Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: star trong 16 Tháng Tám, 2007, 11:32:01 pm



Tiêu đề: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: star trong 16 Tháng Tám, 2007, 11:32:01 pm
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 2

Ngày giáp tí, 21 tháng chạp năm Giáp thân (27/01/1285), giặc Nguyên Mông dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan và Aric Khaya (A Lý Hải Nha) đã chia quân làm hai đường tiến công vào các cửa ải Khâu Ôn và Khâu Cấp (nay thuộc tỉnh Lạng Sơn). Một lần nữa quân dân Đại Việt đã lại đứng lên cầm vũ khí bảo vệ Tổ quốc trước vó ngựa xâm lăng của một đế quốc mạnh nhất thế giới thời bấy giờ.

Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 2 có thể được chia làm các giai đoạn chính sau:

+ Giai đoạn trực tiếp chặn giặc ở biên giới phía bắc: quân ta tại các quan ải vùng biên giới giao chiến với giặc. Tuy nhiên, thế giặc đang rất mạnh, chúng lần lượt chiếm được các cửa ải địa đầu như Khâu Ôn, Khâu Cấp, Khả Ly, Nội Bàng, Chi Lăng, ...

+ Giai đoạn trực tiếp chặn giặc ở Vạn Kiếp: Hưng Đạo Vương tập trung binh lực thủy bộ, cố thủ ở Vạn Kiếp để cản giặc. Ngày mùng 6 tháng giêng năm Ất dậu (11/02/1285), quân Nguyên tiếp tục tấn công vào Vạn Kiếp. Nhận thấy chưa thể chặn đứng được thế tiến công của giặc, Hưng Đạo Vương đã rút về lập phòng tuyến ở bờ bắc sông Hồng.

+ Giai đoạn rút lui chiến lược về phủ Thiên Trường (Nam Định) và trực tiếp chặn giặc ở biên giới phía Nam (Thanh Hóa, Nghệ An): Phòng tuyến ở bờ bắc sông Hồng có tác dụng chính là cản giặc cho cuộc rút lui chiến lược của triều đình và quân dân ra khỏi kinh đô Thăng Long. Triều đình và quân chủ lực rút về Thiên Trường. Giặc chiếm được Thăng Long. Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng đã hy sinh trong một trận đánh ngăn cản sự truy đuổi của giặc tại bãi Mạn Trù, Hải Hưng. Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật cũng đã rút từ Yên Bái đi xuyên qua vùng các dân tộc thiểu số về hội với quân chủ lực. Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải đem quân vào Nghệ An, phối hợp với các đạo quân đóng sẵn phía nam tiếp tục chặn đánh cánh quân do Toa Đô chỉ huy từ Chiêm Thành kéo ra.

+ Giai đoạn rút quân chiến lược về các lộ phía đông giáp bờ biển (Hải Phòng, Quảng Ninh): ngày mùng 3 tháng 2 âm lịch (10/03/1285), quân ta từ Thiên Trường ngược sông Hồng giao chiến với quân Thoát Hoan tại Hà Nam. Thế giặc mạnh, quân ta không tiến lên được. Đồng thời từ cuối tháng giêng âm lịch, quân ta đã giao chiến với cánh quân của Toa Đô. Chương Hiến Hầu Trần Kiện phản bội, đem hơn 1 vạn quân hàng Toa Đô và dẫn đường cho chúng tấn công quân ta. Toa Đô chiếm được Thanh Nghệ. Trần Quang Khải tụ quân với Trần Quốc Tuấn rút về các lộ phía đông là nơi giặc chưa vươn tới được, dự định sẽ tiếp tục theo đường biển vào Thanh Hóa (vào những vùng mà cánh quân của Toa Đô đã đi qua), tránh khỏi thế bị kẹp giữa 2 gọng kìm của Toa Đô và Thoát Hoan.

+ Giai đoạn rút lui chiến lược từ các lộ phía đông theo đường biển vào Thanh Hóa: Chủ lực của Toa Đô đóng tại Trường Yên (Ninh Bình) để kiếm lương. Thoát Hoan chia quân làm nhiều nhánh tấn công vào Quảng Ninh nhằm bắt các vua Trần và diệt chủ lực của ta. Đại quân của ta đã theo đường biển rút vào Thanh Hóa (đúng như chiến lược đã vạch ra).

+ Giai đoạn phản công cắt đôi hai cánh quân Toa Đô, Thoát Hoan và giải phóng Thăng Long : Toa Đô được lệnh 1 lần nữa đánh Thanh Hóa (từ bắc vào). Nhưng lúc này, thế giặc bắt đầu suy, không còn cái khí thế như lúc ban đầu nữa. Tháng 4 năm Ất dậu (06/05 – 04/06/1285) Hưng Đạo Vương, Chiêu Minh Vương, Chiêu Văn Vương cùng các tướng lĩnh theo đường biển vượt qua các vùng bị Toa Đô chiếm đóng tấn công vào hệ thống các cứ điểm của giặc dọc sông Hồng, cắt đôi 2 cánh quân chủ lực của giặc. Sau 1 loạt các chiến thắng lớn như Hàm Tử, Tây Kết, quân ta tiến vào giải phóng Thăng Long. Thoát Hoan chạy sang đóng quân ở bờ bắc sông Hồng. Đầu tháng 5 âm lịch, hai vua Trần đem quân từ Thanh Hóa ra phá vỡ toán quân địch đóng ở Trường Yên (Ninh Bình) (Đây là toán quân Toa Đô để lại giữ Trường Yên khi y đem quân vào Thanh Hóa tấn công quân ta)

+ Giai đoạn truy kích quyét sạch quân địch khỏi bờ cõi : các cánh quân của giặc bị chia cắt, không còn liên lạc được với nhau. Ngày 6 tháng 5 năm Ất dậu (10/06/1285), quân ta bắt đầu tấn công vào cánh quân của Thoát Hoan bên bờ bắc sông Hồng. Chủ lực địch bỏ chạy về phương bắc và liên tiếp bị chặn đánh. Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản đã hy sinh khi tham gia chặn đánh giặc bên dòng sông Như Nguyệt. Thoát Hoan phải chui vào ống đồng, Lý Hằng bị trút tên thuốc độc bỏ mạng. Cánh quân của Toa Đô, Ô Mã Nhi kéo từ Thanh Hóa ra bị chặn đánh ở Tây Kết (Hưng Yên), Toa Đô bị mất đầu, Ô Mã Nhi đi thuyền nhẹ trốn thoát ra biển. Ngày 6 tháng 6 năm Ất dậu (09/07/1285), hai vua Trần cùng quân dân đã trở về Thăng Long, cuộc kháng chiến lần thứ 2 chống quân Nguyên Mông kết thúc thắng lợi.

Việc chia thành các giai đoạn như trên chủ yếu dựa trên sự tiến, lui, phản công,... của quân chủ lực nhà Trần. Nhưng cũng phải lưu ý rằng quân Nguyên chưa có lúc nào bình định được các vùng đất mà chúng đã chiếm. Quân dân Đại Việt cùng với các đạo quân chính quy tác chiến độc lập (không tụ cùng với đại quân) luôn quấy rối, kìm chân địch ở những nơi chúng tạm chiếm được. Những đạo quân này cùng với những cánh dân binh địa phương cũng góp phần quan trọng trong những giai đoạn chủ lực của ta phản công chia cắt và quyét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi.

====
Tài liệu tham khảo:
Hà Văn Tân, Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, NXB Khoa Học Xã Hội, 1975, in lần thứ 4


HOÀI VĂN HẦU TRẦN QUỐC TOẢN

“Phá cường địch, báo hoàng ân” - trong hơn 700 năm qua, 6 chữ vàng đó vẫn luôn vang lên như một minh chứng cho lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam, cho khí phách hào hùng của một giai đoạn cả đất nước cùng chung sức đứng lên đương đầu với vó ngựa hung hãn của đế quốc Nguyên Mông. Người thiếu niên anh hùng đã giương cao lá cờ thêu sáu chữ vàng đó là Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản.

Qua các tài liệu, đọc trên mạng, trên vô tuyến và các sách xuất bản trong nước, có thể thấy thân thế và sự nghiệp của Trần Quốc Toản như sau:

+ Năm sinh : 1267

+ Dòng dõi: thuộc chi họ của Hoài Đức Vương Trần Bà Liệt (Trần Bà Liệt là em vua Trần Thái Tông)

+ Sự nghiệp: Trong hội nghị Bình Than (1282), Quốc Toản do tuổi còn nhỏ (15 tuổi) mà không được tham dự. Uất ức vì không được tham dự việc nước, Hoài Văn đã bóp nát quả cam cầm trong tay mà không biết. Trở về, Quốc Toản lập một đội quân gồm hơn 1 nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, rèn luyện chờ ngày giết giặc. Trong cuộc kháng chiến lần thứ 2 (1285) Hoài Văn Hầu đã tham gia các trận đánh nổi tiếng: trận Tây Kết lần thứ nhất, trận đánh ở bến Chương Dương, trận đánh giải phóng Thăng Long

+  Hy sinh: Trần Quốc Toản hy sinh trong trận chặn đánh đám quân của Thoát Hoan khi chúng đang rút chạy bên bờ sông Như Nguyệt (sông Cầu) vào khoảng cuối tháng 6 năm 1285 (âm lịch). Quốc Toản đã được vua Nhân Tông thân làm văn tế và truy tặng tước vương.

====
Các thông tin về sự nghiệp và sự hy sinh của Trần Quốc Toản đã được các tác giả Hà Văn Tân và Phạm Thị Tâm trình bày và phân tích khá chi tiết trong tác phẩm : “Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII”.

Về năm sinh của Trần Quốc Toản, tôi mới chỉ biết đến 1 tài liệu, đó là Wikipedia tiếng Việt:
http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_Qu%E1%BB%91c_To%E1%BA%A3n

Về dòng dõi của Trần Quốc Toản, tôi nhớ rằng đã xem trên 1 chương trình vô tuyến. Lý do chính để đưa ra kết luận Quốc Toản thuộc chi họ của Trần Bà Liệt là sự giống nhau của chữ “Hoài” trong tước hiệu: Hoài Đức, Hoài Văn.

Tôi mới chỉ tìm được 1 số thông tin trong các tài liệu như trên, rất mong được trao đổi thêm cùng các bạn.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: ma trong 09 Tháng Chín, 2007, 11:58:45 am
Chi tiết Ô Mã Nhi lên thuyền nhẹ chuồn mất là sai bét. Theo Sử ký của Ngô Sỹ Liên, Bác Ô bị bắt sống tại trận cùng với tất tần tật thân bằng quyến thuộc. Tại cuộc đàm phán hoà bình sau cuộc chiến Việt - Mông lần 2, theo điều khoản về trao trả tù binh, bác Ô và gia đình được 2 bên thoả thuận đưa lên thuyền để trao trả tại TQ. Người cầm lái vĩ đại cho chuyến hải hành định mệnh này là Nội thư Hoàng Tá Thốn, 01 đại cao thủ bơi lặn dưới trướng Trần Hưng Đạo. Dễ hiểu là với 01 ông lái thuyền có lý lịch như vậy thì ra đến giữa biển là tự nhiên cái thuyền thủng 01 lỗ. Tất tần tật gia quyến bác Ô đều được cứu và sau đó gửi lại về TQ an toàn, riêng bác Ô do thành tích chiến đấu xuất sắc tại mặt trận Đại Việt và 01 số mặt trận khác đã được Long Vương giữ lại làm tướng.

Chào thân ái và quyết thắng!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: star trong 09 Tháng Chín, 2007, 01:12:49 pm
Mr. Ô Mã Nhi bị bắt là trong cuộc kháng chiến lần 3, bác ạ

Còn topic này đang bàn về cuộc kháng chiến lần 2 cơ mà


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Tunguska trong 10 Tháng Chín, 2007, 07:56:16 pm
Nhà em vẫn thắc mắc là thời đó Việt và Nguyên có bao nhiêu quân ?

Nhà ta bảo Nguyên có 500k hơi bị phét :D. Sử Tàu có vẻ hợp lý hơn. Lần 3 có 92000, lần 2 chắc cũng cỡ 10-12 vạn. Mỗi cái đoạn Toa Đô có nhõn 5000 quân, đánh Chiêm liên miên gần 1 năm mà vẫn còn đủ sức tiến ra Thanh Nghệ đuổi quân ta chạy dài thì nghe hơi vô lý.

Theo ĐVSKTT thì số quân ta cũng khủng. Riêng lúc ở Vạn Kiếp, quân của Trần Quốc Tuấn và các con đã là 20 vạn, chưa tính đến quân của 2 vua, Quang Khải, Nhật Duật, Khánh Dư...., quân các lộ vùng đông bắc và phía nam, thân binh của các vương hầu, dân quân tự vệ địa phương vv và vv.... Quân nhiều, luyện tập chuẩn bị hàng năm trời mà không chống được, Trần Kiện có 1 vạn quân gặp Toa Đô có không đầy 5000 cũng đầu hàng (???). Mà lính nó toàn hàng binh Kim, Tống, chứ không có Mông Cổ xịn.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: mytam44 trong 10 Tháng Chín, 2007, 10:21:51 pm
Quân lính sao đông thế được nhỉ, nghĩ cũng thấy lạ. Quân đông thế, có mà đứng cũng chật hết cả nước rồi, đánh đấm mới rút lui chiến lược gì nữa...


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: seahawk1 trong 15 Tháng Mười, 2007, 09:12:45 pm
Quân lính sao đông thế được nhỉ, nghĩ cũng thấy lạ. Quân đông thế, có mà đứng cũng chật hết cả nước rồi, đánh đấm mới rút lui chiến lược gì nữa...

Thời Trần nước ta có khoảng 6 triệu dân, huy động một đội quân đông đến 100 ngàn người đã là khủng khiếp lắm rồi. Nếu đọc Đại Việt sử ký thời nhà Lê, sau khi diệt Mạc Trịnh Tùng cho điểm quân mới chỉ có 60 ngàn, nói phao lên 120 ngàn. Lúc Trịnh tùng đánh Thăng Long năm 1592 cũng chỉ có khoảng 60 ngàn quân thôi. Đoán mò, tớ nghĩ cùng lắm lực lượng tập trung của nhà Trần khó vượt quá được con số 100 ngàn, lại phải chia ra trấn giữ các nơi nữa. Chống lại một đội quân tấn công tập trung cỡ 50 - 60 ngàn là vất vả lắm rồi. Con số 500 ngàn quân Nguyên thì rõ ràng là quá phóng đại, cũng giống như con số 830 ngàn quân của Tào tháo ở trận Xích Bích hay 450 ngàn quân Triệu ở trường bình ấy, bốc phét thành quen rồi không sửa được. Có lẽ lực lượng của Thoát Hoan chỉ khoảng 100 ngàn quân đổ lại, chừng 50 ngàn là hợp lý nhất. Còn quân Thánh Dực (coi như quân trung ương) của nhà Trần có lẽ chừng 20 -30 ngàn người, thêm vào của các vương hầu khoảng 40-50 ngàn nữa là cùng. Huy động cạn sức cả dân binh chắc thêm 100 ngàn nữa, lấy số lượng chống lại chất lượng quân địch, coi như hòa. Thêm lợi thế sân nhà nữa, cùng tình cảnh chẳng còn đâu mà chạy "nước Việt bé quá nên chẳng có chỗ lùi, đằng sau ta là đất Chiêm Thành" nên phải quyết tử thôi. Nên đương nhiên ta thắng.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: dongadoan trong 15 Tháng Mười, 2007, 09:20:08 pm
Còn quân Thánh Dực (coi như quân trung ương) của nhà Trần có lẽ chừng 20 -30 ngàn người
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
  Quân tinh nhuệ của Quan gia nhà Trần có tới "6 quân" cơ, chứ chỉ một quân mà tới 20 - 30 ngàn người thì...đông quá!(http://thongdiepthoigian.bantay.net/Bm21/Anh/IconYM/16.gif)


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: seahawk1 trong 16 Tháng Mười, 2007, 10:56:02 pm
Còn quân Thánh Dực (coi như quân trung ương) của nhà Trần có lẽ chừng 20 -30 ngàn người
---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
  Quân tinh nhuệ của Quan gia nhà Trần có tới "6 quân" cơ, chứ chỉ một quân mà tới 20 - 30 ngàn người thì...đông quá!(http://thongdiepthoigian.bantay.net/Bm21/Anh/IconYM/16.gif)


Hehe, em sửa lại vậy: coi như quân trung ương của triều đình tất tật khoảng 30 ngàn, các vương hầu ai cũng có ít nhiều thủ hạ: lớn nhất như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải chắc gia binh mỗi nhà cũng khoảng 5000 - 10000, nhưng em nghĩ chỉ 5000 là cùng. Nuôi năm ngàn lính cũng tốn kém ra phết, chưa kể trang bị: mỗi chú một con dao phay, một cái giáo, thế là mất 5000 gộc tre làm cán giáo, ối sắt để làm dao với mũi dáo rồi. Chưa kể đến khiên, cung, tên, áo giáp (ít nhất cũng phải có cho tầm sĩ quan chứ), thêm mỗi chú một cái bát sành quân dụng, năm chú một nồi là mất đứt một nghìn cái nồi đất nấu cơm, vv và vv. Nói túm lại, có thể lực lượng của các vương hầu chắc cũng chỉ 30 ngàn là cùng, nhiều nữa làm sao chính quyền trung ương quản được, ngộ nhỡ có chú nào bắt trước Trần Liễu thì phiền. Trần Quốc Toản gia tài chắc cũng không phải xông xênh, trang bị xong cho 600 quân không khéo phá sản. Vậy là cả trung ương đến địa phương em ước tính liều tổng số quân tạm coi là ít nhiều chính quy của nhà trần sẽ khoảng 60 ngàn, đúng tỷ lệ 100 dân nuôi 1 lính chính quy. Cộng thêm các toán lính thú đồn trú các quan ải, có lẽ cũng chỉ vài ngàn người, lực lượng chính quy của nhà Trần chắc không vượt quá 70 ngàn quân. Với lực lượng như thế, lại rải rác nhiều nơi, khi có một đạo quân địch chừng 50 ngàn bất thần tấn công đối phó lại cũng đã nan giải lắm. Như năm 1258, Ngột lương hợp thai chỉ đem đâu 30 ngàn quân mà nhà Trần đã khốn đốn. Thế nên có lẽ Thoát Hoan cũng chỉ mang theo 50 ngàn, hay nhiều lắm 100 ngàn quân là cùng. Đến đánh Tống, Kim hay Kharesm to đùng đoàng Mông cổ cũng chỉ huy động từng ấy quân nữa là. Cứ cho là chất lượng quân Nguyên về sau kém đi, thì có lẽ Hốt tất liệt cũng chỉ huy động đến 100 ngàn quân (kể cả phu thồ gạo) để đánh việt nam thôi.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: chiangshan trong 16 Tháng Mười, 2007, 11:24:55 pm
Đấy mới chỉ là thời bình. Khi có chiến tranh thì chắc ông tướng nào đóng ở đâu cũng sẽ cho tổng động viên dân nơi đấy để bổ sung cho số chính quy của mình. Mà thời đấy nam giới 15-60 đều có thể bị gọi vào lính, chỉ cần huy động 1/10 số đó là đã thêm được ít nhất 10 vạn quân rồi.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: star trong 16 Tháng Mười, 2007, 11:57:03 pm
Theo tài liệu
Hà Văn Tân, Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, NXB Khoa Học Xã Hội, 1975, in lần thứ 4

Thì số lượng quân Mông Cổ trong 3 lần xâm lược như sau:

Lần 1: 3 vạn

Lần 2:
+ Mũi vượt biển đánh Chiêm Thành: 5 nghìn, sau tăng viện thêm 1 vạn 5 nghìn quân. Tuy nhiên, cánh quân tiếp viện đã không hợp được với cánh quân của Toa Đô. Trên đường quay lại phía bắc để tìm cánh quân Toa Đô, toán quân tăng viện bị tan vỡ do gặp bão.
+ Mũi tấn công Đại Việt: 50 vạn

Lần 3: khoảng 10 vạn


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: tieungoctu trong 29 Tháng Mười, 2007, 10:20:07 am
Theo tôi, lực lượng quân Nguyên tham gia xâm lược lần 2 là 50 vạn quân là hoàn toàn có thể. Trước đó, khi đánh Nam Tống, người Mông Cổ cũng đã từng huy động vài chục vạn quân đánh thành Tương Dương và Thành Đô ( Tứ Xuyên ), sau khi chiếm được Nam Tống và Đại Lý thì chiêu mộ thêm lính địa phương, đông 50 vạn là chuyện thường.
TRong lịch sử chiến tranh Trung Hoa, việc huy động tới 50 vạn quân choảng nhau là chuyện có từ thời Chiến Quốc rồi, thậm chí từ đầu nhà Chu ( hội quân ở Mạnh Tân diệt Trụ ).
Còn quân Đại Việt thì lình chính quy giỏi lắm thì được 20 vạn, nhưng đây là kháng chiến toàn dân, huy động trai tráng cả nước ra trận thì có khi còn đông hơn quân nguyên ấy chứ ( tất nhiên là trang bị và huấn luyện kém hơn hẳn ).


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: 10con3 trong 01 Tháng Mười Một, 2007, 05:20:43 pm
Có mấy chỗ đáng tham khảo

Đại Việt vs Nguyên Mông.
http://dactrung.net/phorum/tm.aspx?m=305751

VN thắng Nguyên Mông
http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,29527


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: tuoithantien trong 10 Tháng Mười Một, 2007, 09:32:16 pm
Theo tài liệu
Hà Văn Tân, Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, NXB Khoa Học Xã Hội, 1975, in lần thứ 4

Thì số lượng quân Mông Cổ trong 3 lần xâm lược như sau:

Lần 1: 3 vạn

Lần 2:
+ Mũi vượt biển đánh Chiêm Thành: 5 nghìn, sau tăng viện thêm 1 vạn 5 nghìn quân. Tuy nhiên, cánh quân tiếp viện đã không hợp được với cánh quân của Toa Đô. Trên đường quay lại phía bắc để tìm cánh quân Toa Đô, toán quân tăng viện bị tan vỡ do gặp bão.
+ Mũi tấn công Đại Việt: 50 vạn

Lần 3: khoảng 10 vạn

Có vẻ như nhà Trần không hẳn đập nhau với quân Mông-Nguyên xịn. Em thấy may ra có lần đầu thì còn hàng xịn chứ những lần sau, đa số toàn quân Tống được chiêu mộ. Như thế thì, vẫn là Đại Việt đập nhau với thiên triều Trung Quốc.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Mười Một, 2007, 02:49:16 pm
 Các bác tìm đọc bộ Việt sử toàn thư của tác giả Phạm Văn Sơn có nói khá rõ và thật về cuộc chiến của quân và dân nhà Trần.
 Em có bộ này, bác nào muốn đọc em gửi cho, khỏi mất công đi đao loát.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Mười Một, 2007, 04:07:34 pm
 Việc Binh Chế và Lực Lượng Quân Đội Đời Trần Sơ
Nhà Trần để lại trong sử sách chẳng những của nước nhà mà của Thế giới nữa, một
chiến công vô cùng oanh liệt đầu thế kỷ thứ 13, vậy tổ chức quân sự của Trần triều thế
nào ta cần phải tìm hiểu rõ rệt.
Theo Toàn Thư quyển 5, Cương Mục quyển 6, tháng ba năm Kỷ Hợi (1245) có việc
tuyển trai tráng làm binh lính chia làm ba hạng: thượng, trung, hạ. Tháng hai năm Bính
Ngọ (1246) chọn người cho vào quân Tứ Thiên, quân Tứ Thánh, quân Tứ Thần, các
quân này đều là Túc vệ binh gồm quân Thiên thuộc, quânThánh đức và quân Thần
sách. Chữ Tứ (4) chắc là mỗi quân chia ra 4 vệ. Vệ là thế nào sử cũ không chép rõ.
Tháng hai năm Tân Sửu (1247) triều đình lấy người khỏe mạnh và biết võ nghệ sung
vào Thượng đô túc vệ.
Tại các lộ Thiên Trường (nay là phủ Xuân Trường thuộc Nam Định, quê hương họ
Trần) và Long Hưng có lập quân Nội thiên thuộc, quân Thiên Cương, quân Chương
Thánh, quân Củng thần. Các lộ Hồng (nay là Hải Dương), Khoái (Hưng Yên) có lập
quân Tả Thánh đức và Hữu Thánh đức bằng trai tráng địa phương. Các lộ Trường Yên
(nay thuộc Ninh Bình) Kiến Xương (nay thuộc Thái Bình), đặt làm quân Thánh Đức,
quân Thần Sách. Còn thì sung làm quân Cấm Vệ chia ra ba bậc nhập vào đội trạo nhi
(thủy quân).
Tháng hai năm Tân Dậu (1261) có việc tuyển binh ở các lộ. Người khỏe cho làm lính,
còn thì sung vào làm sắc dịch ở các sảnh, viên, cục và làm đội tuyển phong ở các lộ,
phủ, huyện (Cương mục quyển 7, tờ 1b).
Tháng tám, năm Đinh Mão (1267) quân lính chia ra như sau:
Quân có 30 Đô. Mỗi Đô có 80 người tuyển trong họ tông thất lấy người hiểu binh
pháp, võ nghệ chỉ huy.
Lại có quân Tứ Xương là những lính chuyên canh gác bốn cửa thành thay đổi nhau.
Thứ quân này đối với các quân trên kia không quan hệ bằng.
Các ngạch quân chia làm thân quân, du quân và vương hầu gia đồng.
Thân quân có: 1) Thánh dực đô. 2) Thần dực đô. 3) Long dực đô. 4) Hổ dực đô. 5)
Phụng nha quan chức lang. (Từ đây trở lên đều có tả hữu có nghĩa là bốn Đô và mỗI
Lang đều có tả hữu. Ví dụ: Tả thánh dực đô, hữu thánh dực đô v.v...)
Du quân có: 1) Thiết lâm đô. 2) Thiết hạm đô. 3) Hùng hổ đô. 4) Vũ an đô.
Vương hầu gia đồng có: 1) Toàn hầu đô. 2) Dược đông đô. 3) Sơn liêu đô v.v...
Số lượng quân nhà Trần lúc thường không có tới 10 vạn, nhưng khoảng niên hiệu
Thiệu Bảo (1279-1284) vì có cuộc chiến tranh tự vệ nên quân số lên tới hai mươi vạn
166 Việt Sử Toàn Thư
(200000). Đây là số quân động viên ở các lộ Đông, Nam. Quân Thanh Nghệ chưa hề
tuyển dụng đến.35
Binh phục thời bấy giờ thế nào không thấy sử chép chỉ biết rằng quân sĩ đương thời
đều có đội nón, căn cứ vào đạo quân của Trần Khánh Dư ở Vân Đồn có đội nón Ma lôi.
Đáng chú ý một điều là trong thời nhà Trần các vương hầu được phép mộ dân gian
làm lính nên năm Quý Mùi (1283) các vương Quốc Hiến, Quốc Tảng ... đã huy động các
dân Bằng Hà (thuộc tỉnh Hải Dương), Na Sầm (thuộc Lạng Sơn), An Sinh, Long Nhãn
(đời Lê đổi là Phượng Nhãn) đến họp ở Vạn Kiếp.
Đứng đầu bộ chỉ huy là "Tiết chế" cũng chức như Tổng tư lệnh ngày này, toàn quyền
điều động thủy lục chư quân. Cấp tướng chỉ huy các Quân và Đô phải là người trong họ
Trần và tinh thông võ nghệm chiến lược. Các tướng quân thì có Phiêu kỵ tướng quân là
chức riêng phong cho các hoàng tử.
Kỷ luật rất nghiêm: Kẻ nào đào ngũ sẽ phải chặt ngón chân. Nếu tái phạm kẻ đó sẽ
bị voi giày.
Về tuế bổng chỉ có quân túc vệ được hưởng, còn quân các đạo khác thì khi yên ổn
chia phiên về làm ruộng cho đỡ tốn công quỹ.

 Trích trong Việt sử toàn thư - Nguyễn Văn Sơn.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Ngocvancu trong 29 Tháng Mười Hai, 2007, 10:50:48 pm
Dã Tượng và Yết Kiêu có thật hay không?Và Tướng Nguyễn Chế Nghĩa cũng thấy ít dược nhắc đến


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: seahawk1 trong 03 Tháng Giêng, 2008, 10:36:49 pm
Có cái khổ là Việt Nam không còn sử liệu gốc về thời Trần. Tư liệu duy nhất do một người Việt đương thời viết còn lưu lại được là cuốn "An Nam chí lược" của tay Việt gian Lê Tắc, nên văn phong chắc chắn ủng hộ thiên triều, khó lòng khách quan, nhưng dù sao cũng là nguồn thông tin của người mắt thấy tai nghe cuộc chiến. Ngay cả Đại Việt sử ký hay các bộ sử sau này đều chỉ là bản "tiền biên" tức là thu thập sử liệu cũ, mà sử liệu chính thống thời Lý Trần hầu như bị tiêu hủy hết trong giai đoạn thuộc Minh (nghe hơi nồi chõ là đâu đó trên trái đất phía bắc nước ta vẫn còn bản gốc các bộ sử này, nhưng người Việt nam ko sờ tay để mắt vào được), thành ra lịch sử VN trước thế kỷ 15 có khá ít tư liệu trực tiếp đáng tin cậy do chính người Việt viết ra. Các cụ lại thích làm thơ hơn viết hồi ký như phương tây nên tư liệu lại càng hiếm. Chân dung các tướng lĩnh thời Trần, nhất là những người xuất thân không từ quý tộc như Yết Kiêu, Dã Tượng chân thực đến đâu có lẽ chẳng bao giờ rõ được, nhưng có lẽ đây là những thuộc hạ có thật của Trần Hưng Đạo, hay chí ít cũng được huyền thoại hóa từ những người có thật. Nguyễn Chế Nghĩa tớ chỉ thấy nhắc tới trong kháng chiến lần 3, ông này đã giết chết một tướng Nguyên (xin lỗi các bác là tớ quên tên tay này rồi). Và tên của ông cũng được đặt cho một con phố mini ở Hà Nội.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Ngocvancu trong 16 Tháng Giêng, 2008, 04:05:52 pm
Không cứ gì ở HN ở SG trong Q.5 cũng có 1 con đường nhỏ lấy tên Yết Kiêu từ trước 1975


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: vuachientruong trong 16 Tháng Giêng, 2008, 06:40:05 pm
Sử ghi thế chứ bây giờ thống kê còn sai nữa là ngày xưa, chắc 500 nghìn quân không đúng đâu. Nhưng cứ thắng Nguyên là oách rồi, Tống - Kim to thế nó còn nghiền chết cơ mà.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: seahawk1 trong 19 Tháng Giêng, 2008, 02:13:19 pm
Các bác tìm đọc bộ Việt sử toàn thư của tác giả Phạm Văn Sơn có nói khá rõ và thật về cuộc chiến của quân và dân nhà Trần.
 Em có bộ này, bác nào muốn đọc em gửi cho, khỏi mất công đi đao loát.

Bác gửi cho tớ nhé, địa chỉ seahawk1897@gmail.com. Cảm ơn bác nhiều.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 15 Tháng Năm, 2008, 09:24:44 am
500,000 quân là khong phai la khong the, nhung kho ma co duoc neu toan bo luc luong chi gom co ki binh Mong Co. Xet cho cung tổng dân số Trung Quốc cuối đời Nam Tống , theo Will Durant, là vào khoảng  76.81 million. Viec Dai Viet ha duoc quan Nguyen trong vong 3 lan khong qua quan trong doi voi vuong trieu Trung Quoc nay. Trong tong so luc luong quan Nguyen (Yuan) tan cong Dai Viet, chi co khong day 15 percent la quan ki Mong Co, con lai la bo binh goc Tong hoac bo binh duoc tuyen dung dua tren nghia vu quan su (military conscription) tai hai tinh Quang Dong va Quang Tay. Luc luong manh nhat cua de che Mong Co la o Arab, Syria.

Hon the nua, ca ba lan tan cong vao Dai Viet, quan Nguyen deu khong dung chi huy xuat sac. Cac tuong nhu Jebe Noyon, Subodei deu qua ban ron vao cac cuoc vien chinh o Nga va Ba Tu (Persia), vi vay ma Dai Viet moi co the pha noi the quan. Neu nhu mot trong cac vi tuong nay tham chien o Dai Viet, nuoc ta kho ma song sot duoc.

Neu noi quan ta manh, dieu nay that la khong dung. Vi suy ra, chinh dia hinh cua Dai Viet moi gay kho khan cho quan Mong Co, vi truyen thong tan cong cua tat ca cac bo toc Turkic-Mongol du muc (Mongol, Jurchen) la han che dang giap la ca va ha guc doi phuong bang cung va ten. Nha Han da tung nem su loi hai nay boi cac bo toc Hung No (Xiongnu). Nhung viec su dung qua nhieu ki binh o Dai Viet la khong the, vi ngua can rat nhieu dong co, ma Dai Viet thi chi co nui. Vi vay, viec su dung bo binh thay cho tong ki binh tinh nhue la dieu de hieu.

Cung dung quen rang trong suot 1000 nam bi do ho, du muon du khong, nuoc ta cung nam trong pham vi anh huong manh cua Trung Quoc, cong nap cung cho cac vuong trieu phuong bac (tributary state). Vi vay, ca ba lan danh, du ta co thang, cung khong vi the ma khien nha Nguyen suy xuyen di.
----------------------------------------------
 Bạn phải viết tiếng Việt đủ dấu khi thảo luận, bạn có 24h để tự sửa bài!


Tiêu đề: Chú ngọng nào đã ngu lại ngọng thế này.
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 15 Tháng Năm, 2008, 03:16:59 pm
500,000 quân là khong phai la khong the, nhung kho ma co duoc neu toan bo luc luong chi gom co ki binh Mong Co. Xet cho cung tổng dân số Trung Quốc cuối đời Nam Tống , theo Will Durant, là vào khoảng  76.81 million.


Thứ 2, đến khi Nam tống mất vaò tay Nguyên, thì nó chỉ còn một mẩu, từ Kinh Châu qua Quảng Châu. Những phần như Vân Nam giáp Việt Nam cũng đã mất. Bắc trường giang và vùng hoàng hà, tây thục thì mất từ lâu lắm rồi.

Trong tong so luc luong quan Nguyen (Yuan) tan cong Dai Viet, chi co khong day 15 percent la quan ki Mong Co, con lai la bo binh goc Tong hoac bo binh duoc tuyen dung dua tren nghia vu quan su (military conscription) tai hai tinh Quang Dong va Quang Tay. Luc luong manh nhat cua de che Mong Co la o Arab, Syria.

