Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:18:57 PM



Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:18:57 PM
Chỉ một con đường
Trung tướng: Nguyễn Huy Chương
Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2001
Số hóa: macbupda

NGUYỄN HUY CHƯƠNG
TRUNG TƯỚNG

- Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1926.

- Xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Tham gia cách mạng từ năm 1941.

- Quân hàm Trung tướng năm 1986.

- Ủy viên Trung ương Đảng nhiệm kì VI.

- Bí thư Đảng ủy Quân khu 5.

- Phó Tư lệnh chính trị Quân khu 5.

- Ủy viên Ban thường vụ Tỉnh ủy QN-ĐN.

- Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh QN-ĐN.

- Báo cáo viên của Tỉnh ủy QN-ĐN và Thành ủy Đà Nẵng.

- Ủy viên BCH Hội khuyến học tỉnh QN-ĐN và Tp Đà Nẵng.

- Huy hiệu 40 năm, 50 năm tuổi Đảng.

- Huân chương Độc lập hạng nhất.

- Huân chương Quân công hạng nhất, nhì, ba.

- Huân chương Chiến thắng hạng nhì.

- Hâun chương Chiến công hạng nhất, nhì.

- Huân chương chống Mỹ hạng nhất.

- Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhì.

- Huân chương Giải phóng hạng nhất, nhì, ba.

- Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba.

- Huân chương Quân kỳ quyết thắng.

- Huân chương Kháng chiến Lào.

- Huy chương Vì sự nghiệp Tư pháp.

- Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày.

Và nhiều Huân chương, Huy chương, Kỷ niệm chương, Bằng khen khác.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:20:09 PM
LỜI GIỚI THIỆU

Trung tướng Nguyễn Huy Chương, nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VI, nguyên Bí thư Đảng uiỷ Bộ tư lệnh Quân khu 5, Phó Tư lệnh về chính trị Quân khu 5, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1926 tại làng Hương Quế, xã Quế Phú, huyện Quê Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Tháng 1 năm 1941, ông bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng tại quê nhà, được kết nạp vào Đoàn Thanh niên phản đế. Tháng 2 năm 1942, bị địch bắt vào tù nhưng vì chưa đủ tuổi kết án nên chúng phải thả ông ra khỏi nhà lao để lãnh án treo. Chịu sự quản thúc cỉa chính quyền Nam triều, của bộ máy hội đồng hương chính trong làng, xã lúc bấy giờ nhưng ông vẫn tiếp tục bí mật hoạt động, bắt nối liên lạc và xây dựng cơ sở cách mạng.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời, đồng thời là một trong số ba người đầu tiên đứng ra thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương ở làng Hương Quế quê ông.

Năm 1947, ông được điều động vào quân đội, trở thành anh bộ đội Cụ Hồ, giữ chức vụ Chính trị viên đại đội và Bí thư chi bộ của đại đội. Ông liên tục công tác và chiến đấu trên các chiến trường của đồng bằng Khu 5, ở Quảng Nam - Đà nẵng, ở Quảng Ngãi, ở Tây Nguyên, ở Đường 9 - Nam Lào vào những năm tháng gian khổ và ác liệt nhất của cuộc chiến, đã tham gia giúp nước bạn Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng…

Trải qua chặng đường 60 năm đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng đất nước, giành độc lập tự do cho dân tộc, Trung tướng Nguyễn Huy Chương từ một cán bộ hoạt động ở địa phương, đến khi trở thành anh bộ đội Cụ Hồ, với các cương vị chỉ huy ở cấp đại đội đến tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn cho đến cấp Quân khu, ở đâu và lúc nào ông cũng “chỉ có một con đường”. Đó là con đường mà Đảng ta, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn. Đó là lí tưởng Cộng sản cao đẹp, là niềm tin không gì lay chuyển nổi vào thắng lợi của Cách mạng, vào sức mạnh của nhân dân, vào lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng…” mà ông và đồng đội của ông đã sống và chiến đấu.

Năm nay Trung tướng Nguyễn Huy Chương đã bước vào tuổi 76, ông đã nghỉ công tác và sống với gia đình tại thành phố Đà Nẵng. Lúc này ông mới có điều kiện và thời gian để có thể hồi tưởng lại cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình. Những kí ức, những kỉ niệm không thể nào quên, những chiến dịch, những trận chiến đấu sống mái với quân thù, những chiến công, những thành tích mà ông đã tái hiện… “Tôi đã trở về trên mảnh đất quê nhà sau hơn nửa thế kỷ dong ruổi trên con đường chiến trận. Những vùng đất tôi đã qua, những con người tôi đã gặp. Những người cha, người mẹ, người chị, người anh và đồng chí, bạn bè, có người đã ra đi vĩnh viễn, nhưng tất cả đều là hình ảnh và tấm gương tuyệt vời, trong sáng, sống trọn tình trọn nghĩa thủy chung son sắc, cùng chí hướng, cùng lí tưởng, hi sinh chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu”…

Mong rằng đây sẽ là một Hồi ức được đông đảo bạn đọc quan tâm, một tư liệu quý báu để cho các thế hệ hôm nay và mai sau của quê hương đất Quảng tìm hiểu về lịch sử đấu tranh của các thế hệ cha anh, qua đó khơi dậy và nuôi dưỡng trong mỗi chúng ta niềm tự hào và lòng biết ơn sâu sắc đối với lớp người đi trước, vững vàng tiếp bước trên con đường xây dựng quê hương ngày càng văn minh giàu đẹp.

Trong lần xuất bản này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, của Bộ Tư lệnh Quân khu 5, cùng sự cộng tác nhiệt tình của các anh Hoàng Hương Việt, Trần Trúc Tâm trong việc hoàn chỉnh bản thảo.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc Hồi ức “Chỉ một con đường” của Trung tướng Nguyễn Huy Chương.


NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG

(http://img192.imageshack.us/img192/5625/161220101462.jpg)


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:23:00 PM
CHƯƠNG I

LÀNG HƯƠNG QUẾ

Làng Hương Quế quê tôi, xưa thuộc tổng Xuân Phú(1), nay thuộc xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam. Làng Hương Quế trảo dài từ xóm Bến Quan lên Mộc Bài vao giáp làng Hương An dài hơn 5 cây số. Phía nam có sông Hương An, phía bắc có sông Bà Rén, phía tây có sông Mông Nghệ. Trải qua bao biến thiên và sự can thiệp của bàn tay con người, đến nay dù sông Mông Nghệ không còn dòng chảy nhưng vẫn còn lòng sông khúc lở, khúc bồi. Cũng ở phía đông của làng có cánh Đồng Nhứt, mặt ruộng bằng phẳng, đất ruộng màu mỡ, lúa cấy trên Đồng Nhứt vụ nào cũng được mùa, hạt chắc. Có lẽ vì vậy mà người xưa đã có tên gọi là Đồng Nhứt chăng?

Thiên lí lộ xưa, nay là quốc lộ số 1 chạy qua chia làng Hương Quế thành đôi. Đình làng Hương Quế ngó lên núi Quế phía tây nam. Núi Quế có 9 ngọn, người xưa gọi là Cửu Phong Sơn. Cửu Phong Sơn ngày ngày đứng soi mình xuống mặt ba bàu nước nằm phía đông làng. Nước ở ba bàu đầy vơi theo mùa nhưng chưa bao giờ cạn. Đến đời tôi nước ở ba bàu vẫn xanh mát quanh năm. Tuổi thơ tôi đã có những tháng ngày theo cha và các anh chị, nhất là bạn bè bay nhảy, dong chơi trên những thửa ruộng vào màu gặt tháng ba, tháng tám vui như ngày hội trên đồng. Các làng Đồng Tràm, Trà Đình và Hương Quế coi cánh Đồng Nhứt là vựa lúa của vùng đông huyện Quế Sơn. Ruộng lúa tốt tươi, hoa màu phong phú và cá cua cũng nhiều, nên các buổi chợ Mộc Bài, còn gọi là chợ Chiều lúc nào cũng có cá đồng, đánh bắt ngay ở các ao hồ và ruộng rạch quanh làng. Chợ Mộc Bài, bên cạnh nhà tôi. Không kể chợ Bà Rén phía bắc, chợ Hương An, phía nam, chợ Gò Dê phía tây làng Hương Quế, thì chợ Mộc Bài là trung tâm của các làng, nơi đây trong kháng chiến chống Pháp trở thành khu vực sinh sống, buôn bán sầm uất, náo nhiệt của đồng bào vùng bị chiếm Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An, Hòa Vang, Đà Nẵng, Đại Lộc tản cư vào, đến nay vẫn còn nhiều gia đình sinh cơ, lập nghiệp ở đây. Chợ Mộc Bài nằm ngay hai bên đường quốc lộ Một, bao bọc bởi những lũy tre và đường nhựa quốc lộ Một chưa đầy nửa cây số ngang qua giữa chợ Mộc Bài xóm tôi ấy đã để lại trong tôi những ký ức khó phai mờ. Một lần vào khoảng năm 1940, Bảo Đại, vị vua Nam triều được thực dân Pháp che chở đã có chuyến kinh lí bằng voi ngang qua làng Hương Quế. Đài voi của “quốc trưởng bù nhìn” chưa đến, nhưng các chức sắc tay sai từ phủ, huyện, đến các làng, xã đã tụ tập đợi chờ và quỳ lạy bên đường, mặt cúi xuống đất, không dám và không được phép ngước mắt nhìn lên “long nhan thánh thượng”. còn dân làng, hai bên đường thì phải đóng kín cửa, không được bén mảng, dòm ngó. Lệnh đã ban ai vi phạm cho như tai họa sẽ giáng xuống đầu. Tôi chứng kiến cảnh ấy mà trong lòng cảm thấy xót xa, phẩn uất vô cùng. Và cũng không lâu, cũng tại nơi này, tôi và bạn bè, đồng chí của tôi trong lực lượng dân quân xã, vai mang mã tấu thắt lưng dao dăm lựu đạn; chân không giày dép, xếp hàng tập đi đều một hai… một hai… và nhiều loại hình quân sự khác trong hào khí của những ngày Cách mạng mùa Thu, sau ngày cướp chính quyền về tay nhân dân.

Trải qua bao đời tên làng có lúc đổi thay vì nhiều lí do, nhưng chủ yếu để phù hợp cho việc quản lí địa giới cư dân, canh tân xây dựng của mỗi thời kì. Nhưng có một điều, cái làng quê muôn thuở ấy cứ sống mãi, gắn bó máu thịt trong tâm tưởng, kí ức theo suốt cuộc đời của mỗi người sinh ra, lớn lên và trưởng thành trên mảnh đất quê làng. Càng về sau này, tôi mới hiểu hết nguồn cội của làng mình, không chỉ đẹp về phong cảnh hữu tình, mà còn ẩn chứa bao điều kì diệu. bên cạnh đình làng Hương Quế có đền thờ Tam vị Tiền hiền gồm: họ Trần, họ Nguyễn, họ Phạm.

Theo sách sử để lại, mùa hè năm 1036 vua Chiêm Thành Chế Mân dâng Châu Ô và Châu Lí làm vật sính lễ để cưới Huyền Trân Công Chúa (công chúa họ Trần). Đến năm 1307, vua Trần Anh Tông đổi Châu Thuận và Châu Lí thành Hóa Châu. Hóa Châu kéo dài từ đèo Hải Vân đến bắc sông Câu Lâu, đã đưa quan binh vào đây trấn giữ. Dòng họ Tần có mặt từ đây. Tuy đất đã thuộc về ta, nhưng các thế lực Chiêm bang vẫn gây ra chiến tranh nhiều đời. Đến khi vua Lê Thánh Tông (1460-1490) thân chinh đưa quân bình Chiêm thắng lợi (1471) lập Thừa Tuyên Quảng Nam. Tuân chỉ vua Lê, quan đinh họ Tần có mặt tại đây đã nhanh chóng phát triển vào phía Nam khai khẩn đất hoang lập nên làng mới. Tiền hiền họ Trần làng Hương Li tức Hương Quế ngày nay là cụ Trần Văn Chơn, nguyên quán xã Hưng Bộ, phủ Tiên Hưng, tỉnh Thanh Hóa. Ông là đô đốc chỉ huy hải quân dưới thời Trần Quý Khoáng. Cuộc kháng chiến hống quân Minh của nhà hậu Trần thất bại, Trần Quý Khoáng và một số thuộc tướng của ông bị quân Minh bắt. Đô đốc Trần Văn Chơn, đưa quân vào phương Nam khai khẩn đất hoang, sản xuất lương thực lo luyện tập quân binh chờ thời cơ đánh trả quân xâm lược, khoảng năm 1414. Những năm sau đó, hưởng ứng lời kêu gọi của nghĩa quân Lam Sơn, nhưng cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn đến giai đoạn thành công thì ông từ trần ngày 7 thang 7 năm 1424, nhằm năm Kỉ Hợi. Khi ông chết, mộ ông táng tại núi Quế. Các đời vua Lê kế tiếp nhớ công lao của ông, một vị dũng tướng họ Trần hết lòng vì nước vì dân đã sắc phong ông chức Đặc tấn phụ quốc Đô đốc thượng tướng quân.

Họ Phạm Tiền hiền là Ngài Phạm Nhữ Tăng (1420-1477). Ông là hậu duệ đời thứ 5 của Điện soái thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão, danh tướng đời Trần, ông la con trai của Tướng quân Phạm Nhữ Dực tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, phò Lê Lợi giải phóng đất nước. Ông nguyên quán ở làng Phù Ửng, huyện Đường Hào, châu Thượng Hồng, tỉnh Hưng Yên. Do ông lập công lớn trong sự nghiệp phạt Chiêm và sau khi thành lập phủ Đô thống, ông được giao trọng trách Quảng lãnh đạo Thừa Tuyên Quảng Nam. Tuân chỉ vua Lê Thánh Tông, danh tướng Phạm Nhữ Tăng đã ở lại Quảng Nam, ra sức chấn hưng vùng đất mới. Ông tuyển mộ nhân lực từ các Thừa tuyên phía Bắc vào Nam khai hoang lập làng, lập địa tịch điền thổ; từ đó ra đời nhiều làng người Việt ở đất này. Trong đó, ông có công khai địa và tịch lập xã Hương Lư, cùng bốn làng mang tên Hương khác (Ngũ Hương): Hương An, Hương Quế, Hương Li, Hương Yên tại vùng đất Quế Sơn. Phạm Nhữ Tăng thọ bệnh qua đời năm 1477, thọ 57 tuổi. Vua Lê Thánh Tông thương tiếc và nhớ công lao của Ngài, đã hạ truy phong ngài tước: Hoàng Túc Trợ Vỏ, Đặc Tấn Phụ Quốc, Quảng Dương Hầu, Phạm Quy Công Đại Phu. Và sáu tháng sau, chính vua Lê Thánh Tông cải táng di hài Phạm Nhữ Tăng về chôn tai vùng đất gần bàu Sanh và núi Quế làng Hương Quế. Nhà thờ họ Phạm rộng ba gian, được xây vào đầu thế kỉ 16. Gian giữa thờ tượng gỗ Phạm Nhữ Tăng, trong khuôn viên có ba miếu dành thờ các vị thần Thánh mẫu Thiên y A na, bò thần Nadin và một bi kí bằng đá viết chữ Chàm có bề ngang 1,6m, bề cao 1,8m. Nơi đây là một trong những di tích hiếm hoi và quý gá, bởi những hiện vật mang tính lịch sử được các thế hệ dân làng và các đời vua chúa trân trọng, luôn tu bổ, thờ phụng.


(1) Dưới thời Pháp thuộc huyện Quế Sơn có 5 tổng: Xuân Phú, Xuân Mĩ, An Mĩ, Thuận An, Trung Lộc gồm 103 xã. Sau Cách mạng tháng 8/1945, Quế Sơn nhập thành 25 xã. Thời kì Mĩ - Diệm (1055-1957), mỗi tổng lại chia ra nhiều xã.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:25:16 PM
Tiền hiền họ Nguyễn làng hương Quế ngày nay là Ngài Nguyễn Ngọc Thanh, con trai của Ngài Nguyễn Đại Lang, một danh tướng đức độ. Ngài Nguyễn Ngọc Thanh, được học hành đỗ đạt, làm đến chức Đô úy dưới thời Minh Đức.

Đi theo chí hướng của cha, có thời kì Ngài đã đứng ra tập hợp nhân tài, chiêu mộ thêm binh sĩ, đưa quân đến Nghệ An xin vua đi đánh nhà Mạc, theo giặc Minh (bên Tàu) hại dân phản nước. Ngài Nguyễn Ngọc Thanh thống lĩnh đại binh 20 vạn quân, tiến ra đánh Mạc và chiến thắng quân giặc ở cửa Hàm Tử, tiến lên Đông Đô, bao vây Đông Quan…

Ngài được gia tộc phong tiền hiền tộc Nguyễn khi ngài còn đương chức, trong lúc cha Ngài, Ngài Nguyễn Đại Lang đã hồi quan. Ngài Nguyễn Ngọc Thanh được an táng tại làng Hương Quế, sau khi Ngài qua đời.

Về Ngài Nguyễn Đại Lang tức Nguyễn Văn Lang, tự Giàu. Ngài là con của Điện Tiền chỉ huy sứ Nguyễn Đức Trung, có công cùng với Nguyễn Xí giết ngịch đảng lập nên triều Quang Thuận tức Lê Thánh Tông (1460-1490). Cháu nội của Nguyễn Công Duẫn gọi trung thần Nguyễn Trãi là ông cố. Quê quán Nguyễn Đại Lang ở làng Gia Miêu, ngoại trang Tống Sơn, nay là huyện Gia Trung, tỉnh Thanh Hóa. Ngài sinh ra và lớn lên trong một gia đình danh tướng, thông minh, học rộng, tinh thông thao lược về thiên văn, có sức khỏe hơn người. Tương truyền khi còn nhỏ, tay không Ngài vào rừng bắt hổ mang về khao trai làng Dưới thời Hiến Tông, Ngài làm Tuyên úy; đời vua Lê Huy Mục làm Thủy quân vệ chỉ huy sứ đóng giữ thành Tây Đô (Nam Định). Ngài nhận thấy Lê Huy Mục là một vị vua vô đạo đã cho phe cánh đầu độc vua Hiến Tông, cướp ngôi gây ra vụ án Lệ Chi Viên, đổ vạ cho trung thần Nguyễn Trãi phải tru di tam tộc. Nguyễn Đại Lang tập hợp quân lính thành Tây Đô kéo về Đông Quan giết Lê Huy Mục, lập hoàng tử Giảng Tu Công lên làm vua, hiệu là Hồng Thuận (1509-1527). Ngài được phong chức Thái ủy nghĩa quốc công, Bình chưỡng quân quốc trọng sự. Đầu năm Canh Ngọ (1510) hoạn quan Nguyễn Khắc Giai tư thông với giặc Hắc La (Vân Nam, Trung Quốc) dấy loạn biên giới Cao Bằng. Để bảo vệ chủ quyền đất nước, vâng chiếu Hồng Thuận, Ngài cùng Đại học sĩ Lương Bất Bằng cử binh dẹp loạn giữ yên bờ cõi. Vua Hồng Thuận cử hội khải hoàn, phong cho Ngài chức: Thượng tể thướng quân từ thành đề lãnh, tức chức Thừa tướng (năm 1510). Năm đó, trời hạn hán mùa màng thất thu, nhân dân Đông Triều, Lạng Sơn, Sơn Tây nổi lên chống đối, lại có Tư xuyên hầu Mạc Đăng Dung đóng quân ở Hải Hưng âm mưu phế truất Hồng Thuận. Trong lúc Hồng Thuận lại lao vào con đường ăn chơi, xa trung thần, gần gian nịnh. Sau khi dâng sớ điều trần gồm 14 điều khuyên răn vua, để tránh cơn binh lửa nồi da xáo thịt có thể xảy ra, nhưng vua Hồng Thuận không nghe. Ngài xin từ chức rồi chiêu mộ dân đinh, xin vua cùng con cháu họ Phạm còn lại ở trong kinh thành vào Nam khẩn hoang, định cư tại làng Hương Li năm 1511. Về sau làng Hương Li đổi thành Hương Quế. Như vậy từ đời cụ tổ của tôi là Ngài Nguyễn Đại Lang vào ở đây đến đời tôi đã trả qua 11 đời, 489 năm. Về 14 điều trần dâng lên vua của ngài Nguyễn Đại Lang được ghi vào gia phả để thờ tại nhà thờ họ Nguyễn, tôi đã được nghe các bô lão trong làng giảng giải nhiều lần qua chữ nho. Đến năm 1998 được đọc lại bản phiên âm quốc ngữ, tôi mới mới thấy, cách đây 500 năm, một vị quan đã có những tư duy, lời lẽ viết ra, sao mà sâu sắc, đầy thuyết phục đến thế. Những gì của Ngài nói đến nay vẫn còn nguyên giá trị hiện thực, đáng để chúng ta suy ngẫm, về việc dân, việc nước, việc chung, việc riêng, về “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, khi đất nước trong thời loạn cũng như thời bình. Mười bốn điều trần ấy là:

1. Tự rèn mình sửa lỗi, để tránh mọi tai hại cho dân.

2. Phát huy lòng hiếu thảo, nhờ ơn của đấng tổ tiên đã dày công xây dựng non sông để tỏ tấm lòng trung hậu.

3. Lánh xa thanh sắc, để chính lòng người.

4. Trừ khử lũ gian nịnh, để muôn điều giáo hóa được trong sạch.

5. Thận trọng trong việc ban phong quan tước để tôn trọng phép tắc của triều đình.

6. Thuyên chuyển phải công bằng, để cho sáng đàng tiến dụng.

7. Sử dụng tài chính không nên lãng phí để nêu gương tiết kiệm cho dân.

8. Khen thưởng người có tiết nghĩa, để trọng đạo can thường.

9. Cấm điều nhũng lạm, để bài trừ thói tham ô.

10. Tu chỉnh võ bị để đủ sức mạnh phòng thủ đất nước.

11. Trọng điều can gián, để bảy tỏ lòng chí khí can trực, cảm ngôn của mình.

12. Khoan dưỡng sức dân, cho thích hợp với lòng dân ngưỡng nguyện.

13. Hiệu lệnh nhà vua ban ra, cần phải giữ đúng để nhân dân yên trí, khỏi lo ngại sự đổi thay.

14. Thiết lập pháp chế triều đình, để mở rộng công cuộc bình trị.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:27:14 PM
Xưa kia danh thắng của làng Hương Quế còn có một ngôi miếu, dân làng Hương Quế gọi là Miếu Đen. Tương truyền khi nhà Nguyễn Tây Sơn đánh quân Nguyễn Ánh qua đây, Nguyễn Ánh cùng đường chạy vào mếu, bỗng nhiên sấm chớp nổi lên, mây đen tối sầm, thấy điềm lạ, tướng Tây Sơn cho rút quân. Nguyễn Ánh thoát nạn, về sau lên ngôi nhớ ơn thân linh cứu mạng nên phong cho miếu 4 chữ: Hắc Y chi thần (Miếu Thần Áo Đen). Cũng gần như câu chuyện truyền thuyết về bò thần Nadi, trong khu đất nhà thờ tộc Phạm. Vào tiết thanh minh hằng năm, trong đêm khuya thanh vắng, bò thần hiện nguyên hình, phát sáng rực rỡ, đi kiếm ăn. Hễ nghe có tiếng động, bóng người thì biến mất. Tôi nghe cha, mẹ tôi thường kể về sự linh thiêng của con bò đá Nađin, lúc còn nhỏ tôi sợ lắm. Nay bò Nađin và tượng nữ thần Y-a-na được ngành văn hóa và bảo tàng bảo vệ và nghiên cứu về niên đại cũng như ý tưởng nghệ thuật của hiện vật, qua bàn tay tài hoa của các nghệ nhân thời Chămpa tạo nên còn tồn tại nơi đây.

Dưới thời Cần Vương, chủ tướng Nguyễn Duy Hiệu dụng đắt Quế Sơn, ông dựa vào rừng đại ngàn, núi non, đường đi hiểm trở chọn vùng Trung Lộc, nay là xã Quế Lộc lập chiên khu Tân Tỉnh luyện quân đánh giặc. Dân làng Hương Quế hưởng ứng chiếu Cần Vương đóng lương nuôi quân, góp người lo việc. Trong làng tôi có cụ Nguyễn Hoan, cụ Chánh Ta tham gia phong trào Nghĩa hội bị Pháp bắt khép án chém, cụ Chánh Ta bị tù khổ sai. Thế nhưng do nhiêu nguyên nhân của lịch sử, thế và lực còn có những khó khăn hạn chế, chiến khu Tân Tỉnh Quế Sơn và Nghĩa hội Quảng Nam tan rã. Noi theo tấm gương dũng liệt của Nguyễn Duy Hiệu trước lúc đầu rơi và lời ông dặn: “Chí ta còn, tức Đảng ta còn!” các nghĩa sĩ của phong trào như cụ Nguyễn Thành (Thăng Bình), cụ Nguyễn Thụy (Quảng Ngãi), Trần Cao Vân (Điện Bàn), Đỗ Phĩ(1) (Quế Sơn đã tham gia phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu (1904) phong trào chống thuế của nhân dân 10 tỉnh Trung kì (1908) và khởi nghĩa Duy Tân (1916).. Dù hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau, trong thời điểm khác nhau, nhưng cuộc đời và nghĩa khí của các văn thân, nghĩa sĩ vẫn còn sang ngời tấm lòng yêu nước, thương dân, xả thân vì nghĩa lớn.

Làng Hương Quế quê tôi cũng như bao làng quê khác của đất nước đều mang trong mình dấu ấn lịch sử và dòng chảy của truyền thống, không chỉ có sự tích, con người, mà cả đến cảnh vật cũng hài hòa với cuộc đơi, nếp sống, như lời của một vị tướng của quân đội ta đã nói: “Quê là dân nước - Nước là dân, quê”. Nhân dân làng tôi, có lẽ vì sống trên mảnh đất từng thấm máu, mồ hôi nước mắt của cha ông, dù kiếp người còn nô lệ lầm than khi chưa có ánh sáng cách mạng rọi về, vẫn đời đời giữ dạ trung kiên, đoàn kết, thương yêu nhau; dù trong làng có nhiều tộc, họ sinh số, tới lửa tắt đèn vẫn có nhau, chống chọi với thiên tai, địch họa để tồn tại và phát triển cộng đồng dân tộc ngày một bền vững.


(1) Đỗ Phĩ là cha của Đỗ Quang, Đỗ Quỳ - Hai đảng viên Cộng sản đầu tiên của Phong trào cách mạng tỉnh Quảng Nam thời kì năm 1927.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:28:57 PM
NƠI CHÔN RAU CẮT RỐN

Mười năm sau ngày khởi nghĩa Duy Tân (1916) tôi chào đời ở làng Hương Quế. Cha tôi, ông Nguyễn Giác, không đỗ đạt khoa bảng, không tham gia quan trường nhưng là người có học vấn thâm nho, chuyên nghiệp nông tang, ông sống đức độ nhân từ, thông minh chính trực, trung nghĩa hiền lương. Cha tôi trước sau có ba đời vợ. Bà đích mẫu của tôi sinh được 9 người con gồm 4 trai, 5 gái, bà lâm bệnh qua đời. Kế mẫu của tôi sinh được một nữ, nhưng bà cũng qua đời sớm, sau gần 10 năm sinh sống với cha tôi. Bà thân mẫu của tôi, sinh được ba người con, hai trai một gái, tôi là con út thứ 14. Anh chị em tôi trước sau còn sống được 9 người, gồm 4 trai 5 giá. Ngày xưa ở nông thôn các cụ quan niệm giàu tiền, giàu của không bằng giàu con, mà giàu con tức là giàu của. Đất Hương Quế đa phần thuộc vào loại đất nhất đẳng điền. Gia đình tôi có ruộng đất khá. Hồi đó cây lúa chỉ làm được 2 vụ: vụ đông xuân và vụ hè, nhưng hàng năm nhà tôi thu được cũng phải đến hàng ngàn ang lúa, còn sắn, khoai và các loại đậu… đến mùa thu về cũng khá nhiều. Nhà tôi có chòi ép mía, lò nấu đường, trong năm có cả mấy chục ghè dựng đường. có của ăn, của để trong nhà, trai tráng trong làng giúp cho gia đình tôi ngày có đến hàng chục người. Tôi là con út trong gia đình nên được cha mẹ, anh chị em sớm tối chăm chút, cưng chiều. Có thể nói thời trẻ, tôi được sống trong một gia đình tương đối khá giả ở một vùng chuyên nông. Sau này tôi lớn lên, cha tôi mới kể lại. Hồi đó, bà con nông dân làng tôi con cực khổ lắm. Nhất là những người ngụ cư không có ruộng đất phải đi làm thuê, ở mướn để kiếm cơm ăn, gia đình họ quanh năm tất bật trong cảnh mưu sinh, nhưng cái ăn cái mặc vẫn thiếu thốn mọi bề, không được học hành. Đất nước thời đó ở vào giai đoạn lầm than, vua quan Nam triều và bọn thực dân thì sống xa hoa, Bảo Đại làm vua, thạo nhảy đầm, uống rượu tây, đi săn bắn, chẳng quan tâm đến việc quốc kế dân sinh.

Năm 1927, tình hình đời sống chính trị ở làng Hương Quế quê tôi, cũng như trong huyện Quế Sơn và tỉnh Quảng Nam bước vào giai đoạn “ngặm tăm”. Nguôn tin Chi bô Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội được thành lập ghi dấu ấn lịch sử trong đời sống chính trị các tầng lớp nhân dân yêu nước Quảng Nam. Chi bộ Đảng Cộng sản do đồng chí Đỗ Quang là một trong những cán bộ cốt cán của Đảng làm bí thư(1), vào đầu năm 1928. Những hạt giống đỏ của cách mạng được nhân dân Quảng Nam chăm bón đã sinh sôi nảy nở. Đầu năm 1929, các tổ chức của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Điện Bàn, Duy Xuyên… mỗi nơi đều thành lập một chi bộ. và sau tháng 3/1930 được chuyển thành chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đến tháng 4/1930, chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện quế sơn được thành lập. Những người con của Quế Sơn từ đồng ruộng ra đi tìm cách mạng, giờ đây lại tụ tập về trên quê hương xây dựng tổ chức cho huyện nhà. Chỉ một thời gian sau sự kiện trọng đại này, đồng chí Phan Thêm, một cán bộ của tỉnh hoạt động tại đây, đã thành lập thêm một chi bộ ghép ở làng Nghi Hạ - Nghi Lộc có 6 đảng viên và một tổ Đảng ở chợ Trung Phước. Đến cuối tháng 8/1930, toàn huyện Quế Sơn có 2 chi bộ, 1 tổ Đảng với 15 đảng viên. Từ hạt giống đỏ đầu tiên, đội ngũ những người Cộng sản đã từng bước cắm rễ vào lòng dân để rồi sinh sôi, nảy nở trên đất Quế sơn.

Tôi lớn lên trong bối cảnh lịch sử sôi nổi của huyện nhà. Năm lên 8 tuổi, tôi được cha mẹ cho đi học chữ Quốc ngữ ở trường làng. Tôi được thầy khen là sáng dạ. Cha tôi thường động viên:

- Học đi con, ráng mà học kiếm đôi chữ, có giê lúa cũng biết được hướng gió để mà giê

Lời ông ấm áp và trìu mến, sao tôi nghe như một “mệnh lệnh”. Tôi không dám xao lãng việc học bao giờ. Tôi còn nhớ Tết năm 1937, bà con đến chục Tết cha mẹ tôi, ai cũng trầm trồ khen tôi:

- Cậu Út ngoan, học giỏi. Cậu Út không đua đòi!

Mẹ tôi hãnh diện lắm, bà xoa đầu tôi nói:

- Con noi gương các anh, chị, phải cố gắng học hành, mẹ trông mong vào con đó!

Hai năm sau tôi thi đậu yếu lược, cha mẹ tôi vui lắm. Các anh chị tôi thì khỏi phải nói. Anh Sầm, anh Lộc trầm trồ:

- Mi mà đậu được primaire thì phải biết.

Nghe vậy, tôi sướng lắm, trong bụng phơi phới, liền nói với hai anh tôi:

- Nếu được cha mẹ cho đi học tiếp thì em cố gắng thi đậu cho anh coi!


(1) Đỗ Quang, Lê Quang Sung, Thái Thị Bôi, Lê Văn Hiến, Huỳnh Thị Thuyền. Lúc Đảng bộ Quảng Nam được thành lập có thêm đồng chí Phan Thêm, Trần Văn Tăng…


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:30:41 PM
Sau đó cha mẹ tôi bàn định đưa tôi đi học xa, một là vô Thăng Bình, hai là ra phủ Duy Xyên, ba là xuống thị xã Hội An để học. Nhưng ý định đó không thực hiện được. Mẹ tôi lâm trọng bệnh, bà đột ngột qua đời. tôi khóc mẹ nước mắt hầu như khô cạn. Người mẹ đã tảo tần cùng cha tôi gầy dựng cơ nghiệp gia đình và nuôi đàn con 8 đứa trưởng thành. Vào tuân 100 ngày của mẹ tôi, rồi, mà không khí tang tóc vẫn bao trùm trong nhà vốn êm đềm như một tổ ấm. Cha tôi thì như con cuốc lạc đàn, còn anh em tôi như gà con lạc mẹ. Người thân trong gia đình mất đi thì không có gì so sánh được. Cách đấy một trăm ngày, cha mẹ tôi như đũa liền đôi, nay mẹ tôi mất rồi, căn nhà ngói rộng ba gian chừng như hoang vắng. Đến trưa thì đám làm tuần vãng người tới phúng vái, cha tôi gọi tôi lên, ông nói:

- Hồi còn sống, mẹ con khuyên cha phải cho con đi học thành tài, nay mẹ con đột ngột qua đời nên bây chừ không đi xa được, thôi con đến thầy Thân học đôi chữ nho để thành đạt trong làng như các anh con, đọc được gia phả, dẫn giải công lao của các đấng tiền nhân, giúp cho các thế hệ sau này biết mà giữ gìn bẳn sắc của dòng họ, xóm làng chứ không thì mai một hết con ạ! Vả lại con học chữ là học đạo làm người, người mà biết chữ đời nào cũng có ích, con hãy nghe lời cha gắng mà học hành, nghe con.

Tôi không còn cách nào hơn là đồng ý theo ý nghĩ của cha học chữ nho, cũng để vơi đi nỗi buồn mất mẹ. hồi đó, làng Hương Quế có thầy Võ Văn Thân dạy chữ nho. Thầy Thân là một nhà nho đức độ, tinh thông kinh sử nhưng không được chính quyền thực dân cho đi thi cử vi thấy thầy có thái độ, tư tưởng chống chế độ thuộc địa. Thầy phải mở trường dạy tư ở làng để kiếm sống. tôi là một trong tám học trò của lớp. Tất cả đều quý mến thầy. Trong giảng bài thầy thường kết hợp chuyện đông tây, kim cổ để liên hệ thực tại và nhấn mạnh đến tình yêu nước, thương dân của các nhân vật trong truyện. Lời thầy nhẹ nhàng truyền cảm mà sâu lắng. Chúng tôi nghe với lòng kính phục, trân trọng thầy. cũng từ đó, trong tôi như được bồi đắp, hình thành suy nghĩ tốt đẹp về tình yêu quê hương, đất nước và con người. Té ra tình yêu quê hương đất nước, nó không cao xa, đòi hỏi gì nhiều. Quê hương đất nước là cánh cò, đồng lúa, là con đường rợp bóng tre, các câu hò, lời ru ngọt ngào; những người thân quen chơn chất và những bạn bè, kỉ niệm mà mỗi khi nhắc đến, hoặc đi xa luôn nhớ tới, luôn ẩn chứa trong tâm thức mỗi người không thể nào thiếu được.

Trong những giờ giảng dạy, đôi khi thầy trầm ngâm, như nhìn xa xôi, rồi nhẫm đọc đôi câu ca dao, như thể nói với học trò của mình, mà cũng là tấc lòng của thầy.

Người đi ghi khắc một lời
Thương nhau áo rách, nón cời vẫn thương


Đặc biệt, thầy hay đọc bài về Phan Thanh - một trí thức yêu nước, xuất thân ở làng Bảo An, huyện Điện Bàn, vùng đất có nhiều tên tuổi nổi tiếng. Câu vè thầy đọc với tất cả tâm niệm, ai nghe cũng xúc động:

… “Anh Thanh vừa mới lâm chung
Người người rơi lệ vô cùng thảm thương
Than ôi, số kiếp đoạn trường
Tuổi vừa Ba mốt dứt đường trần gian
Anh sanh ngày Một, tháng Juin (tháng Sáu)
Ở Điện Bàn phủ, Bảo An quê nhà
Tình người đậm nghĩa thiết tha
Tuổi xuân anh đã xông pha cho đời…”


Cũng từ đó, tôi nhìn xa hơn và càng hiểu được những người yêu nước là ai, vào do đâu họ dám xả thân hy sinh mà không tiếc tuổi xanh, xương máu của mình.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:34:03 PM
Sống ở trong làng, một làng quê, con người, cảnh sắc đều đẹp, đều đáng yêu, nhưng nhiều người còn cơ cực quá. Làm thuê, ở mướn, ăn xin như số phận đeo đẳng suốt đời này, qua đời khác ở một số bà con. Tôi gặp họ, nhìn họ mà lòng dạ cứ xốn xang. Gia đình tôi, nhờ cha tôi tảo tần, tích góp từ đời ông nội đến giờ, nên mới có ruộng đất và cơ ngơi khá hơn, vì thế hằng tháng có đến hàng chục người đến xin việc làm. Ruộng nương phần lớn nhờ nước trời, quanh năm hai vụ bấp bênh. Nhà phải có đông người như nhà tôi thì mới làm nổi công việc đồng áng và mới có dư. Những buổi tôi nghỉ học, cha tôi bảo tôi ra đồng cùng với người làm công như gặt lúa, đốn mía, nhổ đậu, đào khoai… Ý cha tôi là có người để trông chừng vì cũng có khi mất mát. Tôi ra đồng, cầm theo cuốn tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, được anh Hoàng làng bên cho mượn, cuốn sách tôi đọc đi đọc lại nhiều lần, vì lúc bấy giờ rất hiếm sách, báo. Tôi kiếm một bóng cây ngồi đọc, có biết việc mất mát, hễ lơ đễnh, là có người nào đó nhanh tay trút lúa bỏ vào mủng(1), nhưng tôi không để ý, phản ứng gì. Tôi nghĩ: người đi mót, đội một cái mủng đựng chừng một ang lúa, nếu họ trút đầy mủng, thì mất một ang lúa chẳng đáng là bao, trong khi nhà tôi mỗi năm thu hàng ngàn ang lúa…

Một số người làm công, nhất là bà con trong làng, đến xem tôi đọc sách. Có người chân tình bảo tôi:

- Tôi biết cậu Út có lòng thương người. Chứ mấy người con của chủ khác, hễ lượm của nó một gié lúa rơi, nó cũng xô đẩy la mắng, đâu có dễ như cậu. Tôi, cậu ở hiền gặp lành. Biết thương người thì người thương mình. Tôi nhìn cậu biết mai này trưởng thành, thì cậu hiểu biết và sẽ làm nhiều việc có ích cho đời. Cậu Út cứ đọc sách, khi nào có người ôm lúa chạy, thì tôi la giúp cậu. Nói rứa chứ thiếu miếng ăn là khổ nhục lắm cậu ạ!

Lời nói của bà con nhẹ nhàng, nhưng tôi có nhiều suy nghĩ, day dứt. Có năm mùa màng thất bát, hạt cơm trong mùa giáp hạt đối với bà con nghèo đói là quý giá vô cùng.

Năm 1940, tôi quay lại học quốc ngữ tại làng với một cố gắng thi đỗ primaie rồi về làm thầy giáo “gõ đầu trẻ” ở làng. Nhưng dự tính đố của tôi không bao giờ thực hiện được vì chiến tranh thế giới lần thứ hai bung nổ. Trục tam cường phát xít Đức - Ý - Nhật gây chiến phân chia thị trường thế giới. tình hình chiến tranh thế giới phát triển vô cùng mau lẹ. Nước Đức, nước Ý phát xít mở rộng chiến tranh ở Châu Âu đánh chiếm nước Pháp. Ngày 22/6/1940, nước Pháp phải kí hiệp ước đầu hàng nước Đức phát xít. Ở Châu Á phát xít Nhật áp dụng chính sách tiến về phía Nam, tiến công Trung Quốc. tháng 9/1940, thực dân Pháp dâng xứ Đông Dương cho Nhật. Cuối năm 1940, quân Nhật tràn vào miền Bắc, không bao lâu sau quân đội Nhật chiếm đóng thành phố Đà Nẵng, chiếm giữ sân bay, hải cảng và các trục đường chiến lược giao thông quan trọng, chúng xây dựng Đà nẵng thành căn cứ hậu cần lớn gồm các khu kho chứa xăng, gạo, súng, đạn ở núi Đà Sơn và một số vùng lân cận như bãi Xuân Thiều (Hòa Vang), Điện Thắng, Vinh Điện (Điện Bàn), Nam Phước (Duy Xuyên), Bà Rén, Hương An (Quế Sơn)…

Về chính trị, chúng phô trương thanh thế hùng mạnh: rêu rao các thuyết lừa bịp: Đại Đông Á, trật tự mới, khu thịnh vượng chung… để gây ảnh hưởng trong dân chúng còn mờ mit trước tình hình đang diễn ra trên thế giới và trong nước.

Về kinh tế, chúng vơ vét thóc gạo, bông, dầu phụng để phục vụ chiến tranh. Công nhân các ngành hỏa xa, bưu điện phải làm việc thêm giờ mà không được tăng lương. Chúng bắt dân ta lao dịch khổ sai mở rộng sân bay bến cảng… người người bệnh tật đói khát, có người bị chúng đánh chết bỏ xác vào thùng vôi, ai chống đối chúng chặt đầu căm lên cọc tre lớn bên đương có nhiều người qua lại, để răn đe dân chúng… Tôi lớn lên trong bối cảnh lịch sử của đất nước, dân tộc phải chịu cảnh nhà tan cửa nát, xích xiềng nô lệ, nhân dân ta không chịu nổi cảnh một cổ hai tròng, nên trước đó đã nổi dậy khởi nghĩa ở Bắc Sơn (27/9/1940); binh biến Đô lương (13/1/1941). Tất cả những diễn biến đó báo hiệu một thời kì mới - thời kì khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân(2).

Đầu năm 1941, làng Hương Quế quê tôi bỗng sôi nổi về một người vừa quen biết, vừa “lạ lẫm” đó là một thanh niên thông minh, tuấn tú: Anh Phạm Ngọc Trình (anh là con của ông Phạm Thắng, làm hương bộ làng Hương Quế) bạn học của tôi bốn năm về trước. Khi tôi đi học chữ nho, thì anh học tiếp quốc ngữ đỗ primaire rồi thoát li hoạt động cách mạng lúc nào không hay nay đột ngột xuất hiện. Gặp tôi anh hỏi:

- Cậu Út (hồi nhỏ tôi tên là Út) còn đi học kia à!

Tôi không trả lời mà hỏi lại anh;

- Chứ mấy năm qua anh đi mô mà biệt tăm rứa?

Anh cười thân mật rồi vỗ vai tôi:

- Với cậu thì mình không dấu diếm chi mô! Mấy năm qua mình thoát li hoạt động, nay được cử trở về làng phát triển lực lượng.

Tôi nghe anh nói, trống ngực cứ đánh liên hồi. Ý tứ và lời nói của anh mới mẻ quá, tôi thầm kính phục anh. Thấy tôi chăm chú, anh nói tiếp:

- Minh nói thiệt, cậu sắp là một thanh niên rồi, phải lo chọn cho đời mình một hướng đi, chứ cậu cứ bám ruộng, bám vườn làm giàu, như gia đình cậu cả cuộc đời chẳng giải quyết được gì ngoài cái công thức: Giàu sang, lấy vợ, đẻ con, an phận thủ thường thì con đua chí khí của đời trai. Đất nước dân tộc đang chìm đắm trong cảnh can qua mình không góp phần, thì mai sau cuộc sống dẫu có vương giả thế nào cũng hoài tiếc tuổi xuân.


(1) Mủng: vật dụng đan bằng tre để đựng lúa và các đồ vật khác rất thông dụng.
(2) Văn kiện đảng 1930-1945; và báo Đà Nẵng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:37:35 PM
Tôi nghe anh Trình nói như rót mật vào lòng. Sự tưởng tượng, niềm vui như chợt le lói, nhóm lên trong tâm thưởng tôi trước bao điều mới mẻ. Nhìn lại gia đình tôi, các chị đã đi lấy chồng, còn lại bốn anh em trai thì mỗi người đều có một dãy nhà ngói, quanh năm lam lũ với ruộng đồng, tầm mắt, cuộc đời không ra khỏi lũy tre làng. Tôi là con út mà cha tôi cũng đã làm sẵn một ngôi nhà mới để chuẩn bị yên bề gia thất. Ruộng đất ngày càng rộng ra, tôi thấy tá điền thỉnh thoảng đem khế ước đế nhà tôi bán đất cho cha tôi. Thời gian qua tôi có dịp đi coi gặt, coi chặt mía, được gặp gỡ bà con lao động, tôi thấm thía cảnh nghèo khổ của đời người ông dân đi làm thuê, lượm mót. Nó giống như cuộc đời của anh tá điền và chị Dậu trong tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, mà anh Vũ Trọng Hoàng bên làng Phương Trì cho tôi mượn đọc trước đó. Thấy tôi tần ngần, anh Trình ôm vai tôi vừa đi anh vừa nói:

- Đất nước mình bị thực dân Pháp xâm lược 80 năm, nay lại bị giặc Nhật chiếm đóng chúng chia cắt đất nước ta nhượng cho Xiêm tặc, đem lợi quyền hiến cho quân giặc Phù Tang, dân ta phải một cổ hai tròng, nước ta chúng chia xẻ như hàng bán buôn. Nhân dân ta hiện nay vừa bị Pháp áp bức, đất nước ta lại bị phát xít Nhật dày xéo không thể nào chịu nỗi cảnh áp bức, bóc lột, đè nén đó. Vậy thì ta phải làm cách mạng, phải tổ chức lực lượng để đứng lên chống lại đế quốc xâm lược, giải phóng cho dân tộc ta. Làm cách mạng thì có tổ chức, có Đảng, lãnh đạo đưa lối chỉ đường.

Ngay từ ngày gặp anh Trình, tôi như người đang trôi lênh đênh tên biển cả, được lão ngư chỉ cho hướng cập bờ, người cứ lâng lâng khó tả. Tuy nhiên tôi cũng làm một bài toán so sánh thô thiển: Nhật, Pháp đều mạnh, vũ khí tối tân làm gì ta có thể chống lại. Chính những suy nghĩ tư tưởng đó có thể làm chậm lại sự đón nhận luồng sinh khí mới do anh Trình đem đến cho tôi. Mấy lần gặp sau, tôi vẫn được anh Trình thân tình trò chuyện mỗi ngày sâu sắc hơn, thấm thía hơn. Anh viết vào vở tôi hai câu thơ, mà khi vào tù tôi mới biết được, đó là của nhà thơ cách mạng Tố Hữu:

Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước
Chọn một dòng hay để nước trôi?


Đọc xong hai câu này lòng tôi cứ bời bời khó tả. Mấy lần sau nữa, anh dẫn tôi ra ngoài cánh đồng trống ngồi hóng mát, anh giảng giải đường lối chủ trương của Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo. Anh Trình chỉ cho tôi âm mưu của thực dân Pháp. Là vơ vét tài nguyên của đất nước ta đưa về Pháp, còn bắt thanh niên ta đi lính phục vụ cho chiến tranh xâm lược của chúng. Chính quyền phú hào tay sai chỉ là thi thể bù nhìn, bám gót thực dân mục ruỗng, làm sao tồn tại được, khi mà cao trào cách mạng có thời cơ bùng lên? Đứng trước tình hình đó, Đảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc có thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy, chúng ta phải đoàn kết lại đặng đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian, đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa bỏng”(1). Lời nói của anh Trình như đã thấm vào cơ thể tôi. Tôi quyết định nhân tài liệu của anh giao và theo anh hoạt động. Gia đình tôi, nhất là vợ chồng anh Sâm, anh Lộc để ý thấy tôi có bữa trễ cơm, bữa trễ học, có lúc thẫn thờ, anh chị sinh nghi liền hỏi, tôi không thể dấu diếm được với các anh chị, nên phải nói thật:

- Em theo anh Trình hoạt động cách mạng giải phóng dân tộc.

Anh Sâm tôi tròn mắt:

- Chú mà gan rứa hả? Coi chừng bọn hắn (chỉ bọn tay sai và thực dân Pháp) bắt được, là hắn đánh chết không tha đâu nghe chú!

Nói vậy, rồi không hiểu sao anh ôm tôi vào lòng, cầm tay tôi, nhìn vào mắt tôi, xúc động. từ đó anh Sâm và Lộc của tôi là người giúp đỡ đắc lực cho công tác của tôi. Anh Sâm thì cất giấu tài liệu trong lư hương, anh Lộc thi đón đưa bảo vệ tôi khi tôi đi đêm, về hôm trên bước đường đầu tiên đầy bỡ ngỡ và mạo hiểm. Tôi còn nhớ bài thơ Trăn trối của Tố Hữu. Họ nói trước khi chết trong tù, Tố Hữu viết bài thơ này từ trong ngục gửi ra, vì vậy từng câu, từng chữ của nó mạnh mẽ lôi cuốn đến mức ai đọc cũng đều thuộc, ai thuộc rồi thì không quên. Đó là những lời trăn trối đầy khí phách, một sự khẳng định không bi lụy:

Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đày
Là gươm kề tận cổ súng kề tai
Là thân sống chỉ coi còn một nửa…


Tôi không giải thích gì thêm với hai anh tôi, nhưng khi thuộc bài thơ Trăn trối này, cùng với những ngày tiếp xúc các anh chị thầm lặng với công việc trước phong trào cách mạng ngày một sục sôi. Anh Sâm sau là cán bộ Nông hội xã, anh Lộc trở thành đảng viên Cộng sản.

Vào tháng 5/1941, sau 5 tháng tôi nhận công tác đúng vào ngày Premier-Mai (Quốc tế lao động 1 tháng 5) anh Trình hẹn tôi đến một đám mía cách miếu Đen một cây số, bí mật làm lễ kết nạp tôi và bốn người bạn học của tôi vào Đoàn thanh niên phản đế. Tôi còn nhớ lời tuyên thệ khi được kết nạp là:

Trung thành với cách mạng, nếu bị địch bắt
không đầu hàng, không khai báo, không phản bội.

Trong tổ, anh Nguyễn Xuân Vĩnh được phân công làm tổ trưởng, anh Phạm Cai, liên lạc; tôi, Nguyễn Huy Chương phụ trách tài chính; còn hai anh Phạm Phổ và Trần Nghi là tổ viên. Anh Trần Nghi là con của một quản cơ lính Pháp được giác ngộ tham gia hoạt động hăng hái.


(1) Văn kiện Đảng 1939-1945 trang 231.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười Hai, 2010, 04:39:32 PM
NHỮNG NGÀY LAO LÍ

Phong trào cách mạng làng Hương Quế và huyện Quế Sơn đang phát triển thuận lợi, thì bất ngờ vào đầu tháng 12/1941, nhiều người có uy tín của phong trào như: Võ Thị Sâm, Trần Viện, Trần Thắng, Phạm Ngọc Trình bị địch theo dõi và bắt cầm tù. Đến đầu tháng 2/1942, tổ Thanh niên phản đế chung tôi cũng bị địch phát hiện và bắt giam. Tại nhà lao Quế Sơn, bị giam tại đây 3 ngày đói cơm, khát nước, nằm đất, ngủ trần muỗi đốt da đỏ như ban. Trong những ngày chờ chúng giải về lao tỉnh, anh Trần Nghi là người lớn tuổi nhất trong tổ (năm đó anh đã 25 tuổi) sợ chúng tôi còn trẻ người non dạ không chịu nổi cực khổ, nhắc khéo bằng đọc bài thơ Trăn trối:

Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu
Dấn thân vô là phải chịu tù đày
Là gươm kề tận cổ súng kề tai
Là thân sống chỉ coi còn một nửa.


Hiểu lòng anh Trần Nghi, tôi tự làm 4 câu thơ đọc cho cả 5 anh em nghe:

Nếm mùi cùm kẹp tù đày
Vào đời chưa nghĩ đến ngày gian nan
Hứa nhau dạ sắt gan vàng
Vượt qua thử thách muôn ngàn đắng cay


Cho đến bây giờ gần 60 năm “tang bồng hồ thỉ”, tôi vẫn còn nhớ như in cái đêm đầu tiên cay nghiệt trong đời - Cái đêm mà tuổi tẻ của tôi phải chịu cảnh khốn cùng, khát không nước, đói không cơm, phải kiên tâm trước cực hình tra tấn, phải nghiến răng chịu đau vượt qua đòn thù. Mỗi trận đấu tranh trong tù là một đợt địch khủng bố. Bọn thằng Rayneu, thằng Banh (Trần Ngọc Banh), thằng Nho (Phạm Nho) và tên Hoành là những tên mật thám tàn ác nhất, chúng đã dùng chày vồ bổ vào người. Lúc đó anh em khỏe mạnh phải đưa lưng ra để đỡ đòn cho anh em ốm yếu. Tàn ác nhất là mỗi lần tù chính trị đấu tranh, bọn điều hành và cai ngục nhét hết các lỗ cống thoát nước, chúng còn bơm nước vào thùng phân cho phân trào ra chảy khắp sàn nằm, gây nên mùi hôi thối khắm dị, tởm lợm đến kinh người. Từ đó anh em tù bị kiết lị, thương hàn sống chết chỉ tính từng giờ. Nhìn nhau mà lòng quặn thắt, căm thù càng nung nấu, cắn răng giữ tròn khí tiết trước mặt kẻ thù.

Sau gần một năm chịu cực hình tra tấn, lao dịch khổ sai, kẻ thù không khuất phục được chúng tôi. Chúng có biết đâu chúng tôi đã trở thành những thanh niên phản đế của tổ chức cách mạng, đã được thử thách và tự rèn luyện từ những ngày đối mặt với kẻ thù. Bọn mật thám chỉ khép án được một người là anh Trần nghi 3 năm khổ sai (anh là con của Quản Cơ là lính đoan cho Pháp), còn 4 anh em chúng tôi chúng phải thả ra và tuyên án mỗi người phải chịu 5 năm quản thúc tại địa phương. Bốn “chàng trai chính trị phạm” quê tôi, gồm Phạm Cai, Phạm Phổ, Nguyễn Xuân Vĩnh và tôi (Nguyễn Huy Chương) lại tở về đời sống dân sự, nhưng phải chịu sự quản thúc của lí hương(1) trong làng. Mới một năm xa quê, xa người thân, lòng mỗi chúng tôi đều bồi hồi, mong gặp lại anh em đồng chí hướng, đang từng giờ chờ nhau để tiếp tục hàn huyên chuyện cách mạng và chia nhau nhận công tác trên giao.

Bốn anh em chúng tôi đi bộ đã về tới quê. Đến đầu làng, con đường xưa quen thuộc, tôi đã nhìn thấy cha tôi, anh chị tôi chờ tôi trước cổng nhà. Dường như để trấn tỉnh sự xúc động, khi tôi bước qua cổng, ông quay lưng vào trước. Tôi đi theo sè sẹ:

- Thưa cha con đã về.

Cha tôi không nói gì mà quay lại xoa đầu tôi. Tôi hiểu cử chỉ đó của ông đối với tôi là sự âu yếm! Lòng tôi cũng dâng trào tình thương cha.Tôi nhìn thấy tóc ông đã trắng ra nhiều trong bằng ấy ngày nhớ thương, lo lắng, trăn trở vì tôi. Còn tôi, suốt thời gian thân bị giam cầm trong lao lí, đêm về, khi đồng đội yên giấc là lúc lòng tôi thổn thức nỗi nhớ quê hương, gia đình, anh chị. Tình thương cha nhớ mẹ luôn chín chiều trong tôi. Và còn một nỗi thầm kín khác nặng trĩu lòng tôi là “nợ nước, tình nhà”. Làm sao ra được khỏi tù, cùng anh em hoạt động tốt hơn, tổ chức được nhiều người tham gia vào công cuộc cứu nước, trong đó có gia đình bà con tôi. Nhất định tôi sẽ cố gắng vượt qua những thử thách ban đầu này.


(1) Ngũ hương: Hương mục, hương Bộ, Hương bổn, Hương kiểm, Hương dịch, những chức quan trong làng thời phong kiến.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:06:48 PM
ĐẤT CHUYỂN

Một tuần sau khi tôi về nhà, được cha và các anh chị chăm sóc hết lòng. Sức trai trẻ như thân cây đương thì được tưới nước, bón phân là lá cành thắm xanh, xum xê nảy nở. Tôi theo cha ra lò đường cùng anh em lao động. Tại đây tôi gặp anh Ngô Sen ở làng Phương Trì sang làm thợ rót đường cho cha tôi. Làng Phương Trì cách làng tôi chừng năm cây số. Đây là nơi có chi bộ Đảng được thành lập sớm của huyện Quế Sơn, mặc dù các anh Vũ Trọng Hoàng và một số đồng chí lãnh đạo khác bị địch bắt, nhưng phong trào ở đây vẫn được duy trì do Đảng đã bám rễ trong dân. Đầu năm 1942, anh Võ Chí Công (sau này là UVBCTTW Đảng, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Cố vấn BCH Trung ương Đảng) và anh Nguyễn Sắc Kim về đây hoạt động chắp nối duy trì phong trào.

Anh Ngô Sen là người được tổ chức giao, móc nối với tôi nhưng tôi lại khong biết. Đến bây giờ tôi đã 75 tuổi rồi nne thường nghĩ về quá khứ. Đôi khi tôi tự hỏi: “Không biết có phải những người hoạt động cách mạng thời đó họ chung một dòng máu “yêu nước” hay sao mà linh cảm của tôi với anh Ngô Sen dễ gắn kết với nhau như vậy?”. Tôi kể chuyện về anh Ngô Thanh Tuần bị bọn thằng Banh, thằng Nho đánh dập phổi, anh đã hi sinh trong nhà lao Hội An, để lại tấm gương bất khuất cho tù chính trị noi theo. Anh Ngô Sen nghe, nước mắt tuôn trào. Tôi có biết đâu, anh Tuần chính là anh em của anh Ngô Sen. Rồi tôi đọc thơ Tố Hữu cho anh nghe:

… Dù phải chết, chết một đời trai trẻ
Liệm thân tàn bằng một mảnh chiếu con
Rồi chôn xương rục thối dưới chân cầu
Hay phơi xác cho một dàn quạ rỉa
… Bao khổ ấy thôi còn chi nói nữa
Bạn đời ơi! Ta đã hiểu nhau rồi!
Nếu mai đây có chết một thân tôi
Hai mươi tuổi tim đang dào dạt máu
Hai mươi tuổi hồn quay trong gió bão…


Từ đó tôi và anh Ngô Sen gắn bó với nhau hơn. Vào một buổi tối vãn người trong lò nấu đường, anh hỏi tôi:

- Cậu là co nhà khá giả sao cậu không lo ăn học để mai sau có địa vị cao sang lại đi ca ngợi người làm cách mạng, ca ngợi cảnh khổ của dân, không sợ chính quyền bắt nữa sao?

Tôi cười, nói với anh:

- Bị ghép vào thành phần chính trị phạm, tôi còn sợ gì?Tôi còn nhỏ tuổi, nên bọn chúng thả về, chứ như bạn bè tôi bị đày Buôn Mê Thuộc, người bị khổ sai Lao Bảo, Côn Lôn chết sống không biết ngày về, chuyện gì tôi phải sợ bọn “lục lâm” ở đây.

Dường như anh Ngô Sen hỏi là để ướm thử lòng tôi. Khi nghe tôi trả lời dứt khoát như vậy, anh Ngô Sen mới nói tiếp:

- Nếu có người trong tổ chức muốn liên lạc với cậu, cậu có dám gặp họ không?

Tôi trả lời:

- Trước khi tôi về, anh Vũ Trọng Hòa (sau này là Phó Ban tổ chức TW Đảng, phụ trách miền Trung, anh qua đời năm 1998) có dặn tôi, về địa phương có điều kiện thì nên bắt liên lạc tiếp tục hoạt động cho cách mạng. Anh Hoàng nói, chắc mấy ảnh bị tù lâu và sẽ bị đày đi xa, nhưg mấy ảnh vẫn lạc quan với cách mạng, tin tưởng có ngày gặp lại tôi. Anh Hoàng còn nói chắc với tôi, về quê ảnh ở làng Phương Trì là sẽ liên lạc được với cách mạng. Thế nhưng tôi mới về, lại bị sự quản thúc của bọn “lục lâm” ở đây, chưa đi mô được.

Nghe tôi tỏ bày gan ruột, anh Ngô Sen thân mật vỗ vai tôi nói nhỏ một mình tôi nghe:

- Nếu cậu có quyết tâm như vậy thì tôi cũng quyết tâm giúp cậu.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:09:40 PM
Hai ngày sau thời tiết đổ mưa. Đang mùa ẩm ướt, lò đường thiếu bỗi đót, không phơi iđược mía. Anh Ngô Sen gặp tôi nói:

- Trời mưa to quá! Tôi có ý định xin ông cụ (tức cha tôi) nghỉ mấy ngày, nhân dịp này cậu có đi thì đi với tôi. Chuyến đi này may ra cậu có thể gặp được người mà cậu cần đến.

Chiều hôm đó tôi ra báo với hương kiểm:

- Tối nay tôi sang làng Phương Trì rước thợ nấu đường cho cha tôi. Tôi đến báo và xin ông chấp thuận.

Hương kiểm nhìn tôi, cái nhìn của một người có chức trong làng:

- Bên Phương Trì Việt Nam Cộng sản nhiều lắm đó. Cậu đi ở lại một đêm, sáng mai về sớm. Rước thợ không được cũng phải về, không được ở lại đêm thứ hai.

- Tôi hứa làm theo quy định của làng.

Tôi và anh Ngô Sen về đến nhà anh thì tời đã nhá nhem. Anh bảo tôi ngồi ở nhà chờ, đừng đi đâu, đợi anh một lát. Anh Ngô Sen đi chừng bếp nhóm trấu(1) anh về nói với tôi:

- Trăng tuất rốt(2) đêm nay tôi đưa cậu đi gặp người của tổ chức.

Nói rồi anh đi làm nhiệm vụ cảnh giới. Đúng hẹn, anh Ngô Sen dẫn tôi giữa đám mía gặp một người trạc 25 tuổi, anh Ngô Sen giới thiệu:

- Đây là anh Nguyễn Sắc Kim - người cậu cần gặp (Anh Nguyễn Sắc Kim lúc bấy giờ là Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, sau này tôi mới biết).

Tôi mừng như bắt được vàng, tay tôi run lên khi anh Kim đưa tay nắm tay tôi. Anh Nguyễn Sắc Kim là người bị mật thám thực dân truy nã và có ảnh dán khắp các giỏ làng(3).
Dưới bóng trăng tờ mờ, tôi nhìn anh Nguyễn Sắc kim không nháy mắt. Anh Kim kéo tay tôi ngồi xuống nói:

- Các đồng chí đã biết tôi rồi, tôi không cần giới thiệu chi hỉ? Tôi được phân công đứng chân hoạt động vùng này, nghe nói anh em được ra tù, tôi phân công anh Ngô Sen tiếp cận liên lạc. Hỏi thiệt đồng chí, anh em mình sau khi trở về có ai dám hoạt động nữa không?

- Về 3 anh kia (3 người bạn cùng làng và cũng ở tù với tôi) thì anh để tôi nắm lại, còn tôi thì sẵn sàng!

Lúc còn ở nhà lao, tôi nghe anh em tù chính trị nói về anh nhưng chưa gặp, chỉ hôm nhìn ảnh của anh dán ở giỏ làng nay gặp mới biết. Rồi tôi kể lại cho anh Kim nghe phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ của anh em chính trị phạm ở nhà lao Hội An, mặc dù địch khủng bố nhưng tinh thần anh em rất vững vàng!

Nghe tôi kể rành mạch, anh Nguyễn Sắc kim nắm tay tôi nói:

- Đồng chí còn trẻ mà đã vượt qua được những thử thách cay nghiệt của nhà tù thực dân, tinh thần ấy đáng khen lắm, tôi được cấp trên phân công gặp đồng chí và giao nhiệm vụ cho đồng chí, đồng chí có phân vân điều gì không?

- Dạ thưa anh, em xin chấp hành nhiệm vụ được phân công và mong được công tác.

Anh nói tiếp:

- Tôi tực tiếp giao nhiệm vụ cho đồng chí từ nay tiếp tục hoạt động. Trước mắt, là đồng chí lựa chọn một số người tốt kết nạp họ vào tổ chức chuẩn bị thành lập mặt trận Việt Minh va các đàon thể Cứu quốc (Thanh niên phản đế trước đây, nay đổi thành Thanh niên cứu quốc). Từ nay anh Ngô Sen là đầu mối liên lạc, vừa tiế nhận hiệu quả công tác của đồng chí báo cáo, vừa truyền đạt nhiệm vụ với đồng chí, anh ấy là người phụ trách trực tiếp đồng chí đó.


(1), (2) Nhóm trấu là giờ trăng Mồng tám mọc: Mồng tám nhóm trấu, Mồng hín nín canh. Hai mươi tuất rốt. Hai mốt nửa đêm. Giờ đồng hồ ở nông thôn thời đó.
(3) Giở làng: là trạm canh gác bảo vệ an ninh ban đêm ở các làng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:11:44 PM
Thế là mong muốn của tôi đã trở thành hiện thực, tôi đã gặp được tổ chức và đã nhận công tác hoạt động trở lại. Sáng hôm sau tôi trở về nhà lòng khoan khoái lạ thường, tối tôi ra giở làng ngủ để tránh sự theo dõi của hương lí trong lang. Tôi lần lượt liên lạc và móc nối hai anh Nguyễn Xuân Vĩnh và Phạm Cai và giao nhiệm vụ cho hai người phát triển lực lượng thanh niên để kết nạp họ vào hàng ngũ Thanh niên cứu quốc (lúc này các hội đoàn thanh niên, phụ nữ, nông dân, lão thành đều đội tên là Hội cứu quốc). Trong lúc đó, anh Phạm Phổ tìm bắt lại với cách mạng ở huyện Duy Xuyên hoạt động trở lại. Anh về trao đổi ới tôi và đưa tôi 20 vé xổ số gây quỹ cho Việt Minh. Tôi mừng trong lòng vì anh em đều trở lại con đường hoạt động yêu nước. Tôi không dấu, đành nói thật với anh Phạm Phổ và đề nghị anh Phổ nhận công tác tôi giao. Anh đồng ý và trở lại nghề thợ may để kiếm sống nuôi gia đình, vừa tạo địa điểm liên lạc cho tổ. Đến tháng 4/1943, mỗi hội và đoàn thể chúng tôi tổ chức được 10 hội viên. Cùng trong thời gian này phong trào cách mạng ở Quế Sơn lại bị vỡ, địch phát hiện được cơ sở của ta, nhiều tổ chức Đảng trong tỉnh và huyện Quế Sơn bị địch đánh phá và bắt bớ khủug bố trên diện rộng. So với lần trước, thì lần này bị tổn thất của Đảng ở Quảng Nam lớn hơn. Anh Ngô Sen cũng bị bắt trong đợt này, bị mật thám đánh chết đi sống lại tại nhà, nhưng không hề khai báo, giữ vững khí tiết, giữ bí mật của Đảng, nhờ vậy tôi thoát được cảnh bị địch bắt lần thứ hai và hoàn thành nhiệm vụ phát triển lực lượng cơ sở, chuẩn bị thực lực cho làng Hương Quế tham gia khởi nghĩa.

Cuối năm 1944, đầu năm 1945, tình hình thế giới và trong nước diễn biến mau lẹ có lợi cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Hồng quân Liên Xô đã quét sạch quân phát xít Hitle ra khỏi đất nước và đang tiến quân giải phóng các nướcĐông Âu. Nước Ý phát xít đã đầu hàng, quân đội Anh Mỹ đổ bộ lên đất Pháp, chính phủ Pê-Tanh tay sai của Hitle sụp đổ. Cao trào cách mạng trong nước ta dâng lên cuồn cuộn. Thế lực Việt Minh lớn mạnh, tình hình đó đã tác động mạnh mẽ đến việc thúc đẩy cao trào cách mạng trong tỉnh và của huyện Quế Sơn.

Ngày 9/3/1945, phát xít Nhật làm đảo chánh Pháp chiếm quyền thống trị ở Đông Dương.

Ngày 12/3/1945, tỉnh ủy Quảng Nam nhận được chỉ thị của Trung Ương: Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta. Bản chỉ thị khẳng định tình hình cách mạng của cả nước đang ở vào thời điểm tiền khởi nghĩa. Cao trào kháng Nhật cứu nước ra đời, hiệu triệu n cả nước đứng lên. Ở Quang Nam, các tổ chức Đảng bộ, tổ chức quần chúng phát triển các đội tự vệ khẩn trương huấn luyện quân sự, sắm sửa rèn đúc vũ khí, sẵn sàng đón thời cơ khởi nghĩa, gấp rút xây dựng căn cứ địa ở nhiều địa phương. Huyện Quế Sơn có chiến khu Trung Phước nối liền với dãy Thiên Sơn, Hiên, Giằng, Trà Mi, Phước Sơn, Tiên Phước, Đại Lộc…

Cuối tháng 3/1945, anh Phạm Đình Trọng ở nhà lao Phú Bài về giao nhiệm vụ cho tôi chuẩn bị đón đưa một vị khách đặc biệt về Quảng ngãi đi qua địa phận làng Hương Quế, đó là Tướng Nugyễn Chánh (sau Cách mạng 1945, anh Chánh là Ủy trưởng quốc phòng Trung bộ). Đúng thời gian và ám hiệu, tôi ra chợ Mộc Bài, thấy một người đàn ông tầm thước, tay cầm chiếc mũ phớt lật ngửa. Nhật được ám hiệu, tôi đến đưa anh khoản kinh phí cần thiết và lo cho anh lên ga Phước Chỉ để về Quảng Ngãi an toàn. Tiếp đó anh Vũ Trọng Hoàng ở nhà lao Thừa Phủ về, vào thẳng nhà tôi giao thêm nhiệm vụ tổ chức quần chúng chuẩn bị cho khởi nghĩa và anh nói rõ: chiến khu Cao - Bắc - Lạng đã thành lập và một số tỉnh đã được giải phóng. Khoảng tháng  4, anh Phạm Ngọc Trình ở nhà lao Buôn Ma Thuột ra. Khi về anh cũng tới gặp tôi bàn ngay việc thành công lực lượng của làng Hương Quế.

Tháng 7/1945, phong trào cách mạng ở làng Hương Quế quê tôi phát triển sôi nổi gần như công khai. Bọn quan lại hào lí còn đó, nhưng chúng chẳng làm gì được và chúng có  nói cũng không ai nghe, nhân dân chỉ nghe và chấp hành những người đại diện của cách mạng. Sôi nổi nhất là phong trào truyền bá quốc ngữ, học bình dân. Ban đêm đường làng rực ánh đèn, ánh đuốc đi học văn hóa, từ 21 giờ đến nửa đêm học quân sự. Những thanh niên tiêu biểu được chọn đi đến một nơi kín đáo để tập quân sự. Giáo viên dạy quân sự là ông Quản Nghi (cha anh Trần Nghi). Những động tác quân sự do ông Quản Nghi dạy là mang súng, bồng súng, nghiêm nghỉ, sua đó là học võ thuật di chuyển, đánh côn, chủ yếu những thế tấn công đối phương. Khí cụ dể  học lúc này là thanh tre giả kiếm, đẽo gỗ làm côn. Vào thời gian đó, mỗi xóm của làng Hương Quế đã có tiểu đội tự vệ được huấn luyện vững vàng. Phong trào chuẩn bị bạo động khởi nghĩa dâng lên như thác trào bão cuốn trong lòng dân. Ở mỗi thôn đều có ban khởi nghĩa thôn. Ban khởi nghĩa làng Hương Quế gồm: NguyễnVăn Hiền, Nguyễn Huy Chương, Nguyễn Xuân Vĩnh, Phạm Cai, Nguyễn Quế, Trần Huy, Nguyễn Cừu, Nguyễn Biện…


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:14:22 PM
Ngày 17/8/1945, Ban khởi nghĩa tập hợp tại đình làng Hương Quế, Nguyễn Văn Hiền, Nguyễn Quế, Nguyễn Huy Chương chịu trách nhiệm chỉ huy lực lượng tự vệ và lực lượng các đoàn thể quần chúng lập thành đội ngũ hùng hậu, băng đỏ, cờ đỏ sao vàng kéo qua ngã ba Hương An, hội tụ cùng lực lượng của 20 làng trong tổng Xuân Phú, từ ngã ba Phước Chỉ thẳng lên gò Đồng Mặc, dừng chân tại chợ Đàng, gần huyện lị Quế Sơn. Lực lượng khởi nghĩa làng Mông Lãnh đến cống 3 bị bọn Nhật ở Quảng Ngãi đi ra, chúng thấy đông người hốt hoảng xả súng bắn vào đoàn quân khởi nghĩa giết chết anh Lê Phiên. Máu khởi nghĩa đã đổ rồi! Tất cả những người đi khởi nghĩa hô vang khẩu hiệu “Đả đảo phát xít Nhật”, “Đả đảo thực dân Pháp”, “Cách mạng muôn năm và hát vang bài ca diệt phát xít trấn áp bọn giặc Nhật và tiếp tục tiến về huyện Quế Sơn. Lúc đó lực lượng của tổng An Mĩ, tổng Xuân Mĩ đang hợp đồng cùng lực lượng của tổng Trung Lộc dang vượt đèo Le sang tổng Thuận An từ phía tây tràn xuống, về huyện đường Quế Sơn. Đúng 6 giờ ngày18//8/1945, lực lượng tự vệ và quần chúng của 5 tổng thuộc Quế Sơn có mặt trước huyện đường. Anh Lê Thành Hậu, đảng viên, người làng Trà Đình, được Ủy ban khởi nghĩa huyện Quế Sơn cử mang tối hậu thư trao cho tri huyện Nguyễn Khắc Văn, buộc y giao ấn tín và chính quyền huyện cho Ủy ban khởi nghĩa huyện Quế Sơn. Tri huyện Nguyễn Khắc Văn do dự, đề nghị ta cho y thời gian để y xin ý kiến cấp trên. Nhưng thủ lĩnh thanh niên Lương Châu (cháu lương y Lương Trọng Hối) tuyên bố bàn giao toàn bộ  lực lượng thanh niên của huyện cho Ủy ban Cách mạng khởi nghĩa huyện Quế Sơn. Tri huyện Nguyễn Khắc Văn buộc phải trao “ấn tín” cho Ủy ban khởi nghĩa. Đại diện Ủy ban khởi nghĩa huyện Quế Sơn, đồng chí Đỗ Quang đại diện chính quyền cách mạng huyện Quế Sơn tiếp nhận sự bàn giao và tuyên bố thành lập UBNDCM lâm thời huyện. UBNDCMLT huyện đã cử đồng chí Đỗ Quang làm chủ tịch UBNDCMLT đầu tiên của huyện Quế Sơn. Đỉnh lũ của lòng dân được Đảng hướng dòng thành cao trào khởi nghĩa, đã giành trọn vẹn chính quyền về tay nhân dân. Đó là kết quả rực rỡ của một quá trình đấu tranh kiên cường bền bỉ, nó là kết quả của một phong trào cách mạng đúng đắn do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

Đoàn người đi khởi nghĩa của 5 tổng được lệnh trở về điểm xuất phát. Xế trưa ngày 18/8/1945, một cơn mưa như “cầm chỉnh đổ” trút xuống ngập đồng. Đoàn người lúc đi khô ráo, khi trở về ướt sũng, lạnh cóng, bụng đói cồn cào. Nhưng không vì thế mà khí thế khởi nghĩa long trời lở đất đó giảm đi nhiệt huyết. Đoàn người từ huyện về, theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa làng Hương Quế, chia nhau xuông từng thôn xóm thông báo thắng lợi và vận động nhân dân sáng ngày 19/8 ra tại đình làng dự mitting. Suốt đêm 18/8, đường làng sáng rực ánh đuốc. Sáng ra,đình làng Hương Quế vang động tiêng trông rung chuyển nóc đình thúc giục bước chân nam nữ thanh niên, nam phu, lão ấu đến dự lễ. Cuộc metting  bắt đầu lúc 8 giờ sáng. Lần đầu tiên có chuyện lạ, là dân chúng cả làng tụ về nghe chuyện cách mạng do Việt Minh lãnh đạo. Nhà có 3 người thì đi 2 người, nhà có 8 người thì đi 7 người. Tôi được Ủy ban khởi nghĩa của làng Hương Quế cử phát biểu trước dân, thông báo thắng lợi của khởi nghĩa Mùa Thu, chính quyền thực dân từ làng xã, tổng huyện nay không còn nữa. Yêu cầu đồng bào sáng suốt bầu chọn người đại diện để thành lập chính quyền mới bằng cách biểu quyết giơ tay. Tôi được đại biểu nhân dân Hương Quế đề cử chức Chủ tịch UBNDCM lâm thời làng Hương Quế. Nguyễn Cừu, phó chủ tịch, Phạm Đình Long thư kí, đồng chí Nguyễn Thưng và Nguyễn Đình Bản phụ trách quân sự. Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời có phó chủ tịch và các ủy viên, thư kí, tuyên truyền, tài chính, giao thông, công chánh, trinh sát an ninh(1). Sau đó UBNDCM lâm thời làng Hương Quế tiến hành tiếp nhận sổ bộ điền thổ, đinh bạ, địa bạ và tài sản do lí trưởng và ngũ hương bàn giao; tiến hành quân cấp công điền, công thổ cho dân nghèo, không phân  biệt ngụ cư hay chánh quán; bãi bỏ thuế thân, thuế đò, thuế chợ; cấm hút thuốc phiện, đánh bạc, nấu rượu; tiến hành tổ chức lực lượng vũ trang đủ mạnh để bảo vệ thành quả cách mạng; tổ chức Mặt trận Việt Nam, các đoàn thể, sử dụng đình làng làm trụ sở chính quyền va các đoàn thể, mời các thân hào, nhân sĩ và thu nhận một số hương lí tiến bộ làm việc cho chính quyền cách mạng; thành lập quỹ tài chính cách mạng(2). Và khai giảng năm học mới kịp thời.

Cuộc biểu dương lực lượng quần chúng chào mừng khởi nghĩa cách mạng Tháng tám thành công của nhân dân Hương Quế ghi dấu ấn trong lòng mọi người. cuộc đổi đời không tưởng tượng đó đã đánh thức mọi tâm hồn mọi người đứng dậy, cùng hòa nhập trong đại gia đình dân tộc. Bà con đồng lòng chung sức xây dựng và bảo vệ chính quyền non trẻ, đẩy mạnh sản xuất, phát hoang tận dụng đất đai trồng các loại rau màu, cây đậu để cứu đói và chi viện cho các địa phương khác. Ngũ hương trong làng vì muốn lập công, nên họ làm việc rất tích cực theo sự phân công của chính quyền cách mạng.

Cách mạng đổi đời, lòng người cởi mở. Quá khứ bỏ qua, mọi người trong làng bình đẳng, không phân biệt giàu nghèo, ra đường ai cũng ngẩng mặt thân tình chào hỏi, không khép nép âu lo như trước nữa. Có thể nói, trải qua hàng thê kỉ sống trong chế độ thực dân, cường hào đè đầu cưỡi cổ nhân dân Hương Quế, Quế Sơn đã đứng lên làm cách mạng, giải phóng quê hương. Người dân trước đây không có ruộng có nương phải ở ngụ, làm thuê cả đời lam lũ, bỗng chốc trở thành củ nhân của ruộng vườn, điền thổ cây trái. Thuế đinh là một thoại thuế dã man tồi tệ nhất của chế độ thực dân phong kiến đã được xóa bỏ. Những thửa đất hoang phế của ngày xưa giờ đã xanh lên khoai sắn, rau màu, toàn dân thực hiện lời dạy của Cụ Hồ, diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm bằng công sức của mình.

Đối với tôi, cách mạng Tháng 8 quả là cuộc đổi đời, tôi từ một người  còn “đầu xanh tuổi trẻ” cùng và bà con đồng bào mình sống trong nô lệ, trở thành người làm chủ, từ người tù chính trị trong vòng kèm kẹp, tra tấn của kẻ thù, trở thành người cán bộ cách mạng, được lăn lộn, hòa mình với đồng bào, đồng chí ngay trên quê hương mình, nỗi vui mừng không thể nào nói hết được. Tôi hiểu rằng con đường giải phóng dân tộc, con đường kháng chiến còn dài, còn gian khổ, nhưng nhất định đến ngày thắng lợi huy hoàng.


(1) Chủ tịch UBNDCMLT Nguyễn Huy Chương, Nguyễn Cừu, phó chủ tịch, Phạm Đình Long ủy viên thư kí, Trần Huy ủy viên an ninh (trinh sát), Phạm Đình Hiến ủy viên tài chính, Phạm Cai giao thông công chánh, Nguyễn Văn Hiền giáo dục tuyên truyền…
(2) Ban quân cấp: Nguyễn Hữu (Cửu Phu) trưởng ban; Phạm Khắc Cừ (lí trưởng cũ) phó ban; Phạm Thắm (Hương bộ) là cha Phạm Ngọc Trình; Phạm Chúng (hương bộ) ủy viên; và đại diện nhân dân từng xóm.
Mặt trận Việt Minh: Nguyễn Quế, Nguyễn Xuân Vĩnh, chủ tịch và phó chủ tịch, các đoan thể Thanh niên, Phụ nữ, Nhân dân, Lão thành… Lúc này làng Hương Quế có 1 trường 2 lớp học. Lớp 5 là lớp Đồng ấu và lớp dự bị.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:18:31 PM
CHƯƠNG II

NGÀY MỚI TRÊN QUÊ HƯƠNG

Cách mạng Tháng 8 thành công, đỉnh lũ của lòng dâng tràn bờ. Chính quyền công nông non trẻ đứng trước những khó khăn vô cùng và thử thách quyết liệt.

Ở miền Bắc nạn đói còn hoành hành, do sự cướp phá, vơ vét của giặc Pháp và Nhật, do vỡ đê mất mùa năm 1945 hai triệu người chết đói, sức dân cùng kiệt. Trước những khó khăn dồn dập đó, quân Tưởng Giới Thạch lại tràn vào nước ta, kéo theo bọn tay sai phá hoại, lật đổ - bọn tàn quân Pháp trước đây chạy sang Trung Quốc trốn tránh quân Nhật, nay trở lại đán chiếm một số vùng ở biên giới. Ở miền Nam, quân đội Anh mượn tiếng giải giáp quân Nhật mở đường cho quân đội Pháp cướp lại nước ta. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp gây hấn ở Sài Gòn, sau khi có quân viện từ Pháp sang, chúng mở rộng địa bàn lấn chiếm các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ, Nam Trung Bộ. Trước tình hình đó, ngày 26 tháng 9 năm 1945, qua đài phát thanh, Bác Hồ ra lời kêu gọi đồng bào Nam Bộ anh dũng kháng chiến chống Pháp. Đáp lời kêu gọi của Bác, quân và dân Mam Bộ kiên quyết nổ súng đánh trả quân Pháp, thực hiện quyền dân tộc bị áp bức đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Khi nhận được tin này, nhân dân và tự vệ làng Hương Quế tổ chức mitting ủng hộ nhân dân Nam Bộ đánh Pháp. Cuộc mitting biến thành cuộc tuần hành biểu dương lực lượn, hô vang khẩu hiệu “Đả đảo thực dân Pháp”, đồng ca bài “Cùng nhau đi hồng binh”, “Diệt phát xít”. Tiếng ca hùng tráng vang lên xao động cả một vùng quê. Sau hai bài hành khúc đó, anh em lực lượng tự vệ Hương Quế đồng ca bài “Ca ngợi Hồ Chủ tịch”, một bài ca mang hồn sông núi thiêng liêng làm rung cảm lòng tôi đến như vậy. Từ ngày khởi nghĩa giành hành quân về tay nhân dân đến nay, người dân quê tôi ai cũng được hưởng quyền lợi của chế độ mới. Khí thế hăng hái sục sôi như ngày khởi nghĩa. Sau diễu hành, anh chị em thanh niên tỏa về các thôn xóm cắt khẩu hiệu, dán băng rôn. Khẩu hiệu thì cắt bằng giấy ngũ sắc, băng rôn thì dùng tấm vải ta ngang năm tấc, dài tám hay mười mét, hay lấy tấm buồm ghe rọc ra dán khẩu hiệu căng lên làm cổng chào, cổng chợ, kết hoa treo đèn. Đền lúc này được thắp bằng dầu phụng, dầu rái, hãn hữu mới có dầu hỏa. Thế nhưng ban đêm cổng làng sáng rực ánh đèn.

Tháng 10 năm 1945, cán bộ chính quyền làng Hương Quế quê tôi vui mừng học tâp thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lời thư của Bác gần gũi thân thiết. Bác dặn: “Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc đến  các làng đều là đầy tớ trung thành của nhân dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân chứ không phải để đè đầu dân như trong thời dưới quyền thống trị của Pháp - Nhật. Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Trong thư Bác còn dặn: “Những iệc gì đã trót sai rồi phải hết sức sửa chữa. Vì lợi ích của dân tộc, vì lợi ích của nước nhà… chúng ta phải ghi sâu những từ công minh chính trực vào lòng. Mong các bạn tiến bộ”. Từ dấy Chính quyền làng Hương Quế được củng cố, phát triển một bước về chất trong nhiệm vụ phục vụ nhân dân, gây được niềm tin yêu, đoàn kết trong thôn xóm. Cũng từ sau cuộc mitting ủng hộ đồng bào Nam Bộ, vấn đề mổi lên của làng Hương Quế lúc này là học tập và huấn luyện quân sự. Các lực lượng Thanh niên, phụ nữ, nông dân, lão thành, thiếu nhi được tập hượp và sinh hoạt theo đoàn thể. Việt Minh kêu gọi nhân dân không phân biệt tôn giáo, đảng phái, xu hướng chính trị tự nguyện tham gia vào hàng ngũ “Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam” tức là (Hội Liên Việt). Đảng Cộng sản hướng mục đích của họ vào công cuộc xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ và phú cường. Mọi người dân trong làng Hương Quế từ đó có đoàn thể để hội họp, học tập, phát triển và hiến kế, để chính sách của Đảng và chính quyền cách mạng đi sâu vào đời sống nhân dân. Bốn chữ nam nữ bình đẳng được giới phụ nữ trong làng phát huy mạnh mẽ nhất. Không một cuộc họp nào thiếu văng chị em, tình nghĩa làng xóm được thắt chặt, những tập tục lạc hậu trong cưới hỏi, ma chay, không phù họp với hoàn cảnh kinh tế của nhân dân bị xóa bỏ. Phong trào bình dân học vụ xóa nạn mù chữ trong thanh thiếu niên từ 10 tuổi trở lên được vận động đi học. Khẩu hiệu lúc này là Diệt giặc đói và giặc dốt được chăng dán ở khắp đầu làng, cuối xóm. Phong trào liên tục được kiểm tra ở những nơi công cộng như chợ búa, hội họp. Người mới học thì phải đọc suông bảng chữ cái, người học lâu phải đọc thông bản chữ ghép, tức là vần đôi, mới được vào chợ, hay đi xem hát bội. Chính công tác này đã giúp cho việc họ trong dân được đà phát triển. Phong trào thi đua sản xuất nông nghiệp, các nghề trồng dâu, nuôi tằm ươm tơ dệt lụa, các dịch vụ nghề rèn, nghề mộc được khôi phục. Tôi hình dung như một “công trường” sản xuất ngành nghè từ tỉnh tới huyện và đến làng tôi như lan tỏa sức sống tấp nập. Còn phong trào “hũ gạo đồng tâm tiết kiệm”, “hũ gạo nuôi quân” được phát động thành nề nếp trong dân: hũ gạo tiết kiệm là 10 ngày, gia đình nghỉ ăn một bữa lấy gạo bỏ vào hũ; hũ gạo nuôi quân là mỗi bữa cơm, người đong gạo tự hốt bỏ vào hũ một nắm, đến 20 ngày sau, hai hũ gạo được trút ra, chủ nhà tự giác đông đếm từng hũ được bao nhiêu gạo thì ghi vào sổ và đổ gạo đó ra ăn; cứ như thế xoay vần, để khi cán bộ đến thu giở sổ biết số lượng mà đóng. Việc làm đó, người thu cũng như chủ nhà đều tự giác. Gạo tiết kiệm dùng để cứu đói đồng bào ở vùng thiên tai, còn gạo nuôi quân đưa về lực lượng tự vệ của làng. Trong thời gian này, "Phong trào đời sống mới, phong trào người Việt Nam mới” ra đời đẩy lùi tệ nạn trọng nam khinh nữ, ăn sâu vào đời sống của các tầng lớp nhân dân từ bao đời nay được xóa bỏ. Tôi còn nhớ bài hát: “Đời sống mới mới mới, cái chi cũng mới mới mới, người Việt Nam ta vẫy vùng bốn phương…” được lực lượng thanh niên nam, nữ hát vang hàng ngày, và họ sinh hoạt rất tự nhiên, ai cũng hăng hái tham gia phong trào. Tổng Xuân Phú có 20 làng thì đã có 1000 thanh niên nam, nữ đăng kí vào lực lượng tự vệ, và được Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời tổng Xuân Phú biên chế thành 2 chi đội. Chi đội 1 gọi là chi đội Hướng Phiên (tên anh Lê Phiên ở làng Mông Lãnh) do đồng chí Võ Sĩ Bình, quê ở Bà Rén làm chi đội trưởng, tôi được cấp tên phân công kiêm nhiệm vụ chính trị viên chi đội này. Còn chi đội 2 tức chi đội Quang Cận, do đồng chí Nguyễn Sanh Hương, ở làng Hương Lư làm chi đội trưởng và đồng chí Lê Nho Đào ở làng Quế Trạch làm chính trị viên. Các chi đội được biên chế thành đại đội, trung đội, tiểu đội, tổ 3 người và được trang bị vũ khí thô sơ như gậy tầm vông, gươm giáo, mã tấu, được huấn luyện võ thuật gồm những thế tân công đối phương. Cả tổng sôi nổi trong công tác quân sự. Trên cương vị là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời làng Hương Quế, kiêm chính trị viên chi đội tự vệ, tôi làm việc hăng say, sáng làm công tác ở Ủy ban, chiều tham gia lãnh đạo chi đội tự vệ hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện với anh em. Tối về, tôi còn tranh thủ đi kiểm tra các lớp học bình dân học vụ. Các đồng chí công tác chung với tôi ai cũng muốn vượt lên phía trước, nên mặc dù tôi làm việc đêm ngày say sưa như thế nhưng vẫn chưa thấy thỏa mãn.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:20:30 PM
Tôi còn nhớ trong đợt học tập bầu cử Quốc hội khóa I vào ngày 6 tháng 1 năm 1946 - đây có thể xem là cuộc diễn tập ý chí toàn dân lần thứ 2 sau khởi nghĩa Tháng 8 thắng lợi.[58] Người người nô nức chờ đợi đến ngày đi làm nhiệm vụ người công dân của nước Việt Nam mới, tôi nhớ ở làng tôi trước ngày bàu cử, ai nấy đều học thuộc lòng bốn câu ghi sẵn để khi bỏ phiếu nhữưg người có, có tài, được trên tín nhiệm giới thiệu:

“Tổng tuyển cử đã đến rồi
Vì quyền, vì lợi mấy lời nhớ ghi
Sa, Nhỉ, Tống, Bằng, Tri, Kỉ, Huệ
Diêu, Thao, Thự, Viện, Hiến, Thanh, Bôi”
(1)

Cuộc bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946 được tiến hành thắng lợi. Làng Hương Quế quê tôi có đến 99% số người tham gia đi bầu, họ vui sướng phát huy quyền dân chủ. Đây là cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên của một đất nước độc lập, vì dân, do dân mà suốt mấy mươi thế kỉ trôi qua trong lịch sử dân tộc mới có được sự đổi đời mới mẻ này. Nguồn tin thắng lợi của cuộc bầu cử cho biết: trong toàn quốc có đến 90% cử tri đi bầu cử, 333 đại biểu Quốc hội trúng cử, trong đó có 10 đại biểu là phụ nữ, 14 đại biểu ở Quảng Nam đều trúng cử. Quốc hội họp phiên đầu tiên tiến hành soạn thảo và thông qua hiến pháp đầu tiên, xác định quyền làm chủ đất nước và các quyền tự do dân chủ của nhân dân.[59]

Vào tháng 3 năm 1946, cũng lần đầu tiên tổng Xuân Phú ó một Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời của 20 làng, hiệp thương chia thành 6 xã (như vậy là 103 làng của 5 tổng thuộc huyện Quế Sơn đã họp thành 25 xã(2), và có lẽ từ đây ra đời danh từ xã trên địa bàn Quế Sơn (?). Vào thời gian này tôi được huyện ủy quyết định làm Trưởng an quân sự, Phó bí thư chi bộ xã Liên Hoan (Liên Hoan tức là tên cụ Nguyễn Hoan, một nghĩa sĩ người làng Hương Quế, tham gia phong trào Nghĩa hội 1885 bị thực dân Pháp bắt đày ra Côn Đảo và hi sinh trong nhà lao) và UBNDCMLT được đổi thành Ủy ban kháng chiến hành chinh do ông Vũ Quỳnh làm chủ tịch (Thời đánh Mĩ ông Vũ Quỳnh là Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận dân tộc giải phóng Tỉnh Quảng Nam).

Trong suốt năm 1946, nhân dân xã Liên Hoan thực hiện khẩu hiệu: Kháng chiến kiến quốc, vừa chăm lo phát triển kinh tế làm cho dân đủ ăn, vừa lo xây dựng mặt trận Việt Minh vững mạnh, củng cố các đoàn thể, tuyển quân xây dựng lực lượng ba thứ quân (dân quân du kích, bộ đội địa phương, bộ đội chủ lực). Huyện Quế Sơn đã thành lập một trung đội vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan huyện, từ đơn vị này đến năm 1947 huyện thành lập đội biệt động mang tên Phạm Uyển (Phạm Uyển là bi thư Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của làng Nghi Hạ, bị mật thám bắt và đã hi sinh trong tù để bảo vệ cơ sở Đảng ở địa phương). Lúc đầu đại đội có 65 đồng chí, trong đó ban chỉ huy đại đội có 2 người: Đồng chí Nguyễn Đình Phụng, đại đội trưởng, đồng chí Võ Thanh Bình đại đội phó. Đại đội biệt động Phạm Uyển ban đầu được trang bị 10 khẩu súng trường, một khẩu tiểu liên và một khẩu súng lục. Số chiến sĩ còn lại được trang bị mã tấu, gươm giáo. Hằng ngày đại đội được huấn luyện chiến thuật, võ thuật và các động tác kĩ thuật cho nhuần nhuyễn.

Tình hình càng về cuối năm càng sôi động. Hành động xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp càng lộ rõ. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và BácHồ phát động cuộc kháng chiến trong cả nước. Trong buổi đầu kháng chiến, nước ta bị bao vây từ bốn phía. Chính quyền của ta còn non trẻ, lực lượng  vũ trang của ta mới xây dựng trang bị kém, kinh nghiệm chiến đấu hạn chế, kinh tế của ta nghèo nàn lạc hậu. Mặc dầu vậy, cái ta có là một dân tộc đoàn kết, có chính nghĩa và tinh thần yêu nước chống ngoại xâm lên cao. Dân tộc ta được sự lãnh đạo của Đảng, có đường lối chiến tranh nhân dân, có sách lược mềm dẻo được nhân dân tin yêu bảo vệ. Đó là thế tất thắng mà quân địch không có được. Trong gần hai tháng chiến đấu, quân va dân thủ đô đã đánh 200 trận tiêu diệt nhiều tên địch. Hồi đó ở quê tôi không có điện đài nên tin tức đều rất chậm, dù tính thời sự không còn, nhưng mỗi khi có một thông báo về tình hình chiến sự từ trên gởi xuống, thì bầu không khí trong xã bỗng xôn xao sôi động, báo cho nhau biết về chiến thắng của Cách mạng.


(1) Những ứng viên khóa I Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa người Quảng Nam - Đà Nẵng: Võ Sạ (Tam Kì), Nguyễn Xuân Nhĩ (Điện Bàn), Trần Tống (Địa Lộc), Phạm Bằng (Tiên Phước), Trần Đình Tri (Đại Lộc), Nguyễn Thế Kĩ (Tam Kì), Huỳnh Ngọc Huệ (Đại Lộc), Phan Diêu (Quế Son), Phan Thao (Điện Bàn), Trần Viện (Quế Sơn), Lê Văn Hiến (Đà Nẵng), Phan Thanh - Lê Thị Xuyên (Điện Bàn), Phan Bôi (em ruột của Phan Thanh - Điện Bàn).
(2) Xã Dưỡng Xuân: Đường Mông, Xuân Phú, xã Phú Mĩ gồm: Quế Trạch, Hòa Mĩ, Diễn Bình, xã Xuân Trà gồm: Mông Lãnh, Trà Đinh, Phú Trang, Xuân Mĩ; Xã Tam Hiệp gồm: Mông Nghệ, Phương Trì, An Lộc; xã Liên Hoa gồm Hương Quế, Đồng Tràm, Xuân Yên, Xuân An. Tân Phú gồm: Phú Cường, Thạch Khê, Hương Lư, Hương Lộc.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:23:11 PM
Xã Liên Hoan chọn sân vận động đình làng Hương Quế lam thao trường huấn luyện quân sự cho lực lượng tự vệ xã. Từ bình minh đến xế chiều, ở đây luôn rộn ràng tiếng hô khẩu lệnh, tiếng trẻ con reo hò mừng các anh chị tập luyện quân sự. Tết năm Đinh Hợi (1947) lại về tên quê hương đất nước. Một mùa xuân Cách mạng chuyển thế và lực sang giai đoạn phản công quân Pháp. Mùa xuân của đất trời, vạn vật cỏ hoa quê tôi như xanh hơn. Con sông Li Li mùa này nước vẫn đầy con đập Hương An, theo những con mương đổ về các cánh đồng làm cho sắc lúa xuân mướt xanh, cây cỏ tốt tươi hơn. Cái tết độc lập thanh bình, chan hòa tình làng nghĩa xóm, quân dân đoàn kết một lòng dưới màu cơ đỏ sao vàng của Tổ uốc, thật xúc động vô cùng. Chim tu hú cất tiếng tiễn đưa màu gió lạnh, cây gạo ven sông Bà Rén nở xòe những chùm đỏ ối. Cùng trong cảnh sắc thời gian ấy, tôi nhận được quyết định cấp trên bàn giao công tác quân sự, công tác Đảng của xã Liên Hoan trong thời gian sớm nhất để đi nhận nhiệm vụ mới. Thời buổi cách mạng nên việc gì cũng nhanh, chính xác và tự giác. Trước khi đi về trên, tôi đến từng làng (cũ) từng thôn để từ giã bà con, những cán bộ đoàn thể đã gắn bó công tác cùng tôi sau ngày Cách mạng Tháng tám thành công. Nhân dân xã Liên Hoan nhất là bà con làng Hương Quế, Đồng Tràm nói lời tiễn đưa tôi đi “chân cứng đá mềm”. Có lẽ đây là lần đầu  tiên,tôi ý thức được nghĩa đồng bào bao la mà ấm áp như lòng mẹ. Tình cảm lưu luyến đó dồn nén lại trong tôi khi anh Đinh Xuân Thưởng, Bí thư chi bộ nói:

- Tôi với đồng chí tình sâu nghĩa nặng, gắn bó, từ sinh ra đến trưởng thành, từ ngày quê ta giành chính quyền, giữ chính quyền đến ngày vững mạnh hôm nay, khi xa nơi “cắt rốn chôn nhau” đầy kỉ niệm này không lưu luyến sao được. Nhưng vì yêu cùa của Đảng, vì trách nhiệm trước nhân dân chúng ta đành phải chia tay!

Tôi về đến nhà, anh chị và cha tôi đều có mặt trong mâm cơm “đoàn viên”, tôi nói:

- Xin cha thông cảm cho con, từ nay việc thờ cúng ông bà và mẹ có anh cả, con ra đi làm nhiệm vụ của Đảng và nhân dân giao. Còn anh Sâm và anh Lộc cố gắng hoàn thành công tác địa phương giao, em mong hai anh được vậy.

Cha tôi run run, ông nói:

- Tư khi con bị bắt ở tù, cha đêm ngày suy nghĩ, lúc con trở về cha luôn để ý, biết con là người có chí nên cha không ngăn con hoạt động cách mạng, nay con ra đi, cha chúc cho con “chân chứng đá mềm” mong con trở thành người cán bộ tối, giữ gìn truyền thống tổ tiên và dòng họ nhà ta.

Lòng tôi mềm ra trước cảnh chia li. Đến hôm nay nhiều khi hồi tưởng lại dĩ vãng, thấy còn nặng trĩu bên lòng trước những mong mỏi của cha và các anh chị tôi.

Về đến văn phòng Huyện ủy, tôi được phân công làm chính trị viên đại đội Phạm Uyển. Khi tôi về đại đội đã có 90 người, do anh Nguyễn Tấn Châu làm đại đội trưởng, anh Võ Thanh Bình làm đại đội phó. Thế là từ tháng 3 năm 1947, tôi trở thành chính trị viên đại đội địa phương huyện Quế Sơn. Lúc đó bộ đội ta có nhiều tên gọi: Vệ quốc quân, Vệ quốc đoàn. Các danh từ ấy tồn tại trong thời gian lịch sử nhất định, nhưng có một danh từ tồn tại mãi đến ngày nay đó là: Bộ đội Cụ Hồ. Như vậy, đường vào quân đội nhân dân của tôi là được Huyện ủy điều động từ Trưởng ban quân sự, Phó Bí thư chi bộ xã Liên Hoan lên nhận công tác chính trị viên đại đội Phạm Uyển, bộ đội địa phương huyện Quế Sơn, không đi qua con đường nhập ngũ từ chiến sĩ lên.

Nhiệm vụ của Đại đội Phạm Uyển là học tập, rèn luyện kĩ thuật, chiến thuật hành quân ban đêm, hành quân đường dài, làm công tác dân vận, bổ sung tân binh cho đủ 120 người và tiếp tục huấn luyện, giáo dục, giác ngộ chính trị, học tập những tài liệu “Trường kì kháng chiến, nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh, để xây dựng quan điểm, ý chí của người nhân dân cách mạng sẵn sàng đánh địch trong bất kì tình huống nào.

Cuối tháng 3 năm 1947, quân Pháp ở Đà Nẵng đưa quân đánh chiếm Hội An, Điện Bàn, Đại Lộc, chiếm đường 100 (609) đi Ái Nghĩa. Đại đội Phạm Uyển cắt hai trung đội phối hợp với dân quân du kích các xã ven đường 100 bám đánh địch để rút kinh nghiệm thực tế.

Sau thời gian củng cố đồn trại, ngày 16 tháng 6 quân Pháp vượt sông Thu Bồn đánh chiếm Duy Xuyên. Cánh quân thứ hai của địch theo sông Câu Lâu đánh chiếm Bàn Thạch, Triều Châu, Long Châu. Cánh quân thứ ba của địch từ Vĩnh Điện theo quốc lộ số 1 vào chiếm Câu Lâu, Nam Phước, Bà Rén, bị trung đoàn 93 và quân du kích các xã Dưỡng Xuyên, Phú Mĩ, Xuân Trà, Tam Hiệp, Liên Hoan… tổ chức phòng thủ phía nam sông Bà Rén, chiến đấu ngăn chặn âm mưu mở rộng địa bàn chiếm đóng của địch, buộc chúng phải dừng chân và đóng đồn tại phía nam đầu cầu Bà Rén nằm trên quốc lộ 1.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:24:23 PM
Đến ngày 26 tháng 6 năm 1947, quân Pháp tiến hành một cuộc tiến công càn quét vào vùng tự do của Quế Sơn, chúng tiến quân qua các xã Dưỡng Xuân, Xuân Trà, Tam Hiệp, Phú Mĩ… sau một mũi quân gồm một đại đội lê dương và một đại đội “Việt binh đoàn” tiến từ đồn Bà Rén đi theo đường số 1 đến mộc Bài rồi dừng lại, chúng cho bọn pháo binh kéo pháo đi theo cuộc càn này, trận địa pháo đứng lại Bà Rén bắn dọc đường từ Mộc Bài đến Hươngg An, dọn đường cho mũi quân lê dương tiến vào Hương An. Bộ binh đi đến Mộc Bài dừng lại, chúng đốt nhà cướp của, bắn giết trâu bò tại khu vực này. Trong khi đó một mũi quân lê dương thứ ba, gồm hai đại đội và một trung đội quân ngụy từ Núi Đất,  làng Mậu Hòa huyện Duy Xuyên, theo đường xe lửa tiến vào An Lộc, đến ngã tư Phước Chỉ thì dừng lại, không đi xuống đường 105 mà chúng đi băng qua núi Cây Da Dù rồi bí mật men theo rìa núi Quế cắt đường đi xuống Gò Rang.

