Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Quyết tử cho Tổ quốc... => Tác giả chủ đề:: vo quoc tuan trong 23 Tháng Tám, 2007, 02:04:24 AM



Tiêu đề: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 23 Tháng Tám, 2007, 02:04:24 AM
TRẬN ĐÁNH TẠI CỨ ĐIỂM C1 VÀ C2 (ĐỢT 2, CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ)
CỦA TRUNG ĐOÀN 98 (-) ĐẠI ĐOÀN BỘ BINH 316
Từ ngày 31 tháng 1 đến 1 tháng 4 năm 1954


Sau thắng lợi của đợt tiến công thứ nhất, Bộ chỉ huy chiến dịch quyết đinh mở đợt tiến công thứ hai của chiến dịch Điện Biên Phủ với quyết tâm: tập trung ưu thế binh, hỏa lực tiêu diệt địch ở khu đông Mường Thanh, chiếm lĩnh dãy đồi phía đông, uy hiếp trung tâm, tạo điều kiện chuyền sang tổng công kích tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điềm Điện Biên Phủ.

Trung đoàn 98 đại đoàn 316 được giao nhiệm vụ tiến công tiêu diệt cứ điểm C1, sau đó phát triền đột phá sang C2 phối hợp cùng đơn vị bạn tiêu diệt tiểu đoàn dù  sồ 6 của địch.

Nhờ chuẩn bị chu đáo, xây dựng trận địa vững chắc, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ, triệt để lợi dụng địa hình có lợi nên ngày 30 tháng 3, sau 45 phút chiến đấu trung đoàn đã nhanh chóng tiêu diệt C1, nhưng đột phá sang C2 không thành công. Ngày 31 tháng 3, trung đoàn đã ngoan cường giữ vững trận địa, đánh bại 12 đợt phản kích của địch và chuyển sang phòng ngự. Ta và địch ở thế giằng co kéo dài 2 ngày, địch chiếm lại một nửa đồi C1. Đây là một trong những trận chiến đấu gay go quyết liệt nhất trong đợt 2 chiến dịch Điện Biên Phủ.


I. TÌNH HÌNH CHUNG

1. Địa hình, thời tiết

Cao điểm C bố trí trên 3 điểm cao thuộc dãy đồi phía  đông Điện Biên Phủ, nằm ở giữa các điềm cao A1, D1, D3. Dãy đồi này chạy dài từ bắc xuống nam là bức tường chắn bảo vệ khu trung tâm Mường Thanh. Địch đóng 8 cứ điểm trên dãy đồi này, hình thành hướng phòng ngự chủ yếu đề ngăn chặn ta từ phía đông và đông bắc đánh vào trung tâm. Ngoài những điểm cao này các cứ điềm khác thuộc khu trung tâm đều ở vị trí thấp. Giữ được các điềm cao phía đông, địch mới có chỗ dựa để cố thủ.

Cứ điểm C1 năm trên điềm cao 493, cao 50 m, là một quả đồi nhọn; sườn phía đông dốc thoải hơn sườn phía tây, đỉnh cao là khu cột cờ của địch, có thể quan sát và khống chế được xung quanh. Sườn phía đông có một mỏm nhô ra phía trước, hỏa lực bắn thắng khó kiềm soát khi ta đã tiếp cận cứ điểm. So với D1, C1 ở thụt vào phía trong, do đó hỏa lực bắn thẳng của địch ở D1 có thề kiềm soát tới chân C1,

Đông nam C1 có 1 mỏm thấp nhô ra chân C2 (điềm cao 437), hỏa lực từ C1 có thể không chế.

Tây Nam C1 là là cứ điểm C2 nằm trên 2 mỏm đồi 485 và 484, cao 42 m, C1 và C2 cùng nằm trên một dãy dồi, chỉ cách nhau khoảng 100 mét qua một sườn đồi võng xuống như hình yên ngựa. C2 dài hơn nhưng thấp hơn C1, nam C2 490m là A1, cao gần bằng Cl, lại nhô ra phía ngoài, cùng với hỏa lực ở C1, C2 tạo thành lưới lửa dày đặc trước tiền duyên.

Sát chân C1 về phía đông là điểm cao 473 (còn gọi là đồi Mâm xôi) thấp hơn C1 20 m, nhưng hỏa lực bắn thằng từ đây có thề kiểm soát khu vực giữa Cl, D2 và đồi Yên Ngựa giữa Cl, C2. Từ chân C2, C1 tới tây đường cái là khu vực bố trí của tiều đoàn dù thuộc địa sổ 6 (6è BPC) và tiểu đoàn Thái số 2 (2è BAT).

Tây Bắc C1 300 m là D2, đích đóng trên điềm cao 485 ; bắc C1 200 m là D3 (điểm cao 479), Giữa 2 điểm cao, có 6 hàng rào dây thép gai, kết hợp với hỏa lực trong tung  thâm và bên sườn hình thành lưới lửa dày đặc đề bảo đảm cạnh sườn. Cách 500 m là D1 (điềm cao 508), cao hơn C1 15 m, nhô ra phía ngoài, nên có thể bắn chéo sang yểm trợ cho C1 rất lợi hại.

Đông C1, C2 là ruộng thấp bằng phẳng trống trải chạy từ điểm cao ra xa 200-300 m, tiện cho ta triền khai lực lượng tiến công; tiếp đó là những dãy đồi, càng về phía sau càng cao dần, có các điểm cao 183, 470, 516… tiện cho ta bố trí hỏa lực, đặt đồi quan sát. Đông nam C2 400 m có điềm cao 493 (còn gọi là đồi F), nơi địch hổ trí lực lượng cảnh giới, nếu ta chiếm được thì có thể đặt trung liên, đại liên, ĐKZ bắn vào C1, C2 rất tốt. Sau dãy đồi là những vạt rừng bằng phẳng chạy  từ Pom Loi đến Long Bua, sau đó là đồi núi, rừng rậm liên tiếp tiện cho ta cơ động tiếp cận.  Đông nam điểm cao 470, cách C1 khoảng 200 m có bản Hồng Líu không có dân, cạnh bản có điềm cao 491 có thể đặt sở chỉ huy trung đoàn.

Về đường sá: phía tây C1 khoảng 200 m có đường số 41 chạy từ bắc xuống nam. Từ C1 có đường về Mường Thanh, sang C2, A1, D1, xe tăng có thể đi được.

Có một suối cạn từ nam điểm cao 516 qua bản Hồng Líu về hậu phương của ta và có một nhánh theo sườn đông điểm cao 516 vòng ra bản Long Bua; ta có thề lợi dụng làm hào giao thông tiếp cận địch rất kín đảo, bí mật. Thời tiết lúc này vào đầu mùa mưa, có sương mù, buổi sáng đến 9 - 10 giờ mới tan, chiều từ 17 đến18 giờ, hạn chế tầm quan sát và hoạt động của máy bay địch.

Trận địa ta ở vi trí thấp, khi mưa to nước đọng trong giao thông  hào, công sự dễ sụt lở gây khó khăn cho việc cơ động, bảo quản vũ khí vả ảnh hưởng đến sinh hoạt của bộ đội.

Với địa hình như trên, ta đột phá C1 chỉ có một hướng độc nhất là hướng đông theo dãy đồi vào lô cốt số 1 là ít bị hỏa lực địch ngăn chặn, có điều kiện tiếp cận, triển khai lực lượng, đặt trận địa hỏa lực, xung phong vào khu cột cờ nhanh và từ đỏ theo đồi Yên ngựa đột phá sang C2. Ta cũng có thể lợi dụng các mỏm nhô ra để đột phá  vào C2, nhưng địa hình ít thuận lợi hơn, phải xây dựng trận địa vững chắc và kiềm chế chặt hỏa lực địch. 


Tiêu đề: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 23 Tháng Tám, 2007, 02:23:04 AM
2. Tình hình địch:

Sau khi mất các cứ điểm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, khu trung tâm của địch tổ chức thành hai phân khu đông và tây. Địch chú ý phòng ngự phần khu đông nên đã tăng cường 2 tiều đoàn dù (6è BPC và 5è BPVN) để chiếm đóng thêm một số cứ điểm nhằm củng cố khu vực phòng thủ, đồng thời làm lực lương cơ động phản kích. Cứ điểm C1, C2 do đại đội 3 tiểu đoàn 1 trung đoàn bộ binh Ma-rốc số 4 (1/4è RTM) là một đơn vi quen phòng ngự rừng núi chiếm giữ. Trang bị có 2 cối 60 mm, 3 đại liên, 8 trọng liên, 2 súng phun lửa, còn lại là súng trường, tiểu liên. Đội hình bố trí như sau:

Chỉ huy đại đội ở đỉnh cao nhất (khu cột cờ), các trung đội bố trí ở các khu vực xung quanh cứ điểm. Riêng trung đội lê dương bố trí ở khu cột cờ làm lực lượng phản kích khi bị ta tiến công, đột nhập.

Hỏa lực bố trí thành hai tầng. Tầng dưới hướng ra ngoài gồm một hệ thống 9 lô cốt quanh cứ điểm, bố trí trung liên, đại liên để kiểm soát mặt đất, nhưng vì ở sườn dốc nên có nhiều tử giác, ta có thể lợi dụng tiếp cận. Tầng trên, địch bố trí 12,7 mm, cối 60 mm, cối 81 mm; súng phun lửa bố trí trên hướng bị uy hiếp. Trong tung thâm cũng có bố trí hỏa lực.

Ở những nơi hỏa lực của bản thân cứ điểm không kiềm soát được thì dùng hỏa lực bắn thăng, cầu vồng của các cứ điềm lân cận không chế (D1, D3, A1 bắn tới chân C1 C2; đại liên ở đồi Mâm Xôi, 12,7 mm ở Mường Thanh bắn ra đồi Yên ngựa giữa C1 C2). Đồng thời địch cũng chuẩn bị phần tử cho pháo ở Hồng Cúm, cối 120mm ở Mường Thanh và hỏa lực ở các cứ điềm lân cận bắn vào những nơi ta có thể triển khai lực lượng tiền công.

Công sự trận địa theo kiểu dã chiến lâu dài, tương đối vững chắc, nhất là ở hướng đông. Địch cấu trúc hệ thống chiến hào nhiều tầng, xen kẽ các lô cốt, có giao thông hào nối liền, hình thành điểm tựa vòng tròn. Giao thông hào sâu 1,7 mét, rộng 0,8m nhiều đoạn có nắp, nhưng gấp khúc, khó cơ động. Ụ súng, lô cốt bằng bao cát, gỗ đất dày 0,8 - 1,5 m chống được đạn cối 82 mm. Những công sự quan trọng như hầm chỉ huy, trung tâm thông tin lát bằng gỗ hoặc ghi đường băng máy bay, trên đắp đất dày.

Vật cản được bố trí kết hợp với địa hình vả hỏa lực, khoảng cách giữa 2 hàng rào 7 - 15 m. Trong cứ điểm, giữa các trung đội có hàng rào đơn ngăn cách; các ụ súng lớn, hầm chỉ huy đều có hàng rào dây thép gai bao bọc. Mìn bố trí dày, đặc trong và ngoài các hàng rào.

Khi bi tiến công, C1 C2 có thể được tiêu đoàn pháo cối chi viện. Về không quân có thể được chi viện 10 - 20 lần chiểc/ngày: lực lượng phản kích ứng cứu có thể 1-3 tiểu đoàn bộ binh, có 2 - 3 xe tăng yểm hộ. Khi ta đào trận địa xuất phát xung phong, địch có thể dùng bộ binh và xe tăng ra phản kích; ban đêm có thể dùng hỏa lực bắn chặn đề phòng ta tiếp cận.

Khi ta đánh C1 rồi đột phá sang C2, đích có thề phản kích theo 2 hướng: Từ C2 qua đồi Yên ngựa và từ C1 lên, hoặc ngay từ chân C2 phản kích theo giao thông hào.

Ở đồi F ban ngày có từ 1 tiểu đội đến 1 trung đội từ A1, C2 ra bố trí cảnh giới.
Địch mới thả dù xuống căn cứ pháo binh ở Hồng Cúm thêm 1 đại đội pháo 105 mm, như vậy ở khu vực đó có 1 tiểu đoàn pháo (12 khẩu).

Tóm lại, địch tổ chức phòng ngự có binh lực, hỏa lực mạnh, công sự dày đặc, vững chắc, hướng phòng ngự chủ yếu là hướng đông; khi bị tiến công được hỏa lực của các cứ điểm lân cận và của tập đoàn cứ điểm chi viện.

Nhưng địch có chỗ yểu là: cứ điềm hẹp, lực lượng đông, công sự ở tung thâm mỏng yếu nên dễ bi sát thương ; hỏa lực bắn thẳng ít tác dụng khi ta đã tiếp cận sát chân cứ điểm; phòng ngự tiền duyên mạnh, tung thâm yếu, sau đợt tiến công thứ nhất của ta, tinh thần chiến đầu của binh lính địch sa sút.


3. Tình hình ta

Trung đoàn 98 (-1d) từ đầu chiến dịch đã tham gia giải phóng Lai Châu, chặn đánh đích ở Mường Pồn. Trungđoàn có kinh nghiệm tiến công địch phòng ngự công sự vững chắc ở địa hình rừng núi.

Cán bộ chiến sĩ có tinh thần chiến đấu dũng cảm và được rèn lyện thử thách trong quá trình xây dựng trận địa gần địch, nắm được quy luật hoạt động của địch, thông thuộc địa hình.

Sau thời gian dài chiến đấu sức khỏe của bộ đội giảm, đã xuất hiện tư tưởng mệt mỏi, ngại thương vong. Cùng thời gian trung đoàn tiến công C1, C2 thì ở phía đông trung đoàn 174 tiến công cứ điểm A1 ; các tiểu đoàn 11/e141, 115/e165, 54/e102 tiến công địch ở cứ điểm 210, tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 (6è BPC) và tiểu đoàn dù ngụy số 5 (5è BPVN).

Tóm lại, trung đoàn 98 bước vào chiến đấu còn sung sức, được chuẩn bi đầy đủ, nắm chắc đích ở C1; có sự hiệp đồng chiến đấu của các đơn vị bạn trong thế chung của chiến dịch; được hỏa lực cấp trên chí viện.


Tiêu đề: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 23 Tháng Tám, 2007, 03:11:04 AM
II. TỔ CHỨC, CHUẨN BỊ CHIẾN ĐẤU

1. Chủ trương của Bộ chỉ huy chiến dịch, nhiệm vụ của đại đoàn 316.

Trong đợt 2 chiến dịch, tập trung tiêu diệt đích ở A1, C1, D1 đồi E; sau đó phát triển tiêu diệt địch ở C2, E2, D2, đồng thời thọc sâu vào tung thâm tiêu diệt khu pháo binh, các tiểu đoàn cơ động; tạo điều kiện chuyển sang tổng công kích, tiêu diệt toàn bộ khu trung tâm Mường Thanh. Đại đoàn 316 được tăng cường 2 đại đội sơn pháo 75 mm, 2 cối 120 mm, 2 trung đội cối 82 mm và được  đại đội lựu pháo 105 mm chi viện có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt A1, C1, sau đó phát triền tiêu diệt A3, C2 và phối hợp cùng đơn vị bạn tiêu diệt tiểu đoàn dù số 6 (6è BPC), chiếm địa hình có lợi, chuẩn bị phát triển vào trung tâm tập đoàn cứ điểm.


2. Nhiệm vụ của trung đoàn 98

Trung đoàn 98 (-d938) được tăng cường 1 đại đội sơn pháo 75 mm, 1 đại đội cối 120 mm, 1 trung đội cối 82 mm, 1 trung đội 12,7 mm, được 1 đại đội lựu pháo 105 mm chi viện, có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt C1, phát triển sang C2; sau đó phối hợp cùng đơn vị bạn tiêu diệt 1 bộ phận của tiểu đoàn dù sổ 6 ở chân C1, C2.

Tiểu đoàn 938 làm dự bi cho đại đoàn.


3. Công tác chuẩn bị:

 Sau khi nhận mệnh lệnh của đại đoàn, trung đoàn trưởng và chính ủy hội ý quán triệt nhiệm vụ, đánh giá tình hình địch ta, địa hình, thuận lợi khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ, sơ bộ dự kiến quyết tâm chiến đầu.
 
Tiếp đó, Đảng ủy trung đoàn họp thảo luận quyết tâm chiến đầu sơ bộ: sử dụng lực lượng, cách đánh, thuận lợi khó khăn và hướng khác phục; phân công cán bộ trung đoàn tiếp tục nghiên cứu, chuẩn bi kế hoạch tác chiến.

Trung đoàn tổ chức, cho các cán bộ từ trung đội đến trung đoàn và cơ quan đi trinh sự thực địa. Tại đài quan sát ở điểm cao 516, trung đoàn trưởng sơ bộ giao nhiệm vụ cho các đơn vi. Ban đêm các cán bộ tiềm nhập xác đinh điểm, hướng đột phá, trận địa xuất phát xung phong các tiểu đoàn, trận địa hỏa lực. Sau đó, Đảng ủy họp lần thứ hai mở rộng đến thủ trưởng quân chính các tiểu đoàn, các đơn vi tăng cường, phối thuộc, thủ trưởng các cơ quan, xác đinh quyết tâm chiến đấu cuối cùng.


Tiêu đề: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 23 Tháng Tám, 2007, 03:34:55 AM
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dienbien-7.jpg)

Bác nào muốn xem hình rõ hơn thì vào đây. http://s84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/?action=view&current=dienbien-4.jpg


Tiêu đề: Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Sáu, 2008, 11:43:22 PM
(http://www.btlsqsvn.org.vn/1001000101110/uploads/AHLLVTND/Be%20Van%20Dan.jpg)

Anh hùng Liệt sĩ Bế Văn Đàn (1930-12/12/1953), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy phong; 31/05/1955), hy sinh là Tiểu đội phó thuộc Đại đội 674, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất.


Bế Văn Đàn sinh năm 1931, dân tộc Tày, quê ở xã Triệu Ấu, huyện Phục Hoà (nay là huyện Quảng Hòa), tỉnh Cao Bằng. Anh sinh ra trong một gia đình có mẹ chết sớm, cha làm thợ mỏ, chú hoạt động cách mạng bị thực dân Pháp bắt rồi giết. Anh phải đi ở cho địa chủ từ nhỏ. Sau năm năm đi ở, anh trốn về ở với dì và tham gia du kích. Tháng 1 năm 1949, Bế Văn Đàn xung phong vào bộ đội và tham gia nhiều chiến dịch.

Đông Xuân 1953 - 1954, Bế Văn Đàn làm liên lạc tiểu đoàn cùng đơn vị hành quân đi chiến dịch. Một đại đội của Tiểu đoàn 251 được giao nhiệm vụ bao vây địch ở Mường Pồn (Lai Châu). Thấy lực lượng ta ít, quân Pháp tập trung hai đại đội có phi pháo yểm trợ liên tiếp phản kích, nhưng cả hai đợt đèu bị quân ta đánh bật lại. Tình hình chiến đấu hết sức căng thẳng. Pháp liều chết nống ra. Ta kiên quyết ngăn chặn.

Bế Văn Đàn vừa đi công tác về đã xung phong làm nhiệm vụ. Anh vượt qua lưới đạn dày đặc của địch truyền mệnh lệnh cho đại đội kịp thời, chu đáo.
 
Tình hình chiến đấu ngày càng ác liệt, anh được lệnh ở lại đại đội chiến đấu. Khi quân phản kích đợt ba, quân Pháp điên cuồng mở đường tiến. Đại đội thương vong chỉ có 17 người, bản thân Bế Văn Đàn cũng bị thương nhưng anh vẫn tiếp tục chiến đấu. Một khẩu trung liên không bắn được do xạ thủ hy sinh, còn khẩu trung liên của Chu Văn Pù không bắn được vì chưa tìm được chỗ đặt súng.

Không do dự, Bế Văn Đàn rời khỏi công sự, lao đến cầm hai chân trung liên đặt lên vai mình nói như ra lệnh: "Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi". Khẩu trung liên nhả đạn về phía quân Pháp, đẩy lùi đợt phản kích. Bế Văn Đàn mình đầy thương tích và đã anh dũng hy sinh, hai tay còn ghì chặt chân súng trên vai. Anh được kết nạp Đảng tại trận địa.

Sự hy sinh anh dũng của Anh hùng Liệt sĩ Bế Văn Đàn đã đi vào thơ ca. Tên của anh được đặt cho nhiều đường phố và trường học.


Tiêu đề: Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Sáu, 2008, 11:58:25 PM
(http://img186.imageshack.us/img186/2578/anhhungphandinhgiotra2.jpg)

Anh hùng Liệt sĩ Phan Đình Giót (1922-13/3/1954), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy phong; 31/3/1955), Khi hy sinh anh là Tiểu đội phó bộ binh Đại đội 58, Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Huân chương Quân công hạng Nhì.


Gia đình anh Phan Đình Giót rất nghèo. Bố bị chết đói. Anh phải đi ở từ năm 13 tuổi cực nhọc, vất vả. Cách mạng tháng Tám thành công, anh tham gia tự vệ chiến đấu, đến năm 1950, anh xung phong đi bộ đội chủ lực. Trong cuộc sống tập thể quân đội, Phan Đình Giót luôn tự giác gương mẫu về mọi mặt, hết lòng thương yêu giúp đỡ đồng đội, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn nên được đồng đội mến phục. Phan Đình Giót tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Trung Du, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên Phủ.

Mùa đông năm 1953, đơn vị anh được lệnh tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Hành quân gần 500 km, vượt qua nhiều đèo dốc, mang vác nặng nhưng đồng chí vẫn kiên trì, giúp đồng đội về tới đích. Trong nhiệm vụ xẻ núi, mở đường, kéo pháo lên đèo xuống dốc vào trận địa rất gay go gian khổ, anh đã nêu cao tinh thần gương mẫu, bền bỉ và động viên anh em kiên quyết chấp hành nghiêm mệnh lệnh của cấp trên.

Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân ta nổ súng tiêu diệt Him Lam. Cả trận địa rung chuyển mù mịt sau nhiều loạt pháo ta bắn chuẩn bị.

Các chiến sỹ đại đội 58 lao lên mở đường, đã liên tiếp đánh đến quả  bộc phá thứ tám. Phan Đình Giót đánh quả thứ chín thì bị thương vào đùi nhưng vẫn xung phong đánh tiếp quả thứ mười. Quân Pháp tập trung hoả lực trút đạn như mưa  xuống trận địa ta. Đồng đội bị thương vong nhiều.

Lửa căm thù bốc cao, anh lao lên đánh liên tiếp hai quả nữa phá toang hàng rào cuối cùng, mở thông đường để đồng đội lên đánh sập lô cốt đầu cầu. Lợi dụng thời cơ địch đang hoang mang, Phan Đình Giót vọt lên bám chắc lô cốt số 2, ném thủ pháo, bắn kiềm chế cho đơn  vị tiến lên. Anh lại bị thương vào vai, máu chẩy đầm đìa. Nhưng bất ngờ từ hoả điểm lô cốt số 3 của lính Pháp bắn rất mạnh vào đội hình ta. Lực lượng xung kích bị ùn lại, Phan Đình Giót cố gắng lê lên nhích dần đến gần lô cốt số 3 với ý nghĩ cháy bỏng, duy nhất là dập tắt ngay lô cốt này. Anh đã dùng hết sức mình còn lại nâng tiểu liên lên bắn mạnh vào lỗ châu mai, miệng hô to:

"Quyết hy sinh…vì Đảng…vì dân!!.." rồi rướn người lấy đà, lao cả  thân mình vào bịt kín lỗ châu mai địch. Hoả điểm lợi hại nhất của quân Pháp đã bị dập tắt, toàn đơn vị ào ạt xông lên như vũ bão, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam, giành thắng lợi  trong trận đánh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ. Trước khi hy sinh, Phan Đình Giót đã được Tiểu đoàn, Đại đoàn khen thưởng 4 lần.


Tiêu đề: Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 12:53:00 AM
(http://img73.imageshack.us/img73/2341/anhhungtovinhdienlr5.jpg)


Anh hùng Liệt sĩ Tô Vĩnh Diện (1924-5/1953), Anh hùng Lực lượng Vũ Trang Nhân dân (Truy phong; 7/5/1955), khi hy sinh, anh là Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 ly thuộc Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhất



Tô Vĩnh Diện sinh trưởng trong một gia đình nghèo, ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. Lên 8 tuổi đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm đi ở, anh phải chịu bao cảnh áp bức bất công. Năm 1946, anh tham gia dân quân ở địa phương. Năm 1949, đồng chí xung phong đi bộ đội.

Tháng 5 năm 1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị đánh lớn. Tô Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ. Trong quá trình hành quân cơ động trên chặng đường hơn 1000 km tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, anh luôn luôn gương mẫu làm mọi việc nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội kéo pháo tới đích an toàn.

Trong lúc kéo pháo qua những chặng đường khó khăn nguy hiểm, anh xung phong lái để bảo đảm an toàn cho khẩu pháo. Trong lúc kéo pháo cũng như lúc nghỉ dọc đường, Tô Vĩnh Diện luôn luôn nhắc đồng đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ đường dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng cái dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những nguy hiểm bất ngờ xẩy ra.

Kéo pháo vào đã gian khổ, hy sinh, kéo pháo ra càng gay go ác liệt, anh đã đi sát từng người, động viên giải  thích nhiệm vụ, giúp anh em xác định quyết tâm cùng nhau khắc phục khó khăn để đảm bảo thắng lợi.

Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp và cong rất nguy hiểm. Tô Vĩnh Diện cùng đồng đội Ty xung phong lái pháo. Nửa chừng dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, anh vẫn bình tĩnh giữ càng, lái cho pháo thẳng đường. Nhưng một trong bốn dây kéo pháo lại bị đứt, pháo càng lao nhanh, anh Ty bị hất xuống suối. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô đồng đội: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo” và anh buông tay lái xông lên phía trước, lấy thân mình chèn vào bánh pháo, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ pháo dừng lại.

Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của đồng chí Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.


Tiêu đề: Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 01:52:04 AM
(http://img134.imageshack.us/img134/9769/anhhungtrancaoul2.jpg)

Anh hùng Liệt sĩ Trần Can (1931-7/5/1954), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (Truy tặng; 7/5/1956), Khi hy sinh anh là Đại đội phó bộ binh thuộc Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, hạng Ba), 2 Huân chương Chiến công hạng nhất, 2 lần được bầu là chiến sỹ thi đua của đại đoàn.


Trần Can sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Từ hồi còn nhỏ, Trần Can rất ham thích vào bộ đội để được cầm súng giết giặc cứu nước. Lớn lên, đã ba lần đồng chí xung phong tình nguyện xin đi bộ đội, nhưng vì sức yếu nên đến lần thứ tư mới được chấp nhận (năm 1951).

Từ khi vào bộ đội, Trần Can chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, chỉ huy hết sức linh hoạt. Trong mọi trường hợp khó khăn ác liệt, anh đều kiên quyết dẫn đầu đơn vị vượt lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đã hai lần anh bị thương nặng vẫn tiếp tục chiến đấu, chỉ huy đơn vị kiên quyết tiến công tiêu diệt địch. Tấm gương của Trần Can đã thiết thực cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lập công sôi nổi trong toàn đơn vị.

Trong trận đánh đồi Him Lam mở đầu cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Trần Can được giao nhiệm vụ chỉ huy tiểu đội thọc sâu diệt sở chỉ huy và cắm lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Hồ Chủ tịch giao cho quân đội lên đồn Pháp. Khi nổ súng, mặc cho hoả lực quân Pháp bắn ra dữ dội, anh dẫn đầu tiểu đội vượt qua lô cốt tiền duyên, chọc thẳng vào sở chỉ huy như một mũi dao nhọn cắm vào giữa tim gan địch, rồi nhẩy lên lô cốt cắm cờ. Sau đó, anh chỉ huy tiểu đội diệt lính Pháp còn lại trong hầm ngầm, bắt 25 tên, thu nhiều súng.

Trong trận đánh điểm cao 507, Trần Can đã dũng cảm dẫn đầu tiểu đội xông lên áp đảo quân Pháp, chiếm mỏm cột cờ. Lính Pháp bắn pháo dữ dội và cho quân địch chiếm lại. Ta với Pháp giành giật nhau từng thước đất hết sức quyết liệt. Anh đã cùng đồng đội kiên quyết giữ vững và tiến công đánh bại 4 đợt phản kích của chúng. Địch xông lên trong đợt công kích thứ năm, chúng ném lựu đạn tới tấp trước khi xung phong. Trần Can nhặt lựu đạn ném lại và chỉ huy đơn vị nhảy lên bờ hào đánh giáp lá cà. Cán bộ đại đội bị thương vong hết, bản thân Trần Can cũng bị thương, nhưng anh vẫn quyết tâm thay thế cán bộ đại đội chỉ huy bộ đội chiến đấu suốt đêm. Sáng hôm sau, anh tập trung thương binh nhẹ lại, động viên bộ đội, chấn chỉnh tổ chức, củng cố trận địa. Quân Pháp lại phản kích dữ dội, mong đánh bật quân ta, giành lại cửa ngõ tiến vào Mường Thanh. Trần Can chỉ huy đơn vị đánh tan đợt pháo kích của chúng, kiên quyết giữ vững trận địa, tạo thế cho đơn vị tiến vào trung tâm Mường Thanh. Anh Trần Can đã hy sinh anh dũng sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, ngày kết thúc chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.






Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: baovip trong 10 Tháng Sáu, 2008, 08:31:06 AM
sao không post tiếp bác? ???


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: rongxanh trong 08 Tháng Mười Một, 2008, 07:47:47 PM
Sơ họa tập đòan cứ điểm Điện Biên Phủ

(http://i74.photobucket.com/albums/i268/rongxanhpmu/Pic_KCCP/plan_dbp-relief-299ff2.jpg)


Tiêu đề: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 03 Tháng Mười Hai, 2008, 10:00:07 PM
Format by bác trucdang. Gợi ý by bác Chiangshan.

1. Em thích nhất trận đánh này và cũng dành thời gian để đọc về nó. Với mục tiêu tìm hiểu lịch sử, nay xin lập topic này để mọi người cùng tìm hiểu về Trận Điện Biên Phủ.
2.Trận đánh diễn ra đã lâu và khung cảnh bó hẹp, nên có số điểm mới bổ sung với mong muốn mọi người cùng phổ biến kiến thức và topic không quá vắng vẻ:
- Nội dung có thể tìm thấy khi hỏi cậu Gúc và cô Uy.
- Mỗi câu trả lời đúng (bất kể câu to hay nhỏ) đều được 01 điểm. Điểm số sẽ được cập nhật và công bố hàng tháng.
3. Câu hỏi và đáp án đưa ra có thể đúng hoặc chưa, nhưng đều là nội dung chính xác nhất mà người ra đề biết. Nếu có gì chưa đúng, đại diện những người ra câu hỏi, xin được lượng thứ.

Câu hỏi 1: Tên chính thức của quân Pháp tại Đông Dương năm 1954 là gì?
Câu hỏi 2: Tên của mặt trận toàn dân chống Pháp tại thời điểm 1954 là gì?
Câu hỏi 3: Trước khi sang Đông Dương, Navarre giữ chức vụ gì?
Câu hỏi 4: Tại sao Đờ Cát lại chống bo toong? Loại trừ đáp án: cho điệu đà.
Câu hỏi 5: Kể tên các Tổng tư lệnh Pháp ở Đông Dương từ 1945 đến 1955.
Câu hỏi 6: Ai là tổng tham mưu trưởng của QĐND VN thời đểm trận ĐBP, trước đó là ai?
Câu hỏi 7: Kể tên các đơn vị chủ lực của VM tại Bắc Bộ?
Câu hỏi 8: Cố vấn cao cấp nhất của TQ tại VN thời điểm 1954 là ai?
Câu hỏi 9: Đơn vị nào nhảy dù đầu tiên xuống ĐBP?
Câu hỏi 10: Đơn vị nào của VM đang ở ĐBP thời điểm đó?



Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 03 Tháng Mười Hai, 2008, 10:45:28 PM
1. Quân đoàn Viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (Corps Expéditionnaire Français en Extrême-Orient, CEFEO).
3. Tham mưu trưởng lục quân NATO ở Trung Âu.
5. Leclerc, Valluy, Blaizot, Capentier, De Lattre de Tassigny, Salan, Navarre, Ely.
6. Tướng Văn Tiến Dũng, trước đó là tướng Hoàng Văn Thái.
8. Có bẫy không nhỉ ::)
9. Tiểu đoàn 2 và 6 dù thuộc địa.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 06:38:34 AM
2. Mặt trận Liên Việt
4. Y bị thương vào chân từ CTTGT2.
7. Bác chiangshan khiêm tốn hở?
8. Trần Canh
10. E148.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 02:19:22 PM
1. Quân đoàn Viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (Corps Expéditionnaire Français en Extrême-Orient, CEFEO).
Hố hố, bác Chiangshan lần này chưa chính xác. Đây là tên gọi từ năm 45 đến năm 46. Tên gọi năm 1954 là tên khác.
3. Tham mưu trưởng lục quân NATO ở Trung Âu.
5. Leclerc, Valluy, Blaizot, Capentier, De Lattre de Tassigny, Salan, Navarre, Ely.
6. Tướng Văn Tiến Dũng, trước đó là tướng Hoàng Văn Thái.
9. Tiểu đoàn 2 và 6 dù thuộc địa.
Hừm. Bác Chiangshan đã trả lời đúng các câu 3, 5, 6, 9
8. Có bẫy không nhỉ ::)
Không bẫy gì đâu. Mà theo bác thì bẫy gì đấy?  ;D


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 02:39:57 PM
2. Mặt trận Liên Việt
4. Y bị thương vào chân từ CTTGT2.
7. Bác chiangshan khiêm tốn hở?
8. Trần Canh
10. E148.
Câu 2:Trên danh nghĩa, Mặt trận Việt Minh không còn tồn tại từ năm 1951 do hợp nhất với Hội Liên Việt và lấy tên chung là Mặt trận Liên Việt. Do vậy: Bác Altus trả lời đúng câu số 2
4. Đờ Cát bị thương vào chân, nhưng là ở Việt Nam. Trong thời gian dưỡng thương ở Pháp, Đờ Cát với cái chân đâu vẫn thắng một giải cưỡi ngựa. Đó là lý do hình ảnh Đờ Cát thường gắn liền với chiếc ba toong. Bác Altus đã trả lời đúng câu số 4
8. Nguyên soái Trần Canh là cố vấn cao cấp nhất của TQ từng đến VN, nhưng sang năm 1951 ông đã về nước và sau đó sang chiến trường Triều Tiên. Ông không phải là cố vấn TQ cao cấp nhất tại thời điểm 1954.
10. Đúng là trung đoàn độc lập 148. Thời điểm đó có một đại đội đang nghỉ ngơi và tập luyện tại Điện Biên Phủ. Bác Altus đã trả lời đúng câu số 10


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: b41-vn trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 05:47:51 PM
câu số 8
ông cố vấn trung quốc :LA QUÝ BA


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: anhkhoi trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 07:46:27 PM
câu số 8
ông cố vấn trung quốc :LA QUÝ BA

Khiếp, câu này xem ra nhiều đáp án nhỉ?
Hồi đấy có 2 đoàn cố vấn, trưởng đoàn cố vấn quân sự là Vi Quốc Thanh, trưởng đoàn cố vấn chính trị là La Quý Ba.



Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 04 Tháng Mười Hai, 2008, 07:50:09 PM
câu số 8
ông cố vấn trung quốc :LA QUÝ BA

Khiếp, câu này xem ra nhiều đáp án nhỉ?
Hồi đấy có 2 đoàn cố vấn, trưởng đoàn cố vấn quân sự là Vi Quốc Thanh, trưởng đoàn cố vấn chính trị là La Quý Ba.

Theo đài Tây thì sẽ còn ra đáp án khác là 1 tay Ly Chenhou nào đó nữa ;D


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 12:53:18 AM
câu số 8
ông cố vấn trung quốc :LA QUÝ BA

Khiếp, câu này xem ra nhiều đáp án nhỉ?
Hồi đấy có 2 đoàn cố vấn, trưởng đoàn cố vấn quân sự là Vi Quốc Thanh, trưởng đoàn cố vấn chính trị là La Quý Ba.


Về đoàn cố vấn TQ:
Từ 1950 đến 1952 là hai đoàn cố vấn quân sự do Vi Quốc Thanh đứng đầu và cố vấn chính trị do La Quý Ba đứng đầu.
Đến 5/6/1952 Trung ương ĐCS TQ phê chuẩn hợp nhất hai đoàn quân sự và chính trị. 4/9/1952 Quân ủy Trung ương ĐCS TQ phê chuẩn xong việc hợp nhất. Đảng ủy đoàn cố vấn gồm La Quý Ba, Mai Gia Sinh, Đặng Nhật Phàm, Lý Văn Nhất, Mã Tây Phu, Kim Chiêu Điển, Trương Anh, Lý Hàm Trân. La Quý Ba là bí thư.
10/10/1953 TW ĐCS TQ phong Vi Quốc Thanh làm Tổng cố vấn quân sự. La Quý Ba làm tổng cố vấn chính trị. Tháng 5 năm 1954 cơ cấu đoàn cố vấn quân sự và chính trị sẽ tách riêng nhau.
10/5/1954 TW và QW TW ĐCS TQ phê chuẩn đoàn cố vấn quân sự gồm: Vi Quốc Thanh, Mai Gia Sinh, Đặng Nhật Phàm, Trương An, Vu Bội Huyết, Đổng Nhân, Từ Thành Công, Thẩm Kiên Như. Vi Quốc Thanh là bí thư, Đặng Nhật Phàm là phó bí thư.
Như vậy, đến hết CZ ĐBP, dù thực tế hoạt động cố vấn chính trị và quân sự tách rời nhau từ 10/10/1953, nhưng danh nghĩa thì La Quý Ba vẫn là bí thư đoàn cố vấn.
Nên nếu nói về cố vấn cao nhất của TQ ở VN trong năm 1954 thì phải nói tới hai giai đoạn, trước và sau ngày 10/5. Trước ngày 10/5 là La Quý Ba và sau ngày 10/5 là Vi Quốc Thanh và La Quý Ba.

Đáp án này hơi lắt léo, bác b41-vn có đáp án là La Quý Ba, bác anhkhoi có đáp án là Vi Quốc Thanh và La Quý Ba. Theo em cả hai bác đều đúng.
Vậy, xin công nhận:
- Bác b41-vn trả lời đúng câu số 8
- Bác anhkhoi trả lời đúng câu số 8

Trên đây là diễn giải mà em cho là đúng nhất. Bác nào có đáp án khác mà cũng cho là đúng. Xin được cùng trao đổi tiếp.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 12:56:33 AM
câu số 8
ông cố vấn trung quốc :LA QUÝ BA

Khiếp, câu này xem ra nhiều đáp án nhỉ?
Hồi đấy có 2 đoàn cố vấn, trưởng đoàn cố vấn quân sự là Vi Quốc Thanh, trưởng đoàn cố vấn chính trị là La Quý Ba.

Theo đài Tây thì sẽ còn ra đáp án khác là 1 tay Ly Chenhou nào đó nữa ;D
Đúng là tây ở bên tây. Chả biết anh này là ai.  ;D


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 01:01:29 AM
Các câu còn lại của cụm 10 câu hỏi đầu tiên:
Câu hỏi 1: Tên chính thức của quân Pháp tại Đông Dương năm 1954 là gì?
Câu hỏi 7: Kể tên các đơn vị chủ lực của VM tại Bắc Bộ?


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 04:00:43 AM
Câu hỏi 7: Kể tên các đơn vị chủ lực của VM tại Bắc Bộ?

Chủ nhiệm quân lực chiangshan, phó chủ nhiệm rongxanh đều ngó lơ thế này thì chắc là có gì bất cập rồi.  ???

Còn cái kia không phải là CEFEO thật à?


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 08:07:10 AM
Câu hỏi 7: Kể tên các đơn vị chủ lực của VM tại Bắc Bộ?

Chủ nhiệm quân lực chiangshan, phó chủ nhiệm rongxanh đều ngó lơ thế này thì chắc là có gì bất cập rồi.  ???

Còn cái kia không phải là CEFEO thật à?
Hé hé, bác em cứ đùa  ::)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 08:52:40 AM
Câu 7. Đại đoàn 304, 308, 312, 316, 320, trung đoàn 246, đại đoàn công pháo 351.
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=3730.0


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 08:54:18 AM
Theo đài Tây thì sẽ còn ra đáp án khác là 1 tay Ly Chenhou nào đó nữa ;D
Đúng là tây ở bên tây. Chả biết anh này là ai.  ;D

Anh này đi kèm với sự tích cao xạ 37 có radar dẫn bắn ở ĐBP ;D
http://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/pentagon/doc29.htm


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: b41-vn trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 12:09:06 PM
trả lời câu 1:
quân đội liên hiệp pháp


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: b41-vn trong 05 Tháng Mười Hai, 2008, 01:51:07 PM
hơ ... tư tưởng là thống soái cơ mà ,la quý ba là nhất ;D


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 06 Tháng Mười Hai, 2008, 01:45:33 PM
Còn cái kia không phải là CEFEO thật à?
Theo cuốn Lịch sử BTTM trong KCCP:
Quân đoàn Viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (Corps Expéditionnaire Français en Extrême-Orient, CEFEO) là tên thời kỳ 1945.
Giai đoạn 46-49 thì có tên là Đội quân Pháp ở Viễn đông (Troupe Francaise en Extrême Orient, TFÈO)
Từ năm 49 cho đến năm 1954 và sau đó có tên là: Lực lượng ở Viễn đông (Force armée en Extrême Orient, FAEO)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 06 Tháng Mười Hai, 2008, 02:09:57 PM
Tổng kết về các bác trả lời đúng câu hỏi trong phần I:
1. Bác Chiangshan trả lời đúng 4 câu hỏi: đó là các câu 3, 5, 6, 9
2. Bác Altus trả lời đúng 3 câu hỏi: đó là các câu 2, 4, 10
3. Bác b41-vn và bác anhkhoi trả lời đúng 1 câu hỏi: đó là câu 8.

Cụm câu hỏi tiếp theo:
Câu 11: Trong cơ cấu tổ chức của Pháp ở Đông Dương 1954, ai có quyền to nhất?
Câu 12: Từ tháng 5/1953 cho đến hết CZ ĐBP, nước Pháp đã qua bao nhiêu đời thủ tướng?
Câu 13: Việt Nam được người Pháp phân ra thành những vùng nào?
Câu 14: Câu Navarre là tướng cao cấp nhất của Pháp (tính theo quân hàm) đã từng chỉ huy ở VN?
Câu 15: Quan chức cao cấp nhất của quân đội Mỹ từng đến ĐBP là ai?
Câu 16: Quan chức cao cấp nhất của Vương quốc Anh từng đến ĐBP là ai?
Câu 17: Trước Đờ Cát, còn có người nào là Tổng chỉ huy quân Pháp ở ĐBP không?
Câu 18: Tên gọi của đội quân Pháp tại ĐBP là gì?
Câu 19: Ê kíp chính của Navarre tại VN 1954 gồm những ai (tư lệnh các thứ quân, các vùng. Đáp án được coi là đúng nếu có trên 03 cái tên)?
Câu 20: Tập đoàn cứ điểm ĐBP được người Pháp và phương Tây ca ngợi sánh với một phòng tuyến khác của Pháp về sức đề kháng, đó là phòng tuyến nào?


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 09:42:50 AM
Câu 17. Tướng Gilles.
Câu 20. Verdun.

Nhìn mấy câu trên ngại quá ;D


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: mig21-58 trong 07 Tháng Mười Hai, 2008, 12:14:49 PM
trả lời câu 20
phòng tuyến véc  đoong ,trả lời như chú trường sơn cho tây nó hiểu  ;D


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:08:50 AM
Một số câu hơi lắt nhắt, em xin đưa ra đáp án:

Đáp án câu 16: Quan chức cao cấp nhất của Vương quốc Anh từng đến ĐBP là ai?
Đó là Sir Stewart cố vấn, Malcoln MacDonald cao ủy Anh ở ĐNA, Charles Loewen tư lệnh quân đội Anh Ấn ở Viễn đông.

Đáp án câu 19: Ê kíp chính của Navarre tại VN 1954 gồm những ai?
- Đại tướng không quân Bodet là phó cho Navarre,
- Gambiez thiếu tướng là tham mưu trưởng,
- Trung tướng Lauzin là tư lệnh không quân,
- Phó đô đốc Auboyneau là tư lệnh hải quân,
- Trung tướng Cogny là tư lệnh Bắc Bộ,
- Trung tướng Bourgouind là tư lệnh Trung Bộ,
- Trung tướng Bondis là tư lệnh Nam Bộ,
- Đại tá Crevecoeur là tư lệnh Lào,
- Thiếu tướng Langlade là tư lệnh Campuchia


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 12:12:56 AM
Có câu này dành riêng cho bác Rongxanh, lão ở đâu thì về trả lời câu này đê:
Tại thời điểm trước 1954, quân đội Quốc gia (tiền thân của QLVNCH) có ba tướng, 12 tá đó là những ai?


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 08 Tháng Mười Hai, 2008, 01:25:37 AM
Câu 11: Trong cơ cấu tổ chức của Pháp ở Đông Dương 1954, ai có quyền to nhất?

Thế mà cũng hỏi. Hiển nhiên dễ thấy là Toàn quyền thì có quyền cao nhất chứ còn ai vào đấy nữa?  ;D Tất nhiên là đã trừ bọn võ biền theo ngành dọc.  ;)

Câu 12: Từ tháng 5/1953 cho đến hết CZ ĐBP, nước Pháp đã qua bao nhiêu đời thủ tướng?

03. May-ơ, Lạ-nhiên, rồi lại Lạ-nhiên.

Câu 13: Việt Nam được người Pháp phân ra thành những vùng nào?

Câu này dứt khoát là có mìn. Không bon chen.  ;)

Câu 14: Câu Navarre là tướng cao cấp nhất của Pháp (tính theo quân hàm) đã từng chỉ huy ở VN?

Không. Còn ông Ngũ kim Tưóng quân, sau truy phong Nguyên soái, Đờ Lát nữa.

Câu 18: Tên gọi của đội quân Pháp tại ĐBP là gì?

Cụm tác chiến Tây Bắc (Groupément Opérationnel du Nord-Ouest - GONO)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 09 Tháng Mười Hai, 2008, 06:46:45 PM
Có câu này dành riêng cho bác Rongxanh, lão ở đâu thì về trả lời câu này đê:
Tại thời điểm trước 1954, quân đội Quốc gia (tiền thân của QLVNCH) có ba tướng, 12 tá đó là những ai?
He he, chú hỏi như vậy thì sao anh trả lời được????
Từ khoảng thời gian 7/1953 đến 31/12/1953 và đến 31/12/1954 có chúa mới biết được là thêm những anh đại tá nào.



Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 09 Tháng Mười Hai, 2008, 10:39:19 PM
Câu 15. Tướng Ô Đa-neo ::)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: trucdang trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 11:34:21 AM
Chào Bạn -New & Chiangsan ! Topic này Hai Bạn có thể ghép thêm "& Hiệp định Geneve 1954", bởi hai vấn đề "tuy một mà hai", "tuy hai mà một". Chúc nhiều Thành viên tham gia.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: dang thanh tieu? stalin trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 11:51:56 AM
1.la`hang ri navare
20.la vecdoong
con cac cau con lai em xin tra loi sau

Viết tiếng Việt có dấu. Bạn có 12h để chỉnh sửa. Nhắc nhở lần đầu!


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 12:11:43 PM
1.la`hang ri navare
20.la vecdoong
Bác dang thanh tieu? stalin chưa trả lời đúng câu 11, câu 20 bác trả lời đúng nhưng bác Chiangshan đã có câu trả lời sớm hơn.

Câu 17. Tướng Gilles.
Câu 20. Verdun.

Nhìn mấy câu trên ngại quá ;D
Bác Chiangshan trả lời đúng câu 17. Đó là tướng Gilles, chỉ huy lực lượng dù ở Đông Dương. Khi đổ bộ xuống ĐBP, người Pháp sử dụng quân dù. Sau khi đứng chân vững, để phát triển tập đoàn cứ điểm thành một căn cứ tấn công và để rút quân dù ra làm nhiệm vụ cơ động trên các chiến trường, quân dù rút bớt để thay vào đó các đơn vị khác như bộ binh Lê dương, Angeri, Ma rốc hay bộ binh thuộc địa. Do vậy, tướng dù Gilles được thay bằng đại tá de Castries.

Bác Chiangshan trả lời đúng câu 20. Đó là phòng tuyến Verdun. Xin cóp đoạn giới thiệu về trận đánh này trên wiki: Trận Verdun là một trận đánh chính của mặt trận phía Tây trong Thế chiến thứ nhất. Trận đánh nổ ra giữa quân đội Đức và Pháp từ 21 tháng 2 đến 19 tháng 12 năm 1916 xung quanh Verdun-sur-Meuse ở đông bắc Pháp. Kết quả hơn 1/4 triệu người chết và hơn 1/2 triệu người bị thương. Trận đánh được lập kế hoạch dựa trên ý tưởng ban đầu "rút sạch máu" quân Pháp của tổng tư lệnh quân Đức là tướng Erich von Falkenhayn. Đây là trận chiến kéo dài nhất trong Thế chiến thứ nhất, và là trận đẫm máu lớn thứ hai sau Trận Somme (1916). Khẩu hiệu nổi tiếng của quân Pháp phòng thủ trong trận này là "Chúng sẽ không vượt qua" (Ils ne passeront pas) của Robert Nivelle.
Trong các quan chức phương Tây lên thăm tập đoàn cứ điểm ĐBP đều ca ngợi sự vững chắc của nó. Cho rằng VM không thể đánh nổi, đây là pháo đài không thể công phá, một Véc đoong của Châu Á. Có giai đoạn, do lo ngại VM không dám đánh, quân Pháp còn thả truyền đơn khiêu khích VM.


Câu 11: Trong cơ cấu tổ chức của Pháp ở Đông Dương 1954, ai có quyền to nhất?

Thế mà cũng hỏi. Hiển nhiên dễ thấy là Toàn quyền thì có quyền cao nhất chứ còn ai vào đấy nữa?  ;D Tất nhiên là đã trừ bọn võ biền theo ngành dọc.  ;)
Chưa đúng bác Altus ạ.  ;D Chức toàn quyền không còn từ lâu. Cơ cấu của Pháp ở Đông Dương thường được nhắc đến với hai vị trí Cao ủy và Tổng chỉ huy (quân sự). Cao ủy to hơn và gồm cả một phần không nhỏ trách nhiệm về quân sự. Nhưng năm 52-53 đã đượct hay đổi.
Nhiệm vụ dân sự của ông Cao ủy được chuyển giao môt phần cho ông "Tổng ủy viên Pháp ở Đông Dương" (Commiscare general de France en Indochine) và một phần cho ba "ủy viên Công hòa Pháp" ở VN, Lào, CPC.
Không những thế, Tổng ủy viên còn là người chịu trách nhiệm trước chính phủ Pháp về phòng thủ và an ninh ở Đông Dương. Tổng chỉ huy quân sự là người điều hành các hoạt động quân sự trong khuôn khổ các kế hoạch chung mà Tổng ủy viên trình lên chính phủ.
Thông tin trích từ " Thời điểm của những sự thật" - Navarre.

Như vậy, với Pháp ở Đông Dương, to nhất là Tổng ủy viên Pháp ở Đông Dương (Commiscare general de France en Indochine)


Trích dẫn
Câu 12: Từ tháng 5/1953 cho đến hết CZ ĐBP, nước Pháp đã qua bao nhiêu đời thủ tướng?

03. May-ơ, Lạ-nhiên, rồi lại Lạ-nhiên.
Bác Altus trả lời đúng câu số 12. Đó là Rene Mayer và Joseph Laniel.


Trích dẫn
Câu 14: Câu Navarre là tướng cao cấp nhất của Pháp (tính theo quân hàm) đã từng chỉ huy ở VN?

Không. Còn ông Ngũ kim Tưóng quân, sau truy phong Nguyên soái, Đờ Lát nữa.
Còn một người nữa cũng là tướng 5 sao. Xin chờ bác Altus bổ sung tiếp đáp án.


Trích dẫn
Câu 18: Tên gọi của đội quân Pháp tại ĐBP là gì?

Cụm tác chiến Tây Bắc (Groupément Opérationnel du Nord-Ouest - GONO)
Bác Atlus trả lời đúng câu 18. Đó chính xác là Cụm tác chiến Tây Bắc (Groupément Opérationnel du Nord-Ouest - GONO).


Câu 15. Tướng Ô Đa-neo ::)
Bác Chiangshan trả lời đúng câu 15. Đó là Đại tướng O' Dainel. Ngoài tướng O' Daniel còn có trung tướng Trahnell cũng đã lên thăm ĐBP. Nhưng "tổng kết" tướng Daniel vẫn là to nhất.
Ông này là Phụ trách phái đoàn viện trợ Mỹ ở Đông Dương (MAAG). Người Pháp khá ghét ông này. Ngoài những lý do chính trị giữa Mỹ và Pháp ở Đông Dương còn một số chuyện lăn tăn khác, có một chuyện "bổ ngửa" là khi Daniel bay vòng vèo quanh Bắc bộ quan sát để cố vấn cho quân Pháp. Khi về đến nơi, Daniel chỉ nói độc một câu: Những gì tôi muốn nói đều đã viết trong một cuốn sách của tôi, đó là cuốn về chiến thuật của quân Mỹ ở Châu Á Thái Bình Dương (em chả nhớ cụ thể). Bộ chỉ huy sách lùng về rồi châu đầu xem. Té ra đó là cuốn chiến thuật của thủy quân lục chiến Mỹ đánh các đảo. Người Pháp chỉ biết than trời, chắc Daniel bay trên Bắc Bộ thấy đồng nước mênh mông, các làng như các hòn đảo nổi nên mới có ý kiến cố vấn độc chiêu như vậy.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 08:54:09 PM
Theo cuốn Lịch sử BTTM trong KCCP:
Quân đoàn Viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (Corps Expéditionnaire Français en Extrême-Orient, CEFEO) là tên thời kỳ 1945.
Giai đoạn 46-49 thì có tên là Đội quân Pháp ở Viễn đông (Troupe Francaise en Extrême Orient, TFÈO)
Từ năm 49 cho đến năm 1954 và sau đó có tên là: Lực lượng ở Viễn đông (Force armée en Extrême Orient, FAEO)

Theo tôi tìm hiểu thì không phải là như thế.

CEFEO tồn tại đến tận năm 1956, và là tên chính thức cho lực lượng quân tác chiến Pháp tại Đông Dương.

TFEO và FA(F)EO là các tên gọi dành cho các cấu trúc theo khía cạnh khác của lực lượng Pháp tại Đông Dường, dành để chỉ các chức năng quản lý, quân lực, hậu cần, chính sách, nghĩa vụ v.v., kiểu quản lý theo ngành dọc. Mấy cái này đan xuyên, chồng chéo với CEFO nhưng không phải là tên mới của CEFEO.

Nói TFEO (hay FAFEO) là tên kế tiếp của CEFEO thì cũng na ná như nói từ năm X Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN đổi tên thành Bộ Quốc Phòng (đại khái thế).


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:20:41 PM
Chưa đúng bác Altus ạ.  ;D Chức toàn quyền không còn từ lâu. Cơ cấu của Pháp ở Đông Dương thường được nhắc đến với hai vị trí Cao ủy và Tổng chỉ huy (quân sự). Cao ủy to hơn và gồm cả một phần không nhỏ trách nhiệm về quân sự. Nhưng năm 52-53 đã đượct hay đổi.
Nhiệm vụ dân sự của ông Cao ủy được chuyển giao môt phần cho ông "Tổng ủy viên Pháp ở Đông Dương" (Commiscare general de France en Indochine) và một phần cho ba "ủy viên Công hòa Pháp" ở VN, Lào, CPC.
Không những thế, Tổng ủy viên còn là người chịu trách nhiệm trước chính phủ Pháp về phòng thủ và an ninh ở Đông Dương. Tổng chỉ huy quân sự là người điều hành các hoạt động quân sự trong khuôn khổ các kế hoạch chung mà Tổng ủy viên trình lên chính phủ.

Hé hé hé thế mà kế hoạch ĐBP lại do Navarre trình bày tực tiếp với BTTM quân đội và Chính phủ Pháp, được gật một phát là tự thi hành chứ không phải đi xin ý kiến Toàn Uỷ (Commissaire Géneral) đấy.   :o

Tôi dịch là Toàn quyền vì bọn Tây nó thay đổi xoành xoạch, còn ta thì trước nay cứ Toàn quyền với Cao ủy mà phang, gộp chung vào một khái niệm là Toàn quyền.  ::)


Trích dẫn
Câu 14: Câu Navarre là tướng cao cấp nhất của Pháp (tính theo quân hàm) đã từng chỉ huy ở VN?

Không. Còn ông Ngũ kim Tưóng quân, sau truy phong Nguyên soái, Đờ Lát nữa.
Còn một người nữa cũng là tướng 5 sao. Xin chờ bác Altus bổ sung tiếp đáp án.

Hỏi là Na-va có phải không chứ có hỏi là "những ai" đâu nào? Ba-rem điểm rắc rối quá.

Tính chi ly ra thì còn Leclerc (1945-1946) và Ely (1954-1955) nữa.



Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Mười Hai, 2008, 09:55:44 PM
Lão Leclerc này lên lon nhanh còn hơn tên lửa ấy nhỉ ::)
Năm 1940 mới là thiếu tá, 6 năm sau đã là tướng 5 sao :o


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: mig21-58 trong 17 Tháng Mười Hai, 2008, 07:49:51 PM
câu 101 điện biên phủ :
trong cuộc k/c chống mỹ ,có những địa danh:ĐỒNG LỘC ,TRUÔNG BỒN ...v.v..,là trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân và pháo mỹ .thế thì trong k/c chống pháp có trọng điểm nào kiểu như thế không ?


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: baoleo trong 18 Tháng Mười Hai, 2008, 08:15:31 AM
câu 101 điện biên phủ :
trong cuộc k/c chống mỹ ,có những địa danh:ĐỒNG LỘC ,TRUÔNG BỒN ...v.v..,là trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân và pháo mỹ .thế thì trong k/c chống pháp có trọng điểm nào kiểu như thế không ?

Cò Nòi-trong trận Điện Biên.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: mig21-58 trong 18 Tháng Mười Hai, 2008, 08:57:39 AM
câu 101 điện biên phủ :
trong cuộc k/c chống mỹ ,có những địa danh:ĐỒNG LỘC ,TRUÔNG BỒN ...v.v..,là trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân và pháo mỹ .thế thì trong k/c chống pháp có trọng điểm nào kiểu như thế không ?

Cò Nòi-trong trận Điện Biên.
quá đúng trở lên  ;D


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 22 Tháng Mười Hai, 2008, 10:00:50 AM
Cái này chả biết để đâu, cho vào topic này vậy. Công tác viết sử của VN, 1 câu chuyện dài...
http://www.tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/5640/index.aspx

Vẫn là mình, người dũng sĩ cắm cờ trên đồi Him Lam!


Câu chuyện cảm động về dũng sĩ khuyết đôi mắt Nguyễn Hữu Oanh - người cắm cờ trên đồi Him Lam, qua lời kể của một cây bút quân đội, suốt nhiều năm đi xác minh lại tên cho "dũng sĩ" mà mình luôn ngưỡng mộ.

Người cắm cờ "quyết chiến quyết thắng"

Cách đây vừa tròn 50 năm, tôi và đám bạn chăn trâu ở quê đã rất ngưỡng mộ và rồi có dịp làm quen anh, người đội trưởng xung kích đã chỉ huy tiểu đội đánh thọc sâu vào trung tâm và là người có vinh dự cắm lá cờ “quyết chiến quyết thắng” trên cứ điểm Him Lam, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ.


(http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/62/2008/12/19_12/Dung3.jpg)
Chiến sĩ Nguyễn Hữu Oanh

Anh là Nguyễn Hữu Oanh, thương binh hạng 1/4, mù hai mắt, mất một cẳng tay trái vì vướng mìn địch khi chiến dịch Điện Biên Phủ đi được nửa chặng đường. Anh sinh năm 1929, quê thôn Phường Nga, Xã Yên Trung, huyện Yên Định, Thanh Hoá, nhập ngũ tháng 7-1949 trong hoàn cảnh trốn khỏi nhà địa chủ theo bộ đội.

Hồi đó, từ trại thương binh mù 139 Nguyễn Thái Học, lần đầu tiên sau chiến tranh chống Pháp kết thúc, anh được về thăm quê để làm thủ tục dạm hỏi chị Nguyễn Thị Thanh, người con gái ở thôn tôi, làm vợ.

Nhà chị Thanh cạnh bờ sông Cầu Chày bên bãi cỏ mênh mông, là nơi lũ trẻ chúng tôi thường chăn trâu. Chính vì vậy sự xuất hiện của người thanh niên có chiếc kính đen to với cây gậy dò đường trên ngực áo gắn ngay ngắn tấm huy hiệu“chiến sĩ Điện Biên” đã tạo nên sức hút rất mạnh tới lũ trẻ chăn trâu chúng tôi.

Khi hiểu sự tình, bọn trẻ chúng tôi rất lấy làm tự hào về anh, một người con quê hương đã có vinh dự cắm cờ Bác Hồ trao trên nóc lô cốt địch ở cứ điểm Him Lam mở màn chiến dịch.

Vì vậy, những hôm người nhà dẫn anh tới nhà chị Thanh, đám trẻ chúng tôi lại nhao nhao bắt anh ngồi xuống bãi cỏ ven sông đòi anh kể chuyện kéo pháo qua đèo “Trâu khóc”, chuyện “kéo pháo ra, kéo pháo vào”… rồi trận mở màn Him Lam rất ác liệt rồi cuối cùng quân ta giành phần thắng.

Thời gian trôi nhanh, năm 1959 đám cưới anh Oanh, chị Thanh được tổ chức tại Hà Nội. Bọn trẻ chúng tôi đều trưởng thành và mùa thu năm 1966 tôi nhập ngũ. Suốt từ đó đến hơn hai chục năm sau do đóng quân xa Hà Nội nên tôi không có dịp liên lạc gặp anh chị Oanh, Thanh.

Dẫu vậy, kể cả trong những năm tháng dài nơi chiến trường Quảng Trị hoặc đóng quân trên biên cương phía bắc, hình ảnh người dũng sĩ Điện Biên, thương binh mù Nguyễn Hữu Oanh luôn in đậm trong ký ức tôi.

Từ Nguyễn Hữu Oanh thành... Trần Oanh

Bẵng đi vì công việc, đến năm 2002, với cương vị đoàn trưởng Đoàn Kịch nói Quân đội, do yêu cầu cần có kịch bản với chủ đề Điện Biên Phủ để chuẩn bị cho đoàn dàn dựng chào mừng 50 năm chiến thắng lẫy lừng, tôi tìm đọc nhiều sách viết về Điện Biên, về Lịch sử Sư đoàn 312 - đơn vị của anh Nguyễn Hữu Oanh trong chiến dịch này .

(http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/62/2008/12/19_12/Dung2.jpg)
Cựu chiến binh Nguyễn Hữu Oanh, nguyên tiểu đội trưởng xung kích trận đánh Him Lan (giữa) và bà Nguyễn Thị Thanh, vợ cựu chiến binh Hữu Oanh

Khi đọc đoạn trận đánh Him Lam trong cuốn sử Sư đoàn 312 và các sách khác, sự kiện trận đánh Him Lam đều được ghi khá chi tiết đai ý:

Đúng 17 giờ 30 phút ngày 13-3-1954 quân ta được lệnh tấn công cứ điểm Him Lam. Khi có lệnh nổ súng, các mũi quân ta đồng loạt tấn công địch cả 3 mỏm 1,2,3 cứ điểm địch.

Trong khi mũi tiến công mỏm 2 và 3 phát triển thuận lợi thì hướng mỏm 1, mũi chủ yếu của tiểu đoàn 11 gặp ngay khó khăn khi đột phá mở cửa hàng rào.

Đại đội 243 sau khi phá được 7 hàng rào, đến hàng rào cuối cùng thì bị hai hoả điểm địch bắn chéo cánh sẻ rất quyết liệt làm tiểu đoàn 11 không thể nào tiến lên được. Tình hình vô cùng khẩn trương, nếu không dứt điểm, địch trong Him Lam có thể phản kích, các cứ điểm địch khác có thể tiếp viện giải vây.

Trước tình thế đó, đại đội 243 được lệnh xử dụng lực lượng bộc phá dự bị có đại liên yểm trợ bằng mọi cách phải quyết tử lao lên đánh bung hàng rào cuối cùng.

Loạt bộc phá vừa dứt, tiểu đội trưởng xung kích Trần Oanh (đúng ra phải là Nguyễn Hữu Oanh) dẫn đầu tiểu đội dao nhọn lao thẳng vào trung tâm như lốc cuốn dẫn đầu đội hình xung kích của tiểu đoàn 11 toả đánh chiếm các mục tiêu.

Bị địch cản lại, Nguyễn Hữu Oanh phân công 5 chiến sĩ đánh các lô cốt nhỏ, còn anh với quả thủ pháo trong tay, bằng động tác mau lẹ và chính xác anh đút qua lỗ châu mai tiêu diệt bọn địch trong lô cốt mẹ và anh nhảy lên nóc lô cốt phất cờ “quyết chiến qưuyết thắng” vẫy toàn đơn vị đánh thẳng vào trung tâm cứ điểm.

Đến 23 giờ 30 phút ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Him Lam…mở toang cánh cửa sắt án ngữ phía bắc cứ điểm Điện Biên Phủ.

Những chi tiết trên cơ bản đúng như chuyện chiến đấu mà anh Nguyễn Hữu Oanh thường kể cho bọn trẻ chúng tôi nghe từ năm 1958 và tại trang 154 trong cuốn “Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312” cũng thể hiện như vậy.

Chỉ có điều đáng lẽ ghi Tiểu đội trưởng xung kích Nguyến Hữu Oanh sách lại ghi là Tiểu đội trưởng xung kích Trần Oanh!

Cẩn thận tôi tìm tra một loạt sách hồi ức, ký sự khác của các vị lãnh đạo hàng đầu Quân đội, Bộ Tổng Tham mưu cũng đều ghi là Trần Oanh. Trước sai sót ấy tôi nghĩ ngay tới việc cần phải góp phần vào việc chỉnh sửa lại đúng tên Nguyễn Hữu Oanh trong cuốn sách này.

Ngày gặp gỡ...

Để cẩn thận, đầu năm 2002 tôi tìm tới nhà anh chị Oanh, Thanh; vừa là thăm gia đình sau 45 năm xa cách, vừa là hỏi chuyện lại bác Nguyễn Hữu Oanh về trận đánh Him Lam…

Thật tuyệt vời, mọi tình tiết chiến đấu, tên từng chiến sĩ trong tiểu đội, cán bộ trung đội, đại đội đến trung đoàn…bác Oanh kể khá chi tiết chính xác như mới xảy ra cách đây không lâu.

Bác nhớ mình thuộc biên chế tiểu đội 1 trung đội 4, Đại đội 243, tiểu đoàn 11, trung đoàn 141, Đại đoàn 312. Đặc biệt, với giọng xúc động, bác kể với tôi, đúng trưa ngày 13 tháng 3 năm 1954 trước khi hành quân chiếm lĩnh trận địa đánh trận mở màn chiến dịch, chi bộ đại đội 243 họp công bố quyết định của đảng uỷ cấp trên công nhận bác là đảng viên chính thức.

(http://www.tuanvietnam.net/Library/Images/62/2008/12/19_12/Dung1.jpg)
Trung tướng Trần Linh (trái) và cựu chiến binh Nguyễn Hữu Oanh

Qua chuyện kể tôi được biết bác Oanh, Thanh vẫn liên lạc với người Chính trị viên tiểu đoàn 11 khi đánh Him Lam là Trung tướng Trần Linh, nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Bộ đội Biên Phòng.

Tôi tìm đến gặp ông và nêu những ghi chép trận đánh Him Lam qua lời kể của bác Nguyến Hữu Oanh và Trung tướng Trần Linh xác nhận hoàn toàn đúng sự thực.

Từ đó tôi lặng lẽ chuẩn bị cứ liệu để có cơ sở đề xuất với Sư đoàn 312 sửa tên trong sử cho bác Nguyễn Hữu Oanh, dù biết việc này không phải nhanh chóng đạt hiệu quả.

"Mình còn có một gia đình, còn được gặp thủ trưởng..."

Trước sai sót trên, năm 2004 trước dịp kỷ niệm 50 chiến thắng Điện Biên Phủ, tôi và Trung tướng Trần Linh thống nhất thông tin cho gia đình bác Nguyễn Hữu Oanh biết dù đây là tin không vui có thể gây sốc cho bác Oanh.

Tôi đem cuốn “Lịch sử sư đoàn 312” (NXB QĐND 2000), cuốn “ Điện Biên Phủ, điểm hẹn lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp- (NXB QĐND 2000) đọc cho bác Nguyễn Hữu Oanh nghe đoạn đánh Him Lam.

Vì bác Oanh có bệnh huyết áp cao, phải sống trong bóng tối suốt 50 năm qua, lường trước diễn biến tâm lý không tốt, tôi cố tạo không khí nhẹ nhàng theo tinh thần có sai thì sửa, sơ xuất này sửa dễ thôi.

Đây là lần đầu tiên bác Oanh được nghe đoạn sử viết về trận đánh Him Lam mà mình là nhân vật trong cuộc. Nghe tôi đọc xong đoạn đó, lặng một lúc bác cất tiếng nhẹ nhàng: “Chuyện về tiểu đội xung kích, sử ghi như thế là đúng, nhưng tên người thì sai. Nhưng thôi, may mình vẫn còn sống, có một gia đình, còn được gặp thủ trưởng".

Nói đoạn, bác Oanh giang cánh tay lành và phần cánh tay cụt ôm vai Trung tướng Trần Linh, mặt ngẩng lên ra vẻ suy tư làm cả căn phòng nhỏ một chút chìm trong im lặng.

Để lấy lại không khí bình thường, tôi hứa với bác Oanh sẽ có cách làm hợp lý để việc chỉnh lại tên cho bác trong cuốn sử Sư đoàn nhanh được thực hiện.

Với đơn vị, việc làm đó là trách nhiệm, với gia đình, đó là niềm tự hào chính đáng vì đã có người chồng, người cha, người ông đã góp một phần chiến công vào chiến thắng chung của dân tộc. Làm được điều đó chính là tìm lại sự công bằng cho người dũng sĩ Him Lam đã nửa thế kỷ sống không ánh sáng.

"Mấy chục năm qua trong cuộc sống mình vẫn là mình"

Bất ngờ, ngày 10 tháng 2 năm 2007, chuyện buồn ập đến, do tái phát vết thương, người cựu chiến binh, đảng viên 54 năm tuổi đảng Nguyễn Hữu Oanh từ trần.

Trước khi nhắm mắt người dũng sĩ Điện Biên chỉ tâm tư điều rất giản dị rằng: “Nếu có điều kiện đề nghị đơn vị sửa tên trong cuốn sử: đại đội 243 đánh Him Lam không có ai là Trần Oanh. Nếu không sửa được đừng vì thế mà quá buồn lòng, điều quan trọng là mấy chục năm qua trong cuộc sống mình vẫn là mình".

Sau nỗi đau của gia đình bác Oanh, tôi thấy mình phải xúc tiến nhanh lời dặn của bác.

Và dịp may đã đến, một hôm, tại phòng đọc Thư viện Trung ương Quân đội, tôi tìm thấy trong tập báo lưu năm 1954, tờ báo số 131 ra ngày 20 tháng 7 trang 3 đăng toàn bộ tin các đại đoàn tiến hành Đại hội thi đua, tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ.

Trong số báo này có bài viết về Đại hội mừng công của Đại đoàn 312 kèm một bản danh sách Đại hội bầu được 13 chiến sĩ thi đua của Đại đoàn gồm các anh hùng Trần Can, Phan Đình Giót và ở số thứ tự thứ 4 có tên Nguyễn Hữu Oanh, A trưởng xung kích.

Bài báo còn viết lời biểu dương các chiến sĩ thi đua: “Các chiến sĩ anh hùng ấy mỗi người một vẻ thật xứng đãng với ý nghĩa chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Như đồng chí Nguyễn Hữu Oanh người tổ trưởng xung kích vượt qua lưới đạn lanh lẹn nhảy lên chóp chỉ huy sở địch, dương cao ngọn cờ “quyết chiến, quyết thắng” của Bác trong trận Him Lam”.

Có thêm tư liệu quý giá này, tôi tìm gặp Trung tướng Trần Linh đề nghị ông làm nhân chứng để hoàn thiện hồ sơ đề nghị Đảng uỷ, chỉ huy Sư đoàn 312 xem xét chỉnh sửa sai sót nêu trên.

Một thuận lợi nữa, nhân dịp kỷ niệm 60 năm truyền thống Tiểu đoàn Phủ Thông (tiểu đoàn 11E 141), tháng 7 năm 2008, Ban liên lạc truyền thống Tiểu đoàn kịp ấn hành cuốn sách “Tiểu đoàn Phủ Thông” và đã chỉnh sửa tên Nguyễn Hữu Oanh theo ý kiến của Trung tướng Trần Linh,

Ngày 25 tháng 11 năm 2008 tại Sở Chỉ huy Sư đoàn 312, Đại tá Lương Đình Hồng, bí thư Đảng uỷ, Chính uỷ Sư đoàn đã thân mật tiếp chị Nguyễn Thị Thanh và cháu Nguyễn Hữu Dũng con trai cả cùng đi.

Đại tá Lương Đình Hồng thay mặt lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn tiếp thu ý kiến phát hiện của gia đình, những tài liệu liên quan để có cơ sở quyết định chỉnh sửa những sai sót trên trong cuốn Lịch sử Sư đoàn lần bổ sung tái bản tới đây.

Sau ít ngày tiến hành thủ tục gặp gỡ nhân chứng, tra cứu thêm tư liệu khác, ngày 03-12-2008, tại công văn Số 327/CV-SĐ do Đại tá Chính uỷ Lương Đình Hồng ký gửi gia đình chị Nguyễn Thị Thanh và các cơ quan liên quan thông báo quyết định của Đảng uỷ, Chỉ huy Sư đoàn về đính chính toàn văn đoạn văn liên quan tới hành động chỉ huy, chiến đấu của đồng chí Nguyễn Hữu Oanh trong trận Him Lam là:

“Sau loạt bộc phá dữ dội, các chiến sĩ xung kích của tiểu đoàn 11 tràn qua cửa mở. Tiểu đội dao nhọn Nguyễn Hữu Oanh lao vào trung tâm như lốc cuốn. Bị địch cản lại, Oanh phân công 5 chiến sĩ đánh các lô cốt nhỏ, còn anh đánh lô cốt mẹ.

Sau khi lừa địch, áp sát cửa hầm, chỉ bằng một quả thủ pháo, Nguyến Hữu Oanh đã diệt lô cốt mẹ, cắm cờ lên đỉnh lô cốt vẫy toàn đơn vị đánh vào tung thâm…”.

Nhận công văn gia đình, người thân rất phấn khởi, với tôi cũng được nhẹ lòng vì đã góp phần trả lại đúng tên cho người dũng sĩ năm xưa đã từng 5 lần được tặng thưởng Huân chương do lập nhiều chiến công trong chiến đấu.

Sự việc như vậy đã có hậu, cũng xin được nói thêm đôi điều cùng độc giả.

Kể thêm về cuộc sống của người dũng sĩ cắm cờ đồi Him Lan

Năm 1959, sau khi anh chị Oanh, Thanh tổ chức lễ cưới, chị được Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhận vào công tác tại trại Nhi đồng miền Bắc, chuyên chăm sóc con em cán bộ cao cấp công tác ở các cơ quan Trung ương.

“Nếu có điều kiện đề nghị đơn vị sửa tên trong cuốn sử: đại đội 243 đánh Him Lam không có ai là Trần Oanh. Nếu không sửa được đừng vì thế mà quá buồn lòng, điều quan trọng là mấy chục năm qua trong cuộc sống mình vẫn là mình".

Khi giặc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc, chị Thanh bám Trại nhi đồng Miền Bắc sơ tán lên Lập Thạch, Vĩnh Phúc.

Khó khăn gian khổ nhưng vừa làm vừa học, chị nhanh chóng hoàn thành chương trình bổ túc văn hoá cấp 3 và khoá học nghiệp vụ nuôi dạy trẻ do trên cử đi. Còn bác Oanh theo trại thương binh mù sơ tán lên Tản Lĩnh, Ba Vì.

Vợ chồng xa nhau nhưng đều động viên cố gắng vượt lên gian khó phấn đấu sống sao có ích. Bác Oanh vẫn cùng đồng đội miệt mài học chữ nổi Brai đủ để đọc sách chữ nổi, tham gia lao động trông rau mầu, gia công tráng giấy nến đánh máy, gia công làm giấy ráp chơ cơ sở sản xuất thủ công, làm móc khung cửa…

Và quan trọng, trong gian khổ, hạnh phúc gia đình đầm ấm đã đến với anh chị.

Lần lượt các năm 1961,1964, 1970 các cháu Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Hữu Thành, Nguyễn Thảo Nguyên ra đời được học hành, trưởng thành, có công ăn việc làm, đó là sự đáp đền ý nghĩa nhất của cuộc đời.

Năm 1982 được kết nạp Đảng và từ đó đến 1996 được giao nhiệm vụ Chủ nhiệm nhà trẻ Trung ương, năm 1997 nghỉ hưu tại khu tập thể Pháo đài Láng, cạnh Trường cán bộ Phụ nữ Trung ương.

Điều cảm động là dẫu bị mù nhưng cứ mỗi dịp lễ kỷ niệm, nhất là dịp kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ, người thương binh mù ấy lại tự mình ra ban công nhà treo cờ Tổ quốc, trừ hôm bị mệt, bác nhắc các con làm thay bác và dặn không được để cờ nhàu.

***

Một 22-12 nữa lại đến, nhân 63 năm ngày thành lập Quân đội ta, tôi viết câu chuyện nhỏ này như là thắp một nén nhang cắm trên bàn thờ người dũng sĩ trận Him Lam năm xưa, người đã sống như những lời tâm niệm “là người lính chân chính dù thế nào cũng phải thể hiện “mình vẫn là mình”.


Trịnh Thanh Phi


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: tvm303 trong 23 Tháng Mười Hai, 2008, 05:40:34 AM
Các anh cho em hỏi có phải Leclerc là tướng Đồng Minh đầu tiên tiến vào GP Paris phải ko ạ? Tay này khà nổi tiếng nhưng đúng là lên quân hàm như tên lửa thật, như bác Giáp lên đại tướng.


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: minhtit trong 12 Tháng Một, 2009, 12:53:58 AM
Chờ mãi không thấy bác vo quoc tuan viết tiếp nên em mạn phép bác gửi 1 bài hồi ký của Thượng Tướng Vũ Lăng do Nhà văn Quân đội Thiếu Tướng Hồ Phương ghi lại về trận đánh đồi C1 & C2 này

CHIẾC CỘT CỜ TRÊN ĐỒI C1

I
Trước hết tôi muốn nói tới chiếc cột cờ. Đó là một vật chuẩn, đồng thời cũng là một vị trí then chốt, một địa điểm cao nhất trên vị trí đồi C1 của bọn Pháp ở Điện Biên Phủ. Có thể nói suốt ba mươi ngày đêm ròng rã trên C1, các cuộc chiến đấu đều diễn ra giằng co tàn khốc chung quanh cái cột cờ ấy. Dù cho về sau này cái cột đã mất biến, cả cái trụ đã phía dưới cũng đã bị ĐKZ bắn nát, thậm chí cả khu đất cao chỗ ấy đã bị pháo, cối san bằng, chúng vẫn cứ gọi nó là "cột cờ". Cột cờ, hai tiếng ấy luôn luôn được nhắc tới trong tất cả các câu chuyện hằng ngày của chúng tôi. Cột cờ, hai tiếng ấy đã làm đau đầu cán bộ, chiến sĩ chúng tôi không biết chứng nào, và đã thu hút tất cả tâm trí, nghị lực của chúng tôi trong những ngày chiến đấu gay gắt ấy.
*
* *
Trước khi đánh C1, trung đoàn chúng tôi đã trải qua nhiều trận chiến đấu lẻ tẻ nhưng cũng không kém phần ác liệt. Nổi bật nhất là trận "Đồi xanh" bảo vệ pháo 75 mi-li-mét và khu hậu tuyến, trước khi mở màn chiến dịch. Chúng tôi cũng đã trải qua nhiều ngày gian khổ làm đường, rồi kéo pháo vào trận địa. Quân số của trung đoàn đã hao hụt ít nhiều. Sức khoẻ của cán bộ, chiến sĩ đã có chiều bị giảm sút. Tuy nhiên, khi nhận nhiệm vụ đánh C1 - một trong những cao điểm trọng yếu thuộc khu Đông Mường Thanh - tất cả trung đoàn tôi đều vô cùng phấn chấn.
Để chuẩn bị tiêu diệt cái C1 ấy, chúng tôi đã kiên trì đào trận địa, liên tục mười tám đêm liền. Công cuộc đào giao thông hào, trận địa cũng là một cuộc chiến đấu dằng dai đổ máu không ngừng. Ác nhất là pháo Hồng Cúm. Không đêm nào bọn địch ở đó không bắn tới tấp về phía chúng tôi. Từng loạt đạn rền lên như những hồi trống. Cứ mỗi lần nghe thấy những "hồi trống" ấy, lòng tôi lại như có lửa đốt. Đêm nào cũng vậy, cứ khoảng 11, 12 giờ lại thấy anh em khiêng thương binh, tử sĩ trở về. Đêm thì hai, ba, có đêm lên tới chín, mười đồng chí. Ban ngày còn thêm cái nạn máy bay. Đã có một hôm, khi vừa mới ra khỏi cửa rừng, một nửa tiểu đội đã bị mất biến trong một đợt bom dữ dội.
Trận địa của chúng tôi men theo những quả đồi trọc rồi mở rộng trên một tràn ruộng hẹp dưới cân C1. Càng ra tới gần địch, càng bị bắn phá nhiều, chiến hào của chúng tôi càng nông và hẹp dần. Đạn thẳng từ C1 bắn vỗ mặt, đạn thẳng từ A1 và D1, hai vị trí kẹp hai bên nách, bắn chéo vào sườn chúng tôi. Để chống đỡ với những loạt đạn thẳng ấy, chúng tôi đã phải dùng những con cúi bằng rơm bện, dài khoảng hai mét, đường kính mét rưỡi, lăn lên phía trước, rồi bò phía sau mà khoét đất. Công việc càng chậm chạp, tinh thần anh tem càng căng thẳng. Tuy nhiên, với một quyết tâm cao độ, một dũng khí cách mạng đã từng được hun đúc các chiến sĩ, cán bộ đã nghiến răng lại, kẻ trước ngã, người sau tiên lên, không một giây phút chùn bước.
Đã có đêm tôi ra trận cùng với anh em để kiểm tra và cổ vũ, hướng dẫn cho họ mau chóng hoàn thành nhiệm vụ. Nom những người chiến sĩ lấm láp, hì hục với chiếc xẻng sáng loáng trong chiến hào, mặt bóng nhẫy mồ hôi, hoang lổ vết máu, lòng tôi cuộn lên biết bao niềm kiêu hãnh, cảm thương khó tả. Chính họ, những người anh hùng ấy đã gây một tác động mãnh liệt tới tình thần và quyết tâm của tôi trong suốt cuộc chiến đấu ấy, cũng như mãi mãi về sau này.
II
Những trận đánh mở màn: Him Lam, đồi Độc Lập đã diễn ra rất ác liệt nhưng cũng tuyệt đẹp. Tôi ngồi trên đài quan sát nom sang khá rõ. Tinh thần tôi càng thêm nao nức.
Hôm ấy tôi được lệnh về Bộ chỉ huy chiến dịch họp. Từ chỗ tôi về trên ấy có vài tiếng đồng hồ vượt núi. Các cán bộ đơn vị bạn cũng kéo về khá đông đủ. Nhiệm vụ trung đoàn tôi đã được quy định từ trước: tiêu diệt C1 rồi phát triển xuống C2 (một quả đồi thấp hơn, dinh liền với C1 bởi một "yên ngựa". C2 nằm vào phía trong tập đoàn cứ điểm , C1 án ngữ phía ngoài). Lực lượng, tình hình địch ở C1 thế nào, chúng tôi đã nắm tương đối vững, nhưng C2 thì vẫn chưa có một chút tài liệu gì. Tôi tranh thủ hỏi các đồng chí quân báo chiến dịch, nhưng cũng chưa ai rõ vì không bắt được "lưỡi".
Sau khi thảo luận kế hoạch tác chiến, không thấy cấp trên đả động tới việc tăng cường trọng pháo 105 mi-li-mét cho chúng tôi, tôi ngạc nhiên và trong thâm tâm không được vui cho lắm. Phải thú thật hồi đó chúng tôi rất "mê" pháo lớn. Trong suốt mấy năm kháng chiến, chưa lần nào chúng tôi được loại súng này chi viện. Sau buổi họp, một cán bộ cao cấp ở Cục tác chiến gọi tôi tới nói chuyện. Biết tôi thắc mắc về vấn đề pháo, anh an ủi:
- Vũ Lăng ạ! C1 của các anh sẽ lợi dụng được pháo hoả của chiến dịch bắn vào A1, D1 đấy! Địch sẽ bị thu hút vào chỗ ấy, các anh sẽ xung phong dễ dàng thôi. Bộ chỉ huy sẽ cho các anh thêm một trung đội súng cối 81 là đủ.
Tôi vẫn chỉ cười gượng. Anh tiếp:
- Như vậy là dứt khoát các anh không có hoả lực trọng pháo chi viện đấy nhé! Bộ chỉ huy cần tập trung vào những nơi chủ yếu (ý nói A1).
Tôi không cưỡng lại mình được nữa, hỏi lại:
- Vậy C1 nó là cái gì?
Anh cười:
- Cũng quan trọng! Nhưng cái kia (ý nói A1) là cao điểm khống chế. Tập trung chi viện cho nó cũng là bảo vệ cho các anh rồi.
Tôi vẫn chưa thông:
- Nhưng nếu nhở ra A1 không xong, chúng tôi lại xung phong trước, thì anh bảo sao?
Anh cán bộ Cục tác chiến không trả lời thẳng vào câu hỏi của tôi mà nói sang vấn đề tư tưởng:
- Không nên bản vị! Bộ phận phải phục tùng toàn cục anh ạ!
Tôi vẫn cố yêu cầu:
- Nhưng ít nhất các anh cũng phải cho tôi cối 120 chứ.
- Không có 120 đâu!
- Thế thì pháo 75 vậy.
- Cũng không được! Đã bảo tập trung cho hướng chủ yếu kia mà! Các anh đã có ĐKZ, cối 81 là tốt lắm rồi...
Tôi không nói nữa, nhưng trong lòng vẫn còn lo ngại, không biết về sẽ đả thông làm sao cho anh em thông suốt đây, vì tư tưởng của anh em rất thích có pháo. Cũng may, một lúc sau anh cán bộ Cục tác chiến báo cáo mọi chuyện lên anh Văn. Tôi và đồng chí An trung đoàn trưởng (người phụ trách đánh A1 đợt đầu) được gọi lên để anh Văn hỏi chuyện. Tôi mừng lắm.
Anh tiếp hai chúng tôi rất ân cần, rồi nhẹ nhàng bảo:
- Các cậu báo cáo quyết tâm đi!
Sau khi đồng chí An nói, đến lượt tôi. Anh luôn luôn mở đôi mắt tươi vui nhìn chúng tôi, luôn luôn mỉm cười và chăm chú lắng nghe. Chúng tôi báo cáo xong, anh hỏi rất tỉ mỉ về tình hình tư tưởng bộ đội, chất lượng cán bộ, chiến sĩ, tình hình đoàn kết nội bộ. Anh hỏi cụ thể tới từng đồng chí cán bộ đại đội làm nhiệm vụ trọng yếu. Cuối cùng anh hỏi:
- Vậy các cậu có tin tưởng chắn thắng không?
Cho tới lúc này, mọi sự thắc mắc của tôi đã tiêu tan hết. Tôi đáp thành thật:
- Báo cáo anh, tin lắm! Bộ đã giao, nhất định chúng tôi làm được.
Anh hỏi luôn:
- Cấu đánh độ bao lâu thì xong?
Tôi đáp:
- Xin anh 45 phút.
- Thôi cho cậu một giờ!
Đoạn quay lại phía đồng chí An:
- Còn cậu?
An huých khẽ tôi một cái, có ý nói: "Cậu tố lên hết bây giờ tớ biết ăn nói sao đây?", rồi An đáp:
- Báo cáo, cũng in anh 45 phút.
Anh Văn cười:
- Thôi, cái này khó hơn, cho cậu một giờ rưỡi, cùng lắm là hai giờ.
Nói xong, anh lại quay trở về phía tôi:
- Thế bây giờ cậu còn thắc mắc gì nhất?
Mặt tôi nóng bừng. Tôi rất lúng túng, sau cũng đánh báo nói thật:
- Kể ra, Bộ cho được một tí pháo thì tốt.
Anh vỗ vào bả vai tôi, cười:
- Thôi được, sẽ cho cậu hai khẩu 75 và ba mươi viên đạn 105.
Tôi sướng quá:
- Vâng! Thế thì có thể xin cam đoan giữ đúng lời hứa với anh!
- Được rồi! Giờ về phải quán triệt quyết tâm cho anh em! Đơn vị cậu đã có thành tích. Lần này phải cố gắng, đánh cho gọn, cho nhanh, phương châm chung là "Đánh chắc tiến chắc" nhưng trong từng trận phải đánh nhanh giải quyết nhanh.
- Rõ!
Tôi quay trở về đơn vị ngay, hai chân như mọc cánh. Sau đó chúng tôi lại nhận được điện: Bộ đồng ý cho cả một số cối 120 mi-li-mét nữa.
III
Trong lúc còn chuẩn bị, chưa nổ súng, tôi tranh thủ thời gian xuống thăm và động viên đại đội chủ công. Bao giờ cũng vậy, trước khi bước vào chiến đấu, chúng tôi vẫn thường muốn được tận mắt trông thấy tất cả công việc chuẩn bị của cái phân đội chủ chốt ấy.
Tôi tới vừa lúc đại đội đang làm lễ trao cờ "Quyết chiến quyết thắng" cho một chiến sĩ danh dự. Tôi mừng rỡ nhận ra người chiến sĩ ấy là đồng chí Cải, tiểu đội trưởng dao nhọn. Đó là một chiến sĩ nhỏ nhắn, rắn như lim. Khuôn mặt tròn trĩnh, chất phác của anh ta toát ra lòng trung thực và ý chí kiên nghị. Tôi còn nhớ hồi chiến dịch Tây Bắc năm trước, khi đi chuẩn bị chiến trường, tôi có lấy một chiến sĩ đi cùng để dẫn đường. Đó là Cải. Lúc đầu tôi cũng không chú ý tới anh này nhiều lắm, chỉ thấy đó là một chiến sĩ thật thà và có kỷ luật. Những càng đi mới càng thấy đó là một chiến sĩ rất tận tuỵ, tháo vát lại gan dạ và thông minh. Cải có một trí nhớ kỳ lạ. Đường rừng ngoắt ngoéo đến thế nào, Cải vẫn không bao giờ bị lạc. Chỉ có một lần Cải đề nghị chúng tôi dừng lại năm phút để tìm đường. Nhưng chỉ sau hai phút, nhìn dấu cây, Cải đã nhớ ra được con đường mòn mà lần trước chúng tôi đã đi qua. Nom thái độ rất bình tĩnh, linh hoạt của Cải lúc đó, tôi rất thích. Từ đó tôi mang một mối cảm tình đặc biệt với Cải. Mỗi lần gặp nhau, chúng tôi đều chuyện trò rất vui vẻ. Hôm nay thấy Cải được mang lá cờ "Quyết chiến quyết thắng", tôi rất hài lòng. Tôi chúc mừng Cải và nhắc nhủ Cải phải đánh cho dũng mãnh, giải quyết trận chiến đấu cho nhanh. Cải cười - nụ cười rất tươi và hồn nhiên như con trẻ:
- Ban chỉ huy cứ tin ở chúng tôi!
Tôi hỏi:
- Có đề nghị gì không?
Cải lại cười:
- Chỉ đề nghị ban chỉ huy nếu không bận lắm, xuống ngủ với anh em dao nhọn một tối.
Mặc dầu rất bận, nhưng tôi vui vẻ nhận lời ngay. Đêm ấy bộ đội chưa xuất kích. Tôi ngủ với tổ của Cải trong một căn hầm nhỏ, khoét vào vách núi. Chúng tôi chuyện trò gần thâu đêm, hết chuyện thời sự, đến chuyện gia đình, vợ con. Đêm ấy tôi mới được hiểu thêm về cuộc đời khổ cực của Cải. Cải vẫn chưa vợ. Tôi cứ hỏi đùa mãi: muốn lấy vợ Thái hay vợ Kinh? Cải đáp: "Bao giờ độc lập mới lấy". Tôi không nói ra, nhưng đã định bụng sau chiến dịch này trở về sẽ giới thiệu cho cậu ấy một người thật xứng đáng.
Chiều hôm sau (30 tháng 3 năm 1954), tôi cho toàn đơn vị triển khai sớm. Đã có kinh nghiệm, tôi biết nếu tranh thủ triển khai được bí mật, nhanh chóng thì phần thắng đã nắm được một nửa. Tôi có thói quen trước khi ra trận chỉ ăn một miếng cơm nhỏ và uống một hớp nước. Tôi cũng có thói quen lúc bộ đội xuất kích, thường chọn một vị trí đứng có thể nhìn bao quát được tất cả hàng quân, tất cả những người cán bộ, chiến sĩ thân yêu của mình trước khi họ bước vào cuộc chiến đấu một sống một chết với quân thù. Cũng cần phải nói: trong tất cả những người đồng chí thân yêu ấy, vẫn có một số người mà không riêng tôi, bất cứ người chỉ huy nào cũng vậy đều quan tâm và có một mối tình cảm đặc biệt: ấy là những người cán bộ chủ chốt, những người đã cùng mình lăn lộn bao phen, vào sinh ra tử..., những người chiến sĩ giỏi, quý như châu báu của đơn vị. Các đồng chí ấy đều đảm đương những nhiệm vụ nặng nề nhất, và trong quá trình biến hoá của trận đánh, bao giờ họ cũng tự động xung phong tới những nơi hiểm nghèo nhất để giành lấy phần thắng lợi quyết định cho đơn vị, và nói rộng hơn: cho Đất Nước! Tôi thích được bắt tay và nói với họ một vài lời, có làm được như thế, tôi mới yên tâm trở về sở chỉ huy. Mấy hôm trước mưa, giao thông hào đều lõng bõng nước và bùn non. Các chiến sĩ bước đi rào rào, mặt mũi anh nào cũng tươi tỉnh như đi hội. Nhiều anh vừa đi vừa nhảy nhót, cười nói rúc rích. Cải từ phía sau xăm xăm đi tới. Tôi gọi. Cải quay lại, cả khuôn mặt trẻ măng của Cải đỏ bừng lên, tôi siết chặt tay Cải, nhìn vào lá cờ " Quyết chiến quyết thắng" đỏ rực cuốn tròn, gài chéo trước ngực Cải.
- Chúc đồng chí thắng lợi!
Bàn tay Cải cũng siết chặt lấy tay tôi:
- Ban chỉ huy cứ tin ở ah em dao nhọn...
Tôi không biết nói thêm điều gì với người chiến sĩ vẻ vang ấy nữa.
Đồng chí chính trị viên đại đội chủ công bước tới. Nom thấy tôi, anh ôm chầm lấy và ứa nước mắt:
- Tôi xúc động quá anh ạ! Chưa bao giờ trung đoàn ta được đánh lớn và đánh một trận quan trọng như trận này. Anh em lại ra quân đẹp quá!
Tôi cũng ôm lấy vai đồng chí ấy, lưu luyến vô ngần.
16 giờ, bộ đội của chúng tôi đã ra tới cánh đồng. Tôi quay trở về sở chỉ huy. Lên cao nhìn xuống trận địa, tôi càng yên tâm và càng thấy rõ tác dụng của chiến hào. Quân ta đi đông như vậy mà tuyệt nhiên không nom thấy gì vì các giao thông hào đã được nguỵ trang rất kỹ, lá che kín cả bên trên. Tôi thở ra một cái nhẹ nhõm, khoan khoái.


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: minhtit trong 12 Tháng Một, 2009, 12:58:40 AM
IV
Trời chưa tối. Tôi nhìn cái cột cờ rất rõ. Mảnh vải ba màu xanh, trắng, đỏ treo ủ rũ trên đầu một cái cột tre. Đồn địch đỏ loét, nham nhở hầm hố, chi chít bãi mìn, dây thép gai. Cái cột cờ chọc thẳng lên từ chính giữa đỉnh đồi, nom tựa như một cái đũa bông cắm trên một mâm xôi gấc đã rữa nát. Đây không phải lần đầu tiên tôi nom thấy cái cột cờ này cũng như cái cột cờ xâm lược ở những đồn địch thuộc các chiến trường khác. Tôi không có xúc động gì lãng mạn. Ý nghĩ của tôi hôm nay tập trung, tập trung đến căng thẳng vào những vấn đề thuần tuý quân sự. Làm thế nào để nhanh chóng chiếm được cái cột cờ quan trọng ấy? Chiếm được rồi, giữ thế nào? Dưới cột cờ có hầm ngầm không? Một giả thuyết đặt ra: nếu không chiếm được cột cờ thì tình hình trận đánh sẽ xấu đến thế nào?...
Ánh sáng ngả màu chầm chậm. Chiếc kim đồng hồ đã chỉ gần con số 5. Chiếc "tai" máy nói không rời trên tay tôi nửa phút. Một gợn sóng hồi hộp lướt nhanh trong trái tim tôi. Tôi biết tôi đang chờ đợi chủ yếu cái C1 củ chúng tôi, nhưng đồng thời cũng chờ đợi cả một loạt các trận đánh ngay bên sườn: A1, D1 và x kia là E1, cả một đợt tấn công như vũ bão, quy mô có một tác dụng quyết định tới số phận của toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ này.
Đúng 17 giờ, trọng pháo bắt đầu gầm lên những tiếng đầu tiên, xé tan sự im lặng đang đè nặng trĩu trên chiến trường. Núi rừng rung chuyển ào ào. Cơn dông tố đã bắt đầu. Chỉ sau có hai quả hiệu chỉnh mà chiếc cột cờ đã biến mất. Tôi phải kêu lên: "Giỏi quá!". Và từ đầu dây nói bên kia, Quán, tiểu đoàn trưởng chủ công cũng reo lên: "Xuya lắm! Xuya lắm! Anh em phấn khởi lắm!". Tôi dặn Quán phải quan sát kỹ và chuẩn bị sẵn sàng để xung phong.
Sau khi bắn hiệu chỉnh, trọng pháo chuyển sang bắn phá hoại. Cả cái C1 chìm ngập trong một màn khói khổng lồ, và tưởng chứng như đã nát vụn trong những tiếng sấm sét liên hồi. Tôi ra lệnh cho pháo 75 mi-li-mét, cối 81 mi-li-mét và bộ đội nổ súng tức khắc, đồng thời phóng lôi cũng bắt đầu tranh thủ mở hàng rào. Đây là lần đầu tiên chúng tôi dùng cối 60 mi-li-mét để bắn bộc phá phóng mở hàng rào thay cho các tổ đánh bộc phá ống. Tôi chăm chú theo dõi. Những tiếng bộc phá nổ rất dữ, lửa đỏ rực trời, khói đen phụt ra thành từng vệt dài nối nhau trên sườn đồi. Trong khoảnh khắc, Quán báo cáo về: bộc phá phóng rất chính xác, đã mở được hàng rào nhanh quá dự kiến. Hiện chỉ còn lại hàng rào cuối cùng, có lẽ không phải dùng tới tổ bộc phá ống dự bị.
Quán vừa báo cáo xong thì trọng pháo của trên chi viện cho chúng tôi cũng im bặt. Tất cả chúng tôi ở sở chỉ huy đều ngạc nhiên vì cứ tưởng bắn phải lâu lắm, ai ngờ mới có một loáng đã hết rồi. Vừa lúc đó, một sự kiện khác lại xảy đến: Qua các màn khói đã tan mờ, tôi thấy xung kích đang tới tấp theo đường mở xông lên đồi. Mồ hôi tôi toát ra. Tôi dụi mắt nhìn lại, tưởng mình nom nhầm. Nhưng quả đúng là bộ binh đang xung phong. Tôi chỉ còn kịp vồ lấy máy nói gào lên: " Yêu cầu pháo không cấp tập nữa!". Nguyên do như thế này; trong kế hoạch tác chiến đã quy định: sau khi bắn phá hoại, pháo còn bắn cấp tập mấy phút nữa, rồi bộ binh mới xung phong. Tình hình đã xảy ra hoàn toàn không ăn khớp. Tôi đoán ngay: có lẽ do đã quen với lối đánh cũ: khi pháo vừa dứt là bộ binh xông lên tới lô-cốt rồi. Quả nhiên về sau hỏi ra mới rõ: đồng chí tiểu đoàn phó khi ấy phấn khởi quá đã quên mất quy định trong kế hoạch, tức tốc hạ lệnh xung phong ngay.
Tôi gọi máy nói về đại đoàn vừa xong thì đã nom thấy xung kích lên tới chân cột cờ, và chỉ một lát sau đã thấy như có một ngọn lửa đỏ nổi bùng lên giữa đám khói mù mịt: lá cờ "Quyết chiến quyết thắng"! Cải đã lên tới đấy rồi! Khắp người tôi nóng bừng lên. Lá cờ mỗi lúc một hiện rõ, vẫy vùng ngang dọc, bay lồng lộng trong khói lửa. Máy điện thoại đổ chuông vang rộn. Quán nói như thét lên từ phía bên kia: "Chúng tôi đã chiếm được cột cờ!".
Máu trong người tôi càng cuồn cuộn chảy. Tôi muốn reo to lên. Cột cờ! Chúng tôi đã chiếm được vị trí quyết định rồi! C1 của chúng tôi hoàn toàn chắc thắng rồi! Tôi xem lại đồng hồ: tính từ lúc pháo bắn cho tới lúc bộ binh xung phong chỉ có hai mươi phút, và tính từ lúc xung phong tới khi đánh chiếm được cột cờ chỉ có tám phút. Thật là ngoài dự kiến!
Quán báo cáo tiếp: bộ đội của chúng tôi đã đánh sang khu vô tuyến điện. Địch ở đây đang kháng cự, nhưng yếu ớt. Nghe nói, tôi không lo lắng chút nào. Quả nhiên, cũng chỉ vài phút sau, Quán đã reo lên trong máy nói, báo cáo quân ta đã hoàn toàn làm chủ C1, quân địch đã bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ.
Tin chiến thắng ấy lập tức được báo cáo lên Bộ. Cũng ngay lúc ấy chúng tôi nhận được điện: Bộ quyết định tặng thưởng cho tiểu đoàn chủ công của chúng tôi Huân chương Quân công hạng ba.
Nghe xong, một niềm vui sướng rừng rực tràn ngập khắp người tôi. Niềm xúc động quá lớn ấy cộng thêm sự mệt mỏi căng thẳng thái quá, làm cho quả tim tôi bỗng như bị ai bóp nghẹt lại, và hai mắt hoa lên, hai chân bủn rủn muốn ngã xuống. Đồng chí chính uỷ vội đỡ tôi đi nằm.


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: minhtit trong 12 Tháng Một, 2009, 01:00:19 AM
V
Đến khi tỉnh dậy tôi thấy mình vẫn còn nằm ở sở chỉ huy. Ngọn đèn bão vàng khè đang phun khói mù mịt trong gian hầm. Tiếng chuông máy điện thoại réo liên tục. Mấy cậu bộ đàm đang gọi ra rả. Đồng chí Phạm Sinh, chính uỷ đang trao đổi ý kiến với đồng chí Hoàn, trung đoàn phó. Câu chuyện giữa hai người có vẻ rất khẩn cấp và nghiêm trọng, phía ngoài trận địa, tiếng trọng pháo đang nổ dồn dập. Những loạt liên thanh kéo dài đến kiệt sức.
Tôi biết ngay có chuyện khó khăn rồi. Dự đoán của tôi không sai. Đồng chí chính uỷ cho biết: Sau khi chiếm được C1, quân ta tiếp tục đánh xuống C2 nhưng đã vấp phải những lưới lửa ác liệt ở yên ngựa. Có những khẩu trọng liên bốn nòng nào đó, không rõ ở đâu đã bắn xối xả vào đội hình của quân ta nhiều lần, qua mấy đợt xung phong. Đấy là chưa kể tới pháo ở Hồng Cúm giội về, Mường Thanh bắn tới. Về phía ta, tiểu đoàn trưởng Quán đã phạm một sai lầm là đưa thêm một đại đội (đại đội 35) lên C1 thành ra rất ùn người, trong khi công sự của địch đã bị phá huỷ gần hết, mà quân ta thì chưa kịp cải tạo hoặc làm thêm những hầm hố mới. Lại thêm một khó khăn nữa: một đại đội của một tiểu đoàn bạn (thuộc đại đoàn khác) có nhiệm vụ tranh thủ lúc C1, D1 và đồi E bị tấn công, thọc sâu vào giữa khe hở của hai đồn C1, D1, đánh vào tung thâm địch. Nhưng không ngờ bãi mìn, dây thép gai ở đó quá dày đặc. Họ phá rất khó khăn, lại bị pháo địch bắn dữ dội, phải tạt lên C1 trú chân nhờ và đang tìm cách đánh xuống. Thành thử hiện nay trên C1 có tới ba đại đội. Cả cái khối người đặc biệt ấy không có đầy đủ công sự đang gần như phơi lưng dưới làn đại bác của địch. Hộ không thể rút xuống dễ dàng được nữa. Trọng pháo địch đã bắn chặn cố định, phong toả mất đường liên lạc về hậu tuyến rồi.
Về phía A1, trung đoàn của đồng chí An cũng đang gặp nhiều trở ngại, chưa hoàn thành nhiệm vụ. Cho nên hoả lực địch từ A1 bắn lướt sườn chúng tôi ở C1 rất gắt. Chỉ có D1 là đã xong. Phía sườn phải của chúng tôi tương đối được bảo đảm.
Nghe rõ được tình hình, tôi hiểu ngay: chúng tôi đã ở vào một tình thế bất lợi, nếu không mau chóng giải quyết thì chiến sĩ sẽ còn thương vong gấp bội, mà rồi C1 sẽ hoàn toàn mất đứt! Chính uỷ Phạm Sinh cùng tôi và đồng chí Hoàn, trung đoàn phó thảo luận; chúng tôi nhận định: vẫn có khả năng (dù không hoàn toàn chắc chắn) phát triển sâu xuống C2, nhưng gay nhất là việc đánh phản xung phong ngày hôm sau. Chúng tôi rất mong A1 thành công, nếu được như thế, chúng tôi sẽ được đơn vị bạn bên đó chi viện, thuận lợi biết ngần nào. Sau khi tính toán, chúng tôi đề nghị lên đại đoàn: Một là, chúng tôi tiếp tục đánh C2, nhưng yêu cầu đại đoàn sẽ bảo đảm cho việc đánh phản xung phong ngày hôm sau. Hai là, trước tình hình khó khăn này, cho rút. Nếu đại đoàn cho rút thì xin cho rút sớm, vì để sáng mai mới rút e sẽ còn khó khăn hơn nữa.
Phải nói thành thực rằng quyết định ấy của chúng tôi không làm cho chúng tôi sung sướng gì.
Cho tới khoảng ba, bốn giờ sáng, tình hình trên C1 vẫn không tiến triển được gì hơn, mặc dầu qua những lời báo cáo của Quán, chúng tôi hiểu rằng tình thần anh em vẫn rất tốt. Cả đại đội bạn cũng vậy, họ đề nghị được tình nguyện cùng tham gia chiến đấu nếu quân phản kích đánh lên. Quán đã kiên quyết dùng đại đội 35 liên tục xung phong xuống C2 mấy lần nữa. Kết quả chỉ có một trung đội đã đột nhập được C2, nhưng ngay sau đó thì mất liên lạc hoàn toàn. Hiện nay địch vẫn phong toả "yên ngựa" rất mạnh.
Chúng tôi bèn cho hoả lực bắn kiềm chế, để chi viện cho trung đội đã anh dũng đột nhập C2, mặt khác cấp tốc yêu cầu pháo của Mặt trận kiềm chế pháo địch ở Hồng-cúm, Mường Thanh.
Sau đó mạng dây điện thoại của chúng tôi bị bắn đứt tứ tung. Việc liên lạc rất khó khăn. Trong khi chờ quyết định của đại đoàn, trung đoàn phó Hoàn đã tung thêm một trung đội lên C1 để đánh dấn một đợt cuối cùng nữa, nhưng cũng vẫn không có kết quả. Mờ sáng, đồng chí Quán báo cáo về; đã nom thấy quân địch từ Mường Thành kéo ra cùng hai xe tăng. Chúng đang tập kết ở dưới chân C2, chuẩn bị đánh lên C1.
Cũng trong thời gian ấy chúng tôi nhận được lệnh của đại đoàn đồng ý cho rút.
Tôi vội cầm lấy máy điện thoại. Nhưng tôi thất vọng, mạng dây lại bị đứt mất rồi. tôi sử dụng bộ đàm. Nhưng ác nghiệt thay, bộ đàm cũng bị hỏng nốt. Máu trong người tôi sôi lên. Tim gan cháy bỏng. Tôi xé vội một tờ giấy viết mấy dòng vắn tắt rồi trao cho một đồng chí cán bộ tác huấn và ra lệnh:
- Bằng bất cứ cách nào, đồng chí phải đưa được mệnh lệnh này tới tay đồng chí Quán ngay lập tức!
Lúc ấy vào khoảng 6 giờ sáng.
Cứ như thế, dù đã rất mệt mỏi, cả ngày hôm ấy tôi vẫn cố tham gia cùng đồng chí Phạm Sinh và các đồng chí khác bàn bạc, theo dõi, chỉ huy cuộc chiến đấu đánh quân phản kích của địch.
Bộ đội của chúng tôi đã không chịu rút khỏi C1. Khi mệnh lệnh tới, Quan và Niệm (chính trị viên tiểu đoàn chủ động) đều rất ngạc nhiên; họ nhận định rằng: Đến lúc ấy rút không lợi nữa, chỉ tổ thương vong thêm. Tiểu đoàn uỷ đã họp cấp tốc tại trận, quyết định lãnh đạo bộ đội ở lại chiến đấu và cử Quán trở về báo cáo. Tình hình A1 lúc đó càng xấu. Địch coi như đã giữ vững được A1, nên dốc lực lượng sang giành lại C1, vì C1 mất, A1 sẽ bị nguy hiểm. (Hai quả đồi A1, C1 ở sát nhau gần như sinh đôi. Vận mạng của hai vị trí ấy có liên quan rất mật thiết với nhau).
Do đó các cuộc chiến đấu giành giật nhau trên C1 đã diễn ra hết sức ác liệt. Lối đánh của địch như sau: bắn pháo thật dữ, sau đó cho bộ binh xung phong. Nếu bị đánh bật trở xuống, chúng lại oanh tạc, rồi lại xung phong. Cứ như thế liên tục hết đợt này tới đợt khác. Lối đánh ấy không có gì mới mẻ nhưng cũng đã gây cho bộ đội chúng tôi nhiều tổn thất, vì như tôi đã nói: công sự, hầm hố của chúng tôi không đầy đủ, chưa vững chắc, ngoài ra bộ đội của chúng tôi lại chưa quen đánh phòng ngự cho lắm. Tôi rất nóng ruột chờ Quán. Nhưng giờ này trôi qua, giờ khác trôi qua, vẫn không thấy đồng chí ấy trở về. Trong thâm tâm tôi chỉ cầu mong rằng đồng chí ấy nếu có gặp chuyện chẳng lành thì cũng chỉ bị thương. Quán đối với tôi không những là một người cán bộ quí, mà còn là một người bạn rất tốt. Hai đứa đã quen biết nhau từ lâu, rất hiểu và thương nhau.
Khoảng 9 giờ 30 phút, chính trị viên Niệm tranh thủ mạng dây điện thoại vừa nối được, báo cáo về:
Đã đánh lui được bốn đợt xung phong rất liều lĩnh của địch. Bốn lần đã bị mất cột cờ, bốn lần quân ta dốc sức chiếm lại được. Trong những đợt chiến đấu này, anh em đánh rất hăng. Đơn vị bạn cũng phối hợp rất tận tình. ĐKZ của họ đã hoạt động khá đắc lực. Chúng tôi báo cáo lên đại đoàn. Chính uỷ Chu huy Mân ân cần dặn đi dặn lại: phải động viên anh em rằng tình hình đã biến chuyển thế này, quyết không lùi nửa bước. Chúng tôi truyền đạt lại cho Niệm. Lần nào cũng vậy, chúng tôi đều được trả lời bằng những lời vắn tắt và rắn như thép: "Chúng tôi còn, nhất định trận địa còn, xin hứa với các anh như thế!". Ban chỉ huy chúng tôi cũng bớt lo đôi phần. Chính uỷ Phạm Sinh không giấu được cảm động, nói: "Chúng mình đặt cậu ấy làm chính trị viên, quả đúng!" - Niệm trước đây vốn là tiểu đoàn phó, anh xuất thân và bản thân cũng là công nhân. Đó là một đồng chí mà chúng tôi rất mến và rất tin cậy.
Để tiếp sức cho Niệm, ban chỉ huy chúng tôi cùng quyết định cho tiểu đoàn thê đội 2 của trung đoàn bước vào chiến đấu.
Nhưng ý định ấy chưa kịp thực hiện thì lại có tin báo về: địch dùng một lực lượng gấp đôi, lại chiếm mất cột cờ!
Mất cột cờ, như vậy có nghĩa là bộ đội chúng tôi đã mất một nửa C1 và đã bị dồn xuống một thế thấp hơn, bị địch uy hiếp, chân đứng bấp bênh không vững.
Lại nói về bộ phận của chúng tôi đã đột nhập C2; từ buổi sáng trở đi chúng tôi không sao bắt liên lạc được với anh em nữa. (Nói chung, từ buổi sáng, việc chỉ huy của trung đoàn không còn được thông suốt đều đặn như hồi đêm, vì các cuộc chiến đấu đã diễn ra rất ác liệt, phức tạp, mạng lưới thông tin luôn luôn bị phá huỷ). Chúng tôi nhận thấy rằng phải cố gắng chiếm lại cột cờ bằng bất cứ giá nào. Vì nếu mất cột cờ, coi như mất C1 và mất C1 thì thôi, bao nhiêu công lao và xương máu của chiến sĩ sẽ trở thành uổng phí. Hơn nữa, sau này có đánh lại, cũng sẽ rất khó khăn vì yếu tố bí mật, bất ngờ đã mất rồi. Đại đoàn cũng nhất trí với chúng tôi như vậy và cũng đồng ý phải tập trung lực lượng nhanh chóng giành lại cột cờ tức khắc.
Trong khi ấy hai khẩu đội pháo 75 mi-li-mét báo cáo về: Họ đang bị máy bay, pháo binh địch oanh tạc rất dữ. Cối 120 mi-li-mét cũng thế. Họ xin chỉ thị. Chúng tôi nhận định rằng thiếu hoả lực này rất nguy hiểm, bèn yêu cầu anh em phải bám chặt lấy trận địa để yểm hộ cho bộ binh phản xung phong. Chúng tôi kêu gọi tinh thần thương yêu giai cấp, động viên tinh thần dũng cảm ngoan cường của họ. Kết quả họ đã tỏ ra rất hăng hái thực hiện những yêu cầu ấy. Những loạt đạn liên tiếp bay sả về C1, mở đường cho những đợt phản công của tiểu đoàn Niệm. Liên tục trong mấy giờ liền, Niệm báo cáo về: lúc giành được cột cờ, lúc mất. Tình hình vẫn căng thẳng. Và cho tới 14 giờ thì Niệm báo cáo gần như thất vọng. Lần này địch đã đứng chân khá vững ở cột cờ. Chúng tôi hiểu ngay: tiểu đoàn Niệm đã kiệt sức! Bộ tư lệnh đại đoàn trực tiếp dùng bộ đàm nói chuyện với Niệm, động viên anh phải cùng đồng đội giữ vững trận địa không được bi quan, dao động, phải đề cao tình thần quyết chiến quyết thắng của người đảng viên đương đầu với quân thù. Về phía trung đoàn, chúng tôi quyết định phải cấp tốc tăng viện cho Niệm, phải hợp đồng bộ, pháo thật chặt chẽ, tổ chức một đợt phản công thật mạnh mẽ, mới mong giành lại được cột cờ và hất hoàn toàn bọn địch ra khỏi C1, chấm dứt tình trạng giằng co nhùng nhằng như trước. Chúng tôi bèn tập trung hoả lực lại, cho bắn mãnh liệt và khu cột cờ, một mặt tung ngay một trung đội của thê đội 2 vượt mọi lưới lửa phong toả lên C1, đợt pháo hoả của chúng tôi lần này tập trung vào một mục tiêu nên đã công phá rất mãnh liệt. Các chiến sĩ pháo binh đã biểu lộ một tinh thần thương yêu giai cấp, một dũng khí chiến đấu tuyệt đẹp. Dưới trận địa, bộ binh của chúng tôi lại có sáng kiến buộc băng cá nhân, vải dù, khăn tay vào các đầu gậy cắm trên các miệng chiến hào làm chuẩn; cho nên dù hai bên ta, địch chỉ cách nhau không ngoài năm, sáu mười mét, pháo cối của ta vẫn nã rất chính xác, không hề làm ảnh hưởng tới sinh lực ta một mảy may.
Dưới trận công phá nặng nề ấy, hầm hố của bọn địch bị phá huỷ hầu hết, và đội hình của chúng tan rã hẳn. Bọn địch chạy giạt về phía sau. Chính trị viên Niệm kịp thời chỉ huy bộ đội bám sát, đánh giáp lá cà bằng tiểu liên, lựu đạn, và cả lưỡi lê nữa. Trong đợt phản công quyết liệt ấy, nhiều thương binh cũng lăn xả vào chiến đấu. Có nhiều cuộc vật lộn đã diễn ra trong các hầm hố, ngách hào. Những chiến sĩ nhỏ bé của chúng ta đã đè bẹp cả những tên lính nhảy dù to béo và hung ác nhất. Trong khoảnh khắc, Niệm báo cáo về: đã giành lại được cột cờ! Sau đó anh hớn hở báo cào tiếp: toàn bộ C1 đã được giải phóng. Tôi thở trút ra như cất được một gánh nặng ngàn cân. Nhẩm tính lại, căn cứ vào các báo cáo của Niệm, các chiến sĩ của chúng tôi đã trải qua hai mươi lượt giành đi giật lại cái cột cờ từ sáng tới giờ.
Sau đợt phản công thắng lợi, chúng tôi chỉ thị cho Niệm phải mau chóng củng cố công sự, trận địa. Trời càng về chiều, chúng tôi càng phấn chấn, càng tin rằng có thể giữ vững được C1. Lúc đó có tin bên D1 địch phản kích lên, nhưng cũng đã bị đánh tan, đơn vị bạn vẫn làm chủ ngọn đồi ấy. Tôi càng thêm mười phần vững dạ. Tuy nhiên trong niềm vui ấy vẫn có những nỗi đau buồn thật xót xa. Chúng tôi đã được tin rõ ràng: Quán hy sinh ngay từ lúc xuống tới chân đồi. Cải cũng đã ngã xuống, khi anh lao nhanh như một mũi tên tới chiếm cột cờ địch và giương cao ngon cờ "Quyết chiến quyết thắng" đỏ thắm của Tổ quốc lên. Nặng nề hơn nữa: cả cái trung đội (của đại đội 35) lọt sang C2 đã bị hy sinh tới người cuối cùng. (Về sau này bắt được tù binh dưới C2, chúng tôi được biết rõ hơn: những người chiến sĩ của trung đội ấy đã bị bọn địch đông gấp bội vây chặt và cắt mất đường về. Nhưng họ đã chiến đấu với một tinh thần quyết chiến cao độ làm cho tất cả binh lính địch đều phải khiếp sợ. Hết đạn, hết cả lựu đạn, họ dùng tới những quả bộc phá cuối cùng, lao cả người, cả bộc phá vào đội hình quân thù. Nhiều chiến sĩ đã hy sinh, răng vẫn còn cắn ngập trong cổ họng đối phương. Không có một người nào chịu nằm giúi ở trong những hố cá nhân trú ẩn. Tất cả những người anh hùng ấy đều hy sinh trong những tư thế chiến đấu cực kỳ hiên ngang, lẫm liệt).


