Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Quyết tử cho Tổ quốc... => Tác giả chủ đề:: chiangshan trong 22 Tháng Năm, 2008, 01:29:18 PM



Tiêu đề: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 22 Tháng Năm, 2008, 01:29:18 PM
Còn 1 tháng nữa là sẽ tới ngày kỉ niệm chiến thắng Đắk Pơ, xin phép trích dịch bài viết của 1 tay sĩ quan thiết giáp Mẽo, đăng trên ARMOR Magazine. Một số chỗ không liên quan lắm đến trận đánh đã được lược bớt cho gọn.

Do trình độ TA có hạn nên nhiều chỗ dịch hơi lởm khởm, mong các bác thông cảm ;D


Cái chết trên quốc lộ: sự cáo chung của liên đoàn cơ động 100

Đại uý Kirk A. Luedeke


Giới thiệu

Cuộc phục kích và sau đó là xoá sổ liên đoàn cơ động 100 là một trong những trận đánh cuối cùng của chiến tranh Đông Dương có sự tham dự của trên 1 tiểu đoàn của Pháp và VM. Bài viết này sẽ thảo luận về những yếu tố chiến thuật về thời gian, địa điểm chiến đấu, các bên đối địch giới hạn trong vấn đề chỉ huy, lực lượng tham chiến, học thuyết, điểm mạnh và điểm yếu.


Tình hình chiến lược

Cuối tháng 6/1954, cuộc chiến tranh Đông Dương đã đi đến hồi kết (1). Thất bại nặng nề của Pháp tại ĐBP, cùng với sự gia tăng số thương vong tương ứng theo từng năm kể từ khi chiến tranh bắt đầu năm 1946, đã rút hết ý chí tiếp tục chiến đấu của Pháp. Nước Pháp bắt đầu kêu gọi rút quân.

Chính phủ Việt Nam non trẻ tin rằng thắng lợi tại ĐBP chưa đủ để bảo đảm cho sự nhượng bộ mà họ mong muốn từ chính phủ Pháp (2). Do đó, mệnh lệnh đưa ra tiếp tục cuộc chiến đấu chống gây thương vong tối đa có thể cho quân Pháp. Máu của lính Pháp càng đổ nhiều ở VN, vị thế của đoàn đàm phán VN ở Geneva, Thụy Sĩ càng vững chắc.

Cứ điểm của quân Pháp ở An Khê là một trong những tiền đồn được rút bỏ sau sự kiện ĐBP. Trong nhiều trường hợp, dân thường và sĩ quan cao cấp di tản khỏi An Khê bằng máy bay, trong khi đại bộ phận binh sĩ Pháp di tản trong những đội hình thiết giáp dọc theo những con đường quốc lộ lộng gió uốn khúc ngang cao nguyên Trung phần. Một đoàn xe trong số đó là liên đoàn cơ động 100, một đơn vị hỗn hợp bộ-pháo đã chiến đấu với VM trên cao nguyên Trung phần trong suốt 1 năm. Tổn thất và mệt mỏi, và cả tự hào, binh lính của G.M.100 đang sẵn sang để về nhà khi họ rời bỏ cứ điểm ngày 24/6/1954. Phần lớn sẽ không bao giờ đạt được điều đó, sẽ chết trong một trận phục kích không lường trước dẫn tới sự xoá sổ của 1 đơn vị hùng mạnh một thời. Không phải là 1 trận đánh chủ chốt theo tiêu chuẩn của chiến tranh Đông Dương, cái chết của G.M. 100 được mô tả bởi giao tranh khốc liệt, và sụp đổ bởi sai lầm của những người chỉ huy đơn vị. Binh sĩ G.M.100 nằm trong số những chiến binh tốt nhất của quân đội Pháp, và đó là lí do một số người cuối cùng đã tới được Pleiku an toàn nhiều ngày sau trận phục kích.   

(….)

Khu vực chiến sự

Nằm trên Tây Nguyên giữa tỉnh lị của Pleiku và Quy Nhơn, trên bờ biển Đông, An Khê là 1 cứ điểm quan trọng của Pháp. Do nó nằm gần những trục đường ít ỏi trên cao nguyên, quân Pháp có thể tuần tiễu khu vực bằng cơ giới và ngăn chặn các đơn vị VM khi họ định xâm nhập xuống phía nam (4)

Cuối tháng 6/1954, phát hiện VM đang trong tư thế mở cuộc tiến công lớn vào Tây Nguyên, và do không còn lực lượng dự bị để chống lại họ, Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh rút bỏ An Khê. VM dự định tấn công quân Pháp đang rút chạy, đã triển khai bố trí để ngăn chặn đội hình quân Pháp khi họ đang tiến đến những điểm hội quân nằm rải rác trên đất VN.

Cuối tháng 6/1954 là mùa khô ở VN. Các trục đường dễ lưu thông, cho phép việc chuyển quân trên các đường quốc lộ diễn ra nhanh chóng. Đã ở VN trong suốt 1 năm, lính Pháp đã thích nghi với cái nóng thiêu đốt của mùa hè. 

Địa hình đóng vai trò quyết định trong trận tiêu diệt G.M.100. Con đường giữa An Khê và Pleiku (quốc lộ 19) được bao bọc bởi cỏ voi (elephant grass) và rừng cây dày đặc che giấu hoàn hảo cho quân tấn công. Ở nhiều điểm dọc quốc lộ 19, địa hình núi đá tạo thành những hẻm núi chật hẹp, hạn chế rất nhiều việc cơ động lên cao. Đèo Mang Yang là điểm hội quân giữa G.M.100 và G.M.42, cách An Khê 20km. Đại tá Barrou coi con đèo là điểm then chốt.


Thành phần các bên

….
Các GM (liên đoàn cơ động) được thiết lập theo mô hình các lữ đoàn cơ giới hoá độc lập dựa trên các chiến đoàn (combat commands) của Mỹ trong WW2. GM thường bao gồm 3 tiểu đoàn bộ binh và 1 tiểu đoàn pháo binh, cùng với các bộ phận thiết giáp hoặc tăng, công binh, thông tin và quân y, tổng cộng 3000-3500 quân. Các GM rất hiệu quả trong việc nhanh chóng tăng viện cho các vị trí ở đồng bằng, nhưng đồi núi và đầm lầy thịnh hành ở VN cản trở hoạt động của họ, giới hạn các GM ở những trục đường chật hẹp. Khả năng cơ động nhanh chóng của họ nhanh chóng trở thành gót chân Achilles, do các xe cơ giới không thể cơ động ở địa hình phức tạp (6.)

Lực lượng tham chiến của Pháp bao gồm:
-   Liên đoàn cơ động 100 do đại tá Barrou chỉ huy.
-   Đại đội chỉ huy của G.M.100 do đại uý Fievet chỉ huy.
-   Trung đoàn Triều Tiên do trung tá Lajounie chỉ huy.
-   Tiểu đoàn 1 Triều Tiên do thiếu tá Kleinmann chỉ huy.
-   Tiểu đoàn 2 Triều Tiên do thiếu tá Guinard chỉ huy.
-   Tiểu đoàn hỗn hợp thuộc trung đoàn 43 bộ binh thuộc địa (Bataillon de March /43e Regiment d’Infanterie Coloniale) do thiếu tá Muller chỉ huy (từ đây sẽ gọi tắt là tiểu đoàn 43 – chiangshan).
-   Tiểu đoàn 2, trung đoàn 10 pháo binh thuộc địa do thiếu tá Arvieux chỉ huy.
-   Chi đội 3, trung đoàn 5 thiết giáp (Royale-Pologne) do đại uý Doucet chỉ huy.

Liên đoàn 100 là 1 đơn vị kì cựu với quân số trên giấy tờ là 843 lính cho mỗi tiểu đoàn bộ binh. Trung đoàn Triều Tiên đã chứng tỏ mình trong chiến đấu cùng với sư đoàn 2 bộ binh Mỹ ở Triều Tiên và tự hào mang Indian patch (???) của đơn vị (7). Nhiều sĩ quan của nó đã tự hạ cấp để đi phục vụ ở Triều Tiên (Many of its officers had taken a reduction in rank to serve in the Coree). Tiểu đoàn thuộc địa 43 là 1 đơn vị hỗn hợp người VN và CPC đã chiến đấu tốt trong quá khứ (8.).

Có thể nói thêm là G.M.100 đã mệt mỏi sau những trận chiến đẫm máu và nhiều người xem cuộc rút quân này là dấu hiệu cho thấy cuộc chiến đã kết thúc với họ. G.M.100 được lãnh đạo tốt bởi các sĩ quan và hạ sĩ quan, ở cấp đại đội cũng như các cấp cao hơn. Đại tá Barrou là đã sớm nhận ra điểm yếu của liên đoàn cơ động dưới quyền mình khi ông viết trong nhật ký:
 
“Điểm yếu nhất là việc bảo vệ pháo binh và các cơ sở chỉ huy, thông tin khi phải để ra càng nhiều bộ binh càng tốt làm nhiệm vụ truy lung và tiêu diệt kẻ địch”. “Những thứ làm nên sức mạnh của GM là hậu cần và liên lạc cũng tạo ra những đòi hỏi khó khăn ở khu vực rừng núi khi mà đường xá rất ít và ở trong tình trạng tồi tệ” (9.)

Những điều ám ảnh đại tá, sau đó sẽ quyết định số phận đơn vị của ông. Đội ngũ lãnh đạo của G.M.100 rất mạnh, bao gồm các sĩ quan tận tuỵ và dày dạn không lạ lẫm gì với cuộc chiến ở VN. Có lẽ đây là một sự tưởng thưởng cho họ - những trung sĩ, trung uý, đại uý và thiếu tá của liên đoàn – là nhiều binh sĩ đã sống sót qua cuộc phục kích đẫm máu ở cây số 15.


Trung đoàn 803 VM

(Bọn Tây nhầm hết về phiên hiệu đơn vị của ta. Đánh trận này là trung đoàn 96 (thiếu 1d) của cụ Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) và 1d của trung đoàn 120 – chiangshan).

….
Trung đoàn 803 VM đã chiến đấu chống lại người Pháp trên Tây Nguyên trong 2 năm và đã bắt binh sĩ G.M.100 trả giá đắt từ tháng 2/1954 trong những trận phục kích và pháo kích bằng súng cối vào An Khê. G.M.100 đã đáp lại điều đó ở Dak Ya-Ayun trong tháng 3 (It was a price that G.M. 100 had paid in kind at Dak Ya-Ayun in March). Có vẻ  phù hợp là 2 tháng sau trung đoàn 803 sẽ là người thực hiện trận phục kích đánh dấu sự cáo chung của đơn vị Pháp này.

