, nhất là mình lại có máy ảnh trong tay. Tôi ý thức được giờ phút trọng đại của dân tộc Việt Nam sắp đến. Ai cũng như ai, nhìn lại 80 năm của thời Pháp đô hô, cứ nghĩ như một đêm đen quá dài. Bây giờ bình minh đã đến.

Ngày 2-9-1945, cả Hà Nội náo nức đón Lễ Độc lập. Ai cũng đứng vào một hàng ngũ nào đó để cuồn cuộn chảy về hướng Ba Đình, người người tay cờ, tay khẩu hiệu. còn tôi làm gì? Chụp, chụp và sẽ phải chụp thật nhiều ảnh. Cái đích của tôi là phải chụp được ảnh Cụ Hồ khi đang đọc Tuyên ngôn Đọc lập, nếu không, thì hỏng hết.

Đúng 2 giờ chiều, từ chân lễ đài tôi nhìn thấy các vị đại biểu dự lễ xuống xe và bước lên kỳ đài. Tôi thấy rất đông người và có nhiều người tôi không được biết tên… Tôi luýnh quýnh theo chân liền và hoàn toàn không bị ai ngăn cản. Trên kỳ đài, diện tích có vài mét vuông thôi mà hàng chục người đứng. Mọi người hình như chen vai thích cánh, hỏi như vậy làm sao tôi chụp được ảnh Cụ Hồ đang đọc Tuyên ngôn Độc lập? Các vị dự lễ cũng rất tế nhị, khi tôi giơ máy lên, người đứng trước cũng khẽ nghiêng mình cho tôi chụp nhưng cái lưng khác lại che lấp ngay lập tức. Biết là không làm gì được, tôi vội tụt xuống cầu thang, đứng ôm máy dưới chân kỳ đài. Nghĩ kế khác. Buổi lễ diễn ra trong vòng một tiếng rưỡi đồng hồ. Khi bài Tiến quân ca kết thúc buổi lễ vừa dứt, tôi đã thấy một chiếc ôtô tiến sát vào chân kỳ đài. Xe đến đón Cụ Hồ đi bên có ông Võ Nguyên Giáp. Đúng lúc Cụ Hồ và ông Giáp đến ngồi vào xe và xe chưa lăn bánh tôi nhào tới đưa máy vào khoang cửa và nói: - Thưa Cụ, vừa rồi trên kỳ đài đông quá, con không chụp được ảnh Cụ. Xin Cụ cho phép con được lấy một hình của Cụ. Cụ Hồ khẽ gật đầu. Nhưng lúc ấy Cụ Hồ đang đội mũ. Trời đã xế chiều. Cái mũ cát vành rộng lại che đi mất nhiều ánh sáng. Tôi đánh liều: - Thưa Cụ, con muốn Cụ hạ cái mũ xuống ạ. Ông Giáp ngồi bên tủm tỉm cười như hiểu ý nguyện của tôi. Ông đưa tay lên hạ cái mũ của Cụ Hồ đang đội và nhìn tôi, nói: - Này thì bỏ mũ xuống. Thế là tôi có được một bức ảnh có một không hai trong cả cuộc đời gắn bó với nghệ thuật nhiếp ảnh: Cụ Hội ngồi bên có ông Giáp cả hai gương mặt đều cương nghị, nhưng hiền hòa, có chút khắc khổ vì những lo toan cho vận nước ở giờ phút ngàn cân treo sợi tóc. Hơn nữa, đây là tấm ảnh chụp vào ngày lịch sử muôn đời ghi nhớ của dân tộc ta ngay sau khi Cụ Hộ đọc Tuyên ngôn Độc lập với quốc dân đồng bào của cả nước và thế giới. Một phòng triển lãm ảnh về ngày Lễ Độc lập đã được tổ chức tại phố Tràng Tiền - Hà Nội ngay sau ngày 2-9-1945. Một cán bộ Việt Minh đồng thời là bạn tôi thấy tôi có bức ảnh quý giá đó nên vồ vập liền. Ông đã treo bức ảnh Cụ Hồ và ông Võ Nguyên Giáp ở chỗ trang trọng nhất của phòng triển lãm.

Hồi đó, mỗi khi có triển lãm, nhất là những triển lãm về đấu tranh cho đọc lập tự do, dân chúng thường đi xem rất đông, cho nên bức ảnh nói trên được nhiều người biết đến. Riêng tôi, do thời cuộc, đã để thất lạc cả phim và tấm ảnh gốc đó. Nhưng may mắn làm sao, tôi đã gặp lại tấm ảnh đáng quý của đời mình được in trong một cuốn hồi ký viết gần đây của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Và tôi đã “sao” lại tấm ảnh tác phẩm của chính mình. Khách đến thăm nhà không ai không ngước mắt lên tấm ảnh này mà gia đình tôi đã trân trọng treo ở giữa phòng khách. Những đóm nắng chiều rơi trên khuôn mặt hai nhà cách mạng trở thành những yếu tố thật kỳ diệu như khắc họa một thời gian khó và quyết liệt của của cả một dân tộc mà Hồ Chủ tịch và Võ Nguyên Giáp cùng nhiều nhà cách mạng khác là những nhân vật đại diện.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 97, tháng 8 năm 2001, tr.4-10 (Tựa do Ban Biên tập đặt).


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2011, 05:58:13 PM
“VÕ NGUYÊN GIÁP VẪN LÀ TỔNG TƯ LỆNH
THÂN YÊU NHƯ NGÀY NÀO”
(1)

Thượng tướng HOÀNG MINH THẢO
NHẬT HOA KHANH thực hiện

Một buổi chiều đầu tháng 4-2001, tôi đạp xe tìm đến nhà riêng Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (số 69 Phùng Chí Kiên, quận Cầu Giấy, Hà Nội). Căn biệt thự mới xây dựng đang được mở rộng. Vôi, vữa, đất, cát chất từng đống trong sân.

Một ông già hơi cao, vóc dáng vừa phải, hồng hào và khỏe mạnh đang đứng ở cổng biệt thự tiễn một vị khách. Đoán chừng đây là người mà mình muốn gặp, tôi hỏi: Thưa anh, anh là Thượng tướng Hoàng Minh Thảo? Ông không trả lời mà chỉ mỉm cười thân mật, mời tôi vào một căn phòng nhỏ đầy sách báo. Vừa pha trà, ông vừa giải thích: “Đây là căn nhà của các con trai tôi, một cháu đi vắng tương đối lâu ngày, vợ chồng tôi ở tạm căn hộ này của cháu”.

Thế là tôi được “nhìn tận mặt, bắt tận tay” vị Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304, Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, Chỉ huy trưởng trận Buôn Ma Thuột (tháng 3-1975), Nhà giáo nhân dân, Giáo sư, giám đốc Học viện Quân sự Cấp cao, Viện trưởng Viện Chiến lược Quân sự đã về hưu. Qua sách báo, tôi được biết năm nay ông tròn 80 tuổi (sinh năm 1921), những lúc này, trước mắt tôi, dáng vẻ quắc thước và hiền hậu của Thượng tướng khiến tôi nghĩ ông chỉ độ 70 tuổi.

Tôi nói với vị lão tướng: Tôi ở thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội từ giữa tháng 3 (2001) nhưng hôm nay mới tới gặp và đề nghị ông trả lời phỏng vấn về Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhân dịp kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh Đại tướng (25-8-2001) Ông vui vẻ bảo: Phát biểu về đồng chí Tổng Tư lệnh là việc cần thiết vì Võ Nguyên Giáp (tức anh Văn là một nhân vật lịch sử lớn. Chúng ta phải làm việc với nhau nhiều buổi. Sau lần đầu tiên đến với Thượng tướng, trong vòng gần bốn tháng, tôi còn tới nhà riêng của ông thêm mười hai lần nữa. Lần nào tôi đến, ông cũng trực tiếp bổ sung cẩn thận từng câu từng chữ trong bài trả lời.

* Đề nghị Thượng tướng, nếu có thể, phát biểu một câu vắn tắt về Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp

Nói vắt tắt về bất cứ vấn đề gì cũng khó, về Võ Nguyên Giáp càng khó, vì đồng chí Tổng Tư lệnh để lại dấu ấn của mình trên nhiều lĩnh vực, trước hết là quân sự rồi đến chính trị, văn hóa, đạo đức, v.v.

Tuy nhiên, tôi vẫn nói rằng Võ Nguyên Giáp là một trong những nhân vật lịch sử lớn của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.

Riêng trên lĩnh vực quân sự, Võ Nguyên Giáp là nhân vật nổi bật hàng đầu trong phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta và có thể, trên toàn thế giới.

* Thưa Thượng tướng, Thượng tướng được biết và được làm việc với Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp từ khi nào?

Câu hỏi của anh tuy đơn giản nhưng đối với tôi, thật xúc động.

Tám chữ Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gợi ngay lên trong tâm trí tôi hỉnh ảnh quân đội ta suốt 31 năm máu lửa từ ngày còn trứng nước tới ngày toàn thắng. Tám chữ Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp gợi ngay lên trong tâm trí tôi cuộc đấu tranh của toàn dân vì độc lập dân tộc, vì phẩm giá con người, trong đó, mấy triệu chiến sĩ, hầu hết là thanh niên, đã mãi mãi yên nghỉ trong lòng Đất mẹ.

Ngừng một lát sau những giọt nước mắt, vị lão tướng nói tiếp:

Tôi vốn có may mắn và vinh dự được biết tên các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp từ năm 1940, hồi hoạt động bí mật ở Trung Quốc, nhưng chưa được gặp cả hai. Mãi tới cuối năm 1942, tôi mới được gặp đồng chí Võ Nguyên Giáp ở đầu hang Pác Bó (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) và từ đó, được vinh dự chiến đấu dưới sự chỉ huy trực tiếp hoặc chỉ đạo của anh Văn cho tới khi kết thúc thắng lợi cuộc chống Mỹ, cứu nước.

* Xin Thượng tướng phát biểu ý kiến về nhân vật lịch sử lớn Võ Nguyên Giáp trong những giai đoạn đặc biệt của cuộc trường chinh giải phóng dân tộc ta từ trước Cách mạng Tháng Tám đến ngày toàn thắng

Trong nhiều giai đoạn đặc biệt của lịch sử dân tộc như mấy năm trước Cách mạng Tháng Tám, ngót một năm rưỡi sau Cách mạng Tháng Tám (từ tháng 8-1945 đến cuối năm 1946), bốn năm chiến đấu trong vòng vây (cuối năm 1946 đến năm 1950), bốn năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp (1951-1954) và hai mươi năm chống Mỹ, ở bất cứ giai đoạn đặc biệt nào, ở bất cứ bước ngoặt lịch sử nào, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp cũng thể hiện rất rõ tài năng quân sự và quân chính (tức công tác chính trị trong quân đội) của mình. Ngoài ra, đồng chí còn thể hiện vững vàng phong cách ung dung bình tĩnh của một vị tướng đứng đầu toàn quân, ngay cả trong những năm tháng đồng chí ở vào hoành cảnh gay go nhất.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 97, tháng 8 năm 2001, tr.4-10 (Tựa do Ban Biên tập đặt).


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 06 Tháng Hai, 2011, 05:58:31 PM
* Thưa Thượng tướng, nghiên cứu sự nghiệp của Võ Nguyên Giáp, bản thân tôi nhận thấy Đại tướng, Tổng Tư lệnh bao giờ cũng triệt để thực hiện luận điểm của ông: “Phải giành bằng được chiến thắng ở mức cao nhất đi đôi với việc giảm xuống thấp nhất sự hy sinh xương máu của tướng sĩ”. Ý kiến của Thượng tướng về nhận xét ấy?

Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của anh. Nhân đây, tôi muốn nói rõ về luận điểm lớn này của đồng chí Tổng Tư lệnh.

Đại tướng, Tổng Tư lệnh không bao giờ chấp nhận một chiến thắng phải trả bằng bất cứ giá nào về xương máu tướng sĩ hoặc phải trả bằng cái giá quá đắt về xương máu tướng sĩ do những quyết định tùy tiện hoặc thiếu thận trọng gây nên. Không bao giờ, không bao giờ chấp nhận như vậy! Đừng nghĩ rằng Đại tướng, Tổng Tư lệnh “sợ” hy sinh xương máu! Đứng nghĩ rằng đồng chí Tổng Tư lệnh chùn bước sợ địch, không dám tiến công quân địch và thiếu tinh thần cách mạng tiến công! Không! Hoàn toàn không!

Đồng chí Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp chưa hề bao giờ nhân danh việc thực hành quan điểm cách mạng tiến công để đưa ra những mệnh lệnh chủ quan gây nên thương vong nghiêm trọng và vô lý cho các đơn vị, nhất là cho các sư đoàn.

Những đòn tiến công vừa táo bạo vừa cẩn trọng của đồng chí Tổng Tư lệnh chẳng những gây khiếp sợ cho quân địch mà đồng thời còn bảo toàn được chủ lực và bảo toàn được tính mạng của tướng sĩ với tỷ lệ cao.

Đồng chí Võ Nguyên Giáp luôn luôn ý thức được rất sâu sắc rằng: người chỉ huy các cấp nói chung, nhất là Tổng Tư lệnh, phải có trách nhiệm với từng vết thương và từng giọt máu của mỗi người lính. Tôi biết rõ đồng chí Tổng Tư lệnh nhiều đêm thao thức, nước mắt ướt đẫm vì được tin một chiến dịch nào, máu chiến sĩ đổ quá nhiều mà chiến thắng thì chưa tương xứng.

Đây là trái tim anh Văn! Đây là cách đánh và cách tiến công nhân văn chủ nghĩa của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp!

Gương mặt hiền hậu của vị giáo sư lão tướng bỗng lặng đi một lát. Đôi mày ông chau lại. Sau một ngụm nước trà, giọng ông mạnh hơn: Nguyên tắc bất di bất dịch trong chỉ huy và chỉ đạo chiến trường của Đại tướng, Tổng Tư lệnh suốt hai cuộc kháng chiến là: tầm cao mỗi chiến thắng phải tỷ lệ nghịch với tổng số thương binh và tử sĩ trong chiến thắng ấy.

Tổng tiến công Tết Mậu Thận 1968, Khe Sanh, Quảng Trị, Đường 9 - Nam Lào, v.v. chứng tỏ hùng hồn rằng: nếu bỏ qua hoặc coi nhẹ nguyên tắc lớn nói trên thì tổn thất xương máu của chủ lực sẽ rất nặng và tầm vóc chiến thắng sẽ bị hạn chế.

Chiến sĩ và cán bộ chỉ huy các cấp càng ngày càng hiểu và yêu thương đồng chí Tổng Tư lệnh chính vì sự thực hiện triệt để trước sau như một của Tổng Tư lệnh đối với nguyên tắc "phải giành được chiến thắng ở mức cao nhất đi đôi với việc giảm xuống thấp nhất thương vong của tướng sĩ”.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo tạm dừng lời. Trong giây lát, tôi cảm tưởng tâm trí ông đang chập chờn hình ảnh những chiến trường mịt mờ khói đạn và hình ảnh những chiến sĩ trẻ xông lên, ngã xuống…

* Thưa Thượng tướng, về vai trò chỉ đạo và chỉ huy của Đại tướng, Tổng Tư lệnh đối với các chiến trường và các chiến dịch, Thượng tướng thấy thế nào?

Đại tướng, Tổng Tư lệnh rất nhiều lần ra trận chỉ huy trực tiếp. Nhưng ngay cả khi chỉ dạo từ tổng hành dinh, bằng nhiều cách, đồng chí vẫn luôn luôn gắn với chiến trường. Ai nấy đều biết rằng đồng chí Tổng Tư lệnh đặc biệt chú trọng đến việc đi kiểm tra mặt trận trong những trường hợp không cần thiết phải ra chiến trường trực tiếp chỉ huy.

Là Tổng Tư lệnh kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp chỉ huy thắng lợi nhiều chiến dịch lớn có tính chất quyết định về chiến lược. Đồng thời, suốt hai cuộc kháng chiến, đồng chí còn dành thời gian để trực tiếp chỉ đao và theo dõi việc chiến đấu của tất cả các quân chủng và binh chủng từ lục quân tới không quân và hải quân, từ tên lửa tới đặc công, từ công binh tới hậu cần, quân y, tình báo, v.v.

Đã có lần, trên đường đi thăm một đơn vị chiến đấu, Đồng chí Tổng Tư lệnh gặp máy bay phản lực Mỹ ném bom gần ôtô của mình và đồng chí phải nhảy khỏi xe, nằm rạp xuống mặt đất. Lần khác, cũng trên đường công tác, đồng chí đột ngột bị bệnh sỏi mật thập tử nhất sinh, phải đưa ngay về Hà Nội và sau đó chuyển ngay sang Liên Xô cứu chữa mấy tháng liền.

Đặc điểm của phong cách chỉ đạo và chỉ huy của đồng chí Tổng Tư lệnh là: hết sức cẩn trọng, xuất phát từ thực tiễn chiến trường, dám chịu trách nhiệm trước lịch sử, táo bạo nhưng không tùy tiền, đánh chắc thắng, giành thắng lợi cao nhất đi đôi với hạn chế cao nhất tổn thất xương máu của chiến sĩ.

Với đồng chí Tổng Tư lệnh, tư tưởng chiến lược chung của chiến tranh cách mạng (ở đây là chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam) là tiến công và tiến công vừa liên tục vừa mãnh liệt nhưng về mặt tác chiến, điều đó không loại trừ tác chiến phng trong từng cuộc chiến đấu, trong một chiến dịch cụ thể và thậm chí, trong chiến lược. quan điểm đúng đắn này được chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp bước đầu trình bày trong chương cuối cùng cuốn Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng(1)

Quan điểm chỉ đạo và chỉ huy nói trên của Đại tướng. Tổng Tư lệnh đã được thực tiễn chiến trường chống Pháp và chống Mỹ chứng minh là đúng cả về thực tiễn lẫn về mặt lý luận.

Các đề xuất về chiến lược của đồng chí Tổng Tư lệnh bao giờ cũng thể hiện một tư duy quân sự nhìn xa trông rộng, bao giờ cũng chứa đựng những hạt nhân hợp lý và thể hiện một tinh thần trách nhiệm lớn đối với vận mạng của dân tộc.

Suốt hai cuộc kháng chiến, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã hoàn thành xuất sắc trọng trách Tổng Tư lệnh, Bí thư Quân ủy Trung ương (hồi đầu cuộc chống Pháp, gọi là Bí thư Tổng Quân ủy) và đã cùng các đồng chí khác trong Bộ Chính trị, trong Quân ủy Trung ương, trong Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo toàn quân thực hiện thắng lợi đường lối chính trị và đường lối quân sự của Đảng dưới ánh sáng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Suốt hai cuộc kháng chiến, chưa bao giờ Bô Chính trị bác bỏ bất cứ một đề xuất chiến lược nào của Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp hoặc của tập thể Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh.

Đây là một sự thật.


(1) Xem: Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Hai, 2011, 06:30:26 AM
* Thưa Giáo sư, Thượng tướng, nghiên cứu về sự nghiệp Võ Nguyên Giáp, bản thân tôi còn thấy Đại tướng, Tổng Tư lệnh là một nhà lý luận quân sự, một nhà tư tưởng quân sự. Ý kiến của Giáo sư, Thượng tướng?

Tôi nhất trí với nhận xét của anh: Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp còn là một nhà lý luận quân sự và một nhà tư tưởng quân sự. Từ thực tiễn chống Nhật, chống 18 vạn quân Tưởng, chống pháp và chống Mỹ, Đại tướng, Tổng Tư lệnh đã viết mấy chục tác phẩm về vô số vấn đề quan trọng của cuộc đấu tranh vũ trang ở nước ta. Những tác phẩm này, trên thực tế, đóng vai trò chỉ đạo chính trị, chỉ đạo tư tưởng và chỉ đạo cả chiến lược lẫn chiến thuật quân sự cho toàn quân, nhất là cho cán bộ chỉ huy các cấp.

Tính lý luận trong các tác phẩm quân sự của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đạt tới trình độ cao. Tư tưởng quân sự Võ Nguyên Giáp là tư tưởng chỉ dạo và chỉ huy độc đáo và sáng tạo của Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đối với các chiến dịch, các chiến trường cả nước và nước bạn suốt hai cuộc kháng chiến dưới ánh sáng tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đường lối quân sự của Đảng.

Lý luận và tư tưởng quân sự Võ Nguyên Giáp luôn luôn xuất phát từ tình hình thực tiễn chiến trường, góp phần tích cực làm đổi mới cục diện chiến trường và tịch cực tạo ra chiến thắng trên chiến trường. Đồng chí Tổng Tư lệnh có nhiều sáng tạo trong chỉ huy, trong chỉ đạo và trong lý luận quân sự suốt hai cuộc kháng chiến. Ở đây, tôi chỉ nêu lên một số dẫn chứng tiêu biểu trong nhiều dẫn chứng tiêu biểu.

Thời kỳ đầu cuộc chống Pháp, chính đồng chí sáng tạo ra cơ chế “Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”. Nhờ vậy, trong hoàn cảnh bấy giờ, mỗi đại đội và mỗi tiểu đoàn đều gắn bó với nhân dân nhiều hơn và đều phát huy được tốt nhất tiềm năng của mình trong việc tiêu diệt địch.

Trong chiến dịch Biên giới (1950), chính đồng chí sáng suốt đề xuất ra phương án đánh Đông Khê thay cho phương án đánh Cao Bằng.

Trong chiến dịch Đông - Xuân 1953-1954, khi chuẩn bị chiến dịch Điện Biên Phủ, dưới sự chỉ đạo của Bác Hồ và Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Đại tướng, Tổng Tư lệnh đã chủ trương phân tán quân Pháp ra khắp các chiến trường Đông Dương để chúng khó ứng cứu Điện Biên Phủ. Đây là một mưu kế chiến lược cao.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), chính đồng chí đề xuất ra phương án “đánh chắc, tiến chắc” thay cho phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” phiêu lưu và duy ý chí. Nhờ vậy, mấy vạn chiến sĩ không bị hy sinh, hầu hết các đơn vị chủ lực của toàn quân đã được bảo toàn về cơ bản sinh lực của mình ở Điện Biên Phủ.

Ngay từ thời chống Pháp, Đại tướng đã nêu lên quan điểm về ba thứ quân (dân quân du kích, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực), trong đó đặc biệt nhất mạnh đến vai trò bộ đội chủ lực và việc thành lập các đại đoàn (về sau gọi là sư đoàn).

Ngay sau khi kết thúc thắng lợi cuộc chống Pháp, chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên của Đảng và Nhà nước khẳng định phải tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc bằng cuộc chống Mỹ theo đúng tư tưởng của Bác Hồ.

Vào những năm đầu chống Mỹ, các đồng chí Nguyễn Văn Vịnh, Trần Văn Trà, v.v. đề xuất việc làm đường Trường Sơn để chuyên quân, vũ khí, thuốc men, v.v. vào Nam. Ban đầu, một số ý kiến còn ngần ngại và chưa hăng hái lắm. Trong bối cảnh ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận ngay ra tầm quan trọng chiến lược của con đường mạch máu cực lớn trong tương lai này. Đồng chí khẳng định ngay: việc làm đường Trường Sơn là một công tác đột xuất và lâu dài của toàn quân. Đồng chí cũng xác định ngay: đường Trường sơn phải được gấp rút thực hiện từng bước, dù giai đoạn đầu vô cùng gian khổ. Tháng 5-1959, Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định đường lối của cách mạng miền Nam ra đời. Dưới ánh sáng Nghị quyết 15, Quân ủy Trung ương đã ra nghị quyết thành lập Đoàn 559 về vấn đề làm đường chiến lược Trường Sơn.

Vấn đề đường chiến lược Trường Sơn được đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn tán thành mạnh mẽ.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Hai, 2011, 06:31:07 AM
Với các cương vị Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đặc biệt theo dõi vấn đề làm con đường chiến lược trọng yếu này. Anh Văn lập tức và liên tục tạo mọi điều kiện thuận lợi để đồng chí Võ Bẩm và sau đó, lần lượt là các đồng chí Phan Trọng Tuệ, Đồng Sĩ Nguyên trực tiếp chỉ huy việc xây dựng đường Trường Sơn, từng bước trở thành hiện thực, từ đường thô sơ tiến dần lên một hệ thống đường cơ giới, đường ống, đường sông phong phú và kỳ diệu.

Đường Trường Sơn (tức đường Hồ Chí Minh) là một trong những mối quan tâm lớn và thường xuyên của anh Văn suốt cuộc chống Mỹ.

Cũng cần phải nói rõ: anh Văn còn hết sức lo lắng và chăm sóc đến việc hình thành và phát triển đường Hồ Chí Minh trên biển. Khi đọc bức điện báo cáo chuyến tàu bí mật chuyển hàng vượt biển Đông từ miền Bắc vào miền Nam sau khi băng qua vô số gian khổ đã tới đích thắng lợi, anh đã khóc vì quá xúc động.

Gần cuối cuộc chống Mỹ, đồng chí Võ Nguyên Giáp đề xuất ra việc khẩn trương thành lập các quân đoàn để nhân sức mạnh tổng hợp của các sư đoàn. Đề nghị ấy vượt qua nhiều khó khăn, tới tháng 10-1973, mới chính thức bước đầu được thực hiện với sự thành lập Quân đoàn 1.

Về vấn đề này, tôi xin nói thêm: năm 1971, khi đánh Đường 9 - Nam Lào, ta đã thành lập B70 (mang hình thức quân đoàn nhưng chưa phải là quân đoàn). Lúc ấy, từ Tây Nguyên, tôi và các đồng chí chỉ huy quân sự ở Tây Nguyên đã điện cho anh Văn hoan nghênh chủ trương thành lập B70 của anh Văn, coi đây là một biểu hiện của việc thực hiện đúng quy luật phát triển quân đội ta. Anh Văn ủng hộ sự hoan nghênh đó của chúng tôi bằng cách tích cực vượt mọi khó khăn, xúc tiến việc thành lập Quân đoàn 1 như trên đã nói.

Chiến dịch giải phóng miền Nam Mùa Xuân 1975 đã chứng minh quan điểm nói trên về việc thành lập các quân đoàn của đồng chí Tổng Tư lệnh đã sáng tạo và chính xác, đáp ứng nhạy bén yêu cầu của thực tiễn chiến trường, đáp ứng nhạy bén yêu cầu của sự phát triển quân đội và quy luật phát triển của chiến tranh với thời điểm đó.

Mùa xuân 1975, mưu kế chiến lược của Võ Nguyên Giáp là ghìm lực lượng cơ động của địch ở hai đầu nam bắc của toàn chiến trường miền Nam (tức Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn) làm cho địch sơ hở ở Tây Nguyên để khi ta giải phóng Tây Nguyên thì quân ngụy không còn lực lượng dự bị cơ động cứu Tây Nguyên nữa. Đây là một mưu kế chiến lược sáng suốt, nhìn xa trông rộng của anh Văn.

Trước khi rời Hà Nội vào Tây Nguyên, tôi đến chào và xin thêm ý kiến của Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng mỗi đồng chí.

 Tại nhà riêng của anh Văn, bản thân tôi được anh trực tiếp nhắc nhở, phân tích mưu kế chiến lược trên, đồng thời nhấn mạnh về nghi binh. Anh Văn còn dự đoán: nếu địch thua đau ở Tây Nguyên, chúng sẽ co cụm về đồng bằng để cố thủ. Anh cũng hứa sẽ tăng cường ngay cho Tây Nguyên hai sư đoàn để quân ta có sức mạnh áp đáo.

Trước khi tiễn tôi ra cửa, đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tư lệnh đặc biệt lưu ý tôi: giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột và toàn bộ Tây Nguyên là quyết tâm chiến lược và mệnh lệnh chiến lược của Bộ Thống soái tối cao (tức Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh) đứng đầu là đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn sau nhiều lần thảo luận vô cùng kỹ lưỡng. Vì vậy, anh Văn nói tiếp, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột và toàn bộ Tây Nguyên là trách nhiệm của toàn quân, trước hết là trách nhiệm của Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên, trước lịch sử.

Đôi mắt của Đại tuớng, Tổng Tư lệnh ánh lên những tia nhìn quyết tâm và tin tưởng mãnh liệt ở sức mạnh của quân đội ta. Gương mặt đồng chí Tổng Tư lệnh trở nên rắn rỏi hơn và rạng rỡ hơn nữa.

Anh Văn siết chặt tay tôi và chúc tôi lên đường chiến thắng.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Hai, 2011, 06:32:13 AM
Tôi ra trận lần này với vũ khí mới, đó chính là quyết định quả cảm và sáng suốt của Bộ Thống soái tối cao cùng những lời chỉ dẫn, những dự đoán của đồng chí Tổng Tư lệnh.

Trên chiến trường, quân ngụy trúng kế của anh văn: lực lượng cơ động của quân ngụy bị ghìm chặt ở hai đầu nam - bắc của toàn miền Nam.

Trên chiến trường, thực tế diễn ra đúng như dự đoán của anh Văn: khi bị thua đau ở Tây Nguyên, địch lập tức co cụm về đồng bằng để cố thủ.

Sau khi đồng chí Võ Nguyên Giáp nhanh chóng tăng cường cho Tây Nguyên hai sư đoàn nữa, ta có thêm lực lượng để thực hiện nghi binh ở Plâycu và có thêm lực lượng áp đảo để đánh địch phản kích ứng cứu Buôn Ma Thuột, buộc địch phải hoản loạn rút bỏ Tây Nguyên. Nhờ vậy, Plâycu, Kon Tum, ta không đánh mà thắng! Cái hay chính là ở đó! Nói một cách khác, đây cũng là một mưu kế chiến lược sáng suốt nữa của đồng chí Tổng Tư lệnh.

Mùa xuân 1975, vào những giờ phút sôi động và khẩn trương, chính anh Văn đã kịp thời quyết định lập cánh quân phía Đông do đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh và đồng chí Chu Huy Mân làm Chính ủy.

Mùa xuân 1975, chính anh Văn đã ra mệnh lệnh “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam; quyết chiến và toàn thắng”. Mỗi đảng viên và chiến sĩ thuộc Quân đoàn 2 đều nhận được mệnh lệnh này và ai nấy đều hiểu rõ đó chính là hồi trống vang rền thôi thúc chiến đấu, chính là điệu kèn xung trận. Tư lệnh cánh quân phía Đông Lê Trọng Tấn và Tư lệnh Quân đoàn 2 Nguyễn Hữu An (thuộc cánh quân phía Đông) cùng toàn thể quân đoàn vượt hàng ngàn cây số, “bay” vào Sài Gòn sớm nhất trong năm cánh quân. Một đơn vị xe tăng của quân đoàn đã tiến vào Dinh Độc Lập, góp phần kết thúc thắng lợi chiến dịch 55 ngày đêm giải phóng miền Nam.

