Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: ptlinh trong 12 Tháng Sáu, 2008, 10:19:51 PM



Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 12 Tháng Sáu, 2008, 10:19:51 PM
Tác giả: Nhật ký của liệt sĩ Trần Duy Chiến
Biên soạn: Đặng Vương Hưng
Nhà xuất bản: Hội nhà văn
Năm xuất bản: 2005
Số hoá: ptlinh


Có một người lính xa Đà Thành “Tây tiến”, mang tên Trần Duy Chiến

Lời tựa của nhà thơ
Đặng Vương Hưng

Xin được nói ngay rằng: Trần Duy Chiến không phải thế hệ những người lính cùng thời với nhà thơ Quang Dũng - tác giả của bài “Tây tiến" bất hủ. Bởi Quang Dũng viết "Tây tiến" trong kháng chiến chống Pháp, còn nhật ký của Trần Duy Chiến được viết trong Cuộc chiến tranh giữ nước và làm nghĩa vụ quốc tế với nhân dân Cam-pu-chia. Cuộc chiến đấu của họ cách nhau gần 30 năm, nhưng lại có một điểm chung, đó là: Cùng hành quân về phía Tây, cùng chiến đấu xa Tổ quốc, cùng tình nguyện làm nghĩa vụ quốc tế cao cả và bảo vệ quê hương yêu dấu... Vì thế, chúng tôi xin được mượn tứ của bài thơ để làm đề tựa cho cuốn sách này.


Trần Duy Chiến sinh năm 1957, quê gốc tại xã Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nhưng sinh trưởng tại, thành phố Đà Nẵng, (trong những trang viết của mình, Chiến rất thích gọi là “Đà Thành"). Chiến không phải là người lính của Cuộc kháng chiến chống Pháp hay chống Mỹ cứu nước. Nhưng anh được kế thừa và sinh trưởng từ hai cuộc kháng chiến đó, được ấp ủ bởi những giấc mơ và niềm tự hào của một dân tộc anh hùng. Và cuối cùng, anh đã trở thành một trong hàng vạn chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam, tham gia “Cuộc chiến tranh bắt buộc" với tất cả tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh và ý nghĩa cao cả của nó.
Những trang nhật ký của Trần Duy Chiến trong cuốn sách này mờ ra từ ngày 7-10-1978, khi anh mới nhập ngũ, huấn luyện tại Quân trường Mỹ Thị (Đà Nẵng) và khép lại vào ngày 25-6-1980, (trước khi anh hy sinh gần một tháng) tại vùng biên giới cực tây của đất nước Cam-pu-chia.


Đọc nhật ký của Trần Duy Chiến, ta bắt gặp một con người lạ, một giọng điệu lạ, không khiên cưỡng trong một thể loại văn học hay nghệ thuật gì và cũng chẳng gò bó trong một cái khuôn khổ hay một sự chi phối nào,... tất cả cứ hồn nhiên mà giãi bày cảm xúc, nghĩ suy của cá nhân mình với cây cỏ, với thiên nhiên và với con người của một thời...


Có thể nói qua những trang nhật ký của Trần Duy Chiến, lần đầu tiên bạn đọc hiểu được những tâm trạng, suy nghĩ, hành động rất thật của một người lính đã từng sống, chiến đấu và ngã xuống tại mặt trận 479 năm xưa. Hãy nghe anh tâm sự từ những ngày đầu nhập ngũ: "Có lắm lúc tôi muốn vụt bay ra khỏi quân trường này, nhưng liền sau đó lại thôi. Tôi không thể làm như thế được. Mọi người thanh niên đều nghĩ rồi làm như tôi, thì lấy ai đứng ra cầm súng giữ nước? Tôi không phải là cách mạng, nhưng tôi suy nghĩ rất nhiều. Nếu mình không trực tiếp cầm súng đứng lên để bảo vệ Tổ quốc, thì mình cũng sẽ chết sau khi giặc ngoại xâm chiếm được Tổ quốc mình."


Trần Duy Chiến đã quyết định ra đi chiến đấu từ những suy nghĩ giản đơn nhưng rất ý nghĩa như thế. Tuy anh chưa thật sự hiểu hết tính chất của cuộc chiến mình đang sắp tham gia. Không sục sôi như những tình khúc của tuổi trẻ một thời "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Mà lòng phơi phới dậy tương lai...”, nhưng sự ra đi của lớp thanh niên lúc bấy giờ mà Trần Duy Chiến là một đại diện vẫn chứa đựng nhiều chất bi hùng...


Xuyên suốt nhật ký của Trần Duy Chiến, là nỗi nhớ quê hương da diết đến khắc khoải - cái tâm trạng của những người đi xa... Những ngày đầu từ giã gia đình đến Tây Nguyên, thiên nhiên và con người nơi đây đã để lại trong anh những ấn tượng đẹp, nhẹ nhàng, bởi anh luôn nghĩ rằng đâu cũng là quê hương, là đất nước thân yêu của mình. Song từ trong sâu thẳm trái tim của người lính trẻ vẫn khôn nguôi day dứt khi nhớ về Đà Thành - nơi chôn rau cắt rốn, nơi tuổi thơ anh trôi qua thật êm đềm và đầy ắp kỷ niệm...


Đến khi đã thật sự rời xa Tổ quốc, sống trong những khu rừng biên giới của Cam-pu-chia, nỗi nhớ ấy càng nhân lên đến xót xa, thậm chí có lúc còn tạo nên tâm lý u uất, chán chưởng không thể diễn tả được... Nhưng cũng như đồng đội, Trần Duy Chiến luồn xác định được vị trí và nhiệm vụ vẻ vang: Chiến đấu tiêu diệt kẻ thù cho bạn cũng chính là bảo vệ hòa bình cho quê hương Tổ quốc mình. Cho dù cuộc sống của người lính viễn chinh vô cùng gian khổ, khó khăn và thiếu thốn trăm bề. Ở những nới ấy, các anh hầu như không còn ý niệm về thời gian, mà dường như chỉ còn chỉ nhớ mang máng về những thời điểm, thời khắc, những đoạn đường mình đã đi qua, những ấn tượng ban đầu... Và tất cả những điều đó được Trần Duy Chiến diễn tả rất tự nhiên, rất sống động trong nhật ký.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 12 Tháng Sáu, 2008, 10:20:47 PM
Ngày đầu ngồi gác trong đêm, giữa rừng sâu, lúc nào anh cũng nơm nớp lo sợ địch (trong nhật ký, anh thường ghi tắt là "K" - tức lính Pôn-pốt) mò đến phục kích. Chỉ cần một con sóc, con chồn lướt trên lá khô cũng làm anh giật mình thảng thốt... Cái chết luôn rập mình và nằm trong gang tấc: "Cứ mỗi chiều, khi chút nắng vàng còn đậu lại trên chóp đầu cây thốt nốt trước nhà, là tôi lại một lần lo lắng: không biết đêm nay địch có tập kích vào nơi tôi ở không? Đó là câu hỏi thường hiện lên trong tôi vào những lúc trời chập choạng tối. Để đến lúc ông mặt trời ló chiếc đầu đỏ hói từ phương đông nhìn sang, thì câu hỏi của tôi mới được trả lời - đêm qua địch không tập kích tôi vẫn còn sống và tiếp tục một ngày mới. Cứ thế ngày này nối ngày kia trôi nhanh qua trong sự lo lắng khiến tôi chẳng nhớ rõ ngày nào là ngày nào cả." (2-8-1979).


Vậy mà sau những ngày dài hành quân truy quét địch mệt mỏi, tận mắt chứng kiến những xác người bị lính Khơme đỏ giết một cách man rợ trong những khu rừng, người lính ấy chai dạn dần, tự đặt ra những tình huống xấu sẽ xảy ra với mình, đón nhận những điều đau thương nhất một cách bình tĩnh... Chiến tranh dường như đã giết đi một phần tâm hồn của người lính trẻ.


Tuy nhiên, không phải vì thế mà Trần Duy Chiến thôi không suy nghĩ, thôi không ước mơ. Những lúc rãnh rỗi, vắng tiếng súng địch, thậm chí ngay cả lúc đang đi truy quét hay phục kích anh vẫn đều đặn ghi nhật ký. Nhiều trang viết của anh thật sự là những trang ghi chép văn học với những cảm nghĩ đẹp lạ lùng: "Tôi như cánh cò hoang dưới chiều nhạt nắng, lang thang tìm chút dư hương trên đồng vắng lững lờ, không nơi trú ẩn. Cò bay mãi cho tôi được nhìn quê hương qua đôi mắt nhỏ. Tôi không mơ bạc vàng hay châu báu. Tôi chỉ giữ lại trong tôi một buổi chiều khi nắng vàng len lén vướng hồn tôi”. (11-12-1978).


Một phần lớn những trang sổ ghi nhật ký của Trần Duy Chiến dành để chép những bài thơ do anh sáng tác. Bài ngắn chỉ có 4 câu, bài dài nhất "Một cuộc tình" anh viết ngày 8-2-1979 "để kỷ niệm mối tình tan vỡ" của mình dài tới 140 câu! Hơn 70 bài thơ như thế đã được Chiến làm trong khoảng thời gian hơn một năm. Rất tiếc, vì khuôn khổ số trang có hạn, nên trong cuốn sách này, chúng tôi chỉ giới thiệu được 40 bài thơ của anh. Nhưng chừng ấy cũng đủ để chứng minh phẩm chất thi sĩ trong con người anh lính trận Trần Duy Chiến.


Tôi có cảm giác Chiến làm thơ rất dễ dàng: Đi nướng sắn trong rừng, bỏ quên chiếc khăn tay, bị chỉ huy đơn vị phê bình, đi phục bị muỗi đốt... Hình như nỗi buồn vui nào cũng có thể khiến anh viết thành thơ. Tôi không vội vàng khi khẳng định rằng: nếu như không hy sinh, rất có thể Trần Duy Chiến sẽ trở thành một nhà thơ tài danh của đất nước! Những bài thơ có trong phần phụ lục của tập sách này chỉ là hé mở tài năng của anh - Một tâm hồn thi ca có thật, đã mãi mãi ra đi cùng hàng vạn chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam trên đất Cam-pu-chia ngày ấy.


Vì là người thích làm thơ, nên nhiều đoạn nhật ký của Chiến cũng viết như thơ văn xuôi. Đó chính là những trang "đoản văn" có rất nhiều trong nhật ký này. Và điều đó đã giúp cho những trang sách mềm mại, có không ít những giọt nước mắt và cả những nụ cười: "Tôi viết những dòng mà tim tôi không muốn viết. Tôi đọc những lời mà chính tôi không muốn đọc. Tôi đang nghĩ những lời mà tôi không bao giờ nghĩ đến. Tôi đã nói những lời mà hình như không phải tôi nói. Tim tôi còn đó hay đã mất rồi người ơi, tôi đang là tôi chăng?!
Trái tim đang đập là tim của tôi chăng? Tôi không được biết nữa. Tôi đang sống cho người khác. Thân xác tôi không còn là của tôi. Ai đó đã lấy mất trái tim tôi, cướp mất hơi thở tôi. Đôi mắt tôi không còn nhìn thấy chung quanh. Mắt thấy chỉ còn là mắt người. Giờ đây tôi không còn là tôi nữa!" (10-11-1978).


Để bạn đọc dễ theo dõi, tham khảo, chúng tôi đã dành toàn bộ phần phụ lục của cuốn sách để trân trọng giới thiệu một số bài thơ của Trần Duy Chiến.

Có thể nói mà không sợ quá lời rằng những trang hồi ức xúc động và hay nhất có trong cuốn nhật ký này chính là những trang Trần Duy Chiến viết về mẹ. Và người mẹ luôn là nguồn cảm hứng bất tận của anh - nơi anh muốn chia sẻ những cảm xúc thật của lòng mình nhiều nhất: "Mẹ ơi! Con bắt đầu sợ cái bộ chiến y màu lá thắm mà con đang mặc. Nó là cái gì làm ngăn cách giữa con và mẹ? Nó ôm kín và dìu con vào những nơi có tiếng súng nổ, có sự chết chóc. Con sợ nó lắm mẹ ơi! Con muốn cởi trả nó lại cho đất nước để được về gần bên mẹ. Lúc mẹ ốm đau có đứa con trai bên mình cơm cháo thuốc thang, để chiều mưa không làm con ướt, để chiếc ba lô và khẩu súng không đè nặng mãi hồn con và lẽo đẽo theo con suốt cả tháng trời hành quân. Để đêm đêm con được yên lành trong giấc ngủ, để cánh rừng rậm không phủ kín được ước mơ của con...


Tôi tin rằng những trang chữ ấy, đã được Trần Duy Chiến viết bằng cả trái tim và tấm lòng kính yêu mẹ, bằng tình ruột thịt mẫu tử mà không phải người mẹ nào cũng hạnh phúc có được "Mẹ kính yêu! Rồi mai đây trên vạn nẻo đường đất nước, lúc đứng bên lề biên giới, lúc ngoài biển khơi, lúc trên hải đảo xa xôi lúc đứng trước mặt quân thù. Hay lúc con gục xuống trên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc... con đều thầm gọi tên mẹ. Lúc đó mẹ sẽ hiện ra trước mặt con như một bà tiên hiền dịu, an ủi con, khuyên nhủ con. Thế là con lại có đầy đủ nghị lực, xông ra phía trước tiêu diệt quân thù, hay đứng vững trước gió mưa lạnh buốt.


Mẹ thân yêu của con ơi! Mẹ đừng buồn đừng nhớ và đừng khóc nghe mẹ. Ngày mai đây, khi dân tộc mình đã thoát khỏi vòng điêu linh chết chóc, đất nước mình thoát khỏi nạn ngoại xâm. Lúc đói con sẽ về bên mẹ, để mẹ được nhìn kỹ đứa con của mẹ sinh ra". (4-11-1978).


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 12 Tháng Sáu, 2008, 10:22:10 PM
Ngoài tình cảm dành cho mẹ, Trần Duy Chiến cũng lãng mạn trong tình yêu như những người lính trẻ khác. Anh cũng nhớ nhung một "bóng hồng" ở hậu phương xa xôi, cũng mơ những giấc mơ của ngày trở về.... Nhưng người con gái mà Chiến hướng tới chỉ là một hình ảnh tưởng tượng ra như tiểu thuyết, để Chiến có thể bay bổng, mộng mơ quên đi tháng ngày đang trôi qua buồn bã nơi đất khách: "Cho tôi một ngày Chúa nhật đẹp trời rong chơi nơi phố cảng quê hương tôi sẽ lang thang mãi trên đường để ngắm thành phố đẹp và tôi thấy yêu cuộc sống hơn. Để chiều chiều khí tan sở tôi đạp xe trên con đường tráng nhựa thẳng tắp về nhà, gặp người yêu nhỏ bé của tôi đi về ngược chiều. Em cười. Ôi! Nụ cười xinh quá tôi ngắm đến say sưa. Để màu mắt tôi không vướng buồn khi nhìn dải mây chiều lang thang ở cuối chân trời xa tít. Để tôi chẳng bao giờ rơi một giọt lệ nào trên lứa tuổi đôi mươi, khi đêm nằm tôi nhớ về người mẹ hiền của tôi nơi quê hương xa mù đó. Ôi! Ước mơ của tôi đã bay vào hư không mất rồi”. (2-1- 1979).


Ước mơ nhỏ bé của Trần Duy Chiến không "bay vào hư không", nhưng anh đã không thực hiện được, khi càng ngày đơn vị anh càng đi sâu vào những nơi nguy hiểm, cái chết lúc nào cũng rình rập bên mình. Cứ xong mỗi nhiệm vụ, họ lại cùng nhau lên đường đến những vùng chiến sự khó khăn gian khổ hơn của nước bạn. Đôi bàn chân các anh đã in dấu lên nhiều nơi trên quê hương Chùa Tháp này; Lâm Phát, Buôn Lung, Tà-keo, Lô-via, Tam-vi-leng... rồi Mung, Phô-xít-đây, Trà-mốc, Phờ-ray-chít, Tà-lá, Phum-phênh, Xay-cờ-rơn, Long-cóp, Tà-sanh... Đến đâu các anh cũng gặp toàn là "những bộ quần đen kín và những chiếc xe 2 bánh do bò kéo đứng gần toát ra mùi hôi hám khó chịu. Khi chạy thì phát ra tiếng gỗ nghiến ken két ken két, oái ăm nức nở...". Suốt dặm đường gian khổ ở cái đất nước mà lúc đầu anh đã ao ước được đặt chân đến để biết thêm cái mới cái lạ, bây giờ nó không thu hút anh như cái lúc đầu nữa. Không phải vì anh đã đi khắp, nhìn thấy hết nền văn hoá của đất nước Ăng-ko này rồi mà vì anh nhớ quê hương của mình một cách day dứt.


Xin đừng bao giở nghĩ rằng anh không xác định được nhiệm vụ của lứa tuổi thanh niên đối với đất nước, mà tất cả chỉ vỉ anh mong muốn được làm một người dân bình thường để được sống trong sự hoà bình, không tang thương, chết chóc, để được gần quê hương, bạn bè thân thiết, gần những cái mà người lính nơi rừng núi xa thẳm không sao có được. Có đọc những đoạn tâm sự rất thật này mới hiểu lòng anh: “... Quay viên thì nhàn thật súng đạn khó mà hỏi thăm. Thế nhưng tôi chả thích tí nào. Thà ra ngoài chiến trường cầm súng bắn thẳng vào mặt quân thù còn sướng hơn làm cái anh quay viên này. Phải chi tôi được ở 2w như cũ thì khoái thật. Mang máy ra chiến trường phục vụ cho bộ binh để tôi được nhìn thấy rõ hơn về cuộc sống của người lính ngoài mặt trận. Tôi không sợ chết. Tôi chỉ sợ trong suốt quãng đời bộ đội của tôi sẽ chẳng bao giờ được cầm cây súng bắn thẳng vào mặt quân thù, được nhìn quân thù gục xuống, được thấy tận mắt súng nổ, đạn reo... “ (13-11-1978).


Những nỗi gian khổ thiếu thốn, sự tàn bạo khốc liệt của chiến tranh, những cảnh chết chóc khủng khiếp trên "đất nước Chùa Tháp" đã làm anh lính trẻ phần nào chai dạn - như anh từng giãi bày ở không ít đoạn trong nhật ký. Nhưng từ trong sâu thẳm của tâm hồn và trái tim anh vẫn đầy những khúc ngân trong trẻo an lành, xen lẫn những dòng buồn thương của anh. Đấy là những đoạn anh viết về chú sáo nhỏ “Chú sáo nhỏ xinh của tôi ơi! Hãy theo tôi nhé! Tôi sẽ bắt cào cào, dế cho chú ăn suốt ngày. Chú cần gì tôi sẽ làm vừa lòng chú ngay, đừng bỏ tôi mà đi nghe chú sáo thương yêu. Tôi sẽ nhớ chú lắm đấy" (ngày 20-7-1979); về "đất nước Chùa Tháp" với những cánh rừng, "những cánh đồng rộng mênh mông bát ngát cộng với những con đê to, chạy dài, thẳng tắp" đã khiến anh "phải rùng mình khiếp sợ và cảm phục cho cái sức lực nhỏ bé của con người, chỉ dùng hai bàn tay đắp từng nắm đất nhỏ" (ngày 14-8-1979)... Đó là những câu anh viết về cây thốt nốt với "những tàu lá to tướng giống như chiếc quạt khổng lồ", về "con đường cái bên bờ hồ nằm lặng lẽ" về trăng “nơi rừng cao nguyên"...


Và nhất là những khúc đoạn anh viết về thiên nhiên đất nước quê hương "Cứ lần lượt những vẻ giàu đẹp của Tổ quốc tôi lại hiện ra dưới tầm mắt. [...] Kia là rừng dừa bạt ngàn [...] kia là rừng cà phê xanh ngắt kéo dài ra xa tít [...] Rừng cao su kéo dài ra như không bao giờ dứt, không biết ai trồng, mà thẳng như giăng dây" (ngày 29-10-1978).


Yêu quê hương, yêu thiên nhiên, yêu trăng... Trăng tràn trề lấp lánh trong những trang thơ và trong cả những dòng nhật ký của anh: "Trăng nơi rừng cao nguyên đẹp thật. Trăng đứng ngay đỉnh đầu tôi. Mấy cụm mây dật dở bay không định hướng. Trăng trốn vào mây rồi lại hiện ra. Trăng soi sáng cảnh rừng núi âm u, tĩnh mịch. Những giọt trăng vàng yếu ớt, như tâm sự cùng tôi” (ngày 14-11-1978); “Lắm lúc ôm súng ngồi gác dưới khuya, ánh trăng chập chờn nghiêng vành mũ” (ngày 18-6-1979)...


Đọc nhật ký của Trần Duy Chiến, ta thấy thiên nhiên, con người của Tổ quốc mến yêu và của cả nước bạn trong chiến tranh hiện ra dưới những dòng ghi chép đơn sơ của anh với cả cái dáng vẻ hồn nhiên của nó.
Không chủ tâm, hoàn toàn hồn nhiên, Trần Duy Chiến đã phác hoạ cảnh vật anh từng nếm trải bằng cả tấm lòng yêu thương tha thiết, bằng cả trái tim thổn thức thương nhớ, bằng cả nỗi lòng trăn trở cùng niềm khao khát một cuộc sống hòa bình, yên lành và bình dị của anh.


Trong cuốn nhật ký này, có nhiều đoạn là những lá thư độc lập viết cho mẹ, cho bạn bè, cho anh em. Với giọng văn tình cảm, dí dỏm, xen lẫn hài hước, Trần Duy Chiến đã không chủ ý cung cấp cho bạn đọc những thông tin tình cảm riêng tư của mình, nhưng đọc lại, đôi khi ta có cảm giác anh không chỉ viết riêng cho một người cụ thể nào đó, mà còn viết cho cả những bạn đọc hôm nay: "Con cũng chẳng biết giờ đây con đang vui hay đang buồn nữa. Con đang ở nơi xa lắm, muốn viết về cho mẹ với những gì thương yêu nhất của đời con. Con thấy mình yếu mềm đi một cách lạ thường. Mắt con bỗng nhòa đi. Con đang trở về với mẹ, với ước mơ bằng tiềm thức suy tư và thương nhớ'. (28-1-1979).


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 12 Tháng Sáu, 2008, 10:23:16 PM
Khi viết nhật ký, Chiến thích dùng đại từ nhân xưng "tôi" thay cho "mình"; ở một số trang anh tự xưng là "tớ" và đôi khi còn xưng mình là "lính": "Giờ đây giữa lính và các bạn có một khoảng cách quá xa. Lính chỉ gặp được các bạn qua nét chữ thân quen. Mỗi lá thư đến rơi tuyến lửa này là một nguồn vui to tát đến với lính". (10-12-1978).


Còn đây nữa: "Có những lần ngồi gác muỗi vo ve dày đặc muỗi chích từ phía, nhưng lính ta đâu dám đập mạnh. Trên đoạn đường hành quân gặp địch, ai cũng phải nhoài người nằm xuống đâu kể hục bùn, bãi cứt hay là hang kiến, mặc kệ! Cả tháng trời không đánh răng, không tắm rửa, áo quần lên men bốc mùi khét khó chịu, lính vẫn mặc đâu kể nhớp nhúa". (25-5-1979)


Nếu Trần Duy Chiến không phải là một người lính trực tiếp chiến đấu ở vùng cực tây Cam-pu-chia đầy khó khăn gian khổ và chết chóc, thì chắc anh không thể định nghĩa về biên giới độc đáo như thế này: "Chắc mẹ của con chưa biết biên giới là gì? Để con kể cho mẹ nghe: biên giới nó ngoằn ngoèo và ghê rợn. Nó là một dãy rừng rậm mịt mùng đầy bụi và gai. Nó là một con sông, một đỉnh đồi, hay một bãi cát. Nó chứa trong mình đầy rẫy thứ giết người: nào mìn, nào thuốc nổ, nào chông. Nó là cái gì ghê sợ, mỗi khi người lính bước chân vào đó". (3-6-1979).


Tuy nhiên, trong nhật ký cũng không hiếm những hồi ức đẹp, buồn và xúc động: "Mùa hè qua mau, xác phượng rơi đầy sần trường át tiếng ve than. Màu áo trắng thư sinh vấy mực vì đùa nghịch với bạn bè cũng dần trôi qua. Tủ sách ngày thêm nhiều, cậu đã lớn, cậu nhìn xác phượng rơi sân trường không là những cánh hoa màu đỏ, tiếng ve than không là thú vui tai. Cậu biết buồn vào những đêm mưa, nụ cười nở trên môi cũng giấu thêm một chút gì e thẹn. Cậu biết ngại ngùng mỗi khi đứng trước mặt người con gái cùng lứa tuổi. Ôi cái tuổi đáng yêu, cậu thấy trái tim rộn ràng từ đó...". (10-10-1979).


Nhưng trên hết, cái quý giá nhất của thể loại nhật ký vẫn là sự thật và tính trung thực, như chính cuộc sống đã đang và sẽ diên ra. Đọc những trang viết của Trần Duy Chiến, có lúc ta không khỏi bật cười đến rơi nước mắt. Đó là đoạn mấy anh ình thèm thuốc hút, đơn vị không có cung cấp, vào dân xin chẳng được chợ không có bán, chẳng tìm đâu ra, đành phải cùng nhau đi bới rác: "Bươi hoài, có khi cũng chả được vì đâu phải chỉ có một vài người bươi, cả chốt cùng bươi tìm mẩu. Cái đống rác bị trộn xới liên tục, kể gì nhớp nhúa. Cái mẩu thuốc đã lên mốc vì nằm ngoài trời ẩm ướt thế, nhưng tìm được ôi thôi là mừng vô kể, xúm lại mỗi người hút chỉ được một hơi gọi là đỡ ghiền". (14-4-1980).


Cũng vì tôn trọng sự thật và tính trung thực, nên trong cuốn nhật ký này chúng tôi đã để nguyên văn cả những đoạn Trần Duy Chiến nhận xét về đồng đội. Những chuyện tốt đẹp có, mà hạn chế, khuyết điểm cũng có. Cứ nghĩ sao là anh viết vậy, không giấu lòng mình. Ví dụ như ngày 20-12-1979, Chiến nhận xét về những tính cách của anh cán bộ A trưởng có tên là Đại Bảng. Anh đã thống kê, đúc kết thành "bảy điểm" hạn chế của người cán bộ này... Vẫn biết rằng đó chỉ là cảm nhận nhất thời, chưa thật chính xác của Chiến về một sự vật, hiện tượng, con người cụ thể nào đó mà anh có quyền viết ra cho riêng mình. Và mặc dù đã 25 năm, nghĩa là một phần tư thế kỷ trôi qua - Thời gian đủ để ta bình tĩnh suy xét và chiêm nghiệm về sự gian khổ hy sinh, cái mất còn của cả một thế hệ cha anh ngày ấy - Nhưng chúng tôi vẫn phải thành thật mong các nhân vật của Trần Duy Chiến thứ lỗi, nếu như có ai đó còn sống, trở về và đọc được những trang viết đầy máu lửa của cuộc đời anh.


Sáng sớm ngày 20-7-1980, trên đường đi truy quét định, tiểu đội của Trần Duy Chiến đã không may sa vào ổ phục kích của chúng. Tiểu đội chỉ có 5 người, mỗi người đi cách nhau 10 mét, Chiến là A trưởng nên đi đầu. Một quả mìn địch gài trên đường bất ngờ phát nổ, đã khiến một đồng đội đi sau Chiến bị thương vào đầu, còn anh bị trọng thương, nát chân phải. Đồng đội kể lại: Trước khi kiệt sức vì mất máu nhiều, Chiến còn bắn hết một băng AK về phía bọn địch, rồi mới gục xuống. Khi lực lượng tiếp viện của ta lên tới nơi, thì Trần Duy Chiến đã hy sinh. Khuôn mặt của anh bị bọn địch bắn nát, không thể nhận ra.


Anh Nguyễn Văn Chính, người bạn đồng hương thân thiết nhất, cùng đại đội, mà nhiều lần Trần Duy Chiến đã nhắc tới trong nhật ký, kể lại: Chính anh là người đã trực tiếp vuốt mắt cho Chiến. Hồi đó, mặt trận này rất ác liệt, mấy ngày sau, khi chiếc xe tô chở thi hài Chiến và một số liệt sĩ khác về gần tới Pai-lin, lại bị trúng mìn chống tăng lần nữa. Xe cháy và hỏng hết. Thêm một cán bộ của ta hy sinh. Như thế, có thể nói Trần Duy Chiến đã hy sinh tới hai lần!


Năm 1984, hài cốt của Trần Duy Chiến được quy tập từ Cam-pu-chia về nước. Hiện ngôi mộ của anh được đặt tại nghĩa trang Thuận Giao, tỉnh Sông Bé.

Từ 25 năm trước, vào đúng ngày Trần Duy Chiến hy sinh, đồng đội phát hiện trong ba lô di vật của anh có một cuốn sổ bìa xanh, đã ghi chép gần kín. Lẽ ra, cuốn sổ này đã bị đốt đi, nhưng một chiến sĩ đã giữ lại chỉ với mục đích để... xé dần làm giấy cuốn thuốc lá. Biết đó là cuốn nhật ký quý báu của Chiến, anh Nguyễn Văn Chính đã phải liều lấy 8 quả pin đèn (dùng cho thông tin) để đổi, khiến sau đó anh suýt bị kỷ luật. (Hồi đó ở chiến trường Cam-pu-chia, pin để nghe đài rất quý hiếm). Nhưng cũng nhờ thế, mà cuốn sổ ghi chép 186 trang, dày đặc chữ, nhiều chỗ đã ố vàng, nhoè mờ vì mồ hôi và mưa nắng của Trần Duy Chiến, đã còn lại cho đến hôm nay. Và bạn đọc đã biết đến tập nhật ký đang có trên tay.


Để bạn đọc dễ theo dõi, khi biên soạn cuốn sách này, chúng tôi đã chia nội dung nhật ký ra làm 12 phần nhỏ và phần phụ lục thơ. Mỗi phần, chúng tôi đặt tên theo từng chủ đề khác nhau và trích một đoạn nhật ký ấn tượng nhất, in chữ đậm để thay lời dẫn.


Thật tình cờ và ý nghĩa, qua một số đồng nghiệp, chúng tôi đã liên hệ được với Đại tá Nguyễn Văn Hồng (tác giả của cuốn hồi ức "Cuộc chiến tranh bắt buộc" - NXB Trẻ, năm 2004; nguyên Sư đoàn trưởng Sư đoàn 309, nguyên Phó Tư lệnh Tham mưu trưởng Quân đoàn 4), người chỉ huy cao cấp của anh lính Trần Duy Chiến năm xưa tại chiến trường Cam-pu-chia.


Đại tá Nguyễn Văn Hồng hiện đã nghỉ hưu và đang sống tại số 212, đường Cộng Hòa, phường 12, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh (điện thoại: 0913957777). Rất có thể tại chiến trường nước bạn cách đây 25 năm, vị Đại tá Sư đoàn trưởng Sư đoàn bộ binh anh hùng ấy chưa gặp Trần Duy Chiến lần nào. Nhưng khi nhận được bản thảo chúng tôi chuyến đến, ông đã rất xúc động, dành thời gian nghỉ ngơi của mình nhiệt tình đọc, góp ý, sửa lỗi chính tả và viết thêm chú thích cho cuốn sách này (những đoạn in nghiêng, bằng co chữ khác).
Không chỉ có vậy, bằng tất cả tình cảm của một vị chỉ huy sư đoàn dành cho người lính của mình đã ngã xuống tại chiến trường năm xưa, Đại tá Nguyễn Văn Hồng đã gửi cho chúng tôi một số ảnh tư liệu của Sư đoàn 309 và viết những dòng cảm nhận dưới đây:

"Qua những trang nhật ký xúc động lòng người của liệt sĩ Trần Duy Chiến, một lần nữa cho ta thấy ý chí chiến đấu, niềm ước mơ khao khát, lòng nhớ thương cháy bỏng quê hương, gia đình của tác giả. Anh đã đại diện cho một thế hệ làm nên lịch sử của quân đội ta, dân tộc ta. Giai đoạn lịch sử nào cũng có những lớp người làm nên lịch sử. Thế hệ của Chiến là thế hệ sau 30-4-1975, lẽ ra phải được ngồi trong giảng đường là trụ cột trong công cuộc kiến thiết đất nước sau ngày giải phóng...

Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy, theo tiếng gọi của Đảng, lớp thanh niên ấy lại xung phong ra trận. Trong mọi hoàn cảnh gian khổ, hy sinh... họ vẫn yêu đời, tin tưởng vào ngày toàn thắng, làm xong nhiệm vụ mới trở về quê mẹ thân yêu.

Là người chỉ huy của một sư đoàn đảm nhiệm trên một hướng then chốt của mặt trận, tôi thực sự xúc động và cảm phục những người lính như Trần Duy Chiến. Tôi đánh giá cao sự hy sinh của những đồng đội như các anh.

Qua những trang nhật ký của liệt sĩ Trần Duy Chiến, thay mặt các thế hệ chiến sĩ của Sư đoàn bộ binh 309, một lần nữa, tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình, người thân của anh. Chúng tôi cũng rất mong thế hệ trẻ hôm nay hãy đọc cuốn nhật ký này, học tập, noi gương những người lính như Trần Duy Chiến, để Tổ quốc ta mãi mãi được sống trong hoà bình và thịnh vượng".


Xin được mượn lời của Đại tá Nguyễn Văn Hồng để thay cho đoạn kết bài giới thiệu cuốn sách này.


Hà Nội - Đà Nẵng, 12 -2005
Đ.V.H


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Sáu, 2008, 10:42:43 PM
Phần thứ nhất
Những ngày mới nhập ngũ ở Quân trường Mỹ Thị

“Có lúc tôi muốn vụt bay ra khỏi quân trường này, nhưng liền sau đó lại thôi. Tôi không thể làm như thế được. Mọi người thanh niên đều nghĩ rồi làm như tôi, thì lấy ai đứng ra cầm súng giữ nước? Tôi không phải là cách mạng, nhưng tôi suy nghĩ rất nhiều. Nếu mình không trực tiếp cầm súng đứng lên để bảo vệ Tổ quốc, thì mình cũng sẽ chết sau khi giặc ngoại xâm chiếm được Tổ quốc mình.
… Tôi sẽ không bao giờ từ giã cây súng khi đất nước vẫn chưa yên. Tôi sẽ dẹp bỏ mọi tình cảm riêng tư để hoàn thành nhiệm vụ mà chính tôi đã giao cho tôi.”
(Trần Duy Chiến, 24-10-1978)


7-10-1978

Chào tạm biệt mái tóc mình thường vuốt ve âu yếm! Mình trả lại tự do cho các bạn đó. Các bạn có thích không? Chắc là thích lắm nhỉ. Khỏi còn bận bịu gì đến mình nữa, khỏi bị mình dày vò đến nát. Mình chả cần các bạn. Mai đây, mình lại có bạn mới rồi. Mình đoán chắc là không hợp với mình tí nào đâu, nhưng mình phải làm bạn. Người ta bắt mình làm bạn mà!


Chiếc mũ cứng-người bạn mới này trông oai vệ ghê. Nó không yểu điệu, mềm mại đâu. Đừng có giỡn với mấy ông bạn đó. Đấy mấy chàng “bớm”, khéo vỡ đầu đấy. Ông bạn carê ba phân trông mới ngộ nghĩnh làm sao ấy. Mình tức cười quá. Trông ổng cụt ngủn, ngô ngố ra làm sao. Nhưng ông này trông vậy mà tốt ghê. Ông không đổ xoà xuống làm vướng mắt mình, ông không bắt mình phải chải chuốt làm gì. Ông hiền thiệt, sao cũng được. Lúc tắm vô làm biếng không lấy khăn lau không chải, ổng cũng chả nói chi. Có đâu lại khó tính như cái ông bạn trước, lâu lâu không chải tức thì ổng rối tung lên trông thấy là ghét. Lại còn cứ chực đổ xoà xuống che cả mắt nữa chứ!


Còn cái “ông bạn Quân phục” lại vui tính ghê! Ổng to lớn thùng thình giống như chàng hề. Ông này thôi khỏi phải nói sao cũng được. Trong chúng bạn trông có vẻ ông này là hiền nhất đấy. Có khoẻ thì đôi ba ngày tắm rửa cho ông một lần cũng tốt, mệt mỏi lười thì mười ngày nửa tháng làm qua loa một lần cũng chả sao. Tắm bằng xà phòng lại tốt hơn, lại khỏi phải ủi đi ủi lại cho thẳng gì cả. Nói chung thì mình thương sao, ông bạn này được nhờ vậy.


9-10-1978

Mình mới vào ngày đầu, ngày sau tiểu đội mình lại đến phiên phục vụ “Lê Anh Nuôi” mới vui chứ. Mình lại gặp con Tám, (í quên, đồng chí Tám) ở chợ chiều lúc trước. Bây giờ đồng chí đã trở thành bộ đội đàn chị mình rồi, trông đồng chí có vẻ khác hẳn ngày xưa nhiều quá mình nhìn không ra thế nhưng chẳng mấy chút là thông cảm ngay.


10-10-1978

Thời gian bây giờ đối với mình thật là quý giá vô cùng. Một phút rảnh rỗi nghĩ thật là hay, có đâu mà ngồi suy nghĩ tính toán để nhớ lại quá khứ. Sáng 5 giờ đã dậy tập thể dục, vệ sinh cá nhân, ăn bánh mì, dọn dẹp nội vụ xong thì đã 6 giờ 30. Nghỉ ngơi 20 phút đến 7 giờ kém 10 tập họp làm công tác, đến 11 giờ nghỉ. 11 giờ 30 đi ăn cơm đến 12 giờ, nghỉ trưa đến 1 giờ tập họp đi làm, 5 giờ về. Nào là thể thao, tắm giặt, họp tổ, họp A, họp B, họp C… đến 9 giờ nghỉ, 9 giờ 30 ngủ. Sáng hôm sau dậy lại tiếp tục chu kỳ như vậy…


Nếu bất phước có gia đình hay người yêu tới thăm hỏi “anh có nhớ đến em không?” hay “con có nhớ người yêu không?” thì đây cũng trả lời dứt khoát là không, vì đâu có thời gian nào rảnh rỗi để nhớ tới người yêu hay gia đình!


11-10-1978

Khiêm tốn, nhường nhịn được bạn thương bạn mến.
Nhẫn nại, cần cù vượt muôn khó khăn gian khổ.
Tự phụ là sâu thất bại, là cổ hủ xã hội sẽ đào thải.


12-10-1978

Cho tôi xin một lần chờ em dưới ánh trăng mờ sáng con đường cát dẫn vào nhà em. Xin một lần hẹn em để rồi em không đến, để rồi em trễ hẹn và chỉ còn một mình tôi dưới trăng mờ soi mỗi hồn tôi với nỗi cô đơn chồng chất trong lòng. Em yêu ơi, sao em không đến?


Cho tôi xin một lần dìu em đi dưới trăng, con đường cát nhộn đầy yêu thương, vạn vật đều chìm đắm trong giấc ngủ say sưa. Chỉ còn hai đứa lang thang dưới trăng tìm sức sống. Cuộc sống sẽ đẹp như mơ khi đôi môi quyện chặt. Tôi không còn cô đơn, bên mình tôi đã có em-em yêu!


Cho tôi xin một lần ngồi bên em, một lần ru em ngủ trong vòng tay ấm. Tóc em buông xuống, mùi hương của tóc toả ra làm tôi ngây ngất. Em sẽ ngủ và ngủ mãi trên tay tôi để tôi được nhìn em một cách say sưa. Tôi không còn cô đơn nữa. Em yêu ơi! Sao em dễ thương! Cho tôi xin một lần em hờn dỗi làm tôi phải dỗ dành. Em yêu ơi! Nín đi em, thôi đừng khóc nữa, anh sẽ đền em cái gì mà em yêu nhất.


Cho tôi xin một giấc mơ tuyệt đẹp, em sẽ đến bên tôi khi trời vào cuối thu, mưa bay trên đường phố. Em yêu ơi! Em có lạnh lắm không?

Cho tôi xin một lần dìu em vào chốn hư vô, đắm chìm đe mê tuyệt đỉnh. Em yêu ơi! Anh sẽ mãi mãi bên em!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Sáu, 2008, 10:43:55 PM
13-10-1978

Từ hôm mình nhập ngũ đến giờ chưa học tập gì cả. Ăn rồi cứ ra làm lao động miết, chẳng rảnh giờ nào. Muốn biên thư hay giặt đồ thì đừng ngủ trưa thôi. Kể ra cũng vui, tối tối sinh hoạt mới nhộn chứ. Mình hát không được, chứ hát được thì mình cũng sẽ hát như anh em. Mình thổi sáo như con khỉ. Thế mà anh em cứ yêu cầu mình thổi miết. Mình nhất định không thổi. Quê quá! Ai mà thổi cho được. Mình phải tập, tập thổi cho thật hay, sau này mình mới dám thổi trước anh em.

Một điều cốt yếu là mình quyết tập làm sao cho thân mình được dẻo dai để sau này mình ứng dụng vào chiến đấu cho vững.


15-10-1978

Chủ nhật thật là buồn. Mình ngồi nhìn thiên hạ đang vui cười… lòng mình lại rộn lên nhiều nỗi nhớ! Mình nhớ lại tất cả những gì đã qua, không bao giờ mình có trở lại dù chỉ một chút trong khoảng thời gian ngắn ngủi.
Mình đã để nó trôi qua một cách lãng phí, bây giờ mình thấy hối tiếc. Mình lại viết thư, viết cho mấy đứa bạn cho qua thời gian buồn tẻ. Mình viết cho cậu Thanh.


15-10-1978

Cậu Thanh thân!

Thế là hết rồi cậu nhé! Đâu còn những ngày rong chơi tán ngẫu vẩn vơ. Nó đã trôi qua một cách quá nhanh làm tớ tiếc rẻ mãi. Giờ đây tớ đã bước sang một khúc ngoặt của một con đường mới. Tớ đã bỏ đi tất cả. Thôi cho luôn cậu đó. Tớ chẳng cần nó làm gì nữa. Tất cả mọi thứ đó đối với tớ giờ đây hình như vô nghĩa.

Thanh thân! Dạo này vẫn khoẻ chứ, có gì thay đổi nhiều không? Đợt nghĩa vụ quân sự này cậu có được vinh dự đứng vào hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam không? Nếu có nhớ thư cho tớ biết với nhé!

Còn phần tớ, hẳn nhiên thì thay đổi nhiều. Từ cặp đồ “xivin” của lứa tuổi thanh niên, đổi lại bộ quân phục màu xanh thùng thình, cộng thêm với chiếc đầu húi cua trông ra phết. Nếu có dịp nào đó cậu gặp tớ, chắc hẳn cậu nhìn tớ không ra. Nếu nhận ra, cậu cũng được một mẻ cười đến vỡ bụng.

Thôi tớ dừng bút vì thời gian có hạn. Hẹn gặp lại cậu thư sau. Tớ chúc cậu vui khỏe. Trần Duy Chiến.
Địa chỉ HT.5A.430D

Vui quá! Vui quá! Trực ban gọi tên mình. Mình không biết có nhầm tên ai không. Thôi kệ! Mình cứ ra thử.
“Bà nội”! Mình nghẹn ngào gọi. Bà nội mình đến thăm. Bà nội mình khóc. Mình thấy thương bà mình. Mình hỏi vớ vẩn về chuyện gia đình. Mình được biết gia đình vẫn khoẻ, không có gì thay đổi. Mình rất mừng. Ở ngoài ấy được một lúc mình vô liền, í quên, mình phải đi mượng cái rựa đẽo đôi guốc cái đã, kẻo lại quên. Mai thứ hai thì không đẽo được rồi. Đẽo guốc xong, mình vô viết tiếp lá thư cho anh Công.


15-10-1978

Anh Công thân!

Hôm nay, người tổ viên của tổ I (cũ) viết thư thăm anh đấy.

Lời đầu tiên gởi đến anh, cậu em luôn chúc anh những gì tươi đẹp nhất.

Anh Công thân! Dạo này vẫn khoẻ chứ? Có gì thay đổi không hay vẫn còn như ngày nào-mỗi chiều lại đúc bánh tráng?

Cậu em buồn giỡn tí cho vui, đừng giận nghen anh. Nhưng nếu anh có giận thì cũng để bụng thôi, vì cậu em chẳng có bao giờ gặp lại anh để anh được nhìn và mắng cậu em đâu. Vì hiện nay cậu em của tổ trưởng ngày xưa đã trở thành một quân nhân trong Quân đội Nhân dân Việt Nam rồi. Nếu có một sự may mắn nào anh được gặp lại em ngày xưa, chắc anh nhìn không ra đâu, vì cậu em nay đã đổi khác quá nhiều, xúng xính trong bộ quân phục màu xanh rộng thùng thình, cộng với chiếc đầu húi cua (3 phân) trông ngộ nghĩnh và ra phết hết sức đó cậu em à!


Hơn thế nữa là cậu em hôm nay nhanh nhẹn lắm. Đang ngủ, nghe tiếng còi tức thì tung mền chạy ra sắp hàng ngay, không phải lề mề chậm chạp như ngày nào đâu. Sắp đến giờ tập họp đại đội, xin tạm dừng bút. Chúc anh khoẻ nhiều!

Cậu em gởi lời thăm bà chị và mấy bạn trong đội.

Cậu em Duy Chiến
Địa chỉ: HT.430b-5A


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 16 Tháng Sáu, 2008, 10:45:05 PM
17-10-1978

Tôi đang viết thư cho mẹ với tất cả những sự suy nghĩ, sự thương mến, lòng thương yêu với niềm nhớ thương vô tận!

Mẹ ơi! Mẹ có hiểu cho con không. Con đang ngồi đây, đang nhớ lại những ngày còn sống gần bên mẹ. Nhớ bóng dáng mẹ hiền, mẹ gầy và thấp còng với màu sa sạm nắng vì đã chịu bao phong sương vất vả cho đàn con được khôn lớn. Mẹ đã chắp cánh cho con!


Mẹ ơi! Đừng buồn nghe mẹ! Đừng khóc nghe mẹ! Con ra đi vì tiếng gọi của non sông đất nước, con ra đi giữ từng tấc đất của Tổ quốc, quyết không để cho ngoại bang đụng đến. Con ra đi làm tròn bổn phận của một người thanh niên, con phải xa mẹ.

Đâu phải vì quá đam mệ những thú vui của riêng, mà con ra đi xa mẹ.

Mẹ ơi! Mẹ là dòng suối hiền ngọt ngào của đời con. Mẹ là tất cả!

Cứ mỗi lần con hát bài “Lòng mẹ” là con lại thấy gương mặt dịu hiền của mẹ hiện ra đang cười nói với con. Và bây giờ con cảm thấy mình bơ vơ, trống trải, hình như đang thiếu một cái gì đó.

Mẹ ơi! Một ngày nào đó, khi học xong khoá huấn luyện, con sẽ phải đi xa mẹ hơn. Trên mọi nẻo đường đất nước, biết khi nào con lại trở về với mẹ, mẹ ơi!

Rồi một mai đây lúc con đau con ốm, sẽ chẳng có mẹ bên con để cho con những gì mà con cần đến.

Mẹ ơi! Con vẫy chào tạm biệt mẹ. Con ra đi. Mẹ đừng buồn và đừng khóc nghe!


22-10-1978

Mới đó mà hôm nay đã Chúa nhật lại rồi. Mình chả trông mà nó cứ đến. Thật tình mình chả thích nó đến tí nào. Nó đến, mình lại buồn. Nó lại ra đi, thế thôi!

Mình ngồi đây nhẩm lại từng ngày, từng ngày…

Chốc lát, cái quá khứ đau đớn đầy tủi hận lại ào đến với mình. Mình hận, hận tất cả những gì mình có thể hận được. Mình nghĩ đến những điều vu vơ, mình ước mình là người có một quyền thế. Lúc đó mình sẽ bắt người mà mình hận đến đây!

Ngồi một mình buồn quá, mình ta tà ra ngoài phòng khách thử có ai quen không. Mình hy vọng trong đám người đó sẽ có người mình quen mặc dù họ chẳng có mục đích để đến thăm mình.

Mình lại gặp mẹ và em đến thăm. Vui ghê!

Báo động! Báo động! Mình bỏ mặc mẹ và em ngồi đó. Mình chạy về tập họp.


24-10-1978

Hôm nay anh em đi tập cả, chỉ còn một mình tôi ở nhà. Ngủ miết từ tối đến 8 giờ sáng mới dậy, nhưng cái đầu vẫn còn nặng trĩu.

Thật ra, nếu mình cố gắng thì cũng đi tập được. Nhưng thôi, mình ở nhà tiếp tục đọc cuốn tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy” cho hết.

Vào quân đội kỷ luật thiệt. Lần trước tôi có đi một dạo rồi, cũng đã biết thế nào là quân đội. Nhưng lần này kỷ luật càng cứng hơn. Đơn vị chẳng cho ai đi đâu một tí, cả ngày chủ nhật nữa chốc chốc lại báo động.

Hôm chủ nhật vừa rồi mẹ tôi có ra thăm, nhưng chỉ đừng với mẹ được một lúc thì lại có kẻng báo động. Bực ghê! Gặp tôi, mẹ không khóc như những người đàn bà khác. Mẹ chỉ buồn nhìn tôi. Tôi rất hiểu tính mẹ tôi. Tôi vẫn thích mẹ tôi thế. Tôi chẳng biết nói gì khi gặp mẹ. Tôi nhìn mẹ một cách chăm chú và say sưa. Gương mặt mẹ thoáng nét lo âu, tôi động viên để mẹ khỏi lo.


Chiều đến, nghe trực ban gọi tên, tôi ra. Gặp Kha và Thôi đến thăm. Mừng quá! Tôi thương mấy đứa bạn đã băng bộ đến đây thăm mình. Thương nhất là Thôi người bạn gái mới 19 tuổi đầu. Thôi đã đem cho tôi và Chính một tình càm hết sức đậm đà, đó là tình bạn thắm thiết. Tôi không ngờ là như vậy!


Bây giờ tôi ngồi đây, đang suy nghĩ về tôi thật nhiều… Cuộc đời tôi sẽ ra sao? Thật là khó giải đáp được!
Có lắm lúc tôi muố vụt bay ra khỏi quân trường này, nhưng liền sau đó lại thôi. Tôi không thể làm như thế được. Mọi người thanh niên đều nghĩ rồi làm như tôi, thì lấy ai đứng ra cầm súng giữ nước? Tôi không phải là cách mạng, nhưng tôi suy nghĩ rất nhiều. Nếu mình không trực tiếp cầm súng đứng lên để bảo vệ Tổ quốc, thì mình cũng sẽ chết sau khi giặc ngoại xâm chiếm được Tổ quốc mình.


Thế là tôi lại vững tâm hơn. Tôi sẽ không bao giờ từ giã cây súng khi đất nước vẫn chưa yên. Tôi sẽ dẹp bỏ mọi tình cảm riêng tư để hoàn thành nhiệm vụ mà chính tôi đã giao cho tôi.

