Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Văn học chiến tranh => Tác giả chủ đề:: canaris trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 05:17:21 pm



Tiêu đề: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: canaris trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 05:17:21 pm

(https://www.dtv-ebook.com/images/cover_1/muoi-bay-khoanh-khac-mua-xuan-iulian-xemionop.jpg)

Tác giả: I-u-li-an Xê-mi-ô-nốp
Người dịch: Đặng Lan
Nhà xuất bản: Tiến bộ Mát-xcơ-va
Số hoá: hoi_ls, ptlinh, canaris, stirlitz


Kính tặng hương hồn cha tôi.


Chương 1

Lúc đầu, Sơ-tiếc-lít không tin vào tai mình nữa, có tiếng hoạ mi hót lảnh lót trong vườn. Không khí lạnh giá, nhuốm màu xanh xanh, và mặc dù vạn vật xung quanh đã mang sắc thái mùa xuân rụt rè giống như một bức tranh màu vẽ bằng thuốc nước tinh tế, tuyết vẫn còn kết lại chặt cứng và người ta chưa thấy nó nhuốm màu thiên thanh phơn phớt, là cái màu báo hiện đến đêm sẽ tan.


Những thân cây cổ thụ khổng lồ đen sẫm lại. Trong vườn thoang thoảng mùi cá vừa ướp lạnh. Chưa thấy cái mùi hăng hăng của lá cây thông và cây dương năm ngoái thối rữa; đó là mùi vị của mùa xuân. Thế mà lại có tiếng hoạ mi véo von, lảnh lót tràn ngập khu vườn tối om và yên tĩnh này.


Sơ-tiếc-lít nhớ đến ông nội của anh. Ông cụ có cặp lông mày dày, có bộ râu quai nón. Ông cụ biết nói chuyện với các loài chim. Ông cụ gọi đàn chim sẻ bay đến, rồi ngồi dưới gốc cây mà ngắm chúng hồi lâu. Đôi mắt của ông cụ đưa đi đưa lại nhanh như mắt chim, và bầy sẽ hoàn toàn không sợ hãi ông cụ.

-Pinh-pinh-ta-ra-ra!-ông cụ huýt sáo gọi.

Bầy chim sẻ đáp lại một cách vui vẻ và tin cậy.

Mặt trời đã lặn hẳn và những thân cây cổ thụ màu đen in những cái bóng đều đặn, tím sẫm trên mặt tuyết trắng.

Mặt trời đã lặn hẳn và những thân cây cổ thụ màu đen in những cái bóng đều đặn, tím sẫm trên mặt tuyết trắng.

“Mày chết cóng mất thôi, hoạ mi đáng thương ơi,-Sơ-tiếc-lít nghĩ bụng. Anh khép vạt áo choàng lại và quay vào nhà.-Cũng chẳng giúp gì nó được, vì hoạ mi là loại chim duy nhất không tin con người.

Sơ-tiếc-lít xem đồng hồ; đã bảy giờ đúng.

“Hắn sắp tới rồi đây,-anh thầm nghĩ.-Bao giờ hắn cũng đúng hẹn. Mình đã tự đề nghị hắn từ nhà ga đi thẳng qua rừng đến đây, để tránh mặt bất cứ ai. Không sao. Mình sẽ đợi hắn một lát. Chờ đợi ở một chỗ đẹp như thế này cũng dễ chịu thôi.

Sơ-tiếc-lít bao giờ cũng tiếp tên điệp viên ấy ở đây, trong cái biệt thự nhỏ xinh xắn đứng bên bờ hồ. Địa điểm bí mật này là nơi thuận tiện nhất, vì nó ở giữa rừng sồi vắng vẻ, xa cách hẳn mọi người. Biệt thự này trước kia là của hai vợ chồng nghệ sĩ, múa tại nhà hát Ô-pê-ra. Họ đã chết trong một trận ném bom, để biệt thự lại cho các con. Sơ-tiếc-lít thuyết phục thượng thướng SS Pôn trong ba tháng liền, để y đồng ý chi tiền mua biệt thự đó. Mấy đứa con của hai vợ chồng nghệ sĩ nọ đòi rất đắt, cho nên thượng tướng Pôn, kẻ phụ trách Cục tài chính của hai tổ chức SS và SĐ, cương quyết từ chối lời thỉnh cầu của Sơ-tiếc-lít. Y nói: “Ông điên à? Sao ông không tìm mua một chỗ nào rẻ hơn? Sao ông say mê cái biệt thự xa xỉ ấy đến thể nhỉ? Chúng tôi không thể vung tiền qua cửa sổ được đâu! Như vậy là quá ư tàn nhẫn đối với một đất nước đang mang gánh nặng chiến tranh như nước ta.


Sơ-tiếc-lít đành phải lôi cấp trên trực tiếp của mình đến xem biệt thư. Đó là Van-te Sê-len-béc, ba mươi tư tuổi, thiếu tướng, chỉ huy Cục tình báo chính trị của tổ chức SĐ. Là một người có trí tuệ siêu việt biết thưởng thức vẻ đẹp tinh tế, Sê-len-béc hiểu ngay rằng không thể tìm đâu được địa điểm nào tốt hơn để nói chuyện với các điệp viên quan trọng, bằng biệt thự này. Việc mua bán được tiến hành qua một số người mạo tên. Và gã Bôn-đen, kỹ sư trưởng của nhà máy hoá chất quốc dân mang tên Rô-béc Lây nhận được quyền sử dụng toà biệt thự. Bôn-đen thuê ngay một người gác cổng với tiền lương khá cao và cho ăn đầy đủ. Cái gã Bôn-đen ấy chí là đại tá SS Phôn Sơ-tiếc-lít.


Bày bàn ăn xong, Sơ-tiếc-lít vặn ra-đi-ô. Đài phát thanh Luân Đôn đang truyền đi một bản nhạc vui. Dàn nhạc của một người Mỹ tên là Gơ-len Min-lơ đang chơi một khúc nhạc trong phim Khúc nhạc chiều của thung lũng mặt trời. Thống chế Him-le rất mê bộ phim ấy, nên đã cho mua bên Thuỵ Điển một bản mang về. Từ đó, nó thường được đem ra chiếu trong hầm ngầm ở phố Hoàng tử An-bơ-rếch, nhất là giữa các trận ném bom đêm, khi không thể tiến hành hỏi cung những người bị bắt.

Sơ-tiếc-lít gọi dây nói cho người gác cổng chạy lên. Anh bảo:

-Hôm nay, anh có thể về nhà với các con. Sáu giờ sáng mai, anh hãy trở lại đây, và nếu tôi chưa đi, thì anh hãy pha cho toi một cốc cà-phê đặc, thật đặc vào, rõ chưa?

“Uy-xơ-tác gửi A-lếch-xơ.
Từ Béc-lanh.

Tin tức về thành phần quân số của tập đoàn quân ở mặt trận phía Đông trong tháng Hai.


1. Tập đoàn quân Cuốc-la-đi-a
20 binh đoàn
Tổng số quân
232 nghìn người
Số tay súng
110 nghìn tên
2. Tập đoàn quân Phương Bắc
28 binh đoàn
Tổng số quân
384 nghìn người
Số tay súng  
141 nghìn tên
3. Tập đoàn quân Vi-xơ-la
37 binh đoàn
Tổng số quân
527 nghìn người
Số tay súng
280 nghìn tên
4. Tập đoàn quân Trung tâm
43 binh đoàn
Tổng số quân
413 nghìn người
Số tay súng
191 nghìn tên
5. Tập đoàn quân Phương Nam
35 binh đoàn
Tổng số quân
449 nghìn người
Số tay súng
143 nghìn tên
Tổng cộng:
Số quân
2 triệu 5 nghìn người
Số tay súng
865 nghìn tên
   
Nguồn tin này do một trung tá quân dự bị cung cấp.
UY-XƠ-TÁC..”


Tiêu đề: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: Stirlitz trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 05:24:02 pm
“Sơ-vác gửi A-lếch-xơ.
Từ Viên

Nội dung-số lượng quân dự bị tính đến ngày 1-2-1945:


a. Số quân dự bị, kể cả bệnh binh đã ra viện
546 nghìn người
b. Số quân thường trực của các đơn vị quân đội đang huấn luyện
147 nghìn người
c. Học viên các trường và lớp quân sự
113 nghìn người
d. Số tên đang chạy chữa tại các quân y viện
650 nghìn người
e. Các đơn vị hậu vệ binh
205 nghìn ngườ
g. Các đơn vị đồn trại
18 nghìn 500 người
h. Các đơn vị quân vụ và đơn vị khác trong quân đội
143 nghìn người
i. Số nhân sự không tính trong danh sách bộ đội
310 nghìn người
Tổng cộng:
2 triệu 132 nghìn 800 người
                                      
Nguồn tin này do nhân viên tốc ký OKW cung cấp.
SƠ-VÁC”



“Gơ-rét-ta gửi A-lếch-xơ

Các tài liệu thu được cho phép kết luận rằng, trong tháng giêng năm 1945, nền công nghiệp Đức đã sản xuất:
đạn dược-nhiều gấp 3 lần năm 1941
vũ khí-nhiều gấp 2 lần năm 1941
xe tăng-nhiều gấp 7 lần năm 1941
máy bay-nhiều gấp 3 lần năm 1941
tàu chiến-nhiều gấp rưỡi năm 1941

Nguồn tin này do viên thư ký của trợ lý Bộ trưởng Đức quốc xã Sơ-pe-rơ về các vấn đề kế hoạch hoá, cung cấp.
GƠ-RÉT-TA”



“Dích-phơ-rít gửi A-lếch-xơ,
 từ Cô-pen-ha-gơ.

Hôm qua, một chiếc tàu treo cờ Tây Ban Nha đã nhận lên tàu hai sĩ quan tình báo SĐ cao cấp. Chiếc tà Màu xanh da trời đã nhổ neo đi Xtốc-khôm. Hai sĩ quan tình báo SĐ kia lên tàu với thẻ căn cước kỹ sư thuỷ văn. Ra tiễn họ là Sê-len-béc, chỉ huy Cục tình báo chính trị.
Nguồn tin này do bộ phận đặc trách quân cảng cung cấp.
DÍCH-PHƠ-RÍT..."



“An-gie-la gửi A-lếch-xơ,
từ kuyn-khen

Có một số xe của các sĩ quan SS cao cấp đã chạy tới Sở an ninh thành phố. Tại đấy, chúng thay xe khác, thường dùng loại xe của các hãng Pháp hay Mỹ và đi sang Thuỵ Sx trên những chiếc xe này. Trong ngày hôm qua đã có 5 chiếc xe như thế chạy sang Thuỵ Sĩ.
Nguồn tin này do thợ máy của phòng kỹ thuật ô tô khu vực biên phòng cung cấp.
AN-GIE-LA..."



“Tô-mát gửi A-lếch-xơ.
Từ Lép-dích

Hàng ngày nhà băng thương mại chuyển những khoản tiền lớn sang các nhà băng Tây Ban Nha-hiện chưa biết rõ tên các nhà băng đó. Các đảng viên quốc xã và vợ con chúng đóng góp từ 100.000 đến 400.000 mác. Theo các tin tức thu được, họ sẽ không được sử dụng số tiền ấy.

Nguồn tin này do thủ quỹ nhà băng cung cấp.
TÔ-MÁT”



Tất cả những tin tức ấy đều gửi cho A-lếch-xơ, người chỉ huy Cục tình báo Liên Xô, đều được kiểm tra lại bằng mọi phương pháp tinh vi nhất theo khả năng cho phép. Việc thẩm tra xác nhận các tin tức đó đúng với sự thật. Chúng liền được gửi tới cho mọi uỷ viên của Hội đồng quốc phòng.


Đồng chí chỉ huy Cục tình báo nghĩ rằng đúng, khi cho rằng trong mấy ngày tới, ông sẽ nhận được một nhiệm vụ cực kỳ phức tạp, bởi vì tình hình xem ra hết sức rối rắm, kỳ quặc kèm theo hằng trăm dấu hỏi.

-Để đề phòng,-ông nói với người thư ký của mình,-đồng chí hãy liên lạc với Đài phát thanh, để họ chần bị một buổi truyền tin đặc biệt cho Uy-xơ-tác Chưa có gì cụ thể-bảo đồng chí ấy cứ yên tâm chờ nhiệm vụ mới. Không hiểu sao tôi lại tin rằng người thực hiện nhiệm vụ mới sẽ là Uy-xơ-tác. Tôi rất muốn hy vọng rằng đồng chỉ ấy sẽ hoàn thành, và đó sẽ là nhiệm vụ cuối cùng đối với đồng chí ấy.


Tiêu đề: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: Stirlitz trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 05:29:08 pm
Tháng giêng năm 1945, quân Nga tiến và Cơ-ra-cốp và thành phố ẩy vẫn còn nguyên vẹn, mặc đù bọn Đức đã có kế hoạch gài mìn phá tan. Sau chuyện ấy, Can-ten-bơ-ru-ne ra lệnh triệu hồi Cờ-ruy-ghe, chỉ huy Vụ Đông Âu của cơ quan ghét-xta-pô, người chịu trách nhiệm thực hiện chiến dịch trừng phạt kia, về gặp hắn.

Can-ten-bơ-ru-ne im lặng khá lâu. Hắn chăm chú nhìn bộ mặt to bè, nặng nề của viên tướng kia, rồi hỏi nhỏ:
-Ông có lời bào chữa nào đủ tính chất khách quan để Quốc trưởng có thể tin tưởng ở ông hay không?

Cờ ruy-ghe, một kẻ hơi thô lỗ, bề ngoài chất phác, đợi câu hỏi ẩy từ lâu và đã chuẩn bị sẵn câu trả lời. Nhưng y phải chơi cái trò tác động tâm lý cái đã. Sau mười lăm năm nằm trong Đảng Quốc xã và tổ chức SS; y đã thạo nghề đóng kịch. Cờ-ruy-ghe biết rằng không nên trả lời ngay lập tức, cũng như không thể hoàn toàn chối cãi tội lỗi của mình. Y đã học được cách xử sự chính xác và tài tình trong mọi chuyện và ở khắp mọi nơi, thậm chí ngay ở nhà mình, có hôm y bắt gặp mình đóng vai một người hoàn toàn khác hẳn. Y nhận thầy rằng, ban đêm, đôi khi y tỉnh dậy và nằm im khá lâu mắt nhắm nghiền, tai dỏng lên lắng nghe không gian yên tĩnh; y có cằm giác rằng, ở đây, trong phòng ngủ tối mù của mình, vẫn đang có một cặp mắt lạnh lùng và bình thản nào đó theo dõi y. Lúc đầu, thỉnh thoảng y còn trò chuyện với vợ-dĩ nhiên là chỉ thì thầm vào ban đêm. Nhưng cùng với tiến bộ của kỹ thuật tình báo, mà y biết rõ hơn ai hết, nói chung Cờ-ruy-ghe ngừng việc trò chuyện hoặc nói lên thành tiếng một vài điều mà đôi khi y cho phép mình nghĩ tới. Ngay cả khi dạo chơi với vợ ở trong rừng, y cũng câm như cá, hoặc chl nói đến những chuyện vớ vẫn, bởi lẽ y có cám giác rằng ở trung tâm người ta đã sáng chế ra một loại máy có khả năng ghi âm tiếng nói cách xa một cây số trở lên.


Dần dà, trong con người y diễn ra một sự thay đồi lớn. Cờ-ruy-ghe trước kia đã biến mát. Thay vào đó, dưới cái vẻ của một người mà ai cũng biết, với cái vẻ ngoài hoàn toàn không thay đổi là một con người khác do con người trước tạo ra, hoàn toàn xa lạ đối với hết thảy mọi người, không chỉ sợ nói lên sự thật, mà còn là sợ cho phép mình nghĩ đến sự thật.

-Thưa thượng tướng,-Cờ-ruy-ghe cau mày nén một tiếng thở dài và đáp, giọng khổ sơ,-tôi không có lý do chính đáng để biện bạch… Và tôi không thể có được. Tôi là người lính, chiến tranh là chiến tranh, và tôi không hề chờ đợi rằng mình sẽ được vỗ về.

Y đóng kịch đạt lắm rồi. Y biết rằng, y càng tó ra nghiêm khắc với chính mình bao nhiêu, thì y càng có khả năng tước bỏ vũ khí trong tay Can-ten-bơ-rư-ne bấy nhiêu. Không gì làm cho lũ chó săn điên tiết bằng sự bỏ chạy của con thỏ. Thực ra, Cờ-ruy-ghe chưa biết bầy chó săn xử sự ra sao nếu con thỏ nằm xuồng và giơ chân lên nhưng các quan hệ trong tổ chức SS thì y biết khả tỏ tường rằng y càng tự lấy roi quất vào mình mạnh bao nhiêu, càng ít chống đỡ hay bào chữa bao nhiêu, thì Can-ten-bơ-ru-ne hoặc bất kỳ tên nào khác giữ cương vị đó sẽ càng nhẹ tay hơn bấy nhiêu.


-Chớ có hèn yếu như thế, - Can-ten-bơ-ru-ne nói, và Cờ-ruy-ghe hiểu rằng y đã chọn cách xử lý hoàn toàn chính xác, y đã thắng chính bẳn thân y, - cần phải phân tích kỹ lưỡng thất bại để khỏi lặp lại sau này.
Cờ-ruy-ghe đáp:

- Thưa thượng tướng, tôi hiệu rằng tôi có lỗi rất lớn. Nhưng tôi mong ngài thượng tướng hãy nghe đại tá Sơ-tiếc-lít báo cáo ông ta hoàn toàn biết rõ chiến dịch của chúng ta và có thể xác nhận rằng tất cả đã được chuẩn bị công phu và kỹ lưỡng đến mức cao nhất.

- Sơ-tiếc-lít thì có dính dáng gì tới chiến dịch? - Can-ten-bơ-ru-ne nhún vai. - Ông ta làm bên cơ quan tình báo, tại Cờ ra-cốp ông ta lo những vấn đề khác kia mà.

Tôi biết rằng, tại Cờ-ra-cốp ông ta nghiên cứu vấn đề qủa tên lửa “Fau-2” bị biến mất, nhưng tôi thấy mình có trách nhiệm báo cho ông ta biết mọi chi tiết về chiến dịch của chúng ta, bởi vì tôi nghĩ rất đúng rằng, khi trở về Béc Lanh, ông ta sẽ báo cáo với Thống chế SS Him-le hoặc với ngài về cách tổ chức chiến dịch của chúng tôi. Tôi chờ đợi thêm các chỉ thị của ngài, nhưng như vậy là tôi không thấy có thêm chỉ thị gì.

- Sơ tiếc lít có nằm trong số nhân vật được phép biết nội dung chiến dịch ấy không?

- Thưa, tôi không được rõ.

Can-ten-bơ-ru-ne gọi viên thư ký vào và bảo:

- Anh hãy tìm hiểu xem Sơ-tiếc-lít ở Vụ VI có nằm trong số những người được phép tiến hành chiến dịch “Sơ-vác-phai-e” hay không.

Khi viên thư ký bước ra, Cơ-ruy-ghe hiểu rằng mình đã đưa Sơ-tiếc-lít ra hứng đòn quá sớm, bèn rút lui:

- Tôi xin chịu toàn bộ lỗi lầm, - y nói tiếp, đầu cúi gầm, cố nặn ra những câu nói thiểu não - Tôi sẽ rất đau lòng, nếu ngài trừng phạt Sơ-tiếc-lít. Tôi vô cùng kính trọng ông ta vì đó là một chiến hữu trung thành. Tôi không có gì bào chữa, và tôi chỉ có thể chuộc lỗi của mình bằng cách đồ máu ngoài chiến trường.

- Thế ai sẽ chiến đấu với kẻ thù ở đây? Tôi à? Một mình tôi chắc?! Hy sinh cho Tổ quốc và vì Quốc trưởng ở ngoài mặt trận thì đơn giản quá! Sống ở đây dưới những trận oanh tạc, tiễu trừ sạch sành sanh mọi trò xấu xa, tội lỗi mới là chuyện khó! Ở đây vừa cần lòng dũng cảm vừa cần trí thông minh! Phải hết sức thông minh, ông Cờ-ruy-ghe ạ!


Cờ-ruy-ghe hiểu rằng y sẽ không bị đầy ra mặt trận, một hình phạt đáng sợ nhất. Đáng sợ không phải chỉ vì những viên đạn Nga, - vì đương nhiên là ngoài đó y sẽ năm cương vị chỉ huy, - mà chẳng qua chỉ là vì y hiểu rằng đám sĩ quan quân đội từ lâu vẫn nuôi một mối căm hờn ghê gớm đối với những kẻ vốn là người của tổ chức tình báo SĐ. Họ chỉ cố tìm cách đầy những cộng sự SĐ kia ra tòa án của Đảng quốc xã hay tòa án binh - mà đã đến nước ấy thì đừng có hy vọng vào sự thương xót quy luật của mặt trận là quy luật chết người...

Viên thư ký mở cửa không một tiếng động, đặt lên bàn Can-ten-bơ-ru-ne mấy chiếc cặp giấy mỏng Can-ten-bơ-ru-ne giở nhanh các cặp đó, hừ một tiếng ngạc nhiên và nói:

- Cảm ơn. Anh tìm hiểu xem Sơ-tiểc-lít có được tiếp chuyện ở Bộ chỉ huy hay không, sau khi từ Cờ-ra-cốp trở về và nếu có, thì ở nhà ai. Anh cũng điều tra xem ông ta đã đề cập tới vằn đề gì trong lúc nói chuyện.

- Thưa ngài, để dự phòng, tôi đã điều tra rồi ạ, - viên thư ký đáp - Sơ-tiềc-lít không được ai tiếp chuyện. Vừa trở về ông ta lập tức chuyển sang điều tra, phát hiện một đài phát chiến lược đang hoạt động cho Mát-xcơ-va…

Cơ-ruy-ghe nhớ lại, có lần ở Cơ-ra-cốp y đã nghe viên đại tá tình báo Áp-ve Béc-gơ nói chuyện với tướng Nôi-bút, khi đại tá này xin ra mặt trận. Cờ-ruy-ghe quyết định lặp lại cạnh đó; y đột nhiên thoáng nghĩ rằng, Can-ten-bơ-rư-ne là kẻ hết sức đa cảm, giống như mọi kẻ tàn ác khác.

- Thưa thượng tướng, dù sao tôi cũng xin ngài cho phép tôi được ra mặt trận.

- Ông ngồi xuống đây, - Can-ten-bơ-rư-ne nói, - và đừng có ngốc nghếch như Gơ-rét-khen. Hôm nay ông có thể nghỉ, còn ngày mai thì ông hãy viết cho tôi một bản báo cáo ti mỉ, chi tiết về toàn bộ chiến địch. Chúng tôi sẽ nghĩ xem nên phái ông tới đâu. Ngườí thì ít, mà việc thì nhiều rất nhiều, ông Cờ-ruy-ghe ạ.

Khi Cơ-ruy-ghe đã đi khỏi, Can-ten-bơ-ru-ne gọi viên thư ký vào và báo:

- Anh hãy thu thập cho tôi toàn bộ hồ sơ về Sơ-tiếc-lít trong vòng một, hai năm vừa rồi. Nhưng phải tiến hành thế nào để Sê-len-béc không hay biết việc đó. Đừng gây không khí hoàng sợ; Sơ-tiếc-lít là một điệp viên quý giá, một con người dũng cảm, không nên nghi ngờ anh ta. Đây chằng qua chỉ là việc kiểm tra lẫn nhau trên tình bằng hữu thôi… Và anh hãy chuẩn bị mệnh lệnh cho Cờ-ruy-ghe. Chúng ta sẽ cử ông ấy làm phó giám đốc sở ghét-xta-pô ở Pra-ha, nơi ấy đang là một điểm nóng…


Tiêu đề: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: Stirlitz trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 05:32:16 pm
- Ngài nghĩ như thể nào, hở ngài giám mục, trong con người thì cái gì nhiều hơn, nhân tính hay thú tính?

- Tôi nghĩ rằng, ở trong con người, hai cái đó ngang nhau.

- Không thể như vậy được.

- Chỉ có thể như vậy thôi.

- Không đúng.

- Nếu trái lại thì cái nọ đã thắng cái kia từ lâu rồi.

- Ngài trách chúng tôi hướng tới cái hạ tầng và coi tinh thần là cái có sau. Tinh thần quả là cái có sau. Tinh thần nảy sinh như cây nằm trên lớp men căn bản.

- Và thứ men ấy?

- Là tính hiếu danh. Đó là cái mà ngài gọi là sự dâm dục, còn tôi, tôi gọi là ý nguyện lành mạnh, là sự mong mỏi được ngủ với một người phụ nữ và yêu quý cô ta. Đó là cái khát vọng muốn đứng hàng thứ nhất trong công việc của mình. Thiếu nó, toàn bộ sự phát triển của loài người đã ngừng từ lâu. Thiên chúa giáo đã tốn không ít công sức để kìm hãm sự phát triển của loài người. Ngài hiểu tôi đang nói đến thời kỳ nào của đạo Thiên chúa chứ?

- Vâng, vâng, dĩ nhiên tôi biết thời kỳ đó. Tôi biết rõ thời kỳ đó, nhưng tôi còn biết một điều khác nữa. Tôi không còn thấy sự khác nhau giữa thái độ của ông đối với con người và cái thái độ đối với con người mà Quốc trưởng đang tuyên truyền.

- Đúng thế ư?

- Đúng thế. Quốc trưởng nhìn thấy trong con người một tên đại bịp hám danh, khoẻ mạnh, cường tráng và muốn giành cho mình không gian để sinh sống.

- Ngài không thể tưởng tượng là ngài sai lầm đến mức nào đâu, bởi vì Quốc trưởng nhìn thấy trong mỗi người Đức không phải một tên đại bịp thông thường, mà là một tên đại bịp tóc vàng.

- Còn ông thì thấy trong mỗi con người một tên đại bịp nói chung.

- Còn tôi nhìn thấy trong mỗi con người cái mà từ đó nó đã nảy sinh ra. Con người sinh ra từ con khỉ. Mà con khỉ là thú vật.

- Đến đây thì tôi và ông bất đồng với nhau. Ông tin rằng con người phát sinh từ con khỉ. Ông chưa nhìn thấy cái con khỉ đã sinh ra con người, và con khỉ ấy chẳng thì thầm câu nào vào tai ông về đề tài ấy. Ông chưa sờ nắn được cái đó, và ông không thể sờ nắn được cái đó. Ông tin như thế, vì niềm tin ấy phù hợp với tổ chức tinh thần của các ông.

- Thế thượng đế nói thầm vào tai ngài rằng ông ta sáng tạo ra con người à?

- Tất nhiên, không ai nói gì với tôi, và tôi không thể chứng minh sự tồn tại của thượng đế, điều đó không chứng minh được, chỉ có thể tin vào nó mà thôi. Ông tin vào con khỉ, còn tôi tin vào thượng đế. Ông tin vào con khỉ, bởi vì điều đó phù hợp với tổ chức tinh thần của ông, tôi tin vào thượng đế, bỏi vì điều đó phù hợp với tổ chức tinh thần của tôi.

- Ở đây ngài đã lẫn lộn một chút rồi. Tôi tin vào con người, chứ không phải tin vào con khỉ.

- Tin vào cái con người phát sinh từ con khỉ chứ gì? Ông tin vào con khỉ ở trong con người còn tôi tin vào thượng để ở trong con người.

- Trong mỗi con người đều có thượng để hay sao?

- Tất nhiên.

- Thượng đế nằm ở chỗ nào trong con người Quốc trưởng. Trong con người Gơ-rinh? Trong con người Him-le?

- Ông nêu ra một câu hỏi hóc búa. Chúng ta đang nói đến bản chất của con người kia mà. Dĩ nhiên, trong mỗi con người của mấy tên khốn kiếp ấy có thể tìm thấy dấu vết của thiên thần đã bị hủ bại. Nhưng tiếc thay, toàn bộ bản chất của chúng lệ thuộc vào cái quy luật dã man tất yếu, dối trả, hèn hạ, bạo lực đến mức, trên thực tế, ở đó không còn chút tính người nào nữa. Nhưng về nguyên tắc, tôi không tin rằng một con người sinh ra nhất thiết phải mang trong mình tính chất đáng nguyền rủa của nguồn gốc loài khỉ.

- Tại sao ngài gọi là tính chất đáng nguyền rủa của nguồn gốc loài khỉ.

- Tôi nói theo ngôn ngữ của tôi.

- Nghĩa là nên chấp nhận qui luật của thượng đế về việc thủ tiêu loài khỉ?

- Hoàn toàn không phải như vậy.

- Ngài luôn luôn tránh né rất hợp với tinh thần đạo đức trước những câu hỏi đang giày vò tôi. Ngài không chiu trả lời “có“ hay “không“, trong khi mỗi người đi tìm niềm tin đểu thích cụ thể, thích nghe một tiếng “có“ hoặc “không“. Thế mà ngài lại cứ trả lời theo cái kiều nước đôi, không dứt khoát. Chính điều đó khiến tôi chán ghét cá phương pháp của ngài lẫn hoạt động thực hành của ngài.

- Ông căm ghét hoạt động thực hành của tôi. Điều đó đã rõ... Tuy nhiên, trên thực tế ông đã từ trại tập trung chạy trốn thẳng đến chỗ tôi. Giải thích điều đó kể cũng thú vị đấy nhỉ?

- Điều đó một lần nữa chứng tỏ rằng trong mỗi con người, như ngài nói, đều tồn tại một thượng để và một con khỉ. Nếu thư thượng để chỉ có mặt trong tôi, chắc hẳn tôi đã chẳng chạy đến với ngài, sẽ chẳng bỏ trốn, mà có lẽ ở lại đế nhận cái chết từ tay bọn đao phủ SS, có lẽ tôi đã chìa má bên kia ra cho chúng, để thức tỉnh tính người trong lòng chúng. Giá thử ngài sa vào tay chúng, không biết ngài sẽ chìa má bên kia ra, hay sẽ cố tránh đòn, thưa ngài giám mục?

- Thế nào là chìa má bên kia? Ông lại gán cái câu chuyện ngụ ngôn tượng trưng vào bộ máy thực tế của nhà nước quốc xã rồi. Chìa má ra trong ngụ ngôn là một chuyện. Như tôi đã nói với ông, đó là chuyện ngụ ngôn về lương tâm con người. Còn việc sa vào cái bộ máy không thèm hỏi anh xem anh có định chìa má bên kia ra hay không, lại là chuyện khác. Rơi vào cái bộ máy mà về nguyên tắc và tư tưởng của nó đã mất hết lương tri thì... Tất nhiên, không đáng đối xử với cái máy hoặc với một hòn đá chắn đường hoặc với một bức tường mà ta vấp phải, như đổi xử với một sinh vật khác.

- Thưa ngài giám mục, kể ra hơi bất tiện, có lẽ tôi động chạm đến bí mật của ngài, nhưng phu nhân Ai-den-sơ-tát có nói với tôi rằng... Có thể cô ta lỡ lời và tôi không dám đặt câu hỏi này với ngài. Nhưng hình như ngài đã từng có mặt ở Sở ghét-xta-pô thì phải?

- Tôi biết trả lời ông như thế nào nhỉ ? Phải, tôi đã có mặt ở đó...


Tiêu đề: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: Stirlitz trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 05:33:56 pm
- Thế là rõ. Ngài không muốn đề cập đền vấn đề ấy, vì nó là câu hỏi đau lòng đối với ngài. Nhưng thưa giám mục, ngài có nghĩ rằng sau khi chiến tranh kết thúc, các con chiên của ngài sẽ không tin ở ngài nữa hay không?

- Thiếu gì người có mặt ở Sở ghét-xta-pô.

- Thế nếu như người ta bảo nhỏ các con chiên rằng, với tư cách là một kẻ phá hoại, vị giám mục của họ đã được bố trí vào ngồi chung xà lim với những người tù không bao giờ quay về nữa thì sao? Mà những người được trở về như ngài chì là một phần triệu thôi... Con chiên sẽ chẳng tin ngài lắm đâu Lúc ấy, ngài biết truyền bá sự thật của mình cho ai?

- Tất nhiên, nếu tác động tới con người bằng những phương pháp đó thì có thể tiêu diệt bất kỳ ai cũng được. Trong trường hợp ấy, vị tất, tôi có thể cứu vãn nổi tình thế của tôi bằng bất cứ cách nào.

- Ngài sẽ làm gì lúc đó?

- Lúc đó ư? Phải bác bỏ. Bác bỏ bằng tất cả khả năng mà tôi có, bác bỏ cho tới lúc người ta tin ở tôi. Nếu người ta không tin, thì về thực chất bên trong, coi như tôi đã chết rồi.

- Thực chất bên trong. Nghĩa là xương thịt vẫn còn, vẫn sống.

- Tùy chúa phán xử.

- Tôi còn sống là còn sống.

- Tôn giáo của ngài chống lại việc tự sát phải không?

- Chính vì lẽ đó mà tôi sẽ không tự sát.

- Ngài sẽ làm gì khi mất khả năng truyền đạo?

- Dù không còn truyền đạo nữa, tôi vẫn cứ tin.

- Thế tại sao ngài không chọn cho mình một lối thoát khác là cùng lao động với tất cả mọi người?

- Ông gọi thế nào là “lao động“?

- Là khiêng đá đê xây dựng lâu đài khoa học chẳng hạn. - Nêu xã hội chỉ cẩn một người tốt nghiệp khoa thần học đi khiêng đất thì tôi chẳng có gì để nói chuyện với ông. Như thế thì quả thực là thà bây giờ tôi quay về trại tập trung và chui vào lò thiêu xác còn hơn...

- Tôi chỉ đặt câu hỏi, “nếu như“ thôi. Tôi rất thú vị, nếu được biết giả thuyết của ngài, nghĩa là ý nghĩ của ngài sau này.

- Ông cho rằng một người truyền đạo cho con chiên là một tên đại bịp, một kẻ vô công rồi nghề ư? Ông không coi đó là một việc làm ư? Theo ông, khiêng đá mới là lao động, còn tôi, tôi cho rằng lao động tinh thần ngang hàng với bất kỳ thứ lao động nào khác, lao động tinh thần là loại đặc biệt quan trọng.

- Chính tôi làm nghề viết báo, và các bài phóng sự của tôi đã bị đầy đọa cả từ phía bọn quốc xát lẫn từ phía đạo thiên chúa chính thống của ngài. Chúng bị đạo Thiên chúa chính thống lên án, vì một nguyên nhân sơ đằng là ông đã lý giải không đúng về bản thân con người.

- Tôi không giải thích con người. Tôi vạch ra cái thế giới của bọn lưu manh và đĩ điểm đang sổng chui lủi trong các hầm nhà ở Bơ-rê-men và Hăm-bua. Nhà nước Hít-le gọi việc ấy là sự vu khống một cách đáng ghê tởm đối với chủng tộc thượng đắng còn nhà thờ thì gọi việc ấy là sự vu khống con người.

- Chúng tôi không sợ sự thật của cuộc đời.

- Các ngài rất sợ! Tôi đã vạch ra rằng những con người khổn nạn kia cố tìm đến nhà thờ ra sao và nhà thờ đã xua đuổi họ như thể nào; chính đám con chiên đã xua đuổi họ, còn các vị linh mục thì không dám phan đổi con chiên

- Tất nhiên là không thể phản đối. Tôi không lên án ông về sự thật. Tôi không lên án ông về việc ông vạch ra sự thật. Tôi bất đồng ý kiến với ông trong cách dự báo con người tương lai kia.

- Thưa giám mục, thế ngài không có cảm giác rằng những câu trả lời của ngài chứng tỏ ngài là một chính khách chứ không phải là người chăn con chiên hay sao?

- Chẳng qua ông chỉ nhìn thấy ở tôi cái gì hợp với quan niệm của ông ông nhìn thấy trong tôi cái đường viền chính trị, mà đường viền này mới chỉ tạo nên một mặt phẳng. Cũng hệt như có thể thấy chiếc thước tính lô-ga-rít là cái có thể dùng để đóng đinh. Thước tính lô-ga-rít có thể dùng để đóng đinh, nó có chiều dài và sức nặng. Nhưng đó mới chỉ là một cách nhìn cho phép thấy được chức năng thứ mười, thứ hai mươi của vật thể, trong khi đó người ta có thể dùng thước tinh lô-ga-rít để tính toán, chứ không chỉ dùng để đóng đinh.

- Thưa ngài giám mục, tôi đặt câu hỏi, còn ngài, đã không trá lời, lại còn đóng đinh vào người tôi. Ngài rất khôn khéo biến tôi từ người lục vần thành kẻ phải trả lời. Ngài lập tức biến tôi từ người đi tìm tín ngưỡng thành kẻ tà giáo. Tại sao ngài lại nói rằng ngài đứng trên cuộc xâu xé, trong khi chính ngài cũng đang đứng giữa cuộc xâu xé đó?

- Đúng là tôi đang đứng giữa cuộc chiến tranh xâu xét nhưng tôi chiến đấu chống lại bản thân chiến tranh.

- Ngài rất duy vật trong khi tranh luận.

- Tôi đang tranh luận với nhà duy vật mà lại.

- Nghĩa là ngài có thể chiến đầu với tôi bằng vũ khí của tôi?

- Tôi buộc phải làm như thế.

- Ngài hãy nghe đây... Vì quyền lợi của các con chiên của ngài, mà tôi cần ngài bắt liên lạc với các bạn của tôi. Tôi sẽ trao địa chỉ cho ngài. Tôi tin cậy trao cho ngài địa chỉ các đồng chí của tôi... Ngài giám mục, ngài sẽ không phản bội những người vô tội...

- Lại thế rồi! Tôi đã trả lời ông...


Tiêu đề: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: Stirlitz trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 05:36:03 pm
Nghe xong đoạn băng ghi âm đó, Sơ-tiếc-lít vội đứng dậy, bước lại bên cửa sổ để khỏi bắt gặp cái nhìn của kẻ hôm qua cầu xin sự giúp đỡ của vị giám mục, còn hôm nay thì đang nhếch mép cười trong khi nghe tiếng nói của mình. Hắn đang uổng rượu cô-nhắc và rít thuốc lá liên tiếp.

- Ở chỗ ông giám mục không được hút thuốc à? - Sơ-tiếc lít hỏi, không quay mặt lại.

Anh đứng bên chiếc cửa sổ - to tướng, choán hết bức tường - và ngắm những con quạ đang tranh nhau miếng bánh mì, người gác cổng được lĩnh hai suất một ngày và rất thích chim. Bác ta không biết rằng Sơ-tiếc-lít là sĩ quan tình báo SĐ, nên tin chắc rằng biệt thự này hẳn là của những người ái nam ái nữ, hoặc là của các thương gia lớn: chưa có một phụ nữ nào lui tới đây bao giờ, và khi đám đàn ông gặp mặt nhau thì họ trò chuyện rất khẽ, các món ăn toàn loại đặc biệt, thượng hảo hạng, thức uống thì phổ biến là của Mỹ.

- Vâng, ơ đấy tôi khổ sở vì không được hút thuốc. Lão già thì cứ huyên thuyên trong khi tôi thèm thuốc đến chết được...

Gã điệp viên này tên là Cờ-lao-xơ. Người ta tuyển mộ hắn cách đây hai năm. Hắn tự đến xin được tuyển mộ; cái tay nguyên là thợ sửa bản in này thích những cảm giác giật gân. Hắn làm việc hết sức khôn khéo thường tước khí giới của những người tiếp chuyện với mình bằng những lập luận thành thực và gay gắt. Hắn được phép nói tất cả mọi chuyện cốt sao công việc có kết quả nhanh chóng là được. Càng quen biết lâu và xem xét kỹ con người Cờ-lao-xơ, Sơ-tiếc-lít càng thấy sợ hắn.

“Hay là hắn mắc bệnh, - có lần Sơ-tiếc-lít nghĩ bụng - Khát vọng phản bội cũng là một thứ bệnh đặc biệt. Kể cũng đáng chú ý: Cờ lao-xơ hoàn toàn phản đối Lôm-bơ-rô-dô* (Lôm-bơ-rô-dô Tsê-da-rê (1835 - 1909) - bác sĩ tâm thần và nhà hành pháp học người Ý, kẻ đề xướng khuynh hướng nhân loại học phản động trong hình luật tư sản). Hắn đáng sợ hơn tất cả bọn tội phạm mà mình đã gặp, thế mà bề ngoài hắn lại có vê đáng kính và dễ thương đến thế…“.

Sơ-tiếc-lít quay lại bàn, ngồi xuống trước mặt Cờ-lao-xơ và mỉm cười với hẳn.

- Thế nào? - anh hỏi. - Nghĩa là anh tin rằng lão già sẽ thu xếp việc liên lạc ổn thỏa cho anh chứ gì?

- Vâng, vấn đề ấy đã được giải quyết. Tôi thích làm việc với bọn trí thức và cổ đạo hơn cả. Ngài biết không, được quan sát một con người đang đi tới chỗ chết thực là thú vị lạ lùng. Đôi lúc thậm chí tôi muốn bảo chúng: “Đứng lại! Thằng ngốc ! Mày đi đâu thế?!“.

- Ồ, không nên nói thề, - Sơ-tiếc-lít bảo hắn, - như vậy là thiếu khôn ngoan.

- Ngài có cá hộp không? Thiếu món cá, tôi phát điên lên được. Cá có nhiều chất phốt-pho lắm. Các tế bào thần kinh đòi hỏi... ngài ạ.

- Tôi sẽ thết anh những món cá hộp ngon tuyệt. Anh thích loại nào?

- Tôi mê loại ngâm dầu ô-liu…

- Tôi hiểu rồi… của nước nào, hàng nội hay là...

- “Hay là“, - Cờ-lao-xơ cười nhắc lại. - Dù như thế là thiếu lòng ái quốc, song tôi vẫn thích các món ăn và thức uống cửa Mỹ hoặc Pháp…

- Tôi sẽ tặng anh cả một thùng hộp cá xác-đin Pháp chính cống. Nó ngâm dầu ô-liu, thơm nức tha hồ nhiều chất phốt-pho... Anh biết không, hôm qua tôi có xem cặp hồ sơ về anh…

- Tôi sẵn sàng trả một giá rất đắt để được xem nó, dù chỉ liếc bằng một con mắt…

- Không hấp dẫn lắm như anh tưởng đâu. Khi anh cười, nói, phàn nàn rằng anh đang đau gan, thì điều đó gây một ấn tượng nhất định rằng trước lúc đó anh vừa hoàn thành một chiến dịch hóc hiểm. Còn trong cặp hồ sơ về anh thì chán lắm: toàn những báo cáo với tố giác; lẫn lộn tất cả: anh tố giác người ta và người ta tố giác anh… Không, xem nó chán lắm. Đáng chú ý là điểm khác kia; tôi đã tính rằng căn cứ vào các báo cáo của anh, nhờ sáng kiến của anh, chính quyền đã tóm cổ chín mươi bảy người... Mà tất cả số người ấy đều không hé răng nói một lời về anh. Tất cả, không trừ một ai. Mặc dù Sở ghét-xta-pô hỏi cung chả đến nỗi kém đâu…

- Ngài kể chuyện ấy với tôi làm gì?

- Tôi cũng chả biết. Thử phân tích xem sao thôi. Anh có thấy đau lòng, khi những người đùm bọc anh bị bắt hay không?

- Thế ngài nghĩ thế nào?

- Tôi không biết.

- Có quỷ biết được… Rõ ràng tôi cảm thấy tôi là kẻ mạnh khi giao chiến mặt đối mặt với họ. Cạnh cắn xé làm cho tôi thích thú. Sau khi bị bắt, họ sẽ ra sao… tôi không cần biết... Điều gì sẽ đến với chúng ta? Với hết thảy mọi người?

- Cũng đúng như thế, - Sơ-tiếc-lít tán thành.

- Đằng sau chúng ta là một trận đại hồng thuỷ. Người dân chúng ta toàn là những kẻ hèn hạ, nhút nhát, tham lam, chuyên tố giác lẫn nhau. Đúng là kẻ nào cũng đều như thế cả. Không thể trở nên tự do giữa đám nô lệ… Quả là như vậy. Thế thì sao không làm kẻ tự do nhất trong số những kẻ nô lệ? Phần tôi trong tất cả những năm vừa qua, tôi luôn luôn sử dụng sự tự do hoàn toàn về tinh thần.

Sơ tiếc lít hỏi:

- Anh nghe đây, thế tối hôm kia có ai đến nhà ông giám mục không?

- Không có ai cả…

- Khoảng chín giờ…

- Ngài nhầm rồi - Cờ-lao-xơ đáp, - ít ra thì cũng không có ai do ngài cử đến. Chi có một mình tôi ở đó thôi.

- Có lẽ người đến nhà giám mục là... Người của tôi đã không nhìn rõ mặt hắn.

- Ngài có theo dõi nhà lão ta à?

- Dĩ nhiên, không lúc nào ngừng. Như vậy là anh tin rằng lão già sẽ làm việc cho anh phải không?

- Sẽ làm việc cho tôi. Nói chung, tôi cảm thấy mình có sứ mệnh của một người theo phái đối lập, một nhà hùng biện, một thủ lĩnh. Mọi người phải khuất phục trước sức ép và lô-gích tư duy của tôi…

- Được rồi! Anh cừ lắm Cờ-lao-xơ ạ. Có điều chớ nên huênh hoang quá mức Bây giờ hãy nói đến công việc. Anh sẽ nghỉ ngơi vài ngày ở một căn phòng của chúng tôi. Bởi vì sau đó anh sẽ phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng, mà nhiệm vụ ấy lại không thuộc phạm vi của tôi...

Sơ-tiếc-lít nói đúng: hôm nay các đồng sự của anh ở bên Sở ghét-xta-pô có đề nghị anh cho họ mượn Cờ-lao-xơ một tuần: ở Ken-nơ bắt được hai gã “chơi đàn dương cầm“* (Tiếng lóng của bọn tình báo, mật thám Đức gọi các chiến sĩ điện đài Liên-xô hoạt động trong vùng kiểm soát của chúng) người Nga. Họ bị tóm ngay trong lúc đang làm việc bên điện đài. Họ không chịu khai gì cả, cần phải gài một tay thật cứng vào cùng xà lim với họ. Không thể tìm được ai tốt hơn Cờ-lao-xơ. Sơ-tiếc-lít hứa sẽ tìm Cờ-lao-xơ và báo cho hẳn biết.

- Anh hãy lấy một tờ giấy trong chiếc cặp màu xám - Sơ tiếc lít nói, - và hãy viết như sau: “Thưa đại tá, tôi bị mệt lử cả người. Sức tôi đã kiệt. Tôi đã làm việc tận lực, nhưng không thể tiếp tục được nữa. Tôi muốn nghỉ…“.

- Viết thế này làm gì ạ? - Cờ-lao-xơ ký tên và hỏi.

- Tôi thiết nghĩ anh sẽ vui lòng đi In-xơ-brúc nghỉ một tuần - Sơ-tiếc-lít trả lời và chìa cho Cờ-lao-xơ một xấp tiền. - Ở đấy các câu lạc bộ sĩ quan vẫn đầy các cô nhân viên phục vụ và đám con gái vẫn vui chơi trượt tuyết trên núi như xưa. Không có bức thư này, tôi không thể tách ra cho anh một tuần lễ để anh tận hưởng hạnh phúc được.

- Cảm ơn ngài, - Cờ-lao-xơ nói, - riêng khoản tiền - thì tôi còn nhiều...

- Nhiều hơn nữa có gì phiền phức đâu?

- Vâng nói chung thì không có gì phiền phức cả - Cờ- lao-xơ đồng ý. Hắn cất tiền vào túi sau. - Hồi này chữa bệnh lậu đắt quá - và hắn cười to.

- Anh hãy nhớ lại một lần nữa xem: có ai nhìn thấy anh ở nhà ông giám mục không?

- Có gì phải nhở lại! Không một ai cả...

- Tôi muốn nói cả người của chúng tôi.

- Nói chung thì người của ngài có thể nhìn thấy tôi, như họ theo dõi nhà ở của lão già đó. Song vị tất… tôi không thấy ai cả.

Sơ-tiếc-lít nhớ lại: một tuần trước đây, chính anh đã mặc bộ quần áo tù khổ sai cho hằn, trước khi đóng vở kịch truy đuổi các tù chính trị chạy qua cái làng, nơi giám mục Sơ-lắc đang sống. Anh nhớ rõ nét mặt Cờ-lao-xơ hôm đó, cách đây một tuần; cặp mắt hắn sáng bừng vẻ hiền hậu và dũng cảm - hắn đã nhập vai rất đạt. Hôm ấy Sơ-tiếc-lít nói chuyện với hắn bằng giọng khác hẳn, bời vì ngồi cạnh anh là một vi linh mục, khuôn mặt ông ta rất đẹp, có giọng nói sầu thảm và lời lẽ vô cùng chính xác.

- Trên đường tới căn phòng mới của anh, chúng ta sẽ bỏ lá thư này vào hòm thư, - Sơ-tiếc-lít nói. - Và anh hãy bỏ một bức nữa cho ông giám mục để gạt bỏ mọi nghi ngờ. Bức thư ấy anh hãy tự viết lấy Tôi sẽ không quấy rầy anh. Để tôi đi pha cho anh một cốc cà-phê nữa nhé.

Khi anh quay lại, Cờ-lao-xơ đang cầm một tờ giấy.

- “Trung thực có nghĩa là phải hành động, - hắn vừa cười vừa đọc, - niềm tin dựa trên cuộc đấu tranh. Tuyên truyền cho lòng trung thực và danh dự mà hoàn toàn ngồi bó tay là phản bội: phản bội cả con chiên lẫn chính mình. Con người có thể tha thứ cho thái độ thiếu trung thực của mình, nhưng con cháu thì không đời nào. Bởi vậy, tôi không thể tha thứ cho tình trạng ngồi bó tay của mình. Không hành động gì còn tệ hơn cả sự bội phản. Tôi đi đây. Ngài hãy tự biện bạch lấy. Cầu chùa giúp đỡ ngài. Viết như thế có được không, thưa ngài đại tá?