Cũng vào mùa Xuân 1975, chính anh Văn và các đồng chí khác trong Quân ủy Trung ương đề xuất với Bộ Chính trị vấn đề giải phóng Trường Sa. Bộ Chính trị nhất trí. Anh Văn trực tiếp chỉ đạo và theo dõi việc giải phóng Trường Sa. Hải quân ta đã đánh bật hải quân ngụy, giải phóng tất cả các đảo do quân ngụy Sài Gòn chiếm giữ trong quần đảo Trường Sa.

Rõ ràng, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đưa ra đúng lúc nhiều mưu kế chiến lược, tài tình hoặc những mệnh lệnh, những phương án đặc sắc có tầm chiến lược suốt hơn 30 năm chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc.

Rõ ràng, những phương châm, phương án, những mệnh lệnh, mưu kế nói trên chứng tỏ năng lực xuất sắc về mặt phân tích thực tiễn và về mặt phân tích lý luận của đồng chí Tổng Tư lệnh.

Nhân đây, tôi cần nhấn mạnh: anh Văn là một nhà quân sự có tư duy sắc sảo về chiến tranh nói chung và về chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam nói riêng.

Chương X “Đôi dòng suy ngẫm” (tức chương cuối cùng của cuốn hồi ức Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng nói trên) đã góp phần chứng minh hùng hồn điều đó.

Những suy ngẫm trong chương này có giá trị của một trong những bản tổng kết ngắn gọn. Bản Tổng kết ngắn gọn này chứa đựng nhiều bài học thực tiễn và lý luận cốt lõi và sâu sắc về nghệ thuật quân sự không chỉ rút ra từ Mùa Xuân 1975, mà còn rút ra từ toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Những sáng tạo và những quan điểm sáng suốt nói trên cùng với nhiều sáng tạo và nhiều quan điểm sáng suốt khác trong hai cuộc kháng chiến chứng tỏ thiên tài và bản lĩnh lớn của anh Văn, đồng thời chứng tỏ anh Văn là nhà lý luận quân sự lớn.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Hai, 2011, 06:33:55 AM
Đến đây, tôi muốn nói rõ: về mặt công tác chính trị trong quân đội (gọi tắt là quân chính), Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp là một vị chỉ huy có biệt tài, một nhà chính trị rất vững vàng trong quân đội.

Ngay từ khi chuẩn bị cuộc kháng chiến chống Pháp và ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Trung ương Đảng đứng đầu là Bác Hồ, anh Văn rất coi trọng công tác chính trị và tư tưởng. Anh đã nhiều lần phân tích và nhấn mạnh tinh thần dám đánh, quyết đánh và quyết thắng thực dân Pháp của toàn dân, toàn quân ta. Ngay từ hồi ấy, anh cũng đã nhiều lần phân tích về luận điểm chiến tranh toàn dân của Đảng.

Trong trận Điện Biên Phủ, giữa khói lửa và bom đạn dữ dội, một số chiến sĩ và cán bộ chỉ huy nản chí, thậm chí có những chiến sĩ bỏ ngũ. Dưới sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp lãnh đạo một cuộc đấu tranh tư tưởng rất kiên quyết, khẳng định quyết tâm giành toàn thắng của toàn dân, toàn Đảng, toàn quân. Chính vào những giờ phút đó, đồng chí đã viết một bảo báo cáo hùng hồn và thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn, lôi cuốn toàn quân ở mặt trận, lôi cuốn cả những người trót sa ngã về tinh thần, giúp họ trở lại đội ngũ chiến đấu.

Ngay từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ và suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, bằng cái bài viết và qua nhiều buổi nói chuyện, anh Văn cũng luôn luôn phân tích tinh thần đánh đánh, quyết đánh và quyết thắng giặc Mỹ của toàn dân và toàn quân ta.

Từ năm 1970 đến năm 1972, với tư cách là Bí thư Quân ủy Trung ương, đồng chí Võ Nguyên Giáp dành nhiều thời gian trình bày với các cán bộ chỉ huy trung cao cấp toàn quân bảy bài giảng. Đó là bảy bài giảng nổi tiếng về việc tổng luận bước đầu lịch sử học thuyết quân sự Việt Nam từ xưa tới lúc bầy giờ. Đó cũng là bảy bài giảng nổi tiếng về hàng loạt vấn đề quân chính trọng yếu của cuộc chiến tranh giải phóng, góp phần giải quyết nhiều vấn đề cơ bản về thực tiễn và lý luận giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Bảy bài giảng là một thành công, độc đáo nữa của công tác chính trị trong quân đội (tức là công tác quân chính) suốt từ ngày thành lập quân đội ta cho tới nay.

Phương pháp công tác chính trị trong quân đội của anh Văn là: thẳng thắn, nghiêm tục nhưng không bao giờ dẫn đến quy kết về tư tưởng một cách tùy tiện hoặc vội vã, không bao giờ tạo ra một không khí nặng nề.

Nghe anh Văn phân tích các vấn đề chính trị dù lớn hay nhỏ, tướng sĩ thường tiếp nhận được sâu sắc các quan điểm chính trị của Đảng, thấm sâu các quan điểm đó vào trái tim và khối óc rồi dần dần biến các quan điểm đó thành sức mạnh tinh thần và vật chất của mỗi người trong chiến đấu.

Các bài nói và bài viết của anh Văn về đường lối chính trị của Đảng thương làm dấy lên trong chiến sĩ niềm tự hào về trí tuệ Việt Nam,về truyền thống yêu nước nhân văn chủ nghĩa của dân tộc.

Trên đây chỉ là một số trong nhiều dẫn chứng về biệt tài và sự vững vàng về công tác quân chính của Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp.

* Thưa Thượng tướng, về mặt con người của Đại tướng, Tổng Tư lệnh?

Anh Văn là tấm gương sáng về đạo đức và về sinh hoạt của một người đứng đầu toàn quân và của một nhà văn hóa. Là Đại tướng, Tổng Tư lệnh nhưng bữa ăn hàng ngày của anh Văn bao giờ cũng đạm bạc, quần áo của anh mùa nào cũng chỉ có vài bộ quân phục và thường phục bằng vải thường.

Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp thường nhấn mạnh đến công lao, tài năng và đạo đức của chác chiến sĩ và của cán bộ chỉ huy các cấp. Anh Văn rất ít nói đến bản thân mình. Ở anh Văn, sự độ lượng và đức khoan dung thật là sâu rộng.

Anh có tác phong quần chúng tốt. Anh là người rất quyết đoánh nhưng cũng rất gương mẫu trong việc thực hành dân chủ quân sự.

Là Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tư lệnh, đồng chí Võ Nguyên Giáp đoàn kết và tập hợp được ba quân.

Anh Văn được nhân dân, quân đội và giới trí thức đặc biệt quý mến. Hàng năm, cứ vào dịp kỷ niệm ngày sinh anh, hết đoàn nọ đến đoàn kia, hết cá nhân này đến cá nhân khác tới nhà riêng của anh để chúc mừng. Đó là chưa kể nhiều thư, điện và tặng phẩm từ khắp nơi gửi về.

Ảnh hưởng và uy tín của Đại tướngTổng Tư lệnh trong toàn quân và toàn dân cũng như trong giới trí thức chẳng những đã từng sâu sắc và mạnh mẽ trong hơn 30 năm chiến tranh trước đây, mà còn tiếp tục sâu sắc và mạnh mẽ ngay cả vào thời điểm hiện nay, gần 20 năm sau khi đồng chí lần lượt thôi giữ các trọng trách trong Đảng, Nhà nước và quân đội.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 07 Tháng Hai, 2011, 06:37:52 AM
* Thưa lão tướng, tôi xin phép được ghi lại một vài kỷ niệm của lão tướng với đồng chí Tổng Tư lệnh trong cuộc đại trường chinh vừa qua của dân tộc?

Vị Tư lệnh 80 tuổi chớp chớp đôi mắt và sau hồi lâu im lặng, giơ tay bóp trán, nói tiếp, chậm và rõ:

- Những kỷ niệm của tôi với người Anh Cả của toàn quân Võ Nguyên Giáp suốt dọc cuộc trường chinh gian nan và oanh liệt của dân tộc rất nhiều, không sao kể hết và đến tận bây giờ, vẫn tươi thắm trong trái tim tôi.

Nắm cơm vắt, mớ rau rừng mà anh Văn và các đội du kích chúng tôi cùng nhau chia sẻ những năm tháng hoạt động bí mật ở chiến khu trước Cách mạng Tháng Tám là những hình ảnh bất diệt, mãi mãi còn đây…

Vâng, mãi mãi còn đây hình ảnh anh Văn và các chiến sĩ du kích Cao Bằng cùng nhau hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám…

Vâng, mãi mãi còn đây hình ảnh anh Văn với chiếc mũ phớt cũ, bộ comple nâu đã sờn, quần xắn tới bụng chân, khẩu súng lục đeo bên hông, chỉ huy các đội du kích, trong lòng dân, giữa núi rừng, đánh thắng những trận nhỏ mở đầu.

Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám, mỗi khi hành quân, tôi thường phải đi trước, ngay gần anh Văn và bám đội hình phía trước. Nếu anh Văn đi theo không kịp, tôi sẽ báo hiệu cho đồng đội chậm lại chờ anh Văn. Leo dốc núi, đôi khi tôi phải kéo tay anh Văn. Vâng cứ thế, cứ thế, chúng tôi gắn bó với nhau trong lửa đạn suốt từ ngày ấy cho đến ngày 30-4-1975, và cho đến hôm nay.

Cho đến hôm nay, trong lòng tôi và trong lòng biết bao đồng chí khác, anh Văn vẫn là Đại tướng, Tổng Tư lệnh thân yêu như những ngày nào xa lắm, xa lắm mà cũng gần lắm, gấn lắm…

Cho đến hôm nay, mỗi lần nghĩ tới cuộc đại trường chinh của dân tộc và mỗi lần nghĩ tới đồng chí Tổng Tư lệnh, tôi lại nhớ ngay đến bản hành khúc Trường chinh ca hùng tráng, hiên ngang, xúc động, thắm thiết và tràn ngập lạc quan của nhạc sĩ chiến binh Lương Ngọc Trác, nhất là bản hành khúc Tiến về Hà Nội của nhạc sĩ tài hoa và lỗi lạc Văn Cao, bản hành khúc Cảm tử quân của nhạc sĩ xuất sắc Hoàng Quý. Tôi nói điều này vì suốt hơn 30 năm chống Pháp và chống Mỹ, nhiều bản nhạc của Hoàng Quý, Văn Cao, Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình thi, Phan Huỳnh Điểu, Hoàng Vân, Phạm Tuyên, Phó Đức Phương, Nguyễn Đức Toàn và nhiều nhạc sĩ khác đã thôi thúc nhịp tước hành quân của bộ đội chúng ta.

Điều cuối cùng nhưng hết sức quan trọng tôi cần nhấn mạnh: Bác Hồ là người đầu tiên rèn luyện, dìu dắt Võ Nguyên Giáp và trao các trọng trách cao nhất về quân sự và quân chính cho Võ Nguyên Giáp. Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, nhân dân và quân đội ta sản sinh ra Võ Nguyên Giáp. Về phần mình, Võ Nguyên Giáp hoàn toàn xứng đáng với sự tín nhiệm và sự rèn luyện đó của Bác Hồ, nhân dân và quân đội. Khi còn sống, chính Bác Hồ đã từng gọi Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là người Anh Cả của quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là một vinh dự hết sức to lớn của Võ Nguyên Giáp.

Vị lão tướng đứng dậy, nhin về xa xa. Lát sau, ông đi đi lại lại và kết luân:

- Tôi chưa có điều kiện nghiên cứu kỹ lưỡng sự nghiệp của anh Văn.

Trên đây, nhân dịp đồng chí Võ Nguyên Giáp 90 tuổi, tôi mới chỉ nêu một số ý kiến bước đầu của mình về hai mặt quân sự và quân chính của Đại tuóng, Tổng Tư lệnh yêu quý của nhân dân và quân đội ta dưới cái nhìn của một chiến binh ngót 60 năm chiến đấu dưới lá quân kỳ Quyết Thắng.

Còn biết bao nhiều nét đặc sắc nữa của nhân vật lịch sử Võ Nguyên Giáp mà tôi không thể biết hết. Ngay cả những điều tôi biết về anh Văn, tôi cũng không thể có đủ thời gian nói hết trong một bài phỏng vấn đã dài và kỹ lưỡng như bài này. Toàn quân và toàn dân trân trọng ghi nhận: đồng chí Tổng Tư lệnh đã đóng góp công sức đặc biệt to lớn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển quân đội từ 34 người với một ít vũ khí thô sơ năm 1944 trở thành hàng chục quân chủng và binh chủng hôm nay hiện đại, hùng mạnh. Đây là một vấn đề rất lớn. Dịp khác, thời gian rộng rãi hơn, tôi sẽ nói kỹ.

Tôi nghĩ: cần phải có, và chắc chắn sẽ có nhiều công trình nghiên cứu công bằng về sự nghiệp đồ sộ nhiều mặt (quân sự, chính trị, văn hóa, xây dựng quân đội, đạo đức, v.v) của Đại tướng, Tổng Tư lệnh.

Tôi cũng nghĩ: đóng góp của đồng chí Võ Nguyên Giáp trên các lĩnh vực chính trị và văn hóa là to lớn. Nhưng vì không chuyên trách về hai lĩnh vực này, tôi xin nhường lời cho các nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa.

Giáo sư, Thượng tướng Hoành Minh Thảo gỡ chiếc kính lão đang đeo và nói rành mạch từng chữ từng lời: Hình ảnh anh Văn với chiếc mũ phớt cũ, bộ complê nâu đã sờn, quần xắn tới bụng chân, khẩu súng lục đeo bên hông, trước đây đã từng có mặt trong vô số trận đánh lớn nhỏ khắp đất nước suốt từ ngày thành lập quân đội tới ngày toàn thắng, giờ đây vẫn tiếp tục có mặt trên khắp đất nước Việt Nam Mới đang hòa bình và xây dựng.

Lão tướng Hoàng Minh Thảo ngừng phát biểu. Đôi mặt vị Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên nặng trĩu suy tư. Căn phòng trở lại im lặng.

Vừa lúc ấy, một nhà báo bước vào. Thượng tướng dặn tôi: nhớ trở lại nhiều lần để ông sửa chữa kỹ bản thảo.

Lần sau cùng, tiễn tôi ra tận cổng căn biệt thự đang sửa chữa (lúc 20 giờ 30 ngày 2-8-2001), Thượng tướng dừng lại ở cổng lâu hơn một lần. Vị giáo sư lão tướng, gương mặt hiền từ dưới ánh đèn đêm lờ mờ trên đường phố, nắm chặt tay tôi, nói chầm chậm bằng một giọng thật nhẹ nhàng và ấm áp: - Anh Văn đúng là một con người có bản lĩnh lớn, bản lính lớn, bởi vì anh đã bình tĩnh và tbình thản vượt qua những năm tháng sóng to gió lớn của cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng và của chính cuộc đời mình…

Dắt xe đạp xuống đường, rồi quay đầu lại, tôi vẫn thấy vị giáo sư lão tướng tươi cười và điểm tĩnh giơ tay vẫy chào tạm biệt...

Hà Nội, đầu tháng 8-2001


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Hai, 2011, 10:23:45 AM
VÕ NGUYÊN GIÁP
SỰ KẾT HỢP CỦA QUÂN SỰ VÀ VĂN HÓA
(1)

GS. ĐINH XUÂN LÂM

Thời thế tạo anh hùng, nhưng anh hùng góp phần tạo ra thời thế, đó là quy luật của lịch sử. Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng - là một minh chứng.

Thực vậy, đối với một bé trai sinh trưởng tại một làng quê hẻo lánh (An Xá), một huyện nghèo (huyện Lệ Thủy) của một tỉnh thuộc vào một loại nghèo nhất miền Trung (tỉnh Quảng Bình), lại xuất thân trong một gia đình trung nông, quanh năm không đủ bảo đảm một mức sống trung bình, thì con đường đi thông thường là lớn lên đi học, và nếu thông minh học giỏi sẽ đỗ đạt, có bằng cấp để rồi làm thầy giáo dạy học hay công chức trong bộ máy chính quyền thuộc địa lúc đó. Thế nhưng, anh thanh niên sau này đi hoạt động cách mạng với cái tên Văn thân mật - một cái tên phản ánh đúng bản chất văn hóa, tính cách nhân văn của con người về sau trở thành một vị tướng lĩnh, một người hành nghề võ - lại may mắn có điều kiện tốt đẹp góp phần bồi dưỡng nên nhân cách cao quý và tài năng lỗi lạc sau này.

Trước hết, phải kể tới truyền thống gia đình, cụ thân sinh vốn là một nhà Nho dạy học trong vùng. Trong xã hội cũ trước cách mạng, thầy đồ rất có uy tín, thường được nhiều người tin tưởng và noi theo. Cụ thân sinh là cháu ngoại một vị lãnh binh tham gia phong trào Cần Vương chống xâm lược Pháp hồi cuối thế kỷ XIX theo tiếng gọi của vua Hàm Nghi. Tuổi thơ của anh Văn thấm đượm bao câu chuyện vừa hào hùng, vừa bi thương của nghĩa binh chống Tây, với lời vè “Thất thủ kinh đô” đêm đêm vẫn nghe mẹ kể. Để rồi đến khi vào Huế học tiếp bậc trung học, một cách tự nhiên, anh đã hăng hái tham gia các phong trào đấu tranh đồi nhà cầm quyền “ân xã” nhà yêu nước Phan Bộ Châu, dự lễ truy điệu nhà yêu nước Phan Châu Trinh. Trên con đường mở rộng đó, anh học sinh họ Võ trường Quốc học Huế cùng các bạn bè đồng chí hướng, như: Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn (Hải Triều) bất chấp mọi thủ đoạn theo dõi, o ép của thực dân Pháp và tay sai vẫn hăng hái hoạt động, lập câu lạc bộ thơ văn yêu nước, bí mật chuyền tay nhau đọc các sách bán từ Pháp gửi về như Người cùng khổ, Việt Nam hồn, Bản án chế độ thực dân Pháp, vận động học sinh ngày chủ nhật hằng tuần đến nhà cụ Phan Bội Châu ở đầu dốc Bến Ngự để nghe nhà yêu nước nói chuyện. Và tại nhà thầy giáo yêu nước tiến bộ Võ Liêm Sơn, lần đầu tiên anh được độc tác phẩm chủ nghĩa Mác bằng tiếng Pháp. Với những hoạt động tích cực đó, năm 1929 ông đã tham gia cải tổ Tân Việt cách mạng đảng thành Đông Dương cộng sản liên đoàn, một trong ba tổ chức cộng sản tham gia Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2 năm 1930). Sau đó bị thực dân Pháp bắt giam một thời gian, đến lúc được tự do, ông ra Hà Nội vừa hoạt động báo chí, vừa dạy học. Dạy một lịch sử ở trường trung học vào thời kỳ đất[416] nước còn trong vòng đô hộ của thực dân Pháp, thầy giáo Võ Nguyên Giáp vẫn kín đáo giáo dục cho học sinh, thông qua các bài giảng, tư tưởng yêu nước thương nòi, tinh thần độc lập, dân chủ, tự do cảu cuộc Đại cách mạng Pháp năm 1789. Rồi đến giữa năm 1940, cùng Pham Văn Đồng, ông bí mật lên đường sang Trung Quốc.

Chuyến xuất ngoại lịch sử đó mở đường phát triển tài năng cách mạng của người thanh niên trí thức họ Võ. Ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên tại công viên Thúy Hồ (Côn Minh) với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Võ Nguyên Giáp vui mừng được gặp người bấy lâu hằng mong đời, từ nay sẽ hoàn toàn gắn bó suốt đời phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp cách mạng do Người lãnh đạo.

Và một điều kỳ lạ đã xảy ra, Bác Hồ đã tin tưởng giao cho đồng chí Văn phụ trách công tác quân sự. Quyết định vô cùng chính xác này đã định hướng cho một cuộc đời với bao chiến công rực rỡ trong chiến thắng chung của toàn dân tộc. Từ những nhiệm vụ đầu tiên như phụ trách Ban xung phong Nam tiến, dùng hoạt động tuyên truyền vũ trang mở đường liên lạc giữa miền núi và đồng bằng Bắc Bộ (1942), thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (12-1944), Ủy viên quân sự cách mạng Bắc kỳ, Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất mang tên Việt Nam giải phóng quân (8-1945), rồi trải qua hai cuộc kháng chiến thần thánh trực tiếp chỉ huy các chiến dịch Biên giới (1950), Điện Biên Phủ (1954) và cùng Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương theo dõi, chỉ đạo chiến dịch Hồ Chí Minh 1975)…, đó là những bước phát triển đi lên vững chãi của một tài năng lớn về quân sự. Ngày 28-5-1948, trong lễ phong quân hàm Đại tướng cho Võ Nguyên Giáp tổ chức dưới tán cây rừng chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ xúc động nhân danh Chủ tịch nước trao tặng chức vụ Đại tướng “để chú điều khiến binh sĩ, làm tròn sứ mệnh mà quốc dân phó thác cho”.

Lịch sử đã chứng minh rằng lời hứa hơn 50 năm trước đến nay đã trở thành hiện thực. Nói đến Đại tuóng Võ Nguyên Giáp mà không đề cập tới hoạt động văn hóa của ông sẽ là một thiếu sót lớn, sự nghiệp quân sự của ông gắn liền với sự nghiệp văn hóa. Các luận văn quân sự như Chiến tranh giải phóng và quân đội nhân dân - Ba giai đoạn chiến lược, Điện Biên Phủ, Mấy vấn đề đường lối quân sự của Đảng, Chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; đặc biệt là các hồi ký Những chặng đường lịch sử, Những năm tháng không thể nào quên, Chiến đấu trong vòng vây… được công bố thời gian gần đây đều là những đóng góp có giá trị lý luận quân sự cũng như về giá trị văn học. Đồng thời, ông còn dành nhiều thời gian, công sức và tâm huyết vào việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện sâu sắc tình cảm gắn bó của ông với Bác Hồ, với tư cách là một lãnh tụ, một người thầy, một đồng chí. Lần lượt các công trình giá trị nối tiếp nhau ra mặt bạn đọc: Thế giới đổi thay, tư tưởng Hồ Chí Minh còn sống mãi, Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Noi gương Bác Hồ, ông đã rèn luyện cho mình một đức tính khiêm tốn, thực sự chân thành, từ trong bản chất con người, luôn luôn chú ý lắng nghe và học tập nhân dân. Với nụ cười hiền hậu, ông luôn luôn bình dị, ân cần với mọi người xung quanh. Cho nên, không gì lạ khi ông được binh lính, đồng đội yêu mến, coi như là “Người anh cả”, mà đông đảo nhân dân trong nước và bạn bè khắp năm châu đều một lòng tin tưởng và ngưỡng mộ. Cụ Hoàng Đạo Thúy, trước kia là Cục trưởng, Trưởng ban Thông tin chiến dịch Điện Biên Phủ, từng làm việc bên cạnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, lúc sinh thời có kể lại cho bạn bè nhiều kỷ niệm của ông với Đại tướng. Như khi có người thắc mắc vì sao Đại tướng không rõ một số chuyện người khác gán ghép cho ông thì ông tươi cười trả lời: “Sẽ nói!”. Kể đến đây cụ Thúy hạ một câu: “Có lẽ ở ông Tướng này bài học lớn là về chữ Nhẫn!”. Tất nhiên chữ “Nhẫn” ở đây không có nghĩa là thụ động, thủ tiêu đấu tranh, mà là chờ đúng lúc và chọn đúng cách để nói. Cũng chính cụ Thúy, trước kia đã nói ra một sự thật lịch sử: “Người nói không phải là chính ông Văn, mà lịch sử nói đấy!”. Võ Đại tướng cũng đã dần dần nói lên sự thật lịch sử qua các hồi ký của ông. Nhưng rõ ràng, đó cũng là trách nhiệm của các nhà sử học khi có điều kiện và cơ hội.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử quân sự, tháng 5 năm 2001, tr.2-3.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Hai, 2011, 10:28:39 AM
THẦY VÕ - ANH VĂN(1)

TRẦN VĂN HÀ

Một chữ là thầy, huống chi là vạn chữ

Hồi đó, năm 1939, từ tỉnh lẻ Thái Bình, tôi thi đậu vào ban tú tài trường Bưởi. Phong trào học sinh yêu nước đã được nhen nhóm. Tựu trường, tôi xin dạy ngay truyền bá quốc ngữ. Nhưng nhà nghèo, tôi phải đi làm gia sư mới đủ tiền ăn học. Thế là thời gian vô cùng eo hẹp. Buổi chiều tan học, đến dạy con một ông tham biện tài chính, học lớp 6. Tối dạy “i, tờ” ở hội quán Trí Tri (tức trường Nguyễn Văn Tố ở phố hàng Quạt ngày nay.

Từ 9 giờ tối đến đêm khuya, mới được học và làm bài của mình. Được học Việt văn với thầy Dương Quản Hàm, văn chương Pháp với thầy Nguyễn Mạnh Tường là một hạnh phúc. Thầy giỏi, dạy hay, hấp dẫn, nhớ lâu. Chán nhất là lịch sử nước Pháp và địa lý thế giới với thầy Aga người Pháp: về nhà phải “cày” mãi, mất nhiều thời gian mới nhớ được. Trong khi đó, anh bạn ở cùng gác trọ học trường tư thục Thăng Long cứ luôn luôn khoe với tôi: “Thầy Võ Nguyên Giáp giảng lịch sử cách mạng Pháp thật tuyệt vời!”. Tôi mượn xem, quả lày hay thật! Bài học mà như chuyện kể, rất lôi cuốn: Đánh chiếm ngục Baxti (Prise de la Bastile); Ý nghĩa của ba chữ Tự do - Bình đẳng - Bác ái; lý lẽ của 17 điều trong bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791. Tự nhiên được khởi dậy trong người học, lòng yêu dân, yêu nước, chống áp bức cường quyền, chống bất bình đẳng, tự do… Rồi như có một sức mạnh vô hình thúc đẩy mình phải làm một cái gì?

Cấu trúc bài của thầy lại rất lôgích. Văn phong tiếng Pháp của thầy rất trong sáng, giản dị nên đọc là nhớ ngay. Thế là tôi đã học thầy Võ Nguyên Giáp mà không gặp thầy. thông qua trọn hai giáo trình của thầy do anh bạn quý mến cứ chuyền dến cho tôi hàng tuần: “Lịch sử cách mạng Pháp 1789” và “Địa lý thế giới”. Tôi thi đậu tu tài phần thứ nhất, vấn đáp trôi chảy, được xếp hạng khá (mentionzassez biên), phần quan trọng là nhờ thuộc, nhớ hai môn sử, địa của thầy.

“Trận Bạch Đằng Giang” tại Nhà hát lớn.

Là một trong 12 thanh niên đứng nghiêm dưới đài Độc lập để bảo vệ Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi vô cùng sung sướng và hồi hộp khi nghe Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập. Nhất là đến đoạn “Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đó là những lẽ phải không ai có thể cối cãi được”. Tôi vụt nhớ tới người thầy năm xưa đã truyền thụ cho tôi tinh thần của cuộc Cách mạng Pháp và cái tinh túy của bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền. Thầy đã từ Tân Trào về Hà Nội cùng với Bác Hồ mà tôi chưa được gặp.

Gặp lại thầy lần đầu tiên, sau 5 năm xa cách, tôi rất vui mừng, pha lẫn nhiều lo sợ và lúng túng. Xưng hô thế nào đây? Thầy hay là anh? Thầy? Thầy có biết mình đâu, vì mình học thầy từ xa, có ở trong lớp của thầy đâu, rồi lại phải giải thích, có thể bị hiểu lầm… Thôi thì gọi bằng anh cho tiện, vì đã quen gọi anh Năm (Trường Cinh), anh Tô (Phạm Văn Đồng), anh Trần Huy Liệu. Anh bạn tôi, Trần Lâm, lúc đó là Giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam (nay đã 82 tuổi) lại cho tôi biết là làm việc với anh Văn phải cẩn thận đấy. Anh Văn rất nghiêm, làm việc dúng giờ, đã nhận là phải làm ngay và phải làm tốt. Lúc này tôi là Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền Hà Nội, kiêm Giám đốc Nhà Thông tin Tràng tiền, Hà Nội.

Anh Văn điện thoại, bảo tôi đến làm việc với anh tại Bắc Bộ Phủ. Anh nói: “Sắp đến ngày giỗ Trần Hưng Đạo, anh chuẩn bị cho buối nói chuyện của tôi tại Nhà hát lớn, anh kiếm giùm cho tôi cuốn “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, anh xem kỹ và đánh dấu bằng bút chì ở mép trang những đoạn quan trọng. Anh cũng chuẩn bị cho nhân dân khoảng hai ba trang thôi, gạch đầu dòng, viết rõ ràng”.

Rất mừng và lo, lo nhiều hơn. Chuẩn bị bài nói chuyện về sử cho người thầy rất giỏi về sử, thật là một việc khó, vượt sức mình. Rất may là Nhà Thông tin Tràng Tiền có nhiều họa sĩ tình nguyện (hồi đó chưa có lương). Các anh Huỳnh Văn Thuận, Tạ Thức Bình, Nguyễn Sáng trong vài ngày đã vẽ xong “Bản đồ nước Nam khi nhà Trần chống Mông Cổ” đúng như sách của Trần Trọng Kim, cao 3m, rộng 2m. Những mũi tên màu đen của quân Thoát Hoan tiến vào Lạng Sơn, Chi Lăng, Vạn Kiếp, Thăng Long; những mũi tên màu xanh của quân Toa Đô vượt biển Nam Hải tiến vào Chiêm Thành, rồi ngược ra Nghệ An, Thanh Hóa, Thiên Trường, Hải Dương. Những mũi tên màu đỏ của quân nhà Trần chống quân địch ở Nghệ An, tấn công địch ở trận Hàm Tử Quan (Trần Nhật Duật phá quân Toa Đô), ở trận Chương Dương Độ (Trần Quang Khải khôi phục Thăng Long), ở trận Tây Kết (tướng nhà Trần chém được Toa Đô), ở trận Vạn Kiếp (Thoát Hoan trốn chạy về Tàu), ở trận Vân Đồn (Trần Khánh Dư cướp lương của quân Nguyên, ở trận Bạch Đằng Giang (Ô Mã Nhi bị bắt).

