Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2010, 08:12:42 AM



Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2010, 08:12:42 AM
Những ngày ở Cánh Đồng Chum
Tác giả: Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Nhà xuất bản: Quân đội nhân dân.
Năm xuất bản: 1997
Số hóa: macbupda.

LỜI GIỚI THIỆU

Cùng chung hiểm họa mất nước, vì mục tiêu giành độc lập tự do cho Tổ quốc mình, suốt mấy thập kỷ qua, hai dân tộc Việt Nam, Lào đoàn kết, gắn bó cùng chung chiến hành đánh Mĩ hết sức anh dũng, gian khổ và đã giành được thắng lợi vẻ vang.

Tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt giữa hai quân đội, hai dân tộc Lào - Việt là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi. Đây là tài sản quý báu mà chúng ta phải giữ gìn và phát huy.

Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn với biệt danh là “Bình”, nguyên là một chiến sĩ tình nguyện đã gắn bó gần hết cuộc đời chiến đấu của mình với chiến trường Lào từ đánh Pháp đến dánh Mĩ. Ở cương vị chuyên gia Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trong những năm đánh Mĩ, tác giả đã trận trọng ghi lại những hồi ức, những tìm cảm của mình bằng nhiều chuyện kể về những trận đánh, những tấm gương hi sinh chiến đấu và công tác của các tập thể và cá nhân anh hùng đã chung sức làm nên chiến thắng và vun đắp cho mối tình hữu nghị Lào - Việt.

Chuyện kể chưa đầy đủ và chắc chắn còn thiếu sót, song nó là bản hồi ức tự viết của một cán bộ cao cấp đã sẵn sàng hi sinh thân mình cho phong trào chiến tranh nhân dân Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum. Đọc cuốn hồi ức, chúng ta được nhìn lại giai đoạn đấu tranh giành chiến thắng với bao nhiêu hy sinh, gian khổ, đầy oanh liệt, vẻ vang của nhân dân Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum và quân tình nguyện Việt Nam. Ngoài ra còn phải nói đến một đặc điểm là sự liên minh chiến đấu giữa Pa-thét Lào của Neo Lào Hắc Xạt với lực lượng Trung lập yêu nước dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Bộ Chỉ huy tối cao mà trực tiếp là Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Tập hồi ức còn dành nhiều tình cảm để ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân dân Lào và quân tình nguyện Việt Nam suốt 5 năm phòng ngự Phu Cút, liên tục đánh bại mội cuộc tiến công của các binh đoàn phái Hữu, lực lượng Coong-le và quân đặc biệt Vàng Pao được bộ binh Thái Lan và không quân, pháo binh, hậu cần Mĩ, Thái chi viện. Tập hồi ức đã đưa lại cho người đọc những tình cảm mến mộ sâu sắc đối với cuộc chiến đấu trên chiến trường Chánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tập hồi ức cùng bạn đọc và mong cán bộ, chiến sĩ Lào - Việt Nam tham gia viết tiếp, bổ sung, làm nổi bật những trang sử chiến đấu và chiến thắng hào hùng trên đất Xiêng Khoảng được cả nước hiệp đồng chi viện, được sự hỗ trợ về tinh thần, vật chất của đồng chí, bạn bè, anh em trên khắp năm châu.


Viên Chăn, ngày 22 tháng 1 năm 1992
XING-KA-PÔ XI-KHỐT CHUM-MA-LY
Nguyên tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum,
Nguyên Chủ tịch tổ chức Ô-lim-píc Lào,
Chủ tịch Hồi đồng Hòa bình đoàn kết hữu nghị các dân tộc Lào.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2010, 08:13:34 AM
MỞ ĐẦU

Cánh Đồng Chum - Cao nguyên trung tâm của tỉnh Xiêng Khoảng nằm ở Bắc Lào với độ cao 1.200 mét, chưa kể những núi cao nổi tiếng như Phu Xăn (2.218), Phe Xeo (2.305), Phu Bia (2.919). Trước khi đến Xiêng Khoảng, tôi chỉ được đọc bản đồ địa lý do người Pháp in “Plaine des Jarress” và được nghe câu truyền miệng rằng: “Ai chiếm được Cánh Đồng Chum thì như người cưỡi lên được bành voi, và sẽ làm chủ được nước Lào” (Lan Xạng, đất nước Triệu voi).

Cánh Đồng Chum đã trở thành một điểm mốc luôn gợi tính tò mò thời niên thiếu của tôi. Tôi hằng mơ được đến đó, và rồi chiến tranh đã kéo tôi đến Cánh Đồng Chum. Ở đây, dân địa phương dùng cái tên rất hình ảnh “Khăng má đen” (Đồng cỏ ngựa phi) để đặt cho Cánh Đồng Chum. Đúng là đồng cỏ mà ngựa phi cho khắp thì phải đến đứt hơi. Đây là cả một cao nguyên bao la, đồi thông xen kẽ đồng cỏ và ruộng bậc thang tương đối phẳng, ngang dọc từ 40 tới 60 ki-lô-mét. Quả là một vùng đất rất có thể về mặt quân sự. Chum lưu truyền từ thượng cổ ở đây có bốn cụm. Cụm trung tâm là Lạt Thẳm, nằm về phía đông sân bay Bản Áng 400 mét. Ở đây có một hang đá hình bát úp với một nửa lộ thiên và một cửa mở ra trước mặt núi. Đường kính của hang cao và rộng chừng bốn mét. Đây có thể là hang thiêu người, hoặc cũng có thể là nơi ở của tù trưởng, với dấu vết nửa thiên nhiên, nửa nhân tạo. Chum nằm ngang ngửa quanh cửa hang giữa một bãi núi ngang dọc hơn 600 mét. Hàng trăm chum nhỏ cao độ một mét, một mét hai, rộng gần một mét. Trên sườn núi hơi cao có đá lớn là một bãi chum lớn. Lòng chum đục sâu vào các tảng đá, miệng rộng từ một mét hai đến một mét rưỡi. Chiều sâu có chum từ một mét rưỡi đến hai mét. Không may rơi vào chum, tay không một mình khó lên nổi; đáy chum còn ăn sâu vào lòng núi. Lạt Thẳm có thể là thủ đô của một bộ lạc xưa. Có ngời nói là vùng đất của bộ lạc Chậu Chương. Ngoài cụm trung tâm còn có ba cụm chum, mỗi cụm gồm năm, sáu chiếc đặt ở ngã ba đường rừng từ Bản Ban đi Cánh Đồng Chum; một cụm trên đồi ở vùng núi Bảy Hay, chặn đường vào Xảm Thông - Long Chẹng; một cụm nữa ở trên chỏm Phụ Thing, đường đi Viên Chăn. Chúng tôi nghĩ đây có thể là các điểm tiền tiêu bảo vệ bộ lạc vì đều cách trung tâm từ 50 đến 70 ki-lô-mét.

Có nhiều thuyết nói về chum như là chum ủ rượu làm ma chay, chum rượu khao quân… có lẽ chum đựng rượu, đựng nước thời bộ lạc Chậu Chương là có lí.

“Thuốc phiện Phu Khe, nước chè Phu Xản”. Đây là hai đặc sản của Xiêng Khoảng đã đi vào cuộc sống và thi ca của địa phương. Phu Khe nằm gần thị xã của Xiêng Khoảng, đất tốt, thuốc ngon đến mức người H’mông từ Keo Xẹt cách gần hai ngày đường mà hàng năm vẫn dắt ngựa, cõng con đến Phu Khe hạ trại, xin một đám đất núi trồng thuốc phiện. Còn chè Phu Xản, thời thuộc Pháp, nhiều nhà kinh doanh đã chiết giống chè tuyết ở đây đem trồng ở nông trường Noọng Pết, Noọng Nậm. Trong những năm đánh Mĩ, trèo lên đỉnh Phu Xao (2.305) quanh năm sương mờ mờ, mây phủ, tôi đã được uống loại chè tuyết do các chiến sĩ tình nguyện chế biến còn ngon hơn hương vị chè Phu Xản. Uống xong lưỡi còn vương mãi vị ngọt. Từ đó lính ta đã bổ sung cho Xiêng Khoảng là “thuốc Phe Khe, chè Phu Xản - Phu Xao”.

Xiêng Khoảng có mỏ sắt lớn, có ngọc, có bạc, có đồng. Nhân dân địa phương có nghề luyện thép giỏi, có nghề trồng dâu nuổi tằm, làm giấy gió, làm ô giấy, nuôi cá nước ngọt. Gần đây đã phát hiện và bắt đầu khai thác một số mỏ than để nung vôi, gạch ngói và phục vụ cho các nghề thủ công khác. Đặc biệt Xiêng Khoảng còn nhiều nguồn nước có thác mạnh sẽ là nguồn thủy điện phong phú.

Những đồng cỏ bao la của các huyện Noỏng Hét, Mường Mộc, Mường Khun, Mường Khăm, Mường Pẹch, Mười Xủi, nếu được tổ chức chăn nuôi trâu, bò đúng kĩ thuật mới, lại được chế biến tốt thì sẽ tạo được một nguồn thịt xuất khẩu lớn, một mũi nhọn kinh tế của một tỉnh miền núi.

Trung tâm văn hóa Mường Phuôn là đây. Còn với dân tộc H’mông, đế quốc Mĩ nuôi hi vọng lợi dụng đặc tính giỏi đánh rừng để lập vương quốc Mẹo, xây dựng lực lượng nòng cốt cho “đội quân đặc biệt Hi Mã Lạp Sơn” của vùng Đông Nam Á, phục vụ cho âm mưu nô dịch lâu dài và các dân tộc trong vùng.

Xiêng Khoảng là một tỉnh đa phần dân tộc ít người. Theo điều tra năm 1985, toàn tỉnh có hơn 16 vạn dân với 30 bộ tộc, gồm người Lào chiếm sáu vạn rưỡi, người H’mông hơn năm vạn rưỡi, người Thay hơn hai vạn và Kha Mú một vạn rưỡi, cùng một số bộ lạc khác.

Khi Mĩ tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở Lào, người H’mông bị chết chóc, hao tổn vì bom đạn, vì bệnh tật, đói khát nhiều nhất. Thật là đau đớn khi phải nhìn cảnh vì bị đế quốc nhồi nhét lòng tị hiềm dân tộc, mà người một nước lại bắn giết nhau vì đồng tiền đánh thuê của Mĩ. Bao giờ sự thật được vạch ra, bao giờ các dân tộc Lào nghe theo lời của Đảng(1) mà chấm dứt cảnh nồi da xáo thịt này?

Nhớ về những năm tháng đánh Mĩ ở Cánh Đồng Chum, tôi muốn kể lại một số sự kiện và những con người đã xông pha lặn lọi bao khúc sông, ngọn suối, leo qua bao núi cao, rừng hiểm - những con người mà chiến công của họ đáng được trân trọng, mến yêu, Lào cũng như Việt đã gắn bó với bản làng, với đất nước, những người mà mồ hôi và xương máu đã đổ xuống, những người đã trở về và cả những người không bao giờ về để tô thắm thêm tình hữu nghị chiến đấu của hai dân tộc, hai quân đội Việt- Lào nghĩa nặng tình sâu. Ước muốn thì nhiều nhưng khả năng, trí nhớ của bản thân có hạn, trong khi những sự kiện, nhân chứng đề cập ở đây đã lùi xa. Hơn thế, đây cũng chỉ là những điều ghi nhớ và phát biểu đầu tiên, mong được các đồng chí và đông đảo bạn đọc bổ sung, sửa chữa. Tấm gương chiến đấu của những anh hùng, dũng sĩ, sự nghiệp đất tranh của hai dân tộc Lào - Việt là vĩnh viễn không thể phai mờ và phải được con cháu đời đời tô thắm.


(1) Đảng Nhân dân cách mạng Lào.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2010, 08:14:13 AM
I. VÀO CUỘC

Mùa đông năm 1961, chiếc máy bay thuộc phi đoàn vận tải Liên Xô giúp Lào đổ tôi xuống sân bay Bảng Áng (Cánh Đồng Chum), nơi số phận cột chặt tôi suốt cuộc kháng chiến chống Mĩ của hai dân tộc Việt - Lào. Vào sở chỉ huy A10 (tên mật của cơ quan chuyên môn quân sự Việt Nam tại Lào), gặp các đồng chí Lê Chưởng và Hoàng Sâm, tôi được giao nhiệm vụ Phó tham mưu trưởng A10, giúp Chính phủ Liên hiệp kháng chiến của hai pháo Neo Lào Hắc Xạt và Trung lập Phu-ma. Gặp hai thủ trưởng vốn đã quen biết, tôi tự nhủ: hai vị “Lão tướng” này tuy có nóng tính, nhưng đã dạn dày hoạt động cách mạng và rất độ lượng. Mình sẽ học được ở hai cụ nhiều điều, tận tuy công tác, xông xáo, nhưng chớ hấp tấp chủ quan. Đồng chí Năng, người bàn giao công tác cho tôi còn dặn lại: chớ bảo thủ; cãi cọ nhiều với các cụ, sẽ mệt đấy!

Thời cuộc ở Lào lúc đó đang nửa hòa nửa chiến. Tuy đã buộc phải ký Hiệp nghị Na Mon, nhưng đế quốc Mĩ và tay sai vẫn còn tiếc rẻ nên lửa chiến tranh chưa tắt hẳn. Ở Trung Lào, chúng giành giật, lấn ra đường số 9, đường số 12. Trên đất Xiêng Khoảng, địch tiến công Pha Thơm, Pa Đông, Tom Tiêng; nơi cướp gạo, cướp trâu, nơi giành dân, bắt lính, ra sức phát triển lực lượng đặc biệt Vàng Pao quanh địa bàn đường số 7, số 6, Xiêng Khoảng, Sầm Nưa.

Ở Bắc Lào, địch tập trung giành giật vùng Na Tơi, Na Mỏ, Nậm Thà. Chính nơi đây quân dân Lào được lực lượng Việt Nam hỗ trợ, Trung Quốc, Liên Xô tiếp tế, làm nên chiến thắng Nậm Thà lịch sử (1962). Chiến thắng Nậm Thà là thất bại mở đầu trong âm mưu xâm lược Lào của đế quốc Mĩ. Nền độc lập trung lập của Lào được Hội nghị quốc tế Giơ-ne-vơ năm 1962 công nhận và một Chính phủ Liên hiệp ba phái do Hoàng thân Xu-va-na Phu-ma làm Thủ tướng được thành lập.

Chấp hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, ngày 25 tháng 9 năm 1962, theo lệnh của trên, tôi dẫn đầu đoàn cán bộ tình nguyện và chuyên gia Việt Nam cuối cùng rút khỏi Cánh Đồng Chum.

Về đến Hà Nội, anh Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng giao cho tôi thành lập Phòng 962 trực thuộc Bộ để theo dõi tình hình Lào, giúp Bộ nghiên cứu giải quyết những vấn đề cấp thiết mà bạn Lào yêu cầu và theo sát những âm mưu, hành động mới của đế quốc Mĩ đối với Lào. Anh Tấn nói: “Ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, nhưng đế quốc Mĩ trước thất bại cay đắng này chúng chưa cam chịu và đã bắt đầu phá. Cuộc leo thang chiến tranh của Mĩ ở miền Nam nước ta chắc chắn sẽ kéo theo tình hình Lào… Cậu bàn với Cục Cán bộ rút mộ số chuyên gia và tình nguyện cũ, lập lại bộ phận nhẹ 10 đến 15 người, có thể gọi tắt là “phòng C” của Bộ, xây dựng chức trách, nền nếp cho anh em. Cậu là người đã quen phải giúp cho mình việc này đã!”.

Sau một tháng, ổn định xong tổ chức, tôi cùng Lê Văn là chuyên gia chính trị Tây Bắc, có gửi hơn 200 chuyên gia dự trữ đi học trường văn hóa Lạng Sơn, đưa một số để bổ túc chính trị, quân sự và tiếp nhận số cán bộ của lực lượng Neo Lào Hắc Xạt và Trung lập đi học các trường quân sự của Việt Nam.

Tôi nhớ mãi cuộc nói chuyện với anh Tiến - Chính ủy trường Sĩ quan Pháo binh về khối học sinh Trung lập ở trường này. Anh nói: được nhận nhiệm vụ quan trọng này, chúng tôi đã hứa với Bộ sẽ giúp bạn học thật tốt. Riêng việc ăn uống của anh em, cúng tôi đã tận tâm phục vụ. Ăn ngày hai bữa xôi, một bữa cơm mà lo cho đủ nếp ngon đã là khó! Xôi vò, xôi lạc, xôi đỗ xanh, đỗ đen, xôi gấc…, xôi gì anh em cũng chê. Thậm chí có anh nói với “Việt Nam xã hội chủ nghĩa gì mã cứ bắt ăn độn mãi!”.

Nghe anh Tiến nói vậy, tôi bật cười và giải thích người Lào thích và quen ăn xôi trắng. Các loại xôi vò, xôi đỗ của ta họ không quen nên cho là độn. Tốt nhất từ nay cứ cho ăn xôi trắng là vui vẻ cả. Cần để phiên địch giải thích cho anh em.

Nghe vậy, anh Tiến cười rũ ra.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2010, 08:15:15 AM
Đoàn đại biểu Nhà nước Lào do vua Xi-xa-vang Vat-tha-na và Thủ tướng Phu-ma dẫn đầu đi thăm các nước có tham gia kí Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào vừa đến Viên Chăn thì ngay đêm chiêu đãi đầu tiên, lực lượng tay say Mĩ đã đón đường ám sát ông Ki-nim Phôn-xê-na khi vừa xuống xe bước vào nhà. Ông Ki-nim Phôn-xê-na là lãnh tụ phái Trung lập yêu nước, một dòng họ có tên tuổi, người thực sự tài năng và có uy tín lớn, có quan hệ mật thiết với Neo Lào Hắc Xạt. Giết ông Ki-nim, Mĩ hòng đe dọa, lôi kéo ông Phu-ma và lực lượng Trung lập ngả theo phái Hữu, hòng “dùng hai đánh một”, phá Hiệp định Giơ-ne-vơ, phá Chính phủ Liên hiệp, chống lại Neo Lào Hắc Xạt và những người yêu nước khác. Hành động trắng trợn của đế quốc Mĩ và tay sai buộc mọi người phải cảnh giác, phải bảo vệ các đại biểu của Neo Lào Hắc Xạt có chân trong Chính phủ Liên hiệp, nhất là Phó thủ tướng Hoàng thân Xu-pha-nu-vông.

Phối hợp với việc tăng cường chiến tranh leo thang ở miền Nam Việt Nam, Mĩ gấp rút đưa thêm sĩ quan phản động xen vào, chia rẽ, khủng bố những người yêu nước trong lực lượng Coong-le, chuyển dần một lực lượng quân phái Hữu đến Xiêng Khoảng chuẩn bị một cuộc tiến công bất ngờ đẩy lực lượng Neo Lào Hắc Xạt ra khỏi Cánh Đồng Chum trong mùa mưa năm 1963. Tình hình ngày càng xấu. Sau này qua một vài cán bộ của bạn, tôi được biết: sau khi tính toán kĩ, Thủ tướng Phu-ma đã tổ chức một chuyến bay cùng Hoàng thân Xu-pha-nu-vông ra giải quyết công việc ở Cánh Đồng Chum. Xong công việc, để đề phòng mọi bất trắc, Hoàng thân anh trở về Viên Chăn, Hoàng thân em ở lại Khăng Khay.

Khi nói về đảng phái thì chưa phải đã hết gay cấn, song chuyển sang tình anh em thì phải biết tận dụng hết lợi thế này. Đây là cái hay, cái riêng mà Đảng Lào đã khéo vận dụng một cách tài tình.

Lúc này, tình hình chính trị, quân sự ở chiến trường miền Nam Việt Nam rất sôi động. Tôi lại nhớ về những kỉ niệm cũ của chiến trường Trị - Thiên. Xa cách đã 10 năm, mảnh đất thân thương và những con người đã nuôi mình, đào luyện giúp mình trở thành một cán bộ chỉ huy. Tôi ước ao có được ngày về cùng đồng chí, đồng đội chiến đấu trên chiến trường xưa, góp chút sức mình giải phóng quê hương yêu dấu.

Tháng 9 năm 1963, tôi được lệnh bàn giao Phòng 963 cho Lê Văn để về trường bổ túc văn hóa Quân khu 4. Khi đến chào anh Lê Trọng Tấn, anh dặn: “Về đấy học văn hóa hay giúp việc gì là tùy Quân khu phân công, nhưng thu xếp sẵn sàng đề khi chuẩn bị chiến trường miền Nam, mình sẽ đem cậu đi cùng…”. Sung sướng quá, càm được quyết định là tôi đi ngay chuyến xe lửa trong đêm.

Đến Quân khu, ra mắt Tư lệnh Quân khu - Nam Long và Chính ủy Hoàng Văn Thái, tôi được giao quyền Tham mưu trưởng Quân khu, thay anh Bùi Sinh đi học. Nhận công tác, tôi lao vào việc huấn luyện và trang bị cho một tiểu đoàn chuẩn bị đi Nam với hi vọng được trở lại chiến trường cùng đơn vị này.

Đầu tháng tư, sau một buổi giao ban, Tư lệnh Quân khu Nam Long đưa tôi xem bức điện ngắn của Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng gửi Quân kihu: “Cho đồng chí Bình Sơn bàn giao công tác ngay. Sẽ có phái viên của Bộ vào truyền đạt nhiệm vụ đi công tác xa”. Đọc bức điện, tôi thấy băn khoăn, nửa mừng nửa lo. Mong là chắc chắn được ra mặt trận, nhưng lo là có thể không được đi theo anh Lê Trọng Tấn. Cái ước vọng vào Nam trực tiếp đánh Mĩ e không đạt!

Chiều hôm sau, đoàn của Lê Văn đến. Trông thấy Lê Văn, tôi biết ngay là đi Lào rồi. Không phải chờ đọc quyết định, tôi tự an ủi: thế là số phận đã quyết!

Thực lòng, tôi muốn được vào Nam đánh Mĩ; nguy nan gian khổ, chia ngọt sẽ bùi quen rồi. Nay sang đất bạn lại làm chuyên gia, mọi cái đều phải nghiên cứu, nhiều chuyện phải làm lại từ đầu: chiến tranh nhân dân trên đất bạn, giúp công tác mặt trận liên minh quân sự giữa hai lực lượng vũ trang Neo Lào Hắc Xạt và Trung lập yêu nước, vấn đề giải quyết phỉ vùng dân tộc…

Thế là “vào cuộc” từ đây, ở một lĩnh vực công tác khác. Cũng đánh Mĩ nhưng mà làm chuyên gia quân sự giúp bạn.

Đoàn chuyên gia được thành lập. Tôi được chỉ định là đoàn trưởng, Lê Văn làm chính ủy. Giúp hậu cần có Tả Đảo. Điện đài có Thành đài trưởng và Nhự cơ yếu đã có kinh nghiệm độc lập, thái độ công tác khá kiên nhẫn. Chuyên gia đơn vị có Danh và Tín giúp Tiểu đoàn 2. Chuyên gia Tiểu đoàn 1 có Tình và Mai (với biệt hiệu Mai đen). Chuyên gia Tiểu đoàn 24 là Phúc và Thưởng, Tiểu đoàn 13 có Ngoại. Giúp Tiểu đoàn 500 có Trà, giúp Pa Chay có Nhất và Tứ; giúp pháo binh lúc đầu chỉ có Nghĩa (tức Nghĩa lé). Đến Khăng Khay sẽ có thêm Trương Đình Toàn tham tán quân sự, Hoa Thành tuyên truyền báo chí, Thanh chuyên gia xe. Tổ chuyên gia tỉnh đội có Tăng, Mão và Nhai đài trưởng thông tin.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2010, 08:15:50 AM
Sắp xếp cho anh em xong đâu vào đó, tôi về nhà tạm biết gia đình để lên đường.

Phải chia xa gia đình, cũng như bao người tôi không dễ gì gạt bỏ được tâm trạng lưu luyến bịn rịn. Bé Hà Lương - con gái đầu lòng không muốn rời tay tôi. Sau khi động viên vợ vài câu như một chút bản năng, tôi vột vã chia tay người thân. Đoàn phải đi gấp theo đường số 7, để đuổi kịp Quân khu trưởng - tướng Phun-xi-pa-xớt và Tiểu đoàn 2 anh hùng từ Sầm Nưa được tăng cường cho Cánh Đồng Chum. Hành quân càng về trưa, nắng càng gắt, đường thêm nhiều gió, cát. Đến Khe Choang huyện Con Cuông, chúng tôi ghé vào khu doanh trại cũ của Tiểu đoàn 925 thăm Tiểu đoàn 2, thăm hỏi sức khỏe của của anh em, thăm đồng chí Nhưm chính trị viên tiểu đoàn và tiểu đoàn phó Xiêng-tao, thăm Tín, Danh, Quyên. Được tin đồng chí Phu-xi-pa-xớt đã đi thẳng lên biên giới, đoàn phải đi luôn. Chiều hôm sau, xe đến Nậm Cắn. Chúng tôi gặp đồng chí Phun-xi-pa-xớt ở doanh trại đơn vị biên phòng Nậm Cắn. Anh Phun dáng người tầm thước khỏe mạnh. Bộ râu rậm cạo nhẵn làm khuôn mặt anh khiêm nhường dễ mến. Tôi chưa làm việc nhiều nhưng đã được gặp anh trong các cuộc đón tiếp, hội họp ở Cánh Đồng Chum năm 1963. Gặp anh, tôi nhận ra ngay phong độ của một con người luôn trầm tĩnh, thận trọng, một nhà quân sự đánh Pháp từ Hạ Lào, một nhà ngoại giao chặt chẽ và sắc sảo mà các sĩ quan Trung lập và phái Hữu đều phải nể bởi sự nhạy cảm và cẩn thận trong tiếp xúc.

Chúng tôi trao đổi qua về chương trình hoạt động trong mấy ngày đi đường và phải đợi thêm một ngày nữa cho đoàn xe vận tải quân sự chở Tiểu đoàn 2 và gạo, đạn.

Đồn biên phòng Nậm Cắn đặt giáp đường biên giới giữa hai vùng khí hậu khác nhau. Bên Việt Nam là nắng hanh, cát bụi, lúc nào cũng hầm hập nóng. Ai qua suối cũng đều muốn nhảy xuống tắm. Trái lại, bên đất Lào ban ngày nổi giông, chiều tối đổ mưa.

Cùng dựa vào Trường Sơn nhưng Nghệ - Tĩnh thì bước vào nắng hạ, ngược lại Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum lại bắt đầu mùa mưa.Đây là bài học đầu tiên mà người chỉ huy quân sự phải biết để tính toán trang bị và kế hoạch hoạt động cho thích hợp.

Ngày đoàn xe vận tải đến Nậm Cắn thì trời quang mây tạnh. Chúng tôi tiến hành đổi xe. Tổ xe con quay về Hà Nội. Đoàn chuyển sang hai chiếc xe tải. Đường số 7 lúc này quang đãng, sạch sẽ. Mặt đường bằng phẳng dễ đi vì vừa được hơn nghìn công nhân Việt Nam khởi chữa từ tháng 7 năm 1962 và hoàn thành vào tháng 2 năm 1963; chỉ có điều khi công nhân rút, thiếu người bảo vệ nên phỉ lại ra hoạt động.

Vượt biên lúc 16 giờ trên đoạn đường chỉ hơn 25 ki-lô-mét mà 20 giờ xe mới vượt đèo Đỉnh Đàm đi qua thị xã Noỏng Hét. Phố xá nhà tranh vách đất xen kẽ phên gỗ, thưa thớt, chỉ có bóng dáng một vài chiến sĩ Pa-thét và một số thanh niên người H’mông đi chơi đêm. Tiếng khèn, tiếng đàn mỗi lúc dồn dập, lúc réo rắt, nỉ non. Dù sao giữa rừng heo hút mà được thế cũng ấm lòng chiến sĩ đôi chút. Xe từ từ vượt đèo Khăng Pha Niên, Dốc Chuối lên Pha Khe. Phỉ hay qua lại vùng này nên qua đoạn Pha Khe - Hội Xuổng có đại đội Pa Chay chốt và tuần phòng. Trăng sáng, ngồi trên xe nhìn xuống vách đèo thăm thẳm, lòng hơi rờn rợn. Vô phúc xe mà đổ thì không biết nó sẽ dừng lại ở điểm nào và ở vòng thứ mấy.

Đến Huội Xuổng, vì cán bộ đi liên lạc với đại đội Pa Chay chưa về nên đoàn tạm dừng. Lúc đó đã là 2 giờ sáng. Sương xuống hơi dày, đỉnh đèo cằng giá rét đậm. Tôi xuống xe đi kiểm tra từ đầu đoàn xe, đến điểm cảnh giới tiền tiêu, nơi nào cũng nghe khò khè tiếng ngáy. Lính ta hành quân cơ giới bốn - năm ngày rồi nên anh nào cũng rã rời lưng, gối. Tôi đánh thức tổ cảnh giới dậy, lấy thuốc lá cho anh em hút và động viên vài câu nửa Lào nửa Việt cốt quấy cho anh em chóng tỉnh ngủ. Anh em Pa Chay đề nghị cho đoàn ngủ tại chỗ đến sáng lại đi vì đường lên Đèo Đất, Nậm Tiên chưa liên hệ được với bộ đội tỉnh ở Bản Ban.

Trở lại xe, tôi suy nghĩ mái về câu hỏi “Vì sao Coong-le phản lại mặt trận liên minh nhanh thế?”.

Tôi nhớ lại trước đây, khi bàn bạc giữa đại tá Đươn và trung tá Koong-xỉ chuẩn bị cuộc họp tryền thống của Ủy ban đảo chính tiểu đoàn dù 2, đề cập tới “con người của Coong-le”, các thành viên Ủy ban đều ôn lại nguyên nhân nổi dậy là nhờ phong trào nhân dân và đường lối đấu tranh bảo vệ hòa bình, đòi dân sinh, dân chủ cho đất nước, chống sự can thiệp của đế quốc Mỹ, bảo vệ hai tỉnh tập kết của Neo Lào Hắc Xạt.

Được sự cổ vũ, đồng thời cả áp lực của sĩ quan và binh sĩ tiểu đoàn dù 2, sau một thời gian do dự, Coong-le nhận chức Chủ tịch Ủy ban đảo chinh, nhưng cái quyết tâm cao của Coong-le còn phải nhờ một giấc mơ đặc biệt; Coong-le nằm mơ thấy mình đang lái chiếc xe Jép đi chơi giữa đồng cỏ đồng cháy. Lửa bao vây xe buộc Coong-le phải phóng ngược theo đường lên dốc núi. Anh ta hốt hoảng tưởng không thoát được, song lạ thay xe lao lên dốc băng băng vượt qua được bãi cháy. Thế là ngày hôm sau Coong-le tin là có trời phật phù hộ mình nên hăng hái tin cuộc đảo chính sẽ thành công. Nói hăng hái nhưng đến giờ phút sắp nổ súng thì Coong-le vẫn chưa về, đến nõi Ủy ban đảo chính một mặt vẫn giao cho tiểu đoàn phó Đươn với chân Phó chủ tịch sẵn sàng chỉ huy thay Coong-le. Mặt khác phái người đi tìm và gần 24 giờ mới kéo được Coong-le từ xóm gái điếm về để kịp giờ nổ súng.

Tôi còn nhớ một chuyện: vào tháng 8 năm 1962, Đại sứ của Tiệp Khắc ở Khăng Khay được quân tình nguyện Việt Nam kéo giúp chiếc Von-ga đen từ Hà Nội lên theo đướng số 7. Tuy có va quệt sứt sẹo đôi chút do đướng xấu, xong rửa xạch lau bóng thì chiếc Von-ga của ông ta vẫn thành “hoa hậu làng xe” của thành phố kháng chiến Khăng Khay. Thế là Đại sứ bèn thuê một đêm nhà hát Khăng Khay, mời bằng được ông tham mưu cơ quan A10 và trung đội hộ tống xe ra xem cuốn phim giới thiệu các công trình kiến trúc cổ kính của Pra-ha, gọi là “để cho Đại sứ được cảm tạ tấm lòng nhiệt thành, vất vả của anh em”.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2010, 08:16:26 AM
Trong khi ngài Đại sứ đang say sưa giới thiệu cho khách thì đám thiếu niên ngoài phố tràn vào cửa nách nhà hát chiếm chỗ ngồi. Lúc đầu thì ngồi phía sau, dần dần các chú nhóc lên gần sát dãy ghế của Đại sứ. Thấy lộn xộn quá, tôi quay lại nhận ra trong đám nhóc có một anh chàng hơi kì cục. Anh ta mặc một bộ đồ dệt kim đông xuân màu xanh đã phai vàng (hàng viện trợ Trung Quốc phát làm đồ lót mùa đông chiến sĩ), đầu đội một cái mũ phở lính ngụy đã nhàu, mặt mũi đầy râu ria, đây chính là Coong-le. Ngay lúc đó ngài Đại sứ cũng thấy và ông vội hỏi “Có phải Coong-le không?”. Tôi trả lời đúng. Ngài đại sứ vội vàng đứng dậy mới Coong-le và nhờ tôi đả thông anh em nhường một chỗ ngồi cho Coong-le. Thế là sau một hai phút hơi lộn xộn ở dãy ghế đầu, bộ phim tiếp tục chiếu.

Ở trung tâm dãy ghế đầu, biên trái là ngại đại sứ to cao, trang phục đứng dắn, bên phải là tôi cũng trang phục nghiêm chỉnh. Còn Coong-le ngồi giữa, trang phục nhom nhem (trang phục ngài hay dùng để chuồn đến thăm các em ở làng điếm phố chợ). Bỏ mũ ra thấy trơ quá, ngài đành phải chụp lại chiếc mũ phở vào đầu. Lúc đó tôi đánh phải ngồi im, dán mắt ào màn ảnh để tỏ thái độ tôn trọng buổi chiêu đãi phim của ông Đại sứ; lâu lâu liếc qua thấy ngài Coong-le nhoẻn nụ cười nhăn nhó.Không hiểu ngài cười chữa thẹn hay cười vì xấu hổ!

Nhớ lại cảnh này, tôi cứ nghĩ nếu có một nhà quan sát với con mắt hài hước một tí, họ sẽ cho là “Ông đại sứ và khách của ông đã rộng rãi nhường cho chú hề ngồi giữa, quả là một kiểu ăn chơi quá sang!”.

Do quen biết và tiếp xúc với nhau một năm rồi nên Coong-le tâm sự với tôi để thông cảm: “Ở Lào phái người cũ như chúng tôi chơi và mắc bệnh gái… thì từ các nhân viên trong chính phủ cũ cho đến cả thủ tướng đều như vậy hết!”. Thấy người nghe không phản đối Coong-le lại khoe là “nhờ trời phật ủng hộ nên ở địa vị nào tôi đi đâu đều được trọng vọng. Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô và cả các nước tư bản ai cũng tin tôi. Còn cái chân Thủ tướng của ông Phu-ma chẳng qua vì lúc đảo chính xong tôi chỉ quen “việc lính” còn “chủ nghĩa” và “rồi pháp luật, rồi nhà nước” chưa quen nên tôi nhường cho ông Phu-ma, thế mà ông ta không biết điều. Nhiều lúc ông Phu-ma còn dám mắng mỏ khinh nhờn chúng tôi, song ông ấy làm Thủ tướng dở lắm. Nếu để tôi làm thì chắc chắn giỏi hơn!”. Nghe thế tôi nghĩ ông này hóa ra cũng kiêu căng cũng rất rất ngây thơ, nhưng những ảo tướng này có khi lại nguy hiểm chứ không đơn giản.

Tôi nhớ hai ý kiến phát biểu rất hay của đồng chí Lê Chưởng với chuyên gia đoàn A10 lúc khi tập kết về nước. Đồng chí nói: Theo tôi chuyên gia chúng ta phải thấy rõ điều kiện lịch sử cách mạng đòi hỏi mà Neo Lào Hắc Xạt lại chưa đủ cán bộ nên ta phải đến giúp bạn làm công tác vận động quần chúng trong lực lượng Trung lập một thời gian. Đây là thực hiện công tác mặt trận (vận động và cải tạo quần chúng) thực hiện linh minh quân sự giữa hai lực lượng: Pa-thét Lào và Trung lập. Trung Quốc có chuyện “Quốc - Cộng hợp tác” đã phức tạp song chỉ phức tạp giữa hai phái người Trung Quốc. Còn ở đây ngoài hai phái chính là người Lào, chuyên gia chúng ta vào đây là người Việt nên phức tạp khó khăn còn cao hơn. Làm được là vinh quang, song gian khổ sẽ không phải là ít.

Ý kiến thứ hai của đồng chí là: Chưa biết đã nên phát biểu vội chưa, nhưng với những con người trong nhóm hẩu với Coong-le thì phải coi chừng. Có khi chính trị nhiều lại thua chính trị ít, ngoại giao ít lại hơn ngoại giao nhiều.

Thấy anh em tỏ ra chưa hiểu, đồng chí nói thêm: vì sau lưng Trung lập Coong-le có Mĩ, có CIA…

Sự kiện xảy ra hiện nay chính là do bàn tay của Mĩ đã nắm “bản chất lính tẩy” không cải tạo được của Coong-le mà dùng tiền, dùng gái và dùng số phản động vây quanh Coong-le như trung tá Su-lê-đệt sĩ quan xe tăng gian hùng, trung tá Xĩng tiểu đoàn dù số 2, chuyên đánh bốc và cờ bạc, trung tá Phỏng một lính pháo cờ bạc, trai gái và rượu chè… CIA đã kéo được con người không bản lính là Coong-le chạy theo bọn phái Hữu, gây lại cuộc chiến tranh huy đệ tương tàn này.

Tuy vậy, ta còn có những người nòng cốt quan trọng của Ủy ban đảo chính cũ như đại tá Đươn và trung tá Coong-xỉ. Đại tá Đươn nguyên là trung úy đại đội trưởng mũi nhọn của tiểu đoàn dù 2, lúc đảo chính là tiểu đoàn phó, Phó chủ tịch Ủy ban đảo chính. Đại tá Đươn người ở đồng bằng Viên Chăn, khỏe mạnh, tháo vát và gan dạ, được anh em tín nhiệm. Từ năm 1957, sau một hai lần bị chính phủ phản động theo Mĩ điều đi ngăn cản một vài cuộc biểu tình đòi dân sinh, dân chủ của nhân dân, anh đã thấy được bộ mặt thật của bọn xâm lược Mĩ là rất nguy hại. Về nhà, được gia đình, nhất là chị vợ, người có quan hệ tốt với cán bộ cách mạng Lào nhác nhở khêu gọi nên khi được anh em ủng hộ là đại tá Đươn rất hăng hái. Chính đại tá Đươn là người đã cưỡi chiếc máy bay nhỏ bay liều sang Việt Nam (chưa xin phép trước) hạ xuống sân bay Bạch Mai xin viện trợ của Việt Nam. Cùng với đại tá Đươn là trung tá Coong-xỉ người thanh nhỏ, nhanh nhẹn, nguyên là trung úy hậu cần, anh có quan hệ rộng rãi trong nhân dân, nhất là tầng lớp buôn bán và thợ thủ công, được tiếp xúc với cán bộ Neo Lào Hắc Xạt. Có thể nói anh là ngọn cờ chính trị của tiểu đoàn, là đầu mối liên hệ chặt chẽ với Neo Lào Hắc Xạt và kiên quyết chống bọn phải Hữu, đoàn kết được đơn vị. Bọn phái Hữu thấy thế cố bắt và ám hại anh, nhưng do thiếu chứng cớ và bị dư luận phản đối, chúng buộc phải thả. Sau khi được thả về, tham gia trong Bộ chỉ huy Trung lập yêu nước, anh là Phó tư lệnh chính trị cũng còn hai Phó tư lệnh đắc lực, một giúp về hành chính, dân sự và huấn luyện là đại tá Thẩu, dong dỏng cao, hiền lành, nhưng quan điểm rõ ràng, thái độ khiêm tốn, để đoàn kết và trung tá Thiệp mà sau này sẽ nói nhiều trong chiến đấu.

Giữa cánh vắng lặng của đêm khuya trên đèo, tôi thấy nhớ anh Chưởng, ước gì lúc này được tâm sự với anh!


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2010, 08:17:34 AM
Trưa hôm sau, xe đến Nậm Tiền. Đồng chí U-đôm lúc đó đang làm đại đội trưởng Đại đội 123 của tỉnh ra đón đồng chí Phun-xi-pa-xớt báo cáo tình hình.

Đường qua Bản Ban yên tĩnh, nhưng trong phố, trong các bản như Nhọt Cưa, Hương Nùa, Hương Tộ, bọn “bảo vệ quyền lợi quốc gia” và quân trung lập phản động, phản tuyên truyền chia rẽ, phá phách. Còn ở Phu Nốc Cố, một đại đội phỉ có súng cối 81 đang bao vây tiến công đại đội Pa Chay của tiểu đoàn Pa Xợt. Chiều hôm qua chúng còn dùng súng cối bắn chặn đường ô tô. Nếu xe đi thì cũng tối mới lên đèo. Vì vậy trong cán bộ có người muốn đi ngay, có người lại đề nghị để sáng mai đi, qua đèo giữa ban ngày đáng hoàng hơn. Xét thấy nằm lại sẽ mất tính bất ngờ, phỉ biết lại chặn đường, đặt mìn quấy phá phức tạp, đồng chí Phun-xi-pa-xớt thống nhất với chuyên gia bố trí vượt đèo trong đêm. Cụ thể là đưa hai khẩu cối 82 của tiểu đoàn lên bố trí ở chân đồn Pa Chay, tính toán đạn dược và phần tử, mục tiêu sẵn có, do anh em Pa Chay hướng dẫn. Nếu phỉ dùng cối chặn đường thì cối ta tập trung kiềm chế. Xe ta cứ nối nhau mà lên. Mệnh lệnh được phổ biến đến từng xe. Súng cối và trung đội bảo vệ được điều lên bố trí.

20 giờ, đoàn xe bắt đầu chuyển bánh. Ai cũng có vẻ hồi hộp, căng thẳng, nhưng đêm đó chẳng xảy ra việc gì. Tám giờ sáng ngày 9 tháng 4, đoàn xe đã đến ngã ba Noỏng Pết. Bộ đội được lệnh sơ tán vào hai bên đường tìm chỗ kín giấu xe và nghỉ lại. Xe anh Phun về thẳng Khăng Khay. Hướng Cánh Đồng Chum rải rác đã nghe tiếng pháo ùng oàng. Chiến trường đã đến gần. Bộ đội nấu cơm ăn, tranh thủ tắm giặt và ngủ. Đến 15 giờ có xe con của Quân khu chạy đến. Nhìn chiếc Gát mui trần là thấy rõ mùi chiến trận. Tư trên xe nhảy xuống, tôi nhận ra anh Xa-mán, anh Xing-ka-pô. Hai anh chạy đến ôm hôn chuyên gia, người nào cũng ứa lệ. Anh Xa-mán trong bộ đồ vải Trung Quốc may cho chiến sĩ, chân dép lốp, nét mặt sung sướng cảm động không nói lên lời. Anh Xing-ka-pô với nét mặt cởi mở, gọn gàng trong bộ ga-ba-đin cũ đã vài nét mạng sau vai mà tôi thấy anh thường mặc khi đi ngoại giao với hầm cấp dưỡng, cũng không dằn được giọt nước mắt cảm động. Chuyện râm ra bắt đầu, anh Pô kể:

- Nào có gì đâu! “Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng”. Ta thì cố kiên trì bảo vệ Hiệp nghị Giơ-ne-vơ, nhưng theo lệnh quan thầy Mĩ, lực lượng Coong-le cứ khiêu khích. Đầu tiên là liên tục chặn đường bắn xe tiếp tế vào cho quân ông Thiệp và bộ đội, công chức của tỉnh ở thị xã Xiêng Khoảng, nhằm bức hàng, đến tiêu diệt lực lượng ông Thiệp và những người yêu nước ở thị xã. Nói nhiều lần không được, ta phải trị hơn chục đứa. Tiếp đến là chúng đón đường ra sân bay bắt ông Thẩu, ông Coong-xỉ về bỏ tù ở Viêng Chăn. May xe ông Đươn chạy thoát được. Chúng còn định vây bắt cả đội bảo vệ sân bay của ta và đội công tác của đồng chí Lê Quang Đông đang giúp hàng không Lào bảo vệ và sử dụng sân bay Bản Áng. Chúng còn khủng bố tiểu đoàn pháo binh thanh niên Châu A Nu, mà độc ác nhất là việc xẻo thịt, moi gan đại úy tiểu đoàn trưởng Phóng… Nhưng chuyện nổ ra to nhất là “cuộc chiến tranh con dê”.

Nghe lạ tai, mọi người trố mắt mgạc nhiên làm cả hai anh phá lên cười.

Anh Pô tiếp:

- Giữa tiểu đoàn hậu cần của ông Coong-xỉ với đơn vị phòng nhì của thiếu tá Lường thường xảy ra nhiền lần va chạm gầm ghè nhau. Trước đó lính của Lưởng ra uy hiếp hai chú lính chăn dề (mới mười hai, mười ta buổi) định cướp bài con dê về chén. Hai chú lính nhỏ của hậu cần lại to gan bắn vào lính phòng nhì sướt qua mang tai mấy phát rồi giành dê lại. Phòng nhì tức tối làm mấy loạt tiểu liên xuyên vào nhà của hậu cần. Vốn sẵn thù địch từ lâu, cả tiểu đoàn hậu cần dưới sự chỉ huy của đại úy Lun (tức Lun-ma-la) vùng lên nổ súng ồ ạt xông vào đội phòng nhì. Từ chủ quan đến bất ngờ, thiếu tá Lưởng xách quần chạy trước, binh lính hoảng theo sau cứ vừa chạy vừa bắt, la lối om sòm. Lính cảnh sát, lính Quân khu 2 của Két-xa-nạ ở Phôn Xa Vẳn chả biết đầu đuôi cũng hoảng hốt kéo chạy; song với tập quán lính tẩy, họ cũng không quên cứ tay này nổ súng bóp cờ, thì tay kia cướp hàng hóa đồ đạc của dân phố…

Trên hướng ra Cánh Đồng Chum, bọn loạn quân băng qua Nâm Tôn, tràn qua doanh trại học viên quân sự của Coong-le làm cho số này đang ngủ trưa chẳng hiểu đầu đuôi, hoảng hốt vùng dậy, dìu vợ cõng con bỏ nhà bỏ cửa chạy tháo thân. Gà. Chó, lợn, dê, bò, ngan ngỗng dẫm đạp nhau kêu la inh ỏi như bị ma đuổi, gió cuốn.

Nghe đến đây cả đoàn lăn ra cười, cười đến trào cả nước mắt.

Đang phấn chấn, anh Xa-mán kể thêm:

- Thế là “cuộc chiến tranh con dê” đã thúc đẩy nhanh việc phân tranh giữa hai phe rõ rệt: ta giữ tuyến Đông Đàn - Lạt Thuổng - Bản Gion - Phôn Xa Vẳn - Bản Ngô - Bản Len - Bản Phạt - Lạt Buộc - Phu Xản. Quân Coong-le về giữ tuyến Bản Leo - Phu Tung - Phu Hạt - Bản Bùa - Cánh Đồng Chum - Lạt Thẳm - Phu The Neng - Bản Tôn.

Trong khó khăn chúng tôi chẳng kể gì trai hay gái, ai cũng ra cầm súng. Lớp học sinh y tá được huy động ra chốt Phu Tha Ny để bảo vệ Khăng Khay. Nay có Tiểu đoàn 2 lại có cả chuyên gia Việt Nam nữa. Thế là anh em ta sẽ vững vàng đánh bại bọn Coong-le thôi.

Tất cả lên xe cùng hai anh đi về Quân khu, dọc đường anh Pô sực nhớ lại, giật tay tôi bảo:

- Còn cái này nữa, cuộc bàn bạc của ta trước khi anh về tập kết đã thành kết quả rồi. Xe tăng, xe AM của Coong-le định lao vào tập kích Khăng Khay đã bị B40 của đại đội bảo vệ Trung ương bắn cháy một chiếc.

Số là tháng 8 năm 1962, sau khi Liên Xô giao cho Coong-le 42 chiếc xe tăng PT76 thuộc khoản viện trợ tiểu đoàn xe lội nước mà Chính phủ Liên Xô kí cho Chính phủ kháng chiến, Pa-thét Lào đòi chia, Phu-ma không chịu. Trước khi chuyên gia Việt Nam rút, anh Xi-xa-vát, anh Xing-ka-pô cùng tôi tính toán: Coong-le có 42 xe tăng mới và 35 xe bọc thép. Pa-thét Lào chỉ được một chục xe bọc thép 14/5. Lúc đó bội đội Pa-thét Lào chưa được viện trợ B40 và AK. Tôi phải xin bổ sung cho Quân khu Cánh Đồng Chum 20 khẩu B40 và 100 tiểu liên AK (điều ở Quân khu 4) để trang bị cho đơn vị bảo vệ. Đại đội bảo vệ diệt được xe tăng đầu tiên là nhờ số trang bị này.

Xe đưa đoàn về doanh trại cũ của đơn vị A10 ở chân Phu He, cạnh khu vực cơ quan Trung ương bạn.

Một giai đoạn chiến đấu mới đã bắt đầu.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2010, 08:19:13 AM
(http://img697.imageshack.us/img697/7013/04102010879.jpg)

Đồng chí Phun-xi-pa-xớt, Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum giai đoạn đầu (người đứng giữa, hàng trước)
và một số cán bộ đoàn chuyên gia. Bên phải đồng chí Phun-xi-pa-xớt là
Đoàn trưởng chuyên gia Nguyễn Bình Sơn.

(http://img151.imageshack.us/img151/7401/04102010878.jpg)

Đồng chí Xi-phon, Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum giai đoạn sau (người đứng thứ tư từ trái sang)
dự hội nghị tổng kết công tác chuyên gia năm 1971, chụp hình kỉ niệm cùng đoàn chuyên gia.

(http://img824.imageshack.us/img824/121/04102010877.jpg)

Đoàn trưởng chuyên gia thăm đơn vị xe tăng đầu tiên của Quân khu Cánh Đồng Chum.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Mười, 2010, 08:19:49 AM
II. CUỘC CHIẾN ĐẤU GIỮ VỮNG ĐỊA BÀN,
TẠO THẾ, TẠO THỜI CƠ

Trong cuộc ra mắt nhận nhiệm vụ trước Trung ương Cục ngày 12 tháng 4 năm 1963, tôi và Lê Văn được gặp đồng chí Nu-hác Phôm-xa-vẳn, Xu-pha-nu-vông, Phu-mi Vông-vi-chít, Phun-xi-pa-xớt. Bên Quân khu có thêm các đồng chí Xa-mán, Vi-nha-kệt, Chính ủy Quân khu; Xing-ka-pô Chum-ma-ly, Phó tư lệnh Quân khu; Xi-phon Pa-li-khăn, Chủ nhiệm chính trị; Chăm-niêm, Tham mưu trưởng, Bun-niên, Chủ nhiệm hậu cần Phía Việt Nam còn thêm anh Quang vốn là Ủy viên Ban cán sự giúp Lào làm đại diện Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa bên cạnh Chính phủ kháng chiến Lào. Anh vốn có biệt danh là Quang lé. Anh nói thông, viết thạo tiếng Lào vì đã có một thời gian dài làm thợ ở Thái Lan, ở Lào và gia nhập Đảng tại Xứ ủy Ai Lao của Đảng Cộng sản Đông Dương. Tôi học tập ở anh tính kiên nhẫn, khiêm nhường trong quan hệ Lào cũng như Việt. Anh biết tôn trọng ý kiến anh em, chân tình bày vẽ những điều hay, những kinh nghiệm công tác trên đất bạn để dìu dắt lớp trẻ, lớp mới.

Đồng chí Nu-hắc Phôm-xa-vẳn thay mặt Trung ương bạn ở Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nói chuyện với chuyên gia. Đồng chí nói:

- Chúng ta kiên trì hòa bình, nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Giơ-ne-vư, bảo vệ Chính phủ Liên hiệp, nhưng đối phương do Mĩ giật dây đã trắng trợn phá hoại hòa bình, ngăn cản thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ, khủng bố những người yêu nước trong lực lượng Trung lập, chia rẽ khối đoàn kết giữa Neo Lào Hắc Xạt với lực lượng Trung lập. Coong-le đã theo Mĩ tách khỏi chúng ta, lập ra khu chỉ huy riêng, rước bọn tay chân CIA là tướng E-tam cùng vào đặt trụ sở ở Mường Phàn. Thế là Coong-le đã phản bội chúng ta, chống lại những người Trung lập yêu nước, bắt tay với bọn phái Hữu, thi hành mệnh lệnh của Mĩ, kéo đất nước trở lại cảnh nồi da xáo thịt.

Sự kiên nhẫn đã đến giới hạn. Chống lại kế hoạch leo thang chiến tranh của Mĩ ở Lào, trừng trị bọn phản động và phản bội, Trung ương Neo Lào Hắc Xạt đã phát động chiến tranh nhân dân trong cả nước để chia lửa với Cánh Đồng Chum.

Nhiệm vụ của chúng ta lúc này là phải nhanh chóng điều chỉnh lực lượng, tiêu hao, tiêu diệt nhiều địch, đẩy mạnh binh vận, phân hóa làm tẫn lực lượng Coong-le, bổ sung cho lực lượng Trung lập yêu nước do đại tá Đươn và trung tá Thiệp chỉ huy, chuẩn bị điều kiện để giành lại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng… Mĩ đang dồn các binh đoàn cơ động (GM) quân phái Hữu giúp Coong-le đánh chiếm Cánh Đồng Chum, đẩy chúng ta ra khỏi địa bàn này trước mùa mưa. Chúng ta có khó khăn nhiều mặt như quân ít, trang bị vũ khí kém, chưa đổi được súng, trận địa chưa làm. Đặc biệt do mới tập trung nên các tiểu đoàn giỏi đánh nhỏ, nhưng đánh phòng ngự, đánh tuyên truyền cơ động lớn là điêu mới mẻ. Điều này phải nhờ chuyên gia nhiều. Phải dìu dắt cho các đơn vị vừa đánh vừa học, trưởng thành nhanh chóng cả chính trị, quân sự, cả tổ chức, đời sống, giải quyết tốt hậu cần trong chiến đấu. Phải làm cho mọi người tin tưởng vào sức mạnh chính nghĩa của ta, vào đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, tin vào sự trợ lực của quân dân toàn quốc, chi viện quốc tế…

Những ý kiến sắc sảo kèm theo thái độ dứt khoát, khích lệ của đồng chí Nu-hắc làm tôi thấy ấm lòng, càng tin vào sự tất thắng của cuộc thử thách.

Đồng chí Phu-mi Vông-vi-chít với vẻ bình tĩnh, thanh thản vốn có, miệng cười chúm chím nhìn sang anh Phun rồi nhìn tôi nói:

- Các nhà quân sự đánh giỏi vào, bắt chúng phải thấm đòn quân sự để chúng tôi có dịp tốt, có thể lợi vạch mặt bọn phi nghĩa, dồn cho chúng nhiều đòn pháp lí, ngoại giao.

Hoàng thân Xu-pha-nu-vông phát biểu nhấn mạnh thêm về công tác binh vận:

- Chán chiến tranh, chống chiến tranh, đó là tâm lí phổ biến trong binh lính lúc này! Người Lào vốn trung thực, sự trung thực chủa những người sùng đạo Phật. Coong-le bắt họ làm cái việc “lừa thầy phản bạn” làm ngược đạo lí nhà Phật. Họ đã gắn bó với Pa-thét Lào 4 năm. Cũng là con em lao động bị bắt đi lính, họ đã được chúng ta chăm sóc chỉ dẫn nhiều điều. Cuôc sống dân chủ ít nhiều đã thấm vào lòng người. Đánh lại Pa-thét là trái đạo lí, họ sợ chết lắm! Ta phải nhân lúc họ bị ép buộc, đang do dự giữa ngã ba đường mà thức tỉnh họ, giúp họ chống lại bọn chỉ huy phản động hoặc kéo họ chạy về với cách mạng.

Quân phái Hữu mà bị đẩy lên dánh nhau ở Xiêng Khoảng họ càng sợ. lính đồng bằng không được rừng núi. Họ dễ chống bệnh, dễ đào ngũ. Đài Khăng Khay sẽ có bài giải thích, kêu gọi liên tục. Chỉ huy các đơn vị không nên thành kiến, xua đuổi họ chạy theo Coong-le.

Cuộc họp kết thúc nhanh và giao lại cho Bộ Tư lệnh Quân khu gấp rút quyết định các biện pháp điều chỉnh lực lượng, chuẩn bị đánh địch. Tướng Phun-xi-pa-xớt thay mặt Quân khu hứa với trung ương sẽ tổ chức và động viên bộ đội quyết đánh bại quân phái Hữu khi chúng vừa đặt chân vào Cánh Đồng Chum.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:36:38 PM
Được tin địch đang bắt tiểu đoàn 4 (đơn vị của trung tác Chẹng) từ Tha Thơm cùng binh đoàn cơ động 13 lên chuẩn bị đánh chiếm thị xã Xiêng Khoảng, Quân khu quyết định điều Tiểu đoàn bộ binh 24 của đồng chí Ký và đồng chí Vi-xiên đang phòng ngự vùng Bản Len lên tăng cường cho tiểu đoàn dù 1 của ông Thiệp và đại đội 128 của tỉnh. Tiểu đoàn 24 là chủ lực của mặt trận phòng ngự thị xã Xiêng Khoảng. Vì đơn vị của ông Thiệp thực chất chỉ còn hai đại đội (một bộ binh, một hỏa lực). Đại đội 2 chủ công thì rút về Khăng Khay để bổ sung xây dựng thành Tiểu đoàn 16. Còn đại đội 1 thì đại đội trưởng đã phản ông Thiệp, chạy về Mường Phà theo đại đội xe tăng của Xiêng Lạ.

Chỉ huy mặt trận thị xã Xiêng Khoảng là một ban chỉ huy chung do đồng chí Nao-tu, Tỉnh đội trưởng chủ trì và đồng chí Ký, chính trị viên; Vi-xiên, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 24 cùng thiếu tá Thiệp và Tỉnh trưởng Xôm-vẳng.

Tôi còn nhớ khi Đại đội 2 của trung tá Ình vừa hành quân từ thị xã Xiêng Khoảng về đến Khăng Khay chưa kịp bổ sung thì được tin một đại đội quân Coong-le đang hành quân lên chiếm Phu Khôm, điểm cao bảo vệ tà xẻng Phạt. Một mặt Châm-niên đánh xe xuống trực tiếp hạ lệnh cho đại đội pháo 85 ở Phôn Xa Vẳn bắn chặn địch trước đồi Phu Khổm. Mặt khác trung úy Ỉnh nhận lệnh lên chiếm đồi Phu Khổm trước khi địch đến. May sao nhờ “đạn pháo có mắt” - nói theo câu nói đùa của lính, pháo không rơi xuống Phu Khổm mà lạc khỏi Phu Khổm khoảng một ki-lô-mét. Đại đội lính Coong-le đang nằm ngủ chờ cơm gần sân chùa Bản Ca bất ngờ bị pháo dập. Đạn nổ, bếp tan, cơm đổ; lính đứa chết, đứa bị thưởng, số còn lại tháo chạy tan tác. Chiều tối, lính địch xơ xác bò lên Phu Khổm thì bất ngờ bị ngay một trận hỏa lực của đơn vị Ỉnh. Thế là Tiểu đoàn 16 đã gặp một lần may trong chiến tranh. Đánh tan đại đội địch, chiếm giữ được Phu Khổm khi đơn vị chưa kịp bổ sung chấn chỉnh.

Trên hướng phòng ngự chủ yếu của mặt trận Phon Xa Vẳng - Khăng Khay, Tiểu đoàn 1 Pa-thét dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Mai-xinh và chính trị viên Xi-thôn chiếm lĩnh phòng ngự một tuyến dài hơn sáu ki-lô-mét từ Đông Đản đến Lạt Thuổng - Bản Ngỗi, tiếp giáp với tiểu đoàn 15 ở Ban Len.

Tiểu đoàn 1 được tăng cường hai khẩu cối 120 và được một đại đội pháo 105, một đại đội pháo 85 nòng dài của Quân khu chi viện trực tiếp. Đa số cán bộ, chiến sĩ ở đây đều là người dân tộc ở các tỉnh Hạ Lào, ở Luông Pra Băng, quen dầm mưa dãi nắng, chặt cây, làm hầm rất khỏe. Chỉ một tuần là đủ hố bắn. Hầm ngủ của tiểu đội có nắp ken gỗ dày hai lớp đất, đủ che đạn pháo 105. Tổ chuyên gia của Đại úy Tình quân sự, đại úy Mai chính trị và thiếu úy Phúc kỹ thuật đã tận tình hướng dẫn giúp tiểu đoàn chuẩn bị chiến đấu, huấn luyện kỹ thuật và triển khai binh vận có kết quả.

Tiếp giáp bên phải Tiểu đoàn 1 có Tiểu đoàn 15 Trung lập yêu nước mới được tập trung xây dựng từ ngày ly khai khỏi Coong-le. Đây toàn là những cán bộ, chiến sĩ sớm giác ngộ về độc lập dân tộc, gồm cả thanh niên Lào, Việt Kiều và Hoa kiều hăng hái của thành phố Viên Chăn. Họ vào lĩnh không phải để đánh thuê cho ai mà là để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ gia đình. Nếp sinh hoạt dân chủ của những người Trung lập yêu nước đã thu hút ý chí họ. Cho nên áp bức, khủng bố và chống Neo Lào Hắc Xạt là những điều họ dứt khoát không chịu. Họ đã ly khai và lên án tội phản bội của Coong-le và đồng bọn. Chính họ đã trừng trị tên Két-xa-nạ, đại tá quân khu trưởng của Coong-le ở Phôn Xa Vẳn vì tội ức hiếp, đánh đập, giam cầm và bắn giết nhiều người yêu nước và chống Neo Lào Hắc Xạt.[36]

Thoát ra, họ lại cùng Bun-xu, một đại úy trẻ của bộ đội Hoàng gia cũ được Mỹ cho đi học các trường bộ binh, tình báo, quản lý dân vệ… ở Thái Lan, Úc, Phi-líp-pin… và sau đảo chính lại được Coong-le gửi qua Việt Nam học trường Pháo binh ở Sơn Tây. Người sĩ quan chưa đến 30 tuổi này có tri thức, dũng cảm, tháo vát lại có bản lĩnh chính trị rõ ràng dứt khoát nên không được lòng Coong-le, nhất là những lúc đấu tranh lên án phái cực Hữu trong lực lượng Trung lập. Anh có tham gia Đảng Trung lập nhưng là “Trung lập yêu nước” của lãnh tụ Ki-nim Phôn-xê-na và Trung tướng Hươn. Còn lúc này lãnh tụ Ki-nim mất rồi, anh chỉ tin tưởng vào Neo Lào Hắc Xạt là đúng đắn nhất.

Cuộc họp ban lãnh đạo lực lượng trung lập yêu nước lúc mới ly khai gồm đại tá Đươn, trung tá Thiệp, trung tá Phon-xay, đại úy Bun-xun. Ban lãnh đạo đã phân công Bun-xu trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 15. Cùng với những đồng sự nòng cốt như Xi-von, Đương-đi, Xi-phôm, Khăm-phẳng, Xi-khay, Phủ-bua-kệt, anh đã xin sự giúp đỡ của Phòng Chính trị Quân khu để tổ chức, xây dựng lực lượng và nền nếp tiểu đoàn anh như dạng tiểu đoàn Pa-thét. Nhờ cán bộ, chiến sĩ đồng lòng, đồng sức nên thời kỳ Bụ-xun chỉ huy, Tiểu đoàn 15 đã chiến đấu dũng cảm lập công xuất sắc, nhất là trong các hoạt động địch vận, đơn vị đã phát huy hết thế mạnh, kêu gọi được nhiều bạn bè cũ.

Giải phóng xong Cánh Đồng Chum, do yêu cầu mở rộng ảnh hưởng của đường lối hòa bình trung lập, Bun-xun là người có trình độ nhận thức lý luận và có thể viết bài nên anh được điều về làm việc ở ban phát đồng quần chúng, rồi dần dần qua các cơ quan tuyên truyền, báo chí, phát thanh của Trung ương, Quân khu, theo dõi sát cuộc tiến công khởi đầu của quân Coong-le vào hướng phòng ngự chủ yếu của ta.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:36:52 PM
Đầu tiên, Coong-le cho một tiểu đoàn và hai xe tăng đánh vào hướng Bản Len. Tiểu đoàn Bun-xu bắt đứt xích một xe tăng. Bộ binh địch không dám tiến, cứ nằm gọi pháo bắn lên đồi cao rồi nhì nhằng đến tối cũng rút.

Ngày hôm sau, pháo binh Coong-le bắn sớm và bắn mạnh vào trận địa Tiểu đoàn 1, Ban Gion. Đến 9 giờ, cuộc “thao diễn” của một tiểu đoàn bộ binh và hai xe tăng khác lại cũng thực thi tiết mục tiến công hệt như ngày hôm trước. Tướng Phum, Quân khu trưởng trực tiếp theo dõi, lệnh cho pháo 85 ở Bản Gion diệt xe tăng. Một loạt pháo 85 bắn cháy một xe tăng. Chiếc còn lại cùng bộ binh lùi xa tới ba ki-lô-mét nằm trơ giữa bãi cỏ và đến tối cũng rút nốt về sân bay.

Xem ra đây cũng chỉ là một cảnh bị bắt buộc chứ lính Coong-le chưa dám đánh. Dù sao đây lại là những đợt tập dượt cần thiết cho lực lượng ta làm nhiệm vụ phòng ngự. Giữa sân bay Mường Phàn, quân phái Hữu từ Trung Lào đã đưa lên các binh đoàn cơ động 12, 14, 16., Binh đoàn dù số 15 đang chờ máy bay.

Tin của Bộ Tổng tham mưu Việt Nam cho biết: “Dù 2 Coong-le từ Phu Phụng sẽ mở đợt tiến công ra Noỏng Pết, chiếm bàn đạp dọn đường đưa quân phái Hữu từ đó đánh ra Bản Ban, cắt ngã ba đường số 6 và đường số 7 giúp cho phỉ đánh chiếm đường số 7, Noỏng Hét”. Cuối bức thông báo này, Hà Nội thấy: “Nên giúp bạn chủ động đánh chiếm Lạt Buộc để củng cố tuyến phòng ngự cho chắc chắn, trước khi dù 2 tiến công”.

Chân-niên được Quân khu phân công lên chỉ đạo Tiểu đoàn 13 đánh chiếm Lạt Buộc. Kế hoạch là tăng cường cho đơn vị hai khẩu pháo 105, hai khẩu cối 120, dùng chiến thuật bằng sức mạnh. Tôi có nói riêng với anh Phum về chiến thuật bí mật tập kích, anh đồng tình, nhưng vì thấy Châm-niên mới ra trường có vẻ hăng hái và tin tưởng nên cứ để đánh thử. Kết quả pháo bắn trúng nhưng lượng đạn quá ít, bộ binh không dám lên. Sau khi nghe Châm-niên từ mặt trận về báo cáo, anh Phum quyết định: tăng cường Đại đội 16 Tiểu đoàn 2, dùng chiến thuật “bí mật tập kích” diệt điểm cao Phu Phụng tạo thế cho Tiểu đoàn 13 đánh chiếm Lạt Buộc và đề nghị tôi đi giúp tổ chức trận này.