 Thời này, người Mông Cổ phàn lớn đã là thập phu trưởng. Dân Mông cổ không phải là kỵ binh, mà là sỹ quan, không phải 15% mà là 10%.
Cuộc hành quân của các trưởng tử, đánh chủ yếu là Ba Tư và Lưỡng hà (Iraq, Iran), sau đó, các trưởng tử chia tay, dòng Truật Xích tiến lên bắc, nơi mà Trật Xích và Tiết Biệt đã dựng lên đế chế trước khi Truật Xích chết khi con ông còn nhỏ. Dòng trưởng này sau lập lên các hãn quốc trung tâm là Tactar, sau này thành Nga và Liên Xô. Đội quân cả các trưởng tử cũng như vậy, người Mông Cổ là thập phu trưởng, làm quan. CHo đến khi nhà nguyên bị minh đánh thì vẫn thế.

Cuộc chia tay này cùng với cuộc hành quân của các trưởng tử để tránh sự kìm kẹp của dòng Oa Khoát Đài, trở lại với những vùng đất mà Thành Cát Tư Hãn đã chinh chiến, số quân mang đi không nhiều, vì theo truyền thống, người Mông Cổ lấy dân địa phương làm quân. Trung Quốc vẫn là dòng Thát Đát cho đến khi chạy vào Thảo nguyên.


Hon the nua, ca ba lan tan cong vao Dai Viet, quan Nguyen deu khong dung chi huy xuat sac. Cac tuong nhu Jebe Noyon, Subodei deu qua ban ron vao cac cuoc vien chinh o Nga va Ba Tu (Persia), vi vay ma Dai Viet moi co the pha noi the quan. Neu nhu mot trong cac vi tuong nay tham chien o Dai Viet, nuoc ta kho ma song sot duoc.

Cuộc chiến Đại Việt liên quan gì đến Nga.

Truật Xích cùng Triết Biệt là các tướng tiên phong đánh châu Âu. Ban đầu, họ là kỳ binh vượt An-Tai tấn công vào sườn Hoa Thích Tử Mô. Sau đó, vòng qua Pakistan, trở lại ven Capcaz, đánh vòng lên Nga và diệt Kiev. Cuộc chiến phải dừng lại vì Thành Cát Tư Hãn chết, các trưởng tử phải về họp và trước đó, Truật Xích đã ốm chết. Chuyện này không liên quan gì đến đại việt.

Sau này, các dòng Oa Khoát Đài và Đà Lôi (Mông Kha) tranh nhau. Oa Khoát Đài chết khi đang tấn công Viên và cuộc hành quân của các tưởng tử kết thúc. Dòng Truật Xích sau khi về Tầu đã quay lại vùng đất sẽ là Nga sau này. Cuộc hành quân này thực chất các trưởng tử taọ lực lượng, chủ yếu là người địa phương, để tách khỏi Oa Khoát Đài. Sau khi về Capcaz, con Truật Xích gây sức ép để Mông Kha (con Đà Lôi, về ở Tầu) lên. Mông Kha sát cánh cùng đoàn quân của Truật Xích trong các chiến dịch chống châu Âu.

Dòng Truật Xích có vai trò đặc biệt trong việc tổ chức cuộc hành quân của các trưởng tử, tạo uy thế lực lượng cho các trưởng tử, và có vai trò quyết định trong việc đưa Mông Kha lên. Nhưng sau đó sống biệt lập ở Tactar, không quan hệ gì với phần Tầu nữa và lập lên đế chế Nga sau này. Các đội quan, công xưởng... mà quân Mông Cổ để lại trong cuộc hành quân của các trưởng tử đã lập ra Ấn Độ và Thổ. Vùng hậu phương của chiến dịch Viên là Hungaria trở thành hậu phương của Ottoman và đến tận Thế Kỷ 16 vẫn là trung tâm chế tạo súng pháo châu Âu, ngày nay vẫn dùng thứ tiếng giống Mông Cổ, chính là nơi đã đúc khẩu siêu pháo công thành Công-stăng-tin. Howitzer, lựu pháo trong tiếng châu Âu xuất phát từ tiếng Bô-Hêm và từ Hung.

Đến Mông Kha, lúc này, các trưởng tử các dòng đã chia nhau đất sinh sống. Mông Kha là vua Tầu, tổ chức đánh Nam Tống, Đại Lý, Đại Việt... không liên quan gì đến con cháu Truật Xích đang quay lại châu Âu, lập ra nước Nga trung cổ. Cũng không liên quan đến cuộc hành quân của các trưởng tử kết thúc đã lâu. Khoiong liên quan gì đến dòng Oa Khoát Đaì sống ở vùng Mông Cổ, Trung Á.

Cuộc chiến của Hốt Tất Liệt thì càng xa vời với Nga và Tiểu Á. Lúc này, Hốt Tất Liệt chính thức lập nhà Nguyên, và quân xâm lược được gọi là Nguyên, Tầu chứ không phải Mông. Lúc này, các thành phần của đế quốc Mông Cổ đã bỏ việc bầu đại hãn, vì vậy, chức đại hãn chỉ còn dòng nhỏ. Hốt Tất Liệt là vua Nguyên, vua Tầu còn tách biệt hơn, tách biệt hoàn toàn so với các hãn quốc khác của con cháu Thành Cát Tư Hãn.

Chúng ta chưa bao giờ kháng chiến chống Tiểu Á, chống Kiev, chống Viên cả, giặc cũng chưa bao giờ xuát phát ở HungGaRia đánh ta cả. Đấy là các cuộc chiến xa nhau cả về thời gian và không gian, cả về con người và tổ chức.

vi truyen thong tan cong cua tat ca cac bo toc Turkic-Mongol du muc (Mongol, Jurchen) la han che dang giap la ca va ha guc doi phuong bang cung va ten.
Thấy người Mông Cổ giỏi bắn cung thì nói là cung.
Người Mông Cổ giỏi bắn cung, nhưng vũ khí chính là mã tấu (đao). Sự thiện chiến của họ không phải ở mức độ cá nhân, mà là đội hình tiến công linh hoạt và tài truyền tin trong trận đánh bằng những lá cờ. Cung tên cũng như các nước khác, chỉ dùng bắn phủ đầu.
DSao không trang bị cho Thành Cát Tư Hãn súng máy luôn thể.

vi ngua can rat nhieu dong co, ma Dai Viet thi chi co nui. Vi vay, viec su dung bo binh thay cho tong ki binh tinh nhue la dieu de hieu.
Nguyên Mông đánh ta chủ yếu là lính thủy đánh bộ.

Cung dung quen rang trong suot 1000 nam bi do ho, du muon du khong, nuoc ta cung nam trong pham vi anh huong manh cua Trung Quoc, cong nap cung cho cac vuong trieu phuong bac (tributary state). Vi vay, ca ba lan danh, du ta co thang, cung khong vi the ma khien nha Nguyen suy xuyen di

 Sau đó Hốt tất Liệt đã nản chí chính chiến. Một cuộc cách mạng trong người Mông Cổ Tầu diễn ra, họ không còn lấy nghiệp chinh chiến là chính nữa, mà trở thành khối quý tộc trong xã hội tầu, chuyện tưởng như chỉ trời sập mới xảy ra.

Điều này đặc biệt quan trọng với sự phát triển của Tầu, Hàn, Nhật. Nhờ đó mà Thổ Phồn, Triều Tiên hồi sức sau những cuộc kháng chiến liên miên.




Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: dongadoan trong 15 Tháng Năm, 2008, 04:12:43 pm
Anh cảnh cáo lần cuối cùng với huyphuc_1981nb nhé! Chú còn xúc phạm thành viên khác khi thảo luận là anh ban nick chú đấy!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 15 Tháng Năm, 2008, 10:45:57 pm
Có cái khổ là Việt Nam không còn sử liệu gốc về thời Trần. Tư liệu duy nhất do một người Việt đương thời viết còn lưu lại được là cuốn "An Nam chí lược" của tay Việt gian Lê Tắc, nên văn phong chắc chắn ủng hộ thiên triều, khó lòng khách quan, nhưng dù sao cũng là nguồn thông tin của người mắt thấy tai nghe cuộc chiến. Ngay cả Đại Việt sử ký hay các bộ sử sau này đều chỉ là bản "tiền biên" tức là thu thập sử liệu cũ, mà sử liệu chính thống thời Lý Trần hầu như bị tiêu hủy hết trong giai đoạn thuộc Minh (nghe hơi nồi chõ là đâu đó trên trái đất phía bắc nước ta vẫn còn bản gốc các bộ sử này, nhưng người Việt nam ko sờ tay để mắt vào được), thành ra lịch sử VN trước thế kỷ 15 có khá ít tư liệu trực tiếp đáng tin cậy do chính người Việt viết ra. Các cụ lại thích làm thơ hơn viết hồi ký như phương tây nên tư liệu lại càng hiếm. Chân dung các tướng lĩnh thời Trần, nhất là những người xuất thân không từ quý tộc như Yết Kiêu, Dã Tượng chân thực đến đâu có lẽ chẳng bao giờ rõ được, nhưng có lẽ đây là những thuộc hạ có thật của Trần Hưng Đạo, hay chí ít cũng được huyền thoại hóa từ những người có thật. Nguyễn Chế Nghĩa tớ chỉ thấy nhắc tới trong kháng chiến lần 3, ông này đã giết chết một tướng Nguyên (xin lỗi các bác là tớ quên tên tay này rồi). Và tên của ông cũng được đặt cho một con phố mini ở Hà Nội.

Hồi Hồ Quý Ly bại trận, sách mất nhiều quá. Đã thế, những bậc trí thức nhớ nhiều biết rộng lại bị bắt đi Tầu.
Thua một trận nhưng chúng ta hồi mấy trăm năm không lại, không chỉ riêng văn hoá.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 16 Tháng Năm, 2008, 10:49:53 pm
Trích dẫn
Thời này, người Mông Cổ phàn lớn đã là thập phu trưởng. Dân Mông cổ không phải là kỵ binh, mà là sỹ quan, không phải 15% mà là 10%.
Cuộc hành quân của các trưởng tử, đánh chủ yếu là Ba Tư và Lưỡng hà (Iraq, Iran), sau đó, các trưởng tử chia tay, dòng Truật Xích tiến lên bắc, nơi mà Trật Xích và Tiết Biệt đã dựng lên đế chế trước khi Truật Xích chết khi con ông còn nhỏ. Dòng trưởng này sau lập lên các hãn quốc trung tâm là Tactar, sau này thành Nga và Liên Xô. Đội quân cả các trưởng tử cũng như vậy, người Mông Cổ là thập phu trưởng, làm quan. CHo đến khi nhà nguyên bị minh đánh thì vẫn thế.

http://en.wikipedia.org/wiki/Mongol_military_tactics_and_organization

Hệ thống quân sự của người Mông Cổ, cũng như các bộ tộc du mục ở Trung Á như Jurchens, Kyghyzs, Khtans, Perchenegs, Khazars,... đều dựa trên hệ thống thập phân. Triều nhà Nguyên vẵn giữ rất nhiều kị binh thiện chiến. Họ chỉ không đem qua thôi. Sách sử Tống triều và Minh triều đều chép nhiều như vậy.

Đọc cuốn: Osprey Publisher: The Kalka river.

Đây là cuốn sách đơn giản nhất về nghệ thuật dụng binh. Lần đầu tiên, người Mông Cổ sử dụng kị hạng nặng để đánh trực diện vào quân Nga, rồi dùng kị cung bắn mạnh vào đội hình chủ lực để đập vỡ đội hình.

Người Mongol, người Jurchen, người Khitans đều có truyền thống kị binh mạnh. Họ thậm chí còn có kị hạng nặng. Trong lịch sử Trung Quốc, các bộ tộc du mục phía bắc luôn là nỗi sợ hãi của triều đình. Trung Quốc vào thời Nam Bắc Triều loạn lạc suốt 270 năm là bởi sự xâm nhập của các bộ tộc này.


Trích dẫn
Thấy người Mông Cổ giỏi bắn cung thì nói là cung.
Người Mông Cổ giỏi bắn cung, nhưng vũ khí chính là mã tấu (đao). Sự thiện chiến của họ không phải ở mức độ cá nhân, mà là đội hình tiến công linh hoạt và tài truyền tin trong trận đánh bằng những lá cờ. Cung tên cũng như các nước khác, chỉ dùng bắn phủ đầu.
DSao không trang bị cho Thành Cát Tư Hãn súng máy luôn thể.

 Người Mông Cổ rất hạn chế trong việc đánh giáp lá cà. Cung của họ có sức mạnh và uy lực ghê ghớm đến nỗi đến tận thế kỉ thứ XVI, khi hoả khí ra đời, người Tartar vẫn có thể đánh bại các đạo quân Strelets của Ivan IV trang bị với súng hỏa mai. Kị binh cung luôn mang theo bên mình hai loại tên: Tên vót nhọn bằng gỗ hoặc có thân bằng gỗ và đầu bằng sắt, dùng để bắn xa. Tên thứ hai làm bằng sắt hoặc được nẹp sắt, dùng để phá vỡ áo giáp đối phương trong cự li 50m hoặc gần hơn, thậm chí là cận chiến.

Trích dẫn
Thứ 2, đến khi Nam tống mất vaò tay Nguyên, thì nó chỉ còn một mẩu, từ Kinh Châu qua Quảng Châu. Những phần như Vân Nam giáp Việt Nam cũng đã mất. Bắc trường giang và vùng hoàng hà, tây thục thì mất từ lâu lắm rồi.

Trích dẫn
Chúng ta chưa bao giờ kháng chiến chống Tiểu Á, chống Kiev, chống Viên cả, giặc cũng chưa bao giờ xuát phát ở HungGaRia đánh ta cả. Đấy là các cuộc chiến xa nhau cả về thời gian và không gian, cả về con người và tổ chức. Ngu thộn.

 Tôi nêu ra các cuốn tấn công này là vì tôi muốn nhấn mạnh trọng tâm quân sự của đế chế Mông Cổ từ 1240-1300 là ở Trung Đông, Nga chứ không còn ở Trung Hoa nữa. Vì vậy, cuộc tấn công vào Đại Việt không có nhiều ý nghĩa quyết định thế thôi.



Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 16 Tháng Năm, 2008, 11:00:10 pm
Tôi phải nói lại điều này dù các bạn có thích hay không:

Không nên phóng đại quá mức các sự kiện quân sự và ý nghĩa của nó. Việc giữ gìn một cách nhìn trung lập là điều tiên quyết cho bất kì sử gia nào.

Cần phải hiểu rằng nước ta luôn là một nước nhỏ. So với Cao Li, ta vẫn còn rất yếu. Họ đã có thể đánh bại một đạo quân gần 1 triệu của nhà Tùy và khiến vương triều này suy sụp, điều đó, ta không làm được. Cho nên, chúng ta cần phải khiêm tốn hơn mà nghiên cứu sử học, hơn là dùng quá nhiều thời gian để ca tụng.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 16 Tháng Năm, 2008, 11:11:02 pm
Trích dẫn
Đến Mông Kha, lúc này, các trưởng tử các dòng đã chia nhau đất sinh sống. Mông Kha là vua Tầu, tổ chức đánh Nam Tống, Đại Lý, Đại Việt... không liên quan gì đến con cháu Truật Xích đang quay lại châu Âu, lập ra nước Nga trung cổ. Cũng không liên quan đến cuộc hành quân của các trưởng tử kết thúc đã lâu. Khoiong liên quan gì đến dòng Oa Khoát Đaì sống ở vùng Mông Cổ, Trung Á.

 Đế chế Mông Cổ chỉ tách rời vào năm 1314 trỏ đi.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 16 Tháng Năm, 2008, 11:41:21 pm
 Ở thế kỷ 10, 11 mà vũ khí tầm xa đã là quyết định chiến trường. Nếu thế thì Mông Cổ không hơi đâu mà lập ra những binh đoàn pháo binh, mà loại pháo binh công thành khủng là Hồi Hồi Pháo, thứ pháo tầm xa đập vỡ tường thành. Mông Cổ cứ bắn cung chết hết quân trên thành rồi trèo tường, như Thế Kỷ 20 dùng súng máy.

Trong những trận chiến lịch sử của Thành Cát Tư Hãn, có trận chiến đầu tiên mô tả rõ uy lực của cung tên. Thành Cát Tư Hãn dàn quân thành 10 hành dọc, bắn phủ đầu, rồi xung phong.

Khi cung là súng, năm 1410, Vĩnh Lạc đễ lần đầu dùng súng, cũng tương tự.

Đến tận Thế Kỷ 2o, những đội quân Cossack vẫn dùng gươm xông vào đội hình địch và vẫn vô địch thiên hạ. Thế mà cách đó 900 năm,  cung tên hay hơn súng.

Ở tầm 100 mét, chỉ có thể bắn 1 loạt tên khi địch xông đến nơi. Địch dùng ngựa, chỉ tính nước thượng, không tinh nước đại, ý là 30km/h, 100 mét hết 10 giây, khi ta đúng yên, xác suất túng định đang phi là bao nhiêu !!!!!!! và phần còn lại của định xông vào vung mã tấu.
Cái trận kể trên, Thành Cát Tư Hãn sau khi bắn phủ đầu, xung phong, giành thắng. Số quân địch đông gấp 10, bắn cung giỏi hơn quân của Thành Cát Tư Hãn (là người Mông Cổ, nghe đâu là dân ông của Truật Xích).
Đến Thế Kỷ 20, súng máy còn chào thua xung lực xung phong, tớ đã nói như trên.

Niềm tự hào lớn nhất của mỗi quân Mông Cổ là "Công Nghệ" phi mã tấu.  Tuyệt đỉnh ở mỗi đợt xung phong.
Quân Mông Cổ giỏi nhất phi ngựa bắn cung, thế là tưởng vũ khí chính của Mông là cung.
Cũng như Liên Xô trội về pháo thì mối linh Hồng Quân cầm một pháo 75mm.
Hay là mỗi thằng Mỹ đánh Vịt cầm một B52.




Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 16 Tháng Năm, 2008, 11:49:54 pm
sức bắn của một mũi tên từ cung của người du mục Trung Á là 300 Joules xấp xỉ. Diện tích sát thương, theo Walter Hemann là 0064 cm2 đơn vị diện tích của phần thân. Vì vậy, độ lệch chuẩn là thấp. Cho nên người Mông Cổ sát hại được nhiều, thế thôi.

Ông cũng quên là chiến thuật bắn cung của hầu hết du mục bộ tộc là chạy theo vòng tròn bao quanh đội hình đối phương nhằm hạ sát bộ binh tốt nhất. Cách bắn này đỏi hỏi trình độ bắn cung là phải tuyệt đỉnh, với kỉ thuật kéo căng dây bằng một ngón cái mà thôi. Kĩ thuật đổi vị trị (relocate) sau khi bắn một loạt tên vẫ được áp dụng nhằm rút ngắn thời gian nạp tên.

Xác suất không dính gì đến hiệu quả cung tên.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 17 Tháng Năm, 2008, 02:32:10 am
Ờ, thế thì cứ dùng cung Mông Cổ đi, nó bắn còn hơn cả súng máy 12,7mm

NSĐT


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 17 Tháng Năm, 2008, 09:53:38 am
Trích dẫn
Ờ, thế thì cứ dùng cung Mông Cổ đi, nó bắn còn hơn cả súng máy 12,7mm

NSĐT

Nếu ông ngừng kêu la những điều ông không rõ, ông sẽ tiến bộ hơn. Lực bắn (muzzle energy) của một khẩu Glock 38 đã lên là 650 Joules, trong khi lực của một khẩu Desert Eagle là 1700 Joules. Ở đâu ông có thể tìm ra một khẩu đại liên với sức bắn dưới 300 Joules.

Ông cũng có thể thôi nói đến súng ống, vì nó thật chẳng liên quan đến chủ đề này.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 17 Tháng Năm, 2008, 10:04:56 am
Trích dẫn
Ở thế kỷ 10, 11 mà vũ khí tầm xa đã là quyết định chiến trường. Nếu thế thì Mông Cổ không hơi đâu mà lập ra những binh đoàn pháo binh, mà loại pháo binh công thành khủng là Hồi Hồi Pháo, thứ pháo tầm xa đập vỡ tường thành. Mông Cổ cứ bắn cung chết hết quân trên thành rồi trèo tường, như Thế Kỷ 20 dùng súng máy.

Nếu ông đọc sách chiến trận ngày nào, ông sẽ không trả lời như vậy. Đây là cái người ta gọi là asenine behaviours.

Pháo binh thì chẳng liên quan gì đến cung thủ Mông Cổ cả. Mỗi đơn vị có chức năng riêng. Bởi lẽ lối đánh dùng kị là chiếm đại đa số các dân tộc du mục phương Bắc, họ sẽ không mạnh về tấn công. Việc áp dụng pháo binh để công thành là của người Trung Hoa trước, rồi người Mông Cổ mới lấy đó mà cải tiến thêm.

Vũ khí công thành chính thời đó không hẳn là pháo, hoàn toàn không, mà vẫn là máy bắn đá thấp và tháp phóng đá. Súng thần công có dụng vệ chiến trận tâm lý, bởi sức nổ và lửa mà nó tạo ra, thế thôi, không hơn không kém.

Trích dẫn
Mông Cổ cứ bắn cung chết hết quân trên thành rồi trèo tường, như Thế Kỷ 20 dùng súng máy

Tường thành được thiết kế như những lô cốt chống tên từ dưới bắn lên và tạo điều kiện cho tên từ trên bắn xuống. Đó là lí do tại sao phải dùng vũ khí hãm thành (Siege Warfare) để phá một đoạn tường thành rồi dùng bộ binh tràn vào.

Về vụ dùng đại liên bắn chết hết lính trên thành thế kỉ 20, dẫn ra đây một trường hợp xem?

Súng thần công thời kì này chẳng là gì so với cung hỗn hợp (compound bow hoặc composite bow). Nó không thể sát thương diện rộng. Đạn bắn của súng thần công chỉ nguy hiểm vào thế kỉ XVII ở... CHÂU ÂU. Ông đang bị ám ảnh bởi chiến tranh hiện đại, đây là thế kỉ thứ 13 sau công nguyên.

Trích dẫn
Niềm tự hào lớn nhất của mỗi quân Mông Cổ là "Công Nghệ" phi mã tấu.  Tuyệt đỉnh ở mỗi đợt xung phong.
Quân Mông Cổ giỏi nhất phi ngựa bắn cung, thế là tưởng vũ khí chính của Mông là cung.

Đừng chế ra những thứ mà ông không có kiến thức về. Vũ khí của kị hạng nặng Mông Cổ không phải đao là chính, mà là thương (lance). Cũng như hầu hết kị binh hạng nặng đời Tống tại kinh đô Kaifeng, họ dùng thương khá tương tự với người Châu Âu. Đao chỉ là thứ vũ khí phụ khi đối phương ở cự li nhỏ hơn 1 mét. Mà họ cũng không có độc một cây đao, mà còn sử dụng chùy gai, chùy có tấm đỡ đễ phá vỡ áo giáp đối phương như ở chiến dịch sông Kalka với người Nga-Kiev.

Ông chỉ cần suy diễn nếu một kị binh dùng đao xông vào một đạo bộ binh có giáo dài độ 3-3,5m, thì ông sẽ rõ ngay ai thắng.

Trích dẫn
Đến Thế Kỷ 20, súng máy còn chào thua xung lực xung phong, tớ đã nói như trên.

Sai, súng máy có thể hạ sát hàng loạt, cũng tương tự như cuộc tự sát của quân Nga tại quảng trường thành phố Stalingrad trong phim Enemy At The Gates.

Trích dẫn
Trong những trận chiến lịch sử của Thành Cát Tư Hãn, có trận chiến đầu tiên mô tả rõ uy lực của cung tên. Thành Cát Tư Hãn dàn quân thành 10 hành dọc, bắn phủ đầu, rồi xung phong.

Ông nến ngờ đạo quân tấn thẳng vào đội hình đối phương không bảo giở cung thủ cưỡi ngựa cả (Horse Archers) mà là kị hạng nặng với thương và giáp toàn thân cũng như giáp phủ lên ngựa (Horse Armours - Heavy Mongol Lancers hay Heavy Mongol Cavalry). Loại giáp họ dùng là loại sử dụng các mảnh da hoặc sắt đan lại với nhau bằng dây, thuật ngữ cho loại giáp này là Lamellar Armour, gõ lên google rồi kiếm đi.

Trích dẫn
Đến tận Thế Kỷ 2o, những đội quân Cossack vẫn dùng gươm xông vào đội hình địch và vẫn vô địch thiên hạ. Thế mà cách đó 900 năm,  cung tên hay hơn súng.

Người Cossacks thì dính gì đến đây, họ có biệt tài dùng giáo dài hay thương trên lưng ngựa, chứ không phải là cung tên. Thế kỉ 20 nằm ngoài phạm vi của chủ đề này, ông lạc đề rồi. Người Cossacks không dùng gươm (thuật ngữ chung, không có tính chính xác), mà dùng một loại kiếm cong gọi là Shashka.

Trích dẫn
Sau đó Hốt tất Liệt đã nản chí chính chiến. Một cuộc cách mạng trong người Mông Cổ Tầu diễn ra, họ không còn lấy nghiệp chinh chiến là chính nữa, mà trở thành khối quý tộc trong xã hội tầu, chuyện tưởng như chỉ trời sập mới xảy ra.

Chẳng có gì gọi là Cách mạng ở đây cả. Những chiến binh thắng trận tất nhiên sẽ có vị trí cao trong xã hội Trung Hoa. Điều này xảy ra đối với không những triều Nguyên (Yuan), mà triều Thanh nữa (Qing dynasty). Còn việc dùng kị chinh chiến vẫn không ngừng, nhất là sau năm 1314, khi đế chế Mông Cổ tan ra thành nhiều Khanates khác nhau. Cuộc đời của mỗi người lính Mông Cổ luôn là chiến trận, và sẽ là như vậy đến tận triều Minh năm 1348.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 17 Tháng Năm, 2008, 06:39:21 pm
Trích dẫn
Ờ, thế thì cứ dùng cung Mông Cổ đi, nó bắn còn hơn cả súng máy 12,7mm

NSĐT

Nếu ông ngừng kêu la những điều ông không rõ, ông sẽ tiến bộ hơn. Lực bắn (muzzle energy) của một khẩu Glock 38 đã lên là 650 Joules, trong khi lực của một khẩu Desert Eagle là 1700 Joules. Ở đâu ông có thể tìm ra một khẩu đại liên với sức bắn dưới 300 Joules.

Ông cũng có thể thôi nói đến súng ống, vì nó thật chẳng liên quan đến chủ đề này.


Một cái hòn đã ném tay nặng nửa kg, xa 30 mét, có sơ tốc 17m/s, động năng đầu đạn, 75 jun. Nhưng không bao giờ nó là một viên đạn cả.
xoá vì xúc phạm thành viên khi tính động năng đầu đạn ở đây. Cái nói đến ở đây là gì.

Xúc phạm thành viên khi nhghĩ rằng Thế Kỷ 11, 12 người ta đã có thể sử dụng cung tên như súng máy. Trong khi đó, khi súng máy đã khá phát triển trong Thế Chiến 1, thì Kỵ Binh dùng mã tấu Cô dắc vẫn quyết định chiến trường Thảo Nguyên, và chống lại nó chỉ có thể là hệ thống công sự, vật cản.
Lải nhải đi lải nhải lại là ở thế kỷ 11, cung tên quyết định, vai trò quan trọng hơn cả súng máy Thế Chiến 1.


Cái trận chiến lớn đầu tiên do Thành Cát Tư Hãn chỉ huy là ông dùng 1000 người đánh thắng định đông gấp 3 (có thể là gấp 10), cũng của Mông Cổ. Trận chiến truyền thống của Mông Cổ trước khi có Thành Cát Tư Hãn là hai bên dàn hàng ngang rồi xong vào.
Thành Cát Tư Hãn đổi. Ông bố trí quân đội thành 10 đội 100 người, do đó đội hình dầy hơn nhưng cách quãng. Đối phương tấn công trước. Đối phương dàn hàng ngang, dùng 2 hàng trước phi về phía quân Mông Cổ nã tên phủ đầu. Nhưng quân Mông Cổ đứng yên bắn trúng nhiều hơn và đám phủ đầu này quay lại. Thành Cát Tư Hãn phát động tiến công khi hàng tiền tiêu của định sắp về đội hình, đúng lúc độ ngũ địch hơi rối cần chỉnh lại. Do quân ta dầy hơn, chia cắt nhanh chóng đội hình địch thành 10 đoạn. Trận đánh thắng lợi.
Tất cả các trận chiến sau này của quân Mông Cổ đều theo chiến thuật này, hoặc biến cải chút là có chinh-kỳ. Họ ra hiệu cho nhau bằng những lá cờ nhỏ mà sỹ quan đeo ở lưng, theo màu cờ và động tác vẫy. Khi công thành, cung tên được dùng nhiều, bắn áp chế, điều này thì không riêng gì Mông Cổ cả. Như trận đánh trên, cung tên chỉ đóng góp phần không đáng kể thương vong địch, chỉ một vài phần trăm như cách tính ngày nay.

Sau này, Thành Cát Tư Hãn lập ra một trường sỹ quan dào taọ chuyên nghiệp, đó là cơ sở sức mạnh của Mông Cổ. Các bộ tộc thảo nguyên khác như ví dụ trên, đều có trình độ cá nhân ngang bằng hoặc như Miệt Nhi, cao hơn Mông Cổ, nhưng vẫn thất bại. (Mông Cổ chỉ là một bộ lạc nhỏ, sau khi thống nhất các bộ lạc được lấy làm tên nước).


Mã Tấu của Mông Cổ cùng chung kỹ thuật luyện kiếm với Nhật, Hàn. Đây là kỹ thuật xuất phát từ Thổ Phồn, một dân tộc ở vùng Thanh Hải và chân núi Antai. Dân tộc này là nguồn gốc của các dân Hung Nô, Mông Cổ, Liêu, Hàn, Bắc Nhật. Kiếm được luyện từ gang, cứ đập mỏng, gập lại, rồi lại đập mỏng. Gang tiếp xúc với không khí cháy bớt carbon và thành thép. Thời nhà Minh, gọi là "tây thiết". Đặc diểm ủa loại đao kiếm này là lưỡi cứng không ở mặt ngoài như thép tôi bây giờ, mà ở giữa, hai bên là các lớp thép mềm hơn. Nó dẻo, đàn hồi rất khó gẫy do được cấu tạo từ rất nhiều lớp (hàng ngàn lớp) mỏng dính.

Trang bị của lính Mông Cổ thông thường như sau:
Loại Mũ Táctar nổi tiếng, làm bằng lông thú, có hai dải che tai, che gáy. Ngày nay loại mũ này vãn là "lễ phục" của các cô dâu, quân phục mùa đông của lính Nga, Hungaria và Mông Cổ. Nhưng ngày nay được làm rất đẹp, chứ mũ chiến binh trông rất hoang dã, là ấn tượng lớn nhất của các nạn nhan trong cuộc tàn sát. Gọi là Mũ Tactar vì trùng tâm của Kim Trướng Tây Đế Quốc, dòng cả, Truật Xích đặt ở đó. Lãnh thổ Tây Đế Quốc là một phần Nga và Liên Xô ngày nay. Sau khi chiếm Cadan, hãn quốc hùng mạnh nhất của Kim Trướng hồi Thế Kỷ 17, 18 thì loại Mũ này trở thành quân phục Nga. Người tầu làm bằng bông và Hồng Quân Tầu một thời cũng dùng mỹ này.
Loại mũ này có một biến thể, được làm bằng da không lông, cho lính nghèo cấp dưới. Thường đây là lính cấp thấp nhất, bắt từ dân địa phương. Loại mũ này chính là mũ chóp nhọn của Hồng Quân hồi nội chiến. Nó không khác gì loại mũ trên, trừ việc không có lông và chóp nhọn thay cho bằng.

Áo. Đặc biệt nhất là lớp áo trong cùng, được làm ở Tầu. Đây là loại sợi kép từ tơ, rất săn chắc, dệt chéo. Mỗi lính thậm chí có thể mặc 2 lớp áo này. Khi trúng tên, phần lớn trường hợp tên không đâm thủng áo, mà đẩy áo xuyên vào người, kéo áo ra láy được đầu tên vỡ.
Áo ngoài bằng da, chính là kiểu áo choàng Ca Pốt của quân Nga ngày nay, chỉ khác làm bằng da chứ không bằng dạ mà thôi. Các lớp áo lông ở giữa, trừ sỹ quan cao cấp mặc áo lông ra ngoài.

Ngựa. Mỗi lính có 2-3 ngựa. Nhưng người Mông Cổ không nuôi ngựa riêng mà nuôi chung, khi cần mới biên chế cho lính, dùng xong lại tập trung nuôi. Ngựa là loại thức ăn dự trứ trên đường hành quân xa. Ngựa Mông Cổ là ngựa hoang, không phải ngựa thuần. Họ bắt ngựa từ lúc còn bé rồi vực cưỡi. Kỹ thuật cưỡi cũng khác thường, họ có thể cưỡi ngựa không yên rất tốt. Thông thường nhất là một yên da rộng và cao, dưới yên cương là tủ lạnh để lương. Thực ăn măng đi xa là sữa, chè, thịt băm trộn mối. Thị sống, tự chín trên đường đi khi được nhào dưới yên. Đây là một thứ đặc sản rất bổ, nhưng người ngoại quốc không thể ngửi nổi. Bao kiém, ống tên... đeo trên ngựa.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: huyphuc1981_nb trong 17 Tháng Năm, 2008, 06:51:20 pm
Mỹ là nước làm ra nhiều phim, nhưng trình độ lục quân cực kỳ tồi. Lục quân Mỹ chỉ giỏi đi bắt nạt trẻ em, mà không phải bao giờ cũng bắt nạt được. Có lẽ thời đỉnh của Lục Quân Mỹ là sau Thế chiến II, nhưng chính thời ấy Tầu đói rách cũng đuổi Mỹ chạy vãi hết ra quân. Kết quả chiến đấu tồi tệ đấy là do trình độ hết sức tồi tệ.

Có thể náy, ngay cả các khái niệm cơ bản Mỹ cũng nhầm lẫn.
Ví dụ, "Field Gun", lựu pháo dã chiến. Đây là Lựu pháo nhẹ, kéo theo đội hình bộ binh. Nhưng người Mỹ bi giờ gọi tất cả những pháo hỗ trợ bộ binh là "Field Gun", như M107. Trong khi đó loại "Field Gun" điển hình trong quân họ là khẩu 105mm nòng ngắn thì lại gọi là Howitzer.
Kỵ binh và binh chủng chiến đấu trên lưng ngựa bằng vũ khí nhẹ. Long binh là binh chủng di chuyển bằng ngựa, nhưng lại chiến đấu đi bộ bằng vũ khí nặng. Long binh là bộ binh cơ giới điển hình. Thế nhưng Mỹ lại gọi bộ binh cơ giới, đi xe và máy bay, tầu thuyền... là kỵ binh tuốt.