- Hay lắm! Anh cho biết, anh đóng kịch với chính mình phải không?

- Dĩ nhiên. Tôi sống hàng nghìn năm bởi vì trong khi làm việc với người này người nọ, tôi đóng kịch với chính mình: tôi không còn là người đứng trước ngài nữa, mà là một người khác chính tôi cũng không quen biết, một người dũng cảm, khóe mạnhý đẹp đẽ và bất ngờ...

- Anh không thư viết văn xem sao?

- Không ạ. Nếu như tôi viết văn được thì tôi đã chẳng trở thành… - Cờ-lao-xơ bỗng ngừng bặt và liếc trộm Sơ-tiếc-lít.

- Nói tiếp đi, anh chàng lập dị… Chúng ta đang trò chuyện cởi mở với nhau kia mà. Anh muốnn nói rằng, nếu như anh biết viết văn, thì anh đã chẳng làm việc cho chúng tôi phải không?

- Có một cái gì đó gần giống như thế.

- Không giống như thế đâu, - Sơ-tiếc-lít sửa lại, - chính là anh muốn nói như vậy. Phải không nào?

- Đúng thế ạ.

- Cừ lắm. Với tôi anh nói dối chẳng ích lợi gì. Chằng ích lợi gì đâu. Anh uống uýt-ki đi, rồi chúng ta lên đường. Tối hẳn rồi, máy bay địch sắp ném bom đấy.

- Phòng ở cách xa đây không ạ?

- Ở trong rừng, cách đây chừng mười cây số. Ở đấy yên tĩnh lắm, anh sẽ đánh một giấc đến tận sáng mai.

Khi đã ngồi trong xe, Sơ-tiếc-lít hỏi:

- Lão già có nói gì đến cựu thủ tưởng Bơ-ruy-ninh* (Bơ-ruy-ninh Hen-rích, một chính khách phản động người Đức trong những năm 1930 - 1932 từng giữ chức thủ tướng Đức) không?

- Tôi đã viết trong báo cáo gửi ngài rằng lão ta lập tức thu mình lại. Tôi ngại không dám khai thác lão nữa...

- Anh đã làm đúng… Lão già cũng không đả động gì đến Thụy Sĩ à?

- Hoàn toàn im lặng. Thôi được. Chúng ta sẽ tìm cách khác. Điều quan trọng là lão ta đã nhận lời giúp đỡ một người cộng sản. Chà, cái lão giám mục này!

Sơ-tiếc-lít giết chết Cơ-lao-xơ bằng một phát đạn bắn vào thái dương. Anh không nói cho hắn biết, như người ta thích diễn tả trên màn ảnh, vì sao và nhân danh ai anh giết hắn. Hai người đứng trên bờ hồ khi máy bay đồng minh bắt đầu kéo đến bắn phá. Đây là khu vực cấm, nhưng trạm gác - điều này Sơ-tiếc-lít biết rất rõ - ở cách đây hai cây số. Trong khi máy bay đánh phá, ai có thể nghe thấy một tiếng súng lục khô khan. Anh tính rằng Cờ-lao-xơ sẽ ngã từ trên bậc bê tông xuống nước - trước đây người ta vẫn ngồi câu cá ở chỗ này - do đó sẽ không để lại vệt máu trên bậc bê tông. Kể ra cái ấy cũng chẳng quan trọng bỏi vì đêm nào chằng có mưa tuyết. Như thế thì một vết máu trên bậc bê tông giữa khu vực cấm chả có gì đáng ngại. Hay nói đúng hơn là hoàn toàn không có gì nguy hiểm.

Cơ-lao-xơ lặng lẽ đồ xuống nước như một bao cát Sơ-tiếc-lít ném khẩu súng lục xuống chỗ hắn ngã (giả thuyết về việc tự sát do thần kinh căng thẳng tột độ được xây dựng một cách chính xác; hai bức thư do chính bàn tay Cờ-lao-xơ viết), anh cởi găng tay và đi qua rừng tới chỗ xe ô tô của mình. Từ đấy tới "An- đoóc-phơ" bốn mươi cây số. Giám mục Sơ-lắc sống ở xóm đó. Sơ-tiếc-lít tính rằng một tiếng sau anh sẽ tới đó, - anh đã dự kiến hết thảy mọi điều, kể cả khả năng đưa ra chứng cớ thời gian chứng tỏ mình không dính dáng đến vụ giết người vừa rồi…


Tiêu đề: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: Stirlitz trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 05:37:26 pm
“Trung tâm gửi Uy-xơ-tác.
Đồng chí có biết về những cuộc tiếp xúc giữa bọn quốc xã với các nhà ngoại giao phương Tây ở Xtốc-khôm hay không? Và nếu có biết, thì cụ thể là gì? Đồng chí biết gì về Cơ-lai-xtơ, cộng sự của Ríp-ben-tơ-rốp, không?“



“Uy-xơ-tác gửi Trung tâm.
Theo tôi, hiện nay chưa thể có bất cứ sự tiếp xúc đáng kể nào giữa bọn quốc xã với phương Tây. Theo lệnh Hít-le, thống chế SS Him-le tuyên bố rằng hắn sẽ xử tử tất cả những tên phản bội nào dám tiếp xúc với Đồng minh. Tiến sĩ Cơ-lai-xtơ là kẻ thông tin của ghét-xta-pô ở Bộ Ngoại giao. Theo chỗ tôi được biết, trước tây hắn không hề có mối liên hệ đáng kể nào với phương Tây. Sứ mệnh của hắn ở Xtốc-khôm liên quan đến các vấn đề biên ban, và theo nguồn tin của tôi, hắn không được trao bất cứ nhiệm vụ nào về việc thiết lập mối liên lạc với các nước Đồng minh.
UY-XƠ-TÁC“



Kẻ cầm đầu Cục an ninh SĐ của Đức quốc xã, Éc-nét Can-ten-bơ-ru-ne, nói giọng thủ đô Viên rõ rệt. Hắn biết rằng Quốc trưởng và Him-le tức giận về điều đó, bới vậy đã có thời kỳ hắn theo học một nhà ngữ âm học tài ba, để học cách nói giọng Đức chính cống. Nhưng ý đồ ấy chẳng ăn thua gì, vì hắn yêu thích thủ đô Viên, say sưa với nó, nên không thể bắt mình dùng thứ tiếng “chính thống“, thay thể cái thổ ngữ thành Viên vui tươi - tuy quả có hơi tục tĩu của mình, - dù chỉ mỗi ngày một giờ đồng hồ. Cho nên, gần đây Can-ten-bơ-ru-ne không sắm vai người Đức nữa, và hắn ăn nói với tất cả mọi người bằng cái giọng mà hẳn đã quá quen: giọng thủ đô Viên. Với cấp dưới, hẳn thậm chí không nói theo giọng thủ đô Viên, mà theo thổ ngữ In-xơ-brúc; giọng nói của những người Áo ở miền núi hết sức đặc biệt, và đôi khi Can- ten-bơ-ru-ne thích làm cho các nhân viên trong bộ máy của hắn cuống lên: họ rất sợ hỏi lại hắn một từ mà họ nghe chưa rõ và cảm thấy vô cùng lúng túng, hoang mang.

- Không phải Xi-bơ-lít, mà là Sơ-tiếc-lít, - Can-ten-bơ- ru-ne cười hô hố vào ống nói, - theo tôi, trong số nhân viên biên chế làm gì có ai là Xi-bơ-lít. Còn điệp viên của các anh thì tôi để ý làm gì. Phải rồi! Đúng, Sơ-tiếc-lít, và nếu tìm thấy thì lại tôi ngay. Cảm ơn. Tôi chờ“.

Hắn nhìn thượng tướng SS Muyn-lơ, kẻ cầm đầu ghét-xta-pô và nói:

- Tôi không muốn làm cho ngài khó chịu và nghi ngờ đối với những đồng chí trong Đảng và các cộng sự cùng các bạn chiến đấu của ngài, nhưng sự việc thực tế chứng tỏ mấy điểm sau đây. Một là, tuy gián tiếp, song dù sao Sơ-tiếc-lít vẫn dính dáng tới thất bại của chiến dịch Cờ-ra-cốp. Ông ta có mặt ở đó, nhưng vì những hoàn cảnh khôn khéo lạ lùng mà thành phố ấy vẫn nguyên vẹn, trong khi lẽ ra nó phải tan thành mây khói. Hai là, ông ta điều tra vụ quả tên lưa “Fau-2“ mất tích, nhưng không tìm thấy tên lửa đó, và tôi cầu Chúa để cho nó chìm nghỉm trong các đầm lầy ở vùng hội lưu giữa sông Vi-xơ-la với sông Vi-xơ-lô-ca. Ba là, hiện giờ ông ta vẫn đang điều tra hàng loạt vấn đề liên quan tới vũ khí trừng phạt và tuy rằng chưa thấy những thất bại rõ rệt song chúng ta cũng chẳng thấy công việc tiến triển hay có thắng lợi đáng kể nào. Mà điều tra không có nghĩa là chỉ gài vào những người trái quan điểm, mà còn có nghĩa là phải giúp đỡ những người đang suy nghĩ một cách chính xác và có triển vọng. Bốn là, ông ta có nhiệm vụ truy tìm chiếc đài phát di động đang hoạt động - căn cứ vào mật mã - phục vụ cơ quan tình báo chiến lược của bọn bôn-sê-vích, thế nhưng nó vẫn tiếp tục hoạt động ở vùng ngoại ô Béc Lanh như cũ. Thưa ngài Muyn-lơ, tôi sẽ rất vui mừng, nếu ngài lập tức phủ nhận mọi nghi ngờ của tôi mà không chờ người cửa tôi mang hồ sơ về ông ta đến. Tôi có cảm tình với Sơ-tiếc-lít, và tôi muốn ngài trao cho tôi các tài liệu minh chứng có thể bác bỏ những mối nghi ngờ bỗng nhiên nảy ra trong đầu tôi.


Muyn-lơ vừa làm việc suốt đêm qua, mới chợp mắt được một lúc, hai bên thái dương đang đau nhức, nên y trả lời nghiêm trang, chứ không quen đùa cợt như mọi khi:

- Tôi chưa bao giờ có bất cứ dấu hiệu nào để nghi ngờ anh ta. Còn sai lầm và thất bại trong công tác của chúng ta thì vị tất đã có ai dám bảo đảm là sẽ không mắc phải.

- Nghĩa là ngài cho rằng tôi lầm to chứ gì?

Câu hỏi của Can-ten-bơ-ru-ne rõ ràng pha chút gay gắt, cho nên, tuy mệt mỏi, Muyn-lơ cũng đã hiểu điều đó.

- Sao lại thế được... - y trả lời. - Cần phải phân tích mồi nghi ngờ vừa nảy ra ở tất cả mọi phía, nếu không thì người ta nuôi bộ máy của tôi để làm gì?... Nếu không, có thể coi chúng tôi như một lũ vô công rồi nghề, trốn tránh mặt trận. Ngài còn có bằng chứng nào nữa không - Muyn-lơ hỏi.

Can-ten-bơ-ru-ne im lặng, di di điếu thuốc lá trên môi, sợi thuốc rơi vào cổ họng làm y ho sặc sụa hồi lâu, mặt y tái xanh, gân cổ cuộn lên đỏ tía.

- Biết nói với ngài thế nào nhỉ, - Can-ten-bơ-ru-ne lau nước mắt tự nhiên chảy ra, trả lời. - Thậm chí tôi chưa biết nói với ngài thế nào. Tôi đã yêu cầu ghi âm những cuộc trò chuyện giữa ông ta với người của chúng tôi mấy ngày liền. Những người mà tôi tin tưởng tuyệt đối thường nói với nhau về tình hình bi đát hiện nay, về sự ngu ngốc của giới quân sự nước ta, về sự đần độn của Ríp-ben-tơ-rốp, về thằng khờ Gơ-rinh, về sự khủng khiếp đang chờ đợi tất cả chúng ta, khi bọn Nga tiến vào Béc Lanh. Thế nhưng Sơ-tiec-lít lại nói : “Toàn chuyện vớ vẩn, tất cả đều tốt đẹp tình hình phát triển bình thường“… Lòng ái quốc và lòng ái mộ với Quốc trưởng không phải thể hiện ở chỗ mù quáng lừa dối các bạn đồng sự của mình Tôi tự hỏi, liệu ông ta có phải là thằng ngốc hay không? Bởi vì ở nước ta cũng chằng ít những kê ngu ngốc luôn miệng nhắc lại một cách thiếu suy nghĩ các câu nói vô nghĩa của Gơ-ben. Không, ông ta không phải là thằng ngốc. Thể thì tại sao ông ta lại nói dối hoặc giả ông ta không tin bất cứ ai, hoặc giả ông ta sợ một cái gì đó, hoặc giả ông ta trù tính một kế hoạch nhất định và muốn mình hoàn toàn trong sạch. Trong trường hợp này, ông ta trù tính kế hoạch gì vậy? Mọi chiến dịch của ông ta phải có lối thoát ra ngoại quốc, tới các nước trung lập. Và tôi tự hỏi, liệu ông ta có từ đó trở về hay không? Và nếu trở về, thì ở bên ấy, ông ta có liên hệ với các phần tử chống đối hay những tên khốn kiếp hay không? Tôi không tài nào trả lời chính xác được, dù là khẳng định hay phủ nhận…
Tất cả những điểm Can-ten-bơ-ru-ne kể ra lúc trước đều được Muyn-lơ đánh giá không đáng một xu, bởi vì Can-ten-bơ-ru-ne chỉ là một tình báo viên nghiệp dư. Nhưng điều hắn vừa nói buộc Muyn-lơ phải thầm khen óc phân tích của viên thượng tướng. Cái điều vặt vãnh mà hắn vừa nói rọi vào Sơ-tiếc-lít từ một phía hoàn toàn bất ngờ.

Muyn-lơ hỏi:

- Đầu tiên, ngài cần xem hồ sơ về anh ta, hay là để tôi điều tra luôn?

- Ngài hãy cầm luôn đi, - Can-ten-bơ-ru-ne khôn ngoan đáp vì hẳn đã kịp nghiên cứu kỹ tài liệu rồi. - Bây giờ tôi phải tới gặp Quốc trưởng đây.

Muyn-lơ nhìn Can-ten-bơ-ru-ne dò hỏi. Y chờ đợi hắn kể một vài tin tức nóng hồi nào đó từ dưới hầm ngầm của Hít-le mang về, nhưng Can-ten-bơ-ru-ne không nói gì. Hắn kéo ngăn bàn bên dưới lấy chai rượu cô-nhắc “Na-pô-lê-ông“ ra, đẩy chiếc ly về phía Muyn-lơ và hỏi:

- Ngài uống đã nhiều chưa?

- Tôi chưa nhấp một ngụm nào cả.

- Thế sao mắt ngài đỏ ngầu?

- Tôi không ngủ, vì công việc về Pra-ha nhiều quá, người của tôi đã bám được vào đuôi các nhóm cộng sản bí mật. Tìh hình ở đó trong vài tuần tới chắc sẽ thú vị lắm.

- Cờ ruy-ghe sẽ là trợ thù đắc lực của ngài. Về mặt công vụ ông ta là một tay rất cừ, tuy rằng óc tưởng tượng hơi tồi. Ngài hãy uống đi, rượu cô-nhắc sẽ làm cho người sảng khoái.

- Ngược lại rượu cô-nhắc khiển tôi mệt mỏi và buồn ngủ. Tôi thích rượu vốt-ca hơn.

- Loại rượu cô-nhắc này không làm cho ngài buồn ngủ đâu Can-ten-bơ-ru-ne mỉm cười và nâng chiếc ly của mình lên. - Nào, cạn chén!

Hắn uống liền một hơi, và yết hầu của hắn đưa lên đưa xuống nhanh như yết hầu của những kẻ nghiện rượu nặng.

“Hắn uống ghê thật“, - Muyn-lơ nhận xét, miệng nhấm nháp từng ngụm nhỏ, - chắc hắn sắp rót thêm ly nữa cho mà xem Can-ten-bơ-ru-ne châm một điếu thuốc lá "Ca-rô", loại thuốc nặng và rẻ tiền nhất, rồi hỏi:

- Thế nào, ngài làm thêm ly nữa chứ?

- Cảm ơn, - Muyn-lơ đáp, - rất vui lòng. Loại cô-nhắc này quả là tuyệt diệu.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2020, 02:21:11 pm
(Em xin được tiếp tục chủ đề này ạ, với nguồn file PDF và Word (chưa soát chính tả) từ trang http://tve-4u.org/ (http://tve-4u.org/).
Em sẽ soát lại và đưa lên dần.)




(https://i.imgur.com/9yBGLXP.jpg)





MƯỜI BẢY KHOẢNH KHẮC MÙA XUÂN

Tiểu thuyết

Tác giả: I-u-li-an Xê-mi-ô-nốp

Nhà xuất bản Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1979

In theo bản dịch của Nhà xuất bản Lao động, Hà-nội
Đặng Lan dịch từ tiếng Nga







Chương 2


Sơ-tiếc-lít định bụng rằng hôm nay anh sẽ nghỉ việc sớm hơn một chút, để từ phố Hoàng tử An-bơ-rếch đánh xe đến Nau-ên: ở đấy, trong cánh rừng, giữa ngã ba đường có một tiệm ăn nhỏ của Pa-un. Cũng như một năm hay năm năm về trước, con trai của Pa-un là Tô-mát cụt chân không hiểu bằng cách nào vẫn xoay được khoản thịt lợn để thết các khách hàng quen của mình món bắp cải bọc thịt hầm, hay ít nhất thì cũng có món sốt-vang thỏ ăn với củ cải ngâm giấm.

Những lúc máy bay không ném bom, tưởng như chẳng có chiến tranh gì cả, bởi lẽ, hệt như ngày xưa, chiếc máy thu thanh quay đĩa vẫn hoạt động và cái giọng trầm của Bơ-ru-nô Va-rơn-ke vẫn hát: “Ôi, cảnh Mô-hen-dây đẹp biết chừng nào...”

Nhưng Sơ-tiếc-lít thế là không nghỉ việc sớm hơn được. Khôn-tốp làm bên Vụ IV của ghét-xta-pô ghé lại chỗ anh và nói:

- Tôi hoàn toàn rối trí mất rồi. Hoặc là thằng tù của tôi bị bệnh tâm thần, hoặc là phải chuyển nó sang bên cơ quan tình báo của các anh, bởi vì nó ăn nói hệt như bầy lợn Anh-cát-lợi đang kêu gào trên đài phát thanh vậy.

Sơ-tiếc-lít đi sang phòng làm việc của Khôn-tốp và ngồi ở đó đến bẩy giờ tối để nghe những lời lẽ điên khùng của một nhà thiên văn học bị Sở ghét-xta-pô ở Van-dây bắt ngày hôm kia, Ông ta đi rải những tờ truyền đơn do chính tay ông ta viết. Mỗi tờ có một nội dung khác nhau. Khôn-tốp đẩy về phía Sơ-tiếc-lít cả một tập. Sơ-tiếc-lít bắt đầu chọn các tờ giấy xé từ vở học sinh ra, trong đó có ghi: “Hỡi những người Đức! Hãy mở mắt ra! Bọn thủ lĩnh mất trí của chúng ta đang dẫn chúng ta đến chỗ chết! Thế giới nguyền rủa chúng ta! Hãy chấm dứt ngay chiến tranh! Hãy đầu hàng đi!”. Số tờ truyền đơn có nội dung như thế nhiều hơn cả. Những tờ khác viết ngắn gọn hơn: “Cầm đầu nước Đức là những thằng điên! Đả đào Hít-le! Hòa bình cho đất nước!”

Và giờ đây, ngồi trên chiếc ghế đầu gắn chặt xuống sàn, nhà thiên văn học lại kêu lên, không biết đến lần thứ mấy, một cách điên dại:

- Tôi không thể chịu đựng thêm được nữa! Không thể! Tôi không thể! Tôi muốn sống! Sống một cách bình thường, đơn giản, các người có hiểu hay không! Dưới chế độ phát xít, tư bản hay bôn-sê-vích đều được cả! Tôi không thể chịu đựng thêm nữa. Tôi nghẹn thở trước sự mù quáng, ngu ngốc, điên cuồng của các người!

- Đứa nào ra lệnh cho mày viết truyền đơn ? - Khôn-tốp nhắc lại câu hỏi, theo đúng phương pháp lấy cung, giọng không quát tháo. - Tự mày không thể đi đến mức khốn nạn như thế được. Đứa nào trao nội dung các tờ truyền đơn cho mày? Bàn tay mày đã bị ý muốn của kẻ địch dắt dẫn, bày vẽ. Mày đã đánh hơi và kết bạn với kẻ thù nào của nước Đức, ở đâu và bao giờ?

- Tôi chẳng đánh hơi và kết bạn với ai hết! Tôi sợ phải nói với chính bản thân tôi! Tôi sợ hết thảy! - nhà thiên văn học hét to. - Chẳng lẽ các người không có mắt hay sao?! Chẳng lẽ các người không hiểu rằng giờ cáo chung đã điểm rồi?! Chúng ta đã tan nát! Chẳng lẽ các người không hiểu rằng mỗi sự hy sinh thêm lúc này đều là sự dã man hay sao! Các người luôn mồm ra rả nói rằng các người sống vì dân tộc! Vậy thì các người hãy cút đi! Các người hãy giúp đỡ những gì còn lại của dân tộc! Các người dồn những đứa trẻ bất hạnh vào chỗ chết! Các người là những kẻ cuồng tín, những kẻ cuồng tín tham tàn leo lên nắm chính quyền! Các người no nê phè phỡn, các người hút những loại thuốc lá đắt tiền và uống cà phê thả cửa! Hãy để cho chúng tôi được sống như những con người, chứ không phải như những kẻ nô lệ câm lặng! - Nhà thiên văn học đột nhiên dừng lại, lau mồ hôi hai bên thái dương rồi thấp giọng kết luận: - Hoặc giả các người hãy giết chết tôi tại đây mau lên, để tôi khỏi phát điên vì hiểu ra sự bất lực của bản thân mình và sự ngu muội của cái dân tộc mà các người đã biến thành một bầy cừu hèn nhát.

- Rồi hẵng, - Sơ-tiếc-lít lên tiếng. - Kêu thét chưa phải là lý lẽ thuyết phục. Ông có đề nghị gì cụ thể không nào?

- Ngài bảo sao? - nhà thiên văn sợ hãi hỏi.

Giọng nói điềm tĩnh, từ tốn, xen lẫn nụ cười của Sơ-tiếc- lít đã gây nên ấn tượng trái ngược đối với nhà thiên văn học từ lúc bị bắt, ông ta đã quen nghe những câu thét mắng và những cái tát vào mặt, ông ta đã quen thấy như thế, chứ chưa được nghe lời nói dịu dàng.

- Tôi hỏi ông có đề nghị cụ thể gì không? Chúng ta làm thế nào để cứu trẻ em, phụ nữ và các cụ già? Ông khuyên nên làm thế nào để đạt mục đích đó? Phê phán và nổi giận bao giờ cũng dễ thôi. Dựa vào một chương trình hành động sáng suốt mới là cái khó.

- Tôi phủ nhận khoa chiêm tinh học, - sau hồi lâu suy nghĩ, nhà thiên văn học chậm rãi đáp, - nhưng tôi bái phục khoa thiên văn. Người ta đã triệt bỏ mất khoa thiên văn của tôi ở thành phố Kin-lơ...

- Vì thế mà mày nổi khùng phải không, hở đồ chó ? - Khôn-tốp quát to.

- Đợi một chút đã, - Sơ-tiếc-lít nói và cau mày khó chịu, - không nên quát ầm lên như thế... Mời ông nói tiếp...

- Chúng ta đang sống trong năm mặt trời không yên tĩnh. Những vụ nổ của các tai lửa, việc truyền thêm một khối lớn năng lượng mặt trời ảnh hưởng tới các thiên thể, các hành tinh và các ngôi sao, ảnh hưởng tới nhân loại nhỏ bé của chúng ta...

- Chắc ông nhìn sao trên trời có thể tiên đoán được chuyện gì đó, - Sơ-tiếc-lít ngắt lời ông ta, - cho nên ông mới điên đầu lên phải không?

- Nhìn sao đoán số chỉ là linh tính, thậm chí có thể là một giả thuyết thiên tài nhưng không chứng minh được. Không, tôi xuất phát từ một giả thuyết thông thường, chứ hoàn toàn không có ý đồ nêu ra một giả thuyết thiên tài. Đó là mối tương tác giữa mỗi sinh vật sống trên trái đất với mặt trời và các vì sao... Và mối tương tác ấy giúp tôi đánh giá chính xác hơn, tỉnh táo hơn mọi sự kiện đang diễn ra trên mảnh đất của Tổ quốc tôi...

- Tôi sẽ rất thú vị nếu nói chuyện tỉ mỉ hơn với ông về đề tài đó, - Sơ-tiếc-lít nói, - Chắc anh bạn tôi sẽ cho phép ông trở về xà-lim nằm nghỉ vài hôm, rồi chúng ta sẽ quay lại câu chuyện này.

Khi nhà thiên văn học được dẫn di, Sơ-tiếc-lít nói:

- Ở mức độ nào đó, người này đang ở trong tình trạng tâm thần không bình thường, anh không thấy à? Tất cả các nhà bác học, văn sĩ, diễn viên đều có trạng thái tâm thần không bình thường theo kiểu riêng của họ. Phải có phương pháp tiếp cận riêng đối với họ, vì họ sống theo một lối sống do họ tự nghĩ ra. Anh hãy gửi lão già lập dị này đến bệnh viện của chúng ta cho họ giám định xem sao. Hiện thời chúng ta có quá nhiều công việc quan trọng, nên chẳng đáng tốn thì giờ vô ích cho những tên bẻm mép vô trách nhiệm làm gì, dù có thể chúng thuộc loại người tài năng. Giá như bây giờ là thời bình, thì chúng ta sẽ tống hắn vào trại tập trung, để người ta nhanh chóng rèn lại đầu óc hắn và sau đó hắn sẽ làm lợi cho đất nước và dân tộc bằng một hoạt động nào đó tại học viện hay trong một nhóm nghiên cứu... Còn hiện nay thì...

- Nhưng nó ăn nói như một thằng Anh-cát-lợi chính cống trên đài phát thanh Luân Đôn... Hoặc như một tên đảng viên xã hội - dân chủ bám đít Mát-xcơ-va vậy.

- Người ta sáng chế ra máy thu thanh là để nghe đài. Hắn đã nghe quá nhiều. Không sao, điều đó bình thường thôi. Bọn tình báo chúng tôi chả thèm chú ý đến chuyện đó. Vài ngày nữa, ta nên gặp lại hắn để thăm dò, xem hắn quả thực là một nhà bác học, hay chỉ là một kẻ mắc bệnh tâm thần. Nếu hắn là một nhà bác học nghiêm túc, tôi và anh sẽ đến gặp ngài Muyn-lơ hay ngài Can-ten-bơ-ru-ne để đề nghị cấp cho hắn một khẩu phần ăn thật khá và đưa vào trong núi, ở đấy vườn hoa khoa học của chúng ta đang nở rộ. Hắn sẽ thôi ba hoa, khi được làm việc ngoài vòng bom đạn, lại có bánh mì với bơ và một ngôi nhà đủ tiện nghi giữa rừng thông. Phải thế không nào?

Khốn-tốp nhếch mép cười:

- Nếu như mỗi người đều có một ngôi nhà trong rừng, nhiều bánh mì với bơ và ở ngoài vòng bom đạn, thì chắc chẳng có ai ba hoa cả...

Sơ-tiếc-lít chằm chằm nhìn Khôn-tốp, cho đến lúc hắn ta không chịu nổi cái nhìn của anh, phải tất tưởi xếp đi, đặt lại mấy chồng giấy tờ trên bàn, anh mới mỉm cười thân ái với người đồng sự cấp dưới của mình...



Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2020, 02:24:04 pm
“Bản tốc ký về cuộc họp ở dinh Quốc trưởmg. Dự họp có thống chế Cây-ten, I-ô-đơn, công sứ Kha-ven - đặc phái viên Bộ ngoại giao, chủ tịch của Đảng Quốc xã Boóc-man, thượng tướng SS Phê-ga-lai - đặc phái viên do hành dinh của thống chế SS Him-le phái tới, Bộ trưởng Công nghiệp Sơ-pe-lơ, đô đốc Phô-xơ, thiếu tá hải quân Luýt-dơ Nây-rát, đô đốc phôn Pút-ca-me, các sĩ quan tùy tùng, các nhân viên tốc ký.

Boóc-man: Ai đi đi lại lại ở đằng ấy mãi thế? Ồn quá! Xin giữ trật tự cho, các ngài quân nhân.

Pút-ca-me: Tôi đã đề nghị đại tá phôn Bê-lốp báo cáo cho tôi biết tình hình lực lượng không quân ở Ý.

Boóc-man: Tôi không nói đến ông ta. Mọi người đều nói cùng một lúc, điều đó luôn luôn gây nên tiếng ồn ào khó chịu.

Hít-le: Tôi thấy việc đó không làm phiền tôi. Ngài đại tướng này, trên bản đồ chiến sự chưa thấy ghi diễn biến tình hình ngày hôm nay ở Cuốc-lan-đi-a đấy.

I-ô-đơn: Thưa Quốc trưởng, ngài chưa để ý kỹ đấy ạ. Mấy chỗ này là dấu mới ghi sáng hôm nay.

Hít-le: Chữ để trên bản đồ quá nhỏ. Cám ơn, bây giờ thì tôi nhìn rõ rồi.

Cây-ten: Tướng Gu-đê-ri-an lại đòi rút các sư đoàn của chúng ta khỏi vùng Cuốc-lan-đi-a.

Hít-le: Đó là một kế hoạch thiếu khôn ngoan. Hiện nay quân của tướng Ren-đu-lích nằm sâu trong hậu phương quân Nga, cách Lê-nin-grát bốn trăm cây số, đang thu hút về phía mình từ bốn mươi đến bảy mươi sư đoàn Nga. Nếu chúng ta rút quân của ta ra khỏi vùng đó, tương quan lực lượng ở ngoại vi Béc Lanh sẽ lập tức thay đổi và hoàn toàn bất lợi cho chúng ta, chứ không như tướng Gu-đê-ri-an lầm tưởng. Trong trường hợp chúng ta rút quân khỏi vùng Cuốc-lan-đi-a, mỗi sư đoàn Đức ở ngoại vi Béc Lanh sẽ phải chống chọi với ít nhất ba sư đoàn Nga.

Boóc-man: Nên làm một nhà chính trị tỉnh táo, ngài thống chế Cây-ten ạ...

Cây-ten: Tôi là quân nhân, chứ không phải là chính khách. 

Boóc-man: Đó là hai khái niệm không tách rời nhau trong thời đại chiến tranh tổng lực.

Hít-le: Để di chuyển quân ra khỏi vùng Cuốc-lan-đi-a, chúng ta cần ít nhất nửa năm, căn cứ vào kinh nghiệm chiến dịch Li-ba-va. Điều đó thật nực cười. Chúng ta chỉ được tính từng giờ, đúng là từng giờ thôi, để giành thắng lợi; căn cứ vào các sự kiện thực tế, chứ không phải vào những lão tướng hão huyền. Bất cứ ai có thể nhìn nhận, phân tích, kết luận, đều có trách nhiệm trả lời chỉ một câu hỏi như sau: có khả năng sắp tới giành được chiến thắng hay không? Tôi không hỏi để nghe lấy một câu trả lời cương quyết có tính chất mù quáng. Tôi không ưa niềm tin mù quáng, tôi tìm kiếm niềm tin dựa trên sự thông hiểu. Thế giới chưa hề chứng kiến một khối liên minh nghịch lý, ngược đời nào như khối các nước đồng minh hiện nay. Sự khác biệt về chất giữa các tư tưởng, khát vọng, nhân tố và tính cách có thể tạo nên một liên minh không phương hại gì đến mình, nhưng điều đó chỉ nói lên một tình thế bế tắc không lối thoát: tôi muốn nói giống như sự cầm tù ở trại tập trung. Ví dụ, ở đó, như người ta kể, các sứ thần của tòa thánh, những tên cộng sản vô thần và bọn cấp tiến Pháp có thể sống tâm đầu ý hợp trong một nhà với bọn bảo thủ Anh. Tình thế bế tắc đẻ ra liên minh. Đó là cái liên minh tuyệt vọng, liên minh vô vọng và phi chủ đích. Trong khi các mục đích của bọn Nga, Anh, Mỹ trái ngược hẳn nhau, thì mục đích của chúng ta hết sức rõ ràng đối với tất cả chúng ta. Trong khi chúng chuyền động do bị chi phối bởi sự khác biệt về khát vọng ý thức hệ, thì chúng ta vận động tiến lên nhờ một khát vọng duy nhất, cuộc sống của chúng ta lệ thuộc vào khát vọng ấy. Trong khi các mâu thuẫn giữa bọn chúng đang phát triển và sẽ phát triển, thì giờ đây, hơn bao giờ hết, sự thống nhất của chúng ta kết thành một khối vững chắc - sau nhiều năm gian khổ và vĩ đại, tôi đã đạt được điểm này. Phá vỡ khối liên minh giữa các kẻ thù của chúng ta bằng con đường ngoại giao hay các con đường khác đều là không tưởng. May lẳm là một sự không tưởng không kèm theo thái độ hoảng loạn và thất vọng. Chỉ bằng cách giáng cho chúng những đòn quân sự, chỉ có biểu lộ tinh thần không khoan nhượng và sức mạnh dồi dào của mình, chúng ta mới thúc đẩy ngày tận số của khối đồng minh đó mà thôi. Khối đồng minh sẽ tan vỡ, khi các vũ khí chiến thắng của chúng ta gầm lên. Không có gì tác động mạnh đến các giới dân chủ phương Tây bằng sự biểu dương lực lượng. Không gì có thể làm cho Xta-lin tỉnh táo bằng, một mặt, thái độ lúng túng của phương Tây, mặt khác, các đòn quân sự của chúng ta. Các ngài nên nhớ rằng, hiện nay, Xta-lin đang tiến hành cuộc chiến tranh không phải ở vùng rừng Bơ-ri-an-xcơ hay trên những cánh đồng U-cơ-ra-i-na, ông ta đang chỉ huy quân đội của mình trên lãnh thổ Ba-lan, Ru-ma-ni, Hung-ga-ri. Khi đặt chân lên những mảnh đất không phải là Tổ quốc mình, quân Nga đã yếu đi, và ở mức độ nhất định, đã mất tinh thần. Nhưng lúc này tôi không chú ý tối đa đến quân Nga hay quân Mỹ. Tôi rất chú ý đến những người Đức! Chỉ có dân tộc ta mới có thể và cần phải chiến thắng! Hiện nay, cả nước ta đã trở thành một pháo đài quân sự. Cả nước ta - tôi muốn nói đến nước Đức, nước Áo, nước Na-uy, một phần nước Hung-ga-ri và nước Ý, phần lãnh thổ đáng kể ở Tiệp Khắc và Bô-hêm nằm dưới sự bảo hộ, nước Đan Mạch và một phần nước Hà Lan. Đó là trái tim của nền văn minh Châu Âu. Đó là nơi tập trung sức mạnh vật chất và tinh thần. Yếu tố chiến thắng đã rơi vào tay chúng ta. Chúng ta, những quân nhân, lúc này giữ phần quyết định việc chúng ta sử dụng nhanh chóng tới mức nào yếu tố ấy để giành chiến thắng. Các ngài hãy tin ở tôi - chỉ sau mấy đòn quyết liệt đầu tiên của quân ta, khối đồng minh sẽ tan vỡ ngay. Những quyền lợi ích kỷ của mỗi nước trong khối đó sẽ che lấp không cho chúng nhìn thấy tầm chiến lược của vấn đề. Để giờ chiến thắng của chúng ta mau gần lại, tôi đề nghị như sau : tập đoàn quân xe tăng SS thứ sáu bắt đầu phản công ở ngoại vi Bu-đa-pét, để một mặt, bào đảm an toàn cho pháo đài phía nam của Đảng Quốc xã ở Áo và Hung, và mặt khác chuẩn bị thọc vào sườn bọn Nga. Các ngài  nhớ cho rằng, chính ở đó, ở phía Nam, ở Nan-ca-ni-giơ, chúng ta có bảy mươi ngàn tấn dầu lửa. Dầu lửa - đó là dòng máu lưu thông trong các động mạch của chiến tranh. Tôi thà nộp thành Béc Lanh còn hơn để mất số dầu lửa ấy, vì nó bảo đảm cho tôi sự bất khả xâm phạm của nước Áo, làm cho nước Áo gắn làm một với quân đội gồm một triệu người của Két-xen-rinh ở Ý. Tiếp đó ở nhóm tập đoàn quân “Vi-xơ-la” sau khi tập hợp lực lượng dự bị sẽ dùng căn cứ quân sự Pô-mê-răng để tiến hành phản công quyết liệt vào sườn bọn Nga. Quân của thống chế SS sau khi chọc thủng tuyền phòng ngự của bọn Nga sẽ thọc sâu vào hậu phương chúng và giành thế chủ động. Được các đơn vị của Stét-tinh trợ giúp, họ sẽ chia cắt mặt trận của bọn Nga thành nhiều mảnh, vấn đề đưa lực lượng dự bị đến ứng cứu đối với Xta-lin là vấn đề của mọi vấn đề. Khoảng cách chống lại ông ta. Ngược lại, khoảng cách ủng hộ chúng ta. Bảy tuyến phòng ngự che chở Béc Lanh và thực sự làm cho nó bất khả xâm phạm sẽ cho phép chúng ta vi phạm các quy luật của nghệ thuật quân sự và di chuyển một khối lượng quân đáng kể từ phía nam và phía bắc sang phía tây. Chúng ta sẽ có dự trữ thời gian: Xta-lin phải mất hai, ba tháng để bố trí lại lực lượng dự bị, còn chúng ta chuyển quân chỉ mất năm ngày, các khoảng cách của nước Đức cho phép làm như vậy, bất chấp các truyền thống chiến lược.

I-ô-đơn: Dầu sao, giá có thể gắn vấn đề ấy với các truyền thống chiến lược thì vẫn hơn…

Hít-le: Ngài muốn nói gì thế, I-ô-đơn?

I-ô-đơn: Tôi thiết nghĩ điều đó rất sáng suốt và có tầm nhìn xa trông rộng, nhưng tôi cho phép mình không tán thành một điều là đem tách rời các chi tiết của kế hoạch này với các truyền chống của khoa học quân sự.

Hít-le: Tôi không nói đến chi tiết mà nói đến đại thể. Cuối cùng, các chi tiết riêng biệt bao giờ cũng có thể giải quyết được ở các ban tham mưu nhỏ các nhóm chuyên gia ngành hẹp. Giới quân sự có hơn bốn triệu người được tổ chức thành một quả đấm kháng cự khổng lồ. Nhiệm vụ của chúng ta là phải tổ chức quả đấm kháng cự khổng lồ ấy thành một miếng đòn chiến thắng khủng khiếp. Hiện nay, chúng ta đang ở vào thời kỳ giống như tháng tám năm 1938. Chúng ta thống nhất thành một khối vững chắc. Chúng ta, dân tộc Đức. Nền công nghiệp quân sự của chúng ta sản xuất số vũ khí nhiều gấp bốn lần so với năm 1939. Quân đội của chúng ta đông gấp hai lần so với năm đó. Lòng căm thù của chúng ta thật đáng sợ, ý chí chiến thắng của chúng ta vô cùng mãnh liệt. Tôi hỏi các ngài: chẳng lẽ chúng ta lại không giành được hòa bình bằng con đường chiến tranh hay sao? Chẳng lẽ chiến thắng quân sự lại không đẻ ra chiến thắng chính trị hay sao?

Cây-ten: Như ngài thủ lĩnh Boóc-man đã nói, nhà quân sự bây giờ đồng thời là nhà chính trị.

Boóc-man: Ngài không đồng ý chăng?

Cây-ten: Tôi đồng ý.

Hít-le: Ngài thống chế, tôi yêu cầu đến mai ngài đã phải chuẩn bị xong cho tôi những đề nghị cụ thể.

Cây-ten: Xin tuân lệnh Quốc trưởng. Chúng tôi sẽ chuẩn bị một kế hoạch đại thể và nếu Quốc trưởng duyệt y thì chúng tôi sẽ bắt tay vào việc hoạch định mọi chi tiết cụ thể”.



Thượng tướng SS Phê-ga-lai, anh vợ của Hít-le, sau khi trở về hành dinh của Him-le, đã thông báo cho hắn biết về cuộc họp cuối cùng dưới hầm boong-ke.

- Mọi giải pháp chính trị cho vấn đề, - Phê-ga-lai nói, - đều bị Quốc trưởng kiên quyết gạt bỏ.

- Giới quân nhân có thái độ như thế nào đối với kế hoạch của Quốc trưởng? - Him-le hỏi.

- Mỉa mai. Kể cũng lạ thật, nhưng chính giới quân nhân lúc này lại đi đến chỗ tin chắc rằng kết cục của chiến tranh không thể giải quyết bằng bất cứ con đường nào khác, ngoài giải pháp chính trị.

- Đầu hàng ư? - Him-le đăm chiêu hỏi, - Người ta đánh nhau đã mệt mỏi rồi chăng?

- Tại sao sứ nhất thiết phải đầu hàng? Thương lượng...


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2020, 02:31:00 pm
Sơ-tiếc-lít về đến nhà lúc bảy giở, khi trời bắt đầu nhá nhem tối. Anh thích nhất mùa này trong năm: tuyết hầu như không còn nữa, sáng sáng những ngọn cây thông cao tràn ngập ánh mặt trời và tưởng chừng bây giờ đã đến mùa hè, có thể đi Mô-gen- dây chơi suốt ngày và ở đó tha hồ câu cá hay ngồi trên ghế bành mà ngủ.

 Ở đây, tại Ba-ben-xbéc, một nơi rất gần Pốt-xơ-đam, anh hiện sống một mình trong ngôi biệt thự nhỏ của mình. Cách đây một tuần, bà quản lý lo việc nội trợ của anh, đã đi về chỗ cháu gái của mình ở Chu-rinh-ghi-a. Bà ta không thể chịu đựng thêm những cuộc ném bom liên tục vì thần kinh đã căng thẳng tột độ.

Bây giờ người dọn dẹp nhà cửa cho anh là cô gái, con ông chủ quán rượu “Người đi săn”. Cô ta rất sáng ý, trẻ trung và xinh xắn. “Chắc cô này là người Xắc-xông, - Sơ-tiếc-lít nghĩ bụng, trong lúc nhìn cô gái khéo léo sử dụng chiếc máy hút bụi cồng kềnh ở phòng khách để làm sạch thảm, - tóc đen, mà mắt thì xanh da trời. Giọng nói của cô gái là giọng Béc Lanh thật đấy, nhưng chắc chắn cô ta vẫn là người Xắc-xông”.

Sơ-tiếc-lít nhìn chiếc đồng hồ kiểu cũ của mình và nghĩ bụng: “Đã đến lúc thay nó rồi. Giá như chiếc “Lông-gin” của mình nhanh hay chậm thì mình còn quen được. Chứ cái đồng hồ này lúc chạy chậm, lúc chạy nhanh, chẳng ra thể thống gì cả”.

- Mấy giờ rồi, cô bé? - Sơ-tiếc-lít hỏi.

- Gần bảy giờ ạ...

Sơ-tiếc-lit mỉm cười: “Cô bé sướng thật... Cô ấy có thể cho phép bản thân nghĩ rằng bây giờ “khoảng chừng bảy giờ”, “gần bảy giờ”. Những người hạnh phúc nhất trên trái đất là những người có thể tự do sử dụng thời gian mà hoàn toàn không sợ gì hậu quả... Nhưng đúng là cô này nói giọng Béc Lanh pha chút thổ ngữ vùng Mếch-len-bua”.

Nghe tiếng xe ô tô chạy lại gần nhà, anh gọi:

- Cô bé ơi, ra xem ai đến thế?

Anh đang ngồi trên ghế bành, cạnh lò sưởi trong căn phòng làm việc nhỏ bé của mình, nghe có tiếng kẹt cửa, cô gái ngó vào và nói:

- Có người bên Sở cảnh sát đến gặp ngài.

Sơ-tiếc-lít đứng dậy, vươn vai kêu răng rắc và đi ra cửa. Một hạ sĩ SS cầm chiếc lẵng to đang đứng ngoài đó.

- Thưa đại tá, người lái xe của ngài bị ốm, tôi thay anh ta mang suất ăn lại hầu ngài ạ...

- Cảm ơn, - Sơ-tiếc-lít trả lời, - Anh hãy để vào tủ lạnh. Cô bé sẽ giúp anh.

Anh không ra tiễn viên hạ sĩ khi hắn quay về. Anh chỉ mở mắt, khi cô gái bước vào phòng làm việc của anh không một tiếng động, cô dừng chân bên cửa và hỏi nhỏ:

- Nếu ngài Sơ-tiếc-lít muốn, em có thể ở lại ngủ đêm ở đây.

“Lần đầu tiên cô bé được nhìn thấy từng ấy thức ăn, - anh bỗng hiểu, - tội nghiệp cho cô bé”.

Anh mở mẳt, duỗi người ra và trả lời:

- Không nên... Không cần ngủ lại, nhưng em có thể lấy một nửa số pho-mát và giò về mà ăn...

- Sao ngài nghĩ như thế, ngài Sơ-tiếc-lít, - cô gái đáp, - em ở lại có phải vì mấy thứ thức ăn đâu...

- Em phải lòng tôi à? Em mê tôi quá hay sao? Mái tóc bạc của tôi đã làm cho em mê muội phải không?

- Trên đời này em thích nhất những người đàn ông tóc đã điểm bạc...

- Thôi được, chuyện tóc điểm bạc thì chúng ta sẽ còn quay lại... sau khi cô em lấy chồng... Em tên là gì?

- Ma-ri... Em đã thưa với ngài rồi mà... Ma-ri...

- Ừ, phải rồi.., mong em tha lỗi. Ma-ri. Ma-ri-a Mac-đa-li-na. Tất cả các cô bé tên là Ma-ri đều đầy rẫy tội lỗi, đúng không nào? Em hãy lấy thức ăn đi và đừng làm dáng nữa. Em bao nhiêu tuổi?

- Mười chín ạ.

- Ồ, một cô gái trưởng thành hẳn hoi rồi. Em từ vùng Xắc-xông đến đây lâu chưa?

- Lâu rồi ạ. Từ ngày cha mẹ em di chuyển đến đây.

- Thôi đi về nghỉ đi, Ma-ri. Kẻo tôi sợ sắp đến giờ oanh tạc, em đi đường nguy hiểm đấy.


Cô gái đã ra về. Sơ-tiếc-lít che kín cửa số bằng những chiếc rèm ngụy trang ánh sáng rồi bật chiếc đèn bàn. Anh cúi người về phía lò sưởi và lúc này mới nhận thấy rằng các thanh củi nhóm lò được xếp hình giếng tròn đúng như anh thích, ngay mấy miếng vỏ cây bạch dương cũng được để ngay ngắn trên chiếc đĩa xanh.

“Mình có bảo cô bé làm như thế không nhỉ... Có bảo hay không? Có, bảo qua thôi. Thế mà cô bé vẫn nhớ, - anh thầm nghĩ trong lúc châm lửa vào miếng vỏ cây bạch dương, - tất cả chúng ta đều nghĩ đến thế hệ trẻ theo quan niệm của những ông giáo già, và khách quan nhìn vào thì thấy cái đó buồn cười thật. Mình thì đã quen coi mình như một ông già  bốn mươi chín tuổi rồi còn gì...”

Sơ-tiếc-lít đợi cho ngọn lửa thèm khát liếm lem lém các thanh củi bạch dương khô cong, anh mới đi lại bàn mở đài. Anh nghe thấy đài Mát-xcơ-va đang truyền đi một bài tình ca cổ xưa. Sơ-tiếc-lít  nhớ có lần Gơ-rinh nói với đám sĩ quan tham mưu của hắn: “Nghe đài địch là không có tinh thần ái quốc, nhưng thỉnh thoảng mình cũng thích nghe xem kẻ địch bịa đặt những câu chuyện vô lý về chúng ta như thế nào.” Lúc ấy, Sơ-tiếc-lít hiểu rằng Gơ-rinh là một thằng hèn, thiếu thông minh: cả tên hầu cận lẫn tên lái xe cho hắn, - tên này đã bị Muyn-lơ thuê tiền, - đều báo tin rằng hắn lén nghe đài địch. Nếu tên “Quốc xã số hai” định dùng cách đó để thanh minh tội lỗi cho mình, thì như thế là hắn hèn nhát và hoàn toàn thiếu tin tưởng vào tương lai. Ngược lại, Sơ-tiếc-lít nghĩ, lẽ ra hắn chẳng cần phải giấu giếm chuyện hắn nghe đài địch một cách khôn khéo, mà chỉ cần chế giễu và nhạo báng luận điệu của đối phương là được. Điều đó chắc chắn sẽ tác động tới Him-le, một kẻ mà óc tư duy chẳng có gì đặc biệt lắm.

Bài tình ca kết thúc bằng khúc nhạc pi-a-nô êm đềm. Giọng nói xa xôi của phát thanh viên Mát-xcơ-va rõ ràng là một người Đức, bắt đầu truyền đi các tần số, qua đó có thể nghe các buổi phát thanh vào thứ tư và thứ sáu hàng tuần. Sơ-tiếc-lít ghi lại các con số. Đó là tín hiệu mật mã ấn định trước cho anh, anh đợi nó đã sáu ngày nay. Anh ghi các con số vào một cột thẳng hàng. Con số khá nhiều, và phát thanh viên có lẽ sợ người ta không kịp ghi chúng nên cẩn thận đọc lại một lần nữa.