Không rõ về các chỉ huy trung đoàn 803. Không có báo cáo nào về tên các sĩ quan trung đoàn hay tiểu đoàn, đối với họ là cuộc chiến để giữ bí mật. VM thắng các trận đánh với tổn thất lớn về người và do đó, nhiều sĩ quan không sống sót qua trận đánh. Một binh nhì trong trận chiến đấu rất có thể sẽ đảm nhiệm vị trí chỉ huy của trung sĩ hay trung uý trong trận tiếp theo. Đấu tranh vì tự do và sự giải phóng, VM không đề cao cá nhân mà chiến đấu theo tập thể. Cơ cấu lãnh đạo của VM khác với người Pháp, nhưng đủ hiệu quả. Có nhiều sĩ quan chính trị trong quân đội VM, các chính trị viên thường kết hợp với các sĩ quan và hạ sĩ quan lãnh đạo binh sĩ Việt trung thành với lý tưởng CS.





Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 22 Tháng Năm, 2008, 01:32:31 PM
Sự cáo chung của G.M.100 – Bước khởi đầu

Với việc ĐBP thất thủ và không còn lực lượng dự bị đế ngăn chặn làn song tiến công sắp tới của CS vào cao nguyên trung phần, bộ chỉ huy Pháp ra lệnh cho G.M.100 bỏ An Khê rút về Pleiku, 80km về phía tây trục đường do đối phương kiểm soát. Dự kiến G.M.100 khởi hành vào 25/6, sau khi hoàn tất di tản các công dân Pháp, quan chức cao cấp và trang thiết bị ở An Khê bằng đường không. 

Ngày 23/6, tin tình báo cho biết trung đoàn 803 VM đang di chuyển từ căn cứ của họ ở An Hoà tới quốc lộ 19. Các tin tức cũng cho biết trung đoàn 803 có ý định ngăn chặn đoàn quân di tản trước khi họ tới được Pleiku. Tin tức quan trọng này, sẽ dẫn tới sai lầm đắt giá đầu tiên của đại tá Barrou góp phần làm đơn vị của ông bị tiêu diệt. Chuyển ngày xuất phát lên 24/6, Barrou quyết định G.M.100 sẽ di chuyển 22km tới đèo Mang Yang, nơi các đơn vị của G.M.42 và liên đoàn dù 1 (A.G.1) đang chờ sẵn để hội quân và hộ tống đoàn xe tới Pleiku. Barrou dự định sẽ vượt qua đoạn đường này thật nhanh chóng, bỏ qua trinh sát và cảnh giới. Kế hoạch ban đầu là G.M.100 sẽ dừng ở cây số 11, trong khi 1 đại đội của tiểu đoàn thuộc địa 43 sẽ trinh sát 11km tiếp theo trước khi cho cả đoàn quân tiến vào khu vực hẻm núi khó cơ động giữa cây số 12 và 20 (the narrow defiles and restricted maneuver terrain between kilometers 12-20). Giờ đây Barrou quyết định cả đoàn tiến về cây số 22 trong một khối duy nhất. Ông hy vọng sẽ đánh bại trung đoàn 803 để tới đèo Mang Yang và đã chuẩn bị hy sinh công tác cảnh giới để đạt được điều đó.

G.M.100 rới An Khê lúc 0300 ngày 24/6/1954. Tiểu đoàn thuộc địa 43 CPC-Pháp dẫn đầu, tiếp theo là tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 1 Triều Tiên. Cả 3 tiểu đoàn ngồi trên xe mui trần để có thể quan sát xung quanh. Có mặt  trong đội hình G.M.100 còn có tiểu đoàn khinh quân 520, một đơn vị lính người VN xây dựng theo phương thức của VM nhằm tiếp cận và tiêu diệt các đơn vị du kích CS. Thật không may, tiểu đoàn khinh quân này là 1 đơn vị vô kỷ luật, và sự hiện diện của nó trong đội hình thiết giáp trong ngày định mệnh này sẽ gây hậu quả khủng khiếp cho đại tá Barrou và lính của ông (12.)

Mỗi tiểu đoàn bộ binh của G.M.100 có 1 đại đội pháo phối thuộc cho họ. Đại đội chỉ huy và sở chỉ huy lưu động của liên đoàn bố trí trong đoàn xe giữa tiểu đoàn 520. Đến bình minh, đoàn xe trên đường tới Pleiku cùng với 300 hoặc hơn thế dân thường từ An Khê không được di tản bằng đường không. Mặc dù điều này trái lệnh của bộ chỉ huy Pháp cấm cho dân thường đi cùng với đoàn xe quân sự, không người nào của G.M.100 tỏ ra quan tâm hay chú ý. Khi đội hình đã trên đường, máy bay ném bom B26 phá huỷ các kho đạn dược và hậu cần ở An Khê. Cuộc hành quân bắt đầu.

Trung đoàn 803 VM biết rõ G.M.100 đang đi đâu, và vào lúc này, họ đang chạy đua bằng đôi chân để tới quốc lộ 19 trước khi G.M.100 hội quân với G.M.42 và A.G.1. VM hiểu rằng nếu người Pháp hội quân thành công, VM sẽ không đủ sức để ngăn chặn họ đi về Pleiku. Điều quyết định tới thành công của nhiệm vụ này là họ phải tấn công đoàn xe Pháp ở một địa điểm nào đó nằm giữa cây số 11 và 15.

Trong tay đại tá Barrou còn 1 đơn vị dưới quyền mà ông định sử dụng. Một đại đội người Bana do đại uý Vitasse, 1 biệt kích Pháp đã chiến đấu ở VN 4 năm chỉ huy, bố trí trong rừng ở phía bắc quốc lộ 19. Bất kỳ đơn vị CS nào định vượt đường phía tây An Khê sẽ bị đơn vị của Vitasse phát hiện và cảnh báo cho quân Pháp.

Lúc 0900, đoàn xe tới cây số 6 và bị bắn bởi súng liên thanh nhẹ. Một số binh sĩ tiểu đoàn 1 Triều Tiên bị thương, nhưng đối phương đã biến mất cũng nhanh như khi họ đến. Điểm đầu tiên cho VM. Đoàn xe tiếp tục hành trình, binh sĩ GM gia tăng bực bội, cảm nhận sự nguy hiểm ẩn giấu trong rừng rậm bao bọc quanh họ.

G.M.100 nghỉ chân tại cây số 11, mục tiêu chính của ngày hành quân đầu tiên. Kể từ cây số 15, con đường, bao bọc bởi rừng rậm dày đặc và vách đá, chạy qua những điểm phục kích lí tưởng. Tại đây đại tá Barrou quyết định chia đoàn xe làm 4 nhóm, mỗi nhóm gồm gồm cả bộ binh, pháo binh và thiết giáp, mỗi nhóm sẽ là 1 đơn vị tác chiến độc lập, có thể tự vệ nếu gặp nguy hiểm, đồng thời tránh cho cả đoàn bị tiêu diệt trong trường hợp VM đặt bẫy. Nhóm đầu tiên là tiểu đoàn 43, đại đội đi đầu do đại uý kì cựu Leounzon chỉ huy rời cây số 11 lúc 1250, nhóm 2 lúc 1300, nhóm 3 lúc 1330 và nhóm cuối cùng lúc 1400. Các nhóm duy trì liên lạc vô tuyến khi hành quân.

Lúc 1330, xe thông tin của G.M.100 nhận được điện khẩn của đại uý Vitasse: “Chú ý! Các đơn vị VM cách quốc lộ 19 3km về phía bắc”. Gần như đồng thời, 1 máy bay trinh sát của Pháp phát hiện VM ở Kon-Barr, cách cây số 11 8km về phía bắc. Lập tức, các khẩu pháo 105mm của đại đội 4, vẫn còn ở lại cây số 11 nã đạn vào các vị trí mà máy bay trinh sát chỉ điểm ở gần Kon-Barr. Với thông tin quan trọng này, dường như đoàn xe Pháp đã có được thứ cần thiết để ngăn chặn thảm hoạ.

Xe thông tin của G.M. 100 ghi nhận báo cáo và chuyển chúng xuống các nhóm của đoàn. Tiểu đoàn khinh quân 520, tiểu đoàn 1 và 2 Triều Tiên, tiểu đoàn 2/10 pháo binh, tất cả đều nhận được thông tin. Vấn đề là xe thông tin không liên lạc với tiểu đoàn 43, và họ đang đi đầu đội hình! Sẽ không bao giờ biết được vì sao lại có sai lầm tai hoạ này, vì xe thông tin và các nhân viên đều bị tiêu diệt trong trận đánh sau đó. Tuy nhiên, đại tá Barrou đã nhiều lần phàn nàn là ông thiếu 20 nhân viên điện đài so với biên chế. Thiếu cảnh báo về sự xuất hiện của VM ở quốc lộ 19, Leounzon và tiểu đoàn 43 hành quân mà không đề phòng.

May mắn cho G.M.100, đại uý Leounzon là 1 chiến binh hiểu biết về rừng già đã có kinh nghiệm với những trận phục kích của VM sau nhiều năm chiến đấu. Ở cây số 15, con đường chạy dài theo một dải đất bằng hẹp, bao phủ bởi cỏ voi cao 6 feet kéo dài về phía tây. Yên tĩnh. Quá yên tĩnh. Không nhìn thấy cả chim chóc và điều này khiến Leounzon lo lắng. Liên lạc với thiếu tá Muller, tiểu đoàn trưởng, anh ta đề nghị cho 1 toán tiền trạm trước khi cả đoàn đi vào khu vực. Muller băn khoăn vì thời gian cần thiết để làm việc đó. Ông cũng cảm thấy rằng nếu Leounzon đụng địch, các đại đội còn lại không thể yểm trợ vì bị bụi rậm cản trở tầm nhìn. Không nản chí, Leounzon đề nghị: 

“Nào, hãy cùng thoả thuận chuyện này. Tôi sẽ cùng đại đội rời khỏi con đường và chỉ đi vòng lên trên kia qua bãi cỏ. Nếu gần đường không có gì, chúng ta sẽ biết được, và nếu tôi đụng địch, điều đó sẽ cảnh báo anh sớm và anh có thể hỗ trợ tôi mà không làm suy yếu đoàn xe”(13)