Chiếc xe tải chở một tiểu đội công binh đi hộ tống chiếc xe Jép đưa tôi lên mặt trận Lạt Buộc. Đường đi Noỏng Pét qua Lạt Thơn chỉ hơn hai ki-lô-mét mà trong tuần qua phỉ đã “xơi” của Quân khu mất ba xe chở hàng. Tiểu đội công binh làm việc rất vất vả. Trước khi vào ngã ba, xe đi chậm. Công binh xuống đi bộ. Họ rải theo dọc đường, súng khoác vai, tay cầm xẻng, tay cầm thuốn sắt, vừa đi vừa xăm; cứ thế cuốn chiếu qua đoạn này, rất tốn thời gian. Xe đến chùa Bản Khai an toàn. 16 giờ, chúng tôi vào trạm hậu phương Tiểu đoàn 13, nơi đặt kho và trạm phẫu thuật thì biết đồng chí Khăm-phim, Phó tham trưởng Quân khu và sở chỉ huy Tiểu đoàn 13 đều ở Kang Viên. Xe lội qua suối lớn và lên tới đồn phòng thủ tiểu đoàn. Trời đã chập choạng tối, mưa phùn và rét, khí hậu Cánh Đồng Chum là thế. Trong đồn chỉ còn hai chiến sĩ, vì ăn tối xong có tập quán cũ anh em đều ra bản chơi. Hỏi về địch, đồng chí gác cổng chỉ vào bản Na Ban. Tôi hiểu ra là địch có tới bản này. Hỏi chỉ huy thì anh chỉ vào bản Kang Viên.

Không thể ngồi chờ ở đây, tôi nhờ chiến sĩ gác cổng tìm người dẫn đến bản Kang Viên tìm anh Khăm-phim.

Người dẫn đường đưa tôi xuống trường học, nhưng chẳng có ai. Đi bộ 300 mét, chúng tôi bắt gặp mấy ánh lửa mờ chiếu qua vách ván, đoán là trụ sở xã. Chẳng có ai canh gác hỏi han gì. Hai người cứ đi thẳng vào nhà, tới chỗ bếp lửa đang tàn. Mùi rượu, mùi thốc lá bốc lên. Anh Khăm-phim cũng uống rượu nhưng rất tỉnh, nghe gọi là dậy ngay. Anh thổi cho lửa đỏ lên và nhận ra tôi. Anh mừng quá, nhảy ôm lấy tôi, không biết nói gì cứ “ôi, ôi!”.

Qua Khăm-phim tôi được biết địch ở bản Na Ban đã rút lên đồn. Cán bộ Tiểu đoàn 13 họp rút kinh nghiệm xong đã về đơn vị. Thấy Khăm-phim cũng mệt mỏi, tôi đề nghị anh cứ yên tâm ngủ, sáng mai ta lại bàn, nhưng còn xôi cho một nắm. Tôi tự nhủ tốt nhất là mình cứ tìm lấy ăn để giữ sức ngày mai. Tôi ăn một nắm xôi chấm muối ớt với vài cọng rau cải sống, vài lá phắc lót. Xem đồng hồ đã hơn 22 giờ, tôi nhẹ nhàng lẻn ra ngoài cầm súng đi quanh hiên nhà, gọi là thức gác thay cho anh em, đồng thời cũng hy vọng phát hiện được một cái gì giữa cảnh đêm im ắng của[40] chiến trường. Nói thật, cũng chẳng còn bụng dạ nào mà nghĩ đến chuyện ngủ. Đêm đầu tiên trở lại chiến trường là như vậy.

Tôi nhẩm tính, phải nắm lại địch, bí lắm thì dùng vũ trang trinh sát. Trong đêm, tôi cố gián mắt nhìn lướt qua địa hình. Trăng đã hơi mờ. Tỉnh thoảng lại dậy lên một tiếng gà gáy. Tôi lo Tiểu đoàn 13, không hiểu sau trận đánh vừa rồi khí thế ra sao? Ăn uống thế nào? Và họ sẽ tiếp thu kế hoạch mới thế nào? Tiểu đoàn 2 bao giờ tới? Liệu ta chuẩn bị kịp không? Và Tiểu đoàn 2 chỉ có một đại đội mật tập, anh em dám đánh không? Nếu địch đánh trước thì Tiểu đoàn 13 giữ thế nào để tạo thế cho Đại đội 16 Tiểu đoàn 2 chủ động phản công đánh chiếm được Lạt Buộc?


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:37:06 PM
Trong nhà anh em vẫn ngủ yên. Sáng sớm, dân làng đã đỏ lửa nấu xôi nhưng vì có địch nên chưa ai dám ra đồng. Tôi chợt thấy một người từ hướng Bản Khai đi tới. Đúng là Xi-phon. Tôi vội vàng đánh thức Khăm-phim dậy. Vừa bước ra khỏi nhà đã nghe thấy tiếng Xi-phon oang oang:

- Thế là đã bắt được các tướng đây rồi. Anh ôm chầm lấy tôi, véo vào lưng và phấn khởi nói:

- Chiếm được Khăng Hồng, tôi về Khăng Khay thì được biết anh đã lên đây. Thế là sẵn hai xe của công binh và bảo vệ đang nghỉ ở sân tham mưu, tôi xin đổi cho Châm-niên đi Tiểu đoàn 1 nhường cho tôi lên đây gặp anh.

Tôi nói lại tình hình qua tin anh Khăm-phim và đề nghị: thời gian gấp, chờ bộ binh đi trinh sát quay ra quay vào sẽ rất chậm. Tiểu đoàn dù 2 của địch, ta biết rồi. Chúng ta sẽ dùng cách vũ trang trinh sát, cho hai khẩu pháo và một tiểu đội bộ binh chọc cho địch đối phó để biết cách chúng bố trí. Còn Đại đội 16 Tiểu đoàn 2, ta cho công binh đi trước điều tra, bộ đội theo sau chờ… Chỉ cần một ngày một đêm, cán bộ nắm được địch là đưa bộ đội vào đánh luôn.

Vốn là người rất nhạy cảm nên tuy đi suốt đêm không ngủ nhưng khi nghe nói thế, Xi-phon tán thành ngay, chứng tỏ anh cũng đã chủ động suy tính.

Anh Khăm-phim cho mời đồng chí Ẳng, tiểu đoàn trưởng 13 và hai đại đội trưởng pháo binh cùng đồng chí Nghĩa chuyên gia. Sau 30 phút, anh em đã có mặt. trên đường ra trận địa pháo, chúng tôi lại gặp tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2 và đồng chí Van-na, đại đội trưởng Đại đội 16 cùng đại đội phó trợ chiến tiểu đoàn. Xi-phon vui mừng reo lên:

- Thế là hiệp đồng động tác cho cán bộ ta quá tốt rồi.

Pháo binh được giao nhiệm vụ dùng một khẩu 105 bắn lên đỉnh Phu Phụng, chọc cho pháo binh địch làm lộ mục tiêu. Còn cối 120 dùng một khẩu pháo bắn vào đột Lạt Buộc. Ẳng dùng hai tiểu đội bộ binh áp sát xóm Chợ, khi súng cối bắn vào đồn Lạt Buộc thì nổ súng làm như tiến công thật. Giao xong nhiệm vụ cho pháo binh và Tiểu đoàn 13, chúng tôi dẫn cán bộ tiểu đoàn đi lên dãy Phu Na Phai nơi đặt đồn tiền tiêu của Tiểu đoàn 13.

Đến đồn tiền tiêu, tưởng lính 13 đang mệt mỏi lo âu nhưng trái lại anh em rất tươi tỉnh, thoải mái. Anh em mang ra một gùi xôi, thức ăn dự trữ và cho biết đây là cơm ủng hộ hàng ngày của tà xẻng Piàng.

Cứ ngỡ anh em gặp khó khăn, không đủ cơm, không ngờ đơn vị lại được dân đùm bọc chu đáo. Trước mũi súng của quân Coong-le ở đồn Lạt Buộc, dân của tà xẻng Piàng vẫn tự động tiếp tế nuôi lính Pa-thét Lào. Ai dám bảo dân ở đây theo phỉ!

Xôi được xếp vào từng típ, nhiều loại: một người ăn, hai người ăn, ba người ăn. Thức ăn được gói kỹ trong lá chuối tươi được rửa sạch; nào dưa muối, chẻo thập cẩm, vài quả trứng vịt luộc và một gói kha to cá kho với rau... Tất cả đều rất hấp dẫn.

Nhân dân thật vĩ đại! Ngồi ở Khăng Khay không ai có thể thấy được. Phải xuống đây, xuống với dân, vừa nhấm nháp thức ăn vừa suy ngẫm, thật là ấm áp tình dân... quân đội nhân dân... chiến đấu vì dân... sống trong lòng dân... Thật là hạnh phúc cho Tiểu đoàn 13. Năm 1962, tôi xuống thăm tiểu đoàn, lúc đó Chăn-đi đang làm tiểu đoàn trưởng. Đơn vị gắn bó với tà xẻng Tha Thơm chặn đánh cánh cánh quân của binh đoàn 13 từ Pắc Xan lên. Năm nay, 1963, tôi lại đến Tiểu đoàn 13 khi đơn vị đang quần nhau với địch ở vùng Lạt Buộc. Điều khẳng định đầu tiên là sống trong lòng dân, Tiểu đoàn 13 sẽ làm tròn nhiệm vụ.

Hơn 9 giờ sáng, cuộc trinh sát vũ trang bắt đầu. Khẩu cối 120 bắn ba phát vào đồn Lạt Buộc. Sau vài phút địch dùng một khẩu cối 81 và một khẩu ĐKZ57 bắn trả. Khẩu pháo 105 đặt ở bắc Kang Viên bắn ba phát lên đỉnh cao Phu Phụng, nơi dự đoán tiểu đoàn dù 2 đặt đài quan sát. Địch trả lời bằng khẩu 75 ly đặt sau sườn thấp Phu Phụng. Từng phát một đạn sơn pháo rơi xuống phía bắc đồi sang hướng đông bản Kang Viên.

Khi bộ binh ta lấp ló ở trước đồng ruộng Lạt Buộc thì tiếng súng bộ binh địch nổ cả trên đồi và sau chùa Lạt Buộc. Trên đỉnh núi Phu Phụng cũng rộ lên mấy loạt trung liên. Bất ngờ thấy bảy, tám tên địch từ rừng Na Ban chui ra chạy thục mạng về chùa.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:37:25 PM
Xác định rõ về địch, nhiệm vụ được giao cụ thể cho các đơn vị như sau:

Đại đội 16 Tiểu đoàn 2 do trinh sát Tiểu đoàn 13 dẫn sẽ đi vòng ra sau lưng Phu Phụng. Bộ đội dừng lại chỗ đồng trũng giữa Phu Cúp và Phu Phụng. Cán bộ lên trinh sát xong quay lại đón bộ đội, phổ biến kế hoạch và tiến vào mật tập luôn. Mục tiêu chính là sở chỉ huy dù 2 Coong-le.

Tiểu đoàn 13, đúng ngày “N”, bí mật tiếp cận. Khi Tiểu đoàn 2 nổ súng chiếm Phu Phụng thì Tiểu đoàn 13 được pháo cối chi viện, xung phong chiếm đồn Lạt Buộc. Đánh xong, Tiểu đoàn 2 rút, Tiểu đoàn 13 nhanh chóng tiếp quản toàn bộ Lạt Buộc và trong vòng ba ngày đêm phải xây xong trận địa phòng ngự trên đỉnh Phu Phụng và Phu Coong. Sẵn sàng đánh bại quân phái Hữu.

Đúng như kế hoạch, đêm 20 tháng 5 năm 1963, Đại đội 16 đã mật tập diệt gọn hai điểm cao Phu Phụng. Địch chết 16 tên, bỏ lại một ĐKZ, gần như toàn bộ trang bị và tấm bản đồ chỉ huy của tiểu đoàn dù 2. Thắng lợi trận đầu do Đại đội 16 Tiểu đoàn 2 bằng mật tập cũng tăng thêm phấn khởi cho cán bộ, chiến sĩ mặt trận. Xong Lạt Buộc, tôi xuống cùng anh Châm-niên giúp Tiểu đoàn 1. Đồng chí Tình cho biết hầm hố đã tạm xong, bộ đội đang đi xin cành tre gai và chặt cây làm rào.

Máy bay Mỹ tiếp tục đổ quân phái Hữu xuống sân bay Mường Phàn. Chiếc máy bay con AD6 của E-tam và chiếc Li9 của Coong-le bay lượn trên bầu trời Cánh Đồng Chum. Chắc là chúng đang trinh sát chuẩn bị kế hoạch tiến công chúng ta. Vậy E-tam là ai mà được đưa đến đây phối hợp và làm thầy cho Coong-le.

E-tam là một tướng phái Hữu, bắt đầu được nhiều người biết đến từ năm 1959 khi y dẫn đầu binh đoàn từ bỏ kế hoạch bao vây tiến công tỉnh tập kết Sầm Nưa của Pa-thét Lào, chạy thoát chết một mạch về Cánh Đồng Chum rồi Viên Chăn. Đào tẩu giỏi cũng là một cái tài, y lại được gửi đi học tiếp nhiều trường bên Mỹ và một số nước Đông Nam Á để rồi lại trở vê đây. Lúc này chưa biết sẽ là chỉ huy quân phái Hữu hay là cố vấn cho Coong-le, cũng có thể chỉ là tài mắt của CIA giám sát Coong-le và bố thí vện trợ cho “Trung lập”.

Quân Pa-thét Lào và cả quân Trung lập đều chưa tổ chức binh đoàn cơ động mà chỉ gồm một đội pháo binh có khi cả cơ giới và thường là ba tiểu đoàn bộ binh, một số tổ chức với kiểu tác chiến ở địa bàn rừng núi. Trong khi đó, Coong-le có đến sáu bảy binh đoàn. Mỗi binh đoàn xấp xỉ hai nghìn quân chứ đâu chỉ vài ba trăm như các tiểu đoàn của Trung lập. Quân đổ xuống đầy rừng, đầy bãi, đồ tiếp tế (riêng đồ an đã đầy bờ, đầy sân), chưa nói gì súng đạn. Coong-le cho máy bay bay đi bay lại xem chiếm được Cánh Đồng Chum rồi lần này phải xây sở chỉ huy đâu cho đẹp, cho thỏa chí ăn chơi (?).

Đài phát thanh Khăng Khay liên tục phát đi các bài giải thích các điều khoản của Hiệp định Giơ-ne-vơ, phê phán sự phá hoại của đế quốc Mỹ hiếu chiến, vạch mặt phản bội của Coong-le cùng đồng bọn, kêu gọi binh lính Coong-le chống lại bọn chỉ huy phản động, đấu tranh bảo vệ sự hợp tác với Neo Lào Hắc Xạt, không đánh nhau mà chạy về với lực lượng yêu nước của đại tá Đươn, trung tá Thiệp. Đài kêu gọi nhân dân Xiêng Khoảng cùng cả nước tìm mọi biện pháp ủng hộ cách mạng ở chiến trường Cánh Đồng Chum. Nhiều thư tay được phát đi, nhiều cuộc liên hệ vận động binh lính Coong-le được bí mật tổ chức. Đơn vị lính dù 4, lính dù 6 của trung đoàn ông Chẹng mà đại úy Khảo trung đoàn phó kiêm tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 là hạt nhân, kiên quyết chống bọn phái Hữu phản động mạnh nhất, được chọn làm điểm cho chiến dịch binh vận.

Vốn chán ghét chiến tranh, mến mộ Pa-thét Lào, vì Pa-thét Lào chính nghĩa, binh lính Coong-le đã tạo được nhiều mối liên hệ, nhiều biện pháp đấu tranh để cô lập, bịt mắt bọn phòng nhì và bọn chỉ huy phản động.

Tuy nhiên, tình hình chiến trường giữa tháng 5 và tháng 6 vẫn rất căng thẳng. Trời vẫn rỉ rả đổ mưa. Phía nam, binh đoàn 13 thập thò chuẩn bị đánh vào thị xã Xiêng Khoảng. Phía bắc, sáu binh đoàn phái Hữu đổ xuống dang muốn nuốt chửng Cánh Đồng Chum. Không khí chuẩn bị trận địa để đánh bại chiến dịch tiến công của quân phái Hữu vá Coong-le đang diễn ra khẩn trương khắp các hướng.

Tiểu đoàn 24 của đồng chí Ký và chuyên gia Thường đã đánh chiếm trận địa sơn pháo ở mỏm 1 Phu Ca Bó và xây dựng ở đây một chốt phòng ngự, một mũi nhọn sắc bén uy hiếp trận địa Phu Huột của địch. Binh đoàn 12 và một bộ phận binh đoàn 14 địch khởi đầu đánh vào Lạt Buộc. Ở đây tổ chuyên gia do đại úy Đàm (quân sự), đại úy Bồng (chính trị) cùng tổ kỹ thuật của hai sĩ quan Đài và Tọa đã ra trận trực tiếp giúp bộ đội của tiểu đoàn trưởng Ẳng và chính trị viên Xa-nằm đào công sự, diễn tập phòng ngự. chỉ trong hai ngày, cuộc tiến công của quân phái Hữu đánh vào Phu Phụng đã bị đẩy lùi. Đạn pháo 105 của địch không phá nổi công sự. Những người lính gốc gác dân La Ve cùng tiểu đoàn trưởng Ẳng đã phát huy truyền thống gan lỳ của Tiểu đoàn 13 trạm bám vững vàng.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:37:46 PM
Truyền thống “phòng ngự gạn lỳ dũng cảm” của Tiểu đoàn 13 nổi tiếng từ khi mới tập trung do tiểu đoàn trưởng đầu tiên là Xổm-xắc (sau đó Xổm-xắc về làm Tổng tham mưu phó), người kế tục là Chăn-đi rồi mới đến Ẳng. Thêm một trận thắng vẻ vang, Tiểu đoàn 13 đã củng cố chỗ đứng vững chắc, trở thành một tiểu đoàn phòng ngự giỏi.

Sau trận Phu Phụng, binh đoàn 14 lại cùng binh đoàn 16 ngoan cố xông ra làm bia đỡ đạn lần thứ hai. Hai đơn vị này được xe tăng Coong-le dẫn lên định xung phong đánh vào hướng Nậm Khao, Phôn Xa Vẳn, nhưng lính Trung Lào cứ nấp ở sườn đồi không lên, mặc cho xe tăng phơi xác giữa bãi trống cho pháo binh Pa-thét Lào nã đạn. Cháy chiếc thứ nhất, hai chiếc còn lại tháo chạy; xe tăng chạy tất nhiên bộ binh rút phải rút theo.

Thế là nguồn hy vọng của E-tam và Coong-le chỉ còn binh đoàn dù 15, binh đoàn “Anh cả đỏ” của quân đội Hoàng gia Lào. Binh đoàn này được xây dựng từ thời Pháp, sau được Mỹ trang bị lại, huấn luyện, sử dụng theo kiểu Mỹ. Nó được nuôi dưỡng theo một chế độ hơn hẳn các binh đoàn khác. Lần này binh đoàn 15 rra quân trên đất Xiêng Khoảng, bọn chỉ huy cũng tưởng dễ ăn vì đã có từ ba tới bón binh đoàn đàn em dọn đường. Trong các buổi bắt quẻ bói, một số thầy mo “nói nghe không hay cái lỗ tai lắm”, song họ đã khấn vái kỹ ở các chùa lớn, đã được các sư cụ buộc chỉ cố tay cầm phúc rồi. Coong-le cũng đã mời thầy chùa cúng quẻ cho họ nữa.

Vào thời điểm này, Bộ Tư lệnh Quân khu nhận được một tin giật gân: “Đại đội 1 dù 1 sẽ luồn vào Tà Khẹt tập kích trận địa pháo và sở chỉ huy của Tiểu đoàn 1, tạo thế cho binh đoàn dù 15 tiến công chính diện”.

Thế là Coong-le đã cố tạo thế lợi nhất cho “Anh cả đỏ” lập công. Quân lính của “Anh cả đỏ” phấn khởi chờ đợi. Trong khi đó, về phía ta, trinh sát và bảo vệ được phái đi chặn, lùng các nẻo đường có thể dẫn vào Khăng Khay. Vùng Tà Khẹt được pháo binh và Tiểu đoàn 1 sục sạo suốt hay ngày đêm. Vùng này lắm hang hốc. Tập kích bổ sung mật phía sau là sở trường của ta, là ngón võ hiểm hóc đã làm địch đảo điên. Nay nghe kế hoạch luồn đánh tập kích của địch thì ai cũng lo vì sợ Tiểu đoàn 1 không đủ bình tĩnh đối phó. Nhưng đến ngày thứ ba đã có tin cải chính: “Đại đội 1 dù 1 không dám vào đánh Tà Khẹt”. Mọi người thở phào nhẹ nhõm.

Kế hoạch của Mỹ, của E-tam hiểm độc, nhưng lính ngụy không dám thực hiện. Bộ binh không phối hợp. Coong-le đành cho pháo bắn mạnh để chi viện. Lính dù gọi đâu là pháo bắn đó. Gọi một bắn hai, “bắn cầu may”. Ngày thứ nhất, không được gì. Ngày thứ hai, cũng không được gì! Ngày thứ ba, vớt vát cuối cùng cũng không được nốt! Cả ba ngày đều bị mưa, có khi mưa rất to, lính dù rét mưới, bấn thỉu. “Cái đất Cánh Đồng Chum không ngờ lại ác quá!” - lính dù than vãn. E-tam buồn và xấu hổ.

Coong-le thất vọng tự hỏi: “Cái chiến dịch tiến công chớp nhoáng chiếm Cánh Đồng Chum trước mùa mưa đến đây đã kết thúc rồi sao?”. Coong-le ấm ức với E-tam, nhưng chưa dám mở miệng chất vấn.

Cơ quan viện trợ Mỹ và Bộ Quốc phòng phái Hữu gửi từ Viên Chăn ra bao nhiêu quà và tiền úy lạo binh lính. Nhưng Coong-le không phấn khởi tí nào, lại còn ấm ức khi được lệnh rút các đơn vị phái Hữu về địa phương cũ để chống lại phong trào du kích.

Thế là lần lượt các binh đoàn 12, 14, 15, 16 nối đuôi nhau lên máy bay rút hết. May mà Coong-le còn được binh đoàn 17 ở lại giúp việc cơ động chung.

Mặt trận phòng ngự phía trước tạm ổn. Thời cơ đẩy mạnh binh vận đã đến. Ta có điều kiện củng cố bộ đội, học tập quân sự, chính trị và tích cực tham gia sản xuất để dự trữ lương thực, thực phẩm tại chỗ cho cuộc chiến đấu kế tiếp.

Trên mặt trận binh vận đã có nhiều hoạt động lý thú dưới sự chỉ đạo sáng tạo của Chính ủy Xa-mán và chuyên gia Lê Văn. Để “bịt mắt” bọn chỉ huy trung lập Coong-le phản động, giấu kín những hoạt động qua lại của hai bên, ở các phân đội, bộ đội Pa-thét Lào bàn với lính dù 4, dù 6 tạo ra các trận đánh giả. Đêm nào cũng thế, liền hai ba tối, ăn cơm xong bên ta lại nổ vài băng tiểu liên. Thế là bên trận địa địch, lính tráng lập tức la lối, lựu đạn, súng cối, các loại súng nã liên hồi. Sau vài giờ, địch lại gọi điện thoái báo cáo, xin pháo chi viện, không cho bọn chỉ huy ngủ. Có đêm lính địch vơ rơm cỏ về đốt rồi kêu cháy lán, cháy bếp. Thế là đêm nào tham mưu E-tam và Coong-le cũng báo cáo về Viên Chăn “những trận đánh ác liệt” mà kết thúc thì đều “đánh bại cuộc tập kích của Pa-thét” và xin thêm đạn dược, tiền nong… Phòng ngự kiểu này tổn thất mà cũng lý thú nhất đối với binh lính hai bên. Lính địch thích nhất là khoảng 22 giờ hàng ngày vừa chơi bài vừa giật pháo sáng. Sáu bảy giờ sáng hôm sau họ lại đua nhau đi nhặt dù pháo sáng làm quà cho các em gái trong bản. Chủ trương của Quân khu là phía trước đẩy mạnh binh vận, ra sức học tập chính trị, quân sự, củng cố các chi bộ. Phía sau tranh thủ quét các ổ phỉ lần ra sát đường số 7, củng cố thế ổn định cho tuyến hậu phương.

Lực lượng Trung lập của đại tá Đươn, trung tá Thiệp cũng học quân sự như bộ đội Neo Lào Hắc Xạt, nhưng về chính trị trọng tâm là xác lập cho được trách nhiệm tự xây dựng mình thành bộ đội cách mạng, đoàn kết lâu dài với Neo Lào Hắc Xạt, chiến đấu cho độc lập, tự do, ấm no hạnh phúc của dân tộc.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:38:04 PM
Trong huấn luyện quân sự, ngoài việc huấn luyện phòng ngự và bắn súng tại trận địa, bộ đội còn phải học tiến công cho thành thục, củng cố lòng tin vào chiến thuật bí mật tập kích. Chiến sĩ sợ không tiếp cận được địch, sợ địch nổ súng trước, không kịp xung phong. Tổ chuyên gia Tiểu đoàn 13 do đồng chí Đàm chủ trì có sáng kiến cho các tiểu dội thay nhau tập, một bên làm địch, một bên làm ta. Phòng ngự rồi tiến công, tiến công rồi phòng ngự; hai bên thay nhau tập đi tập lại nhiều lần, cuối cùng mọi người đều tin giữ được bí mật thì chắc thắng. Kinh nghiệm huấn luyện của Tiểu đoàn 13 được phổ biến vận dụng trong toàn Quân khu. Công tác binh vận và huấn luyện đang thuận lợi thì trời đổ mưa to.

Sau cuộc diễn tập của Tiểu đoàn 2, anh Phun và chuyên gia vừa góp ý rút kinh nghiệm với đồng chí Chum tiểu đoàn trưởng xong, chưa kịp ra xe thì trời nổ sấm sét, mưa ập xuống. Mưa rất to. Chỉ từ 15 giờ đến 18 giờ mà nước suối đã dâng lên sáu, bảy mét. Tới 21 giờ nước đã dâng lên 10 mét. Nước ngập tràn hết cả đồng ruộng; nước ngập trắng xóa ra tận trung tâm Cánh Đồng Chum. Lính Coong-le ở các trận địa thấp bỏ sân bay chạy lên núi. Ruộng lúa bị nước xói lở từng đoạn. Kho tàng đặt sát bờ suối ngập, đổ. Hàng hóa, đồ đạc trôi ra Cánh Đồng Chum. Kho gạo ngập sũng, chỉ có kho đạn nặng là còn. Phải cứu gạo và quân trang, gạo đã chia xuống các đơn vị mỗi nơi không đủ một tháng lại ướt nữa thì vô cùng khó khăn.

Phỉ Vàng Pao lợi dụng lũ lụt, xông ra phá đường số 7. Các đồng chí Phun-xi-pa-xớt và Khăm-phăn cùng các chuyên gia Hoàng Trà, Tăng Ngoạn vất vả hướng dẫn tiểu đoàn Pa Chay và Tiểu đoàn 500 quần nhau với phỉ và trực thăng từ Nậm Tiền về đến Khăng Pha Niên. Địch thả phỉ và bộc phá khối to như cột nhà để phá đường. Ta bắn, nó lại chạy.

Những ngày cuối tháng 8, sau khi đã nhường mấy bao gạo cuối cùng cho cơ quan bạn, cơ quan chuyên gia chỉ còn nửa bao dự trữ không dám ăn, phải đi vác gạo bị ngập nước về xay làm bún xáo cua, ốc. Nhà tôi ở gần nhà hầm của Chủ tịch Xu-pha-nu-vông, chỉ cách nhau một con suối. Một hôm đi làm việc từ Quan khu về tôi ghé thăm. Thấy bữa cơm của đồng chí vẻn vẹn một bát nhỏ, một tý thịt và ba bốn cọng rau rừng, tôi ái ngại thưa: bên chuyên gia, anh em nhà bếp có lấy gạo chua về làm bún, không ngon nhưng xin đưa sang Bác ăn thử cho đỡ đói. Anh em bưng sang một đĩa bún, một bát canh cua nấu khế thoang thoảng. Đồng chí ăn ngon lành và chân thành khen: đã chớm có mùi, nhưng vẫn ngon. Anh em chuyên gia tháo vát thật! Được biết chuyên gia đã ăn thế này gần một tuần, đồng chí khen ngợi tinh thần nhường áo sẻ cơm của chuyên gia với anh em Lào. Vừa lúc đó, đồng chí liên lạc của anh Xing-ka-pô từ Noỏng Hét đội mưa to về báo cáo: xe tiếp tế đã lên đến Noỏng Hét một tuần rồi, nhưng mưa to, đường ngập không đi được.

Thư anh Pô gửi có đoạn: “Đoàn Noỏng hét - Khăng Pha Niên ngập hơn một mét. Chúng tôi đang tìm đá lấp các rãnh sâu để kéo xe lên, nhưng về Khăng Khay có hai ngọn núi ở Phu Nốc Cốc đổ xuống lấp hết mặt đường. Chúng tôi chỉ đủ sức kéo xe về đến Bản Ban, còn từ Bản Ban về, Quân khu phải cho lực lượng xuống mở đường”.

Được thư, Quân khu bàn bạc và quyết định đưa một đại đội của Tiểu đoàn 2 xuống chốt bảo vệ đoạn đèo Phỉ. Lực lượng còn lại, cả trường y tá, tất cả nam nữ của cơ quan Quân khu, các đơn vị pháo binh, cao xạ, tiểu đoàn công binh phải ra làm đường. Thấy lực lượng còn thiếu, tôi đề nghị cho vét cả lực lượng chuyên gia cùng tham gia. Bạn hoan nghênh. Anh Phun ở nhà trực chỉ huy hoạt động phía trước. Anh Xa-mán chỉ huy mặt trận mở đường.

Các đơn vị đua nhau đi đẽo gỗ thông, chuẩn bị đuốc nứa làm đêm. Dự kiến phải hai đến ba ngày đêm mới thông đường. Phải quyết thông đường nhanh để chuẩn bị những đợt mưa kế tiếp phá. Về cơ quan, tôi tập họp các tổ trưởng công tác lại phổ biến kế hoạch cứu đường và nhấn mạnh: phải thông đường, đón cho được 200 xe gạo, đạn lên để cứu mặt trận. Đây là việc mà hai Bộ Tổng tham mưu đã bàn và chuẩn bị gần hai tháng. Anh Xing-ka-pô, Lê Văn và Tả Đảo đã về Hà Nội tiếp nhận, sau đó trực tiếp hướng dẫn đoàn xe lên Cánh Đồng Chụ. Lệnh quy định: 20 giờ mọi người phải ngủ, sáu giờ sáng ngày mai thức dậy nhận cơm nắm vá xuất phát.

Quay về phòng trực ban, tôi gặp đồng chí chuyên gia Phó chủ nhiệm hậu cần Quân khu nhân danh bí thư chi bộ đề nghị đoàn trưởng xét lại quyết định đưa chuyên gia đi làm đường, vì nó không nằm trong nhiệm vụ chuyên gia. Như bị dội một gáo nước lạnh, tôi hỏi: đồng chí là Bí thư chi bộ lại là chuyên gia Phó chủ nhiệm hậu cần Quân khu, vậy đồng chí có biết quân khu chỉ còn hai ngày gạo ăn không? Đồng chí ấy im lặng.

Tôi cố ghìm mình, để khỏi nổi nóng và nói tiếp: mặt trận đang nguy cấp. Chi bộ cơ quan chỉ nên bàn biện pháp tốt nhất để ủng hộ quyết định của thủ trưởng. Là bí thư chi bộ, lại là chuyên gia hậu cần mà còn ngăn trở quyết định này thì đồng chí không những không sâu sát với tình hình mà còn không nắm nguyên tắc nữa. Đồng chí cứ ở nhà. Lệnh không thay đổi!


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:38:19 PM
Một năm sau, khi đồng chí này được điều về Sầm Nưa làm nhiệm vụ hậu cần đơn vị 766, câu chuyện “Bộ binh là lính đi bộ” được anh em truyền nhau đã nói rõ của con người của anh. Câu chuyện xảy ra khi một chiến sĩ tình nguyện bị thương mới điều trị ở bệnh viện mặt trận ra bến đón xe hậu cần đang trong đợt chở gạo tiếp tế cho tiểu đoàn của họ. Chiến sĩ xin chủ nhiệm hậu cần đi nhờ xe của hậu cần để về đơn vị. Chủ nhiệm hậu cần thuyết giáo rằng đã là lính bộ binh thì phải đi bộ, không được đi đi xe.

Không cãi lại thủ trưởng, chiến sĩ đó lặng lẽ tránh sang lối khác và đón xe về đơn vị…

Công trường sửa đường sôi nổi kỳ lạ. Liền hai ngày ba đêm, mặc cho quần áo ướt, mặc trời mưa rả rích, tiếng đào, cuốc, tiếng đất đá lăn rào rào, tiếng ca hát, tiếng lăm phuôn… luôn âm vang, chẳng ai rời vị trí. Sôi nổi nhất là khu vực trường nữ y tá, dẫn đầu là cô Văn-khăm chiến sĩ thi đua. Vóc người tầm thước, duyên dáng lại có giọng hò hay, cô càng lao động càng đẹp ra. Đêm, lửa đuốc hòa với ánh sáng hai đèn pha ô tô. Đói thì cơm nắm, xoa sạch tay, ăn tại chỗ, ngủ cũng ngồi tại chỗ, say giấc 15 phút lại đứng lên làm. Chiều ngày thứ nhất đã đẩy được nửa hòn núi, mặt đường đã mở ra được một nửa. Trưa ngày thứ hai, thì biết xe đã đến Bản Ban thì túi gạo của các bếp chỉ còn gọn ghẽ một bữa không hơn không kém. Tôi đề nghị động viên công trường đêm nay phải thông xe và lệnh cho mỗi đơn vị cử một người xuống Bản Ban lấy một ngày gạo để nấu cơm, sáng ngày thứ ba, đề phòng đường chưa thông.

Ba giờ sáng ngày thứ ba, đoàn xe tiếp cận đèo phỉ. Lái xe bấm còi và bật đèn pha để chiếu sáng,đồng thời kích thích quân làm đường mở đợt nước rút.

Năm giờ rưỡi sáng ngày thứ ba, những chiếc xe đầu đã qua đèo phỉ. Những tảng đá lớn cuối cùng được trục ra khỏi mặt đường. Bộ đội làm đường đi trước dẫn đoàn xe và kiểm tra mặt đường. Đến gần đoạn suối, anh em thấy còn một tảng đá to chắn ngang một bên đường. Lính ta như đã hết hơi, nhìn hòn đá anh nào cũng lắc dầu; xe tạm dừng. Rất mệt nhưng tôi cố dốc hết sức bình sinh đẩy hòn đá ra khỏi đường. Lúc hòn đá lăn xuống vực cũng là lúc tôi bị ngã gục, chỉ kịp nằm ngửa cho chân lại cho đoàn xe chạy qua. Khi một chiến sĩ bạn trao cho nắm cơm nóng, tôi cứ nằm ngửa, mắt lim dim nhai liền mấy miếng, một lát mới thấy dễ chịu dần. Chẳng qua vì đói và mệt quá sức. Có hạt cơm vào là hồi phục ngay. Thế là đã thông xe rồi! Gạo, đạn đã đến Quân khu! Thiên tai cũng lùi bước.

Thời gian này, biết là có muộn, Quân khu vẫn động viên tỉnh và huyện cố cấy hết diện tích. Còn bộ đội, ngoài các rẫy lúa, ngô đã trổ bông cũng cuốc đất trồng thêm khoai và cấy thêm lúa nước. Nhiều đo pháo và xao xạ dựa vào thế ổn định của chiến đấu phòng ngự, quyết tâm cày cấy đủ lương thực ăn trong sáu tháng. Từng đại đội, tiểu đoàn vừa cò lực lượng chiến đấu vừa có trại sản xuất, chăn nuôi phục vụ thương bệnh binh và khu gia đình.

Trong buổi họp hậu cần toàn Quân khu, đồng chí Bun-niên báo tin vui, làm mọi người phân chấn: phòng Hậu cần Quân khu đã gây được hai đàn bò, một đàn ở Noỏng Hét 90 con, một đàn ở Khăng Khay 124 con. Từ nay Quân khu đã có thể dùng thịt để thưởng cho những trận đánh hay. Mỗi tiểu đoàn cũng sẽ được cấp bốn để gây một đàn bò của tiểu đoàn từ 15 đến 20 con. Hội nghị hoan nghênh nhiệt liệt.

Có gạo, có đạn và trời tháng 9 cũng giảm mưa, Quân khu bắt đầu một số trận đánh một tập để rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho mùa nắng. Mở đầu là Tiểu đoàn 1 đánh đồn Phu Khe. Quân ta tiếp cận nổ súng xung phong thuận lợi và chiếm được đầu cầu, trung đội phòng ngự của địch hò nhau “thói” (tiếng Lào thói là rút). Địch bỏ đồn chạy. Lính ta nghe khẩu lệnh “thói” tưởng lệnh của ta cũng lục tục rút. Thiếu úy Phúc chuyên gia tiểu đoàn đã hy sinh trong trận này. Anh là người chuyên gia đầu tiên của đoàn 463 hy sinh trong chiến đấu.

Tiếp đến, Tiểu đoàn 13 báo tin vui: đơn vị đã tập kích kho Bản Khổng, diệt và bắt chín tên, thu súng đạn và toàn bộ quân dụng.

Đánh mỏm cách giới Ta Lin Nọi, Tiểu đoàn 2 lập lại sai lầm của Tiểu đoàn 1: khi đội hình tiến công tiến cận thuận lợi xung phong chiếm lô cốt đầu cầu, giật được trung liên thì địch lại “thói”, ta lại rút. Thế là đầu thì vào nhưng đuôi lại ra. Địch cũng hoảng hốt bỏ chạy, sáng hôm sau mới dám chiếm lại. Quân khu phải tổ chức đắp sa bàn ba trận đánh, hướng dẫn cho các đơn vị rút kinh nghiệm, chuẩn bị cho đợt mới.

Để chuẩn bị cho kế hoạch mùa nắng tới, Trung ương bạn điều động Tiểu đoàn 701 chủ lực của Bắc Lào do các đồng chí Bun-thon và Bun-chăn chỉ huy. Tiểu đoàn có một tổ chuyên gia gồm: Dương Uyển quân sự, Trần Vinh chính trị và Tuân chuyên gia kỹ thuật. Tiểu đoàn được tăng cường bảo vệ vùng Bản Ban, đường số 7. Cũng lúc này đoàn cán bộ quân tình nguyện Quân khu Tây Bắc do anh Nguyễn Hữu An - Tham mưu trưởng quân khu và anh Vinh - Chủ nhiệm chính trị quân khu chỉ huy vừa sang. Đoàn được tổ chức hoàn chỉnh, có tham mưu, chính trị, hậu cần, lại có cả ban quản trị do dại úy Thịnh phụ trách. Đoàn có trách nhiệm giúp đoàn 5 một số việc trong chiến đấu và chuẩn bị chiến trường để khi có đánh lớn thì tăng cường cho bạn, hoặc lúc thời cơ đến cùng bạn giải phóng Cánh Đồng Chum. Trong số cán bộ chuyên gia mới có các đồng chí Đăng là thiếu tá pháo binh, có kinh nghiệm sử dụng pháo binh ở rừng núi. Anh Vinh là một chính ủy quen chiến trường Tây Bắc và Bắc Lào, rất khoái đánh trận và rất đích đi cơ sở. Anh An là một cán bộ giàu kinh nghiệm về công tác tổ chức chiến đấu và chỉ huy đánh tập trung. Còn tôi mới chỉ đánh nhiều ở chiến trường hậu Bình - Trị - Thiên và Hạ Lào, quen công tác cơ sở, đại đội độc lập, quân sự địa phương, chưa được học một lớp tham mưu cơ bản. Làm việc với anh An, tôi học được ở anh nhiều vấn đề. Lúc làm kế hoạch, trình bảy bản đồ, lên kế hoạch hiệp đồng, anh An khiêm tốn nói: đây là những nội dung tôi học được ở trung đoàn trưởng Đặng Văn Việt, khi làm tiểu đoàn trưởng trung đoàn đoàn anh Việt ở đường số 4.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:38:49 PM
Anh An phụ trách chủ trì chung: vừa chuẩn bị chiến trường vừa trực tiếp giúp mặt trận phòng ngự thị xã Xiêng Khoảng. Tôi được phân công làm phó, bao quát toàn bộ kế hoạch phòng ngự vùng Cánh Đồng Chum và đặc trách công tác chuyên gia, làm việc với ông Đươn. Anh toàn tham gia phần tham mưu. Anh Vinh, Lê Văn chia nhau đi sâu vào công tác Đảng - công tác chính trị binh vận.

Trước khi anh An xuống thị xã Xiêng Khoảng, tôi nói với anh về một số đặc điểm của binh đoàn 13. Lính bộ đội này toàn là người Xiêng Khoảng nên thạo đi hình, tiến công thì thoe đội hình phân đội luồn lách vu hồi, thọc sâu. Rút lui thì từng tổ, từng người, miễn là tháo thân chạy về được còn trả lương, lại khen thưởng, thăng cấp. Đây là một kiểu bảo vệ thực lực mà Mỹ vận dụng rất hợp với quân ngụy Lào. Trên đường vào thị xã, đoàn anh An bị phục kích, một đồng chí Lào bị thương; anh An thoát nạn. Chúng tôi đùa: “anh còn cao số!”.

Kế hoạch xây dựng cơ sở điều kiện hai anh em làm rất công phu, được Quân khu hoan nghênh và đặt nhiều hy vọng. Nhưng khi phổ biến cho cán bộ, các anh không ngờ lại bị phản ứng dữ dội. Nguyên do là chỉ trong hai tháng mà trên đường số 7 qua các đoạn Khăng Pha Niên - Huội Xuồng - Nậm Tiền - Nhọt Cưa, mỗi nơi phỉ đã xơi ta hai - ba chiếc xe. Riêng đoạn Noỏng Pết mất đến sáu xe. Thử hỏi dân không tham gia thì ai đánh mà nhiều thế? Đề nghị Quân khu xét lại kế hoạch phát động phong trào chiến tranh nhân dân, phát triển du kích ở đất Xiêng Khoảng này. Có đồng chí còn nói: “Đây là đất phỉ, dân phỉ. Đánh nhau có chết tôi cũng hóa thành con chim bay về quê cũ. Không bao giờ chịu sống ở đất này”. Hoặc “Chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở đâu cũng đúng nhưng đưa vào đất Xiêng Khoảng thì khó ăn!”. Đây là những lời tuyên bố quyết liệt, có điểm xuất phát cụ thể mà kẻ địch đã gây ra cho bà con, gia đình các đồng chí. Lúc này chưa tạo ra kết quả thực tế để chứng minh thì không dễ thuyết phục họ.

Anh Phun, anh Xa-mán ngồi tâm sự với tôi và Lê Văn. Bốn người như bị choáng, ngồi ngây ra hàng giờ. Có uống thêm nước chè vào thì chè thơm cũng không kích thích, gợi ý gì hơn. Chỉ có “sáng kiến làm” chứ “sáng kiến giải thích” lúc này không hiệu quả. Lê Văn đã từng có kinh nghiệm xây dựng cơ sở vùng thiểu số ở Tây Bắc. Anh Phum, anh Xa-mán đều đã trực tiếp tổ chức cơ sở chiến tranh du kích từ Hạ Lào lên. Tôi cũng đã qua hoạt động du kích, đại đội độc lập ở Bình - Trị - Thiên. Ai cũng sẵn sàng đi xuống cơ sở thực tế. Cái nặng nề ở đây là phỉ phá, cơ sở dân quanh Cánh Đồng Chum, đường số 7 tổ chức lại yếu.

Bốn chữ “đất phỉ, dân phỉ” đang ám ảnh bộ đội. Phải phá tan định kiến đó. Bộ đội với dân Xiêng Khoảng phải gắn làm một thì mới có nền tảng vững chắc để chiến thắng. Phải giải cho được bài toán hóc búa này!

Lê Văn và tôi thuộc lớp người đi sau so với lớp người xây dựng cơ sở trước Cách mạng tháng Tám, là lớp người được ăn sẵn thành quả của phong trào tiền khởi nghĩa. Ở đây cơ sở lại bị địch phá. Nhiều việc gần như phải làm lại từ đầu: xây dựng cơ sở chính trị, cốt cán phong trào, tổ chức du kích, tổ chức quần chúng cho đến tổ chức Đảng, tổ chức chính quyền… cái gì nên làm trước, cái gì làm sau? Phải vắt óc suy nghĩ, vận dụng.

Vấn đề tập trung giải quyết lúc này là phải đánh giặc. Cái gì dân cần, dân muốn làm làm trước, giúp trước. Cái dân chưa muốn, ta chưa làm. Tốt nhất cứ chia xuống cơ sở, sát dân, hiểu rõ lòng dân. Dân tin sẽ nói. Anh Phun lên báo cáo tình hình hội nghị cán bộ, nhấn mạnh tình trạng phản ứng về việc tổ chức du kích. Sau một hồi đắn đo cân nhắc, đồng chí Nu-hắc khẳng định:

- Không có biện pháp nào khác. Địch tiến hành chiến tranh đặc biệt, ta phải thực hiện chiến tranh nhân dân mới dựa vào dân, giác ngộ và đoàn kết mọi bộ tộc, trang bị cho họ đánh giặc. Việc làm công tác quần chúng, tổ chức du kích anh em ta chưa quen thì tổ chức từng nhóm vài ba anh em Lào, có một chuyên gia Việt đi cùng. Xuống bản, anh em Lào tổ chức và bảo vệ cho chuyên gia tuyên truyền và hướng dẫn tổ chức. Bồi dưỡng được cốt cán, xây dựng được du kích, cán bộ Lào đứng ra công nhận. Một hai lần như vậy anh em Lào sẽ củng cố được lòng tin và nhận thức rồi tự mình làm được.

Đồng chí Nu-hắc giao nhiệm vụ cho Quân khu một cách dứt khoát: chỉ có bộ đội mới đủ người đi xuống từng cơ sở, mới làm nhanh được. Đồng chí Nguyễn Khoa Tân (một chuyên gia chính trị, một Việt kiều - gia đình ở Quảng Bình, còn trẻ và xông xáo đang thường trực giúp đồng chí Bun-thăn ở huyện Mường Pẹch) được đồng chí Nu-hắc mời lên động viên giao nhiệm vụ cùng chuyên gia quân sự giúp đỡ tổ chức du kích.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:39:15 PM
Đồng chí Nguyễn Khoa Tân với biệt danh Khăm-tằn được dự cuộc họp bàn với chuyên gia quân sự. Anh là chuyên gia chính trị đầu tiên đã xuống xã cùng chuyên gia quân sự giúp bạn xây dựng du kích trong đợt này tại huyện Mường Pẹch. Khăm-tằn lần lượt xuống Tiểu đoàn 1 cùng chuyên gia quân sự giúp tuyên truyền tổ chức du kích vùng Bản Gion. Tiểu đoàn 15 ở Ban Len, tiểu đoàn pháo mặt đất ở Ban Bi, Tiểu đoàn 16 ở Bản Phạt, Tiểu đoàn 13 ở tà xẻng Piàng, Tiểu đoàn 2 ở Bản Son.

Nội dung quyết tâm giao cho các tổ chuyên gia quân sự và Khăn-tằn là phải giúp các tiểu đoàn bồi dưỡng xây dựng một tổ du kích đánh được địch để xây dựng lòng tin vào chiến tranh nhân dân, tin vào nhân dân Xiêng Khoảng, đánh tan định kiến “đất phỉ, dân phỉ”, xây dựng Xiêng Khoảng thành “đất cách mạng, dân cách mạng”. Đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ của các tiểu đoàn chủ lực Cánh Đồng Chum lúc này đều là con em vùng Trung, Hạ Lào và Bắc Lào. Đến Xiêng Khoảng bị phỉ đánh một hai lần là họ ấm ức với địa phương. Ấm ức thì họ nghĩ “bị dân địa phương đánh trong khi ở địa phương họ cái gì cũng được dân giúp. Càng tự hào về địa phương mình bao nhiêu thì họ càng nặng ấn tượng xấu đối với dân Xiêng Khoảng bấy nhiêu. Các anh em đặt hy vọng vào Tiểu đoàn 13. Ở đó tà xẻng Piàng thường bị phỉ Buôm Lọng xuống cướp phá; khi thì bắt trâu bò, lợn gà; lúc thì thanh niên nam nữ bị bắt. Một tháng rồi hai tháng. Tiểu đoàn 13 đã cử một tiểu đội xuống vùng Xiêng Ai kèm cặp du kích và phục kích đánh bọn này. Đến cuối tháng thứ hai, tiểu đội này đã đánh được một trận, đuổi phỉ chạy dài. Lập tức sau đó 12 thanh niên đến tiểu đoàn xin súng.

Quân khu tin tà xẻng Piàng nên chuẩn y cấp cho 12 súng, trong đó có một ga-răng và một tôm-xơn. Tiểu đoàn 13 hướng dẫn dùng súng và huấn luyện cách đánh. Chỉ sau một thời gian ngắn, Buôm Lọng định làm lại một cuộc tập kích vào Xiêng Ai, nhưng lần này du kích và tiểu đội chủ lực đã đánh một trận tốt, diệt 4 tên, thu 3 súng và một số lựu đạn. “Tiếng lành đồn xa”, có cán bộ đã nói: “Nợ máu đã được trả bằng máu”. Xiêng Ai chỉ cách đồn tiền tiêu của Buôm Lọng có một dãy đồi, nhưng từ đấy bộ binh địch không dám ra, chỉ trả thù bằng bắn pháo cối. Như vậy là ta đã có chìa khóa để mở cửa.

Tiếp đó là cuộc họp cán bộ về thực hiện chủ trương “thu thóc cứu nước” để bộ đội tự giải quyết một phần gạo ăn tại chỗ. Một số cán bộ đến họp đã thẳng thắn đặt ra cho Quân khu mấy câu hỏi:

- Ai dám tin dân Xiêng Khoảng có thể nộp thóc?

- Thu được thóc nhưng ai đi lấy? Ai xay giã? Ai tiếp tế lên trận địa?

- Nếu lấy bộ đội đi xay giã thì lấy ai chiến đấu?

Số cán bộ này còn nêu:

- Trước đây xe hậu cần chở đến kho tiểu đoàn, đại đội mà bộ đội còn vất vả. Bây giờ làm ăn kiểu này là một bước lùi kinh khủng! Đánh với chả đấm!

Nhiều thành viên hội nghị nghe thế cũng dao động. Thế nhưng dưới sự hướng dẫn kiên trì của Tư lệnh Phum và đồng chí Xa-mán, kết luận cuối cùng của hội nghị rất có lý có tình: nộp thóc nuôi quân chính là một thử thách, là thước đo lòng yêu nước, tinh thần cách mạng của dân Xiêng Khoảng.

- Có thóc mà ăn tại chỗ còn quý hóa gáp mấy lần ngồi chợ viện trợ gạo từ xa đến. Đó là bước tiến.

- Bộ đội biết tổ chức thay nhau nhận thóc tự xay giã để ăn. Đó là cuộc rèn luyện thực tế bản chất bộ đội cách mạng. Đây là một bước tiến nữa!

Bộ đội ăn gạo của dân Xiêng Khoảng, chiến đấu bảo vệ dân Xiêng Khoảng. Dân Xiêng Khoảng sẽ biết ơn và gắn bó điều kiện quân dân. Rõ ràng ta sẽ tạo được một bước tiến hoàn chỉnh để từng bước xóa bỏ các định kiến nguy hiểm. Xiêng Khoảng sẽ là “đất cách mạng, dân cách mạng”.

Các đồng chí chuyên gia hết sức cảm mến những con người dũng cảm và chân thành, mộc mạc từ việc làm đến lời nói trong hội nghị.

Sau một tháng vận động, tổ chức, 11 xã của Mường Pẹch nộp cho Quân khu 550 tấn thóc nếp. Có những người ủng hộ nhiều quá, Quân khu trả bớt cho gia đình. Bản Ban nộp được 350 tấn. Dân Bản Ban, nhất là nhóm người Thái buôn bán giầu sụ và khôn ranh, đã giữ thóc lại làm vốn đổi hàng mậu dịch (gia đình nào mà nộp đủ thóc đổi được vài chục cuộn vải láng đen Trung Quốc, bí mật đưa vào Long Chẹng sẽ tha hồ hốt bạc).


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:39:36 PM
Từ các bản, các trận địa pháo, trân địa dự bị phía nam, ở tiểu đoàn bộ, quân khu bộ, tiếng chày giã gạo thùm thụp xen lẫn tiếng hát ca… Trong bản, trên trận địa, đâu đâu cũng thấy hình ảnh bộ đội cùng các bạn gái, trai dân bản giã gạo. Các bà mẹ thì sàng sảy, nâng niu hạt gạo. Gạo chuyển lên trận địa nuôi con của các mẹ mà! Các bà mẹ Mường Pẹch thấy mát lòng, mát dạ khi nghe được từ “mẹ chiến sĩ”. Như chả thèm e ngại gì đến việc quân Coong-le ở bên kia suối, các cô gái mặc áo váy sặc sỡ, che ô giấy cũng sặc sỡ, vai mang ba lô to hoặc ruột tượng, tay sách giỏ rau tươi, giỏ trứng hoặc ống chẻo boong (một lại thức ăn không tổng hợp cổ truyền của người Lào chế biến đủ các chất: pa xin (cá tép xúc ở suối), hoặc pa dẹc (mắm chua) da trâu hầm nhừ thái nhỏ cùng rau thơm giã nhỏ, đường, mạc khèn) hàng ngày mang đến cho bộ đội. Chẻo boong chấm xôi ngôn tuyệt. Ăn vào, chiến sĩ vừa thơm miệng lại vừa ấm lòng. Lịch sử anh hùng của quân dân Xiêng Khoảng đoàn kết chiến đấu lại thêm trang mới.

Về xây dựng hậu phương, Tiểu đoàn 701 sau khi ổn định chỗ đứng chân ở Ban Ban đã mở một đợt hoạt động diệt và đánh tan 2 đại đội phỉ định vây cắt nam - bắc đường số 7, đuổi chúng lui về Phu Noọng và Bản Thà. Tiểu đoàn Pa Chay và Tiểu đoàn 500 quét 2 đại đội phỉ ra khỏi Phu Xa Bốt Jẹo Bon. Chính trong đợt này, Quân khu đã phát hiện ra sự dũng cảm và tài năng chỉ huy của đồng chí Pho-tho, đại đội trưởng Pa Chay và đề bạt lên tiểu đoàn phó. Đồng chí Pho-tho thuộc bộ tộc Mẹo lai, một trong những người lính cũ của anh hùng Tha-tu dũng cảm và thông minh, tháo vát. Sau này bị thương trong chiến đấu cụt một chân, anh được điều về làm cán bộ trong Ủy ban dân tộc trung ương.

Việc gay go nhất trong màu mưa này là địch bao vây thị xã Xiêng Khoảng. Trước tiên chúng tạo ra hai trận địa pháo. Một từ Phu Phi Năng, đông bắc thị xã gồm 2 pháo 105 ly, 2 pháo 85 ly và một khẩu cối 106,7. Trân địa thứ hai từ đỉnh Phu Khe, đông nam thị xã gồm một khẩu 105 ly, một khẩu 85 ly, một khẩu sơn pháo 75 và một khẩu cối 106,7. Mọi hoạt động đi lại, sản xuất hàng ngày giữa lòng chảo thị xã Xiêng Khoảng đều nằm dưới tầm khống chế của hai trận địa này. Ba tiểu đoàn phỉ Phu Xao, Phu Hột, Khăng Hồng cùng binh đoàn cơ động 13 tiến công từ phía đông, đông bắc xuống. Tiểu đoàn phỉ Phu Khe cùng binh đoàn 18, hai tiểu đoàn 23 và 4 cùng quân Coong-le tiến công uy hiếp hướng tây, tây nam và đường số 4A, số 4B. Ngôi nhà gạch công sự cũ của Pháp nay là sở chỉ huy của Tỉnh trưởng Xôm-vẳng và hang Thẩm Mạt, sở chỉ huy quân khu tiền phương là hai mục tiêu thường xuyên bị pháo binh địch “giã gạo” hàng ngày. Trận địa phòng ngự lòng chảo Xiêng Khoảng của ta được xây dựng thành hình ngôi sao ba cánh Phu Ca Bó (2099), Khăng Hồng (1877), mỏm Phu Khe (1805) bảo đảm giữ được mũi nhọn từ trên cao khống chế và uy hiếp lại địch. Ta kiên quyết không để rơi vào thế bị động đối phó. Lúc này, cả ban chỉ huy của bạn và chuyên gia chúng tôi đều chưa quá tuổi 35 nên lăn lộn trên núi xuống khe còn dễ dàng, còn vận dụng được cả trí, tai, mắt và đôi chân để giải quyết những yêu cầu của thực tế chiến trường cả trong hoạt động và tác chiến. Vợ chồng cụ Xom-vẳng lúc đó đã xấp xỉ tuổi sáu mươi, cùng bà Hoét cấp dưỡng cũng đã già và tiểu đội bảo vệ cứ phải trụ lại trong tầng hầm của ngôi nhà, làm trung tâm liên hệ với cán bộ chính quyền, bám sát các bản Lào, bản Việt kiều, Hoa kiều hàng ngày để tổ chức các đoàn dân công tiếp tế, tải thương, phục vụ các trận địa phòng ngự. Chính với cặp mắt sáng và lanh lợi của ông già cùng đôi môi tươi nhưng khi mỉm cười chặt lại thì toát lên một sự dứt khoát quyết đoán đã gây được lòng tin cho cán bộ cấp dưới của ông. Ông là chỗ dựa vững chắc giúp cho ban chỉ huy mặt trận nắm được lòng dân. Thành viên của ban chỉ huy mặt trận thường đi lại, gắn bó, thông báo tin tức, trao đổi tình hình truyền quyết tâm của mặt trận đến Tỉnh trưởng là trung tá Thiệp. Ông Thiếp gốc người lao động ở Hạ Lào đã từng làm giáo viên nhảy dù từ thời Pháp. Ông thường được anh em tặng biệt hiệu là “xe tăng” để nói về sức khỏe của ông. Qua hàng trăm lầ nhảy dù từ độ cao nhất đến thấp nhất ông đều làm cho khán giả hồi hộp và khâm phục vì kỹ thuật chọn mục tiêu chính xác. Ra mặt trận, ông xông xáo, dũng cảm, luôn ngồi trong chiếc xe bọc thép (có súng 14,5 ly hai nòng) đến động viên khắp hang hốc. Nhiều lúc bị địch bắn cũng có khi bị quân ta bắn nhầm, nhưng ông đều thoát nạn, đến nỗi dân Xiêng Khoảng đều tin là ông có “ngải”, có “bùa” để tránh đạn. Về với Neo Lào Hắc Xạt trong đội hình Trung lập yêu nước, ông đã có nhiều hành động tỏ rõ là một con người có lòng tin vào cách mạng Lào và đấu tranh không khoan nhượng với nhiều kẻ phản bội, cơ hội trong lực lượng Trung lập. Đối với Trung ương và chỉ huy Quân khu, ông tôn trọng và ủng hộ vô điều kiện. Tính từ đàu năm 1962, khi đồng chí Lê Chưởng giao cho tôi nhiệm vụ kết bạn và giúp ông Thiệp trờ thành “người chiến sĩ trung thành chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Neo Lào Hắc Xạt” cho đến lúc này, mặc dầu cuộc chiến đấu ở Cánh Đồng Chum đã trải qua nhiều sóng gió, có người vấp ngã, nhưng ông Thiệp vẫn vững vàng.

Mặt trận Xiêng Khoảng diễn ra ác liệt, ta quyết giành giật Phu Xiết và bản Na Bầu, hơi có thể uy hiếp và có thể vu hồi nhanh vào trung tâm thị xã. Hai bên đánh giằng co, cuối cùng chiến hào hai bên cách nhau không quá 30 mét, đỉnh Phu Xiết chia ra làm đôi. Một cánh quân của địch giữ phần cao, ta giữ phần thấp. Cuối cùng cánh quân này của binh đoàn 13 định luồn qua sân bay Na Bầu đánh vào sau lưng Phu Xiết của ta. Đoán được ý định đó, ta để cho địch vượt ra gần hết sân bay, lọt vào tuyến lửa phục kích. Bất ngờ hai xe bọc thép có súng 14,7 ly hai nòng, ba khẩu 12,8 ly, trung đội cao xạ 37 ly của ta trút đạn vang rền. Hơn ba mươi tên địch tan xác. Trân đánh đã tạo nên sự ổn định trên hướng này cho đến lúc ta chuyển sang phản công.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:40:19 PM
*
*   *

Bước vào mùa khô 1963-1964, quân Coong-le và phái Hữu lại tổ chức một đợt tiến công mới.

Hướng Lạt Buộc - Phu Xán, Coong-le dùng đơn vị lính dù 5 và tiểu đoàn 4BI từ Trung Lào lên tiến công không đạt kết quả gì mà chỉ thúc đẩy thêm sự đào ngũ và tan rã của hai đơn vị này. Coong-le lại dùng thêm tiểu đoàn dù 3 của thiếu tá Thẵu hung hăng đánh trận quyết định để chiến Đông Đản. Đồng chí Chum, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 đã củng cố tuyến phòng ngự này và tổ chức những trận tiến công dai dẳng do Đại đội 15 chủ công và đại đội trưởng Bun-cơn chỉ huy đã giành toàn bộ Đông Đản, uy hiếp sâu vào Na Ngua rồi giao lại cho Tiểu đoàn 1 giữ. Đợt này, tiểu đoàn dù 3 của địch đã tổ chức đánh vào trận địa phòng ngự của Đại đội 1 Tiểu đoàn 1. Giành giật suốt ba ngày đêm. Tiểu đoàn 1 điều thêm Đại đội 3 dưới sự chỉ huy của chính trị viên tiểu đoàn mới là Khăm-òn (có biệt danh là “Òn-pơ-lui”, vì có sẹo lớn ở quai hàm) và tiểu đoàn phó Bô-khăm. Tiểu đoàn dù 3 chiếm được chiến hào thứ nhất, Tiểu đoàn 1 từ chiến hào thứ hai đánh xuống. Lựu đạn, tiểu liên là vũ khí chính. Có chiến sĩ ta bắn pháo B40 tới phát thứ ba mươi. Đánh xong, đồng chí đó bị điếc mất mấy tháng. Đây là cuộc chiến đấu mặt đối mặt, thậm chí còn gọi tên nhau mà xỉ mắng. Kết thúc trận đánh, tiểu đoàn dù 3 bị thất bại, 150 tên cả chết và bị thương. Viên thiếu tá Thẵn than thở: “Trận này chấm dứt ý chí đánh Pa-thét Lào của tôi!”. Cũng từ đó, tiểu đoàn của anh ta chỉ có mặt ở những hướng phụ.

Thế là trên hướng Cánh Đồng Chum, quân Coong-le chuẩn bị cho mùa thắng lợi với cái thế ngày càng đi xuống. Thừa thắng, mặt trận binh vận của ta phát triển mạnh ra toàn tuyến. Trái lại ở hướng Xiêng Khoảng, quân địch đánh dai dẳng và gây cho ta nhiều khó khăn.

Binh đoàn 13 địch phát huy lối đánh sở trường dùng phân đội nhỏ luồn lách vu hồi gây cho ta nhiều khó khăn. Binh đoàn 18 từ Hạ Lào lên tổ chức đánh từ đỉnh Phu Khe xuống đường số 4. Lo cho thị xã Xiêng Khoảng, Quân khu điều một đại đội pháo xuống Đông Đản chi viện cho bộ đội ở hai mỏm Bản Kinh và Bản Nhuôn. Ngày thứ nhất, ta đánh lui địch, nhưng ngày thứ hai địch tập trung súng cối 106,7 và pháo ở Phu Khe đánh trúng chiến hào làm trung đội phòng ngự của ta thiệt hại nặng, chỉ còn hai chiến sĩ. Ai cũng tưởng trận địa Bản Kinh đã mất. Nhưng hai dũng sĩ vẫn xông xáo, hết dùng súng này đến súng kia nhả đạn làm cho địch tưởng đội hình ta vẫn còn nguyên, chúng đánh bỏ. Sáng hôm sau, trung đội tiếp viện đến vẫn thấy hai đồng chí đang ngủ mê man.

Trần Vinh trong bài thơ ca ngợi dũng sĩ Bản Kinh đã viết:

“… Một Pa-thét, một Trung lập,
Đồi Bản Kinh chỉ còn hai dũng sĩ.
Hai dũng sĩ mà đánh tan đại đội địch,
Hai dũng sĩ do a trưởng Xiêng-chăn,
Nhanh như sóc, mạnh như sư tử.
Đuổi hướng này lại chặn đánh mặt kia.
Trung liên, AK, B40, thủ pháo,
Đồng đội ngủ yên, giao hai anh tất cả.
Hai dũng sĩ làm địch tưởng toàn đội còn nguyên”.


Sau trận này, binh đoàn 18 của địch mất tinh thần trong chiến đấu, lại bị cái rét Phu Khe hành hạ nên rủ nhau tố năm, tốp mười trốn về Hạ Lào hết.

Đầu tháng 11 năm 1963, tôi mang điện của Bộ xuống mặt trận Xiêng Khoảng giúp bạn, thay cho anh Nguyễn Hữu An về Hà Nội nhận nhiệm vụ mới.

Tại hang Thẩm Mạt, nơi đặt sở chỉ huy mặt trận, đồng chí Xa-mán và anh Nguyễn Hữu An đón tôi vui vẻ nhưng không giấu được nỗi lo.

Đồng chí Xa-mán nói tóm tắt: hai hôm nay khi được tin Tiểu đoàn 21BI cho quân đi tắt qua Xê Pha để luồn vào bắt cóc tỉnh trưởng Xôm-vẳng, dân thì hoảng hốt, cán bộ địa phương vốn đã dao động lúc này càng hoang mang. Có người đã xin rút ra khỏi thị xã. Tiểu đoàn 701 lùng sục hai ngày đêm, đón đường ở vùng Xé Pha. Tối vừa rồi mới phát hiện được dấu vết địch. Nếu sáng mai không đánh được thì tình hình càng rối và lối đánh của binh đoàn 13.

Chúng tôi bàn và thống nhất có hai vấn đề cấp thiết phải giải quyết. Đó là: triệt để phá lối đánh của binh đoàn 13 và đánh tan những tâm lý hoang mang, coi thị xã như đang trong giờ thoi thóp của nhân dân và cán bộ. Qua suy tính, tôi đề nghị dùng phép “địch vu hồi ta, ta vu hồi địch”. Ai thông minh dũng cảm, gan lỳ người đó thắng. Sáng hôm sau, trước hội nghị cán bộ toàn mặt trận, đồng chí Xa-mán vạch ra cách đánh với binh đoàn 13 và tuyên bố:

- Quân khu kiên quyết không để địch vào được thị xã.Các đồng chí phổ biến cho bộ đội và nhân dân biết điều đó!

Đồng chí nhiệt liệt biểu dương cán bộ, bộ đội và nhân dân thị xã kể cả Lào, Việt và Hoa đã có thành tích đóng góp công, của cho những ngày chiến đấu vừa qua.

Khoảng 9 giờ sáng, cuộc họp sắp kết thúc, chúng tôi nghe ở hướng Xé Pha, ba bốn chớp nổ liền của B40 rồi tiểu liên nổ giòn như pháo tết.

“Đúng là Xé Pha!” - Có người kêu lên phấn khởi. Hai phát pháo hiệu đỏ vút lên. Trong điện thoại tiếng Xổm-phắt, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 701 báo cáo “Đơn vị tập kích vào đại đội địch và đang đuổi đánh”.