Rồi những bài tình ca Nga du dương lại vang lên.

Sơ-tiếc-lít lấy từ trong tủ ra một cuốn sách nhỏ của Môn-ten, anh dịch con số thành chữ và đối chiếu các chữ ấy với khóa mật mã ẩn giữa những nhận xét thông thái của nhà tư tưởng vĩ đại và ôn hòa người Pháp.

Sau khi giải mã bức điện vừa thu được, anh đốt tờ giấy ghi các con số và chữ viết, trộn tàn giấy lẫn với tro trong lò sưởi và uống thêm một ly cô-nhắc.

“Các đồng chí ở nhà cho mình là thiên tài hay là người có thể làm nổi mọi việc ? - Sơ-tiếc-lít thầm nghĩ, - Thật vô cùng nan giải... Mình không thể tin vào những cuộc tiếp xúc ấy...”.

Sơ-tiếc-lít có đủ mọi cơ sở để nghĩ như thế, bởi vì nhiệm vụ trên giao cho anh qua đài phát thanh Mát-xcơ-va mang nội dung như sau:

“A-lêch-xơ gửi Uy-xơ-tác.

Theo tin tức của chúng tôi, ở Thụy Điển và ở Thụy Sĩ đã xuất hiện những sĩ quan an ninh cao cấp SĐ và SS. Chúng đang tìm cách liên lạc với bọn điệp viên cơ sở của các nước Đồng minh. Đặc biệt, ở Béc-nơ bọn SĐ đang cố tìm cách tiếp xúc với các điệp viên của A-len Đa-lét. Đồng chí phải xác định rõ xem các ý đồ tiếp xúc ấy có phải là: 1) tin tức giả nhằm đánh lạc hướng? 2) sáng kiến riêng của các sĩ quan SĐ cao cấp; 3) nhiệm vụ của Trung tâm giao cho chúng, hay không.

Nếu các điệp viên của SĐ và SS thực hiện nhiệm vụ của Béc Lanh, thì phải xác định rõ: ai đã cử chúng đi làm nhiệm vụ ấy. Cụ thể là: kẻ nào trong số các thủ lĩnh cao cấp của Đức quốc xã tìm cách tiếp xúc với phương Tây?

                           A-LẾCH-XƠ”.


Uy-xơ-tác chính là anh, đại tá SS Sơ-tiếc-lít. Ở Mát-xcơ-va, chỉ có ba nhà lãnh đạo cao cấp biết anh là đại tá an ninh Liên Xô Mắc-xim Mắc-xi-mô-vích I-xa-ép mà thôi...


... Sáu ngày trước khi bức điện mật gửi đến tay Sơ-tiếc-lít, Xta-lin, sau khi tìm hiểu những tin tức mới nhất do các chiến sĩ tình báo Liên Xô gửi về, đã mời Cục trưởng Cục tình báo tới nhà nghỉ của Người ở ngoại ô Mát-xcơ-va và nói:

- Chỉ những người ngây thơ về chính trị mới có thể cho rằng nước Đức đã kiệt quệ, và bởi vậy đã hết nguy hiểm... Nước Đức là một chiếc lò xo bị nén lại tới mức tối đa, mà người ta cần phải và có thể bẻ gẫy nó, bằng cách tận lực cố gắng ngang nhau từ cả hai phía. Ngược lại, nếu áp lực từ một phía biến thành điểm tựa hỗ trợ, thì khi bật ra, chiếc lò xo ấy có thể bật mạnh về phía ngược lại. Sức bật đó sẽ rất mạnh, bởi vì, một là bè lũ Hít-le còn hết sức cuồng tín, hệt như ngày trước, và hai là tiềm lực lớn của nước Đức còn lâu mới cạn. Bởi vậy, phá vỡ mọi âm mưu thương lượng giữa bè lũ phát xít với tất cả những thế lực chống Liên Xô ở phương Tây phải được các đồng chí xem như nhiệm vụ số một của mình. Đương nhiên, - Xta-lin nói tiếp, - các đồng chí phải hiểu rằng, các nhân vật chủ chốt trong những cuộc đàm phán riêng rẽ có thể diễn ra ấy chắc sẽ là những phần tử thân cận nhất của Hít-le, những kẻ có uy tín lớn trong nội bộ Đảng Quốc xã cũng như trong dân chúng. Bọn chúng, những phần tử thân cận nhất của Hít-le ấy, phải trở thành đối tượng tập trung chú ý của các đồng chí. Không còn nghi ngờ gì nữa, khi tên bạo chúa sắp đến ngày tận số, các phần tử thân cận nhất của hắn sẽ bán rẻ hắn để cứu lấy mình. Đó là tiền đề của mọi trò chơi chính trị. Nếu các đồng chí bỏ qua những quá trình có thể xảy ra ấy là các đồng chí có lỗi lớn...


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2020, 02:35:26 pm
Đâu đó xa xa vẳng lại tiếng còi báo động phòng không và tiếng cao xạ lập tức nổ giòn. Nhà máy điện cắt điện và Sơ-tiếc-lít ngồi im khá lâu bên lò sưởi nhìn những ngọn lửa xanh đang liếm các đầu thanh củi màu đỏ sẫm như những con rắn.

“Nếu đậy nắp thông hơi lại, - Sơ-tiếc-lít uể oải nghĩ bụng, - thì ba giờ sau mình sẽ thiếp đi, nói như người ta vẫn nói, một giấc ngàn thu... Mình với bà nội của mình đã suýt ngủ một giấc như thế ở I-a-ki-man-ca, khi bà cụ đậy nắp lò quá sớm, trong lúc ở đó vẫn còn những mẩu củi đỏ sẫm và những lưỡi lửa xanh như thế này. Cái thứ hơi đốt mà hai bà cháu mình bị đầu độc vốn không có màu và hoàn toàn không mùi vị... Theo ý mình...”.

Chờ cho các mẩu củi đen hẳn lại và không còn những lưõi lửa xanh, Sơ-tiếc-lít mới đậy nắp thông hơi, châm một ngọn nến lớn cắm vào cổ một chai sâm-banh, và lấy làm lạ rằng mình đã tạo nên một lớp vẩy nến bao xung quanh chai. Anh đã đốt khá nhiều nến, chiếc chai vì thế bị vẩy nến hầu như che lấp hết cả; trông nó giống như một chiếc bình cổ kỳ quặc, sần sùi, màu trắng nhạt, Sơ-tiếc-lit nhờ các bạn mình, những người có việc sang Tây Ban Nha, mua về cho anh các loại nến màu khác nhau. Rồi anh đem những chiếc chai lạ lùng ấy đi tặng những người quen.

Hai tiếng nổ mạnh vang lên rất gần nhà anh.

“Bom tấn rồi, - anh xác định. - Họ ném bom giỏi lắm. Đúng là họ ném bom giỏi thật. Dĩ nhiên, nếu họ nện trúng xuống nhà mình thì đáng trách quá. Anh em ta sẽ chẳng còn tìm ra dấu vết của mình ở đâu nữa. Nói chung, phải chết tan xác thì thật là khó chịu. Xa-sen-ca ơi, - bỗng nhiên anh như nhìn thấy khuôn mặt vợ anh. - Xa-sen-ca, vợ yêu của anh ơi; Xa-sen-ca, con trai lớn của bố ơi… Bây giờ bố chẳng muốn chết tí nào. Dù nhà có sụp xuống, thì bằng bất cứ cách nào, bố cũng phải chui ra. Nếu chỉ có một mình trên đời thì chết cũng chẳng đáng sợ lắm. Chứ đã gặp con rồi thì bố không muốn chết tí nào. Những anh ngốc hay viết trong tiểu thuyết, rằng ông ta lặng lẽ nhắm mắt xuôi tay bên cạnh những người thân yêu. Không có gì đáng sợ hơn là phải chết trên tay những đứa con yêu quí, chỉ được nhìn thấy chúng lần cuối cùng, cảm thấy chúng rất gần gũi với mình và hiểu rằng thế là vĩnh viễn biệt ly, thế là hết, chỉ còn lại nỗi đau khổ ghê gớm cho các con...”

Một lần, Sơ-tiếc-lít có cùng với Sê-len-béc dự buổi chiêu đãi tại đại sứ quán Liên Xô ở phố Un-te-đen-lin-đen. Tại đó, anh với Sê-len-béc có nói chuyện với một nhà ngoại giao trẻ tuổi Liên Xô. Với vẻ mặt ủ dột - phong thái thông thường của mình - anh lắng nghe cuộc tranh luận giữa nhà ngoại giao Nga với tên Cục trưởng cục tình báo chính trị quốc xã về cái quyền của con người tin vào lá bùa hộ mệnh, vào linh tính và mọi trò nguyên thủy khác, theo cách nói của người bí thư sứ quán. Cũng như tất cả mọi lần, trong cuộc tranh luận vui vẻ này, Sê-len-béc tỏ ra khôn khéo, biết chứng minh và nhân nhượng. Sơ-tiếc-lít nổi giận, khi thấy hắn lôi anh bạn Nga vào vòng tranh luận.

“Hắn đang rọi đèn pha, - anh thầm nghĩ, - để nhìn cho kỹ đối phương. Tính cách con người bộc lộ rõ rệt hơn bao giờ hết trong khi tranh cãi. Điều đó Sê-len-béc biết nhận ra hơn bất kỳ ai”.

- Nếu ngài hiểu rõ tất cả mọi điều trên thế giới này, - Sê-len-béc nói tiếp, - thì khi đó đương nhiên ngài có quyền bác bỏ niềm tin của con người vào sức mạnh của lá bùa hộ mệnh. Nhưng liệu ngài đã hiểu rõ tất cả mọi điều hay chưa? Ý tôi không muốn nói đến ý thức hệ, mà tới vật lý, hóa học, toán học...

- Có nhà vật lý hay toán học nào, - đồng chí bí thư sứ quán nhà ta hăng lên, - lại đeo lá bùa lên cổ rồi mới bắt tay tính toán bao giờ? Điều đó thật vô nghĩa.

“Anh ta chỉ nên dừng lại ở cuối câu hỏi thôi mới phải, - Sơ-tiếc-lít thầm nhận xét, - nhưng anh ta đã không kìm được, nên đã tự trả lời câu hỏi của mình. Trong lúc tranh luận, điều quan trọng là đặt câu hỏi, như thế sẽ thấy rõ phía đối phương, và lại trả lời bao giờ cũng phức tạp hơn là đặt câu hỏi...”.

- Nhà vật lý hay nhà toán học có thể đeo bùa hộ mệnh nhưng không trưng nó ra lắm chứ? - Sê-len-béc hỏi: - Hay là ngài phủ nhận khả năng đó?

- Phủ nhận khả năng nào đó là điều ngây thơ. Phạm trù khả năng là một cách nói khác của khái niệm triển vọng.

“Trả lời được... - Sơ-tiếc-lít lại nhận xét thầm, - Nên hỏi móc lại, chẳng hạn “Ngài có đồng ý như thế không ?” Nhưng anh ta lại không hỏi mà cứ tiếp tục hứng đòn”.

- Như thế, có lẽ chúng ta cũng nên liệt cả lá bùa hộ mệnh vào phạm trù khả năng chưa rõ rệt chăng? Hay là ngài phản đối điều đó?

Sơ-tiếc-lít quyết định đỡ lời:

- Bên Đức đã thắng trong cuộc tranh luận, - anh khẳng định, - song để cho được công tâm, cũng phải thừa nhận rằng, trước những câu hỏi tuyệt diệu của nước Đức, nước Nga đã đưa ra những câu trả lời không kém phần tuyệt diệu. Chúng ta đã giải quyết xong đề tài này, nhưng tôi không hiểu phía chúng tôi sẽ ăn nói ra sao, nếu bên Nga giành chủ động trong tấn công bằng cách hỏi trước...

“Hiểu ý chưa, anh bạn ?” - cặp mắt Sơ-tiếc-lít lộ vẻ dò hỏi, và căn cứ nét mặt của nhà ngoại giao Nga, Sơ-tiếc-lít biết rằng anh ta đã hiểu bài học của anh.

“Đừng nóng giận, anh bạn thân mến, - anh nghĩ khi nhìn nhà ngoại giao bỏ ra chỗ khác, - người đáng nổi nóng là tôi, chứ không phải ai khác... Có điều là anh bạn đã sai, khi nói về lá bùa hộ mệnh... Những lúc tôi hết sức khó khăn và cần quyết định một nước cờ liều lĩnh - mà nước cờ của tôi bao giờ cũng nguy hiểm chết người - thì tôi lại đeo lá bùa hộ mệnh lên ngực. Đó là nắm tóc của Xa-sen-ca... Tôi đã phải vứt chiếc bao do vợ tôi khâu đi vì nó có vẻ của người Nga rõ quá, và mua một chiếc bao của Đức, vừa nặng, vừa đắt tiền, để đặt nắm tóc vàng rượi của vợ tôi - của Xa-sen-ca vào trong. Và nắm tóc ấy chính là lá bùa hộ mệnh của tôi…”.

Hai mươi ba năm trước, ở Vla-đi-vô-xtốc, anh được gặp Xa-sen-ca lần cuối, trước khi lên đường hoàn thành nhiệm vụ do đồng chí Đgiéc-gin-xki giao phó: nhập vào đám bạch vệ lưu vong; đầu tiên anh sang Thượng Hải, rồi tới Pa-ri. Từ cái ngày mưa gió, đáng sợ, xa xôi ấy, hình ảnh nàng luôn luôn sống trong anh, nàng đã trở thành một bộ phận của cơ thể anh, hòa làm một với anh, biến thành một phần “cái tôi” của anh...

Anh  nhớ lại buổi gặp gỡ tình cờ giữa anh với đứa con trai vào một đêm khuya ở Cờ-ra-cốp. Anh  nhớ lúc “Gờ-ri-san-tsi-cốp” đến khách sạn gặp anh như thế nào. Hai cha con bật đài và thì thầm nói chuyện với nhau. Anh đã đau khổ ra sao, khi phải tạm biệt đứa con trai mà số phận đã xui khiến nó chọn đúng con đường của anh. Sơ-tiếc-lít biết rằng, con trai anh đang ở Pra-ha, rằng nó có nhiệm vụ cứu thành phố ấy khỏi bị nổ tung, hệt như anh đã cùng thiếu tá Vi-khơ-ri cứu thoát thành phố Cờ-ra-cốp. Anh biết rằng công việc của mình hiện giờ đang hết sức phức tạp, nhưng anh cũng hiểu rằng mọi ý đồ tìm cách gặp mặt đứa con - từ Béc-Lanh đến Pra-ha xe chỉ chạy hết cả thảy sáu giờ đồng hồ, - đều có thể dẫn anh tới chỗ nguy hiểm.

Sơ-tiếc-lít đứng dậy, lấy một cây nến, rồi bước lại bàn. Anh rút mấy tờ giấy ra và đặt đều trên bàn như khi chơi đố bài. Trên một tờ, anh vẽ một người cao to. Anh định viết chữ Gơ-rinh bên dưới, nhưng lại thôi. Trên tờ thứ hai, anh vẽ mặt Gơ-ben, trên tờ thứ ba anh vẽ một khuôn mặt to có vết sẹo: Boóc-man. Nghĩ một lát, anh viết trên tờ - thứ tư mấy chữ : “Thống chế SS”. Đó là chức vị của cấp chỉ huy anh - Hen-rích Him-le.

Gạt ba tờ sang một bên, Sơ-tiếc-lít dịch lại gần mình tờ có vẽ hình Gơ-rinh và bắt đầu vẽ những hình tròn và hình vuông mà chỉ một mình anh hiểu. Anh nối các hình ấy lại với nhau bằng hai nét đậm, một nét nhạt hoặc chỉ bằng những nét chấm mờ.

... Người chiến sĩ tình báo, nếu đang ở nơi tập trung những sự kiện quan trọng nhất, phải làm một người cực kỳ đa cảm, thậm chí dễ xúc động như một diễn viên, nhưng cái tính đa cảm ấy phải được che giấu bởi sự lạnh lùng của một thứ lô-gích chắc chắn và rõ ràng.

Những khi tỉnh giấc giữa đêm khuya, đôi lúc Sơ-tiếc-lít cho phép tự coi mình đang là I-xa-ép. Anh lập luận như sau: làm một chiến sĩ tình báo chân chính nghĩa là thế nào? Thu lượm tin tức, phân tích, chọn lọc các sự kiện khách quan rồi chuyển về trung tâm để khái quát về chính trị và tìm ra giải pháp chăng? Hay là rút ra những kết luận của chính mình, vạch rõ triển vọng của mình và đề xuất các dự định của mình? Và nếu mi, Mắc-xim I-xa-ép, chính mi cảm thấy chính xác cái mà mi đang mong đợi trong tương lai, thì mi có quyền tác động tới tương lai ấy hay không! I-xa-ép cho rằng cái bất hạnh của công tác tình báo thể hiện ở chỗ: khối lượng thông tin quá lớn lấn áp mất triển vọng, che giấu nó, làm cho các quyết định mang tính chất chủ quan, chứ không còn là những hậu quả khách quan của việc phân tích sự thật, dù sự thật ấy đáng buồn hay đáng vui đến mức nào. I-xa-ép nghĩ rằng nếu cho phép ngành tình báo lo việc vạch kế hoạch chính trị, thì có thể xảy ra tình hình là ý kiến đề nghị quá nhiều, mà tin tức lại quá ít. I-xa-ép cho rằng, anh, một chiến sĩ tình báo, trước hết phải có thái độ khách quan. Sẽ rất tệ hại, nếu ngành tình báo hoàn toàn lệ thuộc vào một đường lối chính trị vạch ra từ trước điều đó đã xảy ra với Hít-le, khi hắn vì tin vào sự suy yếu của Liên Xô, đã bỏ ngoài tai những ý kiến thận trọng của giỏi quân sự nêu ra, rằng nước Nga không yếu ớt như người ta tưởng. Cũng sẽ rất tệ hại, nếu ngành tình báo mưu toan bắt chính trị lệ thuộc vào mình. Sẽ lý tưởng, nếu người làm công tác tình báo thấy rõ triển vọng của sự phát triển quan trọng nhất của các sự kiện và đề nghị với các nhà chính trị hàng loạt giải pháp mà người ấy cho là hợp lý nhất.

I-xa-ép nghĩ rằng người chiến sĩ tình báo có quyền nghi ngờ tính chất đúng đắn của những dự kiến do mình đưa ra. Anh ta không có quyền xa rời phương pháp khách quan trong khi nghiên cứu thực tại.

Giờ đây, khi bắt tay vào việc phân tích lần cuối cùng vốn tài liệu mà anh đã thu thập được suốt trong những năm qua, Sơ-tiếc-lít phải cân nhắc tất cả các lý lẽ “tán thành” và “phản đối” của mình; vấn đề này liên quan tới số phận hàng triệu con người, do đó anh không thể phạm sai lầm trong khi phân tích.

... Lần đầu tiên, Sơ-tiếc-lít tập trung toàn bộ chú ý xem xét kẻ kế tục Hít-le - tên “quốc xã số hai” - là Gơ-rinh vào tháng tư năm 1943, sau trận ném bom của tám trăm “pháo đài bay” của Mỹ xuống thành phố Kin-lơ. Thành phố bị hủy diệt hoàn toàn, Gơ-rinh báo tin cho Quốc trưởng rằng trong trận ném bom ấy có ba trăm máy bay địch tham gia, Thị trưởng thành phố Kin-lơ là Gơ-rốc, tóc bạc trắng sau những ngày đêm bị ném bom, đã đưa ra những số liệu bác bỏ lời Gơ-rinh trong trận ấy có tám trăm “pháo đài bay” tham gia và lực lượng không quân Đức đã hoàn toàn bất lực, không thể cứu nổi thành phố.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2020, 02:37:30 pm
Hít-le nín lặng nhìn Gơ-rinh, chỉ thấy da mặt hắn giật giật khinh bỉ, tay trái hắn không biết đặt vào đâu, tưởng chừng cả người Quốc trưởng ngứa ngáy như người mắc bệnh vẩy nến. Rồi sầm sầm nổi giận:

- Sẽ không một trái bom nào của kẻ địch rơi xuống các thành phố Đức chứ?! - Hít-le nói to, giọng đau đớn, mắt không nhìn Gơ-rinh. - Ai đã huyênh hoang tuyên bố như thế với nhân dân? Ai đã làm cho Đảng ta tin như vậy ?! Tôi có đọc trong sách thấy người ta viết về các kiểu đánh bài, tôi không lạ gì khái niệm đánh lừa! Nước Đức không phải là chiếc bàn lót nhung cho người ta ngồi đánh bài! - Hít-le hầm hầm nhìn Gơ-rinh và nói tiếp: - Ngài đã chìm sâu vào cuộc sống xa hoa, đài các, ngài Gơ-rinh ạ! Giữa lúc chiến tranh mà ngài sống như một ông hoàng hay như một tên trùm tài phiệt Do Thái! Ngài đem cung tên đi bắn hươu, trong khi máy bay kẻ thù đem bom đạn trút xuống đầu dân tộc tôi! Sứ mệnh của một lãnh tụ - đó là sự cao cả của dân tộc. Bổn phận của lãnh tụ là phải khiêm tốn! Nghề nghiệp của lãnh tụ là thực hiện đúng các lời hứa của mình!

Sau đó, người ta được biết rằng, nghe xong những lời ấy, Gơ-rinh đã về nhà mình và đi nằm với thể trạng sốt cao, kèm theo những cơn co giật thần kinh ghê gớm. Hắn liền đến thăm các thành phố bị ném bom, gặp mặt dân chúng, yêu cầu lập tức cứu chữa những người bị thương và giúp đỡ các nạn nhân, tổ chức lại lực lượng phòng không của thành phố, rồi sau đó đi nằm với thể trạng sốt cao; huyết áp tăng lên, tay chân lạnh ngắt, thái dương nhức như búa bổ, trán đau như bị vòng sắt siết căng. Him-le, trong lúc cố thu thập các tài liệu cho hồ sơ tố cáo Gơ-rinh của mình, đột nhiên gặp cái trò vờ vịt ấy, liền yêu cầu cho hắn xem kết luận của bác sĩ. Song các số liệu khám nghiệm của y tế đều xác nhận rằng huyết áp của Gơ-rinh quả có tăng vọt lên thật.

Thế là, năm 1942, lần đầu tiên Gơ-rinh, người kế tục chính thức của Hít-le đã bị phê phán một cách nhục nhã đến thế trong lúc đủ mặt văn võ bá quan. Sự kiện ấy lập tức được đưa ngay vào hồ sơ của Him-le và sáng ngày hôm sau, chẳng cần xin phép Hít-le, viên thống chế SS đãấ ra lệnh tiến hành nghe trộm mọi cuộc nói chuyện điện thoại của “người bạn chiến đấu thân cận nhất của Quốc trưởng”.

Lần đầu tiên, được sự đồng ý của Quốc trưởng, trong vòng một tuần lễ Him-le đã ra lệnh nghe trộm các cuộc nói chuyện của thống chế Gơ-rinh sau vụ tai tiếng với em mình là An-be Gơ-rinh. Sau khi Gơ-rinh anh đưa Gơ-rinh em từ Viên đến Pra-ha phụ trách việc xuất khẩu của các nhà máy hãng “Scô-đa”, vốn nổi danh là người bảo vệ những ai bị lăng nhục, Gơ-rinh em đã lấy một bản mẫu của ông anh và viết mấy chữ cho tên chỉ huy trại tập trung Mau-khau-den: “Lập tức trả tự do cho giáo sư Kít vì không có chứng cớ đáng kể về ông ta”. Rồi ký tên dưới chữ “Gơ-rinh”. Không kèm thêm chữ cái ở đầu tên, họ. Tên chỉ huy trại tập trung sợ quá, vội thả hai người tên là Kít một là giáo sư, còn người kia là cán bộ cộng sản đang hoạt động bí mật. Gơ-rinh phải tốn nhiều công sức mới cứu em khỏi bị trừng phạt, bằng cách kể cho Quốc trưởng nghe câu chuyện ấy như một giai thoại nực cười. Sự việc trót lọt, và Him-le lập tức tránh sang một bên và cũng vừa cười đùa vừa kể lại chuyện đó hệt như Quốc trưởng.

I-xa-ép xác định với mình rằng, nội đung chủ yếu trong lời phê phán của Hít-le đối với Gơ-rinh, sau vụ thành phố Kin-lơ bị ném bom, là Hít-le nhắc đến cảnh sống sa hoa, vương giả. Chính cái điều mà suốt mười năm qua toàn bộ bọn cận thần khác của Hít-le cố tìm cách moi móc nhưng luôn luôn được Quốc trưởng bảo vệ, nay đã bị Hít-le quy thành tội của kẻ kế tục mình.

Tuy nhiên, sau sự kiện ấy, Hít-le vẫn nói với Boóc-man:

- Không một ai khác có thể kế tục tôi, ngoài Gơ-rinh. Một là, không bao giờ ông ấy can thiệp vào đường lối chính trị độc lập, hai là, ông ấy có uy tín với dân chúng và, ba là, ông ấy là đối tượng chính để báo chí đối phương tập trung châm biếm và đả kích.

Hít-le đã nói như thế về cái người đã tiến hành toàn bộ hoạt động thực tế nhằm thâu tóm quyền lực, cái người đã nói hết sức thành thực và với vợ mình, chứ không phải với ai khác, và không phái trước các máy ghi âm - lúc ấy hắn không tin rằng, một lúc nào đó, các chiến hữu của hắn lại có thể nghe trộm lời hắn - vào ban đêm, lúc đang nằm trên giường, như sau:

- Không phải anh đang sống, mà là Quốc trưởng đang sống trong anh...

Là phi công lái máy bay chiến đấu trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ nhất, người hùng của nước Đức đế chế, sau thất bại của cuộc bạo động đầu tiên của bọn quốc xã, Gơ-rinh chạy trốn sang Thụy Điển. Hắn bắt đầu đi làm phi công hàng không dân dụng ở bên đó và một lần, trong lúc chở hoàng thân Rô-den, mặc dù gặp cơn bão khủng khiếp, Gơ-rinh vẫn may mắn và khéo léo cho máy bay của mình hạ cánh an toàn xuống lâu đài Rô-cơn-stát. Tại đây, hắn làm quen với cô Ca-ri-na phôn Cát-xốp, con gái của đại tá phôn Phốc, khiến cô ta bỏ chồng để lấy hắn, rồi hắn quay về Đức gặp Hít-le, tham gia cuộc biểu tình của Đảng Quốc xã ngày 9 tháng mười một năm 1923, bị thương, nhưng kỳ lạ thay lại không bị bắt. Hắn liền xuất dương sang In-xơ-brúc, nơi Ca-ri-na đang chờ hắn. Hai vợ chồng hắn không có tiền, nhưng được lão chủ khách sạn nuôi không, vì lão ta cũng là đảng viên Quốc xã như Gơ-rinh và rất cay cú trước việc người Do Thái chiếm giữ bảy mươi phần trăm khách sạn ở In-xơ-brúc. Sau đó, chủ khách sạn “Bri-ta-nhơ”, mời vợ chồng Gơ-rinh tới Vê-nê-xi-a và hắn sống ở đó cho đến năm 1937, đến ngày nước Đức công bố lệnh ân xá. Gần nửa năm sau, cùng với mười một đảng viên Quốc xã khác, Gơ-rinh trở thành nghị sĩ quốc hội Đức. Bấy giờ Hít-le không được ra ứng cử vì hắn là người Áo.

Cần phải chuẩn bị cho cuộc bầu cử mới. Theo quyết định của Hít-le, Gơ-rinh thôi công tác đảng và chỉ còn làm nghị sĩ quốc hội. Nhiệm vụ của hắn hồi ấy là phải tìm cách liên hệ với những nhân vật có thế lực đương thời. Muốn giành lấy chính quyền, đảng Quốc xã phải có mối liên hệ rộng rãi. Theo quyết định của đảng, Gơ-rinh thuê mệt biệt thự lộng lẫy ở phố Ba-đen. Hoàng thân Gô-ghen-txô-le, hoàng thân Cô-bua và các trùm tư bản bắt đầu đến chơi nhà hắn. Linh hồn của biệt thự là Ca-ri-na. Là một phụ nữ quý tộc hết sức quyến rũ - con gái một viên chức cao cấp của Thụy Điển, vợ của một anh hùng trong chiến tranh, của một chiến sĩ từng bị đầy đọa, lưu lạc, của một người chống đối nền dân chủ thả lỏng ở phương Tây, một nền dân chủ không đủ sức chống lại “chủ trương phá hoại của bọn bôn-sê-vích”, Ca-ri-na đã thu phục được tất cả mọi người.

Cứ mỗi khi có tổ chức chiêu đãi, thì Gơ-ben, bí thư đảng bộ Quốc xã Béc Lanh, lại tới nhà hắntừ sáng sớm, Gơ-ben là người liên lạc giữa đảng với Gơ-rinh, Gơ-ben ngồi chơi dương cầm, còn Gơ-rinh, Ca-ri-na và Tô-mát, con trai riêng của Ca-ri-na với người chồng trưởc, thì hát các bài dân ca; kẻ cầm đầu khối nghị sĩ quốc xã trong quốc hội không thể chịu nổi các nhịp diệu phóng khoáng của loại nhạc jazz Pháp, Mỹ.
Ngày 5 tháng giêng năm 1931, chính Hít-le, Sác-tơ và Ti-xen đã đến tòa biệt thự do đảng bỏ tiền ra thuê này. Chính biệt thự lộng lẫy này đã chứng kiến sự cấu kết giữa bọn trùm tư bản tài chính và công nghiệp với thủ lĩnh đảng Quốc xã Hít-le.

Sau đó là thắng lợi của Hít-le. Ca-ri-na đi máy bay sang thăm Thụy Điển và chết tại đó trong một cơn động kinh. Ước nguyện cuối cùng của ả là cứ để Ghéc-man Gơ-rinh làm tất cả những gì khiến nó trở thành người làm công cho Quốc trưởng.

Sau cuộc đảo chính của Rê-mơ, khi mà nhiều đảng viên lão thành phản đối thủ lĩnh, cho rằng y đã bán rẻ lý tưởng bẳng cách cấu kết với giới tư bản, thì trong các tổ chức cơ sở của đảng Quốc xã, người ta bắt đầu xì xào:

- Gơ-rinh không còn là Ghéc-man, ông ta đã trở thành tổng thống mất rồi... Ông ta không tiếp các đồng chí của mình, mà bắt họ xếp hàng chờ đợi trong văn phòng của ông ta... Ông ta đã đắm mình trong cảnh sa hoa, đài các…

Đầu tiên chỉ có những đảng viên thường xì xào với nhau. Nhưng đến năm 1935, sau khi Gơ-rinh xây dựng lâu đài Ca-rin-kha-le ở ngoại ô Béc Lanh, thì không phải các đảng viên thường nữa, mà ngay các nhân vật cỡ lớn của đảng Quốc xã như Lây và Dau-ken cũng đều phàn nàn với Hít-le về Gơ-rinh. Gơ-ben thì cho rằng Gơ-rinh đã bắt đầu trở nên sa đọa trong biệt thự của mình.

- Cảnh sống sa hoa làm cho con người trở nên đồi bại. - Gơ-ben nói, - cần phải giúp đỡ Gơ-rinh, vì ông ấy là người quá ư quí giá đối với tất cả chúng ta.

Hít-le đến xem xét kỹ lâu đài của Gơ-rinh rồi nói:

- Hãy để cho Gơ-rinh được yên thân… Rốt cuộc, chỉ có mình ông ta biết cách nên ra mắt các nhà ngoại giao phương Tây như thế nào. Ca-rin-kha-le sẽ là dinh thự tiếp đãi khách nước ngoài... Ta hãy làm như vậy! Ghéc-man xứng đáng với điều đó. Ta hãy coi Ca-rin-kha-le là tài sản của nhân dân, còn Gơ-rinh chỉ là người sống ở đó thôi...

Trong lâu đài ấy, theo lời đại sứ Tiệp Khắc Met-xơ-nưi báo tin về nước mà người ta nghe trộm được, Gơ-rinh luôn luôn có mặt ở nhà, say sưa đọc Giun Véc-nơ và Các-lơ Mây, hai nhà văn mà hắn ưa thích nhất. Tại đây, hắn đi săn hươu bằng cung tên, còn tối tối thì ngồi lỳ trong phòng chiếu phim hàng mấy giờ liền. Hắn có thể xem liền tù tì năm bộ phim trinh thám. Trong lúc xem phim, hắn thưởng an ủi khách khứa của mình:

- Các bạn đừng lo, đoạn kết bao giờ cũng có hậu...


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 23 Tháng Tư, 2020, 02:42:25 pm
Sơ-tiếc-lít gạt tờ giấy vẽ thân hình cao to của Gơ-rinh sang một bên và kéo tờ giấy vẽ mặt Gơ-ben nhìn nghiêng lại gần mình. Vì chuyên môn mò đến Ba-ben-xơ-béc, nơi đặt xưởng phim quốc gia và là nơi tất cả các nữ tài tử đang sống, cho nên Gơ-ben bị người ta gọi là “con bò đực Ba-ben-xơ-béc”. Trong hồ sơ về Gơ- ben, có đoạn băng ghi âm cuộc nói chuyện giữa phu nhân Gơ-ben với Gơ-rinh, khi Gơ-ben đang say mê cô tài tử Li-đa Ba-rô-va, người Tiệp. Lần ấy, Gơ-rinh bảo phu nhân Gơ-ben như sau:

- Ông ấy sẽ đập vỡ trán ông ta vì mấy mụ đàn bà cho mà xem. Thật là nhục nhã! Một người chịu trách nhiệm lớn lao về ý thức hệ của chúng ta, mà lại đi bôi nhọ mình bằng lối chơi bời gặp chăng hay chớ như thế!

Hít-le khuyên phu nhân Gơ-ben nên ly dị chồng:

- Tôi sẽ ủng hộ phu nhân, - Hít-le nói, - còn ông Gơ-ben thì tôi kiên quyết từ chối các cuộc gặp riêng, cho đến khi nào ông ấy hiểu rõ rằng, một đảng viên quốc xã chân chính, một người có đạo đức cao quý và biết thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng của mình trước gia đình, phải xử sự ra sao cho phải đạo...

Bây giờ, tất cả những chuyện ấy đã trở thành thứ yếu - tháng giêng năm nay, Hít-le có tới nhà Gơ-ben dự lễ sinh nhật. Hắn mang tặng phu nhân Gơ-ben một bó hoa và nói:

- Xin lỗi vì tôi đã đến muộn, nhưng tôi đã phải đi khắp Béc Lanh mới mua được từng này hoa - ông bí thư đảng bộ quốc xã của Béc Lanh là Gơ-ben đã đóng cửa tất cả các cửa hàng hoa, vì cuộc chiến tranh tổng lực không cần đến hoa mà...

Bốn mươi phút sau, khi Hít-le đã ra về, phu nhân Gơ-ben bảo chồng:

- Quốc trưởng chẳng đời nào đến thăm vợ chồng Gơ-rinh như thế này...

Béc Lanh hàng ngày bị bom đạn tàn phá, mặt trận diễn ra cách thủ đô của nước Đức nghìn năm văn hiến một trăm bốn mươi cây số, nhưng phu nhân Gơ-ben - Mác-đa đang hân hoan với thắng lợi của mình. Đức lang quân đứng bên cạnh, mặt tái đi vì quá sung sướng sau sáu năm xa lánh, Quốc trưởng đã lại tới nhà thăm hắn...


“Bây giờ thì chuyện đó không quan trọng nữa rồi, - Sơ-tiếc-lít tiếp tục suy luận, - bây giờ tất cả đều trở nên vô nghĩa...”.

Anh vẽ một vòng tròn lớn, rồi bắt đầu chậm rãi vạch rất nhiều nét mảnh và rất thẳng xuyên qua vòng tròn, Lúc này, anh nhớ lại tất cả những gì liên quan tới cuốn nhật ký của Gơ-ben. Anh biết rằng thống chế SS Him-le rất quan tâm đến quyển nhật ký ấy và có thời kỳ đã cố gắng tối đa để được đọc nó. Anh chỉ được xem ảnh chụp một số trang. Sơ-tiếc-lít có trí  nhớ kỳ lạ là anh có thể chụp ảnh bằng mắt toàn bộ lời văn và ghi nhớ toàn bộ hầu như một cách máy móc, không cần bất cứ cố gắng nào.

“9 tháng 12 năm 1943. Bên Anh đang bị dịch cúm, - Gơ-ben ghi. - Ngay quốc vương cũng ốm. Giá trận dịch này trở thành định mệnh đối với nước Anh thì hay quá, nhưng khó có hy vọng điều đó trở thành hiện thực.

2, tháng 3 năm 1943. Mình chưa thể nghỉ ngơi nếu toàn bộ bọn Do Thái chưa bị tống cổ ra khỏi Béc Lanh. Sau khi nói chuyện với Sơ-pê-e ở Ô-be-dan-xơ-béc, mình đến nhà Gơ-rinh. Hầm rượu của ông ta có tới 35 ngàn chai sâm-banh. Một đảng viên quốc xã như vậy đấy! Ông ta mặc một chiếc áo thụng, màu sắc chiếc áo làm mình hoa cả mắt. Nhưng biết làm thế nào, đành phải chấp nhận con người thực của ông ta thôi”.

Sơ-tiếc-lít cười khẩy; vì anh  nhớ tới lần Him-le cũng đã nói như thế về Gơ-ben. Đó là vào năm 1943. Hồi ấy, Gơ-ben sống ở nhà nghỉ mát, trong một biệt thự nhỏ xinh, dùng làm “nơi làm việc” cho hắn, chứ không ở toà nhà lớn cùng với gia đình. Biệt thự ấy nằm bên cạnh một chiếc hồ và có thể lọt vào bên trong mà không phải vượt rào; vì ở phía tiếp giáp với hồ có một đám lau sậy khá dày, nước chỉ ngập mắt cá chân, còn trạm canh gác, bảo vệ của đội SS thì đặt ở phía khác. Các nữ tài tử đến với Gơ-ben theo lối này. Họ đi xe lửa tới ga gần nhất rồi tắt qua rừng vào đây. Gơ-ben cho rằng việc dùng ô tô chở gái là sự xa xỉ quá mức mà một đảng viên quốc xã chưa xứng đáng được hưởng. Hắn đích thân dẫn họ lách đám lau sậy vào nhà, rồi gần sáng, khi đội SS ngủ gà ngủ gật, hẳn lại đưa họ ra. Him-le dĩ nhiên thừa biết việc đó. Và Him-le đã nói: “Biết làm thế nào, đành phải chấp nhận con người thực của ông ta thôi”.

Sơ-tiếc-lít vò nhàu hai tờ giấy vẽ Gơ-rinh và Gơ-ben, châm vào ngọn nến để đốt và chờ đến lúc lửa bén rát ngón tay, anh mới ném chúng vào lò sưởi. Anh lấy chiếc que cời bằng gang khá đẹp dũi dũi tàn giấy rồi lại quay ra bàn ngồi và châm thuốc lá.

Sau đó, anh kéo hai tờ giấy còn lại về phía mình. Đó là Him-le và Boóc-man.

“Mình loại trừ Gơ-rinh và Gơ-ben. Người ta sẽ không trông chờ gì vào họ. Cả hai tên ấy đều không. Gơ-rinh rõ ràng có thể đàm phán đấy, nhưng hắn đang bị ghét bỏ, hắn chẳng tin ai. Còn Gơ-ben? Không. Tên này sẽ không đàm phán đâu. Hắn cuồng tín lắm, hắn sẽ chống chọi đến cùng, vả lại cũng không nên dựa vào hắn, bởi vì lập tức hắn sẽ tìm bạn đồng minh ngay. Còn một trong hai tên thôi: Him-le hay Boóc-man? Nếu mình được một trong hai tên này bảo đảm để hoạt động chống lại tất cả bọn còn lại, thì mình sẽ thắng. Nếu mình tính lầm - thì mình chỉ còn là một cái xác. Không được chậm trễ. Dựa vào tên nào bây giờ? Rõ ràng, nên dựa vào Him-le. Rõ ràng là không đời nào hắn có thể tiến hành đàm phán - hắn biết tên tuổi của hắn bị mọi người căm giận tới mức nào... Đúng, rõ ràng là phải dựa vào Him-le...”.


Đúng vào lúc ấy, từ hầm ngầm của Quốc trưởng, Gơ-rinh trở về lâu đài Ca-rin-kha-le của mình với vẻ mặt hốc hác, tái xanh và một cơn đau đầu dữ dội. Sáng hôm nay, hắn có đi ô tô ra mặt trận, tới chỗ xe tăng Nga chọc thủng tuyến phòng ngự. Từ đó, hắn lập tức trở về gặp Hít-le.

- Ngoài mặt trận hoàn toàn vô tổ chức, - Gơ-rinh nói, - hoàn toàn rối loạn. Cặp mắt của những người lính hoàn toàn đờ dại. Tôi thấy các sĩ quan say rượu. Trận tấn công của bọn bôn-sê-vích đã gây ra nỗi khủng khiếp, nỗi kinh sợ khủng khiếp cho toàn quân. Tôi cho rằng...

Hít-le lim dim mắt nghe Gơ-rinh nói. Bàn tay phải của hắn nẳm lấy khuỷu tay trái là cánh tay lúc nào cũng khẽ co giật.

- Tôi cho rằng, - Gơ-rinh nhắc lại, nhưng Hít-le không cho hắn nói tiếp.

Hít-le lặng lẽ đứng dậy, cặp mắt đỏ ngầu của hắn trợn trừng, ria mép vểnh lên khinh bỉ.

- Tôi cấm ông từ nay không được ra ngoài mặt trận. - Hít-le nói bằng giọng rất khỏe của hắn, giống như ngày trước. - Tôi cấm ông gieo rắc nỗi kinh hoàng!

- Đó không phải là nỗi kinh hoàng, mà là sự  thật, - lần đầu tiên trong đời mình, Gơ-rinh phản đối Quốc trưởng và cảm thấy chân tay hắn lạnh hẳn đi. - Thưa Quốc trưởng, đó là sự thật, và tôi có nghĩa vụ báo cáo với ngài sự thật ấy!

- Ông im đi! Tốt nhất là ông hãy lo đối phó với không quân địch, ông Gơ-rinh ạ! Và đừng có nhúng mũi vào những chỗ cần có một cái đầu bình tĩnh, sáng suốt và cần có sức mạnh. Rõ ràng đấy không phải là việc của ông. Từ nay và mãi mãi sau này tôi cấm ông không được ra mặt trận.

Gơ-rinh bị lăng nhục, hắn cảm thấy sau lưng mình hai tên vô danh tiểu tốt - Sơ-mun và Buốc-đo-phơ - sĩ quan tùy tùng của Hít-le, nhìn theo và cười nhạo hắn.

Ở Ca-rin-kha-le, các sĩ quan tham mưu của lực lượng phòng không không quân đã đang chờ hắn. Lúc từ hầm ngầm của Hít-le bước ra, hắn ra lệnh tập họp người của mình lại. Nhưng hắn chưa thể khai mạc cuộc họp được, vì sĩ quan tùy tùng báo rằng có thống chế SS Him-le tới.

- Ngài thống chế muốn nói chuyện “tête à tête”1  với ngài, - viên sĩ quan tùy tùng nói với vẻ bí ẩn bao hàm nhiều nghĩa, khiến cho những người xung quanh tưởng công việc của y chứa đầy bí ẩn.

Gơ-rinh tiếp thống chế SS trong thư viện của mình. Him-le vẫn tươi cười và bình thán như mọi khi. Tay hắn xách một chiếc cặp da đen rất dày. Hắn ngồi xuống ghế bành, bỏ kính ra, lấy miếng da mềm lau mắt kính hồi lâu rồi nói luôn không cần rào trước đón sau:

- Quốc trưởng không thể làm lãnh tụ của dân tộc được nữa..

- Biết làm thế nào? - Gơ-rinh hỏi như một cái máy, thậm chí không kịp hoảng sợ khi nghe câu nói trên của tên thủ lĩnh SS.

- Nói chung thì hầm ngầm của Quốc trưởng đang ở trong tay lực lượng SS, - Him-le nói tiếp, giọng vẫn thản nhiên và đều đều như cũ, - nhưng cuối cùng vấn đề không phải là ở điểm ấy. Ý chí của Quốc trưởng đã bị tê liệt. Ông ấy không thể quyết định được việc gì nữa. Chúng ta có trách nhiệm hướng tới dân chúng.

Gơ-rinh nhìn chiếc cặp da đen và dày nằm trên đùi Him-le. Hắn  nhớ rằng, một lần vào năm 1944, vợ hắn trong lúc nói chuyện điện thoại với người bạn gái, đã nói: “Tốt nhất là chị hãy lại nhà chúng tôi, nói chuyện điện thoại thế này nguy hiềm lắm, người ta đang nghe trộm chúng ta đấy”. Gơ-rinh nhớ lúc ấy hắn đã gõ ngón tay xuống bàn và ra hiệu cho Ê-mi: “Đừng nói chuyện ấy, đó là sự điên rồ”. Giờ đây hắn nhìn chiếc cặp da đen và nghĩ rằng trong đó có thể đặt máy ghi âm, và chỉ hai tiếng đồng hồ sau Quốc trưởng đã có thể nghe buổi nói chuyện này. Lúc đó thì hết.

“Hắn có thể nói bất cứ chuyện gì, - Gơ-rinh thầm nghĩ về Him-le. - Cha đẻ của những tên phá hoại ngầm không thể là một người trung thực. Hắn đã biết cái nhục mà mình phải chịu hôm nay ở chỗ Quốc trưởng. Hắn mò đến để hoàn thành nốt sứ mệnh của hắn đây”.

Về phần mình, Him-le hiểu tên “quốc xã số hai” đang nghĩ gì. Bởi vậy, hắn thở dài và quyết định giúp tên kia. Hắn nói:

- Ngài là người kế tục, do đó ngài sẽ làm tổng thống. Và như thế thì tôi sẽ làm thủ tướng.

Him-le hiểu rằng nhân dân sẽ không đi theo hắn, một thủ lĩnh của lực lượng SS. Hẳn cần có kẻ làm bình phong. Không ai có thể làm bình phong che đỡ tốt hơn Gơ-rinh.

Gơ-rinh đáp lại vẫn như một cái máy:

- Không thể được... - Hắn ngừng giây lát rồi nói thêm thật nhỏ, để lời mình khỏi bị ghi vào máy ghi âm, nếu nó được giấu trong chiếc cặp da đen, - Điều đó không thể được. Một người phải vừa làm tổng thống, vừa làm thủ tướng.

Him-le khẽ mỉm cười, ngồi im một lát, rồi đứng bật dậy, chào Gơ-rinh theo kiểu đảng viên Quốc xã và bước rất êm ra khỏi thư viện...



------------------------------------------------------------------
1. Tiếng Pháp, có nghĩa “mặt đối mặt”.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:02:20 pm
Chương 3


Sơ-tiếc-lít từ phòng làm việc đi xuống nhà để xe. Thành phố vẫn đang bị ném bom như lúc nãy, nhưng bây giờ bom đang rơi ở một nơi nào đấy trong khu Sốt-sen, ít ra thì anh có cảm giác như thế. Sơ-tiếc-lít mở cổng, ngồi vào bên tay lái rồi bật công-tắc điện. Động cơ cực tốt lắp vào chiếc xe “Kho-rếch” của anh nổ rất đều và giòn. Sơ-tiếc-lít đánh xe ra ngoài, đóng cổng lại rồi phóng vút đi. Anh chỉ cho phép mình phóng vút đi như thế, những khi chỉ có một mình trong đêm tối, giữa lúc máy bay đang ném bom. Người Đức lái xe hết sức cẩn thận, chỉ có người nước ngoài: người Xla-vơ hay người Mỹ mới cho xe phóng vút đi như thế trong lúc đang đỗ.

“Vút lên, hỡi chiếc xe yêu quý”, - anh nghĩ bằng tiếng Nga, sau khi mở ra-đi-ô. Đài phát thanh đang truyền đi một bản nhạc nhẹ. Giữa những trận ném bom, người ta thường truyền đi những bài hát vui nhộn. Đã thành lệ: cứ mỗi khi chiến sự diễn ra ác liệt ngoài mặt trận, hoặc thành phố bị máy bay đánh phá dữ dội, đài phát thanh lại phát đi những chương trình vui nhộn, tức cười. “Nào, vút lên, hỡi chiếc xe yêu quý! Hãy phóng nhanh lên để khỏi trúng bom. Bom thường hay rơi vào các mục tiêu bất động, do đó xác suất bom rơi trúng mục tiêu di động rất thấp. Nếu ta phóng với tốc độ năm chục cây số một giờ, xác suất sẽ giảm xuống đúng năm mươi lần...”.

Anh rất thích đi ô tô. Mỗi khi nhận nhiệm vụ mà chưa biết cách thực hiện như thế nào, anh lại lái chiếc xe “Kho-rếch” của mình chạy hàng mấy giờ liền trên các đường phố vòng quanh Béc Lanh. Lúc đầu, anh chỉ nhìn phía trước và dận hết ga, tốc độ cao buộc anh phải tập trung chú ý, phải cảm thấy mình gắn làm một với chiếc xe, do đó đầu óc sẽ được giải phóng khỏi mọi ý nghĩ lớn nhỏ, khỏi những ý nghĩ loại trừ hay ngược lại, bổ sung lẫn nhau. Tốc độ cao là người trợ thủ của trí tuệ. Nó cho phép ta lãng quên hoàn toàn. Rồi cuộc dạo chơi bạt mạng chấm đứt ở một nơi nào đỏ, cạnh một quán rượu nhỏ có bán rượu cô-nhắc không cần phiếu - giữa những ngày khó khăn nhất của chiến tranh. Lúc ấy, có thể ngồi bên một chiếc bàn nhỏ cạnh cửa sổ, nghe cánh rừng lao xao, nhấp nháp hai ly rượu cô-nhắc “I-a-cô-bi” và bắt đầu chậm rãi suy tính tất cả những việc sắp phải làm. Sau khi phóng xe với tốc độ cực nhanh, các ý nghĩ kéo đến từ từ. Chuyến đi liều lĩnh giúp ta bình tâm, thư thái trong suy nghĩ - ít ra thì sự việc cũng đã diễn biến như thế đối với Sơ-tiếc-lít.