Muller đồng ý và đại đội 1 của Leounzon rời khỏi con đường, di chuyển thận trọng qua bãi cỏ voi, cố gắng trèo lên ngọn đồi nhỏ ở giữa bãi đất có thể quan sát tốt hơn cả khu vực. Trung sĩ Li-Som, một người CPC và một trong những người lính tốt nhất của Leounzon dừng lại và bảo cả tiểu đội im lặng. Anh ta lắng nghe cẩn thận, đôi mắt mở to khi nhận ra mình đang nghe thấy cái gì. Khi 1 cơ thể lớn di chuyển qua bãi cỏ voi, các nhánh cỏ phát ra tiếng “knack” khi chúng trở lại vị trí cũ sau khi bị dẫm lên. Li-Som nhanh chóng nhận ra VM đang ở đây và đang sẵn sang tiêu diệt G.M.100 khi họ di chuyển qua địa hình trống trải mà không ẩn nấp. Đột nhiên, 2 khẩu súng máy VM khai hoả vào 1 trung đội CPC khác của đại đội Leounzon ở cự ly 30m. Li-Som lao về phía khẩu súng, ra lệnh cho trung đội theo mình. Khi anh ta ném lựu đạn phá huỷ ổ súng đối phương, khẩu kia bắn gục Li-Som bằng một loạt đạn. Lúc này là 1420. Trận đánh đã bắt đầu.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 22 Tháng Năm, 2008, 01:32:51 PM
Trận chiến và các sự kiện sau đó

Đại đội 1 của Leounzon ngay lập tức vào trận, bắn trả lại. Lính thông tin (RTO) của Leounzon cố liên lạc với thiếu tá Muller, nhưng điện đài đã bị 1 viên đạn .50 bắn vỡ. Phá huỷ nó để VM không sử dụng lại được, anh ta tham gia trận đánh. VM tấn công dữ dội tiểu đoàn 43 bằng hoả lực súng máy, bazooka, súng không giật và súng cối. Trên thực tế, toàn bộ trung đoàn 803 đã triển khai quanh cây số 15 và đang tiến hành một trận phục kích hoàn hảo trước một đối thủ bị bất ngờ và mất phương hướng. Các đơn vị bị máy bay trinh sát phát hiện chỉ là nghi binh, trong khi trung đoàn 803 đã vào vị trí nhiều giờ trước khi G.M.100 tới. Quân Pháp đã thua trong cuộc đua tới đèo Mang Yang, và giờ đây đang chiến đấu để sinh tồn.

Trước 1420, đại tá Barrou đi phía sau trung đội thiết giáp, gồm 3 xe half-track và 2 thiết giáp M8. Barrou ngồi trên chiếc jeep mui trần, nhưng đi cùng với xe thông tin liên đoàn, thông tin cho ông biết về chướng ngại vật bằng đá trên đường ở cây số 15, theo báo cáo của 1 máy bay trinh sát khác.

Lúc 1415, Barrou nhận thấy nhóm đi đầu của đoàn xe đã tăng tốc độ và trung đội thiết giáp đã nới rộng khoảng cách giữa nhóm đi đầu với đại đội chỉ huy. Barrou ra lệnh cho xe thông tin báo cho trung đội thiết giáp chạy chậm lại. Ngay sau khi trung đội trưởng thiết giáp nhận được thông báo, Barrou nghe thấy tiếng súng máy và tiếng lựu đạn của Li-Som. Đột nhiên, súng cối hạng nặng và súng không giật nã vào đại đội chỉ huy. Xe cộ bắt đầu bốc cháy và tiếng kêu gào của những người trúng đạn chìm đi trong những tiếng nổ.

Chỉ trong 4 phút, trung đội thiết giáp đã bị tiêu diệt. Cả 3 xe half track và 1 xe M8 bốc cháy. Chiếc M8 còn lại, mặc dù bị bất động, vẫn phát hiện được ổ súng máy của đối phương đang chặn đoàn xe Pháp trên đường và bắn tung nó bằng một loạt đạn liên thanh. Lúc 1425, xe thông tin của G.M.100 trúng một phát đạn bắn trực tiếp từ khẩu không giật 57mm của đối phương và nổ tung trong một quả cầu lửa. Tất cả những ai có thể giải thích vì sao tiểu đoàn thuộc địa 43 không được cảnh báo về sự hiện diện của VM đều chết một cách đau đớn. Ra đi cùng với chiếc xe là khả năng chỉ huy và điều khiển đoàn xe của đại tá Barrou cũng không còn. Tiểu đoàn 43 và đại đội chỉ huy đều đang tự lực chiến đấu vì sự sống còn. Hỗn loạn bao trùm.

Đại tá Barrou và đại uý Fievet, đại đội trưởng đại đội chỉ huy cố gắng tập hợp binh lính để mở cuộc phản công vào các vị trí của VM trên mỏm đồi phía bắc đoàn xe đang xả vào đoàn xe bất động những luồng đạn chết chóc. Fievet gục xuống, bị thương nặng, trong khi đại tá Barrou cũng trúng đạn vào đùi và lăn xuống rãnh nơi Fievet đang hấp hối, ông trao cho Fievet Huân chương chữ thập danh dự của sĩ quan lê dương (Officer’s Cross of the Legion of Honor) trước khi anh ta tắt thở.

Trung tá Lajouanie, trung đoàn trưởng trung đoàn Triều Tiên cũng tổ chức phản công vào ngọn đồi do đối phương chiếm giữ. Đạn ria của chiếc M8 còn lại đang ghìm đầu các vị trí địch và có vẻ quân Pháp có thể đánh vòng vào sườn và chiếm ngọn đồi. Tuy nhiên, khi Lajounie tấn công, pháo thủ chiếc M8 bị bắn chết và VM dồn sức vào quân xung phong Pháp, đốn gục họ bằng hoả lực dữ dội. Lajounie ngã xuống gần đại tá Barrou và ông cũng được tặng huân chương Danh dự của lê dương. Đến 1445, đại đội chỉ huy không còn là một lực lượng chiến đấu, và nhiều sĩ quan chủ chốt của G.M.100 đã chết.

Barrou trèo lên chiếc M8 câm lặng, định điều khiển súng trên xe bắn vào các vị trí VM. Không may cho Barrou, ông bị phát hiện và bị bắn trước khi làm khẩu súng máy hoạt động trở lại. Barrou rơi từ trên xe xuống và lăn xuống rãnh nơi ông quyết định sẽ chết. Xé nát giấy tờ, ông nằm đó cho tới khi được y tá băng bó. Không nhận ra người máu me đầy mình nằm đó là đại tá, người y tá di chuyển về phía tiểu đoàn 43 sau khi đã sơ cứu cho ông.

Thiếu tá Hipolite, trung đoàn phó Trung đoàn Triều Tiên bị giết ngay sau đó và bộ binh VM trèo lên các xe của đại đội chỉ huy, hạ sát các binh sĩ bị thương và tiếp tục cuộc xoá sổ liên đoàn. Mười phút sau khi cuộc phục kích bắt đầu, G.M.100 đã mất toàn bộ phương tiện thông tin và 3 sĩ quan cao cấp. Thiếu tá Muller và tiểu đoàn 43 đang chiến đấu để sống còn, nhưng cứu viện đang trên đường. Muller làm điều cần thiết, chỉ huy nhóm của mình không chờ lệnh đại tá Barrou. Muller không biết rằng chỉ huy của mình đang nằm trong rãnh, choáng váng vì vết thương và không còn khả năng chỉ huy cuộc chiến đấu.

Tiểu đoàn khinh quân 520, vốn không phải là thành phần của G.M.100 và ít xứng đáng mang danh là một đơn vị chiến đấu (14), tan vỡ và bỏ chạy ngay khi trận đánh bắt đầu, bỏ mặc đại đội chỉ huy GM và đại đội chỉ huy của tiểu đoàn 2/10 pháo binh đơn độc. Tài xế các xe chở chất nổ công binh bỏ xe chạy vào rừng tìm chỗ nấp. Lúc 1500, những chiếc xe công binh chở đầy pháo sáng (pyrotechnics) và chất nổ bị bỏ lại bắt đầu nổ tung dưới làn đạn dữ dội của VM. Mảnh vỡ trùm lên các binh sĩ Pháp đang nấp sau xe ở gần đó. 
 
Tiểu đoàn 2 và tiểu đoàn 1 Triều Tiên tới ngay sau 1500 và vượt qua những chiếc xe cháy để hội quân với tiểu đoàn 43. Tận dụng thời cơ VM đang bất ngờ trước sự xuất hiện của 2 tiểu đoàn nguyên vẹn, tiểu đoàn 43 cố gắng vượt vòng vây với số xe tối đa có thể và bị tổn thất nặng nề trước hoả lực VM. Vài chiếc xe của tiểu đoàn 43 đã thoát khỏi cuộc tàn sát và tới được cây số 22 để kể về trận phục kích.

Thiếu tá Kleinmann, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 Triều Tiên và các sĩ quan còn lại của G.M.100 tổ chức cuộc phòng thủ bao quanh đoàn xe đã tan vỡ. Ông ra lệnh cho đại đội 4 triển khai những khẩu lựu pháo và hạ nòng bắn thằng vào các vị trí VM khi bộ binh của họ định xông lên tấn công. Hành động này không nghi ngờ gì đã cứu sống người Pháp, cuộc tấn công của VM tan vỡ dưới sức tàn phá của pháo binh. Đối với các binh sĩ các tiểu đoàn 43 và Triều Tiên, nhìn thấy quân Việt bị hạ gục giúp tinh thần của họ phấn chấn lên và dường như được truyền thêm quyết tâm chiến đấu vì sự sống.
 
Lúc 1620, đạn dược bắt đầu cạn. Máy bay B26 của không quân tới yểm trợ, nhưng do giao chiến diễn ra ở cự ly quá gần, cả lính Pháp và Việt đều bị sát thương bởi những loạt đạn bắn xuống bừa bãi từ trên không. Khi hoàng hôn xuống, quân Pháp nhận ra họ không thể cầm cự thêm. Đại đội 4 pháo binh đã bị loại khỏi vòng chiến, các pháo thủ chết và bị thương, pháo hết sạch đạn. Khi quân Pháp chặn được các đợt tấn công của bộ binh VM, súng cối nã vào chu vi phòng thủ của Pháp khiến cho số thương vong liên tục gia tăng. 