- Hoan hô 701! Đồng chí Xa-mán nói như trút gánh nặng. Thái độ anh vui vẻ cởi mở càng động viên các đại biểu phấn khởi chia về các hướng quyết tâm đánh bại binh đoàn 13.

Anh Nguyễn Hữu An hài lòng vì mấy tháng vất vả, đặc biệt những ngày cuối chật vật, ta đã có được trận thắng này động viên trước khi rời mặt trận thị xã Xiêng Khoảng. Cái vất vả của người lính phòng ngự chính là ở những phút giằng co quyết liệt đó.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 13 Tháng Bảy, 2016, 06:40:46 PM
Để chuyển cách đánh đã bàn, tôi đi cùng cán bộ tác chiến Bun-thìn, Bun-lom pháo binh và Bun-thọm thông tin xem xét thay lối bố trí dàn mỏng sang đội hình có chiều sâu. Tấy ta rút bỏ một số điểm, binh đoàn 13 tưởng dễ ăn, vội vàng chui sâu vào định làm trò vu hồi cũ đố với các điểm tiền tiêu của ta. Thế là pháo binh ta “giã gạo”, bộ binh tuyến trước đánh trở lại, bộ binh tuyến sau đánh lên. Bị mấy trận như vậy, binh đoàn 13 co vòi. Thế là ta đã thắng về chỉ đạo chiến thuật. Cùng lúc đó đồng chí Nu-hắc thay mặt Trung ương gửi thư động viên bộ đội và nhân dân ở mặt trận thị xã Xiêng Khoảng: “Tất cả để bảo vệ thị xã Xiêng Khoảng. Trung ương và Quân khu sẽ tìm mọi cách huy động sức người, sức của cho mặt trận…”.

Một loạt tập thể có công được thưởng huân chương, bằng khăn. Một đoàn phụ nữ từ cơ quan quanh Khăng Khay mang quà bánh, khăn tiêu và nhiều vật phẩn khác đến úy lạo các chiến sĩ mặt trận. Sức tiến công của binh đoàn 13 và các tiểu đoàn phỉ xem ra đã kiệt. Vài khẩu pháo trên hai điểm cao chỉ còn ùng oàng bắn vào trâu, bò và người qua lại để cốt nuôi không khí chiến tranh. Nghe tin anh Xa-mán và một số chuyên gia trong sở chỉ huy bị bệnh kiệt lỵ, mẹ Phúc, bác Khởi, mẹ Vân và vợ chồng bác Phơn cùng bà con tổ chức các cháu Việt kiều mang rau tươi, cam quýt, trứng gà, lá mơ vào cho các chú làm thuốc.

Sau hai tuần lễ đi xem xét trận địa, phân tích địch ta, đồng chí Xa-mán và tôi trở về Quân khu báo cáo tình hình, nội dung nêu rõ: thế địch ở cả hướng Cánh Đồng Chum cũng như thị xã Xiêng Khoảng đều dừng lại phòng ngự. Thời cơ để ta tập trung lực lượng phản công đánh gẫy từng mũi giành lại từng khu vực đã xuất hiện. Mặt trận thị xã Xiêng Khoảng nên là mục tiêu phản công đầu tiên để diệt địch, tạo thế cô lập và tiến tới giải phóng Cánh Đồng Chum.

Cân nhắc so sánh tình hình trong cả nước và Quân khu, anh Phun báo cáo quyết tâm này lên Trung ương và được chuẩn y hoàn toàn.

Kế hoạch chiến dịch phản công giải phóng thị xã có mấy điểm quan trọng:

1. Về địch, binh đoàn 13 có ba tiểu đoàn chủ lực, bốn đến năm tiểu đoàn phỉ. Về ta, có hai tiểu đoàn cơ động và hai tiểu đoàn phòng ngự cộng với Đại đội 128 của tỉnh. Tổng cộng địch bảy ta bốn, nhưng nếu biết cắt địch ra mà đánh thì vẫn có thể tạo ra ưu thế từng trận để tiêu diệt và đánh tan từng điểm, giành thắng lợi cho chiến dịch.

2. Phải quyết tâm dùng lối đánh mật tập và chiến thuật vu hồi chia cắt địch để phát huy thế mạnh của ta, đánh đúng vào chỗ yếu của địch. Phải dùng mưu mẹo kiềm chế nghi binh, giam địch trong thế giở tiến công, giở phòng ngự như hiện nay, buộc địch phải dàn mỏng, tê liệt ngay từ đầu và trong diễn biến chiến dịch.

3. Tập trung giải quyết cụm đông, đông bắc và binh đoàn 13 trước, bước hai cánh cụm Phu Khe.

Tóm lại vì cán bộ, chiến sĩ chưa quen đánh tiến công lớn kiểu chiến dịch, lại không có được ưu thế tuyệt đối về lực lượng để bủa vây toàn bộ từ đầu, Bộ Tư lệnh quân khu và đội ngũ chuyên gia đã vắt óc tìm nhiều cách đánh, nhiều mưu kế để chiến thắng. Khi được báo cáo về ý định giúp bạn mở chiến dịch phản công, Bộ Tổng tham mưu Việt Nam triệu tập tôi về Hà Nội để trao đổi tình hình chung và bàn những bước dự kiến hiệp đồng chiến trường.

Một ngày cuối năm 1963, tôi về tới Vinh, ghé lại thăm gia đình một đêm để sáng hôm sau ra Hà Nội làm việc. con gái tôi lúc này vừa bước qua tuổi tháng thứ mười bốn. Sau một phút do dự, bé ôm riết tôi như không bao giờ muốn thả. Soát kỹ trong cái ba lô lép kẹp của tôi, bé tìm được một gói đường và đòi thìa xúc ăn ngay. Có lẽ đã lâu con bé chẳng được hạt đường nào!

Sáng hôm sau, tôi chia tay hai mẹ con đi sớm; 15 giờ đến Hà Nội. Vào cơ quan Bộ Tổng Tham mưu, tôi báo cáo ngay về tình hình và trận phản công sắp tới với Thượng tướng Văn Tiến Dũng. Nghe tôi báo cáo xong, anh Văn Tiến Dũng nói:

- Kế hoạch của bạn thế là hay, rất hợp với tình hình chung. Ở nhà đang chuẩn bị giúp bạn mở chiến dịch 74 (ở địa bàn đường số 7 và đường số 4) và chiến dịch 128 (đánh cụm quân dù đang càn ra đường số 12 và đường số 8) để tạo thế hỗ trợ cho Cánh Đồng Chum. Các đồng chí phải theo dõi tình hình chung. Sẽ có cách tạo thế hỗ trợ cho Cánh đồng Chum… Kết thúc buổi làm việc, anh dặn tôi: Cần thêm việc gì, cậu sang bàn với Cục Tác chiến và chúc bạn chiến thắng.

Chiến trường đang đợi! Tôi phải đi ngay trong đêm cho kịp ngày nổ súng.

Lặn lội gian khổ chín tháng phòng ngự đã dọn đường cho mùa xuân này, mùa hái chiến công.

Thời cơ đang vẫy gọi!


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Bảy, 2016, 09:06:52 PM
III. PHẢN CÔNG GIẢI PHÓNG KHU VỰC THỊ XÃ XIÊNG KHOẢNG

Xe tôi suốt đêm ngày để đến Khăng Khay cho kịp triển khai kế hoạch. Hai bên đường đang trải rộng một cảnh sắc rất xuân. Hoa đào rừng thắm đỏ các bờ ruộng, bìa rừng xen với mai trắng trong các bản. Thế là sắp thêm một cái tết chiến đấu ở Lào.

Tại Khăng Khay, sau khi báo cáo lại những chủ trương của Hà Nội để hỗ trợ Cánh Đồng Chum, các anh trong Trung ương Cục và Bộ chỉ huy Quân khu đều phấn khởi tin chắc vào thắng lợi của chiến dịch. Anh Xa-mán cho biết Tiểu đoàn 701 đang điều tra hai mỏm Phu Hin (Mục tiêu đột phá chủ yếu), sẽ cắt đôi đội hình của binh đoàn 13 để mở đường thọc vào Bản Thạc, kết hợp với cánh vu hồi của Tiểu đoàn 2 thọc sâu từ Noỏng Hét quét lên Mường Phàn đánh vào hậu phương binh đoàn 13. Cần tập trung diệt gọn cho được Phu Xiết nữa là địch sẽ vỡ.

Tiểu đoàn 2 phải hành quân bí mật bằng xe tải đến Noọng Hét, tiếp đó đi bộ theo đường mòn vào Mường Phàn, rồi từ đó đánh lên tạo thế bao vây tiến công từ phía sau. Đây là đòn táo bạo làm cho binh đoàn 13 dù còn quân cũng không xoay kịp, chỉ có cách kéo nhau mà chạy. Chính ủy Xa-mán sẽ đi chỉ huy cánh này, vì còn phải giải quyết nhiều vấn đề cơ sở và giác ngộ dân bản do địch khống chế, tìm hiểu tình hình địch và tổ chức hậu cần tại chỗ.

Tư lệnh Phun thường trực ở Quân khu, anh Xing-ka-pô và Lê Văn lo việc kìm chân quân Coong-le và binh đoàn 17 ở Cánh Đồng Chum, đồng thời thúc đẩy mạnh mặt trận binh vận chuẩn bị cho bước sau. Trương Đình Toàn đi theo mũi vu hồi, Châm-niên lo tổ chức mũi đột phá từ thị xã ra. Tôi đi với cánh quân này.

Chia tay nhau tại cuộc họp, các anh đi ngay vào thị xã, hỏi ngày mai anh Xa-mán và Tiểu đoàn 2 lên xe là cánh quân thị xã chỉ còn tám ngày để làm tất cả việc này. Ngày thứ tám cũng ngày Tiểu đoàn 2 sẽ đến Mường Phàn và cánh quân thị xã đã chiếm xong Phu Hin, tiêu diệt để mở rộng cửa đột phá.

Theo kế hoạch, rạng ngày 1 tháng 2 năm 1964, Tiểu đoàn 701 diệt gọn hai điểm Phu Hin do một đại đội của BI21 chiếm giữ. Việc tiến công Phu Xiết của Tiểu đoàn 24 chưa hoàn thành. Mặt trận phải họp cả ngày để bàn cách giải quyết Phu Xiết. Đầu tiên bàn cãi trên sa bàn. Sa bàn cũng phải chữa đi chữa lại theo đúng ý những người đã lăn lộn mấy tháng trời ở điểm quyết liệt này. Đến nỗi họ nói ở đoạn tiếp xúc này không kể ngày đêm hễ rung cành lá là súng bắn, lựu đạn nổ. Có người bàn: vậy thì ta cho rung lá liền mấy ngày xem nó có đủ bạn bắn không? Mọi người cười tán thưởng, song đó chưa phải là biện pháp để chiếm ngay được Phu Xiết. Vấn đề là phải đánh và phải chiếm nhanh.

Châm-niên thấy cay mắt phải dở kính ra lau. Anh bị hỏng một mắt phải mang mắt giả, nước mắt cứ chảy ra liên tục. Vi-xiên nghiến răng, đồ chừng ngẫm nghĩ lao lung lắm, nhưng cũng chưa đề ra được biện pháp gì. Ký là chính trị viên Tiểu đoàn 24, đơn vị có nhiệm vụ tham gia giải quyết Phu Xiết. Nước da Ký vốn đã đen lúc này mồ hôi chảy càng làm trán anh thêm bóng, ánh mắt anh thêm quyết liệt. Ký gọi Thưởng và Khăm-òn đại đội trưởng Đại đội 3 gặp riêng để cùng tìm “biện pháp kỹ thuật giá trị”. Khăm-òn khẳng định không thể xung phong từ xa. Bọn này phải đánh gần. Tôi hỏi đất đào có dễ không. Khăm-òn trả lời chỉ có đá nhỏ nên đào được. Tôi gợi ý phương án cứ đào hầm vào sát chiến hào địch rồi từ đó bộ đội nhảy lên xung phong.

Nghe thế, Ký vụt nhổm lên và nói:

- Đúng rồi, 30 mét đào nhanh thôi mà! Khăm-òn tổ chức ra ba, bốn tổ ba người cứ hai đào, một kéo đất ra, đào suốt đêm ngày.

Châm-niên thêm vào:

- Điện Biên Phủ, Việt Nam cũng đã đào như vậy.

Ý kiến này được nêu trong hội nghị quân sự và toàn thể thống nhất. Coi như biện pháp chiến thuật có giá trị. Cán bộ ra về, ai nấy đều tin tưởng. Châm-niên và tôi chỉ còn nợ Tiểu đoàn 24 một trận pháo, làm sao cho sở chỉ huy BI13 phải tan tác để bộ binh xung phong.

Sáng hôm sau, chúng tôi chống gậy trèo lên đỉnh Khăng Hồng để từ sở chỉ huy dự bị này quan sát đội hình địch trên đỉnh Phu Xiết. Đứng ở Khăng Hồng nhìn đúng vào sườn và cả một phần sau Phu Xiết. Bun-lon, tiểu đoàn phó cùng chuyên gia Mai Hoàng và Tưởng sĩ quan tác chiến được gọi cùng đi.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Bảy, 2016, 09:08:01 PM
Đường chim bay thì gần mà trèo núi dốc dựng quanh co, đoàn cán bộ người nào cũng thở hổn hển, phải hơn 11 giờ trưa mới tới. Nghỉ ăn xôi, uống nước chờ Châm-niên gọi điện về cho Vi-xiên và Thưởng dùng pháo và bộ binh đánh thử để quan sát cho rõ cách bố phòng của địch. Chỉ mấy phút sau, đồi Phu Xiết đã trùm kín khói pháo ta. Khi bộ binh xả súng cối và trung liên thì hỏa lực địch mới lộ rõ. Từ trên cao nhìn chếch xuống thấy chớp lửa của một khẩu đại liên và hai khẩu trung liên nổ giòn. Tiếp đến là dây lửa phụt dài của khẩu ĐKZ. Nó nằm dưới một gốc cây phi lao cao vút trông rất rõ. Một khẩu cối 60 và một khẩu cối 81 đặt chếch sau cây phi lao độ 50 mét. Nhìn vào ống nhòm của pháo thấy hiện rõ một lô cốt nửa gỗ nửa đất giữa mỏm đồi. Chúng tôi xác định: sở chỉ huy và hỏa lực của BI13 đều chụm quanh đỉnh Phu Xiết mà ngọn phi lao cao kia là vật chuẩn số một. Vừa đi vừa trao đổi, trên đường về chúng tôi kết luận: trận hỏa pháo này cùng mũi chọc từ dưới hầm ngầm lên sẽ đánh chiếm được Phu Xiết.

Tôi thầm nghĩ: “Vậy là xong cửa mở Phu Hin, Phu Xiết. Bây giờ chỉ còn tím việc giam chân BI22 và sở chỉ huy binh đoàn 13 cùng trận địa pháo Phu Huột nữa là ta nhất định thắng”.

Sáng hôm sau là ngày hành quân thứ bảy của Tiểu đoàn 2 và là ngày 26 Tết rồi. Bệnh kiết lị đã hành hạ nhưng không còn thì gờ để ốm, tôi bàn với Tưởng, sĩ quan tác chiến ở nhà cùng Mai Hoàng giúp Châm-niên làm kế hoạch tập kích bằng pháo, tính kỹ cơ số đạn làm sao trong năm phút tất cả các trận địa pháo 85, 105, cối 120 cùng tất cả ĐKZ 75, 8 và cối 28 của hai Tiểu đoàn 701 và 24 bắn được đồng loạt. Với 13 nòng pháo, cối, ĐKZ đó đủ sức đánh sập lùm cây và các công sự trên đỉnh chỏm Phu Xiết. Và như vậy có thể diệt gọn sở chỉ huy BI13 được. Chỉ cần găm tất cả đầu đạo vào quanh gốc phi lao thôi.

Ăn trưa xong, vừa bước ra khỏi hang, chúng tôi đã phải vừa chạy vừa nằm vì loạt đạn úp nơm của pháo Phu Khe. Lẩn vào đám cây xanh bên đường cái dẫn qua thị xã, từng đôi trai gái Lào có Việt có đang dắt díu nhau đi. Các cô gái Việt kiều quần trắng, áo dài voan sặc sỡ nhiều màu. Họ cười nói nhởn nhơ chả kém gì cảnh diện Tết ở Hà Nội và trông cứ như họ chả liên quan gì tới cuộc chiến đang xảy ra ở chính xứ sở này.

Đáng ra chỉ đi ba giờ thôi nhưng vì người cứ ớn sốt nên đi được một ki-lô-mét là tôi phải nghỉ, uống nước. Phúc gầy, Nhã và Bạo đã lên đỉnh trước nấu cơm. 20 giờ tôi mới lên đến đỉnh. Tuy rất mệt, nhưng tôi vẫn mời anh em cán bộ làm nhiệm vụ phòng ngự đến hỏi để tìm chỗ đưa quân vào đánh Phu Huột và tìm chỗ đặt súng ĐKZ bắn vào sở chỉ huy binh đoàn 13. Trọng tâm cuộc đi chỉ có thế! Gợi đến việc phân đội phòng ngự của các đồng chí vào tập kích trận địa pháo hoặc sở chỉ huy binh đoàn thì các đồng chí lắc đầu. Hỏi tìm đặt trận địa pháo thì họ vui vẻ. Trong tôi lóe lên niềm hy vọng.

Bốn giờ sáng tôi dậy ngồi bên bếp lửa hỏi chuyện chiến sĩ anh nuôi. Thấy chuyên gia mệt, anh nuôi chạy vào hầm riêng lấy hai quả trứng gà khoe là gà nuôi của trận địa. Trứng được cho vào ăng-gô luộc luôn. Anh buộc tôi phải ăn và nói: “Hạnh phúc nhất của những người lính ở nơi gió rét heo hút này là được cấp trên đến thăm”. Tôi lấy tấm ảnh Bác Hồ xếp cẩn thận trong quyển lịch bỏ túi kỷ niệm lại đồng chí. Cơm sáng trên trận địa phòng ngự phải ăn xong lúc 5 giờ để sẵn sàng chiến đấu. Sương sáng trên đỉnh cao mờ mịt chưa kịp tan thì đoàn khảo sát trận địa đã rời mỏm thứ nhất xuống mỏm thứ hai thấp hơn vài chục mét nhưng vẫn cao hơn Phu Huột và sườn của nó lại nhô ra gần Phu Huột hơn. Điểm cần chọn đây rồi!

Bạo nhận nhiệm vụ giúp đại đội này xây dựng một trận địa ĐKZ75 có ba hầm gần với một đường giao thông hào sâu để dễ dàng kéo súng di chuyển. Làm đến đâu ngụy trang kín đáo đến đó. ĐKZ75 của Mỹ bắn tà âm trong tầm bắn hiệu quả rất chính xác.

Đêm đó chúng tôi về bàn tiếp kế hoạch đánh. Hai anh Ký và Hiệp được giao phụ trách cánh nghi binh kiềm chế. Lời dặn cuối cuộc họp của bộ phận này là: phải giỏi phát huy vai trò “gián điệp” của tà xẻng Thuổm. Tên này đã dẫn đường cho địch trong trận Xê Pha. Lần này phải bắt nó “lập công” trả nợ.

Sáng hôm sau bộ phận đào hầm ngầm Phu Xiết xác định đã vào sát nách địch. Lệnh ngừng đào, pháo binh chuẩn bị bắn. Rậm rịch mãi 10 giờ trưa mới xong. Châm-niên nhắc lại: “Vật chuẩn cây phi lao giữa đỉnh Phu Xiết, tất cả kiềm tra, báo cáo”. Tiếng hô bắn chưa dứt thì tiếng nổ dồn dập, khói trùm kín đen; điểm chạm nổ của 13 nòng pháo cối chụm vào một điểm. Cây phi lao không còn, chiến trường đột nhiên im bặt. Sau đạn con nổ xổi xả mỗi lúc một dày hơn. Đúng là bộ binh ta từ đường ngầm lao lên. Nhìn qua ống kính chỉ thấy lác đác một vài tên địch, đứa chạy, đứa bò tháo lui. Khăm-òn xông lên cắm cờ lên đỉnh Phu Xiết.

Cửa chiến dịch đã mở toang. Chỉ huy trưởng binh đoàn 13 quá tin vào BI13 ở Phu Xiết đang tính chuyện điều quân giành lại Phu Xiết để bịt ửa mở của ta thì ngay đêm đó một chiếc xe quân sự cắm kín lá ngụy trang chạy vào, chặn ngang trước cửa nhà tà xẻng bản Thuổm. Bố con nhà này đang ngơ ngác ra cửa nhìn ngó thì một người ý chừng cũng là “nai có cỡ” miệng sặc mùi rượu, tay trái huơ huơ cái can, tay phải lăm lăm khẩu súng ngắn, dáng bộ cũng không kém gì các ông lớn ở trên đồi xuống xe bước vào. Lão tà xẻng đang lo lắng chờ đợi.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Bảy, 2016, 09:08:36 PM
Người lạ hỏi với giọng cộc lốc, nặng gắt:

- Tà xẻng? Tiểu đoàn vừa qua đây rẽ vào đường nào?

- Chưa thấy tiểu đoàn nào qua đây cả! – tà xẻng trả lời thành thực.

- Bộ cha con sợ bọn này vào đánh Phu Huột hay sao?

Lão không ngờ “ông nai” này nóng quá mà hắn nói cái gì Phu Huột đấy? Khẩu súng ngắn cứ huơ huơ trước mặt tà xẻng và chú liên lạc:

- Hai người có thèm đạn không? Mới ghé vào làm chai rượu thế mà đứt liên lạc!

“Nai” hỏi tà xẻng:

- Từ đây vào Phu Huột có mấy đường?

- Chỉ có đường này là tiện nhất thôi! – Tà Xẻng thốt ra một cách tự nhiên không kịp nghĩ tới điều “mình đã chỉ đường cho Pa-thét Lào vào đánh Phu Huột”.

“Nai” ra hiệu cho xe quay về và quát:

- Thôi. Ra dò đường mà đuổi cho kịp đơn vị, nếu không chúng mày chết.

Xe về, “nai” đi rồi! tà xẻng hoang mang suy tính: Phu Hin, Phu Xiết rồi bây giờ đã đến lượt Phu Hột, lão tự nguyện rủa: Tại sao ta lại chỉ đường Phu Huột như thế? Thôi, phải đi báo tin cho binh đoàn trưởng. Biết đâu ta lại còn được khen! Nghĩ vậy, cha con lão đeo súng, cầm dao đi ngay. Đường này có tối nhưng cha con lão thuộc như lòng bàn tay, con cầy con cáo còn chưa thạo bằng cha con lão. Trời vừa sáng tỏ, chỉ huy binh đoàn 13 đã gặp cha con tà xẻng. Như có linh tính báo trước, nhận được báo cáo không cần suy nghĩ tên chỉ huy binh đoàn 13 ra lệnh rút một đại đội BI13 về bảo vệ sở chỉ huy. Còn BI22 thì phái ngay một đại đội đi sục sạo kiểm tra kỹ con đường chính, cả các đường tắt có thể bị đối phương từ dưới ruộng đánh lên Phu Huột.

Lệnh chưa dứt thì một tiếng nổ như trời giáng kèm theo tiếng đạn rít qua đầu, rồi một quả đạn nổ inh tai chỉ cách chỗ y đứng 300 mét. Chưa kịp hoàn hồn thì bị tiếp ngay phát thứ hai. Ngài chỉ huy nhảy tót vào hầm và hét to:

- Thôi chết rồi! tà xẻng nói đúng. Thế là sắp có một trận đánh vào đây rồi. Y ra liền ệnh thứ hai cho pháo binh:

- Phải săn và diệt cho được trận địa pháo trên đỉnh Phu Ca Bó.

Cả một góc trời ở sở chỉ huy tiểu đoàn BI22 đang yên lặng bỗng trở nên rối loạn, hoảng hốt vì cái trận địa pháo “mất dạy” và cái tin “chó chết” của tà xẻng. Không giữ được bình tĩnh, y thấy bực bội với tất cả mọi người.

Trong phút chốc Phu Xiết như bị lãng quên và tiểu đoàn BI21 khốn khổn đang dở sống dở chết trên mỏm Khăng Hồng. Xin viện trợ chẳng có! Xin rút chẳng trả lời! Thế là thế nào? – Tiểu đoàn trưởng BI21 hoang mang tột độ.

Gọi pháo chi viện thì lại chỉ thấy bắn về Phu Ca Bó. Đang cơn hoang mang, hai đồi cao mà BI21 đang cố bám giữ bỗng chốc bị đạn nổ trên không trùm kín. Đạn nổ thấp quá, cứ sát sạt chiến hào. Đúng là trời giáng rồi, ai còn chạy được là chạy không thì bò. Binh lính cứ như một đàn bò không chủ đạp nhau mà chạy. Chỉ một chốc trận địa địch trở thành bãi chiến trường, lính chết, lính bị thương, súng đạn, đồ đạc ngổn ngang không còn ai thu dọn.

Trong khi viện chỉ huy binh đoàn 13 đang thất vọng, ngồi nốc rượu chờ tin đội tuần tiễn thì tiếng súng con, súng lớn nổ rộ lên một hồi, rồi im bặt.

- Chắc quân ta đánh quân địch. Y ngà ngà hy vọng như vậy, song 15 phút sau có mấy tên chạy về báo cáo: “Trung đội tuần tra bị tiến công”… Số là đêm qua ra khỏi nhà tà xẻng, ông “nai say rượu” đã dẫn tiểu đội của mình đi vòng từ ruộng qua đường cái thì gặp bóng cha con tà xẻng đi lên núi. Tiểu đội bí mật phục kích lại dọc đường và trưa nay lập công luôn.

Chỉ một khẩu ĐKZ75 với một tiểu đội bộ binh mà đã nghi binh kiềm chế cả sở chỉ huy, trận địa pháo và hơn một tiểu đoàn bộ binh của binh đoàn 13. Nghi binh đã vượt quá yêu cầu. Ở chiến trường rừng núi, khi trình độ kỹ thuật còn đơn giản, nếu ta biết nghi binh khéo lừa địch, cũng dễ biến hóa tạo nên một thế trận mạnh và giành chiến thắng. Trưa 29 Tết, hai cánh quân ta gặp nhau ở Bản Thạc. Mừng vui khôn xiết, chỉ có điều không thỏa mãn là đài vô tuyến điện không liên lạc được.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Bảy, 2016, 09:10:26 PM
Châm-niên đề nghị anh Xa-mán:

- Bọn em tiếp tục đuổi địch. Đề nghị anh ở lại thị xã kiểm tra chiến trường và củng cố Tiểu đoàn 701 chuẩn bị cho bước 2 đánh Phu Khe.

Anh Xa-mán nhất trí và dặn nhớ tìm cán bộ, bàn với Khăm-tả việc củng cố cơ sở.

Lính binh đoàn 13 tụ lại quanh Phu Huột. Bản Piàng bị Tiểu đoàn 2 bồi thêm hai trận. Sở chỉ huy chiến dịch bám đội hình đuổi địch. Giải quyết xong sở chỉ huy và trận địa pháo của địch, quân ta tiến ra một bãi đầy sỏi đá, một bãi đất trơ mà người H’mông gieo cải và thuốc phiện không lên nổi, 22 giờ, bố trí xong việc canh phòng, Châm-niên tuyên bố:

- Chuẩn bị chỗ ngủ. Chuẩn bị đón giao thừa!

Ồ đúng! Cả ngày phải bám theo địch không nhớ, bây giờ hai chữ “giao thừa” phát ra từ đồng chí Lào thật cảm động là sao! Châm-niên đưa cho tôi chiếc đài bán dẫn nhỏ để dò tìm sóng đài Hà Nội.

Nhớt Tết năm 1954, vào dúng giao thừa, tôi cùng Xa-mán và Châm-niên truy kích địch qua thị xã A Tô Pơ. Chúng tôi chỉ được ngửi hương hoa. Đúng mười năm, mười năm từ thằng Pháp sang đánh Mỹ, cũng ba người ban này, cũng trên đường chiến dịch truy kích địch. Một sự trùng hợp thật lý thú. Chiếc đài bán dẫn đặt bên cạnh, trải tấm ni lông ra bãi cỏ. Với vẻ mặt hoan hỉ, câu ta xướng to cho mọi người nghe:

- Một bánh… Hai bánh… hai giò lụa. Những cặp mặt ngạc nhiên nhìn vào, một giọng hỏi khẽ:

- Ở đâu ra, tài thế?

- Và đây bánh ngọt. – Đồng chí đặt tiếp một hộp vuông, sơn rất đẹp và rao tiếp:

- Chè Long Tỉnh! Ai có ca, có bát xin mang đến.

Bun-thìn, trưởng ban tác chiến Quân khu, dáng hỏm hỉnh với mái tóc đen nhánh, quăn tự nhiên, nhếch mép cười, rồi rút từ trong ba lô ra vừa lên giọng:

- Uýt-ki chính hiệu Huê Kỳ do GM13 để lại, đã được kiểm tra, để chúng ta đón giao thừa.

Mọi người vỗ tay, chân nhún nhảy theo điệu lăm vông tiếng lại quanh chiếc đài có giọng nữ ca sĩ Việt Nam đang hát.

Chờ mọi người đến đủ, Châm-niên chọn một miếng bánh tét khá dày và rót trao tôi một ly rượu. Mọi người đều rót rượu lần lượt theo chiều quay của kim đồng hồ. Đây là tục chia rượu bình đẳng thân mật của người Lào. Một cuộc đón xuân nhẹ nhàng ấm cúng trên đường đuổi địch đã được gia đình Châm-niên chuẩn bị và gửi ra mặt trận để động viên chuyên gia. Trời trên đỉnh Phu Huột vào mùa này rét lắm nhưng có tý rượu vào, có tình nghĩa anh em chả ai thấy lạnh. Lâu lâu lại có người nhắc: “Sắp đến giờ Bác nói chưa?”. Ở những giờ phút ấm cũng và thiêng liêng này ai trong chúng tôi cũng hướng về Tổ quốc, về Bác Hồ. Nếu Bác Hồ được chứng kiến cảnh sum vầy Lào – Việt của các chiến sĩ ở mặt trận thế này hẳn là Bác sẽ vui sướng lắm!

Chuyện kể giòn giã. Số cán bộ ở đây nhiều anh em đã được một hai lần ăn Tết Việt Nam ở Hà Nội nên ai cũng muốn góp với bạn bè những kỷ niệm của mình. Trong đài, pháo Tết Hà Nội đua nhau nổ. Mọi người xúc động nghe Bác Hồ chúc Tết…

Trời mờ sáng, sương trắng phủ khắp núi đồi. Thuốc phiện bắt đầu nở hoa, hoa tím, hoa đỏ, hoa trắng xen với màu hoa đậu Hòa Lan và xu xu; ở cửa rừng là màu đỏ tươi của hoa đào. Chúng tôi rẽ xuống dốc đi vào một nhà rẫy của người H’mông đang “hạ trại” an toàn và đua nhau đi hái rau nhặt củi thì chiến sĩ liên lạc chạy vòa mời chúng tôi ra xem. Anh xuýt xoa: thật là may!

Mọi người trở lại cổng, chiến sĩ liên lạc chỉ vào một sợi dây dủ rất thoáng căng dọc giữa hai cây nứa dẫn tới một quả mìn MK2. May quá chứng! Mười mấy người bước qua mà không vướng dây. Đúng mồng một Tết mà quả mìn này nổ thì tổ chỉ huy sẽ ra sao? Nghĩ đến đó anh em thấy ớn cả người. Bất giác một anh thốt lên:

- Thế là năm nay nhiều cái may, ta sẽ càng thắng to! Mọi người tán thưởng:

- Đúng là chúng ta đã bước qua cái chết để tiếp tục giành thắng lợi. Mìn được gỡ an toàn. Từ đó trở đi mọi người có cẩn thận hơn, cảnh giác hơn.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Bảy, 2016, 09:10:46 PM
Từ trong rừng thấp thoáng có bóng người đi ra. Đồng chí người Lào Lự, cán bộ dân tộc của tiểu đoàn hỏi họ đi đâu. Họ nói xin gặp cán bộ. Một bảo vệ cùng cán bộ người Lào Lự đến gặp dân. Lúc đầu nghe hai bên chất vấn nhau. Về sau thì dân im, còn cán bộ Lào Lự thì giải thích. Sau đó, chúng tôi nghe thấy họ cùng cười.

Mười lăm phút sau cán bộ Lào Lự về cho biết: Lúc đầu họ cũng sợ. Khi nghe giải thích là bộ đội vào đây đánh GM13 giải phóng cho dân, GM13 chạy rồi, dân gọi nhau về thu thuốc phiện. Ai có nhận súng của địch thì tạm giữ và báo cáo chính quyền. Ai có gài quả mìn nào thì về gỡ, đứng để gây nổ sát thương người và súc vật. Họ cười có vẻ tin, chắc chiều nay họ sẽ gọi nhau về bản”.

Kiểm tra trận địa xong, đoàn đến bản Mường Tằn, nơi chôn rau cắt rốn của Tỉnh đội trưởng Khăm-tả. Cánh đồng rộng nhưng chỉ còn được mấy con trâu cày có cọc giữ. Bản gồm một trăm nóc nhà nằm giữa một bên là rừng, một bên là ruộng. Chùa làng chỉ còn một nếp nhà con đủ cho sư cả và hai chú tiểu sinh hoạt, tụng niệm. vì vậy dân làng phải đi đón khách vào nhà nai bản. Khăm-tả vào trước theo Tiểu đoàn 2 đã về bản nắm dân chuẩn bị cơ sở, ra đón bộ đội. Anh chưa đầy 30 tuổi, thái độ nhã nhặn cởi mở. Anh hòa vàn dân làng đứng giới thiệu khách, chủ. Anh họ của Khăm-tả vẫn còn làm nai bản (địch chưa kịp thay) may mà còn giữ được nếp nhà sàn của ông bà. Nhà khá to, sàn và vách đều ghép ván sạch sẽ đủ chỗ cho ngót một trăm người họp. Châm-niên chỉ để mấy cán bộ vào họp, còn anh em khác đều tản ra hai nhà bên cạnh vừa nhường chỗ cho dân, vừa sẵn sàng bảo vệ. Bộ đội được các cụ ông, cụ bàn, rồi thanh niên vào bắt tay chào đón. Mở đầu, nai bản thưa:

- Đúng lệ làng thì hôm nay phải có rượu cần, nhưng địch vét hết. Dân làng chỉ xin mời bộ đội ăn cơm nhạt với dân để chan hòa nỗi mừng vui ngày giải phóng.

Nai bản vừa dứt lời, các cụ, các mẹ đua nhau nói lên nỗi vui mừng được gặp lại bộ đội. Nai bàn cầm chai rượu, hai cô gái mặc áo váy đẹp theo sau, một bưng đĩa thịt trâu khô nướng, một bưng địa đựng ly rượu. Khách trước chủ sau trong càng hồ hởi. Châm-niên nói mấy lời cảm ơn và chúc rượu nai bản, Khăm-tả và dân bản. Sau chén rượu, các mẹ các cụ giãn ra, nhường cho các bà, các chị xách cơm vào. Hai dãy mân đan trải ra. Nhà nào cũng có típ xôi, cái đầy cái vơi mang đến. Xôi dành sẵn làm phúc theo lệ nhà Phật. Người bát chẻo, dưa chua; người canh măng nấu nhái, trứng kho, người thịt trâu nướng… Bếp nai bản có mấy chị cặm cụi nấu nướng, một lúc thấy bưng ra hai đĩa trứng rán đặt vào giữa mâm. Có lẽ cũng phải góp tới mấy nhà mới đủ hai đĩa trứng vì mỗi nhà chỉ giấu được một hai con vịt đẻ. Cuối cùng là món rau rừng gồm phắc lót, nức lác và các loại lá non có màu thoảng hồng, ăn vào có cả vị chát, vị ngọt, vị chua. Lính Lào và quân tình nguyện mà ăn bữa ăn thiếu món rau này là chưa ngon miệng.

Đây là bữa ăn tổng hợp, phong phú mà bộ đội qua làng ở Lào thường được hưởng. Bà con ngắm anh em ăn cơm có vẻ mãn nguyện. Sau đó, không ai bảo ai họ rút dần để cho cán bộ làm việc.

Khăm-tả cho biết cơ sở Mường Ngàn, Mường Phàn, Keo Xẹt, Tha Thươm, Tha Viêng, Bản Cang đều còn nguyên. Dân làng mong ngày được giải phóng. Chúng tôi cân nhắc, tính toán lực lượng địch ở khu vực các tiểu đoàn (BV), đặc biệt (VS, SGU, AC), dân vệ…; bàn chuyện hướng dẫn cho các gia đình có con đi lính ngụy gọi người nhà về, vấn đề chuẩn bị chiến trường, chuẩn bị làm mùa, dự kiến cả việc làm đường ôtô, kế hoạch vận chuyển tiếp tế vá chuẩn bị hàng dân dụng cho cuộc sống sau ngày giải phóng.

Bước một chiến dịch kết thúc, phải đua với thời gian để không kéo dài bước hai. Theo đúng kế hoạch chuẩn bị, Tiểu đoàn 701, Tiểu đoàn 24 và Tiểu đoàn dù 1 đã đi điều tra địch. Giao thông tỉnh đã tổ chức một đoàn công nhân đi sửa đường, bắc cầu đường 4A đi Xan Luông.

Ngày 22 tháng 2, cán bộ trinh sát về báo cáo, địch không có gì thay đổi, chỉ sợ đánh chậm nó rút mất pháo. Chiều ngày 22, tổ chỉ huy bí mật đi bộ xuống Xen Luông và tối đó hai xe chở đồ dự trữ tiếp tế đến. Sáng ngày 24, Tiểu đoàn 701 có mặt ở Xen Luông. Mỗi người nhận 6 bánh tét và lĩnh thêm một số trang bị cần thiết khác. Tiểu đoàn theo đường rừng đi lên đỉnh Phu Khe từ hướng đông nam. Khi chia tay tiểu đoàn, tôi có hỏi Bun-thon. Anh xác định hoàn toàn yên tâm.

Ba giờ sáng ngày 25 tháng 2, trận địa sơn pháo Phu Khe BI21 ở Tia Tao bị diệt. Tiểu đoàn 24 và Tiểu đoàn dù 1 từ chính diện đánh lên. Chỉ riêng Tiểu đoàn 1 chậm chân vồ trượt trận địa pháo. Quân Coong-le chạy mất.

Đêm đêm đỉnh Phu Khe quá rét. Tôi cố nuốt bát cháo muối rồi chui vào hầm của địch đốt củi sưởi cho đỡ mệt vì viêm họng. Người mệt, nhưng ngày hôm sau tôi vẫn cùng Châm-niên chống gậy đi xem xét cả bốn năm mỏm của Phu Khe vì “đất này còn phải nhiều phen giành giật”.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Bảy, 2016, 09:11:05 PM
Chiều ngày 26, đoàn cán bộ xuống núi theo đường về Bản Kinh đã được Thiệp và Nhả cho dò mìn. Vào đồn Bản Kinh do ta chiếm giữ, mặt trời đã trốn xuống núi chỉ còn vài tia sáng rọi lên thi thoảng. Một cảnh rộn ràng khó hiểu làm mọi người phải chú ý. Từ dưới hầm sâu nghe vọng lên tiếng đàn ông gọi. “Nhanh lên! Nhanh lên!” Tôi tưởng như bắt được con gì, hay được tên tù binh quan trọng mà lính ông Thiệp định trình với chỉ huy họ. Tò mò nhìn xuống thì thấy họ dìu ra một phụ nữ. Ai cũng nghĩ sao lại có phụ nữ ở đây? Một phụ nữ trẻ nhưng bụng to kinh khủng, đang rên rỉ.

Thiệp cho biết đây là một Việt kiều, vợ đại đội trưởng phòng ngự hướng Bản Kinh. Tình yêu đã kéo cô bạn này đến ở luôn với chồng. Lúc này cô ta đang trở dạ. Xưa có câu “phúc bất trùng lai”, nhưng anh cán bộ này lại được cả đôi đường: vừa giải phóng quê hương vừa sắp có con đầu lòng. Anh chạy lại xin mượn xe anh Thiệp để đưa vợ lên bệnh viện mặt trận.

Tôi động viên Thiệp:

- Nhanh lên! Đứa bé này nấp mãi trong hầm, nay đang muốn thoát ra khỏi bụng mẹ để chào mừng ngày giải phóng. Đầy tháng phải buộc chỉ cổ tay nhiều để chúc chú bé chóng lớn kịp thay cha bảo vệ quê hương.

- Mọi người cười vui vẻ, còn chị chàng thì vừa ôm bụng nhắn nhớ và cười to hơn. Có lẽ do cười nên chuyển dạ mạnh. Châm-niên an ủi:

- Không sao. Cười nhiều càng dễ đẻ…

Thế là chiến dịch đã kết thúc trong vòng một tháng. Tuy bước đầu chỉ với quy mô nhỏ, nhưng ai cũng thấy hay khi hình dung lại bài bản, mưu mẹo để tạo nên thế trận và làm nên chiến thắng. So với thực lực chủ quan của Quân khu lúc bấy giờ là vừa sức và ăn chắc. Hơn nữa, ý nghĩa của chiến dịch này còn tạo thế cho chiến dịch tổng hợp tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum tiếp sau đó lớn hơn. Nó đánh dấu một bước phát triển trong quá trình chiến đấu và trưởng thành của bộ đội Quân khu Cánh Đồng Chum.

Thị xã Xiêng Khoảng được giải phóng, lòng mọi người được thư giãn. Song mấy chữ “giải phóng Cánh Đồng Chum” vẫn thôi thúc họ phải tính đến nhiều cân hỏi: bao giờ chiến dịch 74 bắt đầu? Sẽ giải quyết Cánh Đồng Chum theo tình huống nào? Theo hình thức chiến dịch nào? Ngòi nổ binh vận có không? Và từ đâu? Lê Văn cùng tôi và cơ quan tham mưu chuyên gia đem bàn đồ ra vạch vạch, tính tính:

Ta hơn một trung đoàn bộ binh và một tiểu đoàn pháo, cơ giới chỉ được sáu AM và một PT76 thủng đít (số là khi Coong-le phản bội, địch đưa xe tăng đánh vào Khăng Khay. Pháo ta bắn hỏng hai chiếc; may mà chiếc này đạn vọt ra ngoài mới nổ, xe thủng đít không lội nước được song chữa lại, nó trở thành một lô cốt di động rất lợi hại, 40 chiếc xe tăng Coong-le không làm ta sợ, nhưng 1 chiếc thủng đít của ta cứ vùng vẫy đông tây, xuất quỷ nhập thần, đến chỗ nào là lính Coong-le hoảng hồn chỗ đó). Ngồi tính đi tính lại anh em cứ phân vân. Với thực lực này nếu kiếm đâu được một hai trung đoàn nữa thì chắc tay. Thế nhưng Thượng tướng Văn Tiến Dũng đã dặn rồi: “Lúc này quân tình nguyện Việt Nam chưa nên làm gì để Mỹ có cớ gây chuyện lớn ở Lào, ảnh hưởng đến khả năng tập trung lực lượng cho chiến trường chính miền Nam!”. Tất cả đều nhất trí là phải đẩy mạnh binh vận.

Điểm lại lúc này phía Trung lập yêu nước, ông Đươn đã có Tiểu đoàn 15, Tiểu đoàn 16, Tiểu đoàn 1, một đơn vị pháo và cao xạ, một đơn vị dù BI4 + 5 mới ở Trung Lào về.

Quân khu đã lập một trại học tập cho tù hàng binh ở thị xã. Tù hàng binh được học mấy buổi về sự khác nhau giữa chiến tranh xâm lược và chiến tranh giải phóng; thấy rõ mục đích cách mạng dân tộc dân chủ mà Neo Lào Hắc Xạt đang lãnh đạo toàn dân thực hiện, dành một buổi cho họ tự kể lại tội ác mà Mỹ và tay sai đã làm hại dân hại nước. Cho họ tự liên hệ những việc mình đã làm hại dân trong quá trình ở trong hàng ngũ địch, để có thời cơ ăn năn, xin xá tội và tự nguyện lập công. Trại đã mời nhà sư đến cầu siêu xá tội cho họ rồi buộc chỉ cố tay chúc họ đi theo quân đội cách mạng được nhiều phúc đức, lập được công trạng.

Mỗi lần lễ đều có các bà, các mẹ, các đại biểu thanh niên, học sinh nam nữ dự và thế nào cũng có một bữa cơm đoàn kết và múa lăm vông. Nhiều anh em trẻ, con em ở vùng du kích bị vét lính đưa lên Cánh Đồng Chum đã nhanh chóng liên lạc với người thân và trốn ra theo cách mạng. Có những tù binh chỉ 15, 16 tuổi, mới vào lính vài ba tháng, nay được giáo dục, quản lý tốt đã sớm lập công. Quân khu hy vọng tìm lực lượng bổ sung cho mình từ hàng ngũ địch nhất là đội ngũ trung lập Coong-le. Ngoài truyền đơn và kêu gọi trên đài, nhiều tù, hàng binh được chọn lựa bồi dưỡng rồi cho về đơn vị cũ tổ chức lôi kéo hàng ngũ hàng loạt. Sau chiến dịch 128 và sau khi ta giải phóng thị xã Xiêng Khoảng, trên chiến trường Lào, nhất là Cánh Đồng Chum có biến động mạnh.

Trong lực lượng Coong-le, việc liên hệ xin hiệp thương với Pa-thét Lào đã loang khắp. trên tuyến Phu Lạt Tây (đơn vì dù 5, 8BI), Bản Kéo, Bản Kho (4 BI) rồi Bản Thẳm, Bản Tôn, Bản Sao (dù 4, dù 6) đều có điểm hiệp thương không đánh nhau. Cuối cùng đến Xu-lê-đệt con bài dự bị thay Coong-le nắm xe tăng cũng cử đại diện ra liên lạc xin không đánh nhau.

Thời cơ đang xích gần. Chuyên gia và cán bộ chỉ huy bạn say sưa hoạt động trong không khí rung chuyển của Cánh Đồng Chum.

Đâu tháng 3, Bộ Tư lệnh chiến dịch 74 của liên quân Lào – Việt do Thiếu tướng Bằng Giang, Tư lệnh Quân khu Tây Bắc dẫn đầu sang trình diện, báo cáo với Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum về ý đồ chiến dịch.

Binh đoàn 13 bị tan vỡ đầu tháng 2, nay nhận lệnh hành quân ra Phu Noọng cùng cụm phỉ ở nam – bắc đường số 7 cắt đường, phá kế hoạch tiếp tế mùa khô của ta và phòng trước cuộc tiến công lớn.

Phong trào chống Mỹ leo thang chiến tranh đang lên mạnh ở thủ đô Viêng Chăn và các thành phố khác.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Bảy, 2016, 09:11:40 PM
IV. GIẢI PHÓNG MƯỜNG NGÀN, MƯỜNG PHẢN,
HỖ TRỢ CHIẾN DỊCH 74 CỦA QUÂN TÌNH NGUYỆN

Phối hợp với quân tình nguyện Việt Nam trong chiến dịch 74 đánh binh đoàn 13 và những cụm phỉ ở nam – bắc đường số 7, đường số 4, Quân khu Cánh Đồng Chum quyết định mở một đợt tiến công giải phóng Mường Phà Mường Ngàn, Keo Xẹt để cắt đường rút chạy của binh đoàn 13 khi chúng bị tiến công ở đường số 7.

Đầu tháng 4, binh đoàn 13 vất vả kéo quân ra Phu Noọng.

Chính ủy Xa-mán, anh Xing-ka-pô, tôi cùng Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 500 và một bộ phận Tiểu đoàn 24 đi vào phía đông nam Xiêng Khoảng. Đường bỏ đã 2 năm, xe không chạy. Rời thị xã Xiêng Khoảng, mỗi người kể cả chỉ huy phải cuốc bộ mang vũ khí, trang bị và một bao muối thay gạo (dân trong vùng địch thiếu muối, thừa gạo). Anh Chum, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 đã dẫn cán bộ đi trước chuẩn bị chiến trường.

Ngày thứ nhất đường bằng, tổ điện đài còn bám sát đội hình, nhưng ngày thứ hai bắt đầu lên dốc, tổ điện đài cứ chậm dần. Tôi nóng ruột giục anh em với thái đột bắt đầu gắt, liền bị Xứng nhân viên trong tổ cự lại:

- Thôi thủ trưởng nhẹ cứ đi trước. Bọn em nặng đi chậm về tối cũng được.

Nghe Xứng nói vậy, tôi bảo Xứng mang bao muối, để tôi mang máy thông tin.

Nói xong, tôi bỏ bao muối mười cân xuống cho Xứng và xách cái máy 17 cân quàng lên vai. Hơi bối rối một tý, nhưng vì mệt quá, Xứng đành chấp nhận quyết định của tôi.

Trong đời lính, chia sẻ với chiến sĩ gánh đạn, khiêng bom, gánh gạo muối vượt Trường Sơn là chuyện thường. Song lần này thực quá mệt vì vượt núi Keo Xẹt để vào với đồng bào H’mông trốn giặc trong rừng đâu có dễ, nhất là mang vác trèo núi, lại là thương binh bị thương đứt mạch máu chân trái, lại còn là bệnh binh lao thũng một thùy bên phổi trái, tôi đã chấp nhận một thử thách quá cao. Tôi thất bắt đầu đói. Ăn no vác nặng không lo, nhưng bụng đã đói là chân lăm đá chân chiêu ngay. Chật vật mãi 10 giờ rưỡi tối mới đến. Đoàn đi qua Xóm Lào Kang của Keo Xẹt tiến vào trung tâm. Đường vào đã dễ bước. Tổ chỉ huy được một bà mẹ H’mông cầm đuốc gỗ thông đón từ ngoài làng dẫn vào nhà, mẹ nói tiếng Lào Lùm phát âm đôi chỗ còn ngọng. Chính ủy Xa-mán giới thiệu đây là mẹ Nàng Xây, cán bộ mặt trận huyện Mường Khum, phụ trách khu địch hậu Keo Xét, Mường Ngàn, Tha Mu Lầu, Thông Phăn. Chồng bà là một tộc trưởng đã chạy vào Long Chẹng theo Vàng Pao. Bà chống lại quan điểm của chồng, ở lại nuôi em và hoạt động cách mạng. Đây là một phụ nữ ở độ tuổi 45, khỏe mạnh, lanh lợi và rất chủ động trong giao thiệp. Người phụ nữ thứ hai đang giã gạo, đốt bếp đun nước cho khác và chuẩn bị cơm. Chị vừa làm việc vừa cõng trên lưng một đứa bé. Đây là nàng dâu cả, vợ liệt sĩ. Khi con trai cả của bà hy sinh, chị tự nguyện ở lại làm vợ người con trai thứ hai (theo phong tục người H’mông). Một chốc anh chồng cũng độ 20 tuổi vừa đi xếp chỗ ngủ cho bộ đội về, bế đứa con trên lưng vợ và giúp làm bếp. Mẹ Nàng Xây động viên chúng tôi nằm nghỉ một lát, có nước nóng sẽ rửa mặt, ngâm chân, kẻo rét. Mẹ bảo chúng tôi rằng ở đây rét quanh năm.

Bộ đội đã được du kích và chị em phụ nữ xếp chỗ ngủ và chuẩn bị cơm. Đêm nay cho bộ đội ngủ một đêm không cần gác, bởi đã có dân quân.

30 phút sau, anh con trai bưng xoong nước nóng ra pha cho mỗi người một chậu. mẹ Nàng Xây dặng chúng tôi rửa xong phải ngâm và bóp chân nước ấm, mai mới hoạt động được. Ngoài đường phụ nữ ríu rít đi lại bổ sung gạo và thức ăn cho các gia đình theo số lượng khách.

Đây là lần đầu tiên tôi xem người H’mông nấu cơm. Trước hết thấy nồi đáy sôi nước thì chị bếp đổ ngay gạo vào nồi đáy chứ không phải đổ vào chõ xôi. Khi gạo vừa sôi chị lại đổ tất cả ra. Gạo cho vào chõ xôi, còn nước gạo thì cất vào cái ca to (đó là nước làm canh). Thong thường người H’mông ăn cơm, gia đình nghèo thì có một món ăn gì đó như thịt nướng, thịt kho hoặc rau luộc, còn thì cốt có đĩa muối, bát nước luộc gạo. Cứ thế người ăn xúc một thìa cơm bỏ miệt lại nhấp một tý muối trắng và húp một thìa nước. Hôm đó chúng tôi được ăn cơm với thịt gà kho và canh rau cải. Cơm là cơm gạo tẻ trắng, hạt to và thơm giống hạt gạo tám thơm, gạo nàng hương ở Việt Nam. Cách nấu thế này thì thơm nhưng không dẻo. Ăn được nhiều, trèo núi lo lâu.

Buổi ăn nghỉ đầu tiên ở Keo Xẹt giống hệt cảnh “bộ đội về làng” ở Việt Nam. Đây là cơ sở ổn định, giữ được phong trào cách mạng suốt từ những ngày chống sưu thuế thời Pháp cho đến phong trào du kích chống Mỹ hôm nay. Sáng hôm sau, khi chúng tôi đang đi xem địa thế và thăm hỏi dân thì anh Chum về cho biết đã làm việc với cơ sở, điều tra được trận địa của BI29. Kế hoạch đánh là tập kích vào sở chỉ huy tiểu đoàn và đơn vị bảo vệ đồi Phu Viêng. Các điểm khác chỉ kiềm chế và đón lõng. Kế hoạch được thông qua. Người bám địch, người dẫn đường, người cảnh giới, tất cả đều do du kích bí mật đảm nhiệm. Tiếp tế cơm nước sau khi nổ súng đều do dân lo liệu.

Trưa hôm sau ăn uống xong mỗi người một nắm xôi to cột vào lưng và xuống núi. Đường từ Keo Xẹt xuống Dốc Quế kín đáo nên chúng tôi đi ban ngày. Nói “Dốc Quế” vì đây là một triền rừng già còn lưu lại mấy chục cây quế già nối Keo Xẹt với Mường Ngàn. Hành quân qua đây, lính ta hay đẽo gọt kiếm ít vỏ và lá quế ngậm cho ấm.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 31 Tháng Bảy, 2016, 09:12:02 PM
Khu rừng già này được bảo vệ từ lâu có cả một thảm lá cài theo rễ non bồng bềnh. Trước khi đi xuống đồng ruộng Mường Ngàn, đoàn quân dừng lại nghỉ trong rừng kín. Ngồi đây, anh Chum chỉ mục tiêu, xác định vị trí và đường tiến quân cho các mũi. Trời hôm nay nắng dịu, ánh chiều chiếu xuống cánh đồng đang cấy của Mường Ngàn rất rõ. Tiểu đoàn 2 còn lại gần hai tiếng đồng hồ để các phân đội xem xét địa hình, bàn bạc nhiệm vụ và ăn cơm tối trước khi vào trận.

Chập choạng tối, bộ đội ra khỏi rừng và bắt đầu tiếp cận địch. Vì có địch nên Mường Ngàn rất kín lửa, chỉ có đồn Phu Viêng là có đèn măng xông. Bộ đội ta khỏi lo lạc đường. Cảnh vật càng khuya càng im ắng. Trời bắt đầu lạnh. Trên đồi, chúng tôi cứ phải đứng lên ngồi xuống cho đỡ rét.

Đến 24 giờ, trời đảo mây, đã có đôi hạt mưa lắc rắc. Mọi người đang lấy ni lông che mưa thì bất thần mấy ánh chớp léo lên. Ba bốn tiếng nổ B40 nối tiếp nhau. Đèn măng xông tắt. Xuyên vào cảnh tối tăm của Phu Viêng là các đường đạn sáng của súng AK, trung liên rồi thủ pháo. Tất cả đường đạn bay về một hướng, cá biệt mới có một viên bay ngược chiều. Như vậy là ta đã làm chủ hoàn toàn. Phía đồi Na Đi có vài viên đạn nổ. Súng cối của ta bắn trả vào Na Đi. Địch bắn tiếp vài băng ga răng nhưng khi trung liên ta nổ nhiều thì địch im. Chắc bọn này đã chạy.

Điện thoại Tiểu đoàn 2 báo cáo về: “Đã chiếm xong Phu Viêng”… Ba phát pháo hiệu đỏ vút lên. Thế là xóm làng đỏ lửa. Dân Mường Ngàn thông minh, nhạy cảm, họ biết chắc thắng lợi. Gà gáy, chó sủa, bếp dỏ. Mường Ngàn như chuyển sang năm mới. Nhưng trời lại đổ mưa. Có lẽ mưa đã đẩy đi những rác rưởi mà địch đã để lại cho Mường Ngàn. Một trận mưa rào làm cho mọi người vừa rét, vừa ướt.

Thường lệ khi ngóng chờ thì không buồn ngủ. Chiến trường im lặng là giấc ngủ kéo đến. Mưa cũng không tạnh, chiến sĩ dựa vào nhau ngủ ngồi giữa cỏ. Trời sáng. hết mưa, mặt trời rọi lên rất đẹp. Cả Mường Ngàn như tươi tỉnh. Các mẹ mặc áo hoa đưa xôi lên chùa. Nhiều đoàn thiếu nữ xách cơm, gánh quà ra tìm bộ đội., thể hiện sự chờ đợi sẵn sàng đón ngày giải phóng của dân Mường Ngàn.

Nhìn ra cánh đồng Mường Ngàn, bà con đã cấy được một phần ba. ở đây cấy sớm hơn Mường Pẹch một tháng nhưng do trời lạnh nên cũng chỉ gặt cùng lúc với Mường Pẹch vào tháng 10, tháng 11.

Xong Mường Ngàn, việc củng cố cơ sở, hồi phục du kích, chuẩn bị giải phóng Tha Thơm giao lại cho Tiểu đoàn 2 và địa phương. Chúng tôi phải quay về Mường Phàn để chỉ huy Tiểu đoàn 50 và Tiểu đoàn 24 giải quyết Boóc Ôn, Đọc Mạy.

Đài chỉ huy đặt ở bìa rừng bản chính Mường Phàn. Hầm lán chỉ đào sâu năm tấc rải lá thông khô nằm cho ấm. Hai ngày 16 và 17, quân ta đã giải quyết xong Boóc Ôn, Đọc Mạy.

Mặt trận chuẩn bị họp. Trong khi chưa họp chúng tôi được nghe chuyện chị Bun-ma đi dân công mặt trận.

Trước đây tôi đã được nghe điệu lăm phuôn của chị em xã Khăng hát ghẹo động viên thanh niên tòng quân:

Làm trai mà chẳng xứng trai,
Thà đổi mặc váy, đưa quần dài cho chúng em đi thay…


Hôm nay ở Mường Phàn tôi lại nhe kể về chuyện chị Bun-ma đi dân công. Chị Bun-ma vốn là vợ liệt sĩ. Chồng chị đã bị giặc Boóc Ôn giết. Mối thù nhà nợ nước đã âm ỷ trong lòng chị mấy năm. Việc nhà, việc xã hội chị đều hăng hái. Để chuẩn bị đợt tiến công này, xã phải huy động dân công tải đạn lót sẵn cho bộ đội. 40 người cả thanh niên nam nữ và học sinh của xã giao cho chị Bun-ma chỉ huy. Chị thu xếp việc nhà, cho bốn con chăm sóc, bảo ban nhau để mẹ đi tải đạn. Vì đường núi dốc cao, mỗi em học sinh mang một hai quả đạn ĐKZ 82 cả vỏ nặng tám cân. Người lớn mang hai quả. Mấy anh chàng mày râu kênh kiệu nhưng chỉ chịu vác một quả thôi. Động viên mãi không nghe, chị Bun-ma lên tiếng dứt khoát:

- Chị em chúng tôi thường bị các anh cho là yếu ớt cũng vác được hai quả. Tôi 40 tuổi rồi còn cõng được ba, thế mà các anh chỉ vác được một quả như các em bé, không xấu hổ sao? Thôi, đã vậy các anh cới quần dài đổi lấy váy chị em đây mà quấn vào rồi mang một quả đi theo các cháu học sinh cho đẹp mặt!

Cả đoàn cười. Lời nói của chị Bun-ma không ngờ lại có tác dụng. Các chàng đành chịu nhận hai quả và còn xung phong vượt lên dẫn đầu đoàn để khỏi bị chị em phụ nữ trêu chọc.

Sau mười ngày chuẩn bị, đồn địch bị diệt, quê hương Bun-ma được giải phóng, chị hăng hái động viên chị em bổ túc văn hóa, thanh toán nạn mù chữ, rồi thu thóc cứu nước, luyện tập dân quân bảo vệ dân làng.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:54:35 PM
V. CÁNH ĐỒNG CHUM – NHỮNG NGÀY BÃO TÁP

Dự kiến 20 tháng 4 năm 1964 rút kinh nghiệm đợt chiến đấu và hướng dẫn nhiệm vụ làm cơ sở thì 20 giờ ngày 19 tháng 4, đài đưa tin “Viên Chăn đảo chính”. Chiến trường Lào bắt đầu có biến động lớn. Anh Xa-mán, anh Chum và tôi vừa chụm đầu nghe đài vừa bàn bạc.

Cu-pra-xít, Phủi-xa Na-ni-con làm đảo chính chống Chính phủ Liên hiệp. Đó thực tế là việc đế quốc Mỹ phá Hiệp định Giơ-ne-vơ.

- Phái hữu chống chính phủ Liên hiệp, cầm giữ Thủ tướng Phu-ma, lực lượng Coong-le dao động. Thời cơ giải phóng Cánh Đồng Chum đang đến! Chúng ta phải về Quân khu ngay để đón nhận chỉ thị của Trung ương.

Chúng tôi thống nhất quyết định chuẩn bị cơm gói cho ngày hôm sau và ngủ sớm. Bốn giờ sáng hai anh đi trước. Phái liên lạc đi mời cán bộ ba tiểu đoàn cùng huyện Mường Khum sáng sớm họp mặt. Anh Xa-mán để thư lại. Tôi sẽ giao thư đồng thời bàn cụ thể thêm với cán bộ huyện và hai Tiểu đoàn 24 và 500 về nhiệm vụ củng cố cơ sở và sẵn sàng đón đánh tàn quân địch khi chiến dịch 74 nổ ra. Riêng Chum và Tiểu đoàn 2 chiều ngày 24 tháng 4 phải có mặt ở Khăng Khay để sẵn sàng nhận nhiệm vụ.

10 giờ sáng ngày 20, làm việc với anh em xong, tôi theo tổ cán bộ thường H’mông Keo Xẹt đi Quân khu. Đuổi theo số anh em này vất vả thật nhưng đi nhanh. Trưa hôm sau chúng tôi đã đến Khăng Khay.

Từ Sầm Nưa, đồng chí Viêng-xay (bí danh của Tổng bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hản) đã hai lần đưa chỉ thị cho Cánh Đồng Chum bám sát tình hình chủ động tạo thời cơ giải phóng Cánh Đồng Chum. Tổng bí thư cũng thông báo có đồng chí Khăm-tày Xi-phăn-đon xuống tham gia chỉ đạo việc này. Về đến nhà, ăn một bát cơm thì các anh Quang, Toàn, Hoa Thành đã đến. Nhà báo Hoa Thành vốn là người có trình độ, lại khá năng động, anh đã góp cho “bộ tham mưu” nhiều ý kiến tốt. Nhờ khá tiếng Pháp, khi cần tìm hiểu ý kiến những người anh em sĩ quan và công chức Trung lập, anh cũng giúp được đắc lực.

Găp tôi, các anh rất mừng khi nghe tin thắng trận ở phía nam, nhưng tin vui nhất là trong thời điểm khẩn trương này mà “Bộ tham mưu” các anh tập họp được để bàn bạc là quý lắm. Trong tập thể này, tôi thấy mình có chỗ dựa chắc chắn và yên tâm. Tôi và Toàn là cán bộ quân sự lúc nào cũng muốn thỏa cái máu tả xung hữu đột. Anh Quang và Lê Văn thì thận trọng hòa nhã. Anh Quang chỉ gợi ý, lắng nghe và động viên khích lệ làm cho ai thấy tự tin và mạnh bạo hơn. Các anh không làm cho cán bộ quân sự cảm thấy bị “vướng chân”, trái lại còn bổ sung đắc lực giúp cán bộ quân sự tháo gỡ khó khăn khi cần thiết. Đây là những ngày hoạt động gian khổ, vất vả nhưng tràn đầy hạnh phúc, đáng ghi nhớ trong đời lính chuyên gia.

Suy tính cẩn thận, “Bộ tham mưu” khẳng định dù có dàn xếp gì thì mâu thuẫn giữa phái Hữu và Coong-le, giữa Coong-le với sĩ quan và binh lính tiến bộ yêu nước là khó hòa hợp nổi. Việc GM17 ở lại chiếm giữ Cánh Đồng chum lại càng trở nên nghịch cảnh! Đặc biệt lại có sự tác động của các mạng về tâm lý, chính trị và sức ép quân sự thì trước sau cũng sẽ bùng nổ. Phải làm bằng được! Đó chính là cái nút để tạo thời cơ! Trung tâm vấn đề là ở thời điểm này là làm thất bại kế hoạch can thiệp của đế quốc Mỹ, là đánh bại tư tưởng sợ Mỹ và theo Mỹ, bảo vệ Chính phủ Ba phái của Lào. Diệt con người trong khi Lào đang ít dân, ít lính thì chẳng hay gì.

Tôi báo cáo những nhận định này của nhóm chuyên gia lên đồng chí Nu-hắc và mạnh bạo đưa ra đề nghị với Quân khu nội trong ba ngày phải chuẩn bị cho bộ đội sẵn sàng đón thời cơ. Có lệnh là đánh được. Xe Quân khu đi đón cán bộ tiểu đoàn cùng chuyên gia các đơn vị về họp nhận chỉ thị này.

Mục tiêu chính lúc này là phải thuyết phục quân Coong-le đuổi GM17 ra khỏi Cánh Đồng Chum để giải quyết việc hiệp thương hòa hợp với Coong-le. Đồng thời cũng dự phòng trường hợp thời cơ cho phép ta giải quyết GM17 bằng đòn tiến công quân sự với lực lượng của Quân khu, không chờ quân tình nguyện Việt Nam.

Sang ngày 25 tháng 4, trong khi cuộc hội báo của Quân khu đang diễn ra thì tướng Xing-ka-pô đi hiệp thương với Coong-le về.

Vừa về tới nơi, anh nói luôn: Phu-ma được thả là thái độ của Công-le đối với ta thay đổi rõ. Nhắc lại chuyện giải quyết GM17 nó vừa nói vừa cười: “Anh Pô khỏi lo, đánh GM17 em đã có cách”. Cách khỉ khô gì thằng con nít này! Chắc Mỹ lại gạ cho nó cái trò xỏ lá gì đây để kéo dài độc chiếm Cánh Đồng Chum không cho ta giải quyết thôi. Anh kết thúc: Diệt quách nó đi là xong hết! Thái độ của anh chứng tỏ suốt trên đường về anh đang tức.

Anh Phum khêu gợi nên xem “cách” mà Coong-le nói là các gì? GM17 sẽ làm gì? Đi đâu?


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:54:57 PM
Để có quyết định dứt khoát, chuẩn xác, anh Xing-kca-pô nhắc lại cả lời nói và điệu bộ của Coong-le:

- Thế này! – Anh Pô nói là huơ tay: - Tôi bảo nó nếu cứ để GM17 ở đây thì việc khôi phục lại hòa hợp giữa hai lực lượng ta vẫn bị trở ngại. Nó đứng đó là bất hợp pháp, chi bằng… Tôi nói đến đó là nó xua tay ra điều nhẹ nhàng thoải mái: “Anh Pô khỏi lo, đánh GM17 em đã có cách”. Tôi linh cảm thấy chúng nó đã bàn bạc xong xuôi rồi.