Hai chiến sĩ điện đài của anh - Ê-rơ-vin và Kết - sống ở khu phố Kê-pê-ni-cơ bên bờ sông Sơ-pơ-rê-ê. Hai vợ chồng họ đã đi ngủ. Dạo này Ê-rơ-vin và Kết đi ngủ rất sớm, vì Kết sắp đến ngày sinh nở.

- Trông chị đẹp hẳn ra, - Sơ-tiếc-lít nói. - Chị thuộc vào số rất ít phụ nữ trở nên trẻ đẹp trong lúc có mang.

- Người phụ nữ nào có mang cũng đều trở nên trẻ đẹp cả, - Kết trả lời.- Chẳng qua anh không có khả năng nhận biết hiện tượng ấy đấy thôi...

- Không có khả năng nhận biết, - Sơ-tiếc-lít, cười, - điểm ấy thì chị nói đúng.

- Anh uống cà-phê sữa nhé? - Kết hỏi.

- Sữa ở đâu ra thế? Khỉ quá, tôi quên không mang sữa lại cho anh chị rồi.

- Tôi đem bộ com-lê đi đổi đấy, - Ê-rơ-vin đáp. - Nhà tôi rất cần uống sữa, dù chỉ chút ít. Thức ăn cho người phụ nữ có mang kể cũng lý thú thật.

Sơ-tiếc-lít xoa má Kết và hỏi:

- Chị ra chơi một bản nhạc gì cho chúng tôi nghe đi?

Kết bước lại bên dương cầm, lựa nốt và dạo một khúc nhạc của Bắc. Sơ-tiếc-lít đi ra phía cửa sổ và hỏi nhỏ Ê-rơ-vin:

- Anh đã kiểm tra chưa, xem chúng có gắn cái gì vào lỗ thông hơi của anh hay không?

- Tôi kiểm tra rồi. Theo tôi, không có gì cả. Nhưng sao đồng chí lại hỏi thế?

- Không sao cả. Vẫn đâu vào đấy. Để đề phòng thôi.

- Các ông bạn của đồng chí ở tổ chức SĐ lại mới sáng chế thêm một trò gì mới chăng?

- Chắc là như thế. Có quỷ biết chúng nó làm những gì. Loài người thích nhất các bí mật của người khác.

- Có chuyện gì vậy? - Ê-rơ-vin hỏi.

Sơ-tiếc-lít lắc đầu và hừm một tiếng.

- Anh hiểu không, - Sơ-tiếc-lít chậm rãi nói, - tôi mới nhận một nhiệm vụ... - Anh lại hừm một tiếng nữa. - Tôi phải tìm ra kẻ nào trong số bọn thủ lĩnh quốc xã đang chuẩn bị tiến hành đàm phán riêng lẻ với phương Tây... Các đồng chí ở nhà ý nói đến bọn trùm sỏ, chứ không phải loại thấp hơn. Nhiệm vụ ấy anh thấy thế nào hử? Có vui không? Chắc các ông ở nhà nghĩ rằng, nếu tôi đã hoạt động trót lọt suốt hai mươi năm qua, thì tôi làm gì cũng được. Làm thằng phó của Him-le cũng hay đấy. Hoặc nói chung ngoi được lên cương vị thủ lĩnh thì càng tốt. Hai-lơ 1 Sơ-tiếc-lít chăng? Anh có thấy dạo này tôi bẳn tính không?

- Anh bẳn tính được đấy. - Ê-rơ-vin đáp.

- Cô bé Kết định đẻ như thế nào đấy? - Sơ-tiếc-lít hỏi, khi Kết ngừng chơi đàn.

- Theo em, người ta đã sáng chế ra cách đẻ nào mới hơn đâu, - Kết trả lời.

- Hôm kia, tôi có nói chuyện với một bác sĩ phụ khoa... Tôi không muốn dọa hai bạn chút nào... - Anh bước lại bên Kết và đề nghị: - chơi nữa đi, cô bé. Tôi không muốn dọa bạn, mặc dù chính tôi đang hết sức lo sợ đây. Lão bác sĩ già ấy bảo tôi rằng, trong lúc đỡ đẻ, lão có thể xác định chính xác sản phụ là người nước nào.

- Tôi chưa hiểu ý anh. - Ê-rơ-vin nói.

Kết ngừng chơi đàn.

- Chơi tiếp đi, cô bé, chơi tiếp đi, - Sơ-tiếc-lít đề nghị, - và đừng có hoảng. Trước hết hãy nghe đã, rồi chúng ta sẽ bàn cách thoát ra khỏi tình trạng rắc rối đó. Trong lúc đau đẻ, phụ nữ thường kêu hét và rên rỉ. Cô hiểu chứ?

- Cảm ơn anh, - Kết mỉm cười, - nhưng em lại cho rằng đấy là họ đang ca hát.

Sơ-tiếc-lít lắc đầu, thở dài.

- Nhưng họ kêu thét bằng tiếng mẹ đẻ, hiểu chưa, cô bé. Họ kêu bằng thứ thổ ngữ nơi họ đẻ ra. Nghĩa là cô sẽ kêu “mẹ ơi” bằng tiếng Ri-a-dan2.

Kết tiếp tục chơi đàn, nhưng Sơ-tiếc-lít thấy đôi mắt chị đột nhiên rưng rưng lệ.

- Chúng ta làm thế nào bây giờ? - Ê-rơ-vin hỏi.

- Nếu gửi hai bạn sang Thụy Điển thì sao? Tôi có thể lo được chuyện ấy.

- Và anh sẽ mất sợi dây liên lạc cuối cùng chứ gì? - Kết hỏi.

- Tôi sẽ ở lại đây với anh Sơ-tiếc-lit, - Ê-rơ-vin nói.

Sơ-tiếc-lít lắc đầu:

- Người ta sẽ không cho phép Kết đi một mình. Chỉ có cùng đi với Ê-rơ-vin mới được. Với tư cách một thương phế binh của chiến tranh, anh ấy cần phải sang điều trị tại một an dưỡng đường, có bà con thân thuộc là người Đức ở Xtốc-khôm viết thư mời sang... Một mình Kết thì chúng sẽ không cho đi. Bởi vì, theo hồ sơ của cảnh sát, thì ông chú anh ấy là đảng viên quốc xã ở bên Thụy Điển, chứ không phải chú của Kết.

- Vợ chồng em sẽ ở lại đây, - Kết nói, - Không sao cả. Em sẽ kêu bằng tiếng Đức.

- Có thể chen thêm một vài câu chửi bằng tiếng Nga, nhưng nhất thiết phải theo cách phát âm Béc Lanh, - Sơ-tiếc-lít pha trò. - Ngày mai chúng ta sẽ quyết định việc này: chúng ta hẵy bình tĩnh suy nghĩ, không nên nóng vội và cũng chả cần phải ra vẻ anh hùng. Ta đi thôi, Ê-rơ-vin. Phải liên lạc với trung tâm. Căn cứ vào điện trả lời ngày mai, chúng ta sẽ quyết định dứt khoát.

Năm phút sau, họ đi ra khỏi nhà, Ê-rơ-vin xách một chiếc va-li, bên trong đựng điện đài. Họ đi xe khoảng mười lăm cây số, tới Răng-xơ-đoóc, ngoặt vào rừng rồi Sơ-tiếc-lít tắt động cơ. Máy bay vẫn tiếp tục ném bom, Ê-rơ-vin xem đồng hồ và hỏi:

- Ta bắt đầu chứ?

- Bắt đầu, - Sơ-tiếc-lít trả lời và rít một hơi dài điếu thuốc lá Pháp nặng “Gô-loa”. - Bắt đầu, - anh nhắc lại.

“Uy-xơ-tác gửi A-lếch-xơ

Cũng như trước đây, tôi vẫn tin rằng không một chính khách quan trọng nào ở phương Tây lại đi đàm phán với SS hay SĐ. Tuy nhiên, vì được trao nhiệm vụ, nên tôi đã bắt tay thực hiện.

Tôi cho rằng, có thể hoàn thành nhiệm vụ, nếu tôi báo cho Him-le biết một phần tin tức mà tôi nhận được từ chỗ đồng chí. Dựa vào sự ủng hộ của hắn, sau đó tôi có thể trực tiếp theo dõi những kẻ mà đồng chí cho là đang tìm cách đàm phán với phương Tây. Bản “tố giác” của tôi gửi Him-le, các chi tiết tôi sẽ tự tổ chức ở đây, tại chỗ, không cần xin ý kiến của đồng chí, - sẽ giúp tôi thông báo về Trung tâm mọi tin tức sốt dẻo có tác dụng khẳng định hoặc gạt bỏ giả thuyết của đồng chí. Hiện nay, tôi chưa thấy có cách nào khác. Nếu đồng ý, đề nghị đồng chí báo cho Ê-rơ-vin biết.
                           UY-XƠ-TÁC”.




- Đồng chí ấy thất bại đến nơi rồi, - đồng chí chỉ huy Trung tâm nói, khi bức điện mật mã về tới Mát-xcơ-va, - Nếu đồng chí ấy trực tiếp nói với Him-le thì sẽ thất bại ngay và không gì cứu vãn được nữa. Cứ giả thuyết rằng Him-le quyết định chơi một canh bạc với đồng chí ấy chăng nữa... Mặc dù đồng chí ấy không phải là nhân vật có thể đánh bạc với tên thống chế SS. Sáng mai hãy lập tức gửi điện cương quyết cấm đồng chí ấy hành động như vậy.

Nhưng điều Trung tâm biết thì I-xa-ép không thể biết được, bởi vì các tin tức thu lượm trong mấy tháng vừa qua mở ra khả năng hiểu rõ cái nhân vật mang tên họ là Him-le.



-----------------------------------------------------------------
1. Bọn Đức Quốc xã chào nhau bằng câu “Hai-lơ Hít-le!” (Hít-le muôn năm!)
2. Ri-a-dan là một thành phố ở Liên Xô.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:10:23 pm
Hắn tỉnh giấc hoàn toàn, tưởng như có ai nắm lấy vai mà lay. Hắn ngồi dậy và đưa mắt nhìn rất nhanh xung quanh. Không khí tĩnh mịch. Kim dạ quang của chiếc đồng hồ báo thức nhỏ chỉ đúng 5 giờ.

“Còn sớm, - Him-le nghĩ bụng, - ngủ thêm một tiếng nữa mới phải”.

Hắn ngáp dài, ngả người xuống gối và quay mặt vào tường. Tiếng lào xào của rừng cây vọng vào qua cửa sổ thông gió để ngỏ. Tuyết rơi từ tối hôm qua và Him-le hình dung cảnh đẹp tuyệt diệu lúc này ở trong cánh rừng yên tĩnh, vắng vẻ giữa mùa đông. Bỗng nhiên, hẳn nghĩ rằng bây giờ mà phải đi vào rừng một mình thì sợ lắm - sợ như hồi bé vậy.

- Không, - đột nhiên Him-le nói nhỏ với chính mình. - Không, không và không bao giờ.

Hắn đứng dậy, khoác áo choàng và bước lại bàn. Không bật đèn, hắn ngồi xuống mép chiếc ghế bành bằng gỗ và đặt tay xuống chiếc ống nghe máy điện thoại màu đen.

“Phải gọi điện cho con gái, - hắn nghĩ, - Chắc con bé sẽ mừng lắm. Nó sống có vui vẻ gì cho cam”.

Dưới tấm kính của chiếc bàn viết to tướng, lờ mờ hình bóng hai khuôn mặt trẻ con.

Bất ngờ Him-le như nhìn thấy rõ bộ mặt của Boóc-man và nghĩ rằng cái tên vô lại ấy đã làm cho hắn lúc này không dám gọi điện cho con để nói: “Chào con mèo con! Bố đây. Con vừa nằm mơ cái gì đấy, mặt trời của bố?”. Lúc này hắn cũng không thể gọi dây nói cho hai đứa con trai, vì chúng là con của mụ vợ không có giá thú với hắn. Him-le nhớ rằng Boóc-man đã im lặng vào năm 1943 khi hắn xin vay trong quỹ của đảng tám mươi nghìn mác để xây dựng cho Mác-ta, mẹ của hai đứa con trai hắn, một biệt thự ở Ba-va-ri-a, xa hẳn khu vực bị ném bom. Hắn cũng nhớ rằng, sau khi được Boóc-man cho biết, Quốc trưởng đã nhìn hẳn dò hỏi mấy lần trong những lúc ăn tiệc chung ở Tống hành dinh. Chính vì thế mà hắn không đám li dị với người vợ chính thức, mặc đù hắn đã không sống ở nhà sáu năm trời. Hắn vẫn cứ phải dắt mụ đi dự các buổi chiêu đãi như thường.

“Boóc-man không dính dáng đến chuyện này, - Him-le tiếp tục nghĩ, - mình tưởng lầm đấy thôi. Thằng súc sinh béo tốt ấy không phải là thủ phạm gây ra nỗi đau khổ cho mình. Mình sẵn sàng chịu đựng mọi chuyện xấu xa trong việc li dị. Nhưng không bao giờ mình có thể đầu độc con bé”.

Him-le mỉm cười nhớ lại thời kỳ đầu tiên, khi hắn sống với người vợ và đứa con gái nhỏ trong một căn phòng lạnh lẽo ở Nuy-rem-be, trong cảnh đói kém. Trời, chuyện ấy xa xôi biết bao, nhưng cũng gần gũi biết bao! Mới có mười tám năm trôi qua. Hồi ấy, hắn làm thư ký cho Gờ-rê-go Sơ-tơ-rát-se, “ông anh” của Quốc trưởng. Hắn lưu lạc khắp nước Đức, hắn ngủ ngồi ở các nhà ga, ăn bánh mì không và uống một thứ nước tạm gọi là cà-phê, để lo việc chắp nối liên lạc giữa các tổ chức của đảng. Hồi bấy giờ, nghĩa là vào năm 1926, hắn không hiểu rằng ý đồ của Sơ-tơ-rát-se là thành lập các đội hiến binh SS, nảy ra không phải vì yêu cầu tất yếu, mà vì cuộc đấu tranh chống Rê-mơ, thù lĩnh của lực lượng SA, đã bắt đầu. Hồi ấy, Him-le tin tưởng sâu sắc rằng việc thành lập lực lượng SS là nhằm mục đích bảo vệ các lãnh tụ của đảng khỏi bàn tay “bọn Đỏ”. Hắn tin chắc rằng nhiệm vụ chính của “bọn Đỏ” là thủ tiêu vị lãnh tụ vĩ đại, người bạn duy nhất của nhân dân lao động Đức: A-đôn-phơ Hít-le. Hắn đã treo một bức chân dung khổng lồ của Hít-le phía trên chiếc bàn của mình. Một hôm, Hít-le ghé lại nhà Sơ-tơ-rát-se, khi nhìn thấy bên dưới bức chân dung to tướng của mình một thanh niên mặt rỗ gày gò, Hít-le nói:

- Có nên đặt một thủ lĩnh của đảng ở địa vị cao đến như thế so với mọi đảng viên quốc xã khác hay không?

Him-le trả lời:

- Giả sử ngài chỉ đơn thuần là một thủ lĩnh, thì tôi đã chẳng gia nhập Đảng, Tôi gia nhập đảng, vì cầm đầu nó là một vị lãnh tụ, chứ không phải một thủ lĩnh!

Hít-le đã nhớ hắn. Sơ-tơ-rát-se hình như cũng hài lòng trước câu trả lời của gã thư ký kỹ thuật của tổ chức đảng Quốc xã ở Ba-va-ri-a, nhưng trong thâm tâm hẳn để bụng giận cái kẻ được hắn nâng đỡ, lôi từ tầng lớp hèn kém nhất lên cương vị lãnh đạo, mà lại quên ơn hắn. Khi đề nghị Quốc trưởng cử Him-le làm thống chế chỉ huy các đội SS mới được tổ chức lại, Sơ-tơ-rat-se vẫn dự tính rằng lực lượng SS sẽ phục vụ trước hết là hắn, trong cuộc sống mái với Rê-mơ, để tranh thù ảnh hưởng cho đảng và cho Hít-le. Hai trăm tên SS đã được tập hợp lại dưới quyền hắn - chỉ có cả thảy hai trăm tên. Nhưng không có lực lượng SS thì Hít-le không thể thẳng lợi vào năm 1933 - Him-le hiểu rõ điều đó. Tuy nhiên, sau khi giành thắng lọi, Quốc trưởng chỉ cử hắn làm Chánh sở mật thám ở Muyn-khen. Gờ-rê-go Sơ-tơ-rát-se, người đã kết nạp Him-le vào đảng - nhà lý luận và tư tưởng gia của đảng, người có sáng kiến thành lập lực lượng SS, đã tìm đến nhà Him-le. Hồi ấy Sơ-tơ-rát-se đứng về phía đối lập với Quốc trưởng, đã tuyên bố thẳng với các đảng viên kỳ cựu rằng Hít-le đã bán mình cho bọn trùm tư bản công nghiệp.

Nhưng lần đó Him-le đã ngắt lời Sơ-tơ-rát-se, bằng cách nói với y rằng nghĩa vụ của mọi đảng viên Quốc xã là phải trung thành với Quốc trưởng.

- Ngài có thể đem các mối nghi ngờ của mình ra trình bày ở đại hội đảng, nhưng ngài không có quyền sử dụng uy tín của mình trong thế đối lập, vì điều đó phá hoại sự đoàn kết của Đảng.

Tối hôm ấy, ở nhà mình, biết rằng nơi ở của hắn bị trung tâm cảnh sát đặt máy nghe trộm - trung tâm này hồi đó nằm trong tay Gơ-rinh, - Him-le đã nói như sau, khi hắn cùng khách khứa ngồi ăn tiệc mừng ngày lễ:

- Trước đây, tôi mơ ước gây giống tầng lớp thượng lưu của dân tộc bằng cách tổ chức cho các nhân viên SS của tôi, vốn xuất thân từ các gia đình thường dân, kết hôn với các tiểu thư quý tộc. Nhưng bây giờ tôi có nhiệm vụ đấu tranh với các phần tử thù địch của dân tộc là bọn cộng sản, bọn Do Thái và lũ cha cố. Nếu Quốc trưởng đã muốn như vậy, thì tôi sẽ không tiếc sức.

Him-le chăm chú theo dõi mọi diễn biến ở Trung ương. Y thấy rằng, ở mức độ nhất định, thái độ say sưa với chiến thắng đã gạt công tác thực tiễn xuống hàng thứ yếu. Hắn cảm thấy, và điều đó không phải vô căn cứ, rằng các lãnh tụ của đảng ở Béc Lanh chỉ lo đến chuyện diễn thuyết tại các cuộc mít-tinh, tối tối đi dự những buổi chiêu đãi của Đoàn ngoại giao, - tóm lại là chỉ lo tận hưởng các thành quả ngọt ngào của thắng lợi mà đảng Quốc xã vừa giành được, Him-le cho rằng tất cả những chuyện đó đều quá sớm. Và thế là, trong khoảng thời gian một tháng, hắn đã tổ chức xong ở Đa-khao một trại tập trung kiểu mẫu đầu tiên.

Y nói:

- Đó là trường học tốt nhất nhằm thông qua lao động giáo dục trách nhiệm công dân Đức chân chính cho tám triệu kẻ đã bỏ phiếu cho bọn cộng sản. Nếu nhốt cả tám triệu đứa vào trại tập trung thì vô lý quá. Đầu tiên hãy gây không khí khủng bố trong một trại tập trung, rồi thả dần những đứa đã bị trừng phạt ở đó ra. Chúng sẽ là những kẻ tuyên truyền tốt nhất cho hoạt động thực tế của đảng Quốc xã. Chúng sẽ làm cho bè bạn và con cái của chúng biết cách mù quáng tuân theo chế độ của chúng ta.

Đặc phái viên của Gơ-rinh được cử đến chỗ hắn. Tên kia đi thăm Đa-khao mấy giờ đồng hồ rồi hỏi Him-le:

- Ông có nghĩ rằng trại tập trung này sẽ gây ra làn sóng công phẫn ở châu Âu và châu Mỹ hay không, dù chỉ là vì biện pháp này trái với công pháp?

- Tại sao ngài lại coi việc giam giữ những kẻ thù của chế độ là trái với công pháp?

- Bởi vì tuyệt đại đa số những người bị ông bắt đều không được ra tòa. Không có lời buộc tội, cũng chẳng có căn cứ gì vào hiến pháp cả…

Him-le hứa sẽ suy nghĩ về vấn đề ấy. Đặc phái viên của Gơ-rinh đi rồi, Him-le liền viết một bức thư riêng gửi cho Hít-le, trong đó hắn chứng minh hùng hồn rằng cần phải bắt giữ và cầm tù những người chống đối mà không cần lập tòa án xét xử gì hết. Hắn viết như sau:

“Đó chỉ là một biện pháp nhân đạo nhằm cứu kẻ thù của đảng Quốc xã khỏi cơn phẫn nộ của nhân dân mà thôi. Nếu chúng ta không giam các kẻ thù của dân tộc vào trại tập trung, chúng ta sẽ không thể bảo đảm cuộc sống cho họ được vì nhân dân sẽ lập phiên tòa xử tội họ”.

Và để cho bức thư ấy khỏi rơi vào tay bất cứ ai trong số các cận thần của Quốc trưởng, ngay ngày hôm đó Him-le tổ chức một cuộc mít-tinh lớn, trong đó hắn diễn thuyết đúng như vậy, nguyên văn từng lời, và ngày hôm sau diễn văn của hắn được in trên tất cả các mặt báo.
Cuối năm 1933, khi ở Sở mật thám Béc Lanh, nằm dưới quyền điều khiển trực tiếp của Gơ-rinh, nổ ra chuyện xô sát, thì ngay đêm đó Him-le từ Muyn-khen tới Béc Lanh và sáng hôm sau được Quốc trưởng tiếp. Hắn đề nghị Quốc trưởng trao “ngành cảnh sát chuyên ăn hối lộ của chế độ cũ” cho “những người con ưu tú của dân tộc”, tức lực lượng SS, kiểm soát.

Hít-le không thể làm phật ý Gơ-rinh. Quốc trưởng không trả lời Him-le điều gì dứt khoát. Nắm chặt tay hắn, Hít-le tiễn hắn ra đến cửa phòng làm việc, nhìn sát vào mắt hắn thăm dò, rồi đột nhiên mỉm cười vui vẻ và nhận xét:

- Dẫu sao thì sau này anh cứ gửi các kiến nghị thông minh của mình lên cho tôi trước một ngày nhé; nghĩa là tôi muốn nói đến bức thư anh gửi cho tôi và bài diễn văn có nội dung y hệt trong cuộc mít-tinh ở Muyn-khen.

Him-le hoang mang ra về. Nhưng một tháng sau, tuy không được gọi về Béc Lanh, hắn vẫn được cử làm Chánh mật thám ở Mếch-len-bua và Luy-bếch, rồi sang tháng sau, ngày 20 tháng 12, được cử thêm làm Chánh mật thám ở Ba-đen ngày 21 tháng 12 - Chánh mật thám ở Hết-xen, ngày 24 tháng 12 - ở Bơ-rê-men, ngày 25 - ở Xác-xô-ni và Tuy-rinh-ghi, ngày 37 - ở Hăm-bua. Trong một tuần lễ, hắn trở thành kẻ cầm đầu ngành cảnh sát của nước Đức, trừ nước Phổ vẫn ở dưới quyền Gơ-rinh như cũ.

Hít-le đề nghị Gơ-rinh một bước nhượng bộ: cử Him-le làm Chánh mật thám của toàn đế chế, nhưng vẫn nằm dưới quyền Gơ-rinh. Thống chế Gơ-rinh đã chấp nhận đề nghị nhượng bộ ấy của Quốc trưởng. Tiếp nhận một cách thiếu mặn mà, bởi vì Gơ- rinh thừa hiểu rằng dưới chế độ cực quyền, chiến thắng sẽ thuộc về kẻ nào nắm trong tay lực lượng cảnh sát kín - tức ngành mật thám. Một người có địa vị như Gơ-rinh mà cầm đầu mật thám thì mang tiếng quá. Chức vụ của y là Thống chế, Thủ tướng Phổ, Chủ tịch Quốc hội Đức. Đã thế còn tham cái chức Chánh cẩm thì mang tiếng quá. Bởi vậy, hắn có thể đi theo hai hướng: hoặc biến Him-le thành người của mình, hoặc đè bẹp nó rồi bắt nó lệ thuộc vào mình. Gơ-rinh không chọn con đường thứ nhất, vì thấy cái tên Him-le lầm lì, hay nói ngọng và lặng lẽ kia chẳng có gì trội lắm. Hắn chọn con đường thứ hai. Hắn chỉ thị cho ban thư ký của hắn, thông qua văn phòng Quốc trưởng, bổ nhiệm Him-le giữ chức thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chánh sở mật thám, được quyền tham dự những buổi họp của nội các những khi bàn đến vấn đề cảnh sát. Gơ-rinh tự tay gạch mấy chữ “về vấn đề an ninh của đế chế” trong quyết định bổ nhiệm. Như thế đã là quá nhiều đối với Him-le rồi. Sau khi quyết định ấy được văn phòng Quốc trưởng thông qua, Gơ-rinh chỉ thị cho công bố nó trên mặt báo.

Vừa nhìn thấy quyết định ấy trên mặt báo, Him-le liền gọi hai nhân viên của hắn phụ trách giới báo chí đến. Hai tên này chuyên thu thập các tài liệu tố cáo các nhà báo. Him-le đề nghị chúng cho bình luận quyết định bổ nhiệm về mình khác hẳn cách bình luận của báo chí chính thức. Gơ-rinh đã phạm sai lầm cơ bản khi chịu nhượng bộ; hắn quên rằng, chưa có ai phế truất chức vụ chính của Him-le là thống chế SS. Thế là ngày hôm sau, tất cả các báo trung ương, nhất là những tờ hay gây chuyện, đều đăng quyết định kèm theo lời bình luận: “Ngành tư pháp quốc xã đã giành được một thắng lợi quan trọng: toàn bộ lực lượng cảnh sát, mật thám, ghét-xta-pô và hiến binh đã tập trung trong tay thống chế SS Him-le. Đó là lời cảnh cáo đối với mọi kẻ thù của đế chế; bàn tay trừng phạt của đảng Quốc xã sẽ giáng xuống mọi phần tử đối lập, mọi kẻ thù bên trong và bên ngoài”.

Him-le dời về Béc Lanh, chiếm biệt thự An-đôn-nen-xtác lộng lẫy ở ngay bên cạnh Ríp-ben-tơ-rốp. Và trong khi người ta tiếp tục hân hoan, say sưa với chiến thắng trước những người cộng sản, thì cùng với trợ thủ của mình là Hây-đơ-rích, Him-le bắt đầu thu thập hồ sơ tố giác kẻ thù và chủ yếu là tố giác bạn bè. Hắn phải đích thân thu thập hồ sơ tố giác viên sếp trước đây của hắn - Gờ-rê-go Sơ-tơ-rát-se. Hắn hiểu rằng chỉ bằng máu của Sơ-tơ-rát-se, ông thày đầu tiên của hắn, hắn mới có thể hoàn toàn xóa sạch vết tích cũ xưa của mình. Bởi thế, hắn đã chấp chi nhặt nhạnh từng li từng tí tất cả những gì có thể khiến Sơ-tơ-rát-se bị khép vào tội xử bắn.

Ngày 20 tháng sáu năm 1934; Hít-le gọi Him-le tới bàn về các biện pháp chống Rê-mơ trong thời gian tới, Him-le vẫn chờ đợi ngày đó. Hắn chỉ chưa hiểu Quốc trưởng sẽ hành động như thế nào, nhưng qua hàng nghìn trang báo cáo của các điệp viên và nội dung các buổi nghe trộm điện thoại mà hắn đọc hàng ngày, thì hắn hiểu rằng cần phải hành động ngay.

Him-le hiểu rằng hành động chống Rê-mơ chỉ là cái cớ để thủ tiêu tất cả những kẻ đã cùng Hít-le khởi đầu sự nghiệp. Đối với những kẻ đó, trước đây Hít-le chỉ là một người anh em trong đảng. Nhưng giờ đây, A-đôn-phơ Hít-le phải trở thành một lãnh tụ, một ông thánh đối với dân tộc Đức. Các đảng viên kỳ cựu đã trở thành gánh nặng đối với Hít-le.

Him-le hiểu rõ điều đó, khi thấy Hít-le nổi cơn lôi đình lúc nói tới một nhóm đảng viên kỳ cựu rơi vào ảnh hưởng tuyên truyền của kẻ thù. Hít-le không thể nói toàn bộ sự thật với bất cứ ai - ngay cả với những bạn bè thân cận nhất. Him-le cũng hiểu điều đó, bởi vậy hắn giúp Quốc trưởng bằng cách đặt lên bàn của lãnh tụ cặp hồ sơ tố giác bốn nghìn đảng viên kỳ cựu, thực tế là tố giác hết thảy những người đã cùng Hít-le đặt nền móng xây dựng đảng Quốc xã. Hắn đã tính toán rất đúng về mặt tâm lý, rằng Hít-le sẽ không quên công lao của hắn; vì không gì quý bằng người ta giúp mình tự biện hộ cho hành động tội ác của mình.

Nhưng Him-le còn đi xa hơn nữa: hiểu được thâm ý của Quốc trưởng, hắn quyết định trở thành cánh tay đắc lực của Hít-le đến mức, sao cho những cuộc thanh trừng sau này không thể động chạm tới bản thân hắn, mà ngược lại, những cuộc thanh trừng đó chỉ xảy ra dưới sự kiểm soát của hắn.

“Mình cũng là đảng viên kỳ cựu như Sơ-tơ-rát-se, - Him-le nghĩ, - nhưng mình sẽ vĩnh viễn là đảng viên kỳ cựu, nếu mình chứng minh cho đảng thấy rằng Sơ-tơ-rát-se không phải là một đảng viên kỳ cựu, mà chỉ là một đứa mưu cầu danh vọng, một phần tử chống đối hằn học”,
Khi Hít-le mời hắn cùng đi tới nhà nghỉ của Gơ-rinh ở Soóc -phây-đe, Him-le đã đạo diễn một vở kịch; một điệp viên do hắn bố trí, mặc y phục lực lượng SA của Rê-mơ, bắn vào chiếc xe mui trần của Quốc trưởng, và Him-le đã lấy thân mình che đạn cho vị lãnh tụ, miệng kêu lên - hắn là người đầu tiên trong đảng kêu lên như thế:

- Thưa Đức Quốc trưởng của tôi, tôi vô cùng sung sướng được xả thân để bảo vệ Người!

Trước đó, chưa một ai gọi Hít-le là “Đức Quốc trưởng của tôi”. Him-le đã trở thành tác giả của cách xưng hô khôn khéo đối với “ông thánh của mình”.

- Từ giờ phút này, chú là người anh em ruột thịt của ta, Hen-rích ạ, - Hít-le nói, và mọi người xung quanh đã nghe rõ câu nói ấy.

Sau khi Him-le tiến hành chiến dịch thủ tiêu Rê-mơ, sau khi ông thày Sơ-tơ-rát-se của hắn cùng bốn nghìn đảng viên quốc xã kỳ cựu đã bị xử bắn, bọn bồi bút lập tức nặn ra câu chuyện thần thoại rằng chính Him-le đã đứng bên cạnh Quốc trưởng ngay từ ngày đầu tiên gây dựng phong trào.

Đã nói “a”, tất phải nghĩ đến “b”. Hây-đơ-rích gợi ý: hãy thành lập các sư đoàn SS - chỗ dựa đầy uy lực của bộ máy nhà nước, Gơ-rinh có không quân, Bộ Tổng tham mưu có lục quân, thế mà Him-le mới chỉ có một số mật thám, điệp viên và những tên phá hoại ngầm. Phải có những tập đoàn quân. Thế là hai sư đoàn SS - “Đế chế Đức” ở Hăm-bua và “Nước Đức” ở Muyn-khen ra đời.

Ngày 7 tháng mười năm 1935, Quốc trưởng đã gửi cho Him-le nhân ngày sinh của hắn một bức điện như sau: “Đồng chí Him-le thân mến của tôi! Nhân ngày sinh cửa đồng chí, tôi xin gửi tới đồng chí những lời chúc mừng tốt đẹp nhất. Chúc đồng chí thành công trong công tác tiếp tục bảo vệ chủ nghĩa Quốc xã. A-đôn-phơ Hít-le”.

Năm 1936, sau khi, theo lời khuyên của Hây-đơ-rích, Him-le đề nghị Quốc trưởng dùng bộ máy tuyên truyền của Gơ-ben giải thích với thế giới rằng việc xâm lược vùng Ranh hoàn toàn không phải là sự khiêu chiến đối với Pa-ri và Luân Đôn, mà chỉ là một biện pháp cần thiết trong việc chuẩn bị lực lượng vũ trang chống Mát-xcơ-va, thì từ ngày đó, Him-le bắt đầu tới dự các buổi “ta- phen-run-đe” 1  ở nhà Quốc trưởng. Chỉ những người bạn thân thiết nhất của Hít-le mới được hưởng cái vinh dự này.

Trong lúc trao đổi những cái bắt tay thân thiện với Gơ-rinh, Ghết-xơ và Gơ-ben, Him-le vẫn không một phút nào ngừng thu thập hồ sơ tố giác những người bạn chiến đấu của mình.




-----------------------------------------------------------------
1. “Ta- phen-run-đe”  là những lần gặp gỡ buổi tối ở nhà Hít-le.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:45:35 pm
Lúc này, Sơ-tiếc-lít cho xe chạy chậm, bởi vì anh rất mệt sau mỗi buổi liên lạc với Trung tâm - thần kinh căng thẳng tột độ, và sau đó là một cảm giác rã rời về thể xác.

Con đường chạy qua rừng. Gió đã lặng. Bầu trời đầy sao, sáng sủa và cao vời vợi.

“Dầu sao, - Sơ-tiếc-lít tiếp tục suy luận, - Mát-xcơ-va cũng đã đúng, khi cho rằng có khả năng địch đàm phán. Dù các đồng chí ở nhà chưa có số liệu cụ thể, khả năng ấy vẫn có, bởi vì nó có cơ sở của nó. Mát-xcơ-va biết rõ sự lục đục trong nội bộ chính phủ Đức, xung quanh Hít-le. Trước đây, sự lục đục tranh ăn này nhằm mục đích trở thành người gần gụi hơn của Quốc trưởng. Bây giờ có thể diễn ra quá trình ngược lại. Hết thảy chúng nó: cả Gơ-rinh lẫn Boóc-man, cả Him-le lẫn Ríp-ben-tơ-rốp, đều gắn chặt số phận của mình với chế độ quốc xã, với lực lượng SS, với đảng Quốc xã. Mỗi đứa đều quan tâm tới việc bảo toàn chế độ quốc xã, Nền hòa bình riêng rẽ với từng nước đồng minh - nếu có tên nào đạt được - sẽ cứu sống riêng tên đó. Chúng đâu có nghĩ đến một dân tộc bất hạnh, đau khổ. Quốc gia Đức cũng không làm chúng bận tâm. Mỗi đứa chỉ nghĩ đến một mình bản thân chúng, chứ có lo lắng gì đến số phận của nước Đức và người Đức. Trong trường hợp này, năm mươi triệu người Đức chỉ là những con bài để chúng trục lợi. Một khi chúng còn nắm trong tay quân đội, cảnh sát và lực lượng SS, chúng có thể lái đất nước sang phía nào cũng được, chỉ cốt sao nhận được sự bảo toàn tính mệnh cho riêng bản thân chúng mà thôi...”

Một ánh đèn pha rọi tới làm Sơ-tiếc-lít quáng mắt. Anh nheo mắt lại và lập tức đạp phanh. Từ bụi cây ven đường, hai chiếc mô-tô SS phóng ra chặn ngang và một tên lính mô-tô chĩa khẩu tiểu liên tự động về phía xe anh.



… Từ ghế bành, Him-le đứng dậy đi lại cửa sổ: khu rừng mùa đông đẹp một cách lạ lùng, những bông tuyết lấp lánh như bạc dưới ánh trăng, không gian vô cùng tĩnh mịch, những ngôi sao thấp sáng rực, nhấp nhánh trên vòm trời thăm thẳm màu tím.

Him-le nhớ lại hắn đã thành công ra sao trong việc tiến hành chiến dịch chống lại Ghết-xơ, người cộng sự gần gũi nhất của Quốc trưởng. Điều này bất ngờ đối với chính hắn. Kể ra, trong vụ đó, có lúc tính mệnh Him-le cũng ngàn cân treo sợi tóc: Hít-le là người thường có những quyết định ngược đời. Một hôm, Him-le được người của hắn nộp một đoạn phim quay cảnh Ghết-xơ đang diễn trò thủ dâm ở trong buồng tắm, Him-le lập tức mang phim tới nhà Hít-le và cho chiếu lên màn ảnh.

Quốc trưởng đùng đùng nổi giận. Đêm đã khuya, nhưng Hít-le vẫn ra lệnh gọi Gơ-rinh và Gơ-ben đến phòng mình, còn Ghết-xơ thì bị triệu đến phòng khách. Gơ-rinh đến trước tiên - mặt tái như gà cắt tiết. Him-le biết vì sao vị thống chế ấy lại hoảng sợ như thế: Gơ-rinh đang say như điếu đổ một cô đào ba-lê ở thủ đô Viên. (Him-le nhận xét rằng Gơ-rinh luôn luôn say đắm các cô đào ba-lê gày gò: hắn đã xem tám cuốn phim ghi lại những cảnh tội lỗi của Gơ-rinh, trong đó cô ả sau gày gò hơn các ả trước). Hít-le mời mấy ông bạn của mình xem “trò ô nhục của Ghết-xơ”. Gơ-rinh cười khanh khách. Hít-le vặn lại: “Không nên tàn nhẫn như thế”.  Rồi sau khi mời Ghết-xơ vào phòng làm việc, Quốc trưởng xáp lại và thét lên:

- Ông là đồ đê tiện, thối tha! Ông đã mắc tội thủ dâm!

Cả Him-le, Gơ-rinh lẫn Gơ-ben đều hiểu rằng chúng đang chứng kiến sự sụp đổ của một nhân vật khổng lồ - của người đứng thứ hai trong đảng Quốc xã.

- Đúng thế, - Ghết-xơ trả lời hết sức bình tĩnh thật bất ngờ cho tất cả mọi người. - Đúng thế, thưa Đức Quốc trưởng của tôi! Tôi không giấu giếm chuyện đó! Tại sao tôi lại thủ dâm? Tại sao tôi không ngủ với các cô tài tử điện ảnh? - Hắn không nhìn Gơ-ben, nhưng tên kia co rúm người lại trong chiếc ghế bành. - Tại sao đêm đêm tôi không mò sang thủ đô Viên xem ba-lê?! Bởi vì đảng Quốc xã là toàn bộ cuộc sống của tôi! Mà đảng và Ngài thì, thưa Đức Quốc trưởng của tôi, đối với tôi chỉ là một! Tôi không còn thời gian dành cho cuộc sống riêng! Tôi vẫn sống độc thân.

Cơn giận clữ của Hít-le tan ngay. Hắn bước lại ôm hôn Ghết-xơ một cách ngượng nghịu và vỗ vỗ váo gáy tên kia.

Ghết-xơ đã thắng cuộc. Him-le lặng người: hắn biết rằng Ghết-xơ rất cứng tay trong việc trả thù. Khi Ghết-xơ đã ra về, Hít-le nói:

- Him-le này, chú hãy kiếm cho Ghết-xơ một người vợ. Tôi rất hiểu con người tuyệt diệu và hết sức trung thành với đảng ấy. Hãy đưa cho tôi xem cả những người chú định kiếm cho ông ta, tôi sẽ chọn một cô nào đó. Ghết-xơ sẽ nghe lời giới thiệu của tôi.

Him-le hiểu rằng giây phút ngắn ngủi này có thể quyết định tất cả. Đợi lúc Gơ-rinh và Gơ-ben đã ra về, Him-le mới nói:

- Thưa Đức Quốc trưởng của tôi, ngài đã cứu cho đảng Quốc xã một chiến sĩ trung thành của đảng. Tất cả chúng tôi đều đánh giá cao lòng tận tụy của Ghết-xơ. Không ai có thể quyết định số phận ông ấy sáng suốt được như Ngài. Bởi vậy, Ngài hãy cho phép tôi được mang lại ngay bây giờ thêm một số tài liệu nữa để Ngài xem! Cần phải giúp đỡ các người lính khác của Ngài, như Ngài đã cứu giúp Ghết-xơ.

Và hắn mang đến cho Hít-le cặp hồ sơ tố giác tên Lây, thủ lĩnh của mặt trận lao động. Tên này nghiện rượu nặng, và những vụ say bí tỉ, gây tai tiếng của y không phải là bí mật đối với bất cứ ai, trừ Hít-le, Him-le cũng đặt lên bàn hồ sơ tố giác “con bò đực Ba-ben-xơ-béc” - bí danh mà các điệp viên của hắn dùng trong các báo cáo để gọi Bộ trưởng Gơ-ben, - các quan hệ đi lại dễ dãi giữa tên này với đám phụ nữ hoàn toàn không thuộc dòng máu trong sạch đã làm cho các đảng viên Quốc xã chân chính nổi giận, Đêm ấy, cả hồ sơ tố giác Boóc-man cũng được đệ lên bàn Hít-le: không phải vô căn cứ khi Him-le nghi ngờ rằng Boóc-man có quan hệ tình dục đồng giới với Ghết-xơ.

- Không đời nào, - Hít-le bênh vực Boóc-man. - Ông ta có chín đứa con kia mà. Những kẻ tình dục đồng giới không thể có con. Đây là chuyện ngồi lê đôi mách.

Him-le không dám phản đối Quốc trưởng, nhưng hắn thấy Hít-le tỏ ra hết sức tò mò khi giở xem từng tờ và đọc đi đọc lại mấy lần các báo cáo do bọn điệp viên của Him-le viết. Và hắn hiểu rằng hắn đã thắng Quốc trưởng một keo quyết định.

Hắn đã tính toán rất đúng: Hít-le ra lệnh cho toàn nước Đức tổ chức kỷ niệm mười năm ngày Him-le nhậm chức thủ lĩnh lực lượng SS như một ngày lễ lớn. Từ hôm đó, bọn gau-lây-te  - bọn cầm đầu tổ chức đảng Quốc xã ở các tỉnh - hiểu rằng, sau Hít-le, kẻ nắm quyền hành độc tôn không phải ai khác, ngoài Him-le. Thế là tất cả các tỉnh, tất cả các tổ chức của Đảng Quốc xã ở địa phương bắt đầu gửi những báo cáo tin tức chủ yếu về văn phòng của Him-le nhiều hơn là về bộ tham mưu đảng Quốc xã của Ghết-xơ. Những tài liệu cơ bản do các nhóm điệp viên đặc biệt tin cậy được gửi thẳng, không qua hệ thống tổ chức, về cho Him-le và lập tức chui vào các tủ sắt đựng hồ sơ lưu trữ riêng của hắn: đó toàn là tài liệu tố giác các lãnh tụ của Đảng. Năm 1942, lần đầu tiên Him-le cất vào tủ sắt các tài liệu tố giác Quồc trưởng. Trước lúc đó, Him-le có nói chuyện với một trợ thủ của hắn là Cục trưởng Cục tình báo chính trị Sê-len-béc. Mờ sáng một ngày tháng tám năm 1942, Sê-len-béc đáp máy bay tới hành dinh của thống chế Him-le đặt tại ngoại ô Gi-tô-mia. Mặt trận phía Đông đang tấn công thắng lợi. Chiến tích của Rôm-men đang làm rung chuyển châu Phi. Sau khi báo cáo tỉ mỉ về các chiến thắng, Sê-len-béc nói:

- Thưa thống chế, bây giờ tôi còn một điều muốn trình bày riêng với Ngài.

Him-le lo ngại:

- Có chuyện gì không hay à? Phải chống lại nhân vật nào chăng?

- Hoàn toàn không phải như vậy. Chẳng qua tự nhiên tôi nhớ đến lời di chúc của Bít-smác: đừng bao giờ dự định làm một việc gì cả, nếu trong ngăn kéo dưới cùng ở gầm bàn không có hai khả năng để lựa chọn. Thưa thống chế, tôi xin phép hỏi: trong ngăn kéo nào của ngài có khả năng thứ hai để đối lập với chiến tranh ạ?

Him-le mở đài, - để buổi nói chuyện, lạy trời, khỏi bị ghi âm một cách tình cờ - rồi trả lời:

- Tôi cho ông năm tuần lễ để nghi phép. Thần kinh của ông không bình thường. Sức khỏe của ông sút kém đấy, ông Sê-len-béc ạ. Ông hiểu chứ? Hơn nữa, ai cho phép ông ăn nói với tôi như thế?!

- Hiện nay chúng ta mạnh đến mức, - Sê-len-béc nói tiếp, - chúng ta có thể đưa ra chính sách hòa bình. Chúng ta đang đứng ở tột đỉnh vinh quang, mà Bít-smác thì bao giờ cũng chấp nhận hòa bình trong lúc vinh quang tột đỉnh.

Lúc ấy, Him-le ngả người xuống đi-văng - bây giờ hắn vẫn còn nhớ như in từng chi tiết nhỏ nhất - và bắt đầu lấy tay xoa bụng (dạ dày hắn tiết ra quá ít dịch vị, nên hắn rất sợ ung thư). Sau đó hắn nói:

- Chừng nào thằng ngốc Ríp-ben-tơ-rốp còn làm cố vấn cho Quốc trưởng về chính sách đối ngoại, thì chưa thể có hòa bình.

- Ríp-ben-tơ-rốp đang hục hặc với Gơ-rinh. Chúng ta có thể giúp Gơ-rinh và quật ngã Ríp-ben-tơ-rốp. Có thể bổ nhiệm lão ta làm gau-lây-te của vùng rượu vang Buốc-gun-đi-a lẫn vùng rượu cô-nhắc Bơ-ra-băng. Lão vua rượu ấy sẵn sàng đổi chỗ như vậy.

Lúc đó, Him-le đưa tay về phía chiếc bàn nhỏ, trên đặt tập bản đồ địa lý của Brốc-gau-dơ, giở mấy trang rồi chỉ bằng ngón tay:

- Trên thực tế, ông nghĩ như thế nào? Nên làm gì với nước Bỉ? Làm gì với Hà Lan? Xử lý với U-cơ-ra-i-na ra sao?

- Nên chia vấn đề ra, - Sê-len-béc nói, - Nước Nga bị đập tan, thì xứ U-cơ-ra-i-na không còn là vấn đề đáng chú ý nữa. Nước Bỉ và Hà Lan là đầu đề thương lượng với Anh và Mỹ. Tôi chỉ sợ nước Mỹ và ông Boóc-man thôi.

Him-le khẽ nhếch mép cười.

- Được rồi, - hắn nói, - thế còn nước Pháp?

- Hãy liên minh với nó. Các thuộc địa của nó sẽ cho ta sức mạnh.

- Ông muốn thử thăm dò các nước đồng minh qua Phờ-rít-hen chăng? - Him-le hỏi, mặc dù câu hỏi của hắn giống một lời khuyên thì đúng hơn, - Tất cả đều do ông chịu trách nhiệm, đừng có kéo tôi vào trò chơi ấy đấy nhé.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 24 Tháng Tư, 2020, 02:48:56 pm
Thế là Sê-len-béc bắt đầu hành động. Y chưa vội tìm cách tiếp xúc với người của A-len Đa-lét ở Béc-nơ. Y cũng không sử dụng Phờ-rít-hen - phôn Pa-pen. Trước hết phải quật ngã Ríp- ben-tơ-rốp, Sê-len-béc đã tìm ra trong bộ máy của tên kia một người sẵn sàng công khai chống lại Ríp-ben-tơ-rốp. Người ấy là quốc vụ khanh Luy-te. Trong một bữa tiệc chiêu đãi, được khích lệ bởi buổi trò chuyện trước đó với Sê-len-béc, Luy-te bước lại Him-le và bắt đầu thân mật trò chuyện với hắn trước mặt tất cả mọi người, về đến nhà, Luy-te liền viết ba bản tố giác Ríp-ben-tơ-rốp: gửi cho Boóc-man, Him-le và Gơ-rinh. Nhưng vì Ríp-ben-tơ-rốp là thượng tướng SS, nên Him-le không dám lợi dụng chuyện đó và chưa mở đầu vụ án chống tên kia: nguyên tắc của đảng không cho hắn làm như vậy. Trước khi bãi chức Ríp- ben-tơ-rốp, nhất thiết phải qua tòa án của đảng, rồi đến tòa án của SS, cuối cùng mới có thể phế chức bộ trưởng của hắn được.

Him-le do dự, chưa đám giáng đòn quyết liệt, trong khi đó thì bộ máy vẫn hoạt động đều: căn cứ vào tài liệu do các điệp viên của Ríp-ben-tơ-rốp cung cấp, tên chỉ huy ghéc-xta-pô đã bắt giữ Luy-te. Kẻ tố giác Ríp-ben-tơ-rốp đã bị tố giác. Hơn thế nữa, sau khi khai thác Luy-te, Muyn-lơ đã gửi cho Boóc-man một bản báo cáo, rằng có kẻ đang định đàm phán riêng lẻ với phương Tây. Boóc-man liền báo cáo với Quốc trưởng, Hít-le ra lệnh cho Ríp- ben-tơ-rốp thảo quyết định, nói rằng đàm phán với các cường quốc đang giao chiến là phản bội, hình thức trừng phạt - xử bắn.