Lúc 1715, thiếu tá Kleinmann nhận được lệnh từ bộ chỉ huy vùng của Pháp ra lệnh cho ông bỏ xe đi bộ và phá vây tới cây số 22 với bất cứ thương binh nào có thể mang theo để hội quân với G.M.42 và các đơn vị Pháp ở đó. Kleinmann thảo luận với tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Triều Tiên, thiếu tá Guinard. Cả hai quyết định rằng không thể nào mang theo các thương binh nặng. Làm như vậy trên quãng đường khó khăn hơn 10km xuyên qua rừng rậm và dưới hoả lực sẽ gây thêm nhiều thương vong. Họ quyết định bỏ lại thương binh cùng với các nhân viên quân y tình nguyện. Cuộc đối thoại tiếp theo giữa thiếu tá Kleinmann và thiếu tá – bác sĩ Varme-Janville, bác sĩ phẫu thuật của G.M.100 epitomizes the self-sacrifice and dedication to the wounded that the French doctor possessed (???).

“Janville, chúng ta nhận được lệnh. Rời khỏi con đường lúc 1900.”

“Còn những người bị thương?”

“Janville, các thương binh ở lại đây. Anh biết ta không thể làm gì cho họ sau khi rời khỏi đường.”

“Thưa ngài, tôi không nghĩ mình có ích nhiều trong chuyện này. Người ta có các bác sĩ giỏi ở Pleiku nhưng mọi người cần tôi ở đây. Tôi sẽ ở lại với họ”(15)

….

Lúc 1900, những binh sĩ còn lại của G.M.100 phá vòng vây đã giết quá nhiều đồng đội của họ. Khi chạy vào rừng, họ thấy những người bị thương ở chân trụ lại ở đoàn xe chiến đấu trong nỗ lực cuối cùng nhằm có thêm thời gian cho bộ binh chạy thoát.

Các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn nhận ra rằng VM có thể phát hiện cuộc rút lui và sẽ chặn họ lại. Họ quyết định chia thành những toán nhỏ cỡ trung đội do các sĩ quan hoặc hạ sĩ quan chỉ huy, vượt đoạn đường khó khăn tới cây số 22.

Trong những ngày tiếp theo, các toán này phải vượt qua rừng già dày đặc, các trận phục kích lẻ tẻ của VM, và những người dân tộc thiểu số đang tìm cách giết hoặc bắt cóc lính Pháp. Cuối cùng, lúc 1130 ngày 25/6, một trung đội của đại đội 4, tiểu đoàn 1 Triều Tiên đã gặp toán tuần tra của liên đoàn dù 1. Những tàn binh kiệt quệ của G.M.100 cuối cùng cũng tới được cây số 22. Trong khi những binh sĩ này sống sót, đơn vị của họ, G.M.100  danh tiếng một thời đã chết 1 ngày trước đó ở cây số 15 trên quốc lộ 19.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 22 Tháng Năm, 2008, 01:33:10 PM
Những sự kiện chính, kết quả

Buồn thay, đối với những người lính G.M.100, thử thách vẫn chưa chấm dứt. Họ còn phải đương đầu với 55km trên con đường thù địch và đoàn quân hỗn hợp G.M.42 và 100, A.G.1 tiếp tục bị quấy nhiễu cho đến khi họ tới được Pleiku ngày 29/6. Trong số 222 người của đại đội chỉ huy khi G.M.100 rời An Khê, chỉ còn lại 84 người. Tiểu đoàn 43 thuộc địa, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 Triều Tiên, gồm 834 lính mỗi tiểu đoàn giờ còn lại tương ứng là 452, 497 và 345. Tiểu đoàn 2, trung đoàn 10 pháo binh thuộc địa còn lại 215 so với quân số ban đầu là 474. 85% xe cộ, 100% pháo binh và 68% thiết bị thông tin của G.M.100 bị mất. 50% súng trường và súng máy bị VM tịch thu.

Đại tá Barrou, thật đáng ngạc nhiên, đã sống sót sau khi đơn vị của ông bị huỷ diệt, được một đội tuần tra Pháp cứu và cáng về. Đội tuần tra sau đó bị VM bắt và Barrou phải tham dự vào cuộc hành trình chết chóc suốt 100 dặm hoặc hơn tới trại tù binh, nhưng ông đã sống sót qua cuộc chiến và cuối cùng được trao trả về Pháp.

Trung đoàn 803 VM cho đi cũng nhiều như đã nhận và được bổ súng 1 tiểu đoàn một ngày sau trận chiến đấu ở cây số 15. Họ nhanh chóng tham dự lại các hoạt động tác chiến trên Tây Nguyên  và tiếp tục chiến đấu chống quân Pháp cho tới khi hiệp định được ký ngày 20/7.

Do truyền thống giữ bí mật của VM, không rõ họ đã bị tổn thất bao nhiêu, nhưng không nghi ngờ gì là trung đoàn đã khoác lên mình vinh quang tiêu diệt 1 trong những đơn vị cơ giới tốt nhất của quân đội Pháp. Nhiều năm sau, trung đoàn 803 sẽ tiếp tục chiến đấu chống lại kẻ xâm chiếm mới. Lần này là quân đội Hoa Kỳ.

Mục đích của VM trong việc tiêu diệt đoàn xe Pháp đang rút về Pleiku rất đơn giản. Bằng việc chứng minh khả năng gây thiệt hại nặng nề cho quân đội Pháp sau tấm gương thất bại của Pháp ở ĐBP, người Việt có thể điều chỉnh các điều khoản của hiệp định hoà bình giữa Pháp và chính phủ VN lâm thời của Hồ Chí Minh. Không đời nào họ muốn nước Pháp giữ lại phần lãnh thổ nào của VN, hay muốn nước Pháp cảm thấy muốn tiếp tục cuộc chiến. Bằng việc tiêu diệt đoàn xe Pháp, người Việt đánh đối thủ đang gục ngã, nhưng họ làm thế để gửi đến một thông điệp rõ ràng rằng VN là người chiến thắng.

Với tất cả những mục tiêu và ý định, cuộc chiến đã kết thúc khi G.M.100 bị tiêu diệt ngày 24/6/1954. Tuy nhiên, bằng những gì đã làm, người Việt thúc đẩy sự ra đi của người Pháp khỏi VN và cho người Pháp thấy thực tế là trước khi người lính cuối cùng rút đi, sẽ vẫn là cuộc chiến cho tới cùng. Nước Pháp đã ở lại quá lâu mảnh đất mà giờ đây họ đang chuẩn bị từ bỏ. Để bảo đảm người Pháp không thể nghĩ khác, không thể cân nhắc về việc theo đuổi chiến tranh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tướng vĩ đại nhất của VN tiếp tục gây sức ép cho đến khi nước Pháp nhận ra rằng tiếp tục sự hiện diện của họ trên VN sẽ dẫn tới nhiều cái giá sinh mạng binh lính phải trả. Không đầy 1 tháng sau thảm hoạ ở cây số 15, người lính Pháp cuối cùng rời khỏi đất VN.

Nhiều sự kiện đã góp phần vào việc G.M.100 bị tiêu diệt. Đại tá Barrou vốn rất cẩn trọng và giỏi sử dụng các đội trinh sát và tiền vệ khi cơ động liên đoàn. Khi nhận được báo cáo trung đoàn 803 định cắt đứt ông Pleiku, ông cố chạy đua với VM, thay vì thực hiện các biện pháp trinh sát và cảnh giới có thể đã ngăn ngừa cuộc phục kích. Cám ơn cho hành động độc lập của riêng đại uý Leouzon, trong một phạm vi rất nhỏ đơn vị đã được cảnh báo sớm trước khi đoàn xe đi vào tầm bắn của hoả lực gián tiếp và trực tiếp. Chia nhỏ đoàn xe cũng cho phép trung đoàn 803 tập trung tấn công nhóm đi đầu, gây thiệt hại nặng cho họ trước khi các tiểu đoàn Triều Tiên có thể tới nơi để chặn làn sóng tấn công lại
 
Việc xe thông tin không thông báo được cho Thiếu tá Muller tiểu đoàn 43 biết đã phát hiện VM ở cây số 15 là yếu tố quyết định đến cách Muller triển khai lực lượng. Khi đại uý Leouzon đề nghị thăm dò bên sườn đoàn xe, cả anh ta lẫn Muller đều không có một ý niệm nào là VM đang ở trong khu vực. Thất bại quyết định trong liên lạc này không nghi ngờ gì đã góp phần lớn vào cái chết của các binh sĩ Pháp ở cây số 15. 

G.M.100 mất toàn bộ các vị trí chỉ huy và điều khiển ngay trong những phút đầu tiên bị phục kích. Kết quả là, cả 3 tiểu đoàn trưởng đều tự thân chiến đấu mà không có sự phối hợp nào. Các sĩ quan tiểu đoàn đã làm nhiệm vụ rất tốt trong việc lãnh đạo đơn vị, nhưng do không có sự chỉ huy chung, quân Pháp không thể thực hiện nỗ lực phá vỡ vòng vây chết chóc xung quanh họ, họ mở nhiều cuộc tấn công lẻ tẻ thất bại trước khi phải co cụm vào chu vi phòng thủ. Cái chết của trung tá Lajounie và thiếu tá Hipolite, và sự bất lực của đại tá Barrou, đã gây hậu quả đối với G.M.100, và chỉ nhờ kỷ luật và lãnh đạo trong các cấp bộ binh mà toàn bộ đạo quân đã không bị tiêu diệt. 

Trung đoàn trưởng trung đoàn 803 đã chọn địa điểm rất chuẩn xác để tiêu diệt kẻ địch. Ông sử dụng hoả lực mạnh có hiệu quả, phá huỷ các xe cộ và do đó dồn đoàn xe vào trong tầm sát thương trong khi binh sĩ có thể tiếp tục gây tổn thất lên hàng ngũ quân Pháp. Duy trì hoả lực súng cối liên tục, ông không cho quân Pháp bất cứ cơ hội nào để củng cố và tổ chức lại có hiệu quả, và có thể dễ dàng đánh bại các đợt phản kích lẻ tẻ. Khi cuộc tấn công của bộ binh bắt đầu bị chùn lại, ông rút họ về để dùng súng cối và súng máy hạng nặng làm suy yếu sức kháng cự của quân Pháp. Ông đã tiến hành một trận phục kích tuyệt vời mà người Pháp nào trốn thoát được là đã rất may mắn.