Vì có truyền thống lâu đời nhưu vậy nên lục quân Mỹ thường xuyên chạy trước các đội quân yếu hơn nhiều lần. Đánh thì nhát, nhưng giòi làm phim phò chê s bai người khác. Kẻ kẻ kém cỏi thường chê bai các anh tài là thường. Chỉ khổ cho các chú ngộ độc vì các phim ảnh này.


Nhiều lần xúc phạm thành viên khác. Đã nhắc nhở nhưng vẫn tiếp tục vi phạm. Treo 2 tuần!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: minh_mai trong 17 Tháng Năm, 2008, 07:51:59 pm
... và ngộ độc phim, nhiều người Mỹ tin rằng kiểu chiến đấu anh hùng nhất, hiệu quả nhất là cầm khẩu súng máy ngang thân người, lia từng tràng, quét ngang mặt đất, chết sạch địch. ;D ;D ;D ;D ;D ;D Hơn cả như thế, kiểu chiến này được huấn luyện thực sự cho lính  ;D ;D ;D ;D ;D. Bằng chứng là phim tư liệu về việc Mỹ huấn luyện cho bọn ngu ị sùng trung liên.

Mỗi người như Vịt đi lính đều được huấn luyện sử dụng súng máy: ngắm bắn, ngắm bắn cẩn thận và bắn từng loạt ngắn. Riêng người Mỹ tin rằng cứ lia ngang mới là chiến thuật súng máy.  ;D ;D ;D ;D ;D. Lính Mỹ ngu hết chỗ nói, sản phẩm của phim ảnh và chế độ giáo dục bại não. Ở tầm bắn cực gần, 50-100 mét, bắn kiểu đó thì mỗi mét vuông mục tiêu sẽ dính đạn 4-5 phút một viên.  Ở tầm cự gần như vậy đã vô dụng, còn ở tầm bắn hiệu quả 400 mét của súng máy tiểu đội thì thế nào, hàng tiếng đồng hồ bắn liên tục thì mỗi mét vuông được một viên chắc.

Xem nhiều phim răm bô, ... cả dân tộc nó như thế.

Ở tầm 50-100 mét, kỵ binh chỉ cần 6 giây là xông đến nơi, vung mã tấu chém bay đầu súng máy, và dễ thấy, 1 chọi 1 chưa chắc súng máy đã thắng kỵ binh khi lộ ra ở tầm này. Ở tầm 500 mét, tầm hiệu quả của đại liên thì kỵ binh chỉ cần nửa phút để phi đến nơi. Lúc này đại liên khạc được 500 đạn vãi ra một diện tích cỡ 5 vạn mét vuông, 100 mét vuông một đạn, may lắm có lẽ giết được nửa thằng kỵ binh trước khi bị băm nhừ.

Lại còn có nhiều chú ní nuận, Mỹ nó giầu lắm, đạn bắn thoải mái, cứ bắn đi. Nên khẩu M16 mới bắn nhanh như vậy và mỗi lính Mỹ chỉ duy trì sức mạnh được hơn 5 phút trong chiến đấu. Sự ngu si cấp dân tộc mới chế ra loại như vậy.

... nên mới có chú nói rằng từ Thế kỷ 11, cung tên đã mạnh hơn súng máy của thế kỷ 20.
--------------------------------------------------------
 Thím minh_mai tiếp bước chú huyphuc1981_nb lên cột điện 3 ngày mà suy ngẫm lại xem có lạc đề không nhé!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 17 Tháng Năm, 2008, 09:57:02 pm
Trích dẫn
Một cái hòn đã ném tay nặng nửa kg, xa 30 mét, có sơ tốc 17m/s, động năng đầu đạn, 75 jun. Nhưng không bao giờ nó là một viên đạn cả.

Sai, đạn đạo (trajectory) chỉ dùng để chỉ các vật thể bay khi có sức xoáy quanh trục của vật thế. Không có kiến thức mà vẫn la. Súng sỡ dĩ có thể mạnh như vậy bởi vì rãnh xoắn từ nóng súng. Tôi rất thích xem ông còn có thể ba láp tới mức nào.

Trích dẫn
khi nhghĩ rằng Thế Kỷ 11, 12 người ta đã có thể sử dụng cung tên như súng máy. Trong khi đó, khi súng máy đã khá phát triển trong Thế Chiến 1, thì Kỵ Binh dùng mã tấu Cô dắc vẫn quyết định chiến trường

Ngừng việc xuyên tạc post của tôi đi. Tôi nói súng máy kém hơn cung tên hồi nào. Ông chỉ tự tra tấn mình nếu như ông còn tiếp tục hiểu sai hay xuyên tạc post của tôi. Ông chẳng những không luyện nghiên cứu vũ khí trung cổ, mà còn la đòi. Đọc kĩ lại các thông tin hết sức căn bản, ông sẽ thấy:

Tầm bắn cung Mông Cổ là (range of firing): 536 m
Sức công phá (piercing energy) là: 250-300 Joules.
Tôi nhắc lại một lần nữa, cung Mông Cổ với sức bắn khủng khiếp đã trở thành vũ khí tầm xa lợi hại nhất trong suốt 1000 năm quân sự Á-Âu. Tất cả các bộ tộc hùng mạnh phía bắc Trung Hoa đều sử dụng loại tên này. Chỉ có duy nhất nỏ là vũ khí có thể đối đầu, tuy nhiên do lắp tên chậm, nỏ không thể hạ một cung thủ. Điều này phản ánh rất rõ qua Chiến Tranh Trăm Năm (Hundred Years War) giữa trường cung thủ Anh (Longbowmen) và các nỏ thủ xứ Genoa (Genoa Sailors).

đọc cái này đi, nếu biết Tiếng Anh, rồi bàn tiếp:
http://www.coldsiberia.org/monbow.htm (trang tôi thích nhất, có kèm với một vài mô tả chính xác về kị cung)

Hình như ông vẫn chưa hiểu về quân sự lịch sử của TK20, vũ khí quyết định mọi thành công chính là Pháo binh và Xe lửa. Quân Cossacks mà ông nói, chỉ đóng vai trò như là những hình tượng cuối cùng của kị binh. Số lượng súng đại liên trong nội chiến Nga không đầu đủ như trong Thế Chiến thứ 2.

Trích dẫn
Mã Tấu của Mông Cổ cùng chung kỹ thuật luyện kiếm với Nhật, Hàn. Đây là kỹ thuật xuất phát từ Thổ Phồn, một dân tộc ở vùng Thanh Hải và chân núi Antai. Dân tộc này là nguồn gốc của các dân Hung Nô, Mông Cổ, Liêu, Hàn, Bắc Nhật. Kiếm được luyện từ gang, cứ đập mỏng, gập lại, rồi lại đập mỏng. Gang tiếp xúc với không khí cháy bớt carbon và thành thép. Thời nhà Minh, gọi là "tây thiết". Đặc diểm ủa loại đao kiếm này là lưỡi cứng không ở mặt ngoài như thép tôi bây giờ, mà ở giữa, hai bên là các lớp thép mềm hơn. Nó dẻo, đàn hồi rất khó gẫy do được cấu tạo từ rất nhiều lớp (hàng ngàn lớp) mỏng dính.

Ông đừng chế ra những điều mà ông không hề biết, hay giả bộ như biết. TẤT CẢ các bộ tộc du mục bắc Trung Hoa không bao giờ có thể hoàn thiện kĩ năng luyện kim như ở trung nguyên. Vì vậy, họ phải nhập kim loại từ Trung Quốc. Triều Hán thậm chí còn cấm buôn bán sắt với người Hung Nô (Xiongnu), Tiền Hán Thư của Ban Cố có chép điều này. Việc rèn luyện kim loại ở các bộ tộc này vẫn có thể xảy ra, nhưng chất luợng sắt không cao. Thế nên chỉ có người Jurchen và người Khitans là có thể tự rèn, người Mông Cổ chỉ có được sắt chất lượng tốt khi buôn bán với Jurchen hay các thương gia Trung Hoa.

Việc ông tự ý xưng dân tộc Thổ Phồn (tibet) là tiền nhân của Hung Nô, Mông Cổ, Liêu, Hàn, Bắc Nhật chỉ cho thấy ông là một kẻ theo chủ nghĩa dân tộc, hoặc khoác lác. Người Hung Nô xuất huyện ở Trung Quốc từ đầu thời Hán (230TCN - 36SCN), người Thổ Phồn và đế chế của họ chỉ nổi lên vào đầu thời Đường, từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 9.

Xem như ông không hiểu tiếng Anh, vậy thì đọc cái này cho thuần rồi reply đi http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%95_Ph%E1%BB%93n

Trích dẫn
Sau này, Thành Cát Tư Hãn lập ra một trường sỹ quan dào taọ chuyên nghiệp, đó là cơ sở sức mạnh của Mông Cổ. Các bộ tộc thảo nguyên khác như ví dụ trên, đều có trình độ cá nhân ngang bằng hoặc như Miệt Nhi, cao hơn Mông Cổ, nhưng vẫn thất bại. (Mông Cổ chỉ là một bộ lạc nhỏ, sau khi thống nhất các bộ lạc được lấy làm tên nước).

Cơ sở đào tạo nào, cơ sở chỉ huy nào? Đem nguồn của ông và tên của học giả đó lên đây để ta đánh giá xem hắn là ai mà lại tuyên bố vô căn cứ như vậy! Người Mông Cổ được học cưỡi ngựa từ nhỏ. Quân đội của họ đã có thể tập thành nhóm không cần qua bất cứ trường đào tạo nào. Jebe Noyon, Subodei, Chagatai, Yelu Abao Ji hay các viên tướng nổi tiếng khác đều tất nhiên chưa vác tập đi học binh pháp của Tôn Tử, Tôn Tẫn ngày nào. 400 năm sau, Nuharci thống nhất các bộ lạc Jurchen lại, mở một cuộc tấn công vô tiền khoáng hậu vào Trung Quốc, cũng chưa đi học ngày nào cả. Việc sử dụng chiến thuật của người du mục hoàn toàn dựa trên kinh nghiệm, chứ không phải học hành bài bản.

Trích dẫn
Loại Mũ Táctar nổi tiếng, làm bằng lông thú, có hai dải che tai, che gáy. Ngày nay loại mũ này vãn là "lễ phục" của các cô dâu, quân phục mùa đông của lính Nga, Hungaria và Mông Cổ. Nhưng ngày nay được làm rất đẹp, chứ mũ chiến binh trông rất hoang dã, là ấn tượng lớn nhất của các nạn nhan trong cuộc tàn sát. Gọi là Mũ Tactar vì trùng tâm của Kim Trướng Tây Đế Quốc, dòng cả, Truật Xích đặt ở đó. Lãnh thổ Tây Đế Quốc là một phần Nga và Liên Xô ngày nay. Sau khi chiếm Cadan, hãn quốc hùng mạnh nhất của Kim Trướng hồi Thế Kỷ 17, 18 thì loại Mũ này trở thành quân phục Nga. Người tầu làm bằng bông và Hồng Quân Tầu một thời cũng dùng mỹ này.
Loại mũ này có một biến thể, được làm bằng da không lông, cho lính nghèo cấp dưới. Thường đây là lính cấp thấp nhất, bắt từ dân địa phương. Loại mũ này chính là mũ chóp nhọn của Hồng Quân hồi nội chiến. Nó không khác gì loại mũ trên, trừ việc không có lông và chóp nhọn thay cho bằng.

Cám ơn đã đánh cái đám đó lên đây, và có quá nhiều chi tiết chẳng liên quan gì đến chủ đề cả. Nhưng chẳng ai cần ông phải lược tả nữa. Tất cả những mô tả trên là hoàn toàn rơi vào chủng loại Kị Cung, như đã dẫn ở trên, ông còn thiếu mô tả vệ Kị Hạng Nặng Mông Cổ (Heavy Mongol Archers).

Trích dẫn
... nên mới có chú nói rằng từ Thế kỷ 11, cung tên đã mạnh hơn súng máy của thế kỷ 20.
Nếu cũng như cha nội tào lao kia, cô nên nhìn kĩ lại post của tôi, cung Mông Cổ -> 300 Joules. Súng lục Desert Eagles -> 1700 Joules -> Súng Máy lớn hơn 1700 joules. Nếu cô biết làm toán so sánh và còn có kiến thức căn bản về chữ số Arab, thì tự so sánh đi.

Trích dẫn
Ở tầm 50-100 mét, kỵ binh chỉ cần 6 giây là xông đến nơi, vung mã tấu chém bay đầu súng máy, và dễ thấy, 1 chọi 1 chưa chắc súng máy đã thắng kỵ binh khi lộ ra ở tầm này. Ở tầm 500 mét, tầm hiệu quả của đại liên thì kỵ binh chỉ cần nửa phút để phi đến nơi. Lúc này đại liên khạc được 500 đạn vãi ra một diện tích cỡ 5 vạn mét vuông, 100 mét vuông một đạn, may lắm có lẽ giết được nửa thằng kỵ binh trước khi bị băm nhừ.

Nói chuyện mà không chịu nghĩ kĩ, dùng súng đại liên đặt ngay mặt đất, nằm rồi nhấm bắn, thì đảm bảo ngay cả thiên tướng còn banh xác. Một khẩu M-60 có tầm hiệu quả là 1100m, tức là 1km hơn, đủ bụp Cossacks thành mồng tơi rồi.
Đừng có sử dụng chiến tranh VN ở đây, nó chẳng có liên quan gì đến chủ đề ở đây cả, trừ khi cả 2 không phân biệt được số 20 và số 13.

Trích dẫn
Sự ngu si cấp dân tộc mới chế ra loại như vậy.
Không sao đâu, dân nó ngu lắm, nó làm cái rẹt, Việt Nam đi hết hơn 2 triệu người là đủ rồi. Dân nó quá ngu, cho nên mới đứng đầu thế giới. Nếu nước nó ngu vậy, sao con em VN còn đi du học Mỹ. Cô là đồ chủ nghĩa dân tộc.


Tiêu đề: ...
Gửi bởi: Vù Cưỡng trong 17 Tháng Năm, 2008, 10:48:38 pm
Kinh kinh kinh quá. Nhưng 300 jum cơ à. Một mũi tên 500gram bắn xa 300 mét có 700-800jun cơ à, cung chiến của Nhật có thể đạt 1kj chỉ bằng tay người cơ à, nỏ công thành có thể đạt đến nhiều vạn jun cơ à. Khiếp quá, cung tên của Mông Cổ kinh khiếp hơn cả súng máy của Thế Kỷ 20.

Từ Thế Kỷ 11 mà cung tên đã làm chủ chiến trường. Trong khi đó súng đại liên 1000 phát phút của Thế Kỷ 20 không chống được kỵ binh. Quân kỵ binh Mông Cổ vẫn ào ạt xung phong vào Quan Đông Đạo có 1 triệu quân, trong vòng 20 ngày quét sạch cánh Nam của đạo quân này, năm 1945. Kỵ binh là lực lượng chính của cả Bạch Vệ và Hồng Vệ hồi nội chiến 1920.


Không lạc đề, không xúc phạm thành viên khác!
Cảnh cáo lần thứ nhất!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 17 Tháng Năm, 2008, 10:59:13 pm
Trích dẫn
Kinh kinh kinh quá. Nhưng 300 jum cơ à. Một mũi tên 500gram bắn xa 300 mét có 700-800jun cơ à, cung chiến của Nhật có thể đạt 1kj chỉ bằng tay người cơ à, nỏ công thành có thể đạt đến nhiều vạn jun cơ à. Khiếp quá, cung tên của Mông Cổ kinh khiếp hơn cả súng máy của Thế Kỷ 20.

Thêm một tay nữa, đem hết các nguồn số liệu đó ra xem? Vô căn cứ như vậy chẳng qua chỉ cho thấy ông là kẻ không có kiến thức sử học.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Vù Cưỡng trong 17 Tháng Năm, 2008, 11:07:47 pm
Không lạc đề, không xúc phạm thành viên khác!
Cảnh cáo lần thứ hai!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Vù Cưỡng trong 17 Tháng Năm, 2008, 11:15:52 pm
Trích dẫn
Kinh kinh kinh quá. Nhưng 300 jum cơ à. Một mũi tên 500gram bắn xa 300 mét có 700-800jun cơ à, cung chiến của Nhật có thể đạt 1kj chỉ bằng tay người cơ à, nỏ công thành có thể đạt đến nhiều vạn jun cơ à. Khiếp quá, cung tên của Mông Cổ kinh khiếp hơn cả súng máy của Thế Kỷ 20.

Thêm một tay nữa, đem hết các nguồn số liệu đó ra xem? Vô căn cứ như vậy chẳng qua chỉ cho thấy ông là kẻ không có kiến thức sử học.

động năng bằng bình phương tốc độ nhân với khối lượng chia cho hai, đạn AK-47 sắt thương nặng 7gram và 715m/s có động năng 394m/s. Vật thể tốc độ chậm như cung tên có tầm bắn xa nhất bằng bình phương tốc độ chia cho mười. "Một mũi tên 500gram bắn xa 300 mét có 700-800jun", chính xác là 750jun.

Thứ hai nữa, động năng đầu đạnh không đánh giá uy lực của súng. Thậm chí, trong Thế Kỷ 20, động năng đầu đạn súng trường càng ngày càng giảm. Ví dụ, độmg năng đầu đạn AK-47, đại sát thương thường, là 394 jun. Những vũ khí cổ có động năng của đạn, lao, tên rất lớn.

Cung Mông Cổ là cung kỵ binh, cung nhẹ, bắn tên nhẹ, tần gần. Thông thường, họ nã tên chỉ ở tầm 50 mét. Loại cung chiến Nhật Bản có kích thước lớn, bắn tên nặng, có thể xuyên qua người, thực chất Samurai chính là Long Binh. Loại nỏ công thành thì đầy cái đã bốt.
Phong tục kỵ binh vẫn tồn tại cho đến thời súng, súng kỵ binh là cạc bin, nhỏ nhẹ hơn súng trường thường.

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=544.10

Nhiều lần lạc đề + xúc phạm thành viên khác. Treo 3 ngày!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: dinh_van_thanh trong 17 Tháng Năm, 2008, 11:52:01 pm
Thấy nói Mông Cổ giỏi bắn cung thì cho rằng ra trận toàn cung. Kim chi giỏi Teacundo thì ra trận toàn tay không. Nhật bủn giòi Karate thì ra trận cũng toàn đấm.

Không lạc đề

Thật ra, ấn tượng lớn nhất của các nạn nhan quân Mông Cổ là cảnh đoàn người trông hết sức man rợ, đội cái mũ Táctar lông lá, vung mã tấu xông vào trận, thét Ura h.h  rùng rợn.

Có một trận đánh quan trọng mà người Mông Cổ dùng cung tên là vũ khí quan trọng, nhưng cũng không vì thế mà cũng bắn được như súng máy và trở thành vũ khí chính. Đấy là trận đánh của Truật Xích tấn công liên quân Ba Lan-Đức. Liên Quân sợ tài mã tấu của quân Mông Cổ, nên bận giáp trụ kín người ngựa, chuyển sang dùng giáo dài như khi thách đấu. Quân Mông Cổ phát hiện ra nhược điểm của kiểu này, dùng mã tấu không dược, nhưng quân Ba Lan-Đức nặng nề di chuyển chậm. Vậy nên Mông Cổ giữ khoảng cách an toàn 50 mét và nã tên vào chân ngựa. Cái dở của Liên Quân là dàn hàng ngang Giáp kỵ mà không hề có vu hồi kỳ binh, nên chỉ sau vài loạt bắn là Liên Quân thành bộ binh. Đến đây thì quân Mông Cổ xông vào vung mã tấu chém giết.




Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Lancer trong 17 Tháng Năm, 2008, 11:55:44 pm
Các bác cãi nhau kinh quá, xin góp 1 bài viết khác của Nguyễn Duy Chính.
Vó ngựa và cánh cung: http://thuvien-ebook.com/forums/attachment.php?s=9218ee6fb32aab70c4aae7a39400ae98&attachmentid=4208&d=1183872430


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 18 Tháng Năm, 2008, 05:34:13 pm
Trích dẫn
Cung Mông Cổ là cung kỵ binh, cung nhẹ, bắn tên nhẹ, tần gần. Thông thường, họ nã tên chỉ ở tầm 50 mét. Loại cung chiến Nhật Bản có kích thước lớn, bắn tên nặng, có thể xuyên qua người, thực chất Samurai chính là Long Binh. Loại nỏ công thành thì đầy cái đã bốt.
Phong tục kỵ binh vẫn tồn tại cho đến thời súng, súng kỵ binh là cạc bin, nhỏ nhẹ hơn súng trường thường.

Đây là công trình dưới sự hoảng tưởng của ông. Với tầm bắn chính xác đến hơn 500m, tại sao chỉ bắn với cự li 50. Cũng như các lần trước, ông không dẫn ra nguồn của ông, mà chỉ toàn nói vô chứng cứ. Thật không có gì hay bằng việc "đập" và "dập" những kẻ như ông.

Trường cung Nhật Bản không sao có thể so sánh với cung của người du much bắc Trung Hoa và trường cung Châu Âu. Người Nhật Bản là những cung thủ giỏi, nhưng cây cung của họ không tốt như ông tưởng tượng rồi vẽ ra. Với sức bắn của các loại cung có liên quan, tôi xếp hạng chúng như sau:

Cung Mông Cổ: 300 Joules
Trường cung Châu Âu và Anh Quốc: 230-245 Joules
Trường cung Nhật Bản: 174-190 Joules
(Theo Gabriel và Hermann)


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 18 Tháng Năm, 2008, 05:48:56 pm
Trích dẫn
Thấy nói Mông Cổ giỏi bắn cung thì cho rằng ra trận toàn cung. Kim chi giỏi Teacundo thì ra trận toàn tay không. Nhật bủn giòi Karate thì ra trận cũng toàn đấm.

Ở đâu trong những post của tôi ông thấy tôi nói toàn trận đánh sử dụng cung. Tại sao ông không làm chút bài nhà là download cuộc thảo luận này bằng Internet Explorer dưới dạng .mht và làm chút bài nhà là đọc kĩ lại các luận điểm của tôi. Thế sẽ tốt hơn là ngồi đây nói văng mạng.

Trích dẫn
Có một trận đánh quan trọng mà người Mông Cổ dùng cung tên là vũ khí quan trọng, nhưng cũng không vì thế mà cũng bắn được như súng máy và trở thành vũ khí chính. Đấy là trận đánh của Truật Xích tấn công liên quân Ba Lan-Đức. Liên Quân sợ tài mã tấu của quân Mông Cổ, nên bận giáp trụ kín người ngựa, chuyển sang dùng giáo dài như khi thách đấu. Quân Mông Cổ phát hiện ra nhược điểm của kiểu này, dùng mã tấu không dược, nhưng quân Ba Lan-Đức nặng nề di chuyển chậm. Vậy nên Mông Cổ giữ khoảng cách an toàn 50 mét và nã tên vào chân ngựa. Cái dở của Liên Quân là dàn hàng ngang Giáp kỵ mà không hề có vu hồi kỳ binh, nên chỉ sau vài loạt bắn là Liên Quân thành bộ binh. Đến đây thì quân Mông Cổ xông vào vung mã tấu chém giết.

Tôi nói lại một lần nữa, và nhớ cho kĩ trước khi post tiếp. Tôi chưa hề nói cung bắn hơn súng máy, vì vậy, ngừng ngay việc ném vào đây những thứ không liên quan và mang tinh chất phóng đại, hoang tưởng và đầy chất vu khống. Cung Mông Cổ sát thương cao vì khả năng chính xác và sức công phá mạnh. Việc tên của người Mông Cổ được thiết kế không có gì khác hơn so với các dân tộc khác như người Jurchen và người Khitans. Vì vậy, chất liệu làm tên là không hoàn toàn quan trọng. Các di vật được khai thác trong các ngôi mộ gần Samakand, Ulan Bato và Karakorum cho thấy vũ khí của người Mông Cổ dùng chính vẫn là cung tên.

dinh_van_thanh, tôi cho rằng ông không hề đọc nghệ thuật chiến trân Trung Hoa, Trung Á, nhưng nay, ông hình như cũng không hiểu gì về Châu Âu luôn. Trận đánh ở Châu Âu tiêu biểu nhất mà ông mô tả là trận đánh Mohi (hay Muhi - Battle of Mohi) hay còn gọi là trận đánh tại sông Sajo, giữa một bên là Hungary dẫn đầu bởi vị vua Bela đệ tứ (Bela IV) cùng với các hiệp sĩ đền thần (Knight Templar) và bên kia là hỗn hợp quân Mongol-Kipchaps-Tartars, dưới sự chỉ huy của Khan Batu và vị tướng lừng danh Sobotai (hay Subodei). Ông đã pha tạp thêm trò bắn tên vào chân ngựa, một chi tiết hoang đường không hề được ghi trong sử sách. Việc quân Hungary và quân Templar thất bại không phải do cung thủ Mông Cổ trước hết, mà do sự bất đồng giữa vị vua xứ Hungary này và vị Khan Cumans, người đã từng bị đánh bại trước đó không lâu trong chiến dịch sông Kalka. Vị Khan bị ám sát, công với sự thiếu hảo chí giữa các bên tham chiến là nguyên nhân dẫn đến cuôc thất bại đẫm máu này. Có khá nhiều các vị tước công mang theo binh lính để hội quân với vua Bela IV nhưng đã hoặc là không kịp dự trận đánh vì ở xa (Hungary khá trắc trở về địa hình dõ dãy Carpathia) hoặc là bị các nhóm quân Mông Cổ đi tuần phát hiện rồi tiêu diệt.

Việc ông cho rằng người Mông Cổ đánh thắng như bởn cũng là hoàn toàn sai và thiển cận.. Hãy đọc đoạn trích này:

Trích dẫn
1. It is very unlikely that the Mongols wanted to attack at night (horse archers avoid night battles), but they wanted to cross the river to be able to attack the Hungarian camp at dawn. When Kálmán and Ugrin arrived they found the Tartars unprepared and in the middle of crossing the river. They successfully forced them into pitched battle and achieved a great victory at the bridge. The Mongols were totally unprepared for the crossbowmen who inflicted considerable losses on the Mongol forces, especially due to the size of the bridge, which was a minimum of 200 meters long.

Tạm dịch như sau: Khả năng tất công vào ban đêm là khó có thể, bở lẽ kị cung tránh các trận đánh vào ban đêm [một điều khá khó chịu, và đã diễn ra ở Đại Việt]. Họ [người Mông Cổ] muốn băng qua sông để có thể đánh úp vào trại quân Hungary vào hoàng hôn. Khi Kalman và Urgin đến, họ thấy ngườ Tartars chưa chuẩn bị vào đoạn giữa cầu [chưa mặc giáp và cài tên mà đã băng qua cầu]. Họ vì vậy mà đã ép quân Mông Cổ vào một trận địa thoải dốc (vì cây cầu cong như hình cung) và giành chiến thắng. Người Mông Cổ không hề chuẩn cho việc bị tấn công bằng nỏ, khiến quân số bị thiệt hại nặng nề, đặc biệt là do kích thước của cây cầu, với khoảng tối thiểu chỉ có 200 met dài [vì cây cầu ngắn và hẹp, khoảng cách giữa mỗi người là hết sức hẹp. Vì vậy, khi người Hungary dùng nỏ như mưa, quân Tartars-Mông Cổ tất nhiên là bị thiệt hại nhiều.]

Và đây là lí do để bị thua [tôi thấy hơi uổng]:

Trích dẫn
2. . The Hungarians left some soldiers to guard the bridge and returned to the camp, unaware that the main Mongol army was still there. When they arrived at the camp around 2 a.m., they celebrated their victory.

Tạm dịch: Người Hungary để lại một số lính để canh phòng cây cầu rồi quay lại doanh trại, không biết rằng quân tổng lực Mông Cổ vẫn còn ở đây [bờ bên kia sông Sarjo]. Họ đến doanh trại vào lúc 2 giờ sáng và ăn mừng chíên thắng.

Ông có thể thấy rồi đấy, người Hungary thất bại vì ngộ nhận, chứ không phải hoàn toàn là do họ không tinh việc chiến trân. Vì ông không đọc sử, mà vẫn kêu la, nên ông cũng không nhận ra luôn một điều quan trọng là tổ tiên người Hungary là người Magyars, một bộ tộc ở Trung Á, cũng sử dụng cung tên và chiến thuật hệt như quân Mông Cổ.

Đó là chưa kể tổng số quân của Hungary là từ 60,000 - 88000 có thể xê xích lên 90,000. Vậy mà thương vong cùng lắm là 10,000. (Genghis Khan's Greatest General: Subotai the Valiant. University of Oklahoma Press) Nếu chém kiểu như ông nói, nội 5000 quân liệu đã đủ chưa không biết.

Cỏn về vụ tên vào chân ngựa, như đã nói trên, là hoang đường và vô căn cứ. Với sức mạnh 300 Joules, người Mông Cổ đủ sức xuyên thủng lớp giáp của người Châu Âu. Ông cũng không phân biệt được rằng vào thế kỷ thứ mười ba, giáp trụ châu Âu không phải được đúc thành từng tấm như những kị sĩ Gothic (Plate Armour), vốn chỉ thịnh hành dần từ thế kỉ thứ 15 đến nửa đầu thế kỉ thứ 17, mà là những giáp có dạng khoen (Mail hoặc Chain Mail hay Mail Hauberk cho phần thân và Mail Aventail - tiếng Pháp Aventail có nghĩa là dạng hình quoạt - để bảo vệ đầu, cổ và một phần tư phần ngực.

Các luận điểm mơ hồ của tất cả các quí ngài tham dự toạ đàm hôm qua, hôm nay đã được đem ra ánh sáng. Thái độ phi sử học, phi khảo cổ học, báng bổ và coi thường việc sưu tầm và nghiên cứu sử liệu (primary source) và sách sử (secondary source) mà ông và các bạn của ông đã làm chỉ khiến cho người ta thấy rõ ràng là các ông không hề nghiên cứu sử học ngày nào, nhưng vẫn thích bắt chẹt người khác. Những thái độ như vậy là nhảm (lame), vô căn cứ (baseless), phản khoa học (pseudo-scientific) và nghèo nàn (poor).


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 18 Tháng Năm, 2008, 06:03:52 pm
Trích dẫn
Các bác cãi nhau kinh quá, xin góp 1 bài viết khác của Nguyễn Duy Chính.
Vó ngựa và cánh cung

Lancer, nếu bạn muốn tìm kiếm tài liệu về sử học, cho một người Việt Nam, tôi khuyến khích bạn đọc các sách của nhà xuất bản Osprey Publisher. Tuy rằng bộ sách này không hoàn toàn chính xác, và đã bị bàn cãi rất nhiều giữa các học giả Sử Học Quân Sự quốc tế, nhưng cũng đủ để có một số kiến thức nhất định về chuyên đề này.

Đa số các tiêu đề của nhà xuất bản này nằm dưới dạng pdf, được scan lên rồi bỏ vào torrent. Bạn chỉ cần download chương trình torrent, rồi lên google gỏ vào "Osprey (Publisher) torrent".

Download thứ này thường khá nặng. Bên Việt Nam, theo tôi biết, thì có thể phải mất mấy ngày, thậm chí một tuần lễ. Nhưng chất lượng không tồi đâu.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: ChienV trong 18 Tháng Năm, 2008, 07:02:02 pm
Trích dẫn
Một cái hòn đã ném tay nặng nửa kg, xa 30 mét, có sơ tốc 17m/s, động năng đầu đạn, 75 jun. Nhưng không bao giờ nó là một viên đạn cả.

Sai, đạn đạo (trajectory) chỉ dùng để chỉ các vật thể bay khi có sức xoáy quanh trục của vật thế. Không có kiến thức mà vẫn la. Súng sỡ dĩ có thể mạnh như vậy bởi vì rãnh xoắn từ nóng súng. Tôi rất thích xem ông còn có thể ba láp tới mức nào.



Cái này thì bác Cuong Vu sai rồi. Đây là kiến thức vật lý cơ bản, tất cả mọi vật bay cong hay thẳng, xóay hay không thì đều có động năng là 1 số jun nào đó, theo công thức mv2. Các đạn bắn từ nòng trơn như súng kíp, súng cổ không rãnh xoắn, hay M79, nó không xóay lẽ nào nó không mang năng lượng!

Dù sao, giả thiết tên có tầm bắn đến hơn 300m em thấy phi lý lắm, giả sử có 1 ai đó bắn được xa thế thì cũng chả thể trúng đích được, vì tên có tốc độ chậm, thân lớn nên bị giảm tốc nhiều, độ đồng nhất của thân tên không cho phép nó chụm như đạn bắn từ nòng súng được. Tên bắn hơn 100m chắc để hù nhau là chính thôi bác!
Cung nỏ hiện đại, với sự đồng nhất của cả cánh cung và tên theo tiêu chuẩn công nghiệp, thiết kế tên bằng phần mềm, giá đỡ và hệ ngắm chuẩn chỉ, người bắn khỏe hơn xưa rất nhiều, mà bác xem thử bắn chính xác được bao xa.

Súng mạnh nhờ năng lượng thuốc súng, không phải nhờ nòng xoắn. Nòng xoắn chỉ để súng chính xác hơn thôi!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 18 Tháng Năm, 2008, 07:16:52 pm
Trích dẫn
Cái này thì bác Cuong Vu sai rồi. Đây là kiến thức vật lý cơ bản, tất cả mọi vật bay cong hay thẳng, xóay hay không thì đều có động năng là 1 số jun nào đó, theo công thức mv2. Các đạn bắn từ nòng trơn như súng kíp, súng cổ không rãnh xoắn, hay M79, nó không xóay lẽ nào nó không mang năng lượng!

Dù sao, giả thiết tên có tầm bắn đến hơn 300m em thấy phi lý lắm, giả sử có 1 ai đó bắn được xa thế thì cũng chả thể trúng đích được, vì tên có tốc độ chậm, thân lớn nên bị giảm tốc nhiều, độ đồng nhất của thân tên không cho phép nó chụm như đạn bắn từ nòng súng được. Tên bắn hơn 100m chắc để hù nhau là chính thôi bác!
Cung nỏ hiện đại, với sự đồng nhất của cả cánh cung và tên theo tiêu chuẩn công nghiệp, thiết kế tên bằng phần mềm, giá đỡ và hệ ngắm chuẩn chỉ, người bắn khỏe hơn xưa rất nhiều, mà bác xem thử bắn chính xác được bao xa.

Wikipedia trích từ cuốn The Art of Archery như sau:

Trích dẫn
The Mongolian tradition of archery is attested by an inscription on a stone stele that was found near Nerchinsk in Siberia: "While Genghis Khan was holding an assembly of Mongolian dignitaries, after his conquest of Sartaul (East Turkestan), Yesüngge (the son of Genghis Khan's brother) shot a target at 335 alds (536 m)."

Có hàng tá thứ phi lý hơn nhiều xung quanh đây đấy thôi.