Tình cảm đồng đội, bạn bè là một cái gì quý giá ghê. Bây giờ tôi mới hiểu, tôi bắt đầu thấy thương cậu Huynh. Mặc dù cậu có cái tính khó mến kia. Sáng nay, trước khi đi tập, cậu qua hỏi han tôi, đưa dầu cho tôi xức, bắt gió cho tôi. Trong khi tôi không mở miệng nhờ cậu ta một tí nào, thế mà cậu vẫn cứ làm. Chắc cậu mong muốn tôi mau hết bịnh lắm. Tôi biết đồng đội vẫn là thế. Nhưng riêng tôi thật sự chưa làm được như vậy. Có chăng chỉ là những người bạn mà tôi cho là thân nhất.


Thật là bực ghê, hôm trước đến nay tôi chưa nhận được một cánh thư nào, mặc dù tôi đã viết rất nhiều thư cho cả những người tôi đã quen, mới quen hay quen lâu. Mấy đứa bạn ở cùng tiểu đội đã nhận được thư nhiều rồi, riêng tôi không nhận được một lá nào cả để đọc cho vui. Hay là mấy đứa bạn thấy mình đi bộ đội rồi lơ luôn không thèm làm bạn với mình nữa chớ gì? Tôi không nghĩ xấu cho mấy đứa bạn thế!

Đúng hơn là trong này tôi thèm đọc thư hết sức. Có thư đến là vui, khỏi cần biết người gởi đó là ai, trong thư nói gì.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 17 Tháng Sáu, 2008, 10:13:22 PM
25-10-1978

Khoá huấn luyện tôi học này thật gấp. Chưa kịp học hết môn này thì đã đến môn học khác liền. Môn ngắm súng đáng lẽ phải học đến 3 ngày mới gọi là hiểu hết chi tiết, đằng này chỉ học có hai giờ và các môn khác cũng thế, chỉ đến một ngày là tối đa đối với các môn căn bản.

Hôm nay, đại đội tôi bước qua học môn “cách sử dụng và sự sát hại của lựu đạn”. Sau 45 phút nghe giảng viên chỉ dẫn thì chúng tôi được quan sát giảng viên ném lựu đạn thật.

Đây là lần đầu tiên tôi được quan sát trái lựu đạn nổ. Tôi đứng cách xa đích ném chừng 100 mét, hồi hộp chờ đợi, cố mở mắt nhìn thật kĩ thử xem. Dứt tiếng nổ của Đại đội trưởng, giảng viên ném liền trái lựu đạn về phía trước, nơi đó có mấy tấm bia để sẵn, một vầng lửa đỏ loé lên, tấm bia vụt bay đi. Lúc đó tôi mới hoàn hồn, đã lấy lại bình tĩnh nhưng vẫn sợ.

Hôm nay có một điều làm cho tôi buồn là phải xa mấy cậu bạn. Cậu Chính, cậu Hồng mấy lúc nay ở trung đội của tôi, giờ phải chuyển qua trung đội khác. Trong tiểu đội tôi thân cậu Hồng nhất, cậu nhỏ hơn tôi đến ba tuổi, xác lớn hơn tôi. Cậu rất hợp với tôi, thân nhau từ ngày nhập ngũ đến giờ, hôm nay phải xa. Cậu buồn cũng chẳng kém tôi tí nào.


27-10-1978

Típ típ típ… típ típ típ… Tiếng còi thổi lung tung, báo động! Tôi tung mền, vụt ngồi dậy, nhìn đồng hồ mới 4 giờ 30 phút.

Cuốn vội chiếc mùng mền nhét vào ba lô với mấy thứ còn vung vãi lung tung xong, tôi khoác ba lô lên vai, vớ cây RPD và chiếc mũ, vụt chạy theo anh em. Mới được mấy bước đã mệt nhừ. Sau lưng chiếc ba lô cứ lắc qua lại khó giữ quá, lại thêm cây RPD trên vai nữa. Khẩu súng cứ nhảy lên, xuống theo nhịp chân, đánh vào vai đau điếng. Nhưng tôi vẫn cố bám sát anh em. Đây là lần tập báo động đầu. Mệt nhưng lại vui vui làm sao.

Mấy hôm nay tôi cứ đau miết, không biết cái căn “bịnh” ác nghiệt này đến bao giờ mới chịu rời khỏi tôi? Xoay đi xoay lại mới đây, hôm nay đã thứ sáu, mai thứ bảy, mốt thế là chủ nhật lại đến.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 17 Tháng Sáu, 2008, 10:14:35 PM
Phần thứ hai
Vùng đất đỏ cao nguyên Buôn Mê Thuột

“Thị xã Buôn Mê Thuột này có lẽ lớn hơn Hội An đôi chút. Ở đây thôi thì đủ thứ, có quốc doanh, có điện, có rạp xi nê, có nước đá nữa. Rẻ nhất là chuối, gói chuối ép cỡ 1 kg chỉ hai đồng ăn no đến chết… Nhưng ở đây lại thiếu đi một thứ, anh đố Trực biết là thứ gì đó? Thôi để anh nói hộ cho, đó là cá tươi! Thứ này mà thắp đèn đi tìm cả tháng trời ở cái thị xã Buôn Mê Thuột này thì cuối cùng chỉ xách giỏ về không! Có lúc ăn cơm, anh tưởng mình là nhà sư chớ, vì bữa ăn nào cũng chỉ có món chay thôi”.
(Trần Duy Chiến, 3-11-1978)


29-10-1978

Thế là tôi lại phải rời xa mảnh đất Đà Thành nơi đã cho tôi bao kỷ niệm…

Tôi có cảm tưởng giờ đây đang ngồi trong mảnh đất Quảng Nam nhưng không, tôi đã nhầm. Hiện giờ tôi đang đứng trên một vùng đất đỏ của quê hương tôi, vùng đất mang tên Buôn Mê Thuột.

Đây là một dịp để tôi được nhìn rõ quê hương tôi qua đôi mắt. Cứ lần lượt những vẻ giàu đẹp của Tổ quốc tôi lại hiện ra dưới tầm mắt. Tôi cố gắng nhìn và nhìn thật kĩ để rồi đừng quên. Kia là rừng dừa bạt ngàn, những cây dừa cao có, thấp có đang cố mang những chùm quả nặng trĩu. Còn kia là rừng cà phê xanh ngút, kéo dài ra xa tít đến nỗi tôi không nhìn thấy được. Rừng cao su mới đẹp làm sao, những thân cây cao su thẳng tắp hàng ngay ngắn kéo dài ra như không bao giờ dứt, không biết ai trồng, sao mà nó thẳng như giăng dây vậy đó.

Tôi được bổ sung vào đơn vị truyền tin mới khoái chứ, lại càng khoái hơn là được ở với cậu Hồng. Kể ra ở đây cũng không có gì gọi là buồn, chỉ cách thị xã Buôn Mê Thuột chưa đến 500 mét, lại có điện và có xinê nữa.


30-10-1978

Ở đây kể cũng vui vui.

Hôm nay trời mừa suốt, lạnh-cái lạnh buốt xương của Tây Nguyên mới ớn. Ai đã ở đây thì mới biết, sáng chẳng muốn dậy, mắc tiểu cũng chẳng muốn đi. Ớn cái nữa là đất đỏ, hở đâu là dính đó. Trời nắng là bụi bay tứ tung, hít vào mũi đỏ lòm, nhưng hễ mưa xuống là chẹt chẹt. Càng đi ta có cảm tưởng như càng cao lên. Mà thật sự cũng thế, đất nó bám vào giày dép dữ tợn, giống như nó chực sẵn, hễ mình đặt chân xuống là nó bám vào ngay.

Ở đây có đặc điểm rất hay, nó trái ngược với cái quan điểm thường tình của dân gian là “làm gì ăn nấy”. Đây là sản xuất ra cà phê, nhưng chẳng có quan nào bán cà phê cả. Không hiểu sao Nhà nước lại cấm bán cà phê?

Phải nói đất ở đây tốt thiệt, cỏ mọc quá đầu là thường. Mới đặt chân về đây, tôi có cảm tưởng như chung quanh đây đều là rừng cả. Nhưng thật ra đâu phải thế, cỏ mọc tốt quá mình tưởng là rừng đó.

Phải nói đất ở đây tốt thiệt, cỏ mọc quá đầu là thường. Mới đặt chân về đây, tôi có cảm tưởng như chung quanh đây đều là rừng cả. Nhưng thật ra đâu phải thế, cỏ mọc tốt quá mình tưởng là rừng đó.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 17 Tháng Sáu, 2008, 10:15:16 PM
3-11-1978

Vùng đất đỏ Buôn Mê Thuột…

Trực thân!

Đang ngồi thảo luận chính trị “Tình hình và nhiệm vụ mới”, anh thấy nhớ quê hương, nhớ Đà Thành, nhớ chợ chiều, nhớ nhà, nhớ đến Trực, nên anh viết thư cho Trực đây!

Trực thân! Thế là chẳng bao giờ anh được trở về Đà Thành, về Chợ Chiều quê ngụ để anh được gặp Trực một lần, dù chỉ dăm ba phút.

Lúc này, cái tên Chợ Chiều, tên Trực chỉ là giấc mơ trong anh, anh biết ngồi đây hồi tưởng lại rồi thầm gọi tên chứ chẳng bao giờ anh lại được bước chân về nơi đó.

Giờ đây đối với anh là súng đạn, là núi rừng, là những tiếng nổ ghê hồn vậy thôi. Anh đang mang nặng trên mình nhiệm vụ thật là to tát và thiêng liêng mà Tổ quốc đã giao cho anh. Tổ quốc đã cho anh bộ quân phục màu xanh với chiếc quân hàm đỏ chói. Anh không lấy thế làm buồn. Anh tự hào hãnh diện cho mình là đã trực tiếp cầm súng đứng bên lề biên giới, để bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc mình.

Đôi lúc ngồi một mình, anh cảm thấy nhớ, nhớ những ngày xa xưa, nhớ nhà, nhớ Trực. Những gì có thể nhớ anh đều nhớ, cũng như hôm nay.

Nãy giờ anh nói dóc quá phải không Trực? Thôi kệ, cố gắng thông cảm cho bộ đội xổ chút chính trị cho vui. Giờ để anh kể chuyện Tây Nguyên cho Trực nghe nhé!

Anh đặt chân đến thị xã Buôn Mê Thuột này hôm 29-10-1978 (Chủ nhật), đến nay cũng được sáu ngày rồi. Hôm mới đặt bước chân đến, anh tưởng đây là rừng chứ. Nhưng không, đây là thị xã Buôn Mê Thuột. Nơi đây chỉ cách thị xã cỡ cây số, bằng chỗ Chợ Chiều mình đến Sơn Trà.

Vừa lên đến nơi, anh và Chính chuồn ngay ra thị xã làm một chầu “quốc doanh” vui ghê.

Thị xã Buôn Mê Thuột này có lẽ lớn hơn Hội An đôi chút. Ở đây thôi thì đủ thứ, có quốc doanh, có điện, có rạp xi nê, có nước đá nữa. Rẻ nhất là chuối, gói chuối ép cỡ 1 kg chỉ hai đồng ăn no đến chết… Nhưng ở đây lại thiếu đi một thứ, anh đố Trực biết là thứ gì đó? Thôi để anh nói hộ cho, đó là cá tươi! Thứ này mà thắp đèn đi tìm cả tháng trời ở cái thị xã Buôn Mê Thuột này thì cuối cùng chỉ xách giỏ về không! Có lúc ăn cơm, anh tưởng mình là nhà sư chớ, vì bữa ăn nào cũng chỉ có món chay thôi.

Tây Nguyên về mùa này lạnh lắm.

Mưa cứ rơi mãi. Nếu Trực xem sách thì hẳn biết cái lạnh Buôn Mê Thuột này. Sáng dậy không muốn đánh răng rửa mặt đâu. Lại thêm cái đất màu đỏ au này thì càng ớn. Nếu sáng ra mặc chiếc áo trắng đi, thì chiều về chiếc áo lại là màu đất. Nhưng hễ mưa xuống là nó lại nhão nhẹt ra, đụng đâu là nó dính dẻo đeo vào đó.
Bây giờ kể về anh nhé! Anh với Chính ở chung một đơn vị, được vào truyền tin. Hiện giờ thì đang học nghiệp vụ truyền tin, chưa đi chiến đấu. Sức khoẻ vẫn bình thường, chỉ thấy nhớ nhà thôi. Còn Trực dạo này vẫn khoẻ chứ? Chợ Chiều mình kỳ rày có gì thay đổi không? Có mưa có lạnh lắm không?

Thư đến, Trực nhớ kể rõ nhé, kể dài như anh vậy! Sắp đến giờ nghỉ thảo luận, anh xin dừng bút. Chúc Trực và gia đình được khoẻ, vui.


Địa chỉ của anh:
Trần Duy Chiến
H.T: 5A.2029
Buôn Mê Thuột-Đắk Lắk.
Anh gởi lời thăm Tuân-Trực-Diệu-Hải.
Chúc vui+khoẻ


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 17 Tháng Sáu, 2008, 10:16:02 PM
3-11-1978

Cậu Thưởng Thân!

Thế là chẳng có bao giờ tớ được gặp lại cậu, tán gẫu cùng cậu một lúc, dù là ngắn ngủi chỉ dăm ba phút. Giờ đây giữa tớ và cậu cách nhau 700 cây số. Tớ thấy nhớ cậu thật! Nhớ những lần tớ cùng cậu lang thang nơi phố chợ. Bộ thường phục ngày nào tớ mặc, nay nó đã xa lánh tớ rồi và cả cuộc sống nữa nó cũng đã khác luôn.

Tớ cũng thấy luyến tiếc ghê, nhưng làm sao bây giờ? Nó đã vụt khỏi tầm tay của tớ mất. Tớ không tài nào giữ nó lại được. Thôi tớ cho luôn cậu đó! Bộ thường phục đắt tiền với những đêm lang thang tán gẫu, tớ cho cậu hết. Tớ chả cần dù chỉ một tí. Tớ đã có cái mới rồi, bộ quân phục, chiếc quân hàm, khẩu súng, kỷ luật gò bó, giờ giấc cộng với chiếc đầu húi cua trông ngô ngố ra làm sao. Thế thôi, cái mới của tớ đó cậu ạ!

Tớ còn nhớ bữa hôm trước vui hết sức. Tớ cùng cậu Chính ra phố Buôn Mê Thuột chơi, gặp mấy cô ả. Cậu Chính chọc mấy câu gì đó. Họ chả cần nói lại, chỉ sờ sờ cái đầu của nó rồi xúm nhau cười. Tớ và cậu Chính quê ra mặt. Cậu biết sao không? Ý họ bảo là tớ và cậu Chính đều là “carê ba phân” cả. Đó, cậu thấy không, tớ thiệt ớn đó cậu.

Còn cậu mấy kì này khoẻ không? Vẫn đi làm đều chứ, đủ tiêu hay phải chĩa thêm? Từ ngày tớ đi đến giờ, cậu có hay “bang” xuống phố chợ đẻ chơi, để lướt sang nhà mà cậu muốn vào nhưng lại chẳng dám? Có ghé mua thuốc ở đó không? Nếu không thì cố lên, chẳng có thời gian nào gọi là thuận lợi đâu, bỏ mất dịp may thì ân hận về sau đấy!

Mấy lời thăm cậu, chúc cậu khoẻ vui, can đảm nhiều hơn, đạt thắng lợi nhất! Tớ dùng bút.

Duy Chiến

Địa chỉ H.T: 5A.2029
Buôn Mê Thuột-Đắk Lắk.


4-11-1978

Vùng đất đỏ Buôn Mê.

Cái đất Buôn Mê Thuột này lạnh thiệt, tháng này đâu đã phải mùa lạnh mà sao nó lại lạnh ghê. Chiều xuống thì sương cũng xuống dày đặc. Hôm qua lúc chiều, mặc dù lệnh cắm trại nhưng tôi cũng liều chuồn ra phố Buôn Mê Thuột chơi. Vui thiệt, mấy cô dân tộc quá xinh, ôm cặp đi học lại càng xinh hơn, không khác gì người Kinh. Nhưng có cái dễ nhận ra là mấy cô ả còn mặc váy. Chơi chán gần đến giờ sinh hoạt tôi về. Bị cậu Hai-Tiểu đội trưởng chửi. Kể cũng vui, thà là ra phố chơi rồi bị chửi, còn hơn ngồi nhà cù rũ như cu đất. Bằng mọi giá phải giải phóng tầm nhìn của tôi một tí.

Sáng nay ngồi thảo luận, tôi cảm thấy nhớ nhà ghê. Không biết ngày nào tôi được về lại quê hương, để nhìn lại ngôi nhà thân yêu đã từng che nắng che mưa cho tôi? Để tôi gặp lại mấy đứa em dễ thương suốt ngày đùa giỡn, để gặp lại cu út mới bập bẹ luôn mồm kêu “anh Hai!”, để gặp lại mẹ tôi-người mẹ hiền mà tôi luôn yêu mến đã nuôi tôi lớn khôn, đã thuốc men săn sóc cho tôi những lúc tôi ốm đau? Bây giờ giữa tôi và mẹ có một khoảng cách quá xa, gần 700 cây số, tôi không thể nào vè thăm lại mẹ. Tôi nhớ mẹ, nhớ em! Ngồi nơi đây tôi viết thư về mẹ!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 17 Tháng Sáu, 2008, 10:16:53 PM
4-11-1978

Mẹ thân yêu của con!

Nơi quê lạ, xứ người con viết thư về mẹ đây! Mẹ thương yêu của con! Con luôn cầu mong mẹ khoẻ và trẻ mãi.

Mẹ ơi, con xa quê hương xa mẹ, con thấy nhớ và thương mẹ ghê. Con chẳng biết làm sao về để được nhìn mẹ, xem mẹ có già đi tí nào không? Giờ đây đứa con thân yêu của mẹ đã không còn ở bên mẹ nữa, nó đã có đôi cánh cứng, nó đã bay đi, bay xa… Nhưng không một lúc nào nó quên được hình bóng và gương mặt mẹ hiền của nó!


Mẹ thương yêu! Chắc là mẹ cũng hiểu, đâu phải nó bay đi để xa mẹ, để tìm một cái gì sung sướng, khoái lạc cho bản thân nó. Nó đi để làm nhiệm vụ của nó. Mẹ ơi! Nhiệm vụ của nó thật là thiêng liêng mà Tổ quốc và nhân dân đã giao cho. Nó không thể nào rời bỏ nhiệm vụ để trở về với mẹ được.


Mẹ kính yêu! Rồi mai đây trên vạn nẻo đường đất nước, lúc đứng bên lề biên giới, lúc ngoài biển khơi, lúc trên hải đảo xa xôi, lúc đứng trước mặt quân thù. Hay lúc con gục xuống trên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc… con đều thầm gọi tên mẹ. Lúc đó mẹ sẽ hiện ra trước mặt con như một bà mẹ tiên hiền dịu, an ủi con, khuyên nhủ con. Thế là con lại có đầy đủ nghị lực, xông ra phía trước tiêu diệt quân thù, hay đứng vững trước gió mưa lạnh buốt.


Mẹ thân yêu của con ơi! Mẹ đừng buồn đừng nhớ và đừng khóc nghe mẹ. Ngày mai đây, khi dân tộc mình đã thoát khỏi vòng điêu linh chết chóc, đất nước mình thoát khỏi nạn ngoại xâm. Lúc đó, con sẽ về bên mẹ, để mẹ được nhìn kỹ đứa con của mẹ sinh ra.


Mẹ ơi! Giờ đây, đứa con thân yêu của mẹ đang đứng trên mảnh đất của Tổ quốc, gần biên giới Tây Nam, đó là Thị xã Buôn Mê Thuột, Tỉnh Đắk Lắk. Về mùa này trời lạnh, cái lạnh của Tây Nguyên thì ớn lắm mẹ ạ! Đất nước mình nếu không nói tới ngoài Bắc, kể từ Cà Mau đến Đà Nẵng thì nơi đây là lạnh nhất.


Hôm trước con ra phố Buôn Mê Thuột chơi, con gặp bà dì nào đó, sao mà giống mẹ ghê. Thoạt nhìn con tưởng mẹ, con mừng hụt! Mẹ ơi, làm sao con nói hết được những tình thương con dành cho mẹ! Mẹ ơi! Mẹ là những gì quí báu nhất của đời con… “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào”…

Mẹ thân yêu của con! Con xin dừng bút. Con cầu mong mẹ sẽ hạnh phúc mãi trong cuộc sống!

Hôn mẹ!

Con trai của mẹ.


Địa chỉ của con
H.T.5A2029
Buôn Mê Thuột-Đắk Lắk.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 17 Tháng Sáu, 2008, 10:17:39 PM
5-11-1978

Chủ nhật này là một ngày đáng nhớ!

Một ngày mà trong suốt thời gian 30 ngày mới có ngày hôm nay. Một ngày mà tôi vui và thanh thản nhất. Một ngày trí óc tôi vô cùng thoải mái kể từ khi tôi bước chân vào đời quân ngũ.

Sáu giờ sáng tôi đã có mặt tại thị xã Buôn Mê. Tôi đi mãi, đi hoài trên đường phố. Đi cho biết tất cả, đi để được nhìn những gì đẹp và dễ thương của phố núi, đi cho hết ngày. Phố Buôn Mê Thuột càng lúc càng thu ngắn lại dưới đôi chân tôi: Quốc doanh, hàng quán, chợ, rạp chiếu bóng… hiện ra trước mắt tôi. Đi khuất rồi lại hiện ra, cứ thế tôi đi mãi. Phố Buôn Mê Thuột không rộng, không lớn như Đà Thành, nhưng tôi đi hoài không hết, bởi vì tôi cứ đi vòng qua, rồi vòng lại. Phố Buôn Mê Thuột không đẹp, không giàu như Đà Thành, nhưng tôi vẫn thấy đẹp hơn nơi nào hết.


Những cô gái Tây Nguyên, con người mà tôi đã từng ấn tượng bởi những điều “xấu xí”, thì hôm nay lần lượt hiện ra trước mặt tôi. Tôi không ngờ họ lại xinh và dễ thương đến thế!

Trong bọn chúng tôi gồm năm đứa: tôi, cậu Chính, cậu Hồng, cậu Hải, cậu Trung. Cứ thế, bọn tôi đi mãi, đi chán lại rúc vào rạp xinê.

Cũng may cậu Hải có chị quen ở Đà Nẵng lên đây sinh sống. Thế là cả bọn ùa vào đó, “đá” bữa trưa vui ghê. Suốt một tháng trời trong quân đội, trưa hôm nay mới được ăn một bữa cơm trắng không ghế, thật không gì ngon bằng!

Đến 4 giờ chúng tôi về đến đơn vị.


7-11-1978

Thế là hôm nay tôi lại biết thêm một nghề nữa-nghề gọi máy. Tôi ham quá, những mật hiệu cứ lộn xộn trong đầu, sao mà rắc rối thế!

Lúc chưa học, tôi cứ tưởng là học xong cách sử dụng thì sẽ gọi được ngay chứ, không ngờ càng học càng thấy khó. Cái gì cũng dùng bằng số cả, mà số thì dễ lộn lắm. Tôi ngó vào số, tôi đọc mà còn lộn, huống chi là nhớ mà đọc. Khó thì khó thật, nhưng tôi tin tưởng là sẽ thành công. “Ở đời không có việc gì khó, chỉ em lòng ta ngại khổ”-Nghĩ thế, nên tôi càng cố gắng.

Ngày đầu học gọi máy sao mà rắc rối thế. Những con số không chỉ rắc tối mà còn lộn xộn. Nhưng tôi vẫn phải thuộc lòng, nhẩm đi, nhẩm lại, thế mà vẫn lộn, vẫn quên! Lúc nào và bất cứ lúc nào cũng phải nhẩm học thuộc những số 189-130-161-223-234-244-284 v.v… còn nhiều, nhiều vô kể. Nói chung cái gì cũng bằng số cả. Cứ chấp chới, chập chờn trước mắt tôi, không lúc nào không nghĩ đến những số, thật là rắc rối.

Kể từ ngày tôi nhập ngũ đến nay đã một tháng. Một tháng mà sao tôi thấy lâu, có cảm tưởng như là đã 2 hay 3 tháng qua rồi. Mới một tháng trôi qua mà biết bao nhiêu là điều đổi thay trong tôi. Từ một cậu thanh niên sống tự do thoải mái ngoài đời, đổi qua nếp sống khuôn khổ kỷ luật làm tôi trở nên nhanh nhẹn lạ thường. Những cái chậm chạp trong tôi biến đâu mất hết, sáng dậy nghe kẻng, dù trời rất lạnh nhưng không thể thiếu tôi được. Có lúc tôi muốn báo ốm để ngủ tí nữa, nhưng sao tôi lại không thể nào làm thế được. Mỗi sáng tôi không tập thể dục là tôi như thiếu một thứ gì, cứ ray rứt tôi mãi.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 17 Tháng Sáu, 2008, 10:18:42 PM
8-11-1978

Truyền tin-cái danh từ thông dụng, bất cứ ai khi nhắc đến cũng biết được cái nghĩa của nó nhưng nó lại rất khó, khó với những ai muốn đi sâu vào nó. Và nó thật là khó đối với tôi. Giờ đây, đầu óc tôi không còn nhớ gì ngoài những chữ đúc. Chao ôi sao nó lại xộn quá vậy. Cả mấy trang dài mà tôi phải thuộc.

Thật là một điều quá mệt óc đối với tôi. Mấy cậu cùng đơn vị thường đùa “mòn quần chai đít-thưởng ít phạt nhiều” thật là đúng. Tôi không một tí nào gọi là ý kiến về cái câu nói đùa ấy.

Lúc chiều, tôi được biết là sẽ hành quân vào sáng nay, tôi vội viết thư cho mẹ.


9-11-1978

Mẹ kính yêu của con!

Mẹ ơi! Khi mẹ nhận được cánh thư này của con thì con đã không còn có mặt ở Ban Mệ nữa. Con tiếp tục đi và tiếp tục xa mẹ hơn. Con cũng chẳng biết đi đâu, chỉ biết là sáng mai cả đơn vị con hành quân. Con đoán là lên biên giới mẹ ạ!

Con nói thế để mẹ được biết, chứ mẹ đừng lo cho con nghe mẹ. Bây giờ con như cánh chim, cứ bay, dừng rồi lại bay, bay cho hết vạn nẻo đường.

Trên đất nước mình hễ nơi đâu có bóng quân thù là con sẽ đến đó.

Con xin dừng bút để sắp xếp hành trang ba lô.

Đứa con của mẹ.

Trần Duy Chiến

Khi nào đến nơi con sẽ biên thơ về mẹ.
Ân, Hưng cố gắng viết thư cho anh với nhé!


11-11-1978

Đăk Cơ, Gia Lai-Kon Tum.

Đây là Đăk Cơ, tôi đã đến đây, không phải đề thưởng thức vẻ đẹp của núi rừng. Tôi đến đây không phải để tìm một món thuốc quý, tôi đến đây với trách nhiệm thật là cao cả là bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc.
Giờ đây, quanh tôi chỉ có núi rừng, muỗi độc, sốt rét và súng đạn. Tôi nằm đây trên chiếc võng đu đưa với nhiều suy nghĩ miên man mà chính tôi cũng không sao hiểu được.

Tôi giở lại những trang đã viết trong quyển nhật ký ra xem, từng quãng đời lại hiện về. Vui có, buồn có, đau khổ có. Bất chợt một trang nhật kí cũ mà mình viết vào một chiều lòng mình buồn nhất, mình ghi lại vào đây gọi là để nhớ!


10-11-1978

Hoà Nhơn, Đà Nẵng.

Đoản văn không tên!

Tôi viết những dòng mà tim tôi không muốn viết. Tôi đọc những lời mà chính tôi không muốn đọc. Tôi đang nghĩ những lời mà tôi không bao giờ nghĩ đến. Tôi đã nói những lời mà hình như không phải tôi nói. Tim tôi còn đó hay đã mất rồi người ơi, tôi đang là tôi chăng?!

Trái tim đang đập là tim của tôi chăng? Tôi không được biết nữa. Tôi đang sống cho người khác. Thân xác tôi không còn là của tôi. Đôi mắt tôi không còn nhìn thấy chung quanh. Mắt thấy chỉ còn là mắt người. Giờ đây tôi không còn là tôi nữa!

Không tôi không còn là tôi nữa. Tôi đã chết rồi, người ơi!

Người ơi! Sao người đến như giấc mơ, rồi ra đi cho sụp đổ cả lâu đài tình ái trong tôi? Người ác quá! Tôi không hận thù, người ghét người. Tôi vẫn là tôi, ô hay-sao thế nhỉ? Tôi đã và đang làm gì cũng không biết. Quanh tôi chỉ có tôi, bầu trời, sự vắng lặng quạnh quẽ khiến tôi phải ghê sợ!

Tim tôi giờ đây còn hay mất? Nó đang đập thôi thúc hay đã chết lịm từ lâu? Tôi cố quên những điều mà tôi không muốn quên, cố nhớ những điều mà tôi không cần nhớ tới. Tôi quên người tôi không bao giờ quên. Tôi quên tiếng nói ngọt ngào mà tôi đã nhớ. Tôi quên và thật quên dáng người trong mắt tôi. Tôi không còn nhớ gì nữa!

Người ơi! Cứ đi thật xa, đừng bao giờ trở về, dù chỉ một phút giây để cho tôi chết, chết thật tình cờ, chết như cơn mơ, chết vật vờ bên thung lũng hun hút buồn phiền, đìu hiu và vắng lặng.

Người ơi! Cứ đi.

Một chiều Hoà Vang.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 17 Tháng Sáu, 2008, 10:19:25 PM
12-11-1978

Buôn Loók, Đăk Cơ, Gia Lai.

Tôi bắt đầu đi từ lúc sáng, đến trưa tôi mới về nhà. Tôi đi tìm mua ít nải chuối về ăn nhưng đi mãi vẫn về không. Ở đây tôi chẳng thấy một cây chuối nào, rốt cuộc nhịn đói về không. Cậu Dũng mua có 5 hào mướp. Tôi với cậu khiêng mệt đừ, vì nó nhiều quá, gần 1 bao 50 kg.


13-11-1978

Đêm!

Tôi cùng mấy cậu lội xuống buôn tìm mua rượu, chuối về ăn cho vui. Đến nơi hỏi nhà nào cũng chẳng có thứ gì, chúng tôi liền tạt vào trung đoàn nữ đi làm kinh tế ở đây chơi. Ở đây toàn là nữ khoảng từ 30 tuổi trở lại. Có nhiều cô xinh ghê! Họ lên đây từ năm 1975, sau khi đất nước được giải phóng. Qua ít phút trò chuyện thăm hỏi, tôi cũng biết ít nhiều về họ. Có cô từ lúc xa gia đình lên xây dựng ở đây chưa có một lần về thăm nhà.

Càng hiểu về họ, tôi càng thấy thẹn cho tôi. Họ là nữ mà sao họ lại như vậy? Còn tôi thì lúc nào cũng nhớ nhà, nhớ cuộc sống cũ của tôi. Vậy là tôi hèn quá. Tôi nghĩ như vậy và sẽ cố gắng khắc phục.

Đến chín giờ tôi mới về tới doanh trại, nhận được cái tin không làm tôi hài lòng tí nào: Tôi được điều sang quay viên cho 15W. Buổi 15 phút…

Anh quay viên thì nhàn thật, súng đạn khó mà hỏi thăm. Thế nhưng chả thích tí nào. Thà ra ngoài chiến trường cầm súng bắn thẳng vào mặt quân thù, còn sướng hơn là làm cái anh quay viên này. Phải chi tôi được ở 2W như cũ thì khoái thật. Mang máy ra chiến trường phục vụ cho bộ binh để tôi được nhìn thấy rõ hơn về cuộc sống của người lính ngoài mặt trận. Tôi không sợ chết. Tôi chỉ sợ trong suốt quãng đời bộ đội của tôi sẽ chẳng bao giờ được cầm súng bắn thẳng vào mặt quân thù, được nhìn quân thù gục xuống, được thấy tận mắt súng nổ, đạn reo…


14-11-1978

Rừng biên giới.

Gia đình 15W này gồm 3 người, cậu Trung lính mới như tôi, cậu Tải, cậu Ngợi lính cũ, cộng thêm 2 người mới điều sang (cậu Lệ và tôi) nữa là 5. Tôi, cậu Lệ, cậu Trung-3 tay quay phim (quay máy nguồn để phát ra điện, tụi tôi đặt là “quay phim” cho oai một tí), 2 tay kia là tín hiệu viên quê ở Bắc. Nói chung đều vui tính cả.

Đêm. Tôi phải thức đến gần 12 giờ để quay nguồn cho cậu Tài đánh điện. Tôi quay không quen nên rất mau mệt, nhưng chẳng biết đổi cho ai, vì các cậu kia đều ngủ cả. Tôi ráng quay cho xong, bức điện sa dài quá, đôi tay tôi rã rời, miệng thở dốc. Người tôi bây giờ rõ mệt, đầu óc cũng quay cuồng theo tay, chẳng biết làm thế nào để được nghỉ đôi chút. Giá như việc này là của tôi, làm cho tôi thì tôi đã ngừng tay từ lúc nãy, đằng này không phải làm việc cho tôi mà nghỉ thì chả được nên tôi đành chịu. Tôi vẫn quay túi bụi. Đến một lúc nào đó nghe cậu Tải bảo “Thôi!”, tôi liền buông tay quay ra. Người tôi lúc này ướt cả, mồ hôi tuôn ra như tắm. Tôi vớ vội chiếc khăn lau mấy giọt mồ hôi sắp rơi xuống trên trán, trên cằm.

Tôi bước ra khỏi ghế quay, ngước mắt nhìn trăng qua khe hở của lá. Trăng nơi rừng cao nguyên đẹp thật. Trăng đứng ngay đỉnh đầu tôi. Mấy cụm mây lại hiện ra. Trăng soi sáng cảnh rừng núi âm u, tĩnh mịch. Những giọt trăng vàng yếu ớt, như tâm sự cùng tôi. Tôi thấy lòng tôi lại rộn lên nhớ tới những mùa trăng sáng mà tôi yêu…

Đang thả hồn theo trăng, nghe cậu Tải gọi:

-Đi ngủ chứ, thất tình hả cậu?

Tôi giật mình, phân bua vài câu cho đỡ thẹn, rồi quay về ngủ với hiện tại: chiếc tăng, cái võng, cái mùng, chiếc ba lô và cả cuộc đời chinh chiến!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 19 Tháng Sáu, 2008, 08:37:06 PM
Phần thứ ba
Miền đất lạ Chur-bơ-room

“Chur-bơ-room ư? Phải đấy! Mi còn thức đó không? Đừng ngủ sớm nhé! Hãy lắng nghe ngoài kia, tiếng côn trùng đang hoà tấu khúc nhạc bi ai, như oán thán cho cuộc đời lắm nỗi chua cay. Chúng cố rên rỉ, gào thét cho thật to. Chúng kêu dai dẳng như không bao giờ dứt. Chúng cứ ngỡ màn đêm khi ông mặt trời của mình thức giấc, thì chúng yên lặng, thui thủi, lùi bước lẩn trốn như sợ sệt”.
(Trần Duy Chiến, 24-11-1978)


19-11-1978

Rừng biên giới Chur-bơ-room.

Viết cho người tôi chưa quen…

Kiều Miên…!

Trên tuyến lửa tôi được biết tên người-Kiều Miên-cái tên dễ mến, làm người lính cứ xao xuyến mãi. Lúc nằm dưới chiến hào cũng như khi trên trận tuyến và hình dung cái tên Kiều Miên có một phép mầu thật là huyền diệu với tôi.

Vì vậy, tôi cố dồn hết nghị lực của người lính đến với Kiều Miên qua dòng chữ ngoằn ngoèo, không ngoài ước mong là được quen với người con gái nơi Đà Thành có cái tên dễ mến đó.

Còn tôi là ai, ở đâu, sao lại biết được người con gái ở hậu phương mang cái tên Kiều Miên dễ mến đó?
Kiều Miên lắng nghe tôi kể nhé! Tôi-người lính chiến cũng như bao người lính chiến khác đang sống những ngày của cuộc đời làm lính nơi tuyến đầu của Tổ quốc, gian khổ và thiếu thốn, giữa núi rừng biên giới bao la, đầy rẫy sự sợ hãi và lo âu.

Màu lá rừng xanh thẳm đang phủ kín hồn tôi khiến tôi chẳng biết mơ mộng với lứa tuổi đôi mươi rất nhiều mộng mơ. Tất cả tôi đều bỏ lại, kể từ lúc giã từ Đà Thành bước chân vào quân ngũ. Cuộc đời của lính vẫn là thế, thiếu thốn và thiếu thốn tất cả, nhất là tình cảm nồng thắm của người em gái từ hậu phương qua những cánh thư nho nhỏ.

Kiều Miên đừng giận và đừng trách nhé! Hãy thông cảm thật nhiều cho người lính, cho kẻ xa quê.

Hy vọng rằng người em gái nơi hậu phương sẽ không bao giờ phụ lòng tin của lính.

Lính xin dừng bút.

Từ trận tuyến nóng bỏng, lính luôn thầm chúc người em gái nơi hậu phương khoẻ và yêu đời mãi!

Lính.

Địa chỉ của lính:
H.T: 5A 2029 Buôn Mê Thuột-Đăk Lăk


24-11-1978

Đêm lạnh biên giới Viết cho tôi!

Chiến ơi! Giờ đây mi đang đứng nơi nào trên dải đất Tây Nguyên với rừng núi ngút ngàn vô tận?

Chur-bơ-room ư? Phải đấy! Mi còn thức đó không? Đừng ngủ sớm nhé! Hãy lắng nghe ngoài kia, tiếng côn trùng đang hoà tấu khúc nhạc bi ai, như oán than cho cuộc đời lắm nỗi chua cay. Chúng cố rên rỉ, gào thét cho thật to. Chúng kêu dai dẳng như không bao giờ dứt. Chúng cứ ngỡ màn đêm khi ông mặt trời của mình thức giấc, thì chúng yên lặng, thui thủi, lùi bước lẩn trốn như sợ sệt.

Ồ! Đẹp tuyệt! Mày hãy lặng yên nữa, nhìn chị Hằng đi, trông chị hôm nay đẹp quá. Gương mặt tròn vo như chiếc bánh đa, với đôi mắt dìu dịu, man mát làm sao. Chốc chốc, mấy chàng mây lại bay vẩn vơ trước mặt như trêu ghẹo. Chị vẫn lặng yên.

Đêm nay, trên biên giới chị đang thức với những người lính chiến. Chị đến người vui, rừng núi bớt âm u, đàn em nhỏ vỗ tay, reo mừng, chào đón.

Chiến ơi! Mày có lạnh lắm không? Đừng đùa cợt với băng giá Tây Nguyên! Hãy ngủ yên đi và đừng mơ mộng nhé vì mộng mơ là hão huyền, là chuyến tàu không có sân ga.

Đà Thành-nơi chôn giấu bao kỷ niệm có làm cho mi nhớ không? Giờ đây đối với mi là cuộc đời lính chiến, mi đừng nhớ thương làm gì, hãy chôn tất cả ước mơ vào dĩ vang, hãy can đảm với cuộc sống hiện tại.

Hãy nhớ cho kỹ rằng Chiến bây giờ là “lính”. Cuộc sống của Chiến gắn liền với súng đạn, núi rừng, với những tiếng nổ, những đêm nơi biên giới lạnh buốt.

Thôi ngủ đi Chiến, hãy ngủ một giấc cho thật say, cho ước mơ lùi về dĩ vãng để sáng mai mi dậy sớm đón ông mặt trời lên. Ông sẽ cho mi những tia nắng ấm để sưởi ấm lại lòng qua một đêm lạnh.

Mi sẽ được thưởng thức những âm điệu réo rắt của những nàng ca sĩ không tên mang đến, triền miên và bất tận.

Mi tha hồ ngắm nhìn một cách thoả thích những giọt sương đêm còn đậu trên ngọn cỏ, qua cái nhìn của ông mặt trời bỗng biến thành những hạt kim cương, trải dài theo rừng núi, lấp lánh, đẹp tuyệt!

Mi sẽ nhìn say sưa như không bao giờ biết chán. Mi sẽ buột miệng nói một mình như để mi nghe “bình minh trên rừng thật là đẹp!”. Mi sẽ ngợi khen thiên nhiên là bức tranh tuyệt mỹ. Mi sẽ cố hít lấy hít để luồng không khí vừa trong lại vừa ấm áp như sợ sẽ không bao giờ có lại cái cảm giác ấy.

Để rồi chiều đến, mi sẽ được nghe nàng suối kể chuyện. Nàng kể dài như không bao giờ dứt. Róc rách… róc rách… Câu chuyện của nàng dài lắm, dài như chính bản thân nàng vậy. Róc rách, triền miên và vô tận…


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 19 Tháng Sáu, 2008, 08:37:53 PM
25-11-1978

Cậu Thưởng của tớ thân!

Tớ viết cho cậu lúc bóng đêm đang bao trùm cả Tây Nguyên. Giữa rừng sâu nơi biên giới này cái gì cũng làm cho tớ giật mình và sợ sệt cả. Nhất là khi ông mặt trời treo mùng đi ngủ, trả lại cuộc sống sinh hoạt cho lũ côn trùng. Chính lúc này bên mình tớ, khẩu AK sẵn sàng khạc lửa để tự vệ.

Biên giới là thế đó cậu ạ! Sẵn sàng và sẵn sàng. Lúc nào và bất cứ lúc nào tớ cũng mang “vợ” theo bên. Kể ra “vợ chồng” tớ cũng chung thủy lắm.

Đêm nay tớ ngồi đây, dưới căn hầm nhỏ, bên chiếc đèn dầu hiu hắt, ý nghĩ vừa loé lên thì cũng tắt lịm bởi những tiếng nổ ì ầm từ xa vọng tới. Nó làm tớ như quên mất là đang ngồi viết thư cho cậu.

Thỉnh thoảng những “Vì sao đêm” (đại bác đó cậu, chúng tớ quen gọi như vậy) lại rơi xuống mặt đất một cách vô tổ chức, khiến tớ giật mình.

Nhưng dần dần nó cũng quen cậu ạ. Đặt chân đến nơi đây, hễ nghe tiếng “Vì sao đêm” là chúng tớ nằm rạp xuống ngay, dù chúng rơi tận đâu đâu.

Kể ra trên vùng biên giới này cũng lắm chuyện vui. Có lần tớ ôm “vợ” đứng dưới chiến hào gác địch, bỗng nghe tiếng sột soạt trước mặt. Tớ tưởng đấy là quân “K” (trên này gọi quân Pol Pot ở Campuchia là “K”) nó bò vào chớ. Tớ liền ra lệnh cho “cô vợ” của tớ khạc lửa ngay, không ngờ đó là con chuột, hay con sóc gì đó. Lúc đó tớ mới hoàn hồn!

Đời lính chiến là thế, lo âu và sợ sệt cứ đeo đuổi luôn bên mình. Thôi tớ tạm gác chuyện biên giới lại nhé! Nó dài lắm, vui lắm. Thư sau tớ sẽ kể tiếp.

Còn cậu thì sao, dạo này có khoẻ không? Đi làm đều chứ, có nhận được thư của tớ gởi không? Sao cứ im lìm thế, cố gắng viết thư cho tớ đi. Nhận được một lá là vui ghê lắm!

Giấy sắp cạn rồi, tớ tạm dừng bút nơi đây. Chúc cậu vui, khoẻ. Hẹn gặp lại cậu vào thư sau!

Trên biên giới này thiếu giấy, tem nên tớ lấy cái “QTT” (nguyên văn ký hiệu viết tắt của Trần Duy Chiến, không hiểu nghĩa là gì?-ĐVH) của tớ viết cho cậu. Mong cậu thông cảm và đề nghị cậu giúp đỡ nhều về phương tiện này cho tớ. Nếu có, tớ cảm ơn cậu nhiều!


26-11-1978

Ngày chủ nhật đến nơi biên giới thật êm đềm và lặng lẽ. Không một ai mong chờ để đón tiếp và hình như giữa rừng sâu này mọi người đều quên lãng.

Mặc ai quên lãng, chủ nhật đến nơi với biên giới xa xôi này.

Gió vẫn thổi, rừng cây vẫn rì rào trò chuyện như vẫy chào một ngày chủ nhật đẹp trời đến với chúng.

Chủ nhật biên giới tìm đâu ra những cốc cà phê toả khói thơm phức? Tìm đâu ra những lúc rong chơi chúng bạn, vẩn vơ chuyện trò? Chủ nhật biên giới thiếu hẳn đi tiếng cười rộn rã và những màu áo rực rỡ thướt tha trên đường phố Đà Thành…

Chủ nhật biên giới lặng lẽ không một tiếng ồn ào bàn tán, trông đợi. Người lính nhìn chủ nhật đến với cặp mắt vô tư và nhớ…

Chỉ có lũ chim nhỏ là reo vui nhảy nhót chào đón. Chúng thức dậy từ sáng sớm khi những giọt sương đêm còn đậu trên lá, trên cây. Chúng ca hát líu lo, thoả thích, mặc ai ngủ quên đi ngày chủ nhật.

Ông mặt trời vẫn đều đặn thức dậy thừ lúc sáng sớm, gương mặt đỏ gay, phóng tia nhìn ấm áp, xuyên qua bức tường sương mù dày đặc thành những tia sáng thật diệu kỳ.

Ngoài kia nàng suối đang cố lách mình qua một mô đất nhỏ, thì thầm kể chuyện nhưng chẳng một ai buồn nghe.

Chủ nhật nơi biên giới vẫn thế, lặng lẽ và êm đềm. Tất cả như hoà chung vào điệu nhạc lặng yên, buồn dai dẳng…


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Sáu, 2008, 10:02:58 PM
Phần thứ tư
Tà Keo-Campuchia

“Mấy đứa bạn 15W còn quấn kín mền ngủ khì, mặc kệ những tiếng nổ đề ba của mấy khẩu pháo. Hình như chúng đã quen tai. Vọt xuống võng, chân quờ quạng tìm xỏ được đôi giày,tôi chui lên khỏi miệng hầm. Uể oải vì suốt đêm nằm co trên chiếc võng, tôi vặn mình, các khớp xương bị vặn trở về trạng thái cũ, cạ vào nhau kêu lên những tiếng “cợp-cợp” khô khan.
Mấy khẩu pháo lại tiếp tục nhả đạn. Những trái pháo to tướng, rít ngang qua đầu tôi bay xa tít. Tôi căng tai nghe, một tiếng nổ từ phía xa vọng lại…”
(Trần Duy Chiến, 2-12-1978)


29-11-1978

Chiếc xe GMC cố nuốt lấy đoạn đường còn lại, nhả những đám bụi đỏ làm ô nhiễm cả bầu không khí trong lành khi chúng đi qua. Con đường 19 lởm chởm những hục hang và đá nổi, mang màu đất ba zan, uốn mình như một con rắn khổng lồ đang cố bò nhanh cho qua hết Tây Nguyên.

Chiếc xe lúc thì cố trườn qua ngọn đồi cao vút, lúc thui thủi luồn vào giữa rừng sâu giấu mình dưới tán lá rậm rì của những cây cổ thụ như cố lẩn trốn, không cho một ai biết. Đến gần biên giới, con đường hẹp lại và gồ ghề hơn, chỉ đủ cho chiếc xe GMC chạy vừa sít.

Ngồi trên chiếc xe bám đầy bụi đường, tôi phóng tầm mắt nhìn ra xa, cố nhìn kỹ lại quê hương để chút nữa đây tôi đâu còn nhìn lại được. Một niềm cảm xúc nhè nhẹ gợi lên trong tôi. Tôi chợt nghĩ “Biết ngày nào đây mình mới trở lại quê hương đất mẹ?”…

Qua biên giới, đất bạn đã ở trước mặt tôi. Cũng rừng cây, đất đỏ nhưng không khí ở đây có phần ngột ngạt hơn vì mùi chiến tranh và chết chóc.

Xe pháo, đạn dược nằm san sát ven đường. Thanh niên xung phong, bộ đội tấp nập. Kẻ làm đường, người tải đạn. Tất cả đều hoà chung một niềm khí thế sôi nổi, quyết đánh thắng giặc “K”.


29-11-1978

Tôi đến đây vào một buổi chiều, trời không nắng lắm. Thỉnh thoảng một vài đám mây buồn lang thang ngang đầu tôi, kéo theo một đám mát nơi mặt đất.

Chiều đến nơi đất “K” cũng đềm êm và dễ chịu nhưng tôi linh cảm như có một điều gì sợ sệt và không hay mỗi khi chiều xuống.

Quanh tôi ở là những trận địa pháo, không khí ở đây có phần ngột ngạt vì mùi thuốc súng. Tất cả đều lặng lẽ im lìm như hoà với cảnh tĩnh mịch của núi rừng. Ven đường bộ đội ở rất nhiều nhưng chẳng có lấy một tiếng kẻng nào.


30-11-1978

Đêm!

Lần đầu tiên tôi cầm súng đứng gác dưới chiến hào. Một cảm giác sợ sệt bén dần lên trong tôi, vì đây là lần đầu tiên. Tôi sắp có thể trực tiếp giáp mặt với quân thù. Khi mới đặt chân đến đây tôi đã nghe mấy đứa bạn trầm trồ: bọn trinh sát “K” hay mò vào đơn vị tôi.

Đêm nay không có trăng, ở giữa rừng rậm này trời tối như mực, đưa bàn tay ngang trước mặt cũng chẳng nhìn thấy.

Muỗi thi nhau đốt thoả thích, lại thêm cái lạnh kinh khủng. Tôi cố lắng nghe từng tiếng động nhỏ, thỉnh thoảng một vài chiếc lá khô rơi xuống đất tạo thành những âm thanh lộp bộp khiến tôi giật mình. Hay có lúc một con sóc nào đó chạy sột soạt, tôi hốt hoảng tưởng đâu trinh sát “K” mò vào, vội chụp lấy khẩu súng, nhẹ tay mở khoá an toàn, nín thở chờ xem. Lúc bấy giờ tim tôi đập rộn lên, sự sợ sệt xen lẫn với hồi hộp khiến tôi ngồi im như bức tượng.

Một chặp không thấy động tĩnh gì tiếp, tôi mới hoàn hồn. Tôi vươn tay hít một hơi thật dài, không khí ùa vào lồng ngực căng phồng. Lấy lại chút ít can đảm, tôi tự trách mình sao quá nhát, chút xíu nữa là tôi “xả” hết một băng đạn.

Mỗi đêm chỉ gác có một giờ sao tôi thấy nó lâu quá. Cứ trông mãi… tưởng chừng như chiếc đồng hồ của tôi bị đứng. Thật là “một giờ gác đêm bằng buổi ngồi tán dóc”.


2-12-1978

Buổi sáng tôi giật mình thức giấc vì mấy khẩu 105 đặt gần bên tôi cứ bắn liên hồi. Nhìn đồng hồ đã 6 giờ nhưng trời vẫn chưa sáng hẳn. Ở giữa rừng sâu này cứ như ngày bị ngắn đi mất 2 tiếng. Hình như ta không tìm đâu ra được những sáng bình minh, hay những chiều hoàng hôn khi mặt trời sắp lịm dần.

Tám giờ sáng thì ông mặt trời mới lù lù qua khỏi ngọn cây trước mắt tôi. Đến chừng bốn giờ chiều thì ông mặt trời lại bị những tàn lá sum xuê che khuất.