Lúc ấy, lần đầu tiên sau khi Him-le hiểu rằng hắn đã chậm chân và thua Ríp-ben-tơ-rốp một keo, hắn uể oải phàn nàn với Sê-len-béc như sau:

- Tôi chán đánh nhau cho Quốc trưởng lắm rồi. Tôi sẽ chống lại ông ta, nếu chính ông ta muốn như vậy.




- Giấy tờ đâu? - tên lính mô-tô hỏi.

Sơ-tiếc-lít chìa cho hắn thẻ căn cước của mình và hỏi:

- Có chuyện gì vậy?

Tên lính mô-tô xem giấy, giơ tay chào và đáp:

- Người ta báo động cho chúng tôi đi tìm những kẻ đánh điện.

- Thế đã thấy chưa? - Sơ-tiếc-lít cất thẻ vào túi và hỏi. - vẫn chưa phát hiện ra điều gì hay sao?

- Xe của ngài là chiếc thứ nhất qua đây.

- Các anh có muốn ngó xem chỗ để hàng hay không? - Sơ-tiếc-lít mỉm cười,

Bọn lính mô-tô cũng cười:

- Xin đại tá thận trọng, trước mắt có hai hố bom đấy ạ!

- Cảm ơn, - Sơ-tiếc-lít nói. - Bao giờ tôi cũng thận trọng cả.

“Tại buổi liên lạc của Ê-rơ-vin đây mà, - anh đã hiểu, - chúng đang chặn các con đường chạy về phía đông và phía nam. Kể ra chúng cũng khờ khạo thật, dù rằng về nguyên tắc thì đúng, nếu đối tượng của chúng là một kẻ ngây thơ ít hiểu biết về nước Đức”.

Anh cho xe chạy vòng, tránh hai hố bom. Đó là hai hố bom mới, bởi vì có mùi khen khét lọt vào xe qua cửa thông gió.

“Hãy quay về với những con cừu của ta, - Sơ-tiếc-lít tiếp tục nghĩ. - Mà chúng đâu phải là những con cừu như các họa sĩ Cu-cơ-rư-ních-xu và Ê-phi-mốp vẽ chúng. Nghĩa là, phương pháp mình khẳng định cho mình như sau: thái độ quan tâm đến hòa bình của từng tên Ríp-ben-tơ-rốp, Gơ-rinh, Boóc-man hay thống chế Cờ-luy-ghe là cái chính sẽ giúp mình hiểu được sự lo ngại của Trung tâm. Nhưng ai sẽ tiến hành đàm phán riêng lẻ với chúng? Ru-dơ-ven chăng? Dĩ nhiên là không. Các tổ chức xã hội của nước Anh ư? Không đời nào! Nhưng mặt khác, việc nước Đức đầu hàng phương Tây có thể đem lại mối lợi to lớn cho bọn tư bản độc quyền phương Tây là bọn người rất có máu mặt. Do đó, sau khi tìm hiểu bọn tai to mặt lớn của nước Đức quốc xã, mình phải hết sức chú ý đến tên Sơ-pê-e mới được. Tên bộ trưởng Bộ Công nghiệp ấy không đơn giản chỉ là một kỹ sư có tài, mà rõ ràng còn là một chính khách quan trọng. Thế mà mình chưa hiểu biết rõ ràng về cái nhân vật có thế bắt tay trực tiếp với giới làm ăn phương Tây ấy”.

Sơ-tiếc-lít không đưa xe vào ga-ra - trời hôm nay không lạnh lắm, chỉ khoảng hai, ba độ là cùng.

“Dù sao, sáng mai mình cũng phải dậy sớm mới được, - anh quyết định, - nước trong bộ giảm nhiệt của xe sẽ không bị đóng băng đâu. Ngày mai sẽ gay go đây. Khỏi phải nói, một sĩ quan tình báo SĐ lại đi tình nguyện làm việc cho cá nhân Him-le kia mà... Điều đó thật trái ngược với ngày tận số sắp tới của chế độ quốc xã. Mình mới chỉ trung thành với Him-le theo lời thề. Bây giờ như thế chưa đủ, mình phải trung thành với bản thân hắn, thống chế SS, với kẻ mang tên Him-le...”.



Chính sau năm 1943, khi Hây-đơ-rích bỏ xác ở Pra-ha, Sê-len-béc đã trở thành người tin cẩn nhất của Him-le. Kẻ thay Hây-đơ-rích là Can-ten-bơ-ru-ne không chiếm được cảm tình của Him-le vì cái tính ruột ngựa và phi trí thức quá rõ của hắn. Hắn nốc rượu như nước lã, hút tới trăm điếu thuốc lá một ngày và - đây là điều khiến Him-le ghét nhất - nói năng bằng cái giọng khủng khiếp của người Áo. Him-le nghe không thủng lời nói của Can-ten-bơ-ru-ne một phần còn là do hắn lắp nhiều răng giả.

- Ông đến hiệu chữa răng đi, - có lần Him-le đã bảo Can-ten-bơ-ru-ne, - tôi chẳng hiểu đầu đuôi ra sao cả, nhất là khi ông ăn nói vội vàng.
Can-ten-bơ-ru-ne tự ái ra mặt. Him-le nhận thấy điều ấy và nghĩ bụng: “May mà hắn là một thằng thộn, do đó lúc nào cũng có sẵn kẻ để chịu đòn, nhưng mình chớ cho hắn ở gần. Cái tính ngu ngốc là chúa hay lây…”.

Boóc-man... chà, Him-le mới căm ghét Boóc-man làm sao!..

Đây là lời Boóc-man nói với Quốc trưởng:

- Chúng tôi tin chắc rằng không thể hy vọng vào quân đội hoàn toàn được. Hạnh phúc lớn cho dân tộc là chúng ta có các sư đoàn SS. Nó là niềm hy vọng của đảng và chủ nghĩa quốc xã. Chỉ có thủ lĩnh SS, ông bạn Him-le của tôi mới là người có thể làm tư lệnh mặt trận phía Đông, chỉ huy tập đoàn quân “Vi-xơ-la”. Chỉ có dưới sự lãnh đạo của ông ấy, lực lượng SS và quân đội dưới quyền chỉ huy của ông ta mới có thể đánh bật và đè bẹp được quân Nga.

Hôm sau, Him-le đáp máy bay tới tổng hành dinh của Quốc trưởng mà không hay biết gì về quyết định bổ nhiệm mới đối với mình. Bởi vậy, Hít-le dễ dàng thông qua chỉ thị mà Him-le mang đến, nói rằng tất cả các gau-lây-te của nước Đức, trước thuộc quyền Boóc-man, từ nay phải đồng thời trực thuộc vào hắn, thống chế SS. Him-le đã chuẩn bị một đòn trời giáng đối với Boóc-man. Thậm chí hắn lấy làm ngạc nhiên trước việc Quốc trưởng thông qua bản chỉ thị của hắn quá dễ dàng. Một phút sau khi Hít-le ký vào văn bản, hắn mới vỡ lẽ.

- Tôi xin chúc mừng chú, Him-le ạ. Chú được cử làm tư lệnh tập đoàn quân “Vi-xơ-la”. Chỉ có chú, và không ai khác ngoài chú, có thể đánh tan bè lũ bôn-sê-vích. Chỉ có chú, và không ai khác ngoài chú, mới có thể đánh gục Xta-lin và buộc Xta-lin chấp nhận các điều kiện hòa bình của chúng ta!

Thất bại hoàn toàn rồi - Him-le đã hiểu tất cả. Hắn đã thua tất cả những gì có thể thua. Tháng giêng năm 1945 đã đến và không còn bất cứ hy vọng gì vào thắng lợi nữa! Vứt mẹ vào sọt rác các ảo mộng đa cảm đi thôi! Chỉ còn một nước cờ duy nhất: hòa hoãn ngay với phương Tây để cùng hợp lực chống trả quân đội bôn-sê-vích.

Him-le cám ơn Quốc trưởng về sự tín nhiệm đầy vinh dự, rồi trở về. Sau đó, hắn đến gặp Gơ-rinh, nhưng câu chuyện không kết quả.

Thế là hắn thức dậy vào lúc năm giờ sáng, không thể ngủ thêm được nữa, ngồi lắng nghe bầu không khí yên tĩnh của khu rừng thông, và không dám gọi điện cho con gái mình, vì sợ Boóc-man biết chuyện. Hắn cũng chẳng dám gọi điện cho hai đứa con trai và mẹ của chúng, người đàn bà được hắn yêu, bởi vì sợ gây tai tiếng như Quốc trưởng đã nói, lão ta không thể tha thứ cho “sự thiếu trong sạch về đạo đức”. Đồ mắc bệnh giang mai đáng nguyền rủa!.. Sự trong sạch về đạo đức!.. Him-le căm tức nhìn chiếc máy điện thoại; cái bộ máy mà hắn xây dựng mười tám năm trời hiện đang hoạt động chống lại hắn.

“Thế là hết, - hắn tự bảo mình, - thế là hết. Nếu mình không lập tức chiến đấu bảo vệ mình thì mình sẽ chết”.

Qua báo cáo của các điệp viên, Him-le có thể giả thuyết rằng viên tư lệnh tập đoàn quân đóng ở Ý là thống chế Két-xơ-rinh sẽ không phản đối việc đàm phán với phương Tây. Chỉ có Sê-len-béc và Him-le được biết điều ấy. Hai điệp viên báo tin đó đã bị thủ tiêu: người ta đã bố trí một tai nạn máy bay trên đường chúng trở về chỗ Két-xơ-rinh. Độc quyền bí mật là cơ sở của thành công. Từ nước Ý thẳng đường sang Thụy Sĩ. Mà kẻ cầm đầu Cục tình báo Mỹ ở châu Âu là A-len Đa-lét đang nằm tại Thụy Sĩ. Điều đó rất quan trọng. Đó là sự tiếp xúc trực tiếp giữa những người có thế lực; hơn nữa, bạn thân của Két-xơ-rinh - thượng tướng Các-lơ Vôn-phơ, chỉ huy lực lượng SS ở Ý - lại là người trung thành với Him-le.

- Cho mời ngay tướng Các-lơ Vôn-phơ tới chỗ tôi.

Hắn tin vào viên tướng SS kỳ cựu này, Các-lơ Vôn-phơ sẽ thay mặt hắn bắt đầu những cuộc đàm phán quan trọng với phương Tây...


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Năm, 2020, 03:44:27 pm
Chương 4


Sơ-tiếc-lít chưa hề có ý định gì với giám mục Sơ-lắc, khi ông ta bị dẫn đến chỗ hỏi cung đầu tiên: chẳng qua là anh thi hành lệnh của Sê-len-béc. Sau khi nói chuyện với ông ta ba ngày, anh thấy cần chú ý đến vị giám mục già có thái độ hết sức đường hoàng và ngây thơ này. Sơ-tiếc-lít hiểu rằng nếu ông ta rơi vào tay bọn ghét-xta-pô dưới trướng Muyn-lơ, thì ông ta sẽ bị chúng cắn xé ngay rồi.

Những khi có điều kiện, Sơ-tiếc-lít đều cố giúp đỡ những người bị bắt mà không đủ chứng cớ đầy đủ hoặc không liên quan đến vụ án nghiêm trọng. Dĩ nhiên, anh cố gắng bảo vệ công tác chính của mình, nhưng anh không thể làm ngơ trước số phận mọi người. Anh nghĩ ra một hình thức cứu giúp nhất định: anh “tuyển” những người bị bắt vì những việc nhỏ nhặt để có thể lập tức thả họ ra, hoặc để họ chỉ bị giam giữ ít lâu ở trại tập trung. Khi họ được thả, Sơ-tiếc-lít bố trí cho họ vào làm ở những cơ quan mà ngành tình báo của Sê-len-béc và, đương nhiên, cả ngành tình báo Liên Xô mà anh đại diện, đang để ý. Anh yêu cầu họ thu thập tài liệu về những đảng viên quốc xã quan trọng, nhằm tố giác những tên tay sai tận tụy của Hít-le, nào chuyện buôn lậu, nào việc ăn nói thiếu thận trọng, nào lối sống phi đạo đức. Như thế là anh thu được “ba cái lợi”. Cứu giúp những người bằng cách này hay cách khác đã chống đối chế độ Hít-le. Nắm được các tư liệu bí mật do những điệp viên báo thẳng về từ nơi họ được anh bố trí tới làm việc. Và cuối cùng là sử dụng các tài liệu đó để trừng trị những tên đảng viên quốc xã trung thành với chế độ.

Trong lúc hỏi cung Sơ-lắc và tìm hiểu hồ sơ tố giác ông ta, anh càng hay nghĩ đến việc vị giám mục già ấy có thể giúp ích gì cho công việc sau này.

Sau khi tin rằng vị giám mục chẳng những căm thù chế độ quốc xã, mà còn sẵn sàng giúp đỡ tổ chức bí mật đang hoạt động, điều này thì anh tin chắc sau khi nghe băng ghi âm câu chuyện giữa giám mục với tên phá hoại ngầm Cờ-lao-xơ, - Sơ-tiếc-lít dành cho Sơ-lắc một vai trò nhất định trong công tác của anh, mặc dù anh cũng chưa quyết định xem nên sử dụng ông ta thế nào cho thật hợp lý.

Sơ-tiếc-lít không bao giờ đoán trước diễn biến của sự kiện, nhưng bao giờ anh cũng có cái nhìn khái quát rất chính xác về một chiến dịch tương lai. Anh cười khảy khi đọc các tiểu thuyết trinh thám, trong đó tả một gã mật thám nhìn xa trông rộng, ngay từ đầu đã biết hắn sẽ vạch mặt và tóm cổ tên tội phạm như thế nào. Anh thường nhớ lại một đoạn anh đọc trong sách, khi ngồi trên chuyến tàu hỏa chạy qua địa phận châu Âu để tới Ăng-ca-ra. Đoạn văn ấy in sâu trong trí nhớ anh. Nhà nghiên cứu văn học sa đọa viết như sau: có một lần, người ta hỏi Pu-skin: “Chuyện gì sẽ xảy ra đối với Ta-chi-a-na kiều diễm?”. Pu-skin đã tức giận đáp lại: “Các vị đi mà hỏi cô ấy, tôi không biết”. Sơ-tiếc-lít có nói chuyện với các nhà toán học và vật lý học, nhất là sau khi bọn ghét-xta-pô bắt giữ nhà vật lý Run-gơ, người nghiên cứu vấn đề nguyên tử. Anh hỏi họ, xem các nhà khoa học lý thuyết lập kế hoạch trước cho phát minh bao nhiêu lâu. Họ trả lời anh: “Điều đó không thể được, Chúng tôi chỉ xác định hướng tìm tòi, tất cả những điều còn lại đều là kết quả của quá trình thí nghiệm”.

Trong hoạt động tình báo cũng hệt như vậy. Khi một chiến dịch được nghĩ ra trong khuôn khổ quá ư chính xác, thì nó rất dễ thất bại, bởi vì chỉ cần vi phạm một quan hệ định trước nào đó, là có thể dẫn đến chỗ đổ vỡ cái chủ yếu. Khả năng thành công sẽ cao nhất, nếu tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu, nhiệm vụ nút, và tiên đoán các khả năng diễn biến khác nhau, nhất là khi phải hoạt động một mình, Sơ-tiếc-lít nghĩ như vậy.

“Vị giám mục... - Sơ-tiếc-lít tự nhủ. - Mình sẽ nắm lấy ông ta. Giờ đây, sau khi tên Cờ-lao-xơ đã bị thủ tiêu và không thể phản bội thêm hai chiến sĩ điện đài của chúng ta nữa, thì vị giám mục thực tế đã rơi vào địa vị phụ thuộc, không bị giám sát, vào mình. Mình đã báo cáo với Sê-len-béc, rằng không thể nào xác định được các đường dây liên lạc giữa giám mục với gã nguyên là thủ tướng Bờ-riu-ninh, và căn cứ vào thái độ Sê-len-béc, mình thấy y đã thôi chú ý tới Sơ-lắc. Nhưng mình lại càng chú ý đến ông ta hơn, nhất là sau khi nhận được lệnh của Trung tâm”.

Lập luận chung của Sơ-tiếc-lít tỏ ra tuyệt đối chính xác. Anh chỉ sai lầm một điều là Sê-len-béc vẫn chưa quên vị giám mục. Ngược lại, bây giờ mới chính là lúc y bắt đầu thực sự chú ý đến ông ta...


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Năm, 2020, 03:47:04 pm
Muyn-lơ gọi trung tá Ai-xơ-man đến vào lúc ba giờ sáng.

Y đã ngủ được một lúc sau hai ly rượu cô-nhắc của Can-ten-bơ- ru-ne và cảm thấy khỏe ra.

“Loại cô-nhắc ấy quả là đặc biệt, - Muyn-lơ nghĩ. Y dùng ngón cái và ngón trỏ của bàn tay phải day day sau gáy. - Rượu cô-nhắc ở chỗ mình làm cho đầu óc choáng váng, còn loại cô-nhắc ở chỗ lão ta khiến đầu óc nhẹ hẳn đi”.

Ai-xơ-man nhìn Muyn-lơ bằng cặp mắt sưng tấy và mở một nụ cười ngây thơ bất lực của mình.

- Tôi cũng thấy đầu đau như búa bổ, - gã nói, - Tôi ước gì được ngủ một giấc bảy tiếng liền cho đã mắt. Chưa bao giờ tôi nghĩ rằng mất ngủ lại là thứ cực hình đáng sợ đến thế.

- Ông nghe đây, - Muyn-lơ nói, - hiện có một câu chuyện rắc rối. Lúc nãy, ông sếp có gọi tôi lên. Các ông sếp của chúng ta toàn là những vị hay tưởng tượng hão huyền... Các ông ấy tha hồ mà bày đặt ra mọi chuyện vì các ông ấy có công việc cụ thể nào đâu, còn chỉ thị với hướng dẫn thì đến con khỉ ở rạp xiếc cũng làm được... Ông hiểu không, ngài Can-ten-bơ-ru-ne nghi ngờ Sơ-tiếc- lít đấy...

- Nghi ngờ ai kia ạ?!

- Nghi ngờ Sơ-tiếc-lít. Người duy nhất trong tổ chức tình báo của Sê-len-béc mà tôi có cảm tình. Một người bình tĩnh, không nịnh bợ, không điên khùng, không cố tỏ ra vẻ hăng hái. Tôi không tin những kẻ xoắn xuýt với cấp trên và chẳng cần gì cũng cứ đăng đàn diễn thuyết trong các cuộc mít-tinh của chúng ta... Toàn một bọn bất tài, vô công rồi nghề, tán róc... Còn Sơ-tiếc-lít là một người ít nói. Tôi rất mến những người ít nói... Nếu bạn anh ít nói, thì đó là một người bạn thực sự. Nếu kẻ thù ít nói thì đó cũng là một kẻ thù nguy hiểm thật sự. Tôi kính trọng loại kẻ thù đó. Họ có những cái ta có thể học hỏi được…

- Tôi quen biết Sơ-tiếc-lít đã tám năm, - Ai-xơ-man nói, - tôi đã cùng anh ấy có mặt ở ngoại ô thành phố Xmô-len-xcơ và đã thấy anh ấy dưới làn bom đạn. Đó là một con người gang thép...

Muyn-lơ cau mày:

- Sao anh ăn nói văn vẻ thế?.. Làn bom đạn, người gang thép… Anh mệt mỏi hả? Để các từ ngữ văn vẻ ấy cho các lãnh tụ của đảng ta. Còn dân mật vụ chúng ta thì phải suy nghĩ bằng các danh từ và động từ như: “thằng cha ấy đã gặp”, “mụ ta nói”, “hắn đã giao”... Anh làm sao thế, anh không nghĩ rằng...

- Không ạ, - Ai-xơ-man trả lời. - Tôi không thể tin vào sự giả dối của Sơ-tiếc-lít.

- Tôi cũng vậy.

- Rõ ràng phải khéo léo làm cho Can-ten-bơ-ru-ne tin điều đó.

- Để làm gì? - Muyn-lơ hỏi sau một phút im lặng. - Lỡ ông ấy muốn rằng Sơ-tiếc-lít là một kẻ giả dối thì sao? Thuyết phục ông ấy để làm gì? Cuối cùng, Sơ-tiếc-lít có phải là người thuộc văn phòng của chúng ta đâu. Anh ta ở Vụ VI. Kệ cho Sê- len-béc nhảy nhót...

- Sê-len-béc sẽ đòi hỏi chứng cớ… Và ngài thừa biết rằng thống chế SS sẽ ủng hộ ông ta.

- Anh nghĩ thế à?

- Tôi tin như vậy.

- Tại sao?

- Tôi rất khó chứng minh điều đó... Tôi tin như vậy thôi, thưa ngài thượng tướng.

Muyn-lơ lại lấy ngón trỏ và ngón cái của bàn tay phải xoa gáy.

- Vậy phải làm gì bây giờ?

Ai-xơ-man nhún vai:

- Riêng tôi cho rằng cần phải thành thật với chính bản thân mình từ đầu đến cuối; điều đó quyết định mọi hành động và hành vi sau đó của mình.

- Hành động với hành vi chỉ là một, - Muyn-lơ nhận xét. - Tôi thật phát ghen với những người thi hành mệnh lệnh và chỉ biết có việc ấy mà thôi! Tôi chỉ muốn làm người thi hành mệnh lệnh! Thành thật ư? Có thể nghĩ rằng bao giờ tôi cũng thử giả dối xem sao. Tôi xin dành cho anh đầy đủ khả năng để mà thành thật; anh hãy cầm lấy những tài liệu này, - Muyn-lơ đẩy mấy cặp giấy đầy chữ đánh máy lại phía Ai-xơ-man, - và hãy rút ra kết luận của mình. Anh hãy thành thật từ đầu đến cuối nhé. Tôi sẽ dựa vào đó khi báo cáo với ngài sếp về kết quả thẩm tra.

- Tại sao chính tôi phải làm việc này, thưa ngài thượng tướng?- Ai-xơ-man hỏi.

Muyn-lơ cười to:

- Thế sự thành thật của anh đâu rồi, anh bạn của tôi? Lòng thành thật ở đâu? Hãy thành thật đi! Khuyên người khác thành thật thì bao giờ cũng dễ. Nhưng riêng với mình, thì ai cũng chỉ tìm cách đem sự thành thật ra để che giấu sự giả dối của mình, để biện bạch cho bản thân, cho các hành động của mình. Tôi nói thế không đúng hay sao?

- Tôi sẵn sàng viết báo cáo.

- Báo cáo thế nào?

- Tôi sẽ viết trong báo cáo rằng tôi quen biết Sơ-tiếc-lít đã nhiều năm và tôi có thể bảo đảm hoàn toàn cho anh ấy.

Muyn-lơ im lặng, cựa quậy trên ghế, rồi đưa cho Ai-xơ-man một tờ giấy.

- Anh viết đi, - Muyn-lơ nói. - Viết đi.

Ai-xơ-man rút bút, suy nghĩ khá lâu câu mở đầu rồi đặt bút viết mấy câu dưới đây bằng nét chữ rất đẹp của mình:

“Kính gửi ngài thượng tướng Cục trưởng Muyn-lơ. Tôi coi đại tá SS phôn Sơ-tiếc-lít là một người Đức chân chính, trung thành với các lý tưởng của Quốc trưởng và của đảng Quốc xã. Tôi đề nghị cho phép tôi không phải thẩm tra các việc làm của anh ấy.

Trung tá SS Ai-xơ-man”.

Muyn-lơ thấm tờ giấy cho khô mực, đọc đi đọc lại hai lần rồi nói:

- Thôi được... Anh cừ lắm... Tôi luôn luôn tôn trọng và hoàn toàn tin cậy anh. Bây giờ tôi lại có dịp tin một lần nữa vào thái độ đúng đắn của anh, Ai-xơ-man ạ.

- Xin cảm ơn ngài thượng tướng.

- Tôi chẳng làm gì mà anh phải cảm ơn. Tôi cảm ơn anh thì có. Thôi được. Anh cầm lấy ba cặp giấy này. Căn cứ vào đó, anh hãy viết lời nhận xét thật tốt về hoạt động của Sơ-tiếc-lít. Tôi khỏi phải dạy anh: hãy nói đến nghệ thuật của một người tình báo, sự tinh tường của một viên thẩm tra và lòng dũng cảm của một đảng viên quốc xã chân chính. Anh cần bao nhiêu lâu để làm việc đó?

Ai-xơ-man giở cặp hồ sơ và đáp:

- Để mọi thứ được trình bày thật đẹp và được xác nhận tỉ mỉ bằng văn bản, tôi xin ngài cho tôi một tuần lễ.

- Năm ngày thừa sức xong.

- Cũng được ạ.

- Và anh hãy cố gắng viết thật hay về công việc mà Sơ-tiếc- lít tiến hành với lão giám mục này, - Muyn-lơ lấy ngón tay chỉ vào một cặp giấy, - Can-ten-bơ-ru-ne cho rằng hiện nay có kẻ muốn thông qua các cố đạo để liên hệ với phương Tây: Va-ti-căng và vân vân…

- Rõ.

- Thôi, chức anh may mắn. Và đi ngủ đi. Bảy giở liền thì tôi không cho được đâu. Năm giờ thôi. Ngon giấc nhé.

Khi Ai-xơ-man đã bước ra, Muyn-lơ cất tờ giấy Ai-xơ-man vừa viết vào một cặp giấy riêng và ngồi suy nghĩ rất lung. Sau đó, y gọi một cộng sự khác của mình là trung tá Khôn-tốp vào.

- Anh nghe đây, - y nói, thậm chí cũng không mời tên kia ngồi, vì Khôn-tốp thuộc loại sĩ quan trẻ. - Tôi muốn giao cho anh một việc tối mật và cực kỳ quan trọng…

- Xin tuân lệnh ngài thượng tướng.

“Thằng này vào loại ngựa non háu đá đây, - Muyn-lơ nghĩ. - Đang say trò đấu đá. Nó sẽ không từ một việc gì. Hay lắm… Thế là ta có cái để mặc cả với Sê-len-béc rồi…”

- Thế này nhé, - Muyn-lơ nói tiếp. - Anh cần nghiên cứu kỹ hồ sơ này: đây là những việc mà đại tá Sơ-tiếc-lít làm trong năm vừa qua. Vụ này liên quan đến loại vũ khí trừng phạt... Tức là vũ khí nguyên tử… đến nhà vật lý học Run-gơ... Nhìn chung, vụ này bê bối lắm, nhưng anh hãy cố khai thác nó... Nếu có điểm nào không rõ, cứ đến gặp tôi nhé.

Khôn-tốp do dự và hơi có phần lo ngại, nhưng cố giấu ý nghĩ đó của mình. Lúc hắn bước ra đến cửa phòng, Muyn-lơ còn gọi lại nói thêm:

- Anh hãy xem lại hồ sơ về những ngày đầu của Sơ-tiếc-lít, hồi ở mặt trận, và xem hai con đường của Sơ-tiếc-lít và Ai-xơ- man có cắt nhau không.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Năm, 2020, 03:50:46 pm
Cả bọn ghét-xta-pô, cả bọn quân báo áp-ve lẫn cơ quan phản gián của Vi-si đều biết rằng, vào những ngày nóng bỏng của mùa hè năm 1942, sẽ có một người Mỹ đầy bí ẩn nào đấy đi qua nước Pháp. Cơ quan phản gián của nước Pháp, bọn ghét-xta-pô và Cục tình báo của đô đốc Ca-na-ri-xơ liền tìm cách săn đuổi con người đó.

Tại các nhà ga và trong những ngôi nhà kính của các sân bay, bọn điệp viên, mật vụ túc trực, nhìn chằm chằm vào tất cả những ai có nét gì đó giống một người Mỹ.

Bọn chúng không tóm được người đó. Hắn biến mất trong các khách sạn, rồi đột nhiên xuất hiện trong các chuyến máy bay. Thông minh, khôn ngoan, bình tĩnh và táo bạo, hắn đã đánh lừa cơ quan an ninh Đức, cơ quan phản gián của Vi-si và kỳ lạ thay, đã đặt chân an toàn lên đất Thụy Sĩ trung lập vào cuối năm 1942.

Người hắn cao lớn, cặp mắt hắn ẩn sau hai mắt kính lấp lánh của chiếc kính kẹp mũi, nhìn thế gian ra vẻ độ lượng, hiền lành, nhưng đồng thời rất nghiêm nghị. Lúc nào người ấy cũng ngậm chiếc tẩu thuốc Anh, hắn ít nói, hay mỉm cười, có khả năng chinh phục người tiếp chuyện bằng thái độ chăm chú lắng nghe, bằng những câu pha trò sắc sảo và, nếu như hắn không đúng, hắn lập tức nhận cái sai về mình một cách công khai.

Chắc rằng, nếu tổ chức của Him-le, Ca-na-ri-xơ và Pê-tanh biết rõ kẻ đó là ai, hẳn là họ sẽ cố gắng gấp hàng chục lần để tóm cổ hắn về tay mình ở ngay trên đất Pháp, nơi vào cuối năm 1942, quân đội Đức đã xâm chiếm và chấm dứt sự tồn tại của nước Pháp “có chủ quyền” với thủ đô ở Vi-si. Kẻ đó là A-len Đa-lét nhân viên cục tình báo chiến lược, được tướng Đô-nô-van phái đến Béc-nơ.

Chẳng bao lâu sau, ở Thụy Sĩ người ta đã coi hắn như đặc phái viên của tổng thống Ru-dơ-ven.

Đa-lét cho đăng lời phủ nhận trên mặt báo. Nội dung lời phủ nhận rất lạ lùng và bí ẩn. Hắn hiểu rằng, sự đồn đại và lời phủ nhận ấy trong trường hợp này là một thứ quảng cáo hai mặt có lợi cho hắn. Và hắn đã không lầm: ngay từ mấy tháng đầu tiên ở Béc-nơ, từ khắp nơi, đủ mọi hạng người từ các nước khác nhau đã đổ xô đến gặp hắn - các chủ nhà băng, các vận động viên, các nhà ngoại giao, các nhà ngữ văn, các hoàng thân, các diễn viên, tức là tất cả những nhân vật mà, qua đó, các cơ quan tình báo trên thế giới tuyển mộ những điệp viên, thường là có khả năng nhất, cho mình.

Trước khi triển khai chi nhánh tình báo chiến lược của mình ở Thụy Sĩ, Đa-lét đã nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng những tài liệu nói về các cộng sự viên của hắn.

Một nhân, viên Cục điều tra trung ương Mỹ chuyên lo việc kiểm tra và hệ thống hóa hồ sơ tố giác các cộng sự viên của Đa-lét báo cáo với hẳn:

- Ở đây, trong chiếc cặp màu xanh này, ghi tên tất cả những ai có bà con họ hàng và bạn bè thân thiết tại các nước thuộc khối trục và các nước trung lập. Còn trong chiếc cặp này ghi những người đẻ ở Đức, ở châu Âu và những ai có bố mẹ là người Đức. Còn trong chiếc cặp kia ghi tên họ những người có quan hệ thư từ với các cộng sự viên của ngài... Còn đây là…

Đa-lét ngắt lời gã kia:

- Tất cả những cái đó có liên quan gì tới công việc đâu?

- Xin lỗi ngài...

- Tôi quan tâm đến những điểm sau đây: trong số các cộng sự viên của tôi, có ai là nhân vật tích cực của Viện Đức - Mỹ hay không? Nhân vật ấy có phải là đảng viên cộng sản hay không? Có phải là người, dù nam hay nữ, có tình dục đồng giới hay không? Hoàn cảnh gia đình của hắn ra sao? Vợ chồng sống với nhau có hòa hợp không, hay là vợ hắn bị bệnh tâm thần khiến người chồng vì thế mà say mê rượu chè và muốn đập phá gia đình tan nát cho xong? Còn về phần những người bà con họ hàng ở Đức hay Ý, thì trong số những người có họ xa với tôi, có một người sang làm ăn bên Đức từ thế kỷ trước kia đấy.

Tiếc thay, trong các tài liệu tra cứu “Who is who” chỉ nói rất ít về quá khứ của người Mỹ mang tên A-len Đa-lét này. Tiểu sử của hắn đáng để các cơ quan phản gián Đức biết rõ từ trước. Nhưng phải khá lâu sau chúng mới nắm được.

Khi cơ quan của Him-le gài được điệp viên của mình vào nhà Đa-lét (cô nấu bếp đáng yêu và chăm chỉ làm việc trong nhà Đa-lét là nhân viên Vụ Sáu thuộc cơ quan an ninh quốc xã), thì cả Sê-len-béc, cả Him-le lẫn Muyn-lơ bên ghét-xta-pô, và ít lâu sau là Can-ten-bơ-ru-ne, đều qua điệp viên của mình mà biết được nhiều điểm quan trọng và hấp dẫn từ những chi tiết tưởng chừng rất vụn vặt.

Chẳng hạn, điệp viên ấy báo về rằng, cuốn sách gối đầu giường, và rõ ràng là cuốn sách yêu thích nhất của A-len Đa-lét, là cuốn “Nghệ thuật chiến tranh” của Tôn Tử, một người Trung Quốc. Trong tác phẩm ấy, nhà lý luận Trung Quốc trình bày các nguyên tắc hoạt động gián điệp từng tồn tại ở Trung Quốc từ năm 400 trước công nguyên.

Đặc biệt A-len Đa-lét thường hay giở ra xem chương sách trong đó tác giả người Trung Quốc xác định những điệp viên nào có giá trị nhất trong hoạt động tình báo.

Tôn Tử chia các điệp viên ra làm năm loại: điệp viên địa phương, điệp viên nội địa, điệp viên kép, điệp viên bất hồi và điệp viên sống.
Đa-lét ghi những loại ấy ra từng tờ giấy nhỏ, và những tờ giấy này cũng rơi vào tay Sê-len-béc. Theo lời hắn viết, thì điệp viên địa phương và điệp viên nội địa tương ứng với loại điệp viên tại chỗ theo cách gọi của chúng ta bây giờ.

Điệp viên kép là điệp viên của kẻ địch bị ta bắt làm tù binh, rồi được ta tuyển mộ và phái ngược trở lại hàng ngũ địch, nhưng với tư cách là điệp viên của nước đã bắt được hắn.

A-len Đa-lét dùng chì đỏ gạch dưới thuật ngữ “điệp viên bất hồi”. Hắn rất thích lối diễn đạt tinh tế ấy của người Trung Quốc. “Điệp viên bất hồi” là từ mà Tôn Tử dùng để gọi những điệp viên đem các tin tức giả, trái ngược, tới cho kẻ thù. Tôn Tử gọi họ là “điệp viên bất hồi”, bởi vì hoàn toàn rõ ràng rằng, khi kẻ thù phát hiện ra đó là thông tin giả, nhất định chúng sẽ giết chết họ.

Theo cách nói của Tôn Từ, - và điều này được Đa-lét nhấn mạnh trong ghi chép của hắn, - thì điệp viên sống là loại điệp viên được cử đi hoạt động bí mật ở nước đối phương và sau đó trở về tổ quốc an toàn.

Tôn Tử khẳng định rằng người tình báo thực thụ phải đồng thời có cả năm loại điệp viên kể trên. Tác giả viết rằng người trùm tình báo nào có cả năm loại điệp viên ấy sẽ làm chủ một mạng lưới kiểu như “thiên la địa võng” hoặc một thứ lưới bắt cá đan bằng trăm nghìn sợi dây bền chắc nhưng vô hình.

Tôn Tử viết khá dài, và Đa-lét đã trích dẫn nhiều đoạn ra những tờ giấy riêng, như đoạn nói về hoạt động phản gián, về thông tin giả, về chiến tranh tâm lý, về chiến thuật an toàn đối với các điệp viên.

Hoạt động tình báo theo kiểu Tôn Tử là lời thách thức hoạt động tình báo của thời cổ Hy Lạp và La Mã. Ở đấy, người cổ chủ yếu nhờ cậy vào những chỉ dẫn của quỷ thần. Còn Tôn Tử thì cho rằng hoạt động tình báo không thể dựa vào quỷ thần hay thượng đế được. Trong hoạt động tình báo chỉ cần dựa vào con người - vào kẻ thù và bạn bè - mà thôi.

Ả điệp viên của ghét-xta-pô đã chụp ảnh được quyển Kinh thánh với vô số lời nhận xét của tên tình báo viên người Mỹ ở bên lề các trang sách. Trong quyển đó, Đa-lét có gạch dưới đoạn kể I-i-xút Na-vin cử hai người tới thành phố I-ê-ri-khôn để bí mật xem xét tình hình mọi mặt. Và hai người ấy đã tìm tới nhà một người phụ nữ lầm lạc tên là Ra-áp. Theo lời Đa-lét nói với bạn bè, thì hắn coi đây là ví dụ đầu tiên được ghi vào sử biên niên về cái mà các điệp viên chuyên nghiệp hiện nay gọi là nơi ẩn nấp. Ra-áp đã giấu hai điệp viên trong nhà ả, và sau đó dẫn chúng ra khỏi thành phố. Khi quân I-xra-en chiếm được I-ê-ri-khôn, chúng đã chém giết hết thẩy mọi người, chỉ chừa lại một mình ả Ra-áp và gia đình ả. Cái truyền thống khen thưởng những người đã giúp đỡ hoạt động tình báo bắt đầu chính là từ thời kỳ ấy.

Theo báo cáo của điệp viên từ nhà Đa-lét gửi về Trung tâm tình báo quốc xã, thì một trong những cuốn sách mà A-len Đa- lét thích là cuốn “Rô-bin-xơn Cơ-ru-dô” của Đa-ni-en Đê-phô. Hắn cũng rất hay giở xem quyển “Mô-li Phơ-len-đéc” và “Ghi chép về năm dịch hạch”. Những cuốn sách ấy là của Đa-ni-en Đê-phô, một trong những tình báo viên xuất sắc nhất. Đa-ni-en Đê-phô chẳng những đã có sáng kiến tự lập ra mạng lưới tình báo rộng lớn, mà còn là viên chỉ huy đầu tiên của ngành tình báo nước Anh. Nhiều năm sau khi ông ta chết, thế giới mới biết điều này.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Năm, 2020, 03:55:25 pm
Đa-lét cố tìm trong các trang sách của Đê-phô, xem có câu văn nào, dù chỉ nói một cách hết sức xa xôi, rằng tác giả của nó là người cầm đầu cơ quan tình báo Anh quốc hay không. Nhưng hắn chẳng tìm thấy một câu nói bóng gió nào về chuyện ấy cả.

Cũng theo báo cáo của nữ điệp viên kia, thì vào những lúc rỗi rãi, A-len Đa-lét thường chú trọng tìm hiểu hoạt động thực hành và phương pháp của các tổ chức tình báo lớn nhất tại châu Âu trong thế kỷ XIX.

Rất nhiều từ liệu khác nữa về A-len Đa-lét đã được tích lũy trong các tủ bọc sắt ở cơ quan Him-le. Song các trùm thủ lĩnh của nước Đức quốc xã vẫn chưa có tài nào xác định một cách tuần tự và chính xác tiểu sử của tên điệp viên sừng sỏ giữa thế kỷ XX ấy.

Lý lịch của A-len Đa-lét không có gì đáng chú ý lắm. Sau khi nhận bằng thạc sĩ nghệ thuật vào năm hai mươi ba tuổi, hắn đi làm giáo sĩ truyền đạo ở Ấn Độ và Trung Quốc. Tháng năm năm 1916, hắn nhận chức vụ ngoại giao đầu tiên của hắn ở Viên. Hắn từng là đoàn viên của phái đoàn do Vu-đờ-rô Uyn-xơn cầm đầu ở Pa-ri. Sau đó, hắn nhận một nhiệm vụ đặc biệt và tới Thụy Sĩ và Áo làm việc với mục đích duy trì đế quốc Áo - Hung. Tại đó, năm 1918, hắn đã chuẩn bị một âm mưu đầu tiên. Âm mưu này có thể dẫn đến kết quả to lớn, giá như hắn thực hiện đến cùng. Song cuộc cách mạng tháng mười một ở Đức do những người cộng sản lãnh đạo đã ngăn cản việc thực hiện âm mưu đó. Cái chế độ quân chủ tương lai của Gabx-bua mưu toan làm đội vệ binh và chiếc lá chắn vững chắc của phương Tây, nhằm ngăn chặn làn sóng bôn-sê-vích lan tràn ở châu Âu, đã bị phá sản thảm hại.

Một năm sau, năm 1919, A-len Đa-lét được cử làm bí thư thứ nhất đại sứ quán Hoa Kỳ ở Đức. Tại đây, trong ngôi nhà số 7, đại lộ Vin-hem, A-len Đa-lét đã tiếp xúc trực tiếp với những kẻ coi nhiệm vụ chủ yếu của mình là đối phó với chủ nghĩa bôn- sê-vích ở châu Âu. Chính tại đây, A-len Đa-lét đã giới thiệu Đờ- rét-xơn, đại biện lâm thời Hoa Kỳ tại Đức, với tướng Hốp-man, kẻ vạch kế hoạch đầu tiên cho quân Đức tần công Crem-lin.

Bấy giờ Hốp-man đã nói với Đa-lét và Đơ-rét-xơn: “Suốt đời tôi, tôi chỉ tiếc một điều. Tôi tiếc rằng trong thời kỳ Brét-Li-tốp- xcơ, tôi đã không xé bỏ hiệp ước và không tiến quân sang Mát- xcơ-va. Hồi ấy, tôi có thể dễ dàng làm việc đó”.

Chính dạo đó và chính Hốp-man trong lúc trò chuyện với Đa-lét đã khôn khéo biện hộ cho cái học thuyết về sau được gọi là thuyết “Đơ-răng nắc ô-xten” 1.

Ở Béc Lanh về, A-len Đa-lét tới làm việc hai năm ở Côn- stăng-ti-nô-pôn, thủ đô của một nước nằm ngay bên cạnh nước Nga Xô-viết, thủ đô của một nước vừa là chiếc chìa khóa mở cửa tới Biển Đen và Địa Trung Hài, vừa là đầu cầu trên con đường dẫn đến các nguồn dự trữ dầu lửa của thế giới.

Từ nơi ấy, A-len Đa-lét trở về Oa-sinh-tơn. Hắn trở thành Vụ trưởng Vụ Cận Đông ở Bộ Ngoại giao. Cận Đông là một trong những điểm nóng nhất trên thế giới lúc bấy giờ. Cận Đông, đó là dầu lửa, là nguồn nuôi dưỡng chiến tranh. Bọn trùm tư bản công nghiệp Mỹ trong ngành dầu lửa hồi ấy rất lo sợ trước những thắng lợi to lớn của lối cạnh tranh Anh quốc trên thị trường thế giới.

Chính dạo đó Bét-pho, giám đốc công ty “Stăng-đa ôi-lơ ốp Niu - Giéc-xi” đã tuyên bố: “Đối với Hoa Kỳ lúc này, điều quan trọng là phải thi hành chính sách xâm lược”.

Và Đa-lét ra sức hoạt động. Thắng lợi đầu tiên đối với nước Anh mà phía Mỹ giành được là nhớ tài điều khiển của hắn. Đó là vào năm 1937, khi công ty của Rốc-phe-lơ giành được hai  mươi lăm phần trăm cổ phần trong Công ty dầu lửa “I-rắc pét- rô-lê-um com-pa-ni”.

Cùng trong năm ấy, nghiệp đoàn dầu lửa “Gal-phơ ôi-lơ” thuộc nhóm Mê-lơn giành được quyền ưu tiên nhượng địa ở quần đảo Bác-rên.
Giành xong những thắng lợi đó, A-len Đa-lét quyết định về hưu. Nhưng việc tìm hiểu hoạt động tình báo trong nhà băng của tập đoàn Rốt-sin-đơ đã khiến hắn nghĩ rằng cương vị ở Bộ Ngoại giao mới chỉ là nấc thang đầu tiên trên bậc thang danh vọng đáng kể sau này của hắn.
A-len Đa-lét nhận làm việc cho hãng luật “Xa-li-vên ên Cờ- rôm-vên”, một trong những hãng lớn nhất ở phố U-ôn, một hãng gắn bó mật thiết với tập đoàn Rốc-phe-lơ và Moóc-gang. Chính ở đây, tại hãng luật này, A-len Đa-lét đã tiến hành một chiến dịch rộng lớn nhằm giành cho Hoa Kỳ các nhượng địa dầu lửa ở nước Cộng hòa Cô-lôm-bi-a.

Chính hãng “Xa-li-vên ên Cờ-rôm-vên” đã làm việc với chính phủ Pa-na-ma trong thời kỳ xây dựng kênh đào. Chính hồi ấy hãng “Xa-li-vên ên Cờ-rôm-vên” đã đặt những quan hệ mật thiết nhất với nước Đức, là nơi, sau hiệp ước Véc-xây, bọn tư bản công nghiệp Mỹ đã đầu tư vào rất nhiều đô-la.

Chính dạo đó A-len Đa-lét và anh hắn là Giôn Phô-xtơ Đa- lét đã cấu kết chặt chẽ với tờ-rớt “I. G. Phác-ben-in-đu-xtơ- ri” của Ti-xen và với công-xéc “Rô-béc Bô-sơ”. Hai anh em Đa-lét đã trở thành các điệp viên người Mỹ làm việc cho hai nghiệp đoàn đó của nước Đức.

Ngay trong thời kỳ đầu tiên của chiến tranh, A-len Đa-lét đã lâm vào tình trạng bị phá sản đến nơi. Công-xéc “Rô-béc Bô-sơ” có một chi nhánh ở Hoa Kỳ. Chi nhánh này gọi là “A-mê-ri-cơn Bô-sơ Coóc-pô-rây-sơn”. Trong thời kỳ đầu của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, hãng này có nguy cơ bị liệt vào sổ đen. Bọn chủ hãng vội vã ký hợp đồng với hai chủ nhà băng Thụy Điển là hai anh em Va-len-béc. Hợp đồng này quy định rằng nhà băng Thụy Điển sẽ kiểm tra trên danh nghĩa hãng “A-mê-ri-cơn Bô-sơ Coóc-pô-rây-sơn” với điều kiện chờ khi chiến tranh kết thúc mới chuyển giao hãng đó cho chủ nhân của nó. 

Anh em nhà Va-len-béc đồng ý, nhưng họ đòi bên ký hợp đồng phải là người Mỹ để làm tất cả những thủ tục cần thiết. Vai trò ấy được giành cho hai anh em Đa-lét, A-len Đa-lét đã đánh lừa được chính quyền Mỹ và che giấu tài sản của bọn Đức quốc xã dưới lá cờ Thụy Điền. Sau đó, A-len Đa-lét chẳng những trở thành đồng chủ nhân của hãng “Xa-li-ven ên Cờ-rôm-vên”, mà còn làm giám đốc “Sờ-rê-đe tờ-rốt Com-pa-ni” và đồng thời làm giám đốc “Gi. Hen-ri Sờ-rê-đe bên-kinh Coóc-pô-rây-sơn”.

Sờ-rê-đe là ai vậy?

Hắn là công dân Đức ở Đức, công dân Mỹ - ở Hoa Kỳ, công dân Anh ở Anh quốc. Vào những năm ba mươi, công-xéc nói trên do nam tước Cuốc phôn Sờ-rê-đe cầm đầu, Ngày 7 tháng giêng năm 1933, tại biệt thự của Sờ-rê-đe ở Ken-nơ, Hít-le đã gặp mặt phôn Pa-pen. Ở đó hắn đã phác ra kế hoạch cho bọn quốc xã giành lấy chính quyền. Nhờ thế, Cuốc phôn Sờ-rê-đe được phong chức trung tướng SS. Chính hắn trở thành chủ tịch của tổ chức bí mật “Phờ-ren-đen Cờ-rây-xơ”. Tổ chức này đã quyên tiền trong giới trùm tư bản vùng Rua cho các đơn vị SS của thống chế Hen-rích Him-le.

Chi nhánh của công-xéc Sờ-rê-đe ở Anh cấp tiền cho “Hội Anh - Đức” ở Luân Đôn. Chức năng của Hội này là tuyên truyền cho các tư tưởng của Quốc trưởng Hít-le ở nước Anh. Có thể đoán biết chức năng của hãng “Gi. Hen-ri Sờ-rê-đe bên-kinh Coóc-pô-rây-sơn” ở Hoa Kỳ. Giám đốc hãng ấy là A-len Đa-lét...

Chính con người ấy, cái kẻ hiểu biết châu Âu, nước Đức, đảng Quốc xã, giới tư bản dầu lửa hơn ai hết ấy đã trở thành kẻ cầm đầu cơ quan đại diện Cục tình báo chiến lược của Hoa Kỳ tại châu Âu.

Dĩ nhiên, Đa-lét không phải là đặc phái viên của tổng thống Ru-dơ-ven ở Béc-nơ. Việc hắn chuyển sang Cục tình báo chiến lược có liên quan tới một buổi nói chuyện giữa hắn với một đại biểu của giới tư bản, một tuần sau khi quân Nhật tấn công Piếch-lơ Ha-bo.

- Ngài hỏi triển vọng ra sao ư? - Đa-lét đăm chiêu nói, miệng vẫn ngậm chiếc tẩu thuốc nhãn hiệu Anh như thường lệ, - Tôi chưa thể trả lời cặn kẽ được. Muốn nhận rõ triển vọng đối với mình, cần phải nghiên cứu nền tài chính và những giai thoại lưu truyền trong nước, các vở diễn mới ở nhà hát và báo cáo về các hội nghị đảng quốc xã ở Nu-rem-be. Tôi thấy rõ một điều: nước Đức sẽ không im hơi lặng tiếng - tôi muốn nói đến nước Đức của những nhà tư bản tài chính cỡ lớn, loại như ông Sa-khơ đã về vườn, và của những nhà văn đang buộc phải kiếm ăn bằng cách dịch sách từ tiếng La-tinh.

- Ông Sa-khơ thì đáng chú ý đấy, còn các nhà văn thì...