Về phía bộ đội địa phương Quế Sơn lúc này, có đại đội Phạm Uyển quân số 120 chia thành 3 trung đội. Ban chỉ huy đại đội nhận định, địch từ Mộc Bài có thể vào Hương An, đến ngã ba Hương An chúng sẽ tiến theo đường 105 để đánh chiếm Gò Rang, cho nên Ban chỉ huy cho ba trung đội giăng phòng tuyến. Trung đội 1 do đại đội trưởng Nguyễn Tấn Châu chỉ huy, bố trí trận địa tại Gò Rang, trung đội 2 do tôi chỉ huy bố trí tại ngã ba Hương An, cách quốc lộ I 300m để đón cánh quân từ Mộc Bài vào, trung đội 3 do đại đội phó Võ Thanh Bình chỉ huy, bố trí phía Bắc bờ sông Li Li, giáp với trung đội 2 của tôi với ý định ba trung đội đón đánh địch từ hướng đông lên, không chú ý cánh quân địch từ trên đường xe lửa vào ngã ba Phước Chỉ đánh xuống, tiểu đội 1 không đề phòng địch phía sau lưng. Khi bọn địch đã phát hiện vị trí chiến đấu của trung đội 1, húng hô: “Calculer Mortier” (Chọn phần tử xạ kích để bắn)

- A-la-xô! A-la-xô! (Xung phong, xung phong)

Đại đội trưởng Nguyễn Tấn Châu quay lại đối phó, anh hô:

- Địch bọc phía sau các đồng chí ơi! Chờ nó đến, bình tĩnh mà chiến đấu!

Tiếng của anh vừa dứt, bọn lê dương đã xả súng đại liên, trung liên, súng cối vào đội hình quân ta. Khẩu tiểu liên tôm xông duy nhất từ tay đại đội trưởng Châu và 10 họng súng Mút-cờ-tông của trung đội 1 quay lại bắn tới tấp vào quân địch chặn bước tiến của chúng, kịp thời cho 20 chiến sĩ trang bị gươm, mẫ tấu sẵn sàng quyết tử. Bọn lê dương ập đến, cả hai bên xáp lá cà. Đồng chí Nguyễn Cầm - tiểu đội trưởng bắn hết đạn, liền lấy quả lựu đạn, một tay đưa lên miệng cắn chốt, tay kia ghì chặt một tên địch. Lựu đạn nổ, anh đã giết được tên địch và hí sinh anh dũng. Thấy đồng đội hi sinh, đại đội trrưởng Nguyễn Tấn Châu gồng tay bắn hết băng đạn cuối cùng vào bọn địch và nhảy lên khỏi công sự dùng “xác” khẩu tiểu liên đánh nhau với 3 tên lê dương to sầm. Chúng tóm được anh, anh bình tĩnh thò tay lấy lựu đạn, một tên địch dang ra, định bắn nhưng không kịp, quả lựu đan trong tay người đại đội trưởng phát hỏa, cả 3 tên địch ngã gục. Lựu đạn nổ tại chỗ, anh không thể nào tránh kịp. Anh Châu đã hi sinh như một người anh hùng. Bọn lê dương đông hơn quân ta gấp bôi, nhưng 6 tên bị thương đang la khóc, 10 tên nằm quay đơ, màu vàng quân phục bằng vải ka ki của nó phưoi xác tên cánh rừng Gò Rang khiến tên chỉ huy hốt hoảng kéo đồng bọn chạy ngược trở lại con đường đã đột kích vào sau lưng trung đội 1. Trận đánh kết thúc, 12 cán bộ, chiến sĩ của đại đội Phạm Uyển đã hi sinh, 2 chiến sĩ bị thương, trong số đó có 1 cán bộ đại đội - đồng chí Nguyên Tấn Châu, một cán bộ trung đội và 3 cán bộ tiểu đội. Đây là trận đánh tập trung đầu tiên của đại đội, nhưng ta bị tổn thất. Có thể nói chiến công của trung đội 1 được làm nên bằng ý chí kiên cường của những cán bộ chiến sĩ trận đầu đánh Pháp, sự hi sinh anh dũng của anh em đã để lại sự cảm phục và yêu thương của đồng đội, đồng bào. Riêng tôi đã xúc động ghi lại mấy dòng tình cảm đến bây giờ tôi ẫn còn nhớ:

Thương anh em một thời gian khổ
Từ quê nghèo giác ngộ ra đi
Quê hương sử sách đã ghi
Những người biệt động ra đi diệt thù.


Lịch sử truyền thống cách mạng, trong đó lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Quế Sơn sẽ không bao giờ quên các anh. Những người con trung hiếu của đất Quế đã ngã xuống vì quê hương, vì niềm tự hào của anh bộ đội Cụ Hồ, làm nên chiến công trong những ngày đầu đánh giặc Pháp xâm lược, sẽ còn nhắc mãi trong kí ức mọi người.

Trận Gò Rang là trận đánh tập trung đầu tiên của bộ đội địa phương Quế Sơn đánh quân Pháp vào lấn chiếm vùng đất tự do này. Đây cũng là trận đánh gây cho địch thiệt hại và bất ngờ trước sự xuất hiện của lực lượng vũ trang cách mạng. Hơn một năm rưỡi sau trận đánh diễn ra, vào tháng 12 năm 1948, quân Phap mới huy động một tiểu đoàn Âu Phi có một đại đội “Việt binh đoàn” lò dò mở cuộc càn vào vùng tự do Quế Sơn một lần nữa. Trận này bộ đội chủ lực ra quân do đồng chí Đàm Quang Trung, tư lệnh mặt trận Đà Nẵng trực tiếp chỉ huy, phối hợp với bội đội địa phương và dân quân du kích xã Liên Hoan, Xuân Trà bám sát đội hình địch, liên tục bắn tỉa tiêu hao sinh lực địch buộc chúng phải lui quân. Trong trận này, bộ đội Quế Sơn diệt 15 tên, du kích các xã Liên Hoan, Dưỡng Xuân diệt 5 tên. Có thể nói từ trận đánh Gò Rang đến trận đánh tháng 12 năm 1948, quân địch đều chuốc lấy thất bại, và cũng từ đó chúng luôn gờm sợ trước cửa ngõ vùng đất tuyến đầu của huyện Quế Sơn, mà phía sau là cả một vùng tự do Nam, Ngãi, Bình. Phú (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên) rộng mênh mông, dồi dào tiềm năng sức người, sức của cho cuộc chiến đấu lâu dài.

Bọn địch ra sức củng cố cứ điểm núi Đất, vùng hai bên bờ sông Bà Rén để kiểm soát, lập tề, phát thẻ gia đình cho dân ở đây, tung gián điệp vào vùng tự do nắm tin tức, chỉ điểm cho máy bay thả bom và bắn pháo 105 gây khó khăn đời sống và sinh hoạt cho đồng bào ta. Gần 7 năm xa quê, dù không được trực tiếp cùng bà con quê hương chiến đấu đánh địch, nhưng tôi luôn hỏi thăm tình hình cách mạng ở nơi quê hương và tôi tự hào vì suốt 9 năm trường kì kháng chiến quê tôi vẫn giữ vững phòng tuyến của một vùng tự do cách mạng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Mười Hai, 2010, 06:25:58 PM
CHỈ MỘT CON ĐƯỜNG

Từ khi dấn thân đi theo con đường của Đảng, tôi luôn tự nhủ, nguyện hi sinh cống hiến sức mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, nên trước gian khổ không hề nản chí, trước ác liệt khó khăn không hề lùi bước. Những anh em còn sống, ai cũng rơi lệ trước linh cữu 12 đồng đội hi sinh, lòng tôi đau như ai cầm dao cắt ruột. tôi tự nhận thấy nhiệm vụ của Đảng giao chưa hoàn thành, ra quân lần đầu bị thương vong lớn. Đồng chí Bí thư huyện ủy Vũ Trọng Hoàng và Huyện đội trưởng Nguyễn Xuân Hùng vỗ vai tôi nói:

- Làm người Cộng sản phải biết “thắng không kiêu, bại không nản”. Đồng chí hãy bình tĩnh nén đau thương, sớm đưa đơn vị về Quế Châu để củng cố và xây dựng rồi tiếp tục chiến đấu để trả thù cho anh em, cho bà con.

Trận Gò Rang trở thành bài học kinh nghiệm về chiến thuật phục kích đánh địch đi càn của bộ đội địa phương Quế Sơn. Ưu điểm dễ nhận thấy của bộ đội ta trong trân đánh này là công tác chính trị tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ, xác định ý chí tiến công trước quân địch, gặp ác liệt vẫn giữ tinh thần, không rời trận địa, quyết chiến đến giọt máu cuối cùng để giành chiến thắng. Tấm gương  của đồng chí Nguyễn Tấn Châu đại đội trưởng, Nguyễn Cầm tiểu đội trưởng giúp cho các chiến sĩ giữ vững quyết tâm, chuyển thế bị động sang chủ động, làm cho địch khiếp sợ buộc phải tháo chạy. Nếu đem  ra so sánh thì quân địch đông hơn ta gắp năm lần, vũ khí hiện đại gấp 100 lần, nhưng rồi kết quả của trận đánh vừa qua thì xác định được quyết tâm của bộ đội ta trước một kẻ thù hung hăng nhưng bạc nhược về tinh thần. Mặt khác, trận phục kích này đã đánh bại cuộc càn quét dài ngày của quân địch và phá được ý định hợp điểm hai cánh quân địch tại Gò Rang.

Biên chế của đơn vị ổn định công tác tư tưởng đã xác định, toàn đơn vị bước vào giai đoạn huấn luyện mới đáp ứng tình hình cách mạng phát triển. Đến tháng 11 năm 1947 đại đội mới được trang bị 30% vũ khi, còn lại dùng vũ khí thô sơ nhưng được huấn luyện thuần thục về võ thuật và các động tác kĩ thuật chiến thuật đánh địch. Đại đội được lệnh ra quân bao vây cứ điểm Núi Đất. Núi Đất là một ngọn đồi trọc đá sỏi, giữa đồng bằng phái tây nam sông Bà Rén cao 65 mét. Từ đỉnh cao này địch có thể quan sát một vùng rộng lớn từ dưới đường sắt Quế Sơn đến các làng Mậu Hòa, Kiệu Trung, Cầu Chìm (Duy Xuên). Đợt bao vây cứ điểm Núi Đất của  bộ đội địa phương Quế Sơn, nhằm cầm chân bọn địch trong đồn, tạo điều kiện cho lực lượng dân quân du kích của các xã đánh bọn “nghĩa dũng”“Việt binh đoàn”, bảo vệ cho dân Dưỡng Xuân thu hoạch vụ mùa. Từ thắng lợi của đợt hoạt động này gây niềm phấn khởi tin tưởng trong đơn vị. Đại đội tổ chức sinh hoạt chính trị xây dựng tinh thần chiến đấu, bồi dưỡng dũng khí cách mạng cho cộng sản. Sau đợt học tập, tôi được học văn hóa theo sự điều động của cáp trên, đồng chí Văn Hiếu (trong kháng chiến đánh Mĩ đồng chí là Thường vụ tỉnh ủy Quảng Nam, hi sinh năm 1969) thay tôi về làm chính trị viên đại đội. Cho đến  sau này, trận Gò Rang vẫn còn ám ảnh trong tôi, vì vậy trên bước đường công tác tôi có dịp suy nghiệm từ thực tiễn để có những ý tưởng tốt góp phần làm nên chiến thắng.

Sau 6 tháng học ở trường văn hóa, tôi nhận quyết định của tỉnh Quảng Nam đi động về phòng chính trị Liên khu 5 để theo học lớp đào tạo cán bộ gây cơ sở vùng địch hâu. Từ Quế Sơn, vai ba lô chân dép lốp đi bộ vào Tam Kì, rồi theo đò dọc Sông Trường vào An Tân tiếp tục đáp xe lửa đến Hòa Vinh Tây ở Quảng Ngãi. Từ đây, tôi đi bộ về phòng chính trị Liên khu lúc đó đóng ở Nghĩa Hành. Đến đây tôi mừng vì tưởng đã đến lớp học, nào ngờ lóp học này lại ở gần trường lục quân. Thế là tôi lại phải khăn gói hành quân trở ra dự lớp tại Sơn Tịnh. Do đặc điểm của trường, anh Tôn Thất Hoàng là giám đốc nhà trường, nhưng chưa phải là đảng viên, anh Hùng Cường làm chính trị viên nhà trường mới là đảng viên dự bị. tôi tuy là học viên, lại là đảng viên chinh thức đã qua Bí thư chi bộ, nên được phòng chính trị Liên khu chỉ định làm Bí thư chi bộ Đảng. Như vậy, tôi vừa là học viên vừa là cán bộ làm công tác Đang của nhà trường trong suốt 8 tháng học tập.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:10:35 AM
Lần đầu tiên được học tập nội dung công tác gây dựng cở ở vùng địch hậu tôi thấy nhiều điều mới mẻ quá. Muốn tiếp thu được bài tốt, tôi phải chuyên tâm nghiên cứu sâu các vấn đề về âm mưu thủ đoạn của địch trên cả 3 vùng, ở mỗi thời điểm khác nhau. Học tập xây dựng cơ sở vùng địch hậu là địa bàn các tỉnh thuộc Liên khu 5 như: Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh Hòa… Đặc biệt là ba tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc. Khi học tập tình hình vùng địch hậu các tỉnh này cấp trên đã liên hệ vùng địch hậu các tỉnh phía Bắc như: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn có những đặc thù riêng để chúng tôi liên hệ thực tế, vì ở đây tập trung hơn mười dân tộc anh em sinh sống. Về bản chất của quân địch thì vùng bị chiếm nào dưới sự kiểm soát của chúng, đều thực hiện cai trị giống nhau như lập tề xây dựng bộ máy kìm kẹp nhân dân từ làng đến tổng, huyện, tỉnh; lực lượng vũ trang của chúng tổ chức trên cơ sở lôi kéo những người nhẹ dạ, ham danh vọng, hám tiền, chúng cài đặt những tên có nợ máu với nhân dân dưới thời Nhật, Pháp vào bộ máy tay sai. Khi lập điểm kiểm soát, chúng thường chiếm những vùng đông dân có vị trí chiến lược như thị trấn, thị xã, thành phố để từ đây mở rộng vùng kiểm soát ra chung quanh. Ở những vùng không kiểm soát được thì chúng dùng biện pháp khủng bố, đốt nhà, cướp của, cướp trâu bò, hãm hiếp phụ nữ gây hoang mang trong dân chúng. Tôi còn được học tập các nguyên tắc: Giữ bí mật, tạo bất ngờ; các phương châm kiên trì bám dân, thực hiện ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm, dựa vào dân xây dựng nòng cốt thành công các đoàn thể; phương thức sử dụng đội vũ trang tuyên truyền đi trước xây dựng cơ sở, đến khi có hành lang và bàn đạp, làm chỗ dựa cho các đại đội độc lập tiểu đoàn tập trung đánh địch mở rộng vùng giải phóng, thu hẹp vùng kiểm soát của địch. Từ các nội dung nghiên cứu đó, tôi biết việc xây dựng cơ sở vùng địch hậu ở Tây Nguyên là vô cùng cần thiết cho một chiến lược lâu dài để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ của đồng bào các dân tộc trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên. Tôi còn nhớ như in các bài “Các nguyên tắc, phương châm, phương thức” do đồng chí Trần Lương - Phó chỉ huy Liên khu 5 giảng (Đồng chí Trần Lương sau là Trần Nam Trung - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam); bài “Nội dung các vấn đề chính sách dân tộc của Đảng” do đồng chí Phó bí thư Liên Khu ủy Bùi San trực tiếp truyên đạt; bài “Âm mưu thủ đoạn của địch ở chiến trường Liên khu” do đồng chí Lê Cầu - Trưởng ban quân báo giảng (Sau này anh Cầu công tác ở phòng quân báo Bộ Tư lệnh miền và bị địch bắt giam tại Côn Đảo đến năm 1975 anh mới trở về). Đó cũng là lần đầu tiên tôi được dự một lớp học về công tác vận động cách mạng cơ bản như vậy. Từ sau khi dự lớp, tình độ chính trị quân sự bản thân tôi được nâng lên một bước, như mở ra tầm nhìn kiến thức khoa học cả về lí luận và thực tiễn rộng lớn sâu sắc. Tôi nhìn sự vật trong sự cảm nhận của lí trí, biết được sự vật đó phát triển có nguyên nhân và có kết quả (nguyên nhân nào thì kết quả đó). Bây giờ lớn lên tham gia công tác cách mạng, được Đảng cho ăn học tôi mới thấy thấm thía lời nói mộc mạc của cha tôi ngày trước “Người có học thì gié lúa cũng biết chọn hướng gió”, không thấy thì khó làm việc nhỏ đến việc lớn có hiệu quả. Việc học luôn luôn cần thiết với nhiều thế hệ.

Lớp học kết thúc, tôi được cấp trên quyết định làm Bí thư chi bộ, trưởng đoàn học viên lớp xây dựng cơ sở vùng địch hậu về công tác ở trung đoàn 120 bắc Tây Nguyên. Tuổi trẻ trong tôi lúc đó phơi phới, tình yêu đất nước quê hương, tình yêu Đảng lúc nào cũng chất chứa niềm vui khó tả. Tôi ý thức, người cách mạng không chỉ biết hoàn thành công tác được giao mà phải làm cho người khác tin yêu, mến phục mới là người cán bộ tốt. Tôi xác định con đường của tôi là đi theo Đảng làm cách mạng đánh đổ ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội công bằng tự do và hạnh phúc như anh chị em, đồng chí khác.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:11:31 AM
Tôi cầm tờ quyết định trên tay mà hai tiếng Tây Nguyên như có sự thúc giục lôi cuốn trong tôi. Địa bàn Tây Nguyên, qua sử sách tôi được biết. Trong xâm lược nước ta lần thứ nhất, thực dân Pháp đã dốc mọi cố gắng nhằm kiểm soát chặt với mưu đồ nắm dân, mua chuộc dụ dỗ đồng bào dân tộc, cố thủ vùng đất này để bảo vệ Đông Dương. Trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, trong tình hình Cách mạng Tháng 8 của dân tộc ta mới thành công chưa đầy một năm, chính quyền cơ sở ta chưa kịp tổ chức giác ngộ đồng bào các dân tộc, thì quân Pháp đã chiếm Tây Nguyên. Chúng dốc sức bình định Tây Nguyên để giữ thế chiến lược ở phía nam Đông Dương. Bọn chóp bu thực dân cho rằng: “Muốn chiến thắng Cộng sản thì phải kiểm soát bằng đợc vùng chiến lược này”. Tây Nguyên có biên giới giữa ba nước Đông Dương là Việt Nam - Lào - Campuchia, là địa bàn chiến lược quan trọng sống còn của miền Trung và cả nước ta; là địa bàn cộng đồng 43 dân tộc anh em. Người Kinh đông nhất tập trung sống ở các tỉnh ven biển và thành phố, thị xã. Người Dẻ Triêng, Sê Đăng, Ba Na, Gia Rai ở Gia Lai, Kon Tum; người Ê Đê, Mơ Nông ở Đắc Lắc; người Răclây ở miền Tây Khánh Hòa và Ninh Thuận, người Re ở miền tây Quảng Ngãi, người Kơtu, Katăng, Ve, Đê, Kor, Lodong, Bơ Nông, Lạc, Chăm, Roi sống ở các vùng thuộc Tây Nguyên và miền tây các tỉnh đồng bằng. Dân tộc ít người nhất là dân tộc Rơ Năm sống ở Chư mơ rộng, Plei Mơnông huyện Sa Thầy (Kon Tum) sát biên giới Campuchia… Tuy dân cư sống thưa thớt, trình độ kinh tế, văn hóa chưa phát triển, nhưng Tây Nguyên là căn cứ lâu dài bền vững của cách mạng, người Tây Nguyên kiên cường bất khuất trước quân thù, thủy chung son sắt với cách mạng, tin yêu Đảng, tôn kính Bác Hồ, sẵn sàng kề vai sát cánh cùng nhau chống kẻ thù chung.

Địa bàn bắc Tây Nguyên gồm 2 tỉnh: Gia Lai và Kon Tum. Tỉnh Gia Lai phần lớn diện tích núi cao. Phía đông: đèo Mang Giang đến thung lũng An Khê, Kongchro, phía đông nam, thung lũng Cheo Reo có đồng bằng Azunha, Kôngpa, phía đông bắc có dãy núi Kôngkakinh cao 1761 mét, từ dãy núi chạy về phía nam chia thành 2 hệ: hệ núi dọc biên giới phía Đông tỉnh chạy vào Nam, tạo thành độ cao phân cách giữa Gia Lai với các tỉnh đồng bằng duyên hải Khánh Hòa, Ninh Thuận, với các núi: Kôngmroiu cao 1251 mét, Kôngkbang 1064 mét, rồi thấp dần với các đỉnh cao dưới 100 mét và đứt đột ngột ở đèo An Khê, rồi lại nhô lên phía đông huyện KôngChro với các núi Komhde cao 1017 mét, KomLong cao 1020 mét, KonWanRiom 1300 mét và thấp dần vào đồng bằng Konchueng với các đỉnh cao 1383 mét, 1571 mét, 1567 mét. Hệ núi này chia tỉnh Gia Lai thành 2 phần: sườn tây Trường Sơn và sườn đông Trường Sơn; phía bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum có núi Hereng cao 1045 mét; phía bắc thành phố Pleiku có các dãy núí Chư Mâm cao 1484 mét, Chưzo cao 1402 mét.

Tháng 3 năm 1949, đoàn cán bộ cơ sở xây dựng vùng địch hậu của trường chính trị Liên khu 5 về đến ban chỉ huy trung đoàn 120 Tây Nguyên đóng quân ở Bình định. Trung đoàn 120 vốn là của hai trung đoàn 94 và 95 sáp nhập lại trực tiếp hoạt động tác chiến ở chiến trường Gia Lai. Liền sau khi đoàn cán bộ xây dựng cơ sở đến, ban chỉ huy trung đoàn thành lập đội vũ trang tuyên truyền 103 đủ 30 người. Hầu hết anh em là đảng viên, từ cán bộ đến tiểu đoàn phó trở lên trung đội, văn hóa từ yếu lược đến priamire. Thời bấy giờ mà chọn cán bộ như vậy là rất khó. Đội vũ trang tuyên truyền 103 lúc đầu do đồng chí Trần Đức Thăng làm đội trưởng, tôi làm chính trị viên. Trước khi ra công tác, mọi người phải qua một thời gian huấn luyện quân sự, chủ yếu là học sử dụng các loại vũ khí cá nhân, nắm chắc chiến thuật và các thế võ thuật để tự vệ khi có địch tấn công. Bên cạnh đó chúng tôi còn được học tiếng dân tộc Ba Na, Giơrai; học các bài ca truyền thống về Tây Nguyên. Một thuận lợi cho chúng tô lúc bấy giờ là có được sự hướng dẫn của đồng chí Siu Năng - chính trị viên đại đội người dân tộc Giơrai thông thạo tiếng Kinh, biết tiếng Pháp, có trình độ văn hóa diplome, hiểu phong tục tâp quán đồng bào các dân tộc trên sườn đông Trường Sơn. Hàng tuần chúng tôi được tập trung để kiểm tra, bằng cách dùng tiếng dân tộc để nói chuyện với các chiến sĩ người dân tộc, hoặc giảng viên hướng dẫn gợi ý đặt câu hỏi cho chúng tôi trả lời. Bằng cách học đó, hầu hết cán bộ được sát hạch đều đạt yêu cầu, có đồng chí giỏi viết và nói thông thạo tiếng Ba Na. Tôi còn nhớ lúc về trung đoàn, mới 23 tuổi, lứa tuổi còn quá trẻ so với nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên tôi luôn tin tưởng và sự lãnh đạo của cấp trên nên không ngại việc, ngại khổ. Tôi tự giác làm việc, tự giác đúc rút kinh nghiệm và đánh giá mức thành công của công việc đã làm. Sở dĩ tôi có quyết tâm như vậy là vì tôi muốn tự khẳng định mình trước “sa mạc” thực tế của công tác phía trước.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:12:26 AM
Sau khi biên chế lại, để phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới, trung đoàn 120 được giao phụ trách địa bàn tây Bình Định và chiến trường Gia Lai. Ban chỉ huy trung đoàn lúc đó có đồng chí Trương Cao Dũng, trung đoàn trưởng và Nguyễn Duy Đề, chỉ huy. Trung đoàn 120 có 1 tiểu đoàn tập trung, 4 đại đội độc lập (quân số mỗi đại đội hơn 300 người) và 3 đội vũ trang tuyên truyền (101, 102, 103) phương hướng nhiệm vụ của trung đoàn trong giai đoạn này là đưa các đôi vũ trang tuyên truyền tiến sâu vào vùng sau lưng địch, xây dựng và phát triển cơ sở, đẩy mạnh địch, ngụy vận, phát triển du kích chiến tranh, biến hậu phương địch thành tiền phương của ta. Trên khắp các chiến trường bắc Tây Nguyên gồm 2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum do trung đoàn 120 phụ trách theo phương châm 3 vùng: vùng bị địch chiếm, vùng du kích, vùng căn cứ địa. Về phương thức hoạt động, lực lượng vũ trang trên chiến trường ở vùng địch hậu là: vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung. 3 giai đoạn này thể hiện trên từng bước đi:

- Các đội vũ trang tuyên truyền có nhiệm vụ tiến sâu vào vùng sau lưng địch, tuyên truyền giác ngộ nhân dân đoàn kết chống Pháp, xây dựng các cơ sở quần chúng, hướng dẫn quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao, tiến hành công tác địch ngụy vận, diệt tề trừ gian, tổ chức dân quân du kích đánh địch giữ buôn làng.

- Thực hiện phương châm, kiên nhẫn, thận trọng, chắc chắn, lấy vận động chính trị làm chính. Hết sức giữ bí mật, không rầm rộ, lộ liễu.

- Mỗi đội vũ trang tuyên truyền chỉ biên chế trên dưới 30 cán bộ chiến sĩ, phần lớn là người Kinh và một phần các chiến sĩ dân tộc có phẩm chất tốt, vững vàng được trang bị vũ khí gọn nhẹ và quần áo để cải trang, còn được cấp phát một số tiền Đông Dương để mua bán trong vùng địch.

- Được cấp ủy địa phương bổ sung cán bộ có kinh nghiệm công tác ở các vùng đồng bào dân tộc, thạo tiếng nói dân tộc. Khi hoạt động ngoài vũ khí cá nhân còn mang theo nông cụ như rựa, rìu, cuốc… cong (kiềng bạc, đồng) chuỗi cườm và muối để trao đổi với nhân dân.

- Trong các đội vũ trang tuyên truyền thường phải tổ chức trinh sát đi nắm tình hình, chuẩn bị đường sá mọi mặt cho đội theo sau mở rộng phạm vi tuyên truyền. Đội vũ trang tuyên truyền có nhiệm vụ chuẩn bị địa bàn và những điều kiện cần thiết cho đại đội độc lập hoạt động tiếp theo.

- Đại đội độc lập, thường là một đại đội tăng cường có 4 hoặc 5 trung đội, phụ trách 1 vùng (tương đương với 1 huyện đã có cơ sở tương đối rộng rãi, có chính quyền và tổ chức lực lượng võ trang, tổ chức đoàn thể do đội vũ trang tuyên truyền giao lại, kết hợp chặt chẽ với cấp ủy địa phương kèm cặp và phát triển dân quân du kích, bộ đội địa phương huyện hay vùng liên xã. Các đại đội độc lập phải biết phân tán và tập trung linh hoạt để chống càn quét, đánh phá giao thông địch, phá âm mưu dồn dân của địch, phát triển lực lượng du kích.

Võ trang tuyên truyền là một việc làm mới mẻ, các đơn vị lại đi sâu vào lòng địch hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc. Vì vậy Ban chỉ huy trung đoàn phân công đồng chí Nguyễn Thuận (Sau này là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục dân quân, Bộ Quốc phòng), trung đoàn phó phụ trách các đội vũ trang, thường xuyên theo dõi chỉ đạo hoạt động hàng ngày.

Để tiến hành các bước trên đây, Ban chỉ huy trung đoàn phân công 3 đội vũ trang tuyên truyền về hoạt động các địa bàn:

- Đội vũ trang tuyên truyền 101, do đồng chí Phan Thanh làm đội trưởng và đồng chí Nguyễn Khoa là chính trị viên, có nhiệm vụ gây dựng cơ sở vùng tây nam đường 4 giáp đồn điều Bàu Cạn.

- Đội vũ trang tuyên truyền 102, do đồng chí Rah Lan Boat, làm đội trưởng và đồng chí Đoàn Xảo (Đoàn Xảo tức Đoàn Y Thanh nay là thiếu tướng Phó tư lệnh Quân khu 5 đã nghỉ hưu) làm chính trị viên, gây dựng cơ sở ở vùng ĐakĐoa - Biển Hồ (đông bắc Tây Nguyên) rồi từ đó tiến dần lên xây dựng cơ sở phía tây bắc đường 14.

- Đội vũ trang tuyên truyền 103, do đồng chí Trần Đức Thăng, làm đội trưởng tôi - Nguyễn Huy Chương làm chính trị viên gây dựng cơ sở ở vùng ĐakBơt, vùng tây nam Plêiku, vùng Desơrơn, vùng ĐêKur, phía đông đường 14, phía nam đường 19.

Nắm vững phương châm hoạt động, phương thức tiến hành vũ trang tuyên truyền, các đội vũ trang tuyên truyền 101, 102, 103 tổ chức hành quân ra phía trước, tỏa đi các vùng đồng bào dân tộc, trong cao trào cách mạng của những năm đầu kháng chiến chống Pháp đã thu được những thắng lợi vững chắc.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:13:25 AM
LÒNG DÂN TÂY NGUYÊN

Đầu tháng 6 năm 1949, đội vũ trang tuyên truyền 103 hành quân lên huyện ĐakBớt. Những người lính đồng bằng chúng tôi từ nay bắt đầu cuộc sống và công tác mới ở núi rừng Tây Nguyên bạt ngàn hùng vĩ. Tôi bỗng nhớ bài hát của nhạc sĩ Đức Tùng, với lời ca thật giục giã: “Ta mau lên đường nhằm Tây Nguyên ta tiến lên. Theo tiếng hú thiêng liêng, theo gió khắp nơi vang rền. Âm u điệu nhạc, rừng ngân lên vang đồi núi, giục ta mau tiến bước, sá chi núi rừng hiểm nguy…”

Dãy Konchueng sừng sững hiện ra phía trước đoàn quân với 3 ngọn núi khổng lồ 1383 mét, 1567 mét kẹp hai bên, để xem dãy Konchueng là ngôi nhà trời, còn các nhà quân sự cho dãy Konchueng là tâm điểm chiến lược quan trọng chạy qua địa phận Gia Lai,đó là: đường 19, đường 14, đường 25 (còn gọi la đường số 7). Đường 19 xuất phát từ cảng Quy Nhơn chạy qua Gia Lai đến huyện Đức Cơ, dài 167km, rồi từ Đức Cơ chạy đến tận trung tâm tỉnh Stung - Treng (Campuchia). Đây đồng thời là con đường chiến lược trọng yếu ở phái nam Đông Dương - con đường sống còn của địch ở Tây Nguyên. Nhiều nhà chiến lược quân sự cho rằng: Ai kiểm soát được Tây Nguyên trung phần, người đó kiểm soát được cả Việt Nam. Còn con đường 14 đi qua địa phận cao nguyên Gia Lai 112km, nối đông bắc Kon Tum với Quảng Nam - Đà Nẵng và tỉnh lộ 25 nối đường 14, từ ngã ba Mĩ Thạch đi qua huyện Azunpa, Kogpa vào Đắc Lắc. Đây cũng là con đường trọng yếu chiếm vị trí cơ động trung tâm tên chiến trường bắc Tây Nguyên và miền Nam Việt Nam.

Để đến được huyện Dakbơt đội vũ trang tuyên truyền 103 phải hành quân qua các xã phía tây của huyện Bình Khê (Bình Định), là: Bình Thành, Bình Phú, qua Bình Tường lên Bình Quang đến Bình Giang. Sở dĩ cũng tôi phải hành quân vòng vòng như vậy là để nghi binh tránh bọn thám báo, gián điệp ở đồn An Khê thường xuyên “thả mồi bắt bóng” ở vùng này. Một khi bọn chúng biết được động tình của ta, lập tức chúng gọi pháo 105 bắn tới, hoặc đưa quân đi phục kích đánh chặn gây thương vong cho lực lượng ta.

Sau gần một tuần lễ đi trong mưa núi, ngày dấu mình, đêm bí mật, cán bộ chiến sĩ đội vũ trang tuyên truyền 103 mới đến địa phận xã Gia Hội nằm ở phía bắc tuyên truyền An Khê - xã Gia Hội là một trong những xã có phong trào du kích chiến tranh phát triển mạnh ở Gia Lai. Có thể xem địa bàn Gia Hội là hậu phương của đại đội YBinNam. Việc làm đầu tiên của đội vũ trang tuyên truyền 103 là chọn địa điểm thành lập căn cứ, để sau một đợt công tác trở về bộ đội có nơi học tập và sinh hoạt. Ban chỉ huy đội 103 chọn khu rừng nguyên sinh dưới chân dãy Konchueng làm căn cứ bàn đạp triển khai công tác năm tình hình chung - từ xã Gia Hôi đến các xã phía tây của địa bàn huỵện Đăkbớt. Xã Gia Hội có 22 làng tộc Ba Na, với số dân hơn 2.000 người, trong số này còn 2 làng: Kồ (Đêkruk) - Gật (Đe Chơzơn) dân số chiếm gần 50% Còn nằm trong vùng kiểm soát của địch, 19 làng còn lại dân số tuy ít hơn nhưng bà con bất hợp tác vói quân địch, cùng nhau đoàn kết rào làng chiến đấu, tổ chức đánh địch bằng cung nỏ, bẫy đá, chông hầm làm cho bọn giặc khiếp sợ. Đã có lần chúng tổ chức càn quét trên quy mô lớn vào xã Gia Hội để cắm đồn nhưng chi được một thời gian liền bị bộ đội YBinNam và dân quân du kích Gia Hội bao vây bứt rút. Chiến công của Gia Hội trong trận đó gắn liền với tên tuổi hai cán bộ xã đội và hai thôn đội là: đồng chí Sói và đồng chí Gớt; đồng chí Dzơn và đồng chí Ron là bốn đảng viên đầu tiên của Gia Hội.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:17:00 AM
Trung tâm hoạt động của đội vũ trang tuyên truyền 103 trong đợt này, là đồng thời triển khai trên diện rộng công tác xây dựng cơ sở trong vùng địch hậu, lấy 2 thôn Kồ và Gật làm trọng tâm. Ban chỉ huy đội 103 phân công từng tổ, từng cán bộ chiến sĩ đi sâu vào buôn rẫy tìm bắt liên lạc với những người dân ở các làng: Kon Thoup, Đe Daktrang, Kon Mour, PleiKlah, PleiDaklơn, Plei Dâu… tuyên truyền chính sách dân tộc của Đảng cho đồng bào, quyết tâm vô hiệu hóa quân địch trước số dân trong vùng chúng kiểm soát. Được đồng bào Ba Na ở 19 làng của Gia Hội giúp đỡ, cán bộ chiến sĩ đội vũ trang tuyên truyền 103 từ đây sống hòa nhập cùng đồng bào, ba lô đựng tư trang được thay bằng gùi, đến bữa cũng bốc mắm Bồ hốc(1) ăn cơm, đêm ngủ đất, để tóc dài, mặc khố, có đồng chí cà răng căng tai, để đảm bảo bí mật hoạt động cho đội. Buổi đầu chưa quen với nếp sống và tác phong của người dân tộc, đồng bào dân tộc Ba Na ngoài việc tập dượt cho bộ đội từng động tác sinh hoạt, đến lao động trồng tỉa trên nương, vác rựa đi rừng, còn chỉ cho bộ đội đi lấy nước ở con suối xa dân, đi con đường riêng, không cho dân biết và nấu cơm tiếp tế cho bộ đội ngoài rừng. Bộ đội quen rồi đồng bào mới mời vào làng ăn ở. Địa bàn Đakbớt còn đến 2 đồn địch nên việc hoạt động của đội 103 phải thận trọng và chính xác, chọn đúng người tuyên truyền mới phát triển cơ sở. Tuy cuộc chiến đấu ở đây không trận tuyến, nhưng tính chất ác liệt gian khổ không tách rời sự hi sinh, đòi hỏi người cán bộ địch hậu phải kiên trì dũng cảm, lăn lộn và dám hi sinh. Phải biết khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước tình đoàn kết bất khuất, lòng khát khao cuộc sống độc lập tự do của đồng bào còn nằm trong vùng địch, mới xây dựng được cơ sở vững chắc vùng địch hậu. Trong cuộc chiến đấu gian khổ ác liệt ban đầu, đến công tác tại địa bàn Tây Nguyên đã xuất hiện những tâm gương hi sinh vì sự nghiệp cách mạng. Đồng chí Nguyễn Hữu Nhơn là một trung đội phó vũ trang tuyên truyền được phân công xây dựng cơ sở ở làng ĐeCrap. Dân làng ĐeCrap bị địch khủng bố và kiểm soát gắt gao, chúng thường giả dạng người cách mạng len lỏi vào các rẫy để lừa phỉnh và kiểm soát lòng dân. Một vài người mất cảnh giác bị chúng bắt về tra tấn, vì vậy dân không dám tiếp xúc và không cho người lạ mặt vào làng. Kiên trì bám dân, đồng chí Nhơn sống ngoài rừng chịu đói, chịu lạnh. Ban ngày đồng bào đi làm rẫy, Nhơn bám theo gợi chuyện làm quen. Người lớn không tiếp xúc, anh quay qua làm quen với trẻ con, gây được cảm tình. Một vài người dân thử thách lòng anh… Được biết Nhơn là người cách mạng thật, Già Mom bắt chuyện. Già không ngần ngại nói cho Nhơn biết chủ làng ĐeCrap cũng là người cách mạng, ông từng tham gia cướp chính quyền ở Gia Lai và An Khê hồi khởi nghĩa năm 1945. Mặc dù được Tây giao cho làm chủ làng, nhưng chủ làng ĐeCrap không theo Tây, không phản bội cách mạng. Gặp được chủ làng ĐeCrap Nhơn chuyện trò, chủ làng ĐeCrap gọi luôn Bruc - nguyên là xã đội du kích hồi khởi nghĩa năm 1945 ra hợp tác với cách mạng. Bài học Nguyễn Hữu Nhơn kiên trì đã cắm đợc cơ sở ở làng ĐeCrap phát triển được mạng lưới cơ sở cách mạng nòng cốt, tạo được thế đứng vững chắc trong vùng địch kiểm soát trở thành một điển hình cho công tác tuyên truyền xây dựng cơ sở ở vùng địch hậu Tây Nguyên. Học tập tấm gương kiên trì của Nguyễn Hữu Nhơn, đội 103 từ đó nhờ chủ làng ĐeCrap dẫn cán bộ đến làng ĐêKruk. Già làng ĐeCrap khóc nói: “Từ khi giặc chiếm làng đến nay bọn tao vẫn chờ cách mạng. Một số thanh niên không chịu cầm súng cho thằng Tây, chúng nó chạy hết vào rừng. Bọn tao về sống hợp pháp để làm cái nương cái rẫy để tiếp tế cho bọn nó trong rừng.

Bất ngờ quá! Hôm nay tau gặp Cách mạng, có Đảng của cụ Hồ đến rồi chác từ nay tau sống được!”. Già làng Đê Kruk lau nước mắt nhìn anh em bộ đội cũng đóng khố, mang gùi như dân làng mình rồi nói tiếp: “Tau nói tụi bay nghe, bây giờ làng Đê Kruk và mấy làng khác nữa có chủ làng do thằng Tây đặt, nhưng bọn chúng có thằng xấu, có thằng không xấu, bọn tau có cách liên lạc được và sẽ gọi chúng nó đến gặp cách mạng”. Từ đó làng Đê Kruk có cơ sở cách mạng. Đồng bào còn quy định ám tín hiệu: Khi có giặc đồng bào treo nhánh xương rồng trước cửa, hay để một cây củi đốt dở, đùa quay ra cổng làm tín hiệu cho bộ đội biết mà tránh, và từ đây đồng bào các làng Pleiklah, Peidâu, Pleimeieu, Decluc… gọi tôi bằng một cái tên mới “Capital Chương”, “Capital(2) Chương” là bội đội cách mạng của cụ Hồ. Ở những làng chưa có cán bộ đến công tác, bằng một lối thông tin riêng bà con cử ngươi tin cần đi liên lạc trước, mời đồng bào ra địa điểm rừng quy định, khi cán bộ đội 103 đến đã có đồng bào tề tựu sẵn dự mitting. Tôi còn nhớ một lần tổ chức ăn thề với làng De Blang, người đại diện cho làng De Blang, tôi đại diện cho cách mạng cùng uống rượu ăn thề. Già làng De Blang tay bê bát rượu đưa lên ngang mày, đầu cúi trân trọng đọc lời thề: “Từ nay dân làng De Blang một lòng đi theo cách mạng đánh Tây, không chỉ đường cho Tây, sống chết với Việt Minh” Tơ Bah LuPhang, Tei! Bloh đi Lú Ayat!” Dịch nghĩa: “Đánh lũ Tây, giết sạch bọn bán nước!”. Lời già làng De Blang vừa dứt, đồng bào đồng loạt giơ tay hô vang theo lời già làng vừa nói. Tiếp theo hai thanh niên Gơri, Gơrứt đại diện cho các đoàn thể lần lượt lên ngậm súng đọc lời thề: “Hôm nay tôi xin thề đi theo cách mạng do cụ Hồ lãnh đạo, đánh thằng Tây đến cùng! Nếu bị thằng Tây bắt không khai báo, không dẫn đường cho Tây đi đánh bộ đội Cụ Hồ. Ai làm điều sai thề trước đầu súng sẽ bị chết”. Một hôm, cơ sở móc được chủ làng Kon Thoup ra rừng. Gặp tôi chủ làng Kon Thoup nói: “Tau buộc phải nhận chức chủ làng với Tây nhưng không làm hại dân. Tau nghĩ để cho đứa khác làm thì tau không kiểm soát được hăn khi hắn cầm súng của Tây khi hắn cầm súng của Tây trong tay hắn. Nay cách mạng đã về đến làng tau tin tụi bây là bộ đội cách mạng của cụ Hồ, tau giao chức chủ làng cho chúng mày cử người khác làm. Từ nay tau xin cách mạng một cây súng vào rừng làm du kích thôi”. Tôi thật bất ngờ trước ý thức và lòng trung thành với cách mạng của chủ làng Kon Thoup. Tôi đeo vào già làng một cái cong (cái vòng bằng bạc) làm tin và lấy một lưới cuốc, một cái rựa đưa cho chủ làng Kon Thoup. Chủ làng Kon Thoup mừng rỡ hẹn ngày huy động dân làng ra dừng dự mitting. Tại buổi mitting sau đó tôi giải thích cho bà con hiểu biết âm mưu của giặc Pháp với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên và đọc thư của Bác Hồ gửi đến Đại hội dân tộc thiểu số miền Nam họp tại Pleiku ngày 19 tháng 8 năm 1945. Nghe tôi giới thiệu về Bác Hồ, mọi người im lặng trân trạng đón nghe thư của Bác viết “… Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt, chúng ta sống chết cho nhau, trước kia chúng ta xa cách nhau, một là do thiếu liên lạc, là vì kẻ thù xúi giục để chia rẽ chúng ta… Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ của chúng ta, nên xin tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải thương yêu, phải kính trọng nhau, đểu giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cái chúng ta. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt, chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ quyền tự do, độc lập của chúng ta”. Tôi đọc thư của Bác Hồ bằng tiếng dân tộc Ba Na, đồng bào nghe đều vỗ tay tán thưởng và hô vang: “Bác Hồ! Bác Hồ!”


(1) Mắm bồ hốc làm bằng loại ruột non già của các con vật giết thịt, được làm sạch đem băm nhỏ trộn với muối rồi đem bỏ vào chum hoặc những thứ đựng khác để càng lâu ăn càng ngon.
(2) Capital (ngang hàm Đại úy).


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:19:16 AM
Từ đó, đồng bào dân tộc trong làng hăng hái vào hội Việt Minh, đánh Tây, tham gia làm rẫy đánh Tây. Tổ chức hội họp đoàn thanh niên, phu nữ, nông dân… cung cấp tình hình địch và dẫn đường cho bộ đội 103 đi công tác. Tôi có thể nói là đến lúc này thì “sa mạc” thực tế mà tôi nghĩ trước đây đã trả lời bằng những “dãy núi” đầy ắp thực tiễn. Phong tục tập quán của đồng bào là điều tôi quan tâm, được thể hiện chung nhất, đàn ông quanh năm đầu trần chân đất, đàn bà mặc mỗi chiếc xà rông (bận váy), đau thì uống thốc lá rừng, sốt thì tắm nước lá, lạnh thì đốt lửa như thế mà người nào cũng bóng như cây lim, cật, sến, vững vàng như dãy Konchueng. Chính những điều chung nhất ấy tạo nên điều giống nhau là kiên định ý chí, vững vàng trong bão táp, dù Ba Na hay Ê Đê, Gia Rai hay M’nông đều thể hiện bản sắc văn hóa của mình: Trung thành với Đảng, tôn kính Bác Hồ. Chỉ bằng ấy điều thôi tôi cũng có thể nói rằng “Các dân tộc Tây Nguyên có khoảng một triệu người, nhưng đó là dãy Trường Sơn, là rừng thiêng, lũy thép của Tổ quốc ngăn bước quân thù, tạo thế cho cách mạng giành thắng lợi từ đây.

Đầu tháng 12 năm 1949. Sau 6 tháng đội vũ trang tuyên truyền 103 cắm ở huyện Dakbớt, đội đã xây dựng cơ sở ở 27 làng giáp tới sông Azumpa, củng cố được các căn cứ Gia Hôi, Đesơrô, Fama, với 3.000 dân. Đội vũ trang tuyên truyền 103 được lệnh trung đoàn bàn giao địa bàn Dakbớt cho đại đội (đại đội YBinNam. Ở Gia Lai lúc đó có hai đội YBinNam và YBinBắc) của đồng chí Nguyễn Trọng Đàm đại đội trưởng và Nguyễn Loan, làm chính trị viên. Đại đội YBinNam lúc này có quân số hơn 300 người. Sau khi bàn giao địa bàn đội vũ trang tuyên truyền 103 được lệnh trở về hậu cứ chỉnh đốn đội ngũ, hoc tập và chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới.

Năm 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta từ phòng ngự chuyển sang thế tiến công quân địch ở nhiêu chiến trường trong cả nước. Trước nguy cơ thất bại, giới cầm quyền Pháp cầu cứu Mĩ chi viện. Thực dân Pháp lừa bịp dân ta bằng cách trao trả độc lập cho con bài Bảo Đại. Bảo Đại thành lập đội quân tay sai gọi là quân quốc gia Nam triều, cờ vàng 3 sọc đỏ. Đội quân này do Mĩ huấn luyện và trang bị. Tướng Đờlát Đơtaxinhi (De Lastre Detasigni) tư lệnh khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) sang thay tướng Salan làm tổng chỉ huy quân Pháp ở Việt Nam và Đông Dương. Đờ-lát ra sức tiến hành chiến tranh tổng lực, bình định vùng tạm chiếm, khủng bố lực lượng cách mạng, đẩy mạnh chiến tranh xâm nước ta. Ở địa bàn Tây Nguyên, đồng thời với thủ đoạn chiêu an, vũ trang cho quần chúng phát triển Guom (Guom, nguyên tiếng gốc Ả rập, chỉ lực lượng vũ trang làng xã của địch) củng cố đồn bốt tăng quân giữa các tuyến giao thông chiến lược, tuyên truyền chia cắt, đất Tấy Nguyên là đất của người Thượng, để chia rẽ Kinh Thượng. Địch còn thực hiện các thủ đoạn như:

- Thông qua tề ngụy các cấp, đẩy mạnh các cuộc hành quân chiêu an, thực hiện việc có mặt thường xuyên ở buôn làng: dùng muối, thuốc kí ninh, dụng cụ để mua chuộc bằng vật chất, duy trì phong tục tập quán lạc hậu và duy trì chế độ già làng để nắm dân. Đi đôi với các thủ đoạn này chúng lập đồn Kan Nat, Thủy Tú, Cửu An, Thượng An… tạo vành đai bảo vệ cứ điểm và đồn địch nhằm kiểm soát dân chống lại cán bộ ta nhập làng.

Để đối phó với âm mưu thủ đoạn của địch, đưa sự nghiệp kháng chiến của dân tộc ta trên địa bàn Tây Nguyên phát triển, Liên khu 5 đề ra nhiệm vụ cho chiến trường bắc Tây Nguyên - vùng xung yếu nhất giữa địch và ta là:

Ra sức động viên mọi khả năng của đồng bào vào công cuộc tổ chức và phát triển cơ sở, đẩy mạnh chiến tranh du kích phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch. Cũng trong thời gian này Liên khu ủy 5 quyết định sáp nhập tỉnh Gia Lai, tỉnh Kon Tum thành lập tỉnh Gia-Kon chia thành 8 khu trực thuộc(1), trên cơ sở đó phù hợp với địa bàn, Bộ tư lệnh Quân khu 5 quyết định hợp nhất trung đoàn 120 mới phụ trách chiến trường bắc Tây Nguyên. Sau khi làm phiên chế trung đoàn 120 có 8 đại đội và 10 đội vũ trang tuyên truyền, có 30 cán bộ chiến sĩ (mỗi đội). lúc này tôi được Ban chỉ huy trung đoàn quyết định làm đội trưởng vũ trang tuyên truyền 103, đồng chí Bùi Dự làm chính trị viên. Liền sau đó trung đoàn lệnh cho đội vũ trang tuyên truyền 103 và đội vũ trang tuyên truyền 101 của đồng chí Nguyễn Hồng Hương(2) làm đội trưởng và đồng chí Trịnh Quang Ngọc, chính trị viên. Về hoạt động ở vùng ChưPrông phía tây đường 14 gần Bàu Cạn. Đội 103 hoạt động từ Cheo Reo đến giáp Buôn Hồ lên biên giới Campuchia. Vậy là hai đội vũ trang tuyên truyền 101 và 103 chúng tôi từ ngày thành lập đến nay mơi có dịp sát cánh bên nhau hoạt động chung một địa bàn. Tuy nhiên, theo lệnh trung đoàn để tạo bất ngờ và để tránh thương vong trên đường công tác, đội 103 không được hành quân cùng đường với đội 101 (đi theo đường của đội 101 chỉ mất 1 tuần lễ) vì từ ngày chiếm lại Tây Nguyên quân Pháp lập tuyến phòng thủ phía tây đường 14 rất gắt gao. Hiểu vấn đề, hai đôi vũ trang tuyên truyền 101 và 103 thống nhất lấy núi Chứ Đơn làm tọa độ chuẩn, lấy làng Plâyme làm địa điểm bắt liên lạc, hai đơn vị chúng tôi cùng quy ước đơn vị nào đến trước thì xây dựng cơ sở trước. Chúng tôi chia tay. Đội 101 lên đường.


(1) Khu I: Đăclei; Khu 2: Đăktô, Khu 3: Complong, Khu 4: bắc An Khê; Khu 5: Đakbơt, Khu 6: Gia Hội, Sơrô, Kơnchơngbơ; Khu 7: Vùng kinh tế An Khê; Khu 8: Pleikon. Mỗi khu tương đương với 1 huyện.
(2) Đồng chí Nguyễn Hồng Hương quê ở Đức Thọ, Hà Tĩnh, sau khi sát nhập đội 101, 103 thành đội vũ trang tuyên truyền 118 đồng chí được cử làm liên đội trưởng. Tập kết ra Bắc 1954, chuyển ngành, sau 1975 đồng chí trở lại Gia lai làm Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Gia Lai. Đồng chí Bùi Dự quê ở Mộ Đức Quảng Ngãi được phân công trở lại chiến trường miền Nam; là huyện ủy viên huyện Chứ Ti. 1958 bị địch bắt và hi sinh trong nhà tù đế quốc; đồng chí Nguyễn Thành quê ở Tam Kì, trung đội trưởng vũ trang tuyên truyền 118 được phân công ở lại miền Nam trong kháng chiến chống Mĩ. Là tỉnh ủy viên Gia Lai. Sau năm 1975, là phó bí thư tỉnh ủy Gia Lai hiện nghỉ hưu tại Gia Lai. Tất cả những đồng chí tôi ghi tên ở phần chú thích đã có cong lao lớn đóng góp cho đội vũ trang tuyên truyền 118 công tác ở vùng địch hậu, trong thời kì khó khăn tăm tối nhất ở Tây Nguyên. Người còn sống xin xem đây là sự chia sẻ niềm vui với tôi trong ngày đoàn tụ, là một nén hương của lòng tôi nghĩ về những đồng đội đã ngã xuống vì sự nghiệp cách mạng của Đảng; vì nghĩa lớn đối với dân tộc.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:24:43 AM
Tháng Giêng ở Tây Nguyên trời xanh và cao hơn, thời tiết đang vào mùa khô, những cơn gió bấc từ cửa biển Sa Huỳnh, cửa biển Quy Nhơn thổi lên làm cây rừng Tây Nguyên nghiêng ngả, đêm nay không đứng yên. Ai đã lên Tây Nguyên, đã gắn bó với đất này mới biết gió Tây Nguyên, khi thì thống tháo, khi thì cồn cào gan ruột, gió xô nghiêng cả người đi, ngươi đứng. Các ngọn đồi gió gọt sạch cỏ tranh trơ ra mặt đất úa bầm. Lúc này đội vũ trang tuyên truyền 103 chúng tôi đứng chặn tại xã Bình Phú huyện Bình Khê phía tây tỉnh Bình định, nhận lệnh trung đoàn hành quân xuống thành Bình Định (xưa là thành Bồ Đàn). Suốt 6 tháng trường công tác ở vùng địch hậu Tây Nguyên, nay chúng tôi trở về đồng bằng đi giữa bao la của vùng tự do cách mạng, mọi người tấp nập như đi hội trên tấm thảm xanh của đồng ruộng, làng quê; trong tiếng nô đùa của các em râm ran niềm vui mới. Hiện thực đó như bồi đắp thêm tình yêu quê hương, đất nước trong mỗi người lính vệ quốc chúng tôi. Cuộc hành quân của đội vũ trang tuyên truyền 103 được cấp trên quan tâm, nơi cần đến liên hệ đều có công văn đi trước và cho đơn vị cầm theo. Tôi đến ga Bình Định làm việc xin goòng đi La Hay. Đến 16 giờ chiều cùng ngày cán bộ chiến sĩ vũ trang tuyên truyền 103 đến ga La Hay Phú Yên, địa đầu của tỉnh Phú Yên. Từ giã quê hương Bình Định thân yêu với những vườn dừa bạt ngàn xanh mát quanh năm, chúng tôi hành quân lên địa phận xã Xuân Quang ở phía tây huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên. Địa hình Đồng Xuân lúc này rừng còn bạt ngàn, nơi đây là chiến khu dựng quân của Trần Cao Vân và Võ Trứ dựng cờ khởi nghĩa chống Pháp năm 1898. Cuộc khởi nghĩa này tuy không thành công nhưng ngọn đuốc do các lãnh tụ khởi nghĩa đốt lên còn ấm lòng dân tộc (Trần Cao Vân sau này là lãnh tụ khởi nghĩa chống Pháp 1916; Võ Trứ là bộ tướng Nguyễn Thành Phương thời nghĩa hội). Hơn 40 năm sau, những người linh vệ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, của Bác Hồ kính yêu, về dây tra lại dấu chân trần của cha ông đi cứu nước. Từ xã Xuân Quang tôi và đồng chí Bùi Dự đến văn phòng tỉnh ủy Phú Yên tình công văn của đồng chí Nguyễn Chánh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Liên khu ủy, Tư lệnh kiêm chỉ huy Liên khu 5 gởi cho tỉnh Phú Yên. Công văn yêu cầu tạo điều kiện cho đội vũ trang tuyên truyền 103 hành quân lên tỉnh Đaklak. Đồng chí Lê Vụ, Bí thư tỉnh ủy Phú Yên vui vẻ nói với chúng tôi: “Từ nay hậu phương thì xa còn tiền phương thì gần. Đường đi trắc trở gian nan, các đồng chí cần bồi dưỡng đôi chân cho tôi. Mọi cố gắng của các đồng chí sẽ không thừa”. Trở về đơn vị tôi cử một tổ trinh sát đi nắm trước tình hình đường hành lang, khi có tín hiệu báo yên mới ra lệnh xuất phát. Bộ đội 103 theo đường Cây Vừng, Kí Lộ lên Trà Bương, Machoi, Maphu vào địa phận Đaklak qua sông Cà Lúi Eabreh đến Ơinu và chuẩn bị vượt sông Ba (Eâp). Tuy trời còn sáng, ở đây lại là vùug tự do nhưng Ban chỉ huy đội 103 vẫn cho cán bộ chiến sĩ dấu mình trong cánh rừng xanh, cho trinh sát bến bãi, chờ đêm đến mới cho bộ đội vượt sông Ba. Sông Ba mùa này nước cạn nhưng chảy xiết lắm. Chúng tôi đội ba lô lên đầu lội qua sông. Nước sông cuồn cuộn, trời đêm sâu thẳm, rừng núi mênh mông, lòng tôi dây lên bao niềm cảm xúc:

Sông Ba nước chảy về đâu
Chạnh lòng chiến sĩ khơi sâu căm thù
Nhớ ngày cách mạng mùa thu
Vũ trang công tác chiến khu lên đường…


Vượt sông Ba chúng tôi đi chếch hướng đông tránh đồn địch để qua đường số 7 an toàn và đi về hướng Đềplâygia liên hệ để vào căn cứ của trung đoàn 84, do đồng chí Giáp Văn Cương, trung đoàn phó chỉ huy. Được trung đoàn 84 giúp đỡ, đội 103 triển khai trinh sát nắm tình hình phía đông và phía tây đường 14, mới đưa quân qua cầu gỗ Woanh Chăm vào địa phận Buôn Hồ. Chúng tôi đi phía trên, Hồ Lức ở phía dưới, còn phía bắc là sông Srrêpốc (Êa Srrêpốc). Ban chỉ huy đội 103 chọn địa điểm dừng quân tổ chức lại trại ở, triển khai công tác. Đội vũ trang tuyên truyền 103 chúng tôi bắt đầu xây dựng cơ sở từ phía bắc Đakmin qua huyện Cônhec - một huyện biên giới thuộc tỉnh Mon Đun Kê Ri (Campuchia) và bắt liên lạc với đội vũ trang tuyên truyền đông bắc Miên do đồng chí Trương Minh Lí, quê ở Duy Xuyên, phụ trách. Và kể từ đây đội 103 xây dựng cơ sở ra hướng bắc địa phận tỉnh MonĐu Kê Ri, rồi về lại ngã ba Mĩ Thạch trên đường 14 và đường 25, đến tọa độ chuẩn trên núi Chứ Đơn, phát tín hiệu cho đội 101 đến làng Pleime, bắt liên lạc.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Mười Hai, 2010, 07:25:33 AM
Suốt 4 tháng trời hành quân, đội vũ trang tuyên truyền 103 xây dựng được 20 làng cơ sở dọc hành lang trên tuyến đường hành quân gần 1.000km. Niềm phấn khởi của cán bộ chiến sĩ hai đôi vũ trang tuyên truyền 101 và 103 - những người chiến sĩ sống xa quê hương lâu ngày gặp lại nhau không thể nào tả xiết. trong suốt 4 tháng qua, hai đội 101, 103 thi đua hoàn thành công tác xây dựng cơ sở địch hậu, điều đáng mừng nhất là cán bộ chiến sĩ hai đội đoàn kết đảm bảo được an toàn cho hai đơn vị và cho các cơ sở không bị địch tập kích, phục kích gây thươg vong. Địa bàn từ Đakmin dọc theo hai tỉnh biên giới Mon Đun Kê Ri và Na Ta Kê Ri (Campuchia) về phía tây đường 19 huyện Chứ Ti (Đức Cơ) trở thành tuyến hành lang an toàn cho hai đơn vị. Vì ở đây đồng bào dân tộc H’Mông, Ê Đê, Zơrai… sống hai bên biên giới đều có quan hệ huyết thống sắc tộc, nên sự thống nhất rất cao. Cơ sở trên đất Việt Nam xây dựng ở làng Ê Đê, thì làng Ê Đê bên Campuchia ủng hộ và ngược lại. Mỗi khi có địch càn quét bên phía biên giới Campuchia thì cơ sở bên[97] Campuchia chạy về Việt Nam tránh né, khi địch càn ở Việt Nam thì cơ sơ ở biên giới Việt chạy về Campuchia tránh né. Cứ như vậy, các dân tộc sống hai bên miền biên giới của hai nước, luôn tận tâm giúp đỡ nuôi dưỡng cán bộ chiến sĩ hai đôi vũ trang tuyên truyền 101 và 103 hoạt động. Một thuận lợi nữa đến với hai đơn vị là đã phát triển được người dân tộc ở địa bàn hai bên biên giới vào công tác ở hai đôi 101 và 103, Ngôn ngữ Ba Na mà hai đơn vị đã học trước đây không còn thích nghi ở địa bàn công tác mới. Những chiến sĩ dân tộc mới phát triển vào đơn vị, được hướng dẫn học tập chữ quốc ngữ để trở thành như một thông dịch viên truyền đạt chủ trương chính sách của Đảng đến với đồng bào dân tộc hai bên biên giới. Một vùng biên giới tự do rộng hơn 300km mở ra liên hoàn. Tôi nghĩ từ lúc quân đi trong đêm, đất trời không bờ bến, đến nay dù cách mạng chưa thành công nhưng ta đã có đất và trời, có cả cộng động các dân tộc hòa nhịp sống bao la của cuộc kháng chiến cứu nước.

Đến tháng 8 năm 1951, Ban chỉ huy trung đoàn 120 ra lệnh sáp nhập đội vũ trang tuyên truyền 103 và 101 thành liên đội vũ trang tuyên truyền 118. Liên đội vũ trang tuyên truyền 118 do đồng chí Nguyễn Hồng Hương làm liên đội trưởng, tôi nhận quyết định làm chính trị viên, hai đồng chí Trịnh Quang Ngọc và Bùi Dự làm đội phó. Liên đội vũ trang tuyên truyền tuy là một nhưng trở về hoạt động trên địa bàn trước khi hai đơn vị sát nhập. Có nghĩa là đội vũ trang tuyên truyền 103 vẫn hoạt động trên địa bàn hai tỉnh biên giới Mon Dun Kê Ri và Ra Na Ta Kê Ri và một phần huyện PleiKli[98] tây đường 14, còn đội 101 vẫn hoạt động trên địa bàn Chứ Ti, tây nam đường 19. Phương châm và nhiệm vụ của Liên đội vũ trang tuyên truyền 118 thời gian này là:

Nắm vững phương châm kiên trì vận động cách mạng, tích cự đẩy mạnh công tác củng cố cơ sở, củng cố hành lang bàn đạp, chú ý vùng biên giới mở rộng và bảo vệ căn cứ du kích xây dựng cơ sở vùng bị chiếm.

Ra sức địch ngụy vận phá âm mưu vũ trang cho dân, phát triển Guom của địch, chống chính sách dồn dân của chúng; tích cực đấu tranh triệt phá kinh tế địch, xây dựng kinh tế ta; tuyên truyền giáo dục chính trị cho nhân dân, củng cố khối đoàn kết kháng chiến; rèn luyện cho cán bộ đảng viên chiến sĩ tư tưởng: Trường kì gian khổ tự lực cánh sinh nhưng nhất định thắng lợi. Thực hiện quan điểm bình đẳng dân tộc. Trong công tác tổ chức thì quan tâm chỉnh đốn tổ chức Đảng ở cơ sở để tiện sinh hoạt thích hợp với hoàn cảnh chiến trường. Ban chỉ huy Liên đội vũ trang tuyên truyền 118 tổ chức quán triệt nhiệm vụ cho cán bộ chiến sĩ và ra quân công tác. Một thuận lợi của Liên đội vũ trang tuyên truyền 118 là gặp được anh Ksor Thanh. Ksor Thanh là người dân tộc Zơrai, có học vấn diplôme, nói thông thạo tiếng Pháp, tiếng Việt, hiểu phong tục tập quán của ác dân tộc sống trên vùng biên giới Việt Nam, Campuchia. Ksor Thanh nguyên là chủ tịch huyện Chứ Ti (Đức Cơ) hồi khởi nghĩa 1945. Từ khi giặc Pháp chiếm lại địa bàn Chứ Ti, Ksor Thanh tập hợp một số trai tráng trong huyện vào rừng phát[99[ rẫy sinh sống, bất hợp pháp với quân địch chờ ngày cách mạng trở về. Kso Thanh được liên đội 118 kết tập công tác. Có Ksor Thanh, việc phát triển thanh niên địa phương bổ sung cho liên đôi 118 được thuận tiện. Căn cứ đứng chân của liên đội ở núi Chứ Ti được củng cố. Khi thế đơn vị lúc này phấn khởi, quân số vừa đông về số lương, vừa mạnh về ý chí và tư tưởng, số thanh niên mới vào liên đội lên đến 40 người, toàn đơn vị đã có 101 đồng chí. Chính quyền cách mạng ở từng làng được tổ chức chặt chẽ, trên có chủ tịch làng, dưới có đoan thể thanh niên, phụ nữ, nông dân, thiếu niên. Mỗi làng có một tổ du kích mật, tiểu đội du kích chiến đấu. Du kích mật có nhiệm vụ hợp pháp bám địch, bám đường khi cán bộ về công tác và bảo vệ nhân dân trong các cuộc họp mit ting. Ở những làng xa quốc lộ 19, 14 xa đồn địch, liên đội 118 tổ chức cho đồng bào làm rẫy tỉa lúa tự túc lương thực nuôi bộ đội và lập kho dự trữ gạo muối ở căn cứ, đề phòng địch càn quét. Đến năm năm 1951, địa bàn hai huyện Chứ Ti (Đức Cơ) và Pleikli các cơ sở quần chúng đã được phát triển đều khắp, có làng ở sát đường 19, 14, trong vùng địch kiểm soát cũng đã phát triển được cơ sở cách mạng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:32:11 AM
Tháng 7 năm 1951, tôi được trung đoàn chỉ định về dự Đại hội Đảng bộ Liên khu 5. Đây là lần đầu tiên tôi được tham dự một hội nghị quan trọng của Đảng. Tại đại hội tôi cố nắm bắt và quán triệt những nghị quyết quan trọng của đại hội như nghị quyết: “Nhiệm vụ công tác của vùng sau lưng địch”; Nghị quyết về “Vùng địch tạm chiếm là vùng du kích”; Nghị quyết nhấn mạnh công tác vùng sau lưng địch là: “Tích cực tranh thủ nhân dân vùng địch hậu, kiên trì xây dựng cơ sở tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích, phá chính sách bình định của địch”. Hồi đó chưa có phương châm: Hai chân 3 mũi giáp công, nên nghị quyết công tác vùng bị địch chiếm và vùng du kích như sau: “Các địa phương phải biết căn cứ vào tương quan lực lượng giữa địch và ta trên mỗi địa phương mà định hướng đấu tranh cho thích hợp, khi trọng về chính trị, khi chính trị quân sự đi đôi, khi trọng về quân sự, nhưng điều cơ bản phải lấy dân làm gốc. Mọi công việc trong hai vùng đều phải xoáy quanh ba vệc: Dân vận, vận động quân ngụy, chiến tranh du kích”. Tháng 10 năm 1951 Liên khu ủy quyết định thành lập mặt trận miền Tây. Phạm vi mặt trận miền Tây gồm: Đại bộ phận tỉnh Kon Tum và miền Tây tỉnh Quảng Ngãi. Tỉnh Giakon sau khi chuyển các huyện thuộc tỉnh Kon Tum về mặt trận miền Nam còn lại các huyện: Komlong, An Khê, PleiKon và vùng tây đường 14. Lúc này tỉnh Gia Lai quyết định thành lập Ủy ban kháng chiến huyện Chứ Ti. Đồng chí Ksor Thanh vẫn làm chủ tịch huyện, đồng chí Đỗ Huyên thường vụ huyện Đakbớt được rút lên làm Bí thư ban cán sự huyện Chứ Ti và huyện PleKli. Tôi và đồng chí Nguyễn Hồng Hương được bổ sung vào ban cán sự huyện Chứ Ti. Địa bàn này, cơ sở cách mạng tay đường 14 và đông bắc đường 19 gần như đều khắp, phong trào đấu tranh hợp pháp cũng như bất hợp pháp lên cao. Các đồn địch đóng ở Chứ Ti, Pleikli, Peimoedươc, Bàu Cạn bị vô hiệu hóa trước nhân dân. Khi chúng đi càn thì bị du kích cắm chông, gài bẫy, rào đường, bắn ná tên độc gây cho địch nhiều nỗi lo sợ.

Khi tôi đi dự đại hội về, tình hình đơn vị có những biểu hiện khác thường. Nếu trước đây cán bộ chiến sĩ trong liên đội sau thời gian công tác trong đêm, sáng ra phải rút về cứ, thì nay ở lại trong làng, trong rẫy, đi lại công khai coi thường địch. Có một só đồng chí còn đi lẻ. Vì anh em nghĩ rằng, cơ sở quần chúng cách mạng đã nuôi nấng, che chở bảo vệ họ, thì kẻ địch sẽ không làm được gì. Về phía địch, từ lâu chúng cho gián điệp giả dạng thương lái, đi sâu vào làng điều tra cơ sở của ta, những cán bộ chiến sĩ đi lẻ trên địa bàn hai huyện Chứ Ti và Pliekli chúng liền bí mật cho quân đón bắt đem tra tấn và thủ tiêu. Nắm được điểm yếu của ta, nhiều lần chúng xua quân đi đốt rẫy phá làng triệt hại kinh tế của ta. Mặc dù bị địch khủng bố nhưng nhiều cơ sở bí mật vẫn giữ được liên lạc với cán bộ, nhờ đó tinh thần đồng bào vẫn hướng về cách mạng. Chính do sự chủ quan, mất cảnh giác đó mà trong năm 1952, liên đội 118 tổn thất gần 20 cán bộ chiến sĩ, cả người Kinh lẫn người dân tộc. Từ đó địch tăng cường bố phòng tuyến đường 14 gây khó khăn cho liên đội 118, đến cuối năm 1953 sau khi được củng cố, liên đội 118 hoạt động trở lại. Ban chỉ huy đơn vị mới liên lạc được với hậu cứ của trung đoàn 120.

Đầu năm 1954, sau những thắng lợi của quân ta trên chiến trường Tây Nguyên, tù binh địch bị ta bắt rất nhiều. Ban chỉ huy trung đoàn 120 lệnh rút tôi về công tác tại Ban chính trị trung đoàn. Chủ nhiệm chủ trương trung đoàn Võ Đông Giang giao nhiệm vụ cho tôi phụ trách công tác địch vận và giáo dục tù hàng binh ở trại giam do trung đoàn quản lí.

Suốt 5 năm làm công tác vũ trang tuyên truyền vùng địch hậu, gắn bó với anh em đồng đội, đồng chí, biết bao buồn vui, gian khổ. Xa anh em đồng đội, xa đơn vị, lòng tôi bùi ngùi khôn xiết, nhưng vì nhiệm vụ của một đảng viên được Đảng phân công công tác, tôi không thể thoái thác. Tôi mang ba lô về hậu cứ mà lòng trĩu nặng yêu thương đồng đội, đồng bào vùng địch hậu đã gắn bó với tôi suốt 5 năm qua. Tôi đi trong niềm tin của đồng đội tôi đang ngày đêm chiến đấu ở phía trước.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:34:54 AM
Với tôi, điều rút ra qua 5 năm công tác vùng địch hậu ở chiến trường Tây Nguyên có những điều không thể nào quên được đó là nhân dân; đó là đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Không hề từ chối một gian nguy nào, một khi đã chấp nhận đi theo cách mạng thì gắn cả cuộc đời theo lời nguyền dù chết cũng không quên. Tôi không bao giờ quên được trận càn của hơn 400 tên địch đánh vào làng Stor trong suót 150 ngày từ tháng 9 năm 1950 đến tháng 2 năm 1951, chúng vây quét, trút lúa, phá rẫy, đốt làng cố xóa dấu vết làng Stor. Nhưng dưới sự lãnh đạo của thôn trưởng Đinh Núp, đồng bào Stor dựa vào địa thế hiểm trở của núi rừng, tổ chức đánh địch bằng chông, mang, bẫy đá, cung tên… đồng bào Stor chín lần dời làng, trải qua nhiều ngày đói khổ, thiếu muối đói cơm. Thiếu gạo đồng bào lấy củ rừng thay gạo, thiếu muối, đồng bào đốt cỏ tranh thay buối, người Ba Na ở làng Stor vẫn không hề nao núng tinh thần. Trong suốt những ngày gian khổ ấy đã có một Đinh Núp kiên trung, có một Pi dũng cảm, có một SơRan anh hùng luôn luôn bám làng gần gũi gắn bó với nhân dân, giữ vững lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ. Thôn đội trưởng Đinh Núp khẳng định: “Nếu địch có đánh chết còn một người cũng phải đánh lại, chết thì chết, không đầu hàng!” đó là ý chí đánh Pháp của người dân tộc Ba Na. Vẫn còn đây một Bok Wừu hai lần bị địch bắt, la hai lần Bok Wừu mưu trí thoát ngục, lần thứ ba (tháng 4 năm 1952) Bok Wừu sa vào tay giặc, chúng đưa về Đakdoa, Đedoa, Kon Tum để tra tấn dã man, chúng đã cắt mũi, xẻo tai, chặt lìa mười đầu ngón tay, mười đầu ngón chân, gây khủng khiếp cho gia đình và dân làng. Thế nhưng Bok Wừu vẫn một lòng không khai báo cơ sở cách mạng trong xã. Trong cơn đau thân thể Bok Wừu còn động viên nhân dân: “Đồng bào đừng sợ, hãy đoàn kết đấu tranh diệt cho hết lũ Azat!” (Azat: bọn giặc cướp nước). Kẻ thù khiếp sợ trưởng phẩm chất anh hùng của Bok Wừu, chúng dùng lưỡi lê khoét mắt Bok Wừu, dùng tiểu liên bắn xả vào người, hất xác Bok Wừu xuống suối. Máu của Bok Wừu hòa vào dòng suối thấm đẫm cho đất rừng xanh tốt, giăng thành lũy ngăn bước quân thù. Tôi cũng không bao giờ quên được tinh thần của một cán bộ người Zơrai, ở biên giới Việt Nam - Campuchia khi địch bắt anh về Bàu Cạn để tra tấn, chúng hỏi: “Việt Minh ở đâu”. Người cán bộ cơ sở chỉ vào đầu, ngực mình và nói: “Việt Minh nó ở trong óc tao, nó ở trong tim tao, nó đã thành hơi thở cho tao sống, bọn máy có cần thì mổ đầu lấy óc, mổ ngực lấy tim mới thấy được Việt Minh”. Và quân thù dã man, hèn hạ, chúng làm thật như vậy. Người chiến sĩ cơ sở cách mạng Zơrai đã hi sinh như một anh hùng. Và còn đây, những biểu hiện sinh động của tấm lòng người dân vùng biên giới. Mới gặp chúng tôi đồng bào nói: “Buổi đầu tụi bây đến tao sợ tụi bây như cho heo, như con báo; con heo nó phá rẫy, con báo nó bắt trâu bò gà vịt. Nhưng sống với tụi bây rồi, tao thương tụi bây như con chó ở trong nhà, thằng nào chết dân làng cũng muốn thờ hồn nó, và mong hồn của nó ở lại với dân làng đừng về dưới xuôi. Tụi bây con Kinh đi đâu cũng có xe cộ, lanh thì có áo ấm, mắc chi lên đây đầu trần chân đất chịu cực khổ như người dân tộc? Tao biết tụi bây cũng vì cách mạng, giải phóng dân tộc, để cho người dân tộc chúng tao đỡ khổ…”. Một đặc điểm văn hóa của đồng bào các dân tộc Tây nguyên làm cho tôi khâm phục vô cùng, tuy họ chưa có nếp sống văn minh, chưa tiếp xúc với tiế bộ khoa học kĩ thuật nhưng họ không bao giờ lấy của cải của nhau; không bỏ vợ đánh con. Tôi có ước nguyện sau này đất nước thanh bình, tôi sẽ về lại chiến trường xưa thăm đồng bào, đồng đội tôi - những người đã gắn bó hi sinh cả cuộc đời mình cho cách mạng trong những năm cực kì gian nan, cực kì ác liệt và chính họ đã giúp tôi dũng khí để chịu đựng gian khổ thời đó. Tuy nhiên đến nay, sau 25 đất nước độc lập tôi vẫn chưa thực hiện được ước nguyện đó của đời mình.

Trở lại với tình hình quân địch lúc này, sau hơn một tháng đọ sức giữa quân ta và quân địch (từ ngày 30 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1954) tỉnh Kon tum với 14.000km2 và 200.000 dân đã được giải phóng. Niềm phấn khởi của đồng bào ở đây Kinh cũng hư Thượng không gì tả xiết. Trong đám dự mitting chào mừng thắng lợi, bộ đội và đồng bào được nghe thư khen của đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thắng lợi Kon Tum là thắng lợi lớn của ta trong mùa xuân này trên chiến trường toàn quốc. Đó là một đòn nặng giáng lên đầu quân giặc ở miền Nam, nhất là địch đang sa lầy ở Tuy Hòa… Tôi gửi lời khen ngợi các cán bộ chiến sĩ mặt trận Kon Tum, đã vượt qua gian khổ khó khăn, chiến đấu dũng cảm, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng thị xã Kon Tum và tỉnh Kon Tum”. Sau thư khen của Đại tướng Tổng tư lệnh, bộ đội Khu 5 biều diễn một chương trình văn nghệ đặc sắc phục vụ đồng bào. Chị Komling người dân tộc Ba Na, bài hát ca ngợi tình cảm của đồng bào với bộ đội Cụ Hồ. Bài hát được dịch ra tiếng Kinh như sau:

Anh ở Trung Châu
Không phải ở đây
Anh là người Kinh
Không phải người Thượng
Tình thương anh rộng
Nên mới lên đây
Chỉ để đánh Tây
Cho mình vui sướng
Anh đến chỗ nào
Núi rừng đều khác
Ăn uống cực khổ
Nhưng anh cũng cố
Chung giúp đồng bào
Anh cũng làm theo
Cái phép người Thượng
Muốn ăn con cá
Xuống suối anh bắt
Muốn ăn cái thịt
Vào rừng anh kiếm
Muốn ăn con nhái
Chờ ngày mưa to
Đêm mai anh đi
Đường có nhiều dốc
Chị em tôi thương
Chỉ thấy dấu chân
Không thấy hình anh
Đồng bào nhớ mong
Chờ ngày anh về


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:36:16 AM
Ngày 7 tháng 5 năm 1954, tin chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng đem đến có cán bộ chiến sĩ chiến trường Tây Nguyên niềm vui sướng nức lòng. Ở Khu 5 địch phải căng ra, phân tán để đối phó. Từ sau thất bại Kon Tum, binh đoàn 42 của chúng bị giam chân ở Pleiku, Bộ tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Việt Nam do tướng Nava cầm đầu, đã tung ra một nước cờ táo bạo, và chúng đã chuốc lấy thất bại thảm hại trong lịch sử cầm quân đi xâm lược nước người của hắn. Nava ra lệnh rút trung đoàn GM10 Korea, từ Nam Triều Tiên đổ sang Việt Nam chiếm giữ đường 19, để nối liên lạc với binh đoàn 42 tiến xuống An Khê thành 2 gọng kìm chiếm đóng vùng tự do Bình Định của ta. Đón biết ý đồ của quân địch, Bộ Tư lệnh liên khu 5 đưa trung đoàn 96 do đồng chí Nguyễn Minh Châu làm trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Hữu Thành, chỉ huy(1). Trung đoàn 96 lúc này có 2 tiểu đoàn bộ binh và một tiểu đoàn trợ chiến, được Bộ tư lệnh Liên khu rút đại đội 54 và 68 quân số hơn 600 người của trung đoàn 120 tăng cường cho trung đoàn 96, đồng thời phối hợp với bộ đội địa phương An Khê do đồng chí Nguyễn Hữu Trinh, tham mưu trưởng trung đoàn 120, phối thuộc với trung đoàn 96 đánh địch, tạo điều kiện cho trung đoàn 96 tiêu diệt hoàn toàn trung đoàn GM100 Korea (Trung đoàn lê dương 100 của Pháp ở Nam Triều Tiên sang) tai địa phận Đăkpơ.

Ngày 24 tháng 6 năm 1954, khi đại bộ phận quân địch lọt vào khu quyết chiến điểm của quân ta bố trí. Theo kế hoạch đã vạch sẵn, tiểu đoàn chặn đầu lập tức nổ súng. Cả đoàn xe của binh đoàn GM100 Korea, lũ lượt nối đuôi cố vượt lên để kịp hội quân với binh đoàn 42 từ Pleiku kéo xuống, bất ngờ bị hỏa lực mạnh của quân ta chặn lại. Chiếc xe đi đầu bốc cháy, hàng loạt xe sau húc lên nhau dồn lại tạo thành mục tiêu tập trung cho hỏa lực và bộ binh ta tiêu diệt.

Sau hơn một tiếng đồng hồ chiến đấu quyết liệt ta làm chủ trận địa. Suốt trên dải chiến trường dài 3km ngổn ngang xe pháo và xác địch, từng đoàn lính Âu Phi bị bắt, trong đó có tên đại tá Baru chỉ huy cùng Ban tham mưu binh đoàn GM100 Korea của chúng với 229 xe cơ giới, 20 đại bác, 1.000 súng các loại và hàng chục tấn đạn dược bị quân ta tịch thu.

Thừa thắng quân ta truy kích tiêu diệt thêm một bộ phận của binh đoàn 42 ứng cứu cho bọn GM100 Korea, quét sạch hệ thống cứ điểm trên đường 19, giải phóng toàn bộ An Khê và khu vực phía đông Pleiku.

Không khí thắng lợi, nô nức dâng tràng trong lòng quân và dân Tây Nguyên trong nỗi vui mừng khó tả ấy, tôi liên tưởng đến hào khí của tổ tiên ta đánh giặc Minh thơi nhà Lê, được Nguyễn Trãi miêu tả trong “Bình Ngô đại cáo”

“Đánh một trận sạch sanh kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông”


Bọn tù binh bị bắt tinh thần bạc nhược, được ta đưa về trại quân; chúng phục tùng học tập cải tạo; được cách mạng thực thi chính sách khoan hồng chính nghĩa; được học tập âm mưu chia rẽ Kinh, Thượng của chủ nghĩa thực dân Pháp và các thế lực thù địch; cũng được cấp đầy đủ lương thực vật chất hàng ngày; những tên ốm đau thương tật được điều trị thuốc men lành bệnh; ước mơ được sống để trở về đoàn tụ với gia đình được nhen nhóm trong chúng.

Sau khi chiến thắng Đăkpơ, Hồ Chủ tịch, lãnh tụ kính yêu của Đảng ta và dân tộc ta đã gởi thư khen cán bộ và chiến sĩ mặt trận An Khê:

“Các chú hoạt động có thành tích khá, Bác vui lòng. Thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú và thưởng đoàn vừa chiến thắng ở An Khê Huân chương kháng chiến hạng nhất.

Bác khuên toàn bộ cán bộ chiến sĩ cần phải nắm vững tình hình địch, thi đua giết giặc lập công. Phải ra sức tranh thủ lấy thành tích to lớn hơn nữa.

Bác chờ nhiều tin thắng lợi của các chú và thân ái hỏi thăm đồng bào trong đó.


Chào thân ái và Quyết thắng.
Bác Hồ Chí Minh”


(1) Đồng chí Nguyễn Minh Châu trong kháng chiến chống Mĩ là Tư lệnh Quân khu 6 - sau 1975 Tư lệnh Quân khu 7 - Thượng tướng, Tổng Thanh tra quân đội nhân dân Việt Nam; đồng chí Nguyễn Hữu Thành, Cục trưởng Cục Xăng dầu.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:37:52 AM
Phát huy chiến thắng Đăckpơ đường 19, lực lượng trung đoàn 120 và bộ đội địa phương tiếp tục bao vây huyện lị Cheo Reo, cắt đường 14. Ngày 15 tháng 7 quân ta pháo kích vào Cheo Reo. Lo sợ bị tiêu diệt, quân địch bị bao vây ở Pleiku mở đường máu tháo chạy, chúng sa vào trận địa phục kích của ta ở ChưĐrek, ta phá hủy 62 xe cơ giới, diệt 300 tên bắt sống thêm 200 tên địch. Hai đại đội 54 và 58 do đồng chí Nguyễn Hữu Trình, tham mưu trưởng trung đoàn 120 chỉ huy truy kích và lùng bắt quân địch chạy về Đăkpơ và Mang Giang, đồng thời tiếp tục bao vây địch ở Herel, cho pháo 105 li của Quân khu tăng cường, lấy tọa độ bắn vào Herel lần thứ hai thì đơn vị này nhận được lệnh của Quân khu: “Thôi tấn công quân địch ở Herel”. Đại đội pháo 105 của Quân khu được lệnh rút về Quảng Ngãi, hai đại đội 54, 68 được lệnh về tiếp quản An Khê. Lúc này ngoài công tác địch vận giáo dục tù hàng binh, tôi còn được trung đoàn bổ sung làm ủy viên Ban quân quản huyện An Khê.

Ngày 20 tháng 7 1954, Hội nghị Giơnevơ về Đông dương kết thúc. Hiệp định đình chiến ở Việt Nam và Đông Dương được kí kết. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đã kết thúc thắng lợi. Chào mừng thắng lợi Đăkpơ, Chưdrek và để ghi dấu ấn trong lòng đồng bào, trong khi chuyển quân đi tập kết, trung đoàn 120 tổ chức diễu hành mừng chiến thắng ở chân núi Hòn Công huyện An Khê. Mặc cho trời mưa nặng hạt, hàng nghìn đồng bào Kinh Thượng trong huyện An Khê thức đêm chờ sáng dự diễu binh mừng chiến thắng. Lực lượng trung đoàn 120 trong quân phục xita màu xám quen thuộc, vũ khí trang bị đầy đủ, bộ đội địa phương An Khê quần soóc áo cánh, dân quân du kích áo ló, trang bị cung tên giáo mác hiên ngang đều bước trên quốc lộ 19 đồng ca vang bài Tiến quân ca. Đường 19, mảnh đất quê hương yêu thương thắm máu của đồng bào, đồng chí bừng lên trong ngày vui chiến thắng, giàn cồng chiêng của đồng bào Ba Na vang động, cờ đỏ sao vàng dương cao phất phới như thắp sáng cả môt vùng trời. Đêm về, buổi chiếu phim về tình quân dân, về Tây Nguyên bất khuất, về anh bộ đội cụ Hồ và chiến thắng của quân và dân ta trên khắp mọi miền đất nước được thuyết minh bằng tiếng dân tộc Ba Nam và đêm văn nghệ liên hoan, âm vàng bài ca “An Khê chiến thắng” đã làm nức lòng bà con:

An Khê bao năm căm hờn
Xích xiềng đời nô lệ
An Khê hôm nay tưng bừng niềm vui chiến thắng trào dâng.


Và những bài ca tiễn đưa, dặn dò của những cô gái Ba Na với cán bộ chiến sĩ trung đoàn 120 cũng được dịp thổ lộ:

Xa nhau dù nắng dù mưa, cũng đừng quên chuyện cũ,
Cách nhau dù mấy núi, cũng đừng quên làng xưa…

(Dân ca Xê Đăng)

Bây giờ anh ra Bắc, nơi có Cụ Hồ làm mẹ làm cha
Bây giờ anh đi xa nhớ làng xưa người cũ
Nước có nguồn, cây có cội, đừng mau quên rừng núi anh ơi!


Đó là những bài ca, tiếng hát cất lên từ những trái tim chất chứa yêu thương trong đêm liên hoan văn nghệ chào mừng chiến thắng, ghi dấu ấn kỉ niệm tiễn đưa nhau, kẻ ở người đi, tạm biệt nhau hẹn ngày gặp lại. Và còn biết bao những cuộc tạm biệt âm thầm của tổ chức, các đồng chí lãnh đạo với các cơ sở của trung đoàn do yêu cầu bí mật của nhiệm vụ. Theo chủ trương của trên lúc bấy giờ tôi được biết, Ban chỉ huy trung đoàn 120 chọn khoảng 300 cán bộ chiến sĩ, những người có lập trường chiến đấu kiên định, có phẩm chất cách mạng trong sáng, bí mật ở lại không đi tập kết, các anh chôn dấu vũ khí, chuẩn bị tư tưởng tiếp tục chịu đựng tường kì gian khổ, bám dân xây dựng cơ sở, sẵn sàng đón thời cơ cho cuộc chiến đấu tiếp teo. Việc chuẩn bị bí mật này và sự hi sinh của các đồng chí ở lại, cùng với thời gian chỉ có cây rừng và đồng bào các dân tộc Tây Nguyên mới biết và ghi nhận hết chiến công thâm lặng của họ mà thôi.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:42:01 AM
Công việc trong ngay chiếm quá nhiều thời gian và vất vả, tôi tưởng chừng không dứt ra được. tại trụ sở Ủy ban quân quản huyện An Khê, tôi được lệnh phối hợp hoàn thành thủ tục danh sách tù hàng binh để trao trả cho đối phương. Công việc trao trả chỉ con chờ lệnh trên thì được lệnh triệu tập về trung đoàn bộ dự họp. Cuộc họp được tiến hành trong tác phong quân sự. Đồng chí Trương Công Minh, tức Trương An - nguyên xứ ủy Trung Kì (1939-1942) Bí thư tỉnh ủy GiaKon, kiêm chính ủy trung đoàn 120 bắc Tây nguyên, trịnh trọng khai mạc hội nghị, phổi biến thắng lợi của quân và dân ta ở chiến trường Điện Biên Phủ. Đồng chí nói: “Sau 55 ngày đêm “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non” chiến đấu liên tục, quân ta đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm do Tướng Đờ Cát cầm đầu. Ngoài số quân địch bị tiêu diệt trong 55 ngày đêm ta còn bắt sống hơn 16.000 tên địch, tịch thu toàn bộ trang thiết bị chiến tranh của chúng ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng. Cuộc tấn công chiến lược Đông Xuân 19553-1954 của quân ta đã kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại. Chiến thắng ở Điện Biên Phủ cùng với chiến thắng Đông Xuân 1953-1954 của quân và dân ở mọi miền đất nước đã mở ra cục diện chủ trương mới, buộc thực dân Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ, ngày 20 tháng 7 năm 1954. Những kế hoạch quân sự đầy tham vọng của hai tên đế quốc Pháp và can thiệp Mĩ liên tục bị phá sản. Trên chiến trường Liên khu 5, chiến dịch Atlăng của quân Pháp đã cũng đã thất bại cay đắng. Bằng trận tiêu diệt binh đoàn GM100 Korea trên đường 19 An Khê không để một tên nào trốn thoát. Đè bẹp và đánh tan âm mưu xâm lược của thực dân Pháp…”. Nói đến đây đồng chí chính ủy Trương Công Minh, bỗng hạ thấp giọng - ông trân trọng từng lời: ”Chín năm gian khổ đói cơm lạt muối, tự lực cánh sinh, trường kì kháng chiến nhất định thắng lợi đã trở thành hiện thực. Chiến công này là xương máu của đồng bào, đồng chí chúng ta trong 3.000 ngày, gian khổ mới làm nên. Chiến tranh đã chuyển giai đoạn từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị. Theo hiệp định Giơnevơ thì quân đội và chính quyền của ta tập kêt ra phía Bắc đất nước để học tập và xây dựng. Vĩ tuyến 17, giữa hai bờ bắc và nam sông Bến Hải là đường ranh giới tạm thời chia cắt đất nước ta trong hai năm. Ở miền Nam do quân Pháp quản lí. Đến năm 1956, hai miền sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Diễn biến tình hình còn phức tạp, đề phòng quân giặc tráo trở, cấp trên ra lệnh Đảng ủy và Ban chỉ huy trung đoàn họp mặt các đồng chí để quán triệt tư tưởng, kiên định lập trường và mài sắc ý chí để chúng ta sẵn sàng cùng bước vào giai đoạn chiến đấu mới”. Đồng chí chính ủy trung đoàn đọc một bài thơ có ý khẳng định và minh họa thực tiễn cách mạng. Tôi không biết bài thơ của tác giả nào, nhưng tháng năm đi qua đến nay tôi vẫn còn nhớ như in:

Trong lịch sử bốn ngàn năm dựng nước
Bốn ngàn năm ấy máu đắp giang sơn
Bốn ngàn năm tranh đấu để sinh tồn
Không khuất phục kẻ thù khi thất bại
Không kiêu căng khinh địch lúc thành công
Trước khó khăn nguy hiểm chẳng sờn lòng
Trong chia cắt vẫn không tàn lửa dũng…

Trong thâm tâm chúng tôi mỗi người theo đuổi một ý nghĩ mông lung khi trên đường trở về đơn vị. Tôi vừa đến Ban chính trị trung đoàn, đồng chí chủ nhiệm chủ trương trung đoàn Võ Đông Giang(1) gọi tôi lại đưa tờ giấy và nói nhỏ: “Đồng chí giao lại danh sách tù binh cho tôi quản lí, đồng chí được thủ trưởng trung đoàn cho đi phép về thăm gia đình ở Quảng Nam. Đến ngày quy định trong giấy phép đồng chí hãy mau trở lại đơn vị để cùng anh em sắp xếp xuống tàu ra Bắc tập kết”. Tôi chưa biết nói gì, cầm tờ giấy phép mà lòng như rộn lên niềm vui, vừa bâng khuâng, vừa phấp phỏng một nỗi lo lắng khó diễn đạt được trong lúc này. Thế là tôi phải đi xa, phải rời mảnh đất ân tình Tây Nguyên với những ngày gắn bó máu thịt và xa cả nơi “chôn rau cắt rốn” quê hương tôi.

Sáng hôm sau tôi lên đường rất sớm.


(1) Đồng chí Võ Đông Giang, Phó bí thư tỉnh ủy Gia Lai, kiêm Chủ nhiệm chính trị trung đoàn 120 sau này là Bộ trưởng ngoại giao CHXHCN Việt Nam.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:44:21 AM
CHƯƠNG III

TÌNH NON NƯỚC - NGHĨA ĐỒNG BÀO

Nhờ chiếc xe đạp mà tôi rút ngắn được chặng đường hơn 400km từ huyện Bình Khê, phía tây của tỉnh Bình Định về huyện Quế Sơn - quê tôi, sau 3 ngày rong duổi. Khi đến thị xã Tam Kì, tôi hăm hở tìm đến văn phòng Tỉnh ủy Quảng Nam để thăm các anh trong Tỉnh ủy và chạo tạm biệt để đi tập kết tho tinh thần Hiêp định Giơnevơ, nhưng tôi không gặp được ai. Hỏi ra tôi mới biết: Tỉnh ủy Quảng Nam đã giải tán cách đó 5 ngày và những người trong Tỉnh ủy đã dời chỗ ở nơi khác. Lần đầu tiên trong cuộc đời chiến đấu, từng gặp và trải qua bao nhiêu lần vui, buồn, gian khổ, nhưng lần này tôi thấy lòng mình dâng lên một nỗi buồn khó tả. Suốt trên chặng đường thiên lí, tôi đã dừng chân nhiều nơi để thăm bà con cơ sở mà trong 7 năm qua họ đã giup đỡ tôi nhiều mặt. ở đâu bà con cũng thể hiện một tình cảm vô cùng thắm thết, không thể nảo không bận lòng, như khi từ giã bà con ở Tam Kì, tay bắt mặt mừng mà nước mắt cứ rưng rưng. Và khi về lại quê nhà đến đầu ngõ, tôi đứng trên con đường thân quen một thời tuổi trẻ đã ghi nhiều kỉ niệm, lòng tôi bỗng trào lên niềm cảm xúc như đã có lần tôi viết trong nhật kí của mình:

Quê tôi đất Quế ngày xưa
Quan năm khi nắng khi mưa, dãi dầu
Li Li, khúc cạn khúc sâu
Bên bồi bên lở bể dâu bao lần.


Chỉ cách một hàng cây ven đường ngôi nhà tôi hiện ra trước mắt. Ở đó là những con người ruột thịt thân thiết của tôi. Cha tôi thì đã qua đời từ năm 1947, còn anh Sâm của tôi - một người đồng chí, trong quá khứ, khi những người cùng trang lứa với anh chưa biết cách mạng là gì, anh đã hết lòng che chở bảo bọc, cất giấu tài liệu giúp cho tôi qua mặt được bọn tay sai trong làng để hoạt động cách mạng - giờ anh cũng đã từ biệt để về cõi vĩnh hằng. Anh cả tôi từ trrước đến nay vẫn ở riêng. Ngôi nhà 3 gian từng ấp ủ tình cảm khuya sớm đi về của tôi đã bị bom thù đánh sập một mái, lâu rồi chưa được sửa chữa, cột gỗ lim đen đứng trơ giữa trời, tường vôi trắng đã bám rêu xanh. Sân gạch đỏ mọc đầy cỏ bàn, có gấu. Nhìn ngôi nhà xưa mà lòng tôi thêm chạnh. Nghe tin tôi về, anh Lộc tôi mừng rỡ đến thăm. Nhà tôi đông anh em, nhưng các chị tôi đi lấy chồng xa không có điều kiện để về họp mặt, chỉ có 3 anh em tôi chìm đắm trong niềm vui và nỗi xúc động của cuộc đoàn viên ngắn ngủi. Anh cả tôi là người Nho học nhưng lại ít quan tâm đến thời cuộc chỉ chí thú làm ăn. Anh luôn thể hiện tình cảm của một người anh đúng lúc, đúng nơi - là một con người có trách nhiệm với gia đình và dòng tộc. Mừng tôi về sau 7 năm đi xa anh nói: “Từ nay trở đi tôi cầu mong cho chú khỏe mạnh. ở chiến trường thì cần cảnh giác với hòn tên mũi đạn. Chú cố mà giữ thân chờ ngày đất nước thống nhất trở về!”. Tôi xúc động trước lời của anh cả, tôi chưa đáp lời thì anh Lộc lên tiếng có ý nhắc nhở tôi: “Hôm trước khi chú về, bọn tay sai núp bóng trong xã mình bàn nhau thành lập chính quyền theo quốc gia. Tình hình diễn biến theo chiều hướng xấu, chú nên thu xếp mà đi sớm. Chú về thăm nhà một đêm như vậy là đủ rồi! Anh chị em trong gia đình biết chú còn sống, còn công tác là mừng lắm!”. Về phần tôi, kinh nghiệm công tác 5 năm trong vùng địch hậu đã cho tôi nhận định bản chất của bọn địch rõ ràng. Tôi trả lời anh Lộc: “Nói vậy chứ bọn chúng cũng phải dè chừng sức mạnh của cách mạng. Chiến thắng Điện Biên Phủ và hàng loạt chiến thắng ở miền Nam, trong đó có đơn vị anh em tham gia tiêu diệt binh đoàn GM 100 Korea trên đường 19 An Khê cũng làm cho bọn chúng rúng động. Việc cảnh giác là cần cảnh giác với bọn đảng phái phản động, khi cách mạng mạnh thì chúng nằm im, khi cách mạng gặp khó khăn thì chúng ngóc đầu dậy, trong tương lai bọn này làm đội quân tay sai đánh phá cách mạng, ta cần đề phòng và đối phó với các thủ đoạn của bọn chúng”.

Cuộc gặp lại gia đình thật ngắn ngủi trong bối cảnh tình hình diễn biến phức tạp, tôi lại tạm biệt người thân ra đi. Tôi đạp xe lên huyện tìm đến văn phòng huyện ủy đóng trước đây, được bà con cho biết: “Huyên ủy đã giải tán và đi nơi mô chúng tôi không biết”. Hụt hẫng lần thứ 2, lòng tôi nặng trĩu nỗi nhớ bạn bè, đồng đội. Trên đường trở lại, có người nhận ra tôi ở bộ đội địa phương trước đây, bà con không ngần ngại thổ lộ tâm tư, chen lẫn nỗi lo lắng trăn trở về tương lai của cách mạng trên địa bàn huyện nhà: “Không biết khi Mĩ - Diệm đến đặt ách cai trị trên một vùng đất vốn là ùng tự do của cách mạng, rồi nhân dân và cơ sở sẽ ra sao?”. Tôi không đủ thời gian giải thích thêm về tình hình cách mạng trong tương lai, chỉ biết động viên và khuyên bà con bình tĩnh, giữ vững niềm tin vì Đảng không bao giờ xa dân. Trên đường, tôi quyết định ghé thăm hai đồng chí Ngô Tuận và Trần Huấn, tôi biết hai đồng chí được Đảng phân công ở lại làm cơ sở tổ chức hoạt động bí mật và còn có đồng chí Võ Trọng Hoàng (còn gọi là Bốn Hương) đã lên căn cứ sau đó nên tôi không gặp được. Đồng chí Ngô Tuận nói vói tôi: “Trước sau, những người được Đảng phân công ở lại xin giữ vẹn niềm tin đối với Đảng. Còn thực tế, thi thực hiện phương châm kiên trì, theo dõi hành động của bọn giặc để có đối sách thích hợp. Anh em chúng tôi mong các anh đi sớm trở về, để nếu quân địch đánh phá, ta có lực lượng đánh trả”. Tôi không ngờ đến năm 1962 khi vượt Trường Sơn trở về chiến đấu ở niềm Nam, tôi mới biết hai đồng chí đều đã trải qua cương vị tỉnh ủy viên, bí thư Huyện ủy Quế Sơn và đã bị kẻ thù giết hại một cách dã man. Chúng đã giết và cắt lìa đầu hai đồng chí của chúng ta để uy hiếp tinh thần nhân dân và gây hoang mng cho những cán bộ ta trong vùng bí mật.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:46:32 AM
Trong chuyến về thăm quê, tôi còn giành thời gian đến thăm cụ Biểu Quát - tên thật là Nguyễn Đắc, một người lớn tuổi trong họ Nguyễn, được dân trong tộc bầu làm đại diện cho tộc họ, quan hệ với tộc họ khác gọi là Biểu Quát. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp cụ Biểu Quát tham gia công tác chấp hành lão thành của xã, con của cụ Biểu Quát là đảng viên được phân công ở lại hợp pháp. Thấy tôi đến thăm, cụ Biểu Quát mừng rỡ và tiếp đón nồng hậu. Cụ hỏi tôi về tình hình cách mạng, chuyển biến sau Hiệp định Giơnevơ. Tôi thật tỉnh chỉ nói theo tình hình của Hiệp định không nói ra ngoàì sự hiểu biết của mình. Cụ Biểu Quát trầm tư nhìn tôi một lát rồi cụ nói: “Chú thiệt tình với cháu, trước sau dân tộc Việt Nam cũng sẽ thống nhất, chú tin tưởng vào đường lối của Đảng Cộng sản, sự lèo lái của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng chú không tin đối phương, vì chúng là kẻ thù trực tiếp. Bị thua trận và lắm mưu mô, rồi đây chúng sẽ không thi hành Hiệp định mà còn quay sang đánh phá cách mạng. Tình hình rồi sẽ xáo trộn ghê gớm đó cháu nghe! Không cách gì hai năm mà thống nhất được nước nhà mô. Kinh nghiệm lịch sử hồi thời phong kiến còn đó: Đàng trong, đàng ngoài chỉ tranh giành quyền lực thống trị nhân dân mà còn kéo dài lâu như vậy. Bây giờ cuộc đấu tranh này là cuộc đấu tranh giữa 2 hệ tư tưởng, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản; giữa dân chủ và độc tài; giữa duy tâm và duy vật thì cuộc đấu tranh này không chỉ có 2 năm là ổn. Cháu nên nghĩ rằng diễn biến ở tương lai là gay gắt, là quyết liệt, là hi sinh gian khổ hơn thời 9 năm đánh Tây, để đừng hồ nghi, cháu mới đủ tỉnh táo đi suốt đên cùng cuộc đấu tranh của dân tộc”. Lắng nghe cụ Biểu Quát phân tích tình hình một cách biện chứng và kết luận của cụ giúp cho tôi nhìn sâu hơn khía cạnh của vấn đề. Tuy nhiên tôi chưa hề đem chuyện giữa cụ và tôi kể lại với ai. Mãi đến năm 1961, tình hình diễn biến rõ ràng, trước khi lên đường về Nam, tôi thổ lộ tâm sự này với người cháu của tôi là Nguyễn Văn Hiền cũng tập kết, để xách định cuộc đấu tranh phía trước vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc là còn gay go, quyết liệt, hi sinh gian khổ, và thời gian phải mất cả 10 lần kí hiệu(1) lúc tiễn đưa nhau đi tập kết chứ không phải hai năm, hay bốn năm như một số người lạc quan sớm lúc bấy giờ…

Đến nay, khi viết lại những dòng hồi ức này, tôi nghiệm ra sự tinh tế, nhạy cảm của nhân dân ta đã đúc kết thành lôgíc lịch sử, đánh giá kẻ thù một cách thực tế và chính xác. Hơn ai hết, nhân dân miền Nam là người chịu nhiều đau khổ, đã dự lường thời gian và chuẩn bị tư thế sẵn sàng cho mục tiêu đấu tranh lâu dài, gian khổ, quyết liệt để giành thắng lợi ngày nay.