Mấy đứa bạn 15W còn quấn kín mền ngủ khì, mặc kệ những tiếng nổ đề ba của mấy khẩu pháo. Hình như chúng đã quen tai. Vọt xuống võng, chân quờ quạng tìm xỏ được đôi giày,tôi chui lên khỏi miệng hầm. Uể oải vì suốt đêm nằm co trên chiếc võng, tôi vặn mình, các khớp xương bị vặn trở về trạng thái cũ, cạ vào nhau kêu lên những tiếng “cợp-cợp” khô khan.

Mấy khẩu pháo lại tiếp tục nhả đạn. Những trái pháo to tướng, rít ngang qua đầu tôi bay xa tít. Tôi căng tai nghe, một tiếng nổ từ phía xa vọng lại…”


10-12-1978

Trực-Hải-Diệu thân!

Trên đất bạn, ngày chủ nhật lại đến thăm những người mặc áo lính đang sống giữa rừng sâu này, dưới sự yểm trợ của pháo binh địch, làm người lính cứ thu mình dưới căn hầm mãi.

Thoáng nghĩ, người lính nhớ lại những ngày chủ nhật đã vụt khỏi tầm tay, nhớ Đà Thành, nhớ các bạn. Lính viết thư cho các bạn đây!

Lời đầu tiên, lính thầm chúc các bạn vui, khoẻ và toại ý những ước mơ. Còn lính từ lúc giã từ Đà Thành bước chân vào chốn quân ngũ tuy vẫn khoẻ nhưng lại thiếu vui, không tìm đâu ra nụ cười hồn nhiên của những ngày Chủ nhật xa xưa đã trôi qua trong ký ức của lính.

Có chăng sự phũ phàng sẽ ùa đến với lính một lúc nào đó mà lính không ngờ trước được.

Lính đang sống trong sự đùm bọc của núi rừng cao nguyên. Tầm mắt của lính bị thu hẹp bởi màu xanh của những cây cổ thụ xum xuê, lại thêm cái mùi sốt rét cứ đeo đuổi và bám riết.

Lính đã dạn dày và không còn hồn nhiên như lúc nào đó.

Hôm nay ngày chủ nhật lại đến với lính, với chiến trường đang từng giờ nóng bỏng, sôi động. Có tiếng súng nổ, đạn réo chào đón, có tiếng hoà nhạc của lũ chim muông làm lính nhớ thật nhiều về Đà Thành, về các bạn.

Trực-Hải-Diệu thân! Giờ đây, nơi Đà Thành các bạn đang làm gì? Đã 9 giờ rồi, chắc lại rủ nhau đi thì chẳng biết khi nào trở về đất Quảng để được nhìn lại Đà Thành, được gặp các bạn.

Giờ đây giữa lính và các bạn có một khoảng cách quá xa. Lính chỉ gặp được các bạn qua nét chữ thân quen. Mỗi lá thư đến nơi tuyến lửa này là một nguồn vui to tát đến với lính.

Chúc các bạn khoẻ, lính tạm dừng bút nơi đây, không quên siết chặt tay các bạn.

Thư sau lính sẽ kể nhiều về đất bạn.

Thân ái!


11-12-1978

Một cảm nghĩ.

Tôi như cánh cò hoang dưới chiều nhạt nắng, lang thang tìm chút dư hương trên đồng vắng lững lờ, không nơi trú ẩn.

Cánh cò bay mãi, cho tôi được nhìn quê hương qua đôi mắt nhỏ.

Tôi không mơ bạc vàng hay châu báu. Tôi chỉ giữ lại trong tôi một buổi chiều khi nắng vàng len lén vướng hồn tôi.


24-12-1978

Bấy lây nau mình bận quá chẳng viết một chữ nào. Kể ra cũng chẳng có gì quan trọng đến với mình ngoài rừng núi luôn phủ kín.

Mình cũng hên thiệt, cả đơn vị hơn 60 người mà chỉ có mình với cậu Lệ được xét học quản lý, vui ghê! Và cái vui thứ hai nữa là mình được phong hàm lên cấp… binh nhất! Khoái thiệt!

Nhưng thôi, mình phải nghỉ cái đã, bao công việc đang chờ mình ngoài kia.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Sáu, 2008, 10:04:41 PM
Phần thứ năm
Đi học quản lý ở Trường Quân chính Tây Nguyên

“Mẹ ơi! Hình như đêm nay là đêm giao thừa thì phải! Con bàng hoàng như chợt tỉnh giữa cơn mơ vì giờ đây chung quanh con có những tiếng cười rộn rã, có những tiếng súng nổ một cách rộn ràng, có bông hoa đêm lơ lửng giữa trời. Xuân đã đến với con rồi đó mẹ ạ!
Con cũng chẳng biết giờ đây con đang vui hay đang buồn nữa. Con đang ở nơi xa lắm, muốn viết về cho mẹ với những gì thương yêu nhất của đời con. Con thấy mình yếu mềm đi một cách lạ thường. Mắt con bỗng nhoà đi. Con đang trở về với mẹ, với ước mơ bằng tiềm thức suy tư và thương nhớ!”
(Trần Duy Chiến, 28-1-1979)


25-12-1978

Hôm nay nữa là được 5 ngày. Mới có 5 ngày mà mình tưởng đã lâu. Từ lúc mới đến, mình nghe nói “Trường Hạ sĩ quan của Sư đoàn 309” mình ngỡ đâu là hoành tráng lắm.

Đâu ngờ, đặt ba lô đến mình mới rõ chỉ toàn là rừng non với gai chằng chịt, hễ đụng vào là xước tay ngay.
Ấy thế mà hôm nay rừng được những bàn tay của người chiến sĩ trông nom, trở nên khác hẳn. Mềm mại nghe theo lời bộ đội. Con đường đi từ Đ2 xuống nhà ăn không còn gai níu áo. Mấy chiếc giếng đã được đào, cái nhà ba gian mới dựng trông khang trang ra phết, đáng yêu làm sao.

Đời bộ đội là thế, mình vào bộ đội đến nay mới được 3 tháng thế nhưng không biết bao nhiêu đợt làm nhà rồi. Có cái mới vừa làm xong thì phải đi ngay.


8-1-1979

Tối nay mình cãi lộn với cậu Sơn vì chuyện cái bóng đèn. Mình làm bài thơi “Cái bóng đèn” để kỷ niệm:

Đau đớn làm sao cái bóng đèn

Kẻ giành người giật vứt nằm lăn

Bóng vỡ nào biết làm ai giận

Sao nỡ lòng đem vứt bóng đèn?


9-1-1979

Vẽ thiệt, tưởng đâu là sự việc sẽ xuôi chiều như lòng mình đã dự tính, nhưng ngờ đâu nó lại xáo trộn mãnh liệt như lúc này.

Một sự đổi thay quá ư là đột ngột.

Mình nhớ rành rành lời ông “chủ Thịnh” nói vào tối qua khi có sự thay đổi: “Do yêu cầu nhiệm vụ mới, cấp quản lú chuyển sang hạ sĩ quan… Đây là lệnh của Sư đoàn, chúng tôi phải chấp hành… các đồng chí phải chấp hành!”.

(“Chủ Thịnh” là ai? Trong nhật ký của mình còn có nhiều chỗ Trần Duy Chiến viết là “Trường ông Thịnh, cả hai biệt danh này đều chỉ một người: đồng chí Phan Hồng Thịnh, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 30 huấn luyện, Trường Hạ sĩ quan của Sư đoàn 309-Chú thích của Đại tá Nguyễn Văn Hồng).

Thôi rồi! Thế là hết một ước mơ nho nhỏ do tôi vun xới bấy lâu, nay đã bay vù tan biến vào hư không. Tôi nhớ rất rõ: “Đây là lệnh của Sư đoàn!”. Nỗi bực tức dâng trào, chẳng biết làm sao. Học làm A trưởng này thì trăm ngàn lần mình cũng không chẳng bao giờ chịu đi. Bực quá, mặc kệ cho số mệnh vậy!

Mình không suy nghĩ gì được nữa, đầu óc mình choáng váng quá rồi.

Chẳng thèm viết nhật ký làm gì nữa!

Thôi, tất cả đều cho qua!


13-1-1979

Trường huấn luyện Hạ sĩ quan 309, Đức Cơ-Quảng Ngãi.

Câu tục ngữ quân đội “Tư tưởng không thông mang bình tông cũng nặng” là đúng vậy. Kể từ lúc mình chuyển sang học Hạ sĩ quan, đến nay mình tưởng như đang chới với giữa một đại dương nào đó. Bất kỳ lúc nào đầu óc mình cũng bị quay cuồng theo trăm ngàn ảo ảnh luôn hiện lên. Mình làm việc trở nên mệt mỏi một cách lạ thường, không hăng hái như những ngày đầu khi mới đến trường.

Có lẽ mình đã trở nên “hơi bướng” và “nhát” một tí.

Hôm qua học chính trị, “nản quá” mình chuồn vào rừng cao su nướng sắn ăn vui ghê, lúc về bị chính trị viên Đ2 bắt gặp mới xui chứ.


15-1-1979

Mấy ngày nay thiệt là thèm thuốc. Cổ nhân có câu: “Hút thuốc là… ăn mày” không sai chút nào. Thèm quá, nên hễ thấy nơi nào có thuốc là mình nhào vào ngay, chả kể quen biết. Điếu thuốc rê tệ cũng được chừng bốn đứa hút chung. Cùng hút cho khi nào hết cháy mới thôi. Còn thuốc là thì 1 suất phải đến 3 đứa.

Nghĩ chán thật, cũng như tối nay mình thèm quá, mình rủ cậu Phụng đi tìm thuốc, may đâu có ai hút thì mình xin hơi cho bớt ghiền. Thế nhưng rốt cuộc không vẫn hoàn không, đành về tay trắng và viết một bài thơ vui “Tìm thuốc”:

Xê một, Xê hai, lại Xê ba

Lội lên, băng xuống khắp mọi nhà

Hỏi thăm ai đó may còn thuốc

Nhưng phải về không nhịn thèm ha!


17-1-1979

Rầu ghê! Mình đâu phải là thằng tồi về ăn uống. Không phải là đứa ăn nhiều nhưng sao kể từ lúc mình về học đến giờ mình chưa ăn được một bữa nào gọi là no cả. Cứ mỗi lần ăn xong mình cũng chưa muốn uống nước, khổ thiệt!

Cũng như chiều nay khi cơm xong, mình lại băng qua bên 36 kiếm sắn nấu. Thôi “cho qua” là gọn tất cả…


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Sáu, 2008, 10:06:19 PM
28-1-1979

Đêm giao thừa.

Viết cho mẹ!

“Mẹ ơi! Hình như đêm nay là đêm giao thừa thì phải! Con bàng hoàng như chợt tỉnh giữa cơn mơ vì giờ đây chung quanh con có những tiếng cười rộn rã, có những tiếng súng nổ một cách rộn ràng, có bông hoa đêm lơ lửng giữa trời. Xuân đã đến với con rồi đó mẹ ạ!

Con cũng chẳng biết giờ đây con đang vui hay đang buồn nữa. Con đang ở nơi xa lắm, muốn viết về cho mẹ với những gì thương yêu nhất của đời con. Con thấy mình yếu mềm đi một cách lạ thường. Mắt con bỗng nhoà đi. Con đang trở về với mẹ, với ước mơ bằng tiềm thức suy tư và thương nhớ!”

Mẹ ơi! Mẹ hãy ôm lấy đứa con trai của mẹ vào lòng cho thật chắc nghe mẹ. Mẹ hôn con thật nhiều và cho con những gì con thích nhất nghe mẹ! Không thôi con sẽ khóc và không cần chơi với mẹ nữa để mẹ phải dỗ dành.

Con sẽ thức suốt đêm bên mẹ để nghe pháo giao thừa giục giã. Con đòi mặc áo mới, đòi mẹ tiền lì xì mới và con cũng không quên đòi mẹ thương con nhiều nhất nữa cơ! Con thương mẹ nhất đó, mẹ có vui không? Con hứa sẽ không bao giờ rời xa mẹ, mẹ bằng lòng chưa?

Mẹ ơi! Con đang sống trong mơ đó mẹ! Một giấc mơ quá ngắn ngủi nhưng lại đầy phũ phàng đến với con. Tuổi thơ đầy yêu thương đã vụt khỏi tầm tay nhỏ bé của con rồi và con cũng vụt khỏi tầm tay gầy guộc của mẹ mất.

Nhớ ngày nào con còn bên mẹ, đêm giao thừa mẹ nhìn đàn con trẻ reo vui bằng cặp mắt dịu hiền và man mát làm sao.

Mẹ ơi! Con trở về với hiện thực, với cặp đồ quân phục màu xanh lá rừng, với cuộc sống của người quân nhân, với đêm giao thừa của cuộc đời người lính chiến. Chiếc bánh chưng đơn vị phát hồi chiều con vẫn còn để nguyên. Con cố vận dụng chút nghị lực nhỏ bé để xua đi những dĩ vãng trong đầu, nhưng không làm sao được. Hình như cái dĩ vãng êm đềm kia có một nghị lực thật là to lớn, lại lấn áp và đè bẹp chút nghị lực cỏn con còn sót lại của con.

Con lại trở về bên mẹ đây, mẹ yêu ơi! Giờ đây nơi quê hương mình có rộn rã tiếng cười, tiếng pháo đón xuân không mẹ? Mẹ có còn thức và ngồi nghĩ về đứa con trai thân yêu của mẹ đang làm nhiệm vụ nơi biên giới xa xôi hẻo lánh của Tổ quốc không mẹ? Mẹ sẽ nghĩ gì khi vắng bóng con, khi ngước nhìn đàn én mang mùa xuân tươi thắm đang nghiêng cánh lượn trên đầu?

Khi nhìn cây mai trước ngõ nhà mình nở rộ khoe sắc vàng óng ánh dưới nắng xuân, khi trên bàn thờ khói hương nghi ngút chắc mẹ thấy đang thiếu một cái gì đó? Mẹ lại chớp mắt rồi, đừng khóc chứ mẹ. Mẹ cố vui lên nghe, vì giờ đây đâu phải chỉ có mình con đang đón xuân nơi biên giới này.

Con cũng đang vui cùng anh em đây mẹ ạ! Đằng kia chiếc máu thu thanh đang rộn ràng những khúc nhạc mừng xuân. Giọng một nàng ca sĩ nào đó cao vút, líu lo như chim non làm mọi người phải chú ý lắng nghe. Con nhìn đồng hồ chỉ còn năm phút nữa là hết năm cũ rồi. Con có cảm tưởng rằng Bà Chúa Xuân lúc đó sẽ đến mang theo một bầu trời nặng trĩu sau lưng. Lúc đó bà sẽ phân phát đồng đều cho mọi người chẳng kể ai ai. Con cũng có một tuổi. Nói đúng hơn là một tuổi nữa sẽ và đến với con, đè nặng lên tâm hồn, xua đuổi đi những gì hồn nhiên của con mất. Con sợ Bà Chúa Xuân lắm mẹ ạ! Bà đã và sẽ làm con khổ nhiều nữa.

Đêm nay con sẽ thức suốt đêm. Con cũng chẳng biết là thức để làm gì nữa. Thức để lắng nghe tâm hồn thổn thức với xuân, thức để đón xuân, thức để quây quần bên bếp lửa cùng anh em kể chuyện, hát hò.
Đêm giao thừa của người lính chỉ có vậy thôi mẹ ạ.


29-1-1979

Hôm nay là ngày mồng Hai Tết. Ngày mà dưới đồng bằng, thành thị, mọi người đang rộn ràng với những bữa ăn thịnh soạn, đĩa bánh, lát mứt và những lời chúc chân thành hơn bao giờ hết.

Nhưng ngược lại hẳn, với tôi, nói đúng hơn là với cuộc đời bộ đội.

Xuân đến xuân đi mặc kệ xuân

Ta không lo nghĩ chẳng bâng khuâng

Xuân này là mùa xuân đầu tiên đến với tôi trong đời bộ đội. Tôi thấy lòng mình chẳng nói lên một chút gì gọi là chờ đợi cả.

Được nghỉ Tết hai ngày 30 và mùng Một. Lại phải đi làm thịt bò mất một buổi, còn lại buổi kia để thời gian vào việc vệ sinh cá nhân. Thế là mất đứt một ngày, còn ngày mồng Một lại phải lội bộ khiêng thương binh trên gần 20 cây số, thế là mất đứt luôn một cái Tết.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Sáu, 2008, 10:08:08 PM
3-2-1979

Lúc chưa bước chân vào quân ngũ, hễ thấy anh chàng nào mỗi lần đi đâu mang theo chiếc máy hát oang oang bên hông, thế là tôi lại có ý trêu chọc bằng mấy câu hát “Đài đeo bên hông, đồng hồ đeo tay, ôi sung sướng!”.

Nhưng khi tôi bắt đầu bước chân vào bộ đội thì tôi lại thông cảm cho họ hơn bao giờ hết. Nói đúng hơn là tôi thông cảm cho chính bản thân tôi.

Giờ đây tôi mong ước làm sao có được chiếc máy thu thanh nho nhỏ. Nếu có được thì tôi vui quá! Tôi sung sướng quá! Tôi sẽ hát luôn mồm và đời tôi sẽ “lên hương” ngay!

Giữa núi rừng xanh thẳm này người lính chiến hình như quên hẳn đi cuộc sống hiện tại. Ước mơ bị đẩy lùi về quá khứ một cách tự nhiên mà không một ai cản nổi.
Thế thôi! Tôi không thèm nghĩ đến nữa.


5-2-1979

Bực ghê! Chưa một lần nào mình gây sự với bạn thế mà bạn lại cứ gây sự với mình mãi. Mình giận cho mấy thằng người có vẻ “ta đây”, coi anh em chẳng ra gì nên mới viết mấy câu về “Sự đời” như sau:

“Đ… m” đời sao lắm kẻ hèn

Lắm người gian trá lắm nhỏ nhen

Khoe khoang mồm mép đây ra phết

Tài hèn chút đỉnh múa hon hoen

Vỗ ngực cho mình ta đây giỏi

Chê người ngớ ngẩn vội ra oai

Hở chút khua tay con nhà võ

Khinh đời chán ngán chẳng biết chơi

Có thuốc có tiền bè bạn bạn

Cạn tiền hết thuốc chán lơ lơ

Sau lưng bêu xấu khinh khi chán

Trước mặt hót lờ nịnh kiếm ăn

Đ… mẹ đời sao lắm kẻ hèn

(Viết vào một trưa gây lộn với cậu T. Hèn quá!)

Đêm. Nhớ về N. ghê! Dĩ vãng đau thương chọt hiện về khiến hồn ngơ ngác như đang sống trong mơ. Ôi dĩ vang, thương sầu quái ác, len lén vướng lòng tôi.

Tôi viết cho cuộc tình tan tác của tôi.


19-2-1979

Đêm. Đang buồn nghĩ vơ vẩn, bỗng cậu “LucLi” từ bên B3 đem”bài bói” qua. Cậu ta bói cho mình gọi là một “quẻ”. Kể cũng vui vui, mình ghi lại gọi là một chút kỷ niệm:

ĐỜI ASX  1   0    6      ĐVUM   4
       DNL 5   CE   3     NAM      9
       IYR  9   GP   7     Nữ        7
       BKT 2   HQ  8

YÊU  BKV  1   UIY   8   Q      9
        DR   7   AHS  6   NAM  7
        OĐ   5   XM   3    Nữ    9
        NPC  2   EGTL  4

Tình đời:

1.Trong gia đình có quyền hạn, tài năng, có hướng độc lập, có lí tưởng, có thể độc đoán được người khác. Không phung phí tiền bạc, dồi dào về tình cảm riêng tư.

2.Có tình thương người, mềm mỏng, giản dị trong cuộc sống, không có sức mạnh cho lắm. Dồi dào tình cảm về bản thân với những người chung quanh, không muốn mất lòng bạn bè, ít khi va chạm với người khác.

3.Thay đổi tính dễ dàng để cho người khác chú ý. Khả năng có tài ca, hạnh phúc luôn tốt đẹp đến với mình.

4.Công việc làm thì tốt, cẩn thận, chín chắn, tỉ mỉ, kĩ càng nhưng rất ít phát huy sáng kiến của mình lúc gặp “phong ba bão táp”. Đôi lúc chưa được khen thưởng xứng đáng với công việc của mình.

5.Không chín chắn cho lắm, có tài ba nhưng không được tập thẻ chú ý đến chẳng khác nào “dã tràng xe cát”.
Làm sao cho bản thân không chán nản, bi quan, muốn tiến bộ phải có người chỉ dẫn thì mới tiến bộ được.

6.Có năng lực và cương trực, thích sống độc lập, không muốn phụ thuộc người khác. Có đạo đức, hay quan tâm đến đời sống mọi người.

7.Luôn gặp may mắn, hạnh phúc trong cuộc sống. Người hiền lành giản dị luôn được mọi người yêu thương.

8.Thích sống phiêu lưu, mạo hiểm. Tìm mọi cách kìm chế người khác, công việc mình làm hay ra vẻ. Không chân thật với tình bạn, tình yêu. Cần phải khiêm tốn học hỏi nhiều về bạn bè mới tiến bộ được.

9.Tương lai sáng lạn, yêu thích lao động.


Tình yêu:

1.Tình yêu của bạn có khi không đúng cho lắm. Khi yêu một người nào đó chỉ hiểu được bề ngoài mà thôi. Bạn cần tìm hiểu cho được kĩ lưỡng hơn.

2.Lúc đầu tình yêu của bạn còn nhiều rắc rối song việc yêu thương bạn theo đuổi thì sẽ được hạnh phúc.

3.Lúc đầu bạn rất cẩn thận với người bạn thương. Đã yêu mà không thể nói ra được. Có lúc không được thuận buồm xuôi gió, nhưng càng về sau càng hiểu nhau hơn và sẽ đạt được hạnh phúc.

4.Người yêu bạn bộc lộc với bạn. Có lúc chưa hiểu nhau cho lắm, chưa đằm thắm với hạnh phúc của bạn. Bạn cần dẻo dai hơn, nhất định về sau bạn sẽ hạnh phúc.

5.Bạn hay lẳng lơ về tình yêu. Có lúc yêu người này lại muốn yêu người khác. Đường yêu đương của bạn hay trở ngại, sau sẽ trở thành bạn bè.

6.Bạn luôn tha thiết với tình yêu. Có nhiều ấn tượng tốt đẹp. Yêu thật thà, thầm kín, không có gì thay đổi, hạnh phúc tốt đẹp.

7.Người bạn yêu có tấm lòng thuỷ chung, bạn không nên xa cách họ. Họ là người cần thiết đối với bạn.

8.Khi yêu một người, bạn chưa thổ lộ hết tấm lòng của bạn, còn úp mở hay muốn sắc đẹp hơn tính tình cho nên bước đường yêu thương của bạn có phần không được vững chắc.

9.Mục đích của bạn sẽ đạt được. Bước đầu về đường tình hay gặp khó khăn, bạn sẽ gặp nhiều thử thách nhưng về sau thì vững bền.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 20 Tháng Sáu, 2008, 10:08:48 PM
24-2-1979

Nhận được thư của gia đình (đến 4 lá) vui ghê.

Đọc thư thấy thương mẹ quá. Định viết thư cho mẹ thì bà má Thu lại về, đành chịu. Thôi để dành ngày nào về đơn vị hãy viết.


27-2-1979

Đêm.

Mẹ ơi! Mai này con phải xa rời cái mảnh đất mà con đã sinh ra và lớn lên đã cho con biết bao nhiêu là kỷ niệm của tuổi thơ và tuổi mộng mơ.

Con đố mẹ biết con đi đâu? Nói vậy chứ mẹ của con chắc đã biết rồi, vì hiện nay đứa con trai của mẹ cũng như bao đứa con trai khác đều cùng một nhiệm vụ như nhau mẹ ạ!

Mẹ ơi! Giờ đây con chẳng biết là con đang buồn hay vui nữa. Tất cả những điều khách quan bên ngoài kia đã làm cho con lo âu và hồi hộp.

Hôm kia nhận được thư mẹ, con mừng ghê! Tay run run bóc thư, những giòng chữ thân yêu của mẹ khuyên con nguyện nhớ mãi. Con sẽ làm đúng như lời mẹ khuyên “Gian khổ không hề ngại. Khó khăn không hề nản”.
Con định viết lại cho mẹ để mẹ khỏi lo, nhưng không kịp nữa mẹ ạ, vì mai kia con không còn ở đây nữa. Con biết làm sao đây mẹ? Thôi! Mẹ đừng buồn, đừng khóc, đừng nhớ và cũng đừng trông mong con nhiều nghe mẹ!

Con nghe các em biên thư lên báo là mẹ hay khóc khi nói về con? Chắc đó là khi mẹ nghĩ đến đứa con trai của mình đang làm nhiệm vụ ở vùng rừng núi biên giới ngút ngàn xa xôi? Mẹ ơi! Con nhớ mẹ lắm!

Mai này con tạm xa mảnh đất có dáng hình chữ “S”, con nghĩ thấy băn khoăn ghê, biết ngày nào con lại về! Chắc là không mau đâu mẹ. Trong giờ phút thiêng liêng còn lại đối với con, giờ đây chỉ là một dãy hành lang trống trải của linh hồn. Con cảm thấy bơ vơ, mặc dù nơi con đang đứng không là bãi sa mạc khô khan vắng bóng người.

Luồng gió nào quái ác len lén ùa vào thấu lạnh tim con, xua đi cơn mơ đẹp dịu, trả con về với hiện thực bên ánh sáng nhập nhoà của chiếc đèn dầu.

Mẹ ơi! Mai này con đi xa, đất nước bạn đang bén dần trong tiềm thức non nớt của con với những rừng rậm, con đường mà con chưa một lần đi tới. Con sẽ nghĩ gì khi bước chân con đặt đến nơi ấy, sẽ không bao giờ có được bóng dáng dịu hiền của bà mẹ Việt Nam. Người dân nơi ấy sẽ chẳng hiểu gì và ngơ ngác nhìn khi nghe con nói. Nơi ấy, con sẽ ngỡ ngàng khi ngước nhìn đám mây chiều trôi lang thang trên bầu trời trong xanh nhẹ nhành. Nơi ấy, con cố định hướng rồi nhìn thẳng về quê mẹ, nơi mẹ đang sống để con được thấy mẹ qua kí ức của đứa con đang sống xa quê hương. Mẹ ơi! Con chẳng biết nghĩ gì về “nơi ấy”, nơi mà mai đây con phải đặt chân đến.

Giờ đây con chẳng biết nghĩ gì ngoài hai chữ “nhớ thương”. Con xin tạm biệt mẹ thương yêu nhất của đứa con! Đứa con trai của mẹ-Duy Chiến.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 22 Tháng Sáu, 2008, 08:06:45 AM
Phần thứ sáu
Khúc tình tự với rừng và bài ca vĩnh biệt

“Ta đã yêu một người con gái nhỏ, có đôi mắt nhìn xa xăm, có đôi mô đỏ cười xinh như hoa phong lan của rừng đó. Ta yêu người con gái ấy với một tình yêu chân tình như hương của đất. Cũng vào những đêm trăng, ta cùng nàng vẩn vơ bên nhau, dệt vần thơ tình ái. Thuở ấy, ta chưa hề quen với rừng. Tai ta không nghe tiếng súng. Thuở ấy, mỗi lần nhị chị Hằng là hồn ta lại xa bay về phương trời ấy-nơi chiến sĩ bóng dáng của nàng. Nhưng hôm nay những gì ta thêu dệt cho tương lai đã vỡ tan rồi rừng ạ! Tất cả chỉ còn lại trong ta một bãi cát trắng hoang vu và một vết thương lòng nặng trĩu phía Đà Thành…”.
(Trần Duy Chiến, 9-3-1979)


7-3-1979

Chiều về trên đất “K” thật êm đềm và lặng lẽ. Vầng sáng yếu ớt còn đọng lại trên đỉnh đồi xa, đứng bên này trông qua như hai thế giới khác biệt. Một đám mây xám ngắt màu tro trôi lang thang, không biết về đâu? Thỉnh thoảng chú ve rừng buồn bã cất lên khúc nhạc sầu muôn kiếp. Tôi bỗng nhớ lại ngày còn cắp sách đến trường vô tình tôi thầm kêu: “Mùa hè đến rồi!”. Nhớ lại tuổi học trò mỗi lần nghe tiếng ve than và nhìn hành phượng trước cổng trường khoe sắc, là một lần chia tay chúng bạn, buồn vui lại xen lẫn.

Hồi đó tôi cũng yêu và cũng ghét mùa hạ, vì còn non nớt. Bây giờ hiểu ra thì tôi đã lớn, đã vĩnh biệt cái tuổi học trò đầy yêu thương kia. Tôi đã có đầy đủ nghị lực bước vào đời và đã mang lên mình bộ chiến y màu lá rừng xanh thẳm. Lúc này đây thôi, nhìn hạ đến, nghe tiếng ve kêu với sự vô tư, không một suy nghĩ buồn vui hay luyến tiếc. Phải chăng vì môi trường đổi khác hay tôi quá vô tư? Không, tôi không vô tư. Chẳng qua tạo hoá đã an bày không cho tôi một chút gì luyến tiếc, nên tôi phải vô tư? Kể từ lúc tôi không là học trò nữa, những bài toán hóc búa tôi đã trả lại cho thầy, không còn giữ làm gì. Có chăng chỉ còn sót lại trong tôi một chút kiến thức cỏn con, vì nó đã săn sâu vào tiềm thức, khiến tôi không thể từ giã nó được.

Mỗi lứa tuổi đều có cái đổi khác của nó. Khác cả thể xác lẫn tâm hồn. Càng nhiều bước đi, thì càng vướng nhiều bụi trần của cuộc đời. Cặp mắt nhìn cũng đổi khác, và nụ cười cũng không còn hồn nhiên như ngày xưa nữa.

Hạ và tiếng ve sầu ai oán trở thành vô vị, lạc lẽo với tôi giữa rừng núi hiu quạnh này. Hạ đến lúc này với tôi không có gì buồn bã, chỉ thêm ghét. Nắng làm mồ hôi tuôn, nắng làm hoa mắt, nắng đốt cháy đầu tôi, những ngày phải cắt mấy gánh tranh, hay trèo lên nóc xối nhà.

Tôi bước chân đi làm lính vào lúc đông về. Tuổi quân chưa được tròn,  nhưng đôi chân chân tôi đã can đảm. Tôi đã bước vội qua nhiều khúc đường đầy gian khổ, sẽ còn bước, tiếp dù đường đời lắm dốc cao vực thẳm. Để rồi đến một lúc nào đó, tôi yếu đi và mệt mỏi, không thể bước tiếp. Có thể tôi lại quay về chốn cũ, nơi đã chập chững tập bước đi đầu tiên. Tôi sẽ được gặp lại mẹ và em, sẽ mừng mừng tủi tủi. Tôi sẽ run run đặt lại bước chân lên bực thềm luôn nhớ và ước mong…

Tôi sẽ rơi gịt lệ nóng bỏng trên má để mừng ngay sum họp. Tôi sẽ có thời gian để ngồi nhìn nắng và nghe tiếng ve reo. Tôi sẽ ôn lại những chặng đường đã qua. Tuổi mộng mơ sẽ làm tôi nhớ, quãng đời cắp sách ùa đến với tôi nhanh chóng, có tiếng ve buồn làm tôi không quên. Tôi nhìn hàng phượng đỏ trước sân trường bằng sự luyến tiếc.

Thời gian ơi! Đừng ngập ngừng nữa, hãy lướt nhanh qua đầu tôi đi!

Mặt trời ơi! Hãy cho tôi nhiều giọt nắng hồng mà lúc nào tôi cũng mong ước!

Hỡi nàng tiên huyền dịu ơi! Hãy cho tôi lại những nụ cười hồn nhiên mà tôi đã một lần làm mất.

Ôi mùa hạ hãy qua mau đi nhé! Đừng đổ lửa đốt cháy người tôi. Ôi ve sầu, thôi hát khúc biệt li, cho tôi yên giấc ngủ trong đêm, cho dĩ vãng lùi sâu vào kí ức. Hãy để tôi được nhìn đám mây chiều lang thang bằng nhận thức hiện tại, bằng sự hững hờ không gì vương vấn và nắng hạ đừng bao giờ thiêu cháy hồn tôi!


9-3-1979

Lại về với rừng!

Rừng ơi! Ta đã đến cùng mi dưới chiều thưa nắng! Hãy reo vui lên hỡi lá, cho ta nhờ sum họp cùng mi!
Cổ thụ ơi! Cho ta nhờ tí bóng mát để nghỉ chân đôi chút. Hỡi những luồng gai cản lối, hãy tránh ra mau cho ta mạnh đôi chân trăm nẻo, vui sao lũ chim rừng ríu rít cùng ta.

Nay đây ta đến và nhờ mi che giấu. Hãy cho ta mắc chiếc võng nhỏ nơi cánh tay, khi ta chưa có nơi ăn nghỉ. Hãy che chở và ôm trọn ta vào lòng đi, để ta nhớ mãi, vì ta đến rồi ngày nào đó ta lại ra đi. Và ta sẽ trả lại cho mi cả khung trời yên tĩnh.

Vui sao hỡi rừng âm u vắng lặng, giờ đây mi không còn cô đơn nữa. Đã có những người bạn mặc áo cùng màu đến sum họp. Đêm đêm lại có ánh đèn, có tiếng cười, tiếng hát cất lên từ lùm cây mà trước đây chỉ toàn là gai góc, chưa có dấu chân người đặt đến. Ta là lính chiến còn mi kia là rừng núi. Suốt đoạn đường ta sẽ bên mi, mi lại có ta. Tình thương yêu đùm bọc mãi vững bền.

Rừng ơi! Ta đã nhớ và thầm gọi tên mi trong những phút ta mơ về mi đó! Lá rì rào mi hãy kể chuyện cùng ta đi, ta đang cố lắng nghe đây. Mi sinh ra vào lúc loài người chưa xuất hiện. Mi âm thầm giấu kín nỗi đau. Mi đã lớn và khôn lên bởi nắng gió mưa sương và dạn dày tích trữ nhiều kinh nghiệm. Mi ôm gọn và giấu kín trong lòng nhiều của quí. Một lúc nào đó đời cần đến, mi sẵn sàng hé mở đón dâng.

Rừng ơi! Chiều nay ta đi cắt tranh về mệt lắm, ta bỗng giận mi ghê. Ước gì mi trở thành đồng bằng, thì có đâu ta phải leo dốc mệt đứt hơi. Có đâu mồ hôi của ta tuôn ướt quần áo, khi chui vào cất mấy gánh tranh. Nhưng thôi, ta lại thông cảm nhiều cho mi rồi vì mi sinh ra là để che chở cho ta lúc ta cần, vui chưa hả rừng?

Đêm nay ta ngồi bên mi nhìn trăng ngang đỉnh đầu, ta nhớ lắm rừng ơi! Mùa trăng ngày nào còn phảng phất dư hương.

Ta kể rừng nghe: ngày nào ấy, bây giờ ta không còn nhớ nữa… Ta đã yêu một người con gái nhỏ, có đôi mắt nhìn xa xăm, có đôi môi đỏ cười xinh như hoa phong lan của rừng đó. Ta yêu người con gái ấy với một tình yêu chân tình, như hương của đất. Cũng vào những đêm trăng, ta cùng nàng vẩn vơ bên nhau, dệt vần thơ tình ái. Thuở ấy, ta chưa hề quan với rừng. Tai ta không nghe tiếng súng. Thuở ấy, mỗi lần nhìn chị Hằng là hồn ta lại xa bay về phương trời ấy-nơi có bóng dáng của nàng. Nhưng hôm nay những gì ta thêu dệt cho tương lai đã vỡ tan rồi rừng ạ!-Tất cả chỉ còn lại trong ta là một bãi cát trắng hoang vu và một vết thương lòng nặng trĩu phía Đà Thành…

Nàng đã ra đi từ hôm ấy, ngày mà ta không bao giờ quên được. Nàng đã đem theo tất cả, đem theo luôn hồn về ta về bên ấy. Để ta phải dại khờ và ngẩn ngơ mỗi khi mùa trăng đến. Rừng ơi! Bây giờ thì ta không còn gì nữa.

Ta đã vứt bỏ lại sau lưng tất cả từ lúc ta bước chân vào đời quân ngũ và khoác lên mình bộ chiến y. Hôm nay áo ta đã bạc màu và sờn rách đôi vai phong sương lúc nào cũng chờ đón ta. Ta thấy mình trở nên dạn dày nhiều lắm. Bất chấp phong sươn, ta đang đi đến với rừng đây rừng ơi!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 22 Tháng Sáu, 2008, 08:08:23 AM
18-3-1979

Hôm nay ta lại tâm sự tiếp với rừng đây.

Sự mệt mỏi đã xâm chiếm hồn ta nhiều lắm rồi rừng ạ! Khi trên áo ta đã sờn rách đôi vai, trước mắt ta giờ đây đã là những mái nhà xinh xắn. Ta không cần mắc võng trên cánh tay của rừng nữa. Ta đã có chiếc giường nằm hẳn hoi. Ta thấy vui vui làm sao ấy rừng ạ!

Rừng ơi! Khi ta thốt lên lời này, chắc là rừng sẽ buồn và ngạc nhiên không ít. Mai này, ta xa rừng rồi ta thấy quyến luyến ghê thôi. Nhưng làm sao bây giờ hỡi rừng? Những lời ta đã thốt lên cùng rừng với ngày ta đã tới. “Ta đến rồi ta lại đi” hôm nay là sự thật. Bằng chứng là mai ta phải xa rừng. Ta nhớ lắm rừng ơi! Ngày nào ta mới đến ta nhờ rừng để nương náu, cơ ngơi ta đã dựng nên bên cạnh rừng, không được đầy đủ nhưng nó cũng che chở cho ta được những lúc nắng mưa. Tưởng rằng ta sẽ cùng rừng vui sống với nhau một khoảng thời gian nữa, đâu ngờ…

Đời quân ngũ là thế, ta tạm xa rừng, mai đây ta sẽ đi về một phương trời nào ấy, cũng nằm trên quê hươn của bạn.

Rừng ơi! Ta vẫy tau chào tạm biệt rừng nhé! Hẹn gặp lại rừng vào một ngày mà ta có dịp trở lại nơi đây!
(Sau khi đại quân của ta tiến công giải phóng các tỉnh Đông Bắc Campuchia, tiến đến Buôn Lung-Lâm Phát, Sư đoàn 309 được lệnh rút khỏi chiến trường này hành quân về nước, cấp tốc vào TP.Hồ Chí Minh và bằng tất cả các phương tiện đổ quân xuống tỉnh Xiêm Riệp và Battambang, thực hiện cuộc vu hồi chiến lược sang miền cực tây Campuchia.

Trần Duy Chiến đã vùng đơn vị đi theo tàu hoả vào Biên Hoà, sau đó sang Battambang bằng máy bay.-Chú thích của Đại tá Nguyễn Văn Hồng).


26-3-1979

Suốt 24 tiếng đồng hồ ròng rã, chiếc tàu lửa Thống Nhất rời ga Diêu Trì bò về hướng Nam, qua bao đồng ruộng, đồi núi, thành phố, sáng hôm nay tôi đã có mặt tại thành phố Biên Hoà (cách Sài Gòn 28 km).

Một buổi sáng lẻn ra ngoài, tôi cùng mấy đứa bạn lội quanh. Từ đáy lòng rộn lên một niềm vui bay bay khó tả, khi tôi phóng tầm mắt nhìn và bắt gặp những mái nhà và những hành quán nhỏ xinh xinh. Suốt mấy tháng nay rồi tôi luôn làm bạn với rừng núi, mỗi bước đi nghe như nặng nề khó tả. Phải chăng vì phong sương luôn đè nặng tôi, hay bụi đỏ bốc mờ theo nhịp bước chân?

Hôm nay, cũng những bước chân ấy, nhưng nó xao xuyến và khang khác làm sao. Đôi chân mãi thèm bước, cặp mắt thèm nhìn. Tôi vô tình bị cái thành phố này lôi cuốn mãnh liệt.

Ly nước mía sao mà ngọt lịm, uống đôi môi không rời. Cô em Biên Hoà duyên dáng quá khiến tôi nhìn say mê.
Ôi! Cái thành phố mà tôi ước ao đặt chân đến, hôm nay nó đã đứng sừng sững trước mặt tôi, với những con đường tráng nhựa phẳng và thẳng tắp, với những ngôi nhà 4-5 tầng san sát, với những cửa hàng bán đủ thức, đủ màu sặc sỡ.

Nhớ lại mới ngày nào đây tôi còn ở buôn Luung, chỉ toàn là rừng núi với đất đỏ, mỗi bước đi là mỗi lần bụi vuớng. Rồi tôi lên xe về nước, suốt đoạn đường 19 qua Thanh An, Phú Phong, Phú Tài, cũng thật là vui. Tiếp tục lên xe lửa vào Nam, qua Tuy Hoà, Nha Trang, Phan Thiết, Phan Rang, Hố Nai rồi hôm nay tôi có mặt tại tỉnh Đồng Nai đẻ mai này tôi không còn có mặt đây nữa. Ôi! Đời lính là thế này đây. Mai đó là trên vạn nẻo đường đất nước, là nơi nào có bóng quân thù.

Vui sao thành phố Biên Hoà trước mắt tôi. Vui sao những ngọn đèn ven đường toả sáng trong lòng, soi lối. Vui sao bóng dáng thon thon của người con gái Việt Nam với tà áo dài thướt tha hoà với gió bay trên phố. Vui sao những cặp tình nhân dìu nhau bước dưới chiều nắng. Biên Hoà ơi! Ta nhớ thật nhiều, ta sẽ khắc sâu vào kí ức của ta.


27-3-1979

Đêm!

Tôi ngồi nhìn ánh điện giăng thẳng hàng, chiếu những tia sáng màu xanh nhạt xuống đường một cách vui vui. Sài Gòn về đêm đẹp tuyệt, xa trông như một rừng sao đang tụ họp nơi đây.

Nhớ lại tuổi thơ, cách đây đâu chừng 14 năm tôi đã đặt chân đến nơi đây một lần. Hồi ấy, tôi còn non nớt và chẳng biết gì, đi xe thì say. Ba tôi đã dắt tôi lên chiếc nhà lầu 4 tầng. Đứng trên lan can nhìn xuống đường, tôi run và lo sợ nhiều lắm, sợ rủi cái lan can kia sụp, sợ tay vịn lan can bung ra… Tôi sợ nhiều lắm, đâu dám đứng thẳng. Chỉ biết nằm bò xuống, thò chiếc đầu qua lan can để mà nhìn ra ngoài những có được đâu. Ngày xa xưa kia nơi nào tôi đã đi qua: Sở Thú, viện bảo tàng hay trường đua Phú Thọ… Tất cả những hình ảnh đẹp đẽ kia nay còn vướng trong dư hương của tôi một tí.

Bây giờ sừng sững trước mặt tôi vẫn là Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ. Tôi yêu lắm Sài Gòn ơi!


28-3-1979

Chiếc C130 cất cánh, Sài Gòn lùi dần ra xa mãi đến khi chỉ còn là những điểm trắng vuông bằng viên gạch…
Qua rừng, qua núi, qua đồng bằng. 1 giờ 30 phút sau khi lên máy bay, giờ tôi đã có mặt nơi đây. Được nghỉ một chút lại lên xe ngang qua một thành phố chết. Nó đã chết thật sự rồi. Đâu bóng người dân hiền lành, đâu xe cộ rộn rịp và chợ búa? Chỉ toàn bộ đội Việt Nam đến để tìm cách hồi sinh cho nó. Thành phố đứng sừng sững, im lìm và lặng lẽ. Ta vẫy chào từ biệt thành phố chết và ra đi cùng đoàn quân….

(Tháng 3-1979, toàn bộ Sư đoàn 309, bao gồm các Trung đoàn bộ binh 31, 96, 812 và một Trung đoàn pháo binh đã có mặt tại tỉnh Battambang, miền Tây Campuchia, có hàng trăm kilômét đường biên giới với Thái Lan-chú thích của Đại tá Nguyễn Văn Hồng)


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Sáu, 2008, 08:13:18 PM
Phần thứ bảy
Biên giới Thái Lan… “Nếu một mai tôi chết?”

Nếu mai kia, một ngày nào đó không may mắn đến với tôi trong cuộc đời làm lính? Tôi sẽ ngã xuống trên miền đất xa xôi của quê hương Chùa Tháp này. Thân xác tôi sẽ hoà vào với đất, sẽ tan dần theo thời gian, chẳng còn lại gì, dù chỉ một chút. Lúc ấy người mẹ hiền của tôi sẽ không đến được bên chiếc hòm sơn đỏ để sụt sùi thương tiếc. Chỉ còn chúng bạn với màu áo lá rừng đứng nhìn hình hài của tôi, với những tiếng thở dài ngao ngán!”
(Trần Duy Chiến, 4-5-1979)


28-4-1979

Hôm nay đem quyển nhật ký ra xem thấy lòng vui vui. Một cái vui khó tả của đời lính chiến, mặc dù bên tai vẫn còn nghe tiếng súng và nơi tôi ở vẫn còn có sự chết chóc xảy ra.

Tôi nằm ngửa trên miếng ván, nhìn mái lều tranh lợp xiêu vẹo của bọn lính “K” vừa bỏ chạy khi đơn vị tôi đánh vào đây với nhiều suy nghĩ chồng chất.

Nhớ lại trận chiến đấu giáp mặt với quân địch tôi bỗng rùng mình. Một tí nữa là tôi trở về với đất. Tôi cũng không ngờ bọn lính “K” đã phục sẵn, bắn tới tôi liên tiếp hai viên với cự li quá gần, chỉ 30 mét. Viên đạn bay xẹt trên đầu tôi, làm toác một miếng vỏ cây cổ thụ.

Thế rồi trên đoạn đường vòng tròn của đời lính tôi vẫn đi. Từ ngày ấy đến nay đã bao lần giáp mặt với quân thù. Có lần cối 82 nổ cách tôi chỉ 3 mét, hay có lần bị địch vây tứ phía.

Đã mấy lần tưởng rằng tôi sẽ chết, nhưng không ngờ đến bây giờ tôi vẫn còn sống. Tôi suy nghĩ một cách mù mờ, có lẽ “đạn tránh người”? Thế rồi tôi trở nên dạn dĩ hơn. Phải nói rằng tai tôi trở nên quen dần với tiếng súng nổ, không còn hồi hộp như ngày trước nữa.

Hôm nay tôi trở về nghỉ chân nơi cánh đồng ruộng khô cằn nước bạn. Có được chút ít thời gian rỗi, tôi móc óc, sưu tầm lại chút ít địa danh, những làng mạc, thị trấn, phố xá, những cánh rừng dày san sát với chặng đường mà đôi chân nhỏ bé của tôi đã qua.

Tôi không làm sao nhớ nổi, chỉ biết lờ mờ là nó nhiều và dài lắm. Ngày ra đi có lẽ là 24 tháng 4 thì phải. Bây giờ cũng gần hết tháng 4 rồi. Trong suốt quãng thời gian ấy, đôi vai đã oằn xuống vì chiếc ba lô cứ đè nặng mãi. Chiếc áo, chiếc quần ngày nào còn mới, nay đã có nhiều miếng vải lạ đắp lên, còn nhiều và nhiều lắm… Nào những cánh rừng tôi phải băng qua suốt mấy ngày trời chưa ra khỏi. Ôi thằng lính bộ binh! Sao mà gian khổ nhiều quá!

Tôi bỗng nhớ lại ngày mà tôi chưa vào lính. Ngày mà tôi còn rong chơi và mộng mơ của lứa tuổi thơ. Ngày ấy, đoạn đường từ nhà tôi đến phố chỉ dài 1 km, thế mà tôi sợ bởi vì tôi chưa lần nào đi bộ. Nhưng hôm nay tôi đã đổi khác, đôi chân không còn sợ những chặng đường dài, chúng đã quen rồi mà!

Đã gần hai tháng rồi không nhận được lá thư của gia đình. Tôi chẳng biết gì tin nhà, nên tôi thèm lắm: thèm được trở về nước, thèm nhìn lại dòng sông quê hương, thèm có dịp được về gặp lại người thân.

Bạn bè có đứa cũng ra đi như tôi, có đứa còn ở lại, nhưng bây giờ thì không biết chúng có còn ung dung vui tươi, mơ mộng nơi quê hương? Hay chúng cũng khoác bộ chiến y như tôi và cũng đang làm nhiệm vụ ở đâu đó mà tôi không gặp, nên không biết? Cầu trời cho bọn chúng đừng như tôi. Để đêm nằm được ngủ yên, con chuột chạy không làm giật mình, ôm súng nhảy vọt ra công sự. Cho những chiều mưa không lạnh cóng, cho bụi đất này không làm hoen ố bóng hình đứa con trai với lứa tuổi hai mươi.

Còn tôi, mưa nắng đã làm dạn dày. Phong sương đã cho tôi biết khổ. Súng đạn đã làm tôi không biết sợ. Và đời lính cũng đã làm tôi quên cả ước mơ.

Thỉnh thoảng đem chiếc gương soi thấy mình già và dạn dày rất nhiều. Thế nên tôi không còn hồn nhiên, ít nói và ít cười, chỉ biết nhìn bằng cặp mắt và suy nghĩ bằng khối óc nhỏ bé của tôi!


29-4-1979

Rồi từ đó…

Khoác áo chinh nhân tôi làm người lính nhỏ

Giã biệt mẹ hiền giã biệt em thơ

Tôi bước đi với những bước hững hờ

Của tuổi mộng và của người chinh chiến

Phố cảng ơi, buồn buồn lưu luyến

Ta vẫy chào lần cuối kẻ ra đi…


1-5-1979

“Mung”-thị trấn nghèo của quê hương Chùa Tháp.

Chiều nay mưa.

Trận mưa tầm tã và dai dẳng làm con đường đất trước nhà tôi ở trở nên lầy và trơn trợt khó đi. Tôi buột miệng thốt lên: “Phải rồi đất nước bạn đang đổi mùa!”.

Ngồi trên chiếc võng mắc dưới chân nhà sàn, tôi đưa cặp mắt nhìn về hướng trước mặt. Xa xa là biên giới Thái Lan. Nơi ấy, một lần đôi chân nhỏ bé của tôi đã băng qua.

Tôi nhớ rõ lắm, cũng một buổi chiều trên chặng đường hành quân băng qua một cánh rừng, đơn vị gặp trận mưa, cũng tầm tã như bây giờ. Mưa làm áo quần, ba lô ướt cả, nhưng không biết lạnh vì mồ hôi vẫn nhỏ dài theo bước đi. Chỉ có đất trở nên trơn quá, làm tôi cứ trượt hoài, áo quần lấm bết bùn. Không có chỗ tắm giặt, tối đến cứ thế chúng tôi chui vào một bụi cây nào đó mà ngủ. Vừa nằm xuống thì cái lạnh cũng đến áp chế, hai hàm răng va vào nhau thành những tiếng cộp cộp đều đặn khô khan. Nhớ lại những chặng đường gian khổ của đời lính chiến đã qua, tôi thấy sờ sợ ra làm sao.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Sáu, 2008, 08:14:45 PM
2-5-1979

Chiều nay trời cũng mưa nhưng nó không làm tôi ướt lạnh như cái lúc hành quân nữa. Ngược lại nó làm tôi buồn. Cái nỗi buồn chỉ mình tôi hiểu với tôi.