Đây là số liệu của Richard A Grabriel. Khái niệm về trajectory cho Lịch Sử Quân Sự về cung tên, vẫn thường được dịch ra là đạn đạo được trình bày vào năm 1971 ở:

Saunders, J. J. (1971). The History of the Mongol Conquests, Routledge & Kegan Paul Ltd

Các công thức tính toán tỉ mỉ của Saunders bao gồm vận tốc trung bình cho các khoảng khác nhau trên cùng một quãng đường. Tính toán cũng trình bày sức gió cản, độ lệch chuẩn và góc lệch.

Phần còn lại đều đã được dẫn.

Trích dẫn
Súng mạnh nhờ năng lượng thuốc súng, không phải nhờ nòng xoắn. Nòng xoắn chỉ để súng chính xác hơn thôi!

Không đúng! Nhưng thôi, chủ đề này đã được xem như không nằm trong phạm vi, có thể mở một thread mới riêng về nó.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: chiangshan trong 18 Tháng Năm, 2008, 07:26:23 pm
Trận đánh ở Châu Âu tiêu biểu nhất mà ông mô tả là trận đánh Mohi (hay Muhi - Battle of Mohi) hay còn gọi là trận đánh tại sông Sajo, giữa một bên là Hungary dẫn đầu bởi vị vua Bela đệ tứ (Bela IV) cùng với các hiệp sĩ đền thần (Knight Templar) và bên kia là hỗn hợp quân Mongol-Kipchaps-Tartars, dưới sự chỉ huy của Khan Batu và vị tướng lừng danh Sobotai (hay Subodei). Ông đã pha tạp thêm trò bắn tên vào chân ngựa, một chi tiết hoang đường không hề được ghi trong sử sách. Việc quân Hungary và quân Templar thất bại không phải do cung thủ Mông Cổ trước hết, mà do sự bất đồng giữa vị vua xứ Hungary này và vị Khan Cumans, người đã từng bị đánh bại trước đó không lâu trong chiến dịch sông Kalka. Vị Khan bị ám sát, công với sự thiếu hảo chí giữa các bên tham chiến là nguyên nhân dẫn đến cuôc thất bại đẫm máu này. Có khá nhiều các vị tước công mang theo binh lính để hội quân với vua Bela IV nhưng đã hoặc là không kịp dự trận đánh vì ở xa (Hungary khá trắc trở về địa hình dõ dãy Carpathia) hoặc là bị các nhóm quân Mông Cổ đi tuần phát hiện rồi tiêu diệt

Chuyện bắn tên vào ngựa hình như là ở trận Liegnitz (?) thì phải. Kỵ binh Ba Lan mắc mưu đuổi theo quân MC, bộ binh tụt lại phía sau bị mũi vu hồi của MC tiêu diệt. Đám kỵ binh thì bị bắn ngã ngựa và bị kỵ binh MC dùng thương tiêu diệt.

Cái này đọc lâu quá rồi nên có thể nhớ không chính xác.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 18 Tháng Năm, 2008, 07:33:48 pm
Trích dẫn
Chuyện bắn tên vào ngựa hình như là ở trận Liegnitz (?) thì phải. Kỵ binh Ba Lan mắc mưu đuổi theo quân MC, bộ binh tụt lại phía sau bị mũi vu hồi của MC tiêu diệt. Đám kỵ binh thì bị bắn ngã ngựa và bị kỵ binh MC dùng thương tiêu diệt.

Cái này đọc lâu quá rồi nên có thể nhớ không chính xác.

Xin cẩn thận với thông tin lệch lạc trên kia. Không trong số các trận chiến tại Châu Âu sử dụng kỉ thuật này. Giáp ngựa ở Châu Âu chẳng qua là một tấm vải bạt màu trắng hay màu khác phủ lên mà thôi. Việc bắn vào chân ngựa không phải ở Ba Lan, Đông Đức như cái ông dinh_van_thanh trên kia gieo rắc, mà khi Mông Cổ đánh nhau với đế chế Hồi Giáo hùng mạnh Khwarazm. Vì lẽ ở Trung Quốc và Hồi Giáo, ngựa được bảo vệ bởi giáp da khâu từ những miếng nhỏ, gọi là lamellar armour. Đôi khi có thể được làm bằng sắt nữa.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: dinh_van_thanh trong 18 Tháng Năm, 2008, 08:50:52 pm
Cảnh cáo dinh_van_thanh vì tội spam!


Ở châu Âu có một loại ngựa gỗ để trẻ em chơi giáp kỵ, đó là con ngựa đẽo gỗ, để giả làm ngựa thịt. Trên ngựa gỗ phủ vải, để giả làm giáp. Trẻ em rất thích chơi.

Giáp Kỵ là trang bị hạng nặng nhất của kỵ binh châu Âu, thường chỉ Quý Tộc giầu có mới đủ, thường thấy trong các cuộc đấu tay đôi dựng lại, xem phim đầy. Khi ra trận, cả giáp kỵ và giáp bộ đều cầm thương dài, chống xung phong. Ngựa bọc giáp kín phần phía trước. Mũ ngựa bằng sắt, chỉ hở mắt, dưới cổ có yếm sắt và yếm da, hay bên chân trước cũng có sắt, phía sau thì chỉ phủ da lên mông ngựa.

Chàng Cường Vũ quen chơi ngựa gỗ, miêu tả giáp kỵ giống ngựa gỗ phủ vải.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: dinh_van_thanh trong 18 Tháng Năm, 2008, 09:41:03 pm
Châu ÂU thời cổ có ba binh chủng lục quân chính. Đi ngựa là Kỵ Binh, Long Binh, Giáp Kỵ. Bộ binh thì có Lân Binh và bộ binh thường.

Kỵ Binh là kỵ binh nhẹ, phần lớn các trận chiến của quân Mông Cổ là dùng kỵ binh, nhưng không thiếu trận đánh họ trang bị kiểu khác. Kỵ Binh chiến bộ binh rất tốt.

Lân Binh là quân đi bộ, mặc giáp, có thể mang thương dài, vũ khí nặng. Kỵ Binh chiến bộ binh tốt nhưng lại ngại lân binh mang thương dài chĩa ra tua tủa. Trong AOE, Lân Binh phát triển tốn nhất. ;D ;D ;D ;D

Giáp Kỵ là Kỵ binh giáp tốt, mang thương dài. Giáo Kỵ dùng để đối phó với đám Lân Binh. Giáp Kỵ là binh chủng quý tộc nhất, đắt đỏ nhất, xe tăng thời cổ đại.

Long Binh là bộ binh cơ giới, đi ngựa nhưng chiến đấu bộ, trang bị nặng.

Bộ binh thường là bộ binh nhẹ, mang giáo, và đeo kiếm, khiên. nhưng giáo không dài như Lân Binh, dễ dàng xung phong chém giết.



Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: songoku trong 18 Tháng Năm, 2008, 09:50:26 pm
Lân Binh là quân đi bộ, mặc giáp, có thể mang thương dài, vũ khí nặng. Kỵ Binh chiến bộ binh tốt nhưng lại ngại lân binh mang thương dài chĩa ra tua tủa. Trong AOE, Lân Binh phát triển tốn nhất. ;D ;D ;D ;D
Bác nói lân binh giông giống với bọn phalan hay trong đế chế gọi là sọc xiên.  ;D Sọc xiên kéo đi 1 đàn thì voi còn tắt điện nữa là kỵ binh  ;D :) ;D


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: dinh_van_thanh trong 18 Tháng Năm, 2008, 10:39:08 pm
Lân Binh là quân đi bộ, mặc giáp, có thể mang thương dài, vũ khí nặng. Kỵ Binh chiến bộ binh tốt nhưng lại ngại lân binh mang thương dài chĩa ra tua tủa. Trong AOE, Lân Binh phát triển tốn nhất. ;D ;D ;D ;D
Bác nói lân binh giông giống với bọn phalan hay trong đế chế gọi là sọc xiên.  ;D Sọc xiên kéo đi 1 đàn thì voi còn tắt điện nữa là kỵ binh  ;D :) ;D

Đúng, đích thị. Bọn ấy nâng cấp cực tốn mà lâu, nhưng lúc đẻ thì rẻ thì rẻ không.

Bọn nó gọi tuyền bằng tiếng La Tinh, các cụ dịch ra thành kỵ bịnh nặng vừa nhẹ, khiếp lên được.
Đây có ảnh của chú Giáp Kỵ, Kỵ Binh Nặng thế kỷ 16 này.  Phần người ngựa là ma canh, nhưng vỏ là xịn.

http://www.answers.com/topic/armorsmetm-jpg-1
(http://content.answers.com/main/content/wp/en/8/8a/ArmorsMetM.JPG)



Tiêu đề: Lân Binh, Unicorn
Gửi bởi: dinh_van_thanh trong 18 Tháng Năm, 2008, 10:49:53 pm
Lân Binh, Unicorn, sau này được gọi là "bộ binh nặng".
Lúc này là vào Thế Kỷ 18, vẫn gọi là Unicorn, nhưng không còn là đội thương giáp chống kỵ binh xung phong, mà là quân mang pháo và cối. Sau Thế Kỷ 19 là Bộ Binh Nặng, đến thời đánh pháp nhà ta vẫn dùng tên này.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 19 Tháng Năm, 2008, 09:01:57 am
Trích dẫn
Giáp Kỵ là trang bị hạng nặng nhất của kỵ binh châu Âu, thường chỉ Quý Tộc giầu có mới đủ, thường thấy trong các cuộc đấu tay đôi dựng lại, xem phim đầy. Khi ra trận, cả giáp kỵ và giáp bộ đều cầm thương dài, chống xung phong. Ngựa bọc giáp kín phần phía trước. Mũ ngựa bằng sắt, chỉ hở mắt, dưới cổ có yếm sắt và yếm da, hay bên chân trước cũng có sắt, phía sau thì chỉ phủ da lên mông ngựa.

Không đọc sách mà vẫn cứ la, xấu hổ. Đọc cái này trước khi tuỳ tiện phân loại. Những thứ ông "đẻ" ra toàn vô căn cứ. Trích dẫn ra đây xem nguồn của ông từ đâu mà ra. Ông cũng như những tay bạn của ông ăn nói không hề suy nghĩ, rướn cổ cãi làm trò đùa cho thiên hạ.

http://en.wikipedia.org/wiki/Chainmail

Ba cái vụ lân binh nhảm nhí hoang đường kia là sản phẩm của trí tưởng tượng mà thôi. Như đã phản bác ở trên, đừng có lập lại những thứ rác rưởi đó, chán ngấy lắm, nếu cần đọc luôn cái này đi:

http://en.wikipedia.org/wiki/Gothic_plate_armour

Trích dẫn
Chàng Cường Vũ quen chơi ngựa gỗ, miêu tả giáp kỵ giống ngựa gỗ phủ vải.

Nếu cần biết nguồn của tôi, sao không hỏi, đoán mò chi vậy, tội nghiệp.
Lên Osprey down về mà tự coi. Kiến thức lởm chởm mà vẫn thích kêu la. Đưa thêm nguồn cho ông chẳng qua là hơi rộng lượng rồi. Vì chắc ông cũng không có đủ điều kiện để lê lết mua được vài cuốn ra hồn.

Trích dẫn
Châu ÂU thời cổ có ba binh chủng lục quân chính. Đi ngựa là Kỵ Binh, Long Binh, Giáp Kỵ. Bộ binh thì có Lân Binh và bộ binh thường.

Nói nhảm nói xằng, Châu Âu chỉ có duy nhất 2 binh chủng mà thôi. Kỵ và bộ binh, thế là đủ. Hệ thống quân sự Châu Âu là gồm 2 loại, các kỵ sĩ xuất thân từ quý tộc do đức vua phong và quân chuyên nghiệp. Người Châu Âu không dùng nghĩa vụ quân sự như ở Trung Quốc (conscripted military). Vì vậy, tổng số quân tham chiến thường không quá 50,000 quân được. Quân đội Châu Âu thường là lính chuyên nghiệp, được thuê hay đào tạo theo hợp đồng.

Trích dẫn
Kỵ Binh là kỵ binh nhẹ, phần lớn các trận chiến của quân Mông Cổ là dùng kỵ binh, nhưng không thiếu trận đánh họ trang bị kiểu khác. Kỵ Binh chiến bộ binh rất tốt.

Tự ông đưa ra định nghĩa. Cái này gọi là tự biên tự diễn. Vì vậy tất cả mọi thứ ông nõi nghe qua đã biết vô giá trị, đọc cái này trước khi nói xằng. Đã gọi là kỵ binh, mà còn tự đưa ra là kỵ binh hạng nhẹ, tức ý muốn hàm chỉ kị binh hạng nhẹ là một dạng của kị binh. Nói chuyện tầm phào!


Trích dẫn
Lân Binh là quân đi bộ, mặc giáp, có thể mang thương dài, vũ khí nặng. Kỵ Binh chiến bộ binh tốt nhưng lại ngại lân binh mang thương dài chĩa ra tua tủa. Trong AOE, Lân Binh phát triển tốn nhất.

Không lo đọc sách sử, mà lo hoang tưởng lịch sử với Age of Empire. Nếu muốn chơi game lịch sử, chọn Cossacks: Back to War hay Medieval: Total War 2 đấy. Ông không những không có chút kiến thức về sử học quân sự, mà cũng không có luôn kiến thức căn bản. Kị binh mặc giáp gọi là kị binh hạng nặng, còn cái lân binh của ông người ta gọi là lính giáo (spearmen) hay thương (pikemen). Những người này không nhất thiết phải trang bị với giáp tấm đúc, vì từ TK5-TK13, đa số bộ binh sử dụng giáp bằng da. Còn nhiều loại hơn nữa và cuối thế kỷ thứ 14 và đầu thế kỷ thứ 15, gọi là quân kích (Halberdiers). Người Thuỵ Sĩ là bậc thầy của loại vũ khí này.

Trích dẫn
Kỵ Binh chiến bộ binh tốt nhưng lại ngại lân binh mang thương dài chĩa ra tua tủa. Trong AOE, Lân Binh phát triển tốn nhất.   

Nhảm, trong nhiều năm, kị binh có thể phá vỡ đội hình lính giáo và lính kích chỉ bằng cách đánh vào mạng sườn của đội hình. Ngay cả khi ngã ngựa, một con ngựa cũng đủ đè lên hai ba người hay gây rối loạn đội hình. Đối phó với kị binh tốt nhất là ở tầm xa, bằng nỏ và cung.

Trích dẫn
Không cần dẫn tài liệu khi bác không sử dụng các kiến thức tối thiểu về vật lý.
Wiki à, ở đây nhé: http://en.wikipedia.org/wiki/Archery#Types_of_arrows_and_fletching
Đọc sơ qua các tài liệu này, thấy rõ người ta tính và đánh giá cung bằng sức căng dây. Longbow (trường cung) của Anh thuộc dạng nặng nhất, lực căng dây cỡ 900N (khỏang 92kgf).
Bác xem lại câu viết của bác nhé, câu "bao gồm vận tốc trung bình cho các khoảng khác nhau trên cùng một quãng đường" rất tối nghĩa, khỏang cách và quãng đường khác nhau thế nào.

Phải rồi, không cần đọc tài liệu cho nên mà có sản phẩm như ông dinh_van_thanh đấy.
Câu đem cái mớ đó mà cải chánh với Saunders, J. J, nếu cậu xem mớ vật lý "căn bản của cậu là hợp lý.

Trích dẫn
Đọc sơ qua các tài liệu này, thấy rõ người ta tính và đánh giá cung bằng sức căng dây. Longbow (trường cung) của Anh thuộc dạng nặng nhất, lực căng dây cỡ 900N (khỏang 92kgf).
Bác xem lại câu viết của bác nhé, câu "bao gồm vận tốc trung bình cho các khoảng khác nhau trên cùng một quãng đường" rất tối nghĩa, khỏang cách và quãng đường khác nhau thế nào.

Quay lại lấy joule (công) để đánh giá sức mạnh cung tên nhé. Theo định luật bảo tòan năng lượng thì năng lượng của mũi tên (trong trường hợp lý tưởng) bằng năng lượng cung thủ bỏ ra để tích cho cánh cung (khi căng dây hết cỡ) trừ đi tiêu hao trên đường bay (sức cản gió) và năng lượng của cung thủ thì phụ thuộc số lượng cơm cá thịt mà anh ta hốc hàng ngày.

Theo các óep sai dinh dưỡng, 1 người cao 180cm, nặng 75kg, 25 tuổi (lấy làm chuẩn cho 1 chiến binh nhé, OK?) trong trạng thái họat động tích cực (thể thao thể dục tích cực, khuân vác tích cực, cụ thể "Exercise - you participate in physical sports such as jogging or mountain-biking each day) mỗi ngày tiêu khỏang 3.100 calories.

1 phát tên 300 joules tương đương 72 calories, cộng tiêu hao trên đường bay vài calories nữa, coi như ngốn của cung thủ 80 calories, ok?

Trường cung (longbow) hạng nặng (ai có thể căng dây cung với lực 92kg mà vẫn ngắm bắn được, chắc không thể là chú còi mà phải là cớ hiếm trong chiến binh chuyên nghiệp hòang gia rồi, phải không?), cứ cho sải tay cung thủ khỏang 1,6m, sẽ có mức tích năng khỏang 1m. Theo kiến thức phổ thông, thế năng của cánh cung là 900Nx1m/2=450 joule ~ 110 calories

Vậy thì, để bắn phát cung của bác đã đề cập, nếu cung thủ chỉ ăn xong ngồi im 1 chỗ, mỗi ngày sẽ chỉ được phép bắn 40 phát tên, hoặc nếu có chạy nhảy đi lại bình thường tiêu mất cỡ 1500 calories (như anh em đi làm văn phòng bây giờ) thì còn lại 1600 calories để bắn cung, bắn được 20 phát 

Tay cung hòang gia kia, bắn mất 110 calories/phát, thì sau khi tiêu hao mất 1500 calories cho việc chào hỏi cấp trên, đi dạo mát và tán gái, anh ta chỉ được phép bắn hơn 10 phát/ngày nếu không muốn bị suy dinh dưỡng, hoặc anh ta phải giết 1 đồng đội mỗi ngày để cướp khẩu phần ăn

Thấy rõ, các giá trị trên chỉ là giá trị đỉnh, hiếm gặp chứ không phải là các phát bắn mà chiến binh nào cũng có thể thực hiện. Lực căng cung cho cung thủ chuyên nghiệp thường chỉ 20 đến 30kgf là hạng nặng rồi, tương đương cỡ 20 calories/phát thôi.

Thành thực khuyên đọc cái này:
www.telusplanet.net/public/prescotj/data/archery/crossbow.pdf
rồi hẳng tranh luận.

Một báo cáo như trên mới là cái ông gọi là Vật Lý, chứ không phải là đẻ ra số, rồi khả ố vừa cười vừa phun rác lên đây. Nhảm, nhưng vui, vui rồi thì thấy khinh.

Trích dẫn
Đúng, đích thị. Bọn ấy nâng cấp cực tốn mà lâu, nhưng lúc đẻ thì rẻ thì rẻ không.

Bọn nó gọi tuyền bằng tiếng La Tinh, các cụ dịch ra thành kỵ bịnh nặng vừa nhẹ, khiếp lên được.
Đây có ảnh của chú Giáp Kỵ, Kỵ Binh Nặng thế kỷ 16 này.  Phần người ngựa là ma canh, nhưng vỏ là xịn.

Post hình mà không xem nguồn, cốt là để khoác lác và lấy le. Cái đó là ảnh giáp trụ các hiệp sĩ Tudor thế kỷ thứ 16 tại Metropolitan Museum of Art ở New York City. Ông hẳn không chịu đọC trước, nên mới đem tấm đó lên đây. Đi kiếm một kị sĩ tương tự TK 13 đi. Kiếm tới mai hẳng post.
TK13 TRƯỚC TK16
LẠC ĐỀ RỒI! CHA NỘI!


Trích dẫn
Alds không rõ là đơn vị đo chiều dài của nước nào, thời nào.

Trừ khi cậu bí Tiếng Anh, họ đã chuyển ra mét kế bên. Đưa cho nguồn mà còn xuyên tạc! Không rõ thì hỏi, đó mới gọi là học sử.

Trích dẫn
Nếu không nhầm các tài liệu tiếng Anh thường dùng đơn vị yard (yd) thì tầm này cũng chỉ là cỡ 300m. Vả lại tài liệu này cũng chỉ đề cập tới một người cụ thể bắn (trường hợp dị biệt). Các cuộc thi bắn cung hiện đại chỉ kịch tầm ở khỏang 90m.
Miễn đoán mò! Ald là Ald, yard là yard. Tại sao dị biệt? Vô căn cứ! Cậu dùng thủ đoạn xuyên tạc tài liệu không có lợi cho cậu, và tự ý đánh khác đi. Cái đó thật kém cỏi!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: dinh_van_thanh trong 19 Tháng Năm, 2008, 02:49:41 pm
Dạ thưa anh Cuong Vu. Caia 16 đấy chả khác gì cái 11 cả và cũng vẫn thế từ 1-2.

Biên chế các loại Lân Long Giáp Kỵ đó có từ thời La Mã cơ ạ. Tôi chả hơi đâu mà tôi bốt, vì ảnh đó ở trên nét đầy. Nếu anh không tìm được thì đao lốt cái AOE-II về,  cờ rách đi cho đỡ tốn, rồi anh cố mà luyện cho đến khi có được giáp kỵ.

Còn anh thích xem Giáp Kỵ đúng thế kỷ 11 thì phải tìm đến các bảo tàng Thập Tự Chinh. Nếu anh không có tiền đi xem bảo tàng thì đao lốt trên ppp về phim Ai Van Hoi mà xem, đấy chính xác là trang phụ Hiệp Sỹ thế kỷ 11 khi chiến đấu (vl gọi là đồ chiến để phân biệt với đồ búp, hỉu chửa). Những chiện này tớ đã nói rồi, anh không thèm đọc hay là đọc không vào ???
Mà anh có chịu khó xem thì nhớ tìm cái tên kỵ binh nặng tiếng Anh nhé, Giáp Kỵ là tên tầu-giáp mã lại là miếng bó chân, đừng nhầm. Còn la mã thì có tên riêng, phát âm khó bỏ mịe, tự đi mà tìm.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 20 Tháng Năm, 2008, 09:24:40 am
Trích dẫn
Biên chế các loại Lân Long Giáp Kỵ đó có từ thời La Mã cơ ạ. Tôi chả hơi đâu mà tôi bốt, vì ảnh đó ở trên nét đầy. Nếu anh không tìm được thì đao lốt cái AOE-II về,  cờ rách đi cho đỡ tốn, rồi anh cố mà luyện cho đến khi có được giáp kỵ.

Anh có thể thôi bá láp những thứ vớ vẩn này đi. Long Lân của anh không bao giờ được sử dụng như là một thuật ngữ quốc tế, việc anh phải làm là đi mà tra ra cho được tên của nó, chứ không có đổ thừa,

Tất cả các luận điểm của anh đã bị tôi bẽ gãy, từ vụ bắn tên vào chân ngựa, đến vụ chế ra bộ binh hạng nặng tên unicorn, trong khi nó chỉ dùng để chỉ giáp ngựa. Cho nên anh mới quay lại với một đống hỗn độn đuối lý như vậy.

Tôi không cần AOE II, hay bất kì game nào của anh. Tôi không rãnh để nhập bọn với anh về trò xuyên tạc lịch sử qua game. Tất cả các nguồn của anh không phải là thứ đáng tinh cậy, mà chẳng qua là do anh cóp nhặt từ các nguồn không được kiểm định, cộng với tài xào nấu tài tình của anh để tạo ra cái mà anh gọi đó là lịch sử. Những thứ như vậy rõ ràng là chỉ qua mặt những người mới vào ngành này, chứ không thể lừa được những người có ít nhất các thông tin sử học căn bản.

Trích dẫn
này tớ đã nói rồi, anh không thèm đọc hay là đọc không vào
Mà anh có chịu khó xem thì nhớ tìm cái tên kỵ binh nặng tiếng Anh nhé, Giáp Kỵ là tên tầu-giáp mã lại là miếng bó chân, đừng nhầm. Còn la mã thì có tên riêng, phát âm khó bỏ mịe, tự đi mà tìm.
Gửi lúc: 19 Tháng Năm, 2008, 01:06:41 pmGửi bởi: ChienV 

Dựa trên những gì anh post trên đây, chính anh là kẻ không chịu đọc ngày nào sách sử thực thụ. Tên "tàu" của anh phải được viết ở dạng nguyên thuỷ là tiếng Phồn Thể, chứ không phải là phiên âm tiếng Việt!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: ChienV trong 21 Tháng Năm, 2008, 04:37:39 pm
Các chủ đề không liên quan đến Nguyên Mông hay Nhà Trần đã chuyển sang mục "Sức mạnh cung tên":
http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1769.0


Tôi sẽ tiếp tục đả phá các sai lầm của bạn Cuong Vu ở topic mới, bạn có thể copy từ quyển sách trứ danh của bạn, hoặc từ bất kỳ ấn phẩm nổi tiếng nào để phản bác. Lý luận tràng giang đại hải như cũ sẽ không giúp bạn có được chân lý đâu!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên mông
Gửi bởi: saruman trong 08 Tháng Mười, 2008, 12:10:42 am

Post hình mà không xem nguồn, cốt là để khoác lác và lấy le. Cái đó là ảnh giáp trụ các hiệp sĩ Tudor thế kỷ thứ 16 tại Metropolitan Museum of Art ở New York City. Ông hẳn không chịu đọC trước, nên mới đem tấm đó lên đây. Đi kiếm một kị sĩ tương tự TK 13 đi. Kiếm tới mai hẳng post.
TK13 TRƯỚC TK16
LẠC ĐỀ RỒI! CHA NỘI!



Cai này có phai là Long binh TK 13 ko?
(http://img519.imageshack.us/img519/9938/frenchmedievalarmies100ex2.jpg)


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: ng_binh trong 07 Tháng Mười Một, 2008, 11:00:47 pm
các đc cho tôi hỏi tý. Trc khi đánh ta quân nguyên đã từng xâm lược châu âu, á đúng ko. Cái này thì rõ rồi, nhưng tôi muốn hỏi đến trận đánh ở gần dãy Uran giữa kỵ binh mông cổ với ki binh nga hoàng ấy. Có ai biết cụ thể thì nói với. Thanks


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: binhdc trong 25 Tháng Hai, 2009, 05:44:33 pm
Nhà Trần theo tôi là một triều đại vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. Những ngày đầu xuân vừa rồi tôi chắc các bác trong diễn đàn cũng đi lễ nhiều và phần lớn các nơi đến là những nơi có liên quan đến nhà Trần, ví dụ như: Đền Trần, Đền Bảo Lộc (Nam Định), Yên Tử, Yên Phụ, Cửa Ông, Kiếp Bạc ...
Đây là chủ đề hay mong bác chủ Topic tiếp tục công việc. Nhưng theo tôi bác phải làm lại từ đầu - bắt đầu từ cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất (1258) gắn với tên tuổi của Trần Thủ Độ, Trần Thánh Tông. Sau đó sẽ tiếp tục các cuộc kháng chiến sau như thế sẽ hệ thống hơn.
Trong bài viết các bác có thể mở rộng thêm các kiến thức và thông tin về thân thế, sự nghiệp của các tướng lĩnh tham gia.
Mong bác chủ Topic sớm tiếp tục lại.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: menthuong trong 31 Tháng Mười, 2009, 07:54:04 am
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông của Vua tôi và quân dân Đại Việt thời Trần quả là rất hào hùng. Còn bao chuyện trong và sau cuộc chiến chưa thấy được nhắc đến. Sự thực về cái chết của Hoài Văn Hầu, số phận An Tư Công chúa?

Lại nữa, tôi từng đọc ở đâu đó (xin lỗi quên mất) rằng: Khi nhà Trần mất vào tay nhà Hồ (胡氏, 1400-1407) rồi đất nước rơi vào ách đô hộ nhà Minh (1414-1417), con cháu nhà Trần phải mai danh ẩn tích, thay họ, đổi tên. Trong đó có nhiều chi phái đổi sang họ Đặng 鄧. Chính Tổng Bí thư Trường Chinh (Đặng Xuân Khu, 1907-1988) vốn dòng dõi họ Trần bởi ông là hậu duệ đời thứ 11 tại làng Hành Thiện, Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định với cụ Tổ là Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiền (興智王 陳国迒, con thứ Tư của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo-linh hồn của chiến chống quân Nguyên). Không rõ sự thực thế nào?


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: lonesome trong 31 Tháng Mười, 2009, 09:15:19 am
Lại nữa, tôi từng đọc ở đâu đó (xin lỗi quên mất) rằng: Khi nhà Trần mất vào tay nhà Hồ (胡氏, 1400-1407) rồi đất nước rơi vào ách đô hộ nhà Minh (1414-1417), con cháu nhà Trần phải mai danh ẩn tích, thay họ, đổi tên. Trong đó có nhiều chi phái đổi sang họ Đặng 鄧. Chính Tổng Bí thư Trường Chinh (Đặng Xuân Khu, 1907-1988) vốn dòng dõi họ Trần bởi ông là hậu duệ đời thứ 11 tại làng Hành Thiện, Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định với cụ Tổ là Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiền (興智王 陳国迒, con thứ Tư của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo-linh hồn của chiến chống quân Nguyên). Không rõ sự thực thế nào?

http://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20090329004013AAhNaHT


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: menthuong trong 03 Tháng Mười Một, 2009, 04:33:47 pm
Lại nữa, tôi từng đọc ở đâu đó (xin lỗi quên mất) rằng: Khi nhà Trần mất vào tay nhà Hồ (胡氏, 1400-1407) rồi đất nước rơi vào ách đô hộ nhà Minh (1414-1417), con cháu nhà Trần phải mai danh ẩn tích, thay họ, đổi tên. Trong đó có nhiều chi phái đổi sang họ Đặng 鄧. Chính Tổng Bí thư Trường Chinh (Đặng Xuân Khu, 1907-1988) vốn dòng dõi họ Trần bởi ông là hậu duệ đời thứ 11 tại làng Hành Thiện, Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định với cụ Tổ là Hưng Trí Vương Trần Quốc Hiền (興智王 陳国迒, con thứ Tư của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo-linh hồn của chiến chống quân Nguyên). Không rõ sự thực thế nào?

http://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20090329004013AAhNaHT
Cia nầy lại là "tôi trả lời tui" !


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: thapbut trong 18 Tháng Mười Một, 2009, 05:12:11 am
Đọc Cáo bình Ngô có câu:
Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều


Nhưng thời khởi nghĩa Lam Sơn, chúng tôi thấy chưa nêu rõ vị tướng nào làm tốt việc tướng sĩ ấm tình cha con.
Được biết thời Trần có đội quân được mệnh danh "Phụ tử chi binh", người lãnh đạo đội quân đó là Phạm Ngũ Lão (1255-1320). Quan hệ tướng sĩ như thế đã giúp đội quân đó bách chiến bách thắng. Ông có nhiều chiến công và được ban nhiều "huy chương" (5 lần):

Trong cuộc kháng chiến  chống Nguyên lần II, ông tham gia trận Chương Dương bất hủ, anh dũng đánh bại quân Nguyên. Quân tướng giặc cứ nghe đến tên đoàn quân do Điện Tiền Phạm Ngũ Lão chỉ huy là vội vàng bỏ chạy. Cuộc kháng chiến chống Nguyên lần III, ông được giao đánh chặn giặc xâm lược đang rút chạy ra khỏi ải Nội Bàng. Trận này ông đã chỉ huy quân đánh tan tác hàng chục vạn quân Nguyên, chém và bắn chết nhiều danh tướng của giặc. Thoát Hoan chạy thoát không dám quay đầu nhìn lại và từ bỏ luôn giấc mộng xâm lược nước ta.

Sau đó ông còn tham gia dẹp giặc Ai Lao vào các năm 1294, 1297, 1301. Trước khi mất hai năm, ông còn tham gia dẹp giặc Chiêm Thành vào năm 1318. Với các công trạng hiển hách, ông được vua ban nhiều vật quý thời bấy giờ như hổ phù, phi ngư phù... Ông mất năm 1320, thọ 66 tuổi.
 

Văn võ song toàn, ông đã làm nhiều bài thơ hay. Trong đó có bài thơ lập chí bất tử: (thơ chữ Hán dịch lời Việt)

Múa giáo non sông trải mấy thâu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu

Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu.

Theo cuốn "Danh Nhân Đất Việt",  NXB thanh niên, 1995

Khi ông mất nhà vua cho nghỉ chầu 5 ngày (có tài liệu viết 3 ngày), một ân điển như việc để quốc tang ngày nay.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: menthuong trong 26 Tháng Mười Một, 2009, 11:00:54 pm
Khi nói đến thời Trần, nhiều người thường nhắc đến “Hào khí Đông A” với lời chú giải là chữ Trần chiết tự ra gồm chữ Đông và chữ A. Nhưng tôi thấy là nó (陳)  gồm chữ Đông (東)  và bộ Ấp (阝) , còn chữ A (阿) có bộ ấp khác chứ. Hay có cách giải thích nào chính xác hơn?


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: menthuong trong 28 Tháng Hai, 2010, 05:07:47 am
http://www.baolaocai.vn/Index.asp?tabid=10&CategoriesID=189&NewsID=33486
Tôi đã cố lục tìm mà chưa thấy tài liệu nào viết Đức Trần Hưng Đạo đã lên tận Lào Cai chỉ huy việc phòng thủ của Đại Việt. Ai có thông tin chỉ giùm.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Ba, 2010, 02:25:33 pm
Năm 1257, khi U-ry-ang-kha-đai đánh chiếm xong Đại Lý, có sai sứ giả theo đường Vân Nam vào Đại Việt qua Lào Cai, dụ hàng vua Trần Thái Tông, nhưng triều đình ta không hề run sợ, đã chuẩn bị kháng chiến. Tháng 9, có chiếu "lệnh tả hữu tướng quân đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự tiết chế của Quốc Tuấn". Phòng thủ biên giới ở đây chắc phải là ở phía Lào Cai, chứ không phải ở phía Lạng Sơn.

Lễ hội ở đền Thượng, Lào Cai trong bài trích của bác menthuong chắc là dựa vào sự kiện lịch sử trên.

Nhưng ta cũng chưa chắc chắn Trần Quốc Tuấn đã kịp đem quân lên biên giới Lào Cai chưa, bởi tháng 12 quân Nguyên xâm nhập Đại Việt, xuống tận Bình Lệ Nguyên ở Vĩnh Phúc mới đụng trận đầu với quân ta do Thái Tông chỉ huy. Nếu có quân của Trần Quốc Tuấn ở biên giớí thì sao không thấy sử ta lẫn sử Trung Quốc ghi chép trận đánh nào trước đó. Hoặc giả Trần Quốc Tuấn đã đem quân lên tuần tiễu ở biên giới phía Lào Cai (Lúc đó gọi chung miền đất dọc Hữu Ngạn sông Hồng từ Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ là trại Quy Hóa) rồi đã về Thăng Long trước tháng 12 chăng?