Sau 3 ngày ở thăm quê, tôi lại dong ruổi trên chiếc xe đạp theo đường cái quan để trở về trung đoàn. Khi tôi đến nơi, thì trung đoàn 120 bắc Tây Nguyên trước đây trở thành trung đoàn 120 Tây Nguyên. Tất cả các đơn vị người dân tộc trên địa bàn Liên khu 5 và trung đoàn 84 Đaklak thống nhất thành trung đoàn 120 mới. Hai đại đội độc lập 54 và 68 của trung đoàn 120 cũ về gia nhập vào trung đoàn 803 để họp nhất thành sư đoàn 305.

Thế la chỉ trong vòng 30 ngày - kể từ Hiệp định Giơnevơ được kí kết, các đơn vị được lệnh tập trung đã khắc phục gian khổ vượt đường xa, có đơn vị từ ngã 3 biên giới xa xôi đã chấp hành đúng tiêu lệnh thời gian, tập trung về xã Bình Phú thuộc huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định để chỉnh đốn quân ngũ, sắp xếp đội hình. Trong hàng ngũ tinh binh lúc đó có cả các đội vũ trang tuyên truyền trên các hướng của núi rừng Trường Sơn, trang phục của họ còn nguyên màu sắc dân tộc. Anh em gặp nhau mừng mừng, tủi tủi người còn người mất, hỏi thăm nhau mà lệ ngấn lưng tròng, những người con mũ nan dép lốp, đối đến xanh người, đói đến vàng da mà hiên ngang phối hợp chiến trường lập nên chiến công vây đồn, ép quận… Những cán bộ chiến sĩ người dân tộc, những cán bộ chiến sĩ các đơn vị nhiều vùng Tây Nguyên, hay miền tây các tỉnh đang bỡ ngỡ trước niềm vui, quang cảnh rộn ràng trong những ngày đầu hội quân trên cùng một dải đất quê hương, nhưng họ chưa bao giờ đặt chân đên… Các anh em du kích, các em thiếu niên dân tộc, chưa từng xa mái nhà rông, bếp lửa rừng trong đêm, còn rụt rè trong sinh hoạt… đã đổn dồn về đây. Bao nhiêu con người là bấy nhiêu tam trạng: Bâng khuâng, day dứt, nửa đi, nửa ở, nửa muốn về, tình nhà, nợ nước… như dồn nén trong tấc lòng mọi người.

Đầu tháng 8/1954, trung đoàn Tây Nguyên đã tập trung được 3.500 quân của 27 dân tộc anh em. Quân số biên chế thành 3 tiểu đoàn, 1 liên đội và 1 đại đội tăng cường(2).


(1) Kí hiệu chào nhau bàng hai ngón tay tức 2 năm thi hành Hiệp định Giơnevơ.
(2) Các đội miền Tây gồm: Đaktô, Daksút, tây đường 14 thành liên đội 9, do đồng chí Bạch Quang Kim, liên đội trưởng; đồng chí Đoàn Khắc Bảng, chính trị viên. Các đơn vị Quảng Nam gồm: Trà Mi, Phước Sơn, Hiên, Giằng thành đại đội tăng cường, do đồng chí Lê Ngưu, đại đội trưởng; đồng chí Văn Trọng, chính trị viên. Tiểu đoàn 1 gồm các đơn vị: Gia Lai - Kon Tum, do đồng chí Nguyễn Trọng Đàm tiểu đoàn trưởng; Đoàn Y Thanh, chính trị viên; Nguyễn Huy Chương chính trị viên phó; Văn Ngưu: tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn 2 gồm các đơn vị Tây Nguyên do đồng chí Kpathin, tiểu đoàn trưởng, Từ Ngọc Hảo chính trị viên; Rơ Chăm Nghiêu, tiểu đoàn phó; Trần Văn Ái, chính trị viên phó. Ban chỉ huy trung đoàn; Đồng chí Yblok E Ban, trung đoàn trưởng (thay đồng chí Nguyễn Tuấn Tài được Đảng phân công rút vào bí mật); đồng chí Yyao, trung đoàn phó, đồng chí Phan Tâm, quyền chính ủy, đồng chí Lê Xuân Ban, chủ nhiệm chính trị; đồng chí Nguyễn Hữu Trinh, tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Duy Trị, chủ nhiệm hậu cần.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:48:28 AM
Sau khi dự mitting và tham gia diễu binh mừng chiến thắng tại huyện Phù Cát ngay 13/10/1954, trung đoàn Tây Nguyên chuyển quân về xã Mĩ Tài và Mĩ chánh huyện Phù Mĩ tỉnh Bình Đinh, và tại đây 2 trung đoàn 84 Đaklak và 120 Tây Nguyên làm lễ sát nhập thống nhất thành trung đoàn 120 mới, trung đoàn chấn hỉnh đội ngũ, trang bị, chuẩn bị xuống tàu đi trong tư thế người chiến thắng, bước lên tàu với vẻ mặt rạng rỡ, phấn khởi trước những tên lính thực dân và bọn tay sai bại trận, họ làm nhiệm vụ trong ban liên hợp đình chiến có mặt tại bến cảng Quy Nhơn. Tôi không thể nào tả hết những hình ảnh diễn ra ở địa điểm trung đoàn đóng quân trước buổi chia tay. Những bà mẹ, người vợ, người yêu suốt mấy năm trường không gặp mặt người thân, nay được tin ngừng bắn mới vượt qua đồn bốt địch ra vùng tự do xuống xuống đến Quy Nhơn mới gặp mặt được thì phải nói lời chia tay. Những câu chuyện tình, những lời ước hẹn, những kỉ niệm trao tay… nước mắt, nụ cười, nỗi ưu tư lo lắng hiện rõ trên từng khuôn mặt gười đi kẻ ở. Tình quê hương, nghĩa vợ chồng, tình non nước, nghĩa đồng bào như chất chứa trong trái tim, ánh mắt, cái siết tai không rời của nhau:

Chiều đưa tiễn muôn ngàn thương nhớ
Tự tay em viết ở tang đầu
Cho dù phải cách xa nhau
Cũng không đổi dạ nào đâu thay lòng
(1)

Trải qua 2 ngày làm thủ tục chờ tàu, 17 giờ ngay 19/11/1954, các đơn vị trong trung đoàn được lệnh xuống tàu Kirinki (tàu của Ba Lan). Tàu nhổ neo, từ boong tàu anh em nhìn thấy mẹ cha, anh chị, vợ con và những người thân yêu tên cầu tàu đưa 2 ngón tay vẫy vẫy tiễn đưa - dấu hiệu 2 năm sẽ trở vê theo Hiệp định Giơnevơ, sẽ hiệp thương tổng tuyển cử và đó cũng là n gày tái ngộ những gia đình chia cách hôm nay.

Tặng anh cuốn sổ vừa xong
Con tàu đưa tiễn vượt ngàn trùng dương
Dừa xanh đứng lặng bên đường
Như em gái nhỏ quê hương đợi chờ


Sau 2 ngày 3 đêm tàu vượt sóng gió biển khơi, đến 15h ngày 22/11/1954, tàu Kirinki vào địa phận cửa Hội - một đảo tiền tiêu của tỉnh Nghệ An. Những ghe thuyền trong bến cửa hội đã được chuẩn bị sẵn ra cập mạn đón bộ đội vào bờ. Ngay đêm đó, bộ đội đã “hồi tỉnh” sau những những say sóng và được xem một đêm văn công do đoàn văn công Tổng cục Chính trị biểu diễn. Những bài hát “Giải phóng Điện Biên”, “Hò kéo pháo”, những điệu múa sạp sôi nổi rộn ràng, khi tiết mục Krông chiêng, với những cô gái, chàng trai Tây Nguyên lộng lẫy trong trang phục dân tộc thân thương và gần gũi xuất hiện tên sân khấu càng làm cho bộ đội trung đoàn 120 Tây Nguyên phấn khởi và cảm động vô cùng.

Đêm văn nghệ đi qua, các đoàn thể quân, dân, chính, đảng địa phương đến thăm trung đoàn và trao quà của bác Tôn Đức Thắng, Phó Chủ tịch nước cho trung đoàn. Cảm động trước tình cảm của đồng bào và các cấp, cán bộ chiến sĩ trung đoàn quyết tâm học tập và rèn luyện, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ mới để đáp lại sự yêu thương chăm sóc của đồng bào và các cấp chính quyền trên miền Bắc thân yêu.


(1) Bài ca của Văn công Liên khu 5.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:52:36 AM
TRONG LÒNG MIỀN BẮC THÂN YÊU

Bước chuyển quân tập kết đã hoàn thành, cán bộ chiến sĩ trung đoàn 120 Tây Nguyên bắt đầu một giai đoạn rèn luyện và xây dựng quê hương miền Bắc, một nửa Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

Trung đoàn 120 Tây Nguyên được cấp quân trang, quân dụng ngay tại cảng cửa Hội, liền được lệnh hành quân về Xuân Thành, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Những ngày đầu bộ đội chưa quen với trang bị: Mặc quân phục đồng màu, đội mũ, đi giày. Quân phục có 3 cỡ, người nhỏ nhất nhận đồ số 3 vẫn thấy rộng thùng thình, chân quen đi dép, đi trần, rồi nay mang giày vào chân bị bó rất khó đi, có đồng bào bị phồng rộp hai bàn chân trên đường hành quân trông vừa tội nghiệp vừa buồn cười. Nhưng tất cả đã được khắc phục để hành quân đến đích. Do đặc điểm của một trung đoàn tập trung nhiều sắc tộc, trung đoàn 120 ban đầu trực thuộc Bộ Quốc phòng và vừa trực thuộc Ban đại diện Bộ Tư lệnh Liên khu 5 lúc này đang đóng ở Thanh Hóa. Các cán bộ chiến sĩ về sống trong nhà dân, trong vòng tây thân ái của bà con Xuân Tành. Lúc đầu do ngôn ngữ bất đồng giữa các dân tộc trong đơn vị và trong quan hệ với nhân dân địa phương, vấn đề này được các đồng chí người Kinh thạo tiếng dân tộc phải làm thông dịch viên và qua học tập lẫn nhau, các chiến sĩ quen dần và hòa nhập với nhân dân.

Sau thời gian ổn định ở tại Xuân Thành, vào một ngày rét đậm, cán bộ chiến sĩ trung đoàn 120 Tây Nguyên vui mừng được đón Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến thăm. Trên bãi cát sông Chu, trước hàng quân trang bị màu xanh Tô Châu, mũ cứng được đính quân hiệu trông thật nghiêm trang, thay mặt Quân ủy Trung ương Đại tướng căn dặn cán bộ, chiến sĩ trung đoàn ra sức học tập quân sự, chính trị, nhất là học văn hóa để có trình độ kiến thức nhất định hoàn thành nhiệm vụ cách mạng, nhất là cho Tây Nguyên và cho các tỉnh miền tây, nam Trung Bộ trong tương lai. Thời tiết ở miền Bắc, đặc biệt là mùa đông 1954, nhiệt độ xuống rét đậm, cá dưới sông, trên đồng chết trắng. Trong hoàn chảnh khó khăn do chưa quen với khí hậu, thời tiết miền Bác, cán bộ chiến sĩ trung đoàn 120 Tây Nguyên được đồng bào Xuân Thành đùm bọc, nhường cho bộ đội từng ổ rơm để cho anh em yên giấc. Sống trong tình thương đó, các chiến sĩ đã thổ lộ tâm tình của mình bằng những bài thơ đậm tình cá nước:

Nhớ sao những sáng Xuân Thành
Ổ rơm chống lạnh mẹ giành cho con
Trở mình sau giấc ngủ ngon
Mắt nhìn thấy mẹ lom khom sửa màn
Mẹ thương con ở miền Nam
Có bao giờ chịu đại hàn như ri…


Cuối năm 1955, tình hình ở miền Bắc dồn dập những khó khăn. Bọn tay sai núp lén tuyên truyền xúi giục đồng bào di cư theo Chúa vào Nam, trung đoàn được lệnh đưa 2 đại đội 1 và 2 vào Tân Đạo giúp chính quyền ở đây ổn định tình hình trật tự, chống bọn phản động cưỡng ép đồng bào di cư. Với tinh thần kiên trì trụ bám trong những năm công tác ở vùng địch hậu Tây Nguyên, hai đại đội 1 và 2 khắc phục khó khăn thiếu thốn về vật chất, chịu đựng gian khổ, gần gũi tuyên truyền vận động đồng bào theo đạo Thiên Chúa chấp hành chính sách tôn giáo của Đảng, ổn định được tình hình chính trị địa phương Tân Đạo. Đại đội 1 và cùng chính quyền địa phương giữ được dân, chống âm mưu tuyên truyền lừa phỉnh đồng bào, lôi kéo bắt ép giáo dân di cư vào Nam. Đại đội 1 và 2 cùng nhân dân tăng gia sản xuất, xây dựng xóm làng xứ đạo trở lại yên binh.

Đầu năm 1956, trung đoàn 120 Tây Nguyên nhận lệnh thay đổi địa bàn hoạt động ở Xuân Thành, hành quân vào huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Tại đây trung đoàn tổ chức xây dựng trung đoàn theo hướng mới. Trung đoàn sau khi biên chế trở lại có 3 tiểu đoàn bộ binh, 7 đại đội chuyên môn và 2 trung đội binh chủng. Thời kì này trung đoàn trực thuộc Bộ Tư lệnh Quân khu 4.

Trong thời gian ở Thanh Chương, bộ đội trung đoàn 120 Tây Nguyên được các mẹ, các chị hát ví dặm động viên thao trường, làm cho nghĩa tình quân dân càng đậm tình và sâu nạng. Các mẹ đã nhường chỗ bộ đội ngủ, tình thương đó đã được bộ đội trung đoàn viết thành thơ:

Nhà mẹ chia một nửa
Phản mẹ giành một đôi
Cơ cực mẹ quen rồi
Con bớt phần gian khổ
Chè xanh sênh như sữa
Giữa thao trường thơm hương
Mẹ chặt tre, cây vườn
Cho con làm công sự…

(Người mẹ Thanh Chương, báo tường trung đoàn 120)


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:53:26 AM
Ở Thanh Chương, trung đoàn 120 được các cấp lãnh đạo quân đội và chính quyền quan tâm đặc biệt. Sau chuyến viếng thăm của Đại tướng Tổng tư lệnh, trung đoàn vinh dự được đón đồng chí Nguyễn Chánh, Tổng cục cán bộ quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Bí thư Liên khu ủy, Tư lệnh Liên khu 5 - người anh cả của lực lượng vũ trang Liên khu 5 đến thăm. Đồng chí nói: “Nếu mai đây, ngọn cờ hòa bình bị kẻ thù phản bội, chúng ta sẽ trở về miền Nam, trở về quê hương Tây Nguyên với ngọn cờ quyết chiến quyết thắng. Tiếp đến, đồng chí Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam vào thăm trung đoàn, đồng chí nêu rõ vai trò, trách nhiệm to lớn của trung đoàn với sự nghiệp cách mạng của các dân tộc Tây nguyên, là phải xây dựng trung đoàn Tây Nguyên thành một trung đoàn mạnh toàn diện, mỗi cán bộ chiến sĩ trung đoàn phải trở thanh một người lãnh đạo của dân tộc mình. Sau chuyến viếng thăm của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, trung đoàn 120 Tây Nguyên bước vào một thời kì thi đua huấn luyện và học tập với khí thế mới và được lệnh hành quân về huyện Nam Đàn. Ngày 16/06/1957 tại Rú Đụn - nơi Mai Hắc Đế hội quân đánh giặc phương Bắc năm xưa - cán bộ chiến sĩ trung đoàn 120 Tây nguyên và cán bộ chiến sĩ sư đoàn 324 vinh dự được đón Bác hồ kính yêu đến thăm.

Từ trong tăm tối nô lệ, đến cách mạng Tháng 8 thành công và 9 năm kháng chiến gian lao, đồng bào miền nam, đồng bào Tây Nguyên và cán bộ chiến sĩ ước mong có ngày được gặp Bác Hồ, được nhìn thấy hình ảnh của người cha già dân tộc. Ước mong đó nay đã thành sự thật. Tin Bác Hồ đến thăm đã làm cho các chiến sĩ trung đoàn hồi hộp, đợi chờ, mừng vui không dấu nỗi. Bác đã đến, hôm ấy cùng đi với Bác Hồ có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, đồng chí Giáp Văn Cương, sư đoàn trưởng 324. Hôm ấy, bầu trời Nam Đàn và miền Bắc hậu phương trong xanh và nắng mật. Bộ đội hai đơn vị tập hợp đông đủ, vẻ mặt ai nấy rạng rỡ. Khi Bác đi qua khối quân của trung đoàn 120, toàn trung đoàn tung hô: “Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Bác Hồ muôn năm”. Bác vào đến khán đài, đồng chí Đại tướng mời Bác lên khán đài, Bácbảo: “Để Bác đi thăm các cô, các chú bộ đội một tí đã”(1). Khi Bác trở lại khán đài, Bác hỏi bộ đội: “Các cô, các chú có khỏe không?”; “Các cô, các chúi ăn có no không?” Cả binh đoàn đồng thanh đáp một tiếng “Dạ có”. Bác rất vui. Nhìn về khối quân của sư đoàn 324, Bác khen: “Thành tích học tập và giúp dân của các cô các chú là giỏi, đơn vị của các cô các chú đã chiến đấu và phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ giành thắng lợi lập lại hòa bình. Nhưng các cô các chú còn 4 khuyết điểm: Còn kém cảnh giác, còn lãng phí, còn kém quan điểm lao động và chưa chịu khó học tập để tiến bộ”. Bác dừng lại hỏi bộ đội: “Bác nói có đúng không?” một lần nữa cả khối quân đồng thanh: “Thưa Bác đúng ạ!” Bác hướng về các đồng chí chỉ huy sư đoàn 324 và trung đoàn 120, Bác đưa tay lên trước hàng quân: “Bác dặn các chú 5 điều; Các cô các chú phải khắc phục kém cảnh giác, phải lao động và tiết kiệm, phải ra sức học tập quân sự, chính trị, văn hóa, phải đoàn kết hơn nữa trong nội bộ và nhân dân, kiên trì đấu tranh giành thống nhất nước nhà”.

Thay mặt trung đoàn 120 Tây Nguyên, đồng chí Đinh Văn Thành, trung đoàn trưởng (lúc này đồng chí Eblok E Ban đã đi nhận công tác) đến tặng Bác ngà voi của nhân dân Tây Nguyên gởi cho trung đoàn trước khi đi tập kết - nhận ngà voi Bác nói: “Cám ơn các chú đã tặng Bác sừng voi, nhưng nhớ lá Bác không bao giờ bị cắm sừng đâu nhé”. Cả Bác cháu cùng cười.

Cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 120 Tây Nguyên vui lòng hả dạ, được đại diện cho các dân tộc Tây Nguyên và dân tộc các tỉnh miền Tây đón tiếp Bác, được Bác khen ngợi. Cán bộ chiến sĩ trung đoàn xin nguyện làm tròn nhiệm vụ của Đảng và Tổ quốc giao cho, để xứng đáng lòng tin yêu của đồng bào các dân tộc anh em và của đồng bào miền Bắc ruột thịt, đồng bào miền Nam anh dũng và của Bác Hồ kính yêu.


(1) Tài liệu của Trung đoàn 120 Tây Nguyên.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 22 Tháng Mười Hai, 2010, 06:55:49 AM
TẤT CẢ CHO MỘT LẦN VỀ NAM

Những ngày đầu về xã Nam Thanh, Nam Diên, Nam Trung thuộc huyện Nam Đàn, trung đoàn 120 Tây Nguyên tiếp tục xây dựng hoàn thành doanh trại, tạo chỗ ở khang trang cho bộ đội học tập văn hóa, chính trị và rèn luyện trong suốt năm 1957, từng bước tiến lên chinh quy đáp ứng yêu cầu của cách mạng trong thời kì mới.

Kể từ tháng 1/1958, bản thân tôi được cấp trên cho đi đào tạo tại Học viên chính trị. Trong suốt thời gian học tập tại học viên không phải lúc nào tôi cũng nhớ, nhưng thỉnh thoảng vê đêm, khi tôi đặt mình chợp mắt thì hình ảnh đồng bào, đồng chí của tôi hiện ra đưa 2 ngón tay vẫy vẫy. Đó là lời hẹn 2 năm chúng tôi sẽ trở về theo Hiệp định Giơnevơ hiệp thương tổng tuyển cử. Suốt trong thời gian qua, nhân dân miền Nam kiên trì chờ đợi mong muốn sống hòa bình, nhưng không quên nung nấu ngọn lửa đấu tranh. Quân thù đã lật lọng, cấu kết với nhau phá hoại Hiệp định, rồi tổ chức đánh phá đàn áp nhân dân, cơ sở cách mạng. Chúng xây dựng chính quyền, lập đồn bót, tổ chức các sắc lính và nhà tù.

Chế độ Ngô Đình Diệm tay sai và quân đội của chế độ Nam triều Bảo Đại tay sai của tực dân Pháp chuyển sang chiến dịch chống Cộng, biến thành cuộc chiến tranh đơn phương dìm miền Nam trong bể máu, trong bóng tối của nhà tù, tra tấn khủng bố, gây ra nhiều vụ thảm sát dân lành. Điển hình như ở Quảng Nam - Đà Nẵng là vụ thảm sát Sơn Cẩm Hà, hơn 400 người dân bị chôn sống; vụ chợ Cây Cốc, Tiên Kì, 330 người bị chúng xả súng tàn sát (2 vụ này thuộc huyện Tiên Phước); vụ đập Vĩnh Trinh, 52 người bị chúng lấy dây kẽm gai xỏ xiêng hai bàn tay rồi buộc đá vào cổ, bỏ họ vào bao tời thả xuống đập Vĩnh Trinh (đập Vĩnh Trinh thuuộc huyện Duy Xuyên); vụ chợ Được (thuộc huyện Tam Kì) chúng cướp của, đốn cây và bắn xả vào đồng bào vì không cho nó chặt phá, đánh đập làm chết hàng trăm người vô tội… Tất cả những vụ thảm sát đó, quân thù đều gây ra ở những vùng vốn trước đây là vùng tự do của cách mạng. Nỗi đau thương căm hận đó đã được nhân dân nói lên lời phẫn uất:

Chợ Mĩ Lược khăn tang trắng xóa
Đập Vĩnh Trinh cánh quạ đen ngòm.


Đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và phong trào cách mạng đang sôi sục ở miền Nam, Nghị quyết 15 TW của Đảng ra đời nêu rõ:

“Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam Việt Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, xây dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân”.

Nghị quyết con khẳng định: “Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam là “bạo lực” Nghị quyết 15 TW đã đáp ứng nguyện vọng tha thiết và nóng bỏng của nhân dân miền Nam vùng lên phá xích xiềng nô lệ, Nghị quyết là ngọn đuốc soi đường mở ra một thời kì cho cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam. Đón nhận định hướng chiến lược của Đảng, những người con miền Nam tập kết ra Bắc đều chung một nguyện vọng là được trở về miền Nam chiến đấu. Đêm Nam ngày Bắc, tình cảm và ước mơ đó như thôi thúc, giục giã chúng tôi.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 07:03:33 PM
Mùa xuân năm 1959, vừa tốt nghiệp Học viện Chính trị, tôi được đồng chí Thiếu tướng Nguyễn Đôn, Tư lệnh Quân khu bốn tực tiếp đến Học viện rut tôi về làm chính trị viên trường đặc công Quân khu 4. Lúc đầu, trường đặc công Quân khu 4 mới có khung huấn luyện, về chỉ huy có 3 người. Tôi, đồng chí đại úy Nguyễn Cụ, anh hùng quân đội, nguyên là cán bộ đặc công quê ở Khánh Hòa, quê ở Bình Định làm tham mưu trưởng. Chúng tôi bắt tay vào nhiệm vụ “vì miền Nam ruột thịt”, tổ chức rút cán bộ của tiểu đoàn 303 đặc công về làm khung, chuẩn bị giáo trình huấn luyện. Lúc đầu, nhà trường chọn rút số quân nhân người miền Nam tập kết là đảng viên, cấp bậc từ tiểu đội trưởng trở lên, có nguyện vọng về miền Nam chiến đấu. Về sau tiêu chuẩn này được mở rộng lấy cả đoàn viên thanh niên, những người có tư tưởng và quyết tâm tố cũng được chọn về học tập tại trường. Do nguyên tắc bí mật, cấp trên quyết định các cơ quan trực tiếp phuc vụ cho nhà trường đều liên hệ trực tiếp với Tư lệnh Quân khu 4. Tất cả cán bộ, giảng viên nhà trường đều là người có kinh nghiệm chiến đấu, nhưng chưa có khả năng dẫn lược trên bục giảng. Nhưng sau thời gian nghiên cứu, được sự lãnh đạo của Tư lệnh Quân khu 4, nhà trừng đã tập huấn bồi dưỡng thực tế và lí luận thành từng tiết giảng. Động tác kĩ thuật và lí luận là sự tổng thợp các đánh giặc truyền thống, mà làm nên chiến thuật đặc công, là một cách đánh của chiến thuật du kích, được nâng cao thành những động tác kĩ thuật quân sự của quân đội ta từ khi thành lập, chiến đấu xây dựng và trưởng thành đến ngày nay. Trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 5, nhà trường tổ chức bồi dưỡng cho khung huấn luyện, để từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1959, nhà trường tổ chức huấn luyện khóa 1, với 3 đại đội thực binh và được đưa về trước cho chiến trường miền Nam, 30 cán bộ đặc công qua đường Bến Hải, Quảng Trị. Bắt đầu từ năm 1960, trường đặc công Quân khu 4 khai giảng khóa 2, thời gian đào tạo 6 tháng cho một tiểu đoàn. Bài học đầu tiên của mỗi khóa là lấy mục tiêu giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc để giáo dục cho cán bộ học viên. Mỗi khóa có 1 tháng học tập chính trị, rồi mới chuyển sang huấn luyện quân sự, bắn các loại súng bộ binh và huấn luyện bắn cối, pháo, từ 60mm, 81mm đến 105mm, sử dụng các loại chất nổ, chắp nối hỏa cụ, tự làm bộc phá; huấn luyện chiến thuật đặc công bắt đầu từ cách đánh tổ, mũi, đại đội đến tiểu đoàn; đánh địch trong công sự, đánh địch ngoài công sự, đánh các loại căn cứ địch như sân bay, bến cảng, kho tàng, các chỉ huy sở các cấp của địch.

Bước sang năm 1961, việc tổ chức huấn luyện lực lượng đặc công phục vụ cho chiến trường miền Nam ngày càng quy mô hơn, phương thức chọn người cũng được mở rộng. Nhà trường tổ chức các đoàn cán bộ về sư đoàn 324, 305, 325, lữ đoàn giới tuyến và trung đoàn 271 để chọn lựa thành phần học viên theo quy định. Bộ tư lệnh Quân khu 4 quyết định lấy khu vực doanh trại trung đoàn 271 ở Nghi Liên làm vị trí đóng quân. Tháng 2 năm 1961, Bộ Tư lệnh Quân khu 4 chuyển trường đặc công ra thành phố Hải Phòng để huấn luyện. Hải Phòng là thành phố cảng, là địa bàn thuận lợi có nhà máy xi măng, nhà ga, sân bay, có sông Cầu Rào… phù hợp với những yêu cần huấn luyện. Bộ đội luyện tập đánh sân bay thì đã sân bay Cát Bi; đánh tàu thủy thì có sông Cầu Rào, đánh nhà ga thì có ga Hải Phòng. Nhà trường liên hệ với nhà ga xin đầu tàu, goong tàu cho chạy để huấn luyện bộ đội. Khóa huấn luyện này nhà trường đưa khoa mục tập lái các loại xe tăng để cướp xe tăng địch; tập lái tàu hoặc để cắt tàu, cướp tàu và nhảy tàu; tập lái ô tô để cướp ô tô địch… thời hạn học tập kéo dài đến 12 tháng, bộ đội ra trường cũng được đưa vào miền Nam.

Vào tháng 10/1961, sau gàn 3 năm lãnh đạo và xây dựng trường đặc công Quân khu 4, tôi được lệnh bàn giao công tác cho đồng chí Nguyễn Cụ và nhận quyết định về trung đoàn bộ binh, rèn luyện để sẵn sàng lên đường về miền Nam chiến đấu. Cầm tờ quyết định trong tay, lòng tôi rộn lên một niềm vui khó tả. Tôi liền thu xếp hành lí mua vé tàu hảo về Hà Nội để kịp chuyến xe về Hòa Bình. Đơn vị tôi về công tác đang ở thị trấn Xuân Mai, tỉnh Hòa Bình. Bay chỉ huy trung đoàn do đồng chí Nguyễn Hường, trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Đình Trọng, chính ủy. tôi được Bộ Quốc phòng quyết định về nhận phó chính ủy, kiêm chủ nhiệm chính trị trung đoàn. Trung đoàn có 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, 3 tiểu đoàn bộ binh và 7 đại đội chuyên môn: thông tin, công binh, trinh sát, cao xạ, ĐKZ, cối, vận tải. Đây là một trung đoàn khung cán bộ từ tiểu đội trưởng trở lên. Nhiệm vụ chính trị của trung đoàn trong những tháng cuối cùng, trước khi lên đường về miền Nam là dồn sức xây dựng quyết tâm, nêu cao ý chí “vì miền Nam” thân yêu. Ban ngày bộ đội được học tập chính trị, ban đêm tập luyện hành quân đường dài mang vác nặng mỗi ngời từ 30kg trở lên. Địa hình hành quân luyện tâp là vùng nông thôn Xuân Mai, Hòa Bình. Vào mùa đông năm ấy, có đêm nhiệt độ xuống dưới 11oC, trời rét ghê gớm nhưng với tinh thần “vì miền Nam” bộ đội hăng hái rèn luyện. Cuối đợt rèn luyện ban chỉ huy trung đoàn hợp đánh giá các mặt xây dựng, huấn luyện bộ đội và đề ra chỉ tiêu thi đua mới. Xuất phát từ tình cảm thiêng liêng với Bác Hồ, Đảng ủy trung đoàn đã đề nghị Tổng cục Chính trị cho Ban chỉ huy trung đoàn được gặp thăm Bác Hồ trước khi lên đường về Nam. Nguyện vọng của chúng tôi được Tổng cục Chính trị và Bác Hồ đồng ý, cho cử đại diện đến gặp để nghe Bác dặn dò trước khi trung đoàn hành quân.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 07:04:46 PM
Vào một buổi chiều đông giữa tháng 12/1961, một chiếc Commăngca đến trung đoàn chở 3 chúng tôi gồm Nguyễn Hường, trung đoàn trưởng, Nguyễn Đình Trọng, chính ủy, tôi - Nguyễn Huy Chương, chủ nhiệm chính trị, cùng đi có 2 xe chở 6 anh em Nam Bộ đến phủ Chủ tịch. Trên đường xe đến phủ Chủ tịch tôi nghĩ tới giờ phút thiêng liêng được gặp Bác. Đã từ lâu, ý nguyện lớn nhất của tôi là cố gắng rèn luyện học tập, lập được nhiều thành tích để được gặp Bác và trở về miền Nam chiến đấu. Ý nguyện đó đã trở thành hiện thực. Xe dừng, đồng chí hướng dẫn đưa 9 chúng tôi vào phòng khách. Chưa đầy 3 phút sau, chúng tôi thấy Bác Hồ đang bước ra. Bác mặc bộ kaki, đầu đội chiếc mũ “Lênin” cũng bằng vải kaki đã bạc màu. Nỗi mừng vui trong lòng chúng tôi không sao tả xiết, tất cả 9 chúng tôi đứng nghiêm đưa tay chào vị lãnh tụ kính yêu. Sau động tác chào, chúng tôi dợm chân muốn chạy đến bên Bác. Bác tươi cười khoát tay, tất cả chúng tôi ngồi xuống. Trên bàn khách lúc này bày sẵn 3 địa kẹo, 3 bao thuốc lá. Bác và đồng chí Vũ Kì - thư kí của Bác ngồi bên kia bàn khách, đồng chí bảo vệ đứng sau lưng Bác. Bên này, 9 chúng tôi ngồi đối diện. Lời đầu tiên Bác hỏi chúng tôi: “Các chú có khỏe không?”. Chúng tôi đồng thanh đáp: “Thưa Bác, chúng cháu khỏe ạ!” Bác bảo; “Các chú ăn kẹo hút thuốc đi”. Chúng tôi vẫn bất động chăm chú nhìn chòm râu bạc của Bác rung rung theo lời Bác nói: “Bác biết các chú sắp lên đường về Nam, các chú muốn gặp Bác. Hôm nay Bác lên đây để thăm các chú, và nói với các chú mấy việc:

1. Tình hình cách mạng miền Nam phát triển rất tốt, nhưng kẻ địch khủng bố hết sức dã man tàn bạo, đồng bào đấu tranh quyết liệt và cũng mong mỏi các chú trở về để tiếp sức với đồng bào. Kẻ địch hiện có một bộ máy chiến tranh đồ sộ để đàn áp cách mạng. Lực lượng ta phát triển tốt nhưng chưa đều, chưa đông. Các chú vào lúc này phải giữ bí mật hoạt động cho cẩn thận. Các chú biến mình như những con mọt, con mối, đục vào những cây gỗ to của nó làm ruộng từ bên trong, khi có thời cơ phong ba bão táp đến, hùn sức xô ngã một ngôi nhà đồ sộ. Đó là phương thức hoạt động bí mật, không ồn ào, lộ liễu để kẻ địch phát hiện, nó sẽ đánh phá gây tổn thất cho cách mạng.

2. Các chu vào lần này, chiến đấu gian khổ, cuộc đấu tranh còn dài và ác liệt hi sinh, không phải có điều kiện đủ đủ ăn, đủ mặc được nghỉ ngơi học tập như bây giờ, có thể nói cực kì gian khổ, nhưng so với đồng bào thì đã chịu đựng hơn 6 năm nay, nếu các chú có lập được những chiến công xuất sắc cũng không vì vậy mà công thần, kiêu ngạo, làm phiền phức đến nhân dân. Các chú phải luôn giữ tinh thần khiêm tốn, hi sinh, cống hiến, đó mới là phẩm chất của người Cộng sản.

3. Từ đây bắt đầu đi, đường sá xa xôi, đi xe có, đi bộ có, qua nhiều trục đường giao thông, nhiều thị xã, thị trấn, khi đi qua suối qua sông, hất thiết phải giữ bí mật không để lộ dấu vết. Kinh nghiệm của các chú đi trước đã tổng kết: “Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Đó là thực tế trong hoạt động cách mạng. Các chú đi, Bác chúc các chú mạnh khỏe, lập nhiều chiến công, thực hiện lời Bác dặn”.


Tất cả 9 chúng tôi lắng nghe Bác nói, để nhớ từng lời, từng câu của Bác, nhưng vẫn tranh thủ ghi chép để khi về đơn vị truyện đạt lại cho cán bộ chiến sĩ nghe.Trong suốt 30 phút chúng tôi được gặp Bác, chúng tôi tập trung trí tuệ để nghe Bác dặn. Khi nói xong Bác bảo chúng tôi: “Các chú cứ ăn kẹo và hút thuốc lá rồi về nhé!”. Thấy Bác dợm bước đi khỏi ghế ngồi, một lần nữa chúng tôi định chạy lại ôm Bác, nhưng đồng chí bảo vệ đưa tay ra hiệu chúng tôi và đưa Bác rời phòng khách. Chúng tôi đứng lại ngẩn ngơ, lòng tự nhủ, không biết bao giờ được gặp lại Bác như những giây phút vừa qua. Quay lại chỗ ngồi, các đồng chí phục vụ đã sắp kẹo và thuốc lá thành 9 gói, chúng tôi nhận quà của Bác bỏ vào “xà cột” mang về làm quà cho đơn vị.

Sau khi về trung đoàn tôi được Đảng ủy ban chỉ huy trung đoàn phân công nghiên cứu 3 điều Bác dạy cho bộ đội. Lời Bác dạy tuy ngắn nhưng chứa đựng nhiều ý tứ, từ việc đánh giá địch ta, phương châm hoạt động cách mạng, đến bài học đạo đức cho người Cộng sản. Lời Bác dạy đã trở thành bài học cách mạng trong suốt những năm chiến đấu ở miền Nam và hôm nay, sau 25 năm hòa bình vẫn còn nguyên giá trị trong tôi. Nếu như ngày xưa tôi nghĩ về Bác, là để cống hiến hi sinh rút ngắn giai đoạn giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc để được đón Bác vào thăm, thỏa lòng mong đợi của nhân dân miền Nam; còn ngày nay, tôi nghĩ về Bác là để trân trọng quá khứ, để thấm nhuần đạo đức chí công vô tư của Bác, để thấy Bác luôn gần gũi bên mình. Như lời Thủ tướng Phạm Văn Đồng người học trò xuất sắc của Bác đã nói về Bác bằng cả tình cảm và tư duy sâu sắc:

“Hồ Chí Minh cao mà không xa
Lớn mà không làm ra vĩ đại
Soi sáng mà không gây choáng ngợp
Gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu


Gần nửa thế kỉ mải miết trên con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã vạch ra và lãnh đạo, tôi không bao giờ quên được giây phút gặp Bác giữa lòng thủ đô Hà Nội. Ngày đó, Bác hao gầy nhưng nhanh nhẹn, quắc thước, đôi mắt tinh anh và giọng nói trấm ấm lạ thường. Tôi thầm hiểu cuộc đời Bác không có một giờ nghỉ ngơi, an nhàn, mà luôn luôn vất vả, lo toan vì dân, vì nước, nhất là những ngày đồng bào miền Nam chìm trong đau thương, tang tóc dưới ách xâm lược tàn bạo của Mĩ - ngụy, đang ngày đêm anh dũng vùng lên chiến đấu chống kẻ thù. Quân và dân miền Nam, quân và dân Khu 5, chiến đấu vì sự nghị giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, trong đó còn vì Bác Hồ kính yêu, mà không nề hi sinh, gian khổ. Tôi nghĩ, đất nước ta, dân tộc ta thật hạnh phúc biết bao,vì có Bác Hồ, vị cha già dân tộc, mà mỗi khi nhắc đến lòng ai cũng rưng rưng thương nhớ, kính yêu Bác.

Mới đó mà đã hơn 30 năm trôi qua. Bác đã đi vào cõi vĩnh hằng. Có lẽ các đồng chí cùng với tôi ngày ấy, hẵn không sao quên những lời dặn dò, khuyên bảo ân cần của Bác trước lúc lên đường về Nam là nhiệm vụ. Năm 1969, được tin Bác qua đời, cả miền Nam lịm đi trong nước mắt. Từng cán bộ, chiến sĩ động viên nhau, biến đau thương thành hành động cách mạng. Khẩu hiệu ấy trở thành phong trào trong toàn quân, ra sức giết giặc lập công. Nay sống trong khung cảnh hòa bình, đất nước yên vui, mà lòng tôi, tâm trí tôi vẫn mãi mãi in đậm hình bóng Bác. Mỗi khi nhớ Bác là nhớ đến lời bác Phạm Văn Đồng, nói về Bác Hồ, đúc kết như một danh ngôn trên đây. Chúng ta càng thêm tự hào vì đất nước ta, dân tộc ta có một danh nhân, một vĩ nhân Hồ Chí Minh uyên bác, giản dị và vĩ đại biết bao!


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 07:06:09 PM
ĐÓN XUÂN TRÊN ĐỈNH TRƯỜNG SƠN

Đến cuối tháng 12/1961, trung đoàn được lệnh kiểm tra trang bị, chỉnh đốn đội ngũ chuẩn bị xuất phát. Đoàn công xa 24 chiếc phủ bạt, chở trong lòng những người con miền Nam nối đuôi nhau lăn bánh về phía chiến trường, tuyến đầu của Tổ quốc. Đoàn xe dừng lại nghỉ tại thành phố Vinh, sáng hôm sau tiếp tục lên đường vào Quảng Bình, lên làng Ho, trạm nghỉ quân cuối cùng ở miền Bắc. Tại đây ngoài quân trang, vũ khí cá nhân, mỗi người được nhận thêm 2 ruột tượng gạo, mỗi ruột tượng 4kg.

Mệnh lệnh: “Đường dài, cự li hành quân. Trinh sát, công binh, bộ binh, hậu cần… tất cả sẵn sàng chiến đấu, xuất phát”.

Ngày đầu hành quân các đơn vị không chịu thua kém nhau, giữ cự li vượt đoạn đường đầu tiên không ai bị rớt lại. Rừng Trường Sơn trùng điệp ôm gọn đoàn quân vào lòng. Đỉnh núi 1001 nằm giữa 2 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị hiện ra. Đường Trường Sơn ẩm ướt, đá tai mèo trơn trợt. Lần đầu tiên đi núi, mang vác nặng, đèo dốc, suối sâu, sên vắt, muỗi mòng đeo bám, nhiều anh em chân bị bong gân, sưng khớp, một số trường hợp nặng hơn bị vẹo cả xương sống. Mặc dù quân trang, đồ cá nhân của những chiến sĩ này được san sẻ cho những đồng chí còn khỏe hơn mang giúp, nhưng họ vẫn không theo nỗi. Ban chỉ huy trung đoàn buọc phải gởi anh em lại trạm giao liên và cử người chăm sóc, anh em nào còn đi được, chặt cây làm gậy chống đi theo đoàn. Có lẽ “chiếc gậy Trường Sơn” ra đời cũng từ những chuyến đi như vậy và truyền lại kinh nghiệm cho các đơn vị sau, làm gậy Trường Sơn nư một phương tiện tuyệt vời khi vượt Trường Sơn. Đường càng vào sâu càng gian nan, có đoạn bộ đội phải vượt thang dây. Thang dây được làm bằng dây rừng cột qua 2 mỏm đá, mặt thang là cây rừng bằng cổ tay bỏ ngang, phía dưới thang mây là vực sâu ghềnh thác, đá tai mèo nhọn sắc. Những gian khổ đó đã trở thành những bài thơ trong nhật kí người chiến sĩ quân giải phóng khi qua Trường Sơn.

Hành quân qua đỉnh Trường Sơn
Suối sâu dốc ngược mưa trơn gió ngàn
Võng treo đầu bắc đầu nam
Thương cha nhớ mẹ nặng mang chín chiều
Trường sơn áo mẹ thân yêu
Lá rừng xanh biếc nắng chiều quê cha
Nơi đây mấy bận trăng già
Vui sao khi biết đã là quê hương
(1)

Đông Trường Sơn vào mùa ẩm ướt và sương mù dày đặc. Tây Trường Sơn hanh khô gió nắng, lá rừng ngày ngày rụng xuống, mùa mùa chồng lên, chân bước phập phồng như đi trên nệm xốp. Có những đoạn đường bỗng nhiên có vô số tiếng lách tách vang lên dưới bước chân người. bộ đội gọi đó là “rừng dậy”. Rừng dậy, là khu rừng có hằng hà sa số những con vắt lá ở trên cây, vắt đất ở dưới chân, khi có hơi người, vắt ngóc đầu dậy búng lách tách về hướng có tiếng động. Những con vắt da xanh mướt, thân nhuyễn, nhỏ như cây tăm, dai như loài đỉa, bám trên cổ tay, chui vào người găm vòi hút máu rất khó phát hiện, chỉ gây ngứa ở chỗ khi vắt đã cắn no. Những đàn ruồi vàng, mỗi sắt vòi bén như đầu kim tiêm, khi đã cắn thì đến trâu bò phải lồng lộn vì nhức nhối. Đây là tình huống chưa được chuẩn bị kĩ nên không có thuốc trừ. Chúng tôi dựa vào kinh nghiệm của những năm sống ở rừng phổ biến cách trừ vắt, trừ muỗi bằng cách hái lá Suốt Cá giã dập, lấy băng cá nhân túm lên đầu que củi cột lên đầu “gậy Trường Sơn” nếu vắt cắn, chỉ cần đưa đầu gây lên chấm vào thân vắt, chúng tự nhả ra rơi xuống đất, một số anh em khác lấy tàn thuốc lá cũng trị được vắt cắn…, còn để tránh ruồi vàng, muỗi sắt thì tạm thời chống đỡ bằng lấy một nhành cây nhỏ suốt hết lá làm chổi để đập và để xua đuổi khi chúng bám vào người.

Một tháng hành quân đã trôi qua, 30 cung đường đã vượt. Phía trước đoàn quân là Tà Lê, động Phu Nhôi. Bầu trời cao nguyên trên đất Lào xanh thẳm trời mây. Dù 2 dân tộc Việt - Lào không đón Tết cổ truyền cùng một thời khắc nhưng vạn vật cùng hoa trong khí trời làm cho rừng già thắm xanh màu ngọc bích. Đoàn quân đi trong nắng tỏa và sắc hoa phù dung tím ngắt trời chiều, trong bát ngát mùi thơm hoa dại rừng Lào, qua những xóm làng, qua những ngôi chùa cổ kính. Những cao nguyên, bình nguyên đất nước Lào đẹp như tranh vẽ. Đi trên đất bạn, bộ đội được thay mũ của bộ đội Lào, và được phổ biến khẩu hiệu trả lời khi có dân bên bạn hỏi: “Cờ-hành Krongle?” Bộ đội trả lời: “Krongle Cờ-hành (Chúng tôi là lính của Krongle)”.


(1) Thơ của Thu Hồng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 07:08:13 PM
Đến ngầm Tà Lê đúng vào ngày 28 Tết, trung đoàn hạ lệnh dừng quân. Bộ phận tham mưu được lệnh chọ điểm đóng quân, bộ phận chính trị chuẩn bị chương trình sơ kết thi đua đón Tết cổ truyền, chờ đợi số anh em phía sau vượt trạm vào cùng dìu dắt nhau về điểm tập kết, quyết tâm không để người nào rớt lại. Bộ phận hậu cần vào bản liên hệ với đồng bào nước bạn để mua nếp, đổi thịt lợn về lo Tết cho các đơn vị, tổ chức cho anh em một cái Tết ở Trường Sơn đầy đủ hươngvị quê nhà. Cũng không ai ngờ, mâm cổ Tết của các đơn vị giữa rừng Trường Sơn năm Nhâm Dần 1962, có thuốc lá Thăng Long, thuốc Tam Đảo, có kẹo Hải Hà, có thịt lợn, bánh chưng xanh. Hòa trong niềm vui của đồng đội trong một chiều trên đất nước lào anh em, lòng tôi chợt xao xuyến nhớ bài thơ của một chiến sĩ đi qua đây trước tôi đã viết.

Chiêu qua con sông Tà Lê
Sông chiều sóng nước trắng hoe nắng vàng
Hoa gì giống màu hoa ban
Nở xòe năm cánh sánh hàng bên sông
Lá cành bám bụi đất son
Con đường thành những lối mòn người qua
(1)

Sau hai ngày nghỉ chân chờ đợi, số anh em rớt lại trên các cung đường đã vượt thạm theo kịp trung đoàn. Đêm, trời cao nguyên đất bạn, sao dày trong xanh, cả trung đoàn hội quân trên bãi khách binh trạm Tà Lê đón giao thừa và phát phần thưởng đợt thi đua hành quân vượt Trường Sơn. Hai mươi cán bộ chiến sĩ đại biểu của 3 tiểu đoàn, 7 đại đội và 3 cơ quan trung đoàn bộ được biểu dương và nhận phần thưởng, mỗi người mười mấy cây kẹo của Bác Hồ (Phần kẹo phát thưởng này do chúng tôi đi thăm Bác đem về để giành làm phần thưởng cho bộ đội trên đường hành quân). Phần thưởng thật bất ngờ, làm cho người được nhận cũng như toàn thể ộ đội trung đoàn cảm động và phấn khởi vô cùng. Sau phần sơ kết thi đua, tổ văn ngệ xung kích của trung đoàn, góp một chương trình văn nghệ nghiệp dư đầy đủ màu sắc của anh bộ đội cụ Hồ. Thơ ca, hò vè 3 miền Trung, Nam, Bắc được khai thác tối đa. Đồng chí Phạm Tuân, quê Quế Sơn cán bộ Ban chính trị trung đoàn ngâm bài thơ Xuân 1961 của nhà tơ Tố Hữu. Bài thơ này dù trải qua 365 ngày của năm Tân Sửu đến năm Nhâm Dần 1962 này vẫn lan tỏa làm xao động lòng người. Đêm giao thừa giữa Trường Sơn hoang sơ, tuy không có loa phóng thanh nâng giọng, nhưng trong lặng im của từng hơi thở chân thành của đồng đội, chúng tôi nghe rõ từng lời:

… Chào 61 đỉnh cao muôn trượng
Ta đứng đây mắt nhìn bốn phương
Trông lại ngàn xa, trông tới mai sau
Trông bắc trông nam trông cả địa cầu…

(Chào Xuân 61 - Tố Hữu)

Âm hưởng của bài thơ vọng đâu đây hào khí của mùa xuân Quang Trung (1789). Rừng Trường Sơn tiếp tục bước quân hành. Bộ đội đã và đang đặt chân lên mảnh đất chiến trường miền Nam, ăn một cái tết đầu tiên thật ý nghĩa, cả đơn vị nôn nóng sớm vào với đồng bào đồng chí.

Đường số 9 hiện ra - tuyến phòng thủ phía tây của địch, được trinh sát phía trước khắc phục, để từng đơn vị khi tới đây dùng ni lông trải mặt đường cho quân đi qua, tránh để lại dấu vết. Các đơn vị của trung đoàn lần lượt vượt đường số 9 an toàn, chỉ còn bộ phận trinh sát công binh khắc phục dấu vết hành quân ở lại. Đội hình trung đoàn tiếp tục dài ra, vắt qua dốc Nguyễn Chí Thanh, đỉnh cao 1.800m… sông Nậm Bác, nước bạc như một tấm kiếng khổng lồ trải ra vô tận. Trung đoàn đến Aso (Thừa Thiên Huế) đây là binh trạm phân đường cho trung đoàn về Nam bộ và về Quân khu(2). Trung đoàn của chúng tôi được tiền trạm Quân khu 5 tiếp nhận đưa về Aró (Hiên - Quảng Nam) - địa phận của chiến trường khu 5.


(1) Thơ của Thu Hồng
(2)   Từ tháng 5/1961: Liên khu 5 chia thành 2; Khu 5 và khu 6. Liên khu 5 gồm các tỉnh Bình Trị Thiên, Quảng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Khu 6 gồm các tỉnh Khánh Hòa trở vô đến Lâm Đồng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 07:54:15 PM
TRỞ LẠI CHIẾN TRƯỜNG XƯA

Trải qua 90 ngày (3 tháng ) hành quân đêm nghỉ, ngày đi trung đoàn chúng tôi đến trạm Nước Là (thuộc huyện miền núi Trà Mi) - đây là binh trạm tiếp đón phân phối lực lượng về cho các tỉnh thuộc khu 5. Trung đoàn cán bộ khung của chúng tôi được Quân khu phân công đưa về Quảng Nam, tổ chức thành Trung đoàn, kiêm tỉnh đội đầu tiên của tỉnh Quảng Nam (Trung đoàn kiêm tỉnh đôi Quảng Nam có biệt danh là Dì 2). Phần tôi, được Bộ tư lệnh Quân khu quyết định đưa về nhận công tác phó chính ủy, kiêm chủ nhiệm chính trị trung đoàn 2 (Trung đoàn 2 có biệt danh là Công trường 2), lúc này đang đóng quân tại 3 khu vực: Làng Xá Lò, làng Nước Rễ, làng Suối Sem thuộc H29 (huyện 29) Kon Tum. Cùng thời gian này, 2 tiểu đoàn thực binh số 20 người dân tộc Hre và tiểu đoàn 95 vào trước, đã làm nên chiến thắng Trà No, Giá Vut, Tà Ma được lệnh sát nhập vào trung đoàn. Trung đoàn 2 bước vào thực hiện 2 nhiệm vụ: Huấn luyện sẵn sàng chiến đấu tiêu diệt địch, chống địch lấn chiếm bảo vệ khu căn cứ và sản xuất lương thực tự túc. Từ đây một phong trào mới ở trung đoàn ra đời - phong trào “thực túc binh cường” (có lương thực quân mới mạnh, gạo là tư lệnh, gạo là vũ khí số một). Hai nhiệm vụ quan trọng được trung đoàn 2 thực hiện song hành.

Tháng 5, tháng mùa khô ở cao nguyên, cán bộ chiến sĩ trung đoàn 2 ra quân phát rẫy làm đất, chờ trời mưa để trồng sắn, trỉa bắp, trỉa lúa… hàng trăm ha đất rừng màu mỡ đã được khai hoang. Cơ quan chính trị trung đoàn có 36 người cùng vỡ hoang được 5 ha đất. Khi cơn mưa đầu mùa trút xuống, cây sắn đã lên hai tầng lá, cây bắp cũng vừa xòe tay, cây lúa cũng vừa cắm rễ trên đất rừng. Cùng thời gian này, Ban chỉ huy trung đoàn, ban chỉ huy tiểu đoàn 95 và đại đội đặc công 406, nhận lệnh chuẩn bị chiến trường để tiêu diệt cứ điểm Nhơn Lộc, thuộc địa phận xã Hành Tín (Quảng Ngãi).

Cứ điểm Nhơn Lộc nắm trên ngã ba đường 658, đường huyện đi Mộ Đức, được quân ngụy xây dựng trên một nền đất vốn xưa kia là một thành rấm binh của quân triều đình Đồng Khánh chống quân Nghĩa Hội (1885), nên cứ điểm Nhơn Lộc cao hơn mặt ruộng hơn một mét, rộng khoảng 5 ha. Phía tây Nhơn Lộc là huyện Minh Long và Ba Tơ. Đầu năm 1962 ta mới giáo dục được xã Hành Tín, bọn địch đối phó bằng cách đưa quân lên đóng các đồn: Nhơn Lộc - Long Bình. Cứ điểm Nhơn Lộc (đồn Nhơn Lộc) tựa lưng vào đồi Cu và núi Lớn. Bên trên núi Lớn, địch đóng đồn Long Bình, dưới chân núi Lớn là sông Vệ. Có thể nói Nhơn Lộc là đồn mẹ, Long Bình là đồn con. Nằm bên tả ngạn sông Vệ, địch đóng đồn Phú Khương để hỗ trợ cho nhau khi bị ta tấn công. Cứ điểm Nhơn Lộc được quân địch bố phòng cẩn mật. Có thể nói đây là một cứ điểm bất khả xâm phạm. Bên ngoài có 3 lớp rào kẽm gai, nằm bên trong bãi mìn là hố sâu cắm chông 3 lớp, đầu hàng rào phản xung phong và giao thông hào, bên trong nữa là công sự, hầm ngầm, nhà lính, khu thông tin, trận địa cối. Cứ điểm Nhơn Lộc có hai lối vào nằm ở phía bắc và phía nam xã Hành Tín, do một đại đội cộng hòa, thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 2, sư đoàn 1 chiếm giữ, quân số gần 120 tên. Có khi chúng tăng cường bọn ác ôn ở các xã Hành Tín, Hành Thịnh, quân số trên 120 tên. Bọn địch ở đây được trang bị cối 81mm, đại liên, trung liên, các-bin và tom-xông, do một tên trung úy chỉ huy. Cứ điểm Nhơn Lộc có nhiệm vụ chi viện cho ngụy quyền 4 xã Hành Thiện, Hành Tín, Hành Dũng, Hành Thịnh là tấm lá chắn bảo vệ chi khu quận lị Nghĩa Hành. Điểm Long Bình có 24 tên thuộc đại đội 2 chiếm giữ do một tên thượng sĩ chỉ huy. Bọn này có nhiệm vụ quan sát, phát hiện từ xa, khống chế giao thông từ cầu Cộng Hòa (Hành Thiện) về Đá Chát - Ba Tơ. Đại đội 2 cộng hòa đóng ở Nhơn Lộc là một đội quân khét tiếng về thủ đoạn gian ác, chuyên đưa quân đến những “điểm nóng” mà các đơn vị quân ngụy khác không làm được, điều đó giải thích vì sao sư đoàn 1 của chúng đóng ở Huế, bọn này lại có mặt ở một vùng sâu trên đất Quảng Ngãi.

Do đặc điểm và tính chất quan trọng của Nhơn Lộc, nên được bọn chỉ huy quân ngụy và cố vấn Mĩ thường xuyên đi kiểm tra hệ thống công sự chiến đấu tại đây. Từ khi quân địch về đóng chiếm Nhơn Lộc, phong trào cách mạng ở 4 xã gặp khó khăn, cán bộ nằm vùng hàng đi đi công tác bị quân ở Đồn Nhơn Lộc phục kích sát hại.

Sau khi cân nhắc thế lực của ta và địch, ban chỉ huy trung đoàn 2 quyết định giao cho đại đội 406 đặc công làm chủ công và tiểu đoàn 95, trung đoàn 2 làm trợ công điều tra, nghiên cứu tấn công tiêu diệt cứ điểm Nhơn Lộc. Chấp hành mệnh lệnh, đại đội 406 đặc công, tổ chức 2 mũi điêu tra cứ điểm Nhơn Lộc (cả đồn mẹ và đồn con) và lập đài quan sát ban ngày theo dõi hoạt động của quân địch ở ngoại vi, nội vị cứ điểm. Tiểu đoàn 95 tập trung ưu thế hỏa lực hơn địch, xác định chiến thuật kì tập, kết hợp với cường tập tân công, làm các chiến cụ như thang mê – giá thiết(1), phục vụ cho bộ đội vượt giao thông hòa khi tấn công. Hợp đồng với 2 đơn vị diệt điểm Nhơn Lộc, lực lượng vũ trang và dân quân du kích Nghĩa Hành phối hợp chốt chặn đường Đá Chát đi Ba Tơ, bao vây lùng bắt ác ôn, tiến hành đột nhập chiến lược, tuyên truyền cương lĩnh Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam cho nhân dân vùng địch kiểm soát, vùng tranh chấp và khống chế cứ điểm Phú Khương, cắt đường tiếp viện của chúng khi quân ta đánh Nhơn Lộc, xác định cứ điểm Nhơn Lộc là điểm tấn công chính, đồn Long Bình là diện, ban chỉ huy đại đội 406 bố trí 38 cán bộ chiến sĩ chia thành 2 mũi:

Mũi chủ yếu có trách nhiệm đột sâu từ phía nam vào cửa chính cứ điểm Nhơn Lộc; mũi thứ yếu đột vào phía đông Nhơn Lộc, mũi này được tăng cường 7 khẩu DKZ 57mm, 4 đại liên, với 45 cán bộ, chiến sĩ. Khi trận đánh nổ ra, DKZ sẽ diệt lô cốt chính, diệt hỏa điểm, hầm ngầm cho bộ phận đột sâu tảo trừ quân địch. Ngoài lực lượng chủ công trên đây, ban chỉ huy tiểu đoàn 95 còn cho một đại đội bộ binh làm thê đôi dự bị, 1 trung đội bộc phá, 1 trung đội trận nôi với 6 khẩu cối 60mm, 2 cối 81mm và 2 trung đội đứng ở cánh bắc và cánh tây sẵn sàng vào trận khi có lệnh.

Ở mũi diện, ngoài 19 cán bộ chiến sĩ đặc công do đồng chí Trần Kim Hùng chỉ huy, còn có 1 trung đội bộ binh dự bị hỗ trợ đánh điểm Long Bình.

Kế hoạch tấn công cứ điểm Nhơn Lộc được phổ biến và quán triệt trong các chi bộ và hội đồng quân nhân các đơn vị tham gia trận đánh, như đại đội 406 chủ công và tiểu đoàn 95 trợ công.


(1) Thang mê:Đan bằng tre, gọi là trục trịch, dài 1,2m, ngang 0,8m. Giá thiết: Là 4 cây chống dưới thang mê.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 07:56:25 PM
Ngày 29/6/1962, các đơn vị tham gi tấn công Nhơn Lộc hành quân đến địa điểm tập kết.

Về phía quân địch, ngay trong đêm đặc công 406 và tiểu đoàn 95 tổ chức tấn công, cũng là đêm chúng tổ chức đón chỉ huy mới. Cuộc đón tiếp diễn ra ồn ào trong đêm, có cả bọn thằng Hoa, thằng Một, là 2 tên ác ôn khét tiếng ở vùng giáp ranh 2 huyện Ba Tơ và Minh Long đến dự. thằng Hoa khoác lác trước đồng bọn: “Cộng sản giỏi thì đêm nay tấn công Nhơn Lộc thử coi…” Tên Một cũng a dua theo một câu: “Bọn Cộng sản tung tin tháng 6 này đánh Nhơn Lộc, nhưng hôm nay đã là ngày 07/7 rồi, có lẽ Cộng sản sẽ tấn công vào tháng 6 năm sau”.

Bọn địch vẫn say sưa trong men rượu, không hề hay biết bên ngoài quân ta đã hoàn thành công tác mật tập đang ở vị trí sẵn sàng nổ súng xung phong.

Đúng 0 giờ 35’ ngày N’ (08/7/1962), mũi tấn công cứ điểm Nhơn Lộc của đại đội đặc công 406 nổ súng phát lệnh ngay cửa chính, tiếp theo là hàng loạt những quả đạn DKZ, cối 82, băm nát mục tiêu phòng thủ của quân địch. Sau 13 phút, mũi chủ yếu đã chiếm được khu trung tâm, diệt bọn điện đài. Bọn địch ở hầm ngầm dùng đại liên chống cự quyết liệt, bọn lính trên mốc cầu bờ thành cũng bắn xối xả vào mũ đặc công của quân ta. Một số chiến sĩ ở mũi này bị thương vong. Lập tức hỏa lực DKZ bắn trúng ngay mục tiêu đề kháng của địch. Trận đánh giằng co giữa ta và địch diễn ra ác liệt. Mũi 1 phát hiện hầm ngầm, nhưng không còn bộc phá, mũi trưởng phải cho đội hình lùi lại gọi hỏa lực chi viện. Ở mũi diện (điểm Long Bình), mũi quân này tiến công thuận lợi từ bên ngoài vào, do ở trên độ cao hơn 200 mét so với mặt biển, nên bọn địch ở Long Bình rất chủ quan, là cơ hội thuận lợi cho 19 chiến sĩ đặc công giải quyết trận địa bằng bộc phá và súng bộ binh. Bọn địch ở đây bị tiêu diệt trong vòng 5 phút.

Đến 30 giờ 30’ sáng ngày 08/07/1962, trận đánh hầm ngầm và nhà thông tin kết thúc. Cứ điểm Nhơn Lộc bị diệt, 86 tên địch (có một tên trung úy và 2 tên ác ôn) đền tội, 27 tên bị bắt sống, ta thu toàn bộ quân trang, quân dụng. Các đơn vị phối hợp đã hoàn thành nhiệm vụ.

Trận đánh Nhơn Lộc là trận đầu tiên, bộ đội chủ lực Khu 5 đánh xuống đồng bằng diệt địch trong công sự tương đối vững chắc và bộ đội ta đã giành thắng lợi. Tiêu diệt được cứ điểm Nhơn Lộc, Long Bình, uy hiếp và bức rút đồn Phú Khương, thu hồi vùng giải phóng, tạo bàn đạp từ căn cứ phía tây Nghĩa Hành. Đây là một khu vực có cửa khẩu quan trọng, thu mua hàng hóa, lương thực, thuốc men, dụng cụ văn phòng phục vụ cho kháng chiến, thông đường từ Quãng Ngĩa qua sông Vệ lên Ba Tơ, đây còn là một cửa mở đưa cán bộ xuống hoạt động ở đồng bằng.

Tin chiến thắng tràn về căn cứ làm nức lòng cán bộ chiến sĩ trung đoàn 2. Đây là trận đánh tiêu diệt hoàn toàn một cứ điểm địch đầu tiên, tính từ khi tôi trở lại chiến trường miền Nam.

Trở về với nhiệm vụ sản xuất lương thực ở khu căn cứ Xà Lò, Nước Rễ, và Suối Sem. Một nỗi khổ của bộ đội lúc bấy giờ là không có công cụ để sản xuất, goài một số rựa và rìu để đốn cây rừng. Chúng tôi phải tận dụng cái kẹp rút dép râu, bẻ công lại làm cào cỏ. Khi băp khô, bẻ tay đã đành, lúa chín cũng dùng tay trút lấy hạt. Xong mùa lúa tay người nào cũng phồng rộp, tế bào tay xẻ ngang, cắt dọc, chai sần không có cảm giác. Tôi còn nhớ lúc ở miền Bắc mới vào, lương thực thiếu trầm trọng, sắn cũng không có mà ăn. Mỗi khẩu phần trong một ngày của bộ đội là một lon gạo và 2 củ sắn. Sức thanh niên như tôi lúc đó ăn chẳng thấm vào đâu, đến bữa trưa mà ăn ngay, thì buổi chiều không đủ sức vượt năng suất cùng đồng đội. Vì vậy, đến bữa trưa tôi nhận bữa rồi đi ngủ. Đến trước giờ làm chiều, tôi mới đem ra ăn để cầm cự làm đến cuối ngày. Đói bụng, còn kiếm rau củ mà đỡ lòng, nhưng lạt muối mà lên cơn sốt rét người cứ mềm nhũn ra, hai xương đầu gối như có cát ở giữa, bước đi cờm cợm đau không nhắc lên được. Người sốt mà được ngậm một hạt muối chẳng khác nào ngày ta ta ăn củ sâm Cao Li vậy! Hồi đó gạo ít, sắn nhiều, ăn sắn lạt muối lâu ngày cổ họng nóng và đắng vô cùng, nếu lấy gạo nấu với sắn thì không thể nào nhìn đâu ra hạt cơm. Anh nuôi có sáng kiến nấu sắn riêng đem đánh cho tơi, lấy hết tim sắn ra,rồi lấy cơm rắc lên bề mặt để chia cho bộ đội. Cùng với sáng kiến này, bên đại đội đặc công 406, đồng chí Trần Kim Hùng biết chế sắn thành bột để gói bánh ít phát cho anh em đi công tác, tráng mì sắn đổi bữa cho bộ đội ăn. Không có thực phẩm, đồng chí lặn xuống sông Xà Lò bắt cá, vào rừng bắn khỉ vào làm nhưn, lấy xương khỉ nấu cao bồi dưỡng cho số anh em ốm yếu. Việc làm này của Trần Kim Hùng được tập thể khen ngợi (Trần Kim Hùng, nay là đại tá về hưu, đã được Đảng và Chính phủ tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, tháng 9/2000)

Trên địa bàn Liên khu 5, trung đoàn 2 là đơn vị sản xuất giỏi được nhiều đơn vị noi gương. Trung đoàn đã tự túc được hàng chục tấn lương thực, gồm bắp và lúa không kể sắn rẫy, nhờ vậy mà trung đoàn thoát được nạn đói, còn nuôi cả đoàn văn công Quân khu suốt 2 tháng trường.

Tôi nhớ lại, hồi đồng chí Trần Kiên thường vụ Khu 5 phụ trách kinh tế (Khu 5 (sau này đồng chí Trần Kiên là trưởng ban kiểm tra Trung Ương Đảng) cho mang hạt mít lên cho trung đoàn triển khai trồng. Lúc đầu, một vài anh em lạc quan “tếu”, cho rằng tình hình cách mạng miền Nam giỏi lắm là hết sáu lăm (1965) là có thể giải phóng, cần gì trồng mít (!) Thế nhưng 5 năm sau, vào Mậu Thân 1968, ta tấn công, địch phản kích, đường hành lang bị đánh phá, bộ đội không được tiếp tế, nhờ vào vườn mít đã cứu đói cho cả trung đoàn quân giải phóng. Đến lúc này anh em mới ngả ngửa ra, thán phục tầm nhìn xa của các đồng chí lãnh đạo.

Thật sự một bài học sâu sắc!


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 07:58:48 PM
CHƯƠNG IV

VỀ LẠI BINH CHỦNG ĐẶC CÔNG

Năm 1963, phong trào cách mạng miền Nam phát triển và tấn công địch trên cả hai mặt trận quân sự và chính trị. Nổi lên như phong trào đấu tranh chống đàn áp Phật giáo liên tục nô ra ở các thành thị, gây cho ngụy quyền Sài Gòn nhiều lúng túng; trên mặt trận quân sự, binh lính và cố vấn Mĩ bị quân giải phóng liên tiếp tiến công quyết liệt, ngày càng sa lầy trên nhiều chiến trường. Đòn đánh sau thường đau hơn đòn đánh trước, đẩy chế độ Ngô Đình Diệm vào tình thế khủng hoảng trầm trọng, buộc đế quốc Mĩ phải thay ngựa giữa dòng. Chế độ Diệm - Nhu sụp đổ kéo theo sự phá sản của chủ nghĩa thực dân mới của Mĩ ở miền Nam với công thức: “Ngụy quân, ngụy quyền tay sai + viện trợ + cố vấn”. Đế quốc Mĩ không dừng lại trước hố sâu thất bại, tập đoàn hiếu chiến lầu năm góc tiếp tục kéo dài sự dính liu chia cắt đất nước ta. Chúng đưa chế độ tay sai mà chúng gọi là “Đệ nhị cộng hòa” dồn sức thực hiện chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, tăng cường lập đồn bót, xây dựng sân bay, bến cảng, kho tàng và nhiều căn cứ quân sự chuẩn bị đẩy chiến tranh xâm lược nước ta lên mức cao hơn, ác liệt hơn.

Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh quân giải phóng miền Nam cho các Quân khu và các mặt trận phát triển lực lượng đặc công, làm nòng cốt cho tác chiến, tiêu diệt hệ thống đồn bót của địch và cùng phối hợp với các lực lượng khác tấn công các chi khu quân sự địch. Thời kì này, quân địch tăng cường lập điểm, lập căn cứ, chiếm điểm cao, bên ngoài rào thép gai, bên trong có hệ thống công sự giao thông hào, hầm ngầm vững chắc. Quân lính bên trong các cứ điểm này thường có số lượng từ 1 trung đội đến 1 đại đội. Ở những nơi chúng lập cụm cứ điểm như thị trấn, chi khu, thường có số quân tiểu đoàn đến trung đoàn và thường xuyên thay đổi chiến thuật. Để tiêu diệt được trung đội địch trong cứ điểm, ta phải dùng đại đội tấn công, để tiêu diệt đại đội ta phải dùng lực lượng tiểu đoàn tấn công, có khi phải dùng đến trung đoàn bộ binh để đánh một tiểu đoàn địch trong công sự, đánh cứ điểm phải dùng chiến thuật hiệp đồng binh chủng: Binh gấp 3 và hỏa lực gấp 7 (bộ binh 3, hỏa lực 7). Về hỏa lực lúc này ta có khó khăn mới trang bị được DKZ 57, cối 82mm, trọng liên, đại liên, chưa có cối 106,7mm và ĐKZ 75. Do đặc điểm như vậy nên cấp trên chủ trương: Muốn tiêu diệt được cứ điểm, cụm cứ điểm, sân bay, bến cảng, kho tàng… phá hủy phương tiện chiến tranh, tiêu diệt sinh lực tinh nhuệ của địch, để không những có ý nghĩa về quân sự bằng những đòn bất ngờ, táo bạo mà còn mang tính tác động chính trị, thì phải sử dụng lực lượng đặc công để đánh địch, tạo thế cho các lực lượng khác của ta phát triển mạnh lên.

Sau thắng lợi Nhơn Lộc và Đồng Miếu, đại đội  đặc công 406 thuộc Trung đoàn bộ binh 2, Quân khu được cấp trên tưng cường quân số, trang bị và được huấn luyện các kĩ thuật các mặt, tiếp tục ra quân đánh một số cứ điểm địch ở Minh Long diệt 2 trung đội dân vệ, phá một số ấp chiến lược, hỗ trợ cho nhân dân bung ra trở về làng cũ làm ăn.

Sau đợt hoạt động này, đại đội 406 tiếp tục ra quân phối hợp với tiểu đoàn 95 trung đoàn 2 bộ binh Quân khu đánh địch ở Long Lếch, tiêu diệt gọn một chỉ huy sở tiểu đoàn, một đại đội bộ binh, một trung đội pháo binh thuộc sư đoàn 22 ngụy. thu 2 đại bác 105mm và dùng chính 2 khẩu pháo của địch bắn vào đồn Giá Vụt, gây tổn thất làm cho bọn chỉ huy hoang mang, lo sợ.

Từ thực tiễn chiến đấu, đại đội đặc công 406 nhanh chóng trưởng thành, tích lũy được nhiều kinh nghiệm, đánh giá được đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của quân địch, nâng cao được trình độ kĩ chiến thuật của đơn vị và nắm vững tư tưởng chiến thuật đặc công là: “Luồn sâu, lót sát, bí mật, bất ngờ” đánh địch giành thắng lợi. Nhưng trên thực tế của chiến trường, lực lượng đặc công phân bổ trên địa bàn toàn Quân khu còn rất mỏng.Trước bức xúc đó, Đảng ủy Bộ tư lệnh Quân khu chỉ đạo cho các địa phương và các đơn vị phát triển mạnh lực lượng đặc công cơ động, kết hợp tập trung với phân tán, đánh địch từ trận nhỏ đến lớn, đánh cao điểm để tiêu diệt sinh lực địch.

Tháng 12 năm 1963, Bộ Tư lệnh Quân khu quyết định thành lập tiểu đoàn đặc công 409. Tiểu đoàn đặc công có 3 có xung lực: Đại đội 30, 40, 50/409. Trên cơ sở quân số của hai đại đội 403 và 406 làm nòng cốt. Và đại đội 60/409 hỏa lực, do Quân khu tăng cường quân số và trang bị từ cối 60mm đến 81mm, đại liên, DKZ 57. Tiểu đoàn đặc công 409 do đồng chí Nguyễn Thành Tâm, tiểu đoàn trưởng; Tôi (Nguyễn Huy Chương) chính trị viên trưởng tiểu đoàn, các đồng chí Lê Sơn Hổ, Nguyễn Như Ý, quê Khánh Hòa, tiểu đoàn phó quân sự; các đồng chí Trần Tấn Ước, quê Duy Xuyên Ngô Trọng Đãi, quê Hòa Vang, tiểu đoàn phó chính trị. So với các đơn vị khác, thì tiểu đoàn đặc công bao giờ cũng được tăng cường cán bộ chỉ huy và lãnh đạo đông hơn, vì phải tác chiến liên tục. Những ngày tối trăng trong tháng là thời cơ bí mật tìm hành, độc lập tác chiến, thường không theo mùa chiến dịch, không nhất thiết phải hiệp đồng mà có thể tác chiến độc lập theo yêu cầu chính trị để mở phong trào diệt địch giành dân, làm chủ địa bàn và về quân sự, diệt sinh lực địch, diệt địch tên cao điểm, mà các đơn vị bộ binh lúc đó chưa có điều kiện đánh được. Do yêu cầu đặc biệt như vậy nên hàng tháng tác chiến các đơn vị đặc công đều có thương vong. Từ đó tư tưởng một số anh em diễn biến có mặt tiêu cực. Có người nghĩ mình chỉ sống theo tuần trăng. Nhân chuyện tôi về lãnh đạo chỉ huy đơn vị đặc công 409, có một số anh em cùng cấp cho là tôi bị khuyết điểm, bị cấp trên giáng cấp, từ phó chính ủy chủ nhiệm chính trị trung đoàn xuống làm chính trị viên tiểu đoàn, “bị” đưa vào chỗ ác liệt. Trước những lời đàm tiếu đó, tôi không hề có suy nghĩ gì vì tôi luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Từ khi tham gia cách mạng, tôi đã xác định con đường và chỉ có một con đường: Chiến đấu, hi sinh cống hiến vì sự nghiệp cách mạng của Đảng. Hơn nữa tôi là đảng viên, mà kĩ luật của Đảng là phải chấp hành mệnh lệnh của Đảng phân công, ai thoái thác nhiệm vụ, người đó tự đánh mất danh dự và uy tín chính trị của mình trước tập thể. Về tôi, tôi nghĩ rằng: Việc gì Đảng phân công cho tôi tức là Đảng đặt niềm tin ở tôi, tôi dù có hi sinh trong đội hình binh chủng, hoặc bất cứ ở chiến trường, mặt trận nào tôi cũng thanh thản và vui lòng!


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 08:00:50 PM
Từ đó, niềm vui mới của tôi là được trở về với binh chủng, gặp lại những đồng đội xưa kia, kể cả những học viên từng được rèn luyện ở trường đặc công Quân khu 4 trong những năm ở miền Bắc, đang chiến đấu chung một tiểu đoàn và nhiều đơn vị đặc công khác trên địa bàn Quân khu.

Đảng ủy tiểu đoàn đặc công 40, tiến hành đợt học tập chính trị giáo dục cho đảng viên về vai trò tiền phong, gương mẫu đối với đơn vị, mà quyết tâm xây dựng đơn vị. Một điều may mắn là số đảng viên tiểu đoàn chiếm đến 60%, đa số anh em cán bộ chiến sĩ được trưởng thành qua chiến đấu, nên một khi được khơi dậy là có sức bật và quyết tâm cao. Tiểu đoàn tiến tới xây dựng quyết tâm cho từng chi bộ, chi đoàn vững mạnh. Đối với anh em ngoài Đảng, thì xây dựng hội đồng quân nhân mạnh, để anh em rèn luyện phấn đấu. tiểu đoàn tài chính một đợt học tập gương hi sinh dũng cảm của một số đồng chí có thành tích trong đơn vị, xét khen thưởng cho tập thể và cá nhân trong tiểu đoàn, và học tập hiểu rõ âm mưu thủ đoạn của đế quốc Mĩ và bọn tay sai đối với cách mạng miền Nam, và tình hình cách mạng miền Nam trong năm 1964, nêu quyết tâm của toàn Đảng, toàn Quân trong Quân khu góp phần cùng toàn miền Nam đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mĩ, giữ vững vùng căn cứ địa, tiến công địch, giải phóng nhân dân, làm chủ vùng nông thôn, bao vây thành thị. Từ đó tư tưởng đảng viên và cán bộ chiến sĩ được khai thông, ban chỉ huy tiểu đoàn triển khai đợt huấn luyện kĩ thuật, chiến thuật đặc công cho toàn tiểu đoàn. Khẩu hiệu đề ra là: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt xương máu”; Tập như đánh thật! Các bộ phận từ xung lục đến cối, đại liên, ĐKZ hăng say luyện tập, từ hình thái đánh chính quy đến ứng dụng lúc đặc công đánh gần không cần bàn đến. Lúc này tiểu đoàn chưa được trang bị B40, B41, nhưng tiểu đoàn vẫn triển khai huấn luyện cơ bản kĩ thuật bắn hai loại vũ khí này, để khi được trang bị ác bộ phận có thể sử dụng được ngay. Từ đợt huấn luyện này, mỗi cán bộ chiến sĩ trong tiểu đoàn đều nắm được tư tưởng chỉ đạo chiến thuật đặc công là sử dụng lực lượng ít nhưng tinh nhuệ, để tiêu diệt số đông quân địch co cụm trong cứ điểm có công sự hầm ngầm bảo vệ, bằng chiến thuật “bí mật, bất ngờ, luồn sâu, lót sát, đánh nhanh diệt gọn” quân địch.

Về công tác hậu cần, tiểu đoàn tự sản xuất lương thực, thực phẩm tại Kon-Hà-Nừng. Những đồi sắn, ruộng lúa bạt ngàn nương rẫy. Có thể nói, kinh tế tự túc của tiểu đoàn đặc công 409 Quân khu lúc này khá vững chắc, bảo đảm được cái ăn cho chiến sĩ.

Vừa mới ra đời, tiểu đoàn đã nhanh chóng ổn định tổ chức, có ban chỉ huy vững mạnh, cán bộ chiến sĩ được huấn luyện kĩ, có tinh thần quyết tâm chiến đấu cao, với nhận thức sâu: Đánh đặc công là biểu hiện đặc trưng của tư tưởng lấy ít đánh nhiều, mà thủ đoạn chủ yếu là chiến thuật tập kích phát triển đến trình độ cao. Tập kích vào nơi địch sơ hở nhất, tạo ra bất ngờ đối với địch, đánh vào nơi mà địch cho là an toàn nhất, đó là cơ quan đầu não của chúng. Trong đợt ra quân đầu tiên đánh để rút kinh nghiệm thực hiện chiến thuật mật tập, ban chỉ huy tiểu đoàn đưa đại đội 30/409 làm chủ công, kết hợp với đại đội hỏa lực và bộ binh tiểu đoàn 95, trung đoàn 2 tiêu diệt cứ điểm Bàu Mi thuộc xã Sơn Cao, huyện Sơn Hà, tỉnh Quảng Ngãi.

Cứ điểm Bàu Mi nằm trên đồi xao, xug quanh có 3 lớp rào kẽm gai bảo vệ, lô cốt hầm ngầm được trang bị đại liên, do bọn bảo an chốt giữ. Sau khi điều tra nghiên cứu, nắm chắc cách bố trí huấn luyện trong cứ điểm, đại đội 30/409, cho 2 bộ phận bí mật tiến hành. Bộ phận 1 bám giữ lô cốt đầu cầu sẵn sàng bộc phá, bộ phận 2 tìm nhập trung tâm cứ điểm Bàu Mĩ chờ lệnh nổ sung. Đúng vào lúc 1 giờ đêm tháng 5/1964, bộ phận đột sâu trung tâm do đồng chí Nguyễn Liễm làm mũi trưởng nổ bộc phá đánh sập lô cốt trung tâm làm lệnh, liền sau đó bộc phá của bộ phận 1 đánh sập bốn pháo đài canh ở 4 góc cứ điểm, mở cửa cho bộ binh tiểu đoàn 95, trung đoàn 2 xung phong dưới hỏa lực kiềm chế của đại đội 60/409. Sau 10 phút nổ súng, đại đội 30/409 và tiểu đoàn 95, trung đoàn 2 đã san bằng cứ điểm Bàu Mi, tiêu diệt hoàn toàn quân địch, tịch thu toàn bộ quân trang quân dụng của địch. Trong trận đánh đầu tiên này, đồng chí Nguyễn Liễm, mũi trưởng thọc sâu, trong lúc lên đánh bộc phá vào lô cốt trung tâm bị chôn địch xuyên qua bàn chân. Nếu dừng lại rút chông hoặc thay xung kích, quân địch sẽ gây sát thương cho đồng đội, đồng chí Liễm đã nghiến răng chịu đau, dùng chân còn lại nhảy cò, đẩy mình lên dùng thủ pháo đánh sập lô cốt địch, hoàn thành nhiệm vụ đồng chí cho anh em rút chông ra. Thật là một hành động dũng cảm!

Ra quân trận đầu mang chiến thắng trở về, đơn vị không ai hi sinh, niềm phấn khởi dâng tràn, đơn vị rạng rỡ niềm vui. Vào tháng 6/1964, đại đội 40/409, ra quân tập kích diệt một trung đội bảo an ở núi Bé, xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Đại đội40/409, đánh trận này với quyết tâm cao, nhưng cũng dự kiến mức thương vong là 6 đồng chí. Đêm ra quân, địa phương xã Phổ Cường huy động 30 dân công phục vụ, trong số 10 phụ nữ của thôn Nga Mân thì 4 chị được phân công cơm nước và phục vụ đội phẫu, còn 6 chị đi đào 6 huyệt chôn liệt sĩ. Sau khi đào xong huyệt, 6 chị ngồi khóc, lo nghĩ những chiến sĩ không may hi sinh trong trậ nnày. Khi trận đánh kết thúc, đại đội 40/409, diệt xong cứ điểm, bắt tù binh mang vác vũ khí đi qua. Nghe bước đi nặng trong đêm, ai cũng tưởng anh em cáng liệt sĩ về. Nhưng quân qua không dừng lại, 6 chị được thông báo, đơn vị không ai bị thương vong. Lòng mừng rỡ, dù phải thức gần trọn đêm, nhưng 6 chị vẫn thấy không mệt mỏi, khi phải hoàn thổ 6 huyệt đã đào. Sau khi cứ điểm núi Bé phía tây đường số 1 bị diệt, cả xã Phổ Cường không còn chốt địch nào, ở thôn Nga Mân, Xuân Thành, Bàn Thạch liên hoàn vùng giải phóng mở rộng, nhân dân nô nức lo xây dựng quê hương trong niềm vui thoát khỏi vòng kìm kẹp của địch. Nơi đây cũng là nơi tiểu đoàn 409 được bà con nuôi dưỡng, trong những ngày đơn vị dừng chân huấn luyện, chuẩn bị đánh chi khu quận lị An Lão.

Phát huy thắng lợi đánh độc lập, tháng 9/1964, tiểu đoàn ra quân với đại đội 50 xung lực, và đại đội 60 hỏa lực san bằng đồn bảo an núi Diễm thuộc xã Phổ Hiệp, diệt toàn bộ quân địch, thu toàn bộ vũ khi quân trang quân dụng. Chiến công của lực lượng bộ đội đặc công, một lối đánh độc đáo, táo bạo đã làm nức lòng toàn quân, toàn dân trên từng mặt trận, góp phần cùng quân và toàn dân miền giành thắng lợi dòn dã, làm cho Mĩ - ngụy khiếp sợ, không lường trước sự thất bại và cũng khó có phương thức đối phó hiệu quả. Các đơn vị 30, 40, 50, 60 thuộc tiểu đoàn 409 được Quân khu liên tục khen ngợi về sự tiến bộ và ý chí gan đồng, dạ sắt, đánh đâu thắng đó, càng ra sức rèn luyện, nâng cao chiến kĩ thuật để xứng đáng là binh chủng tinh nhuệ của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 07:42:49 PM
CHIẾN DỊCH GIẢI PHÓNG AN LÃO

Với những thắng lợi liên tiếp giành được trên chiến trường, mở ra bước phát triển mới trong so sánh lực lượng giữa ta và địch trên địa bàn Quân khu 5. Bộ Tư lệnh quân giải phóng Khu 5 chủ trương mở chiến dịch Đông Xuân 1964-1965, mở rộng hoạt động tấn công tiêu diệt địch trên khắp các chiến trường Quân khu, trọng tâm là bao vây tấn công địch, giải phóng quận lị An Lão, ở phía tây bắc Bình Định.

Địa hình An Lão có hai dãy núi lớn nối liền với dãy Trường Sơn - Dưới hạ lưu là đồng bằng như một dải lụa chạy dọc theo sông Lại Giang (sông An Lão). Chiều ngang của An Lão rộng hơn 1km, chiều dài hơn 22km, dân cư có khoảng 15 ngàn người. Từ năm 1962, quân địch xây dựng An Lão thành một chi khu quân sự phòng thủ ”bất khả xâm phạm” bao gồm các cao điểm: Đồi 193 mét, suối Bà Nhỏ (Hội Long), đồi Mít - Quận lị An lão và 8 ấp chiến lược trên một tuyến dài 17km, từ Hội Trung đến quận lị An Lão bao gồm ấp chiến lược Hưng Nhân, Thành Sơn, Xóm Vườn, Hưng Nhượng, Xuân Phong, Vân Khánh, Vân Lang, Hội Long, Hội Trung… để dồn dân vào đây kèm kẹp. Chi khu quận lị An Lão là pháo đài then chốt giữa miền núi và đồng bằng nam Hoài Nhơn, - làm tấm lá chắn bảo vệ thị trấn Bồng Sơn và huyện Hoài Nhơn, ngăn chặn hoạt động của ta, làm bàn đạp cho những cuộc hành quân càn quét vào vùng giải phóng và vùng căn cứ cách mạng.

Chủ trương của Bộ Tư lệnh Quân khu 5 mở đọt hoạt động trong chiến dịch Đông Xuân này là nhằm tấn công tiêu diệt hệ thống cứ điểm của địch, tiêu diệt một bộ phận sinh lực, chủ lực và địa phương của địch, phá tan hệ thống ấp chiến lược và tiêu diệt hệ thống tề điệp, giải phóng vùng đồng bằng phì nhiêu trên lưu vực sông Lại Giang (An Lão), mở rộng vùng giải phóng nối liên từ căn cứ địa miền núi của ta, phát triển du kích chiến tranh, xây dựng căn cứ cho các đơn vị đánh tập trung hợp đồng binh chủng có chỗ trú quân khi hoàn thành nhiệm vụ trở về, phát triển binh vận, làm tan rã hàng ngũ quân địch. Đây là chiến thuật đánh điểm diệt viện, vây điểm diệt viện, đánh trực thăng đổ bộ. Dùng đặc công đánh chiếm, dùng bộ binh đánh ấp, kéo địch ra để diệt, lấy đánh địch ngoài công sự là chính.

Căn cứ vào chủ trương của Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu, Tư lệnh Quân khu bổ nhiệm đồng chí Giáp Văn Cương, tham mưu trưởng Quân khu là Tư lệnh mặt trận chiến dịch Đông Xuân, Đồng chí Đặng Hòa, Bí thư Đảng ủy (chủ nhiệm chính trị Quân khu), đồng chí Giáp Văn Cương, phó bí thư, đồng chí Nguyễn Giới, Đảng ủy viên, đồng chí Đỗ Phú Đáp, Đảng ủy viên, trung đoàn trưởng trung đoàn 2, đồng chí Nguyễn Huy Chương, Đảng ủy viên, chính trị viên trưởng tiểu đoàn đặc công 409, và đồng chí Bí thư Đảng bộ quận An Lão, Đảng ủy viên.

Các đơn vị tham gia chiến dịch giải phóng chi khu quận lị An Lão gồm:

Đơn vị chủ công: Tiểu đoàn 40 đặc công Quân khu nhận nhiệm vụ tiêu diệt 3 cứ điểm: 193 (Hưng Nhơn), 160 (suối Bà Nhò), 150 (đồi Mít).

Đơn vị phối hợp: Trung đoàn 2 bộ binh Quân khu, bộ đội địa phương các huyện An Lão, Hoài Nhơn, Hoài Ân, dân quân du kích các xã phụ cận phối hợp đánh địch, giải phóng nhân dân trong 8 ấp chiến lược trên tuyến dài 17km, bắt đầu từ sông Lại Giang đến chi khu quận An Lão.

Các công việc đang được tiến hành thì trời đổ mưa, kéo dài suốt tháng trời. Đất rrừng trên cao dưới thấp nhão ra, nước sông An Lão hoàn toàn cách li giữa An Lão và các vùng phụ cận. Một số ngọn núi lớn ở các huyện Ba Tơ, Minh Long (Quảng Ngãi) và phía tây huyện An Lão sut lỡ, các nơi đổ sập xuống gây nhiều thiệt hại về tài sản và tính mạng của đồng bào và các đơn vị bộ đội. Trong sự thiệt hại này có một phần của cơ quan chính trị trung đoàn 2 bộ binh Quân khu, tham gia chiến dịch An Lão, đóng quân bên suối bị núi lở chôn lấp một số anh em đã hi sinh. Sau vụ núi lở, mưa vẫn tiếp tục, nước từ trên núi tràn về, gây ra trận lụt chưa từng thấy. Cả vùng đồng bằng ven biển, từ Quảng Nam trở vào chìm trong biển nước. Nạn đói có nguy cơ đe dọa, tác động chiến trường Khu 5. Trong lúc nhân dân và bộ đội giải phóng đang dốc sức đố phó với thiên tai khủng khiếp đang diễn ra, thì quân địch tung quân càn quét dồn dân lập ấp, đánh phá sâu vào căn cứ cách mạng. Bộ máy chiến tranh tâm lí của địch ra sức tuyên truyền láo toét, lôi kéo những người nhẹ dạ: “Trời ủng hộ quốc gia, trận lụt như một trận tổng phản công của quân đội quốc gia”. Khó khăn dồn dập, tưởng chừng như không thể vượt qua, đã được khắc phục bằng ý chí và lòng đoàn kết tương trợ nhau, càng làm cho nghĩa tình quân dân sáng ngời trong hoạn nạn, không những đã vượt qua, mà còn tạo ra sức mạnh chiến đấu mới, các đơn vị tiếp tục đẩy mạnh công tác điều tra nghiên cứu cứ điểm địch, quyết giành thắng lợi trong chiến dịch tấn công và giải phóng chi khu quận lị An Lão cho bằng được.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 07:43:23 PM
Những ngày lũ lụt đi qua, nhưng khó khăn vẫn còn chồng chất. Đường sá cầu cống hư hỏng, giao thông liên lạc hạn chế, nhưng không có khó khăn nào ngăn được quyết tâm của bộ chỉ huy chiến dịch và các đơn vị chủ công cũng như phối thuộc. Sau khi nghiên cứu thực địa, bộ chỉ huy chiến dịch phân lập tập đoàn cứ điểm chi khu quận lị An Lão thành 4 khu để lên sa bàn tác chiến.

Khu 1: có 2 cứ điểm, 3 ấp chiến lược. Ta sử dụng lực lượng: 1 đại đội đặc công 2 đại đội bộ binh. Đại đội đặc công chịu trách nhiệm tiêu diệt cao điểm 193, một pháo đài quan trọng bậc nhất, cánh cửa thép bảo vệ chi khu quận lị An Lão của địch. Hai đại đội bộ binh bao vây tiêu diệt bọn địch trong 3 ấp chiến lược giải phóng nhân dân, dùng hỏa lực chế áp các vị trí địch, tăng cường hỗ trợ cho đặc công.

Khu 2: có 4 ấp chiến lược phía đông sông An Lão. Ta sử dụng: 1 đại đội bộ binh, 2 đại đội địa phương tỉnh, 2 trung đội địa phương huyện Hoài Nhơn, bao vây tiêu diệt quân địch trong 4 ấp chiến lược, bao vây quận lị An Lão, đánh quân viện đường bộ, đánh địch đổ bộ trực thăng. Khu 2 có chỉ huy sở mặt trận đứng chân theo dõi, chỉ đạo các trận đánh.

Khu 3: Có 2 cứ điểm và 2 ấp chiến lược. Ta sử dụng lực lượng: 2 đại đội đặc công, 2 đại đội bộ binh, 2 trung đội địa phương có nhiệm vụ tiêu diệt 2 cứ điểm suối Bà Nhỏ, đồi Mít và 2 ấp chiến lược, sẵn sàng đánh địch từ Bồng Sơn lên và đánh trực thăng địch đổ bộ.

Khu 4: Phòng tuyến nghi binh đón lỏng quân địch chạy theo sông, tiêu diệt tàn quân, bắn máy bay, thu hút hỏa lực trên không của địch để cho các đơn vị khác hoàn thành nhiệm vụ.

Trong 4 khu tác chiến này, có cao điểm 193 khá quan trọng. Diệt được cao điểm 193 sẽ mở được cánh cửa thép, làm rúng động cả hệ thống phòng thủ chi khu An Lão. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của cấp trên, ban chỉ huy tiểu đoàn 409 đặc công tiến hành 3 đợt nghiên cứu cao điểm 193 ở phía tây sông An Lão, cách ấp chiến lược xóm Vườn 1.200 mét, để tìm ra cách đánh hiệu quả cao.

Đợt 1, tổ nghiên cứu tìm đường lên cao điểm. Sau 3 đêm bám hiện trường trinh sát xác định ngoài đường đột phá chính, con đường độc đạo dẫn lên cao điểm còn có hướng phụ ở phía bắc. Nhưng hướng này cũng như quanh cao điểm, dốc đứng vách đá trơn trợt, rào kẽm gai 3 lớp có móc mìn sáng, mìn sát thương, quân địch canh phòng nghiêm ngặt.

Đợt điều tra thứ 2, đơn vị nghiên cứu gặp địch tăng cường quân số và vũ khí, bảo vệ cho bọn công binh sửa đường lên điểm cao 193 sau mưa bão bị sạt lỡ. Đây là dịp may cho anh em lợi dụng sơ hở của địch đột lên điểm cao. Nhưng khi lên đến mặt đồi lại gặp địch phân tán ra nhiều chỗ. Vì vậy anh em không vào được bên trong. Cùng thời gian với cao điểm 193, hai mũi nghiên cứu cứ điểm suối Bà Nhỏ và đồi Mít đã hoàn thành điều tra thực địa. Bộ đội đang tíến hành luỵện tập chiến thuật tấn công. Từ ngày lên phương án đến lúc này, thời gian đã 60 ngày trôi qua. Điều quan trọng, là dù cho những khó khăn trở ngại về thời tiết nhưng các tổ điều tra cứ điểm địch không để lộ dấu tích.

Đợt nghiên cứu lần thứ 3, tổ chuẩn bị chiến trường lên cao điểm 193 với một tinh thần và quyết tâm khẩn trương. Kinh nghiệm của anh em là làm việc gì mà cẩn thận và có quyết tâm đều đem lại hiệu quả. Đợt nghiên cứu thứ 3 tổ trinh sát đã đột vào được trung tâm cao điểm 193.

Cao điểm 193, có 3 lớp rào, mỗi lớp cách nhau 15m, từ rào vào đến chiến hào cao 10-15m, mặt đất có mìn và pháo sáng. Mặt đồi địch chia ra làm 2 khu. Khu đồi cao hơn do một trung đội cộng hòa chiếm giữ, bộ binh địch dùng tiểu liên, trung liên và một trung đội cối 106,7mm (2 khẩu). Khu đồi thấp do một trung đội bảo an chiếm giữ quanh khu vực đóng quân có chiến hào sâu và rộng 1m, bờ đất mặt chiến hào làm bệ tì chiến đấu. Toàn khu đồi có 4 lô cốt ở 4 góc, mỗi một lô cốt rộng 2 mét, mỗi lô cốt có 4 lỗ châu mai. Toàn khu đồi có 9 khu nhà tiền chế. Vũ khí trang bị trên cao điểm 193 gồm 2 cối 196,7mm, 4 đại liên, 4 trung liên và 76 tên lính gồm hai sắc lính cộng hòa và bảo an do 2 thiếu úy chỉ huy.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 07:44:06 PM
Tầm quan trọng của cao điểm 193 khi bị tấn công, địch dùng hỏa lực khống chế và chi viện cho các cứ điểm trong phạm vi ảnh hưởng.

Cao điểm 193 bốn bên dốc đứng, hố sâu. Từ khi thành lập chi khu quận lị An Lão đến nay, cao điểm 193 chưa bị quân giải phóng tấn công lần nào, vì vậy quân địch khoác lác thách thức cho rằng: “Bao giờ nước sông An Lão chảy ngược thì Việt cộng mới đánh được cao điểm 193”.

Sau khi điều tra, Tham mưu trưởng tiểu đoàn 409 lập sa bàn giả định và chọn địa hình giống cao điểm 193 cho bộ đội luyện tập kĩ thuật tác chiến.

Căn cứ vào chủ trương, mệnh lệnh của cấp trên và kết quả điều tra của các mũi, Ban chỉ huy tiểu đoàn 409 hạ quyết tâm tiêu diệt 3 cứ điểm 193, đồi Mít, suối Bà Nhỏ và bao vây tiêu diệt quân địch trong chi khu quận lị An Lão.

Xác định tư tưởng chiến thuật trong tấn công vào cao điểm 193, ban chỉ huy tiểu đoàn 409 quyết định dùng chiến thuật kì tập, lợi dụng yếu tố bất ngờ tiếp cận sát địch, nhanh chóng đánh chiếm đầu cầu và phát triển vào trung tâm. Từ đó xác định cách đánh táo bạo: Phóng lưỡi dao nhọn vào ruột địch, nhanh chóng chia cắt địch ra mà diệt. Bộ chỉ huy chiến dịch và Đảng ủy mặt trận quyết định lấy cứ điểm 193 làm điểm cho toàn mặt trận. Xác định hướng tấn công chủ yếu lên cao điểm 193 là hướng đông, hướng thứ yếu là hướng bắc.

Theo kế hoạch, ban chỉ huy tiểu đoàn 409 đặc công bố trí lực lượng và giao nhiệm vụ cho các đại đội:

- Đại đội 50/409, được tăng cường 1 DKZ 57, 2 đại liên, chia thành hai mũi tấn công vào hướng đông và chính diện và mũi hai tấn công theo hướng bắc chủ yếu. Đây là đơn vị đột phá cao điểm 193, do đồng chí Lê Sơn Hổ, tiểu đoàn phó, kiêm tham mưu trưởng tiểu đoàn và tôi chỉ huy.

- Đại đội 40/409, được tăng cường thêm 1 trung đội xung lực của đại đội 30/409, 1 đại liên, 1 DKZ 57, tiêu diệt cứ điểm suối Bà Nhỏ, do tiểu đoàn phó Nguyễn Như Ý, và Trần Tấn Ước, phó chính trị tiểu đoàn chỉ huy.

- Đại đội 30/409 (thiếu 1 trung đội) được tăng cường 1 DKZ 57, 1 đại liên, 1 cối 60mm triển khai diệt cứ điểm đồi Mít. Do tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thành Tâm và chính trị viên phó tiểu đoàn Ngô Trọng Đài chỉ huy.

Mệnh lệnh luồn sâu lót sát, bí mật bất ngờ, nổ súng diệt địch được quán triệt trong toàn tiểu đoàn 409 đặc công. Mũi dương công số 1 của đại đội 50/409 gồm 26 đồng chí nhận mệnh lệnh nổ quả bộc phá đầu tiên làm lệnh cho chiến trường, giờ nổ súng đúng 1 giờ 5 phút ngày N1 (6/12/1964), nhằm ngày Mồng 4 tháng Chạp năm Giáp Thìn (1964). 19 giờ ngày 5/12/1964, từ cánh rừng đại ngàn phía tây, các đơn vị xuất phát. Đêm mùa đông ở rừng, bóng tối đến sớm hơn ở đồng bằng. Trăng Mồng 4 như chiếc lá lúa cong đỏ thẳm sau màn mây chiếu ánh sáng lờ mờ. Mũi 1 trong quá trình tiếp cận phân đội hỏa lực bị lạc đường, anh em phải dùng lại tìm mất 30 phút. Đến 11 giờ đêm thì mũi 1 mới đến rào. Kiểm tra lại lối vào, thì địch tăng cường mìn sát thương, mìn sáng. Đội hình tìm hành phải dừng lại cho trinh sát tìm cách vượt qua. Đến 2 giờ 45 phút, mũi 1 mới triển khai xong đội hình. 1 giờ sáng các bộ phận của mũi 1 đã bám sát mục tiêu chờ lệnh. 5 phút đồng hồ trôi qua nặng nề trong từng chiến sĩ. Mệnh lệnh nổ súng phát ra. Mũi 1 tung thủ pháo điểm hỏa làm lệnh. Một tiếng nổ gầm lên! Chỉ cách 3 giây sau suối Bà Nhỏ phát hỏa và 12 giây sau, cứ điểm đồi Mít nổ súng. Tiếng bộc phá nổ dây chuyên trên một tuyến dài từ cao điểm 193 đến đồi Mít, suối Bà Nhỏ làm rung chuyển cả hệ thống phòng thủ chi khu An Lão. Tiếp theo tiếng bộc phá làm lệnh, toàn bộ các mũi tấn công của trung đoàn 2 trên tuyến dài 17km đồng loạt nổ súng xung phong đánh chiếm 8 ấp chiến lược. Quân địch bên trong các cứ điểm và ấp chiến lược chống trả quyết liệt. Nhưng nơi nào có ổ đề kháng của quân địch đều bị hỏa lực của quân ta chế áp buộc chung phải câm họng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 07:44:52 PM
Lần đầu tiên phối hợp tấn công quân địch trên một tuyến phòng thủ dài, nhưng tiểu đoàn 409 đặc công và trung đoàn bộ binh 2 đã làm chủ trận địa trong vòng 30 phút, cả hệ thống phòng thủ của chúng bị tiêu diệt như trở bàn tay.