Ngày xa xưa ấy, khi tôi còn bé cứ mỗi lần mưa rơi là mỗi lần tôi ướt át vì tôi nghịch ngợm lắm. Cùng bạn bè đùa cợt tát nước vào nhau sau lần đi học về, khiến mẹ tôi phải quát mắng và thay đồ vội vã cho tôi, mẹ sợ tôi cảm lạnh.


Ngày ấy còn non nớt, nên tôi nhìn mưa với sự vô tư, không một suy nghĩ. Mưa chẳng làm tôi buồn, nó chỉ làm tôi ướt và lạnh để được mẹ thay áo và mẹ lại mắng để tôi đừng nghịch nữa.

Cái ngày xa xưa ấy đã trôi qua một cách nhanh lẹ trong tôi. Giờ đây tôi đã lớn, tôi không còn vô tư như ngày ấy nữa. Bây giờ mỗi lần nhìn mưa là nỗi buồn hiện lên xâm chiếm. Mưa ngoài trời mà cứ ngỡ mưa ở trong hồn tôi. Tôi thấy lạnh ngỡ ngàng. Hình như mưa rơi và lòng tôi có quan hệ với nhau, cứ mỗi lần nhìn mưa là tôi lại thấy buồn. Tôi nhớ mẹ, nhớ em, nhớ bạn bè, nhớ quê hương. Tôi nhớ tất cả những gì mà tôi không quên được.


Mà làm sao cho tôi quên, khi nó đã ẩn sâu vào tiềm thức của tôi? Có lắm lúc tôi muốn quên, thế là tôi cố quên. Tôi suy nghĩ những điều do tôi viễn tưởng, rồi cười vu vơ như người đãng trí, nhưng không làm sao quên được. Nhất là khi tôi nhìn những giọt mưa về chiều rơi lộp bộp trên mái ngói, mái tôn và trước mắt tôi. Không biết chiều nay ở cuối trời, nơi mẹ tôi đang sống, có đổ mưa không nhỉ? Tôi suy nghĩ rồi tự trách mình sao tôi ngớ ngẩn. Bây giờ mới tháng năm, quê tôi đang chớm hạ. Có chăng là những tia nắng hồng tươi đẹp làm cháy da từ buổi sáng, chớ làm gì có mưa như ở đất “quê hương Chùa Tháp” này.


Tôi nhớ lại rồi, hôm nay là mồng 2 tháng 5, chỉ còn trên mười ngày nữa đến nghỉ hè. Giờ này trên quê tôi chắc là phượng đã nở đỏ mấy sân trường. Ngày trước khi tôi còn khoác lên mình chiếc áo trắng học trò, cũng vào giờ này tôi đang rộn lắm. Hằng ngày vẫn đến trường, nhưng có học thêm được chút ít gì đâu, chỉ ngồi cùng nhau dăm ba đứa tâm sự vu vơ về ngày sắp đến, rồi lại nguệch ngoạc mấy dòng lưu niệm vào cuốn sổ nhật ký cho nhau. Trong quãng đời học trò ngắn ngủi, tôi còn nhớ rõ lắm, mỗi lần nghe tiếng ve sầu rên rỉ là quyển nhật ký nhỏ bé của tôi lại có thêm những dòng chữ vô tư và thân yêu.


Hồi ấy, bạn bè cùng màu áo và lứa tuổi như tôi nhiều lắm. Nhiều đến nỗi tôi không làm sao nhớ hết được, đến nỗi chỉ xa nhau mấy mùa phượng, gặp lại nhau thấy quen, nhưng lại quên mất tên. Trong suốt quãng đời cắp sách, có đứa không gặp may mắn như tôi phải bước vào đời sớm hơn. Tôi có được chút ít diễm phúc hơn đôi ba đứa, nhưng rồi không làm sao được sống đềm êm trong cái lứa tuổi và màu áo trắng đó. Tôi lại tiếp tục bước vào con đường đời ngoằn ngoèo khúc khuỷu và lắm chông gai như mấy đứa bạn của tôi.


Ngày đó, tôi giã từ màu áo thư sinh bằng sự hững hờ, không một chút vấn vương suy nghĩ. Bây giờ tôi thấy luyến tiếc, vì quá vô tư, để cái tuổi thiếu thời hồn nhiên kia trôi qua một cách nhanh chóng. Bây giờ thì đã hết, tôi không làm sao tìm lại được. Thời gian đã kéo nó đi biền biệt mất rồi. Chỉ còn sót lai trong tôi là một khoảng trời xanh chồng chất, đầy ắp những kỷ niệm. Để rồi những chiều mưa, nơi tôi ngồi đây, ôn lại cái quá khứ chất chứa đầy ắp những kỷ niệm mến thương đó. Nhất là khi áng mây chiều tím ngắt, treo lơ lửng che gần kín mặt trời nỗi nhớ của tôi.


Tôi lang thang đi dần về phía chiếc cầu sắt, chẳng biết làm gì nữa. Để rồi tôi lại bắt gặp ánh mắt, những cái nhìn xa lạ của những người dân mà không cùng một thứ tiếng như tôi. Họ làm tôi nhớ đến quê hương tôi kinh khủng. Tôi bỗng ước ao dù cái mộng ước của tôi sẽ không bao giờ là sự thật: “Giá như ở đây là quê hương của tôi”? Tôi sẽ vui sướng biết mấy. Ở đấy tôi sẽ không chỉ biết nhìn, vì cái bất đồng ngôn ngữ quái ác kia.
Có lắm lúc tôi muốn phá tan cái bầu không khí ngột ngạt trong mình. Tôi mạnh dạn bước vào một gia đình nào đó bên ven đường, nhưng nó cũng không giúp ích được gì cho tôi cả. Ngoài những cái ra dấu bằng tay và sự chán ngán, khi tôi nghe họ nói những gì mà tôi chẳng hiểu.


Đôi bàn chân nhỏ bé của tôi cũng đã in dấu lên nhiều nơi trên quê hương Chùa Tháp này rồi. Đó là Lâm-phát, Buôn Lung, Tà Kèo, Lôvia, Tam-vi-leng… bây giờ là Môn. Thế nhưng đến đâu tôi cũng gặp toàn là những bộ quần đen kín và những chiếc xe 2 bánh do bò kéo, đứng gần toát ra mùi hôi hám khó chịu. Khi chạy thì phát ra tiếng gỗ nghiến ken két, oái ăm nức nở.


Tôi cố gắng suy nghĩ nhiều về bản thân. Tôi cười thầm và tự trách tôi nhiều lắm. Mỗi lần được đọc một tờ báo, một cuốn sách, hay xem một cuốn phim hay… tôi soi xét lại bản thân, thấy mình chẳng xứng đáng một tí gì. Họ là những người đã không ngại gian nan, khó khăn, đóng góp một cách quên mình cho Tổ quốc, cho sự nghiệp cách mạng, tại sao tôi không làm được?


Thế nhưng lúc rảnh rỗi, ngồi suy nghĩ một mình, tôi lại thấy nhớ và luyến tiếc thật nhiều về thời gian khi tôi chưa bước chân vào quân ngũ. Tôi đâm ra nản chí đến chán ngán hết sức. Tôi lại suy bì với những đứa bạn đang cùng lứa tuổi. Tôi tự an ủi rằng, mình đã không gặp may mắn như chúng nó, trong quãng đường đời này.


Nên tôi lại buồn, càng buồn hơn khi đôi mắt bắt gặp một vài dải mây giăng ngang vào những buổi chiều ở cuối chân trời xa tít ấy. Hay đêm đêm lại có trận mưa rơi tầm tã trên mái ngói, như gợi ý cho tôi nhớ về một thời dĩ vãng thương yêu.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Sáu, 2008, 08:15:31 PM
4-5-1979

Tâm trạng người lính nhỏ xa quê.

Nếu một mai tôi chết?

Suy nghĩ đến đó, tôi bỗng rùng mình và thấy chơ vơ như đang đứng giữa khoảng không mênh mông. Mặc dù nơi tôi đang sống vẫn có tiếng cười, có bạn bè và đồng đội cũng như tôi.

Tôi sợ chết? Phải rồi, cái này thì không sao tránh khỏi. Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng trên trần thế, mọi sự sống (từ con người đến loài vi khuẩn nhỏ bé tí xíu kia) đã sinh ra từ đất thì ắt có ngày phải trở về với đất. Đó là qui luật của tạo hoá mà. Cũng có một ngày nào ấy, tôi sẽ chết, không có cách nào tránh khỏi. Nhưng sao mỗi khi nghĩ đến cái chết, tôi thấy ngài ngại. Tôi có cái đầu óc bé xíu, còn non. Nhưng không phải vì thế mà tôi trở nên thuần phục, hay run sợ trước những điều huyền hoặc, nên không bao giờ mê tín.

Hôm nay tôi lại suy nghĩ điều này, đâu phải là lần đầu tiên. Cái ngày tôi chập chững bước vào cuộc đời quân ngũ, tôi đã xác định điều này và càng rõ rệt hơn là lúc tôi bắt đầu bước chân vào làm thằng lính bộ binh, từng giờ giáp mặt với quân thù. Tôi chết-cái điều ấy tất nhiên là phải đến, bởi vì tôi là một thằng lính chiến.
Tôi suy nghĩ một cách mông lung, nếu mai tôi chết ai sẽ là người khóc tiễn đưa tôi? Có chăng chỉ là những giọt nước mắt của mẹ già đổ xuống bên cạnh chiếc hòm sơn đỏ hẩm hiu, buồn rầu và thương tiếc cho đứa con trai của mẹ?

Nếu mai kia, một ngày nào đó không may mắn đến với tôi trong cuộc đời làm lính? Tôi sẽ ngã xuống trên miền đất xa xôi của quê hương Chùa Tháp này. Thân xác tôi sẽ hoà vào với đất, sẽ tan dần theo thời gian, chẳng còn lại gì, dù chỉ một chút. Lúc ấy người mẹ hiền của tôi sẽ không đến được bên chiếc hòm sơn đỏ để sụt sùi thương tiếc. Chỉ còn chúng bạn với màu áo lá rừng đứng nhìn hình hài của tôi, với những tiếng thở dài ngao ngán!

Nếu một mai tôi chết? Cả cuộc đời bé bỏng này tôi xin trả lại cho quê hương! Đôi chân tôi không còn in dấu trên đất mẹ. Đôi mắt sáng mẹ đã trao tôi từ khi tôi cất tiếng khóc chào đời cũng chẳng nhìn thấy gì nữa. Khối óc cỏn con sẽ trở thành cát bụi, đâu còn biết nghĩ suy, đâu còn mơ mộng nhớ nhung khi bắt gặp những ngoại cảnh êm đềm?

Nếu một mai tôi chết? Tôi không hề luyến tiếc một chút gì trong cuộc sống hiện tại của tôi. Tôi gói kín và ôm theo tất cả dù một chút kỷ niệm không mấy đẹp đẽ đã trôi qua trong tôi.

Nếu một mai tôi chết? Thì cuốn “Nhật ký” này sẽ là những gì còn lại của cuộc đời tôi. Đó làmột người bạn vô tư, trong sáng và thuỷ chung mà tôi yêu quý. Tất cả tấm lòng với khối óc tôi đã trao gởi vào đây. Nếu một mai tôi không còn nữa, xin dành những ước mơ đẹp nhất cho quê hương yêu dấu…


20-5-1979

Qua mấy ngày đi truy quét bọn địch, hôm nay tôi về lại chỗ ở cũng  vào một chiều mưa. Người tôi mệt nhừ, như rời từng khúc.

Trên đoạn đường về, đôi chân tôi không muốn bước, phải lê từng quãng mệt mỏi dưới trời mua tầm tã. Con đường đất trở nên nhão nhoẹt vì mấy chiếc xe bò bánh sắt đi qua làm tôi cứ trợt té mãi.

Tôi thay vội bộ đồ còn ướt đẫm, nằm dài trên chiếc võng, cố tự ru một giấc ngủ cho lại sức, nhưng không sao nhắm mắt được, vì mấy cậu bạn cứ mãi bàn tán ồn ào về cái chuyến đi này.

Nằm một lúc cũng không yên, tôi cùng dậy, cũng chẳng biết để làm gì, chợt nhớ tới cuốn nhật ký đang nằm một mình nơi góc chiếc ba lô, tôi vội vàng tâm sự cùng “người bạn” vài dòng, để bớt lạc lõng giữa chút thời gian trống rỗng mệt mỏi.

Đơn vị tôi đi truy quét lần này là lần thứ hai và lần này thì tôi mới bắn được 2 quả B40. Địch chạy phía trước tôi nhiều lắm, toàn là áo đen. Tôi đứng lên đặt cây B40 lên vai lấy thước ngắm xông, bóp cò. Viên đạn lao vèo về phía trước, tai tôi trở nên ù ù ù, phút đầu chả nghe gì cả, chỉ có tiếng …o…o…o… như phát ra từ óc. Tôi không sợ mà chỉ có hồi hộp trước khi bắn quả B40 này, bởi đây là lần đầu tiên.

Cách mấy phút sau, tôi lại bắn tiếp quả nữa. Địch chạy xong, tôi lại chỗ tôi bắn xem sao? Chẳng có gì ngoài một ít đất rừng nát vụn. Tôi cười, vì mình bắn dở quá.

Thời gian này, Trung đoàn bộ binh 812 được giao nhiệm vụ truy quét tàn quân địch ở khu vực huyện Mung (tỉnh Batttambang). Đơn vị của Trần Duy Chiến đã đánh nhiều trận, diệt nhiều địch. Có trện diệt gọn một tiểu đoàn quân Pol Pot gần 100 tên ở phía tây huyện Mung-trong cuốn “Cuộc chiến tranh bắt buộc” tôi có đề cập đến-Chú thích của Đại tá Nguyễn Văn Hồng).


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Sáu, 2008, 08:16:44 PM
22-5-1979

Chiều, buồn ghê gớm. Tôi đứng trông mặt trời chỉ còn là một đốm sáng lờ mờ, như chiếc đèn pha bị sương mù che kín. Hình như cảnh vật ở đây cũng chẳng khác gì với tâm trạng của tôi lức bây giờ. Và cũng không hiểu sao khi vừa đặt chiếc ba lô đến nơi này, tôi nhìn cảnh vật với cặp mắt lạ lẫm, có lẽ ngoại cảnh hiu vắng làm tôi buồn thì phải, chỉ toàn là cây với lá, chẳng tìm đâu ra một bóng người.

Đi truy quét vừa xong, tưởng đâu sẽ được nghỉ chân đôi chút cho lại sức, thế mà chiều hôm nay tôi lại phải có mặt nơi cái buôn hẻo lánh này. Mấy thằng bạn đang mải mê đi tìm xoài rụng ngoài kia, xoài chín rụng nhiều quá, thôi tôi cũng ra tìm vài trái ăn cho bớt thèm mới được.


25-5-1979

Buổi sáng không đi phục, thèm thuốc chi lạ. Tôi sục sạo quanh xó nhà, xó bếp cũng chẳng tìm được mẩu tàn nào. Chán quá, về nằm ngửa trên tấm ván suy nghĩ về cuộc đời, thấy mình trở nên thèm khát đủ mọi thứ, toàn những cái tầm thường nhất. Những thứ mà ngày trước lúc tôi chưa khoác lên người bộ chiến y màu lá rừng, thì tôi không thèm đụng đến. Thế mà hôm nay nếu tôi muốn có, thì cũng chỉ là mơ mộng điên rồ, vì nơi tôi đang sống không bao giờ có.

Thử hỏi bây giờ tôi ước những gì? Nhiều lắm! Những thứ gì mà nơi đây không có, những thứ gì mà tôi thiếu thốn… Nhưng trước tiên vẫn là thuốc lá-một điếu thuốc quấn cũng tốt, không cần phải thuốc gói. Rồi sữa đá, bánh bao, xi nê… như cái lúc tôi còn sống ung dung nhàn hạ nơi phố cảng quê hương. Cái thằng lính bộ binh gian khổ và thiếu thốn! Ai nói “Cuộc sống của lính là vui tươi” là không đúng và người đó hẳn nhiên là chưa bước qua đoạn đời của lính nên mới ca ngợi như vậy.

Hãy trả chiếc áo màu loè loẹt lại cho đời, thay vào bộ chiến y, sẽ rõ tất cả những gì gian khổ của lính.
Tình cảm chỉ là một con số 0 rỗng tuếch, to thù lù treo lơ lửng trước mắt. Vật chất có những gì? Cơm vắt, muối rang, lắm lúc còn phải uống nước hục bùn, lẫn lộn phân bò vàng đục như sữa, bốc mùi ghê sợ, phải nín thở mới nuốt vào được, đâu cần phải đun sôi nấu chín.

Đâu cần giường chõng, chiếu, mùng màn hẳn hoi. Trên đường hành quân có lệnh dừng nghỉ, cứ thế lính sẽ nằm dài trên đất, kê đầu trên cái ba lô, thả hồn bay khắp, mặc kệ muỗi vo ve sương gió lạnh buốt, hay là mưa rơi, mặc kệ tất cả! Họ vẫn phải ngủ.

Nhưng trong đêm dài, lính có ngủ yên được đâu. Mắt nhắm nhưng cứ thao thức mãi, nghe tiếng con chuột hay con sóc chạy sột soạt ngoài lùm cây kia, lính ta vội vàng ôm súng nhảy ra công sự.

Có những lần ngồi gác muỗi vo ve dày đặc, muỗi chích tứ phía, nhưng lính ta đâu dám đập mạnh. Trên đoạn đường hành quân gặp địch, ai cũng phải nhoài người nằm xuống, đâu kể hục bùn, bãi cứt hay là hang kiến, mặc kệ! Cả tháng trời không đánh răng, không tắm rửa, áo quần lên men bốc mùi khét khó chịu, lính vẫn mặc, đâu kể nhớp nhúa.

Còn nhiều và nhiều lắm…


2-6-1979

Mùa này trời cứ về chiều lại đổ mưa. Chiều nay trời cũng mưa, nhưng lại mưa dai dẳng hơn những chiều khác. Nước đọng quanh nhà thành vũng, đất nhầy nhụa đến ghê sợ. Tôi chẳng buồn đi ngủ, ngồi co ro trên chiếc võng, suy nghĩ. Buồn thật!

Nhớ lại những ngày đi truy quét đã qua, khổ thiệt. Cứ buổi chiều lại phảu ướt, phần vì mưa, phần lội suối, có lúc cái bờ suối quá cao phải đu dây xuống, lại đu dây lên, quần áo bê bết bùn, trông nhớp nhúa quá!

Tối đến lại còn có anh muỗi nữa, mà muỗi thì khỏi phải nói ở cái quê hương Chùa Tháp này đâu đâu chả có. Mấy đứa bạn thường bôi bác “Cái đất này chỉ được có hai thứ: ban ngày thì ruồi, ban đêm thì muỗi”. Nó nhiều vô kể, lại dạn dĩ nữa chớ.

Mặt trời sụp xuống, thế là tiếng “kèn” muỗi lại trỗi lên vo ve quanh chiếc võng. Có một lỗ trống nhỏ nơi chiếc chăn, muỗi tìm được chui vào dày đặc. Khi trước lúc đọc truyện bắt gặp một đoạn văn nào nói về muỗi, tôi cảm thấy bình thường. Tôi nhớ một câu văn của tác giả nào đã viết về đất Đồng Tháp Mười quê hương tôi rằng “quờ tay ngang mặt là đã bắt được muỗi”. Nhưng tôi đâu có hình dung được nó nhiều đến thế, bởi vì nơi chôn nhau cắt rốn của tôi thì đâu có nhiều như vậy. Tôi vẫn cho là các nhà văn họ thêm bớt vào đó, nhưng bây giờ, nói đúng hơn là lúc tôi đặt chân đến cái tỉnh “Bắt-tam-băng” của quê hương Chùa Tháp này thì tôi đã rõ. Bởi vì muỗi ở đây nhiều lắm, mỗi đêm đến giờ gác là tôi bị muỗi đốt cho một trận. Sợ thật cái mảnh đất này, đâu đâu cũng là muỗi, nhất là ở những cac buôn có xoài. Như cái buôn tôi đang sống đây, đêm đến ngoài cái sợ địch tập kích ra, tôi còn phải sợ những con muỗi tí xíu này.

(Dưới chế độ diệt chủng của bọn Pol Pot-Ieng Sary đâu đâu cũng có xác người và xác súc vật. Nhà cửa, vườn tược bị bỏ hoang… môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. Các loại ruồi, muỗi tha hồ sinh sôi nảy nở. Nhiều nơi khi ăn cơm bộ đội ta phải căng màn ngồi bên trong. Chỉ cần một chỗ màn rách là ruồi sẽ tràn vào. Nhiều khi nhai cơm nhai luôn cả… ruồi.-Đại tá NVH)


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Sáu, 2008, 08:17:32 PM
3-6-1979

Mẹ ơi! Con đang suy nghĩ về mẹ đây. Con đang dồn hết tâm trí để hình dung cho thật đúng về gương mặt mẹ hiền của con. Mẹ yêu của con ơi! Con nhớ mẹ nhiều lắm!

Bây giờ, nơi quê hương mình mẹ của con đang làm gì? Đáng sửa soạn bữa cơm chiều hay còn mải mê nơi đồng ruộng, cố nâng niu, chiều chuộng, cho cây lúa trổ nhiều bông? Đừng làm nhiều nghe mẹ! Mẹ già rồi, sức lực của mẹ cũng giảm lần theo năm tháng. Con thấy thương mẹ quá nhưng con biết làm sao bây giờ? Phải chi con đang sống cách mẹ chừng đôi trăm cây số. Con sẽ bằng mọi cách để được về nhà, để được nhìn kỹ gương mặt mẹ hiền của con xem mẹ có già đi tí nào không.


Mẹ hiền của con ơi! Đó là sự ước mơ của con thôi mẹ ạ! Vì giờ đây con đang sống cách mẹ quá xa, lại bị chắn ngang bởi một chiều dài biên giới.

Chắc mẹ của con chưa biết biên giới là gì? Để con kể cho mẹ nghe: biên giới nó ngoằn ngoèo và ghê rợn. Nó là một dãy rừng rậm mịt mùng đầy bụi và gai. Nó là một con sông, một đỉnh đồi, hay một bãi cát. Nó chứa trong mình đầy rẫy thứ giết người: nào mìn, nào thốc nổ, nào chông. Nó là cái gì ghê sợ mỗi khi người lính bước chân vào đó.


Mẹ của con ơi! Mẹ đã rõ biên giới là cái gì rồi chứ! Mà mẹ cũng đừng lo cho con, bởi vì nơi con đang sống không phải là vùng biên giới đâu. Mẹ có biết hiện giờ đứa con trai của mẹ đang sống và làm gì ở đâu trên cái đất nước quê hương Chùa Tháp này? Con đang cầm súng đánh giặc mẹ ạ! Con sẽ bắn trả vào đầu bọn chúng, trước khi chúng bắn con. Mẹ ơi! Có lần chúng bắn con đạn xẹt ngang tai, làm con khiếp quá mẹ ạ!
Nhưng thôi con không kể những điều đó nữa. Con sợ mẹ của con sẽ lo nhiều cho đứa con trai của mẹ. Con sợ mẹ già đi trước tuổi, mẹ ơi! Con thương mẹ quá!


Nơi “vườn xoài” mà con đang sống, cứ mỗi chiều con đứng nhìn dải mây trắng xám giăng ngang tận cuối chân trời, là lòng rộn lên bao nỗi nhớ. Con định hướng, rồi nhìn về quê hương. Con cố moi lại tiềm thức, để hình dung ngôi nhà mà gia đình mình đang sống. Con thấy mẹ đang mải miết cho mấy con heo ăn, cu Ấn lại nghịch ngợm lấy đá chọi vào…


Cây ổi, cây khế trước nhà mùa này ra trái nhiều lắm phải không mẹ?

Mẹ hiền của con ơi! Có lần trong cơn mơ, con được về quê nhà con gặp lại mẹ. Mẹ ôm con vào lòng. Mẹ khóc. Mẹ sờ khắp chân tay, đứa con trai của mẹ vẫn còn sống và đang ở bên mẹ. Cu Ấn cứ luôn mồm gọi anh Hai. Con vui quá, giật mình tỉnh dậy vẫn thấy mình nằm trên chiếc võng mắc dưới gốc cây xoài. Thấy khẩu súng vẫn bên mình, con mới biết đó là giấc mơ. Con tiếc quá, giấc mơ ngắn ngủi quá, phải chi nó thật dài và trở thành sự thật!


Mẹ thương yêu nhất đời của con! Con phải làm sao bây giờ hỡi mẹ? Con dang tay cho số mệnh đẩy đưa, cho dòng đời lôi cuốn con cách xa mẹ hàng mấy ngàn cây số. Chỉ còn cách gặp mẹ hiền của con trong những giấc mơ, để rồi sáng ra bên mình con vẫn là bộ chiến y màu lá, với khẩu súng nặng trĩu. Để rồi con trở về với hiện thực bằng những trận đánh, bằng những ngày đi phục dưới trời thiêu cháy da con.


Mẹ ơi! Con bắt đầu sợ cái bộ chiến y màu lá thắm mà con đang mặc. Nó là cái gì làm ngăn cách giữa con và mẹ? Nó ôm kín và dìu con vào những nơi có tiếng súng nổ, có sự chết chóc. Con sợ nó lắm mẹ ơi! Con muốn cởi trả nó lại cho đất nước để được về gần bên mẹ. Lúc mẹ ốm đau có đứa con trai bên mình cơm cháo thuốc thang, để chiều mưa không làm con ướt, để chiếc ba lô và khẩu súng không đè nặng mãi hồn con và lẽo đẽo theo con suốt cả tháng trời hành quân. Để đêm đêm con được yên lành trong giấc ngủ, để cánh rừng rậm không phủ kín được ước mơ của con…


Mẹ ơi! Biết bao giờ con được trở về bên mẹ hiền của con? Để con gặp lại mẹ, gặp lại em con, gặp lại gia đình. Con mong được gặp lại những người thân thuộc, gặp lại mảnh vườn, ngôi nhà đã che nắng che mưa cho con suốt quãng đời thơ dại. Để mẹ hiền khỏi phải trông mong đứa con trai của mẹ, đang từng giờ chiến đấu nơi miền xa xôi hẻo lánh nào mà mẹ không bao giờ hết. Để con được nhìn kỹ lại gương mặt mẹ hiền của con. Để những ngày mưa con không buồn không nhớ. Để chiều chiều nơi có bóng dáng mẹ hiền của con với nhiều nỗi suy tư thương nhớ?


Mẹ thương yêu nhất đời của con! Con biết mẹ giận đứa con của mẹ nhiều lắm, vì mấy tháng nay con không gởi về cho mẹ một chữ nào, để mẹ cứ phập phồng lo nghĩ về con. Nhưng con biết làm sao bây giờ hỡi mẹ, khi ở nơi con đang chiến đấu không có một điều kiện nào để con gởi về quê hương cho mẹ mấy dòng chữ, để mẹ hiền của con khỏi phải mong lo. Con thương mẹ quá, nhưng biết làm sao bây giờ hỡi mẹ! Mẹ tha lỗi cho con nghe mẹ!


Mẹ ơi! Rồi một ngày nào đó khi chiến tranh tàn lui, bom đạn sẽ không còn gào thét đe doạ. Lúc ấy con lại trở về quê hương, nơi có bóng dáng mẹ hiền của con để con được gặp lại mẹ bằng hiện thực, bằng giọt nước mắt bằng nụ cười mà con ao ước.


Mẹ ơi! Bao giờ thì niềm ước ao của con mới trở thành sự thật hả mẹ? Nó sẽ là một quãng thời gian dài và lâu lắm mẹ ơi! Lúc ấy mẹ của con sẽ già đi mất. Mái tóc mẹ sẽ đổi màu và ánh mắt cũng mờ dần theo năm tháng mỏi mòn. Mẹ hiền của con ơi, con nhớ mẹ, con thương mẹ quá!


Từ khi con bước chân vào Trung đoàn mang tên 812 này, trực tiếp cầm cây súng chiến đấu, thì con cũng chẳng nhận được một cánh thư nào của gia đình mình cả. Con không biết mẹ hiền của con đang sống nơi xa mù ấy ra sao? Mẹ có khoẻ mạnh như ngày nào con đi, hay cứ mãi ốm đau vì thương nhớ? Con lo cho mẹ quá mẹ ơi! Cầu trời cho mẹ con luôn mạnh khoẻ, để ngày con về con được gặp lại người mẹ hiền của con.
Mẹ ơi Đừng buồn, đừng khóc khi nghĩ về đứa con trai này nghe mẹ. Con cầu trời cho mẹ của con khoẻ mãi trong cuộc sống!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 25 Tháng Sáu, 2008, 09:03:37 PM
Phần thứ tám
“Hút thuốc là… ăn mày”
“Có lúc tôi chẳng muốn nhớ đến làm gì. Đêm đêm, tôi không mơ dù một giấc mơ ngắn ngủi. Để đôi mắt tôi không phải vướng buồn, khi nhìn màu trăng vàng thẳm. Để tôi yên lòng với nhiệm vụ của một người thanh niên thời chiến. Nhưng tôi đành chịu bất lực, bởi tôi không có trái tim bằng đá. Tôi không có một phép màu huyền dịu để trấn an. Vì thế nên cái kỷ niệm êm đềm quái ác kia cứ len lén ùa vào tôi. Cho tôi phải buồn, phải nhớ, phải luyến tiếc và ngẩn ngơ”.
(Trần Duy Chiến, 18-6-1979)


10-6-1979

Lại phải dời chỗ ở.

Mới có năm ngày mà đã hai lần đổi chỗ ở, phải làm 2 cái nhà rồi, nhưng cũng không phải là đã tạm ổn. Trong đời bộ đội, ăn rồi chỉ có mấy việc: hành quân, làm nhà, đào hầm, đi tuần, đi phục. Có thế mà nó quanh quẩn mãi, không lúc nào người lính nơi đây có được những ngày thư thả thảnh thơi.

Mới hôm kia tiểu đội tôi phải ra sức làm cho xong cái nhà và đào mấy chiếc hầm. Vừa xong là lại dời xuống đây. Hai ngày nay cũng đổ mồ hôi nhiều, nên cái chỗ ở của tiểu đội tôi chiều nay cũng gọi là tạm ổn.

Bực ghê! Cây viết lại không ra mực, chả biết khi nào về nước để mua cái ruột thay vào? Còn cái đồng hồ nữa, nó hư từ lúc ở sân bay Tân Sơn Nhất, phải cất dưới đáy ba lô, không biết nó có sét rỉ chưa?

Chán quá! Có lúc tôi không muốn ở cái C5 này một tí nào. Đâu phải tôi sợ đánh nhau, nhưng tôi sợ cái khác kia. Thôi chả buồn ghi nữa, tôi phải đi tắm mới được.


14-6-1979

Phô-xit-đây, quê hương Chùa Tháp…

(Phô-xit-đây mà Trần Duy Chiến viết trong nhật ký có thể là một địa danh nhỏ của huyện Mung. Chỉ có người dân địa phương mới phát âm chuẩn-Chú thích của Đại tá NVH).

Bực thật, mấy tháng nay, kể từ lúc tôi bước vào cái C5 của Trung đoàn 812 này làm nhiệm vụ chiến đấu đến hôm nay vẫn chưa nhận được một lá thư nào!

Chẳng biết bây giờ gia đình tôi nơi phương trời xa lắc ấy ra sao? Tôi lo nhất là bà nội của tôi năm nay đã 80 tuổi rồi. Ba có sòn khoẻ và có sống đến ngày tôi về lại quê hương, hay đã ra đi rồi mà tôi không hề biết đến? Có lắm lúc rảnh rỗi, tôi muốn viết thư thật nhiều cho gia đình, nhưng lại thôi vì tôi quá chán viết rồi. Bởi viết xong cũng chẳng biết gửi cho ai để thư chạy về nước. Thế nên tôi chẳng buồn viết làm gì.

Tôi còn mấy đứa bạn ở cùng làng, đi nhập ngũ cùng ngày và bây giờ cũng ở một sư đoàn với nhau. Thế nhưng tôi chẳng biết làm sao để được gặp chúng. Kể từ khi tôi chuyển qua học lớp Hạ sĩ quan “hắc ám” của trường ông Thịnh tại Đức Cơ và bây giờ thì tôi lại càng xa chúng hơn, vì tôi đang chiến đấu ở cái Trung đoàn 812 này.

Mấy câu bạn, Hải, Thanh, Chính và còn là đồng hương của tôi, bây giờ thì chắc sướng hơn tôi nhiều, đang ung dung sống kề bên “sư bộ” (tức cơ quan Bọ chỉ huy sư đoàn-ĐVH) ở “Bat-tam-bang”. Còn tôi thì cũng đang ung dung với khẩu B40 nặng chịch, với những ngày truy quét phải lội bộ mấy chục cây só dưới dàn lửa của miền nhiệt đới đến cháy da. Chắc có lẽ là số mệnh đã an bài cho chúng tôi, phải cúi đầu chấp nhận.

Không biết thằng Chính (thằng bạn thân nhất của tôi hiện đang sống tại đơn vị truyền tin của Sư đoàn) bây giờ có thay đổi gì không? Với một thằng lính chiến bộ binh như tôi, thì không có một dịp nào để gọi là may mắn về sư đoàn để gặp lại nó.

Ngày trước khi tôi và nó chưa khoác lên mình chiếc áo màu lá rừng này thì tôi và nó thân nhau như hai vợ chồng. Đi làm, đi chơi cũng có mặt hai đứa. Bây giờ thì mỗi đứa một nơi, tôi nhớ nó quá!

Tôi lại trách thật nhiều cho cuộc chiến. Cuộc chiến này đã phá vỡ ước mơ của tôi. Bắt tôi phải xa cái ngôi nhà ấm cúng và người mẹ hiền. Xa tất cả bạn bè thân thuộc và những cuộc vui của lứa tuổi. Có lúc ngồi một mình buồn bã, nhớ lại ngày cũ, tôi lại thấy mình như một người say. Thế rồi tôi phải cố đem chút can đảm của một thằng con trai, để ghìm lại những giọt nước mắt, những tiếng nấc mà nó muốn trào ra.

Ai là kẻ xa người thân, xa gia đình, xa bạn bè, xa rời vĩnh viễn cái ước mơ đẹp nhất của cuộc đời mà không nhớ, không thương, không luyến tiếc? Đâu phải riêng chỉ có mình tôi!

Ôi cuộc đời sao lắm cái oái ăm!


17-6-1979

Chiều.

Thèm thuốc chi lạ! Tôi quanh quẩn mãi ở cái bờ đập mà cũng chẳng xin được một điếu thuốc rê. Hễ gặp người dân Miên nào, thì tôi cũng làm liều xin, thế nhưng thuốc thì chẳng có, mà tôi chỉ nghe họ trả lời
bằng hai tiếng "ót miên". (Tiếng Cam-pu-chia nghĩa là "không có" - Chú thích của Đại tá NVH).

Tôi cũng chả hiểu là họ đã hết thật rồi, hay là họ chẳng muốn cho. Và cứ mỗi lần tôi mở miệng nói câu tiếng Miên để xin thuốc: "Oi cơ nhum xum tít thờ năm chúa" (Cho tôi xin ít thuốc hút), là tôi thấy ngài ngại làm sao. Bởi tại tôi có chút ít suy nghĩ tự trọng: Tôi là một người lính của Việt Nam, một người đi làm nhiệm vụ quốc tế, mà lại đi ngửa tay xin thuốc của người dân xứ bạn nghèo và thiếu thốn. Nên tôi rất ngượng ngùng mỗi khi thốt lên câu tiếng Miên và ngửa tay xin họ điếu thuốc.

Nhưng tôi biết làm sao hơn bây giờ, khi tôi quá thèm. "Hút thuốc là... ăn mày" kia mà. Tàn thuốc rê là cái dơ bẩn nhất, nhưng tôi vẫn lượm ráo. Có lúc hành quân đánh địch vào một cái phum nào đó của Miên, tôi lại lục sao tìm kiếm ở mấy xó nhà, thử xem có cái mẩu thuốc nào không? Tôi vẫn biết rằng điều đó là nhục nhưng không có cách nào hơn. Tôi đành chịu vậy. Thuốc của đơn vị phát có lúc mỗi tháng được 1 đến 2 gói. Hút tiết kiệm cho lắm cũng chỉ được 4 đến 5 ngày. Cuối cùng rồi cũng phải đi nhặt. Trên cái đất nước Miên này hễ ai là người biết hút thuốc thì phải nhặt mẩu, thế thôi. Vẫn biết rằng đứng xin thuốc của dân Miên là nhục, nhưng chiều chiều tôi vẫn dạo quanh bờ hồ. Trước hết là để ngắm dòng nước chảy, nhìn dải mây bay, sau nữa là xem người dân nào hút phì phà khói thuốc cũng nhào vào để "Oi cơ nhum xum tit thờ năm chua" cho đỡ thèm.

Cuộc đời bộ đội ở nước bạn lắm gian khổ và chán ngán đến tột độ, mà chính tôi đã bước chân qua, như thế!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 25 Tháng Sáu, 2008, 09:05:07 PM
18-6-1979

Buổi chiều, trời mưa tầm tã không ngớt hột, nước lai láng khắp cả cánh đồng. Cái lều tranh nơi tôi ở trở nên dột dữ dội, khiến tôi phải lấy tấm tăng căng phía trên mới ngồi yên được.

Bây giờ khoảng đâu 4 giờ 30, thế mà trung đội của tôi đã cơm nước  xong xuôi từ lâu. Bữa cơm của lính quá đơn sơ: một xoong cơm không nhiều lắm, một khay rau to tướng mà anh em vừa hái ngoài ruộng về. Nhìn vào phát khiếp vì nó nhiều và nhiều quá sức tưởng tượng. Phải nói rằng tỉ số rau ở đây gấp 5/1 cơm. Mà phải thế mới no được, "cơn đỡ dạ, rau là chủ yếu” mà.


Nói thiệt, thì có nó cũng còn là may? Ở cái đất này, rau muống thì thật là nhiều. Hễ nơi nào có ruộng hơi ướt ưót tí, là có rau muống. Mà dân ở đây lại chẳng buồn ăn rau muống, nên mới còn lại cho bộ đội ta. Bữa nào lười không đi hái rau cải thiện, bữa đó cái bao tử của tôi nó gào mãi không thôi...


Đời lính chiến là phải thế, gặp lúc thịt không muốn ăn như lần trước khi đơn vị tôi đánh vào cái buôn sát biên giới Thái. Lần ấy, vịt nhiều vô kể, mỗi ngày thịt phải đến gần 20 con, mà trung đội chỉ còn có 10 người. Lần ấy, tôi nhìn thịt vịt là phát ớn. Còn bây giờ thì thèm khát. Bữa ăn chỉ có nước muối chấm rau luộc, may mắn lắm thì được mấy gói bột canh bỏ vào. Có lúc ăn cơm xong nhưng tôi chẳng muốn đứng dậy tí nào. Tôi không hiểu vì cái bao tử của tôi hôm nay nó lớn thêm hay là vì cơm ít.


Khi đêm nằm mơ tôi thấy tôi trở về nhà gặp lại gia đình, gặp lại mẹ và em tôi. Tôi lại có vợ và có con nữa, vui và ấm cúng. Tôi đang đùa nghịch với đứa con nhỏ vui quá. Chợt cu Thành kêu tôi dậy gác. Giật mình dậy, giấc mơ tan biến, bay vèo vào hư không, chỉ còn trơ trẽn một mình tôi với khẩu súng kê trên đầu. Tôi bực cu Thành quá, vì đã phá tan giấc mơ tuyệt diệu của tôi, nhưng đành chịu, không thể gắt với cu cậu được vì nhiệm vụ của lính mà.


Tôi bước chân xuống đất vớ khẩu súng đeo lên vai, ra vị trí với nỗi bàng hoàng tiếc mãi cái hương vị ấm cúng trong mơ đã đến với tôi. Thế là suốt một giờ rưỡi ngồi dựa lưng vào gốc cây thốt nốt gác, đôi mắt tôi cứ dim dim, đầu óc chập chờn theo cơn mộng. Tôi thấy bị lạc lõng giữa vòng đời bao la rộng lớn này.


Lắm lúc ôm súng ngồi gác dưới khuya, ánh trăng chập chờn nghiêng vành mũ tôi thấy buồn buồn làm sao. Tôi nghiêng đầu nhìn xa xôi về phương trời ấy với nhiều nỗi suy tư chồng chất. Màu trăng buồn làm cho tôi càng buồn hơn. Tôi nhớ lắm những kỷ niệm êm ấm đã trôi qua trong tôivĩnh viễn. Quãng đời hiện tại đã xua đuổi tất cả ước mơ nhỏ bé của tôi tan vào hư không. Cho tôi nhớ và buồn buồn khi ánh trăng vàng soi rọi. Cái tuổi mơ vừa hé nở trong tôi chưa kịp khoe thắm sắc hương, đã tàn lụi một cách quá nhanh. Để mỗi lần bắt gặp một ngoại cảnh êm đềm trước mắt, tôi lại vật vờ như vừa đánh mất đâu đây...


Có lúc tôi chẳng muốn nhớ đến làm gì. Đêm đêm, tôi không mơ dù một giấc mơ ngắn ngủi. Để đôi mắt tôi không phải vướng buồn, khi nhìn màu trăng vàng thắm. Để tôi yên lòng với nhiệm vụ của một người thanh niên thời chiến. Nhưng tôi đành chịu bất lực bởi tôi không có trái tim bằng đá. Tôi không có một phép màu huyền diệu để trấn an. Vì thế nên cấl kỷ niệm êm đềm quái ác kia cứ len lén ùa vào tôi. Cho tôi phải buồn, phải nhớ, phải luyến tiếc và ngẩn ngơ.


Khi trong giấc ngủ thả hồn bay về xa xàm ấy, hay lúc ngồi buồn một mình nhìn dải mây chiều giăng ngang ở cuối chân trời xa tít. Nơi ấy tôi đã một lần bập bẹ câu nói đầu tiên. Nơi ấy có mảnh vườn, ngôi nhà đã che nắng che mưa cho tôi suất quãng đời thơ dại. Nơi ấy có mẹ và em tôi. Nơi ấy đã ấp ủ biết bao là kỷ niệm mến yêu của tôi trong thời niên thiếu. Thời mà tôi còn vô tư, chưa biết nhìn đời bằng đôi mắt oán hờn, hay lúc nhìn dải mây chiều lang thang không làm tôi buồn nhớ. Nơi ấy một lần tôi giã từ mẹ hiền, giã từ bạn bè thân thuộc, giã từ những cuộc vui chơi của lứa tuổi giã từ cái ước mơ mà tôi hằng mơ ước để âm thầm bước vàouộc đời quân ngũ.


Có nhiều khì tôi nằm hát nghêu ngao một mình như người lãng trí, nhưng mặc kệ! Tôi hát cho quên đi ngày tháng trôi qua. Tôi hát không cần hay, không có đầu đề hay đoạn cuối. Tôi hát cho chính tôi nghe, hát cho tôi quên ngày tháng nhớ. Hát để nỗi buồn thực tại không làm tôi thấy trống trải hoang vu.


Mấy đứa bạn cùng tiểu đội với tôi giờ đã đi chơi đâu hết. Có lẽ chúng lên chơi với mấy cậu cùng quê ở các "Bê" (trung đội - ĐVH). Bây giờ chỉ còn lại mình tôi. Sở dĩ tôi không buồn đi chơi, vì chẳng quen thân thiết với ai trong cái đại đội của tôi. Chỉ có 1 thằng bạn học cùng trường ra và về ở với tôi cùng đại đội nhưng hôm nay nó đã nằm ở viện vì cơn sốt rét ác nghiệt đến ám ảnh. Ở đây tôi chẳng có ai là đồng hương cả, nên buồn chẳng muốn bước chân ra khỏi nhà và lại còn phải ở nhà để cảnh giới địch nữa. Địch ở đây thì không gọi là nhiều, hơn nữa với trời quang như vầy thì nó chẳng bao giờ dám vào tập kích cả. Tôi bỏ liều vào nằm viết nhật ký cho qua đi chút thời gian.


Với cuộc sống là một thằng lính bộ binh như tôi thì chẳng có gì gọi là đáng nhớ. Súng đạn cứ lạch cạch theo sau mỗi chuyến hành quân dài ngày. Còn bây giờ thì quanh đi quẩn lại có mấy việc: đi truy quét, đi phục, đi tuần, đi công tác lẻ. Có vậy thôi mà nó cứ quanh đi quẩn lại mãi. Lúc có lệnh là tôi đi, xong đợt lại về nghỉ, rồi lại đi. Lấn quấn cũng không ngoài mấy cái buôn có địch hay những khu rừng bị nghi là có lính Pol Pot hoạt động, thế thôi.


Tôi thầm nghĩ, nếu như một kẻ nào đó có công ghi lại từng cây số mà đôi chân nhỏ bé của một người lính bộ binh đã bước qua thì trong suốt cuộc đời của lính nó sẽ là con số khổng lồ và khủng khiếp lắm.

Tôi từ giã cái đơn vị 17 truyền tin hôm 28-3-79 bước vào C5 của E 812 này làm nhiệm vụ chiến đấu đến nay cũng gần 3 tháng.

Trận lớn, trận nhỏ tuy không nhiều nhưng tôi cũng đã tham dự đầy đủ. Đạn AK tôi bắn đâu khoảng 100 viên, B40 đã 3 quả. Nhưng tôi không bắn trúng được tên giặc nào để gọi là lập nên chiến công. Có lẽ là tại tôi bắn súng quá dở và hồi hộp quá, nên mới trật thôi. Tôi phải xách ca đi ăn cơm cái đã kẻo mấy lằng bạn réo um rồi.


Ăn bữa rau muống luộc no quá, gần vỡ cái bụng ra, giờ lại nằm viết nhật ký tiếp. Buổi sáng rau muống luộc, buổi trưa rau muống nấu canh, buổi chiều lại luộc rau muống... Cứ thế món rau muống xoay quanh mãi chẳng có gì khác hơn. Mà ở đây có loại rau gì ngoài rau muốn đâu!


Thỉnh thoảng ngán rau muống quá, lính ta kéo thau đi tìm rau dền, đọt bí, dền gai, dền cỏ, đọt bí già… ăn hết, chả ngán thứ nào. Nhưng rau dền hay đọt bí ở đây cũng hiếm lắm, thế là lại trở về với rau muống thôi. Không biết tại ăn rau nhiều quá, hay cái bao tử của tôi đêm nằm nghe như máy nổ? Nhưng không ăn thì không ổn với cái ruột rồi, nó gào và réo dữ lắm. Thôi kệ, ăn nhào. Ông bà mình có âu "đói ăn rau, đau uống thuốc" mà? Khi chiều, vì thích thú quá, tôi xách súng ra “ăn chim”. Không may cho tôi, bị đại đội phó Trường bắt được quả tang. ông "quạt" cho tôi một trận mát mẻ. Chẳng biết còn chống chế thế nào, tôi đành đứng im chịu trận. Tức lắm, nhưng vì tôi làm sai, nên phải im thin thít thôi.

Đời quân ngũ mà, cấp trên "quạt" cấp dưới là sự thường. Nhưng sao tôi cứ áy náy mãi đến bây giờ, tính tôi hay tự ái lắm. Vì thế trong cuộc sống tôi không muốn ai nói ra nói vào với tôi một tiếng nào, như cái sự việc khi chiều xảy ra cho tôi. Nó sẽ làm tôi suy nghĩ không ít.

Tôi phải tạm dừng ở đây, đi sửa soạn mấy thứ cần dùng để mai đi phục vụ cái đã.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 25 Tháng Sáu, 2008, 09:06:04 PM
25-6-1979

Lại phải rời xa B1 để sang A cối. Tôi không thích mấy, nhưng cũng vui vui. Tôi không thích sống ở B1 là vì trong B có mấy anh lính xứ Nghệ chỉ biết cục bộ địa phương, nên suốt từ lúc tôi về ở B1 họ không làm tôi thoải mái tí nào.

Hôm nay tôi từ giã B1 bước sang A cối, cũng làm tôi hơi buồn một tí, vì sống ở môi trường nào quen với môi trường ấy. Nhưng bù lại, tôi được sống cùng anh em miền Nam không lộn vào mấy anh xứ Nghệ "cục bộ". Lúc ra đi tôi tức lắm, muốn chửi cậu Thịnh một trận. Nhưng tôi cố kiềm lại, vì nghĩ lúc ra đi đừng làm gì để anh em trong B nghĩ mình thế này thế khác Bây giờ tôi vẫn còn tức cậu Thịnh B phó.

Cậu "cục bộ" và tồi quá, chỉ biết lo cho bản thân và đồng hương của cậu ta.


2-7-1979

Cho tôi xin tuổi thơ một lần trở lại để tôi được nô đùa thoả thích. Màu thời gian không nhuộm mờ ánh mắt vô tư, để nụ cười rộn rã luôn nở rộ trên môi. Tôi được sống vui tươi bên mẹ, bên em, bên bạn bè thân ái. Để tôi được ngồi trong vòng tay âu yếm của mẹ hiền vào những chiều đông lạnh buốt bên bếp lửa hồng ấm cúng. Để tôi được nũng nịu và dỗi hờn khi không vừa ý. Để mẹ phải dỗ dành gạ mua những thứ đồ chơi đẹp nhất cho tôi. Để đêm đêm mẹ ru tôi vào giấc ngủ say sưa trong vòng tay ấm. Tôi không còn sợ gì nữa vì đã có mẹ rồi ?

Cho tôi xin tuổi học trò thân ái trở lại cùng tôi. Để tôi được khoát lên mình chiếc áo màu trắng thương yêu ngày hai buổi cắp sách đến trường, bên thầy, bên bạn, bên chiếc bảng đen ngoằn ngoèo nhiều chữ số. Để những lần mải rong chơi, không thuộc bài bị thầy quở mắng và được lãnh một cặp "hột gà" vào quyển sổ điểm xanh xanh to tướng. Để chiều chiều trên con đường từ trường về nhà, tôi mải mê đánh bi cùng chúng bạn, quên mất bữa cơn chiều mà mẹ đang chờ. Để tôi giận và rượt đuổi mấy đứa bạn, khi chúng lấy tên tôi ghép vào tên một đứa bạn gái nào đó, rồi gọi ầm ĩ lên.

Cho tôi xin một mùa phượng nở trong tuổi học trò, để tôi phải bùi ngùi bắt tay tạm biệt cùng bạn bè. Để quyển nhật ký nhỏ bé của tôi có thêm những dòng chữ và những cái tên quen thuộc đầy quyến luyến. Để tôi nhớ mãi tiếng ve sầu hát khúc biệt li. Tuổi học trò ơi ! Màu áo thư sinh ơi? Ta đã một lần đánh mất? Cho tôi xin tuổi mộng mơ một lần lại đến, dưới ánh trăng vàng nhuộm sáng con đường cát, tôi lang thang cùng người yêu bé bỏng đi tìm hương vị của tình ái. Cuộc sống sẽ là giấc mơ đẹp nhất, khi đôi môi kề sát bên nhau. Vòng tay âu yếm tôi đan vào tay em không rời. Tóc em hòa theo gió bay bay, vướng vào mắt tôi, vướng vào môi tôi. Ôi! Hương tóc em thơm quá. Tôi say mất! Cho tôi một lần hẹn hò rồi em không đến, để tôi chờ trong khắc khoải, để tôi giận em và yêu em hơn.