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: minhtit trong 12 Tháng Một, 2009, 01:01:51 AM
VI
Đêm hôm ấy mặt trận trên C1 trở nên tương đối yên tĩnh. Riêng bên A1 thì vẫn gay go. Một đơn vị của đại đoàn bạn đã được tung vào chiến đấu.
Sáng hôm sau, vẫn không thấy bọn Pháp đánh lên C1 nữa. Chúng tôi biết cuộc đánh phản xung phong của chúng tôi suốt ngày vừa qua đã gây cho bọn chúng những tổn thất nặng nề. Chúng chưa hồi phục, củng cố kịp lực lượng. Về phía chúng tôi, tranh thủ tình hình mặt trận tương đối yên tĩnh (chỉ có pháo cối của địch thỉnh thoảng bắn tới) kiên quyết chuẩn bị khẩn trương để tiếp tục đánh xuống C2.
Buổi tối hôm ấy tôi lên C1 để quan sát trận địa C2, đồng thời cũng muốn được tận mắt nhìn thấy cái cột cờ "sinh tử" của C1. Tội gọi đồng chí Quang, tác huấn cùng đi. Hai chúng tôi đi dọc theo giao thông hào từ sở chỉ huy trở ra. Tới cánh đồng hẹp dưới chân C1, đường hào cơ hồ không còn gì nữa. Quang cảnh đã đổi khác rất nhiều làm cho chúng tôi phải kinh ngạc. Tất cả các mặt ruộng đều như bị cày lật lên hết, những tảng đất lớn nhỏ nổi lên cuồn cuộn. Hố đại bác dày đặc như lỗ tổ ong. Những quả bom tạ cũng đã đào thành những cái giếng khổng lồ dọc theo đường hào, tới sát chân đồi C1.
Lên tới đồn địch, chúng tôi càng thấy rõ thêm tính chất dữ dội của trận đánh vừa qua. Hầm hố, chiến hào hầu như không còn gì nữa. Tôi bỗng liên tưởng tới Thượng-Cam-Lĩnh. Ở đây đất đá cũng đã bị nát vụn như cám. Chân bước ngập sâu xuống đất tới hai mươi phân, dù có đế giày mà chúng tôi vẫn cảm thấy những mảnh thép gang nhọn hoắt, đâm lên tua tủa. Trời tối lắm. Được cái bọn địch bên A1 thỉnh thoảng lại bắn vọt lên những quả pháo sáng rực. Trong những giây phút ấy quang cảnh tàn phá của chiến trường lại hiện lên lồ lộ trước mặt chúng tôi. Tôi biết rằng bộ đội của chúng tôi đã giáng cho bọn địch một đòn ác liệt.
Chúng tôi đi thẳng tới cột cờ. Nó không còn gì nữa. Cái trụ đã nát nhừ, chỉ còn sót lại những mảnh đá vụn trắng tinh. Mặt đất xung quanh bị xáo lộn. Máu đọng lại thành từng vũng, đã thâm đen. Một vài chiếc lưỡi lê gãy cong queo nằm rải rác gần đó. Tôi bỗng lại nghĩ đến Cải, và trái tim tôi lại đau nhói. Đồng chí trung đội trưởng của trung đội (thuộc thê đội 2 của trung đoàn) lên thay thế cho tất cả các lực lượng cũ của chúng tôi trên C1, phụ trách phòng ngự, dẫn chúng tôi đến hầm tên quan ba chỉ huy. Gọi là hầm nhưng thực ra cũng không còn gì nữa. Anh em phải moi đất mãi mới tạo lại được một cái hố trú ẩn chật hẹp. Tôi để ý thấy tất cả những cột gỗ, xà gỗ của cái hầm này đều rất cũ và giống như xà nhà, cột nhà. Thì ra bọn Pháp đã dỡ nhà đồng bào dưới các bản, lấy tre gỗ lên đây làm công sự. Tội bật đèn bấm soi bên trong: chỉ thấy những mảnh sắt nát của những chiếc máy bộ đàm, điện thoại. Tôi cùng mấy chiến sĩ đứng gác gần đấy nói chuyện, hướng dẫn cho các đồng chí ấy cách cải tạo công sự địch, và quan sát, cảnh giới. Riêng đối với đồng chí trung đội trưởng, tôi căn dặn rất kỹ về cách tổ chức trận địa phòng ngự, áp dụng kinh nghiệp của "Đồi xanh", "Đồi 75". Sau đó lại nhắc đi nhắc lại việc tiếp tục bới tìm tử sĩ, lấp lại cái hố chôn Tây cho kỹ, bảo đảm vệ sinh trận địa. Đồng chí trung đội trưởng tỏ ra rất lanh lợi và bình tĩnh. Tôi nắm lấy cánh tay đồng chí, nói: "Các cậu phải đánh như Thượng-Cam-Lĩnh mới được!". Đồng chí nhìn tôi bằng cặp mắt nâu nâu, gan góc và thành thật, khẻ mỉm cười. Nụ cười ấy có đầy đủ ý nghĩa của những lời hẹn nồng nàn, chắc chắn. Tôi hỏi về những khó khăn còn tồn tại. Đồng chí ấy nói chỉ gay nhất là nước uống. Suốt cả ngày hôm qua anh em rất khát. Tôi hứa sẽ bàn với tiểu đoàn, đại đội tổ chức lại việc tiếp tế cơm nước lên trên này. Trước khi trở xuống, tôi đi vòng trận địa một lượt nữa để tận mắt được nhìn hầu hết các chiến sĩ. Có bao nhiêu người đâu! Gọi là một trung đội, nhưng thực ra chỉ còn có mười tám người, mười tám dũng sĩ xứng đáng của trung đoàn chúng tôi. Trong lúc chúng tôi nói chuyện, súng cối từ C2 chốc chốc lại câu sang ùng oàng, lắm khi cắt đứt cả câu chuyện.
Tôi từ biệt các chiến sĩ mà lòng tràn ngập xúc động. Sáng hôm sau tôi về sở chỉ huy đại đoàn họp. Trời hôm ấy khá quang đãng, leo lên những mỏm núi cao phía sau, lại được thở hít không khí trong trẻo không vẩn một chút khói súng, lại được nhìn thấy những màu xanh vô tận của thiên nhiên, sự mệt mỏi của tôi giảm hẳn. Tuy nhiên, cái chuyện C2 vẫn như một hòn đá đeo nặng trĩu ở bên lòng. Càng gần tới sở chỉ huy, hòn đá đeo ấy càng nặng thêm lên. Tôi sẵn sàng nhận lỗi trước Bộ tư lệnh. C2 chưa xong, chiến sĩ bị thương vong một số, dầu sao đó cũng là lỗi ở tôi, vì tôi là người chỉ huy phụ trách chung. Tôi sẵn sàng nhận mọi lời quở trách, và sẽ không bào chữa một điểm nhỏ.
Nhưng mọi việc đã xảy ra khác với dự đoàn của tôi. Bộ tư lệnh không phê bình tôi mà chỉ có ý kiến rằng phải rút kinh nghiệm đánh phản xung phong, đánh nhanh giải quyết nhanh là tốt nhưng phải đi đôi với đánh chắc tiến chắc. Tôi vốn là người hay nóng nảy, nhưng đồng thời cũng dễ xúc cảm. Bởi vậy trước thái độ thương yêu của Bộ tư lệnh, tôi hết sức xúc động.
Sau khi ở sở chỉ huy đại đoàn trở về, tôi lại ra C1 lần nữa để động viên chiến sĩ, nghiên cứu thêm trận địa. Buổi chiều, trời bỗng đổ mưa rào, cho tới xẩm tối mới ngớt. Không khí lạnh hẳn xuống. Tuy nhiên, tôi hiểu: chính lúc này tôi càng cần phải ra với chiến sĩ. Chắc chắn lúc này tinh thần anh em rất căng thẳng. Con suối từ sở chỉ huy trung đoàn chạy ra cánh đồng, mọi khi vẫn cạn, nhưng lúc này đã đầy tràn. Nhiều quãng lội không được, tôi phải bơi. Ra tới cánh đồng, gặp những đoạn hào sâu, ngập nước cũng lại phải bơi nốt. Khi gặp những hố hom (lúc này đã thực sự trở thành những cái giếng lớn) càng phải ra sức mà bơi qua. Lên tới C1, người còn ướt lướt thướt, rét run lên, tôi đã nhận thấy ngay: trong ngày hôm nay địch lại bắn phá lên đây rất mạnh. Hầm hố do anh em đào tối qua đã bị phá sập mất khá nhiều. Đồng chí trung đội trưởng đưa tôi về ngay hầm của đồng chí ấy.
- Anh vất vả quá...
- Tình hình ra sao? - Tôi hỏi ngay.
Đồng chí trung đội trưởng báo cáo: hôm nay địch lại cho xe tăng lên C2, chĩa súng sang biên này bắn phá. Ta lập được ụ súng nào nhòm sang C2, nó bắn vỡ ụ súng ấy. Bên ta, hai chiến sĩ bị thương.
Tôi đi thẳng ra phía tiền duyên để quan sát. Bực lắm! Tôi quyết sẽ đưa ĐKZ lên đây. Rồi bọn Pháp sẽ hiểu rằng chúng nó không thể muốn làm gì thì làm. Tôi nhấn đi nhấn lại với đồng chí trung đội trưởng: "Phải săn xe tăng, cậu hiểu chứ!". Tôi lại dặn anh em chiến sĩ từ rày làm ụ súng phải làm thấp xuống, và nguỵ trang cho kín đáo. Trong lúc tôi đang nói thì bọn địch phía Hồng-cúm lại "đánh trống". Chúng tôi chỉ kịp cúi xuống thì một loạt đạn lựu pháo đã nổ tơi bời trên mặt đồi. Rồi tiếp những loạt khác. Tôi nhận thấy quả là pháo, cối địch có gây nhiều khó khăn trở ngại cho mình thật. Khi tiếng trọng pháo ngừng, tôi bèn dẫn đồng chí trung đội trưởng ra sườn đồi phía tay phải, giáp với D1, chỉ một chỗ và bảo phải cho anh em đào ngay một hầm trú ẩn lớn và kiên cố. Có như vậy mới tránh được thương vong, và mới có nơi nghỉ ngơi cho chiến sĩ, bảo đảm sức khoẻ để chiến đấu liên tục. Sau đó tôi hỏi về vấn đề cơm nước. Đồng chí trung đội trưởng báo cáo: nước đã có đầy đủ, cơm tuy không được nóng bỏng nhưng cũng còn âm ấm, anh em thoả mãn lắm rồi. Tôi dặn phải củng cố trận địa tốt hơn nữa, và hứa sẽ gửi "tu-lơ-khơ" và sách báo lên. Trời vẫn lất phất mưa, người rét cóng, hai chân tôi đã bết bùn trong giao thông hào, nặng như đeo cùm, đi lại rất vất vả.
Về tới sở chỉ huy phần vì bị lạnh quá, phần cũng mệt, tôi lên cơn sốt. Quần áo khô để thay không có. Tôi đành cởi trần, cuộn mình trong chiếc chăn, nằm ngủ thiếp đi. Giấc ngủ rất mê mệt.
VII
Ngày hôm sau, đồng chí trung đội trưởng báo cáo về sở chỉ huy trung đoàn: trận địa đã vững, hồi 12 giờ ĐKZ ta đã bắn hỏng một xe tăng địch. Từ lúc đó chúng không dám mò lên nữa. Cả ban chỉ huy chúng tôi đều mừng lắm.
Trong ngày hôm ấy một đồng chí cán bộ trên Bộ xuống phổ biến kinh nghiệm chiến đấu đánh giao thông hào, đường hầm. Chúng tôi bèn tổ chức một trận địa giả ở tuyến sau, gần giống như C1 để cho cán bộ và chiến sĩ tập luyện. Lối đánh này xem ra rất thích hợp và có hiệu lực, chủ yếu đánh bằng lựu đạn kết hợp với tiểu liên, súng trường. Kinh nghiệm làm những cự mã dây thép gai để bịt các ngách hào, cũng la những kinh nghiệm tốt có thể áp dụng được. Các cán bộ, chiến sĩ của chúng tôi đều rất phấn khởi, tin tưởng. Trong các hầm hố giả, anh em huỳnh huỵch tập luyện, gợi cho tôi nhớ lại tất cả những ngày luyện quân sôi nổi ở hậu phương, và cũng gợi cho tôi rất nhiều suy nghĩ về quyết tâm lớn lao của Đảng trong việc tiêu diệt cái tập đoàn cứ điểm Điện Biên này, cũng gợi cả cho tôi một hình ảnh rất mãnh liệt về tinh thần quật cường, gan góc của cả dân tộc Việt Nam ta.
Cũng trong ngày hôm ấy tôi nhận được điện thoại của anh Vương Thừa Vũ, tư lệnh trưởng đại đoàn bạn, người thủ trưởng kính mến cũ của tôi. Anh Vũ hiện đang chỉ huy một đơn vị đánh A1 (thay cho đơn vị đồng chí An đã rút về phía sau củng cố). Tôi mừng quá, cầm lấy máy nói. Tôi lại được nghe cái giọng nói quá quen thuộc của anh. Anh nói: " Vũ Lăng ơi! Đơn vị Z đang gặp khí khăn đấy, tiếp viện bên này chưa lên kịp. Vậy cậu xem có cái gì có thể giúp được nó không? Đơn vị Z là đơn vị cũ của cậy đấy!".
Đơn vị Z đúng là "quê hương", là "nơi chôn nhau cắt rốn" của tôi khi trước, từ những ngày đầu nổ súng. Do nhu cầu xây dựng quân đội, tôi đã phải xa nó từ mấy năm nay... Nghe tới mấy tiếng "đơn vị Z", lòng tôi đã dào dạt xúc động. Tôi không ngờ nó đang bị khó khăn đến thế, hơn nữa nghe những lời nói thiết tha, ruột thịt của đồng chí thủ trưởng kính mến cũ, tôi càng thêm cảm động. Tôi đáp: "Báo cáo anh, hết sức mình, bên này còn những gì tốt, những gì quý sẽ đưa ngay sang bên anh không tiếc. Nếu anh cần, tôi cũng xin sang để nhận nhiệm vụ do anh phân phối..."
Nói xong, một mặt tôi báo cáo về đại đoàn xin chỉ thị một mặt cấp tốc tập trung phần lớn những bộc phá tốt còn lại, tập trung cả một số cán bộ tiểu đội và chiến sĩ bộc phá giỏi của trung đoàn. Chúng tôi không phải chờ đợi lâu, chỉ trong phút chốc đã nhận được điện của đại đoàn: đồng ý phải tiếp sức ngay cho đơn vị bạn trên A1.


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: minhtit trong 12 Tháng Một, 2009, 01:03:09 AM
VIII
Tôi được lệnh về Bộ chỉ huy chiến dịch họp. Cũng như lần trước về đại đoàn, lần này tôi cũng mang một mối lo canh cánh bên lòng. Tôi vẫn sẵn sàng nhận lỗi về vụ C2. Tôi tin rằng ở đại đoàn, tôi còn được khoan nhượng, nhưng lên tới Bộ, có lẽ tôi sẽ không được ta thứ nữa.
Trong cuộc họp này anh Văn phê bình rất nghiêm khắc tư tưởng chủ quan của cán bộ. Chính vì tư tưởng chủ quan ấy mà có những trận đánh không gọn gàng, tuy thắng nhưng cán bộ, chiến sĩ thương vong nhiều.
Có thể nói chưa bao giờ tôi thấy anh nóng giận. Vậy mà lần ngày anh phải tỏ ra rất không hài lòng.
Sau cuộc họp, tôi được gọi đến hầm làm việc của anh. Đó là một căn hầm khá rộng, đủ chỗ bày cả một bộ bàn ghế. Tôi hồi hộp bước vào. Nhưng tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy nét mặt anh đã trở lại bình tĩnh, tươi tắn như cũ. Anh chỉ gian hầm, vui vẻ hỏi:
- Cậu xem, chỗ này ở được đấy chứ?
Tuy vậy tôi vẫn chưa hết hồi hộp. Anh bảo tôi ngồi xuống, rót nước cho tôi uống, sau đó mới nhìn thẳng vào mặt tôi, ôn tồn nói:
- C1 tốt đấy! Nhưng C2 phải rút kinh nghiệm.
Chỉ mới có bằng ấy câu thôi, tôi đã ứa nước mắt vì thấy mình có khuyết điểm, thấy cấp trên đã hiểu mình, cấp trên rất độ lượng, khoan dung, mặt khác cũng sung sướng vì chiến sĩ đơn vị mình dầu sao cũng đã không đến nỗi hoàn toàn phụ lòng mong mỏi của Đảng.
Chỉ cần có bằng ấy câu thôi, tôi cũng đã thấm sâu tất cả những ý gì mà anh Văn muốn phê bình, và cũng muốn cổ vũ tôi, an ủi tôi, đồng thời chỉ thị cho tôi nữa. Quyết tâm của tôi càng thêm nung nấu.
Sang ngày hôm sau, tôi vẫn tiếp tục họp ở Bộ.
Đang giữa cuộc họp thi được tin một vị trí địch kéo cờ trắng ra hàng, nhưng đồng thời cũng nhận được một tin dữ đối với tôi: Địch lại cho hai xe tăng lên C2 bắn phá C1. Lần này chúng bắn phá rất ác. Ruột tôi như có lửa đốt. Thân thể ngồi họp ở đây mà tư tưởng đã bay về tới tận C1. Trăm câu hỏi quay cuồng trong óc tôi. Không hiểu anh em đã đào xong cái hầm trú ẩn ở sườn phải chưa? Không hiểu lần này anh em có diệt được xe tăng không?... Tôi bèn xé một mảnh giấy trong sổ tay viết gửi về cho đồng chí trung đoàn phó, đề nghị đồng chí ấy lên trận địa kiểm tra lại hấm hố, nhất là cái hầm sườn bên phải, kiểm tra cả nước uống nữa. Hôm sau (10 tháng 4 năm 1954) Bộ cho biết: quân phản kích lớn đã ra tới gần C2. Tôi được lệnh rời cuộc họp trở về tức khắc.
Càng về gần tới trận địa, càng nghe thấy tiếng súng nổi hỗn loạn, tôi càng sốt ruột, xẩm tối, tôi mới tới sở chỉ huy tiền phương (sở chỉ huy cơ bản đã rút sâu vào bên trong cách đây ít lâu, từ khi cuộc phòng ngự trên C1 đã tương đối ổn định). Tôi thở không ra hơi nữa. Cũng vừa lúc ngoài C1 báo về: địch phản kích lần này rất mạnh và đã chiếm được "cột cờ". Lại "cột cờ"!. Tin nghe gần như sét đánh mang tai, tôi "đau đầu" quá. Hỏi lại tình hình tỉ mỉ hơn thì biết: suốt ngày, cuộc chiến đấu trên C1 Đã diễn ra gần y như lần địch phản kích trước. Trước khi xung phong, bọn Pháp nã pháo, cối vào trận địa ta tơi bời, sau đó mới xông len. Xung phong không được, chúng lại rút sang C2 và lại bắn pháo, cối lên như mưa như bão... Lần này chúng còn đem theo hai súng phun lửa. Chiến sĩ ta chưa hề được nom thấy loại súng này bao gờ, chứ chưa nói tới việc hiểu được tính năng tác dụng của nó. Tuy vậy địch cũng đã phải xung phong rất nhiều lần nới lên được tới "cột cờ". Trong quá trình chiến đấu, ban chỉ huy trung đoàn chúng tôi ở nhà đã hết sức chú trọng tăng cường sinh lực cho bộ phận phòng ngự trên C1. Đồng chí trung đoàn phó đã nhiều lần cho bộ đội (của thê đội 2 trung đoàn) lên. Nhưng vì địch dùng pháo phong toả đường liên lạc về hậu tuyến rất ngặt, nên chỉ đưa "nhỏ giọt" lên được từng trung đội. Những trung đội ấy khi vượt qua được những lưới lửa lên tới C1 thì đã bị tiêu hao, chỉ còn đủ sức cản địch lại, không cho từ "cột cờ" đánh dốc xuống. Cần phải nói rằng làm được như vậy cũng đã làm một thắng lợi khá lớn vì bọn địch quyết đánh, ào ạt tấn công. Vậy mà chúng cũng chưa thực hiện được ý muốn: chiếm lại hoàn toàn C1. Tuy nhiên, bọn chúng cũng đã củng cố được "cột cờ", đặt ba ụ đại liên. Ba ụ đại liên ấy hết sức lợi hại. Chúng phong toả khắp mặt đồi, đẩy ta lâm vào một tình thế rất hiểm nghèo, dễ bị hất xuống khỏi C1 như chơi.
... Trong đêm ấy Bộ chỉ huy luôn luôn điện hỏi tình hình và quyết tâm của chúng tôi. Đại đoàn cũng vậy. Tôi không bao giờ dám báo cáo ẩu. Tình hình hiện nay rất phức tạp, khó xử trí: Tôi báo cáo lên cấp trên xin phép được ra trận địa quan sát, rồi sẽ báo cáo quyết tâm sau. Cấp trên đồng ý.
Mờ sáng, tôi chỉ thị cho hoả lực của trung đoàn tập trung nhằm sẵn tất cả vào khu "cột cờ", rồi bắt đầu leo lên C1. Buổi sáng ấy mặt trận tương đối yên tĩnh. Địch đang sửa soạn để đánh xuống, ta vẫn đang nghiến răng cố giữ mảnh trận địa còn lại, chuẩn bị để phản xung phong lên. Tới C1 như đêm qua báo cáo, mà đã mất tới hai phần ba. Quân hai bên đã giáp nhau lắm rồi, chỉ cách nhau có vài chục mét. Mà ta lại bị dồn xuống một thế thấp. Thật quả là nguy hiểm và đáng lo ngại. Hình thái chiến trường y như hai anh đô vật đã khoá chặt lấy cổ nhau, nhưng một anh đã bị nằm sấp. Kẻ tương đối thắng thế thì đang dốc toàn lực ra hòng lật ngửa bụng đối phương lên. Người đang bị uy hiếp cũng đang cố vận dụng hết gân cốt để chống đỡ lại, mong tiến tới vật ngã quân thù trở lại.
Những loạt đạn đại liên chốc chốc lại nổ xé. Trận địa quá chênh vênh. Tôi thầm nghĩ: "Rất có thể mình lên tới đây sẽ cùng tham gia đánh quân phản kích với anh em đây". Và tôi chuẩn bị sẵn sàng.
Tôi đi tới căn hầm trú ẩn ở sườn phải. Cái hầm đã méo mó hẳn. Đồng chí Vượng, tiểu đoàn trưởng thê đội 2 đã có mặt ở đó và đang họp cùng một số cán bộ. (Tiểu đoàn này đáng lẽ ra để đánh C2, nhưng vì tình hình C1 đã quá xấu, ban chỉ huy trung đoàn chúng tôi đã buộc phải đưa nó lên C1 tăng viện). Nom thấy tôi, Vượng và anh em mừng lắm. Chúng tôi cùng siết chặt lấy tay nhau, những cái siết tay bao hàm biết bao ý nghĩa. Qua một ngày chiến đấu căng thẳng, mặt mũi họ hốc hác hẳn, quần áo lấm láp, tơi tả. Tôi hỏi:
- Các cậu còn bao nhiêu lực lượng?
- Báo cáo, chỉ còn bốn mươi người
(Trong tay tôi cũng chỉ còn giữ lại được ở phía sau một đại đội dự bị). Tình hình quả là rất xấu. Tuy nhiên, sau khi trao đổi ý kiến, chúng tôi đều nhất trí: dù thế nào cũng phải chiếm lại "cột cờ", giành lại C1. Dù thế nào cũng phải tấn công. Lùi không được, mà ngồi tại chỗ cũng không xong. Mất C1 là có tội với chiến sĩ, với nhân dân, với Tổ quốc. Đồng chí Vượng và anh em cán bộ tuy đã mệt mỏi lắm, nhưng tinh thần họ vẫn rất mạnh. Họ kiên quyết xin cho đánh. Thái độ ấy đã cổ vũ và giữ vững được lòng tin của tôi nhiều lắm. Tôi bên vạch một kế hoạch: Tình hình này địch rất có thể đánh xuống bất cứ lúc nào, vậy trước hết hãy phải giữ bằng được trận địa còn lại, nghiến răng lại mà giữ. Hoả lực sẽ được đưa thêm lên. Công sự phải củng cố lại. Rút bớt những người không cần thiết, kể cả thương binh ở trên trận địa. Đến tối sẽ phản xung phong, như thế sẽ có lợi, vì tận dụng được yếu tố bí mật, bất ngờ. Lần này sẽ không dùng hoả lực pháo binh vì kinh nghiệm lần trước đã cho biết: bắn pháo nếu không có hiệu lực thì chỉ tổ "đánh thức" bọn địch dậy để chúng đối phó kịp thời. Nghe kế hoạch này, Vượng và anh em cũng xuôi xuôi nhưng xem ra vẫn còn ngại ba cái khẩu đại liên lợi hại ở "cột cờ" lắm.
- Nó gớm lắm anh ạ! Đấy nó lại rống lên đấy!
- Đây! Ho một tiếng là nó đã bắn rồi, chứ đừng nói tới gì khác...
Anh em xung quanh Vượng đề nghị với tôi: muốn thế nào cũng cứ xin "giọt" cho vài chục quả vào chỗ "cột cờ" ấy đã. Tôi bèn nói thật cho anh em biết: sơn pháo 75 còn có vài viên, đạn cối 120 cũng hết, còn trọng pháo của Bộ thì có lẽ phải tập trung vào A1, vì bên đó tình hình ngày càng gay hơn trước. Trong tay tôi chỉ còn có độc cối 81. Nhưng anh em sợ 81 sẽ "đám lưng" quân mình vì ta, địch ở giáp nhau thái quá. Tôi bèn bảo mọi người lấy lại đồng hồ cho thống nhất, và quy định đến một giờ đã vạch sẵn trong kế hoạch, Vượng sẽ cho bộ đội bí mật rút về phía sau một quãng để tôi cho 81 bắn ( như vậy sẽ bảo đảm được an toàn cho quân ta). Khi cối dứt, Vượng phải cho anh em xung phong ngay. Kế hoạch ấy được mọi người tán thành.
Tôi yên tâm một phần, quay trở về sở chỉ huy, gọi điện báo cáo lên Bộ. Tôi nghe thấy tiếng anh cán bộ Cục tác chiến nói: "Cứ báo cáo tiếp đi" và sau đó thấy anh nói nhỏ với người nào ngồi cạnh: "Thế là cậu ấy quyết tâm đánh đấy". Tôi đã mừng vì kế hoạch của mình không bị trên bác bỏ. Nhưng cuối cùng lại nghe thấy anh cán bộ Cục tác chiến nói: "Vũ Lăng, anh nghe đây! Bộ chỉ huy sẽ tăng cường cho các anh một tiểu đoàn của đại đoàn bạn. Họ sẽ sang cùng phối hợp với anh trong trận này. Các anh sẽ bàn bạc với nhau, rồi báo cáo lên đây. Bộ cũng sẽ bắn chi viện cho các anh hai mươi quả 105!".
Được lời như cởi tấm lòng, tôi mừng quá, về ngay, sở chỉ huy cơ bản, báo cho chính uỷ biết về cùng thảo luận, đoạn báo tin cho cả bọn đồng chí Vượng để họ đón đồng chí tiểu đoàn trưởng của đại đoàn bạn lên nghiên cứu trận địa.
Ngày hôm ấy đồng chí trung đoàn trưởng của đơn vị đó đến gặp tôi. Hai anh em đã quen biết nhau từ lâu nên thú lắm. Vốn là người bộc trực thẳng thắn, anh cười và nói luôn:
- Cậu không giải quyết được C1 thì cái cao điểm của mình tuy xong rồi nhưng cũng mệt với nó. Mình sang, tiếng là giúp cậu nhưng chính cũng là làm cho mình thôi. Môi hở thì răng lạnh.
Hai chúng tôi cùng thảo luận kế hoạch và ngay đêm hôm ấy bộ đội của hai đơn vị chúng tôi cùng phối hợp phản xung phong. Trận đánh đã diễn ra có thể coi như dữ dội, ác liệt nhất trong tất cả các đợt đánh phản xung phong của chúng tôi trên C1. Địch chống cự cũng hết sức dữ dội. Cuộc chiến đấu kéo dài suốt đêm. Súng, lựu đạn nổ liên hồi không dứt. Và tới gần sáng chúng tôi chỉ lấn thêm được một ít đất. C1 vẫn bị chia đôi, ta, địch mỗi bên chiếm một nửa. Chúng tôi cùng dự đoán: sang ngày hôm sau nhất định sẽ còn phải tiếp tục chiến đấu nhiều đợt nữa.
Nhưng không ngờ, sáng hôm sau, chiến trường hoàn toàn như tan rã. Không thấy bọn địch tấn công. Qua ngày hôm sau nữa cũng vậy. Địch chỉ bắn lẻ tẻ và thỉnh thoảng xung phong lẻ tẻ từng tiểu đội. Bấy giờ chúng tôi mới hiểu rõ: qua những trận phản xung phong liên tục và cực kỳ mãnh liệt, bộ đội chúng tôi và tiểu đoàn bạn tăng cường đã đánh cho quân địch trơ trụi, chỉ còn đủ hơi thở để sống, chân không sao bước lên được nữa... (Về phía ta, chúng tôi cũng cần phải có thì giờ để củng cố lực lượng, chưa tiếp tục tấn công ngay hôm đó được).


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: minhtit trong 12 Tháng Một, 2009, 01:04:04 AM
IX
Thế là từ hôm ấy những trận đánh lớn trên C1 tạm chấm dứt. Cuộc chiến đấu chuyển sang hình thái giằng co. Địch vẫn chiếm già nửa rồi, ta giữ non nửa. Có lúc ta đánh lên được tới gần "cột cờ", nhưng cũng có lúc địch lại lấn sâu xuống trận địa ta mươi mét. Pháo địch thỉnh thoảng giội xuống trận địa ta vài chùm, thì pháo, cối ta cũng nã sang bọn chúng vài đợt. Cả hai bên vẫn còn phải chuẩn bị, còn phải "lấy lại hơi thở", chưa bên nào vật ngã được bên nào. Tình thế này cũng chịu ảnh hưởng một phần quan trọng của tình hình A1. Ở bên đó cuộc chiến đấu giữa ta và địch cũng đang "bất phân thắng bại".
Trong thời gian này, Bộ tư lệnh đại đoàn quyết định tăng cường cho chúng tôi một tiểu đoàn của trung đoàn M, mục đích để cho chúng tôi có thể rút tất cả binh lực của trung đoàn trở về củng cố, chuẩn bị cho những đợt chiến đấu về sau, mặt khác cũng nhân dịp này giúp cho bộ đội M, có cơ hội rèn luyện, xây dựng truyền thống.
Tuy có thêm một tiểu đoàn, nhưng chúng tôi chỉ đưa một đại đội lên phòng ngự ở C1, vì trận địa rất hẹp. Đại đội trưởng đại đội này là đồng chí Dị, một người tháo vát và táo bạo. Tuy nhiên cũng phải công nhận rằng bộ đội M. xưa nay chỉ quen tiểu phỉ, chưa có kinh nghiệm công kiên, phòng ngự. Đó là điều mà chúng tôi rất lo lắng. Sau khi đưa đại đội của đồng chí Dị lên C1 được vài ngày, tôi lên kiểm tra trận địa. Tới một đầu hào, gặp một đồng chí tiểu đội trưởng đang đứng gác, mặt mày hốc hác, có vẻ rất đói ngủ. Đồng chí này là người dân tộc Tây. Tôi hỏi:
- Đồng chí gác ở đây đã mấy tiếng rồi!
- Báo cáo, sáu đêm!
Tôi ngạc nhiên:
- Sáu đêm chưa ngủ à?
Anh ta cười, nụ cười rất hồn nhiên:
- Báo cáo, ngủ thế nào được! Tôi là tiểu đội trưởng mà!
Tôi hiểu ngay: anh em chưa có kinh nghiệm phòng ngự nên tinh thần họ rất căng thẳng. Tôi ôn tồn giải thích cho đồng chí ấy cách bố trí, tổ chức cảnh giới quan sát. Tôi lại dặn phải cho anh em làm nhiều cự mã nhỏ để chẹn các đầu hào không cho địch bất ngờ lấn vào. Sau đó tôi gặp Dị bàn với đồng chí ấy cách tổ chức phòng ngự chung, và bàn cả cách tranh thủ bắn tỉa tiêu hao địch, đồng thời tổ chức bình thường hoá sinh hoạt trận địa, làm cho tinh thần chiến sĩ được ổn định hơn. Dị tỏ ra tiếp thu rất mau và sau đó anh đã dần dần chỉnh đốn được mọi mặt công tác chiến đấu, cảnh giới, quan sát, cho đến việc ăn, ngủ, giải trí trên trận địa.
Thời kỳ này cũng là thời ký chúng tôi "tích luỹ" vốn. Bởi lẽ hình thái chung của chiến dịch đã chuyển sang siết chặt vòng vây, phát triển đánh lấn, mở rộng phong trào thi đua bắn tỉa, săn Tây, đoạt dù. Đơn vị chúng tôi bắn tỉa cũng khoẻ, mà đoạt dù cũng khoẻ. Nhiều nhất là dù đạn. Đủ các loại đạn nhưng chủ yếu là đạn 105 mi-li-mét và 81 mi-li-mét. Đạn pháo và cối đoạt được của địch, chúng tôi đem nộp lên trên một phần, còn một phần giữ lại làm "vốn riêng", định bụng khi nào lại mở những đợt tấn công mới, sẽ đưa cho anh em pháo binh, nhờ họ bắn thêm cho thật "hả".
Sau khi dặn dò Dị về mọi mặt, trở về, ít lâu sau tôi lại trở ra C1. Lần này anh em vừa nom thấy tôi đã tay bắt mặt mừng. Anh này khoe về chuyện bắn tỉa, anh kia khoe về chuyện đã lấn sang trận địa địch được thêm ba bốn đoạn hào... Nom anh nào cũng nhanh nhảu, tươi tỉnh khác hẳn với lần trước. Rõ ràng là các chiến sĩ của chúng tôi một mặt đã hồi sức, một mặt đã dày dạn, thích ứng với đời sống căng thẳng trên mảnh đất nguy hiểm này. Dị báo cáo tình hình xong, đưa tôi đi quan sát trận địa. Tôi mừng rỡ nhận thấy rõ thêm: tình hình đã có nhiều biến chuyển khác trước, do kết quả của việc củng cố vững trận địa, nhất là do tinh thần chiến sĩ được phục hồi và tăng tiến, do kết quả lớn lao của phong trào bắn tỉa, săn Tây... cho nên quân ta đã giành được thể chủ động trên cái trận địa kém lợi thế này. Tôi nhìn sang trận địa địch thấy chết lặng hẳn. Hầu như không có dấu vết gì của sự sống trong những hầm hố ấy. Thỉnh thoảng lắm mới thấy một hai tên lính địch chạy vụt đi vụt lại trong giao thông hào, vẻ hốt hoảng và sợ hãi vô cùng. Chốc chốc lại có tiếng súng của các tay thiện xạ bên ta nổ vang. Các chiến sĩ cười đùa rúc rích, di chuyển từ góc nọ sang góc kia thách nhau "săn mồi" vui y như học trò đi bắn chim, câu cá vậy.
Những sự kiện nầy nói ra có thể có người khó tin: Tại sao hai bên ở "giáp trán" nhau như vậy, địch lại ở thế cao mà không thể đánh bật ta xuống? Nhưng sự việc đã diễn ra đúng như tôi vừa nói. Điều kỳ lạ ấy thực ra không có gì khó hiểu. Chủ yếu vì địch đã kiệt quệ, và chủ yếu vì chiến sĩ ta có một tinh thần gan góc, dũng cảm tuyệt vời, càng đánh, chiến sĩ ta càng có kinh nghiệm, và công sự càng được củng cố vững chắc!
Tôi trở về sở chỉ huy. Buổi sáng hôm ấy sao mà trong trẻo, và đó cũng là lần đầu tiên trong chiến dịch tôi cảm thấy tâm hồn mình hoàn toàn thư thái, vui vẻ. Ngẩng lên ngắm nhìn bầu trời mùa xuân xanh dịu bao la, quay sang nhìn những đợt núi lam trập trùng hùng vĩ, cùng những đoá hoa ban còn sót lại rải rác ở các dải rừng phía sau, tôi bỗng ước muốn làm được mấy câu thơ. Tôi yêu đời quá! Tôi tin rằng mọi việc rồi sẽ tốt đẹp cả. Viễn ảnh của những ngày chiến thắng, ngày giải phóng.... phấp phới hiện ra trước mắt, càng làm cho tâm hồn tôi thêm rạng rỡ.
Về đến con suối dưới chân sở chỉ huy, tôi cúi xuống rửa mặt. Bỗng nhiên nghe "rắc" một tiếng trên đầu. Bản năng tự vệ thúc tôi nhảy vọt sang một bên, tuy chưa kịp suy nghĩ gì. Tiếp đó nghe "uỵch" một tiếng. Thì ra một chiếc dù tiếp tế không mở bay lạc vào trong này. Một bọc to tướng rơi đúng chỗ tôi vừa đứng. Anh em tác huấn từ trên sở chỉ huy chạy ồ xuống mở ra thì thấy toàn bánh mì vẫn còn âm ấm. Mọi người cười vang:
- Thật là không chết vì súng đạn, ban chỉ huy tí nữa lại chết vì bánh mì nhé!
X
Trong khi phòng ngự, chúng tôi vẫn chuẩn bị để phản xung phong giành lại C1. Lần này chúng tôi chuẩn bị tỉ mỉ lắm. Rất nhiều cán bộ từ tiểu đội trưởng trở lên đã từng chiến đấu ở C1 được triệu tập về họp. Chúng tôi yêu cầu anh em vẽ lại tất cả hầm hố, chiến hào, nhất là khu vực "cột cờ". Sau đó chúng tôi xây dựng một trận địa tương tự như vậy, và tổ chức tập đánh. Mục tiêu chủ yếu vẫn là cái "cột cờ". Chúng tôi nghiên cứu từng động tác xung phong, từng cánh ném lựu đạn... cho tới cách đặt cự mã, phá cự mã, cách đuổi địch, diệt địch trong giao thông hào... Mọi công việc đều dồn dập và đầy tin tưởng. Tuy nhiên chúng tôi vẫn lo nhất cái C2 vì tình hình bên đó chúng tôi vẫn hoàn toàn chưa biết gì hết.
Kế hoạch tác chiến đã được đặt xong, chúng tôi đem ra cho chiến sĩ cùng tham gia ý kiến xây dựng thêm. Trong khi ấy, ngoài C1 tôi vẫn cho vận dụng kinh nghiệm đánh lấn của đại đoàn bạn để đánh địch không ngừng, đồng thời cho pháo, cối thỉnh thoảng lại bắn một chập, phá tất cả các qui luật cũ làm cho địch không hiểu lúc nào đánh thật lúc nào đánh giả, tạo điều kiện bất ngờ sau này cho đợt phản xung phong quyết định.
Sau khi kế hoạch đã được xây dựng hoàn chỉnh, ban chỉ huy chúng tôi cân nhắc việc sử dụng lực lượng. Nếu dùng đơn vị của Dị hay nên dùng quân của trung đoàn chúng tôi làm lực lượng chủ yếu đây? Đơn vị của Dị chưa có kinh nghiệm đánh công kiên nhưng đã ở C1 một thời gian, quen địa hình rồi, lại đang có đà tiến, nếu kéo xuống, đưa quân của chúng tôi lên e sẽ làm đảo lộn, không ổn. Cuối cùng chúng tôi quyết định cứ dùng đơn vị của Dị làm chủ công, nhưng để bảo đảm chắc thắng, sẽ đưa một đại đội của tiểu đoàn đồng chí Vượng lên. Như vậy hai đại đội sẽ đánh hai mũi ôm vòng lấy C1, và đồng thời thọc vào, cùng chiếm lấy "cột cờ", chia cắt địch ra làm bốn mảnh. Hai đồng chí đại đội trưởng đều là cán bộ tốt. Dị thì táo bạo, đồng chí đại đội trưởng của tiểu đoàn đồng chí Vượng thì gan lỳ tướng quân (anh là trung đội trưởng trinh sát mới được đề bạt hồi giữa chiến dịch). Hai anh cùng vui vẻ thách thức nhau chiếm "cột cờ" trước nhất. Anh nào cũng trở về chuẩn bị cho bộ đội mình ráo riết. Riêng đồng chí đại đội trưởng của tiểu đoàn đồng chí Vượng đặc biệt chăm lo tới tiểu đội dao nhọn. Tiểu đội này được trang bị hoàn hảo, và huấn luyện rất tinh thục. Càng gần đến ngày nổ súng phản xung phong giành lại "cột cờ" và C1, tinh thần bộ đội chúng tôi càng náo nức. Những mối lo lắng của anh em đã được giải quyết: chúng tôi đã bàn rất kỹ, bỏ hẳn nửa ngày để thảo luận về cách diệt những khẩu súng phun lửa của địch. Còn ba khẩu đại liên lợi hại trên "cột cờ" cũng không phải là không có thứ trị nó. Chúng tôi đã quyết định đưa hẳn pháo 75 mi-li-mét trên D1 bắn thúc vào gáy chúng nó (D1 cao hơn C1). Đạn trọng pháo, đạn cối lần này lại khá dư dật...
Đêm 30 tháng 4 năm 1954, theo đúng kế hoạch, bộ đội chúng tôi bắt đầu chuyển sang tấn công. Những loạt trọng pháo lại rền vang. Cả vị trí đồi C1 lại chìm ngập trong lửa khói. Trời đất như đổ vỡ tan tành... và chỉ một loáng sau tin chiếm được "cột cờ" đã bay về làm tưng bừng cả sở chỉ huy.
Cuộc chiến đấu đó đã được chuẩn bị tốt nên diễn ra hết sức mau lẹ. Những mũi tấn công tiến rất nhanh. Đại đội trưởng Dị luôn luôn giữ vững liên lạc được với chúng tôi. Nhưng nội dung báo cáo của anh cũng có lúc luôn luôn thay đổi. Khi anh báo cáo đã chiếm được những lô-cốt cuối cùng của địch, lúc anh báo cáo bị địch ở C2 cắt mất sườn, lúc lại bảo có quân phản kích ở Mường Thanh đánh ra... Thấy vậy chúng tôi lập tức ra quan sát để xác minh tình hình thực tế ra sao. Thì ra tất cả những tình huống khó khăn mà Dị báo cáo lên đều do những khẩu trọng liên bốn nòng quái ác ở bên bờ sông Nậm Rốm bắn tới...
Sau đó Dị liên tiếp báo cáo:
- Chiếm được "cột cờ" rồi!
- Chiếm lại được hoàn toàn C1 rồi!
- Đã bắt sống và tiêu diệt hoàn toàn quân địch!
Những tin tức bay về vang rộn như những hồi kèn chiến thắng. Thế là sau đúng ba mươi hai ngày đêm cực kỳ ác liệt, gian khổ, bây giờ C1 mới hoàn toàn về tay chúng tôi. Rất mau chóng, bộ đội chúng tôi theo như kế hoạch đã định quăng không biết bao nhiêu dây thép gai và mìn (gỡ được của địch) về phía "yên ngựa" tạo thành một bãi chướng ngại vật dày đặc, bảo vệ kín tất cả sườn đồi C1, phía quân địch vẫn thường tấn công lên.
Như tôi đã nói, do chuẩn bị kỹ, nên trận đánh đã diễn ra gần hoàn toàn như ý muốn, không có gì đang phải áy náy. Chỉ huy cái tin đồng chí đại đội trưởng của tiểu đoàn đồng chí Vượng đã hy sinh ở "cột cờ" là làm cho tôi và anh em trong đơn vị vô cùng thương tiếc. Đồng chí đại đội trưởng ấy đã dẫn đầu tiểu đội dao nhọn, lao vào rất nhanh. Những ụ đại liên đã bị bộ đội của anh phá nát trong chớp mắt...


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: minhtit trong 12 Tháng Một, 2009, 01:04:26 AM
XI
Sau khi đã tiêu diệt hoàn toàn bọn địch ở C1, chúng tôi một mặt tăng cường phòng ngự, một mặt gấp rút chuẩn bị đánh xuống C2.
Đáng lẽ, tôi cũng có thể tiếp tục kể tỉ mỉ về trận chiến đấu thứ hai này. Nhưng vì bài hồi ký đã dài, vả lại ở đây tôi cũng chỉ muốn kể lại những câu chuyện chung quanh cái "cột cờ" ở C1. Về trận đánh xuống C2, chỉ xin tóm tắt: mấy ngày sau, cùng một đêm với A1 đại tấn công, chúng tôi được cấp trên tăng cường cho một phân đội của đại đoàn bạn đánh thẳng xuống C2. Xuống tới đó mới thấy cái Châu Ún này (tên thường gọi của C2) quả là một vị trí cũng rất mạnh. Nó có trên ba mươi ụ súng lớn nhỏ. Cuộc chiến đấu cũng diễn ra hết sức quyết liệt. Hai bên cũng giành đi giật lại từng đoạn hào, ụ súng, gần như ở C1. Cho tới khi bên A1 đã vang động tin chiến thắng, chúng tôi vẫn chưa hoàn toàn làm chủ được cái đồn bướng bỉnh này. Mất A1, bọn Pháp đã dốc toàn bộ lực lượng vào C2 để phản xung phong, hòng chiếm lại để đánh quật về A1. Do đó những đợt phản xung phong của địch rất liên tục và ác liệt hơn bao giờ hết. Chúng tôi phải liên lạc yêu cầu quân ta trên A1 bắn thốc vào sườn chúng và chặn quân tiếp viện từ Mường Thanh ra. Đơn vị bạn bên A1 đã theo yêu cầu, chi viện cho chúng tôi rất đắc lực.
Mặt khác, tôi điện về đại đoàn xin pháo. Đại đoàn trả lời: "Có thể được nhưng phải hỏi Bộ". Sau đó tôi được trực tiếp nói chuyện bằng điện thoại với Bộ chỉ huy Mặt trận. Tôi lại nghe thấy giọng nói quen thuộc của đồng chí cục phó Cúc tác chiến ở đầu dây nói bên kia: "Được, sẽ cho anh bảy mươi quả 105". Tôi mừng quá vì lúc đầu tôi cũng chỉ dám phỏng đoán là trên cho độ 30 quả là cùng, nào ngờ... Nhưng chưa hết ngạc nhiên và sung sướng, ngay sau đó mấy phút tôi lại nghe thấy đồng chí cục phó Cục tác chiến nói lại với một giọng hết sức vui vẻ: "Vũ Lăng này! Anh Văn đang đứng ở gần đây. Anh Văn nói: Đây là cơ hội rất tốt để tiêu diệt sinh lực địch, cho cậu hẳn hai trăm quả 105 đấy! Có sướng không? Anh Văn chỉ thị: Phải tích cực lợi dụng hoả lực pháo binh để tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch". Tôi chỉ còn thiếu reo to lên, trong bụng phấn khởi không sao nói hết. Tôi thầm nghĩ: lần này trên rất "hào phóng" về đạn dược. Về sau này tôi mới biết rõ: thực ra trong lúc đó tình hình đạn dược của Bộ cũng rất gay, tuy vậy trong giờ phút quan trọng ấy, trên đã kiên quyết tập trung chi viện cho chúng tôi để giành lấy thắng lợi.
Hai trăm quả 105 mi-li-mét dồn dập lao thẳng xuống đầu bọn địch ở C2 và đội hình của những phân đội tiếp ứng ở Mường Thanh kéo ra. Dứt tiếng đại bác, bộ đội chúng tôi tràn ngay qua "yên ngựa", xốc thẳng vào C2. Đợt xung phong tấn công vũ bão ấy đã kết thúc khá mau lẹ. Trừ những tên bị bắn chết, toàn bộ quân địch đã giơ tay xin hàng. Tù binh kéo ra ùn ùn làm cho chính chúng tôi cũng phải ngạc nhiên, đếm tới hơn bốn trăm tên (trong đó có cả hai ban chỉ huy tiểu đoàn), thành phần toàn là lê dương và quân thù. Đây là một con số tù binh lớn nhất của đơn vị chúng tôi trong chiến dịch.
*
* *
Khi đã toàn thắng, tôi lại lên C1, lên đúng chỗ "cột cờ". Tôi đứng trên mảnh đất đã bở tơi, lổn nhổn những vỏ đạn súng trường, mảnh đạn pháo, cối, dây mìn... và có cả những cục đất đã khô bón máu người. Tôi thầm nghĩ: Đất Điện Biên giành lại được quả là gay go nhưng khi ta đã giành lại được nó thì sẽ còn giành được những thắng lợi lớn lao hơn nhiều...


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: shmel trong 13 Tháng Một, 2009, 08:17:21 PM
31 ngày đêm giữ đồi C1

Ngày này cách đây 50 năm đã diễn ra cuộc chiến đấu chiếm giữ từng tấc đất trên đồi C1. Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc kể lại chiến thắng thông minh sáng tạo của bộ đội ta cuối tháng 4-1954

C1 là cứ điểm trọng yếu cùng với A1 và C2 nằm sát gần nhau, địch tổ chức thành khu phòng ngự then chốt ở cửa ngõ phía Đông khu trung tâm Mường Thanh. Đợt tiến công thứ hai vào cứ điểm này là đợt dài ngày, gay go, ác liệt nhất. Trung đoàn 98 thuộc Đại đoàn 316 trong đó có đại đội “bộ binh pháo” của chúng tôi được giao nhiệm vụ đánh cứ điểm C1.

Đánh chiếm đồi C1

Tham gia đánh cứ điểm này đại đội “bộ binh pháo” tức là pháo nhỏ đi cùng bộ binh của chúng tôi có 1 trung đội với 3 khẩu pháo không giật ĐKZ 57 ly và 3 trung đội với 9 khẩu cối 81 ly. Với hỏa lực đó, 3 khẩu pháo không giật đã được điều đến phối thuộc với tiểu đoàn bộ binh chủ công. Còn 9 khẩu cối 81 ly đã tổ chức thành trận địa hỏa lực bố trí trên hướng tiến công chủ yếu của trung đoàn. Trận địa bố trí gần, phạm vi quan sát rộng, nên từ đây với thế mạnh của loại pháo cối 81 ly đi sát bộ binh, chúng tôi có thể trực tiếp chi viện hỏa lực cho trung đoàn đánh C1, đánh C2 và khi cần có thể hiệp đồng chi viện hỏa lực cho đơn vị bạn chiến đấu ở A1.

17 giờ ngày 30-3-1954, giai đoạn tiến công thứ hai của chiến dịch bắt đầu. Pháo binh ta bất thần bắn mạnh vào sở chỉ huy Đờ - Cát, các cứ  điểm A1, C1, D1 và đồi E, các trận địa pháo binh và quân cơ động của địch. Trên đồi C1 cùng với 30 trái đạn lựu pháo 105 ly của mặt trận và hàng trăm quả đạn cối 81 ly của đại đội tôi đã giáng đòn sấm sét vào quân địch, tạo điều kiện cho bộ binh của trung đoàn 98 nhanh chóng mở đột phá khẩu, xung phong tràn vào đánh địch, tiêu diệt và bắt sống 140 tên thuộc tiểu đoàn 1 lính Ma-rốc, chiếm được cứ điểm C1 sớm hơn 45 phút so với thời gian mà trung đoàn trưởng Vũ Lăng đã hứa với Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Bắn “ôm nòng” - Sáng kiến tạo bạo

Trong khi đó ở A1 cuộc chiến đấu giữa ta và địch vẫn đang diễn ra rất gay go ác liệt. Ngày 19-4-1954 được lực lượng nhảy dù tăng cường, có pháo binh, xe tăng và máy bay yểm hộ, địch tiến hành phản kích lớn từ C2 ngược qua “yên ngựa” đánh sang nhằm chiếm lại C1. Đã dự kiến trước tình huống đó nên trung đoàn đã có phương án chủ động đánh trả địch ngay từ đầu rất quyết liệt. Riêng hỏa lực súng cối 81 ly của đại đội chúng tôi phải hoàn thành 2 nhiệm vụ: Một mặt phải bắn tập trung mãnh liệt vào khu “yên ngựa” phá vỡ đội hình phản kích của địch, cùng với hỏa lực các loại của pháo binh, bộ binh tạo thành một lá chắn lửa trước tiền duyên phòng ngự của ta. Mặt khác phải sẵn sàng khi có lệnh hoặc yêu cầu của bộ binh, kịp thời di chuyển hỏa lực bắn vào cột cờ trên đỉnh đồi C1 chế áp, tiêu diệt địch khi chúng đột nhập vào trung tâm phòng ngự của ta.

Nhiệm vụ thứ hai này nan giải nhất. Phải làm sao cản diệt được địch mà không sát thương quân ta khi cả ta và địch đều rất gần nhau, địa hình hẹp, giao thông hào chật và nông không cho phép chúng tôi đặt cả chân và bàn cối bắn theo bài bản.

Chính trong lúc đó, cách “bắn ôm nòng” của chúng tôi đã phát huy được tối đa tính ưu việt của hỏa lực cầu vồng diệt địch ở địa hình có nhiều “góc chết”. Bằng cách này, tôi đã cho 2 khẩu 81 ly lên C1 bỏ hết bàn và chân lại để một pháo thủ vai đỡ và tay ôm lấy nòng cho một pháo thủ khác bắn với góc gần 90 độ, phóng đạn vào đội hình địch, chỉ cách bộ binh ta khoảng trên dưới 100 m.

Bằng cách “ôm nòng” trên, sau hai ngày khi trận địa cơ bản đã phát huy được hết thế mạnh, đại đội “bộ binh pháo” chúng tôi cùng với lựu pháo đã kịp thời chi viện rất hiệu quả cho bộ binh tiêu diệt nhiều sinh lực địch và đánh bại nhiều cuộc phản kích của chúng vào cứ điểm C1 mà ta đã làm chủ.

Tiết kiệm từng viên đạn

Trong những ngày đầu đánh địch phản kích, cũng đã có lần địch vào được trung tâm phòng ngự của ta và chiếm lại được cột cờ trên đỉnh đồi C1. Trong những hợp như vậy nhiều trận đánh giáp lá cà xảy ra rất ác liệt. Ta và địch quần nhau giành giật từng tấc đất, từng ụ súng, từng mét chiến hào. Có lúc bộ binh yêu cầu súng cối của chúng tôi bắn ngay vào cột cờ, nơi đó địch bố trí một khẩu đại liên rất lợi hại. Cột cờ cũng là cái mốc phân chia giới hạn: Địch chiếm một nửa đồi cao, ta chiếm một nửa đồi phía thấp, và cũng là một vật chuẩn cho hỏa lực pháo binh, súng cối. Theo lệnh của trung đoàn, đại đội chúng tôi phải vừa chế áp tiêu diệt địch ở khu vực cột cờ  vừa phải bảo đảm an toàn cho bộ binh. Đại đội dùng 3 khẩu bắn tiếp tục vào “yên ngựa”, còn tập trung 6 khẩu 81 ly bắn tập trung đồng loạt cả 6 khẩu, sau đó bắn từng khẩu một từ cột cờ lên phía cao cứ điểm để duy trì lúc nào cũng có tiếng nổ cối 81 để chế áp và tiêu diệt địch. Sau loạt đạn đầu và những đợt bắn tiếp theo nhờ có quan sát mắt hiệu chỉnh nên đại bộ phận đạn rơi trúng mục tiêu và bảo đảm an toàn cho bộ binh ta. Sở dĩ chúng tôi làm được như vậy là do cột cờ vật chuẩn đã qua nhiều lần bắn thử và bắn thật có phần tử rất chính xác và rất “tinh mật” cả về cự ly và về hướng.

Việc tiết kiệm đạn pháo là rất nghiêm ngặt. Bộ chỉ huy mặt trận quy định rất cụ thể: Cục trưởng cục tác chiến mặt trận được phép ra lệnh bắn 10 viên, đại đoàn trưởng được ra lệnh bắn 3 viên... Đạn cối 81 ly của đại đội tôi là do cấp trên cấp. Nhưng trong đợt tiến công này có đến gần 30% số đạn của đại đội là do chúng tôi hoặc do đơn vị bạn đoạt được từ những chiếc dù đạn của địch thả lạc vào trận địa của ta. Có lẽ nắm chắc được vấn đề này nên trung đoàn trưởng mới “nới” tay như vậy. Và với cách đánh quả cảm, sáng tạo, đại đội “bộ binh pháo” chúng tôi cùng các đơn vị phối thuộc đã chiến thắng trong 31 ngày đêm trên đồi C1.

Thiếu tướng Đỗ Văn Phúc

(http://www.nld.com.vn/43908P0C1010/31-ngay-dem-giu-doi-c1.htm)


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: saruman trong 14 Tháng Một, 2009, 04:14:43 PM
Còn đây là Hồi ức "ĐBP-Điểm hẹn lịch sử" của Đại tưởng Võ Nguyên Giáp, trích chương 10

Chương 10
Dãy cao điểm phía đông


Mười ngày sau khi về dự hội nghị sơ kết thắng lợi đợt 1, ngày 27 tháng 3, các cán bộ từ trung đoàn trở lên lại quay về sở chỉ huy Mường Phăng, nhận nhiệm vụ tác chiến đợt 2. Nhiệm vụ cụ thể trao cho từng đơn vị như sau:
- Đại đoàn 312, được phối thuộc hai đại đội sơn pháo 75, hai đại đội súng cối 120, một đại đội súng cối 82 có nhiệm vụ tiêu diệt các cao điểm E (Dominique 1), D1 (Dominique 2), D2 (Dominique 3) thuộc trung tâm đề kháng Đôminích, và dùng một đơn vị thọc sâu đánh vào vị trí pháo binh địch ở cao điểm 210 (Dominique 6), và tiểu đoàn dù 5 hoặc tiểu đoàn dù 6 cơ động ở khu vực này.
- Đại đoàn 316 (thiếu một trung đoàn), được phối thuộc hai đại đội sơn pháo 75, hai đại đội súng cối 120 ly có nhiệm vụ tiêu diệt các cao điểm A1 (Eliane 2), C1 (Eliane 1), C2 (Eliane 4) thuộc trung tâm đề kháng Êlian, và phối hợp với các đơn vị khác tiêu diệt lực lượng dù cơ động.
- Đại đoàn 308 có nhiệm vụ dùng hỏa lực kiềm chế pháo binh địch ở tây Mường Thanh, dùng bộ đội nhỏ tích cực dương công các cứ điểm 106 (Huguette 7) và 311 (trong cụm Huguette) ở phía tây, cử một tiểu đoàn tham gia bộ phận thọc sâu vào trung thâm khu đông, tiêu diệt tiểu đoàn ngụy Thái số 2, trận địa pháo binh, phối hợp với trung đoàn 98 của 316 tiêu diệt lực lượng dù cơ động.
- Trung đoàn 57 của đại đoàn 304, được phối thuộc tiểu đoàn 888 (đại đoàn 316), một đại đội lựu pháo 105, một đại đội súng cối 120, 18 khẩu trọng liên cao xạ 12,7 ly, có nhiệm vụ kiềm chế các trận địa pháo binh địch ở Hồng Cúm, chặn quân tiếp viện từ Hồng Cúm lên Mường Thanh, và đánh quân nhảy dù ở xung quanh và phía nam Hồng Cúm.
- Đại đoàn 351 trực tiếp yểm hộ bộ binh tiến công các cứ điểm: A1, D1, C1, E, chế áp pháo binh địch, sát thương và tiêu diệt một lực lượng cơ động địch ở trung thâm phía đông Mường Thanh, kiềm chế pháo binh địch.
Riêng trung đoàn pháo cao xạ 367 yểm hộ đắc lực cho bộ binh và pháo binh chiến đấu cả ngày và đêm.
So sánh về bộ binh trong đợt tiến công này, địch: 1 ta: 3,6 (5/18 tiểu đoàn). Nếu so với đợt 1 thì mức huy động lực lượng của ta lần này cao hơn. Nhưng mục tiêu cũng nhiều hơn, ngoài năm mục tiêu chính là năm cao điểm phía đông, còn những mục tiêu thứ yếu khác: đánh lực lượng dù cơ động, trận địa pháo.
Đây là trận công kiên có quy mô lớn nhất từ trước tới nay. Khi mở đầu chiến dịch ta mới chỉ đánh từng trung tâm đề kháng, từng tiểu đoàn đóng riêng lẻ, lần này ta đánh vào một khu vực gồm nhiều trung tâm đề kháng với nhiều tiểu đoàn.
Hội nghị trao nhiệm vụ diễn ra trong không khí hào hứng. Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn, các trung đoàn trưởng Hoàng Cầm, Quang Tuyến, Lê Thùy còn mang khí thế của những chiến thắng vừa qua, báo cáo kế hoạch đánh các cao điểm D và E với sự tin tưởng sẽ làm tròn nhiệm vụ. Riêng đồng chí Lê Trọng Tấn hơi băn khoăn cho các đơn vị làm nhiệm vụ thọc sâu.
Trước cuộc họp, đại đoàn trưởng 316 Lê Quảng Ba nói riêng với tôi: "Trung đoàn trưởng 98 Vũ Lăng đề nghị được đánh A1, nhưng đại đoàn phải trao cho Nguyễn Hữu An, vì trung đoàn 174 là đơn vị chủ công".
A1 được đánh giá là vị trí quan trọng nhất trong đợt tiến công này. Hai trung đoàn 174 và 98 mới bước vào chiến đấu đều còn sung sức. Trung đoàn trưởng 174 Nguyễn Hữu An đã hai lần tham gia tiêu diệt Đông Khê, trình bày phương án đánh A1, trả lời mọi câu hỏi một cách rõ ràng, chứng tỏ đã có nhiều kinh nghiệm công kiên. Cuối cùng, tôi hỏi:
- Đồng chí có gì đề nghị với Bộ chỉ huy chiến dịch không !
- A1 là vị trí rất cứng mà trên chi viện có 100 viên đạn pháo 105, như vậy ít quá.
Tôi nói vui:
- Được cho cậu thêm 5 viên nữa !
Mọi người cười ồ. Đạn pháo 105 đã thành vấn đề nan giải. Ta đang tính cách chuyển một số đạn chiến lợi phẩm từ mặt trận Trung Lào ra, nhưng đường quá xa, và cũng không được bao nhiêu.
Tôi muốn gặp các đồng chí chỉ huy trước lúc ra về. Anh em lần lượt tới căn lán nhỏ nơi tôi làm việc.
Nguyễn Hữu An và Vũ Lăng cùng bước vào. Vũ Lăng người bé nhỏ nhưng rắn chắc, có hàm râu quai nón và nụ cười tươi, từ trung đoàn Thủ đô của 308 mới chuyển sang 316. Cả hai đều là những cán bộ chiến đấu dày dạn, đã chỉ huy nhiều trận công kiên, có những trận thành công xuất sắc. Tôi nói:
- Các đồng chí báo cáo quyết tâm đi !
Hai người đều hứa sẽ kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ. Tôi hỏi tiếp tình hình tổ chức chiến đấu, tư tưởng bộ đội tình hình đoàn kết nội bộ, và đồng chí chỉ huy đại đội chủ công thế nào... Các anh đều trả lời rất tốt. Tôi lại hỏi:
- Các đồng chí có tin tưởng không!
Vũ Lăng nhanh nhảu:
- Báo cáo anh, tin tưởng là làm được.
- Đánh C1 trong bao lâu!
- Xin anh 45 phút.
- Có thể để hẳn cho đồng chí một tiếng.
Tôi quay sang Nguyễn Hữu An :
- Còn A1 ! Đồng chí cần bao nhiêu thời gian !
Mức thời gian Vũ Lăng đặt cho đơn vị mình làm cho Nguyễn Hữu An hơi lúng túng.
- A1 khó hơn, hai tiếng, đồng chí làm được không !
Nguyễn Hữu An vui vẻ đáp:
Báo cáo: Làm được.
Tôi nói thêm về tính chất quan trọng của A1, nhắc đơn vị chú ý hoàn thành việc xây dựng trận địa xuất phát xung phong cho tốt, và làm kế hoạnh phối hợp thật chu đáo.
Tôi nói với Vũ Lăng:
- C1 cũng rất quan trọng. Tiêu diệt được cứ điểm này trung đoàn 98 sẽ tiến một bước dài trong chiến đấu công kiên. Đồng chí còn điều gì băn khoăn không ?
Vũ Lăng đỏ mặt rồi nói:
- Kể ra, Bộ cho được "tí pháo" thì tốt.
Lần này đánh nhiều cứ điểm một lúc, pháo của ta không thể chia đều, trong kế hoạch đánh C1, đơn vị Vũ Lăng không có pháo yểm hộ.
Tôi cười vỗ vai Vũ Lăng:
- Đơn vị cậu sẽ có 2 khẩu 75 đi cùng, và 30 phát pháo 105 yểm hộ.
Vũ Lăng vui sướng:
- Thế thì xin cam đoan giữ đúng lời hứa với anh.
Sau đó, cơ quan tham mưu thông báo với Vũ Lăng, ngoài pháo 75, Bộ sẽ phối thuộc thêm cho 98 cả một số súng cối 120 ly.


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: saruman trong 14 Tháng Một, 2009, 04:16:14 PM
MƯA dầm dề mấy ngày liền. Chúng tôi lo mùa mưa năm nay đến sớm. Tới ngày nổ súng thì mưa tạnh.
Lợi dụng trời còn nhiễu mây, từ sáng, trợ chiến các đơn vị đã ra chiếm lĩnh vị trí. Buổi trưa, bộ binh xuất phát.
Trận địa chiến hào của ta đã bò tới chân các cao điểm. Mặc dù quân địch những ngày gần đây đã nhiều lần dùng bom, đại bác đánh phá và đưa quân ra san lấp chiến hào, nhưng trận địa của ta vẫn được duy trì, và lúc này đã chứng tỏ giá trị của nó. Bộ đội ta vào gần đồn, địch vẫn chưa biết.
* 18 giờ ngày 30 tháng 3 năm 1954, đợt tiến công thứ hai vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bắt đầu.
Các cao điểm phía đông, một số vị trí bảo vệ sân bay ở phía tây, các trận địa pháo và khu vực quân cơ động địch chìm trong khói lửa. Cũng như đợt tiến công thứ nhất, suốt nửa giờ đầu, pháo binh địch không thể lên tiếng.
Những giờ đầu cuộc chiến đấu tiến triển khá thuận lợi. Tại cao điểm C1, lần đầu ta mở rào bằng đạn phóng bộc lôi. Các pháo thủ bắn rất chính xác. Bộc lôi nổ phá tung từng đoạn rào. Khi pháo chuyển làn, các chiến sĩ bộc phá chỉ còn giải quyết nốt những đoạn sót lại. Sau 5 phút tiểu đoàn 215 của 98 đã dọn xong cửa mở qua bảy lần rào dây thép gai. Chớp thời cơ hỏa lực địch đang còn tê liệt tiểu đoàn trưởng Bùi Hữu Quán hạ lệnh xung phong. Đường dây điện thoại với trung đoàn bị đứt. Nghe tiếng súng bộ binh nổ trên cứ điểm, trung đoàn ra lệnh cho pháo chuyển làn. Chỉ bằng một đợt xung phong mạnh, trong 10 phút, đại đội 38 đã chiếm được chiếc lô cốt nằm trên mỏm đất cao nhất nhô lên trên đỉnh đồi, được anh em gọi là mỏm Cột Cờ. Tiểu đội trưởng mũi nhọn Nguyễn Thiện Cải cầm lá cờ Quyết chiến Quyết thắng lên nóc sở chỉ huy của địch. Quán địch dồn về những lô cốt ở khu vực phía tây, gọi pháo bắn vào trận địa ta. Các chiến sĩ xung kích dùng lưỡi lê, lựu đạn lao lên đánh giáp lá cà, đập tan ba đợt phản kích của địch.
Trận đánh diễn ra đúng 45 phút. Toàn bộ một đại đội 140 tên địch thuộc tiểu đoàn 1 trung đoàn 4 Ma rốc bi tiêu diệt hoặc bắt sống. Số thương vong của ta là 10 người.
Trung đoàn trưởng Vũ Lăng báo cáo về đầu tiên: "98 đã chiếm hoàn toàn C1". Tôi gửi điện khen trung đoàn 98 và thưởng huân chương Quân công hạng ba cho tiểu đoàn 215 vì đã hoàn thành nhiệm vụ nhanh và gọn nhất mặt trận.
Phía đồi C1, tiểu đoàn 215 của 98 sau khi chiếm C1 đã quyết định điều đại đội 35 lên thay thế đại đội 38 vừa hoàn thành nhiệm vụ về phía sau làm lực lượng dự bị, tuy đại đội này mới thương vong có mười người còn rất sung sức. Ta đã để lỡ thời cơ khi quân địch ở C2 đang hoang mang vì mất C1. Giữa lúc ta đang điều chỉnh lực lượng, bộ đội ùn lại khá đông trên đồi thì pháo địch bắn dồn dập. C1 địa hình hẹp, công sự ít, nhiều anh em phải đứng ở giao thông hào nên số thương vong lên cao. Việc tổ chức tiến công C2 bị chậm lại. Mãi gần 21 giờ, tiểu đoàn mới triển khai chiến đấu.
Đồi C2 khá rộng nối với C1 bằng một yên ngựa, sườn đồi phía trong thoai thoải đổ xuống đường 41, rất tiện cho quân cơ động địch lên phản kích. Trên đồi có hệ thống chiến hào liên hoàn với nhiều lô cốt, ụ súng khá kiên cố, phía ngoài là nhiều lớp rào dây thép gai và bãi mìn. Đây là nơi Bigia đặt sở chỉ huy tạm thời.
23 giờ, một trung đội của đại đội 35, do đại đội phó và chính trị viên chỉ huy, vượt qua yên ngựa đột nhập được một đoạn hào của C2. Trung đội nhanh chóng phát triển chiếm liên tiếp 11 lô cốt và ụ súng. Nhưng lực lượng phía sau qua nhiều lần xung phong đều bị hỏa lực rất mạnh của địch cản lại. Tiểu đoàn 215 quyết định lui về C1 tiếp tục chuẩn bị tạo điều kiện tiến công C2 ban ngày. Phía đồi D1, tiểu đoàn 130 của 209 phát triển xuống D2 vấp phải hỏa lực bắn thẳng từ trận địa pháo trên cứ điểm 210 và hai cỗ trọng liên bốn nòng đặt bên kia sông Nậm Rốm, phải ngừng lại để củng cố.
Về khuya, đại bác địch càng hoạt động mạnh. Cuộc chiến đấu của bộ đội ta trên những cao điểm phía đông đã chững lại. Tôi nhận thấy đây chính là sự khác nhau giữa chiến đấu ở ngoại vi với khu trung tâm, địch không thể không đối phó quyết liệt. Sau này ta biết trong đêm 31 tháng 3, quân địch đã bắn 13.000 viên đạn 105, 855 viên đạn 155, 1.200 viên đạn súng cối 120.
Sở chỉ huy nhận định: Bộ đội đã hoàn thành phần quan trọng nhiệm vụ đợt 2, nhưng vẫn chưa chiếm được cao điểm phòng ngự then chốt A1. 174 đã sử dụng cả lực lượng dự bị, không còn khả năng giải quyết A1, 98 đánh xuống C2 không thành công, đã bị tiêu hao, cần điều một đơn vị khác tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt A1, và phòng ngự ở C1 ban ngày. Anh Thái đề nghị sử dụng trung đoàn 102 của 308. Vào đầu đợt 2, 308 vẫn phụ trách mặt trận phía tây, riêng 102 đã được chọn làm lực lượng dự bị cho khu đông.
Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định: Các đơn vị khẩn trương tổ chức trận địa phòng ngự trên các cao điểm C1, D1, E, chuẩn bị đánh địch phản kích ban ngày, quyết không để địch chiếm lại. Đại đoàn 308 đưa trung đoàn 102 từ phía tây sang phía đông, tiếp tục tiến công tiêu diệt A1 và phòng ngự tại C1. Đồng chí Vương Thừa Vũ chỉ huy trận đánh tại A1 và C1. Các trung đoàn 88, 36 của 308 chuyển từ nhiệm vụ dương công sang tiêu diệt các cứ điểm 106 và 311 ở phía tây, trung đoàn 165 của 312 đánh cứ điểm 105 (Huguette 6) ở phía bắc, uy hiếp mạnh quân địch tạo điều kiện cho các đơn vị ở khu đông hoàn thành nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Trận đánh tại cứ điểm C1 và C2, Điện Biên Phủ
Gửi bởi: saruman trong 14 Tháng Một, 2009, 04:19:54 PM
MỜ sáng ngày 31, Đờ Cát họp với Lănggơle, Pagít và Bigia, bàn cách đối phó với tình hình. Lănggơle đề nghị tập trung toàn bộ binh đoàn không vận số 2, gồm tiểu đoàn dù 1, tiểu đoàn dù 8, một bộ phận của tiểu đoàn dù 5, cùng với tiểu đoàn lê dương số 3 và xe tăng từ Hồng Cúm tới để tiến hành phản kích. Toàn bộ lực lượng pháo cũng như xe tăng của tập đoàn cứ điểm sẽ được huy động vào cuộc phản kích.
7 giờ 45, tiểu đoàn lê dương số 3 với xe tăng dẫn đầu, từ Hồng Cúm tiến ra đường 41 đi về phía Mường Thanh.
Tới bản Long Nhai, cánh quân lọt vào trận địa của trung đoàn 57, lập tức bị bao vây. Những tên lính lê dương liên tiếp gục ngã trước hỏa lực dày đặc của ta. Một xe tăng trúng đạn ĐKZ bốc cháy. Lực lượng cứu nguy lại trở thành một gánh nặng cho Mường Thanh. Gần trưa, toàn bộ pháo của tập đoàn cứ điểm phải mở một đợt bắn chặn cho tiểu đoàn lê dương và xe tăng mở một đường máu quay trở lại Hồng Cúm, mang theo 15 xác chết và 50 binh lính bị thương.
Thời tiết tốt đã giúp không quân địch hoạt động trở lại. Những chiếc C.119 do phi công Mỹ lái, thả dù tiếp tế đạn dược, lương thực, những máy bay oanh tạc Bearcat, Helldiver lao xuống kết hợp với những trận địa pháo đánh phá dữ dội các cao điểm C1, D1, E và A1.
1 giờ 30 chiều, Bigia trực tiếp chỉ huy hai tiểu đoàn dù 6 và 5 tiến lên C1. Đại đội 273 của trung đoàn 102 đã có mặt trên cao điểm từ buổi sáng cùng với bộ phận còn lại của đại đội 35 trung đoàn 98 đánh lui nhiều đợt phản kích của địch từ C2 lên định đẩy quân ta ra khỏi đồi. Lần này quân địch đông lại có không quân, pháo binh yểm hộ và xe tăng mở đường. Mặc bom đạn giội quanh người, các chiến sĩ không hề nao núng, đợi những tên lính dù tới thật gần mới nổ súng đánh lui nhiều đợt tiến công. Hết lựu đạn, các chiến sĩ dùng bộc phá ống lắp thêm kíp nổ lao vào xe tăng và đội hình địch. Xạ thủ ĐKZ 57 ly Vũ Văn Kiểm vác nòng súng trên vai di chuyển trong giao thông hào, bắn vào những vị trí tập trung đông quân địch. Nòng súng cháy bỏng, Kiểm cởi áo trấn thủ lót vai, tiếp tục bắn. Địch lại cho đại bác bắn dữ dội rồi dùng súng phun lửa và xung phong lên đồi. Lần này chúng chiếm được điểm cao Cột Cờ, đẩy những chiến sĩ phòng ngự vào thế bất lợi. Pháo ta không thể tiếp tục yểm hộ vì không phân biệt được vị trí của địch và ta. Các chiến sĩ đã lấy vải dù trắng buộc lên đầu súng làm chuẩn cho pháo binh. Trong lúc pháo ta nổ dồn dập, trung đoàn đưa một bộ phận tăng viện theo đường hào mới đào phía đồi D, cùng với những người phòng ngự đánh bật quân địch khỏi Cột Cờ, khôi phục lại trận địa.
* 16 giờ, Bigia buộc phải ra lệnh rút lui, để lại trận địa gần trăm xác chết. Trong ngày, bộ đội ta đã đánh lui bảy đợt phản kích của hai tiểu đoàn dù. Chiến sĩ ĐKZ Vũ Văn Kiểm được tặng thưởng huân thương Chiến sĩ hạng nhất.
Những cuộc phản kích của địch ngày 31 tháng 3 đã hoàn toàn thất bại. 10 giờ tối, Lănggơle gọi điện thoại cho Bigia, hỏi có thể giữ được những gì còn lại của gian trong đêm nay không! Bigia trả lời: "Thưa đại tá, chừng nào còn một người sống sót, tôi sẽ không bỏ Êlian". Êlian lúc này có nghĩa là A1. A1 đã trở thành "thành luỹ cuối cùng" (demier rempart) của tập đoàn cứ điểm !


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 15 Tháng Một, 2009, 11:51:04 PM
Chưa đúng bác Altus ạ.  ;D Chức toàn quyền không còn từ lâu. Cơ cấu của Pháp ở Đông Dương thường được nhắc đến với hai vị trí Cao ủy và Tổng chỉ huy (quân sự). Cao ủy to hơn và gồm cả một phần không nhỏ trách nhiệm về quân sự. Nhưng năm 52-53 đã đượct hay đổi.
Nhiệm vụ dân sự của ông Cao ủy được chuyển giao môt phần cho ông "Tổng ủy viên Pháp ở Đông Dương" (Commiscare general de France en Indochine) và một phần cho ba "ủy viên Công hòa Pháp" ở VN, Lào, CPC.
Không những thế, Tổng ủy viên còn là người chịu trách nhiệm trước chính phủ Pháp về phòng thủ và an ninh ở Đông Dương. Tổng chỉ huy quân sự là người điều hành các hoạt động quân sự trong khuôn khổ các kế hoạch chung mà Tổng ủy viên trình lên chính phủ.

Hé hé hé thế mà kế hoạch ĐBP lại do Navarre trình bày tực tiếp với BTTM quân đội và Chính phủ Pháp, được gật một phát là tự thi hành chứ không phải đi xin ý kiến Toàn Uỷ (Commissaire Géneral) đấy.   :o


Tôi dịch là Toàn quyền vì bọn Tây nó thay đổi xoành xoạch, còn ta thì trước nay cứ Toàn quyền với Cao ủy mà phang, gộp chung vào một khái niệm là Toàn quyền.  ::)
Thông tin trên em lấy từ cuốn hồi ký của Navarre in năm 67. Cự nự gì thì bác liên hệ với ổng.  ;D
Trích dẫn
Trích dẫn
Câu 14: Câu Navarre là tướng cao cấp nhất của Pháp (tính theo quân hàm) đã từng chỉ huy ở VN?

Không. Còn ông Ngũ kim Tưóng quân, sau truy phong Nguyên soái, Đờ Lát nữa.
Còn một người nữa cũng là tướng 5 sao. Xin chờ bác Altus bổ sung tiếp đáp án.

Hỏi là Na-va có phải không chứ có hỏi là "những ai" đâu nào? Ba-rem điểm rắc rối quá.

Tính chi ly ra thì còn Leclerc (1945-1946) và Ely (1954-1955) nữa.


Bổ sung thêm Ely, bác Altus đã trả lời đúng câu 14 . Ngoài lề, theo em biết thì Leclerc năm sang Việt Nam mới là tướng 4 sao.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 16 Tháng Một, 2009, 12:12:29 AM
Theo cuốn Lịch sử BTTM trong KCCP:
Quân đoàn Viễn chinh Pháp ở Viễn Đông (Corps Expéditionnaire Français en Extrême-Orient, CEFEO) là tên thời kỳ 1945.
Giai đoạn 46-49 thì có tên là Đội quân Pháp ở Viễn đông (Troupe Francaise en Extrême Orient, TFÈO)
Từ năm 49 cho đến năm 1954 và sau đó có tên là: Lực lượng ở Viễn đông (Force armée en Extrême Orient, FAEO)

Theo tôi tìm hiểu thì không phải là như thế.

CEFEO tồn tại đến tận năm 1956, và là tên chính thức cho lực lượng quân tác chiến Pháp tại Đông Dương.

TFEO và FA(F)EO là các tên gọi dành cho các cấu trúc theo khía cạnh khác của lực lượng Pháp tại Đông Dường, dành để chỉ các chức năng quản lý, quân lực, hậu cần, chính sách, nghĩa vụ v.v., kiểu quản lý theo ngành dọc. Mấy cái này đan xuyên, chồng chéo với CEFO nhưng không phải là tên mới của CEFEO.

Nói TFEO (hay FAFEO) là tên kế tiếp của CEFEO thì cũng na ná như nói từ năm X Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN đổi tên thành Bộ Quốc Phòng (đại khái thế).
Bài trả lời của bác Altus làm em đau đầu cả tháng nay.  >:( Em lấy thông tin chiều ta từ cuốn Lịch sử BTTM mà chưa đối chứng chiều phía Pháp. Thời gian qua em đã tham khảo nhiều nguồn, trong đó có những cuốn như Dictionaire de la Guerre D'Indochine nhưng là chủ yếu nói tới TFEO chứ không dùng FAEO. Tuy rằng vẫn có nhắc tới FAEO với hai nghĩa Forces  armees  d'Extreme OrientForces aerienes d'Extreme Orient.
Do trình độ còn hạn hẹp nên mới chỉ tìm hiểu được đến vậy. TFEO và FAEO có phải là một hay thế nào khác, mong các bác bổ sung giúp.  :)
Bổ sung ngoài lề, theo em biết, TFEO và FTEO là khác nhau. Cụ thể: TFEO là Troupe Francaise en Extreme Orient và FTEO là Forces terrestres d'Extreme Orient


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 16 Tháng Một, 2009, 12:16:41 AM
Ngoài lề, theo em biết thì Leclerc năm sang Việt Nam mới là tướng 4 sao.

Thì vưỡn, dưng mà lúc lão đi thì đã 05 sao rồi. Một ngày cũng phải tính, kiểu như H6 của mình ấy.  ;D

Mấy cái pheo phiếc kia thì bớ bác banzua ở đâu ra chỉ điểm cho anh em với nhỉ.  8)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 16 Tháng Một, 2009, 12:46:23 AM
Ngoài lề, theo em biết thì Leclerc năm sang Việt Nam mới là tướng 4 sao.

Thì vưỡn, dưng mà lúc lão đi thì đã 05 sao rồi. Một ngày cũng phải tính, kiểu như H6 của mình ấy.  ;D

Mấy cái pheo phiếc kia thì bớ bác banzua ở đâu ra chỉ điểm cho anh em với nhỉ.  8)
Theo em thì lão rời đi từ giữa năm 46 cơ mà bác. Rồi đến mãi sau này chết thì được truy phong Thống chế.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 16 Tháng Một, 2009, 06:05:43 AM
Theo em thì lão rời đi từ giữa năm 46 cơ mà bác. Rồi đến mãi sau này chết thì được truy phong Thống chế.

Ừ. Lên lon mấy tuần, 05 sao, rồi mới đi. Chết thì được lên thêm một khấc nữa là đến Thống chế.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 11 Tháng Hai, 2009, 09:35:04 PM
Dây sang Tây thật là mệt, nhất là khi ngoại ngữ còi. Thôi thì xin gác mấy vấn đề Tây ở đấy, ta quay về với ta.  ;D

Xin đố các bác, đây là đồi gì?
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/A1-1.jpg)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 11 Tháng Hai, 2009, 09:48:55 PM
A một trừ một?  ::)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 11 Tháng Hai, 2009, 10:06:26 PM
Chả nhẽ lại đoán mò, đề nghị cho thêm dữ kiện ::)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 12 Tháng Hai, 2009, 09:17:34 AM
Để em gom lại thàm cụm mục tiêu nhá:

Câu 21: Đây là đồi gì?
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/A1-1.jpg)

Câu 22: Đây là đồi gì?
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/333.jpg)

Câu 23: Đây là đồi gì?
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/11-4.jpg)

Câu 24: Đây là đồn gì?
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/22-1.jpg)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 12 Tháng Hai, 2009, 10:00:22 AM
Chà chà, cái quả đồi trong ảnh 22 thì nổi tiếng quá rồi, nhắc đến ĐBP là phải nhắc đến nó. Tất nhiên đó là A1 (Eliane 2) ;)

Ảnh 24, nằm phía tây 105 (Huguette 6) thì chắc chắn là 106 (Huguette 7).

2 ảnh còn lại thì chịu, bác new gợi ý đê ::)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 12 Tháng Hai, 2009, 11:15:10 AM
Chà chà, cái quả đồi trong ảnh 22 thì nổi tiếng quá rồi, nhắc đến ĐBP là phải nhắc đến nó. Tất nhiên đó là A1 (Eliane 2) ;)

Ảnh 24, nằm phía tây 105 (Huguette 6) thì chắc chắn là 106 (Huguette 7).

2 ảnh còn lại thì chịu, bác new gợi ý đê ::)
Bác Altus trả lời đúng câu 21. Hic. Đau quá, tiếc cái ảnh độc quá, không bị lộ đồng chí trong đống rơm thì bác Altus và bác Chiangshan khóc thét.  Ở cái ảnh này bác Chiangshan chú ý có một con đường đi từ bên trái bức ảnh lên đồi, đó chính là con đường mà quân Pháp đã đưa xe tăng lên. Đồi A1, như trong ảnh, có khác với các đồi khác, trên đó ngoài cái hầm ngầm vốn là cái móng nhà thì còn có một dãy nhà một tầng nữa.
Bác Chiangshan trả lời đúng câu 22 và 24.
Gợi ý câu 23:Ảnh thế này thì đúng là cũng bó tay. Đây là đồi cao nhất ĐBP.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 12 Tháng Hai, 2009, 01:50:20 PM
Câu 25: Điền vào chỗ trống: ;D
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/444.jpg)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: tuaans trong 12 Tháng Hai, 2009, 03:53:39 PM
Huguette có 5 cái, sao lại có 6, 7 nhỉ?


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 12 Tháng Hai, 2009, 04:03:39 PM
Anne Marie 1, 2 qua đời thì 3, 4 mồ côi bác ạ.  :D


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: tuaans trong 12 Tháng Hai, 2009, 04:12:48 PM
OK, vậy là đem gửi qua Huguette nuôi!


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 13 Tháng Hai, 2009, 05:05:46 PM
Nhắc các bác:  ;D
Câu 25: Điền vào chỗ trống: ;D
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/444.jpg)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: tuaans trong 13 Tháng Hai, 2009, 05:25:58 PM
Đoán mò: Thương nguồn bên trái, hạ nguồn bên phải màn hình!


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 13 Tháng Hai, 2009, 05:37:02 PM
Đoán mò: Thương nguồn bên trái, hạ nguồn bên phải màn hình!
Ting ting! Chính xác.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 13 Tháng Hai, 2009, 11:04:29 PM
Hehe, câu này khoai phết nhỉ. Có phải từ trái sang phải lần lượt là: Dominique 3, Eliane 12, Eliane 10 và Eliane 11.

Còn câu 23 hẳn là E1 (Dominique 1).


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 14 Tháng Hai, 2009, 08:02:16 AM
Hehe, câu này khoai phết nhỉ. Có phải từ trái sang phải lần lượt là: Dominique 3, Eliane 12, Eliane 10 và Eliane 11.

Còn câu 23 hẳn là E1 (Dominique 1).
Gợi ý câu 25: Cái đồi có mấy tầng đất giống như ruộng bậc thang là A1. Nhìn kỹ còn có thể thấy một gốc cây rất to bên phải dưới chân đồi. Đó (có thể) là cây đa, khởi nguồn cho tên gọi "Lô cốt cây đa cụt".

Ting ting! Bác Chiangshan trả lời đúng câu 23. Đó là Dominique1 trong giai đoạn xây dựng.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Hai, 2009, 09:42:19 AM
Hehe, câu này khoai phết nhỉ. Có phải từ trái sang phải lần lượt là: Dominique 3, Eliane 12, Eliane 10 và Eliane 11.

Còn câu 23 hẳn là E1 (Dominique 1).
Gợi ý câu 25: Cái đồi có mấy tầng đất giống như ruộng bậc thang là A1. Nhìn kỹ còn có thể thấy một gốc cây rất to bên phải dưới chân đồi. Đó (có thể) là cây đa, khởi nguồn cho tên gọi "Lô cốt cây đa cụt".

Ting ting! Bác Chiangshan trả lời đúng câu 23. Đó là Dominique1 trong giai đoạn xây dựng.

Chà chà, từ chỗ mấy quả đồi kia tới bờ sông Nậm Rốm nhìn cứ phẳng lì, không nhận ra được mấy điểm cao đã cầm chân 312 suốt sáng 7/5. Hay do vẫn còn cây cối mọc nhỉ.

Thử lại phát nữa:
1. D1 (Dominique 2).
2. C1 (Eliane 1).
3. C2 (Eliane 4).
4. A1 (Eliane 2).
2 mỏm đồi không đánh số kia chắc là đồi F (Mt Fictif) và đồi Cháy (Mt Chauve).


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 14 Tháng Hai, 2009, 11:29:53 PM
Ting! ting!
Trung tá - trưởng ban quân lực (thấy thượng tá Altus phong thế ;D) Chiangshan đã trả lời đúng câu 25.

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dbp_jean-pouget_neadbp-02.jpg)

Câu chà chà của bác Chiangshan qua cái ảnh này có thể giải tỏa phần nào chăng. Còn thì theo tớ, mấy cái đó giống chỗ cao ráo hơn là cao điểm.  ;D

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dbp_central-05_ng.jpg)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dbp_central-03_ng.jpg)

Tặng anh em cái huy hiệu (đặc biệt là bác Chiangshan và bác Altus):

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/DienBienPhu.jpg)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 15 Tháng Hai, 2009, 05:00:43 AM
Trung tá - trưởng ban quân lực (thấy thượng tá Altus phong thế ;D) Chiangshan đã trả lời đúng câu 25.

Trưởng ban là thế nào? Chủ nhiệm nhá bác nhá!

Trích dẫn
Tặng anh em cái huy hiệu (đặc biệt là bác Chiangshan và bác Altus):

Cảm ơn bác. Giải thưởng chính thế chắc còn hoành tráng hơn nữa ạ?  ;D


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: baoleo trong 15 Tháng Hai, 2009, 09:18:29 AM
Tặng anh em cái huy hiệu (đặc biệt là bác Chiangshan và bác Altus):

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/DienBienPhu.jpg)

Cái huy hiệu này là của trận ngày 5/8/1964, chứ có phải là kỷ niệm chương: chiến thắng ĐBP 1954 đâu  ::)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 15 Tháng Hai, 2009, 10:46:13 PM
Tặng anh em cái huy hiệu (đặc biệt là bác Chiangshan và bác Altus):

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/DienBienPhu.jpg)

Cái huy hiệu này là của trận ngày 5/8/1964, chứ có phải là kỷ niệm chương: chiến thắng ĐBP 1954 đâu  ::)

 :o Vậy mà từ trước đến nay, em vẫn tưởng nó là một trong những huy hiệu của ĐBP, thậm chí là một luận chứng khác về ngày chiến thắng (mồng 8 tháng 5). Em không có thông tin về huy hiệu này, ngày mồng 5 tháng 8 (năm 1964) của Quân chủng PK-KQ, nhưng cảm quan thấy thì nghĩ là chính xác hơn. Em cám ơn bác Baoleo.  >:( :D



Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: tuaans trong 16 Tháng Hai, 2009, 09:18:35 AM
Cái này nhà mình có 1 cái, ông cụ cất đâu rồi, lấy tạm trên nét.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: Trungsy1 trong 16 Tháng Hai, 2009, 07:46:35 PM
Còn có một loại ca sắt tráng men vẽ hình như huy hiệu CS Điện Biên nữa. Có điều người lính cầm khẩu K.50.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 17 Tháng Hai, 2009, 08:41:26 PM
Còn có một loại ca sắt tráng men vẽ hình như huy hiệu CS Điện Biên nữa. Có điều người lính cầm khẩu K.50.
Có phải hình này không bác Trungsy1 ;D

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/huyhieudienbienphu.jpg)

Sách của Đại đoàn 312, tháng in ở phía dưới ảnh.


Tiêu đề: Giúp con với!!! Con muốn biết về trận đánh Điện Biên Phủ
Gửi bởi: kiến trong 27 Tháng Hai, 2009, 10:31:16 PM
 Con muốn biết tên của 7 vị anh hùng dân tộc đã hi sinh oanh liệt trong trận đánh Điện Biên Phủ!!  ??? Con biết được Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Cù Chính Lan... và còn 4 người con chưa biết mọi người giúp con với  :)


Tiêu đề: Re: Giúp con với!!! Con muốn biết về trận đánh Điện Biên Phủ
Gửi bởi: tuaans trong 27 Tháng Hai, 2009, 10:34:40 PM
Con có thể vào chỗ này hỏi chủ xị ở trỏng là ra ngay mờ!

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=4417.0


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 28 Tháng Hai, 2009, 09:18:06 PM
Con kiến  ;D thử tìm tìm hiểu thêm trong 20 cụ trong danh sách này, cụ nào là liệt sỹ Điện Biên Phủ nhé.


20 Cán bộ, chiến sỹ được phong tặng Anh hùng LLVTND trong chiến dịch Điện Biên Phủ:
- LS Phan Đình Giót.
- LS Tần Can.
- LS Tô Vĩnh Diện.
- LS Bế Văn Đàn.
- LS Nguyễn Ngọc Bảo.
- LS Hà Văn Noạ.
- LS Hoàng Văn Nô.
- Phùng Văn Khầu.
- Nguyễn Văn Ty.
- Phan Tư.
- Lộc Văn Trọng.
- Chu Văn Mùi.
- Bùi Đình Cư.
- Dương Quảng Châu.
- Đặng Đình Hồi.
- Trần Đình Hùng.
- Đinh Văn Mẫu.
- Đặng Đức Song.
- Lưu Viết Thoảng.
- Nguyễn Ngọc Bảo.

Câu hỏi phụ: Đố bạn biết tại sao cụ Bế Văn Đàn lại được coi là liệt sỹ ĐBP, dù cụ không chiến đấu và hi sinh tại lòng chảo Điện Biên.


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: kiến trong 02 Tháng Ba, 2009, 01:28:32 PM
Con cảm ơn bác nhiều nhiều  ;D
mai con kiểm tra rồi chắc con bê nguyên 20 cụ mà bác gợi ý quá.
Hic..hic.... không biết cô có chịu không nữa  ::)  :-[


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: tuaans trong 04 Tháng Ba, 2009, 04:55:53 PM
Sưu tầm chuyện vui!

13. "Em hãy tường thuật lại diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ".
Bài làm của 1 học sinh lớp 9 trường PTCS cấp 2:

".... Quân địch đánh ra, quân ta đánh vào ào ào như lá tre rụng, đồng chí phe ta đánh thằng cha phe nó ghê hết sức.... Kết qủa: Sau 55 ngày đêm chiến đấu oai hùng, ngày 7-1-1991, phe ta thắng phe nó, chúng ta đã giết sống được 16,200 chúng nó, phanh thây 62 máy bay (em quên mất tên của máy bay, xin cô thông cảm)"


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 12 Tháng Ba, 2009, 05:30:36 PM
Mai là tròn 55 năm mở màn chiến dịch ĐBP, đề nghị bác new nhân dịp này giải đáp câu hỏi đặc biệt: Vì sao Pháp lại chiếm ĐBP? ::)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: VasilyTran trong 27 Tháng Ba, 2009, 09:11:03 PM
Mai là tròn 55 năm mở màn chiến dịch ĐBP, đề nghị bác new nhân dịp này giải đáp câu hỏi đặc biệt: Vì sao Pháp lại chiếm ĐBP? ::)
Lâu quá không thấy bác  _New trả lời cháu thử trả lời nha
Sau chiến dịch không thành công ở đồng bằng ; đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định chuyển sang đánh ở vùng rừng núi và một bộ phận quân ta tiến sang phía tây.
Nava nghĩ rằng ta sẽ chiếm đánh thượng Lào vì vậy để bảo vệ Luông -pha-băng và Viên-chăn Nava đã cho quân đổ bộ xuống ĐBP nhằm chặn đường quân ta.
Nava chọn ĐBP ví các lí do sau :
-Là ngã ba giao thông muốn từ Lai Châu, Điện Biên sang Lào phải qua ĐBP.
-ĐBP là cánh đống rộng nhất vùng Tây Bắc sẽ cung cấp đủ lương thực chop khoảng 2 vạn quân.
-Vì xa đồng bằng cho nên tiếp tế của Việt Minh sẽ gặp khó khăn.
-Ở ĐBP có sân bay tốt nhất vùng Tây Bắc.
-Việt Minh không thể mang nên đây pháo cỡ lớn ( như 105 ly ).
-Trình độ của Việt Minh không đủ để đánh cứ điểm ( vd:Nà Sản)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: napoleongVI trong 05 Tháng Năm, 2009, 07:28:36 PM

Câu hỏi phụ: Đố bạn biết tại sao cụ Bế Văn Đàn lại được coi là liệt sỹ ĐBP, dù cụ không chiến đấu và hi sinh tại lòng chảo Điện Biên.
Bế Văn Đàn hi sinh ở trận Mường Pồn tuy không nằm ở khu vực lòng chảo Điện Biên Phủ nhưng nó là 1 trong các trận đánh chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ( ngăn không cho địch rút về Tuần Giáo -Lai Châu (12/1953)) nên vẫn tính là ls ĐBP


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 07 Tháng Năm, 2009, 11:10:07 AM
http://www.tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/6852/index.aspx

Trích dẫn
Lá cờ cắm trên nóc hầm Đờ Cát chỉ là biểu tượng, xuất hiện lần đầu trong bộ phim “Việt Nam trên đường thắng lợi” của nhà quay phim Liên Xô Roman Karmen.


Cứ đinh ninh là chuyện này đã hai năm rõ mười từ đời nào rồi chứ ???

Trích dẫn
Theo thiếu tướng Lê Mã Lương, trong chiến thắng Điện Biên Phủ, chỉ có lá cờ trên đồi Him Lam là lá cờ duy nhất được cắm. Lá cờ đã thấm máu của chiến đấu viên Nguyễn Hữu Oanh, ngoài ra không còn một lá cờ nào khác.

Thế còn lá cờ cắm trên đồi Độc Lập ???


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 07 Tháng Năm, 2009, 04:58:44 PM
http://www.tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/6852/index.aspx

Trích dẫn
Lá cờ cắm trên nóc hầm Đờ Cát chỉ là biểu tượng, xuất hiện lần đầu trong bộ phim “Việt Nam trên đường thắng lợi” của nhà quay phim Liên Xô Roman Karmen.


http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/05/3BA0EAEC/

Trích dẫn
"Sung sướng nhất vẫn là quay cảnh chiến sỹ của ta cắm cờ trên nóc hầm của tướng Đờ Cát. Họ hò hét sung sướng, Còn tôi cảm thấy tự hào vì mình là một trong những người ghi lại thời khắc lịch sử đầy ý nghĩa này", ông Quỳnh nói.

??? ??? ???


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 07 Tháng Năm, 2009, 06:28:41 PM
Mường Thanh đầu hàng rồi anh em ơiiiiiii !!!!!!!!!  :D ;D

Giờ này 55 năm về trước, 7 tháng 5 năm 1954, bộ đội ta đã chiếm được hầm chỉ huy của Thiếu tướng, chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến dịch lịch sử đã hoàn toàn thắng lợi

Nhân sự kiện này mời các bác xem lại bài thơ trong sách giáo khoa thủa bé:

Đêm gió nam lồng lộng
Ngồi trên chõng tre em
Bố kể chuyện Điện Biên
Bộ đội mình chiến thắng
Lũ Tây bị bắt sống
Ta giải đi từng đàn
Tướng Đờ Cát xin hàng
Bốt đồn đều san phẳng
Cờ Quyết Chiến Quyết Thắng
Tung bay trên nóc hầm
Chiều mồng 7 tháng 5
Một chiều hè lịch sử!


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 07 Tháng Năm, 2009, 06:30:39 PM
http://www.tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/6852/index.aspx

Trích dẫn
Lá cờ cắm trên nóc hầm Đờ Cát chỉ là biểu tượng, xuất hiện lần đầu trong bộ phim “Việt Nam trên đường thắng lợi” của nhà quay phim Liên Xô Roman Karmen.


http://vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2009/05/3BA0EAEC/

Trích dẫn
"Sung sướng nhất vẫn là quay cảnh chiến sỹ của ta cắm cờ trên nóc hầm của tướng Đờ Cát. Họ hò hét sung sướng, Còn tôi cảm thấy tự hào vì mình là một trong những người ghi lại thời khắc lịch sử đầy ý nghĩa này", ông Quỳnh nói.

??? ??? ???

Theo tớ Các Men không đến ĐBP, cảnh tù binh diễu hàng 8, cảnh xung phong lên cái đồi trống là do Các Men quay ở quãng Sơn La (để tớ xem kỹ lại là ở dâu), còn các cảnh còn lại là do ta quay. Cảnh bộ binh ta chạy qua cầu Mường Thanh (không phải cảnh có lá cờ) là cảnh thật.  :)


Tiêu đề: Re: 100 câu hỏi về Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 07 Tháng Năm, 2009, 06:39:19 PM

Câu hỏi phụ: Đố bạn biết tại sao cụ Bế Văn Đàn lại được coi là liệt sỹ ĐBP, dù cụ không chiến đấu và hi sinh tại lòng chảo Điện Biên.
Bế Văn Đàn hi sinh ở trận Mường Pồn tuy không nằm ở khu vực lòng chảo Điện Biên Phủ nhưng nó là 1 trong các trận đánh chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ( ngăn không cho địch rút về Tuần Giáo -Lai Châu (12/1953)) nên vẫn tính là ls ĐBP
Bác NapoleongVI trả lời chính xác!

Về lý do Navarre chọn ĐBP, theo em bác VasilyTran đã nói đầy đủ. Em chỉ xin bổ sung hai ý:
- ĐBP còn mang ý nghĩa kìm chân chủ lực VM, không cho đánh rộng ra trong khi người Pháp xây dựng lực lượng.
- ĐBP tiếp đó mang ý nghĩa thực tế nhất, đó là tiêu diệt chủ lực đối phương, tạo bước ngoặt trên chiến trường.

Ngoài ra, em đang nghi ngờ Navarre thực hiện trận đánh tiêu diệt này theo chiến lược của Paris, kết thúc (hoặc bước vào đàm phán) chiến tranh trên thế mạnh trước khi Mỹ nhảy vào. Thời gian cho Pháp không còn nhiều, vì lúc này Mỹ là người chủ chi cho cuôc chiến (80% chiến phí) và với việc viện trợ QGVN (tiền thân của VNCH) họ làm trực tiếp chứ ít qua Pháp nữa, vậy nên không lẽ nào họ chịu cứ chi tiền rồi Pháp thích làm gì thì làm với tiền của họ.
Tiếc là ý này em chưa kiếm được tài liệu để hỗ trợ. :(


Tiêu đề: Xung quanh quyết định thay đổi cách đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gửi bởi: altus trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:26:51 AM
Ngày 26/01/1954, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Điện Biên Phủ đã quyết định hoãn kế hoạch tấn công tập đoàn cứ điểm, chuyển từ phương châm “Đánh nhanh thắng nhanh”, chiến thuật “Oa tâm tạng” sang “Đánh chắc tiến chắc”. Có lẽ đại đa số chúng ta đều đồng ý với quan điểm cho rằng quyết định này là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới chiến thắng của quân ta. Tuy nhiên, trong giới nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nước tồn tại một vấn đề còn gây tranh cãi, đó là “Ai thực sự là tác giả của quyết định này?”
 
Phía Việt Nam khẳng định đây là quyết định cá nhân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Phía Trung Quốc cho rằng các cố vấn Trung Quốc, đứng đầu là Vi Quốc Thanh, được sự đồng tình và hướng dẫn của Quân ủy Trung ương Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc, đã chủ động đề xuất phương án này với phía Việt Nam, và đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp chấp thuận.


Tôi xin phép mở chủ đề này để chúng ta cùng bàn luận.

Đầu tiên có lẽ nên đưa ra những sự kiện chính có liên quan.

20/11/1953: Pháp nhảy dù Điện Biên Phủ, bắt đầu chiến dịch Castor.