Cả 3 cứ điểm 193, suối Bà Nhỏ, đồi Mít và 8 ấp chiến lược là những pháo đài ngoại vi bị tiêu diệt, nhưng chi khu quận lị An Lão chưa bị quân ta tấn công, chúng vẫn đang trong tình trạng bị bao vây. Sau khi chiếm cao điểm 193, đại đội 50/409, được lệnh của Bộ Tư lệnh mặt trận dùng cối 106,7mm khống chế chi khu, gây hoang mang cho quân địch trong suốt đêm 7/12/1964.

10 giờ sáng ngày 7/12/1964, địch cho 2 máy bay trinh sát, 4 khu trục lên ném bom và tiếp theo cho 6 trực thăng chở quân đổ bộ, bị các bộ phận thượng liên, 12,8mm bắn rát buộc chúng phải rút lui. Ngày 8/12/1964, quân địch tiếp tục cho 6 máy bay khu trục lên ném bom, tiếp theo 26 trực thăng chở quân đổ bộ cách chi khu quận lị An Lão 5km. Trên bộ địch cho tiểu đoàn 40 của trung đoàn 4, sư đoàn 2 ngụy, có chi đoàn 6 thiết giáp 12 chiếc, thuộc trung đoàn 3 thiết giáp từ Bồng Sơn lên, hợp thành với cánh quân do trực thăng chở đến ở hướng đông chi khu, thành 2 gọng kèm đánh lên giải tỏa chi khu An Lão. Bọn địch bị ta bao vây đang cố thủ trong hầm ngầm ở chi khu. Đến trưa ngày 8/12/1964, các địa đoạn phục kích của quân ta từ Hội Long đến Hoài Ân bị chặn đánh và tiêu diệt gần hết cánh quân của tiểu đoàn 40, diệt 5 xe M113. Sau thảm bại này quân địch không còn hi vọng tái chiếm An Lão, cuối cùng chúng phải mở đường máu, dùng máy bay khu trục thả bom ngoại vi chi khu, yểm trợ để bọn trực thăng liều mạng đáp xuống bốc đồng bọn trong chi khu An Lão tháo chạy. Từ đêm ngày 8/12/1964, ta hoàn toàn giải phóng quận lị An Lão. Đồng bào Kinh, Thượng ở quận An Lão mừng chiến thắng, đón bộ đội trong ngày vui giải phóng phá ấp chiến lược trở về làng cũ, đón cái Tết Ất Tị, trong một mùa xuân xuân tưng bừng chưa từng có sau bao nhiêu năm sống trong vòng kiềm tỏa của kẻ thù.

Bình luận về thất bại ở An Lão, đài UPI của Mĩ đã nói: “An Lão là một trận đại bại của quân Việt Nam cộng hòa. Cả hệ thống phòng thủ chi khu An Lão bị du kích Việt cộng tấn công tiêu diệt như trở bàn tay. Điều này bắt buộc các nhà quân sự của Sài Gòn phải xét lại cả hệ thống phòng thủ trên các chi khu khác, xem có đủ sức đứng vững không, khi du kích Việt cộng quyết tâm mở đợt tấn công nào đó”.

Chiến thắng An Lão mở ra khả năng chủ lực ta đánh tiêu diệt chủ lực ngụy, phá vỡ từng khu vực phòng thủ của địch lần đầu tiên trên chiến trường Quân khu 5. Đặc công và bộ binh thực hành một loạt trận đánh với nhiều hình thức chiến thuật linh hoạt. Đánh điểm, vây điểm, diệt viện, thể hiện một bước tiến vượt bậc trong nghệ thuật tác chiến hợp đồng binh chủng giữa đặc công, bộ binh và hỏa lực.

Sau chiến thắng Đông Xuân 1964, diễn biến tình hình trên chiến trường Khu 5 mở ra bước phát triển vượt bậc của cách mạng. Bọn ngụy quân bị dồn vào thế bị động. Đứng trước một mảng chính quyền từ thôn xã, đến huyện thị bị phá vỡ, hơn 1.500 ấp chiến lược - pháo đài chống Cộng của địch từ miền núi đến đồng bằng trên địa bàn Quân khu bị tháo tung, nhân dân hồ hởi trở về làng cũ, giúp đỡ hỗ trợ quân giải phóng và xây dựng các tổ chức quần chúng, đẩy mạnh 3 mũi giáp công trong cao trào cách mạng đang phát triển nhanh ở các vùng Khu 5. Bọn ngụy quân bị dồn vào thế bị động, càng làm cho nội bộ bọn cầm quyền mâu thuẫn trầm trọng. Chiến thắng An Lão làm nức lòng quân và dân Khu 5, góp phần từng bước đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mĩ ở miền Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 07:46:44 PM
MÙA XUÂN 1965

Mở màn cho chiến công trong màu xuân 1965, Bộ tư lệnh chiến dịch Đông Xuân giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn 409 đặc công, trong một thời gian ngắn phải nghiên cứu và tiêu diệt cùng một lúc 2 mục tiêu quan trọng của địch: sân bay ARIA Pleiku (sân bay Pleiku) và cứ điểm Gia Hựu thuộc huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Hai mục tiêu này phải hợp đồng nổ súng cùng một đêm, để phối hợp với trung đoàn 2 bộ binh tiêu diệt cứ điểm Dương Liễu, kéo địch từ Quy Nhơn ra để đánh tiêu diệt quân bộ của chúng trên đoạn đèo Nhông thuộc huyện Phú Mĩ.

Chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Đảng ủy ban chỉ huy tiểu đoàn thống nhất phân công đồng chí Nguyễn Thành Tâm, tiểu đoàn trưởng, chỉ huy đại đội 30/409 lên chiến trường Tây Nguyên nghiên cứu sân bay Pleiku và doanh trại Hô-lô-uây, tiêu diệt bọn cố vấn vùng 2 chiến thuật đang ở đây. Còn 3 đại đội 40, 50, 60/409, tiếp tục huấn luyện và đưa đoàn cán bộ đi nghiên cứu cứ điểm Gia Hựu xã Hoài Châu huyện Hoài Nhơn. Tiểu đoàn 409 đặc công hình thành các mũi tiến công tỏa về hai hướng chiến trường.

Cứ điểm Gia Hựu nằm phía bắc thị trấn Tam Quang, ttrên hai ngọn đồi độc lập, có tên là đồi 9 và đồi 10 (dân làng ở đây gọi là đồn 9, đồn 10) giữa đồng bằng xã Hoài Châu. Hai đồi 9 và 1 nằm cách nhau, không xa và cách quốc lộ Một chừng 1.000m, do 2 đại đội bảo an gần 200 tên trấn giữ. Bọn này được trang bị mạnh, có kinh nghiệm phòng ngự, có đồng bọn ở gần và pháo binh từ chi khu Tam Quang tiếp ứng giải cứu khi bị tấn công. Đặc điểm bố phòng ở Gia Hựu cũng như nhiều cứ điểm khác, là rào kẽm gai 3 lớp quanh đồn, có bãi mìn, bãi chông, chướng ngại vật phản xung phong. Một đặc điểm nữa của Gia Hựu, là chung quanh được bảo vệ bởi hệ thống ấp chiến lược và bọn tay sai tề điệp, chỉ điểm. Suốt từ ngày đóng điểm đến đây, Gia Hựu chưa bị tấn công nên bọn chúng rất chủ quan.

Đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường nêu cao quyết tâm bám cứ điểm điều tra nhanh chóng chính xác. Ban đêm đột sâu vào Gia Hựu, cho trinh sát nghi trang nằm lại, ban ngày cử chiến sĩ lanh lợi giả dạng dân thường trà trộn vào quanh cứ điểm để nắm tình hình dân tình trong các ấp chiến lược. Thời gian điều tra ấp, chỉ có 6 ngày phải chuẩn bị xong chiến trường đưa bộ đội tiếp cận cứ điểm tấn công. Sau khi nắm chắc tình hình địch, xác định chiến thuật mật tấp và hướng đột kích, ban chỉ huy tiểu đoàn giao nhiệm vụ cho các tổ mũi xung kích. Mũi tấn công đồn 10 làm nhiệm vụ nổ bộc phá phát lệnh cả chiến trường. Giờ nổ súng là 1 giờ sáng ngày 30 Tết Ất Tị (1965). Các bộ phận được lệnh hành quân chiếm lĩnh và tổ chức tìm hành giữ bí mật chờ lệnh nổ súng. 12 giờ 30 phút, bộ đội nóng lòng chờ lệnh thì nhận được lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận: “rút quân, dừng trận đánh Gia Hựu”.

Tình huống diễn ra thật đột ngột. Cả ban chỉ huy tiểu đoàn 409 như ngồi trên lửa. Rút bộ đội ra được thì thời gian di quân về điểm xuất phát không con kịp. Chưa đánh mà đã thương vong là điều tối kị đối với người cầm quân. Trong một phút đồng hồ, bức mã điện đã được giải mã: “Hướng Dương Liễu chưa tấn công, địa đoạn phục kích đèo Nhông chưa hoàn chỉnh, đánh Gia Hựu trước, địch viện binh, bộ phận phục kích trung đoàn 2 gặp khó khăn”.

Đọc xong bức điện, tôi hạ lệnh cho bộ đội vừa nhanh chóng lui quân vừa xóa dấu vết đúng lúc trời rạng sáng. Tình hình nhân dân vùng quanh Gia Hựu được xác lập, ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định đưa bộ đội vào thôn Liễu An (Hoài Châu) trú quân. Nhân dân Liễu An từ lâu theo công giáo toàn tòng lại ở vùng địch kiểm soát, nhưng không vì thế mà thiếu hiểu biết về cách mạng. Bà con biết bộ đội cách mạng đang gặp khó khăn lại ở ngay sát đồn địch, liền chia nhau đón bộ đội về nhà chăm sóc, bảo vệ hết lòng. Ở trong nhà bà con phát cho anh em chai lọ, hủ sành để đại tiểu tiện, tránh đi lại lộ bí mật. trong ngày trú quân tại đây, nhân dân thôn Liễu An còn tiếp bộ đội bằng các món ngon sắm sửa trong ba ngày Tết cổ truyền Ất Tị. Sau một ngày được nhân dân Liễu An che chở bảo vệ an toàn. Nắng chiều vừa tắt, đêm về, bộ đội được lệnh chỉnh trang đôi ngũ, từ giã nhân dân lên đưởng trở lại đánh Gia Hựu. 23 giờ đêm các đơn vị đến đia điểm, các mũi theo phân công triển khai tim nhập. 23 giờ 30’ đại đội 40/409 tấn công đồn 9 đã qua hàng rào cuối cùng. Đại đội 50, do Nguyễn Ngọc Bình chỉ huy, tấn công đồn 10, được giao nhiệm vụ nổ súng lệnh, lúc này mới vào được hàng rào thứ hai. 0 giờ 5 phút, bọn địch đồn 10 bất thần bắn hai phát gărăng M1, đạn đi trúng trái sáng ngoài rào phát cháy. Đơn vị tấn công đồn 9 tưởng là đồn 10 nổ súng pháo lệnh, liền tiến công đánh chiếm khu trung tâm. Trong vòng 3 phút đã làm chủ trận địa. nghe súng, thủ pháo bên đồn 9 nổ rộ, bọn địch đồn 10 nhảy ra chiếm lĩnh giao thông hào, công sự, đúng lúc mũi tấn công đồn 10, bộ đội ta đang tìm cách qua rào, mở cửa từ hàng rào thứ 3. Cửa vừa mở, liện bị đại liên địch quét sát đất chặn cửa mở, và chúng ném xối xả lựu đạn ra đội hình ta bên ngoài rào. Trận đánh giằng co đến 4 giờ sáng. Nguyên Ngọc Bình vừa xốc lại đội hình quyết tâm tiêu diệt đồn 10. Từ Sở chỉ huy, tôi điện hỏi đại đội 50 về trận đánh và tin cho đại đội trưởng 50 biết sẽ tăng cường quân số để đại đội 50 dứt điểm. Đại đội trưởng 50 trả lời tôi: “Báo cáo thủ trưởng, tuy có thương vong nhưng đại đội đã xốc lại đội hình tấn công đợt hai. Các đồng chí không cần lên. Đường đi mìn chưa gỡ. Chúng tôi chiến đấu được. Người lính cuối cùng của trận đánh này là tôi! Các đồng chí cứ yên tâm!”. Đúng như lời Nguyễn Ngọc Bình đã nói, trận đánh đồn 10 được giải quyết lúc 5 giờ sáng. Đồn 10 bị san bằng, 80 tên địch bị diệt, 20 tên bị bắt sống. Nếu tính cả bọn địch bên đồn 9, ta đã diệt cả thảy 157 tên, 43 tên bị bắt sống, ta thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Trận đánh tuy ác liệt, nhưng cuối cùng chúng tôi đã có một trận thắng oanh liệt, đè bẹp được sức kháng cự của bọn địch.

7 giờ. Ta dùng pháo của đồn 10 tổ chức pháo kích vào Tam Quang hỗ trợ bộ đội địa phương tấn công thị trấn. 10 giờ, tiểu đoàn 409 tiếp ứng truy bắt bọn địch trong thị trấn Tam Quang. Đến 16 giờ, đồng bào Hoài Thanh, Hoài Hương… dùng xe hon đa chở quà bánh lên tận xã Hoài Sơn, tặng bộ đội mừng chiến thắng.

Từ chiến thắng Gia Hựu, tôi có thêm bài học về nhân dân. Suốt những tháng năm cùng đơn vị đánh giặc vì dân, cứ mỗi lần đơn vị gặp lâm nguy lại được nhân dân mở rộng vòng tay, tấm lòng nhân hậu ra che chở cho chúng tôi vượt qua. Nghĩa dân là nguồn nước, vô tận. Tình dân là lòng mẹ, mà lòng mẹ thì bao giờ cũng bao la? Chúng tôi là người lính từ nhân dân mà ra, không có nhân dân thì người lính khó bề làm nên một chiến thắng nào trọn vẹn.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 07:47:39 PM
TẬP KÍCH SÂN BAY PLEIKHU
VÀ TRẠI CỐ VẤN MĨ

Sân bay Pleiku nằm về phía bắc đường 19, phía đông đường 14 và cách thị xã Pleiku 4km. Thị xã Pleiku là thủ phủ của tỉnh Gia Lai, một vị trí quan trọng của cả vùng Tây nguyên, nơi có Bộ Tư lệnh quân đoàn 2, vùng 2 chiến thuật, nơi địch cho là vùng an toàn nhất ở miền Nam.

Sân bay Pleiku là sân bay trực thăng từ thời Pháp được đế quốc Mĩ nâng cấp có đường bay cho máy bay vận tải. Ở đây thường xuyên có một đại đội máy bay lên thẳng 20 chiếc, 2 đến 4 chiếc máy bay trinh sát. Cơ sổ máy bay này ở tư thế luôn sẵn sàng cất cánh tham gia phục vụ cho hành quân càn quét của địch. Để phục vụ cho ý đồ mở rộng chiến tranh, đế quốc Mĩ xây thêm một sân bay mới hiện đại hơn, dự kiến khi hoàn thành sẽ thay thế sân bay cũ. Sân bay mới có đường băng cho máy bay vận tải 130 và máy bay ném bom Skraider (loại máy bay cánh quạt). Cả haí sân bay nối liền trên một diện rộng. Có thể xem là hai khu vực bay trên một sân bay. Ở sân bay mới và cũ, từ nhân viên phục vụ đến kĩ thuật, chỉ huy sân bay đều do người Mĩ đảm nhận. Do tính chất quan trọng đặc biệt của sân bay, gắn liền với sự sống còn của bọn địch trong thị xã Pleiku, nên quân địch xây dựng ở đây một hệ thống phòng ngự từ xa gồm các ấp chiến lược vây quanh thị xã Pleiku và sân bay Pleiku. Bên ngoài đường băng có 3 lớp rào thép gai đan mắt cao cao 3 mét, dưới đất có bãi mìn sát thương, mìn phát sáng. Đường tuần tra chạy vòng sân bay bên trong các hàng rào kẽm gai. ở 4 gốc lô cốt, pháo đài và hệ thống đèn pha chiếu sáng suốt đêm. Thường khi từ một đến hai giờ sáng, có 2 trực thăng bay tuần tra thả trái sáng, soi cho sân bay và khu vực cố vấn suốt mùa hạ cũng như mùa đông. Ngoài đại đội bảo an bảo vệ, ban đêm còn có từ 120 đến 150 tên Mĩ ngủ lại trong sân bay, có tốp ngủ gần nơi máy bay đậu.

Sau khi sân bay Biên Hòa bị quân ta tấn công, ở sân bay Pleiku địch tăng cường quân số canh phòng, nghiêm ngặt hơn. Ngoại vi sân bay có một tiểu đoàn biệt động quân, 5 đại đội bảo an, 1 chi đoàn xe bọc thép và các đơn vị quân cảnh án ngữ cửa ngõ từ huyện Lệ Chí đến Blây-cần. Lực lượng bên ngoài tăng cường tuần tra lùng sục, tung gián điệp nghe ngóng hoạt động của ta, ban đêm chúng ta chia nhau đi phục kích các ngã đường trọng yếu dẫn vào thị xã và sân bay Pleiku.

Trại cố vấn Mĩ, nơi ở của các sĩ quan cố vấn Mĩ thuộc vùng 2 chiến thuật có tên là trại Hô-lô-uây. Trại này nằm phía đông, sát quân đoàn bộ, quân đoàn 2 của ngụy, hệ thống kho tàng trong sân bay và cách tiểu đoàn biệt động quân không đầy một cây số. Quân số trong trại cố vấn thường xuyên có từ 120 đến 130 tên, chia nhau ở trong 55 căn nhà được làm theo kiểu tiền chế trong một khu vực an toàn. Bao bọc xung quanh trại Hô-lô-uây là 4 lớp rào kẽm gai đan mắt cáo. Hai lớp rào ngoài cách nhau 4 mét. Hai lớp rào trong cách nhau 25 mét đến 40 mét (Giữa khoảng cách này bọn chúng trồng hoa). Sát tường nhà còn có một lớp rào B40 cao 10 mét, có hệ thống đèn cao áp sáng suốt đêm. Bọn quân cảnh Mĩ (MP) súng lăm lăm trong tay thay phiên đi lại quanh các nhà. Cổng vào thường xuyên đóng kín. Chúng chỉ mở khi có lệnh từ phòng điều hành.

Trên thực địa thị xã Pleiku chia thành 2 khu vực (2 vùng), vùng đồn điền dân cư ở phia tây, khu vực quân sự nằm hết phía đông đường 14, kéo dài về phía bắc thị xã lên giáp với Biển Hồ (Pleiku). Dân tình các vùng đồn điền ở phía nam đường 19 là các ấp chiến lược (vùng này thuộc khu 6 Gia Lai). Phía tây đường 14 tình hình cũng giống như phía nam đường 19 (vùng nay thuộc khu nam Gia Lai). Phía bắc đường 14 thuộc khu 14 địa bàn trống trải. Từ xã Công Găng ra đến (suối) EaKrông địa hình bằng, có nhiều khoảng rưng che khuất, dễ bị lạc, nhất là địa hình từ (suối) EaKrông đến hàng rào sân bay rộng từ 6-8 km, hoàn toàn trống trải dễ bị mất hướng khi bộ đội đi điều tra. Ngoài ánh sáng đèn diện thì khó tìm ra vật chuẩn, đồng trống mắt nhìn mút tầm. Mùa đông ở cao nguyên đêm và buổi sáng sương phủ trắng trời, nhìn xa như một diềm vải trắng quấn quanh những khu đồi, còn ở gần rất khó quan sát. Điều kiện điều tra sân bay hoàn toàn bằng mắt và phán đoán qua bản đồ, sơ đồ.

Sau khi xác định đối tượng tấn công và điều tra địa hình địa vật, ban chỉ huy mặt trận phân công đại đội 30/409 đặc công chia thành hai mũi tấn công vào mục tiêu số 1 là sân bay và mục tiêu số 2 là trại Hô-lô-uây. Nơi ở của cố vấn Mĩ thuộc vùng 2 chiến thuật. Phối thuộc với đại đội 30/409 có hai trung đội 81, 4 khẩu và 70 viên đạn cối, một tiểu đội công binh, một tiểu đội đặc công của Gia Lai, một đại đội địa phương Gia Lai. Ban chỉ huy mặt trận gồm các đồng chí: Nguyễn Thành Tâm tiểu đoàn trưởng 409, làm chỉ huy trưởng, một đồng chí tỉnh ủy viên Gia Lai làm chính trị viên mặt trận, đồng chí Ngô Trọng Đãi làm chỉ huy phó trận đánh. Sau khi nhận nhiệm vụ tác chiến, tiểu đoàn trưởng Nguyễn Thành Tâm, tổ chức hai bộ phận trinh sát đi nghiên cứu chiến trường. Bộ phận số một do đồng chí chỉ huy trưởng trận đánh chỉ huy, bộ phận số hai do chính trị viên chỉ huy phó Ngô Trọng Đãi, chỉ huy. Các công tác bảo đảm vật chất, giải quyết chính sách, tổ chức đường hành lang chuyển quân đến địa điểm tấp kết cuối cùng được giao cho tỉnh đội Gia Lai chịu trách nhiệm.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 07:49:06 PM
Một điều khó khăn cho công tác điều tra là: Trước đó một tháng một tổ công tác của đặc công Gia Lai đột nhập vào hàng rào cuối cùng bị địch đi tuần dẫm phải, bắt đưa về an] ninh Pleiku tra tấn và chúng theo dấu đến (suối) EaKrông phát hiện thêm nhiều dấu vết của ta. Nghi ngờ ta tấn công, địch tăng cường canh gác cẩn mật. Nằm trong 10 hàng rào thép gai, có 7 cứ điểm, 8 lô cốt, 10 pháo đài cao từ 8-10 mét, giữa những lớp rào đó là bãi mìn, hệ thống đèn pha quét sáng uốt đêm soi rõ từng bụi cỏ, từng con chuột chạy qua, cộng với bọn bảo an quân cảnh, an ninh thường xuyên tuần tra không lúc nào vắng bóng. Nhờ kiên trì, các tổ bám hiện trường lợi dụng sương mù qua mặt bọn tuần tiễu, đột nhập vào sân bay, chiếm các điểm hỏa lực của địch bố phòng trên sơ đồ, bộ phận cối dùng phương thức đo cự li cho phần tử xạ kích. Trong khi đó bộ phận nghiên cứu khu vực cố vấn Mĩ đạt kết quả tốt,

Có kết quả nghiên cứu thực địa, ban chỉ huy trận đánh xác định dùng chiến thuật kì tập bí mật tìm hành vào khu vực sân bay và khu cố vấn Mĩ. Khi trận đanh nổ ra, bộ phận cối pháo kích mạnh vào khu nhà phi công ở cuối sân bay.

Bộ phận đánh sân bay gồm: một tiểu đội đặc công chia thành 3 tổ, chia tổ đánh diệt địch và phá hủy máy bay ở sân bay, một tổ đánh nhà tên đại tá chỉ huy, một tiểu đội B40 có nhiệm vụ đánh sập lô cốt, diệt trung đội địch phòng thủ, giữ cửa mở cho bộ phận đánh sân bay lui quân và tiểu đội công binh gài mìn đường tuần tra trong sân bay ngăn chặn chúng truy kích khi quân ta hoàn thành nhiệm vụ.

Mũ đánh khu cố vẫn Mĩ gồm có 9 đồng chí đặc công được chia thành 3 tổ, phân đội hỏa lực phối hợp cấp tập cối mãnh liệt vào nhà bọn phi công và nhân viên kĩ thuật của chung ở pía nam sân bay. Bộ phận này sau khi bắn hết cơ số đạn thì lui quân về địa điểm xuất phát.

Ở bên ngoài, đại đội địa phương Gia Lai cho một trung đội chặn địch hướng Plây-cần, một tiểu đội chặn địch hướng Lệ Chí hai tiểu đội đứng tại khu vực tập kết để đón và bảo vệ thương binh, cùng các bộ phận khác còn lại bịt đường, chiếm cao điểm, khống chế địch và hành quân đổ bộ bằng trực thăng và bộ binh địch truy kích theo, khi các mũi hoàn thành nhiệm vụ lui quân.

Với tinh thần quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của mặt trận giao, sau hai ngày hành quân, đêm đầu có mặt tại xã Công Găng, đêm thứ hai đến (suối) EaKrông đúng giờ hiệp đồng. Đúng 23 giờ đêm ngay 6/2/1965, các phân đội triển khai tìm cách khắc phục chướng ngại vật.

Mũi sân bay vừa qua hết lớp rào thứ ba, bộ phận công binh do sơ suất kĩ thuật làm nổ một kíp điện. Nhưng địch không phát hiện gì, vì ban đêm ở những đơn vị quanh sân bay thường có súng nổ lẻ tẻ. Các mũi tiếp tục vượt rào qua mặt bọn lính tuần tra đột nhập thẳng vào sân bay. Khi vào đến nơi, mũi trưởng và anh em chiến sĩ phát hiện thấy số máy bay địch đậu nhiều hơn dự kiến. Khi ở ngoài phân công mỗi người đánh hai chiếc, nay phải đánh đến ba chiếc. Nguyên nhân máy bay ở sân bay này nhiều hơn vì quân địch mới chuyển các máy bay đến khu vực sân bay mới. Kinh nghiệm đánh máy bay là phải đánh vào đầu nó, nơi có hệ thống máy móc, mới phá hủy được chiếc máy bay. Các mũi triển khai chiếm lĩnh mục tiêu. Thời gian vẫn chưa đến giờ hợp đồng. Mũi trưởng truyền lệnh; “Mũi ta thuận lợi, nhường các mũi đánh vào khu cố vấn nổ súng trước”.

Đúng 1 giờ 5 phút ngày 7/2/1965, một loạt súng AK nổ dòn dã phía khu cố vấy, tiếp theo là tiếng thủ pháo gầm lên. Mũi đánh sân bay, tổ đánh nhà tên đại tá Mĩ nhất loạt nổ súng. Tiếng bộc phá đánh vào đầu máy bay nổ rền vang, máy bay bốc cháy rần rật sáng rực cả góc trời Tây Nguyên. Ở trận địa cối, các pháo thủ bình tĩnh chỉnh tầm ngắm cho những quả cối rơi trúng khu vực phi công ở làm ngắt quãng tiếng còi báo động đang rú lên ghê rợn trong sân bay. Chỉ trong vòng 3 phút, mũi tấn công sân bay đã hoàn thành nhiệm vụ và phát tín hiệu lui quân theo đường hợp đồng giữa bộ phận hỏa lực B40.

Ở mũi tấn công vào khu cố vấn: Mũi trưởng Nguyễn Huấn vào cùng đồng đội qua khỏi hàng rào cuối cùng đang chờ tiếng nổ lệnh từ sân bay, lúc đó ba tên Mĩ đuầ đội mũ sắt có chữ MP trắng đi tới phát hiện. Chúng chưa kịp đối phó thì chiến sĩ Nguyễn Văn Sướng, đã nhấn một loạt AK nổ dòn ba tên Mĩ đổ sụp xuống. Lập tức các chiến sĩ ở mũi này lao lên. Bộc phá ném thẳng vào ô cửa những căn nhà có bọn cố vấn Mĩ đang ngủ bên trong. Bị đánh bất ngờ, bọn Mĩ ở đây la hét và gầm lên nổ súng bắn hoảng loạn không phương hướng. Chiến sĩ ta chủ động tấn công địch, ở đâu có mục tiêu xạ kích liền bị diệt ngay, những căn nhà tiền chế thi nhau đổ sập, buộc hỏa lực Mĩ câm họng.

Sau 5 phút mưu trí, dũng cảm, ba tổ đánh vào khu cố vấn hoàn thành nhiệm vụ. Mũi trưởng phát tín hiệu chuyển quân ra. Chiến sĩ Nguyễn Văn Sướng, mới 16 tuổi được đi đánh trận đầu, nhưng cậu rất bình tĩnh và lém lĩnh, tay vỗ vào báng súng AK vào nói: “Súng mình bắn sướng thật! Bọn Mĩ - ngụy phen này hết khoe khoang khu vực bất khả xâm phạm”.

Hai mũi tấn công sân bay và khu cố vấn, cùng các bộ phận cối, B40, công binh đã hoàn thành nhiệm vụ và lui quân về địa điểm xuất phát an toàn.

Bình luận về trận đánh tài tình này, Bản tin của hãng AFP ngày 7 tháng 2 năm 1965 viết: “Trong lúc ở Biên Hòa các đồn điền cao su quanh sân bay cho phép “Việt cộng”an toàn tiến sát mục tiêu, thì vùng quanh thị xã Pleiku là một vùng bằng phẳng trống trải, du kích không có một nơi ẩn nấp thiên nhiên nào. Vậy mà họ vẫn đến sát vị trí không bị lộ”.

Sáng ngày 7 tháng 2, Bânđi cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mĩ mới đến Sài Gòn, cùng Oét-mô-len, Tổng chỉ huy quân Mĩ ở miền Nam Việt Nam và Nguyễn Khánh, quốc trưởng bù nhìn hối hả kéo lên Pleiku. Trước cảnh sân bay hoang tàn còn đang bốc khói, Bânđi lặng người không nói, còn Oét-mô-len thì luôn mồm kêu: “Thật xấu quá!”.

Đầu năm, tiểu đoàn 409 đặc công ra quân đánh hai trận đều giành thắng lợi dòn. Trận Gai Hựu các đại đội 40, 50, 60/40i diệt 157 tên địch, bắt sống 43 tên, trận đánh vào sân bay Pleiku và trại cố vấy Mĩ, đại đội 30/409, phá hủy 42 máy bay các loại, có 37 máy bay trực thăng, 3 máy bay trinh sát và 2 máy bay vận tải. Giết và làm bị thương 357 tên Mĩ ngụy (tiêu diệt gọn 1 đại đội bảo an) và 1 đại tá chỉ huy sân bay. Trận đánh vào sân bay Pleiku và trại cố vấn Mĩ là lời cảnh cáo với bọn Mĩ xâm lược và tay sai của chúng rằng: Trên dải đất miền Nam thân yêu của chúng ta, không một nơi nào an toàn cho bọn chúng dung thân.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 24 Tháng Mười Hai, 2010, 07:50:19 PM
Sau một thời gian ngắn củng cố và sơ kết chiến đấu đợt một của chiến dịch, cấp trên lại giao cho cán bộ ch tiểu đoàn đặc công 409 tổ chức điều tra nghiên cứu tấn công cứ điểm Kannát. Đây là một cụm điểm mạnh của quân địch ở Gia Lai. Kannát do một tiểu đoàn biệt kích Mĩ đóng trên ba mỏm đồi, được trang bị hỏa lực mạnh như DKZ 57, trọng liên, súng cối 60 - 81 - 106,7mm. Công sự ở đây chúng làm bằng đất nhồi rơm nên rất kiên cố vững chắc, đạn bắn khó thủng. Đội hình địch bố trí liên hoàn và thường xuyên thay đổi cách bố trí hỏa lực nên việc theo dõi quy luật của địch rất khó khăn và phức tạp. Tiểu đoàn 409 đặc công được bộ chỉ huy mặt trận phân công làm đơn vị chủ công phối hợp cùng Trung đoàn 10 bộ binh đánh tiêu diệt căn cứ Kannát. 13 giờ ngày 7/3/1965, tiểu đoàn 409 đặc công đưa quân cắt rừng tiếp cận cứ điểm. 19 giờ tiểu đoàn chiếm lĩnh mục tiêu. Mũi chủ công phía bắc đưa bộ đội tìm nhập. hướng này bị vướng mìn, quân địch trong cứ điểm Kannát phát hiện, lập tức hỏa lực của chúng từ hai mỏm đồi dồn xuống mũi quân ta phía bắc. trong ba mỏm đồi, chỉ có mỏm đồi phía nam bị tiêu diệt. Còn hai mỏm đồi ở phái bắc bị địch khống chế ác liệt. Bộ đội phơi lưng giữa làn hỏa lực địch. Mất yếu tố bất ngờ, cứ điểm Kannát không dứt điểm được. 20 cán bộ chiến sĩ nòng cốt của tiểu đoàn 409 đặc công bị hi sinh, 15 chiến sĩ bị thương. Sau trận đánh, ban chỉ huy tiểu đoàn họp kiểm điểm rút ra nguyên nhân: Một là làm lộ dấu vết khi nghiên cứu, hai là mất yếu tố bất ngờ để địch chủ động đối phó, kế hoạch hợp đồng trong trận này giữa các mũi của trung đoàn 10 bộ binh thiếu chặt chẽ. Chưa nắm chắc chiến thuật đánh đặc công giữa kì tập và cường tập không dứt khoát, còn ỷ lại vào hỏa lực của trung đoàn 10. Có thể áp đảo được hỏa lực địch, nhưng trên thực tế không đạt được yêu cầu đặt ra, dẫn đến thương vong lớn cho đơn vị. Tiểu đoàn 409 đặc công và bộ binh trung đoàn 10 phải mất một thời gian để củng cố tư tưởng. Đây là một bài học xương máu cho lực lượng đặc công Quân khu. Tiểu đoàn 40 đặc công qua đó rút ra bài học kinh nghiệm hợp đồng và trong nghiên cứu điều tra cứ điểm địch trước khi đánh.

Trong cuộc đời binh ngũ của tôi, có lẽ nỗi day dứt, tiếc thương, đồng chí, đồng đội đã làm cho tôi luôn nghĩ đến những điều không may trong chiến tranh, nhưng đó là trách nhiệm của những người chỉ huy, người lãnh đạo, đã không lường hết được tình thế để có đối sách, có chiến thuật linh hoạt, tránh được tổn thất cho anh em. Trận đụng đầu với giặc Pháp tại Gò Rang, quê tôi năm 1947, rồi hai năm ở đơn vị đặc công 409 (1964-19650 tại chiến trường Tây Nguyên. Các chiến sĩ sống gian khổ, thiếu thốn, nhưng vẫn lạc quan yêu đời, tin yêu đồng đôi, chấp hành mệnh lệnh tuyệt đối, chiến đấu dũng cảm kiên cường, vượt qua lửa đạn, đạp lên đầu thù mà tiến, không tiếc xương máu hi sinh. Các đồng chí đã nằm lại trận địa, vĩnh viễn không về. mỗi khi nhớ lại, lòng tôi quặn thắt, khôn nguôi.

Bước vào chiến dịch hè năm 1965, tiểu đoàn 409 đặc công phối hợp với 3 trung đoàn bộ binh số 2, số 10 và 12, cơ động vào phái nam Tây Nguyên. Tiểu đoàn 409 đặc công tiêu diệt cứ điểm Woanh-chăm, trận đánh này tiểu đoàn giành thắng lợi hoàn toàn. Tiểu đoàn lập lại chiến công, giữ vững đội hình chiến đấu dày dạn của mình. Tiểu đoàn phân công ba đại đội 40, 50, 60/409 tổ chức tấn công cụm cứ điểm Buôn Rao ở tỉnh Đaklắk nơi địch xây dựng hang trăm ấp chiến lược, nhưng chỉ có ấp chiến lược Buôn Rao là kiên cố hất. Chúng dùng tre nguyên cây đào sâu chôn sít vào nhau, nhổ không lên, trong hàng rào tre cây là bãi mìn, dây thép gai rào mái nhà, có giao thông hào và công sự chiến đấu. Buôn Rao do một đại đội bảo an và ba trung đội dân vệ trấn giữ. Với các bố phòng như vậy, nên bọn địch ở đây lớn tiếng thách thức: ”Cộng sản đánh được Buôn Rao, quốc gia sẽ giao vũ khí và mở cửa các ấp chiến lược cho Cách Mạng vào” Lời thách thức đó của chúng, đã được cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 409 đặc công trả lời trong đêm 25/6/1965. Sau khi cho bộ đội bí mật tiếp cận, tiểu đoàn cho 3 khẩu 81mm bắn hết 100 quả đạn vào bọn bảo an trong ấp chiến lược băm nát cửa mở, các tổ xung kích của ta tiếp cận lập tức đánh bộc phá vào lô cốt, phát triển chiếm khu trung tâm, tiêu diệt quân địch. Quân địch không chống đỡ nỗi đòn sấm sét của tiểu đoàn 409 đặc công, số còn sống bị thương phải lũ lượt kéo ra hàng, xin cách mạng tha tội chết cho chúng. Bộ đội và nhân dân làm chủ ấp chiến lược Buôn Rao. Sau ba ngày tiểu đoàn đánh chiếm Buôn Rao, đại đội 30/409, do tham mưu trưởng Lê Sơn Hổ chỉ huy cơ động và chiến trường Khánh Hòa. Đêm 26/6/1965, đại đội 30/409 chia thành hai mũi, tập kích sân bay Nha Trang phá hủy 20 máy bay và tập kích trại huấn luyện Đồng Đế diệt và làm bị thương 100 học viên sĩ quan của chúng tại đây. Hai trận đánh diễn ra trong một đêm làm quân ngụy hoang mang, lo sợ.

Sau hơn một năm thành lập, được sự lãnh đạo và chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân khu 5, sự gắn kết với nhân dân và được nhân dân Kinh Thượng thương yêu đùm bọc và giúp đỡ, cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 409 đặc công phát huy tinh thần dũng cảm chiến đấu, lập nên nhiều chiến công lẫy lừng, đánh dấu được bước trưởng thành của tiểu đoàn, trong đó có chiến thắng An Lão, sân bay Pleiku, trại cố vấn Hô-lô-uây gây tiếng vang lớn trên chiến trường. Những chiến công đó ban đầu, đúng như lời Bác Hồ kính yêu đã dạy và là niềm tự hào của binh chủng:

Đặc biệt tinh nhuệ
Anh dũng tuyệt vời
Mưu trí, táo bạo
Đánh hiểm, thắng lớn


Kết thúc chiến dịch Xuân Hè 1965, ban chỉ huy tiểu đoàn 409 đặc công đưa quân về căn cứ Cây Múi - Nước Đang, phía tây huyện Đức Phổ - Quảng Ngãi để học tập, xây dựng đơn vị và sẵn sàng tư thế tiếp tục vào giai đoạn trực tiếp chiến đấu vứi quân đội Mĩ và chư hầu đang ngoan cố, tung quân, càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng, cố giữ các đồn bót, cứ điểm của chúng, và kèm kẹp đồng bào ta.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 09:34:43 PM
CHƯƠNG V

HAI NĂM TRÊN CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG NGÃI

Trước khi xuất quân vào chiến dịch Thu Đông năm 1965, Quân khu 5 tổ chức hội nghị quân chính kiểm điểm mọi mặt của chiến dịch Xuân Hè, nhằm đánh giá mức độ tổ chức các mặt trên chiến trường toàn Quân khu. Trên mặt trận quân sự, các lực lượng vũ trang Quân khu đã có một quyết tâm cao chính xác, mưu trí, táo bạo tiêu diệt quân địch có số lượng binh khí kĩ thuật nhiều hơn ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh, các lực lượng vũ trang trên toàn Quân khu đã chọn đúng đối tượng tác chiến, áp dụng chiến thuật cường tập, mật tập linh hoạt. Từ chiến trường An Lão, Gia Hựu, Pleiku, Dương Liễu, đèo Nhông trước đó đến chiến dịch Xuân Hè, trung đoàn 1 diệt cứ điểm Ba Gia, kéo quân địch ra cứu viện diệt gọn 1 chiến đoàn ngụy tại Sơn Tịnh, giải phóng đại bộ phận tỉnh Quảng Ngãi. Trung đoàn 1 từ đây nổi danh với cái tên đi vào lịch sử: “Trung đoàn Ba Gia”. Các trung đoàn 2 trung đoàn 10, tiểu đoàn đặc công 409, 407 và lực lượng vũ trang các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Đăklăc, Tây Nguyên tiêu diệt nhiêu đồn bót địch, giải phóng một vùng nông thôn rộng lớn ở các tỉnh phía nam của địa bàn Quân khu. Những chiến thắng trên đây, mở ra hình thái chiến trường có lợi cho ta. Trong các trận đánh địch càn quét lấn chiếm, các đơn vị chủ lực từ Quân khu đến các tỉnh, huyện, nghiên cứu địa hình chọn địa đoạn phục kích tạo nhiều khả năng tiêu diệt quân địch. Vai trò cán bộ từ tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn thể hiện rõ trách nhiệm và bản lính chỉ huy, tinh thần chiến đấu của bộ đội anh dũng lập công xuất sắc. Mặt nhược điểm của chúng ta trên chiến trường là còn kém về hiệp đồng binh chủng, hỏa lực chưa phát huy, hỏa lực và bộ binh phối hợp chưa khớp trong tấn công địch làm hạn chế thắng lợi tiêu diệt địch. Tuy nhiên, mặt nhược điểm thì ít, còn thắng lợi thì to lớn, ta đã đưa quân ngụy rơi vào thế bị động. Một mảng chính quyền và ấp chiến lược của địch ở nông thôn bị tan rã.

Để cứu vãn tình thế ở miền Nam và vực dậy chế độ Nguyễn Văn Thiệu, đế quốc Mĩ tiến hành đưa quân vào trực tiếp chiến đấu ở miền Nam. Hội nghị quân chính lần này có tầm quan trọng và được xem là hội nghị quyết tâm đánh Mĩ của toàn Quân khu. Sắp đến, đối tượng tác chiến của các lực lượng vũ trang ta trên địa bàn Quân khu, ngoài quân ngụy ra là quân Mĩ và bọn chư hầu, một đội quân nhà nghề được trang bị tận răng. Ngay sau khi quân Mĩ nhảy vào Đà Nẵng ngày 8/3/1965, Bộ Tư lệnh Quân khu đã chỉ thị cho các đơn vị vũ trang quyết tâm đánh Mĩ. Chỉ thị nêu rõ: “Việc tiêu diệt từng đơn vị quân Mĩ có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với chiến trường miền Nam mà còn có ý nghĩa quốc tế, không chỉ có ý nghĩa chiến thuật mà còn có ý nghĩa chiến lược”. Đáp lời kêu gọi đó, tại Quảng Nam, với 63 cán bộ chiến sĩ đã đánh và tiêu diệt 1 đại đội thủy quân lục chiến Mĩ tại đồi Núi Thành đêm 26/5/1965. Trận đánh Mĩ và thắng Mĩ đầu tiên đã trả lời cho quân và dân ta câu hỏi: “Liệu ta có đánh được Mĩ không?” Vì lí tưởng giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, chúng ta quyết đánh và quyết thắng giặc Mĩ và bọn tay sai. Cả hội nghị sôi sục khí thế chiến đấu.

Ngay sau hội nghị quân chính toàn Quân khu, đồng chí Nguyễn Đôn, Tư lệnh Quân khu trực tiếp gặp tôi và nói: “Đợt này, Quân khu quyết định rút một số cán bộ của chủ lực tăng cường cho các tỉnh. Trong đó có đồng chí và đồng chí Hà Văn Trí về tỉnh Quảng Ngãi. Đồng chí làm chính trị viên tỉnh đội, Hà Văn Trí là tỉnh đội trưởng”. Nghe tin phải đi xa đơn vị lòng tôi chợt bồi hồi. Hai năm qua sống chết có nhau, anh em đêm dầm sương, ngya băng lửa đạn, hạt muối cắn đôi, củ khoai xẻ nửa, khi phải xa nhau lòng ai không bùi ngùi. Tôi đi dự hội nghị, nghĩ rằng chỉ một tuần sau sẽ về, thế mà đến nay…

Thấy tôi tư lự, đồng chí Tư lệnh Quân khu hỏi; “Đồng chí có gì thắc mắc thì trình bày với tổ chức trước khi nhận nhiệm vụ”. Tôi trả lời: “Thưa thủ trưởng, tôi không thắc mắc gì, vì trước khi đi dự hội nghị tôi chưa kịp từ giã anh em, lần chia tay này không biết bao giờ mới có điều kiện gặp lại nhau”. Đồng chí Tư lệnh nói: “Lo gì, mai kia 409 vẫn hoạt động trên địa bàn Quảng Ngãi mà”. Thấy tôi không có ý kiến gì thêm, đồng chí Tư lệnh Quân khu nói tiếp: “Quảng Ngãi là một tỉnh có lực lượng vũ trang đông và mạnh so với các tỉnh khác. Nhưng một nhược điểm đáng chú ý, là Quảng Ngãi chưa diệt gọn được đơn vị địch và đánh vào cứ điểm còn khó khăn. Yêu cầu của Quân khu giao cho đồng chí và đồng chí Trí, khi về Quảng Ngãi làm thế nào phải tổ chức đánh tiêu diệt gọn từng trung đội, đại đội, tiến lên đánh tiêu diệt tiểu đoàn địch, mà không chỉ đánh bọn bảo an, mà còn đánh cả lực lượng cộng hòa, biệt động quân, thủy quân lục chiến… Vân đề hết sức quan trọng, hiện nay tư tưởng của bộ đội, khi nghe tin bọn Mĩ đổ bộ vào Đà nẵng, có người tỏ ra gờm không dám đánh. Phải lấy bài học Núi Thành, xây dựng cho tuổi trẻ Quảng Ngãi thấy được trách nhiệm đánh Mĩ là trách nhiệm lịch sử đã giao cho họ. Địa hình Quảng Ngãi đồng chí đã từng công tác nên đã rõ. Nhưng không chỉ dừng lại ở sự hiểu biết đơn thuần, mà phải suy nghĩ, tính toán phương án, kế hoạch phòng thủ, xây dựng làng chiến đấu. Những bãi trống cần cắm cọc cao và trông che để chông quân địch đổ bộ đường không. Mĩ vào, bom đạn Mĩ trút xuống sẽ vô cùng ác liệt. Để tạo cho cán bộ, chiến sĩ trụ bám có thể đánh nhiều trận, quần lộn với địch ngày đêm thực hiện khẩu hiệu của Bộ tư lệnh miền: “Tìm Mĩ mà đánh, tìm ngụy mà diệt. Muốn thắng Mĩ thì công sự phải vững chắc, cho bộ đội và cho cả nhân dân, không để nhân dân chạy xà đùa khi các trận chiến đấu nổ ra, mới hạn chế được thương vong. Những dãi núi hiểm có thể đục thành công sự làm ở chỉ huy, làm hầm bệnh xá… Vừa qua đế quốc Mĩ đã dùng B52 rải thảm ở địa phận huyện 21, Nước Trắng, Phương Đông, Dương Yên (thuộc huyện Trà Mi, Tiên Phước) nhờ có công sự mà ta ít thương vong. Đây là bài học kinh nghiệm xương máu, đồng chí về địa phương công tác, môi trường có khác với khi ở bộ đội chủ lực, việc gì cũng phải tranh thủ ý kiến của lãnh đạo, ý tứ phải chặt chẽ, tôn trọng sự lãnh đạo tập thể để giữ gìn quan hệ ngày càng phát triển tốt hon”. Đồng chí Tư lệnh nói đến đó vỗ vai tôi và hỏi tiếp: “Tôi hỏi thật, đồng chí và đồng chí Trí về Quảng Ngãi hai anh em cộng tác với nhau, huấn luyện lực lượng vũ trang sẵn có, liệu mấy tháng thì đánh được?”.

Tôi trả lời đồng chí Tư lệnh: “Các ý kiến của đồng chí thủ trưởng tôi xin tiếp thu và quyết tâm thực hiện cho kì được. Theo tôi, thì về mặt tác chiến có anh Hà Văn Trí và còn có anh Nguyễn Ngọc Hiệp, anh Nguyễn Thuần, anh Nguyễn Chữ trong ban chỉ huy tỉnh đội, sẽ nghiên cứu toàn diện khả năng tác chiến tại Quảng Ngãi. Sớm nhất là 3 tuần đến 1 tháng, chúng tôi sẽ đánh được địch đi càn quét ngoài công sự và lực lượng đặc công có thể diệt từng cứ điểm từ 1 trung đội đến 1 đại đội”. Đồng chí Tư lệnh Quân khu lại vỗ vai tôi nói tiếp: “Nếu làm được như lời đồng chí hứa thì tốt quá. Tôi giao cho đồng chí từ 2 đến 3 tháng, phải diệt được một số điểm chốt ở hành lang, đánh tiêu diệt địch càn từ 1 đại đội đến 1 tiểu đoàn, đồng chí làm được điều đó sẽ tạo cơ sở cho Đảng bộ và nhân dân tin tưởng. Tôi mong đồng chí cố gắng”.

Tôi đứng nghiêm đưa tay lên ngang mày chào đồng chí Tư lệnh Quân khu với một quyết tâm chiến thắng!


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 09:35:39 PM
Tôi và đồng chí Hà Văn Trí cùng nhận quyết định và nhanh chóng về căn cứ tỉnh đội Quảng Ngãi. Trên đường đi, chúng tôi nhận được tin chiến thắng Vạn Tường ngày 18/8/1965. Đây là một trận đánh phủ đầu quân xâm lược Mĩ khi chúng mới đặt chân lên đất Quảng Ngãi. Xác xe tăng của chúng bị cháy ngổn ngang cùng với xác những tên lính Mĩ tạo niềm tin mãnh liệt, tạo thế và lực cho nhân dân và lực lượng vũ trang Quảng Ngãi phát triển. Một điều thuận lợi cho chúng tôi, là đồng chí Hà Văn Trí trước đây cùng ở trung đoàn 2 bộ binh quân giải phóng với tôi, nay lại được về Quảng Ngãi cùng công tác và chiến đấu bên nhau có thể nói là: “tâm đầu ý hợp” từ lâu. Đồng chí Hà Văn Trí, trẻ hơn tôi 3 tuổi, dũng cảm, nhiệt tình trong công tác, có năng lực chỉ huy, sáng tạo trong chiến đấu và nhất là đoàn kết nội bộ tốt. Được thuận lợi ấy, hai chúng tôi không phải mất thời gian tìm hiểu nhau mà lao ngay vào công việc.

Sau 2 ngay chúng tôi về đến căn cứ, tỉnh ủy Quảng Ngãi triệu tập cuộc họp ban cán sự tỉnh đội. Cuộc họp do anh Biền (Bí danh Xuân Thưởng), Bí thư tỉnh ủy chủ trì. Chúng tôi được các anh Thuần, anh Chữ, anh Hiệp trong ban cán sự tỉnh đội báo cáo tình hình địch, quân số, cứ điểm, lực lượng cơ động của địch đứng chân trên đồng bằng, miền núi, thị trấn, thị xã của Quảng Ngãi; cả tình hình an ninh và mạng lưới tề điệp hoạt động của đối tượng này. Ngày 24/8/1965, trên cương vị chức trách của Đảng giao, chúng tôi triệu tập cuộc họp quân chính toàn tỉnh, gồm ban chỉ huy tiểu đoàn 83 và tiểu đoàn 48 bộ binh tỉnh, các ban chỉ huy 2 đại đội đặc công, chỉ huy các bộ phận chuyện môn: công binh, trinh sát, thông tin, vận tải; 3 cơ quan tham mưu chính trị hậu cần, 2 bệnh xá cánh nam và cánh bắc, các ban chỉ huy huyện đội… để nghe báo tình hình của các đơn vị, tình hình địch trên địa bàn và đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của từng đơn vị tập trung của tỉnh, của huyện, tình hình vùng du kích, vùng căn cứ, vùng tranh chấp, vùng địch kiểm soát, để bổ sung và đề ra nhiệm vụ xây dựng các phương án tác chiến cho từng đơn vị. Đồng thời phổ biến âm mưu của địch, nhấn mạnh đến diễn biến của chiến tranh cục bộ do đế quốc Mĩ và bọn chư hầu, tay sai tiến hành, đề ra phương án chung cụ thể cho từng huyện, từng xã chuẩn bị cho chiến dịch Thu Đông. Nhìn chung lực lượng vũ trang của tỉnh Quảng Ngãi khá mạnh như đồng chí Tư lệnh Quân khu đã nói với tôi trước khi tôi đi nhận nhiệm vụ. Lực lượng vũ trang Quảng Ngãi hiện có 2 tiểu đoàn bộ binh cơ động, 2 đại đội đặc công, 7 đại đội trực thuộc. Trong 10 huyện của tỉnh, thì ở đồng bằng đã xây dựng được mỗi huyện 1 đại đội tập trung, ngoài ra còn có lực lượng dân quân du kích phân bố đều khắp ở các xã vùng du kích, vùng căn cứ và vùng tranh chấp. Khí thế của lực lượng vũ trang Quảng Ngãi đang ở tư thế sẵn sàng lập công.

Sau khi ổn định tổ chức, Ban chỉ huy tỉnh đội tổ chức một đoàn cán bộ đi khảo sát chiến trường và nghiên cứu thực địa ở cả 2 cánh nam và bắc Quảng Ngãi để xây dựng thế trận. Thời gian này quân Mĩ đã vào đóng ở căn cứ Chu Lai, Đường số 1, đoạn từ An Tân vào đến dốc Sởi xe nhà binh đậu kín mặt đường, ban đêm đèn pha bật sáng đến nhức mắt, ban ngày các loại máy bay quần đảo trinh sát ném bom vào vùng ven, vùng giải phóng để bảo vệ căn cứ của chúng. Quân ngụy ỷ lại có quân Mĩ vào chúng ít đi lùng sục. Vùng giải phóng Quảng Ngãi nhiều nơi liên hoàn, chúng tôi đi bộ, đi xe đạp, có đoạn đi ghe, xã nào có đồn bót địch thì cải trang hợp pháp tiếp cận tìm hiểu quan sát và xác lập các vị trí địa bàn. Cuối cùng chọn được 6 khu quyết chiến điểm.

Khu 1: Gò Sỏi, nằm ở phái nam xã Bình Trung, huyện Bình Sơn. Địa đoạn này tổ chức phục kích tốt. Khi địch vào, chúng có thể đóng quân tại đây tạo điều kiện cho bộ đội ta tập kích tiêu diệt từng bộ phận. Chúng tôi cho dân quân, bộ đội và vận động nhân dân đào sẵn hào giao thông, phát quang những nơi bộ đội có thể xuất kích thuận tiện, nhanh chóng.

Khu 2: Ở Thế Long, Thế Lợi, thuộc xã Sơn Kim, (ta gọi là Tịnh Thọ) thuộc huyện Sơn Tịnh, đây là hành lang từ phía tây xuống phía đông, vừa vận chuyển lương thực và vừa chuyển quân. Ban đêm đi cả tiểu đoàn vẫn an toàn. Khu vực này địch có thể hành quân bất ngờ từ Quảng Ngãi ra, ta xây dựng trận địa sẵn sàng đánh địch.

Khu 3: Nằm ở Quán Lát huyện Mộ Đức.

Khu 4: Ở tại núi Vom, thuộc huyện Nghĩa Hành có điạ hình tốt, có thể đánh lớn tiêu diệt nhiều địch.

Khu 5: Ở xã Đức Phong (huyện Mộ Đức) giáp với Phổ An, Phổ Quang (huyện Đức Phổ) cạnh đồi Ông Đọ, đây là một điểm cao đột xuất có địa đạo, hào giao thông nhân dân đào sẵn. có thể tổ chức đánh địch tránh bớt thương vong cho ta.

Khu 6: Từ Phổ Thuận đến Phổ Văn (huyện Đức Phổ) có khả năng phục kích diệt địch đi càn, quân số từ đại đội trở lên.

Trong 6 khu này, chúng tôi chụp ảnh, vẽ địa hình và tổ chức trận địa để sẵn sàng đánh địch khi chúng liều lĩnh đổ quân vào.

Về chuẩn bị các cứ điểm, chúng tôi nhất trí chọn 4 cứ điểm: Đồi Ông Râu, thuộc Bình Sơn, Núi Đất Long Phụng thuộc xã Đức Nhuận, huyện Đức Phổ; Đá Heo ở Sa Huỳnh, thuộc xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ; Núi Giàng thuộc xã Phổ Minh… Các mục tiêu trên đây được giao cho 2 đại đội đặc công 506a và 506b của tỉnh chịu trách nhiệm điều tra, nghiên cứu và tổ chức thực hành tấn công… Ngoài ra, chúng tôi còn tổ chức trận địa cho 2 tiểu đoàn 48 và 83 bộ binh tác chiến. Ban chỉ huy tinh đội giao cho mỗi huyện chọn 1 đến 2 cứ điểm và 1 đến 2 ấp chiến lược. Nhưng mục tiêu này có thể nổ súng trong tháng 9/1965.

Trong lúc khẩn trương củng cố và phát triển lực lượng, Quảng Ngãi hết sức chú trọng phát triển thế trận chiến tranh nhân dân, huy động tất cả các lực lượng vũ trang khẩn trương xây dựng làng chiến đấu, trận địa chiến đấu, vành đai quanh các khu căn cứ Mĩ, kiên quyết giữ thế chủ động liên tục tấn công địch giữ vị trí chiến đấu ở từng địa bàn, sẵn sàng diệt ác, phá kèm, mở rộng vùng giải phóng và đánh địch đi càn quét, lấn chiếm.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 09:37:30 PM
XÁC ĐỊNH QUYẾT TÂM
HỌC TẬP ĐIỂN HÌNH

Để chuẩn bị tư tưởng cho lực lượng vũ trang toàn tỉnh bước vào cuộc chiến đấu mới, tỉnh ủy, ban chỉ huy tỉnh đội Quảng Ngãi tổ chức Đại hội chiến sĩ thi đua của các lực lượng vũ trang từ ngày 11 đến 15 tháng 9 năm 1965. Đây là Đại hôi của “Tinh thần quyết đánh và quyết thắng giặc Mĩ xâm lược”.

Từ “Vành đai diệt Mĩ” Bình Sơn đến Đức Phổ, từ các huyện miền núi đến các huyện ven biển, từ vùng nông thôn đồng bằng, đến các thị trấn thị xã, từ các đơn vị vũ trang của tỉnh, huyện đến du kích xã, thôn đã cử những đại biểu ưu tú xuất sắc trong chiến đấu “3 mũi giáp công, 3 thứ quân” mang đến Đại hội những chiến công oanh liệt, những kinh nghiệm quý báu, tiêu biểu của tinh thần liên tục tấn công, quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mĩ xâm lược bất kì trong tình huống nào.

Trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, nhưng Đại hội đã họp đến 4 ngày. Ban ngày nghe báo cáo của điển hình, từ kinh nghiệm chiến đấu, đến tổng kết phong trào thi đua giết giặc lập công của lực lượng vũ trang trong tỉnh. Một ngày nghe nghị quyết của khu ủy và tỉnh ủy về chủ trương quyết tâm đánh Mĩ. Tôi còn nhớ những bông hoa chiến công tươi thắm được Đại hôi chào mừng và học tập như:

- Xã Phổi Hiệp, huyện Đức Phổ tiêu biểu cho phong trào đấu tranh 2 chân 3 mũi giáp công (Đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị. Đấu tranh vũ trang, chính trị, binh vận), linh hoạt và sáng tạo.

- Xã Tịnh Khê huyện Sơn Tịnh điển hình về tinh thần đóng góp sức người sức của xây dựng địa đạo chiến, xây dựng làng chiến đấu và liên tục tấn công địch.

- Xã Bình Đông, huyện Bình Sơn, từ khi Mĩ vào tập trung đánh phá, bắn giết, uy hiếp tinh thần nhân dân địa phương. Để đối phó với hành động dã man của quân xâm lược Mĩ, nhân dân Bình Đông đã thành công xây dựng làng chiến đấu, vành đai diệt Mĩ, liên tục tấn công Mĩ, trụ bám và quyết giữ từng cột nhà, gốc cau, mảnh vườn, không để cho địch đốt phá lấn chiếm. Nhân dân cùng đồng lòng đánh Mĩ. Em Nguyễn Văn Hữu mới 11 tuổi, đã mưu trí lấy được 1 khẩu M79 của Mĩ đêm về cho các cô chú du kích xã. Và biết bao gương sáng khác ở Bình Đông, phát triển ra cả huyện Binh Sơn và trong tỉnh.

- Xã Sơn Thủy, huyện Sơn Hà tiêu biểu cho phong trào vừa chiến đấu vừa sản xuất, đồng thời là một xã có kinh nghiệm đấu tranh theo phương châm 2 chân 3 mũi giáp công ở vùng dân tộc thiểu số H’re.

Bên cạnh nhũng điển hình tiêu biểu của tập thể, nhiều cá nhấn xuất sắc thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm như em Thơ, 14 tuổi quê ở Đức Phổ. Khi đich tấn công vào làng, thế địch mạnh, lực lượng du kích được lệnh phân tán để bảo toàn chiến đấu lâu dài, không may một chiến sĩ du kích bị thương ở chân không đi được,phải nằm lại dưới giao thông hào. Nếu để bọn địch tràn đến phát hiện được người chiến sĩ du kích sẽ bị sát hại ngay. Em liền cải trang chạy ra đón toán quân địch và hô lớn: “Việt công nằm phục phía trước, súng ống to lắm, mấy ông chạy đến sẽ bị hốt xác đó”. Bọn địch hốt hoảng tháo chạy trở lui. Bằng hành động mưu trí đó của em Thơ, đã cứu được người chiến sĩ du kích bị thương khỏi rơi vào tay giặc.

Qua 3 ngày nghe báo cáo, nhiều gương điển hình tiên tiến đã nêu lên nhiều bài học thực tiễn, về tinh thần chiến đấu dũng cảm, liên tục đánh cả Mĩ, lẫn ngụy, giữ vững quyết tâm: Nhân dân bám chắc quê hương xây dựng làng chiến đấu, bộ đội tập trung tỉnh, huyện mưu trí, sáng tạo tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đã có sức hấp dẫn và cổ vũ quân dân trong tỉnh ra sức thi đua đánh thắng giặc Mĩ xâm lược. Suốt trong những ngày đại hội tôi được tiếp xúc với các đối tượng và địa phương có thành tích, càng thấy tin tưởng tự hào về tinh thần đánh giặc cứu nước của Quảng Ngãi anh hùng. Trong Đại hội này, đã giúp tôi hiểu biết thêm về con người, và vùng đất chiến trường mới, công tác mới, khẳng định niềm tin trong tôi về sự tất thắng sẽ đến, khi đối mặt với kẻ thù.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 09:42:55 PM
Ngày thứ tư ở Đại hội, tôi được phân công bao cáo 2 nghị quyết: 1 của khu ủy Khu 5 và 1 củ tinh ủy Quảng ngãi. Trong đại hội này, ngoài đại biểu là chiến sĩ thi đua, điển hình tiên tiến, còn có bí thư các huyện, thị xã, bí thư các tiểu đoàn tập trung và đơn vị trực thuộc, nên Tinh ủy cho phép báo cáo để đại hội quán triệt những tinh thần cơ bản, cốt lõi của nghị quyết.

Nội dung nghị quyết của khu ủy và Quân khu đề ra cho lực lượng vũ trang là: ”Ra sức tấn công và và phản công địch, kiên quyết tiêu diệt quân Mĩ, quân ngụy, đánh bại các chiến dịch phản công của chúng. Giữ vững, mở rộng, xây dựng và bảo vệ khu căn cư địa miền núi và vùng giải phóng đồng bằng, phát triển lực lượng cách mạng trên tinh thần tư tưởng chỉ đạo tác chiến: Chủ động tấn công địch, tích cực phản công địch càn quét, chú trọng kết hợp tác chiến và xây dựng lực lượng 3 thứ quân. Nhất là lực lượng bộ đội chủ lực”. Sau khi quán triệt nghị quyết cấp trên, đến lượt phổ biến nghị quyết của tỉnh ủy Quảng Ngãi, tôi phân tích tình hình của từng địa phương, nêu rõ âm mưu hoạt động của địch trong tương lai và khả năng mạnh, yếu của địch trên chiến trường.

Về phần phân tích tình hình của ta, nghị quyết nêu rõ: “Tình hình phát triển của nhân dân, vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, vai trò của lực lượng vũ trang, đánh giá khả năng, sức chiến đấu, trình độ kĩ thuật, năng lực chỉ huy, công tác bảo đảm hậu cần, đi sâu về vấn đề trang bị vũ khí bảo đảm cho chiến đấu thắng lợi”. Từ đó nghị quyết đề ra những chủ trương như sau: ”Động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân giữ vững quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược trong bất kì loại chiến tranh nào, phát huy cao độ tinh thần “Tìm Mĩ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Mọi cá nhân, tập thể thi đua đạt danh hiệu dũng sĩ diệt Mĩ, dũng sĩ diệt ngụy. Khẩn trương xây dựng lực lượng quân sự, lực lượng chính trị. Trong lực lượng quân sự phải chú ý toàn diện, xây dựng các tiểu đoàn tập trung, đại đội đặc công, bộ đội huyện và phải đánh tiêu diệt từ trung đội, đại đội trở lên. Xây dựng lực lượng du kích vững mạnh ở các xã, huấn luyện cho du kích đánh tốt, tiêu hao, tiêu diệt địch rộng rãi đều khắp trên các chiến trường trong tỉnh. Đẩy mạnh phương châm 2 chân 3 mũi giáp công giành thắng lợi trong mùa mưa và thắng lớn trong mùa khô”.

Sau khi truyền đại 2 nghị quyết cho đại hội, tôi thấy mọi người phổ biến quyết tâm và tin tưởng hoàn toàn vào sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó đã trả lời được những thắc mắc tồn tại lâu nay là: “Mĩ vào lực lượng vũ trang ta có đánh được Mĩ không? Đánh bằng cách nào? Mĩ vào đấu tranh chính trị được không? Đấu tranh như thế nào?”. Lần này những câu hỏi đó đã được nhân dân và các lực lượng cách mạng Bình Sơn giải đáp: Vành đai diệt Mĩ phía nam căn cứ Chu Lai của huyện Bình Sơn, là khu vực chiến sự diễn ra vô cụng ác liệt. ngay từ khi quân Mĩ đổ vào đây, bằng mọi thủ đoạn, chúng cố tiêu diệt cuộc chiến tranh nhân dân của ta để bảo vệ an toàn căn cứ quân sự của chúng cùng với vành đai diệt Mĩ phía bắc tỉnh Quảng Nam, vành đai diệt Mĩ phía nam Chu Lai của Bình Sơn đang vây chặt lấy căn cứ Chu Lai. Các chi bộ Đảng, các cán bộ, đảng viên ở đây được rèn luyện trong ác liệt bằng thực tế chiến trường luôn sáng tạo, biến hóa nhiều hình thức tấn công quân sự, kết hợp tấn công chính trị, bằng phương châm 2 hân 3 mũi giáp công, vô hiệu hóa được các âm mưu đối phó của quân Mĩ. Xã Bình Đông huyện Bình Sơn, là một xã ven biển nằm sát căn cứ Chu Lai, nhân dân sinh sống bằng nghề đánh bắt hải sản. Quân Mĩ đến, một mặt chúng dùng chính sách kinh tế để mua chuộc lòng dân, một mặt tiến hành tấn công vào đời sống của nhân dân, buộc dân kê khai tàu thuyền để chúng quản lí, mỗi chuyến đi biển của dân đều bị chúng kiểm soát găt gao. Vì vậy đời sống chủa nhân dân khó khăn cơ cực. Đến Bình Đông có nhiêu toán lính Mĩ ở lại trong làng, tập trung dân lâp tề. Có một chuyện khôi hài kiểu Mĩ bị dân tẩy chay, bọn chúng đưa đến một tên thượng sĩ Mĩ, đầu đội khăn đóng, mình mặc áo dài đen. Hắn chắp tay cúi chào trước dân Bình Đông, xin cho hắn làm thôn trưởng để đại diên cho nhân dân. Nghe giọng nói lơ lơ với cách phát âm tiếng Việt không dấu, cùng với cử chỉ lố bịch của nó, nhân dân không nhịn được cười! Bà con vỗ tay cười, ban đầu tên thượng sĩ Mĩ tưởng dân ta vui vẻ nghe nó nói, nhưng không ngờ tiếng vỗ tay càng lúc càng rộn và tiếng cười càng to hơn, kéo dài đến nỗi tên thượng sĩ Mĩ xấu hổ phải chuồn khỏi Bình Đông. Bọn chỉ huy nhận thấy chính sách thực dân mới của chúng không thắng nỗi dân ta, chúng quay ra tập trung đánh phá dữ dội vào nhân dân, đốt nhà, đốt ghe mành, xé lươi không cho bà con ra khơi. Nhưng chúng làm sao ngăn cản được lòng dân khi lòng căm thù giặc và ý chí đánh Mĩ đã được thử thách. Là một xã có truyền thống kháng chiến chống Pháp, ngày nay trong đánh Mĩ, Bình Đông càng ra sức phát huy thành quả tấn công địch. Nhân dân Bình Đông rất xứng đáng với lời ca ngời:

“Bình Đông có tiếng đánh Tây,
Có gan diệt Mĩ bao vây mấy lần.
Giặc phá nhà ngói ta làm nhà tranh.
Giặc đốt ghe mành ta đan thúng đi câu”.


Bằng mọi cách để tồn tại, thích nghi và chiến đấu, các chi bộ Đảng Bình Đông vẫn duy trì hoạt động trong lòng địch, liên tục tấn công quân Mĩ trên địa bàn và chia lửa cùng quân dân Đức Phổ và Quảng Ngãi anh hùng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 09:43:54 PM
CHIẾN CÔNG ĐẦU TRÊN
CHIẾN TRƯỜNG QUẢNG NGÃI

Cùng thời gian triển khai huấn luyện cho các đơn vị bộ đội từ tỉnh đến huyện, và lực lượng dân quân du kích trong tỉnh, ban chỉ huy tỉnh đội Quảng Ngãi tập trung xây dựng quyết tâm và huấn luyện kĩ thuật chiến đấu cho tiểu đoàn 48 (mới thành lập ngay 01/8/1965) cùng các tiểu đoàn 83, 2 đại đội đặc công 506a và 506b để ra quân đánh tiêu diệt gọn từng đơn vị trong tháng 9/1965, tạo khí thế phối hợp với bộ đội chủ lực của Quân khu để lập công lớn hơn. Với quyết tâm như vậy, ban chỉ huy tỉnh đội Quảng Ngãi cho trinh sát điều tra cứ điểm địch ở Phong Niên Thượng, và cuộc điều tra hoàn tất. Đêm 29/9/1965, tiểu đoàn 48 tập kích vị trí quân địch diệt 2 tiểu đội biệt kích và 1 trung đội dân vệ, bắn chết 28 tên, bắt sống 14 tên, thu 12 súng trường, 1 trung liên, 2 radio và toàn bộ quân trang quân dụng. Đây là trận đánh đầu tiên của tiểu đoàn 48 sau 2 tháng thành lập, đã diệt gọn 1 đơn vị địch. Khí thế của tiểu đoàn 48 phấn khởi trước trận ra quân thắng lợi. Tiếp đó không lâu đêm 26/10/1965, tiểu đoàn 48 tập kích đại đội bảo an 40 và đoàn bình địch, chiến dịch về làng của địch, diệt 122 tên, bắt sống 18 tên, thu toàn bộ vũ khí và quân trang quân dụng, mở thông đường hành lang từ phía tây đến phía đông Sơn Tịnh. Trong trận này, tiểu đoàn 48 có 8 chiến sĩ bị thương, 3 chiến sĩ hi sinh. Thắng tiếp trận thứ 2 này, cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 48, càng tin tưởng khả năng chiến đấu và sự linh hoạt sáng tạo của đơn vị. Tiểu đoàn trụ lại đông Sơn Tịnh để huấn luyện bổ sung quân số và chuẩn bị chiến trường đánh bọn bảo an ở Sơn Hội.

Được ban chỉ huy tỉnh đội chuẩn y và trực tiếp chỉ huy. Đêm 01/11/1965, tiểu đoàn 48 bí mật tập kích đại đội bảo an số 713 ở Sơn Hội, diệt tại chỗ 75 tên, bắt sống 20 tên, thu toàn bộ vũ khí, quân trang quân, quân dụng. Phía tiểu đoàn 48 có 5 chiến sĩ bị thương, không có người nào hi sinh. Như vậy là 3 trận đánh diệt địch trong công sự, do bay chỉ huy tỉnh đội chúng tôi tực tiếp chỉ huy đã thắng liền 3 trận. Chiến thắng đã tạo niềm tin và khí thế phấn khởi trong toàn tiểu đoàn. Phát huy thắng lợi dòn dã, tiểu đoàn 48 tiếp tục ra quân đánh vào đại đội bảo an ngụy phá banh đồn Thế Long thuộc xã Tịnh Thọ, xóa sổ đại đội bảo an 248, trung đội biệt kích và 1 tiểu đội dân vệ ở Tịnh Thọ, diệt tại chỗ 90 tên địch, bắt sống 3 tên, thu 48 súng, có 1 đại liên, 1 trung liên.

Trải qua 4 tháng thành lập, xây dựng và chiến đấu, tiểu đoàn 48 đã đánh 4 trận giành thắng lợi ở thế áp đảo, đẩy bọn ngụy quân, ngụy quyền vào thế lúng túng đối phó, tan rã và sợ hãi. Chiến thắng làm nức lòng nhân dân Sơn Tịnh; đáp lại sự mong đợi của đồng chí, Tư lệnh Quân khu 5 giao cho tỉnh đội Quảng Ngãi, vì vậy cũng là niềm phấn khích của tập thể Ban chấp hành Tỉnh ủy Quảng Ngãi.

Tiểu đoàn 83 được lệnh phối hợp với sư đoàn 3 quân giải phóng đang chiến đấu ở phía nam tỉnh Quảng Ngãi, liên tục đánh địch quanh huyện Đức Phổ, Nghĩa Hành. Đại đội đặc công 506a đột nhập tiến công một số mục tiêu trong thị xã, tập kích sân bay Quảng Ngãi. Lực lượng công binh đánh các giao thông trên đoạn đường quốc lộ số 1, cô lập địch về để sư đoàn 3 tiêu diệt cứ điểm Thạch Trụ và đánh chi khu quận lị Mộ Đức, giải phóng các xã nằm trên trục đường số 1 từ Mộ Đức đi Đức Phổ.

Do trời lụt nước dâng cao, sư đoàn 3 không thực hiện được trận đánh Thạch trụ. Ngày 25/12/1965, sư đoàn chuyển hướng tấn công quận lị Minh Long, hỏa lực của sư đoàn băm nát cứ điểm Cầu Cộng Hòa thuộc huyện Nghĩa Hành. Quân địch chống trả yếu ớt, bị ta tiêu diệt tại chỗ 200 tên, bắt sống 150 tên. Sư đoàn 3 giải phóng hoàn toàn huyện Minh Long. Một vùng đất từ Cầu Cộng Hòa đến huyện Nghĩa Hành rộng dài hơn 10km2 được giải phóng. Hơn 10 ngàn dân vùng lên phá kèm, phá ấp chiến lược giành quyền làm chủ, xây dựng lực lượng, tổ chức đoàn thể cách mạng trong vùng giải phóng. Nhân thắng lợi lớn của sư đoàn 3 quân giải phóng, tiểu đoàn 83 của tỉnh Quảng Ngãi liên tục tấn công địch quanh các quận lị Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành và tập kích đồn núi Đất - Long Phụng. Lực lượng công binh của tỉnh đánh sập cầu sông Vệ, cắt đứt giao thông từ Đức Phổ đi thị xã Quảng Ngãi để tạo điều kiện cho tiểu đoàn 83, tiểu đoàn 48 đánh tiêu diệt địch. Ban chỉ huy cho trinh sát chuẩn bị điều ta cứ điểm Trà Hòa thuộc huyện Trà Bồng. Địch ở đây có một đại đội bảo an, quanh cứ điểm có 4 lô cốt, 3 hàng rào kẽm gai, 2 lớp giao thông hào và công sự kiên cố.từ ngày đóng đồn Trà Hòa, bọn địch ở đây chưa bị tấn công lần nào nên rất chủ quan. Đêm 27/01/1966, tiểu đoàn 83 đồng loạt nổ súng tấn công đồn Trà Hòa, diệt 85 tên, bắt sống 15 tên, thu 1 đại liên, 1 cối 81 và 56 súng bộ binh, xóa sổ đại đội bảo an 468. Trận này ta bị thương 7 đồng chí, 2 chiến sĩ hi sinh được đơn vị và nhân dân an táng, chăm sóc chu đáo.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 09:45:59 PM
ĐỨC PHỔ BẺ CÁNH “DIỀU HÂU ĐÔI”

Thua đau trên khắp các chiến trường, nhưng đế quốc Mĩ vẫn ngoan cố tăng cường quân số, ra sức đẩy mạnh những cuộc tấn công, củng cố hoặc chiếm đóng nhiêu vị trí chiến lược quan trọng, đẩy mạnh bình định có trọng điểm, đánh phá vùng giải phóng, khống chế và kèm kẹp quần chúng, ngăn chặn hành lang, bao vây chia cắt các chiến trường. Để thực hiện tham vọng này, đầu năm 1966, đế quốc Mĩ đã đưa vào miền Nam Việt Nam 72 ngàn quân, với 2 ngàn máy bay và hàng trăm xe tăng để tiến hành mở đợt phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất. mục tiêu chủ yếu của cuộc phản công này là nhằm tiêu diệt chủ lực quân giải phóng, giành thắng lợi quyết định về chiến lược, chuyển bại thành thắng. Điểm then chốt của cuộc phản công là “Tìm diệt và bẻ gãy xương sống Việt cộng”. Chúng nhằm vò 2 chiến trường lớn là miền đông Nam bộ và chiến trường Khu 5.

Cuộc phản công của địch trên chiến trường Khu 5 bắt đầu trên 3 hướng: bắc Bình Định, nam Quảng Ngãi và Phú Yên. Chúng huy động một lực lượng lớn gồm 43 tiểu đoàn, (17 tiểu đoàn Mĩ, 6 tiểu đoàn Nam Triều Tiên, trên 20 tiểu đoàn ngụy).

Trên chiến trường nam Quảng Ngãi, địch mở rộng cuộc hành quân “Diêu hâu đôi”, sử dụng 5 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mĩ, 5 tiểu đoàn Mĩ, hàng trăm máy bay, xe bọc thép, và nhiều trận địa pháo. Kết hợp giữa đổ bộ đường không và tiến quân đường bộ, càn quét 2 huyện Đức Phổ và Ba Tơ.

Thế trận đánh Mĩ của nhân dân Quảng Ngãi đã được xác định và chuẩn bị sẵn sàng với 3 mũi giáp công: Lực lượng vũ trang với 3 thứ quân thực hiên quyết tâm “Tìm Mĩ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”. Các đơn vị thông tin, hậu cần sẵn sàng phương tiện phục vụ, chôn dấu lương thực, chuẩn bị lương khô, dụng cụ phòng độc để đánh địch dài ngày. Các đoàn thể tri hình thành lực lượng đấu tranh chính trị trực diện với địch ngăn chặn xe tăng, ngăn địch lùng sục đốt phá, kêu gọi binh linh Mĩ, chư hầu phản chiến, binh lính ngụy quay súng bắn vào quân xâm lược Mĩ trở về với nhân dân, với gia đình lập công cứu nước, cứu nhà…

Phong trào thi đua chiến đấu, tập thể trở thành đơn vị diệt Mĩ, cá nhân tở thành dũng sĩ diệt Mĩ, diệt ngụy, diệt cơ giới, diệt máy bay được phát động sôi nổi trong lực lượng 3 thứ quân.

Ngay từ đầu quân Mĩ vừa đặt chân lên Đức Phổ, du kích Phổ Quang đã bám thắt lưng Mĩ nổ súng diệt 12 tên, du kích Phổ An diệt 9 tên, du kích Phổ Nhơn diệt 18 tên… Ngày 22/02/1945, 11 chiến sĩ của đại đội 219 Đức Phổ, do đại đội trưởng Nguyễn Đức Quang chỉ huy cùng với 20 du kích của xã Phổ An, dựa vào làng chiến đấu quần lộn với địch, suốt cả ngày, diệt 106 tên Mĩ, bắn rơi 5 máy bay. Sau một ngày chiến đấu cả 31 chiến sĩ tham dự trận đánh đều vinh dự được ban chỉ huy tỉnh đội Quảng Ngãi tặng 31 danh hiệu dũng sĩ diệt Mĩ - Trận đánh lừng danh một thời ở Đức Phổ.

Ngày 03/02/1966, quân Mĩ cho trực thăng đổ bộ xuống dốc Bà Trưởng phia tây xã Phổ Cường, một tiểu đoàn đóng chốt tại đây. Chúng có nhiệm vụ khống chế hành lang và chặn đánh quân ta từ Hoài Nhơn ra. Lúc này du kích Phổ Cường do đồng chí Duyệt xã đội trưởng chỉ huy, đã triển khai trận địa sẵn sàng đánh Mĩ. Một mình xã đội trưởng Duyệt bí mật tiếp cận vào khu vực đổ quân của tiểu đoàn Mĩ, nắm chắc các ổ hỏa lực và các vị trí canh phòng của chúng. Đồng chí trở về vị trí chọn 8 du kích lanh lợi và dũng cảm đi cùng. Anh nói với đồng đội trước khi xuất kích: “Bọn Mĩ đổ quân xuống đây, ngày mai chúng sẽ kéo đi đốt nhà giết dân mình. Chúng ta phải chặn ngay bàn tay tội ác của quân xâm lược. Đó là mệnh lệnh của nhân dân đã giao cho chúng ta. Muốn tiêu diệt chúng nó phải tiêu diệt bọn chỉ huy đầu sỏ của chúng”. Cả 8 chiến sĩ du kích Phổ Cường cùng một quyết tâm chiến thắng! Tám chiến sĩ chia làm 3 tổ, 23 giờ đêm áp sát cụm chỉ huy của bọn mĩ. Bất ngờ 8 trái lựu đạn M26 đồng loạt gầm lên trong lều bọn chỉ huy và nhiều hướng khác, diệt ngay khẩu đại liên. Lợi dụng địa hình quen thuộc, 8 chiến sĩ du kích tung hoành và quần lộn với bọn Mĩ trong đêm. Bọn Mĩ không biết đâu mà nổ súng, chúng tranh nhau chạy tán loạn, bỏ lại 57 xác chết và nhiều tên bị thương kêu khóc trong đêm. Bị đánh bất ngờ và quân số bị thiệt hại nặng, bọn Mĩ phải rút bỏ mũi quân đóng chốt phía tây nam Đức Phổ.

Học tập tinh thần chiến đấu mưu trí của du kích Phổ Cường, du kích 14 xã trong huyện tích cực vây hãm quân Mĩ. Phong trào bắn tỉa quan Mĩ, bắn máy bay, bắn xe tăng phát triển sôi nổi ở Đức Phổ. Nữ cứu thương xã Phổ Quang Nguyễn Thị Nga, mượn súng của du kích cũng diệt được 6 tên Mĩ, cô trở thành “dũng sĩ diệt Mĩ”. Đồng chí Mai Tạo, bằng 7 viên đạn Garan M1 đã bắn gục 7 tên Mĩ. Thực hiện khẩu hiệu mỗi viên đạn là một quân thù, một cụ già bám địch suốt 13 ngày bằng 1 trái lựu đạn đã diệt được 5 tên Mĩ, thể hiện toàn dân đánh giặc.

Thế trận chiến tranh nhân dân trên địa bàn Đức Phổ đã bày sẵn, Tất cả mọi lực lượng, mọi người dân đều lao vào cuộc chiến đấu với quyết tâm đánh thắng giặc Mĩ xâm lược.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 09:46:57 PM
SƠN TỊNH ĐÁNH THẮNG MĨ Ở ĐỒI 62

Trong lúc quân và dân huyện Đức Phổ đang ra sức tấn công quân địch giành thắng lợi ở chiến trường phía nam tỉnh Quảng Ngãi, thì chiến trường phía bắc tỉnh Quảng Ngãi, sư đoàn 2 Quân khu 5 cùng bộ đội tỉnh Quảng Ngãi và huyện Bình Sơn thực hiện chủ trương của Bộ Tư lệnh Quân khu mở chiến dịch tây Sơn Tịnh để chia lửa cùng quân dân chiến trường nam Quảng Ngãi.

Giai đoạn 1 của chiến dịch tây Sơn Tịnh là giai đoạn khơi ngòi, lôi kéo, kèm chân và tiêu diệt một bộ phận lực lượng cơ động của địch, buộc chúng phải đưa quân đi càn quét lớn và khu vực tây huyện Sơn Tịnh, tạo điều kiện cho sư đoàn 2 bộ binh Quân khu tiêu diệt 1 bộ phận quan trọng sinh lực của địch. Hoạt động mạnh hướng này nhằm phối hợp chung trên chiến trường, góp phần đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất của liên quân Mĩ - ngụy - chư hầu trên chiến trường Khu 5. Đồng thời hỗ trợ cho các huyện Tư Nghĩa, Sơn Tịnh, Bình Sơn, Trà Bồng… mở đất giành dân, củng cố vùng giải phóng, phát triển phong trào du kích chiến tranh.

Chỉ tiêu diệt địch trong đợt 1 là; Tổ chức được nhiều trận đánh từ 3 đến 5 ngày, tiêu diệt cho được 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại 1 tiểu đoàn khác của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho sư đoàn 2 Quân khu phát triển chiến dịch.

Để lãnh đạo và thực hiện thắng lợi chiến dịch tây Sơn Tịnh, bộ Tư lệnh Quân khu quyết định thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch do đồng chí Nguyễn Năng (Quê Khánh Hòa, Tư lệnh Sư đoàn 2 Quân khu) làm Tư lệnh chiến dịch. Đồng chí Nguyễn Minh Đạo, Chính ủy; Các đồng chí Lê Hữu Trữ (Phó Tư lệnh sư đoàn 2), Đinh Xuân Thưởng (Bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi) và Nguyễn Huy Chương (Thường vụ Tỉnh ủy, chính trị viên tỉnh đội đội Quảng Ngãi), làm phó Tư lệnh chiến dịch. Sau khi thành lập, Sở chỉ huy chiến dịch đứng chân tại xã Sơn Nam (tức là Tịnh Minh). Tôi được bộ chỉ huy chiến dịch phân công chịu trách nhiệm chỉ huy sở tiền phương của tỉnh đong tại xã Sơn Châu (tức Tịnh Bình) chỉ đạo lực lượng vũ trang các địa phương phối hợp tân công các căn cứ, cứ điểm, khơi ngòi căn kéo quân địch để cho trung đoàn 21 quân giải phóng chuyển quân bố trí trận địa trên địa bàn tây Sơn Tịnh.

Tây Sơn Tịnh là vùng bán sơn địa, có đồi 62 (còn gọi là cao điểm 62) nằm giữa thôn Bình Bắc xã Sơn Châu, bên nào kiểm soát được đồi 62, bên đó khống chế được hoạt động của 5 xã: xã Sơn Châu (ở giữa), Sơn Kim (phía đông), Sơn Phương (phía tây), Sơn Lộc (phía nam), Sơn Trà (phía bắc), uy hiếp huyện Bình Sơn và căn cứ Chu Lai.

Theo kế hoạch tác chiến của đợt 1, trung đoàn 21 lênh cho tiểu đoàn 33 kết hợp với du kích Sơn Kim, Sơn Châu và bộ đội địa phương huyện Sơn Tịnh áp sát quốc lộ (đoạn Thế Lợi - Duyên Phước) tấn công tiêu diệt trung đội biệt kích, và đại đội bảo an đóng chốt ở núi Tròn, phá hoại cầu đường, cắt giao thông, buộc địch phải đưa quân phản kích và giải tỏa lớn hơn vào xã Sơn Châu, Sơn Kim, để 2 tiểu đoàn 11 và 22 của trung đoàn 21 tổ chức trận địa phục kích tại khu vực Trường Thọ - Nam Đình, Quang Thọ - Chợ Đình, tập trung tiêu diệt từ 1 đại đội đến 1 tiểu đoàn Mĩ hoặc ngụy lên phản kích, lọt đúng vào ý đồ chiến thuật của ta.

Qua bước 2 của chiến dịch tây Sơn Tịnh, trung đoàn 21 tiến hành chốt giữ một số cao điểm chủ yếu của đồi 62: Gồm mỏm đất Chùa, mỏm đồi Rang, mom đồi Đá, mỏm núi Bé, mỏm Gò Đồn… thực hành đánh quân đổ bộ đường không, kết hợp với sư đoàn thực hành vận động tấn công tiêu diệt quân địch trong khu chiến, đánh bại cuộc càn quét giải tỏa của liên quân Mĩ - ngụy. Đội hình trung đoàn 21 đứng chân ở 2 xã Sơn Châu và Sơn Kim. Theo phân công, tiểu đoàn 11 phụ trách khu vực mỏm núi Dê, mỏm gò Đồi, mỏm đông đồi Rang. Tiểu đoàn 22 đánh địch đổ bộ khu vực mỏm đồi Dân Vệ, mỏm đồi Đá và mỏm tây đồi Rang. Tiểu đoàn 33, đánh địch đổ bộ đường không lên cao điểm 62 đồi Chùa. Các tinh huống khác cũng được sư đoàn đề ra: trường hợp nếu địch phát triển chiếm mỏm đá đồi Rang, thì tiểu đoàn 22 dùng 1 mũi từ phía tây đánh sang để phối hợp với tiểu đoàn 11. Trường hợp địch phản kích lớn, kết hợp đổ bộ đường không, với tiến công quân sự trên nhiều hướng, nhiều lực lượng, thì sư đoàn sẽ trực tiếp chỉ huy và hợp đồng chiến đấu.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 09:47:41 PM
Trong 14 ngay đầu của chiến dịch từ 30/02/1966 đến 02/03/1966, tiểu đoàn 33 thực hiện các trận đánh khơi ngòi tiêu diệt 1 trung đội biệt kích của địch trên quốc lộ 1 (đoạn Thế lợi - Duyên Phước), kéo địch ra theo ý định và diệt 134 tên địch. Địch nghi ta tập trung phía tây Sơn Tịnh. Ngày 03/3/1966, 1 tiểu đoàn cộng hòa có 11 xe bọc thép càn quét thăm dò hướng quốc lộ 1. Ngày 04/03/1966, địch cho máy bay ném bom Gò Cát - Sườn phía tây đồi 62. Khói bom chưa tan, bầu trời Sơn Tịnh đã đen ngòm những con quạ sắt, 20 chiếc máy bay trực thăng chở đầy quân Mĩ từ căn cứ Chu Lai xé gió bay đến ồ ạt đổ quân xuống Gò Cát cách đồi 62 tám trăm mét. Khả năng địch càn lớn đã xuất hiện. Đồng chí Phan Viên trung đoàn trưởng 21, hôi ý chớp nhoáng với chính ủy Nguyễn Tiến và lệnh cho tiểu đoàn 21, cắt một bộ phận vận động lên chiếm đồi 62, giữ địa hình có lợi cho ta trước khi quân Mĩ tới. Đồng thời giao nhiệm vụ xác lập tình huống xử trí cho cả 3 tiểu đoàn: Trường hợp quân Mĩ chiếm đồi 62 trước thì tiểu đoàn 22 sẽ vận động tấn công theo hướng chủ yếu từ đông bắc lên, tiểu đoàn 33 đánh từ hướng thứ yếu lên chiếm cho được đồi 62, và tiểu đoàn 121 làm lực lượng dự bị sẵn sàng cơ động đánh địch, bảo đảm cho tiểu đoàn 22 và tiểu đoàn 33 chiến đấu tốt. Ban chỉ huy trung đoàn 21 giao nhiệm vụ cho các tiểu đoàn vừa xong, đồng hồ cũng vưa chỉ đúng 8 giờ 30 phút. Bầu trời Sơn Tịnh tiếp tục rung chuyển trong tiếng bom, tiếng pháo, không gian như dồn nén lại, đất đá vỡ tung, cây cối cháy trụi, đồng xanh nhà ngói đó tươi phút chốc bị lở lói nham nhở! Tiếng máy bay gàm rú ghê người. Bọn Mĩ từ Gò Cát đã phát triển lên chiếm một phần phía tây mỏm đồi 62, thiết lập trận địa. Cùng lúc đó, 10 chiếc trực thăng chở đầy quân đổ xuống mỏm phía tây đồi 62, nơi bọn Mĩ từ Gò Cát lên chiếm giữ. Tính cả 2 lần bọn Mĩ đô quân xuống đồi 62, chúng có mặt tại đây 3 đại đội của tiểu đoàn 1, trung đoàn 5, sư đoàn 3 thủy quân lục chiến Mĩ đóng ở Chu Lai. Bọn Mĩ từ tốp máy tay thứ 2 chưa đặt chân xuống đất, đã bị đại đội 17 cao xạ của trung đoàn 21 quân giải phóng bắn rơi 2 chiếc phản lực và 1 trực thăng chở đầy lính Mĩ. Bọn Mĩ trên đồi 62 phát hiện trận địa cao xạ của đại đội 17 chúng liền phát triển snag bên cánh trái đánh qua. Chúng gặp 2 tiểu đội bảo vệ trận địa cao xạ của ta nổ súng. Một số tên chết, bọn sống sót lùi lại. Khẩu thượng liên của đại đội 17 hạ nòng dập tắt hỏa điểm đại liên của chúng, ngăn chặn được bước tiến của mũi quân Mĩ hướng này.

Trên hướng chủ yếu, đại đội 6 của tiểu đoàn 22 tấn công lên, bị bom pháo và đạn thắng của quân Mĩ từ đồi 62 làm thương vong nặng. Đại đội 6 chỉ còn 8 đồng chí. Trận đánh mới mở màn, nhưng đã vô cùng ác liệt. Gần một trung đội Mĩ đã bị diệt, 8 chiến sĩ còn lại của đại đội 6 không phát triển lên, mà dùng AK và lựu đạn đánh gần, giữ vững phần đồi 62 đã chiếm. Thấy đại đội 6 thương vong, đại đội 5 của tiểu đoàn 22 chia thành 2 mũi: Trung đội 1, do đại đội trưởng chỉ huy, trung đoàn 2 do trung đội trưởng chỉ huy, dũng mãnh tiến lên dươi làn hỏa lực của chính trị viên trưởng đại đội 5 yểm trợ, chi viện. 11 giờ trưa, quân Mĩ núng thế dồn lại, gọi pháo bắn cấp tập vào hướng tấn công của đại đội 5. Đại đội 5 lùi lại tránh pháo trong các công sự. Sau đợt pháo, đại đội 5 tiến hành xung phong đợt 2, chiếm được mỏm đồi phía bắc gom quân Mĩ lại giữa đồi 62. Được khẩu đội cối 82 chi viện, đại đội 5 tiếp tục tấn công đợt 3. Đẩy quân Mĩ lên sát phía tây khu đồi, chiếm 2/3 sườn đồi 62, giữ vững trận địa. ở hướng thứ yếu, tiểu đoàn 33, cho 23 đại đội 10 và 11 theo hướng đông nam tấn công lên. Trận đánh chỉ dừng lại khi trời tối hẳn. Bọn pháo binh tăng cường pháo kích, bọn máy bay C47 bay vòng thả trái sáng cho bọn trực thăng cẩu công sự lên cho đồng bọn trên chóp đồi 62 phòng ngự và bắn đại liên xuống những nơi chúng nghi có quân giải phóng. Cứ như vậy, bọn giặc trời giãn ra, lập tức trận địa pháo Bình Sơn, Trà Bồng, Sơn Tịnh chấu nòng bắn cấp tập vào khu chiến suốt đêm.

Tính ra trong ngày 04/3/1966, các tiểu đoàn 22, 23 của trung đoàn 21 đã đánh lui 10 đợt tấn công của quân Mĩ, diệt tại chỗ 157 tên, bắn rơi 1 máy bay trực thăng và 2 máy bay phản lực. bọn lính Mĩ chết tận nằm phoi xác trên đồi 62 đang được đồng bọn sống sót gom lại chơ tới sáng để bọn chỉ huy cho máy bay đến hốt xác. Sau một ngày thực hiện quyết tâm tiêu diệt bọn địch trên đồi 62, nơi quân Mỹ vẫn còn đang cố bám chốt giữ, ngay trong đêm 04/03/1966, trung đoàn 21 cho chuyển lực lượng sang tập kích uy hiếp quân địch.

Tiểu đoàn 22 nhần lệnh đưa đại đội 7 làm mũi chủ công, cùng quân số của đại đội 5 và đại đội 6 còn lại. Đại đội 7 được tăng cường thêm 2 trung đội, liền tổ chức mũi tấn công chủ yếu từ hướng đông bắc lên đồi 62. Tiểu đoàn 22, tiểu đoàn 11, đưa 2 đại đội 10 và 11 được tăng cường 1 trung đội, hình thành hướng tấn công thứ yếu từ hướng đông nam lên đồi 62, bằng chiến thuật mật tập, nếu quân địch phát hiện thì chuyển sang chiến thuật cường tập, 22 giờ đêm ngày 04/03/1966, sau khi tiếp cận chốt Mĩ trên đồi 62, đại đội 7 dùng lựu đạn, AK diệt địch. Bọn Mĩ đã phòng thủ trước, chúng chống trả quyết liệt, đội hình đại đội bị thương vong phải dừng lại lưng chừng đồi 62.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 09:48:39 PM
4 giờ sáng ngay 05/3/1966, tiểu đoàn 22 nhận lệnh của trung đoàn, tập trung hỏa lực tiến công địch trên đồi 62 và rút quân về thôn Hòa Ninh phòng ngự, còn đại đội và một bộ phận của đại đội 10 gồm 16 đồng chí chia thành 2 mũi: Mũi 1 gồm 11 đồng chí tấn công bên phải, mũi 2 có 5 đồng chí, do đại đội trưởng chỉ huy, tấn công bên trái. Trận địa hỏa lực do chính trị viên trưởng đại đội 7 chỉ huy, bắn áp chế quân địch yểm trợ cho 2 mũi tấn công. Mũi quân cánh, phải phát vòng rộng vào sau đồi 652, tiến lên chiếm địa thế có lợi bắn ác liệt vào quân Mĩ.

7 giờ sáng ngày 05/3/1966, bầu trời tây Sơn Tịnh rung chuyển đạn, bom, pháo của địch. Sau đợt pháo và bom, một  tiểu đoàn ngụy có xe M113 yểm trợ từ Quang Thạnh kéo lên đồn Gò, lục soát thăm dò. Phía tây núi Cà Ti, khoảng 1 tiểu đoàn Mĩ thuộc trung đoàn, sư đoàn 3 thủy quân lục chiến được máy bay đổ xuống, phát triển lên Hòa Ninh. Tiểu đoàn 22 quân giải phóng, còn lại 100 chiến sĩ với 40 thương binh, anh em đều xin được cầm súng chiến đấu đến cùng.

Ở phía đồi 62, sau 4 đợt xung phong, 2 mũi quân của đại đội 7 chiếm được đồi 62, đẩy bọn Mĩ sống sót tụt xuống chân đồi. Lúc đó vừa đúng 10 giờ sáng ngày 05/3/1966. Như vậy, 1 tiểu đoàn Mĩ thuộc trung đoàn 5, sư đoàn 3 thủy quân lục chiến đổ bộ xuống Gò Cát và đồi 62, 8 giờ sáng ngày 04/3/1966, đã bị tiểu đoàn 22 và tiểu đoàn 11 của ta diệt gần hết, chỉ còn lại 30 tên rút chạy về làng Đông Giáp.

11 giờ bọn Mĩ tiếp tục cho 8 trực thăng chở quân đổ xuống phía bên phải trận địa cao xạ của đại đội 17, cùng bọn Mĩ từ Cà Ti kéo xuống, hình thành 2 mũi tấn công vào phía bắc làng Hòa Ninh, trận địa phòng ngự của tiểu đoàn 22.

12 giờ, địch lại cho máy bay ném bom ác liệt vào Hòa Ninh vào cho quân bộ tràn vào đợt thứ 3. Từ 14 giờ, địch cho máy bay trực thăng vũ trang đến bắn rốc két, đại liên, M79 ác liệt xuống trận địa phòng ngự của tiểu đoàn 22, bị trinh sát tiểu đoàn bắn rơi ngay 1 chiếc, tốp máy bay còn lại bốc lên cao rồi chuồn thẳng. Từ 15 giờ đến 17 giờ, bọn Mĩ tổ chức thêm 2 đợt tấn công vào hướng tây nam của làng Hòa Ninh. Các chiến sĩ phòng ngự của tiểu đoàn 2, đợt địch vào thật gần mới đồng loạt dùng AK và lựu đạn tấn công diệt tại chỗ  10 tên. Trong 6 đợt xung phong của quân Mĩ trong ngày 5/3/1966, đã mất gần 200 tên. Sự ngạo mạn của lính thủy đánh bộ Hoa Kì bị đánh gục trước sức tấn công và phản công của lực lượng quân giải phóng, cam chịu thất bại. Những tên sống sót chạy khỏi trận địa tập trung về Chu Lai trong sự hoảng loạn, ngơ ngác.

Trong 2 ngày chiến đấu trung đoàn 21, sư đoàn 2 quân giải phóng Khu 5 đã thực hiện đúng yêu cầu đề ra của chiến dịch: Nổ súng khơi ngòi, lôi kéo, kèm chân và tiêu diệt địch. Kết quả trân này, ta diệt và làm bị thương gàn 800 tên Mĩ, tiêu diệt một tiểu đoàn Mĩ, đánh bại một tiểu đoàn khác, bắn rơi 6 máy bay trực thăng, 2 phản lực, thu 33 súng và nhiều đạn dược và quân trang.

Chiến thắng tây Sơn Tịnh, là chiến thắng của tinh thần chấp hành mệnh lệnh, quyết tâm chiến đấu của cán bộ chiến sĩ trung đoàn 21. Trong điều kiện khó khăn, ác liệt, địch ở thế có lợi, nhưng các đơn vị đều chấp hành nghiêm chỉnh lệnh cấp trên, chiến đấu liên tục 2 ngày 1 đêm với tinh thần hết sức kiên cường dũng cảm, quyết chiến thắng giặc Mĩ, sẵn sàng xả thân vì nhiệm vụ. Tiêu biểu nhất là đại đội 7, tiểu đoàn 22, đại đội 11, tiểu đoàn 33. Tinh thần chiến đấu của bộ đội lúc tiến công cũng như phòng ngự, đều thể hiện tinh thần dũng cảm và kiên cường, thực hiện khẩu hiệu “Còn người còn trận địa”, “Một người một súng cũng tiến công”. Khi đánh chiếm được đồi 62, đại đội 7 chỉ còn một số chiến sĩ. Đại đội trưởng cùng anh em trụ lại chiến đấu ngoan cường. Khi tiến công đồi 62, bằng cách đánh chắc, tiến chắc ở một cự li thích hợp, các chiến sĩ mới đồng loạt xung phong áp đảo và tiêu diệt địch, tránh được sự sát thương từ xa do địch đề kháng. Trong phòng ngự, tiểu đoàn 22 đã thể hiện tinh thần dũng cảm, chờ địch vào thật gần mới đồng loạt nổ súng và ném lựu đạn diệt được nhiều địch. Ta giữ vững được trận địa. Đánh gần là một chiến thuật giữ địch để tránh phi pháo của địch. Vai trò cán bộ phân đội có ý nghĩa quan trọng đối với thắng lợi của 2 ngày và 1 đêm liên tục đối mặt với quân Mi có hỏa lực mạnh, nhưng bị chia cắt và bị dồn vào thế đối phó bị đông, nên chúng bị thất bại nặng nề.

Thắng lợi của chiến dịch tây Sơn Tịnh và chiến thắng đồi 62 là chiến thắng tinh thần mưu trí sáng tạo, thể hiện sức mạnh của một trung đoàn chủ lực ra quân trong tư thế tiến công và chiến thắng. Tinh thần đó, sức mạnh đó đã được phát huy cao độ trong tấn công địch bằng nhiều hình thức tác chiến: Ban ngày phòng chặn địch, vận động tấn công tiêu diệt, ban đêm bám sát, tổ chức tập kích bộ binh hoặc tập kích hỏa lực, tổ chức phục kích sát nơi địch trú quân, để sáng sớm khi địch kéo đi ta tiếp tục đánh. Đánh liên tục tiêu hao, tiêu diệt từng bộ phận của địch, làm cho địch căng thẳng mệt mỏi. Hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng dân quân du kích, bộ đội địa phương và nhân dân trong khu vực tác chiến, làm nhiệm vụ quấy rối, tiêu hao, ngăn chặn địch là một biện pháp tiến hành chiến dịch linh hoạt để lực lượng chủ lực đủ sức tổ chức vận động tiến công tiêu diệt địch giành thắng lợi.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 09:32:54 PM
TIÊU DIỆT TIỂU ĐOÀN THỦY QUÂN LỤC CHIẾN -
CON ÁT CHỦ BÀI CỦA LỰC LƯỢNG TỔNG DỰ BỊ QUÂN ĐỘI NGỤY

Chiến dịch phản công mùa khô lần thứ nhất của liên quân Mĩ - ngụy - chư hầu trên chiến trường Quảng Ngãi đã qua thời gian 60 ngày. Trong suốt thời gian đó, quân và dân Quảng Ngãi đã phối hợp cùng sư đoàn 2 Quân khu 5, đã tiến công và tiêu diệt 3.600 tên địch, có 1.199 tên Mĩ, bắt sống 41 tên, bắn rơi 46 máy bay, phá hủy 27 xe quân sự, thu 232 súng các loại.