- Thì cũng rất đáng chú ý, - Đa-lét phản đối, - thậm chí còn đáng chú ý hơn là ngài nghĩ kia. Từ năm 1934, Him-le đã phạm một sai lầm nghiêm trọng đầu tiên, khi ông ta tống phôn Ô-xét-xki, người được giải thưởng Nô-ben, vào trại tập trung. Ông ta đã dựng lên hình tượng một người bị hành hạ. Đối với cái người bị hành hạ ấy, lẽ ra không nên tống vào trại tập trung, mà phải mua chuộc ông ta bằng danh vọng, tiền và gái... Không ai dễ bị mua chuộc bằng diễn viên, nhà văn và nghệ sĩ. Phải biết khéo léo mua chuộc họ, bởi vì đó là hình thức tố giác tốt nhất.

- Ồ, điều đó không làm chúng tôi quan tâm, đó chỉ là những chi tiết nhỏ nhặt...

- Đó không phải là chi tiết, - Đa-lét khăng khăng phản đối, - Đó hoàn toàn không phái là các chi tiết nhỏ nhặt, Hít-le đã giáo dục bảy mươi triệu người mù quáng tuân lệnh ông ta. Sân khấu, phim ảnh và hội họa của ông ta đang giáo dục những người máy mù quáng. Điều này không thể làm chúng ta vừa lòng: người máy hoàn toàn không muốn buôn bán, tiếp xúc và nghĩ ra một chiến dịch sinh lời trong lĩnh vực của nhà tư bản. Những người máy mù quáng không cần đến Sa-khơ. Nhưng chúng tôi cần đến ông ấy. Bởi vậy, - Đa-lét kết luận, - ở đây tất cả mọi việc đều gắn bó mật thiết qua lại với nhau. Và sự tương tác ấy nhất định sẽ dẫn tới giới trí thức trong quân đội… Mà trí thức trong quân đội thì đó là những người có cấp bậc từ thiếu tá đến thống chế, chứ không thấp hơn. Thấp hơn là những người máy chỉ biết mù quáng thi hành bất kỳ mệnh lệnh nào, không cần suy nghĩ tí gì…

- Ôi, cách giải thích này đáng chú ý đây, - người tiếp chuyện với A-len Đa-lét nói, - Nó đáng chú ý vì nó có nhiều triển vọng lắm. Thế mà ông lại bảo rằng ông không thể trả lời câu hỏi của tôi...




------------------------------------------------------------------
1. Tiếng Đức, có nghĩa “tiến sang phía Đông”.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 08 Tháng Năm, 2020, 04:00:03 pm
Khi Các-lơ Vôn-phơ bước ra khỏi phòng làm việc của Him-le, viên thống chế SS ngồi bất động khá lâu, tưởng chừng hắn đã hóa đá. Không phải hắn đang run sợ. Làm gì có chuyện ấy. Hay ít ra là hắn không nghĩ như vậy. Chẳng qua đây là lần đầu tiên trong đời hắn phải lùi bước. Hắn đã biết có những kẻ lùi bước, thậm chí hắn không làm phiền họ, trong khi theo dõi xem ai sẽ thắng trong tháng bảy năm một nghìn chín trăm bốn mươi tư. Nhưng giờ đây thì chính hắn đã có hành động phản bội quốc gia; chỉ có một hình phạt duy nhất dành cho việc đàm phán với kẻ thù, đó là xử bắn. Những cuộc trao đổi với Gơ-rinh thì bao giờ hắn cũng có thể bảo đảm an toàn; vì hắn đã thăm dò được tâm trạng của cái kẻ đã rời bỏ đời sống chính trị tích cực ấy. Giả sử có lộ việc hắn biết rõ âm mưu lật đổ tháng bảy năm ngoái, thì hắn cũng dễ dàng bác bỏ bằng cách chứng minh rằng, tất cả những kẻ chủ mưu và đồng mưu đều bị tóm cổ ngay: “Mình làm chủ trò chơi, tất cả bọn chúng đều ở trong nắm tay mình, còn Stau- phen-béc là một người cực đoan, lại có nhiều chuyện bất ngờ, hơn nữa, lúc xảy ra sự biến, mình có mặt ở hầm ngầm bên cạnh Quốc trưởng, đó chẳng phải là bằng chứng vô tội hay sao?”

Nhưng giờ đây Các-lơ Vôn-phơ đã lên đường sang Thụy Sĩ để trực tiếp đàm phán với Đa-lét - một sĩ quan cao cấp SS sẽ tiếp xúc với một điệp viên cỡ lớn của phe Đồng minh.

Theo thói quen thường ngày của mình, Him-le bỏ kính ra - hôm nay hắn đeo kính không gọng, các thầy giáo ở trường trung học hay dùng loại kính này - và chậm rãi lấy miếng da mỏng lau mắt kính. Hắn bỗng cảm thấy có điều gì thay đổi trong con người hắn. Hắn không hiểu ngay là có điều gì thay đổi, lát sau hắn mới mỉm cười: “Mình đã bắt đầu động đậy, - hắn hiểu ra. - Đáng sợ nhất là cảnh ngồi im bất động, vì như thế chẳng khác gì một cơn ác mộng”.

Hắn gọi Sê-len-béc tới. Chỉ một phút sau, viên Cục trưởng Cục tình báo chính trị đã bước vào phòng hắn, tựa hồ Sê-len- béc ngồi chực sẵn ở phòng đợi, chứ không phải ở phòng mình trên tầng ba.

- Các-lơ Vôn-phơ đã đáp máy bay đi gặp Đa-lét, - Him-le nói và bẻ ngón tay răng rắc.

- Như thế là sáng suốt...

- Như thế là điên rồ, ông Sê-len-béc ạ, như thế là điên rồ và mạo hiểm.

- Ngài nghĩ rằng có khả năng thất bại ư?

- Tôi muốn nói đến cả một loạt khả năng! Đó là ông, đó là công việc của ông. Ông đã đưa tôi đến bước đường ấy!

- Nếu Các-lơ Vôn-phơ thất bại, toàn bộ tài liệu sẽ thuộc về chúng ta.

- Chúng có thể rơi vào tay thằng cha người Viên trước tiên.

Sê-len-béc đưa mắt nhìn Him-le dò hỏi. Him-le cau có giải thích:

- Thằng cha người Viên tức là Can-ten-bơ-ru-ne. Và tôi không biết sau đó các tài liệu ấy sẽ bị gửi tới đâu, tới Boóc-man hay tới tay tôi. Ông còn lạ gì hành động của Boóc-man, một khi ông ta nhận được những tài liệu như thế nữa. Và ông cũng dễ hình dung phản ứng của Quốc trưởng, khi biết rõ mọi chuyện, nhất là lại qua lời giái thích của Boóc-man.

- Tôi cũng đã phân tích kỹ cả khả năng ấy.

Him-le cau mày khó chịu. Lúc này, hắn chỉ muốn triệu hối Vôn-phơ về, để ông ta ở đây và quên hoàn toàn cuộc nói chuyện với ông ta đi, loại bỏ cuộc nói chuyện đó ra khỏi ký ức của mình.

- Tôi cũng đã phân tích kỹ cả khả năng ấy, - Sê-len-béc nhắc lại. - Một là, Các-lơ Vôn-phơ có trách nhiệm nói chuyện với Đa-lét không phải thay mặt mình, cũng không phải thay mặt ngài, mà là thay mặt thống chế Két-xơ-rinh, vì ông ta thuộc quyền Két-xơ-rinh ở bên Ý. Ông ta là phó tổng tư lệnh quân đội tại Ý, ông ta không nằm dưới quyển chỉ huy trực tiếp của ngài...

Him-le liếc nhanh sang phía Sê-len-béc. “Thông minh thật, - hắn nghĩ. - Tất cả mọi chuyện đều rõ ràng ! Và đều gắn liền với câu chuyện của mình ở nhà Gơ-rinh!”

Thống chế Két-xơ-rinh đã có thời làm trợ lý không quân của Gơ-rinh. Tất cả mọi người đều coi ông ta là người của Gơ-rinh.

- Hay đấy, - Him-le nói. - Ông nghĩ ra điều đó từ trước, hay nó vừa mới nảy ra trong đầu ông thế?

- Ý nghĩ đó nảy ra trong đầu tôi, khi tôi biết Vôn-phơ lên đường, - Sê-len-béc trả lời. - Ngài cho phép tôi hút thuốc được không ạ?

- Được, mời ông cứ tự nhiên, - Him-le đáp.

Sê-len-béc châm thuốc - từ năm một nghìn chín trăm ba mươi sáu, y chỉ hút thuốc “Kê-mên” chứ không dùng bất cứ loại thuốc lá nào khác, Một lần, vào năm bốn mươi hai, sau khi Mỹ bắt đầu tham chiến, người ta mới hỏi y: “Ông lấy đâu ra thuốc lá của kẻ thù thế?”, thì Sê-len-béc trả lời: “Quả thực là ai mua thuốc lá Mỹ đều coi như kẻ phản quốc”...

- Tôi đã tính hết mọi khả năng, - y nói tiếp, - thậm chí cả đến khả năng xấu nhất.

- Nghĩa là gì? - Him-le cảnh giác hỏi. Hắn đã bình tĩnh trở lại. Triển vọng rất sáng sủa. Làm gì còn khả năng xấu nhất, nếu mọi việc đã xếp đặt tốt như vậy?

- Chuyện gì sẽ xảy ra, nếu Két-xơ-rinh, và tệ hơn nữa là Gơ-rinh, người đỡ đầu của ông ta, có thể chứng minh bằng chứng vô tội của mình trong vụ này?

- Chúng ta có thể không gạt bỏ khả năng đó. Ông hãy lo từ trước đi.

- Chúng ta có thể không gạt bỏ thật, nhưng ngài đã xử lý rất đúng khi đẩy người phó của ngài là Can-ten-bơ-ru-ne ra khỏi chiến dịch này của chúng ta. Ông ta, và cả Muyn-lơ nữa, có thể chứng minh rằng Gơ-rinh là kẻ vô tội.

- Được rồi, được rồi, - Him-le uể oải nói, - thế ông đề nghị nên làm gì?

- Tôi đề nghị bắn một phát súng giết hai con chim dẽ gà.

- Đâu phải chuyện dễ, - giọng nói của Him-le càng uể oài, mệt mỏi hơn, - hơn nữa, tôi không phải là thợ săn...

- Quốc trưởng nói rằng khối Đồng minh sắp tan rã đến nơi, có phải thế không ạ? Vậy thì, làm cho chúng tan rã có phải là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta hay không? Xta-lin sẽ hành động ra sao, nếu ông ta biết những cuộc đàm phán riêng rẽ mà tướng SS Vôn-phơ đang tiến hành với các nước Đồng minh phương Tây? Tôi không đám khẳng định ông ta sẽ làm những việc cụ thể nào, nhưng chắc chắn ông ta sẽ ra tay - điều này thì tôi không nghi ngờ chút nào cả. Vậy thì, chuyến đi của ông Vôn-phơ, mà chúng ta gọi là chiến dịch thông tin giả cho Xta-lin, có lợi cho Quốc trưởng hay không? Nghĩa là câu chuyện huyền thoại của chúng ta - cuộc đàm phán - chỉ nhằm đánh lừa Xta-lin! Chúng ta sẽ giải thích với Quốc trưởng như vậy, nếu chiến dịch bị bại lộ.

Him-le đứng dậy khỏi ghế - hắn không thích ngồi ghế bành, mà chỉ ưa ngồi trên chiếc ghế văn phòng cũ kỹ, - đi lại cửa sổ và nhìn rất lâu cảnh đổ nát của Béc Lanh. Lác đác bên các hố bom, cây cỏ đã mọc xanh. Trẻ em đi học về đang nói cười vui vẻ. Hai người phụ nữ đẩy xe nôi đi dưới phố. Him-le nhìn thấy cảnh đó, liền trở nên bình tĩnh và chợt nghĩ: “Mình sẽ rất sung sướng nếu được vào rừng chơi và ngủ đêm bên cạnh đống lửa. Trời ơi, Van-te Sê-len-béc mới thông minh làm sao…”.

- Tôi sẽ suy nghĩ về điều ông vừa nói, - Him-le trả lời nhưng không ngoảnh lại. Hắn muốn giành về phần mình chiến thắng của Sê-len-béc, Sê-len-béc sẵn sàng dâng nó cho thống chế SS - bao giờ y cũng dâng lên hắn và Hây-đơ-rích các chiến thắng của y. Bởi vậy, y nói:

- Ngài có quan tâm đến các chi tiết không, hay để tôi tự lo liệu sắp đặt ạ?

- Ông hãy tự lo liệu lấy, - Him-le đáp, nhưng khi Sê-len- béc đi ra đến cửa thì hắn quay mặt lại - Nói đúng ra thì trong chuyện này không nên có chi tiết. Cụ thể, ý của ông là gì?

- Trước hết là chiến dịch che đỡ... Nghĩa là phải đưa một nhân vật nào đó, không phải người của chúng ta, vào cuộc đàm phán với phương Tây... Rồi chúng ta sẽ giao tài liệu về nhân vật đó cho Quốc trưởng... Trong trường hợp cần thiết… Đó chứng tỏ thắng lợi của cơ quan tình báo chúng ta: ta đã phá vỡ các âm mưu quỷ quyệt của kẻ thù, - theo cách nói của ông Gơ- ben. Hai là, ở Thụy Sĩ, Vôn-phơ sẽ bị hàng nghìn cặp mắt dõi theo, trong đó có thể có các điệp viên của chúng ta. Họ sẽ lập tức báo tin về đây. Tin sẽ rơi vào tay ai? Điệp viên của ai sẽ báo tin - của tôi hay của Muyn-lơ? Một nhà trí thức biết sáng suốt đánh giá tình hình, hay một kẻ cuồng tín mù quáng, kiểu như Can-ten- bơ-ru-ne? Do đó, tôi muốn rằng đằng sau hàng nghìn cặp mắt của đồng minh phương Tây, còn có năm, sáu cặp mắt theo dõi của tôi nữa, Vôn-phơ sẽ không biết về người của chúng ta - họ sẽ truyền tin thẳng về chỗ tôi. Cộng với hai điểm trên, đó sẽ là bằng chứng vô tội thứ ba. Nếu sự việc bại lộ, đành phải hy sinh Vôn-phơ, nhưng các tài liệu quan sát, theo dõi ông ta thì sẽ làm bằng chứng vô tội cho chúng ta.

- Cho ông thôi, - Him-le chữa lại, - cho ông thôi chứ.

“Mình lại làm cho lão sợ rồi, - Sê-len-béc nghĩ bụng. - Các chi tiết ấy làm cho lão run sợ. Lão sợ một chiến dịch táo bạo, nói chung, lão sợ hết thảy. Bao giờ cũng chỉ nên nhận lấy sự đồng ý của hắn trên nguyên tắc thôi, còn mọi chi tiết thì mình tự lo liệu cho xong”.

- Ông định cử ai đi Thụy Sĩ?

- Tôi đã nhắm được mấy người đáng tin cậy, - Sê-len-béc trả lời, - nhưng đó là các chi tiết mà tôi có thể tự giải quyết, để ngài khỏi bận tâm và có thì giờ lo những việc quan trọng hơn.

Trong danh sách mấy người y nhắm để thực hiện nhiệm vụ thứ nhất, có phôn Sơ-tiếc-lít với vị giám mục do anh “đỡ đầu”.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Năm, 2020, 03:49:09 pm
Chương 5


Sáng hôm sau, khi Ê-rơ-vin phải nhận điện trả lời từ Trung tâm, Sơ-tiếc-lít cho xe chạy chầm chậm qua các đường phố để tới nhà Ê-rơ-vin. Trên ghế sau, anh đặt một chiếc máy quay đĩa cồng kềnh: theo lý lịch do ta bố trí Ê-rơ-vin là chủ một hãng nhỏ sản xuất các máy quay đĩa - điều đó cho phép anh đi khắp nơi trong nước để “phục vụ” khách hàng.

Đang đi thì đường bị nghẽn; trận ném bom đêm làm cho bức tường một tòa nhà sáu tầng đổ sụp xuống đường, lúc này các nhân viên công lộ và cảnh sát đang vội vã thu dọn sạch sẽ mặt đường cho xe qua lại.

Sơ-tiếc-lít ngoảnh lại phía sau: ít ra đã có tới ba chục xe đỗ nối đuôi chiếc “Khô-rếch” của anh. Một thanh niên lái xe vận tải nói với Sơ-tiếc-lít:

- Bây giờ mà máy bay địch kéo đến thì cứ gọi là hỗn loạn, khối chỗ mà núp!

- Chúng không kéo đến đâu, - Sơ-tiếc-lít nhìn trời và đáp - Mây rất thấp, trông màu mây cũng biết tuyết sắp rơi.

“Đêm qua ấm, bây giờ trời trở lạnh, - Sơ-tiếc-lít thầm nghĩ, - rõ ràng tuyết sắp rơi đây”.

Tự dưng anh nhớ đến nhà thiên văn học cách đây ít hôm - năm nay có biến động trên mặt trời. Tất cả mọi vật trên trái đất đều có mối quan hệ tương tác. Chúng ta tương tác với nhau, trái đất tương tác với mặt trời, mặt trời tương tác với dải Thiên Hà. Sơ-tiếc-lít bỗng cười khẩy: “Hệt như màng lưới điệp viên của ghét-xta-pô. Tên này theo dõi tên kia, tên kia lại nhận nhiệm vụ theo dõi tên này. Chúng ta là các vì sao, còn Quốc trưởng vĩ đại là vầng thái dương chói lọi... Ôi, mười năm qua chúng đã làm cho cả dân tộc này hư hỏng mất rồi…”.

Viên cảnh sát giao thông đứng phía trước vung mạnh tay và kêu to:

- Thông đường!

“Không ở đâu trên thế giới, - Sơ-tiếc-lít thầm nhận xét, - bọn cảnh sát lại thích ra lệnh và vung dùi cui chỉ huy như ở nước ta”.  Anh bỗng bắt quả tang mình đang nghĩ đến người Đức và nước Đức như nghĩ đến dân tộc và đất nước mình. “Có lẽ mình không thể nghĩ khác được. Nếu mình tách biệt ra, hẳn là mình đi đứt từ lâu rồi. Ngược đời thật: mình thấy yêu quý dân tộc và đất nước này... Dĩ nhiên, bọn Hít-le sẽ không còn nữa!”

Đoạn đường sau đó thông suốt cho nên Sơ-tiếc-lít dận hết ga. Anh biết rằng các đoạn đường vòng gấp thường ăn lốp ô tô rất hại, mà lốp xe bây giờ trở thành một thứ hàng khan hiếm, song anh rất thích cho xe vòng ngoặt thật gấp để cho lốp cao-su siết đường kin kít và chiếc xe chao nghiêng hẳn đi như chiếc thuyền giữa cơn bão tố.

Ở khu phố Kê-pê-ni-cơ, chỗ vòng sang nhà Ê-rơ-vin và Kết, có một hàng rào cảnh sát.

- Đằng kia có chuyện gì thế? - Sơ-tiếc-lít hỏi.

- Dẫy phố bị sập hoàn toàn, - một viên cảnh sát trẻ, da mai mái, trả lời, - chúng ném loại bom rất nặng.

Sơ-tiếc-lít cảm thấy mồ hôi vã ra trên trán anh.

“Đúng rồi, - anh bỗng hiểu, - nhà họ cũng bị sập rồi”.

Trong những năm qua, anh đã học được cách phân tích các linh tính. Anh nhìn với con mắt hơi khó hiểu những người nói rằng mọi linh cảm chỉ là chuyện thần bí và nhảm nhí. Sơ-tiếc- lít bao giờ cũng linh cảm chính xác sự kiện quan trọng trước một, hai ngày. Anh lĩnh hội được những sự việc xung quanh hệt như một chiếc máy ra-đa. Anh tin rằng người nào cũng mang sẵn đặc tính linh cảm; chẳng qua, anh nghĩ, phần lớn mọi người không chịu rèn luyện cái khả năng có sẵn trong mình đó thôi.

- Nhà số 9 cũng bị sập ư? - anh hỏi.

- Vâng, sập hoàn toàn.

Sơ-tiếc-lít cho xe lên vỉa hè rồi theo ngách phố đi bộ sang bên phải, vẫn viên cảnh sát có nước da mai mái kia ngăn đường anh.

- Đường cấm, thưa ngài.

Sơ-tiếc-lít chìa cho hắn thẻ căn cước của mình. Viên cảnh sát giơ tay chào và nói với anh:

- Công binh sợ rằng ở đây còn có bom nổ chậm...

- Thì chúng ta sẽ được bay lên trời, - Sơ-tiếc-lít uể oải trả lời và bước về phía ngôi nhà số 9 đổ nát.

Anh thấy mệt rã rời, khủng khiếp, anh chỉ muốn lê bước thật chậm, nhưng anh biết rằng anh phải bước đi rắn rỏi, nhanh nhẹn như bình thường, nét mặt vẫn phải giữ nguyên nụ cười khinh bạc, khó hiểu như mọi khi. Và thế là anh nhanh nhẹn bước đi, nụ cười khinh bạc lại nở trên môi. Nhưng trước mắt anh tưởng như hiện lên hình ảnh Kết với cái bụng to, tròn. Một lần chị nói: “Con gái mất thôi. Bụng giống quả dưa chuột thì đẻ con trai, còn tôi thì thế nào cũng đẻ con gái cho mà xem”.

- Tất cả mọi người đều chết hay sao ? - Sơ-tiếc-lít hỏi viên cảnh sát từ nãy chỉ đứng nhìn đội lính cứu hỏa làm việc.

- Không dám nói chắc. Bom rơi lúc gần sáng, chỉ thấy rất nhiều xe cứu thương.

- Còn nhiểu đồ dùng không?

- Đồ dùng gì nữa... Ông không trông thấy cả một đám vôi gạch lẫn lộn đó hay sao?..

Sơ-tiếc-lít giúp một người phụ nữ bế con vừa khóc vừa đẩy chiếc xe nôi ra khỏi vỉa hè, rồi quay về xe mình…



- Ối mẹ ơi! - Kết kêu lên, - Trời ơi! Mẹ ơi-i-i! Có ai giúp tôi với.

Chị đang nằm trên bàn đẻ. Chị được đưa tới nhà hộ sinh trong trạng thái hôn mê, đầu bị dập ở hai chỗ. Miệng chị thốt ra những lời kêu rên bằng tiếng Nga.

Viên đốc-tờ đỡ đẻ cho chị: chị sinh một đứa con trai rất bụ bẫm và tiếng khóc của nó cũng rất to. Viên đốc-tờ nói với người nữ hộ sinh:
- Chị ta người Ba Lan mà đẻ thằng con to đến thế...

- Chị ta không phải người Ba Lan, - nữ hộ sinh nói.

- Thế chị ta là người nước nào? Nga hay Tiệp?

- Thẻ căn cước ghi chị ta là người Đức, - nữ hộ sinh trả lời, - Trong túi áo măng tô của chị ta có tấm thẻ căn cước ghi tên một phụ nữ Đức tên là Kê-tơ-rin Kin.

- Có lẽ áo măng tô của người khác chăng!

- Có thể lắm, - nữ hộ sinh tán thành, - Anh xem, thằng bé mới kháu khỉnh và bụ bẫm làm sao, phải đến năm cân là ít. Đẹp tuyệt trần... Anh định gọi điện thoại đến sở ghét-xta-pô ngay bây giờ, hay để lát nữa tôi sẽ gọi.

- Cô gọi điện cho họ nhé, - viên đốc-tờ đáp, - nhưng muồn muộn một chút… Chúng ta còn nhiều việc lắm...


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 19 Tháng Năm, 2020, 04:14:46 pm
“Thế là hết, - Sơ-tiếc-lít uể oải nghĩ, tưởng như đây không phải là chuyện của anh. - Bây giờ mình chỉ còn mỗi một mình. Bây giờ đúng là chỉ còn mỗi một mình mình thôi”…

Anh đóng cửa phòng làm việc của mình và ngồi im khá lâu, không trả lời điện thoại. Anh tự động đếm tiếng chuông điện thoại như một cái máy: 9 tiếng rồi. Có hai người quay máy khá lâu, chắc là vì việc gì quan trọng, hoặc họ là cấp dưới - cấp dưới bao giờ cũng gọi lâu. Những tiếng chuông điện thoại còn lại rất ngắn, người gọi chắc là cấp trên hoặc bạn bè.

“Kính gửi thống chế SS Hên-rích Him-le.

Tuyệt mật.
Thư riêng.

Thưa ngài Thống chế!
Vì quyền lợi của dân tộc buộc tôi phải viết bức thư này gửi tới Ngài. Qua nguồn tin gần cận với các ký giả của những nước trung lập, tôi được biết rằng sau lưng cơ quan SĐ, sau lưng thống chế SS có một vài nhân vật nào đó đang tìm cách tiếp xúc với kẻ thù hòng ký kết hiệp nghị với chúng. Tôi chưa thể có tài liệu chắc chắn xác nhận các tin tức đó, nhưng tôi xin Ngài cho tôi được gặp để trình bày với Ngài các đề nghị của tôi về vấn đề này, một vấn đề tôi nghĩ là cực kỳ quan trọng và không thể trì hoãn được. Xin Ngài cho phép tôi sử dụng các mối liên lạc của tôi để báo tin tỉ mỉ hơn cho Ngài biết và đề xuất một kế hoạch xử lý cái giả thuyết mà, than ôi, tôi cảm thấy rất gần với sự thật này.

Hai-lơ Hít-le!
Đại tá SS phôn Sơ-tiếc-lít”.


Anh biết có thể lấy ai làm dẫn chứng về nguồn tin: ba ngày trước đây, nhà quay phim thời sự Bồ Đào Nha Pu-ê-bơ-lốt Va-xéc-man bị chết trong một trận ném bom. Sơ-tiếc-lít biết rằng nhà quay phim kia có quan hệ chặt chẽ với các bạn đồng nghiệp Thụy Điển: vậy thì, từ góc độ đó, giả thuyết của anh ta mang tính chất tuyệt đối.

Có lẽ, sau Két-ne là viên bác sĩ xoa bóp của hắn, thì Him-le chỉ còn tin tưởng tuyệt đối vào một mình Sê-len-béc mà thôi. Hắn đã biết y từ đầu những năm ba mươi, hồi Sê-len-béc còn đang đi học. Hắn biết rằng, gã thanh niên hai mươi ba tuổi điển trai ấy, sau khi tốt nghiệp trường dòng, đã tốt nghiệp trường Đại học Tổng hợp với chức cử nhân nghệ thuật. Hắn cũng biết rằng, vị giáo sư được Sê-len-béc yêu kính ở trường Đại học Tổng hợp là một người Do Thái. Hắn biết rằng, hồi đầu Sê-len-béc thường cười nhạo các tư tưởng của đảng Quốc xã và không phải lúc nào cũng đánh giá cao Quốc trưởng.

Him-le có hàng nghìn tên tay chân mù quáng, trung thành với hắn đến giọt máu cuối cùng. Hắn chỉ cần có lấy dăm, ba người giúp việc thông minh, sáng suốt, tuy có thái độ nghi ngờ nhưng vẫn phục vụ hắn, giúp hắn vạch ra chính sách đúng đắn.

Bởi vậy, khi Sê-len-béc được mời làm công tác tình báo cho đế chế thứ ba, sau mấy buổi nói chuyện với Hây-đơ-rích và một lần trao đổi với Him-le, y đã nhận lời mời của Hây-đơ-rích. Đến lúc ấy y đã bắt đầu thất vọng trước lập trường của giới trí thức Đức: họ lánh mình trong các biệt thự của họ trên các bờ hồ, trong các rừng thông yên tĩnh xung quanh Béc Lanh, họ chỉ bình luận một cách tiêu cực về các hành động tội ác của Hít-le và sợ hãi chế giễu thái độ điên cuồng của Quốc trưởng mà thôi.

Chiến tích đầu tiên của y là phòng khách Kít-ti. Qua hồ sơ của mình, viên chỉ huy cảnh sát tội phạm Nê-bơ tách những ả gái điếm xinh xắn nhất ở Béc Lanh, mà Muyn-khen và Hăm-bua đưa tới phục vụ phòng khách thượng lưu này. Sau đó, theo lệnh của Hây-đơ-rích, y tìm những người vợ trẻ đẹp của các nhà ngoại giao và của các sĩ quan cao cấp, là những người đã quá buồn chán với cảnh chăn đơn gối chiếc (chồng họ bận họp hành ngày đêm, hoặc đi thi hành công vụ khắp nơi trong nước Đức, hoặc ở nước ngoài). Các bà vợ ở nhà sinh buồn, muốn được giải trí. Họ tìm thấy những trò giải trí ấy tại phòng khách Kít-ti, nơi tụ họp các nhà ngoại giao từ châu Á, châu Mỹ và châu Âu đến.

Các chuyên gia xét nghiệm kỹ thuật của cơ quan an ninh SĐ đã bố trí trong phòng khách những bức tường có hai lớp và đặt vào đó các máy chụp ảnh và nghe trộm. Sê-len-béc là người thực hiện ý đồ của Hây-đơ-rích, là chủ nhân của phòng khách đó với vai trò một gã ma cô dắt gái cao cấp.

Tiếp đó, Sê-len-béc và Hây-đơ-rích ngồi rất lâu trong phòng chiếu phim nho nhỏ để xem các bức ảnh hết sức lý thú, chụp những cảnh giải trí giữa các bà vợ của bạn mình với các nhà ngoại giao nước ngoài.

Việc tuyển mộ điệp viên diễn ra theo hai hướng: các nhà ngoại giao bị vạch mặt bắt đầu hoạt động tình báo dưới sự chỉ huy của Sê-len-béc, còn các bà vợ của giới lãnh đạo Nhà nước, đảng Quốc xã và quân đội, các bà vợ đầy tội lỗi kia, thì chuyển sang hồ sơ của Muyn-lơ, giám đốc ghét-xta-pô.

Cũng phải nói thêm rằng Muyn-lơ không được tham gia công tác ở phòng khách Kít-ti: vẻ nông dân quê mùa và những câu bông phèng thô tục của y có thể làm khách khứa hoảng sợ. Lần đầu tiên, từ đó, Muyn-lơ cảm thấy mình bị lệ thuộc vào thằng nhóc hai mươi ba tuổi Sê-len-béc.

- Cậu ta tưởng tôi sẽ vuốt ve cặp đùi của các cô ả trăng gió ở phòng khách của cậu ta đấy mà, - Muyn-lơ nói với tên giúp việc của mình. - Vinh dự chưa! Có thuê tiền để tôi ngủ với ả nào đó, tôi cũng chả thèm. Ở quê tôi, người ta gọi những mụ đàn bà như thế là lũ giun chuồng phân, nghĩa là đồ dòi bọ.

Rồi khi phu nhân Hây-đơ-rích, trong lúc vắng chồng có gọi điện tới nhà Sê-len-béc phàn nàn, kêu buồn, và Sê-len-béc đề nghị dẫn phu nhân đi chơi tại một vùng hồ đâu đó ở ngoại ô, thì Muyn-lơ lập tức biết chuyện. Muyn-lơ quyết định rằng đây chính là lúc vặn cổ cái thằng nhóc điển trai kia. Muyn-lơ không quan niệm như một số “ông già” ở sở ghét-xta-pô. Những người này cho Sê-len-béc là nhân vật tầm thường:  một gã điển trai, hay mượn các loại sách bằng tiếng La-tinh và tiếng Tây Ban Nha ở thư viện, ăn diện như một cậu công tử bột, công khai làm những chuyện trăng gió, chuyên môn cuốc bộ tới đại lộ Hoàng tử An-bơ-rếch chứ không dùng xe - như thế sao gọi là một tình báo viên quan trọng được. Lúc nào cũng thấy uống rượu và cười nói ba hoa... Nhưng cái đầu óc nông dân, tuy suy tính chậm chạp, song phản ứng rất nhanh với cái mới, của Muyn-lơ lại nhắc y rằng Sê- len-béc là kẻ có triển vọng nhất của thê hệ mới. Kẻ được nuông chiều sẽ kéo theo nhiều đứa khác giống như nó.

Sê-len-béc lái xe đưa phu nhân Hây-đơ-rích đến hồ Pơ-lôi-ne. Phu nhân là người phụ nữ duy nhất được y kính trọng sâu sắc, y có thể trò chuyện với người phụ nữ ấy về bi kịch cao cả của Hy Lạp thời cổ và tình dục thô bỉ của La Mã. Hai người dạo bước trên bờ hồ và sôi nổi trò chuyện. Có hai gã thanh niên to béo - người của Muyn-lơ - đang tắm dưới hồ nước lạnh để quan sát đối tượng N.2 và đối tưọng N.75. Muyn-lơ gọi phu nhân Hây-đơ-rích là đối tượng N.2 là căn cứ vào thứ bậc của ông chồng chị ta trong cơ quan an ninh quốc xã. Sê-len-béc không thể nghĩ rằng hai thằng ngốc ấy, hai kẻ độc nhất tắm mình trong làn nước giá băng ấy, lại có thể là nhân viên ghét-xta-pô. Y cho rằng một điệp viên không có quyền công khai làm cho người khác chú ý đến mình một cách lộ liễu như thế được. Cái láu cá nông dân của Muyn-lơ hóa ra cao hơn cái lô-gích chặt chẽ của Sê-len-béc. Hai nhân viên kia phải chụp ảnh “các đối tượng”, nếu họ định “dẫn nhau vào một bờ bụi nào đấy”, theo lời dặn của Muyn-lơ. Hai “đối tượng” không dẫn nhau vào bụi. Họ ngồi uống cà-phê ở một cái quán mọi người đều nhìn thấy, rồi trở về thành phố. Tuy nhiên, Muyn-lơ nghĩ rằng sự ghen tuông mù quáng bao giờ cũng nguy hiểm hơn sự ghen tuông sáng suốt nhiều. Bởi vậy, y đệ lên bàn Hây-đơ-rích bản báo cáo về chuyện vợ ông ta và Sê-len-béc đã dắt nhau đi dạo trong rừng và chơi nửa ngày trên bờ hồ Pơ-lôi- ne. Y không bình luận gì thêm - Hây-đơ-rích là kẻ tự ái rất cao và thường có những quyết định bất ngờ.

Đọc xong báo cáo, Hây-đơ-rích không nói gì với Muyn-lơ. Hắn gật đầu cho phép y rút lui. Muyn-lơ lặng lẽ bước ra: y không thể đọc thấy điều gì trên cái mặt nhọn đanh ác của Hây-đơ-rích. Suốt ngày hôm đó, y không được tin gì. Tối hôm ấy, sau khi gọi điện báo trước cho Muyn-lơ, Hây-đơ-rích ghé vào phòng làm việc của Sê-len-béc, vỗ vai y và nói:

- Hôm nay bực mình quá, ta đi uống rượu đi.

Thế là bộ ba ấy - cho đến tận bốn giờ sáng - la cà trong các quán rượu tồi tàn, bẩn thỉu; ngồi cùng bàn với lũ gái điếm ngổ ngáo và bọn đầu cơ ngoại tệ, cười cợt đùa giỡn và nghêu ngao hát các bài dân ca cùng với mọi người. Gần sáng, khi mặt mày đã trắng bệch ra, Hây-đơ-rích mới xích lại bên Sê-len-béc để mời y chén chú chén anh với mình. Và họ lại nốc rượu. Hây- đơ-rích lấy bàn tay che cốc rượu của Sê-len-béc và nói:

- Thế này nhé. Tôi đã bỏ thuốc độc vào cốc rượu vang của anh. Nếu anh không thú thật toàn bộ việc anh dẫn phu nhân Hây-đơ-rích đi chơi ra sao, anh sẽ chết. Nếu anh nói thật, thì dù sự thật đó có khủng khiếp đến mức nào đối với tôi, tôi cũng sẽ đưa thuốc giải độc cho anh.

Sê-len-béc đã hiểu tất cả. Y có khả năng hiểu tất cả mọi chuyện ngay lập tức. Y nhớ lại hai gã thanh niên có khuôn mặt chữ điền tắm dưới hồ nước giá, y đã nhìn thấy cặp mắt láo liên gian giảo cùng cái miệng quá tươi cười của Muyn-lơ. Y liền đáp:

- Thì phu nhân Hây-đơ-rích gọi điện thoại cho tôi kêu buồn. Tôi liền cùng phu nhân tới hồ Pơ-lôi-ne. Tôi có thể đưa ra những người làm chứng cho cuộc dạo chơi đúng đắn đó. Tôi với phu nhân đã đi dạo và nói chuyện với nhau về sự cao cả của nước Hy Lạp mà bọn phản bội đã bán rẻ nó cho La Mã. Kể ra thì nước Hy Lạp bị diệt vong không phải chỉ vì lý do đó. Đúng, tôi đã cùng đi dạo với phu nhân Hây-đơ-rích, tôi vô cùng kính yêu người phụ nữ đó, vị phu nhân của một người mà tôi coi là vĩ đại thật sự. Thuốc giải độc đâu ạ? - y hỏi, - Ngài để nó ở đâu?

Hây-đơ-rích nhếch mép cười, rót vào cốc một ít rượu mác-ti-ni và chìa cho Sê-len-béc.

Nửa năm sau đó, Sê-len-béc tới gặp Hây-đơ-rích để xin phép cưới vợ. Y nói: “Thưa ngài, tôi muốn lấy một người vợ. Nhưng bà nhạc tôi lại là một người Ba Lan”. Việc này được đệ trình lên thống chế SS Him-le giải quyết. Him-le đích thân xem xét kỹ bức ảnh chụp người vợ và bà nhạc tương lai của Sê-len-béc. Các chuyên gia kiểm nghiệm của cơ quan Rô-den-béc được gọi tới. Họ dùng com-pa cực nhỏ để kiểm tra cấu tạo xương đại não, độ lớn của trán, hình dáng của hai tai. Him-le cho phép Sê- len-béc được lấy người vợ đó.

Hôm tổ chức lễ cưới, sau khi rượu đã say mềm, Hây-đơ-rích cầm tay Sê-len-béc kéo ra cửa sổ và nói:

- Anh tưởng tôi không biết chị gái của vợ anh lấy một tên chủ nhà băng là người Do Thái đấy hẳn?

Sê-len-béc cảm thấy đất như sụt dưới chân mình, hai bàn tay của y trở nên lạnh ngắt.

- Đủ rồi, - Hây-đơ-rích nói và thở dài.

Lúc ấy, Sê-len-béc không hiểu vì sao Hây-đơ-rích lại thở dài. Mãi sau này y mới hiểu ra, khi biết rằng ông nội của kẻ cầm đầu cơ quan an ninh - Hây-đơ-rích - là một người Do Thái và chơi đàn vĩ cầm tại một rạp hát nhỏ ở Viên.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Năm, 2020, 04:42:03 pm
Chương 6


Sê-len-béc trông thấy Sơ-tiếc-lít đứng trong phòng khách của thống chế SS Him-le. Sơ-tiếc-lít ghi tên xin vào gặp thống chế. Tay anh xách một chiếc cặp mầu xanh đậm viền vàng. Trong cặp có một tờ giấy. Đó là bức thư mà anh vừa viết, ngay sau khi từ khu phố Kê-pê-ni-cơ trở về.

Viên sĩ quan tùy tùng trực hôm nay để tướng Pôn phụ trách Cục kinh tế tài chính SS vào gặp Him-le, rồi bảo Sơ-tiếc-lít:

- Tướng Pôn ra thì ngài vào. Tôi nghĩ rằng ngài thượng tướng chỉ gặp Thống chế một lát thôi, vì vấn đề trao đổi không hệ trọng lắm.

- Chào anh Sơ-tiếc-lít, - Sê-len-béc nói. - Tôi đang tìm anh đây.

- Chào ông, - Sơ-tiếc-lít đáp, - Ông làm sao mà có vẻ mệt mỏi thế?

- Vẻ mệt mỏi của tôi lộ rõ thế cơ à?

- Vâng, rất rõ.

- Lên chỗ tôi đi, tôi đang cần gặp anh lắm.

- Nhưng tôi đã xin được gặp thống chế.

- Về chuyện gì đấy?

- Việc riêng ạ.

- Một, hai tiếng nữa anh vào gặp Thống chế cũng được, - Sê-len-béc nói. - Anh hãy bảo sĩ quan trực xếp cho anh vào sau. Thống chế còn làm việc ở đây đến tối cơ.

- Cũng được, - Sơ-tiếc-lít lẩm bẩm, - tôi chỉ sợ như thế bất tiện thôi ạ.

- Tôi cần gặp phôn Sơ-tiếc-lít ngay, - Sê-len-béc báo sĩ quan trực. - Đề nghị anh chuyển lui giờ tiếp lại hai tiếng sau.

- Xin tuân lệnh ngài thiếu tướng!

Sê-len-béc khoác tay Sơ-tiếc-lít bước ra khỏi phòng khách và nói nhỏ:

- Anh thấy giọng cậu ấy thế nào? Cậu ấy báo cáo hệt như một diễn viên kịch, cố làm cho người ta thích cái giọng bụng của mình.

- Bao giờ tôi cũng thương hại đám sĩ quan tùy tùng, - Sơ- tiếc-lít nói. - Lúc nào họ cũng phải giữ vẻ bí ần đầy ý nghĩa, kẻo sợ người ta nhận ra vai trò không cần thiết của mình.

- Anh nhầm rồi. Sĩ quan tùy tùng hết sức cần thiết chứ. Sĩ quan tùy tùng cũng giống như một con chó săn mỹ miều: vừa có thể trò chuyện vài câu xen giữa công việc, vừa làm cho những người đi săn khác ghen tị, nếu vẻ ngoài trông đẹp mã.

- Thực tình tôi có biết một cậu sĩ quan tùy tùng, - Sơ-tiếc- lít tiếp tục câu chuyện lúc hai người còn đi ngoài hành lang. - Cậu ta muốn sắm vai người chủ thầu tổ chức biểu diễn: gặp ai cậu ta cũng kể ra cái thiên tài của ông chủ mình. Rốt cuộc người ta bố trí tặng cho cậu ta một tai nạn xe hơi, vì tức giận cái tính ba hoa của cậu ta...

Sê-len-béc cười to:

- Anh bịa ra hay chuyện thật đấy?

- Tất nhiên là chuyện bịa...

Gần tới lối ra cầu thang trung tâm, hai người gặp Muyn-lơ.

- Hai-lơ Hít-le, chào các bạn! - Muyn-lơ nói.

- Hai-lơ Hít-le, chào anh bạn! - Sê-len-béc đáp.

- Hai-lơ, - Sơ-tiếc-lít trả lời, tay trái không buồn giơ lên.

- Rất sung sướng gặp hai bạn, hai con quỷ, - Muyn-lơ nói - Các bạn lại sắp bày đặt một trò quỷ quyệt gì đấy phải không?

- Sắp bày đây, - Sê-len-béc trả lời. - Sao lại không nhỉ?

- Không một chiến dịch nào của chúng tôi có thể sánh với trò quỷ quyệt của bên các ngài được đâu, - Sơ-tiếc-lít nói. - So với bên các ngài, cánh chúng tôi còn thanh cao chán.

- So với tôi ư? - Muyn-lơ ngạc nhiên. - Kể ra cũng thú vị khi được người ta gọi mình là đồ quỷ sứ. Người đời chết đi còn lưu danh tiếng lại. Thế thì cứ để cho quỷ sứ lưu danh đã chết ai.

Muyn-lơ thân mật vỗ vai Sê-len-béc với Sơ-tiếc-lít, rồi rẽ vào phòng làm việc của một cộng sự viên bên y; y thích bước vào phòng làm việc của họ mà không báo trước, nhất là giữa những buổi hỏi cung chán ngắt.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Năm, 2020, 04:44:30 pm
Khi vào những tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh Hít-le cứ nhắc đi nhắc lại như một lời thần chú, rằng vấn đề đổ vỡ của liên minh Anh - Mỹ - Xô chỉ còn là vấn đề một vài tuần, khi hắn thuyết phục tất cả đồng bọn rẳng sau thất bại có tính chất quyết định, phương Tây sẽ phải lạy lục người Đức giúp đỡ họ, thì nhiều người nghĩ rằng đó chỉ là một biểu hiện tính cách của Quốc trưởng - tin tưởng đến cùng vào cái đã được óc tưởng tượng đầy khát vọng bệnh hoạn của hắn tạo nên. Tuy nhiên, trong trường hợp này, Hít-le cố dựa vào các sự kiện sau đây: cơ quan tình báo của Boóc-man, bỏ qua tuyến của Him-le và Ríp- ben-tơ-rốp và ngay cả đến ngành tình báo quân sự của Ca-na-ri-xơ, viên đô đốc đã có hành vi phương hại nghiêm trọng tới tổ chức của mình. Ngay từ giữa năm 1944, ngành tình báo của Boóc- man đã săn được một tài liệu tối mật ở Luân Đôn. Đặc biệt là trong tài liệu ấy có mấy dòng như sau: “Thảm họa khủng khiếp hẳn là sẽ xảy ra, nếu như chế độ dã man của nước Nga thủ tiêu được nền văn hóa và độc lập của các quốc gia châu Âu cổ đại”. Trí nhớ kỳ lạ của Hít-le lập tức đưa hắn trở lại thời kỳ 1936, ở Nuy-ren-be, tại đại hội của đảng Quốc xã Đức, Tại đại hội đó, Hít-le đã nói: “Nếu các phương pháp của bọn bôn-sê-vích thành công, nền văn hóa châu Âu sẽ bị thay bằng một chế độ dã man nhất có thời đã tồn tại trong lịch sử”.

Cái đoạn trích từ tài liệu mật đánh cắp được kia, cái đoạn mà Hít-le ngày càng hay nhắc đi nhắc lại, là lời nói của Uyn- xtơn Sớc-sin. Viên thủ tướng Anh đã viết câu ấy trong giác thư tối mật vào tháng mười năm 1943, khi quân Nga không phải ở Ba Lan, mà đang phòng thủ ở ngoại vi Xta-lin-grát, không phải tiến quân trên đất Ru-ma-ni, mà đang cố thủ gần Xmô-len-xcơ, không phải ở Nam Tư, mà đang rút lui về Khắc-cốp.

Chắc là Hít-le sẽ không ra lệnh xử bắn tại chỗ, ngay lập tức, tất cả những kẻ nào có âm mưu đàm phán, nếu như hắn biết đến cuộc tranh luận gay gắt trong những năm 1943 - 1944 giữa Anh và Mỹ xoay quay hướng tấn công chính của quân đội Đồng minh. Sớc-sin khăng khăng đòi phái đổ bộ quân đội vào vùng Ban-căng.

Y giải thích điều đó bằng những lý do sau đây:

- Vấn đề là thế này: chúng ta có sẵn sàng bằng lòng với việc cộng sản hóa vùng Ban-căng và, có thể, cả nước Ý nữa hay không? Kết luận mà chúng ta cần rút ra là: chúng ta phải chống lại sự xâm nhập và can thiệp của bọn cộng sản... Cần hiểu rõ những điểm ưu việt mà nền dân chủ phương Tây sẽ giành được, nếu như quân đội chúng ta tiến chiếm Bu-đa-pét, Viên và giải phóng Pra-ha cùng Vác-xa-va...
Những cái đầu tỉnh táo ở Mỹ hiểu rằng ý đồ của Sớc-sin muốn giáng đòn chủ yếu vào Hít-le không phải trên đất Pháp, mà tại vùng Ban-căng, là hết sức vị kỷ. Họ thừa hiểu rằng, nếu quan điểm của Sớc-sin thắng thế, nước Anh sẽ trở thành bá chủ ở vùng Địa Trung Hải, do đó chính nước Anh sẽ làm chủ ở Châu Phi, phương đông A Rập, Ý, Nam Tư và Hy Lạp. Nếu vậy thì tương quan lực lượng sẽ nghiêng về phía bất lợi cho Mỹ. Bởi vậy, việc đổ bộ được ấn định vào nước Pháp.

Mùa đông năm 1945, chiến lược của Sớc-sin được y diễn tả với những cận thần gần gũi nhất của y như sau:

- Một là, nước Nga xô-viết đã trở thành mối đe dọa chết người đối với thế giới tự do; hai là, cần phải mở ngay một mặt trận mới chống lại bước tiến cực nhanh của nước Nga xô-viết; ba là, mặt trận ấy ở châu Âu phải tiến càng xa về phía Đông càng tốt; bốn là, mục tiêu chủ yếu và thực sự của liên quân Anh - Mỹ là Béc Lanh; năm là, việc quân Mỹ giải phóng Tiệp Khắc và tiến vào Pra-ha có ý nghĩa quan trọng; sáu là, thủ đô Viên, thực chất là cả nước Áo, phải nằm dưới sự điều khiển của các cường quốc phương Tây...

Là một chính khách thận trọng và táo bạo, Sớc-sin đồng thời cũng hiểu rất rõ rằng không thể đàm phán với bất cứ ai trong giới lãnh đạo đảng Quốc xã của Hít-le - ngay trong trường hợp quân Nga tiến công thần tốc vào châu Âu, bởi vì, nếu đối với y, nước Nga là một mối đe dọa chết người, thì đối với những người sống khốn khổ dưới chế độ Hít-le nước Nga lại tượng trưng cho sự giải phóng. Y cũng không thể đàm phán với Béc Lanh, bởi vì y hiểu rằng bọn trùm sỏ Hít-le có thể bội ước đến mức khó tưởng tượng. Y cũng hiểu rằng dư luận thế giới không đời nào tha thứ cho việc đàm phán giữa lực lượng dân chủ với bè lũ Hít-le... Y chỉ có thể - trong những hoàn cảnh nhất định, thật cấp bách - đàm phán với những người đối lập với Hít-le, để thành lập một mặt trận thống nhất có khả năng ngăn chặn quân Nga tràn tới vùng bờ Đại Tây Dương, điều mà Sớc-sin lo sợ hơn cả. Song những phần tử đối lập ấy, sau khi âm mưu đảo chính mùa hè năm 1944 bị đập tan, ở nước Đức không còn nữa. Nhưng Sớc-sin cho rằng, mọi ý đồ đàm phán thận trọng với các nhân vật trong Bộ chỉ huy Hít-le, với những kẻ muốn để quân đội quốc xã đầu hàng ở phương Tây dù ít có khả năng hiện thực đến mấy, do lập trường cứng rắn của Ru-dơ-ven và của các phần tử thân Nga trên toàn thế giới cũng vẫn cho phép y thực hiện một chính sách cứng rắn hơn đối với Xta-lin, nhất là về các vấn đề Ba Lan và Hy Lạp.