Còn một việc nữa: Tháng 7 năm trước (1256), Vũ Thành Vương Doãn (anh của Trần Quốc Tuấn) vừa trốn sang Tống bị bắt về, lại còn mối hiếm khích của Yên Sinh Vương Trần Liễu, mà Thái Tông vẫn không ngại trao việc phòng thủ biên giới quan trọng cho Trần Quốc Tuấn phụ trách, thì cũng phải khen là Thái Tông biết nhìn người đấy.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: menthuong trong 01 Tháng Ba, 2010, 05:21:52 pm
Cám ơn bác macbupda@. Đây là ảnh Sân khấu Lễ hội:
(http://c.upanh.com//upload/3/455/3L0.7561617_1_1.jpg)
Cây đa ngay lối vào Đền mà một hướng dẫn viên nói là được mọc từ cây gậy của Quốc công Tiết chế khi người thị sát vùng này chống xuống đây !
(http://c.upanh.com//upload/3/455/LT0.7561707_1_1.jpg)
Đền Thượng:
(http://c.upanh.com//upload/3/455/RZ0.7561674_1_1.jpg)



Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 01 Tháng Ba, 2010, 07:40:04 pm
Xin hỏi bác menthuong: Bác có biết đền Thượng ở Lào Cai xây từ bao giờ không ạ? Và lễ hội đền Thượng bắt đầu tổ chức từ bao giờ?

@ bác menthuong: Hình như bác đã có con cái lớn cả rồi, vậy xin coi cháu như bậc cháu thôi (cháu 25 tuổi).


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 15 Tháng Hai, 2012, 01:49:58 pm
Chán quá các bác ạ. Tưởng bên lớp 10T toàn các tướng lĩnh sừng sỏ thời cấp 2 (ước tính 1/3 lớp là cán bộ cấp lớp trưởng đổ lên, dưới cấp 2 thì lũ này quát tháo ầm ầm), thế mà ăn nói chả ra sao cả, nghe sặc mùi wikipedia. Em đã lưu ý rồi, lúc nói cứ bô bô "cung tên Mông Cổ bay xa 400m" (thế hóa ra Ak-47 à?), làm cuộc kháng chiến chống Nguyên lần 2, cô nàng bí thư hồi cấp 2 chuyên môn đi dẫn chương trình cho tỉnh, thế mà lên đọc 10 trang trong 25 phút, nghe như bắn rap. bản đồ thì cũng power point xanh đỏ, nhưng mà chả nói được gì ngoài việc liệt kê trận đánh. Thôi, giờ có mấy câu hỏi sau đây các bác thảo luận nhé:
 Ở trên đã bàn luận, bác nào đưa ra kết luận hộ em nhà Trần có bao nhiêu quân? Và giặc Nguyên. ba cánh quân: một cánh 50 vạn, 1 cánh 1 vạn (tây bắc) , một cánh 5k từ phía Nam lên, nghe không ổn tí nào cả các bác ạ?


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: chiangshan trong 16 Tháng Hai, 2012, 10:02:30 pm
Không ổn là vì con số 50 vạn từ sử ta, 5000 từ sử TQ. Nếu tin theo sử ta thì quá nhiều, nhưng theo sử TQ thì nhiều lúc lại quá ít.

Theo sử TQ lần 2 hướng nam có 5000, tây bắc có 1000. Hướng chính không rõ nhưng danh sách chỉ huy có ít nhất 5 "sư trưởng", suy ra quân số ít nhất cũng phải có 6-7 vạn. Lần 3 tổng số huy động khoảng 10 vạn, theo lô gíc cà thì lần sau chỉ có thể bằng hoặc nhiều hơn chứ không thể ít hơn lần trước.

Thời Tống xâm lược cũng huy động con số tương tự (theo sử TQ là 1 vạn kỵ binh và 10 vạn bộ binh).

Sử ta chép lần 2 và lần 3 là 50 vạn, có thể phóng đại và/hoặc tính gộp cả số dân phu đi phục vụ (thời Tống tỉ lệ phu/lính là 3/1).

Con số quân ta, theo sử ta là từ 18000-28800 cấm quân (12 quân, mỗi quân 1500 hoặc 2400 người tùy tài liệu) và quân số thường trực toàn quốc khoảng 10 vạn, tuy nhiên khi có chiến tranh huy động thêm thì không thể tính được (lần 2 riêng quân số các lộ đông bắc do cha con Trần Hưng Đạo chỉ huy ở Vạn Kiếp đã là 20 vạn).


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 17 Tháng Hai, 2012, 01:22:25 pm
Em đang bị phang tơi bời, các hotgirl chuyên Sử được tổng động viên ném đá em tan tành cả Facebook. Con số 10 vạn của cánh quân Toa Đô được các nàng lấy từ một cuốn sách của Hội KHLS, rồi nói em tự kiêu, hơn cả Lê Văn Lan ... dám sửa cả SGK ... điên ruột, chả thèm nói nữa. Cứ cắm mặt vào quyển sách và chả nghĩ cái gì.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: Ca_Pố_Sai trong 17 Tháng Hai, 2012, 01:43:45 pm
Em đang bị phang tơi bời, các hotgirl chuyên Sử được tổng động viên ném đá em tan tành cả Facebook. Con số 10 vạn của cánh quân Toa Đô được các nàng lấy từ một cuốn sách của Hội KHLS, rồi nói em tự kiêu, hơn cả Lê Văn Lan ... dám sửa cả SGK ... điên ruột, chả thèm nói nữa. Cứ cắm mặt vào quyển sách và chả nghĩ cái gì.
Ít ra, người ta nói chuyện còn có nguồn bác ạ. Chưa cần biết độ chính xác của con số đến đâu, nhưng lấy nguồn từ Hội KHLS thì theo em cũng không phải nguồn xàm.
Bác đập lại thì tìm sách, tìm nguồn có độ tin cậy cao, chi tiết mà đập lại. Nếu người ta cố tình không chịu tin thì lúc ý mình đành chịu, không cải tạo được.
Không nghĩ cái gì thì đã không cắm mặt vào quyển sách đâu. Trong 1 câu mà 2 ý đá nhau chan chát, khác gì bí thế, chửi đổng để tự sướng đâu.
P/S: em vẫn còn nhớ bác về vụ nghe nói từ nguồn trà đá vỉa hè mà đòi nguồn chính thức ở đây:
http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,15812.msg354929.html#msg354929


Tiêu đề: Phạm Hải Nhai: Phạm Ngũ Lão hay Phạm Cự Địa?
Gửi bởi: macbupda trong 17 Tháng Hai, 2012, 02:40:38 pm
Xin đưa ra một vấn đề để chờ nghe thêm ý kiến luận đàm của mọi người:

Trong chính sử nước ta, không tìm được ghi chép về các hoạt động của Phạm Ngũ Lão 范五老 trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên các năm 1285-1286 và 1287-1288. Dựa vào Nguyên sử, ta thấy hai sự kiện, trong đó phải chăng có sự tham gia của Phạm Ngũ Lão? Lần thứ nhất: cuối năm 1285, khi đạo quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy đến Ung Châu, lăm le vào cướp nước ta, thì đã có một vị Điện tiền của ta đóng quân sẵn ở biên giới để phòng giữ. Nguyên sử quyển 209 An Nam truyện chép: “Điện tiền An Nam là Phạm Hải Nhai (范海崖) đem quân đóng ở Khả Lan Vi, Đại Trợ (?)”. Sau khi quân ta rút khỏi Thăng Long về hai xứ Thiên Trường và Trường Yên, củng cố lại lực lượng, vị Điện tiền này lại cùng với Hưng Đạo Vương mang hơn một nghìn chiến thuyền quay trở lại Vạn Kiếp, uy hiếp phía sau lưng giặc. Nguyên sử quyển 209 An Nam truyện chép tiếp: “Hưng Đạo Vương, Phạm Điện tiền đem binh thuyền lại tụ tập ở cửa sông Vạn Kiếp”.

Câu hỏi đặt ra là: Phải chăng vị Điện tiền Phạm Hải Nhai hay Phạm Điện tiền mà Nguyên sử nhắc đến ở đây chính là Phạm Ngũ Lão?

Hiện còn có sự nghi vấn về vấn đề này. Chẳng hạn, các tác giả Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm trong sách Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII đã khẳng định đó chính là Phạm Ngũ Lão. Nhưng các tác giả Nguyễn Việt, Võ Minh Giang và Nguyễn Mạnh Hùng trong sách Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm - dựa vào việc mãi đến năm 1298, Phạm Ngũ Lão mới được phong làm Kim Ngô vệ đại tướng quân cai quản một vệ quân trong cấm thành và mới có thể gọi là Điện tiền chỉ huy sứ theo đúng binh chế nhà Trần - đã cho rằng Phạm Điện Tiền của Đại Việt trong cuộc kháng chiến năm 1285-1286 không thể là Phạm Ngũ Lão. Các tác giả này cho rằng, danh tính của Phạm Điện tiền là Phạm Cự Địa 范 巨 地. Đây là người được cử đi sứ Mông Cổ tháng giêng năm Quý Hợi, niên hiệu Thiệu Long thứ 6 (1263). Trong cuộc kháng chiến lần này, đến ngày 15 tháng 3 âm lịch (tức 21-4-1285), Phạm Cự Địa đã cùng bọn Lê Diễn, Trịnh Long theo cha con Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc đem gia đình ra hàng quân Nguyên.

Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng: Điện tiền chỉ huy sứ Phạm Cự Địa khi đi sứ vào tháng giêng năm Thiệu Long thứ 6 (tức tháng 2 năm 1263), đến khi hàng giặc vào tháng 4-1285, thì đã trải qua hơn 22 năm. Liệu sau một khoảng thời gian khá dài như vậy, ông ta còn giữ nguyên chức vụ? Tất nhiên, điều này cũng không phải hoàn toàn là không thể. Phạm Ngũ Lão từng giữ chức Điện súy đến 18 năm (từ năm 1302 đến khi ông mất là năm 1320). Nhưng Phạm Ngũ Lão là người có tài năng đặc biệt, lại là người thân tình nên được tin cẩn (ông là con rể của Trần Hưng Đạo, lại có con gái là thứ phi vua Anh Tông). Từ khi nhận nhiệm vụ đi sứ đến khi hàng giặc, sử ta không hề nhắc đến một đóng góp hay hoạt động nào khác của Phạm Cự Địa. Ở đoạn nói về việc Phạm Cự Địa hàng giặc, Toàn thư cũng không ghi ông ta là Điện tiền; còn Nguyên sử thì hoàn toàn không nhắc đến ông ta trong danh sách những người theo hàng cùng với Ích Tắc. Trước đó Nguyên sử đã hai lần liền nhắc đến Phạm Điện tiền trong các trận đánh của ta, chứng tỏ vai trò quan trọng của vị võ quan này. Nếu đó chính là vị Phạm Cự Địa ra hàng quân “thiên triều”, hẳn Nguyên sử không bỏ qua để có dịp khoe khoang.

Ngoài ra, ta còn thấy rằng, Phạm Điện tiền hoạt động chủ yếu trên hướng phụ trách của Hưng Đạo Vương. Khi đó Phạm Ngũ Lão đang là môn khách của Vương. Lúc mới hơn hai mươi tuổi, Phạm Ngũ Lão đã được vị ân chủ của mình nhận ra kì tài, lại được dạy bảo thêm cho. Khi quân Nguyên sang xâm lược, Phạm Ngũ Lão đã hơn 30 tuổi, chính là lúc đang sung sức nhất của con người. Chắc chắn ông đã được Hưng Đạo Vương trọng dụng, cùng góp sức đánh giặc, chứ không thể chỉ “ngồi chơi xơi nước” trong lúc nước nhà nguy cấp. Tóm lại, vẫn tồn tại khả năng Phạm Ngũ Lão chính là Điện tiền chỉ huy sứ Phạm Hải Nhai.
 
Vậy tại sao Toàn thư lại không hề nhắc đến ông trong thời gian này. Và tại sao Nguyên sử lại ghi là Điện tiền chỉ huy sứ Phạm Hải Nhai, vừa không đúng tên vừa không đúng chức vụ? Có thể giải thích là: sau khi nước ta bị giặc Minh xâm lược (1407), thì các tài liệu sử sách của ta hoặc bị thiêu hủy, hoặc bị cướp đi đem sang Trung Quốc; khiến cho nhiều tài liệu có ghi chép về Phạm Ngũ Lão bị thất lạc. Trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên, ông lại chủ yếu hoạt động dưới trướng Hưng Đạo Vương, chứ chưa trực tiếp nhận quan chức của triều đình, nên hành trạng của ông thời kì này không được ghi chép đầy đủ. Nguyên sử được soạn vào thời Minh, phải dựa theo tài liệu từ thời Nguyên. Việc nhầm lẫn tên tuổi các nhân vật của nước ta trong Nguyên sử không hiếm. Chẳng hạn tên các vua Trần bị Nguyên sử ghi sai rất nhiều. Còn Phạm Ngũ Lão được gọi theo một chức vụ cao cấp của ông mà khi đó chưa được phong cũng là chuyện thường thấy. Toàn thư, được soạn vào thời Lê, đã gọi quân Mông Cổ sang xâm lược nước ta năm 1258 là quân Nguyên, dù mãi đến năm 1271 Hốt Tất Liệt mới đặt quốc hiệu này.

Đó là vài suy luận của bản thân em. Mong chờ các bác góp ý thêm.

Tiện giới thiệu thêm vài link:

Nguyên sử, quyển 209 An Nam truyện chữ Hán:
http://zh.wikisource.org/元史/卷209

Bản dịch của viethoc.org:
http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,29527,44588,quote=1

Đại Việt sử kí toàn thư, phần vua Trần Nhân Tông, chữ Hán:
http://nomna.org/du-an-nom/dai-viet-su-ki-toan-thu/Noi-dung-toan-van/40-Nhan-Tong-Hoang-De#


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: chiangshan trong 17 Tháng Hai, 2012, 11:38:41 pm
Em đang bị phang tơi bời, các hotgirl chuyên Sử được tổng động viên ném đá em tan tành cả Facebook. Con số 10 vạn của cánh quân Toa Đô được các nàng lấy từ một cuốn sách của Hội KHLS, rồi nói em tự kiêu, hơn cả Lê Văn Lan ... dám sửa cả SGK ... điên ruột, chả thèm nói nữa. Cứ cắm mặt vào quyển sách và chả nghĩ cái gì.

Bảo các hotgirl đấy vào đây ;D Cái hay của tìm hiểu là ở quá trình tìm đường, tồng chí cứ phải lăn tăn cái chuyện tranh thắng thua với bạn bè làm gì.

Xin đưa ra một vấn đề để chờ nghe thêm ý kiến luận đàm của mọi người:

Trong chính sử nước ta, không tìm được ghi chép về các hoạt động của Phạm Ngũ Lão 范五老 trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên các năm 1285-1286 và 1287-1288. Dựa vào Nguyên sử, ta thấy hai sự kiện, trong đó phải chăng có sự tham gia của Phạm Ngũ Lão? Lần thứ nhất: cuối năm 1285, khi đạo quân Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy đến Ung Châu, lăm le vào cướp nước ta, thì đã có một vị Điện tiền của ta đóng quân sẵn ở biên giới để phòng giữ. Nguyên sử quyển 209 An Nam truyện chép: “Điện tiền An Nam là Phạm Hải Nhai (范海崖) đem quân đóng ở Khả Lan Vi, Đại Trợ (?)”. Sau khi quân ta rút khỏi Thăng Long về hai xứ Thiên Trường và Trường Yên, củng cố lại lực lượng, vị Điện tiền này lại cùng với Hưng Đạo Vương mang hơn một nghìn chiến thuyền quay trở lại Vạn Kiếp, uy hiếp phía sau lưng giặc. Nguyên sử quyển 209 An Nam truyện chép tiếp: “Hưng Đạo Vương, Phạm Điện tiền đem binh thuyền lại tụ tập ở cửa sông Vạn Kiếp”.

Thực ra còn 1 phương án nữa đơn giản hơn nhiều: ấy là có 1 ông Phạm Hải Nhai thật.

Em chưa xem lại binh chế thời Trần, nhưng hình như chức vụ điện tiền của Phạm Ngũ Lão là khi chỉ huy quân Thánh Dực - 2 trong số 12 "trung đoàn" cấm quân. Nghĩa là có thể còn nhiều ông điện tiền nữa.

ĐVSKTT và Nguyên sử đều khá là lung tung, nên việc người này có tên, người kia thiếu tên chưa chắc đã phản ánh đúng vai trò.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2012, 06:20:44 am
Thực ra còn 1 phương án nữa đơn giản hơn nhiều: ấy là có 1 ông Phạm Hải Nhai thật.

Em chưa xem lại binh chế thời Trần, nhưng hình như chức vụ điện tiền của Phạm Ngũ Lão là khi chỉ huy quân Thánh Dực - 2 trong số 12 "trung đoàn" cấm quân. Nghĩa là có thể còn nhiều ông điện tiền nữa.

ĐVSKTT và Nguyên sử đều khá là lung tung, nên việc người này có tên, người kia thiếu tên chưa chắc đã phản ánh đúng vai trò.

Đây cũng là một phương án hay cho câu hỏi này mà mình chưa nghĩ tới.

Nhân thể hỏi lại chiangshan, bài trước chú nói "sư trưởng" của quân Nguyên là ý nói chức "vạn hộ" hẳn?


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 18 Tháng Hai, 2012, 02:05:11 pm
Các nàng chuyên Sử ấy bị em đặt ở chế độ phong tỏa cấp độ 1 rồi, kệ nó đi ạ. Xâu chuỗi sự kiện nó là thế này ạ: Lớp Toán làm, em lên Facebook nhận xét, nhặt sạn; nào ngờ nàng bí thư lớp Toán mượn sách của lớp chuyên Sử, thế là các nàng nhảy vào nói lung tung xòe. Mà em nói thẳng nhé, cái loại để bị thằng gà như em (lên đây toàn bị cảnh cáo, nhắc nhở) ép vào góc mà không đủ khả năng bật lại thì em coi thường. trả lời thẳng vấn đề không trả lời, toàn nói nhân cách ... Coi như đây là bài học kinh nghiệm khi tranh luận với lũ thích tỏ ra chuyên Sử.
Trở lại vấn đề, cánh quân phía Bắc có 6-7 vạn hộ, tức Sư trưởng, nhưng theo em là họ vẫn có thể có một lực lượng mạnh, nếu vậy thì mới đủ năng lực đánh bật Hưng Đạo Vương ra khỏi các cửa ải hiểm trở vùng biên giới và căn cứ Vạn Kiếp. Sự bất hợp lí 50-1-1 em nêu ra ở một bài gần đây có thể được giải thích như sau: Cánh quân Tây Bắc chỉ làm nhiệm vụ nghi binh chiến lược, dọn dẹp lực lượng của dân binh và buộc chân quân sĩ của Trần Nhật Duật, kéo dãn bớt quân Trần ra khỏi hướng tiến công chính. Nhưng còn cánh quân Toa Đô thì không hiểu nổi: Đặt mình vào vị trí của Hốt Tất Liệt, ta không thể đưa 10 vạn quân đến một cùng cách một đại dương mà không có lương ăn. 10 vạn quân mỗi tháng 2000 tấn gạo, nếu chỉ trông mong từ đánh cướp thì khá khó khăn. Chi viện lương thực theo đường biển thì phải coi chừng hải quân Đại Việt. Chúng ta đã gửi 2 vạn binh sĩ sang Chăm Pa đối đầu trực tiếp với Toa Đô, ngán gì mấy cái tàu vận tải mà không oánh một trận rồi đổ cho ... cướp biển! Chưa kể hạm đội chở đến 10 vạn quân em thấy nhà Nguyên chưa thể xây dựng nổi: Hạm đội đánh Nhật đâu chỉ 33 ngàn, trận Bạch Đằng cũng chỉ 8 vạn quân. Như thế chúng chỉ có khả năng gửi sang 1 vạn quân đổ lại, như thế thì với lực lượng của quân dân Cham Pa, chưa kể 20000 quân Đại Việt, sống được đã là may lắm. Vậy thì tại sao khi chúng kéo ra Thanh Hóa, Trần Kiện lại đầu hàng, khi trong tay có 1 vạn quân?

1 là Toa Đô đã mang sang vài vạn quân, nhà Nguyên thoải mái tiếp tế lương thực, không lo quân Đại Việt
2 là Trần Kiện bị mù thông tin, hoặc hắn không sợ đạo quân phía nam mà sợ 50 vạn quân từ phía Bắc


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2012, 04:19:52 pm
...
Trở lại vấn đề, cánh quân phía Bắc có 6-7 vạn hộ, tức Sư trưởng, nhưng theo em là họ vẫn có thể có một lực lượng mạnh, nếu vậy thì mới đủ năng lực đánh bật Hưng Đạo Vương ra khỏi các cửa ải hiểm trở vùng biên giới và căn cứ Vạn Kiếp. Sự bất hợp lí 50-1-1 em nêu ra ở một bài gần đây có thể được giải thích như sau: Cánh quân Tây Bắc chỉ làm nhiệm vụ nghi binh chiến lược, dọn dẹp lực lượng của dân binh và buộc chân quân sĩ của Trần Nhật Duật, kéo dãn bớt quân Trần ra khỏi hướng tiến công chính. Nhưng còn cánh quân Toa Đô thì không hiểu nổi: Đặt mình vào vị trí của Hốt Tất Liệt, ta không thể đưa 10 vạn quân đến một cùng cách một đại dương mà không có lương ăn. 10 vạn quân mỗi tháng 2000 tấn gạo, nếu chỉ trông mong từ đánh cướp thì khá khó khăn. Chi viện lương thực theo đường biển thì phải coi chừng hải quân Đại Việt. Chúng ta đã gửi 2 vạn binh sĩ sang Chăm Pa đối đầu trực tiếp với Toa Đô, ngán gì mấy cái tàu vận tải mà không oánh một trận rồi đổ cho ... cướp biển! Chưa kể hạm đội chở đến 10 vạn quân em thấy nhà Nguyên chưa thể xây dựng nổi: Hạm đội đánh Nhật đâu chỉ 33 ngàn, trận Bạch Đằng cũng chỉ 8 vạn quân. Như thế chúng chỉ có khả năng gửi sang 1 vạn quân đổ lại,...

Dòng đỏ thứ nhất: có 6 vạn hộ liệt kê được kèm theo các sự kiện liên quan đến nhiệm vụ của họ, nhưng có thể còn những viên tướng khác được nêu ra dù có tham gia cánh quân Thoát Hoan.

Dòng đỏ thứ hai: Năm 1281, cuộc viễn chinh Nhật Bản của Hốt Tất Liệt sử dụng lực lượng khoảng 10 vạn quân.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 19 Tháng Hai, 2012, 07:21:14 am
Năm 1274 là 33 ngàn, năm 1281 là 150 ngàn. Trong thời gian 4 năm kể từ khi thất bại năm 1281, liệu người Nguyên có thể xây dựng lại 1 hạm đội không ạ? Em nghĩ khá là khó khăn.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 19 Tháng Hai, 2012, 08:34:42 am
Hốt Tất Liệt với tham vọng của mình, đã không tiếc sức người sức của của đất nước mà ném vào các cuộc chiến tranh xâm lược. Ông ta đã sử dụng nhiều tay sai có những thủ đoạn bòn vét cực kì tàn bạo để hút máu mủ của dân, như A Hợp Mã là một ví dụ. Không có khái niệm "khoan thư sức dân" trong đầu ông ta đâu. Vả lại, bạn đừng quên rằng sau cuộc xâm lược thất bại năm 1285 thì năm 1287 nhà Nguyên đã cho "ra lò" được một hạm đội mới (mà bạn tin rằng đến 8 vạn còn tôi thì lại nghi ngờ con số này) với 400 - 500 chiến thuyền.

Nói vậy, nhưng tôi cũng nghi ngờ con số 10 vạn quân của Toa Đô, bởi như thế thì nhiều quá. Nếu là 5.000 thì lại quá ít so với con số 250 chiến thuyền. Ta thấy rằng, hạm đội tăng viện cho Toa Đô do bọn Ô Mã Nhi, Lưu Quân Khánh chỉ huy đến Chiêm Thành năm 1284 có 1 vạn 5 nghìn quân với 200 thuyền. Năm 1285, Thoát Hoan ra lệnh cho Ô Mã Nhi đem 1.300 quân và 60 chiến thuyền giúp Toa Đô tập kích quân Trần.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: chiangshan trong 19 Tháng Hai, 2012, 08:57:44 am
Một phần quân và thuyền của hạm đội đánh Nhật Bản là do Cao Ly đóng góp.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 20 Tháng Hai, 2012, 01:41:38 pm
Thế này bác ạ, em không tin con số 10 vạn, em nghĩ mỗi thuyền trung bình 100 quân, Toa Đô đem vào được 2-3 vạn là hợp lí nhất. Kéo ra Thanh Hóa may ra là hơn 1 vạn, nhưng tay Trần Kiện biết rằng sau lưng hắn chỉ 150km là mấy chục vạn đại binh của Thoát Hoan, thế nên hắn ta hàng. Gần 3 vạn binh mã đánh rất mạnh vào phòng tuyến Bố Vệ và Phú Tân của hai vương gia nhà ta. Thế cờ đột ngột thay đổi cũng là do tay Kiện này ra cả.
Bác đã đọc Trăng nước Chương Dương chứ ạ, nó ở trong thư viện của trang nhà ta. Thứ nhất là bác có thể cho em biết trong ấy có bao nhiêu phần trăm sự thật: Giang Khẩu, A Lỗ ... Thứ hai là bác có để ý chi tiết Trần Khánh Dư báo cáo về là không một thuyền lương, cỏ nào vào được đất Việt chứ ạ? Giả thử như họ có một đội tàu chiến chở được 10 vạn quân, sẽ rất khó khăn cho ta đấy ạ.
Còn 8 vạn quân trận Bạch Đằng, đấy là do nhồi nhét lên đấy ạ. Chứ lúc đầu sang chỉ có 2,5 vạn thì phải (kháng chiến lần 3)


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 20 Tháng Hai, 2012, 01:45:32 pm
Trời ơi là trời, bác nào lên xem lại Wikipedia thế nào chứ sao số liệu lung tung cả thế này.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2012, 05:32:15 pm
Trong Kinh thế đại điển tự lục 经世大典序录 (Sách Hoàng triều kinh thế đại điển 皇朝经世大典 soạn thời Nguyên, nay đã mất, chỉ còn lại phần đề cương là Kinh thế đại điển tự lục) có chép: chép: “Hưng Đạo vương đánh vạn hộ Lưu Thế Anh ở đồn A Lỗ. Trung Thành vương đánh thiên hộ Mã Vinh ở Giang Khẩu”.
Dựa vào vài dòng ngắn ngủi đó, tác giả Hà Ân đã viết ra tác phẩm Trăng nước Thăng Long. Hầu hết các chi tiết và một số nhân vật là hư cấu (có thể tác giả đã tham khảo thêm từ dã sử, điều này thì mình không nắm rõ). Nhưng theo Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII thì trận A Lỗ xảy ra trước trận Giang Khẩu. Theo logic thì khi tiến hành phản công từ Thanh Hóa ra, trước hết quân ta do Tràn Hưng Đạo chỉ huy đánh đồn A Lỗ (ở ngã ba sông Hồng và sông Luộc). Rồi sau đó Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật và các tướng khác tiến công phòng tuyến dọc sông Hồng của địch, còn Trần Hưng Đạo vòng ra Lục Đầu, chặn đánh quân Thoát Hoan tại Vạn Kiếp khi chúng chạy khỏi kinh thành. Trong các trận đánh thu phục Thăng Long thì có trận Giang Khẩu (Giang Khẩu là một phường ở Thăng Long - trong tiểu thuyết cũng nói Giang Khẩu ở sát phía nam kinh thành). Nếu tác giả Hà Ân trong truyện vẫn coi A Lỗ ở cửa ngã ba sông Hồng Sông Luộc, thì việc sau khi đánh xong Giang Khẩu, Hưng Đạo Vương lại đi vòng xuống đó đánh Lưu Thế Anh, rồi mới vòng lên Vạn Kiếp chặn Thoát Hoan là không hợp lí.

Hê hê, đề tài này cũng có lúc hút khách phết nhỉ, tới 15 người coi lận:


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 20 Tháng Hai, 2012, 05:53:10 pm
Trời ơi là trời, bác nào lên xem lại Wikipedia thế nào chứ sao số liệu lung tung cả thế này.

Số liệu bên wikipedia lung tung là chuyện "xưa như diễm", bạn lạ lắm sao?
Mà hình như bạn chưa coi cuốn Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII như lời khuyên của Chiangshan sao? Vào xem tạm bên lichsuvn.info nhé, họ đang làm dở:
http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=24592

Nhân nói về con số 10 vạn quân của Toa Đô, mình chưa nắm được tài liệu của hội Khoa học lịch sử thế nào. Nhưng trong Nguyên sử, quyển 129, phần liệt truyện về Toa Đô có ghi: 十九年,率战船千艘,出广州,浮海伐占城  thập cửu niên, suất chiến thuyền thiên tao, xuất Quảng Châu, phù hải phạt Chiêm Thành nghĩa là: Năm (Chí Nguyên) thứ 19, (Toa Đô) đem một nghìn chiến thuyền từ Quảng Châu vượt biển đánh Chiêm Thành. Dựa vào con số một nghìn chiến thuyền (theo Nguyên Sử Bản Kỉ quyển 12 chỉ là 250 chiếc) và sức chứa mỗi thuyền khoảng 100 người, có lẽ từ đó xuất hiện ý kiến rằng quân Nguyên đánh Chiêm Thành đến 10 vạn chăng?

Nói chung, phần liệt truyện về Toa Đô quyển 129 chứa quá nhiều chi tiết đáng nghi. Chẳng hạn, truyện này nói Toa Đô đánh hai trận ở Chiêm Thành, chém hơn 11 vạn địch, Chiêm Thành phải hàng. Toa Đô đánh tiếp các tiểu di ở Ô Lí, Việt Lí, lại thắng. Toa Đô lại cày cấy tích thóc ở Chiêm Thành được 15 vạn (không rõ 15 vạn đơn vị gì, chắc là hộc) thóc cấp cho quân.

Nguyên sử, quyển 210, phần Chiêm Thành truyện đã tường thuật rất rõ sự chật vật, khốn đốn của quân Toa Đô ở đất nước này và những điều này hoàn toàn đáng tin hơn. Nếu Toa Đô mà tích được lắm thóc thế thì chẳng đến nỗi khi ra Đại Việt vẫn khốn quẫn về quân lương, luôn phải tìm cái ăn.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: star trong 20 Tháng Hai, 2012, 06:07:37 pm
Trước tôi mở topic này với chủ đề là "Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 2", sau đó thì mod của box hồi đó là anh Mytam44 đã đổi tên topic theo hướng tổng quát hơn thành "Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông", đồng thời gộp bài viết mở topic với một bài viết khác của tôi về Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản.
(Nếu tôi nhớ không nhầm thì topic này là topic đầu tiên của box "Từ thuở mang gươm đi mở cõi"  :) )

Nhờ các bạn quản trị thêm giúp hộ tôi dòng tiêu đề : "Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 2" vào phía trên bài viết mở đầu topic (để cho rõ ràng hơn)
Cảm ơn các bạn.


Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 2

Ngày giáp tí, 21 tháng chạp năm Giáp thân (27/01/1285), giặc Nguyên Mông dưới sự chỉ huy của Thoát Hoan và Aric Khaya (A Lý Hải Nha) đã chia quân làm hai đường tiến công vào các cửa ải Khâu Ôn và Khâu Cấp (nay thuộc tỉnh Lạng Sơn). Một lần nữa quân dân Đại Việt đã lại đứng lên cầm vũ khí bảo vệ Tổ quốc trước vó ngựa xâm lăng của một đế quốc mạnh nhất thế giới thời bấy giờ.

Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 2 có thể được chia làm các giai đoạn chính sau:
...


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 21 Tháng Hai, 2012, 01:49:41 pm
Topic hút hàng là do có vấn đề đấy. Em đang vội đi học, hôm khác sẽ nêu đầy đủ câu hỏi lên tranh luận. Câu tiếp theo là về số quân của cánh quân Tây Bắc, Wiki nói 1 ngàn (nhưng chắc thể thì cụ Duật diệt sạch rồi), tối thiểu 1 vạn. Bác nào biết một thạch bằng bao nhiêu cân không ạ? nói cho em luôn nhé. Cảm ơn nhiều.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 21 Tháng Hai, 2012, 02:37:23 pm
Còn 8 vạn quân trận Bạch Đằng, đấy là do nhồi nhét lên đấy ạ. Chứ lúc đầu sang chỉ có 2,5 vạn thì phải (kháng chiến lần 3)

Trích: An Nam chí lược, quyển 4 Chinh thảo vận hướng

Ngày Ất Dậu, 28 tháng 10, đến huyện Lai Tân, chia đường tiến quân: tham chính Ô Mã Nhi cùng Phàn Tiếp suất quân 18.000 người; bọn Ô Vị, Trương Ngọc và Lưu Khuê cầm quân vài ba vạn, chiến thuyền 500 chiếc, thuyền chở đồ 70 chiếc, bắt đầu từ Khâm-Châu mà tiến.

Từ giờ nêu số liệu gì ra thì mời jasmine2011 nêu rõ nguồn hoặc ít ra là phải có lập luận làm cơ sở nhé. Cứ "hình như" với chả "thì phải" thế này, chán lắm.

Về đơn vị thạch thời Nguyên:

Một thạch thời Nguyên tính theo trọng lượng bằng 30 quân, tức là 120 cân. Đổi theo đơn vị đo lường hiện nay là 71,6186kg. Tính theo dung lượng bằng 2 hộc, tức 10 đấu. Đổi theo đơn vị đo lường hiện nay là 94,88dm3, hoặc 94,88lít

(Xem sách: Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, đã có trên diễn đàn, ở box Cha ông ta đánh giặc)


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 22 Tháng Hai, 2012, 01:35:25 pm
Dạ, em đọc trong cuốn: "Những danh tướng chống ngoại xâm thời Trần" phần viết về Trần Khánh Dư. Tiền quân Phàn Tiếp 5000 đánh tan tác quân Trần Da, Ô Mã Nhi mang hết 18000 quân và 400 tàu đi trước, chỉ để lại hơn ngàn quân hộ tống thuyền lương.
Các cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên của Hà Văn Tân thì em lùng sục mãi không ra. Giá của nó bao nhiêu, các bác mua rồi gửi vào Thanh Hóa hộ em, em xin hoàn tiền gấp đôi:
Địa chỉ: Lương Lê Minh, Lớp 10 Vật lí THPT chuyên Lam Sơn, Thanh Hóa nhé. Cảm ơn các bác nhiều, chứ bây giờ chờ họ làm xong thì lâu quá.