26/11/1953: Bộ phận tiền phương của BTTM, gồm Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu phó, Lê Liêm, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đỗ Đức Kiên, Cục phó Cục Tác chiến lên đường đi Tây Bắc. Đoàn cố vấn Trung Quốc cử Mai Gia Sinh đi cùng làm cố vấn tham mưu . (Đặng Kim Giang, Phó chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp, cũng là thành viên, nhưng đã đi Tây Bắc trước)

6/12/1953: Tổng quân ủy gửi tờ trình lên Bộ Chính trị, đưa ra kế hoạch tiến công Điện Biên Phủ trong “ước độ 45 ngày” theo tinh thần “đánh chắc tiến chắc”
Hạ tuần tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược trong Đông Xuân 1953-1954

5/1/1954 Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh, Trưởng Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc, lên đường đi Điện Biên Phủ.
Tại Điện Biên Phủ (chưa rõ ngày cụ thể), Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh được biết Bộ phận tiền phương, đứng đầu là Hoàng Văn Thái, cùng với Mai Gia Sinh đã thống nhất chọn chiến thuật “đánh nhanh thắng nhanh”. Võ Nguyên Giáp chưa đồng ý, nhưng Vi Quốc Thanh ủng hộ.

15/1/1954 Phổ biến mệnh lệnh chiến đấu cho các đơn vị. Thời gian tác chiến dự định hai ngày ba đêm. Dự định nổ súng: 20/1/1954.

20/1/1954: Do chưa đưa được hết pháo vào, phải lùi ngày nổ súng tới 17h ngày 25/1/1954

25/1/1954: Một chiến sĩ ta bị địch bắt, ngày giờ nổ súng phải lùi 24 giờ.

26/1/1954: Bộ tư lệnh chiến dịch ra lệnh hoãn tiến công.

(Nguồn: Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ: Điểm hẹn lịch sử, 2000)

Bằng chứng, lập luận của phía Việt Nam:

1.   Hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

2.   Báo cáo của Đại tá Hoàng Minh Phương, người phiên dịch các cuộc gặp giữa đại tướng Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh, đọc tại  phần hai Cuộc hội thảo nhân dịp 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ tại Bắc Kinh ngày 19/04/2004

Bằng chứng, lập luận của phía Trung Quốc

1.   Nhiều chỗ trong cuốn “GHI CHÉP THỰC VỀ VIỆC  ĐOÀN CỐ VẤN QUÂN SỰ TRUNG QUỐC VIỆN TRỢ VIỆT NAM CHỐNG PHÁP” (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6609.0) nhắc đến bức điện của Quân ủy TW Trung Quốc gửi Vi Quốc Thanh, chỉ đạo về việc thay đổi cách đánh. Tuy nhiên bức điện này mãi đến 27/1 mới tới tay Vi Quốc Thanh.

2.   Một số tài liệu khác của Trung quốc, chẳng hạn như theo bài báo của Chen Jian: "China and the First Indochina War: 1950-1954," China Quarterly, 1993, đề cập đến một bức điện khác của Quân ủy TW Trung quốc, gửi cho Vi Quốc Thanh từ ngày 24/1, đã nói tới việc phải thay đổi phương thức, từ tấn công ào ạt nhiều hướng sang chia cắt, bao vây, đánh địch từng bước. Phía Việt Nam dường như không thấy có phản bác nào về việc này.  Bản tóm tắt cuộc hội thảo năm 2004 của Pierre Journoud cũng đề cập tới bức điện này, tuy nhiên đưa ngày tháng là 21/01 (http://ipr.univ-paris1.fr/spip.php?article200#nh41).


Tiêu đề: Re: Xung quanh quyết định thay đổi cách đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gửi bởi: altus trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:30:19 AM
Bản báo cáo của Đại tá Hoàng Minh Phương, phiên dịch cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh tại Điện Biên Phủ. Nguồn: Diễn Đàn (http://www.diendan.org/tai-lieu/tai-lieu/hoi-uc-ve-chien-dich-111ien-bien-phu-1/).

===
Thưa các vị đồng chủ tịch,

Thưa các học giả Trung Quốc, Pháp và Việt Nam,

Thưa tất cả các bạn,

Nửa thế kỷ trước đây, tôi là trợ lý của Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ trong quan hệ với đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc sang giúp Việt Nam chống Pháp. Tôi được giao nhiệm vụ này vì biết tiếng Trung Quốc và từng được sang học tập ở Trường Đảng trung ương Đảng Cộng sân Trung Quốc (Học viện Mác Lênin Bắc Kinh) năm 1949-1950. Điều rất vui mừng đối với tôi tại cuộc hội thảo này là được gặp lại đồng chí Văn Trang, người từng dạy chúng tôi học tiếng Hoa ở căn cứ địa Việt Bắc cách đây hơn 55 năm, nay là Giáo sư ở Trường Đại học ngoại ngữ Bắc Kinh. Đồng chi Văn Trang sang Việt Nam khoảng cuối năm 1947, công tác ở Nha Hoa kiều vụ trung ương của Việt Nam, về sau là tổ trưởng tổ phiên dịch của Đoàn cố vấn Trung Quốc do đồng chí La Quý Ba lãnh đạo. Xin cho phép tôi được nhiệt liệt chào mừng và cám ơn đồng chí, người thầy, người bạn Trung quốc đã cùng nhân dân Việt Nam đồng cam cộng khổ từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nhớ lại thời bấy giờ, trong hoàn cảnh bị chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động Tưởng Giới Thạch bao vây bốn phía, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt nam đã nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, kiên cường chiến đấu trong những điều kiện cực kỳ gian khổ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Hồ Chủ tịch, chúng tôi đã thực hiện được càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng, làm phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của quân đội Pháp. Dân quân du kích và bộ đội địa phương ngày một trưởng thành, bộ đội chủ lực không ngừng lớn mạnh. Từ các tiểu đoàn, trung đoàn tập trung ban đầu, đến năm 1949-1950, chúng tôi đã tiến lên xây dựng được các đại đoàn chủ lực.

Tuy nhiên, vũ khí của các đơn vị lúc ấy vừa thiếu vừa không thống nhất, cán bộ chiến sĩ còn thiếu kinh nghiệm tác chiến tập trung, khả năng bảo đảm vật chất của hậu phương cho các chiến dịch lớn còn hạn chế. Trong bối cảnh đó việc Quân giải phóng nhân dân Trung quốc gíải phóng Hoa Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời đã tạo cho cuộc kháng chiến của Việt Nam những điều kiện cực kỳ thuận lợi. Từ chỗ phải hoàn toàn tự lực chiến đấu trong vòng vây chúng tôi bắt đầu nhận được sự viện trợ quốc tế, trước hết là của Đảng, Chính phủ Nhân dân và Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Dựa vào sức mình là chính cộng với sự giúp đỡ về vật chất và kinh nghiệm của Trung quốc, cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam đã chuyển sang thời kỳ phản công chiến lược, mở đầu bằng chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950.

Tháng 1 năm 1953, qua kinh nghiệm của 3 chiến dịch ở Trung du và Đồng bằng, của 2 chiến dịch Hoà Bình và Tây bắc diễn ra trong 2 năm 1951-1952, hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Narn đã đề ra phương hướng chiến lược cho bộ đội chủ lực là : “ Tập trung lực lượng mở những cuộc tiến công vào những hướng quan trọng về chiến lược mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực của địch, giải phóng đất đai, đồng thời bắt chúng phải bị động phân tán lực lượng đối phó với ta trên những địa bàn xung yếu mà chúng không thể bỏ, do phải phân tán bình lực mà tạo ra cho ta những điều kiện thuận lợi mới để tiêu diệt thêm từng bộ phận sinh lực của chúng ” 1.

Trung ương Đảng lại một lần nữa xác định : “ Phương châm chung của cuộc chiến tranh giải phóng của ta là TRƯỜNG KỲ KHÁNG CHIẾN TỰ LỰC CÁNH SINH vì vậy ta không chủ quan khinh địch, không nóng vội, không mạo hiểm. Đánh ăn chắc, tiến ăn chắc. chắc thắng thì đánh cho kỳ thắng, không chắc thắng thì kiên quyết không đánh ” 2.

Quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương, sau chiến dịch Thượng Lào thắng lợi mùa xuân năm 1953, các đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam khẩn trương chuẩn bị để thu đông năm 1953, sẽ tiến lên Tây bắc, tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Nà Sản và giải phóng Lai Châu. Nhưng thượng tuần tháng 8-1953, quân Pháp rút toàn bộ binh lực ở Nà Sản về tập trung ở đồng bằng Bắc bộ. Trước tình hình đó, ngày 22 tháng 8 năm 1953, Bộ chính trị Trung ương Đảng họp hội nghị để nhận định tình hình và bàn chủ trương tác chiến. Lúc bấy giờ đồng chí Vi Quốc Thanh về nước chưa sang, đồng chí La Quý Ba đã tham dự cuộc hội nghị đó.

Tại hội nghị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã báo cáo đề án của Tổng quân ủy nhan đề : “ Tình hình địch ta ở Bắc bộ sau khi địch rút khỏi Nà Sản và chủ trương tác chiến của ta trong thu đông 1953 ”. Báo cáo có đoạn viết : “ Căn cứ vào tình hình địch ta hiện nay ở đồng bằng, vì lực lượng cơ động địch mạnh, công sự kiên cố, vì ta chưa thực hiện được binh lực ưu thế tuyệt đối, lại có những vấn đề chiến thuật mới để ra để giải quyết. Vì vậy hiện nay chưa có điều kiện tác chiến lớn ở đồng bằng. Việc dùng các binh chủng mới như trọng pháo hay XX 3 cũng chưa có lợi mà trái lại dễ làm cho bộ đội nặng nề, khó giữ bí mật, khó vận động nhanh chóng, dễ đi đến bị động ” 4.

“ Địch tập trung lực lượng ở đồng bằng Bắc bộ, ta cần phân tán chủ lực của chúng ra các chiến trường khác. Đó là một chủ trương chính xác Trung ương đã đề ra trước đây và thực tế chúng ta đã phân tán được khá nhiều chủ lực của địch lên Tây bắc và Thượng Lào trong một thời gian ” 5.

Đồng chí La Quý Ba đã phát biểu ý kiến trong hội nghị, biểu thị sự nhất trí với báo cáo của Tổng quân ủy, phân tích thêm âm mưu của địch và nhiệm vụ trước mắt của chúng ta là phải phá âm mưu tập trung binh lực và bình định đồng bằng của địch để tạo điều kiện tác chiến tương đối lớn. Sau khi đồng chí Vi Quốc Thanh trở lại Việt Nam vào hạ tuần tháng 10-1953 và cung cấp cho Việt Nam toàn văn bản kế hoạch Navarre do tình báo Trung Quốc thu được, Tổng quân uỷ và Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam càng có cơ sở để khẳng định và hoàn chỉnh chủ trương tác chiến đã được đề ra từ tháng 8 : Dùng một bộ phận quân chủ lực, phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương, mở các cuộc tiến công lên Tây Bắc, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Tây nguyên, lấy Tây bắc làm hướng chính nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, buộc địch phải phân tán quân cơ động ra đối phó. Khối chủ lực lớn còn lại bí mật giấu quân ở Trung du và cửa ngõ Việt Bắc, sẵn sàng đánh địch tiến công vào hậu phương ta hoặc cơ động đi hướng khác khi tình hình đòi hỏi.

Ngày 20 tháng 11 năm 1953. sau khi phát hiện chủ lực Quân đội Việt Nam tiến lên Tây bắc, Navarre cho quân nhảy dù chiếm Điện Biên Phủ. Ngày 26-11 đoàn cán bộ đi trước của Tiền phương Bộ Tổng tư lệnh do thiếu tướng Phó Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái dẫn đầu lên đường đi Tây Bắc. Cùng đi có Phó đoàn trướng - Tham mưu trưởng Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc Mai Gia Sinh, một số cán bộ và cố vấn tham mưu, chính trị, cung cấp. Tôi cũng được phân công đi trước trong đoàn này.

Ngày 30-11-1953, Đoàn đến Nà Sản, chủ trương dừng lại một ngày để nghiên cứu tập đoàn cứ điểm mà địch vừa rút bỏ hồi tháng 8. Ngày 6-12-1953, Đoàn đến Sở chỉ huy đầu tiên của Chiến dịch Điện Biên Phủ ở hang Thẩm Púa.

Đoàn dành 3 ngày để nắm tình hình địch và địa hình Điện Biên Phủ, chỉ đạo Đại đoàn 316 đánh địch ở Lai Châu đang rút chạy, lệnh cho Đại đoàn 308 nhanh chóng bao vây Điện Biên Phủ, chỉ đạo bộ đội công binh gấp rút mở rộng đường Tuần Giáo đi Mường Thanh để xe kéo pháo và xe vận tải có thể vào sát chiến trường.

Lúc này, căn cứ vào báo cáo và bản vẽ của các mũi trinh sát tiền phương và các đơn vị thuộc trung đoàn 148 đã bám sát và đánh địch từ đầu, kết hợp với tin trinh sát kỹ thuật, ta đã nắm được tương đối cụ thể địa hình và các vị trí đóng quân của địch. Hơn nửa tháng sau khi nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, binh lực chúng đã lên đến 9 tiểu đoàn. Chúng đã san bằng thị trấn Mường Thanh để xây dựng Sở chỉ huy và trận địa pháo. Tuy nhiên, phần lớn công sự còn làm theo kiểu dã chiến, phòng ngự địch ở phía tây còn nhiều sơ hở. Anh em báo cáo : Một chiến sĩ trinh sát có lần vào gần sân bay lấy đồ tiếp tế và phục bắt tù binh, đến sáng không ra được, đã giấu minh trong đống dù, nằm ăn đồ hộp và ngủ cả ngày mà địch không hề hay biết !

Ngày 9-12-1953, căn cứ vào tình hình địch và địa hình, Phó Tổng Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái, cố vấn Mai Gia Sinh cùng một số cán bộ và cố vấn tham mưu bàn cách đánh. Tôi phiên dịch cho cả hai bên. Có hai phương án được đề ra :

- Một là : Dùng toàn bộ lực tượng bộ binh dưới sự yểm trợ của pháo binh và cao xạ, nhiều hướng cùng một lúc tiến công vào tập đoàn cứ điểm, hướng chính thọc sâu vào Sở chỉ huy, giống như một lưỡi gươm đâm thẳng vào tim, tạo nên sự rối loạn ở trung tâm phòng ngự địch ngay từ đầu rồi từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào tiêu diệt địch trong thời gian tương đối ngắn.

- Hai là : Bao vây địch dài ngày rồi đánh dần từng bước một, lần lượt tiến công từng trung tâm đề kháng bằng nhiều trận công kiên kế tiếp, tiến tới tiêu diệt hoàn toàn quân địch.

Cố vấn Mai Gia Sinh gọi cách đánh thứ nhất là “chiến thuật moi tim” (oa tâm trạng chiến thuật), cách đánh thứ hai là “chiến thuật bóc vỏ” (bóc bì chiến thuật). Ông phân tích : “ Năm ngoái đánh Nà Sản ta dùng “chiến thuật bóc vỏ” lần lượt đánh từng vị trí, lại không có trọng pháo tầm xa để chế áp pháo binh và Sở chỉ huy địch, nên chúng tập trung được toàn bộ hoả lực của tập đoàn cứ điểm chi viện cho từng vị trí bị tiến công. Ta thương vong nhiều mà không dứt điểm được. Mà có dứt điểm thì cũng không giữ được như vị trí Pú Hồng. Ở Điện Biên Phủ hiện nay, địch còn trong trạng thái tạm thời phòng ngự, công sự chưa vững chắc, lại có nhiều sơ hở ở phía tây. Ta nên tranh thủ đánh sớm, đánh nhanh bằng sức mạnh mới của của bộ pháo hiệp đồng, dùng “chiến thuật moi tim” để tiêu diệt dịch. Nếu không đánh sớm, địch tăng thêm binh lực. củng cố công sự và hoàn chỉnh thế bố phòng thì e sẽ gặp khó khăn ”.



Tiêu đề: Re: Xung quanh quyết định thay đổi cách đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gửi bởi: altus trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:31:15 AM
Thiếu tướng Hoàng Văn Thái đặt vấn đề : “ Làm thế nào để đưa pháo vào trận địa khi ta chủ trương đánh sớm, đánh nhanh mà chưa kịp làm đường cho xe kéo pháo ? Làm thế nào để hạn chế tác dụng của máy bay, pháo binh, giảrn bớt thương vong khi ta đánh liên tục cả ban ngày ? ”.

Mai cố vấn giải đáp : “ Sau khi hoàn thành mở rộng đường Tuần Giáo - Mường Thanh, ta chỉ cần đốn cây, phát cỏ rồi dùng sức người kéo pháo vào trận địa. Việc này chúng tôi đã từng làm, tuy có khó khăn vất vả nhưng sẽ tạo được bất ngờ lớn. Về việc đối phó với máy bay và pháo địch, ta có khả năng làm được : trận đánh sẽ bắt đầu bằng một trận pháo cấp tập dữ dội, làm cho pháo địch và máy bay thường trực ở sân bay bị tổn thất nặng ngay từ đầu. Tiếp đó là các mũi đột kích của bộ binh thọc sâu vào chia cắt đội hình, mũi chủ yếu đánh vào Sở chỉ huy theo kiểu “nở hoa trong lòng địch” (tâm trung khai hoa). Ta làm được như vậy thi các trận đánh ban ngày sẽ diễn ra trong trạng thái địch ta xen kẽ. Máy bay và pháo địch không dễ dàng bắn trúng đội hình chiến đấu của ta mà không gây thương vong cho quân của chúng. Tôi được thông báo là các tiểu đoàn pháo cao xạ của Liên Xô viện trợ và đưa qua Trung Quốc huấn luyện đã tiến bộ khá nhanh. Trước khi về nước, cán bộ và chiến si đã nắm vững chiến thuật và kỹ thuật. Đây là một lực lượng đáng tin cậy để hạn chế hoạt động của không quân địch ”.

Sau khi cân nhắc thuận lợi và khó khăn về cách đánh cũng như về khả năng bảo đảm hậu cần, hai ông nhất trí chọn phương án đánh nhanh thắng nhanh để chuẩn bị báo cáo với Đại tướng Tổng tư lệnh và Trưởng đoàn cố vấn.

Trong lúc đó thì ở hậu phương, ngày 6 tháng 12 năm 1953, hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng, sau khi hạ quyết tâm tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đã thông qua “ Phương án tác chiến mùa xuân năm 1954 ” của Tổng quân uỷ do Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày. Phương án tác chiến có đoạn viết :

“ Về thời gian : …Sau khi đợt chiến đấu đầu tiên kết thúc vào khoáng cuối tháng 1-1954, bộ đội sẽ chấn chỉnh độ 20 ngày, đồng thời đợi tập trung binh lực cho đầy đủ rồi có thể bắt đầu tiến công Điện Biên Phủ. Thời gian tác chiến ở Điện Biên Phủ ước độ 45 ngày nhưng còn tuỳ tình hình thay đổi cũng có thể rút ngắn hơn.

…Chiến dịch có thể kết thúc vào khoáng đầu tháng 4-1954 sau đó đại bộ phận chủ lực sẽ rút về và một bộ phận sẽ còn phải ở lại tiếp tục phát triển sang Thượng Lào và uy hiếp địch về phía Luông Prabang ” 6.

Ngày 5-1-1954 Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Trưởng đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc Vi Quốc Thanh lên đường đi Tây Bắc. Cùng đi có Cục trưởng Cục tác chiến Trần Văn Quang, Cục trưởng và cố vấn một số cục khác.

Sáng 12-1-1954 Đoàn đến Tuần Giáo. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái từ Sở chỉ huy ra đón, tranh thủ báo cáo tình hình và phương án “ đánh nhanh, thắng nhanh ” đã bàn với Chủ nhiệm chính trị Lê Liêm và Chủ nhiệm cung cấp Bằng Gìang. Thấy phương án này trái hẳn với dự kiến của Tổng Quân uỷ trình lên Bộ chính trị ngày 6-12-1953, Đại tướng vào ngay Sở chỉ huy Thẩm Púa, triệu tập hội nghi đảng uỷ. Ngoài các đảng ủy viên, còn có Chánh văn phòng đảng uỷ Nguyễn Văn Hiếu được phép dự họp để ghi biên bản. Ông Hiếu kể lại : “ Trong cuộc họp, tất cả các Đảng uỷ viên đều nhất trí chọn phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh”. Mọi người cho rằng quân ta đang sung sức quyết tâm chiến đấu rất cao. Lại có trọng pháo và cao xạ lần đầu xuất trận. Ta có thể tạo bất ngờ và đánh thắng Nếu không đánh sớm, để tập đoàn cứ điểm được tăng cường quá mạnh, ta sẽ bỏ lỡ cơ hội đánh tiêu diệt lớn trong Đông Xuân này. Đánh dài ngày sẽ rất khó giải quyết vấn đề tiếp tế. Tại khu vực Điện Biên Phủ mỗi ngây tiêu thụ gần 50 tấn gạo. Nếu tính từ Sơn La trở lên, bình quân phảì có 90 tấn gạo/ngày cho cả bộ đội và dân công. Địch sẽ tăng cường đánh phá đường tiếp tế vận chuyển của ta. Nếu chiến dịch kéo dài thì không thể có đủ gạo ăn mà đánh. Về tư tưởng bộ đội vốn thích về đánh ở đồng bằng nay đã thông suốt hăng hái quyết tâm ; nhưng nếu ở chiến trường rừng núi quá lâu ăn uống kham khổ, bênh tật phát sinh thì cả thể lực cũng như ý chỉ đều có thể dần dần giảm sút…”.

Đại tướng không nhất trí với những ý kiến đó, sang bàn với Trưởng đoàn cố vấn Vi Quốc Thanh, hy vọng sẽ có sự đồng tình. Đại tướng nói : “ Trước khi lên đây, tôi và đồng chí đã dự kiến chiến dịch Điện Biên Phủ sẽ được thực hành bằng cách đánh dần từng bước khoảng 45 ngày, nay các đồng chí Thái và Mai lên trước lại chủ trưởng đánh sớm đánh nhanh. Tôi thấy phương án này không ổn. Đồng chí suy nghĩ gì về phương án đó ? ”. Vi đoàn trưởng nói : “ Tôi đã gặp đồng chí Mai Gia Sinh và các cố vấn cùng đi chuấn bị chìến trường với cán bộ Việt Nam, trong đó có một ngày dừng lại ở Nà Sản để nghiên cứu kỹ tập đoàn cứ điểm mà quân Pháp vừa rút bỏ. Qua bài học Nà Sản, tất cả đều nhất trí là ở Điện Biên Phủ lần này ta nên tranh thủ đánh sớm đánh nhanh và có nhiều khả năng đánh thắng ”. “… Chúng ta đều vừa mới đến chiến trường, hai đồng chí Thái và Mai thì đã lên đầy từ hơn một tháng. Đảng ủy và cán bộ đều nhất trí, quyết tâm, ta chưa đủ căn cứ để phản đối phương án của các đồng chí ấy. Cũng cần cân nhắc là nếu không tranh thủ đánh sớm khi địch còn đứng chân chưa vững, để nay mai chúng tăng quân và củng cố công sự thi không đánh được, ta sẽ bỏ mất thời cơ ”.

Tuy vẫn không tin vào phương án “đánh nhanh, thắng nhanh”, nhưng Đại tướng tự thấy mình chưa có đủ cơ sở thực tế để bác bỏ phương án đã được đa số trong đảng ủy và tất cả cố vấn đổng tình. Cũng không còn thời gian xin ỷ kiến của Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị, vì không thể trao đổi vấn đề tuyệt mật ấy qua điện đài  viết thư cho cán bộ cầm về rồi cầm thư trả lời lên thì không thể kịp, Đại tướng đồng ý triệu tập hội nghị cán bộ vào ngày 14-1, để kịp triển khai công tác chuẩn bị. Đại tướng chỉ thị cho Cục quân báo theo dõi sát tình hình địch bằng cả trinh sát mặt đất và trinh sát kỹ thuật chú ý hướng tây và hướng bắc, báo cáo với Đại tướng mỗi ngày ba lần, không kể khi có tin đặc biệt. Đại tướng trao đổi riêng những suy nghĩ của mình với Chánh văn phòng Nguyễn Văn Hiếu, cho rằng đánh như vậy là mạo hiểm, dặn là biết vậy để giúp theo dõi, không được nói với bất cứ ai.

Ngày 14-1-1954, phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” và nhiệm vụ của các đơn vị, các binh chủng được phổ biến trên một sa bàn lớn ở hang Thẩm Púa. Thời gian tác chiến dự kiến là 3 đêm 2 ngày, ngày nổ súng 20-1-1954. Không khí hội nghị phấn khởi và tin tưởng. Chỉ huy các Đại đoàn đều biểu thị quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Không một ai có ý kiến khác.

Khi kết luận hội nghị để chuẩn bị tư tưởng phần nào cho cán bộ, Đại tướng nói : “ Hiện nay tình hình địch chưa có triệu chứng thay đổi lớn. Chúng ta cần hết sức chú ý theo dõi ý đồ và hành động của chúng để một khi tình hình thay đổi thì kịp thời xử trí ”.

Sau hội nghị, theo báo cáo của Cục quân báo, binh lực địch ở Điện Biên Phủ đã từ 9 tiểu đoàn tăng lên 11 tiểu đoàn. Hàng ngày máy bay địch, kể cả máy bay C119 do phi công Mỹ lái tiếp tục vận chuyển và thả dù hàng trăm tấn lương thực vũ khí, đạn dược, dây kẽm gai và cọc sắt xuống sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm. Đồi Độc lập lúc đầu chỉ là một cứ điểm tiền tiêu nay đã trở thành một trung tâm đề kháng vững chắc. Cụm cứ điểm Him Lam được tăng cường.

Đêm 17 rạng ngày 18-1-1954, Sở chỉ huy chiến dịch từ cây số 15 chuyển vào ngang cây số 62, trong một khu rừng thuộc bản Nà Tấu. Các thành viên Bộ Chỉ huy chiến dịch chia nhau đi kiểm tra đôn đốc các đơn vị : Việc làm đường kéo pháo từ cửa rừng Nà Nham qua núi Pha Song cao 1.150m, xuống Bản Tố tới Bản Nghịu (tây bắc Điện Biên Phủ) dài 15 km, rộng 3m, đã được hoàn thành sớm hơn dự kiến. Nhưng việc kéo pháo phải kéo dài. Phải dùng hàng trăm người kết hợp với tời kéo dần từng khẩu nặng hàng tấn, qua những đoạn có dốc cao vực thẳm, trung bình mỗi giờ chỉ nhích được từ 150 đến 200m. Đến ngày 19-1, pháo vẫn chưa vào tới vị trí.

Ngày nổ súng được hoãn đến 25-1-1954.

Ngày 20-1, Cục Quân báo báo cáo tiếp : Sau khi củng cố hệ thống phòng ngự trên các ngọn đồi phía đông, địch đóng thêm một số vị trí ở phía tây bắc Mường Thanh. Có khả năng hình thành một trung tâm đề kháng mạnh ở đây. Địch ráo riết củng cố công sự và hệ thống vật cản. Chung quanh các cứ điểm đều cố bãi mìn dày đặc, kết hợp với nhiều hàng rào kẽm gai rộng từ 50 đến 70m, có nơi rộng đến gần 200m. Đặc biệt, trinh sát phát hiện một loại súng trọng liên 4 nòng đặt gần sở chỉ huy của De Castries có thể quay bắn về nhiều hướng.

Sáng 23-1, sau khi kiểm tra tình hình chuẩn bi chiến đấu của Đại đoàn 312 qua điện thoại, nghe Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn báo cáo địch đã tăng cường công sự, có thêm loại dây thép gai bùng nhùng 7 đơn vị phải đột phá liên tục 3 phòng tuyến của địch mới vào được trung tâm tập đoàn cứ điểm, tuy có khó khăn nhưng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Đại tướng cho gọi Cục phó Cục Quân báo Cao Pha sang và chỉ thị : “ Địch đã tăng cường lực lượng công sự và vật cản, mà ta thì chưa hiểu rõ cách bố trí phòng ngự bên trong của chúng ở nam sân bay và Mường Thanh. Sắp tớỉ Đại đoàn 312 từ phía bắc sẽ phải đánh một mạch tử đồi Độc Lập, vị trí 105, Căng Nă qua sân bay vào tới trung tâm. Tôi lo là anh em sẽ thương vong nhiều và khó hoàn thành nhiệm vụ. Cậu phải xuống cùng đi theo mũi của 312. Đi đến đâu, đánh đến chỗ nào, cậu nắm ngay tình địch, chú ý khai thác tù binh và báo cáo về ngay ”.

Chiều 23-1, Cục phó Cục bảo vệ được cử làm phái viên theo dõi việc kéo pháo vào trận địa phía tây bắc sân bay, đề nghị gặp Đại tướng qua điện thoại. Cục phó Phạm Kiệt nói : “ Pháo của ta đều bố trí trên trận địa dã chiến, địa hình rất trống trải, nếu bị phản pháo hoặc không quân đánh phá thì khó tránh khỏi tổn thất. Một số pháo vẫn chưa vào vị trí. Đề nghị anh cân nhắc ”. Sau này Đại tướng cho biết : sự phát triển của tình hình địch và lời của Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn đã làm cho Đại tướng suy nghĩ rất nhiều. Qua ý kiến của Cục phó Phạm Kiệt, người duy nhất phát hiện khó khăn, Đại tướng càng thấy là không thể mạo hiểm đánh theo kế hoạch đã đề ra.


Tiêu đề: Re: Xung quanh quyết định thay đổi cách đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gửi bởi: altus trong 15 Tháng Năm, 2009, 08:31:44 AM
Ngày 24-1 một chiến sĩ ta bị địch bắt. Qua tin trinh sát kỹ thuật, biết chúng đã nắm được thời gian ta nổ súng là 17 giờ ngây 25-1-1954, Đại tướng quyết định hoãn giờ nổ súng thêm 24 tiếng.

Tảng sáng 26-1, liên lạc xuống gọi tôi lên gặp Đại tướng gấp. Ông đang ngồi nghiên cứu tình hình qua tấm bán đồ trải trên bàn nứa, đầu quấn đầy lá ngải cứu.

Tôi ngạc nhiên hỏi : “ Anh nhức đầu hay sao mà đắp ngải cứu nhiều như thế ? ”. Đại tướng thân mật đáp : “ Mười một ngày qua mình suy nghĩ rất nhiều và suốt đêm qua không ngủ được. Chiều nay trận đánh sẽ bắt đầu nhưng những yếu tố thắng lợi thì ta chưa hoàn toàn nắm chắc. Cậu sang báo với đồng chí Vi là tôi có việc cần bàn gấp sáng nay ”.

Tôi dịch cho Đại tướng trong cuộc trao đổi ý kiến với Đoàn trưởng Vi Quốc Thanh. Gặp Đại tướng, Vi đoàn trưởng ngạc nhiên nhin nắm lá ngải cứu trên đầu, ân cần hỏi thăm tình hình sức khoẻ rồi nói :

- Trận đánh sắp bắt đầu, đề nghị Võ Tổng cho biết tình hình mới nhất ra sao ?

- Đó cũng là vấn đề tôi muốn trao đổi với đồng chí. Qua 11 ngày đêm theo dõi sát tình hình, tôi thấy địch không còn trong trạng thái lâm thời phòng ngự, mà trở thành một tập đoàn cứ điểm kiên cố. Vì vậy không thể đánh theo kế hoạch đã định. Có ba khó khăn lớn mà bộ đội Việt Nam không thể vượt qua :

Một là : Các đơn vị chủ lực của chúng tôi cho đến nay chỉ mới có khả năng cao nhất là tiêu diệt 1 tiểu đoàn địch tăng cường trong công sự vững chắc. Chưa có khả năng, trong một thời gian ngắn, tiêu diệt cả chục tiểu đoàn địch phòng ngự trong tập đoàn cứ điểm. Ở Nà Sản cuối năm 1952, một trung đoàn đánh một tiểu đoàn địch trong công sự dã chiến mà chưa thành công. Nay địch có 49 cứ điểm, binh lực hoả lực mạnh hơn, có công sự vững chắc và hệ thống vật cản dầy đặc, lại càng không thắng được, mặc dù một năm qua bộ đội có nhiều tiến bộ.

Hai là : trong trận này ta có thêm lựu pháo và pháo cao xạ đã được các đồng chí Trung Quốc giúp huấn luyện, có kết quả tốt, nhưng bộ pháo hiệp đồng quy mô lớn mới là lần đầu. lại chưa qua diễn tập. Cán bộ còn lúng túng trong việc chỉ huy. Có Trung đoàn trưởng đã đề nghị trả bớt hoả lực trợ chiến về cho Bộ !

Ba là : Như đồng chí đã biết, không quân Pháp mạnh hơn không quân Tưởng Giới Thạch khi các đồng chí tiến hành chiến tranh giải phóng. Nay lại có không quân Mỹ tăng cường. Bộ đội chúng tôi lâu nay mới quen tác chiến ban đêm ở những địa hình dễ ẩn náu để hạn chế chỗ mạnh của địch về không quân và pháo binh. Nay phải chiến đấu liên tục trong 3 đêm 2 ngày với kẻ địch có ưu thể về máy bay, pháo và xe tăng trên địa hình trống trải nhất là trên cánh đồng Mường Thanh khá rộng, thì rất khó tránh thương vong, khó hoàn thành nhiệm vụ.

Tất cả những khó khăn này ta đều chưa bàn kỹ cách giải quyết, chỉ mới dựa vào khả năng cấp tập hoả lực để tiêu diệt pháo và máy bay địch trong đêm đánh đầu tiên. Ngày 12-1, khi thấy đa số tán thành phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh”, tôi không tán thành và đã nói với đổng chí. Nhưng đồng chí cũng như tôi là những người vừa mới đến chiến trường, chỉ mới nghe báo cáo, chưa nắm chắc được tình hình, nên chưa tiện bác bỏ ý kiến của các đồng chí đã lên trước hơn một tháng. Đến nay, tình hình đã khác. Tôi đã cử cán bộ trực tiếp đi kiểm tra các trận địa pháo, phần lớn đều nằm ở nơi trống trải. Nếu trong đêm đầu ta không diệt được pháo địch, ban ngày địch dùng không quân oanh tạc, dùng pháo binh bắn phá, dùng bộ binh và xe tăng phản kích thì không có đường và xe kéo, pháo ta sẽ rút đi đâu ?

Nói tóm lại : Theo tôi, nếu đánh theo kế hoạch cũ thì thất bại. Trung ương Đảng chúng tôi từng nhắc nhở : “ Chiến trường ta hẹp, người của ta không nhiều, cho nên chỉ được thắng không dược bại, vì bại thì hết vốn ”. Qua 8 năm kháng chiến chúng tôi mới xây dựng được 6 Đại đoàn bộ binh chủ lực, rnà phần lớn đều có mặt trong chiến dịch này...

Vi đoàn trưởng suy nghĩ một lúc rồi hỏi :

- Vậy theo ý Võ Tổng thi nên xử trí như thế nào ?

- Ý định của tôi là ra lệnh hoãn cuộc tiến công chiều hôm nay ; kéo pháo ra, thu quân về vị trí tập kết. Chuẩn bị lại theo phương châm “đánh chắc tiến chắc”. Thời gian chiến dịch kéo dài, khó khăn sẽ không ít, nhất là về mặt tiếp tế. Nhưng tôi tin tưởng vững chắc rằng, với sự cố gắng của cán bộ và chiến sĩ, sự chi viện của toàn Đảng, toàn dân ở hậu phương, với sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí cố vấn, chiến địch này nhất định thắng !

Sau lát giây suy nghĩ, Vi đoàn trưởng nói :

- Tôi đồng ý với Võ Tổng. Tôi sẽ đả thông tư tưởng cho các đồng chí trong đoàn cố vấn. Võ Tổng đả thông tư tưởng cho cán bộ Việt Nam.

- Thời gian gấp. Tôi cần họp ngay đảng uỷ để quyết định. Tôi đã có dự kiến cho Đại đoàn 308 tiến về hướng Luông Prabang cố ý bộc lộ lực lượng chừng nào để kéo không quân địch về hướng đó, không để chúng gây khó khăn khi ta lui quân và kéo pháo ra.

Cuộc trao đổi giữa hai người diễn ra hơn nửa tiếng.

Hơn nửa giờ sau, các ủy viên đảng ủy mặt trận đã có mặt đủ ở Sở chỉ huy. Đại tướng trình bày những suy nghĩ từ lâu về cách đánh tập đoàn cứ điểm, về 3 khó khăn chưa thể vượt qua như đã nói với cố vấn Vi Quốc Thanh, rồi tóm lại : Ta vẫn giữ vững quyết tâm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, nhưng phải thay đổi cách đánh.

Mọi người im lặng mặt lúc.

Qua hơn 2 giờ thảo luận sôi nổi và căng thẳng, cuối cùng Đảng uỷ mới nhất trí với ý kiến của Đại tướng.

Đại tướng kết luận :

“ Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là : “đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm chiến dịch từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn mặt trận lui về vị trí tập kết và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm chấp hành triệt để mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới ”.

Lúc đó là 11 giờ trưa ngày 26-1-1954. Sau đó Đại tướng nói với thiếu tướng Hoàng Văn Thái : “ Tôi sẽ ra lệnh cho pháo binh và giao nhíệm vụ mới cho 308. Anh ra lệnh cho các đơn vị còn lại ”.

Sau khi gọi điện thoại cho pháo binh, ra lệnh kéo pháo ra từ ngay chiều hôm đó, đến 14 giờ 30, Đại tướng mới liên lạc được qua điện thoại với Đại đoàn trưởng đại đoàn 308 Vương Thừa Vũ :

- Chú ý nhận lệnh : Tình hình thay đổi. Đại đoàn đồng chí có nhiệm vụ tiến quân ngay chiều nay về hướng Luông Prabang. Gặp địch dọc đường, tuỳ điều kiện cụ thể mà tiêu diệt. Giữ vững lực lượng có lệnh trở về ngay. Giữ liên lạc vô tuyến đỉện. Khi được hỏi mới trả lời.

- Rõ. Xin chỉ thị về sử dụng binh lực ?

- Toàn quyền quyết định : từ một tiểu đoàn đến toàn đại đoàn. Hậu cần tự giải quyết. Đúng 16 giờ 26-1 xuất phát.

- Xin triệt để chấp hành mệnh lệnh !

Ngay chiều hôm đó, Đại tướng đã viết thư hoả tốc cho cán bộ cầm về báo cáo với Bác và Ban Thường vụ Trung ương.

Đêm 30 rạng 31-1-1954, Sở chỉ huy chiến dịch chuyển vào khu vực Mường Phăng, trước Tết Nguyên đán 3 ngày.

Sáng mồng 1 tết (3-2-1954) Đại tướng sang lán Đoàn trưởng Vi Quốc Thanh chúc Tết đoàn cố vấn và báo tin thắng lợi trận các chiến trường. Đây là lần thứ tư, vì sự nghiệp kháng chiến của nhân dân Việt Nam, các cố vấn Trung Quốc phải tiếp tục ăn một cái Tết xa Tổ quốc, xa gia đình. Và lần này ở ngay mặt trận.

Vi đoàn trưởng vui vẻ chúc mừng năm mới và những thắng lợi mới của quân và dân ta. Ông cho biết : Sau khi được phân tích đầy đủ về chỗ mạnh, chỗ yếu của địch và ta, các cố vấn ở cơ quan và đơn vị đều nhất trí với chủ trương thay đổi phương châm chiến dịch. Mọi người đều bày tỏ quyết tâm đồng cam cộng khổ, đem hết trí tuệ và năng lực giúp bộ đội Việt Nam giảnh toàn thắng. Ông đã đề nghị Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tham mưu Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc gửi gấp những tài liệu tổng kết kinh nghiệm chiến đấu mới nhất ở Triều Tiên, nhất là kinh nghiệm xây dựng trận địa và chiến đấu đường hầm kể cả cuốn truyện Thượng Cam Lĩnh để bộ đội Việt Nam tham khảo.

Trong quá trình chuẩn bị chiến địch theo phương châm mới, đoàn trưởng Vi Quốc Thanh đã trực tiếp giới thiệu cách xây dựng trận địa tiến công và bao vây cho cán bộ Việt Nam trên cơ sở kinh nghiệm của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc trong chiến dịch Hoài Hải và của Quân chí nguyện Trung Quốc ở Triều Tiên. Tôi phiên dịch cho đoàn trưởng Vi trong các buổi giới thiệu đó. Phó đoàn trưởng Mai Gia Sinh đã hướng dẫn công binh Việt Nam xây dựng trận địa mẫu để cán bộ các đơn vị tham quan học tập. Cố vấn các đơn vị đã hướng dẫn cụ thể cho cán bộ Việt nam ở thực địa, nên việc làm đường và xây dựng trận địa cho bộ binh, pháo binh, cao xạ được tiến hành thuận lợi.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ ở các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần cũng như ở các binh chủng, các đơn vị chiến đấu, trước cũng nhu sau khi thay đổi phương châm chiến dịch, các cố vấn quân sụ Trung Quốc đã giúp bộ đội Việt Nam một cách chân thành, tích cực, tận tình, không nề hà hiểm nguy gian khổ.

Mao chủ tịch từng chỉ thị cho lãnh đạo đoàn cố vấn : “ Thực dân Pháp là kẻ thù của nhân dân Việt Nam, cũng là ké thù của nhân dân Trung Quốc, là kẻ thù chung của nhân dân hai nước. Trung Quốc giúp Việt Nam đánh bại thực dân Pháp xâm lược, khôi phục hoà bình, đó là sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với Việt Nam. Ngược lại, Việt Nam đánh bại và đuổi thực dân Pháp xâm lược ra khỏi bờ cõi Việt Nam, cũng tức là vùng biên cương phía nam của Trung Quốc thoát khỏi tình trạng bị thực dân xâm lược Pháp uy hiếp, đó là sự giúp đỡ của Việt Nam đối với Trung Quốc ”. Thấm nhuần lời dạy đầy tinh thần quốc tế cao cả đó của Mao Chủ tịch, các cố vấn Trung Quốc đã coi sự nghiệp cách mạng Việt Nam như sự nghiệp của chính mình, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng cán bộ và chiên sĩ Việt nam.

Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng những ấn tượng tốt đẹp đó không hề phai nhạt trong ký ức cán bộ chiến sĩ Việt nam thời ấy. Tôi là người chứng kiến mối quan hệ giữa các vị lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và lãnh đạo Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc từ khi Đoàn sang Việt Nam tháng 8-1950 cho đến khi Đoàn hoàn thành nhiệm vụ về nước đầu năm 1956, ấn tượng đó trong tôi lại càng sâu sắc.

Tôi nhớ mãi lời dặn dò của Hồ Chủ tịch ngày 12 tháng 9 năm 1950 tại Sở chỉ huy tiền phương của Bộ Tổng Tư lệnh trong chiến địch Biên giới :

“ Chú đi với Đoàn cố vấn... Sau mấy chục năm chiến tranh, nay Cách mạng Trung Quốc thành công, đáng ra các đồng chí ấy có quyền nghỉ ngơi một thời gian để hưởng thành quả cách mạng, đoàn tụ gia đình. Song vì tinh thần quốc tế cao cả, các đồng chí sang giúp ta, cán bộ ta phải biết rõ điều đó mà cố gắng học hỏi và quan tâm săn sóc ”.

Cán bộ Việt Nam đã cố gắng làm theo lời Hồ chủ tịch, chân thành học tập và biết ơn các cố vấn, thắt chặt tình hữu nghị giữa nhân dân và quân đội hai nước Việt - Trung.

Năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã mời Thượng tướng Vỉ Quốc Thanh và gia đình sang thăm Việt Nam. Ông đã tặng Đại tướng một bức trướng có chim ưng và dòng chữ “ Đông Phong nghênh khải hoàn ”. Ông nói : “ Những năm ở Việt Nam là thời kỳ hoàng kim trong cuộc đời hoạt động cách mạng của tôi ”.

Đại tướng và tướng Vi Quốc Thanh cùng hai gia đình đã đi thăm Vịnh Hạ Long và Hải Phòng. Phó Tổng tham mưu trường Hoàng Văn Thái đã cùng tướng Vi Quốc Thanh và gia đình về thăm Điện Biên Phủ. Tôi đã cùng đi trên cương vị Trưởng phòng Ngoại vụ Bộ Quốc phòng.

Quan hệ giữa các bạn chiến đấu cũ ngây càng thắm thiết. Mỗi lẩn Đại tướng Võ Nguyên Giáp sang Trung Quốc hay Liên Xô, khi qua Nam Ninh đều ghé thăm Thượng tướng Vi Quốc Thanh, qua Bắc Kinh ghé thăm Đại tướng Trần Canh, người được Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc cử sang Việt Nam tham gia chỉ đạo chiến dịch Biên giới thành công theo lời mời của Hồ chủ tịch.

Tình hữu nghị Việt - Trung đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông dày công vun đắp. Tôi tin tưởng rằng, với sự cố gắng của lãnh đạo và nhân dân hai nước, tình hữu nghị ấy sẽ mãi mãi xanh tươi, bền vững đời đời.

Bắc Kinh, ngày 19-4-2004
HOÀNG MINH PHƯƠNG



1 Đại tướng Võ Nguyên Giáp : Điện Biên Phủ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1994, trang 85.

2 Đại tướng Võ Nguyên Giáp : Điện Biên Phủ, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1994, trang 86.

3 Mật danh của pháo cao xạ 37 ly.

4 Một số văn kiện chỉ đạo chiến cuộc Đông xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân - Hà Nội, 2004, trang 59.

5 Một số văn kiện chỉ đạo chiến cuộc Đông xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân - Hà Nội, 2004, trang 61.

6 Một số văn kiện chỉ đạo chiến cuộc Đông xuân 1953-1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân - Hà Nội, 2004, trang 209.

7 Loại được cuộn thành vòng tròn theo kiểu lò xo, đường kính khoảng 50 cm, được vây quanh cứ điểm xen kẽ với các loại dây thép gai hình mái nhà hoặc cũi lớn để ngăn cản bộ đội Việt Nam mở cửa đột phá.


Tiêu đề: Re: Xung quanh quyết định thay đổi cách đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gửi bởi: banzua trong 15 Tháng Năm, 2009, 10:11:35 AM
Bằng chứng, lập luận của phía Trung Quốc

1.   Nhiều chỗ trong cuốn “GHI CHÉP THỰC VỀ VIỆC  ĐOÀN CỐ VẤN QUÂN SỰ TRUNG QUỐC VIỆN TRỢ VIỆT NAM CHỐNG PHÁP” (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6609.0) nhắc đến bức điện của Quân ủy TW Trung Quốc gửi Vi Quốc Thanh, chỉ đạo về việc thay đổi cách đánh. Tuy nhiên bức điện này mãi đến 27/1 mới tới tay Vi Quốc Thanh.

2.   Một số tài liệu khác của Trung quốc, chẳng hạn như theo bài báo của Chen Jian: "China and the First Indochina War: 1950-1954," China Quarterly, 1993, đề cập đến một bức điện khác của Quân ủy TW Trung quốc, gửi cho Vi Quốc Thanh từ ngày 24/1, đã nói tới việc phải thay đổi phương thức, từ tấn công ào ạt nhiều hướng sang chia cắt, bao vây, đánh địch từng bước. Phía Việt Nam dường như không thấy có phản bác nào về việc này.  Bản tóm tắt cuộc hội thảo năm 2004 của Pierre Journoud cũng đề cập tới bức điện này, tuy nhiên đưa ngày tháng là 21/01 (http://ipr.univ-paris1.fr/spip.php?article200#nh41).
Theo bài viết của ông Journoud, thì những sự kiện phía đoàn cố vấn Trung Quốc nó như thế này:

-21/1: Vi Quốc Thanh gửi bức điện đầu tiên cho Quân ủy TW TQ nói đến những khó khăn của ta để kéo pháo vào và đề nghị lùi ngày tấn công sang ngày 26.

-21/1: cùng ngày, ông Vi cũng nhận được điện trả lời của Quân ủy TW "yêu cầu không xử dụng lực lượng chính quy trong 1 cuộc tổng tấn công đồng loạt vào tất cả các cứ điểm, mà phải đánh từng cứ điểm sau khi đã kỹ càng bao vây địch".

-24/1: ông Vi gửi 1 bức điện mới vẫn báo cáo về tình hình kéo pháo vào khó khăn, với toàn bộ đại đoàn 312 tập trung vào việc này.

-24/1: Quân ủy TW TQ, cũng trả lời Vi yêu cầu chú ý nhiều hơn đến giải pháp "tiêu diệt từ từ hệ thống phòng thủ của địch, từng vị trí một, từng tiểu đoàn một". Nhưng bức điện này ông Vi chỉ nhận được ngày 27/1, tức là sau khi ông Vi chấp nhận chiến thuật mới của tướng Giáp.


Vài suy nghĩ của em:
1- Bức điện của Quân ủy TW cho ông Vi ngày 21 có lẽ là bằng chứng chính của bọn tàu để chứng minh vai trò "chủ động" của bọn nó trong quyết định thay đổi chiến lược. Nếu ý tưởng bộc phát ra từ ông Vi Quốc Thanh thì khả thi hơn vì ông này ở tại chỗ, cũng thấy những khó khăn thực tế, nhưng đằng này ông ta vẫn chỉ yêu cầu thay đổi ngày tấn công. Cho nên lúc này nó mới chỉ là ý tưởng kiểu "brain-storming" chứ chưa phải là 1 quyết định nhất trí phía TQ.

2-Trừ khi có thêm tài liệu mới, hiện nay giả thuyết của em qua những gì em biết là như thế này: ông Vi khi nhận được được bức điện thứ nhất thể nào cũng có nói lại với Võ Đại Tướng, mặc dầu ông này cũng chưa thực sự tin tưởng vào nó. Tướng Giáp lúc đó đang đeo ngải cứu, mới từ thực tế chiến trường quyết định thay đổi chiến thuật.

3- Nhìn về độ tin tưởng của tài liệu, một bên là hồi ký viết lại sau này, 1 bên là văn bản thời đấy. Bên nào yếu lý cũng ró ràng rùi :'(
 


Tiêu đề: Re: Xung quanh quyết định thay đổi cách đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gửi bởi: chiangshan trong 15 Tháng Năm, 2009, 10:21:14 AM
Trong khi Vi có thể gửi-nhận điện qua lại với QUTW TQ trong 1-3 ngày, thì tướng Giáp lại phải gửi báo cáo về Việt Bắc bằng xe jeep!

À, đọc lại thì thấy nói là do ta giữ bí mật nên không đánh điện.


Tiêu đề: Re: Xung quanh quyết định thay đổi cách đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gửi bởi: _new trong 15 Tháng Năm, 2009, 11:31:40 AM
Vấn đề này xét về mặt tài liệu, ta thiếu hơn họ. Về mặt logic và diễn biến thì em thấy ta có thêm cơ sở:
Điểm đáng chú ý là ngày 24/1 ông Vi gửi điện cho Quân ủy Trung ương Trung Quốc, nhưng đến ngày 26 (ngày N) mọi việc chuẩn bị bắt đầu trận đánh vẫn tiến hành bình thường. Sáng ngày 26/1, ĐT VNG nói với ông Vy về việc đổi cách đánh, trưa 26/1 lệnh thay đổi cách đánh truyền đến các đơn vị thì các đơn vị này đang chuẩn bị tiến ra vị trí chiến đấu.
Như vậy, trong khoảng thời gian từ lúc ông Vy nhận được điện (24/1 đến lúc ĐT VNG và ông Vy bàn về thay đổi cách đánh (26/1) là khoảng hơn 02 ngày. Trong khoảng thời gian này, nếu ông Vy có đưa bức điện ra bàn thì quyết định sau đó cũng là tiếp tục đánh theo lối cũ, ông Vy điện gửi sang TQ báo cáo.
Theo đó, bức điện cùng với những phân tích của tướng Phạm Kiệt là một trong những yếu tố để sáng 26/1, ĐT VNG quyết định thay đổi cách đánh. Khó có việc bức điện trên là yếu tố chỉ đạo cho việc thay đổi cách đánh.
Trường hợp khác, ông Vy không đưa bức điện này ra bàn.


Tiêu đề: Re: Xung quanh quyết định thay đổi cách đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gửi bởi: altus trong 15 Tháng Năm, 2009, 05:33:22 PM
Cái bản tường trình của ông Journoud, xem ra có vẻ hơi thiên vị Việt Nam. Phần quanh mấy cái điện này có vẻ ông ta lấy từ "văn bản chưa xuất bản" của GS. Phan Huy Lê (chú thích 41).

Khôn ghiểu có bác nào kiếm đâu được kỷ yếu của cái phần hai này tại Bắc Kinh không nhỉ?   ???

Cũng theo Journourd, thì phía TQ cũng không đặt vấn đề quá căng, có phần hơi kẻ cả, là dù ý tưởng là của ai chăng nữa (với ngầm ý là của họ), thì quyết định cuối cùng vẫn là do cụ Giáp chốt hạ. Ý này thì trong mấy bài hồi ký hay phát biểu của sử gia TQ tại hội thảo (theo ông Journoud) đều thống nhất cao.

Theo ý tôi thì cái tứ này có ngay từ hồi cụ Giáp và cụ Vi lên ĐBP, sau càng ngày càng phát triển trên cơ sở tình hình cụ thể, hai cụ cũng thảo luận với nhau nát ra rồi. Sau đấy mỗi bên tự suy ngẫm thêm, cụ Vi trao đổi với lãnh đạo TQ, điện đi điện lại. Cuối cùng ngày 26 hai cụ nhất trí, cụ Giáp chốt hạ.


Tiêu đề: Re: Xung quanh quyết định thay đổi cách đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gửi bởi: altus trong 15 Tháng Năm, 2009, 05:36:18 PM
Bài viết của ông Phương, xem ra có rất nhiều chi tiết, gần như cả câu chữ, lấy từ hồi ký của cụ Giáp (không tính những phần ông ấy tham dự với tư cách phiên dịch). Dùng để củng cố thêm version của cụ Giáp cũng hơi giảm giá trị.


Tiêu đề: Re: Xung quanh quyết định thay đổi cách đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gửi bởi: _new trong 15 Tháng Năm, 2009, 09:55:37 PM
Về đóng góp của TQ, trong cuốn sách trên có lẽ họ cũng không bỏ sót gì. Để mở rộng tìm hiều, hoặc là ta có tham luận của các bên trong buổi hội thảo tại Bắc Kinh, hoặc tài liệu lưu trữ của họ, không thì vấn đề khó mở rộng thêm được. Nhất là nếu ta muốn làm kiểu chứng minh. Bác Altus và bác Banzua thông thạo ngoại ngữ thử lục trên mạng xem có thông tin gì thêm về hội thảo tại Bắc Kinh không ạ.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân tháng tư này, ai về lại Điện Biên.
Gửi bởi: danngoc trong 18 Tháng Năm, 2009, 11:49:38 PM
Tớ đang đọc cuốn ĐBP của Roger Bruge, đoạn đánh Him Lam (Beatrice) và điều trần của De Castries trước UB điều tra (Pháp), có mấy nhận xét như sau:
- Rõ ràng là vào thời điểm khi ta pháo kích dữ dội Him Lam, dù tình báo Pháp biết trước thời điểm chiều tối ngày 13-3 sẽ có tấn công, dù Pháp đã có chuẩn bị các kịch bản phòng thủ, rõ ràng là Bộ chỉ huy GONO đã mất tinh thần, rối loạn đến nỗi không có được phản ứng , nhận thấy qua cách giải thích lúng túng của De Castries trước việc không cho quân phản công chiếm lại Beatrice.
- Lời điều trần của De Castries không thấy nhắc tới vai trò của chủ nhiệm thông tin tình báo vào thời điểm này? Không lẽ cách quyết định vào thời điểm then chốt của De Castries lúc này không có ý kiến của chủ nhiệm thông tin? Vậy GONO vận hành ra sao trong từng giai đoạn của ĐBP?

P/S: trong cuốn Hồi ký các bác lính tăng mà ptlinh có gửi, có đoạn loáng thoáng nói rằng lính tăng ta khi tấn công 1 điểm cao có vận dụng kinh nghiệm của LX khi đánh Berlin là chiếu sáng bằng đèn pha vào cứ điểm địch.
Câu này có thể mang các ý nghĩa sau:
1. Kinh nghiệm sử dụng đèn pha như vậy là có hiệu quả (trái với những gì mà sử gia ngày nay phát biểu) và được chuyên gia Nga phổ biến cho VN. (tôi nghi ngờ ý này)
2. Bác phát biểu câu này chỉ được thông tin về trận Berlin qua phim ảnh hay tài liệu sách vở, đem áp dụng vào thực tiễn (cách áp dụng này như vậy là không mang tính bài vở khoa học mà chỉ là amateur)
3. Tác giả thêm mắm muối vào câu chuyện sau khi sự việc đã xảy ra (tình cờ hoặc không tình cờ)
4. Có kinh nghiệm nào của chuyên gia nước ngoài được sử ta thừa nhận đã áp dụng tại ĐBP?


Tiêu đề: Re: Mùa xuân tháng tư này, ai về lại Điện Biên.
Gửi bởi: chiangshan trong 19 Tháng Năm, 2009, 11:26:10 AM
Hà, hình như hội Tây vẫn còn cay cú là vụ ngừng bắn sáng 14/3 làm lỡ mất thời cơ phản kích chiếm lại Him Lam.


Tiêu đề: Re: Mùa xuân tháng tư này, ai về lại Điện Biên.
Gửi bởi: banzua trong 19 Tháng Năm, 2009, 03:20:47 PM
Tớ đang đọc cuốn ĐBP của Roger Bruge, đoạn đánh Him Lam (Beatrice) và điều trần của De Castries trước UB điều tra (Pháp), có mấy nhận xét như sau:
- Rõ ràng là vào thời điểm khi ta pháo kích dữ dội Him Lam, dù tình báo Pháp biết trước thời điểm chiều tối ngày 13-3 sẽ có tấn công, dù Pháp đã có chuẩn bị các kịch bản phòng thủ, rõ ràng là Bộ chỉ huy GONO đã mất tinh thần, rối loạn đến nỗi không có được phản ứng , nhận thấy qua cách giải thích lúng túng của De Castries trước việc không cho quân phản công chiếm lại Beatrice.
- Lời điều trần của De Castries không thấy nhắc tới vai trò của chủ nhiệm thông tin tình báo vào thời điểm này? Không lẽ cách quyết định vào thời điểm then chốt của De Castries lúc này không có ý kiến của chủ nhiệm thông tin? Vậy GONO vận hành ra sao trong từng giai đoạn của ĐBP?

P/S: trong cuốn Hồi ký các bác lính tăng mà ptlinh có gửi, có đoạn loáng thoáng nói rằng lính tăng ta khi tấn công 1 điểm cao có vận dụng kinh nghiệm của LX khi đánh Berlin là chiếu sáng bằng đèn pha vào cứ điểm địch.
Câu này có thể mang các ý nghĩa sau:
1. Kinh nghiệm sử dụng đèn pha như vậy là có hiệu quả (trái với những gì mà sử gia ngày nay phát biểu) và được chuyên gia Nga phổ biến cho VN. (tôi nghi ngờ ý này)
2. Bác phát biểu câu này chỉ được thông tin về trận Berlin qua phim ảnh hay tài liệu sách vở, đem áp dụng vào thực tiễn (cách áp dụng này như vậy là không mang tính bài vở khoa học mà chỉ là amateur)
3. Tác giả thêm mắm muối vào câu chuyện sau khi sự việc đã xảy ra (tình cờ hoặc không tình cờ)
4. Có kinh nghiệm nào của chuyên gia nước ngoài được sử ta thừa nhận đã áp dụng tại ĐBP?
Người lo về phòng nhì ở ĐBP là tay phó của De Castries, trung tá Keller. Ông này ngay sau Him Lam phải chở về Hà Nội điều trị tâm thần vì bị suy sụp thân kinh rồi sau đấy không ai nhắc tới nữa.
Về kinh nghiệm nước ngoài được công nhận thì có cái kinh nghiệm tuyên truyền của Hồng quân Lx qua ông Roman Karmen ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 19 Tháng Năm, 2009, 03:23:47 PM
Còn kinh nghiệm và kỹ thuật đào hào học của TQ nữa.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: danngoc trong 19 Tháng Năm, 2009, 04:00:35 PM
Còn kinh nghiệm và kỹ thuật đào hào học của TQ nữa.

Chưa rõ, cái nào học của TQ, cái nào ta tự phát triển?

Keller trong cuốn này có vai trò khá mờ nhạt, khá lạ lùng nếu cân nhắc tới yếu tố 1 trận đánh quan trọng như vậy.

Chuyện Langlais tranh vai trò chỉ huy trưởng với De Castries có nhắc tới, nhưng không lẽ quân Pháp lại thiếu chuyên nghiệp vậy sao?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 24 Tháng Năm, 2009, 10:54:08 PM
Em đọc thấy cái này hay hay, hài hài, tha về đây các bác xem. Nếu không phù hợp, bác Min cứ xóa nhé  ;)

http://giaodiemonline.com/2009/05/dienbienphu.htm

--------------
ĐIỆN BIÊN PHỦ
Hay
Đâu Là “Sự Thật Lịch Sử” Của Lữ Giang
 
Trần Chung Ngọc

 
 
Điện Biên Phủ là một địa danh ở Việt Nam được cả thế giới biết đến, vì chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã là cái mốc lịch sử đưa đến sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên thế giới.  Vào Internet đánh ba chữ Điện Biên Phủ chúng ta thấy có khoảng 13 triệu bài viết về Điện Biên Phủ.  Lẽ dĩ nhiên không ai có thể đọc hết số bài viết này.  Ngày nay, Điện Biên Phủ là một trung tâm du lịch cho các du khách ngoại quốc và nội địa, có máy bay bay thẳng đến Điện Biên Phủ và có những khách sạn để phục vụ du khách.
 
   Đánh giá chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, tuyệt đại đa số các nhà phê bình quân sự, trong đó có cả những tướng lãnh Mỹ, Pháp, đều ca tụng thiên tài quân sự của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp trong những kế hoạch chuyển quân, vận chuyển các vũ khí nặng, lợi dụng các cao điểm xung quanh thung lũng Điện Biên Phủ, từ bỏ chiến thuật biển người của Trung Cộng, theo đuổi một chiến thuật đánh chậm, đánh chắc làm hao mòn lực lượng địch v..v… để đi đến một trong những chiến thắng lẫy lừng nhất trong lịch sử quân sử thế giới.
  
   Ở hải ngoại, những người “ngu sử” như Lữ Giang thường đề cao vai trò của các cố vấn Tàu, và đôi khi của cả quân lính ma của Tàu nữa, ở Điện Biên Phủ, với mục đích hạ thấp chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, quên rằng trước Điện Biên Phủ, Việt Nam đã có những trận Bạch Đằng, Đống Đa với Trần Hưng Đạo và Nguyễn Huệ.  Nhưng vì ngu sử nên càng viết càng tỏ ra mình dốt, vì trình độ hiểu biết về sử quá kém, và vì mục đích không ngoài chuyện chống Cộng kiểu ruồi bu.  Điều này thật là rõ ràng khi Lữ Giang lại mang một chuyện lạc đề là Cải Cách Ruộng Đất vào trong bài viết về viện trợ của Tàu và trận Điện Biên Phủ.
 
   Trong bài Sự Thật Lịch Sử mới đây, Nguyễn Cần alias Lữ Giang viết:
 
Năm nay, nhân kỷ niệm 55 năm biến cố Điện Biên Phủ (1954 – 2009), hôm 7.5.2009 vừa qua, phóng viên đài BBC đã phỏng vấn Giáo Sư Nguyễn Quang Ngọc, Viện Trưởng Viện Việt Nam Học ở Hà Nội, về những tài liệu mà Trung Quốc đã công bố liên quan  đến sự trợ giúp và vai trò của Trung Quốc trong chiến thắng Điện Biên Phủ. Giáo Sư Ngọc thừa nhận rằng những thông tin đó đã làm nhiều người Việt Nam lúng túng. Nhưng ông cho biết giới nghiên cứu Việt Nam cũng đã có nhiều bằng chứng để phản ứng lại cách đưa tin của Trung Quốc.
Thật ra, tài liệu của Trung Quốc không chỉ nói về sự viện trợ và vai trò của Trung Quốc trong trận Điện Biên Phủ, mà trong cả cuộc chiến chống Pháp của Việt Minh từ 1949 đến 1954. Đây là những tài liệu đã làm đảng CSVN nhức nhối, vì nhiều sự thật khó phủ nhận đã được phơi bày ra ánh sáng.

 
    Lữ Giang viết về Những Tài Liệu Được Tiết Lộ của Ba Tàu nhưng không hề ghi xuất xứ và nguyên văn những câu cần phải trích dẫn để thuyết phục độc giả, mà tất cả chỉ tập trung vào điểm “Trung Cộng đã viện trợ cho Việt Nam rất nhiều để chống Pháp và chống Mỹ”.  Nhưng viết ra những điều này thì Lữ Giang hơi đần, vì tại sao nhận viện trợ của Trung Quốc và Nga lại làm cho đảng CSVN nhức nhối, trong khi cả thế giới đều biết là Việt Nam không thể thắng được Pháp và Mỹ nếu không có viện trợ to lớn của khối Cộng sản, điển hình là Nga và Tàu.  Nhưng mục đích của Lữ Giang không phải là đưa ra Sự Thật Lịch Sử mà chỉ muốn nói lên một điều:  Việt Nam phải nhờ Tàu mới thắng được hai cuộc chiến, chủ ý cất bỏ mọi công chiến thắng của Việt Nam, trao tất cả công trạng cho Tàu.   Đệ nhất “ngu sử”, alias Lữ Giang đã để lộ ra trong câu sau ở phần cuối bài, chứng tỏ Lữ Giang đúng là một con bò mộng Tây Ban Nha đeo thánh giá, thấy màu đỏ là húc càn:
  
   Qua các sự kiện lịch sử được công bố, các sử gia và các nhà phân tích đều đi đến kết luận rằng nếu năm 1945 đảng CSVN không đưa đất nước Việt Nam đi theo chủ nghĩa cộng sản, dùng dân tộc Việt Nam làm vật thí nghiệm cho một chủ nghĩa phiêu lưu, Việt Nam đã thoát khỏi một cuộc chiến kéo dài 30 năm với những hậu quả rất thảm khốc. Nếu không có đảng CSVN, nước Việt Nam đã có độc lập và tự do từ lâu rồi.
 
    Lẽ dĩ nhiên, Lữ Giang không hề đưa ra những sự kiện lịch sử nào đã được công bố cũng như tên tuổi các nhà phân tích qua các tác phẩm của họ.  Cái lối viết của Lữ Giang luôn luôn là như vậy.  Vì vậy Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang đã từng phê bình Lữ Giang là vừa dốt sử, vừa ngu sử mà lại hay phịa sử, và viết bậy.  Nhưng dốt và ngu sử đến độ này thì phải nói rằng Lữ Giang xứng đáng giật giải quán quân.  
 
   Có vẻ như Lữ Giang không hề biết rằng cuộc chiến trước 1954 là cuộc chiến chống xâm lăng, xâm lăng của thực dân Pháp toan tính tái lập nền đô hộ trên đầu dân Việt Nam, mà nền đô hộ Việt Nam trước năm 1945 của thực dân Pháp có thể thực hiện được lại chính là công lớn của Công giáo Việt Nam như Giám mục Puginier đã khẳng định là “không có giáo dân thì người Pháp cũng như những con cua bị bẻ gãy hết càng, không thể ở lại Việt Nam được”.  Pháp trở lại với sự hỗ trợ về quân cụ, vũ khí rất đáng kể của đế quốc Mỹ, không phải để trả lại độc lập và tự do cho Việt Nam vì Việt nam đã lấy lại độc lập và tự do rồi từ ngày 2 tháng 9, năm 1945. Ngày 14 tháng 8, 1945, Tổng Thống Pháp De Gaulle bổ nhiệm Tướng Leclerc làm Tổng Chỉ Huy lực lượng ở Đông Dương và chỉ định Thierry d’Argenlieu làm Cao Ủy để cắm lại lá cờ tam tài của chúng ta ở đó (y replanter notre drapeau).  Và Mỹ đã giúp hơn 80% chiến phí cho Pháp trong mục đích thực dân này.  Còn cuộc chiến hậu Geneva là cuộc chiến chống xâm lăng của Mỹ.  Đây là kết luận của các học giả Tây phương, xét theo những sự kiện lịch sử chứ không xét theo cảm tính phe phái. Lữ Giang viết bậy: Nếu không có đảng CSVN, nước Việt Nam đã có độc lập và tự do từ lâu rồi.  Bằng cách nào mà Nước Việt nam có được độc lập và tự do?  Độc lập và tự do từ trên trời rơi xuống?  Hay do cầu nguyện Đức Mẹ hay Chúa kiểu của giáo dân Việt Nam: “cầu ngày không đủ, tranh thủ cầu đêm, cầu thêm ngày “Chúa ngày”[Chúa nhật] ”??  Hay làm đơn xin Tướng Leclerc ??
 
   Nhưng tôi muốn ông Lữ Giang và bất cứ ai hãy trả lời cho tôi câu hỏi sau đây:
 
   “Miền Nam có hơn một triệu quân, một thời cộng với hơn nửa triệu quân Mỹ, với đầy đủ vũ khí, đạn dược, và có ưu thế tuyệt đối về máy bay chiến đấu, về B52 để trải thảm bom từ trên thượng tầng không khí, xe tăng, tàu chiến, và cả thuốc khai quang Agent Orange để cho Việt Cộng không còn chỗ ẩn núp v..v.. nhưng tại sao vẫn không thắng nổi đối phương để rồi Mỹ phải tìm cách Việt Nam hóa cuộc chiến, rồi “tháo chạy” [từ của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng], và cuối cùng, Việt Cộng vẫn “cưỡng chiếm” được miền Nam?  Nói tóm lại: TẠI SAO CHÚNG TA LẠI THUA?? trong khi chúng ta có nhiều viện trợ hơn CS gấp bội.  Vậy ngoài yếu tố quân sự, những yếu tố nào đã quyết định cuộc chiến? Phải chăng phe Quốc Gia của chúng ta có vấn đề về chính nghĩa, về chủ quyền?  Phải chăng quân dân miền Nam không tích cực chống Cộng?  Hay phải chăng yếu tố quyết định là truyền thống yêu nước của  người dân Việt Nam? Thực ra thì Quốc Gia và Cộng sản bên nào có Chính Nghĩa? Bên nào hợp lòng dân và được dân ủng hộ?  Ý chí và khả năng chiến đấu của binh sĩ hai bên ra sao?  Khả năng chỉ huy của các cấp lãnh đạo?  Và còn những gì gì nữa?”  
 
   Jean Lacouture viết câu sau đây trong cuốn Vietnam: Between Two Truces, trang 9, có thể giải đáp phần nào cho câu hỏi trên:
 
   Nước Việt Nam mới (do Pháp dựng lên với Bảo Đại làm “Quốc trưởng”) được hơn 30 quốc gia công nhận, và cái quốc gia “ma” đó đã được cung cấp cho mọi thuộc tính hợp pháp…Tuy trên lý thuyết (của Pháp), Việt Minh bị gọi là “quân phiến loạn”, Việt Minh khi đó gồm đa số những người dân yêu nước và trong mắt của quần chúng, Việt Minh tiêu biểu cho tinh thần chống mọi ảnh hưởng, hay đúng hơn mọi chủ nghĩa đế quốc, từ bên ngoài.[1]
 
   Tôi cho chừng đó cũng đã đủ, và xin đi vào mục đích của Lữ Giang khi viết bài Sự Thật Lịch Sử mà tôi đã nêu ở trên.  Lữ Giang nhấn mạnh là Ông Hồ Chí Minh đã cầu viện từ Trung Quốc và Trung Quốc đã viện trợ to lớn cho Việt Nam để chống Pháp.  Nhưng chuyện Trung Quốc và Nga Sô gửi cố vấn giúp Việt Nam và viện trợ quân cụ cho cho Việt Nam để chống Pháp và chống Mỹ là chuyện đương nhiên, chẳng có gì phải thắc mắc.  Đọc Jean Lacouture, Bernard Fall, Stanley Karnow, Peter Mcdonald, Duiker v…v… chúng ta có thể biết rõ là Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam bao nhiêu, Nga sô viện trợ cho Việt Nam bao nhiêu xe vận tải và súng phòng không v..v…  Thí dụ, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam mỗi tháng khoảng 20 tấn năm 1951, lên đến 1500 tấn vào mùa xuân 1954 [Duiker, The Communist Road to Power in Vietnam, p. 161: The level of Chinese aid had risen from 10 to 20 tons a month in 1951 to 1,500 tons a month in the spring of 1954], và trong trận Điện Biên Phủ, Moscou đã viện trợ cho Việt Nam xe vận tải và Bắc Kinh viện trợ vũ khí và các huấn luyện viên, ước định vào khoảng 100 sĩ quan [Jean Lacouture in Le Désastre de Dien Bien Phu, Les Collections de L’Histoire: Indochine Vietnam, Paris, 2004, p. 52: La double assistance de Moscou (véhicules) et de Pékin (armes et instructeurs, évalués à une centaine d’officiers], và Tướng Võ Nguyên Giáp đã sử dụng bao nhiêu vũ khí hạng nặng: 48 khẩu đại pháo 75 ly; 48 khẩu đại pháo 105 ly của Mỹ chiếm được từ chiến tranh Triều Tiên; 48 súng cối 120 ly; 36 súng phòng không 37 ly; 60 khẩu đại pháo không giật 75 ly; và 4 khẩu Katyusha 12 nòng của Nga có thể phóng ra mỗi lần 12 hỏa tiễn cỡ nhỏ [Peter Mcdonald, The Victor in Viet Nam: Giap, p. 133].  Vậy chuyện Việt Nam nhận viện trợ của Trung Quốc và Nga sô đâu có phải là chuyện lạ?  Lẽ dĩ nhiên viện trợ chỉ là một yếu tố góp phần cho cuộc chiến thắng của Việt Nam đối với hai đế quốc Pháp và Mỹ.  Nhận viện trợ để chống xâm lăng có thể làm giảm đi cuộc chiến thắng của Việt Nam đối với hai cường quốc Pháp và Mỹ được không,  vậy yếu tố quyết định để Việt Nam chiến thắng trong hai cuộc chiến là gì? Câu hỏi này đến trẻ con trong làng cũng biết chẳng cần đến ông Lữ Giang hay những người phi dân tộc như ông.
 
   Nhưng chúng ta hãy đọc vài tài liệu bình luận về chuyện Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam, hi vọng có thể mở mắt Lữ Giang, trong tâm cảnh “Một trong ba thứ tiêu điều nước Nam” của mình và đồng đạo để viết lên câu: “Như chúng tôi đã chứng minh nhiều lần, từ 1946 đến 1949, bị Pháp đuổi, Việt Minh chỉ có bỏ chạy...” và rồi thất vọng vì Việt Nam có viện trợ của Tàu. Nếu Việt Minh cứ tiếp tục bỏ chạy thì có phải là nước ta lại tiếp tục được làm nô lệ cho thực dân Pháp, và Công giáo lại có được công lớn trong nhiệm vụ giúp Pháp để tái lập nền đô hộ trên đất nước, như vậy có phải là tốt cho Công giáo hay không?
 
   Khi Pháp thất trận và họp hội nghị Genève, ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles đã lên án Trung Quốc là đã viện trợ vũ khí cho Việt Nam.  Giáo sư Mortimer T. Cohen đã châm biếm trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, trang 207, 253:
 
    Dulles không chịu chấp nhận là Việt Nam tự mình thắng trận.  Họ phải có viện trợ từ bên ngoài.  Chắc chắn là họ có rồi – cũng như Pháp.  Hiển nhiên là ý tưởng về công bằng của Dulles và những người thuộc phái hữu là trang bị cho Pháp từ đầu đến chân với những vũ khí hiện đại và hi vọng rằng Việt Minh sẽ chiến đấu với những súng của đầu thế kỷ 19, gươm và giáo.
   Thái độ của Dulles có vẻ như là Mỹ viện trợ quân phí cho Pháp nhiều tỷ đô-la thì được, nhưng những quốc gia Cộng sản viện trợ cho Việt Minh chỉ có một phần nhỏ (so với viện trợ của Mỹ cho Pháp) thì đó là một tội ác và là hành động xâm lăng.[2]

 
      Khi xưa, cả Tướng Navarre của Pháp lẫn Ngoại Trưởng Foster Dulles của Mỹ cũng đều cho rằng Trung Cộng đóng một vai trò tích cực ở Điện Biên Phủ.  Chúng ta hãy đọc lời bình luận của Giáo sư Mortimer T. Cohen về việc này trong cuốn From Prologue To Epilogue In Vietnam, trang 201-202:
 


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 24 Tháng Năm, 2009, 10:54:23 PM
     [/i]“Ngày 5 tháng 4, 1954, trước ủy ban ngoại vụ của quốc hội, Dulles như cuồng loạn trước sự viện trợ của Trung Quốc cho Việt Nam và nói đó là một sự can thiệp trực tiếp.   Phản ứng của Mỹ “có thể không chỉ thu hẹp ở Đông Dương”.
     Ông ta đe dọa Trung Quốc với chiến tranh.
     Gốc rễ vấn đề của Dulles là nếu Việt Minh đang đánh bại Pháp, và nước Việt Nam của người Việt Nam - bất cứ nước nào khác lấy quyền gì để vào đó đánh cho Pháp?  Câu trả lời của Dulles là không phải là người Việt đánh bại Pháp mà là người Tàu.  Người Tàu đã xâm lược Việt Nam và Pháp đã chống lại sự xâm lược, giống như Hoa Kỳ đã chống lại sự xâm lược ở Triều Tiên.
     Chỉ có điều là - chẳng có tí sự thực nào trong đó.  Không có Tàu ở Điện Biên Phủ như Dulles đã khẳng định.  Bộ Tổng Tham Mưu của Pháp nói rằng không có một tù binh nào, sống cũng như chết, là Tàu.  Năm 1959, một viên chức Nam Việt Nam – khó có thể là thân Cộng bị tuyên truyền – nói về “lực lượng tối tân và mạnh mẽ của Pháp bị đánh bại bởi những chiến sĩ Việt Nam trang bị yếu kém về vũ khí mà.. chưa từng có sự tiếp tay của quân đội Nga hay Tàu.”
     Pháp, với sự viện trợ của Mỹ lên tới nhiều trăm triệu đô la, bị đá khỏi Đông Dương bởi những dân bản xứ, với quân cụ cung cấp bởi  Trung Quốc và Nga Sô, và Mỹ toan tính can thiệp vì cho là sự tiếp nhận viện trợ của Việt Minh từ các nước khác là một tội ác đối với nhân loại, với nền văn minh Tây phương, và Ki Tô Giáo.
     Tướng Navarre cũng phụ họa luận điệu là Trung Quốc đã can thiệp, cho rằng Trung Quốc không có quyền vào Việt Nam như Pháp.
     Jules Roy tóm tắt thật hay như sau:
      “Những lời tuyên bố của John Foster Dulles và Tướng Navarre về những chuyên viên Trung Quốc đơn giản chỉ là truyền cảm ý muốn bào chữa cho những sự thất bại của họ.” [3][/i]
 
     Tưởng chúng ta cũng nên đọc thêm nhận định của Giáo sư Mortimer T. Chohen trong cuốn From Prologue to Epilogue in Vietnam, N.Y., 1979, p. 206, về chiến thắng Điện Biên Phủ:
 
    [/i] “Điện Biên Phủ là sự diễn đạt tinh thần quốc gia và sự hãnh diện của người Việt về  một biến cố mạnh nhất trong dòng lịch sử của họ.  Có một đứa trẻ nào ở trong làng mà không biết đến những chiến thắng đối với Trung Hoa và Mông Cổ - hai lực lượng quân sự mạnh nhất ở Á Châu?  Những biến cố này và cuộc tranh đấu ngàn năm chống ngoại xâm đã được lồng vào trong văn học, ca nhạc, và châm ngôn của họ. Đối với người Việt, Điện Biên Phủ là một trận chiến khác trong đó họ đã đánh bại quân xâm lược.  Và hầu hết mọi người, bất kể là thuộc tôn giáo, tầng lớp xã hội nào, hoặc phục vụ cho quân đội Pháp, đều hãnh diện vì nó.
     Người Mỹ có hiểu được như vậy không?  Người Mỹ có biết gì về Việt Nam và lịch sử, văn hóa Việt Nam không?  Hoàn toàn không.” [4][/i]
 
   Vậy Lữ Giang và những người chống Cộng cho Chúa có hiểu được như vậy không?  Có biết gì về lịch sử, văn hóa Việt Nam không?  Hoàn toàn không.
 
     Thật ra, chuyện Lữ Giang viết ở trên chỉ là chuyện ruồi bu, vì cốt lõi của vấn đề nằm trong sự nhận định sâu sắc trên của Giáo sư Mortimer T. Cohen: mọi người Việt Nam đều có quyền hãnh diện với chiến thắng Điện Biên Phủ. Đúng vậy, chiến thắng Điện Biên Phủ là của nhân dân Việt Nam, đoạt được bằng sự hi sinh xương máu của người Việt Nam, từ Tướng Tá tới các binh sĩ, từ các dân công cho đến các thường dân. Tất cả những luận bàn trí thức hay không trí thức về vai trò của cố vấn Trung Cộng ở Điện Biên Phủ, hay Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam, đối với tôi, đều là không thích hợp (irrelevant).
 
   Trong cuộc chiến ở miền Nam, Mỹ cũng vẫn tiếp tục lên án sự viện trợ của Nga Sô và Trung Quốc cho Bắc Việt, và Bắc Việt tiếp tế cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và không thiếu gì người Việt chống Cộng, có đầu mà không có óc, đã dùng điểm này, phóng đại vài con số, để biện hộ cho sự chiến bại của Mỹ và miền Nam.  Về vấn đề này, Giáo sư Cohen lại viết (Ibid., p. 260):
 
   Nhưng Mỹ làu bàu  về cái nỗi gì?  Bắc Việt tiếp tế cho VC?  Thế thì Mỹ cho Quân Đội Nam Việt Nam cái gì?  Súng hỏa mai??  Từ 1949 về sau, những người Âu Châu ở Việt Nam ta thán và phàn nàn vì kẻ thù đã được tiếp tế vũ khí có cùng phẩm chất như của họ.  Tây phương mơ tưởng đến những ngày huy hoàng xưa kia khi dân bản xứ chống lại họ với cung tên và bị họ bắn tan hoang bởi những súng của hải quân, pháo binh, và súng máy. “Gậy ông đập lưng ông” chỉ là chuyện công bằng. [5]
 
  Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là chiến thắng cho riêng người Việt Nam mà ảnh hưởng của chiến thắng này vang dội trên khắp thế giới.  Đã có không biết bao nhiêu nhà phân tích viết về trận đánh này.  Chúng ta có thể đọc cuốn “Điện Biên Phủ (Cuộc bao vây làm thay đổi thế giới” [Dien Bien Phu (Sieges That Changed the World)”] của Richard Worth, nxb Chelsea House Publications; hay đọc Mark Baker  viết ngày 6 tháng 5 2004 trên http://www.theage.com.au/articles/2004/05/06/1083635278888.html: “Ngày 7 tháng 5, 1954, lực lượng Việt Nam đánh bại những quan thầy thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ.  Đó là một trận đánh làm thay đổi bộ mặt chính trị của thế giới và đặt khung cảnh cho cuộc chiến Việt Nam [chống Mỹ]” [On May 7, 1954, Vietnamese guerilla forces defeated their French colonial masters at Dien Bien Phu. It was a battle that changed the political face of the world and set the scene for the Vietnam War.]  và “Điện Biên Phủ là nơi mà hồi chuông báo tử đã vang lên cho chủ nghĩa thuộc địa của Pháp ở Á Châu và là nơi mà màn mở đầu đã được viết lên cho sự nhục nhã của lực lượng quân sự mạnh nhất trên thế giới (Mỹ)” [where the death knell was sounded for French colonialism in Asia, and where the prelude was written to the humiliation of the world's greatest military power. ]
   Sau đây chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài phân tích rất dài của Thiếu Tá Mỹ, Harry D. Bloomer, trong bài “Một Phân Tích Về Sự Thảm Bại Của Pháp Ở Điện Biên Phủ” [ Major Harry D. Bloomer, USA: An Analysis Of The French Defeat At Dien Bien Phu] để thấy ảnh hưởng của chiến thắng Diện Biên Phủ trên thế giới như thế nào.  Sau đây là đoạn mở đầu của bài phân tích.
 
   “Ngày 7 tháng 5, 1954, căn cứ quân sự của Pháp ở Điện Biên Phủ thất thủ, tột điểm của một chiến dịch kéo dài 209 ngày.  Trong 54 ngày sau cùng, căn cứ bị thường xuyên tấn công.  Đối với Pháp, Điện Biên Phủ là một cọng rơm đã làm gẫy lưng con lạc đà.  Hai tháng sau, ngày 40 tháng 7, 1954, một cuộc ngưng bắn chính thức đã được điều đình giữa Pháp và Việt Minh ở Genève [Không có phe Quốc Gia].  Hiệp định này chấm dứt 8 năm chiến tranh làm cho hơn 75000 người trong Lực Lượng Viễn Chinh của Pháp chết.  Cuộc ngưng bắn này không đi quá một cuộc ngưng bắn quân sự, và sự thiếu một sự dàn xếp chính trị đã mở cửa cho cuộc chiến tranh Đông Dương sau [với Mỹ].  Thật ra thì Việt Minh rời hội nghị Genève biết rằng mình đã bị phản bội.  Họ tin rằng Trung Quốc đã cưỡng bách họ phải nhận một sự chia đôi Việt Nam thay vì một Việt Nam thống nhất dưới quyền họ.  Sự chiến thắng ở mặt trận đã mất đi ở hội nghị Genève, Việt Minh biết vậy; tuy nhiên, họ không từ bỏ mục đích thống nhất Việt Nam.
   Việt Minh đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ trong một trận được lập lên cốt tủy là để đánh bại Pháp theo chính kế hoạch dụ địch của Pháp.  Cú “sốc” về sự chiến bại của Pháp đã vang dội trên khắp thế giới Tây phương.  Như Đại Tá William F. Long phát biểu sau cuộc chiến bại của Pháp 12 năm, “Điện Biên Phủ hay DBP đã trở thành một biểu tượng tốc ký của Đông phương đánh bại Tây phương, biểu tượng cho sự chiến thắng của dân tộc chưa phát triển.  Điện Biên Phủ đã đưa đến nhiều hậu quả chính trị nghiêm trọng.  Sự chiến bại của Pháp thật sự dứt khoát là một thảm bại  cho cả Pháp lẫn Mỹ, vì Mỹ, cho đến năm 1954, đã cung cấp 80% chiến phí cho đội quân viễn chinh của Pháp ở Đông Dương.” [6]

 
   Trong tờ Les Collections de L’Histoire: Indochine Vietnam, số 23, Avril-Juin 2004, Paris,  Jean Lacouture có viết một bài dài 7 trang khổ lớn, từ trang 53 đến 59, nhan đề “Cuộc Thảm Bại Điện Biên Phủ”  [Le Désastre de Dien Bien Phu]. Bài Le Désastre de Dien Bien Phu của Jean Lacouture cho chúng ta những nét chính về biến cố Điện Biên Phủ, không có những chi tiết lặt vặt rườm rà, nhưng cũng đủ để chúng ta có một cái nhìn tổng quát về những hoạt động chính trị và quân sự của Pháp và Mỹ để cuối cùng đưa tới sự thảm bại ở Điện Biên Phủ.  Đối chiếu với những tài liệu tôi đã đọc về Điện Biên Phủ của những tác giả có thể coi như là trung lập, chuyên dựa vào việc phân tích sự việc, tôi thấy bài của Jean Lacouture rất đứng đắn, khó có ai có thể phủ nhận giá trị học thuật của tác giả.  Ở phần cuối bài chúng ta có thể đọc đoạn sau đây của Jean Lacouture:
 
   Tầm quan trọng của sự thảm bại đó là như thế nào?  Đó không chỉ là một thảm bại của người Á Châu giáng lên người Âu Châu, của Cộng sản trên những hệ thống (chính trị) được gọi là “Tây phương”.  Những người Việt Nam, khi xưa là những chiến sĩ bị khinh khi, coi thường, đã khẳng định giá trị quân sự của họ cũng như khả năng kỹ thuật để có thể sử dụng những vủ khí tối tân nhất.  Đó cũng là dấu hiệu của sự cáo chung một đế quốc: trong số những người bảo vệ khi xưa, nay là những tù nhân, có nhiều ngàn người Phi Châu mà các dân tộc ở đó học được rằng những thời đại mà luật lệnh của người Pháp dựa trên sức mạnh và một “quyền” nào đó đã qua rồi. [7]
 
   Viết bài Sự Thật Lịch Sử, Lữ Giang viện một số tài liệu của Tàu nhưng không ghi rõ xuất xứ, và cho rằng, qua những tài liệu đó thì “không có CSTQ không có chiến thắng Điện Biên Phủ, không có Hiệp Định Genève năm 1954 trao một nữa nước Việt Nam cho đảng CSVN“., hàm ý nhờ có Trung Quốc Việt Nam mới tạo được chiến thắng Điện Biên Phủ và mới có Hiệp Định Genève.  Nhưng đây là điều hiển nhiên vì ai cũng biết là không chỉ Trung Quốc mà Nga sô cũng viện trợ cho Việt Nam.  Không có viện trợ từ Trung Quốc và Nga sô, Việt Nam lấy gì mà đánh.  Nhưng những yếu tố nào đã quyết định chiến thắng Điện Biên Phủ?  Nhưng viện trợ vũ khí nói lên được điều gì? Pháp được Mỹ viện trợ gấp bội về vũ khí và máy bay, sao Pháp không thắng?  Và sau này, Mỹ và “đồng minh” Nam Việt Nam cũng vượt trội về mọi mặt về quân số, vũ khí, tàu bay, tàu ngầm v…v… sao không thắng.  Hơn 50 ngàn quân sĩ Việt Nam tham chiến ở Điện Biên Phủ công với cả trăm ngàn dân công  được sử dụng trong trận Điện Biên Phủ, có tên Tàu nào ở trong đó không?  Lữ Giang có biết rằng mình viết ra một câu rất đần hay không. 
 
Nhưng vấn đề là những hạng người như Lữ Giang, Minh Võ, Nhữ Văn Úy v…v…làm sao và bằng cách nào có thể thay đổi được những sự thật lịch sử với hi vọng có thể thay đổi quan điểm của tuyệt đại đa số người dân về ông Hồ Chí Minh, về chiến thắng Điện Biên Phủ, về hai cuộc chiến chống xâm lăng, về sự thống nhất đất nước mà người Cộng sản Việt Nam đã thực hiện được.



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 25 Tháng Năm, 2009, 12:14:37 AM
Bài này chửi nhau cứ như hàng tôm hàng cá ấy nhỉ.

Đề tài ĐBP thì vẫn còn nhiều thứ hay:
- Chuyện "thay đổi cách đánh" trong chiến dịch ĐBP, chiến thuật tiến công trong trận ĐBP nói riêng và trong KCCP nói chung.
- Các phương án giải vây ĐBP của Pháp và Mỹ.
- Ảnh hưởng của ĐBP tới các chiến trường khác.
...

Có lẽ ta lại lôi từng cái lên mà tán cho vui nhỉ ::)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 25 Tháng Năm, 2009, 12:51:32 AM
Bài này chửi nhau cứ như hàng tôm hàng cá ấy nhỉ.

Nhà bác TCN này thì trước sau vẫn như nhất thôi, cứ cái gì dính đến Đức Ki Tô là lồng lên.  ;) Tuy nhiên bác cũng quảng văn, cung cấp nhiều reference có chất lượng, (tuy trích dẫn rất chi chọn lọc  ;D), đáng hoan nghênh.  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: banzua trong 03 Tháng Sáu, 2009, 04:40:41 PM
Em có cái này là 1 thắc mắc, không biết hiện nay tài liệu của bên mình có hé mở cho thêm chi tiết gì không...
Trong trận đánh đồi A1 từ ngày 30/3 cho đến ngày 7/5, trục tấn công duy nhất của ta vẫn chỉ là 1 con đường duy nhất từ chân đồi Cháy lên đỉnh đồi A1. Bọn Tây ở đây quen thuộc trục đánh này đến nỗi chúng nó đặt luôn 1 cái tên gọi là "Champs Elysee". Hướng này đánh thẳng vào vị trí mạnh nhất của của bọn nó, chúng nó gọi pháo từ Mường Thanh và Hồng Cúm rất nhanh cho nên chúng nó có thể tổ chức phòng thủ và phản công rất hiệu quả ở đây so với các vị trí khác...  Có khi cái này mới chính là lý do tại sao ta không dứt điểm được A1 chứ không phải cái hầm ngầm (theo em biết cái hầm ngầm này nguyên cũng chỉ là cái hầm rượu vang của nhà viên thanh tra thuế người Pháp ở ĐBP, vì vậy em vẫn ngờ ngợ về vai trò chủ chốt của nó).
Việc vào cuối tháng 3, trung đoàn 174 không dứt điểm được, trung đoàn 102 vào thay, không có thời gian chuẩn bị phải đánh theo chương trình cũ của 174 thì đã rõ. Nhưng tại sao, sau đó, đến tận 7/5,trung đoàn 174 vẫn đánh theo trục duy nhất này? Hay là mình bị "thôi miên" bởi cái hầm ngầm đó?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: danngoc trong 03 Tháng Sáu, 2009, 04:47:53 PM
Theo như cách ta tổ chức dùng bộc phá thì đúng là có ai đó bị ám ảnh trách nhiệm về cái hầm ngầm cực kỳ kiên cố này.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 03 Tháng Sáu, 2009, 09:31:52 PM
Đúng là không phải do cái hầm ngầm. Trận này không thành do nguyên nhân chủ quan từ phía ta là chính (lí do nổ súng chậm như cụ Giáp nói trong hồi ký cũng chỉ 1 phần thôi).

Về trận 6/5 em cũng có 1 thắc mắc. Phía ta thì nói là lúc 17h cho nổ bộc phá và tấn công. Nhưng sách Tây (kể cả tay Jean Pouget) đều nói là lúc 17h00 ta mở 1 đợt tiến công lên đồi A1 nhưng bị đẩy lùi, đến khoảng 23h (riêng Erwan Bergot nói là 2h sáng) mới cho nổ bộc phá và đánh đợt 2. Không hiểu thực hư thế nào.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 03 Tháng Sáu, 2009, 09:38:40 PM
Nhìn địa hình, có thể thấy ta chỉ có thể đánh ở mặt đông và mặt nam. Đánh ở hướng này cũng là để tận dụng được hai cao điểm ngay sát A1 để bố trí hỏa lực. Và thực tế ta đã tính đánh theo hai lối đó chứ không phải chỉ tính đánh theo một "Đại lộ". Lúc e102 vào thì đã có sẵn cửa mở và do thời gian quá gấp gáp, nên tận dụng luôn. Đợt phòng ngự lúc nhiều chỉ có khoảng 1c nên cũng không căng lắm.

Về sai lầm của ta, có thể thấy thế này:
- Mường Thanh có thể huy động mọi loại súng cộng đồng để chi viện cho A1. Từ pháo, cối các cỡ, cho đến đại, trung trọng liên của C1, C2 ở phía bắc bắn xuống, mấy khẩu trọng liên bốn nòng ở bờ sông bắn lên. Vậy nên khi ta đánh A1 như là trận duy nhất thì hỏa lực của địch rất khủng khiếp. Công việc của quân Pháp đồn trú dảm đi đáng kể.
- Tiểu đoàn 1 (của cụ Dũng Chi) mở cửa sai vị trí, lệch nhiều về phía đông nên chỉ cách cửa mở của Tiều đoàn 9 (của cụ Hòe) có chưa đến 50m. Do đó không những không chia cắt được địch mà còn tạo thế địch co cụm, càng đánh càng khó.
- Việc trinh sát A1 làm không tốt.
- Không đánh giá được sự quan trọng của A1 nên không có lực lượng dự bị mạnh để sử dụng ngay.

Sau khi e102 rút ra, e174 vào lại để phòng ngự và chuẩn bị đánh đợt 4 (đợt 2, 3 là của e102) thì ta hoàn toàn ý thức được sai lầm về chọn hướng của mình nên cho đào con hào giữa đồng dưới tầm đạn địch để đánh lên hướng Cây đa cụt.

Bác Banzua, Danngoc. Ngày đó hầm ngầm quả là nối ám ảnh của ta. Nhưng khi đánh xong đã có sự thống nhất trong đại đa số thông tin đánh giá là không mang tính quyết định.

Tình huống dự tính
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/tinhhuongdutinhcopy.jpg)

Tình huống thực tế 1
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/tinhhuong1copy.jpg)

Tình huống ở đợt tấn công ngày 6/5
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/tinhhuong2copy.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 03 Tháng Sáu, 2009, 09:49:19 PM
Về trận 6/5 em cũng có 1 thắc mắc. Phía ta thì nói là lúc 17h cho nổ bộc phá và tấn công. Nhưng sách Tây (kể cả tay Jean Pouget) đều nói là lúc 17h00 ta mở 1 đợt tiến công lên đồi A1 nhưng bị đẩy lùi, đến khoảng 23h (riêng Erwan Bergot nói là 2h sáng) mới cho nổ bộc phá và đánh đợt 2. Không hiểu thực hư thế nào.
Trận A1 này thậm chí còn có tờ giấy hẹn giờ nổ bộc phá. Ở trận Độc lập tụi tây cũng nói thế, nói là ta tấn công từ 5h. Trong khi tất cả các nguồn của ta đều nói 3 giờ sáng mới bắt đầu. Có thể 5 giờ là lúc trời còn sáng rõ nên pháo ta bắt đầu bắn chuẩn bị và mũi dương công nổ súng hoặc bộ đội lên cắt rào bên ngoài (khó). Tụi tây cứ thấy pháo bắn và bóng người thì nghĩ là tấn công, độ đạn xuống bụi mù mịt, sau khi khói bụi tan chả thấy ai nên đoán cuộc tấn công đã bị đập nát. ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 03 Tháng Sáu, 2009, 10:24:11 PM
Trận A1 này thậm chí còn có tờ giấy hẹn giờ nổ bộc phá. Ở trận Độc lập tụi tây cũng nói thế, nói là ta tấn công từ 5h. Trong khi tất cả các nguồn của ta đều nói 3 giờ sáng mới bắt đầu. Có thể 5 giờ là lúc trời còn sáng rõ nên pháo ta bắt đầu bắn chuẩn bị và mũi dương công nổ súng hoặc bộ đội lên cắt rào bên ngoài (khó). Tụi tây cứ thấy pháo bắn và bóng người thì nghĩ là tấn công, độ đạn xuống bụi mù mịt, sau khi khói bụi tan chả thấy ai nên đoán cuộc tấn công đã bị đập nát. ;D

Khà, cái vụ chênh thời gian ở đồi Độc Lập thì còn giải thích được. Còn chênh giờ nổ bộc phá đến 6 tiếng thì hơi khó hiểu, nhất là khi cả tay Pouget trực tiếp nằm trên đồi cũng nói là 23h.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 03 Tháng Sáu, 2009, 11:03:18 PM
Làm gì đến 6 tiếng, khoảng 20h30 -21h ta mới nổ bộc phá mà ;D. Còn tụi Pháp thì tay nào cũng nói ta cho nổ lúc 23 giờ. Lão E.Bergot đúng là ... nhà văn, đọc thấy lão còn chua là "Đến 2 giờ sáng. Edme cho truyền đi bản báo cáo ngắn ngọn: - Địch không đào đường hầm nữa". Đọc thấy không khí gấp gáp hẳn lên.  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: banzua trong 06 Tháng Sáu, 2009, 03:44:39 PM
Làm gì đến 6 tiếng, khoảng 20h30 -21h ta mới nổ bộc phá mà ;D. Còn tụi Pháp thì tay nào cũng nói ta cho nổ lúc 23 giờ. Lão E.Bergot đúng là ... nhà văn, đọc thấy lão còn chua là "Đến 2 giờ sáng. Edme cho truyền đi bản báo cáo ngắn ngọn: - Địch không đào đường hầm nữa". Đọc thấy không khí gấp gáp hẳn lên.  ;D
Có bác nào còn giữ bài của cụ Hòe trên báo QDND viết về cái vụ mấy đ/c công binh nổ nói là khi địa lôi nổ phải há mồm chổng đít về phía hướng nổ ko? Em hồi trước hình như có lội bên ttvn nhưng giờ ko kiếm ra, trong đó em còn nhớ là mô tả khá chính xác giờ phát hỏa quả địa lôi.
 Thực ra sau đó mọi người chỉ nghe một tiếng "ục" nho nhỏ làm rất nhiều chiến sỹ ta thất vọng :) và nhất là cũng lo hỏa điểm của địch chưa bị giệt sẽ gây nên tổn thất nặng như mấy lần trước... Nghe đâu hiệu quả của quả địa lôi vẫn là 1 mối trăn trở lớn của cụ Nguyễn Hữu An cho đến cuối đời (cái này em đọc được trong quyển kỷ niệm thượng tướng NHA in năm 99).


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 06 Tháng Sáu, 2009, 04:31:09 PM
Đề nghị bác rongxanh sớm cung cấp thông tin cụ nào kôn phơm với ông Mắc Lia con số 2,000+ ở A1 cái nhể.

Có cái này dành riêng cho bạn new:

Người trả lời là 1 người nổi tiếng (http://www.quansuvn.net/avatars/iconym/3.gif)

Người hỏi là nhà làm phim Canada, từng viết (? - làm phim?) "Cuộc chiến mười nghìn ngày".

(http://www.quansuvn.net/index.php?action=dlattach;topic=6700.0;attach=6032)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 06 Tháng Sáu, 2009, 06:21:48 PM
Phục vụ bác banzua:


Bão lửa đồi A1

Tôi được Quân y dìu về hậu cứ băng bó lại hai bàn chân, vì suốt đêm giẫm vào bùn đất có dính máu của đồng đội nên đã sưng tấy, phải chống gậy mới đi lại được. Chiều tối hôm đó nằm ở hậu cứ, tôi vừa đau vừa buồn, không hiểu anh em mình chiến đấu ra sao? Đang suy nghĩ mông lung thì có một đồng chí thương binh nhẹ về qua kể chuyện rằng: Lúc buổi chiều khi đi quan sát vị trí địch có một cán bộ của đơn vị bạn đã nói rằng: “Cái đồn này chỉ cần hỉ mũi một cái là xong, thế mà không đánh được!”.

Tôi cảm thấy xấu hổ vì đã không hoàn thành nhiệm vụ, lại bị đơn vị bạn coi thường. Tôi cảm thấy buồn quá, nhưng cũng giật mình nghĩ: lúc đầu anh em ta cũng chủ quan, cho rằng việc tiêu diệt A1 là không có gì khó khăn. E rằng đơn vị bạn cũng đi theo vết ấy thì sẽ bị vấp nặng đấy! Và đúng như vậy, đơn vị bạn cũng bị tiêu hao một bộ phận và không diệt được địch.

Các trận chiến đấu kéo dài đến 4-4 thì dừng, địch tiếp tục chiếm đóng và củng cố công sự tại đây.
Mấy ngày sau nữa, trung đoàn trưởng Nguyễn Hữu An, chính ủy trung đoàn Trần Huy và các tiểu đoàn trưởng lên Mường Phăng dự hội nghị sơ kết đợt hoạt động.

Không khí cuộc họp thật nặng nề. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích khuyết điểm của các đơn vị, phê bình đồng chí Nguyễn Hữu An và đồng chí Trần Huy: Một trung đoàn phó bị cách chức, một cán bộ tiểu đoàn thuộc trung đoàn 102 bị kỷ luật vì dao động trong chiến đấu. Tôi đã nín thở, lạnh người chờ nghe tuyên bố kỷ luật đối với mình, nhưng may quá, không có chuyện gì xảy ra nữa! Dọc đường về, tôi hỏi Dũng Chi: “Cậu nghĩ thế nào về vấn đề thi hành kỷ luật này?”. Dũng Chi nói: “Úi trời! Còn nghĩ nữa! Sợ bỏ mẹ ấy chứ! May cho mày đấy! Hôm nọ tao nghe lỏm mấy ông bàn thi hành kỷ luật cả lũ trong đó có mày, người bảo phải cảnh cáo, người nói phải cách chức”. Tôi hỏi: “Tại sao người ta khép tội tớ, còn cậu thì bỏ qua?”. Dũng Chi cười khà khà nói đùa: Tại cậu là tiểu đoàn trưởng chủ công nên tội lớn hơn cả! Tôi cũng bật cười vì tính vô tư và câu nói đùa đó, nhưng cảm thấy ấm ức trong lòng.

... Đại đoàn lại giao cho trung đoàn 174 nhiệm vụ tiếp tục đánh A1. Đối với d9 vấn đề quân số lúc này là rất khó khăn, 4 đại đội trưởng chỉ còn một đại đội trưởng trợ chiến, đại đội phó không còn ai; cấp trung đội, tiểu đội mất hơn 80%, chiến sĩ chỉ còn khoảng hơn 20 người.

Anh Học Hải và trợ lý chính trị của tiểu đoàn phải đến các trạm quân y tìm và động viên anh em bị thương nhẹ và các bệnh binh mau trở về đơn vị. Một số anh em bị ốm, bị lạc đơn vị trong quá trình hành quân từ Thanh Hóa ra cũng dần dần về tập trung, đến cuối tháng 4 tiểu đoàn đã tổ chức được đủ 4 đại đội nhưng quân số không được đủ như biên chế.

... Khi trao đổi về cách đánh, nhiều người có ấn tượng khá nặng về sự nguy hiểm của chiếc hầm ngầm. Thậm chí có người còn cho rằng nếu không diệt được hầm ngầm thì không thể chiếm được A1. Tôi suy nghĩ khác, vì được trực tiếp chiến đấu suốt đêm 30-3 nên tôi thấy rõ địch đã phát huy có hiệu quả các thế mạnh của chúng là pháo, cối và quân phản kích (có xe tăng yểm trợ trực tiếp). Ngược lại, ta không có cách đánh phù hợp để làm giảm hoặc vô hiệu hóa các thế mạnh của chúng khiến bị thương vong nặng ngay từ đầu, tiếp sau đó càng ngày càng bị động, dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ. Theo sự suy nghĩ của tôi thì việc bắn pháo và phản kích có liên quan đến nhau: địch phản kích vì thấy có hy vọng cứu bọn bị đánh. Muốn phản kích thì phải dùng pháo bắn để tiêu hao ta, dọn đường cho quân tiến lên. Nhưng nếu thấy vì lý do nào đó không bắn pháo được hoặc bắn không hiệu quả (ví dụ: ta và địch xen kẽ cao độ, không có khoảng cách an toàn, quân phản kích có thể bị ngăn chặn lại trước khi đến đích v.v.) thì khả năng phản kích cũng như bắn pháo có thể giảm đi. Vì vậy nghiên cứu cách đánh phải đề xuất được các biện pháp làm giảm các thế mạnh của chúng.

Hôm được Tư lệnh đại đoàn gọi lên bàn việc, tôi cũng báo cáo về suy nghĩ đó. Khi đồng chí đó hỏi cách đánh, tôi đề nghị Trung đoàn vẫn đột phá theo hai hướng. Hướng chính vẫn như cũ, nhưng phải thực hiện việc thọc sâu chia cắt, nhanh chóng áp sát, tạo thế xen kẽ ngăn chặn không cho địch co cụm hoặc rút về phía A3 hay chui xuống hầm ngầm. Hướng chia cắt nên thực hiện đột phá cách cửa mở cũ của d1 khoảng 50-60m về phía Tây phát triển nhanh lên hướng Tây Bắc, cắt 1/3 cứ điểm A1 về phía Tây, vừa có thể chặn đường rút của A1 có thể chặn quân phản kích từ A3 lên. Nếu ta, địch ở trung tâm A1 trong thế cài răng lược trong từng khu vực nhỏ thì pháo địch khó phát huy hiệu quả. Không có hỏa lực chi viện mạnh thì quân phản kích của chúng dễ bị chặn lại. Còn đối với hầm ngầm, tôi báo cáo thực là chưa nghĩ ra cách đánh, nhưng theo tôi, nếu có cách nào đó phá được cũng tốt. Nếu không thì cũng không phải là trở ngại lớn vì đó không phải là công sự chiến đấu.

Nghe xong, Tư lệnh gật đầu nói: “Đã có một số ý kiến tương tự như thế này. Đại đoàn sẽ cùng Trung đoàn trao đổi rồi quyết định sau”.


Vài hôm sau, Trung đoàn triệu tập cán bộ tiểu đoàn lên phổ biến kế hoạch tác chiến đã được trên xét duỵệt, đại ý như sau:

- Sẽ đào một hầm sâu vào lòng núi để đặt thuốc nổ phá hầm ngầm của A1. Lực lượng do Đại đoàn bố trí,

Trung đoàn cử lực lượng bảo vệ và giúp đỡ khi cần.
- D9 đột phá từ hướng Đông, sau đó tiến hành hai mũi thọc sâu, một mũi phát triển thẳng sang hướng Tây, một mũi chếch theo hướng Đông-Đông Nam vừa diệt địch vừa bảo vệ sườn bên phải cho d1 phát triển.
- D1 đột phá theo hướng Đông Nam-Tây Bắc chia cắt 1/3 của điểm A1 về phía Tây và chặn quân tiếp viện của địch từ A3 lên A1, tạo điều kiện cho d9 tiêu diệt gọn quân địch ở A1.
- D5 trước mắt làm nhiệm vụ bảo vệ bộ phận đào hầm, chốt giữ Đồi Cháy bảo vệ các đoàn cán bộ đi trinh sát thực địa. Khi chiến đấu làm dự bị cho d9, sẵn sàng phát triển xuống A3 sau khi ta diệt A1.

Nghe xong, tôi đề nghị nên để d5 làm dự bị cho d1 bị uy hiếp từ ba phía (trước mặt và hai bên sườn) nên có sẵn lực lượng phía sau đề phòng lúc khó khăn. Nếu địch phản kích mạnh, d5 có thể nhanh chóng cùng d1 đánh chặn, một khi quân phản kích địch không tiến lên được thì d9 có thể một mình tiêu diệt phần còn lại của A1. Trường hợp d9 gặp khó khăn thì d5 vẫn có thể từ hướng đột phá của d1 đánh ngược sang phía Đông tạo thành 2 mũi giáp công (d5+d9) bao vây tiêu diệt địch. Và sau khi diệt xong A1, nếu d5 ở phía sau d1 có điều kiện nhanh chóng phát triển sang A2-A3.

Công tác chuẩn bị của d9 có phần nhẹ hơn d1, nhưng so với lần trước thì Dũng Chi cũng có nhiều thuận lợi vì ta đã làm chủ Đồi Cháy nên công việc trinh sát được tiến hành cả đêm lẫn ngày sát ngay hàng rào địch. Vất vả hơn cả có lẽ là Đôn Tự. D5 vừa phải giúp đỡ về nhân lực, vừa phải bảo vệ tổ công binh đào hầm ngay dưới tầm ném lựu đạn và cối của địch, suốt hơn 20 ngày đêm ròng rã. Và cũng khoảng thời gian đó các anh phải chịu đựng không biết bao nhiêu bom, đạn địch trút xuống khu vực bố trí tại Đồi Cháy, nơi phải bố trí và bảo đảm cho các đoàn cán bộ đi trinh sát.

Mọi công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương. Anh em tuy vất vả nhưng không ai kêu ca phàn nàn, tất cả tin tưởng vào thắng lợi sắp tới vì thấy sự chuẩn bị lần này rất chu đáo.

Tư lệnh và Chính ủy Đại đoàn cũng đích thân đến Đồi Cháy và chân đồi A1 để quan sát tình hình và động viên chúng tôi. Một lần đến thăm chúng tôi, Tư lệnh hỏi: “D9 thế nào?”. Câu hỏi hơi trừu tượng nhưng tôi cũng báo cáo: “Thưa anh, thực lực không bằng lần trước nhưng thế mạnh lại gấp nhiều lần ạ!”. Ông cười gật đầu rồi nói: “Cố gắng nhé!”. Chính ủy Đại đoàn trước ngày “N” cũng gọi điện động viên chúng tôi.