Và khi tình báo quân đội báo cáo với Sớc-sin rằng, người Đức đang tìm cách tiếp xúc, đàm phán với các nước Đồng minh, thì Sớc-sin trả lời:

- Người ta có thể buộc tội nước Anh về sự chậm trễ, táo bạo, phớt đời, về óc phân tích hài hước... Song không ai có thể buộc tội nước Anh về sự xảo quyệt và tôi cầu Chúa ban phước cho chúng ta, để chúng ta khỏi bị buộc vào tội đó. Nhưng, - y nói thêm, và mắt y trở nên lạnh như thép, chỉ ở mãi đâu đó trong đáy mắt mới thấy thấp thoáng ánh giễu cợt, - bao giờ tôi cũng đề nghị mọi người phân biệt chính xác ranh giới giữa trò chơi ngoại giao, một thủ đoạn nhằm mục đích củng cố sự hợp tác giữa các dân tộc, với sự xảo quyệt công khai, phi lý. Chỉ có dân châu Á mới có thể coi trò chơi ngoại giao tinh vi và phức tạp là sự xảo quyệt. Phải thấy rằng bản thân khái niệm trò chơi đã cho phép tránh sang một bên! Trẻ con chúng vẫn bảo nhau như thế, mà trẻ con chính là những chính trị gia thành thật nhất...

Bằng cách đó, Sớc-sin làm cho giới tình báo hiểu rằng có thể đàm phán với người Đức: trong tình huống nhất định, với những điều kiện nhất định, và cần chuẩn bị khả năng để tuyên bố rằng việc đàm phán ấy chỉ là một trò chơi, một sự thăm dò vì lợi ích chung của phe Đồng minh trong cuộc đấu tranh chống bọn bạo chúa Hít-le.

- Phải nói thêm rằng, - Sớc-sin bổ sung, - do các đồng nghiệp người Mỹ của chúng ta nắm vững tin tức không kém chúng ta, thậm chí còn có thể nhiều hơn chúng ta, cho nên hãy đành cho họ vai trò làm chiếc vi-ô-lông cầm chịch trong dàn nhạc ấy.

- Nhưng trong trường hợp hữu ích, trò chơi có thể sẽ không còn là trò chơi nữa, mà trở thành một hành động nghiêm túc hơn thì sao ạ? - viên Cục phó Cục tình báo hỏi.

- Ông nghĩ rằng trò chơi không phải là chuyện nghiêm túc ư? Trò chơi là cái nghiêm túc nhất trong mọi thứ có trên đời. Trò chơi và hội họa. Tất cả các thứ còn lại đều nhỏ bé và trống rỗng, - Sớc-sin trả lời. Y vẫn nằm trên giường, chứ chưa ngồi dậy sau giấc ngủ trưa, bởi vậy y đang ở trong tâm trạng vui vẻ và thoải mái. - Cái thứ chính trị, dưới cái dạng ta vẫn quen quan niệm và tiếp nhận đó, nó đã chết hẳn rồi. Một thứ chính sách toàn cầu đã đến thay thế cái món chính sách địa phương, cục bộ của những chiến dịch tế nhị ở vùng này hay vùng nọ trên thế giới. Đó không còn là ý chí riêng của một cá nhân, đó không còn là nguyện vọng ích kỷ của một nhóm người này hay nhóm người nọ, đó là một khoa học chính xác như toán học và nguy hiểm như phương pháp bức xạ thí nghiệm trong y học. Các nhà hội họa và thiên văn học, những người điều khiển thang máy và các nhà toán học, các bậc vương giả và những thiên tài sẽ lệ thuộc vào chính sách toàn cầu, - Sớc-sin sửa chiếc khăn trải giường và nói thêm:

- Sự liên kết trong một thời kỳ giữa một ông vua với một thiên tài hoàn toàn không nhằm chống lại ông vua; thế đối lập nằm trong thời kỳ đó là ngẫu nhiên, chứ không mang tính chất hướng đích. Chính sách toàn cầu sẽ dẫn đến những đồng minh bất ngờ, những chuyển biến - bước ngoặt trái ngược trong chiến lược, khiến bức thư của tôi gửi Xta-lin ngày 33 tháng 6 năm 1941 sẽ là đỉnh cao của tính lô-gích chặt chẽ và tính nhất quán. Nói đúng hơn, bức thư của tôi có tính chất lô-gích, còn vấn đề tính nhất quán đứng ở hàng thứ hai. Cái chủ yếu là quyền lợi của sự hợp tác giữa các dân tộc, mọi thứ còn lại sẽ được lịch sử tha thứ hết...


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Năm, 2020, 04:47:58 pm
- Chào chị Kin, - người đàn ông cúi xuống đầu giường nói.

- Chào ông, - Kết trả lời rất nhỏ.

Chị nói còn rất khó khăn, đầu lúc nào cũng ong ong nhức nhối, hễ cử động lại thấy buồn nôn. Chỉ sau khi cho con bú, chị mới thấy lòng thanh thản đôi chút. Chú bé đã ngủ, và chị cũng chợp đi theo con. Nhưng khi mở mắt ra, nhìn thấy đứa con trai của mình, lòng chị lại trỗi dậy một cảm giác lạ lùng trước đây chưa hề có, tiếp đó mọi vật trước mắt lại bắt đầu quay lộn trong đầu chị, màu sắc thay đổi và cơn buồn nôn lại dồn lên cuống họng. Cái tình cảm mới mẻ kia lạ lùng quá khiến chị không biết giải thích với mình ra sao. Tất cả đều lẫn lộn với nhau trong con người chị - vừa là nỗi sợ hãi, vừa là cảm giác bay bổng, vừa là niềm tự hào pha chút hãnh diện khó hiểu, vừa là sự bình tĩnh cao độ mà trước đây chị chưa hề có.

- Tôi muốn được hỏi chị vài câu, chị Kin ạ. - Người đàn ông nói tiếp. - Chị nghe rõ lời tôi đấy chứ?

- Vâng.

- Tôi sẽ không quấy rầy chị lâu đâu...

- Ông ở đâu đến đây?

- Tôi là nhân viên công ty bảo hiểm...

- Chồng tôi... không còn nữa ư?

- Tôi đang định hỏi chị. Chị hãy nhớ lại xem lúc bom nổ thì anh ấy đang ở đâu?

- Anh ấy ở trong nhà tắm.

- Nhà chị vẫn còn than bánh để nấu nước kia à? Món ấy dạo này hiếm lắm... ở công ty anh em chúng tôi cũng đến chết cóng mất thôi...

- Nhà tôi mua... được mấy bánh… nhân dịp...

- Chị không mệt chứ?

- Chồng tôi chết rồi ư?

- Tôi đem đến cho chị một tin buồn, chị Kin ạ. Anh ấy mất rồi... Chúng tôi giúp đỡ tất cả các nạn nhân của những cuộc ném bom dã man hiện nay. Chị muốn được giúp đỡ gì trong lúc đang nằm viện? Vấn đề ăn uống chắc ở đây người ta bảo đảm cho chị rồi. Còn quần áo thì chúng tôi sẽ chuẩn bị đầy đủ cho cả chị lẫn cháu khi ra viện... Cháu bé kháu quá đi mất... Con gái à, chị?..

- Con trai.

- Cháu có hay quấy không, chị?

- Không... Thậm chí tôi chưa nghe tiếng cháu lần nào.

Đột nhiên chị cảm thấy lo lắng vì chưa nghe tiếng con lần nào.

- Trẻ sơ sinh nhất thiết phải kêu khóc luôn miệng hay sao hở ông? - Kết hỏi.

- Lũ con tôi thì hét khiếp lắm, - người đàn ông đáp, - tôi suýt thủng màng nhĩ vì tiếng kêu khóc của chúng nó. Nhưng lũ con tôi lúc mới đẻ bé lắm, chứ không to như thằng cháu này đâu. Mà các lực sĩ thì cậu nào cũng ít mồm... Chị Kin ạ, xin lỗi, nếu chị chưa mệt lắm, thì tôi muốn hỏi thêm: tài sản của chị được bảo hiểm với số tiền bao nhiêu?

- Tôi không biết… Nhà tôi lo việc ấy...

- Thế gia đình đăng ký ở phòng bảo hiểm nào chắc chị cũng không nhớ phải không?

- Hình như ở góc phố Cu-đam và Căng-tơ.

- À, đó là phòng bảo hiểm số hai mươi bảy... Bây giờ thì việc tra cứu sổ sách trở nên đơn giản rồi... Chị hãy cố nhớ xem tổng số tiền bảo hiểm là bao nhiêu!

- Hình như một vạn mác...

- Món tiền to đấy...

Người đàn ông ghi tất cả những điều đó vào một quyển sách nhàu nát, gã lại ho một tiếng rồi cúi xuống mặt Kết mà nói rất nhỏ:

- Người mẹ trẻ tuyệt đối không được khóc lóc và cảm xúc quá mạnh… Chị hãy tin tôi, một người cha của ba đứa con. Tất cả những cái đó sẽ lập tức ảnh hưởng đến bụng dạ thằng bé. Chị sẽ được nghe thấy giọng hát của nó... Chị không có quyền chỉ nghĩ đến mình. Cái thời kỳ ấy đã vĩnh viễn qua đối với chị rồi. Từ nay chị phải nghĩ trước hết đến cậu bé quý tử của chị.

- Tôi sẽ không khóc, - Kết nói nhỏ và khẽ chạm những ngón tay lạnh ngắt của mình vào bàn tay ươn ướt, ấm áp của ông ta. - Cảm ơn ông...

- Bà con thân quyến của chị ở đâu? Công ty chúng tôi sẽ giúp họ đến thăm chị. Chúng tôi sẽ trả mọi chi phí tàu xe và thu xếp chỗ ăn ở cho họ... Tất nhiên, chị cũng biết rằng các khách sạn đã bị phá hủy một số, còn một số thì giành cho bên quân đội. Nhưng chúng tôi có một số phòng riêng. Bà con thân quyến của chị sẽ không giận chúng tôi đâu. Vậy nên viết thư báo tin cho ai, hở chị?

- Bà con thân thuộc của tôi ở lại Kê-ni-xơ-béc cả, - Kết trả lời. - Tôi không rõ hiện nay họ ra sao rồi.

- Thế còn gia đình bên chồng? Chúng tôi sẽ báo tin dữ cho ai bây giờ?

- Gia đình anh ấy sống ở bên Thụy Điển... Nhưng không tiện viết thư cho họ đâu, vì ông chú của nhà tôi là một người thân Đức, có đề nghị vợ chồng tôi đừng viết thư cho chú ấy, kẻo phiền... Chúng tôi chỉ gửi thư cho chú ấy qua sứ quán hoặc có dịp ai qua bên đó.

- Chị có nhớ địa chỉ không?

Đúng lúc ấy thì chú bé khóc.

- Xin lỗi ông, - Kết nói, - để tôi cho cháu bú rồi sẽ nói địa chỉ cho ông biết.

- Tôi không dám phiền, - người đàn ông nói rồi bước ra khỏi phòng bệnh.

Kết nhìn theo gã và chậm rãi nuốt một cái gì dâng lên cuống họng. Đầu chị vẫn đau âm ỉ như  trước, nhưng chị không thấy buồn nôn nữa. Chị chưa kịp suy nghĩ thực sự về những câu hỏi mà người kia vừa đặt ra, bởi vì thằng bé đang bắt đầu mút vú, và tất cả những gì lo lắng xa lạ đều biến mất. Chỉ còn lại chú bé con đang thèm khát mút vú và ngó ngoáy hai bàn tay tí hon. Chị cởi tã cho con và nhìn nó. Thằng bé to và đỏ hỏn.

Rồi chị bỗng nhớ lại rằng, hai ngày trước, chị còn nằm trong một phòng bệnh rộng lớn, bên cạnh rất nhiều phụ nữ, rồi cùng một lúc người ta đem trẻ sơ sinh đến trao cho tất cả mọi người trong phòng, rồi phòng bệnh đầy tiếng lao xao mà chị nghe như văng vẳng ở đâu xa.

“Tại sao mình lại ở đây một mình? - Kết bỗng nghĩ, - Mình đang nằm ở đâu thế này?”

Nửa giở sau, người đàn ông kia quay lại. Gã ngắm nghía chú bé đang ngử hồi lâu, rồi lấy từ trong cặp ra mấy chiếc ảnh, đặt chúng lên đùi và hỏi:

- Trong lúc tôi ghi địa chỉ ông chú của chị, xin chị hãy nhìn mấy bức ảnh này, xem có đồ dùng nào của chị không. Sau trận ném bom, người ta có tìm được một số đồ vật trong tòa nhà của chị, chị biết đấy, giữa lúc chị hoạn nạn thế này thì chỉ một chiếc va-li cũng giúp ích không ít. Xem có thể bán vài thứ gì đó, để lấy tiền mua mấy thứ cần thiết nhất cho cháu nhỏ… Dĩ nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng chuẩn bị đầy đủ khi chị xuất viện, nhưng dẫu sao...

- Phơ-răng Pa-kê-nen, Gu-xơ-táp, Gê-oóc-gơ-plát, 25, Xtốc-khôm.

- Cảm ơn. Chị không mệt lắm chứ?

- Cũng hơi mệt, - Kết trả lời, bởi vì trong mấy bức ảnh, giữa đám va-li, hòm xiểng xếp ngay ngắn trên đường phố, cạnh bức tường đổ nát của ngôi nhà hai vợ chồng chị từng sống, chị nhìn thấy một chiếc va-li rất lớn nổi bật hẳn lên bên cạnh những chiếc khác, Ê-rơ-vin đặt điện đài ở trong chiếc va-li đó...

- Chị xem kỹ đi, tôi xin phép về đây, - gã đàn ông chìa ảnh ra cho chị và nói.

- Không có đồ dùng nào của tôi cả, - Kết trả lời. - Trong này không thấy mấy chiếc va-li của gia đình tôi…

- Thôi, cảm ơn chị, nếu vậy chúng ta hãy coi như vấn đề này đã được giải quyết, - người kia nói, thận trọng cất mấy bức ảnh vào cặp, cúi chào rồi đứng dậy. - Một, hai ngày nữa tôi sẽ lại đến thăm chị để báo tin cho chị biết kết quả công việc mà tôi lo giúp chị... Chị cũng hiểu đấy, giữa lúc thời thế khó khăn này, tiền mà chị phải trả công cho tôi chẳng có gì đáng kể, điều đó chẳc chắn cũng sẽ không làm cho chị phật lòng…

- Tôi sẽ hết sức cảm tạ ông. - Kết trả lời.


Nhân viên điều tra của tổ chức ghét-xta-pô ở khu phố, kẻ đã tới thăm Kết, lập tức gửi tấm ảnh chụp những chiếc va-li tới phòng giám định các vết tay của Kết: tấm ảnh này đã được tráng một chất đặc biệt ở trong phòng thí nghiệm. Các vết tay trên chiếc điện đài đặt trong va-li đã được ghi lại. Kết quả cho thấy các vết tay trên chiếc va-li đựng diện đài là của ba người khác nhau... Còn những tư liệu khác thì hắn gửi tới Vụ VI của cơ quan an ninh Đức quốc xã: hắn đề nghị cho biết tất cả những gì liên quan tới cuộc đời và hoạt động của Phơ-răng Pa-kê-nen, người mang quốc tịch Thụy Điển...


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 30 Tháng Năm, 2020, 04:54:22 pm
Ai-xơ-man đi đi lại lại hồi lâu trong phòng làm việc của mình.

Y chắp hai tay sau lưng, bước những bước dài, lúc nào y cũng cảm thấy như thiếu một cái gì rất quen thuộc và cơ bản. Cái đó làm cho y mất tập trung tư tưởng, ý nghĩ của y cứ tản mạn, không xoáy vào điểm chủ yếu, y không thể phân tích đến cùng tất cả những gì khiến cho y đau đầu - tại sao Sơ-tiếc-lít lại lâm vào tình thế bị điều tra?

Cuối cùng, khi tiếng còi báo động phòng không vang lên rền rĩ, Ai-xơ-man mới hiểu rằng thì ra y còn thiếu cái khoản nghe tiếng bom rơi đạn nổ. Chiến tranh đã gắn liền với sinh hoạt hàng ngày, sự yên tĩnh có vẻ nguy hiểm và ẩn giấu một cái gì đó còn đáng sợ hơn cả những trận ném bom.

“Lạy chúa! - Ai-xơ-man nghĩ thầm, khi tiếng còi báo động vừa lặng đi. - Bây giờ thì có thể ngồi làm việc được rồi đây. Mọi người đã chạy ra hầm trú ẩn, tôi có thể ngồi và suy nghĩ, không còn ai bước vào phòng mình với những câu hỏi ngớ ngẩn và những giả thuyết ngu ngốc nữa...”

Ai-xơ-man ngồi vào bàn và bắt đầu giở tập hồ sơ về vị giám mục đạo Tin Lành Phơ-rít Sơ-lắc ra xem. Sơ-lắc bị bắt vào mùa hè năm 1944 vì bị nghi là có hoạt động chống lại quốc gia. Quyết định bắt giữ dựa vào hai bản tố giác, một của Bác-ba-ra Cơ-rain và một của Rô-béc-tơ Nít-sê. Hai tên này là những kẻ vẫn đến nhà thờ nghe giám mục giảng đạo. Chúng viết trong bản tố giác rằng, khi giảng đạo, giám mục đã kêu gọi vãn hồi hòa bình và xây dựng mối quan hệ hữu nghị anh em với mọi dân tộc, đã lên án cuộc chiến tranh dã man và sự đổ máu vô nghĩa. Việc thẩm tra khách quan xác nhận rằng vị giám mục đã từng gặp gỡ mấy lần với cựu thủ tướng Bơ-ruy-ninh là người hiện đang sống lưu vong ở Thụy Sĩ. Hai người này có quan hệ thân thiện với nhau, thế nhưng trong tập hồ sơ không có dẫn chứng nào về mối liên hệ chính trị giữa vị giám mục với thủ tướng lưu vong, mặc đù đã tiến hành điều tra hết sức chặt chẽ cả ở nước Đức lẫn ở Thụy Sĩ...

Ai-xơ-man không hiểu, vì lý do gì giám mục Sơ-lắc lại được đưa sang bên cơ quan tình báo mà không bị ném vào sở ghét- xta-pô. Tại sao người của Sê-len-béc lại quan tâm đến vị giám mục? Y tìm ra câu trả lời qua một tư liệu ngắn kèm vào hồ sơ của Sơ-lắc: năm 1933, đức giám mục đã đi sang Anh và Thụy Sĩ hai lần để dự Đại hội các chiến sĩ hòa bình.

“Họ chú ý đến các quan hệ quen biết của giám mục, - Ai-xơ- man hiểu ra, - họ muốn biết Sơ-lắc đã gặp gỡ những ai ở hai nước đó. Bởi vậy, ngành tình báo mới kéo ông ta sang chỗ họ và cũng bởi vậy mà ông ta được chuyển giao cho Sơ-tiếc-lít, Sơ- tiếc-lít thì dính dáng gì đến vấn đề này nhỉ? Người ta giao nhiệm vụ cho anh ấy, và anh ấy đã làm tròn…”

Ai-xơ-man tiếp tục giở xem hồ sơ  biên bản các cuộc hỏi cung đều ngắn ngủi và vắn tắt. Để cho được khách quan, y muốn trích dẫn một vài doạn cho kết luận của y có lý lẽ và tư liệu xác đáng, nhưng y không thể trích dẫn được đoạn nào cả. Cuộc hỏi cung diễn ra theo một phong cách không giống phong cách thông thường của Sơ-tiếc-lít: nó không có gì đặc sắc, hoàn toàn mang tính chất hình thức và thẳng thắn.

Ai-xơ-man gọi điện tới phòng bảo quản hồ sơ. Mãi vẫn không có ai trả lời.

“Chẳc họ chạy ra hầm trú ần cả rồi”, - Ai-xơ-man nghĩ bụng và định bỏ ống nghe xuống, thì đúng lúc đó có tiếng nói ở đầu dây bên kia.

- Tôi là Ai-xơ-man ở Vụ IV đây. Xin chào. Nhờ bên anh tìm hộ xem ở chỗ các anh có băng ghi âm buổi hỏi cung giám mục Sơ-lắc ngày 29 tháng chín năm 1944 của đại tá Sơ-tiếc-lít hay không?


“Tôi muốn cảnh cáo ngài: ngài đã bị bắt, mà những ai đã rơi vào tay cơ quan tư pháp của đảng Quốc xã, một cơ quan có sứ mệnh trừng phạt những kẻ tội lỗi và bảo vệ nhân dân khỏi những hành động xấu xa, thì đừng nói đến việc có thể quay trở lại cuộc sống và hoạt động bình thường được nữa. Cuộc sống của gia đình ngài cũng sẽ không còn bình thường đâu. Tôi cần nói thêm: tất cả sẽ trở lại bình thường, với điều kiện, một là, ngài chịu thừa nhận lỗi lầm của mình và lên tiếng vạch mặt những nhà hoạt động tôn giáo còn lại, - những người không chịu ủng hộ nhà nước chúng ta và, hai là, ngài đồng ý giúp đỡ công việc của chúng tôi trong thời gian tới. Ngài có đồng ý như vậy không?

- Tôi cần phải suy nghĩ đã.

- Ngài cần bao nhiêu lâu để suy nghĩ?

- Theo ông, người ta cần bao nhỉêu lâu để chuẩn bị tiếp nhận cái chết?

- Tôi mong ngài một lần nữa hãy suy xét về đề nghị của tôi. Ngài nói rằng, trong cả hai trường hợp, cuộc đời ngài đều đến giai doạn chấm hết, nhưng ngài có phải là một nhà ái quốc của nước Đức hay không?

- Phải, tôi là một nhà ái quốc. Nhưng ông hiểu thế nào là “một nhà ái quốc của nước Đức”?

- Là trung thành với ý thức hệ của chúng ta.

- Ý thức hệ chưa phải là đất nước.

- Dù thế nào thì nước ta cũng vẫn sống bằng hệ tư tưởng của Quốc trưởng. Chẳng lẽ nghĩa vụ của ngài, nghĩa vụ của một vị giám mục, Đức cha coi sóc phần hồn, không phải là sát cánh với dân tộc đang tín ngưỡng hệ tư tưởng của chúng ta hay sao?

- Giá như tôi được tranh luận ngang hàng với ông, có lẽ tôi sẽ biết nên trả lời ông như thế nào?

- Thì tôi xin mời ngài cứ tranh luận bình đẳng với tôi.

- Sát cánh với dân tộc là một chuyện, còn cảm thấy mình ở trong một tình thế cần phải hành động theo lẽ công bằng và niềm tin lại là chuyện khác. Hai chuyện ấy có thể trùng nhau mà cũng có thể không trùng nhau. Trong trường hợp này, ông đã đề nghị với tôi một lối thoát không phù hợp với tín điều của tôi. Ông định sử dụng tôi như một mô-men ứng lực nhằm mục đích bắt tôi ký một lời tuyên bố hợp với ý muốn của ông. Ông diễn tả đề nghị dưói hình thức làm như ông coi tôi như một con người có nhân cách. Ông nói với tôi như thế làm gì, một khi ông đã muốn tôi trở thành một cái đòn bảy? Thà ông cứ nói toạc ra: hoặc chúng tao sẽ giết mày, hoặc là mày hãy ký vào tờ giấy này. Dân tộc Đức sẽ đi đến đâu và nói bằng thứ tiếng gì, đối với tôi điều đó còn ý nghĩa gì nữa, nếu thực chất tôi đã là một xác chết...

- Điều đó không đúng. Không đúng vì mấy lý do sau đây. Tôi không yêu cầu ngài ký bất kỳ tờ giấy nào. Cứ cho rằng tôi xin rút lui vấn đề thứ nhất, đề nghị thứ nhất của tôi về việc ngài công khai lên tiếng trên báo chí và đài phát thanh, chống lại những người anh em cùng tín ngưỡng với ngài, những người chống đối lại chế độ của chúng ta. Tôi mong ngài trước hết hãy đi tới chân lý của đảng Quốc xã chúng tôi, và sau đó, nếu ngài thấy có thể tán thành chân lý đó tới mức nào, ngài hãy giúp đỡ chúng tôi đến mức đó.

- Nếu ông đặt vấn đề như vậy thì ông hãy thử thuyết phục tôi xem, đảng Quốc xã đem đến cho con người được cái gì nhiều hơn bất cứ tổ chức nào khác đi nào.

- Sẵn sàng. Đảng quốc xã - đó là nhà nước của chúng ta, một nhà nước đang được dẫn dắt bởi những tư tưởng vĩ đại của Đức quốc trưởng. Còn các lãnh tụ tôn giáo như các ngài thì lại không đưa ra được một cái gì khác với nhà nước ấy để người ta lựa chọn. Các ngài chỉ đưa ra sự hoàn thiện về tinh thần mà thôi.

- Đúng là như vậy.

- Nhưng con người đâu chỉ sống bẳng sự hoàn thiện về tinh thần, dù rằng con người không chỉ sống bằng bánh mì. Nghĩa là chúng tôi mong muốn đem lại lợi ích cho nhân dân ta. Vậy chúng ta hãy coi đó là bước đi đầu tiên trên con đường dẫn tới sự hoàn thiện về tinh thần của dân tộc ta trong tương lai.

- Được, trong trường hợp đó, tôi xin hỏi ông một điều: các trại tập trung hoặc những cuộc hỏi cung giống như cái ông đang tiến hành với tôi, một nhà tôn giáo, là hậu quả tất yếu của nhà nước các ông phải không?

- Đúng như vậy, bởi vì chúng tôi bảo vệ ngài thoát khỏi cơn phẫn nộ của dân tộc ta, một dân tộc sẽ lập tức thủ tiêu ngài, nếu biết rằng ngài chống lại Quốc trưởng, chống lại hệ tư tưởng của chúng tôi.

- Nhưng đâu là căn nguyên, còn đâu là hậu quả? Vì sao xuất hiện cơn phẫn nộ của dân tộc, và cơn phẫn nộ của dân lộc có phải là yếu tố tất yếu của cái chế độ mà ông đang tô son điểm phấn hay không? Nếu phải, thì cơn phẫn nộ ấy trở thành nhân tố tích cực độc lập từ bao giờ. Đó không phải là cơn phẫn nộ, mà là phản ứng trước cái ác. Nếu phẫn nộ là cơ sở của các ông, nếu cơn phẫn nộ là căn nguyên của các ông, còn tất cả những cái còn lại đều là hậu quả, tóm lại, nếu các ông dùng cái ác làm nguyên nhân, thì tại sao ông lại còn muốn thuyết phục tôi rằng cái ác là lợi ích?

- Không phải thế, “cái ác” là nói theo lời của ngài, còn tôi nói “lòng căm phẫn của dân tộc”. Lòng căm phẫn của một dân tộc lần đầu tiên sau bao nhiêu năm phải chịu đựng hiệp ước Véc-xây nhục nhã, dưới ách áp bức của bọn chủ nhà băng và thương gia Do Thái, được hưởng cuộc sống thanh nhàn. Dân tộc nổi cơn phẫn nộ, khi một kẻ nào đó, dù là Đức cha linh hồn, mưu toan gieo rắc nghi ngờ đối với những thành tựu vĩ đại mà đảng chúng tôi, dưới sự dẫn dắt của Quốc trưởng vĩ đại, đã đem lại cho dân tộc.

- Hay lắm… sống thanh nhàn và cắn xé lẫn nhau là một ư?

- Chúng ta đánh nhau chỉ là để bảo đảm không gian sinh tồn cho mình.

- Thế giam giữ một phần tư dân tộc trong các trại tập trung - đó là lợi ích hay chính là cái cuộc sống hài hòa mà vì nó tôi phải hy sinh cả cuộc đời tôi?

- Ngài nhầm rồi, các trại tập trung của chúng ta làm gì giam giữ tới một phần tư dân số. Nhân tiện, cần nói thêm rằng các trại tập trung không phải là công cụ thủ tiêu - chẳng qua chỉ là do ngài sử dụng các nguồn tin của kẻ thù đấy thôi. Hơn nữa, ngoài cổng mỗi trại tập trung đều có khẩu hiệu: “Công việc làm cho con người trở nên tự do”. Ở các trại tập trung, chúng tôi giáo dục những con người lầm đường lạc lối, còn những kẻ không phải lầm đường lạc lối mà là kẻ thù của chúng tôi, thì dĩ nhiên sẽ bị thủ tiêu.

- Nghĩa là, các ông tùy ý quyết định ai là người có lỗi, ai không có lỗi đối với các ông, chứ gì?

- Đúng thế.

- Nghĩa là các ông biết trước một người nào đó muốn gì, sai lầm ở đâu, phải không?

- Tôi biết dân tộc ta mong muốn điều gì.

- Dân tộc. Dân tộc bao gồm những ai?

- Bao gồm mọi người.

- Làm sao ông biết mọi người muốn gì, một khi ông không biết từng người mong muốn điều gì? Nói đúng hơn, ông biết trước dân tộc muốn gì, nên mới gán cái ý muốn của mình bắt dân tộc phải theo phải không? Như thế là hoang tưởng.

- Ngài nhầm rồi. Dân tộc muốn được ăn uống tốt...

- Và muốn chiến tranh để được ăn uống tốt?

- Rồi hẵng. Muốn có thức ăn ngon, có nhà ở đẹp, có xe du lịch, gia đình vui vẻ. Và muốn chiến tranh để giành hạnh phúc đó cho mình! Đúng, muốn chiến tranh!

- Và dân tộc còn muốn để những người suy nghĩ theo một kiểu khác phải ngồi tù trong các trại tập trung? Nếu cái này tất yếu do cái kia đẻ ra, thì như thế là có cái gì đó không đúng trong hạnh phúc của các ông, bởi vì cái hạnh phúc đạt được bằng kiểu đó, theo tôi nghĩ, không thể trong sạch được nữa rồi. Có lẽ tôi nhìn nhận sự vật khác ông. Hẳn là theo quan điểm của ông thì mục đích biện hộ cho phương tiện - thuyết Dòng Tên cũng đã tuyên truyền cho cái đó.

- Là một giám mục, rõ ràng ngài không muốn kiểm tra lại toàn bộ sự phát triển của đạo Thiên chúa chứ gì? Hay là ngài vẫn cho phép mình loại bỏ   một vài thời kỳ phát triển của Thiên chúa giáo. Nói riêng là thời kỳ sử dụng hình phạt Trung cổ tại tòa án giáo hội.

- Tôi biết nên trả lời ông như thế nào. Tất nhiên, trong lịch sử phát triển của đạo Thiên chúa, có thời kỳ sử dụng hình phạt Trung cổ - thiêu người trên giàn lửa, Nói thêm rằng, theo quan điểm của tôi, sự suy sụp của dân tộc Tây Ban Nha đã gắn liền với việc họ thay thế mục đích bẳng phương tiện. Tòa án giáo hội ban đầu được coi như một phương tiện thanh trừ tín ngưỡng, dần dần đã biến thành mục đích tự thân. Nghĩa là, chính sự thanh trừ, chính hình phạt thiêu người trên giàn lửa, chính cái hình phạt tàn khốc đó, chính việc đàn áp những người bất đồng về tư tưởng đó - ban đầu được coi như sự thanh trừ tín ngưỡng, - dần dần đã đặt cái ác trước mặt mình như một mục đích tự thân.

- Tôi hiểu rồi. Xin ngài cho biết, trong lịch sử Thiên chúa giáo, những người bất đồng tư tưởng có hay bị giáo hội thủ tiêu, để cho bộ phận con chiên còn lại được sống sung sướng hơn hay không nào?

- Tôi hiểu ý ông. Những kẻ bị thủ tiêu thường là bọn dị giáo. Mà tất cả bọn dị giáo trong lịch sử đạo Thiên chúa đều là những phần tử phiến loạn dựa trên quyền lợi vật chất. Tất cả những kẻ dị giáo trong Thiên chúa giáo đều truyền bá tư tưởng bất bình đẳng, trong khi chúa Ki-tô chủ trương bình đẳng. Tuyệt đại đa số bọn dị giáo trong lịch sử Thiên chúa giáo đều đựa trên cơ sở người giàu bất bình đẳng với người nghèo, người nghèo phải thủ tiêu người giàu hoặc trở thành người giàu, leo lên địa vị người giàu, trong khi Chúa Ki-tô cho rằng về nguyên tắc không có sự khác biệt giữa mọi người với nhau và sự giàu có cũng chỉ mang tính chất tạm thời như sự nghèo khổ mà thôi. Trong khi Chúa Ki-tô muốn mọi người hòa thuận với nhau, thì bọn dị giáo lại xúi giục người ta gây chuyện đổ máu. Phải nói thêm rằng ý niệm cái ác thưởng là cơ sở của mọi tà thuyết, và giáo hội buộc phải lên tiếng chống lại bọn tà giáo, để cho bạo lực khỏi hoành hành và khỏi bị đưa vào bộ luật đạo đức của đạo Thiên chúa.

- Đúng! Nhưng khi chống lại một tà thuyết định dùng bạo lực, giáo hội có sử dụng bạo lực hay không?

- Có sử dụng, nhưng không biến nó thành mục đích và không biện hộ cho nó về nguyên tắc.

- Bạo lực chống tà thuyết được sử dụng trong khoảng thời gian tám, chín thế kỷ, có phải thế không, thưa ngài? Nghĩa là trong vòng tám, chín thế kỷ, người ta đã dùng bạo lực để thủ tiêu bạo lực. Chúng tôi lên cầm quyền năm 1933. Vậy ngài muốn gì ở chúng tôi? Mới có mười một năm, chúng tôi đã xóa bỏ nạn thất nghiệp, mới có mười một năm chúng tôi đã nuôi béo tất cả những người Đức, vâng - trong khi đàn áp những kẻ bất đồng tư tưởng! Thế mà ngài lại cản trở chúng tôi - bằng lời lẽ tuyên truyền! Nhưng nếu như ngài là người chống lại chế độ của chúng tôi với một niềm tin sâu sắc đến thế, thì ngài dựa vào yếu tố vật chất chứ không phải yếu tố tinh thần, có phải là hợp lý hơn không? Chẳng hạn, ngài hãy thử tổ chức những con chiên nào đó của ngài thành một tổ chức hoạt động chống lại nhà nước có hơn không? Dùng truyền đơn, bãi công, phá hoại và hoạt động vũ trang chống lại một số đại biểu của chính quyền chẳng hạn?

- Không, không đời nào tôi đi theo con đường đó, vì một lý do đơn giản… Không phải vì tôi sợ bất cứ cái gì… Chẳng qua tôi cảm thấy con đường ấy không thể chấp nhận được về nguyên tắc, bởi vì, nếu tôi bắt đầu áp dụng những phương pháp của các ông để chống lại các ông, thì vô tình tôi sẽ trở thành người giống như các ông mất.

- Nghĩa là, nếu như có một người trẻ tuổi trong số các con chiên của ngài đến gặp ngài và nói: “Thưa Cha linh hồn, con không tán thành chế độ hiện hành, con muốn đấu tranh chống lại nó”...

- Tôi sẽ không ngăn cản anh ta.

- Anh ta sẽ nói: “Con muốn giết chết tên gau-lây-te. Mà tên gau-lây-te lại có ba đứa con gái: một lên hai, một lên năm và một lên chín. Và một bà vợ bị liệt cả hai chân. Ngài sẽ xử sự ra sao ?

- Tôi không biết.

- Và nếu tôi hỏi ngài về tay thanh niên đó, ngài sẽ không nói gì với tôi chứ? Ngài sẽ không cứu sống ba đứa con gái bé nhỏ và một người phụ nữ bệnh tật ư ? Hay là ngài sẽ giúp đỡ tôi?

- Không, tôi sẽ không nói gì với ông cả, bởi vì trong khi cứu sống một số người này, có thể tôi lại giết chết những người khác. Khi đang diễn ra cuộc chiến tranh vô nhân đạo như thế này, mọi hành động tích cực đều chỉ dẫn tới một sự đổ máu mới. Con đường xử thế duy nhất của các nhà hoạt động tôn giáo trong trường hợp này là lánh xa sự tàn ác, không đứng về phía tên đao phủ. Tiếc rằng đó là con đường tiêu cực, nhưng bất cứ con đường tích cực nào lúc này cũng đều tăng thêm sự đổ máu.

- Tôi tin rằng, nếu chúng tôi chuyền việc hỏi cung ngài sang bước thứ ba - mà bước này sẽ rất đau đớn về thể xác, - chắc là ngài sẽ nói tên gã thanh niên kia cho chúng tôi biết.

- Ông muốn nói rằng, nếu ông biến tôi thành một con vật mất hết trí khôn vì quá đau đớn, thì tôi sẽ làm tất cả những gì mà ông cần phải không? Rất có thể tôi sẽ làm như vậy. Nhưng lúc ấy tôi không còn là tôi nữa. Nếu đã thế, thì ông còn phải tiến hành buổi nói chuyện này làm gì? Ông hãy áp dụng với tôi tất cả những gì mà ông cần, ông hãy sử dụng tôi như một con vật hoặc một chiếc máy...

- Xin ngài cho biết, nếu như có những người nào đó - những kẻ thù độc ác, những kẻ điên rồ - đến gặp ngài và đề nghị ngài đi ra nước ngoài, sang Anh, Nga, Thụy Điền hoặc Thụy Sĩ làm nhân vật trung gian chuyển một bức thư nào đó, thì ngài có thực hiện lời đề nghị ấy không?

- Làm nhân vật trung gian là địa vị đương nhiên của tôi.

- Tại sao như vậy?

- Tại vì làm nhân vật trung gian giữa mọi người trong mối quan hệ với Chúa - đó là nghĩa vụ của tôi. Mà quan hệ giữa con người với Chúa cần phải có chỉ cốt là để cho con người cảm thấy mình là người với đầy đủ ý nghĩa của từ đó. Bởi vậy, tôi không tách quan hệ giữa con người với Chúa ra khỏi quan hệ giữa người với người, về nguyên tắc, đó chỉ là một quan hệ - quan hệ thống nhất. Bởi vậy, mọi vai trò trung gian giữa mọi người với nhau về nguyên tắc đều là chuyện tự nhiên đối với tôi. Điều kiện duy nhất mà tôi đặt ra cho mình khi ấy là vai trò trung gian đó phải dẫn tới điều thiện và phải được thực hiện bằng các phương tiện tốt đẹp.

- Ngay cả nếu như sự trung gian là cái ác đối với nhà nước chúng ta ư?

- Ông buộc tôi phải đưa ra những lời đánh giá chung. Ông thừa hiểu rằng, nếu nhà nước xây dựng trên bạo lực, thì một giám mục như tôi không thể ủng hộ nó về nguyên tắc. Dĩ nhiên, tôi muốn mọi người sống khác với lối sống hiện nay. Nhưng với điều kiện tôi biết rõ cách đạt tới điều đó. Về nguyên tắc, tôi mong cho tất cả mọi người dân hợp nên cái nhà nước quốc xã này đều sống sót và tạo nên một sự thống nhất nào đó khác cái nhà nước này. Tôi không muốn giết bất cứ một ai.

- Theo tôi nghĩ, sự phản bội là điều đáng sợ, nhưng thái độ quan sát thụ động và hờ hững trước sự phản bội và sự giết người còn đáng sợ hơn.

- Trong trường hợp ấy, chỉ có thể làm một điều duy nhất là tham gia vào việc chấm dứt sự giết người.

- Cái đó không phụ thuộc vào ngài.

- Không phụ thuộc. Thế ông gọi thế nào là sự phản bội?

- Thụ động là phản bội.

- Không, thụ động vẫn chưa phải là sự phản bội.

- Nó còn đáng sợ hơn sự phản bội nữa kia…”



Ai-xơ-man cảm thấy tòa nhà bắt đầu rung chuyển. “Chắc bom rơi ngay bên cạnh, - y nghĩ thầm. - Hoặc chúng ném loại bom tấn... Câu chuyện lạ lùng thật... Rất lý thú nhưng ngữ điệu thật lạ lùng,..”

Y gọi điện thoại cho viên sĩ quan trực. Tên kia bước vào, mặt tái xanh, đầy mồ hôi, Ai-xơ-man hỏi:

- Đây là băng ghi âm chính thức hay băng kiểm tra?

Viên sĩ quan trực trả lời lí nhí:

- Tôi xin phép xác minh rồi thưa lại ngài ngay bây giờ.

- Địch ném bom gần chỗ ta lắm à?

- Thưa, cửa kính ngôi nhà này bị vỡ hết cả.

- Anh không được chạy ra hầm trú ẩn à?

- Thưa, không ạ, - viên sĩ quan trực đáp. - Điều lệnh cấm làm như vậy.

Ai-xơ-man định nghe tiếp, nhưng viên sĩ quan trực quay lại báo cáo với y rằng Sơ-tiếc-lít không sử dụng băng ghi âm. Câu chuyện được thu vào băng theo chỉ thị của cơ quan phản gián - nhằm mục đích kiểm tra các nhân viên làm việc tại bộ máy trung tâm.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Sáu, 2020, 10:56:27 am
Chương 7


Sê-len-béc nói:

- Rõ ràng là loại bom tấn chứ không phải bom thường.

- Chắc là như vậy. - Sơ-tiếc-lít tán đồng.

Lúc này anh nóng lòng, chỉ muốn chuồn nhanh ra khỏi phòng làm việc của Sê-len-béc để đốt ngay tờ giấy đang nằm trong cặp của anh. Đó là báo cáo về những cuộc đàm phán giữa “bọn phản bội SĐ” với phương Tây, Anh nghĩ thầm: “Cáí trò chơi khôn ngoan này của Sê-len-béc không đơn giản như mình thoạt tưởng. Rõ ràng ngay từ đầu hắn đã quan tâm đến vị giám mục. Hắn coi ông như một nhân vật che đỡ sau này. Việc hắn cần đến vị giám mục đúng vào lúc này là một triệu chứng. Chưa được lệnh của Him-le, hắn không dám làm như vậy!”. Nhưng Sơ-tiếc-lít hiểu rằng anh không được vội vàng, bước ra mà phải vừa vui đùa, vừa thảo luận với Sê-len-béc về mọi chi tiết của chiến dịch sắp tới. Và bây giờ anh càng ăn nói bình tĩnh, chậm rãi bao nhiêu, kết quả công việc của anh lại càng chắc chắn bấy nhiêu...

- Theo tôi, chúng nó bay đi rồi thì phải, - Sê-len-béc lắng nghe và nói. - Hay là chưa?

- Chúng bay về để mang những khối bom mới đến...

- Không, bọn này về sẽ được chơi bời giải trí ở căn cứ... Chúng nó đủ máy bay để ném bom liên tục xuống đầu ta... Vậy là anh cho rằng, nếu chúng ta giữ mấy mẹ con người em của lão giám mục làm con tin thì lão ta nhất định sẽ quay về?

- Chắc chắn là như vậy...

- Và khi quay về có bị cánh Muyn-lơ hỏi cung, lão ta cũng sẽ không khai rằng chính anh đã đề nghị lão ta đi ra nước ngoài để tìm cách tiếp xúc với phương Tây?

- Tôi không đám chắc. Cái đó còn tùy kẻ hỏi cung là ai...

- Tốt nhất là anh giữ lấy băng ghi âm các buổi trao đổi với lão ta, còn lão ta… thì coi như bị... mặc áo ván   trong một trận ném bom.

- Tôi sẽ suy nghĩ...

- Anh sẽ suy nghĩ trong bao lâu?

- Tôi xin phép được cân nhắc kỹ ý kiến đó...

- Anh định “cân nhắc ý kiến” ấy bao nhiêu lâu?

- Tôi sẽ cố gắng để tối nay đã có thể đề nghị một giải pháp với ngài.

- Tốt lắm, - Sê-len-béc nói. - Máy bay địch cút cả rồi... Anh muốn uống cà phê không?

- Tôi rất muốn, nhưng chỉ khi nào xong việc đã.

- Được. Tôi rất mừng là anh đã hiểu tất cả mọi chuyện chính xác đến thế, anh Sơ-tiếc-lít ạ. Đó sẽ là một bài học đích đáng cho Muyn-lơ. Hồi này lão ta bắt đầu ăn nói thô lỗ. Ngay cả với ngài thống chế của chúng ta. Chúng ta sẽ làm công việc của lão ta, sẽ vượt trước lão ta… Như thế là chúng ta sẽ giúp ngài thống chế hết lòng.

- Thế ngài thống chế không biết chuyện này hay sao?

- Không… Cứ coi như ngài không biết… Rõ chưa? Nói chung tôi rất thích làm việc với anh...

- Tôi cũng vậy.

- Sao mặt anh có vẻ giận dữ thế?

- Tôi mà giận dữ ư? - Sơ-tiếc-lít lẩm bẩm. - Tôi mà tức giận thì vẻ mặt cau có hơn nhiều. Lúc này tôi đang bận tâm suy nghĩ đấy thôi.

Sê-len-béc tiễn đại tá Sơ-tiếc-lít ra đến cửa, bắt tay anh và nói:

- Nếu mọi việc trôi chảy, anh có thể đến vùng núi nghỉ ngơi dăm ngày. Bây giờ mà đến đó trượt tuyết thì tuyệt - tuyết xanh lơ, da người sẽ rám mầu nâu. Đẹp hết chỗ nói, phải không anh bạn? Trong thời gian chiến tranh tôi và anh đã phải quên đi bao nhiêu là thứ...

- Trước hết chúng ta đã quên đi chính bản thân mình, - Sơ- tiếc-lít trả lời, - như quên áo bành-tô ở phòng để áo sau tiệc rượu say sưa trong ngày lễ Phục sinh.

- Đúng, đúng... - Sê-len-béc thở dài, - như quên áo bành-tô ở phòng để áo… Anh thôi làm thơ đã lâu chưa?

- Tôi có làm thơ bao giờ đâu...

Sê-len-béc giơ ngón tay dọa anh:

- Sự dối trá nhỏ đẻ ra thái độ thiếu tin cậy lớn đấy, Sơ-tiếc- lít ạ...

- Tôi xin thề với ngài, - Sơ-tiếc-lít mỉm cười, - tôi viết tất cả mọi thứ, trừ làm thơ, vì tôi có phản ứng đặc biệt đối với vần điệu...


Sau khi thủ tiêu bức thư định gửi Him-le, Sơ-tiếc-lít bước ra khỏi ngôi nhà nằm trên phố Hoàng tử An-bơ-rếch và bước chậm rãi dọc phố về phía sông Sơ-pơ-re, vỉa hè được quét dọn, sạch sẽ, mặc dù đêm qua gạch vữa còn ngổn ngang. Dạo này, mỗi đêm thành phố bị ném bom hai lần, có hôm tới ba lần.

“Suýt nữa thì mình đi đời, - Sơ-tiếc-lít nghĩ thầm. - Khi Sê-len-béc giao cho mình lo vụ giám mục Sơ-lắc, hắn quan tâm đến cựu thủ tướng Bơ-ruy-ninh, hiện đang sống lưu vong tại Thụy Sĩ. Và chỉ có vậy. Hắn quan tâm đến những mối liên hệ quen biết mà vị giám mục có thể có; bởi vậy, Sê-len-béc mới dễ dàng thả ông già ra, khi mình nói rằng ông già sẽ cộng tác với chúng ta. Hắn nhìn xa trông rộng hơn mình. Hẳn tính toán rằng vị giám mục sẽ trở thành nhân vật đỡ đòn trong trò chơi nghiêm túc quan trọng của chúng. Nực cười chưa, làm sao vị giám mục có thể tham gia chiến dịch của Các-lơ Vôn-phơ? Đó là chiến địch gì? Nó có lợi cho ai? Tại sao Sê-len-béc lại mở ra-đi-ô rồi mới nói đến chuyến đi của Vôn-phơ sang Thụy Sĩ? Nếu hắn sợ nói to chuyện ấy, thì điều đó có nghĩa là chúng đã nghĩ ra một trò chơi ghê gớm, và thượng tướng Các-lơ Vôn-phơ có đủ mọi thầm quyền: y có chức tước hẳn hoi trong tổ chức SS, như Ríp-ben-tơ-rốp hoặc Phê-ga-lai. Sê-len-béc không thể không nói với mình về Vôn-phơ - hắn không nói thì mình sẽ phải tự hỏi hắn, làm sao có thể chuẩn bị một chiến dịch khi không biết các con bài của mình? Chẳng lẽ phương Tây lại muốn ngồi đàm phán với Him-le? Nhìn chung thì Him-le đại diện cho một thế lực, họ biết điều đó, vì đàm phán với những kẻ không có thế lực thì chẳng có ý nghĩa gì. Sẽ vô nghĩa và khó hiểu, nếu chúng ngồi chung một bàn... Thôi được... Vị giám mục sẽ là miếng mồi, là tấm bình phong, là con thỏ đem ra thí nghiệm. Bọn chúng đã sắp xếp mọi việc như vậy. Nhưng chắc chắn chúng không tính đến chuyện Sơ-lắc có những mối liên hệ quen biết rộng lớn ở đó. Nghĩa là mình phải hướng dẫn ông già sử dụng ảnh hưởng của ông già chống lại những kẻ cử ông già - bằng chính tay mình - sang bên đó. Mình định sử dụng ông già làm mối dây liên lạc dự bị, nhưng rõ ràng là ông già sẽ phải đóng một vai trò quan trọng hơn thế. Người phải thu xếp các cuộc tiếp xúc ở Thụy Sĩ sẽ không phải là Sơ-lắc. Nếu mình trang bị cho ông già câu chuyện huyền thoại của mình, chứ không phải lời lẽ của Sê-len-béc thì cả người của Va-ti-căng, lẫn người của phe Anh - Mỹ, sẽ đến gặp ông già. Rõ rồi. Mình phải chuẩn bị cho ông già một câu chuyện huyền thoại có khả năng lôi cuốn sự chú ý đặc biệt của mọi người đối với ông già, gây một sự phản chú ý đối với tất cả những người Đức khác đã đến hoặc sắp đến Thụy Sĩ. Thử xem ai sẽ cứng tay hơn ai. Trong bất kỳ trường hợp nào thì điều quan trọng đối với mình bây giờ là, thứ nhất, phải chuẩn bị cho ông già câu chuyện huyền thoại và, thứ hai, biêt tên những kẻ mà ông già sẽ đại diện ở đây như đại diện cho thế lực chống đối Hít-le và Him-le”.