Tiếng anh Văn sang sảng, lúc trầm lắng với Hội nghị Diên Hồng, khi sôi nổi như cuốn hút mọi người vào các trận chiến, rồi vút lên cao với chiến thắng Bạng Đằng. Tiếng vỗ tay ầm vang như sấm hầu như không thể dứt. Nhà hát lớn thành phố đông nghịt người nghe. Những nắm tay chặt! Những lồng ngục bực sôi! Ai cũng thấy phải đồng tâm, hiệp lực làm được một cái gì. Tình hình đất nước lúc này cũng ngàn cân treo sợi tóc như đời Trần. Hàng vạn quân Tưởng phá phách, quân Pháp nghênh ngang khiêu khích, quân Pháp núp sau quân Anh đã khởi chiến ở Nam Bộ. Bác Hồ, sau khi ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, sang Pháp theo lời mời của Chính phủ Pháp. Lúc này, cụ Huỳnh Thúc Kháng là quyền Chủ tịch nước. Anh Văn là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Nhưng nhiều người đã thấy trước rằng thầy Võ - Giáo sư trường Thăng Long, Đội trưởng Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đầu tiên với những chiến thắng Phai Khắt - Nà Ngần, với bài giảng về những trận chiến thắng Hàm Tử - Bạch Đằng Giang sôi động được an Văn diễn tả lại hom nay, nhiều người đã thấy trước rằng anh Văn sẽ là một vị tướng tài.

Sau này, đọc các cuốn sử do người nước ngoài viết về Việt Nam, tôi thấy nhà báo, nhà sử học Benard Fall đã có một lời đánh giá rất xác đáng từ năm 1962 trong tác phẩm Võ Nguyên Giáp - con người và huyền thoại (Võ Nguyên Giáp - Man and Myth - New York F.P.Publishers, 1962): “Trong một tương lai có thể thấy trước, phương Tây chưa thể đào tạo được một vị tướng nào sánh kịp với Võ Nguyên Giáp”


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 87, tháng 8 năm 2001.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Hai, 2011, 10:30:21 AM
“VÕ NGUYÊN GIÁP - MỘT SỰ ĐÁNH GIÁ”(1)

PETER MCDONLD
ĐẶNG VĂN VIỆT ghi

Người Việt Nam, nam cũng như nữ, đều là những nhân tố thật sự kiến tạo ra thắng lợi: họ đã tỏ ra cương quyết, hết lòng, kỷ luật, dũng cảm và nhiệt tình. Họ đã có một vị Tổng Tư lệnh phi thường, đó là Hồ Chí Minh, người cầm lái; Võ Nguyên Giáp, người chỉ huy các lực lượng vũ trang (…).

Võ Nguyên Giáp có thể tự hào là đã chiến thắng trong hai cuộc chiến tranh lớn…, đã góp công sức vào việc kiến tạo ra nền độc lập và thống nhất của đất nước ông. Những chiến thắng của ông đã làm cho ông là một thống soái vĩ đại của các thời đại.

Võ Nguyên Giáp trong 30 năm liền vẫn là Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang và trong gần 50 năm, vẫn tham dự những hội nghị chính trị ở cấp cao nhất của đất nước. Đó là hai sự kiện vô song trong lịch sử. Chúng ta khó mà so sánh ông với các tướng lĩnh khác về sự điều hành ở tầm cao của cuộc chiến tranh du kích và ở những cuộc hành binh lớn nói trên.

Võ Nguyên Giáp đã chứng minh rằng ông có những đức tính ngoài tầm cỡ bình thường trên mọi lĩnh vực lớn của cuộc chiến tranh (…).

Về chiến lược, ông có tầm nhìn xa về những diễn biến của các sự kiện và biết cách chọn lọc những vấn đề then chốt. Ông đã phá vỡ sự ổn định của đối phương bằng cách bố trí một cách khoa học, hợp lý các lực lượng của mình ở nhiều nơi. Lào, Campuchia, đồng bằng sông Mê Công, các cao nguyên, các đồng bằng ven biển, các vùng ven khu phi quân sự, v.v.

Về chiến thuật, Võ Nguyên Giáp là bậc thầy của chiến tranh du kích. Trên lĩnh vực chiến thuật, ông là một tổng chỉ huy xuất sắc qua các giai đoạn.

Trong lĩnh vực điều hành chiến tranh quy mô lớn, ông có nhiều sáng tạo.

Chẳng hạn ở Điện Biên Phủ, ông biết áp dụng cách đánh lấn: với những đường hầm, ông đã phá hủy lần lượt các vị trí phòng thủ của đối phương để cuối cùng, các đơn vị của ông tràn ngập lên các vị trí còn lại của quân Pháp.

Hơn ai hết, ông đã đánh thông tư tưởng cho các chiến sĩ về sự cần thiết và hiệu quả của yếu tốt bất ngờ của công tác ngụy trang, công tác nghi binh.

Trên lĩnh vực phép biện chứng, Võ Nguyên Giáp đã tỏ ra xuất chúng trong suốt cả cuộc chiến tranh Đông Dương. Nếu không ở tầm cỡ làm chủ được cách suy nghĩ biện chứng thì Võ Nguyên Giáp không thể nào thắng nổi trận Điện Biên Phủ (…).

Khi tôi hỏi tướng Marcel Bigéard cho biết những nhận xét, đánh giá của ông về trình độ chỉ huy của Võ Nguyên Giáp, ông tỏ thái độ rất thán phục. Chẳng hạn, ông nói: “Võ Nguyên Giáp đã rút ra được những bài học về sự thất bại và không để cho chúng lặp lại”. Hoặc: “Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy và chiến thắng qua một thời gian khá dài, đạt được kết quả ấy trong thời gian suốt 30 năm, thật là một chiến tích kỳ diệu”.

Tướng Bigeard còn bộc lộ một sự kích trọng lớn đối với người Việt Nam: “Họ là những con người gan dạ, thẳng thắn, thông minh và chăm chỉ”.

Tướng Oétmolen nhận xét: “Võ Nguyên Giáp là một con người cương nghị, một vị tướng vĩ đại”.

Tướng Oétmolen tìm thấy ở Võ Nguyên Giáp một con người đầy nghị lực. Ông nói: “Những vị tướng chỉ huy quân sự ở cấp cao buộc phải có đức tính này, nếu không, họ sẽ không tồn tại lâu được”.


(1) Võ Nguyên Giáp - Một sự đánh giá là tên gọi một cuốn sách, tác giả là người Anh và một chương sách giả là người Mỹ. Đó là hai trong số nhiều cuốn sách viết về Võ Nguyên Giáp.
Năm 1992, ông Peter McDonald, người Anh, một nhà quân sự và một nhà nghiên cứu, đã xuất bản tác phẩm Võ Nguyên Giáp - Một sự đánh giá (Giap, an assessment) bằng tiếng Anh (bản dịch tiếng Pháp là: Giáp - Hai cuộc chiến tranh Đông Dương). Ông đã sang Việt Nam và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp chuyện. Tạp chí Xưa & Nay, số 97, tháng 8 năm 2001, tr.10-11, trích giới thiệu một số đoạn trong chương cuối cùng.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Hai, 2011, 10:32:09 AM
Về vấn đề đời sống chính trị của Võ Nguyên Giáp được kéo dài, tướng Oétmolen đã trả lời một cách rắn rỏi: “Với một vị tướng, điều ấy tùy thuộc vào sự tín nhiệm của quần chúng”.

“… Bề ngoài lạnh lùng của ông che đậy một khí chất dữ dội khiến người Pháp mô tả ông là một ngọn núi lửa phủ tuyết”.

“Ông trở thành một tỏng những vị tướng tài năng nhất của thế kỷ XX và chuyên gia vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân hiện đang còn sống”.

“… Ông không chỉ trở thành một huyền thoại mà có lẽ còn trở thành một thiên tài quân sự lớn nhất duy nhất của thế kỷ XX và một trong những thiên tài lớn nhất của tất cả các thời đại”.

“Võ Nguyên Giáp là vị tướng duy nhất trong lịch sử hiện đại tiến hành chiến đấu chống kẻ thù từ thế vô cùng yếu, thiếu trang bị, thiếu nguồn tài chính, dù thời kỳ đầu, trong tay chưa có quân nhưng vẫn liên tiếp đánh bại tàn quân của đế quốc Nhật, quân đội Pháp (đế quốc thực dân số 2) và Mỹ (một trong hai siêu cường thế giới) mặc dầu Mỹ đã ném vào cuộc chiến tranh những nguồn sức người, sức của và kỹ thuật to lớn trong một thời gian dài”.

“Ông là động lực đằng sau mội thắng lợi. Thành tích của ông là có một không hai và kết quả ông thu được là ph ithường. Đó chính là thiên tài quân sự”.

“… Những thách thức mà Võ Nguyên Giáp vấp phải đã khiến ông trở thành người thầy của chiến thuật, chiến lược và hậu cần. Ông phát minh ra một kiểu tác chiến chiến thuật mà cả Mỹ và Pháp đều “không thể thắng được””.

“Một nhà chiến thuật bậc thầy có thể là người đã tỏ rõ được khả năng đánh thắng nhiều kẻ thù siêu việt hơn. Võ Nguyên Giáp đã làm được như vậy (…). Ông đã chuẩn bị một cuộc chiến tranh lâu dài, đã chiến đấu phòng ngự cho đến khi đạt được thế cân ăng nhiều mặt và điều chỉnh cách giải quyết của mình theo nhu cầu để rồi đánh thắng các đội quân lớn của địch.

Một nhà chiến lược bậc thầy có thể khắc phục được những thảm họa tương lai và rút ra bài học từ thất bại. Võ Nguyên Giáp đã làm được điều đó. Những chiến dịch chống Pháp không may mắn ban đầu đã dạy ông cách chỉ huy và điều hành một quân đội. Những tiếp xúc ban đầu của ông với các đơn vị Mỹ đã  iến ông có ý tướng để đi đến chiến thuật “Nắm lấy thắt lưng địch mà đánh”, đó cũng là phương thức tối đa hóa quânlực của ông và tối thiểu hóa sức mạnh của Mỹ. Giáp cũng có những thất bại như ở Điện Biên Phủ khi các đơn vị của ông bị tiêu hao nặng và suýt nữa nổi loạn và như trong những ngày đen tối khi vũ khí công nghệ cao của Mỹ dường như thắng thế.

Một nhà chiến lược bậc thầy có thể hiểu biết về địch, lợi dụng những điểm yếu của chúng và nắm được toàn bộ cuộc xung đột. Võ Nguyên Giáp đã làm được như vậy. Ông hiểu việc nắm được nhân dân chủ yếu về mặt xã hội và chính trị có tầm quan trọng biết bao đối với kết quả cuối cùng. Những người dân này đã trở thành các chiến binh thầm lặng. Họ làm cho quân thù mòn mỏi, mất thăng bằng và chi viện cho các đơn vị chủ lực của ông tỏng những trận đánh quyết định (…) Những thành công như vậy là yếu tố xác nhận phẩm chất của một nhà chiến lược bậc thầy. Võ Nguyên Giáp cũng đã tránh được việc chủ yếu tập trung về quân sự trong trận chiến đấu chống hai kẻ thù chính của mình. Nếu Clausewits (nhà chiến lược quân sự bậc thầy của nước Phổ) còn sống, chắc hẳn ông cũng phải kính cẩn cúi chào vị Đại tướng này.

“Cùng với tháng năm trôi qua và cùng với thắng lợi ngày càng nhiều, Võ Nguyên Giáp đã tỏ ra nắm chắc được chiến lược. Do giàu óc tưởng tượng; do nắm chắc những nguyên tắc chiến tranh và những điều cơ bản của chiến lược cho nên trong tư duy, ông thường đi trước những đối thủ được đào tạo cơ bản hơn, mặc dù không phải lúc nào ông cũng đánh thắng họ. Ông linh hoạt, ngoan cường và kiên trì. Do có thể chịu được thất bại, ông cố tìm cách rút ra bài học từ những thất bại và chuyển sang một trận đánh khác được chuẩn bị tốt hơn. Là một người thầy và một người huấn luyện, ông cổ vũ các chiến sĩ nông dân tin tưởng nhiều hơn vào sự lãnh đạo của ông, thổi vào họ tinh thần dũng cảm chiến đấu, mặc dầu có những lúc ông phải khắc phục sự bất hòa, đồng thời truyền vào họ tinh thần sẵn sàng hy sinh thân mình cho sự nghiệp của Tổ quốc. Về nhiều mặt, ông là người tổ chức hàng đầu của toàn thể dân tộc.

Võ Nguyên Giáp là bậc thầy trong việc vận dụng tính né tránh của người châu Á và trong việc hiểu rõ cách đánh dùng các yếu tố thời gian và không gian để đối phó với phản ứng mạnh mẽ và công nghệ tiên tiến của phương Tây. Ông đã thắng. Trong lịch sử, ít người có những thành tựu quân sự sánh kịp ông”.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2011, 10:33:52 AM
THAY ĐỔI CÁCH ĐÁNH TRONG
CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ
“MỘT QUYẾT ĐỊNH KHÓ KHĂN NHẤT
TRONG CUỘC ĐỜI CHỈ HUY CỦA ĐẠI TƯỚNG.
TỔNG TƯ LỆNH VÕ NGUYÊN GIÁP
(1)

GS, NGND. PHAN HUY LÊ

Trong điều kiện một nước nhỏ chống lại quân xâm lược của nước lớn, qua kinh nghiệm thành bại của nhiều cuộc kháng chiến, dân tộc Việt Nam đã sớm xác lập tư tưởng quân sự “Dĩ đoạn binh chế trường trận” (Trần Quốc Tuấn), “Lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” (Nguyễn Trãi), dựa vào sức mạnh đoàn kết toàn dân thực hiện chiến tranh nhân dân. Trong tư tưởng chỉ đạo đó, dân tộc Việt Nam tránh quyết chiến với đối phương lúc ưu thế binh lực thuộc về quân xâm lược và sau khi thay đổi được tương quan lực lượng, tạo nên lực, thời, thế thuận lợi, quân dân ta tổ chức trận quyết chiến chiến lược giành thắng lợi quyết định trên chiến trường để mở đường dùng biện pháp ngoại giao, chính trị kết thúc chiến tranh. Điều đó đã lặp lại nhiều lần như một quy luật trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi của trận quyết chiến chiến lược của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Mỗi trận quyết chiến chiến lược trong tương quan lực lượng với đối phương và trong bối cảnh lịch sử cụ thể của đất nước cùng những mối quan hệ khu vực và thế giới, mang những hình thái và lối đánh rất phong phú, đa dạng, biểu thị tập trung nghệ thuật quân sự độc đáo và trí thông minh sáng tạo của dân tộc Việt Nam. So với những trận quyết chiến chiến lược trước đây, trận Điện Biên Phủ nổi bật lên hai đặc điểm quan trọng.

Điện Biên Phủ là một trận quyết chiến mà cả hai phía đều chấp nhận, biết trước và ra sức chuẩn bị, quyết tâm giành thắng lợi. Trong lịch sử, trận Bạch Đằng năm 938 chặn đánh đoàn chiến thuyền Nam Hán từ biển vào, trận Bạch Đằng năm 1288 đánh đoàn thuyền quân Nguyên rút lui về nước, trận Như Nguyệt năm 1077 tiến công vào doanh trại phòng ngự trên sông Như Nguyệt (sông Cầu) của quân Tống, trận Chi Lăng - Xương Giang năm 1427 đánh đoàn quân tiếp viện của nhà Minh trên đường tiến về thành Đông Quan (Hà Nội), trận Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785 đánh quân Xiêm trên đường vận động định tiến công vào chỉ huy sở quân Tây Sơn, trận Ngọc Hồi - Đống Đa năm 1789 đánh thẳng vào hệ thống phòng ngự của quân Thanh ở phía nam và phía tây - nam thành Thăng Long. Trong tất cả những trận đánh trên, dù đánh quân địch trên đường vận động hay trong doanh trại phòng ngự, thời gian chiến đấu có thể ngắn hay dài, quân dân ta luôn luôn giành quyền chủ động chọn không gian và thời gian quyết chiến, bí mật bài binh bố trận, quân địch hoàn toàn bất ngờ và bị động, không hay biết gì về nơi và lúc chúng bị tiến công. Nhưng trận Điện Biên Phủ là trận quyết chiến được hình thành dần trong tính toán của cả hai phía tham chiến trong Đông - Xuân 1953-1954.

Về phía Việt Nam, từ tháng 8-1953, sau khi địch rút khỏi Nà Sản (từ ngày 8 đến ngày 13-8-1953, Bộ Tổng tham mưu trong chủ trương phá kế hoạch tập trung binh lực cơ động của H. Nava, đã đưa ra kế hoạch tác chiến gồm bốn nhiệm vụ, trong đó nhiệm vụ 4 là tăng cường hoạt động trên hướng Tây Bắc (Lai Châu), Thượng Lào(2). Bộ Chính trị trong phiên họp tháng 10 tại Tỉn Keo (Định Hóa, Thái Nguyên), đã xem sét kế hoạch tác chiến Đông - Xuân 1953-1954 của Tổng Quân ủy, xác định phương châm chung là “tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt”, nguyên tắc chỉ đạo chiến lược và tác chiến là “đánh ăn chắc, đánh chắcthắng, đánh tiêu diệt, chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi chúng tương đối yếu mà đánh; giữ gững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán lực lượng”(3) và thông qua hướng hoạt động lấy Tây Bắc làm chính, các hướng khác là phối hợp. Sau khi địch nhảy dù xuống Điện Biên Phủ ngày 20-11, Tổng Quân ủy đã nhận định âm mưu của địch và cử ngay cơ quan tiền phương lên Tây Bắc chuẩn bị chiến trường  cho chiến dịch Điện Biên Phủ và một số đơn vị tham gia chiến dịch được lệnh lên đường. Bộ Tổng tham mưu tính toán mọi khả năng diễn biến của tình hình, kế hoạch tác chiến và dự kiến lực lượng sử dụng, cũng với Tổng cục cung cấp lo chuẩn bị hậu cần, đường vận chuyển. Ngày 6-12-1953, Tổng Quân ủy trình Bộ Chính trị “Phương án tác chiến mùa xuân 1954” gồm 4 phần: I. Tình hình địch và phương hướng chiến dịch, II. Binh lực sử dụng và thời gian tác chiến, III. Nhu cầu nhân lực, vật lực, IV. Kế hoạch đướng sá và vận chuyển(4). Phương án được Bộ Chính trị thông qua với dự kiến địch “tăng cường thành lập tập đoàn cứ điểm” thì “trận Điện Biên Phủ sẽ là một trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay”(5). Kế hoạch mở chiến dịch Điện Biên Phủ đã chính thức được Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị phê duyệt. Hạ tuần tháng 12, Bộ Chính trị chỉ định Đảng ủy mặt trận và thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch. Như thế là Việt Nam đã quyết định chọn Điện Biên Phủ làm trận quyết chiến chiến lược trong Đông - Xuân 1953-1954. Chiến dịch được triển khai trong sự phối hợp chặt chẽ với các hướng tác chiến khác trên chiến trường toàn quốc và cả chiến trường Lào, Campuchia.


(1) Bài đăng trên Báo Nhân dân, ngày 19 tháng 4 năm 2004. Tạp chí Xưa & Nay, số 210, tháng 4 năm 2004.
(2) Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr.23.
(3) Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh - thrực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.193.
(4) Nguyên bản lưu giữ tại Cục lưu trữ Trung ương Đảng, Ký hiệu DV 742, tr. 1/132 - 4/135. Xem: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.14, tr. 593-598.
(5) Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.14, tr.594.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2011, 10:39:39 AM
Mục tiêu của chiến dịch là tiêu diệt địch, giải phóng toàn bộ Tây Bắc, chiếm lĩnh một địa bàn chiến lược quan trọng không chỉ đối với Việt Nam mà trên cả chiến trường Đông Dương. Điện Biên Phủ nằm trên cánh đồng rộng lớn nhất ở Tây Bắc, tiếp giáp với Thượng Lào, có đường thông với Trung, Hạ Lào ở phía nam, Thái Lan, Miến Điện ở phía tây, phía bắc lên Trung Quốc. Từ đây có thể phát triển sang Thượng Lào, uy hiếp Luông Phabăng.

Về phía Pháp, được cử làm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, thay Xalăng, ngày 19-5-1953, Đại tướng Hăngri Nava đến Sài Gòn. Sau khi đi khảo sát và nghiên cứu kỹ tình hình, H. Nava đưa ra một kế hoạch tác chiến gồm hai giai đoạn: trong chiến cục 1953-1954, giữ thế phòng thủ, tránh giao chiến lớn ở phía bắc vĩ tuyến 18, tiến công ổn định miền Trung và Nam Đông Dương; trong chiến cục 1954-1955, sau khi đạt ưu thế quân cơ động sẽ thực hành tiến công ở phía Bắc nhằm “tạo ra một tình hình quân sự cho phép đưa ra một giải pháp chính trị thích hợp để giải quyết chiến tranh”(1). Nhưng kế hoạch xây dựng khối cơ động tác chiến mạnh của Nava không thể thực hiện được một phần bởi những khó khăn về cung cấp tài chính của chính phủ Pháp như H. Nava than phiền, song chủ yếu bởi kế hoạch của Việt Nam buộc địch phân tán lực lượng theo tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ: “Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh. Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức manh đó không còn”(2). Nhận thấy Nà Sản không có tác dụng che chở cho Thượng Lào, tháng 8-1953, H. Nava rút khỏi tập đoàn cứ điểm này. Cuối tháng 10, H. Nava nhận được tin tức cho biết đối phương sẽ tiến công trên hai hướng: một hướng đánh lên vùng núi Bắc Bộ và Thượng Lào, một hướng đánh vào miền Trung Đông Dương mà “không bảo vệ Thượng Lào tức là chấp nhận một thảm họa chung trong vòng vài tháng tới”(3). Vì vậy,  tuy Chính phủ Pháp không có quyết định rõ ràng về việc bảo vệ Thượng Lào, nhưng H. Nava quyết định mở cuộc hành quân Hải Ly (Castor) đánh chiếm Điện Biên Phủ với chỉ thị ngày 2-11 và thực hiện từ ngày 20-11-1953 bằng cuộc đổ bộ đường không, dù rằng một số tướng lĩnh Pháp phản đối(4). Điện Biên Phủ được xây dựng thành một tập đoàn cứ điẻm mạnh theo kế hoạch từ 5-6 tiểu đoàn có thể tăng lên 10-12 tiểu đoàn(5). Trong tính toán của H. Nava, với Điện Biên Phủ, quân Pháp sẽ khống chế vùng Tây Bắc, bảo vệ Thượng Lào và như cái “nhọt tụ độc” sẽ thu hút và kìm chân quân chủ lực Việt Minh, tạo ra thế cân bằng trên toàn chiến trường Đông Dương. Trong chỉ thị ngày 3-12-1953, tướng H. Nava tuyên bố: “tôi quyết định chấp nhận giao chiến ở Tây Bắc”(6). Quyền chỉ huy Điện Biên Phủ trước giao cho tướng Gilles (chỉ huy quân dù ở Đông Dương) và từ ngày 8-12 cử Đại tá Đờ Cát thay thế (sau được phong Thiếu tướng). Đó là một sĩ quan thiết giáp đã từng chiến đấu ở Ý, Pháp, Đức và đã hai lần có kinh nghiệm chiến đấu ở Bắc Bộ mà H. Nava “đánh giá cao khả năng quân sự của ông”(7).

Như vậy là với những tầm nhìn chiến lược và cách tính toán khác nhau nhưng cả hai bên tham chiến đều đầu tháng 12-1953 đã chấp nhận trận quyết chiến ở Điện Biên Phủ. Đây là đặc điểm xuất hiện lần đầu trong các trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử Việt Nam. Đặc điểm này phản ánh tính hiện đại của cuộc chiến tranh khi mà các phương tiện thông tin và do thám hiện đại cho phép mỗi bên có thể theo dõi được những cuộc chuyển quân lớn của đối phương.

Trong điều kiện đó, thắng bại của trận quyết chiến không còn là sự bí mật, bất ngờ của điểm quyết chiến, mà là binh lực và tài thao lược, là cách bài bình bố trận, là nghệ thuật quân sự của mỗi bên, trong đó chỉ đạo chiến dịch hay nói cách giản đơn là cách đánh, giữ vai trò rất quan trọng.


(1) Henri Navarre: Le temps des Vérités, Palon-Paris, 1979; bản dịch: Thời điểm của những sự thật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.93.
(2) Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr.26.
(3) Henri Navarre: Thời điểm của những sự thật, Sđd, tr. 95-69.
(4) Xem: Jules Roy: La bataille de Dien Bien Phu, Paris, 1963; bản địch: Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp, Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004, tr.469-505.Xem: Henri Navarre: Thời điểm của những sự thật, Sđd, tr. 146.
(5) Xem: Henri Navarre: Thời điểm của những sự thật, Sđd, tr. 146.
(6) Jules Roy: Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp, Sđd, tr.180
(7) Henri Navarre: Thời điểm của những sự thật, Sđd, tr. 180.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2011, 10:45:58 AM
*
*   *

Nghiên cứu trận Điện Biên Phủ, ai cũng nhận biết một đặc điểm nổi bật là sự thay đổi cách đánh về phía Việt Nam, chuyển phương châm chỉ đạo tác chiến từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”.

Ngày 26-11-1953, bộ phận tiền phương của Bộ Tổng tư lệnh lên đương đi Tây Bắc chuẩn bị chiến trường và phương án tác chiến. Bộ phận tiền phương gồm tướng Hoàn Văn Thái - Tổng Tham mưu phó và một số cán bộ cao cấp như Lê Liêm - Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đặng Kim Giang - Phó chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp (đã đi trước), Đỗ Đức Kiên - Cục phó Cục tác chiến. Cùng đi còn có Cố vấn tham mưu Mai Gia Sinh trong Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc và Hoàng Minh Phương, Trường đoàn cán bộ phiêe dịch. Trên đường đi nngày 30-11 đoàn dừng lại 1 ngày ở Nà Sản để nghiên cứu tập đoàn cứ điểm do Xalăng xây dựng mà cuối năm trước quân ta đánh không thành công. Ngày 6-12, đoàn đến Chỉ huy sở tiền phương đặt ở hang Thẩm Púa. Ngày 8-12, quân địch ở Lai Châu rút bằng đường không và đường bộ về tập trung ở Điện Biên Phủ, bị quân ta chặn đánh và truy kích tiêu diệt một bộ phận. Ngày 9-12, bộ phận tham mưu, trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình địch ở Điện Biên Phủ đang ở trạng thái lâm thời phòng ngự, chưa kịp xây dựng công sự vững chắc, đưa ra hai phương án đánh nhanh và đánh chắc, và sau khi cân nhắc  thuận lợi và khó khăn, đã chọn phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”, chủ trương cần tranh thủ đánh sớm, đánh nhanh bằng sức mạnh hiẹp đồng của bộ binh và pháo binh. Đó là cách đánh mà Cố vấn Mai Gia Sinh gọi là “oa tâm tạng chiến thuật” (chiến thuật moi tim) dùng mũi thọc sâu “như một gươm đâm thẳng vào tim, tạo nên sự rối loạn ở trung tâm phòng ngự địch ngay từ đầu, rồi từ trong đánh ra từ ngoài đánh vào, tiêu diệt địch trong thời gian tương đối ngắn”(1). Lúc đó binh lực của địch ở Điện Biên Phủ đã tăng lên 10 tiểu đoàn bộ binh có 16 pháo 105, sở chỉ huy, trận địa pháo, một số cứ điểm đang xây dựng, sân bay Mường Thanh đang được sửa chữa và đã có 6 máy bay tiêm kích F8F Bearcats(2) .

Ngày 5-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Trưởng đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc Vi Quốc Thanh và bộ phận nhẹ của Bộ Chỉ huy chiến dịch lên đường ra mặt trận. Sáng ngày 12-1, tại Tuần Giáo, khi nghe tướng Hoàng Văn Thái báo cáo tình hình và phương án tác chiến, Đại tướng đã nhận thấy “ngay bây giờ đánh nhanh đã khó. Rồi đây hẳn càng khó” và “cần tìm hiểu thêm tình hình”(3). Chiều hôm đó đến chỉ huy sở ở Thẩm Púa, Đại tướng hội ý ngay Đảng ủy mặt trận, tất cả đều tán thành chủ trương “đánh nhanh, thắng nhanh” và tin rằng có thể giành thắng lợi trong vài ngày đêm. Tối hôm đó, Đại tướng lại gặp Trưởng đoàn Cố vấn Vi Quốc Thanh, Đại tá Hoàng Minh Phương làm phiên dịch. Trong trao đổi ý kiến, Cố vấn Vi Quốc Thanh tán đồng phương án đánh sớm, đánh nhanh do cán bộ tham mưu Việt Nam và cố vấn Trung quốc đã nhất trí đề xuất. Sau khi cân nhắc về những băn khoăn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Cố vấn Vi nói: “Nếu không tranh thủ đánh sớm khi địch còn đứng chân chưa vững, để nay mai chúng tăng quân và củng cố công sự thì không đánh được, ta sẽ bỏ mất thời cơ”. Trong hồi ký của mình, Đại tướng và Hoàng Minh Phương đều thống nhất ghi nhận nội dung của buổi trao đổi này(4).