Cuối cùng mọi công việc đã xong và ngày “N” đã đến. Ngày 5-5 anh An thông báo: đồng chí Nguyễn Đức Y trung đoàn phó, tham mưu trưởng Trung đoàn sẽ tăng cường cho chỉ huy d9 (lại tăng cường) đồng thời nhắc nhở tiểu đoàn một số điều cần chuẩn bị để đơn vị khỏi bị ảnh hưởng của khối thuốc nổ phá hầm ngầm.
Theo ý kiến của các chuyên gia, với trọng lượng 1.000kg, khối thuốc này sẽ có tiếng nổ rất lớn, sức chấn động cực mạnh, có thể làm vỡ mang tai, tức ngực, thậm chí đứt mạch máu não của những người lộ trên mặt đất trong khoảng cách 300m. Ánh lửa chớp của nó có thể làm mù mắt các sinh vật gần đấy khoảng 200-300m. D9, đơn vị gần khu vực nổ nhất, cần phải thực hiện các yêu cầu sau:
- Tất cả phải ở dưới giao thông hào cách xa tâm nổ 300m trở lên.
- Nằm quỳ gối, chống tay, nhắm mắt, há mồm, chổng mông về hướng nổ.

Nghe phổ biến xong, chúng tôi rất lo, nếu khối thuốc không nổ, tổ bộc phá sẽ khó khăn vì khoảng cách 300m quá xa, anh em dễ bị thương vong khi lên phá hàng rào. Anh Lê Sơn đề nghị cho bố trí cách 100m thôi vì ta nằm dưới hào, tâm nổ lại tận trên lưng chừng đồi cao hơn ta tới 10m chắc không ảnh hưởng mấy, nhưng Trung đoàn không đồng ý vì không bảo đảm. Vì vậy chúng tôi phải cấp tốc tăng thêm bộc phá viên dự bị.

19 giờ 00 tối 6-5, toàn tiểu đoàn đã triển khai đội hình hàng dọc dưới giao thông hào, trừ tổ canh gác còn tất cả quay lưng về A1; 19 giờ 30 phút rồi 20 giờ 00. Tôi suốt ruột hỏi anh Y “Sắp đến giờ “G” chưa?”. Anh đáp: “Sắp rồi đấy”. 20 giờ 15 phút vẫn chưa nghe thấy bộc phá nổ. 20 giờ 30 phút, bỗng có tiếng chân người lao xao chạy từ phía A1 lại, phía trước có người hỏi: “Cái gì thế?”. Tôi cũng hỏi tiếp: “Ai đấy?” thì có tiếng trả lời khẽ: “Công binh đây! Điểm hỏa rồi! Sắp nổ rồi!”. Anh Y gọi điện về Trung đoàn, còn tôi vội hạ lệnh: “Chống tay, nhắm mắt, há mồm!”. Hô xong, tôi cũng vội phục xuống hào, chống tay, há mồm, chổng mông về phía A1. Lúc này thần kinh tôi căng thẳng, chờ đợi tiếng nổ kinh thiên động địa mà thầm lo không biết mình có chịu đựng nổi không. Nếu xảy ra chuyện gì thật tiếc cho bao nhiêu ngày chuẩn bị mà không được chiến đấu. Một phút rồi hai phút trôi qua, sao thời gian chậm thế? Sao mấy “thằng cha” để dây cháy chậm dài thế? Miệng khô, họng rát mà không dám ngậm lại để nhấp nước bọt, đầu ngứa, cổ ngứa cũng không dám bỏ tay ra để gãi, (chống bằng khuỷu tay còn bàn tay bịt tai) chỉ sợ mình vừa ngậm mồm vào hay rời bàn tay khỏi tai mà nó nổ thì bỏ mẹ. Cứ thế khoảng 4-5 phút mới nghe thấy “Ục” một tiếng nặng nề kèm theo một làn chấn động nhẹ làm rung rinh mặt đất. Khoảng 1 giây đồng hồ và một ít đất đá vụn bắn xuống chân đồi (chưa đến chỗ đơn vị bố trí).

Có tiếng Lê Sơn quát: “Nổ rồi!”. Tôi không ngờ sự việc lại kết thúc quá nhẹ nhàng so với dự kiến, đồng thời cũng lo lắng vì chưa hiểu kết quả của cái “tác phẩm” này ra sao. Tôi hét to: “Báo cáo anh Y, cho bộ đội lên nhé!” và ra lệnh “Tiến lên”.

Khi bàn kế hoạch, chúng tôi nhất trí nếu khối thuốc nổ phá hầm ngầm thành công thì không cần tổ bộc phá lên phá hàng rào nữa, song với tình hình này không rõ, tiếng nổ như vừa rồi có phá được hầm ngầm không và nhất là hàng rào có còn không? (sau đợt chiến đấu trước địch đã tu sửa lại công sự tiền duyên nhưng mới kịp làm một hàng rào rộng khoảng 3-4m thôi). Nhưng anh Lê Sơn phát hiện thấy một số đất đá văng xuống chân đồi thì phán đoán khu vực ta định mở cửa đã bị phá, khả năng không còn hàng rào nữa nên đã hạ lệnh xung kích theo sau ngay tổ bộc phá. Khi đại đội 317 bắt đầu xuất kích thì các loại pháo của mặt trận, Đại đoàn, Trung đoàn đã bắn dồn dập vào cửa điểm địch để yểm trợ cho chúng tôi tiến lên.

Khối thuốc nổ đã tạo thành hình phễu trên mặt đất có đường kính khoảng 10m, sâu chừng 3m, tâm nổ cách lô cốt đầu tiên khoảng 15m, hàng rào dây thép gai bị biến mất. Theo kế hoạch từ trước, đại đội 317 từ phía Bắc hố bộc phá đánh chiếm lô cốt đầu cầu rồi chọc thẳng vào trung tâm cứ điểm. Sức chống cự của địch ở hướng này không mạnh lắm.

Đại tá Vũ Đình Hoè


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 06 Tháng Sáu, 2009, 06:26:20 PM
Khuyến mại các bác mấy cái link ngày xưa để ngâm cứu lại nhé ;D
http://5nam.ttvnol.com/f_533/189787/trang-1.ttvn
http://ttvnol.com/gdqp/690405/trang-1.ttvn
http://ttvnol.com/gdqp/888113/trang-1.ttvn


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 06 Tháng Sáu, 2009, 11:17:26 PM
Em up cái bản đồ sạch về diễn biến chiến dịch ĐBP lên để các bác ngâm cứu.
http://rapidshare.com/files/241528125/Temp00001.JPG.html


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 07 Tháng Sáu, 2009, 07:06:16 AM
Đề nghị bác rongxanh sớm cung cấp thông tin cụ nào kôn phơm với ông Mắc Lia con số 2,000+ ở A1 cái nhể.



Em khất bác một thời gian nữa nhé (http://www.quansuvn.net/avatars/iconttvn/2.gif)

(http://www.quansuvn.net/avatars/iconym/3.gif)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 07 Tháng Sáu, 2009, 07:59:35 AM
Em up cái bản đồ sạch về diễn biến chiến dịch ĐBP lên để các bác ngâm cứu.
http://rapidshare.com/files/241528125/Temp00001.JPG.html

Lỗi, không download về được.

Bạn New nên reg 1 account tại anhso.net, ở đây cho up ảnh có size<10Mb rồi đưa link qua đây, thoải mái!


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Sáu, 2009, 08:45:56 AM
Em xin có ý kiến về cách dùng từ ạ:

--Trận Điện Biên Phủ hay trận chiến Điện Biên Phủ nếu ở vị trí đối phương họ gọi như vậy là đúng. Nhưng, ở vị trí chúng ta không thể gọi như vậy mà phải gọi là chiến dịch Điện Biên Phủ bởi nó gồm nhiều trận chiến đấu, các đợt tác chiến tập trung được phân bố theo thời gian và không gian liên kết với nhau theo một kế hoạch thống nhất.

--Chiến dịch Điện Biên Phủ bắt đầu là vào 11 tháng 3 năm 1954 và kết thúc vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, quá trình huy động dân công, vận chuyển lương thực đạn dược, bố trí quân, kéo pháo ra kéo pháo vào...trước đó được xếp vào quá trình chuẩn bị cho chiến dịch. Thời gian đưa ra ở trên ứng với kế hoạch Đông Xuân 53-54 mà Chiến dịch Điện Biên Phủ nằm trong đó thôi ạ.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 07 Tháng Sáu, 2009, 03:31:14 PM
Em up cái bản đồ sạch về diễn biến chiến dịch ĐBP lên để các bác ngâm cứu.
http://rapidshare.com/files/241528125/Temp00001.JPG.html

Lỗi, không download về được.

Bạn New nên reg 1 account tại anhso.net, ở đây cho up ảnh có size<10Mb rồi đưa link qua đây, thoải mái!

Hoặc là zip/rar nó lại.

Chính xác ra là kéo về xem được nhưng không save được. Tuy nhiên không sạch tí nào cả, khắp bản đồ có nhiều dải nhiễu đen sì sì khắp nơi. Bác lấy chiếu làm phông đấy à?  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 07 Tháng Sáu, 2009, 03:32:41 PM
Nhưng, ở vị trí chúng ta không thể gọi như vậy

Vậy, bác cho hỏi nên nói thế nào: "Quân ta thắng trận ĐBP" hay "Quân ta thắng chiến dịch ĐBP"?  ::)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 07 Tháng Sáu, 2009, 05:42:59 PM
Nhưng, ở vị trí chúng ta không thể gọi như vậy

Vậy, bác cho hỏi nên nói thế nào: "Quân ta thắng trận ĐBP" hay "Quân ta thắng chiến dịch ĐBP"?  ::)

Thắng_trận là một động từ chứ không phải tách động từ "thắng" ra khỏi chữ "trận" để nói thắng trận_Điện_Biên_Phủ mà phải là thắng_trận Điện_Biên_Phủ.

Với lại đôi khi do sự lạm dụng từ mà thành thói quen, ví dụ: Pin có thể sạc trong thực tế, một cách đúng khoa học nhất, người ta phải gọi chính xác là ắc quy, còn Pin là chỉ có dùng một lần là vất đi.





Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 07 Tháng Sáu, 2009, 07:07:22 PM
Thắng_trận là một động từ chứ không phải tách động từ "thắng" ra khỏi chữ "trận" để nói thắng trận_Điện_Biên_Phủ mà phải là thắng_trận Điện_Biên_Phủ.

Hừ hừ thế nếu ta nói "Quân ta thắng trận này" thì phân tích cú pháp sẽ phải là "Quân_ta" + "thắng_trận" + "này" hở bác?   ::) Thôi thì tôi xin phép là không thông, tôi cứ lạm dụng tiếp thôi bác ạ.  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 07 Tháng Sáu, 2009, 07:15:37 PM
Mấy cái khái niệm "trận" (battle) với "chiến dịch" (operation/campaign) thì ngay bọn Tây còn dùng lộn tùng phèo nữa là ;D


Tiêu đề: Có chết cũng thích!
Gửi bởi: altus trong 08 Tháng Sáu, 2009, 03:58:08 AM
Hôm nay đọc cái này:

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6449.msg104531#msg104531

thấy có đoạn

Trích dẫn
Đến giờ nổ súng, khi các loạt đạn đầu trùm lên 2 trận địa pháo địch, tôi mới thở phào nhẹ nhõm. Mấy hôm sau, một số tù binh người Việt ra hàng, tôi trực tiếp hỏi họ pháo ta bắn trúng vào đâu nhiều nhất, họ trả lời: "Hôm ấy pháo ta bắn rất trúng trận địa pháo, một số hầm sập, pháo thủ địch chết rất nhiều, nhưng có mấy viên đạn rơi gần chúng em mà không nổ. Chúng em thấy pháo ta bắn, sướng lắm, có chết cũng thích".

Một là mấy ông hàng binh này có nghề nịnh hót gia truyền, hai là các bác pháo binh nhà ta "nổ" vô tội vạ. Kiểu gì thì đưa những thứ này vào sách truyền thống cũng "phô".  ;D

Trong một diễn biến khác, tôi cũng đọc được chỗ này:

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6449.msg99260#msg99260

Trích dẫn
Chấp hành nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ thị của Bác Hồ, cùng với các đại đoàn bộ binh, Đại đoàn công pháo 351 đã nhanh chóng làm công tác chuẩn bị cho chiến dịch. Lần đầu tiên kể từ khi được thành lập, pháo binh được huy động với mức cao nhất gồm trung đoàn 45 pháo lựu 105mm, Trung đoàn 675 sơn pháo (thuộc Đại đoàn 351) và các tiểu đoàn pháo trong biên chế của các đại đoàn chủ lực tham gia chiến dịch.

Đã bác nào post thống kê cụ thể phiên hiệu, biên chế, trang bị của các tiểu đoàn pháo này ở đâu chưa nhỉ. Tài liệu ta nếu có đề cập thì cũng chỉ nói là pháo binh đại đoàn chỉ có cối 82 và DKZ. Tuy nhiên có chỗ nói các đơn vị này có "pháo mang vác", không rõ có phải là pack howitzer M1 không nhỉ?




Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 09 Tháng Sáu, 2009, 09:47:57 AM
Đã bác nào post thống kê cụ thể phiên hiệu, biên chế, trang bị của các tiểu đoàn pháo này ở đâu chưa nhỉ. Tài liệu ta nếu có đề cập thì cũng chỉ nói là pháo binh đại đoàn chỉ có cối 82 và DKZ. Tuy nhiên có chỗ nói các đơn vị này có "pháo mang vác", không rõ có phải là pack howitzer M1 không nhỉ?

304 và 320 có pháo 75mm và cối 120mm (vì 2 đơn vị này hay hoạt động độc lập nhiều). Còn pháo của nước nào thì chịu.
Mà nhiều khi cối với ĐK cũng tính là "pháo mang vác" bác ạ.


Tiêu đề: Re: Xung quanh quyết định thay đổi cách đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Gửi bởi: banzua trong 11 Tháng Sáu, 2009, 12:30:19 PM
Sáng 12-1-1954 Đoàn đến Tuần Giáo. Thiếu tướng Hoàng Văn Thái từ Sở chỉ huy ra đón, tranh thủ báo cáo tình hình và phương án “ đánh nhanh, thắng nhanh ” đã bàn với Chủ nhiệm chính trị Lê Liêm và Chủ nhiệm cung cấp Bằng Gìang. Thấy phương án này trái hẳn với dự kiến của Tổng Quân uỷ trình lên Bộ chính trị ngày 6-12-1953, Đại tướng vào ngay Sở chỉ huy Thẩm Púa, triệu tập hội nghi đảng uỷ. Ngoài các đảng ủy viên, còn có Chánh văn phòng đảng uỷ Nguyễn Văn Hiếu được phép dự họp để ghi biên bản. Ông Hiếu kể lại : “ Trong cuộc họp, tất cả các Đảng uỷ viên đều nhất trí chọn phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh”. Mọi người cho rằng quân ta đang sung sức quyết tâm chiến đấu rất cao. Lại có trọng pháo và cao xạ lần đầu xuất trận. Ta có thể tạo bất ngờ và đánh thắng Nếu không đánh sớm, để tập đoàn cứ điểm được tăng cường quá mạnh, ta sẽ bỏ lỡ cơ hội đánh tiêu diệt lớn trong Đông Xuân này. Đánh dài ngày sẽ rất khó giải quyết vấn đề tiếp tế. Tại khu vực Điện Biên Phủ mỗi ngây tiêu thụ gần 50 tấn gạo. Nếu tính từ Sơn La trở lên, bình quân phảì có 90 tấn gạo/ngày cho cả bộ đội và dân công. Địch sẽ tăng cường đánh phá đường tiếp tế vận chuyển của ta. Nếu chiến dịch kéo dài thì không thể có đủ gạo ăn mà đánh. Về tư tưởng bộ đội vốn thích về đánh ở đồng bằng nay đã thông suốt hăng hái quyết tâm ; nhưng nếu ở chiến trường rừng núi quá lâu ăn uống kham khổ, bênh tật phát sinh thì cả thể lực cũng như ý chỉ đều có thể dần dần giảm sút…”.
(...)
Sáng 23-1, sau khi kiểm tra tình hình chuẩn bi chiến đấu của Đại đoàn 312 qua điện thoại, nghe Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn báo cáo địch đã tăng cường công sự, có thêm loại dây thép gai bùng nhùng 7 đơn vị phải đột phá liên tục 3 phòng tuyến của địch mới vào được trung tâm tập đoàn cứ điểm, tuy có khó khăn nhưng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Đại tướng cho gọi Cục phó Cục Quân báo Cao Pha sang và chỉ thị : “ Địch đã tăng cường lực lượng công sự và vật cản, mà ta thì chưa hiểu rõ cách bố trí phòng ngự bên trong của chúng ở nam sân bay và Mường Thanh. Sắp tớỉ Đại đoàn 312 từ phía bắc sẽ phải đánh một mạch tử đồi Độc Lập, vị trí 105, Căng Nă qua sân bay vào tới trung tâm. Tôi lo là anh em sẽ thương vong nhiều và khó hoàn thành nhiệm vụ. Cậu phải xuống cùng đi theo mũi của 312. Đi đến đâu, đánh đến chỗ nào, cậu nắm ngay tình địch, chú ý khai thác tù binh và báo cáo về ngay ”.

Chiều 23-1, Cục phó Cục bảo vệ được cử làm phái viên theo dõi việc kéo pháo vào trận địa phía tây bắc sân bay, đề nghị gặp Đại tướng qua điện thoại. Cục phó Phạm Kiệt nói : “ Pháo của ta đều bố trí trên trận địa dã chiến, địa hình rất trống trải, nếu bị phản pháo hoặc không quân đánh phá thì khó tránh khỏi tổn thất. Một số pháo vẫn chưa vào vị trí. Đề nghị anh cân nhắc ”. Sau này Đại tướng cho biết : sự phát triển của tình hình địch và lời của Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn đã làm cho Đại tướng suy nghĩ rất nhiều. Qua ý kiến của Cục phó Phạm Kiệt, người duy nhất phát hiện khó khăn, Đại tướng càng thấy là không thể mạo hiểm đánh theo kế hoạch đã đề ra.
Trong quyển Những Con Người Làm Nên Lịch Sử mới ra cũng có 1 bài của cụ Hoàng Minh Phương này. Theo bài này, toàn đảng bộ đều chống ý định thay đổi chiến thuật hết và cuộc tranh cãi giữa tướng Giáp và các lãnh đạo chiến dịch khác cũng có vẻ khá nẩy lửa:
-Tướng Đặng Kim Giang thì nêu ra vấn đề tiếp tế ko thể đánh lâu được.
-Đại tá Lê Liêm thì nêu ra vấn đề tâm lý chiến sỹ thích đánh ở vùng đồng bằng dễ chịu hơn vùng núi rừng thiêng nước độc này.
-Tướng Hoàng Văn Thái thì nêu ra vấn đề bất ngờ cho địch ở việc lần đầu tiên quân ta được trang hùng hậu như vậy, hơn nữa các cứ điểm của địch cũng chưa củng cố xong.
Nhìn chung có vẻ ở cấp chỉ huy chiến dịch của ta lúc đó, ngoài Võ Đại Tướng ra, ai cũng nhất trí với cách đánh nhanh thắng nhanh rồi và ngay cả khi kéo pháo ra có vẻ cũng còn nhiều người xì xào về quyết định này...


Tiêu đề: Anh hùng quân đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: kimlongkhanh trong 01 Tháng Tám, 2009, 12:15:58 PM
Xin hỏi :  Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu anh hùng Quân đội cho bao nhiêu Đồng chí ? Nếu bạn nào có ảnh các vị anh hùng này, có thể tải lên đây ( in lại được ) cho tôi xin làm tài liệu, kèm thêm thông tin về tiểu sử càng tốt. Cám ơn.
--------------------------------------
 Không được sử dụng toàn bộ chữ HOA cho tiêu đề của topic!


Tiêu đề: Re: Anh hùng quân đội trong chiến dịch Điện Biên Phủ
Gửi bởi: panphilov trong 02 Tháng Tám, 2009, 11:34:20 PM
Xin hỏi :  Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng và Nhà nước đã phong tặng danh hiệu anh hùng Quân đội cho bao nhiêu Đồng chí ? Nếu bạn nào có ảnh các vị anh hùng này, có thể tải lên đây ( in lại được ) cho tôi xin làm tài liệu, kèm thêm thông tin về tiểu sử càng tốt. Cám ơn.
--------------------------------------
 Không được sử dụng toàn bộ chữ HOA cho tiêu đề của topic!

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng và Nhà nước đã tặng danh hiệu Anh hùng Quân đội (sau là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân) cho 18 cá nhân sau đây (tính cả năm phong tặng 1955 và sau này):

1- Anh hùng Liệt sỹ Bế Văn Đàn.

(http://img29.imageshack.us/img29/6425/anhhungbevandan.jpg)

2- Anh hùng Liệt sỹ Phan Đình Giót.

(http://img5.imageshack.us/img5/4474/anhhungphandinhgiot.jpg)

3- Anh hùng Liệt sỹ Tô Vĩnh Diện.

(http://img8.imageshack.us/img8/3721/anhhungtovinhdien.jpg)

4 Anh hùng Liệt Sỹ Trần Can.

(http://img5.imageshack.us/img5/7673/anhhungtrancan.jpg)

5- Anh hùng Bùi Đình Cư.

(http://img8.imageshack.us/img8/4876/anhhungbuidinhcu.jpg)

6- Anh hùng Phùng Văn Khầu.

(http://img15.imageshack.us/img15/4568/anhhungphungvankhau.jpg)

7- Anh hùng Chu Văn Mùi.

(http://img15.imageshack.us/img15/6136/anhhungchuvanmui.jpg)

8- Anh hùng Nguyễn Văn Ty.

(http://img15.imageshack.us/img15/3999/anhhungnguyenvanty.jpg)

9- Anh hùng Phan Tư.

(http://img15.imageshack.us/img15/6015/anhhungphantu.jpg)

10- Anh ùng Nguyễn Văn Thuận.

(http://img5.imageshack.us/img5/5403/anhhungnguyenvanthuan.jpg)

11- Anh hùng Lộc Văn Trọng.

(http://img15.imageshack.us/img15/8236/anhhunglocvantrong.jpg)

12- Anh hùng Dương Quang Châu.

Em không có ảnh ạ  ;D

13- Anh hùng Đặng Đình Hồ.

(http://img19.imageshack.us/img19/3396/anhhungdangdinhho.jpg)

14- Anh hùng Trần Đình Hùng.

(http://img9.imageshack.us/img9/7567/anhhungtrandinhhung.jpg)

15- Anh hùng Đinh Văn Mẫn.

(http://img18.imageshack.us/img18/8749/anhhungdinhvanman.jpg)

16- Anh hùng Đặng Đức Song.

(http://img35.imageshack.us/img35/3541/anhhungdangducsong.jpg)

17- Anh hùng Lưu Viết Thoảng.

(http://img35.imageshack.us/img35/6936/anhhungluuvietthoang.jpg)

18- Anh hùng Liệt Sỹ Dũng sĩ đâm lê Hoàng Văn Nô

Không có ảnh.




Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: kimlongkhanh trong 03 Tháng Tám, 2009, 06:55:36 PM
Xin chào bạn panphilov. Cám ơn những tài liệu ảnh quý giá của bạn, giúp tôi nhiều trong công tác giảng dạy. Chúc vui.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 03 Tháng Tám, 2009, 09:09:09 PM
Em xin bổ sung, còn LS Hà văn Nọa của c241d11e141f312 và LS Nguyễn Ngọc Bảo d phó d trinh sát 426 thuộc Cục Quân báo.  :) Đến nay, có 20 cán bộ chiến sỹ được phong anh hùng trong CZ ĐBP.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: tuaans trong 03 Tháng Tám, 2009, 11:15:34 PM
Nhà ác Altus chả biết chi cả! He he, hồi xây xong cái cầu Mỹ Thuận, TV chiếu phỏng vấn cụ già, cụ nói; " Sướng quá, bây giờ chết cũng đã ... "  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 04 Tháng Tám, 2009, 05:02:35 AM
Em xin bổ sung, còn LS Hà văn Nọa của c241d11e141f312 và LS Nguyễn Ngọc Bảo d phó d trinh sát 426 thuộc Cục Quân báo.  :) Đến nay, có 20 cán bộ chiến sỹ được phong anh hùng trong CZ ĐBP.

Em xin tiếp tục bổ xung, vậy con số 18 kia là phải tăng lên ạ  ::)

Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Ngọc Bảo

(http://img26.imageshack.us/img26/6349/anhhunglietsinguyenngoc.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 04 Tháng Tám, 2009, 04:31:36 PM
Em xin tiếp tục bổ xung, vậy con số 18 kia là phải tăng lên ạ  ::)

Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Ngọc Bảo

(http://img26.imageshack.us/img26/6349/anhhunglietsinguyenngoc.jpg)
- Phải tăng lên bác ạ. Thông tin chắc bác lấy từ cuốn sách ảnh Thiên sử vàng Điện Biên Phủ/  :) Trong cuốn này, có một tấm trao cờ Quyết thắng khi đánh Him Lam. Người chiến sỹ trong ảnh chính là AHLS Hà Văn Noạ, người trao cờ là Chính ủy Đại đoàn 312 Trần Độ.  :)
- Tấm ảnh AHLS Nguyễn Ngọc Bảo bác lấy ở đâu thế. Hồi trước và lần duy nhất em thấy tấm này là trong bảo tàng ĐBP. Chụp mang về nhưng Bà Trùm vô tâm xóa mất. Cám ơn bác đã đưa tấm ảnh lên.  :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: danhthanh trong 08 Tháng Tám, 2009, 11:25:38 PM
 ;D ;D ;D
cháu lính mới  các bác cho cháu hỏi là cachiusa có  xuất hiện trong chiến dịch này không ạ :D :D nếu không thì nó xuất hiện ở chiến trường VIỆT NAM từ bao giờ ạ ??? ???
vì cháu có đọc đâu đó có thấy tranh luận về việc này ??? ??? \
và đây là loại vũ khí đầu tiên cháu biết qua  tên 1 bài hát nên cháu rất thích nó và muốn tìm hiểu về nó ạ ;D ;D ;D
các bác thông cảm nếu như cháu 19 tuỏi mà đã hỏi các câu như thế này nhé vì cháu rất yêu lịch sử ;D ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 09 Tháng Tám, 2009, 04:48:11 PM
Cachiusa là BM-13. Vì nó nổi tiếng nên sau này hễ gặp pháo phản lực là báo chí gọi tuốt luốt là Cachiusa.

Ở ĐBP ta không có Cachiusa mà có cái này:


Pháo phản lực kiểu 506 (hay kiểu A3) được TQ nghiên cứu từ năm 1948, bắn thử nghiệm thành công tháng 9/1949. Đến tháng 4/1950 đã sản xuất 30.000 quả đạn để chuẩn bị cho chiến dịch đánh Đài Loan nhưng sau đó chuyển sang chiến trường Triều Tiên và sau đó là Việt Nam.

H6/kiểu 506 sử dụng đạn 102mm/4 inch (101,6mm), chứ không phải 75mm như các sách báo ta vẫn viết.

H6 ở TQ (china-defense.com)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/post-8-1197739184.jpg)

Và ở VN

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/chiangshan/Vu%20khi%20KCCP/75mm_H6.jpg)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/DBP2009/IMG_1409.jpg)

Pháo phản lực kiểu 506 do nhà máy quân giới 724 Thẩm Dương chế tạo. Số hiệu 5327, xuất xưởng tháng 2/1953 (?)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/DBP2009/IMG_1410.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 14 Tháng Tám, 2009, 02:56:52 AM
Sơ đồ một kiểu lô cốt đại liên của Pháp. Lỗ châu mai gia cố bằng gỗ, bao cát, đất. Mái lót gỗ, phủ đất đắp.
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/linh%20tinh/locot1.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 14 Tháng Tám, 2009, 01:41:34 PM
Một kiểu ụ súng khác kết hợp giường nằm và bệ bắn. Kết cấu này hơi khó hiểu khi cửa ra vào lại trùng với hướng bố trí đại liên (có sự nhầm lẫn ở đây chăng?).

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/linh%20tinh/locot2.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Tám, 2009, 03:26:14 PM
Một kiểu ụ súng khác kết hợp giường nằm và bệ bắn. Kết cấu này hơi khó hiểu khi cửa ra vào lại trùng với hướng bố trí đại liên (có sự nhầm lẫn ở đây chăng?).

Cái này là phục dựng lại à bác new?

Giả thuyết:

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/458934.jpg)



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 14 Tháng Tám, 2009, 07:35:10 PM
Không phải đâu, mấy cái đã phục dựng rất tệ, phần lớn sai cả về cấu trúc lẫn vị trí. Cái Him Lam đang làm nghiêm chỉnh hơn. Hình trên là từ cuốn "Sơ kết tình hình địch Tập đoàn cứ điểm ĐBP", làm sau khi ta đánh xong.

Về cái ụ súng trên. Cách bố trí tớ thấy chưa hợp lý. Về một trận địa theo tớ phải như thế này. Mặt cắt ngang cũng là tớ tham khảo rồi tự vẽ. Chỗ tròn tròn là vị trí chiến đấu cá nhân, tròn đen là ngách ở được đào vào thành hào, chi tiết này là trong sách vẽ thế.

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/linh%20tinh/cautruc-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: dongadoan trong 14 Tháng Tám, 2009, 07:37:23 PM
tròn đen là ngách ở được đào vào thành hào
-------------------------------
 Nó gọi là cái "hàm ếch" ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Tám, 2009, 07:56:52 PM
Không phải đâu, mấy cái đã phục dựng rất tệ, phần lớn sai cả về cấu trúc lẫn vị trí. Cái Him Lam đang làm nghiêm chỉnh hơn. Hình trên là từ cuốn "Sơ kết tình hình địch Tập đoàn cứ điểm ĐBP", làm sau khi ta đánh xong.

Về cái ụ súng trên. Cách bố trí tớ thấy chưa hợp lý. Về một trận địa theo tớ phải như thế này. Mặt cắt ngang cũng là tớ tham khảo rồi tự vẽ. Chỗ tròn tròn là vị trí chiến đấu cá nhân, tròn đen là ngách ở được đào vào thành hào, chi tiết này là trong sách vẽ thế.

http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/linh%20tinh/cautruc-1.jpg

Theo em đoán ;), thì các lô cốt này sẽ bố trí dọc đường hào nối 2 tuyến, mục đích là nếu tuyến 1 bung thì bắn cầm chân địch cho tuyến 2 có thời gian củng cố hoặc lên phản kích. Nếu khẩu đại liên nhích gần cửa hơn thì có thể kiểm soát dọc hào.
Cái trong hình chỉ thông 1 đầu có thể là kết hợp lô cốt với hầm trú quân.

Kinh nghiệm từ film và game là như vậy ;D, còn thì để mấy chuyên gia phòng ngự như bác KH hay bác tai_lienson nhận xét.

1 giả thuyết khác là khẩu đại liên dùng để bắn sang cao điểm bên cạnh.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 14 Tháng Tám, 2009, 08:14:25 PM
Theo tớ cửa hầm bao giờ cũng bố trí ngược với hướng phòng thủ, ụ súng cũng nhô ra trước so với giao thông hào, lý do là để an toàn và tăng thị trường tác xạ. Lý do an toàn, ngoài những lý do như làn đạn, có bàn đạp an toàn để phản kích thì còn là tránh trường hợp địch chiếm được đoạn hào truớc măt thì coi như kiểm soát được ụ súng. Nếu bố trí ụ súng ở phía sau giao thông hào thì ụ súng phải cao để không bị che chắn, bao quát được tầm xa, điều này không có ở ĐBP.
Bố trí như tớ là hợp lý nhất  ;), cũng hợp với nguyên tắc phòng ngự cứ điểm là xung hỏa lực ngoài rắn và tung thâm yếu. Tuyến 1 tê liệt thì rút về tuyến 2, tuyến 2 đổ thì co cụm về khu chỉ huy cầm cự chờ chi  viện.  ;D

to thủ trưởng Dongadoan: đó là ngày xưa họ viết thế, em bê nguyên xi lên mâm thôi. :D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: dongadoan trong 14 Tháng Tám, 2009, 08:18:48 PM
Cái khẩu súng bố tri ngược ấy được dùng vào mục đích chống chiến thuật "nở hoa trong lòng địch" hay còn gọi là cái gì "tâm oa" ấy! ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Tám, 2009, 08:27:55 PM
Cái khẩu súng bố tri ngược ấy được dùng vào mục đích chống chiến thuật "nở hoa trong lòng địch" hay còn gọi là cái gì "tâm oa" ấy! ;D

Nếu là trường hợp này thì theo em phải đảo chỗ 2 khẩu súng mới hợp lý ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: dongadoan trong 14 Tháng Tám, 2009, 08:38:52 PM
Cửa ra vào lô cốt bao giờ cũng quay về hướng tung thâm, nhưng từ khi VM áp dụng cách đánh "nở hoa..." thì các "quan Tây" phải nghĩ ra cách này để chống lại, mục đích để biến mỗi lô cốt thành 1 ổ đề kháng độc lập.


Tiêu đề: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 17 Tháng Tám, 2009, 05:39:41 PM
Mình xem qua một số không ảnh thì quân Pháp san bằng nhiều làng bản.
Các bạn có tư liệu gì về chuyện này cùng tập hợp ở đây nhé. Có thể tập hợp đầy đủ để xây dựng một bức tranh toàn cảnh cũng được, hoặc không đầy đủ nhưng tích vào một chỗ cũng tốt.


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 17 Tháng Tám, 2009, 07:09:28 PM
Mình không rõ ban đầu ở đây dân cư sinh sống thế nào. Mình chỉ đoán rằng cuộc sống dân cư ở đây trong chiến dịch thê thảm hơn cả ở địa ngục. Những chiến công của chúng ta cần lưu trong Quân Sử, nhưng những thiệt hại của chúng ta đáng được lưu hơn trong cả Quân Sử và Dân Sử.

http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/dbp_central-05_ng.jpg
Ảnh này chụp thời điểm bắt đầu, 20-24 tháng 11 năm 1953.
Ảnh này chụp tại một bản có thể là người Thái. Điện Biên Phủ là nơi tập trung nhiều sắc tộc khác nhau chung sống.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/linh_tinh/20_24_nov_1953_nhayr_duf_vaof_banr.jpg)

Và sau đó, 27 tháng 11 năm 1953. Người Pháp đã bắn đầu bằng đốt sạch phá sạch, san bằng sạch. Đây là những ngôi làng bị san bằng, vậy thì dân các làng này đi đâu ??
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/linh_tinh/27_novembre_1953ddootsphas.jpg)


Công việc đầu tiên của quân Pháp là đốt sạch, phá sạch, san bằng sạch. Những ngày đầu tiên tháng 11-1953 chắc chắn diễn ra một cuộc đốt phá tàn sát khủng khiếp bậc nhất trong lịch sử 9 năm, nhưng ít được nói đến. Chúng mình cùng nhau thu thập dữ liệu về chuyện đó.
Còn đây là nhà một sắc tộc gốc Tạng như là người Lô Lô hay Hà Nhì.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/36FLG48.jpg)


Ảnh trinh sát chụp 16-11-1953, vùng đất trù phú, mật độ dân cư cao, chi chít các thửa rộng, làn bản ở trong các lùm cây rậm rạp.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/dbp_central-01_ng.jpg)


Nhìn gần hơn các thửa ruộng trù phú. Người Thái canh tác lúa nước, còn người gốc Tạng thích trồng ngô và lúa nương. Cugx ảnh chụp ngày 16-11-1953.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/dbp_central-02_ng.jpg)

Một khu trại hặc một gia đình lẻ loi làm ngoài ruộng, người gốc Tạng thích làm nhà trên đồi, còn người Thái cũng thích ở tập trung, nhưng đôi khi có một khu trại lẻ hoặc một gia đình kém thế làm nhà ngoài ruộng. Trông khu trại này thật nhỏ nhoi trước đội quân nhảy dù. Ảnh do người Mỹ Howard Sochurek chụp những ngày đầu tiên quân Pháp đến đây.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/DienBienPhu004.jpg)

Cuộc sống yên bình, người dân đang chuẩn bị một vụ mới. Các luống cày này mới chỉ 1-2 ngày, có thể là trồng ngô.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/DienBienPhu005.jpg)

CUộc sống yên bình đột ngột chấm dứt, lúa đã quá chín và khu ruộng này không bao giờ thu hoạch được nữa.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/DBP24-29.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/38-3.jpg)

Thêm một vài ảnh
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/DienBienPhu003.jpg)

Khu làng Thái yên bình với cọn nước, đồng lúa.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/DienBienPhu002.jpg)

Một đống rơm mới toanh, gia đình này vừa hoàn thành vụ mùa, nhưng họ không bao giờ tận hưởng được niềm vui đó nữa.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/DienBienPhu001.jpg)

Quân xâm lược giày xéo những thửa ruộng vừa gặt xong chưa kịp cày ải.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/DienBienPhu007.jpg)

So sánh vùng trung tâm.

Hai ảnh dưới, toàn bộ làng bản núp dưới bóng cây đã bị xóa sạch không còn dấu vết. Một tốc độ đốt phá tàn sát khủng khiếp bị dấu kín, tại sao chúng ta không lục lọi tìm hiểu về điều đó ??
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/dbp_central-03_ng.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/dbp_central-05_ng.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/dbp_central-04_ng.jpg)


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: chiangshan trong 18 Tháng Tám, 2009, 10:27:17 AM
Có bài này chắc giải đáp được cho bác Phúc: http://www.cadn.com.vn/News/Print.ca?id=24506

Ráng chiều ảm đạm phủ trên bia đá của khu di tích, tiếng cô hướng dẫn viên chậm rãi kể cho chúng tôi nghe về những ngày đầu tiên khi quân Pháp đổ quân xuống đất Điện Biên, chúng đã biến Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh, một pháo đài không thể công phá gồm 3 phân khu, 8 cụm và 49 cứ điểm. Nhân dân các dân tộc Điện Biên sống dưới gót giày chiến tranh của thực dân Pháp, chịu cảnh đàn áp, cướp bóc, tháo dỡ nhà cửa, bắn chết trâu bò, hãm hiếp đàn bà con gái...

Chúng dồn tất cả người già, trẻ nhỏ vào 4 trại tập trung, đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của các đồn binh gồm: Trại tập trung TaPô, gồm dân 2 xã Thanh Nưa và Thanh Luông, do đồn Bản Kéo giám sát Trại Pa Luống gồm dân xã Thanh Minh, thị trấn, do đồn A1 cai quản; Trại Cọ Mỵ gồm dân xã Thanh Yên, Thanh Hưng, Thanh Chăn do đồn Mường Thanh quản lý; Trại Noong Nhai gồm dân các xã Thanh Xương, Thanh An, Noong Hẹt, Sam Mứn và Noong Luống do đồn Hồng Cúm phụ trách. Âm mưu của địch là cách ly dân chúng với bộ đội Việt Minh và làm bia đỡ đạn cho lính Pháp nếu Việt Minh đánh vào Điện Biên Phủ.

Trại tập trung Noong Nhai có diện tích chưa đầy 10ha, nhưng tập trung đến hơn 3.000 dân. Khi chiến dịch Điện Biên Phủ bước vào đợt tấn công thứ 2 của quân ta, quân Pháp ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ rơi vào thế bị bao vây, chúng liền cho máy bay ném bom tàn sát dân thường ở trại tập trung Noong Nhai: 14 giờ ngày 25-4-1954, 4 máy bay Đacôta của không quân Pháp đã dội bom xuống trại tập trung Noong Nhai, khi đoàn người đang tập trung đưa tang một người xấu số bị bệnh thương hàn...

Dã man hơn, sau khi dội bom chúng lại cho quân vào lùa trâu bò giày xéo trên thân xác những người đã chết. Theo thống kê, tổng cộng có 444 dân thường vô tội bị chết, hàng trăm người bị thương, nhiều người bị tàn phế suốt đời. Ngày 25-4-1954 (12 ngày trước khi quân Pháp thất thủ) trở thành ngày đau thương và căm thù trong lịch sử vùng đất Noong Nhai...


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 18 Tháng Tám, 2009, 01:31:54 PM
Mình hy vọng bới được nhiều hình ảnh và số liệu cụ thể về việc này. Ở tập ảnh này, các hình ảnh chỉ mô tả gián tiếp, bọn nó ỉm sạch. Thằng cha chụp các bức hình này sao mình thấy chất ảnh giống ở trận Đông Thái Bình, tay chụp trên tuyệt vời bằng loại phim đen trắng Pháp thượng hạng ngày đó. Song song với kỹ thuật chụp thì việt "bắt thần" khi chụp của tay này đúng là đại nghệ sĩ, cho dù bọn mọi có biên tập lại nhưng các chứng cứ tội ác và sự thú vật của quân Tây vẫn lồ lộ ra.

Trên mình nhầm, Howard Sochurek là một nhà xuất bản, hiện nó đang phát tán một conlection về ĐBP, nhưng phần tội ác nó giấu tiệt. Cái trò bỏ tiền ra mua license rồi biên tập lại hiện đang phổ biến.

Cỏ đây có vài hình trong tập ảnh của nó.
http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life

Trước thảm họa, đây là vùng dân cư trù mật.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/du_canh/8e54e2d37deca5c9_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/du_canh/4f653c9251e64b97_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/du_canh/4adce955e86bb26a_large.jpg)

Ban đầu, lính Pháp ở trong bản Thái và dọn dẹp từng phần.
http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/du_canh/?action=view&current=d10b425df71e0d19_large.jpg

Những giờ đầu tiên. Cuộc đốt phá khủng khiếp diễn ra trong 2 tuần giữa tháng 11-1953, sau 2 tuần đó, khu trung tâm sạch bách.
Đây là những giờ đầu tiên của cuộc đổ bộ đường không. Người dân bản Thái này bị trưng dụng một số thứ, nhưng họ cõ lẽ không nghĩ rằng chỉ vài ngày nữa sự việc khủng khiếp hơn nhiều
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/du_canh/bca19cbc066c0851_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/du_canh/c4e0f791226a4007_large.jpg)

Bắt đầu.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/du_canh/c12fb17c843cf552_large.jpg)

Sự áp bức tăng dần, nhưng ngày đầu tiên chưa thấy nhiều máu.
Quân Pháp trưng dụng nhà sàn, đồ đạc, và bữa ăn đầu tiên của họ ở vùng đất mới được nấu bằng rơm lợp mái nhà của chính chủ nhà.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/th_cd2a8915bddfc3ed_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/?action=view&current=cd2a8915bddfc3ed_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/th_18a60448b1db6267_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/?action=view&current=18a60448b1db6267_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/th_60feba6e81d8450d_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/?action=view&current=60feba6e81d8450d_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/th_356838153583ac7e_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/?action=view&current=356838153583ac7e_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/th_4b3b3ef749f90465_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/?action=view&current=4b3b3ef749f90465_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/th_39f47c9cb951edcb_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/?action=view&current=39f47c9cb951edcb_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/th_9ba348675536007a_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/o_nha_san/?action=view&current=9ba348675536007a_large.jpg)


Khúc giữa thì bọn xuất bản nó ỉm sạch.
Dân bị dồn vào trại tập trung
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/th_b0ec7467c7a11b4c_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/b0ec7467c7a11b4c_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/th_a899545c2d7a59fd_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/a899545c2d7a59fd_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/th_6678455878b27e00_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/6678455878b27e00_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/th_420e9dabe8f55da4_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/420e9dabe8f55da4_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/th_f4286cd9f4bf3603_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/f4286cd9f4bf3603_large.jpg)


Những người đàn ông Thái này không chịu nổi cảnh gia đình họ bị hãm hiếp. Xác họ bị phơi trên bến nước để đe doạ.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/th_f0826b0f5df24d08_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/f0826b0f5df24d08_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/th_602d1c21751bba2a_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/602d1c21751bba2a_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/th_68f38a48f3dff3b1_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/68f38a48f3dff3b1_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/th_dca451d3bf63d933_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/dca451d3bf63d933_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/th_73642526faf27086_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/73642526faf27086_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/th_a2fc905870691e4b_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/a2fc905870691e4b_large.jpg)

Nhà của người Thái dùng làm cầu. Mình nhỡ là trong các báo cáo quân sự có nói đến dỡ nhà người Thái được bao nhiêu gỗ, có bạn nào lục lại được không nhỉ ??
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/Dan_chung/a2306fcf8bd09334_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/cau_nuoc/f1ae868953467641_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/cau_nuoc/0598ee29c553784e_large.jpg)


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 18 Tháng Tám, 2009, 01:41:23 PM
"Túi bắt gà" trông như thế này.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/5b7e6d517d257784_large.jpg)

Đâu đâu cũng là cảnh tưng bừng yến tiệc.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/ganh_lot_da/th_83f98c15fad5cfa1_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/ganh_lot_da/83f98c15fad5cfa1_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/ganh_lot_da/th_0a7c6209c84df456_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/ganh_lot_da/0a7c6209c84df456_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/ganh_lot_da/th_cb18989ef42a9073_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/ganh_lot_da/cb18989ef42a9073_large.jpg)

Phải tự tay phá hủy làng bản nhà cửa ruộng đồng mới thích.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/dot/9aaac199d960aa05_large.jpg)


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 18 Tháng Tám, 2009, 01:49:49 PM
NHưng người dân Thái đầu tiên phải bỏ nhà cửa vào trại tập trung, sau đó những người đàn ông pohair tự đi dỡ nhà mình lấy gỗ. Có một báo cáo quân sự nói về thứ "chiến lợi phẩm" là gỗ bảnThaais, CHiangsan có thể tìm lại ko ?

Ảnh dưới đây nó chú là ĐBP, nhưng mình hơi nghi. Nhưng ở đâu, dân phu cũng trông thế này, bao gồm cả phụ nữ và trẻ em, được phát một thứ đồng phục kì khôi, được biên sổ là thành viên quân đội, nhưng tất nhiên thân phận còn hơn thú vật chứ không nói đến lương. Khi đi trận thì đoàn thú vật này đi đầu làm bia đỡ đạn.

(Mở ngoặc, phục thằng chụp ảnh quá. Các bạn chụp đất nước con người chống mắt lên mà xem thằng thực dân nó chụp này.  ;D  ảnh vừa siêu nét, vừa tự nhiên, vừa bắt được đúng tim đen cái hồn con người. Nhìn thấy vẻ mặt đã biết là người nhưng có phận nô lệ súc vật, đấy là cái tâm nhẫn nhục, nhìn thấy dáng đi đã biết sự lao khổ. Mà thăng này chụp loại người này lúc nào cũng như chạy thế này, có cảm giác họ không bào giờ dừng bước chân lao khổ. Con người có tâm mà lao khổ mới đáng thương, đáng phục, còn thằng tây chơi gái kia trông mới bẩn thỉu làm sao, sang trọng mà vô hồn.)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/dan_ganh_cho_tay/th_ebfa91cdd5aae568_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/dan_ganh_cho_tay/ebfa91cdd5aae568_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/dan_ganh_cho_tay/th_67a81f560ed02d56_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/dan_ganh_cho_tay/67a81f560ed02d56_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/dan_ganh_cho_tay/th_d775d7393cc17f0e_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/dan_ganh_cho_tay/d775d7393cc17f0e_large.jpg)

Trong khi hành hạ chủ, thì Tây cưng chiều chú pét, sự dã man diễn ra với thái độ vui vẻ.
Có nhiều lúc con người mơ được làm chó lợn.
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/6a8395c66dce3913_large.jpg)


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 18 Tháng Tám, 2009, 02:00:27 PM
Linh thì bỗ bã kiểu kính bằng gà lợn bản Thái và những cuộc hãm hiếp bạo lực.
Quan thì sang trọng kiểu quan bằng gái bản Thái xinh xắn múa đẹp. Ban đầu ở ĐBP cũng có một khu nhà cũ khá sang trọng, nhưng cảnh tượng đối lập quá nên mình nghi cái chũ thích "chụp ở ĐBP" này, nhưng cảnh xòe Thái thì đâu cũng như vậy.
Trong khi tàn phá toàn bộ khu vực thì chúng bắt các cô gái này xoè và tất nhiên phải ra mặt vui vẻ hầu quan Tây.

(Lại mở ngoặc, thằng thực dân này nó chụp nô lệ khổ ải cũng siêu, mà chụp gái cũng tởn đời. Có ai biết thằng này là thằng nào không nhỉ ??)


(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/19b89cf412c0b3e9_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/19b89cf412c0b3e9_large.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/th_552c3e68a2005cb0_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/552c3e68a2005cb0_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/th_843dbb3f3f543c09_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/843dbb3f3f543c09_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/th_369a861c7665e4d3_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/369a861c7665e4d3_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/th_0ca7fdc5471c4659_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/0ca7fdc5471c4659_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/th_f3521d25e3f412fa_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/f3521d25e3f412fa_large.jpg)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/th_78044d1035b83135_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/78044d1035b83135_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/th_4e92add94ff6de18_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/4e92add94ff6de18_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/th_7d969fc9e992c4c7_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/7d969fc9e992c4c7_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/th_a2fcc86205ef4270_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/a2fcc86205ef4270_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/th_3c1ada0f19f2d615_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/3c1ada0f19f2d615_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/th_eae3e7aff3f28a02_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/eae3e7aff3f28a02_large.jpg)


(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/f139f2eb44e972cf_large.jpg)


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 18 Tháng Tám, 2009, 02:29:34 PM
Một hài hước: một nhà thờ lưu động thể hiện sự tương phản.
Chúa không phải của người Thái hay người Thái không phải là người.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/th_1eeb211771a26ab9_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/1eeb211771a26ab9_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/th_8368e990aec063aa_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/8368e990aec063aa_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/th_c926cf694be8c367_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/c926cf694be8c367_large.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/th_ee374358b27fc621_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/ee374358b27fc621_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/th_92043fe708eb3da6_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/92043fe708eb3da6_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/th_d2e2ce53992141a2_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/d2e2ce53992141a2_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/th_9d4ac137ed2b2e9c_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/9d4ac137ed2b2e9c_large.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/th_e426cd2057cf758c_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/nha_tho_cha_co/e426cd2057cf758c_large.jpg)


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 18 Tháng Tám, 2009, 03:46:16 PM
Kịch bản thế này.
Quân Pháp dồn dân vào trại tập trung, chiếm nhà của họ ở. Rồi bắt họ tự tay đi dỡ nhà, lấy vật liệu. Người Pháp tận dụng nhà người Thái trong khi người Thái nai lưng là làm công sự cho Pháp. Quá hiệu quả.

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/th_28655367vg2.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/28655367vg2.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/th_travaux0do.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/travaux0do.jpg)(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/th_DienBienPhu.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/DienBienPhu.jpg)



Khu vựa làng trù phú bị biến đổi như thế này từ 20-11-1953 đến tháng 3-1954.
(xếp ngược)

(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/th_dbp_central-05_ng.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/dbp_central-05_ng.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/th_dbp_central-04_ng.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/dbp_central-04_ng.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/th_dbp_central-03_ng.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/dbp_central-03_ng.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/th_dbp_central-02_ng.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/dbp_central-02_ng.jpg)
(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/th_dbp_central-01_ng.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/DienBienPhu/canh_pha_hoai/dbp_central-01_ng.jpg)


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 18 Tháng Tám, 2009, 04:19:21 PM
http://www.armchairgeneral.com/forums/showthread.php?p=1281476

Trong này các cán binh Việt Minh hoạt động ác chiến.  ;D ;D ;D ;D ;D
Các cán binh mò ảnh với số liệu giúp mình với. Bi h trước măt cần xem cái trại tập trung nó nằm ở đâu, hình như là bên kia sông. Cái bản Thái bị xóa sạch ở chỗ sông có khúc cuốn tròn ấy là bản gì nhỉ Chiangshan ui, còn cái căn cứ xây ở đó thì nó tương ứng với gì ??

Hiện nay nhìn trên không ảnh cũng có thể xác định được một vài vị trí xóm ở khu trung tâm, nhưng gọi tên chúng thì khó quá !!


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: ngao5 trong 18 Tháng Tám, 2009, 06:13:29 PM
Linh thì bỗ bã kiểu kính bằng gà lợn bản Thái và những cuộc hãm hiếp bạo lực.
Quan thì sang trọng kiểu quan bằng gái bản Thái xinh xắn múa đẹp. Ban đầu ở ĐBP cũng có một khu nhà cũ khá sang trọng, nhưng cảnh tượng đối lập quá nên mình nghi cái chũ thích "chụp ở ĐBP" này, nhưng cảnh xòe Thái thì đâu cũng như vậy.
Trong khi tàn phá toàn bộ khu vực thì chúng bắt các cô gái này xoè và tất nhiên phải ra mặt vui vẻ hầu quan Tây.

(Lại mở ngoặc, thằng thực dân này nó chụp nô lệ khổ ải cũng siêu, mà chụp gái cũng tởn đời. Có ai biết thằng này là thằng nào không nhỉ ??)


(http://i180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/19b89cf412c0b3e9_large.jpg) (http://s180.photobucket.com/albums/x178/huyphuc1981_nb/lich_su/Danh_tay_9_nam/life/tiec_tung/19b89cf412c0b3e9_large.jpg)

Anh Huy Phúc ơi
Theo tôi biết nhiều cảnh chụp múa xòe này là ở nhà của Đèo Văn Long, ngay tại thị xã Lai Châu (cũ) do phóng viên Howard Sochurek chụp. Hôm đó các tướng Pháp đáp máy bay xuống sân bay Lai Châu, cạnh nhà Đèo Văn Long và được khoản đãi tại đây. Nhà Đèo Văn Long  bằng bê tông khá đẹp và điện nước đàng hoàng. Điện Biên Phủ không có cảnh này đâu!


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 18 Tháng Tám, 2009, 09:44:30 PM
Anh ơi  Howard Sochurek là tên một nhà xuất bản chứ không phải tên các phóng viên chiến trường đã chụp những tấm ảnh này. Việc múa xòe trong Điện Biên Phủ không hiếm, tối đã nói là tôi chỉ trình bầy những cái giống nhau thôi.
Người con gái xòe Thái ở Điện Biên có tâm trạng tệ hơn trong ảnh nhiều anh à.


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: ngao5 trong 19 Tháng Tám, 2009, 08:33:33 AM
Anh ơi  Howard Sochurek là tên một nhà xuất bản chứ không phải tên các phóng viên chiến trường đã chụp những tấm ảnh này. Việc múa xòe trong Điện Biên Phủ không hiếm, tối đã nói là tôi chỉ trình bầy những cái giống nhau thôi.
Người con gái xòe Thái ở Điện Biên có tâm trạng tệ hơn trong ảnh nhiều anh à.


_______________


Anh Huy Phúc ơi
Em biết chắc "Publisher" là nhà xuất bản, hoặc người xuất bản , thấy người ta chú thích là "photographer" thì em dịch bừa là phóng viên, qua anh em mới biết là mình dịch nhầm!
Thế nhưng người ta lại bảo có ông phóng viên ảnh tên là  Howard Sochurek của tờ LIFE. Xin anh đọc giùm hộ em, xem em có nhầm không?
Cám ơn anh nhiều
 

From his New York Times obituary, published April 29, 1994:

Howard Sochurek, a photographer for Life magazine on assignment throughout the world and later a pioneer in computer-assisted imaging, died on Monday (April 25, 1994) in Jackson Memorial Hospital in Miami. Mr. Sochurek, who lived in Boynton Beach, Fla., was 69.

The cause was liver cancer, said his wife, Tania.

Mr. Sochurek joined Life in 1950 and worked in the Soviet Union, the Middle East, Mongolia and Vietnam. He also served in the magazine's bureaus in New York, Chicago, Detroit, New Delhi, Singapore and Paris.

He was with Life for two decades. In Korea, he parachuted behind enemy lines to photograph American troops in combat. In Vietnam, he covered the fall of the French garrison at Dien Bien Phu.

He became a freelance photographer in 1970 and was one of the first to use a computer to color and manipulate photographs and other images. His computer-enhanced images of X-rays and CAT-scans led him to extensive photographic work in the medical field. Physicians and drug and other medical companies used his photographs in textbooks and advertisements.

Mr. Sochurek graduated from Princeton University in 1942 and in 1960 was awarded a Neiman fellowship to study at Harvard University. He was an Army veteran of World War II.

He is survived by his wife and a daughter, Tania DeChiara of New York[/size][/size]


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 04 Tháng Chín, 2009, 10:58:52 PM
Vẫn biết rằng lịch sử không có chữ "nếu".  (http://www.quansuvn.net/avatars/iconttvn/2.gif)

Em có 1 câu thắc mắc:
Ta có thể dứt điểm đồi A1 ngay từ đầu chiến dịch không?
Để chẳng phải đến cuối cùng chiến dịch mới dứt điểm được? (http://www.quansuvn.net/avatars/iconttvn/2.gif)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Chín, 2009, 12:40:59 PM
Maybe ;)

Trận đồi A1
(từ đêm 30 tháng 3 đến sáng ngày 3 tháng 4 năm 1954)

Nằm trong cuộc tiến công đầu của đợt hai chiến dịch Điện Biên Phủ, đêm 30 tháng 3 dưới sự chi viện của 36 khẩu pháo các loại từ.81mm trở lên, Trung đoàn 174 thực hành tiến công cứ điểm A1. Mặc dù cán bộ và chiến sĩ chiến đấu rất dũng cảm, song sau 18 giờ chiến đấu ác liệt ta chỉ chiếm được 1/3 cứ điểm, bị địch phản xung phong liên tục và pháo địch sát thương nặng, trung đoàn không còn khả năng tiếp tục đột phá nên đến trưa ngày 31 tháng 3 phải rút khỏi cứ điểm.

Tiếp đó Bộ chỉ huy đã sử dụng Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 phối hợp với bộ phận còn lại của Trung đoàn 174 tiếp tục tiến công A1. Trung đoàn 102 phải bước vào chiến đấu trong điều kiện lực lượng đang phân tán chưa củng cố, tiến hành chuẩn bị gấp rút trong quá trình hành quân, do đó sau 3 ngày đêm liên tục tiến công cũng không giành được thắng lợi mà lại bị tổn thất nặng nề. Cả hai đơn vị từ chỗ chủ quan coi thường địch đi tới đánh giá địch quá cao, bi quan dao động. Trận tiến công cứ điểm A1 của Trung đoàn 174 và Trung đoàn 102 từ ngày 30 tháng 3 đến sáng ngày 3 tháng 4 đã không đạt được mục đích đề ra và tổn thất, thương vong lớn. Trận đồi A1 còn kéo dài đến cuối chiến dịch, trải qua 33 ngày đêm phòng ngự, đến đêm 6 tháng 5, Trung đoàn 174 đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở A1, góp phần cùng các đơn vị khác giành toàn thắng cho chiến dịch.


I. Bối cảnh và quá trình chuẩn bị chiến đấu.

Sau khi ta chiếm được các cụm cứ điểm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, cánh cửa phía bắc xuống lòng chảo đã mở thông. Nhưlg phân khu trung tâm của địch vẫn còn 4 trung tâm đề kháng gồm trên 30 cứ điểm liên kết chặt chẽ với nhau nằm giữa cánh đồng bằng phẳng trên hai bờ sông Nậm Rốm. Địch ở đây tập trung khoảng 1 vạn quân, có sở chỉ huy, các căn cứ hoả lực, các đơn vị xe tăng và sân bay.

Ngày 16 tháng 3 địch tăng viện cho Điện Biên Phủ tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 (6e BPC) cùng một khối lượng khá lớn vũ khí phương tiện chiến tranh và ra sức củng cố trận địa phòng ngự ở phân khu trung tâm. Những vị trí có giá trị đặc biệt về chiến thuật ở phân khu trung tâm là các cứ điểm trên các điểm cao phía đông (A1, C1, D1, và E). Đây là khu vực phòng ngự then chốt rất hiểm yếu của địch, nếu chiếm được ta sẽ có lợi thế tràn xuống Mường Thanh tiến công vào sở chỉ huy của tập đoàn cứ điểm. Mở đầu đợt tiến công thứ 2 của chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ chỉ huy  chiến dịch chủ trương tập trung tuyệt đối ưu thế binh hoả lực tiêu diệt toàn bộ khu đông Mường Thanh. Trung đoàn 174 thuộc Đại đoàn 316 nhận nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm A1, sau đó phát triển tiêu diệt cứ điểm A3 trong điều kiện có chuẩn bị.

A1 (địch gọi là Eliane 2) nằm trong hệ thống cứ điểm trên dãy đồi phía đông Mường Thanh. Đồi A1 cao hơn mặt đất 49m, dài 200m, rộng 80m hình bầu dục, đồi cao lên rất tiện cho địch tổ chức các tuyến phòng ngự. Bắc giáp C2 và C1 cách 200m. Đồi C2 thấp hơn C1 khoảng 5m lại ở thụt vào bên trong. Đồi C1 cao hơn Al khoảng 2m, nhô ra ngoài nên hoả lực địch bố trí trên 3 điểm cao này tạo thành một lưới lửa dày đặc về phía bắc A1 và có thể chi viện cho nhau đắc lực khi bị tiến công; tây giáp A2, A3, (2 cứ điểm này tuy đóng trên đất bằng nên thấp hơn Al nhiều nhưng lại nhô ra phía nam A1 nên rất tiện cho địch dùng làm bàn đạp tăng viện cho Al thực hành phản xung phong và bảo vệ bên sườn phía tây và nam Al). A1 lại là điểm cao cuối cùng về phía nam khu đông gần đường sang trung tâm. Nếu ta chiếm được cứ điểm A1 thì các cứ điểm C1, C2 bị uy hiếp mạnh, đồng thời ngăn chặn được quân địch cơ động từ trung tâm ra phản kích, tạo điều kiện triển khai tiếp cận làm bàn đạp phát triển vào trung tâm.

Đường 41 chạy từ phía bắc xuyên giữa A1 và A3 chạy xuống phía nam. Phía tây bắc có một đường từ khu trung tâm qua sông Nậm Rốm nối liền với đường 4 1, địch có thể dùng để cơ động lực lượng ra phản xung phong lên Al khi bị ta tiến công.

Về phía đông A1 có 2 điểm cao (đồi F và đồi Cháy). Đồi F cách A1 150m cao và dài hơn A1 nhưng bề ngang lại hẹp hơn. Đồi Cháy thấp và nhỏ hơn A1, cách A1 250m. Hai điểm cao này rất quan trọng, nếu ta chiếm được có thể dùng làm trận địa hoả lực trực tiếp uy hiếp Al và C2, phong toả cả bên sườn và chính diện trận địa địch về phía đông bảo đảm chi viện cho bộ binh xung phong thuận lợi.

Phía đông A1 có một đường mòn đi về bản Tà Lùng và một bãi ruộng phẳng chạy dài từ Pom Loi đến sát dãy núi Long Bua. Đông nam có suối Pom Loi chạy từ đông bắc A1 qua đồi Cháy ra sông Nậm Rốm rộng từ 2 đến 3m, sâu khoảng 2m, lúc thường nước cạn qua lại được dễ dàng nhưng nếu mưa to nước chảy xiết không lội qua được. Phía nam là cánh đồng Điện Biên trống trải, hoả lực ở A1, A3 có thể kiểm soát được chặt chẽ, nhưng nếu ta khắc phục xây dựng giao thông hào thì vẫn tiếp cận được.

Từ A1 theo hướng đông ra ngoài chừng 2km có nhiều đồi cao thoai thoải liên tiếp xen lẫn rừng rậm rất tiện cho ta tập kết tiến quân và triển khai, một số điểm có thể lợi dụng làm trận địa pháo bắn thẳng và đặt đài quan sát tốt (như điểm cao 491, điểm cao 494).

Có thể nói điểm cao A1 là một trong các điểm cao có tác dụng quan trọng nhất của dãy đồi phía đông. Nó có tác dụng che sườn cho phân khu đông, đồng thời cùng các điểm cao khác tạo thành một bức bình phong bảo vệ khu trung tâm Mường Thanh.

Thời tiết ở Điện Biên vào mùa xuân, buổi sáng 9 - 10 giờ sương mù mới tan, 4 - 5 giờ chiều đã tói nên hạn chế nhiều tới hoạt động của phi cơ và hành động quan sát trên  mặt đất của địch cũng như của ta. Ban đêm sương mù càng dày đặc hơn, tốt cho ta khi tiếp cận nhưng cũng ảnh hưởng nhiều tới công tác điều tra trinh sát theo dõi địch.

Địch xác định A1 là điểm phòng ngự chủ yếu trong hướng phòng ngự chủ yếu nên rất chú ý tăng cường tổ chức phòng ngự trên cứ điểm này. Thời kỳ mới nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, cứ điểm này do tiểu đoàn Thái (2e BAT) chiếm đóng. Khi ta chuẩn bị tiến công, địch đưa tiểu đoàn Bắc Phi (1/4 RTM) lên thay thế, lực lượng gồm: 2 đại đội bộ binh và 1 trung đội tăng cường; 1 đại đội trợ chiến (gồm 4 súng cối 81mm + 2 ĐKZ 57mm + 1 trọng liên 12,7mm + 4 đại liên); 1 đại đội chỉ huy cơ quan tiểu đoàn bộ), do một thiếu tá chỉ huy.

A1 là một cứ điểm cũ, trước đây Pháp và Nhật đều đã chiếm đóng, lần này địch cải tạo và củng cố lại bằng cách phá các tầng trên giảm bớt mục tiêu lộ, lợi dụng các hầm nhà cũ biến thành các hầm ngầm cố thủ. Đặc biệt có hầm dưới nền nhà tên quan năm Pháp trước đây ở xây bằng đá tương đối vững chắc có thể chịu đựng được các loại bom nhẹ (25kg trở xuống). Địch đã lợi dụng hầm này làm hầm cố thủ và đặt chỉ huy sở tiểu đoàn.

Toàn bộ cứ điểm được cấu trúc lại theo kiểu công sự dã chiến tương đối kiên cố, kết hợp với địa hình, địch cấu trúc nhiều tầng chiến hào nối liền các lô cốt, ụ súng, hố chiến đấu cá nhân thành từng tuyến phòng ngự và có giao thông hào nối liền các tuyến chiến đấu với nhau. Ngoài các giao thông hào lộ thiên ra, địch còn đào những quãng giao thông hào ngầm (có nắp tương đối dày chịu đựng được đạn  cối 81, 82mm) để bí mật cơ động lực lượng khi cần thiết (như giao thông hào chạy từ khu B vào chỉ huy sở). Địch còn tổ chức một số ụ vệ tinh ở các địa hình nhô ra tạo thành những điểm hoả lực bắn chéo, lướt sườn kết hợp với hoả lực chính diện. Về phía tây nam có lô cốt "thằng người", nằm đột xuất ra ngoài nên phạm vi kiểm soát hoả lực rất rộng. Nhìn chung toàn cứ điểm, trên phía đông nam, hướng nghi ta có thể đột phá, địch xây dựng công sự và bố trí hoả lực dày đặc hơn.

Đặc biệt ở cứ điểm A1, địch còn đào giao thông hào nối liền với A3 và khu trung tâm Mường Thanh tạo thành một đường vận động cho quân cơ động của chúng tiến hành phản xung phong rất kín đáo.

Xung quanh cứ điểm địch còn xây dựng hệ thống vật cản gồm 5 lớp hàng rào nhiều kiểu, dày khoảng 100m, kết hợp chặt chẽ với địa hình và hệ thống hoả lực thẳng trong cứ điểm. Xen kẽ với hàng rào địch còn bố trí các bãi mìn, trên hướng đông và đông nam, vật cản dày đặc hơn. Những nơi nghi ngờ ta tiếp cận như đồi Cháy, đồi F, khe suối địch cũng bố trí mìn, dây thép gai bùng nhùng để ngăn cản.

Cứ điểm A1 phòng ngự theo lối hình tròn, phân thành 4 khu. Binh lực bố trí theo sự phân công ở từng khu c cố định: khu A có một đại đội; khu C một đại đội; giữa khu B và D là chỉ huy sở và khu vực bố trí của đại đội trợ chiến và trung đội bộ binh tăng cường..

Hoả lực của cứ điểm chủ yếu bố trí dựa vào hệ thống lô cốt ụ súng ở tuyến chiến hào ngoài cùng. Một số hoả lực có tầm bắn xa như trọng, đại liên, ĐKZ, cối 81mm bố trí ở các tuyến sau trên cao để có thể kết hợp với tuyến hoả lực  ngoài cùng tạo thành một lưới lửa dày đặc trước trận địa, kiểm soát cả bốn phía hòng ngăn chặn ta từ xa không cho ta đột phá. Trong tung thâm địch không tổ chức thành một hệ thống hoả lực mà chỉ tổ chức một số hoả lực cơ động bắn bất ngờ. Nhưng riêng mặt phía đông hầm ngầm đá, lợi dụng địa hình dốc đứng, địch đã làm một chiến hào ngang ở sát tầng trên có bố trí hoả lực kiểm soát được chặt chẽ khu vực phía đông cứ điểm, tạo thành một tuyến ngăn chặn có chuẩn bị sẵn đề phòng nếu ta đột nhập phía này thì có chỗ dựa thực hành phản xung phong.

Toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở A1 hình thành 3 tuyến theo địa thế tự nhiên của quả đồi: tuyến ngoài là tuyến đề kháng chủ yếu đặt gần sát chân đồi, tuyến 2 ở lưng chừng đồi công sự không kiên cố bằng tuyến ngoài, nhiệm vụ chính là chi viện cho tuyến ngoài giữ vững trận địa phòng ngự. Tuyến 3 là trận địa hoả lực và khu vực chỉ huy. Công sự ở khu vực này tương đối vững chắc, có một số hầm ngầm, là tuyến cố thủ cuối cùng của địch và cũng là nơi làm bàn đạp cho các lực lượng cơ động từ tung thâm tiến ra thực hành phản xung phong khi ta đột nhập.

A1 còn được sự chi viện rất lớn của tập đoàn. Ngoài lực lượng phản kích có sẵn của bản thân cứ điểm, khi cần địch còn được các lực lượng cơ động của tập đoàn cứ điểm tiến hành phản kích từ ngoài vào dưới sự yểm hộ đắc lực của xe tăng và pháo binh. Ngoài ra, khi xảy ra chiến đấu, A1 còn được hoả lực của các cứ điểm lân cận như C2, A3 cũng như hoả lực ở khu trung tâm có thể yểm hộ đắc lực cho A1. Nhưng hoả lực chi viện chủ yếu cho A1 khi bị tiến công là pháo 105mm ở Hồng Cúm và súng cói 120mm ở Mường Thanh. Địch đã tiến hành bắn thử vào những nơi nghi ngờ từ trước và đã có một kế hoạch hoả lực sẵn, nếu xảy ra chiến đấu chúng có thể chi viện được ngay nếu không bị kiềm chế.

Vì không đủ lực lượng chiếm đóng nên trước khi ta tiến công, hàng ngày địch thường cho từ 1 tiểu đội tới 1 trung đội chiếm đồi Cháy, đồi F đặt mìn, dây thép gai ngăn cản không cho ta xây dựng trận địa, tổ chức cảnh giới đến tồi lại rút về cứ điểm. Nhìn chung, cứ điểm A1 là một cứ điểm rất quan trọng đối với khu trung tâm Mường Thanh, lại là trọng điểm phòng ngự của hướng phòng ngự chủ yếu của địch, nên chúng đã tiến hành tổ chức phòng ngự tương đối vững chắc, binh hoả lực mạnh, trận địa xây dựng tương đối kiên cố, lực lượng phản kích lớn, được sự chi viện đắc lực của pháo binh súng cối cũng như hoả lực bắn thẳng của các cứ điểm lân cận và của tập đoàn cứ điểm. Tuy nhiên, cứ điểm cũng còn bộc lộ nhiều nhược điểm như: cứ điểm hẹp, đại bộ phận công sự dã chiến làm bằng gỗ đất, lực lượng nhiều nên bố trí dày đặc dễ bị pháo hoả ta sát thương; bố trí tương đối cố định việc cơ động trong tung thâm bị hạn chế. Nếu ta hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị bạn nổ súng cùng lúc thì sự chi viện về binh lực cũng như hoả lực của tập đoàn cứ điểm sẽ bị hạn chế buộc địch phải phân tán đối phó nhiều nơi.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Chín, 2009, 12:43:15 PM
Về ta, Trung đoàn 174 là đơn vị có truyền thống chiến đấu vẻ vang. Trung đoàn được thành lập ngày 19 tháng 8 năm 1949, là con đẻ của nhân dân các dân tộc Cao - Bắc - Lạng và là một trong hai trung đoàn chủ lực đầu tiên của Bộ Tổng chỉ huy. Trung đoàn đã chiến đấu và lập nhiều chiến công vang dội trên đường 4 và trong chiến dịch Biên Giới. Trung đoàn có truyền thống về chiến đấu công kiên, sau chiến thắng Lai Châu, bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ trung đoàn mới chỉ tham gia kéo pháo làm đường nên lực lượng còn nguyên vẹn.

Cán bộ và chiến sĩ đều vừa qua thời kỳ học tập quân sự và chinh huấn chính trị. Trình độ kỹ thuật, chiến thuật đã đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ. Sau chiến thắng của đơn vị bạn ở Him Lam và Độc Lập, bộ đội rất phấn khởi, tin tưởng vào thắng lợi và sẵn sàng đón chờ nhiệm vụ.

Lực lượng trong biên chế của trung đoàn gồm: 3 tiểu đoàn bộ binh và các đại đội trực thuộc trung đoàn. Lực lượng được tăng cường gồm: 1 đại đội súng cối 120mm (4 khẩu), 1 trung đội cối 82mm (4 khẩu), 1 đại đội sơn pháo 75mm (3 khẩu) và được 1 đại đội lựu pháo l05mm chi viện (sau khi đã bắn vào C1 50 phát, đại đội này mới chuyển sang bắn vào A1 250 phát). Nếu tính từ ĐKZ 57mm trở lên ta có 36 khẩu pháo các loại.

Nếu đem so sánh lực lượng ta trực tiếp tham gia tiến công cứ điểm với lực lượng địch ở cứ điểm, chưa tính đến lực lượng chi viện của địch và lực lượng kiềm chế của ta, thì ta đều hơn địch nhiều lần, cụ thể:

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/a1.jpg)

Sau đợt một tiêu diệt Him Lam, Độc Lập, nhiệm vụ chủ yếu nhất của ta trong đợt hai chiến dịch Điện Biên  Phủ là đánh chiếm khu vực phòng ngự then chốt trên các điểm cao phía đông, mở cửa thọc sâu vào tập đoàn cứ điểm. Để có thể tiếp cận mục tiêu, đánh theo phương châm "đánh chắc tiến chắcl từ sau hội nghị cán bộ chiến dịch ngày 17 tháng 3, ta đã dồn sức xây dựng một hệ thống trận địa tiến công và bao vây quanh tập đoàn cứ điểm. Hệ thống này gồm các đường hào trục, đường hào nhánh để vận chuyển và cơ động lực lượng, hệ thống trận địa tiến công và xuất phát xung phong của các trung đoàn cùng rất nhiều hầm trú ẩn, hầm chỉ huy.

Ngày 27 tháng 3, Bộ chỉ huy chiến dịch tập trung cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên để giao nhiệm vụ. Đại đoàn 316 được giao nhiệm vụ: Tập trung lực lượng tiêu diệt A1 và C1, sau đó phát triển tiêu diệt A3, C2 và một bộ phận thuộc tiểu đoàn dù thứ 6 của địch; lấy A1 là hướng đột kích chủ yếu của đại đoàn. Trung đoàn 174 được đại đoàn giao nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm A1, sau đó phát triển xuống tiêu diệt cứ điểm A3. Sau khi tiêu diệt xong địch phải nhanh chóng cải tạo công sự địch, tổ chức phòng ngự sẵn sàng đánh địch phản xung phong. Đồng thời di chuyển một bộ phận hoả lực của trung đoàn lên A1 tổ chức các trận địa mới, khống chế và sát thương địch ở tung thâm.

Quá trình chiến đấu phải phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 98. Nếu giải quyết được A1 trước khi Trung đoàn 98 đột phá được C2, phải cho một mũi đột phá vào đông nam C2 và tổ chức hoả lực kiềm chế C2 phối hợp với Trung đoàn 98 tiêu diệt C2.

Bên cạnh Trung đoàn 174 là Trung đoàn 98 (thiếu tiểu đoàn 938) có nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm C1, sau đó phát  triển tiêu diệt cứ điểm C2 và phối hợp cùng đơn vị bạn (tiểu đoàn 54 Trung đoàn 102) tiêu diệt một bộ phận tiểu đoàn dù thứ 6 của địch. Nếu giải quyết xong C1 trước phải nhanh chóng phát triển sang C2, đánh xuống tiểu đoàn dù thứ 6 của địch ở chân C2, ngăn chặn địch phản xung phong ở Mường Thanh ra tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 1 7 4 tiêu diệt A1.

Sau khi quán triệt nhiệm vụ và cùng cán bộ chỉ huy cấp dưới và cán bộ cạc đơn vị phối thuộc tiến hành trinh sát thực địa, trung đoàn trưởng cùng cơ quan xây dựng quyết tâm chiến đấu. Đảng ủy trung đoàn đã thông qua quyết tâm, nhưng còn một số vấn đề cụ thể về địa hình và địch tình chưa nắm vững, nhất là địa hình mặt phía nam và địch tình trong tung thâm chưa nắm được nên trung đoàn trưởng lại tổ chức trinh sát thực địa một lần nữa.

Lần này trung đoàn trưởng trực tiếp đi với hướng đột kích chủ yếu (tiểu đoàn 9) xác định được điểm đột phá, eác trận địa hoả lực của đại đội, tiểu đoàn và phác hoạ trận địa xuất phát xung phong cho hướng này. Nhưng mặt đông nam và mặt nam cứ điểm lại chỉ giao cho trình sát và cán bộ đơn vị nên không phát hiện được những khó khăn cụ thể ở các hướng này. Đặc biệt địch tình trong tung thâm vẫn chưa nắm vững được. Sau đợt trinh sát lần hai, quyết tâm của thủ trưởng trung đoàn không có gì thay đổi, chỉ bổ sung thêm những phần cụ thể. Sau đó trung đoàn trưởng lên báo cáo với sư trưởng để thông qua và nhận kế hoạch hiệp đồng của Bộ và đại đoàn.

Quyết tâm chiến đấu chính thức của Trung đoàn 174 xác định: tiểu đoàn 9 làm hướng điểm (lấy đại đội 317 làm đại đội chủ công) có nhiệm vụ đột phá theo hướng đông vào lô cốt số 1 đánh chiếm khu A, B, C và sau khi cùng tiểu đoàn 1 tiêu diệt A1, sẽ dùng một bộ phận đột phá vào đông nam C2 phối hợp với Trung đoàn 98 tiêu diệt C2, nếu không có điều kiện thì dùng hoả lực bố trí ở A1 khống chế C2 yểm hộ cho Trung đoàn 98 đột phá; tiểu đoàn 1 thiếu 1 đại đội làm hướng diện có nhiệm vụ đột phá theo hướng đông nam vào lô cốt số 4, đánh chiếm khu D phối hợp với tiểu đoàn 9 tiêu diệt toàn bộ quân địch tại A1; 1 đại đội của tiểu đoàn 1 làm nhiệm vụ dương công mặt A3 nhằm thu hút lực lượng địch về phía này tạo điều kiện thuận lợi cho trung đoàn tiêu diệt A1, khi có điều kiện đột phá xung phong vào A3; tiểu đoàn 5 làm thê đội 2 sẵn sàng tăng cường lên A1 để tiêu diệt nốt địch tại đây nếu tiểu đoàn 9 và tiểu đoàn 1 không hoàn thành được nhiệm vụ. Đồng thời cũng chuẩn bị để làm nhiệm vụ tiêu diệt A3 sau khi trung đoàn đã giải quyết xong A1. Chỉ huy sở trung đoàn cách A1 về phía đông 1.100m.

Về hoả lực, từ súng cối 81mm trở lên do trung đoàn trực tiếp chỉ huy. Hoả lực tiểu đoàn chỉ có ĐKZ 57mm và đại liên. Trận địa hoả lực của trung đoàn và tiểu đoàn được bố trí thích hợp với địa hình và đảm bảo phát huy hoả lực mạnh, tập trung và cơ động. Riêng trận địa đại đội sơn pháo 75mm bố trí ở điểm cao 491 (đông nam bản Hồng Lim) cách A1 1.300m.

Về bảo đảm thông tin, các mạng thông tin của trung đoàn phải bảo đảm bố trí xong trước 12 giờ ngày 30 tháng 4 để trung đoàn trưởng có thể nắm vững được tất cả các đơn vị tham chiến ngay từ khi bắt đầu chiếm lĩnh trận địa.

 Phương tiệnliên lạc chủ yếu là điện thoại, ở những hướng quan trọng ó thêm bộ đàm nhưng không được sử dụng trước khi nổ súng để đảm bảo bí mật (trong chiến đấu cũng phải dùng mật mã). Ngoài ra còn các phương tiện giản đơn như chuyền đạt viên, cờ, kèn, đèn pháo hiệu.

Nguyên tắc bố trí mỗi đơn vị ít nhất phải có 2 phương tiện thông tin liên lạc. Với các bộ phận chủ yếu như tiểu đoàn 9, tiểu đoàn 1, các trận địa pháo, đại đội dương công vào A3 đều có đường dây liên lạc trực tiếp với trung đoàn trưởng.

Trong đảm bảo công trình, học tập kinh nghiệm về xây dựng trận địa của đơn vị bạn chiến đấu ở Him Lam và Độc Lập, trung đoàn đề ra yêu cầu các đơn vị khi tiến hành làm trận địa phải: triệt để lợi dụng địa hình thiên nhiên, đảm bảo đúng tiêu chuẩn đã quy định, nhất là các trận địa hoả lực, các tuyến xuất phát xung phong gần địch công sự phải đảm bảo vững chắc, phải ngụy trang kín đáo. Quá trình làm trận địa phải có tổ chức tránh lãng phí phân công, thời gian và sức khoẻ của bộ đội. Đi đôi với xây dựng trận địa phải có kế hoạch bảo vệ trận địa.

Về bảo đảm phòng không phòng pháo: để bảo đảm an toàn khu vực trung đoàn chiến đấu có cao xạ pháo của Bộ và tiểu đoàn phòng không của đại đoàn đảm nhiệm; với pháo binh chi viện của địch có pháo binh của Bộ kiềm chế.

Ngoài ra trung đoàn yêu cầu các đơn vị phải xây dựng công sự vững chắc đảm bảo tránh được pháo địch sát thương, ngụy trang kín đáo không để địch phát hiện được, đội hình sơ tán đề phòng địch tập kích.

Sau khi quyết tâm chiến đấu được đại đoàn thông qua, trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 triệu tập cán bộ từ đại đội trở lên toàn trung đoàn (gồm cả một số cán bộ tiểu đội trưởng và trung đội trưởng bộc phá, đột kích của các đại đội chủ công) để phổ biến quyết tâm và kế hoạch tác chiến của trung đoàn. Theo kế hoạch chung, 13 giờ 30 phút ngày 30 tháng 3, các đơn vị hoả lực vào chiếm lĩnh xong. 17 giờ 20 phút đến 17 giờ 35 phút pháo binh chiến dịch và hoả lực của trung đoàn tiến hành bắn chuẩn bị, các tiểu đoàn bộ binh tiến hành đánh bộc phá mở cửa mở. Khi quyết tâm được truyền đạt xuống dưới, cán bộ và chiến sĩ có thắc mắc vì không rõ tung thâm địch, mũi dương công phải tiếp cận chiến đấu trong điều kiện không có công sự... nhưng trung đoàn cũng không có biện pháp cụ thể để giải quyết mà chỉ động viên lấy tinh thần dũng cảm để khắc phục.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Chín, 2009, 12:44:37 PM
II. Diễn biến và kết quả trận đánh.

1. Tiến công lần thứ nhất, từ 30 tháng 3 đến trưa ngày 31 tháng 3.

Trong quá trình chuẩn bị chiến đấu ta và địch vẫn tranh chấp đồi Cháy và đồi F. Ngày 30 tháng 3, đúng ngày bộ đội triển khai chiếm lĩnh, địch từ A1 tiến ra đánh chiếm đồi Cháy từ sáng sớm (6 giờ 30 phút). Do tổ chức cảnh giới trận địa không chu đáo (từ một trung đội đảm nhiệm cảnh giới ở đồi Cháy, tiểu đoàn 9 chỉ còn để lại một tổ 3 người) nên địch đã làm chủ hoàn toàn khu vực đồi Cháy. Đại đội 653 tiểu đoàn 5 phải liên tục chiến đấu với địch từ 8 giờ sáng tới 16 giờ ngày 30 tháng 3 mới chiếm lại được mỏm thấp phía đông đồi Cháy (địch vẫn còn giữ được mỏm cao).

Cũng trong sáng ngày 30, các đơn vị hoả lực trung đoàn đã lợi dụng sương mù và trời mưa chiếm lĩnh trận địa xong hồi 11 giờ. Tiếp đó, 15 giờ 30 phút các tiểu đoàn bộ binh từ vị trí tập kết bắt đầu tiến ra trận địa xuất phát tiến công, song không thể bí mật tiến ra chiếm lĩnh trận địa xuất phát xung phong được vì trời còn sáng, trận địa ta ở dưới thấp công sự sơ sài, địch lại chiếm mỏm cao ở đồi Cháy, quan sát rất rõ toàn bộ trận địa ta.

Trong khi trung đoàn đã bắt đầu hành quân chiếm lĩnh trận địa thì trung đoàn trưởng trung đoàn được lệnh phải ở lại chỉ huy sở hậu phương chờ nhận thông báo giờ nổ súng thống nhất. Nhưng chờ đến 16 giờ 40 phút cũng chưa nhận được lệnh của đại đoàn, điện thoại bị đứt, thấy toàn trung đoàn đã chiếm lĩnh xong nên hồi 17 giờ, trung đoàn trưởng lệnh thu máy để ra chỉ huy sở tiền phương.

Tới 17 giờ 30 phút trung đoàn vẫn chưa liên lạc được với đại đoàn và đại đội lựu pháo 105mm. Lúc này, theo kế hoạch toàn mặt trận đã nổ súng được 35 phút. Nhận thấy pháo của Bộ đã chuyển sang bắn vào A1 theo kế hoạch hiệp đồng, tại các cứ điểm khác các đơn vị bạn cũng đã tiến hành đột phá xong, đang chiến đấu trong tung thâm, trung đoàn trưởng quyết định ra lệnh cho toàn bộ hoả lực của trung đoàn bắn theo kế hoạch đã quy định và các đơn vị tiến vào vị trí xuất phát xung phong bắt đầu tiến hành đánh bộc phá mở cửa.

Trên hướng điểm (hướng chủ yếu), tiểu đoàn bộ binh 9 (tiểu đoàn 249) đến bờ suối đông bắc đồi Cháy hồi 18 giờ, nhưng vì địch còn một bộ phận trên mỏm cao đồi Cháy nên hoả lực tiểu đoàn và đại đội không chiến lĩnh được, trung đoàn phải sử dụng đại đội 120mm bắn tập trung tiêu diệt địch ở đây, chi viện cho các đơn vị hoả lực của tiểu đoàn vào chiếm lĩnh. Các khẩu đội ĐKZ và đại liên vào được vị trí chiếm lĩnh, nhưng vì công sự quá sơ sài không có giao thông hào nối liền với dưới, mới chỉ có các hố lộ thiên) nên bị pháo binh địch chế áp mãnh liệt ta thương vong gần hết, trận địa này hoàn toàn bị tê liệt từ đầu không hoạt động được. Bên đồi F hoả lực địch cũng phong toả chặt chẽ nên hoả lực tiểu đoàn cũng không chiếm lĩnh được phải đặt ở dưới thấp bắn lên.

18 giờ 30 phút, tiểu đoàn 9 bắt đầu tiến hành đánh bộc phá mở cửa. Hoả lực trung đoàn bắn dồn dập vào A1 nên hoả lực của cứ điểm chưa hoạt động được, nhưng pháo chi viện của địch (105mm ở Hồng Cúm, 120mm ở Mường Thanh) bắn rất mãnh liệt vào trận địa ta. Do trận địa xuất phát xung phong của tiểu đoàn và đại đội ở quá xa điểm đột phá, công sự lại nông và hẹp nên đội hình chiến đấu của đại đội 317 bị cắt đứt, trung đội bộc phá với các trung đội đột kích phía sau không liên lạc được với nhau. Tổ bộc phá khi tiến lên đánh bộc phá phải vượt qua một bãi phẳng gần 300m, bị hoả lực pháo binh địch làm thương vong rải rác dọc đường, đội hình cũng bị rối loạn nên thực hành bộc phá không liên tục.

Sau 30 phút chiến đấu, tuy chưa liên lạc được với trung đội bộc phá phía trước, nhưng vẫn nghe tiếng bộc phá nổ, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 cho là trung đội bộc phá có thể đã phá hết chướng ngại vật ở ngoại vi rồi nên ra lệnh cho đại đội 317 cho từng tổ nhỏ lợi dụng các đợt pháo chi viện của địch ngừng bắn vọt lên chiếm đột phá khẩu. Bộ đội bị hoả lực bắn thẳng của cứ điểm kết hợp với pháo chi viện bắn chặn không tiến lên được. Tới 19 giờ 15 phút, tổ bộc phá phá được lô cốt điểm, nhưng 30 phút sau trung đội đột kích 1 mới xung phong lên tới đột phá khẩu. Lúc này, địch đã dồn cả về phía lô cốt mẹ, tổ chức hoả lực phong toả đột phá khẩu, bộ đội không thể vượt qua cửa mở.

Trên hướng diện (hướng thứ yếu), 18 giờ 45 phút, tiểu đoàn bộ binh 1 bắt đầu tiến hành đánh bộc phá mở cửa.

Cũng do trận địa xuất phát xung phong ở quá xa nên tổ bộc phá mở cửa bị chệch hướng, làm cho hai mũi đột phá của trung đoàn trở thành song song và chỉ còn cách nhau chừng 30m. Sau 15 phút phá hết hàng rào ngoại vi nhưng quan sát thấy đại đội 317 trên hướng điểm chưa mở xong các hàng rào ngoại vi, mặt khác tiểu đoàn 1 cũng đang mất liên lạc với trung đoàn nên tiểu đoàn không dám cho bộ đội xung phong đánh chiếm đầu cầu. 19 giờ 45 phút, quan sát thấy đại đội 317 đã mở được đột phá khẩu, đại đội 671 tiểu đoàn 1 mới tiếp tục phá nốt lô cốt đầu cầu và bắt đầu xung phong.

Trên hướng dương công, lúc 18 giờ, đại đội 674 đã hành quân tới sau trận địa cối 82mm. Khi nghe thấy hoả lực trung đoàn bắt đầu bắn chuẩn bị, bộ đội bí mật tiếp cận A3. Dọc đường tiếp cận, bộ đội gặp pháo địch bắn chặn, thương vong mất 4 người, trong đó có đại đội trưởng.

Đến 19 giờ 30 phút, bộ đội tiếp cận được A3, bắt đầu bí mật cắt dây thép gai. Nhiệm vụ trung đoàn giao lại không rõ ràng, nên đại đội này không xây dựng công sự trận địa tiến công và phát huy hoả lực để thu hút hoả lực địch, mà chỉ bí mật cắt dây thép gai, chờ trung đoàn tiêu diệt xong A1 sẽ phá hết chướng ngại vật ngoại vi tạo điều kiện thuận lợi cho trung đoàn hoàn thành nhiệm vụ tiếp theo là tiêu diệt A3.

Vào thời điểm này Trung đoàn 98 đã đánh chiếm song C1, đang tổ chức đột phá sang C2. Đại đoàn 312 cũng đã tiêu diệt xong D1, E1 đang chuẩn bị đột phá sang D2 và 210. Địch tập trung hoả lực chi viện cho A1, quyết giữ bằng được cứ điểm quan trọng nhất còn lại thuộc dãy đồi phía đông.

Trước tình hình các cửa mở đã mở thông, xung kích bắt đầu xung phong, trung đoàn trưởng ra mệnh lệnh cho các đơn vị chuyển sang giai đoạn xung phong tiêu diệt A1: đại đội cối 81mm chuyển làn bắn vào khu D và B; đại đội sơn pháo 75mm bắn vào tuyến ngang và đề nghị đại đoàn cho đại đội lựu pháo bắn vào khu C; tiểu đoàn 9 nhanh chóng phát triển chiếm lô cốt mẹ và khu B; tiểu đoàn 1 kiên quyết xung phong chiếm khu D phối hợp chặt chẽ với tiểu đoàn 9 tiêu diệt địch ở khu C.

Thực hiện quyết tâm của trung đoàn, trên hướng chủ yếu đại đội 3 1 7 tiểu đoàn 9 lo tiểu đoàn phó trực tiếp chỉ huy đã xung phong chiếm được đột phá khẩu phát triển theo hướng khu B bắt được 6 tù binh Âu Phi. Lúc này đại đội chỉ còn hơn 1 trung đội tiếp tục phát triển về phía đông bắc lô cốt mẹ. Một tổ chiến đấu của đại đội 317 đã thọc sâu vào qua lô cốt mẹ về phía bắc nhưng không có lực lượng tiếp sau nên đã bị địch ở sườn phía bắc khu C và B chia cắt với bộ phận phía sau. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 thấy mất liên lạc với đại đội 317, lập tức cho đại đội 316 thê đội 2 của tiểu đoàn vào chiến đấu. Đại đội 316 để lại một trung đội ở lại giữ đột phá khẩu, lực lượng còn lại tiến công theo 2 mũi, mũi bên phải đánh vào phía bắc khu B, mũi bên trái phát triển gặp tiểu đoàn 1, quay lại phát triển theo bên phải giao thông hào giữa khu A và D. Tới 20 giờ cả hai mũi này đã chiếm được cả khu A và một phần khu B.

Trên hướng thứ yếu, 19 giờ 45 phút, đại đội 671 tiểu đoàn 1 kiên quyết xung phong lên chiếm được các ụ súng 3, 4, 5 và 6 bắt được 5 tù binh, sau đó bắt liên lạc được với đại đội 316 tiểu đoàn 9 ở đông nam khu A. Đại đội chia làm hai mũi: một mũi đánh thẳng lên nhà vô tuyến điện phát triển sang lô cốt mẹ định phối hợp với đại đội 317 tiêu diệt địch ở khu vực này. Một mũi đánh về phía nam khu A bắt được 30 lính âu Phi, diệt 2 trung úy.

Ngay lúc đó địch từ khu C và D tiến ra phản xung phong.

Tại sở chỉ huy, nhận được báo cáo của tiểu đoàn phó tiểu đoàn 9 đã chiếm được 3/4 cứ điểm, trung đoàn trưởng lập tức ra lệnh cho tiểu đoàn 5 tiến ra vị trí xuất phát xung phong của tiểu đoàn 9 chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu khuếch trương thắng lợi, đồng thời yêu cầu đại đội 674 trên hướng dương công điều lên 20m bộc phá ống để chuẩn bị mở nốt số hàng rào còn lại, tiến công vào cứ điểm A3.

Từ 20 giờ, liên lạc với tiểu đoàn 9 và tiểu đoàn 1 bị đứt, trung đoàn không nắm được tình hình của hai đơn vị nên điều đồng chí tham mưu trưởng trung đoàn vào tung thâm nắm tình hình và trực tiếp chỉ huy chiến đấu. Tham mưu trưởng ra tới trận địa xuất phát xung phong của tiểu đoàn 9 gặp tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 vẫn còn ở đây nên lệnh cho tiểu đoàn trưởng vào tung thâm chỉ huy đơn vị phát triển, còn mình tiến lên đến hàng rào ngoài cùng và cho liên lạc lên gặp ban chỉ huy tiểu đoàn 9 nhận báo cáo.

Nhưng pháo địch bắn rất mạnh ở khu vực cửa mở nên liên lạc giữa bộ phận trong tung thâm và bên ngoài vẫn hoàn toàn bị gián đoạn. Trung đoàn trưởng vẫn không nắm được tình hình, điều tiếp một cán bộ tác huấn lên đột phá khẩu liên lạc với ban chỉ huy tiểu đoàn 9, đồng chí này vào được tung thâm nhưng không trở ra vì pháo địch bắn chặn ở cửa đột phá sợ thương vong. Cuộc chiến đấu trong tung thâm không có sự chỉ huy thống nhất mà chủ yếu là do các phân đội tự động chiến đấu.

Trong tung thâm, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 9 không nắm được đại đội 317, đại đội 316 đánh vào khu B bị hoả lực địch chặn lại cũng không thấy báo cáo về, tiểu đoàn phó điều nốt trung đội 3 của đại đội 316 ở đột phá khẩu vào tiếp sức. Lúc này, đại đội 315 cũng tiến vào chiến đấu theo lệnh của tiểu đoàn trưởng, bộ đội ùn tắc ở cửa mở, bị hoả lực pháo địch sát thương một bộ phận. Khi đại đội 315 vào được tung thâm, đưa 1 trụng đội đánh vào lô cốt mẹ.

Hồi 21 giờ 30 phút, trung đội này đánh một quả bộc phá 10kg nhưng lại đánh nhầm vào tuyến ngang bên ngoài, một bộ phận địch ở đây hoang mang rút chạy vào phía tây khu B. Trung đội xung phong chiếm được tuyến ngang lúc đó mới phát hiện được lô cốt mẹ là một hầm ngầm nên tiếp tục phát triển tìm cửa hầm ngầm. Địch đánh trả dữ dội, trung đội của đại đội 315 thương vong gần hết (trong đó có cả đại đội trưởng), bộ phận còn lại phải lùi về sau. Tiểu đoàn phó điều thêm 2 trung đội lên tiếp sức, nhưng địch  bắt đầu phản xung phong từ khu C ra rất mạnh, bộ đội không phát triển được và bị hoả lực địch gây thương vong gần hết.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Chín, 2009, 12:44:46 PM
Đến 23 giờ, lực lượng của tiểu đoàn 9 tuy vẫn còn khá nhiều nhưng tản mát trong tung thâm, đại bộ phận ẩn nấp trong các hầm, lô cốt để tránh pháo địch sát thương, tiểu đoàn phó ở phía trước cũng chỉ chú ý chỉ huy các phân đội nhỏ trực tiếp chiến đấu mà không nghĩ tới củng cố lực lượng nên chỉ có một bộ phận nhỏ trực tiếp tham gia chiến đấu. Tiểu đoàn trưởng chỉ ở khu đột phá khẩu, không nắm được lực lượng, báo cáo về trung đoàn là tiểu đoàn bị thương vong gần hết, đề nghị chi viện ngay.

Trên hướng tiểu đoàn 1, địch từ phía tây và tây nam hầm ngầm tiến ra phản xung phong bị đại đội 671 đánh bật trở lại, diệt 12 tên trong đó có 1 trung úy. Sau 15 phút địch lại tiếp tục phản xung phong đợt 2. Lần này địch tiến hành chuẩn bị hoả lực rất mạnh, cả pháo của trung tâm, hoả lực của cứ điểm ở các ụ súng gần hàng rào và từ phía nam và tây nam hầm ngầm bắn xuống nên đại đội 671 bị thương vong rất lớn, chỉ còn lại tiểu đoàn trưởng, 2 cán bộ đại đội, 3 cán bộ trung đội và 2 chiến sĩ. Cùng lúc đó 2 trung đội của đại đội 673 ở đột phá khẩu lên tiếp sức, tiểu đoàn 1 liền tổ chức phát triển về phía nam và tây nam hầm ngầm nhưng bị hoả lực địch chặn lại không tiến được thương vong thêm một số nữa.

Tình hình đơn vị bạn lúc này: Trung đoàn 98 phát triển sang C2 bị chặn lại, đang tiếp tục đột phá; Trung đoàn 209 tổ chức đột phá vào D2 và 210 không thành công đã ngừng chiến đấu. Mũi thọc sâu.của tiểu đoàn 11 thuộc Trung đoàn 141 đã đánh tan một bộ phận của tiểu đoàn dù thứ 5 (5e BPVN) cũng đã bị hoả lực địch ngăn chặn; mũi thọc sâu của tiểu đoàn 54 Trung đoàn 102 không thành công đã tiến lên C1 tìm đường đột phá khác; các trận địa pháo của Bộ vẫn tiếp tục kiềm chế pháo địch nhưng đạn dược còn ít bắn lẻ tẻ, ít tác dụng. Một vài trận địa cối 120mm của địch ta chưa phát hiện được, đặc biệt trận địa pháo l05mm của địch ở Hồng Cúm hoạt động rất mạnh chi viện đắc lực cho A1.

Trước tình hình bộ đội chiến đấu trong tung thâm gặp khó khăn, trung đoàn trưởng quyết định đưa thê đội 2 vào chiến đấu nhằm đánh bại quân địch phản xung phong và phát triển tiêu diệt toàn bộ quân địch tại A1. Hai đại đội 924 và 925 của tiểu đoàn bộ binh 5 tiểu đoàn 255 (thê đội 2) được lệnh lên A1 tiếp sức cho tiểu đoàn 9; các đơn vị hoả lực 120mm, sơn pháo 75mm được lệnh tập trung chế áp khu C, khu vực lô cốt mẹ chi viện cho thê đội 2 chiến đấu. Trung đoàn còn cử đồng chí tham mưu trưởng trung đoàn vào ngay tung thâm chỉ huy chiến đấu và đề nghị pháo Bộ bắn vào khu C và.kiềm chế pháo địch ở Hồng Cúm, trận địa 120mm ở Mường Thanh. Vì không có kế hoạch đánh địch phản xung phong từ trước, đạn dược các cỡ hoả lực của trung đoàn đã gần hết, trời lại rất tối không quan sát thấy mục tiêu nên hoả lực chi viện cho bộ binh hiệu quả không cao.

24 giờ ngày 30 tháng 3, đại đội 925 do tiểu đoàn phó chỉ huy bước vào chiến đấu. Hoả lực địch chế áp dữ dội ở khu vực đột phá khẩu, đại đội phải vọt tiến từng tiểu đội, tới 1 giờ sáng ngày 313 đại đội mới vào hết đột phá khẩu  nhưng thương vong mất hơn 1 trung đội. Tiểu đoàn phó tiếp tục chỉ huy đại đội 925 tiến vào tung thâm, vượt qua khu A, tập trung thêm được gần 30 chiến sĩ của tiểu đoàn 9 và tiểu đoàn 1 rải rác ở trong các ụ súng và lô cốt của địch.

Vào đến tung thâm, đại đội 925 sử dụng 2 trung đội tăng cường cho tiểu đoàn 9 tiến về hướng khu B, 1 trung đội tăng cường cho tiểu đoàn 1 tiến về hướng khu D. Có thêm lực lượng tăng cường, bộ đội ta ở tung thâm chiến đấu giằng co với địch ở đông khu B và bắc khu D suốt từ 1 giờ tới 3 giờ sáng. Do ta ở thế thấp hơn, bị hoả lực địch uy hiếp mạnh nên bộ đội chỉ đủ sức phối hợp ngăn chặn địch phản xung phong chứ không còn khả năng phát triển tiêu diệt toàn bộ quân địch ở A1.

Thực tế, theo lời khai của tù binh thì lúc này địch cũng đã bị tổn thất nặng, tinh thần binh lính đã hoang mang dao động, bọn sĩ quan chỉ huy cũng ít hy vọng giữ được cứ điểm phải dồn vào cố thủ ở hầm ngầm chỉ còn trông chờ vào lực lượng ứng viện xong lực lượng cơ động cũng bị tiêu hao khá nặng. Nhưng trung đoàn đã không nắm chắc được tình hình địch lúc đó. Mặt khác do hệ thống thông tin liên lạc điện thoại của trung đoàn với các bộ phận trong tung thâm hoàn toàn bị đứt, chỉ còn sừ dụng được một phương tiện duy nhất là máy bộ đàm; nhưng vì mật mã quá giản đơn nên sau một thời gian ngắn địch đã phát hiện được biết ta cũng bị thiệt hại nặng nề, kế hoạch hiệp đồng bị phá vỡ, chỉ huy không thống nhất. Bọn chỉ huy ở tập đoàn cứ điểm đã rút các lực lượng phòng ngự ở các cứ điểm trong tung thâm kết hợp với các lực lượng cơ động còn lại kiên quyết thực hành phản xung phong đánh bại cuộc tiến công của ta vào A1.

Tới 3 giờ ngày 31, lực lượng chiến đấu trong tung thâm của ta bị yếu dần, một phần bị hoả lực địch sát thương, một phần vì không có chỉ huy thống nhất, tản mát ẩn nấp trong các công sự phía sau. Lợi dụng thời cơ đó, địch dùng 2 xe tăng từ A3 tiến lên khu vực hầm ngầm dùng pháo 75mm và trọng đại liên kết hợp với hoả lực của bản thân cứ điểm và pháo chi viện phong toả cửa đột phá của ta cắt đứt các thê đội phía sau và sát thương thêm một số sinh lực của ta trong tung thâm. Hơn 1 đại đội địch từ Mường Thanh lợi dụng giao thông hào đào sẵn tiến lên A1.

Thấy địch có triệu chứng sắp phản xung phong lớn ở nhiều hướng, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 5 điều đại đội 924 bước vào chiến đấu. Đại đội này khi vượt qua đột phá khẩu cũng bị thương vong khá nhiều (đại đội trưởng cũng bị thương). Các lực lượng trong tung thâm tiếp tục đánh địch phản xung phong. Mặc dầu cán bộ và chiến sĩ ta chiến đấu rất dũng cảm ngoan cường, lấy vũ khí địch đánh địch, có những bộ phận phải chiến đấu giáp lá cà với địch làm cho chúng bị tổn thất khá nặng, nhiều lần phải rút về tuyến sau để củng cố, song.ta không thể phát triển tiến công được do hoả lực địch phong toả rất mạnh. Vì không có sự chỉ huy thống nhất trong tung thâm và nhất là không hiệp đồng được với sự chi viện của hoả lực trung đoàn và hoả lực của Bộ nên đến 4 giờ 30 ta phải rút cả về chiếm giữ ngã ba phía đông khu A. Chỉ huy bộ đội trong tung thâm lúc này chỉ còn đồng chí tiểu đoàn phó tiểu đoàn 5 chỉ huy chung, đồng chí tiểu đoàn phó tiểu đoàn 9 vẫn ở tuyến trên chỉ huy bộ đội chiến đấu, còn tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 5 và tiểu đoàn 9 trở về trung đoàn báo cáo.

Cũng thời gian trên, đại đội 674 ở hướng dương công vẫn nằm tại trận địa cũ bí mật cắt thêm được một hàng rào dây thép gai nữa, ngoài ra không có một hoạt động tích cực nào khác để phối hợp với chủ lực của trung đoàn.

Đến 4 giờ 30 phút ngày 31, phía Trung đoàn 98 đột phá sang C2 cũng bị chặn lại, Đại đoàn 312 đã ngừng tiến công, các trận địa pháo của chiến dịch vẫn tiếp tục kiềm chế các trận địa pháo địch nhưng ít hiệu quả vì đạn dược có hạn. Trung đoàn trưởng nhận thấy lực lượng của trung đoàn không còn khả năng giải quyết được A1 nữa nên quyết định ngừng tiến công, để tiểu đoàn 5 ở lại ngăn chặn địch phản xung phong yểm hộ cho tiểu đoàn 9 và tiểu đoàn 1 rút khỏi cứ điểm, đồng thời cũng cho mang hết thương binh tử sĩ và các lực lượng không chiến đấu ra ngoài.

Trung đoàn đã đề nghị pháo binh chiến dịch tiếp tục kiềm chế pháo địch ở Hồng Cúm, Mường Thanh và bắn chặn địch phản xung phong từ Mường Thanh lên chi viện cho các lực lượng của trung đoàn rút quân.

Tới 6 giờ, đại bộ phận tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 9 rút được ra ngoài cứ điểm, song vì không có cán bộ chỉ huy thống nhất lại không được hoả lực trung đoàn yểm hộ nên đội hình rút quân lộn xộn, bị hoả lực địch sát thương một số. Trong khi đó, một bộ phận cán bộ và chiến sĩ của 2 tiểu đoàn này không nhận được lệnh rút quân vẫn cùng với tiều đoàn 5 đánh địch phản xung phong. Các bộ phận còn lại trong tung thâm chiến đấu với tính chất hoàn toàn tự động (tiểu đoàn phó tiểu đoàn 5 bị thương đã rút ra ngoài hồi 5 giờ, cán bộ tiểu đoàn lúc này trong tung thâm chỉ còn tiếu đoàn phó tiểu đoàn 9 nhưng cũng không nắm được toàn bộ lực lượng), cán bộ và chiến sĩ của các đơn vị đã tự  động ghép lại thành từng tổ chiến đấu, kiên quyết giữ vững khu vực đã chiếm, đánh tan mọi đợt phản xung phong của địch. Mặc dầu địch tiến hành phản xung phong liên tục suốt 7 tiếng (từ 4 giờ 30 phút tới 11 giờ) ta vẫn giữ được khu A, một phần khu B và khu D, làm chúng bị tổn thất khá nặng.

Đến 11 giờ 30 phút ngày 31, do không có chỉ huy thống nhất, không có hoả lực trực tiếp yểm hộ, tổn thất của ta ngày càng tăng (hầu hết cán bộ trung đội, đại đội còn lại đều bị thương vong), lực lượng trực tiếp tham chiến còn rất ít, đạn dược lại hết nên những bộ phận còn lại trong tung thâm cũng tự động rút ra ngoài. Đợt chiến đấu đầu tiên vào A1 kết thúc.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Chín, 2009, 12:45:37 PM
2. Tiến công lần thứ 2 đêm 31 tháng 3, ngày 1 tháng 4 năm 1954.

Sau đêm đầu tiên của đợt hai chiến dịch Điện Biên Phủ, ta đã tiêu diệt C1, D1, E1 và mũi thọc sâu của tiểu đoàn 11 Trung đoàn 141 đã phát triển vào tới 210. Ngay cạnh A1, Trung đoàn 98 đã chiếm được C1, nhưng tiến công sang C2 không thành công, trung đoàn đang kiên cường đánh địch phản kích tại C1. Trên dãy đồi phía đông địch còn giữ được các cứ điểm A1, C2, D2, D3 và Mâm Xôi.

Tại cứ điểm A1, tiểu đoàn Bắc Phi (1/4 RTM) chỉ còn lại hơn 1 trung đội nên địch điều tiểu đoàn dù thứ 6 (6è BPC) lên thay thế, có tăng cường thêm một bộ phận của tiểu đoàn dù thứ nhất (1er BDP). Công sự của địch ở phía Đông bị pháo và bộ binh ta phá hủy phần lớn nhưng chúng không dám ra củng cố và chiếm lại.

Lực lượng Trung đoàn 174 qua đợt chiến đấu vừa qua bị tổn thất nặng chưa củng cố được chỉ còn đại đội 674 của tiểu đoàn 1 là tương đối còn nguyên vẹn. Hoả lực trung đoàn vẫn ở các trận địa cũ đã tiến hành củng cố và bổ sung đạn dược. Căn cứ vào tình hình trên, Bộ chỉ huy Mặt trận quyết định dùng Trung đoàn 102 Đại đoàn 308 có tăng cường thêm bộ phận còn lại của Trung đoàn 174 tiếp tục tiến công A1.

Ngày 31 tháng 3 trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 nhận được lệnh của đại đoàn phối hợp với Trung đoàn 102 tiếp tục tấn công A1, cụ thể: toàn bộ hoả lực pháo binh của trung đoàn và hệ thống thông tin liên lạc giao lại cho trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 chỉ huy; củng cố lại lực lượng bộ binh tăng cường cho Trung đoàn 102; bàn giao lại kế hoạch tác chiến cũ và phổ biến kinh nghiệm trận đánh vừa qua cho trung đoàn trưởng 102.

Về Trung đoàn 102, sau khi truy kích địch ở Thượng Lào về, tinh thần bộ đội rất phấn khởi trước thắng lợi vừa thu được. Tuy nhiên, sau đợt chiến đấu liên tục ở Lào, quân số các đơn vị bị hao hụt chưa được bổ sung, sức khoẻ có bị giảm sút. Ngày 30 tháng 3 đại bộ phận Trung đoàn 102 còn ở phía tây Mường Thanh (gồm 2 tiểu đoàn và toàn bộ hoả lực trung đoàn) ở phía đông, chỉ có tiểu đoàn 54 đã tham gia chiến đấu thọc sâu suốt đêm 30 tháng 3, nhưng không thành công, sang 31 tháng 3 lại đánh địch phản xung phong nên bị tổn thất khá nặng (tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 54 cũng bị thương) chưa kịp củng cố, lực lượng chỉ còn gần 2 đại đội. Tiểu đoàn 18 sáng ngày 31 tháng 3 mới từ phía tây vận động sang, lực lượng cũng chỉ còn hơn 2 đại đội. Trung đoàn  trưởng chưa nắm được toàn bộ lực lượng của mình (mới chỉ nắm được 4 đại đội bộ binh) nhưng lại phải tiến hành chuẩn bị và tổ chức chiến đấu gấp, từ lúc trung đoàn nhận lệnh đến khi thực hành chiến đấu chỉ có 6 giờ.