Cho tôi một ngày Chúa nhật đẹp trời rong chơi nơi phố cảng quê hương. Tôi sẽ lang thang mãi trên đường để ngắm thành phố đẹp và tôi thấy yêu cuộc sống hơn. Để chiều chiều khi tan sở, tôi đạp xe trên con đường tráng nhựa thẳng tắp về nhà, gặp người yêu nhỏ bé của tôi đi về ngược chiều. Em cười, ôi nụ cười xinh quá tôi ngắm đến say sưa. Để màu mắt tôi không vướng buồn khi nhìn dải mây chiều lang thang ở cuối chân trời xa tít. Để tôi chẳng bao giờ rơi một giọt lệ nào trên lứa tuổi đôi mươi khi đêm nằm tôi nhớ về người mẹ hiền của tôi nơi quê hương xa mù đó. Ôi? ước mơ của tôi đã bay vào hư không mất rồi.

Cho tôi xin một ngày giã từ bộ chiến y màu lá rừng xanh thẳm. Để súng đạn, kỷ luật, giờ giấc không đè nặng trên đôi vai trong những chặng đường hành quân dài ngày. Để tiếng nổ của đạn bom không làm tôi kinh sợ, để cánh rừng xanh thẳm không che kín ước mơ. Để những chiều mưa nơi đất bạn không làm tôi ướt và lạnh cóng.

Cho tôi xin một giấc ngủ yên lành trong đêm, không lo nghĩ và sợ sệt, không phải thức giấc để đứng gác, để bầy muỗi đói không ào đến hút máu tôi, để tôi say sưa trong mơ mộng.

Tuổi hai mươi ơi? Một lần nào từ giã ra đi biền biệt. Bao giờ tôi trở lại với ngày tháng cũ năm xưa? Vào một chiều, khi đơn vị đóng quân nơi bờ hồ-Buồn quá!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 25 Tháng Sáu, 2008, 09:06:52 PM
7-7-1979

Cái mệt mỏi cứ đè nặng và lấn áp tôi mãi, khiến tôi chẳng muốn làm một cái cử động nào của thân thể. Đến việc đi tắm và giặt cặp đồ quá nhớp nhúa, mặc kệ, phải nghỉ cái đã.

Suốt một ngày nay đôi chân tôi cứ đi mãi lúc qua ừng, lội suól, lúc băng đầm lầy bùn nhão nhoẹt. Mà ở cái đất này về mùa mưa thì thôi khỏi phải nói, bước chân ra khỏi nhà không gặp nước ắt đụng bùn, tránh đâu cho khỏi.

Bây giờ về nằm nghỉ tôi mới thấy mệt mỏi, các khớp xương như rã rời. Chán quá, chả thèm ghi nữa, nghỉ cho khỏe tí đã.


20-7-1979

Ghi vắn tắt mấy dòng cho chú sáo nhỏ xinh xinh của tôi. Tôi mới nuôi chú sáo nhỏ này khoảng 10 ngày. Tuy vậy, chú sáo đã thân với tôi ghê lắm bởi vì khi người ta bắt buột chú phải rời chiếc tổ nhỏ về sống và làm bạn với người, chú chỉ mới là một cục thịt đỏ hau, chưa có sợi lông và cũng chưa biết suy nghĩ về những điều hơn thiệt. Chú chỉ biết há chiếc mỏ to tướng, chờ đón những con dế, con cào cào do người thay cha mẹ chú bón cho.

Nếu nói về công dưỡng dục, thì chú sáo này phải mang ơn đến 3 người. Đầu tiên, một người bạn của tôi trèo lên tận ngọn một cây cổ thụ đem chú ra cùng lượt với 5 anh em của chú. Lúc ấy chú chỉ ngúc ngoắt được cái đầu rồi kêu inh ỏi suất ngày. Lúc ấy chú ăn nhiều lắm. "Dưỡng phụ” (cha nuôi) của chú phải vất vả lắm mới đủ số dế cho chú ăn hằng ngày. Thế rồi thời gian trôi, chú cũng lớn dần theo thời gian, đủ lông, đủ cánh nhưng chú vẫn phải nhờ con người bắt từng con dế bón cho chú.

Làm "dưỡng phụ” mấy ngày, có lẽ chán quá, người bạn tên Lượt của tôi lại bàn giao cho một người người khác tên Sĩ cùng tiểu đội với tôi làm "dưỡng phụ kể'. Nhưng không may cho chú sáo nhỏ, người "dưỡng phụ kể” này lại mắc cái chứng bịnh đau bụng liên miên. Làm "dưỡng phụ kể” đâu được mấy ngày, một hôm, anh bạn Sĩ gọi tôi và bàn giao chú sáo cho tôi. Tôi bắt đầu làm người dưỡng phụ cuól cho chú sáo nhỏ.

Xác định là người "dượng phụ” cuối cùng nên tôi yêu chú sáo nhỏ này lắm. Đã từ lâu, phải nói là từ lúc tôi còn nhỏ kia, tôi đã mơ có một chú sáo để nuôi. Và thật ra thì hôm nay tôi mới bắt đầu nuôi chú sáo này là lần đầu tiên. Tôi quý chú lắm?

Mặc dù là "dưỡng phụ" của chú, nhưng tôi vẫn coi chú là bạn, vì chú là nguồn vui của tôi. Kể từ lúc có chú tôi như vui thêm ra, bận bận thêm chút, lo lo thêm chút. Mỗi lần đi đâu xa chú, tôi thấy nhớ ghê, lại còn lo cho chú. Tôi sợ chú đói, sợ người ta bắt chú mất. Có lúc đang ngủ trưa rất ngon, chú bay lại đậu gần bên tôi kêu lên inh ỏi. Biết chú đói, thế là tôi phải dậy dẫn chú đi bắt cào cào cho chú ăn. Tuy chú phá giấc ngủ ngon của tôi, nhưng tôi không sao giận và gắt với chú ta được, vì tôi yêu chú lắm.

Giờ đây chú sáo của tôi lớn thêm nhiều, đã biết bay xa. Tôi chưa đặt tên cho chú, vì tôi chưa tên ra cái tên nào hay hay. Chú có bộ lông đen mượt từ đầu đến đuôi chỉ nơi ven cánh có mấy sợi lông trắng làm nổi bật đôi cánh khi chú bay. Cũng vì cái sự bay bay kia mà có lắm lúc tôi bực chú ghê. Chú bay đậu trên ngọn dừa cao vút, tôi huýt gió hoài chú cũng chả thèm xuống. Tôi sẽ nhốt chú vào lồng suốt ngày cho chú biết tay. Thế nhưng khi đói chú lại làm lành, tôi kêu tức thì chú sà đôi cánh xuống và đậu trên vai tôi. Tôi lại thấy thương thương chú làm sao. Tôi lại hết giận và tiếp tục đi bắt cào cào cho chú ăn.

Chú sáo của tôi là vậy đó. Tôi quý chú sáo của tôi lắm. Tôi hứa sẽ cố công nuôi nấng và dạy dỗ để chú nói được tiếng người. Ôi! Lúc ấy thì tôi sẽ vui lắm?

Có lúc nhìn chú sáo nhỏ của tôi mà lo, vì tôi là thằng lính chiến nay đây mai đó, nhiều khi hành quân cả tháng trời. Bởi vậy, tôi lo chú sáo của tôi suất đoạn đường hay lại bỏ dở nửa chừng. Tôi sợ mất chú sáo nhỏ xinh xinh này của tôi, nhưng tôi biết làm sao? Thôi mặc kệ, tới đâu hay đấy. Đường đời mà!

Chú sáo nhỏ xinh của tôi ơi! Hãy theo tôi nhé! Tôi sẽ bắt cào cào, dế cho chú ăn suốt ngày. Chú cần gì tôi sẽ làm vừa lòng chú ngay, đừng bỏ tôi mà đi nghe chú sáo thương yêu. Tôi sẽ nhớ chú lắm đấy, vì chú là bạn của tôi, là nguồn vui mà tôi đã bỏ công ra để tạo nên. Xa chú, tôi sẽ buồn, sẽ nhớ chú nhiều lắm?

Hỡi chú sáo nhỏ xinh xinh của tôi, đừng bao giờ xa lánh tôi nghe chú.
(Viết để kỷ niệm tôi nuôi con sáo đầu tiên).


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 27 Tháng Sáu, 2008, 08:35:29 PM
Phần thứ chín
Từ khi phong hàm hạ sĩ

"Cứ mỗi chiều, khi chút nắng vàng còn đậu lại trên chóp đầu cây thốt nốt trước nhà, là tôi lại một lần lo lắng: không biết đêm nay địch có tập kích vào nơi tôi ở không? Đó là câu hỏi thường hiện lên trong tôi vào những lúc trời chập choạng tối. Để đến lúc ông mặt trời ló chiếc đầu đỏ hói từ phương đông nhìn sang, thì câu hỏi của tôi mới được trả lời đêm qua địch không tập kích, tôi vẫn còn sống và tiếp tục một ngày  mới. Cứ thế ngày này nối ngày kia trôi nhanh qua trong sự lo lắng, khiến tôi chẳng nhớ rõ ngày nào là ngày nào cả."
(Trần Duy Chiến, 21-8-1979).


27-7-1979

Ghi vài dòng để kỷ niệm ngày mà tôi nhận thêm một hạt 2-6-1979).

Sở dĩ mãi hôm nay tôi mới ghi, là vì hôm nay tôi mới biết. Đời lính mà! Mỗi một sự thay đổi đến với tôi dù nhỏ bé hay to tát, nó cũng làm tôi nhớ nhớ, quên quên.

Được thêm một cấp, nói rõ hơn nghĩa là tôi bắt đầu từ giã "chú Binh" để bước qua và làm quen với họ hàng "nhà sỉĩ”. Hôm nay tôi là Hạ sĩ. Kể ra cũng thấy vui vui mặc dù cái vui chỉ nhỏ nhoi và bé tí của một thằng lính chiến.

Tám giờ tối, những cậu lính vừa được thêm 1 hạt với vẻ mặt xuề xoà, có vẻ vui vui, tụ họp quanh chiếc nhà tranh nho nhỏ của đại đội. Trong đó dĩ nhiên là có tôi. Chẳng cần lễ mễ lộc cộc làm gì, ngó quanh nhà thấy hơi đủ mặt, Chính trị viên Thủy có bộ râu quai nón trông cũng đẹp, bắt đầu hắng giọng. Ông đọc ro ro một hồi họ và tên những cậu lính có trong giấy quyết định. Đọc xong ông quán triệt một hồi với mục đích cũng chẳng có gì lạ. Thế thôi, xong, ai về nhà nấy!

Gọn gàng và ngắn ngủi như thằng lính. Mà phải thế mới được, xúm xúm cùng nhau lâu lâu thì ớn lắm, địch nó tập kích cho bỏ xừ. Cái làng quê "a Long-cóp" của đất nước Ăng-ko này chứ đâu có phải là ở Đà Nẵng, Sài Gòn mà xúm lại để vui được?

Thế thôi? Tôi là thằng lính chiến mang quân hàm hạ sĩ mới phong. Từ nay phải nở mặt một chút mới được. "Ta đây là Hạ sĩ, ha ha!".
Vui quá là vui chúng mình vui quá
Vui quá là vui chúng mình quá vui
Vui quá là vui chúng mình vui quá
Vui quá là vui chúng mình hệt vui!
Tại vui quá nên gãy răng rồi mà
Hệt vui đáng đời - Thế thôi!


29-7-1979

Thế là hết ức quá, tôi ức cho tôi, ức cho cuộc đời và tức giận ghê gớm mấy "chú Tí" hôi. Tôi ức cho tôi vì quá chủ quan, thiếu trách nhiệm với chú sáo nhỏ xinh để chú phải chết. Tôi ức cho đời vì đời đã tạo ra nhiều khúc khuỷu quá để cho tôi phải xa chú sáo của tôi. Tôi ức cho mấy "chú Tí", vì mấy chú đã xơi mất chú sáo nhỏ xinh của tôi làm cho tôi phải nhớ thương vẩn vơ.

Mà có ai lại không thương không nhớ cho được. Chú sáo xinh xinh của tôi là người bạn, là nguồn vui to tát của tôi. Nay đã tự nhiên vụt biến khỏi tầm tay tôi làm sao tôi không khỏi thấy nhớ nhớ vu vơ. Tôi biết làm sao đây? Tôi cất tiếng huýt sáo với vẻ mặt thờ ơ, nhưng giờ đây không còn một con sáo nào bay tà tà đến đậu trên bờ vai tôi nữa. Con sáo của tôi đã chết, thế là hết. Công trình nuôi dưỡng và ước mong của tôi với chú sáo giờ đây đã tan biến. Những buổi sáng, buổi chiều, buổi trưa, tôi đâu còn bắt dế, bắt cào cào cho chú nó ăn. Thế là hết, con sáo nhỏ của tôi đã chết. Tôi thương và nhớ chú nhiều lắm?

Tôi nhớ con sáo nhỏ của tôi quá!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 27 Tháng Sáu, 2008, 08:36:17 PM
2-8-1979

Đem quyển nhật ký ra, tôi chẳng muốn ghi lại một sự việc gì vào đây, bởi nhẽ cây viết bíc bấm của tôi nó đã hết mực. Hơn nữa, chẳng có gì gọi là đáng nhớ. Buồn thì có lẽ nhiều, nhưng vui thì không timf đâu ra.

Tôi ngồi chép nhật ký bên chiếc bàn làm bằng cái thùng xăng của một chiếc máy hư nào đó, mà chính tay tôi đã lăn vào đây từ cái lúc tôi mới bước chân về A cối này.

Gió chiều thổi mạnh, những tàu lá to tướng giống như chiếc quạt khổng lồ của hàng cây thốt nốt trước nhà tôi bị gió làm rung chuyển, va vào nhau phát ra những tiếng rào rào đến inh tai. Con đường cái bên bờ hồ nằm lặng yên buồn thảm.

Cảnh vật hôm nay khác hẳn với mấy ngày đầu khi đơn vị tôi vừa về đóng ở nơi cái thum Long-cóp này, những chiếc xe bò, xe trâu bánh gỗ đi qua lại liên tục trông nó cũng vui vui.

Bây giờ đây, con đường trước mặt nhà tôi ở cũng đổi khác rồi, vì đơn vị tôi sợ lộ bí mật quân sự nên chẳng cho một ai đi ngang qua đây. Con đường và bờ hồ trước mặt nhà tôi ở từ đó cũng lặng yên, không còn rầm rộ. Nhưng đối với riêng tôi, cấm dân chúng đi trên con đường này làm tôi giảm đi cái phấn chấn. Bởi vì tôi là một thằng nghiện thuốc, mà ở đây thì tôi chỉ biết xin dân chứ tôi không tìm đâu ra được. Thế nhưng
dân không đi qua lại thì tôi xin đâu ra? Có những lúc buồn quá, tôi tà tà ra những vị trí mà trước đây dân hay nghỉ trưa, ngóng cặp mắt lao láo tìm nhặt cái mẩu thuốc rơi. Dần dà rồi những cái mẩu của dân lia quanh đó cũng hết, không tìm đâu ra, đành nhịn. Tôi vẫn biết rằng đi nhặt từng cái mẩu của dân là một điều hết sức sỉ nhục và chẳng có vệ sinh tí nào, nhưng tôi vẫn lượm bởi vì tôi thèm. Tôi thèm nên đâu còn nghĩ đến những cái sỉ nhục kia.

Chiều nay tôi ngồi đây ghi vài dòng nhật ký cho trôi qua cái giờ phút nhàn rỗi này. Tôi suy nghĩ mông lung về cuộc đời của thằng lính, hay nói cho rõ hơn là về cuộc đời cầm súng của chính tôi. Tôi đâm ra bi quan rất nhiều, không phải vì tôi chán ghét chế độ, cũng không phải vì tôi không am hiểu về chính trị của nước nhà và nhiệm vụ của người thanh niên. Song tôi đâm ra nản nhiều, thằng lính chiến nay sống mai chết, có gì đâu mà phải suy nghĩ nhiều.

Cứ mỗi chiều, khi chút nắng vàng còn đậu lại trên chóp đầu cây thốt nốt trước nhà, là tôi lại một lần lo lắng: không biết đêm nay địch có tập kích vào nơi tôi ở không? Đó là câu hỏi thường hiện lên trong tôi vào những lúc trời chập choạng tói. Để đến lúc ông mặt trời ló chiếc đầu đỏ hói từ phương đông nhìn sang, thì câu hỏi của tôi mới được trả lời-đêm qua địch không tập kích, tôi vẫn còn sống và tiếp tục một ngày mới. Cứ thế, ngày này nối ngày kia trôi nhanh qua trong sự lo lắng, khiến tôi chẳng nhớ rõ ngày nào là ngày nào cả.
Và mỗi lần đem quyển nhật ký ra ghi, tôi phải hỏi mấy đứa bạn hay đoán mờ mờ, rồi ghi vào liền, chẳng rõ đúng sai. Với cuộc sống mà tôi đang có bây giờ chỉ vậy thôi.


7-8-1979

Hôm nay, lần đầu tiên tôi đến chợ Mung. Tuy cái chợ này chỉ cách Long-cóp khoảng 5 cây số. Nếu như không có mục đích là đến để xem thử và đổi tấm áo mưa lấy ít gói thuốc Thái Lan về hút thì tôi cũng chả đến làm gì.

Tôi đi theo con đường cái nằm ven sông mất đâu tiếng rưỡi. Chợ Mung từ từ hiện dần ra trước mắt tôi theo nhịp bước chân, càng lúc càng rõ cái quang cảnh nhộn nhịp của nó.

Lách qua mấy rổ cá bày bán ven đường, tôi cùng cậu Huế đi dọc theo chợ để xem. Qua mấy dãy hàng xén, tôi đâm ra ngỡ ngàng hết sức. Tôi không ngờ là nó đầy đủ và đẹp như vầy. Đủ thứ mặt hàng, những chiếc xà rông hoa màu sặc sỡ bày bán la liệt, những ve dầu thơm, những cục xà phòng thơm, những gói thuốc thơm, những viên kẹo thơm... Nhiều quá? Toàn là những mặt hàng của Thái Lan được bày bán ở đây chiếm đâu khoảng 90%.

Từ đáy lòng lại rộn lên nhiều cái vui vui. Tôi đi qua, đi lại, đi để được nhìn thấy cái cảnh nhộn nhịp của một buổi chợ mà đã gần 4 tháng nay tôi mới thấy lại ôi? Sao mà đẹp thế, sao mà vui và dễ yêu đến thế? Khi đi ngang qua cái hàng bày bán thuốc lá, tôi dừng lại, đứng tần ngần nhìn những gói thuốc thơm mang hiệu Gold City của Thái Lan sản xuất được bày bán ở đây một cách rộng rãi. Những gói thuốc đẹp quá nằm trước mắt tôi dễ thương ngần nào. Nhân dân ở đây chưa có tiền để dùng vào việc mua bán. Họ trao đổi hàng hóa cho nhau qua trung gian là gạo. Tôi lấy tấm áo mưa đem theo ra đổi, được 3 gói Gold City.

Bóc gói thuốc lá đầu lọc ra hút. Nó ngon ngon làm sao. Mùi thơm của khói thuốc như quyện vào mũi, vào môi tôi. Vui miệng, tôi nói với cậu Huế một câu:

-Có đi đánh giặc "K" mình mới được hút mấy hơi thuốc thơm này.

Hai đứa cùng ngẫm nghĩ, rồi cùng cười như thông cảm cho câu nói đùa vô tình của tôi.

Chúng tôi cứ quanh quẩn chơi mãi, đến lúc cái bụng nó nhắc, hai đứa mới quay về. Đi ngang nhà ông bạn Thon (người Cam-pu-chia), biết tiếng Việt bập bẹ. Trông thấy tôi, Thon gọi vào chơi. ông Thon đang làm cơm, thế là ông bảo hai đứa ở lại ăn cơm cho vui. Thôi cũng chiều, chỉ từ chối vài câu qua loa cho vui. Tôi cũng ăn với ông bạn một bữa để biết mùi vị Việt Nam-Cam-pu chia.

Buổi chiều lại đi bộ 5 cây số về, mệt đừ! Tôi vừa đi vừa suy nghĩ về cái chợ Mung mà tôi đã được tận mắt nhìn. Tôi bật cười vu vơ như bắt được tin vui, phải chăng tâm hồn tôi đang có nhiều cái vui mới?!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 27 Tháng Sáu, 2008, 08:37:42 PM
14-8-1979

Tin đồn Trung đoàn 812 sắp về nước được lan truyền đi một cách nhanh chóng. Dù đây chỉ là cái tin vu vơ, cái tin "hành lang" không có gì làm bằng chứng cụ thể, nhưng tôi vẫn mải miết chờ trông. Mong sao cho cái tin "hành lang" kia trở thành sự thật thì vui biết là bao!


Tôi và bạn bè cùng màu áo, cùng nhiệm vụ đều ao ước được trở về quê hương, về lại đất nước. Để làm gì? Mỗi người đều có cái suy nghĩ riêng của họ nên tôi không biết. Còn riêng tôi, mơ ước được về lại bên đất nước hẳn là cái mơ ước lớn lao. Còn về nước để làm gì thì đó là cái điều tôi đang suy nghĩ. Về nước để chính con mắt tôi được nhìn lại quê hương sau gần nửa năm xa vắng, mà bây giờ tôi thấy mến yêu sao. Để tôi được nhìn lại dòng sông xanh biếc, nhìn lại cánh đồng bát ngát và được nhìn lại túp lều tranh lụp xụp nấp mình sau rặng tre xanh. Về nước để tôi được ngồi trong cái quán nhỏ bên phố, uống cốc cà phê đượm tình dân tộc và nhìn cái cảnh nhộn nhịp của phố phường quê tôi.


Về nước... ôi biết bao nhiêu là việc như xếp thành hàng và chờ sẵn trong đầu óc tôi. Mỗi lần vụt nghĩ đến hai tiếng "về nước" là nó ùa ra, khiến tôi nhớ không sao hết được.

Ai đi xa quê hương mình mới thấy yêu quê hương một cách thắm thiết Tôi đây cũng vậy. Lúc còn sống trên cái mảnh đất chôn nhau cắt rốn, tôi nhìn quê hương một cách bình thường và vô tư như trẻ con. Tôi thấy quê hương tôi không đẹp và cũng chẳng dễ yêu như khi tôi nhìn trên màn ảnh. Thế rồi vì sự ham muốn khám phá mới lạ của cái lứa tuổi thanh niên, tôi đâm ra ước ao một ngày nào đó tôi sẽ rời xa quê hương đi nơi khác. Để cặp mắt tôi được nhìn những cảnh mới lạ, cuộc sống mới lạ mà tôi chưa thấy. Và cái ước ao của tôi đã trở thành sự thật. Tôi được sang đất nước Cam-pu-chia. Hôm ấy là ngày 29-11-1978.


Tôi đã từ giã quê hương bằng cặp mắt hững hờ, không vướng bận. Tôi đã không một chút gì luyến tiếc bởi trong tâm trí lúc ấy có nhiều sự thay đổi.

Thế rồi thời gian cứ nối tiếp trôi qua, đôi chân nhỏ bé của tôi cũng ghi được nhiều, nhiều lắm những điều mới lạ khiến tôi không nhớ hết nổi. Nơi nào đôi chân tôi đã đi qua: Tà-keo, Lâm Phát, buôn Lung, Bat-tam-băng, Lô-via, Mung, Phô-xít, Trà-mốc, Phờ-ray-chít, Tà-lá, Phum-phênh, Xay-cờ-rơn và bây giờ là Long-cóp.


Đôi mắt và khối óc cỏn con của tôi đã ghi được những gì? Cánh rừng dài và dày san sát, lội qua mấy ngày đường chưa ra khỏi, không có một giọt nước. Những quả đồi trọc nằm chồng lên nhau, cánh ừng cao su xanh um, trải rộng. Nắng bụi bám vàng cả áo, trời mưa đất nhão nhoẹt, phải lê từng bước chân mệt mỏi, nhớp nhúa. Mấy xóm nhà sàn lợp bằng tranh cỏ hay bằng lá cây ghép lại nằm rải rác ven đường cái.


Đó là lúc tôi còn ở buôn Lung, còn từ khi tôi bước chân sang cái tỉnh Bat-tam-băng này, tôi lại ghi thêm vài cái mới nữa: Những chiếc xe đóng theo kiểu cổ xưa hai bánh bằng gỗ có niềng sắt bao quanh chống mòn. Tôi không biết là nó mạnh bao nhiêu mã lực? Chỉ thấy rằng khi chạy thì phải nhờ một cặp trâu, hay bò nai lưng trườn tới để kéo.


Còn nhiều và nhiều lắm, nào là thành phố Bat-tam-băng chết lịm, không một bóng người dân hiền lành (đó là lúc tôi mới đặt chân đến, chứ bây giờ thì nó đã sống lại rồi). Đó là những cánh đồng rộng mênh mông bát ngát, cộng với những con đê to, chạy dài, thẳng tắp. Có lần tôi phải rùng mình khiếp sợ và cảm phục cho cái sức lực nhỏ bé của con người, chỉ dùng hai bàn tay đắp từng thỏi đất nhỏ mà tạo nên.


Nào là màu da đen, sạm nắng, mái tóc cắt ngang tai ở các cô gái từ nhỏ đến lớn, cộng thêm bộ đồ đen, hay chiếc váy đen, cùng chiếc khăn rằn quàng cổ. Nhưng bây giờ cái mặc của nhân dân cũng có đổi khác đôi chút, nhìn vào dễ coi hơn đó là chiếc xà-rông hoa màu sặc sỡ, chiếc áo chiếc quần có vẻ hiện đại hơn. Đó chẳng qua cũng chỉ là hàng của Thái Lan do người buôn lậu mua về, chứ nhân dân thì chàng có cái
gì khác ngoài đôi trâu, cái cày.


Nào là quang cảnh cái chợ Mung rộn rịp bày bán đủ thứ mặt hàng của Thái Lan, nào là những mảnh vàng con con bị chặt xiên xẹo để đổi chác cho nhau...

Tôi còn ghi những gì nữa?

Có lần, tôi bị thằng địch phục bắn trượt 2 viên đạn suýt chết. Trận đánh dai dẳng trên đường hành quân, trái cối 82 nổ cách tôi chưa đầy 5 mét, địch vây tứ phía, xả đạn dày đặc về phía chúng tôi, cả đơn vị rượt địch chạy dứt hơi nhưng cũng thú vị. Những lần lội qua bàu, qua suối, nước lút đến ngang cổ; những chiều mưa ướt đẫm và dai dẳng... Nhiều lắm, cái đầu óc bé con của tôi không sao nhớ hết nổi.


Suốt dặm đường gian khổ ở cái đất nước mà lúc đầu tôi đã ao ước được đặt chân đến để biết thêm cái mới cái lạ, bây giờ nó không thu hút tôi như cái lúc đầu nữa. Đâu phải tôi đã đi khắp, nhìn thấy hết cái đất nước Ăng-ko này rồi nên tôi không thích ở đây nữa. Thử đặt câu hỏi: Vì sao tôi không thích?


Vì bây giờ đây tôi thấy mến, nhớ và yêu quê hương tôi một cách kinh khủng? Ở cái quê hương Chùa Tháp này không làm cho tôi khuây khỏa với ngày tháng buồn tẻ của đời lính. Không có tà áo dài trắng thướt tha, mái tóc thề ôm kín đôi vai nhỏ của người con gái, chiếc nón lá bài thơ dịu dàng, thuỳ mị, cặp má hây hây, nụ cười dễ mến, dễ yêu. Một cái làm tôi chán nản đó là sự bất đồng tiếng nói của hai dân tộc Cam-pu-chia và Việt Nam.


Tôi nói tôi nghe, họ nói họ nghe, thế thôi. Lẽ ấy cho nên tôi không muốn và không thích ở cái đất nước này dù chỉ một giờ một phút.

Không biết nên cho số phận của tôi là may hay rủi khi có mặt ở E 812 anh hùng? Nó càng rõ nét hơn là tôi lại có mặt ở cái C5 của E 812 cũng anh hùng với các C khác trong E. Có lúc tôi cũng tự hào với cái truyền thống của C tôi. Nhưng đôi khi tôi cũng nản không ít. Bởi vì cái C5 của E 812 không phải là toàn hảo. Và chính tôi luôn có nhiều sự thay đổi về tư tưởng, lúc này, lúc khác, thế thôi?


Mơ sao một ngày nào sắp đến với tôi. Đơn vị tôi lên xe về lại quê hương dù một thời gian không dài lắm cũng được. Mơ sao cái tin dễ mến kia trở thành sự thật, đừng để tôi phải cụt hứng, phải điên đầu.

Ở cái đất thị trấn Mung này càng lâu, tôi càng nhận thấy những điều lộn xộn của nó. Từ bề ngoài nhìn vào trông nó có vẻ hiền lành và yên ổn đối với người lính, thế nhưng có cầm súng đứng trong cuộc mới thấy được cái phức tạp chất chồng. Những tin tức đầy sự lo âu: Địch sắp dùng lực lượng lớn về đánh Mung, địch về cách Mung 3 km, địch đã áp sát Mung với số quân 2.000 tên, ngày... địch sẽ tấn công Mung vân vân và vân vân


Lo âu chất chồng lo lâu, suy nghĩ cộng thêm suy nghĩ. Mỗi lần có cái tin như vậy là đơn vị tôi lại phải lên đường truy quét. Và dĩ nhiên là có tôi với khẩu cối 60 lục cục trên vai, lại băng rừng, lội suối, cơm vắt, nước lã, muỗi đốt.


Mấy cái thum nằm quanh Long-cóp này như Phôm-phênh, Tà-ná, Phô-xit, Trà-mốc, Phờ-ray-chít, Xay-cờ-rơn cộng thêm những cái tôi không nhớ tên. Xa vài ngày đường có gần đôi ba cây số có, hình như tôi đã thuộc gần hết.


Đời lính là một chuỗi ngày chất chứa đấy rẫy sự khổ cực và lo âu. Ai là người cầm súng mà không có cái suy nghĩ như tôi, có chăng là những con người không bao giờ thật thà với lương tâm của mình và một số người mệnh danh là cầm súng nhưng chưa bao giờ cầm súng mới không cùng cái suy nghĩ ấy. Bởi nhẽ họ cũng đổ mồ hôi, nhưng vào những lúc lao động, họ cùng đi hành quân từ nơi này đến nơi khác nhưng bằng xe. Quá lắm, nếu có vận dụng đến đôi chân thì bù lại chiếc ba lô sau lưng họ chứa những thứ đồ dùng cá nhân hằng ngày. Chúng nặng đến độ thả xuống nước có thể làm chiếc phao cho những ai chưa biết bơi dìu đó mà qua sông.


Họ cũng nghỉ trên đất giặc, nhưng không bao giờ giặc đến được nơi họ ngủ, bởi vì quanh họ có một lớp rào nhạy bén và nguy hiểm gấp trăm lần hàng rào điện tử tiên tiến trên cái thế giới văn minh hiện nay.

Còn lại, ai chắc cũng cùng một suy nghĩ như thế vì hành động của họ và của tôi chắc là không khác nhau mấy. Cũng hành quân dài ngày, cũng chiếc ba lô nặng, cũng mồ hôi nhễ nhại, cũng ngủ rừng lội suối, cơm vắt, muối rang...


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 27 Tháng Sáu, 2008, 08:38:32 PM
Đêm đêm cũng thức vài tiếng ngồi lặng thinh nơi gốc dừa, gốc xoài, gốc thốt nết hay lại là một gốc me ven đường nào đó để nghe tiếng "sáo muỗi" trỗi khúc nhạc "hút máu người" vo ve bên tai. Họ giấu kín mình vào bóng đêm, họ yên lặng chờ đợi.


Họ đang làm gì nhỉ? Ngồi ngắm cái cảnh tĩnh mịch của một đêm chăng? Không đúng bời họ đâu phải là nhà thơ, là thi sĩ. Họ đang ngồi tịnh tâm cho hình hài yên tĩnh chăng? Càng không phải bởi họ đâu là một nhà tu hành hay một nhà võ thuật.


Họ đang làm gì? Bên mình họ lại còn có khẩu súng nữa kia. Họ đang canh chừng sự sống cho đồng đội. Họ chờ đợi ai? Họ chờ đợi cái bóng đen như ma quái đi lom khom trong đêm tối, rình cướp đi sự sống của đồng đội. Cho nên họ phải yên lặng, kiên nhẫn đến lầm lì và chờ đợi.


Trên cái mảnh đất mà hiện giờ tôi đang sống, thì màn đêm không là cái êm dịu và sự yên tĩnh. Tôi nhìn cái màu đen kia bằng nhiều cảm giác và cũng nhiều suy nghĩ. Nó không hiền từ hay êm ái như cái cách nhìn của các nhà thơ. Nó chứa trong mình nhiều cái chết chóc. Nó che giấu sự rình mò và lén lút đáng sợ. Nó làm cho người lính thấy gờn gợn và lo âu.


Tôi sợ chết? Phải? Bởi hình hài hiện tại của tôi là bằng xương bằng thịt, bằng sự sống, nên tôi sợ chết. Nhưng cái chết nó không làm tôi suy nghĩ nhiều, chỉ có sự lo âu làm tôi thao thức.

Trong giấc ngủ chập chờn, biết bao nhiêu câu hỏi hiện trong đầu: Đêm nay địch có tập kích không? Lực lượng địch đông không? Có đánh vào hướng tôi không? Tôi phải xử trí thế nào? Ngoài thùng đạn của mình có được bao nhiêu quả, đủ bắn không? Nếu địch nổ súng vào hướng nhà tôi, tôi phải làm thế nào? Bò hay chạy khom cho nhanh để ra công sự Cứ thế, tôi tự đặt cho tôi những câu hỏi và tôi cũng tự trả lời. Có lúc tôi nghĩ liều cho qua đi những cái lo âu. "Thôi kệ, khéo lo xa, được đến đâu hay đến đấy. Đời lính mà, có lúc nào yên đâu. Chỉ trừ khi bên mình không còn cây súng?".


Có lắm lúc tôi buồn cười cho tôi quá. Bởi khi có một mãnh lực nào đó tác động vào tâm trí là tôi lại xác định tư tưởng rõ ràng: muốn phấn đấu hơn nữa với nhiệm vụ của mình? Như khi chiều qua họp nghe Đại đội phó Trường thông báo về tin chiến thắng và tin C tôi được tặng thêm một Huân chương Chiến công hạng Nhất. Lúc đó, cái suy nghĩ và cái gương mặt tôi không như bây giờ đâu. Nó rạng rỡ, vui tươi như một chú bé được quà. Phải nói rằng tôi rất tự hào và hãnh diện về đơn vị C5 mà tôi đang ở. Tuy rằng tôi chỉ là 1 phần nhỏ bé đối với 50 phần to tướng kia.


Lúc ấy tôi phấn khởi nhiều lắm. Giá như cái bụng dễ chịu đôi chút, thì tôi cũng đã lên đường đi truy quét với anh em rồi. Thế nhưng bây giờ thì tôi không nghĩ như khi chiều qua nữa. Gương mặt rầu rầu với cái suy nghĩ cũng chẳng khác gương mặt là bao. Người ta nói "tư tưởng con người diễn biến liên tục qua từng giây từng phút" đối với tôi nó chả sai tí nào.


Đừng bao giờ nghĩ lầm cho tôi rằng tôi không thông suốt đường lối và tôi không xác định được nhiệm vụ của lứa tuổi thanh niên đối với đất nước hiện nay... Không đúng, nếu thế tôi đã né tránh không đi nghĩa vụ quân sự rồi và tôi có thể nói chính trị không vấp váp cơ mà.


Nhưng sao tôi không thích làm một người lính từng giờ chắc tay súng bảo vệ Tổ quốc? Tôi thích làm người dân để được gần thành phố, gần quê hương, bạn bè thân thiết, gần những cái mà người lính không sao có được. Phải chăng tôi hèn nhát, không đủ nghị lực để gạt bỏ những cái quá khứ, những kỷ niệm êm đềm của tuổi mơ để bước vào một cuộc sống mới đầy gian khổ?


Với tôi cũng chẳng tin được câu trả lời nào để giải đáp cho tôi cả. Thế nên tôi vẫn buồn, vẫn nhớ, vẫn thương cho mình. Tôi thương cả cho mẹ, cho em, cho bạn bè và quê hương. Mỗi khi hình ảnh khách quan nào bên ngoài tác động vào là đôi mắt tôi lại vướng buồn trong khoảng nhớ.


Mấy đứa bạn đã đi chơi từ lúc nào tôi không biết. Có lẽ chúng ra ngoài kia để chọc mấy cô bận váy với vài câu tiếng Miên vừa học thuộc. Ngôi nhà giờ chỉ còn lại mình tôi, nó trở nên lặng lẽ, trống trải thêm. Bây giờ mới khoảng hơn 4 giờ 30, nhưng tôi cứ ngỡ đã chiều lắm rồi.


Tôi ngước mắt nhìn ra phía đường cái, chán rồi nhìn ngược lại cánh đồng ruộng đằng sau xanh thẳm. Một vài đám mây trôi lang lang không định hướng, bầy vịt nước bay ngang kêu lên chim chíp như muốn phá tan sự yên tĩnh của không gian. Bên kia hồ, mấy chiếc xe bò đi về, tiếng gỗ nghiến ken két khó chịu. Mấy luồng bụi đất bốc lên bởi cái móng chân cứng ngắt của đôi bò, càng làm khó chịu cho những người dân đi bộ theo sau. Họ vội vã, hấp tấp vì sợ tối. Trông người nào cũng nặng nề vì cái bao trái cây trên đầu.


Một luồng gió nhè nhẹ từ phía tây thổi tới, làm tôi khoan khoái dễ chịu. Gió làm mấy tàu dừa, tàu thốt nốt đong đưa, tạo ra cái âm thanh rồn rột. Bây giờ nghe tôi chả thấy gì, nhưng ngược lại trong phiên gác nó làm tôi sởn da gà không ít.


Những gì còn lại sau cuộc chiến? Đó là câu hỏi và sự trả lời lại là hiện thực: Nhà cửa bị tàn phá, nhân dân đói khổ. Có thể người dân ở đây thông cảm cho hoàn cảnh đất nước mình. Họ cặm cụi làm việc suốt ngày. Họ đi vào những phum vắng người để tìm thức ăn, có gì ngoài mấy đám ruộng lúa chắt, mấy cây đu đủ, cây sắn, mãi tối mới về. Có đêm về tối quá, không dám đi, họ đốt lửa để xua muỗi. Thế là đơn vị tôi tưởng địch, lại xả súng bắn vào. Tôi không trách đơn vị tôi được bởi đơn vị tôi sợ bọn Pôn-pốt lợi dụng để tập kích. Tôi chỉ thương cho cuộc sống của dân thôi.

Nhưng tôi đành chịu, chỉ biết nhắc họ là không nên đi về tối nữa.

Nhưng cũng có lúc tôi cảm thấy chả thích tí nào về họ. Nói đúng hơn là tôi ghét họ, điều này thì chính tôi cũng chả hiểu tại sao.

Buồn quá. Cuộc sống nơi đây với tháng ngày buồn tẻ của đời lính chiến không ăn sâu vào tiềm thức tôi một kỷ niệm nào. Rời xa tôi sẽ không luyến nhớ, có khi còn mong thích nữa. Hôm trước đọc cuốn sách "Đoạn tuyệt" của Nhất Linh có một câu phương ngôn mà mãi đến bây giờ tôi còn nhớ: "Khi nào không có một cái gì làm cho mình vui, thì mình nên vui với cái mình có". Thế nhưng tôi chả có cái gì gọi là "có" để mà "vui". Không nhẽ vui với giấc ngủ, vui với cuộc sống, với khẩu súng-những cái mà tôi đang có được ư? Nếu thế, tôi cũng thử vui với chúng xem sao.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 27 Tháng Sáu, 2008, 08:39:08 PM
1-9-1979

Lại sắp phải rời xa cái phum Long-cóp này.

Kể ra cũng nuối tiếc. Ai mà không động lòng một chút, khi mình chia tay với con người, cây cỏ và những cảnh vật quen thuộc hằng ngày, dù con người hay cảnh vật nơi đó có đáng ghét nhiều đi nữa.

Cái ngày chính thức đơn vị di chuyển khỏi nơi này tôi chưa được biết, vì chưa thông báo. Chỉ đoán mò qua những cái tin hành lang đầy sự cấp bách.

"Ngày mai đi, ngày mốt đi", vân vân và vân vân...

Bây giờ, lúc sắp rời xa cái phum Long-cóp này, tôi mới thấy yêu và quyến luyến nó ghê. Đầu óc tôi như bị cái ngoại cảnh chung quanh níu kéo, nửa muốn đi cho khuất mắt cái phum cô quạnh này, nhưng nửa còn lại chẳng muốn xa nơi đây tí nào.


Tôi muốn xa cái phum Long-cóp này vì ơ lâu tôi đâm chán với cảnh vật và con người quá quen thuộc tôi muốn được thấy cái mới và cái lạ. Còn tôi không muốn xa, cũng là vì tôi sợ đến nơi khác biết đâu lại là không có được những cái như ở nơi đây. Biết đâu nơi mà tôi chưa đến nó sẽ hiu quạnh, buồn tẻ và hoang vắng đến ghê sợ. Nó sẽ không có cái hồ nước trong vắt cho tôi tắm nghịch cùng bạn bè suốt buổi. Thế nên tôi cũng luyến tiếc không ít.


Với những giờ phút quí giá còn lại, tôi như thấy nó trôi qua một cách quá mau lẹ. Mới trưa đó, bây giờ đã chiều rồi.

Tôi luyến tiếc ra đứng tựa bờ hồ nhìn lại cảnh vật lần cuối. Tôi đăm chiêu suy nghĩ. Tôi cố ghi lại những kỷ niệm của ngày tháng ở đây trong cuộc đời binh nghiệp, dù nó không êm đềm như những ngày tháng cũ năm xưa.


Không biết cảnh vật trước mắt tôi đang buồn, hay là tôi đang buồn? Mưa lại bay bay, mấy luồng gió lạnh ùa vào người, chui vào ngực áo, khiến tôi cảm thấy lành lạnh. Xa xa, cánh đồng mù trong mưa chiều, một vài cây thết nốt đứng lẻ loi, rũ xuống mấy tàu lá khô buồn tẻ.


Xa xa hơn nữa, là phum Tà-ná, phum Phệnh, phum Cà-rân-xay và những cái phum mà tôi đã đi qua rồi, nhưng không nhớ tên. Nơi đó đã ghi dấu những bước chân nhỏ bé của tôi trên chặng đường truy quét, để bây giờ đi xa tôi thấy nao nao...


Bảy giờ sáng mai, đơn vị tôi chính thức rời xa nơi đây. Bây giờ thì không còn hồi hộp nữa, vì đơn vị đã thông báo khi nãy. Tôi ngồi sắp xếp đồ đạc cho gọn gàng vào chiếc  ba lô mà suy nghĩ mông lung "Đời quân ngũ nay đây mai đó, nơi nào có bóng quân thù nơi ấy có ta".


Ngày mai ta lại có mặt ở một nơi nào đó, ngày kia ta lại có mặt ở một nơi nào khác nữa? Cứ thế, ta vẫn đi không dừng và thời gian vẫn trôi qua không ngừng. Cứ thế và cứ thế... Ta chỉ sẽ dừng chân lại ở một nơi nào, lúc mà trên mình ta không còn khoác bộ chiến y màu lá rừng xanh thẳm nữa.

Cuộc đời binh nghiệp là thế và thế thôi?


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 04 Tháng Bảy, 2008, 07:17:02 PM
Phần thứ mười
Tà-sanh, xứ sở của muỗi và những trận sốt rừng

"Phải công nhận là thằng Pôn-pốt nó quá ác, giết người hàng loạt. Hôm ở Long-cóp, khi đi truy quét qua một khu rừng, tôi có dịp chứng kiến những cảnh tượng ghê rợn: Người bị chết dưới hục nước chưa tan, có kẻ thịt đã bấy ra như mắm. Con nít có, người lớn có, chín mười xác người bị chất chồng lên nhau để đốtl Có người chỉ cháy cái đầu, cái mình còn lại khô queo và vàng cháy như một khối thịt quay. Nhiều lắm, cả một khu rừng chớ đâu phải ít. Đi ngang khu rừng, cả đơn vị như chạy. Cái khăn ướt luôn che kín mũi, tuy thế mùi thối nồng nặc vẫn xông lên tận óc".
(Trần Duy Chiến, 15-9-1979).


4-9-1979

Hôm nay tôi có mặt ở một vùng đất xa xôi, lần đầu tiên đặt chân đến. Khi đi ngang qua thành phố Bát-tam-bang, làm rộn lên trong tôi nhiều cái vui và cũng xen vào đó nhiều nỗi nhớ xa xăm. Thành phố Bát-tam-bang mà tôi tưởng mình đang đi trên đường xa quê hương ngày nào.

Theo con đường 10, xe cứ chạy thẳng, xa dần thành phố, xa dân cư, xa cuộc sống nhộn nhịp và bây giờ tôi đang sống giữa rừng.

Buồn ơi là buồn, sao mà buồn lắm thế? Cảnh vật hoang vắng, im lờn như không hề biết là đơn vị tôi đã có mặt nơi đây.

Tôi đưa cặp mắt nhìn quanh chỉ thấy ừng và rừng nối tiếp trùng trùng. Hình như ở đây chỉ có thế, biên giới chỉ có thế.

Ai mà vui cho được với cảnh núi ừng hoang vắng này, dù người đó có vô tư gấp trăm lần trẻ thơ đi nữa.
Rời Long-cóp, xa thị trấn Mung, tưởng đâu sẽ đến một nơi nào dễ yêu dễ mến hơn, nào ngờ lại là như vầy…
Có còn nơi nào khác hơn như nơi này nữa nhỉ? Buồn lắm cho cuộc đời thằng lính bộ binh?

(Đầu tháng 9-1979, theo yêu cầu của nhiệm vụ, đơn vi của Trần Duy Chiến-Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 812-đã cơ động về hướng Tà-sanh, đia danh nổi tiếng khắc nghiệt về địa hình và thời tiết. Tà-sanh-Pai-lin sát với biên giới Thái Lan. Đây là trọng điểm dịch sốt xuất huyết của khu vực Đông Nam Á. Toàn bộ tàn binh địch dồn về khu vực Tà-sanh. Trong một trận quyết chiến, quân ta đã tiêu diệt phần lớn quân địch tại đây, thu hàng chục xe tăng, đại bác, rất nhiều quân trang quân dụng, cùng con dấu của Chinh phủ phản động Cam-pu-chia. Số địch còn lại, trong đó có bọn chỉ huy đầu sỏ đã vượt biên, bỏ chạy sang Thái Lan-Chú thích của Đại tá Nguyễn Văn Hồng).


6-9-1979

Buổi chiều trời mưa tầm tã, buồn mà nó cũng thú ghê. Thú là tôi được tắm một trận, còn buồn thì khỏi phải nói.

Chiếc nhà âm nho nhỏ chỉ đủ sức chứa được sáu người, khiến tôi cứ ngồi im một chỗ. Nhìn ngoài trời mưa như trút nước, khu rừng trước nhà bị chìm đắm trong mưa.

Khi trưa nghe đài, biết được hôm nay là ngày khai trường, lòng tôi rộn lên nhiều nỗi nhớ xa xưa. Ngày tháng cũ của đời học trò hiện về trong tôi. Có hàng phượng vĩ trước cổng trường khoe sắc đỏ, có những gương mặt rộn rã vui tươi, có màu áo trắng trong xinh như một bầy chim non đang tụ họp dưới mái trường êm ái. Những mẩu chuyện nho nhỏ của tháng ngày xa cách lại nở ran khắp sân trường...

Ngày ấy tôi còn vô tư lắm, chưa biết yêu hoa lài nên hương thơm không làm tôi nhớ hay mơ mộng xa xôi. Chỉ có một nỗi mong sao cho ngày tháng qua mau, cho qua hết ba tháng hè oi bức, để tôi được cắp sách trở lại mái trường, bên thầy, bên bạn, bên những cuộc vui êm đềm của lứa tuổi mộng mơ.

Thời gian trôi nhanh như trong chiêm bao, khiến tôi bàng hoàng và có cảm tưởng như vừa thức dậy. Mới đó đã là một khoảng thời gian dài của cuộc sống. Cái ngày mà tôi còn vô tư, luôn vui đùa với chúng bạn, với màu áo trắng thư sinh đã biến mất tự bao giờ, khiến tôi khống còn nhớ.

Chúng bạn cùng lớp cùng trường với tôi bây giờ có đứa còn đang theo học và sắp sửa thành ông bác sĩ, bà kỹ sư. Có đứa đã là mẹ, là ba của những em bé. Còn tôi bây giờ vẫn là con số không rỗng tuếch. Tôi không hận cho đời và cũng chẳng oán trách gì cho người. Tôi chỉ thương cho số phận của tôi. Thượng đế đã không ban phép lành cho riêng tôi, nên bây giờ tôi mới khổ.

Khi đêm ngồi gác dưới trăng khuya mờ ảo, tôi nhìn trăng tưởng mình đang sống giữa tuổi mơ. Phải chăng màu trăng buồn hay tôi đang buồn? Chắc có lẽ là tôi buồn thì đúng hơn. Phiên gác đêm sao mà dai dẳng không muốn dứt, tôi chờ đợi thời gian đến như chờ người tình trong chiều hẹn.

Có ai qua rồi trong cuộc chiến
Mới nghe lòng thương kiếp sống chinh nhân.
Đêm trên điển chốt.

Bốn tiếng không dài, nghe qua rất bình thường, nhưng có bước chân qua rồi mới biết, mới hiểu trong đó có biết bao nhiêu là điểm khác với cuộc sống bình thường của con người.

Núi chập chùng núi, rừng nối tiếp rừng. Chiều mưa giông buồn nhớ, đêm hoang vắng lạnh lùng, có thế thôi và còn nhiều nữa...

Mỗi lúc khi đêm về, cái màn đen trùm kín thì suy nghĩ của tôi cũng đổi khác. Có ai biết trong cái màn đen im lờn kia đang giấu kín những gì? Sự hồi hồi hộp của tôi cũng tăng dần theo tiếng sột soạt của những con chồn hay con chuột nào đó chạy phót đi.

Nhất là vào những đêm mưa bay, ngồi trong ca bin của chiếc xe hư do bọn "K" bỏ lại, nhìn ra phía bìa rừng... Tôi như thấy nơi đó có nhiều sự nguy hiểm đang rình mò và sẵn sàng xả vào tôi những viên đạn quái ác không ngờ trước được .