Các bác thống nhất với nhau là 1 thạch bằng 70kg rồi chứ ạ? Bây giờ là những câu hỏi của em:
- Kháng chiến lần 2, Mông Nguyên chuẩn bị 3 vạn thạch lương, tương đương với 2100 tấn. Trong khi đó, chiến dịch Điện Biên Phủ ta huy động 5 vạn chiến sĩ, và điều kiện cơ động vận tải ta cao hơn mà vẫn phải dự trữ 4200 tấn gạo, không tính gạo dân công. Cứ cho 50 vạn quân ấy ăn thì may ra được 1-2 tuần là hết (mỗi lính một tháng 10-20kg gạo). Với 10 vạn quân như Nguyên sử chép cũng đã quá khó khăn. Chả lẽ chờ đến lúc quân đói lả ra mới mang thêm lương sang sao ạ?
- Kháng chiến lần 3, có hai nguồn tài liệu nói rằng họ mang sang 17 vạn và 70 vạn thạch lương. Cách suy luận tương tự như trên, các bác ủng hộ ý kiến nào hơn ạ?


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 22 Tháng Hai, 2012, 01:46:41 pm
Có lẽ em phải từ bỏ giấc mơ vào quân đội thôi. Chứ giả dụ mình mà làm lính biên phòng thì trước sau gì cũng nổ súng bắn bọn TQ rồi lại gây ra chiến tranh.
Đám con gái lớp Sử sao mà lắm mồm thế không biết, chúng nó suốt ngày lên Facebook khiêu khích, gọi em lên cãi nhau. Đau nhất là chúng nó chửi mình kiêu ngạo, rồi cái gì có tài không có đức. Một đứa thì: cậu cần nhiều hơn một cuốn sách trước khi nó. hừ, còn chúng mày thì cần nhiều hơn một cái não bẹp để tranh luận với ông. Tại sao cái lũ ngu học mà cứ thích khiêu khích vậy hả trời? Mà tại sao chỉ có 10 Sử. Các chị lớp 11 Sử, 12 Sử thì em lại chơi rất thân.
Thôi, các bác cho em spam xả giận thế thôi ạ. Em đang tổng hợp các ý kiến của anh em ở đây để đi hỏi thầy Quân ở bộ môn Sử cổ trung ĐHSP. Có lẽ cuối tuần này sẽ có kết quả. Trong lúc đó thì tranh luận tiếp nhé.
Em nghĩ rằng nói đến Hưng Đạo Vương và cuộc kháng chiến lần 2-3 thì phải kế đến những cái bến ngoài. Chứ còn vườn không nhà trống thôi thì chưa đủ. Chiến thuật nào cũng có cái hay cái dở. Cái tài năng của Hưng Đạo Vương còn nằm ở chỗ rút lui chiến lược kết hợp với chặn địch từng bước, không bỏ qua những địa hình có lợi để tổ chức giao chiến qui mô lớn. vừa rút lui kết hợp với cài cắm lực lượng ở vùng rằng núi Đông Bắc, vừa bám chặt những khu vực trọng yếu để tổ chức phản công. Điều đó khiến giặc Nguyên đã nhanh chóng bật bãi chỉ sau 5 tháng. Chứ nếu không có khi ta phải choảng nhau cả năm trời cũng nên, thế thì thiệt hại nặng vô cùng.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 23 Tháng Hai, 2012, 01:44:54 pm
Trong cuốn Quân thủy trong KC chống ngoại xâm, em đọc thấy có chỗ nói Toa Đô có 5000 quân là gần như sai chắc chắn (binh lực Cham Pa và Đại Việt trên chiến trường này là 4 vạn). Còn nói rằng 17 vạn thạch lương chia cho 70 tàu vận tải thì mới chỉ có 170 tấn/tàu. trong khi đó, ngay từ thời Hi Lạp - Rô ma, những tàu chở rượu vang của họ đã dài 40m, chở 350-400 tấn rồi mà. Ngược lại, nếu 70 vạn thạch lương thì mỗi tàu gánh 700 tấn, cũng chưa ổn lắm. bác nào có lời giải thích cho chuyện này chứ ạ?
Spam tí: bác macbupda cho em biết địa chỉ được chứ ạ? À mà có ai mua sách giúp em thì nhắn tin em một cái nhé, em cảm ơn nhiều.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: star trong 23 Tháng Hai, 2012, 02:14:26 pm
Câu tiếp theo là về số quân của cánh quân Tây Bắc, Wiki nói 1 ngàn (nhưng chắc thể thì cụ Duật diệt sạch rồi), tối thiểu 1 vạn.

Trong cuốn Quân thủy trong KC chống ngoại xâm, em đọc thấy có chỗ nói Toa Đô có 5000 quân là gần như sai chắc chắn (binh lực Cham Pa và Đại Việt trên chiến trường này là 4 vạn).

Tôi thấy bạn hay so sánh về lực lượng hai bên, rồi suy luận là vì số quân bên A là như này thì bên B ít ra phải thế này.

Tôi cho rằng cách suy luận như vậy là không chặt chẽ. Hiện nay, coi như ta đang nhìn được thông tin, số liệu và diễn biến từ cả hai phía, hồi đó thì mỗi bên chỉ biết về phía bên kia qua tin tức tình báo và việc điều quân, tiến - lui, ... còn phụ thuộc vào các mục đích chiến lược, chiến thuật cũng như những thay đổi, diễn biến liên tục của chiến trường.

Bên cạnh đó, việc dùng số quân ít hơn, viễn chinh hàng ngàn dặm, liên tục và nhanh chóng đánh bại đối phương có số lượng lớn hơn nhiều lần chính là truyền thống của quân Mông Cổ trong các thế hệ thứ nhất (Thành Cát Tư Hãn) và thứ hai (các con của Thành Cát Tư Hãn). Có thể đến đời Hốt Tất Liệt (đời thứ 3), quân Nguyên tuy đông hơn, tạp nham hơn, nhưng với những gì họ kế thừa từ các thế hệ trước thì việc đem "quân ít nhưng tinh nhuệ" đi viễn chinh là điều hoàn toàn hợp lý.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: quangcan trong 23 Tháng Hai, 2012, 03:21:30 pm
Trích dẫn
....Tôi thấy bạn hay so sánh về lực lượng hai bên, rồi suy luận là vì số quân bên A là như này thì bên B ít ra phải thế này.

Tôi cho rằng cách suy luận như vậy là không chặt chẽ....

nhất trí với bác,  ;D.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 23 Tháng Hai, 2012, 04:25:25 pm
Trong cuốn Quân thủy trong KC chống ngoại xâm, em đọc thấy có chỗ nói Toa Đô có 5000 quân là gần như sai chắc chắn (binh lực Cham Pa và Đại Việt trên chiến trường này là 4 vạn). Còn nói rằng 17 vạn thạch lương chia cho 70 tàu vận tải thì mới chỉ có 170 tấn/tàu. trong khi đó, ngay từ thời Hi Lạp - Rô ma, những tàu chở rượu vang của họ đã dài 40m, chở 350-400 tấn rồi mà. Ngược lại, nếu 70 vạn thạch lương thì mỗi tàu gánh 700 tấn, cũng chưa ổn lắm. bác nào có lời giải thích cho chuyện này chứ ạ?
Spam tí: bác macbupda cho em biết địa chỉ được chứ ạ? À mà có ai mua sách giúp em thì nhắn tin em một cái nhé, em cảm ơn nhiều.

Dòng màu đỏ: Bạn vẫn tiếp tục nêu ra những số liệu mà không hề nêu nguồn hay lập luận. Nguyên sử có ghi là trong một tờ chiếu Hốt Tất Liệt trách Đại Việt giúp Champa 2 vạn quân. Nhưng điều này có thể chỉ là vua Nguyên nghe tin phong thanh rồi kiếm cớ bắt bẻ gây sự với mình. Theo tôi đó chưa thể là chứng cớ vững chắc để kết luận về lực lượng (số quân và các hoạt động) của Đại Việt tham gia chống Toa Đô ở Champa.

Dòng màu xanh: Bạn đem đặc điểm tàu thuyền ở những khu vực rất xa nhau về địa lí và thời kì lịch sử, với những nhu cầu và truyền thống khai thác biển cũng như khả năng kĩ thuật rất khác nhau để thắc mắc sao lại không giồng nhau. Nó cũng như kiểu thắc mắc là bảo Tây Sơn đóng tàu lớn nhất chở được 50-60 đại bác là nói dối, hạ thấp, vì trước đó ở châu Âu người ta đóng đầy tàu chở 100 đại bác vậy. Bạn thử đọc kĩ lại chương I của cuốn Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm để tự giải đáp cho mình nhé.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 23 Tháng Hai, 2012, 04:57:28 pm
Dạ, binh lực của cham Pa - Đại Việt là lấy trong LSQS VN- Tập 4 ạ: ĐV chi viện số quân 2 vạn người, tương đương số quân chủ lực Cham pa khi đó. Bác thông cảm em chưa quen dẫn nguồn kiểu này.
Còn ngay từ những thế kỉ trước và đầu công nguyên họ đã làm được vậy, em nghĩ phải có cách giải thích hợp lí cho chuyện này. Còn đó cũng chỉ là phụ cho vấn đề lương thực thôi ạ.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: star trong 23 Tháng Hai, 2012, 05:18:16 pm
Dòng màu xanh: Bạn đem đặc điểm tàu thuyền ở những khu vực rất xa nhau về địa lí và thời kì lịch sử, với những nhu cầu và truyền thống khai thác biển cũng như khả năng kĩ thuật rất khác nhau để thắc mắc sao lại không giồng nhau. Nó cũng như kiểu thắc mắc là bảo Tây Sơn đóng tàu lớn nhất chở được 50-60 đại bác là nói dối, hạ thấp, vì trước đó ở châu Âu người ta đóng đầy tàu chở 100 đại bác vậy. Bạn thử đọc kĩ lại chương I của cuốn Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm để tự giải đáp cho mình nhé.

Còn ngay từ những thế kỉ trước và đầu công nguyên họ đã làm được vậy, em nghĩ phải có cách giải thích hợp lí cho chuyện này. Còn đó cũng chỉ là phụ cho vấn đề lương thực thôi ạ.

Bạn jasmine2011 nên tập cách "nghe" người khác nói, tôi thấy có vẻ bạn quen tranh luận với cái đầu rất nóng.
Tôi quote lại một đoạn trong chương I của cuốn Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, như gợi ý bên trên của bạn macbupda. Không biết bạn đã đọc trước khi viết bài trả lời ?
(lưu ý là sự xuất hiện những thuyền chiến cực lớn chỉ là trường hợp cá biệt)

http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,23288.msg346315.html#msg346315

Trong các quốc gia cổ đại ở bờ tây Thái Bình Dương, các nước thuộc khu vực Đông-Nam Á cổ đại (bao gồm từ phía nam sông Dương Tử trở xuống) đặc biệt phát triển quân thủy.

Nhưng cũng dễ nhận thấy quân thủy của các nước đó lập ra trước hết không phải xuất phát từ những mục tiêu quân sự trên biển, mà nhằm đáp ứng các nhiệm vụ quân sự trong đất liền. Ở đây rất hiếm thấy những trận hải chiến, song những trận thủy chiến lại diễn ra phổ biến trên sông, hồ. Thuyền chiến chủ yếu làm phương tiện cơ động cho quân đội trên sông, hồ, kích thước thường nhỏ, nhưng số lượng lại rất nhiều. Mái chèo vẫn là động lực chính của thuyền, nhưng khác với Địa Trung Hải, ở đây người chèo thuyền đồng thời là lính chiến đấu. Trang bị trên thuyền đơn giản, quân lính có giáo, lao, rìu, qua, cung nỏ và mộc. Có một số chiến thuyền làm thêm các tầng lầu cho lính cung nỏ, một số trang bị những phương tiện đánh hỏa công. Cá biệt có trường hợp xuất hiện những thuyền chiến cực lớn. Thuyền chiến ít có vũ khí riêng của mình như ta-ran và va-rôn ở Địa Trung Hải, nhưng truyền thuyết từng nói tới thuyền bọc đồng (đấu thuyền) và những máy nỏ có thể đã được đưa lên thuyền.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 23 Tháng Hai, 2012, 05:26:17 pm
Thôi ạ, ta qua vấn đề chính đi ạ: Trong KC lần 2, 3 vạn thạch lương chỉ đủ 50 vạn quân ăn 2 tuần là tối đa. Trong kháng chiến lần 3, con số 17 vạn thạch đủ cho 2 đến 4 tháng, theo em chưa đáp ứng được yêu cầu đánh lâu dài tại đây. Do vậy nên em nghĩ phải là 70 vạn thạch, đủ ăn no nê trong 8 tháng và ăn dè 1 năm rưỡi


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: chiangshan trong 23 Tháng Hai, 2012, 08:13:42 pm
Thực ra cũng có thể đặt giả thuyết theo hướng là cánh quân đánh Chiêm Thành có mục đích ban đầu không phải đánh tiêu diệt, chiếm đóng mà là đánh dằn mặt, tạo áp lực.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: huyphongssi trong 23 Tháng Hai, 2012, 09:16:42 pm
Thôi ạ, ta qua vấn đề chính đi ạ: Trong KC lần 2, 3 vạn thạch lương chỉ đủ 50 vạn quân ăn 2 tuần là tối đa. Trong kháng chiến lần 3, con số 17 vạn thạch đủ cho 2 đến 4 tháng, theo em chưa đáp ứng được yêu cầu đánh lâu dài tại đây. Do vậy nên em nghĩ phải là 70 vạn thạch, đủ ăn no nê trong 8 tháng và ăn dè 1 năm rưỡi
Quân Nguyên Mông có 2 loại: loại xuất thân từ dân du mục thì tự cấp tự túc lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, loại xuất thân định cư cấy trồng thì mới lệ thuộc nhiều vào lương ăn. Ngoài ra khi viển chinh còn phải lo lương ăn cho dân phu hậu cần nửa.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 24 Tháng Hai, 2012, 06:56:49 am
Nhưng điều làm em dằn vặt nhất vẫn là chuyện tay Trần Kiện đầu hàng. Nguyên một sư đoàn chiêu hồi Toa Đô, mà là chiêu hồi cái đạo quân đã thất bại nhục nhã ở trong Nam. Núi rừng Thanh Hóa thiếu gì chỗ cho chúng mày đánh địch? Tại sao hèn thế?


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: spirou trong 24 Tháng Hai, 2012, 08:46:26 am
Nhưng điều làm em dằn vặt nhất vẫn là chuyện tay Trần Kiện đầu hàng. Nguyên một sư đoàn chiêu hồi Toa Đô, mà là chiêu hồi cái đạo quân đã thất bại nhục nhã ở trong Nam. Núi rừng Thanh Hóa thiếu gì chỗ cho chúng mày đánh địch? Tại sao hèn thế?
Hèn thì không dám chắc, nhưng " thù" thì đúng hơn. Kiện là con Trần Doãn, cháu nội An Sinh. Vậy có thể liên quan đến mối rắc rối: Thái Tông- An Sinh. Trần Doãn từng bỏ chạy sang Tống rồi bị trả lại. Như vậy Kiện vẫn còn ấm ức trong lòng.

Ngoài ra Trần Kiện còn có mâu thuẫn với Trần Đức Việp là em Nhân Tông.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 24 Tháng Hai, 2012, 01:28:16 pm
Thì ra là thế, mình tìm hiểu còn ít quá.
Tối qua,em đã ngồi nói chuyện với thầy Vũ Văn Quân ở ĐHKH XH và NV, cũng ra kha khá thứ hay. Có vài bài nghiên cứu trên Chi hội lịch sử của trường,bác nào rỗi có thể vào đọc.
http://khoalichsu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=285:internet&catid=25:bai-vit&Itemid=33 (http://khoalichsu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=285:internet&catid=25:bai-vit&Itemid=33)


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: hoangphi trong 18 Tháng Năm, 2012, 09:46:19 pm
việc quân trong cuộc kháng chiến thứ hai chắc các bạn cũng đã rõ mình xin nói thêm về phần Ngoại Giao trước và sau đó.....

Tháng 4 năm 1279, khu mật viện Nguyên xin Hốt Tất Liệt cho quân đi đánh Đại Việt. Nhưng y mới diệt xong Nam Tống, còn phải lo ổn định tình hình Trung Quốc nên còn tính ép thêm vua Trần về ngoại giao.

Y ra lệnh sứ Đại Việt là Trịnh Đình Toán rồi sai Sài Thung và binh bộ thượng thư Lương Tằng sang Đại Việt truyền đạt lệnh của Hốt Tất Liệt: “Nếu quả thật không tự vào ra mắt được thì lấy vàng thay thân, hai hạt châu thay mắt, thêm vào đó lấy hiền sĩ, phương kỷ, con trai, con gái, thợ thuyền, mỗi loại hai người để thay cho sĩ nhân. Nếu không thì hãy tự sửa thành trì mà đợi xét xử” .

Lời đe doạ không làm vua Trần nao núng, Hốt Tất Liệt bèn tính kế khác: cách chức vua Trần, phong Trần Di Ái làm An Nam quốc vương và cho 1.000 quân hộ tống về nước. Hốt Tất Liệt hy vọng phương án này tốt hơn là gây một cuộc chiến tranh mới. Nhưng đội quân hộ tống bị quân Trần đánh tan, Trần Di Ái trốn về nước, kế hoạch này thất bại.
................................
Đến gần Vạn Kiếp, Thoát Hoan thấy quân Đại Việt tập trung đông liền dừng lại và cho đóng chiến thuyền giao tướng Ô Mã Nhi (Omar) thống lĩnh, trên đường tiến quân, Ô Mã Nhi nhặt được thư của vua Trần gửi cho Thoát Hoan và phó tướng Aric khuya nói:

“Chiếu trước nói là “lệnh cho quân ta không vào nước người” thế mà nay lấy cớ nước Chiêm Thành đã thần phục lại phản, đem đại quân qua nước tôi, tàn hại trăm họ, đó là việc làm của thái tử sai lầm chứ không phải nước tôi sai lầm, xin đừng làm khác với chiếu trước, rút lui đại quân”…

Aric khuya giao cho Nguyễn Vân Hàn, sứ ta đã bị nhà Nguyên giữ, một bức thơ dụ dỗ vua Trần ra lệnh rút quân, mở đường, khuyên bảo trăm họ ai nấy cứ làm ăn sinh sống, quân ta đi qua không mảy may xâm phạm. Thế tử (tức vua Trần - TG) hãy ra đón Trấn Nam vương cùng bàn việc quân, nếu không đại quân sẽ dừng lại An Nam, mở phủ”.
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
Thoát Hoan, Aric Khuya và Ô Mã Nhi tiến về Gia Lâm và Đông Bộ Đầu (Bến ngang phố Hàng Than, Hà Nội hiện nay) rồi dừng lại ở đó. Đích thân vua Trần chỉ huy trận này. Ngày 17 tháng 2 vua Trần cử Khắc Chung sang trại ô Mã Nhi đưa thư vờ cầu hoà để điều tra tình hình địch.

Ô Mã Nhi hỏi:

- Tại sao vua Trần đã sai lính khắc chữ “Sát Thái ‘ vào tay?

Đỗ Khắc Chung trả lời:

- Chó nhà cắn người không phải là chủ nó, vì lòng trung phẫn mà họ thích vào, quốc vương không biết việc đó. Lại hỏi :

- Đại quân từ xa đến, nước ngươi tại sao không quay đầu đến tương kiến, lại còn chống mệnh. Bọ ngựa dám chống xe, liệu sẽ thế nào?

Đáp:

- Hiền tướng không thi hành chính sách của Hàn Tín bình nước Yên, đóng quân ở đầu biên giới, trước hết đưa thư nếu không thông hiểu thì mới có lỗi. Nay lại bức bách nước tôi, người ta nói thú cùng thì chống lại, chim cùng thì mổ lại, huống chi là người .

Ô Mã Nhi nói:

- Đại quân mượn đường để đánh Chiêm Thành, quốc vương nên đến hội kiến thì trong nước vẫn được yên ổn, một chút gì cũng không phạm đến.  Nếu cứ mê muội thì chỉ trong chốc lát, núi sông sẽ thành đất bằng.

Đỗ Khắc Chung ngủ đêm trong trại Mông Cổ, sáng^hôm sau mới về. Sau khi Đỗ Khắc Chung đi rồi, Ô Mã Nhi nói:

- Người này ở vào thế bị uy hiếp mà lời lẽ tự nhiên, không hạ chủ là Chích, không nịnh ta là Nghiêu, chỉ nói: “Chó nhà cắn người”, giỏi ứng đối, có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước này có những người như thế, chưa dễ chiếm được.
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
Liền sau khi Thoát Hoan rút quân về nước, vua Trần cử trung đại phu Trần Khắc Dựng, tòng nghĩa lang Nguyễn Mạnh Thông đi sứ mang biểu dâng vua Nguyên. Tờ biểu lời lẽ mềm dẻo, không đả kích thiên triều, đổ lỗi cho Aric Khuya và nêu chính sách nhân đạo của ta đối với tù binh Nguyên.
Trong biểu vua Nguyên đe doạ:

“Khanh thử nghĩ, trốn tránh ở xứ lãnh ngoại, không nghĩ đến nỗi hoạ kinh qua, chi bằng đến sân chầu mà phục mệnh thì được sủng ái và về nước một cách vinh dự, trong hai điều ấy khanh hãy chọn lấy một điều để xét điều nào là hơn. Nếu khanh không nghĩ nhầm thì quan hệ đến sự tồn vong của cả xứ khanh” 1.

Vua Trần vẫn từ chối sang chầu và cử các đại phu Đàm Minh, Chu Anh Chung đi cùng bọn Lưu Đình Trực, Lý Tơ Diễn mang chiếu sang Nguyên. Vua Trần tích cực chuẩn bị về quân sự. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn được cử làm tổng chỉ huy. Việc tập luyện của quân ta được đẩy mạnh. 
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,

Tóm lại.... từ cuộc kháng chiến thứ nhất đến thứ 2 là cách nhau 25 năm....cũng đủ biết tài năng ngoại giao của ta lúc bấy giờ thế nào.......Nhà Nguyên trước khi đánh Đại Việt cũng phải chọn ngày "lành" mà xuất quân đấy...


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: phamtrantuan trong 11 Tháng Bảy, 2012, 12:46:10 pm
http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=24592

Bác nào có nhu cầu nghiên cứu thì có thể tham khảo cuốn này của bác HÀ Văn Tấn.Có thể nói cách nghiên cứu của ông rất chuyên nghiệp,nghiên cứu sử liệu Đông Tây Kim Cổ,phản biện cứ gọi là quên chết.Rất nhiều điều mới mẻ về cuộc kháng chiến trong cuốn sách này.

Yevon diễn đàn lịch sử Việt Nam có nhiều recommend cho cuốn sách này.

Trích dẫn
toàn bộ tài liệu về 3 cuộc kháng chiến chống MC thì đọc 3 lần kháng chiến chống Nguyên Mông của Hà Văn Tấn ấy
- Yevon

Trích dẫn
nghiên cứu thời này thì phải coi cuốn " 3 lần kháng chiến chống Nguyên Mông" của Hà Văn Tấn, đã tham khảo Nguyên sử, các văn bia từ TQ với VN, chứ Tây thì hiểu chiến dịch này được bao nhiêu mà đọc?
- yevon

Trích dẫn
Một số người khác tôi cũng thích như Hà Văn Tấn-Phạm Thị Tâm tác giả cuốn sách "Cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thế kỷ XIII".GS Hà Văn Tấn cũng viết nhiều cuốn sách có uy tín khác.Các vị khác cũng có đọc qua nhiều nhưng không thấy đọng lại gì về bản sắc của tác giả.


Trích dẫn
Nên nhớ những cuốn sách giá trị nhất như "Lý Thường Kiệt & Lịch Sử Ngoại giao và tông giáo triều Lý" hay " 3 lần kháng chiến chống Nguyên - Mông" toàn nhờ đi thực địa từ TQ sang VN, gom cả sách sử của Trung Đông về đọc thì toàn là 4 cụ kia làm thôi. Ngay cả chuyện phát hiện ra giặc Ngưu Hống, Cử Long thực chất là người Thái, thờ rắn ( Ngưu Hống = rắn hổ mang; Cử Long = C'Long = rắn ngóc đầu) thì cũng là bác Hà Văn Tấn.


-yevon-


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: xaydungtoquoc trong 07 Tháng Giêng, 2013, 06:17:20 pm
Kháng chiến chống nguyên mông là một trong những cuộc đấu tranh quân sự mà cháu "kết" nhất ở thời kì phong kiến thịnh vượng của nước ta (thời lý - trần). Cháu xin được mở lại nghi vấn về quân số của cánh quân Toa Đô.
Theo lý luận cá nhân của cháu thì quân số đạo quân này chắc chắn không thể thấp hơn hoặc bằng 5000 được vì những lý do như sau
- Nếu Toa Đô chỉ mang có 5000 quân thì tức là những binh sĩ đó phải là những thành phần cực kỳ tinh nhuệ, thì mới có thể liên tiếp đẩy lùi Trần Quang Khải về phía bắc, tạp thế gọng kìm. Tuy nhiên, những thành phần cực kỳ tinh nhuệ trong quân đội nhà Nguyên thì chỉ có những kỵ binh Mông Cổ chính gốc, mà trong tác chiến thủy quân thì không bao giờ có ai mang ngựa lên thuyền để đi dài ngày vì lí do an toàn trên tàu, với lại những người mạnh nhất thì chắc chắn sẽ được biên chế ở bộ phận chủ lực để đạt được sức cơ động tối đa (nếu đi với quân yếu thì sẽ bị chặn liên tục, không đến kịp được mặt trận). Từ đó suy ra thì quân Toa Đô là quân Hán. Như vậy thì sẽ cần một lực lượng quân đông hơn để áp đảo được quân Đại Việt về sức mạnh quân sự.
- Toa Đô phải mang ít nhất là 100 thuyền trở lên. Nếu xét số lượng thuyền tối thiểu là 100 thì mỗi thuyền chỉ chở có 50 người. Như thế thì chỉ đủ để chèo thuyền. Nếu bị bất ngờ tập kích thì khả năng sống sót gần như là không có.
Mong các bác góp thêm ý kiến.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: jasmine2011 trong 10 Tháng Giêng, 2013, 02:40:42 pm
Cũng khó nói lắm bạn à
ở mặt trận này, chúng ta tung vào 2 vạn quân, chưa kể 2 vạn quân chủ lực của Chăm Pa.
nếu Toa Đô mang theo ít quân, sẽ không thể đánh lại quân ta được. Mà khí hậu miền Trung bạn biết quá rồi!
còn nếu mang nhiều quân, thì vấn đề lương thực sẽ rất khó giải quyết.

Kịch bản mà mình đưa ra: Đó là Toa Đô mang sang 1 vạn quân! lực lượng ta tiến hành chặn đánh, bao vây từng bước để diệt địch. Thì bất ngờ, Trần Kiện tung quân đánh úp từ đằng sau lưng! với 1 vạn quân Trần Kiện đánh ép từ mặt sau, chính lực lượng của thái sư Trần Quang Khải mới đang bị vây, đó là nguyên nhân khiến chúng ta bị mất thế trận và phải rút lui!


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: star trong 31 Tháng Mười Hai, 2013, 10:59:09 pm
Về chiến thuật của tướng giặc Ngột Lương Hợp Thai trong trận Bình Lệ Nguyên (1258)

Ngột Lương Hợp Thai dặn tướng tiên phong Triệt Triệt Đô:

“Quân ngươi khi đã qua sông, đừng đánh chúng vội, chúng tất đến chống lại quân ta. Phò mã theo sau cắt hậu quân của chúng, ngươi rình cướp lấy thuyền. Quân man nếu tan vỡ chạy ra sông không có thuyền tất bị ta bắt”.
(Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII
Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, NXB Khoa Học Xã Hội, 1975)


I. Mở đầu.

Năm 1251, Mông Kha (Mông-ke), con Đà Lôi (Tô-lui), cháu Thành Cát Tư Hãn, được tôn lên làm Đại Hãn Mông Cổ. Tiếp tục công cuộc chinh phạt từ các thế hệ trước, một trong những mục tiêu trước tiên của Mông Kha là tiêu diệt Nam Tống. Để chuẩn bị cho quá trình chinh phạt, từ năm 1252, Hốt Tất Liệt (Qubilai) (em trai Mông Kha) cùng với viên tướng Ngột Lương Hợp Thai (U-ry-ang-kha-đai) được lệnh tiến đánh vùng tây nam của Nam Tống, khi đó là nước Đại Lý. Năm 1253, kinh đô của Đại Lý bị đánh chiếm, sau đó Hốt Tất Liệt quay về bắc, còn Ngột Lương Hợp Thai tiếp tục quá trình chinh phạt. Năm 1254, vua Đại Lý là Đoàn Hưng Trí bị bắt và đầu hàng. Cho đến năm 1256 thì toàn bộ vùng Vân Nam ngày nay bị quân Mông Cổ bình định và cai trị.

Năm 1257, Mông Kha bắt đầu phát động chiến dịch tiêu diệt Nam Tống. Ngột Lương Hợp Thai được lệnh đánh chiếm Đại Việt để từ đó đánh ngược lên vào châu Ung (Nam Ninh), châu Quế (Quế Lâm). Ngột Lương Hợp Thai đã sử dụng hơn hai vạn rưởi quân, bao gồm kị binh Mông Cổ và hàng binh Đại Lý. Trước khi tiến quân vào Đại Việt, một số tên sứ giả đã được phái đi chiêu dụ. Tuy nhiên, nhà Trần đã không chịu khuất phục trước kẻ thù khổng lồ đang làm mưa làm gió trên khắp lục địa Á – Âu, quyết tâm bảo vệ nền tự chủ với hào khí Đông A quật cường. Các viên sứ giả xấc xược đều bị bắt giam, vua tôi nhà Trần sẵn sàng kế hoạch kháng chiến.

Chiêu dụ bất thành, Ngột Lương Hợp Thai theo trục sông Thao ồ ạt tiến quân xuống phía nam. Ngày 12 tháng chạp năm Đinh Tị (17/01/1258), tức năm Nguyên Phong thứ bảy, Ngột Lương Hợp Thai tiến đến vùng Bình Lệ Nguyên (Vĩnh Phúc), thấy quân chủ lực của nhà Trần đã dàn sẵn trên một cánh đồng cao, bên bờ nam một nhánh sông Cà Lồ, quân Mông Cổ đã dừng lại bên bờ bắc. Trận chiến đầu tiên giữa quân chủ lực nhà Trần và quân Mông Cổ chuẩn bị bắt đầu.

Ngột Lương Hợp Thai chia quân làm 3 đội, tiên phong do viên tướng Triệt Triệt Đô (Trê-trếch-đu) chỉ huy, Ngột Lương Hợp Thai thống lĩnh trung quân, còn hậu quân giao cho phò mã Hoài Đô (Khai-đu) và con y là A-Truật (A-ju). Ngột Lương Hợp Thai đã vạch kế hoạch cho Triệt Triệt Đô như sau:

"Quân ngươi khi đã qua sông, đừng đánh chúng vội, chúng tất đến chống lại quân ta. Phò mã theo sau cắt hậu quân của chúng, ngươi rình cướp lấy thuyền. Quân man nếu tan vỡ chạy ra sông không có thuyền tất bị ta bắt".

Vào những năm cuối cấp 2, khi lần đầu  tiên đọc đoạn trích này trong cuốn "Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII", tôi cảm thấy đoạn này khá khó hiểu, nguyên nhân chủ yếu là do không rõ vị trí đóng quân và vai trò của thủy binh nhà Trần. Sau này, đọc thêm một số tài liệu khác viết về trận Bình Lệ Nguyên, tôi đều không tìm được cách lí giải rõ ràng. Gần đây, đọc cuốn "Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,23288.0.html)" (Nguyễn Việt chủ biên, NXB Quân Đội Nhân Dân, 1983) do bạn ùi số hóa trong mục "Cha ông ta đánh giặc" của diễn đàn, tôi đã tìm được bản đồ minh họa địa thế vùng Bình Lệ Nguyên, và đặc biệt trong đó có xác định rõ vị trí đóng quân của thủy quân nhà Trần. Tuy nhiên, trong cuốn sách này các tác giả chủ yếu tập trung vào việc phân tích vai trò của quân thủy mà không đi sâu chi tiết vào diễn biến của toàn bộ trận đánh. Dù không trực tiếp tìm thấy câu trả lời cho thắc mắc của mình, tôi cũng rất cảm ơn nhóm tác giả về tấm bản đồ, vì dựa vào đó, tôi đã rút ra được một cách diễn giải khá hợp lý cho đoạn trích trên, cũng có nghĩa là hiểu rõ hơn về chiến thuật mà Ngột Lương Hợp Thai dự định sử dụng để phá thế trận của quân Trần.

Tất nhiên, đây cũng chỉ là quan điểm của cá nhân tôi, tôi không dám chắc là những gì mình nghĩ là đúng, nhưng ít ra là tôi cảm thấy cách lí giải của mình khá là rõ ràng, và có sự tương quan, phù hợp giữa địa thế chiến trường và thế trận của hai bên.  

II. Lý giải chiến thuật của Ngột Lương Hợp Thai


(http://i1238.photobucket.com/albums/ff481/starqsvn/VMH/BinhLeNguyen_NgotLuongHopThai800px_zpsfa89e14f.png)


Hình vẽ phía trên bao gồm 4 phần, bắt đầu từ Hình 1 là Bản đồ vùng Bình Lệ Nguyên tôi chép lại từ chương 7 cuốn "Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm" (http://www.vnmilitaryhistory.net/index.php/topic,23288.msg350494.html#msg350494). Trên bản đồ gốc (http://img849.imageshack.us/img849/8334/tranbinhlenguyen.jpg) còn có cả minh họa quá trình tiến lui của quân hai bên, nhưng tôi chỉ chép lại phần địa thế chiến trường và vị trí đóng quân hai bên trước trận đánh. Trong các hình 2, 3, 4 tôi sẽ minh họa và diễn giải một "trận đánh tưởng tượng" mà tôi cho rằng đó chính là ý đồ chiến thuật của Ngột Lương Hợp Thai:

Hình 2: Triệt Triệt Đô dẫn quân tiên phong sang sông ở phần hạ lưu, ứng với sườn phía đông của quân ta (khu vực Cự Thôn trên bản đồ), nhưng không tấn công mà tìm mọi cách khiêu khích, nghi binh, quấy nhiễu, … dụ cho đại quân nhà Trần đến đánh. Nếu quân Trần mắc mưu địch thì thế trận sẽ chuyển từ thế phòng ngự mặt bắc sang chiều di chuyển từ tây sang đông.
 