Đồng chí Nu-hắc chắc cũng sốt ruột, từ bên kia suối qua thăm sở chỉ huy Quân khu, thấy bàn bạc cũng ngồi dự. Sau một lúc suy nghĩ tôi phát biểu:

- Tôi nghĩ linh cảm của anh Pô là đúng. Kiểu này nó phải rút GM17 về làm dự bị để tránh cú đấm của ta, đẩy một đơn vị của Coong-le lên thay để làm con mồi kéo dài thương lượng, tiếp tục giữ bàn đạp cho Mỹ bán Cánh Đồng Chum. Thái độ Coong-le với cái cười có vẻ thỏa mãn định che giấu một ý đồ nào đó là đúng. Có thể nó cho là đã chắc ăn để chơi ta một cú bất ngờ đây! Nhất định là thay quân và coi chừng ngày kia (ngày 27) nó sẽ thay thật. Ta không nhanh sẽ bị động! Ta phải chớp thời cơ đúng vào lúc nó thay quân. Quân chúng có mạnh cũng sẽ trở thành yếu. Phải dùng lực lượng tại chỗ của Quân khu thôi! Diệt là diệt tư tưởng sợ Mỹ, chạy theo Mỹ. Đánh quân phái Hữu để kéo quân Conog-le.

Lê Văn đồng tình với tôi nhưng không nói thêm mà chỉ gật đầu đưa mắt tỏ rõ sự ủng hộ. Đây là cá tính của anh. Anh cho rằng làm chính trị đâu phải là nói nhiều mà cốt là biết phát hiện và ủng hộ cái đúng đắn của cán bộ quân sự và phải biết tiết kiệm thời gian họp hành.

Đồng chí Nu-hắc và các anh trong Bộ Chỉ huy Quân khu trao đổi và thống nhất: phải chuẩn bị nhanh, nói ngày 27 nó thay quân, đưa GM17 về sau là có lý. Lại gần anh Phun, đồng chí Nu-hắc dặn dò đôi điều về chuẩn bị kế hoạch để sáng ngày mai (ngày 26) báo cáo Trung ương. Đồng chí vừa đi vừa động viên: Gấp rút, vất vả nhưng đây là thời cơ!

Đêm đó, chúng tôi chụm đầu vào nhau, kẻ ngồi người nằm, làm việc và nghỉ ngơi tại phòng giao ban Quân khu.

Sáng hôm sau, Lê Văn về nhà thông báo dự định quyết tâm của Quân khu cho chuyên gia cơ quan và các tiểu đoàn liên quan. Các sĩ quan chỉ huy đơn vị có mặt để tiếp nhận giúp kế hoạch này gồm: Đăng pháo binh, Tưởng tác chiến, Võ trinh sát, Khuyên công binh, Khởi thông tin, Xăm Lan và Công Trung lập, Tả Đảo hậu cần. Phía đơn vị có Tình và Mai Tiểu đoàn 1, Tín và Danh Tiểu đoàn 2, Đàm và Đồng Tiểu đoàn 13, Mai Hoàng và Ngãi đơn vị pháo, Xoang cao xạ. Tất cả chuyên gia đều chung niềm tin, nhất trí cao và đều thấy bạn hạ quyết tâm là có cơ sở chính xác, là sự nhạy bén cần thiết trong chỉ đạo.

Đi họp, tôi mang theo tấm sơ đồ phác thảo chiến dịch mà trước đây anh Nguyễn Hữu An và tôi đã chuẩn bị, có bổ sung phần GM17 ở tuyến Phu Xản, Phu Tung, Phu Xoong, đã vẽ rõ quyết tâm trận này. Cuộc họp mặt các đồng chí Nu-hắc, Phu-mi Vông-vi-chít, Tư lệnh Phu, Chính ủy Xa-mán, và tướng Xing-ka-pô.

Tư lệnh Phun trình bày diễn biến tình hình chung, nói rõ những cơ sở dẫn đến hạ quyết tâm của Quân khu xin đánh GM17 vào ngày 27 này, nếu địch thay quân đúng như dự kiến.

Sang phần kế hoạch tác chiến, tôi tóm tắt: lực lượng địch ở Cánh Đồng Chum lúc này có 10 tiểu đoàn bộ binh Coong-le và ba tiểu đoàn của GM17. Ta có thể tập trung được 4 tiểu đoàn Pa-thét và 2 tiểu đoàn Trung lập để đánh quân GM17 và 1 tiểu đoàn Coong-le trên đoạn Phu Xản, Phu Xoong. Về pháo binh, ta có thể sử dụng 12 khẩu pháo lớn. Điều quan trọng là úc này quân Coong-le chỉ có bọn chỉ huy phản động là ngoan cố, còn binh lính đều muốn hòa. Quân GM17 đang muốn thay nhanh để khỏi chạm súng với Neo Lào Hắc Xạt. Tóm lại tay súng của địch đều đang lỏng. Ta chọn đánh vào lúc địch thay quân, binh lính đã mất tinh thần lại nhốn nháo. Nổ súng đánh vào lúc này chính là chọn đúng thời điểm lúng túng, bạc nhược tột độ của binh lính địch. Lúc bấy giờ quân ta ít cũng thành đông, địch đông nhưng chỉ xô nhau mà chạy thoát thân thì càng trở nên yếu.

Đồng chí Phu-mi nói chậm từng tiếng một như khích lệ:

- Đánh là đúng, lý lẽ chính trị để bảo vệ trận đánh thắng, tôi sẽ liệu. Chỉ cần hỏi người làm kế hoạch là có chắc thắng không? Vì chỉ có cái lý hay nhất là phải đánh thắng.

Được anh Phun nhường lời, tôi tóm tắt quân sự mà chớp được thời cơ chính trị dọn đường cho thì lực nhỏ vẫn có thể làm nên thắng lớn. Địch mất tinh thần, địch đang chờ thay quân. Địch lại sợ pháo. Ta đánh vào lúc này pháo binh Coong-le không tham gia, trái lại ta thì sẽ tập trung hết cả hai tiểu đoàn pháo mà đánh vì vậy chắc chắn đánh bất ngờ dồn dập là chạy hết. Thắng lợi là chắc chắn!


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:55:20 PM
Phó thủ tướng Xu-pha-nu-vông nói với thái độ dứt khoát:

- Tôi tán thành kế hoạch này! Thắng trận này sẽ tạo thế giải phóng Cánh Đồng Chum.

Đồng chí Nu-hắc kết luận gọn và dặn anh Phum chuẩn bị để mời đại tá Đươn đến họp thống nhất giữa hai lực lượng về kế hoạch hiệp đồng.

Sau khi họp về đang phấn chấn thì tôi được tin anh Lê Trọng Tấn lên kiểm tra việc chuẩn bị chiến dịch 74 của liên quân Lào – Việt. Không chờ gọi, tôi chạy xuống gặp anh Tấn ở nhà anh Bằng Giang. Sau khi nghe báo cáo quyết định của bạn về việc chuẩn bị đánh GM17, anh Lê Trọng Tấn dặn:

- Tình hình chính trị ở Lào đang có chuyển biến mau lẹ. Bạn chớp thời cơ ra quyết định thế là có cơ sở. Chuyên gia phải cố giúp bạn thực hiện cho được. Lúc này tạo thời cơ và đón thời cơ là quan trọng. Bộ chỉ huy chiến dịch 74 phải cố hết sứ đánh sớm để hiệp đồng đúng thời cơ của bạn.

Cũng có ý kiến cân nhắc đánh có hợp với đường lối sách lược giữa mặt trận liên minh với Phu-ma không? Không đủ sức tiêu diệt thì đã nên đánh chưa? Hay chờ quân tình nguyện Việt Nam!

Để khỏi bàn cãi không lợi, anh Tấn cho tạm nghỉ và kéo tôi ra ngoài hỏi:

- Bình hiểu bạn. Mình chưa rõ lắm. Có chắc bộ đội bạn đánh được không? – Ngừng một khắc, anh lại nói như tâm sự:

- Mình thấy đánh lúc này là đúng quá rồi. Tính toán lắm chỉ mất thời cơ, nhưng cái lo của mình là các anh có tập họp kịp bộ đội không?

Tôi báo cáo với anh Tấn rằng: bộ đội Quân khu Cánh Đồng chum được lệnh từ ba hôm nay, đã sẵn sàng. Có lệnh là đánh được ngay! Chúng tôi dự tính 18 giờ hôm nay pháo ra chiếm lĩnh trận địa. Phần tử bắn đã có sẵn trong kế hoạch phòng ngự. Nếu bảy giờ sáng ngày mai địch thay quân mà bộ đội ta không vào kịp thì cứ cho bắn pháo làm rối loạn đội hình địch. Bộ binh ai vào trước đánh trước. Pháo đánh dứt điểm cả ban ngày cũng được.

Anh Tấn lại hỏi tôi phương án xử trí khi địch chưa thay quân.

Tôi trả lời: hiện nay địch và ta đang ở trạng thái trực tiếp tiếp xúc do quá trình phòng ngự tạo nên. Địch chưa thay, ta cứ nằm chờ không sợ lộ. Nhưng chúng tôi khẳng định: thế nào nó cũng thay GM17. Có thể ngày mai, nhưng cũng có thể ngày kia. Nó thay lúc nào ta tiến công lúc đó. Giờ địch thay quân là giờ “G”, giờ tiến công của ta.

Anh vỗ vai tôi một cách trìu mến và nói:

- Thế là mình đã hiểu ý định của bạn và các cậu. Mình sẽ sang chào và chúc bạn đánh thắng. Anh nắm chặt tay tôi. Quả là những phút hạnh phúc nhất trong đời lính trước giờ ra trận. Lòng tự tin trong tôi tăng lên gấp bội.

Cuộc họp hiệp đồng với đại tá Đươn chiều hôm đó cũng diễn ra tốt đẹp, thoải mái. Ai nấy đều phấn chấn. 20 giờ ngày 26, bên Quân khu có đủ Tư lệnh Phun, chính ủy Xa-mán, tướng Xing-ka-pô, Xin-phon, Châm-niên, Bun-niên. Bên trung lập có đại tá Đươn, trung tá Thiệp, Phôn-xay tham mưu. Đồng chí Nu-hắc trực tiếp chủ trì cuộc họp hiệp đồng. Đồng chí tóm tắt tình hình địch, ta và nói rõ đồng chí Quân khu trưởng Phun đề nghị đánh binh đoàn 17 trước khi chúng thay quân để tạo thời cơ giải phóng Cánh Đồng Chum. Tiếp đó đồng chí giới thiệu tôi sẽ trình bày kế hoạch tác chiến để hai bộ chỉ huy bàn bạc.

Đầu tiên, tôi phân tích giá trị tuyến điểm cao Phu Hạt, Phu Tung, Phu Xán đối với thế phòng ngự của địch. Đó là lá chắn cho cả phía Mường Phàn và Mường Khừng. Địch còn giữ được tuyến này thì Coong-le còn có thể ngoan cố kéo dài thương thuyết. Ta đánh chiếm tuyến này, đứng trên đầu Coong-le thì luận bàn hòa hợp hay đánh nhau đều rất có lợi. Nếu ta để cho địch rút GM17 về sau và đưa quân Coong-le lên chiếm là ta mất thờ cơ, mất cá lợi thế. Thời có để diệt quân phái Hữu tạo thế có lợi thúc đẩy kéo quân Coong-le theo cách mạng là ở đây. Để GM17 rút về Mường Phàn hoặc Mường Xủi thì ta mất đối tượng, mất thời cơ tiến công.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:55:49 PM
Sau khi trình bày kế hoạch sử dụng lực lượng và tổ chức đội hình chiến đấu, tôi nhấn mạnh:

- Quân GM17 vào đứng chân ở Cánh Đồng Chum là bất hợp pháp, là phá Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ta có quyền phải đánh đuổi, phải tranh thủ đánh đúng vào lúc thay quân. Địch sẽ rơi vào ba điều bất lợi phải thua là vì:

Một, quân Coong-le và GM17 đang mất tinh thần chiến đấu, sẽ càng sa sút.

Hai là, lực lượng này đang thay quân lẫn lộn mà bị đánh sẽ dẫm đạp nhau, càng chóng tan.

Ba, binh lính thoát ly công sự mà binh pháo binh bất ngờ đánh mạnh thì chỉ có bỏ chạy.

Đại tá Đươn, vốn tính hăng hái nghe đến đây không kìm được nữa vùng đứng dậy hỏi lớn:

- Không biết anh Phun thế nào chứ tôi thì tin là chắc thắng.

Anh Phun đỡ lời:

- Tập trung dứt điểm Phu Xản là đúng. Điểm này đứng ngay trước mặt Mường Phàn. Đánh vào đây vừa trừng trị GM17, vừa cảnh cáo Coong-le. Để chỉ huy trận đánh, anh Đươn cùng tôi, Xa-mán và Lê Văn theo dõi chung. Anh Pô và Xi-pon đi cánh Tiểu đoàn 13. Anh Thiệp, Châm-niên và Phôn-xay đi cánh Phu Xản. Đề nghị anh Bình giúp cho cánh này.

Đồng chí Nu-hắc kết luận:

- Thời gian chỉ còn mấy tiếng đồng hồ, mọi việc chuẩn bị và hành quân phải tiến hành dứt điểm trong đêm. Các đồng chí về triển khai chuẩn bị. Xa-mán và Lê Văn ở đây cùng tôi thảo ngay khẩu hiệu địch vận, cho in và rải ngay vào trận địa lính Coong-le để sáng may ta đánh, họ khỏi bỡ ngỡ.

Hội nghị hiệp đồng xong, tướng Pô và Xi-phon lên xe trước mang theo một số đạn dược, quần áo và lương khô mà Bun-niên đã cho chuẩn bị phóng về hướng Lạt Buộc. Qua Bản Son họ còn rẽ vào truyền lệnh cho Tiểu đoàn 2 lên gặp Châm-niên nhận lệnh tiến công. Châm-niên phóng xe đi hạ lệnh hành quân chiến đấu cho Tiểu đoàn 1. Phôn-xay xuống hạ lệnh cho Tiểu đoàn 15 tiến công Phu Bạ, Tiểu đoàn 16 tiến công Phu Tung.

Bun-niên huy động toàn bộ khu gia đình bộ đội và cơ quan Trung ương nhận gạo thổi xôi đặt ở ngã ba đường Khăng Khay – Phôn Xa Vẳn để một giờ sau bộ đội chạy qua là được lãnh mỗi người một nắm. Lệnh ban ra: trên đường ra mặt trận bộ đội cần thêm giày dép, đạn dược…, hậu cần cứ đón mà cấp, miễn sao kịp giờ chiến đấu.

Vùng Khăng Khay – Phôn Xa Vẳn lúc này nhà nào cũng đỏ đèn, đỏ lửa, tấp nập, rộn ràng. Người đi lại như mắc cửi. Chúng tôi gọ đó là “hội mùa tiến công”. Người được đi thì mở cờ trong bụng, người ốm nặng thì buồn.

Mọi việc phía sau coi như xong. Pháo binh đã chiếm lĩnh trận địa. Đạn dược, phần tử bắn đều chuẩn bị sẵn sàng. Tôi gọi điện thoại qua văn phòng anh Bằng Giang, báo cáo việc mình bắt đầu lên sở chỉ huy Quân khu để bên quân tình nguyện biết và hiệp đồng.

Không còn xe dự trữ, tôi và chiến sĩ liên lạc chạy bộ, vượt suối băng đồi đi qua Bản Len. Vào sở chỉ huy Tiểu đoàn 15 thì Bun-xu đã chỉ huy đơn vị tiếp cận. Đang vội vã xuống đồi, tôi bất ngờ gặp Châm-niên. Anh phàn nàn: “Ba giờ sáng rồi, tôi lo đơn vị vào không kịp. Hay ta đề nghị Quân khu cho lùi lại ngày mai đánh!”.

Tôi choáng váng trước tình thế rắc rối này. Không do dự, tôi trao đổi với Châm-niên: thời gian là do việc thay quân của địch quyết định. Còn bên ta thì phải anh Phun! Ta thì tranh đua với địch từng phút, chậm trễ sẽ bị động. Anh có thể quay lại gặp anh Phun, để tôi lên đài chỉ huy giúp anh em, kiểm tra sẵn sàng, lỡ anh có lên chậm tôi còn giúp anh em quyết định được.

Châm-niên đồng ý. Anh nhờ tôi lên trước giúp và tức tốc đi gặp anh Phun.

Trong thâm tâm, tôi vẫn tin là địch thay quân hôm nay. Chỉ lo thông tin và pháo binh không nắm được quân, còn với Châm-niên nếu tranh cãi hay bàn luận đả thông nhiều là khó, nhưng có thể biết chắc là Châm-niên không dám gặp anh Phun vì biết anh Phun và đồng chí Nu-hắc khó thay đổi quyết tâm. Tôi đang leo dốc lên đài chỉ huy thì nghe tiếng bước chân phía sau và Châm-niên vừa thở vừa nói theo:

- Thôi, về nhà cũng khó tìm ngay được các cụ, trời lại sắp sáng rồi. Đề nghị chỉ thêm dại…

Tôi an ủi Châm-niên:

- Nghĩ như anh là phải. Cần giành thời gian với địch và cố đón cho được thời cơ.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:56:22 PM
Thấy chúng tôi lên, Phôn-xay, Thiệp, Phô-ma-chắc, Hoàng, Đăng (pháo) và Bun-thọm thông tin báo cáo công tác chuẩn bị. Phô-ma-bắc và Đăng cho biết đã chuẩn bị sẵn một nghìn viên đạn gồm ba loại 105 ly, 85 ly và cối 120 ly. Các anh hứa sẽ đánh tan đội hình GM17, tạo điều kiện cho bộ binh xung phong.

Sáng sớm hôm sau, nhìn trời, tôi thầm nghĩ trời phù hộ chúng tôi. Sáng sớm ngày hè mà vẫn còn một lớp sương trắng mênh mông phủ kín các đồi thông, đồng cỏ. Tiểu đoàn 13 phải chạy bộ hơn 10 ki-lô-mét nhưng đã chiếm lĩnh sớm nhất. Có tiểu đoàn phải hơn 80 giờ mới tiếp cận, nhưng địch vẫn không biết, vì lính ta cứ bám các góc thông mà vào.

8 giờ 15 phút, từ sở chỉ huy tiền phương quân khu nhìn lên Phu Xản, quan sát viên báo cáo: “Địch đeo ba lô, kẻ đi người lại nhốn nháo. Đúng là địch đang thay quân!”. Lập tức pháo, súng cối được lệnh bắn. Phu Xản bị phủ kín khói đạn. Hướng Phu Tung, Phu Xoong đạn các loại cũng nổ vang. Trận chiến đấu diễn ra giòn giã, ăn khớp như một cuộc diễn tập thực binh thật đẹp mắt.

Vì đang thay quân nên mấy phút đầu địch không nổ súng, cốt tranh nhau chạy thoát thân. Một lúc lâu bọn phía sau nổ súng lẻ tẻ. Mũi tiến quân của Tiểu đoàn 2 trước mặt Phu Xản là Đại đội 16 do đại đội trưởng Van-na chỉ huy. Chiến sĩ ta bám các gốc thông vừa tiến vừa dò phá mìn. Van-na người Bô Lô Ven da ngăm đen, mắt sáng lanh lợi. Tôi đã đi với đội hình từ trận Lạt Buộc đến trận Đông Đàn. Hôm nay Van-na cứ gọi tên từng tiểu đội trưởng dẫn tiểu đội mình tiến lên đều đặn. Khi đơn vị bám đến vách đá đứng của Phu Xản, sở chỉ huy đang hồi hộp theo dõi bộ đội qua ống nhòm thì nhận một choáng váng: đại đội trưởng Van-na bị thương nặng. Chính trị viên đại đội tiếp tục chỉ huy đơn vị đánh chiếm Phu Xản. Tiểu đoàn 1 cũng luồn rừng thông vu hồi sâu vào yên ngựa chia cắt giữa Phu Xản với Phu Bạ. Còn Phu Bạ thì đã bị Tiểu đoàn 15 chiếm. Hơn 30 tù binh bắt được ở Phu Xản, lẫn lộn có quân GM17 phái Hữu và quân dù 2 Coong-le. Chum tiểu đoàn trưởng và Nhưm chính trị viên Tiểu đoàn 2 cùng Mai-xinh tiểu đoàn trưởng và Xin-thôn chính trị viên Tiểu đoàn 1 đang điều quân để tiến ra chiếm lĩnh tuyến Phiên Luông – Cầu Sắt. Trên đường tháo lui, quân địch còn kháo nhau: “Chạy thoát được là may mắn lắm rồi!”.

Từ trên cao nhìn xuống thấy rõ đội hình tan tác của đám hỗn quân Coong-le và phái Hữu đang chạy trốn về Mường Phàn. Chạy ngược với đám tàn quân đó là chiếc xe Jép; cắm cờ xanh của Xỉng-coọc lao ra chân Phu Bạ chuyển thư của Coong-le yêu cầu ngừng tiến công để hai bên thương lượng.

Với chủ trương tiếp tục phân hóa thêm một bước lực lượng Phu-ma – Coong-le, Quân khu ra lệnh tạm dừng ở tuyến Phu Xản, Phu Bạ và chỉ định Phôn-xay, cán bộ tham mưu giúp đại tá Đươn, con người tháo vát mưu mẹo lại hiểu sâu nội tình quân Coong-le gặp Xỉng-coọc!

Phôn-xay cầm một tập danh sách tù binh có đủ sĩ quan Coong-le, quân phái hữu đọc cho Xỉng-coọc nghe và buộc Xỉng-coọc giải thích:

- Vì sao đã báo trước là chúng tôi đánh GM17 mà bây giờ lại có quân anh ở đây? Thế này là Coong-le đã phản bội chúng tôi trong cuộc họp hai bên với tướng Xing-ka-pô!

Xỉng-coọc cứng họng đành xin lỗi rối rít. Cảm tưởng về trận đánh, Xi-phon ca ngợi, nhất là ý chí chiến đấu của Tiểu đoàn 13. Anh nói:

- Thấy xe Quân khu xuống khuya (lúc đó cũng độ hai – ba giờ sáng) thế là lính tráng gọi nhau thức dậy chờ đợi. Trong đêm tối không đèn không lửa, nhưng vào nhà nào thì chủ nhân cũng đã súng đạn, lương khô, thứ thì giắt lưng, thứ thì cầm tay. Rọi đèn pin vào mặt anh nào cũng tươi rói như kiểu họ vừa họp xong một cuộc họp hiệp đồng đầy hứng khởi chứ không phải là mới ngủ dậy. Lệnh tuyền ra là họ nhảy múa nhưng vì bí mật không dám reo ca. Chưa thể có một đoạn văn hay hoặc một cảnh phim nào tả nổi chí khí ra quân răm rắp như trận này.

Anh Pô lại kể:

- Trước đây, tôi cũng đã được dự nhiều trận đánh nhưng chưa bao giờ chứng kiến được một trận đánh ba ngày hiệp đồng bộ binh và pháo binh đàng hoàng như trận này. Cũng có lúc nguy hiểm, có khi giật thót cả tim nhưng trận này đẹp quá, chả khác gì những khi được xem diễn tập bắn đạn thật của trung đoàn, sư đoàn. Quân địch của Phu Xoong hoang mang, có đứa cứ cắm đầu chạy, bị lính ta đuổi như cảnh bắt gà. Có những đoạn chiến hào tranh nhau căng thẳng hồi hộp. Hai chiến sĩ ta lăm lăm AK đang lao lên đối mặt với quân địch. Cũng có cảnh lính địch ở thế cao đang xốc lưỡi lê định đưa vào sườn của đồng chí ta. Ôi, tôi toát cả mồ hôi, may được một loạt AK bất ngờ của đồng đội lướt tới. Đồng chí ta thoát chết; còn tên địch thì đổ nghiêng xuống, lăm một vòng rồi lại chồng đứng lưỡi lê lên trời tưởng cứ như là anh ta còn sẵn sàng lao thêm nhát nữa. Càng khoái hơn là thấy quân ta thì cứ xông lên đuổi, quân Coong-le có cả xe tăng yểm trợ nhưng lại không dám chống cự. Cuối cùng, xe tăng Coong-le trở lại thành binh chủng dẫn đường cho bộ binh rút chạy về Bản Leo…


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:56:54 PM
Làm chủ xong tuyến Phu Xản, Phu Tung, Phu Xoong, anh Phun cho xe xuống đón tôi về bàn kế hoạch tiếp. Xong việc, tôi xin dùng điện thoại tác chiến của Quân khu gọi sang mặt trận 74. Các anh Lê Trọng Tấn và Bằng Giang đã nóng lòng chờ sẵn ở đây. Tôi vừa quay máy chưa kịp gọi đã nghe tiếng anh Tấn ở đầu dây:

- Bình phải không? Cậu chuyển lợi bọn tớ hoan nghênh chiến thắng của bạn. Bạn làm ăn khá lắm. Khả năng bạn đuổi GM17 khỏi Cánh Đồng Chum là chắc rồi!

Tôi báo cáo anh Tấn rằng anh em đánh tốt lắm. Trên dưới cùng chung quyết tâm. Trận đánh diễn ra rất đẹp. Phát hiện chúng thay quân là chúng tôi cho pháo nã ngay.

Anh tấn ngắt lời tôi: Nắm thời cơ trúng quá. Bên hướng chiến dịch 74 trận mở màn tập kích diệt đại đội địch ở Pa Kha. Lính tình nguyện của anh Bằng Giang đánh cũng khá lắm. À này, đạn pháo bắn có nhiều quá không?

Tôi trả lời rằng chúng tôi bắt hết 800 quả. Còn để dành được 200 quả.

Anh Tấn nói tiếp: Thôi được! Đây là một bước trưởng thành lớn của bộ đội Cánh Đồng Chum cả về chiến đấu và chiến dịch. Nhớ giữ sức khỏe để giúp bạn nhá! Anh kéo dài tiếng “nhá” làm tôi đọc được cái bằng lòng của anh, bằng lòng khi cấp dưới không phụ lòng tin của anh.

Tôi vừa bỏ máy xuống thì đại tá Đươn nhảy vào nắm chặt tay tôi giật giật liên hồi:

- Đồng chí Bình, đồng chí Bình. Hoan hô kế hoạch của đồng chí. Bây giờ tôi hoàn toàn tin đồng chí.

Tôi hiểu, nói “bây giờ tôi hoàn toàn tin đồng chí” có nghĩa là trước đây anh chưa tin. Tôi không trách, không tự ái mà thật lòng cảm ơn anh Đươn, cảm ơn lòng thành thật, sự cởi mở đáng mừng của người bạn chiến đấu. Thật đúng như vậy. Suốt gần mười năm sau, hai người sống với nhau rất chân tình. Những lúc gặp khó Đươn lại mờ tôi đến. Mà hễ anh gọi là tôi đến ngay, dù phải trèo đèo lội suối cũng không quản. Có lúc trong nội bộ Trung lập, từ việc tập thể đến việc cá nhân, gia đình, anh đều tâm sự và lắng nghe những gợi ý của tôi, kể cả việc “ông tư lệnh dám đứng ra tự phê bình” để tiếp thu ý kiến cấp dưới và sử lý nghiêm túc nhiều việc sai đối với tập thể của em út mình, không bao giờ bao che hoặc thù vặt… Trước đây (1961-1962), anh Đươn là Tham mưu trưởng trung lập, anh Hòa sẹo mới là Tham mưu trưởng A10, ngang hàng với anh Đươn, tôi chỉ là phó… Bây giờ tôi giữ chức đoàn trưởng chuyên gia, anh Đươn có quyền được xem xét, thử nghiệm vai trò của trưởng chuyên gia. Thắng được trận này, thực tế đã tạo được lòng tin của bạn đối với chuyên gia. Tôi sợ nhất là mình không làm được việc mà cứ ôm lấy cái danh hão như người Lào hay gọi là “xiều kin “ (bạn đánh chén) thì thật là khổ. Để ca ngợi tình bạn quý trọng, người Lào thường có câu: “Xiều kin bá ngái, xiều tán há nhạc” (Bạn đánh chén dễ kiếm, bạn cùng sống chết khó kiếm).

Tối ngày 27 tháng 4 năm 1964, quân GM17 về nằm rải rác ở sân bay Mường Phàn để sáng ngày 28 hai chiếc C130 lần lượt chở chúng về Viên Chăn. Cũng rạng sáng ngày 28, những trận đánh lớn của chiến dịch 74 từ Pa Kha, Phu Noọng, Xen Chồ, Nậm Khiên bắt đầu rộ lên. Trong khi Quân khu đang bàn kế hoạch tạo thế để chuyển vào đượt hai giải phóng Cánh Đồng Chum thì Tổng tư lệnh Khăm-tày xuống trực tiếp chỉ đạo mặt trận, có đại tá Hòa (biệt danh Hòa sẹo) theo giúp. Chuyên gia Quân khu kiểm tra lại các đầu mối binh vận. Lực lượng BI4 từ đường số 12 và BI8 từ đường số 9 lên, sau khi ra hàng được nhập thành BI48 do đại úy On-kẹo chỉ huy, nâng tổng số quân Trung lập yêu nước của đại tá Đươn lên bốn tiểu đoàn bộ binh còn các tiểu đoàn bảo vệ Coong-le đóng ở vùng Bản Thẳm, dù 3 đóng ở Phu Keng, Phu Bạ; đại đội xe tăng đóng ở Bản Leo đều đã cử người liên lạc với Pa-thét Lào, mong có ngày trở về hợp tác với Neo Lào Hắc Xạt. Trung tâm liên hệ chặt chẽ nhất của binh vận là đường dây điện thoại từ sở chỉ huy Tiểu đoàn 1 ở bản Gion vào tiểu đoàn dù 4 ở Bản Sao, rồi từ Bản Sao vào sở chỉ huy ông Chẹng ở bắc Bản Tôn.

Lực lượng phái Hữu ở Cánh Đồng Chum đang trong thế lao đao. GM17 bị diệt, bị đuổi. GM13 bị đánh đau đang cùng phỉ Phu Noọng, Xen Chồ, Pha Kha, Đọc Mạy, Nâm Khiên chạy vòng về hướng Nậm Xoong, Nậm Mộ vì đường Mường Ngàn – Keo Xẹt bị cắt.

Đồng chí Chăn-đi, Phó tham mưu trưởng Quân khu, Tư lệnh chiến trường cũ thông minh, tháo vát nổi tiếng ở vùng này được cử xuống Tha Thơm chấp nhận đơn vị xin hòa hợp của đại đội trưởng dù 4 Khăm-phay. Chăn-đi vừa giải quyết việc quân sự vừa thay mặt Quân khu và tỉnh giao trách nhiệm, ổn định tổ chức chính quyền và lực lượng du kích cũ ở Tha Thơm và Ta Viêng. Ở đây, Chăn-đi may mắn được gặp lại Xao-yến, người yêu cũ và gia đình của cô nguyên là cơ sở cách mạng tại Tha Thơm, chỗ dựa của Tiểu đoàn 13 của anh khi đơn vị dặc trách phòng ngự bảo vệ mặt trận Tha Thơm trước đơn vị dù 4 của ông Chẹng.

Toàn bộ khu vực đông nam Xiêng Khoảng được giải phóng đã làm tăng thêm sự đảo lộn thế trận vùng Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng. Đứng trước nguy cơ một cuộc binh biến sắp nổ ra ở Cánh Đồng Chum trong lực lượng Coong-le, ngày 14 tháng 5, Mỹ buộc phải cho rút sở chỉ huy E-tam khỏi Cánh Đồng Chum để tránh đòn, đồng thời bày ra trò “cải cách” giả hiệu, thực chất là dùng thuật khen thưởng, thăng cấp hòng xoa dịu mâu thuẫn nội bộ, đồng thời điều chỉnh một số cán bộ không ngoài âm mưu kiềm chế, gạt dần những người tích cực. Dù sao nó cũng làm đảo lộn kế hoạch của Chẹng, Khảo.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:57:37 PM
Đêm 13 tháng 5 năm 1964, đại úy Khảo báo cáo ra Quân khu: “Ngày 14 tháng 5 một cuộc họp lớn ở Mường Phàn, có đại biểu Chính phủ từ Viên Chăn ra chủ trì, trung tá Chẹng yêu cầu Quân khu sẵn sàng chi viện lớn khi cần thiết”.

Theo lệnh đồng chí Khăm-tày, Quân khu cho tiểu đoàn pháo mặt đất chuẩn bị; Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 15 và Tiểu đoàn 16 sẵn sàng tiếp ứng khi Chẹng, Khảo yêu cầu.

Sáng ngày 14 tháng 5 năm 1964, ở khu vực này có máy bay C130 và trực thăng từ Viêng Chăn bay tới, xe cộ đi lại nhiều. Đúng là có cuộc họp. Các chiến sĩ ta “ngứa ngáy” lắm rồi nhưng chẳng thấy tin tức gì. Trưa ngày 14, đại úy Khảo rời cuộc họp về báo tin: ông Chẹng yêu cầu chờ đợi!

Khảo tỏ ra bực tức. Bộ đội lại tranh thủ ngủ. Cán bộ tỏ vẻ sốt ruột. Điện của tổng bí thư từ Sầm Nưa gửi xuống lại nhắc việc “tạo thời cơ”. Tình hình lúc này buộc tướng Xing-ka-pô phải kiên trì gặp lại Coong-le để thăm dò thái độ hướng về cuộc thương lượng hòa hợp ra sao? Trên dường về Mường Phàn, anh báo trước để Chẹng tổ chức bảo vệ, đồng thời kiểm tra cả thái độ Chẹng. Dự kiến có thể Chẹng nổi dậy lãnh đạo trung đoàn mình làm binh biến ép buộc Coong-le phải đưa quân về nhận sự khoan hồng của cách mạng. Khả năng này xem chừng khó cả đối với Chẹng, vì không “dám quyết đoán” và cả đối với Coong-le khi không có một sức ép thật gay gắt.

Khả năng thứ hai là trước quyết tâm của binh lính, Chẹng chỉ nổi dậy tuyên bố ly khai khỏi lực lượng Coong-le, bắt tay với cách mạng xin lực lượng ta tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum.

Sáng ngày 15 tháng 5, tướng Xing-ka-pô gặp Coong-le thì thấy đúng là nội bộ Coong-le có cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các phe phái. Coong-le hoang mang nhăn nhó, chẳng có thái độ gì rõ ràng, dứt khoát. Xu-lê-đệt xe tăng, trung tá Phong pháo binh và trung tá Xỉng-coọc dù 2 ngoan cố đòi tính toán và dứt khoát không đầu hàng. Trung tá Chẹng xin tính toán chờ đợi! Trái lại đại úy Khảo cương quyết phải đánh. Chờ đợi là mất thời cơ! Phần lớn cán bộ dự cuộc họp Quân khu đều xin Tổng tư lệnh Khăm-tày và Trung ương cho giải quyết. cuộc họp tạm dừng để thăm dò riêng thái độ Chẹng, Khảo và khả năng hành động của trung đoàn này.

Ăn trưa xong, nhân lúc nghỉ, tôi trao đổi với anh Hoàn thêm về nhân vật Chẹng. Anh ta vốn từ một học sinh trưởng thành trong một gia đình sùng đạo Phật ở Trung Lào, được nhà vợ giúp để học hành rồi đi lính. Lên quan, nhiều lúc bộc lộ thái độ, có chí khí, chống bất công và áp bức, thương người nghèo, thương kẻ yếu, nhưng nhiều lúc cũng nể nang hay tính toán đắn đo nên có khi cũng dễ mất thời cơ. Trái lại đại úy Khảo, trung đoàn phó của Chẹng, một sĩ quan “ít chữ”, người dân tộc La Ve, dòng dõi họ Com-ma-đam rất dứt khoát, quyết đoán. Chính Khảo là đại đội trưởng đầu tiên của dù 4 đã dũng cảm dẫn đại đội mình đánh trận mật tập thắng lợi đầu tiên của lực lượng Trung lập ở Mường Phàn năm 1962. Ngòi nổ binh vận đầu tiên mà chúng tôi tin tưởng nhất chính là Khảo. Tôi lo rằng trước sự tính toán của trung tá Chẹng, đại úy Khảo đã bất mãn, một mình nắm dù 4 tuyên bố ly khai chống Coong-le thoát ra theo cách mạng sẽ làm mất ngòi nổ từ trong lòng địch. Cảm thấy thực tế diễn ra nghiêng về khả năng đó, tôi tung chăn vùng dậy nói lại tất cả tính toán của mình với đoàn phó Hòa và khẳng định: Tình hình hiện tại là không ổn. Phải xuống bàn với anh Bằng Giang cho mượn xe chiến dịch chở tiểu đoàn cơ động số 924 lên sẵn ở Phôn Xa Vẳn, phòng sáng mai, có sự biến thì ta sẵn có lực lượng dự bị trong tay để tăng cường cho bạn.

Đoàn phó Hòa lúc này vẫn còn muốn ngủ, nhưng nghe lời bàn có lý của tôi, đành gọi xe đưa tôi cùng đi xuống cánh quân của chiến dịch 74 đã giải quyết xong tuyến Ta Viêng – Tha Thơm nhưng chưa kịp thu quân. Anh Bằng Giang ủng hộ ý kiến chuyên gia chúng tôi, lệnh ngay cho mượn 19 xe. Anh bắt tay khuyến khích tôi và hứa sẽ cố thu xếp về một, hai tiểu đoàn dự phòng để giúp bạn khi việc giải quyết của bạn gặp khó khăn. Những tháng ngày làm việc cùng anh Bằng Giang, tôi càng hiểu anh là người hết lòng vì bạn trong mọi lúc, mọi việc. Đối với cán bộ chuyên gia, anh luôn luôn là một thủ trưởng biết thương yêu, biết tôn trọng, hết lòng giúp đỡ. Có hôm lặn lội cùng liên lạc tát được một mẻ cá, anh chọn ngay hai con chép to đánh xe đến tận nhà cho chuyên gia. Tình anh em đồng chí thật là đẹp. Trên đường về hai anh em bàn bạc phải giải quyết bằng cách kết hợp binh vận với tiến công quân sự nếu cần. Không thể chỉ chờ đợi ông Chẹng mà phải chủ động đón thời cơ ở ngòi nổ đại úy Khảo. Không còn hy vọng vào một cơ hội nào tốt hơn nữa. Cùng kết luận như vậy, hai người tự phân đoàn phó Hòa về gặp anh Khăm-tày và Quân khu, Tôi và Lê Văn lo họp cơ quan chuyên gia tính toán lại kế hoạch để kiến nghị với bạn.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:58:26 PM
Tấm bàn đồ tác chiến lại được Tưởng trải ra. Chúng tôi cân nhắc lại các ý kiến đã được bạn xem xét. Nhìn vào bản đồ cờ chỉ huy của Coong-le cắm giữa Mường Phàn. Cánh đông nam (Bản Tôn) là cờ bộ binh trung đoàn Chẹng có dù 4 và dù 6. Cạnh cờ Coong-le có cờ trung đoàn xe tăng và cờ trung đoàn pháo. Cánh tây bắc sân bay Bản Áng có cờ trung đoàn Xỉng-coọc với dù 2, dù 3 và dù 5. Ở Song Hạc – Mường Khừng có một đại đội pháo, một đại đội xe tăng và hai tiểu đoàn bộ binh. Sau đợt một chiến dịch, Phu Xản, Phu Bạ đã thành khu chia cắt Coong-le với Mường Khừng. Hai cánh quân này cơ bản đã bị tách đôi. Đó là thế có lợi mà đợt 1 đã tạo nên cho đợt 2. Theo đúng dự án của Quân khu, trọng tâm của kế hoạch là tập trung giải quyết cụm Mường Phàn – Cánh Đồng Chun, Mường Khừng, Song Hạc. Nghệ thuật vận dụng là nghệ thuật chiến dịch tiến công tổng hợp vừa tiến hành binh vận nổi dậy kết hợp với tiến công quân sự, pháp lý. Đòn chủ yếu của binh vận là thúc đẩy cuộc nổi đậy của trung đoàn Chẹng và Khảo, trong đó tiểu đoàn dù 4 do đại úy Khảo trực tiếp chỉ huy là điểm châm ngòi. Còn đòn quân sự chủ yếu nhằm vào hai trung đoàn xe tăng và pháo binh cùng trung đoàn Xỉng-coọc. Hướng Mường Khừng – Song Hạc, chỉ dùng tiểu đoàn 13 cùng du kích các xã Khăng Khai, Piàng, Phạt, Thại, Xếng kiềm chế tiến công từng bước.

Đúng như dự kiến, 18 giờ ngày 15 tháng 5 năm 1964, mặc dù trung tá Chẹng chưa biểu lộ quyết tâm, đại úy Khảo vẫn báo cáo xin Trung ương cho nổi dậy. Cuộc họp tại sở chỉ huy Quân khu đã quyết định kế hoạch bước 2 chiến dịch diễn ra cũng không kém phần sôi nổi, căng thẳng. Tối ngày 15, Tổng tư lệnh Khăm-tày và Trung ương Cục đã thông qua kế hoạch.

Đồng chí Xi-phon chỉ huy cánh bắc gồm Tiểu đoàn 1 Pa-thét Lào, tiểu đoàn 16 Trung lập yêu nước, đại đội bảo vệ của đồng chí Bằng Giang, tiểu đoàn pháo binh Trung lập. Nhiệm vụ cánh này là chặn cắt đường Mường Phàn về Mường Khừng, giải quyết cụm quân Xỉng-coọc và các lực lượng ở hướng tây bắc.

Anh Xing-ka-pô chỉ huy cánh nam có Tiểu đoàn 2 Pa-thét Lào, Tiểu đoàn 15 Trung lập, tiểu đoàn pháo Quân khu được tiểu đoàn cơ động 924 làm dự bị. Nhiệm vụ cánh này là tạo áp lực giúp ngòi nổ của đại úy Khảo nổi dậy, thu phục bằng được trung đoàn của Chẹng. Bao vây tiến công sở chỉ huy Coong-le và các lực lượng xe tăng, pháo binh, bộ binh còn lại. Phương châm hành động là “vừa binh vận vừa tiến công quân sự”. Kiên quyết và linh hoạt, giải quyết chiến trường càng nhanh càng tốt, không để cho Mỹ có thời gian can thiệp.

Lê Văn đi với cánh quân Xi-phon, tôi đi với cánh quân anh Xing-ka-pô.

20 giờ ngày 15 tháng 5 năm 1964, lệnh phát xuống từng đơn vị. Đêm tối không trăng, trời lại mưa lâm thâm làm đường thêm trơn; có đôi đoạn lầy lội làm lính ta trượt ngã. Ba giờ sáng ngày 16, sở chỉ huy cánh nam triển khai ở đồi Pa Lăn. Một tổ cán bộ binh vận được cử vào gặp đại úy Khảo ở Bản Sao. Tiểu đoàn 15 đều đã chờ đợi ở ngã ba Lạt Thuổng.

Cuộc liên lạc giữa tướng Xing-ka-pô và đại úy Khảo bằng điện thoại bắt đầu. Đại úy Khảo báo cáo:

- Trung tá Chẹng chưa thuyết phục nổi Coong-le, làm gấp thế này sợ hỏng công việc. Ông bảo tôi chờ!

- Không chờ mà phải hành động. Trong tay anh có bao nhiêu quân? – Anh Xing-ka-pô hỏi.

Khảo báo cáo:

- Quân tiểu đoàn em chỉ còn hơn hai đại đội vì một bộ phận đang đi theo ông Chẹng nằm ở Mường Phàn chưa về. Khó là tên đại đội trưởng giữ đồi Phu The Neng không chịu theo về ta.

Anh Xing-ka-pô nói:

- Tôi cho anh một đại đội tăng cường của Tiểu đoàn 15 để bao vây đồn Phu The Neng. Nói cho tên đại đội trưởng biết phải nằm im tại chỗ. Hễ bắn lại quân ta hoặc tìm đường rút chạy sẽ bị tiêu diệt ngay. Bây giờ anh cử người dẫn đường cho quân ta vào chiến khu Bản Tôn.

Khảo dạ một tiếng thật to trong máy.

Bun-cơn tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2 và Bun-xu tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 15 chờ sẵn để nhận lệnh dẫn đơn vị mình lách qua đội hình dù 4 tiến vào Bản Tôn. Hai cán bộ tiểu đoàn nghe xong đều thắc mắc.

- Chúng tôi thấy đánh đá kiểu gì lạ quá. Lướt qua đội hình địch mà đi lại còn cầm cả cờ xanh, cờ trắng mà vừa đi vừa kêu gọi. Ta có đầu hàng đâu mà cầm cở trắng.

Anh Xing-ka-pô khẳng định: không có gì lạ. Đây là làm địch vận, không đủ xanh thì dùng trắng. Xanh trắng là màu hòa hợp, hòa bình tránh đánh nhau thôi. Nhân lúc địch còn ngỡ ngàng ta hành động thế để đỡ xương máu. Phải vừa đi vừa kêu gọi. Có bộ phận nào nổ súng thì tạm dừng và kêu gọi. Cố hạn chế nổ súng. Bọn nào ngoan cố sẽ có pháo của Quân khu trừng trị. Phải mạnh dạn hành động ngay, đừng dự mất thời cơ.

Bun-cơn và Bun-xu trả lời “rõ” rồi vội vã chạy vè dẫn đầu đơn vị tiến quân.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 09:59:22 PM
Trời rạng sáng, vừa trông thấy rõ mặt người, hai tiểu đoàn ta đã luồn vào sườn Phu The Neng nhằm hướng Bản Tôn mà tiến. Hành động này càng gây nên sự cãi cọ giữa trung tá Chẹng và đại úy Khảo. Đại úy Khảo đề nghị “anh Pô làm thẳng với trung tá Chẹng”. Nghe được tiếng tướng Xing-ka-pô, Chẹng nói ngay:

- Làm thế này em làm sao bàn kịp với Coong-le.

Anh Pô trả lời: - Không cần, đối với Coong-le lúc này không bàn được nữa. Chỉ có hàng hoặc đánh. Riêng với trung đoàn em lúc này chỉ cần ra lệnh không được nổ súng và tránh đường cho quân anh vào. Nghe vậy, trung tá Chẹng kêu lên:

- Anh ơi, thế này thì đánh nhau to.

- Em không phải lo, cứ tránh đường ra, đánh nhau là trách nhiệm của anh.

- Anh Pô ơi! Em vỡ óc mất! Em không biết anh sẽ giải quyết thế nào?

Anh Xing-ka-pô trở lời: Đơn giản thôi! Quân khu đã chờ đợi, thuyết phục, Coong-le đã hứa nhiều lần. Anh đi ra đi vào bao nhiều lần em biết cả rồi. Coong-le không thể lừa các anh được. Tổng tư lệnh Khăm-tày đã ra lệnh hành động. Những ai theo Mỹ, phản bội mặt trận kháng chiến sẽ bị trừng trị. Neo Lào Hắc Xạt chỉ khoan hồng với những ai biết nghe lẽ phải, biết quay về với nhân dân.

Chẹng kêu lên trong máy:

- Em đã ra lệnh cho trung đoàn không bắn. Anh chờ em chạy về sở chỉ huy Bản Tôn.

Thực hiện “giương cờ hòa hợp mà tiến”, quân ta cứ từ từ theo cánh phải tiến vào Bản Thơng. Bộ đội đang lách dưới rừng không may một hòn đá lăn làm nổ một quả mìn. Tiểu đoàn 2 bị một cú hoảng hồn nhưng không ai sây sát. Địch ở hướng Lạt Thẳm bắn qua sau lưng Tiểu đoàn 2 mấy loạt trung liên; quân ta ẩn nấp không bắn lại. Do phản ứng dây chuyền, đại đội xe của địch ở hướng Na Ngưa đã nã mấy loạt đạn pháo vào đồi Pa Lăn. Áo quần anh nào cũng trùm cát bụi nhưng sở chỉ huy vẫn an toàn. Tướng Xing-ka-pô tức giận gào to:

- Bọn này láo! Phải cảnh cáo chứ! Tôi trao đổi với anh bằng cặp mắt đồng tình. Xe tăng lại nã thêm hai loạt nữa.

Tướng Pô ra lệnh:

- Pháo trị ngay 20 quả!

Chỉ chờ có vậy, lập tức khẩu pháo 105 tranh thủ thời cơ nện luôn 40 quả. Từ đó xe tăng địch câm như hến.

13 giờ trưa, Tiểu đoàn 15, Tiểu đoàn 2 được quân ông Chẹng nhường đường đã vượt qua Bản Thơng, Bản Tôn, chuẩn bị bàn đạp tiến đánh Mường Phàn. Xe tăng địch ở Mường Phàn phát hiện được quân ta liền cho một trung đội ra chặn đánh.

Ở cánh bắc, tình hình phát triển thuận lợi hơn. Sáng 16 tháng 5, quân ta tiến vào bao vây các đồn ở chân dãy Phu Keng của dù 3. Lúc đầu bàn cãi chúng không chịu hòa hợp nhưng cũng không dám nổ súng chống lại ta. Tiểu đoàn 1 bàn thuyết phục dù 3 hãy nhớ kỷ niệm trận Đông Đàn và khuyên dù 3 nên trở lại làm bạn lợi hơn là đánh nhau. Nếu để Tiểu đoàn phải nổ súng bức hàng thì tình hình sẽ không vui vẻ lắm. Thực tình ai cũng tưởng ít nhiều phải nổ súng mới kéo được dù 3, nhưng cuối cùng đến 9 giờ cả ba đồn đều xuống giọng. Tiếng gọi hòa hợp đã khuất phục được dù 3. Thế là việc cắt đường Mường Phàn đi Mường Khừng đã hoàn toàn bảo đảm.

Trên hướng nam cũng diễn ra chuyện khá vui. Trong khi trung tá Chẹng trung đoàn trưởng và đại úy Xôm-vẳng tiểu đoàn trưởng dù 6 còn chần chừ vì nghĩ rằng mình chưa làm nên một công tích gì xứng đáng đóng góp cho cách mạng, mà làm gì thì cũng chưa dám làm. Về được với cách mạng cũng là tốt đối với bản thân và đơn vị, song chưa có công tích oanh liệt, ông lại sợ bị bàn bè coi thường.

Bà vợ Xôm-vẳng là một y tá được đào tạo ở bệnh viện Phôn Xa Vẳn do bác sĩ Việt Nam dạy. Bà Chẹng trước đó bị chứng đẻ non. Năm 1962 rước khi đưa tiểu đoàn xuống bảo vệ mặt trận Tha Thơm thay cho Chăn-đi, Chẹng tâm sự lo cái thai 5 tháng trong bụng vợ chưa biết sẽ ra sao? Tôi đã giúp Chẹng đưa vợ nhờ bác sĩ Trương Công Cán và nữ hộ sĩ Việt Nam ở Phôn Xa Vẳn giúp thuốc giữ cho mẹ tròn con vuông. Được cậu con trai đầu lòng, Chẹng quý hơn vàng. Nhớ đến những công ơn đó, hai bà đã tích cực khuyên hai ông chồng đưa quân về với cách mạng.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 10:00:01 PM
Chẹng gọi điện xin ra gặp anh Pô. Nửa giờ sau, Chẹng, Khảo và đoàn tùy tùng bì bõm vượt đồng ruộng Lạt Thuổng. Lúc này, tôi còn phải ẩn kín. Anh Xing-ka-pô ra đón. Gặp nhau từ cuộc đối thoại trên đường dây, giờ được gặp trực tiếp, hai người không khỏi cảm động. Theo điện của anh Xing-ka-pô, xe ô tô Quân khu đã chờ sẵn đón Chẹng, Khảo về gặp Trung ương và Tổng tư lệnh Khăm-tày.

Ngồi trong hầm chỉ huy quan sát người bạn chiến đấu năm xua, tôi nhớ lại cuộc hẹn hò năm 1962. Lúc đó đi cùng vợ chồng Thiệp đến dự bữa cơm chia tay với vợ chồng Chẹng để về tập kết. Trong khi tâm tình, vui chén, ba người có hứa với nhau là nếu kẻ thù có phản bội, “hễ gặp đại bất trắc” thì hai bạn và gia đình “cứ bám chặt Neo Lào Hắc Xạt hướng về phía đông (Việt Nam), tôi và các bạn Việt Nam sẽ có mặt”. Lời hứa chân tình đã thành sự thật. Bạn không cần về hướng đông mà từ hướng đông, theo yêu cầu của Đảng Lào, những người lính chuyên gia chúng tôi đã có mặt lặn lội với phong trào ngay từ đầu Coong-le gây hấn và đã đóng góp vào chiến thắng hôm nay. Chẹng thường tâm sự với bạn bè Việt Nam: “Anh Bình là người đã góp công giúp tôi xây lại cuộc đời”.

Lợi dụng đường dây cũ của dù 4, sở chỉ huy tướng Xing-ka-pô đã chữa lại điện thoại để chỉ huy mũi thọc sâu của Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 15. Tiểu đoàn cơ động 924 đã có mặt ở Phôn Xa Vẳn lúc 10 giờ sang, đang nhận lệnh theo đường chiến hào từ Bản Gion tiếp cận vào bám sát tiểu đoàn bảo vệ của Coong-le ở Lạt Thẩm.

Mặt trận cử người dung loa phát thanh kêu gọi đơn vị này hãy trở về với cách mạng. Đến 14 giờ, chúng không những chẳng nghe mà còn dám trả lời bằng nhiều loạt sung máy

Nghe tiếng súng của địch, anh Xing-ka-pô lẩm bẩm: Không được rồi! Muốn cứu nó mà nó chẳng nghe. Lập tức anh ra lệnh cho Phô-ma-chắc, Tư lệnh pháo binh Quân khu cho pháo của ta ở Phôn Xa Vẳn cấp tập hai loạt.

Pháo bắt đầu nổ. Tiểu đoàn 924 dưới sự chỉ huy của đại úy Côn chia hai mũi tiến lên. Ánh nắng chiều soi rõ hai cánh quân bên chạy bên đuổi. Bọn địch xô nhau lách qua hang Bản Thẳm, luồn quanh các chum đá rồi tìm đường chạy về Mường Phàn.

Cùng lúc đó lại được tin dù 6 của địch rút quân chay về Bản Hây. Việc làm này tô hơi lạ về thái độ của Xôm-vẳng. Về sau, mới được biết té ra trong đội hình của trung đoàn Chẹng còn có đại úy Xa-vàng là một sĩ quan CIA được cài vào ban tham mưu trung đoàn, khi thì xưng là tham mưu trung đoàn, khi thì xuống nắm dù 6. Chính do tay này đã lợi dụng được sự rộng lượng thương người của ông Chẹng để làm hại ông Chẹng và trung đoàn. Về sau ra vùng giải phóng qua bao lần vừa đe dọa, vừa mua chuộc, anh ta đã lôi kéo được hàng trăm binh sĩ trốn trở lại với Coong-le nên bị binh sĩ tố cáo và một tòa án quân sự trung đoàn được mở ra dưới sự chủ tọa của đại úy Xôm-vẳng đã xử tên này.

Thấy tình hình khẩn trương, tôi đã đề nghị anh Xing-ka-pô:

- Đánh một người cứu trăm người. Tốt nhất nên bắn vào sở chỉ huy dù 6 mấy loạt pháo, không cho dù 6 tổ chức rút chạy, tạo điều kiện cho binh sĩ nhân đà đó trốn ra với cách mạng.

Trận địa pháo 105 được lệnh bắn 3 loạt. Bà trung tá Chẹng gọi điện thoại cho Xôm-vẳng:

- Ông Chẹng đang ra gặp cách mạng mà anh lại để người ta kéo dù 6 chạy theo Coong-le là phản lại ông Chẹng. Anh phải gọi ngay điện thoại xin tướng Xing-ka-pô ngừng pháo. Nếu để gây thiệt hại đến tiểu đoàn, tôi sẽ kêu gọi binh lính trừng trị ngay (thực ra thì do Xa-vàng mà Xôm-vẳng bị oan).

Lời cảnh cáo của bà trung tá có hiệu lực ngay. Đại úy Xôm-vẳng gọi điện xin tướng Xing-ka-pô ngừng pháo để cho khối gia đình ra trước, binh lính sẽ lần lượt ra theo không cần chờ ông Chẹng. Tình huống lúc này quả thật là căng thẳng, nhưng chuyển biến cũng thật nhanh. Chỉ nửa giờ sau, khi được anh Pô chuẩn y, “đạo quân gia đình” đã lấp ló vượt suối Bản Sao. Nhìn qua ống nhòm, chúng tôi nhận ra người cầm ô màu đi đầu là bà Chẹng. Đoàn người này đa số là phụ nữ, trẻ con bống bế nhau, thi thoảng có xen một vài người đàn ông.

Hết gia đình đến đơn vị, lần lượt đạo quân này theo nhau về tập kết cả phố, cả chùa, cả làng từ Phôn Xa Vẳn về đến Khăng Khay. Ngay tối hôm đó hậu cần Quân khu đã đăng ký một danh sách xin tiếp tế gần hai nghìn người.

Kết thúc ngày 16 tháng 5, ta đã thu phục được trung đoàn của Chẹng cùng dù 3 của Thẵu, một đại đội pháo, một đại đội tăng. Cánh bắc chốt chặn tuyến Phu Bạ - Phu Keng – Bản Hồi, chặn đường đi Mường Khừng. Cánh nam, quân ta áp sát đồn Mường Phàn, hình thành thế bao vây ba mặt. Loa địch vận từ ba hướng kêu gọi sĩ quan và binh lính Coong-le về hòa hợp.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 10:00:30 PM
Sáng ngày 17 tháng 5, pháo của ta từ hai hướng bắn vào Mường Phàn. Tại khu hầm chỉ huy của Coong-le lại tiếp diễn cuộc đấu tranh gay go “đầu hàng hay rút chạy”.

Coong-le, Xỉng-coọc, Khăm-bù thì dao động, hoang mang. Xu-li-đệt, con bài được Mỹ bồi dưỡng chuẩn bị thay thế Coong-le dứt khoát không đầu hàng. Chẳng ai chịu ai, cho đến khi hai cánh quân phía đông nam của ta tiến sát khu trung tâm, tiếng đạn cối, đạn ĐKZ nổ rải rác thúc giục, Xu-li-đệt tập hợp quân xe tăng mở đường máu chạy về Mường Khừng.

Ở sườn phụ Phu Bạ, nơi Xin-phon, Lê Văn đặt vị rí chỉ huy phút chốc bị pháo dạn hai bên trùm kín. Núi đồi, cây cỏ nghiêng ngả đảo điên. Chiến sự trở nên ác liệt giữa một vùng cát bụi. Pháo địch bắn mở đường, pháo ta bắn chặn. Xe tăng địch gầm rút xả đạn xông lên ở thế thấp lại phải qua đồng lầy Nậm Khô nên đội hình xe tăng của chúng thưa dần. Phần lớn bị quân ta từ trên cao chặn đầu bắn cháy, một phần do xe bị sa lầy chiếc trước chặn đường chiếc sau. Giữa cảnh sôi động của chiến trường, chiến sĩ Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 16, phân đội tình nguyện không ai chịu chậm lại. Trung liên, B40 phối hợp diệt từng chiếc một.

Trong cảnh khói lửa và cát bụi mịt mù đó có một chiếc nổi bật làm cho mọi người phải chú ý vì tốc độ và tiếng gầm rút điên cuồng đang lao từ phía sau lên. Nó hy vọng chỉ còn một đoạn đường ngắn ngủi nữa là sẽ vượt lên nghiền nát tất cả rồi băng băng về Mường Khừng! Nhưng như số kiếp đã định, nó vừa ló đầu khỏi chiếc xe cháy dở chưa vượt một thân xe thì B40, ĐKZ, ba bốn phát chụm vào, viên chạm trên tháp, viên nổ đứt xích. Chiếc xe nằm chết gí, đầu gối lên mô cỏ, đít lún xuống rãnh bùn. Lúc kiểm tra chiến trường, Xin-phon xác định đúng là Xu-li-đệt thân xác to bự lăn kềnh ra giữa lòng xe.

Tuyến chặn đường Phu Bạ đã phát huy tốt đẹp, là đòn quyết định tiêu diệt lực lượng xe tăng của Coong-le. Phía Mường Phàn, ba tiểu đoàn của ta khép vào khu sở chỉ huy, các khu trại pháo và kho. Chỉ còn rải rác một số lính ẩn lại để ra hàng, còn các sĩ quan quân Công-le đã bí mật rút xuống các rãnh khe cạn có rừng phi lao che kín. Đại đội phục kích đón lóng của Tiểu đoàn 2 gặp địch đúng chỗ Bản Khổng nhưng sợ địch không dám đánh, chỉ dám nổ súng vào đám cuối khi địch đã lọt phần lớn ra khỏi Bản Khổng chạy về Na Pi.

Cánh Mường Khừng, Tiểu đoàn 13 và du kích cũng thừa thắng bám đánh, đuổi quân Coong-le chạy tán loạn. Quân địch đứa đầu hàng, đứa về Mường Xủi, đứa theo xe chạy qua Bản Pên, bò lên chân dãy Phu Xủng rồi bỏ xe chạy về Mường Xủi.

Từ Viên Chăn ra, chiếc máy bay L19 vòng lượn kiểm tra gọi không được Coong-le. Hai chiếc T28 không tìm được mục tiêu đành ném vu vơ mấy quả bom xuống dãy điểm cao Mường Phàn. Chúng bị lính ta tháo vát chiếm lĩnh trận địa cao xạ 37 của Coong-le bắn lên mấy điểm xa, cả T28 và L19 đều chuồn thẳng. Quầng sáng ánh trăng lưỡi liềm vừa lóe lên cùng ánh lửa lập lòe của đạn pháo cao xạ soi rõ chiến trường như chào mừng thắng lợi vẻ vang giải phóng Cánh Đồng Chum lần thứ hai.

Đúng 18 giờ 38 phút ngày 17 tháng 5 năm 1964, bước 2 chiến dịch đã kết thúc tốt đẹp. Bản báo cáo cuối cùng của chiến dịch được chuyển về Tổng tư lệnh Khăm-tày đúng 19 giờ cùng ngày. Giữa lúc đế quốc Mỹ đang đẩy mạnh chiến tranh dặc biệt ở Lào bằng các chiến dịch đánh Trung Lào, Xiêng Khoảng để phối hợp với bước leo thang chiến tranh ở miền Nam Việ Nam, việc quân dân Lào giành thắng lợi giải phóng Cánh Đồng Chum là một sự hiệp đồng chiến trường, liên minh chiến lược và liên minh chiến đấu hết sức tốt đẹp giữa hai dân tộc, hai quân đội Lào – Việt anh em trên chiến trường Đông Dương.

Cách đây một năm, đoàn chuyên gia Việt Nam ở Quân khu Cánh Đồng Chum được lệnh cấp trên trở lại chiến trường: “Giúp bạn giữ vững địa bàn còn lại, tiêu hao, tiêu diệt địch, tạo thế tạo thời cơ giải phóng lại Cánh Đồng Chum…”. Thực tế đó bạn bước vào cuộc chiến đấu không cân sức (ta 6 tiểu đoàn, địch 10 binh đoàn tức 30 tiểu đoàn, chưa tính lực lượng phỉ Vàng Pao). Do đó, choán đầy trong tôi là tâm trạng băn khoăn, lo lắng và chưa dám hy vọng thời gian thực hiện có thể chuyển nhanh thế này. Chỉ một năm lăn lộn cùng quân dân cách mạng Lào, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, của Bộ chỉ huy tối cao Quân giải phóng Lào và được sự ủng hộ giúp đỡ của bạn bè, nhất là Việt Nam, quân dân Xiêng Khoảng đã giành và giải phóng lại Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng.

Giải phóng Cánh Đồng Chum lần này là kết quả sau một năm vừa chiến đấu vừa xây dựng của các đơn vị chủ lực Quân khu Cánh Đồng Chum. Thắng lợi đó tạo thế mới cho những tiến bộ toàn diện của phong trào chiến tranh nhân dân ở Xiêng Khoảng: nó cung cấp nhiều kinh nghiệm mới cả về mặt chiến đấu, chiến dịch, nhất là công tác binh vận cho bộ đội Cánh Đồng Chum.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 10:01:35 PM
Thắng lợi càng lớn lao thì nỗi lo về công việc càng dồn dập, nặng nề. Việc trước tiên là làm sao thu dọn chiến trường cho nhanh gọn để cất giấu, bảo quản và sử dụng phát huy hết hiệu quả của một khối lượng lớn chiến lợi phẩm. Bộ Tư lệnh Quân khu phân tích thấy khả năng của mình không đủ phương tiện kỹ thuật để làm tốt việc này; vì vậy, được phép Tổng Tư lệnh Khăm-tày, Tư lệnh Phun-xi-pa-xớt đã cùng với tôi nhờ anh Bằng Giang giúp đỡ. Hai đồng chí Tư lệnh đã thống nhất lập một bộ chỉ huy thu dọn chiến trường bằng cả lực lượng và phương tiện của Bun-niên, Chủ nhiệm hậu cần Quân khu và đại tá Thường, Chủ nhiệm hậu cần chiến dịch 74.

Xe, pháo, nhất là xe tăng, cơ giới phải vừa được sửa chữa, vừa kéo đi cất giấu. Đạn thì có nhưng kho rất lớn, chứa hàng mấy trăm tấn đạn Mỹ như đạn 105 ly, sơn pháo 75 ly, ĐZ75, đạn các-bin, đạn súng ga-răng là loại ta đang rất thiếu.

Nhờ cách tổ chức này, đặc biệt là cán bộ kỹ thuật và lực lượng vận tải cơ giới của chiến dịch 74 đã đóng góp cho Quân khu Cánh Đồng Chum nhiều công sức, nên việc thu dọn chiến trường được nhanh, gọn. Có thể nói đây là một trong những chiến dịch thu được nhiều chiến lợi phẩm nhất ở Lào và được thu dọn chặt chẽ, gọn gàng và nhanh chóng nhất. Nó đã phục vụ đắc lực cho cuộc chiến đấu bảo vệ Cánh Đồng Chum trong suốt những năm sau.

Với số chiến lợi phẩm đồ sộ này, mùa mưa năm 1964, Bộ chỉ huy Quân khu Cánh Đồng Chum đã gửi tặng Quân khu 4 một số vũ khí, đạn dược gồm 70 khẩu ba-zô-ca Mỹ và ba trăm viện đạn để chi viện cho cuộc chiến đấu của lực lượng địa phương ở Trị - Thiên.

Đồng thời với việc thu dọn chiến trường, Quân khu điều chỉnh bố trí lại mạng lưới phòng không có trọng điểm chặt chẽ. Nhờ vậy, chỉ một tháng sau, vào cuối tháng 6 năm 1964, khi máy bay Mỹ khởi đầu đánh phá Cánh Đồng Chum, ta chỉ mất một vài cây cầu trên đường số 7, còn kho tàng chưa mất gì đáng kể. Trong khi đó, máy bay Mỹ bị bắn rơi hai chiếc xuống trung tâm Cánh Đồng Chum.

Điều suy nghĩ của những người chỉ huy và chuyên gia ở Cánh Đồng Chum lúc này là: vùng giải phóng rộng thêm mấy nghìn ki-lô-mét vuông, chiếm gần hết địa bàn tỉnh Xiêng Khoảng. Song ở đây địch còn duy trì được nhiều cụm phỉ nguy hiểm như Kẹo Bon, Xen Chồ, Huôi Xa Ang, Buôm Lọng, Phu Xao, Mường Mộc. Nếu quân tình nguyện rút hết thì lấy quân đâu mà giữ. Điểm lại thực lực Quân khu, ta có 6 tiểu đoàn Pa-thét và 4 tiểu đoàn ông Đươn (quân ông Chẹng và khối tù hàng binh chưa được học tập, tổ chức lại).