Bị đánh đau trên cả 2 cánh nam và bắc Quảng Ngãi, Mĩ - ngụy tiếp tục tổ chức càn quét đánh phá với quy mô lớn hơn vào vùng giải phóng. Đầu tháng 5/1966,, một tiểu đoàn biệt động quân phối hợp với trung đoàn 4, sư đoàn 2 ngụy mở cuộc càn quét vào 2 huyện Nghĩa Hành và Mộ Đức, tiến hành gom dân và lập thêm một số cứ điểm như Cấm Mã Gia, Thi Phổ, Phước Mĩ, Núi Đôi, Phú Sơn, Đức Hiệp… gây khó khăn cho ta trong cơ động lực lượng và vận chuyển lương thực từ vùng đông Mộ Đức lên Nghĩa Hành. Đêm 11/5/1966, đại đội đặc công 506a, được hỏa lực của tiểu đoàn 83 tỉnh phối thuộc tấn công và tiêu diệt hoàn toàn đại đội bảo an đóng tại Gò Cấm, mở thông đường hành lang giữa vùng đông và vùng tây Mộ Đức.

Ngày 17/5/1966, tiểu đoàn 83 phục kích tiêu diệt tiểu đoàn 2, trung đoàn 4 sư đoàn 2 ngụy tại Mỏ Cày. Diệt tại chỗ 300 tên, bắn cháy 15 xe quân sự. Đại đội đặc công 506a tập kích quân Mĩ ở thị trấn Đồng Cát, đại đội 75 huyện Tư Nghĩa diệt 2 trung đội bảo an ở Nghĩa Hiệp. Cũng trong ngày 17/5/1966, 2 đại đội của tiểu đoàn 2, trung đoàn 4 sư đoàn 2 ngụy có xe M113 và 1 đại đội bảo an phối hợp mở cuộc càn quét trên đoạn đường số 1. Tiểu đoàn 83 của ta chọn địa đoạn ở Quán Hồng, phục kích tiêu diệt gọn 2 đại đội, bắn cháy 2 xe M113, bắn bị thương 5 máy bay, diệt tại trận 144 tên, số sống sót bỏ chạy tán loạn. Khi trận đánh diễn ra, bà con ta nấp ở hầm hố trong nhà xem bộ đội đánh giặc, ai nấy hân hoan mỗi khi một toán lính địch bị gìm đầu xuống ruộng. Khi dứt trận tiến công, đồng bào ùa ra cùng bộ đội thu 25 súng bộ binh, 1 M79 chiến lợi phẩm. Như vậy, tiểu đoàn 83 đánh địch trong công sự cũng tốt, ngoài công sự càng hay. Trận đánh này thương vong của tiểu đoàn có cao hơn: 15 chiến sĩ bị thương, 5 chiến sĩ hi sinh. Tỉ lệ địch chết 7 ta thương vong 1.

Sau thắng lợi Quán Hồng, tiểu đoàn 83 hành quân về Hành Thịnh huỵện Nghĩa Hành để củng cố và triển khai đội hình theo phương án chiến đấu mới. Đại đội 1 đóng quân theo địa hình ở xã Mĩ Hưng, đại đội 2 đứng ở Cấm Ông Thi, đại đội 3 bố trí ở Xuân Đình. Đại đội hỏa lực ằm ở Đồng Xuân và chỉ huy sở tiểu đoàn đóng ở Ba Bình. Để không vướng chân, khi cuộc chiến đấu nổ ra, ban chỉ huy tỉnh đội ra lệnh cho tiểu đoàn 83 di chuyển hết thương binh và chiến lợi phẩm cách Hành Thịnh 6km, đồng thời cho thông tuyến điện thoại từ chỉ huy sở tiểu đoàn đến các đại đội để sẵn sàng chỉ huy đánh địch. Một điều kiện thuận lợi, là cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 83 quá quen thuộc với địa hình đi lại trong xã Hành Thịnh nên việc triển khai quân rất nhanh chóng.

Đúng như dự kiến của bna chỉ huy tỉnh đội Quảng Ngãi, quân địch biết lực lượng ta sau khi đánh Gò Cấm và Quán Hồng sẽ rút quân về Hành Thịnh. Sáng ngày 19/5/1966, chúng cho máy bay trinh sát quần lượn khu vực từ Anh Ba đến núi Rú xã Hành thịnh, liền sau đó các trận địa pháo từ Quãng Ngãi, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa dồn dập cấp tập vào các khu vực Xuân Ba, An Ba, Thuận Hóa, Cổ Mít, đèo Quán Thơm, An Chỉ… dọn đường cho máy bay trực thăng đổ quân. Đoán đúng âm mưu của địch, ban chỉ huy tỉnh đội lênh cho tiểu đoàn 83 bám chắc vị trí chiến đấu như kế hoạch đã triển khai. Đồng chí Nguyễn Ngọc Hiệp, tỉnh đội phó, đồng chí Lương Văn Thư, tham mưu trưởng tỉnh đội, đồng chí Trinh tiểu đoàn trưởng, đồng chí Nhãn chính trị viên tiểu đoàn 83 hạ quyết tâm chiến đấu đánh địch. Trong lúc này, đồng chí Hà Văn Trí và tôi được lệnh về trên dự họp tỉnh ủy, trong lúc đi đường chúng tôi nhận được điện báo cáo chiến đấu của tiểu đoàn 83 ở Hành Thịnh. Lập tức tôi và đồng chí Trí hội ý và điện cho các đồng chí trong ban chỉ huy tỉnh đội ở tại chỗ và ban chỉ huy tiểu đoàn 83, thống nhất phương án đánh địch, và tiểu đoàn 83 làm theo chỉ đạo của Ban cán sự và Ban chỉ huy tỉnh đội như sau; Tăng chường cho bộ đội lên chốt núi Ngang, giữ bí mật đến cùng để đánh thắng địch, chú ý mặt bờ nam sông Vệ khi quân địch đột phá vào hướng này, phải cho bộ đội lập tức bịt đường về của chúng và cho bộ đội xuất kích tiêu diệt địch, kiến thiết công sự vững chắc để chống phi pháo của địch. Đúng như dự kiến của tâp thể ban chỉ huy tỉnh đội Quảng Ngãi chúng tôi, địch thiết lập sở chỉ huy hành quân ở núi Vom và cho pháo binh bắn phá ác liệt vào các mục tiêu đóng quân của tiểu đoàn 83. Nhưng nhờ sự phòng trước, bộ đội 83 tránh được thương vong. 8 giờ sáng ngày 20/5/1966, quân địch cho máy bay ném bom ồ ạt xuống trận địa của tiểu đoàn 83. Sau đợt bom, 22 chiếc trực thăng ùa đến đổ tiểu đoàn 5 thủy quân lục chiến (ngụy) xuống trận địa xã Thuần Hòa làm lực lượng chủ yêu tiến công từ hướng tây xuống, chia cắt đội hình tiểu đoàn 83 làm đôi. Trong khi đó trung đoàn 4, của sư đoàn 2 ngụy cho 2 tiểu đoàn; 1 tiểu đoàn đổ xuống Gò Mít từ hướng tây nam đánh qua, 1 tiểu đoàn khác đổ xuống núi Nhà - Núi Rú từ hướng đông nam yểm trợ từ Mộc Đức đánh lên theo đường số 1, ở phía bắc xã Hành Thịnh còn có 2 đại đội bảo an chốt chặn đường qua sông Vệ. Cứ theo cách điều quân của địch, thì ý đồ của chúng là quyết tiêu diệt tiểu đoàn 83 quân giải phóng Quảng Ngãi ngay tại Hành Thịnh.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 09:35:51 PM
Sau khi đổ quân và hình thành vòng vây, 9 giờ ngày 20/5/1966, quân địch đồng loạt tấn công thăm dò. Bọn chúng phát hiện mũi quân hướng tây của tiểu đoàn 83 do đại đội 3 chốt chặn núi Ngang. Đứng trước tình thế địch 5 ta 1 (địch có 5 tiểu đoàn bộ binh + xe tăng + phi cơ + pháo binh), lực lượng ta ở vào thế bị bao vây bốn phía. Nếu không linh hoạt thì chỉ trong vòng 30 phút tiểu đoàn 83 sẽ bị bóp chết. Ngay lúc đó, có đồng chí trong ban chỉ huy tiểu đoàn nêu ý kiến: “Tiểu đoàn đánh bằng cách nào đây để giành thắng lợi”. Trước sự ác liệt và hiện thượng ngại hi sinh đó, một cuộc hội ý chớp nhoáng giữa tỉnh đội phó, tham mưu trưởng tỉnh đội và ban chỉ huy tiểu đoàn 83, tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Trinh phát biểu kiên quyết: “Chỉ có đánh tiêu diệt địch mới giành thắng lợi và mới bảo toàn được lực lượng”. Quyết tâm sắt đá của đồng chí tiểu đoàn trưởng đã củng cố niềm tin và tăng sức chiến đấu cho cả đơn vị. 9 giờ 30 phút, máy bay địch lượn vòng núi Ngang, lập tức ngay loạt đạn đầu đại đội 3 đã bắn rơi 1 máy bay CH47 chở đầy quân địch rớt ngay tại chỗ, toàn bộ quân địch chết cháy theo máy bay. Cùng lúc mũi quân của tiểu đoàn 5 thủy quân lục chiến vừa phát triển đến khu vực nghĩa địa Xuân Đình, Hành Thịnh, lập tức đại đội 3 nổ súng chặn bước tiến của chúng. Diệt tại chỗ 70 tên. Trong số những tên chết, có tên thiếu tá tiểu đoàn trưởng. Bị đánh bất ngờ và bị thiệt hại nặng, bọn thủy quân lục chiến dừng lại không dám tấn công nữa. Lúc này, đài kĩ thuật của ta bắt được sóng điện của địch báo cáo về cấp trên của chúng: “Tiến công vào làng gặp đối phương chống trả rất mạnh, khả năng chiếm làng rất khó, yêu cầu cho máy bay trực thăng đưa thương, tử binh ra khỏi trận địa”. Ban chỉ huy tỉnh đội và Ban chỉ huy tiểu đoàn 83 nắm được thiệt hại của địch và tinh thần hoang mang của chúng, liên quyết định hạ lệnh cho cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn, đặc biệt là đại đội 3 ở hướng núi Ngang: “Kiên quyết diệt cho được cánh quân địch từ Thuận Hòa xuống”. Tin chiến thắng đợt đầu được phổ biến ngay cho toàn đơn vị. Đúng trưa, trong tiếng pháo và tiếng bom nổ rền trời Hành Thịnh, lợi dụng lúc chưa có quân bộ tấn công, bà con Hành Thịnh mang cơm ra tận chiến hào cho bộ đội ăn no chuẩn bị đánh địch tấn công buổi chiều.

Lợi dụng thời cơ, tạo thế ở hướng núi Ngang, tiểu đoàn trưởng 83 hạ lệnh cho đại đội 3 lùi đội hình ra bờ sông Vệ, súng lắp lưỡi lê, nghi trang chiến hào, đợi địch lướt qua dùng lựu đạn từ phía sau đánh thốc vào lưng quân địch. Các đại đội 1, đại đội 2 cũng nhận lệnh chuyển đội hình sẵn sàng xuất kích với đại đội 3. Các đại đội làm theo đúng kế hoạch. Tiểu đoàn 83 từ thế bất lợi chuyển thành có lợi. Toàn bộ tiểu đoàn 5 thủy quân lục chiến ngụy đã lọt thẳng vào trận địa bày sẵn của tiểu đoàn 83. Tiểu đoàn trưởng Phạm Văn Trinh cầm máy điện thoại ra lệnh cho các đại đội: “Toàn đơn vị xuất kích tiêu diệt địch. Xung phong!”. Lập tức 63 trung đội của đại đội 3, thành 3 lưỡi dao nhọn bật dậy đâm thẳng vào lưng quân địch. Toàn bộ quân địch lúng túng quay lại chống cự. Ngay lúc đó, đại đội 1 từ phía trước đánh thẳng vào hướng chính diện đội hình địch cắt chúng ra thanh mũi. Đội hình tiểu đoàn 5 thủy quân lục chiến ngụy hoàn toàn rối loạn không kịp nổ một phát súng nào, mạnh tên nào tên đó bỏ chạy thoát thân. Đại đội 2 của ta từ phía nam xuất kích đánh qua cánh đồng trống, gom bọn địch tháo chạy lại để tiêu diệt. Trong vòng chưa trọn một tiếng đồng hồ, tiểu đoàn 5 thủy quân lục chiến bị băm nát trước sức tấn công áp đảo của tiểu đoàn 83 quân giải phóng Quảng Ngãi. Sở chỉ huy hành quân của địch đứng tại núi Vom và các cánh quân khác của trung đoàn 4, biết được tiểu đoàn 5 thủy quân lục chiến - con ách chủ bài của cuộc hành quân đã bị “Việt cộng” tiêu diệt. Các cánh quân của trung đoàn 4 ngụy đành đứng tại chỗ không dám phát triển tân công. Lúc này máy bay địch cũng không phát huy được tác dụng. Lợi dụng khoảng thời gian đó, các đại đội thu dọn chiến lợi phẩm và trở về đội hình tác chiến.

Vào lúc 14h 30 phút, cánh quân của trung đoàn 4 ở núi Rú có xe tăng yểm trợ từ hướng đông nam tiến lên nhằm ứng cứu cho bọn thủy quân lục chiến. Chúng tưởng đồng bọn còn sống, vì điện đài của chúng không bắt được liên lạc. Mũi quân này không dám tiến ồ ạt mà lò dò từng ước. Trong khi đó, đại đội 4 của tiểu đoàn 83 sẵn sàng các cỡ súng bắn xe tăng, bắn bộ binh cũng “rê” theo đội hình chờ húng đến gần đồng lọt nổ súng. Lúc này máy bay địch nhào lộn ném bom xuống đội hình bọn thủy quân lục chiến bị ta tiêu diệt buổi sáng. Hết bom rồi lại pháo, hết pháo rồi lại rốc két từ máy bay bắn cấp tập vào trận địa của tiểu đoàn 83. 16 giờ, các đại đội xuất kích thu dọn chiến trường, thì cánh quân của trung đoàn 4 từ Gò Mít có 22 xe tăng yểm trợ từ hướng Mĩ Đức theo đường số 4 đánh qua. Bình tĩnh đợi địch vào đúng tầm xạ kích, đại đội trưởng Huấn chỉ huy khẩu đội DKZ 57 và 3 khẩu B40 bất ngờ nổ chính xác vào 4 xe tăng, bốc cháy, cả đội hình xe tăng địch rối loạn, bi chúng tháo chạy. Bọn xe tăng và quân bộ của địch dãn ra. Máy bay và pháo binh lại cấp tập vào khu chiến.

Trận đánh diễn ra từ 8 giờ sáng đến chiều tối thì kết thúc. Toàn bộ tiểu đoàn 5 thủy quân lục chiến (Lực lượng tổng dự bị của quân ngụy Sài Gòn) đã bị tiểu đoàn 83 quân giải phóng Quảng Ngãi tiêu diệt hoàn toàn, 500 xác giặc ngụy cùng với xác của 8 tên cố vấn Mĩ nằm phơi đen trên các cánh đồng Hành Thịnh. Ta bắt sống 2 tên sĩ quan, thu được 100 súng nguyên vẹn (Số súng còn lại do pháo và bom địch làm hư hỏng), bắn roi máy bay CH47 chở đây quân địch, bắn cháy 4 xe M113.

Chiến thắng Hành Thịnh thể hiện sự trưởng thành về ý chí và quyết tâm, sự dũng cảm vô song của cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn 83 quân giải phóng Quảng Ngãi. Chiến thắng Hành Thịnh còn là chiến thắng của tinh thần mưu trí, táo bạo, linh hoạt, quyết đoán của tập thể ban chỉ huy, sự phối hợp giữa các lực lượng cách mạng trên địa bàn xã Hành Thịnh, sự chuẩn bị chu đáo về địa hình khu chiến. Cuộc đọ sức diễn ra quyết liệt giữ 1 tiểu đoàn quân giải phóng với tiểu đoàn 5 thủy quân lục chiến diễn ra ác liệt nhưng cuối cùng thắng lợi đã thuộc về nhân dân. Chiến thắng Hành Thịnh còn thể hiện tình quân dân gắn bó, đồng cam cộng khổ, chia xẻ ác liệt cũng như niềm vui chiến thắng của nhân dân xã Hành Thịnh. Không có nhân dân hết lòng giúp đỡ thì bộ đội cũng gặp không ít khó khăn trên trận địa ác liệt này.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 09:36:55 PM
TIÊU DIỆT CỨ ĐIỂM GÒ SỎI

Không dừng lại ở thắng lợi đạt được, các lực lượng vũ trang Quảng Ngãi liên tục tấn công quân địch trên toàn chiến trường. Ngày 10//1966, tiểu đoàn 48 được lệnh hành quân về Bình Sơn huấn luyện bộ đội và điều tra nghiên cứu tập kích tiêu diệt cứ điểm Gò Sỏi.

Gò Sỏi là một điểm cao chiến thuật án ngữ phía tây nam căn cứ Chu Lai. Đây có thể xem là một Núi Thành thứ hai ở phía tây nam huyện Bình Sơn. Cứ điểm này có nhiệm vụ kiểm soát hành lang, khống chế hoạt động của các lực lượng cách mạng ở các xã quanh căn cứ Chu Lai. Gò Sỏi khác với Núi Thành ở chỗ đồng thời là một cứ điểm phòng ngự, vừa là địa điểm tập kết, xuất phát càn quét của quân Mĩ. Diệt được Gò Sỏi sẽ mở rộng hành lang phía tây nam Binh Sơn, uy hiếp trực tiếp căn cứ Chu Lai.

Đêm 15/7/1966, khi các mũi tiến công của tiểu đoàn 48 kiểm tra quân địch ở Gò Sỏi lần cuối cùng, trinh sát tiếp cận, phát hiện trong Gò Sỏi không phải có một đại đội Mĩ là mà một tiểu đoàn như khi đi chuẩn bị lần trước. Bọn chúng đóng dầy đặc ở 3 khu trong cứ điểm, có xe M113 và cơ giới gắn sơn pháo 75mm sẵn sàng nhả đạn. Trước tình huống đó, Đảng ủy và Ban chỉ huy tiểu đoàn 48 hội ý, nhận định tình hình và hạ quyết tâm tấn công Gò Sỏi. 24 giờ đêm, các mũi tấn công áp sát hàng rào cứ điểm. Mệnh lệnh nổ súng phát ra. Hỏa lực của tiểu đoàn tập trung vào các mục tiêu đóng quân của địch trong cứ điểm. Tiếng nỏ từ những quả đạn thấm mồ hôi và công sức của đồng bào hậu phương và những chiến sĩ vận tải, băm nát tiếp điểm phòng thủ của quân địch, làm ổ đề kháng của địch tê liệt không phản ứng được. Hỏa lực vừa chuyển làn, đại đội 1 do đại đội trưởng Võ Hữu Thọ, chỉ huy từ hướng tây nam tấn công cắt ngang cứ điểm Gò Sỏi xé đôi lực lượng bọn Mĩ ra; Đại đội 2 do Phạm Văn Mến chỉ huy chia thành 3 mũi từ hướng tây bắc đánh thẳng vào sở chỉ huy, mũi 2 chiếm trận địa cối 106,7mm, mũi 3 chiếm bãi xe tăng. Đại đội 3 do Ngô Đức Tân chỉ huy, sau 10 phút trận địa nổ súng, liền được tung và trận cùng hai đại đội 1 và 2 tấn công bọn Mĩ nhưng chúng vẫn ngoan cố. Một số tên sống sót chống trả quyết liệt. Trận địa pháo của địch ở Bình Sơn, Chu Lai bắn vào cứ điểm Gò Sỏi gây thương vong một số chiến sĩ. Các mũi tấn công bình tĩnh tránh pháo và tiêu diệt quân địch, phá hủy 4 xe quân sự, hai xe M113, thu súng cối 81mm, phá hủy trận địa súng cối 106,7mm của địch và lui quân đưa được các chiến sĩ hi sinh và bị thương ra khỏi trận địa. Cứ điểm Gò Sỏi tiếp tục bị pháo địch công phá, giết thêm một số tên Mĩ bị thương, và bắn chặn các ngả đường chúng nghi quân ta rút lui. Những quả đạn đó đã trúng vào đội hình phục kích của bọn bảo an Bình Sơn làm 15 tên chết.

Trận Gò Sỏi ghi thêm một chiến công mới trong cuốn sổ vàng truyền thống của lực lượng vũ trang Quảng Ngãi. Như vậy, cả hai tiểu đoàn 48 và 83 bộ đội địa phương Quảng Ngãi đều đạt hiệu suất chiến đấu cao, đều tiêu diệt tiểu đoàn ngụy và tiêu diệt gần hết tiểu đoàn Mĩ.

Thua đau, nhưng quân Mĩ không biết dè chừng mà nuôi tham vọng đè bẹp quân giải phóng trên chiến trường Quảng Ngãi. Ngày 28/8/1966, bộ đội chỉ huy liên quân Mĩ - ngụy ở miền Nam điều lữ đoàn Thanh Long (Rồng Xanh) Nam Triều Tiên, một loại lính chư hầu đánh thuê khét tiếng tàn ác vào đóng tại huyện Bình Sơn, nâng tổng số quân Mĩ và chư hầu lên 12.000 tên. Trên chiến trường Quảng Ngãi lúc này, nếu tính cả Bộ Tư lệnh sư đoàn 2 ngụy toàn bộ trung đoàn 4 với 4 tiểu đoàn, 2 tiểu đoàn của trung đoàn 6, 25 đại đội bảo an, 17 đại đội đặc biệt, 16 trung đội nghĩa quân (dân vệ), 1.000 cảnh sát, 1 chi đoàn thiết giáp, 17 đoàn bình định nông thôn, 1 đại đội hải thuyền (Duyên đoàn 6 đóng ở thôn Cổ Lũy) thì toàn bộ lực lượng địch trên đất Quảng Ngãi tăng gấp 6 lần so với năm 1965. Có nơi như Bình Sơn, 8 người dân có một tên lính. Các sắc lính tràn ngập, gây ra biết bao khó khăn,gian khổ cho nhân dân không thể nào kể xiết.

Cùng với quân đông và vũ khí nhiều, quân địch tiến hành xây dựng sân bay Gò Hội, khu hậu cần Phổ Vinh, nâng tổng số cứ điểm đồn bót ở Quảng Ngãi lên 124 đơn vị, gồm 19 cứ điểm quân Mĩ, 17 cứ điểm Nam Triều Tiên, 89 cứ điểm quân ngụy.

Sau 2 tháng xây dựng cứ điểm phòng ngự và tung quân càn quét, bọn lữ đoàn Rồng Xanh (Nam Triều Tiên) liên tục tàn sát đồng bào ta ở Bình Sơn, Sơn Tịnh, xúc tát dân ở 3 huyện Đức Phổ, Ba Tơ, Nghĩa Hành vào khu tập trung, nối lại giao thông trên quốc lộ 1 từ thị xã Quảng Ngãi đi Thạch Trụ, xây dựng đường Vinh Hiển lên cao điểm 128 Đức Phổ; đường Tân Khánh đi Mộ Đức; đường Động Bằng đi Đá Dựng - Bình Sơn. Quân của lữ đoàn Rồng xanh (Nam Triều Tiên) mở đợt thảm sát nhân dân Quảng Ngãi. Ở Bình Thanh chúng giết 30 gia đình, ở Bình Đông chúng giết hàng chục gia đình, ở các xã Tịnh Minh, Tịnh Hiệp, Tịnh Sơn (Sơn Tịnh), Khánh Giang), Nghĩa Hành chúng đã giết hàng trăm đồng bào ta. Trong 2 ngày 5 và 6 tháng 8 năm 1966, chúng cho pháo binh từ Bình Liên bắn cấp tập vào xã Bình Hòa, khi pháo ngưng bắn, hàng loạt máy bay trực thăng CH47chở bọn lính Nam Triều Tiên ồ ạt đổ quân chiếm các ngọn đồi quanh xã rồi chia nhiều mũi tấn công vào các thôn Nam Yên, An Phước, Lạc Son. Chúng đốt nhà giết trâu bò, hãm hiếp phụ nữ. Người nào chống đối chúng đâm lưỡi lê vào bụng moi gan, cắt đầu, ném xác vào lửa đỏ. Chúng lùa hết dân ra đồng, rồi dùng súng đại liên bắn xối xả vào bà con, tàn sát một lúc 400 người vô tội, gồm đàn bà, người già và trẻ con. Lửa cháy ngút trời, xác người phơi đầy đường đầy ngõ. Một quang cảnh tàn khốc do bọn lính Nam Triều Tiên gây ra bao tang tóc lên xã Bình Hòa. Tội ác của chúng thật trời không dung đất không tha. Vụ thảm sát dã man nay đã làm đồng bào cả nước xúc động cao độ.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 09:38:46 PM
Trong bức thư huyết lệ của Hội phụ nữ Bình Hòa gửi lực lượng chủ trương Quảng Ngãi, các chị đã viết: “Chúng tôi những người phụ nữ chân yếu tay mềm, khẩn thiết kêu gọi Quân giải phóng Quảng Ngãi hãy nổ súng vào đầu bọn lính đánh thuê Nam Triều Tiên để trả thù cho đồng bào ruột thịt của chúng ta bị chúng sát hại”.

Có nhà thơ đã thốt lên:

“Khăn thang điểm trắng trời chiều
Bao nhiêu đồi núi bấy nhiêu căm hờn”

Và trong lời hiệu triều gởi các lực lượng vũ trang giải phóng, Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ Quảng Ngãi đã viết: “Các đồng chí trong lực lượng vũ trang và bán vũ trang cách mạng hãy trút hết căm hờn lên lưỡi lê đầu súng, tới tấp tấn công quân địch, tiêu diệt nhiều giặc Mĩ và bọn lính đánh thuê Nam Triều Tiên để trả thù cho đồng bào Bình Hòa, Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Đức Phổ (Quảng Ngãi) Thủ Bồ, La Thọ (Quảng Nam) và những nơi khác trên toàn miền Nam đã bị bọn chúng sát hại”.

Nghe theo lời hiệu triệu của Đảng bộ và bức thư Hội phu nữ Bình Hòa các lực lượng vũ trang giải phóng Quảng Ngãi đã thét vang lời thề: “Nợ máu, ta bắt chúng phải trả bằng máu, hãy xé xác Rồng Xanh, phanh thây Mãnh Hồ”. Lời thề ấy đã được các lực lượng vũ trang và nhân dân Quảng Ngãi khắc cốt ghi xương. Những buổi lễ khai tử “Rồng Xanh”, “Mãnh Hổ” nổ ra liên tục, khí thế như nước sôi lửa bỏng.

Chủ trương và phương châm của chúng ta là phải đánh tiêu diệt thật nhiều bọn lính Nam Triều Tiên để trả thù cho đồng bào Bình Hòa bị chúng sát hại; đồng thời phải diệt một số cứ điểm phía nam để căng kéo địch ra, bao vây và tấn công liên tục làm cho tinh thần quân địch hao tổn, lực lượng bị tiêu tán, và hậu phương của chúng mất ổn định để giành thắng lợi. Trong khi tiểu đoàn 48 tác chiến ở phía bắc tỉnh Quảng Ngãi, ban chỉ huy tinh đội lệnh cho tiểu đoàn 83 ở phía nam điều tra nghiên cứu đánh diệt cứ điểm núi Giàng.

Núi Giàng nằm trên độ cao 100m so với mặt biển, thuộc địa phận xã Phổ Minh, do một đại đội bảo an chốt giữ trên đỉnh núi cao. Cứ điểm núi Giang có công sự, rào thép gai kiên cố, phía dưới chân núi bọn dân vệ đóng quanh như một vành móng ngựa. Con đường độc đạo dẫn lên núi Giàng bắt đầu từ đường số 1 thuộc xã Phổ Thuận. Núi Giàng là cứ điểm khống chế một vùng rộng lớn 5 xã: Từ Phổ Minh, Phổ Vân, Phổ Quang ra đến Phổ An, làm nhiệm vụ bảo vệ chi khu Đức Phổ. Từ trên núi Giàng, mắt thường có thể quan sát được toàn bộ xã Phổ Thuận. Do đặc điểm bố phòng của quân địch kiên cố và có ưu thế về địa hình nên việc trinh sát thực địa vô cùng khó khăn. Trước khi đoàn cán bộ đi nghiên cứu thực địa, ban chỉ huy tỉnh đội do bộ đội đắp sa bàn núi Giàng, để sẵn sàng có phương án bổ sung các mũi sau khi trinh sát trở về, quan sát kĩ thấy tình hình tiếp cận cứ điểm Núi Giàng, là rất khó khăn không có sự giúp đỡ của nhân dân.Ban chỉ huy tỉnh đội có sáng kiến vận động cơ sở địa phương tổ chức một đám cưới giả, “rước dâu” đi vòng qua căn cứ núi Giàng, chụp ảnh tìm hướng tiếp cận. trong lễ rước dâu này, có tỉnh đội trưởng, chính trị viên tỉnh đội các đơn vị phối thuộc đều mặc áo dài đen, đội khăn đóng, lận vũ khí bên trong đi trinh sát thực địa. Đoàn “rước dâu” đi ngang cách núi Giàng 300m, và trở về điểm xuất phát an toàn. Sau khi xác định đường đi nước bước chắc chắn, 19 giờ tối, đoàn cán bộ do ban chỉ huy tỉnh đội chỉ huy, tiếp cận hàng rào cứ điểm núi Giàng, bọn địch ỷ lại đã có nhiều vòng quân đóng giữ vây quanh, nên chúng không hề hay biết quân giải phóng đã vào điểm huyệt chúng. Sa bàn giả định được bổ sung mũi hướng. Và đợt học tập tiến công giả định được tiến hành. Các mục tiêu núi Giàng được trinh sát tiếp cận theo dõi cả ngày lẫn đêm. Từng mũi quân được phân công theo sa bàn, đêm đến tiến hành “tìm nhập”. Trong trận đánh này, tỉnh đội Quảng Ngãi sử dụng tiểu đoàn 83 bộ binh, đại đội đặc công 506a và các đơn vị gồm: Thông tin, trinh sát, hậu cần hợp đồng chiến đấu với quân số khoảng 500 người. Đúng giờ G ngày 12/9/1966 điểm hỏa làm lệnh cho đặc công trên núi Giàng nổ, tỏa ánh sáng xuống cứ điểm địch quanh chân núi Giàng. Lập tức bộ phận đột sâu và bộ binh chiếm lĩnh nổ súng xung phong. Sau 15 phút, đơn vị 506A và tiểu đoàn 83 đã diệt đại đội bảo an địch, đánh chiếm tận địa pháo 105mm và dùng 2 khẩu pháo thu được bắn hết 200 trái đạn vào chi khu quận lị Đức Phổ… Lúc này các mũi đã hoàn thành nhiệm vụ, được lệnh thu dọn chiến trường trở về làm nhiệm vụ sau chiến đấu. Một trận đánh chuẩn bị công phu, nên thắng nhanh và gọn, tránh được tổn thất cho bộ đội và đồng bào ta.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 09:39:52 PM
Ngày 29/01/1967, tiểu đoàn 48 quân giải phóng Quảng Ngãi diệt 1 đại đội lính đánh thuê Nam Triều Tiên tại Phổ Tinh, Bình Phước diệt 120 tên, thu 2 súng cối 60mm, 2 đại liên, 5 trung liên. Đến ngày 01/02/1967, tiếp tục diệt 200 tên lính đánh thuê Nam Triều Tiên đi càn quét ở Tịnh Kì và Đồng Xuân thu 40 súng.

Ngày 15/02/1967, bộ đội chủ lực Quân khu 5 tập kích tiêu diệt bọn lính đánh thuê Nam Triều Tiên, đóng tại đồi tranh Quang Thạnh, diệt 420 tên. Đây là trận đánh mạnh, đánh trúng đầu bọn đánh thuê Nam Triều Tiên, tiêu diệt bọn chúng nhiều nhất trên chiến trường Quảng Ngãi. Cùng thời gian này tiểu đoàn 48 diệt tiếp 1 đại đội Nam Triều Tiên tại Mã Tổ.

Sau những đòn trừng trị của quân giải phóng Quảng Ngãi, bọn lính đánh thuê Nam Triều Tiên hoang mang, dao động, lo sợ, rối loạn tinh thần. Tại Bình Định, một toán 7 tên lính Nam Triều Tiên dùng lựu đạn tự sát tập thể và một số bỏ mũ, bỏ lon mang súng vào khu vực Thế Long, Thế Lợi tìm du kích xin đầu hàng. Sấm sét căm thù của quân giải phóng Quảng Ngãi tiếp tục giáng lên đầu quân Mĩ - ngụy. Đêm 18/3/1967, đại đội 506a do Tỉnh đội phó Nguyễn Ngọc Hiệp chỉ huy đã nổ súng tấn công tiêu diệt đại đội bảo an số 425 tại Đá Heo.

Thực hiện chủ trương của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Tỉnh ủy Quảng Ngãi đã chỉ đạo các lực lượng vũ trang của Tỉnh “Đẩy mạnh tác chiến, tiêu diệt chiến đoàn, trung đoàn, lữ đoàn Mĩ - ngụy - chư hầu, đồng thời đẩy chiến tranh vào vùng ven, thị xã làm cho hậu phương của địch rối loạn, tạo điều kiện cho phong trào thành thị phong trào cở tiến công và khởi nghĩa ở đô thị khi có thời cơ”. Ngay sau đó, tỉnh đội Quảng Ngãi cho tiểu đoàn 20 và tiểu đoàn 107 hỏa lực của tỉnh, cùng lực lượng vũ trang huyện Sơn Hà đánh bại cuộc càn quét lớn của sư đoàn không vận số 1 của Mĩ tại Sông Re (H’re). Quân địch cho máy bay trực thăng ồ ạt đổ quân, đúng tầm cao xạ của tiểu đoàn 107 phát huy tác dụng, bắn rơi 35 máy bay trực thăng, diệt 1 đại đội Mĩ, 40 biệt kích ngụy.

Ngày 06/8/1967, các đơn vị của tỉnh đội Quảng Ngãi (506a, đại đội 21, tiểu đoàn 48) đồng loạt tiến công tiêu diệt Duyên đoàn 16 Hải thuyền, diệt 120 tên, bắt sống viên đại úy chỉ huy, thu toàn bộ vũ khí quân trang quân dụng, bắn cháy 4 ca nô.

Phát huy thắng lợi, đêm 30/8/1967, các lực lượng vũ trang giải phóng Quảng Ngãi đồng loạt tấn công 30 mục tiêu trong tỉnh Quảng Ngãi, có 18 mục tiêu ở thị xã, diệt 200 tên, mở nhà lao giải phóng cho 2 ngàn chiến sĩ cách mạng và đồng bào bị địch bắt cầm tù ở lao Quảng Ngãi. Tiếng súng hợp đồng của các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Mộ Đức… đã hỗ trợ cho 75.000 đồng bào nổi dậy phá ấp chiến lược trở về làng cũ làm ăn, xây dựng vùng giải phóng, đóng góp sức người, sức của cho cách mạng.

Trong những tháng cuối năm 1967, quần chúng cách mạng các huyện Nghĩa Hành, Mộ Đức xuống đường đấu tranh nhập thị đòi quyền dân sinh dân chủ, chống chế độ độc tài Mĩ - Thiệu, chống địch bắn phá vào làng… Trước sức đấu tranh và thắng lợi của quần chúng và lực lượng vũ trang Quảng Ngãi, cùng sự tuyên truyền vận động của hoạt động binh vận, hàng trăm lính ngụy bỏ súng quay về với nhân dân. Một số lính đánh thuê Nam Triều Tiên, lính Mĩ phản chiến hoặc ra hàng quân giải phóng.

Từ mùa khô năm 1967 cho đến thu đông 1967, lực lượng vũ trang giải phóng Quảng Ngãi đã loại khỏi vòng chiến đấu 10.000 tên địch, có 3.600 tên Mĩ, 800 lính Nam Triều Tiên, thu 450 súng các loại, phá hủy 118 xe quân sự, xe M113, bắn cháy 46 máy bay trực thăng, phá banh 46 ấp chiến lược, giải phóng hàng vạn đồng bào trở về quê cũ làm ăn.

Qua 2 năm đọ sức với quân viễn chinh Mĩ - ngụy, chư hầu, quân và dân Quảng Ngãi đã trải qua những thử thách vô cùng ác liệt, đầy hi sinh gian khổ và giành thắng lợi vẻ vang, đẩy ngụy quân ngụy quyền vào thế bị động về nhiều mặt. Thắng lợi đó là động lực thúc đẩy quân và dân Quảng Ngãi tiến lên đánh bại các cuộc càn quét trong chiến dịch mùa khô thứ hai của đế quốc Mĩ, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc tấn công và nổi dậy đồng loạt mùa xuân 1968.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 09:41:30 PM
Hai năm trên chiến trường Quảng Ngãi, tôi muốn giành tất cả tâm tư, tình cảm sâu nặng của tôi để tâm sự, tỏ bày về những suy nghĩ tận đáy lòng tôi với bà con Quảng Ngãi, với đồng đội và Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi, một tập thể tiên phong đã lãnh đạo lực lượng vũ trang giải phóng Quảng Ngãi lập nên những chiến công trong thời khắc lịch sử quan trọng lúc bấy giờ.

Quảng Ngãi, một vùng đất của miền Trung nằm trên tuyến đường xuyên Việt, có diện tích gần 6.000km2. Phía nam giáp tỉnh Bình Định, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam số dân gần 1 triệu người, 90% dân số sống ở 6 huyện đồng bằng và 10% dân số của 5 dân tộc anh em sống ở 4 huyện miền núi là Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ. Địa hình 4 huyện miền núi nối liền với dãy Trường Sơn hùng vĩ, là tấm lá chăn trong thế trận chiến tranh, ngăn địch từ dưới đánh lên, đồng thời cản địch từ Tây Nguyên tràn xuống để giữ lấy vùng đồng bằng phì nhiêu. Dù người Kinh hay người Thượng sinh sống trên đất Quảng Ngãi đều biểu hiện một nét đặc trưng rất Quảng Ngãi, đó là:

Chất phác, thật thà, trung hiếu, nghĩa khí, làm việc gì cũng đến nơi đến chốn. Đối với Đảng thì trung thành tin tưởng, kính yêu lãnh tụ, thương mến đùm bọc chở che cán bộ, bộ đội. Đối với bà con làng xóm, quê hương thì chắt chiu xây dựng chia sẻ ngọt bùi. Khi đã tin ai, thì gởi cả tấm lòng của mình cho người đó, khi đã giận ai thì nói thẳng, nói rồi thì thôi, không để bụng. Có lẽ đặc trưng ấy là bản chất của một cộng đồng người, lưng tựa vào Trường Sơn, ngực ưỡn ra biển cả, đấu tranh và chịu đựng với thiên nhiên để lao động và tồn tại, giữ gìn bản sắc và truyền thống kiên cường và mẫn cảm trước những biến động của đất nước, quê hương không ngại hi sinh gian khổ. Cấu trúc của địa lí, thiên nhiên đã tạo ra sự ngay thẳng cho những tấm lòng, cá tính của con người “ruột để ngoài da”.

Trong cuộc đời cách mạng của mình, tôi may mắn được ở và công tác tại nơi lâu nhất đó là 5 năm ở Tây Nguyên, 2 năm ở Quảng Ngãi. Sự gắn bó của tôi trước hết với vùng đất đó là nhân dân “Nhân dân chính là cội nguồn của sức mạnh. Nhân dân chính là hiện thân của chiến thắng”. Tôi được cấp trên phân công về cùng các đồng chí ở đây lãnh đạo công tác quân sự địa phương ở Quảng Ngãi trong những giai đoạn toàn chiến trường miền Nam đi vào thời kì ác liệt nhất. Chiến trường Quảng Ngãi, nơi tôi và đồng đội của tôi đối đầu với một kẻ thù hung hăng và tàn bạo, có nơi như huyện Binh Sơn số quân Mĩ - ngụy và chư hầu lên đến 12.000 tên. Bình quân 8 người dân có một tên lính kiểm soát. Nhưng nơi đây là một trong những nơi đã khai sinh một cụm từ mới của chiến tranh “Vành đai diệt Mĩ” một nơi hết sức ác liệt mà cũng là nơi vô cùng anh em.

Phía nam tỉnh Quảng Ngãi có huyện Đức Phổ địa đầu của trận càn “Diều hâu đôi” của Mĩ - ngụy, cũng là nơi “Diều hâu đôi gãy cánh”, nơi nổi danh 31 dũng sĩ trong một ngày chiến đấu đã diệt 106 tên Mĩ.

Trong hoàn cảnh bom đạn ngút trời, ngày đêm không có một giờ yên tĩnh, ác liệt hòa trộn máu đồng bào, đồng chí, mỗi chiến công làm nên bằng sự hi sinh, mất mát của bao anh em, đồng đội, đồng bào. Cán bộ, đảng viên nằm vùng đều được nhân dân nuôi nấng và bảo vệ, lòng dân làm nên thế trận chở che cho chúng tô tồn tại để chiến đấu.

Hai năm chúng tôi làm nên chiến thắng trên chiến trường Quảng Ngãi đó chính là thắng lợi của nhân dân.

Tôi còn nhớ trong trận đánh tiêu diệt tiểu đoàn 5 thủy quân lục chiến ngụy ở Hành Thịnh, tiểu đoàn 83 quân giải phóng Quảng Ngãi bị giặc vây bốn bề, bộ đội chiến đấu dài ngày không còn lương thực, nhân dân bị giặc vây lùng tưởng đã kiệt đường sinh kế. Thế mà, nhân dân đã đem cả những ang lúa giống, hạt đậu giống, trái bí giống, xay giã nấu cơm làm ra thực phẩm tiếp tế cho bộ đội ăn no đánh giặc, trong lúc bà con lãnh phần thiếu thốn về mình. Sức mạnh của quyết tâm tiêu diệt hoàn toàn tiểu đoàn 5 thủy quân lục chiến ngụy, con chủ bài của lực lượng tổng dự bị của quân đội Sài Gòn, làm nên một chiến công chói lọi trong lịch sử đánh giặc của lực lượng vũ trang Quảng Ngãi, đáp lại sự hi sinh và tấm lòng trời biển của đồng bào.

Tôi không sao quên được lòng dân của bốn xã vùng đông huyện Đức Phổ: Phổ Minh, Phổ Quang, Phổ An, Phổ Vinh đã giúp đỡ cho tiểu đoàn 83 và đại đội đặc công 506A trong trận đánh núi Giàng thắng lợi. Khi chiến thắng trở về hậu cứ, đội hình đơn vị đông khó bảo đảm an toàn, lại mang theo trong đội hình 24 thương binh đưa về bệnh viện tuyến sau, nhưng chưa vượt qua đường, thì bà con đã đồng lòng đón nhận anh em thương binh về nuôi dưỡng chữa lành vết thương mới trả về đơn vị. Việc làm của đồng bào 4 xã lúc đó là nhận gánh nặng nguy hiểm về mình để cho đơn vị rảnh tay chiến đấu. Ơn ấy, nghĩa ấy, làm sao các chiến sĩ con em của nhân dân quên được!


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 09:42:43 PM
Quảng Ngãi là một trong những nơi mà công tác vận động binh lính địch trở về với gia đình, với nhân dân được các tộc họ quan tâm đúng mức. Vai trò họ hàng, tông phái ở đây được phát huy từ truyền thống yêu nước, những tộc họ nào có người đi lính cho địch đều do tộc họ đó vận động con em họ trở về. Cái sâu rộng của chiến tranh nhân dân ở Quảng Ngãi là một cuộc chiến tranh được mọi người, mọi giới, mọi tầng dân chúng cùng tham gia lo cho mục đích tối trọng là đánh giặc, giành thắng lợi cho quê hương, cho dân tộc, giải phóng khỏi ách xâm lược của giặc Mĩ.

Tôi được biết ở thôn Nga Mân có gia đình cụm T M gồm 5 người, chồng đi tập kết, cụ bà ở nhà lo nuôi dưỡng 4 con nên người. Khi khôn lớn cụ đưa 2 con trai vào bộ đội cách mạng đã chiến đấu dũng cảm và nhiều lần bị thương, thuộc thương binh loại nặng, một người đã thành sĩ quan cao cấp trong quân đội, một người trở thành cán bộ của Đảng, 2 người con gái hiền thục nết na được cách mạng đào tạo trở thành cán bộ lăn lộn hoạt động trong lòng địch trưởng thành cho đến ngày giải phóng. Cả 6 người trong gia đình cụ T M đều là đảng viên Cộng sản, đều trưởng thành qua chiến đấu và công tác.

Trong những dòng cuối của hồi ức này tôi cũng xin dành tình cảm thiết tha cho đồng đội của tôi. Những con người đã cùng tôi gắn bó chia sẻ từng nỗi lo, từng ý tưởng, từng niềm vui trong chiến đấu trên chiến trường Quảng Ngãi trong giai đoạn cực kì ác liệt, gian khổ và hi sinh ấy.

Sau chiến thắng Hành Thịnh, tôi muốn nói lời khen ngợi đồng chí Phạm Văn Trinh (tức Bảy) tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 83 nhưng lo ngại lời bày tỏ của mình sẽ không còn cần thiết nữa. Trước một đồng chí tiểu đoàn trưởng mưu trí dũng cảm trong chiến đấu, lúc gặp khó khăn thì bình tĩnh và kiên quyết, đã đánh nhiều trận thắng lợi, minh đầy thương tích nhưng vẫn giữ vững ý chí và phẩm chất sáng ngời của một sĩ quan quân đội nhân dân. Hôm nay tôi nhắc lại kỉ niệm xưa cũng để nói với đồng chí Trinh rằng “được sống và nuôi dưỡng trong lòng đồng đội, cái đó có thể xem là tồn tại mãi mãi với thời gian”.

Nói đến tình đồng đội trong khói lửa và cái đẹp của con người trong thời kì chinh chiến là sống chết có nhau chia ngọt sẻ bùi. Cái đẹp đó được Đảng, Bác Hồ giáo dục tôi luyện mà nên. Tôi không sao quên được tấm lòng của đồng chí Nguyễn Chữ, tỉnh ủy viên, Phó chính trị tỉnh đội Quảng Ngãi (quê ở Sơn Kim - Tịnh Thọ), trong chiến dịch mùa khô lần thứ 2, đồng chí chỉ đạo chiến đấu ở cánh bắc (tây Sơn Tịnh) thì bị thương quá nặng, biết mình không sống được, anh nói với đồng chí cần vụ hãy lấy tư trang cá nhân của anh đem chia cho mọi người, còn cái áo lành, lon sữa bồi dưỡng của anh giành cho thương binh, riêng cái Radio thì anh gởi lại cho các anh em trong ban chỉ huy để các anh có phương tiện làm việc, anh gởi cả tiền đảng phí nộp cho chi bộ trước khi vĩnh biệt. Hành động của anh đã làm cho đơn vị cảm phục thương nhớ anh về tấm gương trong sáng:

Chết còn trao áo cho nhau
Bát cơm dành để người sau ấm cùng
(Thơ Tố Hữu)

Một hình ảnh cũng khó quên đó là đồng chí Đinh Tía (Anh hùng lực lượng vũ trang quân giải phóng), người dân tộc H’Rê, tay phải bị thương cụt sát nách chỉ còn tay trái, anh vẫn làm giao liên mang công văn từ chỉ huy sở tỉnh đội vào tới Đức Phổ, ra đến Bình Sơn, lặn lội qua vùng địch mỗi ngày một chuyến đi. Lúc gặp địch phục kích anh tự đánh trả và vượt hiểm ngèo.

Tôi cũng xin dành một phần trang viết để nói về sự lãnh đạo của Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ Quảng Ngãi, đứng đầu là đồng chí Xuân Thưởng (tức Biền - Bí thư tỉnh ủy) dưới sự lãnh đạo của đồng chí Thưởng, sự đoàn kết thống nhất nội bộ được giữ vững, vai trò tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách được tôn trọng. Anh em sống vô tư trong sáng, không hề có một mảy may so đo tính toán thiệt hơn, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp, trước khó khăn không hề lùi bước, tập thể tâm đầu ý hợp tạo được sức mạnh để chiến thắng kẻ thù. Đặc biệt đồng chí Bí thư Tỉnh ủy luôn để dành một nửa thời gian theo dõi chỉ đạo, công tác quân sự, bồi dưỡng sức chiến đấu vì lí tưởng của Đảng cho đội ngũ cán bộ từ đại đội trở lên, từ đó mà lòng tin đối với sự lãnh đạo của Tỉnh ủy luôn được củng cố và giữ vững, tạo sức mạnh để chiến thắng kẻ thù. Tôi vẫn nhớ như in bài ca dao, đồng thời như là một phương châm hoạt động của tập thể đề ra đã phản ánh trung thức ý chí của chúng tôi thời đó:

“Quân dân đoàn kết
Trên dưới một lòng
Cán binh nhất trí
Nội bộ tin nhau
Gian khổ không sờn
Hi sinh không tiếc
Vô tư trong sáng
Nặng nghĩa đồng bào
Dạt dào đồng chí”


Hai năm ở Quảng Ngãi (1965-1967), có biết bao kỉ niệm tôi không thể nào kể hết ra đây, đã hơn 33 năm trời trôi qua mà tôi cứ tưởng như mới hôm qua về đất và người Quảng Ngãi, giàu truyền thống yêu nước, trong lửa đạn vẫn kiên gan bền chí gắn bó với nhau, vượt gian khổ hi sinh, làm nên chiến công vang dội như những lời kiên định trên đây.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 09:44:49 PM
CHƯƠNG VI

VỀ SƯ ĐOÀN 2

Thế là tôi phải xa chiến trường Quảng Ngãi, xa quê hương Núi Ấn - Sông Trà mang truyền thống khởi nghĩa Ba Tơ (1945), khởi nghĩa Trà Bồng (1959), xa biển Sa Kì, Mĩ Á… quanh năm lộng gió, xa những con đường tỉnh lộ thân quen: Châu Ổ - Trà Bồng, Sơn Tịnh - Sơn Hà, Minh Long - Giá Vụt; xa thiên nhiên miền tây Quảng Ngãi, nơi phát nguyên sông Rin, sông Tang, sông Xàlò, sông Re (H’Re) và các con sông đầu nguồn cần mẫn quanh năm đưa nước về sông Trà Bồng, Trà Khúc, để cho những guồng xe mang nước tắm mát những cánh đồng Mộ Đức, Sơn Tịnh, Bình Sơn, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa trù phú, làm nên những mùa vàng nuôi quân đánh giặc. Quảng Ngãi với những đặc sản đường phổi, đường phèn, mạch nha, những đồng suối Sa Huỳnh đã từng cứu sống đồng đội tôi trong những năm tháng ở căn cứ Nước Rễ, và những di tích và cảnh đẹp mà hai năm qua tôi đã biết trong những lần đi nghiên cứu chiến trường như: “Thành Gấm” nằm bên bờ sông Trà Khúc, “Thiên Ấn - Niêm Hà, Long đầu hí thủy, Thiên Bút phê văn, Hà Nhai vãn độ, La Hà thạch trận, Cổ Lũy cô thôn…” khó quên trong kí ức chúng tôi. Ngoài cảnh đẹp và di tích lịch sử, chính nơi đây đã sinh ra nhiều văn thân chí sĩ yêu nước như danh tướng Bình tây Đại nguyên soái Trương Công Định, cầm quân chống Pháp ở Gò Công Nam Bộ, như Lê Trung Đình, Cảnh Thụy, Lê Ngung khởi nghĩa Duy Tân 1916. Vào thời có Đảng Cộng sản lãnh đạo như Thủ tưởng Phạm Văn Đồng, một nhà ngoại giao, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và những tướng lãnh tài ba như Nguyễn Chánh, Trần Nam Trung, Nguyễn Đôn, Trần Quý Hai, Trần Văn Trà… mà cả nước đều biết đến, làm sao không lưu luyến khi xa vùng đất này.

Tôi về đến căn cứ Bộ Tư lệnh Quân khu, tại đây tôi gặp đồng chí Hà Văn Trí. Hai anh em tay bắt mặt mừng, lòng dạt dào cảm xúc, nhưng rồi phải chia tay sau đó. Tôi nhận quyết định về làm Phó chính ủy sư đoàn 2 Quân khu 5. Hà Văn Trí về làm phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Mặt trận 4 Quảng Đà, và anh hi sinh sau mùa tổng tiến công 1968. Được tin Hà Văn Trí hi sinh, tôi bàng hoàng và thương tiếc một cán bộ quân sự tài năng, thông minh và đức độ. Trong tâm tưởng tôi tự hẹn rằng, nếu ngày thống nhất đất nước tôi còn sống, sẽ về thăm quê của Trí và thắp nén nhang của anh. Tôi chưa thực hiện được ước mong đó, mà chỉ gặp con gái anh đang là cô giáo dạy học ở Quảng Ngãi.

Nhận công tác ở sư đoàn 2, ấn tượng trong tôi tươi nguyên hình ảnh và kỉ niệm hồi năm 1965-1966, khi chiến dịch Sơn Tịnh nổ ra. Khi đó, tôi là thành viên của bộ chỉ huy chiến dịch, được tiếp xúc với Sư trưởng Nguyễn Năng (quê Thanh Hóa). Ngay lần gặp đầu tiên anh đã để lại cho tôi ấn tượng đậm nét. Người anh cao nghệu, giọng nói sang sảng, tác phong sâu sát từng đơn vị, khi chiến đấu thì bình tĩnh và dũng cảm, trong sinh hoạt thì tôn trọng tổ chức, khi tiếp xúc với mọi người thì đôn hậu ôn hòa. Với sư đoàn phó Lê Hữu Trữ (Lê Thạch), quê Quảng Trị, Phó chỉ huy sư đoàn, đẹp trai, thông minh, quyết đoán. Anh là một trong những thanh niên “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu” Trong cương vị một sĩ quan trong đoàn quân Nam tiến thơi đánh Pháp hồi 9 năm, tính tình hiền lành nhưng rất nghiêm trong sinh hoạt, nhất là khi giao nhiệm vụ cho cấp dưới tỉ mỉ và cụ thể. Với Chính ủy sư đoàn, Nguyễn Minh Đạo (quê Thanh Hóa), anh là một cán bộ mẫu mực trong sinh hoạt, tận tụy với đồng đội, gặp giai đoạn khó khăn, đơn vị thiếu lương thực, thực phẩm, anh cùng cần vụ lội suối bắt ốc, chia ngọt sẻ bùi cùng chiến sĩ. Trong lãnh đạo anh nắm vững nguyên tắc Đảng, tôn trọng tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Trước một việc quan trọng bao giờ anh cũng đem ra bàn bạc rồi mới quyết định.

Điều đáng tiếc là khi tôi về sư đoàn, anh Lê Hữu Trữ và Nguyễn Minh Đạo đã hi sinh, anh Năng thì đi nhận công tác khác. Đội ngũ lãnh đạo của sư đoàn về sau này là những tướng lĩnh tài ba như: Đồng chí Thượng tướng Giáp Văn Cương, Hoàng Anh Tuấn, Lê Kích và đồng chí Nguyễn Chơn, sư trưởng trực tiếp chỉ huy đường 9 Nam Lào, về sau là Thượng tướng, thứ trưởng quốc phòng, tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam. Anh đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và đơn vị cảm phục tặng anh cái tên trìu mến: “Anh hùng Nguyễn Chơn, suốt đời say mê đánh giặc”.

Sư đoàn 2 là sư đoàn chủ lực của Quân khu, được thành lập ngày 20/10/1965 tại làng An Tráng, xã Phước Hà, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Có mặt trong đội hình sư đoàn là trung đoàn 1, trung đoàn 21, tiểu đoàn 12 pháo cối, tiểu đoàn cao xạ 19/5, cùng với nhiều đơn vị hợp thành, bảo đảm về kĩ chiến thuật và sức chiến đấu cơ động.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 09:46:58 PM
Trung đoàn 1 là trung đoàn quy tụ phần lớn cán bộ, chiến sĩ ở các tỉnh trong Quân khu 5 ngay từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Họ là những cán bộ chiến sĩ đã cùng với nhân dân và dân quân du kích địa phương diệt đồng, phá ấp dành dân, mở rộng phong trào trong những năm quân địch thực hiện chiến dịch “tố cộng diệt cộng” ở miền Nam. Từ tháng 3/1962, trung đoàn được tăng cường cán bộ, chiến sĩ con em các tỉnh Khu 5 tập kết ra Bắc, trở về và trở thành trung đoàn, kiêm luôn công việc của tỉnh đội Quảng Nam, do đồng chí Quách Tử Hấp, làm trung đoàn trưởng, Dương Loan, chính ủy trung đoàn. Đến cuối năm 1963, được cấp trên quyết định tách khỏi nhiệm vụ quân sự địa phương để tập trung xây dựng thành một đơn vị chủ lực cơ động của Quân khu. Biên chế trung đoàn lúc này có các tiểu đoàn bộ binh 40, 60, 90 và tiểu đoàn 400 trợ chiến do đồng chí Lưu Thành Đức, trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Đình Trọng, chính ủy. Mùa thu 1964, trung đoàn đánh trận Kì Sanh, Tam Kì. Trận đánh có ý nghĩa lớn, mở đầu đánh bại chiến thuật “thiết xa vận” của địch trên chiến trường đồng bằng Khu 5. Mùa xuân 1965, trung đoàn diệt cứ điểm Việt An, phá vỡ tuyến phòng thủ của địch ở phía tây tỉnh Quảng Nam. Trong trận này, trung đoàn thực hiện khẩu hiệu: “Nắm thắt lưng địch mà đánh”, liên tiếp đánh bại 5 cuộc hành quân giải tỏa của quân ngụy trên đường 16. Trong chiến dịch Sơn Tịnh 1965, tiểu đoàn 90 của trung đoàn, đã diệt gọn tiểu đoàn 1 trung đoàn 51 ngụy. Trận thứ hai, trung đoàn tập trung 3 tiểu đoàn, đã diệt gọn một chiến đoàn quân ngụy gồm tiểu đoàn 39 biệt động quân, tiểu đoàn 3 lính thủy đánh bộ, tiểu đoàn 2 trung đoàn 51 ngụy. Trận thứ 3, trung đoàn diệt cứ điểm Gò Cao, do 1 tiểu đoàn ngụy đóng giữ. Trong chiến dịch này, trung đoàn đã nêu 3 kỉ lục: Tiểu đoàn ta diệt tiểu đoàn ngụy, trung đoàn ta diệt chiến đoàn ngụy, tiểu đoàn ta diệt tiểu đoàn địch trong cứ điểm có công sự vững chắc. Trung đoàn còn hỗ trợ cho địa phương tiến công và nổi dậy diệt địch, giải phóng 27 xã và 20 vạn dân. Đây là chiến dịch tiến công tổng hợp đầu tiên tương đối hoàn chỉnh trên chiến trường Quân khu 5.

Từ bám dân, bám đất đánh du kích, hỗ trợ cho phong trào địa phương, khi Mĩ vào, trung đoàn 1 trở thành trung đoàn nòng cốt của sư đoàn trong điều kiện quân Mĩ 8 ta 1, trung đoàn dã đánh thắng Mĩ trận đầu ở Vạn Tường (18/8/1965). Trung đoàn 1 nổi dậy với cái tên “Trung đoàn Ba Gia” “Trung đoàn thép” và chiến công đi vào lịch sử của lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 5 với những trận đánh như:

Nhanh như Chóp Nón
Gọn như Ba Gia
Dũng cảm như Vạn Tường
Kiên cường như Hội Đức


Trung đoàn 21 là trung đoàn tập trung, con em của nhân dân hai tỉnh Hải Dương và Hà Bắc. Một số cán bộ chiến sĩ từng tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp chuyển ngành về địa phương công tác được gọi trở lại đội ngũ theo tiếng gọi chống Mĩ cứu nước của Đảng. Tháng 7/1965, trung đoàn 21 vào chiến đấu tại chiến trường Khu 5. Đây là một trung đoàn “cựu binh” có truyền thống và tinh thần quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ xâm lược khi được vào miền Nam. Trong chiến dịch tây Sơn Tịnh đầu năm 1966, trung đoàn đã đánh tiêu diệt một tiểu đoàn Mĩ và đánh bại một tiểu đoàn khác, loại khỏi vòng chiến đấu 800 tên Mĩ, bắn rơi 6 máy bay.

Trung đoàn 31 tiền thân là Trung đoàn 54 của sư đoàn 310, một trong những trung đoàn chiến đấu giỏi trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ thời kháng chiến chống Pháp, đã được Bác Hồ tặng danh hiệu “Dũng cảm đánh hăng”. Trung đoàn do đồng chí Nguyễn Việt Sơn, trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Thận, chính ủy. Tháng 10 năm 1966, trung đoàn 31 về đứng chân trong đội hình sư đoàn 2. Thêm trung đoàn 31, sức chiến đấu của sư đoàn tăng lên rõ rệt và lịch sử của sư đoàn cũng thêm phần phong phú.

Sau khi trung đoàn 31 về sư đoàn 2, tiểu đoàn 70, được Quân khu quyết định điều trở lại chiến trường Quảng Nam.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Hai, 2010, 09:48:20 PM
Tiểu đoàn súng máy phòng không, sinh ra trên đất Tổ Hùng Vương, tiểu đoàn vinh dự được mang tên ngày 19/5. Hầu hết cán bộ chiến sĩ là con em của Thủ đô Hà Nội, với hào khí Đông Đô - Thăng Long - Hà Nội. Theo lời kêu gọi chống Mĩ cứu nước, tiểu đoàn vào Nam đánh Mĩ được cấp trên bổ sung về sư đoàn 2.

Tiểu đoàn 12 pháo, cối, cán bộ chiến sĩ của tiểu đoàn là con em của tỉnh Thanh Hóa, tiểu đoàn có 1 đại đội DKZ 75, 1 đại đội sơn pháo 75, 1 đại đội súng cối 120 li. Với truyền thống “Chân đồng vai sắt” của pháo binh quân đội Nhân dân Việt Nam. Tháng 8/1965, tiểu đoàn có mặt trong đội hình chiến đấu của sư đoàn 2.

Trong đội ngũ của sư đoàn có những đơn vị được xây dựng trên cơ sở nòng cốt là cán bộ chiến sĩ của trung đoàn 1, từng lăn lộn chiến đấu nhiều năm trên chiến trường được rút về làm công tác chuyên môn như trinh sát, thông tin, quân y, vận tải, hậu cần…

Sư đoàn 2 Quân khu lấy nhiệm vụ tác chiến tập trung tiêu diệt địch, giành dân mở rộng vùng giải phóng. Sư đoàn 2 phải vưa tác chiến vừa xây dựng, không ngừng nâng cao trình độ quy mô tác chiến tập trung diệt sinh lực và phá hủy phương tiện chiến tranh, phá vỡ từng khu vực phòng thủ của địch.

Địa bàn tác chiến của sư đoàn 2 là từ các tỉnh Quảng Ngãi đến thành phố Đà nẵng. Đảng bộ sư đoàn có 3 Đảng bộ trung đoàn, 3 Đảng bộ cơ quan tham mưu chính trị, hậu cần và 11 Đảng bộ tiểu đoàn, gần 100 chi bộ, tổng số đảng viên hơn 2.000 đồng chí, chiếm 30% quân số trong sư đoàn.

Tôi về đến sư đoàn bộ hôm trước, liền hôm sau được Bộ Tư lệnh phân công cùng đồng chí Sư đoàn trưởng Giáp Văn Cương, đi nghiên cứu chiến trường, chuẩn bị phương án chiến dịch giải phóng chi khu quận lị Khâm Đức, ở phía tây tỉnh Quảng Nam.

Chủ trương của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu là tiêu diệt cụm cứ điểm quận lị Khâm Đức, giải phóng địa bàn này thành khu liên hoàn nối đường vận chuyển chiến lược của Trung ương, đưa lương thực, vũ khí, đạn dược, thuốc men vào chi viện cho các hướng chiến trường Khu 5.

Thung lũng Khâm Đức có chiều dài 3km, chiều rộng 1,5km, phía nam giáp sông Nước Chè, bên kia sông Nước Chè là trại nuôi dê nằm trên độ cao (676 mét) Ngọk Tà Vák (738 mét), phía Đông có sông Nước Trảo, ngầm nước Mĩ, phía tây là rừng đại ngàn. Đường 14 từ Hòa Cầm qua Thượng Đức đến Khâm Đức, gặp đường 165 tạo thành ngã ba Khâm Đức, đi vào Nam Bộ. Tại đây, quân địch xây dựng một trung đoàn huấn luyện biệt kích, tạo bàn đạp đánh phá phong trào cách mạng ở khu tam giác các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum. Sau nhiều lần củng cố và mở rộng, Khâm Đức có 10 cứ điểm phòng ngự. Khu trung tâm chi khu có 5 cứ điểm, khu ngoại vi có 5 cứ điểm, quân số địch gồm 7 đại đội, nằm trong hệ thống công sự ngầm kiên cố.

Tuy nhiên, chi khu quận lị Khâm Đức là một cứ điểm bị cô lập giữa bốn bề là rừng đại ngàn và vùng kiểm soát của ta, nên tiếp tế của bọn địch trông cậy vào đường hàng không mỗi tháng 2 lần.

Đứng trước nguy cơ chi khu quận lị Khâm Đức bị tiêu diệt, quân địch đã lập tuyến tiền tiêu hướng tây nam - Hướng duy nhất quân ta triển khai đánh chiếm Khâm Đức nên quân địch thường xuyên cho quân sục sạo quanh địa bàn có bán kính từ 1 - 2km, sân bay Khâm Đức cũng gấp rút được sửa chữa để có thể đổ quân tăng viện trong trường hợp khẩn cấp.

Khi giao nhiệm vụ cho sư đoàn đi nghiên cứu chiến trường, Tư lệnh Quân khu đã đề ra một yêu cầu quan trọng là phải chủ động kìm giữ, không cho quân địch đưa quân tiếp viện lên Khâm Đức.

Phân tích thế và lực của địch, nếu ta đánh Khâm Đức, lực lượng chi viện tốt cho Khâm Đức, chỉ có thể là sư đoàn không vận số 1 (sư đoàn American) với 2 lữ đoàn 196 và 198 đóng ở Quảng Nam. Với khả năng của địch như vậy, để việc tấn công giải phóng Khâm Đức đạt kết quả, Bộ Tư lệnh Quân khu giao cho sư đoàn 2 tổ chức một khu chiến mới. Khu chiến này có nhiệm vụ nổ súng trước để căng kéo, đánh tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch, khiến quân địch không thể chi viện cho Khâm Đức và nếu chi viện thì lực lượng địch cũng không đáng kể. Sư đoàn 2 đã hoàn thành nhiệm vụ được giao ở trận đánh này.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:22:58 PM
CHIẾN THẮNG NÚI NGANG

Cuộc tấn công đồng loạt của quân và dân ta trong mùa xuân Mậu Thân 1968 đã giáng một đòn nặng vào ý chí xâm lược của đế quốc Mĩ. Tuy nhiên quân địch vẫn lộng lộn điên cuồng tung quân đánh phá vào vùng giải phóng. Ở Quảng Nam trong chiến dịch “Toàn thắng”, “Đẩy Việt cộng về rừng”, hai lữ đoàn kị binh 196. 198 đóng tại Tuần Dưỡng, huyện Thăng Bình và núi Quế, huyện Quế Sơn mở cuộc càn vào vùng giải phóng phía tây huyện Thăng Bình, Quế Sơn, Tiên Phước. Lữ đoàn 196 cho tiểu đoàn kị binh và đại đội pháo 105mm đóng chốt tại dãy núi Ngang nằm trên đại phận 3 xã Phước Sơn, Phước Cẩm, Phước Hà thuộc huyện Tiên Phước, khống chế vùng hậu phương của ta. Hằng ngày tiểu đoàn kị binh ở núi Ngang dùng từ một đến hai đại đội lùng sục ra khu vực chung quanh và cho đồng bọn chiếm sườn núi Liệt Kiểm (cao 446 mét), núi Vú (cao 428 mét) để phòng ngự từ xa.

Khu chiến thứ hai đã xuất hiện. Để thử hiện ý đồn mở khu chiến thứ 2, Bộ Tư lệnh Quân khu điện gọi tôi trở về cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu. Ở hướng Khâm Đức, Tư lệnh sư đoàn Giáp Văn Cương, Chính ủy sư đoàn Nguyễn Ngọc Sơn trực tiếp chỉ huy tiến hành phương án giải phóng Khâm Đức. Tôi vừa bước vào cơ quan Bộ Tư lệnh Quân khu liền được đồng chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân khu nói: “Đồng chí mới về Quân khu, ưu tiên giao cho đồng chí và Sư phó Lê Kích, nghiên cứu mở khu chiến núi Ngang” - Nói đến đó, đồng chí Tư lệnh nắm lấy tay tôi siết mạnh - “Chắc ăn nghe!”. Tôi đứng nghiêm ráng chịu cái đau của bàn tay đồng chí Tư lệnh siết chặt, để thể hiện quyết tâm của mình.

Đoàn cán bộ nghiên cứu khu chiến núi Ngang ngoài tôi và sư đoàn phó Lê Kích, còn có ban chỉ huy trung đoàn 31 và tiểu đoàn trưởng các tiểu đoàn. Chúng tôi hình thành 2 mũi, một mũi do tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 10 đặc công tổ chức nghiên cứu tiêu diệt bọn Mĩ đóng tại núi Ngang, mũi nghiên cứu địa hình chốt chặn, thực hiện ý đồ đánh địch của Bộ Tư lệnh Quân khu giao theo kế hoạch sau đây:

- Tiêu diệt đại đội kị binh Mĩ ở núi Ngang, diệt xong chốt lại, buộc địc phải dùng máy bay lên thẳng, đưa quân phản kích giải tỏa, lôi bọn kị binh ra khỏi “công sự” di động là máy bay lên thẳng, biến chúng thành những tên lính bộ binh để tiêu diệt.

- Thực hiện ý định của Quân khu, kiềm giữ chân địch từ 20 đến 25 ngay cho các bộ phận của sư đoàn rảnh tay giải phóng hoàn chỉnh chi khu quận lị Khâm Đức.

- Rút kinh nghiệm cách đánh của Bộ Tư lệnh Tây Nguyên (B3), Tộ Tư lệnh Quân khu 5 bổ sung và thực hiện chiến thuật “Chốt” kết hợp với cơ động để diệt địch tại núi Ngang, sau trận đánh này hoàn chỉnh chiến thuật: “Chốt” kết hợp với cơ động của bộ đội ta. Đây là một hình thức chiến thuật mới mà đồng chí Chu Huy Mân rất quan tâm.

Như vậy, trong chiến dịch giải phóng Khâm Đức, sư đoàn 2 chiến đấu trên 2 khu vực khác nhau và cách xa nhau:

- Sư đoàn đảm nhận tiêu diệt cụm cứ điểm Khâm Đức mở thông đường vận chuyển cơ giới.

- Trung đoàn 31, được sư đoàn tăng cường 1 đại đội súng máy phòng không 12,7mm, mở khu chiến tại núi Ngang, chủ động kéo quân của sư đoàn American ra để tiêu hao tiêu diệt và giữ kèm tại chỗ không cho chúng chi viện cho chi khu quận lị Khâm Đức.

Núi Ngang là một dải đồi dất đỏ chen đá núi, có độ cao 348 mét so với mặt biển. Mặt đồi núi Ngang bằng, thuận tiện cho điểm đóng. Núi Ngang nằm phía tây huyện Tiên Phước trên địa bàn 3 xã Phước Sơn, Phước Cẩm, Phước Hà. Cách Tam Kì 30km và cách Việt An 2,5km. Bao quanh núi Ngang có Chóp Chài (407 mét) núi Gai (434 mét), núi Liệt Kiểm (446 mét), núi Ông Giai (434 mét), núi Dương Vọng (396 mét). Đối diện và cách núi Ngang khoảng 2km là con sông Khang, qua sông Khang đến núi Hàm Yên (112 mét), núi Đầu Voi (205 mét) đến núi Hàn Thôn (583 mét). Ở phía bắc núi Ngang là con đường 16 từ Hà Lam lên Việt An - Từ Việt An đi Đắc Nhe, đường 586 từ Cẩm Khê đi Quán Rường lên Phước Hà, Phước Hà lên An Tráng. Đây là những con đường huyện lộ và hương lộ có ý nghĩa cho hành quân vận chuyển và cơ động chiến đấu. Khu vực núi Ngang địa hình trung du, dưới chân núi Ngang xen kẽ đồng ruộng bậc thang, các lưng núi là đồi Cỏ tranh, lưa thưa các bụi cây sim, cây gió, cây bời lời…


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:24:08 PM
Xa chiến trường Quảng Nam quá lâu, khi đặt chân trở lại trên những con đường hồi 9 năm, lòng tôi chợt bồi hồi trước thiên nhiên phong cảnh cũ. Dốc Lưng, Na Sơn, Sơn - Cầm - Hà, An Tráng… vùng chiến khu của 3 thơi kì cách mạng: Nguyễn Duy Hiệu (1885). đánh Pháp 9 năm (1945-1954), và nay là cuộc kháng chiến chống Mĩ đã có nhiều đổi thay lạ lẫm, đồng bào sinh sống thơ thớt, sản xuất chưa mấy phát triển. Sau 3 ngày nghiên cứu từng điểm cao, từng khu đồi, bố trí tuyến công sự chốt hút địch, đoàn cán bộ cắm tiền trạm và cho trinh sát trở về đưa công binh và bộ đội “thợ” lên chiếm lĩnh khai thác cây rừng làm kéo lắp chữ A. Địa hình của 12 khu đồi, xanh một màu cây cỏ, cũng có những lưng đồi đất đỏ, từ núi này nhìn sang đồi kia nếu không nghi trang kĩ địch sẽ dễ phát hiện ngay màu đất mới đào. Ban ngày, bộ đội nghỉ, đêm đến lên đào công sự và phải nghi trang thật tốt không cho địch phát hiện. Các đơn vị phải đào 3 loại công sự, loại lắp hầm kèo chữ A chống bom, chống pháo, loại hầm để thương binh chứa lương thực, loại công sự cá nhân chiến đấu. Cả ba loại công sự đều có giao thông hào dẫn về hầm chính của chốt trưởng chỉ huy để trận chiến nổ ra, ta di chuyển địch không phát hiện được.

Để phục vụ cho các đơn vị, trung đoàn 31 tổ chức lò rèn, lấy sắt ấp chiến lược rèn cuốc, xà beng, dao, rựa, xẻng phục vụ cho bộ đội đào công sự. Mọi công tác chuẩn bị cho khu chiến đều được làm rất khẩn trương. Tuyến công sự trên 12 khu đồi được hoàn tất, từ núi Dương Chấn qua đèo Cây Trâm, từ núi Dương Vọng đến núi Ông Giai, từ núi Hoắc qua sang dốc Xoài, từ núi Lớn qua núi Lợn, và từ núi Liệt Kiểm qua ngã ba Đồng Tranh… giao thông hào liên kết như những mạch máu trong cơ thể. Tất cả hỏa lực, súng bộ binh đều có thể chi viện cho nhau khi quân Mĩ nhảy vào khu chiến đánh phá, tháo chạy hay cứu viện.

Sau khi hoàn thành công tác “độn áo giáp” công sự cho bộ đội có sự quan tâm của đồng chí Tư lệnh Quân khu, cử cán bộ xuống trực tiếp giúp đỡ. Bộ Tư lệnh sư đoàn và trung đoàn 31 mở lớp tập huấn ngắn hạn cho cán bộ từ trung đội trưởng trở lên, để khi trở về đơn vị huấn luyện cho bộ đội. Phương án tác chiến của từng tiểu đoàn, đại đội đến trung đội, tiểu đội được thảo luận thông suốt, mọi vướng mắc đều được giải quyết dứt điểm.

Hậu cần trung đoàn chuẩn bị đủ gạo và thực phẩm cho toàn trung đoàn chiến đấu trong thời gian quy định. Mỗi chiến sĩ có 5 ngày lương khô, 2 cặp đường bát, mỗi chốt có 5 - 10 mét ni lông lót hầm đựng nước. Đến ngày 2/5 các tiểu đoàn, đại đội được phân công triển khai lực lượng sẵn sàng chiến đấu, chốt bám công sự.

Do lộ bí mật, mất yếu tố bất ngờ, tiểu đoàn 10 đặc công không diệt được đại đội Mĩ ở núi Ngang như dự kiến. Có lẽ vì phát hiện được hoạt động của quân ta, tiểu đoàn kị binh của lữ 196 đóng ở núi Ngang xin thay quân.

Ngày 4/5, lữ 198 cho một tiểu đoàn kị binh lên thay tiểu đoàn 196 chốt núi Ngang. Bọn này chỉ bốc quân, còn trận địa pháo 6 khẩu 105mm vẫn để lại.

Ngya 5/5, trung đoàn trưởng 31 Dương Bá Lợi lệnh cho cố 82mm, DKZ 75mm bắn trực tiếp vào bọn Mĩ đóng trên núi Ngang, vì bọn này mới đến nên hoàn toàn bị động không dám chống trả, im lặng nghe ngóng.

Ngày 7/5, bọn Mĩ ở núi Ngang cho 2 đại đội kéo xuống thôn 5 Phước Sơn lên chiếm núi Hoắc. Nếu để cho quân kị binh Mĩ chiếm núi Hoắc, trận địa ta sẽ bị chia cắt thành đôi. Các đại đội 1, đại đội 2 và đại đội 5 của tiểu đoàn 7 chốt tại đây được lệnh nổ súng. Ngay loạt đạn đầu hơn 10 tên Mĩ ngã gục trên sườn đồi. Những tên sống sót lôi bọn bị thương lùi ra. Các phía trước sau, bên sườn, quân ta đều đánh rát vào bọn kị binh Mĩ. Suốt ngày 7/5, những trận đánh ác liệt diễn ra ở hai nơi Dốc Xoài và núi Hoắc, lực lượng quân ta làm chủ trận địa, ghìm quân địch để tiêu diệt.

Ở khu chiến núi Ngang đã mở màn theo kế hoạch trước Khâm Đức 4 ngày. Sáng ngày 8/5, không quân Mĩ cho 2 tốp máy bay phản lực và máy bay AD6 (Skraider), có máy bay trinh sát OV10, OV13 dẫn đường ồ ạt ném bom xuống khu chiến núi Ngang. Chúng dùng nhiều loại bom khác nhau và thay đổi cách đánh. Chúng ném bom phá, là loại bom đào sâu xuống mặt đất mới nổ để phá công sự, còn bom phạt là loại bom vừa chạm đất là phát nổ để chặt (phạt) tất cả những gì có trên mặt đất, bom napal để đốt sạch cây cỏ trên mặt đất và bom khói tung hỏa mù, để cho bọn kị binh Mĩ luồn trong khói dấu mình tràn lên chiếm điểm chốt. Nhưng tất cả những thủ đoạn đó không thắng được sự cảnh giác và tinh thần chiến đấu quả cảm của chiến sĩ ta. Bọn kị binh luôn bị đánh bật trở lại.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:24:51 PM
Mặt trời đứng trưa, hai đại đội Mĩ từ phía tây tràn lên Dốc Xoài. Khảu đội súng máy phòng không của sư đoàn tăng cường bố tí ở hướng này lập tức hạ nòng theo góc tà nhả đạn. Cùng lúc đó, chính trị viên Nguyễn Minh Trang cho đơn vị nổ súng tạt sườn, bọn kị binh Mĩ đang hung hăng bỗng khựng lại. Tức thì những quả đạn cối 82mm, 60mm của đại đội trợ chiến tới tấp băm nát đội hình quân địch. Đợt tấn công của quân kị binh Mĩ bị đập tan. Những tên sống sót cố chạy tháo thân, có tên chúi đầu vào các thân cây tránh đạn trong cảnh khói lửa và tiếng nổ át cả một vùng.

Trong ngày 8/5, cán bộ chiến sĩ đại đội 1 của Nguyễn Minh Trang và các bộ phận trợ chiến phối thuộc, đã đánh bại 6 đợt tấn công của bọn kị binh. Đánh thiệt hại nặng một đại đội, tiêu hao 1 đại đội khác thuộc tiểu đoàn 1 lữ đoàn 198 Mĩ. Từ chỉ huy sở trung tâm tại đồi Liệt Kiểm, sư đoàn phó Lê Kích và tôi quan sát toàn cảnh khu chiến, chúng tôi thống nhất nhận định khả năng diễn biến chiến sự và quyết định tổ chức đưa đội cơ động của ta lên phía trước chờ địch.

Sáng ngày 9/5, sau những đợt bom pháo tàn khốc, địch tiếp tục đưa vào khu chiến 2 đại đội kị binh, mở đợt tấn công ác liệt lên Dốc Xoài và núi Hoắc cố chiếm giữ bằng được hai ngọn đồi này. Trận địa ta đã sẵn sàng chờ bọn kị binh bò lên lưng chừng sườn núi, liền cho hỏa lực bắn nát đội hình của chúng. Hỏa lực vừa dứt, đội cơ động được lệnh xuất kích dùng lưỡi lê đâm vào lưng bọn tháo chạy. Vùng trời và mặt đất trận địa Dốc Xoài, núi Hoắc rung chuyển tiếng pháo tiếng bom và tiếng gầm rú của máy bay địch. Từ trận địa súng máy phòng không, xạ thủ Lê Hữu Tựu cùng đồng đội ngẩng cao đầu bám chắc từng mục tiêu, bắn rơi liền 8 máy bay lên thẳng, có 1 chiếc HU1A bị đứt làm 3 đoạn.

Trải qua 3 ngày chiến đấu anh dũng, bộ đội tiểu đoàn 7 trung đoàn 31 giữ 02 chốt Dốc Xoài và núi Hoắc đã đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 1 lữ đoàn 198 kị binh Mĩ, chúng buộc phải rút chạy khỏi khu chiến.

Trong những ngày chiến trận, cán bộ sư đoàn, trung đoàn chúng tôi lên từng chốt nắm tình hình thăm hỏi động viên chiến sĩ, bộ phận cơ động của khu chiến, tích cực tu sửa bổ sung sự canh gác cho các chiến sĩ trên chốt nghỉ ngơi sau một ngày chiến đấu. Nhân dân 3 xã Sơn - Cẩm - Hà thẩm thỏm lo âu, nhưng luôn sẵn sàng vượt qua bom đạn cử người lên chốt đem quà bánh bồi dưỡng cho chiến sĩ và chuyển thương binh ra khỏi khu chiến để chăm sóc. Việc làm của bà con càng làm thắm đượm thêm tình quân dân gắn bó, chia sẻ những khó khăn ác liệt cùng bộ đội, động viên các chiến sĩ bám giữ trận địa chiến đấu đến cùng.

Ngày 12/5, tiểu đoàn Mĩ thay thế chốt ở núi Ngang, cho pháo 105 bắn ác liệt vào trận địa ta. Hai đại đội kị bình của tiểu đoàn này tổ chức nhiều đợt tấn công lên Dốc Xoài đều bị thất bại.

Ngày 14/5, các trận địa pháo núi Ngang, Tuần Dưỡng, Cấm Dơi chấu nòng bắn vào trận địa Dốc Xoài, núi Hoắc cùng 6 chiếc phản lực, 3 chiếc AD6 (Skraider) theo bọn trinh sát OV10, OV13 nhào lộn ném bom. Luồn trong khói bom dày đặc đó, bọn trực thăng HU1A quần đảo bắn rốc két, cho bọn CH47 rà thấp đổ quân. Cuộc chiến đấu của các chiến sĩ giữ chốt Dốc Xoài bước vào những giây phút hiểm nghèo. Các trận địa pháo buổi sáng của địch làm hư hại một số vũ khí, bộ đội thương vong chưa kịp bổ sung, một vài công sự của ta bỏ ngỏ. Quân kị binh Mĩ liều lĩnh đã chiếm được 2 công sự tiền duyên của chốt, chúng liền theo giao thông hào trào lên chốt. Chính trị viên Nguyễn Minh Trang, linh hồn của chốt, anh động viên chiến sĩ “Còn người, còn vũ khí ta còn chiến đấu!”. Các chiến sĩ đại đội 1 từ trong những công sự đổ nát bật dậy dùng AK, lựu đạn đánh xối xả vào các tốp lính liều lĩnh. Những tên kị binh Mĩ cao to chết gục trong đường giao thông hào vào hầm thương binh của ta. Mũi tấn công của chúng bị chặn đứng dồn lại lúc nhúc. Lập tức những chùm lựu đạn được ném ra tới tấp, những tiếng nổ kép gầm lên đẩy xác Mĩ lăn lông lốc xuống đồi. Ở chốt phía nam Dốc Xoài, ta chỉ còn 2 chiến sĩ, nhưng bọn Mĩ không nhích lên được bước nào. Trước sức chiến đấu kiên cường của quân ta, bọn kị binh chạy thụt lùi ra khỏi trận địa Dốc Xoài, nhưng chúng làm sao thoát được thế trận khu chiến núi Ngang, nơi nào cũng nằm trong tầm ngắm của các chiến sĩ, theo sát và ghìm chúng vào thế bị động đối phó.

Cùng thời gian, trận địa chiến đấu ở chốt núi Hoắc cũng diễn ra vô cùng ác liệt. Bọn Mĩ giành giật với ta từng khu đồi, từng công sự. Cuối cùng 140 tên xâm lược gục ngã trước mép công sự của các chiến sĩ giữ chốt.

Hồi học tập ở miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, tôi đã từng đọc truyện nói về trận đánh “Thượng Cam Lãnh” của Bắc Triều Tiên với quân Mĩ, đến nay so sánh với trận chiến trên núi Ngang thì ác liệt còn hơn thế nữa.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:25:35 PM
Thua đau, bọn chúng càng lồng lộn. Ngày 18/5, chúng tiếp tục tăng quân. Những trận đánh mở rộng ra trên toàn khu chiến núi Ngang. Hai đại đội kị binh Mĩ đánh lên núi Lớn liên bị đại đội 6, của tiểu đoàn 8 xuất kích 3 lần diệt gần hết một đại đội, tiêu hao một đại đội. Học tập tinh thần chiến đấu của đại đội 6, ngày 19/5, đại đội 11, lực lượng cơ động của tiểu đoàn 9 tại chốt núi Ông Giai đã loại khỏi vòng chiến đấu 80 kị binh Mĩ.

Khu chiến núi Ngang trong những ngày cuối tháng 5 tiếp tục lập công. Ngày 23, 25/5, 2 tiểu đoàn Mĩ đổ xuống chốt Hòa Yến bên tả ngạn sông Khang, bị lực lượng cơ động của trung đoàn 31 diệt 1 đại đội. Trong các ngày 5 và 6/6, trung đoàn 31 tập hợp lực lượng cơ động của tiểu đoàn 8 và 9 tập kích quân Mĩ tại Hòa Yến, diệt 240 tên.

Một điều phấn khởi cho ban chỉ huy khu chiến và đơn vị chiến đấu là một ngày, đồng chí Tư lệnh Quân khu gởi 2 bức điện: Buổi trưa thăm hỏi bộ đội liên tục chiến đấu, buổi chiều hướng cách đánh cho ngày hôm sau. Vì vậy ban chỉ huy khu chiến đã xử lí kịp thời.

Cả hai lữ đoàn 196, 198 kị binh Mĩ đã bị sa lầy trong thế trận “chốt” kết hợp với cơ động, hiểm hóc của trung đoàn 31, sư đoàn 2 Quân khu 5. Trong suốt thời gian lâm chiến, quân Mĩ không hề diệt được một “chốt” nào của ta, trái lại bị cán bộ chiến sĩ trung đoàn 31 đánh chúng “thất điên bát đảo”. Thế trận của ta giăng sẵn buộc quân Mĩ sa vào là thất bại, chúng muốn rút lui cũng không dễ dàng vì “chốt” của ta nằm cạnh sườn quân địch, như cái gai đâm vào mắt nhức nhối không chịu được, buộc địch phải đưa quân đối phó, mà càng đối phó càng bị sa lầy.

Hòa trong tiếng súng tấn công đợt 2 của toàn miền Nam, sư đoàn 2 Quân khu 5 hoàn thành chiến dịch giải phóng chi khu quận lị Khâm Đức. Mục tiêu phối hợp chung trên chiến trường và phối hợp chiến dịch trong phạm vi của sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ. Ngày 12/06/1968 nhận lệnh của Quân khu, trung đoàn 31 chủ động rút quân ra khỏi khu chiến núi Ngang.

Trải qua 38 ngày đêm liên tục chiến đấu, trung đoàn 31, sư đoàn 2 Quân khu 5 chốt chặn khu chiến núi Ngang đã loại khỏi vòng chiến đấu 1.700 tên kị binh Mĩ, bắn rơi 65 máy bay, có 15 chiếc phản lực, 2 AD6 (Skraider).

Chiến thắng núi Ngang phát triển và nâng cao chiến thuật “cơ động, kết hợp chốt” dài ngày tạo cơ sở cho sư đoàn đúc rút kinh nghiệm trong việc dùng lực lượng ít, nhưng thu hút và kéo, kìm, giữ chân một lực lượng lớn của địch, thực hiện tốt kế hoạch hợp đồng chiến dịch.

Thành công của chiến dịch giải phóng Khâm Đức và mở khu chiến núi Naang là thành công của sự hợp đồng giữa điểm và diện, sử dụng lực lượng hợp lí giữa 2 khu chiến. Riêng ở núi Ngang, cán bộ chiến sĩ trung đoàn 31, sư đoàn 2 đã hoàn thành 6 yêu cầu của Bộ Tư lệnh Quân khu đề ra:

1. Thực hiện đúng ý đồ kéo địch ra để diệt. Dùng chiến thuật “chốt” kết hợp cơ động thu hút quân địch vào khu chiến, đây là một sáng tạo mới làm cho quân địch bất ngờ.

2. Trên một địa bàn giữa 4 bên là địch, có điều kiện binh khí kĩ thuật hiện đại, vũ khí tối tân chi viện cho nhau. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã chọn đúng địa điểm mở khu chiến đánh địch giữa ban ngày, tìm được chỗ nhược điểm của địch để đánh địch, buộc địch phải ra khỏi trực thăng, biến quân kị binh bay thành bộ binh để diệt.

3. Với chiến thuật này, sư đoàn 2 Quân khu đã diệt được nhiều sinh lực địch, bắn rơi nhiều máy bay, bên ta ít thương vong.

4. Khu chiến núi Ngang kèm giữ quân địch vượt thời gian trên giao, buộc địch điều quân chiến đấu theo ý của ta.

5. Trận núi Ngang là một chiến thuật mới, được áp dụng để đánh với một binh chủng sừng sỏ trên chiến trường là quân kị binh - Một binh chủng đặc thù của quân đội Mĩ.

6. Lần đầu tiên trên chiến trường đồng bằng Khu 5 chiến thuật “chốt” kết hợp với cơ động diệt địch được áp dụng thành công trong chiến dịch góp phần đánh địch hiệu quả trên chiến trường.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:27:56 PM
LIÊN TỤC TÁC CHIẾN, GIỮ THẾ CHỦ ĐỘNG
TIẾN CÔNG ĐỊCH TRÊN CHIẾN TRƯỜNG

Thực hiện chiến lược “Quét và giữ” của tên tướng xây dựng Abram, quân địch ra sức bình định triệt phá hạ tầng cơ sở cách mạng. Chúng lặp lại hành động gom dân lập ấp, giành lại vùng nông thôn giáp ranh thành phố, thị xã, thị trấn trên chiến trường Quảng Nam. Đầu tháng 8./1969, Mĩ - ngụy cho 2 trung đoàn mở cuộc càn “Liên kết 72” đánh vào khu tam giác ba huyện: Hiệp Đức, Tiên Phước, Quế Sơn. Mũi quân trung đoàn của ngụy đánh sâu lên cầu Bà Huỳnh, Bà Xá, mũi quân Mĩ chiếm lại quận lị Hiệp Đức đóng quân điểm cao 230 núi Liệt Kiểm (Đây là vùng đất do sư đoàn 2 giải phóng từ cuối năm 1965 đến nay bị địch chiếm lại). Trước những thủ đoạn đánh phá đó, bộ đội sư đoàn 2 và các địa phương trọng điểm gặp một số khó khăn như cửa khẩu thu mua lương thực bị tắt, bộ đội phải ăn cháo độn rau, nhiều đơn vị đứt bữa, đường hành lang vận chuyển bị địch phục kích đánh phá.

Kiên quyết khắc phục khó khăn, giành thế chủ động tiến công địch trên chiến trường, hỗ trợ cho lực lượng cách mạng của các địa phương phát triển, chống địch bình định. Bộ tư lệnh sư đoàn quyết định đưa trung đoàn 21 vê đứng chân tác chiến ở Đại Lộc và căn kéo địch để lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Đà đánh phá sân bay Đà nẵng, tấn công chi khu quận lị Hòa Vang, hỗ trợ cho biệt động Đà Nẵng đánh Quân vụ thị trấn, đài phát thanh Đà Nẵng. Tiểu đoàn đặc công của sư đoàn, tiêu diệt bọn Mĩ đóng ở điểm cao 230, tiểu đoàn cối 120 li pháo kích quân Mĩ ở núi Ngang, quận lị Tiên Phước, đại đội đặc công cùa trung đoàn Ba Gia diệt địch ở núi Vú Em, trung đoàn 31 cho tiểu đoàn 7 nổ súng vây ép quận lị Phước Lâm, tiểu đoàn 9 cùng lực lượng ”vành đai diệt Mĩ” Chu Lai nổ súng tiến công sân bay Chu Lai, quận lị Lí Tín. Ở cứ điểm Ô Vuông và nhiều vị trí khác, quân địch bị ta diệt 1 đại đội, một sở chỉ huy tiểu đoàn, phá hủy trung tâm thông tin, 1 rađa và 2 đại bác 105mm.

Bị đánh mạnh ở hậu cứ, Mĩ - ngụy phải chấm dứt cuộc càn “Liên kết 72”. Đoán biết ý đồ quân địch, sư đoàn quyết định đưa trung đoàn 31, chặn đánh quân ngụy đi mở đường, cô lập trung đoàn 5 ở Bà Huỳnh, Bà Xá huyện Quế Sơn. Ngày 24/8 bọn chỉ huy ngụy cho 1 trung đoàn xe tăng, xe bọc thép và 2 đại đội bộ binh càn lên hướng Quân Rường, Eo Gió, huyện Tam Kì, khi cánh quân Bảo an vừa đến địa phận xã Tam Phú, liên bị một bộ phận của sư đoàn của ta nổ súng. Bọn trung đoàn 5 hốt hoảng kéo lên núi Đá Đen và chạy thoát về hướng huyện Thăng Bình. Trong khi đó, đoàn xe tăng 40 chiếc, cùng đoàn xe bọc thép số 5 của chúng từ Tam Kì đánh lên, đang tiến về làng Tam Cẩm xã Kì Thịnh. Trên trời bọn máy bay lên thẳng, máy bay phản lực chúi đầu ném bom, bắn rốc két mở đường cho xe tăng. Chờ cho địch vào thật gần, khẩu đội DKZ 75 và 57 của đại đội 1, tiểu đoàn 7 bố trí phía đông làng Tam Cẩm bắn cháy ngay chiếc xe tăng và xe bọc thép đi đầu. Cả 2 đoàn xe tăng địch lùi lại, ngay lúc đó khẩu đội súng máy phòng không của sư đoàn tăng cường hạ thấp nòng rà sát tháp xe tăng, xe bọc thép của địch nổ súng, kìm chế không cho xạ thủ đại liên trên xe tăng của địch phát huy tác dụng, cả 3 mũi xe tăng của địch bị chặn đứng.

Chúng tiếp tục cho máy bay trực thăng, máy bay phản lực bắn rốc két, ném bom. Nhà cháy, cây cối đổ ngổn ngang, cả một vùng rộng lớn cháy khét mùi đạn pháo, bon napan.

Sau hơn hai tiếng đồng hồ bắn phá, 3 mũi xe tăng dồn lại đội hình dàn hàng ngang tấn công vào trận địa ta. Lúc này khẩu đội DKZ bị bom phá hủy, ở hướng này xe tăng đã vào giữa làng, liên lạc với cấp trên bị gián đoạn. Trong giờ phút hiểm nghèo đó, Đảng ủy tiểu đoàn 60 quyết định tổ chức chiến đấu độc lập, động viên bộ đội bám địa hình đánh địch, hạn chế không cho xe địch lùng sục vào hợp điểm. Áp dụng bài học về đánh ở Vạn Tường, tổ diệt xe tăng của các đồng chí Đào, Mộc, Hiệp, Sào… do Đặng Đình Đào chỉ huy, quần lộn với đoàn xe tăng địch bắn cháy 6 chiếc, có 5 xe tăng M118, 1 xe M113. Trời sập tối, những chiếc xe tăng thoát chết ở làng Tam Cẩm đang trên đường rút về, đã không thoát được đội hình đánh tăng, do tiểu đoàn phó tiểu đoàn 60 và đại đội trưởng đại đội 6 chỉ huy, thêm 9 chiếc xe tăng và xe bọc thép của địch bị phá hủy. Cả đoàn xe tăng và xe bọc thép gồm 40 chiếc lúc đi vào, chỉ còn 18 chiếc hoảng loạn tìm đưởng tháo chạy, 22 chiếc phải nằm lại ở những nơi chúng đến gieo tội ác, cày xới hoa màu, ruộng đồng, vườn tược, nhà cửa của nhân dân.

Ngày 25/8, bọn địch cho tiểu đoàn 1 trung đoàn 11 kị binh thiết giáp đóng tại căn cứ Tuần Dưỡng huyện Thăng Bình lao vào vòng chiến. Cánh đồng Kì Thinh, huyện Tam Kì lại diễn ra trận đánh xe tăng của bộ binh trung đoàn 31 sư đoàn 2 Quân khu. Mặc cho máy bay địch quần lộn ném bom khống chế, các chiến sĩ bình tĩnh bám sát địch, chia cắt đội hình đoàn xe tăng 36 chiếc, bắn cháy và phá hủy 30 chiếc, bắn rơi 9 máy bay.

Hai ngày đánh gục 1 trung đoàn xe tăng và xe bọc thép của Mĩ - ngụy, các chiến sĩ sư đoàn 2, giáng một đòn nặng vào chiến thuật “Mũi dao nhọn” của địch mới áp dụng trên chiến trường Quảng Nam.

Năm 1968 rực rỡ chiến công và đầy những thử thách ác liệt, nhưng cũng là năm trưởng thành của sư đoàn về nhiều mặt, nhất là kinh nghiệm đánh xe tăng, xe bọc thép Mĩ… năm 1969, thế trận diễn ra trong sự giằng co quyết liệt giữa ta và địch trên chiến trường. Mĩ - ngụy tiếp tục thực hiện chiến lược “Quét và giữ” với biện pháp chủ yếu “Bình định nông thôn”. Đánh phá vào nhân dân và cơ sở cách mạng ở thôn xã ở cả 3 vùng thành thị nông thôn và miền nuií bằng nhiều mức độ càn quét, lấn chiếm khác nhau.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:28:53 PM
Địa bàn hoạt động của sư đoàn trong thời gian này nằm trên địa bàn 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà. Nơi quân địch tập trung 38 tiểu đoàn và một số lượng binh khí kĩ thuật hiện đại gồm: 14 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mĩ, 6 tiểu đoàn của sư đoàn thiết giáp ngụy, gần 300 đại bác từ 105mm đến 203mm, chưa kể pháo hạm và hàng trăm máy bay dã chiến khác sẵn sàng tham chiến. Lực lượng này chúng bố trí theo công thức: Mĩ vòng ngoài, ngụy vòng tỏng, hình thành 2 tuyến phòng ngự vững chắc hỗ trợ cho nhau, kết hợp với pháo binh, không quân hỗ trợ, chưa kể lực lượng bảo an, địa phương quân đông đúc.

Thực hiện kế hoạch này ở vòng trong, địch cày ủi đánh phá khu vực giữa sông Thu Bồn và sông Cẩm Lệ, làm bàn đạp đánh phá khu vực Gò Nổi, Đại Lộc, Duy Xuyên. Ở phía tây thị xã Tam Kì, Quế Sơn lính Mĩ, lính Nam Triều Tiên điều đến từng đại đội, trung đội để hỗ trợ cho quân ngụy. Chúng tổ chức nhiều hình thức đánh phá như phục kích, giả dạng thay quân, nhưng tìm cách nằm lại dai dẳng ở những nơi xung yếu. Ở vòng ngoài, quân Mĩ liên tục hành quân càn quét vùng a, vùng b huyện Đại Lộc, Hiệp Đức, càn sâu vào vùng căn cứ của ta ở Yanh Brai, Thạnh Mĩ, làng Rô. Bà Huỳnh, Bà Xá, Trạm Mười Một, Nước Oa, máy bay B52 ném bom rải thảm, mang tính hủy diệt các vùng dọc sông Tranh, Dốc Quế, trạm 10, khu căn cứ Hòn Tàu.

Những thủ đoạn đánh phá ác liệt, nham hiểm của Mĩ - ngụy, Nam Triều Tiên trên đây, đã gây cho ta nhiều khó khăn và tổn thất. Đường giao liên, liên lạc, dân công vận chuyển từ căn cứ lên, xuống vùng đông các huyện luôn trở ngại, mất thời gian.

Để giữ thế trận chiến trường, sư đoàn 2 tiếp tục đứng chân tại địa bàn Mặt trận 4 đánh địch ở vùng a, vùng b Đại Lộc. Trung đoàn 31, được tăng cường đại đội đặc công, đại đội phòng không bao vây đánh nát chi khu quận lị Tiền Phước, hỗ trợ cho địa phương phá ấp giành dân.

Sau một tháng chiến đấu, các bộ phận của sư đoàn được phân công đứng cánh, đã linh hoạt chiến đấu đạt hiệu suất cao, loại ra khỏi vòng chiến đấu 2.000 tên địch bắn rơi 41 máy bay hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tạo thế cho chiến trường, mở ra các đợt hoạt động kết hợp 3 mũi giáp công, gây cho địch bị động chống đỡ đối phó.

Phát huy chiến công đạt được, tiểu đoàn 10 đặc công của sư đoàn, điều tra nghiên cứu phương án tập kích căn cứ hậu cần trung đoàn 5 lính thủy đánh bộ Mĩ tại An Hòa, phía tây huyện Duy Xuyên, An Hòa còn là khu công nghiệp lớn ở miền trung, do 5 nước: Mĩ, Tây Đức, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Thái Lan đầu tư xây dựng nhưng chưa hoạt động được gì. Ở đây có hệ thống công sự kiên cố, bao quanh khu An Hòa có 10 lớp rào, giữa các lớp rào là giao thông hào, bãi mìn. Ban đêm có hệ thống đèn pha cực mạnh, công sự bên trong bằng bê tông cốt thép.

Thực hiện chiến thuật “Đánh nở hoa trong lòng địch” các chiến sĩ ta bí mật thọc sâu, đánh trúng khu trung tâm thông tin An Hòa. Tổ trưởng bộc phá Nguyễn Mẫn và tân binh Lê Xuân Quyến dùng khối bộc phá 20kg đánh đúng hầm chỉ huy, diệt bọn tham mưu và tên đại tá trung đoàn trưởng trung đoàn 5 lính thủy đánh bộ Mĩ. Các trận địa pháo, bãi đổ máy bay lên thẳng, khu cơ giới, kho xăng, kho đạn chìm ngập trong lửa đạn. Hơn 200 tên Mĩ (có 30 sĩ quan tư đại úy đến đại tá) bị diệt, 10 khẩu đại bác từ 105mm đến 203mm, 10 máy bay lên thẳng, 9 xe tăng và xe bọc thép, 3 kho nhiên liệu và 5 kho đạn bị phá hủy hoàn toàn.

Ở quận lị Đại Lộc có cứ điểm Núi Lở. Đây là một cứ điểm nhỏ nhưng phạm vi khống chế rộng đến cả phía tây nam quận lị Đại Lộc. Núi Lỡ nguyên là một đồn trú từ thời Pháp, được Mĩ - ngụy củng cố trở thành một cứ điểm phòng thủ bất khả xâm phạm. Trận địa pháo ở đây chúng có thể bắn phá hầu hết 2 vùng a, vùng b Đại Lộc và vùng tây Duy Xuyên. Trước ngày sư đoàn giao nhiệm vụ cho đặc công trung đoàn Ba Gia, tấn công tiêu diệt Nũi Lỡ, quân địch bố trí thêm 7 lớp rào kẽm gai và mìn sáng, mìn sát thương.

Ngay trong đêm đặc công sư đoàn đánh An Hòa, bộ phận đặc công trung đoàn Ba Gia đột nhập cứ điểm Núi Lở. Đại đội trưởng Chắt, bắn B40 vỡ tung lô cốt đầu câu, phát lệnh cho 3 mũi đặc công tiếp cận đồn địch đang sẵn sàng tư thể nổ súng. Chỉ trong vòng 20 phút chiến đấu, các bộ phận đã đánh chiếm khu trung tâm, hầm ngầm, khu thông tin… Sức chống cự của địch trong cứ điểm hoàn toàn bị tê liệt. Cả tiểu đoàn pháo binh Mĩ gồm 12 khẩu đại bác từ 105mm đến 175mm và 200 tên xâm lược Mĩ bị tiêu diệt.