Hậu quả

Thất bại của G.M.100 đi cùng với sự nhận ra rằng đổ máu thêm ở VN là vô ích. Cuộc chiến đã thất bại trước cuộc phục kích ở cây số 15, nhưng một chiến thắng của Pháp trước trung đoàn 803 không thể thay đổi việc ngừng bắn ??? (The war had been lost before the ambush at PK 15, but a French victory over the 803rd would not have altered the armistice in the least). Nước Pháp thất bại trong nỗ lực duy trì VN làm thuộc địa, không phải vì quân đội của họ không có khả năng đánh bại VM, mà vì nước Pháp không chấp nhận trả giá để giữ VN như người VN chấp nhận trả giá cho độc lập. Nước Pháp rút ra bài học này với cái giá là hơn 172,178 lính Pháp và đồng minh chết và bị thương mặc dù họ có trong tay 1 quân đội chuyên nghiệp với những trang bị tuyệt vời, với số lượng và tinh thần mà khi chiến đấu hang ngày với VM chỉ có số lượng và sự cuồng tín, the mass and fanaticism with which the Viet Minh fought each day was more of a match for her. Bài học này là cho tất cả, kể cả nước Mỹ đã thất bại trong việc chú ý xem điều gì đã xảy ra với người Pháp, và đã phải học lại những bài học mà quân đội Pháp đã phải trả bằng máu.   

….

Nếu những nhà lãnh đạo nước Mỹ nghiên cứu tấm gương của chiến tranh Đông Dương, có lẽ nhiều mất mát mà đất nước này phải chịu trong chiến tranh ở ĐNA sẽ không bao giờ xảy ra. Quân đội chúng ta phạm cùng một sai lầm với người Pháp, chiến đấu với một đối thủ trung thành với đất nước VN hơn chúng ta rất nhiều. Sự sợ hãi và căm ghét CS mù quáng khiến chúng ta lao vào cuộc chiến không thể thắng. Tác động lâu dài của trận đánh đẫm máu ở cây số 15 có thể nhìn thấy ở mỗi cái tên người Mỹ ở bức tường tưởng niệm chiến tranh VN ở Washington D.C.


Nguyên tắc chiến tranh

Cơ động. VM biết rõ đoàn xe Pháp bị tấn công trên địa hình trống trải sẽ không có thời gian hay khả năng cơ động khi họ đụng phục kích. Bộ binh Pháp ngồi trên xe không mui nhưng cỏ voi cao cản trở họ liên lạc với các xe và bộ binh khác. Sự thiếu khả năng cơ động buộc quân Pháp phải chiến đấu phòng ngự trên địa hình trống trải, bao vây bởi đối phương có lợi thế về nguỵ trang và điểm cao.

Kiểm soát lực lượng. Mặc dù đoàn xe Pháp có hơn 2000 lính chiến đấu trong biên chế, Đại tá Barrou đã chia nhỏ lực lượng đi trên đường, cho phép VM tấn công G.M.100 khi từng nhóm một đi vào điểm phục kích. Quân số 2 bên tương đương trên giấy tờ, nhưng vào thời điểm các tiểu đoàn Triều Tiên tới nơi, tiểu đoàn khinh quân 520 đã bỏ chạy, đại đội chỉ huy bị tiêu diệt và  tiểu đoàn 43 đã bị bao vây và đang hứng chịu hoả lực. Quân Pháp chưa bao giờ có thể tập trung lực lượng vào một điểm, do đó họ không thể phá vây thành công. 

Tập trung quân. Trung đoàn 803 bố trí lực lượng tập trung chống lại G.M.100 để đạt hiệu quả cao. Bố trí súng máy, súng cối hạng nặng, súng chống tăng 57mm và hoả lực bộ binh bắn vào đoàn xe lộ liễu, VM thành công với hiệu quả chết người. Ngược lại, quân Pháp không thể tập trung lại, họ bị chia cắt và không có biện pháp phối hợp các đợt phản kích. Sự bất lực trong việc chống lại sức tập trung áp đảo của VM đã phán xét số phận G.M.100 ngay từ phút đầu. 

Cảnh giới. Đại tá Barrou hy sinh công tác cảnh giới để đổi lấy tốc độ và rất nhiều binh sĩ của ông đã phải trả giá. Với việc không  trinh sát đầy đủ khu vực phía tây cây số 11, ông đã để đoàn xe chở lính của mình tiến lên một cách mù mờ, không biết gì về địa hình hay những nguy hiểm nằm phía trước. Làm như thế, ông đã cho quân Việt thế chủ động và ưu thế rõ rệt. Họ biết người Pháp ở đâu và giới hạn sức chiến đấu của họ. Đại tá Barrou không có ý niệm nào về vị trí của VM trừ số bị phát hiện gần quốc lộ 19. Thay vì điều chỉnh lại kế hoạch, bố trí cảnh giới, ông đã tiếp tục tiến lên trong trạng thái mù.

Yếu tổ bất ngờ. Thiếu cảnh giới, quân Pháp đã để VM tạo được bất ngờ. Mặc dù quân Pháp biết rằng họ ở quanh đây, nhóm đi đầu đội hình lại không biết. Nếu bản năng của Leouzon không khiến anh thăm dò đường tiến của tiểu đoàn ở khu vực cây số 15, sự bất ngờ hẳn đã hoàn hảo và cả đoàn xe đã bị tóm gọn trên đường trống. Ngay cả khi điều đó không xảy ra, người VN vẫn có lợi thế về sự bất ngờ và đã tận dụng nó hết sức hiệu quả.

Thống nhất chỉ huy. G.M.100 có nhiều sĩ quan, nhưng bất hạnh là 3 sĩ quan cao cấp nhất bị loại khỏi vòng chiến ngay từ những phút đầu. Do các tiểu đoàn trưởng còn đang vướng bận chiến đấu cho bản than, không ai nắm quyền chỉ huy cho tới khi thiếu tá Kleinmann tới nơi 40 phút sau khi cuộc phục kích mở màn. Trong 40 phút đó, toàn bộ trung đội thiết giáp đã bị tiêu diệt cũng như phần lớn xe cộ của đoàn. Kleinmann tiếp nhận sự hỗn loạn và đã làm tất cả những gì có thể, nhưng vào lúc ông đến, cơ hội giành lại thế chủ động cho quân Pháp đã qua và trận đánh hầu như đã nằm trong tay VM. Barrou không có kế hoạch sơ bộ nào cho chống phục kích, hay chỉ dẫn nào cho cấp dưới trong trường hợp ông bị loại khỏi vòng chiến. Kết quả là, thời giờ quyết định đã mất vào việc tổ chức lại hệ thống chỉ huy, và với thời giờ bị mất đó, khả năng thắng trận đánh của G.M.100 cũng trôi đi.   


Phần kết

Những người lính của G.M.100 là những binh sĩ tốt nhất của quân đội Pháp. Họ đã “đối mặt với voi” trong nhiều thời điểm trên các cao nguyên của VN năm trước và nằm trong số những binh sĩ chuyên nghiệp, có kinh nghiệm nhất trên thế giới. Tiểu đoàn 1 và 2 Triều Tiên đã giành chiến thắng vinh quang ở Chipyong-Ni và Arrowhead Ridge nhiều năm trước và rất tự hào về điều đó. Nhưng, như các cựu binh sớm nhận ra, “Indochine no est Coree.”. Việt Nam (đúng ra phải là Đông Dương) không phải là Triều Tiên. G.M.100 chết ở cây số 15 vì một loạt những sai lầm đã dẫn tới một trận đánh mà họ không có cơ hội chiến thắng. Quyết định sai lầm của các chỉ huy cấp cao làm mất mạng rất nhiều binh sĩ, trong khi sự chỉ huy nổi bật ở cấp dưới đã cứu nhiều người. Đó là chiến tranh. Trung tướng về hưu Harold G. Moore có lẽ đã tổng kết số phận G.M.100 tốt nhất tron cuốn sách của ông, We Were Soldiers Once. .And Young.

“Ngay sau khi tới VN, thượng sĩ Plumley và tôi lấy 1 chiếc jeep và 1 cảnh vệ mang shotgun lái 10 dặm về phía tây An Khê trên đường 19, vào khu vực trận địa, tới mốc cây số 15. Tại đây, VM đã tiêu diệt phần lớn liên đoàn cơ động 100 của Pháp trong 1 trận phục kích chết chóc. Chúng tôi đi bộ trên trận địa, nơi có 1 đài tưởng niệm cao 6 feet lỗ chỗ vết đạn, viết bằng tiếng Việt và Pháp: “Tại đây, ngày 24/6/1954, binh sĩ Pháp và VN hy sinh vì Tổ quốc…” (Here on June 24, 1954, soldiers of France and Vietnam died for their countries)

Plumley và tôi đi quanh đó trong 2 giờ. Những mảnh xương, bộ phận vũ khí và xe cộ, quân trang, đầu đạn và vỏ đạn vẫn bừa bãi trên mặt đất. Từ cuộc viếng thăm này tôi rút ra được bài học: 

Chết là cái giá phải trả cho việc đánh giá thấp đối thủ ngoan cường này”(16)


Ghi chú

1-Bernard B. Fall, Street Without Joy (Stackpole Books, New York, 1964) p.187-188.
2-Fall, p. 190.
3-Jim Mesko, Ground War - Vietnam 1945-1965 (Squadron Signal Pub., Carrollton, Texas, 1990) p. 3-4.
4-Fall, p. 186.
5-Mesko, p. 6.
6-Martin Windrow and Mike Chappell, Men-At- Arms Series: The French Indochina War (Osprey Military Publications, Wellinborough, UK, 1998) pp. 16-17.
7-Robert Barr Smith, Men At War (Avon History, New York, 1997) p. 349.
8-Fall, p. 193.
9-Fall, p. 189.
10-Windrow, Chappell, pp.20-21.
11-Windrow, Chappell p. 21.
12-Fall, p.206.
13-Fall, pp. 210-211.
14-Barr-Smith p. 350.
15-Fall, p. 218-219.
16-Harold G. Moore and Joseph L. Galloway, We Were Soldiers Once…And Young (Harper Perennial, New York) 1992 p. 49.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: danngoc trong 22 Tháng Năm, 2008, 02:09:02 PM
It was a price that G.M. 100 had paid in kind at Dak Ya-Ayun in March: Binh đoàn Cơ động 100 đã đáp trả thất bại đó khá sòng phẳng tại trận Dak Ya-Ayun vào dịp tháng Ba. 

the narrow defiles and restricted maneuver terrain between kilometers 12-20 : các hẻm núi hẹp và địa hình giới hạn cơ động tại khu vực giữa cây số 12-20.

epitomizes the self-sacrifice and dedication to the wounded that the French doctor possessed : đã lột tả hết những hy sinh và đóng góp đối với thương binh của vị bác sĩ người Pháp

Có thể thấy rõ các cụ nhà mình chủ đích bắn tiêu diệt lực lượng thông tin và chỉ huy của địch ngay từ đầu! Quân Pháp hành quân với chiến thuật rõ ràng kiểu cuốn chiếu, một chiến thuật có hiệu quả. Tuy nhiên không hề thấy tác giả đề cập tới chuyện này mà chỉ đổ tại chỉ huy nhận định sai, cho xe bộ binh chạy ào ào thiếu trinh sát! Nghe là thấy khó tin rồi!