Chúng tôi đang còn suy tính thì nhận được điện của Thượng tướng Văn Tiến Dũng: “Hai Bộ Tổng Tham mưu nhất trí để 2 tiểu đoàn tình nguyện ở lại giúp bạn. Tiểu đoàn 51 chốt và làm công tác cơ sở ở vùng nam đường số 7. Tiểu đoàn 924 đứng ở vùng Bản Ban làm dự bị cơ động cho Quân khu Cánh Đồng Chum. Bộ chỉ huy và cơ quan chiến dịch 74 rút gọn, nhanh và an toàn”.

Sau khi nhận được bức điện trên, Quân khu Cánh Đồng Chum cùng Bộ chỉ hủy chiến dịch 74 bàn bạc và đi đến kết luận:

Một là, trải qua cuộc đấu tranh thực tế, quân dân Xiêng Khoảng mà trọng điểm là hai huyện trung tâm Cánh Đồng Chum, Mường Pẹch và Mường Khun đã bị giành giật, giằng co, chà đi xát lại cả về chính trị, quân sự, đã chứng kiến âm mưu xảo quyệt, bao tội ác của địch, đã phân biệt rõ địch – ta, thiết tha được giải phóng. Trong niềm vui chiến thắng, nhân dân có nguyện vọng muốn được tổ chức, trang bị để chiến đấu bảo vệ làng bản. Đây là thời cơ tốt nhất để chúng ta phát động nhân dân tổ chức lực lượng vũ trang địa phương cùng bộ đội tỉnh và Quân khu chiến dấu bảo vệ khu vực, bảo vệ vùng giải phóng. Khó khăn này là khó khăn trong thắng lợi, khó khăn trong quá trình trưởng thành và tiến lên của phong trào. Đây là một thử thách mơi để đưa phong trào đạt được những bước tiến mới, những thắng lợi mới. Do dự là kìm hãm phong trào.

Hai là, quân tình nguyện của đồng chí Bằng Giang vẫn phải rút về theo hướng số 4 qua Tha Thơm, Ta Viêng về thị xã Xiêng Khoảng, Lạt Thuổng, Phôn Xa Vẳn, Khăng Khay đến đường số 7, Bản Ban, Noỏng Hét đều là những điểm có gián điệp của địch, thậm chí còn có cả một số điện đài của chúng bí mật liên lạc với phòng nhì ở Long Chẹng, Viên Chăn. Ta phải có kế hoạch nghi binh giữ bí mật, khôn khéo lừa địch; nếu không, quân chưa ra khỏi biên giới, địch chạy theo quấy rối, Quân khu khó điều chỉnh thế trận.

Kế hoạch được tính toán kỹ và bộ đội được tổ chức hành quân một cách chặt chẽ. Cụ thể, quân tình nguyện có 6 tiểu đoàn, cấn rút thì Quân khu phải có 6 phân đội theo xe đi vào thay. Tiểu đoàn 2 được chọn là đơn vị thay cho 6 tiểu đoàn rút quân. Để tránh bọn gián diệp mặt đất theo dõi, vào khoảng 19 giờ tối ngày rút quân, một đoàn xe ngụy trang kín mít, chỉ để bố hở phía trước cho người quan sát, kín đáo chở quân Tiểu đoàn 2 đi vào. Người chỉ huy ngồi trên ca bin đầu đội mũ bông, mặc áo bông dài Trung Quốc, loại trang bị rất lạ mắt. Qua thị xã Xiêng khoảng đoàn dừng lại mấy phút cho lính xuống uống nước, các vị chỉ huy khoác áo bông dài đi mua thuốc lá. Trên một số xe, bộ đội còn ca hát biểu lộ khí thế ra quân hùng tráng của bộ đội Pa-thét Lào. Cho đến khuya, thậm chí đến tới một, hai giờ sáng xe quay ra lặng lẽ, vẫn mui khung ngụy trang, nhưng chỉ còn một lái. Chẳng ai nghĩ đoàn xe đã chở gọn một tiểu đoàn tình nguyện rút quân.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 15 Tháng Tám, 2016, 10:02:08 PM
Những người tò mò còn để ý đến việc các đoàn cán bộ đi chơi và tham quan bằng xe con qua thị xã Phôn Xa Vẳn, Khăng Khay rồi thị xã Xiêng Khoảng. Những đoàn cán bộ này ăn mặc cũng mới lạ, mặt mày cũng mới lạ. Mũ bông, áo bông dài Trung Quốc hơn một trăm bộ mới toanh vừa được hậu cần xuất ra để dùng vào việc nghi binh này. Tiếng nói thì nửa Lào, nửa Việt, nửa Tày hoặc Quan Hỏa. Tàn thuốc và bao thuốc lá viết ra toàn Đại Tiền Môn hoặc Den Sâm. Điện dài gián diệp chỉ biết điện về phòng nhì Viên Chăn và Long Chẹng: “Neo Lào Hắc Xạt đang có một cuộc điểu chỉnh tăng quân lớn ở Cánh Đồng Chum”.

Chiến dịch vận chuyển để rút quân này được phối hợp chặt chẽ với chiến dịch “vận động tuyên truyền ca mừng chiến thắng giải phóng Cánh Đồng Chum”, cổ động phong trào bảo vệ làng bản và chuẩn bị cày cấy làm mùa đã thu hút bà con các bản làng nên kẻ địch cũng dễ mất phương hướng. Nhờ khéo nghi binh nên việc rút quân tình nguyện về nước sau chiến dịch 74 đảm bảo nhanh gọn, bí mật, an toàn

Tháng 6 năm 1964 ở Cánh Đồng Chum bắt đầu có những trận mưa lớn, kéo dài. Tàn quân của Coong-le rời rạc kéo nhau về cụm lại ở Mường Xủi. Coong-le nằm liệt ở bản Na Pi được trực thăng đến chở về Mường Xủi để đôn đốc việc xây dựng căn cứ mới ở đó theo lệnh của Mỹ. Thật nhọc nhằn và mỉa mai thay cho thân phận kẻ làm tay sai đánh thuê cho đế quốc Mỹ! Quân ta tổ chức những cuộc tiến công vượt sông Nậm Ngừm cũng chỉ chiếm được tuyến Phu Cút rồi phải dừng lại vì mưa to, nước ngập lớn. Một giai đoạn chiến đấu và xây dựng mới bắt đầu. Đó là thời kỳ chiến đấu phòng ngự tuyến Phu Cút, bảo vệ Cánh Đồng Chum, phát triển phong trào chiến tranh nhân dân Xiêng Khoảng lên một cao trào mới.

Để chuẩn bị cho chuyên gia có trình độ đáp ứng những yêu cầu phải giúp bạn trong giai đoạn mới, ngoài những cẩm nang phải thủ sẵn như lý luận về chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân, về công tác quân sự địa phương, xây dựng làng bản chiến đấu, xây dựng hậu cần tại chỗ, tôi chủ động hiệp đồng với Cục Dân quân tự vệ và Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, yêu cầu anh Diến, Cục trưởng cứ hàng tháng khi nhận được báo cáo chiến đấu làng xã ở miền Nam gửi ra thì sao gửi cho Đoàn 5 một bản. Nhờ đó từ năm 1965 đến năm 1969 Đoàn chuyên gia đã nhận được hơn năm chục bản tổng kết, chất gần nửa hòm súng AK dành cho chuyên gia, nhất là chuyên gia tiểu đoàn, tỉnh đội, huyện đội và đại đội độc lập nghiên cứu vận dụng. Các cơ quan Bộ Tổng tham mưu đã hết sức ủng hộ chuyên gia khi có những yêu cầu thiết thực trong công tác giúp bạn. Đó là sự đóng góp thiết thực, giúp chuyên gia hoàn thành nhiệm vụ.

Hơn năm trăm ngày đã qua tính từ cái “đêm đen Viên Chăn” mà đế quốc Mỹ với mưu đồn tàn bạo cho bọn tay sai ám hại ông Kin-nim Phôn-xe-na, trắng trợn mở đầu những hành động phá hoại Hiệp nghị Giơ-ne-vơ về Lào, phá Chính phủ Liên hiệp ba phái, kéo nước Lào trở lại cảnh “nồi da xáo thịt”. Sáu binh đoàn cơ động phái Hữu nhảy vào Cánh Đồng Chum cùng lực lượng phản bội Coong-le, phỉ Vàng Pao định làm cú chớp nhoáng tiêu diệt và đẩy lực lượng Neo Lào Hắc Xạt và những người yêu nước bật khỏi Cánh Đồng Chum. Song chiến tranh nhân dân khắp nước Lào cùng khối chủ lực tiến công địch mạnh mẽ ở Cánh Đồng Chum đã làm cho chiến dịch này của địch thất bại. Rồi cuộc đảo chính phản cách mạng của Cu-pra-xít ngày 19 tháng 4 năm 1964 cũng không phá được Chính phủ Liên hiệp.

Năm trăm ngày đêm, tiêu tốn không biết bao nhiêu bom đạn, xương máu, cuối cùng đến tháng 6 năm 1964, họ cũng phải cuốn chạy, để lại vùng giải phóng cũ Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng cho Neo Lào Hắc Xạt và những người yêu nước. Họ hỏi tạo sao? Họ cố tìm câu giải đáp nhưng với bản chất kiêu ngạo và đầu óc chủ quan cố hữu, ỷ vào sức mạnh đô la và vũ khí Mỹ, họ không thể chấp nhận bài học mà nhân dân cách mạng Lào đã dạy cho họ. Bài học ấy là:

Neo Lào Hắc Xạt lanh đạo đúng đắn, tài ba. Bạn bè khắp thế giới ủng hộ, đặc biệt là Việt Nam. Song quyết định nhất vẫn là nhân dân Lào anh hùng đoàn kết một lòng cùng lực lượng vũ trang anh dũng của mình kiên cường dám đánh và đánh giỏi. Mặ khác, do những âm mưu, thủ đoạn tàn ác dã man của đế quốc Mỹ và tay sai đã thúc đẩy lòng căm thù của quân dân Lào ngày một cao. Chính lòng căm thù đã biến thành sức mạnh quật ngã chúng.

Đế quốc Mỹ và những kẻ ôm chân Mỹ phản bội lại dân tộc không hiểu nổi sức mạnh của tình đoàn kết “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa” của hai dân tộc Lào – Việt anh em. Họ càng không hình dung nổi sức mạnh chiến thắng của “Đông Dương là một chiến trường” của ba dân tộc Lào, Việt Nam và Cam-pu-chia.

Leo thang sập ngã lại leo thang, thất bại nổi liền thấp bại. Nậm Thành, Cánh Đồng Chum, Trung Lào rồi Nậm Bạc cho đến O.D.N, Mường Xủi, Cù Kiệt, Ka Xỉ vẫn chưa làm họ sáng mắt ra.

Họ không sao hiểu, không chịu hiểu và chịu tin rằng một dân tộc khi được Đảng Vô sản giác ngộ, đã hiểu được sứ mạng tự giải phóng của mình thì càng có lòng tự trọng cao; càng khó khăn, gian khổ càng bền gan, vững chí; càng đánh càng thông minh, tài giỏi.

Tuy vậy, con đường giành độc lập, tự do cho Tổ quốc của lực lượng cách mạng Lào vẫn còn nhiều chông gai. Đánh thắng đế quốc Mỹ và bọn phản động tay sai không phải dễ dàng, nhưng quân và dân Lào tin tưởng cuộc kháng chiến chính nghĩa của các bộ tộc Lào nhất định thắng lợi.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 05:58:45 PM
VI. PHU CÚT – “NÚI THÉP, NÚI KIM CƯƠNG”

Đầu tháng 7 năm 1964, tôi được lệnh và Hà Nội báo cáo kết quả giúp bạn giải phóng thị xã Xiêng Khoảng, hỗ trợ chiến dịch 74 và chiến dịch tiến công tổng hợp giải phóng Cánh Đồng Chum.

Thượng tướng Văn Tiến Dũng – Tổng Tham mưu trưởng chủ trì cuộc họp có các đồng chí Trần Quý Hai, Lê Đức Anh (Bộ Tổng Tham mưu), Lê Quang Hòa (Tổng cục Chính trị), Lương Nhân (Tổng cục Hậu cần). Phòng C có đồng chí Kiệt, chuyên gia có tôi và Trương Đình Toàn.

Mở đầu cuộc họp Tổng Tham mưu trưởng hỏi chúng tôi rằng bạn dùng phép gì mà giải phóng Cánh Đồng Chum nhanh thế! Tôi lần lượt trình bày thứ tự diễn biến các giai đoạn chiến dịch. Các thủ trưởng rất phấn khởi khi tôi kể về các thủ đoạn nghi binh đánh bại binh đoàn 13. Đến việc giải phóng Cánh Đồng Chum, các anh đánh giá cao sự quyết đoán của bạn đánh binh đoàn 17 để phân hóa quân Coong-le, đặc biệt là ý chí quyết thắng của bộ đội Lào cơ động nhanh, đánh giỏi, đánh đúng thời cơ địch thay quân, và tiến hành công tác binh vận giỏi, sáng tạo.

Anh Lê Quang Hòa nhận xét: đây là sự kết hợp tài giỏi sức mạnh tổng hợp để đạt tới chân lý trong hòa hợp dân tộc.

Tổng Tham mưu trưởng nói:

- Nhờ nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ giỏi nên chỉ một năm bạn đã giành được Cánh Đồng Chum. Đây là chiến thắng to lớn có ý nghĩa chiến lược. Bạn tiếp tục đánh bại thêm một bước đối với kế hoạch leo thang chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mỹ ở Lào. Nó tạo điều kiện tranh thủ hòa bình, duy trì Chính phủ Liên hiệp ở Lào, tạo cho cách mạng Lào có thời gian để củng cố lực lượng, xây dựng vùng giải phóng, phát triển chiến tranh nhân dân lên một bước mới. Thắng lợi đó còn là sự hiệp đồng và hỗ trợ tốt đẹp đối với cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam Việt Nam.

Các đại biểu dự họp rất phấn khởi khi biết bộ đội bạn đã độc lập tổ chức tác chiến và vận dụng thành công nghệ thuật chiến dịch tiến công tổng hợp rất thực tế, sáng tạo; kết hợp tiến công chính trị, quân sự, binh vận và pháp lý rất đồng bộ kịp thời, nhanh gọn, khiến địch không kịp trở tay. Hội nghị đã đi tới một nhận định quan trọng là từ chiến dịch này bạn sẽ tổng kết được nhiều bài học quý, không những chỉ bộ đội Lào mà còn cho tất cả các cán bộ chỉ huy cấp chiến lược, chiến dịch của quân đội anh em trên bán đảo Đông Dương.

Phát biểu tại hội nghị, anh Văn Tiến Dũng đánh giá cao vai trò của đoàn chuyên gia giúp bạn. Anh nói: Bạn đánh giỏi tức là có sự đóng góp của đoàn chuyên gia. Trong hội nghị này tôi biểu dương các đồng chí chuyên gia và xin nêu một câu hỏi: Cánh Đồng Chum giải phóng rồi vậy chuyên gia định giúp bạn những gì nữa để bảo vệ vùng giải phóng? Có động viên tuyển quân không? Nếu không bổ sung thì lấy quân đâu mà giữ?

Đã có dự kiến về những vấn đề trên, tôi báo cáo:

- Giải phóng Cánh Đồng Chum lần này bạn mới thực sự có đủ điều kiện thực hiện một cuộc chiến tranh nhân dân, phát động và phát triển rộng rãi phong trào du kích. Đây là cơ sở chuẩn bị tuyển quân mới trên một quy mô lớn. Qua điều tra bước đầu, thanh niên trong vùng đã bị lực lượng phái Hữu, Vàng Pao, Coong-le vét hết. Có thể nói thanh niên từ 14 tuổi trở lên còn rất ít. Số 18 đến 20 tuổi phần lớn còn lại thuộc diện tàn tật hoặc lấy vợ, sớm có con để trốn bắt lính. Vì vậy việc bổ sung quân trong 2 năm 1964-1965 chủ yếu tập trung tổ chức dân quân du kích bảo vệ làng bản, còn quân bổ sung cho chủ lực căn cứ tình hịnh cụ thể, có thể tuyển lựa trong số lớn tù hàng binh phái Hữu, Coong-le, sau khi đã giáo dục, cải tạo. Chúng tôi đã tính toán, có thể đặt số quân từ 500 đến 700 người. Ngoài ra bạn còn khoảng 1.500 quân của phái Trung lập đã về với Pa-thét Lào thì bổ sung cho lực lượng của đại tá Đươn. Số tân binh từ Trung ương đưa về được 100 sẽ bố trí vào lực lượng của Quân khu. Bạn đã cùng chúng tôi đề ra biện pháp trước mắt là soạn ngay một chương trình giáo dục lòng yêu nước và nghĩa vụ bảo vệ làng bản, đưa vào các lớp văn hóa đêm các trường phổ thông kèm theo các bài viết về anh hùng, dũng sĩ trong chiến đấu ở Cánh Đồng Chum. Chuẩn bị tốt tìi 2 năm 1966-1967, việc tuyển quân sẽ đạt hiệu quả vững chắc hơn.

Anh Dũng hỏi ý kiến hội nghị.


Tiêu đề: Re: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 05:59:17 PM
Anh Lê Đức Anh, lúc đó là Phó Tổng tham mưu trưởng chuyên trách về xây dựng lực lượng, phát biểu:

- Phát triển du kích và tuyển quân, tất nhiên rồi phải làm. Ở đây cũng vậy thôi! Song tính toán nhiều mặt, cân đối quân số với dân số, cần thiết chiếu cố đến vùng dân tộc rẻo cao, tuổi tác sao cho hợp với bạn. Sự tính toán như anh Bình nói là có thực tế, là tích cực, làm rồi dần dần điều chỉnh.

Báo cáo với hội nghị xong tôi được phép về Vinh thăm gia đình. Quân khu 4 dành cho gia đình tôi một suất nghỉ ở Cửa Lò. Lần đầu tiên được ra biển, bé Hà Lương mới 18 tháng tuổi, chạy chưa vững nhưng cũng đòi đi theo ba mẹ xuống nước, không cho ai dắt. Vừa được ba buổi tắm thì tôi nhận được điện của Bộ gọi ra Hà Nội họp.

Đến Thủ đô, tôi vào thẳng nhà anh Trần Quý Hai hỏi tin về cuộc họp thì được biết đây là cuộc hội đàm đột xuất với lãnh đạo của bạn để thống nhất chương trình hoạt động kế tiếp, sau khi giải phóng Cánh Đồng Chum và bảo vệ Xiêng Khoảng.

Dự cuộc hội đàm, phía Lào có Tổng bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hản, Tư lệnh Phun-xi-pa-xớt, đồng chí Khăm-phải Bu-pha, đại diện thường trực của Neo Lào Hắc Xạt ở Hà Nội. Phía Việt Nam có Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng, Phó Tổng tham mưu trưởng Trần Quý Hai, đồng chí Đặng Kinh – Cục phó Cục Tác chiến và tôi đại diện cho đoàn chuyên gia giúp bạn tại Xiêng Khoảng.

Mở đầu cuộc hội đàm, đồng chí Cay-xỏn vui mừng xác định ý nghĩa to lớn mà hai dân tộc, hai quân đội đã giúp nhau giành được nhiều thắng lợi để duy trì hòa bình, đánh bại một bước quan trọng kế hoạch leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào, đặc biệt là thắng lợi giải phóng Cánh Đồng Chum lần này. Phía Việt Nam hết sức ca ngợi sự trưởng thành của bộ đội Lào, nhất là khối chủ lực ở Cánh Đồng Chum. Hội nghị đã xác định trong khi Mỹ đẩy mạnh leo thang chiến tranh cục bộ ở chiến trường Việt Nam thì ở Lào, Cánh Đồng Chum vẫn là một trọng điểm mà Mỹ sẽ đánh phá giành giậ nhiều nhất. Phỉ Vàng Pao sẽ tăng cường giành dân, quấy phá cơ sở. Máy bay Mỹ sẽ ném bom các bản làng, cắt phá giao thông vận chuyển trên đường số 7. Cánh Đồng Chum sẽ bị tiến công ác liệt từ nhiều hướng, nhất là mặt trận Phu Cút.

Vấn đề được bàn nhiều là phát động nhân dân, tổ chức phòng ngự những trận địa trọng điểm, kết hợp chặt chẽ với việc tổ chức tốt các đội du kích ở bản làng, bảo vệ trung tâm Cánh Đồng Chum. Phát triển một cách có hệ thống các trận địa phòng không, bảo đảm giao thông, bảo vệ kho tàng, làng bản, hạn chế thiệt hại về người và của do pháo địch gây ra.

Cùng với phát triển mạnh du kích, cố gắng bổ sung quân, xây dựng khối chủ lực Quân khu, giúp đỡ xây dựng khối chủ lực Trung lập của đại tá Đươn và trung tá Thiệp ngày một vững mạnh cả về chính trị lẫn quân sự.

Hai bên nhất trí tăng thêm chuyên gia huấn luyện, chuyên gia cơ sở địa phương và chuyên gia cho lực lượng quân sự của khối Trung lập.

Cuối buổi hội đàm, đồng chí Cay-xỏn căn dặn anh Phum và tôi về Quân khu phải kịp thời rút kinh nghiệm hai chiến dịch giải phóng thị xã Xiêng Khoảng và Cánh Đồng Chum cho cán bộ học tập. Đồng chí hoan nghênh ý kiến đề nghị của tôi về nghiên cứu chỉ đạo các phương thức hoạt động mới cho khối chủ lực và du kích Viên Chăn, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu khi địch tổ chức càn quét, phá các cơ sở vùng Văng Viêng, Xa La Phu Khun của ta, nhằm xây dựng vững hậu phương liên hoàn cho quân Coong-le từ Văng Viêng về Mường Xủi.

Sau hội đàm, trước khi trở lại Cánh Đồng Chum, tôi được nghỉ thêm năm ngày phép về đưa vợ con về Quảng Bình thăm bố mẹ. Làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn mà có dịp về thăm vợ con, bố mẹ là một hạnh phúc lớn đối với tôi lúc này. Tôi không ngờ lần về thăm này là lần cuối cùng được gặp bố đẻ của mình. Sau nhiều năm phải nằm hầm tránh bom Mỹ, sức khỏe cụ suy yếu và mất năm 1966, không được gặp các con trai (vì năm anh em chúng tôi lúc đó đều đang chiến đấu trên các chiến trường).

Trên đường trở lại Cánh Đồng Chum, tôi được tin địch đã mở chiến dịch “Xam Xoọc” đánh phá khu địch hậu Văng Viêng, Xa La Phu Khun và cổ động quân Coong-le tổ chức tiến công vào tuyến phòng ngự Phu Cút. May bay Mỹ - Thái đã tham gia đánh phá vào Cánh Đồng Chum, đường số 7.

Thế là bắt đầu một thời kỳ tác chiến mới.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:00:07 PM
Đi rên đường số 7, tôi gặp một số đoàn công binh, các đội thanh niên xung phong Nghệ - Tĩnh đang xây dựng các đập tràn, đường ránh, cầu phao. Các ban chỉ huy giao thông đang chọn địa hình bố trí các trận địa pháo phòng không, các tổ cảnh giới ở các mỏm núi hai bên đường để bắn máy bay bay thấp. Đến Khăng Khay, khu nhà ở của chuyên gia cũn đã được dỡ bớt chuyển vào chân Phu He.

Nắm lại tình hình chung, chỉ sau một ngày, tôi lên ngay mặt trận Phu Cút. Tiểu đoàn 1 của Mai-xỉnh và Xi-thỏn đang phòng ngự Phu Cút đánh trả lại ba tiểu đoàn còn lại của Coong-le. Mỗi ngày trung bình có 30 lần chiếc T28 của phái Hữu Viên Chăn và máy bay AD6 của Thái Lan lao vào đánh bom phối hợp với hỏa lực của hai đại đội pháo 105 nhằm đánh bật bộ đội ta ra khỏi Phu Cút.

Điểm cao Phu Cút (1.463 mét) nguyên là một đồi cây lâu năm, phần lớn là thông ba lá nằm sát bờ tây sông Nậm Ngừm vốn là nơi trú ngụ lý tưởng của cọn, gấu, nai, hoẵng… Chiến tranh, bom đạn buộc các loại thú này phải rủ nhau “sơ tán” hết. Khi dừng lại phòng ngự tuyến Phu Cút, lúc đầu Tiểu đoàn 1 bố trí một đại đội giữ mỏm 1 là đỉnh to và cao nhất, một trung đội giữ mỏm 2 và 3, bảo vệ sườn cho mỏm 1. Hai đại đội (thiếu) cùng phân đội trợ chiến làm lực lượng cơ động. Một trung độ gồm hai khẩu trung liên 12,8 bố trí đánh máy bay khi nó lao vào trận địa mỏm 1. Một đại đội cao xạ 37, một đại đội pháo 85 và một đại đội súng cối 120 ly bố trí sau trận địa Phu Cút chi viện trực tiếp cho Tiểu đoàn 1 phòng ngự.

Những ngày đầu, khi máy bay đến lượn chuẩn bị đánh là anh em sơ tán lui về phía sau. Bộ binh địch lợi dụng để tiếp cận, và một lần đã chiếm được trận địa cảnh giới, ta phải đánh lại. Lần sau lợi dụng bộ độ ta ngủ trưa, địch lọt vào chiếm được chiến hào 1 và đánh thẳng lên chiến hào 2. Một đội đội tình nguyện kịp thời tăng cường cho tiểu đoàn 1 phản kích giành lại trận địa.

Tôi trực tiếp cùng tổ chuyên gia của đại úy Nhất và đại úy Mai theo dõi chiến sự diễn ra trong hai ngày, thì tổ tùy viên của Đặng Côn Sơn ở cơ quan đại diện Trung Quốc đến Khăng Khay cùng thăm Phu Cút để rút kinh nghiệm về phòng ngự dưới điều kiện phi pháo của địch.

Cuộc sống của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 lúc đó rất thiếu thốn. Bữa ăn chỉ có gạo tẻ viện trợ, ít có nếp. Thức ăn thì mỗi mâm một bát muối trắng, một bát ớt tươi và ai giỏi thì kiếm thêm một nắm rau rừng. Thức ăn sang nhất là nồi ốc nứa luộc nhỏ bằng ngón tay được mò ở sông Nậm Ngừm. Cứ vài thìa cơm muối ớt lại mút một con ốc. Thực hiện “ba cùng” với chiến sĩ, chuyên gia Việt Nam và khách Trung Quốc đề thân mật dùng cơm hòa với lính. Anh em Việt Nam mỗi người ăn ngon lành ba bát sắt tráng men cơm, cùng nhai ớt tươi rất giòn và mút ốc chùn chụt. Anh nuôi tiểu đoàn khoái chí khi thấy món ăn của mình vẫn hợp khẩu vị chuyên gia. Anh em Trung Quốc mỗi người phải cố hết sức mới nốt được một bát cơm. Đặng Côn Sơn tâm tình tỏ lòng phục anh em Việt Nam về khắc phục khó khăn trong sinh hoạt.

Liên tục nửa tháng trời, địch lợi dụng lúc quân ta bị lóa mắt vì ánh sáng mặt trời, khoảng tám, chín giờ sáng, địch cho máy bay vào ném bom từ hướng đông. Lúc đầu ta chỉ cho trọng liên 12,8 và cao xạ 37 bắn, nhưng đạn ít, phải bắn hạn chế. Bộ binh dùng ngay súng trường, trung liên, đại liên bắn chặn khi máy bay địch vừa lao xuống, buộc máy bay phải bay vọt lên và cắt bom ngay ở tầm cao, nên thường bị trượt quá mục tiêu công kích, bom sa xuống khe. Bộ đội đã rút ra kết luận: muốn hạn chế thiệt hại, không để đánh trúng mục tiêu, phải phát huy cả súng bộ binh lẫn hỏa lực phòng không, chủ động đánh hất bay bay địch lên cao.

Để chuyên gia Trung Quốc về trước, tôi ở lại ba hôm, thống nhất cách đánh giữa chuyên gia với Mai-xỉnh, sau đó đi một vòng từ Bản Khổng đến Bảo Leo, Mường Xếnh, xác định lại địa hình, dân cư để có cơ sở lường trước thế trận du kích hiệp đông với mặt trận Phu Cút. Về tới cơ quan, dành trọn tám ngày đêm để hoàn thành bản báo cáo Tổng kết 2 năm 1963-1964 và đề cương kế hoạch phòng thủ xây dựng phong trào chiến tranh nhân dân ở Xiêng Khoảng. Sau đó, chúng tôi tổ chức hội nghị quân sự, tập trung bàn bạc lấy ý kiến rộng rãi. Dự hội nghị quân sự của đoàn có Tư lệnh Phun, Chính ủy Xa-mán.

Sau bốn ngày tranh luận ai cũng công nhận vấn đề đặt ra là mới và khó, nên buộc mọi người phải suy nghĩ tìm tòi. Bài học đánh trả máy bay của Tiểu đoàn 1 được công nhận là hay cần được phổ biến rộng rãi. Còn làm sao để có phong trào du kích mạnh, hội nghị rút ra một kết luận rất cơ bản:

Nếu phong trào du kích không lên mạnh, không hoạt động thay cho quân chủ lực, để quân chủ lực có thời gian xây dựng củng cố thì chủ lực dù có được chuyên gia giúp nhiều, vẫn cứ phải một mình đánh nam dẹp bắc, bị tiêu hao, mệt mỏi, cuối cùng sức mạnh kháng chiến sẽ yếu dần. Trái lại, nếu tập trung đại bộ phận chuyên gia chủ lực đi giúp phát triển du kích, phong trào du kích lên thì chủ lực được hỗ trợ, dần dần được bổ sung. Phong trào từ đó sẽ tiến lên vững chắc.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:00:26 PM
Kết luận này đưa đến giải pháp là sau hội nghị tất cả chuyên gia kỹ thuật ở các tiểu đoàn chủ lực đều được tạm chuyển sang giúp tổ chức du kích tại các bản trong một thời gian dài. Các xã thuộc huyện Mường Pẹch đều có chuyên gia đến giúp phát động phong trào tổ chức du kích. Thế là suốt trong hai tháng 7 và 8, dân Mường Pẹch già trẻ, gái trai không phân biệt, cứ sáng chiều cày cấy, trưa tập quân sự, tối học chính trị, múa hát vui chơi. Hàng ngày cứ đến khoảng độ 20 giờ, cơm nước xong, trống lăm vông nổi lên là dân từng xã tề tựu đến bãi họp. Mưa thì họ che ô mà đi

Một hôm đoàn của tôi và Chăn-đi từ Lạt Buộc lên Song Hạc, nửa đường trời tối, phía trước mặt có ngọn lửa lập lòe, đến gần thì tháy một cô bé độ 13 tuổi cầm bó đuốc soi đường dắt một bà lão che ô. Trời mưa lâm thâm. Tôi hỏi bà cháu đi đâu buổi tối thì bà vui vẻ khoe là bà cháu đi học chính trị! Chúng tôi xin được phép đi cùng tới lớp học. Cụ vui vẻ nói:

- Cán bộ Pa-thét Lào họ nói hay lắm. Họ hỏi chúng tôi: “Lính phái Hữu, lính Vàng Pao, lính Coong-le có đứa nào về đây phá dân không?”. Thế là dân chúng tôi nói và một anh cán bộ khác giúp nai bản ghi: bọn chúng không đứa nào không phá! Nào chặt tre, hái quả, nào trộm trứng, mua chịu gà, lợn, bắn trộm trâu bò, bắt giam thanh niên. Gái đẹp mà không trốn được là nó tóm lên đồn, bắt nai bản đứng ra làm lẽ cưới nhưng tiền bạc không trả cho bố mẹ đồng xu nào! Riêng bản mẹ nho nhỏ cũng mất dăm sáu cô bị cướp cưới như vậy! May mà bộ đội đuổi nó về Mường Xủi, cứu thoát cho bản được mấy cô.

Tôi nỏi lại: cả buổi tối cứ học mãi thế mà cũng chịu được sao? Cụ trả lời: không phải đâu! Một tý nữa là đến sân các con sẽ thấy. Học rồi lại nghỉ để cho các cô các cậu còn lăm vông chứ. Phải múa mới vui, múa rồi lại học. Người Lào chúng tôi nghe trống lăm vông bập bùng là máu trong người cứ như sôi lên, đứng ngồi không yên, không đi không đến là không chịu được. Mẹ đây thời con gái đã đành, bây giờ bảy mươi tuổi, mắt mẹ lòa nhưng cứ phải đi. Đến bãi cháu múa, bà nghiêng tai nghe nhịp trống. Có khi vỗ tay theo nhịp trống để cổ vũ con cháu. Đúng là bản làng giải phóng sung sướng thật!

Tôi hỏi tiếp: giải phóng thì sung sường thật. Nhưng rồi lính Coong-le đến, lính Vàng Pao đến thì bản làm gì?

Mẹ trả lời: Ôi! Sợ gì! Các mẹ đi đây là để nghe, để hiểu rồi yêu cầu cấp trên phát súng cho thanh niên làm du kích đánh địch. Bản mình mình phải giữ. Phải giữ để đất mình mình cày cấy, lúa mình mình gặt, mình ăn, mình nuôi bộ đội mình. Ở nhà các mẹ đã bàn bạc hết cả rồi. Các con hỏi thế cũng phải, nhưng bây giờ dân thấy rồi. Các con không thấy bao nhiêu cái lạ sao? Nhà mẹ hết trâu thì bộ đội tập giúp cho bò kéo cày. Cháu gái mẹ, chị con này này, nó dám vác cày ra ruộng bắt bò kéo cài. Nó cày ruộng thay cho bố mẹ đi du kich đấy! Mẹ nghe nói bản nào cũng có con gái đi cày, cũng có bò kéo cày. Nghe nói ở Việt Nam có nhà thiếu, còn cho cả bò cái kéo cày thì sao! Trước đây thì dừng hòng. Phải đàn ông và phải có trâu đực mới cày được ruộng Mẹ say sưa kể tiếp: Nghe cán bộ nói vài hôm nữa xong chính trị là bắt đầu học chữ. Ôi tiếc quá, mẹ đã già lại lòa nữa, làm sao học được!

Tôi động viên an ủi mẹ cứ cổ động con cháu thế này cũng phúc cho làng bản lắm rồi! Khi chúng tôi tới chỗ hội họp, mọi người ai cũng như nở hoa trên nét mặt. Cán bộ địa phương và đội công tác vui vẻ đón đoàn cán bộ Quân khu. Các cụ già được mời ngồi vào dãy ghế khép kín cả bốn phía sân. Một cái sân rất rộng. Bếp lửa được bỏ thêm củi. Tiếng trống bập bùng càng thôi thúc hơn, rồi đột ngột im bặt. Nai bản long trọng tuyên bố cuộc sinh hoạt chính trị bắt đầu. Một đoàn thiếu nữ văn nghệ của bản ra mở đầu một vòng lăm vông chào mừng đoàn cán bộ Quân khu. Mấy cụ già phấn khởi đứng dậy vỗ tay hoan hô và dắt tay con cháu đi mời khách. Tôi không thạo tập tục ở đây lắm nhưng cũng phải nhập đoàn. Tưởng một vòng, không ngờ người lĩnh xướng bài ca đã kéo đoàn múa đi liền ba rồi đến vòng mới chịu thôi. Tôi lúng túng, toát mồ hôi. Không khí bỗng chốc rộn vang và bắt đầu cuộc sinh hoạt chính trị với câu hỏi: giải phóng rồi phải làm gì để bảo vệ làng bản?

Chăn-đi, Phó Tham mưu trưởng Quân khu cùng tôi đi suốt cuộc hành trình này. Bàn trước nội dung với nhau thì Chăn-đi nắm chắc vấn đề rồi, anh trực tiếp làm việc với cán bộ bản, tà xẻng và đọi công tác. Tôi đặc biệt yêu cầu Chăn-đi phải dẫn đầu các đoàn lăm vông khi họ mời Quân khu để tôi đi theo sau học múa cho đỡ sai, đỡ ngượng.

Suốt tuần lễ của cuộc hành trình theo dân, tuy ăn ngủ thất thường nhưng không thấy mệt. Đúng là ngày “hội du kích của Mường Pẹch vùng lên”, không bao giờ phai mờ trong ký ức tôi.

Chỉ một tháng vừa học tập, vừa cày cấy, vừa tuyển chọn và trang bị, huấn luyện. Chăn-đi đã cùng địa phương xây dựng được mạng lưới du kích trên một nghìn người dọc tuyến Bản Le, Mường Xếnh về Song Hạc, Bản Pen đến Phiên Luông, Bản Na, Bản Khổng để hỗ trợ cho tuyến phòng ngự Phu Cút, nơi anh phải đảm nhiệm Tư lệnh mặt trận phòng ngự này.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:01:13 PM
Phong trào đã có đà, cứ thế phát triển. Phía Mường Khum, Mường Ngân, Mường Phàn, du kích cũng lần lượt được trao súng. Riêng Bản Ban và hai xã Xiêng, Nhuộm vì là lực lượng Trung lập phản động và gián điệp Vàng Pao nằm vùng lén lút vào phá hội nên Quân khu phải tổ chức lại lực lượng để bảo vệ làng bản (danh từ của địch là còm lăng poòng căn bản). Đối với ta đây là một tổ chức nửa chính trị nửa quân sự, chưa được Quân khu trang bị súng, theo đúng nguyên tắc có gì dùng nấy, buộc mọi thanh niên trong các bản phải tham gia canh gác, tuần tiễu, báo tin, vận động đánh địch khi có lệnh của xã hội. Đây là một quá trình thử thách chọn lọc để tìm người tốt tổ chức thành đội du kích.

Phong trào đang phát triển tốt thì có tin bí mật báo cho Quân khu: có ba tà xẻng phải cảnh giác là tà xẻng Bản Nhôn, tà xẻng Bản Hay và tà xẻng Mường Khừng. Ba người này có nhiều hoạt động xúi giục, gây tâm lý chiến tranh, cần theo dõi.

Cách đây một năm, đoàn chuyên gia đã chịu cái tang đồng chí Phúc, chuyên gia kỹ thuật Tiểu đòn 1 và chiến thuật mật tập. Hôm nay, vì phong trào du kích Mường Pẹch, trung úy Hạnh, người Quân khu 5 đã lăn lộn và rất được dân Bản Hày tín nhiệm lại bị bắn lén, hy sinh cạnh nhà khi phong trào xã bắt đầu hoạt động có nền nếp. Việc này phải sau một năm công an huyện mới tìm được thủ phạm. Người ra tự thú về tội tổ chức xúi giục tay chân bắn chết đồng chí Hành chính là tà xẻng Bản Hày. Phong trào phải đổi bằng xương máu. Địch chả chịu để yên cho ta phát triển. Phải chiến đấu và giành giật.

Cũng trong mùa mưa năm 1964 đồng chí Hu-hắc giao nhiệm vụ cho tướng Xing-ka-pô và tôi tổ chức tiếp đoàn tướng lĩnh, sĩ quan Quân khu Côn Minh do tướng Tần Cơ Vĩ – Phó tư lệnh dẫn đầu sang nghiên cứu địa hình và những trận đánh giải phóng Cánh Đồng Chum năm 1964.

Sau hai ngày khảo sát thực địa và nghe giới thiệu cụ thể, trưởng đoàn Tần Cơ Vĩ cảm ơn và khái quát bài học cho các đoàn viên nghiên cứu. Bài học chiến thắng của quân đội và nhân dân Lào là: Địch như thế nào, ta đánh như thế đó. Địch đổi ta đổi. Hàng trăm trận, mỗi trận đánh một cách, kết hợp chính trị, quân sự, binh vận với pháp lý là tiến công làm cho địch luôn luôn bị động, thất bại.

Xây dựng xong tuyến phòng ngự Phu Cút và tổ chức được mạng lưới du kích bảo vệ hướng Cánh Đồng Chum, tôi lại cùng Xin-phon và Chum cuốc bộ xuống Mường phàn hướng dẫn tổ chức thế trận phóng thủ đông nam Xiêng Khoảng theo phương châm tác chiến khác hướng Phu Cút, không phải là “đánh phòng ngự trận địa kết hợp với đánh vận động tiến công và đánh du kích” mà là “đánh vận động tiến công kết hợp với cụm chốt phòng ngự có trọng điểm và phát triển đánh du kích khắp mọi nơi”. Như vậy là cùng trên một chiến trường Xiêng Khoảng, nhưng mỗi hướng phòng thủ vận dụng một cách đánh khác. Phải căn cứ vào trừng hoàn cảnh cụ thể và tùy theo điều kiện từng địa hình, tình hình địch và lực lượng ta tại đó để có cách đánh thích hợp.

Dọc đường từ thị xã Xiêng Khoảng xuống Mường Phàn, Xi-phon, Chum cùng tôi và Tưởng bàn bạc, cuối cùng chọn Phu Pha Pheo, coi đây là cửa ngõ mà chủ lực địch muốn tiến qua Phu Huột vào Xiêng Khoảng phải qua cổng chốt này. Hai đồng chí Chum và Danh nhận trách nhiệm xây dựng chốt và kế hoạch phòng ngự vận động, tiêu diệt địch khi chúng vận động lên đánh Xiêng Khoảng.

Du kích các vùng Mường Ngàn, Keo Xẹt, Thong Phăn, Mường Phàn đều nhận kế hoạch phòng thủ, chuẩn bị chông mìn và sẵn sàng phối hợp với các Tiểu đoàn 500, 24, Tiểu đoàn 2 trong kế hoạch đánh địch, khi chúng tiến công hướng đông nam.

Hướng đường số 4, Phu Khe, Bản Mai, Bản Pha vẫn là một tuyến phòng thủ quan trọng không để địch chia cắt thị xã với Cánh Đồng Chum, Phu Cút.

Quay trở lại Khăng Khay giữa mùa mưa, sau khi đã thống nhất lấy Bản Khai làm chỗ đặt trạm hậu phương cho chuyên gia, chúng tôi thống nhất là phải mạnh dạn đầu tư thêm bằng cách cử chuyên gia cơ quan xuống giúp cơ sở. Cơ quan chia thành hai bộ phận: Lê Văn ở nhà thường trực với một nửa số sĩ quan, chiến sĩ đã liên hệ hằng ngày với Quân khu. Nửa còn lại đem theo điện dài liên lạc, trực tiếp xuống bản vừa đổi lúa trong dân vừa tự xay giã. Tiêu chuẩn gạo cũng phải giảm xuống còn sáu lạng một ngày. Sáu lạng mà ăn nếp là đói. Thức ăn thì chủ yếu là muối và mắm tôm, ngoài ra chỉ còn cách hái các thứ rau dại ăn được, bắt cua nấu canh với lá chua.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:01:45 PM
Bộ phận đi cơ sở phải đạt hai mục đích: một là giúp bạn tuyên truyền đường lối, chính sách và giúp chuyên gia huyện xem xét đánh giá phong trào. Hai là rèn luyện cán bộ, tìm hiểu địa hình, tình hình dân chúng và học tiếng Lào. Sau đợt công tác về sẽ kiểm tra nhận thức về tên làng, tên bản, về dân tộc, dân số, về cơ sở, cốt cán và du kích. Sát hạch theo lối đối đáp thẳng bằng tiếng Lào. Để tránh khỏi bị phát hiện, kỷ luật hoạt động buộc mỗi bản chỉ ở một tuần. Phần lớn là di chuyển ban đêm. Đến bản nào mà được ngủ trong dân thì nhất thiết phải đào hầm tránh máy bay. Nơi đầu tiên đoàn đến nghiên cứu là Bản Phạt. Ở đây Thít Khăn-ty làm nai bản, Chăn-bua-pha làm chủ tịch mặt trận bản. Thít Khăn-ty yêu cầu trưởng đoàn ở nhà anh để tiện trao đổi công việc hàng ngày. Anh nói: “Dân ở đây có nhiều điểm muốn học hỏi nên họ đặt ra nhiều thắc mắt bắt cán bộ phải giải đáp”.

Đang mùa cấy, nên đoàn chia nhau đi cấy giúp các nhà. Hai chiến sĩ cơ yếu và thông tin liên lạc nhận đi cấy cho gia đình Thít Khăn-ty. Anh ta sướng quá giới thiệu với vợ: “Hôm nay nhà ta có hai chú bộ đội cấy giúp, nên chỉ mình em đi cấy là đủ, cho anh ở nhà làm việc”. Cô vợ đồng ý ngay vì được thêm hai chú “thợ cấy” nữa thì chị chả lo.

Khăn-ty kéo tôi vào ngồi cạnh bếp và vào đề ngay:

- Cán bộ huyện về đây có bồi dưỡng về nhiệm vụ cách mạng, về mục tiên lên chủ nghĩa xã hội, nhưng tôi hỏi so sánh giữa mục đích nhà Phật với mục đích chủ nghĩa xã hội thì giống nhau hay khác nhau? Họ giải thích nghe không rõ, vì vậy họ kéo tôi làm đơn vào Đảng, tôi chưa làm. Hôm nay anh Bình nói rõ cho nghe vấn đề này đi!

Tôi giải thích để Khăn-ty hiểu: nếu lấy mục tiêu làm cho dân đủ cơm ăn, áo mặc, có học chữ và không bị áp bức bóc lột thì nhà Phật và chủ nghĩa xã hội đều mong muốn như nhau. Nếu khác chăng là cách làm thế nào để đi đến mục tiêu đó.

Nghe tôi nói vậy, Khăm-ty phấn khởi tiếp lời: đúng, đúng! Tôi đã vào ở chùa bảy năm, học đến chỗ nói bốn mục tiêu của đức Thích Ca mong ước cho dân thì sướng quá nhưng lại thắc mắc: nếu mình cứ nằm ăn mãi trong chùa thì làm sao đưa được bốn mục tiêu đó về cho dân? Suy nghĩ mãi cuối cùng tôi quyết định xin ra chùa.

Tôi giải thích rõ hơn để anh hiểu:

- Mác – Ăng-ghen và Lê-nin cũng nghiên cứu Thích Ca và Giê-su nhưng lại tính con đường là phải làm cách mạng lật đổ phong kiến và tư bản, rồi xây dựng chủ nghĩa xã hội để xóa bỏ bóc lột, áp bức mới giành được bốn mục tiêu trên cho dân. Thêm một bước nữa là phải xây dựng Đảng, phải có Đảng của người lao động giác ngộ nhất, những người tha hiết muốn giải phóng nhân dân, đưa lại hạnh phúc cho mọi người đứng ra lãnh đạo tổ chức đấu tranh, tổ chức sản xuất, xây dựng đất nước. Chính chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã học được chủ nghĩa Mác, đã làm theo Lê-nin nên mới cùng những người cách mạng Đông Dương lập ra Đảng Cộng sản Đông Dương để lãnh đạo nhân dân ba làm cách mạng giải phóng dân tộc, mưu cầu giành được bốn mục tiêu “cơm no, áo ấm, học chữ và độc lập tự do, không bị áp bức bóc lột”.

Khăn-ty ồ lên:

- Nếu vậy thì Hồ Chí Minh là Phật đây rồi chứ còn phải tìm ở đâu nữa. Mác, Ăng-ghen, Lê-nin cũng là Phật! Phật và Cộng sản chung một mục tiêu! Nếu sung sướng tỏa lên trên nét mặt của tín đồ Phật giáo ở cấp “thít”, một con người có suy nghĩ và có nhiều hứa hẹn sẽ tích cực hành động.

Khăn-ty hỏi tiếp:

- Hình như trong sách Phật có nói đến “Thế giới đại đồng”. Anh Bình có nhớ họi nói mấy năm không?

Tôi trả lời ngập ngừng:

- Trong sách Niết Bàn hình như có nói đến một vạn năm hay mười vạn năm gì đó. Đọc lâu rồi quên mất!

Khăn-ty nói tiếp: đúng! Tôi cũng nhớ khoảng đó. Nhưng mà tôi nghĩ phải làm gì chứ cứ tụng kinh trong chùa thì một vạn, chứ một trăm vạn năm cũng chẳng được gì!...


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:02:18 PM
Chiều hôm đó Khăn-ty mời Bua-pha đến, thế là nai bản và neo bản (chính quyền và mặt trận thôn) hỏi tôi rất nhiều điều. Nào là Hà Nội xây dựng thế nào? Tổ chức đánh máy bay Mỹ thế nào? Tổ đổi công hoạt động ra sao? Nhà trẻ tổ chức thế nào? Hai người tranh nhau hỏi rồi chăm chú nghe tôi trình bày, chốc chốc lại gật đầu khoái chí. Cuối cùng họ quyết định yêu cầu tôi thăm dân và giới thiệu một buổi tối những vấn đề này vì dân muốn hiểu biết lắm.

Một buổi chiều rảnh, Khăn-ty dẫn tôi đến thăm gia đình một Việt kiều. Đi vào một thung lũng ruộng bậc thang có hai người đàn ông đang cày ruộng nước. Trước sân nhà sàn, một cụ già áo cánh hoa, quần cộc đến ngồi chẻ lạt, hai đứa bé gái một độ mười hai, một độ tám tuổi chơi bên cạnh. Chủ nhà định mời lên nhà nhưng chúng tôi chủ động vơ một nắm cỏ khô trải ngồi bệt xuống đất nói chuyện, để khỏi gián đoạn việc chẻ lạt của cụ. Khăn-ty giới hiệu tôi với chủ nhà.

Qua trò chuyện tôi biết chủ nhà là cụ Viêng. Cụ đã xấp xỉ tuổi tám mươi, song rất minh mẫn. Cụ chỉ ra mảnh ruộng trước nhà bảo hai người cày ruộng là con trai và con rể cụ. Anh cả xấp xỉ tuổi sáu mươi, con rể cũng gần năm mươi. Khi tôi hỏi hai đứa bé quanh quẩn bên cụ thì được cụ trả lời không phải là cháu mà là con riêng vợ mới cụ Viêng. Cụ nói thêm: chẳng giấu gì hai anh, bà vợ tôi chết lâu rồi. Tôi còn trâu, còn ruộng mà bà này lại chết chồng, không nơi nương tựa nuôi con. Con cái họ hàng hai bên bàn đón mẹ con bà ấy về đây ở chung với tôi, sớm hôm có bàn tay đàn bà cơm nước, tôi cũng được dưỡng tuổi già, mà mẹ con bà ấy cũng có chỗ nương thân. Đấy, ruộng thì con nó cày cho. Hôm nay tôi chẻ lạt là để mẹ con bà ấy chuẩn bị nhổ mạ cấy.

Bà chủ cũng độ hơn năm mươi. Nhìn da dẻ dáng người còn lao động được.

Trong không khí ấm áp nghĩa tình gốc gác quê hương, tôi gợi chuyện và cụ Viêng đã kể lại quá trình lưu lạc sang đất Lào:

- Có gì đâu, năm đó tôi mới mười bảy, mười tám, chỉ biết là vua Lào và vua An Nam có ký giúp nhau xây dựng kinh đô Mường Luống (Luông Pra Băng). Chúng tôi là đoàn thợ vùng Cổng Chốt thành phố Vinh hơn hai trăm người cả thợ mộc cả nề lên xây. Xây xong cung vua và một ngôi chùa thì đoàn được các tà xẻng của Mường Lống và Mường Phuôn đón về xây các chùa địa phương. Đoàn chia ra nhiều đội nhỏ, dừng đâu là nung vôi, đốt gạch ngói, làm chùa theo mẫu của địa phương. Vừa làm vừa đi dần về hướng Nghệ An. Chẳng biết mấy năm, khi đến xây chùa ở đây, tôi hay ra chợ Lạt Buộc, thế rồi duyên số thế nào tôi gặp cô nàng ở đây. Hai đứa phải lòng nhau và được bố mẹ cho phép, chúng tôi cưới nhau. Phần lớn bạn bè về quê, tôi nhắn về với bố mẹ xin ở lại đây. Thấy chỗ này còn một lũng rừng rộng có đất, vợ chồng tôi khai khẩn dần dần thành xóm Viêng được gần chục mẫu đất. Cũng muốn có dịp nào đất nước hai bên yên ổn thì cha con xin về thăm quê một chuyến, không biết còn được không hay lại chết mất.

Nghe cụ Viêng kể, tôi không khỏi ngậm ngùi xúc động. “Lá rụng về cội” là đây. Một con người cả một thời trai trẻ lưu lạc, nay tám mươi tuổi rồi mà vẫn mơ mộng được về thăm quê hương. Ôi một ước mơ đơn giản, vì Xiêng Khoảng và Nghệ An là hai tỉnh kết nghĩa. Chỉ hai ngày đêm ô tô là đến Vinh rồi. Cổng Chốt là ở Vinh. Nhưng hai nước còn chiến tranh.

Cụ Viêng hỏi tôi:

- Tôi nghe anh em nói bên ta làm nhà trẻ. Không biết tổ chức ra sao hay chỉ đưa các bà mẹ đi lao động mà mình đem nhốt các cháu chung vào một nhà. Nào ruồi bọ, rồi đứa này đái đứa kia vọc, đứa này ỉa đứa kia hốt cho vào mồm. Nhà trẻ thế thì khiếp cho trẻ con quá!

Tôi giải thích để cụ hiểu nhà trẻ phải kết hợp cả hai yêu cầu, vừa trông con cho các bà mẹ yên tâm làm việc, vừa nuôi dưỡng giáo dục các cháu từ bé để đào tạo lớp người mới tương lại cho chủ nghĩa xã hội. Nhà phải là nhà cao ráo sạch sẽ mát mẻ nhất bản, cô giáo là người trẻ, không bệnh tật lại được học hành về cách nuôi dạy trẻ. Các cháu thường được học cách xưng hô, học hát, học múa. Bữa ăn của các chúa ngoài mẹ đưa đến sẽ được nhà nước hoặc cơ quan cấp thêm. Còn nhà trẻ cụ nói thì ngày mùa cũng có thể có một vài chỗ nào đó, nhưng đã như thế thì chính quyền sẽ cấm và các bà mẹ chẳng ai dại mà đưa con đến.

Nghe tôi nói vậy, cụ Viêng mới cảm thấy yên lòng…

Cứ thế, mỗi xã một tuần, đoàn chúng tôi chuyển từ bản này qua bản khác. Trước khi rời Bản Phạt, Khăn-ty lưu luyến tiễn chúng tôi và hứa anh ta sẽ làm đơn xin vào Đảng.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:02:40 PM
*
*   *

Cuối mùa mưa năm 1964, Tiểu đoàn 13 sau mấy tháng củng cố bổ sung đủ bốn đại đội, được chuyển lên thay Tiểu đoàn 1 rút ra làm nhiệm vụ cơ động cho mặt trận Phu Cút. Phòng ngự bảo vệ sườn phải của Phu Cút gồm các chốt Phu Pe, Phu Xưa, Phu Xủng do Tiểu đoàn 16 trung lập đảm nhiệm, có Lả và Đài làm chuyên gia.

Bảo vệ sườn trái (cánh nam) ở Phu Keng có Tiểu đoàn 15 do Von tiểu đoàn trưởng thay Bun-xu. Cổn và Quyền làm chuyên gia. Tiểu đoàn 46 của Khăn-sổ và Cù-la-căn do Lộc làm chuyên gia chốt Phu Thoong.

Sau mùa mưa 1964, quân Coong-le củng cố lại được năm tiểu đoàn. Ta đoán thế nào mùa khô tới chung cũng đánh một trận lớn để giành lại khí thế. Trận địa của tiểu đoàn Phu Cút, trên chốt mỏm một có hầm sâu năm mét được ken gỗ để tránh pháo và bom nhỏ.

Phán đoán và quyết tâm của Quân khu là nếu ta giữ chặt mặt chính Phu Cút thì sau một hai lần đột phá không được, Coong-le sẽ cho thọc mũi vu hồi và hướng Bản Pen, Song Hạc. Hai khẩu pháo 85, hai khẩu pháo 105, hai khẩu cối 120 và hai xe tăng, hai xe bọc thép hai nòng 14,5 được lệnh đào hầm dự bị bí mật từ sườn Phu Xủng về Song Hạc. Kế hoạch chỉ phổ biến đến cán bộ tiểu đoàn.

Đầu tháng 12 năm 1964, sau một thời gian củng cố, bổ sung lực lượng, Coong-le dùng năm tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn pháo được máy bay Mỹ - Thái chi viện mở cuộc tiến công vào Phu Cút. Ngày đầu chúng dùng pháo và máy bay bắn phá. Ngày thứ hai một mũi đánh vào chính diện Phu Cút, một mũi đánh Phu Xưa. Sau hai đợt đọ sức với Tiểu đoàn 13, địch cho pháo bắn cầm canh, bộ binh tạm ngừng, cho máy bay trinh sát vào sâu hướng Lạt Buộc, bắn hỏa tiễn thăm dò nhiều nơi, đặc biệt là sân bay Mường Khừng. Những hoạt động này Chăn-đi đều báo cáo về Quân khu. Tin từ cơ sở ta ở Mường Xủi báo ra cho biết Coong-le đã lệnh ho hai tiểu đoàn còn lại chuẩn bị tiến công sau khi làm xong tuần cầu Phật ở chùa hang Xiêng Hạ. Không biết từ bao giờ, Coong-le có lẽ quen hễ làm kế hoạch tiến công, thì phải có một tuần ăn chay niệm Phật, mặc áo cà sa trắng vào ngủ ở chùa hang Xiêng Hạ để cầu Phật phù hộ thắng trận. Bao giờ Phật cho được bùa may thì lúc đó mới cởi bỏ cà sa để ra lệnh đánh.

Đợi mãi đến cuối tháng 12, đợt tiến công thứ ba của địch mới bắt đầu. Phu Cút bị một tiểu đoàn địch kiềm chế. Ba tiểu đoàn khác tập trung hùng hổ tiến vào sườn bắc Phu Cút và Phu Pen. Tháp Phu Pen là mục tiêu bị bom và đạn pháo đánh sứt sẹo, nhưng trung đội phòng ngự chốt ở đây của Tiểu đoàn 16 vẫn cố giữ. Đến ngày thứ ba, Quân khu ra lệnh thả lòng Phu Pen cho địch vào, song Chăn-đi không làm sao truyền được lệnh rút quân cho cán bộ đại đội ở đây. Vì anh em chỉ nhận lệnh giữ, bây giờ lại bảo rút là nghĩa lý làm sao? Cho đến cuối ngày thứ năm, khi phái viện mặt trận đến hướng dẫn, cho gài mìn xuống chiến hào rồi rút quân lên sườn Phu Xủng, các chiến sĩ Tiểu đoàn 16 mới chịu vừa rút lui vừa bắn trả lẻ tẻ cho lộ đội hình rút của quân ta.

Giằng co bốn năm ngày vất vả, thấy Pa-thét Lào “rút chạy” thế là quân Coong-le vừa báo cáo thắng trận, vừa leo lên đồi Bản Pen, sắp đến chiến hào thì quân rút lui lại bắn lên mấy phát súng cối. Thế là “kẻ thắng trận” hốt hoảng lao nhanh tìm chiến hào ẩn núp. Một loạt mình, đạn cối nổ, quân Coong-le phơi xác. Cuối cùng, chúng cũng chiếm được Phu Pen rồi tiến vào tận Bản Pen cố sống cố chết đào hầm, vì lâu lâu đạn cối của ta vẫn nổ. Đó chính là biện pháp kìm chân địch để cho pháo binh và Tiểu đoàn 1 cùng xe tăng, cơ giới vào chiếm lĩnh trận địa.

Đoàn phó Hồ Đệ và hai trợ thủ pháo là Chỉ và Du, cùng trưởng phòng chuyên gia tác chiến Lưu Đức Tài và Trần Bá Xảo chuyên gia xe tăng được phân công trực tiếp giúp Tư lệnh mặt trận Chăn-đi đánh trận này.

Ba tiểu đoàn Coong-le đã lọt gọn vào thung lũng Bản Pen, kẹp giữa Phu Xủng và Phu Cút.

Lính ta thấp thỏm chờ suốt đêm. Sáu giờ sáng sương chưa tan hết, pháo ta bắt đầu nổ. Lính Coong-le vừa ngủ dậy chưa nhận rõ sự thể, thì từ bên kia suối cạn xe tăng, xe bọc thép của ta vừa bắn vừa lao ra. Lính địch mạnh ai nấy chạy. Có tên vất cả súng chạy tháo thân nhưng cũng chẳng biết chạy đi đâu. Từ sườn Phu Xủng, Phu Xưa, Tiểu đoàn 1 và Tiểu đoàn 16 đồng loạt lao ra, súng nổ giòn giã. Địch chạy lui về hướng đông thì đã có một mũi của Tiểu đoàn 13 bắn ra, cả trước mặt cả sau lưng chạy hướng nào cũng không thoát. Hơn 150 tên phơi thây và bị bắt.

Ba tiểu đoàn đột kích của Coong-le tơi tả, rời rạc kéo nhau về tận Mường Xủi. Hai tiểu đoàn còn lại cũng rút về đứng ở tuyến phòng ngự cũ và từ đó cho đến hết mùa mưa 1965 không dám động tĩnh.

Chuyên gia hết sức vui sướng vì cái điều suy ngẫm của lớp tập huấn sư đoàn phòng ngự là làm sao kiếm được một trận “dụ địch vào bẫy mà tiêu diệt” nay đã thành hiện thực.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:03:26 PM
*
*   *

Tiểu đoàn 13 phòng ngự Phu Cút đã lập công trận đầu vang dội. Song niềm vui chưa trọn thì trong xóm trú chân của tiểu đoàn bộ binh xảy ra chuyện rắc rối có quan hệ đến Tiểu đoàn 13.

Một cháu gái ra tắm ở ao nước cạnh cơ quan tiểu đoàn bị mất một nhẫn vàng. Hỏi ai lấy thì thời điểm đó dân không đi lại, chỉ có bộ đội đang làm việc trong nhà. Sau khi xem xét kỹ và bàn luận trong nội bộ cơ quan cùng tổ chuyên gia, Bô-khăm, Phuông và tổ chuyên gia khẳng định cháu bé này đánh rơi nhẫn xuống nước. Nếu không tìm ra thì nhân dân không khỏi nghi ngờ bộ đội. Nghĩ như vậy, Đàm quyết định tổ chuyên gia sẽ phải tát cạn nước để tìm bằng được chiếc nhẫn cho cháu bé. Mấy bác hàng xóm đến chứng kiến cũng thấy ái ngại cho việc làm của bộ đội.

Bộ đội tập trung nào gàu, nào chậu tát nước hàng mấy tiếng đồng hồ. Nước bắt đầu cạn, vài con cá hoảng hốt nảy lên bờ cỏ. Các anh Bô-khăm, Phuông, Đàm, Đồng cứ theo mớn nước rút mà mò tìm. Bà con lắc đầu trước sự kiên nhẫn của bộ độ. Bố mẹ của cháu bé cũng rất ái ngại.

Thật là mò kìm đáy bể. Việc tìm kiếm kéo dài. Đã có biểu hiện chán nản. Tôi cũng nghĩ là khó lòng tìm được. Nhưng bất ngờ Bô-khăm nhảy đứng lên reo to: đây rồi, đây rồi! Ôi cái nhẫn bé tý tẹo, mày làm chúng tôi mệt sắp chết đi được!

Đúng là cái nhẫn trẻ con không đầy nửa chỉ vàng tây, nhưng để ổn định lòng tin của dân, các anh đã thắng. Thêm một cử chỉ để nhân dân địa phương càng tin yêu, mến phục bộ đội.

Lãnh đạo bộ đội phòng ngự Phu Cút, chỉ huy đơn vị sợ nhất là chuyện đào ngũ. Vì một chiến sĩ trốn đi là mang theo cả bí mật của trận địa phòng ngự. Tiến công thì bố trí đội hình, cách đánh do ta chủ động, cần thì thay đổi. Còn phòng ngự thì núi non đâu vẫn ở đó, lực lượng, trận địa đâu phải dễ thay đổi. Về việc này thì anh Xa-mán cùng Lê Văn và tôi đều lo lắng nên công tác tư tưởng, công tác bảo đảm vật chất được hết sức quan tâm. Lo thế, nhưng ở Phu Cút, Tiểu đoàn 13 vẫn ổn. Trái lại các đơn vị phía sau như Tiểu đoàn 2, bộ đội pháo binh, cao xạ, công binh, Tiểu đoàn 24, Tiểu đoàn 701 chuyện đào ngũ lại xảy ra nhiều. Số đào ngũ theo địch ít mà chủ yếu là trốn về địa phương. Chiều hướng lãnh đạo là tìm nguyên nhân ở đời sống gian khổ và thời gian xa nhà lâu năm.

Lê Văn làm việc với Xa-mán và Xi-phon bàn kế hoạch tổ chức hội nghị chính trị- tư tưởng toàn Quân khu, rồi giao lại cho tôi theo dõi giúp bạn và anh bận đi dự cuộc họp của Đoàn 959 ở Hà Nội. Chuyên gia các tiểu đoàn theo hướng dẫn của Quân khu giúp đơn vị tổ chức cuộc họp nghiên cứu công tác chính trị - tư tưởng từ cơ sở trở lên.

Từ đơn vị của Ngô và Xa-lỳ đến Xuân Mai, Trần Tín, Xuân Vinh, Hoàng Sang, các cuộc tự kể của cán bộ chiến sĩ Lào có người dào ngũ làm tôi phảng phất thấy có vấn đề đáng phải quan tâm, chứ không đơn giản chỉ do cuộc sống khổ sở và nhớ nhà. Trong chuyến đi này, có khi là một mình, có khi đi cùng Xa-mán, Xi-phon. Phản ánh của các đơn vị làm chúng tôi chú ý: có sự chuẩn bị đi đường xa hàng tháng trời và những cuộc chè chén thâu đêm ở các chợ Lạt Thơn, Lạt Thuổng, Lạt Buộc hoặc các tiệc rượu do các cô gái con cháu của tà xẻng Un Khăm ở Mường Phàn bày ra làm cho Đuông và Xa-lỳ, Ngô rất bực tức vì nếu không gây cãi cọ tranh giành nhau giữa các đại đội của Tiểu đoàn 24 thì sau đó cũng có vài ba người đòa ngũ. Sàng lọc lại, chúng tôi thấy đã có bàn tay địch nhúng vào. Xa-mán nhất trí phải bổ sung ngay nội dung chống chiến tranh tâm lý của địch trong hội nghị chính trị - tư tưởng của quân khu.

Giữa tháng 8 năm 1965, Xa-mán tổ chức hội nghị gồm cơ quan và chuyên gia Quân khu, các chính trị viên và chuyên gia chính trị tiểu đoàn, một số báo cáo viên của đơn vị có sự việc điển hình. Qua hai ngày làm việc, hơn chục bản báo cáo điển hình được trình bày đã làm rõ diễn biến nhiều mặt nhiều vẻ về tình hình chính trị - tư tưởng trong các đơn vị khi tiến hành đánh mật tập, khi địch sử dụng phi cơ Mỹ, khi đơn vị chốt phòng ngự dưới điều kiện phi pháo cao, khi đơn vị đi làm công tác cơ sở vùng sau lưng địch, khi tác chiến gặp khó khăn, và đặc biệt khi Quân khu đã giành được thắng lợi ở Cánh Đồng Chu. Nhiều bản báo cáo đã nêu rõ hiện tượng dụ dỗ chiến sĩ ta đào ngũ. Địch đã chỉ đạo việc tiến công tâm lý làm suy yếu bộ đội với những mức độ khác nhau: cao nhất là trốn theo địch (có súng hoặc không có súng), thứ hai là trốn về địa phương, thứ ba là trốn ra lấy vợ là dân thường. Cả ba kiểu trốn đó đều làm suy yếu thực lực và sức chiến đấu của khối chủ lực Cánh Đồng Chum.

Thành công của hội nghị là tìm rõ nguyên nhân của việc bộ đội đào ngũ, phần lớn vì cuộc sống chiến đấu gian khổ, ác liệt, lâu dài và hoạt động chiến tranh tâm lý, gián điệp của địch. Xa-mán dành hẳn một buổi yêu cầu tôi giới thiệu về lịch sử và tác hại của chiến tranh tâm lý, gián diện của Pháp đã dùng để xâm lược Đông Dương trước đây và những kế hoạch họat động chiến tranh tâm lý mà Mỹ đang tiến hành ở Việt Nam. Hội nghị đã có tác dụng tích cực làm chuyến biến toàn diện phương hướng và nhiệm vụ công tác chính trị, tư tưởng của bộ đội Quân khu Cánh Đồng Chum.