Sau khi nhận lệnh, trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 cùng chính ủy trung đoàn và tiểu đoàn trưởng 18 đã tới gặp ban chỉ huy Trung đoàn 174 để nhận kế hoạch bàn giao và nghe phổ biến lại kế hoạch tác chiến và kinh nghiệm chiến đấu ở A1. Tuy nhiên, do thời gian gấp nên nội dung rất sơ sài, chưa xác định được nguyên nhân làm cho trận đánh không thành công mà chỉ cho rằng trận đánh không thắng vì địch có hầm ngầm kiên cố và hoả lực chi viện mạnh.

Căn cứ vào tình hình lúc đó, trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 quyết tâm tác chiến theo kế hoạch cũ của Trung đoàn 174. Cụ thể: Trung đoàn 102 có 4 đại đội bộ binh làm hướng điểm, đột phá vào phía đông cứ điểm (lực lượng của tiểu đoàn 18 và tiểu đoàn 54 tổ chức thống nhất thành một tiểu đoàn do tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 18 chỉ huy chung, lấy đại đội 267 tiểu đoàn 54 làm đại đội chủ công); Trung đoàn 174 có 4 trung đội bộ binh làm hướng diện, đột phá vào hướng đông nam.

Các hướng tiến công vẫn theo hướng cửa mở cũ, nếu địch chưa rào lại thì sau khi chiếm lĩnh xong sẽ bỏ giai đoạn pháo bắn chuẩn bị, chỉ tiến hành bắn chế áp trong 3 phút là các mũi xung phong ngay. Tuy nhiên, các đại đội đột phá vẫn phải chuẩn bị bộc phá ống để phá chướng ngại vật của địch ở tiền duyên. Kế hoạch chiến đấu trong tung thâm vẫn cũ, nhưng các mũi đều phải sẵn sàng đánh địch  phản xung phong. đặc biệt mũi điểm phải nhanh chóng thọc sâu tiêu diệt hầm ngầm của địch.

Trong thời gian trung đoàn chuẩn bị kế hoạch chiến đấu các đơn vị nhanh chóng chấn chỉnh tổ chức lại đơn vị, bổ sung đạn dược và động viên bộ đội chiến đấu. Khi trung đoàn nhận kế hoạch xong, các đơn vị lập tức hành quân ngay. Trong khi hành quân, các cán bộ đại đội vượt lên trước nhận kế hoạch chiến đấu cụ thể, còn đối với cán bộ trung tiểu đội và chiến sĩ chỉ tiến hành phổ biến kế hoạch tác chiến trên sơ đồ ngay trên giao thông hào. Vì không được quan sát địa hình và địch tình, kế hoạch tác chiến lại phổ biến rất vội vã qua loa nên cán bộ và chiến sĩ chưa thực sự nắm chắc tình hình và có rất nhiều thắc mắc.

17 giờ ngày 31, bộ đội bắt đầu xuất kích, 18 giờ các đơn vị ra tới trận địa xuất phát xung phong. Mũi diện không gặp gì trở ngại vì Trung đoàn 174 đã nắm được địa hình.

Nhưng mũi điểm, Trung đoàn 102 do mấy trinh sát viên Trung đoàn 1 74 dẫn đường bị lạc, mãi tới 22 giờ 15 phút mới tìm thấy cửa đột phá. Cán bộ các đại đội chủ công khi lên xác định lại điểm đột phá thấy cửa mở cả hai mũi vẫn thông nhưng các lô cốt ở đột phá khẩu địch đã chiếm lại.

Các đại đội chủ công quyết định thay đổi biên chế trung đội bộc phá thành trung đội đột kích (bỏ bộc phá ống lại) Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 cũng quyết định bỏ giai đoạn pháo bắn phá hoại mà chỉ bắn chế áp rồi bộ binh xung phong ngay.

22 giờ 30 phút ngày 31, cuộc tiến công A1 đợt 2 bắt đầu Sau 3 phút hoả lực trung đoàn tiến hành bắn chế áp, bộ binh bắt đầu xung phong vượt cửa mở. Quân địch bị bất ngờ trước đợt hoả lực chế áp, thương vong một số và đối phó lúng túng. Sau 15 phút xung phong cả hai mũi đã đột nhập được trận địa địch chiếm lĩnh được khu A, bắt 15 tên địch. Lúc này địch đã củng cố lại được bắt đầu đối phó mãnh liệt.  Mũi điểm (đại đội 267 tiểu đoàn 54) do tiểu đoàn phó chỉ huy tiếp tục phát triển về phía bắc khu B và một bộ phận đánh thẳng vào khu hầm ngầm. Cũng như đêm trước, bộ đội không tìm thấy hầm ngầm và đánh bộc phá nhầm vào thành vại, bị hoả lực địch trong cứ điểm kết hợp với pháo binh chi viện phong toả không phát triển được.

Mũi diện, đại đội 674 tiểu đoàn 1 phát triển sang khu D cũng gặp địch dựa vào tuyến ngang phản xung phong, tuy có đánh bật địch lại nhưng lại bị hoả lực địch ngăn chặn nên phải lùi lại.

Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 đề nghị đại đoàn cho kiềm chế pháo địch ở Hồng Cúm và Mường Thanh, ra lệnh cho toàn bộ hoả lực trung đoàn tiếp tục chế áp vào các mục tiêu đã quy định ở phía tây cứ điểm, yểm hộ cho hai mũi điểm và diện đánh thẳng vào hầm ngầm chiếm lấy khu vực này không cho địch có chỗ dựa để phản xung phong.

Dưới sự chi viện của hoả lực trung đoàn, hai mũi xung phong chiếm được một số ụ súng trước mặt tuyến ngang và liên tiếp tổ chức bốn đợt xung phong để tiếp cận hầm ngầm nhưng đều bị pháo địch phong toả không tiến lên được, thương vong ngày càng tăng. Lực lượng cả hai đại đội chủ công của hai mũi còn ít không đủ khả năng tiếp tục phát triển, lực lượng tiếp sau vẫn chưa lên kịp. Trận chiến đấu lại diễn ra giằng co như đêm trước. Ta vẫn không vượt được khỏi tuyến ngang chắn trước hầm ngầm.

Địch vẫn chiếm được ưu thế về địa hình, từ trên cao dùng hoả lực bắn thẳng, lựu đạn, phóng lựu kết hợp với hoả lực pháo binh chi viện khống chế toàn bộ khu vực ta mới chiếm được ở phía đông cứ điểm.

Cuộc chiến đấu trong tung thâm giằng co đến 4 giờ ngày 1 tháng 4 thì đại đội 263 tiểu đoàn 54 cùng đồng chí tiểu đoàn trưởng 18 mới lên tới A1. Quá trình vận động từ trận địa xuất phát xung phong lên, đại đội này bị pháo địch sát thương chỉ còn gần hai trung đội. Lúc này địch đã củng cố lại được khu vực trận địa còn lại, tích cực ngăn chặn không cho ta tiến công nên mặc dù được tăng cường thêm lực lượng, bộ đội trong tung thâm cũng chỉ đủ sức giữ vững trận địa đã chiếm đánh lại các đợt phản xung phong của địch từ trên cao xuống mà không tổ chức tiến công được.

Đến 4 giờ 30 phút, sức chiến đấu cả hai mũi đều đã giảm sút nhiều, đại bộ phận công sự bị hoả lực địch phá hủy, bộ đội không thể trụ lại, phải rút về ngã ba giao thông hào gần khu vực đột phá khẩu. Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 18 thấy đại đội 267 đã bị thương vong nhiều nên đã cho bộ phận còn lại của đại đội này rút ra ngoài cứ điểm để củng cố lại làm lực lượng dự bị cho trung đoàn.

Trước tình hình cuộc tiến công gặp khó khăn, chỉ huy trung đoàn yêu cầu các đơn vị kiên quyết giữ vững trận địa đã chiếm, nhanh chóng cải tạo công sự, tổ chức hoả lực đánh tan mọi đợt phản xung phong của địch, tạo điều kiện để trung đoàn tổ chức đợt tiến công tiếp.

Phát hiện thấy ta sức chiến đấu giảm, không còn khả năng tiến công, thê đội tiếp sau bị chặn lại ở phía sau, địch lập tức tổ chức phản kích lớn hòng đẩy ta ra khỏi A1. 5 giờ sáng ngày 1 tháng 4, hai xe tăng cùng bộ binh địch từ Mường Thanh lên, chia làm hai cánh đánh ra hai đột phá khẩu của ta. Địch dùng hoả lực bắn thẳng chế áp đột phá khẩu của cả hai mũi, đồng thời dùng pháo binh trong trung tâm bắn dồn dập vào trận địa ta và bắn chặn ở chân cứ điểm về phía đông tạo thành một lưới lửa dày đặc nhằm cắt đứt thê đội tiếp sau của ta.

Bên cánh phải, Trung đoàn 102 do đồng chí trung đoàn trưởng vừa vào tung thâm trực tiếp chỉ huy đã ngoan cường chờ quân địch tới gần mới tập trung hoả lực tiêu diệt, chặn đứng cuộc phản kích của địch. Bên cánh trái, Trung đoàn 174 bám chắc trận địa, dùng hoả lực chia cắt bộ binh với xe tăng, yểm hộ cho hai chiến sĩ dùng ba-dô-ca bắn cháy xe tăng địch, khiến bộ binh địch phải bỏ chạy.

Kết quả ta đã đánh bại đợt phản kích lớn của địch. Nhưng khi ta phát triển lại bị địch dùng hoả lực chặn lại, bộ đội chỉ tiến lên được chừng 15m.

Lúc 9 giờ 30 phút địch lại tổ chức phản xung phong đợt nữa cũng bị ta đánh bại, từ đó tới 15 giờ địch chỉ dùng hoả lực pháo binh bắn vào trận địa ta từng đợt một. Các bộ phận của ta còn lại trong tung thâm theo lệnh trung đoàn trưởng tích cực tăng cường thêm công sự cho vững chắc để tránh pháo địch sát thương và củng cố lại lực lượng sẵn sàng đánh địch phản xung phong.

Tới 15 giờ ngày 1 tháng 4, địch lại cho 2 xe tăng lên phía nam khu B dẫn theo hai đại đội bộ binh từ Mường Thanh lên phối hợp với lực lượng trong cứ điểm phản kích  hòng đẩy ]ủi ta ra khỏi trận địa. Địch sử dụng pháo binh và hai phi cơ thả bom và bắn phá khu đồi Cháy và trận địa xuất phát xung phong của ta, rồi mới cho quân tiến lên. Vì công sự yếu, trận địa hẹp, ta lại ở thế hoàn toàn thấp hơn địch nên sau 2 giờ chiến đấu ác liệt ta phải rút xuống gần khu đột phá khẩu. Lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu ở phía trước lúc này chỉ còn có 1 7 đồng chí, còn phần lớn đã bị thương vong hoặc ẩn nấp rải rác trong các hầm. Quyết tâm giữ vững trận địa đã chiếm, trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 điều thêm 1 đại đội của tiểu đoàn 18 bước vào tung thâm. Đại đội này vượt qua cửa đột phá bị pháo địch bắn chặn thương vong chỉ còn hơn một trung đội. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 đã trực tiếp chỉ huy bộ phận này tiến lên phối hợp cùng với các bộ phận còn lại trong cứ điểm đánh tan được đợt phản xung phong của địch, chiếm lại toàn bộ trận địa giành được buổi sáng.

Sau khi đánh bại đợt phản kích của địch, thấy lực lượng trực tiếp tham chiến trong cứ điểm của Trung đoàn 174 còn rất ít (cả đại đội 674 chỉ còn lại 8 người), trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 đã cho bộ phận này giao lại nhiệm vụ phòng ngự cho tiểu đoàn 18 để rút ra ngoài cứ điểm củng cố lại lực lượng. Hình thái giữa ta và địch vẫn ở thế giằng co như trên cho đến tối.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Chín, 2009, 12:46:34 PM
3. Tiến công lần thứ 3, đêm 1 và ngày 2 tháng 4.

Cho đến chiều ngày 1 tháng 4, trên dãy đồi phía đông địch chỉ còn giữ được C2 và A1. Tại A1, sau đợt phản kích lớn thất bại, địch lại dồn về khu hầm ngầm dựa vào công  sự kiên cố để cố thủ và dùng hoả lực pháo binh phong toả không cho ta phát triển. Tuy lực lượng phản kích có bị thiệt hại nặng nhưng địch đã kịp thời bổ sung.

Tình hình ta, các đơn vị bạn đã ngừng chiến đấu từ đêm trước. Trung đoàn 174 và Trung đoàn 102, lực lượng đều bị tổn thất nặng, tổ chức xộc xệch phải bổ sung thêm cả các lực lượng vận tải vệ binh vào các đại đội chiến đấu.

Bộ đội sức khoẻ giảm sút, tinh thần nói chung bi quan, đánh giá địch quá cao, cho là địch có hầm ngầm kiên cố lại có pháo chi viện mạnh và lực lượng phản xung phong lớn nên không tin tưởng thắng lợi. Tiểu đoàn 79 Trung đoàn 102 từ phía tây cũng đã vận động sang nhưng lực lượng cũng chỉ còn hơn một đại đội. Lực lượng chung của 2 trung đoàn tổ chức ghép lại được 3 đại đội chiến đấu.

Căn cứ theo mệnh lệnh của đại đoàn, trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 quyết tâm dùng toàn bộ lực lượng còn lại tiếp tục tiến công. Theo kế hoạch cũ: Trung đoàn 102 còn 2 đại đội đánh địch trên hướng điểm, Trung đoàn 174 còn 1 đại đội đánh địch trên hướng diện. Sau khi hoả lực của trung đoàn chế áp 3 phút, bộ đội sẽ xung phong ngay. Để phối hợp với mặt phía đông, đêm 1 tháng 4 Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 cũng có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt cứ điểm 106 ở phía tây Mường Thanh.

Theo kế hoạch, 22 giờ 30 phút ngày 1 tháng 4, các mũi bắt đầu hành quân tiếp cận thay phiên cho phân đội phòng ngự trên cứ điểm để đúng 24 giờ bắt đầu xung phong. Nhưng đại đội của Trung đoàn 174 tổ chức không kịp (mãi đến 5 giờ ngày 2.4 mới tới bờ suối), nên trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 quyết định dùng 2 đại đội  của trung đoàn làm thê đội 1 (1 đại đội đánh mũi điểm, 1 đại đội đánh mũi diện), còn đại đội của Trung đoàn 174 tới sau sẽ làm thê đội 2.

Sau khi hoả lực của trung đoàn tiến hành bắn chế áp, địch ở khu A rút cả về tuyến ngang nên hai mũi xung phong của ta phát triển nhanh chóng. Nhưng khi gần tới khu hầm ngầm, địch lại dựa vào tuyến ngang ngăn chặn, ta vẫn không đánh được vào hầm ngầm và cũng không có biện pháp tích cực tìm mọi cách vòng qua mà vẫn chỉ theo các hướng đã đột phá từ đêm trước tiến lên, do đó bộ đội chững lại không tiến lên được.

Đến 3 giờ sáng ngày 2 tháng 4, địch từ khu C và D tiến ra phản kích dưới sự chi viện đắc lực của pháo binh. Lực lượng ta bị thương vong nhiều, chỉ còn gần 1 trung đội nên phải lui về ngã ba giao thông hào gần đột phá khẩu, dựa vào trận địa còn lại dưới sự chỉ huy trực tiếp của trung đoàn trưởng ngăn chặn đợt phản kích của địch. Gần một đại đội của tiểu đoàn 79 Trung đoàn 102 lên tăng cường cũng chỉ đủ khả năng phối hợp cùng bộ phận còn lại ngăn chặn không cho địch tiến xuống.

Mãi tới 6 giờ 30 phút ngày 2 tháng 4, Trung đoàn 174 mới củng cố được 2 trung đội (60 người) do tiểu đoàn phó tiểu đoàn 9 chỉ huy lên tới đột phá khẩu. Mặc dù lực lượng được tăng cường nhưng chỉ huy trung đoàn nhận thấy không còn đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ tiếp tục tiến công ban ngày nên quyết định chuyển sang phòng ngự giữ vững trận địa còn lại, kiên quyết đánh tan mọi đợt phản xung phong của địch, chờ thời cơ chuyển sang tiến công. Nhiệm vụ các đơn vị như sau: 2 trung đội của  Trung đoàn 174 do tiểu đoàn phó tiểu đoàn 9 trực tiếp chỉ huy phát triển sang phía đông nam A1 tổ chức phòng ngự, chặn không cho địch từ khu D đánh vào sườn của ta; Trung đoàn 102 tổ chức hai bộ phận, một bộ phận phòng ngự ở chính diện do tiểu đoàn phó tiểu đoàn 54 Trung đoàn 102 chỉ huy, một bộ phận phòng ngự phía đông bắc cứ điểm chặn không cho địch từ khu B tiến ra, do tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 18 chỉ huy.

Lúc 8 giờ sáng ngày 2 tháng 4, địch bắt đầu một đợt phản kích mới. Sau khi cho pháo kết hợp với hoả lực của xe tăng bố trí ở C2 bắn dồn dập vào trận địa ta, hơn 2 trung đội bộ binh địch, từ khu C và B tiến ra đánh vào phía bắc khu vực phòng ngự của ta. Vì bị uy hiếp mạnh tiểu đoàn trưởng 18 dao động bỏ chạy về phía đột phá khẩu (vượt qua vị trí chỉ huy của trung đoàn trưởng trong tung thâm), lực lượng phòng ngự phía này thấy cán bộ chỉ huy bỏ chạy nên cũng rút chạy về phía sau. Trung đoàn trưởng đã ra lệnh dừng lại, nhưng tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 18 vẫn chạy, qua cửa đột phá gặp hơn một tiểu đội ở dưới lên tăng cường, cũng lệnh cho bộ phận này rút. Nhân lúc đội hình chiến đấu ta đang bị rối loạn địch truy kích sát gót, hòng đánh bật ta ra khỏi cứ điểm. Trung đoàn trưởng đã kịp thời chỉ huy bộ phận còn lại kiên quyết chiến đấu ngăn chặn địch, cuộc chiến đấu giáp lá cà đã diễn ra ác liệt. Bản thân trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 cũng phải dùng tiểu liên, lựu đạn trực tiếp tác chiến, vừa chiến đấu vừa chỉ huy, hướng dẫn cho tân binh cách sử dụng vũ khí, đánh địch. Gương chiến đấu dũng cảm của cán bộ, đặc biệt là trung đoàn trưởng bị thương vẫn ở lại chỉ huy bộ đội đã củng cố và động viên được tinh thần chiến đấu của chiến sĩ. Các đơn vị còn lại đã tổ chức bộ đội kiên cường đánh bại đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa. Cuộc chiến đấu trở lại thế giằng co như trước. Pháo chi viện địch hoạt động ngày càng mạnh, hoả lực của trung đoàn bắn rời rạc vì đạn dược còn ít nên không ngăn chặn được địch từ xa.

Hồi 11 giờ địch lại tổ chức một đợt phản xung phong lớn bằng lực lượng tăng viện từ Mường Thanh lên kết hợp với lực lượng bản thân cứ điểm từ khu D và khu C tiến ra, đánh bật bộ phận của Trung đoàn 174 và bộ phận phòng ngự chính diện lùi xuống gần cửa đột phá. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 đã sử dụng 1 trung đội của Trung đoàn 1 74 vừa tăng cường lên ngăn chặn địch, đánh tan bộ phận địch phát triển xuống dưới, khôi phục lại hình thái phòng ngự lúc đầu. Từ đó cho đến tối tuy địch có tổ chức phản kích 2 đợt nữa nhưng đều bị ta chặn lại, về phía ta cũng không phát triển thêm được, thương vong ngày càng tăng vì pháo địch.


4. Tiến công lần thứ 4, đêm 2 và ngày 3 tháng 4.

Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 lại nhận được lệnh của đại đoàn phải tiếp tục tấn công tiêu diệt bằng được A1.

Tình hình lúc này, lực lượng của cả hai trung đoàn bị tổn thất nặng nề sau 3 ngày đêm chiến đấu liên tục, Trung đoàn 174 chưa củng cố lại được. Lực lượng chiến đấu trong cứ điểm còn chừng 1 đại đội. Bộ phận của Trung đoàn 174 theo lệnh trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 đã rút về phía sau để củng cố. Trung đoàn 102 cũng chỉ tổ chức hỗn  hợp được thành một đại đội bộ binh. Bộ đội mệt mỏi, cán bộ phần lớn dao động không tin tưởng thắng lợi. Chiến sĩ phần lớn là tân binh mới bổ sung chưa được huấn luyện cơ bản nên kỹ thuật chiến đấu rất kém. Hoả lực trung đoàn tuy có bổ sung nhưng đạn dược còn ít. Sức chiến đấu của Trung đoàn 102 giảm sút rõ rệt.

Trước tình hình đó trung đoàn trưởng quyết tâm tập trung toàn bộ lực lượng còn lại động viên tinh thần chiến đấu kiên quyết tiêu diệt A1 trong đêm. Vẫn tác chiến theo kế hoạch cũ, nhưng sau khi bộ đội chuẩn bị xong, tiếp cận là xung phong ngay, không qua giai đoạn pháo bắn chế áp để tranh thủ yếu tố bất ngờ. Lực lượng tác chiến chủ yếu là đại đội bộ binh mới tổ chức, kết hợp với bộ phận còn lại trong cứ điểm.

Sau một thời gian tổ chức lực lượng, các lực lượng tập hợp được lợi dụng đêm tối tiến vào tung thâm. Khi đã tiếp cận được bàn đạp, trung đoàn trưởng ra lệnh xung phong, bộ đội tiến vòng về phía đông hầm ngầm để đánh bộc phá nhưng vẫn đánh nhầm vào thành vại như đêm trước. Mặc dầu ta đã đánh liên tiếp 80kg bộc phá, địch vẫn không bị thiệt hại gì, tiếp tục từ hầm ngầm và các hố tránh pháo tiến ra tuyến ngang dùng lựu đạn, tiểu liên kết hợp với pháo chi viện ngăn chặn không cho ta phát triển và thực hành phản xung phong từ hai hướng bắc và nam hầm ngầm ra. Cuộc chiến đấu lại diễn ra như đêm trước.

Tới 4 giờ sáng ngày 3 tháng 4, lực lượng ta đã yếu nhiều. Thấy không còn đủ khả năng tiếp tục tiến công tiêu  diệt A1 ngay, được sự đồng ý của đại đoàn, trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 quyết đinh ngừng tiến công, để lại 1 trung đội tổ chức phòng ngự, kiên quyết giữ vững trận địa còn lại, còn đại bộ phận rút ra ngoài cứ điểm mang theo thương binh, tử sĩ. Lợi dụng sương mù nên đơn vị cũng rút ra được một bộ phận nhưng vì trận địa ta ở quá xa, do đó khi rút bị hoả lực địch bắn chặn, cũng thương vong thêm một số nữa. Đến đây, cuộc tiến công A1 trong đợt 2 chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc.


Kết quả, toàn bộ trận chiến đấu ở A1 (kể cả thời gian phòng ngự và đợt tiến công cuối cùng vào đêm 6 rạng sáng ngày 7.5) ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 828 tên địch (bị diệt 376, bị thương và bị bắt 452), thu 1 trọng liên 12,7mm, 4 đại liên, 27 trung liên, 162 tiểu liên, 201 súng trường, 2 khẩu ĐKZ 57mm, 6 khẩu cối, phá hủy 1 xe tăng.

Về ta, tổng số thương vong của cả 36 ngày đêm, chủ yếu là ở các đợt tiến công từ 30 tháng 3 - 3 tháng 4 là 2.516 đồng chí (hy sinh 1.004, bị thương 1.512), trong đó của Trung đoàn 174 là 1.620 đồng chí, Trung đoàn 102 là 890 đồng chí. Tổn thất về vũ khí cũng rất lớn: 8 khẩu súng cối các loại, 22 khẩu ba-dô-ca, ĐKZ 57mm, 8 khẩu đại liên và trọng liên, 32 khẩu trung liên, 326 khẩu tiểu liên, 460 khẩu súng trường.

Trong tổng kết chỉ có số liệu chung cho toàn bộ trận chiến đấu ở A1 từ ngày 30.3 đến ngày 6.5.1954. Song về kết quả diệt địch thì phần nhiều là ở cuộc tiến công cuối cùng vào đêm ngày 6 rạng sáng ngày 7.5. Còn số thương vong của ta thì chủ yếu là ở các đợt tiến công từ 30.3 - 3.4. Số thương vong của Trung đoàn 102 là ở cuộc chiến đấu hai ngày ba đêm trên đồi A1.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Chín, 2009, 12:47:17 PM
III. Nguyên nhân không thành công và bài học kinh nghiệm.

1. Nguyên nhân.

Trận tiến công cứ điểm A1 từ đêm 30 tháng 3 đến sáng 3 tháng 4 là trận đánh không thành công, thương vong lớn.

Về cấp chiến dịch, trong đợt 2, Bộ chỉ huy chiến dịch đã xác định số lượng mục tiêu quá nhiều so với khả năng của bộ đội ta, do đó lực lượng sử dụng dàn đều, không tập trung ưu thế dứt điểm từng mục tiêu, kể cả cứ điểm mạnh như A1. Việc xác định A1 là điểm đột phá chủ yếu trong hướng đột kích chủ yếu của chiến dịch đã không được Bộ tư lệnh chiến dịch xác định rõ ràng. Nên trong kế hoạch tác chiến, tuy có xác định A1 là quan trọng nhưng lực lượng tập trung cho A1 chưa đầy đủ, nhất là hoả lực pháo binh tăng cường quá ít, chưa bảo đảm tập trung tuyệt đối ưu thế binh hoả lực vào điểm đột phá chủ yếu. Đây cũng là một nguyên nhân làm ảnh hưởng tới quyết tâm của cấp dưới.

Thêm nữa, chiến dịch đã không có lực lượng dự bị ở khu đông nên khi Trung đoàn 1 74 không hoàn thành nhiệm vụ trận đầu, Bộ đã phải sử dụng Trung đoàn 102 bước vào chiến đấu trong điều kiện rất vội vã, lực lượng chưa kịp củng cố. Phải tiến hành chuẩn bị ngay trong hành tiến, công tác chuẩn bị lại quá giản đơn nên đã không đảm bảo hoàn thành được nhiệm vụ. Nếu như Trung đoàn 102 đã ở bên khu đông từ trước, có điều kiện chuẩn bị chu đáo, củng cố được lực lượng, nắm vững được địch tình, thì có thể bước vào chiến đấu nhanh chóng, đảm bảo chắc thắng.

Về chỉ đạo tác chiến của đại đoàn đối với những trận đánh đợt đầu cũng còn thiếu sót. Nhất là khi sử dụng Trung đoàn 102 bước vào chiến đấu đã thiếu kiểm tra giúp đỡ, việc phê chuẩn quyết tâm cho Trung đoàn 102 cũng chưa chính xác nên mặc dầu Trung đoàn 102 chưa củng cố được lực lượng, chưa nắm vững được địch tình và địa hình, chưa được Trung đoàn 174 bàn giao chu đáo, công tác chuẩn bị còn qua loa đại khái, không thay đổi cách đánh vẫn rập khuôn máy móc như kế hoạch tác chiến của Trung đoàn 174, không rút kinh nghiệm, tìm nguyên nhân không thành công mà đại đoàn vẫn ra lệnh liên tục tiến công trong ba ngày đêm liền kết quả vẫn không giành được thắng lợi, bị tổn thất nặng nề.

Sau này, đồng chí Hoàng Văn Thái, tham mưu trưởng chiến dịch Điện Biên Phủ xác nhận: "Ta chưa chiếm được A1 vì ngay từ đầu chưa nhận thức được vị trí hiểm yếu của nó, chưa có lực lượng dự bị mạnh, chưa có cách đánh đúng, chưa diệt được địch từ phía sau lên phản kích, chưa kiềm chế được pháo binh ở Hồng Cúm. Vả lại, đây là vị trí rất hiểm yếu nên địch tập trung phản kích điên cuồng, quyết giữ cho kỳ được". Đồng chí Chu Huy Mân, lúc đó là chính ủy Đại đoàn 316 cũng cho rằng: "Ngay từ đầu, chỉ đạo chiến dịch chưa thấy hết tầm quan trọng có ý nghĩa quyết định của hướng đông, do đó cũng chưa thấy hết A1 là vị trí then chốt".

Về cấp chiến thuật, tuy A1 là một cứ điểm có công sự tương đối vững chắc, có lực lượng mạnh, chiếm ưu thế về địa hình, nhưng không phải là không đánh được. Trận đánh không thành công không phải vì Trung đoàn 1 74 và Trung đoàn 102 không đủ khả năng tiêu diệt A1, không phải vì cán bộ và chiến sĩ thiếu dũng cảm, cũng không phải vì không có thời gian chuẩn bị mà có nguyên nhân chủ yếu là do cán bộ trung đoàn và tiểu đoàn đã phạm nhiều khuyết điểm trong chuẩn bị cũng như thực hành chiến đấu. Những khuyết điểm ở cấp chiến thuật sẽ được nêu rõ trong các bài học kinh nghiệm.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Chín, 2009, 12:48:09 PM
2. Bài học kinh nghiệm.

a. Bài học về nắm địch và đánh giá địa hình.

Công tác chuẩn bị trong một trận chiến đấu công kiên có tác dụng quyết định tới thành bại của trận đánh.

Chuẩn bị đầy đủ là điều kiện cơ bản đảm bảo cho trận đánh thắng lợi. Trong công tác chuẩn bị thì việc nắm địch tình và địa hình lại có tác dụng rất quan trọng, vì nó là cơ sở giúp cho người chỉ huy hạ quyết tâm được chính xác.

Bất cứ trong trường hợp nào người chỉ huy cũng phải tìm mọi biện pháp để có thể nắm vững được tình hình địch và đìa hình. Nếu có thời gian cần tổ chức trinh sát nhiều lần, tích cực tiềm nhập tận dụng mọi biện pháp và thủ đoạn trinh sát liên tục ngày đêm trước trận đánh cũng như ngay trong trận đánh.

Trong trận chiến đấu này mặc dầu thời gian có nhiều nhưng việc tổ chức trinh sát nắm địch và địa hình của  trung đoàn còn quá giản đơn. Trung đoàn trưởng mới chỉ dựa vào một số tài liệu của đại đoàn và Bộ cung cấp. Khi tiến hành trinh sát thực địa, lúc đầu chưa tích cực tiềm nhập nên chưa nắm được tình hình cụ thể phải tổ chức trinh sát lại nhưng trung đoàn trưởng mới chỉ chú ý tới mặt chủ yếu còn các mặt khác thì giao cho cán bộ cấp dưới và trinh sát viên, nhưng không kiểm tra đôn đốc. Khi cán bộ các đơn vị chấp hành mệnh lệnh không nghiêm chỉnh, sợ tiếp cận dễ bị thương vong, trung đoàn đã không kiên quyết có biện pháp khắc phục.

Do trinh sát có thiếu sót nên Trung đoàn 174 đã không nắm được tình hình địch và địa hình (nhất là tình hình trong tung thâm cứ điểm), không nắm được địa hình ở mặt phía nam, tây nam cứ điểm, không phát hiện được hầm ngầm và bố trí của địch trong tung thâm. Mặc dầu thời gian chuẩn bị từ khi nhận lệnh tới lúc tác chiến gần 3 tháng, cán bộ trung đoàn có tổ chức trinh sát thực địa nhưng thiếu thâm nhập điều tra, không tích cực tìm mọi biện pháp khắc phục như tiềm nhập bắt tù binh khai thác tài liệu, võ trang trinh sát..., không chịu tìm hiểu đơn vị bạn (Trung đoàn 98) đã từng tham gia luyện tập tại đây biết rõ tình hình cấu trúc công sự cũ của địch và địa hình trong tung thâm cứ điểm. Việc tổ chức trinh sát trong quá trình chiến đấu cũng chưa tích cực, các phân đội trinh sát chỉ ở các đài quan sát theo dõi diễn biến mà không trực tiếp đi theo các đơn vị đột phá để điều tra địch tình giúp thủ trưởng. Hầu hết các đơn vị trong quá trình chiến đấu đều bắt được tù binh, nhưng cũng không khai thác tài liệu, điều tra tình hình cụ thể về địch, nên mặc dầu trận  chiến đấu kéo dài mà địch tình và địa hình trong tung thâm cứ điểm A1 ta vẫn không nắm vững.

Chính vì không nắm được địch nên đánh giá đích không chính xác, lúc đầu thì coi thường, khinh địch nhưng khi gặp khó khăn lại đánh giá địch quá cao (chơ là địch có một hệ thống đường hầm và hầm ngầm rất kiên cố, địch quá mạnh nên ta không đánh được).

Trung đoàn 102 khi bước vào chiến đấu cũng không chú ý nắm địch, không thấy được thủ đoạn đối phó chủ yếu của chúng mà cũng chỉ cho là vì địch có hầm ngầm nên không thấy được những nguyên nhân chính đã làm cho Trung đoàn 174 không hoàn thành nhiệm vụ. Do đó đã hạ quyết tâm không chính xác, dập khuôn máy móc treo lối đánh của Trung đoàn 174, thúc bộ đội đánh ẩu trong điều kiện không có chuẩn bị, thiếu điều tra, nghiên cứu nên mặc dầu cán bộ và chiến sĩ Trung đoàn 102 chiến đấu rất dũng cảm vẫn không tiêu diệt được A1 mà ta lại bị tổn thất nặng nề.

Về đánh giá địa hình, đồi Cháy và đồi F có giá trị chiến thuật rất lớn, nếu đặt trận đìa hoả lực bắn thẳng ở đây có thể uy hiếp được toàn bộ trận địa địch về phía đông và đông nam yểm hộ đắc lực cho các mũi đột phá, khắc phục được thế yếu của ta về mặt đia hình phải đột phá từ thấp lên cao; nhất là tác chiến trong đêm tối hoả lực cấp trên thường đặt ở xa chỉ có thể đảm nhiệm tiêu diệt các mục tiêu lớn trong một phạm vi tương đối rộng, muốn diệt các hoả điểm trực tiếp uy hiếp cửa đột phá chủ yếu phải aựa vào các cỡ hoả lực bắn thẳng đặt ở cự ly gần trên các địa hình có lợi.

Trung đoàn 174 đã không tận dụng được các địa hình này ngay từ đầu, không kiên quyết giữ vững các địa hình quan trọng trước khi tiến công, đến giờ nổ súng còn để địch chiếm mất. Đến khi chiếm lại được thì không có công sự nên bị pháo địch sát thương gần hết, phải lùi xuống, do đó hoả lực đại đội và tiểu đoàn không có chỗ bố trí, không yểm hộ được cho các mũi đột phá và phát triển. Khi Trung đoàn 102 thay thế tiếp tục tiến công cũng vẫn không tận dụng được các đìa hình này nên quá trình đột phá (nhất là khi đánh địch phản xung phong) cũng không có hoả lực trực tiếp chi viện. Cho tới trận chiến đấu cuối cùng (đêm 6.5), Trung đoàn 174 mới tận dụng được hai quả đồi này, xây dựng được trận địa vững chắc nên quá trình tiến công, hoả lực tiểu đoàn và đại đội chi viện rất đắc lực cho các mũi đột phá và phát triển.

b. Bài học về xác định điểm đột phá (cửa mở) và tổ chức xây dựng trận dịa xuất phát tiến công.

Trong chiến đấu công kiên thông thường ta phải xác định từ 2 đến 3 điểm đột phá ở các hướng khác nhau nhằm hình thành thế bao vây chia cắt, phân tán sự đối phó của địch, không cho chúng co cụm. Đặc biệt trong điều kiện quân địch phòng ngự thành một hệ thống cứ điểm gần nhau, từng cứ điểm chúng có thể bố trí dựa vào nhau bảo đảm bên sườn và sau lưng ít bị sơ hở. Trong điều kiện đó việc chọn các mũi vu hồi đột phá vào phía sau và bên sườn cứ điểm tuy có nhiều khó khăn nhưng nếu khắc phục được sẽ có tác dụng rất lởn.

Trong đợt chiến đấu đầu, Trung đoàn 174 chọn 2 mũi đột phá, nhưng mũi diện tiểu đoàn 1 lại mở chệch hướng nên  hai mũi thành song song chỉ còn cách nhau khoảng 30m. Chính vì thế các mũi tiến công của ta không hình thành được thế bao vây chia cắt địch ngay từ đầu, mặt khác còn tạo điều kiện cho pháo chi viện địch tập trung được hoả lực ngăn chặn ta ở một hướng. Khi đột nhập được vào trận địa địch cả hai mũi đều từ thấp đánh thẳng vào chính diện địch. Nên địch vẫn có điều kiện rút về các khu vực cố thủ dựa vào tuyến ngăn chặn đã tổ chức sẵn, dùng hoả lực phong toả sát thương ta kết hợp với lực lượng từ tung thâm ra thực hành phản xung phong đẩy lùi ta lại. Chính vì đánh như vậy nên Trung đoàn 174 đã không tiếp tục phát triển được, cuối cùng lại bị đánh bật ra khỏi trận địa.

Nếu ngay trong đợt đầu mũi điểm vẫn để ở hướng đông, nhưng mũi diện cần đột phá chếch về hướng đông nam sau tuyến ngăn chặn của địch, như vậy ta có thể hình thành thế bao vây chia cắt ngay từ đầu, phân tán được hoả lực địch, tuy nhiên đột phá hướng này sẽ có nhiều khó khăn, ta phải vượt qua một bãi trống, đánh vào chỗ tương đối dốc, hoả lực địch kiểm soát tương đối chặt... nhưng ta xây dựng trận địa vững chắc vẫn có thể đột phá được.

Khi Trung đoàn 102 bước vào chiến đấu cũng vẫn đột phá theo hình thái cũ tuy có đề ra mở thêm một mũi về phía nam nhưng lại không kiên quyết thực hiện vì sợ làm thân trận địa sẽ mất nhiều thời gian, do đó sau 3 ngày đêm liên tục đột phá vẫn chỉ đánh thẳng vào chính diện phòng ngự của địch nên cuối cùng vẫn thất bại mà lại tổn thất nặng nề, đây là một sai lầm rất lớn về vận dụng chiến thuật. Tới lần chiến đấu cuối cùng, do xác định thêm được rnũi đột phá phía tây nam vào sau lưng cứ điểm nên đã  thực hiện được thế bao vây chặt quân địch ngày từ đầu, ngăn chặn không cho địch có điều kiện tăng viện hoặc rút lui, tạo điều kiện cho hướng đột kích chủ yếu hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời cũng góp phần tiêu diệt một bộ phận quân địch trong cứ điểm. Tuy mũi này trong quá trình chiến đấu đã bị địch chống cự rất mãnh hệt không những ở chính diện mà cả sau lưng và bên sườn đội hình chiến đấu; nhưng do xây dựng được trận địa xuất phát xung phong và tổ chức hoả lực chu đáo trong chiến đấu hiệp đồng chặt chẽ được với sự chi viện của pháo binh cấp trên, cán bộ và chiến sĩ tiểu đoàn 1 lại chiến đấu rất ngoan cường dũng cảm nên tuy mũi này chỉ tiêu diệt được một bộ phận quân địch, chiếm lĩnh được một phần nhỏ cứ điểm nhưng đã có tác dụng quan trọng góp phần quyết định thắng lợi trận đánh.

Về xây dụng trận đia xuất phát tiên công: việc tổ chức xây dựng một trận địa tiến công vững chắc đảm bảo cho bộ đội có thể cơ động nhanh chóng bí mật an toàn dưới tầm hoả lực địch trong điều kiện chiến đấu liên tục, quy mô lớn, là một yêu cầu cấp thiết không thể thiếu được. Trong lần chiến đấu này, Trung đoàn 174 xây dựng trận địa xuất phát xung phong của tiểu đoàn và đại đội chưa đạt yêu cầu còn cách trận địa địch quá xa (mũi điểm cách điểm đột phá 250m, mũi diện cách 270m), công sự càng gần địch lại càng nông không đúng kích thước, không có hầm tránh pháo, không có ngách về cho bộc phá viên khi đánh xong.

Nguyên nhân chính vì trung đoàn thiếu kiểm tra đôn đốc, việc chấp hành mệnh lệnh của một vài đơn vị cũng thiếu nghiêm chỉnh nên mặc dầu trung đoàn đã có phác hoạ  trong quá trình trinh sát nhưng vì tư tưởng ngại làm công sự sợ thương vong của cán bộ, chiến sĩ chưa giải quyết được nên cũng không chấp hành đúng quy định. Trong quá trình chuẩn bị tổ chức chiến đấu, đại đoàn và Bộ có phát hiện thấy một số thiếu sót nhưng trung đoàn cũng chưa khắc phục kịp thời.

Mặt khác, việc tổ chức bảo vệ trận địa cũng không được tiến hành chu đáo, thiếu kế hoạch bảo vệ một cách tích cực nên để địch nhiều lần ra lấp và phá trận địa ta, gài mìn lại, gây rất nhiều khó khăn cho ta trong việc xây dựng trận địa. Tuy thời gian xây dựng trận địa tới 15 ngày nhưng vẫn không đạt yêu cầu, đặc biệt đối với trận địa hoả lực của tiểu đoàn và đại đội ở đồi Cháy và đồi F không làm được để địch tới ngày cuối cùng trước khi ta tiến công vẫn còn ra đấy cảnh giới.

Do trận địa xuất phát tiến công không đạt yêu cầu nên khi chiến đấu việc cơ động đội hình rất khó khăn, hầu hết hoả lực của đại đội và tiểu đoàn bị pháo địch phá hủy làm tê liệt ngay trước khi nổ súng, đội hình chiến đấu rối loạn vì pháo chi viện địch cắt đứt và sát thương ở bãi phẳng trước tiền duyên trận địa địch. Hướng đột phá của mũi diện cũng bị lạc hướng vì phải vận động xa mất phương hướng. Thời cơ xung phong cũng bị mất vì đường vận động quá dài, lại bị hoả lực địch cản trở. Khi Trung đoàn 102 bước vào chiến đấu cũng không phát triển thêm được trận địa vẫn lợi dụng trận địa cũ nên vẫn bị hoả lực địch sát thương nặng. Cố thể nói, một trong những nguyên nhân làm ta bị tổn thất nặng nề trong đợt đầu chính vì không xây dựng được một trận địa xuất phát xung phong tiếp cận  và vững chắc, không có kế hoạch bảo vệ các trận địa đã xây dựng được. Gần 70% tổng số thương vong của ta là ở ngoài cứ điểm.

Tới lần chiến đấu cuối cùng do nhận thức được tầm quan trọng của trận địa, Trung đoàn 174 đã xây dựng được một trận địa tương đối hoàn chỉnh vững chắc đúng yêu cầu của chiến thuật nên đã đảm bảo cho các mũi xung phong nhanh chóng, mặc dầu hoả lực pháo chi viện địch vẫn tích cực hoạt động nhưng thương vong của ta ngoài tiền duyên cũng rất ít tạo điều kiện thuận lợi cho trung đoàn tiêu diệt A1.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Chín, 2009, 12:48:56 PM
c. Bài học về tổ chức đánh dịch trong tung thâm.

Một thủ đoạn chủ yếu của quân Pháp phòng ngự trong cứ điểm là khi bị đột phá sẽ kiên quyết, liên tục thực hành phản kích để khôi phục lại trận địa đã mất. Vì vậy, trong tư tưởng cũng như hành động của các phân đội đánh địch trong tung thâm là phải sẵn sàng đánh địch phản kích; trong bất cứ trường hợp nào phải luôn luôn có kế hoạch chuẩn bị sẵn từ trước để đối phó với lực lượng phản kích của địch trong cứ điểm và cả lực lượng phản kích của tập đoàn cứ điểm. Hành động tích cực nhất để phá tan ý định phản kích của địch là sau khi đột phá được trận địa phải nhanh chóng thọc sâu phát triển chiếm các mục tiêu chủ yếu của địch, để ngay từ phút đầu đã có thể phá vỡ được hệ thống phòng ngự của chúng chiếm các địa hình có lợi  làm chúng mất chỗ dựa. Đồi với các lực lượng phản kích nhỏ của bản thân cứ điểm, hành động tốt nhất của ta là tích cực phát triển sẽ làm địch trở tay không kịp. Nếu địch còn giữ được các địa hình có lợi thì phải tìm mọi biện pháp nhanh chóng phát triển vào hai sườn trận địa địch, vượt qua tuyến ngăn chặn đã chuẩn bị sẵn của chúng đánh vào sau lưng hoặc bên sườn quân địch để nhanh chóng tiêu diệt chúng.

Đối với các đội dự bị của địch từ tung thâm tiến ra, hành động tốt nhất của ta là phát hiện được ý định phản xung phong của địch sớm, kết hợp chặt chẽ với hoả lực cấp trên tập trung bắn ngay vào khu vực địch đang tập kết hoặc tổ chức các tuyến hoả lực cố định ở các địa hình bắt buộc địch phải qua nhằm ngăn chặn chúng lại, tiêu diệt địch từ xa không cho chúng tiếp tục có điều kiện tiếp viện cho cứ điểm. Nếu địch đã đột nhập được vào trận địa phải kiên quyết dùng hành động tích cực phát triển chiếm các địa hình có lợi rồi từ đó tổ chức hoả lực phong toả sát thương chúng, kết hợp chặt chẽ với hoả lực cấp trên cắt đứt các thê đội tiếp sau của địch tạo điều kiện thuận lợi tiếp tục tiến công.

Trong trận chiến đấu đầu tiên trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 đã phạm một sai lầm nghiêm trọng do chủ quan cho là địch không phản kích, nên mặc dầu cấp trên đã nhắc nhở vẫn thiếu kế hoạch cụ thể đánh địch phản kích. Quá trình chiến đấu gặp địch liên tiếp phản kích đã đối phó rất lúng túng, không tận dụng được hoả lực của trung đoàn, thiếu kế hoạch đánh địch từ xa để các đội dự bị địch tăng viện dễ dàng, lại không có hoả lực trực tiếp và hoả lực cấp trên chi viện nên chỉ chững cự một cách bị động, luôn luôn đánh vỗ mặt địch mà không có thủ đoạn đối phó tích cực đánh vào bên sườn quân địch. Trong khi  đó, địch kiên quyết ngăn chặn ta ở tuyến đã chuẩn bị, sử dụng hoả lực các loại sát thương ta rồi thực hành phản xung phong đánh ta bật ta ra khỏi trận địa gây cho ta thương vong lớn. Trung đoàn 102 khi sang thay thế tiếp tục tiến công đã phải liên tục đánh địch phản xung phong nhưng cũng không thay đổi cách đánh, vẫn áp dụng máy móc như Trung đoàn 174 trước đây nên mặc dầu cán bộ và chiến sĩ chiến đấu rất dũng cảm vẫn không phát triển được mới chỉ ngăn chặn địch lại mà chưa đánh bại được các đợt phản xung phong của chúng.

Tới lần chiến đấu cuối cùng (đêm 6.5), Trung đoàn 174 đã có kế hoạch chuẩn bị sẵn sàng đánh địch phản xung phong ngay từ đầu, quá trình diễn biến chiến đấu đã thực hiện được thọc sâu phát triển nhanh chóng vượt qua tuyến ngăn chặn chiếm được địa hình có lợi phá vỡ khu vực cố thủ của địch. Địch không còn chỗ dựa vững chắc nữa nên tuy các lực lượng trong cứ điểm có thực hành phản xung phong đều bị đánh bại nhanh chóng, ta vẫn phát triển được. Đối với đội dự bị của địch, trung đoàn đã phối hợp được chặt chẽ với hoả lực cấp trên thực hiện đánh định từ xa, nhất là các khu vực địa hình có nhiều cản trở địch bị ùn lại như cầu Mường Thanh, đầu mối giao thông hào lên cứ điểm cạnh đường 41 kết hợp với mtũ vu hồi vào sau lưng địch không cho chúng tiến lên cứ điểm được. Do đó ta đã đánh bại được các đợt phản xung phong lớn của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho trung đoàn tiêu diệt A1 nhanh gọn.

Một vấn đề khác khi đánh địch trong tung thâm là trong quá trình tiến công, nếu ta bị tiêu hao nặng hoặc địch tăng cường lực lượng ta không còn đủ sức phát triển  bên tiến công thì phải nhanh chóng chiếm các địa hình có lợi lâm thời chuyển sang phòng ngự, kiên quyết giữ vững khu vực đã chiếm, chấn chỉnh lại tổ chức và chờ lực lượng phía sau tiến lên tiếp tục tiến công.

Nhưng trong đợt chiến đấu đầu, khi bị địch phản kích liên tục, lực lượng ta bị tiêu hao nặng không còn khả năng tiếp tục phát triển, trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 đã ra lệnh cho các đơn vị còn lại rút khỏi trận địa, mà không chiếm các địa hình có lợi, chuyển sang phòng ngự, tổ chức quan sát điều tra nghiên cứu trận địa địch, tạo bàn đạp và điều kiện thuận lợi cho đợt tiến công sau. Đây là một khuyết điểm lớn của Trung đoàn 174, không phù hợp với nguyên tắc chiến thuật. Sau khi ta rút ra địch đã khôi phục lại trận địa, nên ta tiến công đợt sau lại phải tổ chức đột phá một lần nửa.

Cũng ở trong hoàn cảnh đó, sau 3 ngày đêm liên tục tiến công, mặc dầu nhiều lần bị địch dùng lực lượng mạnh hơn thực hành phản xung phong đẩy lùi ta xuống nhưng trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 vẫn kiên quyết dựa vào địa hình có lợi tổ chức hoả lực, kết hợp với hành động chiến đấu tích cực nên đã ngăn chặn được địch lại, lợi dụng thời cơ có lợi tiếp tục phát triển khôi phục lại toàn bộ khu vực đã chiếm lúc đầu. Cuối cùng vì thấy ta không còn khả năng tiếp tục tiến công, trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 đã quyết tâm tạm ngừng tiến công chuyển sang lâm thời phòng ngự, kiên quyết không cho địch giành lại trận địa đã mất. Đó là một chủ trương hoàn toàn chính xác nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 174 hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt A1 lần cuối.

Về tổ chức hoả lực, trận địa đại đội sơn pháo 75mm bố trí ở điểm cao 491 (đông nam bản Hồng Lim) cách A1 khoảng 1.300m, phía trước lại bị đồi Cháy và đồi F án ngữ nên phạm vi xạ giới hẹp, chỉ bắn được một số mục tiêu nhất định ở phía đông A1, lại bố trí xa cứ điểm nên hoạt động ban đêm bị hạn chế rất lớn. Đồi với nhiệm vụ yểm hộ cho bộ binh đột phá tiền duyên và phát triển tung thâm A1 thì trung đoàn có kế hoạch cụ thể trong điều kiện giải quyết A1 thuận lợi, nhưng không có kế hoạch hoả lực đánh địch phản xung phong và xử trí với các tình huống bất trắc như trận đánh kéo dài, từ đêm chuyển sang ngày hay từ tiến công chuyển sang phòng ngự. Vì vậy, việc chi viện hoả lực cho bộ đội chiến đấu đánh địch phản kích thiếu hiệu quả để hoả lực địch gây thương vong lớn cho bộ đội ta.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 05 Tháng Chín, 2009, 12:49:15 PM
d. Bài học về chỉ huy chiến đấu.

Một trong những nguyên nhân chủ yếu góp phần quyết định thắng lợi trận đánh chính là vai trò chỉ huy của cán bộ các cấp. Do đặc điểm chiến đấu công kiên ta phải tiến công quân địch phòng ngự trong hệ thống công sự vật cản kiến cố, lại chiến đấu trong đêm tối nên yêu cầu người chỉ huy các cấp phải tiến hành chuẩn bị rất chu đáo, làm tròn các bước công tác của mình. Phải nắm vững tình hình ta, tình hình địch cũng như tình hình địa hình để có thể hạ quyết tâm chiến đấu chính xác. Phải tích cực đi sát kiểm tra đôn đốc cấp dưới chấp hành và quán triệt ý định tác chiến của mình. Quá trình chiến đấu phải nắm vững tình hình địch, ta, xử trí với mọi tình huống kịp thời, giữ vững và bổ sung kế hoạch hiệp đồng đã đề ra; nhất ]à khi gặp  gay go khó khăn tình huống diễn biến phức tạp thì người chỉ huy phải tự mình quan sát, khi cần thiết phải nhanh chóng tiến vào tung thâm, thâm nhập xuống dưới trực tiếp chỉ huy chiến đấu.

Bất kỳ trong tình huống nào người chỉ huy cũng không được quên mất cương vị chỉ huy của mình, phải luôn chú ý nắm vững toàn bộ lực lượng đặc biệt là các bộ phận quan trọng. Vận dụng chiến thuật một cách cơ động linh hoạt kết hợp với tinh thần quyết tâm dũng cảm và gương mẫu chiến đấu.

Mặt khác, để đảm bảo cho việc chỉ huy được thông suốt và liên tục. người chỉ huy các cấp phải luôn chú ý tổ chức một mạng thông tin liên lạc hoàn chỉnh. Trong lần chiến đấu này vấn đề tổ chức chỉ huy có nhiều khuyết điểm nghiêm trọng, nhất là vai trò chỉ huy của cán bộ trung đoàn và tiểu đoàn. Đó chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho các trận đánh đợt đầu không thành công. Những khuyết điểm của công tác chỉ huy biểu hiện cụ thể ở những vấn đề sau đây: Ban đầu, cán bộ có tư tưởng chủ quan khinh địch nên công tác tổ chức và chuẩn bị chiến đấu tiến hành rất qua loa đại khái. Chỉ huy quan liêu không chịu đi sát thâm nhập xuống dưới kiểm tra, giúp đỡ. Cấp dưới thắc mắc cũng không có kế hoạch giải quyết cụ thể. Nhưng khi gặp gay go khó khăn tình huống diễn biến phức tạp, địch chống cự ngoan cố, ta bị thương vong nhiều thì tư tưởng lại bi quan dao động, đánh giá địch quá cao, đi tới sợ địch, không thấy rõ những nguyên nhân chủ yếu đã đưa trận đánh tới thất bại, cho là địch mạnh, không tin tưởng ở khả năng đơn vị có thể tiêu diệt được A1 ngay. Nhưng thực ra lúc này địch cũng đã bị tổn thất nặng nề, nếu cán bộ chỉ huy sâu sát, đánh giá đúng tình hình địch, ta, có quyết tâm chính xác, vận dụng chiến thuật linh hoạt, tăng cường lực lượng kịp thời, có kế hoạch ngăn chặn địch phản xung phong thì ta đã có thể tiêu diệt A1 ngay từ đêm đầu.

Cũng vì tư tưởng chủ quan đánh giá địch quá thấp nên Trung đoàn 102 mặc dầu phải tiến hành chuẩn bị chiến đấu ngay trong hành tiến trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 cũng không chú ý tới việc hoàn thành công tác chuẩn bị chu đáo để có thể xác định một quyết tâm chiến đấu thích hợp. Trái lại vẫn hoàn toàn dập khuôn máy móc như kế hoạch của Trung đoàn 174 tác chiến đêm đầu, hầu như không có chuẩn bị nên khi bước vào chiến đấu gặp rất nhiều khó khăn. Trong đêm thứ 2 và những đêm chiến đấu sau, bị thương vong nhiều nhưng vẫn không tiêu diệt được địch lại đi tới bi quan dao động không tin tưởng thắng lợi, đánh giá địch quá cao, cho là địch mạnh mà không thấy nhưng sai lầm nghiêm trọng về vận dụng chiến thuật, về chỉ huy, về tư tưởng nên cứ thúc bộ đội đánh ẩu trong điều kiện không có chuẩn bị. Mặc dầu cán bộ và chiến sĩ Trung đoàn 102 chiến đấu rất dũng cảm nhưng vẫn không tiêu diệt được A1 mà còn tổn thất nặng nê.

Vị trí chỉ huy không thích hợp, trách nhiệm một số cán bộ chỉ huy không cao, trình độ tổ chức chỉ huy, vận dụng chiến thuật còn hạn chế.

Trong quá trình diễn biến chiến đấu đợt đầu, vị trí chỉ huy của cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn còn chưa thích hợp,  thường ở quá xa, không trực tiếp quan sát được nên không nắm chắc được tình huống diễn biến, khi thông tin liên lạc bị gián đoạn việc xử trí rất lúng túng. Mặc dầu tình huống diễn biến rất phức tạp, hầu hết các đơn vị đã tiến vào tụng thâm chiến đấu gặp nhiều khó khăn, tình hình không nắm được nhưng trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 vẫn không thay đổi vị trí chỉ huy, vì vậy không nắm vững được các đơn vị, hạ quyết tâm không chính xác, xử trí không kịp thời ảnh hưởng không tốt tới việc hoàn thành nhiệm vụ của trung đoàn, bỏ lỡ thời cơ xung phong không hiệp đồng chặt chẽ được với các mũi, giữa bộ binh và pháo binh cũng như với các đơn vị bạn trên toàn mặt trận nên đã gây ra nhiều khó khăn trong chiến đấu..

Tham mưu trưởng Trung đoàn 174 trận đầu lại dao động không dám tiến vào tung thâm chỉ huy chiến đấu, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 9 Trung đoàn 174 cũng chưa làm tròn nhiệm vụ chỉ huy của mình khi toàn tiểu đoàn đã tiến vào tung thâm vẫn còn ở ngoài cứ điểm, khi được lệnh tiến vào tung thâm cũng không trực tiếp quan sát nắm vững tình huống, tổ chức lực lượng, thống nhất chỉ huy mà chỉ ở một vị trí tương đối an toàn thúc bộ đội xung phong, không nắm được đơn vị suốt trong quá trình chiến đấu.

Chính vì thiếu sự chỉ huy thống nhất nên quá trình chiến đấu trong tung thâm, lực lượng ta khá lớn (trận đầu ta mới chiếm được 1/4 cứ điểm mà đã có tới 6 đại đội bộ binh vào trong cứ điểm) nhưng không phát huy được sức chiến đấu mà lại thương vong vô ích vì pháo địch.

Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 18 Trung đoàn 102 khi gặp khó khăn đã rút chạy khỏi trận địa, không những thế khi  xuống dọc đường còn ra lệnh cho phân đội tăng viện rút theo và trở về chỉ huy sở báo cáo sai sự thật nên làm cho cấp trên không nắm được tình huống, gây nhiều khó khăn cho trận đánh. Hành động này biểu hiện rõ rệt tinh thần dao động, sợ chết và là một sai lầm vô cùng nghiêm trọng nó đã tạo nên tình trạng hỗn loạn trong chiến đấu, gây nên tai hại rất lớn trong trận đánh, vì cán bộ bỏ chạy chiến sĩ không có chỉ huy cũng rút theo, gây tư tưởng hoang mang cho cấp dưới, địch đã lợi dụng thời cơ đó phản xung phong giành lại một phần trận địa đã mất gây thêm tổn thất cho ta.

Tuy nhiên, trong đợt chiến đấu này một số cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn và nhất là cán bộ từ đại đội trở xuống đã biểu hiện được tinh thần quyết tâm dũng cảm chiến đấu, gương mẫu dẫn đầu khi gặp khó khăn nên đã có tác dụng cổ vũ rất lớn tinh thần chiến đấu của toàn đơn vị. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 khi tình huống diễn biến phức tạp, khó khăn đã trực tiếp tiến vào tung thâm chỉ huy chiến đấu, vừa làm nhiệm vụ tố chức củng cố lực lượng, động viên chiến đấu, thống nhất chỉ huy; khi cần thiết bản thân cũng trực tiếp sử dụng vũ khí cùng cán bộ và chiến sĩ trong tung thâm đánh địch; dùng hành động chiến đấu thực tế để động viên hướng dẫn tân binh chiến đau quá trình chiến đấu tuy bị thương vẫn không rời khỏi trận địa. Hành động đó đã khích lệ được tinh thần dũng cảm và quyết tâm chiến đấu của toàn đơn vị trong đợt chiến đấu này. Tiểu đoàn phó tiểu đoàn 9 Trung đoàn 174 cũng đã biểu hiện được tinh thần dũng cảm gương mẫu chiến đấu, luôn luôn chỉ huy phân đội đi đầu chiến đấu với  địch, giữ vững tinh thần liên tục chiến đấu, kiên quyết chấp hành mệnh lệnh cấp trên.

Vấn đề tổ chức thông tin liên lạc trong các đợt chiến đấu cũng có nhiều thiếu sót nghiêm trọng. Mạng thông tin điện thoại hoàn toàn bị phá vỡ làm cho hệ thống chỉ huy bị gián đoạn, việc liên lạc bằng các phương tiện giản đơn cũng không thực hiện được vì pháo địch phong toả. Chỉ còn dựa vào phương tiện thông tin vô tuyến. Nhưng trong việc sử dụng máy bộ đàm đã để lộ bí mật ngay từ đầu vì mật mã quá đơn giản, lại không thay đổi nên đã để địch nắm được toàn bộ ý định tác chiến, do đó chúng có kế hoạch chủ động đối phó lại, gây nhiều tổn thất cho ta. Đó cũng chính là một nguyên nhân làm ta không thực hiện được ý định tác chiến.

A1 là một trong những cứ điểm có công sự vững chắc nhất trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, là trọng điểm phòng ngự trong hướng phòng ngự chủ yếu của địch. Đối với địch việc giữ vững A1 cùng với một số điểm cao khác ở dãy đồi phía đông là nhiệm vụ sống còn, vì có dãy điểm cao bảo vệ trực tiếp cho trung tâm chỉ huy. Đối với ta, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, trận tiến công tiêu diệt cứ điểm A1 cũng có tính chất rất quan trọng, nó có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của chiến dịch, góp phần quyết định vào thắng lợi chung. Có thể nói rằng đợt 2 không thành công chính là do ta không tiêu diệt được A1 và cũng vì thế chiến dịch đã phải kéo dài thêm hơn 1 tháng.

Trận tiến công Al là một trong những trận công kiên lớn nhất của ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đây là một trận chiến đấu công kiên quy mô tương đối lớn có tính chất trận địa vào một bộ phận quân địch có tổ chức phòng ngự chu đáo trong tập đoàn cứ điểm. Tiêu diệt cứ điểm Al ta đã phải đổi với một giá rất đắt. Việc không hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt A1 ngay từ đầu không phải vì quân địch quá mạnh, có hầm ngầm kiên cố, cứng không phải vì Trung đoàn 174 và Trung đoàn 102 không đủ khả năng tiêu diệt A1, hoặc vì cán bộ và chiến sĩ thiếu dũng cảm.

Nguyên nhân chủ yếu tiến công A1 đợt đầu không thành công chính là do cán bộ trung đoàn và tiểu đoàn đã phạm nhiều khuyết điểm trong chuẩn bị cũng như trong thực hành chiến đấu.

Sau những lần tiến công không thành công, Trung đoàn 174 đã kiên quyết phòng ngự giữ được một phần A1, đồng thời tổ chức củng cố lực lượng, rút kinh nghiệm nghiêm túc. Trong đợt 3 của chiến dịch, trung đoàn vẫn được giao nhiệm vụ tiến công Al. Cán bộ trung đoàn cũng như cán bộ tiểu đoàn đã trực tiếp thâm nhập xuống các bộ phận quan trọng tiến hành kiểm tra đôn đốc hướng dẫn giúp đỡ dưới, lắng nghe ý kiến quần chúng, triệt để chấp hành mệnh lệnh cấp trên, tiến hành chuẩn bị và tổ chức chiến đấu chu đáo. Trong chiến đấu vị trí chỉ huy của trung đoàn cũng như tiểu đoàn đều di chuyển gần lên phía trước, việc chỉ huy cũng được toàn diện hơn, nên mặc dầu tình huống diễn biến phức tạp các mũi vẫn hiệp đồng chặt chẽ. Khi gặp gay go khó khăn cán bộ cấp trên đã kịp thời thâm nhập xuống dưới (tham mưu trưởng Trung đoàn 174 trận này đã tiến vào tung thâm trực tiếp chỉ huy chiến đấu nên xử trí kịp thời có quyết tâm chính xác). Trong đợt tiến công này, trung đoàn đã giải quyết A1 gọn trong 1 đêm, tạo điều kiện thuận lợi cho Trung đoàn 98 tiêu diệt C2 sáng hôm sau và cùng với những thắng lợi khác tạo điều kiện cho quân ta chuyển sang tổng công kích mau chóng, bắt sống toàn bộ quân địch còn lại trong tập đoàn cứ điểm.



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 05 Tháng Chín, 2009, 08:37:55 PM
He he, thế còn từ 3/4 đến 6/5 nữa ?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 06 Tháng Chín, 2009, 11:06:11 AM
He he, thế còn từ 3/4 đến 6/5 nữa ?

Đoạn đấy hỏi lão new nhé ;D

Về tiểu đoàn trưởng V. Kha của d18/e102, gần đây trong cụ Đôn Tự (d trưởng d255/e174) có kể trong cuốn Chuyện những người làm nên lịch sử:

Chúng tôi cùng 102 đánh A1. Anh Kha Tiểu đoàn trưởng của e102 bị pháo 120 ly bắn gần, ù tai, nói không nổi. Tôi đã từng bị như anh ấy, tai ù không nghe thấy gì dù vẫn đi được. Tôi bảo anh Kha lui phía sau đi, tai điếc rồi không chỉ huy được. Anh ấy lui về phía dưới đồi, không hiểu ai nói anh ấy bỏ vị trí chiến đấu. Khi tòa án mặt trận xử tôi không biết, anh ấy bị tội nặng lắm, xem như bỏ vị trí, sợ chết. Lúc đầu định xử bắn, sau hạ thành 10 năm tù, tước quân tịch, đảng tịch.

Sau này, trong một cuộc chỉnh huấn, tôi và mấy tiểu đoàn trưởng của 102 và 174 gặp ông Nguyễn Chí Thanh, chúng tôi nói: "Anh ơi, Kha nó oan, nó điếc đặc, đánh gì được". Tôi cũng nói với ông chính tôi là người bảo anh Kha lui ra sau, nếu là tôi thì tôi cũng chẳng chỉ huy được, cối 120 ly có thể xé màng nhĩ. Ông Nguyễn Chí Thanh có can thiệp thả anh Kha.

Chúng tôi nghĩ dù không cùng đơn vị nhưng thấy đồng đội bị oan phải tìm cách bảo vệ. Đó cũng là lòng dũng cảm.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 06 Tháng Chín, 2009, 11:24:14 AM
Về chuyện cụ V.Kha, một CCB khác kể là khi đó đêm tối, khói lửa mịt mù, đạn pháo trùm khắp trận địa trước một ngã ba giao thông hào, dt V.Kha dẫn một mũi vận động dưới hào theo một hướng, mũi khác theo hướng còn lại. Tất cả đều nghĩ đây là hướng phát triển vào tung thâm. Không ngờ hướng của dt V.Kha chạy thẳng ra cửa mở....
Ác cái là vụ này xảy ra đúng lúc quân ta chỉnh quân sau đợt tấn công thứ 2, khi tâm lý giao động xuất hiện phổ biến. Án ban đầu đưa ra là xử bắn. Sau xét quá trình chiến đấu, đơn vị có ý kiến nên hạ xuống. Về sau cụ V.Kha vẫn đi họp hội CCB đơn vị.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:32:28 PM
Một bài nữa về vụ này:

"...Có 1 vụ án do vi phạm kỷ luật chiến trường đến nay ít người nhắc tới. Đó là vụ xử tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 18 VK . Toà án binh thiết lập ngay ở mặt trận. Thiếu tướng Lê Thiết Hùng, tổng thanh tra quân đội, ngồi ngay ghế chánh án. VK bị buộc tội dao động, bỏ vị trí chỉ huy, tự động cho bộ đội rút lui trong trận tiến công cứ điiẻm A1, đưa đến hậu quả là bộ đội thương vong nhiều, không hoàn thành nhiệm vụ.

Cuộc chiến đấu trên đồi A1 vô cùng quyết liệt, tình hình nhiều lúc không rõ ràng. Trong đội hình trung đoàn 102, tiểu đoàn 18 tấn công địch trong điều kiện không hề biết địa hình và sự bố trí của địch, mất liên lạc với cấp trên, tiểu đoàn trưởng cũng không nắm được quân. Không có lệnh nhưng trước tình thế tuyệt vọng, một số chiến sỹ đã tự động rút. Trước toà, VK không được phép biện hộ cũng không có ai biện hộ cho. Vì vậy lời buộc tội của công tố uỷ viên không khỏi làm cho anh thắc mắc.
Phụ trách cơ quan chính trị, tôi thường nắm tình hình cán bộ của trung đoàn, nhất là các cán bộ tiểu đoàn, đại đội. Trong số các tiểu đoàn trưởng, VK là 1 cán bộ có kinh nghiệm qua nhiều chiến trận, đã từng là đại đội trưởng đại đội chủ công. Giao nhiệm vụ chỉ huy tiểu đoàn "Bình Ca" cho VK, cấp trên đã cân nhắc, chọn lọc. Nhưng làm sao lường hết được những diễn biến tư tưởng lúc gian nguy, đối mặt với cái chết? Chiến đấu ngoài mặt trận không phải chỉ là đấu tranh với địch mà còn phải đấu tranh với chính mình. Đấu tranh với mình cũng có thắng có bại, có thắng lúc này, có bại lúc khác. Bại rồi lại thắng, rèn luyện sao cho bại ít thắng nhiều. Hiếm người chỉ có thắng mà không có bại. VK bị kết án 20 năm tù giam. Nhưng thực tế anh chỉ bị lao động cưỡng bức có 3 tháng 17 ngày, kể từ khi bị bắt nhốt trong 1 hầm cá nhân ngay tại mặt trận. Khhông ai giải thích tại sao anh được thả tự do, ra tù anh được tham gia đoàn cán bộ cải cách ruộng đất, ít lâu sau anh trở lại cuộc sống của người dân thường.

Mãi gần đây, nhân viết sách này, tôi đến thăm anh. Vốn tính cương nghị, có phần ngang bướng bẩm sinh, người thợ giày từng là cán bộ chỉ huy ấy có lẽ coi thường mọi thứ, kể cả sinh mệnh chính trị của mình. cũng vì thế mà anh chịu ôm hận hàng bốn chục năm, không trình bày, cầu xin với ai hết. Vẫn nét mặt phớt đời như hồi ấy, tuy già đi nhiều, VK kể lại cuộc chiến đấu của tiểu đoàn 18 ở ĐBPvà bi kịch mà anh đã phải trải qua. Mặc dù đau xót và thắc mắc, anh vẫn không một lời oán trách, chỉ tự rút ra bài học cho riêng mình. Với tay nghề cũ, anh trở về làm thợ, có lần làm chủ nhiệm hợp tác xã giầy da ở thủ đô. Và hàng năm, anh vẫn đến dự họp truyền thống các bạn chiến đấu Quân Tiên Phong, ít khi vắng mặt ..."

Trích từ "Đại đoàn 308 với chiến dịch ĐBP, Phạm Chí Nhân, NXB QĐND 2004


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 06 Tháng Chín, 2009, 01:39:03 PM
Xem ảnh và đọc lại diễn biến trận A1, không hiểu tại sao bọn Tây lại bỏ trống quả đồi Cháy. Nếu ngay từ đầu nó cắm quân ở đây có công sự kiên cố thì chưa biết hậu quả sẽ thế nào.
Có thiếu quân thì cũng làm gì mà không lo nổi 1, 2 b nhỉ?

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/333.jpg)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/tinhhuongdutinhcopy.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 06 Tháng Chín, 2009, 10:46:17 PM
Vấn đề này trước đây cũng đã được đặt ra và câu trả lời của BCH Pháp là không đủ quân số. Theo em, ngoài lý do đó nếu bố trí một đơn vị ở đây sẽ phá vỡ cấu trúc phòng ngự ở đồi C1, C2 và đồi A1. Khi có bố trí ở đồi Cháy, đồi C và đồi A chuyển thành tuyến 2, như vậy nếu C và A mỗi nơi một d, thêm đồi Cháy nữa là mật độ bố phòng quá dày đặc. Nếu để 1 b hoặc 1 c với công sự vững, có đường chi viện ở đây thì khả năng kính biếu Việt Minh cũng rất cao. Chưa nói đến chuyện công sự đó có thể phản tác dụng sau này. Lý do chính, theo em, là chủ quan.
Giải pháp của quân Pháp em cho cũng là hợp lý. Đó là tập trung sức mạnh ở các đồi C, A; thường xuyên cho 1 b ra nằm phục, đánh nhỏ thì cầm cự, đánh lớn thì rút về; chuẩn bị sẵn phần tử bắn toàn bộ khu vực đồi Cháy.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: Trongc6 trong 13 Tháng Chín, 2009, 10:47:44 AM
         Trong mấy tập truyện về ĐBP xuất bản năm nay (2009) người ta khoe nhặng lên là có những chuyện bây giờ mới kể lần đầu, mới tiết lộ. Ví dụ như chuyện kể về một đại đội phòng không 12 ly 8 của Đại đoàn 308 bị hy sinh gần hết khi bố trí trận địa trên cánh đồng Mường Thanh mà không có bộ binh bảo vệ. Cả đại đội đó chỉ còn 3 người sống sót sau nửa ngày trời chiến đấu chống lại một tiểu đoàn Âu-Phi.
  
         Thực ra câu chuyện đó đã được kể trong cuốn "Hàng rào cuối cùng" xuất bản từ năm 1964 (nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng ĐBP). Ngay trong hồi ký "Đường đến ĐBP..." của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã có nhắc tới chuyện này, vì đây là trường hợp duy nhất mà cả một đại đội của ta bị địch tiêu diệt.

         Bác cố Bùi Nguyên Cát, (nguyên Bí thư Đảng ủy Trường ĐHBK Hà Nội những năm bảy mấy, tám mấy) cũng vốn là lính phòng không cùng D có đại đội đó cũng nhiều lần kể chuyện này.

        Còn tôi, tôi biết rõ chuyện đó, vì người Đại đội trưởng chỉ huy đại đội 12ly8 đó là cậu ruột tôi. Ông hy sinh vào ngày 29/3/1954. Hiện nay ông và đồng đội yên nghỉ tại nghĩa trang Him Lam.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 13 Tháng Chín, 2009, 02:35:29 PM
       
Hoàn toàn đồng ý với bác Trongc6 là trận đánh này không có gì để gọi là "mới tiết lộ", các sách về ĐBP đều có nói đến trận này.
Nhưng em cũng xin đính chính một chút. Trận đánh trên diễn ra ngày 26/3 chứ không phải ngày 29/3. Lực lượng địch cả dự bị là khoảng gần 5 tiểu đoàn Lê dương, một phân đội xe tăng với chi viện pháo và không quân tối đa. Trận đánh kéo dài từ 6 giờ sáng đến 15 giờ chiều, Pháp nắm thế chủ động nhưng không làm chủ được hoàn toàn trận địa do quân ta chiến đấu kiên cường. Sở dĩ bộ binh không phối hợp được là do lúc đó, cũng chính là lúc đại đội 12ly8 mới từ rừng ra bố trí, bộ binh thì đang ở cứ, khi cơ động ra thì bị không quân và pháo binh địch ngăn chặn nên không tiếp cận được khu chiến.
Đại đội phòng không này không bị xoá sổ mà sau được tổ chức lại để tiếp tục tham gia chiến dịch. Hình như trong cuốn tạp chí "Lịch sử quân sự" trước đây có kể rất hay về trận này, có kèm ảnh cựu chiến binh tổ chức họp mặt ở trường Bách khoa, em thấy khá đông các Cụ.
Cuốn "Hàng rào cuối cùng" là một cuốn tổng hợp hồi ký đúng là có nói đến trận này nhưng chắc bác Trongc6 có nhầm lẫn một chút, cuốn "Đường đến ĐBP" thì không có vì cuốn nội dung của nó là về thời gian 50-53. Cuốn bác muốn nói đến là  "ĐBP-điểm hẹn lịch sử".
Đây không hẳn là trận đánh ác liệt nhất, trường hợp duy nhất một đại đôi bị tiêu diệt. Những trận đánh tại A1, C1C2, 105 đều là những trận đánh đẫm máu. Như trận 105, ta đánh đến sáng không dứt điểm được. Địch cho xe tăng ra chặn đường rút, tiểu đoàn của cụ Nguyễn Chuông gần như hi sinh và bị bắt hết, chính cụ cũng bị thương và bị bắt.
Cậu ruột bác Trongc6 là đại đội trưởng đại đội 12ly8. Vậy có phải tên của Cụ là Nguyễn Quỳ? Hơi tò mò một chút, mong bác không giận, bác và gia đình biết đích xác Cụ đang nằm tại nghĩa trang liệt sỹ Him Lam?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: Trongc6 trong 13 Tháng Chín, 2009, 06:32:58 PM
   Chào bác _new.

       Cậu ruột tôi tên là Nguyễn Viết Quỳ, học sinh khóa 1 trường võ bị Trần Quốc Tuấn.
       Cái ảnh chụp các CCB bác nói (trong đó có cụ Bùi Nguyên Cát) là CCB cùng D387 phòng không ĐĐ 308 (trong đó có C của cậu tôi). Tại trận chiến đấu hôm đó chỉ có 1 y tá sống sót tại trận địa, còn lại là vài bác ở hậu cứ (để sau này lập lại C đó).

     Sau này về nhà tôi thăm ông bà ngoại tôi cũng chỉ là các CCB cùng D387 thôi.

        Gia đình tôi đã nhiều lần lên ĐBP. Đính chính lại là cậu tôi nằm ở nghĩa trang đồi Độc lập. (Hiện nay có ông Thấm là quản trang ở đó)

        Năm 2005, đại gia đình bên mẹ tôi đã lên ĐBP thăm mộ cậu và đồng đội, và làm cả 1 Video về chuyến đi đó.

     Một lần nữa cảm ơn bác _new. Bác biết rất rõ về chuyện ĐBP đấy.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 13 Tháng Chín, 2009, 10:45:03 PM
Một lần nữa cảm ơn bác _new. Bác biết rất rõ về chuyện ĐBP đấy.

"Rất" đến đâu thì còn chưa xác minh ạ, nhưng mà nhất cộng đồng mạng VN thì chắc không cần bàn cãi ạ.  ;)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 13 Tháng Chín, 2009, 11:28:57 PM
Ôi, cám ơn bác Trongc6 và bác Altus đã động viên. Đọc bài các bác xong phải thoát ngay, đi lên đi xuống mất năm phút để thưởng thức cơn sướng rồi mới mỏ lên lại. Sướng thật. Nhưng em không tài năng đến mức bác Atus nói đâu. Thực tế là em ôm một đống sách, có vấn đề gì là em lật lật đúng trang cần thiết, chứ hiểu biết của em còn hạn chế nhiều. Tuy vậy, sướng vẫn là sướng. khi nào có chuyện gì buồn, em cũng sẽ vào đây đọc lại để lấy tinh thần.  :D Cám ơn các bác.  :D

Quay lại trận đánh ngày 26/3. Bigeard kể: "quân Việt nếm đòn nặng nề, hàng trăm người chết, khoảng hơn năm trăm người bị thương. Họ mất 5 đại bác 20ly, mười hai đại liên 12ly7, hai Bazooka, mười bốn tiểu liên, một trăm súng. Chúng tôi dẫn về 10 tù binh" (sách của B.Fall còn ghi là 1000 súng  ;D). Các bác cho em hỏi. Có thể từ đại bác là do người dịch không thật chính xác, không tập trung vào chi tiết kỹ thuật này, em vẫn không biết pháo 20ly là loại gì? Chẳng nhẽ là mấy khẩu pháo 20ly của Nhật từ thời 45 vẫn còn đến giở?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ahuuls trong 13 Tháng Chín, 2009, 11:49:05 PM
Vẫn còn đấy bác ạ :
"...Liên khu 4 có một Đại đội lựu pháo 20mm, 25mm, 75mm. Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1991, tr.288). "
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=9698.10


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Chín, 2009, 05:23:53 PM
20mm phòng không thì hoặc Oerlikon (Mỹ), hoặc kiểu 98 (Nhật). Sau WW2 và nội chiến Quốc-Cộng thì những của thế này tồn ở TQ rất nhiều nên nếu TQ viện trợ ta cũng không lạ.

Tuy nhiên sách ta không ở đâu nhắc đến 20mm PK ở thời kỳ này. PK các đại đoàn toàn là 12,7mm.

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=41.msg19694#msg19694

Oerlikon

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/chiangshan/Vu%20khi%20KCCP/Oerlikon-20mm.jpg)

Kiểu 98

(http://i33.photobucket.com/albums/d85/chiangshan/Vu%20khi%20KCCP/20mm_type98.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 14 Tháng Chín, 2009, 08:38:12 PM
Ôi, cám ơn bác Trongc6 và bác Altus đã động viên. Đọc bài các bác xong phải thoát ngay, đi lên đi xuống mất năm phút để thưởng thức cơn sướng rồi mới mỏ lên lại. Sướng thật. Nhưng em không tài năng đến mức bác Atus nói đâu. Thực tế là em ôm một đống sách, có vấn đề gì là em lật lật đúng trang cần thiết, chứ hiểu biết của em còn hạn chế nhiều. Tuy vậy, sướng vẫn là sướng. khi nào có chuyện gì buồn, em cũng sẽ vào đây đọc lại để lấy tinh thần.  :D Cám ơn các bác.  :D

Quay lại trận đánh ngày 26/3. Bigeard kể: "quân Việt nếm đòn nặng nề, hàng trăm người chết, khoảng hơn năm trăm người bị thương. Họ mất 5 đại bác 20ly, mười hai đại liên 12ly7, hai Bazooka, mười bốn tiểu liên, một trăm súng. Chúng tôi dẫn về 10 tù binh" (sách của B.Fall còn ghi là 1000 súng  ;D). Các bác cho em hỏi. Có thể từ đại bác là do người dịch không thật chính xác, không tập trung vào chi tiết kỹ thuật này, em vẫn không biết pháo 20ly là loại gì? Chẳng nhẽ là mấy khẩu pháo 20ly của Nhật từ thời 45 vẫn còn đến giở?


CHú đưa tiếp tài liệu trước cái Phụ lục 4 về trận đồi A1 của E174 + E102 lên đê, cho chú chiangshan mở mắt cái (http://www.quansuvn.net/avatars/iconttvn/2.gif)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 16 Tháng Chín, 2009, 06:25:04 PM
He he, hắn có cái đó rồi lão "ăn lẻ"  ;D ơi.

Một số tranh biếm họa vẽ tại mặt trận về quân Pháp tại ĐBP  ;)



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: danngoc trong 16 Tháng Chín, 2009, 06:47:34 PM
Hôm qua lão banzua kể với em là ở Pháp có nghĩa trang 80 ngàn lính chết tại VN, trong đó 30 ngàn quy tập trong năm 83, sau khi mình bình thường hóa với Mitterand. Đọc tên ở nghĩa trang 80 ngàn đó gần nửa là Trần với Nguyễn (lời của banzua). Bác _new có thông tin gì về vụ này không?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 16 Tháng Chín, 2009, 06:53:51 PM
Trước năm tám mấy đấy hàng năm Pháp trả tiền cho VN chăm sóc các mộ lính Pháp tại VN. Đến năm ý thì VN bảo khéo chúng tôi cần đất làm việc khác nên Pháp quyết định mang hết về, chứ cũng chẳng cần phải đợi bình thường hóa gì cả.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 16 Tháng Chín, 2009, 07:25:33 PM
Em cũng chỉ nghe ở Pháp có một nghĩa trang lính chết tại VN và một bảo tàng về chiến tranh rât hay từ bác  banzua.  ;D Còn về những chuyện xung quanh mộ tây thì em không được rõ. Có một chuyện về quân Pháp mà em biết, đó là ở Hà Nội cách đây mấy năm vẫn còn một số người được Pháp trả ... lương hưu về quãng thời gian đi lính cho họ. Giờ không biết có còn ai không.

Ở trên ĐBP có khu tưởng niệm lính Pháp chết trận tay đây. Dân trên đó gọi là Mộ Tây. Khu này được chăm sóc khá kỹ, đảm bảo không gian yên tĩnh, sạch sẽ. Em nghe nói là Pháp hỗ trợ kinh phí quản lý. Trong đó có mấy cái bảng chữ, các bác dịch hộ em với. Máy bay bay lúc 10 giờ và lúc đó là 9h15 nên em chụp cuống cuồng, không được rõ lắm.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 16 Tháng Chín, 2009, 07:50:43 PM
Có một chuyện về quân Pháp mà em biết, đó là ở Hà Nội cách đây mấy năm vẫn còn một số người được Pháp trả ... lương hưu về quãng thời gian đi lính cho họ. Giờ không biết có còn ai không.

Không chỉ đi lính mà những ai từng làm công chức cho chính phủ pháp đủ điều kiện của chế độ chính sách của Pháp đều được hưởng phúc lợi. Tuy nhiên rất nhiều người đã tự nguyện, hoàn toàn không bị ai ép buộc, ký giấy "Tao đ... thèm lĩnh thứ tiền này". Một số người thì không ký, nhưng khi ra Bờ Hồ (có nơi bảo là ra góc ngã tư Lê Thái Tổ/Tràng Thi) lĩnh măng đa kiểu này thì được trao bằng tiền Việt theo giá hối đoái yêu nước.

Trích dẫn
Ở trên ĐBP có khu tưởng niệm lính Pháp chết trận tay đây. Dân trên đó gọi là Mộ Tây. Khu này được chăm sóc khá kỹ, đảm bảo không gian yên tĩnh, sạch sẽ. Em nghe nói là Pháp hỗ trợ kinh phí quản lý. Trong đó có mấy cái bảng chữ, các bác dịch hộ em với.

Khu này chỉ còn có mỗi cái đài thôi chứ hài cốt thì bốc đi Tây cả rồi.



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: Trongc6 trong 18 Tháng Chín, 2009, 05:59:17 PM
        Năm 1983, Hãng máy tính IBM có trở lại miền Nam VN. Những nhân viên kỹ thuật người Việt từng là nhân viên phục vụ cho hệ thống máy tính IBM360 trong Tân Sơn Nhất thời trước 1975 đều được tìm lại, trả lương cho thời gian từ 1975 đến 1983. Ai đồng ý làm việc tiếp còn được chuyển sang các trung tâm máy tính IBM ở Singapo hay Malaixia.

        Tôi cho rằng chuyện này là bình thường và các nhân viên kỹ thuật đó chẳng có gì phải xấu hổ hay lên gân làm gì.

        Bây giờ thì những chuyện như thế càng bình thường. Người ta còn tranh nhau thi cử, mong làm việc cho Tây để có lương cao ấy chứ. Mà có ai lên án họ đâu.

       Tất cả đều là do lịch sử, các bác ạ.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: Hungnt_E1F2 trong 18 Tháng Chín, 2009, 08:26:13 PM
       Năm 1983, Hãng máy tính IBM có trở lại miền Nam VN. Những nhân viên kỹ thuật người Việt từng là nhân viên phục vụ cho hệ thống máy tính IBM360 trong Tân Sơn Nhất thời trước 1975 đều được tìm lại, trả lương cho thời gian từ 1975 đến 1983. Ai đồng ý làm việc tiếp còn được chuyển sang các trung tâm máy tính IBM ở Singapo hay Malaixia.

        Tôi cho rằng chuyện này là bình thường và các nhân viên kỹ thuật đó chẳng có gì phải xấu hổ hay lên gân làm gì.

        Bây giờ thì những chuyện như thế càng bình thường. Người ta còn tranh nhau thi cử, mong làm việc cho Tây để có lương cao ấy chứ. Mà có ai lên án họ đâu.

       Tất cả đều là do lịch sử, các bác ạ.

Về Máy tính IBM360 tại SG, Bác có thể nói rõ hơn được không ạ, có mấy nơi có và có mấy máy, tại TSN là của Mỹ bỏ lại và quân đội ta sử dụng? năm 1983 IBM quay lại làm gì ạ? vì em biết là mãi 1995 Mỹ mới bình thường hóa quan hệ, còn bỏ cấm vận thì mãi sau mà?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 19 Tháng Chín, 2009, 04:07:41 PM
Một số vấn đề liên quan đến Trung đoàn 209 trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954

Trần Văn Thức - Nguyễn Mạnh Hà.

Tạp chí LSQS các số 9, 10, 1 1-2004 và số 1-2005.

LTS - Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã diễn ra cách đây 50 năm. Từ đó đến nay, đã có hàng trẫm, hàng nghìn công trinh, bài viết, hồi ức của các nhà khoa học, các chính khách, tướng lĩnh, các cựu chiến binh trong và ngoài nước viết về các nội dung trực tiếp và gián tiếp liên quan đến sự kiện vĩ đại này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề về chiến dịch, người và đơn vị tham gia... còn có những ý kiến trái ngược nhau, thậm chí gay gắt, cần được làm rõ. Một trong số đó là các sự kiện liên quan đến hoạt động tác chiến và vai trò của một số cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 trong những ngày cuối của chiến dịch. Để góp phần làm rõ những vấn đề nêu trên, Tạp chí LSQS công bố một số kết quả nghiên cứu của nhóm cán bộ Viện LSQS Việt Nam được cử, tìm hiểu về vấn đề này để bạn đọc tham khảo với mong muốn "Sửa lại cho đúng - bàn thêm cho rõ".

Về sự tham gia của các đơn vị thuộc Trung đoàn 209 trong các trận cuối chiến dịch Điện Biên Phủ

Về sự tham gia của các tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 209 trong các trận đánh chiếm cứ điểm 507 (Élian 10), 508 (Élian 11), 509 (Élian l2) và một số chi tiết của các trận đánh đó hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau.

Về vấn đề này, cuốn sách "Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997)", Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, do tập thể tác giả biên soạn, dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn 209, viết: "14 giờ ngày 7-5-1954, sau khi tổ chức lại lực lượng, tiểu đoàn 130 tiếp tục tiến công điểm cao 507. Trong 30 phút đầu ta tập trung hoả lực bắn phá mãnh liệt các công sự, lô cốt địch, tạo điều kiện cho bộ binh áp sát mục tiêu. Pháo hoả vừa dứt, Tiểu đoàn 130 liên tục tổ chức hai đợt xung phong vào nam cao điểm, địch bị rối loạn hoàn toàn, bị chia cắt từng mảng, nhiều tên bị tiêu diệt, một số sống sót xin hàng. Phát hiện thấy cờ trắng xuất hiện ở cao điểm 508, 509, Ban chỉ huy Trung đoàn hội ý thống nhất đề nghị Đại đoàn cho toàn Trung đoàn xuất kích. Thừa thắng, hai Tiểu đoàn 130 và 154 đánh tràn sang chiêm luôn cao điểm 508 và 509" (các chữ trích, in nghiêng là do chúng tôi muốn nhấn mạnh) (tr. 136).

Cuốn "Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312", Nxb QĐND, Hà Nội, 2000, do tập thể tác giả biên soạn, dưới sự chỉ đạo của Thường vụ Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1, Đảng ủy, Chỉ huy Sư đoàn 312, viết: "Đến 12 giờ ngày 7-5-1954, sau khi tổ chức lại lực lượng, Đại đoàn trưởng ra lệnh cho trung đoàn (Trung đoàn 209) tiếp tục tấn công cứ điểm 507. Sau hai lần đột phá, Tiểu đoàn 130 chiêm được cứ đi.ếm 507. Thừa thắng, các đơn vị của Trung đoàn  09 đánh tràn sang chiêm tuôn điểm cao 508 và 509." (tr. l72).

Cuốn "Lịch sử QĐND VN", tập 1, Nxb QĐND, Hà Nội, tái bản 1994, của Ban nghiên cứu Lịch sử Quân đội thuộc Tổng cục Chính trị và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, do tập thể tác giả biên soạn, viết: "14 giờ ngày 71954, Tiểu đoàn 130 (Trung đoàn 209, Đại đoàn 312) tấn công vị trí 507 ở gần cầu Mường Thanh" (tr. 582).

Như vậy, theo các cuốn lịch sử nói trên thì Tiểu đoàn 130 là đơn vị đánh chiêm cứ điểm 507, sau đó cùng Tiểu đoàn 154 đánh chiêm 508, 509.

Tuy nhiên, một số đồng chí nguyên là cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 lạl cho rằng.viết như vậy là chưa hoàn toàn đúng sự thật lịch sử. Xung quanh vấn đề này, từ trước tới nay, đã có nhiều bài của các cựu chiến binh công bố trên báo, tạp chí.

Trung tá Ngô Trọng Bảo - nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154, trong đơn thư gửi các cơ quan và cá nhân có liên quan cũng như trong các buổi trao đổi với chúng tôi, luôn khẳng định việc đánh chiếm cứ điểm 507, 508, 509 là do Tiểu đoàn 154, gồm một đại đội tăng cường, có sự tham gia của Đại đội 360, Tiểu đoàn 130. Đồng chí cho rằng các sách lịch sử nói trên viết Tiểu đoàn 130 đánh chiếm cứ điểm 507 và là lực lượng chủ công trong các trận đánh chiều hôm đó của Trung đoàn 209 là sai. Năm 1997, đồng chí Ngô Trọng Bảo viết bài "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cử điểm Điện Biên Phủ", đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, có những nội dung liên quan đến các đơn vị thuộc Trung đoàn 209. Dịp chuẩn bị kỷ niệm 50 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đồng chí Ngô Trọng Bảo đã cung cấp tư liệu cho Dương Thục Anh viết bài "Ông già sửa xe đạp cô đơn và những bí mật của trận đánh cuối cùng trong chiên dịch Điện Biên Phủ", đăng trên báo An ninh thế giới cuối tháng, số 31, tháng 2 năm 2004 và kể cho Thao Lan viết bài "Ai là người ra lệnh cho Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh bắt tướng Đờ Cát", đăng trên báo Tin tức, số 1549, 1550, 1551, tháng 4 năm 2004. Các bài nêu trên đều viết việc đánh chiếm 507, 508, 509 theo nhận thức của đồng chí Bảo.

Đồng tình với ý kiến của nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 còn có một số cựu chiến binh khác. Trung tá Sơn Hà   nguyên Chủ nhiệm trinh sát Đại đoàn 312, trong đơn kiến nghị gửi Viện LSQS Việt Nam, ngày 31 tháng 3 năm 2004, viết: Tới nay đã có đầy đủ căn cứ, chứng lý dể khẳng dính trận đánh- cuối cùng của Đại đoàn 312 lập công chói lọi, kết thúc vẻ vang chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn do một đơn vị nhỏ của Tiểu đoàn 154 thực hiện, chỉ trong buổi chiều ngày 7 tháng 5 đã đập tan phòng tuyến án ngữ của địch còn lại phía Đông sông Nậm Rốm, sau dó nhờ được Trung đoàn kịp thời tăng viện 40 chiến binh (đại đội của Tạ Quốc Luật) đã linh hoạt nắm thời cơ quân địch bắt đầu tan rã, lệnh cho Đại đội 360 vượt cầu Mường Thanh lập được thành tích vang dội bắt sống tướng giặc".

Trung tá Đỗ Xuân Trường (từ trần 1-1999), nguyên Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 130, cũng viết: "Thành tích chớp thời cơ đột phá từ 507 đến 509 để tạo điều kiện cho Đại đội 360, Tiểu đoàn 130 lập công lớn là xương máu của bao anh em đồng đội thuộc Tiểu đoàn 154, cộng với công lao, trí tuệ của cán bộ, chiến sĩ tiểu đoàn này...".

Đại tá Lê Chí Duyên (từ trần 1-2000), nguyên Trung đội phó Trung đội 1, Đại đội 520, Tiểu đoàn 154, cũng cho biết Đại đội 520 tham gia đánh 507 và 508 trong buổi chiều ngày 7 tháng 5...

Sau khi có các bài viết theo lời kể của đồng chí Ngô Trọng Bảo đăng trên một số báo trước đây và thời gian vừa qua, liên quan đến các sự kiện nêu trên, các cán bộ của Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 209 đã có phản ứng đến Toà soạn báo An ninh thế giới cuối tháng và tác giả bài viết, sau đó có đơn thư kiến nghị Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và các cơ quan chức năng liên quan, trong đó có Viện LSQS Việt Nam, đề nghị nghiên cứu, xem xét làm rõ sự thật lịch sử.

Ngày 30 tháng 5 năm 2004, 15 đồng chí, trong đó đa phần nguyên là cán bộ chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn của Trung đoàn 209 tổ chức cuộc họp, do đồng chí Trần quân Lập -  nguyên Chính ủy Trung đoàn, chủ trì, nhằm xác định những đơn vị tham gia các trận đánh chiếm cứ điểm 507, 508, 509 và một số vấn đề khác. Hầu hết các đồng chí có mặt trong buổi họp hôm đó đều cho rằng khi viết về các trận đánh cuối cùng của Trung đoàn 209 trong chiến dịch Điện Biên phủ không nên và không thể chia cắt từng đoạn, đơn vị này đánh, đơn vị kia đánh, cũng như tách bạch sự chỉ huy của từng đồng chí cán bộ vì như thế sẽ làm mất hết ý nghĩa của trận đánh và khó có thể đánh giá đúng công tích của từng người. Sự thực là trận đánh diễn ra nhiều đợt, có nhiều đơn vị của Trung đoàn 209 tham gia, dưới sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất của Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn. Về sự tham gia của các tiểu đoàn, bản kết luận cuộc họp nêu rõ: Tiểu đoàn 130 lập được thành tích lớn. Đêm 6 tháng 5, đánh cứ điểm 507 không dứt điểm, đã nghiêm khắc kiểm điểm, chấn chỉnh lại lực lượng, là mũi chủ yếu tiếp tục tiến công ban ngày, cùng các đơn vị khác giải quyết 507. Sau đó, cùng đội hình Trung đoàn đánh chiếm 508, 509. Đại đội 360 lập thành tích xuất sắc, tiến vào trung tâm Mường Thanh, bắt tướng Đờ Cát và toàn bộ Ban Tham mưu của chúng. Tiểu đoàn 154, qua 37 ngày đêm phòng ngự đồi D, anh dũng giữ vững trận địa, làm bàn đạp cho cuộc tiến công vào khu trung tâm, đánh chiếm cứ điểm 505A và Đại đội 520, Tiểu đoàn 154 phối hợp đánh 507, 508, 509, tạo thuận lợi cho Đại đội 360 vượt sông Nậm Rốm đánh vào khu trung tâm. Đại đội hoả lực 290 của Tiểu đoàn 166 chi viện đắc lực đánh chiếm 507.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 19 Tháng Chín, 2009, 04:07:51 PM
Căn cứ theo các cuốn "Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209", Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312", "Lịch sử QĐNDVN", tập 1 và qua nghiên cứu, kiểm chứng ý kiến của các đồng chí cựu chiến binh Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, chúng tôi thấy:

1. Việc đánh chiếm các cứ điểm 507, 508, 509 trong chiều ngày 7 tháng 5 năm 1954 có sự tham gia của Tiểu đoàn 130,  Tiểu đoàn 154, cùng sự chi viện của Đại đội hoả lực 290, Tiểu đoàn 166 (đánh chiếm 507).

2- Những trận đánh này do Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn 209 trực tiếp chỉ huy. Tại Sở chỉ huy cơ bản của Trung đoàn đóng tại khu vực đồi E, Ban chỉ huy Trung đoàn gồm các đồng chí Trung đoàn trưởng Hoàng Cầm, Chính ủy Trần Quân Lập. Trung đoàn phó Thăng Bình và Phó Chính ủy Kim Mỹ trực tiếp chỉ huy đơn vị tại mặt trận tiền duyên. Cán bộ cấp tiểu đoàn trực tiếp chỉ huy đơn vị mình ở mặt trận tiền duyên có Chính trị viên Tiểu đoàn 130 Trần Quải, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 Ngô Trọng Bảo và một số đồng chí cán bộ cấp đại đội, trung đội, tiểu đội. Nhiều nội dung sự kiện, chi tiết trong các bài viết của Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154, cũng như khi đồng chí cung cấp cho người khác, làm cho người đọc hiểu không đúng về vai trò chỉ đạo, chỉ huy của Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn, của các đồng chí cán bộ cấp tiểu đoàn, cán bộ chỉ huy các đại đội, tiểu đội. Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 có vai trò, đóng góp nhất định trong việc chỉ huy đơn vị thuộc quyền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Việc đồng chí không đề cập trực tiếp, cụ thể đến sự lãnh đạo, chỉ huy của Trung đoàn trong thời điểm quyết định đó, đã làm cho người đọc hiểu lằng dường như chỉ có một mình đồng chí xử lý các tình huống, gây nên sự hiểu lầm, hiểu sai thực chất vấn đề.

3- Ý kiến của các đồng chí Ngô Trọng Bảo, Sơn Hà, Đỗ Xuân Trường, Lê Chí Duyên đã góp thêm căn cứ để xác định Tiểu đoàn 154 có tham gia đánh chiếm 507. Nhưng nhiều chi tiết khác về trận đánh đó mà các đồng chí này viết chưa được kiềm định, thiếu những căn cứ khoa học, không đúng với thực tế lịch sử.

Cụ thể :

- Về thời gian mở đầu các trận đánh chiều 7 tháng 5 của Tiểu đoàn 154, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 đưa ra chính xác  là sớm 22 phút trước giờ G (l giờ). Sự thực có đúng như thế không? Nhiều người biết rằng thời gian mở đầu các trận đánh chiều 7 tháng 5 diễn ra sớm hơn dự kiến do quân Pháp có dấu hiệu tan rã, hạ vu khí đầu hàng. Theo nhiều tài liệu và qua ý kiến của nhiều đồng chí từng tham gia chiến đấu trong buổi chiều hôm đó thì thời gian bắt đầu Tổng công kích trong khoảng 14 đến 15 giờ. Điều này cho thấy việc xác định giờ Tổng công kích chỉ là tương đối. Trận đánh của Trung đoàn 209 vào vị trí 507 diễn ra trong bối cảnh đó nên cũng chỉ có thể nói khoảng chừng, khó có thể nói chính xác tới tận từng phút.

- Về lực lượng của Đại đội 360, trong bài "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cử điểm Điện Biên  Phủ", dộng chí Ngô Trọng Bảo viết có khoảng "hai trung đội đủ", nhưng năm 2001, khi cung cấp tư liệu cho cán bộ Phòng Thông tin Tư liệu Viện LSQS Việt Nam, cũng như những lần tiếp xúc với chúng tôi gần đây, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 lại nói chỉ có 40 người. Hỏi tại sao lại có sự không thống nhất như vậy, đồng chí Bảo nói rằng không thể biết chính xác được, 80 hay 40 là do anh em cung cấp và theo suy đoán của cá nhân. Xác định lực lượng của Đại đội 360 như vậy là thiếu nhất quán và khó tin. Theo bản tường trình viết tay của đồng chí Tạ Quốc Luật (viết năm 1984) thì lực lượng của Đại đội 360 có lúc đó khoảng trên 80 người.

- Về vị trí các cứ điểm, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 đã viết và cung cấp tư liệu, vẽ bản đồ minh hoạ các trận đánh chiều 7 tháng 5 của Tiểu đoàn 154. Theo đó, Tiểu đoàn 154 đánh từ cứ điểm 507 sang 508, 509 theo một chiều dọc. Có nghĩa là 3 cứ điểm này nằm theo thứ tự chiều dọc trên thực địa. Nhưng đối chiếu với bản đồ quân sự của Pháp và qua tìm hiểu chúng tôi thấy không như vậy. Như nhiều người biết, trong quá trình thiết lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, phía pháp thường dặt tên các cứ điểm và cụm cứ điểm theo vần chữ  cải A, B, C... tương ứng với thời gian xây dựng các vị trí đó và dành số thứ tự các cứ điểm theo số 1, 2, 3... theo chiều quay của kim đồng hồ. Thực tế, các cứ điểm 507, 508, 509 không xếp thẳng hàng, ba cứ điểm này tựa như các đỉnh của một tanh giác. Cứ điểm 508 nằm ở phía Nam cầu Mường Thanh. Gần với 507, không phải là 508, mà là 509, án ngữ cầu sắt và cầu phao bắc qua sông Nạm Rôm sang trung tâm Mường Thanh. Do vậy, để tiến sang Mường Thanh (bằng cầu, lúc đó chưa có các phương tiện vượt sông khác), không cần phải qua 508. Tài liệu cá nhân của đồng chí Tạ Quốc Luật, hiện lưu tại nhà riêng của con trai ông, viết rằng sau khi Đại đội 360 cùng các đơn vị đánh chiếm xong 507, tiến đánh sang 509, không phải vượt qua 508.

Đọc bài báo "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ nhiều người sẽ tưởng rằng chiều 7 tháng 5 ở Điện Biên Phủ còn diễn ra những trận đánh quyết liệt. Nhưng theo một số sách lịch sử có độ tin cậy cao cũng như ý kiến nhân chứng thì từ trưa hôm đó địch đã có dấu hiệu tan rã. Chớp thời cơ, chiều 7 tháng 5, ta tiến hành tổng công kích, nhiều trận đánh diễn ra nhưng không ác liệt như bài báo mà Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 54 viết. Về vấn đề này, từ năm 2000, nguyên Chính ủy Đại đoàn 312 đã viết cho đồng chí Sơn Hà, nêu rõ: đêm 6 tháng 5 và sáng 7 tháng 5, ở Điện Biên Phủ diễn ra những trận chiến đấu rất khẩn trương, quyết liệt nhất là ở đồi A1, các đồi và cứ điểm ở phía bờ Đông sông Nậm Rốm. Đến trưa 7 tháng 5, chiến sự tàn dần, cho đến khoảng 16-17 giờ thì hầu như tàn hẳn, nhiều nơi xuất hiện cờ trắng và mỗi lúc một nhiều. Không có cuộc chiến đấu gay gắt, dữ dội nào diễn ra. Đó là kết quả của sau gần hai tháng chiến đấu, trực tiếp là các cuộc chiến đấu dữ dội đêm 6 tháng 5 và sáng 7 tháng 5 ở khắp mặt trận. Trung tướng Phạm Hồng Sơn, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36,  Đại đoàn 308, cũng nói với chúng tôi giống như nguyên Chính ủy Đại đoàn 312 viết. Đại tá Cao Sơn - nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn pháo hoả tiễn H.6, cho biết loạt H.6 bắn cuối cùng diễn ra vào sáng 7 tháng 5. Cuốn sách Lịch sử pháo binh QĐNDVN (1945-1975) cũng không viết có pháo lớn bắn trong chiều hôm dó.

4. Ý kiến các đồng chí Sơn Hà, Đỗ Xuân Trường cho rằng việc đánh chiếm 507 đến 509 hoàn toàn do một đơn vị của Tiểu đoàn 154 thực hiện, có sự tăng viện của 40 chiến binh của Đại đội 360, theo chúng tôi là không hoàn toàn đúng. Gặp gỡ, trao đổi với đồng chí Sơn Hà, chúng tôi nêu vấn đề căn cứ vào dâu để đồng chí phủ nhận những điều mà các sách Lịch sử Trung đoàn 209, Lịch sử Sư đoàn 312, Lịch sử QĐNDVN dã viết. Đồng chí Hà cho biết do kết quả của một quá trình tìm hiểu, nghiên cứu của bản thân. Được biết, đồng chí không phải là người trực tiếp tham gia chiến đấu với các đơn vị Trung đoàn 209 nhưng rất quan tâm đến vấn đề này. Mấy năm nay, đồng chí Hà đã bỏ nhiều công sức thu thập tư liệu, nhưng phải nói rằng chưa có đủ tư liệu xác thực có sức thuyết phục, mà chủ yếu chỉ là tư liệu nhân chứng. Đó là qua tiếp xúc trao đổi với Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154. Đồng chí Đỗ Xuân Trường, là Tiểu đoàn phó 130 nhưng lại không tham gia các trận đánh của đơn vị vào chiều 7 tháng 5 vì đang phải điều trị do bị thương trước đó. Rất tiếc là đồng chí Trường đã mất nên không thể đối chứng được. Những ý kiến của các đồng chí Sơn Hà, Đỗ Xuân Trường chưa có đủ cơ sở, không đủ sức thuyết phục để phủ nhận những điều mà các cuốn sách nói trên đã viết cũng như của các nhân chứng, là các cán bộ, chỉ huy Trung đoàn 209, chỉ huy các tiểu đoàn thời kỳ đó.

Qua đây, chúng tôi kiến nghị với Sư đoàn 312, Trung đoàn 209, khi có điều kiện tái bản các cuốn Lịch sử của Sư đoàn 312, Lịch sử Trung đoàn 209, nên:  

- Bổ sung lực lượng đánh chiếm cứ điểm 507 có Tiểu đoàn 154, còn lực lượng đánh 508 và 509 thì vẫn giữ như cũ vì hai cuốn sách trên đã viết.

- Viết chi tiết hơn về những trận đánh cuối cùng của đơn vị trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

- Cần sử dụng tư liệu nhân chứng, nhưng phải kiểm định độ xác thực.

- Không viết các cứ điểm là cao điểm vì cứ điểm không phải cái nào cũng là điểm cao.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 19 Tháng Chín, 2009, 04:09:23 PM
Về vấn đề bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri

Việc tướng Đờ Cát-xtơ-ri, Chỉ huy trưởng cùng Bộ tham mưu Binh đoàn tác chiến Tây Bắc (Groupement Operationnel  du Norđ Ouest, viết tắt là GONO) bị bắt vào chiều ngày 7.1 tháng 5 năm 195 là mốc quan trọng đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của quân Pháp ở Điện Biên Phủ, có thể xem là "dấu chấm hết" của Kế hoạch Na-va.

Đơn vị lập được chiến công xuất sắc- vào hầm Sở chỉ huy GONO, bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Ban Tham mưu địch, là Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209, Đại đoàn 312. Điều này đã được các sách lịch sử viết rõ. Sách "Lịch sử cuộc kháng chiên chống thực dân Pháp, 1945-1954", tập 2, của tập thể tác giả thuộc Viện LSQS Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội, 1994, tr. 441 viết: "Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật lập tức cùng hai chiến sĩ Vinh và Nhỏ, tiến vào Sở Chỉ huy địch". Sách lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997)", của nhiều tác giả, Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, tr. 137 viết: "Sau một loạt thủ pháo, tiểu liên uy hiếp, tổ chiến sĩ Vinh, Nhỏ dẫn đầu trung đội cùng đại đội trưởng xông vào hầm Bộ chỉ huy tham mưu tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ". Sách "Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312", của nhiều tác giả, Nxb QĐND, Hà Nội, 2000, cung viết giống như cuốn "Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209" kể trên, và ghi rõ "Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật dùng tiếng Pháp bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri phải ra lệnh cho toàn bộ quân địch ở tập đoàn cứ điểm đầu hàng" tr. l73). Sách "Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiên chông Pháp (1945-1954)", của Ban Tổng kết - Biên soạn lịch sử, Bộ Tổng tham mưu QĐNDVN, xuất bản 1991, viết: "Việc bắt Đờ Cát-xtơ ri sau này có báo cáo cụ thể: Sau khi Trung đoàn 209 tiêu diệt các cứ điểm ở tả ngạn sông Nậm Rốm, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cùng hai chiến sĩ thọc sâu vào hầm Đờ Cát xtơ-ri bắt sống toàn bộ Bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ vào hồi 16 giờ 20 phút". Cùng với các sách báo lịch sử, các nhân chứng trực tiếp bắt Đờ Cát-xtơ-ri cũng xác định vấn đề rất rõ ràng.

- Thư của đồng chí Tạ Quốc Luật báo cáo thành tích lên Chủ tịch Hồ Chí Minh, đăng trên báo Cứu quốc số 2309, thứ 6 ngày 28 tháng 5 năm 1954, viết: "Trong trận tổng công kích cuối cùng vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, cháu vinh dự được Ban Chỉ huy giao nhiệm vụ dẫn đầu một tổ xung kích 5 người chọc một mũi nhọn vào phía Chỉ huy sở của tướng Đờ Cát xtơ ri. Năm người đó là: Tạ Quốc Luật, Vinh, Hiếu, Lam, Nhỏ". Theo đồng chí Tạ Quốc Luật, sau lễ mừng chiến thắng Điện Biên Phủ, tổ chức tại Mường Phăng, ngày 13 tháng 5 năm 1954, năm đồng chí nói trên được vào Tổng cục Chính trị, và được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp báo cáo chiến công.

Đồng chí Hoàng Đăng Vinh hiện là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh thị xã Bắc Ninh khẳng định tên 5 người trong tổ xung kích giống như đồng chí Tạ Quốc Luật viết. Đồng chí Vinh bổ sung họ và tên đệm của đồng đội là Nguyễn Văn Lam, Bùi Văn Nhỏ và Đào Văn Hiếu.