MÌnh đang nghi ngờ không biết cái cỏ voi ở đây có thực sự cao và là vấn đề như mấy thằng Mỹ này tả không? Bác nào có điều kiện chụp ảnh lại nhé!


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: VNQuangvinh trong 22 Tháng Năm, 2008, 03:28:21 PM
Nhà mình bác nào chỉ huy trận này vậy?


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: banzua trong 22 Tháng Năm, 2008, 04:34:06 PM
Nhà mình bác nào chỉ huy trận này vậy?
chỉ huy trận đánh là trung đoàn trưởng trung đoàn 96 Nguyễn Minh Châu, chính ủy Nguyễn Hữu Thành. Trung đoàn có 5c bb gồm d40 (3c) và d79 (2c), ngoài ra còn có 2c hoả lực thiếu. Đơn vị mới thành lập cho nên chưa có tham mưu trưởng, tham mưu phó trung đoàn Khiếu Anh Lân làm quyền tham mưu trưởng trong trận đánh. d trưởng d40 là cụ Huỳnh Hữu Anh, d trưởng d79 là cụ Đỗ Hữu Đào.

2d của e96 là phần chủ lực của trận đánh, d trợ chiến của e120 bộ đội địa phương chủ yếu là truy quét bọn tàn quân địch 1 khi binh đoàn địch bị tan rã.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: banzua trong 22 Tháng Năm, 2008, 04:42:17 PM
"Indian patch" = phù hiệu trên vai của sư đoàn 2 bộ binh Mẽo có 1 cái đầu người da đỏ Indian.
http://en.wikipedia.org/wiki/2nd_Infantry_Division_(United_States)
Bọn trung đoàn "Triều Tiên" đã từng tham gia ở Triều Tiên với sư đoàn 2 Mẽo cho nên vẫn giữ phù hiệu này ở Đông Dương...


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: altus trong 22 Tháng Năm, 2008, 05:29:36 PM
A, bác banzua đây rồi.  ;D

Thỉnh bác qua Mặt trận wiki xem bác có thể đảm đương một vài cửa mở, chẳng hạn vụ Vĩnh Yên, được không bác?  ;)



Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: altus trong 22 Tháng Năm, 2008, 05:58:41 PM
Chỗ này bọn nó nhầm E803 với E96 chứ bọn khác cũng chả nhầm đâu.

Bọn GM100 cũng rêu rao là giữa tháng 4/1954 đã đánh cho E803 thiệt hại nặng, mất 3,000 quân (?).

http://www.troupesdemarine.org/federation/ancre_dor/340/dossier.pdf

(trang 12)


Một vài link liên quan

http://www.baobinhdinh.com.vn/nguyetsan/2005/7/13784/

http://202.151.160.173/webqdndcu/sknc/sk_phai.php?id=399 (hình như từ website cũ báo QĐND)

Đèo Măng Giang

(http://www.landscaper.net/images/MangYang2.jpg)

Nghĩa trang quân đội Pháp trên đường 19

(http://www.landscaper.net/images/FrGravesMY.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 22 Tháng Năm, 2008, 07:06:07 PM
Lịch sử của tiểu đoàn Triều Tiên (Bataillon français de l'ONU, BF-ONU): http://forum.axishistory.com/viewtopic.php?f=58&t=27860

Trích dẫn
On 25 June 1950, 7 North Korean divisions crossed over the 38th parallel, supported by 150 tanks. Less than 60 days later, the invasion force, which met with hardly any resistance, was occupying almost the whole peninsula.

On 22 July, following the British, the Turks and the Australians, France announced that it would join the multinational force, responsible for the implementation of international law and for reestablishing the territorial integrity of South Korea. However, it took the determination of a few French political officials and two General Officers to make this generous move a reality. Indeed, France was hardly back on its feet in the wake of the disastrous Second World War and its army was already engaged in Indochina.

The Chief of Staff of the French Army, General Blanc, who refused to make available active units still anemic and badly equipped, decided to form a battalion of volunteers made up of active and reserve personnel. Lieutenant General Monclar, Inspector of the Foreign Legion, supported the idea and proposed to be the Commander of that unusual unit which readiness time was considerably reduced. The winner at Narvik, wounded 17 times during the two World Wars, General Monclar, accepted to wear again the stripes of a Lieutenant Colonel.

On 25th August 1950, the French government sent a battalion of 3763 volunteers. This French Battalion was attached to the 23rd US IR of the 2nd US ID "Indianhead" (VIIIth US Army). It arrived in Pusan on 29th November and was engaged on 25th December 1950.

Triggering at first skepticism among the Americans, it did not take long for the French volunteers, rather facetious and sometimes undisciplined, to win the esteem of the U.N. forces and especially of General Ridgway, Commander of the 8th Army, by carrying out several successful hits.
From January 7 to 12 January 1951, the French Battalion participated in the Battle of Wonju where, thanks to a decisive bayonet attack, it stopped the Chinese advance. That episode was echoed around the world by American war correspondents reporting from the theater. The French Battalion covered the flank of the division during 5 days of close combats. Then it covered the retreat of the division.

It was followed by the battles of "Twin Tunnels" (1 - 2 February 1951) and of Chipyong-Ni (3 - 16 February 1951). These combats, during which the battalion resisted the attacks of four Chinese divisions for three days, allowed the 8th Army to score a victorious counter-offensive.

Less than three weeks later, the battalion, which had already won two American Presidential Citations, was again engaged in combat for hill 1037 and its bunkers(Hongchon region, 50 miles east of Seoul). The seizing of hill 1037 in minus 30°C cold, opened the road to the 38th parallel. It resulted in 40 dead and 200 wounded.

In the spring of 1951, the battalion crossed the 38th parallel into the Hwachon region. The sacrifice of the engineering platoon allowed to stop a new Chinese offensive. This feat of arms won the battalion its third American Presidential citation.

In the fall of 1951, the French volunteers took part in the battle of "Heartbreak Ridge" where they won fame again during a night attack. In the course of these combats which lasted a month, 60 French soldiers were killed and 200 were wounded. The complete 23rd IR failed 3 times before. On 23rd and 27th September the French battalion failed also in its all-out assaults. Monclar proposed then a night flank attack that surprised the Chinese and allowed the regiment to take the position. "Heartbreak Ridge" remains still today a famous battle for all the members of the 23rd US IR in Korea.

In the summer of 1952 the French battalion is on the "T-Bone", west of Chorwon.

In the fall of 1952, after a lethal war of positions, the battalion put a halt in Chongwon, North Korea, to a Chinese offensive toward Seoul. They occupied the "White Horse" and "Arrow Head" sectors and stopped the attack on hill 281 after having sustained a 24 hours artillery preparation with more than 25000 shells. This resistance resulted in 47 dead and 144 wounded. The Chinese losses in front of the French positions were estimated at 2000 men.

In the winter and the spring of 1953, the battalion took part in combats which kept the North Korean and Chinese forces from reaching Seoul.

After the signing of the armistice in July 1953, the French Battalion left Korea with :
- 5 French Citations to the Order of the Army
- the French Fourragère in the colors of the Military Medal
- 2 Korean Presidential Citations
- 3 American Distinguished Unit Citations
- 1898 French war crosses.

Among the 3763 volunteers there are :
- 287 KIA
- 7 MIA
- 1350 WIA
- 12 POW

"I shall speak briefly of the 23rd US Infantry Regiment, Colonel Paul L. Freeman commanding, [and] with the French Battalion…. Isolated far in advance of the general battle line, completely surrounded in near-zero weather, they repelled repeated assaults by day and night by vastly superior numbers of Chinese. They were finally relieved…. I want to say that these American fighting men, with their French comrades-in-arms, measured up in every way to the battle conduct of the finest troops America and France have produced throughout their national existence."

General Ridgway's statement before a joint session of Congress in May 1952.


Trích dẫn
The fate of the French Battalion after Korea :

- Indochina 1953-1955 :

A second battalion is formed with the same men and the "Korean" regiment is created. It is the backbone of the "Groupement Mobile n°100", commanded by Colonel Barrou. Many battles in Dak Doa, Pleyrinh, along the RC 19 and in Chu Dreh before the end of the war. On 1st September 1954 the GM 100 is disbanded. 404 KIA in Indochina.

- Algeria 1955-1962 :

The "Korean" regiment becomes then again a bataillon and is sent to Algeria were it is stationned in Tefechoun on 10th August 1955. During November 1955 the battalion is stationned in Sidi-Mabrouk, in 1957 in Oued-Zenati and in 1958 in Aïn-Abid, everytime in the "Constantinois" sector. On 1st September 1960 the bataillon is restructured and reinforced and bacames the 156th Infantry Regiment - Korea Regiment. In 1961 the regiment is in Djildjelli and finally in 1962 it is sent to the metropole and is disbanded. The bataillon/regiment was involved in patrols, controls, and research & destruction missions and several huge operations in its sector and on the Tunisian border. 48 KIA in Algeria. Successive commanders were commandant Recasens, Lt Col James, Lt Col Sèze, Lt Col de la Casnière, Colonel Rollin.



Huy hiệu của tiểu đoàn Triều Tiên

(http://www.korean-war.com/images/patches/countries/france.jpg)


Tướng Ridgway - tư lệnh TĐQ 8 Mỹ và lính Pháp của tiểu đoàn Triều Tiên

(http://www.net4war.com/e-revue/dossiers/coree/images/k_ridg1.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: altus trong 22 Tháng Năm, 2008, 07:28:02 PM
6-Martin Windrow and Mike Chappell, Men-At- Arms Series: The French Indochina War (Osprey Military Publications, Wellinborough, UK, 1998) pp. 16-17.

Quyển này để ở đây:

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=501.msg24825#msg24825 (http://www.quansuvn.net/index.php?topic=501.msg24825#msg24825)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 22 Tháng Năm, 2008, 09:31:51 PM
Đài tưởng niệm mà lão Moore nói đến

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/GroupeMobile100Memorial.jpg)


Ngày 17/7/1954, trong lúc đi phối thuộc cho G.M.42 giải toả đường 14 giữa Pleiku và Buôn Ma Thuột, tiểu đoàn 1 Triều Tiên với 450 lính và 47 xe đã bị e108 (-1d) và d59/e803 úp sọt ở đèo Chư Đrê. Tiểu đoàn này chỉ thoát được 107 lính trong đó 53 bị thương về BMT, coi như đã bị xoá phiên hiệu. Trận này cũng được tướng Ng.N.Khánh nhắc đến trong hồi ký, nhưng cụ chỉ biết là phục kích quân G.M.42 chứ không biết đã tiêu diệt được tiểu đoàn 1 Triều Tiên.