(1) Hoàng Minh Phương: “Nắm ngải cứu trên đầu đồng chí Tổng Tư lệnh”. Tạp chí Xưa & Nay, số 208, tháng 3 năm 2004, tr.10.
(2) Jules Roy: Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp, Sđd, tr. 531, 518
(3) Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr.94.
(4) Xem Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr.96; Hoàng Minh Phương: “Nắm ngải cứu trên đầu đồng chí Tổng Tư lệnh”. Tạp chí Xưa & Nay, số 208, tháng 3 năm 2004, tr.12.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2011, 10:49:26 AM
Với tất cả tài năng, kinh nghiệm và sự nhạy bén của một vị Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận thấy “phương án đánh nhanh, thắng nhanh là quá mạo hiểm”(1), nhưng mới đến mặt trận chưa đủ cơ sở thực tế để bác bỏ, trong lúc toàn bộ Đảng ủy và các cố vấn lại nhất trí với  phương án đó. Trước khi ra trận, Bác Hồ trao cho Đại tướng nhiệm vụ “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Phải chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh” và căn cặn: “Tướng quân tại ngoại, giao cho Chú toàn quyền. Có vấn đề gì khó khăn, bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định rồi báo cáo sau”(2). Đại tướng được Hồ Chru tịch và Bộ Chính trị tín nhiệm giao nắm quyền lực tập trung về quân sự; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh quân đội và trực tiếp làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chỉ huy trưởng chiến dịch Điện Biên Phủ. Tướng H. Nava đã từng nói: “tôi phát ghen với tướng Giáp”(3). Nhưng cũng chính vì trọng trách và sự tín nhiệm đó, Đại tướng đứng trước một tình thế rất khó xử: biết phương án tác chiến mạo hiểm, ít khả năng thắng lợi, thậm chí chỉ có thể thất bại, nhưng lại được Đảng ủy và các cố vấn nhất trí tán thành, quân sĩ đang trong khí thế và quyết tâm cao. Bác Hồ giao cho Đại tướng toàn quyền quyết định, nhưng khi quyết định phải được sự thống nhất trong Đảng ủy và với cố vấn. Thời gian cũng không cho phép báo cáo xin ý kiến Bác Hồ và Bộ Chính trị (không dám dùng điện đài vì sợ lộ bí mật).

Đại tướng ở vào thế đơn độc và đành phải tạm thời cho triển khai phương án, ngày 14-1 triệu tập hội nghị cán bộ, phổ biến mệnh lệnh chiến đấu với dự kiến trận đánh diễn ra trong 2 ngày 3 đêm, giờ nổ súng định là 17 giờ ngày 20-1. Phương án đánh nhanh coi như được công nhận là chủ trương thống nhất của Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch và các cố vấn Trung Quốc. Trong lúc đó, Đại tướng chỉ thị cơ quan tham mưu theo dõi chặt chẽ tình hình địch và thúc đẩy công việc chuẩn bị mọi mặt, nhất là việc kéo pháo vào trận địa. Đoạn đường kéo pháo bằng tay vào trận địa khá dài, qua những dốc cao vực thẳm, có dốc cao đến 600, trong lúc máy bay và pháo địch luôn luôn cản trở. Bộ Chỉ huy điều động 2 đại đoàn làm nhiệm vụ mở đường, kéo pháo, dự kiến hoàn thành trong 3 đêm. Thế mà sau 7 đêm, pháo vẫn chưa vào vị trí va thời gian nổ súng phải lùi lại 5 ngày tức ngày 25-1. Trong lúc đó, quân địch đã tăng lên 12 tiểu đoàn và một tập đoàn cứ điểm kiên cố đã hình thành.

Thế mà theo hồi ký của Đại tướng, chỉ có Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn phản ánh khó khăn phải đột phá ba lần mới vào được tung thâm và Cục phó Cụ bảo vệ Phạm Kiệt được cử đi kiểm tra kéo pháo phía tây dám nói lên tình trạng bố trí trận địa pháo dã chiến dễ bị phán pháo, bị máy bay đánh phá và một số pháo chưa vào trận địa. Trong khí thế dâng cao của quân sĩ, hầu như không ai dám nói lên khó khăn.  Do một chiến sĩ bị bắt và phát hiện điện dài địch thông báo ngày giờ tiến công của ta nên giờ nổ súng được lùi lại 24 giờ tức ngày 26-1.

Sau 11 ngày đêm suy tính, nhất là đêm 25-1 hầu như không chợp mắt, Đại tướng đi đến quyết định phải thay đổi cách đánh vì địch không còn lâm thời phòng ngự mà đã thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố và phía ta có nhiều khó khăn chưa được bàn tính kỹ để tìm cách khắc phục.

Sáng ngày 26-1, Đại tướng cùng Hoàng Minh Phương gặp Trưởng đoàn Cố vấn Vi Quốc Thanh với nắm ngải cứu đắp trên trái vì đau đầu. Chỉ sau khoảng nửa giờ trao đổi, Cố vấn Vi đã nhất trí với sự phân tích, đánh giá của Đại tướng và đồng ý hoãn cuộc tiến công, chuyển sang phương châm “đánh chắc, tiến chắc”. Hồi ký của Đại tướng và của Đại tá Hoàng Minh Phương đã thuật lại nội dung cụ thể của cuộc trao đổi mang tính quyết định này(4).

Ngay sau đó, Đảng ủy mặt trận được triệu tập để thảo luận về thay đổi phương châm tác chiến. Dĩ nhiên lúc đầu mọi người không tán thành, nhưng khi đặt vấn đề phải bảo đảm “chắc thắng mới đánh” như quyết định của Bộ Chính trị và lời dặn của Bác Hồ thì mọi người mới nhận ra nhiều khó khăn chưa có biện pháp khắc phục mà thực tế 11 ngày đêm chuẩn bị chiến trường đã bộc lộ khá rõ. Trên cơ sở nhất trí đó, Đại tướng kết luận chuyển phương châm “đánh nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” và ra lệnh toàn mặt trận hoãn cuộc tiến công, các đơn vị lùi về địa điểm tập kết và kéo pháo ra. Trận quyết chiến Điện Biên Phủ được chuẩn bị lại theo phương châm mới và đi đến thắng lợi ngày 7-5-1954 tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm mạnh nhất ở Đông Dương với 21 tiểu đoàn phòng ngự trong những trung tâm đề kháng và cứ điểm có hệ thống công sự kiên cố và hỏa lực mạnh(5).


(1), (2) Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr.96, 66.
(3) Henri Navarre: Thời điểm của những sự thật, Sđd, tr. 114.
(4) Xem Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr.107-108; Hoàng Minh Phương: “Nắm ngải cứu trên đầu đồng chí Tổng Tư lệnh”. Tạp chí Xưa & Nay, số 209, tháng 4 năm 2004, tr.29.
(5) Hiện nay, trong tài liệu lưu trữ của Cục Lưu trữ Trung ương Đảng chưa tìm thấy bức thư hỏa tốc do Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị Bộ Chính trị và Bác Hồ cho chuyển sang phương châm đánh chắc, tiến chắc, nhưng còn lưu giữ được báo cáo của Đại tướng đề ngày 30-1-1954, trong đó phần I là “chủ trương tác chiến mới ở Điện Biên Phủ” phân tích những nguyên do phải thay đổi cách đánh, hoãn ngày nổ súng và hướng tiếp tục chuẩn bị trận đánh. Tài liệu mang đầu đề “Kính gửi Hồ Chủ tịch, đồng chí Trường Chinh và Bộ Chính trị” và ký tên Hưng (biệt danh của Đại tướng).


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2011, 10:55:55 AM
*
*   *

Về phương diện sử học, từ thay đổi cách đánh ở Điện Biên Phủ, có mấy vấn đề sau đây cần đặt ra và làm sáng rõ:

1. Cách “đánh nhanh, thắng nhanh” rõ ràng là do bộ phận tham mưu tiền phương trong đó có Cố vấn tham mưu Mai Gia Sinh đề xuất. Cách đánh này dựa trên cơ sở khảo sát “con nhím Nà Sản” và tận dụng thời cơ khi quân địch mới nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, chưa kịp xây dựng công sự kiên cố, đồng thời phát huy sức mạnh bất ngờ về hỏa pháo của ta. Nhưng phương án tác chiến chưa lường tính hết khả năng tăng cường linh hoạt và xây dựng trận địa của đối phương cũng như những khó khăn về phương diện chuẩn bị trận địa, chuyển pháo vào vị trí, kinh nghiệm đánh công kiên và hiệp đồng binh chủng bộ binh - pháo binh của ta. Trong khi ta chưa kịp kéo pháo và trận địa thì địch đã xây dựng thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố và “con nhím Điện Biên Phủ” lớn mạnh hơn “con nhím Nà Sản” nhiều làn. Trong điều kiện đó, phương án “đánh nhanh thắng nhanh” là mạo hiểm và sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cảu một trận quyết chiến chiến lược thất bại. Chúng ta thử hình dung điều gì sẽ xảy ra khi những sư đoàn chủ lực tinh nhuệ nhất tập trung về đây bị tiêu diệt, những cố gắng chiến tranh cao nhất của toàn quân, toàn dân bị sụp đổ và cuộc kháng chiến phải làm lại từ đầu. Nhà Việt Nam học người Pháp Georges Boudarel đã từng tham gia cuộc kháng chiến 1945-1954 là người đầu tiên nhận ra hậu quả nguy hiểm của lối “đánh nhanh, thắng nhanh” trong bài “Tướng Giáp suýt thất bại ở Điện Biên Phủ” đăng trên tạp chí Nouvel Observateur ngày 8-4-1983(1).

Trong lịch sử chống ngoại xâm xủa dân tộc Việt Nam, có những trận quyết chiến thực hành lối đánh nhanh như hai trận Bạch Đằng năm 938, 1288, trận Như Nguyệt năm 1077, trận Rạch Gầm - Xoài Mút năm 1785, chỉ diễn ra trong giới hạn một ngày, chiến dịch Ngọc Hồi - Đống Đa năm 1789 chỉ trong 5 ngày đêm. Nhưng yêu cầu và nguyên tắc cao nhất của trận quyết chiến chiến lược là phải bảo đảm thắng lợi chắc chắn phải được nghiên cứu và chuẩn bị chu đáo nhất về mọi mặt. Do tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược của cả dân tộc, quyền chỉ huy trận quyết chiến bao giờ cũng giao cho vị Thống soái cao nhất của quân đội như trong các trận trên là Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ.

2. Xoay chuyển cách đánh từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” là công lao của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Sớm nhận ra tính mạo hiểu và nguy cơ thất bại của phương án đánh nhanh, biểu thị tài năng, sự sáng suốt và nhạy bén của một vị tướng tài ba, dày dạn kinh nghiệm. Nhưng biết nhẫn nại chờ đợi để hội đủ cơ sở thực tế có sức thuyết phục mọi người, tạo nên sự nhất trí cao của các tướng lĩnh và quân sĩ càng chứng tỏ bản lĩnh, niềm tin chân lý và sự quyết doán kịp thời, đúng lúc của vị Tổng Tư lệnh. Trong hồi ký của mình, Đại tướng coi đây là “quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy”(2).

Nhưng ở đây có một vấn đề cần xác minh.

Tôi đã ừng suy nghĩ: tại sao Trưởng đoàn Cố vấn Vi Quốc Thanh lúc đầu tán thành phương án đánh nhanh, sau lại nhanh chóng ủng hộ đề xuất thay đổi cách đánh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Điều đó chứng tỏ Cố vấn Vi với trình độ quân sự và kinh nghiệm chiến trường của mình, cũng đã phát hiện ra những chỗ sơ hở không bảo đảm chắc thắng của phương án đá nh nah. Những tài liệu lưu trữ được công bố trên một số sách của Trung Quốc xuất bản gần đâycho phép tôi có thể phân tích và lý giải vấn đề này.

Theo tài liệu lưu trữ về phía Trung Quốc thì ngày 21-1, Vi Quốc Thanh điện về Quân ủy Trung ương tình hình địch tăng cường ở Điện Biên Phủ và những khó khăn kéo pháo nên ngày tiến công phải lùi lại ngày 26-1.

Ngay hôm đó, Quân ủy Trung ương Trung Quốc diện trả lời Vi Quốc Thanh: đồng ý hoàn toàn tiến công và căn dặn: “Không nên sử dụng lực lượng đồng đều trên bốn mặt, mà phải sử dụng biện pháp bao vây chia cắt, tiêu diệt địch từng phần, từng phần một”(3).

Ngày 24-1, Vi Quốc Thanh lại điện về Quân ủy Trung ương những khó khăn kéo pháo vào trận địa “toàn bộ Sư đoàn 312 giúp kéo pháo mà 6 đêm chỉ tiến được 12 km, quân đội đã mệt mỏi mà vẫn chưa đưa được toàn bộ pháo vào trận địa bắn như dự định”.

Ba ngày sau, ngày 27-1, Quân ủy Trung ương trả lời Vi Quốc Thanh: “Đồng ý với tinh thần của kế hoạch ngày 24-1, đối với việc công kích Điện Biên Phủ nên dùng cách bao vây chia cắt, tiêu diệt địch từng phần, từng phần một, trước diệt một phần, sau lại diệt một phần, mỗi lần diệt khoảng trên dưới một tiểu đoàn. Chỉ cần diệt hết bốn, năm tiểu đoàn thì quân địch ở Điện Biên Phủ sẽ sinh dao động, có thể trốn về phía nam hoặc tiếp tục tăng viện binh, cả hai tình huống đều có lợi cho ta”(4). Đó là cách “đánh bóc vỏ” theo cách nói của cố vấn Trung Quốc.

Ngày 27-1, mới có điện trả lời của Quân ủy Trung ương Trung Quốc, nhưng ngày hôm trước, sáng ngày 26-1, Đại tướng  Võ Nguyên Giáp đã gặp và trao đổi ý kiến về thay đổi cách đánh với Trưởng đoàn Cố vấn Vi Quốc Thanh. Chiều hôm đó là giờ nổ súng nên dù chưa nhận được điện trả lời của Quân ủy Trung ương. Cố vấn Vi “sau giây lát suy nghĩ” đã bày tỏ sự đồng ý với Đại tướng. Từ thực tế chiến trường Điện Biên Phủ và kinh nghiệm từng trải, nhà quân sự Trung Quốc cũng đã nhận ra sự cần thiết phải thay đổi cách đánh và tuy chưa nhận được điện trả lời của lãnh đạo Trung Quốc, trong tình thế cấp bách đã thống nhất với chủ trương thay đổi phương châm tác chiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.


(1) “Điện Biên Phủ qua phân tích của một sử gia Pháp”. Tạp chí Xưa & Nay, số 209, tháng 4 năm 2004, tr.12-17.
(2) Võ Nguyên Giáp: Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử, Sđd, tr.112.
(3), (4) Tiền Giang: Cuộc chinh chiến bí mật, ghi chép về đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc giúp Việt chống Pháp, Nxb. Nhân dân Tứ Xuyên, 1999, tr.462-463, 464-465.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 10 Tháng Hai, 2011, 10:58:45 AM
3. Chuyển sang phương án “đánh chắc, tiến chắc” là trở về với tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch và Trung ương Đảng thể hiện trong Hội nghị lần thứ tư  Ban Chấp hành Trung ương khóa II ngày 25 đến ngày 30-1-1953, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10-1953 tại Tỉn Keo, Phương án tác chiến Đông Xuân 1953-1954 ngày 6-12-1953 của Tổng Quân ủy trình Bộ Chính trị và cũng là trở về với truyền thống quân sự Việt Nam. Trong Báo cáo của Tổng Bí thư Trường Chinh tại Hội nghị Trung ương lần thứ tư đã đưa ra tư tưởng chỉ đạo: “Ta không chủ quan, khinh địch, không nóng vội, không mạo hiểm. Đánh ăn chắc, tiến ăn chắc. Chắc thắng thì kiên quyết đánh cho kỳ thắng. Không chắc thắng thì kiên quyết không đánh. Nếu chủ quan, mạo hiểm mà một lần thua nặng, thì sẽ tai hại lớn. Chiến trường của ta hẹp, người của ta không nhiều nên nói chung ta chỉ có thắng chứ không được bại, vì bại thì hết vốn"(1). Bác Hồ đặc biệt căn dặn “phải đánh cho thắng, chắc thắng mới đánh”. Báo cáo của Tổng Quân ủy ngày 6-12-1953, khi địch mới nhảy dù xuống chiếm Điện Biên Phủ, đã có những phân tích, dự tính các tình huống phát triển, đưa ra khả năng trận Điện Biên Phủ sẽ là trận công kiên lớn nhất từ trước tới nay và ước tính thời gian chiến đấu độ 45 ngày. Một sự tiên liệu gần như trở thành hiện thực ở Điện Biên Phủ.

Như vậy, phương châm tác chiến “đánh chắc, tiến chắc” đã được xác lập khá sớm và rõ ràng trong sự chỉ đạo của Bác Hồ và Trung ương Đảng. Tư tưởng và phương châm chỉ đạo đó là sự kế thừa và phát triển tu tưởng và nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc Việt Nam trong tổ chức chiến tranh nhân dân yêu nước chống ngoại xâm của một nước nhỏ chống quân xâm lược của nước lớn.

4. Chiến thắng Điện Biên Phủ là đỉnh cao của chiến cục Đông - Xuân 1953-1954, là thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954. Vì vậy, những nhân tố thắng lợi của trận Điện Biên Phủ cần được xem xét trên nền tảng của toàn bộ cuộc kháng chiến và sự phối hợp của chiến trường cả nước, sự tham gia của toàn quân, toàn dân trên toàn quốc. Chiến thắng Điện Biên Pủ diễn ra trên đất nước Việt Nam, trong sự kế tục của lịch sử Việt Nam, trong đó sức mạnh vật chất và tinh thần của cả dân tộc được phát huy cao độ giữ vai trò quyết định. Trên cơ ở đó, sự viện trợ của Liên Xô, sự viện trợ và giúp đỡ to lớn, trực tiếp, khá toàn diện của Trung Quốc rất quan trọng và phải kể thêm phong trào ủng hộ của bộ phận tiến bộ trong nhân dân các nước, trong đó có nhân dân Pháp. Jules Roy đã có một nhận xét đầy hình tượng mang phong cách một nhà văn, nhà báo: “Không phải viện trợ bên ngoài đã đánh bại tướng Navarre, mà chính là những chiếc xe đạp Peugeot thồ 200, 300 ký hàng và đẩy bằng sức người, những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm nilông. Cái đã đánh bại tướng Navarre, không phải là phương tiện, mà là sự thông minh và ý chí của đối phương”(2). Trên nền tảng của chiến tranh toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh và sự chỉ đạo chiến lược đúng đắn, trong phạm vi chiến dịch Điện Biên Phủ thì sự thay đổi cách đánh là một nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi trận Điện Biên Phủ. Đấy là “một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và chính trong thách thức này càng chứng tỏ tài năng quân sự kiệt xuất về tư tưởng, nghệ thuật quân sự cũng như năng lực tổ chức, chuyển đổi nhận thức, chủ trương của cả Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch, cố vấn quân sự Trung Quốc của Vị Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, tạo nên sự nhất trí trên một phương châm tác chiến mới, bảo đảm thắng lợi của trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ lịch sử.

Viết năm 2004 nhân dịp kỷ niệm
50 Chiến thắng Điện Biên Phủ 


(1) Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t.14, tr.59.
(2) Jules Roy: Trận Điện Biên Phủ dưới con mắt người Pháp, Sđd, tr. 449.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2011, 06:33:37 PM
TỪ NHÂN DÂN MÀ RA(1)

DƯƠNG TRUNG QUỐC

Chạy và Thiền

Tôi may mắn có mặt trong cả hai lần tiếp xúc giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mắc Namara vào năm 1995 và năm 1997 tại Hà Nội. Câu chuyện đầu tiên sau cái bắt tay đâu tiên là chuyện tập thể dục mỗi sáng. Ông cựu Bộ trưởng Mỹ nói rằng Hà Nội rất đẹp và sáng hôm đó ông đã chạy bộ từ khách sạn Metropole (nay là khách sạn Sofitel) ra Bờ Hồ, rồi ông hỏi vị chủ nhà về môn thể dục buổi sáng. Đại tướng trả lời là ông ngồi thiền. Câu chuyện tưởng bâng quơ này lại rất gây ấn tượng cho những người có mặt, bởi lẽ cuộc nói chuyện giữa hai người về một cuộc chiến tranh lớn giữa hai bộ máy chiến tranh lớn in rất đậm nét hai phong cách đối lập nhau. Quân đội Mỹ lấy sức mạnh của công nghệ chiến tranh mà nổi bật là tính cơ động. Còn lực lượng vũ trang của Việt Nam thì đặt sức mạnh ở sự kiên trì của cả một dân tộc chấp nhận mọi sự hy sinh nhưng không khi nào từ bỏ mục tiêu cuối cùng.

Ông Mắc Namara hỏi rằng phía Việt Nam có bị choáng ngợp trước sức mạnh của công nghệ chiến tranh tối tân của Hoa Kỳ không và thứ vũ khí nào là đáng sợ nhất. Tướng Giáp cười và nói rằng trong từ điển của quân đội Việt Nam không có từ “sợ”. Bởi vị tướng của Quân đội nhân dân phân tích: Mỹ đúng là có lực lượng cơ động mạnh. Với máy bay trực thăng chẳng hạn, di chuyển rất nhanh từ điểm này đến điểm khác. Việt Nam không có những phương tiện ấy, nhưng ở đâu quân Mỹ đặt chân tới thì tại đó dã có lực lượng của người Việt Nam chờ sẵn. Như vậy chiến tranh nhân dân là lực lượng cơ động vô địch. Không thấy ông cựu Bộ trưởng Mỹ tranh luận tiếp về điều này.

Hoàn thành nhiệm vụ

Chuẩn bị kỷ niệm 45 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (1999) tôi được phỏng vấn vị Chủ tịch danh dự của Hội Sử học Việt Nam. Đang giữa câu chuyện có một ông già bước vào, trên mình mặc bộ quân phục đã bạc màu. Người đó đứng nghiêm chào Đại tướng của mình theo đúng nghi thức của người lính rồi nói: “Kính chào Đại tướng Tổng Tư lệnh, em là lính đi đánh giặc cả đời. Ra Hà Nội, em hỏi thăm nhà là vào thẳng đây, để báo cáo với anh là em đã hoàn thành nhiệm vụ”.

Vị tướng năm đó đã 88 tuổi, còn người lính vừa tròn 70 ôm chặt nhau. Biết chủ nhà đang làm việc với tôi, người lính già lấy trong chiếc ba lô con cóc ra một gói hạt tiêu và một cuốn vở học trò chép đầy thơ trao cho vị tướng già và nói: “Em người Quảng Bình, gửi anh món quà nhỏ quê hương. Còn bây giờ thì em về”. Tất cả đều diễn ra rất nhanh gọn theo tác phong con nhà lính”.

Ít hôm sau tôi nhận được thư của người lính già quê Quảng Bình. Ông cho biết cuốn vở học trò chép thơ của ông trong đó có bài tự sự: “Chẳng ai trẻ mãi không già - Tinh thần hăng hái lão quên tra - Xưa trẻ xông pha gìn giữ nước - Nay già mẫu mực cốt tề gia”. Ông còn tâm sự với tôi là khi trở về quê ông đã kể chuyện ra Hà Nội gặp Đại tướng, dân xóm chẳng ai chịu tin cả. Do vậy số Tạp chí Xưa & Nay kỷ niệm 45 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam năm đó tôi in ảnh 2 người lính già ôm nhau lên bìa. Ông nhận được, dân xóm mới tin. Ông lại gửi thư cảm ơn và đến nay thi thoảng vẫn gửi thư cho tôi nhờ chuyển lời thăm đến Đại tướng.

Đến kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ mới đây, khi Đại tướng nghe tôi nhắc đến việc có thời gian ngắn Đại tướng, khi đó còn là Phó Thủ tướng đảm nhiệm cả một ngành liên quan đến dân số, ông cười và nói rằng đã là nhiệm vụ thì phải giữ được tinh thần “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành…” của Anh bộ đội Cụ Hồ.

Phải ơn Dân

Với vị Đại tướng dạn dày chinh chiến, tâm trạng xúc động của ông thường là lúc nhắc đến Bác Hồ và những người đã khuất. Có lần ông tâm sự, mỗi khi đến nghĩa trang Mai Dịch thăm mộ người thân, ông thường đi dọc theo các hàng mộ. Ông nói rằng thấy nhiều người quen quá, như đi dọc cả một pho sử mà ông là người trong cuộc. Ôn nói trong bâng khuâng: “Nhiều người tốt lắm, nhiều người đi xa rồi…”. Ông kể rằng ông đã khóc khi biết những lớp học sinh đại học rời ghế nhà trường tiến thẳng ra mặt trận Quảng Trị những ngày ác liệt vào mùa hè 1972. Ông luôn nhắc lại lời của Bác là không có trận thắng nào gọi là đẹp cả.

Ông hay ôn lại những gian khổ khó khăn nhất. Đó là những ngày Bác ốm nặng giữa lúc cơ hội cách mạng đang đến gần (1945). Đó chính là lúc Bác đã nói những câu đi vào lịch sử về ý chí quyết tâm giành độc lập: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn…”. Khi nhắc đến câu chuyện này, Đại tướng luôn nói đến một đồng bào dân tốc ít người đã có công thuốc thang chữa khỏi bệnh cho Bác mà đến nay vẫn chưa tìm lại được… Cho đến những ngày gần đây ông vẫn không quên nhắc tìm lại và khen thưởng cho những người có thành tích trong hai cuộc kháng chiến mà ông là Tổng Tư lệnh.

Năm 1964, ông bắt đầu viết hồi ức thì cuốn đầu tiên ông lấy tên gọi “Từ nhân dân mà ra”, đến khi đã ngoài 90, vị lão tướng vẫn tìm cơ hội trở về chiến khu xưa, gặp lại những người dân từng chia ngọt xẻ bùi khi trận mạc. Kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, vị lão tướng 93 tuổi vẫn lặn lội đến tận Mường Phăng, đại bản doanh của chiến trường. Cảnh đổi thay tuy làm ông lo lắng vì sự quên lãng, nhưng gặp lại người xưa thì vẫn nguyên vẹn tình cảm quân dân. “Từ nhân dân mà ra” và trở về với nhân dân là nguồn sức mạnh của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Vì thế, trong nhiều lần phát biểu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường nhắc lại lời căn dặn của Bác Hồ phải “dựa vào dân, dựa chắc vào dân, dựa vào dân thì nhất định thắng”


(1) Bài đăng trên Báo Tuổi trẻ, ngày 22 tháng 12 năm 2004.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2011, 06:35:32 PM
BA LẦN GẶP TỔNG TƯ LỆNH(1)

LÊ TRÍ DŨNG

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nguyên Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam - vị chỉ huy lớn đánh thắng hai đội quân xâm lược là Pháp và Mỹ. với những người làm công tác văn hóa, ông là Anh Văn thân thiết. còn với những người lính chúng tôi, dù dang còn mặc áo lính hay đã giải ngũ, ông là vị chỉ huy suốt đời, là “ông Tướng huyền thoại” của chúng tôi. Riêng với tôi, còn kỷ niệm không bao giờ quên được với ba lần gặp ông.

Lần thứ nhất: Đó là những ngày giáp Tết Nhâm Tý đầu năm 1972, Sư đoàn Bộ binh 338, quân tăng cường cho Bộ Tư lệnh Thủ đô đang cấp tập “rèn” quân ở Thạch Thành (Thanh Hóa). Ngày nào cũng đeo 10kg đá đựng trong sọt tre tự đan chạy 5km, sau đó là lăn lê, xạ kích, võ thuật và đào giao thông hào. Đại đội đóng quân trong một bản người Mán, vùng bán sơn địa. Sung sức tôi được giao khẩu B41, nặng và là hỏa lực chính của đại đội. Mùa đông năm ấy rất lạnh. Đêm nằm, chúng tôi mặc tất cả quân áo, quấn cả màn và áo mưa mà ngủ, chờ lệnh xuất quân vào B dài. Thế rồi, một đêm khoảng 12 giờ, đột nhiên còi báo động rú lên! Lệnh xuất quân! Toàn bộ quân trang, quân dụng phải mang đi hết. Lính tráng làu bàu: Đêm hôm giá buốt, lại còn vài ngày nữa là Tết… Nhưng kỷ luật chiến trường, quân lệnh như sơn. Tôi nai nịt chặt chẽ xong, hất khẩu B41 lên vai là đi uôn. Trời đêm đen như mực, hết đèo lại suối, người sau cứ theo người trước mà đi. Hầu hết lính nhập ngũ năm ấy là sinh viên các trường đại học, có cả những thầy giáo và khá đông nghiên cứu sinh ở nước ngoài về… Đến lúc ấy, các ‘công tử” mới thấy giá trị của những buổi đeo sọt rèn quân. Nhưng dù sao chăng nữa, lính Hà Nội cũng khó dứt khỏi những mối tình sinh viên mà các bạn gái theo lên từ Thủ đô. Và thế là cái kho chứa rơm của hợp tác xã bị biến thành “chiêu đãi sở” của lính và nước mắt chia ly nhiều bao nhiêu thì làm tăng sự đột ngột của lệnh hành quân đêm ấy bấy nhiêu. Nhưng đến tảng sáng thì chúng tôi ngã ngửa người ra khi nhìn thấy lờ mờ dãy núi đã vôi: Ninh Bình! Tức là chúng tôi đã lộn ngược ra Bắc và đã đi được hơn 40km. Và một tin còn bất ngờ hơn: Chuẩn bị nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp úy lạo và chúc Tết trước khi vào chiến trường…

Hôm ấy, Sư đoàn Bộ đã dựng lên một khán đài cao, Đại tướng sẽ đứng lên đó nói chuyện, toàn sư hàng ngũ chỉnh tề trải dài xuống ven đồi. Nhiều đơn vị ở quá xa chỉ cử đại diện. Đại tướng lên nói chừng 15 phút, chút Tết và động viên binh sĩ, tiếng “u ra” vang rền. Kết thúc, đơn vị chỗ nào lại về chỗ nấy. Chúng tôi còn nán lại để “xem mặt” ông. Ra đến ngoai cánh rừng bạch đàn, thấy rất nhiều binh sĩ đứng dọc hai bên đường, từ trên xe, ông nhảy xuống đi bộ giữa hai hàng quân, tay vẫy vẫy… đột nhiên, ông dừng lại trước một người lính trẻ, rất trẻ, chỉ khoảng 16, 17 tuổi và rất nhỏ bé, lùng thùng trong bộ quân phục số 2. Đối diện với người binh nhì, ông ôn tồn hỏi: “Đồng chí đi bộ đội bao lâu rồi”. “Báo cáo Đại tướng - gần một tháng ạ”. “Đã học chào chưa?”. Người lính trẻ lúng túng, vì cảm đông hơn là vì câu hỏi. Và bất ngờ, Đại tướng dập gót, đứng nghiêm, giơ tay chào. Người lính cũng đứng thẳng người, chào đáp lại, hai mắt anh rực sáng. Suốt đời tôi không bao giờ quên ánh mắt của người binh nhì hôm ấy. Trong ánh mắt ấy, nửa như có sự hàm ơn, nửa như mang một lời hứa. Trong giây lát, không gian như né lại, rồi vỡ tung ra trong tiếng “u ra” vang dội. Lần đầu tiên, tôi chứng kiến một cảnh tượng cảm động và lạ lùng: một Đại tướng đứng nghiêm chào một binh nhì trước giờ xuất trận.