- Trong bài "Gặp người tham gia bắt Đờ Cát-xtơ ri" của Minh Châu, viết theo lời kể của đồng chí Đào Văn Hiếu (xórn  xã Nga Hưng, Nga Sơn, Thanh Hoá), đăng trên báo Sức khoẻ và Đời sống, số 279, tháng 5 năm 2004 thì: "Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật phân công: "đồng chí Hiếu và đồng chí Lam bịt cửa hầm phía Bắc, còn tôi (Luật) cùng đồng chí Vinh và đồng chí Nhỏ đánh bịt cửa hầm phía Nam".

Như vậy, căn cứ theo các sách lịch sử và tư liệu nhân chứng (Tạ Quốc Luật, Hoàng Đăng Vinh, Đào Văn Hiếu), chúng tôi xác định:

- Tổ xung kích trực tiếp vào Sở Chỉ huy GONO bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu địch gồm 5 đồng chí: Tạ Quốc Luật, Hoàng Đăng Vinh, Nguyễn Văn Lam, Bùi Văn Nhỏ và Đào Văn Hiếu.

- Việc tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu GONO bị bắt diễn ra tại hầm Sở Chỉ huy GONO.

Xung quanh vấn đề bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu GONO, những năm gần đây, trên một số tờ báo có nhiều bài viết dựa theo nhân chứng kể lại, có sự sai lệch với những điều đã được lịch sử ghi nhận.

Báo Thanh niên, số 74 2004), ngày 14 tháng 3 năm 2004, có bài "Người bắt tù binh đầu tiên ở Điện Biên Phủ" của Kiều Hương, viết theo lời kể của ông Trần Cối (tức Trần Quân, quê ở làng Tiên Lừ, Lập Thạch, Vĩnh Phúc, nguyên Đại đội trưởng quân báo Trung đoàn 209, Đại đoàn 312) viết: "Chuyện bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri từng được viết là tại hầm chỉ huy của nó. Sự thực không phải". Trước khi bị bắt, "tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Tham mưu đã chạy ra sông Nậm Rốm". Đây rõ ràng là sự phủ nhận chiến công của Đại đội 360, ngược hẳn với những điều mà sử sách và các phương tiện thông tin đại chúng đã thông tin. Đọc kỹ bài này, chúng tôi thấy tác giả Kiều Hương hoàn toàn phụ thuộc vào lời kể của ông Trần Cối, thiếu chứng cứ khoa học, không phù hợp  với thực tế sự thật. Bài báo này, sau khi công bố, đã gây nhiều phản ứng trong bạn đọc. Mặc dù, trong bài "Những chi tiết xung quanh việc tướng Đờ Cát-xtơ-ri bì bắt sống", đăng trên báo Thanh niên, ngày 18 tháng 4 năm 2004, tác giả Kiều Hương đã đưa ý kiến của 2 nhân chứng là ông Hoàng Thế Chinh và ông Trần Đức Hoà, nhằm chứng minh cho điều mà ông Trần Cối kể trên là đúng. Nhưng, những điều ông Hoà, ông Chinh đưa ra cũng thiếu cơ sở và không có tính thuyết phục.

Ông Hoà nói: "Qua cầu Mường Thanh, tôi thấy trong đám hàng binh có khoảng 5 thằng mũ đỏ, có thể là ca-lô đỏ, hay mũ nồi đỏ, trong đó có đôi thằng chống can, có khả năng là cùng trong bộ chỉ huy của Đờ Cát-xtơ-ri vì không lếch thếch như bọn lính". Nếu chỉ căn cứ vào mũ đỏ ca-lô hay mũ nồi không xác định rõ) cùng với can và quần áo rồi xác định đó là bộ chỉ huy Pháp thì khó có thể thuyết phục được người đọc. Ông Chinh thì xác nhận: "địch đã ra cách cầu 30-40 mét rồi. Cả bộ tham mưu của nó đã kéo ra, trong đó có Đờ Cát-xtơ-ri nhưng lúc đó mình không biết mặt cụ thể. Không ai bắt Đờ Cát-xtơ ri và bộ chỉ huy. Lúc đó hàng binh ra khỏi cầu Mường Thanh là khoảng 5 giờ. Bộ binh chỉ dẫn giải tù binh về phía sau chứ không phải bắt gì cả". ông Chinh không biết mặt tướng Đờ Cát-xtơ-ri, lại xác định là có Đờ Cát-xtơ-ri trong đám tù binh, điều đó quả thật vô lý.

Trong khi đó, cũng trong bài viết này, tác giả Kiều Hương lại dẫn lời kể của ông Mai Đức Toại, nguyên là Trợ lý chính trị Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209. Ông Toại khẳng dính: "Địch không thể ra bờ sông hàng... ông Quân (tức Trần Cối - TG) không thể vào đây được vì nếu pháo ta không bắn, cũng không chui vào được vì không có bộc phá để đánh dây thép gai. Đi đường khác thì sẽ gặp khẩu đại liên 4 nòng bên kia cầu Mường Thanh". Ông Toại cho biết: "Nhìn từ cửa hầm  sau, tôi thấy Tạ Quốc Luật đang cầm trong tay khẩu súng ngắn, giám sát bọn sĩ quan từ dưới hầm lóc ngóc đi lên. Ngay sau trận đánh ngày 7 tháng 5, khoảng chiều 8 tháng 5, tôi đã làm thành tích cho cả tổ Tạ Quốc Luật. Theo đề nghị của đơn vị thì Tạ Quốc Luật được đề nghị tặng Huân chương Quân công hạng Ba và tổ còn lại là Huân chương Chiến công hạng Nhất. Sau cấp trên tặng Tạ Quốc Luật Huân chương Chiến công hạng Nhất, tổ còn lại đều là Huân chương Chiến công hạng Hai. Thật ra, Tạ Quốc Luật chỉ riêng chuyện chỉ huy đánh thắng địch và chiếm được 507, 508, 509 đã xứng đáng được phong anh hùng".

Một số nhân chứng viết bài hoặc cung cấp tư liệu cho người khác viết về việc bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri tuy thừa nhận vai trò chỉ huy tổ xung kích của đồng chí Tạ Quốc Luật, nhưng có nhiều chi tiết viết thêm vào, không đúng với sự thật lịch sử.

Tiểu đoàn phó 154 - Ngô Trọng Bảo, trong bài viết "Giờ phút hấp hối của tập đoàn cử điểm Điện biên Phủ, đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, năm 1997, viết "Tôi trao đổi nhanh với anh Quải tình hình đã thuận lợi nhiều rồi, địch đang tan rã, nhiều cứ điểm đã kéo cờ trắng, tôi cho đơn vị Tạ Quốc Luật sang bắt Đờ Cát-xtơ-ri đây "Tôi trao nhiệm vụ mới cho đồng chí Tạ Quốc Luật trong tiếng đạn nổ xé tai của trận đia trọng liên 12,7 ly".

Theo đồng chí Bảo viết, thì chính đồng chí Bảo là người ra lệnh cho đồng chí Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh vào bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Sự thực có phải như vậy không? Theo chúng tôi, có nhiều chứng cứ chứng tỏ đồng chí Bảo không phải là người ra lệnh cho Tạ Quốc Luật. Thứ nhất, đồng chí Bảo không phải là cấp trên trực tiếp của đồng chí Tạ Quốc Luật (đồng chí Bảo là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154. Đồng chí Tạ Quốc Luật là Đại đội trưởng Đại đội 360, Tiểu  đoàn 130. Cấp trên trực tiếp của đồng chí Tạ Quốc Luật ở mặt trận tiền duyên lúc đó là Chính trị viên Tiểu đoàn 130 Trần Quải). Thứ hai, trong những lần gặp gỡ với chúng tôi cũng như trong các buổi họp mặt cựu chiến binh Trung đoàn 209, đồng chí Quải phủ nhận điều đồng chí Bảo viết trong bài báo kể trên. Thử ba, tài liệu của đồng chí Tạ Quốc Luật viết từ năm 1984, nêu rõ: "12 giờ trưa ngày 7 tháng 5, đồng chí Kim Mỹ - Phó Chính ủy Trung đoàn, thay mặt Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 209 cùng đồng chí Trần Quải, Bí thư Tiểu đoàn ủy 130, xuống giao nhiệm vụ cho Đại đội 360: nhiệm vụ của Đại đội 360 thọc sâu vào Mường Thanh bắt sống toàn bộ Bộ Tham mưu của địch và tưởng Đờ Cát-xtơ-ri". Không những thế, tập tài liệu dài 12 trang đánh máy, khổ giấy A4 này của đồng chí Tạ Quốc Luật, không có một dòng chữ nào nhắc tới đồng chí Ngô Trọng Bảo. Một điều cần lưu ý là đồng chí Luật viết tài liệu này từ năm 1984, lúc đó chưa xảy ra chuyện nhận công lao, thành tích, đơn thư khiếu nại như bây giờ.

Trong bài "Ai là người ra lệnh cho Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh bắt tướng Đờ Cát?", đăng trên báo Tin tức, các số 1549-1550-1551, tháng 4 năm 2004, tác giả Thao Lan viết: "Ngô Trọng Bảo trao đổi nhanh với Chính trị viên Trần Quải rồi lệnh cho Tạ Quốc Luật vượt cầu Mường Thanh". Chúng tôi đã tới Toà soạn báo Tin tức, gặp và trao đổi với nhà báo Thao Lan, tìm hiểu bài báo được viết dựa theo nguồn tư liệu nào. Tác giả Thao Lan cho biết là dựa vào lời kể của dông chí Ngô Trọng Bảo. Như thế, việc tác giả Thao Lan viết giống như quan điểm của đồng chí Bảo là điều không có gì lạ.

- Báo Tin tức, số 38 (299), ngày 22 tháng 9 năm 2004, có bài "Thêm một sự thật về việc bắt sông tướng Đờ Cát-xt( ri (không ghi tên tác giả). Sau mấy lời "phi lộ" của báo là ý kiến của ông Nguyễn Văn Thái, quê ở Trịnh Xá, Ngô Quyền, Tiên Lữ, Hưng Yên. Về ý kiến này của ông Thái, từ tháng 6 năm 2004, Viện LSQS Việt Nam cũng đã nhận được một bản). Bài này có nhiều chỗ cần phải bàn. Thứ nhất, căn cứ vào đâu để tác giả bài báo khẳng định "Thêm một sự thật về việc bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri?". Vậy đâu là "không sự thật?". Thứ hai, điều ông Thái viết chưa được kiểm chứng và nhiều chỗ mâu thuẫn, không lôgíc. Cụ thể, theo ông Thái thì có "một tiểu đội tiến vào hầm Đờ Cát-xtơ-ri cùng Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật, chiến sĩ Nhỏ người Nghệ An mà tôi cho là có công nhất". Sự thực không phải là một tiểu đội mà là 5 người. Điều thiếu sức thuyết phục là ông Thái không nói rõ việc mình có mặt trong lúc bắt Đờ Cát-xtơ-ri hay không, nhưng lại biết được "chiến sĩ Nhỏ là người có công nhất", rồi "Đồng chí Nhỏ quay ra báo cáo và đưa đồng chí Tạ Quốc Luật đến nói tiếng Pháp và tướng Đờ Cát-xtơ-ri được giải ngay về tở Chỉ huy tiểu đoàn gần nhất". Thứ ba, ngay bản thân lời "phi lộ" của bản báo cũng chưa chính xác vì lúc đó không phải chỉ có đồng chí Ngô Trọng Bảo là cán bộ tiểu đoàn duy nhất ở tiền duyên mà còn nhiều người khác nữa. Hơn nữa, tại mặt trận Điện Biên Phủ, vào thời điểm chiều 7 tháng 5, quan niệm thế nào là tiền duyên cũng còn phải bàn vì khu vực địch kiểm soát còn rất hẹp...

Tờ Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng của báo Quân đội nhân dân, số 4-1999, có bài "Bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri ở Điện Biên Phủ" của Nguyễn Văn Trường, ghi theo lời kể của đồng chí Nguyễn Nghĩa Khoa (huyện Diễn Châu, Nghệ An) lại nói rằng: Đồng chí Khoa là một trong những người bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri. Theo đồng chí Khoa thì đồng chí Nguyễn Văn Lam, quê ở Hưng Nguyên - Nghệ An, người được xác định là thành viên tổ 5 người bắt Đờ Cát-xtơ-ri là Tiểu đội trưởng, đã hy sinh khi vượt sông Nậm Rốm. Đồng chí Khoa là Tiểu đội phó, thay thế vị trí chỉ huy của đồng chí Lam. Những điều đồng chí Khoa nói, chúng tôi chưa có cơ sở kiến chứng, nên vẫn căn cứ vào Thư của đồng chí Luật báo cáo với Bác Hồ là trong tổ 5 người đó có đồng chí Lam.

Tóm lại, có thể thấy, xung quanh việc bắt sống tướng Đờ Cát xtơ ri và Bộ Tham mưu GONO, hiện có nhiều nhân chứng cung cấp các nguồn thông tin khác nhau, khác với các sách lịch sử dã viết.

Theo chúng tôi, căn cứ vào các tài liệu, dựa theo các nhân chứng và căn cứ vào thực tế diễn biến lúc đó thì:

- Trực tiếp tham gia bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ Chỉ huy GONO gồm 5 đồng chí Tạ Quốc Luật, Nguyễn Văn Lam, Hoàng Đăng Vinh, Bùi Văn Nhỏ, Đào Văn Hiếu, do Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật chỉ huy.

- Đờ Cát-xtơ ri cùng toàn bộ Ban Tham mưu tập đoàn cứ điểm bị bắt tại hầm chỉ huy chứ không phải ở bờ sông Nậm Rốm.

- Trường hợp đồng chí Khoa, sẽ xác minh đối chiếu sau...

Báo cáo của Đại tướng Thông Tư lệnh tại Hội đồng Chính phủ trong tập Điện Biên Phủ - Văn kiện Đảng, Nhà nước, Nxb CTQG, Hà Nội, 2004, tr. 808 ghi: "5 giờ lệnh giới nghiêm được ban hành, các đơn vị bộ đội ta chiếm lĩnh Mường Thanh theo từng khu vực đã định từ trước". Theo đó khu vực hầm chỉ huy GONO thuộc quyền kiểm soát của Đại đoàn 308, các đơn vị của Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 không có nhiệm vụ và không được vào hầm chỉ huy GONO. Đó là kỷ luật chiến trường. Việc một số đồng chí ở Trung đoàn 209 nói rằng đêm 7 tháng 5 họ còn vào hầm Chỉ huy GONO có thể là không chính xác.

Tháng 9 năm 2004 vừa qua, Viện LSQS Việt Nam nhận được công văn số 933 của Bộ CHQS tỉnh Hà Tĩnh, về việc xác định đơn thư của ông Nguyễn Thừa Hà thôn 12, xã Cẩm  Thăng, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh), nói ông Hà là người tham gia bắt Đờ Cát-xtơ-ri. Ngày 6 tháng 10 năm 2004, chúng tôi đã về xã Cẩm Thăng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, gặp và trao đổi với ông Nguyễn Thừa Hà. Cùng dự có các đồng chí Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Cẩm Thăng; Thượng tá Nguyễn Trọng Thắng - Trưởng ban Khoa học Công nghệ và Môi trường Bộ CHQS Hà Tĩnh và một đồng chí cán bộ Ban CHQS huyện Cẩm Xuyên. Qua trao đổi, chúng tôi nêu lên những điều không hợp lý trong đơn thư của ông Hà, khẳng định ông Hà không tham gia bắt tướng Đờ Cát-xtơ-ri cùng Ban tham mưu GONO. Kết thúc cuộc gặp, ông Hà thừa nhận: "Các chú khẳng định như vậy thì tôi không có thắc mắc gì nữa".


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 19 Tháng Chín, 2009, 04:09:52 PM
Về vấn đề cứu pháo

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 là một trong những đơn vị tham gia kéo pháo vào, kéo pháo ra (do ta thay đổi phương châm tác chiến từ "đánh nhanh, giải quyết nhanh" sang "dành chắc, tiến chắc") và đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Nhiều cuốn lịch sử đã ghi lại khá chi tiết các chiến công đó. Cuốn Lịch sử Đại đoàn bộ binh 312, Nxb QĐND, Hà Nội, 2000, ghi: "Tiểu đoàn 130 đưa được  khẩu pháo vượt dốc an toàn" (tr. 144); "ngày 5-2-1954, Đại đoàn hoàn thành nhiệm vụ kéo pháo ra ki-lô-mét 70 đường Tuần Giáo. Trong thời gian kéo pháo, riêng Trung đoàn 141 có 29 đồng chí hy sinh, 106 đồng chí bị thương. Đại đội 366, Trung đoàn 209; Đại đội 143, Trung đoàn 141 được Bộ Tư lệnh tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba" (tr. 145). Cuốn Lịch sử Trung đoàn bộ binh 09 (1947-1997), xb QĐND, Hà Nội, 1997, viết: "Chiều ngày 5 tháng 2, khẩu pháo cuối cùng trong số 15 khẩu pháo được Trung đoàn kéo ra vị trì tập kết an toàn ở cây số 70 đường Tuần Giáo. Trong đợt kéo pháo ra, Trung đoàn có 25 đồng chí hy sinh, 96 đồng chí bị thương" (tr. 199).

47 năm sau chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại, ông Ngô Trọng Bảo viết bài Cứu pháo, kể về chiến công của mình, đăng trên Nguyệt san Sự kiện & Nhân chứng, số 89, tháng 5 năm 2001. Bài báo có đoạn: "Nguy hiểm, mệt nhọc, nhưng anh em trong đơn vị vẫn phấn khởi với nhiệm vụ được trao thêm khi thấy Chính ủy Trung đoàn Trần Quân Lập cũng đã ròng rã mấy đêm liền có mặt ở các điểm nút quan trọng. Cả đơn vị đang xúm vào 4 đoạn dây thả pháo từ từ xuống dốc, vừa thả vừa chèn thì bất chợt có một loạt đạn pháo xoèn xoẹt bay tới, tiếng nổ chát chúa, mảnh đạn văng tứ tung, có một số anh em bị đất cát vùi nhưng không ai việc gì. Giữa lúc đạn nổ, cảm nhận sự nguy hiểm đã đến, tôi (Ngô Trọng Bảo) hô lớn: Chèn pháo? Loạt đạn thứ 2 lại nổ gần hơn trước và chỉ có 4 tiếng nổ (của 1 C pháo địch). Lần này khẩu pháo bị chồm lên rồi đè lên hòn chèn và lao xuống dốc vòng vèo. Anh em vội căng dây giữ lại, nhưng trước sức mạnh đang có đà của khối thép 2 tấn ấy làm sao có sức kìm lại được? Bỗng dây tời đứt, khẩu pháo lao vun vút, nhiều chiến sĩ ngã vắt ngang sợi dây căng thẳng. Tôi thấy nguy cơ pháo lăn xuống vực mất, mà mất một khẩu pháo lúc này là thiệt hại lớn lắm nên đã vội lao ra nắm lấy một đầu dây bên càng trái và chạy theo pháo một đoạn ngắn rồi nhanh chóng chạy vòng lại quanh một gốc cây nhỏ bên lề đường sát bờ vực, quấn thêm 2 vòng nữa rồi ngồi thụp xuống, chân đạp mạnh vào gốc cây, 2 tay vẫn giữ đầu dây. Một tiếng "rầm" thật mạnh, gốc cây uốn cong rồi bật cả rễ. Khẩu pháo đang lao bị mất đà đột ngột quay ngang, nòng pháo húc vào vách đồi tạo một hố sâu hoắm rồi dừng hẳn".

Trong dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên phủ trong bài "Ông già sửa xe đạp cô đơn và những trận đánh cuối cùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ", đăng trên báo An ninh thế giới cuối tháng, số 31, tháng 2 năm 2004, thì  vấn đề cứu pháo của đồng chí Ngô Trọng Bảo, dưới ngòi bút của Dương Thục Anh, viết theo lời kể của đồng chí Bảo, đã được "nâng cấp" thêm. Bài báo viết "Ngô Trọng Bảo chính là nhân vật thứ 2 sau anh hùng Tô Vĩnh Diện đã lấy thân thình cứu khẩu trọng pháo bị đứt dây kéo đang trên dà lăn xuống vực. Để cứu pháo, anh hùng Tô Vĩnh Diện đã lấy thân mình chèn pháo, cản sức lăn của pháo làm cho pháo chững lại. Còn trường hợp của Ngô Trọng Bảo, thì khẩu pháo bị đứt một bên dây và từ đỉnh đồi lao xuống vực. Mất thăng bằng, một số anh em bị ngã bổ chửng phía sau. Bằng sức trẻ của một thanh niên 25 tuổi, nhanh như cắt lao chạy theo khẩu pháo và túm dược một đoạn dây còn lại, và Ngô Trọng Bảo đã quàng dây 2-3 vòng vào thân cây ngang bên vệ đường và ghì chặt 2 chân vào thân cây. Pháo đang trên đà lao xuống dốc bị chững lại lôi bật cả gốc cây, pháo quay ngang húc nòng vào sườn đồi dửng hẳn. Hơn 100 người lính kéo pháo đã bình tĩnh gỡ được khẩu trọng pháo và kéo ra trận địa an toàn".

Vấn đề cứu pháo của đồng chí Ngô Trọng Bảo, như hai bài báo trên miêu tả, là một chi tiết mới, chưa có trong các sách lịch sử. Đọc hai bài báo trên, độc giả hẳn cho rằng, đồng chí ngô Trọng Bảo không những có tinh thần dũng cảm như anh hùng Tô Vĩnh Diện mà còn tài trí hơn cả Tô Vĩnh Diện. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ, chúng tôi thấy không có cơ sở khoa học và thực tế. Đó cũng là cảm nhận của nhiều người, nhất là các đồng chí cựu chiến binh Trung đoàn 209, và là một trong những lý do để các đồng chí Đại tá Trần quân Lập, Đại tá Nguyễn Hữu Tài, Đại tá Nguyễn Duy Hàn đến toà soạn báo An ninh thế giới cuối tháng, gặp tác giả yêu cầu cải chính, nhưng tác giả không chấp nhận.

Có thể nêu ra những dẫn dụ về sự bất hợp lý của các chi tiết cứu pháo như sau: "Khẩu pháo bị chồm lên rồi đè lên hòn chèn và lao xuống dốc vòng vèo", hơn 100 người kéo pháo đã bất lực "dây tời đứt, khẩu pháo lao vun vút", thế mà đồng chí Bảo lại có thể "lao ra nắm lấy một đầu dây bên càng trái và chạy theo pháo mộc đoạn và nhanh chóng vòng lại quanh gộc cây nhỏ bên lề đường, sát bờ vực...", và do vậy, đã cứu được pháo.

Chúng tôi đã trực tiếp gặp và trao đổi với đồng chí Bảo để tìm hiểu thêm, nhưng những câu trả lời của đồng chí Bảo đều chung chung, không cụ thể. Khi chúng tôi hỏi trong số những người chứng kiến việc cứu pháo của đồng chí Bảo, hiện có ai còn sống để làm chứng không, đồng chí Bảo trả lời là không còn nhớ ai nữa. Thế nhưng, trong bài Cứu pháo, đồng chí Bảo cho biết có mặt Chính ủy Trung đoàn Trần Quân Lập. Chúng tôi hiểu lý do tại sao đồng chí Bảo không đưa đồng chí Trần Quân Lập làm ra chứng, bởi vì hiện đồng chí Lập là một trong những cựu chiến binh của Trung đoàn 209 cực lực phản đối việc nói đồng chí Bảo là người cứu pháo.

Cứu được một khẩu pháo ở Điện Biên Phủ trong thời điểm năm 1954 là một chiến công lớn, cho dù là của một cá nhân, nhưng cá nhân đó ở trong một tập thể, bởi vậy, (nếu có) được coi là chiến công chung của đơn vị. ấy thế mà Ban chỉ huy Tiểu đoàn 130 và Trung đoàn 209 đều không biết, cả 100 người khéo pháo hôm đó lại im lặng trước chiến công cứu pháo. Quả là điều khó giải thích. Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 209, thời Điện Biên Phủ, hiện ở Hà Nội và các tỉnh lân cận còn khá nhiều. Cấp trung đoàn có Chính ủy Trần Quân Lập, Chủ nhiệm chính trì Nguyễn Hữu Tài, Tham mưu phó Nguyễn Duy Hàn, Trưởng Tiểu ban tác chiến Bùi Đắc. Tiểu đoàn 154 có Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Năng, Chính trị viên Phan Xuân Phồn, Chính trị viên phó Phạm Dũng. Tiểu đoàn 130 có Chính trị viên Trần Quải, Cán sự chính trị Mai Đức Toại, Chính trị viên Đại đội 363 Trần Thẩm và đồng chí Hoàng Đăng Vinh. Tiểu đoàn 166 có Đại đội trưởng đại đội trợ chiến Lê Phương, cán bộ tác chiến Nguyên Hồng Quân v.v.. Những đồng chí này đều không làm chứng cho hành động cứu pháo của đồng chí Bảo.  Về thời gian cứu pháo, cũng có nhiều điều mâu thuẫn.

Đồng chí Bảo viết: "Ngày hôm sau tôi (Ngô Trọng Bảo) được tuyên dương và được thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba". Theo đồng chí Bảo cung cấp, chúng tôi thấy đồng chí Bảo có Giấy chứng nhận đeo 2 Huân chương Chiến công hạng Ba, số 714, ngày 10 tháng 2 năm 1954 và 948, ngày 20 tháng 3 năm 1954. Giấy chứng nhận đeo Huân chương, không viết rõ do thành tích cụ thể nào, nên việc xác định đó có phải do thành tích cứu pháo hay trong đợt kéo pháo hoặc thành tích khác là điều rất khó xác định. Đối chiếu giữa bài Cứu pháo với Giấy chứng nhận đeo Huân chương, có thể xác định được việc cứu pháo diễn ra vào ngày 9 tháng 2 năm 1954. Nhưng theo sách Lịch sử Sư đoàn bộ binh 312 và Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997), thì việc kéo pháo của đơn vị đã hoàn tất vào ngày 5 tháng 2 năm 1954.

Và như vậy, thời gian cứu pháo (nếu có) phải trước ngày 5 tháng 2 năm 1954. Vậy nên, việc đồng chí Bảo viết một ngày sau chiến công cứu pháo, đồng chí được tuyên dương và thưởng Huân chương, liệu có đúng hay không? Về vấn đề này, chúng tôi xin không bàn về chi tiết hành động cứu pháo của đồng chí Bảo, vì lời kể của đồng chí Bảo vệ việc cứu pháo qua 2 bài báo là không thống nhất có nhiều mâu thuẫn thiếu sức thuyết phục đến độ vô lý.

Tóm lại, qua các sách lịch sử, bài viết của đồng chí Bảo, của Dương Thục Anh, và tiếp xúc trao đổi với đồng chí Bảo, chúng tôi thấy:

- Trung đoàn 209, trong đó có đại đội của đồng chí Bảo và bản thân đồng chí Bảo có tham gia vào việc kéo pháo vào và kéo pháo ra trong chiến dịch Điện Biên Phủ và đã lập được chiến công xuất sắc. Các chiến công đó, các sách Lịch sử Đại đoàn bộ binh 12, Lịch sử Trung đoàn 209 đã viết rõ.

- Việc đồng chí Bảo viết và cung cấp tư liệu cho Dương Thục Anh viết về vấn đề đồng chí Bảo cứu được một khẩu pháo trong đợt kéo pháo ra do việc ta thay đổi phương châm tác chiến, là một chi tiết mới. Tuy nhiên, chi tiết này lại không đáng tin cậy. Hơn thế, nếu các cựu chiến binh ở Điện Biên Phủ và các nhà nghiên cứu không có ý kiến phản bác thì vô hình chung, chúng ta đã công nhận một sự kiện rất thú vị và sáng tạo của một nhân vật chỉ huy tài trí, có sức mạnh vô song. Vì thế, những người viết bài này rất mong nhận được ý kiến của bạn đọc về "vấn đề cứu pháo" của đồng chí Bảo, ngõ hầu soi rọi sự thực lịch sử đã diễn ra cách đây nửa thế kỷ.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 19 Tháng Chín, 2009, 04:10:27 PM
Về trận Him Lam.

Trận tiến công Him Lam (13-3-1954) là một trận đánh lớn của Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165), do Bộ tư lệnh Đại đoàn 312 chỉ huy, mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ, nhằm tiêu diệt cụm cứ điểm Him Lam - một trong những trung tâm đề kháng ngoại vi kiên cố nhất trên hướng Đông Bắc của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Him Lam gồm 3 cứ điển, do một tiểu đoàn Lê dương và một đại đội lính ngụy người Thái chiếm giữ. Trận đánh diễn ra ác liệt từ 17 giờ đến 20 giờ 30 phút ngày 13 tháng 3 năm 1954 với sự phối hợp chặt chẽ của pháo binh và bộ binh, quân ta lần lượt đánh chiếm 3 cứ điểm, diệt và bắt hơn 400 tên địch, góp phần phá vỡ tuyên phòng thủ ngoại vi của địch, tạo thế bước đầu cho chiến dịch phát triển.

Vào thời điểm diễn ra trận đánh này, đồng chí Bảo mới là Đại đội trưởng đại đội trợ chiến, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209. Nhưng, theo lời kể của đồng chí Bảo và dưới ngòi bút của Dương Thục Anh trong bài "Ông già sửa xe đạp cô đơn và nhũng bí mật của trận đánh cuối cùng trong chiên dịch Điện Biên Phủ", báo An ninh thế giới cuối tháng, số 31, tháng 2 năm 2004, đồng chí Bảo trở thành người chỉ huy trận đánh Him Lam. Bài báo có đoạn viết: "Ông (tức Ngô Trọng Bảo) chính là người chỉ huy trận đánh Him Lam mở màn chiến dịch với thắng lợi giòn giã". Dương Thục Anh viết như vậy theo chúng tôi, là do tin vào lời kể của đồng chí Bảo, không có tư liệu lịch sử chính xác để kiểm chứng, không biết rõ về trận Him Lam. Thực ra, về trận Him Lam, các sách lịch sử đã viết rất nhiều và khá đầy đủ. Riêng chi tiết Đại đoàn trưởng 312 Lê Trọng Tấn (sau này là Đại tướng Lê Trọng Tấn) là người chỉ huy trực tiếp trận đánh đó, thì đã có quá nhiều người biết.

Việc Dương Thục Anh viết đồng chí Bảo là người chỉ huy trận Him Lam đã gây phản ứng gay gắt đối với người đọc, nhất là cựu chiến binh Trung đoàn 209. Vì thế, trong bài "Đi tìm sự thật lịch sử" đăng trên báo An ninh thế giới cuối tháng, số 32, tháng 3 năm 2004, tác giả bài báo trên đã "xin đính chính lại chi tiết ông Ngô Trọng Bảo là người tham gia trận đánh Him Lam với tư cách là đại đội trợ chiến chứ không phải chỉ huy như bài báo đã nêu. Chúng tôi (tức Dương Thục Anh) thành thật xin lỗi quý độc giả và các cựu chiến binh Điện Biên Phủ về sai sót đáng tiếc này".

Về vấn đề đồng chí Bảo là người tham gia trận Him Lam, với vị trí như thế nào, thiết nghĩ đã rõ. Điều chúng tôi muốn nói là, nếu như không có ý kiến phản ứng của các đồng chí cựu chiến binh Trung đoàn 209 một cách kịp thời thì tác giả  bài báo chắc gì đã đính chính chi tiết trên. Nếu để lâu ngày, không có ý kiến phản bác sẽ làm cho người đọc hoài nghi, người viết khác lại dựa vào cái sai đó do không biết là sai viết tiếp tạo sự sai lệch kiểu dây chuyền. Chúng tôi đã trực tiếp hỏi đồng chí Bảo về vấn đề này, đồng chí Bảo cho biết, do tác giả bài báo đưa bản thảo đến gần sát với thời gian đưa đi in nên đồng chí không thể đọc kỹ hết các chi tiết, kể cả một số chi tiết của bài "Ông già cô đơn... ".

Thiết nghĩ, khi viết về các vấn đề lịch sử, những người viết nên thật cẩn trọng, có kiến thức lịch sử, tôn trọng tư liệu nhân chứng, song cần kiểm chứng, đối chiếu. Người viết cần có chính kiến, bởi tư liệu nhân chứng cung cấp do thời gian, sự kiện diễn ra đã lâu, nên độ chính xác nhiều khi không cao.

Có như vậy, mới có thể tránh được những sai sót không đáng có, gây bất bình cho người đọc...

Lời kết

50 năm qua, kể từ khi trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi, đến nay đã có hàng nghìn công trình, sách, bài viết của các nhà chính trị, quân sự, các vị tướng lĩnh, học giả, nhà nghiên cứu v.v.. trong và ngoài nước viết về sự kiện "chấn động địa cầu này, theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. ở trong nước, bên cạnh các công trình, bộ sách lịch sử mang tính chính thống, còn có các tập ký sự lịch sử hồi ký, các bài viết của nhân chứng đăng trên các tạp chí chuyên ngành, các báo...

Lịch sử Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược gắn liền với chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại. Đó là niềm tự hào không chỉ của riêng cựu chiến binh, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn nàv mà còn của quân đội, của toàn Đảng, toàn dân ta. Việc các cựu chiến binh Trung đoàn 209 viết hồi ký, cung cấp tư liệu, tái tạo góp phần làm đầy đủ hơn trang sử hào hùng của đơn vị là điều rất cần thiết, nhiều bổ ích. Đó là nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý giá. Xử lý các nguồn tư liệu nhân chứng, tìm giá trị đích thực của nó là trách nhiệm thuộc về các cơ quan chuyên môn, những người làm công tác nghiên cứu lịch sử.

Ý thức đầy đủ điều đó nên sau khi có đơn thư của các cựu chiến binh Trung đoàn 209 đáng chú ý là của các đồng chí Ngô Trọng Bảo, Sơn Hà, Trần Quân Lập, Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Duy Hàn gửi tới nhiều cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng, trong đó có Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, chúng tôi đã tập trung nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, đối chiếu, thẩm định tư liệu, sự kiện và gặp gỡ nhân chứng v.v.. Trên từng vấn đề, chúng tôi đã có cố gắng, thận trọng phân tích, đánh giá. Có thể thấy các bài báo của đồng chí Bảo và các bài viết liên quan tới đồng chí Bảo có phần đúng, nhưng cũng còn có nhiều sai lệch. Nếu căn cứ vào các bài viết mà chúng tôi đã dẫn trên, xâu chuỗi lại, thấy nổi lên các "chiến công" của đồng chí Bảo như sau:

- Chỉ huy trận Him Lam, mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ, chỉ huy trận đánh cuối cùng (cứ điểm 507, 508, 509) trong chiến dịch Điện Biên Phủ.

- Người thứ hai, sau Anh hùng Tô Vĩnh Diện, cứu được một khẩu pháo ở mặt trận Điện Biên Phủ.

- Ra lệnh cho đồng chí Tạ Quốc Luật chỉ huy đơn vị vượt cầu Mường Thanh, bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và toàn bộ Ban tham mưu GONO.

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy không có đủ căn cứ khoa học và thực tiễn để xác định những "chiến công" trên là có thật 100%, có chăng chỉ là một phần nhỏ.

Trên tinh thần tôn trọng đối với nhân chứng lịch sử, Viện LSQS VN, sau khi tổ chức nghiên cứu thẩm định, ngày 8  tháng 7 năm 2004, đã tổ chức một buổi toạ đàm, mời các đồng chí có đơn thư và liên quan, đại diện các cơ quan hữu quan đến dự. Nhưng đáng tiếc, cả phía các đồng chí Bảo, Sơn Hà và phía các đồng chí Lập, Tài, Hàn không hoàn toàn thống nhất với những ý kiến của Viện LSQSVN đưa ra. Hai đồng chí Bảo và Sơn Hà vẫn giữ ý kiến như đã nêu trong đơn thư. Theo đồng chí Bảo: "Lịch sử về giờ chót của chiến dịch Điện Biên Phủ vẫn còn có chỗ nhầm lẫn lớn về trận đánh cuối cùng trong đợt tổng công kích bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và Bộ tham mưu địch", "nguyên nhân sâu xa của sự nhầm lẫn lịch sử này phải chăng là do 3 nỗi "hận" của Trung đoàn 209 từ Bản Vậy (Nà Sản, 1952) rồi cao điểm D2 đêm 30 tháng 4 năm 1954 đến cứ điểm 507 đêm 6 tháng 5 năm 1954, đã làm cho người chỉ huy Trung đoàn bị ám ảnh vì "cay cú mà phủ nhận công tích của Tiểu đoàn 154 để bù đắp cho Tiểu đoàn 130", "sau khi chiến dịch kết thúc, Đảng ủy và Ban chỉ huy Trung đoàn 209 đã phạm sai lầm là tính toán, sắp đặt một kế hoạch báo cáo quân sự bằng những tình huống giả tạo trong đợt Tổng công kích tập trung trong cuốn hồi ức Chặng đường mười ngàn ngày của nguyên Trung đoàn trưởng 209, (Thượng tướng Hoàng Cầm - TG) biến sự kiện lịch sử và chiến công này thành một thứ hàng hoá bao cấp nằm trong tay một vài người có chức có quyền để tùy tiện ban phát thiếu công bằng, phục vụ yêu cầu chính trị cục bộ của Trung đoàn là "rửa hận", gây sự dối trá, kéo theo một số người thiếu cảnh giác cùng đứng ra bảo vệ sự dối trá ấy, tiến hành bịt đầu mối và vô hiệu hoá "người trong cuộc", tạo ra một không khí lộn xộn mất đoàn kết trong nội bộ cựu chiến binh, đồng thời lừa dối cấp trên, lừa dối công luận suốt 50 năm qua" (trích đơn thư của đồng chí Ngô Trọng Bảo gửi Viện LSQSVN, gửi đồng chí Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy quân sự Trung ương, Ủy ban kiểm tra Đảng ủy quân sự Trung ương, ngày 27 tháng 3 năm 2004).

Theo chúng tôi, những điều đồng chí Bảo viết như trên là không đúng, bởi lẽ cuốn Lịch.sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-l997) Nxb QĐND, Hà Nội, 1997, do một tập thể tác giả biên soạn, dưới sự chỉ đạo của Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn 209 (thời điểm 1991), Ban chỉ huy Trung đoàn thời kỳ Điện Biến Phủ chắc chắn có vai trò nhất định trong việc cung cấp tư liệu sự kiện cho việc biên soạn. Nhũng báo cáo tổng kết của Ban chỉ huy Trung đoàn trong chiến dịch Điện Biên Phủ và những điều cựu chiến binh kể lại được Đảng ủy, Ban chỉ huy Trung đoàn 209 (năm 1997), tập thể viết cuốn Lịch sử Trung đoàn bộ binh 209 (1947-1997) tôn trọng, nghiên cứu cân nhắc thận trọng, đưa vào lịch sử những nội dung, sự kiện có cơ sở khoa học. Nếu cuốn sử trên còn có chỗ nào hạn chế, thiếu sót, thì đó thuộc về trình độ nghiên cứu, hoàn toàn không do mục tiêu "lừa dối công luận" như đồng chí Bảo phản ánh.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 19 Tháng Chín, 2009, 04:11:06 PM
Một số ý kiến liên quan đến Trung đoàn 209 trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954

Trần Quân Lập - Nguyễn Hữu Tài.

Tạp chí LSQS số 5-2005

Nhân đọc loạt bài về "Một số vấn đề liên quan đến Trung đoàn 209 trong chiên dịch Điện Biên Phủ" của các tác giả Trần Văn Thức và Nguyễn Mạnh Hà đăng trong chuyên mục Sửa lại cho đúng - Bàn thêm cho rõ của Tạp chí Lịch sử quân sự từ số 153, tháng 9-2004 đến số 157, tháng 1-2005), chúng tôi rất hoan nghênh tinh thần trách nhiệm cao trước lịch sử của Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Để làm rõ thêm bồi cảph trận đánh cuối cùng ở Mường Thanh, chúng tôi xin cung cấp một số tư liệu và có một số ý kiến sau:

1. Về sử dụng lực lượng của Trung đoàn 209.

Bướt vào đợt 3 chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung đoàn 209 có nhiệm vụ tiêu diệt các cứ điểm 505, 505A (Dominique 3), cửa ngõ vào tung thâm Mường Thanh. Trung đoàn đã sử dụng Tiểu đoàn 166 đánh Cứ điểm 505, Tiểu đoàn 154 đánh Cứ điểm 505A. Cả hai vị trí này đều bị tiêu diệt đêm 1 tháng 5 năm 1954.

Tiếp đó, Trung đoàn nhận nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm 507 cùng một lúc với các Trung đoàn 174 đánh Ai (Eliane 2), Trung đoàn 98 đánh C2 (Eliane 4), Trung đoàn 165 đánh cứ điểm 506, Trung đoàn 102 đánh 311 (Huguette F). Thời gian nổ súng, thống nhất lấy hiệu lệnh là tiếng nổ của khối bộc phá gần 1.000 kg trên đồi Al (20 giờ 30 đêm 6-5-1954).

Trung đoàn đã sử dụng Tiểu đoàn 130 đánh Cứ điểm 507 (Eliane 10) nằm ngang giữa đường 41 đến bờ sông Nậm Rốm, ngăn chặn đường tiến công qua cầu sang Mường Thanh. Tiểu đoàn đã sử dụng Đại đội 363 đột phá, song vấp phải hàng rào bùng nhùng địch mới trải đêm 6 tháng 5 mà ta không phát hiện được. Bộc phá không cắt đứt được hàng rào bùng nhùng nên đội hình tiến công của ta bị ùn tắc. Trước hoả lực trung, đại liên dày đặc của địch (23 khẩu), Đại đội 363 bị thương vong, mất sức chiến đấu; Tiểu đoàn điều thê đội 2 (Đại đội 366) lên thay, đánh chiếm được một số đoạn giao thông hào, song Đại dội trưởng và Đại đội phó 366 đều bị thương. Trung đội trưởng Trần Can lên thay cũng bị hy sinh, buộc phải ngừng tiến công. Trước tình hình không có lợi, Trung đoàn lệnh cho Tiểu đoàn củng cố trận địa dã chiến đề phòng địch phản kích khi trời sáng, bám sát trận địa, chấn chỉnh bộ đội chờ lệnh tiếp tục tiến công.

Ngay sau đó, Đảng ủy Trong đoàn họp và nhất trí kết luận: Nguyên nhân của việc không tiêu diệt được Cứ điểm 507 là do ta không bám sát địch, tổ chức hoả lực tấn công rời rạc, không kiềm chế được hoả lực địch. Mặt khác, trong khi địch liên tục tăng cường chi viện phòng ngự thì quyết tâm của Trung đoàn là điều động lực lượng dự bị, tiếp tục tiến công đánh ban ngày. Điều này không phải do "cay cú" mà xuất phát từ tương quan lực lượng địch - ta lúc đó. Ta đã lần lượt chiếm được các cứ điểm Al, C2, 506, địch phản kích nhiều đợt, máy bay trút bom ồ ạt cũng không cứu vãn nổi. Nếu đánh ban ngày, có điều kiện quan sát tốt, ta sẽ không vướng phải những tình huống "bất ngờ" như đã xảy ra đêm 6 tháng 5.

Quyết tâm này lúc đầu chưa được thông qua. ý định của trên là chờ lệnh tổng công kích, cũng ở hướng ấy, tiến công một thể.  Chúng tôi tiếp tục trao đổi, nhất trí đề nghị cho đánh ban ngày vì lực lượng của Trung đoàn vẫn còn đủ sức. Tình hình địch đã thay đổi. Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn, sau khi xin ý kiến của Tư lệnh chiến dịch, đã chuẩn y quyết tâm của Trung đoàn, ấn định giờ nổ súng là 14 giờ ngày 7 tháng 5 năm 194, chi viện hoả lực - 5 khẩu pháo.

Trung đoàn đã điều động Đại đội 360 (đêm 6 tháng 5 là đơn vị dự bị cho Trung đoàn 165 đánh Cứ điểm 506) trở lại đội hình Tiểu đoàn 130 làm chủ công đánh Cứ điểm 507.

Đồng chí Kim Mỹ - Phó Chính ủy trực tiếp xuống động viên, giao nhiệm vụ. Tiểu đoàn 154 sử dụng Đại đội 520, bố trí phòng ngự ở 505A, mở một mũi tấn công hỗ trợ (nơi tiếp giáp giữa 506-507 Kết quả như ta đã rõ, Cứ điểm 507 đã bị tiêu diệt nhanh gọn; sĩ quan, binh lính địch lũ lượt ra hàng. Cùng lúc đó, dọc sông Nậm Rốm xuất hiện nhiều cờ trắng, thời cơ lớn đã đến.

Một mặt, Trung đoàn báo cáo lên Đại đoàn, mặt khác lệnh cho các tiểu đoàn 130, 154 đánh thốc lên các cứ điểm 508, 509, có điều kiện vượt sông Nậm Rốm đánh thẳng vào Chỉ huy sở Tập đoàn cứ điểm.

Do vậy nên khi có lệnh tổng công kích vào trung tâng Mường Thanh (15 giờ ngày 7- 5) thì các đơn vị của Trung đoàn 209 đang ở tư thế tiến công, có nhiều thuận lợi hơn các đơn vị khác, đã tiến vào trước hầm Đờ Cát-xtơ-ri.

2. Nói thêm về sự kiện bắt sông tướng Đờ Cát-xtơ-ri.

Đại đội 360 - đơn vị đã đánh chiếm 507-509 vượt qua cầu Mường Thanh bắt sống tướng Đờ Cát-xtơ-ri và toàn bộ Bộ Tham mưu Tập đoàn cứ điểm, là một đại đội có truyền thống  bẻ gãy gọng kìm sông Lô năm 1947, lập nhiều chiến công trong nhiều chiến dịch lớn, song tâm tư vẫn không thoải mái vì sắp xếp thứ hạng trong đội hình của Tiểu đoàn, Đại đội 360 vẫn đứng sau các đại đội 366 và 363,chưa lần nào được giữ vai trò chủ công trong các trận đánh lớn. Lần này được Trung đoàn trao nhiệm vụ chính nên cán bộ, chiến sĩ rất phấn khởi, quyết tâm cao, mặc dầu một bộ phận bị bom vùi đất sáng 6 tháng 5. Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật hứa: "Không thắng trận, không về gặp Trung đoàn", ý chí kiên cường cộng với tài chỉ huy linh hoạt của Tạ Quốc Luật đã được thể hiện trong việc ra lệnh cho Trung dội Chu Bá Thệ vượt cầu phao tại Cứ điểm 509 (Eliane 12) sang phía hữu ngạn sông Nậm Rốm để chia cắt các lực lượng địch với chỉ huy trung tâm. Việc tổ chức chỉ huy đánh chiếm cầu sắt Mường Thanh trong điều kiện khẩu pháo trọng liên 4 nòng văn liên tục nhả đạn, việc bắt tù binh dẫn đường đến hầm Đờ Cát-xtơ-ri và đặc biệt việc xử trí tình huống trong hầm Đờ Cát-xtơ-ri, vừa có tính chất quân sự, đúng luật, vừa có tính chất chính trị, chấp hành tốt chính sách tù - hàng binh của ta. Việc Đảng và Chính phủ ta truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 15 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân cho Tạ Quốc Luật đã đánh giá đúng công lao, thành tích của cá nhân đồng chí đó nhưng đồng thời cũng khẳng định một sự thật lịch sử cách đây 50 năm của Trung đoàn 209.

3. Về nguyên nhân của cái gọi là "nhầm lẫn lịch sử".

Trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày chiến thắng Điện Biên Phủ, có một loạt bài báo nêu những sự kiện trái ngược với các văn kiện, tài liệu đã công bố trước đó liên quan đến Trung đoàn 209 trong trận đánh cuối cùng vào trung tâm Mường Thanh. Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 Ngô Trọng Bảo cho rang nguyên nhân sâu xa của sự nhầm lăn lịch sử phải  chăng là do ba nỗi "hận" của Trung đoàn 209 từ Bản Vậy (Nà Sản, 192), rồi Cao điểm D2 đêm 30 tháng 3 năm 1954 đến Cứ điểm 507 đêm 6 tháng 5 năm 19t)4, đã làm cho người chỉ huy Trung đoàn bị ám ảnh vì cay cú mà phủ nhận công tích của Tiểu đoàn 154 để bù đắp cho Tiểu đoàn 130?

Vậy chúng tôi xin phân tích về ba nỗi "hận".

- Trận Bản Vậy là trận đánh của toàn Trung đoàn ngày 1 tháng 12 năm 1952. Đây là một cao điểm nằm trong tập đoàn cứ điểm Nà Sản (Mai Sơn - Sơn La) mà quân Pháp vội vã thiết lập, tập trung các đội quân bị đánh đuổi trên mặt trận Tây Bắc co cụm lại. Quân ta chưa có kinh nghiệm đánh tập đoàn cứ điểm, trình độ trang bị, nhất là về hoả lực tầm xa còn rất thấp. Các đơn vị bạn đánh Nà Xi, Pú Hồng cũng không thành công. Trận đánh này đã cho ta kinh nghiệm xương máu để đi tới thành công trong trận đánh Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ năm 1954. Đây là nỗi "hận" của toàn quân đã được trả, chứ không riêng gì Trung đoàn 209.

- Trận đánh Cao điểm D2 của Tiểu đoàn 130 (đêm 30-3-1954) không dứt điểm, sáng 31 tháng 3, địch ở D2 rút chạy về Mường Thanh. Đó là khuyết điểm của Tiểu đoàn 130, cần phải phê phán. Song trước đó, ngày 13 tháng 3 năm 1954, Tiểu đoàn 130 là mũi chủ công tiến công mỏm 3 trong cụm Him Lam, đã đánh nhanh chóng, diệt gọn trong vòng 1 giờ.

Duyên cớ gì mà chỉ huy Trung đoàn phải "hận", lấy "công" của 154 bù đắp cho 130? - Còn về trận đánh Cứ điểm 507 thì như trên chúng tôi đã trình bày, có một sơ suất là trong cuốn Lịch sử của Trung đoàn 209 không ghi mũi tiến công phối hợp của Trung đội Lê Chí Duyên (đại đội 520 - Tiểu đoàn 154) đánh Cứ điểm 507. Sự việc đó cần được bổ sung khi tái bản.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 19 Tháng Chín, 2009, 04:11:39 PM
Trung tá New có ý kiến gì không nhỉ ::)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 19 Tháng Chín, 2009, 11:13:06 PM
Đoạn Trung tá Shan vừa post vừa post được trích từ cuốn sách "Nói lại cho đúng, bài thêm cho rõ" - một tập hợp các bài viết thuộc chuyên mục cùng tên trên tạp chí Lịch sử quân sự. Một cuốn rất hay. Ý kiến của tớ chỉ có thế.  ;D Vấn đề này thì đúng là còn một số điểm chưa rõ ràng, thông tin bên lề cũng có một số nhưng là lớp con cháu nên tớ không dám phát biểu, hi vọng sẽ có kiến giải của riêng mình khi có thêm thông tin.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 20 Tháng Chín, 2009, 08:20:17 PM
Em xin bổ sung, còn LS Hà văn Nọa của c241d11e141f312 và LS Nguyễn Ngọc Bảo d phó d trinh sát 426 thuộc Cục Quân báo.  :) Đến nay, có 20 cán bộ chiến sỹ được phong anh hùng trong CZ ĐBP.

http://www.thethaovanhoa.vn/133N20090505102210234T0/ky-vat-cua-nhung-huyen-thoai-dien-bien-phu.htm

Giờ tăng lên là 24 Anh hùng rồi  >:(


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 20 Tháng Chín, 2009, 08:51:24 PM
Nom cái danh sách thì đúng 24 cụ thật bác Lốp ạ.

Hừ, dáng súng trong ảnh là SMLE No.4 Mk.1. Khẩu còn lại không rõ lắm nhưng có thể là Enfield M1917.

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/bantia.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/smle4mk1.jpg)

Trừ Carbine của bọn dù, súng trường của Anh và Mỹ mà đến ĐBP vẫn còn được dùng (dù là phe nào) là em rất nghi ngờ >:( Hôm nào lại phải qua soi lại. Mk, đếk tin tưởng cái bảo tàng này từ lâu rồi >:(

Khẩu súng trường Mỹ do chiến sĩ Đoàn Trương Lít, Đại đội 395, Trung đoàn 36 sử dụng bắn tỉa 9 phát, diệt 9 địch ở vị trí 206 (Đồi A1) ngày 19/4; với khẩu súng trường Anh, chiến sĩ Lộc Văn Thông, Trung đoàn 165 đã sử dụng cùng các vũ khí khác, bắn tỉa diệt 30 tên địch ở cứ điểm 105 (Đồi A1) ngày 30/3 - 16/4; một khẩu súng khác do chiến sĩ Đại đội 213, Trung đoàn 88 lấy của địch, bắn tỉa 5 phát, diệt 5 tên địch ở phíaTây sân bay Mường Thanh ngày 20/4.

Đồi A1 >:(


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Chín, 2009, 05:51:23 AM
Nom cái danh sách thì đúng 24 cụ thật bác Lốp ạ.

Nhưng vấn đề ở đây là: 4 cụ mới được phong tặng là nhưng ai các bác nhỉ? Chắc bác nào đấy chịu khó vào Bảo tàng Quân sự Việt Nam xem xem sao  ;D. Em ở xa, chứ ở gần thì kiểu gì mai em cũng phải vào coi xem sao mới được.

Trong bốn cụ mới được phong tặng, thì em nhận ra mỗi cụ Lê Văn Dỵ (hàng cuối cùng từ trên xuống, cột thứ tư từ trái sang).

(http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/8/31/kyuc.jpg)

Mời các bác đọc bài viết về cụ và biết thêm tại sao có câu hát ''Đâu có giặc là ta cứ đi"

http://baodaidoanket.net/ddk/print.ddk?id=9573


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 21 Tháng Chín, 2009, 08:08:47 AM
Nhưng vấn đề ở đây là: 4 cụ mới được phong tặng là nhưng ai các bác nhỉ? Chắc bác nào đấy chịu khó vào Bảo tàng Quân sự Việt Nam xem xem sao  ;D. Em ở xa, chứ ở gần thì kiểu gì mai em cũng phải vào coi xem sao mới được.

Trong bốn cụ mới được phong tặng, thì em nhận ra mỗi cụ Lê Văn Dỵ (hàng cuối cùng từ trên xuống, cột thứ tư từ trái sang).

http://baodaidoanket.net/ddk/images/Image/2008/8/31/kyuc.jpg
Mời các bác đọc bài viết về cụ và biết thêm tại sao có câu hát ''Đâu có giặc là ta cứ đi"

http://baodaidoanket.net/ddk/print.ddk?id=9573

Cụ tinh mắt thế nhỉ :o Kiểu này thì nhà em đoán ngoài tướng VN với tướng Nga, chắc cụ phải còn cả 1 bộ sưu tập về AHLLVT các thời kỳ, phỏng ạ ::)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 21 Tháng Chín, 2009, 05:48:28 PM
Hôm nay em trốn cơ quan đi xem 4 cụ mới bổ sung là những cụ nào. Buồn là thứ 2 bảo tàng đóng cửa.  :-\ Mai vậy, Trung tá Shan đi không.  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 21 Tháng Chín, 2009, 06:17:27 PM
Hôm nay em trốn cơ quan đi xem 4 cụ mới bổ sung là những cụ nào. Buồn là thứ 2 bảo tàng đóng cửa.  :-\ Mai vậy, Trung tá Shan đi không.  ;D

He he... Bác thật là có tinh thần  ;D Các bác đi nhớ đừng quên mang theo máy ảnh ạ. Em ở nhà chờ tin của các bác!

Bác Shan quá nhời, nếu có thời gian em sẽ làm thêm Hình ảnh và tiểu sử tướng lĩnh nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nhưng sức người có hạn  :'(


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 21 Tháng Chín, 2009, 07:07:17 PM
Có hạn thì đúng, nhưng bác Lốp cứ làm hết sức của mình là chúng em được nhờ lắm lắm rồi.  :)

Em đoán mò tí, dựa vào bài báo, liệu 4 Cụ mới được phong là:
- Đoàn Trương Lít
- Lộc Văn Thông
- Hùng Sinh
- Đỗ Văn Hữu
?

 :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 22 Tháng Chín, 2009, 12:41:39 AM
Có hạn thì đúng, nhưng bác Lốp cứ làm hết sức của mình là chúng em được nhờ lắm lắm rồi.  :)

Em đoán mò tí, dựa vào bài báo, liệu 4 Cụ mới được phong là:
- Đoàn Trương Lít
- Lộc Văn Thông
- Hùng Sinh
- Đỗ Văn Hữu
?
 :)

Trong danh sách 4 người mới được truy tặng, chắc chắn có Anh hùng Lê Văn Dỵ bác ạ. Còn chắc chắn là không có tướng Hùng Sinh rồi ^^



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 22 Tháng Chín, 2009, 12:49:04 AM
Vâng đúng rồi, có cái ảnh cụ Lê văn Dỵ thì đúng chóc :D.
Cụ Hùng Sinh theo em nhớ sau này có dính phốt..
Bác Lốp có "phỏng đoán" nào không ạ. Để 18h30 chiều mai em đi tác nghiệp về đưa kết quả.  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 22 Tháng Chín, 2009, 02:22:42 AM
Vâng đúng rồi, có cái ảnh cụ Lê văn Dỵ thì đúng chóc :D.
Cụ Hùng Sinh theo em nhớ sau này có dính phốt..
Bác Lốp có "phỏng đoán" nào không ạ. Để 18h30 chiều mai em đi tác nghiệp về đưa kết quả.  ;D


Không bác ạ! Đành đợi tin của các bác thôi ^^


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 22 Tháng Chín, 2009, 07:14:30 PM
Vâng đúng rồi, có cái ảnh cụ Lê văn Dỵ thì đúng chóc :D.
Cụ Hùng Sinh theo em nhớ sau này có dính phốt..
Bác Lốp có "phỏng đoán" nào không ạ. Để 18h30 chiều mai em đi tác nghiệp về đưa kết quả.  ;D


Quá 18h30' chiều rồi bác ơi! Em bác đang sốt hết cả ruột lên rồi  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 22 Tháng Chín, 2009, 09:27:23 PM
 :-[ Hôm nay em không trốn được, em cũng sốt ruột lắm, hi vọng ngày mai.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 23 Tháng Chín, 2009, 02:24:17 PM
Em xin bổ sung, còn LS Hà văn Nọa của c241d11e141f312 và LS Nguyễn Ngọc Bảo d phó d trinh sát 426 thuộc Cục Quân báo.  :) Đến nay, có 20 cán bộ chiến sỹ được phong anh hùng trong CZ ĐBP.

http://www.thethaovanhoa.vn/133N20090505102210234T0/ky-vat-cua-nhung-huyen-thoai-dien-bien-phu.htm

Giờ tăng lên là 24 Anh hùng rồi  >:(

1  LS Phan Đình Giót.
2  LS Tần Can.
3  LS Tô Vĩnh Diện.
4  LS Bế Văn Đàn.
5  LS Nguyễn Ngọc Bảo.
6  LS Hà Văn Noạ.
7  LS Hoàng Văn Nô.
8  Phùng Văn Khầu.
9  Nguyễn Văn Ty.
10 Phan Tư.
11 Lộc Văn Trọng.
12 Chu Văn Mùi.
13 Bùi Đình Cư.
14 Dương Quảng Châu.
15 Đặng Đình Hồi.
16 Trần Đình Hùng.
17 Đinh Văn Mẫu.
18 Đặng Đức Song.
19 Lưu Viết Thoảng.
20 Nguyễn Ngọc Bảo.

21 Chu Văn Khâm (1956)
22 Tạ Quốc Luật (2004)
23 Hoàng Khắc Dược (1955)
24 Lê Văn Dỵ (2008)

Năm trong ngoặc đơn là năm được phong danh hiệu AHLLVTND

(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/IMG_4256.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 23 Tháng Chín, 2009, 02:38:41 PM
Trong danh sách 4 Cụ sau cùng, Cụ Tạ Quốc Luật và Cụ Lê Văn Dỵ thì anh em đều đã biết qua thông tin trước đây và thông tin từ bài bác Lốp. Hai Cụ Chu Văn Khâm và Hoàng Khắc Dược thì thông tin từ bảo tàng như sau:
(các bác thông cảm, em trốn cơ quan đi chơi nên chụp dở quá, để thứ 7 này đi chụp lại vậy)

Anh hùng Chu Văn Khâm (để em về kiểm tra thêm về quá trình chiến đấu, cũng như những tham gia của trong CZ ĐBP của cụ)
(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/ChuVanKham.jpg)

Sinh năm 1925 - dân tộc Kinh. Quê quán: Xã Mỹ Đức huyện Vĩnh Tường - Tỉnh Vĩnh Phúc. Nhập ngũ tháng 5 năm 1947. Đảng Viên. Khi tuyên dương anh hùng là trung đội phó công binh, đại đội 56, tiểu đoàn 206 Cục Vận tải thuộc Tổng cục hậu cần.
Thành tích: trong một tháng chỉ huy tiểu đổi phá dỡ 35 quả bom nổ chậm. Riêng anh tự tay phá gỡ 18 quả. Anh luôn gương mẫu về mọi mặt, hết lòng yêu thương giúp đỡ đồng đội, anh em đơn vị cảm mến.
Tuyên dương ngày 31 tháng 8 năm 1955

Anh hùng Hoàng Khắc Dược e66f304 (không rõ sao lại đưa vào danh sách AH ĐBP??)
(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/HoangKhacDuoc.jpg)

Sinh năm 1917 - dân tộc Kinh. Quê quán: Làng Mai Xá, huyện Mỹ Lộc - Tỉnh Nam Định. Nhập ngũ năm 1946. Đảng viên. Khi tuyên dương anh hùng là tiểu đội trưởng nuôi quân thuộc trung đoàn 66.
Thành tích: luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác nuôi quân. Trong chiến dịch Tây Bắc, Trung Lào 1953-1954 đồng chí thường gánh nặng 35-40 kg thực phẩm chạy theo đơn vị, đảm bảo cho bội đội ăn no chiến đấu thắng lợi.
Tuyên dương ngày 31/8/1955


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 23 Tháng Chín, 2009, 02:51:40 PM
Nom cái danh sách thì đúng 24 cụ thật bác Lốp ạ.

Hừ, dáng súng trong ảnh là SMLE No.4 Mk.1. Khẩu còn lại không rõ lắm nhưng có thể là Enfield M1917.

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/bantia.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/smle4mk1.jpg)

Trừ Carbine của bọn dù, súng trường của Anh và Mỹ mà đến ĐBP vẫn còn được dùng (dù là phe nào) là em rất nghi ngờ >:( Hôm nào lại phải qua soi lại. Mk, đếk tin tưởng cái bảo tàng này từ lâu rồi >:(
Nói chắc như bắp là em tin Trung tá Shan hơn tin bảo tàng.  ;D

Nhưng có vẻ là súng trường Mỹ thật Shan ạ, trong ảnh trên hai khẩu ngoài thấy chú thích là súng trường Anh ( thấy nói thế, tớ chịu;D ) khẩu phía sau mới ghi là súng trường Mỹ. Một vài ảnh (chụp kiểu thầy bói xem voi :D):

(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/IMG_4274.jpg)

(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/IMG_4276.jpg)

(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/IMG_4277.jpg)




Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 23 Tháng Chín, 2009, 03:01:59 PM

Mời các bác đọc bài viết về cụ và biết thêm tại sao có câu hát ''Đâu có giặc là ta cứ đi"

http://baodaidoanket.net/ddk/print.ddk?id=9573

Em đọc lại mới thấy có đoạn này của bác Lốp.
Lạ nhỉ, theo em nhớ bài Hành quân xa ra đời khi đi Tây Bắc năm 1953 chứ, sao lại là trong trận C1 ở ĐBP được?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 23 Tháng Chín, 2009, 03:06:06 PM
Thêm một số tư liệu

Sơ đồ hỏa lực của Pháp những ngày đầu tại ĐBP
(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/IMG_4295.jpg)

Giấy chứng nhận đeo huân chương của Cụ Tạ Quốc Luật. Ghi cả đặc điểm nhân dạng người đeo  :)
(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/IMG_4280.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 23 Tháng Chín, 2009, 04:15:30 PM

Mời các bác đọc bài viết về cụ và biết thêm tại sao có câu hát ''Đâu có giặc là ta cứ đi"

http://baodaidoanket.net/ddk/print.ddk?id=9573

Em đọc lại mới thấy có đoạn này của bác Lốp.
Lạ nhỉ, theo em nhớ bài Hành quân xa ra đời khi đi Tây Bắc năm 1953 chứ, sao lại là trong trận C1 ở ĐBP được?

Hè hè... bác thật là vất vả, cơ quan mà họ có phát hiện ra bỏ làm thì nhớ nói là bỏ để đi làm công tác giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ nhé  ;D

Thường thì người ta chỉ nghĩ chiến dịch Điện Biên Phủ là từ thời điểm nổ súng. Nhưng mà nhiều người khác lại cho rằng là thời điểm nhận lệnh bí mật lên Tây Bắc chuẩn bị tham gia chiến dịch Trần Đình (mật danh của chiến dịch Điện Biên Phủ). Cho nên, nói như bài báo trong Báo đoàn kết cũng đúng. Chuẩn hơn thì theo bài báo này bác ạ (chiến dịch Đông Xuân)

http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/10/10/52/31714/Default.aspx


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 23 Tháng Chín, 2009, 04:46:35 PM
1  LS Phan Đình Giót.
2  LS Tần Can.
3  LS Tô Vĩnh Diện.
4  LS Bế Văn Đàn.
5  LS Nguyễn Ngọc Bảo.
6  LS Hà Văn Noạ.
7  LS Hoàng Văn Nô.
8  Phùng Văn Khầu.
9  Nguyễn Văn Ty.
10 Phan Tư.
11 Lộc Văn Trọng.
12 Chu Văn Mùi.
13 Bùi Đình Cư.
14 Dương Quảng Châu.
15 Đặng Đình Hồi.
16 Trần Đình Hùng.
17 Đinh Văn Mẫu.
18 Đặng Đức Song.
19 Lưu Viết Thoảng.
20 Nguyễn Ngọc Bảo.

21 Chu Văn Khâm (1956)
22 Tạ Quốc Luật (2004)
23 Hoàng Khắc Dược (1955)
24 Lê Văn Dỵ (2008)

Danh sách vẫn 2 cụ Nguyễn Ngọc Bảo à bác New. Thành tích 2 cụ này thế nào?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 23 Tháng Chín, 2009, 05:41:16 PM
À nhầm, Cụ nữa là cụ Nguyễn Văn Thuần, e phó e 209.  :D

to bác Lốp: Em nhầm, em tưởng cụ Dỵ nói câu đó khi đang đánh C1.  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 24 Tháng Chín, 2009, 02:57:52 AM
Về Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Ngọc Bảo

Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Ngọc Bảo (1928 ? – 1953) quê tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Khi hy sinh là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn Tiểu đoàn 426 trực thuộc Cục Quân báo. Được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân vì các thành tích:

Cuối năm 1953, ta nhận được tin thực dân Pháp cho 6 tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. “Mục đích nhảy dù của chúng là gì? Có phải chúng đã phát hiện được Đại đoàn 316 đang hành quân lên Lai Châu?” - Đó là những câu hỏi cấp trên chỉ thị cho ngành Quân báo phải làm cho rõ. Nhận nhiệm vụ trên giao, đại đội của Nguyễn Ngọc Bảo đã nhanh chóng khắc phục khó khăn, triển khai lực lượng nắm địch. Ngày ngày quan sát, tối đến các chiến sĩ lại luồn vào cứ điểm của địch nắm địa hình để vẽ bản đồ phục vụ yêu cầu tác chiến.
Một đêm đầu tháng 12-1953, Ngọc Bảo cùng tổ trinh sát của mình tiềm nhập đồn địch. Tổ trinh sát do anh chỉ huy nhặt được một chiếc dù. Về đến đơn vị, giở ra mới biết đó là một tấm bản đồ Điện Biên Phủ tỷ lệ 1/25.000 với đầy đủ các chi tiết về bình độ, địa hình mà địch vừa chụp và đưa lên. Cả tổ vui mừng vì biết rõ tầm quan trọng của tấm bản đồ. Có “vũ khí” này trong tay, các trinh sát đã nắm chắc bình độ, địa hình, các cứ điểm đồn bốt quan trọng của địch, từ đó giúp cấp trên chỉ đạo bộ đội vào tận sào huyệt địch. Ngay sau đó, bản đồ được nhân lên thành nhiều bản gửi đến các đơn vị tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Vào đợt tấn công thứ hai trong chiến dịch Điện Biên Phủ, sau khi tiêu diệt xong các cứ điểm C1, D, E của địch, bộ đội ta, trực tiếp là Trung đoàn bộ binh 174 gặp phải sự phản kháng điên cuồng của địch ở Đồi A1. Do chưa nắm chắc cấu trúc trận địa phòng ngự của địch nên ta tiến công ít hiệu quả. Bộ đội ta giành nhau với địch từng mét hào. Ta tổ chức những trận tiến công liên tục vào ban đêm. Ngọc Bảo cùng Tiểu đoàn 426 được giao nhiệm vụ quan sát kết hợp với thu tin cung cấp cho Trung đoàn 174 kịp thời đối phó trong mọi tình huống. Sau mấy ngày đêm kiên cường đánh địch, ta mới chiếm được một nửa Đồi A1. Địch nắm phần lợi thế vì chúng thông thuộc địa hình ở đây. Đặc biệt, chúng có hầm ngầm nhưng ta chưa phát hiện ra. Xương máu của đồng đội sẽ tiếp tục đổ nếu không sớm phát hiện được hầm ngầm của địch. Nhiệm vụ này cấp trên giao đích danh cho Ngọc Bảo chỉ huy tổ trinh sát đi phát hiện.
Cứ điểm Đồi A1 có hệ thống hàng rào thép gai nhằng nhịt, mìn vướng nổ, đè nổ dày đặc. Chỉ cần một sơ suất nhỏ, lộ đội hình là hỏa lực địch giội xuống như mưa. Ngọc Bảo chỉ huy bộ đội tiếp cận chân đồi. Chỉ sau một thời gian chưa dài, địch phát hiện được đội hình của ta, chúng bắn xối xả vào tổ trinh sát. Trước tình huống đó, Ngọc Bảo bình tĩnh chỉ huy bộ đội bám chắc từng mô đất, tổ chức đánh trả. Anh đang chỉ huy toàn tổ vọt tiến thì bất chợt lảo đảo, ngã xuống.

Ngoài ra: Năm 1949, anh chỉ huy Đại đội 85 phối hợp với Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa tham gia chiến dịch “Thập vạn Đại Sơn” nhằm mở rộng khu giải phóng Việt Quế của nước bạn. Ngọc Bảo đã chỉ huy đơn vị bất ngờ đột kích vào đội hình địch, bắt sống tên Tiểu đoàn trưởng. Năm 1951, anh chỉ huy đại đội tiến công tiêu diệt đại đội Com-man-đô số 14 của địch…


Bác _New xem lại hộ xem có đúng là Anh hùng Nguyễn Ngọc Bảo sinh năm 1928 hay không? Năm phong tặng Danh hiệu Anh hùng là năm 1995 hay 2001.




Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 24 Tháng Chín, 2009, 10:31:32 PM
Thông tin chính thức nhất mà em biết về AHLS Nguyễn Ngọc Bảo là từ cuốn Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân - tập 9. Có thể không chính xác vì em không có cuốn này, bác có thể vào phòng đọc Thư viện quân đội (mở cửa rộng rãi) để tìm hiểu thêm. Theo em biết thì đến trước năm 2007 thì sách đã ra đến tập 11.

Theo thông tin trong đó thì Cụ NNB sinh năm 1927, được phong anh hùng ngày 30/8/1995. :)

Nhân tiện, em xin khoe sách tí:  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 25 Tháng Chín, 2009, 02:25:37 PM
Thông tin chính thức nhất mà em biết về AHLS Nguyễn Ngọc Bảo là từ cuốn Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân - tập 9. Có thể không chính xác vì em không có cuốn này, bác có thể vào phòng đọc Thư viện quân đội (mở cửa rộng rãi) để tìm hiểu thêm. Theo em biết thì đến trước năm 2007 thì sách đã ra đến tập 11.

Theo thông tin trong đó thì Cụ NNB sinh năm 1927, được phong anh hùng ngày 30/8/1995. :)

Nhân tiện, em xin khoe sách tí:  ;D


Bác này thật là thích găm hàng ăn mảnh... Có những tài liệu quý thế này mà không từ từ mà đưa lên cho mọi người. Có nhiều những anh hùng mà chúng ta chỉ nghe đến nhưng không có biết mặt.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 25 Tháng Chín, 2009, 11:11:01 PM

Bác này thật là thích găm hàng ăn mảnh... Có những tài liệu quý thế này mà không từ từ mà đưa lên cho mọi người. Có nhiều những anh hùng mà chúng ta chỉ nghe đến nhưng không có biết mặt.


Găm hàng gì đâu bác, sắp hàng rồi nhưng do các chuyên gia số hóa QSVN đang quá tải nên chưa đến lượt đưa lên thôi. À, bác Chiangshan đã đưa phần AHLLVTND trong CTBGPB lên.  :)
Bác cần ảnh của Anh hùng nào, để .... em tra.  ;D


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: Áo Anh Màu Cỏ Úa trong 29 Tháng Chín, 2009, 11:38:42 PM
Em thấy chỉ nội việc huy_phuc mở topic này đã đủ em phục hắn sát đất rồi.

Tôi có cảm nhận khác. Nhà bác huyphuc mang ảnh người ta chụp ra bình luận nhăng cuội, chả khác gì các nhân viên tâm lý chiến VNCH từng bình luận về các tấm ảnh phóng viên nước ngoài chụp được thời cải cách ruộng đất, hoặc chụp những thiếu thốn ở Miền Bắc.

Để người ngoài đọc được rồi họ khinh cho.

altus sai rồi. Đây là diễn đàn, và ai cũng có thể đưa ra nhận xét, bình luận của mình - tất nhiên trừ trường hợp lợi dụng để lăng mạ, phỉ báng người khác. Việc Huy Phúc đưa ảnh và bình luận cá nhân là hoàn toàn đúng. Chẳng qua bạn chưa hiểu hết thôi.


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: _new trong 29 Tháng Chín, 2009, 11:51:58 PM
Em cũng có cùng quan điểm với bác Altus trong vấn đề này. Mong bác chỉ hộ chỗ nào bác cho rằng bác Altus và em chưa hiểu.
Theo em, đưa bình luận cá nhân là quyền của mỗi người. Nhưng nó phải phù hợp với sân chơi chung, theo đúng những hiểu biết của mình và có cơ sở. Chứ không phải những suy luận vô căn cứ, thậm chí mang tính đánh tráo vấn đề. Bác HuyPhuc được mọi người kính nể vì có hiểu biết sâu về nhiều vấn đề, nhưng không ít lần bác HuyPhuc cũng làm người khác khó chịu vì lý do trên.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: Giangtvx trong 15 Tháng Mười, 2009, 03:29:27 AM
Các bác cho hỏi (thắc mắc lâu rồi nhưng không biết hỏi ở đâu và ngại khi hỏi), binh pháp (và cả trong quân sự) thường nói : tránh chỗ mạnh của kẻ địch, đánh vào chỗ yếu của đối phương, Vậy :

1/ Giữa Hồng Cúm và phân khu Trung tâm, Hồng Cúm ít quân hơn, phòng thủ lại không rắn chắc bằng vậy tại sao ta không dùng cách đánh là kiềm chế phân khu Trung tâm, tiêu diệt Hồng Cúm trước, bẻ gãy thế ỷ giốc của chúng, đặc biệt là diệt được lực lượng pháo 105 ly rất lợi hại của Pháp,  rồi mới đánh phần còn lại sau ?

2/ Trong đợt 2, các quả đồi phía đông được phòng ngự mạnh hơn nhiều so với hướng tây. Tại sao ta không nghi binh hướng này còn đòn chính đánh từ phía tây (là hướng phòng thủ yếu hơn) ?

Các bác đừng cười nếu câu hỏi ngô nghê nhé. Tôi thắc mắc lâu rồi nhưng không tìm được câu trả lời


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: baoleo trong 15 Tháng Mười, 2009, 08:14:11 AM
Câu hỏi bên trên, thật là hay - rất đáng tranh luận.
Bác Giang ạ, em là cán bộ phân đội, nên tranh luận theo tầm hiểu biết hạn hẹp của sỹ quan cấp úy là như thế này:
- Binh pháp được giáo dục rằng: "dồn toàn lực, đánh vào mục tiêu chính-dứt điểm chiến trường". Vậy, bỏ Hồng Cúm - Đánh Mường Thanh là đúng sách.
Kế này ngày nay các thanh niên thế hệ 8x , 9x vẫn dùng để đi chim gái. Đó là: đi mượ toàn bộ đồ xịn, dốc toàn bộ hầu bao mua quà, tự mình nịnh nọt bản thân đối phương và tất cả những gì liên qua đến đối phương: từ bà cụ cố đến con chó Mi lu nhà nàng. Huy động cả ban bè để tấn công giúp. Sau khi chiếm được nàng rồi -> lập tức rời bỏ mục tiêu này để bắt bồ với cô khác  8)
-Thực tế chiến trường lúc ấy, ta không thể đủ sức kiềm chế có hiệu quả Mường Thanh để đánh Hồng Cúm. Bởi vì dồn toàn lực vào Mường Thanh, mà còn phải dùng chiến thuật: "vây-lấn-tấn-triệt-diệt" mới kiềm chế nổi.
Chứ nếu chỉ dùng 1 đại đoàn kiềm chế Mường Thanh, 3 đại đoàn còn lại đánh Hồng Cúm, e rằng ta sẽ ở vào thế: "lưỡng đầu thọ địch", cục diện chưa biết sẽ thế nào.


Tiêu đề: Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân
Gửi bởi: menthuong trong 15 Tháng Mười, 2009, 10:36:33 PM

Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô đồng đội: “Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo” và anh buông tay lái xông lên phía trước, lấy thân mình chèn vào bánh pháo, nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ pháo dừng lại.

Tôi từng đọc ở đâu đó có bài viết thuật lại lời kể của đồng đội Anh hùng liệt sĩ Tô Vĩnh Diện về chi tiết này hơi khác một chút và nghe có vẻ hợp lý hơn. Đáng tiếc không tài nào nhớ ra nổi cụ thể bài viết đó viết gì và đăng ở đâu? Liệu có ai biết không hay tôi nhớ nhầm?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 17 Tháng Mười, 2009, 11:20:17 PM
ôi, gặp câu hỏi và phần trả lời của bác Baoleo thấy phấn khích quá, sướng quá.  :D

Đánh Hồng Cúm. Về cơ bản, Pháp bố trí như vậy là để phát huy uy lực của pháo binh (105mm và 155mm, với tầm bắn hiệu quả là khoảng 4 đến 8km). Đây là cách bố trí cổ điển, phần lớn các hệ thống phòng thủ đều tuân theo cách này. Theo đó pháo ở Hồng Cúm sẽ yểm hộ Mường Thanh và ngược lại. Bố trí thì Hồng Cúm 8 khẩu 105mm, Mường Thanh 12 khẩu 105mm và 4 khẩu 155mm; sau có tăng cường. Tổng quân số ở Hồng Cúm là khoảng hơn 2000 người.

Về tư duy chiến lược chiến dịch  ;D, đúng như bác Baoleo nói: "dồn toàn lực, đánh vào mục tiêu chính-dứt điểm chiến trường".

Về cụ thể, ngoài một số ý bác Baoleo đã đề cập như vấn đề kiềm chế Mường Thanh như thế nào, thế của ta lúc đó ra sao, em xin phép bổ sung một số ý khác theo cách hiểu của em. Đánh Hồng Cúm, thành công sẽ có một điểm rất lợi, đó là coi như triệt tiêu pháo binh của Pháp yểm hộ Mường Thanh. Tuy nhiên sẽ rất bất lợi nếu đánh tập trung, đánh không dứt điểm, đánh mất nhiều thời gian.
- Khi đó coi như ta đã bộc lộ lực lượng, là một điểm bất lợi.
- Tâm lý dao động sẽ phát huy tác hại, đó là điểm bất lợi. Không phải ngẫu nhiên mà trong quân sự đặt ra vấn đề "đánh thắng trận đầu". Trong khi dù có diệt gọn Hồng Cúm thì ta cũng chỉ được coi là hoàn thành 10% nhiệm vụ.
- Qui mô của Hồng Cúm cúng là bất lợi. Với quân số 2000, để đánh được, ít nhất ta phải dùng khoảng 2 đại đoàn ở khu vực này, gồm cả chủ công, dự bị, chặn viện, nghi binh v.v....(ở Him Lam, lực lượng địch là 1 tiểu đoàn 600 quân, ta dùng coi như trọn vẹn Đại đoàn 312).
- Điểm bất lợi nữa là địa hình. Không như Mường Thanh, Hồng Cúm bao bọc tứ bề là ruộng, từ rìa lòng chảo vào là khoảng 3 đến 4km, triển khai bộ đội không dễ dàng như với Mường Thanh và phân khu bắc. Điểm bất lợi cho ta và cũng là điểm lợi thế cho 16 khẩu pháo lớn và 16 khẩu cối 120mm (ở Mường Thanh), hoả lực máy bay và đám xe tăng địch.
- Hồng Cúm ở xa phía nam lòng chảo, nếu tập trung mạnh tại Hồng Cúm, đánh xong sẽ phải triển khai lại hoàn toàn để đánh Mường Thanh, đây là điểm bất lợi.
- Để đánh Hồng Cúm, tức là hậu cần phải đi vòng qua Mường Thanh, khó ai có thể bảo đảm sự an toàn cho tuyến hậu cần khi mà ta đối với Mường Thanh ta chỉ đánh kiềm chế.
- Với khoảng cách bố trí khá xa (người Pháp hồi đó và mãi sau này vẫn "khóc" vì điểm này, họ than sao không bố trí gần lại hoặc cho thêm một cụm cứ điểm trung gian ở giữa) nên khả năng chi viện giữa Hồng Cúm và Mường Thanh bằng bộ binh coi như bị loại trừ (thực tế chứng minh ;D), nên nếu dùng pháo binh kiềm chế được Hồng Cúm khi ta triển khai tấn công Mường Thanh thì hiệu quả cũng tương đương đã tiêu diệt Hồng Cúm.
- .....
Do những điểm đó, ta chọn đánh Him Lam, Độc Lập trước để mở cánh cửa vào lòng chảo. Sau đó tập trung tiêu diệt Mường Thanh, như lịch sử đã chứng kiến.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 17 Tháng Mười, 2009, 11:31:55 PM
Về việc tại sao không đánh phía Tây, theo em cũng gần như vậy. Điểm mạnh của dãy đồi phía đông là từ đó có thể khống chế khống chế khu trung tâm, chiếm được nó coi như giải quyết xong chiến dịch. Lấy mũi phía Tây làm chủ công, chiếm được sở chỉ huy địch, De Catries vẫn có thể chạy sang sông rồi lấy đó làm bàn đạp phản kích thì cũng chưa thể nói hồi tiếp theo thế nào. Ta thì cuối cùng vẫn phải giải quyết dãy đồi này.
Và thực tế, khi đợt đánh vào dãy đồi phía Đông không đạt hiệu quả như mong muốn, ta cũng đã triển khai đánh phía tây nhưng thiệt hại khá nặng (tướng Nguyễn Chuông hồi đó là tiểu đoàn trưởng đánh vào cứ điểm 105 ở rìa bắc sân bay, trận đánh không thành công, Cụ bị bắt sống), ta và địch thay nhau phản kích chiếm "mảnh ruộng" phía đó. Sau đó ta kiềm chế phía Tây và tiếp tục đánh phía đông.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: VNMiG trong 26 Tháng Mười Một, 2009, 08:43:44 PM
Khẩu đội ĐKZ của QĐNDVN tại chiến dịch Điện Biên Phủ.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: menthuong trong 27 Tháng Mười Một, 2009, 09:40:07 PM
Với mục tiêu tìm hiểu lịch sử, nay xin lập topic này để mọi người cùng tìm hiểu về Trận Điện Biên Phủ.

Kéo dài tới 55 ngày đêm mà gọi là "Trận" có ổn không, sao không kêu bằng "Chiến dịch" như xưa nay vẫn gọi và trong khi thảo luận ít thành viên QSVN gọi bằng "trận". Tôi nhớ, trong thơ có một lần gọi nhưng chỉ là "trận Điên Biên" còn hầu như sách vở đều gọi "Chiến dịch Trần Đình" là "Chiến dịch Điện Biên Phủ".
Không biết có phải không?
Tôi đang tìm hiểu về đóng góp của nhân dân địa phương tôi trong chiến dịch này.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 27 Tháng Mười Một, 2009, 10:19:27 PM
Vâng, gọi "trận" là do theo quen miệng, còn đúng ra phải gọi là chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong chiến dịch có nhiều trận và trải rộng không chỉ trong phạm vi lòng chảo Điện Biên Phủ.
Quê bác menthuong là vùng nào vậy?  :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: menthuong trong 28 Tháng Mười Một, 2009, 07:01:15 AM
Tôi đang ở Lào Cai, qua Lai Châu (bây giờ) là tới Điện Biên. Lào Cai cũng là nơi tập kết các khẩu pháo đưa từ nước bạn sang. Tại đây pháo được tháo rời đưa xuống bè mảng theo sông Hồng về bến Âu Lâu (Yên Bái) rồi mới lắp lại và kéo vào xung trận.

Chưa được thông tin nhiều nhưng theo tôi, có lẽ chỉ ta và chỉ trong trận này mới có kiểu đưa pháo vào trận địa như vậy?


Tiêu đề: Re: "Pháo xuôi bè" chuẩn bị nhập cuộc
Gửi bởi: menthuong trong 02 Tháng Mười Hai, 2009, 10:11:00 AM
Cuối năm 1952, Trung đoàn Tất Thắng (là Trung đoàn trọng pháo cơ giới đầu tiên của ta, thuộc Đại đoàn công pháo 351) được lệnh trở về Tổ quốc qua địa phận Lào Cai, sau thời gian nhận, tập luyện, diễn tập sử dụng trọng pháo tại Trung Quốc. Sau khi nghiên cứu thực địa và tranh thủ ý kiến lãnh đạo các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Đại đoàn 351 quyết định thực hiện phương án 3.

Quân dân Lào Cai đã sửa, nâng cấp đường và đảm bảo an toàn đường kéo pháo từ cửa khẩu về Bảo Hà-Thíp. Nhân dân Lào Cai và Công binh đã chặt bương, nứa đóng thành những chiếc bè lớn. Nhiều người dân thạo nghề sông nước, thông thuộc luồng lạch đã tình nguyện mở đường cùng Công binh, các Pháo thủ, thợ kĩ thuật đưa hàng chục khẩu trọng pháo, hàng chục xe cơ giới các loại, gần 100 tấn đạn pháo xuôi sông Hồng về cập bến Âu Lâu an toàn. Từ đây pháo được lắp lại hoàn chỉnh kéo lên Điên Biên và những chú voi này đã giáng những đòn sấm sét xuống đầu kẻ thù, góp phần quyết định trong bước phủ đầu. 

“Pháo xuôi bè” thực sự là một cuộc hành quân huyền thoại, sáng tạo, chưa từng có trong lịch sử quân sự thế giới. Trong kì tích đó, có sự đóng góp công sức của quân dân Lào Cai.

Thời gian cả nước, cả Tây Bắc dồn sức, dồn người, dồn của cho trận quyết chiến Điện Biên thì ở Lào Cai phỉ nổi lên cả ở miền Tây và miền Đông. Đảng bộ, quân dân các dân tộc trong tỉnh tập trung sức người, sức của cho việc tiễu phỉ. Lào Cai đã huy động 129.002 công người, 14.113 công ngựa phục vụ các chiến dịch tiễu phỉ. Việc tiểu phỉ thắng lợi đã góp phần đảm bảo an toàn cho việc chuyển quân, vĩ khí, lương thực, nhu yếu phẩm…phục vụ chiến trường. Đồng thời tỉnh Lào Cai cũng cố gắng đóng góp vào chiến dịch Điện Biên Phủ. Phục vụ chiến dịch Lào Cai đã góp 89.215 công người, 25.934 công ngựa, 2.700 công thuyền, 511 xe trâu kéo, 615 xe đạp thồ; sửa chữa 38 Km đường Lào Cai-Sa Pa với 16 cầu lớn nhỏ…

Lược thuật theo “Huyền thoại về một cuộc hành quân” của Đại tá Đỗ Sâm- Sự kiện và Nhân chứng số 122, tháng 2/2004 và một số tư liệu khác liên quan.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 03 Tháng Mười Hai, 2009, 08:26:49 PM
Pháo về cuối năm 1952, xuôi bè xuống Âu Lâu - Yên Bái rồi lên Điện Biên vào đầu năm 1954, vậy là đi hết 1 năm cơ ạ, sao lâu thế bác menthuong ơi.  ;)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: menthuong trong 03 Tháng Mười Hai, 2009, 08:31:44 PM
Pháo về cuối năm 1952, xuôi bè xuống Âu Lâu - Yên Bái rồi lên Điện Biên vào đầu năm 1954, vậy là đi hết 1 năm cơ ạ, sao lâu thế bác menthuong ơi.  ;)

Có vậy mà tôi chưa nghĩ ra. Không hiểu do trông gà hóa cuốc hay do bản gốc sai. Nhưng cuốn "Sự kiện và Nhân chứng" số 122, tháng 2/2004 nhà không có, đọc trên thư viện. Nhưng có khi lâu đến thế thiệt đấy!

Tiếc là Chủ đề" Lịch sử các Quân, Binh chủng, Quân khu, Quân đoàn" trên QSVN độ rày đóng cửa hay sao ý, tìm khó quá !

Thôi sẽ kiểm tra lại sau vậy. Bác nào có tài liệu chính xác xin kiểm tra, đính chính hộ với.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 03 Tháng Mười Hai, 2009, 08:52:04 PM
 :)

Bác menthuong, em rất vui vì bác quan tâm đến chủ đề ĐBP.
Về việc trên, cụ thể hơn thế này ạ: pháo theo thuyền về bến Âu lâu, sau đó lại ngược lên Bắc Quang để cất dấu. Toàn bộ quá trình này chỉ là 2 tháng. Tiếp đó, để đảm bảo tính bí mật, trung đoàn Tất Thắng "nằm im", chờ đến trận đánh lớn.  Có đoạn thơ của trung đoàn:
Chiến dịch thu đông đã đến rồi
Trung đoàn Tất Thắng vẫn năm chơi!
Sao không cơ động, linh hoạt nhỉ
Chiến dịch thu đông đã đến rồi!!
Mãi đến đêm  20 tháng 12, sau khi hướng chiến lược đã được chọn, BTTL điện gọi Đại đoàn, 4 sáng 21 tháng 12 trung đoàn trưởng lên đến Bộ và nhận lệnh, 22 tháng 12 toàn trung đoàn lên đường.
Trung đoàn được tặng danh hiệu "Ẩn lặng như tờ, đánh mạnh như sét".
 :)

Tiếp tục về ĐBP đi bác ơi.  :D :D :D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Hai, 2010, 10:08:54 AM
Hehe, chiều nay sẽ tới thăm cụ Nùng tham mưu phó 102, lão New có gì muốn hỏi không ::)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 16 Tháng Hai, 2010, 05:34:41 PM
Ơ, bây giờ mới biết.  :o Thôi cứ hỏi  ;D
Hỏi hộ tớ:
- Vì sao cụ Hùng Sinh thay cụ Thái Dũng
- Cơ cấu cán bộ lúc bắt đầu vào trận, chức vụ và họ tên
- 102 đánh được đến đâu trong tung thâm A1
- Hệ thống rào, bãi mìn bảo vệ A1
- Thông tin về cụ Bảo Sằng
- Vấn đề tiếp vận cho bộ phận bám trụ, ta đã đào được đường hào lên đồn chưa
- Đồi Cháy có vị trí quan trọng thế nào trong toàn trận đánh
- Vấn đề dự bị cho A1
- Hỏa lực nội tại trong đồn chủ yếu là gì, các Cụ ngại nhất gì.
- Chuyện về chiếc xe tăng và hiệu suất chiến đấu của nó
- Địch từ đồi C có ảnh hưởng thế nào
- Vấn đề chiến đấu ban ngày
- Chuyện Cụ Chu Văn Mùi, chiến sỹ vô tuyến
- Khi 102 rút ra củng cố, lực lượng bổ sung là lấy từ đâu, cụ thể thế nào. Khi sang hướng tây, số lượng có được như cũ không
- Cụ nghĩ gì về việc 102 phải dồn kiệt lực để đánh A1.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 16 Tháng Hai, 2010, 05:59:40 PM
Hôm nọ mới chỉ hỏi được 2 chuyện, và cũng không nhiều thông tin lắm:

1. Về cụ Bảo Sằng: theo cụ Nùng thì 2 cụ cùng học với nhau ở khóa I lục quân Trần Quốc Tuấn. Cụ Bảo Sằng ban đầu về e88, trước ĐBP đã lên làm trưởng ban tác huấn trung đoàn nhưng do đánh mất bản đồ QS nên bị kỷ luật, hạ cấp xuống làm đại đội trưởng và chuyển sang d54/e102 (không nhớ được đại đội). Có điều buồn là lúc hy sinh cụ và người yêu đã chuẩn bị kết hôn.

2. Chuyện d trưởng d18 (cụ Nùng gọi là Nguyễn Kha): cụ Nùng không biết rõ vì khi e102(-) bắt đầu đánh A1 cụ vẫn còn ở phía tây để chỉ đạo d79, sau đó cũng không trực tiếp biết mà chỉ nghe cụ Đôn Tự kể lại. Trước đấy ở d18 cụ Kha là d phó dưới quyền cụ Nùng, theo cụ Nùng thì từ trước đến giờ cụ Kha luôn là người chiến đấu tốt. Sau này cụ Kha ra quân với hàm trung úy, các cụ vẫn gặp nhau nhưng có vẻ không ai muốn khơi lại chuyện cũ.

Có hỏi thêm về quân số của 102 trước khi đánh A1 nhưng cụ không nhớ. Nghĩ cũng buồn, lẽ ra những việc này phải được làm từ vài chục năm trước, lúc trí nhớ các cụ vẫn còn tốt.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 16 Tháng Hai, 2010, 06:19:48 PM
Lão Chiang có thòng Cụ Nùng về chuyện mình sẽ tới thăm hỏi Cụ tiếp không, lần sau đi cho tớ bám càng với nhé.  :D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 16 Tháng Hai, 2010, 06:23:21 PM
Lão Chiang có thòng Cụ Nùng về chuyện mình sẽ tới thăm hỏi Cụ tiếp không, lần sau đi cho tớ bám càng với nhé.  :D

Cụ bẩu là nếu thích cụ sẽ dắt giây cho sang 312, 316, pháo binh, cao xạ... đủ cả ;D


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: Hai Ruộng trong 18 Tháng Ba, 2010, 10:27:18 PM
 Mình thấy topic nầy hay quá ! Sao bác Huy-phuc không iếp tục nữa . Bọn lính pháp hay bọn lính Mỹ ở ngoài bắc hay trong nam gì thì bản chất của chúng cũng đều giống nhau cã thôi . Mồm chúng lúc nào cũng la to là mang giàu sang , văn minh , tự do đến cho dân bản địa . Tay chúng thì bắn giết , cướp bóc , đốt phá , hãm hiếp phụ nữ , chúng vu cho là Việt Minh - Việt Cộng thì xong .


Tiêu đề: Số phận những xe tăng Pháp ở ĐBP
Gửi bởi: chiangshan trong 20 Tháng Ba, 2010, 11:32:41 PM
Thử tổng kết lại từ các tài liệu Pháp:

Ở ĐBP Pháp có 10 xe M24, chia thành 3 trung đội:
- Xe chỉ huy: Conti
- Trung đội 1 ở Mường Thanh: Mulhouse, Bazeilles, Doaumont.
- Trung đội 2 ở Mường Thanh: Smolensk, Posen, Ettlingen.
- Trung đội ở Hồng Cúm: Ratisbonne, Neumach, Auerstadt.

Ngày 15/03: Tham gia phản kích ở Đồi Độc Lập: Doaumont trúng đạn bị hỏng nhẹ, bị thương điện đài viên. Ettlingen trúng đạn pháo, trưởng xe chết.

Ngày 24/03: Đánh mở đường tới Hồng Cúm: Posen bị rocket bắn hỏng ở khu vực bản Ong Pet.

Ngày 28/03: Tấn công trận địa phòng không ở bản Ong Pet, 2 xe tăng thuộc trung đội Hồng Cúm hỏng nhẹ vì rocket.

Ngày 31/03: Phản kích ở bản Long Nhai: Neumach trúng rocket bị hỏng.

Phản kích ở A1: Ettlingen trúng 6 quả ĐKZ 57mm, Smolensk trúng 2 quả ĐKZ 57mm nhưng tiếp tục chiến đấu. Bazeilles bị rocket bắn cháy, tổ lái bị thương. Mulhouse trúng đạn chống tăng (ĐKZ?) nhưng tiếp tục chiến đấu.

5/4: Phản kích ở cứ điểm 105: Conti vấp 2 quả mìn bị hỏng (hay trúng đạn bazooka - theo Bergot), Ettlingen trúng đạn rocket nhưng tiếp tục chiến đấu. Doaumont trúng đạn vào xích nhưng vẫn chạy được.

Đến thời điểm này còn lại 4 xe chạy được ở Mường Thanh (có lẽ là Posen, Doaumont, Ettlingen, Mulhouse) và 2 xe ở Hồng Cúm (Ratisbonne, Auerstadt).

Ngày 11/4: Phản kích ở sân bay: 1 xe tăng trúng đạn rocket.

Ngày 29/4: Ở Hồng Cúm, Ratisbonne bị trúng đạn 105mm pháo kích làm bất động. Ở Mường Thanh Doaumont trúng đạn 105mm, tổ lái bị thương, xe được kéo về Huguette 3 làm lô cốt.

07/05:
Bazeilles nằm lại trên A1 vẫn được sử dụng làm lô cốt.
Ở Mường Thanh vẫn còn 3 chiếc chạy được: Ettlingen trúng 2 quả rocket hỏng động cơ khi yểm trợ lính dù rút từ Eliane 10. Posen kéo Ettlingen về và trúng đạn rocket. Mulhouse tiếp tục bảo vệ đầu cầu Bailey.
Còn lại các xe bất động vẫn tiếp tục yểm trợ bằng hỏa lực: Doaumont, Conti, Smolensk.
Ở Hồng Cúm Auerstadt vẫn chạy được và bị tổ lái phá hoại trước khi đầu hàng.

Tổng kết lại:

Conti: hỏng vì mìn (5/4).
Bazeilles: cháy vì bazooka (31/3).
Ettlingen: hỏng vì bazooka (7/5).
Posen: cháy hay hỏng vì bazooka (7/5).
Neumach: hỏng vì bazooka (31/3?).
Ratisbonne: hỏng vì đạn 105mm (29/4).
Doaumnot: hỏng vì đạn 105mm (29/4).
Mulhouse: không bị tiêu diệt.
Auerstadt: không bị tiêu diệt.
Smolensk: hỏng nhưng không rõ nguyên nhân và thời gian.

Ta thu và khôi phục 3 chiếc hoạt động được, chắc là có Mulhouse và Auerstadt.

Hiệu suất diệt tăng của ta như vậy là khá thấp, cũng may bọn Pháp chỉ có 10 chiếc.


Tiêu đề: Re: Số phận những xe tăng Pháp ở ĐBP
Gửi bởi: altus trong 20 Tháng Ba, 2010, 11:36:03 PM
Thử tổng kết lại từ các tài liệu Pháp:
...
Ta thu và khôi phục 3 chiếc hoạt động được, chắc là có Mulhouse và Auerstadt.

Chủ nhiệm thử cố tổng kết thêm các tài liệu ta xem sau đấy thì số phận từng chiếc ra sao đi. 8)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 20 Tháng Ba, 2010, 11:44:13 PM
Bazeilles thì vưỡn nằm lại trên A1 cho đến ngày nay. Số còn lại thì potay.com ::)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 21 Tháng Ba, 2010, 01:50:32 AM
Chủ nhiệm Chiang có bài tổng hợp hay quá, tớ cũng có ý tưởng như chưa bao giờ thử vì thấy khó. Tớ có cuốn của mấy tay lính tăng Pháp ở ĐBP, thử mò thông tin thêm xem sao.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: dongadoan trong 21 Tháng Ba, 2010, 10:15:32 AM
Số còn lại thì potay.com
------------------------------
Mấy chiếc xe tăng thu được của Pháp ở ĐBP sau đó chuyển về trường Sĩ quan Lục quân để làm dụng cụ học tập.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 21 Tháng Ba, 2010, 11:27:07 AM
Hồi trước em nhớ có cái ảnh bộ đội diễn tập có xe tăng Mỹ và hàng cây bạch đàn, không biết đó có phải là con ở ĐBP không nhỉ. :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: danngoc trong 22 Tháng Ba, 2010, 10:01:45 PM
Nếu tớ hưỡn nhá, tớ sẽ lấy giấy báo dựng lại mô hình từng trận đánh một, với đủ xe pháo và vũ khí nặng. Chụp hình lại, thu thành 1 phóng sự nhỏ.


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: Hà_Nội trong 23 Tháng Ba, 2010, 09:46:51 AM
 ;D thôi bác ạ, kệ bác HP có ý gì hay k nhưng nói thật là k có cái topic này thì bọn trẻ chúng cháu cũng chưa hề biết đến những điều này .Chúng cháu là lũ con cháu sinh ra trong thời bình, chúng cháu yêu và trân trọng tất cả những người 1 thời áo lính như các chú các bác.Mong các chú các bác không nên vì những mâu thuẫn nhỏ và khác biệt quan điểm mà làm mất hòa khí diễn đàn.Khi đọc những diễn đàn khác như trái tim Việt Nam hay Hoàng Sa thì bọn cháu còn phải gạn lọc thông tin, nhưng khi vào Quân sử lúc nào chúng cháu cũng trân trọng những thông tin này và tin vào nó.Vì đấy là tâm sự những việc của những người lính đã từng cầm súng bảo vệ Tổ Quốc này kể lại  :-*
--------------------------------------
 Chú ý chính tả!


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: kakashivn87 trong 27 Tháng Ba, 2010, 03:25:58 AM
Việc nhìn 1 tấm ảnh thế nào là tùy vào góc độ của từng người. LIFE là tạp chí ảnh, thường chỉ có ảnh và chú thích không gian thời gian chụp mà thôi.
Còn chúng ta nhìn tấm ảnh thế nào lại là việc của mỗi cá nhân.
HP đã có công tìm, up ảnh và bình luận với mọi người, đó là nhận xét của cá nhân HP. Bác Altus không thích có thể chú thích khác, không sao cả.
Về phần mình, em save ảnh, và đọc bình luận của bác HP. Đôi lúc nó quá cực đoan và đanh đá, nhưng nhiều điều sâu cay trong đó.


Tiêu đề: Re: Số phận dân chúng trong thung lũng Điện Biên lúc diễn ra chiến dịch.
Gửi bởi: Noe trong 09 Tháng Tư, 2010, 03:23:52 PM
Hình ảnh đẹp, chân thực. Lời lẽ dù thế nào đó cũng xuất phát chung từ suy nghĩ của những người còn của dân tộc Việt Nâm, thê hệ sau này là thành niên trẻ tất nhiên phải có mặt được mặt không nhưng đó là một cái nhìn chủ quan hoàn toàn tôn trọng. Với những thế hệ đi trước, là nhưng người từng trải chắc chắn sẽ có cái nhìn chiều sâu hơn.

Cảm ơn chủ topic. Em đang sưu tập hình từ bài của bác :D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 11 Tháng Tư, 2010, 12:02:29 AM
Trong danh sách liệt sỹ ĐBP ở nghĩa trang A1 có 1 cái tên TQ là Phùng Đại Bảo.

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/Dien%20Bien%203-2010/12-3/tn_IMG_0157.jpg)

Trang 126 cuốn Chuyện những người làm nên lịch sử cũng nhắc tới 1 liệt sỹ tên như vậy:

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/DSC00001.jpg)

Bác new thử kiểm tra hộ xem liệu có phải 1 người không?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 12 Tháng Tư, 2010, 09:58:32 AM
Để tớ về tra thêm.  >:(


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 08 Tháng Năm, 2010, 06:18:02 PM
(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1374.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1381.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1405.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1378.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1383.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1379.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 08 Tháng Năm, 2010, 06:18:59 PM
(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1384.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1385.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1387.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1391.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1395.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1392.jpg)



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 08 Tháng Năm, 2010, 06:20:10 PM
(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1398.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1399.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1396.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1396a.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1403.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: anhkhoi trong 08 Tháng Năm, 2010, 06:38:10 PM
Nhìn mấy bức ảnh có cờ quạt nghiêm chỉnh, rồi tù binh đi hình chữ S có vẻ giống lúc Roman Carmen quay phim quá  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 08 Tháng Năm, 2010, 06:53:25 PM
Nhìn mấy bức ảnh có cờ quạt nghiêm chỉnh, rồi tù binh đi hình chữ S có vẻ giống lúc Roman Carmen quay phim quá  ;D

Chắc là vậy ;D Nhưng cũng có nhiều tấm là chụp trực tiếp ngay trong chiến đấu.

Phần lớn số ảnh là của cụ Triệu Đại.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: dongadoan trong 08 Tháng Năm, 2010, 08:09:34 PM
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng với cán bộ BTTM kiểm tra chiến trường ĐBP ngày 08/5/1954. Nguồn: Cục Tác chiến - BTTM.

(http://i614.photobucket.com/albums/tt226/trandoan/DBP.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 12 Tháng Năm, 2010, 11:23:07 AM
(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1419-1.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1418.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1420.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_1417.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: Mr.Ngan trong 12 Tháng Năm, 2010, 05:54:52 PM
Các Bác sưu tầm được những bức ảnh này quả là quá siêu, quá giỏi. Tôi xin phép bác Chiengshan đựơc in ra để tặng cho Bố tôi - nguyên là chiến sĩ đại đội 23, tiểu đoàn 16, Trung đoàn 88 ( tu vũ ), Đại đoàn 308 tham gia đánh Điện Biên Phủ ở các trận : Đồi độc lập, Bản Kéo và bị thương  lúc 8h sáng ngày 23/4 ở trận đánh Sân bay Mường thanh đợt công kích lần 2 -  được không ạ. Xin cảm ơn Bác trước.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 12 Tháng Năm, 2010, 06:10:20 PM
Bác cứ tự nhiên ạ. Em cũng chỉ chụp lại từ cuốn Chuyện những người làm nên lịch sử thôi mà.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: danviet trong 16 Tháng Năm, 2010, 05:42:31 AM
Tôi bắt gặp trên một số trang online (ví dụ Wikipedia http://en.wikipedia.org/wiki/Battle_of_Dien_Bien_Phu#cite_note-6 (http://en.wikipedia.org/wiki/Battle_of_Dien_Bien_Phu#cite_note-6)) có nhắc tới vấn đề tù binh sau chiến thắng Điện Biên. Loại trừ một số đánh giá mang tính cảm quan (có phần thiên lệch) khó thẩm tra lại, thì có những con số khá rõ ràng. Đó là, trong 10.863 tù binh bị bắt chỉ có 3.290 được trả tự do về nước 4 tháng sau đó. Khi tôi hồ nghi là còn những đợt trao trả khác, thì thấy cũng ở cùng trang đó ghi rõ là 8.290 chết sau trận đánh. Mặc dù có sự mập mờ trong cách thống kê của tài liệu được dẫn ra của đài VOA vốn không có cảm tình lắm với Việt Nam,  http://www1.voanews.com/vietnamese/news/a-19-a-2004-05-07-30-1-81684902.html (http://www1.voanews.com/vietnamese/news/a-19-a-2004-05-07-30-1-81684902.html), khi đã tính cả số tù binh bị thương ta chuyển cho Chữ Thập đỏ và số 3.013 tù nhân gốc gác Đông Dương không rõ số phận sau đó, thì những con số đã nêu ra vẫn là những con số lớn.
Về phía những nguồn tin Việt Nam không thấy rõ những con số cụ thể, hay ít nhất là không phổ biến.
Nếu các anh có các con số hay tài liệu cụ thể, xin làm sáng tỏ vấn đề lịch sử này.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 16 Tháng Năm, 2010, 08:57:02 AM
Tôi bắt gặp trên một số trang online (ví dụ Wikipedia http://en.wikipedia.org/wiki/Battle_of_Dien_Bien_Phu#cite_note-6 (http://en.wikipedia.org/wiki/Battle_of_Dien_Bien_Phu#cite_note-6)) có nhắc tới vấn đề tù binh sau chiến thắng Điện Biên. Loại trừ một số đánh giá mang tính cảm quan (có phần thiên lệch) khó thẩm tra lại, thì có những con số khá rõ ràng. Đó là, trong 10.863 tù binh bị bắt chỉ có 3.290 được trả tự do về nước 4 tháng sau đó. Khi tôi hồ nghi là còn những đợt trao trả khác, thì thấy cũng ở cùng trang đó ghi rõ là 8.290 chết sau trận đánh. Mặc dù có sự mập mờ trong cách thống kê của tài liệu được dẫn ra của đài VOA vốn không có cảm tình lắm với Việt Nam,  http://www1.voanews.com/vietnamese/news/a-19-a-2004-05-07-30-1-81684902.html (http://www1.voanews.com/vietnamese/news/a-19-a-2004-05-07-30-1-81684902.html), khi đã tính cả số tù binh bị thương ta chuyển cho Chữ Thập đỏ và số 3.013 tù nhân gốc gác Đông Dương không rõ số phận sau đó, thì những con số đã nêu ra vẫn là những con số lớn.
Về phía những nguồn tin Việt Nam không thấy rõ những con số cụ thể, hay ít nhất là không phổ biến.
Nếu các anh có các con số hay tài liệu cụ thể, xin làm sáng tỏ vấn đề lịch sử này.

Về chuyện tù binh, hồi 2006 mấy lão altus với panzerlehr (banzua) đã tranh luận 1 trận khá ác liệt ở đây (từ trang 13 đến trang 18): http://ttvnol.com/gdqp/690405/trang-13.ttvn

Tóm tắt lại 1 số điểm đáng chú ý:
- Con số tù binh chưa có sự thống nhất, dao động từ ~6500 (Fall), 9789 (Roger Bruge), 10401-10789 (ước tính của QĐ Pháp) đến 11721 (ta công bố).
- Thống kê quân số và tù binh phía Pháp của cả 2 bên đều chưa rõ ràng: số liệu của Pháp chỉ nắm được đến đầu tháng 5/54, không kiểm soát được số thương vong trong các trận đánh cuối cùng (nhiều trận khá ác liệt, ví dụ A1, C2); số liệu của ta có thể bao gồm cả tù binh trong chiến dịch Lai Châu.
- 3013 tù binh gốc Đông Dương (lính Việt trong các đơn vị Pháp, lính Việt trong đơn vị "Quốc gia", lính dự bị Thái) bị bắt trong lòng chảo ĐBP không được trao trả.
- Không nắm được số lượng chết do máy bay Pháp oanh kích trên đường, chết khi bỏ trốn, tù binh người Bắc Phi tình nguyện ở lại...
- Nhìn chung dù tính thế nào thì số lượng tù binh chết cũng là khá lớn (vài ngàn), cái này thì do cả chủ quan lẫn khách quan từ phía ta.

Bớ lão banzua đâu mau mau về đây đi nào.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: baoleo trong 16 Tháng Năm, 2010, 09:10:15 AM
.........- 3013 tù binh gốc Đông Dương (lính Việt trong các đơn vị Pháp, lính Việt trong đơn vị "Quốc gia", lính dự bị Thái) bị bắt trong lòng chảo ĐBP không được trao trả.
.................

Đ/chí chủ nhiệm Chiangshan này, theo các tài liệu tuyên truyền của ta trong KC chống Mỹ, thì do tướng Phú của QLVNCH, từng bị bắt làm tù binh ở ĐBP, nên rất bị ám ảnh trong các trận vây ép của QGP miền Nam, củ tỷ như khi đánh đường 9-Nam Lào, Khe Sanh, v.v...
Vậy thì, ý trên được hiểu thế nào  ::) ::) ::)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 16 Tháng Năm, 2010, 09:14:50 AM
Ta trao trả hội có quốc tịch Pháp thôi bác ạ. Mr Phú lúc ở ĐBP có làm được 1 vụ vẻ vang là bắt nhịp La Marseillaise cho lính "Quốc gia" vừa hát vừa xông lên phản kích ở đồi C1 nên mẫu quốc cảm kích, đấu tranh đòi ta trao trả.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: baoleo trong 16 Tháng Năm, 2010, 09:31:08 AM
Hế hế.
Đúng rồi, vừa tra lại:
-ĐBP 1 góc địa ngục của B.Fall
-Lời thú nhận của Bigeard
-Tướng Navarre của J. Pouget
-ĐBP dưới con mắt.. của J. Roy

Đúng là Mr. Phú có hộ khẩu Làng Tây thật  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: danviet trong 17 Tháng Năm, 2010, 01:11:22 AM
Cám ơn anh Chiangshan đã cung cấp và tóm tắt link thảo luận với khá nhiều thông tin.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 04 Tháng Sáu, 2010, 04:40:05 PM
Em xin phép lôi lại cái ảnh Him Lam ra thảo luận.