Cái bọn Dim Xăng này đúng là số đen hết biết.


Khu vực diễn ra trận Đắk Pơ

http://www.rjsmith.com/plei_troeh.html

Nghĩa trang lính Pháp ở đèo Măng Giang

http://www.rjsmith.com/mang_yang.html

Khu vực diễn ra trận Chư Đrê

http://www.rjsmith.com/Chu_Dreh_Pass_Complete.html


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: ChienV trong 22 Tháng Năm, 2008, 09:35:20 PM
Đài tưởng niệm mà lão Moore nói đến

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/GroupeMobile100Memorial.jpg)


Ngày 17/7/1954, trong lúc đi phối thuộc cho G.M.42 giải toả đường 14 giữa Pleiku và Buôn Ma Thuột, tiểu đoàn 1 Triều Tiên với 450 lính và 47 xe đã bị e108 (-1d) và d59/e803 úp sọt ở đèo Chư Đrê. Chỉ còn 107 lính trong đó 52 bị thương thoát đợc về Pleiku, coi như đã bị xoá phiên hiệu. Trận đánh này cũng được tướng Ng.N.Khánh nhắc đến trong hồi ký, nhưng cụ chỉ biết là đánh quân G.M.42 chứ không biết đã tiêu diệt được tiểu đoàn 1 Triều Tiên.

Cái bọn Dim Xăng này đúng là số đen hết biết.


Khu vực diễn ra trận Đắc Pơ

http://www.rjsmith.com/plei_troeh.html

Nghĩa trang lính Pháp ở đèo Măng Giang

http://www.rjsmith.com/mang_yang.html

Khu vực diễn ra trận Chư Đrê

http://www.rjsmith.com/Chu_Dreh_Pass_Complete.html

Đài tưởng niệm trên hiện giờ vẫn còn à chiangsan??? Tượng đài do ai dựng thế???


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: dongadoan trong 22 Tháng Năm, 2008, 09:37:07 PM
 Bổ sung cái ảnh đoàn xe Pháp, có M-8:

(http://i71.photobucket.com/albums/i152/bodoi_bucket/4.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: danngoc trong 22 Tháng Năm, 2008, 09:39:26 PM
HÌnh dáng và màu sắc này giống của Phú! ;D


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 22 Tháng Năm, 2008, 09:44:53 PM
Đài tưởng niệm trên hiện giờ vẫn còn à chiangsan??? Tượng đài do ai dựng thế???

Ảnh do hội lính Mẽo thời 6x chụp đấy ạ.

Cái này chắc do Pháp hay "quốc gia" dựng, và chắc chắn "Việt" ở đây không phải QĐNDVN ;D ;D ;D


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 22 Tháng Năm, 2008, 09:50:28 PM
Bổ sung cái ảnh đoàn xe Pháp, có M-8:

Có đến mấy con M8, không hiểu trong bọn GM.100 dùng thứ nào nhỉ:
http://en.wikipedia.org/wiki/Howitzer_Motor_Carriage_M8
http://en.wikipedia.org/wiki/M8_Greyhound (có cái tranh về trận Đắc Pơ vẽ con này)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: Ngocvancu trong 22 Tháng Năm, 2008, 10:15:31 PM
Có lẽ là loại  thiết giáp M8 bánh hơi chứ 0 phải chiếc trong ảnh là loại Light Tank M3A1 Stuart của Mỹ.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: molnya trong 23 Tháng Năm, 2008, 09:09:54 AM


Cái này chắc do Pháp hay "quốc gia" dựng, và chắc chắn "Việt" ở đây không phải QĐNDVN ;D ;D ;D
Câu đó phải dịch ra là " nơi đây người Pháp và người Việt đã chết vì đất nước của mình". Chắc là Vê Em đấy.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: dongadoan trong 23 Tháng Năm, 2008, 09:37:05 AM
Vậy chắc là cái này:

(http://i71.photobucket.com/albums/i152/bodoi_bucket/9.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: Ngocvancu trong 23 Tháng Năm, 2008, 03:00:17 PM
Chính xác 100% rồi dongadoan ạ.
Vậy chắc là cái này:

(http://i71.photobucket.com/albums/i152/bodoi_bucket/9.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: Tunguska trong 23 Tháng Năm, 2008, 09:07:37 PM
http://www.baobinhdinh.com.vn/562/2004/5/10363/

Có một Điện Biên Phủ ở Liên Khu 5
16:15', 3/5/ 2004 (GMT+7)

Ngày 7-5-1954, sau hơn 55 ngày đêm chiến đấu, lá cờ quyết chiến, quyết thắng của ta đã tung bay trên nóc hầm Đờ-Cát. Điện Biên Phủ toàn thắng. Đây là một thắng lợi làm "chấn động địa cầu" và là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, cùng trong khoảng thời gian trên, ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên có một chiến thắng cũng cực kỳ quan trọng là chiến thắng Đăkpơ. Đây là chiến thắng từng được đánh giá là "Điện Biên Phủ của Liên khu 5".

Trong khoảng thời gian đông xuân 1953-1954, thực dân Pháp mở chiến dịch hành quân, tấn công vùng tự do của Bình Định - Liên Khu 5. Chiến dịch của chúng mang tên: Attland. Dưới sự chỉ đạo của Đảng, bộ đội chủ lực của ta, phối hợp với lực lượng bộ đội địa phương và nhân dân các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên đã chiến đấu ngoan cường, từng bước làm phá sản âm mưu của địch. Ngày 1-5-1954, Trung đoàn 96 thuộc thế hệ thứ 2 chính thức được thành lập, nhằm tăng cường lực lượng đánh quân Pháp tại chiến trường Liên khu 5. Lực lượng của Trung đoàn hầu hết là con em của các tỉnh khu vực Liên khu 5, như Bình Định, Phú Yên, Quảng Ngãi, Gia Lai - Kon Tum… Sau ngày 7-5-1954, quân Pháp càng ngày càng hoang mang, lo sợ. Chúng buộc phải rút về co cụm hòng bảo toàn lực lượng. Trong tình thế đó, địch buộc phải rút Binh đoàn cơ động số 100 - "con át chủ bài" của chiến dịch Atland về An Khê, hòng tăng cường, trấn giữ vùng "yết hầu" lên Tây Nguyên.

Binh đoàn cơ động 100 là một binh đoàn chủ lực của Pháp, gồm hầu hết là lực lượng tinh nhuệ, với nòng cốt là lực lượng lính Âu - Phi. Nhận định, đánh giá rõ tình hình, âm mưu của thực dân Pháp, ta quyết định cho Trung đoàn 96 điều tiểu đoàn 30 xuống tăng cường đánh địch ở Quy Nhơn. Đồng thời, ta điều 2 tiểu đoàn 40 và 79 (cũng thuộc Trung đoàn 96) hành quân cấp tốc lên An Khê. Nhiệm vụ của 2 tiểu đoàn này là đánh cắt đường số 19 và chuẩn bị tinh thần đón đánh địch khi chúng rút khỏi An Khê. Bấy giờ, qua phân tích tình hình, ta nhận định: nhiều khả năng, cuộc quyết chiến giữa ta và địch sẽ diễn ra tại Đăkpơ.

Quả nhiên, đúng như ta dự đoán, sau gần 2 tháng bị ta bao vây, lực lượng địch ngày càng bị tiêu hao. Đến nỗi, quân Pháp buộc phải dùng máy bay tiếp tế cho hơn 3.900 quân đồn trú tại An Khê. Trước thế bị động trên, thực dân Pháp buộc phải điều toàn bộ lực lượng Binh đoàn Cơ động 100 rút khỏi An Khê về Pleiku. Nhận định trước tình hình, ta chủ động bố trí lực lượng Trung đoàn 96 ở Đăkpơ, chuẩn bị chặn đánh địch. Tuy nhiên, ta cũng xác định đây có thể sẽ là một trận đánh khó khăn, ác liệt vì tương quan lực lượng giữa ta và địch chênh lệch khá lớn.

Như trên đã đề cập, Binh đoàn cơ động số 100 của địch gồm có 6 tiểu đoàn tinh nhuệ và được trang bị vũ khí, quân trang, quân dụng tối tân, hiện đại. Trong khi đó, trung đoàn 96 của ta bấy giờ chỉ có 2 tiểu đoàn, trong đó tiểu đoàn 79 thiếu hẳn 1 đại đội. Mặc dù Trung đoàn 96 khi đó được tăng cường bộ đội địa phương, thanh niên xung phong, dân quân du kích, song lực lượng chính của ta khi đó thực tế chỉ có 5 đại đội. 5 đại đội chống lại 6 tiểu đoàn tinh nhuệ - quả là quá chênh lệch. Thế nhưng, với ý chí quyết tâm, tinh thần dũng cảm, ta quyết tâm sẽ đánh địch tới cùng.

Trước khi bước vào trận đánh, Đảng ủy Trung đoàn 96 đã tin tưởng giao phó toàn quyền quyết định cho Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu. Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 24-6-1954, đúng như dự đoán ban đầu của ta, Binh đoàn cơ động 100 Pháp lọt vào ổ phục kích của Trung đoàn 96. Đợi toàn bộ lực lượng địch lọt gọn vào ổ phục kích, Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu hạ lệnh cho toàn đơn vị bắt đầu xuất kích tiêu diệt địch, với phương châm: không để cho tên địch nào chạy thoát. Trung đội DKZ thuộc tiểu đoàn 40 là đơn vị được vinh dự xung trận trước tiên. Khi chiếc xe thuộc lực lượng công binh địch bò lên, các chiến sĩ thuộc Trung đội DKZ đã đánh phủ đầu, triệt hạ ngay tại trận và làm cho hàng trăm xe của địch phải hoang mang khựng lại. Chớp thời cơ, các mũi xung kích của Trung đoàn 96 và các lực lượng của ta đã đồng loạt xung phong, tấn công diệt gọn quân địch. Bị đánh phủ đầu, bất ngờ, đội hình địch có phần bị rối loạn, hoang mang. Tuy nhiên, bọn chúng vẫn ngoan cố huy động lực lượng máy bay, xe tăng, pháo binh hòng chống trả lại quân ta. Trước sự ngoan cố của địch, lãnh đạo Trung đoàn 96 quyết định tung lực lượng thuộc tiểu đoàn 79 vào trận. Nhờ sự tăng cường kịp thời này mà Trung đoàn 96 và các lực lượng của ta đã bẻ gãy các đợt phản kích của địch. Cho đến khoảng hơn 19 giờ tối cùng ngày, trung đoàn 96 và các lực lượng vũ trang của ta đã hoàn toàn làm chủ trận địa và đập tan toàn bộ Binh đoàn cơ động 100 của địch. Tuy vậy, để làm nên chiến thắng lẫy lừng này, hơn 100 cán bộ, chiến sĩ thuộc Trung đoàn 96 và các đơn vị của ta đã anh dũng hy sinh.