Hình 3: Đại quân nhà Trần bị “kéo dài ra”, di chuyển theo trục tây – đông. Trung quân của giặc do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy sẽ ồ ạt vượt sông theo chiều từ bắc xuống nam, tấn công tạt sườn khi quân Trần đang vận động. Nếu điều này xảy ra, với sức cơ động và thiện chiến của kị binh, quân Mông Cổ có thể dễ dàng chia cắt quân Trần ra thành nhiều cụm nhỏ để bao vây, tiêu diệt.

Lúc này cánh quân của ta đóng ở rìa phía tây sẽ trở thành hậu quân. Hậu quân của ta vận động theo chiều tây - đông chi viện cho trung quân thì bị hậu quân của địch do Hoài Đô và A Truật chỉ huy vượt sông tiến sang ngăn chặn.

Hình 4: Cánh tiên phong của Triệt Triệt Đô không chú trọng giao chiến với đại quân nhà Trần mà chờ thời cơ tiến thẳng xuống bến Lãnh Mỹ cướp chiến thuyền, nếu không cướp được thuyền thì ít ra cũng đánh đuổi quân giữ thuyền và chặn đường rút của quân chủ lực ta.

Nếu toàn bộ diễn biến trận đánh như trên thì việc Ngột Lương Hợp Thai trong một trận đánh tan quân chủ lực nhà Trần tại Bình Lệ Nguyên là hoàn toàn có thể.

 Cũng xin lưu ý lại rằng toàn bộ phần trên đây là tôi muốn dựng lại mưu đồ chiến thuật của viên tướng Ngột Lương Hợp Thai dựa trên câu nói của y với viên tướng tiên phong và tấm bản đồ vùng Bình Lệ Nguyên với các vị trí đóng quân của hai bên trước khi khai chiến. Tôi không hề áp đặt ý kiến chủ quan của mình theo kiểu: quân ta phải đánh thế này, quân địch phải đánh thế kia (đánh trận bằng bàn phím).

III. Diễn biến thực tế
Thay vì thực hiện đúng như chiến thuật của Ngột Lương Hợp Thai, viên tướng hiếu chiến Triệt Triệt Đô đã tiến công ngay vào thế trận của ta sau khi sang sông. Thế trận của ta không bị "kéo dãn" ra theo hướng tây - đông mà vẫn tụ lại một chỗ. Các toán quân Mông Cổ phía sau tiếp tục vượt sông tấn công trực tiếp vào thế trận của ta.

Do thế trận của ta không loạn, nên cánh quân của Triệt Triệt Đô cũng không thể nào chớp nhoáng tấn công thẳng xuống bến Lãnh Mỹ như dự kiến. Tôi cũng chưa tìm được đoạn nào trong các sách sử ghi là quân Mông Cổ có giao chiến với quân giữ thuyền ở bến Lãnh Mỹ, chúng chỉ đuổi đến bến sau khi vua Trần Thái Tông đã lên thuyền.

Tuy nhiên, thế trận của ta vẫn bị lấn dần, và thật sự là quân Mông Cổ đã thắng trong trận chiến đối đầu này. Nhận thấy tình thế bất lợi, Lê Tần đã khuyên vua Trần Thái Tông rút lui để bảo toàn lực lượng. Mặc dù đã có những lúc cấp bách, có thể nói là suýt bị đuổi kịp, nhưng về cơ bản đó là sự rút lui bài bản bằng thuyền, với những cánh quân ngăn chặn, đoạn hậu, như đã liệu trước.

Giặc tuy thắng một trận nhưng không tiêu diệt được chủ lực và bộ chỉ huy của ta. Mặc dù vẫn phải tạm rời khỏi Thăng Long lui về Thiên Mạc, nhưng khi thời cơ đến thì quân ta đã phản công chiến lược, bắt đầu bằng trận thắng ở Đông Bộ Đầu và sau đó truy kích đuổi toàn bộ quân giặc ra khỏi bờ cõi, kết thúc thắng lợi cuộc Kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất.

IV. Kết luận
Tôi không phải là một người tìm hiểu về lịch sử một cách chuyên nghiệp, đây chỉ là một sở thích cá nhân. Đôi khi đọc sách thấy có những gì còn chưa được thỏa đáng thì cũng lưu tâm, để ý và cũng tự mày mò tìm hiểu thêm nhằm tìm ra thêm những cách lí giải hoặc kết luận của riêng mình. Những điều suy luận phía trên của tôi cũng chỉ là việc đặt lại chữ "nếu" cho lịch sử:

"Chiến thuật của Ngột Lương Hợp Thai trong trận Bình Lệ Nguyên nếu được triệt để thi hành (và nếu quân Trần mắc bẫy khiêu khích) thì hoàn toàn có thể phá vỡ thế trận, đồng thời ngăn chặn sự rút lui bằng đường thủy của quân Trần. Chính sai lầm hiếu thắng của Triệt Triệt Đô đã dẫn đến việc quân Mông Cổ tuy thắng trận nhưng không đạt được mục tiêu chiến lược hàng đầu là nhanh chóng đánh tiêu diệt và bắt hàng vua Trần."

Nhưng lịch sử thì không có chữ nếu. Diễn biến thực sự của trận Bình Lệ Nguyên đã được ghi lại rõ ràng trong sách sử: viên tướng giặc Ngột Lương Hợp Thai đã không thu được thắng lợi chiến lược như dự kiến ban đầu. Thất bại một trận nhưng không nản lòng, vua tôi nhà Trần tiếp tục sát cánh cùng quân dân cả nước chiến đấu và đạt được thắng lợi cuối cùng, để hậu thế sau này còn mãi nhớ ghi về một chiến công hào hùng của cha ông trong trang sử hàng ngàn năm dựng nước – giữ nước:

"Người lính già đầu bạc,
Kể mãi chuyện Nguyên Phong"

(Xuân Nhật Yết Chiêu Lăng, Trần Nhân Tông)


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: tieuthienvuong trong 19 Tháng Ba, 2014, 02:46:27 pm
Nhưng điều làm em dằn vặt nhất vẫn là chuyện tay Trần Kiện đầu hàng. Nguyên một sư đoàn chiêu hồi Toa Đô, mà là chiêu hồi cái đạo quân đã thất bại nhục nhã ở trong Nam. Núi rừng Thanh Hóa thiếu gì chỗ cho chúng mày đánh địch? Tại sao hèn thế?
Hèn thì không dám chắc, nhưng " thù" thì đúng hơn. Kiện là con Trần Doãn, cháu nội An Sinh. Vậy có thể liên quan đến mối rắc rối: Thái Tông- An Sinh. Trần Doãn từng bỏ chạy sang Tống rồi bị trả lại. Như vậy Kiện vẫn còn ấm ức trong lòng.

Ngoài ra Trần Kiện còn có mâu thuẫn với Trần Đức Việp là em Nhân Tông.

Mình thấy nhiều tài liệu sử ghi rằng Chương Hiến hầu Trần Kiện là con của Tĩnh Quốc Vương Trần Quốc Khang chứ ko phải là con của Trần Doãn. Còn việc Kiện ra đầu hàng là chính xác, nhưng dẫn bao nhiêu quân ra đầu hàng thì ko ghi rõ, và trong sử cũng k ghi là quân Nguyên tổ chức dc 1 đạo ngụy quân nào ở Đại Việt. Trên đường chạy sang TQ, Kiện đã bị danh tướng Nguyễn Địa Lô bắn chết


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2017, 09:47:39 pm
Các bác nào có hứng thú với chủ đề này hẳn nếu không đọc hết thì cũng có biết tác phẩm tiêu biểu của tác giả Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm: "Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII". Trong tác phẩm này, các tác giả có nêu lên vấn đề thiếu thống của các nguồn sử liệu khi nghiên cứu, và cố gắng bổ sung bằng việc tìm tòi trong các bi kí, minh văn thời Trần. Trong số các bi kí, minh văn đó có bài minh trên quả chuông Thông Thánh quán Bạch Hạc năm 1321.

Em xin giới thiệu rõ hơn toàn bộ nội dung bài minh đó ở đây.

Phần text chữ Hán và phần phiên âm (chữ màu xanh) lấy nguồn từ trang thivien.net

Phần giới thiệu thông tin về chuông, bản dịch và phần ảnh chụp bản dập lấy từ sách "Văn bia thời Trần" của Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, xuất bản năm 2016.

Chuông quán Bạch Hạc Thông quán thuộc xã Bạch Hạc, huyện Bạch Hạc, tỉnh Phú Thọ, đúc vào niên hiệu Đại Khánh thứ 6 thời Trần (1319). Chuông hiện không còn, chỉ có thác bản do EFEO làm trước năm 1945, kí hiệu thác bản 49997-50001 và 13955-13958 tại Viên Nghiên cứu Hán Nôm (Có hai quả chuông được đúc mới treo tại quán Bạch Hạc).

Theo bản dập thì chuông này có cấu trúc đẹp. Thân chuông cao 0,60m, chưa kể ở phía dưới, chiều ngang thân chuông là 0,35. Với cấu tạo này, chuông Bạch Hạc gần giống những quả chuông thời Trần khác. Bụng chuông có nhỏ dần về óc chuông, được chia ra làm 8 vạt ngăn cách nhau bằng những đường gờ dọc và ngang. Bốn vạt trên của chuông, có một bài minh dài, gồm hơn 1.000 chữ khắc chìm, ghi chép về việc đúc chuông ở Thông Thánh quán tại Bạch Hạc (Bạch Hạc Thông thánh quán chung ký) và ghi lại lịch sử những người Bắc quốc lánh nạn và cuộc đấu tranh chống Nguyên của họ bên cạnh những người Việt Nam.

Bài minh này do Hứa Tông Đạo – một tín đồ Đạo giáo, nguyên quán tại huyện Fuqing thuộc tỉnh Phúc Kiến soạn. Ông đã quyết định rời bỏ đất nước của mình bị quân Nguyên xâm chiếm cùng những người khác lánh đến Việt Nam để sinh sống. Năm 1285, sau khi cùng người Việt Nam đẩy lùi quân xâm lược Mông Cổ, Hứa Tông Đạo lại tiếp tục hành đọa. Ông kể lại, tại sao sau này ông có ý muốn tu sửa lại Thông Thánh quán vốn được xây dựng từ thời Vĩnh Huy nhà Đường (650-655) để thờ phụng “Tam Thanh” sau khi đã đổ nát; tại sao ông nghĩ tới việc đặt ở đó một quả chuông, và cuối cùng ông đã nhận được sự cúng tiến về tài chính cuản hững người trong hoàng gia như thế nào.

白鶴通聖觀鐘記

桉趙公記云:唐永徽中,以阮常明為峰州都督,睹其土地千里,江山襟帶,於白鶴外建通聖觀,置三清像以為奇偉。別開前後二【广莫】,擬塑護觀神像,未辨孰靈,焚香祝曰:此間神祇,苟能顯靈者,早現形狀吾知塑樣。夜夢兩箇異人,面貌層稜,並擁徒屬相呵相凌,趍常明爭居觀前。

常明問之:汝名字為誰?一稱土令,一稱石卿。常明曰:請試,孰藝勝者,前居。石卿跳躑一步到那邊江,忽然已見土令以那邊江住。石卿再跳一步復這邊江,已見土令先這邊住。於是土令得焉。即今敕封武輔忠翊威顯王是也。

自唐至今,千百餘載。其地傑神靈,祈禱報應,古今一也。

向者,陳朝第二帝太宗皇帝,丙子年間,治道太平,四方向化。時有大宋國,福建路福州福清縣太平鄉海壇里道士許宗道,同流附舶乘興入南。

時太宗皇帝第六子昭文王,今入內檢校太尉平章事,清化府路都元帥,賜金魚袋,上柱國開國王,心懷大道,性重宋人,相留宗道於門墻,期以闡揚於道教。

甲申冬季,北寇來侵!時開國王鎮守宣光諸路,同許宗道曾於乙酉上元,在白鶴江剪髮立誓與神為盟盡以心忠其報君上。遂率左右,單騎前趍。纔歷蠻獠韃軍後至,八刻之內,彼此不逢。直至御前朝侍駕右率集軍士斬馘唆都。

仲夏中旬,韃軍敗散,皆托神王之福蔭也。

自後數載,開國王屢修黃籙,許宗道主行,數投簡於傘圓山頂,進龍璧於白鶴靈淵。啟白道前經由祠下,見其宮觀漸已傾頹,兼乏洪鐘晨昏警悟,心欲鑄造,力所未能。

後有天瑞長公主陳迺第三帝聖宗皇帝長皇姬也,掌管白鶴鄉民,曾出已財買置梓料重造一新。自天瑞長公主身薨之後,其鄉民,地土盡屬第五帝英宗皇帝長皇姬天真長公主之所管。薄稅減役,恤苦愛民,一鄉之生靈,莫不拜其恩矣。

奈何天人下世,不肯久延,二十有家,因胎遇疾。彼時許宗道恭詔命代為祈禳,救治百端,難逃大限。昇沉莫測,超度無因。

此後英宗皇帝太上皇太后以天真長公主己分金銀,盡皆布施,就供養太清宮生金五十兩。

不其庚申春暮,英宗皇帝雲駕已僊!時許宗道架造太清宮,梓工未畢。情痛何依,思難報於君天,念欲修其善果。

辛酉春,許宗道鑄造太清宮洪鐘,再蒙太上皇太后委付堂主寶雲公主陳,取天真長公主己銀三十三兩,計錢五百緡,親受許宗道供養緣司為天真長公主前程之福果也。

又遇嘉林弟文惠王代為天真長公主布施孤貧及諸寺觀。再供養太清宮金銀計錢二百緡。

今許宗道累蒙供養欲廣其恩,除已助緣太清宮外,再以天真長公主分所施之資,收買銅錫,投請入內檢校太尉開國王主盟,就石棟.......鑄造洪鐘一口供養.......于以報.......之厚德,于以酬.......主之深恩。然願.......增崇福果,廣衍金枝。伏為天真長公主陳,伏此鑄鐘功德,滌除五漏之色身。超測三清之淨戒。仍為天瑞長公主陳證向時造觀之良因,銷歿後無邊之業垢。再為大道法門神王祠下祈.....之香火,保扶合國之人員。仰祝今上皇帝聖壽無疆,福基.....。冀開國王陳善心永固,晚壽增延。許宗道等及一切有情俱霑福蔭。

峕皇越陳朝第六帝大慶
.......
許宗道謹誌

Bạch Hạc Thông Thánh quán chung ký

Án Triệu công ký vân: Đường Vĩnh Huy trung, dĩ Nguyễn Thường Minh vi Phong Châu đô đốc, đổ kỳ thổ địa thiên lý, giang sơn khâm đới, ư Bạch Hạc ngoại kiến Thông Thánh quán, trí tam thanh tượng dĩ vi kỳ vĩ. Biệt khai tiền hậu nhị mạc, nghĩ tố hộ quán thần tượng, vị biện thục linh, phần hương chúc viết: "Thử gian thần kỳ, cẩu năng hiển linh giả, tảo hiện hình trạng ngô tri tố dạng". Dạ mộng lưỡng cá dị nhân, diện mạo tằng lăng, tịnh ủng đồ thuộc tương a tương lăng, xu Thường Minh tranh cư quán tiền.

Thường Minh vấn chi: "Nhữ danh, tự vi thuỳ?" Nhất xưng Thổ Lệnh, nhất xưng Thạch Khanh. Thường Minh viết: "Thỉnh thí, thục nghệ thắng giả, tiền cư." Thạch Khanh khiêu trịch nhất bộ đáo ná biên giang, hốt nhiên dĩ kiến Thổ Lệnh dĩ ná biên giang trú. Thạch Khanh tái khiêu nhất bộ phục giá biên giang, dĩ kiến Thổ Lệnh tiên giá biên trú. Ư thị, Thổ Lệnh đắc yên. Tức kim sắc phong Vũ phụ trung dực uy hiển vương thị dã.

Tự Đường chí kim, thiên bách dư tải. Kỳ địa kiệt thần linh, kỳ đảo báo ứng, cổ kim nhất dã.

Hướng giả, Trần triều đệ nhị đế Thái Tông hoàng đế, Bính Tý niên gian, trị đạo thái bình, tứ phương hướng hoá. Thời hữu đại Tống quốc, Phúc Kiến lộ, Phúc Châu, Phúc Thanh huyện, Thái Bình hương, Hải Đàn lý, đạo sĩ Hứa Tông Đạo, đồng lưu phụ bách thừa hứng nhập Nam.

Thời Thái Tông hoàng đế đệ lục tử Chiêu Văn vương, kim Nhập nội kiểm hiệu thái uý bình chương sự, Thanh Hoá phủ lộ đô nguyên suý, tứ kim ngư đại, Thượng trụ quốc khai quốc vương, tâm hoài đại đạo, tính trọng Tống nhân, tương lưu Tông Đạo ư môn tường, kỳ dĩ xiển dương ư đạo giáo.

Giáp Thân đông quý, Bắc khấu lai xâm! Thời Khai Quốc vương trấn thủ Tuyên Quang chư lộ, đồng Hứa Tông Đạo tằng ư Ất Dậu thượng nguyên, tại Bạch Hạc giang tiễn phát lập thệ dữ thần vi minh tận dĩ tâm trung kỳ báo quân thượng. Toại suất tả hữu, đơn kỵ tiền xu. Tài lịch Man Lão Thát quân hậu chí, bát khắc chi nội, bỉ thử bất phùng. Trực chí ngự tiền triều thị giá hữu, suất tập quân sĩ trảm quắc Toa Đô.

Trọng hạ trung tuần, Thát quân bại tán, giai thác thần vương chi phúc ấm dã.

Tự hậu sổ tải, Khai Quốc vương lũ tu hoàng lục, Hứa Tông Đạo chủ hành, sác đầu giản ư Tản Viên sơn đỉnh, tiến long bích ư Bạch Hạc linh uyên. Khải bạch: đạo tiền kinh do từ hạ, kiến kỳ cung quán tiệm dĩ khuynh đồi, kiêm phạp hồng chung thần hôn cảnh ngộ, tâm dục chú tạo, lực sở vị năng.

Hậu hữu Thiên Thuỵ trưởng công chúa Trần, nãi đệ tam đế Thánh Tông hoàng đế trưởng hoàng cơ dã, chưởng quản Bạch Hạc hương dân, tằng xuất kỳ tài mãi trí tử liệu trùng tạo nhất tân. Tự Thiên Thuỵ trưởng công chúa thần hoăng chi hậu, kỳ hương dân, địa thổ tận thuộc đệ ngũ đế Anh Tông hoàng đế trưởng hoàng cơ Thiên Chân trưởng công chúa chi sở quản. Bạc thuế giảm dịch, tuất khổ ái dân, nhất hương chi sinh linh, mạc bất bái kỳ ân hĩ.

Nại hà thiên nhân hạ thế, bất khẳng cửu diên, nhị thập hữu gia, nhân thai ngộ tật. Bỉ thời Hứa Tông Đạo, cung phụng chiếu mệnh đại vi kỳ nhương, cứu trị bách đoan, nan đào đại hạn. Thăng trầm mạc trắc, siêu độ vô nhân.

Thử hậu Anh Tông hoàng đế thái thượng hoàng thái hậu dĩ Thiên Chân trưởng công chúa kỷ phần kim ngân, tận giai bố thí, tựu cung dưỡng Thái Thanh cung sinh kim ngũ thập lượng.

Bất kỳ Canh Thân xuân mộ, Anh Tông hoàng đế vân giá dĩ tiên! Thời Hứa Tông Đạo giá tạo Thái Thanh cung, tử công vị tất. Tình thống hà y, tư nan báo ư quân thiên, niệm dục tu kỳ thiện quả.

Tân Dậu xuân, Hứa Tông Đạo chú tạo Thái Thanh cung hồng chung, tái mông Thái thượng hoàng Thái hậu uỷ phó đường chủ Bảo Vân công chúa Trần, thủ Thiên Chân trưởng công chúa kỷ ngân tam thập tam lượng kế tiền ngũ bách mân, thân thụ Hứa Tông Đạo cung dưỡng duyên ty vi Thiên Châu trưởng công chúa tiền trình chi phúc quả dã.

Hựu ngộ Gia Lâm đệ Văn Huệ vương đại vi Thiên Chân trưởng công chúa bố thí cô bần cập chư tự quán. Tái cung dưỡng Thái Thanh cung kim ngân kế tiền nhị bách mân.

Kim Hứa Tông Đạo luỹ mông cung dưỡng dục quảng kỳ ân: trừ dĩ trợ duyên Thái Thanh cung ngoại, tái dĩ Thiên Chân trưởng công chúa phần sở thí chi tư, thu mại đồng tích, đầu thỉnh Nhập nội kiểm hiệu thái uý Khai Quốc vương chủ minh, tựu thạch đống ....... chú tạo hồng chung nhất khẩu cung dưỡng ....... vu dĩ báo ....... chi hậu đức, vu dĩ thù ....... chủ chi thâm ân. Nhiên nguyện ....... tăng sùng phúc quả, quảng diễn kim chi. Phục vị Thiên Chân trưởng công chúa Trần, phục thử trú chung công đức, địch trừ ngũ lậu chi sắc thân. Siêu trắc tam thanh chi tịnh giới. Nhưng vị Thiên Thuỵ trưởng công chúa Trần chứng hướng thời tạo quán chi lương nhân, tiêu một hậu vô biên chi nghiệp cấu. Tái vị đại đạo pháp môn thần vương từ hạ kỳ ..... chi hương hoả, bảo phù hợp quốc chi nhân viên. Ngưỡng chúc kim thượng hoàng đế thánh thọ vô cương, phúc cơ...... Ký Khai Quốc vương Trần thiện tâm vĩnh cố, vãn thọ tăng diên. Hứa Tông Đạo đẳng cập nhất thiết hữu tình câu triêm phúc ấm.

Thời Hoàng Việt Trần triều đệ lục đế Đại Khánh
.......
Hứa Tông Đạo cẩn chỉ


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2017, 09:55:34 pm
Bài ký chuông Thông Thánh quán ở Bạch Hạc

Xét sách Triệu công ký(1) có nói rằng: trong khoảng niên hiệu Vĩnh Huy (650 - 655) đời Đường, Nguyễn Thường Minh(2) làm Đô đốc Phong Châu, thấy đất đai nghìn dặm, có núi sông làm đai vạt, bèn xây Thông Thánh Quán ở Bạch Hạc, đặt tượng Tam Thanh(3), lấy làm kỳ vĩ. Lại mở thêm hai nhà giải vũ trước sau, địch đô tượng thần giữ quán. Nhưng chưa biết ai là linh thiêng, bèn thắp hương khấn rằng: “Thần đất ở này nếu có thể hiển linh thì xin hãy sớm hiện hình dạng ra cho tôi biết để tô tượng. Đêm đến, nằm mộng thấy hai dị nhân, diện mạo ngang tàng, đều dẫn tùy tòng chen mắng lẫn nhau, đến chỗ Thường Minh, tranh nhau ở trước quán. Thường Minh hỏi: “Các vị tên là gì”. Một người xưng là Thổ Lệnh, một người xưng là Thạch Khanh. Thường Minh nói: “Xin thi tài nghệ, người nào thắng thì được ở trước”. Thạch Khanh nhảy một bước sang bên kia sông, bỗng thấy Thổ Lệnh đứng trước bên này sông. Thế là Thổ Lệnh được ở đây. Đó tức là vị thần mà nay được sắc phong làm Vũ phụ trung dực uy hiển vương. Từ đời Đường đến nay, đã hơn nghìn trăm năm, đất kiệt thần thiêng, cầu đảo báo ứng, xưa nay vẫn như thế.

Cho đến đời vua thứ hai triều Trần là hoàng đế Thái Tông, khoảng năm Bính Tý (1276), trị nước thái bình, bốn phương hướng hóa, bây giờ có đạo sĩ Hứa Tông Đạo(4) ở lý Hải Đàn, hương Thái Bình, huyện Phúc Thanh, Phúc Châu, lộ Kiến Phúc nước Đại Tống cùng lưu phái, cao hứng theo thuyền đế phương Nam. Bấy giờ Chiêu Văn Vương, con thứ sáu của Hoàng đế Thái Tông, nay là Nhập nội kiểm hiệu Thái úy Bình chương sự, Thanh Hóa phủ lộ Đô nguyên soái, được ban túi kim ngư (cá vàng), tước Thượng trụ quốc Khai Quốc vương (tức Trần Nhật Duật), có lòng quan hoài đến đạo lớn, tính vốn quý trọng người Tống, nên đã lưu Tông Đạo ở môn tướng, mong xiển dương Đạo giáo. Cuối năm Giáp Thân (1284), giặc Bắc đến xâm lược. Bấy giờ Khai Quốc vương trấn thủ các châu lộ Tuyên Quang, cùng Hứa Tông Đạo vào ngày thượng nguyên (tức rằm tháng giêng) năm Ất Dậu (tức ngày 20 tháng 2 năm 1285), ở sông Bạch Hạc, cắt tóc thề nguyện với thần linh đem hết lòng trung để báo ơn vua. Rồi suất lĩnh tả hữu, một mình một ngựa tiến lên trước, mới qua vùng người Man Lão, quân Thát đến sau, trong vòng tám khắc, hai bên không gặp nhau. Vương thẳng đến trước mặt vua, chầu hầu phò giá, lại suất tập quân sĩ, chém được đầu Toa Đô(5). Vào trung tuần tháng trọng hạ (tức tháng 5), quân Thát thua tan, đều là nhờ phúc ấm của thần vương.

Sau đó vài năm, Khai Quốc vương nhiều lần tu sửa hoàng lục, Hứa Tông Đạo chú việc thừa hành, thường dâng thẻ(6) ở đỉnh núi Tản Viên, tiến long bích ở vực thiên Bạch Hạc, trình bày việc đi qua dưới đền, thấy cung quán dần dần xiêu đổ, lại thiếu chuông lớn để sớm hôm thức tỉnh người mê, lòng những muốn đúc chung dựng quán nhưng sức chưa đủ.

Sau đó có trưởng Công chúa Thiên Thụy(7) họ Trần, trưởng hoàng cơ của vua thứ ba là hoàng đế Thánh Tông, chưởng quản dân hương Bạch Hạc, đã xuất của cải, mua gỗ lạt, trùng tu như mới.

Từ sau khi trưởng Công chúa Thiên Thụy qua đời, hương dân ruộng đất ở đây đều thuộc quyền chưởng quán của trưởng Công chúa Thiên Chân(8), trưởng hoàng cơ của vua thứ năm là hoàng đế Anh Tông. Công chúa thu thuế nhẹ, giảm lao dịch, giúp người nghèo khổ, yêu kẻ cô quả, sinh linh cả một hương, không ai không bái dạ ân đức. Nào hay người nhà trời xuống thần thế, không chịu ở lâu, năm hai mươi tuổi có gia đình, vì có thai mà bị bận.

Bấy giờ Hứa Tông Đạo kính vâng chiếu mệnh, thay mình cầu cúng, chữa chạy trăm phương, nhưng vẫn không thoát khỏi đại nạn, mới hay việc thăng trầm khó đoán, sự siêu độ vô nhân. Sau đó Thái thượng hoàng Thái hậu của hoàng đế Anh Tông, lấy vàng bạc đã chia cho trưởng Công chúa Thiên Chân đem bố thí hết, cúng dàng cho cung Thái Thanh năm mươi lạng vàng sống.

Nào ngờ cuối xuân năm Canh Thìn (1320), Hoàng đế Anh Tông ngự xe mây lên tiên. Bấy giờ Hứa Tông Đạo đang xây dựng cung Thái Thanh, công việc chưa xong, lòng đau đớn biết dựa vào đâu, nghĩ khó báo ơn vua, lòng muốn tu thiện quả.

Mùa xuân năm Tân Dậu (1321), Hứa Tông Đạo đúc quả chuông lớn ở cung Thái Thanh, lại đội ơn Thái thượng hoàng Thái hậu ủy cho đường chủ là Công chúa Bảo Vân họ Trần, lấy phần của trưởng Công chúa Thiên Chan là ba mươi ba lạng bạc, tính thành tiền năm trăm quan, thân trao cho Hứa Tông Đạo cúng dàng vào duyên ty dể làm quả phúc cho tiền trình của trưởng Công chúa Thiên Chân. Lại gặp lúc Văn Huệ vương (tức Trần Quang Triều) ở phủ đệ Gia Lâm thay trưởng Công chúa Thiên Chân, bố thí cho kẻ cô quả bần cùng và các chùa quán, lại cúng dàng cho cung Thái Thanh vàng bạc tính thành tiền là hai trăm quan.

Nay Hứa Tông Đạo nhiều lần đội ơn được cúng dâng nên muốn mở rộng ân đức ấy, trừ khoản trợ duyên cho cung Thái Thanh ra, lại lấy phần trưởng Công chúa Thiên Chân đã bố thí thu mua đồng thiếc, xin nhập nội kiểm hiệu Thái ủy Khai Quốc vương làm chru minh, đến cột đá (mất 4 chữ) đúc một quả chuông lớn cúng dàng (mất 5 chữ) để báo đức dày của (trưởng công) chúa (Thiên Thụy), để đền ơn sâu của (trưởng công) chúa (Thiên Chân). Những nguyện (mất 4 chữ) tăng thêm quả phúc, nối mãi cành vàng. Cúi vì trưởng Công chúa Thiên Chân họ Trần, nhờ công đức đúc chuông này, để tẩy trừ ngũ lậu sắc thân, siêu thoát lên tịnh giới Tam Thanh.

Vì trưởng Công chúa Thiên Thụy họ Trần chứng cho nhân lành dựng quán trước kia và tiêu trừ nghiệp cấu vô biên sau khi chết. Lại vì trước đền đại đạo pháp môn thấu vương, cầu cho hương khói (mất 4 chữ) phù hộ cho mọi người trong cả nước. Kính chúc Kim thượng hoàng đế thánh thọ vô cương, nền phúc (mất 3 chữ). Chúc cho Khai Quốc vương Trần lòng thiện bền vững, tuổi thọ dài lâu, để lũ Hứa Tông Đạo và trất cả chúng sinh đều được tắm gội phúc ấm.

Ngày (mất 2 chữ) năm Đại Hán Khánh thứ tám (1321) đời vua thứ sáu triều Trần nước Hoàng Việt.

Súng Chân uy nghi Hứa Tông Đạo kính cẩn ghi.

Chú thích

(1) Triệu Công kí, tức sách Giao Châu kí, do Đô hộ Giao Châu thời đường là Triệu Xương và Tiết độ sứ Tăng Cửu soạn, nhưng đã bị thất lạc

(2) Nguyễn Thường Minh tức Lý Thường Minh do nhà Trần dổi họ Lý thành họ Nguyễn.

(3) Tam Thanh ba pho tượng quán Đạo giáo tức Ngọc Thanh, Thái Thanh và Thượng Thanh, tương tự Tam thế ở chùa Phật.

(4) Hứa Tông đạo là đạo sĩ thời Tống, người tỉnh Phúc Kiến, vì tránh quân Tống mà đến phía Nam cư trú, dựng quán Tam Thanh, soạn bìa minh chuông này.

(5) Toa Đô: Nguyên soái quân Nguyên, tháng 3 năm Thiệu Bảo thứ 7 (1285) nhận mệnh mang 50 vạn quân qua đường Vân Nam đánh xuống phía Nam, đến thẳng Chiêm Thành, nhưng sau bị bại trận ở Tây Kết.

(6) Thẻ: nguyên văn là giản, tức các thẻ tre có ghi chữ.

(7) Thiên Thụy công chúa: con gái trưởng vua Trần Thánh Tông, được gả cho con trai Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là Hưng Vũ vương Trần Quốc Hiến.

(8) Thiên Chân công chúa: là con gái của Anh Tông Hoàng đế và Thuận Thánh Hoàng hậu.

Trong phần chú thích về Toa Đô của bản dịch từ sách "Văn bia thời Trần" có nội dung chưa chính xác nhưng em vẫn giữ nguyên khi giới thiệu lại.

Trong nguyên văn của bài minh cũng có phần chưa ổn. Ở đoạn "Tự Đường chí kim, thiên bách dư tải" (自唐至今,千百餘載), dịch là "Từ đời Đường đến nay, đã hơn nghìn trăm năm" là đúng. Nhưng từ thời Đường (618-907) đến thời điểm soạn bài minh (1321) chỉ khoảng 700 năm. Vì vậy em nghi chữ là chữ "thất" (bảy) đã khắc nhầm thành chữ "thiên" (tức nghìn).
(Xem các chữ từ thứ 12 đên 19 ở cột 10 tính từ phải qua trái ở ảnh chụp bản dập mặt 1 chuông trong bài tiếp theo)


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Hai, 2017, 10:02:26 pm
(https://scontent.fhan2-1.fna.fbcdn.net/v/t31.0-8/16486962_1068116880000387_8059430196699785801_o.jpg?oh=067ac8bd296360ab705d396a8305cf02&oe=59119667)

Thác bản chuông Bạch Hạc (mặt 1)

(https://scontent.fhan2-1.fna.fbcdn.net/v/t31.0-8/16487488_1068116886667053_4616055634852733735_o.jpg?oh=2fc5d136113d3c60f87c4fe9a4a1e619&oe=594AE661)

Thác bản chuông Bạch Hạc (mặt 2)

(https://scontent.fhan2-1.fna.fbcdn.net/v/t31.0-8/16463424_1068116883333720_3079786025435571656_o.jpg?oh=8b5f1688c32e0cf9506a1cccad9a1786&oe=5900E6E7)

Thác bản chuông Bạch Hạc (mặt 3)

(https://scontent.fhan2-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/16388240_1068116946667047_4222716777794293663_n.jpg?oh=aeaf91db183d4d33d680fbc9a32ac5dd&oe=593FA56A)

Thác bản chuông Bạch Hạc (mặt 4)


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2017, 08:08:58 pm
Tiếp tục việc mày mò các văn bia thời Trần đã được tác giả Hà Văn Tấn - Phạm Thị Tâm tham khảo khi viết cuốn Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, em xin giới thiệu bia công chúa Phụng Dương.

Tổng hợp từ 4 nguồn chính:
Nguồn 1: sách "Văn bia thời Trần" của Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, xuất bản năm 2016. Quan trọng nhất là có ảnh chụp bản dập văn bia. Ảnh chụp lại từ sách, lại là bản dập nên chất lượng cũng chưa tốt, còn nhều chỗ chữ khó đọc, nhưng hãy tạm dùng.
Nguồn 2: Từ trang web của thư viện trường Đại học An Giang:
http://lib.agu.edu.vn/gsdl/library?e=d-00000-00---off-0thovan--00-0--0-10-0---0---0prompt-10---4-------0-1l--11-vi-50---20-about---00-0-1-00-0-0-11-1-0utfZz-8-00&a=d&cl=CL1.7&d=HASH0465661ff3f7c1d2bb14c2.2.fc
Nguồn 3: Văn bia thời Lý Trần  - Sưu tầm phiên âm dịch thuật chú giải: Lâm Giang – Phạm Văn Thắm – Phạm Thị Thoa. Tải từ địa chỉ: http://123doc.org/document/3458662-van-bia-thoi-ly-tran.htm
Nguồn 4: 越南碑銘中漢文典故的應用 (Việt Nam bi minh trung Hán văn điển cố đích ứng dụng - Ứng dụng điển cố Hán văn trong văn bia Việt Nam), địa chỉ: http://ir.lib.cyut.edu.tw:8080/bitstream/310901800/9203/1/%E8%B6%8A%E5%8D%97%E7%A2%91%E9%8A%98%E4%B8%AD...