Mới nhận được tin ngày mai đi truy quét ở Tà-sanh. Tôi nghe phong phanh là ở Tà-sanh nhiều địch lắm, vì ở đó gần sát biên giới Thái Lan. Đơn vị K3 đóng ở gần đó đi bứt đu đủ, chuối vẫn thường hay gặp địch luôn. Nghe qua cũng ớn, nhưng phải làm một chuyến thử xem. Có đi đến mới biết mà. Khi còn đóng quân ở Long-cóp, mỗi lần nói đến hai chữ Tà-sanh, tôi hình dung và tưởng tượng ra biết bao là điều dữ dằn lắm. Thế nhưng khi đặt chân đến vị trí này, tôi thấy là không như tôi tưởng. Suốt thời gian qua địch chưa gây phiền nhiễu gì đến đơn vị tôi cả. Thế nên tôi cũng chẳng sợ gì, cứ đến nơi xem thì sẽ rõ. Đi cho biết đó biết đây, tôi phải đi khắp mới được. Có khổ mới thấu được nỗi khổ, mới thấy cuộc sống yên bình là giá trị và mới yêu quê hương đất nước hơn.

Tôi có cái suy nghĩ đó bởi tôi đã bước vào cuộc chiến, đã thấm sâu nỗi khổ và thiếu thốn của người lính chiến, thế thôi?


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 04 Tháng Bảy, 2008, 07:17:42 PM
15-9-1979

Mấy ngày đi truy quét về mệt đừ. Phải nói rằng từ trước đến nay tôi đã đi truy quét nhiều lần rồi nhưng chưa có lần nào mệt như đợt này.

Toàn đi trong rừng, lên đồi, xuống dốc, chui qua gai. Chiếc áo, chiếc quần của tôi có nơi tôi mạng đến 3 lần thế mà vẫn rách bươm, gai tre đan chằng chịt thế mà phải chui qua. Có lúc mệt quá, chẳng thèm cúi để luồn qua, tôi bươn càng, nhưng đâu thoát. Mấy sợi dây rừng dai nhách níu khẩu cối 60 nhùng nhằng, lúc ấy tôi bực lắm muốn vức khẩu súng cho xong nhưng không được vì khẩu súng này không phải là của riêng tôi. Nếu là của ông già tôi thì cũng dễ tính biết mấy. Đằng này nó là của Nhà nước, của nhân dân. Tôi đành phải vác theo suốt đoạn đường. Khổ nhất là lúc lội qua sông, nghe đồng chí Đại đội trưởng quán triệt "Không để rơi mất vũ khí, có chết cũng không được rời?".


Nước chảy quá mạnh, thoắt cái có thể đẩy người tôi đi xa trên chục mét nếu tôi sơ hở (Bây giờ nhớ lại lúc ấy tôi ớn sợ ghê). Mấy đồng chí bộ binh họ được gọn thế, là từng bước từ từ họ qua, còn tôi vác khẩu cối 60 nặng 13 cân nằm chàng ràng trên vai, mất một tay vịn nó, chỉ còn một tay để vịn qua, thật khó khăn. Nhất là tối đến trời lại mưa, áo quần ướt đẫm, tăng, võng, cái gì cũng ướt vã, vừa ngủ vừa run.


Hôm trước vào đánh ở Tà-sanh làm tôi chưng hửng. Tôi tưởng đâu Tà-sanh sẽ là một thị trấn, hay một cái gì đó sẽ đẹp đẽ hơn những cái phum ở Long-cóp. Nào ngờ đi đến nơi, mới thấy nó chẳng như những gì tôi nghĩ tốt lành về nó. Nhà cửa tiêu điều, mấy cái xác bị cháy, nằm trong ngôi nhà sàn cũng cháy, chỉ có cây cau là nhiều, chắc chúng nó cũng buồn tình nên chẳng thèm ra trái.


Và tôi lại đi tiếp một cái phum ven sông mà tôi chẳng biết tên. Đơn vị tôi đã bắn chết bốn tên địch ở đây. Chả có tên nào còn súng cả. Tôi lượm một trái dưa gang to nằm cạnh xác của một cô gái vừa bị địch bị bắn chết. Mấy giọt máu đỏ chót dính vào vỏ dưa, tôi chùi đi đem ra mấy đứa bạn cùng tôi ngồi xơi ngon lành.


Phải nói rằng từ lúc khoác lên người chiếc áo trận tôi thay đổi nhiều về tình cảm. Ngày trước, tôi thấy người người chết chả dám nhìn, có lúc nằm mơ thấy họ hiện hồn về dọa tôi. Cái đầu lâu là thứ mà tôi ghê sợ, mỗi khi nghĩ đến tôi cứ nổi da gà. Thế nhưng bây giờ thì tôi không còn một chút gì gọi là sợ sệt với những thứ ấy nữa. Cái đầu lâu bây giờ trở thành một vật tầm thường hết sức trước mắt tôi. Tôi có thể đá để nó lăn như một quả bóng cho vui. Tôi đã từng thấy những người sắp chết, hay một bãi xương người lẫn đầu lâu chồng xéo lên nhau trong một khu rừng vắng.


Phải công nhận là thằng Pôn-pốt nó quá ác, giết người hàng loạt. Hôm ở Long-cóp, khi đi truy quét qua một khu rừng, tôi có dịp chứng kiến những cảnh tượng ghê rợn: Người bị chết dưới hục nước chưa tan có kẻ thịt đã bấy ra như mắm. Con nít có, người lớn có chín mười xác người bị chất chồng lên nhau để đốt. Có người chỉ cháy cái đầu, cái mình còn lại khô queo và vàng cháy như một khối thịt quay. Nhiều lắm, cả một khu rừng chớ đâu phải ít. Đi ngang khu rừng, cả đơn vị như chạy. Cái khăn ướt luôn che kín mũi, tuy thế mùi thối nồng nặc vẫn xông lên tận óc.

Không hiểu vì đôi mắt của tôi đã bắt gặp các hình ảnh đó nên nó quen dần đi chăng, hay là các con ma kia sợ khẩu súng của tôi, nên chúng chẳng dám mò đến ám ảnh và doạ nạt tôi? Nói chung, bây giờ thì tôi không còn thấy sợ nữa. Tuy tôi chưa giết người, nhưng tôi có thể giết được, bởi tôi không còn có cái suy nghĩ bâng quơ như ngày trước. Bộ đồ trận bốc lên mùi mốc nồng nặc khó chịu tôi còn treo bên xó nhà đó, chưa đi giặt được. Mệt quá! Cứ mỗi lần nghĩ đến là cơn mệt lại lên, đè áp tôi xuống và mỗi lần như vậy bao giờ cái mệt cũng thắng. Thế nên cặp đồ trận vẫn còn nằm buồn thiu bên xó nhà trông đến thương hại. Thôi cứ để nguyên đó, sẽ có lúc tôi phải giặt, thế thôi?


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 04 Tháng Bảy, 2008, 07:18:18 PM
19-9-1979

Do mấy ngày đi truy quét vừa qua bị lâm (thấm) nước mưa vào người, nên tôi mắc bệnh cảm cúm, đau rã rời từng khớp xương. Sáng qua tưởng đã dứt. Đi đào giếng cho anh nuôi, trưa về đau lại còn nặng hơn mấy ngày trước. Cảm cúm đã đừ người lại cộng thêm cơn rét. Tôi cố dậy đun nồi nước để xông và vào ngồi gần sát bếp lửa để sưởi. Mồ hôi bên ngoài cứ tuôn thấm ướt cả áo nhưng sức nóng của lửa cũng không làm tôi ấm được như mong muốn.


Xông xong, cơn rét biến mất, cơn sốt lại mò đến như chờ sẵn. Tuy vậy tôi vẫn đắp chăn kín người cho nó ra hết mồ hôi. Tôi thiếp đi lúc nào không biết, tỉnh dậy cơn sốt cũng giảm, nhường chỗ cho cái đau đầu quái ác. Đầu tôi như đang bị đè bởi một trọng lượng quá nặng, sắp sửa bị nứt đôi. Tôi lắc nhẹ đầu, tưởng chừng khối óc tôi không còn cái gì giữ lại nữa. Nó lỏng lẻo và quay tròn, mỗi một cử động nhỏ đều làm cho tôi đau nhức không sao chịu được. Tôi nằm im hai tay ôm cứng lấy đầu như sợ nó vỡ. Tôi chả muốn rên một tiếng, nhưng sao cái miệng cứ "hừ hừ” mãi, làm cậu Quang ngủ không được, quát om lên!


Đau cái đầu cả buổi chiều qua đến sáng hôm nay mới bớt nhưng chưa hết hẳn. Tôi cố gắng dậy, làm mấy việc lặt vặt cho bản thân và giúp mấy đứa bạn đang còn sốt như xếp mền, mùng, nấu nước uống, nấu lá xông v.v.. Cái bệnh sốt rét đã ghé thăm đơn vị tôi khá nhiều riêng tiểu đội tôi ở có năm anh em đã nằm hết bốn. Thương nhất là cậu Đại Bảng, sốt đến độ bỏ cơm bỏ cháo và nằm liệt cả ngày.


Hôm qua lúc trưa tôi cũng sốt, đắp mền nằm tôi suy nghĩ thật nhiều. Giá như bây giờ mình đang sống bên mẹ, mình sẽ không hiu vắng đến thế này. Mẹ sẽ săn sóc, cháo cơm. Mẹ sẽ ép mình ăn cho bằng được những thứ mà mẹ nấu: "Cố ăn đi con! Ăn cho chóng khỏi?". Ôi tình mẫu tử sao thiêng liêng quá, bây giờ tôi mới thấy thương mẹ hơn lúc nào hết!


Tôi suy nghĩ qua Bảng. Nếu Bảng ở nhà thì cũng chả khác gì tôi. Tôi thấy thương Bảng ghê. Tôi sợ trong cơn sốt Bảng sẽ suy nghĩ và tủi thân sẽ tăng thêm bệnh trạng, trở thành sốt ác tính mất. Lúc còn học ở trường Hạ sĩ quan, có một đồng chí ở cùng trung đội với tôi bị sốt, nằm một mình vì buổi sáng anh em phải ra thao trường, trưa về mệt anh em lại ngủ. Nói chung vì điều kiện, hơn nữa lúc mới vào trường kẻ xa người lạ chưa quen thân nên anh em ít thăm hỏi qua lại. Đồng chí đó trở nên suy nghĩ và tủi thân, bệnh tình do đó tăng lên trở thành sốt rét ác tính. Buổi trưa mọi người đang ngủ, đồng chí bật khóc và gọi "Mẹ ơi!" Ai tới hỏi han và dỗ dành đều bị một cú đấm hay một vật gì quanh đó bay vào người. Tôi sợ Bảng cũng vậy, đã một ngày không ăn gì rồi. Tôi ngồi dậy lấy cháo khuấy đường cho Bảng. Cậu ấy không ăn được. Tôi khuyên mãi, cố vận dụng đầu óc tìm những câu văn mềm mại, trìu mến và chí lý như lời một người mẹ hiền từ, nhưng không thành công. Bảng gọi tôi hoà ít nước đường để uống. Muốn cho Bảng uống được nhiều tôi hoà đầy chén. Không đồng ý, Bảng sừng sộ với tôi.


Lúc đó tôi ức lắm, nước mắt muốn trào ra, nghĩ mình cũng đã hết sức với bạn như vậy mà bạn còn sừng sộ mình nữa. Nhưng tôi vẫn cố nhịn, chỉ khuyên Bảng một câu để Bảng hiểu và tươi cười như không có gì xảy ra (giá như lúc bình thường như mọi ngày tôi không chịu nhịn đâu). Bảng bưng chén uống không được, tôi tự tay bón từng thìa. Chẳng hạn lúc ấy Bảng ói ra trên chiếu hay giải bây ra, tôi cũng sẵn sàng lau chùi sạch sẽ cho bạn. Săn sóc một người bạn lúc đau yếu, để họ không thấy mình bị lẻ loi giữa lúc xa vắng người thân là điều nên làm mà.


Hôm nay mặc dù cái đầu chưa hết giày vò, nhưng tôi không đắp mền nằm nữa. Tôi dậy để làm giúp mấy đứa bạn còn đang nằm, nấu lá xông, cạo gió v.v… Tôi nghĩ rằng tình bạn, tình đồng hương, tình đồng chí đều thể hiện ở những lúc này. Lúc khỏe mạnh, lúc có đồ ăn thì quấn quít. Nếu đồng hương mà lúc gặp khó khăn thì lảng tránh, lúc đau yếu thì giả lơ, thì đó là điều tồi bại nhất? Con người ấy đáng phỉ nhổ và ghê gớm hơn thứ đồ mà người ta ghê gớm nhất trên đời.


Không phải là tôi làm giúp được chút ít việc cho bạn, rồi tôi sinh ra chê bai những kẻ ấy. Tôi xin thề là tôi không bao giờ như thế. Cái đẹp tôi thật lòng khen, cái ơn lúc nào tôi cũng nhớ. Tôi làm hộ bạn chẳng mong muốn bạn trả ơn lại tôi. Nhưng tôi làm đó là trách nhiệm của lương tâm tôi, trách nhiệm của một người khỏe đối với một người đau và đó là tình đồng chí. Nghĩ vậy nên tôi sẵn sàng làm giúp bạn.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 04 Tháng Bảy, 2008, 07:19:01 PM
25-9-1979

Không hiểu sao mà cơn sốt cứ ám ảnh tôi mãi. Sốt vừa dứt, cái đầu còn nặng trĩu lại chuyển qua nhức đầu rồi lại sốt... Cứ thế, nó xoay vần khiến tôi phải bỏ cơm cháo mấy ngày liền. Đến hôm nay tuy đã bớt bớt, nhưng tôi vẫn chưa ăn được cơm và cái đầu còn nặng trĩu, cộng thêm cái mông đau nhức vì cậu y tá vừa tiêm mũi kí ninh...

Khí hậu ở đây độc quá, cả đại đội tôi đều nằm liệt chỉ còn vài ba người là cơn sốt chưa "hỏi thăm".

Nhớ lại mấy lần lên cơn sốt rét mà tôi ớn mãi. Nó lạnh như không có gì làm cho ấm được. Tôi chui vào bếp sưởi, mồ hôi bên ngoài vã ra như tắm nhưng chẳng thấy ấm. Có lúc lên cơn sốt giữa đêm, tôi mặc hai chiếc áo, đắp lên mình cả tăng, võng, mùng... thế nhưng vẫn nằm run suốt đêm không ngủ được. Lần này là lần sốt nặng nhất của tôi và nó cũng kéo dài trên mười ngày. Quần áo nhớp nhúa tôi thay ra còn để nguyên một đống. Thân hình hôi hám, nhưng mệt quá tôi chưa thể đi tắm được.

Lúc này đây tôi mới thấy thương mẹ tôi hơn bao giờ hết. Giá như có mẹ bên cạnh những khi tôi sốt như vầy mẹ sẽ lo âu ghê gớm. Tôi sẽ có người cơm cháo, thuốc thang. Bây giờ khi tôi nằm xuống chẳng ai nấu cho tôi nồi nước lá xông. Có hôm tôi khát nước quá mấy cái bình tông lại khô ran... Mấy đứa bạn đi chơi đâu hết, tôi chẳng biết làm sao để có miếng nước uống cho đỡ khát. Tôi đâm ra tủi thân ghê.


30-9-1979

Mấy ngày qua trời cứ mưa hoài. Mưa cả ngày lẫn đêm, đến hôm nay vẫn chưa dứt. Cả con đồi đơn vị tôi chết bị ngập trong mưa. Trời bên ngoài không lạnh lắm, nhưng tôi chả buồn đi đâu. Đến việc đi xuống nhà bếp bưng cơm về ăn cũng là mấy thằng bạn giúp. Đơn vị tôi đặt chân đến đây gần một tháng rồi, chưa đầy một tháng mà sao tôi thấy nó lâu quá. Bây giờ mới tháng 9 mà tôi cứ ngỡ đang sống trong tháng 10.

Tôi chính thức hết sốt đâu hôm 27-9. Đến hôm nay thì cả đơn vị tôi cũng chẳng còn ai sốt nữa. Cơn sốt có lẽ đã đi qua. Từ hôm lên đây đến nay có lẽ do khí hậu, thời tiết khác thường, người tôi đâm biếng ăn
ghê. Nói chung thì trong A tôi ai cũng thế, bữa cơm nào cũng thừa rất nhiều. Đâu phải là không có đồ ăn, đơn vị vừa phát cho mỗi người 1 kg mì, trứng, 3 hộp cá, 1 kg đường, 1 hộp sữa, 6 người là 6 kg mì trứng, 18 hộp cá. Bữa ăn nào cũng có mì xào với cá hộp, thế nhưng ăn cũng chả được cơm bao nhiêu. Mỗi bữa tôi chỉ ăn được vài chén lưng lưng, ăn tiếp không vào nữa. Lúc còn ở Mung, cũng tiêu chuẩn như vấy, lại chỉ ăn với nước muối mà bữa nào ăn tôi thấy nó ngon là ngon sao, ăn xong lại đói. Chẳng bù lại với bây giờ là gì.

Không hiểu địch hiện nay hoạt động ra sao? Tôi nghe đơn vị quán triệt dữ lắm, nào là đào hầm tránh máy bay, nấp pháo lớn, v.v… Địch đã đưa về vị trí đứng chân của E tôi một sư đoàn, hiện đã áp sát quân ta, v.v... Địch tập kích K3 có cối 82, v.v…

Những tin tức không mấy hiền lành đã ùa đến, khiến tôi lo lo. Đêm đêm ngồi gác, cặp mắt, đôi tai tôi lại căng thẳng hơn những đêm trước. Đầu óc cứ nghĩ suy mông lung. Tôi lại dựng lên những tình huống quá phức tạp đến với đơn vị tôi. Nếu như địch dùng một lực lượng mạnh đánh vào chốt tôi, sẽ như thế nào? Tôi suy nghĩ rồi cũng tìm ra phương pháp cho tôi: sẽ cùng anh em chống cự đến cùng rồi sẽ hay. Nghĩ như vậy nhưng tôi cũng đăm chiêu và hồi hộp không ít, vì từ

khí tôi đến và ở đây địch chưa đánh vào đơn vị tôi lần nào. Rồi đây sẽ ra sao? Thôi kệ, ra sao thì ra, ta cũng phải đánh. Chỉ có thắng, mất chốt là chết. Đất của địch biết chạy đường nào?

Hôm qua, mất một ngày quên ăn quên ngủ, mới nới rộng thêm ra được khúc nhà. Bây giờ cũng thoải mái đôi chút, có đâu như mấy hôm trước, 7 đứa ở cái nhà tí xíu không chỗ chen chân, mưa xuống là bực bội không chịu được. Nhất là tối ngủ chỉ được treo chiếc mùng vừa bằng con người, khổ không chịu được


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 04 Tháng Bảy, 2008, 07:19:47 PM
5-10-1979

Buổi chiều, mệt đừ người vì phải đào cho xong cái hầm chữ A một cách khó nhọc. Đôi tay tôi đã nổi lên mấy cái bọng nước, khiến mỗi lần cầm cái cúp để đào nỗi đau đớn khiến tôi nhăn nhó khó chịu. Thế nhưng bây giờ thì tôi cũng vui vui đôi chút rồi, đã xong một cái hầm, chỉ còn một cái nữa. Cái hầm này khiến tôi lo nhất, đất trên đồi cứng quá, mỗi lần cái mỏ chim nhọn hoắt mổ xuống lại tạo nên những âm thanh cong... cong... như va vào sắt, ê tai.

Không hiểu Nhà nước ta nhận định quân địch này như thế nào, mà ổng triển khai nghe cũng ớn lắm. Địch có thể dùng các cỡ pháo lớn, đôi khi còn có máy bay để tấn công ta? Đơn vị ta chốt giữ nơi đây dù tình huống thế nào đi nữa cũng phải đứng vững? Muốn được như vậy các đồng chi phải đào hầm kèo toàn bộ, phải đào giao thông hào liên hoàn, v.v… Nghe qua cũng ớn, bây giờ có cái hầm rồi thấy đôi chút yên tâm.

Tối tối, ngồi gác nghe con le le đánh ven bờ rừng chẳng hiểu thế nào. Tôi đã đi qua nhiều nơi trong rừng, rút ra được kinh nghiệm là: Hễ con le le đánh nơi đâu, là nơi ấy có cái gì động đậy, khiến chúng giật mình bay lên kêu inh ỏi. Nên mỗi khi nghe tiếng le le kêu ngoài bìa rừng, là tôi có cảm giác như địch đang áp sát vào chết. Đang chuẩn bị để đánh chốt tôi. Tôi lại ngồi im hơn, đôi mắt nhìn căng và đôi tai cố nghe có tiếng động gì khác chăng? Thằng địch có liều mạng bò vào gần đây không? Suốt phiên gác cứ suy nghĩ vu vơ, để hết một giờ ba mươi phút gác, tôi lại vào ngủ ngon. Quên đi hết mọi việc.

Đời lính chiến ngoài cái gian khổ, sống chết ra, còn có cái hồi hộp và lo âu, có khi quá độ làm mất ăn mất ngủ, nhưng ở đây thì chưa đến nỗi như vậy. Thằng địch ở đây còn yếu. Tôi đâu ngán. Nếu nó vào, tôi sẵn sàng đánh trả. Nhưng tôi cứ lo lo mãi, ngày nào nó sẽ đánh tôi phá giấc ngủ ngon lành của tôi?


6-10-1979

Trên chốt Tà-nghèn.
Kỷ niệm ngày tròn tuổi quân?

Hôm nay ngày 6-10-1979, tôi ghi vội vài dòng để kỷ niệm cái ngày tôi vừa tròn một tuổi quân hay nói cách khác là một năm dài của lính.

Cũng vào cái ngày này năm ngoái, tôi nói tiếng giã từ mẹ, giã từ bạn bè, giã từ thành phố, giã từ tất cả những kỷ niệm của tuổi thơ, những giọt nước mắt rơi rơi, những lời nói thân yêu đầy xúc động và quyến luyến. Để rồi tôi bước chân ra đi, chia xa với cảnh vật, chiếc áo chiếc quần và những đêm trăng mơ mộng.
Ngày ấy, tôi trở thành người lính trong cặp đồ xanh màu lá, cái ngỡ ngàng bước đầu rồi cũng xa dần với tôi. Tôi dạn dĩ và quen thuộc, núi rừng, súng đạn, không còn là kẻ xa lạ với tôi. Tôi dần quen với tháng ngày xa nhớ, quen với quân trường nắng đất, với bài học chính trị, bài học quân sự, những bài chiến thuật bộ binh...
Thời gian lại âm thầm trôi qua, những ngày tháng nơi quân trường cũng không còn nữa, tôi bắt đầu đi xa, tạm biệt phố cảng.

Tôi đến thị xã Buôn Mê chuột, cuộc chiến bùng dậy, đất nước bạn nhuộm màu tang, Cam-pu-chia ngập tràn máu lửa. Vì hòa bình và hạnh phúc của mọi người, tôi đã sang đây. Từ đó, đôi chân tôi bước theo tiếng súng, đôi mắt tôi được nhìn cảnh lạ, người lạ. Tôi lại tiếp bước... Cho đến một hôm, tôi về lại trên đất nước có dáng hình chữ S. Tôi qua Thanh An, qua Pleiku. Tôi dừng lại Phú Tài, Quy Nhơn, Nha Trang rồi đến Biên Hòa... Tôi rong chơi mặc sức cho thỏa thích những ngày tháng nơi rừng núi thâm u, cho quên đi tháng ngày sắp đến.

Những ngày rong chơi nó ngắn ngủi quá. Tôi phải từ giã nó, phải ra đi mang theo cả bầu trời quyến luyến. Sài Gòn xa dần trong mơ, tôi bước sang Trung đoàn 812 đi về hướng Bat-tam-băng-nơi có nhiều nỗi đau khổ của người dân ở đó. Từ đấy, tiếng súng quen dần tai tôi. Đường hành quân nối tiếp những cánh rừng dài thăm thẳm, chiều mưa rơi ướt đẫm chiến y, giọt mồ hôi mặn rơi dài theo bước hành quân. Tôi biết khổ biết rất nhiều những gì gian nan của đời lính.

Đôi mắt tôi dần quen với cảnh vật lạ mắt người, một bãi xương người trong ừng sâu, thằng địch đầu hàng với gương mặt nhợt nhạt. Đôi tai tôi dạn dĩ với những tiếng nổ ghê hồn và còn đôi chân đã in dấu trên nhiều chặn đường dài gian khổ. Vai tôi đã chai dần và quằn xuống với khẩu cối 60. Bộ chiến y ngày nào còn thắm xanh màu lá bây giờ đã đổi màu, sờn rách đôi vai và hiện lên nhiều mảnh vải lạ.

Một tuổi quân của tôi là một chặng đường tôi đi bằng gian khổ và mồ hôi.

Hôm nay tôi dừng chân lại nơi đây, đất Tà-nghèn có màu đỏ như máu. Tôi đang giữ chết và chiến đấu Ngày kỷ niệm của tuổi quân tôi chợt đến nơi tiền đồn hoang vắng, khiến tôi có nhiều suy nghĩ và cảm tưởng lúc chưn lúc nổi, chính tôi cũng khó hiểu về tôi.

Tuổi quân tôi đã tròn, một đoạn đường ngắn đời lính của tôi đã đi qua. Tôi tự hãnh diện cho tôi, cho đôi gót nhỏ bong nước, thay da và rắn chắc hơn, chưa chùn bước lần nào trước đoạn đường dài.

Một tuổi quân đã tròn, tôi sẽ cầu mong cho tôi dạn dĩ, cứng cáp hơn, bước đi những bước quân hành vững chắc.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 04 Tháng Bảy, 2008, 07:20:27 PM
10-10-1979

Kỷ niệm để không quên ngày tôi cất tiếng khóc chào đời, không có quà bánh, không có ly rượu nồng hay tấm thiệp mời vàng, xanh, đỏ, tím. Trên điểm cao biên giới nghèo nàn, buồn tẻ. Ngày sinh nhật của một thằng con trai sinh ra từ đất Quảng, mang cái tên Chiến, chợt đến bất ngờ làm nó càng buồn thấm thía hơn.
Đêm nay, trăng hạ tuần còn mải mê nơi thành đô vui nhộn. Đã hơn tám giờ, con đồi vắng còn chìm đắm trong màn đêm. Tụi bạn của nó đã vào màn hết, chỉ còn có nó đang thức bên quyển nhật ký và cây viết quen thân. Nó đang dồn hết suy tư, cố ôn lại, cố nhớ lại những gì của nó.

Ven đồi, tiếng côn trùng đang gào thét, rên rĩ...

Tôi viết vào trang nhật ký này mấy dòng đề lưu niệm ngày tôi cất tiếng khóc chào đời. Gọi là kỷ niệm ngày sinh nhật của tôi. Nhưng không hiểu bây giờ tôi đang vui hay là buồn? Nên vui thì đúng hơn. Ở thành phố mọi người đều kỷ niệm ngày sinh nhật của mình bằng những bông hoa hồng, bằng những nụ cười và lời chúc tụng đẹp đẽ nhất. Ngày sinh nhật là niềm vui của một người được sinh ra dưới bầu trời, được sống và hưởng thụ những gì của con người trên thế gian. Thế nhưng có ai là kẻ sinh ra không cất tiếng khóc chào đời? Mà sao lại là khóc chào đời? Rõ oái ăm thay, chắc lại có điều gì uẩn khúc lắm đây! Tôi không hiểu vì sự suy nghĩ của tôi quá bé thơ. Tôi không biết vì không ai bảo để tôi biết...


Ngày ấy, đất trời và loài người chẳng có gì đổi thay, cậu bé con cất tiếng khóc chào đời. 30 ngày trôi qua, cha mẹ cậu theo lệ cổ xưa cũng tạ lễ ông bà bằng đĩa xôi, nải chuối. Cậu có thêm cái tên "Chiến" đẹp đẽ và oai hùng không kém gì những cái tên khác. Ngày tháng trôi qua, cậu lớn dần, biết gọi mẹ, biết đi, biết hờn dỗi để đòi quà.


Xuân nói tiếp xuân, chả mấy chốc 5 mùa xuân trôi nhanh qua, cậu bắt đầu làm quen với sách vở. Tuổi học trò dìu cậu đến trường, vui cùng bạn bè lứa tuổi với những trò chơi vui nhộn, nghịch ngợm, phá phách, vô tư.

Mùa hè qua mau, xác phượng rơi đầy sân trường át tiếng ve than. Màu áo trắng thư sinh vấy mực vì đùa nghịch với bạn bè cũng dần trôi qua. Tủ sách ngày thêm nhiều, cậu đã lớn, cậu nhìn xác phượng rơi sân trường không là những cánh hoa màu đỏ tiếng ve than không là thú vui tai. Cậu biết buồn vào những đêm mưa, nụ cười nở trên môi cũng giấu thêm một chút gì e thẹn. Cậu biết ngại ngùng mỗi khi đứng trước mặt người con gái cùng lứa tuổi. Ôi cái tuổi đáng yêu, cậu thấy trái tim rộn ràng từ đó...


Mùa hè qua mau, cậu từ giã sân trường, từ giã màu áo thư sinh, chập chững bước vào đời với con mắt ngỡ ngàng. Cậu đã đổi thay để phù hợp với cuộc sống, cặp đồ xanh công nhân đã nhuộm màu đời, cậu dạn dĩ hơn lên. Cậu biết yêu, cậu yêu một người con gái có đôi môi mọng chín, nụ cười dễ yêu làm sao bên đôi má lúm đồng tiền. Người con gái không đẹp như bao người con gái khác, nhưng cậu đã yêu. Yêu say đắm, cậu yêu trăng, yêu những buổi chiều cùng người tình dệt mộng, vì đời không là dòng nước phẳng lặng. Cung đàn lạc lõng, người ta đã phụ bạc cậu, cậu buồn, nhớ và chán như chưa bao giờ chán.


Tuổi đời chồng chất suy tư thêm nhiều, gương mặt cậu cằn khô, hằn học. Cậu giận đời nhiều và buồn đời cũng không ít. Tổ quốc gọi, cậu lại ra đi.

Tôi viết kỷ niệm cái ngày tôi sinh ra để nhớ và nhớ mãi. Trăng hạ tuần quên lãng, núi đồi vắng vẻ, chỉ có mình tôi và tôi. Chốt Tà-nghèn không là thành đô rộn rịp, không có quà bánh cho tôi mua sắm để cùng anh em vui vầy. Giờ đây chỉ có tôi âm thầm an ủi cho số phận của tôi.

Ngày sinh nhật của tôi chỉ có vậy!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 04 Tháng Bảy, 2008, 07:21:20 PM
11-10-1979

Vừa được tin đi tác chiến, lại nhận được thư bạn Thanh. Mừng quá, tranh thủ gửi thư cho bạn:
Trường Thanh xa nhớ!

Đêm tiền đồn mưa bay lạnh, cái lạnh cuốl mùa nghe như buột xương. Phiên gác dài buồn xa xăm, những kỷ mềm của một thời tưởng đã chìm sâu vào quên lãng, đêm nay lại hiện về khiên mình xao xuyên nghe dư hương còn thoang thoảng trong từng hạt rơi.

Trường Thanh thương! Thư bạn đền giữa núi rừng vắng lặng vào một buổi chiều mình sắp lên đường đi tác chiên. Mình vui tràn ngập, đọc thư bạn mà ngỡ mình đang tâm sự cùng bạn, sau phiên gác vào bên ngọn đèn hồi âm cho bạn đây!

Thời gian làm một chuỗi ngày mà người lính đêm bằng mồ hôi và máu. Mới đó, đã là một mùa lá rụng. Nhớ thương chất đầy, Đà Thành và con đường ngày xưa tụi mình lang thang, giờ chỉ còn là dư hương trong tiềm thức xa vời của một người lính. Bây giờ cảnh vật và con người nơi phố cảng có đổi thay? Riêng người con trai bước chân ra đi từ ấy, đã đổi thay rất nhiều trong tiềm thức. Tương lai là một dải mù khơi xa vời...

Bạn có cái may mắn hơn mình, chắc trời đã sắp sẵn. Thượng đê không ban phước lành cho một kẻ bất hạnh, mình phải chấp nhận. Oán cho đời, đời vẫn tự nhiên. Chỉ biên thương cho số kiếp không may, chấp nhận để ngày tháng trôi qua . Cuộc chiến bây giờ sẽ là hạnh phúc cho mai sau.

Bi lụy và bâng quơ quá Thanh nhỉ! Thông cảm nhé! Lính buồn, lính nói vậy thôi.

Bây giờ mình kể về cái đất nước có ngọn tháp Ăng-ko cho bạn rõ đôi chút. Bạn có khi nào ao ước được đặt chân đền không? Chiếc xe bò bánh gỗ niềng sắt người con gái da mun không dễ yêu như trong lời ca, thỉnh thoảng cũng gặp được vài bông hoa trong làng cỏ dại...

Mình đã trực tiếp nắm tay vào cổ súng, lao mình vào gian khổ, tai nghe rồi tiếng nổ, lòng hồi hộp lo âu khi xung trận và đôi chân đã dạn dày những bước quân hành. Cuộc sống hiện tại mình khát khao một đêm yên lành trong mộng. Mấy bạn Hải, Chinh, Thanh số phận được may mắn hơn mình, bây giờ đang ung dung nơi Sư đoàn Bộ, làm linh thông tin.

Mấy cô ả Thôi, Trường, Hà bây giờ chắc vui lắm nhỉ. Cả bạn nữa, đừng dối mình nhé! Một văn hào đã nói "Dưới ánh sáng của mặt trời không có gì là bí mật". Cái chuyện của mình ngày xưa ấy, bạn đừng nhắc làm gì nữa. Nó là một kỷ mềm xa vời trong tiềm thức của mình.

Hiện nay mình vẫn khỏe.

Mình dừng bút, chúc bạn gặp nhiều may mắn trong cuộc sống hiện tại!

Xiết chặt tay bạn!


16-10-1979

Mới đi truy quét bốn ngày vừa qua, mệt thật nhưng lại có nhiều cái vui, trong đó đơn vị C5 của tôi thật là gặp may. Chả có ai bị sây sát gì cả, lại thu được nhiều chiến lợi phẩm. Người ta nói gặp con mang là xui lắm, nhưng tôi chả thấy đơn vị tôi xui xẻo một chút gì.

Ngày đầu đơn vị hành quân, gặp một con trăn đang riết con mang to bằng con bò con. Con trăn cái đầu chỉ bằng nắm tay thế mà đi ăn thịt một con mang to. Đi ngang thấy, đơn vị dừng lại, con trăn sợ bỏ con mang rồi bò tuất lên ngọn tre. Dịp may hiếm có, cả đơn vị dừng lại làm thịt con mang đem theo, tối đến làm một chầu ngon ghê. Lần đầu tiên tôi ăn thịt mang, ngon và thơm quá.

Ngày thứ hai đi tiếp. Mặc dù tôi không mê tín nhưng tôi áy náy rất nhiều. Cái gì sẽ đến với đơn vị? Buổi trưa trèo lên trên một đỉnh đồi cao ngồi ăn cơm, bọn "K" lại mò lên, gặp đơn vị tôi, súng nổ một hồi, địch rút. Một đồng chí trinh sát của ta bị thương, địch không việc gì.

Ngày thứ ba, không có việc gì xảy ra.

Ngày thứ tư, buổi sáng nấu cơm vừa ăn xong, thì C6 gặp địch đánh mạnh. D điều C tôi chi viện. Đến nơi mới bắn 3 phát, địch đã rút toàn bộ, bỏ lại súng đạn rất nhiều, đồ cổ cũng nhiều. Tôi thu được 1 quần tây và 1 bút Pi-lot. Giờ đang viết.

Tối thứ 4, vào bãi mìn ngủ, C6 bị dậm 1 trái, 6 đồng chí bị thương, C5 an toàn.

Xui cái gì đâu tôi chả thấy, chỉ thấy toàn là gặp hên. Ăn một bữa thịt rừng, thu nhiều chiến lợi phẩm và đồ cổ.

Lúc lội qua sông ớn thiệt, một tí nữa là tôi uống nước đầy bụng, nếu không có mấy đồng chí bơi ra kéo tôi vào.

Buổi sáng hành quân đánh địch gấp quá, bỏ quên cái khăn trên nhành cây. Đánh địch xong mới biết, khi vác súng về để chuyển qua sông, đi ngang chỗ cũ gặp lại khăn tôi mừng quá, thế là có để lau mồ hôi trong chặng đường hành quân rồi.

(Tháng 10-1979, theo yêu cầu của nhiệm vụ, Trung đoàn 812 rời khỏi Tà-sanh, giao lại đia bàn này cho đơn vl khác, cơ động lên Pai-lin làm nhiệm vụ phòng giữ. Tại đây, đơn vị của Trần Duy Chiến đã hoạt động trong một thời gian khá dài-Chú thích của Đại tá Nguyễn Văn Hồng).


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 06 Tháng Bảy, 2008, 07:02:36 PM
Phần thứ mười một
Pai-lin, miền đất chết đầy mìn và đạn cối 82

"Tôi bước lên, thấy Lâm bị mìn KP2 ngã nằm trên đường. Mảnh xuyên vào vai và đầu rất nhiều, cái xoong và mấy túi cóc chung quanh bị trái mìn thổi đi đâu mất. Chưa kịp hoàn hồn thì lại "ầm… ình..."-một trái KP2 vừa nổ cách tối 5 mét. Tôi không bị gì cả. hơi ép xô tôi ngã xuống đất trong lúc tôi đang ngồi trên chiếc ba lô. Trái mìn thứ hai đã làm đồng chí Thọ bị mất cả đôi chân và cũng chết liền sau đó. Ngồi bên tôi, đồng chí Lộc bị thương. Thiệt là ớn cho những con đường Ơû Pai-lin…".
(Trần Duy Chiến, 21-10-1979).


21-10-1979

Giữa đường hành quân, tôi ghi vội vào đây vài dòng nhật ký. Đất mới Pai-lin-nơi có rất nhiều kim cương và cũng là nơi thấm đẫm máu những người lính đã ngã xuống, cây cỏ tốt phủ đầu.

Ầm... ình...

Một tiếng nổ, cùng làn hơi mạnh hất tôi té xuống ven đường, khẩu cối 60 đè lên cổ, tay tôi rát rát. Tôi lật vội khẩu cối sang bên, ngồi dậy, đưa tay phải coi. Một miếng mảnh nhỏ ghim vào còn lú ra, coi quanh người không thấy gì, tôi hoàn hồn cất tiếng hỏi:

-Mìn gì?

-"Ka pê hai" (KP2).

-Mấy đứa bị thương?

-Bốn đứa.

-Có đứa nào chết không?

-Thằng Lâm chết, ba thằng Tuất, Ngọc, Được bị thương-Đồng chí Nhu trả lời tôi.

Tôi bước lên, thấy Lâm bị mìn KP2 ngã nằm trên đường. Mảnh xuyên vào vai và đầu rất nhiều, cái xoong và mấy túi cóc chung quanh bị trái mìn thổi đi đâu mất. Chưa kịp hoàn hồn thì lại “ầm... ình..."-một trái KP2 vừa nổ cách tôi 5 mét. Tôi không bị gì cả, hơi ép xô tôi ngã xuống đất trong lúc tôi đang ngồi trên chiếc ba lô. Trái mìn thứ hai đã làm đồng chí Thọ bị mất cả đôi chân và cũng chết liền sau đó. Ngồi bên tôi, đồng chí Lộc bị thương. Thiệt là ớn cho những con đường ở Pai-lin...

Chiều hôm qua cũng vậy, đơn vị tôi vừa đến nơi đây tạm dừng để nấu cơm ăn, B1 được qua bên kia suối để ngủ, ngờ' đâu bên ấy đầy mìn. Mới qua chưa đầy 10 phút là đã đụng một trái. Một đồng chí chết, 3 người nữa bị thương.

(Mìn là đặc trưng của chiến trường Cam-pu-chia. Trên thế giới có nhiều nước cũng sừ dụng mìn trong chiến tranh để sát thương đối phương. Nhưng ở chiến trường Cam-pu-chia mìn được sử dụng với nhiều chủng loại (mìn đạp, mìn nhảy cao, mìn nhảy thấp, mìn chống bộ binh, mìn chống tăng...). Bọn lính Pôn-pốt đã tiến hành chiến tranh du kích với nhiều thủ đoạn bố trí mìn rất nham hiểm. Hàng triệu quả mìn đã được rải khắp nơi, dọc tuyến biên giới Cam-pu-chia-Thái Lan. Tập trung nhiều nhất là khu vực Tà-sanh-Pai-lin-Cao-mê-lai... Các lực lượng của ta và bạn đã chịu thương vong rất lớn vì mìn-Đại tá NVH).

Mìn và mìn... ở đây mìn giăng đầy, nhiều lắm. Của địch gài, ta gài. Đến sáng nay đơn vị đã chết mất 4, bị thương 6 người, khiếp thiệt. Cả đơn vị có đâu 50 người bị sốt, bị này nọ nằm viện mất 20 người. Bây giờ lại bị 10, còn đâu 20.

Tối đến nghe mà ghê, khi đêm ngủ chả được, đầu óc cứ chập chờn mãi. Mình mới đến đây chưa rõ địa hình, nếu địch tập kích vào thì thế nào, vận động lên có mìn không? Nghe tiếng sột soạt của lá tôi hất mền ra coi thử, ớn quá!

Đất Pai-lin kim cương nhiều đâu chẳng thấy, chỉ thấy máu đổ. Ở trường Hạ sĩ quan ông Thịnh ra ba đứa: Tôi, Tuất và Cư. Về cái C5 này hôm nay chỉ còn lại mình tôi. Tuất thì chắc về nhà, vì bị hư một mắt, còn Cư chắc là không trở lại đơn vị. Chỉ còn một mình tôi, rồi đến ngày nào đây tôi lại phải rời cái C5 này? Cầu mong sao bình an trong cuộc chiến.


5-10-1979

Đào hầm hố chưa xong, anh em khoẻ mạnh phải đi truy quét cả. Ở nhà chỉ còn lại mấy mống sốt nằm cục cục rên hừ hừ, chán thật! Từ hôm lên đây đến giờ, tôi cũng sốt liên miên, đến nay vẫn chưa dứt. Viết mấy chữ vào nhật ký mà như con gà cào. Địch thỉnh thoảng làm cho bộ đội ta giật mình đôi chút thôi, cứ ở xa bắn cối vào. Sáng điểm tâm, chiều thể thao, đủ lại. Còn nghe tiếng xe bên đất Thái Lan chạy nữa chứ, cách đâu đó 2 cây số mà.

Không viết nữa, run quá...


8-10-1979

Thị trấn Pai-lin nằm sát biên giới Thái Lan (cách 8 km). Thị trấn đẹp, có nhà cao 4 tầng, có quán ăn, rạp xiếc, rạp xi nê rất lớn. Đặc biệt là có ngôi chùa kiến trúc rất công phu, có thể thu hút được nhiều du khách. Tôi không biết tại sao người ta đặt nơi đây là Pai-lin. Ở đây không có dân nên tôi không biết hỏi ai, chữ "pai" đứng đầu tôi không hiểu nghĩa, còn chữ "lin" nghĩa là chơi. Chắc thị trấn này trước chế độ Pôn-pốt, người ta sung sướng và ăn chơi nhiều lắm thì phải?!

Theo con đường 10 cứ đi vào hướng tây, cách thành phố Bát-tam-băng khoảng đâu 40 km sẽ đến Pai-lin. Nhà cửa, phố xá hiện ra đẹp nhưng vắng vẻ và tiêu điều. Có cái bị pháo sụp xuống, cháy đen, qua bao mưa nắng nhưng vẫn giữ nguyên được hình thu kỳ dị của nó.

(Pai-lin là một thị trấn thuộc huyện Pai-lin, tỉnh Bát-tam-băng, giáp giới với Thái Lan. Đó là một trung tâm thương mại của vùng. Trong phạm vi khoảng hơn 1 km2 nhà cửa xây dựng san sát theo kiểu Tàu, cao 3-4 tầng, đường xá chia từng ô như bàn cờ được rải nhựa. Phía Bắc th! trấn là đồn điền cà phê bị bỏ hoang, phía nam là rừng núi liên hoàn với Tà-sanh. Nơi đây có mỏ kim cương và đá quý... Dưới chế độ Pôn-pốt, thị trấn Pai-lin gần như hoang phế. Với đặc điểm đia hình phức tạp, địch có nhiều lợi thế đánh du kích, gây rất nhiều thương vong cho lực lượng của ta-Chú thích của Đại tá Nguyễn Văn Hồng).

Cứ tiếp tục đi về hướng biên giới Thái Lan, nhà cửa thưa dần, nghèo dần, bị bỏ hoang cả năm nay rêu cỏ đã phủ kín. Dừa, mít, chuối thì nhiều lắm, ăn thoả thích. Nhưng ớn “ông Địa” quá nên chả dám lội sâu vào để hái. Mấy hôm đầu mới lên ở cái đồi này, ăn chuối thoải mái. Bây giờ thì hết rồi, muốn ăn phải đi kiếm nơi khác xa hơn.

Phải nói rằng đời lính là chịu đựng mọi thứ thiếu thốn từ vật chất đến tinh thần. Thí dụ hôm trước tôi sốt, cơm ăn chỉ là trách nhiệm của cái miệng, nhai và nuốt, thế thôi. Nhìn nước mắm là phát ớn, thế mà phải ăn, biết ngon lành gì đâu. Nếu ở nhà tôi cũng sốt như vầy, chắc là mau khỏi hơn vì tôi sẽ có những món ăn dễ nuốt hơn. Còn ở đây, cái điều kiện như vầy phải chịu. Bây giờ đây tôi thèm một tô bún thịt nướng lắm, nếu có dịp về nước, tôi sẽ ăn một trận bún thịt nướng cho thoả thích.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 06 Tháng Bảy, 2008, 07:04:10 PM
19-11-1979

Chiều này trời đổ mưa, trên chốt trở nên buồn tẻ và hoang vắng. Đi truy quét địch 5 ngày vừa về, mệt thì tất nhiên rồi, nhưng lại ngứa, thân hình tôi nổi lên các hạt đỏ, ngứa không thể tả, đêm ngủ không được.
Địch ở đây đâu có nhiều thế, nhưng đi truỳ quét phải gờm bọn nó. Nó đứng một chỗ thấy ta rục rịch là “cạch” cối 82. Lính ta thì chả dám vận động, vì hở chút là dính mìn. Hôm đầu vừa đi lên các đồi tre đã phải mất đứt một đồng chí trinh sát, một đồng chí nữa bị thương.


Tính ra cái đồi tre ấy đã lấp kín 3 đồng chí của K2 rồi (mật danh của đơn vị tôi). Từ ngày K2 chuyển sang nơi đây làm nhiệm vụ, tính đi tính lại phải mất đến vài chục, kể cả bị thương, nhưng có diệt được thằng nào đâu. Chả bù lại với ở Long-cóp là gì. Địch ở đây nhiều đạn thật, hễ nghi nghi là đã “cạch” cối 82. Cái đồi tre nơi tôi ở hôm trước, rồi đơn vị rút đi nơi khác. Thế mà địch chả dám qua, cứ dứng bên kia suối mà “cạch” cối, suốt mấy ngày liền.  Ở Long-cóp, bí mật là để vào sát địch mà đánh, nếu không địch sẽ chạy mất. Còn ở đây bí mật để địch không biết, nếu không sẽ bị “cạch” cối 82 thì ớn lắm.


Ở đây còn cái nỗi thèm thuốc nữa. Từ trước đến nay chưa lần nào mà tôi thèm thuốc như thế. Ở cách xa dân khoaản năm mươi cây số, tìm đâu ra thuốc? Đành phải hút thuốc “cộng sản” cho qua ngày (một thứ cây dại người ta đặt cho cái tên là “cộng sản”, mọc rất nhiều, nơi đâu cũng có).

Thèm quá, đêm ngủ cứ mơ thấy mình hút thuốc mới lạ. Hỡi Nhà nước khi nào mới bán cho tôi 1 bao thuốc để tôi phì phà cho đỡ cơn ghiền?!

Đi cõng thực phẩm bên trung đoàn, luôn tiện theo cậu Ngọc vào vệ binh chơi, không ngờ lại tìm được đồng hương vui quá. Đồng hương tên là Hoan, ở sát bên nhà mình, lại là con ông Sáu Hỷ nữa. Hoan cũng tốt, gặp được mình Hoan cũng mưừn lắm. Buổi chiều lẽ ra mình về, nhưng cơn sốt lại ùa vào, khiến mình phải ở lại nhà đồng hương. Hai đứa tâm sự cả đêm. Từ bữa mình sang E812, mình chả có thằng đồng hương nào cả. Bữa nay mới biết được một đồng hương ở sát bên nhà, vui không chịu được.


Kể từ hôm tôi rời B1 lên A cối, cũng có nhiều cái vui nhưng cũng có nhiều cái bực tức không chịu được. Bực nhất phải nói đến cậu Quang ở Phú Khánh (tức Phú Yên và Khánh Hoà ngày nay-ĐVH). Con người chỉ biết cho mình, lại thâm hiểm nữa. Mình làm cái thằng A phó A cối là cái gì đâu, thế mà hắn moi móc, nói mèo nói chuột. Mình có khuyết điểm nó chả thèm đóng góp, lại đem ra nói móc, khiến mình tức điên không chịu được. Lại còn cái cậu A trưởng nữa, cậu này tên Đại Bảng tính nóng, con người luôn phấn đấu, nhưng có cái chi xấu là đề người khác xuống để mình được nổi. Mình đã kìm với Bảng mấy lần, cũng vì cái kiểu phấn đấu chết người đó. Hồi ở hướng Tà-sanh, mình đã cùng Bảng tâm sự rồi, thế nhưng cậu ta chả bỏ. Nhưng được một cái là Bảng mau quên. Hai đứa la nhau một hồi, chút sau lại ngồi nói chuyện như bình thường.


Lại có tin đồn là Trung đoàn 812 sắp về nước, E812 đổi đi nơi khác trong tháng 12 này. Hồi hộp thiệt nhưng sao chỉ huy lại bắt chở gạo, chở đạn, lên xe thật nhiều. Mình không thể đoán ra được. Cứ mỗi lần di chuyển đi nơi khác, thế là đơn vị lại vào chỗ ác liệt hơn.


Hồi tháng 4, E đóng tại Mung, nhàn quán. Sau chuyển qua hướng Tà-sanh ác liệt hơn Mung. Đi đường bị phục dài dài, bây giờ lại ở cái thị trấn Pai-lin vầy mới thấy là ớn. Địch bắn cối liên tục, gài mìn lung tung. Mỗi lần đi truy quét hay đi cải thiện phải gờm. Bây giờ nghe tin E sắp chuyển đi, chắc là lại lên cái nơi ác liệt gấp hơn ở đây, buồn quá chả thèm gì! Nhưng thiên hạ sống được, mình cũng sống được chứ lo chi. Mong cho E lãnh thuốc về phát mấy gói hút, thèm quá!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 06 Tháng Bảy, 2008, 07:05:51 PM
1-12-1979

Mới nằm bệnh xá có 3 ngày mà nghe cũng đã chan chán rồi. Ăn uống ở đây cũng chả tốt lành hơn đơn vị tí nào. Đã 3 ngày rồi mình phải ăn cháo muối, ớn không thể tả. Giận cậu Tân y tá quá chừng, không biết cậu giữ mình ở lại đơn vị để làm gì, trong khi bệnh đau kiết của mình đã đến cấp cao rồi (đi ngoài ra máu). Mình xin đi bệnh xá, cậu chỉ lặng yên, đến khi đi tác chiến, cậu Dung mới đưa mình đi. Mình giận cậu Tân quá!