Năm 1969, đi qua với những chiến công đánh nhồi vào cứ điểm An Hòa, Dốc Mực, Núi Đá Đen, Bàn Cờ, Lộc Sơn, Lộc Thành, La Tháp… sư đoàn 2 Quân khu đã diệt gần 1 vạn tên địch, bắn cháy và phá hủy gần 200 máy bay, 50 xe tăng, xe bọc thép, và gần 100 khẩu pháo.

Do yêu cầu giữ thế chủ động trên chiến trường và đã giải quyết bớt khó khăn về lương thực, 3 trung đoàn của sư đoàn 2 phải chia đứng chốt ở 3 nơi. Trung đoàn 31 vừa củng cố vừa tác chiến ở Quế Sơn, Thăng Bình, Quảng Nam, Trung đoàn 21 cơ động Quảng Ngãi thay thế sư đoàn 3 hành quân về Bình Định. Tại đây trung đoàn 21 vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng, trung đoàn Ba Gia hành quân lên phía tây Quảng Đà tập trung củng cố. như vậy cùng một lúc sư đoàn phải tiến hành 3 nhiệm vụ:

- Tác chiến, giữ thế chủ động trên chiến trường.

- Củng cố huấn luyện nâng cao sức chiến đấu.

- Chuẩn bị cơ sở vật chất cho nhiệm vụ chiến đấu trong năm 1970.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:31:47 PM
CHƯƠNG VII

DẤU CHÂN SƯ ĐOÀN

Chiến lược chiến tranh “Quét và giữ”, thực chất là địch tăng cường về cường độ bom pháo đánh phá vào vùng hậu phương của ta một cách khốc liệt nhằm thực hiện chiến lược ”Phi Mĩ hóa chiến tranh”, “thay màu da trên xác chết”, “Lấy quân ngụy làm đối tượng chính với ta trên chiến trường và rút dần quân ra khỏi miền Nam trên thế thắng”. Những vùng chiến khu an toàn của ta trước đây đều bị máy bay B52 ném bom rải thảm, những cánh rừng đại ngàn bị chất độc khai hoang triệt trụi, bọn biệt kích thường xuyên thâm nhập lùng sục đánh phá. Hơn 60% nông dân ở vùng giải phóng không sản xuất được lương thực, nhiều vùng dân chúng phải nhờ sự chi viện của bà con ở vùng địch kiểm soát, các cửa khẩu cung cấp lương thực của ta đều bị địch phong tỏa bằng bom pháo và quân bộ. Nguồn lương thực tiếp tế từ hậu phương vào cũng gặp khó khăn. Số lượng lương thực về vùng giải phóng chỉ như “muối bỏ bể”. Từ cuối năm 1968, đến nửa năm 1970, lực lượng võ trang tập trung của các tỉnh đồng bằng ven biển miền Trung và quân chủ lực của Quân khu đèu lâm vào hoàn cảnh hết sức gian nan. Bộ đội thiếu ăn, nhiều nơi đã xảy ra nạn đói. Anh em đi công tác, đói quá treo võng nằm ven rừng có người đã qua đời, có người lâm trọng bệnh.

Đối với sư đoàn 2 Quân khu 5, sự khó khăn về lương thực, nếu đem so sánh với những năm 1960, 1963, thì sự thiếu thốn lương thực ở thời điểm này gấp trăm lần. Tuy nhiên, trong gian khổ, tình đoàn kết, gắn bó yêu thương đồng chí, đồng đội càng thêm ngời sáng. Các đồng chí trong Bộ tư lệnh sư đoàn hằng ngày cũng chỉ ăn cháo loãng với sắn, môn dóc. Do ăn uống kham khổ thiếu thốn như vậy, sợ sức khỏe các đồng chí suy sụp, phòng hậu cần có đề nghị: “Khó thì khó, nhưng phải để cho các thủ trưởng đủ sức khỏe, để tâm trí cho lãnh đạo chiến đấu. Nếu bộ đội ăn rau, thì lãnh đạo ăn cháo. Nếu chiến sĩ ăn cháo, thì lãnh đạo ăn cơm”. Nhưng đề nghị đó đã không được chấp nhận. Các đồng chí trong Bộ Tư lệnh sư đoàn đưa ra ý kiến: “Đã là con người thì sự đói no, như nhau. Chúng ta là người cách mạng, làm cách mạng thì phải công bằng, sao chỉ có chỉ huy mới được ăn?”. Chi bộ phòng tham mưu sư đoàn cuối cùng phải đề ra nghị quyết: “Các đồng chí trong Bộ Tư lệnh sư đoàn mỗi ngày phải ăn 250g gạo” (1 lon gạo/ngày). Nghị quyết buộc các đồng chí lãnh đạo sư đoàn phải chấp hành, nhưng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh xin nhận một nửa định lượng (nửa lon gạo/ngày) còn nửa định lượng gởi cho thương binh ở bệnh xá sư đoàn.

Ở các đơn vị, chiến sĩ thấy cán bộ chỉ huy đói, tự động đi tìm mọi cách để cải thiện bữa ăn, nhưng có gì hơn ngoài rau rừng và mon dóc. Hôm nào kiếm được vài củ sắn, chiến sĩ mời chỉ huy, chỉ huy lại nhường cho chiến sĩ. Cuối cùng phải chia nhau qua bữa. Truyền thống đồng cách mạng cộng khổ của cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn càng thể hiện tình giai cấp, tình đồng đội trong những ngày khó khăn chồng chất tưởng như không vượt qua được, nhưng sự chịu đựng, ý chí chiến đấu và bằng sự nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ, vừa lo đánh địch, vừa sản xuất, mở các tuyến thọc sâu vào vùng địch tìm nguồn lương thực. Tình hình dần dần được khắc phục. Vào chiến dịch Hè năm 1970, sư đoàn 2 Quân khu 5, phải tác chiến ở 2 hướng: Quảng Ngãi và Quảng Nam. Mỗi chiến trường đều gắn nhiệm vụ căng kéo địch ra để diệt, hạn chế sự sát thương của phi cơ và pháo binh Mĩ. Tác chiến theo địa bàn là để hỗ trợ cho lực lượng vũ trang địa phương phá kèm kẹp chống bình định, tạo thế cho nhiệm vụ giành dân, giành quyền làm chủ, mở rộng và phát triển chiến tranh du kích, giữ vững căn cứ. Đồng thời để giải quyết một vấn đề lớn là lương thực, chu cấp nuôi cả sư đoàn để đủ sức thực hiện nhiệm vụ liên tục tác chiến. tôi còn nhớ Bộ Tư lệnh sư đoàn lúc này do đồng chí Hoàng Anh Tuấn, sư đoàn trưởng(1), Nguyễn Chơn, sư đoàn phó, đồng chí Bùi Tùng, phó chính ủy và tôi, chính ủy sư đoàn.

Chấp hành mệnh lệnh của Quân khu 5, Bộ Tư lệnh sư đoàn chúng tôi phân công cho các đoàn cán bộ đi chuẩn bị chiến trường. Ở Quảng Ngãi do trung đoàn 21, đảm nhiệm nghiên cứu các cứ điểm địch ở 2 huyện Sơn Tịnh và Nghĩa Hành. Ở Quảng Nam do trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia) sau một thời gian củng cố học tập ở phía tây tỉnh Quảng Nam đã trở về, trung đoàn 31, được lệnh nghiên cứu các cứ điểm địch ở Hiệp Đức, Tiên Phước, Tam Kì…

Chiến dịch hè bắt đầu từ ngày 1/5 đến ngày 10/6, thời gian kéo dài 40 ngày.


(1) Sau này đồng chí Hoàng Anh Tuấn là Thứ trưởng ngoại giao nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, kiêm địa sứ ở Cộng hòa Ấn Độ. Đồng chí Nguyễn Chơ, sư đoàn phó, vào những năm 1989, 1999 là thượng tướng, Thứ trưởng quốc phòng, Tổng tham mưu phó Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:33:53 PM
Bộ Tư lệnh sư đoàn chia 2 đoàn cán bộ đi công tác ở hai hướng chiến trường: Đoàn của đồng chí Nguyễn Chơn đi chuẩn bị hướng Tam Kì, Thăng Bình hợp điểm về khu vực Bình Kiều, bên Sông Tranh. Đoàn cán bộ đi chuẩn bị chiến trường ở Hiệp Đức có đồng chí Sư trưởng Hoàng Anh Tuấn bay chỉ huy trung đoàn 31 và tôi, gồm 13 người xuất phát từ dốc Đoát. Chúng tôi đi xuống Đồng Làng qua Tí, Sé vượt sông Tranh về Bình Kiều, Quế Sơn, chuẩn bị tiếp cận cứ điểm núi lớn ở Hiệp Đức và chuẩn bị khu chiến cho chiến dịch. Khi ra đi, khu lương thực dự trữ đã cạn. Tiêu chuẩn của mỗi người mang theo trong 10 ngày công tác, chỉ có 5 lon gạo và 2kg sắn lát khô. Mỗi bữa ăn tính ra chỉ có 2 lạng sắn khô và 1 lạng gạo. Đường xa lặn lội, sau 3 ngày mới về đến chiến trường. Chúng tôi dừng lại bên bờ sông Tranh kiểm tra các mặt và tính toán lương thực chi dùng trong thời gian ở lại nghiên cứu cứ điểm địch, đề phòng địch càn có gạo để ăn và chiến đấu. Đêm đầu tiên đoàn cán bộ trước khi xuất phát tiếp cận cứ điểm đị ch chỉ được ăn 2 lạng sắn khô luộc chấm với muối. Thời kì này đồng bào ở vùng giải phóng cũng quá nghèo không có điều kiện ủng hộ cho bộ đội. Thương đồng đội, đồng chí Phạm Thị Duyên (quê ở Hội An) quân y sĩ và kiêm nhiệm vụ chị nuôi của chúng tôi, lấy chiếc áo lót đổi cho dân được 12 củ dong riềng (có nơi gọi là củ huỷnh tinh) đem luộc. Trước khi đoàn chúng tôi xuất phát đi nghiên cứu cứ điểm núi Lớn, đồng chí Duyên đem phân phát cho 12 người chúng tôi “bồi dưỡng” (Sau này đồng chí Duyên về làm thị đội phó Hội An và hi sinh anh dũng).

Trong đêm, Duyên ở lại tranh thủ tìm hái được chừng 2kg rau má đem rửa sạch, dự kiến sáng ngày hôm sau nấu cho anh em thêm ngoài tiêu chuẩn. Xong công việc đoàn cán bộ trở về trời đã quá nửa đêm, bụng người nào cũng bị “kiến cắn” nhưng cũng ráng xuống hầm tìm giấc ngủ để cố quên cái đói cồn cào. Có lẽ vì quá đói đồng chí Hoàng Anh Tuấn, đến hỏi tôi “Củ dong riềng hồi tối ở đâu vậy, còn không cho tôi 1 củ, đói quá anh Chương ơi!”. Tôi trả lời: “Đồng chí Duyên đổi cái áo lót được 12 củ như vậy cho anh em ăn hồi tối rồi, đồng chí Duyên đâu có ăn”. Nói như vậy, nhưng tôi cũng đến hầm của Duyên hỏi: “Đồng chí Duyên ơi, có cái gì lót lòng không, anh Tuấn đói quá”. Đồng chí Duyên lấy bọc rau má ra nói nhỏ với tôi: “Em tranh thủ lúc các anh đi làm nhiệm vụ đã hái được một mớ rau má đây, thôi thủ trưởng đem cho thủ trưởng Tuấ một ít ăn với con cá nục muối này may ra đỡ đói”.”. Trong bóng đêm mờ tỏ sao trời, tôi nhìn thấy hai giọt lệ của sư trưởng lăn dài trên gò má hốc hác vì thiếu ăn, vì đói, và vì chiến trường ác liệt không có thời gian nghỉ ngơi, tìm giấc ngủ để quên đói.

Hoàn thành công tác nghiên cứu cứ điểm địch ở Hiệp Đức, đoàn chúng tôi hành quân trở về căn cứ. Khi đi qua một đám sắn hoang anh em phân công đào mót được một người khoảng 2kg sắn tươi. Có rau, có sắn và một ít lương thực còn làn, trưa hôm đó chúng tôi “liên hoan” với nhau một bữa tương đối no nê. Kiểm tra lại cả đoàn chỉ còn được 3 lon gạo và chừng 1kg sắn lát khô. 3 giờ chiều hôm đó, đoàn húng tôi gặp 6 chiến sĩ treo võng nằm ven rừng. Hỏi thăm anh em cho biết, 6 người đi cõng gạo, nhưng cửa khẩu bị địch càn chốt quân, trở về đến đây, bụng đói, người mệt không còn sức đi nữa. Tôi và anh Tuấn, bàn nhau trút hết số lương thực còn lại “cứu đói” cho 6 chiến sĩ, 6 chiến sĩ đó được gạo cũng không còn sức để đi nấu ăn, chúng tôi phải nhóm lửa nấu cho anh em một nồi cháo và gói số lương thực còn lại bỏ vào ba lô cho các chiến sĩ ăn ngày hôm sau.

Chuyến đi công tác gian nan, vất vả nhưng đạt kết quả. Bộ Tư lệnh sư đoàn tổ chức hội nghị xác định quyết tâm mở chiến dịch. Cuộc họp kéo dài trong 4 ngày. Nhưng khổ nỗi, cán bộ của sư đoàn về dự hội nghị lại không có gạo sắn cho anh em ăn. Hôm đó đồng chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân khu đến sư đoàn nghe báo cáo tình hình và dự hội nghị. Biết sư đoàn khó khăn, đồng chí Tư lệnh cho 6 người mang lương thực về chi viện cho sư đoàn có ăn trong 4 ngày hội nghị. Có lương thực hội nghị sôi nổi hẳn lên. Sư đoàn hạ quyết tâm chỉ đạo các đơn vị ở 2 hướng chiến trường vượt lên hoàn thành nhiệm vụ.

Trong 40 ngày của chiến dịch, hướng chiến trường Quảng Nam tiêu diệt hơn 1.500 tên địch đánh thiệt hại trung đoàn 51 ngụy. Ở chiến trường Quảng Ngãi trung đoàn 21 của sư đoàn 2, đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn cơ động của sư đoàn 2 ngụy, tiêu diệt hơn 500 tên. Cả hai hướng chiến trường của sư đoàn đều hoàn thành nhiệm vụ diệt và kéo, kèm lực lượng cơ động của địch, để cho các địa phương ở hai tỉnh đánh diệt bọn bình định nông thôn, hỗ trợ cho nhân dân giành quyền làm chủ và trở về làng cũ làm ăn.

Ngày 10/6/1970, Bộ Tư lệnh sư đoàn 2 nhận được bức điện của Bộ Tư lệnh Quân khu. Nội dung bức điện như sau:

“Sư đoàn 2 kết thúc chiến dịch, cho bộ đội dứt chiến. Ngày 12/6/1970, khẩn trương rút các đơn vị về lại hậu cứ để nhận lệnh mới của Quân khu. Riêng trung đoàn 21 vẫn đứng nguyên vị trí và tiếp tục tác chiến ở chiến trường Quảng Ngãi. Khi trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia), trung đoàn 31 rút quân, mỗi đơn vị để lại một đài 15W có đủ cơ yếu, báo vụ thường xuyên phát điện 1 ngày 2 lần, vào trưa và chiều, còn các bộ phận về hậu cứ vẫn làm việc thường xuyên bằng vô tuyến với Quân khu, để địch không phát hiện sư đoàn ở đâu”.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2010, 08:35:13 PM
Bộ Tư lệnh sư đoàn chúng tôi cấp tốc triệu tập họp Thường vụ Đảng ủy sư đoàn để thông báo lệnh dứt chiến và rút quân của Quân khu cho các đồng chí trong Thường vụ biết, thảo luận kế hoạch đưa quân về hậu cứ bảo đảm an toàn. Cuộc họp bàn các nội dung như sau:

- Quán triệt tư tưởng chỉ đạo khi rút uqân.

- Kiểm tra công tác thương binh, thực hiện chính sách mồ mả liệt sĩ.

- Quán triệt công tác bảo mật phòng gian, chống địch phát hiện dấu vết hành quân.

- Bảo đảm lương thực cho hành quân và vận chuyển lương thực ở các cửa khẩu về hậu cứ để nuôi quân.

- Chuẩn bị công tác tổng kết chiến dịch và tiến hành hội nghị quân chính sư đoàn.

Cuộc họp Thường vụ Đảng ủy vừa tiến hành được 40 phút, thì sư đoàn nhận tiếp bức điện thứ hai của Bộ Tư lệnh Quân khu. Nội dung bức điện ghi rõ:

“Sư đoàn chỉ về hậu cứ củng cố mọi mặt trong vòng phạm vi 10 ngày, trong đó có phần sơ kết chiến dịch ở cấp trung đoàn, còn sư đoàn về tổng kết sau.

Sư đoàn chuẩn bị khẩn trương hành quân về vị trí đứng chân ở khu vực bắc đường số 9 thuộc huyện Mường Phìn, tỉnh Khăm Muộn thuộc miền Trung nước Lào. Đợi lệnh”.


Đọc xong bức điện, chúng tôi cứ nghĩ rằng, do cơ yếu dịch nhầm. Bán tín bán nghi, tôi liền cho mời trưởng ban cơ yếu lên, bảo đồng chí phải dịch lại mật mã bằng chữ và ghi tọa độ trên bản đồ. Lần thứ hai, Bộ chỉ huy sư đoàn gồm bốn chúng tôi giở bản đồ tìm địa danh, vẫn đúng như lần trước: là hành quân ra đường 9 Nam Lào. Bộ chỉ huy sư đoàn triệu tập cuộc Thường vụ, phổ biến bức điện. Chúng tôi đọc lại bức điện một lần nữa, lòng vẫn nghi hoặc không hiểu vì sao địch ở miền Nam còn đầy rẫy, mà sư đoàn 2 Quân khu 5 lại điều ra đường 9 Nam Lào. Tôi và anh Hoàng Anh Tuấn, trực tiếp gọi điện thoại lên Quân khu xin gặp đồng chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân khu, hỏi rõ về mật danh và tọa độ như vậy có đúng không. Vì sao sư đoàn phải di chuyển đi xa như vậy. Đồng chí Chu Huy Mân trả lời như sau: “Chấp hành đúng như bức điện, các đồng chí sư đoàn đã nhận lệnh của Quân khu, không hỏi thêm, không thắc mắc. Các đồng chí hãy nhớ: “Quân lệnh như sơn” nghiêm chỉnh chấp hành không hỏi lại. Một ngày gần đây tôi sẽ trực tiếp gặp sư đoàn tại địa điểm mới”.

Sau khi nghe điện thoại, tôi báo cáo lại trong cuộc họp Thường vụ, mọi người vẫn thấy lo lắng. Nhưng điều quan trọng, là nguyên tắc Đảng, cấp dưới phải phục tùng cấp trên và cán bộ quân đội cách mạng lúc nào cũng phải quát triệt, có lệnh là đi, có giặc là đánh, luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đó là tiêu chí của các cấp lãnh đạo trước hết là Thường vụ Đảng ủy sư đoàn. Cuộc họp hết buổi sáng, Thường vụ sư đoàn bàn toàn diện, thành nghị quyết. Tôi được Thường vụ phân công trực tiếp truyền đạt nghị quyết cho cơ quan và các đơn vị kịp thu xếp mọi việc, chấp hành mệnh lệnh lui quân về hậu cứ. Liền sau đó các trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia), trung đoàn 31, các đơn vị trực thuộc họp Đảng ủy từ cơ sở trở lên bàn triển khai kế hoạch, để các chỉ huy đơn vị trực tiếp tổ chức thực hiện. Đúng ngày 20/6, sư đoàn tổ chức kiểm tra từng đơn vị chuẩn bị hành quân, những bộ phận nhỏ ở lại chấp hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của sư đoàn.

Trong khi trung đoàn 21 vẫn đứng chân tại Quảng Ngãi, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 quyết định điều trung đoàn 141, ở Mặt trận Quảng Đà về đứng trong đội hình thuộc biên chế của sư đoàn 2.

Trung đoàn 141, được thành lập từ cuối năm 1950, đã tham gia các chiến dịch lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp, như chiến dịch Trần Hưng Đạo, chiến dịch Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hòa Bình, chiến dịch Tây Bắc, chiến dịch Thượng Lào và đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ. Tại chiến dịch Điện Biên Phủ, cán bộ chiến sĩ trung đoàn 141, đã lập những chiến công vang dội ở Tràng Bạch, Thu Cúc, Lai Đồng, điểm cao 660 (Ba Vì). Được Bộ Tổng tư lệnh tặng danh hiệu “Ba Vì anh dũng”. Tiếp theo là chiến thắng Sài Lương, Xốp Hào, mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ với trận thắng Him Lam oanh liệt, nổi danh anh hùng Phan Đình Giót, lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Đầu năm 1968, khi cuộc tổng tiến công nổi dậy đồng loạt của quân và dân miền Nam đang diễn ra quyết liệt, trung đoàn được lệnh hành quân cấp tốc vào chiến trường miền Trung. Sau một năm thử thách ác liệt, trung đoàn 141 đã lập nên những chiến công mới ở khu vực Túy Loan, Thượng Đức.

Như vậy, trung đoàn 21 ở lại Quảng Ngãi, xa đội hình sư đoàn, nhưng sư đoàn được bổ sung trung đoàn 141, càng làm cho đội hình và lịch sử chiến đấu của sư đoàn thêm phong phú, sức chiến đấu cũng tăng lên.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:41:14 AM
TRƯỜNG SƠN VẠN DẶM

Đúng ngày 22/6/1970, đội hình sư đoàn bắt đầu hành quân, các bộ phận tiền trạm của các đơn vị đều có mặt để lo cho đơn vị của mình trên từng cung đoạn của con đường Trường Sơn vạn dặm. Tôi và sư trưởng Hoàng Anh Tuấn đi trước với đoàn tiền trạm, tiếp theo là đội hình trung đoàn 1, trung đoàn 31 và các đơn vị trực thuộc, xuất quân qua Đồng Làng ngược lên huyện Hiên, vượt sông Tranh. Đã vào mùa mưa những cơn mưa rừng như “cầm chỉnh đổ”, nước một số con sông trên dãy Trường Sơn có đoạn dâng cao, tiểu đoàn công binh sư đoàn được lệnh tổ chức đóng bè để đưa bộ đội vượt sông. Chúng tôi phân công đồng chí Sư đoàn phó Nguyễn Chơn, Bùi Tùng, phó chính ủy cùng đi sau đội hình để kiểm tra, chỉ đạo các đơn vị hành quân đúng lộ trình và thời gian. Lúc ra đi súng ống lỉnh nghỉnh, mang vác nặng nề, nhưng khi sư đoàn lên đến binh trạm 61 thì được lệnh bàn giao toàn bộ vũ khí lớn gồm súng DKZ, trọng liên, đại liên, cao xạ và toàn bộ cơ số đạn cho binh trạm, bộ đội chỉ mang 1/3 số lượng súng AK và CKC trang bị để sẵn sàng chiến đấu trên đường hành quân. Từ Nậm Bạc trở ra các binh trạm phía bắc, bộ đội được ăn no, đầy đủ cơm trắng, thịt hộp, bột trứng, đường sữa, lương khô, bảo đảm cho bộ đội ăn thoải mái, không tính tiêu chuẩn nhưng không được để thừa. Nói vui lúc này, “luận điểm” Chủ nghĩa xã hội là “làm việc tùy sức, ăn tiêu tùy cần” lần đầu tiên xuất hiện trên con đường kháng chiến của Trường Sơn vạn dặm và trong ý nghĩa của các chiến sĩ từ trong gian khổ thiếu thốn bỗng dưng tận hưởng thoải mái.

Hơn một tháng hành quân, ngày đi đêm nghỉ. Đường Trường Sơn mưa ướt lầy lội, đèo cao, suối sâu vẫn không làm bước chân chiến sĩ của sư đoàn dừng lại. Các binh trạm lán trại không đủ, cán bộ chiến sĩ sư đoàn phải che tâng để tú mưa. Đường đi vất vả nhưng nhờ có ăn uống đầy đủ, sức khỏe bộ đội tăng dần. Những anh em đói kiệt ở chiến trường cũng khỏe ra. Sư đoàn không còn những người quá ốm yếu, bệnh sốt rét cũng giảm dần.

Đến giữa tháng 8/9170, sư đoàn 2 Quân khu 5 đã đến địa phận tọa độ của Bộ Quốc phòng và Quân khu 5 chỉ định, ở phía bắc đường số 9 thuộc huyện Mường Phìn, tỉnh Khăm Muộn, Trung Lào.

Cuộc chiến tranh chống Pháp lần thứ nhất thắng lợi. Cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước lại khởi đầu và diễn ra trên con đường huyền thoại bằng cuộc hành quân “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” từ những năm 1959, 1960. Thật không ngờ, trong cuộc chiến đấu ác liệt và gian khổ ở miền Nam suốt những năm qua, nay tôi lại được trở lại con đường xưa, nơi xuất phát của cuộc hành quân, ví như cuộc “Nam tiến” lần thứ hai, lòng tôi hợt dạt dào với bao cảm xúc.

Đường số 9, con đường vui chiến thắng
Đường ta đi sim nở tím đối hoa
Lòng rộn ước mơ, chim reo hòa trong gió
Đường chiến công rộn rã khúc quân ca.
Hỡi cô bạn mến thương ở phía chân trời xa
Đường đánh Mĩ nhiều hoa lắm trái.
Vội vã đuổi thù anh chưa kịp hái
Hẹn chiến thắng về tặng em cả trời hoa…


Sư đoàn đứng chân ở địa điểm quy định trên hành lang chiến lược của Trung ương, có đủ điều kiện thuận lợi để tập trung củng cố và huấn luyện. Có lương thực ăn no, có quân phục mặc ấm, có những khu rừng măng bát ngát. Những năm qua sống, chiến đấu quần lộn với địch ở chiến trường đồng bằng Khu 5. chịu đói khổ, thiếu thốn, nay lên rừng sống giữa đại ngàn, mỗi người lính chúng tôi như thấy được sự ấm áp che chở những cánh rừng, đúng như lời thơ, của nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Đường Trường Sơn đang trong mùa chiến dịch, hối hả tấp nập dòng người ra, vào giữa hậu phương lớn với chiến trường miền Nam, chiến trường Nam Lào. Từng đoàn xe bám bùn đất, bụi đỏ chở đạn dược, lương thực, kéo pháo, tải thương. Các binh trạm, cung đường, nam nữ thanh niên xung phong hồ hỡi san lấp hố bom, mở đường, vận chuyển vũ khí. Từng đoàn cán bộ, bộ đội vai ba lô, tay gậy hăm hở như mong sớm được vào tuyến lửa, với miền Nam ruột thịt. Tôi đã thực sự sống những ngày ở đường Trường Sơn, nhưng không sao tưởng tượng và hình dung được sự lớn mạnh nhanh chóng của lực lượng cách mạng. Thật vĩ đại và hào hùng biết bao!

Được lệnh cấp trên, Bộ Tư lệnh sư đoàn đã đến nơi tập kết, mở hội nghị để làm những vấn đề cơ bản và cụ thể về củng cố, xây dựng sư đoàn trong điều kiện đưa toàn bộ đội hình sư đoàn đi vào nề nếp chính trị, thực hiện việc xây dựng doanh trại. Rừng Lào bát ngát, cây cối còn nguyên sinh, phủ dày như một mái nhà xanh. Các đơn vị mượn cưa, dục, rựa, rìu của các binh trạm, để làm doanh trại. Lần đầu tiên giữ rừng già, những khả năng, năng khiếu của cán bộ chiến sĩ được tận dụng triệt để. Trong hai tuần lễ lao động, các đơn vị đã cơ bản hoàn thành công việc xây dựng những “căn nhà chiến tranh” nửa chìm nửa nổi để đề phòng máy bay địch đánh phá. Mỗi nhà đều có giao thông bên ngoài, đề phòng biệt kích địch bất ngờ tấn công và bộ đội có điều kiện chiến đấu. mặc dầu nhà dã chiến ở giữa rừng, nhưng các đơn vị vẫn bố trí thành từng dãy theo đội hình, trung đội, đại đội, tiểu đoàn, có sạp bằng nứa để ngủ, tường vách được che phên kín đáo, có giá ba-lô giá súng được sắp đặt thuận lợi, và bàn ghế để hội họp sinh hoạt. Nhà ăn được làm giữa doanh trại. Từng đại đội, có cột cờ, sân bóng chuyền giàn hoa phong lan trông thật tiện nghi, sạch sẽ đẹp mắt.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:42:41 AM
Sư đoàn được nhận quân trang quân dụng, trang bị mới. Lần đầu tiên cả đội hình sư đoàn động phục màu xanh Tô Châu, doanh trại gọn gàng, ngăn nắp, giá ba-lô, chăn màn đều mới, được sắp xếp thẳng tắp theo đúng điều lệnh quân đội. Căn cứ theo thực tiễn chiến trường mà quy định chế độ hội họp, học tập, công tác trên cơ sở điều lệnh quân đội thống nhất toàn sư đoàn, như:

Thực hiện chế độ chào cờ buổi sáng thứ hai hàng tuần, bộ đội được nghỉ chủ nhất mỗi tuần ở từng đại đội tổ chức độc báo và sinh hoạt buổi tối học hát “Tiến quân ca” và bài “Giải phóng miền Nam”, Báo Quân đội nhân dân, Văn nghệ quân đội và một số tuần báo khác được xuất bản trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, cũng như các đoàn văn công phim ảnh đến phục vụ, được đọc, xem hằng tuần. Có thể nói, từ khi thành lập sư đoàn cho đến lúc này mới có được nếp sinh hoạt đúng nghĩa của một đơn vị quân đội chính quy. Sư đoàn đóng quân gần hậu phương lớn miền Bắc, nên có điều kiện tập trung củng cố xây dựng đơn vị. Tuy nhiên cũng có những cá nhân, trường hợp, được ăn no, mặc ấm, có đủ thuốc men chữa bệnh, có đủ báo chí để đọc, biết được tin tức trong và ngoài nước ấy lại nảy sinh những vấn đề về tư tưởng. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn đã nhìn thấy trước tình hình và đã có ngay hướng khắc phục. Ví dụ như một bộ phận cán bộ chiến sĩ quê ở miền Nam vui mừng được học tập rèn luyện sinh hoạt đầy đủ, nhưng lại có suy nghĩ bao giờ thì được trở về lại chiến trường miền Nam. Đôi lúc có những chiến sĩ nhớ quê hương, lo lắng cho đồng bào, người thân bị giặc bắt tù đày, hoặc khủng bố tra tấn trong các ấp chiến lược, liệu khi họ trở về, những người thân có còn sống không, gặp lại nhau không? Còn các đồng chí cán bộ chiến sĩ quê ở miền Bắc đã vào Nam chiến đấu lâu ngày, nay ra đến đây lại có nguyện vọng được về thăm gia đình. Nguyện vọng đó của anh em thật chính đáng, nhưng yêu cầu nhiệm vụ của sư đoàn lại cấp bách, chưa thể đáp ứng được. Vì thế, một số đồng chí phát sinh tư tưởng chán nản, mệt mỏi, giản chiến, trễ nải trong việc học tập, rèn luyện. Sau một tuần lễ sư đoàn bám sát từng đơn vị, Đảng ủy sư đoàn họp, đánh giá, phân tích, tổng hợp tình hình và tổ chức đợt sinh hoạt tư tưởng trong toàn Đảng bộ sư đoàn, đấu tranh nghiêm túc và thẳng thắn, chân thành, góp ý xây dựng những biểu hiện không phù hợp làm hạn chế ý chí, sức mạnh của tập thể sư đoàn trong lúc cả tập thể đang tập trung huấn luyện sẵn sàng chiến đấu lập công.

Sau đợt sinh hoạt, toàn sư đoàn đã ổn định, mặt tốt được phá huy. Khí thế thi đua học tập tiến bộ rõ rệt. Sinh hoạt từng đơn vị đi vào nề nếp.

Giữa tháng 9/1970, toàn sư đoàn được bổ sung quân số từ miền Bắc chuyển vào. Anh em quê ở Hà Nội, Hải Phòng, Hải Hưng, Hòa Bình, Phú Thọ, Hà Nam Ninh; hầu hết lớp chiến sĩ này đã tốt nghiệp phổ thông cấp 3, có một số là sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, tình nguyện nhập ngũ đi vào Nam đánh giặc, anh em được học tập 3 tháng quân sự, chính trị trước khi đi vào chiến trường. Cán bộ lãnh đạo cấp sư đoàn và trung đoàn vui mừng, phấn khởi vì lần đầu tiên biên chế của sư đoàn đầy quân, mỗi tiểu đoàn có 500 quân, trung đoàn có 2.000 quân cấp trực thuộc cũng đủ biên chế. Trang bị vũ khí chuẩn bị chiến đấu được cấp mới hoán toàn. Trong đó những loại binh khí kĩ thuật hiện đại, gọn nhẹ, phù hợp với điều kiện chiến trường.

Thời gian này, sư đoàn được sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng Cục chính trị và Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục hậu cần quân đội Nhân dân Việt Nam. Các cơ quan cấp trên cử cán bộ xuống sư đoàn vạch kế hoạch giáo dục chính trị, tập huấn quân sự và bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho tất cả các bộ phận học tập tình hình, nhiệm vụ quân đội, nhiệm vụ của sư đoàn trong giai đoạn mới của cách mạng. Đảng ủy sư đoàn đồng thời triển khai cuộc vận động do Ban bí thư Trung ương Đảng phát động: “Nâng cao chất lượng chiến đấu của sư đoàn kết nạp đảng viên mới - Lớp đảng viên Hồ Chí Minh”. Qua đại hội các cấp trong sư đoàn, đảng viên, đoàn viên đều hoàn toàn nhất trí với phương hướng: “Xây dựng sư đoàn chính quy tinh nhuệ, tác chiến tập trung”.

Sau đợt sinh hoạt chính trị, Bộ Tư lệnh sư đoàn nhận được điện của Bộ Quốc phòng, triệu tập cán bộ của sư đoàn 2 ra dự tập huấn chiến dịch do Bộ Tổng tham mưu chủ trì. Lớp học được Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trực tiếp khai mạc và giảng bài. Đại tướng nêu ý rõ tình hình, nhiệm vụ của cả nước trong giai đoạn sắp đến, tình hình địch ta ở miền Nam, yêu cầu của quân đội ta ở cả hai miền sẵn sàng chiến đấu cao, sắp đến tham gia những chiến dịch đánh hợp đồng binh chủng, cùng một lúc có nhiều sư đoàn tham gia trên một mặt trận, có binh khí kĩ thuật hiện đại trong đội hình lớn của binh chủng hợp thành. Yêu cầu nhiệm vụ sắp tới của quân đội ta là đánh to, thắng lớn, diệt gọn từng trung đoàn, chiến đoàn, sư đoàn của địch, phải đánh thắng tất cả mọi đối tượng, sắc lính của địch, phải tấn công giỏi, phản công giỏi, phòng ngự kiên cường. Đó là yêu cầu mới. Lớp tập huấn này, sư đoàn 2 cử đồng chí Nguyễn Chơn, sư đoàn phó, tôi là chính ủy sư đoàn, Dương Bá Lợi, tham mưu trưởng, Nguyễn Thí, tham mưu phó sư đoàn, Nguyễn Lĩnh, Phạm Trọng Hoàn, phòng hậu cần của sư đoàn, Nguyễn Tá, chủ nhiệm chính trị, Nguyễn Văn Huyên, phó chủ nhiệm chính trị sư đoàn, 3 trung đoàn trưởng và 3 chính ủy trung đoàn cùng đi dự.

Sau 15 ngày tập huấn, chúng tôi lên đường trở lại chiến trường. Một số đồng chí bị đau dạ dày, sốt rét chưa cắt cơn, nhưng không ai xin ở lại điều trị. Mọi người đều vui mừng phấn khởi, vì được tiếp thu tư tưởng mới trong tác chiến, thấy nhiệm vụ của quân đội rất đặc biệt và nặng nề trong mùa xuân 1971 sắp đến.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:43:23 AM
Trong lúc tôi đang đi tập huấn ở hậu phương thì ở bản doanh sư đoàn, đồng chí Sư đoàn rưởng Hoàng Anh Tuấn, đưa cán bộ từ đại đội trưởng đến trung đoàn, sư đoàn và 3 cơ quan: Tham mưu, chính trị, hậu cần đi nghiên cứu địa hình ở Bản Đông, Sê Pôn, Tha Mé… dọc đường 9, nghiên cứu các điểm cao, đồi trục, khe suối, tuyến đường, tổ chức trinh sát về địa hình trên toàn bộ khu chiến,cho cán bộ pháo binh đo đạc phần tử xạ kích của pháo, và chọn trận địa cho các loại hỏa lực từ cối 81mm, pháo 105mm, pháo 155mm, pháo 130mm… chuẩn bị sẵn các mục tiêu địch có thể đổ bộ, chuẩn bị trận địa cho pháo cao xạ 37mm, 57mm sẵn sàng đánh địch đổ bộ, cho lực lượng công binh của sư đoàn phối hợp với công binh của Bộ, của đoàn 559, nghiên cứu các vị trí cầu phà và chuẩn bị làm đường để kéo các loại pháo vào trận. Các bộ phận thông tin của đoàn 559, của sư đoàn nghiên cứu các đường dây, các trạm triển khai mạng lưới thông tin trong suốt hai tháng 10 và 11 năm 1970. Cán bộ sư đoàn, trung đoàn 141, trung đoàn 1 và các bộ phận trực thuộc đều triển khai nghiên cứu địa hình trong khu vực tác chiến của đơn vị. Trong lúc đó, cán bộ cấp phó từ trung đoàn, xuống đại đội đều trực tiếp chuẩn bị thao trường và huấn luyện cho toàn sư đoàn.

Riêng trung đoàn 31, sau đợt củng cố kết thúc đại hội Đảng, được lệnh của Quân khu hành quân vào Nậm Bạc, trở lại chiến trường Tây Nguyên. Ý định của Bộ lúc đó, nếu quân địch không đổ quân ra đường 9 - Nam Lào, thì sư đoàn sẽ trở về chiến trường Tây Nguyên, mở chiến dịch tiến công phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch, giải phóng Đắc Tô, Tân Cảnh, bắc Kon Tum. Nếu địch đổ quân ra đường 9 - Nam Lào thì  đội hình sư đoàn gồm có 3 cơ quan, 2 trung đoàn 141 và trung đoàn 1 ở lại trực tiếp đánh địch.

Do ý đồ chiến lược của Bộ và kế hoạch tác chiến chung trên chiến trường, nên Bộ Tổng tham mưu trực tiếp chỉ đạo kế hoạch. Cán bộ cục tác chiến, cục huấn luyện, trường sĩ quan lục quân đã cử một đoàn cán bộ 45 đồng chí, trực tiếp vào huấn luyện tận cơ sở đại đội ở sư đoàn. Các đơn vị binh chủng như pháo binh, cao xạ, xe tăng, công binh, thông tin cũng cử cán bộ vào trực tiếp huấn luyện và cùng đi chuẩn bì chiến trường với cán bộ các cấp trong sư đoàn. Bộ Tư lệnh sư đoàn chia nhau bám sát từng trung đoàn, từng đơn vị trực thuộc, kiểm tra huấn luyện và đi chuẩn bị chiến trường rất cụ thể. Tình hình đơn vị học tập khẩn trương, khí thế phấn khởi sôi nổi diễn ra trên từng bài tập. Cán bộ chiến sĩ đều quyết tâm học giỏi, tập tốt để chiến đấu giành thắng lợi, hạn chế tổn thất.

Đoàn cán bộ chúng tôi đư dự tập huấn ở Hà Nội về, có phái viên của Bộ tăng cường cùng vào giúp sư đoàn mở lớp tập huấn ngay cho cán bộ từ đại đội trở lên trong thời gian 10 ngày. Nội dung tấp huấn theo chỉ đạo hướng dẫn của Bộ, và chúng tôi vận dụng và thực tế các chiến lệ của các trận đánh trong chiến dịch hè năm 1970 ở Quảng Nam, Quảng Ngãi cho cán bộ học tập, nêu cả ưu điểm, khuyết điểm, thành công và thiếu sót về kĩ thuật chiến thuật, cách đánh để cán bộ liên hệ học tập. Khí thế bộ đội lên cao, tư tưởng giản chiến, sợ gian khổ, ngại hi sinh được khắc phục. Nguyện vọng được về thăm quê miền Bắc cũng không ai đặt ra nữa, mà chỉ tập trung cho đợt học tập sẵn sàng chiến đấu.

Trong những ngày ở Mường Phìn, một niềm vui mớiđối với sư đoàn la đồng chí Võ Chí Công, - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy V đi đự hội nghị Trung ương ghé vào thăm sư đoàn, trực tiếp động viên từng đơn vị. Sau đó đồng chí Chu Huy Mân - Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu trên đường đi dự hội nghị cũng đã ghé thăm sư đoàn. Cả hai đồng chí thăm viếng, động viên, gặp trực tiếp cán bộ từ tiểu đoàn trở lên, thông báo tình hình trực tiếp chiến trường Khu 5 trong lúc sư đoàn xa Quân khu. Tình cảm sâu đậm của đồng chí lãnh đạo cùng chia ngọt xẻ bùi, chịu đựng gian khổ trên dải đất Khu 5 thân yêu đã làm vơi nỗi nhớ quê hương, nhớ đồng đội đang chiến đấu ở miền Nam, của cán bộ chiến sĩ sư đoàn. Đồng chí Bí thư Khu ủy, Tư lệnh Quân khu biểu dương những thành tích sư đoàn đã đạt được trong thời gian hành quân đến địa điểm mới, đường đi phải vượt sông suối, núi đèo, đưa gọn được đội hình sư đoàn đi đến đích, triển khai xây dựng và huấn luyện đạt thành tích tốt. Hai đồng chí lãnh đạo nhắc nhở, dặn dò cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn không chủ quan thỏa mãn và phải nỗ lực vượt bậc trong xây dựng, thi đua với đơn vị bạn ở chiến trường mới, phát huy truyền thống của Khu 5 gian lao nhưng anh dũng. Tiếp thu những lời dặn dò, động viên của lãnh đạo cấp trên, Bộ Tư lệnh sư đoàn chúng tôi đã tổ chức học tập những huấn thị ấy cho cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn, tạo nên luồng sinh khí thi đua mới, quyết tâm mới xứng đáng với lòng tin của Đảng.

Đầu tháng 12/1980, công việc huấn luyện, xây dựng bộ đội đưa vào nề nếp chính quy khá tốt, việc chuẩn bị chiến tròng trong khu chiến được phân công cơ bản đã hoàn tất, nhưng đơn vị không dừng lại ở thành tích đạt được. Cùng thời gian này sư đoàn trưởng Hoàng Anh Tuấn được Bộ Tư lệnh Quân khu điều về làm Tham mưu trưởng Quân khu. Đồng chí Nguyễn Chơn, sư phó được cấp trên đề bạt làm sư trưởng. Sau khi trung đoàn 31 hành quân vào Nậm Bạc trở lại chiến trường Tây Nguyên, Bộ Tư lệnh sư đoàn 2 nhận tiếp lệnh của Bộ Quốc phòng, lệnh cho sư đoàn 2 sắp xếp cử một đoàn cán bộ từ cấp tiểu đoàn trưởng trở lên đến sư đoàn, do đồng chí Nguyễn Chơn, sư trưởng, Bùi Tùng phó chính ủy sư đoàn dẫn đầu lên đường trở lại Tây Nguyên, chuẩn bì kế hoạch tác chiến, còn đại bộ phận sư đoàn tiếp tục huấn luyện chờ lệnh mới của Bộ.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:45:06 AM
CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG
ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

Một trong những sai lầm của các chiến lược gia quân sự Mĩ là chủ quan, họ cho rằng mở rộng chiến tranh sang hai nước Campuchia và Lào, chiếm giữ các vị trí chiến lược, liên minh các lực lượng phản động khu vực để đàn áp phong trào cách mạng trên bán đảo Đông Dương, triệt đường tiếp tế của cách mạng miền Nam trên hai hướng: Qua cảng Si-Ha-Núc-Vin (Campuchia) và đường chiến lược Trường Sơn qua đường số 9 - Nam Lào là có thể hoàn thành chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, thay “màu da trên xác chết” ở chiến trường miền Nam. Họ cho làm được việc đó quân ngụy sẽ mạnh lên.

Đầu năm 1970, đế quốc Mĩ mở cuộc càn lớn lấy tên là ”Chen la 1” xua quân ngụy Sài Gòn tràn sang biên giới Campuchia đánh chiếm cảng Si-Ha-Núc-Vin.

Đầu năm 1971, đế quốc Mĩ tiến hành cuộc phiêu lưu quân sự mới: triển khai cuộc càn mang tên “Lam Sơn 719”. Kế hoạch nay đánh sang đường 9 - Nam Lào có tầm quan trọng đặc biệt đối với Mĩ - ngụy trong điểm “nút” của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Nếu cuộc càn quét này thành công, chúng cắt đứt được hành lang chiến lược, bịt nốt con đường tiếp tế từ miền Bắc theo đường Trường Sơn vào miền Nam, coi như thực hiện được mục tiêu bóp chết cách mạng miền Nam. Cuộc càn quét này còn nhằm mục đích đưa quân ngụy miền Nam ra thực nghiệm trong cuộc đọ sức với chủ lực của ta ở miền Bắc, tập luyện cho quân ngụy thành lực lượng nòng cốt của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.

Để thực hiện tham vọng đó, Mĩ - ngụy tập trung một lực lượng lớn gồm tất cả các lực lượng dự bị chiến lược và lực lượng cơ động của quân đoàn, thuộc Quân khu 1 của ngụy, có sự chi viện tối đa của hỏa lực và không quân Mĩ. Ngoài ra còn có một bộ phận bộ binh và thiết giáp của Mĩ phối hợp tác chiến hỗ trợ ở phía Nam (địa bàn Quân khu 1 từ bờ nam sông Bến Hải vào đến dốc Sỏi). Tính ra lực lượng Mĩ - ngụy tham gia cuộc hành quân càn quét này có:

Sư đoàn 1, các sư đoàn dù và thủy quân lục chiến, liên đoàn biệt động quân gồm 42 ngàn tên (trong số này có 6 ngàn quân Mĩ), 2 lữ đoàn thiết giáp (464 xe tăng và xe bọc thép các loại), 11 tiểu đoàn pháo binh ngụy, 5 tiểu đoàn pháo binh Mĩ (258 khẩu pháo các cỡ), 700 máy bay (có 300 máy bay phản lực chiến đấu, 300 máy bay lên thẳng, 100 các loại máy bay khác). Lực lượng lúc cao nhất của chúng là: 55 ngàn tên (có 15 ngàn tên Mĩ) bao gồm 12 trung đoàn, 3 lữ đoàn quân ngụy, 3 lữ đoàn quân Mĩ, 578 xe tăng và xe thiết giáp, 318 đại bác từ 105mm trở lên, 1.000 máy bay các loại. Ngoài ra còn có 9 tiểu đoàn quân ngụy Lào phối hợp hoạt động ở phía tây đường số 9 - Mường Khương.

Theo kế hoạch của địch, cuộc càn quét đánh phá sang đường số 9 - Nam Lào sẽ chia thành 3 giai đoạn:

- Từ 30/01/1971 đến 08/02/1971 (nhằm ngày 04 Tết đến 13 tháng Giêng âm lịch), triển khai chiếm lĩnh bàn đạp Tà Cơn, Khe Sanh, Lao Bảo.

- Từ mồng 08/02 đến 14/02/1971, tiến công chiếm các mục tiêu: Bản Đông, Sêpon, lập tuyến ngăn chặn nhằm cắt đôi 3 nước Đông Dương.

- Từ 14/2 đến đầu tháng 5/19871, chuyển xuống phía nam đánh phá kho tàng của ta trong các khu vực Sa Di, Mường Noọng, A Túc, A Sầu, A Lưới.

Khi địch tập trung lực lượng chuẩn bị vượt biên giới, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nêu rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân là: “Tập trung lực lượng, kiên quyết tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mĩ - ngụy, bảo vệ bằng được con đường chi viện cho tiền tuyến, phối hợp với các chiến trường, với nhân dân các nước Lào, Campuchia anh em, đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mĩ và tay sai”.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:46:22 AM
Quán triệt chỉ đạo của Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam chủ trương mở chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào. Đây là một chiến dịch có ý nghĩa như một trận quyết chiến chiến lược trên một diện rộng. Lực lượng tham gia chiến dịch của quân đội ta gồm:

Binh đoàn B70 (gồm các sư đoàn chủ lực 308, 304, 320 và một số trung đoàn độc lập, các đơn vị binh chủng kĩ thuật) lực lượng của Bộ Tư lệnh đoàn 559, sư đoàn 324 và sư đoàn 2 Quân khu 5.

Với một khí thế mới, với một lòng tin và quyết tâm của toàn sư đoàn, với một tinh thần dũng cảm và quyết thắng, đội hình sư đoàn 2, lúc này, có 2 trung đoàn (trung đoàn 1 và trung đoàn 141 và các đơn vị trực thuộc). Trước khi triển khai đội hình đánh địch, tôi trực tiếp cầm điện thoại báo cáo với Tổng Tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cơ quan của Bộ Tổng tham mưu: “Sư đoàn đang triển khai đội hình với 2 trung đoàn 141 và trung đoàn 1, riêng trung đoàn 31 đã trở lại chiến trường Tây Nguyên theo lệnh của Bộ”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trả lời ngay qua điện thoại: “Bộ sẽ điều bổ sung trung đoàn 64 vò đội hình sư đoàn 2. Trung đoàn 64 do đồng chí Khuất Duy Tiến, chỉ huy, trong nội nhựt ngày N sẽ đến tọa độ K, đề nghị sư đoàn cho trinh sát đón đợi”.

Tôi mừng quýnh, quên trả lời chào đồng chí Tổng Tư lệnh, liền cho bộ phận trinh sát đi đón trung đoàn 64. Sư đoàn nhận mệnh lệnh của Bộ chỉ huy mặt trận triển khai đội hình đánh địch trên 2 hướng: Trung đoàn 141 cho một tiểu đoàn triển khai đội hình từ Phu-đơ-tuyn đến Pha Lan - Mường Noọng, trước khi quân ngụy Sài Gòn càn sang đường số 9 và sẵn sàng đánh tan quân địch trong khu vực Sa di - Tam Luông, Mường Noọng. Hai tiểu đoàn còn lại của trung đoàn 141 nhanh chóng cơ động vềphía bắc điểm cao 1180, sẵn sàng đánh quân ngụy Lào (quân ngụy Lào lúc này theo lệnh Mĩ đưa lực lượng đến khu vực điểm cao 1188 phối hợp với quân ngụy Sài Gòn thực hiện đánh sau lưng đội hình chiến dịch của ta).

Trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia) và các đơn vị trực thuộc của sư đoàn kiên quyết chặn đánh, nếu quân địch ngoan cố đổ xuống Sêpon, thì không cho chúng nối liền Bản Đông với Tà Khống.

Lần đầu tiên tác chiến hợp đồng binh chủng trong đội hình chiến dịch lớn, gồm nhiều sư đoàn và các đơn vị pháo binh, cao xạ, thiết giáp được bảo đảm đầy đủ về trang bị kĩ thuật, toàn sư đoàn đều phấn khởi và quyết tâm thi đua lập công.

Để bộ đội phấn khởi ra quân đầu năm, Bộ Tư lệnh sư đoàn chủ động tổ chức cho bộ đội ăn Tết Tân Hợi mừng xuân. Noi gương Quang Trung Nguyễn Huệ cho quân ăn Tết trước khi giành thắng lợi ở Thăng Long.

Quyết tâm chiến đấu của toàn sư đoàn được Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh mặt trận thông qua và ra lệnh cho sư đoàn triển khai chiến đấu trước khi quân Mĩ - ngụy vượt biên giới càn sang đất Lào.

Ngày 08/02/1971 (nhằm ngày 13 tháng giêng Tân Hợi), quân ngụy bắt đầu vượt biên giới Việt - Lào.

Cánh quân thứ nhất của chúng do chiến đoàn dặc nhiệm, gồm lữ đoàn 1 quân dù và 2 thiết đoàn số 11và 17 theo đường số 9 đánh sang. Trong lúc đó, tiểu đoàn 9 của lữ đoàn dù dùng máy bay lên thẳng đổ quân đánh chiếm Bản Đông. Cùng lúc, 2 cánh quân bảo vệ sườn bắc và sườn nam của địch cũng ồ ạt đánh chiếmcác mục tiêu theo kế hoạch.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:47:00 AM
Địch vừa đổ quân, tiếng súng diệt địch của các chiến sĩ ta lập tức vang lên quyết liệt trên một diện rộng hàng chục km từ làng Sen đến điểm cao 500 ở bắc đường 9, vào đến Mường Noọng, Tam Luông và suốt từ Lao Bảo đến Bản Đông. Ở đâu cũng có lực lượng của ta nổ súng phủ đầu bọn địch khi cúng vừa đặt chân đến.

Với sự tính toán chủ quan, bọn chỉ huy cuộc càn quét dự kiến trong giai đoạn đầu chúng chỉ phải đối phó với lực lượng bảo vệ hành lang và kho tàng của binh đoàn vận tải chiến lược 559, quân chủ lực của ta không thể cơ động đến trước lúc chúng đạt được ý đồ của cuộc càn quét. Nhưng chủ lực ta đã bố trí sẵn và xuất hiện ngay từ đầu. Đây là bất ngờ lớn nhất đối với chúng. Thất bại trong đấu trí chiến lược, đã dẫn địch từ chỗ chủ động tiến công sang bị động đối phó.

Sau 23 ngày chiến đấu liên tục, ta đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân bảo vệ sườn phía bắc, tiêu diệt lữ đoàn quân dù số 3, thiết đoàn 17, đánh thiệt hại nặng liên đoàn 1 biệt động quân. Kế hoạch xây dựng các căn cứ hỏa lực để chi viện cho cánh quân chủ yếu của địch tấn công Sêpon bị đập tan.

Ở phía nam, ngay trong ngày đầu, lực lượng bảo vệ hành lang đã đánh địch ở Cô Bốc và điểm cao 550, bắn rơi 12 máy bay lên thẳng, tiêu diệt một đại đội và đánh thiệt hại nặng một đại đội khác của địch. Tiếp theo lực lượng cơ động của ta lại diệt gọn tiểu đoàn 2, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn 3, trung đoàn 3, sư đoàn 1 ngụy.

Cánh quân phía bắc bị bẻ gãy. Cánh quân phía nam không phát triển được. Trong lúc đó cánh quân chủ yếu của địch cũng bị quân ta chặn đánh quyết liệt ở Hội San, cầu Ka Ki.

Trước tình thế đó, bọn chỉ huy cuộc càn quét của địch phải cho cánh quân chủ yếu dừng lại ở Bản Đông.

Hợp đồng chiến đấu theo kế hoạch chung của toàn mặt trận, trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia), cùng các đơn vị bạn chốt giữ, chặn đánh các toán quân địch nống ra phía tây Bản Đông. Ở phía nam, trung đoàn 141, sau khi hoàn thành nhiệm vụ bẽ gãy cánh quân ngụy Lào, đã nhanh chóng cơ động về khu tam giác Sa Di - Tam Luông - Mường Noọng, trung đoàn đã liên tục chặn đánh và diệt trên 400 quân của trung đoàn 1 ngụy, bắn rơi 20 máy bay lên thẳng.

Bị thất bại ngay từ đầu, nhưng để vớt vát ảnh hướng về chính trị, phô trương và nghi binh để rút quân. Ngày 03/3, máy bay lên thẳng của chúng lần lượt bốc và đổ sư đoàn 1 của ngụy xuống các điểm cao: 660, 723, 748 ở phía nam đường 9. Sau khi tạo được bàn đạp, ngày 06/3 địch cho máy bay lên thẳng đổ 2 tiểu đoàn của trung đoàn 1 (sư đoàn 1 ngụy) xuống đông bắc Sêpon.

Sêpon là một thị trấn lớn ở miền trung nước Lào, nằm trong một tung lũng rộng, được bao bọc bởi những dãy núi cao từ 400m đến hơn 1.000. Con sông Sêpon và đường 9 chạy dọc theo ven thị trấn từ đông sang tây, vừa tạo nên vẻ đẹp thiên nhiên non nước hữu tình, vừa thuận lợi cho giao thông thủy bộ. Vì vậy, thị trấn Sêpon trở thành một trong những trọng điểm đánh phá của không quân Mĩ. Theo kế hoạch, 2 tiểu đoàn của trung đoàn 1 ngụy, sau khi đổ bộ xuống đây sẽ bí mật luồn vào Sêpon đánh chiếm thị trấn. Tiếp đó, máy bay lên thẳng của chúng sẽ chở các phóng viên báo chí, vô tuyến truyền hình đến, tổ chức cuộc họp báo đưa tin, tuyên truyền chúng đã chiếm được Sêpon. Nhưng bọn đổ bộ quá hốt hoảng trước lưới lửa phòng không của quân ta, nên không một phóng viên nào dám đến Sêpon. 2 tiểu đoàn quân ngụy chỉ mới đến cách Sêpon 1km cũng vội vã tháo chạy qua sông Sêpon để nhập với đồng bọn ở điểm cao 748m.

Trong lúc đó, bọn địch ở đường số 9 đã chuyển sang phòng thủ giữ Bản Đông, ngăn chặn sức tiến công của ta từ phía Bắc vào, đồng thời ra sức giải tỏa đường số 9. Từ tiến công, địch phải chuyển sang phòng ngự và chuẩn bị rút quân. Thời cơ phản công đánh bại hoàn toàn cuộc càn quét của địch đã đến. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh mặt trận đường 9 Nam Lào kịp thời hạ lệnh chuyển thế tiến công địch trên toàn chiến trường.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:49:05 AM
TỪ VÂY, LẤN, TẤN, PHÁ, TRIỆT, DIỆT
TRUNG ĐOÀN 1 (SƯ ĐOÀN 1 NGỤY
TẠI ĐIỂM CAO 723m TRÊN DÃY NÚI PHÚ RỆP…

Dãy núi Phú Rệp có 4 điểm cao liên hoàn là điểm cao 680, 748, 639, 657. Riêng điểm cao 723 ở dãy núi Phú Rệp, nằm ở phía nam con đường 9 và cách thị trấn Lao Bảo khoảng 15-17km theo đường chim bay có ưu thế về nhiều mặt. Dưới chân núi Phú Rệp là con đường Sêpon, quanh nằm nước sông đầy ắp, tắm mát các vườn cây ăn quả, ngô lúa tốt tươi, nơi sinh sống của một bộ phận dân tộc Lào anh em giữa đôi bờ dòng sông thơ mộng, gắn với lịch sử hào hùng của cách mạng Lào.

Điểm cao 723, như một pháo đài tiền tiêu giữ một thung lũng bao quanh là núi cao trùng điệp. Điểm cao 127 có ưu điểm về mặt chiến thuật, khống chế được đường số 9 và toàn bộ bờ nam sông Sêpon, cũng như đường vận chuyển 35 của binh đoàn 559. Đây là điểm cao phòng ngự phía tây của Bản Đông. Bên nào chiếm được điểm cao 173, sẽ khống chế được hệ thống phòng ngự phía nam đường số 9. Chiều dài của điểm cao 123 là 150m, chiều rộng 80m. Bề mặt của điểm cao 725 đồi trọc, phía bắc và phía đông dốc thẳm hiểm trở, phía đông nam và tây nam sườn dốc thoai thoải. Từ chân dốc lên đến nửa thân dốc là rừng le, từ nửa thân dốc chạy lên đến đỉnh phía bắc là rừng già đại ngàn - Tiếp giáp với chân dốc Nguyễn Chí Thanh(1) thuận lợi cho việc tổ chức bố trí bộ binh, phát huy và hiệu chỉnh hỏa lực cối, pháo phòng không.

Sau hơn một tháng, Mĩ - ngụy mở cuộc càn đường 9 Nam Lào, chúng bị các lực lượng của quân ta tiêu diệt, bẻ gãy nhiều mũi tấn công, buộc chúng phải thay đổi thủ đoạn chiến thuật: Dừng quân, chuyển thế phòng ngự. Ngày 03/3/1971 (nhằm ngày 07 tháng 02 năm Ất Hợi), quân địch trong thê đội 2, là sư đoàn 1 ngụy ở Cô Bốc vào tham gia cuộc càn đường 9 Nam Lào, thay thế cho lực lượng cánh nam bị quân ta đánh thiệt hại nặng. Trong 3 ngày, từ ngày 03/3/1971 đến ngày 06/3/1971, chúng dùng máy bay trực thăng bốc quân của sư đoàn 1 đổ xuống các điểm cao. Trung đoàn 3 ở điểm cao 462, trung đoàn 2 ở điểm cao 748.

Sau khi kế hoạch đổ quân và họp báo ở Sêpon bị thất bại trung đoàn 2 ngụy bỏ điểm cao 748, co về điểm cao 660. Riêng trung đoàn 1 ngụy, sau khi đổ xuống điểm cao 723, chúng đã hoàn chỉnh cụm đóng quân phòng thủ tại đây.

Trong lúc đó, đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường của sư đoàn 2 Quân khu 5, do sư trưởng Nguyễn Chơn, dẫn đầu vừa đến trạm tiền phương mặt trận Tây Nguyên, chưa ăn hết bữa cơm thì gặp đồng chí Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên Hoàng Minh Thảo, chưa được đồng chí Tư lệnh giao nhiệm vụ thì gặp được tin sư đoàn 2 đã bước vào chiến đấu ở đường 9. Lúc ấy, Tư lệnh Quân khu 5 đã điện cho Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, cho đoàn cán bộ sư đoàn 2 cấp tốc hành quân trở ra đường 9 - Nam Lào. Nhiệm vụ vô cùng cấp bách, đoàn cán bộ sư đoàn 2 ở Tây Nguyên chấp hành mệnh lệnh, hành quân trở ra đường 9 - Nam Lào. Đói thì bộ đội ăn lương khô, khát thì uống nước suối, không kể trời mưa hay nắng, tất cả cán bộ trong đoàn đều bôn tập để nhanh chóng trở về đội hình sư đoàn với một ý chí thần tốc. Khi vào anh em đi đến 35 ngày, khi trở ra đoàn rút ngắn lại 18 ngày. Có khi các đồng chí đã đi 2 binh trạm, có đêm không ngủ. Ngày 03/3/1971, đoàn cán bộ cấp trưởng của sư đoàn đều có mặt ở đơn vị đúng vào lúc đội hình sư đoàn chuyển sang giai đoạn: Vây, lấn, tấn, phá, diệt, trung đoàn 1 (sư đoàn 1 ngụy) tại điểm cao 723. Trong cuộc họp của Bộ Tư lệnh sư đoàn, phương án đánh địch của sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn, được hội nghị nhất trí thông qua. Mục tiêu trước tiên là tập trung lực lượng tiêu diệt thật nhanh trung đoàn 1 ngụy ở điểm cao 723. Tiếp theo là trung đoàn 2 ngụy ở điểm cao 660.

Cuộc họp Bộ Tư lệnh sư đoàn vừa kết thúc, từ Bộ Tư lệnh mặt trận, đồng chí Lê Trọng Tấn, Tư lệnh mặt trận điện xuống cho sư đoàn. Thấy cần thiết cho toàn thể cán bộ tham mưu sư đoàn quán triệt lệnh của cấp trên, tôi ấn nút loa “tập thể”. Tiếng của Tư lệnh mặt trận vang lên: “Đồng chí Chơn và đồng chí Chương chú ý: Đánh cao điểm 723 bằng đặc công thì không đánh theo kiểu cũ, mà phải đánh dập đầu quân địch ngay từ loạt đạn đầu. Cách đánh đó, là sử dụng đặc công luồn sâu, lót sẵn đánh diệt chỉ huy sở, diệt trận địa pháo của địch, rồi dùng lực lượng bộ binh tấn công ồ ạt, áp đảo quân địch, không cho chúng kịp phản ứng. Đó là yêu cầu của cách đánh đặc công trong trận này. Hai đồng chí chú ý. Chúc sư đoàn 2 giành thắng lợi”.


(1) Khi Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trên đường vào Nam dừng chân nghĩ lại nơi đây. Về sau bộ đội gọi là dốc Nguyễn Chí Thanh.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:51:22 AM
Triệu chứng tháo chạy của địch ở điểm cao 723 thật rõ ràng. Từ sở chỉ huy, sư đoàn tôi giữ liên lạc ngày đêm đôn đốc các đơn vị khẩn trương bám địch. Ngày 08/3. tiểu đoàn công binh và tiểu đoàn đặc công bí mật vượt sông Sêpon, lót sẵn ở phía đông bắc điểm cao 723.

Ngày 13/3, vòng vây của sư đoàn 2 quanh điểm cao 723 đã hình thành. Số phận trung đoàn 1 ngụy đã được quyết định.

Ngay từ ngày đầu cuộc càn quét, trung đoàn 1 ngụy, bị trung đoàn 141 do trung đoàn trưởng Đỗ Châu Sa và Chính ủy Nguyễn Hào chỉ huy đã tiêu diệt 400 tên ở khu vực phía nam đường 9. Khi “nhảy cóc” đến điểm cao 723, chúng lại bị 15 chiến sĩ của tiểu đoàn công binh, do trung đội trưởng Nguyễn Duy Đông, chỉ huy đánh phủ đầu diệt thêm 60 tên, bắn rơi 5 máy bay lên thẳng. Đêm 06/3, tiểu đoàn 10 đặc công, lại tập kích diệt thêm 250 tên, phá hủy 5 đại bác và súng cối 106,7mm. Bị đánh liên tục, bị tiêu hao, căng thẳng, mệt mỏi lại ở thế bị cô lập, nên phần lớn quân địch còn lại đều hoang mang, dao động. Liên tục trong 3 ngày 13, 14, 15/3 các loại hỏa lực của sư đoàn 2, từ cối 82mm, đến DKZ 75 và pháo tự hành D74, cối 106,7mm liên tục bắn phá làm hỏng phần lớn công sự mới đào của chúng. Hỏa lực phòng không của sư đoàn khống chế và kiểm soát chặt chẽ khu vực điểm cao 723, không cho một máy bay lên thẳng nào của địch mon men đến gần, làm cho bọn địch ở điểm cao 723 ngày càng thêm dao động. Bọn chỉ huy trung đoàn 1 ngụy liên tục điện kêu cứu cấp trên của chúng, nhưng sự chi viện của máy bay lên thẳng vẫn bặt tin, chỉ có bọn máy bay phản lực gầm rú thả bom và máy bay B52 liên tục rải thảm vòng ngoài điểm cao 723. Nhận thấy thời cơ dứt điểm đã đến. Đêm 15/3, sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn, từ trung đoàn Ba Gia vượt rừng về sở chỉ huy sư đoàn.

1 giờ 30’ ngày 16/3, hội nghị Thường vụ Đảng ủy, sau khi soát xét diễn biến chiến đấu trong 3 ngày qua và kiểm tra lần cuối kế hoạch của các đơn vị “đón lõng”. Sư đoàn trưởng ra lệnh nới vây và giao cho trung đoàn 1, chậm nhất là đến đêm 17/3 phải tiêu diệt xong trung đoàn 1 ngụy, đồng thời ra lệnh cho đồng chí Lê Lung (sau này là Thiếu tướng) phó Chính ủy trung đoàn 1 đưa đơn vị đón sẵn, chờ địch.

Thấy vòng vây của quân ta có chỗ hở, trung đoàn 1 ngụy ở điểm cao 723 vội vàng tháo chạy. Mờ sáng ngày 16.3, đài quan sát pháo binh báo về sở chỉ huy: “Địch ở điểm cao 723 đang chạy về hướng đông bắc”.

Từ sở chỉ huy, sư đoàn trưởng nhận định: “Địch đã đi theo đúng ý định của ta. Pháo binh lập tức bắn chặn các ngả đường, buộc địch phải đi vào các khu vực đã định sẵn của đơn vị đón lõng”. Trong khi đó có 2 tiểu đoàn của trung đoàn 141 từ các sườn núi cao được lệnh đánh xuống, kẹp chặt toàn bộ quân địch vào giữa. Cùng lúc tiểu đoàn 40 của trung đoàn Ba Gia vận động đánh cắt ngang sườn đội hình của bọn tháo chạy.

Mệnh lệnh: “Nắm thắt lưng địch mà đánh” được các chiến sĩ trung đoàn 1 và trung đoàn 141 vận dụng chuẩn xác. Từ 3 hướng, bộ đội ta xung phong mãnh liệt vào đội hình rối loạn của quân địch. Trung đội trưởng Lê Văn Phê, của tiểu đoàn 40 dẫn đầu 9 chiến sĩ dũng cảm, khôn khéo dùng lưỡi lê AK đánh gần diệt hơn 40 tên địch. Riêng Lê Văn Phê, diệt 26 tên. Trung đội phó Nguyễn Trọng Thảo và 6 chiến sĩ của tiểu đoàn 15 công binh chốt chặn ở một đoạn đường mìn, đánh bật 6 đợt liều mạng phá vây diệt tại chỗ hàng chục tên. Càng về trưa mặt trời càng gay gắt. Cao nguyên nam Lào khói bom, bụi đất khét nồng, bom pháo rung chuyển không ngừng. Từng tốp máy bay phản lực của Mĩ gầm rú điên cuồng, chui qua lưới lửa phòng không của ta cắt từng chùm bom napan xuống trận địa hừng hực, cây, đá, lá rừng tưởng như chảy trong sức nóng của lửa. Vòng vây của ta vẫn xiết chặt, 11 giờ ngày 16/3, tiểu đoàn 1 của địch đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Lực lượng cúa chúng còn đông, nhưng tinh thần đã tan rã. Trước tình hình đó, sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn đề xuất ý kiến: “Cán bộ sư đoàn tăng cường chỉ huy trực tiếp các đơn vị đẩy nhanh tốc độ tiến công, nhanh chóng tiêu diệt trung đoàn 1 ngụy. Chuyển tiểu đoàn 60, tiểu đoàn 90 của trung đoàn 1 và tiểu đoàn 3, của trung đoàn 64, cùng bộ phận hỏa lực bôn tập và vây ép trung đoàn 2 ngụy ở điểm cao 660. Khi trung đoàn quân giải phóng dứt điểm trung đoàn 1 ngụy xong, sẽ chuyển sang vây lấn, tấn, diệt trung đoàn 2 ngụy tại điểm cao 660”. Các đơn vị lập tức chấp hành mệnh lệnh của sư đoàn. Chủ trương nhạy bén, sáng suốt và táo bạo đó đã gây ra cuộc tranh luận sôi nổi. Một số ý kiến nêu lên với sư đoàn: “Như vậy có mạo hiểm không, có phân tán lực lượng không? Tập trung tiêu diệt trung đoàn 1 ngụy xong, sẽ chuyển sang vây điểm cao 660 có gì là muộn? Đánh như vậy có thực hiện đúng phương châm: Đánh chắc, thắng nhanh, diệt gọn từng đơn vị địch… như nghị quyết của Đảng ủy sư đoàn đề ra không?”


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:53:08 AM
Trước những diễn biến phức tạp của một trận đánh, người chỉ huy giỏi phải là người không chỉ nắm bắt đúng những gì đã và đang diễn ra, mà điều quan trọng là phải nắm bắt đúng cái gì sẽ diễn ra. Địch còn đông, nhưng đã tan rã về mặt tinh thần và rối loạn về chỉ huy. Bao vây diệt lực lượng địch không cần nhiều số lượng, mà điều quan trọng là cách tổ chức chỉ huy và cách đánh, ta tập trung quân đông là “lãng phí”, mà còn có thể bị thương vong, vì phi pháo của địch. Mặt khác, trong lúc địch tưởng ta đang tập trung ở điểm cao 723, nhưng ta lại bất ngờ vây ép 660. Đòn tiến công này còn làm rối loạn chỉ huy của địch, nó không chỉ tạo thuận lợi cho việc vây ép diệt địch ở điểm cao 660 mà còn có tác động mạnh đến sự tan rã ở điểm cao 723.

Từ sự phân tích đó, Thường vụ Đảng ủy sư đoàn nhất trí thông qua phương án vây ép 660, đồng thời với tiến công dứt điểm quan địch còn lại ở điểm cao 723.

12 giờ trưa 16/3, lực lượng còn lại của trung đoàn 1 ngụy co lại thành từng cụm và tung hỏa mù phân tuyến cho máy bay phản lực oanh tạc vào các cứ điểm chúng nghi có quân ta chiếm giữ. Suốt 2 giờ, máy bay phản lực gầm thét ném bom liên hồi, từng đợt B52 rải thảm ở vòng ngoài. Tiếng nổ của bom đạn dội vào vách núi vọng lại như sấm động. Từng dãy rừng già và cây cối ở sườn núi ngã nghiêng xơ xác. Phán đoán đúng âm mưu của địch, ngay từ khi chúng mới co lại, các chiến sĩ ta đã ép sát đội hình vào nách địch. Hàng trăm tấn bom đạn của chúng đã rơi vào những khoảng trống không người. 14 giờ ngày 16/3, may bay địch vừa ngưng đánh phá, các chiến sĩ ta từ phía công sự bất ngờ mãnh liệt xông lên. Từ phía tây, trung đoàn 141 đánh xuống, từ phía đông bắc, tiểu đoàn 40 trung đoàn 1 đánh vào, từ hướng đông nam, tiểu đoàn đặc công và tiểu đoàn 15 công binh đánh lên. Quân địch ở đây đã hoàn toàn tan rã. 16 giờ 30’ tên đại tá trung đoàn trưởng trung đoàn 1 ngụy bị bắn chết. Các tiểu đoàn 2 và 3 ngụy cũng bị tiêu diệt gần hết. Tàn quân địch cụm lại. Mờ sáng ngày 17/3, quân ta mở đợt tấn công cuối cùng, 10 giờ ngày 17/3, lực lượng còn lại và sở chỉ huy trung đoàn 1 ngụy bị diệt. Để che dấu thất bại, Mĩ - ngụy vội vã cho 12 lần chiếc B52 đến ném bom hủy diệt. Trước đó, các đơn vị đã được lệnh nhanh chóng rời khỏi khu chiến 723. Vì vậy bom địch đánh vào chỗ chỉ có xác địch.

Qua 2 ngày tiến công, sư đoàn 2 Quân khu 5 đã diệt gọn trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 chủ lực ngụy, tiêu diệt 4 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 3 đại đội tực thuộc, và sở chỉ huy trung đoàn 1 ngụy. Sư đoàn 2 còn bắn rơi 50 máy bay các loại, thu hàng trăm súng, trong đó có 9 đại bác, 19 súng cối hạng nặng, 3 xe ủi đất, 2 xe quân dụng. Với hơn 1.750 tên địch bị diệt và bắt sống. Bọn tù binh được dòng dây đi hàng dọc như một đàn kiến rừng “bò” về thị xã Sêpon.

Trưa 17/3, tại chỉ huy sơ cơ bản, tôi nhận được điện thoại từ Tổng hành dinh Bộ Tổng tham mưu. Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi: “Đồng chí Nguyễn Huy Chương trả lời cho Tổng hành dinh biết. Theo Cục 2 báo cáo, thì qua đài VOA (đài Hoa Kì) và đài phát thanh Sài Gòn rêu rao là chúng đã chiếm được thị xã Sêpon và tổ chức họp báo ở tại đó có không?”. Đang ở tại chỗ và là người ra lệnh cho các đơn vị dẫn tù binh về Sêpon nên tôi không chủ quan, liền trả lời Đại tướng Tổng Tư lệnh: “Thưa Đại tướng, đơn vị địch không có ở Sêpon”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp hỏi tiếp: “Nếu địch không có ở Sêpon, đồng chí Chương phải cam kết với tôi là địch không có ở Sêpon và đồng chí phải chịu trách nhiệm trước Bộ Tổng Tư lệnh về sự xác định này”. Tôi quả quyết trả lời Đại tướng: “Thưa Đại tướng, đơn vị chiến đấu của quân địch thì không có, mà chỉ có tù binh do bộ đội sư đoàn bắt sống hiện được dẫn bộ về Sêpon để tránh máy bay B52 của Mĩ hủy diệt”.

Tôi vừa nói đến đó, thì từ bên kia đầu dây vang lại tiếng cười sảng khoái của Đại tướng Tổng Tư lệnh quân đội nhân dân. Tiếng cười làm tăng thêm nhuệ khí diệt địch của sư đoàn 2 chúng tôi, đang trên đường bôn tập sang bao vây tiêu diệt quân địch ở điểm cao 660.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:54:25 AM
… ĐẾN TIÊU DIỆT TRUNG ĐOÀN 2
SƯ ĐOÀN 1 NGỤY

Điểm cao 660 nằm phía nam điểm cao 723, ở phía đông đường ống dẫn dầu và đường Nava -con đường mang tên của một tên tướng Pháp khi xâm lược Đông Dương. Con đường này cách Bản Đông 4km.

Sau khi trung đoàn 2 sư đoàn 1 bỏ điểm cao 748 trên dãy Phú Rệp chạy về điểm cao 660, cả trung đoàn 2 sư đoàn 1 của ngụy đều chiếm giữ dãy núi Phu-ra-teng, trong đó có tiểu đoàn 2 ở điểm cao 660, tiểu đoàn 3 ở điểm cao 654, tiểu đoàn 4 ở Phu-ra-teng. Riêng tiểu đoàn 1 và trung đoàn bộ, trung đoàn 2 ở điểm cao 462. Quân số theo biên chế mỗi tiểu đoàn có 490 tên. Trong suốt quá trình đổ quân càn quét ở đường 9 - Nam Lào hơn một tháng qua chúng đã bị đánh diệt, tiêu hao, mỗi tiểu đoàn chỉ còn khoảng 400 tên. Chúng co lại thành 3 cụm: Đồi Yên Ngựa, điểm cao 651, và 660. Tại đây, trung đoàn 2 ngụy được máy bay phản lực ném bom yểm trợ vòng ngoài, trên điểm cao 660, quân ngụy phân tán rút lẻ tẻ.

Về phía sư đoàn 2, Quân khu 5, sau khi cho 2 tiểu đoàn 60 và 90, trung đoàn 1 và các đơn vị pháo, cối phối thuộc bôn tập, cơ động chiến đấu, liên tục quần lộn với địch trên đường đến điểm cao 660. Địa hình trên đường đến điểm cao 600 dốc đứng, trơn trợt khó đi, cứ 15’ một lần, B52 rải bom ngăn chặn, có lúc đội hình trung đoàn 1 và các đơn vị phối thuộc vừa qua khỏi chừng 100m thì bom địch ầm ầm nổ phía sau. Có lúc đội hình vừa dừng lại nghỉ chân thì bom nổ trước mặt. Nắm chắc quy luật đánh chặn của địch, trung đoàn 1, đã tránh được không để B52 đánh trúng đội hình.

11 giờ trưa ngày 17/3/1971, bna chỉ huy trung đoàn 1, nhận được tin sư đoàn thông báo: “Toàn bộ trung đoàn 1 ngụy phòng thủ ở điểm cao 723 đã bị tiêu diệt”. Chiến công đó càng thôi thúc trách nhiệm của trung đoàn, đôi chân cán bộ, chiến sĩ trung đoàn 1 lại săn dòn trên đường bôn tập, vượt qua những hố bom B52, những đoạn đường rừng cây gãy đổ ngổn ngang, hết qua suối lại trèo dốc, leo đèo. Tình thương yêu đồng đội, tình “huynh đệ chi binh” đã dìu dắt nhau vượt qua hiểm nguy, gian khổ mong sớm tiếp cận, xác định địa hình, nghiên cứu trận địa của địch trên điểm cao 660. Tất cả đã được tiến hành trong bóng đêm. Người đi sau, bám theo người đi trước từ ánh sáng của chiếc lá phát quang gắn trên vành mũ tai bèo. Các mũi quân của trung đoàn đã bí mật hoàn thành công tác xâm nhập, nghiên cứu vị trí đóng quân của địch trên điểm cao 660. 3 giờ đêm ngày 18/3, các đơn vị tấn công điểm cao 660 được lệnh áp sát mục tiêu. Quân địch không hề hay biết.

Trưa ngày 18/.3, tiểu đoàn 3 ngụy ở điểm cao 651 Phu-ra-teng kéo xuống phía đông chân điểm cao 660, theo đường Nava để chạy về điểm cao 462, chỉ huy sở của trung đoàn 2 và tiểu đoàn 1 ngụy. Bộ phận đi đầu của chúng vừa đến ngã tư đường ống dẫn dầu, thì từ các trận địa bố trí sẵn, các chiến sĩ của đại đội 6, tiểu đoàn 60 và đại đội 10, tiểu đoàn 90 bất ngờ nổ súng. Một lần nữa các chiến sĩ của sư đoàn lại vượt lên trước quân thù trong cuộc đấu trí và đấu lực căng thẳng. Bị đánh bất ngờ, hàng ngũ quân địch trở nên hỗn loạn. Nhiều tên địch chết gục tại chỗ. Số sống sót hốt hoảng chạy ngược trở lại và nhập vào 3 cụm lớn ở sườn phía đông điểm cao 660, 651 đông bắc Phu-ra-teng.

13 giờ ngày 19/3, nhận lệnh của sư đoàn, trung đoàn 1 tập trung pháo cối, bắn mạnh lên điểm cao 651 và 660, đội hình quân địch ở đây bị pháo ta đánh rã từng mảng. Sau khi pháo kích, từng bộ phận nhỏ của trung đoàn tiếp cận tiến lên điểm cao 660 đánh tràn xuống, một lần nữa quân địch bị ép dồn xuống chân đồi. Quân ta được lệnh mở rộng vòng vây hướng đường 35 cho địch dồn về điểm cao 462, chờ trực thăng hốt chạy Khi máy bay lên thẳng bay rà lên đỉnh cao 462, trong lúc đó trận địa 12,7mm và hỏa khí bộ binh của quân ta kiểm soát chặt từng vùng trời trên mặt đồi, diệt cắt bọn máy bay lên thẳng không cho chúng hạ cánh bốc quân. Bọn trực thăng liều lĩnh hạ cánh, bọn địch vừa bám máy bay thì quân ta nổ súng. Mũi quân của tiểu đoàn 60 trung đoàn 1, thọc thẳng vào phía tây Phu-ra-teng, đánh lên đồi Yên Ngựa, cắt lực lượng địch ra và đẩy chúng xuống cân đồi 660, tạo thế cho trận địa đón lõng của tiểu đoàn 90 trung đoàn 1, tiêu diệt chúng.

Cuộc hành quân đánh phá đường 9 - Nam Lào đẩy tham vọng của Mĩ - ngụy vào thế khố khốn đốn. Cụm quan ađịch ở Bản Đông bị bao vây. Đường 9 bị cắt đứt nhiều đoạn. Cánh quân phía nam bị đánh tan tác. Dù muốn dù không, chúng cũng phải rút chạy và bằng mọi chác rút chạy nhanh khỏi sự sa lầy bi thảm. Đây là thời cơ thuận lợi để tiêu diệt lớn sinh lực địch và phải đánh nhanh, nếu không chúng sẽ tháo chạy. Đêm 19/3, Thường vụ Đảng ủy sư đoàn họp nhận định tình hình thế trận và đi đến quyết định:

- Tập trung hỏa lực bắn phá sát thương lớn quân địch ở điểm cao 660, 651, Phu-ra-teng, đồng thời mở rộng vòng vây nhử địch xuống tung lũng để dứt điểm.

- Tích cực bắn máy bay, không cho địch tháo chạy bằng đường không, đồng thời tổ chức trận địa phục kích bí mật dọc bờ sông Sêpon, đề phòng địch bất ngờ cho máy bay xuống bốc đồng bọn ở hướng này.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Mười Hai, 2010, 06:55:58 AM
Trong tình thế bị bao vây 4 mặt, mở sáng ngày 20/3, tàn quân địch lại mở đường máu tháo chạy. Cụm quân địch ở điểm cao 651 vưa tuột xuống đến gần chân đốc, liền bị đại đội 11, tiểu đoàn 90 của ta chặn đánh, 2 đại đội của tiểu đoàn 5 quận ngụy bị diệt, số còn lại lủi vào trong rừng trốn thoát. Bọn địch ở 660 và Phu-ra-teng tháo chạy về phía đông bắc liền bị đại đội 7, của tiểu đoàn 60 chặn đánh. Không chạy thoát được, cả bọn liền lùi lại và đóng thành một cụm lớn ở sườn đông Phu-ra-teng. Pháo binh ta liên tục bắn phá sở chỉ huy trung đoàn 2 ngụy ở điểm cao 462. Trận địa pháo của quân địch hoàn toàn bị tê liệt. Quân địch hết đường tháo chạy, vội vã cụm lại và tung hỏa mù phân tuyến cho phi cơ đánh bom. Tiếng nổ của bom liên hồi, trận địa mịt mù khói lửa. Đại đội còn lại của tiểu đoàn 5, trung đoàn 2 ngụy thừa cơ vượt khỏ vòng vây chạy đến đường Nava. Trực thăng địch hạ cánh bốc chúng chạy trốn, cùng lúc đó, máy bay lên thẳng cũng hạ cánh xuống điểm cao 462 để cứu thoát bọn chỉ huy trung đoàn 2 ngụy. Quyết không cho địch trốn thoát. Từ khắp các sườn đồi, khe suối tất cả các cỡ súng của ta tập trung bắn mạnh vào các tốp máy bay lên thẳng của địch. Một số chiếc liều lĩnh sà xuống cách mặt đất chừng 5, 6m, quăng thang dây cho đồng bọn leo lên. Bọn chúng chưa kịp bám vào thang máy bay, thì máy bay đã bị trúng đạn lao luôn xuống đất.

Đêm 20/3, sau khi hội ý với Chính ủy trung đoàn Nguyễn Tá và Trung đoàn trưởng Trần Quang Lập, sư đoàn quyết định đưa tiểu đoàn 40 vừa mới từ điểm cao 723 về, phối hợp với đại đội 7, tiểu đoàn 60 hình thành 2 mũi tiến công vào các cụm quân địch. Lực lượng còn lại đón lõng tiêu diệt những toán quân địch trên đường tháo chạy.

3 giờ 30’ ngày 21/3/1971, trận tiến công dứt diểm trung đoàn 2 bắt đầu. Sau một loạt pháo chuẩn bị, bộ đội ta đồng loạt xung phong. Tiểu đội trưởng Nguyễn Ngọc Lũy, dẫn đầu tiểu đội đánh thốc vào đội hình quân địch diệt và bắt 50 tên. Riêng Lũy bắt 17 tên. Ở mũi tiến công khác, tân binh Nguyễn Khắc Hoàng, trận đầu ở điểm cao 723 đã lập công xuất sắc, diệt 16 tên ngụy. Trong trận này, Hoàng đã cùng đồng đội đánh thẳng vào sở chỉ huy tiểu đoàn địch. Phát hiện một tên ngụy to béo trong hang đá chạy ra, Hoàng liền đuổi theo, mưu trí và dũng cảm bắt sống được đối phương. Đó chính là tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 ngụy Nguyễn Xuân Huế, tên sĩ quan này vừa được bọn chỉ huy cuộc càn thăng cấp tại trận, từ thiếu tá lên trung tá do hung hăng đọ sức với quân ta (tên Huế) bị trung đoàn Ba Gia bắt sống và phóng thích trong chiến dịch đánh địch ở Sơn Tịnh năm 1965 (lúc đó tên Huế là đại úy).

Sau hơn 5 giờ chiến đấu quyết liệt, đội hình của trung đoàn ngụy bị vỡ tung. Phần lớn quân địch đã bị tiêu diệt. Một số bị bắt sống. Quân ta vừa lùng quét, vừa buộc tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 ngụy dùng máy PRC 25 bắt liên lạc với bọn chỉ huy của chúng kêu gọi ngưng ném bom vào trận địa và kêu gọi đồng bọn đầu hàng. Trên không trung, từng bầy rực thăng và phản lực vẫn quần lượn gầm rít, nhưng không dám bắn phá, vì không phân rõ đâu là đồng bọn, đâu là đối phương. Lúc này, cả trung đoàn 1, sư đoàn 2 quân giải phóng từ anh nuôi, y tá, văn thư đến các đơn vị chiến đấu đều ra trận địa bắt tù binh, thu vũ khí.

Trận tiêu diệt trung đoàn 2 ngụy kết thúc, ta tiêu diệt và bắt sống gần 1.300 tên địch, diệt gọn tiểu đoàn 2, tiểu đoàn 3 và 2 đại đội của tiểu đoàn 5, thu hàng trăm súng, có 4 đại bác 105mm, 54 máy PRC 25, bắn rơi 36 máy bay. Tuy nhiên, do trận đánh kéo dài, quân dịch dùng máy bay lên thẳng đã bốc được bọn chỉ huy trung đoàn ngụy tháo chạy, một vài đại đội khác của địch cũng luồn rừng trốn thoát.

Bị thiệt hại nặng về sinh lực và phương tiện chiến tranh, các bộ phận quân địch ở Bản Đông cũng bị tiêu diệt, ta bắt sống tên Đại tá Nguyễn Văn Thọ, lữ trưởng lữ đoàn dù ngụy. Quân ta được lệnh tiến hành truy kích phía sau và chặn đánh phía trước tiêu diệt các cụm quân địch ở Ka Ki, Huội San, Lao Bảo. Ngày 22/3, các đơn vị địch còn lại ở Bản Đông vứt bỏ toàn bộ xe tăng, pháo, cơ giới vượt sang phía nam sông Sêpon, chạy trốn vào rừng.

Cuộc hành quân Lam Sơn 719 đường 9 - Nam Lào, có tầm quan trọng của một trận quyết chiến chiến lược của địch, đã thất bại hoàn toàn.

Với thắng lợi điểm cao 723, 660, tiêu diệt trung đoàn 1, đánh thiệt hại nặng trung đoàn 2 sư đoàn 1 ngụy. Như vậy, sư đoàn 2 quân giải phóng Khu 5 của ta đã đánh quỵ sư đoàn 1 của ngụy. Với thắng lợi này, sư đoàn 2 Quân khu 5 đã góp phần tích cực vào chiến thắng vang dội của quân ta trên chiến trường đường 9 - Nam Lào.

Đánh giá hoạt động của sư đoàn trong chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã kết luận:

“Nhận trọng trách ở hướng tây và tây nam của mặt trận, sư đoàn 2 Quân khu 5 đã hợp đồng với các đơn vị bạn, đã hoàn thành xuất sắc cả hai nhiệm vụ: Bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh ở khu vực Sêpon, tiêu diệt được nhiều sinh lực, phá hoại nhiều phương tiện chiến tranh của địch, nêu cao được truyền thống của Quân khu 5. Các đồng chí đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, cơ động nhanh chóng, đoàn kết hiệp đồng với các đơn vị bạn. Tích cực chủ động, mưu trí, linh hoạt nắm vững thời cơ, liên tục chiến đấu, anh dũng lập công. Đặc biệt là tác chiến, kết hợp với binh vận, đánh thắng 2 trận lớn tiêu diệt trung đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng trung đoàn 2 của sư đoàn 1 ngụy trên điểm cao 723. Chiến công của các đồng chí sư đoàn 2 Quân khu 5, đánh dấu một bước tiến bộ quan trọng, góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của chiến dịch lịch sử phản công đường 9 - Nam Lào trong mùa xuân 1971”(1)


(1) Trích nhận xét của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đường 9 - Nam Lào ghi trong Lịch sử sư đoàn 2


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Một, 2011, 06:52:38 PM
Kết thúc hai trận đánh ở điểm cao 723 và 660, Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn mở hội nghị tổng kết chiến dịch và bàn thống nhất nhiệm vụ đánh địch trong mùa hè, đồng thời cử tôi ra Quảng Bình trực báo xin ý kiến của Bộ Tư lệnh mặt trận.

Cuộc trực báo này do Đại tướng Tổng Tư lệnh quân đội, Bộ Trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp chủ trì. Tôi được các thủ trưởng cho báo cáo hướng chiến dịch sư đoàn 2 Quân khu 5 đảm nhận, tôi trình bày một tiếng đồng hồ về các mặt, từ nhận lệnh hành quân đến địa điểm xây dựng, củng cố đơn vị và ra quân theo lệnh của bộ Tổng tham mưu và Bộ Tư lệnh mặt trận. Sư đoàn 2 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, thực hiện tốt các chính sách thương binh liệt sĩ, bảo đảm bí mật nơi đóng quân để giành thắng lợi và thực hiện nghiêm chỉnh các chính sách tù hàng binh.

Sau khi báo cáo xong phân sư đoàn tham gia chiến dịch và báo cáo tiếp thêm phương hướng công tác mới của sư đoàn, tôi nói: “Trong điều kiện bộ đội đang sung sức, quân đủ, súng đủ, lương thực không thiếu, đề nghị cấp trên cho sư đoàn mở chiến dịch hè vào 2 hướng:

1. Đề nghị cho sử dụng xe tăng, pháo binh của Bộ tăng cường cho sư đoàn đánh vào cao nguyên Bô-lô-ven giải phóng vùng I-Tu, Bản Nhik, thị xã Atôpơ. Hướng này do Tư lệnh sư đoàn Nguyễn Chơn và đồng chí Bùi Tùng, phó chính ủy sư đoàn trực tiếp chỉ huy trung đoàn 1 tác chiến.

2. Sử dụng trung đoàn 141 do trung đoàn trưởng Đỗ Châu Sa và Nguyễn Hào, Chính ủy trung đoàn cùng với lực lượng của sư đoàn 320 tăng cường, đồng chí Dương Bá Lợi, sư đoàn phó, Sư đoàn 2 chỉ huy, mở mũi tiến công giải phóng Phalan, Đồng Hến, là giải phóng cả một vùng dân cư rộng lớn của miền Trung Lào, tạo thuận lợi cho cách mạng hai nước chi viện kịp thời cho nhau trong chiến đấu. Nếu các thủ trưởng đồng ý tôi sẽ điện ngay về cho đơn vị ra quân.


Các thủ trưởng Bộ Tư lệnh nghe tôi trình bày nguyện vọng và hướng phát triển của sư đoàn đã đồng ý ngay.

Trưa hôm đó, ban tiếp tân mời tôi nghỉ cạnh phòng của Đại tướng Tổng Tư lệnh. Chỉ cách một tấm phên bằng nứa, đại tướng trao đổi với Tư Lệnh Lê Trọng Tấn, và Chính ủy mặt trận Lê Quang Đạo: “Chúng ta là những người tướng chỉ huy quân đội có một độ ngũ cấp dưới tích cực và quyết tâm đánh giặc, vừa dứt chiến dịch đã đề nghị cấp trên cho đánh tiếp. Đây là một điều đáng tự hào của Đảng của quân đội”. Tôi hiểu những lời khen gián tiếp của các thủ trưởng cấp trên, tôi tự hứa với mình càn phải cố gắng hơn nữa để xứng đáng với nhiệm vụ được giao và được cấp trên tin tưởng.

Tôi về lại sư đoàn đúng lúc cả đơn vị đã triển khai và phối hợp với bộ đội Phathet Lào tiến công địch, mở rộng hành lang chiến lược miền Trung và Hạ Lào.

Thất bị nặng nề của quân ngụy Sài Gòn càng làm quân ngụy Lào hoang mang. Tuy nhiên, chúng vẫn chủ quan, cho rằng ta còn phải củng cố sau một đợt tác chiến dài ngày, không đủ sức đánh tiếp. Chúng có biết đâu ta đã tận dụng thời cơ, đánh địch trong thế bất ngờ, đơn vị vừa dứt chiến đã lên đường, và sau nửa tháng toàn sư đoàn đã xuất quân.

Mùa khô ở đất Lào, nắng và nóng. Đường hành quân xa thiếu nước để ăn uống, tắm giặt. Ngoài trang bị chiến đấu, trên vai của các chiến sĩ phải có 7 ngày gạo, 7 ngày lương khô và nước uống. Nước đựng trong bi-đông, trong ống bương, trong bọc ni lông, dụng cụ gì chứa nước được đều dùng để mang nước. Để giữ bí mật, có chặng hành quân 6 ngày liền bộ đội phải ăn cơm nắm, lương khô. Gian khổ, vất vả nhưng với tinh thần phấn khởi sau thắng lợi đường 9, tất cả cán bộ, chiến sĩ của sư đoàn đều có mặt ở vị trí tập kết đúng thời gian.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Một, 2011, 06:53:38 PM
Cao nguyên Bô-lô-ven là địa bàn chiến lược quan trọng của Cách mạng Lào. Từ khi đế quốc Mĩ thực hiện chiến lược Đông Dương hóa chiến tranh, chúng liên minh tập hợp bọn phản động khu vực, đã chiếm lại các vùng giải phóng trên cao nguyên này. Nhiệm vụ cua sư đoàn 2 là quyết tâm tấn công giải phóng vùng đất đai rộng lớn ở đây, gây ảnh hướng tốt về chính trị, xây dựng lòng tin, làm cho đồng bào các bộ tộc Lào, bị địch kèm kịp, tin tưởng ủng hộ quân giải phóng., hướng về mặt trận Lào yêu nước, góp phần củng cố tình đoàn kết tình đoàn kết chiến đấu Việt Lào, là yêu cầu cấp thiết đối với cán bộ chiến sĩ sư đoàn.

Xác định tầm quan trọng và bức thiết của nhiệm vụ, hội nghị Đảng ủy sư đoàn quyết nghị lãnh đạo cán bộ, chiến sĩ, toàn sư đoàn, phát huy và làm tốt công tác dân vận đối với đồng bào các bộ tộc Lào anh em. Được cán bộ lãnh đạo ở địa phương của bạn và cán bộ quân tình nguyện Việt Nam thay nhau phổ biến, hướng dẫn cho cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn về phong tục tập quán, cách quan hệ giao tiếp với nhân dân, thực hiện các chính sách cụ thể đối với các vùng giải phóng. Cán bộ chỉ huy, chiến sĩ trinh sát cùng với cán bộ cơ sở vừa chuẩn bị lùng đánh bọn biệt kích, thám báo, tạo thế triển khai lực lượng, vừa tranh thủ vận động nhân dân tham gia. Từ thái độ đúng đắn và tác phong giản dị, kỉ luật nghiêm minh của cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 2, bước đầu xây dựng được lòng tin trong dân chúng.

Các đơn vị địch ở Pắk Soòng là mục tiêu tiến công của sư đoàn Pắk Soòng ở phía đông, các thị xã Pắk Xế 20km, là tấm lá chắn, án ngữ Pắk Xế. Lực lượng địch ở đây thường xuyên có tiểu đoàn BV20 và tiểu đoàn BV43. Phát hiện lực lượng ta, địch tăng thêm các tiểu đoàn BV46 và BV25. Tuy lực lượng đông, nhưng địch chỉ dùng một đại đội giữ cứ điểm Pắk Soòng, 2 đại đội bảo vệ tiểu khu Pắk Xế. Lực lượng còn lại của chúng thường xuyên cơ động bên ngoài.

Lực lượng địch tuy đông nhưng sức chiến đấu yếu, khi bị đánh mạnh thường phân tán chạy trốn để tránh bị tiêu diệt.

Trận đánh thị trấn Pắk Soòng bắt đầu lúc 1 giờ ngày 16 tháng 5 năm 1971. Sau 4 giờ tiến công áp đảo, tiểu đoàn 90 của trung đoàn 1 chiếm được cứ điểm Pắk Soòng. Cùng lúc tiểu đoàn 40 cũng làm chủ hoàn toàn tiểu khu Pắk Xế. Các đơn vị địch đang cơ động bên ngoài vội phân tán lẩn tránh trong rừng. Ta vừa khép chặt vòng vây, vừa tích cực lùng đánh quân địch. Quân địch liều chết chạy về hướng Phu-dơ-tua. Ta làm chủ thị trấn, nhưng tất cả nhà dân đều đóng cửa vì sợ. Dân chúng ở đây gồm nhiều dân tộc như Lào, Việt, Pháp, Hoa… phần lớn làm nghề buôn bán, một số ít trồng cây cà phê. Vì ở trong vùng địch kèm kẹp lâu ngày, thường xuyên bị địch tuyên truyền, bưng bít, một số bị đầu độc, nên quần chúng hiểu biết về cách mạng có nhiều sai lệch. Tháo gỡ tâm trạng nghi ngờ của nhân dân không gì bằng hành động thực thực tế. Đơn vị chiếm lĩnh vị trí nào ở nguyên vị trí đó, các chiến sĩ vừa luân phiên cảnh giới, vừa lo quét dọn sân vườn, cho lợn, vịt, gà ăn. Mọi tài sản của dân từ xe đạp, xe máy, xe hợi, đến đồ dùng, cây ăn quả đều được bảo vệ chu đáo. Trong lúc đó, các đội công tác của bạn đến từng gia đình, hoặc dùng loa kiên trì giải thích chính sách của mặt trận Lào yêu nước.

Những cánh cửa đóng chặt dần hé mở. Trẻ em lấp ló trong hiên nhà, góc vườn và ngỡ ngàng nhìn ngó. Đôi mắt trẻ thơ lại là đôi mắt tinh tường trong việc nhận xét người hiền, kẻ dữ. Bị thu phục trước những nụ cười thân thiện và ánh mắt trìu mến của những người chưa quen biết,; tò mò trước công sự, chiến hào, súng to, súng bé, các em dần xích lại quấn quít bên cạnh các anh bộ đội giải phóng trẻ trung, hiền lành, lúc nào cũng niềm nở thân thiện với các em.

Quan sát và theo dõi mối thân tình giữa anh bộ đội với con em của mình, nhân dân đã kịp nhận thấy là: “Tha hán Việt Nam nưa, Tha hán Hồ Chí Minh” (Bộ đội Việt Nam, bộ đội Hồ Chí Minh) là người tốt thật mà. Khu phố người Việt nói với nhau: Bộ đội cụ Hồ đã đến. Hình ảnh thân thương của anh bộ đội cụ Hồ những ngày chống Pháp lại hiện lên trong trí nhớ của người già. Mấy ngày sau đó, nhà nhà đều mở rộng cửa. Nhiều gia đình đề nghị với cán bộ cho bộ đội vào nghỉ trong nhà. Trạm thủy điện của thị trấn hoạt động bình thường trở lại. Ánh điện bừng sáng. Thị trấn bắt đầu thức dậy trong buổi bình minh của cuộc sống mới, cuộc sống của những ngày giải phóng tràn ngập niềm vui, lời ca tiếng hát chan hòa tình Việt - Lào anh em.

Kỉ luật nghiêm, tư cách đứng đắn, giao tiếp hòa nhã, thân mật của cán bộ, chiến sĩ, tuy ngôn ngữ bất đồng nhưng việc tiếp xúc với nhân dân địa phương vẫn thuận lợi. Được sự giúp đỡ của bà con Việt kiều, các chiến sĩ ta vừa sẵn sàng đánh địch phục kích, vừa giải thích cho nhân dân địa phương về chính sách, về tình hữu nghị Lào - Việt. Kể chuyện Bác Hồ. Kể chuyện quê hương hai nước tựa lưng trên dãy Trường Sơn, mưa nắng có nhau như Bác Hồ đã nói: “Việt - Lào hai nước chúng ta. Tình sâu như nước Hồng Hà, Cửu Long”. Sau 20 ngày công tác ở thị trấn Pắk Xế, cán bộ và chiến sĩ của sư đoàn đã làmcho nhân dân Pắk Soòng hiểu rõ hơn về cách mạng, góp phần tô thắm thêm mối tình chiến đấu Việt - Lào.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Một, 2011, 06:54:18 PM
Thắng lợi bước đầu trong việc mở rộng vùng giải phóng, xây dựng ảnh hưởng chính trị trong quần chúng, càng cổ vũ thêm quyết tâm iệt địch của toàn sư đoàn.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tiêu diệt gọn tiểu đoàn ngụy Lào? So với quân Mĩ, quân Nam Triều Tiên, và quân ngụy Sài Gòn, sức chiến đấu của quân ngụy Lào thua kém về nhiều mật. Sư đoàn đã diệt gọn từng chiến đoàn, trung đoàn quân ngụy Sài Gòn, tiểu đoàn quân Mĩ, quân Nam Triều Tiên nhưng lại chưa tiêu diệt gọn được đơn vị quân ngụy Lào.