Giờ đây, đã hơn 30 năm, lũ trẻ sinh thành đêm hôm ấy phần lớn đã có gia đình. Còn chúng tôi không quên được cuộc hội ngộ đêm ấy. Trong tình thế âm thầm vào trận, mạng sống quả rất mong manh. Nhưng với đạo quân “Phụ tử chi binh” ấy, người ta cũng có thể chết vì một tấm lòng, một nghĩa cử lắm chứ! Sự thức trong đoàn quân năm ấy rất nhiều người không trở về, họ vĩnh viễn nằm lại ở Thành cổ Quảng Trị, đáy dòng Thạch Hãn, hay một cánh rừng nào đó ở B2, B3, chiến trường C… Nhưng tôi biết sức mạnh của những người lính chúng tôi được tăng lên rất nhiều kể từ buổi gặp chủ tướng của mình ngày ấy.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 268, tháng 9 năm 2006, tr.12-13.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2011, 06:36:47 PM
Lần thứ hai: Vào cuối năm 1994. Cuộc triển lãm hội họa mang tên “Cái nhìn từ hai phía” hội tự 40 họa sĩ cựu chiến binh hai nước Việt Nam và Mỹ sau khi chu du vòng quanh nước Mỹ, gặt hái nhiều tiếng vang thì lễ bế mạc được tổ chức ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Vài hôm sau buổi lễ, tôi được Ban tổ chức mời đến để cùng tiếp một vị khác mời đặc biệt: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Hơn nửa giờ đồng hồ, ông xem kỹ từng bức một, thỉnh thoảng trao đổi đôi lời với bọn tôi. Ông dừng lâu trước bức “Chân dung Bác Hồ” gắn bằng những con tem thư của họa sĩ cựu chiến binh Mỹ Đavít Tômát và bức “Cánh rừng Điôxin” của tôi. Tôi biết, ngày nay ở Hà Nội, mỗi tuần một triển lãm, việc ông đến thăm triển lãm hội họa của những người lĩnh cũ hai bên của cuộc chiến mà “hơi bom còn nóng hổi” là không phải điều đơn giản. Ông thích hội hóa, am hiểu, văn, sử, khoa học, và còn là một tay chơi pianô cừ khôi. Thế giới cũng ít người văn võ song toàn như thế.

Lần thứ ba: Thời gian trôi nhanh, nhiều lúc phóng xe trên đường nhưng tôi cứ nghĩ: “Ông tướng đã 93 tuổi rồi, đại thượng thọ rồi, không biết có còn tập Thiền nữa không?…”. Thế rồi, một dịp bất ngờ, tôi được vẽ và chụp ảnh Đại tướng, một chiều tháng 9, tôi đến tư dinh, vườn rất rộng, um tùm và thiếu bàn tay chăm sóc. Tôi chờ trong phòng khách, phòng rộng, để nhiều quà tặng của các quân khu gửi lên, những món quà chứa đựng nhiều tình cảm của người tặng. Rồi ông xuất hiện trong bộ lễ phục Đại tướng. Cử động của ông chậm đi nhiều nhưng vẫn rất minh mẫn. Sau phút chào hỏi, ông bảo: “làm việc ngay, vì lát nữa là đến giờ tập Thái cực quyền rồi”. Tôi bắt đầu vẽ, căn phòng lặng tờ, chỉ nghe tiếng sột soạt trên giấy. Đột nhiên, ông bảo: “Rất nhiều người nói tôi có hai đặc điểm: Cái mắt và cái trán, anh lưu ý nhé”. Tôi biết ông đang mệt, dạo này thời tiết rất độc, mưa luôn. Vừa vẽ, tôi vừa quan sát, đăng sau vầng trán kia ông đang nghĩ gì? Hơn 30 năm trước hàng đêm ông thức trắng nghe tin chiến sự miền Nam từ điện thoại trực tuyến, nước mắt tướng quân có rơi không khi nghe tin đồng chí, đồng bào của mình hy sinh dưới lê súng địch? Và ông phải chống chọi thế nào với sóng gió cuộc đời sau cuộc chiến? Bất thần, ông lại hỏi: “Nhà đồng chí ở đâu?”. Tôi vừa trả lời ông vừa lựa thế đưa câu chuyện chuyển sang hướng “tâm tình”. Nhưng không chỉ thế thôi! Ác liệt của chiến tranh và cuộc sống quân ngũ, sự cọ xát thường tình với hiểm nguy và yêu cầu quân sự tôi luyện vị tổng Chỉ huy thành bản lĩnh “Buồn giận không lộ ra nét mặt”. Rồi 30 phút qua đi, bức họa bằng bút sắt đã xong, nhìn vẻ chưa hài lòng của tôi, ông đột nhiên hỏi: “Mai thứ mấy?” - Thưa, thứ bảy ạ!” - “Vậy mai anh lại đến nhé”. Lại bất ngờ, tôi hồi hộp: “Dạ, mấy giờ ạ?” Vài tích tắc trôi mau: “- 3 giờ”. Đến bây giờ và mãi mãi về sau tôi không thể quên được âm thanh ngữ điệu và hồn khí của hai từ ấy: “- 3 giờ”. Đại tướng nói nhanh mạnh và sắc với thổ ngữ của người Lệ Thủy - Quảng Bình, không, không hẳn là vì thổ ngữ xứ đó, xứ quen trận mạc và đau thương, xứ có nhiều người kiệt xuất… Mà trong âm điệu ấy, cái ý toát lên một lời hẹn thì ít, mà nghe như một tiếng Lệnh thì đúng hơn, đời ông, ông đã ra bao nhiêu cái lệnh như thế?

Cái âm hưởng nó toát ra cái thần hồn, thần khí có tác dụng gieo vào lòng người thừa hành một lòng tin đặc biệt, chắc thắng, không do dự. Tôi tặng ông cuối Theo vết tích xe tăng và giới thiệu đây là cuốn hồi ký của bộ đội xe tăng trong chiến tranh… Ông cầm cuốn sách, im lặng nhìn chiếc xe tăng vượt cổng trời nơi bìa và nói: “Tôi sẽ đọc’. Rôi ông thay đồ để đi tập Thái cực quyền.

3 giờ đúng ngày hôm sau, công việc tiếp tục. Ông tươi tỉnh hơn. Thấy tôi giở máy ảnh, ông bảo: “Tôi ít khi được chịp một mình, bởi các đoàn thăm cứ tìm vai bíu cổ đòi chụp chung”… Lúc tôi vẽ ông, ông ngồi rất im, để phá tan cái im lặng ấy, tôi hỏi ông: “Chiều nay ông có còn tập quyền nữa không?”. Ông bảo: “Không!” rồi tiếp: “Tôi tập lại, trước tập rồi, bây giờ tập lại”, rồi đột ngột, ông bảo: “Sao Minh Đỉnh “đi” nhanh thế? Đang khỏe! Giới họa cũng đánh giá nó nặn Bác Hồ giống nhất đấy!”… Tôi đưa cho ông xem bức họa vừa xong bằng phấn mầu, ông ưng ý lắm: “Được đấy!” và gọi vợ: “Hà ơi, xem này!”. Tôi đưa cây bút dạ để ông ký vào dưới tranh, ông cầm bút hơi rung, dưới ngón trỏ một nốt ruồi đỏ cực lớn, ông hỏi: “Ký là Văn nhé?”. Tôi trả lời: “Không ạ, Đại tướng cứ ký Võ Nguyên Giáp là hơn!”. Im lặng, rồi dường như lấy đà, ông phóng bút ký, đường bút đi như kiếm bay, rồi chấm một cái vào một chỗ không ngờ. Thế là bức họa hoàn thành. Ông bắt tay tôi và nói: “Cho tôi gửi lời chào toàn thể gia đình anh nhé!”. Ông là vị tướng quân của người Việt Nam, của dân tốc cấy lúa, là chỉ huy trưởng đoàn quân chân đất năm xưa, ông giản dị vô cùng!

Chị Hà tiễn tôi, tôi bảo: “Ông là tài sản của nhân dân Việt Nam”. Chị Hà sửng sốt: “Thế à!”. Chị Hà ơi, sao chị lại sửng sốt? Ông đã lấy lại lòng tin cho chúng tôi trong bao phút ngã lòng. Đời người ta, ai không có những phút ngã lòng? Khi cái ác đè lên cái thiện, khi sự thật bị vùi lấp… thì chúng tôi cần ông biết bao. Vì ông mãi mãi là vị Tổng Tư lệnh của những người lính chúng tôi.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2011, 06:40:26 PM
MỘT CON NGƯỜI LÀM NÊN LỊCH SỬ(1)

DƯƠNG TRUNG QUỐC

Lúc còn trẻ tôi được xem bộ phim Ngôi sao thành Êghe trong đó có hình ảnh một nhà chép sử dũng cảm và tận tụy đứng giữa bãi chiến trường khốc liệt để ghi chép lại những gì đang diễn ra. Quân tướng hai bên giáp lá cà chém giết lẫn nhau, nhưng dường như vẫn né mũi gươm đường đạn để nhà chép sử làm bổn phận của mình… Cính hình ảnh ấy gây cho tôi lòng hào hứng dấn thân vào nghề rồi thành cái nghiệp sử học cho đến nay vẫn đeo đuổi.

Với hình ảnh người chép sử ấy cho đến nay luôn đến với tôi mỗi khi có dịp gặp “Anh Văn” - Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi chỉ có cơ hội gặp ông kể từ khi vị Đại tướng của chúng ta đảm nhận những trách nhiệm dân sự. Ông là Phó Thủ tướng phụ trách công tác Văn hóa và Khoa học Kỹ thuật. Lần đầu tôi được gần ông là thời điểm chuẩn bị cho chuyến đi thăm Ấn Độ của một đoàn đại biểu Việt Nam do Đại tướng dẫn đầu. Tôi được cơ quan Viện Sử học phân công làm công tác tư tưởng cho bài diễn văn của ông. Đối với tôi đó là một vinh dự lớn vì trước đó ông còn là một hình ảnh ở rất cao cao và quá xa xa… Nhưng khoảng cách đó nhanh chóng thu hẹp chính nhờ sự cúi xuống của một ông Thầy đối với một học trò nhỏ. Ông cho phép tôi nhập vai để viết thử một bài diễn văn. Rồi ông có những lời động viên vừa phải. Đương nhiên, tôi chẳng góp được bao nhiêu nhưng lại học được rất nhiều điều ở ông. Trong chuyến đi Ấn Độ, tôi nhớ ông có một bài phát biểu rất hay về Bác Hồ.

Kể từ khi tới tham gia công tác cảu Hội Sử học Việt Nam, tôi càng có nhiều cơ hội gặp ông và càng bị ông cuốn hút không phải chỉ ở một sự nghiệp quá đồ sộ của một nhà cách mạng, một vị Tổng Tư lệnh mà còn ở một phẩm cách của một nhà sử học lớn. Ông kể cho tôi một đôi ký ức thời trai trẻ rồi đọc thuộc lòng những vần thơ hừng hực chí khí yêu nước của Phan Bội Châu, ông kể lại những kỷ niệm về những nhân vận lịch sử mà ông từng tiếp xúc như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Trần Huy Liệu, ông đọc thuộc từng bài trong sách giáo khoa thư đã nhen nhóm trong lòng ông những bài học đầu tiên dạy làm người và lòng yêu nước. Rồi những bài học lịch sử trên bục giảng ở trường tư thục Thăng Long.

Ông muốn nói rằng lịch sử là tri thức tạo nên tư cách của một con người có ý thức về xã hội. Năm 1998, ông cho phép tôi được có mặt trong buổi ông cùng gia đình tiếp con trai cố tổng thống Mỹ Kennơđi. Hôm đó, tôi thực sự nhận ra phong cách của một ông thầy dạy sử. Chậm rãi và mạch lạc, ông nói với anh bạn trẻ cách ông đúng một nửa thế kỷ về lịch sử mối quan hệ Việt - Mỹ. Ông nói về những mối giao lưu đầu tiên giữa hai xứ sở cách nhau một đại dương mà vị Tổng thống Hoa Kỳ từng là người khởi thảo Tuyên ngôn Độc lập Mỹ đã say mê các giống lúa ở Đàng Trong của Đại Việt, đến mối quan hệ Việt - Mỹ khi còn là đồng minh chống phátxít Nhật. Ông chỉ tấm ảnh chụp chung với Bác Hồ treo trên tường nhà mình và nói rằng: “Tấm ảnh kia mấy người bạn đồng minh Mỹ chụp cho tôi”… Hàm ý vị Đại tướng đánh bại quân xâm lược Mỹ muốn nói với những người Mỹ trẻ tuổi rằng quan hệ giữa hai nước không chỉ có những trang sử đen tối của chiến tranh, và trang sử đang được tiếp nối phải là những trang sử tốt đẹp như một thời là đồng minh cùng chung sức đánh phátxít mà chính ông là “người trong cuộc”. Anh con trai của cố Tổng thống Kennơđi rất cảm động khi nghe vị Đạ tướng gợi lại hình ảnh khi cậu ta mới 4 tuổi đã dự đám tang cha của mình bị ám sát, và anh ta nói rằng những gì nhận được sau chuyến đi thăm Việt Nam và đặc biệt là trong buổi gặp Đại tướng sẽ rất có ích cho bước đường sắp tới khi anh ta dự định bắt đầu bước vào chính trường… (Rất tiếc, không lâu sau, anh đã chết trong một tai nạn máy bay).

Tôi cũng được quan sát từ khoảng cách rất gần 2 cuộc tiếp kiến giữa Đai tướng với cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mắc Namara ở Hà Nội (1995 và 1997). Chính ông đã khéo léo bố trí để tôi có mặt trong những cuộc tiếp xúc còn rất hẹp này… Tính thuyết phục của vị Đại tướng Việt Nam đối với một nhân vật mà nước Mỹ từng tôn sùng là một “bộ óc điện tử” chính là trọng lượng của những bằng chứng lịch sử đanh thép và thấm thía. Ông không quên từng chi tiết nhưng luôn đặt mọi lý lẽ của mình khớp với những gì lịch sử đã lên tiếng.

Khi nói chuyện với chúng tôi, những người là công tác sử học hay đặc biệt là với giới trẻ, ông rất hay nhắc đến câu diễn ca mộc mạc của Bác Hồ: “Dân ta phải biết sử ta…”. Ông kể rằng, đứng trước khả năng phải bắt buộc cầm súng đánh thực dân, Bác Hồ sai người đi tìm cuốn Việt Nam sử lược của Lệ thần Trần Trọng Kim, khi đó là cuốn sách duy nhất biện soạn mạch lạc về lịch sử nước nhà để trao cho các vị lãnh đạo cuộc kháng chiến đọc. Không chỉ chí khí của người xưa mà nhiều bài học về cách đánh và cách thắng của ông cha chúng ta đem lại những ri thức rất bổ ích cuộc chiến đấu ở thế kỷ XX.

Chắc chắn, Võ Nguyên Giáp sẽ là người giật giải quán quân về viết hồi ức lịch sử. Khác với nhiều nhà hoạt động cách mạng khác, khi buông dần những công việc chính trường, ông thực sự dành tâm lực cho việc tổng kết lịch sử và lấy chính trải nghiệm của mình để tìm ra những bài học. Không kể tới những công trình chính luận đóng góp vào tổng kết sự nghiệp cách mạng mà ông là một yếu nhân, đặc biệt là tổng kết chiến tranh giải phóng và bảo vệ tổ quốc mà ông là Tổng Tư lệnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp dành rất nhiều công sức để viết hồi ức của mình, điều mà mọi chính khác hiện đại đều làm. Nhưng khác mọi người, ông viết hồi ức với tất cả tình tiết riêng tư, kể cả những rung động tình cảm của mình nhưng lại để nói đến cả một dân tộc, một thời đại và một con người mà ông luôn coi là người Thầy vĩ đại của mình: Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Viết lịch sử hay hồi ức, ông đều luôn đặt lên hàng đầu tính trung thực. Ôn có cả một “bộ tham mưu” là những người hoạt động khoa học và thực tiễn trong và ngoài quân đội sẵn sàng tham góp ý kiến, sưu tập tư liệu cho ông. Một tinh thần tập thể cao rộng với một trí tuệ lớn lại luôn cầu thị của ông làm cho các tác phẩm ký tên ông trở thành những công trình hoàn chỉnh và có phong cách không trộn lẫn. Viết sử, ông luôn luôn lấy sự đoàn kết và mục tiêu như chính trong thực tiễn cách mạng. Tôi không quên một kỷ niệm: những chương đầu của cuốn sách Tổng hành dinh trong Mùa Xuân toàn thắng được ông cho phép đang trên Tạp chí Xưa & Nay của Hội Sử học Việt Nam (1995) trước khi sách công bố 5 năm Ở chương kết thúc, ông điểm không thiếu một ai đã tham gia vào sự kiện lớn của lịch sử. Ông rất hài lòng khi chúng tôi chọn một tấm ảnh minh họa là lúc Tổng Tư lệnh chia tay Tổng Tham mưu Văn Tiến Dũng lên đường vào chiến trường. Hình ảnh hai vị tướng thân mật đứng bên một cây đào đang nở hoa làm ông rất hài lòng. Sau này khi sách in, ông cũng tìm đúng tấm ảnh ấy dường như muốn nói một điều gì đó… Tấm ảnh ông và Đại tướng Nguyên Chí Thanh ngồi trước tấm bản đồ trải rộng dưới đất trong căn phòng nhà mình để cùng nhau trao đổi ý kiến cũng được ông tâm đắc dùng trong sách.

Từ nhân dân mà ra, Những năm tháng không thể nào quên, Chiến đấu giữa vòng vây, Điểm Điện Biên Phủ… cho đến Tổng hành dinh trong Mùa Xuân toàn thắng là gần trọn vẹn cả đời ông. Từ Điện Biên (1954) đến Đại thắng Mùa Xuân 1975) còn một khoảng trống mà ông sẽ phải lấp đầy. Cộng với những tác phẩm mang tính tổng kết về chiến thắng Điện Biên Phủ và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tác gia kiệt xuất đã để lại một di sản thực sự đồ sộ về thế kỷ XX hào hùng đầy thử thách. Nếu nói ông là một trong những sử học lớn nhất trong thế kỷ XX là hoàn toàn xác đáng. Và với những trước tác của mình, ông hoàn toàn xứng đáng nhận được Giải thưởng Hồ Chí Minh cả trên lĩnh vực sử học, văn học hay lý luận quân sự (nhưng đáng tiếc lại chưa thành hiện thực?)

Người nước ngoài khi đánh giá về Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường so sánh ông với những nhân vật lớn trong lịch sử nhân loại, đặc biệt là lịch sử chiến tranh. Họ có sự tinh tế mà ít khi ta chú ý là, ví như Bách khoa toàn thư của Mỹ khi đánh nói về quân hàm của ông luôn viết rằng Võ Nguyên Giáp là “Đại tướng 5 sao” để nói đến một phẩm hàm tột đỉnh, mặc dù trên vai ông luôn luôn là quân hàm mang 4 ngôi sao 5 cánh như nhiều vị Đại tướng Việt Nam khác. Giới sử học Việt Nam tư hào có một vị Tổng Tư lệnh là Chủ tịch Hội nghề nghiệp của mình.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Khoa học và Đời sống, ngày 22-12-2009.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 11 Tháng Hai, 2011, 06:41:53 PM
THĂM ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP(1)

GS, NGND. PHAN HUY LÊ

Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đang chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ VI và cũng nhân dịp 35 năm ngày đại thắng giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, chiều ngày 29-4-2010, tôi đề nghị Đại tá Nguyễn Huyên sắp sếp thời gian cho tôi được vào bệnh viện thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Chủ tịch danh dự của Hộ.

Trong phòng, Đại tướng đang nằm thiu thiu ngủ trên giường, nghe tiếng động nhẹ, đã tỉnh ngay, đưa mắt nhìn ra phía chúng tôi. Tôi đến gần bên giường, nắm tay Đại tướng và nói: Hôm nay vào thăm Anh Văn (Đại tướng muốn chúng tôi giữ cách xưng hô hết sức thân mật và kính trọng này), tôi rất mừng thấy sắc thái Anh tốt hơn nhiều. Mấy hôm trước, chính Đại tướng đã ngồi dậy, tự tay viết một thư gửi cho gia đình và một thư gửi cho Đại hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam. Nét chữ hơi run, nhưng mạch lạc, rõ nét và đặc biệt chữ ký, nét bút liền, khỏe, dứt điểm.

Tôi nói ngắn gọn, báo cáo với Chủ tịch danh dự của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam công việc chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, việc đặt Giải thưởng Võ Nguyên Giáp cho những công trình nghiên cứu lịch sử xuất sắc nhất, việc đúc bức tượng Đại tướng và xuất bản một cuốn sách tập hợp những bài Đại tướng viết cho Hội khoa học lịch sử Việt Nam cùng những bài của giới sử học viết về Đại tướng. Sau từng ý, tôi dừng lại để nghe ý kiến của Đại tướng. Cũng có đôi chỗ, Đại tá Huyên giải thích thêm. Giọng nói của Đại tướng yếu, nhỏ, hơi khó nghe, nên sau mỗi đoạn, anh Huyên nhắc lại để Đại tướng xác nhận bằng các gật đầu hay nụ cười. Tôi còn đề nghị, tôi và anh Huyên sẽ nghĩ một vài câu rất ngắn gọn, súc tích để gợi ý Đại tướng tự viết và ký tên tặng Đại hội lần thứ VI của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam. Đại tướng mỉm cười tỏ ý xác nhận.

Trước khi ra về, tôi lại nắm chặt tay Đại tướng, thay mặt cho giới sử học Việt Nam, kính chúc Đại tướng an khang, cùng toàn dân có mặt trong những Đại lễ nghìn năm Thăng Long, Hà Nội. Tôi cảm nhận Đại tướng nắm chặt tay tôi và qua giọng nói, qua miệng, câu nói rất thân thiết, lịch thiệp của Anh Văn: “Anh nhớ giữ sức khỏe nhé, cho tôi gửi lời thăm chị và các cháu”. Một nụ cười hiền hòa, trìu mến đọng lại mãi trong tâm trí tôi.

Trải qua cuộc đời cầm quân của hai cuộc kháng chiến 30 năm với cương vị Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cống hiến tất cả tài năng, trí tuệ cho đất nước, cho dân tộc, đã đi vào lịch sử và lòng dân như một trong những học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một thiên tài quân sự, một anh hùng dân tộc. Ở tuổi 100, Đại tướng tuy tuổi cao, sức yếu, vẫn ung dung thanh thản với nét mặt, nụ cười giữ mãi thân thái, phong cách của “Vị tướng huyền thoại”. Trên đường về, tôi thầm cầu chúc Đại tướng trường thọ với sinh nhật lần thứ 100 vào ngày 25-8-2010 và hiện điện với toàn dân, toàn quân trong Đại lễ kỷ niệm Thăng Long nghìn tuổi.


(1) Bài đăng trên Tạp chí Xưa & Nay, số 335, tháng 5 năm 2010, tr.7.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2011, 05:19:42 PM
ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ BẢN LĨNH
VÕ NGUYÊN GIÁP
(1)

Đại tá, PGS,TS. NGUYỄN MẠNH HÀ

Tại sao lại là Điện Biên Phủ?

Điện Biên Phủ là một trận đánh lớn nhất, nhưng vào mùa Thu năm 1953, nó hoàn toàn không có trong kế hoạch tác chiến của cả Bộ Tổng Tư lệnh của ta và trong Kế hoạch Nava.

Mưu đồ của viễn chinh Pháp

Do diễn biến chiến sự diễn ra một cách nhanh chóng, một đơn vị bộ đội ta hành quân lên Tây Bắc để tiến công giải phóng thị xã Lai Châu, nhằm giải phóng hoàn toàn Tây Bắc. Lo sợ quân ta sau khi làm chủ vùng Tây Bắc chiến lược rộng lớn sẽ thừa thắng đánh sang Thượng Lào rồi đánh xuống Trung Lào, Hạ Lào, vùng Đông Bắc Campuchia, rồi quật vào miền Trung Trung Bộ…, Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương là Nava vội vã cho 6 tiểu đoàn nhảy dù xuống khu vực lòng chảo Điện Biên Phủ trong các ngày 20 và 21-11-1953 nhằm lập một trung tâm chốt chặt đường tiến của bộ đội ta lên Lai Châu và sang Lào.

Về mặ địa lý chiến lược, Điện Biên Phủ - có cánh đồng Mường Thanh, là nơi có địa hình rộng lớn và bằng phẳng nhất ở Tây Bắc. Lòng chảo Điện Biên Phủ có chiều rộng từ 6-8 km, dài từ 15-17 km, được chính Tổng Chỉ huy Nava đánh giá là căn cứ lục quân, không quân tốt nhất ở miền Bắc Đông Dương, rất thuận tiện cho việc xây dựng tập đoàn cứ điểm phòng thủ.

Không những thế, Bộ Chỉ huy Pháp còn tính toán rằng, ở Điện Biên Phủ, nơi cách Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hóa từ 300 đến 500 km đường chim bay, chỉ có đường quốc lộ số 6 từ Hà Nội đi qua Hòa Bình, Sơn La lên thì việc bảo đảm vũ khí, đạn dược, hậu cần, lương thực, thuốc men… cho hàng vạn người chiến đấu trong một thời gian dài là điều rất khó, nếu không nói là không thể thực hiện được. Sở dĩ như vậy là vì Bộ Chỉ huy Pháp cho rằng quân ta chủ yếu vận động bằng đôi vai và các phương tiện thô sơ như xe đạp thồ, ngựa thồ, thuyền mảng, nếu có đi theo đường số 6 thì sẽ bị máy bay của Pháp ném bom chặn đánh.

Hơn nữa, hình thức tập đoàn cứ điểm đã được phía Pháp áp dụng xây dựng trong Đông Xuân 1951-1952 tại thị xã Hòa Bình trong chiến dịch Hòa Bình; tại Nà Sản (tháng 10-1952) trong chiến dịch Tây Bắc. Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được xây dựng kiên cố, quân đông (khoảng 16.000), nhiều vị trí và trung tâm đề kháng (49 cứ điểm, 8 trung tâm đề kháng), lại có cầu hàng không tiếp tế liên tục với số lượng lớn…, từng được viên Tổng Chỉ huy tiền nhiệm của Nava là Xalăng đánh giá là “Nà Sản lũy thừa 10”, được Bộ Chỉ huy Pháp coi là bất khả xâm phạm. Nếu bộ đội ta có liều lĩnh đánh vào thì tập đoàn cứ điểm trở thành “cái nhọt hút độc”, là “cái cối xay thịt” chủ lực Việt Minh. Chính vì thế, cả Pháp và Mỹ đều rất chủ quan, thậm chí còn cho thả truyền đơn “thánh tướng Giáp tiến công” Điện Biên Phủ.

Điểm hẹn lịch sử

Về phía ta, nhận được tin quân Pháp nhảy dù chiếm và xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng đây là cơ hội tốt để ta tiêu diệt địch, đánh bại ý chí tiếp tục chiến tranh của chúng. Vì thế, tuy chưa chuẩn bị cho một trận đánh lớn, mà đang tập trung huấn luyện, củng cố ở khu vực Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ… nhưng rất nhanh chóng, phần lớn các đại đoàn chủ lực của ta được lệnh lên đường nhằm hướng Điện Biên Phủ.

Xuất phát từ quan điểm chiến tranh nhân dân, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân vào trận đánh quyết định này. Với khẩu hiện “Tất cả cho Điện Biên Phủ”, hàng chục vạn dân cùng các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Thanh Hóa đã được huy động làm đường, vận chuyển hàng cho chiến dịch. Cùng với niêm tin tưởng ràng trải qua 8 năm kháng chiến, bộ đội ta đã trưởng thành về mọi mặt: quân số, tổ chức, trang bị vũ khí, cách đánh…, có đủ khả năng đánh bại hình thức phòng ngự cao nhất của thức dân Pháp, giáng một đòn quyết định, sớm kết thúc chiến tranh.

Vì thế, một cách không tự giác nhưng lại có tính logic trong tiến trình chiến tranh, đã đến lúc cả hai bên tham chiến đều nhận thấy cần có một trận đánh quyết định để kết thúc chiến tranh. Tuy rằng trong Kế hoạch, Hava chủ trương đến mùa Thu 1955 mới kéo quân ra miền Bắc giao đấu trận quyết định với chủ lực ta sau khi đã bình định song Nam Bộ và “thanh toán” được vùng tự do Liên khu V, nhưng trước bối cảnh của thế bị động chiến lược, phải đối phó với đòn tiến công của ta nhằm phá khối cơ động chủ lực - xương sống của kế hoạch Nava, viên Tổng Chỉ huy Pháp đã có một quyết định táo bạo - nhưng lại là quyết định sai lầm lớn nhất trong cuộc đời cầm quân của ông ta. Ngày 3-12-1953, Nava quyết định chấp nhận giao chiến với ta ở Điện Biên Phủ. Chỉ 3 ngày sau, ngày 6-12-1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp mở rộng dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông qua kế hoạch tác chiến ở Điện Biên Phủ do Tổng Quân ủy trình bày.

Điện Biên Phủ trở thành điểm hẹn mang tính lịch sử một cách nhanh chóng trong vòng có 2 tuần như vậy nếu chỉ tính từ ngày 20-11-1953, khi những lính dù Pháp đầu tiên được ném xuống vùng lòng chảo thanh bình và trù phú này, nhưng thực chất đó là kết quả của cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ, ác liệt của quân và dân ta. Cuộc kháng chiến của ta đã lớn mạnh đến mức Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhanh chóng có quyết định lịch sử đúng đắn, trên cơ sở phân tích khoa học so sánh lực lượng, thế và lực, quyết tâm kháng chiến của quân và dân ta, đánh thẳng vào nơi mạnh nhất của kẻ thù.


(1) Bài đăng trên báo Thanh niên, từ ngày 2 đến ngày 7 tháng 5 năm 2010.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2011, 05:21:15 PM
Đánh nhanh giải quyết nhanh!