Phong trào chiến tranh nhân dân trong Quân khu bắt đầu có chuyển biến tốt, số du kích từ 500 đã lên 2.600. Thanh thiếu niên được học tập và xung phong tham gia bảo vệ bản làng. Cuối năm 1965, Quân khu mới tổ chức động viên thử mà đã thấy nhiều hứa hẹn. Mường Pẹch có một em gái tên là Xao-nọi mới 14 tuổi, người lại gầy yếu nhưng nhất định xin bố mẹ cho đị bộ đội đánh Mỹ.

Khi bố mẹ của em giải thích rằng em còn bé thì Xao-nọi trả lời: Lớn lên, hết giặc, biết đánh ai. Em còn bé, sức yếu sẽ xin làm cấp dưỡng lo cơm nước cho bội đội…

Mẹ Xao-nọi phân tích: bố mẹ chỉ được mình con là gái. Người Lào ta thường phải trông vào con gái. Lớn lên con lấy chồng lùng, bố mẹ trông chờ nhiều vào con dấy. Đó là nghĩa vụ đề đáp công ơn cha me. Con không nghĩ đến điều đó sao?

Xao-nọi trả lời: con bé nhưng học rồi, con lại nghĩ khác mẹ. Lúc này công đền đáp cao nhất của ngời con bất kể trai hay gái chính là đánh Mỹ giải phóng cho bản làng, cho mẹ cha. Con đi chính là để bảo vệ bố mẹ, đó là đền đáp công ơn.

Mẹ cô chịu, nhưng ông bố dọa: bố mẹ lo cho con ăn mặc, học hành chính là để con khôn lớn, lập gia đình cho bố mẹ được nhờ. Nếu con cứ dứt khoát đòi đi thì từ nay chẳng sắm sửa gì hết.

Đêm đó Xao-nọi viết mọt bức thư ngắn: “Xin phép cho con đi cứu nước. Con chỉ xin mang theo một bộ quần áo. Còn dây chuyền và những cái khác con xin gửi lại bố mẹ. Sau này chiến thắng trở về con sẽ đền đáp công ơn bố mẹ”.

Bức thư và các đồ đạc khác cô gói lại để trên gối. Bốn giờ sáng hôm sau cô theo các chị trốn lên trụ sở tuyển quân của huyện.

Mờ sáng, bố mẹ Xao-nọi thức dậy chẳng thấy con chỉ thấy bức thư. Hai ông bà vừa thương con vừa ân hận ngồi khóc. Hai người lại bảo nhau gói bánh, mua quả, và chiều hôm đó mẹ cô lên huyện tìm con trao quần áo và quà cáp, động viên con yên tâm đi bộ đội. Khi chia tay, bà còn âu yếm, quàng trả dây chuyền vào cổ cho con.

Tình hình nói chung phát triển tốt. Tuy vậy, Quân khu vấn bám sát nắm chắc những hiện tượng ở vùng Bản Ban huyện Mường Khăm vì đây là nơi đang diễn ra những chuyện không bình thường.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:04:01 PM
*
*   *

Mường Khăm là huyện hậu phương, là vựa lúa của tỉnh, đất tốt, ruộng nhiều, nhân dân có đời sống cao nhất so với các huyện trong tỉnh. Ấy thế mà bộ đội địa phương phải lấy người từ Nậm Nơn về. Hàng năm vẫn có vài trăm thanh niên đi lính cho Vàng Pao và hàng chục gia đình trốn vào Long Chẹng. Trong khi đó tuyển quân cho tỉnh thì chỉ được hai chục người, vào bộ đội năm mười hôm đã lẻ tẻ chuồn về nhà. Thu thóc cứu nước thì được ít, nhưng đổi thóc lấy hàng mậu dịch thì nhiều gấp ba gấp bốn các huyện khác. Có nhiều buổi Tư lệnh Phun-xi-pa-xớt cùng Xa-mán, Xing-ka-pô, Xi-phon, Bun-niên, Lê Văn và tôi ngồi trao đổi hàng giờ. Ai cũng thấy đây là một vùng yếu. Đồng chí Nu-hắc Phun-xa-vẳn cũng đồng tình với ý kiến này. Trái lại một bộ phận lãnh đạo ở tình cùng tổ công tác 35 lại khẳng định đây là đơn vị mạnh, đặc biệt là mạnh về thành tích mậu dịch, ruộng chiêm thí điểm, về ký thuật ngâm giống “ba sôi hai lạnh”…

Nhân dịp đi kiểm tra việc bảo vệ kho tàng và phòng không phía sau, theo dõi kết quả đợt tiễu phỉ ở đường số 6 do đoàn anh Hòa dưa quân xuống chỉ đạo trực tiếp, tôi đã dành hẳn một tuần xuống thăm cơ quan huyện và đội công tác ở Khăm-mặn.

Được ở chung với cơ quan mấy ngày, tôi thấy họ ăn uống rất sang. Lòng lợn, phở gà, phở bò, rượu nếp cẩm, cá chép rán, vịt bầu, xôi trắng, gạo thơm không thiếu. Muốn là được. Chợ Bản Ban họp bên cạnh nhà, giá lại rất rẻ. Họ tự đánh giá là công tác đã đi vào nền nếp, khoa học nên ít vất vả, ít phải xuống cơ sở, khi đi thì đã có cán bộ biệt phái xuống chuẩn bị. Phát triển Đảng, bồ dưỡng cán bộ, họ sắp xếp rất chạy, chỉ có điều là cán bộ, nhất là quân sự như thôn đội, xã đội, trung đội du kích, đại đội du kích cứ thay xong anh nào hoạt động khá là bị phục kích, bị ám hại. Đó là điều thắc mắc duy nhất của họ. Nhưng họ tự giải đáp cũng đơn giản: do địch đóng ở Xen Chồ ra đánh. Chấm hết! Không cần suy xét, nghi vấn gì thêm.

Nhìn cuộc sống của họ ở giữa cái ngã ba Bản Ban trù phú này tôi thấy thật khó hiểu. Có lẽ chiến tranh đã bỏ quên họ hay họ đã lãng quên chiến tranh! Có lẽ không cần phải tìm đâu xa, cạnh nhà họ, đường số 7 bị sứt sẹo, băm nát; các chiến sĩ vận tải, công binh đang ngày đêm giành giật, chiến đấu với máy bay, bom đạn, pháo sáng. Một lần họ làm tôi xấu hổ vì phải trông thấy một cảnh khó coi. Sau mấy ngày công tác, tôi đi tìm chủ nhà để trao đổi ý kiến và chào tạm biệt. Tìm không thấy, tôi đành liều đi sang một vạt đồi cách đó chừng 500 mét thì gặp một ụ mối, bên trong khoét thành hầm giữa nương dứa. Nhìn thấy hai “thủ trưởng” (chủ tịch và đội trưởng công tác) ngồi xếp bằng tròn, sổ tay đặt trên đùi đang trao đổi ghi chép. Bên cạnh, ba cô gái phục vụ với ba bộ ngực đồ sộ nằm cong người ép sát và lưng và đùi hai thủ trưởng. Thấy vậy, tôi chào qua quýt và thoái lui.

Trên đường về tôi nhớ lại bức tranh vẽ ở chùa, cảnh đức Phật Thích Ca bị gái đẹp khiêu khích khi thoát nhà đi tu. Liên hệ với cảnh đó với cảnh thấy hôm nay, tôi càng “phục” cho hai ông “thủ trưởng” khéo bố trí “phòng làm việc, nghỉ ngơi” thời chiến này. Mọi sự hư hỏng chắc có nguồn gốc từ chỗ này đây! Trong khi Quân khu đang dự tính đến khả năng địch có thể tập kích Bản Ban, cắt đường số 7, phá cơ sở của ta thì tiểu đoàn cao xạ lại cử người lên Quân khu báo cáo về việc chủ tịch Mường Khăm cùng độ trưởng công tác đến yêu cầu cao xạ rút khỏi Bản Ban với lý do máy bay bay đến đánh cao xạ sẽ làm dân bị vạ lây. Tại sao lại có yêu cầu kỳ quái như vậy? Một dấu hỏi được đặt ra.

Quân khu chấp nhận việc “di chuyển cao xạ” và cho đến tháng 5 năm 1966 một bản báo cáo đầy lạc quan được huyện giử về Quân khu như sau: “Một chủ tịch tà xẻng cách đây một năm đã trốn theo địch, nay được cử làm tiểu đoàn trưởng. Tin tức cho biết người này sắp được ra đóng ở Xen Chồ. Anh ta đề nghị: nếu được ra Xen Chồ thì sẽ thực hiện một kế hoạch “binh biến” chiếm Xen Chồ, đưa quân về hàng. Đê thực hiện kế hoạch này chỉ cần Quân khu cho một tiểu đoàn mạnh vào giúp sức, thực hiện nội công ngoại kích, bảo đảm cầm chắc phần thắng”.

Người báo cáo còn nói: “Đây là cả một quá trình xúc tiến binh vận công phu, huyện đã cố đầu tư. Thật là một cơ hội nghìn năm có một. Quân khu không nên bỏ lỡ”.

Quân khu khen và gửi quà úy lạo “người hùng” đã làm ra cái kế hoạch này! Thư Quân khu viết ngắn gọn: “Quân khu đồng ý. Sẽ có cán bộ xuống làm việc cụ thể với huyện”.

Chủ tịch huyện nói với đội trưởng khi cầm thư của Quân khu về:

- Kỳ này nhất định ông phải được phong anh hùng. Đội trưởng công tác cũng tin là mình sẽ được phong anh hùng thật. Từ ngày có chiến tranh trên đất Lào đến nay đã có anh nào tổ chức được một cuộc binh biến? Anh ta thấy khoái.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:04:19 PM
Sau đó, Bộ Chỉ huy Quân khu họp có Lê Văn và tôi tham dự. Cuộc họp đã có những nhận định khác hẳn:

- Chắc chắn đây là một kế hoạch tập kích Bản Ban được soạn thảo từ Long Chẹng đưa ra thực hiện ở Xen Chồ trong mùa mưa (diệt tiểu đoàn của ta rồi đổ quân ra đánh phá kho tàng, cướp dân).

- Ta phải tương kế tựu kế, dùng mưu địch diệt địch, phải tiêu diệt Xen Chồ để xây dựng lại cơ sở Bản Ban.

- Để bảo đảm bí mật tuyệt đối, trừ hai tiểu đoàn tiến công, mọi việc chuẩn bị phải do các sĩ quan chủ yếu của Quân khu và đoàn chuyên gia làm. Xa-mán và tôi nhận trách nhiệm tổ chức chỉ đạo thực hiện. Phải báo cáo trực tiếp và thường xuyên với đồng chí Nu-hắc.

Đầu tiên tôi cử tổ công tác gồm một điện đài cùng các đồng chí Cơ tác chiến và Doanh quân báo mang bản đồ kế hoạch hiệp đồng binh biến xuống phối hợp cùng huyện làm việc với con tin “người hùng” kia. Bản đồ hiệp đồng chú yếu vẽ rõ vùng Bản Ban, Xen Chồ, nhằm vào ba điểm: vị trí sẽ tập kết của tiểu đoàn quân ta; đường hành quân của tiểu đoàn, vị trí tập kết để chiếm lĩnh bàn đạp xuất kích sát chân Xen Chồ (nơi địch dự kiến kéo ta vào để diệt). Còn thời gian hành động sẽ do “người hùng” tính toán và báo ra trước năm ngày để Quân khu có thì giờ ra quân cho chủ động. Lưu ý từ mồng 5 tháng 6, huyện phải cấm không được cho dân đi vào săn, khai thác lâm sản ở vùng tập kết bắc Na Ung để khỏi chạm bộ đội ta (đây là điều thăm dò kiềm tra quan trọng).

Các đồng chí Bun-niên, chủ nhiệm hậu cần quân khu, Công, chủ nhiệm hậu cần chuyên gia, Chum, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 và Pa-xợt, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Pa Chay (người H’mông) được triệu tập lên Quân khu để thống nhất vị trí tập kết, chuẩn bị lương thực cho bộ đội trước giờ xuất kích. Anh Chum chọn khu rừng cấm sau Bản Son. Chum và Pa-xợt dẫn cán bộ đi trinh sát Xen Chồ từ phía nam lên để vạch kế hoạch mật tập Xen Chồ lúc thời cơ đến.

Đúng ngày 5 tháng 6, hai chiếc T28 đến ném bom bắn phá khu vực Na Ung, nơi ta hứa tập kết quân. Cơ được lệnh đến phê bình huyện “vì đã để máy bay ném bom là bộ đội ta suýt thương vong nặng!”. Nhận được tin này Xa-mán cùng tôi xác định: Thế là cá đã cắn câu!

Tổ công tác của Cơ được lệnh: Doanh cùng điện đài vào đặt đài quan sát, hàng ngày nắm vị trí Xen Chồ, nắm việc điều quân của địch, đặc biệt là khi trực thăng đưa pháo đến phải báo cáo ngay. Rút kinh nghiệm lần tập kích trước, địch đã đưa pháo 105 xuống Xen Chồ bắn ra ngã ba Bản Ban. Quân khu phán đoán lần này Bản Ban thế nào địch cũng thả pháo xuống trước một hai ngày.

Ngày 7 tháng 6, “người hùng” xác định ngày hành động là 12 tháng 6, Bun-niên, Công được lệnh mổ lợn, nấu bánh chưng chuẩn bị đủ mỗi người ba bữa ăn. Bếp Hoàng Cầm nằm trong rừng cấm không hề thoát ra tý khói nào. Chiều ngày 9, bộ đội của Chum và Pa-xợt đi qua rừng cấm, mỗi người lãnh ba bánh chưng, ba miếng thịt rán rồi băng rừng bí mật vượt qua Tha Lin Nọi đến suối Nậm Phàn. Xa-mán cùng Hoàng Ngôn phó đoàn chuyên gia mang điện đài rực tiếp chỉ huy trận tập kích này.

Anh Xing-ka-pô cùng tôi chỉ đạo hiệp đồng giữa cánh nghi binh với cánh tiến công. 18 giờ ngày 9, điện của Xa-mán gửi về: “Bộ đội bắt đầu vượt suối Nậm Phàn. Đường tiếp cận bí mật an toàn”. Từ Bản Ban, cánh nghi binh báo cáo: “Trưa ngày 9 tháng 6, pháo 105 của Xen Chồ đã bắn thử ra ngã ba Bản Ban ba quả. Cơ quan huyện yên tĩnh” (thế là địch chưa có gì nghi ngờ). 20 giờ, Cục Kỹ thuật điện cho biết: “Địch báo động, có một tiểu đoàn Pa-thét đã vượt đường số 7. Ngày 11 tháng 6 sẽ đánh Xen Chồ”. Thế là Cục Kỹ thuật đã theo dõi địch đúng yêu cùa của chúng tôi. 23 giờ, điện thoại của Xa-mán: “Bộ đội dang tiềm nhập, trận địa yên tĩnh. 1 giờ nổ súng”.

Nhận được những báo cáo trên, đồng chí Nu-hắc thở phào:

- Thế là mọi việc rất ăn khớp. Ta đánh trước địch một ngày.

Trên thực tế sự việc đã diễn ra rất khớp, đúng dự kiến. Khi chiến sĩ ta tiếp cận trận địa thì cảnh tượng trước mặt quân ta là một trại lính phỉ ồn ào lộn xộn. Chẳng canh gác, chẳng báo động. Chúng được phép tự do ăn chơi, trai gái, cờ bạc thả sức để chờ đón “ngày chiến thắng”.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:05:16 PM
Đúng 1 giờ sáng ngày 10 tháng 6, tiểu đoàn của Chum, tiểu đoàn Pa-xợt nổ súng. B40, AK, thủ pháo nổ giòn. Sau 30 phút quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa, pháo hiệu đỏ vút lên giữa trời đêm. Hơn 150 tên phỉ bị loại khỏi vòng chiến. Số khác chạy ra rừng vướng mìn của chúng, chết thêm một số. Việc kiểm soát chiến trường được làm ngay trong đêm. Cái mà Xa-mán khoái nhất là khẩu pháo còn mới nguyên vẹn và văn phòng tiểu khu Xen Chồ vẫn cài cửa nghiêm chỉnh, trong đó có đầy đủ danh sách tổ chức chìm của địch và danh sách trả lương cho tay sai của chúng ở cấp huyện và tà xẻng ở các bản. Xa-mán giao cho Chum và Pa-xợt thu dọn chiến trường, bố trí Pa-chay giữ Xen Chồ còn anh thì ôm chặt khối tài liệu, xem lướt qua cái chợ, hàng hóa đang chất đầy sân bay để chờ phiên họp ngày mai. Xa-mán cùng tổ bảo vệ lách đường đi để về ngay trong đêm.

9 giờ sáng ngày 10 tháng 6, tôi đang chờ ở sở chỉ huy đoàn chuyên gia thì được điện thoại. Nhấc máy lên, đã nghe tiếng đồng chí Nu-hắc sang sảng:

- Anh Bình phải không? Chiến thắng lớn lắm! Nếu không bận anh sang ngay, ta bàn làm một chiến thắng to hơn nữa.

- Vâng, vâng! Tôi ra ngay.

Giọng nói phấn khởi chưa từng có của đồng chí Nu-hắc đã thúc giục tôi vừa đi vừa chạy, mấy phút sau đã đến nơi. Xing-ka-pô, Xa-mán nét mặt rạng rỡ đưa cho tôi xem bản danh sách trả tiền hàng tháng từ đầu năm 1966 đến tháng 6 của tiểu khu Xen Chồn cho tay sai của chúng ở huyện Mường Khăm. Mười hai ủy viên thì đã có mười người có tên lĩnh tiền của địch trong danh sách này. Đọc qua bản danh sách, tôi nói: chúng ta đánh giá tình hình không sai.

Đồng chí Nu-hắc nói tiếp: ta đã thắng trận thứ nhất. Trận thứ hai này làm tốt thì thắng lợi mới trọng vẹn! Vừa nói đồng chí vừa chỉ vào tập hồ sơ chiến lợi phẩm.

Xa-mán phấn khởi nói: tôi đề nghị làm luôn hôm nay để chúng không kịp đối phó.

- Tôi đã ra lệnh gọi một xe bọc thép cùng một xe Gát 66 chở trung đội bảo vệ. Anh Xing-ka-pô bổ sung.

Đồng chí Nu-hắc tiếp: tôi giao nhiệm vụ cho Xa-mán đi làm việc này. Trước hết hãy phổ biến tin chiến thắng cho huyện, sau là đưa quyết định gọi tất cả các cán bộ huyện về gặp Trung ương ngay. Phải làm kiên quyết, bất ngờ...

Xa-mán đi rồi, đồng chí Nu-hắc kéo anh Xing-ka-pô và tôi lại bàn tiếp.

Anh nói: tôi bắt buộc phải ra quyết định đình chỉ sinh hoạt của Đảng bộ Bản Ban và cử một ban cán sự mới do U-đôm, chủ nhiệm chính trị tỉnh đội, Thường vụ tỉnh ủy về làm Bí thư Mường Khăm. Quân khu chọn một đội công tác giúp ban cán sự của U-đôm phát động nhân dân tố cáo, trừng trị bọn phản động. Chọn cốt cán mới để củng cố lại chính quyền, xây dựng du kích và chấn chỉnh các mặt khác giúp huyện.

Qua trao đổi, anh Pô đề nghị lấy nguyên khung cán bộ kể cả học viên gồm một trăm người của trường hạ sĩ quan Quân khu đảm nhiệm việc này. Lấy ngay thực tế, phát động quần chúng để làm bài học trực quan cho học viên. Đồng chí Khâm chuyên gia hiệu trưởng nhà trường cùng đồng chí Nhân đội trưởng công tác mới của huyện bắt tay giúp cuộc phát động quần chúng, xây dựng, củng cố cơ sở Mường Khăm. Ngân vốn là dân Nghệ An đã giúp Nậm Nơn, sau đó về làm tổ trưởng giúp Mường Pẹch được đồng chí Nu-hắc tín nhiệm, lại là bạn cũ của U-đôm khi ở Nậm Nơn.Thiếu tá Khâm là người hiền lành, xông cáo, thận trọng, hợp với Ngân và U-đôm, đã giúp bạn củng cố được cơ sở Bản Ban đổi mới vững chắc mà sau này thực tế chống chiến dịch Cù Kiệt của địch đã chứng minh kết quả này.

Trưa ngày 10 tháng 6, chiếc xe bọc thép phủ kín lá ngụy trang đưa Xa-mán xuống thẳng sân cơ quan huyện. Nghe tiếng súng nổ ở Xen Chồ, cán bộ và nhân dân Bản Ban đang chờ tin chiến thắng. Vì vậy không đợi lệnh tập hợp, tất cả đã tề tựu. Cán bộ ngồi trong, nhân dân đứng ngoài.

Vừa xuống xe, Xa-mán nói to: “Chiến thắng lớn”. Tất cả vỗ tay hò hét nhường chỗ cho Xa-mán bước vào.

Khi tất cả đang tập trung vào Xa-mán thì từ ngã ba, chiếc Gát 66 dừng lại: trung đội bảo vệ nhảy xuống và rẽ hai cánh đi vào dàn thế trận bao vây từ xa quanh hộ trường giống như công việc cảnh giới mỗi khi có cấp trên quan trọng xuống thăm huyện, không ai để ý.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:05:43 PM
Mở đầu Xa-mán nói gọn về diễn biến trận đánh, về khẩu pháo 105 mới toanh, về một sân bay đầy hàng hóa mà phải hàng trăm dân công mới chuyển hết. Anh kết thúc khi nói xong nhiệm vụ chiếm giữ Xen Chồ để bảo vệ công cuộc củng cố huyện Mường Khăm. Anh mời nhân dân về yên tâm lo việc sản xuất và mời tất cả cán bộ huyện ở lại làm việc tiếp. Mọi người hoan hỉ ra về.

Ở lại hội trường, Xa-mán rút tập giấy ra nói: chiến lợi phẩm có nhiều và tài liệu cũng nhiều; theo chỉ thị của đồng chí Nu-hắc, Trung ương sẽ cùng với tỉnh và huyện nghiên cứu tài liệu để giúp cho địa phương. Anh đọc danh sách 10 người được triệu tập lên ngay Quân khu để gặp đồng chí Nu-hắc chiều hôm đó, không phải chuẩn bị gì hết. Chiếc xe bọc thép, rồi chiếc Gát 66 theo hiệu lệnh đã vào đỗ ngay trước sân. Trung đội bảo vệ khép vòng vây lại. Mười người có tên lần lượt lên xe Gát dưới sự giám sát của anh em bảo vệ. Hồn vía của họ quay cuồng, không còn kịp trở nay nữa. Xe Gát phòng lên trước, xe bọc thép của Xa-mán đuổi theo sau. Khi gặp đồng chí Nu-hắc, trước mọi chứng cớ họ đành cúi đầu nhận tội vì bị mua chuộc, vì hàng hóa, tiền bạc… đã biến mình thành tay sai của địch hại dân, hại cách mạng.

Một vấn đề nổi cộm làm cho Quân khu và Trung ương phải suy nghĩ, tìm hiểu trong suốt ba, bốn năm nay đã được giải đáp. Chính quyền Bản Ban bắt đầu vững mạnh từ đây.

Một ngày tháng 8, tôi về Hà Nội nhận chỉ thị triển khai thực hiện nghị quyết cuộc hội đàm của hai Bộ Chính trị Việt – Lào. Theo người hướng dẫn, tôi vào thẳng Câu lạc bộ Quân nhân, 19 phố Hoàng Diệu. Người ra đón ở cửa câu lạc bộ là Trung tướng Hoàng Văn Thái. Thấy tôi tóc tai, quần áo xơ xác, lấm láp bụi đường, anh Thái hồ hởi nói:

- Ôi chao, đúng là ông “tướng phỉ”, sao mà xơ xác, bẩn thỉu thế kia?

Tôi báo cáo anh Thái rằng tôi đã đi suốt đêm, về đến Hà Nội xuống xe vào thẳng đây.

Anh Thái tiếp:

- Có nhận được điện triệu tập dự cuộc họp “đánh tiêu diệt” này không?

Tôi trả lời rằng: chỉ nhận được điện đi nghiên cứu nghị quyết hai Bộ Chính trị thôi!

Anh Thái nói: Không được! Hội nghị này cần sự có mặt của cậu! Thôi bây giờ về mà nghỉ, đi cắt tóc, tắm rửa. Sáng mai dành hẳn buổi sáng cho cậu trình bày về “đánh tiêu diệt” của bộ đội Cánh Đồng Chum. Kinh nghiệm của các cậu quan trọng lắm.

Anh bắt tay thân mật rồi bất ngờ kéo tôi vào hẳn cửa hội trường và hô to với mọi người: xem ông “tướng phỉ” này vất vả chưa? Bây giờ cho anh ta về nghỉ tắm rửa đã. Đi cả đêm không ngủ. Sáng mai sẽ vào làm việc.

Thái độ ân cần của cấp trên làm tôi vô cùng xúc động. Tôi cúi đầu chào hội nghị, liếc nhìn thấy có Tổng bí thư Cay-xỏn và ha người giơ tay ngoắt là Tư lệnh Phun-xi-pa-xớt và anh Bằng Giang ngồi ở hàng ghế đầu.

Được một ngày nghỉ ngơi cắt tóc, tám rửa thay quần áo và chuẩn bị đề cương, sáng hôm sau tôi đến hội trường câu lạc bộ. Anh Thế Hùng – Cục phó Cục Tác chiến giới thiệu với tôi đại úy Hải Đồng, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn đặc công 41 đã báo cáo kinh nghiệm trận tiêu diệt đài ra đa Pa Thí và thiếu tá Đàm Văn Ngụy – Trung đoàn trường 174 giới thiệu kinh nghiệm vây vét phỉ Pa Thí, Tam La, Na Khằng. Anh em gặp nhau tay bắ mặt mừng, đặc biệt phấn chấn về những thắng lợi đã giành trên chiến trường rừng núi Lào. Đại tá Thế Hùng tỏ rõ thái độ khích lệ khi tôi bước lên bục.

Sau khi chào đồng chí Cay-xỏn và các Thủ trưởng Bộ, tôi bình tĩnh nói: chúng tôi chỉ là chuyên gia, một loại chỉ huy, không quân… Nghe tôi nói vậy, anh Bằng Giang chen ngay: tướng không quân mà đánh thắng mới giỏi.

Anh Phun cũng động viên: kinh nghiệm của ta hay đấy! Anh cứ nói đi!

Cả hội trường cười hưởng ứng. Tôi nói tiếp: hôm nay chúng tôi báo cáo kinh nghiệm đánh tiêu diệt của quân anh Phum, bộ đội mới tập trung học đánh công kiên, đánh tiêu diệt, mà đã đánh thắng hàng chục trận tiêu diệt gọn trung đội, đại đội quân đặc biệt Vàng Pao ở Cánh Đồng Chum…


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:06:15 PM
Trong báo cáo, tôi tập trung phân tích rõ những đặc điểm về địch, về địa hình rừng núi. Đánh ở rừng núi thì trèo mệt, khó vây. Địch phân tán đóng nhỏ từng chỏm núi, hoạt động theo lối du kích: dễ thì chắn trước, đánh sau, khó thì rút nhanh phân tán rồi quay lại bắn tỉa, đánh du kích. Ta chọn cách đánh mật tập chính là để lợi dụng bóng đêm, bí mật bao vây tiếp cận, nổ súng tiêu diệt khi địch chưa kịp đối phó, phân tán. Đây là cách giải quyết đánh tiêu diệt nhỏ mà bộ binh và đặc công có thể đánh tốt. Tôi nêu một số trận mà trong quá trình học và đánh thử, bộ đội Quân khu Cánh Đồng Chum đã vấp váp, sau đó nói kỹ trận tiêu diệt vị trí đại đội tiền tiêu Tha Lin Nọi mà Đại đội 15 Tiểu đoàn 2 anh hùng đã lập công xuất sắc. Đại đội địch đóng ở đây hơn 80 tên, có hào và hầm chiến đấu cá nhân, có ba ngồi nhà ván gỗ thông. Tiểu đoàn trưởng Chum đã chỉ đạo đại đội trưởng Bun-cơn và đại đội phó Khăm-phăn đi trinh sát bám vị trí địch hơn một tuần, nắm chắc lực lượng, quy luật hoạt động và sinh hoạt của chúng. Tối đến địch đốt lửa đánh bạc, sát phạt nhau đến nửa đêm thì đi ngủ. Lính gác cũng ngồi sưởi trong nhà vì trời rất rét. Trinh sát ta lợi dụng thời cơ, tiếp cận nhà ngủ mà địch không hề biết.

Trinh sát về, Đại đội 15 chọn 36 chến sĩ chia làm 3 mũi: 1 mũi trang bị 1 khẩu B40 còn toàn AK và thủ pháo. Ngày N chọn đúng vào tháng thượng tuần để lúc ta hành quân tiếp cận có trăng, khi tiềm nhập thì trăng lên. Hai giờ sáng, địch ngủ yên, quân ta bí mật áp sát mỗi mũi một nhà. Đúng giờ quy định, B40 phát hỏa; thủ pháo, AK đồng loạt nổ giòn. Nhà sập, lửa cháy, địch không kịp chạy tên nào, không một phát súng bắn trả. Mãi đến 11 giờ ngày hôm sau chúng mới cho một trung đội đến thăm dò, cho trực thăng đến đổ xăng đốt trụi. Từ đó không một tên nào dám bén mảng đến vùng này nữa. Nghe tôi trình bày xong, hội nghị vỗ tay nhiệt liệt tán thưởng.

Chiều hôm đó, anh Hoàng Văn Thái phái trợ lý tác chiến đến gặp tôi yêu cầu vẽ một loạt sơ đồ trận đánh của bạn ở Cánh Đồng Chum để phục vụ cho việc kết luận. Về kinh nghiệm đánh tiêu diệt ở Lào, anh Thái nêu gương trận Chòm Văn Giang Tơi (Bắc Lào) và trận Pa Thí ở Sầm Nưa của đặc công; ngoài ra 9 trận của bộ đội Cánh Đồng Chum đều được nêu làm bài học đánh tiêu diệt nhỏ ở địa bàn rừng núi để hội nghị nghiên cứu. Kết thúc hội nghị bàn về đánh tiêu diệt, Đại tướng Võ Nguyên Giáp mời cơm chiêu đãi đồng chí Cay-xỏn và tướng Phun cùng một số đại biểu khác. Tôi được các anh kéo vào ngồi cạnh đồng chí Cay-xỏn và Đại tướng. Đồng chí Cay-xỏn bắt tay tôi, khen anh em chuyên gia Cánh Đồng Chum làm ăn tốt.

Bữa cơm hôm đó có món bánh đa nướng và lạc rang, nem Huế khai vị theo tập quán địa phương Bình - Trị - Thiên, quê hương của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Khi nữ chiến sĩ công vụ cầm chai định rót rượu mời Đại tướng, đồng chí vội đứng dậy giữ chai và nói: hôm nay bác mời khách, mà khách là bác Cay-xỏn, Tổng Bí thư, Tổng tư lệnh quân đội Lào, cháu phải rót rượu mời bác Cay-xỏn trước.

Cả khách lẫn chủ cùng cười vui vẻ. Không khí thoải mái, thân thiết bao trùm bữa ăn…

Tiếp theo hội nghị bàn về đánh tiêu diệt, chuyển sang quán triệt nghị quyết của hai Bộ Chính trị (Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Bộ Chính trị truyền đạt nghị quyết và hướng dẫn việc vận dụng vào nhiệm vụ giúp bạn. Đồng chí phân tích cặn kẽ các điểm chính của hai Bộ Chính trị đã bàn như đặc điểm dân tộc, đặc điểm về địch, hoàn cảnh hai vùng, về những sáng tạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào trong việc vận dụng đường lối đấu tranh cách mạng nhất là từ năm 1959, đã kịp thời chuyển hướng đấu tranh. Nắm đấu tranh vũ trang nhưng tận dụng hết mọi khả năng và thời cơ cụ thể kết hợp với đấu tranh chính trị, pháp lý và binh vận nên đã liên tục giành thắng lợi. Đồng chí yêu cầu cán bộ chuyên gia và quân tình nguyện phải quán triệt đường lối, nhiệm vụ cách mạng của Đảng Nhân dân cách mạng Lào để giúp bạn…

Tôi nhớ nhất lúc đó là trong tám nhiệm vụ công tác thì nhiệm vụ xây dựng lực lượng, bảo vệ và xây dựng vùng giải phóng thành quy mô quốc gia là điều được Đại tướng đặc biệt nhấn mạnh. Vậy thì công tác chuyên gia, dầu là chuyên gia quân sự cũng phải bổ sung và chủ động hiệp đồng với tất cả các ngành khác. Mỗi đồng chí chuyên gia phải nghiên cứu toàn diện, cụ thể tình hình thực tế của bạn để đề xuất vấn đề cho chính xác. Tuyệt đối tránh máy móc hình thức. Không nên lấy hình mẫu tổ chức của Việt Nam để áp dụng cho bạn.

Về truyền thống đoàn kết chiến đấu giữa hai quân đội, hai dân tộc, Đại tướng nói:

- Nói đến tình nghĩa Việt – Lào, Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã khen ngợi các đồng chí Việt Nam lớp lớp kế tiếp nhau giúp cách mạng Lào, nhiều người đã nêu tấm gương “trọng đời, trọn nghĩa, trọn tình hy sinh cho cách mạng Lào”.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 06:09:04 PM
Đồng chí còn chỉ thị cho chuyên gia làm đến đâu phải biết tổng kết, nghiên cứu và giúp bạn cũng phải có chế độ sơ kết, tổng kết. Kết thúc bài phát biểu, Đại tướng rất hoan nghênh nếu nhận được những lá thư công tác của các đồng chí gửi cho tôi. Dài ngắn không kể, nhưng nói rõ những suy nghĩ, những thành công và những thắc mắc, khó khăn trong công tác mà các đồng chí cần cấp trên giúp đỡ.

Sau những ngày làm việc ở Bộ, theo lời dặn, 19 giờ tối cuối cùng, tôi đạp xe đến nhà riêng để làm việc thêm với anh Hoàng Văn Thái. Sau khi uống nước, anh mời hút thuốc. Thuốc mời là “Điện Biên” nhưng anh lại hút thuốc lá cuốn. Tôi không hút thuốc, anh khen thế là tốt. Anh Thái vui vẻ nói: mình định phải bớt vạt đất rau để trồng thuốc lá. Nhờ bón phân gà nên thuốc đã tốt lại ngon…

Trước khi vào công việc, anh hỏi về điều kiện gia đình, vợ côn tôi sơ tán, ăn ở ra sao? Về điều kiện sinh hoạt của chuyên gia…

Nghe báo cáo về công tác tổ chức trạm hậu phương chuyên gia gắn với địa phương khai thác thực phẩm tại chỗ nên đời sống chuyên gia có khá hơn, anh khen: Quan tâm giúp cơ sở chính trị và đời sống cho nhân dân làm chỗ dựa để giải quyết đời sống của chuyên gia là chủ trương đúng. Anh nhắc phải quan tâm giúp lực lượng Trung lập của đại tá Đươn. Đây là một công tác dặc biệt mà chỉ có ở Cánh Đồng Chim mới có. Đó là công tác mặt trận, công tác liên minh giữa hai lực lượng quân sự. Cách mạng hóa cho lực lượng Trung lập về chính trị đã khó nhưng cách mạng hóa cả về quân sự, về kinh tế - hậu cần càng khó hơn. Trong khi tập trung bồi dưỡng cho lực lượng Pa-thét trưởng thành về mọi mặt để làm nòng cốt đoàn kết và đánh giỏi, phải mạnh dạn bồi dưỡng và phát huy sức chiến đấu của lực lượng Trung lập.

Tôi mạnh dạn đề nghị: do cứ phải bám sát các đơn vị đang đánh nhau ngoài mặt trận ít khi ở lâu tại cơ quan, tôi muốn xin một đồng chí đoàn phó đặc trách giúp lực lượng ông Đươn, để tôi chỉ phải làm kế hoạch và làm trực tiếp với ông Đươn những việc lớn, những lúc có tình hình khẩn trương, đột xuất. Cần thiết phải có một bộ phận thường xuyên ở cạnh cơ quan ông Đươn để giúp ông những công việc cụ thể. Chúng tôi xác định phải qua chiến đấu và lao động, qua quan hệ gắn bó với dân mà bồi dưỡng ý thức cách mạng, cải tạo con người, xây dựng quan điểm tin dân, phục vụ nhân dân. Ngược lại, chính quyền, quân chúng cách mạng bằng tình cảm và hành động của mình sẽ là người có vai trò lớn nhất trong việc động viên, cảm háo dìu dắt và lôi kéo anh em Trung lập.

Anh Hoàng Văn Thái bổ sung: Những điều các đồng chi suy nghĩ là đúng, nhưng chú ý vai trò tiếp xúc của cá nhân đồng chí, vừa có tính chất tôn trọng, cũng là tình nghĩa với cá nhân ông Đươn, vì dù sao ông là thủ lĩnh một lực lượng. Đường lối của Đảng bạn về chiến tranh nhân dân không những là ánh sáng soi tỏ mọi công tác của chuyên gia, trong đó cần quan tâm củng cố tốt khối đoàn kết mặt trận liên minh giữa hai lực lượng của bạn để giành lấy những chiến thắng mới cho cách mạng Lào.

Ngừng giây lát, anh Hoàng Văn Thái nói tiếp:

- Theo ý kiến của đồng chí Cay-xỏn, rồi đây Bộ sẽ tổ chức một số lớp ngắn ngày cho các thành viên trong bộ chỉ huy Trung lập cùng ông Đươn về bên này nghỉ và nghiên cứu một số vấn đề về chính trị, quân sự, cũng là để có hỗ trợ thêm cho chuyên gia.

Kết thúc buổi nói chuyện, anh bảo tôi nhắc lại những việc cần làm ngay. Sau khi nghe tôi nói rành mạch, anh thân mật bắt tay tôi và nói:

- Mạnh khỏe, thắng lợi! Cho mình gửi thăm các anh em bên cạnh và anh em chuyên gia.

Tôi đạp xe về trong đêm thấy lòng khoan khoái và cứ nghĩ: anh Hoàng Văn Thái đúng là ông thầy của ngành tham mưu Việt Nam. May mà mình nắm chắc vấn đề và tỉnh táo. Làm việc với anh mà nắm không vững và qua loa, đại khái là chết ngay!

Mỗi khi giao nhiệm vụ xong bao giờ anh cũng bắt nhắc lại để kiểm tra việc quán triệt nhiệm vụ của người được giao. Đó là một chế độ tham mưu mà bất kỳ người chỉ huy nào cũng phải chấp hành, nó giúp cấp trên đánh giá được cấp dưới đã nắm chắc công việc đến đâu, đồng thời cũng nhắc nhở cấp dưới phải nghiêm túc và có trách nhiệm trong công việc chấp hành.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 07:14:13 PM
*
*   *

Đang mùa mưa, đường rừng đi lại rất trơn, lắm vắt. Nhóm chuyên gia chúng tôi vượt Bản Liang, Bản Hin và gặp chỗ sơ tán máy bay của dân Bản Khai. Mục đích của chuyến đi này là dựa vào cơ sở địa phương tìm chỗ đặt trạm hậu phương của đoàn để cải thiện đời sống cho anh em.

Trạm hậu phương phải gần với dân, nhưng lại ở chỗ bất ngờ, tiện liên hệ, gần đường ôtô, ra vào được mà không lộ. Đến chùa Bản Khai gặp đường số 4, đị Lạt Buộc, Phu Cút, chúng tôi thống nhất chọn khu rừng non, rẫy cũ, cây mới mọc lại độ sáu bảy năm toàn thông, dẻ, sồi, lại gần làng, gần ruộng. Địa điểm này vừa bảo đảm bí mật, vừa bất ngờ đối với kẻ địch. Mùa mạc choòng (mắc cọc) năm nay lắm quả. Vườn Bản Hin, Bản Khai nơi nào cũng đầy quả. Những cây lớn, cành dài sà xuống sát đất toàn quả to gấp đôi cái chén uống nước. Có nơi không hái để rụng, đàn lợn nhà xô nhau đến giành giật nhau ăn những quả chín mềm.

Hỏi một bà mẹ vì sao không hái đem đi bán, bà nói: năm nay được mùa nhưng chẳng đủ công đâu mà hái, cây ngay cạnh nhà cũng phải bỏ. Các con có sức cứ hái ăn giúp bố mẹ.

Được lời, đám thanh niên như Thanh, Văn, Lung nhào vào luồn the các cành đầy quả, chọn quả chín nhất vừa ăn vừa chuyền ra cho người đứng ngoài hàng rào. Đoàn được hưởng một bữa mạc choòng no nê của Bản Khai.

Ỏ Lào có một tục lệ rất hay là cứ đến Tết dân tộc (tháng 4, tháng 5), các nhà sư cắt các mầm non mạc choòng ra ghép với gốc mạc choòng rừng mọc ở các rãnh khe từ trên cao chảy xuống. Cứ như thế ba năm, mỗi gia đình siêng năng lại kết hợp với nhà chùa rào và xây dựng thêm một vườn ăn quả mới. Đây là một cách “làm phúc” rất đạo mà cũng “rất đời”. Mạc choòng tơ mới hái, ba năm thì bột khô ăn nhạt, nhưng bốn năm trở lên thì bột mịn ăn ngọt, lại thơm.

Nhiệm vụ của trạm hậu phương đoàn chuyên gia là giúp xây dựng phong trào chiến tranh nhân dân của địa phương Bản Khai, lập một kho dự trữ lương thực, thực phẩm và một trạm xá kiêm an dưỡng phục vụ chuyên gia và giúp dỡ y tế địa phương.

Khu rừng đặt trạm cách ngã ba Noỏng Hét đường chim bay không tới bốn ki-lô-mét. Cách đường số 7 hơn hai ki-lô-mét, mà đường số 4 lại là nơi phỉ Buôn Lọng hay ra đặt mìn đánh xe, nên anh em đề nghị xin lực lượng bảo vệ.

Tôi phân tích, bảo vệ trạm là nghìn rưỡi dân Bản Khai. Vấn đề ở đây là phải dựa vào dân, phải làm cho dân tin yêu bộ đội. Không ai bảo vệ tốt hơn dân. Đoàn thống nhất hàng tháng để ra một thùng mỡ nước, một két diêm, một cân đường, một cân kẹo để đến ngày rằm và mồng một âm lịch, mỡ và diêm thì biếu dân rán bánh đi chùa, còn kẹo và đường là để mỗi lễ trạm đưa một đĩa kẹo, một đĩa đường kèm mấy que tre kẹp mấy đồng bạc cắm vào giữa đĩa, làm đúng thủ tục đi lễ của dân. Vấn đề ở đây không phải là vật chất mà là biểu hiện sự tôn trọng truyền thống, tập quán, lễ giáo của nhân dân địa phương, gắn bó tình cảm giữa chuyên gia với nhân dân bạn. Với tấm lòng nhiệt thành đó, không đầy một tháng từ khi trạm đến ở, nai bản và sư cả cùng các sãi chùa đã tự động lập một kế hoạch bảo vệ trạm rất chu đáo, tin cậy Nhà sư đã hướng dẫn cho hai nhóm chú tiểu thường xuyên theo dõi người lạ đi lại trong vùng; có gì lạ là về báo sư cả, sư cả đến báo cho xã hội và trạm. Tuyệt đối cấm không cho xe cũng như người đi bộ qua bãi cỏ gần tram. Các thành viên của trạm tuyệt đối không được ra bãi cỏ. Dân cần xin thuốc, khám bệnh thì đến chùa. Ai phải ở lại vài ngày cấp cứu thì ở nhà nai bản, cần vài tuần điều trị thì trạm xá giúp đưa vào bệnh viện tình nguyện. Dân ở nơi khác không được vào thẳng trạm mà phải qua chùa và nai bản. Đó là lệ làng.

Để góp phần cùng bạn xây dựng phong trào ở địa phương, trạm xin cán bộ giúp huấn luyện du kích, tham gia các cuộc họp cơ sở, đỡ đầu về bút, phấn, tổ chức học chữ. Xã Khai đã được xây dựng thành xã đầu tiên thoát nạn mù chữ của huyện. Đội nữ du kích đầu tiên của xã Khai được đồng chí Bặt chuyên gia cao xạ dìu dắt trở thành ngọn cờ đầu của tỉnh dùng súng 12,8 bắn rơi chiến AD6 của địch ngay tại Noỏng Pết. Trường cấp hai xã Khai sau chuyển thành trường cấp hai của huyện, được thưởng Huân chương Anh hùng và thành tích học tập và chiến đấu giỏi. Mỗi mùa, chiếc xe tải của trạm giúp chuyển hàng mậu dịch, nhất là muối, vải, của tỉnh xuống cửa hàng các xã. Từ các xã lại chuyển đổi về cho tỉnh nào lợn, bò, gà, trứng. Nhờ vậy, suốt những năm chiến tranh ác liệt 1966-1970, dời sống chuyên gia được bảo đảm. Trạm an dưỡng ở đây được coi là một trong những đơn vị tốt nhất của bộ đội trong thời kỳ chống Mỹ. Quân tình nguyện cũng được mua của dân Xiêng Khoảng hàng trăm tấn thịt với giá rẻ.

Địch đánh ra Noỏng Pết, chiếm Phu Hoọc, trạm đã giúp giày dép, thuốc men và xin vũ khí cho du kích xã Khai tập kích loại khỏi vòng chiến đấu một đại đội địch ở Phu Hoọc, góp sức với chủ lực đánh bại cuộc tiến công của GM16 Vàng Pao ra Noỏng Pết. Qua hai năm xây dựng trạm, anh em kết luận: dân Lào tình nghĩa rất đậm đà, ngay thẳng, có nhận có trả, không bao giờ để bộ đội thiệt: lấy một bao diêm thì hôm sau biểu lại quả trứng, lấy một ít mỡ, hôm nay bưng đến cho một rổ rau. Thật là chí tình, chí nghĩa.

Chính trong chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Cù Kiệt, đội thanh niên của trạm hậu phương do Văn chỉ huy đã bảo vệ kho tàng, gài mìn, bắn tỉa diệt hàng chục tên địch, làm cho cánh rừng non Bản Khai này trở thành mảnh đất bất khả xâm phạm trong suốt những năm chống Mỹ. Ở đây, suốt cả tháng, ngày nào máy bay L.19 và OV10 cũng lượn tìm liên tục mà vẫn không phát hiện được gì và không một quả bom này rơi vào đây. Dân gọi OV10 và L19 là “máy bay Bản Khai”. Cứ 6 giờ sáng hàng ngày, OV10 và L19 đến là dân gọi nhau: “Máy bay Bản Khai đến rồi. Phải cẩn thận”.

Những năm 1970-1971, khi dân Mường Pẹch từ nơi lánh nạn trở về lập ra hợp tác xã, trạm đã nhận đỡ đầu hai xã Khăng và Khai. Tất cả bò, lợn, gà, vịt, ngựa chiến lợi phẩn Quân khu chia cho chuyên gia đều được trạm cho hai xã đỡ đầu. Khi về nước sang, anh em đã gùi từng mâm chuối non, từng bó cây sắn, bắp ngô, từng con vịt giống, gà giống, đem biếu hợp tác xã đỡ đầu. Quan hệ giữa trạm hậu phương đoàn chuyên gia cùng nhân dân bạn ngày càng thắm thiết. Anh em được dân coi như con cháu trong gia đình.

Mùa mưa năm 1965, sau khi giúp Coong-e xây dựng đủ ba bình đoàn 801, 802, 803, Mỹ ra lệnh cho Coong-le mở chiến dịch đánh chiếm Phu Cút và vùng bắc Cánh Đồng Chum, nhưng chúng đã bị quân dân Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng đánh bật trở lại.

Vừa đánh tan quân Coong-le, bộ đội đang sửa sang trận địa đề phòng địch đánh tiếp, tôi nhận được điện của Đồng – chuyên gia chính trị Tiểu đoàn 13 báo là bạn cho phép cả anh Phuông (chính trị viên) và anh Bô-khăm (quyền tiểu đoàn trưởng) nghỉ cưới vợ cùng một lúc. Trong lúc bộ đội chuẩn bị đánh địch thì việc này quả thật làm cho chuyên gia tiểu đoàn hết sức lo lắng. Không tiện trao đổi trên máy, tôi mời Đồng đến chỗ tôi để bản bạc cụ thể.

Mười lăm phút sau, Đồng đến sử chỉ huy đoàn. Tôi và Lê Văn tiếp vui vẻ. Tôi nói đủ để Đồng rõ: đây là vấn đề tế nhị. Chúng tôi biết hai cán bộ tiểu đoàn đã yêu hai cô tổng đài trên hai năm rồi. Bây giờ Quân khu cho cưới. Tất nhiên Quân khu quyết là bạn đã cân nhắc rồi. Về nguyên tắc không có quyền can thiệp. Hơn nữa, theo chúng tôi, trong vòng một tuần tới quân Coong-le còn tổ chức, chưa tổ chức đợt tiến công mới được. Lúc này chắc việc chuẩn bị cưới của tiểu đoàn thông tin đã sắp xong. Tốt nhất ta phải ủng hộ tích cực hai đồng chí ấy cưới xong, phấn khởi trở về chỉ huy đơn vị càng nhanh càng tốt.

Lê Văn viết giấy cho liên lạc xuống hậu cần nhận hai túi thuốc lá Điện Biên, hai chai rượu Lúa Mới, hai túi đường và dặn Đồng mang quà về gửi biếu bạn, chúc hai bạn tổ chức vui vẻ, hạnh phúc, chóng trở lại chỉ huy đơn vị. Còn chuyên gia tiểu đoàn xin vắng mặt để ở nhà thay hai anh theo dõi các đại đội, giúp đôn đốc sẵn sàng chiến đấu. Trên này, chúng tôi sẽ bám anh Chăn-đi nắm tình hình và sẵn sàng giúp đỡ phòng khi địch tiến công. Còn nếu địch có đánh thật thì Quân khu cho xe về nhanh, chả có gì đáng ngại.

Cuối cùng địch cũng chưa đánh và đám cưới được tổ chứ vui vẻ. Hai cán bộ tiểu đoàn sau một tuần nghỉ ngơi thoải mái đã trở về Phu Cút yên tâm làm nhiệm vụ và cảm ơn lòng nhiệt thành xây dựng của chuyên gia đối với hạnh phúc gia đình mình. Đúng là vừa được lòng và được việc.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 07:14:38 PM
*
*   *

Tổ chức hội phụ nữ ở một số cấp tỉnh, cấp huyện, động viên phụ nữ tiếp tế,nuôi dưỡng thương bệnh binh tình Xiêng Khoảng đã có từ thời đánh Pháp nhưng không nhiều. Thời kỳ đầu chống Mỹ, phong trào phụ nữ ở đây vẫn chưa mạnh. Một khái niệm lưu cữu là phụ nữ Lào chỉ làm việc nhẹ, sống dựa vào đàn ông, còn đánh giặc chỉ là cá biệt. Tổ chức phụ nữ thành lực lượng phục vụ chiến đấu và chiến đấu tập trung là điều không dễ.

Vào một ngày cuối năm 1965, trên đường đi kiểm tra việc bố trí lực lượng phòng không bảo vệ cầu đường và kho tàng dọc đường số 7, tội gặp đoàn dân công hỏa tuyến Nghệ An lên phục vụ quân tình nguyện chiến đấu ở Cánh Đồng Chum. Đây là một đại đội thanh niên xung phong mà nữ chiến đến 95 phầm trăm. Tuyệt đại bộ phận các em chỉ độ tuổi 16-17, mới tốt nghiệp phổ thông cấp hai, một số đang học dở cấp ba.

Hỏi vì sao 16 tuổi mà cũng được đi, các cô vừa nói vừa cười:

- Vì chúng cháu ước ao đi đánh Mỹ. Xã thì phải chạy cho đủ số lượng, chỉ cần chúng cháu vận động cán bộ xã cho xin thêm một hai tuổi, thế là thoát!

Khi tôi nói đùa: thế là các cô, các cậu đã nói dối chính quyền, thì họ nhao nhao trả lời: nói dối để được đi đánh Mỹ thì chũng cháu nghĩ chẳng có tội. Thật là một sự nói dối đáng yêu!

Tối hôm đó, tôi đưa thư anh Trần Đăng Vân – Vụ trưởng lao động tiền lương thuộc Ủy ban Kế hoạch Nhà nước cho Lê Văn đọc. Thư viết: “Đã lâu, bất ngờ hôm nay mới đọc được công văn của thủ trưởng cũ đề nghị Nhà nước xin dân công hỏa tuyến cho tình nguyện và chuyên gia Cánh Đồng Chum. Lớp thanh niên xung phong đầu tiên cứng cáp hơn đã lên đường phục vụ đường Trường Sơn. Nay còn lớp dự bị. Chúng tôi ưu tiên cho Cánh Đồng Chum hai đại đội Nghệ An, một đại đội Thanh Hóa. Thế là anh em tận tình chi viện cho đơn vị thủ trưởng đủ sức lập công. Chỉ trách thủ trưởng sao không gọi cho lính cũ cùng sang Cánh Đồng Chum cho vui. Cứ phải chạy viện phía sau buồn lắm…”.

Đêm đó tôi ngủ trong tâm trạng chập chơn, địch đã tiến hành chiến tranh phá hoại ở Quân khu 4, gia đình tôi đã sơ tán. Hà Nội, Hải Phòng đang bị đe dọa nhưng mẹ hiền Tổ quốc vẫn chăm lo cho lớp con cháu phía trước. Hết lớp của anh đi trước đến lớp đàn em, con cháu đi sau. Vì nhiệm vụ và nghĩa tình quốc tế mà hậu phương huy động chi viện cho chiến trường Lào như vậy là tận tâm, tận lực. Đến các em học sinh gái mới ỏ tuổi 16 cũng hăm hở sang phục vụ chiến trường Lào! Trong khi đó thanh nên Lào chỉ dám huy động con trai là chính. Sao ta chưa nghĩ đến việc đề nghị động viên nữ thanh niên Lào ra mặt trận? Tự nhiên, tôi thấy hình như mình đang mắc một lúc hai sai lầm là quá ỷ lại vào hậu phương lớn và thiếu lòng tin và nam nữ thanh niên Lào.

Sáng hôm sau vừa thức dậy, tôi tâm sự với Lê Văn. Chúng tôi thống nhất ngày hôm đó làm việc với anh Xa-mán và anh Xi-phon, sẽ trao đổi thử vấn đề này.

Làm việc xong với anh Xa-mán về những nội dung chính, chúng tôi xoáy vào hai điểm:

Một là vấn đề đánh phá của địch ngày càng ác liệt. Vấn đề bảo vệ kho tàng, đường sá càng đòi hỏi nhiều nhân lực, nhiều dơn vị tập trung vận chuyển chuyên và không chuyên.

Hai là chiến tranh đang phát triển, bộ đội ta ắt phải mở rộng vùng giải phóng. Nhiều cuộc chiến đấu cơ động, nhiều chiến dịch tập trung ngày một cao hơn. Vấn đề đánh trả máy bay địch, nhất là máy bay bay thấp, vấn đề bảo đảm giao thông vận tải nếu chỉ dựa vào chủ lực, dựa vào một, hai đại đội ô tô sẽ rất bị động, nhất là khi phải mở các mũi đường tắt, thọc sâu. Tác chiến ở rừng núi phải có các đại đội vận tải bộ mạnh.

Ở Việt Nam, lúc này các đơn vị du kích bắn máy bay đã được xây dựng và hoạt động có cả nam lẫn nữ. Lực lượng nữ ở Việt Nam trước là tập trung phục vụ và bảo vệ hậu phương. Bây giờ lực lượng nam không đủ, nữ đã được huy động vươn dần theo tuyến Trường Sơn, và thực tế dân công hỏa tuyến nữ đã huy động sang cả bên Lào. Chúng tôi kể lại cuộc gặp các cô gái 16-17 tuổi xin chính quyền cho thêm tuổi để được ra mặt trận.

Vốn tính nhạy cảm, anh Xa-mán nghe mà rưng rưng nước mắt. Còn Xi-phon thì suy ngẫm quyết liệt hơn. Anh nói:

- Chết thật! Thế này thì chúng ta đơn giản quá. Việt Nam phải huy động đên cả học sinh gái 16 tuổi sang giúp ta vậy thì anh em ta còn chờ đợi gì, chờ đợi ai mà không động viên lực lượng thanh niên gái của ta. Nữ du kích, nữ cao xạ, nữ pháo binh Việt Nam làm được thì ta cũng làm được chứ! Phải tin phụ nữ Lào! Phải tin phụ nữ Xiêng Khoảng chứ! Xóa nạn mù chữ, cày ruộng, đi dân công ở Phu Cút cũng nữ xã Khai dẫn đầu, nến ta huấn luyện và hướng dẫn thì việc gì họ cũng làm được.

Xa-mán tiếp:

- Việc này tuy mới nhưng không phải là lạ. Chúng tôi sẽ về báo cáo anh Phun và tính toán cụ thể. Đã quyết là phải làm cho chắc ăn. Có thể đi từ thấp lên cao.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 07:15:54 PM
Kết quả là Quân khu đã bàn và quyết định và giao cho hậu cần cùng chuyên gia nghiên cứu lập một trung đội nữ vận tải bốc vác. Vấn đề cần nghiên cứu là cách quản lý và tổ chức sinh hoạt tập trung của một đơn vị nữ thoát ly. Tuy vậy, một số còn lo họ sẽ mang cái tập quán chơi hội múa hát kiểu tự do ở vùng dân tộc, không duy trì được kỷ luật.

Thậm chí khi Quân khu đang xoay trần ra sửa chữa lại một số quy tắc về sinh hoạt, chế độ phục vụ, về các tiêu chuẩn bổ sung cho sinh hoạt của nữ quân nhân thì chúng tôi nhận được điện từ phòng chuyên gia hậu cần Sầm Nưa: “Các đồng chí phải nghiên cứu cho hết các đặc điểm riêng của phụ nữ Lào, chớ hấp tấp… Có sự cố gì các đồng chí phải hoàn toàn chịu trách nhiệm với bạn”.

Những bức điện, những dự luận thu lượm được xung quanh chuyện ủng hộ hay không ủng hộ chủ trương này trong bộ đội, trong nhân dân, chúng tôi đều cung cấp để Bun-niên, Xi-thon, Tả Đảo, Ven Tích, Sinh bàn luận cân nhắc. Sự thật thì Quân khu có tin nhưng vẫn lo. Để khích lệ phong trào, Bun-niên cho mời đội văn nghệ của đơn vị dân công Nghệ An đi dự cuộc liên hoan văn nghệ trường cấp hai Mường Pẹch và trường cấp hai Bản Ban. Tuổi tác xấp xỉ nhau, nhưng vóc dáng nhiều cô gái Lào còn to khỏe hơn. Các bài hát Bài ca hy vọng, Giải phóng miền Nam, Quảng Bình quê ta ơi, Tiếng hò trên đất Nghệ An… hòa nhập với những bài hát Lào như “Xao Xiêng Khoảng” (Gái Xiêng Khoảng)… Sự hòa nhịp về lời ca giữa những người con gái Lào – Việt trẻ trung đang hăm hở bước vào con đường đánh Mỹ cứu nước thật là nhẹ nhàng, tự nhiên. Các bạn Lào dẫn bạn Việt về thăm bố mẹ Lào, chuyện trò nghe tiếng được tiếng mất nhưng dần dần họ đã hiểu nhau. Bí chỗ nào là tất cả lại cười rộ lên. Các ông bố, bà mẹ người Lào nhìn những đứa con Việt mà âu yếm, mà thương, mà phục: “Cũng bé như con Xao-nọi nhà mình mà dám xa nhà, sang tận đất Lào đánh Mỹ. Ôi con cháu Bác Hồ có khác!...”.

Một ngày cuối thu trên đường đi công tác về qua khu tổng kho, anh em mời tôi xem trung đội nữ bốc vác chuyển hàng lên xe đi Phu Cút và khẳng định: “Thủ trưởng xem xong bảo đảm sẽ phấn khởi!”.

Mặt trời sắp khuất mé núi. Hai chiếc xe vừa vòng vào cửa khi thì Văn-đi và Khăm-mặn, chỉ huy trung đội nữ tập hợp hai hàng dọc, mỗi tiểu đội hướng theo một xe. Hai cô nâng từng bao gạo 50 cân lên, chiến sĩ bốc vác ghé lưng đón lấy hai góc bao nhanh nhẹn chạy đến cửa sau xe, hai nữ chiến sĩ đứng chờ trên xe đón lấy bao gạo nâng lên xếp vào sàn xe. Hai tiểu đội thao tác thành thạo, nhẹ nhàng, chả mấy chốc gạo đã đầy xe. Khi các nữ chiến sĩ rút khăn tay lau trán thì chiếc xe đầy hàng đã nhanh chóng rời kho, nhường chỗ cho hai xe khác tiến vào.

Xe cộ tấp nập vào ra, những thiếu nữ nhanh tay, nhanh chân chuyển hàng… chẳng khác nào một cảnh phim có dàn dựng trước. Trước khung cảnh ấy, tôi thực sự xúc động và khẳng định với Sinh, Tích rằng chúng ta đã thành công. Về đến nhà tôi gọi điện ngay cho anh Phun:

- Báo cáo anh, tôi vừa đi xem phim ở kho hậu cần về.

- Ô, thế thì vui quá. Phim gì có hay không?

- Hay lắm! Phim đội nữ vận tải của Quân khu bốc gạo lên xe…

Vỡ lẽ, anh Phun ồ lên một tiếng:

- Thế nào, làm ăn khá lắm hay sao?

- Khá lắm! Thật bất ngờ. Tôi chưa dám nghĩ chị em họ học quân sự nghiêm chỉnh và tổ chức bốc vác giỏi đến thế, rất xi-nê anh ơi!

- Ôi! Thế thì ngày mai tôi cũng phải đi xem!

Sau khi cùng ra xem đội bốc vác về, lòng tin, lòng tự hào của những người chỉ huy Pa-thét Lào với phụ nữ Xiêng Khoảng càng được củng cố. Cứ thế, lần lượt từ trung đội, Quân khu đưa lên đại đội vận tải nữ, rồi trung đội súng máy 12,8 ly nữ, cho đến khi đại đội nữ pháo binh Xi-núc, Thu-mi ra đời thì tiếng tăm các đơn vị nữ càng vang xa, làm nức lòng nhân dân, mà kẻ địch cũng hoảng sợ. “Phụ nữ mà nạp đạn thì không bùa mê, không ngải nào, thuật nào chống được”. Lính phái hữu rất mê tín nên chúng sợ đến nỗi phòng tâm lý chiến phái Hữu phải cho ra những truyền đơn, biếm họa xuyên tạc về tổ chức đội nữ pháo binh.

Phong trào lan rộng, Văn-đi được điều về Sầm Nưa làm cố vấn để tổ chức đại đội vận tải nữ của Tổng cục Hậu cần quân đội Lào; sau đó được đề bạt làm Giám đốc Xí nghiệp giày quân đội.

Khăm-mặn được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Lào. Nhưng sôi nổi nhất vẫn là cái ngày giải phóng Viên Chăn năm 1975. Đại đội Xi-núc rực rỡ, tươi cười với những giàn Ca-chiu-sa tiến vào thành phố Viên Chăn. Trên đại lộ từ sân bay Vạt Tày đến Nhà Quốc hội, dẫn đến doanh trại bộ đội bảo vệ Thủ đô dày đặc nhân dân Viên Chăn, có cả cờ hoa, đón xem đại đội nữ pháo binh Quân đội nhân dân Lào ra mắt đồng bào trong nước và bè bạn quốc tế. Điều này được coi như một trong các sự kiện đáng tự hào của đất nước Triệu Voi.

Trong dịp về thăm Quân khu mùa hè năm 1970, khi đánh giá phong trào, Tổng bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hản đã nói: “Trải qua chiến tranh ác liệt, Xiêng Khoảng đã mở ra một vấn đề có tính chiến lược trên bước đường giải phóng phụ nữ”.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 07:17:18 PM
*
*   *

Mới được một ngày để bàn bạc với Chăn-đi và Lê Văn về kế hoạch điều chỉnh bố sung trận địa, tôi phải về ngay Quân khu để gặp Tư lệnh Phun-xi-pa-xớt theo dõi việc điều quân của phái Hữu cánh đông nam. Tin kỹ thuật báo: “GM13 đã lên hướng Phu Xao”. Tôi thông báo ngay cho Danh chuyên gia Tiểu đoàn 2; đề nghị anh Chum củng cố trận địa Phu Pha Pheo. Sẵn sàng đón đánh GM13.

Tiểu đoàn 24, Tiểu đoàn 500 đều được báo động để chặn địch ở hướng Phu Xao. Nắm chắc đơn vị phía nam, tôi báo cho Lê Văn biết việc địch sắp đánh hướng đông nam.

Lúc này du kích Mường Phàn đã nổ súng đánh Phu Xao ra Ta Khẹt. Tiểu đoàn 500 đã nổ súng vào một toán phỉ khi chúng tiến vào Thong Phăn. Chỉ một ngày sau khi nhận được điện, Tiểu đoàn 2 chưa kịp bố trí thì một đại đội của 21BI-GM13 đã lên chiếm Phu Pha Pheo. Thế trận giành giật quyết liệt diễn ra liên tục năm ngày. Ban ngày GM13 đánh chiếm thì tối Tiểu đoàn 2 lạn phản kích; cũng có ngày phải phản kích hai, ba trận. Quân khu dự kiến sau ba ngày quân dự bị của ta sẽ đến tăng cường để cùng Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 24 phản kích nhưng không kịp. Chiên đấu kéo dài, ba Đại đội 15, 16, 19 của Tiểu đoàn 2 đã thấm mệt vì mỗi đại đội phải tập kích ba, bốn trận để giành lại Phu Pha Pheo mà phi cơ địch lại đánh trụi mấy rừng thông ở hướng Mường Phàn. Trung đội AM và súng 12,8 của tiểu đoàn đã bắn rơi tại chỗ chiếc máy bay thứ ba.

Đánh chiếm Mường Phàn không được, viên đại tá Khăm-phết, chỉ huy trưởng GM13 cho quân chuyển lên hướng Phu Huột để vào thị xã Xiêng Khoảng nhưng không qua được chốt của Tiểu đoàn 24. Trời mấy hôm đó lại sương mù dày đặc nên quân ta đỡ bị máy bay bắn phá mà địch cũng bị trở ngại trong tiếp tế liên lạc.

Xi-phon, Phó tư lệnh Quân khu cùng đoàn phó Hồ Đệ và chuyên gia tác chiến Lưu Đức Tài đã xuống đôn đốc Tiểu đoàn 1 cùng Đại đội 2 Tiểu đoàn 51 tăng cường cho mặt trận. Nhờ trời sương mù và rét đậm nên đã 9 giờ sáng mà bọn chỉ huy GM13 đóng trên đồn Bản Piàng, vẫn nằm bó trong các chăn lông ngỗng có khóa kéo như đống xác chết. Đại đội 2 Tiểu đoàn 51, mũi chủ công vào sát 50 mét mới nhìn rõ địch. Hai tên lính gác nhìn tháy ta, định nổ súng nhưng không kịp. B40, AK và lựu đạn đồng loạt nổ chụp xuống đầu địch. Cả Khăm-phết, cả cơ quan chủ huy GM13 của anh ta bị chếp bẹp vì mắc trong chăn không kịp chui ra. Có tên bị bắt trói lúc còn nằm trong chăn. Gần sáu trăm tên bỏ mạng tại trận.