Trong chiến tranh, rút chạy trước đối phương thể hiện thế yếu, thế thua, là biểu hiện sự bạc nhược về tinh thần, tan rã về tổ chức, là biểu hiện của sự chiến bại. Nhưng đối với quân ngụy Lào, chạy thoát thân, chạy là để bảo toàn lực lượng lại là một chủ trương chiến lược. Binh lính và sĩ quan của chúng được phép tháo chạy khi giáp chiến với bộ đội Việt Nam… Chúng chạy bất kể thời tiết nắng, mưa, bão lụt, bất kể địa hình rừng rậm, núi cao, khe sâu hay dốc đứng, vì thế tiêu diệt gọn một tiểu đoàn cùng một lúc là rất khó. Đánh quân ngụy Lào, cần phải hoàn toàn bí mật, bất ngờ, khiến cho chúng không kịp trở tay. Đồng thời phải vây thật chặt, vây nhiều lớp, dùng lực lượng ít nhưng tinh nhuệ lót sẵn ở những khe sâu, dốc đứng, nơi chúng thường lợi dụng tài leo núi để vượt qua. Từ những kết luận đó, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn đã lãnh đạo đơn vị chuẩn bị mọi điều kiện để giáng cho địch những đòn tiêu diệt tốt hơn.

Mất Pắk Soòng, thị trấn Pắk Xế bị uy hiếp mạnh. Lực lượng tại chỗ của chúng không đủ sức chiếm lại Pắk Soòng. Dưới sự thúc ép của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, bọn phản động cực hữu trong giới cầm quyền Thái Lan trắng trợn đưa quân sang đánh thuê cho đế quốc Mĩ. Đầu tháng 6/1971, 3 tiểu đoàn quân Thái Lan và một tiểu đoàn hỗn hợp Lào - Thái đến Pắk Xế. Vừa đến nơi, toàn bộ lực lượng địch di chuyển luôn đến Lào Nâm. Tại đây chúng hợp quân với hai tiểu đoàn ngụy Lào từ Pắk Soòng chạy về. Tiếp theo, quân địch lại nhích đội hình xuống Y Tu, Bản Nhik ở phía tây Pắk Soòng 20km, ý định của địch là tổ chức một cụm điểm mạnh để chặn lực lượng ta tiến về hướng Pắk Xế, đồng thời chuẩn bị phản công đánh chiếm Pắk Soòng.

Y Tu, Bản Nhik nằm giữa hai con suối lớn là Huội Chăm Pi và Huội Băng Liêng. Cả hai con suối đều có lòng rộng từ 20 mét đến 30 mét, có chỗ rộng 560 mét. Nước suổi chảy siết không thể lội qua được. Bờ suối lại là vách đá thẳng đứng, với chiều cao từ 10 đến 15 mét, có chỗ 30 mét, không thể bám để trèo lên được. đó là vật cản thiên nhiên rất lợi hại, gây cho ta nhiều khó khăn trong quá tình phát triển tiến công.

Tháng 6, cao nguyên Bô-lô-ven đang mùa mưa. Sau 2 ngày hành quân, đại đội 9, tiểu đoàn 90 đã đến Huội Chăm Pi. Nước suối dâng cao, bộ đội làm bao nhiêu cầu đều bị nước cuốn trôi tất cả. Sáng ngày 10 tháng 6, đơn vị mới tìm được đoạn suối hẹp, có cây gõ vẫn ngang. Đại đội trưởng liền cho làm dây vịn, đưa đội hình qua suối chiếm lĩnh địa bàn đúng thời gian.

Hành quân đến Huội Băng Liêng, tiểu đoàn 90 liền tổ chức vượt suối. Sau một ngày tìm mọi cách khắc phục, đơn vị vẫn không qua được. Trung đoàn trưởng Trần Quang Lập, cùng với đơn vị, điện xin chỉ huy sư đoàn lùi thời gian nổ súng lại một ngày.

Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh sư đoàn quyết định sử dụng số vệ binh, trinh sát, thông tin trong bộ phận đi chuẩn bị chiến trường tổ chức thành một mũi đột kích, thay cho mũi tiến công của tiểu đoàn 90 và lệnh cho Trung đoàn trưởng trung đoàn Ba Gia phải tổ chức ngay một đại đội gọn, nhẹ, cơ động nhanh, vượt lên trước cho kịp giờ nổ súng.

Sau nửa ngày lùng sục, tiểu đoàn đã tìm được chỗ lòng suối hẹp và đốn ngả một cây to ba người ôm vắt ngang lòng suối. 16 giờ ngày 10/6 bộ đội vắt đầu vượt cầu.

Trong lúc các mũi tiến công của ta đang tổ chức chiếm lĩnh trận địa, thì 6 giờ ngày 11 tháng 6, quân địch từ Y Tu đánh xuống Pắk Cụt hòng tiến thêm một bước nữa trong kế hoạch phản công chiếm lại Pắk Soòng.

Địch nống ra, đây là điều kiện để ta nghi binh thu hút, kiềm giữ lực lượng chúng ở bên ngoài, tạo thêm thuận lợi cho trận tiến công vào cứ điểm.

Một trung đội của tiểu đoàn 1 quân tình nguyện tổ chức chốt chặn quân địch ở trước Pắk Cụt. Sau một ngày chiến đấu ngoan cường, trung đội đã đánh bật tất cả các đợt tiến công của địch. Nhưng đơn vị cũng thương vong nặng. Toàn trung đội chỉ còn 4 đồng chí. Ngày 12/6 địch lại tiến công lên chốt. Thêm một chiến sĩ nữa bị thương. Nhưng ba tay súng dũng cảm của ta vẫn kiên cường trụ bám đánh bật liên tiếp hai đợt xung phong của địch. Hàng chục xác giặc nằm chồng chất lên nhau trước mép chiến hào.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Một, 2011, 06:56:40 PM
Lợi dụng lúc địch đang chăm chú theo dõi diễn biến của trận đánh ở vòng ngoài, các mũi tiến công của ta bí mật và an toàn tiến sát mục tiêu.

16 giờ ngày 12 tháng 6, trận địa cối 120mm ở mũi tiến công hướng tây bắc, bắt đầu trút đạn xuống Bản Nhik. Những quả đạn đầu tiên rơi đúng ngay sở chỉ huy. Tên đại tá Bu Thoong và một số sĩ quan tùy tùng của địch chết gục tại hầm.

Thời tiết đã gây thêm khó khăn cho trận đánh. Trời mưa, trận địa sũng nước. Để chống lún, các chiến sĩ súng cối phải dùng cọc gỗ đường kính từ 10 đến 15 phân, dài từ 1,2 đến 1,5 mét đóng dày sít. Tuy vậy chỉ bắn được 5-67 viên, súng đã lún sâu đến gần 1 mét. Thế là phải vác súng lên đưa đến trận địa dự bị. Trận địa di chuyển liên tục. Bom và rốc két địch nổ quanh mình. Nhưng từng viên đạn cối của ta vẫn rơi chính xác vào cứ điểm địch.

18 giờ, cối vừa chuyển làn, mũi tiến công hướng tây bắc Bản Nhik do đồng chí Trung, quyền trưởng ban tác chiến sư đoàn và đồng chí Lợi, chính trị viên phó tiểu đoàn 90, nhanh chóng xung phong đánh chiếm, làm chủ cả khu vực và phát triển về phía đông.

Cùng lúc, tiểu đoàn công binh và đại đội thiết giáp, lợi dụng sương mù, bất ngờ và mãnh liệt đột kích thẳng vào Y Tu. Quân ta nhanh chóng đánh chiếm sở chỉ huy và bắn chết tên tiểu đoàn phó tiểu đoàn ngụy Lào BV40. Đến 21 giờ phần lớn quân địch ở Y Tu đã bị tiêu diệt. Sau khi để lại một bộ phận làm nhiệm vụ tảo trừ, lực lượng ta bắt đầu phát triển sang Bản Nhik.

Do tiểu đoàn 90 đến chậm, nên cuộc chiến đấu ở hướng tây nam gặp nhiều khó khăn. Bộ phận trinh sát của trung đoàn Ba Gia cùng với vệ binh, trinh sát, thông tin sư đoàn, do đại đội phó trinh sát Nguyễn Chuyển(1) chỉ huy trang bị nhẹ đã lên kịp và chiếm lĩnh khu vực có địch chờ lệnh nổ súng.

24 giờ ngày 13 tháng 6, qua máy vô tuyến điện, Tiểu đoàn trưởng 90, Trương Hồng Anh(2) bắt liên lạc với 1 đại đội ở hướng tây bắc và lệnh cho đơn vị đánh sang phối hợp với mũi tiến công ở hướng tây nam. Do phải vượt qua một con suối sâu và đánh theo đường vòng, nên mãi đến 5 giờ ngày 13 tháng 6, đại đội 9 mới bắt liên lạc được với bộ phận trinh sát của trung đoàn. Lúc này đội hình chính của tiểu đoàn cũng đến đủ. Trận tiến công dứt điểm Bản Nhik đang được chuẩn bị khẩn trương.

Tiếng súng của ta tạm dừng. Tưởng đã rút, bọn chỉ huy quân địch ở Bản Nhik liền báo về Pắck Xế: “Chỉ mất Y Tu, Việt cộng không làm gì nổi Bản Nhik” và xin Pắck Xế tăng viện cho một tiểu đoàn để lấy lại Y Tu.

7 giờ ngày 14 tháng 6, trong lúc đám tàn quân sống sót của địch ở Bản Nhik đang đi lại nhốn nháo, thì từ các trận địa bố trí sẵn, tất cả các nòng súng cối 120,82mm, ĐK, đại liên, trung liên, rồi tiếng súng trường, lựu đạn nổ vang. Từ ba mặt, các mũi xung kích của tiểu đoàn 90 xung phong áp đảo quân địch.

Mũi tiến công chủ yếu của tiểu đoàn 90, do đại đội 11 đảm nhận đánh vào khu vực cố thủ của một đại đội Thái Lan. Lợi dụng nhà sàn của dân, chúng bố trí đại liên trên gác khống chế mặt đường 23. Đại đội 11 buộc phải dừng lại ở phía nam đường. Trung đội trưởng Trần Văn Hiệu nhanh chóng cho 2 tiểu đội vận động đánh vòng vào sau lưng địch. Để thu hút sự chú ý của chúng, Hiệu ôm súng lăn qua mặt đường. Đạn địch cày tóe lửa quanh mình. Vừa qua khỏi đường, Hiệu đã nhanh chóng nép người vào một mô đất và dùng M79 diệt ngay ổ đề kháng của địch. Cùng lúc đại đội 9 từ bắc đánh vào cả một trung đội của đo 10 từ phía tây ập tới. Chỉ trong chốc lát cả đội hình lính đánh thuê Thái Lan cùng một đại đội ngụy Lào từ Y Tu chạy qua và một đại đội của tiểu đoàn BV46 ngụy Lào bố trí trong khu vực này đã bị tiêu diệt.

Quân địch hoàn toàn tan rã. Tiếng súng truy kích của các chiến sĩ ta vang động khắp núi rừng, ta đã hoàn toàn làm chủ Bản Nhik. Máy bay địch lao tới ném bom, bắn phá, hòng hủy diệt trận địa. Trận địa phòng không của ta bắn rơi 3 chiếc T28 và một L19. Bọn còn lại vội vã bỏ chạy.

Cụm bàn đạp Y Tu, Bản Nhik đã bị tiêu diệt. Âm mưu tái chiếm Păk Soòng của địch đã bị đập tan. Trong vòng 19 giờ tiến công liên tục, ta đã tiêu diệt gọn tiểu đoàn ngụy Lào BV44, và một đại đội Thái Lan, đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn ngụy Lào BV46, bắn rơi 4 máy bay, bắn cháy 12 xe quân sự, phá hủy 5 đại bác 105mm, thu trên 170 súng các loại và nhiều phương tiện chiến tranh. Vùng giải phóng hạ Lào mở rộng thêm và củng cố vững chắc.

Hòa cùng thắng lợi của sư đoàn trên cao nguyên Bô-lô-ven, từ ngày 1 đến ngày 24 tháng 5, trung đoàn 141 và tiểu đoàn đặc công, do Bộ Tư lệnh mặt trận chỉ huy đã tiến công tiêu diệt giải phóng các khu vực Ca Lông, Bung Xui, Bung Tha La, Na Mào Ni, Vàng Sun, Cà Bao, Vàng Khuôn… góp phần giải phóng thị trấn Pha Lan. Các đơn vị trên còn phục kích tiêu diệt goàn bộ lực lượng bộ binh, pháo binh, cơ giới của ngụy Lào trên đoạn từ Đồng Hến đến Sê Nô, góp phần mở rộng vùng giải phóng miền trung nước Lào anh em.


(1) Nguyễn Chuyển là nay là thượng tá anh hùng lực lượng Võ trang QK5.
(2) Trương Hồng Anh, sau 1975 là đại tá sư đoàn trưởng sư đoàn 2, hi sinh mặt trận tây nam 1984.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Một, 2011, 06:58:43 PM
Kết thúc nửa năm chiến đấu trên đất bạn, sư đoàn 2 Quân khu 5 đã cùng với các sư đoàn chủ lực của Bộ, Quân khu Trị Thiên, binh đoàn vận tải chiến lược 559, và quân giải phóng nhân dân Lào, giành thắng lợi lớn trong trong cuộc chiến đấu có ý nghĩa của trận quyết chiến chiến lược ở đường 9 - Nam Lào. Trong nửa năm chiến đấu, sư đoàn đã đánh trên 30 trận, từ quy mô tiểu đoàn trở lên, trong đó có những trận tác chiến quy mô sư đoàn thiếu, hoặc trung đoàn tăng cường. Lần đầu tiên tác chiến trong đội hình chiến dịch lớn, với nhiều binh chủng hợp thành, sư đoàn đã bảo đảm hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn, hoàn thành được nhiệm vụ của chiến dịch phản công, thực hiện tốt chủ trương tiêu diệt nhanh gọn từng trung đoàn, chiến đoàn quân ngụy. Qua chiến đấu, cán bộ chỉ huy các cấp cũng như chiến sĩ trong sư đoàn đã trưởng thành rõ rệt về trình độ tác chiến tập trung, hợp đồng binh chủng quy mô lớn. Không chỉ giành thắng lợi và trưởng thành về tác chiến và xây dựng, sư đoàn còn thể hiện được bản chất tốt đẹp của một đội quân cách mạng: Khẩn trương, nghiêm túc trong chấp hành mệnh lệnh, kiên quyết triệt để trong tiến công tiêu diệt địch, gần gũi gắn bó mật thiết với nhân dân.

Với thành tích và ưu điểm đó, sư đoàn thể hiện được bản chất: “Trên tin, bạn mến, dân thương, quân thù khiếp sợ”.

Gần nửa năm xây dựng và hơn nửa năm chiến đấu trên đất Lào, đã đánh dấu một bước trưởng thành mới của sư đoàn, bước thưởng thành theo hướng tác chiến tập trung hợp đồng binh chủng, tiến công tiêu diệt lớn quân địch, một yêu cầu cấp bách của đơn vị chủ lực cơ động trong bước phát triển mới của chiến tranh.

Kết thúc chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào, tôi được Đảng ủy Bộ Tư lệnh sư đoàn cử đi dự hội nghị tổng kết chiến dịch tại Hà Nội. Hội nghị tổng kết do Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tư lệnh triệu tập. Đến Hội nghị tôi gặp anh Võ Chí Công ra họp Ban chấp hành Trung ương Đảng vẫn còn ở Hà Nội. Anh đưa tôi lên nhà nghỉ ở Quảng Bá, bên Hồ Tây để báo cáo với đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, về tình hình của sư đoàn 2 từ miền Nam ra tham gia chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào. Trên đường đi, anh Võ Chí Công dặn tôi: “Đồng chí Chương báo cáo cụ thể tình hình của sư đoàn 2, từ việc hành quân, xây dựng, huấn luyện, đến tác chiến thắng lợi… Ý tứ phải thật cụ thể, ngắn gọn và súc tích. Về tình hình chung của chiến trường thì anh Ba đã rõ rồi, tôi chắc anh Ba cũng bận lắm! Đồng chí cố gắng nghe!”.

Nghe anh Võ Chí Công dặn trước, khi vào gặp anh Ba, tôi cũng nói rất gọn trong vòng 15 phút, về tinh thần khắc phục khó khăn trong hành quân của sư đoàn, về tình hình xây dựng và chiến đấu của sư đoàn trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, vì lí tưởng xã hội chủ nghĩa của Đảng, và về ý thức chấp hành mệnh lệnh cấp trên liên tục chiến đấu, xong trận này, tiếp trận khác vẫn giành thắng lợi. Do sư đoàn vận dụng tốt khẩu hiệu: “nắm thắt lưng địch mà đánh”, nên giảm được thương vong do phi pháo của địch gây ra cho sư đoàn. Ở bất kì tình hình ra sao, cơ quan chính trị của sư đoàn vẫn làm tốt chính sách thương binh, liệt sĩ, giữ vững, phát huy và làm tốt chính sách dân vận, sư đoàn đi đến đâu cũng được nhân dân tận tình giúp đỡ. Hành quân, trú quân trên hành lang chiến dịch gần một năm qua, sư đoàn đều làm tốt chính sách dân vận với đồng bào các dân tộc Lào anh em.

Về tình hình quân địch theo nhận định của quan của tôi, một cán bộ chỉ huy tác chiến tại chỗ, tôi nói: “Địch ỷ lại quân đông, hỏa lực nhiều, có máy bay cơ động, ồ ạt đổ quân nhưng khi xuống đất giáp chiến với ta, tinh thần của chúng bạc nhược, bọn địch phần nhiều muốn chạy thoát thân không dám chiến đấu. Nắm chắc tâm lí địch, sư đoàn thực hiện kế sách bao vây, dùng hỏa lực áp đảo tinh thần quân địch, rồi nới lỏng vòng vây để quân địch chạy đến khu vực quy định do sư đoàn tạo ra, nên bắt được nhiều tù binh. Sư đoàn 2 Quân khu 5 đã làm tốt việc tránh cho bọn chúng khỏi bị chết do bom B52 của chính quan thầy của chúng ném xuống”.

Nghe tôi báo cáo, đồng chí Lê Duẩn rất vui, tỏ lời khen ngợi cán bộ, chiến sĩ sư đoàn, đồng thời đồng chí Tổng Bí thư cũng nói về nguyên nhân thắng lợi của chiến dịch phản công đường 9 Nam Lào: “Ngay từ khi Mĩ - ngụy động binh, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta đã theo dõi và nắm chắc được âm mưu cho của Mĩ - ngụy, ta đánh giá được những thủ đoạn của địch, tình báo chiến lược của ta nắm dịch khá tốt, kịp thời báo cáo với Bộ Chính trị để có dự kiến. Mĩ - ngụy sau khi mở rộng chiến tranh sang Campuchia, thế nào địch chũng đổ quân xuống nam Lào, để đánh phá kho tàng, cắt đường vận chuyển chiến lược của ta, từ miền Bắc vào miền Nam, triệt đường tiếp tế vũ khí, lương thực cho chiến trường Khu 5 và Nam bộ. Nếu nó làm được việc đó sẽ gây cho cách mạng miền Nam suy yếu và thất bại. Mĩ - ngụy thâm độc lắm! Nhưng võ quýt dày có móng tay nhọn, Bộ Chính trị đã bàn với Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng tham mưu nghiên cứu kế hoạch, chuẩn bị chiến trường đánh địch từ cuối năm 1970 và điều động các đơn vị từ miền Bắc vào và 2 sư đoàn quân giải phóng miền Nam ra để sẵn sàng chiến đấu đánh địch. Thế trận ta đã bày sẵn đâu vào đấy, địch đổ quân xuống là trúng kế của ta nên chúng thất bại. Ta thắng lớn. Nhưng với chiến tranh ta phải cần luôn cảnh giác…

Tình hình hiện nay, về mặt quốc tế, tôi cũng nói cho đồng chí rõ: Đương có nhiều vấn đề rất phức tạp. Ta phải cố gắng bình tĩnh để tranh thủ đem cái lợi về cho cách mạng. Các đồng chí là cán bộ cao cấp chỉ huy sư đoàn, là những vị tướng giữa trận tiền, nên phải hiểu sâu hơn để có quan điểm vững vàng, kiên định nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam. Dù ở tình huống nào, toàn dân ta cũng quyết đánh và quyết giải phóng cho được miền Nam, thống nhất cho được Tổ quốc! Nhiệm vụ cụ thể của sư đoàn 2 sẽ do Bộ Quốc phòng quyết định, đồng chí trở về đơn vị, tôi gởi lời chúc anh em, chúc cán bộ chiến sĩ sư đoàn sức khỏe, tiếp tục xây dựng đơn vị thật mạnh để đánh to, thắng lớn.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Một, 2011, 07:51:31 PM
Trong hội nghị tổng kết chiến dịch “Phản công đường 9 - Nam Lào” được tiến hanh sau đó, thành phần dự hội nghị gồm các cán bộ từ các sư đoàn tham gia chiến dịch trở lên. Hội nghị do Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp chủ trì và được tiến hành trong 7 ngày. Nội dung hội nghị bàn các việc lớn như:

- Thảo luận âm mưu thủ đoạn của địch, nêu rõ sự thất bại trong chiến dịch và nguyên nhân của nó.

- Kiểm điểm chủ trương của ta và chiến dịch, chiến thuật, tổ chức hợp đồng chiến đấu, nhất là hợp đồng quy mô lớn, nhiều đơn vị, có các binh chủng. Nêu vấn dề thành công, kết quả và khuyết điểm tồn tại để rút ra nguyên nhân thắng lợi.

- Thảo luận vấn đề thực hiện các chính sách và chỉ thị công tác Đảng, công tác chính trị của chiến dịch.

Không khí hội nghị rất sôi nổi, thảo luận phê bình và tự phê bình dân chủ, cởi mở. Tôi phấn khởi nhất là trong 10 năm ở chiến trường, chiến dịch nào cũng được dự tổng kết, nhưng điều kiện hội họp khó khăn, không được như lần này. Hội nghị lần này tôi học được nhiều vấn đề, nhất là kế hoạch tác chiến hợp đồng binh chủng, cách đánh của từng sư đoàn, mỗi sư đoàn có mỗi cách đánh hay và cách chỉ huy của mỗi sư đoàn chiến đấu trong đội hình lớn của toàn mặt trận. Tôi cũng học tập được cách chỉ huy của Bộ về điều hành chiến dịch quy mô lớn, dài ngày, đánh liên tục vừa tinh tế, khoa học. Công tác chính trị tư tưởng, công tác bảo đảm hậu cần, kĩ thuật, các giải quyết chính sách thương binh, liệt sĩ… tù hàng binh, chiến lợi phẩm được tổ chức chu đáo và nghiêm túc. Hội nghị cũng đã chỉ ra những mặt còn yếu kém trong hợp đồng binh chủng, trong chấp hành mệnh lệnh. Các nội dung trong hội nghị, nâng được nhận thức mới, hiểu sâu được nhiều vấn đề về cuộc chiến tranh nhân dân, giải phóng dân tộc.

Ngày kết thúc hội nghị có đồng chí Trường Chinh, thay mặt Bộ Chính trị đến thăm và động viên hội nghị. Tôi nhớ mãi lời đồng chí: “Hộm nay, tôi đến thăm hội nghị tổng kết chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào, tôi khen ngợi tất cả các đơn vị trong toàn quân đã tham gia chiến dịch - Đúng nghĩa của nó phải nói rằng: “Đánh to thắng lớn””. Thắng lợi này, tác động lớn đến quân đội Sài Gòn, tác động cả quân đội Mĩ. Mĩ cũng thấy ró “âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh” đưa quân ngụy Sài Gòn ra tác chiến trên chiến trường Nam Lào, là phải đọ sức với quân đội miền Bắc, kẻ địch biết điều đó nhưng căn bệnh cố hữu của nó là: Chủ quan! Chúng tưởng rằng quân đội ngụy cộng với trang bị Mĩ sẽ thắng được quân đội cách mạng. Nhưng thực tế đã trả lời là quân địch đã thất bại. Tôi xin nói lại cho các đồng chí biết, cả Bộ Chính trị vui mừng, đồng bào miền Bắc phấn khởi và tin tưởng, đồng bào miền Nam và các lực lượng vũ trang giải phóng ở miền Nam cũng rất phấn khởi. Đáng lẽ thắng lợi này là thời cơ cho cách mạng miền Nam thắng lợi nhanh hơn, nhưng tôi cũng thông báo cho các đồng chí, Trung ương Đảng và Chính phủ cũng đang gặp nhiều khó khăn, trở ngại về tác động quốc tế không nhỏ”

Tôi nghe xong thông báo của đồng chí Trường Chinh, lòng dạ cứ ray rứt, khó chịu, nhưng nhớ lời dặn của đồng chí Lê Duẩn và tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Trung ương Đảng ta, cho nên cũng không nặng nề lắm, cái chính mà tôi suy nghĩ là phải làm thế nào xây dựng quân đội cho mạnh để đủ sức đánh thắng kẻ thù, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đó là con đường của Đảng ta, của Bác Hồ, của nhân dân ta đã chọn cũng là con đường mà tôi đã hằng mơ ước từ thuở còn là người học trò nhỏ ở nông thôn cho đến khi cầm súng đánh giặc đến bây giờ.

Ở Hội nghị ra về, tôi được đồng chí Lê Trọng Tấn, Bộ Tổng tham mưu triệu tập vào cơ quan Bộ dự cuộc họp “hẹp”, nghe Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ cho sư đoàn trở về chiến đấu ở miền Nam. Nhiệm vụ cụ thể của Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tư lệnh giao cho sư đoàn 2 Quân khu 5 về Tây Nguyên tham dự cuộc tiến công chiến lược năm 1972 là: “Tiêu diệt địch giải phóng Đắk Tô - Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum. Hướng phát triển có thể là Pleiku, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh, nối liền với căn cứ địa miền đông Nam Bộ”.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Một, 2011, 07:52:25 PM
Trong hội nghị ngoài việc nhận nhiệm vụ, còn thảo luận vấn đề bổ sung quân số trang bị vũ khí, bảo đảm lương thực hành quân, để sư đoàn có điều kiện chiến đấu liên tục. Hội nghị có Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến dự. Sau khi đồng chí Lê Trọng Tấn, kết luận cuộc họp, thủ tướng Phạm Văn Đồng lúc này là trưởng ban chi viện cho chiến trường miền Nam. Thử tướng đã biểu dương những thắng lợi của quân giải phóng miền Nam, trong đó có sư đoàn 2 Quân khu 5 ra chiến đấu ở nam Lào và các sư đoàn ở miền Bắc trong năm 1971 là đánh giỏi, đánh liên tục, bắt tù binh, thu vũ khí lớn. Lần đầu tiên bắt đến đại tá ngụy. Đây cũng là một chiến dịch bắt nhiều tù binh nhất. Thắng lợi đó, tác động đến tinh thần phấn khởi của nhân dân hai miền Nam Bắc, làm cho kẻ địch suy yếu thêm một bước. thế và lực của ta tăng lên rất nhanh, đáng phấn khởi. Thủ tướng nói: “Sang năm 1972, các đồng chí phải đánh mạnh hơn nữa, đánh đều khắp cả Tây Nguyên, đồng bằng Khu 5, Nam Bộ, tạo điều kiện giải phóng thị trấn, thị xã, diệt nhiều trung đoàn, sư đoàn địch. Đó là một yêu cầu mới hết sức to lớn và bức thiết của quân đội ta. Tôi tin rằng sang năm 1972, ta sẽ giành được nhiều thắng lợi lớn hơn, nhưng nhân đây tôi nói với các đồng chí rõ. Ta cũng có nhiều khó khăn cần hết sức chú ý, cụ thể như: Việc bổ sung quân số, tuyển thanh niên nhập ngũ ở miền Bắc cũng khó dần, vì ta đã huy động đến học sinh, sinh viên, công nhân viên chức. Đó là một yêu cầu khó cũng phải làm. Nhưng ta biết khó để nỗ lực! Một việc nữa, là huy động lương thực từ miền Bắc chuyển vào miền Nam cũng không phải giản đơn, lương thực ở miền Nam huy động trong nhân dân đã khó, bị địch phong tỏa các cửa khẩu tiếp tế. Còn ở miền Bắc thì phải đi xa hàng ngàn cây số, dưới mưa bom bão đạn của quân thù, một cái khó nữa cần phải nói, là thời gian quá gấp cần triển khai ngay bây giờ nhiều việc trong một lúc. Khẩn trương hết sức, cả miền Bắc và miền Nam phải dồn sức đánh thắng giặc Mĩ, khẩn trương đến mức phải nêu khẩu hiệu là “Vừa chạy vừa xếp hàng”. Các đồng chí có làm được như vậy thì thắng lợi mới đưa lại như mong muốn cho cách mạng, cho Đảng và nhân dân ta. Nhân cuộc họp này tôi có lời thăm hỏi các đồng chí, và nhờ đồng chí Chương chuyển lời thăm đơn vị, chúc đơn vị mạnh khỏe để đánh địch, diệt gọn, bắt tù binh nhiều, thu vũ khí lớn cùng với nhân dân miền Nam chiến đấu giải phóng đất nước. Chúc các đồng chí khỏe!”.

Tất cả những gì mà tôi cùng cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 2 Quân khu 5, sau gần nửa năm, của năm 1971, tạm biệt chiến trường Khu 5, ra mặt trận đường 9 - Nam Lào chiến đấu.

Tuy nhiên kỉ niệm sâu sắc, mạnh mẽ trong tôi là, chiến thắng vang dội đường 9 - Nam Lào và những ngày được gặp, được nghe các đồng chí lãnh đạo Đảng, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tư lệnh phân tích, truyền đạt tình hình và luôn theo sát thăm hỏi, động viên anh em, cán bộ chiến sĩ tha thiết, cởi mở, đầy trách nhiệm; cũng như được gặp gỡ, cùng sát cánh với đồng bào, chiến sĩ đất nước Lào anh em đánh Mĩ - ngụy, chư hầu; được chứng kiến cuộc sống và chiến đấu hào hùng của cả nước, như thu nhỏ một phần trên cung đường Trường Sơn huyền thoại, tôi nghĩ khó mà tìm lại được những kỉ niệm ấy - Kỉ niệm một thời chưa xa, luôn nung nấu trong tâm khảm tôi, nhất là những khi ngồi hồi tưởng lại.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Một, 2011, 07:54:05 PM
CHƯƠNG VIII

HẬU PHƯƠNG LƯU LUYẾN
TIỀN TUYẾN CHỜ MONG

Trong thời gian ra dự hội nghị tổng kết chiến dịch phản công đường 9 - Nam Lào tổ chức tại Hà Nội, tôi mới thấy hết được sự tàn bạo của không quân Mĩ đánh phá suốt chiều dài từ Quảng Bình ra đến Hà Nội. Quốc lộ 1, con đường giao thông huyết mạch vào Nam ra Bác này, hố bom chồng hố bom chi chít, cầu cống đổ gục. Có những xóm làng hai bên đường nhà cửa, cây cối tan nát, cháy sém xác xơ. Những dấu vết tội ác của giặc Mĩ, làm cho những chiến sĩ ở chiến trường như chúng tôi chạnh lòng, không dấu nỗi niềm thương yêu, cảm phục hậu phương lớn, đang ngày đêm đối mặt với kẻ thù. Cuộc chiến đấu hôm nay vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc thân yêu, nhưng miền Bắc đang bị không quân Mĩ đánh phá, chúng tôi càng thấy nhiệm vụ của mình lớn lao và nặng nề, là phải trả thù cho đồng bào miền Bắc, dù phải hi sinh, gian khổ đến mấy đi nữa.

Ra đến cầu Hàm Rồng, chứng kiến cuộc chiến đấu giữa các đơn vị phòng không, lực lượng địa phương với máy bay Mĩ, cũng như được phản ảnh trên các phương tiện thông tin đại chúng, càng hiện rõ trong tôi: Hàm Rồng anh hùng, Hàm Rồng tung lưới lửa vít cổ “thầm sấm con ma” Mĩ. Hai tiếng Hàm Rồng là niềm tự hào của quân và dân Thanh Hóa cũng như cả nước, trong đó có Quảng Nam - Đà Nẵng quê tôi, là tỉnh kết nghĩa với Thanh Hóa. Cùng với bọn giặc lái Mĩ, hai tiếng Hàm Rồng là nỗi khiếp sợ, kinh hoàng, mỗi khi chúng vào không phận này. Tôi còn nhớ một bài báo lúc đó đã viết: Tên giặc lái Rôbe Đêtơri, đại úy, thuộc liên đội 18 không quân chiến thuật Hoa Kì, bị bắt ở Hàm Rồng ngày 01-8-1965, đã tự thú: “Phi công liên đội 18 rất lo sợ khi bị phân công đi đánh cùa Hàm Rồng. Súng phòng không của các ông ở đây nhiều đến nỗi máy bay của chúng tôi không dám bay vào vùng trời Hàm Rồng, và có bay vào thì cũng cắt bom vội vàng rồi tránh xa. Tôi rất sợ mỗi khi đi đánh Hàm Rồng. Đồi tôi chưa bao giờ phải trải qua những phút kinh hoàng như vậy. Pháo phòng không của các ông bắn dữ dội. Tôi bị bắn trúng khi chưa kịp cắt bom. Tôi thả bom bừa bãi để tháo chạy mong thoát ra biển nhưng không kịp”. Còn tên trung tá Pranhke, phi công trên hạm đội Mít-uây, bị bắt ngày 12-8 đã nói: “Phi công trên hạm, đứa nào cũng buồn lo khi nhận mệnh lệnh đi đánh Hàm Rồng. Tội nhận lệnh đi bảo vệ phi đội cường kích vĩ tuyến 20. Chỉ huy phổ biến là an toàn. Sự thật tôi đã bị bắn rơi. Sau trận này tôi tin chắc bạn bè tôi rất hoảng sợ. Rõ ràng là chúng tôi không nắm chắc được hỏa lực của các ông”.

Trải qua 8 năm, từ 1964 đến 1971, bộ đội pháo và các lực lượng dân quân Hàm Rồng đã bắn rơi 99 máy bay Mĩ. Chiến công của quân dân Hàm Rồng, làm nức lòng quân dân hai niềm Nam, Bắc, càng nung nấu thêm niềm tin của cán bộ, chiến sĩ quân giải phóng và nhân dân miền Nam. Trong cuộc ra thăm miền Bắc xã hội chủ nghĩa, đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam đã được ghé thăm tỉnh Thanh Hóa và đã viết vào sổ vàng:

“Giữa mắt Rồng này, chúng tôi thấy ấm lòng bởi mối tình Nam Bắc, tình đồng chí cùng chung một chiến hào đánh Mĩ. Thành tích của các đồng chí làm nên ở đây rất to lớn, rất anh hùng như dáng đứng của chiếc cầu sừng sững hiên nang nối đôi bờ sông Mã”.

Ra đến Ninh Bình, ngôi nhà thờ công giáo duy nhất còn lại với tháp chuông cao ngất cũng bị bom Mĩ phạt ngang, cây thánh giá gãy cụp, tốc mái, bờ tường lở lói nham nhở, đứng vô tri trên nền đất loang mổ hố bom…

Với tôi, từ lâu rồi khái niệm hậu phương lớn như một thành trì để cho tôi cũng như đồng đội gởi gắm niềm tin, niềm tự hào về một miền Bắc xã hội chủ nghĩa, có thủ đô Hà Nội, trái tim của cả nước, nơi Bác Hồ vô vàn kính yêu đã yên nghĩ bên quảng trường Ba Đình lịch sử mãi mãi ghi đậm trong tôi. Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội đã ngẩng cao đầu vít cổ B.52 “thần sắm”, “con ma” Mĩ xuống bùn đen, làm nên một Điện Biên Phủ trên không lừng lẫy, làm nức lòng cả nước và bè bạn yêu chuộng hòa bình bốn biển năm châu. Tôi đã sống những ngày thật hạnh phúc ở giữa lòng Hà Nội. Những ngày mà cả miền Bắc, cũng như Hà Nội lúc nào cũng khẩn trương quyết liệt, tiếp tục dồn sức người sức của cho tiền tuyến lớn đánh thắng giặc Mĩ xâm lược. Hà Nội ấp ủ trong tôi, giục giã tôi trên con đường chiến đấu.

Tôi đang chuẩn bị hành trang để cùng sư đoàn hành quân vào chiến trường Tây Nguyên theo lệnh của Bộ Quốc phòng, sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở đường 9 Nam Lào, thì bất ngờ một cơn sốt rét ác tính ập đến, cùng với căn bệnh quái ác: Chảy máu dạ dày, quật đổ tôi giữa tuổi 46. Các đồng chí quân y đã đưa tôi vào bệnh viện chữa trị.

Sau khi hội chẩn, hội đồng các bác sĩ kết luận: Do làm việc nhiều, liên tục, căng thẳng, người suy nhược bộc phát, cần phải điều trị.

Một ngày sau khi tôi vào bệnh viện, anh Lê Quang Đaoạ Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đến thăm, thấy bệnh tôi có phần gay go, về lại cơ quan, anh Lê Quang Đạo liền đề nghị với Bộ Quốc phòng điều anh Lê Đình Yên, là cán bộ của Khu 5 ra điều trị tại Hà Nội, nay đã lành bệnh vào làm chính ủy sư đoàn 2. Mấy ngày sau, anh Lê Quang Đạo trở vào bệnh viện thăm tôi, anh nói: “Cậu vui vẻ ở lại điều trị. Bao nhiêu năm ở chiến trường rồi, cuộc đấu tranh này còn dài. Năm nay cậu đã 46 tuổi rồi, “Cổ lai chinh chiến… ai lường rủi ro”. Ở lại đi, khỏi bệnh vợ chồng gặp, có một đứa con, đó cũng là sự chuẩn bị lực lượng” cho cách mạng chiến đấu lâu dài”.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Một, 2011, 07:57:12 PM
Nghe những lời anh Lê Quang Đạo nói vừa tình cảm, vừa trách nhiệm. Trong suốt 10 năm chiến đấu ở chiến trường, tôi không có một suy nghĩ nào lớn hơn là làm sao hoàn thành nhiệm vụ được cấp trên giao. Riêng với tôi, tới năm 1972, đối với sư đoàn 2 là cần thiết, vì tôi là người trực tiếp nhận lệnh của Bộ Tổng tham mưu giao cho về sư đoàn 2 triển khai chiến dịch. Khi nghe anh Lê Quang Đạo thuyết phục, tình cảm trong tôi như được đánh thức, khơi gợi dạt dào. Thời gian này, vợ tôi công tác ở chiến trường, vì bệnh tật nặng, được trên cho ra miền Bắc điều trị và học tập, để sau đó trở về lại quê hương tiếp tục công tác như bao cán bộ, đồng chí khác. Cũng là dịp may, vợ chồng tôi có điều kiện được gặp nhau, được sống bên nhau những ngày ngắn ngủi, nhưng là những ngày thật hạnh phúc, được sự chăm sóc động viên của các thủ trưởng, của anh em đồng hương, đồng đội, bạn bè. Nhưng nhiệm vụ còn đang chờ ở phía trước, luôn thôi thúc giục giã trong tôi.

Thế là đầu tháng 4/1972, sau 3 tháng điều trị, căn bệnh ổn định, tôi liền xin trở lại chiến trường và được cấp trên nhất trí. Hôm lên đường, vì thời gian quá gấp, Bộ Quốc phòng bố trí 2 chiếc xe gát 69 (Liên Xô sản xuất) với 4 lái xe. Đoàn cán bộ đi chiến trường chuyến đó, có Sư đoàn phó Châu Sa cùng các bộ phận quân y, bảo vệ và thông tin. Hai chúng tôi chia nhau ngồi ở 2 xe. Trước giờ xuất phát, đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, gặp và dặn riêng tôi: “Trên đường, đồng chí động viên lái xe tranh đi ngày, đi đêm. Đến ngày N1, nhớ là phải qua khỏi vùng trọng điểm Quảng Trị. Tình hình gấp lắm đó! Chúc các đồng chí khỏe và hoàn thành nhiệm vụ”. Tôi bắt tay đồng chí Tổng tham mưu trưởng, lòng tràn ngập tình đồng chí yêu thương.

Trường Sơn đã vào mua nắng lửa. Trên những cung đường, tuyến đường người, xe ra vào nườm nượp. Quang cảnh đó, được diễn tra trong một bài thơ, của một nhà thơ đi qua Trường Sơn đã viết:

Trời dồn nắng lửa Trường Sơn
Xe qua đèo, bóng chập chờn dưới khe
Quân đi cười với quân về
Tiếng đầu tiên là tiếng: Quê nơi nào?
Xe qua để lại dắng sau
Bụi hồng, tiếng đáp…
            Vọng vào rừng xanh
(1)

Sau 14 ngày đêm đi liên tục, ngày 23-4-1972, tôi và sư đoàn phó Châu Sa có mặt tại sở chỉ huy cơ bản của sư đoàn đóng tại bắc tỉnh Kon Tum. Biết tin tôi đã trở lại chiến trường, sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn điện thoại cho tôi: Anh cứ ở lại sở chỉ huy cơ bản. Tại đây có anh Lê Đình Yên rồi. “Hôn bắm mình tống cân” (Hâm bốn mình tấn công) (Nói lái theo kiểu Quảng Nam). Theo lệnh của Quân khu, đề nghị anh Chường, cùng đoàn cán bộ của sư đoàn nghiên cứu tình hình quân địch ở chiến trường Quảng Ngãi, vì Quảng Ngãi vốn là chiến trường quen biết của anh.

Tôi hỏi lại sư trưởng Nguyễn Chơn: “Hôn bắm”, mình làm ăn có tốt không?

Chắc ăn mười mươi. Anh yên tâm. Sư trưởng Nguyễn Chơn trả lời tôi chắc nịch như vậy.

Trận tấn công cụm cứ điểm Đăktô - Tân Cảnh mở màn lúc 3 giờ sáng ngày 24/4/1972, đúng như lời sư trưởng Nguyễn Chơn đã thông báo với tôi đêm 23/4. Trận tân công được giải quyết sau 8 tiếng đồng hồ, toàn bộ trung đoàn 42 và sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 22 ngụy cùng với bộ tham mưu của chúng bị quân ta tiêu diệt, tên đại tá sư trưởng ngụy Lê Đình Đạt chết tại trận, tên đại tá Vi Văn Bình, sư đoàn phó sư đoàn 22 ngụy cùng hàng trăm tên sĩ quan khác khiếp đảm trước sức tấn công của quân ta, chúng hốt hoảng tìm đường tháo chạy, nhưng không thoát được, đã bị quan ta bắt sống. tại trại giam tù binh, sau này, tôi hỏi hắn: “Anh đi lính được bao nhiêu năm rồi?”. Tên Vi Văn Bình trả lời: “Dạ tôi đi lính Pháp, sau hiệp định Giơnevơ, tôi vào Nam được chuyển sang quân đội cộng hòa. Do có trình đội và học vấn và là loại, được xem là mẫn cán tôi được cất nhắc. Từ khi tôi đi lính đến nay chưa hề thua trận nào!”. Nghe tên giặc này còn ngang ngạnh lắm, tôi hỏi tiếp: “Thế thua trận này anh thấy thế nào?” “Dạ đây là trận thua đáng đời của tôi. Tôi tưởng vũ khí Mĩ và sự “mẫn cán”của quân đội Sài Gòn sẽ kèm chân được các ngài, nhưng thật ra không có loại vũ khí nào thắng được lòng quyết tâm và sự dũng cảm của quân giải phóng”. Nói dứt câu này, tên giặc Vi Văn Bình trở nên khúm núm, lưng khom, tay chắp phía trước vẻ sợ sệt. Nhìn vào trang cuối bản cung thấy hắn viết 2 câu: “Giấc Nam Kha đã phũ phàng. Cuộc đời binh nghiệp xin hàng từ đây”. Tôi cười hỏi tiếp hắn: “Nếu cách mạng khoan hồng, anh có tiếp tục làm lính đánh thuê nữa không?”. Hắn trả lời gọn bân: “Một lần tôi tởn đến già, còn khí thế đâu nữa mà chiến đấu thưa ngài”.


(1) Thơ của nhà thơ Thu Hồng


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Một, 2011, 07:58:53 PM
Thế nhưng sau đó, thực hiện chính sách khoan hồng, độ lượng, tên Vi Văn Bình được ta trao trả tù binh cho phía quân ngụy. Trở về không nhớ đời, không chịu hối cải, hắn vẫn tiếp tục cầm súng đánh thuê, càng giết hại nhân dân ta dã man hơn khi chúng xua quân đi càn quét. Năm 1975, trong tổng tấn công, tên giặc già này bị ta bắt trở lại, hắn lại giở giọng liều: “Dạ thưa quý ngài, tôi là một tên lính đánh thuê, tôi buông súng có nghĩa là gia đình tôi phải chịu đói, lấy tiền đâu nuôi vợ con. Bây giờ cách mạng bắt được, các ngài muốn xử thế nào cũng được!”. Thật là giọng điệu của bọn liều mạng.

Sau trận thắng cụm cứ điểm Đăktô - Tân Cảnh, sư đoàn 2 tiếp tục mở mặt trận tấn công thị xã Kon Tum. Suốt 11 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, quân ta đã tiến công và làm chủ 2/3 biệt khu 24. Quân địch dùng pháo đài bay B52 oanh tạc sát nách thị xã một cách tàn khốc. Bộ Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên nhận định, chưa có điều kiện giải phóng Kon Tum và ra lệnh cho sư đoàn 2 dứt chiến để chuyển quân về chiến trường Quảng Ngãi.

Về phần tôi, nhận lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu, trên đường cùng đoàn cán bộ về nghiên cứu ở chiến trường Quảng Ngãi, vừa đi được 3 ngày, đến trạm giao liên ngã 3 rẽ về Quân khu Bộ, thì nhận được điện của Tư lệnh Chu Huy Mân, nội dung bức điện như sau:

“Đồng chí Chương về thẳng Quân khu để nhận nhiệm vụ mới. Đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường vẫn tiếp tục về Quảng Ngãi làm nhiệm vụ theo kế hoạch sư đoàn 2 đã giao” Chia tay đoàn cán bộ của sư đoàn, tôi về thẳng Quân khu Bộ. Về đến nơi, tôi gặp đồng chí Chu Huy Mân, tư lệnh Quân khu, đồng chí nói: “Cậu nghỉ ngơi đi, rồi chiều sang bên anh Võ Chí Công. Tối nay Quân khu họp giao nhiệm vụ cụ thể cho đồng chí”. Từ chỗ anh Chu Huy Mân ở, tôi đi hơn 1 tiếng đồng hồ mới tới chỗ anh Võ Chí Công (Bí thư Khu ủy V). Anh Võ Chí Công tiếp tôi trong tình cảm đồng chí thân mậ như hồi gặp ở miền Bắc. Đồng chí nói: “Sư đoàn 2 đã có anh Lê Đình Yên làm chính ủy, nên Bộ tư lệnh Quân khu quyết định đồng chí về làm chính ủy sư đoàn 711, tham gia giải phóng quê hương của đồng chí. Đồng chí thấy thế nào?”. Tôi trả lời đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy: “Thưa anh! Nhiệm vụ của Đảng giao thì tôi không từ chối, tuy có khó khăn là về đơn vị mới…”. Đồng chí Võ Chí Công, nhìn tôi cười vui vẻ: “Thôi ta nhất trí, đồng chí về 711 nhé! Nhiệm vụ cụ thể thì anh Mân sẽ trực tiếp với đồng chí trong chiến dịch này! Chúc đồng chí mạnh khỏe. còn việc mới hay cũ, chỉ là sự khẳng định khả năng của một chính ủy như đồng chí mà thôi”. Thế là tôi về làm chính ủy sư đoàn 711 từ tháng 5/1972.

Sư đoàn 711 ra đời vào tháng 11/1971, đội hình sư đoàn gồm các đơn vị: trung đoàn 31 của sư đoàn 2 trước đây, Trung đoàn 38 của sư đoàn 324 vào chiến đấu ở mặt trận Quảng Đà. Trung đoàn 9 ở Vĩnh Linh đất lửa mới vào và các đơn vị trực thuộc như đặc công, cao xạ, pháo binh, công binh và 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần do Quân khu trực tiếp tổ chức biên chế đầy đủ. Khi mới thành lập sử dụng 711, do đồng chí Hoàng Anh Tuấn, tham mưu trưởng Quân khu làm sư trưởng, anh Lê Hoàng chính ủy, anh Mai Thuận, phó chính ủy, anh Trần Tiến Quảng, sư phó anh Trần Trọng Sơn, sư phó, anh Hoàng Bình, tham mưu trưởng sư đoàn. Sư đoàn ra đời đã lập nên chiến công ở Núi Liệt Kiểm, núi Chia Gan, đánh địch phản kích giữ vững vùng giải phóng và bao vây tiêu diệt chi khu quận lị Hiệp Đức… Khi tôi về làm chính ủy, đồng chí Hoàng Anh Tuấn, bàn giao chức vụ sư trưởng cho đồng chí Trần Tiến Quảng, anh Lê Hoàng (tức là trung) bàn giao nhiệm vụ cho tôi đi nhận công tác mới.

Sư đoàn 711, ổn định tổ chức và nhận nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Quân khu triển khai đội hình, thực hiện ý định chiến dịch Hè Thu, là đập tan tuyến phòng thủ cơ bản của địch ở Quế Sơn, trong kế hoạch đánh bại chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mĩ, mở rộng vùng làm chủ một số xã thôn trên địa bàn huyện Quế Sơn, góp phần cùng chiến trường Quảng Nam đẩy địch lún sâu hơn nữa vào thế phòng ngự bị động.

Tôi không thể nào quên được sự sôi động của chiến trường Quế Sơn trong thời gian sư đoàn 711 chuẩn bị thực hiện bước 1 của chiến dịch, các trung đoàn bộ binh 31, 38 và trung đoàn 9 đã được kiện toàn, bộ đội đang sung sức.

Lần đầu tiên cụm hỏa lực hỗn hợp gồm pháo 130mm, hỏa tiễn mặt đất B72, pháo phòng không 37mm, xe tăng, thiết giáp xuất hiện trên chiến trường Quảng Nam cùng tấn công quân địch. Khi giao nhiệm vụ về Quế Sơn, anh Chu Huy Nân nói: “Chiến dịch Hè Thu của Quân khu lần này lấy khu vực Quế Sơn làm trọng điểm, phải tiêu diệt cho kì được bọn địch ở căn cứ Cấm Dơi và quận lị Quế Sơn, giải phóng toàn bộ thung lũng này. Quân khu thấy đây là một nhiệm vụ lớn, cho nên thành công tiền phương của Quân khu trực tiếp chỉ huy sư đoàn. Tôi sẽ đến sư đoàn và ở gần các đồng chí để giúp sư đoàn thực hiện nhiệm vụ”.

Theo kế hoạch lược đồ tác chiến của sư đoàn 711, chia thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Tiêu diệt các cứ điểm trên cao ở vòng ngoài.

Giai đoạn 2: Diệt cạn lực lượng cơ động phục kích của địch.

Giai đoạn 3: Tiêu diệt căn cứ Cấm Dơi, Quế Sơn - Diệt và làm tan rã toàn bộ bọn phụ quân của chúng trên khu chiến.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Một, 2011, 05:33:50 PM
BÓC VỎ NGOẠI VI

Nhận nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Quân khu, sư đoàn tổ chức đoàn cán bộ đi nghiên cứu chiến trường gồm:

Quyền sư đoàn trưởng Trần Tiến Quảng; Trần Trọng Son, sư đoàn phó, Hoàng Bình tham mưu trưởng sư đoàn, tôi, chính ủy sư đoàn, 3 trung đoàn trưởng và 3 chính ủy trung đoàn. Các đơn vị được giao nhiệm vụ tiến hành tìm nhập. Trung đoàn 31 nhận lệnh tiêu diệt cứ điểm Bàng Thùng, trung đoàn 38 được giao nhiệm vụ diệt cứ điểm Hòn Chiêng, trung đoàn 9 đánh Đồng Mông - Đá Hàm, cứ điểm Châu Sơn giao cho 1 đại đội công binh của sư đoàn. Các cứ điểm Đá Tịnh - Núii Kiến được giao cho lực lượng vũ trang Quảng Nam, các ấp chiến lược ở chung quanh Cấm Dơi… được giao cho huỵện đội Quế Sơn phối hợp tấn công địch. Trong các cứ điểm ngoại vi quan trọng bấc nhất của tuyến phòng thủ này là núi Hòn Chiêng, có thể vì cứ điểm Hòn Chiêng là “Mái nhà phòng thủ trên cao” của căn cứ Cấm Dơi. Hòn Chiêng là một đồi độc lập cao đột xuất. Cái trụ compa: Tính từ Hòn Chiêng đến Bàng Thùng, Cấm Dơi, Đồng Mông - Đá Hàm cách nhau trên dưới 3km theo đường chim bay. Vì vậy, diệt được Hòn Chiêng là diệt được các cứ điểm chung quanh của nó. Các cứ điểm Hòn Chiêng, Bàng Thùng, Cấm Dơi, Đồng Mông - Đá Hàm, nằm cách quận lị Quế Sơn không xa, cách quốc lộ 1 ở hướng đông khoảng 18km, có đường huyện lộ 105, từ cầu Hương An ngang qua căn cứ Núi Quế lên huyện đều bị địch phát quang bố phòng chặt chẽ. Từ những năm 1965, vùng trung và vùng đông Quế Sơn đều được giải phóng, nhưng địch vẫn nống lấn và xây dựng nhiều căn cứ, đồn bót, đóng giữ chốt chặn, kết hợp với càn quét, nống lấn. Mĩ lết, pháo bầy khống chế hoạt động của ta, cũng như việc làm ăn sinh sống của bà con. Tuy nhiên, bọn Mĩ - ngụy cũng chỉ chiếm giữ được các điểm cao nói trên, còn lòng dân, sức mạnh chiến tranh nhân dân thì vẫn ngày đêm phát triển, kiên trì trụ bám, cung cấp lương thực, thực phẩm xây dựng cơ sở, gửi con em lên đường tham gia quân giải phóng.

Khi bộ đội về, bà con Quế Sơn hồ hởi mở rộng vòng tay như đón con em về nhà. Phần tôi, sau 26 năm đi chiến đấu khắp các chiến trường, nay trở về mảnh đất quê hương nơi sinh thành của mình, lòng tôi dậy lên dạt dào bao cảm xúc… Nhà tôi ở không xa nơi sư đoàn đóng quân, nhưng tôi không về được, vì còn nằm trong ấp chiến lược của địch, hơn nữa cán bộ chuẩn bị cho chiến dịch dồn dập, phải cùng anh em tập trung giải quyết.

Về ở trong lòng dân, có biết bao tấm gtương trung hiếu, hào hiệp đã để lại trong tôi những điều sâu sắc khó phai mờ. Hồi đó có gia đình anh Lê Xuân, anh làm Chủ tịch xã Sơn Thành (nay là thị trấn Đông Phú), con trai anh là Lê Hồng, làm xã đội trưởng, vợ anh, chị Bùi Thị Chanh, làm hội trưởng phụ nữ xã. Anh Lê Xuân nhận ra tôi là bộ đội huyện hồi năm 1947, hai chúng tôi xiết bao vui mừng. Anh Xuân cho tôi biết tin về gia đình tôi ở dưới quê: Anh Cả tôi già yếu không còn làm lụng gì được, anh Lộc đã qua đời vì bệnh dạ dày, các cháu tôi Năm Ai, Sáu Thương tối nào cũng phải vào khu đồn Hương An, theo lệnh bọn ngụy quyền ác ôn. Tôi bồi hồi khi nghe anh Xuân kể về gia đình mình. Nhưng biết nói sao, khi nhiệm vụ còn nạng nề, phải dốc tâm lực cho chiến dịch sắp tới mở màn, đến nỗi tôi và anh Xuân chưa có thì giờ tâm sự và thăm hỏi gia đình anh cặn kẽ. Những ngày chuẩn bị chiến trường, gia đình anh Xuân, cả 3 người đều làm trinh sát dẫn đường cho chúng tôi vào điều tra căn cứ địch. Lê Hồng, con trai anh, dẫn đoàn cán bộ, do đồng chí Trần Tiến Quảng, sư trưởng, sư đoàn 711 đi một hướng. Chị Chanh, vợ anh, dẫn đoàn cán bộ, do đồng chí Trần Trọng Sơn, sư đoàn phó đi một hướng. Còn anh Xuân, dẫn đoàn do tôi phụ trách đi một hướng. Nhờ gia đình anh Lê Xuân thuộc địa hình, nắm rõ được quy luật hoạt động của địch, giúp chúng tôi nhanh chóng hoàn thành phương án đánh địch an toàn và hiệu quả.

Đến cuối năm 1972, trong những đợt phản kích chiếm lại Cấm Dơi của địch, anh Lê Hồng đã hi sinh, sau đó chị Bùi Thị Chanh cũng hi sinh trong khi dẫn đoàn đấu tranh chính trị trực diện với địch. Còn lại anh Lê Xuân, nay là cán bộ hưu trí, đã già yếu và bệnh tật, do những năm lăn lộn gian khổ trong chiến đấu và một phần thương nhớ những người thân yêu của mình, đã nằm xuống vĩnh viễn nơi quê hương thấm máu biết bao anh hùng, chiến sĩ vì độc lập, tự do của Tổ quốc.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Một, 2011, 05:35:21 PM
Bên cạnh căn cứ Cấm Dơi là thôn Mĩ Thứ, khi xây dựng cứ điểm này, bọn Mĩ đã xúc dân đi nơi khác, duy chỉ có 5 gia đình không chịu đi đâu cả, bà con quyết bám trụ lại sát nách địch. Nam nữ thanh niên con cái họ đều lánh đi nơi khác làm ăn, hoặc vào du kích, đi bộ đội, thoát li làm cán bộ phong trào, số gia đình ở lại chỉ có những người già cả. Trong số đó, có cụ bà Nguyễn Thị Dày là cơ sở cách mạng. Cụ Dày có một con trai là anh Nguyễn Vàng đã hi sinh trong chiến đấu, con gái đi lấy chồng ở xa. Lấy cớ già yếu, không đi đâu được nữa, cụ ở lại bám cây cau, cây mít, cây thơm trong vườn sống qua ngày, nhưng chủ yếu cụ bà ở lại là để giữ thế hợp pháp, nắm tình hình địch, tạo điều kiện để cán bộ ta đi, về có chỗ dựa. Cụ nghĩ cách, sắm một cây sào bằng tre khô dài hơn 6 mét dựng trước nhà, hẹn với anh em cán bộ ta, cứ mỗi chiều lên đài quan sát, hoặc leo lên cây cao đâu đó, nhìn thấy đầu sào có miếng áo rách là có địch đi tuần tra, hoặc chui lại trong nhà dân, không được vào. Nhờ ám hiệu đó, mà cán bộ, bộ đội ta vào ra trong ấp, hoặc đi sát đồn địch vẫn an toàn, cả khi trinh sát ta đi bám địch cũng được cụ giúp đỡ, chỉ vẽ tường tận.

Đầu năm 1971, cụ Dày bị bọn ngụy bắn cụ hi sinh, sau hơn hai năm trụ bám ngay trong lòng địch, làm nhiệm vụ cách mạng giao. Khi cụ bà hi sinh, bọn lính ngụy không chôn, mà đưa vào một hang đá lớn, cách căn cứ Cấm Dơi 700 mét, lấp thi thể cụ qua loa một ít đất. Dụng ý của bọn chúng, là sẽ không ai dám vào đây trú ẩn, hoặc ở. Khi sư đoàn chuẩn bị đánh Cấm Dơi, Bộ Tư lệnh sư đoàn chọn hang đá nầy làm chỉ huy sở, là nơi vừa bất ngờ, vừa thuận lợi, máy bay B52, pháo bầy không đánh vào đấy vì sát cứ điểm địch, bên trong hang có tảng đá cao, đứng quan sát, theo dõi bọn địch trong Cấm Dơi rất tốt. Bộ Tư lệnh sư đoàn cho công binh chọn địa điểm cách đó 200 mét, dùng nilông cốt hài cốt cụ an táng đường hoàng. Sau ngày hòa bình, mộ cụ bà được Đảng ủy, UBND xã xây lớn, gắn bia. Cụ Bà được Đảng, Chính phủ phong tặng Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Đã 29 năm trôi qua (1972-2001), hôm nay nhắc lại chuyện này, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn của tôi và đồng đội tôi đến bà con Quế Sơn, xin thắp nén hương kính viếng hương hồn mẹ Dày, chị Chanh, anh Hồng, anh Vàng… những người chiến sĩ dũng cảm, một trong những gia đình, những con người cách mạng tiêu biểu của quê hương Quế Sơn thân yêu của tôi.

Cuộc điều tra các cứ điểm ngoại vi căn cứ Cấm Dơi hoàn thành. Bộ Tư lệnh sư đoàn 711, họp báo cáo phương án tác chiến trình Bộ tư lệnh Quân khu. Đồng chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân khu đặt câu hỏi với tôi: “Vì sao các đồng chí không dùng 1 trung đoàn để tiêu diệt cứ điểm ngoại vi? Ta còn 2 trung đoàn, do sư đoàn nắm trong tay, nếu có tình huống phức tạp thì sư đoàn dễ xử lí hơn, có lực lượng để tiếp ứng bổ sung. Nếu các đồng chí sử dụng 3 trung đoàn đánh một lúc, chẳng khác nào ta xòe hết cả hai bàn tay cho quân địch thấy”. Được sự nhất trí và phân công của sư đoàn lúc họp ở “nhà”, tôi thay mặt trả lời Tư lệnh Quân khu: “Thưa đồng chí Tư lệnh Quân khu, nếu dùng một trung đoàn tấn công 3 cứ điểm trên, thì chỉ huy trận đánh là tiểu đoàn, khi gặp trở ngại, không còn quân dự bị thì tiểu đoàn khó xử lí tình huống. Sư đoàn tuy dùng 3 trung đoàn để đánh địch, nhưng mỗi trung đoàn chỉ có 1 tiểu đoàn trực tiếp chiến đấu, như vậy, mỗi trung đoàn còn hai tiểu đoàn dự bị, khi địch phản kích ta còn có 2 tiểu đoàn đánh địch. Dùng binh như vậy, theo sư đoàn vừa có lợi vừa đủ sức cho trung đoàn giải quyết khi trận chiến đấu nổ ra”. Bộ Tư lệnh Quân khu sau khi cân nhắc đã nhất trí phương án đánh địch của sư đoàn 711. Để quan sát và chỉ đạo chiến trường, Bộ Tư lệnh Quân khu dời chỉ huy sở tiền phương xuống đứng tại núi Choang (núi Hường Hiệu) ở Trung Lộc, phía trên đèo Le theo dõi và chỉ huy; chỉ huy sở của sư đoàn được thiết kế dưới chân núi đèo Le.

Trận tấn công các cứ điểm ngoại vi căn cứ Cấm Dơi mở màn đềm 22 rạng ngày 23/7/1972. Trong lúc chiếm lĩnh cứ điểm địch, đại đội 10 tiểu đoàn 9 bị vướng mìn rào cản. Bọn địch bắn ra 3 quả M79. Không thấy động tĩnh, chúng tưởng thú rừng ăn đêm bị vướng mìn, bọn địch lặng yên. Cảnh giác địch phát hiện, các đơn vị được lệnh nằm tại chỗ, chưa được lệnh nổ súng. Thời gian đã qua, 4 giờ 30’ sáng ngày 23/7/1972, Quyền sư trưởng Trần Tiến Quảng hạ lệnh cho các trung đoàn trưởng Vũ Đình Nã (trung đoàn 31), Nguyễn Văn Trí(1) (trung đoàn 38), Trần Thanh Cương (trung đoàn 9), và các chính ủy trung đoàn Lê Văn Ba, Nguyễn Văn Cẩn, Nguyễn Võ, kiểm tra lại khả năng sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị lần cuối. Tất cả đều trả lời: sẵn sàng!


(1) Nguyễn Văn Trí hiện nay là thiếu tướng Cục trưởng Cục dân quân Bộ Quốc phòng, đại biểu Quốc hội.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Một, 2011, 05:37:19 PM
5 giờ 10 phút, trung đoàn 31 nổ súng làm lệnh đánh chiếm núi Bàng Thùng, tiếp đến là trung đoàn 38 nổ súng tiến công điểm cao Hòn Chiêng; trung đoàn 9 tiêu diệt Đồng Mông - Đá Hàm. Tiếng nổ của các loại vũ khí của bộ đội ta ầm vang, ánh chớp sáng lòe các hướng tựa như một chuỗi hợp xướng âm thanh sắc lạnh giáng xuống đầu giặc.

Quân địch các cứ điểm bị đánh bất ngờ, sức chống trả rối loạn, yếu ớt. Sau 30 phút chiến đấu, trung đoàn 38 đã diệt gọn đại đội 2, tiểu đoàn 2 của trung đoàn 6 ngụy, làm chủ hoàn toàn núi Hòn Chiêng; cứ điểm cao nhất và khó khăn, lại là nơi diệt địch nhanh nhất. Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Trí báo cáo về sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ, ta diệt 120 tên và bắt sống 8 tên địch, trong tiếng reo hò của bộ đội ta.

7 giờ 15 phút, trung đoàn 9 chiếm xong các chốt của cứ điểm Đồng Mông - Đá Hàm, diệt và bắt sống hơn 100 tên của đại đội trinh sát, trung đoàn 6 ngụy. Đến 9 giờ 15 phút, trung đoàn 31 chiếm và làm chủ điểm cao 579,621 của cứ điểm Bàng Thùng. Riêng 2 chốt Rừng Xanh và đồi 700 bọn địch còn chống trả rất mạnh. Đồng chí Giao, trung đoàn phó và phó chính ủy trung đoàn 31, bất chấp phi pháo của địch, cùng đại đội trưởng Nguyễn Nhân Biểu, 5 lần đánh lui quân địch, tiêu diệt 14 tên, thu 3 súng. Trận đánh Bàng Thùng kéo dài đến ngày 25/7 sư đoàn điều pháo tập trung tấn công lần cuối mới dứt điểm, diệt gọn tiểu đoàn 2, trung đoàn 6 ngụy, làm chủ núi Bàng Thùng.

Hợp đồng với tiếng súng tấn công của 3 trung đoàn, đại đội công binh sư đoàn tiêu diệt và làm chủ cứ điểm Châu Sơn, bộ đội địa phương Quảng Nam đánh chiếm Đá Tịnh và núi Kiến. Lực lượng huyện đội Quế Sơn, khống chế, tiêu diệt ở các ấp chiến lược và bọn phụ quân ở đây.

Mất 3 điểm cao chiến thuật vòng ngoài, tên chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, sư đoàn trưởng sư đoàn 2 ngụy lồng lộn như hổ bị thương, hắn tung ngay trung đoàn 5 lên giải tỏa, quyết sống chết để chiếm lại Hòn Chiêng, Bàng Thàng. Pháo binh và B52 của chúng sử dụng tối đa, đánh phá ác liệt vào trận địa. Nhưng các chiến sĩ ta trên các điểm cao núi Hón Chiêng, Bàng Thùng, Đồng Mông, Đá Hám… yên tâm trong các hang đá và công sự, bịt tai để ngăn bớt tiếng dội của bom pháo, sẵn sàng để đánh trả bọn địch.

Cuộc phản kích của địch kéo dài suốt nửa tháng, chúng càng chuốc lấy thất bại nặng nề. Trung đoàn 38 cùng trung đoàn 31, trung đoàn 9 đã chiến đấu anh dũng kiên cường tiêu diệt 2. 107 tên địch, giữ vững các điểm cao chiến thuật Hòn Chiêng, Bàng Thùng, Đồng Mông, Đá Hàm…

Như vậy bước 2, diệt cạn quân cơ động địch diễn ra đúng ý đồ của sư đoàn.

Sau khi quân địch phản kích, quyền sư trưởng Trần Tiến Quảng và tôi, được lệnh Quân khu lui về chỉ huy sở dưới chân núi đèo Le. Một điều không may cho sư đoàn 711 trong những ngày đánh địch phản kích, quyền sư trưởng Trần Tiến Quảng, bị pháo hạm của Mĩ bắn vào trúng hầm chỉ huy, đồng chí đã hi sinh, để lại nỗi tiếc thương cho cán bộ, chiến sĩ sư đoàn, giữa những ngày quân ta giành chiến thắng.

Để tiến hành bước 3 của chiến dịch, Bộ Tư lệnh Quân khu điều đồng chí Nguyễn Chơn, sư đoàn trưởng sư đoàn 2 về làm sư đoàn trưởng sư đoàn 711. Đồng chí Dương Bá Lợi, sư đoàn phó, sư đoàn 2, quyền sư đoàn trưởng, sư đoàn 2, tiến hành đánh địch trên chiến trường Ba Tơ, Quảng Ngãi.

Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn về đến sở chỉ huy sư đoàn 711, các đơn vị đã hoàn thành bước 2 của chiến dịch đánh quân địch phản kích.

Bộ Tư lệnh sư đoàn họp báo cáo tình hình tác chiến của các đơn vị với sư đoàn trưởng. Sau khi nắm chắc tình hình, sư đoàn trưởng quyết định tổ chức trinh sát kiểm tra căn cứ Cấm Dơi một lần nữa. Sau 4 ngày bám hiện trường, có đêm tôi và sư trưởng tìm nhập đến hàng rào thứ 3, nghe cả tiếng bọn lính gác kháo nhau về những lần càn quét, cướp bóc và hà hiếp dân lành. Bộ phận trinh sát có các phóng viên quay phin theo sát sau tôi, thấy nguy hiểm quá, các anh níu chân tôi và anh Chơn lại, không cho bò sâu hơn trong căn cứ địch.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Một, 2011, 05:40:00 PM
Ngày 14/8/1972, Bộ Tư lệnh sư đoàn 711 gồm sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn, sư đoàn phó Trần Trọng Sơn, tham mưu trưởng Hoàng bình, phó chính ủy Mai Thuận và tôi, lên báo cáo với Tư lệnh Quân khu phương án tác chiến đánh và giải phóng căn cứ Cấm Dơi, Chi khu quận lị Quế Sơn. Cuộc họp đang tiến hành, thì cơ yếu đem bức điện của Bộ Tổng Tham mưu và Bộ Tổng Tư lệnh đến. Nội dung bức điện như sau:

“Gởi anh Hai Mạnh(1)

Bộ đã nghiên cứu quyết tâm của sư đoàn 711 tiêu diệt địch ở căn cứ Cấm Dơi và giải phóng quận lị Quế Sơn. Bộ thấy có mấy khó khăn gợi ý cho các đồng chí Quân khu 5 suy nghĩ.

1. Các đơn vị ở chiến trường B1 đã dứt chến, địch rảnh tay để tập trung quân đối phó.

2. Sư đoàn 3 ngụy ở Súng Mây đã vào đóng ở Tuần Dưỡng và núi Quế, như vậy là địch đông.

3. Cấm Dơi, Quế Sơn là căn cứ lớn có chi khu quận lị, hỏa lực địch mạnh, có công sự kiên cố, ta đánh đã chắc thắng chưa? Chưa chắc thắng thì chưa nên đánh.

Kí tên, Văn”.


Đọc xong bức điện, đồng chí Tư lệnh Quân khu cho dừng hội nghị, nắm tay tôi và sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn vào căn hầm bên trong (hầm chìm), Tư lệnh Quân khu đang dò xét ý tứ chúng tôi, thì anh Chơn nói: “Cấp trên điện cho chúng ta nghiên cứu. Đây là ý tứ chặt chẽ, để đảm bảo chắc thắng chứ đâu có lệnh cho chúng ta dừng trận đánh Cấm Dơi. Theo tôi là trận này đánh chắc thắng. Đợt 1 bóc vỏ ngoại vi, đợt 2 đánh quân địch phản kích thắng lợi, hơn nữa anh Chương và các anh trong Bộ Tư lệnh sư đoàn đã điều tra Cấm Dơi kĩ, tôi về cũng đã tiến hành trinh sát thực địa thêm lần nữa. Sau đó tôi và anh Chương làm phương án tác chiến đưa ra bàn. Bộ Tư lệnh sư đoàn thấy giống nhau về cách đánh, cách phân công chỉ huy. Tôi đề nghị cấp trên cho đánh trận này”. Tôi tiếp lời anh Chơn: “Tôi cũng nhất trí với đề nghị của anh Chơn. Riêng tôi, có ý kiến là ta đánh trận này sẽ bất ngờ lớn. Quân ta tác chiến từ xuân đến hè, địch nghĩ là ta đã dứt chiến. Đây la một yếu tố đặc biệt để giành thắng lợi, hơn nữa lần đầu tiên ta có hỏa lực mới, phát huy tác dụng. Đề nghị cấp trên cho anh em “tụi tôi”làm ăn trận này”. Nghe chúng tôi đồng lòng, Tư lệnh Chu Huy Mân, nhất trí, anh quay trở lên hầm “nổi” thảo điện trả lời Bộ Tổng Tư lệnh, và anh nói với chúng tôi:

Hội nghị này chúng ta nhất trí tiêu diệt địch ở Cấm Dơi, chỉ còn chờ ý kiến của Bộ. Đồng chí Tư lệnh Quân khu vén tay xem đồng hồi rồi nói tiếp: “Hôm nay là ngày 14/8/1972, sắp đến ngày 19/8, ngày Cách mạng Tháng 8 thành công. Thôi, các đồng chí về tiến hành sắp xếp phản công, chuẩn bị mọi mặt, tính toán thời gian nổ súng và vận chuyển lương thực cho bộ đội ăn trong suốt thời gian tấn công cứ điểm quân địch. Phần Bộ Tư lệnh Quân khu, sẽ phát điện nghi binh công khai trên sóng PPC25, tạo bất ngờ đối với địch và tạo thuận lợi cho các đồng chí đưa quân chiếm lĩnh. Nội dung bức điện sẽ là:

“Các đơn vị dứt chiến, rút quân về hậu cứ làm lễ kỉ niệm Cách mạng Tháng 8”. Điện sẽ phát ngày 17/8, các đồng chí cho trinh sát bám địch phát hện diễn biến để xử trí”
.


Đúng như Tư lệnh Quân khu nói, chúng tôi cho trinh sát bám địch phát hiện chúng kháo với nhau: “Việt cộng rút quân kết thúc chiến dịch để mừng Cách mạng Tháng 8, bọn mình có thể sống qua con trăng này rồi”. Từ đó biểu hiện của quân địch ở cứ điểm Cấm Dơi và chi khu Quế Sơn có phần lơ là hơn trước.


(1) Tên của Tư lệnh Quân khu, Chu Huy Mân, thời đánh Mĩ, sau này đồng chí là Ủy viên Bộ chính trị, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Đại tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Một, 2011, 05:41:27 PM
CHIẾN THẮNG CẤM DƠI - QUẾ SƠN

Căn cứ Cấm Dơi còn có tên là căn cứ Roos, nguyên là căn cứ của lữ đoàn 173 thủy quân lục chiến Mĩ. Khi quân Mĩ rút đi, căn cứ này được giữ nguyên và bàn giao cho quân ngụy. Căn cứ Cấm Dơi nằm cách chi khu quận lị Quế Sơn chừng 2km và nằm sát đường 105. Đây là một căn cứ phòng thủ rộng và vững chắc. Quân địch dồn về đây 2 trung đoàn 5 và 6, thuộc sư đoàn 2 bộ binh và quân ngụy, 1 trung đoàn thiết kị, 1 chi đoàn xe bọc thép, 7 trận địa pháo binh và 50 khẩu từ 105mm đến 115mm, rải từ núi Quế đến Tuần Dưỡng sẵn sàng chi viện khi Cấm Dơi bị tấn công. Đó là chưa kể đến tiểu đoàn 37 biệt động quân cơ động, 2 liên đoàn bảo an, 2 tổng đoàn dân vệ và gần 2. 000 tên tề ngụy vũ trang tại chỗ, phần lớn là bọn quốc dân đảng địa phương. Có thể nói, căn cứ Cấm Dơi là một căn cứ mạnh về nhiều mặt, sau giai đoạn Mĩ rút quân là căn cứ duy nhất ở miền Trung có hệ thống công sự 3 tầng: Tầng ngoài là công sự chiến đấu, tầng giữa là lô cốt xen kẽ nhà hầm, tầng trong có nhiều hang đá lập thành khu cố thủ có xe tăng bố trí xen kẻ. Bao quanh căn cứ Cấm Dơi là 12 lớp rào, chủ yếu là kẽm gai bùng nhùng 3 khoanh. Từ hàng rào ngoài cùng vào đến hàng rào trong là 110 mét, giữa các hàng rào chúng gài mìn sáng, mìn Claymo. Trong 12 lớp rào có 3 đường xe chạy và quân bộ tuần tra. Căn cứ Cám Dơi và chi khu quận lị Quế Sơn rộng hàng ngàn ha, phía tây căn cứ có con sông Li Li chảy ngang qua đường số 1 đoạn cầu Hương An, ý đồ của quân ngụy ở đây là cố thủ, giữ cho kì được tuyến phòng thủ phía tây nam Đà Nẵng và phía tây bắc Tam Kì.

Sau khi mất các cao điểm chiến thuật: Hòn Chiêng, Bàng Thùng, Đồng Mông - Đá Hàm, Châu Sơn thì toàn bộ căn cứ Cấm Dơi - Chi khu quận lị Quế Sơn, như một con tàu bị mắc cạn nằm trong tầm ngắm của pháo 130mm, hỏa tiển B72 có điều khiến, cao xạ 37 của sư đoàn và Quân khu đang sẵn sàng băm nát căn cứ địch khi có lệnh.

Tôi còn nhớ, điều quan trọng cần phải giải quyết trước khi sư đoàn nổ súng tấn công Cấm Dơi đó là lương thực. Theo tính toán của cơ quan hậu cần sư đoàn, nếu bộ đội ăn theo tiêu chuẩn 0,5kg/1 người/ngày, thì mỗi ngày phải cần 6 tấn lương thực! Trong lúc kho của sư đoàn chỉ còn 10 ngày ăn. Quân khu đã tăng cường khẩn cấp được 100 tấn lương thực. Toàn bộ lương thực chỉ đủ cho 1/3 thời gian chiến dịch theo dự kiến. Làm thế nào để có 250 tấn lương thực cho bộ đội ăn trong suốt thời gian chiến dịch nổ ra? Chỉ còn 3 ngày nữa quân ta nổ súng tấn công căn cứ Cấm Dơi. Quả là cấp bách, ngặt nghèo, tôi được Quân khu giao nhiệm vụ họp bàn với Thường vụ huyện Quế Sơn để huy động nhân dân Quế Sơn giúp sức. Sau khi nghe tôi trình bày mục đích, các đồng chí Hồ Hoa, Bí thư huyện ủy, Phan Như Lâm, Nguyễn Quốc Dũng, Nguyễn Ngọc Tâm trong Ban Thường vụ Huyện ủy Quế Sơn có ý kiến ngay: “Khó thì khó thật, khó vô cùng! Nhưng cấp trên quan tâm đưa quân về giải phóng quê hương Quế Sơn của chúng ta, chúng tôi xin hết lòng lo lương thực cho bộ đội”. Và Huyện ủy Quế Sơn đã tạo được cử khẩu ở xã Phú Hương, Phú Diên (vùng đông Quế Sơn) thu hút lương thực từ Quảng Đà vào, đồng thời vận động nhân dân ăn khoai sắn, nhường gạo và bắp xay cho bộ đội. Với truyền thống quân dân cá nước nặng tình lâu nay, ngay từ khi sư đoàn 711 về Hiệp Đức, Hội phụ nữ, Hội nông dân vận động hội viên đóng góp sữa, thuốc rê và đường, bồi dưỡng cho thương binh, bệnh binh, tình cảm đó được thể hiện qua ca dao kháng chiến:

Tặng anh một gánh đường đen
Đường tình, đường nghĩa. đường quen từ đầu.

Tôi nhớ hồi đó chưa có công thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, nhưng cách vận động và sự hưởng ứng nhiệt tình của nhân dân chứng minh câu nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong”, chứng minh sự đúng đắn và sức mạnh của nhân dân là tuyệt vời, không có gì lay chuyển nổi.

Vậy là chỉ trong 3 ngày, huyện Quế Sơn, bằng sự dũng cảm và lòng nhiệt tình cách mạng, đã vận động nhân dân ủng hộ thu mua được hơn 200 tấn lương thực đưa về kho của sư đoàn. Riêng huyện Quế Sơn huy động được 57 tấn lương thực. Ngoài ra, bà con còn tự nguyện dở nhà, ván nằm, chặt cả chuối cây đang có trái để xây công sự, làm nắp hầm cho bộ đội và sẵn sàng phục vụ chiến đấu bất kể công việc gì được huy động, phân công.

Giai đoạn 3 của chiến dịch tiêu diệt căn cứ Cầm Dơi, phát triển đánh chiếm chi khu quận lị giải phóng thung lũng Quế Sơn đã được xác định. Bộ Tư lệnh sư đoàn hội nghị quán triệt tinh thần chiến đấu, kiểm tra binh khí kĩ thuật và hạ lệnh tấn công.

Trung đoàn 31 nhận nhiệm vụ tấn công hướng chủ yếu bằng 2 mũi, từ đông bắc đánh vào, đông nam đánh lên.

Trung đoàn 38 chia 3 mũi tấn công chủ yếu, hai mũi từ hướng tây đánh xuống, một mũi thọc sâu chia cắt giữa khu vực 1 và 2.

Trung đoàn 9 nhận nhiệm vụ cắt đường 105 đoạn từ Phước Đức đến An Xuân, đánh quân địch từ núi Quế lên cứu viện, diệt bọn phụ quân ở các ấp chiến lược trên trục đường 105, và tổ chức một mũi tiến công từ phía đông lên, để phối hợp cùng trung đoàn 31, trung đoàn 38 tiêu diệt căn cứ Cấm Dơi.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Một, 2011, 05:42:53 PM
Ngày 18/8/1972, các cỡ hỏa lực của sư đoàn, có cả pháo 130mm của Quân khu lần đầu xuất hiện trên chiến trường đồng bằng Khu 5 dồn dập trút bão lửa lên đầu kẻ thù. Căn cứ Cấm Dơi chìm trong biển lửa. 7 trận địa pháo của chúng từ núi Quế đến Tuần Dưỡng bị pháo ta kim chế đều câm họng. Các cánh quân vây lấn áp sát hàng rào cứ điểm.

Đến 1 giờ 15’ các mũi quân của 2 trung đoàn 31 và trung đoàn 38 đánh chiếm các khu vực được phân công. Ở hướng trung đoàn 38, 2 tiểu đoàn 7 và 8 bị xe tăng địch phản kích ác liệt, quân ta và quân địch chiến đấu giằng co, giành giật từng mép rào, từng mỏm đá cho đến sáng thì quân địch bị đẩy lùi và bị tiêu diệt.

Đến 8 giờ ngày 19/8, đài quân báo của sư đoàn nhận được tin, sư đoàn 3 của chúng từ núi Quế, tập trung 3 tiểu đoàn bộ binh, có 1 trung đoàn thiệt kị tiến lên cứu nguy cho Cấm dơi. Lập tức, sư đoàn cho thê đội dự bị của trung đoàn 9 đánh quân phản kích, các tiêu diệt 38, 31 tiếp tục tiến công dứt điểm Cấm Dơi. Trong đem 19/8. Trung đoàn 31 và trung đoàn 38 được pháo 130mm và hỏa tiễn B 72 có bộ điều khiến đã tìm diệt từng chiếc xe tăng, công sự của địch, hỗ trợ cho các đơn vị tấn công thuận lợi. Trên hướng trung đoàn 31, xạ thủ Nguyễn Kim Quy, bắn 2 phát B40 đã diệt 2 xe tăng địch. Hàng rào quanh cứ điểm Cấm Dơi đã mở, pháo ta cấp tập lần cuối 20 phút, quân địch đồn trú trong Cấm Dơi không chịu nổi sức công phá của pháo 130mm và tinh thần dũng mãnh của bộ đội ta, đã chống trả yếu ớt. các cánh quân ứng cứu giải tỏa của sư đoàn 3 ngụy đều bị trung đoàn 9 của ta chặn đánh. Pháo binh của chúng không phát huy được hiệu quả, bọn phản kích lui quân về điểm xuất phát. 13 giờ ngày 19/8, các mũi quân của trung đoàn 31, trung đoàn 38 đánh thẳng vào tung thâm. Lúc này, pháo từ hạm đội 7 của Mĩ bắn cấp tập từng hồi vào khu chiến Cấm Dơi. Pháo đài bay B52 rải bom dọc các triền núi. Mặt đất, vùng trời rung chuyển, có lúc tưởng chừng mọi vật như biến mất dưới sức tàn phá của bom đạn. Dựa vào hầm trú ẩn, công sự kiên cố bộ đội ta tránh không để thương vong. Qua đợt B52, lại đến bọn máy bay phản lực ùa đến quần đảo, nhào lộn gầm rú đến nhức óc, để bất ngờ một chiếc trực thăng liều mạng lao đến hạ cánh ngay tại chỗ có hỏa điểm màu đỏ làm hiệu. Chiếc trực thăng bốc tên trung đoàn trưởng, trung đoàn 5 ngụy Tôn Thất Lữ chạy thoát. Bộ đội cao xạ của ta nghe tiếng trực thăng đáp cánh, liền vọt lên khỏi công sự nhanh chóng xoay mâm pháo dương nòng tìm diệt thì chiếc trực thăng đã bay thoát ra khỏi tầm xạ kích.

Các mũi quân của ta lúc này tấn công mãnh liệt vào tung thâm căn cứ Cấm Dơi. Tiểu đoàn 8 của trung đoàn 31 xông lên, cho chiến sĩ cắm cờ trên sở chỉ huy trung đoàn 5 ngụy, bắt sống toàn bộ ban tham mưu của chúng. Đến 16 giờ, các cánh quân của ta chiếm lĩnh hoàn toàn căn cứ Cấm Dơi, bắt tù binh, thu vũ khí.

Cướp thời cơ quân địch đang hoang mang, rối loạn, hai mũi quân của trung đoàn 38 và trung đoàn 31 đánh thẳng vào quận lị Quế Sơn. Tiểu đoàn 9 và mũi quân của trung đoàn 38, tiểu đoàn 8 của trung đoàn 31 đánh vào, hai tiểu đoàn của trung đoàn 9 từ hướng đông nam đánh lên. Chỉ trong vòng 30 phút, các mũi quân của trung đoàn 38, trung đoàn 31 và trung đoàn 9 đã chiếm xong chi khu quận lị Quế Sơn tiêu diệt gọn bọn địch đồn trú ở đây. Bọn trung đoàn 6 ngụy “khăn gói” trên đoàn xe 25 chiếc định tháo chạy về chợ Đàn, liền bị tiểu đoàn 4, trung đoàn 9 đón sẵn diệt gọn, bắt sống tên thiếu tá pháo binh và bắn rơi 3 máy bay lên thẳng.

Hợp đồng với tiếng súng tấn công của bộ đội khu chiến Cấm Dơi, các lực lượng địa phương và nhân dân đã tiến công tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch từ cầu chợ Đụn, nằm trên đường huyện lộ Quế Sơn, vào đến phía tây cầu ông Triệu, huyện Thăng Bình.

Qua 2 ngày chiến đấu, sư đoàn 711 đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 3. 000 tên địch, tiêu diệt 7 tiểu đoàn gồm bộ binh, pháo binh, thiết kị, xe bọc thép và bọn bảo an, thu trên 500 súng, phá hủy 40 pháo, 70 xe các loại, thu 30 xe còn mới nguyên, trong đó có 12 xe tăng. Lực lượng vũ trang huyện Quế Sơn do đồng chí Nguyễn Quốc Dũng chỉ huy và bộ đội tỉnh quảng Nam do tỉnh đội trưởng Nguyễn Hoàn chỉ huy đón đánh quân địch tan rã từ vă cứ Cấm Dơi chạy xuống, bắt sống 450 tên.

Ngày 20/8/1972, thung lũng Quế Sơn sau 18 năm bị kẻ thù chiếm đóng, lần đầu tiên đã sạch bóng quân thù. Hơn 1 vạn đồng bào được giải phóng khỏi ách kèm kẹp của Mĩ - ngụy.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 02 Tháng Một, 2011, 05:43:49 PM
Chiến thắng Cấm Dơi - Quế Sơn, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang Quân khu 5. Trước hết là nghệ thuật điều hành chiến dịch chặt chẽ, tài tình, nhịp nhàng, ăn khớp, phù hợp với khả năng sử dụng lực lượng 3 thứ quân trên một địa bàn khu chiến rộng. Vận dụng đúng chiến thuật phân tán, tập trung cơ động và tại chỗ linh hoạt, đánh tiêu diệt nhỏ căng kéo, tiêu hao rộng rãi, kèm chân, buộc địch bị động đánh theo cách đánh của ta và cuối cùng thực hành trận then chốt, để kết thúc chiến dịch giành thắng lợi trọn vẹn. Lực lượng quân địch hơn 1 sư đoàn hỗn hợp, có pháo binh, phi cơ, xe tăng chi viện một cách tối đa trong một cụm căn cứ phòng ngự mạnh, ở không không gian rộng, nhưng ta hơn hẳn địch về nhiều mặt như trên đã nói, nên đã giành chiến thắng trong một thời gian tương đối ngắn.

Với chiến thắng Cấm Dơi - Quế Sơn, trình độ kĩ chiến thuật của sư đoàn được nnag cao toàn diện, từ tiến công địch trên điểm cao, vận động tiến công tiêu diệt quân địch phản kích, hiệp đồng binh hỏa lực, từ vây lấn, đến đột phá tiến công tiêu diệt căn cứ phòng ngự vững chắc của địch, phục lót, bao vây chặt, truy diệt địch và đón bọn tháo chạy, tiến công mãnh liệt, cơ động nhanh, giải quyết triệt để các mục tiêu của chiến dịch đề ra.

Chiến thắng Cấm Dơi - Quế Sơn, với sự xuất hiện bất ngờ đầu tiên của pháo 130mm, hoả tiển B 72 có điều khiến, có sức công phá mạnh các loại công sự kiên cố của địch. Ngoài hiệu quả tiêu diệt địch, còn làm cho địch từ lâu tin tưởng vào trang bị kĩ thuật và hệ thống hầm ngầm công sự vững chắc, cho là an toàn, nay bị đánh tơi tả, chúng đã trở nên hoang mang cực độ, dẫn đến tâm lí thất bại trong chiến đấu và bị động đối phó trong chiến lược, chiến thuật sau nầy.

Chiến thắng Cấm Dơi - Quế Sơn, là một đòn đánh đau vào quân ngụy, khi quân Mĩ còn ở miền Nam hà hơi tiếp sức và đỡ đòn cho chúng, nhnng vẫn không cứu nguy nỗi trước sức tấn công như vũ bão của quân giải phóng.

Chiến thắng Cấm Dơi - Quế Sơn, xét về hiệu năng chiến đấu, về hiệu quả chiến thuật của các nhà chỉ huy, về mục đích chọn trận then chốt chiến dịch trong hè thu 1972, là hoàn toàn đúng đắn, mang tính sáng tạo, hiểu rõ thế và lực của ta, chỗ yếu chỗ mạnh của kẻ địch, nên ra quân là tất thắng, làm chủ chiến trường. Một điều quan trọng trong chiến thuật Câm Dơi, đó là sư đoàn được đồng chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân khu trực tiếp chỉ huy điều hành từng bước đi, từng thời khắc của chiến dịch và huy động phần lớn các cơ quan Quân khu phục vụ cho chiến dịch, đem đến thắng lợi toàn diện như trong dự kiến của sư đoàn.

Chiến thắng Cấm Dơi - Quế Sơn, còn là chiến thắng của lòng dũng cảm vô song của cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 711 và tinh thần hợp đồng chiến đấu của bộ đội địa phương huyện Quế Sơn và tỉnh Quảng Nam. Sự hợp đồng linh hoạt, nhạy bén, hỗ trợ chia lửa trên toàn mặt trận, đẩy bọn địch vào thế bị động, xoay xở đối phó, để rồi chuốc lấy thất bại. ở chiến trường Quảng Nam, cũng như Quế Sơn, từ các đồng chí chỉ huy đến bộ đội đều nắm rõ đường đi nước bước, hang ổ, kể cả âm mưu thủ đoạn nống lấn, chà xát hằng ngày của bọn địch, đây là ưu thế và lợi thế của lực lượng vũ trang của ta chủ động trong đối phó cũng như đánh địch bất kì trong tình huống nào. Khi chiến dịch mở ra, lực lượng nhân dân tại chỗ đã đóng góp rất lớn cho chiến thắng vang dội này.

Chiến thắng Cấm Dơi - Quế sơn, còn thể hiện tinh thần yêu nước nồng nàn và sức chịu đựng hi sinh gian khổ của các tầng lớp nhân dân Quế Sơn. Vốn là vùng đất nghèo, quanh năm sống nhờ khoai sắn, rau màu là chính, trong kháng chiến chống Pháp là vùng tự do, nơi có nhiều cơ quan tỉnh, huyện ở trong nhà dân làm việc và bộ đội địa phương đóng quân tập luyện. Từ năm 1954, sau ngày hòa bình, Quế Sơn là một trong những nơi bị địch đánh phá tàn khốc nhất, nhiều cơ sở bị vỡ, nhiều cán bộ, đảng viên ở lại bị bắt cầm tù, bị tra tấn dã man, nhiều gia đình li tán một số tổ chức phản động như quốc dân đảng ngóc đầu dậy tiếp tay cho Mĩ - ngụy đe dọa cuộc sống nhân dân. Nhưng nơi đây là vùng đất có truyền thống cách mạng, nhân dân Quế Sơn không hề nao núng, luôn hướng về Đảng, Bác Hồ, tỏ rõ tấm lòng thủy chung son sắt. Khi chiến dịch nổ ra. Bà con đã không tiếc tài sản và cả tính mạng của mình, dù thiếu đói, bom đạn ác liệt, vẫn ngày đêm phục vụ chiến đấu, khi được thông báo, là nhận đi tải thương, gùi súng đạn, đào hầm hào, công sự, che dấu, bảo vệ bộ đội khi về làng trú quân. Ở các bệnh xá, lúc nào cũng sẵn sàng có người lo cơm nước, chăm sóc thương binh hết lòng. Trong khi đó, nhà cửa bị quân thù hủy diệt vẫn làm công việc được giao, để cùng với bộ đội giành chiến thắng trọn vẹn trong chiến dịch Hè Thu 1972. Có những tấm gương khó quên, như gia đình đồng chí Lê Xuân ở Sơn Thành, cả nhà đều làm trinh sát giúp sư đoàn nghiên cứu chiến trường, trận địa đánh địch nưh nói ở trên.

Thất bại của quân ngụy ở Cấm Dơi - Quế Sơn đã được đài VOA (Đài tiếng nói Hoa Kì) ngày 21/8/1972 bình luận: “Mất Quế Sơn, một chi khu quận lị có căn cứ Cấm Dơi được bố trí mạnh bậc nhất ở miền Nam, chứng tỏ quân đội Việt Nam cộng hòa (chỉ quân đội ngụy) không đủ sức đương đầu với Cộng sản ở miền Nam”.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Một, 2011, 03:39:48 PM
CHẮC TAY SÚNG BẢO VỆ
VÙNG GIẢI PHÓNG

Chiến dịch Hè Thu kết thúc. Sư đoàn 711 hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt căn cứ Cấm Dơi, phát triển đánh chiếm chi khu quận lị, giải phóng thung lũng Quế Sơn - chặt đứt mắc xích phòng ngự của quân địch ở phía nam thành phố Đà Nẵng, phía bắc thị xã Tam Kì. Căn cứ Nông Sơn - Trung Phước nằm chơi vơi giữa bốn bề núi non trùng điệp. Quân địch không cam chịu thất bại, chúng điên cuồng phản ứng. Pháo từ hạm đội 7 ngoài khơi vịnh Đà Nẵng bắn phá ác liệt vào khu chiến, B52 một ngày 3 lần rải bom dải Hòn Tàu - Mật Rạng, thung lũng Quế Sơn và đỉnh đèo Le… Sư đoàn 3 ngụy ở núi Quế tung quân phản kích. Tình hình chiến sự trên địa bàn Quế Sơn trong tháng 9/1972 vô cùng sôi động.

Buổi sáng tôi đang ở hầm chỉ huy chờ Bộ Tư lệnh sư đoàn đến họp, thì sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn bước vào, anh nói: “Anh Chương có quà gì không đem ra đây tôi đổi bức điện này cho”. Tình hình quân địch phản kích đang căng thẳng, tôi trả lời sư đoàn trưởng: “Giặc đang đánh khắp nơi, còn đâu tư01] tưởng mà quà với cáp, anh”. Tuy nghe tôi trả lời như vậy, nhưng sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn không tỏ vẻ gì trách móc. Anh ngồi ngay xuống dãy bàn giao ban, mở bức điện ra đọc to giữa anh em cán bộ sư đoàn:

“Gửi anh Nguyễn Huy Chương,

Chính ủy sư đoàn 711

Chị đã sinh được một cháu gái hôm 2/9, mẹ tròn, con vuông. Báo để anh mừng.


Người điện
Nguyễn Văn Số

Tôi như muốn chồm tới giật bức điện trên tay của sư đoàn trrưởng Nguyễn Chơn, để tận mắt nhìn được những dòng chữ mang đầy niềm vui đột ngột trong đời người chiến sĩ giữa chiến trường lửa đạn, như trường hợp của tôi lúc này. Anh em trong Bộ Tư lệnh sư đoàn đã nhìn thấy nỗi xúc động hiện lên trên khuôn mặt tôi, sau buổi giao ban kết thúc. Trong khi bước ra khỏi hầm, anh em đến nắm tay tôi, đặt tay lên vai tôi như đang chia sẽ niềm vui của vợ chồng tôi. Còn tôi lúc đó, không thể nói gì hơn, lòng cứ rộn lên niềm yêu thương vô bờ bến. Vợ tôi đã sinh con! Chúng tôi đã có đứa con đầu lòng như mơ ước! Tôi nhớ lần gặp nhau đó đến nay đã hơn 9 tháng. Chúng tôi chưa có tin tức về nhau, Bắc Nam cách xa vời vợi. Nhưng tôi đã có những ngày thật hạnh phúc, tôi thầm cám ơn chuyến công tác đó, cám ơn các thủ trưởng. Khi đọc mấy dòng của đồng chí Số, Cục phó cục cán bộ điện vào, tôi lại nhớ như in lời anh Lê Quang Đạo động viên tôi, lúc tôi vào bệnh viện: “Cậu yên tâm ở lại điều trị khỏi bệnh, rồi vợ chồng gặp nhau, may ra có một đứa con, đó cũng là niềm vui…”. Và thế là ở tuổi 47, tôi đã có đứa con gái đầu lòng. Tôi vui mừng điện ra Hà Nội thăm vợ tội và nói với vợ đặt tên cho con là Nguyễn Khánh Nga, để nhớ ngày Quốc Khánh lần thứ 27 của đất nước, ngày con chào đời vào đúng Tết Độc Lập 2-9. Kỉ niệm ấy như còn xao xuyến trong tôi đến bây giờ.

Với bản chất của một tên sen đầm đầu sỏ, không từ bỏ dã tâm xâm lược và hiếu chiến, đế quốc Mĩ đã tráo trở lật lọng sau những thỏa thuận ở Hội nghị Pari. Đêm 18/12/1972, Nixơn trắng trợn hạ lệnh cho không quân chiến lược mở đợt tập kích với quy mô lớn vào Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, thị xã ở miền bắc nước ta trong chiến dịch “Linebacker II” kéo dài suốt 12 ngày đêm (Trận ném bom tội ác này, tôi tin rằng trong tương lại, nhân loại tiến bộ sẽ còn tiếp tục lên án hành động dã man của đế quốc Mĩ đánh vào thành phố và thị xã đông dân ở miền Bắc Việt Nam).

Trên chiến trường miền Nam, quân ngụy tung quân càn quét bình định, lấn chiếm khắp 4 vùng chiến thuật. Ở ven biển miền Trung, sư đoàn 2, 3 cùng các liên đoàn biệt động quân số 11 và 12 ngụy quân, không ngừng phản kích vào các khu vực, căn cứ, vùng giải phóng của ta như ở Ba Tơ (Quảng Ngãi), Hoài Ân (Bình Định), Hiệp Đức (Quảng Nam). Thế nhưng cuộc tập kích bằng không quân chiến lược của đế quốc Mĩ trên miền Bắc, và cuộc phục kích của quân ngụy ở miền Nam không cứu vãn được thất bại thảm hại của bọn chúng. Hàng chục ngàn tên địch bị tiêu diệt. Ở miền Bắc 81 máy bay bị bắn rơi, có 34 pháo đài bay B52, 5 máy bay F111 loại hiện đại cánh cụp cánh xòe. Thất bại trên cả hai chiến trường, lại bị nhân dân thế giới lên án, đế quốc Mĩ buộc phải trở lại bàn hội nghị Pari trên thế yếu và bị cô lập. Nhưng trước khi đặt bút kí vào Hiệp định Pari, chúng còn ngoan cố xúi bẫy bọn Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam, hô hào tràn ngập lãnh thổ trước khi Hiệp định Pari có hiệu lực. Ngày 27/01/1973, Mĩ cho B52 đánh bom suốt một ngày xuống khu vực Cấm Dơi - Quế Sơn và nhiều nơi trên đất Quảng Nam. Ngày 29/01, sư đoàn 3 ngụy, tung 3 tiểu đoàn, chia thành 3 mũi. Mũi 1 theo đường 16 qua sông Trầu lên sông Khan, ý định của địch là bất ngờ đánh chiếm lại khu vực Hiệp Đức. Ý thức của việc bảo vệ trọn vẹn một huyện được hoàn toàn giải phóng ở Khu 5, sư đoàn 711 đã kịp thời cho trung đoàn 31 chặn đánh quân địch ở hướng này, diệt 2 đại đội địch, bắt sống 50 tên, thù 100 súng, số còn lại vội vã tháo chạy về Việt An. Trong khi đó, mũi 2 của quân địch đột kích vùng giải phóng Quế Sơn, 1 đại đội của chúng đánh chiếm lại Hòn Chiêng và 2 đại đội khác tăng cường quân cho căn cứ Cấm Dơi. Mũi 3 của quân địch, gồm 1 tiểu đoàn, do tên trung tá Hếu, chỉ huy (Tên này bị ta bắt sống trên đường 9 - Nam Lào năm 1971), luồng binh bí mật bao vây và gọi pháo bắn cấp tập vào Châu Sa, trận địa do đại đội công binh của sư đoàn 711 chốt giữ và chiếm lại Châu Sơn.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Một, 2011, 03:41:26 PM
Giao ban sư đoàn sáng ngày 29/01/1973, trưởng ban trinh sát sư đoàn báo cáo việc tên Huế xin đổi đất và đọc nguyên bức điện của tên Huế mà quân báo ta đã thu được trên tần số đài PRC 25: “Châu Sơn gọi Đại Bàng, Châu Sơn gọi Đại Bàng. Chúng tôi đã chiếm được Hòn Chiêng và Châu Sơn, hiện bị Việt cộng bao vây 4 phía. Đường xuống Việt An bị cắt, đường 16 cụt, qua Cấm Dơi đi không được. Khi đánh chiếm Châu Sơn có 20 con đi xa, 80 con đi gần phải ẵm theo nặng lắm. Tình thế khó khăn, tiến lui bất tiện. Đại Bàng cho tôi liên hệ đổi đất với Việt cộng - Trung tá Huế”.

Nghe xong, sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn hạ lệnh cho trưởng ban quân báo nói chuyện trực tiếp với trung tá Huế trên PRC 25, và tự tay anh bật công tắc để cho trưởng ban quân báo phát điện. Trưởng ban quân báo sư đoàn nói: “Trung tá Hếu nghe đây, chúng tôi biết các ông đang cõng trên mình 80 lính bị thương và 20 tử binh, nặng lắm phải không? Hiệp định Pari đã có hiệu lực, các ông chiếm đất của giải phóng thì phải trả lại. Tôi cho thơi hạn đến 12 giờ trưa nay, các ông không trả lời, tôi sẽ cho cối 120mm bắn vào vị trí Châu Sơn. Nếu máy bay các ông đến, chúng tôi sẽ triển khai cao xạ 37mm bắn rụng hết”. Trưởng ban quân báo sư đoàn vừa dứt lời, lập tức tên trung tá Huế lên giọng: “Các ngài đánh là vi phạm Hiệp định”.

Tiếng của Trưởng ban quân báo trả lời tên trung tá Huế: “Các ông lấn chiếm vùng giải phóng là vi phạm Hiệp định. Chúng tôi có quyền đánh trả”.

Lời nói đanh thép của Trưởng ban quân báo sư đoàn đã tác động lên tinh thần hoang mang của tên trung tá ngụy. Hắn nói: “Các ngài cho tôi xin phép cấp trên của tôi và tôi trả lời ngay”.

Thời hạn 12 giờ trưa đã đến. Sư đoàn hạ lệnh cho cối 120mm bắn vào Châu Sơn 3 quả đạn, tiếp theo là hàng loạt cối 82mm đồng loạt nổ xuống cứ điểm Châu Sơn. Tên trung tá Huế lập tức phát điện xin được rút quân ra khỏi Châu Sơn ngay.