Quyết định thay đổi phương châm tác chiến chiến dịch từ “Đánh nhanh giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc tiến chắc” được coi là là sự kiện thú vị, hấp dẫn nhất trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp, quyết định mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi là “quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của tôi”, lúc đó ông mới 43 tuổi.

Trách nhiệm nặng nề

Trong kế hoạch tác chiến của Tổng Quân ủy báo cáo Bộ Chính trị, thời gian chiến dịch dự kiến diễn ra trong 45 ngày và đã được Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, được Đảng và Bác Hồ cử làm Tư lệnh chiến dịch kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận Điện Biên Phủ, do còn giải quyết một số công việc, nên đi ra mặt trận sau. Đoàn cán bộ chỉ huy chiến dịch đi trước có Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng chiến dịch. Phía Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc có đồng chí Mai Gia Sinh, Tham mưu trưởng Đoàn Cố vấn. Ngoài ra còn có nhiều cán bộ của quân đội ta và thành viên Đoàn cố vấn Trung Quốc cùng đi.

Vào giữa tháng 12-1953, tham mưu chiến dịch của ta đã cơ bản xây dựng xong kế hoạch tác chiến cụ thể, với sự giúp đỡ của cố vấn Trung Quốc. Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết trong hồi ký: “Anh Thái báo cáo phương án đánh Điện Biên Phủ đã được chuẩn bị, chờ tôi lên để thông qua. Đây sẽ là lần đầu bộ đội ta mở một cuộc tiến công quy mô lớn vào một tập đoàn cứ điểm với một vạn quân. Cán bộ, chiến sĩ ta đã được chuẩn bị đánh tập đoàn cứ điểm… Trận đánh sắp tới sẽ là một thử thách lớn chưa từng có đối với ta trong chiến tranh. Ta đã chọn chiến trường rừng núi là nơi có nhiều điều kiện thuận lợi để tiêu diệt địch. Nhưng Điện Biên Phủ không hoàn toàn là rừng núi. Ở đây có cánh đồng lớn nhất Tây Bắc. Rất nhiều cứ điểm nằm trên cánh đồng. Bộ đội ta sẽ phải tiến hành nhiều trận đánh với quân cơ động có máy bay, xe tăng, đại bác yểm trợ trên địa hình bằng phẳng giống như ở đồng bằng. Nếu kẻ địch chấp nhận trận đánh ở Điện Biên Phủ, thì đây cũng là chiến trường do chúng chọn lựa… Trận đánh này ta không được phép thua. Phần lớn tinh hoa của bộ đội chủ lực trong tám năm kháng chiến đều tập trung ở đây. Những vốn liếng vô cùng quý giá, nhưng cũng thực ít ỏi. Từ năm 1950 bắt đầu mở chiến dịch lớn tới mùa xuân này, vẫn là những đơn vị ấy, những con người ấy. Tôi đã thuộc từng trung đoàn, từng tiểu đoàn, từng đại đội chủ công, biết những cán bộ đại đội, trung đội, chiến sĩ đã lập công xuất sắc. Đã thấy rõ mọi người lên đường lần này đều sẵn sàng hy sinh để giành chiến thắng. Nhưng nhiệm vụ của chiến dịch không chỉ là giành chiến thắng, mà còn phải giữ được những vốn quý cho cuộc chiến đấu lâu dài…”(1).

Ngày 5-1-1954, trước khi lên đường ra trận, đại tướng Võ Nguyên Giáp đến chao Bác Hồ ở Khuổi Tát. Bác hỏi: Chú đi xa như vậy, chỉ đạo chiến trường có gì trở ngại không? Đại tướng trả lời: Chỉ trở ngại là ở xa, khi có vấn đề quan trọng và cấp thiết, khó xin ý kiến của Bác và Bộ Chính trị.

Bác động viên: Tổng Tư lệnh ra mặt trận, “Tướng quân tại ngoại”! Trao cho chú toàn quyền. Có vấn đề gì khó khăn, bàn bạc thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định, rồi báo cáo sau.

Khi chia tay, Người dặn dò Đại tướng: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh”. Vị Tư lệnh chiến dịch “cảm thấy trách nhiệm lần này rất nặng.”.


(1) Võ Nguyên Giáp:Tổng tập Hồi ký, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr. 913-914.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2011, 05:22:54 PM
Tại sao “đánh nhanh giải quyết nhanh”?

Ngày 2-1-1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trưởng đoàn Cố vấn Trung Quốc Vi Quốc thanh và các đồng chí đi cùng lên đến sở chỉ huy, thì được biết phía ta và cố vấn đã thống nhất sẽ nổ súng mở màn chiến dịch vào ngày 20-1, với phương châm là “đánh nhanh giải quyết nhanh” trong vòng 3 đêm 2 ngày. Đây là điều Đại tướng chưa nghĩ tới. Bởi vì, ông viết trong Hồi ký: “… Tôi vẫn cho rằng đánh nhanh không thể ianh thắng lợi, nhưng chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ phương án các đồng chí đi trước đã lựa chọn. Cũng không còn thời gian báo cáo xin ý kiến Bộ Chính trị, tôi đồng ý triệu tập hội nghị triển khai kế hoạch chiến đấu. Tôi nói với đồng chí Nguyễn Văn Hiếu, Chánh Văn phòng của bộ sự cân nhắc của mình, dặn theo dõi tình hình, nghiên cứu, suy nghĩ thêm, và chỉ được troa đổi riêng với tôi về vấn đề này. Tôi chỉ thị cho đồng chí Cao Pha, Cục phó Cục 2 điều tra cẩn thận những vị trí trên cánh đồng hướng tây, nơi được coi là sơ hở, ta sẽ dùng mũi thọc sâu đánh vào, và yêu cầu phải báo cáo hàng ngày những hiện tượng như tăng quân, củng cố công sự của địch…”(1).

Vì sao lại chọn phương châm tác chiến “Đánh nhanh giải quyết nhanh”? Đại tá Hoàng Minh Phương, nguyên Phó Tư lệnh, tham mưu trưởng Quân đoàn IV, trong chiến dịch Điện Biên Phủ nguyên là cán bộ phiên dịch tiếng Trung Quốc cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp giải thích: “Trên đường ra mặt trận, ông Thái (Hoàng Văn Thái) bàn với ông Mai Gia Sinh dừng ở Nà Sản nghiên cứu vì sao năm 1952 ta đánh không thành công? Ông Mai nói ta không thành công vì đánh theo lối “bóc vỏ”, tập trung đánh một điểm của địch nhưng không có lực lượng chế áp pháo binh của nó nên bị pháo nó quần xung quanh, cùng không quân tập trung ném bom. Kiểu ấy không chiếm được tập đoan cứ điểm mà có chiếm cũng không giữ được. Ông Mai nói lần này đánh “moi tim” và phải đánh nhanh, nếu không tranh thủ đánh sớm địch sẽ tăng quân củng cố công sự”. Vãn theo Đại tá Hoàng Minh Phương : “Tôi tham dự cuộc họp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các thành viên Đảng ủy chiến dịch và cố vấn. Ông Dặng Kim Giang, phụ trách hậu cần mặt trận bảo: “Tranh thủ đánh sớm, Điện Biên Phủ mỗi ngày quân ăn 50 tấn gạo. Dân công gánh tải gạo từ Thanh Hóa lên đến kho tính ra chỉ còn 1-2 kg mỗi người. ta chỉ có 628 xe Liên Xô viện trợ, đường độc đạo bị nó đánh ghê nhất là ở đèo Lũng Lô, ngã ba Cò Nòi”. Chủ nhiệm Chính trị Lê Liêm thì nói: Bộ đội ngại đi Tây Bắc. Chưa cần nói đến vắt, bọ chó, muỗi, thì tâm lý anh em đã thích đánh đồng bằng. Lên đến đây họ muốn đánh sớm còn về xuôi. Đánh nhanh hợp tâm lý bộ đội”.

Ngày 14-1-1954, Bộ Chỉ huy chiến dịch triệu tập cuộc họp phổi biến kế hoạch tác chiến tại hang Thẩm Púa. Đại tá Hoàng Minh Phương nhớ lại: “Mệnh lệnh chiến đấu được phổ biến trên một sa bàn lớn. Cán bộ cao cấp, trung cấp các đại đoàn tham gia chiến đấu đều có mặt như những đại đoàn trưởng, chỉ huy đại đoàn: Vương Thừa Vũ, Chu Huy Mân, Trần Độ, Phạm Ngọc Mậu… và nhiều cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn đã cùng chiến đấu qua rất nhiều chiến dịch. Đại tướng hỏi: “Có ai thắc mắc gì không?”. Không ai thắc mắc. Trận này ta có 24 lựu pháo, mấy chục sơn pháo, cối 1230 ly, trong lịch sử chiến đấu của quân đội nhân dân, chưa bao giờ có hỏa lực mạnh đến thế. mọi người khí thế, tin tưởng, muốn đánh lắm rồi. Bác Giáp sang gặp ông Vi Quốc Thanh bàn, tôi đi dịch. Ông nói: “Tôi với anh bàn ở hậu phương dự kiến đánh chắc, tiến chắc. Ta đã báo cáo với Bác Hồ và Trung ương đánh 45 ngày. Giờ anh em ở đây định giải quyết trong 3 đêm 2 ngày.”. Ông Vi là người thận trọng, nhưng cũng bảo: “Tôi thấy anh Mai (Gia Sinh) và anh Thái đi cả tháng trời rồi, đúng là có khi phải đánh nhanh, nếu không sẽ bỏ lỡ cơ hội đánh trận này. Mà Đông - Xuân này phải đánh một trận, chả nhẽ kéo năm vạn quân lên đây rồi kéo về tay không”.

Đại tá Hoàng Minh Phương còn cho biết, trong cuộc họp ngay 14-1 “Cố vấn Mai Gia Sinh đề nghị chiều 20-1 cấp tập hỏa lực, giọt 2.000 viên 105mm làm tê liệt pháo binh địch, sau đó chuyển làn về sau yểm hộ bộ binh xung phong. Đại đoàn 308 theo kế hoạch sau khi pháo bắn xong cơ động qua cánh đồng Mường Thanh vào sở chỉ huy nó. Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái thận trọng hỏi: “Đường chưa mở sao đưa pháo vào kịp?”. Ông Mai Gia Sinh giải thích chỉ cần mở đường Tuần Giáo đi Mường Thanh để xe GMC kéo pháo, cách Điện Biên 12km thì hạ càng pháo, dùng sức người kép pháo vào, nếu làm được tạo nên yếu tố bất ngờ. Nghe cũng có lý. Bên Trung Quốc có kinh nghiệm đánh rồi. Lại hỏi: “Bộ đội tôi chưa quen đánh ban ngày, giờ đánh ngày, địch có máy bay, pháo…”. Ông Mai giải thích ta xông vào đêm trước, sáng hôm sau đánh xen kẽ với địch thì máy bay nó không dám ném bom vì chết ta thì cũng chết nó”.

Trước những lý lẽ như vậy, trong lúc quân địch chưa đông, hầm hố, công sự của chúng chưa kịp củng cố vững chắc, mọi người thống nhất đánh theo phương châm “Đánh nhanh giải quyết nhanh”. Kết thúc Hội nghị, Đại tướng nói: “Giờ ta đánh theo phương án này, nhưng suốt quá trình chuẩn bị phải theo dõi đài địch để có gì mới kịp thời xử trí”.


(1) Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.919.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2011, 05:25:24 PM
Khó khăn

Qua kết luận của Đại tướng cho thấy vị Tổng Tư lệnh chiến dịch dường như không đặt hết tin tưởng vào cách “Đánh nhanh giải quyết nhanh”; mặc dù ông vẫn tỏ ra tôn trọng ý kiến của tập thể.

Điều băn khoăn này được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thể hiện trong Hồi ký: “Từ hội nghị Thẩm Púa tới khi đưa pháo vào trận địa đối với tôi là một thời gian rất dài. Nhiều đêm thao thức. Suy tính, cân nhắc rất nhiều lần, vẫn chỉ tìm thấy rất ít yếu tố thắng lợi. Tôi căn dặn các phía viên đi nắm tình hình, thấy bất cứ điều gì đáng chú ý đều phải báo cáo kịp thời. Mọi người đều phản ánh tinh thần chuẩn bị chiến đấu rất cao của cán bộ, chiến sĩ. Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn nói với tôi trong quá trình chiến đấu, sẽ phải đột phá liên tục ba lần mới vào được trung tâm. Nhưng đây chỉ là sự tính toán công việc phải làm. Đại đoàn trưởng 308 Vương Thừa Vũ, đảm nhiệm mũi thọc sâu, hoàn toàn giữ im lặng. Sang ngày thứ chín, hai ngày trước khi nổ súng, đồng chí Phạm Kiệt, Cục phó Cục Bảo vệ, theo dõi việc kéo pháo ở phía Tây, đề nghị gặp tôi qua điện thoại. Anh Kiệt nhận xét: “Pháo của ta đều đặt trên trận địa dã chiến, địa hình rất trống trải, nếu bị phản pháo hoặc máy bay đánh phá sẽ khó tránh tổn thất. Một số pháo vẫn chưa kéo được tới trận địa”(1).

Điều cần nói thêm ở đây là các khẩu pháo 105mm của ta được xe ôtô kéo vào cách trận địa dã chiến từ 9 đến 12 km tùy theo vị trí bố trí. Ngày bắt đầu kéo pháo bằng tay là ngày 15-1-1954 với dự kiến ban đầu là chỉ từ 4 đến 5 ngày là pháo sẽ vào đến trận địa. Nhưng thực tế, lại không như thế, bộ đội chưa có kinh nghiệm kéo các phẩu pháo nặng trên 2 tấn, trong khi máy bay của Pháp liên tục quần lượn, bắn phá nên tốc độ kéo pháo rất chậm. Đêm trước ngày 20-1, ngày dự định nổ súng, pháo vẫn chưa vào đến vị trí, buộc Bộ Chỉ huy chiến dịch phải lui ngày nổ súng đến 25-1-1954.

Mặt khác, cứ mỗi ngày trôi qua, tin tức từ ba nguồn là các đơn vị đang triển khai bao vây; từ trinh sát của bộ và từ tin của dịch thu qua vô tuyến điện dồn dập báo về Sở chỉ huy cho thấy quân Pháp đang khẩn trương tăng thêm lực lượng sự bố phòng, đặc biệt là ở các điểm cao phía Đông tập đoàn cứ điểm, khiến Đại tướng càng thêm suy nghĩ. Ông nhớ lại: “Tôi được biết ở Mường Thanh, quân địch đã có thêm nhiều xe tăng và trên bốn chục khẩu pháo 105 và 155 ly. Ở nhiều cứ điểm, địch đã xây dựng công sự kiên cố. tôi đặc biệt chú ý hệ thống công sự phụ, những hàng rào dây thép gai và bãi mìn địch không ngừng mở rộng mỗi ngày, có nơi đã rộng tới hơn 100m, thậm chí 200m. Ngày 24-1-1954, Cục 2 báo cáo, trong ngay địch vừa tăng cường cho Điện Biên Phủ thêm một tiểu đoàn, đưa lực lượng lên tới 10 tiểu đoàn (thực tế lúc đó dịch đã có 12 tiểu đoàn). Những cứ điểm phía tây, nơi mũi chính Đại đoàn 308 sẽ đột phá, tuy không mạnh như một số cao điểm, nhưng nằm trên cánh đồng trống, bộ đội không có địa hình ẩn náu, địch dễ sử dụng xe tăng, pháo binh, máy bay và lực lượng phản kích đối phó. Đồng chí Hiếu (Chánh văn phòng Bộ) nhận xét: “Công tác tư tưởng mới nhắc nhiều tới quyết tâm mà ít bàn cách khắc phục những khó khăn trong trận đánh”. Gần ngày nổ súng, cơ quan tác chiến báo cáo: trung đoàn trưởng Hoàng Cầm ở 312, đề nghị trả lại bớt pháo, vì được trao quá nhiều pháo! Đây là hiện tượng cần chú ý. Chưa bao giờ một đơn vị đột kích lại từ chối pháo phối thuộc”(2).

Sử dụng cách đánh như thế nào cho có hiệu quả, vừa hạn chế tổn thất vừa có thể giành thắng lợi là biểu hiện rõ nhất tài cầm quân của người chỉ huy ngoài mặt trận. Đây là trận đánh quyết định. Điều đó sẽ khiến vị Tổng Tư lệnh chiến dịch càng thêm băn khoăn, suy nghĩ. Đại tướng thổ lộ: tôi cảm thấy như cả tháng đã trôi qua. Mỗi ngày, tôi càng nhận thấy rõ là không thể đánh nhanh được. Lời Bác dặn trước lúc lên đường và nghị quyết Trung ương hồi đầu năm lại văng vẳng bên tai: “Chỉ được thắng, không được bại, vì bại là hết vốn”!

“Đêm ngày 25 tháng 1 năm 1954, tôi không sao chợp mắt. Đầu đau nhức. Đồng chí Thùy, y sĩ, buột lên trán tôi một nắm ngải cứu”. Tôi đã hiểu vì sao mọi người đều lựa chọn phương án đánh nhanh? Vấn đề tiếp tế khó khăn chỉ là một lý do. Chúng ta không phải hoàn toàn không có cách khắc phục khó khăn này. Lý do chính là e thời gian chuẩn bị kéo dài, địch sẽ tăng thêm quân, tập đoàn cứ điểm ngày càng mạnh, sẽ làm ta mất cơ hội tiêu diệt địch. Nhiều người cho rằng sự xuất hiện lần đầu của lựu pháo và cao xạ sẽ làm quân địch choáng váng. Nhưng chúng ta chỉ có vài ngàn viên đạn? Đặc biệt, mọi người đều tin vào khí thế của bộ đội khi xuất quân, tin vào sức mạnh tinh thần. Nhưng sức mạnh tinh thần cũng có những giới hạn. Không phải chỉ với sức mạnh tinh thần cao mà lúc nào cũng chiến thắng quân địch! Chúng ta cũng không thể giành chiến thắng với bất kể giá nào, vì phải giữ gìn vốn liếng cho cuộc chiến đấu lâu dài”(3).

Ba khó khăn hiện lên rất rõ.

Thứ nhất, bộ đội chủ lực ta đến nay chỉ tiêu diệt cao nhất là tiểu đoàn địch tăng cường, có công sự vững chắc ở Nghĩa Lộ. Ở Nà Sản, chúng ta mới đánh vào vị trí tiểu đoàn, dưới tiểu đoàn, công sự dã chiến nằm trong tập đoàn cứ điểm, vẫn có những trận không thành công, bộ đội thương vong nhiều.

Thứ hai, trận này tuy ta không có máy bay, xe tăng, nhưng đánh hiệp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh với quy mô lớn lần đầu, mà lại chưa qua diễn tập. Vừa qua, có trung đoàn trưởng xin trả lại pháo vì không biết phối hợp thế nào!

Thứ ba, bộ đội ta từ trước tới nay mới chỉ quen tác chiến ban đêm, ở những địa hình dễ ẩn náu. Chủ lực ta chưa có kinh nghiệm công kiên ban ngày trên trận địa bằng phẳng, với một kẻ địch có ưu thế về máy bay, pháo binh và xe tăng. Trận đánh sẽ diễn ra trên một cánh đồng dài 15 km, và rộng 6-7 km...

Theo Đại tướng thì tất cả mọi khó khăn đó đều “chưa được bàn bạc kỹ và tìm cách khắc phục”. Nhưng giờ giải quyết ra sao thì chính ông cũng chưa biết rõ.


(1) Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.921-922.
(2) Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.923.
(3) Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.923-924.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2011, 05:29:44 PM
Thay đổi

Pháo binh đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xuất phát xung phong. Nhưng ông đã quyết định hoãn trận đánh, dù biết rằng sẽ tác động đến tinh thần bộ đội. Đây thực sự là lúc bản lĩnh của người cầm quân lớn được thể hiện.

Kế hoạch hoạch bị lộ

“Tôi nhận thấy phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đánh khác, dù bộ đội có thắc phắc. Phải chuyển từ phương án “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”; Đại tướng hồi tưởng trong hồi ký(1).

Cần nói rõ thêm một điều là, mặc dù đã kéo hết pháo vào trận địa, nhưng ngày nổ súng mở màn dự định chiều 25-1-1954 lại được quyết định lùi thêm 24 tiếng nữa, lý do là vì một chiến sĩ của ta bị địch bắt trước đó, sợ khai ra sẽ lộ giờ nổ súng. Tuy nhiên trên thực tế, sau này, trong quá tình đọc các sách, hồi ký của phía Pháp, chúng tôi thấy phía Pháp đã nắm rõ ngày, giờ nổ súng của ta.

Về việc bộ Chỉ huy Pháp cũng nắm được kế hoạch nổ súng của ta, ông Lê Trọng Nghĩa, nguyên Cục trưởng Cục Quân báo trong thời gian diễn ra chiến dịch, kể lại: “Đêm 22-1, tôi nhận được tin: “Địch biết rất rõ kế hoạch của ta đánh Điện Biên Phủ”. Sáng 23-1, sau khi tập hợp tin tức tình báo cả đêm, tôi đến trực tiếp báo cáo với Tổng Tư lệnh về việc địch đã có được kế hoạch cụ thể của ta, đánh ở đâu, ngày giờ nào, cách đánh như thế nào. Việc làm của tôi là rất nguy hiểm, vì trong kỷ luật chiến trường, khi Bộ Tổng Tư lệnh đã hạ quyết tâm, khi mệnh lệnh đã ban ra thì ở dưới nhất nhất thi hành, cấm tất cả các tướng sĩ không được nói khác đi làm người chỉ huy nao núng…

Đại tướng nghe báo cáo, không phải đã tin ngay. Một cái rất đặc biệt là ông ra lệnh kiểm tra lại tin này. Trực tiếp tôi phải xác định lại tin này, không được qua báo cáo nữa… Ông Giáp cũng trực tiếp xuống tận lán của tình báo kỹ thuật, yêu cầu người thu được tin địch biết động thái của ta giải thích. Trong các  chiến dịch lớn, không bao giờ Tổng Tư lệnh lại đi kiểm tra trực tiếp một chuyện nhỏ như thế.

Tôi ra sát Điện Biên Phủ, dùng ống nhòm và tai nghe để kiểm tra tình hình, thấy nó vẫn đang nhảy dù xuống. Lúc bấy giờ các tướng lĩnh đã được phái đi đốc chiến hết. Ở Sở chỉ huy chẳng còn mấy người. Đến chiều, tôi tổng hợp và báo cáo Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi lại khẳng định là địch biết rõ kế hoạch của ta và có kế hoạch cụ thể đế đối phó… Tôi cứ nhấn mạnh về việc kế hoạch của ta đã bị lộ. Đại tướng không kết luận gì, chỉ nói: “Báo cáo thế là được rồi”, nhưng ra lệnh cho tôi không được báo cáo tin đó với bất cứ ai, nhất là với cố vấn. Các ông cố vẫn vẫn luôn xuống chỗ tôi hỏi han tình hình”(2).

Quyết định

Đại tá Hoàng Minh Phương kể lại: “Sáng 26-1, Đại tướng cho liên lạc gọi tôi lên gặp lúc 5 giờ. Lên đến nơi, thấy ông quấn đầu, rồi trầm ngâm bên bàn tre. Tổi hỏi: “Anh nhức đầu hay sao mà quấn ngải cứu?”. Ông nói: “11 ngày đêm qua mình trăn trở, suốt đêm qua không ngủ, chiều nay trận đánh bắt đầu, nhưng những yếu tố thắng lợi không nắm chắc”. Ông bảo tôi báo với đồng chí Vi Quốc Thanh ông sang làm việc sớm.

Cuộc làm việc sáng sớm ngày 26-1 với Trưởng đoàn Cố vấn Vi Quốc Thanh, được Đại tướng nhớ lại: “Ông Vi Quốc Thanh ngạc nhiên nhìn nắm ngải cứu trên trán tôi. Đồng chí ân cần hỏi thăm sức khỏe, rồi nói: Trần đánh sắp bắt đầu. Đề nghị Võ Tổng cho biết tình hình tới lúc này ra sao? Tôi đáp: “Đó cũng là vấn đề tôi muốn trao đổi với đồng chí Trưởng đoàn. Qua theo dõi tình hình, tôi cho rằng địch không còn trong trạng thái lâm thời phòng ngự, mà đã trở thành tập đoàn cứ điểm phòng ngự kiên cố. Vì vậy không thể đánh theo kế hoạch kế hoạch đã định… Tôi nói tiếp ba khó khăn lớn của bộ đội rồi kết luận:

- Nếu đánh là thất bại.

- Vậy nên xử trí thế nào?

- Ý định của tôi là ra lệnh hoãn cuộc tiến công ngay chiều hôm nay, thu quân về vị trí tập ekét, chuẩn bị lại theo phương châm “Đánh chắc tiến chắc”. Sau giây lát suy nghĩ, đồng chí Vi nói: tôi đồng ý với Võ Tổng, tôi sẽ làm công tác tư tưởng với các đồng chí trong đoàn cố vấn.

Thời gian gấp. Tôi cần họp Đảng ủy để quyết định. Và đã có dự kiến cho 308 tiến về phía Luông Phabăng, bộc lộ lực lượng chừng nào, kéo quân địch về hướng đó, không để chúng gây khó khăn khi quân ta kéo pháo ra…

Cuộc trao đổi giữa tôi và đồng chí Vi diễn ra khoảng hơn nửa giờ. Tôi nghĩ đồng chí Vi sẽ không dễ dàng thuyết phục các chuyên gia đã cho rằng chỉ có đánh nhanh thắng nhanh mới giành thắng lợi”(3).


(1) Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.924-925.
(2) Nhiều tác giả: Chuyện những người làm nên lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.68.
(3) Tổng tập Hồi ký, Sđd, tr.925,926


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2011, 05:31:53 PM
Cuộc họp bất thường của Đảng ủy Mặt trận Điện Biên Phủ được triệu tập ngay sáng 26-1-1954, chỉ trước giờ dự định nổ súng chừng 10 tiếng đồng hồ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Khi tôi quay về Sở chỉ huy, các đồng chí trong Đảng ủy đã có mặt đông đủ. Tôi trình bày những suy nghĩ đã có từ lâu chung quanh cách đánh tập đoàn cứ điểm, những thay đổi quan trọng về phía địch từ sau hội nghị Thẩm Púa tới nay, ta vẫn giữ quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, nhưng phải thay đổi cách đánh.

Mọi người im lặng một lúc. Anh Lê Liêm, Chủ nhiệm Cính trị, phát biểu:

- Đã động viên sâu rộng bộ đội về nhiệm vụ rồi, anh em đều rất tin tưởng, quyết tâm chiến đấu rất cao. Giờ nếu thay đổi thì giải thích cho bộ đội làm sao?

Anh Đặng Kim Giang, Chủ nhiệm Cung cấp, nói:

- Tôi thấy cứ giữ vững quyết tâm. Hậu cần chuẩn bị tới bây giờ đã khó khăn. Nếu không đánh ngay, sau này lại càng không đánh được.

Tôi nói: Tinh thần bộ đội là rất quan trọng, nhưng quyết tâm phải có cơ sở… Hậu cần là điều kiện tiên quyết, nhưng cuối cùng, quyết định là phải có cách đánh đúng.

Đồng chí Hoàng Văn Thái nói:

- Anh Văn cân nhắc cũng phải… Nhưng lần này ta có ưu thế về binh lực, pháo 105 và pháo cao xạ xuất hiện lần đầu sẽ tạo bất ngờ lớn, lại có kinh nghiệm của bạn tôi thấy nếu đánh vẫn có khả năng giành thắng lợi.

Trao đổi một hồi chưa đi tới kết luận, cuộc họp tạm dừng một lát. Khi cuộc họp tiếp tục, tôi nói:

- Tình hình khẩn trương. Cần sớm có quyết định. Vô luận tình hình nào, chúng ta vẫn phải nắm nguyên tắc cao nhất là: Đánh chắc thắng. Trước khi tôi ra đi, Bác trao nhiệm vụ: “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”. Với tinh thần trách nhiệm trước Bác và bộ Chính trị, tôi đề nghị các đồng chí trả lời câu hỏi: “Nếu đánh có chắc thắng trăm phần trăm không?”.

Anh Lê Liêm nói: Anh Văn nêu câu hỏi thật khỏ trả lời. Ai dám bảo là sẽ chắc thắng trăm phần trăm!

Anh Đặng Kim Giang nói tiếp: Làm sao dám đảm bảo như vậy!

Tôi nghĩ với trận này, ta phải đảm bảo chắc thắng trăm phần trăm.

Bây giờ anh Hoàng Văn Thái mới nói: Nếu yêu cầu chắc thắng trăm phần trăm thì khó.

Lát sau, Đảng ủy đi tới nhất trí là trận đánh có thể gặp nhiều khó khăn mà ta chưa có biện pháp cụ thể để khắc phục.

Tôi kế luận: Để đảm bảo nguyên tắc cao nhất là “Đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới.

Sau đó, tôi phân công cho anh Hoàng Văn Thái ra lệnh cho các đơn vị bộ binh, tôi ra lệnh cho pháo binh và trao nhiệm vụ mới cho 308.

Tôi gọi điện thoại cho pháo binh: Tình hình địch đã thay đổi. Quyết tâm tiêu diệt Trần Đình (Bí danh của Điện Biên Phủ trong chiến dịch) vẫn giữ vững. Nay thay đổi cách đánh. Vì vậy, ra lệnh cho các đồng chí từ 17 giờ hôm nay, kéo pháo ra khỏi trận địa, lui về địa điểm tập kết, chuẩn bị lại. Triệt để chấp hành mệnh lệnh(2).

Đại đoàn chủ công của đồng chí Vương Thừa Vũ cũng nhận được lệnh của Đại tướng nhanh chóng tiến sang hướng Luông Phabăng (Lào) ngay 16 giờ chiều hôm đó, không được hỏi lý do hoãn nổ súng. Các chỉ huy đơn vị đều triệt để chấp hành mệnh lệnh. Đại tướng viết tiếp: Tình hình lúc này không cho phép dùng điện đài báo cáo với Trung ương, ngay tối hôm đó tôi viết thư hỏa tốc đề nghị Bộ Chính trị và Bác cho chuyển sang phương châm “Đánh chắc, tiến chắc” quyết giành thắng lợi nhưng chiến dịch sẽ phải kéo dài, cần khắc phục những khó khăn lớn về hậu cần. Đồng chí Nguyễn Công Dinh, một cán bộ tác chiến, được lệnh dùng chiếc xe Jeep duy nhất của cơ quan tham mưu, mang thư đi gấp suốt ngày đêm về khu căn cứ.