Tàn quân tiểu đoàn 21, 22BI chạy về Thông Phăn, bị Tiểu đoàn 2 truy kích và Tiểu đoàn 500 phục sẵn đón đánh, diệt và bắt hơn 30 tên. Tiểu đoàn 13BI không còn chỉ huy, bị Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 24 đuổi chạy lên Phu Xao tan tác mỗi đứa một ngả. Hai ngày liền Xi-phon dùng máy HT.1 điều trực thăng địch, bay loạn xạ; hết bay thấp định tiếp đất lại phải vụt lên bay sang chỗ khác. Những tên sống sót của GM13 tan tác trong rừng.

Nửa tháng sau, bộ tổng tham mưu địch ở Viên Chăn cử người ra Pắc San rồi Tha Thơm định thu quân khôi phục lại GM13 nhưng quân lính đã trốn về nhà, chả thu được mống nào. Thế là GM13 một thời gây bao tội ác ở đất Xiêng Khoảng đã bị xóa sổ từ tháng 12 năm 1965.

Thời gian này, chuyên qua Quân khu phải đi xuống đốc chiến, giúp việc ở nhà chỉ còn Xảo tác chiến, Hoàng trưởng ban cơ yếu mà công việc vẫn chạy đều, khẩn trương, hiệu suất như một phòng tham mưu thực thụ.

Ngồi trong sở chỉ huy, tôi thấy lòng thanh thản khi nghĩ mình đã nhiều lần hỉ huy đơn vị đánh tiêu diệt đại đội, nhưng tiểu đoàn, trung đoàn thì chỉ đánh tan, lần này mới thật chắc là xóa sổ trung đoàn. Nó thì bám Xiêng Khoảng, mình thì bám nó từ năm 1962, đã ba năm rồi, thế là xong cái nợ GM13.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 07:17:44 PM
*
*   *

Tạm yên được hướng Phu Cút và hướng đông nam, tôi mời Lê Văn về để hội báo công việc. Lê Văn được phân công về Hà Nội báo cáo. Hồ Đệ, Cao Ngôn, Thịnh và tôi thường trực cơ quan, đặc trách hướng Phu Cút. Tôi phải quay về lên đường số 6 làm chức trách Tư lệnh tình nguyện, kiểm tra việc bố trí và hoạt động của Tiểu đoàn 924 cùng lực lượng công binh, cao xạ trên đường số 6, đường số 7. Trước khi đi chúng tôi đã bàn bạc rất kỹ và nhấn mạnh phải đề phòng hướng Phu Cút. Cũng vì lo Phu Cút, Quân khu bạn chỉ đồng ý cho tôi đi một tuần. Quân Coong-le chỉ mới thương vong chưa đến 400 trong ba đợt tiến công vừa qua, chúng còn khả năng đánh nữa.

Tập thể hạ quyết tâm xong là tôi đi ngay. Xuống Bản Ban làm việc xong với trung đoàn công binh trong đêm, hôm sau đoàn cuốc bộ lên đường số 6 đến làm việc với tiểu đoàn bộ binh ở Bản Thà. Chương trình làm việc bị đứt đoạn vì bốn năm tối T28 thay nhau đến đánh hang Bản Thà. Ngày thứ hai đoàn đi tiếp lên Pa Ca, Na Tinh, Na Mon, rồi trèo lên Xoi Voi xác định điểm chủ yếu phải giữ để bảo vệ đường số 6. Ngày thứ tư, đoàn từ Xoi Voi trở lại Na Tinh theo thung lũng ruộng bậc thang. Đêm ấy, tuy sáng trăng nhưng đường đầy cỏ dại. Đã 20 giờ, bụng đói, chúng tôi cứ phải vặt lá dâu non ăn với muốn thịt đựng ống. Kiểu ăn này không phải chỉ đỡ đói mà lại còn rất ngon, một loại thuốc bổ. Đến được Na Tinh đã 21 giờ, vì mệt nên mỗi người chỉ húp vài bát cháo trắng, không thiết ăn cơm sau đó lăn ra ngủ. Tôi nằm giữa Khuyên công binh và đồng chí công vụ.

Sau một giấc ngủ dài, vì mệt mỏi, tôi mơ một giấc mơ lạ lùng và khủng khiếp. Bất thần nghe một tiếng nổ inh tai. Như một phản xạ tự nhiên, tôi vùng dậy và hét to:

- Pháo Phu Cút!

Mọi người tỉnh dậy nhận đúng là tiếng pháo Phu Cút. Thế là cuộc tiến công thứ tư của quân Coong-le đã bắt đầu. Chiến sĩ nhận lệnh nấu cho mỗi đoàn viên hai nắm cơm đủ ăn ngày hôm sau. Cán bộ họp bàn kế hoạch bảo vệ đường số 6, đường số 7 phòng cuộc chiến đấu hướng Phu Cút kéo dài và có thể xảy ra tình huống xấu.

Chưa đến năm giờ sáng, đoàn cán bộ đã lặng lẽ lên đường. Đoàn đi liên tục suốt ngày, bỏ qua Bản Thà về hang Na Long, nơi đoàn bộ đoàn công binh đang ở.

Làm việc với trung đoàn công binh, tôi dặn dò anh em cần kết hợp với du kích, Tiểu đoàn 924, cùng cao xạ đánh máy bay và đề phòng phỉ ra lấn chiếm cắt đường, phá xe tiếp tế, Khoảng 22 giờ chúng tôi lên xe về Khăn Khay. 6 giờ sáng xe tôi đến Bản Tài thì thấy Cao Viết Thịnh cùng liên lạc từ đoàn bộ cao xạ ra.

Về sở chỉ huy, chúng tôi tổ chức một cuộc hội báo chớp nhoáng để Ngôn, Tài báo cáo tình hình và bàn biện pháp bổ sung cho Phu Cút.

Tài báo cáo: sau khi điều thêm một tiểu đoàn Văng Viêng tăng cường cho ba GM bị tiêu hao các đợt trước, địch đã tiến công áp vào sườn Phu Cút, Phu Xưa. Tiểu đoàn 13 của ta bị tiêu hao ngay ngày đầu vì địch dùng súng M79 bắn tỉa. Tiểu đoàn 1 được lệnh vượt sông phản kích vào sau lưng địch ở sườn đông nam Phu Cút, nhưng đêm thứ nhất không gặp địch. Ngày thứ hai, đã vượt sông Nậm Ngừm tiến chiếm bản Na Hi, đanh vào trận địa pháo và chiếm ngã ba Phiêng Luông. Máy bay địch ném bom na-pan đốt cháy đồng cỏ làm bén cháy cả các tuyết đột và dây điện thoại.

Hỏi về ý kiến giải quyết mới, Ngôn và Tài còn đang suy nghĩ. Nhưng Thịnh đã nhanh nhảu nói: tôi thấy địch có đánh được nhưng ta phải bình tĩnh phân tích hết chỗ yếu của địch và tin vào sự dũng cảm khắc phục của bộ đội bạn để chiến thắng. Chịu không được, tôi phản ứng luôn:

- Thôi thôi, kiểu lãnh đạo chung chung của anh, hãy xếp lại Tôi cần được các anh giúp ý kiến đánh thế nào? Để địch lọt vào trận địa rồi, phải đánh thế nào đây?

Cuộc hội báo trở nên căng thẳng.

Đối phó với M79 bắn tỉa, tôi điện cho Đàm giúp bạn dùng bù nhìn thu hút cho M79 lộ mục tiêu để ta dùng trung liên và B40 tiêu diệt. Làm dúng hai lần như vậy cánh quân bám chân mỏm 1 phải rút chạy. Mỗi ngày địch cho từ 150 đến 200 lần chiếc máy bay đánh phá. Chúng thả bom phá chưa gây thương vong nhiều nhưng sức ép làm một số chiến sĩ ho ra máu. Quân số Tiểu đoàn 13 từ 250 chỉ còn không đầy 50 chiến sĩ cơ động chiến đấu.

Được tin địch tiến công, anh Hoàng Văn Thái điện sang hỏi: Vì sao địch mới đánh hai ngày mà đã tiến sâu như vậy? Mặt trận đang khó khăn gì cần Bộ giúp đỡ.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 07:18:06 PM
Tôi báo cáo: lần này máy bay địch tăng cường đến 200 lần chiếc ngày. Bom na-pan đốt cháy đồng cỏ, phá hết đường dây điện thoại. Chúng tôi chỉ còn quan sát từ xa, nghe tiếng nổ để phán đoán và nhờ đài 15W là chính. Xin bổ sung 20.000 mét dây điện thoại, 3.000 viên đạn cao xạ 37; đạn pháo 85 và đạn cối 120 mỗi loại 200 viên. Điện đi được một đêm thì trưa hôm sau, anh Hoàng Văn Thái trả lời: “Ngày mai dây điện thoại lên đường. Cho đón ở Noỏng Phết để đưa thẳng tới Phu Cút. Đạn lên sau”.

Đúng hai ngày sau, chiếc xe con chở đại tá Thế Hùng cùng 20.000 mét dây điện thoại có mặt. Đồng chí Thế Hùng nói: anh Thái Lắc đầu bảo: “Mặt trận phòng ngự hiện đại mà chỉ dùng tai đoán chừng rồi chờ 15W thì chỉ huy thế nào được! Phải giải quyết ngay dây điện thoại cho anh em trong khi bạn chưa có”.

Thế là Thế Hùng được động viên chuyển dây điện thoại và lên kiểm tra mặt trận Phu Cút. Tác phong của anh Thái là như thế đấy!

Thế Hùng và tôi đi ngay trong đêm. Trên đường đi Phu Cút, xe đi đèn gầm cứ lâu lâu lại phải dừng vì: “Anh cho em gửi giỏ trứng lên Phu Cút”. Một đoạn lại “Con cho bố gửi giỏ cam lên Phu Cút”. Đoạn sau thì “Con cho mẹ gửi giỏ rau và mấy ống chẻo lên Phu Cút”. Đoạn tiếp lại “Các anh cho hội phụ nữ Bản Leo gửi mấy thùng bánh chưng lên Phu Cút”.

Anh Thế Hùng thấy quá lạ lùng và sung sướng. Đồng chí liên lạc của đoàn phải ép mình vào một góc để đủ chỗ xếp quà.

Tôi nói nhỏ với Thế Hùng: sức mạnh giữ vững Phu Cút là ở đây đấy!

Thế Hùng tiếp: cảnh tượng trên đường này càng làm cho tôi thấy say mê những con người Cánh Đồng Chum. Lần này về kể lại, các Thủ trưởng Bộ chắc khoái lắm.

Xe lên Phu Cút, có được 20.000 mét dây điện thoại, Xa-mán, Chăn-đi và Tô Đông Bích quá đỗi sung sướng. Còn việc địch thọc nhanh, Chăn-đi nói:

- Một phần do ta xử trí tung quân phản kích vội vã mà nắm địch lại không chắc. Bây giờ địch đã thọc vào quá sâu, ta lại mất liên lạc với Tiểu đoàn 1 cơ động.

Giải đáp nỗi lo lắng của Chăn-đi, tôi nói:

- Tôi đã điều Tiểu đoàn 51 tình nguyện bám đội hình quân địch vào Xiêng Khoảng. Đề nghị các anh cho lực lượng Tiểu đoàn 13 và pháo kìm chân chúng. Chậm lắm tới ngày mai Tiểu đoàn 51 sẽ diệt cánh này.

Bàn xong, anh Thế Hùng ở lại cùng Tô Đông Bích, tôi phải quay về Quân khu để gặp Tư lệnh Phun và đại tá Đươn bàn kế hoạch lật cánh đánh phía nam và Xa-mán và Chăn-đi đã đề nghị:

Cuộc họp với tư lệnh Phun và đại tá Đươn có Hồ Đệ, Cao Ngôn cùng dự. Tôi báo cáo tình hình cụ thể hai ngày ở hướng Phu Cút rồi trình bày những ý kiến đã bàn ở Phu Cút: hiện tại lực lượng Coong-le đang tập trung chủ yếu lên hướng Phu Cút, Phu Xưa, Song Hạc. Giữ Mường Xủi chỉ còn một tiểu đoàn. Bởi vậy lúc này ta chỉ nên đnhs kiềm chế hướng bắc. Trước mắt nên tập trung diệt cánh thọc sâu Phiên Luông. Còn Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 15 nên mạnh dạn lật cánh phối hợp với pháo binh tập kích vào tung thâm Mường Xủi buộc địch phải xoay lại đội hình.

Kế hoạch được thông qua và chuyển lệnh bằng điện đến Khăm-chăn, tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 cùng Xi-von, tiểu đoàn trưởng 15. Khăm-chăn dùng ĐKZ bắn vào tung thâm Mường Xủi. Tiểu đoàn 1 tập kích một đại đội của 8BI cùng hai điểm của phỉ, đánh chiếm Phu Đức, nam Mường Xủi. Tiểu đoàn 15 tập kích một điểm ở Bản Sai, nam Bản Khai, sau đó lại tập kích một điểm cao phía nam điểm cao 1.313. Coong-le hoảng phải rút thêm một tiểu đoàn bộ binh về bảo vệ Mường Xủi. Tốc độ cánh bắc có chậm lại. Tiếp đó, Tiểu đoàn 51 diệt được đại đội địch vượt sông ở bản Na Hy, Phiêng Luông, phá được cánh vu hồi uy hiếp Phu Cút.

Khuyết điểm của chỉ đạo chiến dịch phòng ngự ở đây là không mạnh dạn tập trung thêm quân về cánh nam để đánh cắt vào trận địa pháo Nậm Xoong và sở chỉ huy cùng sân bay ở quân Thái ở Bản Khai. Nếu ta đánh kiềm chế cánh bắc của địch rồi tập trung phản kích đánh tiêu diệt một bộ phận quan trọng vào phía sau cánh nam thì có thể làm vỡ đội hình của địch. Thiếu đòn hiểm nên địch cứ bám, ta phải diệt dần từng bộ phận. Coong-le cho một đại đội mò ra Phu Đức bị Tiểu đoàn 1 tiêu diệt tiếp. Tiểu đoàn 13 diệt tiếp một đại đội của GM80 ở Na Kho, GM801 mò lên sân bay trực thăng Phu xuống định từ đó đánh chiếm lại Phu Xủng, nhưng bị Tiểu đoàn 7 tình nguyện diệt và đánh tan. Bí nhất là máy bay địch tập trung quyết liệt cố giành giật mỏm 1. Công tác Đảng - công tác chính trị của tiểu đoàn 13 là chuẩn bị tư tưởng cho nhiều thê đội lần lượt thay nhau lên giữ chốt. Chiến sĩ Tiểu đoàn 13 quả quyết tuyên bố: “Lên chốt tôi có thể hy sinh nhưng nhất định Tiểu đoàn 13 không để mất Phu Cút”.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 07:18:34 PM
Hai trận địa pháo, một trận địa xe tăng lưu động được bố trí thường trực đánh chặn bộ binh địch, hỗ trợ cho bộ binh giữ chốt. Có lúc gần như là pháo binh phải gánh trách nhiệm giữ chốt thay cho bộ binh. Mặt trận được Xa-mán chỉ đạo giải quyết mọi nhu cầu thuốc men, đường sữa, trứng gà và quả tươi để lập một trạm điều dưỡng tại chỗ, có đủ hầm hào an toàn cho các chiến sĩ Phu Cút thay nhau đến nghỉ ngơi điều trị. Văn công Quân khu, văn công Trung lập, văn nghệ xã, trường cấp hai Mường Pẹch thay nhau đưa lời ca tiếng hát, đường kim mũi chỉ đến động viên, săn sóc chiến sĩ. Cứ một tuần ăn nghỉ lại sức mạnh anh em lại xin lên Phu Cút. Cảm phục tinh thần chiến đấu của chiến sĩ Phu Cút, Thanh Hải – nữ chiến sĩ đoàn dân công hỏa tuyến Nghệ - Tĩnh đã viết bài thơ: “Gửi anh chiến sĩ Phu Cút”:

Xiêng Khoảng – Phu Cút yêu quý ơi.
Chiến tranh khói lửa ngút phương trời
Mỹ gây tội ác chất thành núi.
Nậm Ngừm ánh nước bóng trăng soi.
Mênh mông thảm cỏ ngua (bò), khoại (trâu) gặm.
Chum đá hỏi ra sự tích dài.
Lăm vông vui hội bập bùng trống.
Phu Cút anh! Núi thép – Kim cương em đến rồi.


Chiến dịch kéo dài hết tháng 2 năm 1966. Quân Coong-le bị loại đến con số 800, lực lượng còn lại đành lui về tuyến cũ để củng cố. Chiến sĩ Phu Cút sau một thời gian chiến đấu căng thẳng mệt mỏi bắt đầu được nghỉ ngơi. Mặt trận vui mừng đón đoàn xiếc Trung Quốc đến biểu diễn động viên. Bộ đội tổ chức thay phiên nhau đi xem. Ngày thứ nhất yên tĩnh. Trời lúc này còn rét nhưng nắng trưa thì thật ấm. Các chiến sĩ cảnh giới thay nhau kẻ gác, người ngủ, người đi hái quả, lấy lá chua nấu canh. Chiến trường có vẻ như yên bình, chỉ có chiếc L19 vè vè một đôi vòng. 9 giờ ngày xem xiếc thứ hai, phát hiện quân ta canh gác trễ nải, địch cho một đại đội của 8BI bí mật bó lên chiếm mỏm 2, mỏm 3 Phu Cút. Từ 10 giờ trưa cho đến tối, pháo binh và phản lực Mỹ thay nhau ném bom, chung quanh điểm cao, nhất là trên tuyến Nậm Ngừm, cắt đường dây liên lạc của Phu Cút về phía sau. Sở chỉ huy mặt trận hỏi tiểu đoàn, tiểu đoàn loay hoay mãi vì điện thoại bị đứt. Chỉ có tổ bốn người trên mỏm 1 là giữ nguyên.

Từ sở chỉ huy Quân khu ở Khăng Khay, tôi đang bàn với tham mưu về kế hoạch cuối mùa khô thì nghe tiếng nổ ở hướng Phu Cút. Tôi thấy rất lạ là đạn cao xạ sắp cạn, đã có kế hoạch bắn tiết kiệm nhưng tại sao vẫn thấy nổ liên hồi. Đến chiều ở Phu Cút bom đạn vẫn nổ. Tôi gọi anh Xa-mán hẹn nhau tối đi lên Phu Cút kiểm tra tình hình, thì nhận được điện của Lê Văn: Địch đã chiếm mỏm 2, mỏm 3 Phu Cút. Mời anh lên ngay! Tôi sững sờ, bàng hoàng, không nói gì thêm. Biết Lê Văn là cán bộ quân sự cừ mà phải “cầu cứu” thế này tất phải có sự cố gì đặc biệt.

Trên đường lên Phu Cút, Xa-mán và tôi trao đổi: lúc này Tiểu đoàn 13, Tiểu đoàn 701 đều đã mệt; Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 ở xa. Trong tay Quân khu chỉ còn Tiểu đoàn 51 là sung sức. Dù sao cũng phải dùng Tiểu đoàn 7 phòng ngự hướng bắc thay Tiểu đoàn 701. Mặt trận phải nắm hai Tiểu đoàn 51 và 701 để phản kích giành lại Phu Cút ngay.

Mặt trận quyết định chuẩn bị hai ngày là phản kích. Nhờ cuộc hợp ở rãnh suối cạn Bân Ngưm, Xa-mán, Chăn-đi, Lê Văn, Bích và tôi đón Phuông Tiểu đoàn 13, cùng Đàm chuyên gia, Bu-thon, Bun-phông và Bân chuyên gia 701, Đóa và Thuận chỉ huy Tiểu đoàn 51. Nhìn anh nào cũng hốc hác, bởi chiến dịch đã kéo dài hai tháng rồi. Cán bộ và chiến sĩ lại chiến đấu trong tình hình chiến sự vô cùng căng thẳng.

Cuộc họp tính kỹ việc tổ chức đánh giữ mỏm 1 vì chắc chắn địch sẽ dùng bom và pháo đánh bật bằng được ta ra khỏi mỏm 1. Cuộc hội báo riêng giữa bốn người Xa-mán, Chăn-đi, Lê Văn và tôi cân nhắc kỹ thấy cứ nằm trên chốt càng nhiều thì càng thương vong, khó giữ. Chỉ còn một cách là đưa lực lượng ra trận giữ chỗ yên ngựa giữa mỏm 1 và mỏm 2, vừa chiếm được bàn đạp của địch vừa đánh địch từ xa để kéo dài thời gian phòng ngự. Cuối cùng chúng tôi nhất trí dùng một trung đội tổ chức đánh chặn từ xa. Trung đội của Hoàng Dự được giao nhiệm vụ này. Bàn xong kế hoạch phản kích, ngày tứ ba thì trung độ trưởng Hoàng Dự tới.

Nghe Tư lệnh phổ biến nhiệm vụ, mắt Dự không rời sơ đồ. Tôi thấy mến phục con người trầm tĩnh và tự tin một cách tuyệt vời này. Cuối cùng Dự chỉ hỏi: đánh thế này là bất ngờ nên không ngại. Chỉ đề nghị Tư lệnh cho biết lúc nào chúng tôi được rút về và theo đường nào?


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 07:19:16 PM
Cả hội nghị nhìn Dự với thái độ tin yêu trìu mến, nhất là Xa-mán.

Ngày hôm sau, tiểu đoàn trưởng 51 và Đàm chuyên gia Tiểu đoàn 13 nhận trách nhiệm tổ chức người dẫn đường và theo dõi cuộc hành quân chiến đấu của trung đội Dự.

Bốn giờ sáng, Đàm báo cáo: “Dự đã từ trận địa mỏm 1 tiến xuống yên ngựa”.

Chỉ sau một giờ, đơn vị Dự đã từ thế cao bất ngờ nổ súng vào đội hình một trung đội địch đang bò lên yên ngựa định tiến công mỏm 1. Đài 2W của Dự báo cáo: Chúng tôi đã diệt trung đội địch và đã vượt qua yên ngựa, đang đào hầm, bí mật phục kích tiếp.

Địch bị đánh bất ngờ, không xác định được mục tiêu, nên cả ngày hôm đó máy bay chúng cũng chỉ bắn phía sau. Bộ binh ở mỏm 2 mò ra hai lần đều bị trung đội Dự tiêu diệt.

19 giờ hôm đó, trung đội Dự được lệnh rút về theo đường cũ. Một ngày đánh ba trận, diệt 27 tên địch mà trung đội chỉ bị thương nhẹ một người, lại tạo điều kiện cho chiên sĩ ở mỏm 1 được một ngày nghỉ ngơi.

Đúng đêm đó, đêm mà cả ta và địch đều mệt mỏi, ba tiểu đoàn bộ binh của ta tiếp cận chuẩn bị tiến công; Tiểu đoàn 13 sẽ đánh mỏm 2, Tiểu đoàn 701 đánh cắt chặng giữa, Tiểu đoàn 51 đánh mỏm 3. Dúng kế hoạch, lúc 2 giờ sáng, hai khẩu cối 120, hai khẩu pháo 105, hai khẩu 85 và bốn khẩu 37 được lệnh bắn một loạt dồn dập vào hai mỏm Phu Cút. Mỗi khẩu được bắn 10 viên. AK, B40 nổ đồng loạt; sau đó là tiếng hô xung phong vang dậy. Không đầy 20 phút, 3 phát pháo hiệu đỏ vút lên. Tôi gọi Xa-mán và Lê Văn, nhưng các anh quá mệt, không tỉnh nổi. Ngoài sân, Chăn-đi, Lưu Đức Tài la hoảng lên: chết rồi! Sao đỏ rồi lại xanh, xanh rồi lại đỏ thế này? (đó là thắng, xanh là yêu cầu chi viện).

Tài gọi xuống Du chuyên gia pháo, cho chuẩn bị chờ lệnh bắn chi viện tiếp. Thấy vậy, tôi thét to:

- Khoan! Không được bắn. Có thể các cậu mừng quá bắn nhầm pháo xanh, bây giờ sợ pháo ta bắn nên phải tung pháo hiệu đỏ liên tục. Và tôi đã đoán đúng.

Cùng lúc, Xa-mán, Lê Văn tỉnh giấc và hỏi chuyện gì vừa xảy ra.

Tôi sung sướng hét to cho mọi người nghe: chiếm được Phu Cút rồi.

Cũng vừa lúc Chăn-đi nghe Bô-khăm Tiểu đoàn 13 gọi điện về thông báo: đã chiếm xong mỏm 2 và mỏm 3!

Xa-mán và Lê Văn tỉnh hẳn, mừng rỡ lao ra sân ôm lấy tôi. Liên tục mấy tháng trèo đèo vượt suối, liên tục giúp đơn vị quần lộn với địch, đặc biệt là năm ngày đêm vừa qua, chỉ huy đơn vị đánh địch, giành lại Phu Cút, các anh gần như không được ngủ.

Những ngày ác liệt, gian khổ đã tạm qua. Giành lại được Phu Cút, bổ sung kế hoạch, tôi lại mất bốn ngày lên núi, xuống núi, ra phía trước nghiên cứu bố trí lại đội hình, điều chỉnh thêm một số hỏa điểm cạnh sườn các vị trí. Được mấy đêm ngủ yên thấy người thư giãn, thoải mái, nhớ lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp dặn lúc về họp ở Hà Nội, tôi lấy giấy viết thư báo cáo tình hình hoạt động của địch, những chiến thắng của bạn và những cố gắng của đoàn chuyên gia ở Quân khu Cánh Đồng Chum trong thời gian qua, sơ lược những đặc điểm xã hội và con người Lào cùng cách giúp của chuyên gia.

Bức thư gửi đi được mười ngày thì tôi nhận được tấm thiếp trả lời do Đại tương viết:

“Hoan hô đồng chí đã gửi thư cho tôi về những nội dung nghiên cứu rất tốt. Mong đồng chí tiếp tục giúp bạn và nghiên cứu thêm nhiều vấn đề. Chúc đồng chí khỏe, giành thêm nhiều thắng lợi.

Võ Nguyên Giáp”.

Không chỉ riêng tôi mà cả đoàn chuyên gia sau khi đọc tấm thiếp của Đại tướng, ai cũng thấy phấn chấn như được tiếp thêm nghị lực mới.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Chín, 2016, 07:20:00 PM
*
*   *

Lúc đó đã 15 giờ, được điện mời của đồng chí Phu-mi, tôi đoán chắc có việc cần thiết nên đi ngay.

Vừa thấy tôi đến, đồng chí Phu-mi nói:

- Ồ, may quá có cái việc đang buồn trong lòng. Tôi tâm sự cái này với anh để giúp tôi thông cảm với anh em tổ 35. Tôi vừa nóng với họ.

Tôi chợt nhớ năm ngoái anh Nu-hắc đã phê bình tổ 35 chuyên gia không biết thương yêu anh em Lào, không kiền trì bồi dưỡng, cứ thấy anh em có khuyết điểm gì là xin thay cán bộ, đặc biệt là bí thư tỉnh ủy.

Đồng chí Phu-mi nói tiếp:

- Sáng nay, đồng chí tổ trưởng 35 đến gặp tôi. Sau khi phản ánh công việc, đồng chí nêu lên nhiều khuyết điểm của tỉnh ủy và bí thư. Thấy cách đặt vấn đề không hay lắm, tôi có yêu cầu đồng chí ấy là khuyết, nhược điểm của anh em Lào đồng chí nói rất đúng, nhưng tôi cũng muốn đồng chí cho biết tổ chuyên gia, nhất là đồng chí tổ trưởng đã có cách gì giúp đỡ anh em tỉnh ủy chưa. Tôi sẽ chỉ thị cho anh em Lào phải khắc phục khuyết điểm, nhưng có lẽ chuyên gia cũng nên xem lại cách giúp của mình và cũng nên thấy trách nhiệm của mình khi chưa giúp được anh em Lào. Nói thật lúc đó tôi có nóng. Chắc thế nào anh em cũng thắc mắc. Họ về rồi thôi thấy hối hận. Sở dĩ tôi thắng thắn với anh em là vì chúng ta đều là đảng viên Đảng Cộng sản. Tuy vì yêu cầu mới, mỗi nước đã có một đảng, song lý tưởng vẫn là một, tình nghĩa Việt – Lào vẫn như cũ. Là đảng viên, ta phải chịu trách nhiệm chung để thực sự giúp nhau,. Đề nghị anh Bình nói giúp để anh em hiểu lòng tôi, đỡ thắc mắc.

Trước thái độ thẳng thắn, chân tình của đồng chí Phu-mi, tôi vô cùng cảm động và nói:

- Bác nói thắng thắn như thế theo tôi là tốt cho anh em. Chắc chắn họ phải suy nghĩ và bớt chủ quan trong trách nhiệm chuyên gia. Phần tôi xin hứa với bác là sẽ nói lại với anh em.

Chờ cho chúng tôi trao đổi công việc xong, bác Phu-mi gái bưng đĩa bánh ra và nói: mời hai ông ăn đĩa bánh mẹ con tôi làm theo kiểu dân Mường Luống (Mường Luống tức là Luông Pra Băng, quê bác gái).

Bánh chỉ khác vỏ gói còn ruột thì hoàn toàn giống bánh su sê của Huế. Bác Phu-mi gái lại kể chuyện hai ông bà về thăm quê Bản Khai, dân Bản Khai hết lòng ca ngợi cơ quan chuyên gia đoàn 5; nhận cán bộ, chiến sĩ đoàn 5 là con me của mình. Sau đó, bác lại đưa ra một nải chuối mật mốc đã chín rụng do dân Bản Khai biếu nói là giống chuối do anh em đoàn 5 gùi từ Việt Nam lên biếu một mầm, bây giò đã phát triển đầy một vườn.

Trên đường về, tôi cứ suy nghĩ mãi về sự việc vừa xảy ra. Làm sao tổ 35 chuyên gia lại dám phê bình đối tượng của mình bằng cách phản ánh với cấp trên của bạn. Làm thế này thì mất lòng cả dưới, cả trên, lại phạm một nguyên tắc căn bản trong nghề chuyên gia. Lầm thế này không những không được việc mà càng khó bồi dưỡng được đối tượng mà mình giúp đỡ. Trong tôi trỗi dậy một chút buồn.

Mấy tháng rồi tham mưu Sầm Nưa chỉ thị cho Canh Đồng Chum tổ chức bắn tỉa nhưng lại không cho súng. Tôi điện về đoàn phó Hòa hỏi thêm, được tin bạn đã được Liên Xô và Tiệp Khắc viện trợ súng bắn tỉa nhưng vẫn không được giải quyết. Tình cờ có bác Minh, chuyên gia kinh tế đến hợp đồng về kế hoạch xây dựng và bảo vệ xưởng dệt của tỉnh do chuyên gia Hà Đông quê lụa trực tiếp giúp. Bác Minh đề nghị đoàn 5 cho thay mấy khẩu súng trường cồng kềnh bằng súng cac-bin hoặc K50. Tôi chưa biết “súng cồng kềnh” là loại gì thì Tài xách hai khẩu đến. Xem kỹ thì đó là loại súng Nga cũ, đạn to nhưng có máy ngắm bắn xa được từ 1,2 đến 1,5 ki-lô-mét. Đúng là súng bắn tỉa.

Như bắt được vàng, tôi sung sướng bắt tay bác Minh rồi cho Tài ra báo cáo Quân khu bạn đổi luôn cả 12 khẩu súng bắn tỉa chuyển lên Phu Cút.

Rút kinh nghiệm của năm 1966, Chăn-đi, Tư lệnh mặt trận Phu Cút đã sử dụng súng cối 82, 120, ĐKZ đánh ép các điểm tựa nhỏ của địch. Song phải đến lúc này có súng bắn tỉa ta mới tổ chức được một đội hình tiến công nhỏ liên tục bán các đồn tiền tiêu của địch làm cho chúng mất ăn mất ngủ, suốt ngày không dám ló ra ngoài. Có tuần sáu tổ bắn ỉa của ta đã hạ gần 100 tên quân Coong-le. Phu Cút nhờ có các tổ bắn tỉa hoạt động phái trước nên đã thành điểm tựa phòng ngự có chiều sâu. Trái lại các điểm tiền tiêu 1313 và 1252 của địch lại trở thành những ốc đảo cô lập, luôn ở trạng thái không an toàn. Lính địch viết thư ra xin cho được sống trung lập, có nơi bỏ trốn về phía sau, có tên ra hàng ta vì sợ bắn tỉa.

Ở Tiểu đoàn 13, chiến sĩ thì luân phiên, nhưng súng vẫn trực ở phía trước. Cứ hai súng bắn tỉa có một tiểu liên AK bảo vệ. Trong tổ ba người, ba giờ sáng hàng ngày dậy nhận cơm nắm, đạn và bi đông nước lặng lẽ vào vị trí chiến đấu. Trong suốt hai năm 1966-1967, quân địch ở Mường Xủi như bị vây hãm trong mạng lưới bắn tỉa, trong các trận tiềm nhập của đặc công và pháo kích. Chúng phải lui về thế phòng ngự.

Năm 1968, quân địch ở Mường Xủi mở chiến dịch ra Cánh Đồng Chum, nhưng bị thất bại. Năm 1969, tức sau 5 năm phòng ngự, bộ đội Pa-thét Cánh Đồng Chum được một đơn vị quân tình nguyện thuộc Quân khu Tây Bắc tăng cường, đã mở chiến dịch tiến công tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Mường Xủi, kết thúc sự có mặt của bọn phản động nước thuộc lực lượng Trung lập ở Cánh Đồng Chum.

*
*   *

Trận thọc sâu của Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 24 hồi tháng 6 năm 1966, tiêu diệt hai đại đội và sở chỉ huy GM17 ở Tha Thơm đã quét sạch hết quân phái Hữu ra khỏi đất Xiêng Khoảng. GM17 chạy về bảo vệ Pắc Xan không dám mò lên Xiêng Khoảng. Những năm sau, ở cánh đông nam Xiêng Khoảng chủ yếu diễn ra cuộc giành giật giữa Neo Lào Hắc Xạt với quân đặc biệt Vàng Pao do Mỹ tăng cường tổ chức, trang bị đặc biệt mới để thí nghiệm học thuyết: “Phương tiện và hỏa lực Mỹ kết hợp sử dụng quân đặc biệt” hòng kéo dài cuộc chiến tranh, cầm cự tạo thế cho Mỹ “xuống thang trong danh dự”. Đạn pháo cao xạ 37 cạn, các lực lượng bảo vệ Phu Cút chủ yếu dùng tọng liên 12,8 trực chiến là chính, còn cao xạ 37 cho dãn ra hướng Phiêng Luông, Cầu Đền sơ tán. Mỗi khẩu chỉ có ba cặp đạn phòng vệ. Trời mưa lâm thâm mà phản lực Mỹ từng tốp ba chiếc thay nhau quần đảo. Ban chỉ huy đại đội cao xạ Bua-lay và Khăm-van thấy ngon ăn quyết định cho đại đội đánh một trận phục kích bất ngờ. Không biết lúc đó là vòng thứ mấy, ba chiếc phản lực Mỹ nối đuôi nhau sau khi từ Song Hạc lao xuống sườn bắc Phu Cút bắt đầu là thấp theo đường cái lướt qua giữa Phu Keng và Nậm Dền. Đại đội Bua-lay đã đợi sẵn từ trước, bất ngờ bắn đón đầu chúng. Đài quan sát Phu Cút và Phu Keng cùng một lúc báo cáo: “Hai chiếc bốc lửa lao xuống Na Ban và Na Pít. Một chiếc bay về hướng Viên Chăn”. Ngày hom sau tiểu đoàn cao xạ Quân khu chở một cánh F.104 về phòng triển lãm Quân khu. Tin loan đi rất nhanh. Hệ thống phòng không súng 12,8 ở các xã đều xin bắn.

Đầu tiên trung đội 12,8 từ xã Khai bố trí cạnh ngã ba Noỏng Pết đã đón tốp hai chiếc AD6 của Thái bay đi sục xe dọc đường số 7 qua đường số 4. Chị Khăm-phu đã chỉ huy trung đội mình vít cổ tên “giặc trời” rơi xuống cạnh xã nhà, giành lá cờ đầu thi đua về cho xã Khai.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:08:25 PM
VII. ĐẬP TAN CUỘC HÀNH QUÂN “CÙ KIỆT”,
CUỘC CHIẾN TRANH NHÂN DÂN MUÔN MÀU, MUÔN VẺ

Sau khi giành được mỏm 2, mỏm 3, quân ta chủ động chuyển sang đánh nhỏ, thực hiện bắn tỉa để bảo vệ Phu Cút. Mặt trận phía sau trở lại yên tĩnh. Các vườn rau, vườn quả, đàn gà, đàn lợn ở Phu Cút lại phát huy vai trò động viên, úy lạo chiến sĩ. Nơi vui nhất là chợ Phu Cút, cứ ba ngày một phiên. Chiến sĩ phía trước cũng được thay nhau về di chơi chợ làm cho cuộc sống chiến đấu của người lính đỡ căng thẳng. Phu Cút là lương tâm, là niềm tự hào của Mường Pẹch, Xiêng Khoảng, Cánh Đồng Chum. Một hôm mẹ Bun-my cùng con trai đến sở chỉ huy mặt trận Phu Cút gặp Tư lệnh Chăn-đi xin cho con được vào làm chiến sĩ Phu Cút.

Mẹ Bun-my (gọi theo tên con), người Bản Mon cũng như những người phụ nữ khác ở bản này vừa giỏi ruộng vườn lại biết nghề tằm tơ, tuổi mới xấp xỉ 40 nhưng hận thù và sầu muộn đã làm cho người đàn bà cương nghị tháo vát này già đi trước tuổi. Mẹ Bun-my là vợ liệt sỹ; chồng là du kích bị giặc Buôm Lọng giết từ lúc bé Bun-my chưa đầy mười tuổi. Thù giặc, mẹ bấm bụng nuôi con và luôn luôn ám ảnh bởi lời kêu cứu của chồng. Mẹ tâm sự: “Nhiều đem ngủ mê tôi như thấy anh ấy về ôm lấy tôi và kêu oan, bảo tôi phải nuôi dạy thế nào để cho Bun-my chóng lớn và đi trả thù cho cha… Năm nay nó mười ba tuổi, dứt khoát bắt mẹ phải xin cho nó được làm chiến sĩ Phu Cút”.

Mẹ tha thiết trình bày với Tư lệnh Chăn-đi cho Bun-my lên chiến đấu ở núi Phu Cút. Còn mẹ thì xin đầu quân nấu ăn phục vụ cho cơ quan ở đây, mẹ con cũng ở mặt trận gần nhau. Thế là trả được nợ nước thù nhà, lòng mẹ sẽ sung sướng vô cùng. Hương hồn anh ấy chắc sẽ thỏa lòng không về dày vò mẹ nữa.

Tư lệnh Chăn-đi chấp thuận cho hai mẹ con được vào phục vụ chiến đấu tại mặt trận Phu Cút. Hôm nay chợ phiên, Bun-my trong bộ quân phục mới có chữa lại nhưng vẫn còn rộng. Người chiến sĩ nhỏ chẳng quan tâm đến hình thức, lòng đầy tự hào, em chen chân với các chiến sĩ Phu Cút khác dạo phố. Tự hào với danh hiệu “chiến sĩ Phu Cút”, tự hào với thành tích đã được trực tiếp nổ súng vào quân thù rửa hận cho cha, Bun-my sung sướng lắng nghe tiếng reo của bà con: “hoan hô chiến sĩ Bun-my”. Có mấy chị kéo Bun-my lại hỏi: em bé thế cũng làm được chiến sĩ Phu Cút sao?

Bun-my đáp ngay: em bé nhưng là bé hạt tiêu đấy. Súng AK của Bun-my hôm qua đã trực tiếp cùng đơn vị bắn rơi máy bay Mỹ trên đỉnh Phu Cút, các chị không biết sao?

Các chị vội xin lỗi: Bun-my ơi, đừng giận! Đùa tí thôi! Các chị thương em và phục chí khí của mẹ con em lắm đấy! Chúc em lập công, đánh giặc giỏi nữa để các chị đến mừng công.

Cuối mùa mưa năm đó, Mường Ngàn lại có một chuyện vui hơn. Thít Chăn-thô vốn là một du kích giỏi. Anh đã có dịp đi dân công, được xem bộ đội Việt Nam nằm ngửa bắn cháy máy bay T28 giữa cánh đồng Tha Thơm. Anh ước ao được lập công kiểu ấy. Một hôm bản anh bị máy bay đến đánh. Sau khi cho vợ con vào hầm, Chăn-thô cầm khẩu ga-răng chạy ra ruộng. Anh nép vào một bờ ruộng bậc thang đón đầu lúc máy bay lao xuống ném bom là nhả đạn. Nắm chắc Mường Ngàn chưa có cao xạ nên máy bay địch cứ lao xuống thần, như sắp sà vào mặt ruộng. Chớp thời cơ, Chăn-thô bóp cò. Đạn trúng vào đầu chiếc máy bay địch. Anh hoảng quá tưởng như máy bay sắp đâm vào chỗ anh nằm. Chăn-thô nhắm mắt lại, nhưng sau tiếng nổ anh mở mắt nhìn về sau lưng thì thấy máy bay rơi gần Bản Diệm, máy bay cháy làm hai nóc nhà cũng cháy. Chăn-thô sợ quá, hết sợ máy bay lao trúng mình lại sợ dân Bản Diệm sẽ trị mình vì tội đánh máy bay để cháy Bản Diệm. Vừa sợ vừa mệt, anh bò lại bãi lau gần đó nấp để nghe ngóng. Giấc ngủ đã trấn an anh lúc nào không biết, chỉ biết gần chiều tối bà con kéo nhau ra xem xác máy bay ồn ào làm cho Chăn-thô thức giấc. Người qua đường rất đỗi vui mừng và hỏi ai bắn máy bay chứ không nghe nói đến việc cháy nhà. Thành tích của Chăn-thô mờ đầu phong trào dùng súng trường bắn rơi máy bay Mỹ trong Quân khu Cánh Đồng Chum.

Sau khi đồng chí Khăm-tày quyết định cho các huyện Mường Khum, Noỏng Hét, Mường Khăm, tổ chức mỗi huyện bốn trung đội 12,8, riêng Mường Pẹch được tám trung đội thì có thể nói hai năm 1968-1969 là thời kỳ du kích Xiêng Khoảng săn được nhiều máy bay Mỹ nhất. Có tháng máy bay Mỹ hết rơi tại ngã ba Bản Ban lại rơi ở ngã ba thị xã Xiêng Khoảng (do trung đội nữ 12,8 ở Xing-nhôm bắn). Có ngày giữa đoạn ngã ba Lạt Thuổng về Bản Thẩm du kích đã bắn rơi hai chiếc. Ban trọng tài Quân khu lúc đó vô cùng phấn khởi, nhưng cũng rối lên vì việc chấm điểm cho các địa phương. Phô-nhang người bản Tôn vốn hiền lành nhưng lại có những suy nghĩ sắc sảo. Với cái tuổi 49, bác du kích này hàng ngày xong việc nhà lại mang ga-răng lên đỉnh Phu The Neng quan sát đường lượn của máy bay phản lực bay từ hướng đường số 7 lên Lạt Buộc về Lạt Thuổng theo đường ô tô. Trước khi vào khu vực thị xã Xiêng Khoảng bao giờ chúng cũng có một vòng lượn sát qua sườn Phu The Neng. Nhiều lần đồng chí đã giơ sung ngắm thử thấy ngon ăn quá, nhưng lại sợ bắn trúng nó sẽ đâm thẳng vào sườn núi, bác cũng chết luôn. Tính toán mãi cho đến khi nghe được thành tích của Chăn-thô, bác khẳng định “dứt khoát phải bắn, dựa vào gốc cây to, đường ngắm đã ổn định, khi máy bay rơi chắc chắn cây thông sẽ che chắn cho người”… Với quyết tâm đó, bác Phò-nhang tiến hành phục chờ đánh máy bay địch.

Vào một buổi sáng cũng như mọi buổi sáng khác, dân bản lại thấy bác lên núi Phu The Neng. Chọn được gốc cây thông vừa ý, bác Phò-nhang ngồi nắm nghía ngã ba con đường số 7 Lạt Thuổng đi Bản Tôn. Đợi từ sáng đến trưa bụng đã hơi đói, bác kéo típ xôi lại bắt một nắm bỏ miệng, nhưng chưa kịp nuốt thì tiếng rít của phản lực từ hướng đường số 7 dội tới. Bác xách vội súng trường dậy, ép súng vào thân cây. Đúng như mọi ngày, phản lực lượn vòng qua Lạt Buộc rồi thẳng hướng Lạt Thuổng lao tới. Bác lấy đường ngắm bám mục tiêu. Khi cái mũi đỏ của phản lực như sắp chọc thẳng vào mặt mình, Phò-nhang bắn liền hai phát rồi hoảng hốt vì mồi lửa phụt lên như sắp trùm cả vách núi nơi bác nấp. Một tiếng nổ rền trời. Chiếc máy bay sượt qua sườn Phu The Neng đâm thẳng vào giữa Bản Tôn và Bản Nua làm ba bốn nóc nhà bốc cháy. Cũng như chiếc rơi ở Mường Ngàn, phi công không kịp bấm dù. Bắn nhanh, bác Phò-nhang chưa kịp phân biệt máy bay loại gì. Nhưng sau đó, nghe dân bản nói là F.105, nên khi được mời báo cáo ở hội nghị, bác cũng nói lại là “Một trăm linh năm. Bác nói máy bay địch vào đây là để giết người Lào nên bác phải giết nó”.

Tổng kết hai năm trước khi diễn ra chiến dịch đánh bại cuộc hành quân “Cù Kiệt”, du kích Xiêng Khoảng đã hạ được 16 máy bay các loại.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:09:30 PM
Khi nhận được báo cáo, đồng chí Cay-xỏn Phom-vi-hản khen chuyên gia Cánh Đồng Chum đã giúp Quân khu lập các đội vận tải nữ, đội pháo binh nữ và cao xạ nữ bắn được máy bay phản lực Mỹ. Ở Hà Nội, được biết những chiến công này, đồng chí Trường Chinh đã nói: “Anh em chuyên gia đã giúp bạn giải quyết được một vấn đề chiến lược trên con đường giải phóng phụ nữ ở Lào”.

Những kỷ niệm đầy nghĩa tình của cac dân tộc Lào trên chiến trường Xiêng Khoảng không sao kết hết được. Sống với đồng bào Thái Phuôn, tôi nhớ mãi mẹ Chăn ở Mường Ngàn. Cứ mỗi lần bộ đội về bản bao giờ mẹ cũng cho con ra suối tìm Pa xíu (loại cá như đầu đũa) giã ra làm chẻo để đãi bộ đội. Với tình nguyện quân Việt Nam, mẹ luôn có món dưa chua và trứng rán. Một lần bộ đội đi chiến đấu ở Tha Thơm dài ngày, khi có đoàn tiếp tế Mường Ngàn chuyển hàng xuống, xã động viên các mẹ gói bánh làm quà cho chiến sĩ. Riêng mẹ Chăn gửi ba ống chẻo boong có pa xíu cho chuyên gia. Tiếng ở lâu nhưng chúng tôi chưa phải đã biết hết phong tục. Thường ngày cứ tới bữa rửa tay chuẩn bị ăn bao giờ người đàn ông cao tuổi nhất cũng đập quả trứng luộc chia cho mỗi người một thỏi lòng đỏ để xoa tay cho xôi khỏi dính. Lúc đầu có anh không biết đã hấp tấp cho vào mồm nhấm nháp làm cả nhà bật cười. Lòng đỏ trứng gà xoa tay là biểu hiện sự quý trọng khách của người Thái Phuôn lúc ăn xôi. Thường lệ, mỗi lần người đàn ông cao tuổi nhất ngồi vào mâm và chỉ cho tôi một chiếc ghế bên cạnh là tôi nguồi xuống cùng ăn. Một hôm, có anh con rể cả đưa vợ con về thăm ông bà chủ. Cơm dọn xong, thấy ông bố ngồi vào mâm, tôi ra hiệu mời anh con rể thì thấy anh ta ngồi chồm hổm xuống cách mâm năm thước bò bằng hai tay hai chân đến chiếc ghế ngồi. Thấy thế tôi do dự đang nghĩ không biết mình không bò có sai không thì cả bố mẹ đều cười giải thích:

- Các con về đây là khách của bố mẹ, nên cứ ngồi ngay như bố mẹ, còn bố thằng cu này vợ chồng nó lấy nhau ở với bố mẹ được hai đứa con rồi nhưng chưa có tiền để giết lợn, giết trâu cúng ma trước khi về nhà chồng. Chúng nó đã khất nợ với ma nhà vợ. Về nhà chồng được 2 năm nay, vợ chồng nó kiếm được trâu định về xin giết trâu cúng ma nhà bên vợ. Nay cha cúng thì nó vẫn nợ ma nhà vợ nên phải bò. Bao giờ cúng xong, được ma nhà cho phép nó mới được vào ngồi tự nhiên như các con.

Một chuyện vui nữa là lần ấy ông cụ thần sinh ra Pa-xợt tiểu đoàn trưởng Pa Chay là người H’mông bị ốm. Tôi và Ngân mang hộp sữa, cân kẹo và cân đường đến thăm. Khi chúng tôi đang thăm hỏi cụ thì Pa-xợt vào trịnh trọng nói:

- Bố em ốm một tuần nay, may có bác sĩ đơn vị ta cho thuốc đã lành. Hai anh em tôi thịt con đế cúng để gia đình mừng sức khỏe của bố. Mời hai anh ở lại ăn cơm với bố.

Chúng tôi vui vẻ nhận lời. Trong gian nhà sơ tán tránh máy bay chật hẹp, mâm dọn ra, bố và hai khách đã an tọa, ghế còn chờ người. Tôi thấy Pa-xợt và Ninh-chư, em rể con cầm chiếu chạy vòng ra sau lưng chúng tôi. Thấy lạ nhìn theo thì thấy hai anh em Pa-xợt đang chổng mông lạy ba lạy. Lạy xong Pa-xợt nói:

- Xin nói để hai anh thông cảm, đây là tục người Lào Xủng. Bình thường trong công tác hai anh là bạn chúng em, nhưng hôm nay hai anh đến thăm lễ mừng khỏi bệnh của bố, hai anh là khách của bố. Chúng em là phận con phải lạy để trọng khách của bố cho phải đạo.

Ngân tiếp lời:

- Chúng tôi may mắn được học thêm về lễ nghĩa dân tộc Lào Xủng. Đây là tập tục rất hay, rất cần thiết trong đạo làm người. Đối với bà con H’mông mà không thạo những phong tục này là không được.

Tưởng thế là xong ngờ đâu sáng hôm sau hai cháu gái con Ninh-chư và Pa-xợt vào chào và nói:

- Mẹ các cháu cho mang một ít bánh và đưa đến tạ ơn các bác!

Mọi người đang ngơ ngác thì hai cháu đã xách hai cái gùi, đặt lên bàn hơn chục chiếc bánh nếp và gần một chục quả dưa rẫy. Chúng tôi biếu lại hai gói kẹo cho hai cháu nhưng phải nói mãi, phải nhét vào gùi chúng mới chịu. Đây là một tập quán “có ăn có trả” của người Lào Xủng, không bao giờ chịu ăn không của ai.

Để tìm hiểu sâu thêm về dân tộc H’mông, tôi giao cho Thái trưởng ban dân vận mời cán bộ thôn đến làm việc mở trường thanh toán nạn mù chữ cho địa phương. Cuộc gặp có cô Chờ, tổ trưởng phụ nữ xã và anh Nỏ-po tổ trưởng thanh niên. Cô Chờ khỏe mạnh, mới 20 tuổi, đã biết chữ nhưng đọc chưa thạo và ít có sách, báo. Anh Nô-po cũng cỡ tuổi đó, đã học xong cấp 1, song địa bàn rộng, dân thưa, thầy dạy lại ít, anh chưa biết làm thế nào để thanh toán nạn mù chữ cho xã. Sau khi thảo luận, nghe hết ý kiến của địa phương, hai bên nhất trí lập một trường học buổi tối cho thôn với sự phân công: làm trường, bàn ghế, sách báo, giấy bút, phấn học sinh, thầy giáo, do chuyên gia lo; vận động nhân dân thì do thanh niên và phụ nữ xã tổ chức lớp học. Mọi công việc chuẩn bị phải được tiến hành khẩn trương để tuần sau là khai giảng.

Cô Chờ có thêm một đề nghị mà phía bộ đội phải chấp nhận:

- Người H’mông ở đây lớn bé đều rất thích ca hát, múa, nhảy; nếu chỉ học chữ không là họ sẽ chán. Muốn giữ được lớp học thường xuyên, mỗi buổi tối học hai giờ, nhưng cứ 30 phút học lại 30 phút hát múa.

Lớp học được tổ chức nhanh chóng và rôm rả. Trường có được một bảng đen, mười bộ bàn ghế. Rước hai cửa ra vào có dãy ghế kết bằng tre, có giá phơi khăn mặt. Mỗi ghế đặt hai thau nước, bốn chiếc khăn mặt, hai miếng xà phòng thơm. Các học sinh lớp bé trước khi vào lớp đều được hướng dẫn rửa tay, rửa mặt sạch sẽ. Buổi đầy chỉ hơn hai chục em. Hôm sau rồi hôm sau nữa cả lớn, bé đến gần năm chục. Bàn ghế thiếu phải mượn hêm mấy bộ nữa. Bài hát Lào “Trường kỳ kháng chiến” do Hiến dạy. Bài hát Việt “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng” do cô mẫu giáo đảm nhiệm. Múa thì đã có lăm vông dân tộc, múa đèn ông sao của nhi đồng Việt Nam. Lúc đầu tưởng chỉ có các cháu mê múa hát, hóa ra các chị hai ba con cũng hát múa rất hồn nhiên, say sưa. Thấy lớp học hay, có gia đình sơ tán của nhà đến ở gần trường để cho con đi học. Lớp học duy trì được ba tháng. Trước khi đơn vị chuyển quân, mọi người đã biết đọc, biết viết và bắt đầu học tính cộng, tính trừ. Dân tộc H’mông không chỉ ham học chữ mà còn có một nhu cầu văn hóa, văn nghệ rất lớn.

Lớp học chọn ngày 2 tháng 9 làm lễ bế giảng để đơn vị kết hợp mổ bò liên hoan Quốc khánh Việt Nam. Buổi lễ có cán bộ xã, các gia đình và thầy trò cùng liên hoan, ca múa quân dân đoàn kết, xem phim suốt cả buổi chiều cho đến tối.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:10:19 PM
*
*   *

Khi được tin ở mặt trận Quảng Trị ta bắt đầu phòng ngự ở thành cổ, tôi viết thư gửi đồng chí Vương Thừa Vũ, báo cáo tóm tắt về kinh nghiệm năm lần đánh bại chiến dịch tiến công của quân Coong-le và Phu Cút – Cánh Đồng Chum. Có thể nói đây là bức thư tâm tình nói về kinh nghiệm phòng ngự của người chiến sĩ nhớ về quê hương Bình – Trị - Thiên. Khi đọc bức thư 20 trang của tôi, anh Vũ đã dùng bút đỏ gạch chân những đoạn hay, đoạn cần chú ý, viết ý kiến của anh ra ngoài và giao thư ký chép lại gửi cho tôi.

Đọc đoạn quyết tâm của Quân khu Cánh Đồng Chum là “thực hành phòng ngự trận địa trong thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển cao”, anh Vũ xác định: “Đây là một quyết tâm đúng đắn, có ý nghĩa chiến dịch và chiến lược lúc đó của Quân khu bạn”.

Về nội dung bố trí lức lượng: một phần chốt mười phần cơ động và kết hợp trận địa chốt kiên cố với liên tục cơ động phản kích, phản đột kích lấy hành động chủ động phản kích, mật tập liên tục tiêu hao, tiêu diệt, đánh bại các mũi tiến công của địch, đập tan ý đồ tiến công tiến tới đánh bại chiến dịch tiến công của địch, anh khen: “Đây là tư tưởng tích cực tiến công tiêu diệt địch, là tinh thần chủ động tiến công trong phòng ngự, phá thế bị động phòng ngự, giành thế chủ động tiến công”, là vận dụng sáng tạo chiến thuật “chốt kết hợp với vận động tiến công để bảo vệ đất, vảo vệ vùng giải phóng. Lúc đó cũng có người phê phán phòng ngự, nhưng anh nói: “Chiến lược của Đảng bạn đã xác định hai vùng thì không được phủ nhận phòng ngự dù là bằng cách gì cũng thế. Phòng ngự để bảo vệ vùng giải phóng là một tất yếu khách quan của giai đoạn cuối cuộc chiến tranh mà ta không nên sợ, không nên phủ nhận”.

 Khi đọc đoạn địch tập trung tiến công vào Phu Cút – Song Hạc, thì ta kiềm chế cánh bắc của địch. Còn lực lượng cơ động của mặt trận thì lật cánh đánh vào phía nam, đánh vào bên sườn, đánh vào tung thâm Mường Xủi, anh khen: “Lật cánh, đây là một quyết tâm xử trí đúng đắn, linh hoạt đã có tác dụng đánh bại chiến dịch tiến công của địch”. Tuy vậy anh cũng góp ý: “Nếu như Quân khu khắc phục được khó khăn, có quyết tâm cao hơn nữa, tập trung mọi khả năng có thể tập trung được, đánh một đòn phản công quyết định vào trận địa pháo Nậm Xoong và sở chỉ huy viện trợ Thái ở Bản Khai thì có thể tạo được chuyển biến chiến dịch cao hơn, thậm chí có thể đánh ngã đội hình chiến dịch quân Coong-le, tạo nên thế mới đánh tan địch, chuyển từ phòng ngự sang phản kích và tiến công giành thắng lợi phòng ngự sớm hơn”.

Anh Vũ đặc biệt ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng của chiến sĩ Phu Cút như đồng chí Cay-xỏn đã khen: “Núi thép, núi kim cương” và khuyên chuyên gia phải cố gắng giúp bạn tổng kết kinh nghiệm, những tấm gương dũng cảm phản kích giữ chốt, bắn máy bay bằng súng bộ binh, cùng hàng chục, hàng trăm trận phản kích của các đại đội, tiểu đoàn của bạn và quân tình nguyện đã thực hành đánh địch xung quanh tuyến phòng ngự Phu Cút. Những bút tích chữ đỏ của anh Vương Thừa Vũ đã được trân trọng giữ gìn lưu lại trong tập tài liệu lưu trữ, tổng kết của đoàn chuyên gia quân sự Cánh Đồng Chum.

Cùng thời gian này, tôi viết thư gửi anh Trần Quý Hai nói về chiến thuật đánh điểm cao ở rừng núi, đặc biệt là kỹ thuật mìn, bộc phá phóng để đánh phỉ. Anh Hai cũng viết thư động viên anh em chuyên gia và góp ý khuyến khích nghiên cứu kỹ thuật với hướng dẫn chi tiết.

Anh em chuyên gia cũng nhớ mãi anh Đinh Đức Thiện với tất cả nhiệt tình suy nghĩ tìm mọi biện pháp để giúp đỡ đơn vị chiến đấu, nhất là bộ đội Lào. Một lần Xin-phon, Bun-niên bàn với tôi tính sao cho đủ gạo để phát triển nhanh tốc độ chiến dịch. Sau khi gặp anh Minh Sơn phái viên Tổng cục Hậu cần, tôi điện về cho anh Thiện và được trả lời ngay: “Tối ngày mai 40 tấn gạo sẽ chuyển đến khu Mường Xủi theo đúng yêu cầu của đồng chí Bun-niên. Chúc các bạn đánh chiếm được Ka Xỉ”.

Và một tuần sau Ka Xỉ được giải phóng.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:11:04 PM
*
*   *

Trong tháng 3, tháng 4 năm 1966, địch mở chiến dịch ODN hòng đánh chiếm thị xã Xiêng Khoảng và Cánh Đồng Cum nhưng thất bại. Tháng 6, bộ đội Quân khu Cánh Đồng Chum được tăng cường lực lượng mặt trận 31 của Tư lệnh Vũ Lập và Chính ủy Huỳnh Đắc Hương lại tiến công Mường Xủi, tiêu diệt tập đoàn cuối cùng của lực lượng Coong-le trên địa bàn Cánh Đồng Chum. Để bắt đầu thí điểm học thuyết Ních-xơn ở Lào, đế quốc Mỹ đã giúp Vàng Pao mở cuộc hành quân “Cù Kiệt” đánh phá Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng.

Mùa mưa năm 1969, đội công tác đặc biệt do Bun-năm đội trưởng (có nhóm chuyên gia Lộc, Danh, Trọng) được cơ sở cho biết các tướng lĩnh và chỉ huy cùng quân đặc biệt Vàng Pao đã tập trung về họp với chuyên gia Mỹ, Thái bàn kế hoạch đánh chiếm Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng. Tin này báo cáo về Quân khu nhưng bị thất lạc.

Mở đầu chiến dịch, địch mở nhiều cuộc tập kích bằng không quân làm tan nát bản làng, “cạo trọc” đại bộ phận đồi núi ở hai bên đường số 7, đường số 4, và một đoạn đường số 6. Do sơ hở nên chỉ đạo, chỉ huy của bạn đều lúng túng. Đầu tháng 9, khi quân đặc biệt nhảy vào Cánh Đồng Chum, chỉ có du kích, cao xạ và tự vệ cơ quan đánh nhỏ. Địch tiến đến Khăng Khay, mặt trận gần như bị bỏ ngỏ. Nhiều cuộc vây ráp cướp dân bằng bàn tay bọn phản động địa phương và trực thăng vận. Nhân dân Mường Pẹch, Mường Khum bị xáo trộn. Hơn một vạn dân cụm về các xã Khai, Xếnh, Piàng, Khăn lẩn vào rừng núi để bám trụ đánh địch; phía nam thì dựa vào cụm Keo Xẹt, Phu Mừn…

Đây là cuộc thử thách vô cùng quyết liệt đối với phong trào Xiêng Khoảng. Song cũng từ trong khó khăn, gian khổ này mà tình đoàn kết quân dân, đoàn kết Lào – Việt càng khăng khít. Piàng, Khăng, Thại Xếnh, Keo Xẹt, Bản Bam, Noỏng Hét đều bám trụ kiên cường. Dân ở lại bên trong thì đùm bọc nhau trong một cuộc sống “cộng sản thời chiến”. Mỗi cụm dân được chia thành bốn bộ phận: đội thu hái lương thực, đội bảo vệ bản và cơ động chiến đấu, đội trực nấu cơm và nuôi dưỡng người già, trẻ nhỏ; đội tìm đất phát rẫy làm vườn chuẩn bị vụ mùa để đánh lâu dài.

Dân bị quét vào vùng địch thì đấu tranh kiên cường bất khuất: tổ chức chống địch bắt lính, cho thanh niên trở lại Cánh Đồng Chum bám bản làng chiến đấu. Những gia đình ở lại thì đấu tranh đòi địch bảo đảm đời sống, đòi trả về làng bản cũ Xiêng khoảng. Du kích đưa gia đình mình sang gửi bà con Nghệ An xong lại về bám đất chiến đấu, phối hợp chủ lực giải phóng Cánh Đồng Chum. Bị lủng củng, rời rạc lúc đầu là do bị động, bất ngờ, chứ người Xiêng Khoảng vẫn giữ vững lời thế chiến đấu.

Thời gian này tôi đang chữa bệnh ở Hà Nội. Lê Văn cũng đang ở Hà Nội. Trong tình huống có nhiều khó khăn, anh Xa-mán chủ trì Cánh Đồng Chum lúc đó phải điện thẳng về Bộ Quốc phòng Việt Nam: “Đề nghị cho Bình và Lê Văn trở lại Cánh Đồng Chum…”. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại của dân tộc, người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang qua đời. Đồng bào và chiến sĩ cả nước vô cùng đau buồn trước sự mất mất to lớn này. Tuần tang Bác được tổ chức trọng thể trong cả nước. Ngày 8 tháng 9, sau khi đi viếng Bác về, tôi được đại tá Đông ở Văn phòng Bộ cho xe đón vào cửa Tây gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nhưng ngày này không khí toàn Hà Nội bao trùm nỗi đau thương mất mát nặng nề.

Tôi bước vào “Nhà Con rồng” gặp Đại tướng và mà nước mắt cứ ròng ròng.

Mở đầu, Đại tướng nói:

- Chiến trường đang hết sức khó khăn. Bạn có điện về Bộ xin Bình và Lê Văn trở lại. Lê Văn đã đi. Tôi biết Bình chưa khỏi bệnh nhưng là người quen bạn, quen chiến trường, trước mắt cố sang giúp bạn giữ dân, tập trung lại bộ đội, giúp cho quân tình nguyện vào triển khai chiến dịch. Đem thuốc đi theo dùng tiếp, sau chiến dịch nếu cần lại về chữa thêm.

Tôi báo cáo Đại tướng rằng: chúng tôi đã sẵn sàng, xin anh yên tâm.

Sau buổi gặp Đại tướng Tổng tư lệnh, tôi trở về chia tay gia đình và gấp rút lên đường. Đến Nậm Cắn, tôi tập hợp tất cả số cán bộ, chiến sĩ của đoàn chuyên gia lại. Tâm trạng anh em chưa hết căng thẳng với cảnh mưa bom bão đạn mang từ Cánh Đồng Chum ra. Phong thanh cũng có người đang bàn quay về Hà Nội. Động tác đầu tiên lúc ấy của tôi là tập hợp đội hình lại và tuyên bố:

- Sứ mạng lịch sử của chúng ta mà hai Đảng đã giao là “sống chết phải giúp bạn bảo vệ Cánh Đồng Chum”. Cuộc lui quân của các đồng chí về đây đã quá xa rồi. Từ giờ phút này tất cả phải chuẩn bị cùng tôi trở lại Cánh Đồng Chum. Anh em trên đó dang chờ. Hãy dẹp tất cả suy tính lại, chúng ta phải trở lại chiến trường!


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:11:51 PM
Vốn đã sống với nhau và hiểu nhau từ lâu nên anh em nhanh chóng xác định trách nhiệm của đoàn trong lúc khó khăn này. Việc hoạt động chuẩn bị mọi mặt cho cuộc hành quân quay lại chiến trường lại sôi nổi.

Lúc này địch đang cho gián điệp và bọn phản động đi lại kéo vét dân Bản Ban, trong khi quân ta đang khẩn trương chuẩn bị chiến dịch phản công giải phóng lại Cánh Đồng Chum.

Tình hình rất gấp nhưng nhà văn Bùi Đình Thi đến gặp tôi nói ý định đang muốn viết tập ký sự “Đường vào Cánh Đồng Chum”. Anh đề nghị tôi kể để anh có tư liệu viết. Thật là gay go! Chuyện thì không thiếu nhưng tình hình khẩn trương, tôi hẹn anh để lúc khác. Anh bảo, gấp thì kể tạm cho một chuyện nào lý thú nhất. Không từ chối được, tôi đành kể chuyện cúng ma H’mông trên Phu Sao mà chuyên gia rất cảm động, một chuyện tâm tình mà tiểu đoàn trường Khăm-òn đã nói lại với tôi:

“Giữa lúc phong trào gây dựng cơ sở, phát triển khu du kích đang tiến triển tốt, dân và bộ đội vừa làm lễ kết nghĩa ăn thề xong thì xảy ra chuyện nổ mìn chết một cụ già cơ sở tốt khi đi làm rẫy trên bản Phu Sao (Phu Sao cao 2.305 mét). Bọn phản động tung tin “Bộ đội giết dân”. Dân không tin nhưng cũng có người hoang mang. Chúng tôi bàn nhau phải cùng dân tổ chức làm ma chu đáo để đánh tan luận điệu chia rẽ của địch. Làm ma thì ai cũng tán thành nhưng cái khó nhất của người H’mông là viếng người chết phải có tục lệ “ăn cơm cùng với người chết”. Cán bộ chúng tôi chưa anh nào dám xung phong làm việc ấy. Thấy bọn tôi do dự, anh Ngô chuyên gia Tiểu đoàn 24 nhận ăn cơm cúng ma.