Trưởng ban quân báo sư đoàn lại phát lệnh trên máy PRC 25: “Trung tá Huế nghe đây, ông cho lính đi hàng dọc, đầu súng chúc xuống đất, người đi trước cầm cờ trắng, tôi sẽ cho du kích gỡ mìn trên đường 16 để các ông đi về Việt An. Trái lệnh, tôi sẽ cho du kích đánh vào đội hình của ông nghe rõ chưa?”. Trung tá Huế “Thưa quý ngài, chúng tôi biết lỗi, chúng tôi xin rút quân chứ chúng tôi đâu có đầu hàng mà các ông bảo cầm cờ trắng, cấp trên của tôi không chịu đâu”. Tên Huế trả lời thế. Trưởng ban quân báo sư đoàn lại phát điện. “Đồng ý cho các ông không cầm cờ trắng, nhưng hành quân phải thực hiện quy định của chúng tôi đi hàng dọc, súng chúc đầu xuống đất. Trái lệnh chớ trách!”. Và bọn địch làm theo quy định của ta. Đến 16 giờ chiều,tiểu đoàn ngụy do tên trung tá Huế chỉ huy, đùm túm nhau rút khỏi cứ điểm Châu Sơn. Lập tức sư đoàn 711 của ta cho lực lượng lên chốt lại Châu Sơn. Như vậy, từ tháng 1/1973, sư đoàn 711 đã trực tiếp đánh bại hành động “tràn ngập lãnh thổ” của Nguyễn Văn Thiệu, giữ vững vùng giải phóng của ta ở Quế Sơn, Tiên Phước.

Để phù hợp với tình hình phát triển của chiến trường trong giai đoạn mới, cuối tháng 6/1973, Bộ Tư lệnh Quân khu có chủ trương tổ chức biên chế điều chỉnh lực lượng giải thể sư đoàn 711 để thành lập lữ đoàn 52, đồng thời biên chế lại sư đoàn 2. trung đoàn 1 (trung đoàn Ba Gia) cùng các đơn vị trực thuộc và cơ quan sư đoàn bộ, sư đoàn 2 từ chiến trường Quảng Ngãi được lệnh hành quân ra chiến trường Quảng Nam tiếp nhận trung đoàn 38 và trung đoàn 31 về trong đội hình sư đoàn 2. Tôi trở về làm chính ủy sư đoàn 2, đồng chí Nguyễn Chơn vẫn làm sư đoàn trưởng. Nhưng sau đó, đồng chí được đi học tại Hà Nội, đồng chí Phạm Đượu, quê ở Quảng Bình về nhận công tác quyền sư đoàn trưởng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Một, 2011, 03:42:44 PM
Sư đoàn 2 được Quân khu giao nhiệm vụ phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích các huyện Thăng Bình, Quế Sơn, Tiên Phước… đánh địch càn quét, làm thất bại kế hoạch tràn ngập lãnh thổ của địch, giữ dân, giữ đất, tổ chức thiết bị công trình phòng thủ vị trí then chốt trên tuyến tranh chấp giữa địch và ta giữ vững vùng giải phóng, củng cố bàn đạp, chuẩn bị cho những cuộc tấn công sau này. Còn đại bộ phận lực lượng của sư đoàn tập trung học tập, huấn luyện, thực hiện 3 nhiệm vụ của Quân khu giao: Dùng trung đoàn 31, trung đoàn 38, tiểu đoàn 15 công binh, tổ chức từng cụm điểm tựa, phòng ngự theo thế trận liên hoàn từ Châu Sơn, Liệt Kiểm, Lạc Sơn đến núi Ông Giai, đơn vị xây dựng hơn 1.021 hầm chiến đấu, hầm hỏa khí, hầm nghỉ ngơi, 42 trận địa pháo, 200m địa đạo, 10km hào giao thông. Bộ phận thông tin phát huy sáng kiến cải tiến kĩ thuật, dùng cọc rào ấp chiến lược và dây thép gai tháo mắt thay cho dây điện thoại, xây dựng hệ thống thông tin hữu tuyến dài gần 100km, từ sở chỉ huy sư đoàn, đến các trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội và trận địa pháo, hoàn thành 18km đường ô tô, bảo đảm cho vận chuyển lương thực và cơ động tác chiến. Trong năm 1973, sư đoàn vừa đánh địch lấn chiếm, vừa tổ chức các điểm tiếp xúc giữa quân giải phóng và quân ngụy Sài Gòn, buộc chúng phải thi hành hiệp định Pari. Phối hợp với địa phương nơi đóng quân, sư đoàn tổ chức 118 lần tiếp xúc với 737 binh lính và 85 tên sĩ quan ngụy. Trước thái độ đứng đắn và chính nghĩa của bộ đội ta, đã cảm hóa và hạn chế một được một phần hành động vi phạm cướp phá của binh lính ngụy.

Chuẩn bị chương trình công tác cho năm 1974, Bộ Tư lệnh Quân khu chỉ đạo sư đoàn học tập nghị quyết Trung ương lần thứ 21. Nghị quyết khẳng định: “Thắng lợi bước đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước là thắng lợi của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở 2 miền Nam Bắc đã không tiếc máu xương để làm nên”. Mĩ đã cút, nhưng ngụy chưa nhào. Nghị quyết chỉ rõ nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới: “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng”.

Tháng 2/19743, đồng chí Võ Chí Công, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy 5 trực tiếp xuống sư đoàn triệu tập hội nghị bàn mở mặt trận trên địa bàn Tam Kì, Tiên Phước, nhằm diệt cứ điểm Dương Đế, Đức Phú, giải phóng khu đồn Đức Phú, đồng thời kéo địch ứng cứu để tiêu diệt, thu hồi toàn bộ vùng giải phóng bị chúng lấn chiếm sau Hiệp định Pari. Cuộc họp có các Bí thư tỉnh ủy Quảng Nam, Quảng Đà, tỉnh đội và Mặt trận 4, Bộ Tư lệnh sư đoàn 2. Chủ trương của Quân khu lúc này là đánh nhỏ trong mùa hè, sư đoàn sử dụng trung đoàn 1 (Trung đoàn Ba Gia), trung đoàn 31 (thiếu tiểu đoàn 8) mở chiến dịch Hè.

Lúc sư đoàn xuất quân, đồng chí Lê Trọng Tấn. Tổng tham mưu phó Quân đội Nhân dân Việt Nam vào giao nhiệm vụ cho Quân khu, đồng thời gọi tôi lên, đồng chí nói: “Sư đoàn 2 ra quân trong chiến dịch này có nhiệm vụ diệt một số cứ điểm, diệt quân địch lấn chiếm, xem sức quân đội ngụy chịu đứng đến đâu, để chuẩn bị cho chiến dịch Thu đánh lớn hơn”.

Ngay 24/4, sư đoàn mở màn trận đánh cứ điểm Dương Đế. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, ta làm chủ chiến trường, bắt tù binh, thu vũ khí. Quân địch còn đang lúng túng thì ngày 25/4, sư đoàn tiếp tục tấn công bọn địch đồn trú ở Đức Phú, bao vây uy hiếp khu đồn, buộc địch lẫn lộn trong dân thoát chạy về Tam Kì, liên bị lực lượng đón sắn của ta tiêu diệt và bắt sống toàn bộ 1 đại đội bảo an và tổng đoàn dân vệ. Mất Đức Phú, địch điều 2 tiểu đoàn Bảo An 102 và 116 đến giải tỏa, liền bị trung đoàn 1 chặn đánh diệt một số tên. 2 tiểu đoàn địch án binh bất động chống lệnh hành quân, tên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn bảo an 116 bị tỉnh trưởng Quảng Tín, Đào Mộng Xuân bắt giam.

Quân địa phương của chúng phản chiến, buộc Ngô Quang Trưởng Tư lệnh quân đoàn 1 ngụy phải điều quân chủ lực ứng cứu. Khi tiểu đoàn chủ lực ngụy vừa đến khu vực Dương Bà Thi, cách Đức Phú 2km, liền bị trung đoàn 1, diệt 1 đại đội đi đầu, bắt sống tên tiểu đoàn phó. Trung đoàn 1 đã sử dụng ngay tên tiểu đoàn phó của địch bắt nó, gọi quân của chúng ngưng bắn pháo, và tiếp tục cho các đơn vị khác tiến lên. Nhờ vậy, ta tiêu diệt sạch đại đội thứ 2 của địch, đại đội thứ 3 của chúng hoảng loạn bỏ chạy tháo thân.

Trong chiến dịch Hè, tỉnh đội Quảng Nam đã cho tiểu đoàn 11 bộ đội địa phương tham gia diệt cứ điểm Dương Đế, diệt đại đội địch ở Nổng Cốc (Kì Lâm), diệt chốt Dương Cháy…

Trong 37 ngày của chiến dịch Hè trên dãy tiến công, Sư đoàn 2 và bộ đội tỉnh Quảng Nam đã diệt 2.700 tên địch, bắt sống 116 tên. Diệt 12 đại đội, 3 sở chỉ huy tiểu đoàn địch và tiêu diệt 12 cứ điểm, phá hủy 25 đại bác 105mm đến 155mm. Cùng lúc lực lượng địa phương, giải phóng hoàn toàn khu vực Đức Phú và mở rộng vùng làm chủ của nhân dân trong phạm vi 5 xã từ Kì Quế, Kì Long, Kì Sơn, Kì Trà đến Kì Thạnh… Quân địch co lại không dám lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Sư đoàn và tỉnh đội Quảng Nam đã gởi thư cho tỉnh trưởng Quảng Tín và rải truyền đơn cảnh cáo bọn địch. Lúc này, bọn địch cũng đã núng thế không dám hung hăng càn quét lấn chiếm như trước và pháo binh cũng không dám bắn phá bừa bãi vào vùng giải phóng của ta.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Một, 2011, 03:43:54 PM
TIÊU DIỆT CĂN CỨ NÔNG SƠN - TRUNG PHƯỚC,
ĐẬP TAN TUYẾN PHÒNG THỦ TÂY NAM ĐẦ NẴNG

Trang sử cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta đã chuyển sang giai đoạn mới. Vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, quân ngụy trên khắp các chiến trường co lại. Đường xe cơ giới từ tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đã thông xuống đồng bằng. Kho dự trữ của sư đoàn đầy quân trang quân dụng, vũ khí, lương thực, thuốc men… Không còn cảnh thiếu đói như những năm trước đây. Bộ đội yên tâm học tập và rèn luyện.

Tháng 6/1974, sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn sau thời gian đi học ở miền Bắc đã trở lại chiến trường. Chiến dịch Hè kết thúc. Sư đoàn tiếp tục nhận lệnh củng cố huấn luyện để thực hiện kế hoạch tiến công địch trong chiến dịch Thu.

Nhiệm vụ chủ yếu của sư đoàn 2 trong chiến dịch Thu là tập trung tiêu diệt địch trong cứ điểm Nông Sơn - Trung Phước, đánh và tiêu diệt quân địch phản kích, mở rộng và củng cố vùng giải phóng phía tây huyện Quế Sơn, góp phần tạo điều kiện thuận lợi phát triển tiến công giải phóng chi khu An Hòa - Đức Dục.

Chiến dịch Thu của Quân khu chia làm 3 khu chiến ở trên và 2 chiến trường của tỉnh Quảng Nam và tỉnh Quảng Đà.

Khu chiến 1: Nông Sơn - Trung Phước có sư đoàn 2, trung đoàn pháo binh 572, trung đoàn cao xạ 573.

Khu chiến 2: Chi khu quận lị Thượng Đức, có sư đoàn 304 mang phiên hiệu sư đoàn 711.

Khu chiến 3: Tây huyện Quế Sơn, có trung đoàn 38 của sư đoàn 2, lực lượng pháo binh của Quân khu tăng cường và lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam. Trọng điểm hoạt động của lực lượng tỉnh là ở vùng trung và vùng đông huyện Quế Sơn. Hướng trọng điểm hoạt động của lực lượng vũ trang Quảng Đà là vùng A, B huyện Điện Bàn.

Nông Sơn (tức khu mỏ than Nông Sơn), nằm trên độ cao 298 mét, xưa thuộc xã Sơn Ninh, nay thuộc xã Quế Trung huyện Quế Sơn. Nông Sơn nằm cách khu công nghiệp An Hòa, Đức Dục 11km về phía tây, cách núi Cà Tang cao 452 mét và ấp chiến lược Khánh Bình 2 cây số.

Trung Phước là thị tứ sầm uất, xưa thuộc xã Sơn Viên, nay thuộc xã Quế Trung - Nằm trên đường 104 từ Nam Phước lên Phường Rạnh đến bến phà Nông Sơn gặp đường 105 từ ngã ba Hương An lên tạo thành ngã 3 Nông Sơn - Trung Phước. Nông Sơn nằm trên bờ nam sông Thu Bồn. Trung Phước nằm bên bờ bắc sông Thu Bồn.

Do địa điểm liên đới và điều kiện kinh tế hình thành từ lâu đời trên vùng đất trung du này nên người ta nói đến Nông Sơn là phải ghép Trung Phước và ngược lại. Ở ngay Nông Sơn - Trung Phước còn có một địa danh mà nhiều người đều biết đến đó là Đại Bình (Dân địa phương gọi là Đại Bường). Làng Đại Bình được thiên nhiên ưu đãi, bốn mùa đều có cây trái như Nam bộ.

Trong 9 năm kháng chiến, Nông Sơn - Trung Phước là vùng tự do của cách mạng có chợ búa, bệnh viện, trên bến dưới thuyền tấp nập và cũng là nơi nghỉ ngơi lí tưởng cho cán bộ và bộ đội.

Từ sau 1954, Nông Sơn - Trung Phước trở thành khu căn cứ phòng thủ của địch, nơi xuất phát những cuộc càn quét đánh phá gây nợ máu với nhân dân. Trong 20 năm qua Nông Sơn - Trung Phước trở thành tuyến phòng thủ có tầm quan trọng phía tây của địch. Nông Sơn - Trung Phước trước đây chỉ bị quân giải phóng tấn công 1 lần vào năm 1967, nhưng không dứt điểm được. Vì vậy từ đó đến nay, Nông Sơn - Trung Phước được quân địch tổ chức thành khu căn cứ mạnh và chúng luôn huênh hoang: “Khi nào nước sông Thu Bồn chảy ngược thì Việt cộng mới tấn công nổi Trung Sơn”. Nếu như cứ điểm Cấm Dơi có 14 hàng rào, công sự 3 tàng thì Nông Sơn có 9 lớp rào và 41 lo cốt, nhiều hầm ngầm, 1 trận địa pháo 105mm, 1 tiểu đoàn biệt động biên phòng đảm nhận các điểm cao 452 Cà Tang, 298 Nông Sơn, kiểm soát toàn bộ vùng mỏ Nông Sơn. Ngoài khu phòng thủ căn cứ Nông Sơn còn có 11 cứ điểm ngoại vi, mỗi cứ điểm có từ 1 đến 2 trung đội lính Bảo An, Dân vệ chiếm giữ các điểm cao từ Khương Quế, Phường Rạnh đến Khương Bình, Ninh Hòa - Trung Phước.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Một, 2011, 03:45:57 PM
Sau chiến dịch Hè, tình hình quân địch trên 2 chiến trường Quảng Nam và Quảng Đà không có gì thay đổi. Quân ngụy còn 2 sư đoàn, đó là sư đoàn 2 và sư đoàn 3, và liên đoàn biệt động số 12, còn các liên đoàn biệt động 14, trung đoàn 51 bị quân ta đánh tiêu hao, chúng chưa đủ sức tập trung phải nằm ở hậu cứ trốn lánh. Khi tấn công Nông Sơn - Trung Phước, ta dự kiến quân địch sẽ huy động tư 4 đến 6 trung đoàn đến phản kích giải tỏa. Như vậy về lực lượng và hỏa lực thì quân địch vẫn có ưu thế hơn ta.

Từ cách đánh giá tình hình quân địch để quán triệt nhiệm vụ cấp trên giao, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh sư đoàn hạ quyết tâm tấn công dứt điểm quân địch trên một cụm chốt điểm lớn, có hệ thống phòng ngự vững chắc và cũng thấy rõ địa hình di trú quân của sư đoàn có những phức tạp, vì vậy sư đoàn cần phải tiến hành từng bước.

Bước 1: Sư đoàn dùng một lực lượng nhỏ bí mật tập kích đồng loạt tiêu diệt các chốt điểm do bọn Bảo An chốt giữ vòng ngoài, giải phóng khu vực Trung Phước trước, hình thành thế bao vây không cho tiểu đoàn biệt động biên phòng ở Nông Sơn tháo chạy và ngăn chặn địch từ An Hòa lên ứng cứu. Bước 2: Vây lấn căn cứ Nông Sơn tiêu diệt tiểu đoàn 78 biệt động quân biên phòng bằng hợp đồng binh chủng.

Theo phương án tính chất và để tạo cho sư đoàn 2 có đủ quân thực hành chiến dịch đánh địch bước 2, Bộ Tư lệnh Quân khu tăng cường cho sư đoàn 2 trung đoàn 36, 2 đại đội pháo 85mm nòng dài, 1 đại đội lựu pháo 122mm, 1 đại đội cối 160mm, 1 đại đội tên lửa B72 có điều khiển, 1 lựu pháo 105mm, 1 tiểu đoàn cao xạ 37mm, 3 xe tăng PT 85 có nhiệm vụ đánh địch trên 2 hướng: Tiêu diệt cụm cứ điểm Nông Sơn - Trung Phước, đánh tiêu diệt một bộ phận quân địch phản kích mở rộng và củng cố vùng giải phóng tây Quế Sơn. Và từ thế trận vây lấn, tấn công dứt điểm khu căn cứ Nông Sơn, trung đoàn 38 có nhiệm vụ lật má chuyển sang tấn công tiêu diệt các cứ điểm Hòn Chiêng, Lạc Sơn, Núi Giai, Đồng Mông Đá Hàm, Cấm Dơi… Mở rộng thế trận tấn công của sư đoàn trên khu vực này, giải phóng hoàn toàn 6 xã phía tây Quế Sơn.

Cùng phối hợp tác chiến với sư đoàn 2 trên dãi tiến công phía tây nam thành phố Đà Nẵng, có sư đoàn 304 mang mật danh sư đoàn 711 của Bộ Tổng tư lệnh tăng cường cho Quân khu 5, có nhiệm vụ tiêu diệt cụm cứ điểm chi khu quận lị Thượng Đức.

Thượng Đức - An Hòa - Đức Dục, Nông Sơn - Trung Phước là tập đoàn cứ điểm nằm trong tuyến phòng thủ của địch ở phía tây - nam thành phố Đà Nẵng. Đây còn gọi là cánh cửa thép bảo vệ Đà Nẵng, khu liên hợp quân sự lớn nhất ở miền Trung.

Các đơn vị sau khi được giao nhiệm vụ, đêm 16/7/1974, trung đoàn 1, trung đoàn 31, trung đoàn 36 và các đơn vị trực thuộc của sư đoàn 2 bí mật hành quân vào địa điểm tập kết. Các trận địa pháo từ 85mm nòng dài được đưa lên chiếm lĩnh các điểm cao. Chờ lệnh sư đoàn.

Nhưng một tình huống bất ngờ ngoài dự kiến đã xảy ra. 14h ngày 17/7, đài trinh sát quân báo báo cáo về sư đoàn 2: “12 chiếc trực thăng đổ 100 lính xuống Nông Sơn”. Bọn địch nói tiếng lóng trên đài PRC 25: “Cha mẹ họ đã đến nơi đầy đủ an toàn”. Sau hơn 30 phút, lại có 4 đợt máy bay hạ cánh đổ quân xuống Nông Sơn. Cùng giọng nói lóng lúc nãy trên đài PRC 25 vang lên: “Cha mẹ con cái họ đã đến nơi đầy đủ an toàn”. Sau hơn 30 phút lại có 4 đợt máy bay hạ cánh đổ 400 quân xuống Nông Sơn. Tình hình diễn biến phức tạp, cả phía trước bám chặt, theo dõi từng hành động cụ thể của chúng để có đối sách. Tại chỉ huy sở sư đoàn, có mặt các đồng chí Thường vụ Đảng ủy, cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, trưởng ban tác chiến, trưởng ban trinh sát tập trung thảo luận sôi nổi, phân tích đánh giá, xem xét tình hình sẽ diễn ra trên những khả năng nào. Chúng tôi trao đổi và đi đến nhận định: Khả năng thứ nhất, do quá trình chuẩn bị chiến trường, các đơn vị của ta tiếp cận ngoại vi, có thể bị lộ, nên địch tăng quân để đối phó. Khả năng thứ hai, là địch đưa quân cộng hòa lên thay cho tiểu đoàn biệt động để giữ căn cứ này.

Trong lúc tại chỉ huy sở sư đoàn đang khẩn trương thảo luận, thì cùng lúc đồng chí Chu Huy Mân, Tư lệnh Quân khu điện hỏi và đồng chí Bí thư Khu ủy cũng điện hỏi: Địch tăng một tiểu đoàn cho Nông Sơn, như vậy, tại căn cứ Nông Sơn quân số địch gấp đôi, Bộ Tư lệnh sư đoàn xử trí thế nào. Báo cáo ngay về Tư lệnh Quân khu để có ý kiến.

Qua phân tích cụ thể hai khả năng như trên, chúng tôi trao đổi: Nếu địch tăng quân đối phó, tại sao khi đổ xuống quân không đi lùng sục ra ngoài, phi pháo địch không thấy hoạt động, mà chỉ nằm im trong căn cứ. Như vậy việc bị lộ, địch đối phó là không có, mà đây chỉ là cuộc thay quân, tăng quân để giữ căn cứ, cho nên sư đoàn hạ quyết tâm đánh. Đồng chí sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn, có ý kiến tiếp: Khả năng địch thay quân thì rõ. Trong đêm nay đã có trên 1.000 tên trong căn cứ. Nhà ở chưa làm thêm, công sự chưa đào kịp, bọn lính mới đến mệt mỏi, nghỉ ngơi, chưa nhận vị trí chiến đấu. Tiểu đoàn 78 biệt động quân ở tại chỗ lâu nay, ỷ lại bọn mới đến, đêm nay thế nào cũng vào ấp lùng sục bắt heo, gà ăn thịt, kiếm gái. Ta tấn công bất ngờ, bọn đồn trú bên trong lúng túng, bọn địch bên ngoài làng chạy về sẽ tranh nhau giành công sự, nơi ẩn nấp, tìm cái sống sẽ rối loạn. Vì thế đây là cơ hội tốt, ta hạ quyết tâm tấn công tiêu diệt địch.

Cả cuộc họp trong hầm chỉ huy hoàn toàn nhất trí sự phân tích của sư đoàn trưởng, đề nghị trên cho sư đoàn đánh. Sư đoàn trưởng Nguyễn Chơn cầm điện thoại báo cáo quyết tâm với Tư lệnh Quân khu. Tôi cầm điện thoại báo cáo với Đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy và quyết tâm của sư đoàn. Đồng chí Bí thư Khu ủy nhất trí và hoan nghênh quyết tâm của sư đoàn.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 03 Tháng Một, 2011, 03:47:10 PM
Theo phương án đánh địch đã vạch, cuộc tiến công bắt đầu lúc 0 giờ 15’ ngay 18/7. Đại đội 2 của tiểu đoàn công binh sư đoàn 2 nổ súng đánh địch trên chốt Cà Tang làm lệnh cho cả chiến trường. Trong lúc đó, đại đội 15 công binh trung đoàn Ba Gia cho một mũi đột sâu tháo cầu phao rồi dùng dây cáp bện bằng thép gai băng qua sông phục kích chờ địch thất trận dùng canô tháo chạy, dây cáp giăng qua sông sẽ vướng vào chân vịt canô. Lập tức đại liên bố trí sẵn bên bờ nam sông nhả đạn nhấn chìm chúng xuống sông. Bằng cách đánh mưu trí, đại đội công binh 15 của trung đoàn Ba Gia đã diệt và bắt sống hơn 100 tên địch. Đây là một cách đánh giặc tuyệt đẹp, một chác đánh khôn ngoan của bộ đội sư đoàn đã làm cho kẻ địch kinh hoàng. Các chiến sĩ công binh bình luận ví von với nhau: Chúng ta con cháu của Ngô Quyền xưa kia cắm cọc trên sông Bạch Đằng giết quân Nam Hán, nay bộ đội công binh sư đoàn 2 Quân khu 5 chăng dây qua sông Thu Bồn để đánh địch. Thật là một cách đánh vừa truyền thống vừa hiện đại.

Hợp đồng với các mũi, tiểu đoàn 60 trung đoàn 3 nổ súng đánh chiếm 3 vị trí của địch ở Khương Quế thực hiện việc cài then chiến dịch. Trung đoàn 36 và đại đội 11 của tiểu đoàn 90 đồng loạt tiến công địch ở ngã 3 Nông Sơn - Trung Phước, tiểu đoàn 9 nổ súng đánh bọn Dân vệ, Bảo an ở các ấp chiến lược Khương Nam 1 và Khương Nam 2, đồng thời tổ chức một bộ phận đón lõng quân địch từ căn cứ Nông Sơn chạy ra. Đồng chí Phạm Xưởng trung đoàn trưởng, Lê Lung chính ủy trung đoàn 1, trực tiếp chỉ huy tiêu diệt cứ điểm địch ở thôn 4 đồi tranh Sơn Phúc, tiêu diệt mâm tề Sơn Thọ. Phối hợp các mũi tiến công của bộ binh, pháo binh sư đoàn áp chế các trận địa pháo địch từ An Hòa, Đức Dục, Nam Phước, Mậu Thành không cho chúng ngóc đầu phản pháo. Tiếng súng tấn công của quân ta nổ rền vang như sấm, rung chuyển suốt dọc một hành lang rộng và dài hàng trăm cây số vuông.

Đến 6 giờ ngay 18/7, quân ta đã quét sạch các chốt ngoại vi, tiêu diệt và bắt sống 35 trung đội Bảo an, Dân vệ, 3 phân cuộc cảnh sát, 6 mâm tề ngụy, giải phóng hoàn toàn 6 xã phía tây Quế Sơn.

Đòn tấn công bất ngờ áp đảo của quân ta làm kinh động bọn chỉ huy quân đoàn ngụy. Trời vừa mờ sáng, máy bay lên thẳng của chúng ùa lên đảo vòng, thám sát uy hiếp. Nhưng bọn chúng vừa mon men đến trận địa đã bị đại đội súng máy 12,7mm của trung đoàn Ba Gia chốt giữ ở núi Khương Quế bắn rơi tại chỗ buộc chúng phải tháo chạy. Trong lúc các đơn vị bạn nổ súng vòng ngoài, thì tiểu đoàn 8 của trung đoàn 31 đưa đội hình áp sát vào cứ điểm Nông Sơn. 8 giờ sáng, mặt trời tháng 7 lên cao xua tan sương mờ và khói núi, các mục tiêu ở Nông Sơn hiện rõ trong ống nhòm của trinh sát. Những tràng đạn pháo của quân ta từ trên những mỏm núi cao dội xuống. Sau một tiếng đồng hồ bắn chế áp, các trận địa pháo trên điểm cao hạ nòng bắn thẳng vào từng lô cốt, ụ súng, công sự theo hướng dẫn của trinh sát. Bọn biệt động quân trong căn cứ Nông Sơn không chịu nổi sức ép của pháo binh ta bức phá, chúng lấp ngóp bò ra khỏi miệng hầm, tinh thần hoang mang cực độ.

Đến lúc đó, Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh quân đoàn 1 ngụy nhận thấy nguy cơ tuyến phòng thủ tây nam bị phá vỡ, hằn liền hạ lệnh cho sư đoàn 3 ở Sũng Mây (Hòa Cầm, Đà Nẵng) gấp rút đưa lực lượng lên An Hòa chuẩn bị phản kích. Trên bẩu trời khu chiến Nông Sơn xuất hiện từng tốp máy bay phản lực, trinh sát, HU 1A vũ trang quần lộn ném bom, bắn rốc két, tung hỏa điểm vào những nơi chúng nghi có quân ta. Nắng tháng 7 là nắng nóng nhất ở Quảng Nam, những đám cỏ tranh quanh sườn núi Nông Sơn bốc cháy dữ dội. Khu chiến Nông Sơn bên ngoài nhìn vào là một chảo lửa. Kiên quyết không để cho bọn giặc trời hoành hành, các khẩu đội 37mm phóng lên những quả đạn căm thù, quật rơi ngay một phản lực, 3 máy bay lên thẳng. Bọn chúng phải dạt ra. Tình huống chiến trường được cải thiện, các mũi tấn công của trung đoàn 31 rê đội hình bám sát hàng rào cuối cùng, bám chắc công sự đánh bại các đợt phản kích của địch.

16 giờ, ở sở chỉ huy sư đoàn, qua ống nhóm, tôi nhìn thấy quang cảnh cứ điểm Nông Sơn tan tành dưới hỏa lực của ta. 36/41 lô cốt của địch đã bị phá vỡ, xác địch nằm ngổn ngang. Nhân thấy thời cơ dứt điểm đã đế, Bộ Tư lệnh sư đoàn hội ý chớp nhoáng, và sư đoàn trưởng hạ lệnh tấn công dứt điểm Nông Sơn.

16 giờ 30’, nhận lệnh của sư đoàn trưởng, các mũi xung kích bật dậy, hỏa lực B40, B41 dồn dập bắn vào các công sự còn lại và xung phong. Trên hướng chủ yếu, đại đội 7 đã chiếm xong tuyến chiến hào thứ nhất, đang tiến vào tuyến chiến hào thứ 2, rồi thứ 3, thì bị hỏa điểm đại liên của địch từ hầm ngầm bắn ra. Khẩu đội 81 bị thương, pháo thủ hi sinh. Thấy hỏa điểm địch, nhưng sườn núi dốc đứng ngăn trở, B40, B41 không phát huy được tác dụng, nếu bằn thì lửa phía sau nòng súng sẽ thiêu cháy ngay xạ thủ. Quân địch lại tập trung bắn xối xả ra hướng cửa mở, đạn cày đất đá tung tóe, khói bụi mù mit. Chiến sĩ Lê Văn Cường trèo lên vách đá đứng thẳng bóp cò, 1 quả B41 bắt mục tiêu dập tắt nay hỏa điểm đại liên của địch. Nhưng cũng liền sau quả B41 nổ, 1 quả M79 bắn trúng Cường. Cường đã hi sinh trong tư thế của một người lính đang lao tới. Ở hướng đại đội 5, mặc dù cửa tấn công chưa mở xong, nhưng toàn thể đại đội đã dũng mãnh xung phong đạp bằng rào kẽm gai đánh chiếm mục tiêu phía trước. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Hường ghìm súng đi trên chiến hào lùa bọn địch từ hầm ngầm láp ngáp bò ra. Bất ngờ một tên biệt động quân nấp trong một vách đá nhảy bổ ra chộp lấy trung đội trưởng Hường. Cả hai mất đà lăn xuống vực chiến hào. Hưởng bắt chỏ đè lên yết hầu tên địch, tay kia rút quả lựu đạn chạy đập vào mặt nó. Tên giặc mất phương hướng không chống đỡ được. Một nhát đập tiếp theo của Hường kết liễu tên giặc. Cùng lúc đó, trung đội trưởng Nguyễn Văn Chiến dẫn đầu mũi thọc sâu, đánh thẳng vào sở chỉ huy cứ điểm Nông Sơn. Lá cờ quyết chiến quyết thắng của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu mang dòng chữ: “Đoàn dũng cảm đánh hăng, vây lấn điểm cao, tiêu diệt gọn, dứt điểm nhanh, tấn công liên tục”, do đồng chí Đoàn Khuê, Phó chính ủy Quân khu 5 trực tiếp trao cho trung đoàn 31, đã được phân đội thọc sâu do trung đội trưởng Nguyễn Văn Chiến chỉ huy cắm trên Sở chỉ huy cứ điểm Nông Sơn Đồng chí Đoàn Khuê sau này là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã qua đời năm 1999).


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Một, 2011, 08:39:21 PM
CÀI THEN CHIẾN DỊCH,
NHẬN CHÌM “SÓNG THẦN”

Nông Sơn - Trung Phước được giải phóng, cánh cửa thép tuyến phòng thủ phía tây nam Đà Nẵng bị đập tan, 1 tiểu đoàn biệt động quân, 1 tiểu đoàn cộng hòa, 35 trung đội Bảo an, Dân vệ, 3 phân cuộc cảnh sát, 6 mâm tề bị xóa sổ.

Nguồn tin quân ngụy bại trận ở Nông Sơn - Trung Phước dội về làm xôn xao dư luận thành phố Đà Nẵng. Bị đòn đau, nhưng thấy các chiến trường khác vẫn yên lặng. Từ lâu quân địch đã biết trên hướng này chỉ có sư đoàn 2 quân giải phóng nên chúng không lo lắng mấy. Bộ tham mưu của Ngô Quang Trưởng cho rằng: “Đó là đòn đánh thăm dò, sau hàng loạt cuộc tấn công tràn ngập lãnh thổ của quân đội quốc gia”. Từ nhận định chủ quan đó, Ngô Quang Trưởng tập trung trung đoàn 2 của sư đoàn 3 ngụy mở chiến dịch “Sóng thần” phản kích chiếm lại Nông Sơn - Trung Phước. 16 giờ ngày 20/8/1974, trung đoàn 2 ngụy triển khai đội hình trên khu vực đập Thạch Bàn, cách An Hòa 2km.

Dự kiến trước tình huống này, Bộ Tư lệnh sư đoàn đưa tiểu đoàn 60, và đại đội công binh 15 của trung đoàn 1 (trung đoàn Ba Gia) cài then chiến dịch, kèm giữ chân quân địch trên tuyến Khương Quế - Phượng Rạnh, kéo địch vào thế trận bày sẵn của sư đoàn. Trong hai ngày 20 và 21 các đơn vị được phân công đã đánh tiêu diệt 250 tên địch của trung đoàn 2 ngụy. Tiểu đoàn 1 trung đoàn 2 ngụy mới ra quân phản kích 2 ngày đã bị mất sức chiến đấu, phải đưa nhau về An Hòa củng cố.

Ngày 23/7, tiểu đoàn 60 và đại đội công binh “tương kế” rút khỏi điểm cao Sóng Sử - Khương Quế, điểm cao 238. Thấy lực lượng ta rút, tên trung đoàn trưởng trung đoàn 2 ngụy lầm trưởng quân ta núng thế trước sức tấn công và bom đạn của chúng dội xuống khu chiến, liền xua tiểu đoàn 1 theo trục Sống Sử - Khương Quế, điểm cao 238 và tiểu đoàn 3 của trung đoàn 2 tiến chiếm khu vực Dương Côi, Văn Chỉ, núi Kì vĩ, điểm cao 136… Sau 3 ngày lò dò, mò mẫm, quân địch đã chui vào trận địa mai phục của trung đoàn 1 quân giải phóng. Đêm về, trời nóng, bọn lính cởi trần ghìm súng quay ra, bảo vệ cho bọn sĩ quanh trong những dãy nhà tăng, nghỉ đêm. Trinh sát mặt trận bám địch báo về chỉ huy sở: “Đội hình quân địch trong các cụm cách quân ta không đầy 100m”. Không gian im lặng, đồi núi khu vực Dương Côi - Sóng Sử, Khương Quế, Văn Chỉ, Mỏ Cày, Lôi Giáng… bạc trắng sương thu. Khói núi từ dãy Dương Thông, Hòn Ngang, Hòn Châu, Mật Mã… là là đong đầy thung sâu. Nếu như sông Thu Bồn phía trước là một dòng sông nước, thì trên cao còn là một dòng sông nữa đó là sông mây. Đêm dần trôi qua, bộ đội ta trong tư thế sẵn sàng. Đồng chí Phạm Xưởng, trung đoàn trưởng trung đoàn 1 truyền đạt cho chiến sĩ thông tin “Xin lệnh sư đoàn chi viện hỏa lực tối đa”. Chiến sĩ thông tin trở lại trung đoàn cùng lúc pháo binh sư đoàn lên tiếng. Các cỡ pháo 85, 105, 122, 160mm… nổ liên hồi, phá vỡ buổi sáng ở vùng trung du. Tiếng pháo vừa ngưng, ngay lập tức tiểu đoàn 60 của trung đoàn 1 từ phía sau đội hình quân địch “thọc thẳng lưỡi lê” vào sau lưng của tiểu đoàn 2 quân ngụy. Trung đoàn bộ binh 31 cho tiểu đoàn 8 vận động xuyên tấu, chia cắt tiểu đoàn 3 ngụy tiêu diệt ngay 1 đại đội. Đòn đánh hiểm của tiểu đoàn 60 trung đoàn 1, tiểu đoàn 8 trung đoàn 31 làm cho quân địch trở tay không kịp. Đại bộ phận 2 tiểu đoàn 2 và 3, trung đoàn 2 ngụy trên tuyến từ điểm cao 284 Khương Quế và tiểu đoàn 3 ngụy trên tuyến bắc Dương Côi, đông Kì Vĩ… bị ta đánh tan tác. Một số quân địch thoát chết hốt hoảng chạy về hướng đông, lại bị đơn vị đón lõng của ta tiêu diệt.

12 giờ 30’ trung đoàn 31 đã diệt hết 2 đại đội của tiểu đoàn 3 ngụy quân tại điểm cao 238, trong khi đó trung đoàn 1 đã diệt tọn tiểu đoàn 2 quân ngụy, làm chủ các mục tiêu. Phản kích dợt 1 của trung đoàn 2 ngụy bị đập tan, nhưng trên các khu chiến khác vẫn chưa nổ súng. Áp lực trên chiến trường vào những ngày cuối tháng 7/1974, ở mức độ bình thường, vì vậy Ngô Quang Trưởng tiếp tục điều liên đoàn biệt động quân số 17 gòm 3 tiểu đoàn, 21, 37, 39 tiếp tục dẫm lên đoạn đường thất bại của trung đoàn 2 ngụy.

Trong 5 ngày từ 31 đến 4/8/1974, trung đoàn 38 nố súng tấn công quân ngụy trên suốt tuyến đường 105, từ căn cứ Cấm Dơi đến Hòn Chiêng qua Việt An thu hồi tất cả các chốt địch đã lấn chiếm, giải phóng 6 xã vùng tây huyện Quế Sơn. Trong lúc sư đoàn 2 Quân khu 5 quét sạch địch phía tây nam, ở phía tây bắc sư đoàn 304 nổ súng tấn công tiêu diệt quân địch và giải phóng hoàn toàn chi khu quận lị Thượng Đức.

Ngày 8/8/1974, chi khu Thượng Đức thất thủ, Ngô Quang Trưởng, tư lệnh quân đoàn 1 cho đánh bom hủy diệt cả đồng bọn còn sống sót trong chi khu.

Thế là tuyến phòng thủ phía tây nam Đà Nẵng từ Cấm Dơi, Quế Sơn, Nông Sơn - Trung Phước đến Thượng Đức đã bị đập tan.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Một, 2011, 08:41:16 PM
NHỮNG NĂM THÁNG GẮN BÓ
VỚI SƯ ĐOÀN

Chiến dịch Thu năm 1974 kéo dài hơn một tháng, đem lại thắng lợi trên cả hai mặt trận quân sự và chính trị. Lần đầu tiên trên một chiến trường ác liệt của hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Đà, ta giải phóng và làm chủ một phần đất đai quan trọng, được xem là cánh cửa thép của quân địch ở phía tây thành phố Đà Nẵng. Bị ngấm đòn thu đau, quân địch điều quân phản kích, lại bị đánh bại liên tục, buộc Bộ Quốc phòng ngụy phải điều động cả quân dự bị chiến lược như lính dù, lính biệt động và lính thủy đánh bộ vẫn không đủ sức chống đỡ cứu nguy bọn chúng. Bọn chúng liên tục bị quân ta đánh cho tơi tả… Thắng lợi của chiến dịch Thu nhanh chóng tác động đến hình thái bố trí chiến lược của quân địch trên một chiến trường quan trọng bậc nhất ở miền Trung, tác động mạnh vào tư tưởng và tinh thần vốn đã tan rã của quân ngụy.

Thắng lợi của chiến dịch Thu năm 1974 là thắng lợi của quân và dân hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Đà trong hợp đồng chiến đấu, quyết đánh, quyết thắng kẻ địch trên một địa bàn rộng, có sự bố phòng mạnh của địch. Trong đó, sư đoàn 2 Quân khu 5 và sư đoàn 304 của Bộ tăng cường cho Quân khu 5, là hai đơn vị chủ công mở ra vùng giải phóng rộng lớn và liên hoàn. Từ tây nam huyện Đại Lộc, tây nam huyện Quế Sơn và tây huyện Thăng Bình - huyện Tam Kì lên Tiên Phước, Trà Mi, tiếp giáp với vùng đại ngàn của hai huyện Đông Giang và Tây Giang (2 huyện Hiên và Giàng). Thắng lợi của chiến dịch Thu tạo nên thế mới, lực mới, khả năng mới cho tấn công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang và nhân dân ta giành thắng lợi lớn hơn.

Những năm tháng cuối năm 1974, tình hình chiến trường miền Nam và chiến trường Quân khu 5 sau Nghị quyết 21 Trung ương ra đời đã có những chuyển biến mạnh. Nghị quyết chỉ rõ: “Con đường của cách mạng miền Nam là con đường bạo lực”. Quán triệt Nghị quyết của Trung ương, các lực lượng vũ trang trong quân khu quyết tâm tiến lên giành thế chủ động trên chiến trường, đẩy quân ngụy vào thế bị động đối phó.

Giữa lúc khí thế thắng lợi của nhân dân và các lực lượng vũ trang trên chiến trường đang sôi nổi, giữa những ngày toàn Quân khu tập trung chuẩn bị cho những đợt tấn công địch, mở ra vùng giải phóng thì một điều không may đã đến với tôi. Vết thương ở hai mắt mờ dần. Từ chiến trường tôi được đưa về hậu phương lớn để đi sang nước bạn điều trị.

Trong những ngày xa Tổ quốc, tôi có dịp ôn lại những tháng năm gắn bó với sư đoàn. Cho đến lúc tạm biệt sư đoàn, tôi đã có 6 năm vinh dự trong đội hình của sư đoàn 2 Quân khu 5. Lúc sư đoàn được thành lập cũng là lúc đế quốc Mĩ điên cuồng đổ quân vào miền Nam, chuyển sang chiến lược chiến tranh cục bộ. Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của dân tộc bước vào giai đoạn gay go, quyết liệt nhất thì lời kêu gọi của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước trong nhân dân và các lực lượng vũ trang lên thành cao trào quyết chiến quyết thắng giặc Mĩ xâm lược. Sư đoàn 2 Quân khu 5 bước vào giai đoạn chiến đấu mặt đối mặt với các đơn vị thiện chiến nhất của quân Mĩ - ngụy - chư hầu, và trung đoàn Ba Gia, sư đoàn 2 Quân khu 5 đã làm nên chiến thuật Vạn Tường lừng lẫy một thời, mở đầu cho những trận thắng lớn sau này.

Vượt qua những gian khổ ác liệt, cán bộ chiến sĩ sư đoàn luôn mài sắc ý chí, xác định mục tiêu chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng Tổ quốc - “Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kể thù nào cũng đánh thắng!”. Cán bộ chiến sĩ sư đoàn 2 vững vàng bước vào cuộc phản công chiến lược mùa khô 1966-1967, bằng những chiến công đánh Mĩ và thắng Mĩ ở đồi tranh Quang Thạnh, đánh quỵ cuộc càn “Liên kết 81” giữa liên quân Mĩ - ngụy - chư hầu trên đất Quảng Ngãi.

Sau mùa Xuân tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968, sư đoàn giữ thế chủ động tấn công góp phần đánh bại các mưu đồ chiến lược chủ yếu của quân Mĩ như: Chiến lược “Quét và giữ”, “Bình định nông thôn” phá vỡ từng mảng quan trọng tuyến phòng ngự cơ bản của địch và phối hợp lực lượng vũ trang địa phương giành dân, giữ đất, tiêu diệt một số chi khu quận lị của địch, mở rộng vùng giải phóng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Một, 2011, 08:42:09 PM
Trong chiến tranh cách mạng nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị chủ lực là tiêu diệt địch, tạo ra cơ sở để hoàn thành các nhiệm vụ khác. Mỗi kế hoạch chiến dịch, mỗi sa bàn chiến đấu đều được Đảng ủy Bộ Tư lệnh sư đoàn nghiên cứu tường tận, chu đáo. Từ công việc nghiên cứu đến thẩm định bổ sung, từ việc xác định đối tượng đến nổ súng tấn công đều được cân nhắc tỉ mỉ. Đối tượng chủ yếu của sư đoàn là các trung đoàn, chiến đoan, sư đoàn quân chủ lực Mĩ - ngụy - chư hầu. Bộ Tư lệnh sư đoàn tập trung suy nghĩ tìm tòi cách phát triển nghệ thuật chiến dịch, tạo nên ý chí quyết chiến, quyết thắng giặc Mĩ, được thể hiện trong cách đánh địch ngoài công sự, đã tiêu diệt gọn từng chiến đoàn ngụy trong điều kiện thủy quân lục chiến Mĩ đã nhảy vào tham chiến ở miền Nam và liên tiếp đánh quỵ lữ đoàn Mĩ ở trận núi Ngang, đánh quỵ sư đoàn ngụy ở đường 9 - Nam Lào. Từ tiêu diệt đại đội Mĩ, tiến lên tiêu diệt tiểu đoàn Mĩ; từ diệt chi đoàn xe bọc thép của Mĩ, tiến lên tiêu diệt chiến đoàn xe bọc thép Mĩ; từ diệt đại đội Nam Triều Tiên, tiến lên tiêu diệt tiểu đoàn Nam Triều Tiên; từ diệt cứ điểm chi khu đến tấn công hợp đồng binh chủng đánh nhiều cứ điểm cùng một lúc. Sư đoàn đã phá vỡ từng mảng tuyến phòng ngự quan trọng của địch; từ tấn công giải phóng chi khu quận lị tiến lên tấn công giải phóng thị xã, thành phố. Nhiệm vụ nào sư đoàn cũng hoàn thành một cách xuất sắc.

Ý chí quyết chiến quyết thắng của sư đoàn 2 Quân khu 5 là luôn hướng sự quan tâm của cán bộ, chiến sĩ sư đoàn xây dựng từng đơn vị lớn mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng và chiến đấu liên tục, khẩn trương tìm ra biện pháp nâng cao sức mạnh và chất lượng chiến đấu của sư đoàn. Trước mỗi chiến dịch, sư đoàn luôn xây dựng tư tưởng quyết tâm chăm lo huấn luyện kĩ chiến thuật và chấp hành mệnh lệnh, sau chiến dịch sư đoàn tổng kết, sinh hoạt chính trị rút kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm làm cho đơn vị tăng sức chiến đấu.

Những năm đánh Mĩ cứu nước tôi được sống, chiến đấu trong đội hình sư đoàn 2, một năm ở sư đoàn 711 (Quân khu 5), qua 6 đời sư đoàn trưởng. Mỗi đồng chí đều để lại trong tôi những dấu ấn khó quên. Một nét chung mà tôi nhớ mãi ở các đồng chí đó là biểu hiện tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần chiến đấu dũng cảm; tận tụy công tác, đồng cách mạng cộng khổ, đói thiếu, gian khổ không nề hà, lúc nào cũng lo cho đơn vị làm sao để đánh thắng địch. Đồng chí nào cũng tập trung suy nghĩ, nghiên cứu, tìm hiểu những thủ đoạn, mánh lới của địch trong tất cả các tình huống chiến đấu, để xây dựng đơn vị mạnh hơn kẻ địch, đánh phải thắng và diệt gọn quân địch. Trong khó khăn ác liệt, các đồng chí càng thể hiện tinh thần lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi, làm giữ vững ý chí tiến công, tin yêu cán bộ, chiến sĩ, sống chết có nhau.

Tấm gương hi sinh oanh liệt, đạo đức phẩm chất sáng ngời của anh Lê Hữu Trữ (sư trưởng), Nguyễn Minh Đức (chính ủy), Trần Tiến Quảng (sư trưởng), Nguyễn Việt Sơn (sư trưởng), Dương Tiến Lợi (sư trưởng), đã để lại trong lòng cán bộ, chiến sĩ sư đoàn niềm thương tiếc vô hạn. Các anh ấy là lớp cán bộ kế tục, tiêu biểu đức tài như Giáp Văn Cương, quê ở Bắc Giang, năm 1949, chỉ huy tiểu đoàn 19, diệt tên đại tá Pháp Rôrê trên đèo Hải Vân, sau này là Thượng tướng, Đô đốc Hải quân Việt Nam, đã qua đời năm 1992. Anh là một cán bộ quyết đoán, cương trực, giỏi kế hoạch, làm việc khoa học, dứt khoát. Anh Hoàng Anh Tuấn, một trí thức, quê Thừa Thiên - Huế, sau này là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, là thương binh trong kháng chiến chống Pháp, hỏng một mắt. Suốt hai cuộc kháng chiến vẫn liên tục chiến đấu, anh rất thương yêu cán bộ chiến sĩ. Có lúc đơn vị hành quân, gặp chiến sĩ ốm đau, sốt rét, không mang vác được anh đã mang giúp ba lô, súng đạn, để chiến sĩ cùng đi theo kịp trong đội hình.. Anh Lê Kích, quê Quảng Ngãi, là chiến sĩ du kích Ba Tơ năm xưa, chiến đấu dũng cảm thông minh, lao động cần cù, sâu sát chiến sĩ, hòa mình với nhân dân. Anh Trần Tiến Quảng, quê Quảng Ngãi, một thư sinh nho nhã, nhưng biết rèn luyện trong gian khổ, qua hai cuộc kháng chiến, bám sát chiến trường, giỏi công tác tham mưu, tác phong dân chủ, tôn trọng tập thể, đồng chí, lắng nghe cấp dưới, làm việc ngày đêm, không biết mệt mỏi. Anh Nguyễn Chơn (sư trưởng) sau này là Thượng tướng, Anh hùng lực lượng vũ trang, là người có cá tính mạnh mẽ, quyết đoán, được anh em cán bộ, chiến sĩ thán phục, có lời tặng “Người anh hùng say mê đánh giặc”.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Một, 2011, 08:43:13 PM
Tôi không thể nào quên được những tấm gương chiến đấu quên mình của các anh hùng và anh hùng liệt sĩ, các cán bộ chiến sĩ của sư đoàn như cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn 17 thông tin, trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, vượt dưới bom đạn địch hàng trăm lần để nối dây, rải dây phục vụ chiến đấu, trên mũ mỗi người dán khâu hiệu “Mạch máu có ngừng, nhưng đường dây không bao giờ tắt”, như anh Phạm Minh, chính trị viên đại đội, trong một trận đánh, khi cửa mở, gặp ổ đề kháng của địch ác liệt, anh lấy thân mình nằm vắt lên hàng rào kẽm gai, để cho đồng đội đạp lên, băng qua đột phá trung tâm cứ điểm địch giành thắng lợi. Anh Lê Hữu Tựu, với 4 năm tuổi quân, đã bắn rơi 31 máy bay các loại của địch, riêng năm 1968, anh bắn rơi 18 máy bay, diệt 64 tên địch. Anh Nguyễn Nhân Biểu, đánh 43 trận, trận nào cũng được biểu dương về thành tích chiến đấu. Anh Đặng Đình Trường, bám chốt núi Ngang, bắn rơi 13 máy bay trực thăng, có một chiếc bị anh bắn đứt làm đôi khi chưa kịp đổ quân. Anh Trần Đình, một chiến sĩ nuôi quân được đi chiến đấu, đã thể hiện tinh thần dũng cảm đánh nhanh, thọc sâu, làm cho quân địch bất ngờ và giành chiến thắng. Chị Nguyễn Thị Hồng ở đại đội 3 vận tải, bị 36 mảnh bom bi cắm vào người, vẫn nén cơn đau, đưa thuyền chở thương binh vượt qua vùng trọng điểm đến nơi an toàn. Anh Đặng Đình Đào, suốt 4 ngày đêm quần nhau với thiết giáp Mĩ, bắn cháy 6 xe tăng. Anh hùng Nguyễn Chuyễn, quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi, chiến sĩ trinh sát, đã điều tra nghiên cứu, bám địch, vượt hàng rào thép gai qua hàng thục cứ điểm để phục vụ cho chiến đấu.

Hình ảnh đại đội 3, thuộc tiểu đoàn 19, vận tải của sư đoàn, là đơn vị nữ được tuyên dương anh hùng. 120 cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ gùi, thồ lương thực, vũ khí, thuốc men. Thân gầy mảnh khảnh, nhưng chị em vẫn lao động không mệt mỏi, mỗi người gùi nặng từ 50 đến 60kg. có chị gùi đến 100kg. Đầu trần, chân đất, qua sông lội suối, leo núi vượt đèo, ốm đau, bệnh tật, có khi lạt muối đói cơm, nhớ nhà, người thân, suốt 10 năm gian khổ ác liệt, ngược xuôi hàng vạn cây số phục vụ 20 chiến dịch đánh địch của sư đoàn. Đến nay thỉnh thoảng tôi gặp lại các nữ quân nhân ấy, có người đã làm mẹ, làm bà với mái gia đình hạnh phúc, có người còn ở vây để sống với quá khứ không nguôi, cón người chỉ là dòng tên trên bia mộ, hoặc trong kí ức của đồng đội, bạn bè.

Tôi không thể nào quên được, và cũng không thể nào nhớ hết được một đội ngũ cán bộ ác cấp từ tham mưu, chính trị, hậu cần, các bác sĩ, dược sĩ, y tá, hộ lí, thợ quân giới, thông tin liên lạc, anh chị nuôi… lăn mình trong mưa bom, bão đạn, thiếu thốn mọi bề, vẫn lạc quan, ung dung thanh thản làm việc quên mình để bảo đảm trong công tác chiến đấu của sư đoàn trên các chiến trường, chiến dịch thắng lợi.

Hàng vạn, hàng vạn hành động anh hùng vượt qua ác liệt, gian khổ, bền gan vững chí để giành thắng lợi cho cách mạng nói chung và cho đơn vị nói riêng, đã được Đảng, Nhà nước, quân đội ghi công, tuyên dương, khen thưởng, nhưng cũng còn biết bao tấm gương ẩn mình trong thầm lặng vì nhiều lí do như chiến sĩ Bùi Thanh Thà, một mình với khẩu AK bám bắn liên tục, không cho trực thăng hạ cánh bắt sống tôi trên cánh đồng Phương Đông, Dương Yên (huyện Trà Mi). Chiến sĩ Đàm Văn Hưng, dân tộc Tày, quê tỉnh Cao Bằng, và Quách Văn Thành, dân tộc Mường, quê tỉnh Thanh Hóa, đã dũng cảm lấy thân mình nằm trùm lên người tôi, để cứu tôi thoát chết trong đợt B52 rải thảm tại xã Sơn thạch, huyện Quế Sơn… Khi được hỏi các chiến sĩ đều nói một cách chân tình, cởi mở và vô tư: “Chúng tôi hi sinh để cho thủ trưởng sống chỉ huy chiến đấu”.

Tôi vô cùng thương tiếc những đồng đội đã hi sinh ở chiến trường Kon Tum, Tân Cảnh, Đắc Tô, Đường 9 - Nam Lào, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Quảng Đà… Tôi như còn thấy bên tôi những anh em, đồng chí ngày nào:

Tấm choàng che mưa chôn xong đồng đội
Hẹn thắng giặc rồi lặn lội tìm anh
Hai mươi lăm năm chấm dứt chiến tranh
Mà anh còn ở rừng xanh chưa về
Thương anh nhớ lại lời thề
Tìm anh mà vẫn không hề gặp anh

               (Tình đồng đội - NHC)

Tất cả những hành động dũng cảm đó, từ lúc chuẩn bị lên đường cho đến khi xung trận, trong những phút hiểm nguy nhất đều chung một quyết tâm anh dũng chiến đấu, sẵn sàng xả thân vì thắng lợi để làm nên chiến công tô thắm truyền thống anh hùng. Cao đẹp thay tình đồng chí, đồng đội. Những tấm gương tiêu biểu của cán bộ, chiến sĩ đã cùng tôi công tác trong sư đoàn 2, sư đoàn 711, là bài học lớn về phẩm chất của người cán bộ cách mạng, cho tôi có điều kiện học tập, rèn luyện và trưởng thành.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Một, 2011, 08:44:48 PM
Sư đoàn 2 Quân khu 5 là con đẻ của cao trào cách mạng, tấn công và nổi dậy của nhân dân. Sư đoàn đã gắn bó với nhân dân, hoạt động trên chiến trường đồng bằng và miền núi, phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương, các lực lượng chính trị và binh vận, gắn bó với thế trận chiến tranh nhân dân. ở những nơi cán bộ, chiến sĩ sư đoàn đến trú quân và chiến đấu đều lưu lại hình ảnh, bước đi, việc làm, sinh hoạt của một tập thể bộ đội cụ Hồ trong sáng, ngoan cường. Nghĩa nặng tình sâu ấy được ghi lại từ buổi đầu sư đoàn sinh ra trên một mảnh đất nghèo lại bị bom đạn của kẻ thù tàn phá. Đêm như không có chỗ ngã lưng, ngày như không có chỗ đứng chân, đói cơm, lạt muối, khó khăn biết dường nào. Trong hoàn cảnh đó bà con đã nhường cơm xẻ muối, nhường nhà cho bộ đội ở, xẻ chia cho bộ đội từng lon gạo, từng bát khoai chà, từng bánh đường đen… Nhớ những ngày sư đoàn đánh Cấm Dơi, bộ đội thiếu lương thực, chỉ trong vòng 5 ngày nhân dân Quế Sơn đã huy động được 54 tấn lương thực cho chiến dịch, còn bà con thì ăn củ chuối, sắn non, khoai chạt… nhường tất cả thuận lợi cho bộ đội ăn no đánh giặc, cứu nước. Nhân dân ở vùng trụ bám không đèn lửa, đêm ngủ hầm trên manh chiếu mỏng, cấy lúa, trồng khoai dưới bom đạn địch, thế mà vẫn chắt chiu hạt gạo, củ khoai nuôi quân, góp công dựng làng chiến đấu, khiêng thương, tải đạn, đưa đò cho bộ binh chiến dịch sang sông. Vẫn còn đây hình ảnh các chị, các mẹ ngoan cường tay không chặn đầu xe bọc thép, những chiến sĩ đấu tranh chính trị, bao vây đem truyền đơn đưa tận tay sĩ quan, binh lính ngụy. Con em thiều nhi dũng cảm lừa quân Mĩ lấy súng về cho cách mạng… Mỗi lần sư đoàn mở chiến dịch, có hàng ngàn dân công, dân quân, phục vụ canh gác, dẫn đường, bảo vệ. Ở các thôn xã đồng bằng, nhân dân đào hàng vạn mét địa đạo, giao thông hào, hầm chiến đấu… để sư đoàn dựa vào đó mà chiến đấu và thắng giặc.

Mỗi chúng ta được sinh ra từ người mẹ, còn đoàn quân thì sinh ra từ nhân dân. Người mẹ Cẩm Khê dùng dao lỡ chém Mĩ để bảo vệ cho các con thương binh ucả mình toàn vẹn. Các chị ở Hòa Vang, Điện Bàn, Quế sơn… tự xóa dấu vết quân qua để bảo vệ bí mật hành lang, cất dấu thương binh ngay trong vùng địch kiểm soát. Hình ảnh mẹ Nguyễn Thị Dày, là mẹ của sư đoàn chúng tôi. Mẹ còn có tên gọi khác “Bà Mẹ Cấm Dơi”. Con bị giặc giết, nhà giặc đốt. Mẹ trụ bám dựng chòi, cắm nêu làm tín hiệu báo tin cho bộ đội, khi về đánh giặc. Bọn địch đã giết mẹ. Sự hi sinh của mẹ đời đời Tổ quốc ghi công. Còn chúng tôi vẫn coi mẹ là người mẹ của sư đoàn.

Mùa xuân 1975, lúc sư đoàn 2 Quân khu 5 gần tròn 10 tuổi, đã trải qua hơn 3.000 ngày đêm chiến đấu không nghỉ, với hàng ngàn trận đánh lớn nhỏ, trong đó có 20 chiến dịch - Chiến dịch giải phóng thành phố Đà Nẵng là đỉnh cao của những chiến dịch tấn công của sư đoàn.

Trên đời có nhiều sự trùng hợp, thú vị. Ở sư đoàn 2 có một sự trùng hợp đặc biệt, đó là anh hùng Nguyễn Chơn, quê Hòa Vang, lúc thành lập sư đoàn (20-10-1965), anh là cán bộ trung đoàn 1 (Ba Gia), đứng tuyên thệ dưới quân kì ở làng An Lâm, xã Phước Hà, huyện Tiên Phước, đây là vùng đất căn cứ địa của Hường Hiệu (Nguyễn Duy Hiệu), sau 10 năm chiến đấu, Nguyễn Chơn là sư đoàn trưởng, dẫn đoàn quân tiến về giải phóng Đà Nẵng (29-3-1975). Quyết định trên giao cho sư đoàn, đúng là ý nguyện canh cánh bên lòng, cuối cùng anh và sư đoàn phối hợp với quân đoàn 2 của Bộ, cùng với nhân dân thành phố tấn công và nổi dậy giải phóng Đà Nẵng.

Với những chiến công đó, sư đoàn 2 Quân khu vinh dự được Đảng, Nhàn nước và quân đội tuyên dương 23 đơn vị Anh hùng, 14 cá nhân Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Về thành tích đánh địch, sư đoàn 2 Quân khu 5 đã tấn công tiêu diệt 1 trung đoàn, 1 chiến đoàn, 37 tiểu đoàn, 52 đại đội, 1 sở chỉ huy sư đoàn tiền phương, đánh quỵ và làm tan rã 3 sư đoàn ngụy, đánh thiệt hại 11 lữ đoàn, trung đoàn, chiến đoàn, trong đó có 2 sư đoàn Mĩ; loại khỏi vòng chiến đấu 94 ngàn tên Mĩ - ngụy - chư hầu, bắt sống trên 1 vạn tên, bắn rơi và phá hủy 1.466 máy bay các loại, 1.084 xe tăng, xe bọc thép và xe quân sự, phá hủy 613 khẩu pháo, thu hơn 17 ngàn súng các loại và nhiều phương tiện chiến tranh.

Tôi xin nghiêng mình trước anh linh của 20 ngàn liệt sĩ của sư đoàn - Những người con trung hiếu khắp các miền quê của Tổ quốc, đã hội tụ về sư đoàn trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước thần thánh của dân tộc. Các anh đã cống hiến cả tài năng, trí tuệ và tâm huyết cuộc đời mình, cống hiến tuổi xuân cho sự nghiệp đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Việt Nam. Máu đào của các liệt sĩ tô thắm thêm lá cờ Tổ quốc, làm nên truyền thống nhân dân anh hùng, quân đội nhân dân anh hùng, đời đời ngân vang ban anh hùng ca dân tộc.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Một, 2011, 08:45:55 PM
CHƯƠNG KẾT

Sau hai tháng điều trị ở bệnh viện 108 Hà Nội, cắt được cơn sốt rét rừng và chảy máu dạ dày, nhưng hai mắt vẫn bị mờ nên cấp trên quyết định cho tôi sang Liên Xô điều trì.

Ngày 20 tháng 12 năm 1974, từ thủ độ Hà Nội, tôi đi trên chuyến máy bay của hảng Hàng không Liên Xô sang Mạc Tư Khoa, thủ đô Liên bang Xô Viết. Đến nơi, nghỉ nhà khách một ngày rồi được đưa ngay vào điều trị tại bệnh viện Trung ương Liên Xô (gọi là Bệnh viện nước Nga). Khi đi, tôi mang đầy đủ giấy tờ giới thiệu và bệnh án của bệnh viện 108, ghi rõ diễn biến tình trạng sức khỏe, nên được bệnh viện tiếp nhận ngay.

Ở đây là một bệnh viện lớn, có đầy đủ tiện nghi, máy móc hiện đại và một đội ngũ giáo sư bác sĩ giỏi, đa phần làm nghĩa vụ quốc tế. Vì thế bệnh viện có nhiều cán bộ, viên chức ở các nước Châu Á, Châu Phi, Châu Mĩ La Tinh đến chữa bệnh. Bệnh viên có đầy đủ các chuyên khoa, việc chăm sóc điều trị thuốc men đầy đủ, phương tiện kiểm tra, theo dõi bệnh nhân khá tốt, tinh thần phục vụ của bác sĩ, hộ lí, y tá rất tận tình. Các đồng chí coi chúng chúng tôi như người nhà, nhất là biết chúng tôi từ tuyến đầu đánh Mĩ sang đây. Bệnh viện ăn uống theo chế độ bệnh lí, không theo cấp bực “đại táo, trung táo, tiểu táo” như ở nước ta. Tuy ăn theo bệnh lí, nhưng thịt, cá, trứng, sữa không bao giờ ăn hết được. Có một điều nghiêm ngặt, là bệnh viện cấm không được hút thuốc trong phòng điều trị, cho nên anh nào nghiện hút là không được vui, vì phải đi từ tầng 3 xuống tầng 1, vào phòng riêng ngồi hút xong mới được về.

Mạc Tư Khoa vào những ngày cuối năm, màu đông giá rét, có lúc nhiệt độ xuống dưới -10oC, bầu trời đầy tuyết trắng phau, tuy nhiên ở các phòng điều trị của bệnh viện được sưởi ấm thường xuyên. Do thời tiết như vậy, nên tôi rất ít được đi ra ngoài để ngắm thủ đô, hoặc đi thăm một số bạn bè đang công tác, học tập ở đây. Phía bạn “tâm lí”, hiểu được tâm tnạng đó của chúng tôi, nên Ban đối ngoại Trung ương Đảng cử một cán bộ thường xuyên, thăm viếng động viên chúng tôi. Tôi không ngờ, ở đây có một đồng chí người Nga, tên là Cô-lê-lép, rất thành thạo tiếng Việt, anh thuộc cả truyện Kiều, đọc cả Chinh Phụ Ngâm, khi hỏi ra mới biết, có thời gian anh công tác, sống ở Việt Nam hơn 8 năm. Có một hôm trời đông giá, bên ngoài tuyết phủ trắng lấp cả ngàn cây, mái nhà, khu vườn, trong người tôi cảm thấy khó chịu khi nhiệt độ xuống quá thấp, Cô-pê-lép bước vào phòng tôi, anh liền nói: Chắc lạnh lắm phải không, rồi anh đọc ngay 4 câu thơ, đến nay tôi vẫn còn nhớ:

Tuyết sơng bao phủ quanh tường
Bạch dương rụng lá đêm trường nhớ ai
Nhớ ai thì mặc nhớ ai
Yên tâm điều trị, nay mai sẽ về.


Mấy câu thơ giản dị nhưng vui, vi do chính anh là người sáng tác nói về chúng tôi, dành cho những người xa quê vạn dặm. Những lúc chuyện trò, anh luôn ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ địa, nhân dân Việt Nam anh hùng, anh nói: Tôi đi nhiều nước Châu Á, Châu Âu, chưa thấy một vị lãnh tụ nào có tầm hiểu biết sâu rộng, hiểu cả tâm lí đến sinh hoạt bình thường, phong tục tập quán dân gian dân tộc, nên khi Chủ tịch trò chuyện dễ thuyết phục và đi vào lòng người. Có một hôm tôi được Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi đến cho tôi ăn tiệc. Trong bữa ăn có nhiều món, nhưng món thịt gà rán (loại gà ri nuôi ở nông thôn, thơm ngon nhưng thịt chắc, dai), giữ lễ phép, khi ăn tôi cầm nỉa và dao cắt miếng thịt gà. Cắt mãi mà thịt không đứt, Chủ tịch thấy vậy cười và nói; Chú không biết ăn thịt gà ri rồi, thịt cứng mà dùng dao như vậy chẳng khác nào chú nói chuyện với người yêu qua phiên dịch thì làm sao thích thú được. Hại Bác cháu cùng cười. Đến bây giờ tôi còn nhớ và suy nghĩ mãi về một lãnh tụ, sao mà gần gủi, dung dị, dầy chất hóm hỉnh dân gian đến thế. Các đồng chí thật hạnh phúc, có một lãnh tụ đáng kính…

Nhờ sự tận tình của các bác sĩ, sau 2 tháng điều trị, kiểm tra hai mắt tôi tiến triển tốt, đáy mắt không còn chảy máu nữa, không nhòa nước mắt như trước. Như thế bệnh tình đã được ổn định, chỉ có một điều, thị lực không tăng, mấy lần kiểm tra, hai mắt chỉ đạt 1/10 sức nhìn, đọc.

Có điều tôi không hề nghỉ đến, đó là sự ưu ái, tận tình của bệnh viên. Ban giám đốc bệnh viện quyết định đưa tôi sang viện mắt ở Béclin, nước Cộng hòa dân chủ Đức - 10 ngày ở đây, tôi được kiểm tra 3 lần, rồi bạn đưa đến cửa hiệu đo làm kính mắt lại. Nhờ 3 tháng điều trị mà mắt tôi giữ được 25 năm nay ổn định như khi mới ra viện.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:29:39 PM
Ngày 13/3/1975, từ Mạc Tư Khoa tôi về Hà Nội. Lúc đó chiến dịch tổng tấn công và nổi dậy ở miền Nam đã bắt đầu từ ngày 10/3. Từ trận đánh Ban Mê Thuột thắng lợi vang dội, giải phóng Tây Nguyên, đến chiến dịch ở Quảng Nam - Đà Nẵng giải phóng Phước Lâm, Tiên Phước, Tam Kì. Loa công cộng ở các ngã tư, các đường phố, cơ quan, công sở truyền đi khí thế phấn khởi của nhân dân thủ đô mừng thắng lợi miền Nam. Nỗi mừng vui tôi thật khó tả. Tôi đến Tổng cục Chính trị xin được trở về Khu 5 công tác, nhưng đồng chí Trung tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị giải thích cho tôi: “Tình hình cách mạng miền Nam đang phát triển, quân ta tấn công thắng lợi như chẻ tre. Hiện nay, cán bộ đương rất cần cho chiến trường, nhưng Tổng cục Chính trị cũng cần dự trữ một số cán bộ để khi cần thiết có thể bổ sung ngay cho bất cứ đơn vị nào và địa phương nào. Đồng chí cứ yên tâm chờ đời…” Hằng ngày cac cán bộ chơ công tác, trong đó có đồng chí Lê Duy Mật, Phó tư lệnh, tham mưu trưởng Quân khu 8, tôi, và 6 cán bộ Quân khu 4, Quân khu 6, hằng ngày đến trạm 66 theo dõi chiến sự trên bản đồ. Lúc đó, Tổng cục Chính trị tổ chức và giao cho chúng tôi đi làm phái viên phổ biến tình hình thắng lợi cho các đơn vị. Chúng tôi yên tâm và làm như vậy để chờ đợi.

Ngày 26/3/1975, tỉnh Thừa Thiên - Huế được giải phóng.

Đến 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, thành phố Sài Gòn 30 năm bị quân thù chiếm đóng, trong giờ phút lịch sử như vở òa tất cả nỗi tưng bừng, vui sướng tột cùng trong nhịp bước của đoàn quân giải phóng. Dương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của ngụy quyên miền Nam tuyên bố trên đài phát thanh đầu hàng Quân giải phóng vô điều kiện.

Qua báo chí, truyền hình, Sài Gòn tràn ngập cờ hoa, biểu ngữ, nụ cười và nước mắt. Trưa hôm ấy, tổ cán bộ chúng tôi được vào Bộ Tổng tham mưu nghe thông báo chiến thắng, mọi người vui mừng, sung sướng, nước mắt ai cũng tuôn trào. Những khẩu hiệu được tự động hô vang trong hội trường.

- Sài Gòn giải phóng - Miền Nam hoàn toàn giải phóng.

- Toàn thắng đã về ta!

- Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!

- Việt Nam độc lập muôn năm!

30 năm gian khổ, ác liệt, hi sinh, đau đớn, căm hờn đến cực độ có một ngày đất nước nở hoa! Miền Nam đã sạch bóng quân thù. Không làm sao diễn tả hết cảm xúc trong giờ phút lịch sử này.

Đầu tháng 7 năm 1945, tôi được thủ trưởng Tổng cục Chính trị mời vào cơ quan thông báo bức điện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, quyết định cử tôi làm Trưởng đoàn đại diện cho lực lượng vũ trang Quân giải phóng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, cùng đoàn Cựu chiến binh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Đại tá Nguyễn Kiện, Thứ trưởng Bộ thương binh, làm Trưởng đoàn đi dự Hội nghị Cựu chiến binh tại thủ đô Angiê. Để chuẩn bị cho chuyến đi đạt kết quả, Bộ Ngoại giao ta tổ chức quán triệt một số công tác đối ngoại và nguyên tắc đối ngoại. Về Tổng cục Chính trị được đồng chí Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị bồi dưỡng quan điểm lập trường về công tác đối ngoại, dự kiến một số tình huống để khi tiếp xúc, hội đàm, đoàn ta có thể phát biểu và trả lời với bạn. Để chủ động trong công tác, chúng tôi dành một số thời gian nghiên cứu sâu về tình hình đất nước Angiêri như địa lí, dân số, chế độ, tôn giáo và lịch sử hình thành đất nước bạn.

Đầu tháng 8/1975, đoàn chúng tôi từ thủ đô Hà Nội đáp máy bay sang thủ đô Angiê mất hai ngày, một đêm.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:30:29 PM
Điều làm tôi bất ngờ là sự đón tiếp của nước bạn hết sức trọng thị. Lâu nay vốn là một cán bộ trong quân đội chiến đấu ở đồng bằng, rừng núi, chỉ biết hành quân đi bộ hết chiến trường này sang chiến trường khác, chỉ có những tháng về thủ đô, và đi chữa bệnh, mới được sống và sinh hoạt đầy đủ, đi đâu cũng có ô tô đưa đó. Nay đến Angiê, máy bay vừa hạ cánh, nhìn trên sây bay chúng tôi thấy hàng thảm đỏ trải từ chân cầu thang đến nhà khác. Đại diện Bộ Cựu chiến binh của bạn và đại sứ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đại sứ của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam có mặt đón chúng tôi trong tình cảm nồng nhiệt, ấm áp…

Khi chúng tôi đi dự hội nghị, Bộ Quốc phòng giao cho 2 đoàn của nước ta một bộ phim Giải phóng Sài Gòn, một bản đồ diễn biến của chiến dịch giải phóng thành phố Hồ Chí Minh, một khẩu súng colt 12 do quân ta tịch thu của một tên tướng ngụy Sài Gòn để tặng cho Bộ Quốc phòng bạn.

Điều tự hào nhất của 2 đoàn chúng tôi là khi vừa trao tặng bộ phim, thì ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng của bạn yêu cầu đưa vào máy chiếu ngay giữa phòng khách của Bộ Quốc phòng và chúng tôi cùng ngồi xem chung, ai nấy đều vui mừng, phấn khởi.

Ngày thứ nhất, chúng tôi được Thủ tướng Angiêri tiếp và hội đàm. Ngày thứ hai, được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đón tiếp và hội đàm. Ngày thứ ba, được Bộ Cựu chiến binh Angiêri đón tiếp và chiêu đãi.

Trong những ngày dự Hội nghị Cựu chiến binh ở thủ đô Angiê, bạn đón tiếp nhiều đoàn, nhưng buổi sáng nào cũng dành thời gian để tiếp 2 đoàn của Việt Nam một cách hết sức thân tình. Tôi rất vui mừng khi tiếp đoàn Cựu chiến binh của bạn. Hôm đó cả Bộ trưởng,Thứ trưởng và một số quan chức cao cấp của bạn.

Buổi hội đàm bắt đầu. Thông thường đoàn bạn do Bộ trưởng phát biểu chúc mừng 2 đoàn Việt Nam, thăm hỏi sức khỏe, thông báo nội dung và thời gian làm việc tại nước bạn. Tiếp đó tôi thay mặt đoàn Việt Nam thông báo tóm tắt tình hình chiến tranh ở Việt Nam và nói cụ thể chiến thắng mùa Xuân năm 1975 để bạn nghe. Đặc biệt, bạn rất chăm chú nghe diễn biến chiến dịch mùa Xuân và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Khi tôi báo cáo xong, ông Bộ trưởng Cục chiến binh Angiêri lịch sự đứng lên xin phép hỏi tôi. Nội dung như sau;

- Xin bạn cho biết vì sao Việt Nam là một nước nhỏ mà đánh thắng cả 2 nước to là Pháp và Mĩ? Việt Nam là nước nông nghiệp chưa có nền công nghiệp hiện đại mà các bạn có đủ vũ khí đánh bại được đế quốc Mĩ.

Tôi lắng nghe, qua phiên dịch và trả lời như sau:

Việt Nam đất nước chúng tôi đất không rộng, người không đông, kinh tế còn lạc hậu, công nghiệp chưa phát triển nhưng chúng tôi đã đánh thắng được 2 đế quốc to là Pháp và Mĩ vì những nguyên nhân sau đây:

- Dân tộc Việt Nam chúng tôi có tinh thần yêu nước nồng nàn, có truyền thống chống ngoại xâm, là một dân tộc bất khuất không chịu làm nô lệ. Qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước có lúc bị nước lớn xâm lược nhiều năm, nhưng dân tộc Việt Nam luôn đứng dậy chống xâm lược dành độc lập cho dân tộc, cho Tổ quốc. Thời đại Hồ Chí Minh nhân dân chúng tôi thấm nhuần lời của lãnh tụ Hồ Chí Minh đã dạy: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. “Thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.

- Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ của dân tộc Việt Nam chúng tôi có Đảng cách mạng lãnh đạo, có đường lối quân sự đúng đắn, có chính sách tập hợp lực lượng, đoàn kết được dân tộc triệu người như một, đồng tâm nhất trí cả nước đứng lên đánh đuổi ngoại xâm quyết chiến và quyết thắng, không chịu lùi bước.

- Chúng tôi có một quân đội nhân dân anh hùng, cán bộ chiến sĩ dũng cảm, ngoan cường dám hi sinh, chịu đựng gian khổ, xả thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, chiến đấu đến cùng đi đến thắng lợi.

- Cuộc chiến đấu của dân tộc Việt Nam chúng tôi được bạn bè quốc tế giúp đỡ về vật chất và tinh thần, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghĩa anh em như Liên Xô, Trung Quốc… cộng với ý thức tự lực tự cường của dân tộc, chúng tôi đã thực hiện đánh lâu dài buộc quân địch to và mạnh như Pháp và Mĩ cũng phải chịu thất bại hoàn toàn.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:31:13 PM
Những nội dung tôi phát biểu, cả hội trường lắng nghe chăm chú và hoan nghênh, vỗ tay rầm rộ. Ông Bộ trưởng Bộ Cựu chiến binh của bạn phát biểu lời cảm ơn chân thành, ông nói: “Chính phủ nước Cộng hòa Angiêri, nhân dân Angiêri xin cảm ơn ác bạn Việt Nam. Nhân dân nước bạn đã nêu tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng của một dân tộc cho chúng tôi học tập. Cũng nhờ gương chiến đấu của các bạn cho nên năm 1962, nhân dân chúng tôi đã đứng dậy chống ách cai trị của thực dân Pháp và giành lấy độc lập. Trong khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, trong đội quân của Pháp có những người dân Angiêri bị bắt đi lính đưa sang miền Nam chống lại nhân dân Việt Nam. Khi Việt Nam thắng lợi, những người Angiêri đi lính Pháp bị bắt làm tù binh, nhưng được các bạn Việt Nam có lượng khoan hồng đã giáo dục cải tạo họ thành người tốt. Được giác ngộ ý thức dân tộc và khi được các bạn trả họ về nước, những người đó trở thành lực lượng nòng cốt trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước Angiêri, tôi xin thay mặt Chính phủ và nhân dân Angiêri cảm ơn các bạn”

Hơn một tháng dự hội nghị và được đi tham qua những nơi làm dầu khí và một số địa phương ở các tỉnh, tôi thấy tình hữu nghị của Angiêri đối với Việt Nam rất đáng quý. Họ vừa quý mến vừa thiện cảm, vừa kính nể và khâm phục cuộc chiến đấu của nhân dân ta. Không những các bạn Angiêri đối với Việt Nam như vậy mà tôi được tiếp xúc với đại biểu các nước Châu Phi như: Tuynidi, Marốc… và một số nước Châu Mĩ La Tinh họ đều quý mến đất nước Việt Nam, nhân dân và Việt Nam và Bác Hồ của chúng ta sâu sắc.

Ngày 30/8/1975, từ thủ đô Angiê đoàn chúng tôi về Hà Nội, báo cáo kết quả dự hội nghị với Tổng cục Chính trị.

Tháng 10/1975, Tổng cục Chính trị có quyết định tôi về làm chính ủy Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (hợp nhất 2 tỉnh Quảng Đà và Quảng Nam thành Quảng Nam - Đà Nẵng).

Tháng 11/1975, tôi có mặt tại Bộ chỉ huy quân sự, lúc đó chỉ huy trưởng là đồng chí Phan Hoan, chỉ huy phó là đồng chí Nguyễn Bá Phước, Lê Hải Lí, Trần Quang Hải và đồng chí Nguyễn Văn Thí tham mưu trưởng, đồng chí Lê Công Thạnh, đồng chí Trịnh Ngoạn là phó chính ủy. Tôi được bổ nhiệm là Chính ủy Bộ chỉ huy quân sự và được bổ sung Thường vụ Tỉnh ủy, làm Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.

Sau ngày giải phóng công việc rất bề bộn. Bộ chỉ huy tuy đông được phân công cụ thể, nhưng cũng không làm hết được công việc. Điều vui nhất là tất cả chúng tôi đều hồ hởi, phấn khởi, cùng nhau cộng tác chặt chẽ để lãnh đạo công tác. Cứ 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng chúng tôi có nghị quyết đề ra cho chương trình làm việc sắp tới. Những việc trọng tâm lúc đó là:

1. Thống nhất quan điểm chủ trương đi vào biên chế tổ chức các đơn vị Chính quyền và Đảng để xây dựng đơn vị từng bước tiến lên chính quy hiện đại. Đơn vị ở đất liền, biển, đảo, biên giới đủ mạnh đảm bảo toàn vẹn địa bàn lãnh thổ trật tự, an toàn xã hội và sẵn sàng chiến đấu cao.

2. Chăm lo xây dựng lực lượng tập trung của tỉnh, và xây dựng cả lực lượng dân quân tự vệ ở cơ sở cho từng địa phương.

3. Chỉ đạo cho các đơn vị và địa phương phá gỡ bom mìn, khai hoang phục hóa lấy đất cho nhân dân và lực lượng vũ trang tăng gia sản xuất, tự túc lương thực giải quyết bớt khó khăn. Cũng trong thời gian này, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh tổ chức 2 trường văn hóa, một truường ở Hội An tập trung 700 quân nhân, một trường ở Tam Kì tập trung 600 anh chị em, cán bộ, chiến sĩ về học tập văn hóa. Những người chưa học qua lớp 1 thì học cho hết chương trình tiểu học. Những anh chị em đã học đến tiểu học thì được học bổ túc hết chương trình cấp 3. Sau đó Bộ chỉ huy quân sự tỉnh mới rút một số đi đào tạo ở các trường quân sự, chính trị, kinh tế và chọn một số đồng chí đi học đại học để trở thành kĩ sư, bác sĩ và sĩ quan phục vụ lâu dài trong quân đội.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:33:08 PM
Một vấn đề quan trọng trong lúc này là việc giải quyết chính sách sau chiến tranh đối với thương binh, bệnh binh và liệt sĩ trong các đơn vị. Việc quy tập mồ mả cũng bắt đầu được triển khai.

Đầu năm 1976, được lệnh của Bộ Tư lệnh Quân khu, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, tổ chức biên chế lại trung đoàn 96 với 2.400 quân để đi xây dựng kinh tế trồng bông ở Thuận Hải. Đồng thời Bộ chỉ huy quân sự tỉnh điều động gần 500 cán bộ đi tăng cường cho các xã, huyện, nhất là các địa phương ở Tây Nguyên, vùng sâu và vùng xa. Việc làm này tuy đơn giản nhưng lúc đầu gặp phải một số khó khăn. Suốt 21 năm chiến đấu đến thắng lợi, đất nước mới giải phóng, cán bộ chiến sĩ đều có tâm lí muốn được nghỉ ngơi để ổn định gia đình, học tập và chữa bệnh… Nhưng do yêu cầu của Đảng các cán bộ, chiến sĩ vui vẻ trở lại nhận công tác mới.

Cũng vào năm 1976, thực hiện chủ trương phát triển kinh tế của Tỉnh ủy và UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, Bộ Chỉ huy quân sự Quảng Nam - Đà Nẵng tổ chức một trung đoàn mang tên 885, đi làm thủy lợi, với quân với 2.400 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Nguyễn Bá Phước, chỉ huy phó Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, làm trung đoàn trưởng trung đoàn 885, đồng chí Lê Đông Phong làm chính ủy trung đoàn, đồng chí Nguyễn Xuân Chư làm trung đoàn phó để đi tham gia xây dựng công trình đại thủy nông Phú Ninh, bảo đảm nguồn nước tưới cho 5 huyện đồng bằng phía nam của tỉnh, khắc phục tình trạng nông nghiệp của nửa tỉnh phía nam dựa vào nước trời không bảo đảm lương thực hằng năm cho nhân dân.

Ngày 29/3/1977, Thường vụ Tỉnh ủy và UBND tỉnh, tổ chức khởi công công trình đại thủy nông Phú Ninh, bộ chỉ huy quân sự tỉnh đặt 29 quả mìn, cho nổ làm hiệu lệnh khởi công, để suốt 2 năm 1977, 1978, trung đoàn làm thủy lợi của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, lao động quên mình dãi nắng dầm sương, làm nòng cốt cho nhân dân trong những đợt cao điểm hoàn thành việc đắp đập làm kênh mương đưa dòng nước mát tưới cho những cánh đồng lúa trì khô hạn trở thành những cánh đồng gieo cấy hai ba vụ năm. Tôi còn nhớ vụ đầu tiên ở Tam Xuân, một bà mẹ chiến sĩ đã rơi nước mắt nhớ con, khi được đong những ang lúa vàng trong kho hợp tác.

Mẹ cười giọt lệ rơi theo
Lúa ơi! Có Đảng mới nhiều thế ri.
Thương con từ lúc ra đi
Ánh lên trong mắt xanh rì đồng chiêm
(1)

Đến nay đã 25 năm trôi qua, nhìn lại công việc làm của lực lượng vũ trang của tỉnh đã góp phần để lại cho quê hương những công trình no ấm. Nếu như hồi chiến tranh chúng tôi cống hiến máu xương cho Tổ quốc, thì sau giải phóng chúng tôi cũng lao động quên mình, có lúc không nghỉ Tết, nghỉ lễ, chủ nhật, say mê công tác, làm việc vô tư. Tôi nhớ mãi sự lãnh đạo của Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng, cảc đồng chí đã quan tâm chăm sóc động viên, giải quyết tinh thần tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong thơi kì đầu của công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng quê hương đất nước.

Đầu năm 1978, theo yêu cầu xây dựng và phát triển quân đội, tôi được cấp trên cho đi học tại Học Viện quân sự cấp cao. Cuối tháng 2 năm 1979, tôi tốt tột nghiệp Học viện cấp cao và được Chính phủ và Bộ Quốc phòng phong quân hàm Thiếu tướng, về làm Phó chính ủy Quân khu 5.

Tôi về Quân khu vào giữa tháng 2/1979, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lúc này do đồng chí Thiếu tướng Đoàn Khuê làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu. Đồng chí Trần Bá Khuê, làm Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng, đồng chí Vương Tuấn Kiệt, Huỳnh Hữu Anh, Lê Thành Văn làm Phó tư lệnh, tôi - Nguyễn Huy Chương làm Phó Chính ủy Quân khu, Phó Bí thư Đảng ủy Quân khu (Đồng chí Đoàn Khuê sau này là Đại tướng, ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Quốc phòng. Đồng chí đã qua đời năm 1999).


(1) Trong bài Lúa ơi của nhà thơ Thu Hồng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:33:54 PM
Địa bàn Quân khu 5 khá rộng so với các Quân khu khác. Có chiều dài từ đèo Hải Vân đến huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, trên 1.000km, chiều ngang trên đất liền có nơi rộng nhất đến 200km, nơi hẹp nhất 70km. Vùng biển có tới 100 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có cụm đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Vùng Tây Nguyên và miền tây các tỉnh, rừng núi bạt ngàn, nhiều sông ngòi đổ ra biển Đông. Đường biên giới phía tây Quân khu có chung với các nước Campuchia 342km và Cộng hòa nhân dân Lào 282km. Lúc này địa bàn Quân khu gồm 8 tỉnh: Quảng Nam - Đà nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Thuận Hải, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Gia Lai - Kon Tum, đến nay tách các tỉnh cũ ra, thì có 12 tỉnh và thành phố.

Quân khu 5 có vị trí chiến lược rất quan trọng. Lịch sử đấu tranh chống xâm lược của các dân tộc anh em trong toàn Quân khu thật vô cùng anh dũng, bất khuất, đã cùng cả nước làm thất bại âm mưu, hành động xâm lược, cai trị của thực dân Pháp, đế quốc Mĩ và các thế lực phản động khác ở trên địa bàn rộng lớn và giàu tài nguyên này.

Về Quân khu, do yêu cầu công tác, tôi đề nghị được đi các địa phương đơn vị để tiếp xúc, nắm tình hình của tỉnh, của sư đoàn, binh đoàn làm kinh tế, các nhà trường, bệnh viện, liên tục gần 20 ngày, nhưng cũng chỉ đến được các đơn vị trên cơ sở. Tuy vậy, bước đầu cũng cho tôi có khái niệm chung nhất để từ đó bắt tay vào công việc thuận lợi hơn. Quay về họp Đảng ủy Quân khu nắm trọng tâm công tác. Nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Quân khu lúc bấy giờ là:

Từ những công tác cấp bách trước mắt là, tiếp tục triển khai các đơn vị chiến đấu bảo vệ Tổ quốc phía tây nam và đương làm nghĩa vụ quốc tế ơ Campuchia, đến công tác thường xuyên xây dựng và củng cố lực lượng chủ lực, lực lượng địa phương, tỉnh huyện, đến dân quân tự vệ ở cơ sở xã phường có số lượng hợp lí, chất lượng cao, sẵn sàng chiến đấu giành thắng lợi trong mọi tình huống và luôn giữ vững an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội; tiếp tục xây dựng các đơn vị làm kinh tế đứng chân trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, ổn định sản xuất; thực hiện quan điểm kết hợp kinh tế, quốc phòng, kinh tế với an ninh thật chặt chẽ, cùng với Đảng bộ và chính quyền địa phương các tỉnh tiến hành việc giáo dục vận động giải quyết vấn đề Phun rô do Pháp và Mĩ để lại. Về xây dựng lực lượng, Quân khu trực tiếp chỉ đạo kế hoạch phòng thủ trên địa bàn, cụ thể là; xây dựng tỉnh và thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Quân khu trực tiếp kiểm tra, tổ chức, củng cố các trường của tỉnh và Quân khu, bảo đảm liên tục đào tạo đội ngũ cán bộ, quân sự, chính trị, hậu cần kinh tế, văn hóa, nghiệp vụ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của các đơn vị. Chăm lo xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh đủ sức lãnh đạo hoàn thành các mặt công tác. Do yêu cầu đặc biệt của Tây Nguyên, tháng 5 năm 1979, Quân khu chủ trương tổ chức Trường quân chính Tây Nguyên để bổ túc đào tạo cán bộ chỉ huy, lãnh đạo cho các dân tộc Tây Nguyên, và miền tây các tỉnh.

Ngoài ra, Quân khu còn giải quyết những vấn đề chính sách sau chiến tranh như quy tập mộ liệt sĩ, chính sách thương binh trong chiến tranh còn lại và tiếp nhận số thương bệnh binh đang chiến đấu ở chiến trường. Có thể nói một khối lượng công việc khổng lồ, việc nào cũng khẩn trương, cấp bách. Nhưng nhờ có sự đoàn kết, thống nhất và sự nhạy bén của Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu chia nhau công việc, tất cả cán bộ, chiến sĩ đều say sưa công tác nên mọi việc được triển khai đồng bộ và ổn định. Tuy có nhiều đồng chí trong Bộ Tư lệnh Quân khu cũng như các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, kĩ thuật, kinh tế đều là những cán bộ gắn bó với chiến trường, đã trải qua 2 cuộc chiến tranh, từng trải kinh nghiệm, nhiệt tình công tác, ai nấy cũng chung một ý chí là xây dựng lực lượng vũ trang Quân khu lớn mạnh để đảm đương một hướng chiến lược quan trọng của đất nước.

- Về cơ chế và tổ chức, được Bộ Chính trị chỉ cho quyết định các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy trên địa bàn Quân khu và thành viên của Đảng ủy Quân khu, giữ vững chế độ sinh hoạt định kì 3 tháng, 6 tháng, hằng năm họp bàn bạc và ra nghị quyết cụ thể lãnh đạo, tạo được sự thống nhất về chủ trương trên các mặt toàn Quân khu. Vì vậy sức mạnh của lãnh đạo được tăng lên. Các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy xem nhiệm vụ của Quân khu như công việc của tỉnh mình và đã giúp đỡ, đóng góp cả sức người, sức của để Quân khu hoàn thành tốt trong chiến đấu và xây dựng.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:34:59 PM
Qua những năm công tác và chiến đấu, tôi được học tập ở các anh trong Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu về nhiều mặt, và đã có nhiều kỉ niệm đáng nhớ, trong đó có đồng chí Đoàn Khuê, người chỉ huy và lãnh đạo luôn gương mẫu, trong sinh hoạt, giữ vững nguyên tắc, khi đã có nghị quyết của Đảng ủy thì bất cứ một đồng chí nào cũng phải chấp hành nghiêm chỉnh, không ai được nói và làm trái nghị quyết. Thái độ nghiêm túc đó có tác dụng giữ vững kỉ cương và nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Ở đồng chí biểu hiện quan điểm tư tưởng đúng đắn, có tầm nhìn xa và lâu dài, như việc đồng chí đã đề xuất vấn đề xây dựng Trường quân chính 2 để đào tạo đội ngũ cán bộ là người các dân tộc anh em, để đảm đương công việc ở miền núi, Tây Nguyên. Đồng chí đề ra việc tổ chức nhà trường phải có các phân khóa, bổ túc bồi dưỡng toàn diện từ dạy văn hóa đến quân sự, chính trị, từ cấp thiếu úy đến đại úy người dân tộc ở Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh, để khi ra trường có thể đảm nhiệm chức trách từ cấp huyện trở lên. Đặt vấn đề với Thường vụ Đảng ủy Quân khu bàn với các tỉnh, chọn các cháu con em dâu tộc từ 8 tuổi đến 15 tuổi, có sức khỏe tốt đưa về trường quân chính Tây Nguyên tổ chức học văn hóa từ lớp 1 đến lớp 12, từ đó chọn đưa vào các trường lục quân, pháo binh, kĩ thuật để đào tạo thành sĩ quan phục vụ lâu dài trong quân đội. Nhờ có quan điểm đúng đắn, có tầm nhìn chiến lược đã tạo điều kiện cho Quân khu trong 20 năm qua, có được hàng ngàn cán bộ con em các dân tộc được đào tạo cơ bản, phục vụ cho quân đội và tạo niềm tin đối với đồng bào, đồng chí dân tộc. Về vấn đề làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn ở Campuchia, Đồng chí Đoàn Khuê cũng như tập thể Ban Thường vụ - Bộ Tư lệnh Quân khu nhận thức rõ và nghiêm chỉnh chấp hành sự giáo dục sâu sắc của Bác Hồ lúc sinh thời. Bác nói: “Giúp bạn là tự giúp mình”. Nhờ vậy cho nên Quân khu đã triển khai trong toàn đơn vị một đợt giáo dục về nghĩa vụ quốc tế, nêu rõ việc giúp bạn của quân tình nguyện Việt Nam đặt ra 3 bước cụ thể:

Bước 1: Do hành động dã man của bọn diệt chủng Pôn Pốt đã đánh phá ác liệt, cơ sở chính trị của bạn bị tan nát, khi ta đến nơi bắt đầu tổ chức lực lượng, bạn chưa quen điều hành công việc, vì vậy công việc chủ yếu ta phải đảm đương. Khi đã thành công được chính quyền, đoàn thể chính trị, lực lượng vũ trang, phục hội kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất (bệnh viện, trường học, cơ quan) giúp cho bạn làm được việc, là nhiệm vụ chủ yếu của ta lúc đó.

Bước 2: Qua thời gian công tác, bạn đã có bộ máy chính quyền, đoàn thể quần chúng, có lực lượng vũ trang, bạn có thể chủ động điều hành công việc, lúc này ta và bạn hợp tác hoạt động, đồng thời tiếp tục bồi dưỡng giúp bạn các mặt để bạn đảm đương nhiệm vụ lãnh đạo đất nước và chiến đấu bảo vệ đất nước.

Bước 3: Bạn đã trưởng thành mọi mặt, đất nước ổn định, lúc này vai trò của bạn là chính, ta chỉ giúp bạn những việc bạn còn hạn chế.

Trải qua thực tế công tác của các bước, chuyên gia và quân tình nguyện của ta đã làm và đã đạt được kết quả đáng phấn khởi và quý trọng tình hữu nghị vốn có từ lâu đời giữa hai đất nước.

Trong công tác giáo dục tư tưởng cho quân tình nguyện và chuyên gia, Quân khu đã đặc biệt quan tâm xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có một tinh thần nghĩa vụ quốc tế vô tư, trong sáng, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng của bạn. Tôi còn nhớ trong chỉ thị của Thường vụ và mệnh lệnh của đồng chí Đoàn Khuê, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu đã nêu rõ cho bộ đội tình nguyện Quân khu sang giúp bạn phải nghiêm chỉnh thực hiện mấy chữ: “Dùng nước suối để ăn, dùng củi rừng để đốt, hít thở không khí trên đất bạn”. Quân tình nguyện về chuyên gia trong những ngày chiến đấu và công tác gặp vô vàn khó khăn, gian khổ nhưng tuyệt đối không vi phạm, không lấy bất cứ một thứ gì của nhân dân nước bạn.

Nhìn lại những quan điểm tư tưởng, tác phong lãnh đạo của đồng chí Đoàn Khuê cũng như trong tập thể Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu lúc bấy giờ, trở thành bài học kinh nghiệm mà bản thân tôi không thể nào quên.


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:36:18 PM
Trong 10 năm sang giúp bạn, bộ đội Quân khu 5 đã để lại cảm tình và ấn tượng sâu sắc. không chỉ đối với nhân dân Campuchia, mà có lần Thủ tướng Hunsen đã nói: “Quân tình nguyện Việt Nam đã sang đúng lúc, giúp Campuchia cứu nguy dân tộc, đập tan nạn diệt chủng, giải phóng đất nước Campuchia. Chúng tôi rất biết ơn các bạn đời đời…”. Cũng như lời của một nhà lãnh đạo cấp cao Campuchia bày tỏ: “Lực lượng quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam sang đây là “đội quân nhà Phật”, làm việc nghĩa cứu đời”.

Năm 1989, thắng lợi trên mặt trận quân sự có tác động mạnh mặt trận ngoại giao, tình hình chính trị trên bán đảo Đông Dương ổn định, lực lượng vũ trang và chính quyền cơ sở của bạn làm tốt chức năng bảo vệ nhân dân, bảo vệ đất nước Campuchia. Trong phiên họp cấp cao năm 1989, Quốc hội và Chính phủ 2 nước Việt Nam và Campuchia thống nhất để quân tình nguyện Việt Nam rút về nước, kết túc giai đoạn quân đội cách mạng Việt Nam làm nghĩa vụ quốc tế cao cả ở nước ngoài.

Đến năm 1994, sau 14 năm làm Phó Tư lệnh, Bí thư Đảng ủy Bộ Tư lệnh Quân khu 5, tôi nhận quyết định cấp trên cho nghỉ hưu ở tuổi 69. Hơn 50 năm công tác, chiến đấu,[462] gắn bó cuộc đời với sự trưởng thành của quân đội, tôi chưa có thời gian chuẩn bị cho cuộc sống trở về đời thường của một công dân sau bao năm chinh chiến. Tuy nhiên tôi nghĩ: “Rồi tất cả sẽ thích nghi với cuộc sống như mọi người quanh tôi”.

Cuộc hội ngộ đầu tiên trên quê hương tôi, đó là cuộc gặp mặt các Mẹ anh hùng được Đảng, Quốc hội, Nhà nước phong tặng đợt đầu. Các đồng chí, đồng đội của tôi ở quê nhà qua hai cuộc trường chinh giải phóng, hôm ấy cũng có mặt rất đông. Nỗi mừng vui xúc động, hòa quyện tình cảm thương yêu trước tập thể những người Mẹ anh hùng luống tuổi trên quê hương Quế Sơn - quê tôi, đã chịu nhiều hi sinh mất mát, dồn nén bấy lâu nay trong tôi. Tôi vội ghi lại cảm xúc đó với tấm lòng vời vợi, đọc trước các mẹ và đồng chí, bạn bè:

“Con về thăm mẹ hôm nay.
Gió ru khúc hát những ngày chờ mong
Nghiêng soi dòng nước trăm sông
Ngời trong mắt mẹ tấm lòng thủy chung
Mẹ cười mái tóc bạc rung
Lệ trên mắt mẹ ngập ngừng giọt vui
Mẹ ơi! Nắng tỏa vàng rơi
Cho con trẻ lại giữa trời quê hương”.

               (Mẹ yêu thương - NHC)

Tôi đã trở về trên mảnh đất quê nhà sau hơn nửa thế kỉ dong ruỗi trên con đường chiến trận Những vùng đất tôi đã qua, những con người tôi đã gặp. Những người cha, người mẹ,[463] người chị, người anh và đồng chí, bạn bè, có người đã ra đi vĩnh viễn, nhưng tất cả đều là hình ảnh và tấm tương tuyệt vời, trong sáng, sống trọn tình nghĩa thủy chung son sắc, cùng chí hướng, cùng lí tưởng, hi sinh chiến đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thân yêu.

Con đường mà tôi đã chọn và đã đi, có lắm buồn vui và hạnh phúc, có lúc vấp váp khuyết điểm, cũng là lẽ thường tình trong đời người, mấy ai tránh khỏi. Những thời gian và không gian, ý chí và nghị lực là môi trường và điều kiện để rèn luyện, thử thách, giúp tôi vượt qua và đã sống trong sự đùm bọc, giáo dục, tin yêu của Đảng, của nhân dân và của đồng đội. Trong tôi CHỈ CÓ MỘT CON ĐƯỜNG - đó là lí tuỏng Cộng sản cao đẹp, là niềm tin không gì lay chuyển nỏi vào thắng lợi của cách mạng, vào sức mạnh của nhân dân, vào lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, mà tôi và đồng đội đã sống và chiến đấu dưới ánh sáng soi đường của Đảng và Bác Hồ kính yêu.

Quê hương đất nước đã trải qua 30 năm chiến tranh và đã 26 năm độc lập thống nhất. Đất nước quê hương đã và đang đổi thay từng ngày đang chuyển mình và phát huy sức mạnh truyền thống trong công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đó là ước mơ, khát vọng hàng nghìn đời nay của dân tộc.

Đà Nẵng, 29-3-2001


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:37:12 PM
(http://img18.imageshack.us/img18/8122/78583325.jpg)

(http://img689.imageshack.us/img689/6677/46116611.jpg)

(http://img141.imageshack.us/img141/2161/96713382.jpg)

(http://img525.imageshack.us/img525/6992/77060453.jpg)


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:38:08 PM
(http://img687.imageshack.us/img687/7809/49505173.jpg)

(http://img205.imageshack.us/img205/2927/48205555.jpg)

(http://img440.imageshack.us/img440/3315/58107433.jpg)

(http://img443.imageshack.us/img443/4039/97234024.jpg)


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:40:19 PM
(http://img87.imageshack.us/img87/2681/65503818.jpg)

(http://img703.imageshack.us/img703/752/12bxb.jpg)

(http://img202.imageshack.us/img202/3092/99335099.jpg)

(http://img23.imageshack.us/img23/9581/12an.jpg)


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:41:14 PM
(http://img259.imageshack.us/img259/552/98488781.jpg)

(http://img524.imageshack.us/img524/6319/43027113.jpg)

(http://img339.imageshack.us/img339/8162/33726512.jpg)

(http://img209.imageshack.us/img209/9716/82052188.jpg)


Tiêu đề: Chỉ một con đường - Trung tướng Nguyễn Huy Chương
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2011, 02:41:52 PM
(http://img526.imageshack.us/img526/6005/31974547.jpg)

(http://img145.imageshack.us/img145/2687/10aq.jpg)

(http://img6.imageshack.us/img6/7610/10bdv.jpg)

(http://img801.imageshack.us/img801/4171/11ae.jpg)