2-12-1979

Buổi chiều buồn buồn, ra bờ đường ngồi nhìn mấy cụm mây trắng dật dờ trôi uể oải về phía tây càng làm tôi buồn hơn. Vào nằm giở mấy lá thư cũ ra xem, mình thấy thương Dũng ghê. Lúc còn ở nhà mình, có lúc mình giận, mình đánh nó dữ lắm, vậy mà khi đi xa nó viết thư thật tội: “Anh Hai, sao anh không về? Em nhớ anh nhiều lắm!”... Ngày nào mình về lại nhà để thăm mấy đứa em? Trong khi cuộc chiến càng ngày càng gay cấn, thanh niên lại khoác ba lô ra chiến trường nhiều hơn.

Bà tôi chắc giờ đã yếu đi nhiều. Mẹ tôi, nghe em Dũng viết thư lên bảo cũng già đi, tôi nhớ lắm nhưng biết làm sao bây giờ?

(Người em trai tên Dùng mà Trần Duy Chiến nhắc đến trong nhật ký tên đầy đủ là Trần Duy Dũng. Là em thứ tư của Chiến, hiện gia đình anh trú tại tổ 29b, phường Thọ Quang, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. ĐT: 0511.922836/090511495-ĐVH)

Nằm ở bệnh xá sao tôi thèm đủ thứ. Khi sáng tôi cùng cậu Ba lội xuống dưới hậu C “mần” một mữa me chín. Mặc dù bịnh kiết của tôi chưa khỏi, nhưng vẫn ăn, cái miệng nó thèm nhiều thứ linh tinh quá.


5-12-1979

Thèm thuốc quá, thấy thiên hạ đi ngang hút phì phà mà tôi như muốn nhỏ rãi. Khi sáng, tôi tà tà vào hai chiếc nhà bỏ trống ven đường nhặt dế, được đâu vài chục con chút chút, tôi gom lại được hai điếu, phì phà một cách thoải mái. Sau đó, nghe chúng bạn bảo hai nhà đó là 2 nhà chứa xác, tôi hơi dợn người một tí rồi cũng qua đi, lính mà sợ gì.

Lần đầu tiên nằm bệnh xá, mới đâu hơn 5 hôm sao mà chán dễ sợ. Suốt ngày chả làm gì, chỉ chờ đến bữa, chờ uống thuốc, chờ chích kim thế là hết nhiệm vụ. Cứ thế cứ thế thời gian trôi, cái bệnh kiết ác nghiệt bắt tôi phải ăn cháo dài ngày, bây giờ cái đầu gối quá mỏi, chả muốn đi đâu nửa bước.


7-12-1979

Vui quá, chưa có lần nào tôi vui hơn lần này. Tôi vừa gặp lại thằng bạn thân nhất đời tôi vào lúc sáng. Cũng may cho tôi, viết hai lá thư xong tôi tà tà lôi lên Trung đoàn bỏ vào hòm. Lẽ ra phải đi con đường kia, lại gặp vệ binh bảo tôi đi con đường này, có thế tôi mới gặp được.

Mừng quá, tay tôi quàng cổ Chính tôi như muốn hôn tới tấp thằng bạn. Trời ơi! Xa nhau từ hôm tháng 3 đến bây giờ rồi còn gì. Tôi trông nó, nhớ nó để rôồ bây giờ giữa đoạn đường của lính tôi lại gặp nó trong một hoàn cảnh không mấy thuận lợi.

Chính ơi? Tình thương tao dành cho mấy như quả núi lớn kia. Nghe phong phanh mấy chuyển qua trinh sát quân khu, tao lo quá, nhưng không mấy vẫn còn ở lại cái D17 tao mừng quá. Ngày hai đứa mình chưa khoác lên tấm thân bộ chiến y màu lá, tao với mấy quấn quít như vợ chồng. Giờ đây mỗi đứa một nơi, mỗi đứa một phương trời cách biệt làm sao tao không nhớ hở mấy! Trong cuộc đời tao chỉ có mấy là thằng bạn mà tao thân nhất.

Gặp lại Chính, hai đứa tâm sự thật nhiều. Những kỷ niệm của một thời tưởng đã chôn sâu bây giờ lại trào ra. Những đêm dài hai đứa lang thang trên con đường nhựa, rồi lại rúc vào quán chè, quán cà phê ven đường. Hiện ra sần sần trước mặt những kỷ niệm đáng yêu của hai đứa vào một thời làm hai đứa xúc động rất nhiều.


13-12-1979

Buồn buồn chi lạ, ngủ cũng chả yên, tôi bật dậy đi thơ thẩn. Nghĩ đến sáng mai phải khăn gói vê lại đơn vị xa mấy đứa bạn thân (Chính, Tươi), tôi đâm chán một cách dễ sợ. Tôi muốn ở lại nơi đây thật dài ngày nhưng không được. Anh em trong đại đội và cậu quản lí đã biết tôi ra viện rồi vì thế tôi ở lại đây dài ngày để vui với hai đứa bạn không được nữa. Cuộc sống là một cái gì khắc nghiệt "hợp rồi phải tan". Giá như cái ngày hôm đó tôi không gặp cậu Chính, cậu Tươi thì đâu có cái ngày mai quyến luyến không muốn rời.

Âu đấy cũng là số phận, mà số phận thì có lúc nào lại đi chiều chuộng mình đâu. Sao mấy cái lúc này tôi hay tin vào hai chữ số phận và định mệnh? Có lẽ tôi không còn đủ nghị lực như cái lúc trước chăng? Riêng tôi phải làm gì đây, buông xuôi theo số phận đẩy đưa ư? Có lẽ vậy tự nhiên tôi thấy mình trở nên yếu ớt một cách lạ thường trước mọi cảnh vật to lớn của thiên nhiên. Có lúc chính tôi cũng không sao hiểu được tôi.

Ngày mai xa rồi, chúng nó về đơn vị, lại đào hầm, làm nhà âm, rồi đi truy quét, khát nước, đói cơm… Cuộc đời người lính chiến lại phải khổ, băng rừng, trèo núi, lội sông, qua suốl, cơm vắt, muối rang...

Hỡi những kẻ sống bình an nơi thành phố! Sáng chiều ung dung nơi quán nhậu, được vợ đẹp con ngoan, có khi nào nghĩ về, hiểu về và thương về những người cầm súng nơi chiến trường ngày đêm lửa khói?

Chắc là không bao giờ có đâu, và có chăng chỉ những người đã bước vào cuộc chiến, đã ghi dấu kỷ niệm trong lửa khói.

Còn tôi, người lính trận xa nhà ắt là sẽ thương hoài những người cầm súng.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 06 Tháng Bảy, 2008, 07:07:56 PM
20-12-1979

Sáng mai lại xa cái chết không mấy cảm tình này rồi. Nhưng tôi lại thích ở nơi đây vì nó có phần hiền hoà hơn nơi mà sáng mai đây tôi phải đến. Nghe mấy cậu trinh sát D bảo ở làm 3 bộ phận, mỗi trung đội ở một nơi cách nhau cây rưỡi số, lại còn phải ở trên đồi mà phát ớn. Cái chốt này cao đâu hơn trăm rưỡi mét, thế mà mỗi lần tôi gánh đôi nước lên thì cả mệt lẫn mồ hôi. Còn cái chốt kia thì thế nào đây-565 mét-cái số và đoạn đường khổng lồ tôi phải gánh nước lên.


Còn nữa chớ đâu hết, đoạn đường 5 km có mìn, có địch phục. Mà đơn vị tôi thỉnh thoảng có một số đồng chí phải về lấy gạo lấy thực phẩm, đạn dược.

Vẫn ớn nhất là chuyện đào hầm, làm nhà âm. Tính đi tính lại từ ngày đơn vị tôi lên đây tới nay được 2 tháng đúng, mà cái nhà âm đang che chở cho tôi bây giờ, trong A mới ở có đâu 25 ngày lại phải đi tiếp, đào hầm tiếp. Đôi tay mới vừa xẹp cái bọng nước cũ, nay lại nổi lên cái bọng nước mới và có ai hiểu cho đâu.


Lại ghi tiếp về Đại Bảng, cái tên nghe qua rộng rãi và dễ mến, cộng với cái dáng đạo mạo nhìn bề ngoài, quê xứ Quảng, nhập ngũ năm 76, nay là Trung sĩ A trưởng A hỏa lực của tôi.

Trong A tôi thương Bảng nhất, vì là đồng hương cùng tỉnh với tôi cộng cái tính không giận ai lâu (nhìn bề ngoài), có lúc tôi với Đại Bảng la lộn

xong vào nhà ngồi nói chuyện bình thường như không có sự gì xảy ra giữa hai đứa. Nhưng đâu chỉ có thế, càng sống gần Bảng càng lâu những tính xấu trong người Bảng bộc lộ ra mới biết. 

1.Cái tính thứ nhất của Bảng là mình phấn đấu, nhưng không tự mình dựng nên những thành tích, chỉ muốn chờ người ta sơ hở là chận người xuống cho mình nối.

2.Lánh nặng tìm nhẹ (cái này thỉnh thoảng hay xảy ra).

3.Mình làm sai, đồng đội phê bình đóng góp ra vẻ khó chịu, luôn tìm những khuyết điểm dù nhỏ để chống chế.

4.Hay cãi bướng với người đã biết.

5.Đua nịnh cấp trên: anh em có khuyết điểm hay lên cấp trên tâu, khi đã ghét ai Bảng sẽ dựng lên những chuyện không có để tâu với Đại đội, hoặc có ít thêm nhiều.

6.Miệng nói tốt, nói giỏi nhưng làm không được: Trong A, tôi thấy Bảng là người nhát và lười nhất nhưng miệng cứ ba hoa là mình siêng, sợ chết nhưng cứ nói ta đây dạn nhiều.

7.Nói càn, nói ẩu, nói không có suy nghĩ khi nóng giận. Riêng Bảng đã nói cùng tôi một câu mà khiến cho tôi nhớ suất đời: "Mày chỉ vì lon thịt mà mày về, thế thôi?".


Câu chuyện xảy ra như vầy, hôm 15-12, tôi cùng đồng chí Thanh trong A đi cõng nước. Tôi có nhiệm vụ cõng muối cho CT, đồng chí T. cõng nước đến D-C8-C7. Không có muốl, tôi quay về trinh sát D chơi, đến trưa thì sực nhớ đến cục cơm đồng chí T. còn ở hộc ba lô tôi, cả mấy lát thịt bò khi sáng tôi đem đi. Tôi ăn cơm tại trinh sát trước đó với thịt bò.


Đến lúc tôi về lại xảy ra chuyện to nhỏ với đồng chí Non B3 vì tôi hiểu lầm qua câu nói. Hết đồng chí Non, đồng chí Bảng lại xen vào, qua một lúc cãi vã đồng chí Bảng lại kết luận cho tôi một câu: "Mày vì lon thịt mà mày về!" .


Tôi lúc đó như khúc gỗ, đứng trân người nhìn anh em trong đơn vị. Biết nói lại và làm gì bây giờ Bảng đã chạm vào tự ái tôi một cách mãnh liệt. Giây lát lấy lại chút bình tĩnh, tôi suy nghĩ vội vàng-"Nên làm gì bây giờ đối với một kẻ đã bôi nhọ mình đến mức ấy? Đánh cho nó một trận ư? Sẽ đánh bằng cây trước nếu không lại nó, ta sẽ chơi súng!".


Tôi liếc mắt vội khúc đòn gánh bên thùng nước kia-"Nó sẽ bị một gậy trước khi nó có thể", lại tiếp cái suy nghĩ khác ào ra: "Nhịn đi Chiến? Một cái nhịn là chín cái lành! Ai xấu sẽ có anh em biết lo gì. Không nên gây mất đoàn kết trong A. Tối đến mấy sẽ phân tích đóng góp trong A, nó sẽ quê nhiều! "-nghĩ vậy nên tôi lặng thinh.


Tối đến, tưởng đâu là nó sẽ nhận ngay những điều sai trái khi nóng giận làm càn. Phê bình Bảng, Bảng tìm những điều vặt vãnh nhất của mình nói lại. Có chịu nhận đâu cái thẳng ỷ quyền (mới là A trưởng cũng bày đặt dùng quyền lực, quyền hành). Là A trưởng mà chỉ biết đi "bằng hai đầu gối và học được một câu nghi lễ của triều đình thời xưa: muôn tâu…  muôn tâu... cái gì đó và cái gì đó bí mật lắm. Thế mà mình đây cũng khen cho nó, cái lưng cong cong, lại đi bằng hai đầu gối mỗi khi đến trước cửa thiên triều. Nhưng nó lại đi nhanh không chịu được. Mới 76 đến 78 đã được kết nạp Đảng-cũng oai người lắm chứ”.


Đã có nhiều lần tôi gọi Bảng ra nói nhỏ với Bảng để hai đứa sẽ không to tiếng với nhau. Thế nhưng Đại Bảng tính nào vẫn tật ấy chả sửa tí nào và càng tăng mức độ dần lên khi bắt đầu "cái Đảng viên" treo gần trước mặt.

Trong A đâu có ai là mến Bảng, chẳng qua anh em là lính mới, họ sợ và nể. Chỉ có tôi tính nóng mới dám cãi những khi Bảng nói sai, hay vu cáo cho tôi một cái gì đó. Đại Bảng cho là tôi bướng, lên tâu Đại đội.
Đại Bảng ghét tôi, riêng tôi tôi chả ghét ai nếu kẻ đó không động đến tự ái tôi lần thứ ba.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 06 Tháng Bảy, 2008, 07:08:49 PM
21-12-1979

Buồn ghê, cái buồn không do ngoại cảnh lôi kéo và lại còn giận thật nhiều nữa kể từ khi đơn vị đổi lên Pai-lin này. Lúc mới về A cối, khi đơn vị còn ở Mung thật là vui và hài hoà, mặc dù trong A có lúc còn to tiếng với nhau. Lên Tà-sanh cũng thế, nhưng khi lên đến đây thì cái đoàn kết cũng giảm dần, nhất là khi Bảng bước tập tò vào Đảng, còn cu Quang nghe đâu sẽ lên làm A phó A cối.

Tính tình từng người trong A tôi đều hiểu hết. Riêng cái tính qua loa cứ nhập mãi vào người, tôi cố bỏ nhưng nó cứ thò cái đầu ra. Chẳng hạn ăn cơm xong quên rửa cái xoong, quên cái ca muối nơi đất v.v… những cái vặt vãnh này thì tôi vấp phải nhiều hơn anh em trong A. Được dịp, mấy ông thần núi nói xiên nói xỏ, có lúc còn la to để đại đội nghe, (A tôi ở gần đại đội) để lập công chút ít. Đại đội tin tưởng sẽ mau lên cán bộ.

Nhưng họ đâu phải đã hoàn toàn làm đúng! Cũng bầy hấy đâu kém, nhưng tôi bỏ qua. Nếu mấy đứa chưa rửa thì tôi rửa có gì, đã là lính chiến "sống nay thác mai", ta phải thông cảm cho nhau để sống là hơn.

Tức giận cho những người nói cái mồm toác toác rằng ta không sợ. Nghĩa lí gì, thế mà khi gặp khó khăn lại cong đầu chạy trước. Bây giờ tôi nhìn trong A với một suy nghĩ là cặp mắt khang khác. Hình như tôi đã tìm ra cái sự chia rẽ trong ấy.


30-12-1979

Dưới chiếc hầm cá nhân tôi ghi vội vài dòng nhật ký. Khói lửa ngút ngàn. Đơn vị tôi bắt đầu hành quân hôm 23-12, nhưng đến hôm nay vẫn còn nằm nơi chiếc đồi nhỏ dưới chân 505 này. Địch mạnh quá không lên được, phải chờ mũi chi viện.

Từ hôm mấy đến nay, đều đều ngày nào địch cũng cạch cối, bắn đủ các loại súng xuống cái đồi con này. Trung bình ngày phải đến 4-5 lần, phải nói là tôi ghê cho mấy trái B40-B41 nổ rát quá.

Chiếc hầm của tôi là loại hầm nằm, mỗi lần địch bắn tôi thấy ớn ớn làm sao. Nằm dưới hầm mà con mắt cứ ngó trân trân trên ngọn cây, mong sao đừng có trái nào trúng nơi đó. Tôi sợ lắm thứ súng đạn ghê hồn, ôi thằng lính bộ binh gian khổ nhiều quá? Có lúc tôi đang bưng 1 chén cơm ăn, nghe tiếng "cạch cạch", thế là bỏ cả cơm mà nhảy xuống hố cá nhân. Bất cứ lúc nào đôi tai và đôi chân cũng chuẩn bị sẵn sàng. Địch ở đây nhiều đạn quá bắn đâu tiếc. Cứ mỗi lần nổ súng thì tệ lắm cũng được 20 quả cối.

Vừa ghi đến đây thì địch lại nổ súng vào chốt. Tôi phải tránh đạn xong mới ghi tiếp.

Không có việc gì cho ai cả, chỉ nhớp bộ đồ tí thôi nhưng áo quần thì khỏi phải nói. Cặp đồ tôi mặc trong người hôm nay đã thành màu đất rồi. Không biết khi nào tôi mới giặt được đây, chắc là đợi đủ tháng? Nước ở đây hiếm quá, đi lấy được nước cũng không phải là chuyện dễ. Đường xa 1,5 km, thường có địch phục. Mỗi lần đi lấy nước phải tổ chức đàng hoàng, xuống đến nơi mạnh người nào thì giục cho xong mà về, có đâu thời gian mà còn giặt đồ tắm rửa!

(Cao điểm 505-cao 505 mét so với mực nước biển-nằm sát đường biên giới với Thái Lan, phía tây th! trấn Pai-lin. Đơn vi của Trần Duy Chiến được giao nhiệm vụ chốt giữ điểm cao này. Hàng ngày, các chiến sĩ phải thay nhau xuống suối cõng nước. Đường từ điểm chốt xuống đến nguồn nước dài gần 2 km, thường xuyên bị địch phục kích, gài mìn và bắn cối. Mỗi chuyến đi lấy nước, một người cõng được 20 lít, phải mất thời gian nửa ngày. Nếu gặp tình huống xấu, có khi phải 1 -2 ngày mới mang được nước lên. Nhiều lít nước đã phải đổi bằng máu. Nước uống không đủ, nói gì đến chuyện tắm giặt-Chú thích của Đại tá Nguyễn Văn Hồng).


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 13 Tháng Bảy, 2008, 07:40:11 AM
Phần thứ mười hai
Những ngày cuối cùng trên chốt điểm cao B6

“Chợt thấy nóng nơi gò má, hình như tôi đang thầm khóc? Hình ảnh nào thân thương làm tôi nhớ khôn nguôi. Mẹ ơi! Đêm nay con đang chốt giữa điểm cao lạnh cóng...
Tình hình mỗi ngày một căng thẳng, lính Pôn-pốt ngày càng hoạt động quấy rối nhiều hơn. Thế là quân số của D tôi giảm nhiều quá. Thỉnh thoảng lại một vài đồng chí chết, bị thương vì trên đường đi từ chốt này sang chốt khác bị địch phục. Công tác càng nhiều hơn mấy lúc trước, phải đi phục liên tục 2-3 ngày mới được nghỉ, cứ thế và cứ thế…".
(Trần Duy Chiến, 16-6-1980)


30-2-1980

Chúng tôi đã rút khỏi nơi ấy từ ngày đầu tháng 1 và đi chiến dịch ở 742.

Mới đó mà đến nay đã là một tháng, tôi làm nhiệm vụ chốt giữ trên đỉnh cao biên giới Pai-lin. Thời gian đi sao mà nhanh quá, vội quá. Bây giờ giở nhật ký ra nhìn lại tôi mới biết, phải chăng cái khổ đã làm tôi quên mất tháng ngày?

Tết thì đã qua cách đây đâu 14 ngày rồi, thế nhưng toàn bộ E 812 của tôi thì chưa có đơn vị nào được ăn Tết cả.

Ngồi ghi nhật ký trong chiếc nhà âm trên đỉnh B6 này, tôi cố nhớ lại những chặng đường gian khổ rơi không ít mồ hôi. Tôi phục cho đôi chân mình rất nhiều nó đã không bỏ tôi lại, cho nên hôm nay tôi vẫn có mặt nơi đây cùng anh em đồng đội giữ chốt chiến đấu.

Địch ở vùng này thì nhiều, nhưng không mạnh. Sở dĩ tôi dám kết luận vậy vì có nhiều lí do. Hôm trước Đại đội tôi đánh vào cứ điểm B2, địch đâu bắn trả lại viên nào, chỉ bỏ chạy. Nói chung, các cứ điểm khác cũng vậy. Thế nên chỉ có 1 trung đội cùng khẩu 60 của tôi chốt giữ điển cao B6 này, tôi vẫn không nao núng tí nào.


4-3-1980

Điểm cao B6, Pai-lin.

Ghi vội vài dòng để nhớ một cái Tết mang kỷ niệm sâu sắc trong đời binh nghiệp của tôi. Nó bình dị, đơn giản, vội vã và lạnh lùng đi qua...

Đêm nay trăng hạ tuần còn mê mải đùa vui với phố xá, núi rừng Pai-lin nằm lặng yên đợi chờ. Trên điểm cao B6 chẳng có gì để vui, tiếng gió réo át hẳn tiếng côn trùng hay có lẽ vì lạnh quá chúng đã ngủ từ lúc ông mặt trời tắt nắng. Thỉnh thoảng một vài tiếng nổ của những trái mìn bố phòng quanh chết bị cành cây khô rơi xuống hay con thú nào vấp phát lên làm một góc núi rừng ầm vang ra xa, xa mãi.

Có ai biết giờ này tôi đang suy nghĩ gì? Mà cũng chẳng có gì để tôi phải suy nghĩ. Cái Tết lướt qua nhanh trong những ngày làm lính của tôi một cách bình dị quá. Không hững hờ, nhưng cũng chẳng luyến tiếc làm gì, bởi tôi là người lính mang nhiều suy nghĩ của lính. Cái Tết cổ truyền của dân tộc đã qua đi cách đây hơn nửa tháng rồi , nhưng E812 tôi đã để dành lại, hôm nay mới ăn Tết. Gọi là "ăn Tết" chơ "ngơm" cái danh từ lên một chút, chứ có gì đâu. Nó còn kém xa một bữa liên hoan ở quê nhà. Những thứ gì nào: thịt heo, thịt bò, xôi miếng, rau cải... Tất cả đều dồn hết vào một bữa trưa, nhưng vẫn chưa đã thèm tí nào. Nó ít quá mà!

Cuộc đời bộ đội là những bước hành quân trên vạn nẻo đó đây. Năm ngoái, lúc tôi còn học ở trường Hạ sĩ quan Đức Cơ, cái Tết ùa đến, đơn vị tổ chức đón xuân có phần vui và rôm rả hơn. Bây giờ trên điểm cao B6 này, cái Tết cũng đến, nhưng vắng lặng và âm thầm như những người tu sĩ. Buồn thì cũng chẳng buồn lắm, vì tôi hiểu đời lính chỉ có vậy. Nhưng vui lại không có gì để vui, thôi thì cứ lặng lẽ cho ngày tháng trôi qua...

Suy nghĩ và nghĩ suy chỉ vậy, để rồi đến sáng mai lại là những ngày bình thường cơm muối, gùi nước lên cái dốc mệt đứt hơi. Ôi thôi, càng nghĩ đến những ngày sắp đến, tôi lại càng thấy ớn thêm. Biết bao giờ tôi được trở về lại quê hương để được đón xuân trong niềm vui ấm cúng của gia đình? Ôi? Nó xa vời và rỗng tuếch quá, làm sao tôi biết được?


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 13 Tháng Bảy, 2008, 07:41:01 AM
16-3-1980

Điểm cao B6, Pai-lin. Cả ngày trời cứ mưa hoài, cơn sốt đang chừng chừng, cái đầu choáng váng nhưng tôi vẫn dậy đi hứng nước. Mùa mưa ở đây bắt đầu từ tháng 4 dương lịch, còn bây giờ thì mới nửa tháng ba, nhưng thỉnh thoảng cũng có một vài cơn mưa dông.

Trên điểm cao B6 mà tôi đang có mặt, mỗi lần mưa đến vui biết bao. Nếu có đồ chứa nước được nhiều thì khỏi đi mang nước đến bốn năm ngày, lại còn được "xài" thoải mái nữa chứ. Còn bình thường thì cứ bốn người, mỗi ngày phải có một người đi mang nước. Cả đi cả về mất một buổi, 20 lít nước nặng trĩu sau lưng, miệng và mũi thì mở hết tốc độ thế mà không sao đáp ứng đủ sự đòi hỏi của chúng tôi.

Nói đến chốt là nghĩ ngay đến cái hiu quạnh của núi rừng. Sống nơi đây tôi đếm từng giờ cho mau hết thời gian. Nghe tin đâu E812 của tôi sắp đổi đi nơi khác thế mà tôi cứ ngong ngóng mãi vẫn không thấy. Cầu trời đừng để đơn vị tôi chết nơi đây hết mùa mưu, buồn và khổ lắm…


23-3-1980

Điểm cao B6.

Bây giờ khoảng đâu 10 giờ, cả chốt đã ngủ say chỉ tôi và cậu Dũng là còn thức. Cậu Dũng thức để gác, tôi thức để viết cho xong lá thư. Lá thư thì đã viết xong, lại thức tiếp để ghi đoạn nhật ký.

Không phải thư gia đình, bạn bè hay người quen nào cả, lá thư này gọi là "thư toạ độ", tôi viết cho một cô gái ở Hội An. Sở dĩ tôi gọi là "toạ độ", bởi tôi chưa biết mặt, chỉ biết tên và địa chỉ của cô gái ấy do bạn bè tôi đưa đến. Thật ra thì tôi chẳng muốn viết làm gì, chỉ tốn công tốn giấy mực lại gây căng thẳng cho đầu óc mà thôi. Nhưng nghĩ cho kỹ, cuộc sống của lính chiến buồn tẻ với núi rừng hiu quạnh, nên tôi phải làm một cái gì đó để tìm ra một chút niềm vui nho nhỏ. Vì thế, đêm nay tôi thức khuya viết lá thư cho cô gái mà tôi không biết. May đâu người ta trả lời, lại có bức thư để đọc sẽ vui. Tôi ghi lại bức thư để nhớ và gọi là để lưu niệm vui vui:


Thư gửi Hồng Hạnh,

(8/2 Nguyễn Thị Minh Khai, Hội An):

"Nhận được thư, Hồng Hạnh có lẽ sẽ ngạc nhiên và xen nhiều nỗi bực mình lắm phải không? Bởi vì cái anh chàng vô duyên nào lại biên mình mà còn biên tường tận nữa chứ. Giận lắm phải không Hạnh? Nếu giận thì cho tôi xin đi, để chúng ta còn nói chuyện nữa chứ.

Lời đầu tiên tôi xin đến với Hạnh bằng những tình cảm chân thành nhất. Xin chúc Hạnh vui khỏe, trẻ và đẹp mãi trong lứa tuổi.

Còn tôi là ai? Sao lại biết được Hạnh?... Bây giờ tôi xin gỡ những thắc mắc đó cho Hạnh: Tôi-người con tiai cũng như bao người con trai khác được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng khô cằn, nghèo nàn. Dáng người không cao, xấu trai, nhưng tính tình không bao giờ xấu, luôn mang nhiều sầu cảm…

Kể từ lúc tôi khoác lên mình bộ chiến y rời xa quê hương làm nghĩa vụ, số kiếp sống quạnh hiu với núi rừng, suốt ngày làm bạn với súng đạn, tôi thấy mình như lạc lõng, thiếu di tất cả, nhất là tình cảm của người em gái hậu phương qua cánh thư nho nhỏ.  Như kẻ bị đắm tàu vớ được chiếc phao, qua một sự tình cờ tôi biệt địa chỉ của Hạnh nên nảy ra ý định viết thư đến Hạnh. Để những lúc vui buồn tôi kể cho Hạnh nghe những chuyện về miền đất xa lạ về những con người mà Hạnh chưa đến vá chưa biết. Còn Hạnh sẽ kể lại cho tôi những vui buồn về quê hương phố Hội nơi mà Hạnh đang sống. Như vậy, Hạnh nghĩ thế nào? Nếu đề nghị của tôi dược Hạnh chấp nhận, đó là một diễm phúc lớn lao cho tôi. Mong rằng Hạnh sẽ không trách nhiều cho kẻ vô duyên này phá quấy đến Hạnh. Xin chúc Hạnh ngủ một giấc thật ngon trong đêm!

"Một kẻ vô duyên ".

Sáng mai về Pai-lin, tôi phải ăn một trận xà-oai chín mới được. Thèm xà-oai tum ná hơi (chữ dùng của Trần Duy chiến-ĐVH). Nhưng nghĩ đến con đường từ đây về đó cũng ớn, dốc ơi là dốc, bò lên leo xuống ôi thôi cặp giò muốn rã. Thế mà không đi là không được. Muốn đi một lần đâu phải dễ, xin với xỏ mệt đứt hơi mới cho đi. Nhớ lại mùa xoài năm ngoái phải nói là tôi ăn nhiều vô kể. Nếu cứ tính tiền xoài mà tôi ăn của Cam-pu-chia này thì tôi phải trả đến bao giờ… với phụ cấp 8 đồng hạ sĩ của tôi. Tôi không thèm ghi nữa. Ngủ cái đã, sáng mai còn phải lội bộ về Pai-lin 12 cây số đâu phải ít.


Tiêu đề: Re: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 13 Tháng Bảy, 2008, 07:42:08 AM
3-4-1980

Điểm cao B6.

Thật tức giận cho những người đi cái lưng khom khom, cái đầu cúi cúi, thế là nó hại anh em. Tôi và nó từ trước đến nay vẫn chơi thân với nhau lắm, có cái gì tôi cũng cho nó ăn, để dành cho nó. Ai xin thì không cho chứ nó thì tôi không cầm lại được. Thế mà nó hại tôi, nó thọc tôi một gậy quá đau. Ông Thủy-Chính trị viên-đổi tôi qua đây cũng vì nó.

Chưa một lần nào tôi dám bướng trước mặt đại đội. Hôm nay tôi phải bướng, tôi đứng chống nạnh trước mặt ông Thủy trả lời ổng bằng những lời lẽ không mấy ôn hoà. Mà ai lại không tức cho được khi mình không tự bỏ đơn vị đi, nhưng ổng lại cho mình là tự ý đi ông nghe lời tên Nhật mà.

Anh Việt triển khai cho mình cùng Sự và Lành xuống dưới đó lấy xoài, đi đã mệt về lại còn bị chửi, ai mà không tức. Tôi bất chấp sự tiến bộ của tôi, tôi đã cãi lại cấp trên. Người ta bắt ép tôi mà.


8-4-1980

Một chuyện buồn lại xảy ra trong A cối tôi: Trưa nay đồng chí Phương đã hi sinh. Đồng chí đi phục kích từ sáng đến 11 giờ thì gặp 5 thằng địch từ dưới suối lên. Mấy đồng chí nổ súng, địch không chết, bỏ chạy. Ta vận động xuống kiểm tra, đồng chí Phương dẫm phải mìn KP2 chết. Thương người đồng chí và cũng là người bạn trong A của tôi quá? Ở cái đại đội 5 của tôi, lính xứ Nghệ khoảng đâu 10 người, nhưng có lẽ đồng chí Phương là người tôi có cảm tình nhiều hơn hết. A cối tôi có 6 người, 3 người ở chết B5:tôi, Lộc và Phương ở đây. Bây giờ đồng chí Phương ra đi chỉ còn lại tôi và Lộc, ngôi nhà trở nên trống trải một cách lạ...
Đời lính là vậy chẳng có gì gọi là tồn tại khiến tôi cũng đâm chán và bi quan ghê. Ghi vội mấy dòng để không quên người đồng chí thân thương ra đi.



13-4-1980

Tuổi thanh xuân ai không tự đắp cho mình một ước mơ. Nhưng ước mơ là huyền hảo, là chuyến tàu không có sân ga. Tôi cũng có cái ước mơ nho nhỏ, không hiểu nó bén lên tự bao giờ trong tôi. Có lẽ vào mùa đông năm ấy, khi tôi khoác lên người bộ chiến y?


14-4-1980

Những ngày không có thuốc hút thật là khổ, con mắt lờ đờ như người mất ngủ. Thèm quá, phải đi tìm lại những cái mẩu nằm rơi rớt nhưng đâu phải dễ dàng.

Sáng sớm tìm bươi ngoài đống rác
May dâu nhặt được mẩu thuốc tàn

Bươi hoài, có khi cũng chả được vì đâu phải chỉ có một vài người bươi, cả chốt cùng bươi từn mẩu. Cái đống rác bị trộn xới liên tục, kể gì nhớp nhúa. Cái mẫu thuốc đã lên mốc vì nằm ngoài trời ẩm ướt thế, nhưng từn được ôi thôi là mừng vô kể, xúm lại mỗi người hút chỉ được một hơi gọi là đỡ ghiền.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 13 Tháng Bảy, 2008, 07:43:04 AM
16-6-1980

Cả ngày trời cứ mưa hoài. Mưa thì không lớn nhưng dai dẳng. Hôm nay tôi ở nhà, chắc có lẽ cũng do cái cơn cúm, của tôi. Tôi lặng im nằm nghe mưa. Cái âm thanh lộp độp phát ra từ mái nhà lợp lá, gợi lên trong tôi thật nhiều kỷ niệm. Những gương mặt, ánh mắt nhìn và là bao cái khác lần lượt xếp hàng trong cái đầu cỏn con của tôi.

Chợt thấy nóng nơi gò má, hình như tôi đang thầm khóc? Hình ảnh nào thân thương làm tôi nhớ khôn nguôi. Mẹ ơi! Đêm nay con đang chết giữa điểm cao lạnh cóng...

Tình hình mỗi ngày một căng thẳng, lính Pôn-pốt ngày càng hoạt động quấy rối nhiều hơn. Thế là quân số của D tôi giảm nhiều quá. Thỉnh thoảng lại một vài đồng chí chết, bị thương vì trên đường đi từ chết này sang chết khác bị địch phục. Công tác càng nhiều hơn mấy lúc trước, phải đi phục liên tục 2-3 ngày mới được nghỉ, cứ thế và cứ thế…


24-6-1980

Thật là giận nhiều cho mấy thằng nhỏ nhen, mồm mép. Tôi phải sống với họ làm sao đây hỡi trời? Họ nói xuôi cũng được, lộn ngược cũng xong, cái lưỡi của họ lắt léo trăm bề... Họ có thành kiến gì với tôi không biết? Có lẽ là do tôi đóng góp phê bình, nên họ tức tôi chăng? Họ toàn nói chuyện moi móc, tìm tòi những cái sai của tôi để công kích trong cuộc họp, trong khi đó tôi vẫn tốt với họ, với mọi người.

Tôi ốm, ăn cơm không được, phải nấu cháo, họ nói nấu ít nấu nhiều, tôi khổ lắm. Bây giờ tôi lại sinh ra cái bệnh đau dạ dày quái ác, ăn cơm vào nó đau, ăn cháo thì không có điều kiện để nấu. Giá mà tôi như người khác thì đã nằm ì rồi... Đằng này tôi vẫn cố gắng công tác với anh em. Tôi cũng biết thương anh em lắm. Nếu tối không đi, anh em trong A phải đi thay, tôi không làm như vậy được. Cái khổ tâm thứ hai nữa là đau mà không dám nói. Bởi nói ra thì người ta cho tôi là tư tưởng này nọ, ham sống sợ chết... Những chuyện bực mình như thế thường diễn ra, tội nghiệp cho tôi quá.


25-6-1980

Tôi gọi thật nhiều hai tiếng "quê hương", mỗi khi rộn ràng tiếng súng, hay lúc trăng về mờ soi trên lá một mình ngồi ôm súng nhìn xa. Tôi yêu thật nhiều quê hương-lời thơ và cũng là tiếng nói hồn tôi.

Phải nói là tức giận kinh khủng cho đồng chí Chất B trưởng B3. Cái hành động của đổng chí ấy đối với tôi khi sáng mãi đến giờ này tôi còn ưng ức trong bụng và chắc là tôi sẽ nhớ dai. Anh ta làm như tôi là giả vờ không bằng. Bây giờ thì tôi đã hiểu: phải chăng anh ta thù vặt vì tôi đã đóng góp phê bình mấy hôm trước...?

Khổ quá cái bụng nó hại tôi, cứ đau anh ách hoài làm sao chịu nổi? Đói thì đau, no cũng đau, sáng đau, chiều đau, khuya đau... ăn cơm vào đau, chỉ có cháo là giảm được đau thôi, nhưng chỉ ăn cháo thì làm gì được. Đằng này, tôi ăn cháo nhưng vẫn phải đi làm, đi phục, đi tuần, đi công tác cùng anh em đều đều. Có lúc đau quá, tôi chỉ biết ôm bụng và nhăn mặt vậy thôi. Nếu tôi nói ra họ lại cho là thế này thế khác, tư
tưởng không thông, ham sống sợ chết, ngại khó ngại khổ

Ôi biết bao nhiêu là điều mà người ta sẽ nói cho tôi khi tôi thốt ra rằng "Tôi bị bịnh này... không thể đi làm hay chiên đấu được...". Cái này thì tôi hiểu lắm, nhưng chắc là phải cố gắng đến một lúc nào đó thôi, cái đau sẽ bảo tôi dừng lại. Thử hỏi, đến lúc đó người ta đối xử với tôi ra sao? Có còn thân thiện tử tế như một cái, một con... gì gì đó mà tôi không dám nghĩ đến.

Trên cái điểm cao thâm u này tôi thèm đủ thứ, nhất là rau xanh. CÓ lúc cả tháng chưa được ăn một lần rau. Hôm qua trong đi tuần, tôi từn mãi mới được hai cây cải trời (rau tàu bay). Tôi mừng lắm, hái hết được hơn nắm lá về bỏ vào cái xoong nhỏ, xào qua xào lại với tí nước, mà tôi ăn rất ngon. Đến bây giờ mà tôi vẫn còn cảm thấy cái hương vị thơm thơm của cọng cải trời.

Vở thì cũng sắp hết, muốn ghi thật nhiều những sự việc với ngày tháng quạnh hiu trên chốt nhưng không được. Tiết kiệm nhiều lắm mà bây giờ giấy vẫn hết. Tôi đã gởi đồng chí Nhật đi Bat-tam-băng mua rồi. Chẳng biết có mua được như ý định của tôi không? Khổ quá, tôi không dám kêu ca với ai, nhưng cũng phải kêu ca với chính mình, bởi vì tôi khổ thật. Trong khi đi phục, viết đại mấy vần thơ, phải ghi vào đây để nhớ.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 02:56:47 PM
Phần phụ lục
Một số bài thơ trong sổ nhật ký của Trần Duy Chiến


"Trên chốt, tôi làm thơ cho tôi
Không hay, không dở cũng chẳng tồi
Không đăng báo được, tôi hút thuốc
Có thế thôi mà, có thế thôi..."
(Trần Duy Chiến, 15-9-1979)



Tạm biệt

Tạm biệt người thân, tạm biệt em
Thôi anh đi đừng buồn nghe bé
Cố vui lên vui để tiễn anh
Đừng khóc làm chi dị lắm nè
Thẹn với quê hương với bạn bè
Bé ơi! Sao bé cứ mãi nhè
Bé khóc làm anh ríu bước chân
Nửa hồn cho bé nửa bâng khuâng
Anh đây nào phải chẳng biệt buồn
Chẳng biết lòng mình réo gọi tuôn
Anh nghe hồn nhỏ từng giọt lệ
Nghe cả tim anh dậy yêu thương
Nhưng vì nhiệm vụ với quê hương
Có lẽ nào đâu chỉ ngồi nhìn
Đồng bào biên giới chịu tang thương
Giờ đây anh quyết phải lên đường
Đánh cho quân giặc chẳng lăm le
Giang sơn Tổ quốc vẹn mọi bề
Nhiệm vụ làm xong anh lại về
Vui buồn quân ngũ kể bé nghe
Yêu thương nối lại tơ lòng cũ
Tình sẽ mặn nồng ngát bể dâu.
6-10-1978.



Nhớ quê hương

Đà Thành ơi! Quê hương yêu nhớ!
Đã từng giờ nhắc nhở trong tôi
Từ đây cách trở phương trời
Xa rồi nhớ mãi những lời mến thương
Nhớ đêm trăng vấn vương mong đợi
Những chiều về phơi phới hồn tôi
Biển Đông nối tiếp chân trời
Bao la một dải sáng ngời hương quê
Nhớ Mỹ Khê nắng về tắm mát
Nhớ Bạch Đằng thơm ngát hương yêu
Sông Hàn đón gió hiu hiu
Đò ngang cập bến những chiều đón em
Nước trong xanh êm đềm sóng vỗ
Hồn Phật Đài khẽ bảo hồn ta
Mây chiều phủ kín Sơn Trà
Khói lam ôm ấp mái nhà thân yêu
Cầu tên anh mấy nhịp cô liêu
Hai đứa hẹn rồi dìu nhau bước
Quang Trung xanh mướt con đường
Kiền kiền bóng mát yêu thương nhộn đầy
Ngũ Hành Sơn trời mây sừng sững
Vươn cao mình thẳng hướng tương lai
Thằn lằn suối Đá chạy dài
Cho tôi nước mát nắng mai ấm lòng
Gió Thăng Bình ước mong rộn rã
Liễu Nam ô buông xoã tóc thề
Chuông chùa chiều xuống lê thê
Gió đông thức dậy sóng về cù lao
Hùng Vương đây ồn ào tấp nập
Sân Chi Lăng chủ nhật vui sao
Chợ Cồn lắm cảnh ra vào
Quốc danh chiếu bóng xôn xao rộn ràng
Còi tàu đến vang vang giục giã
Nắng xuân về ấm cúng sân ga
Lòng tôi rộn những thiết tha
Nhớ chi như nhớ đậm dà quê hương.
(Viết vào ngày Tết nhớ nhà)


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 02:57:11 PM
Tôi mơ

Tôi có trong tôi một ước mơ
Không hiểu xây nên tự bao giờ
Có lẽ mùa đông vào năm ấy
Quân trường lộng gió thấy bơ vơ

Tôi mơ Tổ quốc sớm thanh bình
Mơ đất mơ trời thôi chiến chinh
Mơ một loài hoa rừng đẹp mãi
Tôi về nối lại khúc dây tình

Tôi còn mẹ già sống bơ vơ
Tháng năm mòn mỏi mắt trông chờ
Đứa con chinh chiến ngoài biên ải
Ghé về thăm mẹ đến bao giờ

Tôi có người thương nhỏ dễ thương
Ngày xưa hai đứa học chung trường
Hôm đi em tiễn nhòa lệ thắm
Giờ đây xa vắng nhớ thương thương

Có bạn bè tôi dăm bảy đứa
Đứa ra biên ải đứa Cà Mau
Đánh giặc giữ nhà đôi đứa mất
Đứa đi đứa ở vắng tin nhau

Rồi có ngày mai tan chiên tranh
Quê hương đẹp mãi thắm màu xanh
Súng đạn này đây tôi xin trả
Màu xanh áo trận tháng ngày xa

Trả lại những ngày sống quạnh hiu
Khói đắng vờn bay dưới nắng chiều
Hành quân vai nặng mồ hôi vã
Cục cơm ngày rưỡi bốc mùi thiu

Trả hết không còn giữ trong tôi
Tháng năm chinh chiến đã qua rồi
Còn đây kỷ niệm đời binh nghiệp
Vui buồn quân ngũ lắm chia phôi

Tôi trở về quê trở lại nhà
Tìm gặp em tôi, gặp mẹ già
Quỳ dưới chân người tôi sẽ nói
Mẹ ơi ngày tháng nhớ đã qua!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 02:57:44 PM
Định nghĩa tình yêu

Yêu là khi nhạc lòng lên điệu
Là tâm hồn ghi khắc hình ai
Là nhớ nhung mơ mộng suốt đêm dài
Là mong đợi bước chân người thương mến

Yêu là khi mắt nhìn nhau đầy âu yếm
Môi ngập ngừng mà nói chẳng nên câu
Mắt nhìn nhau như quên vạn u sầu
Và thấy cả cuộc đời lên sắc thắm

Yêu là khi kẻ xa người nhớ
Là mỏi mòn chờ đón bóng dáng quen
Là trao nhau bằng nụ cười ánh mắt
Là dìu nhau vào cõi mộng tình yêu.
Đêm 25-2-1979


Chuyện đêm

Chuyện đêm nay trên chột
Thì thầm vang dưới trăng
Chụm đầu năm ba thằng
Ngồi buồn buồn tâm sự
Cho vơi nỗi nhớ thương
Nó bảo nó xa vợ
Năm nay bốn năm tròn
Có được hai đứa con
Đứa sau chưa thấy mặt
Đứa trước nay chẳng còn
Nó bảo còn mẹ già
Đôi mắt đã mù loà
Hôm đi mẹ sờ nó
Nước mắt bà rưng rưng
Nó nói mẹ yên lòng
Con đi tròn một năm
Con lại về thăm mẹ
Nhìn xa vời ánh trăng
Tính chỉ còn ba hôm
Bốn năm tròn vừa chẵn
Nó chưa ghé lại nhà
Vợ nó thương nhớ nhiều
Viết thư bảo nó liều
"Anh cố... về thăm em "
Nó bảo thương thật nhiều
Nhưng chưa về thăm được
Khi trên mình đất nước
Còn mang bao vết thương
Khi lửa khói chiên trường
Cướp đi đồng đội nó
Nó kể chuyện quê hương
Giờ làm ăn tập đoàn
Sướng khổ hay gian nan
Mọi người cùng chung hướng
Ra đi rồi không lo
Gia đình gặp việc khó
Giúp đỡ có địa phương
Ngoài trời rơi hạt sương
Rừng khuya im lắng đọng
Phía hàng rào bố phòng
Mìn giăng cành khô rơi
Thỉnh thoảng nổ "ầm oang "
Giật mình trong bàng hoàng
Thương nó thương thật nhiều


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 02:58:31 PM
Nhớ!

Quái, nhớ làm sao, nhớ nhớ hoài
Nhớ đàn em nhỏ, mẹ già nua
Năm canh trằn trọc nào đâu ngủ
Khi gió lẻn vào mái hiên thu

Nhớ nhớ làm sao, nhớ nhớ nhiều
Nhó bạn, nhớ thà lại nhớ quê
Nhớ chiều bơi !ôi trên sông nhỏ
Nhớ tối rong chơi nhớ nhớ ghê

Nhớ nhớ làm sao nhớ nhớ ai
Nhớ ai sao nhớ cả đêm dài
Nhớ làn môi thắm tóc ngang vai
Nhớ nhớ thương thương suốt đêm trường

Nhớ nhớ làm sao nhớ nhớ thương
Nhớ chiều kỷ niệm trên bờ mắt
Nhớ nửa đêm nao ai vấn vấn vương
Nhớ quá làm sao nhớ nhớ thương.


Bắt dế
(Viết cho những ngày không có thuốc hút)

Mỗi bước chân đi mỗi cái nhìn
Thử xem con dế nhỏ xinh xinh
Có nằm rơi rải lăn trên đất
Ta chộp cho vào túi ni lông
Dế mẹ, dế con lẫn dế cha
Dế than, dế đất đến dế bầu
Dế già, dế trẻ bắt hết
Tóm gọn vào bao đem về nhà
Ô kìa con dế chết nằm lăn
Đủ cánh còn râu lại nguyên răng
Vui sao ta đến chộp ngay chàng
Dế im thiêm thiếp chẳng hung hăng
Dế được đầy bao vui quá ta
Hai con nhập một rồi cho đá
Dế reo dế nhảy cho ra khói
Dế giúp cho ta đỡ khát thèm


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 02:58:56 PM
Một cuộc tình

Một sáng mây trôi thấy hững hờ
Thu sang chợt lạnh lòng bơ vơ
Người công nhân trẻ quay về xóm
Mong gặp mẹ hiền thấy em thơ

Đâu đó xong xuôi bước vội vàng
Nhà Hà em gái ghé qua ngang
Vui vui trò chuyện ngày xa cách
Nào biệt tình yêu khẽ bước sang

Em kể đây rồi đất An Cư
Nơi người con gái tuổi yêu thương
Xuân xanh mười tám hoa ươm nở
Khơi rộn lòng tôi nỗi vấn vương

Tôi gởi hồn tôi đến nơi em
Thảm len chân bước vội ghé lên
Xem qua tường tỏ người trong mộng
Cho được thỏa lòng nỗi ước mong

Từ đó rồi đêm lại nôí đêm
Trăng thu soi mói chiếu bên thềm
Hồn như thoang thoảng cung trời ấy
Biệt tỏ cùng ai nỗi nhớ này

Một tối nghe lòng thúc giục tuôn
Nhạc tình bừng dậy réo điên cuồng
Băng xe tôi dêll tìm em để
Tỏ hết nỗi lòng dậy yêu thương

Cũng con đường cũ cũng lối mòn
Bao lần cùng bạn ghé qua ngang
Sao nay chân bước nghe khang khác
Nghe cả con tim đập rộn ràng

Vì chữ yêu kia réo gọi vang
Khiến tôi bất chấp ghé vô càng
Trước nhà khe khẽ run run hỏi
Ai đó hộ tôi chỉ giúp nàng?

Như chú nai vàng trông bỡ ngỡ
Ngước thìn người khách mắt thờ ơ
Mỉm cười em hỏi người dâu đó
Có việc chi cần hay đến chơi?

Ôi nụ cười xinh xinh quá xinh
Khiến tôi như máu ứ lên mình
Vận dòng can đảm đâu còn sót
Khẽ trả lời em anh đến chơi!

Từ đó rồi đêm lại nối đêm
Trăng vui trăng chiếu sáng bên thềm
Tình vui thoang thoảng hòa theo gió
Bên cạnh cuộc đời đã có em.

Đêm xuống cầu đen hai dứa hẹn
Ngồi nhìn sóng gợn nước tung tăng
Ru hồn vào mộng tình ân ái
Siết chặt đôi môi nguyện suốt đời.