Theo bản điện tử báo Nam Định, bia hiện còn ở thôn Cao Đài, xã Mỹ Thành huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Tấm bia cao 1,2m, rộng 70cm, dầy 16cm được dựng trên lưng rùa đá, mặt trước đục kín chữ, xung quanh trang trí các họa tiết: cúc dây, sen dẹo.

Theo sách Thơ văn Lý Trần, Viện Văn học, tập II, quyển Thượng, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1989; tấm bia này được khắc lại vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822). Trên ảnh chụp bản dập không thấy có ghi năm khắc lại.

Thực ra, bản dịch văn bia thì đã được giới thiệu ở nhiều trang trên mạng, nhưng chưa có bản text chữ Hán ở trang tiếng Việt, mà chỉ có ở trang tiếng Trung. Còn có trang tiếng Việt (ví dụ như nguồn 2) có giới thiệu bản chữ Hán nhưng lại dạng ảnh, không phải dạng text không tiện trong việc search trên google và cũng có vài chỗ chư chính xác. Do đó nên em tổng hợp lại từ 4 nguồn trên và giới thiệu cả phần text chữ Hán, phiên âm và bản dịch.

(https://scontent.fhan2-1.fna.fbcdn.net/v/t31.0-8/16722675_1078520422293366_1514074418434429864_o.jpg?oh=9d5f63628dcfc4359ccb397d0c6b0b1b&oe=58FDAD0E)


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2017, 08:31:30 pm
Do bản dập chụp lại có nhiều chỗ chữ mờ, nên nhiều chữ còn nghi ngờ, để trong dấu ngoặc đơn () kèm dấu hỏi chấm (?). Chữ nào có màu đỏ tức là tuy đọc được từ bản dập, nhưng nghi ngờ về tính chính xác, có khả năng là chữ khác cũng đặt trong dấu ngoặc đơn liền sau.

奉陽公主神道碑鋁(銘?)并寺(序?)
PHỤNG DƯƠNG CÔNG CHÚA THẦN ĐẠO BI LỮ (MINH?) TÍNH TỰ (TỰ?)
(LỜI TỰA VÀ BÀI MINH VĂN BIA
THÀN ĐẠO CÔNG CHÚA PHỤNG DƯƠNG)

氏;姓也;名也………,,奉陽公主壽命也,………相國太師皇耆(考?)也;慧真去(夫?)人慈妣也.幼年宗嘉淑明,太宗皇帝愛之,義為子.未(幾?)………上相太師,詔賜王姬車服.此公主良配也.
Phiên âm: Thị, tính dã; [mỗ] danh dã. Phụng Dương công chúa thọ mệnh dã. [Mỗ] Tướng quốc thái sư hoàng giả (khảo) dã; Tuệ Chân khứ (phu?) nhân từ tỉ dã. Ấu niên tông gia thục minh, Thái Tông hoàng đế ái chi, nghĩa vi tử. Vị (cơ?) [mỗ] Thượng tướng Thái sư, chiếu tứ vương cơ xa phục. Thử công chúa lương phối dã.
Dịch: Công chúa họ [mỗ], tên là [mỗ], tên được ban là Phụng Dương. Cha là tướng quốc Thái sư [mỗ], mẹ là phu nhân Tuệ Chân. Khi còn bé, công chúa được khen là hiền hậu và thông minh, vua Thái Tông yêu quý, nuôi làm con. Không bao lâu gả cho Thượng tướng Thái sư, vua xuống chiếu ban cho xe và quần áo theo như con gái vua. Đó là nghi thức khi công chúa đi lấy chồng.

時………太師有嬖,與公主少不諧,………相國慧真(御?)之,將奪其志,公主不可,曰:
Phiên âm: Thời [mỗ] Thái sư hữu bế, dữ công chúa thiểu bất hài. [mỗ] Tướng quốc Tuệ Chân (ngự) chi, tương đoạt kỳ chí. Công  chúa bất khả, viết:
Dịch: Bấy giờ Thái sư [mỗ] có một người thiếp yêu nên đối với công chúa không đằm thắm. Tướng quốc [mỗ] và phu nhân Tuệ Chân ngăn cản, định không cho Thái sư làm theo ý mình, công chúa cho là không nên, thưa với cha mẹ:

妾辱(已歸于太師?),諧不諧,命也.父母之命固不可遁,其奈長則從夫之義何? 相國慧真乃止.此公主貞節也.
Phiên âm: Thiếp nhục (dĩ quy vu Thái sư?), hài bất hài, mệnh dã. Phụ mẫu chi mệnh cố bất khả độn, kỳ nại trưởng tắc tòng phu chi nghĩa hà? Tướng quốc Tuệ Chân nãi chỉ. Thử công chúa trinh tiết dã.
Dịch: Con (đã về làm vợ Thái sư?), được hòa hợp hay không là do mệnh mà thôi. Ý của cha mẹ, con cái cố nhiên không được cưỡng lại, nhưng còn cái nghĩa "lớn phải theo chồng" thì làm thế nào? Tướng quốc và phu nhân Tuệ Chân nghe vậy, bèn thôi. Đó là lòng trinh tiết của công chúa.
Chú thích: Đoạn “dĩ quy vu Thái sư”, trên bia khắc để trống, trong các sách Văn bia thời Lý – Trần đều bổ sung vào, nhưng không thấy nêu rõ dẫn nguồn từ đâu.

事夫以敬順;待媵以寬恕.一(婢?)一妾或遭………太師譴怒者,曲折微觧,毋令見聲色,雖老列婦,弗如也.至於………太師銓品朝廷人物,自非壼内事者,未嘗以衰(褻?)近擅為極重.此公主賢德也.
Phiên âm: Sự phu dĩ kính thuận; đãi dắng dĩ khoan thứ. Nhất (tì?), nhất thiếp, hoặc tao [mỗ] Thái sư khiển nộ, khúc chiết vi giải, vô linh hiện thanh sắc, tuy lão liệt phụ, phất như dã. Chí ư [mỗ] Thái sư thuyên phẩm triều đình nhân vật, tự phi khổn nội sự giả, vị thường dĩ suy (tiết?) cận thiện vi cực trọng, Thử công chúa hiền đức dã.
Dịch: Công chúa thờ chồng một lòng kính thuận, đối với thứ thiếp của chồng một lòng khoan thứ. nếu có người nào làm cho Thái sư [mỗ] giận la mắng, thì công chúa lấy lời lẽ nhẹ nhàng giảng giải, khiến cho họ không phàn nàn oán hận. Công chúa cư xử như thế, các bậc liệt phụ thời xưa cũng không hơn được. Đến việc Thái sư [mỗ] lựa chọn, khen thưởng các nhân vật trong triều đình, công chúa tự coi đó không phải là phận sự của đàn bà, nên chưa từng vì cớ gần gũi mà tự tiện xen vào những việc quan trọng. Đó là đức tốt của công chúa.

相國太師有疾,親侍湯藥,尤(左?)湌右粥衣不觧帶,卧不安席者朞年.此公主侍親疾也.
Phiên âm: Tướng quốc Thái sư hữu tật, thân thị thang dược; vưu (tả?) xan hữu chúc; y bất giải đới, ngọa bất an tịch giả cơ niên. Thử công chúa thị thân tật dã.
Dịch: Tướng quốc Thái sư ốm, công chúa chăm lo thuốc thang, phụng dưỡng cơm cháo, suốt một năm trời, đến nỗi áo chẳng kịp cởi, nằm không yên giấc. Đó là cách công chúa hầu hạ cha khi đau yếu.

相國太師薨,斬衰盡哀,毁性幾滅;國人之見無不掩涕.此公主居喪禮也.
Phiên âm: Tướng quốc Thái sư hoăng, trảm thôi tận ai, hủy tính cơ diệt; quốc nhân kiến chi, vô bất yểm thế. Thử công chúa cư tang lễ dã.
Dịch: Tướng quốc Thái sư mất, công chúa để tang hết lễ, xót thương đau đớn đến hầu như muốn chết, người trong nước trông thấy, không ai cầm được nước mắt. Đó là công chúa giữ lễ cư tang.

慧真嫠居二斗(十?)餘年,晨夕侍側,問安視膳,罔有少怠.設遇一訶一責,則制(匍?)匐伏罪,不敢以榮貴而自高自大.此公主事親孝也
Phiên âm: Tuệ Chân ly cư nhị đấu (thập?) dư niên, thần tịch thị trắc, vấn an thị thiện, võng hữu thiểu đãi. Thiết ngộ nhất kha nhất trách, tắc chế (bồ?) bặc phục tội, bất cảm dĩ vinh quý nhi tự cao tự đại. Thử công chúa sự thân hiếu dã.
Dịch: Phu nhân Tuệ Chân ở góa hơn hai mươi năm, công chúa sớm hôm vấn an, đích thân hầu hạ cơm nước, không chút trễ nải. gặp khi phu nhân có điều gì quở trách, công chúa khúm núm nhận lỗi, không dám tự coi mình cao sang mà ra vẻ. Đó là công chúa thờ mẹ một lòng hiếu thảo.

逮慧真薨,公主欒心柴骨,亦有聞.父母所遺產業,皆散諸昆弟,一毫不取,但傾家貲財,施僧供佛,食飢衣寒,用資二天冥福。此公主慎終追遠也.
Phiên âm: Đãi Tuệ Chân hoăng, công chúa loan tâm sài cốt, diệc hữu văn. Phụ mẫu sở di sản nghiệp, giai tán chư côn đệ, nhất hào bất thủ, đãn khuynh gia xi tài, thí tăng cúng phật, tự cơ ý hàn, dụng tư nhị thiên minh phúc. Thử công chúa thận chung truy viễn dã.
Dịch: Khi phu nhân Tuệ Chân mất, công chúa héo hon gầy guộc, ai mấy cũng khen. Sản nghiệp của cha mẹ để lại, công chúa chia đều cho anh em, còn mình không một chút tơ hào. Lại dốc cả gia sản để bố thí cho sư và cúng Phật; kẻ đói thì cho ăn, kẻ rét thì cho mặc. Đem của cải cầu phúc cho cha mẹ, đó là việc công chúa chu đáo với việc sau, nhớ ơn những người trước.
Chú thích: Loan tâm: Thi Kinh 詩經, (Cối phong 檜風, Tố quan 素冠): “Thứ kiến tố quan hề, Cức nhân loan loan hề, Lao tâm đoàn đoàn hề” (庶見素冠兮, 棘人欒欒兮, 勞心慱慱兮) Mong được thấy cái mũ trắng (của người mãn tang đội), Người có tang gầy yếu hề, Lòng ta lao khổ ưu sầu.

………太師身都相位,日勞萬機,不遑家事,一一委付,區處長幼,整頓貲產,凡所施為,如出一意.此公主治家法也.
Phiên âm: [Mỗ] Thái sư thân đô tướng vị, nhật lao vạn cơ, bất hoàng gia sự, nhất nhất ủy phó, khu xử trưởng ấu, chỉnh đốn xi sản, phàm sở thi vi, như xuất nhất ý. Thử công chúa trị gia pháp dã.
Dịch: Thái sư [mỗ] ở cương vị tướng quốc, hằng ngày rất bận, chẳng có thì giờ đoái hoài đến việc nhà, ông ủy thác cho công chú khu xử với kẻ già, người trẻ, trông nom sắp xếp tài sản. Mọi việc công chúa làm không điều gì không vừa ý Thái sư. Đó là cách thức công chúa trông nom cai quản việc nhà.

針線助補袞,鹽梅資調羹。內助之道尤多,殊非尋常兒女之比.此公主相成道也.
Phiên âm: Châm tuyến trị bổ cổn, diêm mai tư điều canh, nội trợ chi đạo vưu đa, thù phi tầm thường nhi nữ chi tỷ. Thử công chúa tướng thành đạo dã.
Dịch: Việc kim chỉ vá may, muối mơ nấu nướng, tài nội trợ của công chúa càng giỏi, người đàn bà tầm thường không thể nào sánh được. Đó là công chúa thành thạo việc nội trợ.
Chú thích:
Bổ cổn: Kinh thi có câu: “Cổn chức hữu khuyết, Duy Trọng sơn Phủ bổ chi" 袞職有闕,惟仲山甫補之 (Ý nói Vua có điều nhầm lẫn, chỉ có Sơn Trọng Phủ là người tấu thôi)
Diêm mai: gốc từ sách Thượng thư (尚書): vua Vũ Đinh nhà Thương cầu được Phó Duyệt ở đất Phó Nghiêm, tôn ông làm tướng, cho ở bên cạnh. Vũ Đinh nói với Phó Duyệt: Nhĩ duy huấn vu trẫm chí. Nhược tác tửu lê, nhĩ duy cúc nghiệt. Nhược tác hòa canh, nhĩ duy diêm ma (Nhà ngươi phải dạy dỗ cho chí ta được suốt mọi việc. Nếu có nấu rượu ngọt, nhà ngươi là men rượu. Nếu có làm việc nêm canh, nhà ngươi là muối là mơ). ở đây chỉ vai trò của kẻ sĩ giúp vua sửa sang việc nước, cũng ví như chất chua của mai trong khi nấu canh vậy)


其馭婢使,不大聲以色;設有竊盜,則隨便追之,不忍露其醜惡.此公主仁心也.
Phiên âm: Kỳ ngự tỳ sử, bất đại thanh dĩ sắc; thiết hữu thiết đạo, tắc tùy tiện truy chi, bất nhẫn lộ kỳ xú ác. Thử công chúa nhân tâm dã.
Dịch: Đối với nô tỳ, công chúa không to tiếng, chỉ sai bảo bằng nét mặt. Nếu kẻ nào lỡ lấy trộm vật gì, công chúa chỉ tùy tiện truy hỏi mà không nỡ để lộ điều xấu xa của chúng. Đó là lòng nhân từ của công chúa.

平居暇日,小小臧獲,每如勞問,不曾以箠撻為事.故有過惡者,咸自懾服。此公主用心寬恕也.
Phiên âm: Bình cư hạ nhật, tiểu tiểu tang hoạch, mỗi như lạo vấn, bất tằng dĩ chủy thát vi sự. Cố hữu quá ác giả, hàm tự nhiếp phục. Thử công chúa dụng tâm khoan thứ dã.
Dịch: Ngày thường, những khi rỗi rãi, đối với đám tù nô, công chú thường thăm hỏi, an ủi, chưa từng dùng roi vọt, cho nên những kẻ xấu cũng cảm phục. Đó là lòng khoan thứ của công chúa.

年少歸于相門,身營多事,未暇學問.歲晚,尤愛佛書.雖隻言片字不能細致,然大覺之心,粗有識者,其有為小教所不拘滯.此公主通於心性也.
Phiên âm: Niên thiếu quy vu tướng môn, thân doanh đa sự, vị hạ học vấn. Tuế vãn, vưu ái phật thư, tuy chích ngôn phiến tự bất năng câu trí, nhiên đại giác chi tâm, thô hữu thức giả, kỳ hữu vi tiểu giáo sở bất câu trệ. Thử công chúa thông ư tâm tính dã.
Dịch: Công chúa về làm dâu nhà tướng từ tuổi còn nhỏ, công việc bận rộn, chưa từng có lúc rảnh rang để học hỏi. Đến khi về già, công chúa đặt biệt thích đọc sách nhà Phật. Tuy chưa hiểu cặn kẽ từng câu từng chữ, nhưng nét đại quát về cái tâm "đại giác" cũng đã hiểu được, ngoài ra những giới luật lặt vặt thì không câu nệ. Đó là công chúa đã thông về tâm và tính vậy.

甲申冬,北虜南寇,………太師上船避賊.夜半舟中失火。時,………太師睡寢,公主疑是賊來,微警,授之以牌,且以身蔽。古之馮婦,蔑以加此。此公主明於義勇也。
Phiên âm: Giáp Thân đông, Bắc lỗ Nam khấu, [mỗ] Thái sư thướng thuyền tị tặc. Dạ bán chu trung thất hỏa, thời [mỗ] Thái sư thụy tẩm, công chúa nghi thị tặc lai, vi cảnh, thụ chi dĩ bài; thả dĩ thân tế. Cổ chi Phùng Phụ miệt dĩ gia thử. Thử công chúa minh ư nghĩa dũng dã.
Dịch: Mùa đông năm Giáp thân (1284), giặc Bắc (Nguyên) sang cướp nước Nam, Thái sư [mỗ] xuống thuyền lánh giặc. Nửa đêm có chiếc thuyền bốc cháy, lúc đó Thái sư [mỗ] đang ngủ, công chúa tưởng giặc đến, khẽ đánh thức Thái sư dậy, đưa cho ngài chiếc mộc rồi lấy thân mình che cho chồng. Lòng dũng cảm như vậy, Phùng Phụ đời xưa cũng không hơn được. Đó là công chúa hiểu biết việc nghĩa và chí dũng cảm.
Chú thích:
Phùng Phụ: Sách Mạnh Tử (孟子), thiên Tận tâm hạ (盡心下): 晉人有馮婦者,善搏虎.卒為善士.則之野.有眾逐虎.虎負嵎.莫之敢攖;望見馮婦,趨而迎之;馮婦攘臂下車.眾皆悅之,其為士者笑之 (Tấn nhân hữu Phùng Phụ giả, thiện bác hổ. Tốt vi thiện sĩ. Tắc chi dã, hữu chúng trục hổ. Hổ phụ ngung. Mạc chi cảm anh; vọng kiến Phùng Phụ, xu nhi nghênh chi. Phùng Phụ nhương tý, há xa. Chúng giai duyệt chi. Kỳ vi sĩ giả tiếu chi). Dịch nghĩa: Người nước Tấn có Phùng Phụ, giỏi bắt hổ. Chung cuộc ông trở nên kẻ sĩ tốt lành. Khi đi đến vùng hoang dã, có đám người đuổi theo hổ. Con hổ ẩn vào góc núi. Chẳng ai dám đến gần; trông xa thấy Phùng Phụ, họ bước tới đón tiếp. Phùng Phụ xăn tay, xuống xe. Đám người đều vui mừng. Hành vi ấy làm cho kẻ sĩ chê cười.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2017, 08:57:00 pm
天資慈愛,一視嫡庶.有小善者則稱揚於,………太師之前,有小惡者,則提耳微誨.掩惡揚善,有古君子之風。此公主心無妒忌也。
Phiên âm: Thiên tư từ ái, nhất thị đích thứ, hữu tiểu thiện giả tắc xưng dương ư [mỗ] Thái sư chi tiền; hữu tiểu ác giả, tắc đề nhĩ vi hối. Yểm ác dương thiện, hữu cổ quân tử chi phong. Thử công chúa tâm vô đố kỵ dã.
Dịch: Công chúa vốn có lòng nhân từ bát ái, không phân biệt con vợ lẽ vợ cả, hễ ai làm được điều gì tốt, dù nhỏ cũng khen trước mặt Thái sư [mỗ], ai làm điều gì xấu, dù nhỏ cũng rỉ tai răn dạy. Giấu che việc xấu, nêu khen việc hay, công chúa đã có phong cách của bậc quân tử thời xưa. Đó là công chúa lòng không ghen ghét.

撫字婣族,大小靡遺.其有不才者,寧以財物予之,不敢尸諸重職.此公主心無私謁也.
Phiên âm: Phủ tự nhân tộc, đại tiểu mị di; kỳ hữu bất tài giả, ninh dĩ tài vật dữ chi, bất cảm thi chư trọng chức. Thử công chúa tâm vô tư yết dã.
Dịch: Công chúa đối với việc nâng đỡ những người trong họ, từ việc lớn đến việc nhỏ đều không để sót. Với những người bất tài, thà ban cho của cải, chứ không dám giao cho trọng trách. Đó là công chúa tấm lòng không riêng tư.
Chú thích: Phủ tự (撫字): ý nói nuôi dạy thành người. Sách Hậu Hán thư (後漢書), Liệt nữ truyện - Trình Văn Củ thê (列女傳‧程文矩妻): Trình Văn Củ thê giả,đồng quận Lý Pháp chi tỉ dã, tự mục khương. Hữu nhị nam, nhi tiền thê tứ tử… tứ tử dĩ mẫu phi sở sanh, tăng hủy nhật tích, nhi mục khương từ ái ôn nhân, phủ tự ích long, y thực tư cung, giai kiêm bội sở sanh (程文矩妻者,同郡李法之姊 也, 字穆姜。有二男, 而前妻四子,… 四子以母非所生,憎毀日積,而穆姜慈愛溫仁,撫字益隆,衣食資供,皆兼倍所生) đại ý vợ thứ Trần Văn Củ sinh được hai con; còn người vợ trước có bốn con. Người vợ thứ không ghét bỏ, nuôi dạy bốn người con không phải do mình sinh ra càng nhân từ yêu thương, đồ ăn thức mặc chăm lo cho còn hơn so với con đẻ.
Chữ thi (trong đoạn “bất cảm thi chư trọng chưc”) không phải có nghĩa là xác, mà có nghĩa là giao chức trách, giao việc quan (theo sách Nhĩ nhã 爾雅, phần Thích hỗ 釋詁)

病篤不問子孫,唯以愛夫為念.………太師遺書手中,言來生之日,願為夫婦如初. 此公主純於愛敬也.
Phiên âm: Bệnh đốc bất vấn tử tôn, duy dĩ ái phu vi niệm. [Mỗ]Thái sư di thư thủ trung, ngôn lai sinh chi nhật, nguyện vi phu phụ như sơ. Thử Công chúa thuần ư ái kính dã.
Dịch: Khi ốm nặng, công chúa không hỏi gì đến con cháu, chỉ một lòng yêu thương, lo nghĩ đến chồng. Thái sư [mỗ] viết thư đặt vào tay công chúa nói: “Kiếp sau xin được làm chồng vợ như xưa”. Đó là công chúa một lòng trong tình yêu đối với Thái sư vậy.

子七人:長早亡,追悼不能自已.乃義關內侯國兮(公)以代之。此公主之義子也.次文肅王道載,文可以裨時政,武可以撜國亂,娶靖國大王女寶姿公主.次武肅王道[],尚.………聖宗皇帝第四女寶真公主.長女瓊輝公主,諱瑞[][],兩適人,俱不諧.次瓊姿公主,諱瑞柔,歸于檢校太尉.次瓊寶公主,諱瑞魚,適靖國大王長子仁國王。次瓊態公主,諱瑞玆,繼歸於檢校太尉.瓊輝、瓊姿、武肅皆先亡。孫十三,男七女六.真慈公主諱[][],適判首上位武寧侯之子沼,餘皆尚幼。此公主之嫡孫子也.
Phiên âm: Tử thất nhân: Trưởng tảo vong, truy điệu bất năng tự kỷ. Nãi nghĩa Quan nội hầu quốc hề (công) dĩ đại chi. Thử Công chúa chi nghĩa tử dã. Thứ Văn Túc vương Đạo Tái, văn khả dĩ tỳ thời chính, vũ khả dĩ chửng quốc loạn, thú Tĩnh Quốc đại vương nữ Bảo Tư công chúa. Thứ Vũ Túc vương Đạo………, thượng……… Thánh Tông hoàng đế đệ tứ nữ Bảo Chân công chúa. Trưởng nữ Quỳnh Huy công chúa, huý Thuỵ [] [], lưỡng thích nhân, câu bất hài. Thứ Quỳnh Tư công chúa, huý Thuỵ Nhu, quy vu Kiểm hiệu Thái uý. Thứ Quỳnh Bảo công chúa, huý Thuỵ Ngư, thích Tĩnh Quốc đại vương trưởng tử Nhân Quốc vương. Thứ Quỳnh Thái công chúa, huý Thuỵ Tư, kế quy vu Kiểm hiệu Thái uý. Quỳnh Huy, Quỳnh Tư, Vũ Túc giai tiên vong. Tôn thập tam, nam thất nữ lục. Chân Từ công chúa huý……… [], thích Phán thủ thượng vị Vũ Ninh hầu chi tử Chiểu. Dư giai thượng ấu. Thử Công chúa chi đích tôn tử dã.
Dịch: Công chúa được bảy người con. Con trưởng mất sớm, công chúa thương xót khôn nguôi, bèn nuôi quan nội hầu quốc công thay con. Đó là con nuôi công chúa. Người thứ hai là Văn túc vương Đạo Tái. Vương là người tài văn có thể giúp cho chính sự đương thời, tài võ có thể dẹp yên loạn nước, lấy con gái Tĩnh quốc đại vương, là công chúa Bảo Tư. Thứ nữa là Vũ túc vương Đạo [], lấy công chúa Bảo Chân, con gái thứ tư vua Thánh Tông. Con gái lớn là công chúa Quỳnh Huy húy là Thụy [] [], hai lần gã chồng đều không hòa hợp. Con gái thứ công chúa Quỳnh Tư, húy là Thụy Nhu, gả cho Kiểm hiệu thái úy. Thứ nữa là công chúa Quỳnh Bảo, húy là Thụy Ân, lấy con trưởng Tĩnh quốc đại vương là Nhân quốc vương. Thưa nữa là công chúa Quỳnh Thái, húy là Thụy Tư, làm vợ kế Kiểm hiệu thái úy. Quỳnh Huy, Quỳnh Tư, Vũ Túc đều mất sớm. cháu có mười ba người, bảy trai, sáu gái. Công chúa Chân Tử, húy là……… [], lấy con trai Phán thủ thượng vị Vũ ninh hầu tên là Chiểu. Ngoài ra đều còn nhỏ. Đó là tất cả con, cháu ngành đích của công chúa.
Chú thích Chửng (): cứu vớt. Sách Hoài Nam Tử (淮南子) - Tề tục huấn (齊俗訓): Tử lộ chửng nịch nhi thụ ngưu tạ (子路撜溺而受牛謝) tức là Tử Lộ cứu người chết đuối, được nhận một con bò tạ ơn. Theo sách Liễu Phàm tứ huấn, Tử Lộ là học trò của Khổng Tử, ông nhìn thấy có người rơi xuống nước, rất nhanh sẽ bị chết đuối, ông liền cứu người đó lên. Người đó đối với ông vô cùng cảm kích, tặng ông một con bò, Tử Lộ liền nhận lấy; Tử Lộ không cự tuyệt. Khổng Tử nghe được rất hoan hỉ, nói rằng: “Từ nay về sau, nước Lỗ sẽ có rất nhiều cứu những người chết đuối”. Tại sao? Vì nhận được sự báo đáp của người.

甲子二百八十二,公主所享年也.重興辛卯三月二十二日,薨之年月日也.天長府獨立村,公主所葬也.興隆元年四月十一日,葬之年月日也.主公主之喪,而請銘以葬者,文肅王也;論次其所得於 上相太師,而為之銘者,少保黎拱垣也。
Phiên âm: Giáp tý nhị bách bát thập nhị, Công chúa sở hưởng niên dã. Trùng Hưng Tân Mão, tam nguyệt nhị thập nhị nhật, hoăng chi niên nguyệt nhật dã. Thiên Trường phủ, Độc Lập thôn, Công chúa sở táng dã. Hưng Long nguyên niên, tứ nguyệt thập nhất nhật, táng chi niên nguyệt nhật dã. Chủ Công chúa chi tang, nhi thỉnh minh dĩ táng giả, Văn Túc vương dã. Luận thứ kỳ sở đắc ư Thượng tướng đại sư, nhi vi chi minh giả, Thiếu bảo Lê Củng Viên dã.
Dịch: Công chúa thọ được 282 ngày Giáp Tý. Ngày 22 tháng Ba năm Tân Mão,  niên hiệu Trùng Hưng, công chúa mất, táng tại thôn Độc Lập, Phủ Thiên Trường. Ngày táng là 11 tháng Tư niên hiệu Hưng Long năm đầu. Người chủ tang công chúa đến xin bài minh để táng là Văn túc vương. Người bàn luận với thái sư về những điều hay điều tốt của công chúa để viết bài minh là Thiếu bảo Lê Củng Viên.
Chú thích: 282 ngày Giáp Tý là khoảng 47 năm, năm mất của Công chúa là năm Tân Mão niên hiệu Trùng Hưng tức năm dương lịch 1291, suy ra công chúa sinh khoảng năm 1244, phù hợp với thông tin từ trang wikipedia.

銘曰:
Phiên âm:Minh viết:
Bài minh rằng:

            為善必福兮人之常程,
            謂仨(仁?)必壽兮天胡不靈;
            生有賢行兮歿有令名,
            嬪于相門兮世襲厥聲;
            村名獨立兮高處是塋,
            文非韓君兮忝為之銘.

Phiên âm:      
            Vi thiện tất phúc hề nhân chi thường trình,
            Vị nhân tất thọ hề thiên hồ bất linh?
            Sinh hữu hiền hạnh hề một hữu linh danh,
            Tần vu tướng môn hề thế tập quyết thanh.
            Thôn danh Độc Lập hề cao xứ thị oanh,
            Văn phi Hàn quân hề thiểm vi chi minh.
Dịch:      
            Làm thiện tất được phúc chư, là điều thường tình,
            Nói nhân tất được thọ chừ, trời đâu chẳng linh.
            Sống có nết na chừ chết được lưu danh,
            Làm vợ cửa tướng chứ đời đời khen mình.
            Nơi thôn Độc Lập chừ xứ cao mồ xanh,
            Không phải hàn quân chừ, lạm viết bài minh.

翰林侍講阮士廉書
Phiên âm:Hàn lâm Thị giảng Nguyễn Sỹ Liêm thư.
Dịch: Hàn lâm thị giảng NGUYỄN SĨ LIÊM viết.

翰林校書郎戴冕、周善眾鐫
Phiên âm:Hàn lâm Hiệu thư lang đới miện Chu Thiện Chúng tuyên.
Dịch: Hàn lâm hiệu thư lang Đới miện CHU THIỆN CHÚNG khắc.

金紫光祿大夫少保兼知檢定天下訟狀司黎拱垣撰
Phiên âm:Kim tử quang lộc đại phu, Thiếu bảo kiêm tri kiểm định thiên hạ tụng trạng ty Lê Củng Viên soạn.


興隆元年癸巳四月十二日
Phiên âm:Hưng Long nguyên niên Quý Tỵ tứ nguyệt thập nhị nhật
Dịch: Ngày 12 tháng Tư năm Quý Tỵ niên hiệu Hưng Long năm đầu,

義夫四朝元老平章軍國重事立
Phiên âm:Nghĩa phu tứ triều Nguyên lão bình chương quân quốc trọng sự lập.
Dịch: Chồng là Nguyên lão bốn triều, Bình chương quân quốc trọng sư, lập bia.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: macbupda trong 18 Tháng Hai, 2017, 09:58:22 pm
Bàn thêm về thân thế của công chúa Phụng Dương. Hiện nhiều trang trên mạng và cả sách in cho rằng công chúa là con gái của Thái sư Trần Thủ Độ. Thực ra trên văn bia chỉ nêu cha bà là Tướng quốc Thái sư. Trần Thủ Độ là Thái sư của Trần Thái Tông, nhưng chưa rõ ông có được phong Tướng quốc hay không. Theo nguồn 4 tổng hợp (Việt Nam bi minh trung Hán văn điển cố đích ứng dụng), có nêu nghi vấn rằng nếu bà là con gái của Trần Thủ Độ (chú họ của Trần Thái Tông), thì là đường muội (em) của vua Trần Thái Tông, nhà vua sẽ không nhận bà là con gái nuôi nội dung như trong bia.

Có số ít nguồn cho rằng bà là con gái của Tướng quốc Thái úy Trần Nhật Hiệu (em của Trần Thái Tông), ví dụ ở địa chỉ này: https://sites.google.com/site/ngovui1936/youtubecom-1/cong-chua-phung-duong-phu-nhan-thai-su-tran-quang-khai-con-ai

Giả thiết này không mâu thuẫn với các chi tiết trong cuộc đời Công chúa Phụng Dương.

Công chúa sinh năm 1244, mất năm 1291, mất trước chồng.

Khi bia lập xong vào năm Hưng Long nguyên niên (1293), chồng bà là Thượng tướng Thái sư (Trần Quang Khải) còn sống.

Trần Quang Khải sinh năm 1241, mất năm 1294.

Trần Nhật Hiệu mất năm Thiệu Long thứ 11 (1268), thọ 44 tuổi, tức sinh khoảng năm 1254 hoặc 1255.

Phu nhân Tuệ Chân, mẹ của công chúa ở góa khoảng hơn 20 năm, và mất trước công chúa tức là mất khoảng từ năm 1288 đến 1290.

Còn Trần Thủ Độ mất năm Thiệu Long thứ 7 (1264), thọ 71 tuổi, tức sinh khoảng năm 1193 hoặc 1194. Nếu Phụng Dương công chúa (sinh năm 1244) là con gái của Trần Nhật Hiệu (khi đó khoảng 24 tuổi) thì hợp lí hơn Trần Thủ Độ (năm 1244 đã khoảng 50 tuổi). Ngoài ra, theo như văn bia, bà còn có em, nên khả năng cha bà là Trần Nhật Hiệu càng lớn hơn so với là Trần Thủ Độ.

Con bà và Trần Quang Khải có hai người lấy con của Tĩnh Quốc Đại Vương Trần Quốc Khang, là anh em ngang hàng với Trần Quang Khải. Vậy nếu bà là con của Trần Nhật Hiệu (em Thái Tông), lấy Trần Quang Khải (con Thái Tông), tức là lấy người ngang hàng cũng hợp logic hơn.


Tiêu đề: Re: Nhà Trần và các cuộc Kháng chiến chống Quân xâm lược Nguyên Mông
Gửi bởi: Cuong Vu trong 26 Tháng Tư, 2017, 08:02:43 am
Tôi đã dịch gần hết Nguyên Sử, An Nam Truyện Quyển 129 kèm theo chú thích từ nhiều sách chữ Hán khác và các tài liệu nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài:

http://dammenghiencuulichsu.blogspot.com

Do thời gian dịch đã gần 3 năm mà công tác dịch thuật ngày càng nhiều nên có lẽ tôi sẽ không thể update được trong tương lai gần.

Bản dịch còn thiếu phần chú dẫn chi tiết cho trận Bạch Đằng, đó là vì tôi chưa bên nên sắp xếp như thế nào để người đọc không bị rối. Đa số nội dung không nằm trong An Nam Truyện mà ở các liệt truyện khác.