Trong ngày hôm đó, tôi đã thực hiện được một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình”(2).


(1) Tổng tập Hồi ký, Sđd, 927-928.
(2) Tổng tập Hồi ký, Sđd, 929.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2011, 05:36:25 PM
Chuyện bây giờ mới kể

Thời gian từ ngày 26-1 đến ngày nổ súng thực sự mở màn chiến dịch 13-3-1954 chỉ hơn một tháng rưỡi, nhưng rát cần thiết và quý giá. Nó quyết định thắng lợi của Việt Nam trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

Thằng nào bảo lui?

Với lực lượng dân công khổng lồ huy động được, trên 260.000 người, với đủ loại phương tiện chuyên chở, bằng quyết tâm cao hơn núi, ta đã khắc phục được khó khăn tưởng chừng không thể khắc phục được, bảo đảm đủ vũ khí, đạn dược, lương thực, thuốc men cho 5 vạn bộ đội và hàng vạn dân công ngay tại mặt trận, mở hàng chục kilômét đường để đưa pháo vào tận trận địa.

Bộ đội ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, diệt, làm bị thương và bắt sống toàn bộ hơn 16.000 quân địch đồn trú tại đây, đánh bại hình thức phòng ngự cao nhất của thực dân Pháp, đánh gục ý chí tiếp tục chiến tranh của chúng (mặc dù tổn thất của địch ở Điện Biên Phủ chỉ chiếm khoảng 4% tổng số binh lực của đôi quân viễn chinh Pháp trên toàn Đông Dương), buộc Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán và ký Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương và Việt Nam vào ngày 21-7-1954, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình trên bán đảo này.

Trở lại việc xác định tác giả của sự thay đổi phương châm tác chiến, hẳn bạn đọc đã rõ là ai sau khi đọc toàn bộ vài viết này. Tuy nhiên, những người trong cuộc đã cho chúng ta biết thêm những điều thú vị.Đại tá Hoàng Minh Phương cho biết không phải ai cũng đồng tình với quyết định của Đại tướng: “Khi lệnh rút quân dời ngày đánh đến các đại đoàn, anh em nhiều người không hiểu, nói “Sao lại rút? Cẩn thận Việt gian hoang báo. Thằng nào bảo lui?”. Họ biết đâu người quyết định và ra lệnh rút lui chính là vị Tổng Tư lệnh của họ”(1).

Còn Thượng tướng Trần Văn Quang, nguyên là Cục trưởng Cục Tác chiến - Bộ Tổng tham mưu trong chiến dịch Điện Biên Phủ, nhớ lại: “Khi Đại tướng ra quyết định chuyển phương châm, mọi việc phải làm thật nhanh, rút người và pháo ra đồng thời rời chỉ huy sở vào Mường Phăng. Nhớ một đêm hành quân, trời sáng trăng, trên đường vào Mường Phăng, chúng tôi gặp dân công đi ra, có người nói: “Chưa đánh vào đã rút, thế mà nói là quyết tử”. Nhiều người thắc mắc, kể cả trong các cán bộ. Địch rải truyền đơn trong có thư của Đờ Cátxtơri (Chỉ huy tập đoàn cứ điểm) thách tướng Giáp đánh Điện Biên Phủ. Tôi tự nhủ: “A, thắng này chuẩn bị sẵn sàng rồi, nó mong đánh mà mình không đánh, rút đi là đúng”(2).

Đoàn cố vấn cũng thấy đánh nhanh không ổn

Đại tá Hoàng Minh Phương viết: “Nhiền năm sau ta mới biết thực ra ông Vi Quốc Thanh cũng thấy đánh nhanh không ổn, ngày 24-1, ông ấy điện về xin ý kiến Quân ủy Trung ương Trung Hoa và Mao Chủ tịch, nhưng đến sáng 27-1 mới nhận được câu trả lời”(3). Chi tiết này trùng với chi tiết mà một giáo sư sử học, năm 2004 nhân kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, trong đoàn cán bộ nghiên cứu, cựu chiến binh của ta sang dự Hội thảo khoa học về chiến thắng Điện Biên Phủ tổ chức tại Trường Đại học Trịnh Châu (Trun Quốc) công bố, chi tiết này lại sưu tầm được từ một bài viết của một học giả Trung Quốc.

Như thế, quyết định thay đổi phương châm “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”, hoãn nổ súng mở màn chiến dịch, đã được đưa ra bàn tập thể trong Đảng ủy Mặt trận và được Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định vào sáng ngày 26-1-1954, sau khi có trao đổi với Trưởng đoàn Cố vấn Trung Quốc Vi Quốc Thanh. Còn bức điện trả lời của Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc về việc thay đổi phương châm, đến ngày 27-1, Đoàn Cố vấn mới nhận được.

Về quyết định thay đổi phương châm tác chiến, năm 2004, tác giả bài viết này có dịp gặp bác Thanh, nguyên là khẩu đội trưởng Khẩu đội pháo binh trong chiến dịch Điện Biên Phủ, sau này nghỉ hưu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tôi hỏi: “Các bác vừa mới kéo pháo vào hôm trước rất vất vả, hôm sao lại được lệnh kéo pháo ra, bác có bực mình không?”. Bác cười, trả lời: “Bực mình là thế nào! Tôi và anh em cảm thấy mừng là đằng khác, vì vào đến nơi thấy hầm hố cho pháo mới làm xong, nhưng thấy không an toàn, còn sơ sài lắm, lộ lắm. Nó (Pháp) mà phát hiện, pháo nó giã cho mấy quả thì cả pháo và người đi đứt. Nên được lệnh kéo pháo ra, không ai kêu ca gì”.

Còn ông Nguyễn Việt, cán bộ Cục Quân báo, hồi thưởng: “Khi nghe Đại tướng lệnh rút pháo, lui quân chờ đánh, tôi thấy quyết định của ông thật chính xác và phúc đức. Thực tế về sau càng đánh càng thấy nếu ta đánh nhanh, thắng nhanh như ban đầu thì thua rồi. Công lao của bác Giáp lớn lắm, không có quyết định ấy của ông thì không có chiến thắng Điện Biên Phủ”(4).

Ngay cả phía Pháp, một học giả đã viết một cuốn sách nhan đề Tướng Giáp suýt thua trận ở Điện Biên Phủ, đề cập đến việc vì ông thay đổi phương châm tác chiến nên mới giành được thắng lợi.

Cũng trong Hồi ký, Đại tướng ghi lại: “Chỉ mười năm sau (1964), nhân dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, một số các đồng chí phụ trách các đại đoàn mới nói thực với tôi ý nghĩ của mình. Chính ủy Đại đoàn công pháo (351) Phạm Ngọc Mậu, sau này là Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, nói: “Khi có lệnh kéo pháo ra, đúng là “Được lời như cởi tấm lòng”. Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn, sau này là Đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nói: “Nếu không có quyết định chuyển phương châm ngày đó thì phần lớn chúng tôi sẽ không có mặt trong kháng chiến chống Mỹ”. Riêng đại đoàn trưởng (38) Vương Thừa Vũ, sau này là Trung tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nói: “Ở Thẩm Púa, nghe phổ biến pháo binh của ta sẽ bắn hai ngàn viên pháo 105, ai cũng trầm trồ, cho rằng quân địch sẽ tan nát. Nhưng tôi hoàn toàn không tin như vậy. Ở Tu Vũ (trong chiến dịch Hòa Bình Đông - Xuân 1951-1952-T.G.), địch đã bắn năm ngàn quả pháo mà đồn vẫn bị trung đoàn 88 tiêu diệt. Hai ngàn quả pháo với một tập đoàn cứ điểm rộng nhiều cây số vuông như Điện Biên Phủ có là bao. Tôi nghĩ nếu lần đó cứ: “Đánh nhanh, giải quyết nhanh”, thì cuộc kháng chiến có thể lùi lại mười năm!”(5).


(1) Chuyện những người làm nên lịch sử, Sđd, tr.75.
(2) Chuyện những người làm nên lịch sử, Sđd, tr.69.
(3) Chuyện những người làm nên lịch sử, Sđd, tr.75.
(4) Chuyện những người làm nên lịch sử, Sđd, tr.78.
(5) Tổng tập Hồi ký, Sđd, 929.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2011, 05:37:59 PM
Thay lời kết

Cuối tháng 12-2009 vừa qua, chúng tôi có dịp gặp, làm việc với đoàn cán bộ viết chuyện về Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc và đồng chí Vi Quốc Thanh của Tổng bộ Chính trị Quân giải phóng Trung Quốc, sang Việt Nam tìm tư liệu và khai thác các nhân chứng từng tiếp xúc và biết về các thành viên trong Đoàn Cố vấn, đặc biệt là đồng chí Vi Quốc Thanh. Trong buổi làm việc với Đoàn cán bộ quân đội Trung Quốc, chúng tôi đã trao đổi với Đoàn những kết quả nghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khẳng định Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam mãi mãi ghi nhớ và biết ơn sự giúp đỡ, đóng góp to lớn, hiệu quả của Đảng, Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, của Đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc và cá nhân đồng chí Vi Quốc Thanh vào thắng lợi của nhân dân, quân đội Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đồng thời, chúng tôi đã cùng với các đồng chí cựu chiến binh làm rõ một số vấn đề, sự kiện lịch sử, trong đó khẳng định tác giả của việc thay đổi phương châm tác chiến trong chiến dịch Điện Biên Phủ chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đoàn cán bộ Trung Quốc đã cảm ơn các đồng chí cựu chiến binh và những nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam đã tiếp Đoàn, cung cấp nhiều tư liệu quý về hoạt động của Đoàn Cố vấn và đồng chí Vi Quốc Thanh trong thời gian sang giúp Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp. Đồng chí Trưởng đoàn, Đại tá Lương Đức Võ, đã chuyển lời mời của phu nhân Thượng tướng Vi Quốc Thanh, mời các đồng chí cựu chiến binh Việt Nam đã từng làm việc với đồng chí Vi Quốc Thanh, sang thăm Trung Quốc và đến nhà riêng của bà. Đồng thời, Đoàn còn nhờ chúng tôi chuyển tới Đại tướng Võ Nguyên Giáp một món quà là chiếc bình cắm hoa bằng sứ rất đẹp, với lời chúc Đại tướng mạnh khỏe, trường thọ. Chúng tôi đã chuyển món quà quý đó cho phu nhân Đại tướng, bà Đặng Bích Hà.

So sánh lực lượng hai bên ở Điện Biên Phủ

1. Quân đội Liên hiệp Pháp - có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh (trong quá tình diễn biến chiến dịch, được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội lính dù).

- Có 3 tiểu đoàn pháo 105mm gồm 24 khẩu, sau đó được tăng viện 4 khẩu nữa.

- 1 đại đội pháo 155mm gồm 4 khẩu.

- 2 đại đội súng cối 120mm gồm 20 khẩu.

- 1 phi đội máy bay gồm 14 chiếc (có 7 khu trục, 6 máy bay liên lạc trinh sát, 1 máy bay lên thẳng).

- 1 tiểu đoàn công binh.

- 1 tiểu đoàn xe tăng 18 tấn gồm 10 chiếc loại M-24 của Mỹ.

- 1 đại đội xe vận tải gồm 200 chiếc.

+ Ngoài ra, còn có 100 chiếc máy bay Đakota C47, 16 chiếc Packet C119 thuộc lực lượng không quân vận tải của Pháp và 1 số máy bay dân dụng của Mỹ, 168 máy bay ném bom của không quân và hải quân, trong đó có 48 chiếc B.26 - Invader: 8 chiếc B24 - Privater; 112 máy bay cường kích các loại như F6F - Hellcat; F8F - Bearcat; Helldiver SB2C, Corsai F4U.

+ Tập đoàn cứ điểm có quân số khoảng 16.000 chia làm 3 phân khu: Bắc, Trung tâm, Nam; với 8 trung tâm đề kháng tổng cộng là 49 cứ điểm. Có hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm.

2. Quân đội nhân dân Việt Nam

- Có 4 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304 và 316) gồm 10 trung đoàn và 1 đại đội công binh - pháo binh 351).

- Trung đoàn 45 lựu pháo 105mm gồm 24 khẩu.

- 1 trung đoàn 675 sơn pháo 75mm gồm 24 khẩu.

- 4 đại đội súng cối 120mm gồm 16 khẩu.

- 1 tiểu đoàn gồm 12 dàn hỏa tiễn 6 nòng - H6.

- 1 tiểu đoàn ĐKZ 75mm và súng cối 82mm gồm 54 khẩu.

- Trung đoàn 367 pháo cao xạ 37mm gồm 36 khẩu.

- Súng máy phòng không 12,7 mm gồm 132 khẩu của các đơn vị pháo cao xạ và bộ binh.

- 628 xe vận tải, 21.000 xe đạp thồ và 20.000 phương tiện vận chuyển khác.

- Tổng quân số tham gia chiến dịch khoảng 50.000 người.

- Số dân công phục vụ chiến dịch hơn 260.000 người.

- Sử dụng 25.000 tấn lương thực, hơn 900 tấn thịt và hàng ngàn tấn thực phẩm khác.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2011, 05:44:50 PM
ĐIỆN BIÊN PHỦ VÀ
VỊ TƯỚNG NHÂN VĂN
(1)

NGÔ VƯƠNG ANH

Tháng 5, có một cái tên hay được nhắc đến: Võ Nguyên Giáp có một địa danh hay được nhắc đến: Điện Biên Phủ - Việt Nam. Bằng những phẩm chất thiên tài của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng của nhân dân, đã làm mọi người nhắc đến tên mình và địa dinh đó.

Nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Mac Donald trong công trình của mình Võ Nguyên Giáp – Một sự đánh giá (1992) đã viết: “Điều làm Điện Biên Phủ nổi tiếng chính là ở cách đánh, ở tiến trình phát triển của cuộc chiến cũng như kết cục và những hệ quả mà nó dẫn đến… Tất cả những điều đó đã khiến Điện Biên Phủ trở thành trận đánh quyết định của thời đại và đưa tên tuổi Võ Nguyên Giáp và lịch sử”.

Bậc thầy về cách đánh

Tư tưởng quân sự truyền thống Việt Nam từ lịch sử là lấy nhỏ đánh lớn, “Lấy đoản binh mà chế trường trận” (Trần Hưng Đạo), lấy yếu chống mạnh, “Lấy ít địch nhiều” (Nguyễn Trãi), mưu trí sáng tạo, dĩ như xử cương… Đó là cách đánh sáng tạo của một dân tộc nhỏ yếu hơn chống lại kẻ thù lớn mạnh. Đó là nghệ thuật giành thế chủ động, kiên quyết tiến công nhưng không phiêu lưu mạo hiểm mà biết kết hợp bảo toàn lực lượng để tiết kiệm sức quân, tiết kiệm sức dân, bảo đảm kháng chiến lâu dài… Đây cũng là những nét văn hóa quân sự độc đáo của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX nhưng đã có cơ sở từ bề dày ngàn năm giành và giữ nền độc lập của các thế hệ cha ông. Đó cũng là cách “cầm quân” của Võ Nguyên Giáp.

Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo đánh giá: “Võ Nguyên Giáp là bậc thầy về cách đánh. Ông luôn tìm ra cách đánh độc đáo và sáng tạo, vừa bảo đảm thắng lợi cao nhất cho trận đánh, vừa hạn chế đến mức thấp nhất thương vong cho tướng sĩ. Ông là vị thống soái có tài thao lược kiệt xuất…”.

Chuyên gia vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân

Khi xác định đường lối xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng tỏng khởi nghĩa vũ trang cũng như trong chiến tranh cách mạng, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh rằng khởi nghĩa vũ trang là khởi nghĩa toàn dân: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(2); chiến tranh cách mạng là chủ trương nhân dân, trong cuộc kháng chiến kiến quốc, lực lượng chính là ở dân; quân đội ta là quân đội nhân dân, gắn bó với nhân dân. Kế thừa và phát huy kinh nghiệm của cha ông về xây dựng lực lượng quân đội thời phong kiến: có quân triều đình, quân các lộ, các đạo hương binh, dân binh… lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam gồm ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Khi coi trọng xây dựng bộ đội chủ lực “vẫn cần phải duy trì lực lượng vũ trang trong các địa phương” và coi đây “là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc”(3). Tinh thần yêu nước luôn gắn liền với yêu dân, cứu nước gắn liền với cứu dân trong công cuộc giải phóng dân tộc, đã làm cho sức mạnh quân đội nhân dân Việt Nam được nhân lên gấp bội. Sức mạnh quân đội cũng là sức mạnh của toàn dân. Sức mạnh của lực lượng vũ trang là sức mạnh của ba thứ quân kết hợp với sức mạnh toàn dân đã tạo thành sức mạnh to lớn để chiến thắng mọi kẻ thù. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã là người lãnh đạo trực tiếp và làm nên thành công cho sự nghiệp xây dựng một quân đội nhân dân Việt Nam theo những tư tưởng đó.

Nhà sử học quân sự Mỹ Cecil Curay trong Chiến thắng bằng mọi giá - Võ Nguyên Giáp vị Đại tướng, thiên tài của Việt Nam, sau khi điểm qua quá tình chỉ huy của Vị Tổng Tư lệnh nổi tiếng của quân đội nhân dân Việt Nam, đã nhận xét rằng: “Trong suốt thời gian đó, ông không chỉ trở thành một huyền thoại mà có lẽ còn trở thành một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của tất cả các thời đại. Ông Giáp là vị tướng duy nhất trong lịch sử hiện đại đã tiến hành chiến đấu chống kẻ thù trong thế vô cùng yếu, thiếu trang bị, thiếu nguồn tài chính, dù mới đầu không có quân, vậy mà liên tiếp đánh bại quân Nhật, quân đội Pháp, quân đội Mỹ… Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân”(4).


(1) Bài đăng trên báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 7 tháng 5 năm 2010.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.554.
(3) Hồ Chí Minh với lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1975, tr.9, 30.
(4) Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Đại tướng của nhân dân, của hòa bình, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2009, tr.222.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Hai, 2011, 05:47:37 PM
“Văn võ song toàn, đức tài trọn vẹn”

Ông đến với các chiến sĩ, đồng chí, đồng bào bằng tình cảm của một người thân thiết. Ông là một Tổng Tư lệnh biết đau với từng vết thương của mỗi người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh. Với gần 100 tác phẩm về tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối quân sự của Đảng, nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân… Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là nhà văn hóa, nhà khoa học, nhà lý luận quân sự hàng đầu của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Có câu chuyện kể rằng khi một học giả nước ngoài nêu câu hỏi: “Tại sao một nhà giáo về sử học, về luật pháp, được Pháp đào tạo, không qua một trường quân sự nào lại là Tổng Tư lệnh lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, đánh thắng nhiều kẻ thù xâm lược?”, Đai tướng Võ Nguyên Giáp đã trả lời: “Câu hỏi này xin hỏi lại Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Câu trả lời đó đã nói lên nhiều điều nhưng lại làm nảy sinh thêm một câu hỏi: Tại sao Bác Hồ khi lựa chọn một “võ tướng”, lại giao trách nhiệm “cầm quân” cho một nhà sử học, một nhà văn hóa. Câu trả lời còn bỏ ngỏ, song lịch sử đã cho thấy rằng sự lựa chọn của Bác là hoàn toàn xác đáng.

Võ Nguyên Giáp - tướng Giáp, anh Văn - như mọi người quý trọng và thân thiết gọi ông - chính là người thực hiện trực tiếp và xuất sắc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, phát huy tài thao lược, cách đánh giặc của dân tộc trong thời đại mới, góp phần quan trọng phát triển hoàn thiện Học thuyết quân sự Việt Nam - một phần đáng tự hào trong di sản văn hóa truyền thống Việt Nam. Truyền thống đánh giặc của dân tộc, truyền thống thao lược và nhân văn, được Võ Nguyên Giáp làm tỏa sáng đã làm nên sức mạnh to lớn dẫn dắt quân và dân Việt Nam chiến đấu và chiến thắng trong thế kỷ XX rực lửa. Ông là người chỉ huy văn võ song toàn, là một tổng tư lệnh đức tài trọn vẹn.

Một thống soái quân sự lớn

G.Bonnet, trong Từ điển bách khoa toàn thư Pháp, đã viết: “Là nười tổ chức quân đội nhân dân, ông Giáp đã thực hiện được một sự tổng hượp độc đáo các học thuyết quân sự mácxít kết hơp nhuần nhuyễn với truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có đất đai tương đối hẹp.”.

Bách khoa toàn thư quân sự Bộ Quốc phòng Mỹ (xuất bản năm 1993) viết: “Tài thao lược của tướng Giáp về chiến lược, chiến thuật và hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao… Sức mạnh hơn hẳn về kinh tế, tính ưu việt về công nghệ cùngvới sức mạh áp đảo về  quân sự và hỏa lực khổng lồ của các quốc gia phương Tây đã phải khuất phục trước tài thao lược của một vị tướng từng một thời là thày giáo dạy sử”.

Tướng Oétmolen thừa nhận: “Ông Giáp có tất cả đức tính của một thống soái quân sự lớn, đó là sự quả đoán, tính kiên quyết, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung suy nghĩ và hành động, trí thông minh”.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 10:40:04 AM
MỘT KỶ NIỆM KHÔNG THẺ NÀO QUÊN
VỚI ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

PGS,TS. PHẠM XANH

Câu chuyện nhỏ này đã xảy ra cách đây 15 năm. Ngày đó…

Thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 23-10-1993 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về kỷ niệm những ngày lịch sử lớn trong hai năm 1994-1995, Tỉnh ủy Cao Bằng phối hợp với Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học - thực tiễn Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Cao Bằng, nhân dân các dân tộc Cao Bằng với Bác Hồ tại Cao Bằng. Tôi nhận được giấy mới viết bài cho Hội thảo, sẽ được tổ chức tại thị xã Cao Bằng vào giữa tháng 12-1994, nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Tôi rất hồ hởi tham gia cuộc Hội thảo này bởi nhiều lý do. Trước hết, tôi muốn được thể hiện và khẳng định mình trước giới sử học trong và ngoài nước sau khi bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ lịch sử về đề tài Hồ Chí Minh năm 1989, năm 1990 công trình được xuất bản thành sách nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người. Tôi cũng vừa đi dự Hội thảo quốc tế Về Hồ Chí Minh và phong trào cộng sản Việt Nam tại Trường học Passau, Cộng hòa Liên bang Đức về. Thứ hai, cùng vào thời gian này tôi đã hoàn thành một chuyên đề khoa học với tựa đề Hồ Chí Minh - người đặt nền móng cho sự ra đời Quân đội nhân dân cho Hội thảo khoa học của Bộ Quốc phòng nhân 50 năm thành lập quân đội. Và cuối cùng, tôi muốn được trở lại thăm Pác Bó, Cao Bằng, mảnh đất có nhiều duyên nợ với tôi. Đặc biệt là sau khi Bác Hồ năm năm 1969, tôi (hồi đó đang công tác tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam) vinh dự được tháp tùng ông Vũ Kỳ, thư ký của Bác, chị Nga và anh Khởi, con gái và con rể ông trường Chinh vừa từ Liên Xô về và ông Phạm Văn Hảo, Viện trưởng Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam lên khảo sát Cao Bằng, khu vực Pác Bó đẻ chuẩn bị cứ liệu cho việc bảo vệ, gìn giữ di tích lịch sử cách mạng cực kỳ quan trọng này.

Tôi hối hả dốc hết tâm sức trong một tuần cho chuyên đề khao học với tựa đề ngắn gọn, nhưng có sức hút: Cao Bằng trong tầm nhìn chiến lược Hồ Chí Minh. Nhận được Giấy mời của Ban tổ chức, tôi theo xe của Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh lên Cao Bằng dự Hội thảo.

Hội thảo được tổ chức trang trọng trong hai ngày 14 và 15-12-1994 tại Hội trường Tỉnh ủy Cao Bằng với sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử từ các trung tâm nghiên cứu lớn của Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Viện Lịch sử quân sự, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, các vị tướng lĩnh, các vị lão thành cách mạng - những người đã làm nên lịch sử thời đó và các nhà nghiên cứu lịch sử địa phương Cao Bằng. Hội thảo nhiệt liệt chào mừng sự hiện diện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng phu nhân, cô Đặng Bích Hà, Giáo sự Đặng Xuân Kỳ, Viện trưởng Viện Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và đồng chí Nông Hồng Thái, Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng.

Sau lời chào mừng của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng, Báo cáo đề dẫn Hội thảo của Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, cả hội trường xúc động hội hộp lắng nghe Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tư cách một nhân chứng lịch sử, và hơn thế nữa, là một người làm nên lịch sử trong thời kỳ đầy biến động và chuyển biến mau lẹ của đất nước và thế giới nói về việc chuẩn bị về nước, về những quyết định sáng suốt của Bác, về tình cảm nông ấm của bà con Pác Bó đối với Bác trong hang, v.v. Chắc chắn những người tham dự Hội thảo không thể nào quên chất giọng Quảng Bình ấm áp, trí nhớ tuyệt vời của Đại tướng. Trong cuốn sổ ghi chép của tôi hồi đó còn lưu những dòng về bài nói của Đại tướng. Ở một trang, tôi ghi được: “Chúng tôi trở về Cao Bằng, ở bên Bác, để chuẩn bị võ trang khởi nghĩa, chúng tôi mấy người nói: - Bây giờ thiếu súng, làm sao đây. Bác rất bính tĩnh, nói: - Không lo đâu, có dân thì có tất cả, người trước, súng sau. Một câu ngắn gọn, nhưng chứa đứng cả một vấn đề lý luận, nó khác với lý luận chính quyền trên miệng súng…”. Ở một chỗ khác, tôi ghi được lời của Đại tướng như tâm sự của một người đồng nghiệp, như lời nhắc nhở chân tình về nghề nghiệp của các nhà sử học, các nhà bảo tàng học: “Tôi muốn nói một vài điểm về vấn đề cụ thể thuộc tế lịch sử. Như cái giường Bác nằm chẳng hạn, cần sửa lại cho đúng với thực tế lịch sử. Bởi vì, lịch sử là lịch sử, khoa học là khoa học, phải khách quan. Sự kiện lịch sử chỉ diễn ra một lần và nó tồn tại khách quan, mãi mãi, còn viết lịch sử thì viết đi viết lại, viết nhiều lần khi nào đúng mới thôi”. Bài nói của Đại tướng khá dài. Kết thúc bài nói, Đại tướng bày tỏ lòng mong muốn cháy bỏng đối với Cao Bằng. Tôi còn nhớ, đôi môi Đại tướng lướt nhanh khắp hội trường rồi dừng lại ở Bí thư Tỉnh ủy Nông Hồng Thái như muốn qua ông tuyền đến đồng bào các dân tộc tỉnh Cao Bằng: “Cao Bằng đã là ngôi sao sáng trong cách mạng giải phóng dân tộc thì mong rằng đồng bào Cao Bằng vận dụng cái tinh thần và tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh, tới tính nặng động sáng tạo của nhân dân các dân tộc, kể cả ở những nơi rẻo cao, để làm sao trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, Cao Bằng cũng trở thành một trong những…”. Đại tướng nói mấy tiếng dân tộc. Cả hội trường ồ lên, râm ran những tràng vỗ tay tán thưởng, khoái chí, còn tôi không hiểu Đại tướng nói gì. Tôi quay sang hỏi anh Nông Hải Pín, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, vốn là sinh viên Khoa Lịch sử, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, anh giảng giải cho tôi nghe bốn chữ mà Đại tướng vừa nói là “Đao đi rủng lai”, tiếng Tày - Nùng có nghĩa là ngôi sao sáng. Một liên tưởng, một hình dung đã diễn ra trong đầu tôi. Có lẽ, hơn nửa thế kỷ trước, một chàng trai mới ngoài 30 tuổi, người Kinh, trắng trẻo, đẹp trai đã sử dụng thành công ngôn ngữ đó như một phương tiện hữu hiệu để hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ Bác giao. Từ đó rút ra một bài học là muốn hoàn thành xuất sắc công tác trong đồng bào dân tộc, trước hết phải thông thạo tiếng nói của họ mới có thê nắm bắt được tâm tự, tình cảm của họ để từ đó đề ra được những quyết sách đúng đắn… Suy nghĩ miên man gợi ra từ bài nói của Đại tướng.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 10:44:03 AM
Tôi bừng tỉnh khi Ban tổ chức mời lên diễn đàn. Là một người hướng dẫn khác tham quan tại Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, rồi trở thành thầy giáo dạy sử tại Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, đã từng xuất hiện trên các diễn đàn khao học trong và ngoài nước, có nghĩa là đã nhiều lần xuất hiện trước đám đông, nhưng thú thực lần đó, khi đã đứng vững trên bục, trong tôi xuất hiện một cảm giác hơi lo lắng và thực sự xúc động. Sự xúc động và lo lắng hòa quện nhau làm tôi chững lại trong giây lát… Làm sao không lo lắng, không xúc động bởi đám đông trước mình. Không phải một đám đông bình thường, mà trong đó có những người đã làm nên lịch sử thời này như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nông Thị Trưng, Nông Văn Quang, Nông Văn Lạc… và những nhà nghiên cứu lịch sử địa phương, những người sinh ra và lớn lên tại nơi đây, biết rành rọt từng địa danh của mảnh đất này? Đám đông đó sẽ là phép thử phản ứng, sẽ sự kiểm chứng nghiêm khắc nhất chất khoa học trong bản báo cáo của tôi. Tôi nghĩ vậy và bình tĩnh trở lại.

Tôi thong thả trình bày bản tham luận của mình rõ ràng, khúc chiết và kết thúc bằng những câu ngắn gọn:

“Cao Bằng với
“Ba mặt Tam Giang trôi cuộn cuộn
Bốn bề Tứ trụ đứng chon von”
đã trở thành chỗ đứng chân đầu tiên khi Nguyễn Ái Quốc về nước sau 30 năm hoạt động nơi góc bể chân trời. Từ đó mới đến tháng 6-1945, ta có Khu Giải phóng gồm 6 tỉnh (Cao - Bắc - Lạng, Hà - Tuyên - Thái) để đến tháng 8- 1945 ta được cả nước Việt Nam từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Được tất cả những điều đó thực sự bắt đầu từ chọn đúng đột phá khẩu - Cao Bằng”.