Nho nhỏ thẹn thùng em vội hỏi
Vì sao hai đứa lại quen nhau
Vì sao đêm đền ở nơi cầu
Có kẻ đang hoà chung nhịp thở

Chẳng biết vì sao nữa em yêu
Có lẽ vì mây gặp gió chiều
Vì hoa nên bướm tìm bay dện
Vì bên yên bình thuyền ghé neo

Thẹn thẹn thùng thùng em quay mặt
Nhìn dòng nước chảy ánh sao giăng
Sương đêm ôm trọn hai hồn nhỏ
Đôi mái đầu xinh dưới ánh đèn

Chiều hẹn mây trôi trắng lững lờ
Phật đài hếu réo gió bâng quơ
Chim vui đôi lứa chim quên hót
Hai đứa bên nhau dệt ước mơ

Theo gió tình bay chót vót cao
Bướm xinh vui lượn vẫy cánh chào
Ngũ Hành Sơn dó dìu em bước
Dốc đá gập ghềnh em khẽ chao

Nhìn chiếc lá vàng rơi theo gió
Bồi hồi linh cảm nói trong lo
Nếu mai hai đứa mình xa vắng
Những kỷ niệm này em giữ cho

Quay mặt làm ngơ em dỗi hờn
Trách anh cứ mãi nghĩ đâu không
Yêu anh em nguyện yêu anh mãi
Đừng nói chúng mình đứa đôi nơi

Đừng nói mai kia rồi xa cách
Sẽ làm em khổ lắm nghe anh
Sẽ vùi chôn mât loài hoa nhỏ
Chôn mất hồn em mất tuổi xuân

Đôi mắt vướng buồn em cúi mặt
Giọt sầu lăn nhẹ thấm ướt khăn
Quàng tay ôm trọn đôi vai nhỏ
Khe khẽ hôn lên suối tóc mơ

Thôi nhé đừng buồn nữa nghe em
Đừng rơi giọt lệ lắm yếu mềm
Tình vui mình hãy vui lên đã
Vui mãi cho tình ta thắm hoa

Lặng lẽ chiều buông tự lúc nào
Chia tay lòng thấy quyến luyến sao
Tiễn chân em gái về xóm nhỏ
Nghe trái yêu thương chín ngọt ngào

Từ đó rồi tôi lại đi xa
Nhớ sao em gái ở quê nhà
Bước chân vồn vã quay về xóm
Gặp lại người thương mãi nhớ mong

Vẫn cái nhìn xưa đôi mắt xưa
Vẫn là làn môi đỏ hay hờn dỗi
Nhưng nay sâu kín buồn chan chứa
Bao nỗi sầu thương tận đáy lòng

Nghẹn ngào dòng lệ rơi trên má
Em kể đây rồi chuyện xảy ra...!
Tôi nghe tim vỡ tan từng mảnh
Và tựa hồ đang sống trong mơ

Đâu biết chiều kia là lần cuối
Gặp em rồi để mãi xa em
Tương tư ai gảy đàn ngăn cách
Giết chết hồn tôi giữa tuổi xanh

Thôi hết rồi đò đã sang sông
Người xưa nay dã bước theo chồng
Tập thơ ngày cũ em trao lại
Tình đã lỡ làng kẻ sang ngang

Đâu biết tình yêu là gian dối
Là buồn là hận lúc chia phôi
Là thương nhớ mãi người bên ấy
Là oán cho đời lắm chua cay

Từ đó rồi đêm lại nối đêm
Trăng lên trăng chiếu sáng bên thềm
Buồn ơi man mát lòng tôi nhớ
Một chút hương tình thoáng gợi lên

Tôi đứng đây hồn để đâu đâu
Dư hương ngày cũ bước qua cầu
Thuyền ai lơ lửng lòng tan nát
Lá rụng lìa cành thắm nỗi đau

Rồi một tình cờ tôi ghé lại
Trong chiều biển cát dưới Phật đài
Nhìn dòng nước biết buồn nhung nhớ
Nhìn nắng nhạt nhòa sóng lao xao

Kỷ niệm ngày xưa lại hiện về
Liễu buông tóc xõa đứng lê thê
Chim ơi đừng hát bài xa cách
Để kẻ tương tư phải chạnh lòng

Ai biết chiều nay tôi khổ mãi
Bồi hồi thầm gọi đền tên ai
N... ơi! Bên ấy còn thương nhớ
Những kỷ niệm đầu nay đã phai

Ôi đớn đau cho kẻ đợi chờ
Nhìn thu mây trắng thấy bơ vơ
Nghe từng giọt lệ rơi thương nhớ
Nghe cả linh hồn khóc trong mơ.
(Viết xong ngày 8-2-1979 để kỷ niệm mối tình tan vỡ).


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 02:59:31 PM
Lưu niệm

Bạn hỡi, mai đây mình xa vắng
Còn gì buồn nhớ đền tao chăng?
Bên đơn vị ấy chiều xanh biếc
Có dừng nhìn mây trắng băn khoăn

Rồi một đêm nào gió Tây Nguyên
Len lén lùa vào thấm lạnh tim
Còn ai chung chiều chung chăn nữa
Lòng tưởng trong mơ tay với tìm.

Hay lúc trăng về buồn rưng rức
Nhớ đâu hai đứa chui rừng
Nơi trường ông Thịnh đi tìm sắn
Bụng đói kể gì vui nướng ăn

Buồn lắm bạn ơi! Lúc chia tay
Ta xa ta nhớ nhớ những ngày
Vui buồn học tập cùng bè bạn
Nắng sớm thao trường tiếng cười vang

Ôi! kỷ niệm nào không luyến tiếc
Không để giọt sầu lại trong tim
Bùi ngùi cũng chịu tìm đâu thấy
Bóng dáng người thân mãi nơi đâu

Rồi mai đây trên vạn nẻo đường
Bạn thấy lòng mình bỗng vấn vương
Nhìn đây dòng chữ mình ghi lại
Một chút gọi là nhớ nhớ thương.
Trưa 10-2-1979

Trong cơn mơ
Trong nắng vỡ chiều nay
Hồn mây nhỏ bay bay
Say sưa tròn nỗi nhớ
Gió ru nắng cuối ngày

Long đong từ sợi khói
Hồn bay bỗng trên cao
Con đường mơ lá chêm
Nghe hơi thở thì thào

Em ơi cuối chân trời
Chiều nay mây buồn tím
Tôi đi tìm kỷ niệm
Bằng những phút chơi vơi

Thương em nỗi nhớ không rời
Thương em trong giọt chiều rơi cuối ngày
Cây gầy bóng nắng đìu hiu
Em ơi hơi thở tình yêu bồi hồi


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:00:13 PM
Nắng tàn phai

Chiều nay nắng cũng tàn phai
Theo trăm nỗi nhớ đổdài bóng mơ
Gọi em ngôn ngữ là thơ
Hẹn nhau sau dải sương mờ rất xa
Hồn ta thành những bóng ma
Tình cảm như thoáng mây pha tím sầu
Giờ em hiện diện nơi đâu?
Trong khung trời ấy có sầu hay chăng?
Chiều nay tím lạnh kết băng
Những làn mây trắng về giăng cuối trời
Dang tay nhặt mảnh tình rơi
Tên em khẽ gọi bằng lời hư không
Em như lụa trắng tơ hồng
Giờ đây ngập tắt cho không gian buồn


Phân trần

Anh sợ tình đầu mong manh như lụa trắng
Để rồi thương yêu như nước mắt tan nhanh
Anh yêu em yêu em rất chân thành
Phải chăng nhớ thương bây giờ...
Chỉ như hình hài in trên cát?
Cơn sóng vô tình đã làm tan biến thật nhanh
Anh sợ tình đầu xanh như màu lá
Sẽ úa vàng khi mùa đổi thu sang
Bao năm tháng em trông đợi mỏi mòn
Sẽ phai mờ mùa thu trở lại
Ta nhìn nhau giây phút ngỡ ngàng
Em cúi mặt quay lưng về nẻo khác
Để cho anh ôm chết cõi lòng yêu
Đức Cơ, đêm 10-02-1979


Rồi một hôm

Rồi một hôm nghe dđi như hoang phế
Và cuộc tình bỗng chắp cánh bay xa
Ta đứng đây trông bóng đổ nhạt nhoà
Gọi tên nhau một lần như vĩnh biệt

Rồi một hôm cuộc tình lên cỏ biếc
Nén hương tàn nguội lạnh những thương yêu
Em vẫn vui nhìn mây khói trong chiều
Cho bia mộ một lần vương bụi cát

Rồi một hôm gió reo buồn khung nhạc
Anh vẫn còn nghe khúc hát ngày xưa
Và bây giờ hồn chợt đổ cơn mưa
Ta xa lạ như chưa lần quen biên

Rồi một hôm mây buồn trôi li biệt
Kỷ niệm đầu dẫu đã cố chôn sâu
Vẫn còn đây cho ta những thương sầu
Đứng với gọi tên nhau buồn năm tháng

Rồi một hôm tưởng tình vùi quên lãng
Nhưng đâu ngờ tình sống dậy trong nhau
Khi gặp anh em ngượng ngập cúi dầu
Ôi chua xót cho tình ta khờ khạo.
Nhớ 10-2-1979


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:01:24 PM
Trả em về ngày tháng chưa quen
Trả em về ngày tháng chưa quen biê
Trời sẽ buồn đêm không một ánh sao
Quả yêu thương chưa chín chẳng ngọt ngào
Anh lỡ hái trên môi mềm vị đắng
Anh không vui cũng chẳng buồn câm lặng
Vì cuộc đời còn nhiều nẻo chia xa
Anh đem thơ vào những khúc tình ca
Để một lần tạ ơn chân thành nhất
Khi gặp nhau em ơ hờ cúi mặt
Anh mỉm cười xóa vội nét buồn đau
Thôi bây giờ xin đừng nhắc tên nhau
Cho kỷ niệm trôi mau vào quên lãng
Ngày cũng sẽ chia ra chiều sáng
Trả em về với những ước mơ son
Anh lang thang trên những lối rêu mòn
Và bỏ lại sau lưng nhiều nỗi nhớ
Nhớ 10-2-1979


Trên cát biển

Em đếm dấu chân mình để lại
Rồi mỉm cười hát khẽ một bài ca
Tiếng thanh êm loang nhẹ giữa bao la
Đứng bất động nhìn biển trời xanh biếc
Trong bỡ ngỡ nghe hồn trôi nuối tiếc
Sóng vào bờ xoá vội những dấu chân
Và tên em viết lên cát mờ dần
Rừng dương liễu gió lên buồn tiếng nhạc
Tà áo trắng em bay tung gió mát
Nắng đổ dài bóng nhạt biển chiều mơ
Với cung trầm em đọc những bài thơ
Bằng mực tím ghi vào trang nhật kí
Theo lối nhỏ đi vào trong mộng mị
Sóng thì thào như muốn gọi tên
Em chạy nhanh cho kỷ niệm vùi quên
Như dấu chân nhạt nhoà trên cát biển.


Vẻ đẹp tâm hồn

Lòng em trắng hơn màu trinh áo lụa
Tim em hồng hơn sắc thắm môi hoa
Đây lời em như tiếng hát xa xôi
Và ánh mắt long lanh vì sao lạ
Tóc em xanh, xanh màu xanh của lá
Những sợi mềm vui đón gió mơ bay
Bàn tay thơm ươm mộng ước thơ ngây
Mười ngón nhỏ ôm thời gian níu kéo
Cho nhạc guốc mừng vui thêm vạn nẻo
Cho em cười trọn nụ thắm môi hoa
Khi hoàng hôn nhuộm tím khoảng trời xa
Không vương vấn mây buồn trong biển mắt
Những dòng máu trong tim về họp mặt
Như nhảy mừng đều nhịp cất tiếng ca
Em thánh thiện thiên thần mang áo trắng
Ôi linh hồn ngàn vẻ đẹp kiêu sa!
10-2-1979.


Trong một phút mơ

Trong một phút mơ bay về dĩ vãng
Thấy em cười duyên dáng cưới chiều mơ
Liễu ru hồn gió hát dệt thành thơ
Khung trời tím nhạt mờ trong sương khói

Trong một phút mơ bay về vạn cõi
Con đường xưa mòn mỏi ngóng trông em
Trời trong xanh nghe nhạt guốc khua đều
Em đã khuất em theo nhiều nỗi nhớ

Trong một phút mơ bay về nhắc thở
Gió ru chiều than thở thấm hồn anh
Tiếng biệt li em vội bước qua nhanh
Về chốn cũ một lần ôm kỷ niệm

Trong một phút mơ bay về xâm chiếm
Cả khung trời rộn tiếng nói yêu ai
Đường mưa bay cây đứng lặng u hoài
Nắng chết lịm hoàng hôn mờ phủ bóng

Trong một phút mơ bay về bên ấy
Thấy em cười tay vẫy khẽ chào nhau
Ánh mắt biết vùi chôn kín thương đau
Và cố giấu u sầu trong giọt lệ.
Đức Cơ, 10-2-1979.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:02:11 PM
Viết cho tôi

Tôi viết bài thơ cho chính tôi
Run run nét chữ rối dăm lời
Âm thầm lặng lẽ nhìn năm tháng
Nước lững lờ trôi in dáng tôi

Bỗng thấy chơ vơ giữa khoảng đời
Bấp bênh thuyền nhỏ sóng mù khơi
Mà sao mưa gió như gào thét
Đánh sập thuyền tan vỡ ước mơ

Từ đó tôi xa dáng mẹ hiền
Xa người em gái nhỏ tôi yêu
Cuộc vui tan vỡ thôi đành hẹn
Hẹn lại kiếp sau sẽ nên duyên

Tôi bước đi theo nhịp quân hành
Chiến y màu lá thắm rừng xanh
Mà nghe chân bước buồn sao ấy
Nghe trái tim rung chặng đường trường

Vẫn biết vì tôi với quê hương
Làm trai nối chí bước lên đường
Theo lời Đảng gọi tìm no ấm
Hạnh phúc đong đầy cho núi sông

Nhưng sao hồn mãi nhờ bâng khuâng
Kỷ niệm ngày xa thoáng hiện gần
Bên hàng thốt nốt chiều nay vắng
Bóng mẹ hiền tôi bóng người thân

Mẹ ơi! Tôi gọi mẹ thật nhiều
Tên người đẹp mộng biết bao nhiêu
Lo tôi từng bát cơm manh áo
Lo miếng quà xinh buổi chợ chiều

Tôi đứng đây trông bóng nhạt nhoà
Nắng chiều ôm núi đứng xa xa
Đàn cò trắng hỡi về đâu nhỉ
Có ghé ngang nhà nhắn hộ tôi

Rằng kẻ ra đi dạo ấy rồi
Phương trời cách biệt sống trăm nơi
Vẫn còn thương lắm con đường nhỏ
Thương lắm quê hương một góc trời

Chiều nay bên ấy buồn không nhỉ?
Và có nhớ thương kẻ ra đi
Đất khách ôm người trai viễn xứ
Quê hương biền biệt buổi chia ly

Ơi cả trời xuân ơi nắng xuân
Hãy hôn lên má má môi hồng
Hôn lên suối tóc mơ huyền diệu
Của người em gái nhỏ tôi yêu

Còn tôi đã quen cảnh núi đồi
Quen hành quân nặng dưới mưa rơi
Quen đôi chân nhỏ luôn nhịp bước
Và cũng quen luôn súng đạn rồi

Trời xa đất lạ dấu chân in
Long-cóp, Tà-sanh, hay Pai-lin
Ba lô con cóc gùi đi mãi
Sống biết ngày nay chẳng biết mai

Súng nổ rền vang xa tận đâu
Chắc là bên ấy lại đánh nhau
Cầu xin Thượng đế bình yên đến
Cho đứa con trai thôi khổ sầu

Hỡi ước mơ xuân xin đừng đến
Với tôi giữa lúc đạn bom rền
Cho tôi yên sóng đời lính chiến
Tháng ngày hiu quạnh giữa rừng thiêng

Tuổi mơ tôi lỡ lần đánh mất
Áo trắng thư sinh đã nhuộm màu
Ngày xa xưa ấy vào quên lãng
Đành thôi chấp nhận những gian nan.
19-6-1979


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:02:33 PM
Ngày tôi đi

Mẹ hiền rưng nước mắt
Sáng sương mờ theo bước tiễn chân tôi
Bàn tay gầy ghi một đời lam lũ
Trên đôi vai mẹ nhắn nhủ mấy lời
"Cố lên con phải xứng đáng là người "
Sao tha thiết hơn một bài chính trị.

Tôi hiểu mẹ vì tôi biết mẹ
Mẹ hiền ơi con nguyện mãi nhớ ghi
Thương mẹ quá làm sao tôi nói hết
Chỉ ngước nhìn bằng ánh mắt xa xăm
Tôi không khóc mà sao môi thấm mặn
Nghe giữa trời trông trải hoang vu
Con chim nhỏ rời xa tổ ấm
Có khi nào còn nhớ tiếng Mẹ ru
"Ầu ơ… con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non"

Tạm biệt người lên xe về chốn lạ
Tay vẫy chào lưu luyến tôi đi
Đường hành quân qua núi rừng xa quá
Thâu đêm dài xuyên gian khổ bước chân
Cơm vắt, muối rang sương chiều ôm lá
Giấc ngủ ngồi lưng gối ba lô
Tôi nghe bên tai lời mẹ dặn dò
"Cố lên con phải xứng đáng làm người"
Lời khuyên ấy như một liều thuốc bổ
Mạnh đôi vai trên vạn nẻo đường dài
Tôi bước tiếp đi như lời mẹ dặn.

Hôm qua nhận được thư mẹ gởi
Sau bốn tháng dài truy quét khắp nơi
Môi ngập ngừng trên nét chữ run run
Lời mẹ khuyên "Đừng nản chí con ơi"
Con của mẹ xứng đáng là con mẹ
Nghe trong ấy cả trời thương mến
Chiều mưa tuôn không thấm lạnh tim tôi
Bởi trong tôi luôn có dáng Mẹ hiền
Khi xung trận bên tôi từng bước tiến
Phiên gác dài trăng nghiêng nòng súng
Mắt quan sát thù, thương nhớ xa xăm
Quê hương đó mẹ tôi còn thức đó
Đang làm gì, ru giấc ngủ em thơ?
Tôi thương lắm người mẹ hiền năm tháng
Nuôi đàn con đâu ngại gian nan
Một nỗi mong con lớn con khôn
Mong xứng đáng làm trai đất Việt
Tôi chiên đấu vì tôi yêu cuộc sống
Của mẹ hiền của đất nước quê tôi
Môi bước chân đi thêm vững bước núi đồi
Như mẹ dặn dò tôi thuở trước.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:03:19 PM
Thương lính

Có những ai qua rồi trong cuộc chiến
Mới nghe lòng thương kiếp sống chinh nhân
Cơm vắt muối rang ấm lòng người linh trận
Giấc ngồi bên sáo muỗi vi vu

Tôi thương lắm vì tôi là lính đó
Áo trận bạc màu sờ rách đôi vai
Tôi biết yêu từng giọt nắng ban mai
Yêu hoa cúc để lòng thương hoa cúc
Hé nở hồng nhưng phải đợi xuân sang
Để thu qua thêm nhuộm úa lá vàng
Cho tơi tả màu trinh trong sương gió…

Tôi thương lắm từng trang sách nhỏ
Ghi tuổi học trò ghi tiếng ve kêu...
Hoàng hôn buông vi vút khúc sáo diều
Cho tôi biết yêu quê hương từ đó...

Tôi thương lắm bụi cây lùm cỏ
Con sông dài dòng nước mát trong xanh
Khói lam chiều ôm ấp mái nhà tranh
Đàn cò trắng lững lờ bay trong nắng

Tôi thương lắm người mẹ hiền khuya vắng
Ngồi ru con dỗ giấc ngủ thâu canh
Tiếng em thơ nhõng nhẽo gọi anh anh
Mỗi tôi đến bên gia đình sum họp

Tôi thương lắm bạn bè dăm bảy đứa
Sông xa phương nơi đây đó đất trời
Thương cho tôi thương cả cuộc đời
Làm lính chiến tôi thương màu áo trận.
Long-cóp, 29-8-1979.


Rồi từ đó

Khoác áo chinh nhân tôi làm người linh chiến
Bước quân hành trên khắp đó đây
Kia núi nọ đây rừng cây lá xếp
Dặm trường in đôi gót nhỏ tôi qua
Chú nai con ngỡ ngàng ánh mắt xa xa
Tôi đền ở, ra đi không biết
Chẳng ngày giờ cũng chẳng cữ kiêng
Bởi tôi là người lính chiến
Lấy đất làm giường thay nệm gối chăn bông
Ánh sao đêm thắp sáng cho đời
Vũng nước bùn say tợ bia hơi
Đường hành quân nắng đốt cháy da
Đêm ngủ dưới trời mưa rơi tầm tã
Gió reo lưng đồi ru kiếp sống chinh nhân
Núi rừng này và nối tiếp bước chân
Tôi đi mãi trong mùi khói đắng
Rồi một chiều trong dạ bâng khuâng
Tôi ra đứng nhìn xa phương trời ấy
Thương cuộc đời phiêu bạt gió mây.
2-9-1979


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:03:47 PM
Thơ vui về Tiểu đội súng cối

Tiểu đội tôi đây có sáu người
Siêng siêng cũng có lắm người lười
Vui vui tôi kể cho đời biết
Có biết thì im chớ chớ cười

Đại Bảng quê hương đất Tam Kỳ
Khoai mì ngập nước phải ra đi
Nghe đâu vào lính năm bảy sáu
Trung sĩ phong rồi phấn đấu mau

A phó Phượng ròm xếp theo sau
Quê hương Nghệ Tĩnh ấy quê choa
Đôi chân nghịch ngợm hay bươi phá
Vui tính anh em đặt hiệu "Gà"

Quang Mập người trai Phú Khánh đây
Núi đồi lồng lộng chẳng đất cày
Củ khoai củ sắn rồi cũng hết
Tình nguyện xin đi bộ đội này

Lộc ngõng quê tận chốn sông Cầu
Đẹp trai nhưng ngặt nước da nâu
Nghe đâu vừa bị con bồ đá
Khiến cậu hận đời xung lính chăng?

Tám út hiệu là sĩ A tôi
Mấy hôm đau bụng đi viện rồi
Vì ăn thịt vịt không nhai nhỏ
Xương xóc phải vào bao tử đau

Thừ sáu là tôi đất Quảng Nam
Mới về A Cối chẳng bao hôm
Tháng trước vừa phong nhầm hạ sĩ
May mắn nào đâu có mấy khi

Tóm tắt đời tư tôi kể hết
Kẻ Nam người Bắc họp lại nên
Sáu người đều trống chưa ai vợ
Nên cũng lạnh lòng với gió đông

Rất muốn quen vài cô gái Miên
Tâm tâm sự sự bớt ưu phiền
Nhưng đều sợ cái đầu xa cổ
Đành phải lặng thinh liếc mắt thèm

Sợ cảnh cô đơn nhìn cuộc sống
Nên Nhà nước nghĩ cũng thương tâm
Cưới liền hai vợ cho năm đứa
Trò chuyện yêu đương với tháng ngày...

Vợ họ màu da đẹp trắng xinh
Vợ tôi lại khác nước da xanh
Ngườỉ ơi đừng nghĩ cho là sốt
Bởi sức vợ tôi có ai bằng

Cả hai cùng chỉ có một tên
Nghe qua sao lắm vẻ êm đềm
Ôm tròn bụng vợ tôi thầm nói
Yêu quá em ơi! "Cối sáu mươi"

Tôi kể người nghe nghe đừng cười
Trong A tổng cộng đủ sáu người
Mà hai con vợ chia sau khắp
Tỷ số quân bình đứa một con

Chọn mặt gởi vàng trên xét ai
Đẹp trai khoẻ mạnh cộng thêm tài
Đào hoa có số trao thân gái
Tôi cũng tự hào được một cô

Chẳng biết vì sao con vợ tôi
Có chân có cẳng lại biếng lười
Đi đâu tôi cũng nai lưng vác
Suốt cả đoạn đường mệt đứt hơi

Lại cái ì lưng không tắm nữa
Nằm chờ con sét nó đền ăn
Vì yêu quý vợ nên tôi phải
Ôm ấp lau chùi bóng nhoáng thôi

Từ lúc có thêm hai cô vợ
Anh em tiểu đội lại vui hơn
Ngày ngày tám tiếng chung trò chuyện
Độ hướng-thước tầm, tiếng thương yêu

Tôi kể chuyện A tôi là thế
Người ơi xin chớ có cười chê
Nếu chê thì hãy ra chỗ khác
Kẻo nó giận rồi nổ thân tan...
Long-cóp + Tà-sanh 12-9-1979


Tiêu đề: Re: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:04:24 PM
Bài thơ viết vội

Thiên hạ làm thơ tôi cũng thơ
Chẳng trong không sáng được thì mờ
Không hồn không ý tôi còn xác
Mấy chữ ngoằn ngoèo cũng gọi thơ

Bát cú thất ngôn kèm tứ tuyệt
Tự do song thất đền trường thiên
Thơ tôi sành lắm nhưng không nhớ
Bởi vậy đừng cười nhé bạn ơi

Giờ tôi tả đến cảnh núi đồi
Không biết đầu đề lấy sao thôi?
Sao ở xa xôi sờ không tới
Lấy đại đề thơ “Trên chốt tôi"

Cây lá ôm ghì màu đất đỏ
Núi rừng trùng điệp xứ Ăng-co
Ngoằn ngoèo con suối không róc rách
Giữa đỉnh đồi cao chục nóc nhà

Buồn đời xe hết dám ngang qua
Chỉ có đồi cao dưới xóm nhà
Vui buông quấn quít cùng năm tháng
Buồn với chiều mưa vui với trăng

Vững giữa đồi cao mà đứng gác
Cắt đường thằng địch hết qua ngang
Cho đời yên sống vui hạnh phúc
Cho các em thơ đến dưới trường

Thằng địch nếu đêm tập kích vào
Chốt tôi vững chắc há nung nao
Sẵng sàng tay súng tôi bắn trả
Đã có quanh tôi những chiên hào

Trên chốt, tôi làm thơ cho tôi
Không hay, không dở, cũng chẳng tồi
Không đăng báo được, tôi hút thuốc
Có thế thôi mà, có thế thôi...
Trên chốt, 15-9-1979.


Đêm trên chết

Đêm trên chốt nghe lạ lùng chẳng biết
Những người dân chưa một lần chinh chiến
Đêm trên chốt quen tên vần thơ truyện
Và quen thân người lính biên cương
Cả cuộc đời bạn với gió sương
Bạn với rừng cây con suối quả đồi
Màu đất đỏ hòa chung màu máu
Đổ xuống nơi đây cho cây lá đâm chồi

Súng ăn no đạn lên nòng chờ sẵn
Hướng bìa rừng nhìn gấp mấy lần căng
Lắng đôi tai qua từng tiếng động
Và chờ nghe tiếng giặc xung phong

Khuya rồi vai áo ướt
Gió ru lạnh đêm sương
Gió khuyên người chiến sĩ
Ngủ đi và ngủ đi
Sáng mai nhiều việc còn
Giữ chốt vững thành đồng
Xứng đáng với núi sông

Đêm trên chốt êm đềm hoang vắng
Có tiếng côn trùng hoà khúc nhạc quen tai
Từng đêm từng đêm nối tiếp đêm dài
Người lính chiến vẫn bên đoạn hào trên chốt
Thức đôi tai và tròn xoe đôi mắt
Súng bên người lạnh từng cơn gió rét
Đạn sẵn lên nòng chờ tiếng giặc xung phong
Chốt Tà-nghèn, 5-10-1979.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:04:56 PM
Trăng hạ tuần

Khuya rồi trên chốt gác dưới trăng
Ngước mắt nhìn xem dáng chị hằng
Hôm trước vừa xuân nay đã hạ
Nghĩ đời sao ngắn quá ơi trăng

Mải miết đùa vui nơi phố thị
Núi rừng hiu quạnh nhớ mà chi
Chắc giờ nơi ấy đà hoang vắng
Nên mới ngại ngùng bước chân đi

Làm lính tiền đồn yêu mến trăng
Yêu từng giọt sáng ánh vàng trong
Giận trăng vì cớ gì đền trễ
Cho núi đồi mê mải chờ trông.
Tà Nghẽn, 10-10-1979


Chuyện con đường

Anh không về quê hương kể em nghe
Chuyện con đường in bóng hàng tre
Con đường nhỏ như nụ cười tươi trẻ
Dấu bàn chân che bóng anh qua
Quê hương ta...
Đâu thiếu những con đường
Nhuộm lá yêu thương
Đêm trăng về hai đứa mình mơ ước
Bên em anh kể chuyện ngày xưa
Em mỉm cười mái tóc đong đưa

Hôm nay anh kể chuyện con đường
Anh đã đi qua em chưa lần đến
Con đường nhỏ nhuộm màu lá đẹp
Ghi lòng anh trên những bước chân
Có lá có hoa ngát hương thơm dào dạt
Có chú nai tơ nhìn ánh mắt ngỡ ngàng

Đâu phải đường Trường Sơn
                     nhuộm nắng ban mai
Con đường dẫn đến tương lai
Anh đang đi và đang đi mãi
Con đường không tính bằng cây số
Đi bằng ngày đường in nét kẻ bản đồ
Ô nối tiếp ô
Vạch bút chì cắt từ ô nhỏ
Trinh sát đi đầu cỏ tre gục xuống
Tranh nghiêng người né bước chân qua
Suối róc rách chào anh chiến sĩ
Chim rừng vui hót chúc người đi
Vượt núi băng sông
Con đường dẫn anh đi tìm cuộc sống
Cho đất người nở cánh hoa tươi
Cho dân Campuchia thoát vòng diệt chủng
Em nhé! Anh sẽ hẹn một ngày xa tới
Về quê hương anh kể em nghe
Chuyện con đường có bóng hàng tre
Anh đi qua bằng bước quân hành tuổi trẻ.
Chốt Tà-nghèn,16-10-1979.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:05:44 PM
Xa chốt

Chào chốt nhé ta đi
Chào tất cả những gì
Trong căn nhà hầm ta dựng nên
Mai này ta lại đến
Nơi ta chưa một lần đến
Nơi ấy cũng rừng núi cũng đồi cao
Nóng bỏng thay đoạn giao thông hào
Chiếc áo giáp che từng viên đạn địch
Mai đây giã biệt
Nghe lòng mình xao xuyến bước chân
Đời lính chiến buồn vui trên vạn nẻo quân hành
Xa rồi ta nhớ...
Ghi lòng ta bao kỷ niệm nên thơ
Sáng mai chốt rồi
Lưỡi cuốc mang theo lật thêm màu đất mới
Đất xa ta nhưng ta vào đất lạ
Bên ta đất che chở cho ta
Ta giữ đất đất nuôi ta sống
Đất nuôi đời ươm lá mầm non
Ta sẽ đến nơi đâu còn bóng giặc
Biên giới này biên giới quê hương
Đẹp sao như những con đường
Màu đất đỏ dẫn ta vào chốn mới
Ta đứng vững vì ta chiên thắng
Ta sẽ vui và đang đi tới
Đất nước này đẹp những cánh hoa tươi
Đêm xa chốt, 18-10-1979.


Tình đồng đội

Này bạn, này đồng chí tôi ơi!
Nhanh lẹ vào đây vui với tôi
Một mẩu thuốc tàn vừa kiếm được
Bên trong đống rác ở ven đường
Đồng chí làm hơi, tôi làm hơi
Hút cho quên lãng cả đất trời
Cho bay tâm trí cho quên hết
Quên hết mộng mơ, quên hết đời
Ta chỉ còn đây ta với ta
Quạnh hiu giữa chốt tháng ngày xa
Lúc ghiền bươi rác tìm mẩu thuốc
Nhớp nhúa vi trùng ta cho qua
Trên chốt B6 14-4-1980.

Nhật ký mang theo
Xa quê hương đánh giặc tận trăm miền
Bút mực nào kể hết chuyện hôm nay
Nhật ký mang theo là những gốc cây
Ghi bao kỷ niệm mến thương đời lín
Đường hành quân xuyên qua từng giấc ngủ
Vo ve nhạc muỗi ngỏ lời ru
Lưỡi lê súng bỗng dưng thành bút sắt
Viết vào đây dòng nhựa đỏ chảy ra
"Kỷ niệm một chiều tháng ba..."
Bao nhiêu ấy cũng làm tôi nhớ mãi
Bóng mẹ hiền vào trận chiến hôm nay
Phút giải lao cũng vội vàng để lại
Kỷ niệm tháng ngày hai tiếng "Mẹ ơi!"
Mẹ ơi! Con nhớ mẹ đêm này...
Lúc leo dốc xung phong vào đồn giặc
Súng địch im rồi đi vào chiến thắng


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:06:04 PM
Buổi sáng phục kích

Mặt trời còn ngủ say
Đã thức dậy vội vàng
Bao xe đạn gọn gàng
Chúng tôi đi phục kích
Trên con đường tĩnh mịch
Dấu mòn bước chân qua
Rừng xanh ru tiếng lá
Vui vui con chim nào
Tiếng hót thánh thót cao
Chim vui chim có hay
Những chàng trai chiến sĩ
Không quê hương nơi đây

Chim vui chim có hay
Lũ bạo tàn Pôn-pốt
Không một chút nương tay
Giết người không gớm tay
Đập đầu thiêu tro đốt
Tàn ác hơn Hít-le
Chim vui chim có nghe
Tiếng người dân vô tội
Rên xiết khắp đất trời
Chúng muốn biến Ăng-ko
Xinh tươi thành địa ngục
Cái mưu đồ diệt chủng
Đã hai triệu người dân
Thành tro than bón ruộng
Chim vui chim có hay
Nghìn em bé "chăn thay"
Tuổi đầu vừa lên bảy
Bơ vơ khắp mọi miền
Cha mẹ bị chúng giết
Búa đập đầu máu rơi
Giờ ta nói chim ơi!
Cuộc vui thôi hãy tạm
Theo ta làm cách mạng
Quét sạch lũ hung tàn
Cho đất nước ngàn năm
Trời xanh tươi thế kỷ
Muôn hoa thơm đua nở
Lung linh bóng Ăng-ko
Cho trăm nghìn em nhỏ
Tung tăng dưới mái trường
Mùa xuân về trở lại
Đất nước đẹp ước mơ
Việc cách mạng còn nhiều
Tuổi nhỏ làm việc nhỏ
Chim bay chim dẫn dường
Ta đi vào phục kích
Chim bay trên đầu địch
Chim báo hiệu cho ta
Đường dài đường còn xa
Ta đi thôi chim hỡi
Lào xào lá dưới chân
Điểm phục đã đến gần
Mìn địch giăng ta gỡ
Nắng hồng đẹp nên thơ
Ta như người thợ săn
Đang rình mồi thằng địch
Bên gốc cây im lìm
Chờ nghe tin chiến thắng...


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:06:32 PM
Tình đồng chí

Cơm ăn chung, chiếu ngủ chung
Bót kem khăn mặt vẫn dùng đôi ba
Thuốc rê một điếu phì phà
Tới năm bảy miệng có là sao đâu
Lúc công tác lúc ốm đau
Lúc thương, lúc bệnh giúp nhau từng giờ
Tình đồng chí là bài thơ
Dệt vần tha thiết dưới cờ tự do.
Ngày 11-7-1980


Mẹ có biết không?

Mẹ có biết không đêm nay trời trở lạnh
Đứa con trai đang ngủ giữa rừng xanh
Chiếc võng tấm tăng không ngăn nổi gió mùa
Cơn rét buốt mưa ngày chưa ngớt
Mỗi bước chân đi đất nhầy trơn trợt
Bộ chiến y thấm ướt bốc lên mùi

Đường hành quân đi nối bước cha ông
Con lớn lên trong dạn dày mưa nắng
Mang chí căm hờn trên đôi vai nặng
Đi diệt thù giữ đẹp giữ màu xanh
Cho đất nước Ăng-ko tươi đẹp yên bình
Đường thốt nốt ngọt ngào đoàn kết
Điệu múa lăm thôn thêm tha thiết dịu hiền
Con của mẹ đã lớn lên từ chiến trường lửa khói
Bởi đoạn đường đi có thấm máu rơi
Có trong tim tình yêu bất diệt muôn đời
Yêu tổ quốc yêu những người cùng khổ
Lòng ấm lại trên đoạn hào biên giới
Con đi theo lời Đảng gọi
Tự do, áo ấm cơm no
Cho những ai còn khổ
Tuổi thanh xuân con xin dâng trọn
Cho Tổ quốc mình, cho Đảng quang vinh
Dù mưa tuôn, dù đất nhầy trơn trợt
Lắm muỗi rừng lắm vắt lẫn máu rơi
Dù phong ba bão táp đầy trời
Đi theo Đảng con nguyện lòng đi tới

Con của mẹ đã lớn lên rồi trong ấy
Khói lửa chiên trường mẹ chưa lần trông thấy
Đêm nay trời lạnh gió đông
Nơi quê nhà mẹ có biết không?
9-7-1980


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:07:09 PM
Thư gởi mẹ

Con gởi mẹ lá thư viêt từ biên giới
Nơi chiến trường nơi lửa khói máu rơi
Súng nổ rền vang từng giờ từng phút
Đồng chí của con vừa ngã xuống rồi
Quê hương mình giờ có nắng mẹ ơi?
Giữa đỉnh Pai-lin chiều nay mưa vội
Áo trận ướt mềm con ngồi phục kích
Bên kia biên giới thằng địch
Biết chiều nay chúng có lội sang?
Khẩu súng bao xe con đã sẵn sàng!

Gió thổi mạnh không xua tan bầy muỗi đói
Con vắt thật nhiều hút máu chảy đỏ tươi
Lòng mênh mang nhìn chiếc lá vàng rơi
Nơi đây là vùng biên giới
Điểm chốt trên đồi cao lắm mẹ ơi!
Ngày nắng mòn lưng theo gùi nước
Đất khô đâu thấy bóng cải trời
Bữa canh rau phải từ xa đem tới
Ăn quá ngon hơn mọi thứ trên đời

Con vẫn khỏe mẹ ơi con nhớ!
Tháng ngày xưa như những giấc mơ
Áo ướt chiều mưa tan trường nghịch nước
Mẹ thay cho con chiếc mới vội vàng
Đâu rồi một khoảng thời gian
Con của mẹ lớn lên đi làm chiến sĩ
Mưa ướt áo hoài vạn nẻo quân hành đi
Đâu có mẹ bên chiều nay thay áo mới
Nhớ thương ơi, cao ngất đất trời.
Con nhớ mẹ nhưng mẹ ơi có nhớ
Có thương con xin hãy yên lòng
Đất nước thanh bình nhiệm vụ làm xong
Ngày trở lại quê hương sum họp
Con sẽ kể thật nhiều chuyện trên đỉnh chốt
Có vắt có muỗi rừng nhiều lắm mẹ ơi!
Có súng nổ đạn rền và có máu rơi
Đất khô không có cải trời
Nhưng tình yêu có trăm nơi chất chồng
Điểm cao B6, 9-9-1980


Viết cho em

Anh việt cho em giữa đất này
Pai-lin-biên giới nắng ngày đêm mưa
Anh viết cho em vào lúc ban trưa
Lửa khói chiến trường còn vương mùi khen khét
Thằng địch bò vào tập kích
Đất đá tung trời những quả đạn B40
Vội vàng ôm cây súng ra công sự
Đồng đội anh đã dừng lại giữa chiến hào
Nghe đau thương căm giận nghẹn ngào ~

Anh viết cho em giữa trời biên giới
Nơi đây nhiều cạm bẫy giết người
Đi cải thiện vướng mìn máu chảy
Thịt người còn lủng lẳng cành cây
Và viết cho em bên gốc cây
Trong rừng thẳm anh ngồi phục kích
Đâu rồi dấu chân thằng địch
Lén lút từng nơi đi phá yên lành

Anh viêt cho em giữa trời li loạn
Miền biên thùy sương gió đời trai
Nhớ thương cao vút trời mây
Em ơi hãy đợi đến ngày đoàn viên
13-7-1980


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:07:57 PM
Đất kim cương

Ngồi trông xa vùng trời Pai-lin
Mảnh đất cuối cùng của đất nước bạn
Mảnh đất cuối cùng chứa chất đầy bom đạn
Bẫy chông, mìn giăng khắp đó đây
Ai bảo kim cương trên chốt đất này?
Chỉ thấy máu hoà cùng máu chảy
Núi chất chồng cao lên vun vút
Xanh um rừng rậm cỏ cây
Mỗi bước chân đi gập ghềnh chiếc bẫy
Mìn nổ vang rền, thịt nát xương bay
Kim cương đâu trên mảnh dết này?
Trên con đường đỏ ngầu máu chảy!

Anh chưa về thăm em
Anh chưa về thăm em
Khi chiến trường ngập lửa từng đêm
Đạn réo bom rơi súng nổ vang rền
Máu vấy máu trong những giờ xung trận

Anh chưa về thăm em
Lúc chiều sương thấm ướt mềm
Phục kích từng đêm tròn xoe đôi mắt
Cái rét run run nhưng thêm bầy muỗi vắt

Giữa rừng khuya anh nhớ đến em
Kỷ niệm nào thật đẹp những đêm trăng
Dối cha hai đứa vờ đi học tổ
Có ai biết mình mang theo sách vở
Để ghi chuyện tình và chuyện lứa đôi
Trao nhau từng ánh mắt bờ môi
Nghe trái tim yêu thương

Đêm nay ngồi phục kích giữa mùa trăng
Bỗng vang bên tai lời em dặn
Nhớ về thăm em, ôi thương quá
Màu áo học trò em gái phương xa

Anh chưa về thăm em
Khi chiến trường đạn bom réo gọi
Máu vẫn chảy giữa rừng biên giới
Khi mảnh đất còn khét mùi thuốc súng
Anh chưa về thương quá em ơi!
14-7-1980


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:09:58 PM
Bạn hy sinh

Trưa hôm nay
Con chim rừng không hót
Mây buồn ôm kín núi non
Tin anh mất bay vội về trên chốt
Tôi ngẩn ngơ như kẻ mất hồn
Anh ơi! Đồng chí!
Giọt lệ nhoà thương tiếc người đi


Sáng hôm nay

Cục cơm vắt và khẩu súng trong tay
Anh đi vào trận tuyến
Nơi phục kích là nơi nhận diện
Quân thù kia có mặt giữa rừng xanh
Tiếng xung phong vang dội âm thanh
Anh xông tới quân thù bạt vía
Anh xông tới anh là người chiên thắng
Anh ngã xuống rồi cho đẹp mãi đêm trăng
Anh ơi anh! Ơi người đồng chí
Vội vàng sao một sớm ra đi
Tuổi thanh xuân anh tô thắm đất trời
Mãi nhớ trong tôi tên anh người chiến sĩ


Nghĩ về cái chết

Đời người ai không một lần chết
Chết sao cho rạng rỡ thanh danh
Chết ốm đau, cái chết đã đành
Chết vì già yếu là trời định
Chết trước quân thù mới chết vinh
Chết không khúm núm không sợ sệt
Trước súng giặc thù vẫn đứng lên
Chết như thế ta không tiếc chết
Chết để cho đời mãi nhớ tên
Chết rủi ro ấy trời đã định
Chết vì tự tử chết đáng khinh
Cho thiên hạ suốt đời mai mỉa
Nhục nhã nghìn thu tiếng để đời
Đời chỉ một lần chết ai ơi
Chết sao cho xứng với cuộc đời
Ta hãy hiên ngang dù phải chết
Để người mãi nhớ sử ghi danh.


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:10:27 PM
Réo gọi

Tôi réo gọi từng lời trong nhịp thở
Trả lại đây ngày ấy còn thơ
Tuổi rong chơi tôi lỡ lần đánh mất
Tiếc thương sao cho mãi đến bây giờ
Trả lại đây áo học trò trong trắng
Bên bạn, bên thầy, bên tấm bảng đen
Hè vội đến ve sầu gọi nắng
Tiếng chia ly phượng nở đỏ sân trường

Trả lại đây dòng sông bao mến thương
Với cây đa che bóng bên đường
Buổi đi học về vui mải đánh bi
Quên cả cơm trưa mẹ phải đi tìm

Trả lại tôi tiếng cười vô tư ấy
Không vướng buồn khi nhìn dải mây bay
Mùa xuân đến mẹ may áo mới
Lỡ một lần đánh mất tuổi thơ

Ôi thời gian xin một lần dừng lại
Quay ngược về chốn cũ xa xưa
Ôi nàng tiên huyền diệu ngày xưa
Cho tôi trở lại tuổi thời niên thiếu.
16-7-1980


Tôi đi

Tôi đi vào ngày ấy
Hồn theo gió xa bay
Trong khung trời xanh thẳm
Nhìn nắng xuống cuối ngày

Tôi đi vào cõi ấy
Mùa thu nghe lá bay
Một lần ôm kỷ mềm
Vùi chôn thoáng dâu đây

Tôi đi vào chốn cũ
Chiều mây đến âm u
Thôi rồi tan vỡ mộng
Vào một ngày cuối thu

Tôi đi vào cõi chết
Mang theo nhiều dấu vết
Người yêu nhỏ quay lưng
Tan rồi bao mộng dệt

Tôi đi vào nẻo vắng
Nhìn lá úa băn khoăn
Một lần mơ lá chết
Hồn thấm lạnh cô đơn

Tôi đi vào biển hát
Một chiều rơi nắng vàng
Hàng dương mờ bóng dỗ
Ngoảnh mặt nhớ bàng hoàng

Tôi đi vào dĩ vãng
Dư hương rộn tiếng vang
Con đường yêu đã chết
Chân bước mau vội vàng

Tôi đi vào kỷ niệm
Khơi nhịp đập con tim
Nhìn con thuyền lờ lững
Gió lặng sóng im lìm

Tôi đi vào chiều hẹn
Đầy trời mây nhuộm trắng
Hồn vương bao nỗi nhớ
Gió đưa nắng xuống thềm

Tôi di vào trong mơ
Nhìn thấy em đứng chờ
Bên kia dòng sông vắng
Tôi chợt thấy bơ vơ

Tôi đi vào quên lãng
Mùa xuân phơi nắng vàng
Con đường nhuộm bóng mơ
Qua rồi bao dĩ vãng!


Tiêu đề: Tây tiễn viễn chinh - Trần Duy Chiến
Gửi bởi: ptlinh trong 15 Tháng Bảy, 2008, 03:11:22 PM
Tặng vật quý giá của một thời lịch sử

Lời bạt của nhà thơ
Phạm Tiến Duật


Qua nhà thơ, nhà báo Đặng Vương Hưng và anh Trần Duy Dũng, em trai liệt sĩ Trần Duy Chiến, tôi được cầm trên tay tập nhật ký của một trong những người con của Đà Nẵng anh hùng.

Trong những năm chống Mỹ cứu nước, tôi đã nhiều lần đến với các tỉnh miền Tây Cam-pu-chia, và ở chặng đường sau, chặng đường tình nguyện quân giúp bạn chống lại bọn Pôn-pốt diệt chủng, tôi lại có dịp trở lại Cam-pu-chia. Áy là năm 1986, khi đó Trần Duy Chiến đã hy sinh 6 năm rồi.


Năm 1986 là năm nhân dân Cam-pu-chia đã gần như làm chủ được vận mệnh của mình, đội quân của Pôn-pốt đã tan tác thành các tốp phỉ trôi dạt trong các cánh rừbg bên kia biên giới phía Tây của họ. Thế mà tôi còn thấy bao mất mát, còn thấy bao gian lao. Năm 1986 còn thế, huống hồ những năm 1978 - 1980, những năm Trần Duy Chiến trực tiếp chiến đấu.


Với riêng tôi, cuốn nhật ký và thơ sáng tác tại trận này trở nên hấp dẫn lạ thường, bởi phải lần theo bàn chân người chiến sĩ để nhớ lại những năm tháng lạ lùng, không thể gặp ở bất kỳ đâu trên thế giới này, không thể lặp lại ở bất kỳ thời gian nào.


Tại Nông Pênh, đồng chí Lê Đức Anh, Tư lệnh Bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Cam-pu-chia (chặng đường sau đồng chí là Chủ tịch nước) và đồng chí Đoàn Khuê, Tham mưu trưởng (chặng đường sau là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng) đều cùng đặt câu hỏi với tôi là tại sao, tại sao, tại sao bọn Pôn-pốt lại có thể giết hại đồng bào của chúng tàn ác đến thế


Trong nhật ký ngày 15-9-1979, có đoạn Trần Duy Chiến ghi: "… Hôm ở Long-cóp, khi đi truy quét qua một khu rừng, tôi có dịp chứng kiến những cảnh tượng ghê rợn: Người bị chết dưới hục nước chưa tan, có kẻ thịt đã bấy ra như mắm. Con nít có, người lớn có, chín mười xác người bị chất chồng lên nhau để đốt. Có người chỉ cháy cái đầu, cái mình còn lại khô queo và vàng cháy như một khối thịt quay. Nhiều lắm, cả một khu rừng chớ đâu phải ít. Đi ngang khu rừng, cả đơn vị như chạy. Cái khăn ướt luôn che kín mũi, tuy thế mùi thối nồng nặc vẫn xông lên tận óc".


Đất nước ấy đã trải qua những năm tháng rùng rợn của nạn diệt chủng nhưng cũng không làm mất đi cảnh sắc hùng vĩ của một mảnh đất văn hoá dày dặn. Đọc nhật ký, tôi bắt gặp cảnh tượng Trần Duy Chiến đứng ngạc nhiên trước các con đê khổng lồ của đất nước ấy.


Vâng, tôi đã nhiều ngày bay trên trực thăng dọc dài biển hồ Tông-lê-sáp và đã trông thấy hệ thống thuỷ lợi của Cam-pu-chia. Biển hồ của đất nước ấy cho người dân bao nhiêu là cá, là đất mùm phì nhiêu, nhưng cũng gây họa không ít. Mỗi khi Biển Hồ dâng nước ngập đến các tỉnh miền Tây. Khi nước rút, để lại một vùng đất phèn mênh mông. Múc bát nước ở bất kỳ nơi nào, để một lát đã thấy đầy cặn vàng. Và muỗi, sốt rét ác tính dữ dội.


Trong nhật ký, ngoài cái bệnh đau bụng, chính Trần Duy Chiến cũng bị các cơn sốt hoành hành. Trần Duy Chiến còn phải băng qua những gì của những tháng ngày gian nan ấy? Anh và đồng đội phải băng qua một vùng đất bị gài mìn khắp nơi. Có một thời, Cam-pu-chia là bãi mìn rộng nhất và dày đặc nhất thế giới.


Năm 1986, tôi sang lại, năm mà bộ đội tình nguyện của ta sắp rút về nước mà tôi không thể nào thăm được Ăng-ko-thom. Chỉ có thể bay trực thăng xung quanh mà ngắm. Bộ đội không cho tôi vào: Xung quanh đền tháp đầy mìn! Tôi đã đặt chân vào Ăng-ko-vát, hiểu được một phần về các triều đại Gia-y-a Vác-man và Xu-ri-a Vác-man; hiểu một phần về các phiếm đá khổng lồ của các đền mộ táng mà không hiểu được cái tai hoạ ghê gớm mà nhân dân Cam-pu-chia phải chịu đựng mà những người chia sẻ là biết bao người con ưu tú của Việt Nam ta, trong đó có Trần Duy Chiến.


Cũng như Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thuỳ Trâm, Hoàng Kim Giao, Hoàng Thượng Lân, Trần Minh Tiến... và bao người con ưu tú khác của Đất nước, Trần Duy Chiến mãi mãi tuổi 20, mãi mãi đồng hành cùng tuổi trẻ và nhân dân cả nước. Những câu văn chưa kịp sửa, những dòng thơ chưa kịp chiết, dường như còn lấm đất chiến hào của Trần Duy Chiến sẽ là tặng vật quí giá của một thời lịch sử gửi tới bạn đọc


Hà Nội, tháng 12-2005
P.T.D