Trong khi hội ý thực hiện ý định trên, anh em chúng tôi tự thấy áy náy, xấu hổ vì cái gì khó cũng lại đến phần anh Ngô. Nghĩ thế nhưng cuối cùng vẫn nhờ anh Ngô dẫn đoàn cán bộ đi cũng người chết. Hương đèn, rượu chè, bánh kẹo, pin đèn đủ cả. Đoàn đại biểu chúng tôi leo dốc đến bản Phu Sao. Lúc này đã có mặt đông đủ bà con, họ hàng trong vùng. Nhiều người biểu lộ sự thông cảm, nhưng cũng có kẻ nhìn chúng tôi như có vẻ thách thức. Vào trong sân, chúng tôi đứng thành hàng ngang ngoài cửa, chỉ một mình anh Ngô vào nhà. Đến trước xác người chết đang dựng đứng cạnh cây cột cái giữa nhà. Ngô ôm mặt khóc hu hu:

- Ma ơi, mới hôm này ma hữa hẹn cùng chúng tôi bảo vệ làng bản. Nay bọn xấu đã giết ma. Ma bỏ chúng tôi đi! – Nước mắt giàn giụa, anh nói tiếp: biết đứa nào hại ma xin ma hãy bắt chết nó và cả nhà, cả họ nó đi! Bây giờ mời ma ăn với tôi bát cơm! Vừa nói anh vừa lấy bát cơm cúng rồi cầm thìa cứ đút cho ma một thìa thì mình cũng nuốt một thìa. Trước mặt bà con, anh làm gọn hết bát cơm. Nước mắt chưa ráo, anh lui ra trước sự mến phục và xúc động của bà con dân bản.

Trước hành động đó, nghĩa tình Tiểu đoàn 24 với dân bản Phu Sao càng củng cố. Cơ sở Phu Sao ngày càng mạnh lên. Tình nghĩa giữa đoàn 5 chuyên gia với bộ đội và nhân dân Lào càng thắm thiết.

Tôi dừng lại nói với nhà văn: “Thôi nhé, anh để cho lần sau sẽ kết tiếp…”.

Một buổi sáng, khi tôi vừa ra khỏi hang thì Thoong-láy, phái viên chính trị của Bộ chỉ huy tối cao Lào, trợ lý mặt trận của anh Khăm-tày đến tìm tôi và nói: Anh Tám (Khăm-tày Xi-phăn-đon) muốn gặp tôi.

Vừa vào hang, anh Khăm-tày kéo tôi lại bàn và nói ngay:

- Tối hôm qua tôi được điện của Mường Khăm xin ý kiến. Bọn sấu đang định kéo một nghìn dân Nhọt Cưa chạy theo địch. Tôi muốn bàn với anh một số công việc để anh ở nhà giúp hướng dẫn cơ quan theo dõi hiệp đồng. Tôi phải đi Bản Ban giải quyết chuyến này. Không thể địch vét dân mãi được. Cái khó nhất hiện nay là đói, dân chỉ sống nhờ đào củ mài.

Tôi thưa ngay không cần chần chừ:

- Chuẩn bị chiến dịch đang đi vào giai đoạn nước rút. Chỉ huy và bộ đội tình nguyện đã đến. Anh cần thường trực ở nhà vì không thể có ai thay anh làm trung tâm hiệp đồng ở đây cả. Hơn nữa đường đi đến huyện rồi lên Nhọt Cưa phải qua năm chặng bom tọa độ. Anh đi là không bảo đảm.

Anh Khăm-tày xua tay và nói:

- Tôi chỉ đi nhanh, giải quyết xong công việc là về ngay thôi mà!


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:12:44 PM
Tôi báo cáo anh Khăm-tày: công việc thì tôi nghĩ mình sẽ khẳng định với huyện là phải tìm mọi cách giữ dân lại. Ngoài ra làm sao có vài tấn gạo chi cho trẻ em và du kích. Tôi đề nghị anh cứ viết thư dặn dò huyện. Tôi sẽ cầm xuống và giúp huyện cùng chuyên gia cơ sở giải quyết việc này. Vùng này tôi đã thạo đường. Hơn nữa nếu tôi có gặp tai nạn thì Hà Nội sẽ chọn người thay tội; còn để anh đi lỡ có mệnh hệ gì thì biết đến bao giờ mới bổ sung được mất mát. Cách mạng Lào còn rất thiếu cán bộ, nhất là cán bộ cao cấp. Vì trách nhiệm bảo vệ anh, xin phép cho tôi được giải quyết việc này. Trưa nay tôi lên đường, ngày mai mọi việc sẽ được giải quyết. Đề nghị anh viết thư đi! Xin anh cho tôi về chuẩn bị.

Nói xong, tôi đứng lên. Thấy đề nghị của tôi có lý có tình, anh buộc phải đồng ý.

Trưa hôm đó một du kích, hai bảo vệ (một Lào, một Việt) cùng tôi theo đường tắt lần ra đường số 7, đến khoảng 5 giờ chiều, đồng chí du kích dừng lại phổ biến: còn một ki-lô-mét nữa, đến chỗ đường quang kia là phải chạy vượt đường số 7. Đè nghị chúng ta nghỉ ăn cơm uống nước để lấy sức.

Mười lăm phút sau, chúng tôi chạy qua điểm tọa độ thứ nhất. Chạy qua vạt rừng hơn một ki-lô-mét đến đường cái, lại xuống những thửa ruộng bậc thang cũng non ki-lô-mét, cả đoàn vừa vào rừng tre thì một chiếc C.130 cũng vừa tới. Pháo sáng bắt đầu thả xuống dọc đường. Dù pháo sáng bay lơ lứng trên đầu soi đường cho chúng tôi vượt qua rừng tre. Cũng lúc đó hai chiếc F.105 vút qua, hai chầu bom tọa độ nổ ngay trên đường số 7 phía sau lưng. Sắp qua sông Nậm Mặt lại một cuộc chạy tránh bom tọa độ thứ hai. Hết ruộng lại qua sông, hết lội sông lại lội ruộng rồi chạy tiếp. Cứ lần mò như vậy, đến 3 giờ sáng hôm sau chúng tôi lần được đến chỗ ở của cơ quan huyện. Chúng tôi yêu cầu tìm anh U-đôm, bí thư huyện ủy, anh Ngân, anh Long chuyên gia huyện, chuẩn bị cho một người dẫn qua kho quân lương, xuống xã Nhọt Cưa. Trong khi chờ, chúng tôi tranh thủ lăn ra bãi cỏ chợp mắt.

Gàn 6 giờ sáng đoàn lên đường ngay. Nói cho đúng là phải chạy vì qua thị trấn, qua đường số 6, qua đường vào hang kho đều là những trọng điểm tọa độ của máy bay Mỹ. Vào kho anh Trọng rồi lên hang Thẳn Chậu, xuống xã Nhọt Cưa, vừa đi vừa bàn bạc, đói bụng thì lương khô nước lã, đến 11 giờ trưa chúng tôi đã giải quyết xong công việc.

Anh Trọng, binh trạm trưởng đồng ý cấp cho Nhọt Cưa hai tấn gạo. Tôi thay mặt Bộ chỉ huy chiến dịch ký nhận. Phiếu được giao ngay cho huyện. Tính ra một trăm du kích mỗi người được 3 ki-lô-gam để đi hoạt động. Ba trăm trẻ nhỏ và người già mỗi người được 2 ki-lô-gam, còn lại bình quân mỗi người dân được 1 ki-lô-gam để nấu cháo. Nhân dân được động viên tiếp tục ẩn tránh địch, đào củ mài, củ cọc để vượt qua khó khăn này. Vấn đề được bàn bạc kỹ là gạo lúc này phải tranh chấp bằng xương máu. Xe theo đường số 6 từ Sầm Nưa sang và xe theo đường số 7 có đêm mười chiếc chỉ lọt được năm, sáu chiếc là giỏi. Bimh trạm yêu cầu huyện phải cử đội tiếp tế đến đào hầm gần kho. Gạo đến là lao ra bốc ngay đưa về xã. Đây là vấn đề sinh tử, yêu cầu lãnh đạo cùng chuyên gia huyện phải thực hiện nghiêm chỉnh. Xong việc, đoàn chúng tôi lại trở về mặt trận ngay chiều hôm đó.

Đến mặt trận thì nhận được tin vui: Tiểu đoàn 701 của Bun-thon, Xổm-phắt, Bun-phêng do Hải, Duynh làm chuyên gia sau khi rút khỏi Cánh Đồng Chum về Bản Ban củng cố, đã tập kích tiêu diệt một tiểu đoàn địch, giải phóng Xen Chồ. Chiến công này đã mở dường cho chủ lực quân tình nguyện vào giải phóng Cánh Đồng Chum. Song đường ở Cò Luông vẫn bị quân đặc biệt canh gác đêm ngày, bị máy bay thả bom bi, bom vương nổ. Riêng chỉ huy tiểu đoàn đặc công của Định vào trinh sát điểm cao Cò Luông (đèo Phỉ) bị thương vong mất bốn đồng chí, nay chỉ huy tiểu đoàn chỉ còn Định. Quân đặc biệt thay nhau canh giữ ngặt nghèo. Năm, bảy mét một hố bắn, ba bốn phút lại một băng M16 và lựu đạn ném ra…

Thời điểm tập trung cho chiếc dịch phản công mở màn là căng thẳng nhất. Nhiều cuộc bàn cãi diễn ra trong sở chỉ huy chiến dịch. Sư đoàn trưởng sư đoàn 312 quân tình nguyện nhất quyết dùng chiến thuật đặc công để giải phóng Cánh Đồng Chum, nhưng Tư lệnh Vũ Lập chưa nhất trí. Riêng việc đánh Cò Luông bằng đặc công thì Tư lệnh đồng tình. Thế Hùng và tôi rất lo vì đơn vị đã đi trinh sát ba lần thì cả ba lần đều có thương vong cao nên đề nghị mặt trận tìm biện pháp khác, nhưng Tư lệnh vẫn giữ ý kiến, bảo phải đi trinh sát lại. Vừa lúc đó, đồng chí Thi tác chiến vào đưa bức điện của Bộ. Điện viết: “địch đã đề phòng. Cò Luông phải thay đổi cách đánh. Nhớ lại kinh nghiệm Điện Biên dùng vây, tấn, diệt… Sẽ có phái viên đưa sơ đồ cùng ý kiến hướng dẫn của tôi đến làm việc với mặt trận.

Văn”

Trưa hôm sau, xe Hà Nội đến. Đồng chí Ngọc Đạo phái viên tác chiến của Bộ mang sơ đồ và bản ghi những ý kiến của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra trình bày với Bộ Tư lệnh chiến dịch.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:13:44 PM
Đúng như ý kiến của Đại tướng, sau khi bộ binh và súng phòng không áp sát, đào công sự, tiểu đoàn địch bị vây chặt; lựu đạn và tiểu liên địch khó phát huy và bị ta bắn tỉa đè đầu chúng xuống. Đến khi pháo binh, súng cối ta bắn chuẩn bị dồn dập cho bộ binh xung phong thì quân địch chạy tán loạn. Số bị diệt, số ra hàng.

Ta tiến công từ 18 giờ, nên máy bay địch khó ứng viện. Từ đó cuộc phản công đánh bại cuộc hành quân “Cù Kiệt” cứ đà này mà phát triển.

Tôi lại nhớ trong hiệp đồng đánh địch phản kích ở chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum năm 1962 và báo cáo kế hoạch của cánh quân bạn tiến công vào binh đoàn 17, binh đoàn 16 Vàng Pao ở ngã ba Phiên Luông. Sau đó được điện trả lời của đồng chí Trần Quý Hai như sau: “Anh Văn hoan nghênh quyết tâm của đồng chí định tổ chức giúp xe tăng bạn tham gia cuộc phản kích, nhưng anh nhắc phải có tổ súng máy và B40 săn M79 vá súng bắn tỉa xe tăng của địch. Phải xuất kích bất ngờ, tiến công kiên quyết, rút lui nhanh, che giấu và phòng tránh máy bay”. Thế là tôi biết ngày hôm qua Đại tướng có đến chủ trì giao ban của Bộ. Nghe điện của tôi Đại tướng nhắc nhở luôn và giao Bộ Tổng Tham mưu điện hướng dẫn. Bộ rất sát Cánh Đồng Chum. Điều đó làm cho chúng tôi vững tin vào chiến thắng.

Sáng hôm sau, hai binh đoàn địch bị Trung đoàn 335 quân tình nguyện, rồi Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 15 cùng xe tăng của Pa-thét Lào tiến công. Lính địch tan tác đạp nhau chạy về hướng Nậm Ngừm. Nước to, thác đổ ầm ầm; bên kia sông Tiểu đoàn 701 bí mật phục sẵn. Địch dùng dây lôi nhau bơi qua sông, dây đứt, 270 tên trôi lăn lóc chết chìm giữa thác đá, 32 tên đi đầu lọt vào bờ không súng ống được vớt lên làm tù binh của Tiểu đoàn 701. Đúng 11 giờ, tôi phấn khởi điện cho đồng chí Trần Quý Hai: “Cuộc phản kích diễn ra tốt đẹp. Bộ binh và xe tăng ta dồn địch xuống Nậm Ngừm, cả chết cả bị bắt hơn ba trăm tên. Xe tăng đã rút về nơi trú ẩn an toàn”. Gửi điện đi rồi tôi vẫn suy nghĩ: Phải là một nhà quân sự uyên bác về lý luận, dày dạn về kinh nghiệm thực tiễn mới có thể chỉ đạo cụ thể và chính xác thế này! Bộ trưởng không chỉ giỏi về chiến lược mà về chiến dịch, chiến thuật cũng rất sắc sảo.

Trước ngày nổ súng mở đầu chiến dịch năm hôm, tôi dẫn cơ quan vào trước với nhiệm vụ mang kế hoạch chiến dịch và chỉ thị của đồng chí Khăm-tày vào vùng sau lưng địch làm việc với Xi-pon, chuẩn bị giúp bạn nổi dậy đánh phá bên trong (Mường Xủi, Phu Cút, Mường Phàn, Lạt Buộc) phối hợp với cánh chính của lực lượng chủ lực từ ngoài đánh vào, giữ dân, tạo thế nhanh chóng đán tan đội hình địch, chuẩn bị cho bước phát triển vào Xảm Thông, Long Chẹng, Xa La Phu Khum.

Tôi đi theo tuyến đường trung đoàn tình nguyện 174 của Hùng Tân. Chia tay nhau từ hôm giải phóng Mường Xủi (tháng 6) đến nay đã bốn tháng. Hùng Tân kể chuyện đánh nhau bên trong từ khi địch bắt đầu cuộc hành quân “Cù Kiệt”. Tôi nghe để có sự thu hoạch hướng dẫn cho hướng sắp vào., Tôi kể lại cảnh Hà Nội đau đớn khi Bác Hồ mất, quang cảnh lễ tang. Hùng Tân tranh thủ hỏi về quyết tâm của mặt trận với chiến dịch phản công sắp tới và ý đồ đánh phối hợp từ trong ra của bạn. Chúng tôi còn dự kiến thêm thời gian và một số địa điểm có thể gặp nhau để hiệp đồng, nhất là cánh quân của trung đoàn do trung đoàn phó Nhân đang chốt ở Lạt Buộc. Đêm đó đã 30 Tết. Hùng Tân gọi điện cho đại đội trinh sát phía trước chuẩn bị người để dẫn tôi vượt đường số 7 vào gặp Nhân. Sáng hôm sau chúng tôi lên đường. Tôi vừa bước vào hầm của Phước, đại đội trưởng thông tin thì một loạt bom tọa độ của F.111 chặn đứng nam – bắc bờ suối suốt từ nhà ở của trinh sát sang đại đội thông tin. Ba lô của chúng tôi chưa kịp kéo xuống hầm đều bị bom đánh thủng hết.

Tất cả đường sá, núi non vùng này nhờ qua lại nhiều lần nên tôi thuộc như lòng bàn tay, thế mà lúc này bom đạn Mỹ đã cày xới ngang dọc, không còn biết đâu mà lần. Đường qua thung lũng cứ phải vừa đi vừa dò mìn và phòng bom vướng. Ngán nhất là phải vượt qua xác chết trâu, bò, ngựa, lợn.

Trú quân giữa sườn Phu Phụng, Phu Kúp, cơ quan Nhân đào hầm ở chính nơi cây cối đỏ ngang đổ dọc. Các anh giấu quân như vậy để đón đánh trực thăng và cánh quân đi vét dân. Nhận thuật lại việc hiệp đồng giữa đơn vị của anh với đơn vị của đồng chí Xi-mán, Xi-phon. Theo hiệp định, đơn vị Nhân đã phục kích đập tan ba, bốn đơn vị quân địch định đánh chiếm Lạt Buộc, Phu Xán, hòng cắt đường đi lại của bộ đội và nhân dân. Đặc biệt là việc tổ chức bảo vệ và hướng dẫn của các Tiểu đoàn 705, 701, 601, 602 giúp dân bế con, dẫn vợ vượt qua vô vàn gian khổ, chui vào rừng già, bò lách qua đồi tranh, có đoạn phải xẻ đường mới sơ tán ra Bản Ban, Noỏng Hét và đi về phía Nghệ An. Có thể nói chuyển được hơn một vạn dân ra vùng an toàn dưới điều kiện phi pháo địch đánh phá ác liệt là một kỳ tích. Trong thời gian di chuyển này tất cả đề trông vào “anh bộ đội quân khu”. Điều đáng mừng là du kích không bỏ súng; trăm người như một, chào nhau dọc đường một câu và tất cả đều nói: “Em đưa gia đình ra hậu phương xong là về ngay”. Họ nói như một lời thề và họ trở về thật. Hai ba tuần đầu, nhiều tổ du kích vắng mặt, nhưng chỉ một tháng, hai tháng sau đội ngũ của họ lại đông đúc, chặt chẽ như trước.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:14:01 PM
Xa-mán và Lê Văn ở lại với đồng chí Khăm-tày tại Bản Ban. Xi-phon mới đi nghỉ ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên về. Ngồi ở Mường Khừng, vùng sau lưng địch, trong khi đạn cối ở Phu Cút, Phu Xán, Phu Tinh vẫn nổ ình oàng, tôi và Xi-phon kể lại cho nhau nghe về những ngày chúng tôi xa nhau. Xi-phon cao giọng:

- Cú đầu tiên là tôi phải lên gân. Ở cạnh ông Nhân, tôi cho đào nhà hầm đặt bệnh xá, cùng hầm thuốc, hầm mổ. Một số người không tin Quân khu vẫn bám dân nên cho lính đến dò xét. Lính về bàn với nhau: “Quân khu không bỏ Cánh Đồng Chum”. Thế là đòn tâm lý thứ nhất đã thắng.

Xi-phon say sưa kể về đơn vị tự vệ cơ quan Xốm-nức, Phăn-tha-nít, Khăm-ai và thiếu tá Doanh chuyên gia quân báo. Tất cả có 130 tay súng cả nam lẫn nữ, gồm lính trinh sát, lính cơ quan, lính thông tin, lính hóa học, lính vận tải. Tất cả đã trụ lại ở vùng núi Phu Leng, trung tâm của Khăng Khay hơn bảy tháng trời giữa mùa mưa. Họ đã bảo vệ được hơn 7.000 dân rồi giao cho Tiểu đoàn 705 đưa dân về Con Cuông (Nghệ An). Địch chiếm điểm cao đóng đồn, họ tập kích. Có lần quần nhau, địch trên cao, họ dưới hầm ngầm xuyên núi, địch lùng xuống hầm, họ lại luồn lên trên đánh xuống. Tổng cộng họ đã đánh hơn năm mươi trận, bắn rơi hai trực thăng, một ca-ri-bi, diệt hơn 300 tên địch,bắt sống 3 tên, thu 32 súng. Họ là lực lượng ngầm lợi hại đã dẫn đường cho gần hai mươi lượt cán bộ tình nguyện vào điều tra trinh sát các vị trí của địch tại Cánh Đồng Chum. Đồng chí Un-khăm đưa xe tăng vào đánh chiếm Cánh Đồng Chum cũng là người của đơn vị này. Còn đơn vị 133B, mà anh gọi là quân du kích và lính binh vận, sau khi kéo ra đứng chân ở Xai Khăm – Song Hạc đánh cũng rất cừ. Lần đầu quân báo ta đi theo các nhà sư lọt vào cánh đồng cỏ Mường Phàn, nơi này dân Mường Pẹch đang bị địch gom tập trung. Nhờ khéo thuyết phục và nhờ gia đình vận động, gần 300 du kích của ta với 60 súng kéo thêm 2 trung đội lính Coong-le đem theo 45 súng nữa đã trốn về với Pa-thét Lào. Chính lực lượng này đã hình thành đơn vị bao vây Phu Cút, Na Thầu, Song Hạc, giải phóng Mường Xủi khi đại quân mở đợt tiến công lớn vào Cánh Đồng Chum.

Đêm đã khuya, Xi-phon như muốn kết thúc tâm sự để nói về Tiểu đoàn 2 anh hùng.

Ngày 8 tháng 9 trời đang mưa to, bộ đội quần áo rách bươm, một số chiến sĩ chân không giày dép thế mà khi được lệnh chỉ năm ngày đêm đã từ Xa La Phu Khum hành quân cấp tốc về Phu Cút. Đến nơi thì ba tiểu đoàn địch BV24, BV27, BS2D8 đang chiếm Phu Xán vét dân. Tiểu đoàn pháo binh và đại đội vận tải nữ 968 đang trụ ở đó. Được sự chi viện, hỗ trợ của pháo binh và vận tải nữ, Tiểu đoàn 2 đã bổ sung đạn dược, thu dọn lương thực. Dựa vào nhau, cụm quân này trong 25 ngày đêm đã liên tục đánh 36 trận, giành đi giật lại Phu Xán 5 lần, diệt 162 tên địch, đạt hiệu suất chiến đấu cao.

Tiểu đoàn 2 thật đáng khâm phục, đúng là ngọn cờ đầu của Quân khu Cánh Đồng Chum mà đại đội vận tải nữ cũng là hạt giống quý, đáng trân trọng. Chiến đấu trong lòng địch, thiếu thốn, gian khổ, qua nhiều lần đi vận tải bị địch đuổi, chúng nó hò hét nhau truy lùng đám lính “quần một ống”, dần dần chị em rút kinh nghiệm mặc váy chui vào rừng khó chạy thế là họ đổi ra mặc quân phục nam để ra trận.

Mới 5 giờ sáng, Xi-phon và tôi đã dậy và nhập vào đoàn quân đi nhặt lúa rơi. Gạo dự trữ chiến dịch của mặt trận còn không đầy một tấn chỉ để san sẻ từng chút một cho thương binh. Gạo ăn hàng ngày là phải đi hót lúa rơi về giã rồi sàng đãi… Lúa ở đây đều rất tốt. Nhưng tháng 9 là tháng gặt rộ, dân các tỉnh chưa kịp gặt thì địch tràn đến. Mưa nắng, bom đạn, trâu bò phá phách, lúa rã rục ngoài đồng. Bây giờ phải bỏ công đi tuốt, đi hót về. Lúa bị ẩm mục, chỉ còn được một phần ba hạt gạo. Số thóc thu được đem về ăn một phần, còn lại phải phơi khô cất dự trữ vì giải phóng xong còn nhanh cũng phải một tháng sau, xe mới chở gạo từ ngoài kho vào được. Đó là sinh hoạt và chiến đấu trên chiến trường sau lưng địch mà từ người lính đến người sĩ quan đều phải tự giác thực hiện.

Gặp nhau sau chiến dịch này, ban lãnh đạo huyện gồm bí thư Thít Khăn-ty, Chăn-bô-pha là chủ tịch huyện, chủ tịch mặt trận huyện Phò Bun-thăn, và Khăm-xin, huyện đội trưởng. Anh Xi-phon còn quan tâm đến một thanh niên trẻ là Phu-mi, hiệu trưởng trường cấp II Mường Pẹch con trai của Phò Bun-thăn. Ngoài ra còn đội công tác cơ sở của huyện Phu Khum do Phù Khăm-bùng, người bị thương một mắt đã lăn lộn với bốn năm nghìn dân, quần nhau quyệt liệt với địch trên địa bàn đất mượn từ Mường Xủi về Xa La Phu Khun. Hạt gạo, củ sắn, bắp ngô, viên đạn, cái gì cũng thiếu, cái gì cũng cần, cũng tìm, cũng đào bới để nuôi nhau bám đất giữ vững địa bànư đánh địch, giữ phong trào.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:14:26 PM
Lần này Xi-phon hết sức quan tâm và hướng dẫn cho cán bộ các xã nghiên cứu hai kiểu hầm khoét vào lòng ụ mối cho tổ chiến đấu ẩn nấp tránh bom và hầm trú ẩn cho một gia đình. Ngoài ra còn kiểu hầm ngủ cho trâu bò phòng bom tọa độ. Mỗi kiểu hầm đều được Cừ và Long, chuyên gia quân sự huyện dùng tre và thân cây lắp vào khung bên trong rồi dùng đất sét đắp bên ngoài làm mẫu cho dân và bộ đội làm theo. Đất rừng thì ụ mối không thiếu, thậm chí có những ụ mối to như hòn núi con, đào được tới hai ba ngách hầm chui với độ dày ba bốn mét. Hầm có gỗ chống thì pháo và bom nhẹ không đánh sập được. Sau hội nghỉ chỉ một vài tuần, hàng trăm nghìn hầm cho người, hầm trâu bò đã được đào đắp cẩn thận.

Khai mạc hội nghị, đồng chí Thít Khăn-ty báo cáo: diện tích huyện Mường Pẹch rộng tới một phần ba đất rừng của tỉnh. Huyện có 30 nghìn dân nhưng bị địch vét trong cuộc hành quân “Cù Kiệt”, nay chỉ còn 12 nghìn người.

Mường Pẹch là nơi tiếp nối ngã ba đường số 4, đường số 7, lại có sân bay lớn Bản Áng, là một huyện trọng điểm của Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng nên địch đã tập trung đánh phá giành giật. Tuyến phòng ngự Phu Cút cũng mọc lên ở đây.

Sau một năm tạm rút tại Con Cuông, Tương Dương, Nghệ An nhờ nhân dân Việt Nam san sẻ, rồi học kinh nghiệm làm ăn của bạn bây giờ bản mường được giải phóng, người dân Mường Pẹch lại bồng bế nhau trở về xây dựng lại cuộc sống. Họ tự nguyện lập ra đội sản xuất, hợp tác xã thời chiến. Mường Pẹch đã lập ra hơn hai chục hợp tác xã, khôi phục lại bảy đơn vị du kích cơ động, sáu trung đội súng 12,8 tám trung đội súng cối, ĐKZ của xã.

Được bộ đội Quân khu và chủ lực tình nguyện Việt Nam dìu dắt, bộ đội mường và du kích xã đã đánh địch hơn 50 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 350 tên, bắn rơi 2 máy bay, bao vây đánh chiến 4 đồn địch, bức rút 5 đồn khác. Lực lượng chiến đấu có cả trai và gái. Trong số gần một nghìn du kích thì hơn một trăm anh chị em có bố mẹ, chị em bị địch càn vét về Viên Chăn. Họ cùng sống tập thể và cùng nhau chiến đấu. Mường Mẹch còn góp 72 thanh niên, trong đó một nửa là gái vào quân chủ lực. Bộ đội mường cũng được bổ sung thêm 30 chiến sĩ mới.

Bản báo cáo nhấn mạnh:

Mường Pẹch còn tự hào với phong trào học văn hóa. Trường cấp II của huyện với 5 giáo viên (3 nam, 2 nữ) và gần 100 học sinh chia làm 3 lớp. Đây là trường mẫu mực vừa học vừa làm, vừa sản xuất tự túc, là cơ sở đào tạo lớp can bộ trẻ có văn hóa cho huyện. Năm nay tốt nghiệp xong cấp II, trường đã chọn 5 em giỏi, bổ sung làm thư ký huyện ủy, ủy ban huyện, làm cán bộ huyện đoàn thanh niên và chấp hành phụ nữ huyện. 60 em được gửi đi tỉnh học tiếp cấp III và các trường trung cấp lâm nghiệp, nông nghiệp, tài chính của tỉnh. Tương lai số này sẽ là những cán bộ góp phần xây dựng đất nước.

Hội nghị vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.

Ngày thứ hai, thứ ba của hội nghị là các báo cáo điển hình. Báo cáo của huyện biểu dương nhiều cá nhân xuất sắc như Phò Phênh (tà xẻng Xếnh), Xiêng Năm-tha (Bản Nháp), Cò Pha-ỉ (Bản My, pháo thủ cao xạ), Chăn Đuông-đi (tà xẻng Piàng), mẹ Lý bản Kang Viên…

Khăn-xin, huyện đội trưởng báo cáo công tác củng cố và hoạt động chiến đấu của du kích xã và bộ đội Mường. Thông-phắt đội trưởng đội công tác mường báo cáo quá trình cuộc vây ép địch, kết hợp với binh vận, kết quả đã kéo được hơn hai nghìn dân ở Phu Viêng, làm tan rã ba đại đội chủ lực và giác ngộ được một đại đội ma ky.

Sau đó lần lượt Chăn Đuông-xi chủ tịch xã Khăng, Chăn-xuốn xã Phạt, Thao-khăm chủ tịch xã Thại, Thít Ăm-kha bản Mon xã Cắt, Chăn-xi-đa xã Piàng nói về kinh nghiệm củng cố cơ sở, đưa dân trở lại quê hương, khôi phục lại bản làng chiến đấu và sản xuất với kinh nghiệm rút ra từ trận chiến đấu chống lại cuộc hành quân “Cù Kiệt”. Đội hình làng xã đều bố trí thành ba tuyến. Tuyến một, lực lượng thường trực chiến đấu. Tuyến ba, người già, trẻ em, kho dự trữ. Với phương châm tạo thế trận vững chắc để sản xuất giữ làng và chiến đấu, các xã, các bản đều được bảo vệ và không bị động, rối loạn.

Sau xã, bản đến các gia đình cách mạng điển hình được lựa chọn báo cáo.

Gia đình bố Bun-mi-vông và mẹ Khẳm-beng ở Bản Đông với bốn trai, ba gái. Gia đình đã góp được bốn người cho bộ độ chủ lực, hai chiến sĩ súng máy cao xạ 12,8, một giáo viên. Ông và thì sản xuất và đặc trách một khu kho cho Quân khu, vừa bảo vệ vừa cấp phát. Gạo súng và quân trang hàng trăm tấn cạnh một vùng bom tọa độ gần thị xã Khăng Khay mà không bị mất mát. Trước Cù Kiệt, gia đình bố Bun-mi-vông còn ủng hộ xã 1.570 ki-lô-gam thóc, đào cho xã hai hầm xuyên núi, làm sáu nhà kho, ủng hộ bội đội một con lợn, mười con gà. Ngoài ra cụ còn đem nồi niêu, bát đĩa, gạo, cơm ủng hộ gia đình liệt sĩ.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:14:51 PM
Gia đình Chăn Đuông-xi ở bản Xi Phun xã Khăng lại là một gia đình khác. Bố và một em là liệt sĩ, có bốn em thoát ly. Chăn Đuông-xi hoạt động cán bộ Mường. Ở nhà còn mẹ già, vợ và bốn con nhỏ.

Chị Xin-phăn làm tổ trưởng sản xuất và chiến đấu. Trước Cù Kiệt, chỉ ủng hộ 1.590 ki-lô-gam thóc. Chị sắp xếp việc nhà cho mẹ chồng và con gọn gàng. Các cháu giúp bà vừa học vừa lo việc nhà để chị rảnh tay tham gia hướng dẫn phong trào tiếp tế vận tải, sửa đường, đào hầm, sản xuất. Lúc máy bay địch ném bom ác liệt, nhiều khoảng ruộng không thu hoạch nổi, chị vận động bà con cúng ma xin quẻ, ma chia cho dân một rừng cấm để mở thêm hơn hai héc-ta vườn ngô và sắn, bù đủ lương thực cho địa phương. Lý lẽ cúng của chị cũng đơn giản: không có ma người sống không yên lòng. Nhưng người đói người bỏ đi thì “ma” cũng không biết ở với ai. Cho nên người và “ma” nên dựa vào nhau, chia đất cùng ở, cùng sản xuất và chiến đấu. Chị gieo quẻ và được “ma” tán thành. Lý tình đều thông suốt; dân làng hồ hởi ra tay đào gốc, gieo trồng được một vụ mùa bội thu. Mê tín cũng lùi dần.

Buổi chiều ngày thứ ba, đại diện của đoàn 5 chuyên gia, đơn vị gắn bó nhiều nhiều với huyện Mường Pẹch trong chiến đấu, sản xuất và đời sống, lên chào mừng đại hội.

Thay mặt đoàn chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam tại Quân khu Cánh Đồng Chum, tôi phát biểu:

- Mới hơn 5 năm, từ năm 1964, Mường Pẹch từ trong gian khổ, ác liệt đã vươn lên mạnh mẽ. Phong trào toàn dân đoàn kết, toàn dân sản xuất và chiến đấu, đánh giặc giữ làng, thanh toán nạn mù chữ, bắn rơi máy bay Mỹ bằng súng bộ binh, nữ cày ruộng, nữ đi dân công hỏa tuyến, đại đội pháo nữ, trung đội súng máy cao xạ 12,8 nữ đều là những ngọn cờ đầu được biểu dương trong toàn quân. Trong phong trào đó đã nổi lên một đội ngũ cán bộ nam nữ trẻ trung đầy sức sống. Chào mừng phong trào chiến tranh nhân dân Mường Pẹch, chúng tôi xin chào mừng những người con ưu tú của phong trào tham dự hội nghị.

Chúng tôi xin cùng chia sẽ nỗi đau đớn với gia đình có người thân hy sinh trong chiến đấu. Chúng tôi nguyện đem hết sức mình đánh địch để trả thù cho gia đình và làm thỏa lòng người đã mất…

Sau khi ca ngợi những tấm gương đoàn kết gắn bó Việt – Lào, tôi nghiêm túc nhận những thiếu sót của một số anh em, nhất là về kỹ luật dân vận…

Trong không khí phấn chấn của hội nghị, về đơn vị, tôi gặp gỡ anh em chuyên gia truyền đạt lại kết quả của hội nghị, mọi người đều phấn khởi, tin tưởng. Anh em khẳng định: nhân dân thật là tốt, phong trào đào luyện thực sự có chiều sâu. Vấp váp là tạm thời song phong trào nhất định sẽ khôi phục. Địch có vét được dân nhưng lòng dân chắc chắn không mất. Có thể khẳng định vét dân Mường Pẹch vào Viên Chăn là đưa kiến lửa đổ vào ruột nó. Có ngày nó sẽ sống dở chết dở với khối dân này (cuộc nổi dậy của nhân dân Viên Chăn năm 1975 đã chứng minh điều đó).

Anh em chuyên gia tự hào đã đóng góp một phần công sức của mình vào thắng lợi của phong trào chiến tranh nhân dân của bạn. Trong khó khăn, gian khổ họ đã lăn lộn với dân, với bộ đội bạn, sống chết với phong trào.

Khi hai Bộ quốc phòng đã có chủ trương hiệp đồng mở chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “Cù Kiệt” của Mỹ và tay sai thì từ tháng 10 năm 1969, Tổng Tư lệnh Khăm-tày đã bám sát Quân khu Cánh Đồng Chum, trực tiếp chỉ đạo các hoạt động hiệp đồng giữa lực lượng Quân khu với chủ lực cơ động của bộ đội tình nguyện Việt Nam.

Có lẽ đây là một trong những thời kỳ trăn trở nhất mà Tổng Tư lệnh đã phải đắn đo, cân nhắc đánh giá để tìm cách giải đáp nhiều câu hỏi hắc búa của thực tế đã đặt ra cho cuộc đấu tranh một mất một còn giữa ta và địch.

Củng cố lực lượng, chuẩn bị thế trận để giành lại Cánh Đồng Chum đã khó; việc phân tích, đánh giá vấn đề, hướng giải quyết cả về tư tưởng, về tổ chức lực lượng, tổ chức thế trận, củng cố và khôi phục phong trào, khôi phục thế trận chiến tranh nhân dân để tiếp tục đánh bại các bước leo thang mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi cuối cùng cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc lại còn gay go hơn. Qua trao đổi thăm dò với cán bộ, Tổng Tư lệnh thấy những thiệt hại cuộc cuộc hành quân “Cù Kiệt” của địch gây ra đang ám ảnh nặng nề tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ. Cánh Đồng Chum ta đã giải phóng, trong cán bộ chưa coi đó là thắng lợi thực sự vì sự thiệt hại đã để lại những dấu tích quá nặng nề về người, về của… Lý thì chiu, nhưng tình thì cắn rứt đớn đau. Nói sao cho thỏa đáng lòng người? Nói sao để an ủi được cán bộ, động viên được sự nỗ lực mới, để hàn gắn lại vết thương chiến tranh.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:15:16 PM
Lĩnh hội những ý kiến chỉ đạo của đồng chí Khăm-tày, đoàn chuyên gia tập trung giúp đỡ cơ quan Quân khu triển khai chuẩn bị đề cương báo cáo tại hội nghị tổng kết của Quân khu. Theo ước lệ thống nhất giữa Xi-phon với chuyên gia là thời kỳ chuyên gia trực tiếp viết cho cán bộ Lào dịch (1963 đến 1965) đã qua, giữ 1966 đến nay (1970) là thời kỳ chuyên gia chỉ viết bản thảo đề cương rồi bồi dưỡng cho cán bộ Lào tự viết. Đó là kinh nghiệm của Xi-phon đã truyển lại cho Chăn-đi, rồi Chum, rồi Bun-niên cùng thế hệ trẻ kế tiếp.

Sau khi Xi-phon và tôi lên báo cáo để anh Khăm-tày thông qua nội dung, phương pháp chuẩn bị đề cương hội nghị, các bộ phận Lào, Việt được hình thành phối hợp giúp nhau chuẩn bị. Mặc dù Lưu Đức Tài ốm phải điều trị tại bệnh viện, nhưng cái hay của tổ tác chiến là Đạm, con người giỏi thu thập tổng hợp lưu trữ, Xảo và Bá thì bám chắc ý kiến hướng dẫn rồi tổng hợp soạn thảo lại từng đoạn, từng vấn đề chính để khêu gợi cho người viết. Còn cái hay của Chu, người chủ biên và trình bày báo cáo ở hội nghị, được chuyên gia giúp đã tự mình viết xong bản báo cáo tổng hợp về chiến dịch phản công cùng với quân tình nguyện Việt Nam đánh bại cuộc hành quân “Cù Kiệt” của địch.

Vào hội nghị, sau khi nghe bản tổng hợp phân tích về địch của Khăm-phin, khi nhìn lại công tác chuẩn bị của địch, bản báo cáo của anh Chum đã giúp cho hội nghị nhìn rõ địch – ta, tìm rõ nguyên nhân thiệt hại và khó khăn vấp váp của ta lúc đầu, cả phía Lào cũng như quân tình nguyện. Bản báo cáo đã chỉ ra được những chỗ yếu căn bản của Mỹ do tính chất phi nghĩa và mất lòng người cộng với mâu thuẫn nội tại của thầy và tớ. Kế hoạch và phương tiện Mỹ, song áp đặt cho lực lượng quân ngụy suy yếu thực hiện thì thất bại là tất yếu.

Về phía ta, bản báo cũng vạch ra được những chỗ yếu của ta về chuẩn bị kế hoạch phòng thủ, về bố trí hiệp đồng lực lượng, chưa dự kiến đến việc Mỹ có thể tập trung một khối lượng lớn phương tiện về không quân và bom đạn đánh hủy diệt Cánh Đồng Chum, gây cho ta những thiệt hại nặng nề về vật chất, tinh thần và tâm lý lúc đầu. Mặc khác, từ phân tích khách quan, cụ thể tình hình địch, ta đã tổng kết rút ra những biện pháp sửa chữa, những cách đánh sáng tạo có hiệu lực của lực lượng vũ trang và bán vũ trang Quân khu trong suốt chiến dịch.

Tất cả những diễn biến về địch và ta được thể hiện cụ thể trên một sa bàn lớn có diện tích hơn một trăm mét vuông trong hang Khốc Mú đã giúp hội nghị nắm vững những vấn đề về chiến dịch, chiến thuật của hai bên đối địch một cách toàn diện. Từ đó hội nghị đã rút ra những biện pháp, những yêu cầu mới về chuẩn bị chiến trường, xây dựng thế trận, xây dựng lực lượng; xây dựng, chuẩn bị hậu cần tại chỗ. Hội nghị cũng phân tích, bổ sung những cách đánh chống địch lấn chiếm, đánh địch co cụm và thủ đoạn trụ bám của địch; đánh nhỏ, tao thế, kết hợp đánh địch lấn chiếm khu vực với đánh phản kích, phản công, phát huy thắng lợi chiến dịch.

Ngoài ra, hội nghị còn đi sâu về công tác chính trị - tư tưởng, bảo vệ nội bộ nhân dân và bội đội, vấn đề rèn luyện kỷ luật cho bộ đội và du kích trong quá trình chiến đấu, trong nhiệm vụ bảo vệ dân, bảo vệ tài sản của nhà nước và nhân dân. Hội nghị nghiêm khắc phê phán hiện tượng vô kỷ luật dẫn đến tình trạng địch phá ít, quân ta phá nhiều, làm cho thiệt hại nhân lên gấp bội.

Kết thúc hội nghị, Tổng Tư lệnh Khăm-tày Xi-phăn-đon kết luận: Tôi thật sự phán khởi khi thấy hội nghị tiến triển tốt. Các đồng chí Chum, Khăm-phim… đều tự viết, tự trình bày báo cáo ngắn gọn, súc tích và hướng hội nghị thảo luận đúng trọng tâm, rút ra được nhiều bài học sâu sắc. Cảm ơn các đồng chí chuyên gia đã có phương pháp giúp đạt hiệu quả. Chuyên gia biết phát huy khả năng làm chủ của anh em Lào.

“Cù Kiệt” nghĩa là “Gỡ danh dự”, Mỹ đã chọn Cánh Đồng Chum làm chiến trường thí điểm học thuyết Ních-xơn của chúng. Hơn năm mươi tiểu đoàn quân đặc biệt Vàng Pao cùng phái Hữu Lào, thêm một trung đoàn Thái Lan, trên ba vạn lượt máy bay đánh phá với trên trăm vạn tấm bom đạn đổ xuống Xiêng Khoảng. Tuy vậy, chúng đã thất bại. Được sự hỗ trợ của chủ lực cơ động quân tình nguyện Việt Nam đất Xiêng Khoảng lại trở về với dân Xiêng Khoảng.

Tháy mặt Trung ương và Bộ chỉ huy tối cao, tôi vui mừng nhận thấy qua nhiều năm liên tục chiến đấu, đặc biệt là được rèn luyện qua “Cù Kiệt”, lực lượng vũ trang và bán vũ trang của Quân khu đã tiến bộ nhiều mặt, vững vàng hơn trước. Đoàn kết quân dân, đoàn kết Lào – Việt gắn bó hơn. Đoàn kết liên minh với lực lượng trung lập yêu nước chặt chẽ hơn. Vùng giải phóng nối liền Sầm Nưa – Xiêng Khoảng, Bô Ri Khăn – Viên Chăn có điều kiện củng cố tốt hơn.

Đồng chí biểu dương các tiểu đoàn 1, 2, 701, tiểu đoàn Pa Chay, Tiểu đoàn 24, các tiểu đoàn 13, 15, 16, 46, 48, đại đội nữ, các đơn vị pháo binh, xe tăng, tự vệ cơ quan, các trung đội, đại đội huyện, du kích xã và nhân dân đã không ngại hy sinh, gian khổ, khắc phục khó khăn, lập nhiều thành tích, chiến công trong chiến dịch.

Cuối cùng, đồng chí nói:

- Các đồng chí thân mến, chúng ta phải luôn luôn ghi nhớ sự ky sinh chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam, trong đó có các đồng chí chuyên gia đó với phong trào cách mạng Lào, đối với việc bảo vệ và giải phóng Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng là vô cùng lớn lao. Chúng ta phải luôn luôn gìn giữ mối tình ruột thịt Lào – Việt và đời đời ghi nhớ công ơn Bác Hồ như Bác đã nói:

Việt Lào hai nước chúng ta
Tình sâu như nước Hồng Hà, Cứu Long


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:15:44 PM
*
*   *

Sau hội nghị, tôi nhớ lại vào cuối năm 1963, khi phân tích về tình hình kinh tế địa phương Xiêng Khoảng, đồng chí Nu-hắc Phôn-xa-vẳn lúc đó chủ trì phân cục Trung ương ở Khăng Khay đã nói: “Xiêng Khoảng, nhất là Mường Pẹch, có một thế mạnh là nhiều chợ, đâu cũng có “Lạt” (Lạt Buộc, Lạt Thẳm, Lạt Thơm, Lạt Xén, Lạt Ngôn…). Gần như một bản lớn, một tà xẻng là có một chợ. Nó biểu hiện nền kinh tế địa phương đã vượt qua thòi kỳ hàng đổi hàng để đi vào thời kỳ mua bán. Vai trò của đồng tiền đã phát huy tác dụng trong đời sống xã hội”.

Vì vậy, trên đường trở lại Cánh Đồng Chum, năm – sáu lần bom tọa độ úp nơm không làm anh em lo nghĩ mà cái lo nghĩ chính là cuộc sống u tịch mấy ngày đường không một tiếng gà gáy, không có tiếng chó sủa, bản làng xác xơ, tiêu điều. Bao giờ thì nhân dân Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng được sống trở lại trong cuộc sống hội hè, chợ búa vui tươi? Tôi cùng Xin-phon đặt câu hỏi và thống nhất với nhau phải chuẩn bị điều kiện để sớm khôi phục hệ thống chợ khi dân trở về. Chợ phục vụ đời sống của dân và bộ đội. Chợ kích thích sản xuất. Chợ tạo điều kiện cho dân thu nhập đồng tiền, nhanh chóng đi vào sản xuất tự túc.

Để thực hiện ý định trên, chúng tôi đề nghị họp cán bội và chuyên gia Quân khu cùng thường vụ huyện ủy Mường Pẹch.

Tại cuộc họp hiệp đồng có Thít Khăn-ty, Chăn Bun-pha huyện ủy cùng Bun-niên và Xi-thôn chủ nhiệm và chỉ ủy hậu cần Quân khu. Chủ trì cuộc họp, Xi-phon bàn lấy chợ Lạt Thơm của xã Khai họp thử. Theo mô hình chợ kháng chiến nên phải họp kín trong rừng thông Bản Mắn. Cán bộ vận động nhân dân các bản lân cận trồng rau, nuôi gà vịt, đánh cá ở suối Nậm Ngừm tạo nguồn vật phẩm đưa ra chợ. Ai có khả năng gói bánh trái bán càng tốt.

Khách mua, ngoài dân (ít vì chưa có tiền) chủ yếu là cơ quan và bộ đội. Lính thì có ít nhiều phụ cấp, nhưng quan trọng là hậu cần Quân khu phát tiền cấp dưỡng cho các đơn vị bộ đội. Chuyên gia và đơn vị tình nguyện cũng được Quân khu đổi cho một số tiền để mua rau, mua thực phẩm tươi…

Để tránh máy bay địch, chợ được họp sớm, từ bốn giờ rưỡi đến sáu giờ sáng, người ở xa chưa đến được. Buổi họp chợ đầu tiên thật cảm động. Xi-phon, Khăm-phon, Chum, Bun-niên, Xi-thôn rồi Thít Khăn-ty cùng tôi, Ngân đều ra sớm. Chỉ mấy phút sau, người bán lần lượt bưng rau, bưng trứng cứ như người ra trình diễn sân khấu. Điểm lại cũng được hơn ba chục người bán. Người mươi bó rau muống, năm bảy bó rau cải hoặc rau rừng phắc ván, phắt lót, ớt xanh đầu mùa, ớt bột dự trữ từ Nghệ An lên. Lác đác có năm ba qua trứng, hai con cá trê, cá chuối, cá trạch câu ở suối Nậm Ngừm. Đặc biệt có một bà có bán một thúng bánh nếp gói lá đót như hình cái kèn trẻ con chơi. Đây là kiểu bánh các bà hay gói đi lễ chùa. Ngoài lá nếp, trong có nhân pha ít hạt đậu đen, ít hạt lạc. Khách mua ít, khách thăm chợ đông hơn, chủ yếu là bộ đội. Buổi họp chợ mang tính chất chào hỏi, thăm nhau qua một cơn hoạn nạn thật ấm áp tình người, tình quân dân. Nó có tính chất như mua phúc nhà Phật vậy.

Rút kinh nghiệm chợ xã Khai, huyện chỉ đạo các xã lần lượt rao chợ. Chỉ cần các chủ tịch xã gửi một thông báo đi các nơi nói rõ ngày họp, giờ họp, địa điểm họp thế là chỉ trong mấy tháng, hàng mậu dịch triển khai, hàng hậu cần Quân khu bổ sung, hàng bà con mua từ Việt Nam đưa về chợ ngày càng phong phú. Những buổi chợ cuối năm 1970 ở các xã bắt đầu gây được cảnh quan trù phú, vui tươi rộn rã ở bản làng, xua đi cái không khí lạnh lẽo, tẻ nhạt. Các xã lại bắt đầu đón sư về và dân làng lại có dịp đi lễ chùa trong cảnh yên bình. Bằng sức lực của bản thân và được sự hỗ trợ của bội đội, Xiêng Khoảng dần dần khôi phục lại phong trào, đưa công cuộc kháng chiến chống Mỹ của tỉnh anh hùng đến thắng lợi.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:16:20 PM
*
*   *

Trong hoàn cảnh chiến tranh chưa phải đã chấm dứt, hàng ngày máy bay Mỹ còn bay lượn, dò la, nhân dân Xiêng Khoảng đã nô nức đón chào đồng chí Tổng bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hản nay trong các khu lán trại sơ tán.

Đồng chí Thao-mừn, đại diện Bộ chỉ huy tối cao cùng Tư lệnh Quân khu Xi-phon, Bí thư Tỉnh ủy Thao-đa, Phó bí thư, Chủ tịch mặt rận tỉnh Như-vư và Tỉnh trưởng Xôm-vẳng đã trực tiếp hướng dẫn đồng chí Cay-xỏn thăm nơi dân sơ tán ở Tương Dương, Con Cuông. Cùng đi còn có đồng chí Võ Thúc Đồng – Bí thư Tỉnh ủy Nghệ an.

Đồng chí Cay-xỏn hết sức cảm động trước sự săn sóc đùm bọc của Tỉnh ủy và nhân dân Nghệ An, khi thấy địa phương đã giúp đỡ lán trại, đất đai vườn tược bảo đảm tốt cho cuộc sống sơ tán của nhân dân Xiêng Khoảng. Đồng chí thăm hỏi, biểu dương đồng bào sơ tán đã phát huy ý chí cách mạng, cần cù chịu khó giữ vững nếp sống, bảo đảm được cả trường trại cho con em Xiêng Khoảng học tập, không vì chiến tranh mà để con em bị gián đoạn học hành. Đồng chí rất cảm động khi thấy các gia đình sơ tán chỉ có đàn bà, người già, trẻ em mà vẫn trồng rau, chăn nuôi để sinh sống (vì nam nữ thanh niên Xiêng Khoảng vẫn ở lại mặt trận, bám bản, đánh địch).

Về mua bán, ngoài cửa hàng sơ tán của Xiêng Khoảng, nhân dân ở đây còn được đi lại mua bán ở các chợ, các cửa hàng của địa phương Nghệ An. Tổng bí thư Cay-xỏn Phôm-vi-hản đã nói một câu xúc động sau ba ngày đi thăm dân về: “Có sống qua hoạn nạn chiến tranh mới hiểu hết tình nghĩa Lào – Việt”.

Khi gặp cán bộ dân chính của tỉnh Xiêng Khoảng, đồng chí Cay-xỏn đã ân cần thăm hỏi đến từng đại biểu của bộ tộc Lào – Thái, H’mông, Khạ Mú… Cuộc gặp cán bộ của đồng chí Tổng bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào như một cuộc hội thảo dân chủ, có thăm hỏi, có tọa đàm, chất vấn, rồi thảo luận giải đáp. Khi nghe đại diện Tỉnh ủy báo cáo những chủ trương về lãnh đạo chiến tranh, về phương hướng giải quyết đời sống kinh tế, văn hóa, đồng chí đặt một câu hỏi khá bất ngờ:

- Các đồng chí nói: “bình đẳng nam nữ”, “giải phóng phụ nữ”, vậy xin hỏi cán bộ ở đây có những ai đã giúp vợ vác nước và giã gạo, nấu cơm buổi sáng chưa?

Thấy hội nghị im lặng hơi lâu, chị Chủ tịch phụ nữ tỉnh đã đỡ lời rất tế nhị:

- Điều mà Bác hỏi thì thay mặt giới phụ nữ tôi xin nói là đã có nhiều đồng chí làm nhưng nói tiến bộ thì cũng xin Bác cho từ từ. – Cả hội trưởng cười ầm lên.

Đồng chí Cay-xỏn thân tình nói:

- Từ từ nhưng phải sửa! Nói nhỏ mà nghe, đã có nhiều chị em phụ nữ phàn nàn đàn ông ta đêm thì quấy phá không cho người ta ngủ, đến sáng lại nằm kềnh ra ngủ không biết nỗi vất vả của người phụ nữ trong gia đình.

Những điều bàn bạc như vậy làm cho cán bộ thấy thấm thía, vui và nhớ lâu.

Dự hội nghị thi đua lập công của Quân khu, đồng chí biểu lộ sự phấn khởi trước đội ngũ dân quân và bộ đội rất trẻ, rất tươi vui và năng động. Đồng chí càng vui khi gặp hai cha con người Lào Xủng ở Mường Mộc, nơi phỉ Vàng Pao đang hoạt động mạnh cùng về dự hội nghị thi đua. Cha là xã đội trưởng, con là trung đội trưởng bộ đội tỉnh đều được bầu là chiến sĩ thi đua. Trong hội nghị có Thu-mi, nữ chính trị viên đại đội pháo binh Xi-núc, dáng người chắc, khỏe, khuôn mặt trái xoan tươi tỉnh, cặp mắt to và sáng. Trong bộ quân phục nghiêm trang, cô đã báo cáo và trả lời các câu hỏi của đồng chí Cay-xỏn rõ ràng, dứt khoát với tác phong, tư thế nghiêm chỉnh, thuần thục. Chị em trong hội nghị rất tự hào về cô, còn nam thanh niên thì kính nể.

Biểu dương phong trào phụ nữ, đồng chí Cay-xỏn nói:

- Chiến tranh nhân dân Xiêng Khoảng là nơi phát triển sau nhưng tiến nhanh và vững chắc. Những ngọn cờ du kích bắn rơi phản lực Mỹ bằng súng bộ binh, như trung đội nữ súng máy cao xạ 12,8 bắn rơi máy bay tại chỗ đầu tiên của xã Khai, trung đội 12,8 của xã Xiêng, trung đội 12,8 của xã Khừng đã nổi tiếng trong toàn quốc. Đại đội dân công hỏa tuyến của nữ đồng chí Bông ở Mường Ngân, đại đội vận tải nữ của Quân khu bám trụ vùng Sông Hạc, đại đội pháo binh nữ đều là niềm tự hào của nhân dân và phụ nữ Xiêng Khoảng.

Tiếp đó, đồng chí ca ngợi chí khí anh hùng của các chiến sĩ Phu Cút, nơi Trung ương Đảng đã tặng danh hiệu “Núi thép, núi kim cương”. Tiểu đoàn 13 đơn vị anh ùng luôn giữ vững ngọn cờ phòng ngự kiên cường. Tiểu đoàn 2 đơn vị cơ động của Trung ương đánh tốt. Đại đội 15, Đại đội 16 giỏi đánh tiêu diệt. Tiểu đoàn 1, đơn vị vừa giỏi tiến công lại giỏi cả phòng ngự và đánh nhỏ, trụ vững, hỗ trợ phong trào du kích. Tiểu đoàn 701, những chiến sĩ đã được chọn lọc từ các tỉnh Bắc Lào, xứng đáng là lực lượng cơ động của Quân khu. Tiểu đoàn Pa Chay (H’mông) tuy quân số ít, nhưng sở trường cơ động luồn lách dùng ít đánh nhiều, bất ngờ tiến công, đánh nhanh đuổi khỏe, làm cho quân Vàng Pao và phái Hữu lắm phen hoảng loạn. Đặc biệt, đồng chí khen ngợi Tiểu đoàn 24, đơn vị chủ lực hoạt động sâu, bám dân xây dựng cơ sở từ Mường Khun, Mường Mộc và Bô Ri Khăn, phòng ngự tiến công đều linh hoạt, đã tiến công là thắng lợi.

Đồng chí khen ngợi tiểu đoàn pháo trực thuộc Quân khu đã học tập sử dụng thêm nhiều pháo mới, thích hợp với cơ động trên địa bàn rừng núi, tập trung được sức mạnh của pháo binh trong những chiến dịch đánh tập trung. Tiểu đoàn 15 được khen là ngọn cờ đầu đã làm gương cho các đơn vị Trung lập, mạnh về chính trị, đánh giỏi trong các trận tập kích, tiến công có hiệu suất. Các tiểu đoàn 1, 16, 46, 48 đều được biểu dương.

Các đơn vị cao xạ, công binh, trinh sát, thông tin, hóa học Quân khu đều được khen là hoạt động chuyên môn giỏi, lại đào tạo thêm được lực lượng cao xạ, công binh, trinh sát, thông tin, hóa học không chuyên cho địa phương. Đặc biệt đồng chí Cay-xỏn hết sức khen ngợi các đơn vị tự vệ của cơ quan và đơn vị trực thuộc Quân khu đã bám trụ đánh địch trong suốt mùa mưa trong lòng Cánh Đồng Chum, kiềm chế địch và làm tai mắt giữ bàn đạp cho chủ lực vào mở chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân “Cù Kiệt” của địch.

Cuối cùng đồng chí Tổng bí thư nhìn về dãy ghế trường phổ thông Mường Pẹch do Phu-mi làm hiệu trưởng, đồng chí nói: “Thật đáng khen thưởng một tập thể anh hùng vừa học giỏi, vừa chiến đâu giỏi, có nhiều công lao phục vụ chiến dịch vận tải đường dài, lại lao động sản xuất tự túc được nhiều mặt. Thật xứng đáng là một mái trường đang rèn luyện thế hệ thanh thiếu niên đấy triển vọng cho tương lai đất nước”.

Kết thúc lời căn dặn các đại biểu dự đại hội, đồng chí nói: “Cuối cùng thì chúng ta phải là người chiến thắng, nhưng đế quốc Mỹ còn nhiều tiềm lực, chúng còn ngoan cố, những trận cuối cùng sẽ còn ác liệt, gay go gian khổ. Phải đoàn kết để chiến thắng. Nhất định chúng ta phải thắng”.


Tiêu đề: Những ngày ở Cánh Đồng Chum - Thiếu tướng Nguyễn Bình Sơn
Gửi bởi: macbupda trong 09 Tháng Mười, 2016, 05:17:02 PM
ĐOẠN KẾT

Để kết thúc tập hồi ức của mình, tôi xin lược ghi những ý kiến của đồng chí Xi-phon, Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum phát biểu đánh giá tổng quát về công tác chuyên gia của đoàn trong hội nghị chuyên gia Quân khu năm 1971:

- Từ năm 1969, Xiêng Khoảng mới thực sự được giải phóng. Nhưng cũng từ đó, đế quốc Mỹ liều lĩnh nhảy vào, biến đất Xiêng Khoảng thành đất phỉ, buộc quân ta phải liên tục chiến đấu. Từ năm 1964 đến 1969, ta đã giải phóng nhiều vùng, xây dựng được cơ sở chính trị khá vững chắc. Nhưng đến cuộc hành quân “Cù Kiệt”, chúng đã vét mất của ta một vạn dân; hàng nghìn du kích bị vỡ. Tuy vậy, với sự cố gắng cao của quân và dân Xiêng Khoảng, trong đó có sự đóng góp ý kiến đúng đắn, sắc sảo của các đồng chí chuyên gia Việt Nam, một bộ phận quan trọng của địch bị tiêu diệt như GM13, GM17, GM24, lực lượng phản động Coong-le. Chủ lực địch bị quét khỏi Cánh Đồng Chum, nhiều ổ phỉ bị tiêu diệt, tan rã. Đất đai được giải phóng. Cơ sở cách mạng từ Sầm Nưa, Xiêng Khoảng nối liền với Bô Ri Khăn, Viên Chăn.

Đi vào cụ thể, Mường Khăn xưa làm không sâu nên gặp khó khăn, thiệt hại, Mường Pẹch nhờ có cán bộ gương mẫu và quyết tâm chỉ đạo nên phong tráo vừa lên nhanh, vừa vững chắc. Được như vậy chính là nhờ chuyên gia Quân khu đã cùng chúng tôi phát động phong trào xây dựng cơ sở.

Một điều đóng góp xuất sắc của chuyên gia là đã cùng Quân khu xây dựng mặt rận liên minh Trung lập, từ trong hàng ngũ kẻ thù tách xa, đoàn kết chiến đấu, tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Đoàn kết với anh em Lào Xủng được quan tâm; nhờ đó bộ đội Pha Chay và du kích Lào Xủng lập được nhiều chiến công. Chính sách dân tộc trong sáng, thủy chung đã thu phục phỉ vùng Phu Phạ, Mường Chim, Long Pốt. Công tác hậu địch có kết quả trong việc xây dựng hành lang chi viện cho Phu Khun, Ca xỉ, Mường Ngàn, Kiều Ca Chăn, Bô Ri Khăn, Nhọt Ngừm. Tóm lại, không có thành tích nào, chiến công nào của quân dân Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng mà không có sự đóng góp của các đồng chí chuyên gia.

Quân khu Cánh Đồng Chum đứng trên địa bàn Xiêng Khoảng – một trung tâm đánh phá, giành giật quyết liệt của địch nhiều năm qua. Tỉnh không đủ sức độc lập giải quyết mọi vấn đề mà nhiều việc phải có Trung ương, có Quân khu mới đủ lực lượng và điều kiện để giải quyết. Quân khu đã tham gia thì chuyên gia Quân khu phải xắn tay áo cùng lo, chẳng những về quân sự mà cả chính trị, kinh tế, xã hội, dân vận, tiền phương, hậu phương… Chiến tranh cách mạng đã cột chặt bộ đội Quân khu với nhân dân các dân tộc Xiêng Khoảng. Chiến tranh cách mạng cũng cột chặt chuyên gia với Quân khu, chuyên gia với nhân dân Xiêng Khoảng.

 Những năm qua, cách giúp của chuyên gia là đúng, là tốt, giúp cho Quân khu Cánh Đồng Chum đanh tốt và xây dựng mọi mặt đều tốt.

Tình cảm đoàn kết chiến đấu Lào – Việt là tình cảm tích lũy từ nhiều năm mà có. Nói đến sự giúp dỡ của chuyên gia là nói đến quá trình tích lũy trên nhiều mặt, từ sự tìm hiểu về đặc tính dân tộc của các bộ tộc Lào, phong tục và tập quán, những vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc điểm của địch trên chiến trường, trình độ tổ chức và hoạt động, chiến đấu của các lực lượng vũ trang và bán vũ trang trong Quân khu mới có thể giúp cho bộ đội, nhân dân Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu quyết liệt, lâu dài và gian khổ, làm tròn nhiệm vụ của mình trên một hướng chiến lược quan trọng của Tổ quốc Lào.

Cán bộ trong Quân khu Cánh Đồng Chum rất thích cách giúp đỡ của chuyên gia Quân khu. Đó là cách giúp “Đổ nước vào miệng chum”. Giúp đỡ theo hình tượng đó đã mang lại hiệu quả thiết thực. Về đoàn kết thì ở đâu mà không có người, có việc va vấp, nhất là anh em mới. Nhưng ở đây có cái hay là “chuyên gia không để cho răng cắn phải môi”. Có vấn đề là bàn bạc chủ động giải quyết đúng đắn giúp đỡ Lào hiểu Việt, Việt hiểu Lào, bộ đội hiểu dân, dân thương yêu đùm bọc bộ đội như con em trong nhà.

Sức khỏe của chuyên gia không phải ai cũng khỏe mạnh. Nhiều đồng chí mắc bệnh kinh niên, mãn tính, nhưng rừng núi nào, sông suối nào có chiến sĩ Lào là có mặt chuyên gia. Cán bộ trong Quân khu học tập được ở các đồng chí chuyên gia tác phong sâu sát, chịu khó, chịu khổ đi tận nơi, xem tại chỗ để nghiên cứu, phát hiện, đề xuất ý kiến. Không ngồi nghiên cứu ở văn phòng mà các đồng chí xông tới nơi, nhìn tận chỗ, xem xét tại chỗ nên rút được kết luận chính xác, đặt kế hoạch chính xác trong từng trận, từng sự việc. Nhiều đồng chí đã bám bộ đội vào tận chiến hào và đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng Cánh Đồng Chum như đồng chí Phúc, Uyển, Danh, Lộc… Điều quan trọng là chuyên gia không làm thay mà xây dựng cho anh em lòng tự tin, để anh em Lào tự làm và dần dần đã làm tốt. Anh em Lào đã tự viết được tài liệu, biết phát hiện, phân tích vấn đề, tự làm kế hoạch rồi chủ động bàn bạc, tranh thủ ý kiến của chuyên gia.

Về điều kiện của chuyên gia, muốn giúp Quân khu đạt được thắng lợi chuyên gia phải dựa vào hậu phương lớn, dựa vào sự chỉ đạo chiến lược của hai Bộ Thống soái tối cao (Bộ Chính trị) của Việt Nam và Lào, dựa vào sự chỉ đạo chiến dịch, chiến thuật và chiến đấu của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Pa-thét Lào. Sự đóng góp lớn lao, liên tục, nhất là hoạt động của bộ đội tình nguyện Việt Nam, đúng như Tổng tư lệnh Khăm-tày đã nói: “Sự hy sinh chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam là vô cùng to lớn”, trong đó các đơn vị Quân khu Tây Bắc là lực lượng gắn bó với chiến trường Bắc Lào nhiều nhất.

Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ tình nguyện và dân công hỏa tuyến tình nguyện đã lăn lộn cùng nhân dân các tỉnh từ Bắc Lào đến Sầm Nưa, Xiêng Khoảng, đã trèo đèo lội suối đánh địch, thu phục phỉ, nhường áo sẻ cơm, ra sức xây dựng bản làng, chăm lo cuộc sống thanh bình của các bộ tộc Lào. Trong đó, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong tình nguyện đã ngã xuống vì tình hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc. Phát huy được sức mạnh đoàn kết chiến đấu đó, chính là vai trò của các đồng chí chuyên gia đã tận tụy phục vụ, tạo mọi điều kiện xây dựng sự hiệp đồng chiến đấu giữa lực lượng quân tình nguyện và lực lượng của Quân khu. Sự hy sinh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và đồng bào hai nước ở Bắc Lào, trong đó có các đồng chí chuyên gia là vô cùng to lớn.

Cuối cùng, đồng chí Xi-phon khẳng định:

“Đoàn chuyên gia Quân khu Cánh Đồng Chum đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, đã làm đúng chỉ thị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi giao nhiệm vụ là “ Trọn đời, trọn nghĩa, trọn tình với cách mạng Lào”.