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 04 Tháng Sáu, 2010, 04:46:22 PM
Trên ảnh trên em có thể hiện ví trí hàng rào, cửa mở phục dựng lại và vị trí hướng tấn công trên thực tế theo ý kiến của em.

Đây là hình hàng rào và cửa mở được phục dựng lại:
(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/Dien%20Bien%203-2010/13-3/tn_IMG_2341.jpg)
dốc và nằm trọn hõm của đồi, hứng trọn hỏa lực bắn thẳng và lướt sườn của cứ điểm 1.
Một chi tiết khác, khi d11 đánh hướng này bị địch ở cứ điểm 2 bắn sang gây sát thương. Nếu đánh theo hướng đã được phục dựng sẽ khó có chuyện này do cái sống đồi bên trái hướng cửa mở khá to, đứng bên mỏm 2 không thể bắn sang được.

Xin ý kiến các bác.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 04 Tháng Sáu, 2010, 05:21:56 PM
Bác New thêm cái bản đồ cho dễ so đi.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 04 Tháng Sáu, 2010, 05:28:38 PM
Thêm cái sơ đồ trận đánh
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/DBP2009/HimLamcopy.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 06 Tháng Sáu, 2010, 10:50:06 AM
Địa hình không biết có thay đổi gì so với 50 năm trước không, chứ chỗ cửa mở hiện nay dốc khủng khiếp, xung phong sao nổi.


Tiêu đề: Thiệt hại hai vạn
Gửi bởi: altus trong 21 Tháng Sáu, 2010, 10:47:40 PM
Thôi xong!

Xin thành thật phân ưu với chủ nhiệm chiangshan và chuyên gia _new!

http://www.tuanvietnam.net/2010-06-20-phim-tai-lieu-nhat-ve-dien-bien-phu-do-tuong-giap-dan-chuyen
(link của bác cangiuoclongan)

Trích dẫn
Điều đặc biệt của bộ phim này là Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là người dẫn chuyện, và lời kể của ông được bổ sung bằng các hình ảnh, lời nói của các nhân chứng.

Sau khi xem lại đĩa phim, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, theo lời kể của người thư ký, đã nhận xét rằng "đây là bộ phim hay, trung thực, và thể hiện được trọn vẹn diễn biến của chiến dịch Điện Biên Phủ".

Trích dẫn
Nhưng với một cái giá không nhỏ: gần 8000 người đã chết, và gần gấp đôi số đó bị thương, so với 2700 binh sĩ Pháp bị chết và mất tích, 4400 bị thương và 10 ngàn bị bắt làm tù binh.

Như vậy là công sức chứng minh con số >4000 của các bác từ trước tới nay tại một số nơi có cơ sắp xuống cống.

Đại Tướng đã kôn phơm nhá, link chính thức nhá, các bác cãi nữa thôi?


Tiêu đề: Re: Thiệt hại hai vạn
Gửi bởi: saruman trong 22 Tháng Sáu, 2010, 01:02:42 PM
Thôi xong!

Xin thành thật phân ưu với chủ nhiệm chiangshan và chuyên gia _new!

http://www.tuanvietnam.net/2010-06-20-phim-tai-lieu-nhat-ve-dien-bien-phu-do-tuong-giap-dan-chuyen
(link của bác cangiuoclongan)

Trích dẫn
Điều đặc biệt của bộ phim này là Đại tướng Võ Nguyên Giáp chính là người dẫn chuyện, và lời kể của ông được bổ sung bằng các hình ảnh, lời nói của các nhân chứng.

Sau khi xem lại đĩa phim, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, theo lời kể của người thư ký, đã nhận xét rằng "đây là bộ phim hay, trung thực, và thể hiện được trọn vẹn diễn biến của chiến dịch Điện Biên Phủ".

Trích dẫn
Nhưng với một cái giá không nhỏ: gần 8000 người đã chết, và gần gấp đôi số đó bị thương, so với 2700 binh sĩ Pháp bị chết và mất tích, 4400 bị thương và 10 ngàn bị bắt làm tù binh.

Như vậy là công sức chứng minh con số >4000 của các bác từ trước tới nay tại một số nơi có cơ sắp xuống cống.

Đại Tướng đã kôn phơm nhá, link chính thức nhá, các bác cãi nữa thôi?

He he, bác đọc kĩ lại hộ cái. Con số này không nằm trong ngoặc kép, nên ko phải từ miệng bác Giáp, mà nhiều khả năng dẫn ra từ trong phim. Mà phim thì làm từ 2004, lúc ấy thì chỉ có số liệu Tây chứ làm gì đã có ai đưa TK chi tiết của ta lên


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 22 Tháng Sáu, 2010, 04:30:03 PM
Ơ hay, trích dẫn từ phim, mà phim thì chính Đại Tướng đã bảo là "trung thực, thể hiện được trọn vẹn diễn biến" chắc nình nịch thế kia rồi mà nhà bác cứ cố. Tam đoạn luận là thế chứ còn thế nào nữa.

Các bác chuẩn bị tinh thần nhận đòn của tập đoàn bảo vệ sự thật, chẳng hạn: google "Võ Nguyên Giáp + nhận xét + 8000 người đã chết + Điện Biên Phủ" đi nhá.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 22 Tháng Sáu, 2010, 05:55:43 PM
 ;D
Thưa chủ nhiệm Ba Lan hải ngoại Cục:
1. Trung thực là một chuyện, còn chính xác là chuyện khác.
2. Thêm nữa, chữ trung thực ở đây là về diễn biến chứ có phải cái khác đâu. Ví như trong phim thể nào cũng có đoạn VM ào ào xung phong lên đồi và đoạn pháo 105mm xếp hàng bắn như diễn tập (Carmel), riêng đoạn đó mà lắp với từ "trung thực" là không xong rồi.
Quan trọng nhất, phim làm năm 2004, lúc đấy Chủ nhiệm Chiang và Phó Chủ nhiệm _new chưa xuất hiện. Mấy ông Nhật tiếp xúc với tài liệu của tập đoàn phản động mà chưa thấy ánh sáng chói loà của Chiang và _new thì sai lầm là không tránh khỏi. Thiết nghĩ, Chủ nhiệm Altus nên thông cảm cho họ.
 8)
 ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: panphilov trong 22 Tháng Sáu, 2010, 06:35:09 PM
He he... Nói chung thì các bác cứ lấy con số của phương Tây (quân số tham gia, thiệt hại về người + thương vong) chia đôi ra chính xác là vừa. Bọn nó thống kê theo kiểu số lượng một đơn vị ngang cấp ở quân đội các nước khác nhau là giống nhau. Trong khi số lượng này của ta chỉ bằng một nửa so với Pháp và Mỹ.

Thứ hai là khi tấn công đối phương phòng thủ thì (tùy vào độ vững chắc của công sự, tương quan về vũ khí) quân số của bên tấn công ít nhất phải hơn 1,5 lần, đặc biệt là ở hướng chính. Nhiều bác "bẻ lái" ở chỗ này để chơi bài "lấy đông, đánh ít" mà đâu biết rằng lực lượng đâu chỉ có mỗi là người, nó còn là vũ khí, là công sự và địa hình (thuận lợi, hay không).


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 21 Tháng Bảy, 2010, 11:38:29 PM
Chỉ huy pháo binh Pháp tại Điện Biên Phủ:
- Chỉ huy trưởng: Đại tá Piroth (từ 7/12/1953 đến 20/3/1954), thay thế: trung tá Vaillant
- Phụ tá (từ 20/3/1954): trung tá Robin
- P.C. feux (feux ?): chef d'escadron Hourcabie, từ (15/2/1954) chef d'escadron Le Gurun
- S.R.A (từ 15/2/1954): trung úy Verzat, từ (20/3/1954) trung úy Michel
- Sỹ quan liên lạc: trung úy Schmitt

S.R.A: Le service de renseignements de l'artillerie (dịch nôm là trinh sát pháo binh)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 22 Tháng Bảy, 2010, 12:16:49 AM
Một thông tin khác, các bác lên ĐBP vào xem hầm Đờ Cát sẽ thấy hầm có 4 ngăn, đường đi ở giữa. Chung qui nếu ngăn ra sẽ có 8 phòng làm việc, theo cô hướng dẫn viên trên ĐBP thì gồm có ngăn Đờ Cát, ngăn Pi rốt (pháo binh), ngăn không quân và ngăn tình báo thông tin.
Nhưng theo người Pháp, hầm Đờ Cát khi đó thực ra có 10 phòng (5 ngăn). To nhỏ khác nhau, với đủ các loại từ chỉ huy, không quân, pháo binh, tình báo, chỉ huy phân khu, v.v...


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 03 Tháng Chín, 2010, 08:55:32 PM
Một ảnh mới về ĐBP  :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 03 Tháng Chín, 2010, 11:53:56 PM
một ảnh về khu vực tây bắc cứ điểm Him Lam theo chú thích là ngày 9/4


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 23 Tháng Chín, 2010, 06:41:33 PM
Hôm nay đọc hồi ký cụ Lê Văn Dỵ (đại đội trưởng c811/d888/e176/f316 phòng ngự C1) thấy có chi tiết này hay hay: bộ đội ta giữ C1 đều đội mũ rơm, mặc áo giáp bằng rơm và làm nơm rơm trát bùn để úp lựu đạn khi bị địch ném vào công sự. Không biết trên A1 ta có áp dụng không nhỉ?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: scorpiwolf trong 01 Tháng Mười, 2010, 09:18:00 AM
Maybe ;)

A1 (địch gọi là Eliane 2) nằm trong hệ thống cứ điểm trên dãy đồi phía đông Mường Thanh. Đồi A1 cao hơn mặt đất 49m, dài 200m, rộng 80m hình bầu dục, đồi cao lên rất tiện cho địch tổ chức các tuyến phòng ngự. Bắc giáp C2 và C1 cách 200m. Đồi C2 thấp hơn C1 khoảng 5m lại ở thụt vào bên trong. Đồi C1 cao hơn Al khoảng 2m, nhô ra ngoài nên hoả lực địch bố trí trên 3 điểm cao này tạo thành một lưới lửa dày đặc về phía bắc A1 và có thể chi viện cho nhau đắc lực khi bị tiến công; tây giáp A2, A3,

Bác Sơn cho mình hỏi thêm tí với, mình được bác Tuấn cung cấp cho 1 cái bản đồ đồi A1 ghi là tỉ lệ 1:4000, nhưng lại không có thanh tỉ xích nên khó xác định quá. Theo bác thì đồi A1 dài 200m rộng 80m: kích thước này là tính ở phần chân đồi hả bác, hỏi lại cho chắc thôi... Như xem trên wikimapia  http://www.wikimapia.org/#lat=21.3841523&lon=103.0194747&z=17&l=38&m=b&search=Dien%20Bien thì có lẽ kích thước 200mx80m có lẽ là phần trên đỉnh đồi. Bác giúp bọn mình sớm nhé.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: American standard trong 01 Tháng Mười, 2010, 09:37:08 AM
Hôm nay đọc hồi ký cụ Lê Văn Dỵ (đại đội trưởng c811/d888/e176/f316 phòng ngự C1) thấy có chi tiết này hay hay: bộ đội ta giữ C1 đều đội mũ rơm, mặc áo giáp bằng rơm và làm nơm rơm trát bùn để úp lựu đạn khi bị địch ném vào công sự. Không biết trên A1 ta có áp dụng không nhỉ?
Vậy kết quả thế nào hả bác?
Vì theo nguyên tắc khi năng lượng vụ nổ càng bị nén chặt thì nổ càng mạnh! Trong khi rơm trộn bùn chỉ chống mảnh được thôi.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 01 Tháng Mười, 2010, 01:43:24 PM
Bác Sơn cho mình hỏi thêm tí với, mình được bác Tuấn cung cấp cho 1 cái bản đồ đồi A1 ghi là tỉ lệ 1:4000, nhưng lại không có thanh tỉ xích nên khó xác định quá. Theo bác thì đồi A1 dài 200m rộng 80m: kích thước này là tính ở phần chân đồi hả bác, hỏi lại cho chắc thôi... Như xem trên wikimapia  http://www.wikimapia.org/#lat=21.3841523&lon=103.0194747&z=17&l=38&m=b&search=Dien%20Bien thì có lẽ kích thước 200mx80m có lẽ là phần trên đỉnh đồi. Bác giúp bọn mình sớm nhé.

Hình như chân đồi. Trong ảnh kia làm gì mà được 200m đâu nhỉ, chân đồi (đã bị thu hẹp) cũng chỉ khoảng 150m.


Vậy kết quả thế nào hả bác?
Vì theo nguyên tắc khi năng lượng vụ nổ càng bị nén chặt thì nổ càng mạnh! Trong khi rơm trộn bùn chỉ chống mảnh được thôi.

Thì chủ yếu là chống mảnh chứ sức ép thì cái nơm ăn thua gì.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 01 Tháng Mười, 2010, 04:18:52 PM
Cái bản đồ đó là theo địa hình hiện nay bác Hoàng sói ạ. Tỉ lệ 1:4000 thì các bác cứ tính 1cm trên bản đồ bằng 4000cm trên thực địa.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: scorpiwolf trong 06 Tháng Mười, 2010, 01:31:03 PM
He he, nếu em tính 1cm = 4000cm = 40m thì cái đồi đó dài khoảng 25cm = 25x40= 1000m chiều dài. Chắc là không đúng lắm :D.

Nhân tiện cho em hỏi tấm hình này có phải chụp Điện BIên không?  Liệu có phải là A1 không ạ.

(http://farm5.static.flickr.com/4091/5055898347_852d1b0b1e_b.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: baoleo trong 06 Tháng Mười, 2010, 01:45:02 PM
......

Nhân tiện cho em hỏi tấm hình này có phải chụp Điện BIên không?  Liệu có phải là A1 không ạ.

........
Trong trận Điện Biên, công binh Pháp và quân đội Pháp không có thời gian, đặc biệt là gạch, đá.. để xây dựng công trình phòng thủ.
Điều đó cho thấy rằng: tấm hình này không thuộc về Điện Biên.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: scorpiwolf trong 06 Tháng Mười, 2010, 02:07:42 PM
......

Nhân tiện cho em hỏi tấm hình này có phải chụp Điện BIên không?  Liệu có phải là A1 không ạ.

........
Trong trận Điện Biên, công binh Pháp và quân đội Pháp không có thời gian, đặc biệt là gạch, đá.. để xây dựng công trình phòng thủ.
Điều đó cho thấy rằng: tấm hình này không thuộc về Điện Biên.

Dạ, tại em có nghe nói trên đỉnh A1 có một dãy nhà cấp 4, và bản thân A1 trước cũng từng có một ngôi nhà có hầm rươụ sau quân Pháp dùng luôn cái hầm đó. Nên mới thắc mắc ạ.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 06 Tháng Mười, 2010, 02:21:33 PM
......

Nhân tiện cho em hỏi tấm hình này có phải chụp Điện BIên không?  Liệu có phải là A1 không ạ.

........
Trong trận Điện Biên, công binh Pháp và quân đội Pháp không có thời gian, đặc biệt là gạch, đá.. để xây dựng công trình phòng thủ.
Điều đó cho thấy rằng: tấm hình này không thuộc về Điện Biên.

Dạ, tại em có nghe nói trên đỉnh A1 có một dãy nhà cấp 4, và bản thân A1 trước cũng từng có một ngôi nhà có hầm rươụ sau quân Pháp dùng luôn cái hầm đó. Nên mới thắc mắc ạ.
Trên đồi A1 có khá nhiều nhà bác Sói ạ  :)
Theo cuối Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, khi ta tấn công đợt 4 đêm ngày 6/5 lên thì thậm chí các mảng tường vẫn còn (?).


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: baoleo trong 06 Tháng Mười, 2010, 04:27:12 PM
Nên xem thêm cả cảnh quan nữa.
Đồi A 1, nguyên là một đồn binh, mà còn có cây xanh (xem ảnh của đ/.c New).
Các đồi khác (Him Lam, Độc Lập, v.v..), đều là đồi hoang. Tháng 12/1953, sau khi nhẩy xuống ĐB, quân Pháp mới bắt đầu kiến thiết trận địa.
Vậy cái quả đồi trọc lốc ấy, không thể là A1, càng không phải là các đồi khác, bạn à.  ;)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: scorpiwolf trong 08 Tháng Mười, 2010, 10:29:57 AM
Dạ, cháu cám ơn các bác. Để cháu tìm đọc thêm quyển Cao Điểm Cuối Cùng xem sao.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 11 Tháng Mười, 2010, 04:20:39 PM
Bác Sói có cuốn Cao điểm cuối cùng chưa. Phóng sự của VTC về 7554 đã phát sóng chưa, bác cho mọi người xin cái link với.  :)
Góp với bác cái kèn.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: scorpiwolf trong 21 Tháng Mười, 2010, 01:55:01 PM
Cao điểm cuối cùng em đọc ké trên quansuvn.net nhà mình rồi này bác. Còn cái phóng sự kia, chưa rõ vì lý do gì nhưng người ta định chiếu rồi cancel 2 lần rồi. Chẹp... Có gì chắc chắn em sẽ thông báo với các bác ngay.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 02 Tháng Mười Một, 2010, 05:44:58 PM
Không ảnh Hồng Cúm tháng 4/1954.

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/isabelle.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 06 Tháng Mười Một, 2010, 07:58:35 PM
Theo em biết đồi A1 đã bị quân ta dùng 1 tấn thuốc nổ đào lên rồi mà.Với lại đồi A1 có hình chữ I thấp ở đỉnh kia và cao ở đỉnh này (nhìn từ trận địa của ta vào) với lại đồi A1 theo như lịch sử kể lại là đồi trọc không có cây côi gì hết. Vì vậy cái ảnh mà bác post lên có cái nhà và mấy cái cây to em nghi không phải đồi A1.(http://www.balades.free.fr/Vietnam/images/dienbien095.jpg) cái hố do 1T thuốc nổ tạo ra ở A1
(http://media.tinmoi.vn/2010/10/05/2_7_1286260437_83_20dbp.jpg)
Cái ảnh này có ghi chú thích bên dưới là hình ảnh khi 1t thuốc nổ phát nổ trong hầm ngầm đồi A1
Quân ta cắm cờ ở ĐBP chiều ngày 7/5/1954(http://upload.wikimedia.org/wikipedia/vi/6/64/CamcoDienBienPhu.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 05:01:20 PM
Tấm ảnh các chiến sỹ ta cắm cờ trên nóc hầm đờ cát mà bạn đăng theo tôi được biết chỉ là tấm ảnh dựng lại ,biểu tượng cho chiến thắng của ta ,anh hùng Lê Mã Lương đã khẳng định như vậy trong một buổi nói chuyện với báo (tuần việt nam nét):
 
Chùm bài: Những kỷ vật thời chiến
   Những bức thư "hôn" và thư "để đời" sau ngày thống nhất
   Những bức thư "đi xuyên" lửa đạn
   Những bức ảnh “Chúng tôi tiến vào dinh Độc Lập”
Thiếu tướng Lê Mã Lương, giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, đã bắt đầu câu chuyện với Tuần Việt Nam như thế này:

"Những điều chưa chính xác từ trước, chúng tôi đã bằng các phương pháp tiếp cận với nhân chứng, với tài liệu, bằng phương pháp khoa học và thái độ khách quan, trả lại cho lịch sử những điều vốn có của nó.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng vĩ đại, chấn động địa cầu. Việc không có cảnh cắm cờ trên nóc hầm Đờ Cát không hề làm suy giảm một chút nào ý nghĩa lịch sử của chiến thắng này”, Thiếu tướng khẳng định.

Biểu tượng chiến thắng…

Thiếu tướng Lê Mã Lương và lá cờ Quyết chiến quyết thắng

Thiếu tướng Lê Mã Lương kể: Lịch sử ghi nhận rằng, khi bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ, đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao 5 lá cờ Quyết chiến quyết thắng cho 5 đại đoàn (Đại đoàn công pháo 351, Đại đoàn 304, Đại đoàn 308, Đại đoàn 312, Đại đoàn 316).

Đặc biệt, trong đó có một lá cờ liên quan đến Đại đoàn 312, trung đoàn 209, tiểu đoàn 130, đại đội 366 và tiểu đội Thọc sâu (tiểu đội trưởng Trần Can).

Ngày 10/3/1954 tại Sở chỉ huy Đại đoàn ở km 70 có một cuộc họp gồm chỉ huy và chính ủy các trung đoàn, trong đó có trung đoàn 209 (trung đoàn trưởng là Hoàng Cầm, chính ủy là Trần Quân Lập).

Trong cuộc họp đó, chính ủy Đại đoàn 312 Trần Độ đã trao cho chính ủy trung đoàn 209 Trần Quân Lập lá cờ Quyết chiến quyết thắng. Sau đó, vì lý do một trận đánh có thể cần rất nhiều lá cờ, ông cũng giao cho một nhóm văn công của đại đoàn tìm vải đỏ là lập tức may một lá cờ khác, cũng thêu chữ Quyết chiến quyết thắng để giao cho trung đoàn 209.

Sau khi chính ủy trung đoàn Trần Quân Lập xuống kiểm tra công tác chuẩn bị chiến đấu của đại đội 366, chính ủy đã trực tiếp trao lá cờ này cho tiểu đội Thọc sâu.

Ngày 12/3/1954, thực hiện mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, trung đoàn 209 cùng với một trung đoàn bạn và các lực lượng khác có nhiệm vụ tiêu diệt căn cứ Him Lam. Đây là căn cứ tiền tiêu đầu cầu và giữ một vị trí rất quan trọng, bằng mọi giá quân ta phải đột phá căn cứ này để làm bàn đạp tấn công trên các hướng, trong đó có đồi Độc Lập.

Chiều ngày 12/3/1954, các đơn vị bước vào trận địa xuất phát tấn công, triển khai hầm hào công sự chờ lệnh nổ súng xung phong. Đến chiều ngày 13/3, trung đoàn 209 đã tiếp cận vị trí xuất phát tấn công rất thuận lợi, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị, trong đó có trung đoàn 209 nổ súng.

Và suốt từ 17h5’ đến 22h30’ ngày 13/3, trận đánh đã diễn ra, sau khi được lệnh của tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 130 ra lệnh cho đại đội 366 tổ chức đột phá. Trận đánh kết thúc giòn giã chỉ trong vòng 4 tiếng đồng hồ, quân ta đã làm chủ căn cứ Him Lam.

Tiểu đội trưởng Trần Can tổ chức cho tiểu đội Thọc sâu tấn công các mục tiêu, yểm trợ cho chiến đấu viên Nguyễn Hữu Oanh cầm lá cờ Quyết chiến quyết thắng cắm trên nóc hầm chỉ huy của tên thiếu tá chỉ huy căn cứ Him Lam.

Khoảnh khắc lịch sử

Thiếu tướng Anh hùng Lê Mã Lương kể chuyện (Ảnh: Đinh Phương Linh)
Thiếu tướng Lê Mã Lương khẳng định: “Bằng những tư liệu, gặp gỡ các nhân chứng (trong đó có một nhân chứng rất quan trọng là trung tướng Trần Linh, nguyên là chính trị viên tiểu đoàn đánh đồi Him Lam), chúng tôi đã trả lại đúng lịch sử vốn có của lá cờ.

Trước đây, một số nhân chứng lịch sử, một số tài liệu, cuốn sách đã in nói rằng người cầm cờ là Tiểu đội trưởng Trần Can, nhưng điều đó không chính xác. Tiểu đội trưởng Trần Can chỉ được cầm lá cờ ấy với tư cách là tiểu đội trưởng Thọc sâu, và đã giao lá cờ đó cho chiến đấu viên của mình là Nguyễn Hữu Oanh”.

Theo thiếu tướng Lê Mã Lương, trong chiến thắng Điện Biên Phủ, chỉ có lá cờ trên đồi Him Lam là lá cờ duy nhất được cắm, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử VN. Lá cờ đã thấm máu của chiến đấu viên Nguyễn Hữu Oanh, ngoài ra không còn một lá cờ nào khác.

Ông cũng nói, nhiều tài liệu trước đây đã nhầm lẫn về việc này. (Ngay trong cuốn sách "Những kỷ vật kháng chiến (Sự im lặng lên tiếng)", NXB Công an nhân dân, trang 41, có bài viết "Lá cờ quyết chiến quyết thắng" của Thiếu tướng Lê Mã Lương cũng từng khẳng định tiểu đội trưởng Trần Can là người cắm cờ).

Như vậy, Thiếu tướng Lê Mã Lương nói, lá cờ cắm trên nóc hầm Đờ Cát chỉ là biểu tượng, xuất hiện lần đầu trong bộ phim “Việt Nam trên đường thắng lợi” của nhà quay phim Liên Xô Roman Karmen.

Trong lịch sử, ngày 7/5/1954, đại đội trưởng Tạ Quốc Luật dẫn đầu một lực lượng của đại đội mình, trong đó có chiến sĩ Hoàng Đăng Vinh vào hầm Đờ Cát ra lệnh cho Bộ tham mưu và tướng Đờ Cát ra hàng.

Sau này, khi Karmen dựng lại những hình ảnh đó cho bộ phim, ông đã giao lá cờ Quyết chiến quyết thắng cho một chiến đấu viên của đại đội cầm lá cờ xông lên. Từ đó, trong tâm tưởng của mọi người đều nghĩ rằng có lá cờ cắm trên nóc hầm của tướng Đờ Cát.

“Tất nhiên, suy cho đến cùng, sau một trận đánh, một chiến dịch, hoặc khi chúng ta có cả một chiến thắng vĩ đại, thì máu xương của dân tộc Việt Nam đã đổ, xương đã chất thành núi, máu đã chảy thành sông, đó là chiến công của cả dân tộc. Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng vĩ đại, chấn động địa cầu.

Việc không có cảnh cắm cờ trên nóc hầm Đờ Cát không hề làm giảm một chút nào ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn của chiến thắng này”.

Thiếu tướng Lê Mã Lương quả quyết: Sau khi Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam ghi nhận chính xác điều đó, chúng tôi đã cất lá cờ tung bay trên nóc hầm Đờ Cát trước đây có trưng bày ở bảo tàng. Đó chỉ là một biểu tượng của chiến thắng. Phải tôn trọng sự thật. Ngay cả khi làm tư vấn lịch sử cho một dự án ở di tích Điện Biên Phủ, tôi cũng góp ý rằng không nên có hình ảnh chiến sĩ ta cắm cờ trên nóc hầm Đờ Cát, vì lịch sử không có chuyện đó”.

    *
      Đinh Phương Linh (ghi)
Bài đã được xuất bản ngày 29 -4-2009


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 05:22:53 PM
Theo Fall thì có khá nhiều nhân chứng nhìn thấy và xác nhận với ông ta việc QĐNDVN cắm cờ đỏ sao vàng lên nóc hầm Đờ Cát vào chiều 7/5/1954.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 06:12:22 PM
Theo Fall thì có khá nhiều nhân chứng nhìn thấy và xác nhận với ông ta việc QĐNDVN cắm cờ đỏ sao vàng lên nóc hầm Đờ Cát vào chiều 7/5/1954.
:Trước đây xem phim về chiến thắng điện biên phủ và một số bài viết về chiến thắng này đều thấy nhắc đến lá cờ( quyết chiến quyết thắng ) tung bay trên nóc hầm đờ cát như một sự đánh dấu cho toàn thắng của ta .Nhưng có điều lạ là không thấy nhắc đến tên tuổi và vinh danh người cắm lá cờ vinh quang đó nên khi đọc bài của bác Lê Mã Lương cũng thấy khó nghĩ ,nếu bác có tư liệu cụ thể về vụ này đưa nên để giải đáp được các thắc mắc thì hay quá.Cám ơn bác trước.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 06:28:46 PM

Thiếu tướng Lê Mã Lương, giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, đã bắt đầu câu chuyện với Tuần Việt Nam như thế này:

"Những điều chưa chính xác từ trước, chúng tôi đã bằng các phương pháp tiếp cận với nhân chứng, với tài liệu, bằng phương pháp khoa học và thái độ khách quan, trả lại cho lịch sử những điều vốn có của nó.

Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng vĩ đại, chấn động địa cầu. Việc không có cảnh cắm cờ trên nóc hầm Đờ Cát không hề làm suy giảm một chút nào ý nghĩa lịch sử của chiến thắng này”, Thiếu tướng khẳng định.

Biểu tượng chiến thắng…

Thiếu tướng Lê Mã Lương và lá cờ Quyết chiến quyết thắng

Thiếu tướng Lê Mã Lương kể: Lịch sử ghi nhận rằng, khi bước vào chiến dịch Điện Biên Phủ, đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao 5 lá cờ Quyết chiến quyết thắng cho 5 đại đoàn (Đại đoàn công pháo 351, Đại đoàn 304, Đại đoàn 308, Đại đoàn 312, Đại đoàn 316).

Đặc biệt, trong đó có một lá cờ liên quan đến Đại đoàn 312, trung đoàn 209, tiểu đoàn 130, đại đội 366 và tiểu đội Thọc sâu (tiểu đội trưởng Trần Can).

Ngày 10/3/1954 tại Sở chỉ huy Đại đoàn ở km 70 có một cuộc họp gồm chỉ huy và chính ủy các trung đoàn, trong đó có trung đoàn 209 (trung đoàn trưởng là Hoàng Cầm, chính ủy là Trần Quân Lập).

Trong cuộc họp đó, chính ủy Đại đoàn 312 Trần Độ đã trao cho chính ủy trung đoàn 209 Trần Quân Lập lá cờ Quyết chiến quyết thắng. Sau đó, vì lý do một trận đánh có thể cần rất nhiều lá cờ, ông cũng giao cho một nhóm văn công của đại đoàn tìm vải đỏ là lập tức may một lá cờ khác, cũng thêu chữ Quyết chiến quyết thắng để giao cho trung đoàn 209.

Sau khi chính ủy trung đoàn Trần Quân Lập xuống kiểm tra công tác chuẩn bị chiến đấu của đại đội 366, chính ủy đã trực tiếp trao lá cờ này cho tiểu đội Thọc sâu.

Ngày 12/3/1954, thực hiện mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, trung đoàn 209 cùng với một trung đoàn bạn và các lực lượng khác có nhiệm vụ tiêu diệt căn cứ Him Lam. Đây là căn cứ tiền tiêu đầu cầu và giữ một vị trí rất quan trọng, bằng mọi giá quân ta phải đột phá căn cứ này để làm bàn đạp tấn công trên các hướng, trong đó có đồi Độc Lập.

Chiều ngày 12/3/1954, các đơn vị bước vào trận địa xuất phát tấn công, triển khai hầm hào công sự chờ lệnh nổ súng xung phong. Đến chiều ngày 13/3, trung đoàn 209 đã tiếp cận vị trí xuất phát tấn công rất thuận lợi, Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh cho các đơn vị, trong đó có trung đoàn 209 nổ súng.

Và suốt từ 17h5’ đến 22h30’ ngày 13/3, trận đánh đã diễn ra, sau khi được lệnh của tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 130 ra lệnh cho đại đội 366 tổ chức đột phá. Trận đánh kết thúc giòn giã chỉ trong vòng 4 tiếng đồng hồ, quân ta đã làm chủ căn cứ Him Lam.

Tiểu đội trưởng Trần Can tổ chức cho tiểu đội Thọc sâu tấn công các mục tiêu, yểm trợ cho chiến đấu viên Nguyễn Hữu Oanh cầm lá cờ Quyết chiến quyết thắng cắm trên nóc hầm chỉ huy của tên thiếu tá chỉ huy căn cứ Him Lam.

Khoảnh khắc lịch sử

Thiếu tướng Anh hùng Lê Mã Lương kể chuyện (Ảnh: Đinh Phương Linh)
Thiếu tướng Lê Mã Lương khẳng định: “Bằng những tư liệu, gặp gỡ các nhân chứng (trong đó có một nhân chứng rất quan trọng là trung tướng Trần Linh, nguyên là chính trị viên tiểu đoàn đánh đồi Him Lam), chúng tôi đã trả lại đúng lịch sử vốn có của lá cờ.

Trước đây, một số nhân chứng lịch sử, một số tài liệu, cuốn sách đã in nói rằng người cầm cờ là Tiểu đội trưởng Trần Can, nhưng điều đó không chính xác. Tiểu đội trưởng Trần Can chỉ được cầm lá cờ ấy với tư cách là tiểu đội trưởng Thọc sâu, và đã giao lá cờ đó cho chiến đấu viên của mình là Nguyễn Hữu Oanh”.

Theo thiếu tướng Lê Mã Lương, trong chiến thắng Điện Biên Phủ, chỉ có lá cờ trên đồi Him Lam là lá cờ duy nhất được cắm, hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử VN. Lá cờ đã thấm máu của chiến đấu viên Nguyễn Hữu Oanh, ngoài ra không còn một lá cờ nào khác.

Ông cũng nói, nhiều tài liệu trước đây đã nhầm lẫn về việc này. (Ngay trong cuốn sách "Những kỷ vật kháng chiến (Sự im lặng lên tiếng)", NXB Công an nhân dân, trang 41, có bài viết "Lá cờ quyết chiến quyết thắng" của Thiếu tướng Lê Mã Lương cũng từng khẳng định tiểu đội trưởng Trần Can là người cắm cờ).

Như vậy, Thiếu tướng Lê Mã Lương nói, lá cờ cắm trên nóc hầm Đờ Cát chỉ là biểu tượng, xuất hiện lần đầu trong bộ phim “Việt Nam trên đường thắng lợi” của nhà quay phim Liên Xô Roman Karmen.

Trong lịch sử, ngày 7/5/1954, đại đội trưởng Tạ Quốc Luật dẫn đầu một lực lượng của đại đội mình, trong đó có chiến sĩ Hoàng Đăng Vinh vào hầm Đờ Cát ra lệnh cho Bộ tham mưu và tướng Đờ Cát ra hàng.

Sau này, khi Karmen dựng lại những hình ảnh đó cho bộ phim, ông đã giao lá cờ Quyết chiến quyết thắng cho một chiến đấu viên của đại đội cầm lá cờ xông lên. Từ đó, trong tâm tưởng của mọi người đều nghĩ rằng có lá cờ cắm trên nóc hầm của tướng Đờ Cát.

“Tất nhiên, suy cho đến cùng, sau một trận đánh, một chiến dịch, hoặc khi chúng ta có cả một chiến thắng vĩ đại, thì máu xương của dân tộc Việt Nam đã đổ, xương đã chất thành núi, máu đã chảy thành sông, đó là chiến công của cả dân tộc. Chiến thắng Điện Biên Phủ là một chiến thắng vĩ đại, chấn động địa cầu.

Việc không có cảnh cắm cờ trên nóc hầm Đờ Cát không hề làm giảm một chút nào ý nghĩa lịch sử vô cùng to lớn của chiến thắng này”.

Thiếu tướng Lê Mã Lương quả quyết: Sau khi Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam ghi nhận chính xác điều đó, chúng tôi đã cất lá cờ tung bay trên nóc hầm Đờ Cát trước đây có trưng bày ở bảo tàng. Đó chỉ là một biểu tượng của chiến thắng. Phải tôn trọng sự thật. Ngay cả khi làm tư vấn lịch sử cho một dự án ở di tích Điện Biên Phủ, tôi cũng góp ý rằng không nên có hình ảnh chiến sĩ ta cắm cờ trên nóc hầm Đờ Cát, vì lịch sử không có chuyện đó”.

    *
      Đinh Phương Linh (ghi)

Phải nói thật là em đã đọc bài này nhiều lần nhưng rốt cuộc vẫn chẳng hiểu ý của bác Lương là gì. Hoặc bác ấy nói chuyện quá khó hiểu, hoặc là PV quá ấm ớ.

- Nếu bác ấy muốn nói cảnh cắm cờ trên nóc hầm Đờ Cát (vẫn xuất hiện trong các phim tài liệu) là cảnh dựng thì không có gì để nói. Em đã được nghe về điều này trên TV ít nhất là hơn 10 năm trước.

- Nếu bác ấy muốn nói là không có lá cờ Quyết chiến quyết thắng nào được cắm vào chiều 7/5/1954 thì chắc cũng không có gì để nói.

- Thế nhưng nếu bác ấy muốn nói là không có lá cờ đỏ sao vàng nào được cắm vào chiều 7/5/1954 thì e rằng... Vì theo như Fall viết, chuyện đó "hàng ngàn người đã nhìn thấy và nhiều người đã nói với tôi".


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vmt trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 09:08:17 PM

Phải nói thật là em đã đọc bài này nhiều lần nhưng rốt cuộc vẫn chẳng hiểu ý của bác Lương là gì. Hoặc bác ấy nói chuyện quá khó hiểu, hoặc là PV quá ấm ớ.

;Mình nghĩ là ý bác Lương muốn nói ở đây là tại thời điểm quân ta vào hầm bắt sống đờ cát và bộ chỉ huy quân Pháp ở điện biên phủ thì không có lá cờ nào của ta được cắm trên nóc hầm .Xem lại lịch sử thì hôm đó đơn vị của anh hùng Tạ Quốc Luật là c360 e209f312 đánh ở gần trung tâm nhất cũng không thấy nói đến việc quân ta cắm cờ vào lúc đó ,còn về sau đấy có không thì không biết .Đây là môt bài báo đăng ở báo bà rịa vũng tàu có liên quan đến việc bắt sống tướng đờ cát qua đó có thêm chút kiến thức về vụ cắm cờ náy:
Kỷ niệm 56 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954 – 7-5-2010)
Chuyện về những người lính bắt sống tướng De Castries

Thứ sáu, 7/5/2010, 07:43 GMT+7

Chiến sĩ Hoàng Đăng Vinh được Bác Hồ trực tiếp gắn huy hiệu

Đoàn xe đạp vận tải cho mặt trận Điện Biên Phủ. Ảnh:T.L.

Đã 56 năm trôi qua kể từ thời khắc lịch sử vào hầm bắt sống tướng De Castries trong chiến dịch Điện Biên Phủ, 5 người lính Vệ quốc đoàn ngày ấy bây giờ người còn, người mất, nhưng thời khắc ấy mãi là kỷ niệm lớn lao của đời họ và cũng là của lịch sử dân tộc.

THỜI KHẮC LỊCH SỬ

Là một trong 5 chiến sĩ xông vào hầm chỉ huy bắt sống De Castries, Đại tá Hoàng Đăng Vinh bồi hồi chia sẻ: “Trong cuộc đời binh nghiệp của bất cứ người lính nào, bắt sống một tướng địch là một vinh dự lớn lao. Tôi may mắn được chứng kiến và tham gia vào thời khắc lịch sử ấy, nhưng chiến công đó là công sức và sự hi sinh của biết bao chiến sĩ, đồng đội, của cả dân tộc”.

Trận đánh đồi C2 ở giai đoạn cuối của chiến dịch (từ ngày 4 đến ngày 5-5-1954) là trận quyết liệt. Ta chiếm được, địch lại đánh trả. Rồi ta lại chiếm, địch lại chiếm lại. Cuộc giằng co giữa hai bên diễn ra ác liệt, thương vong nhiều. Ngày cuối cùng, ta và địch đều mệt lả. Không còn sức, tự dưng lính của hai bên đều ngừng bắn dù không có lệnh của chỉ huy. Bọn giặc cũng nằm tại chỗ. Chiến sỹ ta thì mệt lả vì đói, khát, kiệt sức. Nhiều người bị thương, máu, bùn đất dính đầy người.

Lúc đó, một đồng chí anh nuôi, khoác ba lô cơm đi lên, phát cho từng chiến sỹ một nắm cơm và nhúm lạc rang muối. Ai cũng nhón từng hạt cơm, hạt lạc cho vào mồm, mút cái mằn mặn của muối. Bỗng nhiên, một cậu nói: “Ơ, các cậu ơi, nhìn ngón tay mình này!” Bất giác, mọi người nhìn lại mình, cũng như cậu ấy, 2 đầu ngón tay ai cũng trắng toát vì mút muối. Rồi chẳng ai bảo ai, chúng tôi nhìn lại thân mình, thấy toàn bùn đất, máu. Một đồng chí khác đừng cạnh tôi nói: “Như thế là trong người chúng mình có máu của đồng đội, có đất của Điện Biên rồi đấy...”.

Nghe câu ấy, chúng tôi như chợt tỉnh, thấy được trách nhiệm lớn lao của mình, phải vì đồng đội mà đứng lên. Thế rồi, không ai bảo ai, kể cả những người bị thương, tất cả đồng loạt đứng lên xung phong, tiếp tục chiến đấu. Trận ấy, chúng tôi thắng to.

Chiều 7-5, đơn vị xung phong qua cầu Mường Thanh. Quân Pháp chống trả quyết liệt. Sau khi tiêu diệt khẩu đại liên và khẩu pháo trấn giữ đầu cầu, năm người lao vượt được qua cầu, tiến vào khu trung tâm là: đại đội trưởng Tạ Quốc Luật, Bùi Văn Nhỏ, Đào Văn Hiếu, Hoàng Đăng Vinh và anh Lam. Lúc bấy giờ khói bụi mịt mù, chúng tôi chỉ thấy nhấp nhô hầm hào, lô cốt, không ai biết hầm De Castriesở đâu. Đột nhiên từ ngách hào trước mặt, một tên lính dõng xuất hiện, giơ tay đầu hàng. Anh Luật quát: “Hầm De Castriesở đâu?” Tên lính chỉ vào cái ụ đất cao được bao bọc bởi dây kẽm gai. Năm người vừa chạy vừa tận dụng các mô đất tránh đạn đang bắn như mưa, xông tới. Phát hiện ra hầm có hai cửa. Anh Luật phân công Hiếu và Lam vào một cửa còn ba người vào một cửa. Khi thấy chúng tôi vào, cả bọn tướng lĩnh co rúm vào một góc, riêng De Castries lì lợm ngồi yên ở bàn làm việc. Thấy thế, anh Luật ra lệnh tôi vào bắt hắn. Theo lệnh Đại đội trưởng, tôi bước được vài bước thì anh Luật nhắc: “Phải ra oai vào!”. Tôi nghe theo, mắt trừng to, ưỡn ngực ra dáng đi oai vệ, lăm lăm cây súng tiến về phía De Castries. Thấy tôi đến, hắn ta liền đứng dậy chìa tay ra bắt. Một ý nghĩ thoáng lên trong đầu tôi: “Sao lại bắt tay nhỉ? Vô lý”. Tôi liền chọc khẩu súng vào bụng hắn, ngay lập tức hắn ta lui lại một bước, giơ tay lên và nói một tràng tiếng Pháp. Thật tình, lúc đó tôi chả hiểu gì. Sau này, nghe anh Luật kể lại, lúc đó hắn nói: “Xin các ông đừng bắn, tôi xin đầu hàng!”. Sau đó, chúng tôi dẫn De Castries và Bộ tham mưu của ông ta, ba mươi tư người, đến cầu Mường Thanh thì gặp quân ta đi vào. Chúng tôi bàn giao tù binh cho sư đoàn trưởng Thăng Bình rồi quay lại hầm De Castries, múc nước uống một trận thỏa thuê, ôm lấy nhau hò reo chiến thắng.

NHỮNG NGƯỜI ANH HÙNG VÔ DANH

Bao lâu nay, khi nói đến những người bắt tướng De Castries ở Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954, chúng ta chỉ mới biết ba người là Tạ Quốc Luật, Nguyễn Văn Nhỏ và Hoàng Đăng Vinh.

Trong hồi ký về những ngày tháng lịch sử ấy, ông Tạ Quốc Luật viết rất kỹ về năm người (trong đó có ông) đánh trận cuối cùng vào hầm De Castries và bắt tướng De Castries. Sau này, ba người trong số họ đã trở thành quen thuộc với cả nước. Còn lại hai người kia bây giờ ở đâu, sống chết ra sao? Ông Luật khắc khoải, băn khoăn: “Hiếu, Lam bây giờ ở đâu? Chuyện gì xảy ra với họ?”... Nỗi day dứt của ông Luật cũng là nỗi băn khoăn của Đại tá Nguyễn Văn Vinh. Vì vậy, trong dịp kỷ niệm 45 năm chiến thắng Điện Biên (1954 - 1999) ông Vinh đã làm một cuộc “Đi tìm đồng đội”.

Năm 1999, lúc này Tạ Quốc Luật và Nguyễn Văn Nhỏ đã mất, ông Nguyễn Văn Vinh đi tìm đồng đội bằng bài viết: “Hiếu, Lam bây giờ ở đâu?”, đăng trên báo Tiền phong tháng 5-1999 với lời nhắn: “Ai biết hai người ấy, xin liên hệ báo tin về báo Tiền phong...” Và như một kết thúc có hậu, mọi người đã tìm được ông Đào Văn Hiếu đang sống ở Nga Sơn, Thanh Hóa.

Áp giải tù binh Pháp về hậu phương. Ảnh:T.L.
Trước đó, ở Nga Sơn, có một cựu chiến binh nói rằng, ông có vào xem bảo tàng Quân đội, thấy có tấm ảnh người bắt tướng De Castries đúng là ông Hiếu làng mình nhưng dưới tấm ảnh lại đề tên là: “Đào Văn Hiến, xã Nga Đức, Nga Sơn, Thanh Hóa”. Ông Hiếu nghe và chỉ cười tủm tỉm không nói gì.
Khi bài báo của ông Vinh được đăng thì ông Nguyễn Văn Hùng, Thường trực Hội cựu chiến binh huyện Nga Sơn đọc được. Ông Hùng cất công ra Bảo tàng Quân đội xem cụ thể tấm ảnh và xác định đó chính là ông Hiếu quê mình vì ông biết từ năm 1960 xã Nga Đức chia làm ba xã, làng của ông Hiếu thuộc điạ phận xã Nga Hưng. Còn chữ Hiếu và Hiến chẳng qua chỉ do đọc nhầm chữ “U” thành chữ “N”. Ông Hùng viết ngay bài “Hiếu vẫn còn đây” gửi cho báo Tiền Phong.

Tổng biên tập báo Tiền phong gửi điện về Nga Sơn mời ông Hiếu ra tòa soạn để gặp gỡ. Lúc ấy đại tá Hoàng Đăng Vinh đang nghỉ hưu ở Hà Bắc, đọc báo, biết tin cũng đánh điện vào mời ông Hiếu ra nhà chơi. Cánh nhà báo hay tin có cuộc hội ngộ của hai nhân vật đặc biệt này, tìm đến nhà ông Vinh và họ đã không hết ngỡ ngàng trước cảnh hai ông già, một to béo (ông Vinh), một cao gầy, đen (ông Hiếu) vừa trông thấy nhau đã la lên “Hiếu điếc”, “Vinh lì”, ôm chầm lấy nhau mà lắc, mà cười ha hả... mà nước mắt giàn giụa... 45 năm sau mới gặp lại!

Cho đến tận lúc này ông Hiếu vẫn đau đáu nỗi niềm nhớ ông Lam. Hai người chia tay bên dòng sông Bến Hải mù trời bom đạn năm ấy rồi bặt tin nhau. Không biết bây giờ ông Lam sống chết ra sao? Ông Hiếu cũng đã nhờ nhiều người dò hỏi nhưng không biết ông Lam ở làng nào xã nào. Ông chỉ biết ông Lam quê ở Nghệ Tĩnh.

Giờ đây, ông Hiếu, người tham gia bắt sống tướng De Castries năm xưa vẫn cần mẫn với bờ tre, đám ruộng. Hai ông bà nương tựa vào nhau trong căn nhà đơn sơ, vui với cháu con, với xóm giềng, bè bạn.

(Theo VTV và toquoc.gov.vn)




Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 07 Tháng Mười Một, 2010, 11:26:44 PM
Fall chép nguyên văn là có ba người, trong đó có một Trung đội trưởng Việt Minh là "Chu Ba Thé", đã cắm cờ đỏ sao vàng lên nóc hầm Đờ Cát vào khoảng 17h40. Trong một chỗ khác trong sách, Fall chép là Đại Tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định là lá cờ này có chữ "Quyết Chiến Quyết Thắng", nhưng không loại trừ đây chỉ là "ý văn học", hoặc, "ý thơ"  ;) của Đại Tướng.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 12:16:27 AM
Theo em, ý của tướng Lê Mã Lương muốn nói là lá cờ vốn được trưng bày trong bảo tàng là lá cờ quay phim, không phải cờ cắm trên hầm Đờ Cát hôm 7/5 chứ không có ý cả chiến dịch ĐBP ta chỉ cắm cờ lên mỗi Him Lam. Em cũng nghĩ tay phóng viên ấm ớ, với lại muốn giật gân câu khách nên viết thế thôi.
Vì trong một trận đánh, nhiệm vụ cắm cờ là một nhiệm vụ thực tiễn rất quan trọng. Trong đơn vị chủ công bao giờ cũng có một tổ cắm cờ. Với ý nghĩa nâng cao tinh thần chiến sỹ và báo hiệu chiến thắng. Trận nào cũng có hết. Giữa trận đánh, mũi dao nhọn xông lên hầm chỉ huy là phất cờ ngay.
Ở hầm Đờ Cát, là sau trận đánh địch đã đầu hàng rồi, tiếc gì của bọ. Em mà ở đó lúc 17h30, tiến đến hầm Đờ Cát, chẳng cần biết có ai phất trước chưa thì em cũng nhất định sẽ trèo lên, dương cờ phất lia lịa cho sướng.

Ảnh rõ hơn:
(http://i36.photobucket.com/albums/e48/thongdiepthoigian/DienBienPhu/132-1-133-1.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 12:53:34 AM
Theo em biết đồi A1 đã bị quân ta dùng 1 tấn thuốc nổ đào lên rồi mà.Với lại đồi A1 có hình chữ I thấp ở đỉnh kia và cao ở đỉnh này (nhìn từ trận địa của ta vào) với lại đồi A1 theo như lịch sử kể lại là đồi trọc không có cây côi gì hết. Vì vậy cái ảnh mà bác post lên có cái nhà và mấy cái cây to em nghi không phải đồi A1.(http://www.balades.free.fr/Vietnam/images/dienbien095.jpg)
cái hố do 1T thuốc nổ tạo ra ở A1
(http://media.tinmoi.vn/2010/10/05/2_7_1286260437_83_20dbp.jpg)
Cái ảnh này có ghi chú thích bên dưới là hình ảnh khi 1t thuốc nổ phát nổ trong hầm ngầm đồi A1
Đó đúng là đồi A1 đó bác ạ. Đồi nào cũng có cây hết, sau Pháp họ dựng cứ điểm mới chặt cây làm công sự và mở rộng thị trường cho hỏa lực. Mai em post cái ảnh đồi A1 lúc họ đã phạt hết cây và đang nổ mìn phá cái nhà cho bác xem.  
Nếu nói có điểm nào khác biệt giữa đồi A1 và các đồi khác ở ĐBP thì đó là những công trình nhà cửa trên đó. Pháp họ cũng không chở xi măng sắt thép lên ĐBP xây công sự. Vậy nên em nghĩ, cái ảnh em post ở bài trước, nếu đúng là chụp ở ĐBP thì đó cũng chính là đồi A1.
Hình bác post, đó là từ một đoạn phim. Cảnh sau đó là cảnh này:
(http://i36.photobucket.com/albums/e48/thongdiepthoigian/DienBienPhu/129-2.jpg)
Dựa vào ảnh công trình, em cũng nghĩ đó là đồi A1.

Về cái ảnh hố bộc phá, theo đánh giá chung đó là ta sau này đào sâu, khơi thêm nó ra cho ấn tượng chứ thực tế không được to như vầy. Theo các cụ kể lại, đến tận năm 94 khi ta cải tạo lại đồi A1 hố này vẫn còn và có đường kính chỉ khoảng 8-10 m. Hồi năm 54 chắc cũng chỉ như vậy vì theo thời gian hố bộc phá chỉ nông dần chứ khó có thể nhỏ đi, phải không ạ.  :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 01:19:41 AM
Thế túm lại mấy cái ảnh phất cờ trên hầm Đờ Cát có cái nào xịn, không phải cảnh dựng lại không chủ nhiệm _new? Nếu có thì ai chụp?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 12:38:31 PM
Hồi trước có cái ảnh chiến sĩ ta đứng gác cạnh lá cờ, nhìn khung cảnh có vẻ là chụp ngay sau lúc chiếm hầm không lâu.

Ảnh phất cờ thì chắc toàn dựng lại sau vài hôm.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 07:03:30 PM
(http://www.dongnai.gov.vn/cong-dan/tin_vanhoa-xahoi/Thu_muc_anh/20090414.083)
Có lẽ cái này mới là ảnh thật các bác à.Vì theo em biết lên cắm cờ lúc đó chỉ có một tổ đội không quá 5 người lên.Còn những người khác thì đang lo vào hầm tướng D'cat.



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 07:08:44 PM
Ảnh đó cũng trích từ phim, là cảnh sau của cái ảnh bên trên bác ngoduythiet à.  :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 07:22:59 PM
Thế thì em chịu thua rồi không kiếm được cái nào là thật nữa.
 :'(Bác nào có kiếm được cái thật sự thì post lên cho em và các bác khác coi với nhá.Chứ mấy cái ảnh này em cũng kiếm trên Google thôi.Bác nào có điều kiện vào tìm tài liệu trong bảo tàng quan sự ấy hay ở BTTM ấy.Nhớ kiếm giùm em nhá càng nhanh càng tốt.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 07:40:55 PM
Bác cần có việc gì mà gấp thế ạ. Có cái ảnh cắm cờ này 100% là thật đây bác, 100% là ngày 13/3 trên đồi Him Lam  :D

(http://i626.photobucket.com/albums/tt342/tuan_new/untitled.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 07:45:06 PM
 :'(Ảnh này chắc là của bác chứ gì.Nhìn thế này chắc bác là lính đi diễn tập rồi chụp lại rồi. Em lạ gì vì em cũng từng là lính mà. ;D ;D ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 07:58:03 PM
Không phải diễn tập đâu bác, đó là ngày mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ đó bác à. Trận đó địch nó bắn rát lắm, chiến sỹ này phải ôm đầu, đồng chí tác nghiệp quay phim sợ quá chụp run cầm cập.
(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/Dien%20Bien%203-2010/13-3/tn_IMG_2346.jpg)

Em lục đống ảnh cũ tìm ảnh hầm Đờ Cát sau 7/5, có một cụ bộ đội nhà mình cổ quấn khăn đang bước qua hào giao thông mà chưa có. Thấy cái ảnh này, cũng cắt từ phim, em nghĩ là trên đồi A1.
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dienbiencopy.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:14:04 PM
Các cao thủ cho nhà em hỏi: rốt cuộc là hình ảnh cắm cờ trên nóc hầm của tướng Đờ Cát chiều mùng 7 tháng 5 trong thực tế Lịch sử là có hay không ạ? Hay chuyện "có" và "không" cũng chỉ xuất phát từ một vài hồi ký hoặc bài phỏng vấn? Chuyện này thực ra không quá ảnh hưởng đến ý nghĩa của chiến thắng Điện Biên Phủ của quân và dân ta, nhưng cũng phải phòng trường hợp dạng như xét lại lịch sử một cách có chủ ý sau này đúng không ạ?
Với ảnh cờ đỏ sao vàng của ta tung bay trên đồi Him Lam ngày 13 tháng 3 năm 1954 trong thực tế có bức ảnh nào đối chiếu không ạ? Hay chỉ có ảnh được dựng lại một cách không hoàn toàn đầy đủ qua phiên bản năm 2010 ạ?
Thêm câu hỏi nữa là khi đó, em có biết là hỏa lực của địch bắn từ trên cứ điểm xuống rà cực rát, nhưng chiến sĩ ta có đến mức ôm đầu ngồi thu lu như quân địch vứt súng đầu hàng bộ đội mình ngày xưa như thế không? Nếu các cao nhân có ảnh chứng minh là tốt nhất.
Về các yêu cầu của em, đặc biệt là về ảnh minh họa, em nghĩ lúc đó có lẽ không được phong phú nên em sắn sàng chờ đợi, không cần quá gấp gáp đâu ạ!
Em cám ơn các cao thủ trước.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:16:52 PM
   Em nói diễn tập là cái ảnh màu mà bác. Còn cái ảnh đen trắng bên trên có người lính đang ôm đầu hình như là lính Pháp chứ không phải lính mình vì em nhận ra cái nón sắt không phải của ta.Với lại người lính này nhìn mặt có mũi dọc dừa.Đích thị không phải lính mình rồi.Còn cái ảnh dưới thì đúng là ảnh bộ đội ta đang lxung phong ngay sau khi đồi A1 nổ tung.
Ảnh về quân ta ở ĐBP thì nhiều lắm.
Chiến hào của ta(http://a9.vietbao.vn/images/vn965/xa-hoi/65193421-small_269243.jpg)
chiến hào của Pháp(http://faculty.smu.edu/dsimon/viet/dienbienphu2.jpg)

(http://diepdoan.violet.vn/uploads/resources/blog/447/tan_cong_dbp.jpg)
Cái này thì là thật đó bác.Cái ảnh này trong tư liệu quay màu.Chắc bác cũng biết rồi chứ gì.Đây là ảnh khi quân ta tấn công đôi Him Lam ở phân khu bắc của ĐBP.

Cái này là ảnh Tướng De Castries tư lệnh mặt trận ĐBP
(http://www.thanhnien.com.vn/News/Pictures201001/NgocThanh/2010/97/p5a2dgdg.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:35:27 PM
Thôi xin các cụ, em đã chém gió rồi, các cụ còn đả phong lại nào là "ngồi thu lu như địch vứt súng đầu hàng bộ đội mình ngày xưa" thêm nữa "Với lại người lính này nhìn mặt có mũi dọc dừa. Đích thị không phải lính mình rồi" thì thực là không đỡ được. :D

À, tìm ra cái ảnh hầm de Cattries rồi. Xin hầu các bác đã quan tâm, có cắm cờ các bác nhé  ;D:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dbp7s.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:41:50 PM
Thỉnh thoảng lượn lờ vào Ecpar lại thấy có mấy tấm ảnh mới:


Ảnh về Đại đội tiếp tế đường không từ Hà Nội lên chiến trường Điện Biên Phủ
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/NVN-54-61-R20.jpg)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/NVN-54-61-R14.jpg)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/NVN-54-61-R12.jpg)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/NVN-54-61-R08.jpg)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/NVN-54-61-R07.jpg)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/NVN-54-61-R02.jpg)

Ảnh về trại PIM
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dbp-PIM2.jpg)

Ảnh lính Pháp "hái hoa dân chủ" đêm Noel 1953. Đêm này Navarre cũng lên dự.
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dbp-noel.jpg)



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:45:46 PM
(http://diepdoan.violet.vn/uploads/resources/blog/447/tan_cong_dbp.jpg)
Cái này thì là thật đó bác.Cái ảnh này trong tư liệu quay màu.Chắc bác cũng biết rồi chứ gì.Đây là ảnh khi quân ta tấn công đôi Him Lam ở phân khu bắc của ĐBP.

Đây là cảnh dựng trong phim của Karmen. Trừ người, quân phục và vũ khí là thật, còn thì sai hết.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:46:21 PM

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/NVN-54-61-R02.jpg)

Cái ảnh này, em nghĩ là khoảng năm 1950 thì đúng hơn các bác nhỉ.  >:(


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:56:20 PM
Cái này thì là thật rồi.Quân ta đi lại thoải mái thế kia là vào ngày hôm sau rồi.Lại còn mấy "anh" bộ đội ngôi nói truyện trên nóc hầm nữa chứ.
Ảnh hàng binh Pháp nè các bác.
(http://media.goonline.vn/edu/image/e-tap-chi/uploads/20106/ac8f7d66-75da-42f0-b451-0360a4c46f5c_050510.dien5.2.jpg)



Bộ đội ta xung phong.
(http://www.quandoan1.org.vn/Uploads/tulieuanh/u87/image/Cuoc%20thi%20Chien%20thang%20Dien%20Bien/15.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 08:59:52 PM
(http://diepdoan.violet.vn/uploads/resources/blog/447/tan_cong_dbp.jpg)
Cái này thì là thật đó bác.Cái ảnh này trong tư liệu quay màu.Chắc bác cũng biết rồi chứ gì.Đây là ảnh khi quân ta tấn công đôi Him Lam ở phân khu bắc của ĐBP.

Đây là cảnh dựng trong phim của Karmen. Trừ người, quân phục và vũ khí là thật, còn thì sai hết.
Bác bảo em sai ở chỗ nào.Em nhớ là xem cái cảnh này 1 lần trên ti vi rồi mà người thuyết minh có nói là đây là những tư liệu màu đầu tiên trong chiến dịch ĐBP.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 09:15:47 PM
Bác bảo em sai ở chỗ nào.Em nhớ là xem cái cảnh này 1 lần trên ti vi rồi mà người thuyết minh có nói là đây là những tư liệu màu đầu tiên trong chiến dịch ĐBP.
Là tư liệu màu nhưng được lấy ra từ một bộ phim được dựng lại sau này của đạo diễn Liên Xô Roman Carmen bác ạ.
@_new: cám ơn bác!


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 09:25:33 PM
Karmen cuối tháng 5/1954 mới sang VN, tháng 6/1954 mới lên ĐBP. Cảnh thật duy nhất liên quan tới ĐBP mà ông này quay được là lúc đoàn tù binh bị áp giải.

Hình như trước Karmen, phóng viên của ta cũng đã quay phim chụp ảnh lại 1 số cảnh dựng ngay sau 7/5/1954. Số này thì nhìn thật hơn.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vmt trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 09:27:43 PM
Không phải diễn tập đâu bác, đó là ngày mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ đó bác à. Trận đó địch nó bắn rát lắm, chiến sỹ này phải ôm đầu, đồng chí tác nghiệp quay phim sợ quá chụp run cầm cập.

:Cái hình này quang cảnh cũng gần giống với quang cảnh hình phục dựng ở trang 29.Còn về vụ phất cờ vào thời khắc lịch sử đánh dấu chiến thắng của ta lúc ấy chắc là không có ,cái thời gian đó (17h30)là lúc bộ đội ta bắt sống toàn bộ bộ chỉ huy của chúng ở điện biên phủ .Trước kia tôi được nghe kể là khi chiến trường đã im tiếng súng ,cờ trắng xuất hiện ở khắp nơi thì bộ đội ta sung sướng lên đứng chật trên nắp hầm đờ cát mà reo hò vang dậy ,cờ chiến thắng của ta tung bay ở nhiều nơi, sau một hồi thì giải tán về đơn vị lo thu dọn chiến trường,làm công tác thương binh liệt sỹ ....Tôi nghĩ đến lúc đó thì chả có lý gì mà ta không phất cờ ở trên nóc hầm cả nhưng ý nghĩa của nó thì không thể bằng lá cờ được phất lên đánh dấu mốc của chiến thắng..


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 09:29:27 PM
Vậy mà em cứ tưởng là cảnh thật chứ. :'( .Nhưng mà rõ ràng người thuyết minh trên ti vi hôm đó nói là ảnh màu thật mà. Các bác đính chính lại họ em.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 11:12:05 PM
À, tìm ra cái ảnh hầm de Cattries rồi. Xin hầu các bác đã quan tâm, có cắm cờ các bác nhé  ;D:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dbp7s.jpg)

Chủ nhiệm đã chắc 100% là thật chưa.  ;)  Cái này ai chụp thế?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 11:13:52 PM
Vậy mà em cứ tưởng là cảnh thật chứ. :'( .Nhưng mà rõ ràng người thuyết minh trên ti vi hôm đó nói là ảnh màu thật mà. Các bác đính chính lại họ em.

Ảnh màu thật, nhưng quay cảnh giả.

Cảnh tù binh diễu hành cũng là do Carmen chỉ đạo quân ta dong bọn Pháp ra diễn thôi.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 08 Tháng Mười Một, 2010, 11:20:07 PM
 ??? ??? Bác nói thế em cũng chịu thua.Em chỉ kiếm trên Google được những hình đó nên cung không biết cái nào vào cái nào. :DMay mà có các bác em mới biết thực hư câu truyện.
TK các bác nhiều... :D :D :D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 11:20:06 AM
À, tìm ra cái ảnh hầm de Cattries rồi. Xin hầu các bác đã quan tâm, có cắm cờ các bác nhé  ;D:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dbp7s.jpg)

Chủ nhiệm đã chắc 100% là thật chưa.  ;)  Cái này ai chụp thế?
Nếu truy tận gốc, bốc tận ngọn thì xin hàng. Ở trên em chỉ giám nói là sau 7/5 thôi, còn sau bao lâu thì chưa biết.  ;D
Em đoán cảnh này cũng cắt ra từ phim, chắc là nhóm cụ Tiến Lợi, Ngọc Quỳnh.

Về chuyện cắm cờ. Theo em, hầm Đờ Cát là một mục tiêu rất cụ thể, quan trong và chắc chắn được giao cho một đơn vị cụ thể mà ở đây là đơn vị của cụ Tạ Quốc Luật. Ngoài tổ xông vào hầm thì có thể nói chắc chắn rằng có một tổ cầm cờ để cắm trên mục tiêu cụ thể - hầm Đờ Cát.
Vấn đề ở đây là: lúc đó cho đến nay, ta ít chú ý đến tổ cắm cờ này (như với trường hợp cụ Bùi Quang Thận. Cũng là dân Thái Bình như cụ Tạ Quốc Luật). Tất cả đều tập trung vào chiến công lần đầu tiên bắt sống được sỹ quan cấp tướng địch. Do đó, lá cờ được phất trên nóc hầm Đờ Cát chiều 7/5 sau này đã thất lạc. Thất lạc theo cả nghĩa đen và theo nghĩa quá chìm so với tổ vào hầm bắt sống tướng Đờ Cát.

Chuyện Đờ Cát ra hàng thế nào, em không nói ở đây các cụ nhé.  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 11:40:31 AM
Hôm nay em ngồi tính số lượng hỏa lực theo lượng đạn tiêu thụ, ra được các số này:
DKZ 57        số lượng 57 khẩu
DKZ 75        số lượng 12 khẩu
Bazooka 90  số lượng 72 khẩu
Cối 60         số lượng 179 khẩu
cối 81 82     số lượng 162 khẩu
cối 120        số lượng 16 khẩu
Sơn pháo 75 số lượng 18 khẩu
Pháo 105     số lượng 24 khẩu
H6              số lượng 12 khẩu
Cao xạ 37    số lượng 33
12,7            số lượng 85 khẩu

Tổng số đạn các cỡ đã tiêu thụ là 91996 viên. Tức là, chưa tính đến các các loại pháo, cối, KDZ, bom v.v.. của pháp thì số lượng đạn Việt Minh đã sử dụng tương đương số lượng đạn pháo 105mm Pháp đã bắn từ 13/3 đến 7/5 năm 1954.
Như vậy, tuy quân Pháp ở trong một diện tích hẹp hơn, nhưng trong từng trận đánh việc nói rằng hỏa lực Việt Minh như mưa, hơn hẳn hỏa lực quân đồn trú là không chính xác.

Chủ nhiệm của Ba Lan phân đàn Cục có ý kiến gì không ạ.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 11:46:32 AM
  Bác altus nói cũng không đúng lắm vì theo tài liệu em đọc được thì sau khi ĐBP thất thủ chiều ngày 7/5 trong số lính Pháp ra hàng chiều ngày 7/5 có khoảng trên 500 lính được tập trung tại sân bay Mường Thanh (vì trời đã tối) đến sáng hôm sau mới được dẫn đi .Cái ảnh mà em post lên đó chính là ảnh những lính Pháp ở san bay Mường Thanh này.Ảnh là thật chứ không phải dựng lại đâu.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 11:48:30 AM
Nhân nhắc đến pháo, hôm trước em vừa đọc xong The Last Valley. Theo đấy thì nhiều sĩ quan pháo binh Pháp sau khi vào trại lúc bị thẩm vấn được sĩ quan ta cho biết là VM có 3 tiểu đoàn 105 ở ĐBP. Macdonald phỏng vấn tướng Giáp xong thì viết là ta có 4 tiểu đoàn 105, trong đấy 3 tham gia ĐBP. Vậy là thế nào nhỉ? Liệu có khả năng TQ viện trợ thêm cho ta 1 (hoặc 2) tiểu đoàn trong thời gian chiến dịch nhưng số này chưa kịp tham chiến?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 11:51:24 AM
 Bác altus nói cũng không đúng lắm vì theo tài liệu em đọc được thì sau khi ĐBP thất thủ chiều ngày 7/5 trong số lính Pháp ra hàng chiều ngày 7/5 có khoảng trên 500 lính được tập trung tại sân bay Mường Thanh (vì trời đã tối) đến sáng hôm sau mới được dẫn đi .Cái ảnh mà em post lên đó chính là ảnh những lính Pháp ở san bay Mường Thanh này.Ảnh là thật chứ không phải dựng lại đâu.
Cái ảnh bác post được chụp ở đoạn Yên Bái.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 12:37:39 PM
Hôm nay em ngồi tính số lượng hỏa lực theo lượng đạn tiêu thụ, ra được các số này:
DKZ 57        số lượng 57 khẩu
DKZ 75        số lượng 12 khẩu
Bazooka 90  số lượng 72 khẩu
Cối 60         số lượng 179 khẩu
cối 81 82     số lượng 162 khẩu
cối 120        số lượng 16 khẩu
Sơn pháo 75 số lượng 18 khẩu
Pháo 105     số lượng 24 khẩu
H6              số lượng 12 khẩu
Cao xạ 37    số lượng 33
12,7            số lượng 85 khẩu

Tổng số đạn các cỡ đã tiêu thụ là 91996 viên. Tức là, chưa tính đến các các loại pháo, cối, KDZ, bom v.v.. của pháp thì số lượng đạn Việt Minh đã sử dụng tương đương số lượng đạn pháo 105mm Pháp đã bắn từ 13/3 đến 7/5 năm 1954.
Như vậy, tuy quân Pháp ở trong một diện tích hẹp hơn, nhưng trong từng trận đánh việc nói rằng hỏa lực Việt Minh như mưa, hơn hẳn hỏa lực quân đồn trú là không chính xác.

Chủ nhiệm của Ba Lan phân đàn Cục có ý kiến gì không ạ.
   Cho em hỏi số lượng đạn pháo các cỡ đã tiêu thụ của quân ta bác đã tính vào đó cả lượng đạn pháo ta thu được trong những lần ra cướp dù tiếp tế của địch không bác.
   Em còn có cái thông tin này nưa nè trong 56 ngày đêm ĐBP người Pháp đã bắn hết hơn 100.000 quả đạn lựu pháo cỡ 105mm trở lên(chưa tính các loại súng cối và các pháo cỡ nhỏ khác).
   Tuy số lượng đạn ta bắn it hơn Pháp(có thể là ít hơn rất nhiều)nhưng ta bắn tập trung vào một vài trận pháo kích lớn nên lượng đạn bắn trong 1 trận nhiều do đó nói là "đạn pháo VM bắn như mưa" là điều hoàn toàn dễ hiểu.Còn Pháp ngày nào họ cũng bắn pháo số lượng nhất định nên lượng đạn họ bắn trong 56 ngày đêm là nhiều hơn ta cũng là truyện bình thường.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 01:28:09 PM
  Cho em hỏi số lượng đạn pháo các cỡ đã tiêu thụ của quân ta bác đã tính vào đó cả lượng đạn pháo ta thu được trong những lần ra cướp dù tiếp tế của địch không bác.
  
Về số lượng đạn cướp được của địch, một phần chưa một phần đã tính rồi, tùy theo nguồn tài liệu bác ạ. Như trong nguồn của em đưa ở trên là tính rồi.
  Em còn có cái thông tin này nưa nè trong 56 ngày đêm ĐBP người Pháp đã bắn hết hơn 100.000 quả đạn lựu pháo cỡ 105mm trở lên(chưa tính các loại súng cối và các pháo cỡ nhỏ khác).
Thông tin của bác đưa là lấy từ bên wiki, do em viết.
  Tuy số lượng đạn ta bắn it hơn Pháp(có thể là ít hơn rất nhiều)nhưng ta bắn tập trung vào một vài trận pháo kích lớn nên lượng đạn bắn trong 1 trận nhiều do đó nói là "đạn pháo VM bắn như mưa" là điều hoàn toàn dễ hiểu.Còn Pháp ngày nào họ cũng bắn pháo số lượng nhất định nên lượng đạn họ bắn trong 56 ngày đêm là nhiều hơn ta cũng là truyện bình thường.
Theo em thì không phải thế đâu bác. Pháo của ta ngoài việc đánh đồn còn có nhiềm vụ chế áp pháo địch, chế áp chỉ huy địch và đánh địch phản kích. Pháp bắn pháo 105mm, không phải ta vây họ mà họ sẽ bắn theo đủ vòng tròn. Họ có những mục tiêu tương tự ta như đầu hào và chế áp các loại hỏa lực ta.
Ví dụ như trong trận Him Lam, ta bắn 2000 viên 105mm trong đó chỉ có 500 viên bắn vào Him Lam còn 1500 viên bắn vào các trận địa pháo, chỉ huy, hậu cần địch. Pháp bắn 5000 viên chỉ để tiêu diệt vị trí ta quanh Him Lam (chưa kể các cỡ pháo 155mm, cối 120mm).

Nói pháo VM bắn như mưa là khi so sánh với pháo Pháp, để nói đạn VM bắn áp đảo Pháp bác à. Còn thì em không nói VM bắn ít.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: kimtd3f356 trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 02:20:25 PM
[quote author=_new link=topic=1936.msg269285#msg269285


Về chuyện cắm cờ. Theo em, hầm Đờ Cát là một mục tiêu rất cụ thể, quan trong và chắc chắn được giao cho một đơn vị cụ thể mà ở đây là đơn vị của cụ Tạ Quốc Luật. Ngoài tổ xông vào hầm thì có thể nói chắc chắn rằng có một tổ cầm cờ để cắm trên mục tiêu cụ thể - hầm Đờ Cát.
Vấn đề ở đây là: lúc đó cho đến nay, ta ít chú ý đến tổ cắm cờ này (như với trường hợp cụ Bùi Quang Thận. Cũng là dân Thái Bình như cụ Tạ Quốc Luật). Tất cả đều tập trung vào chiến công lần đầu tiên bắt sống được sỹ quan cấp tướng địch. Do đó, lá cờ được phất trên nóc hầm Đờ Cát chiều 7/5 sau này đã thất lạc. Thất lạc theo cả nghĩa đen và theo nghĩa quá chìm so với tổ vào hầm bắt sống tướng Đờ Cát.

[/quote]:Em nghĩ khó có thể xảy ra trường hợp thất lạc lắm bác ạ.Ngày trước vào những ngày kỷ niệm chiến thắng hay được nghe bác Luật ,bác Vinh là những người nằm trong tốp năm chiến sỹ đầu tiên vượt được qua cầu mường thanh vào bắt sống bộ chỉ huy pháp ở điện biên phủ kể chuyện thì không thấy mang cờ vào cắm .Bác Luật là đại đội trưởng cũng không thấy nói gì đến tổ cắm cờ trong đơn vị của mình ,chỉ thấy bác kể là trước khi tấn công đợt ba ,cấp trên quán triệt anh em phải nêu cao tinh thần tấn công địch,bất chấp gian khổ hy sinh tin tưởng vào chiến thắng, kiên trì chiến đấu cho đến ngày thắng lợi.Hôm đó thời cơ thuận lợi đến là được lệnh tổng công kích theo hướng sở chỉ huy của địch mà tấn công.Bắt bộ chỉ huy địch xong dẫn ra ngoài mới có bộ đội ta  vào nên việc đồng thời cả cắm cờ và cả bắt bộ chỉ huy pháp em cho là chắc không có .Mà nếu có thì thởi gian sau gần đấy họ dựng lại cảnh phất cờ làm biểu tượng của chiến thắng thì họ tìm lại được ngay vì mới chiến thắng xong chả khó khăn gì .Trận him lam chiến thắng mở đầu rất quan trọng nhưng không thể sánh với điện biên phủ được vậy mà ai cũng biết đến tiểu đội cám cờ của bác Can,bác Oanh...huống hồ là trận điện biên .Nhưng là một người từng khoác áo lính thì em thấy trận thắng nào của ta cũng có hình bóng của lá cờ quyết chiến quyết thắng tung bay ,lá cờ vinh quang đó đã thấm đẫm máu xương và công sức của biết bao nhiêu thế hệ những người lính.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 02:49:48 PM
   Lá cờ được cắm lên không chỉ biểu hiện cho chiến thắng mà nó còn mang lại niềm tự hào thiêng liêng cho những người lính đánh trận.Người lính có thể ngã xuống nhưng lá cờ trên trận địa thì không thể đổ.Khi quân ta xung phong trong các chiên dịch lớn,người xung phong đầu tiên là người cầm cờ.Người cầm cờ hy sinh người đi sau nhặt cờ lên chạy tiếp chứ không bao giờ để lá cờ nằm lại.Khi ta vào SG ngày 30/4/75 người đầu tiên chạy lên dinh Độc Lập là để cắm cờ.Nếu quả thực chiều ngày 7/5/1954 không có lá cờ nào cắm trên nóc hầm tướng D'cat thì đó thật là 1 góc buồn của lịch sử.Nhưng không vì thế mà ý nghĩ của chiến thắng ĐBP bị suy giảm.Điều này cũng có thể thông cảm được cho những chiến sỹ và bộ chỉ huy của ta vì lúc đó thời cơ trận địa đến quá nhanh quân ta không chuẩn bị kịp.Khi gần chiến thắng thì niềm vui chiến thắng đều chỗi dậy trong lòng các chiến sỹ việc quên không cắm cờ cũng là dễ hiểu.Bởi vì chiến thắng ở ĐBP có 1 ý nghĩ vô cùng trọng đại với các chiến sỹ ĐB nói riêng và với cả dân tộc ta nói chung.Chiến thắng đó chấm dứt hơn 80 năm người Pháp đô hộ dân tộc ta.Chiến thắng đó mở ra môt nền độc lập thật sự cho dân tộc ta, một dân tộc mà trong suốt 80 năm dưới chế độ thực dân Pháp chưa bao giờ biết đên cụm từ "được làm người","được tự do","hòa bình".
   Bây giờ đây việc lá cờ có được cắm lên hay không nó không còn quan trọng nữa các bác ạ.Điều quan trọng là chúng ta đã chiến thắng,đất nước chúng ta đã thực sự trở thành một nước độc lập, tự do, có chủ quyền có lãnh thổ không phụ thuộc vào bất kì nước nào.Thế hệ thanh niên chúng ta hiện nay luôn luôn khắc cốt ghi tâm những sự hy sinh của ông cha, những thế hệ "Anh Bộ Đội Cụ Hồ" đã không tiếc thân mình dành lại độc lập, tự do cho dân tộc để cho chúng ta có những ngày tháng yên binh hạnh phúc ngày hôm nay.

                                      (http://t0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSIjA37nHZTVbk8jvMQ2LfwgXwraWOX9jP3yQOL8e6SnwncnnA&t=1&usg=__gM1kVlG6AncodOopc3JklzL2x7I=)
                                         Tổ Quốc Ghi Công người lính trận
                                         Chiến đâu quên mình vì nhân dân...


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 04:26:25 PM
...
12,7            số lượng 85 khẩu

Tổng số đạn các cỡ đã tiêu thụ là 91996 viên.

Tính từ cỡ nòng nào cơ?    :-\


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 04:41:57 PM
Karmen cuối tháng 5/1954 mới sang VN, tháng 6/1954 mới lên ĐBP. Cảnh thật duy nhất liên quan tới ĐBP mà ông này quay được là lúc đoàn tù binh bị áp giải.

Hmm, nhưng hình như Schoendoerffer có viết là đã được chính Karmen mời cộng tác (Schoendoerffer từ chối) trước khi bị giải đi trại cơ mà nhỉ?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 04:48:41 PM
Điều quan trọng là chúng ta đã chiến thắng,

À, thì vưỡn, bác ạ. Tuy nhiên cũng nên tìm hiểu để tránh chuyện mỗi xã có một cái cờ Quyết chiến Quyết thắng từng bay trên hầm Đờ Cát, mỗi huyện một cái xác B-52 rơi tại chỗ ở Ngọc Hà, mỗi tỉnh có một cái xe tăng 390 đã từng húc cổng. À nhưng mà đã không quan trọng thì kể ra cũng chả sao.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 05:01:49 PM
   Bác altus nói thế thì....em chịu thua bác. :'( .Ý em là truyện có cắm cờ hay không là không quan trọng không ảnh hưởng đến ý nghĩ của chiến thắng ĐBP chứ có nói là có nên bàn về vấn đề này hay không đâu.Bác toàn nghĩ sấu cho em thôi... :'( :'(


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 07:15:38 PM
Tổng số đạn các cỡ đã tiêu thụ là 91996 viên.

Tính từ cỡ nòng nào cơ?    :-\
Tính tất cả các cỡ nòng đã liệt kê  ;D, ta còn cỡ nòng nào nữa đâu bác?

to bác kimtd3f356:
Theo em, như đã nói ở trên.
1. Trong các trận đánh tiêu diệt, tổ cắm cờ chắc chắn có. Nó vừa là để động viên cán bộ chiến sỹ xông lên phía trước, vừa biểu tượng của chiến thắng. Tổ cắm cờ không nhất thiết phải là tổ đi đầu mà theo logic sẽ là tổ đi sau (nhưng vẫn nằm trong đơn vị dao nhọn).

2. Sở dĩ trận Him Lam lá cờ được nhắc đến nhiều là vì lá cờ là biểu tượng cao nhất của chiến thắng. Còn trong trường hợp ta đang nói tới, biểu tượng ấn tượng nhất là (lần đầu tiên) bắt sống được tướng Pháp. Nếu em là cán bộ chính trị, em sẽ tập trung khai thác điểm này. Không chỉ có tầm ảnh hưởng đối với trong nước mà việc một dân tộc thuộc địa bắt sống được tướng mẫu quốc phương Tây trong một trận đánh quy ước là một điều thực sự ấn tượng và rất cụ thể, đánh trực tiếp vào tâm lý dân phương Tây.
Lá cờ tại Him Lam được nhắc đến nhiều, một phần nữa đó là do đây là lá cờ Quyết chiến - Quyết thắng được Bộ Tự lệnh trang trọng trao cho đơn vị chủ công đánh Him Lam, mở đầu chiến dịch. Cụ thể là chính ủy f312 cụ Trần Độ trao cho cụ Hà Văn Nọa đại đội trưởng c243 d11 f312. Còn về lá cờ được cắm trên hầm De Cattries. Thời điểm chiều 7/5, có dấu hiệu địch phá vũ khí là ta tổng tấn công ngay không chờ đến khi củng cố. Không thấy có nhắc đến lễ nhận cờ Quyết chiến - Quyết thắng long trọng như trong trận mở màn chiến dịch.
Có thể là vì thế mà lá cờ thực sự được phất trên hầm De Cattries chiều 7/5 ít được nhắc đến chăng.

3. Còn việc tại sao không lấy lá cờ đã cắm trên hầm De Cattries chiều 7/5 mà lấy lá cờ khác thì theo em là do: đoạn phim đó do Karmen quay. Lúc ông lên đến ĐBP thì 312 đã rút khỏi chiến trường rồi.



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 07:21:47 PM
Tính tất cả các cỡ nòng đã liệt kê  ;D, ta còn cỡ nòng nào nữa đâu bác?

Chừng ý khẩu 12.7 và 37 mà cũng chỉ bắn có vậy thôi á? Thế thì chắc là phải dẫn bằng ra đa mới bắn chính xác thế nhỉ?  :-X


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 07:24:26 PM
Tính tất cả các cỡ nòng đã liệt kê  ;D, ta còn cỡ nòng nào nữa đâu bác?

Chừng ý khẩu 12.7 và 37 mà cũng chỉ bắn có vậy thôi á? Thế thì chắc là phải dẫn bằng ra đa mới bắn chính xác thế nhỉ?  :-X
:D Em nhầm, lúc thống kê em đã tách số lượng đạn 12,7 và cao xạ ra rồi.  ;D

Lượng đạn cao xạ 37mm tiêu thụ là 31.750 viên, 12,7mm là 512.000 viên. Đây là số lượng đạn bắn lên trời chứ ít bắn vào lỏng chảo nên em không tính.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 08:44:16 PM
Theo em biết đại liên 12,7mm và cao xạ 37mm ta dùng ở ĐBP là để phòng không chư không đem vào sự dụng cho bộ binh.Cao xạ 37mm thì chẳng mấy ai để cho bộ binh sài bắn vào bộ binh địch rồi.Còn đại liên 12,7mm thì khi đó hệ thống phòng không của ta yếu nên dùng đại liên 12,7mm tăng cường nên không dùng cho bộ binh mà dùng vào phòng không.
   Trận địa 12,7mm của ta ở ĐBP
(http://maxreading.com/data/books_images/7ba46cc4989fab42b85df1cf30d8204b.jpg)
  Theo như bác altus nói thì ý bác là phải thống kê cả lượng đạn bắn của 2 loại súng phòng không này nưa à.Nhưng theo em biết thì bác _new chỉ liệt kê các loại pháo,cối mặt đất thôi chứ tính cả pháo phòng không 37mm với 12,7mm(không phải pháo) vào thì không ổn cho lắm.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: kimtd3f356 trong 09 Tháng Mười Một, 2010, 09:50:58 PM


Theo em, như đã nói ở trên.
1. Trong các trận đánh tiêu diệt, tổ cắm cờ chắc chắn có. Nó vừa là để động viên cán bộ chiến sỹ xông lên phía trước, vừa biểu tượng của chiến thắng. Tổ cắm cờ không nhất thiết phải là tổ đi đầu mà theo logic sẽ là tổ đi sau (nhưng vẫn nằm trong đơn vị dao nhọn).

:bác new@:Thực tế diễn ra mà có được một tổ hoàn thành được công việc đó trong hoàn cảnh chiến đấu ác liệt ,dai dẳng dài ngày ,nhiều gian khổ hy sinh mà chưa biết lúc nào chiến thắng thì tuyệt vời còn gì bằng .Em thuộc thế hệ lính biên giới chống tq lần 2 nên sau các vị tiền bối đánh pháp rất nhiều nên cũng chỉ biết thông tin từ sách ,báo ,từ các nhân chứng sống kể lại trên ti vi rồi tự nghĩ vậy thôi ,xem trên phim ảnh thấy có người cầm cờ trèo lên hầm để phất lúc chiến thắng nhưng tìm tên tuổi thì không ra ,đọc ở lịch sử sư 312 thời đánh pháp cũng không thấy ,các nhân chứng kể chuyện thì không thấy nói đến,đành bó tay .Nếu bác tìm được tài liệu nào cụ thể ,chính xác về việc tìm ra được người phất cờ chiến thắng vào thời khắc lịch sử đó thì đăng lên để anh em cùng chia vui nhé .Thời gian tuy đã hơn nửa thế kỷ nhưng với một việc đáng nhớ thế này nhất định phải có đâu ghi chếp lại chứ .


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 10 Tháng Mười Một, 2010, 12:42:10 PM
to bác kimtd3f356:
Cơ sở của em chỉ là từ suy luận và đúc kết từ những gì đọc được. Em nói chắc chắn có tổ cắm cờ vì đó là tổ chức của một đơn vị đánh công kiên. Cũng có dành thời gian đọc và tìm hiểu, em chưa thấy trận công kiên nào không có tổ cắm cờ hay không có cờ cắm trên cứ điểm dịch sau khi bị tiêu diệt. Ngay những trận con con cũng đều có phất cờ và chui vào hầm bắt chỉ huy thì thực ít có khả năng các cụ nhà ta không làm điều đó với mục tiêu quan trọng nhất trong chiến dịch ĐBP là hầm De Castries. Khi mà cờ của ta ở ĐBP không phải chỉ có một hay hai cái.
Tài liệu sách báo nói về việc "cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm Đờ Cát chiều 7/5" thì tìm được. Còn thì tài liệu cụ thể chính xác người phất cờ chiến thắng vào thời khắc lịch sử đó thì vẫn đang là ngoài khả năng của em.
Sách báo nói có phất cờ em sẽ tìm và đưa lên (em nghĩ tìm được không khó) và có lẽ không có sách báo tài liệu nào khẳng định là không phất cờ cả. Ở đây anh em ta đều nói trên cơ sở suy luận. Vậy nên ta cứ đưa suy luận lên hết mức có thể, thiết nghĩ đó cũng đã là một điều hay.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: kimtd3f356 trong 10 Tháng Mười Một, 2010, 01:42:43 PM

to bác New:Để hôm nào thằng bạn em dưới hà nội nó vào bảo tàng lịch sử quân sự việt nam xem có thấy trưng bày không ,nếu có sẽ bảo nó chụp ảnh đưa lên xem bác ạ.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: hungnguyen0360 trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 04:07:01 PM
Tôi gửi bác một đoạn hồi kí của một CCB :
 Những ngày cuối cùng trên chiến trường Điện biên
 Ngày 6/5: chiều ngày 6 tôi được BTL tiền phương gọi lên trao nhiệm vụ:Bây giờ đ/c về tổ chức 1 tổ làm n/v sau đây,hiện nay bên đầu cầu còn một đơn vị địch chốt giữ,BTL giao cho 1 đơn vị của ta có trách nhiệm nhổ chốt đó ngay tối nay để tổ của đ/c vào làm nhiệm vụ,đ/c tổ chức anh em cơm nước xong lên đồi E quan sát địa hình khi đơn vị của ta nhổ được chốt đầu cầu sẽ vào nghiên cứu đường vào hầm Đ cát.
  Lúc này trên chiến trường các vị trí xung quanh ta đã nhổ bật hết,lực lượng địch dồn lại giữa cánh đồng,như thế rồi đến đêm ta cũng không nhổ được chốt đó.Tôi về báo cáo lại,các đ/c trong BTL bảo là đã biết rồi,tôi về nghỉ thì trưa ngày 7/5 BTL lại gọi tôi lên nhận lệnh:Hôm nay đơn vị đánh đầu cầu có được hay không ,tổ của tôi củng phải vào và hoàn thành nhiệm vụ tổ nghiên cứu về địch.
  -đường vào nằm trong vị trí của địch,địch còn nhiều.
   -có rất nhiều các loại mìn.
   -tất cả địch dồn về nằm dưới mặt ruộng nên có rất đông quân địch,hào rất sâu nên nếu bị phát hiện rất khó thoát.
    còn một điều nữa là hôm nay cả ngày lúc nào cũng có 1 chiếc Đa cô ta bay trên cánh đồng Điện biên,cái này về thì cái khác lên thay thế.
   Khi chúng tôi bò vào còn cách sở chỉ huy địch 200m tôi phát hiện cả chiến trường giống như một tổ mối khổng lồ bị ngập nước vỡ tung ra ,tất cả các hầm đều có một vật mà ta thường gọi là cờ trắng xin hàng,quân địch từ dưới hầm tràn lên khắp cả chiến trường xin hàng.
   Lúc này đơn vị trinh sát của sư đoàn có 1 đài quan sát trên đồi E và tổ của tôi đã vào gần sở chỉ huy của địch,Bộ tham mưu của dịch đã ra gần đến đầu cầu họ thấy chúng tôi chỉ có 4 người,4 khẩu tiểu liên tiến vào họ chủ động tránh ra 1 bên đường,để chúng tôi vào sở chỉ huy địch,vào đến nơi tôi cho anh em kiểm tra thu giữ toàn bộ tài liệu,đem về giao lại cho sư đoàn .
  Hôm sau tôi được bố trí dẫn đoàn cố vấn quân sự nước ngoài nghiên cứu, ghi chép,chụp ảnh khu vực hầm ngầm của đich.


    Bác thử tìm tài liệu của Pháp coi có chi tiết nào về việc tướng Đ cát bị bắt sống không?Tôi bảo tướng Đ cát bị ông Luật bắt sống,sách vở đều ghi vậy,ông cụ nhà tôi vẫn không tin.
 (  các bác có thể kiểm chứng sdt 03503938675 gặp ông Nguyễn văn Ngưu)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 08:03:41 PM
Em cũng nghe nói chuyện nhiều chiến sĩ ta "nhìn thấy" ::) tướng Đờ Cát ở bờ sông. Tuy nhiên thuyết này bị "đả" khá mạnh. Ví dụ như bài này: http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1936.msg147534.html#msg147534

Đáng tiếc là tướng Đờ Cát không còn.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vmt trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 08:54:11 PM
Đây là một bài viết đang đăng ở ở báo dân trí cũng có hơi liên quan một chút tới mấy vấn đề trên ,các bác tham khảo nhé:
                                                      Thứ năm, 07/05/2009       14:06
Tình người nơi rốn chiến địa Điện Biên Phủ
(Dân trí) - Quan tư của Pháp, Thiếu tá Gờ-rô-oanh (Grawin) sững người khi nghe một sĩ quan Việt Nam nghiêm giọng: “Ông phải quay lại tiếp tục cứu chữa thương binh của các ông!”. Gờ-rô-oanh không ngờ vì sao giữa khói lửa, đội quân chiến thắng đã nghĩ ngay tới việc cứu giúp kẻ thù…

Binh lính Pháp được cứu chữa ở chiến trường Điện Biên Phủ (Ảnh tư liệu)
 

Tháng 5/1954, khi quân ta mở đợt tiến công thứ ba vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, vào những ngày giao tranh cuối cùng ác liệt với Pháp, một sự kiện chưa từng có trong chiến tranh Đông Dương đã xảy ra: Mỹ can thiệp với một lực lượng không quân hùng hậu trút bom tấn, bom cháy, bom bi với mật độ dày đặc xuống Điện Biên Phủ nhằm hủy diệt bộ đội ta trên mặt đất cũng như trong các hầm hào. Đây là thời cơ Mỹ phô trương sức mạnh quân sự của mình.

 

Mưa bom của máy bay Mỹ cản trở hoạt động của bộ đội ta cả về tác chiến, thông tin liên lạc chỉ huy lẫn tiếp tế hậu cần ở hướng Đông Bắc Điện Biên, nơi Đại đoàn 312 đang chiến đấu. Cho tới sáng 7/5, cho dù quân Pháp đã bước vào giờ phút hấp hối bởi đã mất cứ điểm A1- C2 trên dãy đồi phía Đông, máy bay Mỹ vẫn tiếp tục hai loạt bom tấn xuống khu vực chỉ huy sở của đại đoàn trên đồi Đ.

 

Mười bốn giờ chiều 7/5, đại đội 525 do Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 154 Ngô Trọng Bảo chỉ huy dũng cảm và táo bạo nổ bộc phá dọn đường đánh chiếm được đồn 507 rồi 508. Và bộ binh ta tiến sát chỉ huy sở của tướng giặc, chỉ còn cách hầm Đờ-cát vỏn vẹn 200 mét.

 

Ban chỉ huy Trung đoàn 209 nhận được tin thắng trận, liền điều động ngay Đại đội 360 của Tạ Quốc Luật tới tiếp sức với mũi của Tiểu đoàn phó Ngô Trọng Bảo. Phát hiện cờ trắng xuất hiện trong Mường Thanh, Ngô Trọng Bảo ra lệnh cho Đại đội 360 tiến nhanh qua cầu sắt vào thẳng chỉ huy sở của địch. Vào lúc 16 giờ 40 ngày 7/5, tướng Đờ-cát đã bị giải ra khỏi căn hầm có bọc nóc sắt.

 

Thiếu tá Gờ-rô-oanh khi đó đứng bên trái tướng Đờ-cát, bỗng thấy có một “sỹ quan Việt Nam có đôi mắt xếch, đen và sắc sảo, đội mũ sắt màu xanh hỏi bằng tiếng Pháp: Ở đây ai là người phụ trách quân y?”. Ông bước ra đứng trước mặt người chỉ huy đó.

 

Ngô Trọng Bảo nghiêm giọng: “Ông phải quay lại tiếp tục cứu chữa thương binh của các ông!”. Nghe lệnh này, viên quan tư Gờ-rô-oanh ngỡ ngàng, không ngờ vì sao giữa khói lửa, đội quân chiến thắng đã nghĩ ngay tới việc cứu giúp kẻ thù.

 
Hồi ký của Gờ-rô-oanh sau này còn ghi rõ: “Các thương binh của tôi. Tôi đã bỏ quên họ. Làm sao tôi lại bỏ quên họ được nhỉ”. Viên quan tư nói ông ta chả có gì trong tay cả. Tiểu đoàn phó Ngô Trọng Bảo rút trong xà cột ra giấy bút, viết một giấy phép cho Gờ-rô-oanh được sử dụng bốn xe GMC chiến lợi phẩm, dặn cắm cờ hồng thập tự, rồi đi quy tập mọi thương binh và dụng cụ y tế về một bãi đất phẳng cạnh sông Nậm Rốm để kịp thời cứu chữa.
 

Thiếu tá Gờ-rô-oanh (trái) đang băng bó cho thương binh của mình (Ảnh tư liệu)
 

Sau này, viên quan tư có nói, mệnh lệnh lúc đó của viên sĩ quan Việt Nam là mệnh lệnh Lương Tâm. Đó là tình người nơi chiến trận. Còn Ngô Trọng Bảo thì kể rằng, có thể văn hoá Việt Nam ngấm vào máu thịt để con người ta đưa ra những quyết định lúc khẩn cấp, nhân văn nhất ngay cả với kẻ thù.

 

Sau đó cấp trên đã cử bác sĩ Đặng Hiếu Trưng (sau này là Giáo sư Tiến sĩ, Trưởng khoa Tai Mũi Họng - Bệnh viện 108) lên Điện Biên Phủ phụ trách chung để giải quyết các vấn đề về thương binh Pháp. Lên tới nơi, ông ngạc nhiên thấy giữa cảnh chiến trận còn ngổn ngang đã sớm xuất hiện một trạm cấp cứu tiền phương khang trang, nhộn nhịp bên bờ Nậm Rốm. Giáo sư Huard được Pháp cử lên Điện Biên đón thương binh cũng ca ngợi sự hỗ trợ nhân đạo kịp thời của trạm cứu thương tiền phương này.

 

…55 năm sau ngày chiến thắng Điện Biên Phủ vẻ vang ấy, “viên sỹ quan Việt Nam có đôi mắt xếch, đen và sắc sảo, đội mũ sắt màu xanh” trong hồi ký Gờ-rô-oanh sống âm thầm một mình trong một căn hộ tập thể ngăn đôi trong khu tập thể Giảng Võ (Hà Nội), không đòi lịch sử phải vinh danh mình với vị trí người chỉ huy có đóng góp quyết định trong giây phút đánh bại tập đoàn cứ điểm Pháp. Mọi ghi chép chỉ tôn vinh anh hùng Tạ Quốc Luật là người bắt sống tướng Đờ-cát, và gạt người chỉ huy thực sự của trận đánh quyết định này ra ngoài lịch sử Điện Biên Phủ.

 

Cho đến khi cuốn hồi ức “Điện Biên Phủ - điểm hẹn của lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra mắt bạn đọc, trong đó viết rõ về trận đánh cuối cùng tiêu diệt cứ điểm Điện Biên Phủ, và vai trò chỉ huy của Tiểu đoàn phó Ngô Trọng Bảo, thì ông mới nghẹn ngào ứa nước mắt kêu lên: “Vậy là sự thật lịch sử đã được chứng minh!”.

 

Những chiến binh già có cách kỷ niệm chiến thắng Điện Biên riêng theo cách của mình. Không biết đến những lễ kỷ niệm nhiều hoa, những bài phát biểu dài, những ông già gặp nhau, nhắc lại kỷ niệm cũ hào hùng và rưng rưng, họ là đồng đội Điện Biên mãi mãi, họ tự hào là họ luôn đứng về phía con người.

 

Thỉnh thoảng, một người bạn chiến đấu của Ngô Trọng Bảo là Trung tá Sơn Hà, Trưởng ban Trinh sát Trung đoàn ngày xưa lại chạy tới thăm ông, hai ông già ăn cùng nhau một bữa cơm đạm bạc trong gian buồng nhỏ. Còn ngày thường ông nuôi một con mèo vàng, ông lọ mọ đi chợ nấu cơm, nấu một bữa, người và mèo ăn hai ngày.

 

(Dựa theo tập hồi ký “Tôi từng là thầy thuốc tại Điện Biên Phủ” của quan tư Gờ-rô-oanh - Chủ nhiệm Quân y tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ và lời kể của Trung tá Ngô Trọng Bảo, Trung tá Sơn Hà)

 

Trang Hạ




Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: fanlong74 trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 10:00:57 PM
Ban chỉ huy Trung đoàn 209 nhận được tin thắng trận, liền điều động ngay Đại đội 360 của Tạ Quốc Luật tới tiếp sức với mũi của Tiểu đoàn phó Ngô Trọng Bảo. Phát hiện cờ trắng xuất hiện trong Mường Thanh, Ngô Trọng Bảo ra lệnh cho Đại đội 360 tiến nhanh qua cầu sắt vào thẳng chỉ huy sở của địch. Vào lúc 16 giờ 40 ngày 7/5, tướng Đờ-cát đã bị giải ra khỏi căn hầm có bọc nóc sắt.

 

Thiếu tá Gờ-rô-oanh khi đó đứng bên trái tướng Đờ-cát, bỗng thấy có một “sỹ quan Việt Nam có đôi mắt xếch, đen và sắc sảo, đội mũ sắt màu xanh hỏi bằng tiếng Pháp: Ở đây ai là người phụ trách quân y?”. Ông bước ra đứng trước mặt người chỉ huy đó.

 
Tài liệu bác đưa ra không khác gì nội dung mà nhóm của cụ Bảo đã đưa ra và bị phản biện mạnh mẽ (trong link của chiangsan). Theo Jules Roy ở đây (http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1355.90.html) thì Grauwin chẳng hề đứng bên trái tướng Castries và phải đi qua sông mới được yêu cầu quay lại.
Với những tài liệu hiện có, tôi thấy thông tin cụ Bảo và những người phía cụ đưa ra thiếu tính thuyết phục. Báo mạng thì (như chúng ta đã và đang thấy) chỉ làm công tác nhai lại là chính!


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vmt trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 11:04:45 PM
 Báo mạng thì (như chúng ta đã và đang thấy) chỉ làm công tác nhai lại là chính!
[/quote]:Cũng không hoàn toàn như vậy bác ạ ,mình đang tham khảo tìm kiếm thì mọi thứ liên quan cũng cần được suy xét ,ở đây có nói đến hồi ký của viên quan tư pháp phụ trách quân ycủa chúng ở ĐbP nếu ai mà có nó đưa nên thì mình cũng có thêm một ít thông tin về trường hợp bắt của đờ cát.Chính sử của ta đều nói bác Luật dẫn 4 chiến sỹ ta vào bắt đờ cát tại hầm nhưng cũng có một số người nói khác đi ,ta cũng cần tìm hiểu xem phía tù binh pháp nói gì ,bài trước có cái địa chỉ này:
(Dựa theo tập hồi ký “Tôi từng là thầy thuốc tại Điện Biên Phủ” của quan tư Gờ-rô-oanh - Chủ nhiệm Quân y tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ...)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: hungnguyen0360 trong 11 Tháng Mười Một, 2010, 11:09:40 PM
Những chiến binh già có cách kỷ niệm chiến thắng Điện Biên riêng theo cách của mình. Không biết đến những lễ kỷ niệm nhiều hoa, những bài phát biểu dài, những ông già gặp nhau, nhắc lại kỷ niệm cũ hào hùng và rưng rưng, họ là đồng đội Điện Biên mãi mãi, họ tự hào là họ luôn đứng về phía con người.

 

Thỉnh thoảng, một người bạn chiến đấu của Ngô Trọng Bảo là Trung tá Sơn Hà, Trưởng ban Trinh sát Trung đoàn ngày xưa lại chạy tới thăm ông, hai ông già ăn cùng nhau một bữa cơm đạm bạc trong gian buồng nhỏ. Còn ngày thường ông nuôi một con mèo vàng, ông lọ mọ đi chợ nấu cơm, nấu một bữa, người và mèo ăn hai ngày.


  Bác nào có địa chỉ,sdt của Cụ bảo ,cụ Hà cho em xin,cụ là trinh sát nòi của 312 vào Đb từ trước tết nguyên đán. Emthu xếp cho các cụ gặp nhau xem có nhận ra nhau không?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vmt trong 12 Tháng Mười Một, 2010, 06:44:14 AM
To Hungnguyen03:bài đó em cóp từ địa chỉ này :
 http://dantri.com.vn/c20/s20-323583/tinh-nguoi-noi-ron-chien-dia-dien-bien-phu.htm


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: Ảo Ảnh Màu Cỏ Úa trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 12:19:35 AM
Giờ có một số cụ đi đòi công lao, vất vả quá nhỉ. Thấy xe tăng 390 được công nhận nên nghĩ rằng mình cũng thử một lần xem sao.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: kimtd3f356 trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 07:44:45 AM
Giờ có một số cụ đi đòi công lao, vất vả quá nhỉ. Thấy xe tăng 390 được công nhận nên nghĩ rằng mình cũng thử một lần xem sao.
:Việc đó theo tôi nghĩ có gì sai đâu miễn là phải đúng sự thật .Giả sử chiếc tăng 390 kia nếu không có ảnh chụp trực tiếp thì liệu ai công nhận nó và mọi người thì vẫn cứ bị nhầm .Sự thật đôi khi khong giống những gì mà ta biết.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: saruman trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 10:51:25 AM
Các bác cho hỏi: KQ Mĩ đã yểm trợ cho Pháp bao nhiêu máy bay và phi vụ (do phi công Mĩ trực tiếp lái).


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 04:08:29 PM
Giờ có một số cụ đi đòi công lao, vất vả quá nhỉ. Thấy xe tăng 390 được công nhận nên nghĩ rằng mình cũng thử một lần xem sao.
Bạn Ảo Ảnh Màu Cỏ Úa  a` bạn nên biết cái xe đó mà không có người lái thì chỉ là đống sắt thôi không?.Cái xe tăng 390 nó húc đổ được cổng dinh Độc Lập là do người lái nó chứ nó không tự húc được.Đáng nhẽ ra chúng ta phải nói là :xe tăng 390 do các đồng chí xx chỉ huy,đồng chí xx lái xe,đồng chí xx pháo thủ 1...  đã húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 mới đúng.Vì sao thì tôi đã nói rồi.Bây giờ các cựu chiến binh đi đòi lại công lao( văn hoa là trả lại sự thật cho lịch sử theo đúng nghĩa) là hoàn toàn đúng.Cái gì có thể sai nhưng lịch sử thì không thể sai dù chỉ là 1 chi tiết nhỏ.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 04:11:18 PM
Giờ có một số cụ đi đòi công lao, vất vả quá nhỉ. Thấy xe tăng 390 được công nhận nên nghĩ rằng mình cũng thử một lần xem sao.
Bạn Ảo Ảnh Màu Cỏ Úa  a` bạn nên biết cái xe đó mà không có người lái thì chỉ là đống sắt thôi không?.Cái xe tăng 390 nó húc đổ được cổng dinh Độc Lập là do người lái nó chứ nó không tự húc được.Đáng nhẽ ra chúng ta phải nói là :xe tăng 390 do các đồng chí xx chỉ huy,đồng chí xx lái xe,đồng chí xx pháo thủ 1...  đã húc đổ cổng dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 mới đúng.Vì sao thì tôi đã nói rồi.Bây giờ các cựu chiến binh đi đòi lại công lao( văn hoa là trả lại sự thật cho lịch sử theo đúng nghĩa) là hoàn toàn đúng.Cái gì có thể sai nhưng lịch sử thì không thể sai dù chỉ là 1 chi tiết nhỏ.

May quá, nhà ta không có tàu sân bay.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ngoduythiet trong 14 Tháng Mười Một, 2010, 04:53:07 PM
Em biết ý bác chiangshan rồi. :'(.Ý em muốn nói là vấn đề sự thật về cái xe tăng 390 cần được làm rõ ai đã lái nó.Chứ em đâu có ý như bác nói.Nếu mà theo ý bác thì phải kể tên từng người trong các trận đánh lơn thì kể bao nhiêu cho hết.Mà cái đó thì trong hồ sơ lý lịch các đơn vị cũng có ghi đầy đủ tên tuổi của các chiến sỹ trong đơn vị,ghi cả năm sinh,quê quán, ngày nhập ngũ...v.vv.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 06:49:28 AM
Cũng không hoàn toàn như vậy bác ạ ,mình đang tham khảo tìm kiếm thì mọi thứ liên quan cũng cần được suy xét ,ở đây có nói đến hồi ký của viên quan tư pháp phụ trách quân ycủa chúng ở ĐbP nếu ai mà có nó đưa nên thì mình cũng có thêm một ít thông tin về trường hợp bắt của đờ cát. Chính sử của ta đều nói bác Luật dẫn 4 chiến sỹ ta vào bắt đờ cát tại hầm nhưng cũng có một số người nói khác đi ,ta cũng cần tìm hiểu xem phía tù binh pháp nói gì ,bài trước có cái địa chỉ này:
(Dựa theo tập hồi ký “Tôi từng là thầy thuốc tại Điện Biên Phủ” của quan tư Gờ-rô-oanh - Chủ nhiệm Quân y tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ...)

Đây là trang nói về những sự kiện liên quan tời vụ bắt Đờ Cát trong sách của Gờ-rô-oanh.

J'etais  médecin à Dien-Bien-Phu, Médecin Commandant Grauwin, Édition FRANCE-EMPIRE, 1954.

Phần xanh xanh nói rằng Grauwin đang đứng trong hầm phẫu, nhìn ra cửa hầm thì thấy quân ta xông vào. Một lúc sau thì quân ta quay trở ra, đi giữa là Đờ Cát và toàn bộ ban tham mưu.

Vụ bác gì gọi Grauwin lại xảy ra mãi sau, lúc Grauwin đang đi cùng đội y sỹ của mình.

Trích dẫn
Ngô Trọng Bảo nghiêm giọng: “Ông phải quay lại tiếp tục cứu chữa thương binh của các ông!”

Grauwin chép là “Ông phải quay lại tiếp tục cứu chữa thương binh của các ông! Đây là lệnh của Tổng chỉ huy Quân đội chúng tôi.”

Trích dẫn
Viên quan tư nói ông ta chả có gì trong tay cả. Tiểu đoàn phó Ngô Trọng Bảo rút trong xà cột ra giấy bút, viết một giấy phép cho Gờ-rô-oanh được sử dụng bốn xe GMC chiến lợi phẩm, dặn cắm cờ hồng thập tự, rồi đi quy tập mọi thương binh và dụng cụ y tế về một bãi đất phẳng cạnh sông Nậm Rốm để kịp thời cứu chữa.
 
Sau này, viên quan tư có nói, mệnh lệnh lúc đó của viên sĩ quan Việt Nam là mệnh lệnh Lương Tâm. Đó là tình người nơi chiến trận. Còn Ngô Trọng Bảo thì kể rằng, có thể văn hoá Việt Nam ngấm vào máu thịt để con người ta đưa ra những quyết định lúc khẩn cấp, nhân văn nhất ngay cả với kẻ thù.

Những chi tiết này Grauwin sau này nói ở đâu không rõ, nhưng trong hồi ký thì không thấy có.



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: altus trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 06:59:02 AM
Trang sau.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vmt trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 03:18:17 PM
Như vậy là theo hồi ký của viên sỹ quan Gờ-rô-oanh này thì rõ ràng Đờ cát và toàn bộ ban tham mưu của hắn bị quân ta bắt sống tại hầm chỉ huy và dẫn giải ra ngoài..



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: fanlong74 trong 03 Tháng Mười Hai, 2010, 09:02:55 PM
Cảm ơn bác Altus đã cung cấp tài liệu quý giá, Vậy là nhà báo Trang Hạ làm cái điều còn tệ hơn cả việc 'nhai lại" nữa  >:( Thật tiếc và buồn cho những gì mà cụ Bảo và nhóm của cụ đã làm vào lúc cuối đời. Thật đáng giận cho những nhà báo thiếu cả tâm lẫn tầm đã góp phần "làm mờ" những trang sử hào hùng của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vmt trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 09:30:04 PM
Cảm ơn bác Altus đã cung cấp tài liệu quý giá, Vậy là nhà báo Trang Hạ làm cái điều còn tệ hơn cả việc 'nhai lại" nữa  >:( Thật tiếc và buồn cho những gì mà cụ Bảo và nhóm của cụ đã làm vào lúc cuối đời. Thật đáng giận cho những nhà báo thiếu cả tâm lẫn tầm đã góp phần "làm mờ" những trang sử hào hùng của dân tộc.