Cả hội trường vỗ tay hồi lâu. Tôi liếc nhìn về phía những nhân chứng lịch sử. Đại tướng cùng phu nhân vỗ tay và cười rất phấn khởi. Phép thử phản ứng đã được kiểm chứng. Với Đại tướng không chỉ đơn giản là trong bài tham luận có nhắc đến tên ông mà lúc đó mang bí danh là Dương Hoài Nam cùng Lâm Bá Kiệt, tức Phạm Văn Đồng, đang lên đường đến Diên An học tập, nhận được chỉ thị của Bác, quay lại chuẩn bị về nước, mà chắc chắn tham luận của tôi gợi mở những điều mới mẻ trên phương diện khoa học.

Kết thúc tham luận của tôi cũng là lúc giải lao phiên buổi sáng ngày 14-12. Những người tham dự Hội thảo chụp ảnh lưu niệm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tôi đứng hàng thứ ba, hàng cuối cùng, bởi lẽ lúc đó tôi đã 51 tuổi, không còn trẻ nữa, nhưng so với “ông Bành vẫn trẻ con”, vả lại xưa nay, tôi vẫn khiêm tốn, nép mình. Tưởng rằng thế là xong nhưng bỗng đâu một bất ngờ lớn, một bất ngờ thú vị đến với tôi là Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho gọi tôi đến chụp ảnh chung với ông và nói to trước sự ngỡ ngàng của đông dảo những người tham dự hội thảo: “Xin được chụp ảnh với nhà khoa học Phạm Xanh có bài tham luận hay tại Hội thảo khoa học - thực tiễn Cao Bằng”. Tôi hiểu đó là lời nói lịch sự của một người lịch thiệp, nhưng thực ra đó là một vinh dự lớn, một phần thưởng vô giá của Đại tướng dành cho tôi, những người hậu thế, người đi khôi phục quá khứ. Tôi bàng hoàng thực sự. tự nhiên tôi nhìn lại mình, liệu có thể đứng bên Đại tướng để đi vào lịch sử của cuộc đời mình và gia đình mình hay không? May thay, hôm đó tôi vận một bộ comlê xanh đen tươm tất. Các phóng viên báo chí hướng máy ảnh vào Đại tướng và tôi đứng bên tay phải Đại tướng, ghi lại khoảnh khắc lịch sử đó (đối với tôi). Khi về Hà Nội,anh Nghiệp, phóng viên nhiếp ảnh của Tạp chí Lịch sử Quân sự (anh đã mất) cho tôi một bộ ảnh về Hội thảo Cao Bằng, trong đó có bức ảnh ghi lại khoảnh khắc có một không hai trong cuộc đời tôi chụp riêng với Đại tướng.. Đó là một bức ảnh đẹp, theo đúng nghĩa đen của từ đó. Cả hai, Đại tương Võ Nguyên Giáp 83 tuổi, thế hệ cha bác, tôi 51 tuổi, thế hệ con cháu, đều tươi vui và đẹp nữa là khác. Cũng có thể có những phóng viên nhiếp ảnh khác “chộp” được khoảnh khắc đó đẹp hơn. Tôi không được biết. Nhưng tôi rất hài lòng và biết ơn anh Nghiệp đã chụp được khoảnh khắc đó và tặng tôi để tôi giữ nó làm một vật quý báu nhất trong cuộc đời mình. Đến tháng Tám này Đại tướng sẽ hưởng thọ 100 tuổi (tính cả tuổi mụ). Tôi thưa với Đại tướng một điều bí mật là tôi vinh dự là người đồng hương với Đại tướng, chỉ khác Đại tướng là người Lệ Thủy, huyện cuối của Quảng Bình mà năm 1998 tôi đã có dịp về thăm quê ông và thắp hương trong nhà thờ gia tộc ông, còn tôi ở Quảng Trạch, huyện đầu tỉnh, dưới chân đèo Ngang.

Trở lại Hội trường, tôi miên man nghĩ về lời khen của Đại tướng về bản tham luận khao học của tôi mặc dù cô Đặng Bích Hà với tư cách một nhà sử học, trong cuộc trò chuyện khi giải lao, đã hé mở là bản báo cáo của tôi ngắn họn, nhưng đã đi trúng vào những vấn đề mấu chốt của cuộc hộ thảo lần này. Vậy, vấn đề mấu chốt, theo cách diễn đạt của phu nhân Đại tướng, là những vấn đề gì mà thu hút sự chú ý của Đạit ướng và được Đại tướng đánh giá cao và khen ngợi? Trrong tham thâm luận của tôi nhiều vấn đề được đặt ra và giải quyết, nhưng có ba vấn đề được giải mã một cách sâu sắc và thuyết phục nhất. Thứ nhất là thời cơ “đột nội” của Nguyễn Ái Quốc. Bằng những cứ liệu lịch sử đầy thuyết phục, tôi đã chứng minh được rằng đột nội, tức trở về nước là một khác vọng cháy bỏng và luôn thường trực trong tâm thức Người. Nhưng đột nội muốn thành công là phải có thời cơ. Thời cơ trở về nước chỉ xuất hiện sau khi Pari thất thủ vào tháng 6-1940 và đặc biệt là sau khi phátxít Nhật vào Đông Dương tháng 9-1940. Trong khi bài Tổng kết Hội thảo, ông Đặng Xuân Kỳ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đưa ra một quan điểm tương đồng: “Nguyễn Ái Quốc không phải trở về Tổ quốc vào bất cứ lúc nào. Vấn đề thời cơ là cực kỳ quan trọng. Năm 1940 khi thờ cơ đã đến, Bác Hồ mới nói rằng: bây giờ thời cơ đã đến, không về là có tội. Nhưng trước đó mà về thì không thành công”. Thứ hai là vấn đề xây dựng căn cứ địa cách mạng. Nguyễn Ái Quốc từ trải nghiệm ở Trung Quốc đã đúc kết thành lý luận trong tác phẩm viết năm 1928 ở Mátxcơva Công tác quân sự của Đảng trong nông dân; “Chắc chắn rồi đây chính quyền Xôviết sẽ được thiết lập ở Trung Quốc trong một vài tỉnh hoặc một số tỉnh có trung tâm thương mại và công nghiệp lớn, đó sẽ là căn cứ địa cho sự phát triển nhảy vọt của cách mạng… Do vậy khi đảng cách mạng đoán trước được tình thế cách mạng trực tiếp đang tới gần, thì trong khi tiếp tục giáo dục và vận động giai cấp công nhân phải chỉ ra được tỉnh nào hay huyện nào là quan trọng nhất theo quan điểm tuyên truyền trong nông dân, phải dồn sự chú ý của Đảng và tập trung các nguồn lực của dảng cho các tỉnh này”(1). Và đã đến lúc Nguyễn Ái Quốc muốn vận dụng lý thuyết đó vào tực tiễn cách mạng Việt Nam. Và cuối cùng, Cao Bằng, mảnh đất giáp biên giới Việt - Trung đáp ứng hai yếu tố quan trọng. Địa (hiểm trở và tiến thoái đều thuận lợi) và Nhân (các dân tộc Cao Bằng có truyền thống yêu nước, cách mạng và đặc biệt đã có chi bộ Đảng) được Bác lựa chọn làm đột phá khẩu.

Có lẽ, ba vấn đề mấu chốt được đặt ra và giải quyết một cách khoa học và thuyết phục nào đó trên cơ sở các cứ liệu lịch sử đã làm thỏa mãn trong chừng mực nào đó những suy tư bấy lâu này của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà lý luận quân sự bậc thầy của Việt Nam ta.

Trong suốt một đơi nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Việt Nam đã nhiều lần gặp gỡ và trò chuyện với Đại tướng, nhưng cuộc gặp gỡ tại cuộc Hội thảo khoa học ở Cao Bằng cuối năm 1994 là một kỷ niệm không thể nào quên đối với tôi vì nó có một bằng chứng cụ thể - một hinh ảnh kỷ niệm chụp chung với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nó sẽ đi mãi trong những năm tháng với cuộc đời còn lại của tôi, gia đình tôi và con cháu tôi. Xin cảm ơn Đại tướng và kính chúc Đại tướng sống nhiều hơn 100 tuổi làm chỗ dựa tinh thần cho dân tộc này, đất nước này.

Mùa Xuân Canh Dần, 2010.


(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.2, tr.418-419.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 10:51:13 AM
VỊ TƯỚNG GIỎI NHẤT LÀN NHÂN DÂN(1)

HỒ NGỌC SƠN

Dưới ánh sáng đường lối kháng chiến của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đằng sau những thắng lợi mang tính thời đại của nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, Võ Nguyên Giáp là một động lực. Những chiến tích vĩ đại mà ông đã góp phần cống hiến xuất sắc, ít người sánh kịp, đã nâng ông lên tầm một vị tướng huyền thoại, để lại một dấu son rực rỡ trong lịch sử quân sự thế giới. Nghiên cứu về con người và sự nghiệp của ông, thế giới không chỉ ca ngợi tài thao lược kiệt xuất, mà thường phân tích sâu 5 yếu tố cơ bản nhất và đó cũng là 5 bài học có giá trị lớn nhất làm nên một thiên tài quân sự.

1. Trước hết, ông được đánh giá là một chuyên gia lỗi lạc hàng đầu về đường lối chiến tranh nhân dân của phong trào giải phóng dân tộc trong nước và trên thế giới

CecilB.Curry, một chuyên gia nghiên cứu lịch sử quân sự hiện đại có tên tuổi của Mỹ, đã viết cuốn sách Võ Nguyên Giáp, một thiên tài quân sự, xuất bản ở Mỹ năm 1997. Cuốn sách được dịch ra tiếng Pháp năm 2003 ấn hành ở Pari và cũng được dịch ra tiếng Trung Quốc xuất bản ở Bắc Kinh, trích lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Chiến lược chiến tranh của chúng tôi không phải chỉ liên quan đến những công việc thuần túy quân sự. Chiến tranh phải là một chiến lược tổng thể kết hợp nhiều yếu tố khác nhau. Mục đích chính trị là căn bản. Quân đội không phải chỉ có nhiệm vụ chiến đấu, mà phải tuyên truyền, giáo dục dân chúng. Như vậy, mọi người đều là lính. Tất cả mỗi làng, mỗi quận (huyện) là một pháo đài và cả nước chúng tôi là một chiến trường rộng lớn. Chúng tôi tập trung lực lượng ở vùng này hay vùng khác, tùy thuộc vào điều kiện chính trị chiếm ưu thế từng thời kỳ trong từng giai đoạn. Điều này là một nguyên tắc chiến lược rất quan trọng để tiến hành chiến tranh toàn dân…”.

Đường lối quân sự của Đảng Cộng sản Việt Nam và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh đã nêu rõ phải tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến; xây dựng lực lượng vũ trang với ba thứ quân gồm: dân quân du kích, bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực, trong đó bộ đội bộ đội chủ lực làm nòng cốt, yếu tố vũ khí rất quan trọng nhưng yếu tố con người và chính trị tinh thần đóng vai trò quyết định; tiến hành chiến tranh du kích kết hợp với chiến tranh chính quy, lấy yếu địch mạnh, lấy nhỏ đánh lớn, lấy chất lượng tinh thắng số lượng đông; tập trung kết hợp phân tán linh hoạt, v.v. Không chỉ quán triệt sâu sắc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiến hành đường lối chiến tranh nhân dân Việt Nam một cách hết sức sáng tạo. Ông coi trọng trước hết việc rèn luyện vững chắc bản lính chính trị cho quân đội. Tình yêu nước nồng nàn lòng trung thành vô hạn với lý tưởng cách mạng, tinh thần vì nhân dân quên mình, đoàn kết quân dân cá nước luôn được truyền lại và thấm sâu đến từng chiến sĩ. Các lực lượng vũ trang luôn ra sức luyện tập tinh thông kỹ thuật, chiến thuật, làm tố công tác dân vận.

Ông kết hợp rất khéo léo, chặt chẽ đấu tranh quân sự vào đấu tranh chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa… đạt kết quả toàn diện trên cả hai mặt trận: Kháng chiến và kiến quốc. Ở tuyến trước, quân dân Việt Nam thực hiện linh hoạt phương châm quân sự “2 chân 3 mũi” (2 chân quân sự, chính trị song song, 3 mũi tấn công vũ trang, đấu tranh chính trị của quần chúng và binh địch vận), đánh địch kháp ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, đô thị. Còn ở tuyến sau, luôn xây dựng, củng cố vững chắc căn cứ địa cách mạng và hậu phương, chi viện đắc lực cho tiền tuyến. Chiến tranh nhân dân Việt Nam đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự. Đường lối ưu việt của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, kháng chiến trường kỳ đã đánh bại và làm phá ản đường lối tốc chiến, tốc thắng và các chiến lược của những đế quốc hùng mạnh nhất thế kỷ XX.

2. Tư duy khoa học của Võ Nguyên Giáp là xây dựng lực lượng quân sự rất độc đáo, sáng tạo và toàn diện.

Bắt đầu từ con số 0, ông đã có và có tất cả những đơn vị chiến đấu, phục vụ chiến đấu, đáp ứng được nhu cầu chiến tranh trong hoàn cảnh đất nước nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn trăm bề. Ông hội tụ được một đội ngũ cán bộ ưu tú các cấp, có khả năng độc lập, tự chủ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ở những địa bàn xa trung tâm chỉ huy, khó khăn gian khổ nhất. Bộ đội đặc công tinh nhuệ được xây dựng thành một binh chủng chính quy. Ngành quân y và cái bếp mang tên người Anh hùng Hoàng Cầm được triển khai đến tận đại đội trong chiến đấu. Ông là người đề xuất mở đường Trường Sơn, về sau mang tên huyền thoại đường Hồ Chí Minh và còn phát triển thêm “con đường mòn” trên biển. Bộ đội hành quân bộ hàng trăm, hàng nghìn cây số ra mặt trận. Mạng lưới thông tin liên lạc, giao thông vận tải quá thô sơ. bảo đảm hậu cần bằng gồng gánh, thồ xe đạp, mang vác trên vai hơn 50kg vượt qua biết bao sông suối, núi đèo, đói rét, bệnh tật, thú dữ, đạn bom. Một nền hậu cần thời trung cổ đã thắng một nền hậu cần hiện đại, khổng lồ nhất thế giới của quân đội Pháp, Mỹ.


(1) Trích bài đăng trên báo Quân đội nhân dân, số 17539, ngày 12 tháng 2 năm 2010.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 10:52:36 AM
3. Võ Nguyên Giáp là một vị tướng sắc sảo nhất về nghệ thuật khoét sâu chỗ yếu của địch.

Ông rất cẩn trọng trong so sánh tương quan lực lượng đôi bên, không bao giờ đánh giá thấp đối phương. Chỗ yếu lớn nhất của địch là chiến tranh phi nghĩa, không có được các yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Việt Nam thì ngược lại, với cuộc chiến tranh toàn dân, đàn ông, đàn bà, người già, con trẻ đều là chiến sĩ, làm cho quân địch luôn lo sợ cái chết rập rình. Chúng lo sợ cả gỗ, đá, thân tre, lá lúa đều biến thành chông, bẫy, gươm, đao. Địch tập trung lớn, ta biết tránh dối đầu trực diện, làm cho chúng không tìm thấy đối phương, hiệu suất chiến đấu rất thấp. Chúng ta biết linh hoạt phân tán và tập trung ưu thế binh hỏa lực đánh vào chỗ sơ hở, điểm yếu và hiểm yếu của địch, gây cho chúng thiệt hại nặng nề. Võ Nguyên Giáp là vị tướng luôn chủ động bắt buộc đối phương bị động thay đổi thế cờ, đánh theo cách đánh của ông, vi thế mà phá sản chiến thuật, chiến dịch, chiến lược, dẫn đến thất bại hoàn toàn.

4. Về tài thao lược, thế giới xem ông là bậc thầy về chiến lược, chiến thuật quân sự

Hơn 30 năm chỉ huy quân sự, Võ Nguyên Giáp chưa bao giờ phạm sai lầm về chiến lược. Ngược lại, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Võ Nguyên Giáp đã buộc 10 danh tướng Pháp, Mỹ mắc sai lầm về chiến lược và thua trận, trong đó có 7 đại tướng Pháp: Philippe Leclerc, Étaienne Vally, C.Blainot, M.Carpentier, Delattre De Tassigny, Roul Salan, Henri Navarre và 3 đại tướng Mỹ: Westmoreland, C.Abrám và F.C.Weyand.

Các thiên tài quân sự thường truyền lại binh thư, binh pháp. Võ Nguyên Giáp đã dốc tấm trí nghiên cứu học thuyết quân sự của giai cấp vô sản và tư bản, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc của Liên Xô, chiến tranh chống Nhật của Trung Quốc; lý luận quân sự của Clausewit, những trận đánh của Napoléon, truyền thống đánh giặc của tổ tiên, những trận đánh thắng và không thắng của ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đúc kết thành những nguyên tắc quân sự độc đáo của Việt Nam. Các sách quân sự và các tác phẩm văn học của ông đã giúp nhiều nhà nghiên cứu lịch sử quân sự trên thế giới hiểu biết về cuộc chiến tranh toàn dân và tự giải đáp được nguyên nhân vì sao thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Võ Nguyên Giáp không qua một trường quân sự nào, ông học trong thực tế là chính. Chiến tranh nuôn ẩn chứa nhiều yếu tố ngẫn nhiên không thể biết và lường trước được hết. Ông không xử trí chiến thuật quân sự bằng những “giải pháp quân sự cố định học đường”, mà luôn xuất phát từ thực tế chiến trường để giải quyết mọi tình huống ngoài dự kiến và lật ngược thế cờ. Lý luận về “trận đánh quyết định” trong học thuyết quân sự của ông được giới quân sự chú ý và nghiên cứu. Ông cho rằng, ta có thể đánh thắng địch trong khi chúng đông quân nhất, nhiều vũ khí nhất và ngay cả khi chúng cho là ta không thể thắng chúng, miễn là ta có cách đánh đúng va thích ứng với thực tế… Ông đã hoàn toàn đúng với học thuyết về “trận đánh quyết định” ở Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ trên không” và chiến dịch Hồ Chí Minh.

Với bài báo “Tướng Giáp suýt thua trong trận đánh Điện Biên Phủ như thế nào?” đăng trên tờ Người quan sát mới, Nhà sử học Pháp Bodarel đã phản biện, đại ý: Tướng Giáp đã hai lần tấn công thất bại “Con nhím Nà Sản”. Lần thứ nhất, dùng chiến thuật “Đầu nhọn đuôi dài”… bị tổn thất mà không thắng. Lần thứ hai, sớm nhận ra Tướng Giáp sẽ chỉ đạo thay đổi chiến thuật, dùng cách đánh “Khoanh chặt để bắt sống con nhím”, Navarre đã rút bỏ Nà Sản; ta đã giải phóng được địa bàn nhưng thất bại trong ý đồ và mục đích chính là tiêu diệt sinh lực địch. Tướng Giáp dám “Khoanh chặt để bắt sống con nhím khổng lồ Điện Biên Phủ” là ông ta dám thế chấp sinh mạng chính trị của minh cho trận đánh, vì nếu thua thì ông sẽ mất hết, dù ông còn sống thì đó cũng chỉ là sự tồn tại. Phải có một bản lĩnh lớn, ông mới thuyết phục được các cố vấn Trung Quốc từ bỏ ý định “Đánh nhanh, thắng nhanh, với chiến thuật đầu nhòn, đuôi dài nở hoa trong lòng địch”. Và mọi người đã đồng thuận chấp nhận cách đánh của ông - cách đánh của Việt Nam - cách đánh Bác Hồ luôn căn dặn, đó là “Đánh chắc, tiến chắc; dùng chiến thuật bao vây đánh lấn theo kiểu bóc vỏ, xẻ múi, nghiền hạt”. Tướng Giáp đã bắt sống con nhím khổng lồ Điện Biên Phủ, không để cho nó xổng chuổng.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 10:54:07 AM
5. Võ Nguyên Giáp là vị tướng có một nhân cách phi thường

Nét đẹp cao quý tập trung nhất về nhân cách của ông là tinh thần “Dĩ công vị thượng”. Ông tâm niệm, làm theo lời răn dạy đó của Bác Hồ suốt cả đời mình. Với ông, Tổ quốc, dân tộc và Đảng là trên hết, không có gì thiêng liêng, cao cả hơn. Trước sóng gió trên mặt trận quân sự và cả trong cuộc sống, ông tỉnh táo lạ thường, tỉnh táo đến sáng suốt tuyệt vời. Ông đã luôn gạt cá nhân mình sang một bên, đặt sinh mạng chính trị của đất nước, nhân dân lên trên hết. tìm cách thu hẹp mọi bất đồng, mâu thuẫn nhằm khắc phục những khuyết điểm, sai lầm gây nguy hại cho quốc gia, dân tộc. Ông luôn tỏ rõ là một vị tướng tài đức song toàn, có uy tín cao và tròn vẹn, là chỗ dựa tinh thần và nơi gửi gắm niềm tin của nhân dân, cán bộ đảng viên.

Tháng 2-1989, ông thay mặt Chính phủ tiếp kiến Thống chế Méhra - người thống lĩnh chỉ huy luy không quân và các lực lượng phòng không toàn Ấn Độ dẫn đầu đoàn đại biểu quân sự cấp cao Ấn Độ sang thăm nước ta. Thống chế Méhra không ngớt lời ca ngợi ông là một vị tướng huyền thoại. Ông cảm ơn và từ tốn đáp lời: Nếu không có một tập thể lánh đạo đúng đắn, sáng suốt, nhân dân và quân đội anh hùng, tướng lĩnh chúng ta dùng tài giỏi đến đâu, cũng không thể làm nên công trạng, thành tích”. Thống chế Méhra rất tâm đắc lời ông.

Tháng 11-1998, John Kennedy (con trai Tổng thống Mỹ Kennedy co đăng trên Tạp chí George cuộc phỏng vấn ông. John Kennedy hỏi: “Ai là vị tướng người Việt giỏi nhất?”. Không một phút suy nghĩ, ông trả lời ngay: “Nhân dân Việt Nam”. John Kennedy rất bất ngờ và thú vị.

Học làm làm theo Bác, ông rất chuộng lối sống giản dị, thanh cao. Căn phòng tiếp khách của ông đã đón tiếp không biết bao nhiêu người có địa vị xã hội cao ở nhiều nước, nhưng không có đồ vật gì sang trọng cả. Ông đi tàu hỏa về thăm quê hương. Ông đi máy bay dân dụng lên thăm Điện Biên Phủ. Ông chan hòa tình cảm với nhân dân, cán bộ, chiến sĩ, rất hồn nhiên, vui vẻ.

Trên lĩnh vực quân sự, nhân cách của ông tỏa sáng rực rỡ tin thần quyết đoán, dân chủ, nhân hậu.

Trước những quyết định khó khăn, đòi hỏi người chỉ huy phải dũng cảm, trí tuệ. Về điều này, trong lịch sử quân sự thế giới, ít người sánh kịp ông. Ông cho rằng, những thắng lợi trên chiến trường, xét cho cùng là do những người trực tiếp chiến đấu quyết định. Vì vậy, ông rất coi trọng phát huy dân chủ. Ông chịu khó lắng nghe, chọn lọc và trân trọng những sáng kiến, cách đánh hay của cán bộ, chiến sĩ và trong nhân dân, tạo nên một khối đoàn kết vững chắc, một sức mạnh vô địch của cuộc chiến tranh toàn dân.

Ông rất nghiêm minh về kỷ luật nhưng cũng rất bao dung, nhân hậu. Ông xem cán bộ, chiến sĩ như anh em trong một đại gia đình cách mạng. Ông hết lòng yêu thương chiến sĩ và không ít lần đã khóc trước thương vong của bộ đội, nhân dân trong chiến tranh. Đặc biệt, ông quý từng giọt máu của người lính. Ông tâm sự với đội ngũ cán bộ thuộc quyền rằng: Chiến tranh không phải là vấn đề thể diện, không được phiêu lưu, mạo hiểm, không cho phép đánh đổi bằng bất cứ giá nào. Một người chỉ huy giỏi là một người đánh thắng kẻ thù nhưng ta thương vong thấp nhất, đổ xương máu ít nhất. Sinh mạng của con người là vô giá và không gì có thể bù đắp được nỗi đau mất mát trong chiến tranh.

Dĩ công vi thượng, khiêm tốn, sống giản dị, thanh cao, quyết đoán, dân chủ và bao dung, nhân hậu - đó là nhân cách Võ Nguyên Giáp - một thiên tài quân sự.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của vị chỉ huy tối cao Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, những chiến thắng vĩ đại mà Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp góp phần làm nên đã tác động mạnh mẽ vào dòng chảy lịch sử, làm thay đổi bộ mặt thế giới thứ ba và số phận một số nước trên thế giới, thúc đẩy sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Nhân dân Ấn Độ gọi ông là “Một con người Việt Nam đã thuộc về toàn thế giới”. Còn khắp năm châu, ông không chỉ được tôn vinh là một vị tướng huyền thoại, mà còn là một thiên tài quân sự của mọi thời đại. Điều này, không có gì khó hiểu. Vì ông là một trong nhưng người học trò xuất sắc và là bạn chiến đấu gần gũi, thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một vị Đại tướng của nhân dân, người Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Và có lẽ, chính những tên gọi giản dị này lại ghi đậm trong ta những ấn tượng đẹp đẽ, sâu sắc nhất, những bài học quý giá cần được chiêm nghiệm mỗi khi ta nghĩ đến con người và sự nghiệp của ông đã hiến đâng cho nhân dân, đất nước ta.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 10:54:56 AM
(http://img535.imageshack.us/img535/1598/21660210.jpg)

Bức ký họa chân dung Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp

(http://img571.imageshack.us/img571/9982/49362867.jpg)

Bác Hồ và đồng chí Võ Nguyên Giáp tại vườn Bắc Bộ phủ cuối tháng 8-1945

(http://img713.imageshack.us/img713/788/84043373.jpg)

Bác Hồ và đồng chí Võ Nguyên Giáp
trên ô tô ra Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945

(http://img688.imageshack.us/img688/7923/58972212.jpg)

Đồng chí Võ Nguyên Giáp thăm Trung đoàn Thủ đô năm 1946


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 10:55:50 AM
(http://img405.imageshack.us/img405/5456/23855755.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại lễ thành lập Đại đoàn quân tiên phong
(Đại đoàn 308) ngày 28-8-1949

(http://img688.imageshack.us/img688/6236/99269477.jpg)

Hoàng thân Xuphanuvông và Đại tướng Võ Nguyên Giáp
bàn kế hoạch phối hợp mở chiến dịch Thượng Lào, năm 1953

(http://img510.imageshack.us/img510/8510/54603711.jpg)

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp
trong chiến dịch biên giới năm 1950

(http://img233.imageshack.us/img233/3184/81695192.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kiểêm tra hầm pháo trước khi tấn công Him Lam


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 10:56:53 AM
(http://img821.imageshack.us/img821/5962/46601046.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp động viên các chiến sữ thực hiện chuyến vượt biển
đầu tiên vào Nam trên con tàu không số tại điểm xuất phát từ Đồ Sơn, năm 1960

(http://img708.imageshack.us/img708/7886/32619414.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp đón Đoàn quân sự Trung Quốc
do Nguyên soái Diệp Kiếm Anh dẫn đầu sang thăm Việt Nam, năm 1961

(http://img692.imageshack.us/img692/8864/66823867.jpg)

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng,
Võ Nguyên Giáp tại Hội nghị công tác đặc biệt tháng 3-1964

(http://img843.imageshack.us/img843/8477/15709273.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Đại đội nữ dân quân pháo binh
Ngư Thủy (Quảng Bình), tháng 12-1968.


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 10:57:39 AM
(http://img517.imageshack.us/img517/5885/94852970.jpg)

Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp nghe các đồng chí
Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Thái báocáo về tình hình chiến sự miền Nam, năm 1969.

(http://img517.imageshack.us/img517/7484/59904484.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm một đơn vị không quân
trực chiến tại một sân bay dã chiến, Tết năm 1969

(http://img140.imageshack.us/img140/6355/98517449.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm việc với Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân
xác định phương án tác chiến đánh B52 bảo vệ Hà Nội, tháng 11-1972

(http://img232.imageshack.us/img232/9603/35960683.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chuyến kiểm tra một cung đường
vận tải chiến lược Tây Trường Sơn mùa khô 1972-1973


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 10:58:37 AM
(http://img710.imageshack.us/img710/126/98001905.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày dự kiến kế hoạch
giải phóng miền Nam trong cuộc họp Bộ Chính trị

(http://img152.imageshack.us/img152/183/22032846.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện với các anh hùng
Quân giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc

(http://img220.imageshack.us/img220/7264/76587563.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp duyệt bản thông cáo
Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng

(http://img375.imageshack.us/img375/5865/34238511.jpg)

Đaị tướng Võ Nguyên Giáp tại Tổng hành dinh ngày 30-4-1975


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 10:59:34 AM
(http://img502.imageshack.us/img502/1336/61232073.jpg)

Tổng thống Vênêxuêla Hugo Chavez trao tặng thanh bảo kiếm
cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, năm 2006

(http://img254.imageshack.us/img254/8743/25122924.jpg)

Tổng thống Chilê Bachelet đến thăm Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng, năm 2006

(http://img529.imageshack.us/img529/5596/47043962.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Gáip gặp cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ
Mắc Namara tại Hà Nội, năm 1995

(http://img413.imageshack.us/img413/2796/94954038.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp gặp lại A. Thomas (đội Con Nai)
trong Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Việt - Mỹ, năm 1995


Tiêu đề: Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp với sử học Việt Nam
Gửi bởi: macbupda trong 16 Tháng Hai, 2011, 11:00:24 AM
(http://img707.imageshack.us/img707/8743/88147854.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và GS. Trần Văn Giàu,
hai Chủ tịch danh dự của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

(http://img515.imageshack.us/img515/8674/81561534.jpg)

GS. Phan Huy Lê và GS. Đinh Xuân Lâm mừng thọ
Đại tướng Võ Nguyên Giáp 97 tuổi, tháng 8-2007

(http://img222.imageshack.us/img222/2653/78253972.jpg)

Đoàn cán bộ, phóng viên Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và Tạp chí Xưa & Nay
đến chúc Tết Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Xuân Đinh Hợi 2007

(http://img233.imageshack.us/img233/390/90208796.jpg)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm khu khai quân Đàn Xã Tắc, Hà Nội, năm 2007