Sơ-tiếc-lít bước vào quán rượu “Vai-nơ-tuýp-be” và ngồi nhấm nháp ly cô-nhắc thật lâu. Ở đây rất yên tĩnh, không ai làm cho anh mất tập trung suy nghĩa, Mà suy nghĩ của anh lúc này đang rất căng thẳng và chính xác - bao giờ vấp phải một vấn đề mà anh chưa biết lý giải hoặc chưa hiểu rõ ràng, anh cũng làm như vậy.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Sáu, 2020, 10:59:52 am
Chưa ai biết gì về con người ấy. Y ít khi xuất hiện trên các phim thời sự và lại càng ít khi có mặt bên cạnh Quốc trưởng trên các bức ảnh. Người tầm thước, đầu nghiêng nghiêng với một chiếc sẹo trên má, hệt như một sinh viên hội Buốc 1 , y cố giấu mặt sau lưng mọi người mỗi khi các phóng viên nhiếp ảnh bấm máy chụp hình.

Người ta đồn rằng, năm 1934, y đã ngồi tù mười bốn tháng vì một án mạng có tính chất chính trị. Sau đó, không rõ y được ân xá, hay y vượt ngục rút vào hoạt động bí mật. Không ai hay biết gì về y, mãi cho đến khi Ghết-xơ bay sang Anh. Him-le được lệnh của Quốc trưởng khôi phục trật tự trong “cái nhà thổ nhơ nhuốc ấy”. Đó là nhận định của Quốc trưởng về văn phòng của đảng Quốc xã dưới sự chỉ huy của Ghết-xơ, nhân vật duy nhất trong đảng dám xưng hô suồng sã “cậu tớ” với Quốc trưởng. Trong một đêm, tay chân của Him-le đã tiến hành hơn bảy trăm vụ bắt bớ. Một số người sau đó được thả ra, số còn lại bị tống vào giam giữ lâu dài trong các trại tập trung. Những cộng sự thân cận nhất của Ghết-xơ đều bị bắt, trừ người phó Chủ nhiệm Văn phòng đảng Quốc xã của Ghết-xơ là Mác-tin Boóc-man. Chẳng những thế, Boóc-man còn là người chỉ đạo bàn tay của Him-le ở mức độ nhất định: y cứu những người y cần dùng khỏi bị bắt; ngược lại những kẻ y không cần thì bị tống vào trại tập trung.

Trở thành kẻ kế tục Ghết-xơ, y vẫn không hề thay đổi: cũng như trước đó, y vẫn lầm lầm lì, trong túi lúc nào cũng có một quyển sổ tay nho nhỏ ghi lại tất cả những lời nói của Hít-le. Cũng như trước đó, y vẫn sống thanh đạm và kín đáo trước con mắt mọi người. Y vẫn tỏ ra đặc biệt cung kính đối với Gơ-rinh, Him-le và Gơ-ben, nhưng dần dần, trong khoảng thời gian một, vài năm, y đã có thể trở thành một nhân vật cần thiết cho Hít-le tới mức, có lần Quốc trưởng đã gọi đùa y là cái bóng của mình. Y biết cách tổ chức công việc khéo đến mức, nếu Hít-le cần biết rõ một điều gì đó trước khi ngồi vào bàn ăn, thì chỉ đến cuối bữa là Boóc-man đã chuẩn bị xong câu trả lời. Và tất cả những việc đó diễn ra một cách lặng lẽ, tự nhiên, không cần bất cứ hiệu quả bên ngoài nào. Có lần ở Béc-tê-xơ-ga-đen, người ta tổ chức một cuộc mít-tinh bất ngờ nhưng không kém phần long trọng để hoan hô Quốc trưởng, Boóc-man nhận thấy Hít-le bị ánh nắng mặt trời chiếu vào mặt. Sáng hôm sau, ngay ở chỗ đứng hôm qua, Hít-le nhìn thấy một cây sồi: chỉ trong một đêm, Boóc-man đã tổ chức việc đánh một cây sồi khổng lồ tới trồng ở chỗ đó… Hít- le khiển trách Boóc-man về chuyện ấy, nhưng trong thâm tâm hắn lấy làm thích thú trước sự quan tâm mà tên trợ thủ dành cho hắn. Boóc-man chuẩn bị cho Hít-le mọi diễn từ. Tất cả các tài liệu cần đệ trình lên bàn Quốc trưởng đều được hắn duyệt qua. Có lần Gơ-ben gửi tặng Hít-le một quyển an-bom tâng bốc lòng dũng cảm của các phi công Quốc xã, Boóc-man đã trả quyển an-bom kèm theo dòng chữ: “Có đáng để cho Quốc trưởng phải bực dọc về một sự tuyên truyền dối trá rõ rệt như thế chăng ?”

Y biết rằng Hít-le không bao giờ chuẩn bị trước các bài diễn văn. Quốc trưởng bao giờ cũng dựa vào tài ứng khẩu, mà tài ứng khẩu của Quốc trưởng thì không đến nỗi tồi. Nhưng Boóc-man, nhất là trong những cuộc đón tiếp các nhà hoạt động quốc gia từ nước ngoài đến thăm, hoặc trong những ngày kỷ niệm cách mạng mồng chín tháng mười một, đều không quên phác ra cho Quốc trưởng hàng loạt những luận đề, mà theo quan điểm của y là cần phải chú ý nhiều nhất. Y làm cái việc thầm lặng, nhưng vô cùng quan trọng ấy, một cách hết sức tài tình, và Hít-le không lần nào nghĩ rằng các bài diễn văn chủ yếu của hẳn là do người khác viết sẵn cho hắn - hắn tiếp nhận việc làm của Boóc-man tuy như việc làm của một viên thư ký, nhưng rất cần thiết và kịp thời. Bởi thế, có lần Boóc-man bị ốm mà ngày hôm sau Hít- le đã cảm thấy mọi việc của hắn đều rối loạn cả lên, hắn phải cử bác sĩ riêng của mình đến nhà Boóc-man.

Boóc-man khéo léo tìm cách biết được - mà không làm mếch lòng người khác, - ai đến gặp Quốc trưởng về vấn đề gì, và y cũng biết cách khuyên nhủ ai nên làm những gì, xử sự ra sao trong lúc được tiếp kiến. Y tổ chức thế nào để ý kiến của các vị khách trùng hợp với quan điểm của Quốc trưởng.

Những người cho phép mình tranh luận với Quốc trưởng để bảo vệ quan điểm riêng của họ, một quan điểm trái với quan điểm chung, đều bị Boóc-man tìm cách gạt ra, không cho họ được gặp Hít-le.

Boóc-man ăn nói lắp bắp, nhưng y lại biết cách soạn thảo các thứ văn bản một cách tài tình, y thông minh nhưng lại biết cách che giấu sự thông minh của mình dưới cái vẻ ngoài nhân hậu, thẳng thắn và thô lỗ; y là một người toàn năng, nhưng lại biết cách xử như một kẻ bình thường phải “đi tham khảo ý kiến” của người khác trước khi đi tới một quyết định ít nhiều quan trọng.

Chính con người đó, chính Mác-tin Boóc-man, đã nhận được “tận tay”, qua đường dây bí mật từ cơ quan SĐ, một bức thư có nội dung như sau:

“Thưa ngài Boóc-man! Trong Ban thư ký của Ngài, có người của tổ chức SĐ gài vào - tôi chưa rõ tên tuổi của họ, nhưng nếu như được Ngài đích thân ra lệnh, tôi có thể xác định được họ là những ai. Tôi không tin rằng bức thư này đến được tay Ngài, nếu nó đến được, tôi sẽ trình bày với Ngài một vấn đề có tầm quan trọng quốc gia. Hiện nay, sau lưng Quốc trưởng có một số kẻ mà tôi biết là đang bắt đầu tiến hành trò đàm phán với các đại diện của lực lượng dân chủ phương Tây thối tha ở Thụy Điển và Thụy Sĩ. Việc đó diễn ra giữa cuộc chiến tranh tổng lực, việc đó diễn ra giữa những ngày tương lai của thế giới đang được quyết định trên các chiến trường. Tôi có thể thông báo với Ngài mọi chi tiết về các cuộc đàm phán bội phản đó. Tôi cần có sự bảo đảm, bởi vì nếu bức thư này rơi vào tay cơ quan SĐ, tôi sẽ lập tức bị thủ tiêu. Bởi vậy, tôi không dám ký tên. Tôi đề nghị Ngài, nếu Ngài thấy điều tôi thông báo với Ngài là quan trọng, thì ngày mai Ngài hãy đến khách sạn “Nôi-e Tô”, đối diện với Viện bảo tàng Tự nhiên học, vào hồi 13 giờ 00. Một đảng viên Quốc xã trung thành với Quốc trưởng”.

Boóc-man ngồi cầm lá thư ấy một hồi lâu. Mấy lần cánh tay y đã định cầm lấy ống nghe điện thoại... Y tính gọi điện cho Muyn- lơ, kẻ cầm đầu ghét-xta-pô. Y biết Muyn-lơ chịu ơn y ra sao và y chịu ơn Muyn-lơ như thế nào. Muyn-lơ, một tên mật thám lõi đời, đầu những năm ba mươi đã hai lần đập tan tổ chức của đảng Quốc xã ở Ba-va-ri-a. Sau đó, Muyn-lơ chuyển sang phục vụ cho đảng này, khi nó trở thành chính đảng quốc gia của nước Đức. Trước năm 1939 kẻ cầm đầu ghét-xta-pô vẫn còn ở ngoài đảng: các nhân viên cơ quan an ninh không thể tha thứ cho sự cúc cung tận tụy của Muyn-lơ trong thời kỳ tồn tại của nước cộng hòa Vây-ma. Boóc-man, chính Boóc-man, - và Muyn-lơ biết rõ điều đó - đã giúp đỡ Muyn-lơ vào đảng. Y đã bảo đảm với Quốc trưởng về Muyn-lơ. Nhưng Boóc-man không bao giờ để Muyn-lơ quá gần gũi mình. Trong thâm tâm, y không tin tất cả bọn người bên lực lượng SS cho lắm. Bọn chúng đều phục vụ Him-le bằng cách này hay cách khác. Từ trước đến giờ, y vẫn thăm dò Muyn-lơ và cân nhắc hai khả năng: nếu để hắn trở thành người thân cận, thì dùng hắn đến cùng, cho hắn biết những điều cơ mật nhất. Bằng không, thì chẳng nên nghĩ đến hắn làm gì cho uổng công.

“Cái này là gì? - Boóc-man xem lại bức thư hàng chục lần và thầm nghĩ, - Một thủ đoạn phá hoại chăng? Vị tất, tác giả bức thư là một kẻ mất trí chăng? Cũng không phải - chuyện này có vẻ thật lắm… Nhưng nếu hắn là người của ghét-xta-pô, và nếu như Muyn-lơ cũng tham gia trò chơi kia? Những con chuột bỏ chạy khỏi chiếc tàu bị đắm - mọi chuyện đều có thể xảy ra, ít nhất cái này cũng có thể là con bài nằm chờ thời cơ chống lại Him-le. Nếu vậy thì ta có thể bình thân, không thèm ngó ngàng đến tên đê tiện ấy, chuyển toàn bộ số tiền của đảng vào các nhà băng trung lập theo tên những người của mình, chứ không theo tên những người của hắn ta...”

Boóc-man ngồi nghĩ rất lâu về bức thư ấy, nhưng thế là y vẫn chưa đi đến một quyết định cụ thể nào cả.




------------------------------------------------------------------
1. Hội viên của Hiệp hội sinh viên Đức, một tổ chức nổi tiếng về những trò uống rượu và quyết đấu.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 22 Tháng Sáu, 2020, 11:04:17 am
Ai-xơ-man lại mở băng ghi âm. Y chậm rãi hút thuốc và lắng nghe giọng nói hơi khàn khàn của Sơ-tiếc-lít.

“- Tại sao ngài lại không áp dụng các hành động bạo lực để chống chúng tôi? Ngài hãy trả lời cho thật thành thực. Tôi xin hứa với ngài rằng câu chuyện giữa tôi với ngài sẽ không lọt ra ngoài căn phòng này.

- Rõ ràng đó là vì riêng tôi cố tránh sử dụng bạo lực. Tuy nhiên, cũng có lúc con người không thể chịu đựng thêm được nữa. Nếu ông đe dọa rằng ông sẽ thủ tiêu tôi, thì như thế là ông đẩy tôi tới chỗ đối phó lại đúng như vậy. Nhưng trong trường hợp này, dù có phải làm điều ác đó, tôi vẫn không muốn gọi nó là điều thiện. Sự khác nhau giữa tôi và ông là ở chỗ, khi làm điều ác, ông gọi nó là điều thiện, còn tôi, khi làm điều ác để trả đũa, tôi vẫn luôn luôn nhớ rằng tôi đang làm điều ác.

- Xin ngài cho biết, ngài có sợ thời gian hai tháng ngài bị giam giữ trong nhà tù của chúng tôi hay không?

- Tôi sợ tất cả mười một năm cầm quyền vừa qua của các ông.

- Mị dân. Ngài có sợ cái thời kỳ ngài ngồi trong xà-lim của nhà tù chúng tôi hay không?

- Tất nhiên là có.

- Tất nhiên. Ngài không muốn phải rơi vào đó một lần nữa, nếu giả thiết có một điều kỳ diệu xảy ra chứ? Nếu chúng tôi thả ngài ra thì sao?

- Không. Nói chung tôi không muốn dính dáng với các ông.

- Được lắm. Nhưng nếu như tôi trả lại tự do cho ngài và yêu cầu ngài giữ quan hệ tốt đẹp, thuần túy con người với tôi?

- Tất nhiên. Đối với tôi, những quan hệ tốt đẹp, thuần túy con người, giữa tôi với ông sẽ chẳng qua chỉ là một biểu hiện tự nhiên của mối quan hệ giữa tôi với mọi người. Đối với tôi, ông sẽ là một con người tới mức nào thì còn tùy ở chỗ ông đến với tôi như một con người, hay như một đảng viên quốc xã.

- Tôi sẽ đến với ngài như một người đã cứu sống ngài.

- Tất nhiên.

- Ngài sẽ nhớ công lao của tôi chứ?

- Đương nhiên.

- Dĩ nhiên, ngài sẽ không được quay về nhà thở. Ngài sẽ sống cách biệt với mọi người, Ngài có thể hứa với tôi là ngài sẽ không truyền đạo nữa, được không?

- Thế thì tôi sẽ làm gì?

- Ngài sẽ phải biết ơn tôi, nếu tôi có thể trả lại tự do cho ngài.

- Ông giúp đỡ tôi như giúp một cá nhân, xuất phát từ sở thích bên trong của ông, hay là vì ông có tính toán lợi hại gì đó đối với tôi?

- Tôi có tính toán lợi hại đối với ngài.

- Trong trường hợp đó, tôi phải tin chắc rằng mục đích mà ông theo đuổi là một mục đích tốt đẹp; nếu trái lại, tôi khó có thể trả lời ông một cách tích cực được.

- Ngài hãy coi các mục đích của tôi là hết sức thành thật.

- Ông sẽ đề nghị tôi làm gì?

- Tôi có nhiều bạn bè trong bộ máy nhà nước của chúng ta. Họ là các nhà khoa học, các nhà hoạt động của đảng Quốc xã, các nhà quân sự, nhà báo - tóm lại là những người có thế lực. Tôi sẽ rất thú vị nếu như ngài nói chuyện với những con người đó, dĩ nhiên nếu tôi có thể thuyết phục được cấp trên trả lại tự do cho ngài. Tôi sẽ không yêu cầu ngài báo cáo với tôi về những buổi nói chuyện đó. Thực tình, tôi không dám bảo đảm là người ta sẽ không đặt máy ghi âm nghe trộm ở phòng bên cạnh, nhưng ngài có thể vào rừng nói chuyện với họ. Sau đó, tôi chỉ muốn ngài cho tôi biết ý kiến của ngài về mức độ độc ác hay mức độ nhân đức mà ngài có thể nhận thấy, dưới con mắt của ngài, trong những con người ấy. Ngài có thể giúp tôi trên tình bạn bè như thế được hay không?

- Được… Tất nhiên là được... Nhưng tôi nảy ra hàng loạt câu hỏi về việc tại sao tôi lại nghe thấy một đề nghị như vậy?

- Thì ngài cứ việc hỏi.

- Hoặc là ông quá tin cậy tôi và yêu cầu tôi ủng hộ một việc mà ông không thể tìm được sự ủng hộ ở bất cứ ai khác, hoặc là ông đóng vai kẻ hại ngầm tôi. Nếu ông muốn hại ngầm tôi, thì cuộc nói chuyện giữa tôi với ông sẽ là một cái vòng luẩn quẩn.

- Nghĩa là thế nào?

- Nghĩa là chúng ta sẽ lại không tìm được tiếng nói chung. Ông vẫn cứ là một đảng viên Quốc xã, còn tôi là người chọn cho mình một con đường vừa sức để khỏi trở thành một kẻ như ông.

- Cái gì có thể khiến ngài tin chắc rằng tôi không định hại ngầm ngài?

- Chỉ cần ông nhìn thẳng vào mắt tôi.

- Tôi với ngài hãy coi rằng chúng ta đã trao đổi thư ủy nhiệm với nhau”.



- Hãy cho tôi tài liệu nói về tư cách của giám mục Sơ-lắc trong thời gian ở tù, - Ai-xơ-man đề nghị, khi nghe xong băng ghi âm. - Hãy cho biết mọi điều về phong thái, về những cuộc tiếp xúc, trao đổi giữa ông ta với các tù nhân khác, về ham thích của ông ta... Tóm lại là những chi tiết tối đa.

... Câu trả lời mà y nhận được một tiếng đồng hồ sau, thật là hết sức bất ngờ. Thì ra, vào tháng giêng năm 1945 giám mục Sơ-lắc đã được trả lại tự do. Qua hồ sơ, không thể hiểu ông ta có đồng ý làm việc cho cơ quan SĐ không, hay việc thả ông ta ra là hậu quả của những nguyên nhân khó hiểu nào khác. Sê-len-béc chỉ ra lệnh bằng miệng là hãy phóng thích Sơ-lắc dưới sự giám sát của Sơ-tiếc-lít. Và tất cả chỉ có thế, Ai-xơ-man đứng dậy, bắt đầu đi lại trong phòng và y cảm thấy lo ngại, một cảm giác lạ lùng xâm chiếm lòng y: cảm giác về sự bất lực và tầm thường của mình.

Nửa giờ sau, y lại nhận được một tài liệu cuối cùng sau khi Sơ-lắc được phóng thích, có một điệp viên ở Vụ VI đặc trách theo dõi ông ta.

- Báo cáo của điệp viên ấy đâu? - Ai-xơ-man hỏi.

- Anh ta liên lạc trực tiếp với đại tá Sơ-tiếc-lít.

- Thế nào, không có băng ghi âm hay sao?

- Không có, - từ phòng hồ sơ trả lời cho y biết, - vì lợi ích của chiến dịch, được lệnh không ghi âm các cuộc trao đổi giữa anh ta với viên giám mục...

- Hãy tìm cho tôi điệp viên đó, - Ai-xơ-man đề nghị, - Nhưng phải tiến hành thế nào để chỉ có ba người: anh, tôi và điệp viên ấy được biết...



Can-ten-bơ-ruy-ne gọi điện cho Muyn-lơ đề nghị gửi bản mật lệnh của Quốc trưởng đến Pra-ha cho tướng ghét-xta-pô Cờ-ruy-ghe.

- Kẻo không ông ta lại để cho Pra-ha nguyên lành như trường hợp Cờ-ra-cốp. Và chính ông cũng nên đọc bản mật lệnh ấy, vì đó là một mẫu mực về lòng dũng cảm và thiên tài của đức Quốc trưởng.


“Đức Quốc trưởng ra lệnh như sau:

Nội dung: về việc hủy diệt các khu vực thuộc lãnh thổ nước Đức,

Cuộc chiến tranh để bảo vệ sự tồn tại của dân tộc ta buộc chúng ta phải sử dụng - ngay trên lãnh thổ nước Đức - tất cả những phương tiện có thể làm yếu khả năng chiến đấu của đối phương và cầm chân chúng lại. Cần phải sử dụng mọi khả năng để trực tiếp hoặc gián tiếp gây thiệt hại tối đa cho sức mạnh chiến đấu của đối phương. Thật sai lầm, nếu cho rằng, sau khi lấy lại những lãnh thổ đã bị mất, sẽ có thể sử dụng các đường giao thông, các phương tiện liên lạc, các xí nghiệp công nghiệp và các công trình phục vụ công cộng mà chúng ta chưa phá hủy trước khi rút lui, hoặc đã loại ra khỏi phạm vi sử dụng trong một thời gian ngắn. Khi rút đi, đối phương sẽ chỉ để lại cho chúng ta những vùng đất đai đã bị đốt phá trơ trụi mà không thèm đếm xỉa đến cảnh đói khổ của nhân dân địa phương.

Bởi vậy, nay ra lệnh:

1. Tất cả các công trình nằm trên lãnh thổ Đức, như đường giao thông, phương tiện liên lạc, xí nghiệp công nghiệp, công trình phục vụ công cộng, cũng như các nguồn dự trữ vật chất mà đối phương có thể sử dụng nhiều hay ít, đều phải được hủy diệt ngay lập tức hoặc trong một thời gian không đáng kể.

2. Những người chịu trách nhiệm về việc hủy diệt đó là: các cấp chỉ huy quân đội - đối với mọi công trình quân sự (kể cả các đường giao thông và các phương tiện liên lạc), các gau-lây-te và các ủy viên Quốc phòng - đối với mọi xí nghiệp công nghiệp, công trình phục vụ công cộng, cũng như mọi nguồn dự trữ vật chất. Quân đội cần phải giúp đỡ các gau-lây-te và các Ủy viên quốc phòng trong việc thi hành các nhiệm vụ trước mắt đó.

3. Lệnh này phải được thông báo tức khắc cho mọi cấp chỉ huy. Tất cả các mệnh lệnh trái với lệnh này đều không còn hiệu lực.

HÍT-LE”.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Sáu, 2020, 10:14:37 am
Chương 8

Trên đường tới chỗ gặp Boóc-man - Sơ-tiếc-lít rất hy vọng rằng anh sẽ gặp y, bởi vì miếng mồi mắc vào lưỡi câu hết sức ngon lành - anh cho xe chạy chậm, vòng vèo qua các phố để kiểm tra cẩn thận, xem có cái đuôi nào bám theo anh hay không. Việc kiểm tra này được anh tiến hành một cách máy móc, bởi vì anh không thấy có điều gì đáng lo ngại trong những ngày vừa qua, và anh cũng không lần nào bị giật mình tỉnh giấc giữa lúc nửa đêm như mỗi lần trước kia, khi toàn bộ cơ thể anh, từ sợi tóc đến đầu ngón chân, đều có cảm giác lo sợ. Những lúc ấy, anh không bật đèn, chỉ mở mắt nằm im một hồi lâu, và phân tích kỹ lưỡng từng giờ phút, từng lời nói của anh trong lúc trao đổi với hết thảy mọi người, bất kỳ người ấy là ai, dù đó là cô bán sữa hay một hành khách tình cờ trên tàu điện ngầm. Lỡ người ấy đang bị theo dõi mà anh không biết, đem giơ đầu ra hứng đòn thì phiền. Nhân tiện nói thêm rằng chính vì lẽ đó mà anh thích đi xe ô tô hơn để tránh những sự tiếp xúc ngẫu nhiên, không cần thiết. Nhưng anh cho rằng, nói chung, tách biệt mình khỏi thế giới cũng là một điều ngu ngốc. Thiếu gì nhiệm vụ có thể được giao cho anh. Khi đó, một sự thay đổi hành vi đột ngột nhất định sẽ làm cho những kẻ theo dõi anh cảnh giác. Ở nước Đức quốc xã này, ai mà chẳng bị theo dõi. Đối với Sơ-tiếc-lít, điều đó đâu phải là bí mật.

Anh cho phép mình thường xuyên có mặt ở các viện bảo tàng. Một là, ở đấy thường vắng người, các gian phòng cao rộng và dễ lan truyền tiếng ồn. Bởi vậy, đứng ở phòng này có thể nghe rõ tiếng bước chân mà biết có kẻ nào bám đuôi mình hay không. Hai là, ở viện bảo tàng có nhiều nhân viên là người báo tin của Sở ghét-xta-pô khu phố, và nếu anh đến thăm viện bảo tàng - mà anh thường đến đó trong bộ sắc phục đại tá SS - thì các nhân viên kia có thể xác nhận anh đã đứng bên cạnh ai, vào thời gian nào và trong bao nhiêu lâu. Anh mặc sắc phục vì hiểu rằng bọn sĩ quan SS ít đi tham quan viện bảo tàng, cho nên bọn nhân viên làm điệp ngầm ở đây không thể không nhớ bộ sắc phục đại tá lộng lẫy của anh.

Anh suy tính, cân nhắc mọi chi tiết nhỏ nhặt: những người làm cái nghề của anh thường sa lưới trong những sự việc hết sức vặt vãnh. Chính việc cân nhắc cẩn thận mọi chi tiết thường giúp người ta tránh khỏi thất bại. Bởi vì trong giới tình báo không có những điều nhỏ nhặt, chỉ có những người biết chú ý cẩn thận và những người vụng về lơ đãng mà thôi.

... Sơ-tiếc-lít bất giác ngó vào chiếc gương nhìn sau và ngạc nhiên huýt sáo: chiếc xe “Van-đê-rê” bám đuôi anh ớ phố Cuốc- phua vẫn tiếp tục theo sát xe anh. Sơ-tiếc-lít đạp mạnh đột ngột vào bàn đạp tăng tốc, chiếc “Khô-rếch” vọt lên. Anh phóng đến quảng trường A-lếch-xăng-đe, sau đó quặt sang phố Béc-gơ, qua nghĩa trang thì rẽ vào phố Vê-tê-ran. Anh ngoảnh lại và hiểu rằng cái đuôi - nếu đó là cái đuôi - đã bị tụt hậu, Sơ-tiếc-lít cho xe chạy vòng kiểm tra một lần nữa, rồi anh dừng xe cạnh quán rượu “Gốt-líp thô lỗ” mà anh ưa thích, vì thấy vẫn còn sớm.

“Nếu chúng nó lại bám đuôi mình, - anh nghĩ, - thì như thế là đã có chuyện gì đó xảy ra. Nhưng điều gì có thể xảy ra nhỉ! Hãy cứ ngồi làm một cốc cô-nhắc để suy nghĩ xem chuyện gì có thể xảy ra nào…”

Anh rất thích cái quán rượu cổ lỗ sĩ này. Nó mang tên “Gốt-líp thô lỗ”, bởi vì mỗi khi đón khách - bất kể đó là ai, cấp bậc gì, có địa vị nào trong xã hội - chủ quán đều nói:

- À, ông lợn đực mò đến đấy hả? Mang theo cả bà xã xệ à... không sao... Một thùng bia, một súc thịt bò già, một cái vú của con hươu cao cổ có bệnh!

Dần dần Sơ-tiếc-lít nhận thấy rằng, đối với những khách hàng đáng kính nhất, Gốt-líp thường dùng những câu thô tục có lựa chọn riêng: rõ ràng điều đó cũng thể hiện thái độ tôn trọng - một sự tôn trọng trái ngược.

Gốt-líp lơ đãng đón Sơ-tiếc-lít.

- Hay lắm, chào lão ngốc! Vào bàn ngồi mà hốc đi!

Sơ-tiếc-lít bắt tay ông ta, giúi vào tay ông ta hai mác và ngồi xuống chiếc bàn nhỏ làm bằng gỗ sồi ở sát cửa, lấp sau chiếc cột, trên đó có viết những lời chửi rủa hết sức tục tĩu, thô bỉ của đám dân chài vùng Mếch-len-bua. Cái đó khiến cho các mụ vợ già của bọn tư bản công nghiệp đặc biệt thích thú.

“Chuyện gì có thể xảy ra? - Sơ-tiếc-lít vừa tiếp tục suy nghĩ, vừa nhấp từng ngụm cô-nhắc. - Mình có chở người liên lạc đến đâu - thất bại không thể đến từ phía này. Những việc cũ ư? Bọn chúng làm gì có thời gian đối phó với những việc mới. Việc phá hoại ngầm đang lan tràn ghê gớm, chưa từng thấy ở nước Đức. Ê-rơ-vin... Đúng vậy. Điều gì sẽ xảy ra, nếu chúng tìm thấy được điện đài nhỉ?”

Sơ-tiếc-lít rút thuốc lá ra, nhưng chính vì anh rất muốn rít một hơi thật say mà anh chưa vội châm lửa ngay.

Lúc này, anh muốn phóng xe đến ngay ngôi nhà đổ của Ê-rơ-vin và Kết.

“Mình đã phạm sai lầm chủ yếu, - anh chợt hiểu. - Lẽ ra, mình phải đích thân thăm dò tất cả các bệnh viện - lỡ hai người bị thương thì sao? Mình đã tin vào các máy điện thoại một cách vô ích... Mình phải lo việc này mới được - ngay sau khi nói chuyện với Boóc-man, mình sẽ làm việc đó... Hắn phải đến gặp mình - khi chúng bị dồn ép, chúng hay tỏ ra ta đây dân chủ lắm. Khi công việc của chúng trôi chảy, không đời nào chúng chịu hạ mình đi gặp bất cứ ai, nhưng nếu chúng cảm thấy sắp đến ngày tận số, chúng sẽ trở nên hèn nhát, hiền lành và ra vẻ dân chủ. Bây giờ mình phải gác tất cả mọi chuyện lại kể cả Ê-rơ-vin và Kết. Trước hết, mình phải thỏa thuận với tên đao phủ Boóc-man này đã. Mà cũng có thể là mình tưởng lầm chiếc xe “Van-đê-rê” bám đuôi mình chăng?”    Anh bước ra, ngồi vào xe và cho nó chạy từ từ đến viện bảo tàng Tự nhiên học ở phố In-va-lít. Một giờ đồng hồ nữa, Boóc- man sẽ phải đợi anh ở đó, cạnh ô-ten “Nôi-e Tô”. Hãy còn thời gian để chặt đứt những chiếc đuôi bám theo mình, nếu có.

Anh cho xe chạy rất chậm, thỉnh thoảng lại ngó vào gương: không thấy bóng chiếc xe “Van-đê-rê” màu đen ở phía sau.

“Có lẽ, đó là Sê-len-béc muốn thăm dò mình trước khi tiến hành chiến dịch sử dụng Sơ-lắc chăng? - anh nghĩ. - Cách giải thích ấy cũng có lý đấy chứ. Mà cũng có thể là thần kinh mình quá căng thẳng”.

Anh lại ngó vào gương - không, dưới lòng đường vẫn vắng tanh. Chỉ có bọn trẻ con lợi dụng lúc yên tĩnh đang vui vẻ cười đùa, đuổi bắt nhau trên vỉa hè. Mấy đoàn người đứng nép mình vào các bức tường sần sùi: chắc họ đang xếp hàng chờ đến lượt mua thịt.

Sơ-tiếc-lít quẳng xe cạnh bệnh viện “Sa-ri-tê” và đi qua khu vườn hoa rộng lớn của bệnh viện để tới viện bảo tàng nằm trên phố In-va-lít. Ở đây rất vắng vẻ và yên tĩnh, không một bóng người trên đường phố. Anh lựa chọn đúng chỗ này, vì ở đây có thế thấy rõ tất cả mọi phía như trên lòng bàn tay.

“Kể ra, chúng có thể bố trí tay chân ngồi trong ô-ten “Nôi-ê Tô”. Nếu Boóc-man báo cho Him-le biết, thì sự việc sẽ dẫn đến chỗ như vậy. Nếu không, người của Boóc-man sẽ láng cháng ở đây, cạnh cửa ra vào, ở phía đối diện, đóng vai các nhà khoa học làm việc trong viện bảo tàng, chứ không thể khác được...”

Hôm nay Sơ-tiếc-lít bận thường phục lại đeo một chiếc kính gọng sừng to tướng và kéo chiếc mũ bê-rê sụp xuống tận giữa trán, khiến cho người ta khó lòng nhận ra anh từ xa. Bên lối vào và ở tiền sảnh của viện bảo tàng có một tảng ma-la-chít khổng lồ đem từ U-ran về và một tảng thạch anh tím của Bra-xin. Sơ- tiếc-lít bao giờ cũng dừng chân bên cạnh tảng thạch anh Bra- xin, nhưng lại ngắm màu xanh biêng biếc của tảng ma-la-chít U-ran.

Sau đó, anh chậm rãi đi qua một phòng lớn mà cửa kính đã vỡ nát: ở đó có hình mẫu một con khủng long. Từ đây có thể quan sát rõ khu vực phía trước viện bảo tàng và ô-ten. Không, tất cả đều yên tĩnh và lặng lẽ. Chỉ có một mình Sơ-tiếc-lít ở trong viện bảo tàng - lúc này điều đó không có lợi cho anh.

Anh dừng chân cạnh một vật trưng bày thú vị. Mười ba giai đoạn phát triển của xương sọ. Xương sọ số tám là khỉ pa-vi-an, số chín - vượn Hy-bôn, số mười - đười ươi, số mười một - vượn Gô-ri-la, số mười hai: con tinh tinh, số mười ba - con người.

“Tại sao số thứ mười ba lại là con người? Tất cả đều chống lại con người, kể cả các chữ số, - anh cười thầm. - Sao không là số thứ mười hai hay số thứ mười bốn? Đằng này lại choảng ngay cho cái số mười ba. Xung quanh toàn là khỉ, - anh nhìn mẫu nhồi con vượn Bô-bi và tiếp tục nghĩ. - Tại sao lũ khỉ lại được quan tâm đến thế nhỉ?”

Trên bảng gỗ có đề “Vượn Bô-bi này được mang về Béc Lanh ngày 39 tháng 3 năm 1928 lúc mới ba tuổi. Chết ngày 1 tháng 8 năm 1935. Cao 1 m 73 can-ti-mét, nặng 366 ki-lô-gam”.

Sơ-tiếc-lít nhìn cái mẫu nhồi này không biết đã đến lần thứ bao nhiêu. Anh nghĩ: “Con vượn này cũng chưa to béo lắm. Mình cao hơn nó nhưng chỉ nặng có 72 ki-lô-gam”.

Anh lùi xa hơn như để nhìn nó từ xa, thế là anh đã đến bên chiếc cửa sổ lớn, từ đó có thể nhìn rõ hè phố bên kia. Anh liếc đồng hồ. Từ giờ đến lúc gặp mặt vẫn còn hai mươi phút nữa.

Điệp viên Cờ-lao-xơ phải đến đây gặp anh ngay bây giờ. Sáng nay, anh đã gửi qua văn phòng theo địa chỉ của hắn một bức thư mật mã. Tất cả đều biết anh thường gặp gỡ bọn điệp viên ở các viện bảo tàng. Đó sẽ là lý do biện bạch, nếu có kẻ nào để ý đến sự có mặt của anh ở đây. Bằng cách gọi Cờ-lao-xơ tới đây, anh nhằm hai mục đích: chủ yếu là cái cớ vô tội, nếu Boóc- man báo cho Him-le biết về lá thư, mà tên kia chắc chắn là sẽ ra lệnh giám sát chặt chẽ toàn bộ khu vực và tất cả các ngồi nhà quanh đây, thứ đến là xác định thêm một lần nữa, dù gián tiếp, cái cớ vô tội của mình trong việc Cờ-lao-xơ mất tích.

Sơ-tiếc-lít đi sang gian bên. Trên phố In-va-lít vẫn trống trải như cũ. Đến đây, anh dừng lại bên cạnh một vật trưng bày hiếm có, tìm được từ thế kỷ mười tám ở khu rừng Vê-đen-sơ-lốt. Từ một mẩu gỗ lủng lẳng, thò ra hai chiếc gạc hươu và một phần xương sọ bị bóp méo: chắc là khi mùa xuân đến, trong lúc đánh nhau để giành giật con hươu cái, con vật to lớn này đã lao quá mạnh, nhưng miếng đòn ác hiểm không giáng vào đối thủ, mà lại đâm thẳng vào thân cây...

Sơ-tiếc-lít nghe thấy nhiều giọng nói và tiếng chân bước - rất nhiều tiếng chân bước. Lúc đầu anh nghĩ rất nhanh: “Bị vây rồi”. Nhưng sau đó, thấy vang lên giọng nói trẻ em, anh liền quay lại: một cô giáo đi đôi giầy đàn ông đánh xi bóng lộn dẫn một đám học trò, có lẽ lớp sáu, đến đây học bài thực vật. Các em say sưa ngắm nghía các vật trưng bày và không ồn ào nữa, mà chỉ thầm thì trao đổi với nhau ra vẻ lo lắng.

Sơ-tiếc-lít nhìn các em học sinh. Mặt các em màu tro, mũi nhọn, cặp mắt mất vẻ ngây thơ, tinh nghịch rất đẹp của trẻ con. Các em lắng nghe cô giáo nói như những người lớn.

“Bọn phát xít đáng nguyền rủa dày xéo lên dân tộc Đức, - Sơ-tiếc-lít nghĩ. - Làm sao mà những tư tưởng u mê lại có thể dẫn trẻ em đến chỗ đói khát và già nua đáng sợ đến thế này? Tại sao ý thức hệ ngu ngốc của bọn quốc xã, bọn người náu mình trong các hầm ngầm bọc sắt, nơi có hàng kho sô-cô-la, cá hộp và pho-mát, lại đẩy những tấm thân mảnh khảnh của các em nhỏ này ra làm bia che đỡ? Và - điều đáng sợ nhất - kẻ nào đã giáo đục cho những đứa bé này một niềm tin mù quáng, rằng ý nghĩa cao cả nhất của cuộc sống là hy sinh cho lý tưởng của Quốc trưởng ?”

Anh bước ra khỏi Viện bảo tàng, qua cửa phụ, vào lúc một giờ năm phút. Cạnh ô-ten không có một ai. Sơ-tiếc-lít, quay lui về đường bờ sông Sơ-pơ-re, vòng lại chỗ để xe và lái xe về cơ quan SĐ của mình. Trên đường trở về, anh cũng không nhìn thấy có kẻ nào bám đuôi anh.

“Câu chuyện này không như mình nghĩ, - anh tự nhủ. - Lạ thật! Nếu Boóc-man đợi chờ thì mình không thể không nhìn thấy hắn. Và dĩ nhiên cũng chẳng có cái đuôi nào, chẳng qua mình bị thần hồn nát thần tính đó thôi”.


Tiêu đề: Re: Mười bảy khoảnh khắc mùa xuân
Gửi bởi: hoi_ls trong 26 Tháng Sáu, 2020, 10:20:32 am
... Trong khi đó, Boóc-man không thể bước ra khỏi hầm bọc sắt của Quốc trưởng: Hít-le đang đọc diễn văn: trong hầm rất đông người, mà y thì lại đứng ở phía sau, hơi nghiêng về phía bên trái Quốc trưởng. Y không thể bỏ đi giữa lúc Hít-le đang nói. Như thế là điên rồ. Y muốn bỏ về, y đã quyết định đi gặp người viết thư cho y. Nhưng mãi đến ba giờ chiều y mới được ra khói hầm bọc sắt.

“Làm thế nào tìm được người ấy bây giờ? - Boóc-man nghĩ bụng, trên đường trở về văn phòng đảng Quốc xã, - Mình không có gì liều lĩnh nếu đi gặp hắn, nhưng mình đã liều lĩnh khi bỏ lỡ cuộc gặp gỡ này”.

“D-8 gửi ngài Muyn-lơ.
“Tuyệt mật. Chỉ có một bản.

Chiêc ô tô nhãn hiệu “Khô-rếch”, số xe BKP 821 bứt khỏi việc theo dõi ở khu vực phố Vê-tê-ran. Mọi dấu hiệu đều chứng tỏ người lái xe đã nhận ra chiếc xe theo dõi… Theo lời dặn của ngài, chúng tôi không bám theo chiếc “Khô-rếch” nữa, mặc dù động cơ được tăng cường của chiếc xe chúng tôi cho phép chúng tôi làm như vậy. Sau khi thông báo cho Cục H-2 về hướng đi của chiếc “Khô-rếch” BKP 821, chúng tôi trở về căn cứ xuất phát. D-8.


“B-192 gửi ngài Muyn-lơ.
Tuyệt mật. Chỉ có một bản.

Tiếp nhận lệnh theo dõi chiếc xe nhãn hiệu “Khô-rếch”, số xe BKP 821, các nhân viên của tôi đã xác định được rằng, vào hồi 13 giờ 21 phút, chủ chiếc xe đó đã bước vào Viện bảo tàng Tự nhiên học. Vì được ngài dặn trước về trình độ nghề nghiệp thành thạo của đối tượng được theo dõi, tôi đã quyết định không đưa một, hai khách tham quan vào Viện bảo tàng để bám đuôi hắn. Điệp viên In-de của tôi được lệnh dẫn một tốp học trò lớp sáu vào học bài sinh vật trong Viện bảo tàng. Kết quả quan sát của In-de cho phép xác định chắc chằn rằng đối tượng kia không tiếp xúc với bất cứ ngườ lạ mặt nào. Tôi xin gửi kèm theo đây bản biều đồ những vật trưng bày mà đối tượng dừng lại xem lâu hơn những vật khác. Đối tượng rời Viện bảo tàng qua cửa phụ dành riêng cho các nhân viên Viện bảo tàng vào hồi 13 giờ 04 phút.

B-192.”



Muyn-lơ giấu báo cáo vào trong cặp rồi nhấc ống nghe lên.

- Muyn-lơ, - y trả lời. - Tôi nghe đây.

- Đồng chí Sê-len-béc xin gửi lời chào đồng chí Muyn-lơ, - Cục trưởng Cục tình báo chính trị nói đùa. - Hay là ông bạn thích tôi gọi ông bạn là “mi-xtơ” hơn?

- Tôi thích người ta gọi tôi là “Muyn-lơ” hơn cả, - kẻ cầm đầu ghét-xta-pô đáp. - Nghe có vẻ kiên quyết, khiêm tốn và ý nhị... Tôi nghe anh bạn nói đây.

Sê-len-béc lấy bàn tay che ống nghe và nhìn Sơ-tiếc-lít. Anh nói:

- Vâng, cứ hỏi thẳng. Nếu không, ông ta sẽ chuồn đi như một con cáo...

- Ông bạn ơi, - Sê-len-béc nói, - Sơ-tiếc-lít có đến chỗ tôi, ông bạn có lẽ còn nhớ anh ấy chứ? Nhất định rồi. Anh ấy đang bối rối, không rõ bọn tội phạm nào theo sát anh ấy, mà anh ấy chỉ sống có một mình ở giữa rừng, hay là anh ấy bị người của ông bạn bám đuôi. Ông bạn có thể giúp chúng tôi xác định việc đó hay không?

- Anh ấy đi xe gì? - Muyn-lơ hỏi và lấy hai bản báo cáo từ trong cặp ra.

- Xe anh nhãn hiệu gì? - Sê-len-béc lại lấy tay che ống nghe, hỏi.

- “Khô-rếch”.

- Anh đừng có che ống nghe lại đi, - Muyn-lơ nói, - Hãy đưa ống nghe cho Sơ-tiếc-lít xem nào.

- Sao vậy, ông bạn nhìn thấy mọi chuyện ư? Mắt ông là mắt thần chắc? - Sê-len-béc hỏi.

- Đương nhiên.

Sơ-tiếc-lít cầm lấy ống nghe và nói:

- Hai-lơ Hít-le!

- Chào anh bạn, - Muyn-lơ đáp, - Có phải xe anh mang biển số BKP 821 không?

- Đúng thế, thưa ngài thượng tướng.

- Họ bám đuôi anh từ chỗ nào? Phố Cuốc-phua phải không?

- Không phải, phố Phơ-ri-đơ-rích ạ.

- Anh bít đuôi ở phố Vê-tê-ran chứ gì?

- Thưa đúng là như vậy.

- Anh nhìn thấy họ à?

- Dĩ nhiên.

Muyn-lơ cười phá lên:

- Tôi sẽ vặn cổ chúng nó đi, thế mà cũng đòi làm ăn. Đừng lo, Sơ-tiếc-lít ạ, không phải bọn tội phạm bám đuôi anh đâu. Anh cứ bình tĩnh mà sống trong khu rừng của anh. Đó là người của chúng tôi đấy. Họ theo dõi một chiếc xe “Khô-rếch” của… một gã người châu Nam Mỹ... giống chiếc xe của anh. Anh hãy tiếp tục sống như anh đã sống, nhưng nếu như, trái với sự mong đợi, người ta lại lẫn anh với gã người Nam Mỹ mà báo cáo với tôi rằng anh đến uống rượu ở quán “Xư-gôi-na-ken-le” trên phố Cu-đam, thì tôi sẽ không che chở cho anh nữa đâu…
“Xư-gôi-na-ken-le” (“Nhà hầm Di-gan”) là một quán rượu nhỏ, nơi có lệnh cấm các quân nhân và đảng viên quốc xã lui tới.

- Nhưng nếu như tôi có việc phải tới đó thì sao ạ? - Sơ- tiếc-lít hỏi.

- Cũng vậy thôi, - Muyn-lơ cười khẩy, - nếu anh muốn hẹn hò với người của anh tại các cống ngầm, thì tốt hơn cả là anh nên đến quán rượu “Mê-hi-cô”.

Đó là quán rượu “khôn ngoan” của Muyn-lơ, nơi hoạt động của tổ chức phản gián. Sơ-tiếc-lít được biết điều đó qua Sê-len-béc. Dĩ nhiên, Sê-len-béc không có quyền tiết lộ điều đó: đã có mật lệnh cấm các quân nhân và đảng viên quốc xã lui tới quán rượu này, bởi vậy, những tay bẻm mép cứ tưởng là ở đó hoàn toàn vô sự, không ngờ mỗi chiếc bàn đều có gắn máy nghe trộm của ghét-xta-pô.

- Vậy thì xin cảm ơn ngài, - Sơ-tiếc-lít đáp. - Nếu ngài cho phép, tôi sẽ ấn định cho người của tôi gặp tôi ở đúng quán rượu “Mê-hi-cô”. Nhưng nếu họ định tóm cổ tôi, tôi sẽ đến nhờ ngài giúp đỡ.

- Mời anh cứ đến. Tôi rất vui mừng đón tiếp anh, anh bạn ạ. Hai-lơ Hít-le!

Sơ-tiếc-lít trở về nhà với cảm giác lẫn lộn: nói chung, anh tin lời Muyn-lơ, bởi vì y chơi trò này không chút úp mở. Nhưng y có chơi quá công khai không nhỉ? Giữ sao cho đúng mức là vấn đề của mọi vấn đề trong bầt kỳ công việc gì. Đặc biệt trong công tác tình báo. Đôi khi, ngay một sự nghi ngờ quá mức lại khiến cho Sơ-tiếc-lít thấy ít nguy hiểm hơn là sự thành thực có thừa. Đề phòng bất trắc, tối nay anh sẽ dùng chiếc xe công đi làm một việc hệ trọng.

“Véc-ne gửi ngài Muyn-lơ.
Tuyệt mật. Chỉ có một bản.

Hôm may, hồi 19 giờ 42 phút, đồi tượng cho gọi chiếc xe công mang biển BKH 441 đến và đề nghị người lái xe đưa ông ta tới bến xe treo1  “Mít-li-pơ-lát”, Đến đó, ông ta xuống xe. Mọi cố gắng phát hiện ra đối tượng ở các bến xe khác đều không có kết quả.

Véc-ne”.


Muyn-lơ cất báo cáo ấy vào chiếc cặp nhàu rách, đựng những hồ sơ bí mật và quan trọng nhất của mình, rồi y lại tiếp tục nghiên cứu các tài liệu về Sơ-tiếc-lít. Y dùng bút chì đỏ đánh dấu doạn nói rằng, những lúc rỗi rãi, đối tượng thích đến xem các viện bảo tàng. Đoạn ấy cũng nói rằng thỉnh thoảng Sơ-tiếc- lít có ấn định cho các điệp viên của mình tới gặp mình ở đó.

“Một nhân vật đáng chú ý, thông minh và hết sức lý thú, - Muyn-lơ nhận xét về Sơ-tiếc-lít, - Mình không ngờ người của Can-ten-bơ-ru-ne lại thông thái đến như vậy. Anh ta làm việc đó dăm năm nữa sẽ thành một Phu-sê2  chính cống chứ không phải loại thường.”




-----------------------------------------------------------------
1. Loại bến xe nằm trên đường chạy ở phía trên mặt đất.

2. Giô-dép Phu-sê (1759 - 1820), Bộ trưởng cảnh sát Pháp trong các thời kỳ 1799 - 1802, 1804 - 1810, 1815. Kẻ xây dựng hệ thống mật vụ tình báo, chỉ điểm rộng lớn. Một kẻ hám danh vô nguyên tắc, phục vụ khi thì chế độ cộng hòa, khi thì Na-pô-lê-ông I, khi thì dòng Buốc-bông. Khi phục vụ chế độ này, Phu-sê bán rẻ chế độ kia.