:Thật ra mà nói thì những sự viêc xảy ra trong chiến tranh nhiều khi tìm được một bằng chứng xác đáng để khẳng định chính xác  một vụ việc quả thật là khó vô cùng vì không phải lúc nào cũng có máy ảnh để chụp hay máy ghi âm để ghi lại mà khoảnh khắc lịch sử thì trôi qua rất nhanh không quay lại ,có những nhân chứng lịch sử đôi khi vì cái (tôi ) của mình hoặc là không nắm rõ vụ việc  nên nhiều khi đã đưa ra những thông tin thiếu chính xác ,tuy nhiên cũng không phải là không có những vấn đề mà thế hệ sau khi xem xét vụ việc phải cân nhắc suy nghĩ và phải tự mình đánh giá hoặc là (treo) ở đấy để tìm hiểu thêm như trường hợp của Dphó Bảo thì trước kia rất nhiều người phủ nhận việc Dphó Bảo đã ra lệch cho Ctrưởng Luật dẫn bộ đội vào bắt bộ chỉ huy địch vì cho rằng ông ấy không phải là thủ trưởng trực tiếp của Ctrưởng Luật nhưng trong hồi ký (Điện biên phủ -điểm hẹn của lịch sử )của đại tướng Võ Nguyên Giáp lại có đoạn viết :
(Tại trận địa, đại đội 360 của tiểu đoàn 130, có chính trị viên tiểu đoàn Trần Quải đi cùng, đã có mặt ở cứ điểm 508. Tiểu đoàn phó Ngô Trọng Bảo cho các lực lượng của 154 tiến sang cứ điểm 509, cứ điểm cuối cùng bảo vệ cầu Mường Thanh, rồi trao đổi với chính trị viên Trần Quải, lệnh cho đại đội 360 tiến vào khu trung tâm, nơi lửa khói của những đám cháy mỗi lúc càng bốc cao.
 Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật lập tức dẫn đại đội 360 luồn dưới làn đạn của nhưng khẩu trọng liên bốn nòng, băng qua cầu Mường Thanh. Nhận thấy quân địch hầu như không chống cự, Tạ Quốc Luật cho bộ đội rời giao thông hào đầy âp quân địch, nhảy lên mặt đất, dùng một lính ngụy dẫn theo đường tắt tiến thật nhanh tới sở chỉ huy của Đờ Cát)...


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: fanlong74 trong 06 Tháng Mười Hai, 2010, 05:29:39 PM
Thật ra mà nói thì những sự viêc xảy ra trong chiến tranh nhiều khi tìm được một bằng chứng xác đáng để khẳng định chính xác  một vụ việc quả thật là khó vô cùng vì không phải lúc nào cũng có máy ảnh để chụp hay máy ghi âm để ghi lại mà khoảnh khắc lịch sử thì trôi qua rất nhanh không quay lại ,có những nhân chứng lịch sử đôi khi vì cái (tôi ) của mình hoặc là không nắm rõ vụ việc  nên nhiều khi đã đưa ra những thông tin thiếu chính xác ,tuy nhiên cũng không phải là không có những vấn đề mà thế hệ sau khi xem xét vụ việc phải cân nhắc suy nghĩ và phải tự mình đánh giá hoặc là (treo) ở đấy để tìm hiểu thêm như trường hợp của Dphó Bảo thì trước kia rất nhiều người phủ nhận việc Dphó Bảo đã ra lệch cho Ctrưởng Luật dẫn bộ đội vào bắt bộ chỉ huy địch vì cho rằng ông ấy không phải là thủ trưởng trực tiếp của Ctrưởng Luật nhưng trong hồi ký (Điện biên phủ -điểm hẹn của lịch sử )của đại tướng Võ Nguyên Giáp lại có đoạn viết :
(Tại trận địa, đại đội 360 của tiểu đoàn 130, có chính trị viên tiểu đoàn Trần Quải đi cùng, đã có mặt ở cứ điểm 508. Tiểu đoàn phó Ngô Trọng Bảo cho các lực lượng của 154 tiến sang cứ điểm 509, cứ điểm cuối cùng bảo vệ cầu Mường Thanh, rồi trao đổi với chính trị viên Trần Quải, lệnh cho đại đội 360 tiến vào khu trung tâm, nơi lửa khói của những đám cháy mỗi lúc càng bốc cao.
 Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật lập tức dẫn đại đội 360 luồn dưới làn đạn của nhưng khẩu trọng liên bốn nòng, băng qua cầu Mường Thanh. Nhận thấy quân địch hầu như không chống cự, Tạ Quốc Luật cho bộ đội rời giao thông hào đầy âp quân địch, nhảy lên mặt đất, dùng một lính ngụy dẫn theo đường tắt tiến thật nhanh tới sở chỉ huy của Đờ Cát)...

Máy ảnh, máy ghi âm thì không nhưng những giờ phút của trận chiến tàn chắc chắn hằn sâu vào ký ức của những kẻ chiến bại. Và với phong cách phương Tây, khó mà có chuyện xuyên tạc tài liệu của đồng đội mình. Bởi thế các tài liệu của phía bên kia cơ bản là giống nhau.
Còn phía ta, một cán bộ trinh sát đã hy sinh tuổi xuân cho đất nước, bỗng nhiên xây dựng những huyền thoại về mình với sự tiếp tay của đám bồi bút. Đau lòng là chỗ đó đấy bác. Còn chuyện cụ Bảo ra lệnh thì có người bác, có người bênh, nói chung là đang tranh cãi và tranh cãi về điều này hoàn toàn hợp lý (Nếu như không lòi truyền thuyết mới về thời điểm đầu hàng của chỉ huy tập đoàn cứ điểm ĐBP)
Chỉ vì một điểm sai sót trong lịch sử mà ngụy tạo một điểm sai sót khác trong lịch sử và buồn thay việc ngụy tạo lại được tung hô như là một hành động đính chính lịch sử. Họ không ngờ là đã làm hủy diệt lòng tin trong giới trẻ vào chính bản thân họ


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vmt trong 06 Tháng Mười Hai, 2010, 06:26:35 PM
Cái kihó là trong một vài chuyện thực thì lẫn vào đó là một số chuyện rất khó xác định ,họ đều là những cựu chiến binh Điện biên thực sự và có đóng góp công lao của mình vào chiến thắng lẫy lừng của dân tộc ,những chuyện của họ thì kể cả những cơ quan có thẩm quyền với đầy một kho tư liệu cũng phải thận trọng suy xét đúng sai ,còn ta là thế hệ sau đôi khi cũng thấy buồn và chỉ dám tự cảm nhận vụ việc theo cách hiểu của mình  cho riêng mình chờ đến khi có được những thông tin chính xác mà thội...


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 04:10:59 PM
(http://img502.imageshack.us/img502/9620/47601538.jpg)

Tôi thấy bức ảnh trên được đăng ở nhiều sách với chú thích là ở hang Thẩm Púa (ví dụ cuốn Điện Biên Phủ của đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 2010 hoặc cuốn Chuyện những người làm nên lịch sử). Gần đây đọc được một bài viết xác minh địa điểm bức ảnh trên ở quyển "Những kỉ vật kháng chiến" tập 5, xin giới thiệu lại:

XÁC MINH BỨC ẢNH SỞ CHỈ HUY THỨ HAI
CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

Bức ảnh được in từ phim của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, kí hiệu P.1109, chú thích: “Tại Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ Mường Phăng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ năm 1954”. Chú thích trên chưa đúng.

Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ đóng ở 3 địa điểm: địa điểm 1 ở khu vực hang Thẩm Púa, chân dãy núi ở Pú Hồng, xã Búng Lao, huyện Tuần Giáo tỉnh Lai Châu cũ, từ ngày 7 tháng 12 năm 1953 đến ngày 17 tháng 1 năm 1954. Địa điểm thứ 2 ở “một khu rừng ngang cây số 62 (cũ), gần bản Nà Tấu” từ ngày 18 đén ngày 30 tháng 1 năm 1954. Địa điểm thứ 3 ở khu vực núi Phăng dãy Phu Huốt, xã Mường Phăng huyện Điện Biên, từ ngày 31 tháng 1 đến ngày 15 tháng 5 năm 1954. Ở địa điểm 1, Bộ chỉ huy chiến dịch chủ yếu làm việc tại lán và hầm.

Nhìn vào bức ảnh mang kí hiệu P.1109, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Bộ chỉ huy chiến dịch đang làm việc bên bờ suối có những hòn đá rất to. Đầu dòng suối có thác nước trắng xóa. Một chiến sĩ đứng gác trên một hòn đá to ở góc trái ảnh.

Căn cứ Quyết định số 4651/QĐ, ngày 5 tháng 6 năm 2003 của Tổng cục Chính trị, ngày 7 tháng 6 năm 2003, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ chức khảo sát một số điểm di tích Điện Biên Phủ, trong đó có Sở chỉ huy thứ hai của chiến dịch, giúp Ban quản lí dự án di tích. Nhân chứng có Đại tá Nguyễn Huy Văn - nguyên Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn thông tin 303, trực tiếp đảm bảo thông tin hữu tuyến từ Sở chỉ huy xuống các đại đoàn. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam có: Thiếu tướng Lê Mã Lương - Giám đốc, Đại tá Hoàng Lâm - Trợ lí giám đốc, Địa úy Đào Duy Nam - Trợ lí bảo tồn di tích, đồng chí Vũ Nam Hải -Phó Ban quản lí dự án di tích Điện Biên Phủ

Từ thành phố Điện Biên Phủ, theo đường Điện Biên - Tuần Giáo (đường 279) ô tô đưa đoàn khảo sát đến bản Nà Tấu cũ. Đại tá Nguyễn Huy Văn ra hiệu dừng lại. Cả đoàn xuống xe. Nhìn không gian bên trái, sông Nậm Rốm xa đường ô tô, cách một cánh đồng mới tới chân núi, Đại tá Huy Văn lắc đầu: không phải, sông và đường phải sát nhau, lội qua sông chỉ rặt là rừng. đại tá Huy Văn ra hiệu lùi xe lại đến cột số 25, tính từ thành phố Điện Biên, Đại tá Huy Văn ra hiệu dừng xe lần hai. Các thành viên xuống xe. Quan sát bên trái: sông Nậm Rốm liền đường, một cầu treo bắc qua sông. Bên kia cầu là núi, có nhiều nhà dân. Chân núi là các thửa ruộng bậc thang. Dưới thấp có dòng suối uốn lượn đổ ra sông Nậm Rốm. Đại tá Huy Văn mời cả đoàn qua cầu treo.

Gặp một người đàn ông khoảng 65 tuổi đang đắp lại bờ ruộng, Đại tá Huy Văn đến gần hỏi thăm:

- Chào bác, bác có biết đường vào đầu con suối có thác nước cao không?

Người đàn ông ngạc nhiên nhìn đoàn người già có, trẻ có, mặc quân phục có, mặc thường phục có và trả lờ gọng lơ lớ:

- Có biết, nhưng hơi xa đấy - Người đàn ông trả lời.

- Nhờ bác dẫn đường giúp nhá, chúng tôi muốn tới đó - Đại tá Huy Văn nói.

Người đàn ông nhìn chiếc cuốc lưỡng lự.

- Sáng mai làm cũng được, chúng tôi cần tới chỗ có thác nước. Bác đừng ngại, chúng tôi sẽ bồi dưỡng cho bác, Đại tá Huy Văn nói tiếp.

Người đàn ông đồng ý dẫn đường. Khi qua cổng, ông tạt vào nhà lấy con dao quắm có dây, đeo vào người, dặn người con mấy câu bằng tiếng Thái.

Vừa đi, Đại tá Huy Văn vừa hỏi chuyện. Người dẫn đường kể: “Năm 1954, ở đây là rừng rậm, chỉ có lối mòn. Sau ngày giải phóng Điện Biên Phủ, dân bản Nà Tấu sang đây khai phá làm ruộng, dựng nhà, dần dần trở thành bản mới. Ngày trước, sông Nậm Rốm ở đoạn này nước cạn, lội qua dễ dàng. Từ khi có đập Thác Bay, nước dâng cao lội qua không được nữa, địa phương mới làm cầu”.

Đi mên sườn núi khoảng 1km, gặp một đập ngăn suối, đi qua đạp sang bờ bên kia. Đi tiếp khoảng gần 1km, gặp suối, mọi người phải cởi giầy lội qua, đi theo lòng suối rồi lên bờ, luồn rừng. Đi khá xa lại gặp suối. Cặp bờ suối là những thửa ruộng bậc thang, trồng lúa. Qua các thửa ruộng bậc thang lại luồn rừng. Cuối cùng gặp suối ở phía tay trái. Bờ suối khá cao. Lòng suối có nhiều đá cuội. Lội suối một lần nữa sang bờ bên kia. Quãng đường vừa đi dài khoảng 2km, các thành viên trong đoàn trèo lên một mô đất cao quan sát; trước mặt là nương lúa xanh mượt. Ngước nhìn lên núi phía tay phải, một thác nước trắng xóa mơ mộng. “Đây rồi!”. Tôi - tác giả viết bài này khẽ reo lên. Thác nước đúng như bức ảnh mang kí hiệu P.1109 ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam. Cả đoàn đều đã nhìn thấy thác nước, hăm hở men theo bờ uối, đi ngược lên, lội xuống suối. nước trong vắt, lòng suối có những hòn đá to như chiếc bàn, giống hệt các hòn đá rất to, trên đó có hòn trải bản đồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cơ quan Bộ chỉ huy đang chăm chú làm việc trong bức ảnh. Đại tá Huy Văn, Thiếu tướng Lê Mã Lương ngồi lên các tảng đá quan sát dòng suối, nương lúa, nương ngô hai bên bờ mà năm 1954 còn là rừng rậm, dưới tán cây cổ thụ có lán dựng tạm cho Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ. Phó ban Quản lí Vũ Hải Nam trèo lên khối đá trên cao, gần thác, vị trí đứng gác của chiến sĩ bảo vệ Sở chỉ huy trước đây. Người dẫn đường cho biết: bên kia thác là đất của xã Mường Pồn.

Trở lại mô đất cao bên bờ suối, các thành viên tản ra khảo sát thêm. Qua một khe tụ thủy (nay là ao thả cá của dân), cách hơn 100m, ở quả đồi mé trái có ngôi nhà sàn của một gia đình trẻ tuổi người Thái (lúc đầu là lán trông nương lúa, ngô) ở xóm cầu treo chuyển vào. Hỏi chuyện, chủ nhà cho biết: khu vực bếp hiện nay trước đây là hầm, có nhiều cục pin to. Thiếu tướng Lê Mã Lương nhận xét, vị trí này là nơi đặt cơ quan thông tin Sở chỉ huy. Tôi hỏi người dẫn đường:

- Bác có biết suối này được gọi là suối gì không? Khu vực này có tên là gì?

- Suối này là “Huổi He Hụ” (suối cái). Khu vực này là “Huổi He” - người dẫn đường trả lời.

Quay lại mô đất cũ, các thành iên trong đoàn chụp một số kiểu ảnh và trao đổi thêm. Đại tá Nguyễn Huy Văn xác định:

- Chính xác nơi đây là Sở chỉ huy thứ hai. Tôi nhớ như in từ trạm thông tin “Chiến thắng trung đội tôi rải dây thông tin đến Sở chỉ huy chiến dịch, Sở chỉ huy Đại đoàn bộ binh 312, Đại đoàn công - pháo 351.

Người viết bài này đưa ra thông tin: Sở chỉ huy thứ hai là nơi Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ huy các đơn vị dùng sức người kéo 48 khẩu pháo 105mm và pháo cao xạ 37mm vào vị trí tập kết ở phía Bắc, Đông Bắc tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, là nơi mà ngày 26 tháng 1 năm 1954, Đại tướng - Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Chỉ huy trưởng, Bí thư Đảng ủy chiến dịch quyết định chuyển phương châm từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc” “tôi đã thực hiện một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình”; là nơi Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh và chỉ huy kéo pháo ra, chuẩn bị chiến đấu theo phương châm mới.


HOÀNG THU THẢO


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 23 Tháng Mười Hai, 2010, 04:34:20 PM
Hay quá! Vậy mà từ trước đến nay em cứ tưởng là ở Thẩm Púa. Và cũng biết thêm là "ngày 7 tháng 12 năm 1953 đến ngày 17 tháng 1 năm 1954. Địa điểm thứ 2 ở “một khu rừng ngang cây số 62 (cũ), gần bản Nà Tấu” , lần tới đi Điện Biên nhất định phải đến đây mới được.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 25 Tháng Mười Hai, 2010, 01:24:58 PM
Theo thông tin từ con trai Anh hùng Quân đội Lê Văn Dỵ. Đến nay, Chủ tịch nước đã có quyết định phong tăng danh hiệu Anh hùng quân đội cho hai Cụ nữa, đó là:
1. Lâm Viết Hữu, trước ở c674 sau được chuyển về làm đại trưởng c671 thay một cụ tên là Châu, c671 là chủ công của d251 (Cụ Vũ Đình Hòe là tiểu d trưởng). Cụ Lâm Viết Hữu được phong anh hùng ngày 22/12/2009.
2. Bùi Hữu Hữu, là trung đội phó b1c317d259, d259 có tiểu đoàn trưởng là Cụ Nguyễn Dũng Chi. Cụ Bùi Hữu Hữu được phong anh hùng ngày 23/22010.
d251 và d259 (hay còn gọi là tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 9) là thê đội 1 của trung đoàn 174 cùng hợp công đánh đồi A1.

Như vậy, sau chiến dịch ĐBP, f304 có 1 anh hùng, f308 có 4 anh hùng, f351 có 5 anh hùng, f312 có 8 anh hùng, 316 có 6 anh hùng, 2 anh hùng là ở các đơn vị khác.

Trong 6 anh hùng của Đại đoàn 316, riêng trung đoàn 174 đóng góp 4 người, đó là:
- Bế Văn Đàn     c674d251
- Lâm Viết Hữu  c671d251
- Bùi Hữu Hữu    c317d259
- Hoàng Văn Nô  c925d255

Hai anh hùng khác của 316 là
- Đặng Đức Song tiểu đoàn 2 trung đoàn 98
- Lê Văn Dỵ đại đội 811 tiểu đoàn 888 trung đoàn 176

Khi đọc về ĐBP, nếu đọc kỹ sẽ để ý thấy trung đoàn 176 và các tiểu đoàn 888, 910, 999 của nó không xuất hiện (nghe cái tên cũng đã thấy có điều gì đó không như các đơn vị khác).
Đó là do đây là trung đoàn chưa có nhiều truyền thống, kinh nghiệm chủ yếu là đánh phỉ. Trận công kiên thắng lợi đầu tiên của trung đoàn là của đại đội 811 đánh một trung đội lê dương tháng 10 năm 1953 tại đồn Cò Mạ. Bước vào chiến dịch Đông Xuân 1953-1954, e174 và e98 đánh địch trên hướng Lai Châu, e176 tiếp tục truy kích địch từ Mường Lầm về ĐBP. Trong chiến dịch ĐBP, tiểu đoàn 888 phối thuộc với các đơn vị của trung đoàn, đại đoàn cũng như các đại đoàn bạn (có lẽ để tích lũy kinh nghiệm), chiến đấu từ mặt bắc, tây, nam và đông ĐBP (hai tiểu đoàn còn lại đợt 3 mới lên).
Điểm sáng rực rỡ của e176 trong chiến dịch ĐBP là đại đội 811 tiểu đoàn 888. Sau khi e98 đánh C1&C2 bị tổn thất phải rút ra củng cố. c881d888e176 được điều tới C1 nằm dưới sự chỉ huy của cụ Vũ Lăng e trưởng e98. Đại đội này do cụ Lê Văn Dỵ chỉ huy đã phòng ngự 20 ngày trên C1, sau đó là chủ công đánh C1 và C2 thắng lợi. Cụ Lê Văn Dỵ được phong anh hùng như đã biết.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 03 Tháng Một, 2011, 06:36:18 PM
Về máy bay Mỹ trên bầu trời ĐBP. Thông tin thì nhiều nguồn đã đăng tải, hôm nay em xin giới thiệu bài viết trên trang: http://www.air-america.org/News/CAT_Pilots_Receive_French_Award.shtml

Khi áp lực của Việt Minh tăng lên vào năm 1953 người Pháp đã nhờ tới sự giúp đỡ về không quân của người Mỹ. Tổng thống Mỹ Eisenhower đã đồng ý, CIA tổ chức "Operation squaw II" nhằm giúp quân Pháp. CIA đã sử dụng CAT/Civil Air Transpost cho nhiệm vụ này.
CAT được CIA thành lập năm 1946 dưới trướng các tướng Claire Chennault Lee và Whiting Willauer để thực hiện các nhiệm vụ ở Châu Á. Tại Việt Nam 1953-1954 nhằm hạn chế khả năng Trung Quốc cũng can thiệp trực tiếp, các may bay của CAT (chủ yếu là loại C-119) được sơn cờ Pháp khi thực hiện nhiệm vụ. CAT/CIA cũng thực hiện các nhiệm vụ hỗ trợ mặt đất, đào tạo tổ lái cho Pháp.
Tại ĐBP, CAT thực hiện các phi vụ từ 13/3 đến 6/5 năm 1954 với 37 tổ lái tình nguyện. Tổng cộng, CAT đã thực hiện 682 phi vụ, hai phi công tử trận.
Hai phi công CAT tử trận là James B. McGovern và Wallace Buford vào ngày 6/5/1954 khi thực hiện công tác thả đồ tiếp tế cho Isablelle. Máy bay của họ đã trúng đạn cao xạ 37mm, đã cố bay sang Lào nhưng khi cách sân bay Mường Hét vài trăm mét thì máy bay rơi. Hai lính nhảy dù Pháp là Bataille, Rescorio và một lính dù Malay (?/Malay paratrooper) cũng thiệt mạng trong vụ này. Trung úy Jean Arlaux (người Pháp) là người sống sót duy nhất.



Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: _new trong 05 Tháng Một, 2011, 11:08:07 PM
Trong trang này có thêm một số ảnh về ĐBP.

http://books.google.com.vn/books?id=IVMEAAAAMBAJ&pg=PA38&lpg=PA38&dq=Dien+Bien+Phu+Magazine&source=bl&ots=PUiqrRlurV&sig=CplLENjgCvI3WM1pIqG18D5XomA&hl=vi&ei=BI4kTYruJ4SycNCnvegB&sa=X&oi=book_result&ct=result&resnum=10&ved=0CFkQ6AEwCQ#v=onepage&q&f=true
Bài viết đăng trên tạp chí Life ngày 17/5/1954 có nhan đề "Những bức ảnh cuối cùng từ Điện Biên Phủ sụp đổ" - Những người phòng thủ anh hùng và liều lĩnh thất bại khi cứu pháo đài Đông Dương

(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/dbp-1.jpg)
Phản công lấy lại đồ tiếp tế bị thả dù ra ngoài phòng tuyến

(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/dbp2.jpg)
Lính dù tiến ra nhặt dù trong khi xe tăng bắn pháo kiềm chế đối phương (chỗ có khói bốc lên)

(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/dbp3.jpg)


(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/dbp4.jpg)
Quân Pháp - Việt tiến lên dưới sự yểm trợ của của pháo binh và xe tăng.

(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/dbp5.jpg)

(http://i313.photobucket.com/albums/ll380/tuannew/dbp6.jpg)
Sau khi pháo binh đánh gục các chướng ngại, quận Pháp tạm thời chiếm được đường hào của đối phương

Những hình ảnh có thể là được chụp tại Hồng Cúm, không rõ ngày.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: lonesome trong 06 Tháng Một, 2011, 12:44:02 AM
Trích dẫn
Lính dù tiến ra nhặt dù trong khi xe tăng bắn pháo kiềm chế đối phương (chỗ có khói bốc lên)

Những người lính phòng thủ tiến ra nhặt dù trong khi xe tăng bắn pháo kiềm chế đối phương (chỗ có khói bốc lên)

Dịch thế chuẩn hơn _new ạ


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: saruman trong 28 Tháng Một, 2011, 03:27:42 PM
Chuyện về người châm bộc phá đồi A1
http://www.baomoi.com/Info/Cuoc-doi-thang-tram-cua-nguoi-anh-hung-cham-boc-pha-doi-A1/121/5594252.epi


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: cangiuoclongan trong 01 Tháng Hai, 2011, 08:38:11 AM
Lúc đầu đơn vị thi công dự tính đường hầm này chỉ dài gần 30m. Nhưng sau đó Ban quản lý Dự án đã quyết định đào khám phá thêm vì cho rằng bộ đội ta không thể vác bộc phá trườn tiếp trên mặt đất lên đồi sau khi đi hết quãng hầm gần 30m này do hỏa lực của địch bắn xuống rất mạnh.

  :) ;) :D ::) ;D ;D ;D


Chuyện về người châm bộc phá đồi A1
http://www.baomoi.com/Info/Cuoc-doi-thang-tram-cua-nguoi-anh-hung-cham-boc-pha-doi-A1/121/5594252.epi


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: SaigonGuider trong 01 Tháng Hai, 2011, 09:59:07 AM
@cangiuoclongan: Xin lỗi Bác cho SGG hỏi... đoạn văn ấy có vấn đề gì để Bác có nhiều ký hiệu cười như thế ạ?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: ancakho trong 01 Tháng Hai, 2011, 10:14:48 AM
Sao cụ nhà em kể là nổ mìn nghe cái ùm ... trầm trầm ... bọn Pháp phát hoảng kéo nhau chạy bỏ chốt mà!

Còn cái BQLDA kia là bây giờ đó CGLA!


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: tung677 trong 01 Tháng Hai, 2011, 06:18:58 PM
Các cụ hồi xưa khi đào hầm ngầm để đặt 1.000 kg thuốc nổ để đánh cái A 1 số thuốc là các cụ cưa bom lấy thuốc của cái máy bay B-24 của Pháp bị ta bắn rơi....tôi đọc thấy lúc đó ta thiếu thuốc nổ quá..cả đạn pháo 105 mm nữa...các cụ ra đoạt dù hàng của Pháp được hơn 5000 quả đạn lấy pháo và đạn địch đánh địch các cụ hồi đó anh hùng quá...thật là tự hào....chả có quân đội nước nào trên thế giới dám làm kiểu đó cả.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 21 Tháng Hai, 2011, 10:30:35 PM
Toàn cảnh thung lũng.

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/IMG_0034.jpg)

Him Lam - Beatrice.

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/IMG_0033.jpg)

Đồi A1 - Eliane 2, lão new chắc sẽ thích cái ảnh này ;)

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/IMG_0032.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 06 Tháng Ba, 2011, 02:17:58 AM
Hình của Shan tuyệt thật. Đây là ảnh rõ nhất về đồi A1 thời điểm 1954.

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/doiA1.jpg)

Xem ảnh, có một số nhận xét:
- Có ít nhất 05 khối nhà riêng rẽ ở trên đồi A1 (được đánh số trong ảnh là 1, 2 và 4).

- Nhà số 1 khá to, gần như không thấy nhắc đến trong các sách nói về A1, chỉ thấy loáng thoáng trong sách của phía Pháp. Ngày nay hoàn toàn không còn dấu vết. Nhà số 1 trước khi Pháp nhảy dù có lẽ được dùng khá nhiều, con đường hướng lên nó khá to. Sau khi Pháp làm con đường cong cong đi lên đỉnh đồi, có thể nhận thấy nhà này ít được dùng hơn, vì đoạn ngã ba đường mới cắt đường cũ, mép đường mới chắn ngang đường cũ.

- Trong ba nhà được đánh dấu là (2) nhà màu trắng mất mái ít nhất tồn tại đến sau trận đánh. Bằng chứng: xem ảnh dưới đây.
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/A1-1.jpg)
Theo em, ảnh này chụp sau khi trận đánh đã kết thúc vì có thể nhận thấy dây thép gai đã được xếp gọn lại.

- Suy đoán cùng Chủ nhiệm Chiang khi lên A1 năm vừa rồi, về một vòng hào chiến đấu chạy men lưng chừng đồi có lẽ là chính xác. Trong ảnh, ta thấy có tồn tại vòng hào này (đánh số 7).
Ảnh ngày nay:
(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/Dien%20Bien%203-2010/12-3/tn_P1100934.jpg)
Và cũng có thể đưa ra nhận định, đường phản công của Pháp phục dựng như hiện nay là chưa chính xác, đoạn bẻ ngang đã làm cao hơn so với thực tế.

- Theo cảm quan cá nhân đánh giá, vị trí hầm ngầm cố thủ theo hiện trạng hiện nay là trùng với vị trí nhà được đánh dấu số 4 trong ảnh.
Các bác chú ý, khoảng tối mà mũ tên chỉ vào, có thể là lối vào hầm ngầm. Xem ảnh cũng có thể thấy cửa hầm ngầm này khá rõ ràng, có tường gạch định hướng vào.  Điều này phù hợp với hiện trạng hiện nay và với mô tả trong cuốn tiểu thuyết Cao điểm cuối cùng. Trong đó có nói nhân vật men theo vành hố bộc phá (được đánh số 6), gặp chiếc xe tăng và dãy nhà rồi nhảy vào cửa hầm ngầm (vị trí chiếc xe tăng hiện nay được đánh số 5).
(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/Dien%20Bien%203-2010/12-3/tn_IMG_0337.jpg)
Từ những chi tiết này, em cho rằng trong 3 đợt tấn công từ 30-3 đến 1-4, ta mới chỉ đánh đến chân hầm ngầm theo hướng tấn công, hoặc chính xác hơn là chưa làm chủ khu vực hầm ngầm, cho đến khi địch phản công chiếm lại. Vì nếu làm chủ khu vực này, chắc chắn ta sẽ biết thông tin về cửa hầm, chứ không hoang mang như sau 1-4.

- Giữa nhà số 1 và nhà số 4 được đánh số trên bản đồ, có tồn tại một cái dốc chạy ngang (và chạy vòng men từ hướng nam, qua hướng tây đến hướng bắc của quả đồi). Ở đó dường như Pháp xây nhiều công trình hướng mặt ra phía tây (phía nhà số 1). Công trình được đánh số 8 liệu có phải là một hào giao thông có nắp?

- Xem ảnh, có chi tiết về đường thẳng (được đánh số 3) em phân vân, không rõ là gì. Liệu đó có phải là khoảng sân được tôn cao lên so với phần khác của đồi. Nếu điều đó là đúng, xem ảnh dưới đây, có thể thấy dường như trước khi Pháp nhảy dù xuống ĐBP, ở đây có một khoảng sân được tôn cao, hình thang, gần kín đỉnh đồi.
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/occupation.jpg)
Đường thẳng (chênh lệch về địa hình) này đã bị Pháp xóa đi khi xây dựng cứ điểm? Xem hình sau:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/333.jpg)

- Đồi Cháy: một vị trí không chế toàn bộ mặt bắc của đồi A1. Ngoài đời, đứng trên đồi Cháy thực sự là thấy có thể với tay tới hầm ngầm A1. Tại ĐBP ngày nay, người dân gọi tất cả đồi A1 và đồi Cháy là đồi A1.

- Những khoảng màu trắng ở phía tay phải của ảnh, là gì?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 09 Tháng Ba, 2011, 01:03:50 AM
Xem lại ảnh A1 mới thấy rõ hơn là chưa cần bổ sung quân số, nếu Pháp rút một đại đội từ A1 và một đại đội từ C2 ra bố trí thêm ở đồi Cháy để làm tuyến 1, lấy A1 và C2 làm tuyến 2 cho cụm Elian thì ta ốm.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 09 Tháng Ba, 2011, 06:59:01 PM
Vậy thì lý do là gì hả chủ nhiệm New ::)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: sairagon trong 28 Tháng Ba, 2011, 05:56:07 PM
http://www.youtube.com/watch?v=fUivfl-pTL4


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: scorpiwolf trong 31 Tháng Ba, 2011, 09:13:15 AM
Toàn cảnh thung lũng.

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/IMG_0034.jpg)

Him Lam - Beatrice.

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/IMG_0033.jpg)

Đồi A1 - Eliane 2, lão new chắc sẽ thích cái ảnh này ;)

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/IMG_0032.jpg)

Hix, những tấm hình tuyệt vời... tiếc là bọn em biết nó muộn quá... T___T.

Bác Tuấn ơi, nhân tiện cho em hỏi, em đã từng nhìn thấy một tấm tranh vẽ mô tả các loại dù được thả xuống ĐBP, trong đó có ghi chú dù màu nào thì là loại hàng gì... Bác còn tấm hình này không bác. Nếu không thì cho em hỏi luôn:
Dù lính màu gì, dù đạn màu gì, dù y tế màu gì, dù ration màu gì... Và có phân biệt dù của Sĩ quan với lính không ạ.
Em có nghe ở đâu đó nói là dù sĩ quan màu đỏ, trong khi em nhớ là dù đỏ là dù đạn hay đạn pháo gì đó. Bác xác nhận lại hộ em phát... :D để em còn đưa vào game ạ.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 01 Tháng Tư, 2011, 11:31:57 PM

Bác Tuấn ơi, nhân tiện cho em hỏi, em đã từng nhìn thấy một tấm tranh vẽ mô tả các loại dù được thả xuống ĐBP, trong đó có ghi chú dù màu nào thì là loại hàng gì... Bác còn tấm hình này không bác. Nếu không thì cho em hỏi luôn:
Dù lính màu gì, dù đạn màu gì, dù y tế màu gì, dù ration màu gì... Và có phân biệt dù của Sĩ quan với lính không ạ.
Em có nghe ở đâu đó nói là dù sĩ quan màu đỏ, trong khi em nhớ là dù đỏ là dù đạn hay đạn pháo gì đó. Bác xác nhận lại hộ em phát... :D để em còn đưa vào game ạ.
- Thực là tớ không nhớ hình ấy. Bác Sói có nhớ thêm chi tiết nào về hình vẽ đó không. Nằm trong cuốn nào? Liệu có phải là cuốn  mô tả một số trận đánh trong chiến tranh Việt Nam, và có mô tả lại bằng hình vẽ tay, trận Điện Biên Phủ được mô tả toàn cảnh?
- Theo tớ biết thì đại đa số là dù màu trắng. Dù các màu cũng có nhưng không nhiều, ngay cả với dù đạn. Chi tiết về dù màu đỏ bác nhớ chính xác. Dù đỏ là dù đạn. Các loại dù màu khác, thực là tớ không biết.

Dù màu đỏ:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/colourparachute.jpg)

À, theo tớ nhớ hồi các cụ nhà mình bò vào lấy được tấm bản đồ ĐBP hồi tháng 12 cũng là dù màu đỏ này thì phải --> những dù đỏ là dù có đồ quan trọng chăng.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 01 Tháng Tư, 2011, 11:46:02 PM
http://www.youtube.com/watch?v=fUivfl-pTL4 (http://www.youtube.com/watch?v=fUivfl-pTL4)
- Video rất hay, nhạc của bác rất hợp và khớp với hình.  :)
- Có một chi tiết, cái sân bay này em nghĩ có lẽ không phải là sân bay Mường Thanh  :)
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/saragon.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 02 Tháng Tư, 2011, 12:02:20 AM
Ít nhất còn có dù hoa (rằn ri) nữa. Loại vải dù này thấy bộ đội ta chuộng nhiều.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 03 Tháng Tư, 2011, 11:36:25 PM
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/Dullesseeksawaytodefendtheeast.jpg)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/DullesinParis.jpg)               (http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/DullesinLondon.jpg)



Để có cái nhìn tổng quát về chiến dịch mà Dulles thực thi, xin mời các bác đọc bài của Ông Phạm Văn Hoàng, một bài viết súc tích và nhiều thông tin.

Ý ĐỒ CHÍNH TRỊ VÀ KẾ HOẠCH QUÂN SỰ CỦA MỸ
TRONG TRẬN ĐIỆN BIÊN PHỦ
http://giaodiemonline.com/2009/05/my.htm

  TS. PHAN VĂN HOÀNG


            Ngay sau khi bước vào Nhà Trắng (20-1-1953), viên tổng thống thứ 34 của nước Mỹ Dwight D.Eisenhower đã tỏ ra quan tâm một cách đặc biệt đến Đông Dương (trong đó có Việt Nam).

            Vào lúc đó, quân viễn chinh Pháp đang liên tiếp thất bại trên chiến trường Đông Dương, trong khi phong trào phản đối cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” (la sale guerre) của dân chúng Pháp không ngừng phát triển. Trong bối cảnh đó, ngày càng có nhiều chính khách Pháp muốn đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để sớm rút khỏi vũng lầy chiến tranh Đông Dương.

            Mỹ sợ Pháp thương thuyết trong thế yếu, tất phải chấp nhận nhiều nhượng bộ, dẫn đến việc thất thủ Đông Dương. Theo Eisenhower, “nếu Đông Dương sụp đổ, thì không chỉ Thái Lan mà cả Miến Điện [nay là Myanmar] và Mã Lai sẽ bị đe doạ, rồi Đông Pakistan [nay là Bangladesh] và Nam Á cũng như toàn thể Indonesia sẽ gặp thêm nguy cơ”(If Indochina fell, not only Thailand but Burma and Malaysia would be threatened, with added risks to East Pakistan and South Asia as well as to all Indonesia)[1]. Ông ví sự sụp đổ dây chuyền đó với trò chơi làm ngã con cờ đô-mi-nô, từ đó xuất hiện thuật ngữ “thuyết đô-mi-nô” (the domino theory).

             Cuối tháng 3 năm 1954, Eisenhower yêu cầu thủ tướng Pháp René Mayer phải vạch ra một kế hoạch chiến tranh mới ở Đông Dương, xem đó như điều kiện cần thiết để được Mỹ gia tăng viện trợ. Một tác giả Pháp chua chát nhận xét: “Nếu Mỹ bỏ ra những đồng đô-la, đó là để trả cho việc người Pháp phải đổ máu” nhiều hơn nữa ở Đông Dương(If America gave dollars, that was to pay for the blood which France shed)[2].

            Trong hai tháng 3 và 4 năm 1953, Eisenhower gửi hai đoàn quân sự cao cấp, lần lượt do tướng Mark W. Clark, tư lệnh quân đội Mỹ ở Viễn Đông (đến Sài Gòn ngày 19-3-1954) và đô đốc Arthur W. Radford, chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân (đến Sài Gòn ngày 25-4-1953) cầm đầu, sang Việt Nam để nắm tình hình tại chỗ.

            Trong thư gửi René Mayer vào đầu tháng 5-1953, Eisenhower thúc giục Pháp cử  một  tổng chỉ huy mới sang Đông Dương(Eisenhower urged Mayer to appoint a new commander in chief for Indochina)[3] để thay tướng Raoul Salan, người chịu trách nhiệm về những thất bại ở Tây Bắc và ở Thượng Lào trong mấy năm qua. Để làm vừa lòng Mỹ-- người đang chi tiền cho chiến tranh Đông Dương – Mayer chọn trung tướng Henri Navarre, lúc đó đang là tham mưu trưởng Lực lượng NATO ở Trung Âu.

             Ngày 28-5, Navarre chính thức nhậm chức thì ba tuần lễ sau, ngày 20-6, một đoàn quân sự do trung tướng John W. O’Daniel, tư lệnh quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương, cầm đầu đến Sài Gòn để -  theo lời của Eisenhower – “tăng cường sự hữu hiệu của nỗ lực quân sự của những người bạn [Pháp] của chúng ta”(in order to increase the efficiency of the military effort by our friends)[4]

            Với sự thúc giục của O’Daniel, Navarre soạn ra một kế hoạch tác chiến cho mấy năm trước mắt, được gọi là Kế hoạch Navarre.

            Chỉ cần Pháp không còn ý định bỏ cuộc nửa chừng thì Mỹ đã hài lòng rồi. Dù chưa biết Kế hoạch Navarre có đem lại kết quả gì không, những viên chức cao cấp Mỹ đã hết lời ca ngợi kế hoạch này là “một khái niệm chiến lược rộng rãi sẽ bảo đảm một bước ngoặc thuận lợi trong tiến trình chiến tranh trong vài tháng nữa” (a broad strategic concept which within a few months should insure a favorable turn in the course of the war) (Radford) [5], tin tưởng rằng kế hoạch này “có thể làm thay đổi chiều hướng [của chiến tranh] và dẫn đến thắng lợi quyết định đối với Việt Minh” (capable of turning the tide and leading to a decisive victory over the Vietminh) (O’Daniel)[6], “bẻ gãy tổ chức của công cuộc xâm lăng cộng sản vào cuối mùa chiến đấu 1955”(break  the organized body of Communist aggression by the end of the 1955 fighting season) (Dulles)[7]… Eisenhower kết luận: Cái gọi là Kế hoạch Navarre “đã hình dung một chiến thắng quan trọng vào mùa hè 1955”(The so-called Navarre Plan visualized substantial victory by summer of 1955)[8]

            Eisenhower cho lập Ủy ban đặc biệt về Đông Dương (The Special Committee on Indochina) do tướng Walter B. Smith, thứ trưởng Bộ Ngoại giao, làm trưởng ban để -- theo lời Eisenhower – “nghiên cứu nhiều biện pháp khả thi hơn nữa đặng ủng hộ Kế hoạch Navarre”(to study further feasible steps for supporting the Navarre Plan)[9] và Nhóm công tác đặc biệt về Đông Dương (The Special Working Group on Indochina) do tướng Grave B. Erskine cầm đầu, để “đánh giá nỗ lực quân sự của Pháp, đưa ra các khuyến cáo liên quan đến những đóng góp trong tương lai của Mỹ cho nỗ lực đó, và lưu ý tới những tình huống bất ngờ nếu Mỹ trực tiếp can thiệp vào chiến tranh”(to evaluate the French effort, to make recommendations concerning future U.S. contributions to it, and to devote attention to the various contingencies under which the U.S. might be called upon to intervene directly in the war)[10]

            Ngày 30- 7 năm đó, Quốc hội Mỹ chuẩn chi 400 triệu đô-la để Pháp theo đuổi chiến tranh ở Đông Dương. Hai tháng sau, 30-9, Chính phủ Mỹ cấp thêm 385 triệu đô-la nữa. Như vậy, Mỹ đã trang trải đến 2/3 chi phí chiến tranh Đông Dương (payant les deux tiers de la guerre)[11]

            Có tiền trong tay, Navarre trở nên năng nổ hơn. Chỉ trong 5 tháng (từ tháng 7 đến tháng 11-1953), Navarre mở một loạt cuộc hành quân mang tên Chim Én, Camargue, Tarentaise, Claude, Cá Măng, Hải Âu…

             Để động viên Pháp, Eisenhower cử phó tổng thống Richard Nixon sang Việt Nam. Ngày 4-11-1953 tại Hà Nội, Nixon tuyên bố: “Không thể hạ vũ khí cho đến khi nào đạt được chiến thắng hoàn toàn”(It is impossible to lay down arms until victory is completely won)[12]. Nixon lặn lội đến tận Ghềnh (Ninh Bình) để thăm quân Pháp đang tiến hành cuộc hành quân Hải Âu.

            O’Daniel được cử sang Việt Nam lần thứ hai (6-11). Trong báo cáo ngày 19-11, ông nhận xét: “Pháp đã thiết lập được một tình hình tốt hơn nhiều so với mùa khô năm ngoái” (The French have established a far better situation than existed during the last dry season) và đề nghị: “Chúng ta phải hoàn toàn ủng hộ tướng Navarre, thành công của ông ta có sự đóng góp to lớn của chúng ta”(We should fully support General Navarre, in whose success we have such a large stake)[13]

              Sáng 20-11, Navarre bắt đầu thực hiện cuộc hành quân Hải Ly: lần lượt 16.000 quân Pháp được những máy bay vận tải C.47 (do Mỹ viện trợ) thả dù hay chở đến thung lũng Điện Biên Phủ, dựng lên ở đây tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương.

           Mỹ cử đến Điện Biên Phủ “một ủy ban thanh tra, gồm nhiều chuyên gia Mỹ có đầy kinh nghiệm trong chiến tranh Triều Tiên, tự xưng là biết những khả năng chiến thuật của súng đại bác phòng không của Nga” (une commission d’inspection composée d’experts américains, soi-disant au courant, grâce a leur expérience de la guerre de Corée, des possibilités tactiques des canons anti-aériens russes). Sau khi kiểm tra toàn bộ tập đoàn cứ điểm, ủy ban Mỹ “khẳng định rằng các vị trí của Pháp cùng những liên lạc bằng đường không sẽ không bị phòng không đối phương quấy rối nghiêm trọng. Ủy ban Mỹ tuyên bố rằng, dù thế nào đi nữa, pháo binh và máy bay [Pháp] sẽ bắn trả, tất cả những nơi thả dù đều được lựa chọn một cách khôn khéo, tất cả những điều đó sẽ cho phép duy trì việc tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm mà không sợ bị tổn thất quá nghiêm trọng (…). Trong trường hợp xấu nhất, luôn luôn có thể tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm bằng cách thả dù vào ban đêm” (affirma que les positions françaises et les liaisons aériennes ne risquaient pas d’être sérieusement gênées par la D.C.A. ennemie! La commission américaine déclara qu’en tout état de cause, des tirs de contre-batterie de l’artillerie et de l’aviation, et un ensemble de drop zones judicieusement choisies permettraient de maintenir le ravitaillement du camp retranché, sans que des pertes trop importantes soient à redouter (…) Au pire, il sera toujours possible de ravitailler le camp grâce a des parachutages de nuit)[14].

             Ngày 26-1-1954, Eisenhower cử O’Daniel sang Việt Nam lần thứ ba. Chiều ngày 3-2, O’Daniel  lên Điện Biên Phủ. Đại tá De Castries, chỉ huy tập đoàn cứ điểm, đích thân lái xe jeep chở O’Daniel đi thăm các công sự, nhưng viên chỉ huy tập đoàn cứ điểm giấu không cho viên tướng Mỹ biết rằng 2 giờ trước đó, bộ đội Việt Nam vừa nã vào đây 103 loạt đạn 72 li. Navarre kể: “Sau chuyến đi thăm, O’Daniel đã đến gặp riêng tôi để bày tỏ sự phấn khởi. Ông khẳng định rằng: nếu tiến công, Việt Minh chắc chắn sẽ bị đè bẹp. Ông cho rằng: bằng cách xây dựng các tập đoàn cứ điểm kiểu Điện Biên Phủ ở nhiều nơi, đó chính là giải pháp để có thể thắng được cuộc chiến tranh”[15]. Trong báo cáo đề ngày 5-2 gửi về Mỹ, O’Daniel khẳng định rằng Điện Biên Phủ có thể “chịu đựng bất kỷ loại tiến công nào mà Việt Minh có thể tung ra”(withstand any kind of attack the Viet Minh are capable of launching), quân Pháp “đang tăng thêm sức mạnh và tin rằng họ có thể chiến đấu đến kết thúc thắng lợi”(they are gaining strength and confidence in their ability to fight the war to a successful conclusion)[16].

             Thiếu tướng Thomas Trapnell, chỉ huy Phái bộ cố vấn Viện trợ quân sự Mỹ ở Đông Dương (MAAG Indochina) cũng đến quan sát Điện Biên Phủ. Ba sĩ quan Mỹ (trung tá Richard F.Hell, trung tá John M.Wohner và đại úy Robert M.Lloyd) ở lại Điện Biên Phủ một thời gian để giúp đỡ bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm.

            Niềm lạc quan lan sang tận Mỹ. Ngày 9-2, bộ trưởng quốc phòng Charles E.Wilson tuyên bố : "Tôi nghĩ rằng các lực lượng của Pháp và của Việt Nam [tức Bảo Đại] ở Đông Dương có lẽ và có thể đạt được một chiến thắng quân sự" (Je pense qu’une victoire militaire des forces franco-vietnamiennes en Indochine reste possible et probable)[17].

             Ngày 20-2, Mỹ viện trợ cho Pháp 40 máy bay các loại, từ máy bay ném bom B.26 đến máy bay vận tải C.47, C.119... Cũng trong tháng 2, Mỹ gửi sang Việt Nam 200 lính kỹ thuật thuộc Đơn vị phục vụ Không quân số 81 (81st Air Service Unit) để giúp Pháp bảo trì và sửa chữa các máy bay mà Mỹ đã cung cấp.

            Ngày 13-3, bộ đội Việt Nam bắt đầu nổ súng tiến công Điện Biên Phủ. Chưa đầy 5 ngày (từ 13 đến 17-3), ba trung tâm đề kháng (Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo) lần lượt sụp đổ, 2 tiểu đoàn tinh nhuệ của Pháp bị diệt gọn, một tiểu đoàn khác bị tan rã.

            Mỹ hết sức lo lắng. Eisenhower cho biết : "Tình báo của chúng ta ước đoán Pháp chỉ còn khoảng 50-50 cơ may đứng vững"(Our Intelligence people estimated that the French had only about a fifty-fifty chance of holding out)[18]. Trong thực tế, tình hình của quân Pháp trong tập đoàn cứ điểm xấu hơn nhận định của tình báo Mỹ. "Từ sáng 15-3, tướng Navarre, tổng ủy Dejean cũng như hai bộ tham mưu tại Hà Nội và Sài Gòn đều không còn nghi ngờ gì nữa : họ đã thua trong trận Điện Biên Phủ"(Dès le 15 Mars au matin, au plus profond de leur conscience, le général Navarre, M. Dejean, les États-majors de Hanoi et de Saigon n’ont plus de doute : la bataille est perdue)[19].
            Mỹ vội vàng giúp Pháp lập cầu hàng không từ Hà Nội lên Điện Biên Phủ. Báo U.S News and World Report ngày 15-3-1953 tường thuật : "Mỗi ngày, gần 100 máy bay vận tải DC-3 đã hạ xuống sân bay [Điện Biên Phủ] trong tầm súng cối của Cộng sản, vận chuyển từ 200 đến 300 tấn hàng tiếp tế. Thêm vào đó là 30 máy bay vận tải cỡ lớn C.119 mỗi sáng thả dù từ 100 đến 150 tấn hàng tiếp tế khác. Tất cả các máy bay của cầu hàng không đều do Mỹ giúp".

            Không chỉ giúp máy bay, Mỹ còn cung cấp cả người lái. Một số phi công Mỹ tham gia cầu hàng không thừa nhận "hỏa lực phòng không của Việt Minh dày đặc giống như ở vùng Ruhr trong Chiến tranh thế giới thứ hai"(Vietminh flak was as dense as anything encountered during World War II over the Ruhr)[20]. Trong một phi vụ chở vũ khí cho Điện Biên Phủ, đại úy James McGovern và trung úy Wallace Buford tan xác khi máy bay của hai phi công Mỹ nay bị súng phòng không làm nổ tung[21].

          


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 03 Tháng Tư, 2011, 11:37:04 PM
  Nhưng chỉ tăng viện không thôi thì không cứu được Điện Biên Phủ. Mỹ phải trực tiếp can thiệp quân sự vào Việt Nam.

            Đô đốc Arthur W.Radford, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, soạn ra kế hoạch can thiệp (được biết dưới mật danh "Cuộc hành quân Chim Kên Kên" – Operation Vulture) theo đó Mỹ dùng 60 máy bay ném bom hạng nặng B.29 Superfort (mỗi chiếc có thể chở 8 tấn bom) cất cánh từ căn cứ không quân Clark Field (ở Philippines) để ném bom rải thảm, mỗi đợt khoảng 450 tấn bom, xuống các vị trí của bộ đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ, đồng thời dùng 150 máy bay chiến đấu (từ các hàng không mẫu hạm của Hạm đội số 7 hoạt động trong Vịnh Bắc Bộ) để hộ tống các máy bay ném bom nói trên. Để che giấu bàn tay can thiệp của Mỹ, Radford đề nghị xoá bỏ phù hiệu của không quân Mỹ trên thân máy bay để "không ai biết máy bay đó là của ai và từ đâu đến"(no one would know where they came from or who they were)[22] và lập một phi đoàn tình nguyện quốc tế (international volunteer air corps) bằng cách thuê phi công thuộc nhiều quốc tịch khác nhau.

            Ngoài loại bom thường (mỗi quả nặng 2 tấn), Radford còn đề nghị sử dụng 3 quả bom nguyên tử chiến thuật (tactical atomic bombs). Theo một nhóm nghiên cứu của Lầu Năm Góc, "chỉ cần 3 quả bom nguyên tử chiến thuật sử dụng cho đúng thì cũng đủ nghiền nát lực lượng Việt Minh ở Điện Biên Phủ" (Three tactical atomic weapons, « properly employed», would suffice to smash the Vietminh forces at Dienbienphu)[23]

            Riêng Nixon không dừng lại ở việc ném bom. Ngày 16-4, tại Hội nghị các chủ báo Mỹ, ông ta đề nghị gửi bộ binh sang Việt Nam. Eisenhower không bác bỏ ngay ý kiến của ông ta, mà còn cho rằng : "Lẽ dĩ nhiên, đó luôn luôn là một khả năng: vấn đề đó lúc nào cũng được nghiên cứu đến"(Naturally this was always a possibility ; the question was under constant study)[24]

            Giữa lúc đó, đại tướng Paul Ély, tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp, bay thẳng từ Việt Nam sang Mỹ, với lời cầu cứu : "Nếu Mỹ không can thiệp, Đông Dương sẽ mất" (Unless the United States intervened, Indochina would be lost)[25]. Sáng 22-3, Eisenhower tiếp Ély với sự hiện diện của Radford. "Tổng thống chỉ thị cho đô đốc phải khẩn trương làm mọi thứ để đáp ứng những nhu cầu của tướng Navarre, đặt ưu tiên cho những gì có thể góp phần tạo nên thắng lợi cho trận đánh đang diễn ra"(Le Président donne instruction à l’amiral que tout soit fait d’urgence pour répondre aux demandes du Général Navarre, en mettant la priorité sur tout ce qui pourrait contribuer au succès de la bataille en cours)[26]. Thực hiện chỉ thị của Eisenhower, Radford nói với Ély rằng Mỹ sẵn sàng thực hiện Cuộc hành quân Chim Kên Kên để cứu quân Pháp trong tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

            Ngày 25-3, Eisenhower triệu tập Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ. Buổi họp đi tới quyết định: Mỹ phải can thiệp quân sự để ngăn chặn việc Đông Dương rơi vào tay Cộng sản. Cùng ngày, báo The New York Times đưa tin và đăng ảnh về Điện Biên Phủ trên suốt 6 cột. Bài viết mang tựa đề : "Anh hùng chiến tranh [chỉ đại tá De Castries] được Eisenhower hoan hô" (War Hero Hailed by Eisenhower).
            Vào lúc đó, nước Mỹ vừa bước ra khỏi chiến tranh Triều Tiên chưa đầy một năm[27] nên dân chúng và một bộ phận nghị sĩ Mỹ sẽ phản đối mạnh mẽ nếu chính phủ Eisenhower đưa nước Mỹ dính líu vào một cuộc chiến tranh khác ở châu Á. Thượng nghị sĩ William F.Knowland, thủ lĩnh Đảng Cộng Hòa tại Thượng viện, khuyên Eisenhower tranh thủ sự ủng hộ của Quốc hội trước khi can thiệp quân sự vào Việt Nam.

            Vì vậy, Eisenhower cho soạn sẵn một bản dự thảo Nghị quyết chung của lưỡng viện Quốc hội cho phép tổng thống sử dụng Hải quân và Không quân chống lại xâm lược ở Đông Nam Á, bảo vệ an ninh của Mỹ, đồng thời ủy quyền cho Dulles và Radford gặp 8 nghị sĩ chủ chốt của 2 đảng (Cộng hòa và Dân chủ) ở Thượng viện và Hạ viện vào sáng 3-4 để vận động họ ủng hộ chủ trương của Chính phủ. Sau hai tiếng đồng hồ thảo luận, các nghị sĩ đặt điều kiện : "Quốc hội sẽ không ủng hộ việc Mỹ can thiệp quân sự vào Việt Nam chừng nào Chính phủ không được các đồng minh – đặc biệt là nước Anh – cam kết có hành động chung" (Congress would not support American military intervention in Vietnam until the Administration had obtained commitments for joint action from its allies, the British in particular)[28].

             Một số nghị sị, tướng lãnh Mỹ phản đối việc dính líu quân sự vào Việt Nam, vì theo họ, cái giá về người và của mà Mỹ phải trả sẽ "cao bằng hay cao hơn cái giá mà Mỹ đã trả ở Triều Tiên" (as great as, or greater than, that we paid in Korea)29 (nhận định của tướng Matthew B. Ridgway, tham mưu trưởng Lục quân Mỹ, nguyên tư lệnh quân Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên).

             Eisenhower thừa nhận : "Tình hình [của quân Pháp] ở Điện Biên Phủ xấu đi nhanh chóng trong tháng 4"(The situation at Dien Bien Phu had degenerated rapidly during the month of April)30. Mặt khác, Hội nghị Genève31 sẽ khai mạc vào cuối tháng ấy. Do đó, trong 3 tuần lễ (từ 4 đến 25 tháng 4), những người cầm đầu nước Mỹ dành phần lớn thời gian và công sức cho kế hoạch can thiệp quân sự vào Việt Nam.

            Tối chủ nhật 4-4, bộ ba Eisenhower – Dulles – Radford hy sinh dịp nghỉ cuối tuần để bàn hai việc: chuẩn bị cho việc can thiệp quân sự vào Việt Nam và vận động các nước đồng minh – chủ yếu là Anh – tham gia vào "hành động thống nhất" (united action) với Mỹ.

            Các tướng lãnh Mỹ và Pháp qua lại gặp nhau để chuẩn bị cho việc triển khai Cuộc hành quân Chim Kên Kên khi có thể. Ngày 13-4, bộ trưởng Không quân Pháp Christians được mời sang Mỹ. Ngày hôm sau, 14-4, tướng Earle E.Partridge, tư lệnh Không quân Mỹ ở Viễn Đông, được cử sang Sài Gòn gặp tổng ủy Maurice Dejean, tướng Navarre, sau đó ra Hà Nội gặp tướng René Cogny, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Việt Nam. Ngày 19-4, tướng Joseph Caldara, chỉ huy máy bay ném bom của Không quân Mỹ ở Viễn Đông, lại được gửi sang Việt Nam. Caldara bay trên bầu trời Điện Biên Phủ để quan sát toàn cảnh tập đoàn cứ điểm. Cùng ngày, hai hàng không mẫu hạm Essex và Boxer thuộc Hạm đội số 7 của Hải quân Mỹ, mỗi chiếc tải trọng 31.000 tấn, cả hai đếu trang bị vũ khí nguyên tử, được lệnh tiến vào Vịnh Bắc Bộ. Đô đốc Hopwood, tham mưu trưởng Hạm đội số 7, đến Việt Nam gặp tướng Navarre và đô đốc Auboyneau, chỉ huy Hải quân Pháp ở Đông Dương. Sau đó, một sĩ quan Pháp được mời sang căn cứ Clark Field (ở Philippines) để bàn việc phối hợp hành động khi cần.

             Nhưng việc can thiệp vào Đông Dương chỉ có thể thực hiện nếu Anh chịu tham gia.

            Ngày 4-4, Eisenhower viết thư cho thủ tướng Anh Winston Churchill đề nghị Anh cùng Mỹ "ngăn chặn Cộng sản bành trướng"(checking of Communist expansion) vì "nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản, hậu qủa cuối cùng sẽ tai hại cho thế chiến lược toàn cầu của các Ngài và của chúng tôi với hậu quả là sự đổi thay trong cán cân lực lượng trên toàn châu Á và Thái Bình Dương" (if ...Indochina passes into the hands of  the Communists, the ultimate effect on our and your global strategic position with the consequent shift in the power ratios throughout Asia and the Pacific could be disastrous)32.

            Ngày 7-4, Churchill triệu tập các bộ trưởng đến họp để thảo luận đề nghị của Mỹ. Lâu nay, Anh không muốn gây căng thẳng trong bang giao với Trung Quốc, vì thuộc địa Hong Kong của Anh nằm trong lãnh thổ Trung Quốc, một bộ phận cư dân của thuộc địa Mã Lai là người gốc Hoa v.v... Chỉ 3 tháng sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, nước Anh đã nhanh chóng công nhận chính phủ Bắc Kinh (6-1-1950), trở thành nước đầu tiên trong phe NATO làm như vậy33. Do đó Anh không muốn can thiệp quân sự vào Việt Nam, mà chỉ mong chiến tranh Đông Dương sớm kết thúc thông qua đàm phán ở Genève. Lập trường của Anh là "không định làm gì hết ở Đông Dương trước khi Hội nghị Genève có kết quả" (Britain was not prepared to give any undertakings...in Indochina in advance of the results of Geneva)34.

             Sợ thư từ không diễn đạt được đầy đủ các ý, Eisenhower cử Dulles sang London. Trong ba ngày (11 đến 13-4), Dulles đưa ra mọi lý lẽ nhằm thuyết phục Churchill và ngoại trưởng Anthony Eden, nhưng vẫn không lay chuyển được giới lãnh đạo nước Anh. Thất vọng, Dulles bay sang Paris gặp thủ tướng Joseph Laniel và ngoại trưởng Georges Bidault (14-4) trước khi về lại Mỹ.

            Ngày 15-4, Dulles gửi thư mời đại sứ các nước Anh, Pháp, Australia, New Zealand... đến dự cuộc họp vào ngày 20-4 để thảo luận vấn đề Đông Nam Á. Nhận được báo cáo của đại sứ Anh tại Mỹ Roger M.Makins, Eden chỉ thị cho Makins không được tham dự cuộc họp ấy. Ngày 18-4, Makins gọi điện đến nhà ngoại trưởng Dulles. "Ngoại trưởng hết sức tức giận"(the Secretary of State was extremely angry)35. Để giữ thể diện, Dulles phải thay đổi chủ đề của cuộc họp: bàn về Triều Tiên, chứ không phải về Đông Nam Á. Đến lúc đó, Eden mới cho phép Makins đến dự, nhưng chỉ được ngồi nghe chứ không được phát biểu ý kiến.

            Ngày 23-4, các ngoại trưởng Mỹ, Anh, Pháp sang Paris để tham dự một hội nghị của NATO. Bidault đưa cho Dulles xem bản sao bức điện của tướng Navarre gửi Laniel, trong đó Navarre mô tả "tình hình ở Điện Biên Phủ là tuyệt vọng"(situation at Dien Bien Phu is desperate), yêu cầu Mỹ khẩn trương can thiệp quân sự, nếu không ông sẽ đề nghị ngưng bắn (request for cease fire)36.

             Sáng 24-4, trong một công hàm gửi cho Mỹ, Bidault nhấn mạnh :

             « 1. Các chuyên gia quân sự Pháp cho rằng một cuộc can thiệp ồ ạt của Không quân Mỹ còn có thể cứu được đạo quân ở Điện Biên Phủ.

            2. Bộ tư lệnh Pháp cho rằng Việt Minh đang tập trung phần chủ yếu của quân đội họ xung quanh     tâp đoàn cứ điểm này. Đây có lẽ là cơ hội duy nhất để chúng ta tiêu diệt phần lớn họ bằng Không quân, giáng một đòn có lẽ là quyết định đối với Việt Minh"

 1. Les experts militaires français estiment qu’une intervention massive de l’aviation americaine peut encore sauver la garnison du camp;

 2. Le commandement français estime que le Viet Minh ayant concentre autour du camp retranche l’essentiel de son corps de bataille, une occasion peut-etre unique nous est offerte d’en detruire, par l’action de l’aviation, une grande partie. Un coup peut-etre decisif pourrait ainsi etre porté au Viet Minh)37

             Nhận được công hàm, Eisenhower cử Radford sang Paris tiếp sức cho Dulles trong việc thuyết  phục Anh. Trong buổi gặp ngày 24-4, Dulles và Radford trình bày với Eden kế hoạch của Mỹ. Chỉ cần Anh tham gia với một máy bay độc nhất  tượng trưng cho sự đoàn kết nhất trí của phương Tây, thì :

-      Ngày 26-4 (đúng vào ngày Hội nghị Genève khai mạc), Eisenhower sẽ ra trước Quốc hội để yêu cầu các nghị sĩ thông qua Nghị quyết chung của hai viện (mà chính phủ Mỹ đã dự thảo sẵn) cho phép Chính phủ can thiệp quân sự vào Việt Nam.

-      Ngày 27-4, Mỹ sẽ mời đại sứ các nước đồng minh ký tên vào Tuyên bố chung (mà Bộ ngoại giao Mỹ cũng đã dự thảo) ủng hộ "hành động thống nhất" ở Việt Nam.

-      Từ 28-4, hàng trăm máy bay (chủ yếu là của Mỹ) bắt đầu triển khai cuộc hành quân Chim Kên Kên.

Eden cho biết sẽ quay về London trong tối 24-4 để xin ý kiến của Nội các.

             Chiều 24-4, ba ngoại trưởng lại gặp nhau tại trụ sở Bộ Ngoại giao Pháp (Quai d’Orsay). Dulles gặp riêng Bidault, hỏi : "Ông tính sao nếu chúng tôi cho các ông hai quả bom nguyên tử ?" (Et si nous vous donnions deux bombes atomiques ?) 38

          


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 03 Tháng Tư, 2011, 11:37:13 PM
 Ngày 25-4 là chủ nhật, nhưng Churchill vẫn triệu tập các bộ trưởng và tham mưu trưởng của 3 quân chủng đến dự hai cuộc họp khẩn vào buổi sáng và buổi chiều để thảo luận đề nghị của Mỹ. Churchill tuyên bố : "Điều mà người ta [Mỹ] yêu cầu chúng ta làm là giúp vào việc đánh lừa Quốc hội [Mỹ] để phê chuẩn một cuộc hành quân ; cuộc hành quân ấy sẽ không có hiệu quả, nhưng có thể dẫn thế giới đến bờ một cuộc chiến tranh lớn" (What we are being asked to do is to assist in misleading the Congress into approving a military operation which would be in itself ineffective, and might well bring the world to the verge of a major war)39. Sau một ngày thảo luận, Nội các Anh quyết định bác bỏ đề nghị của Mỹ. Theo lời giải thích của Eden, quyết định đó được căn cứ trên 3 lý lẽ sau :

"Một là chúng ta hiểu rằng chỉ có hoạt động của Không quân không thôi thì sẽ không thể có hiệu quả ;

Hai là một sự can thiệp quân sự như thế có thể sẽ phá hoại mọi cơ may đạt được một cuộc dàn xếp ở [Hội nghị] Genève ;

Ba là điều đó có thể dẫn tới một cuộc chiến tranh toàn diện ở châu Á"

(Firstly,we were advised that air action alone could not have been effective ;

Secondly, any such military intervention could have destroyed  the chances of a settlement at Geneva ;

Thirdly, it might well have led to a general war in Asia)40.

             Radford không nản chí, tiếp tục sang Anh ngày 25-4 để thuyết phục 3 tham mưu trưởng Hải, Lục và Không quân của nước này, sau đó gặp Churchill. Thủ tướng Anh trả lời một cách thẳng thừng: "Làm sao người ta lại có thể yêu cầu dân Anh phải chiến đấu cho Đông Dương khi họ đã bỏ Ấn Độ mà không chiến đấu ? " (How could British citizens be asked to fight for Indochina when they had let India go without a fight ?)41.

            Không còn gì để nói, tối hôm ấy Radford đáp máy bay về Mỹ.

            Không thuyết phục được Anh, Mỹ quay sang lôi kéo Australia và New Zealand vì hai nước này đã ký Hiệp ước an ninh tay ba ANZUS với Mỹ ngày 1-9-1951. Nhưng Chính phủ hai nước này từ chối can thiệp quân sự vào Việt Nam, vì – theo lời ngoại trưởng Australia là Casey – "nó không được Liên Hiệp Quốc hậu thuẫn; nó khiến cho dư luận thế giới, đặc biệt là châu Á, ghét bỏ chúng ta; nó làm cho chúng ta xung đột với Trung Hoa cộng sản; nó làm thất bại Hội nghị Genève" (It would not have the backing of the United Nations; it would put us in wrong with world opinion, particularly in Asia; it would embroil us with Communist China; it would wreck the Geneva Conference)42.

            Vào giữa tháng 4, Eisenhower viết thư để "kính chào lòng dũng cảm và sức chịu đựng của viên chỉ huy và các chiến sĩ đang bảo vệ Điện Biên Phủ"(salute the gallantry and stamina of the commander and soldiers who are defending Dien Bien Phu), bày tỏ "lòng ngưỡng mộ sâu sắc nhất đối với cuộc chiến đấu gan dạ và tháo vác mà quân Pháp, quân Việt Nam [quân của Bảo Đại] và quân các thành viên khác của Liên hiệp Pháp đang tiến hành ở đó"(the most profound admiration for the brave and resourceful fight being waged there by troops from France, Vietnam, and other parts of the French Union), ca ngợi "những chiến sĩ này, trung thành với những truyền thống vĩ đại của họ, đang bảo vệ chính nghĩa tự do của con người và chứng minh bằng cách đúng đắn nhất những phẩm chất mà sự sống còn của Thế giới tự do tuỳ thuộc vào đó" (those soldiers, true to their own great traditions, are defending the cause of human freedom and are demonstrating in the truest fashion qualities on which the survival of the Free World depends)43

 Sau 55 ngày đêm chiến đấu, ngày 7 tháng 5 năm 1954, quân đội Việt Nam dựng cờ
chiến thắng tại Điện Biên Phủ     

            Vòng vây của bộ đội Việt Nam ngày càng siết chặt. "Các thủ lĩnh quân sự Mỹ cảm thấy đã quá trễ để có thể cứu Điện Biên Phủ" (the American military leaders felt it was too late to save Dienbienphu)44. Kế hoạch can thiệp quân sự vào Việt Nam phá sản. Con Chim Kên Kên của Mỹ chưa kịp bay lên thì đã gãy cánh.


            Eisenhower viết trong Hồi ký : “Ngày 7-5, tập đoàn cứ điểm sụp đổ…Mặc dù chúng tôi thấy trước kết quả sẽ tới, nhưng việc quân đồn trú ở Điện Biên Phủ cuối cùng đầu hàng vẫn khiến chúng tôi buồn rầu”(On May 7 the fortress fell...Though we could see the end coming, the final capitulation of the garrison of Dien Bien Phu was saddening)45.

 

 Phan Văn Hoàng


 

 

 

1 , 4, 8, 9, 18, 24, 30, 32, 36, 43, 45. Dwight D. Eisenhower, Mandate for Change – The White House Years 1953-1956, Nxb The New American Library, New York, 1965, tr.404, 218, 416, 413, 180, 417, 427, 422, 419, 423, 430, 430.

2 , 35. Jules Roy, The Battle of Dienbienphu, bản dịch của Robert Baldick, Nxb Pyramid Books, New York, 1966, tr.35, 37, 292.

3 , 13, 16. Ronald H. Spector, Advice and Support – The Early Years of the U.S. Army in Vietnam 1941-1960, Nxb The Free Press, New York, 1985, tr.172, 180, 187.

5, 6, 10. The Pentagon Papers (ấn bản của thượng nghị sĩ Gravel), Nxb Beacon Press, Boston, 1971, tập I, tr.96, 77, 90.

7 Bernard B. Fall, The Two Vietnams – A Political and Military Analysis, Nxb Frederick A.Praeger, New York, 1963, tr.122.

11, 19, 26, 37. Jean Lacouture và Philippe Devillers, La fin d’une guerre – Indochine 1954, Nxb Seuil, Paris, 1960, tr.42, 68, 71,89.

12. Báo The New York Times, ngày 5-11-1953.

14. Bernard B. Fall, Indochine 1946-1962 – Chronique d’une guerre révolutionnaire, Nxb Robert Laffont, Paris, 1962, tr.331.

15. Henri Navarre, Le temps des vérités (Thời điểm của những sự thật), bản dịch của Nguyễn Huy Cầu, Nxb Công an nhân dân và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội, 1994, tr.195.

17. Báo Le Monde, Paris (Pháp), ngày 11-2-1954.

20. Bernard B. Fall, « Dienbienphu: A Battle to Remember », The New York Times Magazine, 3-5-1964

22, 28. George McT. Kahin, Intervention – How America Became Involved in Vietnam, Nxb Alfred A.Knopf, New York, 1986, tr.447, 48.

21, 23, 34. Stanley Karnow, Vietnam A History, Nxb Penguin Books, New York, 1987, tr. 11,197, 198.

25, 44. Chalmers M. Roberts, “The Day We Didn’t Go to War”, báo The Reporter số XI, 14-9-1954.

27. Hiệp ước đình chiến ở Triều Tiên ký ngày 27-7-1953 tại Bàn Môn Điến (Panmunjom)

29. Bernard B. Fall, Last Reflections on a War, Nxb Doubleday, New York, 1967, tr.139

31. Hội nghị Genève 1954 có hai nội dung: bàn về một giải pháp hòa bình cho vấn đề Triều Tiên (khai mạc ngày 26-4) và về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương (khai mạc ngày 8-5).

33. Gần 30 năm sau, Mỹ mới thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc (1-1-1979).

38. Georges Bidault, D’une résistance à l’autre, Nxb Les Presses du siècle, Paris, 1965, tr.198.

39. Arthur M.Schlesinger Jr., The Bitter Heritage – Vietnam and American Democracy 1941-1966, Nxb Andre Deutsch, London, 1967, tr.15.

40. George McT. Kahin và John W.Lewis, The United States in Vietnam, Nxb The Dial Press, New York, 1967, tr.39.

41. Marilyn B. Young, The Vietnam Wars 1945-1990, Nxb Harper Perennial, New York, 1991, tr 34.

42. Australian Parliamentary Debates, House of  Representatives, tập 4, 1957, tr.128.

 


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 03 Tháng Tư, 2011, 11:46:51 PM
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dienbienphuonphone1.jpg)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dienbienphuonphone2.jpg)

http://books.google.com.vn/books?id=SlMEAAAAMBAJ&pg=PA53&lr=&rview=1&source=gbs_toc_r&cad=2#v=onepage&q&f=true


Thêm bài viết về Dulles
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/DullesGenevaandhistory.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 04 Tháng Tư, 2011, 12:11:11 AM
A, lâu rồi mới kiếm được một tấm ảnh đắt giá về ĐBP:

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dienbienphu-4.jpg)
Đố các bác, đoạn này là đoạn nào?  :)

Các bác cần xem kỹ hơn xin vào đây: http://books.google.com.vn/books?id=GlMEAAAAMBAJ&pg=PA22&lr=&rview=1&source=gbs_toc_r&cad=2#v=onepage&q&f=true


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 04 Tháng Tư, 2011, 11:24:09 PM
Đố các bác, đoạn này là đoạn nào?  :)

Hầm Đờ Cát nằm đâu đó khoảng chỗ khoanh đỏ.

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/dienbienphu-4.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 04 Tháng Tư, 2011, 11:59:53 PM
Chỗ đó gần sân bay, có lẽ là kho bom chăng. Còn hầm Đờ Cát ở đây.  :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 05 Tháng Tư, 2011, 07:45:02 PM
Về việc xác định vị trí của sân bay và cứ điểm 206 trên thực địa là một vấn đề hay. Sân bay có nằm đúng vị trí như năm 1954? Kích cỡ trước đây thế nào? Bia ghi dấu 206, 106 hiện nay có nằm đúng vị trí cứ điểm xưa?

Các lần lên ĐBP, phải nói là rất ngỡ ngàng, khi 105 đáng ra nằm ở đầu sân bay (1954) thì nay ở khoảng giữa. Như hình sau:
(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/Dien%20Bien%203-2010/14-3/tn_IMG_0941.jpg)
(chụp ở Bia ghi dấu cứ điểm 105, cồn đất màu xanh ở xa xa là 106)
Chi tiết hơn về nghi vấn này của chúng tôi có thể xem ở đây: http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1389.250.html
Và cũng xin nói luôn: nghi vấn của chúng tôi là không chính xác và vị trí Bia ghi nhớ hiện nay của 105 cũng không chính xác.

Chúng tôi xác định như sau:

Đây là ảnh về 105 (trái) và 106 (phải, cứ điểm được xây dựng theo hình mũi tên):
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/hinhgocchieuhinh.jpg)
Các bác chú ý đường đất xiên xiên với sân bay.

Lấy giao điểm giữa đường sân bay và đường xiên này, ta có điểm màu vàng. Điểm này cũng là kết thúc sân bay và bắt đầu của cứ điểm 105.
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/chieuhinh.jpg)

Tiếp theo, lấy hình Điện Biên Phủ ngày nay:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/wikimapia.jpg)

Chúng tôi áp hình DBP1954 lên, kết quả cho thấy hướng của sân bay không thay đổi:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/lenthucte1.jpg)

Và xác định hướng của đường sân bay và đường xiên ở ảnh trước trong mới:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/chieuhinh2-1.jpg)

Kết quả, có thể xác định:
- Sân bay đã được cải tạo kéo dài ở đầu phía bắc. Với công cụ đo wikimapia cho ra kết quả: chiều dài sau khi kéo dài là 2,2 km, chiều dài sân bay 1954 là 836m.
- Cứ điểm 206 không ở xa như chúng tôi hình dung nhưng cũng không đúng so với Bia ghi dấu hiện nay, cách xa 222m, để tránh đường băng, đảm bảo lưu không thì vị trí đúng cũng cách vị trí hiện nay 132m.

Hết nghiên cứu.

Nói nghiêm trọng thế thôi, chứ vui vẻ là chính và xác định của bọn em còn cần kiểm định thêm. Các bác có thông tin gì, xin bổ trợ.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 05 Tháng Tư, 2011, 07:52:19 PM
À, lúc ghép ảnh 1954 và 2008 có thể khẳng định kịch liệt rằng đoạn sông Nậm Rốm đi nội thành thành phố Điện Biên Phủ đã đổi dòng nghiêm trọng. Trước đây biết sông có biến đổi nhiều, không ngờ là quá nhiều.  ;D

Đường chấm đỏ là con sông ngày nay:
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/namrom2.jpg)

Đường chấm xanh là con sông hồi 1954
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/Namrom.jpg)

May mà đoạn có cầu Mường Thanh được bảo vệ không thì cũng bay rồi.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 07 Tháng Năm, 2011, 09:11:18 PM
http://www.youtube.com/watch?v=fUivfl-pTL4 (http://www.youtube.com/watch?v=fUivfl-pTL4)
Càng xem clip này của bác Sairagon càng thấy hay. Những hình ảnh bộ đội khiêng pháo trên đôi vai, những con thuyền lao về phía trước được kết hợp với nhạc thật tuyệt vời. Xem thực sự là sởn gai ốc vì xúc động và tự hào. Rồi cả đoạn cuối nữa, tiếp ngay sau hình ảnh những đoàn tù binh lủi thủi khổng lồ thẳng tắp được những chiến sỹ Việt Minh nhỏ bé dẫn giải giữa rừng âm lạnh đối lập hoàn toàn với đoàn quân chiến thắng bước những bước đi oai dũng trở về giải phóng Thủ đô giữa rừng người, rừng cờ và rừng hoa.
Càng xem càng thấy hay. Một lần nữa cám ơn bác Sairagon.  :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: shmel trong 10 Tháng Năm, 2011, 11:02:57 AM
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/296/296/296/145135/Default.aspx


Gặp lại người cùng bắt sống tướng Đờ Cát – Xtơ ri (kỳ 1)


Kỳ 1: Đi bộ đội sau trận đòn “thừa sống thiếu chết”

QĐND Online - Gần 60 năm nay, ngôi nhà của ông đã trở nên quen thuộc với phóng viên các báo, đài và những người muốn hiểu hơn về thời khắc lịch sử của cả dân tộc trong ngày 7-5-1954, ngày đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của tập đoàn cứ điểm của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ. Ông là Đại tá Hoàng Đăng Vinh, người bắt sống tướng Đờ-Cát năm nào…

Từ trận đòn thù đến đêm bỏ làng theo bộ đội

Đến ga Thị Cầu (thành phố Bắc Ninh), hỏi nhà ông Vinh bắt tướng Đờ-Cát, chị chủ quán may quần áo, đối diện với ga, vanh vách chỉ chúng tôi đường về nhà ông:

- Nhà ông Vinh bắt tướng Đờ-Cát à? Các chú đi tới ngã ba trước mặt, rẽ trái, chạy men theo đường tàu chừng hai trăm mét là đến khu tập thể Trường tập huấn cán bộ công binh, nhà ông ấy ở đó.

(http://image.qdnd.vn/Upload//hoangha/2011/4/16/160411hha03095015515.jpg)
Chăm sóc cây cảnh, thú vui tuổi già của ông Hoàng Đăng Vinh

Như đã hẹn, Đại tá Hoàng Đăng Vinh mở cổng đón chúng tôi với nụ cười niềm nở. Nhìn tác phong nhanh nhẹn của ông, ít ai nghĩ rằng ông đã bước vào tuổi 76. Ông Vinh sinh năm 1935, trong một gia đình có cả thảy 7 anh chị em, ở xã Tiên Tiến, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên.

- Quả thật, ngày ấy tôi trốn gia đình theo bộ đội cũng vì uất hận, vì đói- ông Vinh bắt đầu câu chuyện.

Như chợt nhớ ra điều gì, ông nhấc chiếc mũ bê-rê ra khỏi đầu, xoa xoa mái tóc bạc trắng, rồi cười lớn:

- Tóc tôi cắt ba phân như thế này kể từ cái ngày tôi bị quân Pháp và lũ tay sai túm tóc, đánh đập dã man. Cũng từ trận đòn thập tử nhất sinh ấy mà tôi thêm quyết tâm đi đánh Pháp.

Năm ông 17 tuổi, cũng là lúc bóng giặc Pháp “nhan nhản” ở làng. Ngày ngày chúng càn quét, cướp phá, giết chóc. Một đêm khi đang trong lều vó bè, thấy tiếng xì xồ, biết địch lại đi càn, ông liền thục mạng “phóng” từ lều ra ngoài ruộng lúa để trốn.

- Khi vừa chạy ra khỏi lều, tôi đã thấy mấy thằng hô to “Bô-cu Việt Minh”. Rồi chúng nhào đến giật tóc, đánh đấm liên hồi cho đến khi tôi bất tỉnh, ông Hoàng Đăng Vinh nhớ lại.

Sau đó ông bị chúng nhốt vào bốt La Tiến. 3 ngày 3 đêm đầu, ông bị bỏ đói. Đến ngày thứ 4 chúng mới cho ông bát cháo loãng. Ăn xong chúng bắt ông đi gánh cát sửa đồn.

Nghe dân làng mách nước, mẹ ông vay mượn được ít tiền, tất tả tìm xuống bốt La Tiến “lót tay” bọn cai, chúng mới cho hai mẹ con ông gặp nhau. Ngồi bên đống gạch, vừa xì xụp húp bát bánh đa mẹ mang đến, ông vừa khóc vì tủi nhục.

- Khi tôi đang ăn dở bát bánh đa thì một thằng đội bất thần xuất hiện. Nó vung chân đá thẳng vào chiếc bát khiến bánh đa bắn tung tóe đầy mặt tôi. Ngay sau đó hắn đuổi mẹ tôi ra khỏi đồn, ông Vinh nhớ lại.

Sự căm phẫn quân Pháp và bè lũ tay sai đã bén rễ trong suy nghĩ của ông từ cái ngày tủi nhục ấy. Sau này được thả khỏi bốt La Tiến, đêm đêm đi kéo vó, thi thoảng ông lại gặp du kích và bộ đội, khi họ vào lều vó xin lửa hút thuốc.

- Họ nói với tôi rằng, dân ta hành khất khắp nơi, đói kém, chết chóc cũng vì bị thực dân Pháp và tay sai đàn áp, muốn hết khổ không còn cách nào khác là phải theo cách mạng để diệt thù.

“Mưa dầm thấm lâu”, thế rồi vào một đêm tháng 9-1952, ông trốn khỏi làng, vượt đường 39, đường 5, đường 1, tìm về Nho Quan, Ninh Bình – nơi tiếp nhận chiến sĩ gia nhập Đại đoàn 312.

Cái đêm đáng nhớ ấy đã mở ra những ngày gian khổ nhưng đầy vinh quang trong quân ngũ của Đại tá Hoàng Đăng Vinh…

Lần đầu tiên được…đón chào

Từ Nho Quan, ông cùng các chiến sĩ mới hành quân về Phú Thọ. Đến đơn vị mới, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt ông là chiếc cổng chào được tết bằng lá cọ rất đẹp, trên có khẩu hiệu “Nhiệt liệt hoan nghênh các chiến sĩ mới về xây dựng đơn vị”. Khi ông cùng các chiến sĩ mới tiến vào sân đại đội thì đã thấy các chiến sĩ cũ đứng xếp hàng ở sân vỗ tay hoan hô.

- Ngày ở quê, sống dưới ách kìm kẹp của bè lũ tay sai và thực dân, chỉ…được “ăn” chửi, “ăn” đấm đá. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi được hoan nghênh, đón chào như thế. Đúng là về với cách mạng, thân phận mình khác hẳn. Cuộc đời quân ngũ của tôi bắt đầu bằng những kỉ niệm đẹp như thế, Đại tá Vinh hồi tưởng lại.

(http://image.qdnd.vn/Upload//hoangha/2011/4/16/160411hha02095011359.jpg)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Đại tướng Văn Tiến Dũng gặp mặt thân mật các cựu chiến binh (người được Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt tay là ông Hoàng Đăng Vinh) tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12-1976). Ảnh chụp lại.

Bữa trưa hôm ấy, lần đầu tiên trong đời ông được thưởng thức món ăn lạ- thịt trâu nấu sắn. Các chiến sĩ cũ thay nhau xúc món ăn này mời các chiến sĩ mới. Đại tá Hoàng Đăng Vinh nheo mắt nhớ lại bữa cơm đầu tiên ấy:

- Mức sống của dân mình ngày càng được nâng cao, vì thế tôi cũng được thưởng thức nhiều món ăn ngon, song quả thật chưa có món ăn nào ngon như món thịt trâu nấu sắn hôm ấy.

Khi ấy ông được biên chế vào Tiểu đội 2, Trung đội 1, Đại đội 360, Tiểu đoàn 130, Trung đoàn 209. Ông còn nhớ rõ Tiểu đội trưởng đầu tiên của ông khi đó là đồng chí Bộ. Tổ 3 người có ông, ông Chí và ông Thảo. Ông được cán bộ các cấp hướng dẫn từ cách lấy củi, lấy măng đến huấn luyện kỹ, chiến thuật chiến đấu bộ binh, được dạy đọc, dạy viết. Chính nhờ được cán bộ các cấp huấn luyện sâu sát, nhiệt tình, cộng với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân nên Hoàng Đăng Vinh và các chiến sĩ mới trưởng thành từng ngày. Từ anh trai làng “một chữ cắn đôi” không biết, ông Vinh đã có thể đọc sách để dần “vỡ” ra vì sao dân ta khổ, muốn hết khổ thì phải làm gì? Rồi ông cùng đồng đội được trang bị các kỹ năng chiến đấu với quân thù.

Tất cả đều háo hức chờ ngày giết giặc lập công...

 Bài và ảnh: Phạm Hoàng Hà


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: shmel trong 10 Tháng Năm, 2011, 11:04:14 AM
http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/296/296/296/145875/Default.aspx


Gặp lại người cùng bắt sống tướng Đờ Cát – Xtơ ri (kỳ 2)


Kỳ 2: Trận đánh đầu tiên của “lính mới”


QĐND Online – Khoảng một năm sau cái đêm bỏ làng theo bộ đội, ông Hoàng Đăng Vinh đã tham gia trận đánh đầu tiên trong đời quân ngũ. Trong trận đánh “nghẹt thở” ấy, ông đã bắn đến viên đạn cuối cùng, phải dùng lưỡi lê tiêu diệt địch…Sau trận đánh, ông đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba…

Đường ra trận vui như hội

Cuối năm 1953, Hoàng Đăng Vinh cùng đồng đội hành quân về Điện Biên.

Với chất giọng bồi hồi, ông nhớ lại những cảm xúc cách đây đã 58 năm:

- Giai đoạn đầu chúng tôi đi theo đường rừng, sau đó ra đường 41. Mới đầu cứ tưởng chỉ có mình và đồng đội đi đánh trận, ai ngờ ra đến đường 41, chúng tôi gặp từng đoàn bộ đội, dân công nối tiếp nhau hừng hực khí thế tiến về phía trước, vừa đi vừa hò hát vui như đi hội vậy. Bởi thế nên chúng tôi ai nấy đều phấn chấn, quyết tâm hơn.

Khi còn cách cứ điểm đầu tiên của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ khoảng 10 cây số, đơn vị ông được lệnh dừng lại, bắt đầu đào công sự và làm đường chuẩn bị kéo pháo vào trận địa.

- Mới hôm trước còn là rừng rậm, ấy vậy mà hôm sau đã thấy rừng “biến” thành đường. Mà ngày ấy đâu có máy móc như bây giờ, tất cả chỉ là cuốc, xẻng cộng với sức người, ông Vinh tâm sự.

Nhiều sáng kiến hay được bộ đội, dân công nghĩ ra nhằm đẩy nhanh tiến độ làm đường kéo pháo như đào rãnh một bên mép đường, sau đó đóng cọc, bẩy đất lật sang phía rãnh. Tiếp đó sử dụng bừa gỗ, kéo đất tạo độ phẳng cho mặt đường.

- Chắc hẳn chuyện giữ bí mật để tránh bị địch đánh phá cũng là một kỳ công của bộ đội ta ngày ấy?

Trước câu hỏi của chúng tôi, người lính Điện Biên năm nào nheo nheo đôi mắt, cười hóm hỉnh:

- Đúng thế, để tránh địch trinh sát, phát hiện đường kéo pháo của ta, đường làm đến đâu được ta đào lỗ, chôn ống bương đến đó. Cành cây tươi được đút vào lỗ ống bương, thành thử đường cũng … xanh như rừng vậy.

Sáng hôm sau, cành cây lại được thay mới, vậy nên mặc vè vè bay lượn phía trên song máy bay trinh sát của địch cũng không thể phát hiện ra rằng, ngay phía dưới chúng, một con đường mới đang được hình thành, chuẩn bị đưa pháo vào tiêu diệt quân Pháp tại nơi mà chúng gọi là “pháo đài bất khả xâm phạm”…

(http://image.qdnd.vn/Upload//hoangha/2011/4/23/230411hha15184043325.jpg)
Đại tá Hoàng Đăng Vinh (người được Đại tướng Võ Nguyên Giáp bắt tay) trong một lần cùng đồng đội đến thăm Đại tướng. Ảnh chụp lại

Trận đánh đầu tiên của “lính mới”

Một ngày đầu tháng 3-1954, đơn vị của Hoàng Đăng Vinh đã đào công sự vây lấn, cách cứ điểm Him Lam chừng một cây số. Trưa hôm đó, ông được Trung đội trưởng Định giao nhiệm vụ lên quả đồi cạnh đó đào công sự, cảnh giới địch, đề phòng chúng cho lực lượng ra san lấp giao thông hào. Số anh em còn lại tranh thủ nghỉ ngơi lấy lại sức.

- Đêm trước đã tham gia đào hào nên tôi vừa cảnh giới vừa buồn ngủ rũ mắt nên phải lấy nước táp vào mắt để chống chọi lại cơn buồn ngủ, ông Vinh kể.

Đang mơ màng, ông chợt nghe thấy tiếng cành cạch ngày càng rõ. Ông tức tốc chạy về báo cáo với Phó trung đội trưởng Thụ:

- Báo cáo trung đội phó, em nghe thấy tiếng gì cành cạch to lắm.

- Tiếng xe tăng địch chứ còn tiếng gì nữa, Phó trung đội trưởng Thụ hô to.

Toàn trung đội được lệnh chiến đấu. Phía dưới chân đồi, 4 chiếc xe tăng địch bắn lên, yểm trợ cho bộ binh xung phong, khiến cây trên đồi đổ rầm rầm. Lần xung phong thứ nhất, bộ binh địch bị ta bắn và ném lựu đạn quyết liệt vào đội hình, buộc phải quay lại chân đồi để củng cố đội hình. Lần xung phong thứ hai, chúng tràn lên khoảng 1/3 đồi. Khi thấy lực lượng của ta thương vong nhiều, đồng chí Thận, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2, lúc đó cũng đã bị thương, ra lệnh:

- Đồng chí Vinh lên báo cáo Trung đội trưởng là Tiểu đội 2 bị thương vong nhiều.

Chạy lên vị trí trung đội trưởng, Hoàng Đăng Vinh thấy anh Định đã bất tỉnh vì đầu trúng đạn. Chạy về vị trí của Trung đội phó Thụ, ông Vinh cũng thấy anh Thụ đã bị mảnh đạn xuyên qua má, máu thấm đẫm chiếc khăn bông. Một tay giữ khăn cầm máu, tay kia anh Thụ vẫn cầm chắc súng.

- Báo cáo anh Thụ, ta bị thương vong nhiều, Hoàng Đăng Vinh nói như hét.

Vì không thể nói được nữa nên đồng chí Thụ kéo chiếc sổ ra, cắn răng cố viết: “Đồng chí động viên anh em dù chỉ còn một người vẫn phải giữ trận địa”.

Nhìn dòng chữ ấy, ông thấy như có luồng xung điện chạy giần giật trong huyết quản. Ông tức tốc lao về vị trí chiến đấu, tiếp tục nã đạn về phía địch. Khi ném nốt quả lựu đạn cuối cùng, ông ngồi thụp xuống giao thông hào tránh đạn. Ngay sau đó ông thấy tiếng Phó tiểu đội trưởng Chi hô to:

- Đồng chí Vinh chú ý 2 thằng bên trái.

Ngồi bật dậy, ông đã thấy 2 tên lính Pháp lù lù ngay trước mặt. Khẩu súng trường đang trong tư thế giương lê, lợi thế trên cao, ông phóng ngay lê vào cổ tên đi trước, hắn đổ kềnh xuống, kéo ngã cả thằng đi sau.

- Đạn đâu? Lựu đạn đâu? Anh Chi hỏi to.

- Của tôi hết rồi, ông Vinh đáp lại.

- Sao không lấy của anh em đã hi sinh mà tiêu diệt địch?

Dừng kể giây lát, ông Hoàng Đăng Vinh thật thà:

- Đấy, lính mới mà, lúc đó tôi mới tự mắng sao mình … dốt thế.

Ngay sau đó, ông Vinh lấy vũ khí của đồng đội đã hy sinh, bắn kiềm chế địch. Chừng 5 phút sau, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật dẫn quân từ phía sau lên yểm trợ. Trước sức tiến công ồ ạt của ta, địch buộc phải tháo chạy.

Sau trận đánh “đầu đời” ấy, Hoàng Đăng Vinh được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba…

Bài và ảnh: Phạm Hoàng Hà


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: shmel trong 10 Tháng Năm, 2011, 11:06:23 AM
http://qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/296/296/296/147053/Default.aspx


Gặp lại người cùng bắt sống tướng Đờ Cát – Xtơ ri (kỳ 3)


Kỳ 3: Hai lần đối mặt với Đờ Cát-Xtơ ri


QĐND Online – Chuyện Đại tá Hoàng Đăng Vinh cùng các đồng đội xông vào hầm, bắt sống tướng Đờ Cát- Xtơ ri và toàn bộ bộ tham mưu của địch-điều đó hẳn đã có nhiều người biết đến. Đấy là lần thứ nhất ông đối mặt với Đờ Cát. Và chỉ nửa tháng sau, còn có lần đối mặt khá thú vị giữa Hoàng Đăng Vinh và vị bại tướng này. Trò chuyện cùng ông chúng tôi mới biết, có khá nhiều tình tiết thú vị đã diễn ra trong cuộc gặp lần thứ hai này…

Những bước chân của 56 năm về trước

Khi dòng hồi tưởng đưa Đại tá Hoàng Đăng Vinh trở lại ngày 7-5-1954 lịch sử, đôi mắt người chiến sĩ Điện Biên năm nào chợt ngấn lệ. Nhấp thêm ngụm trà như để kìm nén cảm xúc đang trào dâng, ông bồi hồi kể tiếp:

- Sau khi giải quyết xong cao điểm 507, chúng tôi tiến đánh các cao điểm 508, 509. Trên đường tiến công, tôi và anh Nhỏ gặp một đồng chí của ta bị mảnh đạn pháo cắt cụt cả hai ống chân, ống tay, đang lết trên mặt đất.

Thấy vậy, Hoàng Đăng Vinh và đồng chí Nhỏ vội ngồi thụp xuống, định băng bó cho chiến sĩ nọ, nhưng anh hét lớn: “Đằng nào tôi cũng chết, các anh tiến lên đi, thời cơ đến rồi!”.

- Tôi và anh Nhỏ đành gạt nước mắt, xốc súng tiếp tục băng lên phía trước, giọng ông Vinh nghẹn lại, rồi ông nói tiếp - chính những người đồng đội dũng cảm như thế đã tiếp thêm ý chí, nghị lực cho tôi thêm quyết tâm tiêu diệt địch.


(http://image.qdnd.vn/Upload//hoangha/2011/5/6/060511hha02083632873.jpg)
Ông Vinh vui vầy cùng cháu nội.

Theo đà phát triển của chiến dịch, ngày 7-5, ông Vinh cùng đồng đội tiến vào trung tâm của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Khi tiến vào cây cầu sắt dẫn vào trung tâm, đại liên của địch vẫn bắn ra như mưa. Bộ đội ta phải dừng lại trước cầu để củng cố đội hình rồi sử dụng hỏa lực “dập tắt” ổ đại liên.

Khi đánh vào đến khu trung tâm, Hoàng Đăng Vinh và đồng đội thấy phía trước mặt có một ụ đất nhô lên khá cao, 4 chiếc xe tăng đang chạy vòng quanh ụ đất. Đang tự hỏi không biết ụ đất đó là cái gì thì ông và đồng đội bắt được một tên địch. Tra hỏi, hắn khai đó là hầm của tướng Đờ Cát – Xtơ ri.

Ngay sau đó, tổ Vinh, Nhỏ, Hiếu liền dùng thủ pháo hất một chiếc xe tăng địch rơi xuống giao thông hào. Cùng thời điểm đó, một chiếc xe tăng khác bị đơn vị bạn tiêu diệt, hai chiếc còn lại liền tháo chạy.

Cơ động về phía cửa hầm, các ông thấy bên dưới khá im ắng. Khi ném lựu đạn và xả súng xuống, liền có tiếng xì xào phát ra bên dưới. Hoàng Đăng Vinh liền nhắc Nhỏ:

- Anh Nhỏ, ném thủ pháo đi, nhưng ném phía ngoài cửa hầm để dọa thôi, cố gắng bắt sống chúng.

Sau tiếng nổ của thủ pháo, đất đá, khói xộc xuống miệng hầm. Không lâu sau, một tên sĩ quan Pháp tay phất phất miếng vải trắng, nhô lên miệng hầm, lắp bắp: “Bẩm bẩm, mời sĩ quan Việt Minh vào hầm để bộ chỉ huy Điện Biên Phủ đầu hàng”.

Ngay lúc đó, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật cũng xuất hiện, anh ra lệnh toàn bộ đơn vị bao vây quanh hầm; các đồng chí Hiếu, Nam bịt cửa hầm bên kia; các đồng chí Vinh, Nhỏ theo anh vào hầm bắt Đờ Cát đầu hàng.

Ông Vinh nhớ lại:

- Khi chúng tôi tiến đến đâu, bọn sĩ quan Pháp lùi lại đến đó. Khi đến giữa hầm thì chúng “vón cục” lại, có tên chui vào gầm bàn.

Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật dùng tiếng Pháp, hô cả bọn đầu hàng, tất cả đều giơ tay, riêng tướng Đờ Cát vẫn ngồi im lặng, không giơ tay.

- Đồng chí Vinh bắt Đờ Cát phải đầu hàng, Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật ra lệnh.

Tay đặt vào cò súng, Hoàng Đăng Vinh tiến về phía Đờ Cát. Khi Vinh đến gần, Đờ Cát vội bật dậy, giơ tay ra định bắt.

“Hô-lê-manh” – miệng hô, tay Hoàng Đăng Vinh thúc mạnh khẩu súng tôm-sơn vào bụng Đờ Cát. Vị bại tướng lùi lại hai bước, toàn thân run rẩy, miệng xổ ra một tràng tiếng Pháp.

- Sau đó anh Luật có nói với chúng tôi rằng, khi đó Đờ Cát nói “xin các ông đừng bắn, chúng tôi đầu hàng”, ông Vinh bộc bạch.

Toàn bộ bộ chỉ huy của Pháp ở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã được Đại đội trưởng Tạ Quốc Luật và các chiến sĩ Vinh, Nhỏ cùng một số chiến sĩ nữa dẫn giải về đồi E, giao cho cấp trên.

Chưa đầy nửa tháng sau đó, ông Hoàng Đăng Vinh lại có cuộc gặp gỡ thú vị với người mình đã từng đối mặt tại hầm bộ chỉ huy của địch ở chiến trường Điện Biên Phủ…

Lần thứ hai, mặt đối mặt

Ngày 19-5-1954, ông Vinh cùng đoàn đại biểu là cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch Điện Biên vinh dự được về gặp Bác Hồ, chúc mừng sinh nhật Người và báo cáo với Người về kết quả chiến dịch.

(http://image.qdnd.vn/Upload//hoangha/2011/5/6/060511hha01083630154.jpg)
Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn huy hiệu cho chiến sĩ Hoàng Đăng Vinh, người bắt sống tướng Đờ Cát trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh chụp lại.

Hôm sau, ngày 20-5, theo đề nghị từ đoàn làm phim của đạo diễn Các-Men (thuộc Liên Xô cũ), Hoàng Đăng Vinh đã có cuộc đối mặt với tướng Đờ-Cát lần thứ hai, trong một khu rừng thuộc tỉnh Thái Nguyên.

- Trong chiếc lán được lợp bằng lá cọ, giữa kê mấy chiếc bàn mộc to, xung quanh là ghế băng, tôi được bố trí ngồi đối diện với Đờ Cát, ông Vinh nhớ lại.

Khi mọi người đã ổn định chỗ ngồi, một đồng chí cán bộ của Cục Điện ảnh chỉ vào Hoàng Đăng Vinh và quay sang hỏi Đờ Cát:

- Ông có biết người thanh niên này là ai không?

- Nếu không nhầm thì tôi đã gặp người thanh niên này rồi, Đờ Cát đáp.

Ngay tức thì, người cán bộ của Cục Điện ảnh nói lớn:

- Tôi khen ông có trí nhớ rất tốt. Chính người chiến sĩ này đã vào hầm tóm cổ ông.

Sau một thoáng suy nghĩ, nhìn về ông Vinh, Đờ Cát nói với thái độ trịnh thượng:

- Tôi rất hân hạnh nếu được chỉ huy những người lính dũng cảm như anh.

Ngay sau khi lời nói của Đờ Cát được dịch ra tiếng Việt, máu trong người Hoàng Đăng Vinh như sôi lên sùng sục.

- Vậy khi đó bác đã đối đáp lại với Đờ Cát ra sao? Chúng tôi sốt ruột gặng hỏi.

Ông Vinh chậm rãi:

- Khi đó các cán bộ trong đoàn làm phim của Liên Xô (cũ) và các cán bộ của ta cũng giục tôi rằng, đồng chí Vinh đáp lại Đờ Cát đi chứ. Đang nóng tiết, tôi nhìn thẳng vào mặt Đờ Cát đanh giọng: Ông chỉ khoác lác, kẻ bại trận như ông sao có thể chỉ huy được tôi, bởi chính tôi và các đồng đội tôi đã vào hầm lôi cổ ông ra cơ mà.

Ngay sau câu trả lời đanh thép của người lính chiến Hoàng Đăng Vinh, các bạn trong đoàn làm phim quốc tế cùng cán bộ của ta ôm hôn ông và nhiệt liệt hoan hô. Phía đối diện chỗ ngồi của Hoàng Đăng Vinh, bại tướng ngồi im lặng…

Khi sắc nắng cuối ngày dần nhạt, cũng là lúc chúng tôi lưu luyến chia tay người chiến sĩ quả cảm năm nào. Lúc này, giọng ông nhỏ nhẹ, khi nói lên những lời gan ruột, rằng gần 60 năm qua, rất nhiều người đã khen ông dũng cảm khi xộc vào hầm, bắt Đờ Cát và toàn bộ bộ tham mưu của địch phải đầu hàng. Song ông xin dành những lời khen ấy cho bao đồng đội đã ngã xuống hoặc hi sinh một phần xương máu trong chiến dịch Điện Biên. Chính sự hy sinh cao cả của họ đã góp phần tiếp thêm sức mạnh, nâng bước chân ông và bao đồng đội khác tiến thẳng vào sào huyệt của địch, làm nên một Điện Biên sáng chói, “lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu”…

Bài và ảnh: Phạm Hoàng Hà


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: doiviendukichmat trong 07 Tháng Sáu, 2011, 11:21:31 AM
http://www.youtube.com/watch?v=fUivfl-pTL4 (http://www.youtube.com/watch?v=fUivfl-pTL4)
Phim hay quá nhỉ ;)! Lâu lắm rồi mới coi lại một phim lịch sử kiểu này. ;D
À hình như bạn dùng tư liệu trong phim "Việt Nam trên đường thắng lợi" phải không?.
Có thể cho mình xin link coi hoặc link down toàn bộ được không?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Sáu, 2011, 09:23:02 PM
Đang xem trực tiếp vở kịch nói về chiến dịch Điện Biên Phủ trên VTV1, đoạn mô tả chuyển từ "Đánh nhanh thắng nhanh" sang "Đánh chắc thắng chắc" xem ra không thuyết phục lắm, chủ yếu như là do bị lộ mà TTL của ta đã quyết định như vậy?! Rồi thì bộ đội ta gọi nhau là "mày, tao", chẳng biết xưng hô như thế có đúng vậy không?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: baoleo trong 18 Tháng Bảy, 2011, 05:04:50 PM
@các "chiên da"  ;D về Điện Biên:
Bên GDQP, có mem đã post lên phim tài liệu quay về Điên Biên, đường băng, v.v.. từ trên không. Tài liệu của bọn Tây  ;)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 18 Tháng Bảy, 2011, 11:07:57 PM
Đó không phải là Điện Biên bác Baoleo ạ, theo em sân bay có các cứ điểm bao quanh đó là Nà Sản :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: baoleo trong 19 Tháng Bảy, 2011, 08:08:51 AM
Nà Sản không to được như thế, đ/c chuyên gia Điện Biên à  :)
Đây là kinh nghiệm thực tế của tớ, đã có 3 lần cất hạ tại Nà Sản  ;) (Lần thứ tư thì không thành, vì trời mù, nên phải đi bộ về HN  >:()


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 19 Tháng Bảy, 2011, 07:31:08 PM
Em cho rằng đó là Nà Sản vì các cứ điểm nằm sát sân bay "hao hao" giống với sơ đồ tập đoàn cứ điểm này. Em chưa lên Nà Sản lần nào nên chưa biết nó dài ngắn ra sao, chỉ là phỏng đoán vậy thôi bác  :). Còn thì em chắc chắn đó không phải là sân bay Mường Thanh :).  . 

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/saragon.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: baoleo trong 22 Tháng Bảy, 2011, 08:28:03 AM
Địa hình thằng Nà Sản thì thế này:
Nếu đúng ở đường băng, lưng hướng về Thị xà Sơn La, mặt hướng về phía HN, thì phía tay trái, cách tim đường băng tầm 1 km là đường 6. Phía tay phải, cách khoảng 500 m là 1 dòng suối, cách tầm 1 đến 1,5 km là 1 dải núi.
Xin cung cấp thêm tư liệu để đ/c New chuyên gia thẩm định.
Có 1 băn khoăn: Nà Sản ít được tuyên truyền, so với ĐB, nên phim ảnh về NS, chắc phải ít hơn ĐB. Vậy sao thằng Tây nó không chọn cảnh quay ĐB mà lại chon cảnh quay NS :o


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: SaigonGuider trong 23 Tháng Bảy, 2011, 05:56:14 AM
@baoleo: Nhưng nói về mặt "nguy hiểm" để hoành hành với các đường kéo quân của ta... thì Nà Sản "nặng ký" gấp mười lần cái sân bay trong chảo kia Bác ạ - ấy là chưa nói đến công phu thi công, vào thời điểm ấy, ở khu vực ấy!

Trên thực tế, một số cảnh quay "đi thị sát" hoặc "kiểu báo chí" thì cũng từ Nà Sản này nhiều hơn - vừa gần, vừa an toàn!  ;D


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 23 Tháng Bảy, 2011, 05:20:56 PM
Có 1 băn khoăn: Nà Sản ít được tuyên truyền, so với ĐB, nên phim ảnh về NS, chắc phải ít hơn ĐB. Vậy sao thằng Tây nó không chọn cảnh quay ĐB mà lại chon cảnh quay NS :o
Băn khoăn này của bác Baoleo khó quá  ;). Em chỉ biết chắc chắn đó không phải là ĐBP thôi :)

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/dienbienphu-4.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 23 Tháng Bảy, 2011, 05:43:55 PM
(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_0182.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 23 Tháng Bảy, 2011, 07:03:31 PM
Ảnh của Chủ nhiệm Chiang tuyệt quá! Mô tả vị trí của cum Eliane và diễn biến chiến sự trong những giờ cuối cùng.
Ảnh này có thể được chụp trước chiến sự, cùng đợt với ảnh trong cuốn của J. Pouget.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 23 Tháng Bảy, 2011, 08:15:29 PM
Chiên da New này, vị trí của chiếc Bazeilles liệu có chính xác không nhỉ. Chẳng lẽ trong lần tấn công thứ nhất ta đã lên được tận đấy?


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 23 Tháng Bảy, 2011, 11:49:45 PM
Nếu theo ảnh đó thì Bazeilles là ở đây.
(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/anhdep2.jpg)
Theo tớ là không thể.
Đợt 1, nơi xa nhất mà quân ta tiến tới được là chân hầm ngầm và tài liệu duy nhất mô tả chuyện này là tiểu thuyết cao điểm cuối cùng. Cánh của cụ Hòe vướng một khoảng sân rộng (sân bóng chuyền) và dừng lại, điểm này cách khá xa hầm ngầm. Cánh cụ Chi đánh đến hầm thông tin (cái này là theo cách gọi của ta, chứ tớ không nghĩ hầm thông tin ở trước hầm ngầm), chưa rõ ở đâu. Tớ có hỏi cụ Chi về việc ta đánh đến đâu, cụ chỉ đến quãng cách hầm ngầm độ 20m.


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: star trong 24 Tháng Bảy, 2011, 09:48:37 AM
Em cho rằng đó là Nà Sản vì các cứ điểm nằm sát sân bay "hao hao" giống với sơ đồ tập đoàn cứ điểm này. Em chưa lên Nà Sản lần nào nên chưa biết nó dài ngắn ra sao, chỉ là phỏng đoán vậy thôi bác  :). Còn thì em chắc chắn đó không phải là sân bay Mường Thanh :).  .  

(http://i84.photobucket.com/albums/k16/vo_quoc_tuan/saragon.jpg)

Mình tìm trên mạng được 2 trang web có không ảnh của một số sân bay trong chiến tranh Đông Dương:

Website http://www.anciens-aerodromes.org/,
Phần Indochine:
http://www.anciens-aerodromes.org/terrains%20aviations/Indochine.htm

Website: http://www.frenchwings.net
Phần: Indochina
http://www.frenchwings.net/indochina/FR/fr_accueil.htm
Trong 2 mục:
Cartes:
http://www.frenchwings.net/indochina/FR/fr_cartes.htm

Galerie
http://www.frenchwings.net/indochina/gallery/
(Còn bao gồm các loại máy bay Pháp sử dụng trong chiến tranh Đông Dương)

Đây là 2 bức ảnh sân bay Nà Sản năm 1949 (còn rất đơn sơ), nên cũng không rõ có phải là sân bay trong clip không :

(http://www.anciens-aerodromes.org/terrains%20aviations/Na%20San%201949%20001.jpg)

(http://www.anciens-aerodromes.org/terrains%20aviations/Na%20San%201949%20002.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 24 Tháng Bảy, 2011, 10:10:34 AM
Tuyệt vời, bác Star!  :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: vo quoc tuan trong 24 Tháng Bảy, 2011, 11:11:05 PM
So sánh với hình của bác Star thì càng thấy nguy cơ cao cái sân bay trong phim màu là Nà Sản :)


Tiêu đề: Re: Trận Điện Biên Phủ 20/11/1953 - 7/5/1954
Gửi bởi: baoleo trong 25 Tháng Bảy, 2011, 08:30:25 AM
So sánh với hình của bác Star thì càng thấy nguy cơ cao cái sân ba