Chiến thắng Đăkpơ có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Cùng với quân, dân cả nước, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 96 và lực lượng vũ trang các tỉnh khu 5 đã góp phần buộc Pháp phải ký kết Hiệp định Geneve, sớm kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Vì vậy, chiến thắng Đăkpơ được đánh giá là "Điện Biên Phủ của Liên khu 5". Trong phần giới thiệu đầu cuốn sách "Trung đoàn 96", Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: "Đánh và tiêu diệt gọn Binh đoàn cơ động 100 thuộc loại mạnh nhất của lực lượng viễn chinh Pháp ở Triều Tiên mới về là một trận vận động phục kích lớn, dũng cảm và linh hoạt với hiệu quả cao, đánh trúng vào chỗ yếu kém của địch, bồi thêm cho chúng một đòn thất bại nặng nề…". Đặc biệt, chiến thắng Đăkpơ đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen ngợi. Bác viết: "Các chú hoạt động có thành tích khá, Bác vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú…".

Nhằm tôn vinh và tưởng nhớ đến cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 96 và các đơn vị của ta, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Định, Gia Lai và một số tỉnh, thành khu vực miền Trung - Tây Nguyên đã có những việc làm cụ thể, thiết thực. Theo đó, năm 2000, UBND tỉnh Bình Định đã quyết định cho phép thành lập Ban Liên lạc truyền thống cựu chiến binh Trung đoàn 96. Đồng thời, UBND tỉnh Gia Lai cũng cho phép xây dựng Đài tưởng niệm chiến thắng Đăkpơ tại An Khê. Chỉ còn ít ngày nữa, chúng ta sẽ long trọng kỷ niệm 50 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Với tinh thần và khí thế đó, không thể không nhắc đến Chiến thắng Đăkpơ - một Điện Biên Phủ của Liên khu 5.

Viết Hiền


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 27 Tháng Năm, 2008, 08:03:03 PM
Copy bài và ảnh của lão banzua ;D

...ngày 2/11/1953, tiểu đoàn "Triều Tiên", đơn vị Pháp duy nhất có kinh nghiệm chiến đấu chống "tình nguyện quân TQ" (nó có mặt ở chiến trường Triều Tiên trong đội hình sư đoàn 2 bb Mẽo từ những ngày quân đội Đồng Minh rút lui khỏi sông Yalu), đến cảng Sài Gòn.
Ở đây, nó sẽ nhanh chóng được tăng quân số lên thành trung đoàn "Triều Tiên", phối hợp với 1 tiểu đoàn bb thuộc địa khác cùng với xe tăng, pháo binh để biến thành binh đoàn cơ động số 100 (Groupe Mobile 100) hay "Dim Xăng" (GM-100) theo cách phát âm tiếng Pháp của các cụ.

Đơn vị này cùng với các lực lượng hùng hậu khác của quân viễn chinh Pháp sẽ tham gia chiến dịch Atlante nhắm vào vùng giải phóng ở Liên Khu 5 của ta. Cuộc hành quân quy mô này, theo kế hoạch Na-va sẽ là mũi tiến công chính nhằm bình định miền trung và cô lập sức mạnh của Việt Minh ở miền bắc. Để ủng hộ cho nó, Căn cứ Điện Biên Phủ cũng được thành lập. Nhiệm vụ của nó, theo như Na-va nghĩ lúc đó, chỉ là để cầm chân quân chủ lực Việt Minh ở đây, không cho phía ta rảnh tay cứu viện cho chiến trường miền trung...

Sáu tháng sau, kế hoạch này tan tành, chính ĐBP lại trở thành điểm cầm chân của lực lượng cơ động Pháp. Toàn bộ lực lượng tổng trù bị cơ động của quân đội viễn chinh bao gồm 2 liên đoàn dù, lúc đầu định để xử dụng trong chiến dịch Atlante, đều bị hút hết vào ĐBP và sau đó bị tiêu diệt ở đây. Số phận của "Dim 100", đơn vị nòng cốt của lực lượng Pháp ở miền trung lúc đó cũng hẩm hiu không kém, Đắc Đoa, Plây Cần, Plây Rinh, Chư Drê... Nhưng đây lại là chuyện khác

Lính Pháp thuộc trung đoàn Triều Tiên đến Sài Gòn :

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/trieutiendebark1.jpg)

"Dim Xăng" duyệt binh ở Sài Gòn :

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/trieutiendebark2.jpg)

"Dim Xăng" lên Tây Nguyên :

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/trieutien_plei_dakdoa.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 27 Tháng Năm, 2008, 08:11:13 PM
Sau ĐBP, có thể nói trận đánh lớn cuối cùng của cuộc kháng chiến 9 năm là trận tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 ở gần An Khê. Sách vở nói về trận này cũng khá nhiều, nhất là do bọn Mẽo rất quan tâm đến 1 vùng chiến lược của Đông Dương. Béc-na Phôn cũng bỏ cả 1 chương lớn trong quyển "đường không vui" để kể lại chuyện này. Nhưng người kể lại chuyện này rõ nhất có lẽ là những người cụu chiến binh đã tham gia trận đánh. Đây là 1 bài tường thuật lại của ông Giăng A-ri-ghi, nguyên là trung úy trong trung đoàn Triều Tiên :

"... Phòng quân báo Pháp hoạt động tốt, chúng tôi biết rằng có nhiều trung đoàn VM đang hoạt động dọc lộ 19 : trung đoàn 803 đang được điều chỉnh lại [ tin này là sai, trung đoàn 803 đã hành quân xuống phía nam ngay sau trận Plây Rinh vào cuối tháng 4], trung đoàn 108 [chủ lực], 120 [địa phương] và 96[chủ lực mới thành lập, là đơn vị chính tham gia trận đánh] cùng với các đơn vị chủ lực và địa phương khác đang hành quân về nơi tập trung gần đó. Tất cả tổng cộng khoảng 15000 quân chiến đấu, tương đương với 1 sư đoàn và 25000 dân công.

Mặc dầu chúng tôi biết những tin tức đáng lo ngại này, ngày bắt đầu chiến dịch "Eglantine" vẫn được chỉ định vào sáng ngày 24/6. Binh đoàn 100 phải một mình mở đường đến cây số 22, không có không quân bảo vệ do thiếu hợp đồng giữa các cánh quân đi đón và hỗ trợ. Dù gì đi nữa, cuộc rút lui sẽ phải được thực hiện vào ban ngày.

Ngay từ 8 giờ sáng, đoàn xe đã bắt đầu lên đường. Đi đầu là tiểu đoàn giã chiến của trung đoàn bộ binh thuộc địa số 43 (BM 43) cùng với những phương tiện công binh mở đường và pháo thuộc khẩu đội 6. Sau đó là đến các tiểu đoàn khinh quân việt nam (TĐKQ) và thiết đội xe bọc thép, xe cộ thuộc ban tham mưu binh đoàn cùng bộ chỉ huy trung đoàn pháo binh thuộc địa số 10 (10 RAC). Rồi đến tiểu đoàn 2 trung đoàn Triều Tiên và khẩu đội 4 tháp tùng các xe cộ thuộc các đơn vị quân bưu, quân vụ và xe chở xăng. Cuối cùng là tiểu đoàn 1 Triều Tiên và khẩu đội 5 đi cùng với xe chở đồ, cấp cứu và trạm quân y di động. Ngay khi bắt đầu khởi hành rời An Khê, đoàn xe 240 chiếc này đã kéo dài hơn 8 km!

Cánh phía bắc đường đi, do đại đội 7 Bergerol và đại đội 6 Triều Tiên đảm nhiệm. Phía nam có đại đội 8 Bergerol và đại đội 5 Triều Tiên. Lính thuộc địa của BM 43 đi trước mở đường. Các đơn vị bộ binh khác đều đi tản mát dọc 2 bên đường để bảo vệ xe cộ trong đó có những chiếc xe tải GMC đuôi ngắn đang kéo các khẩu pháo 105 ly. Vào buổi trưa, chúng tôi đã đến được cây số 12. Chiếc máy bay không thám "Cricket" có thông báo nhiều đoạn đường bị phá và một số chướng ngại vật phía trước gần cây số 15. Các đơn vị chuẩn bị đội hình chiến đấu và di chuyển chậm chạp về phía trước.

Từ cây số 15 trở đi, con đường uốn cong thành 1 vòng cung vắt qua 1 thảo nguyên nhỏ bao phủ bằng cỏ voi. Khu rừng gần đó im lặng một cách khác thường... 1 đống sỏi đá chướng ngại vật đầu tiên xuất hiện, những xe ủi đất được điều động lên phía trước, đoàn xe dừng lại...

Lúc đó là vào 14 giờ 15 phút chiều, khi lửa địa ngục bắt đầu bùng lên. Trận phục kích đã được chuẩn bị bằng 1 chiến thuật tinh vi bậc thầy trên 3 km từ cây số 12 đến cây số 15. Điểm trung tâm nằm ở ngay vòng quay bắt đầu bằng khoảng 100 mét đường thẳng bị khống chế bằng 16 khẩu cối 81 được ngụy trang rất kỹ trên 1 điểm cao khoảng 200m gần đó. Một cơn mưa đạn ĐKZ, bom bay và lựu đạn đổ xuống những chiếc xe chỉ huy của binh đoàn, GM 100 bị mất đầu trong vòng không đầy 15 phút.

Toàn bộ đoàn xe đều nằm trong tầm bắn của súng máy Việt Minh. Những chiếc xe công binh đã vượt qua chỗ ngoặt đều bị rơi vào đường bắn cánh sẻ của VM, hầu hết các tài xế đều bị bắn chết hay bị thương, số sống sót đều phải bỏ xe nấp trốn vào bên lề đường khiến đoạn đường này hoàn toàn bế tắc.

Chỉ trong vài phút, ban tham mưu và liên lạc bị tiêu diệt hoàn toàn. Hiệu lực của trận phục kích rất là ghê gớm, cộng thêm vào đó là hoả lực yểm trợ của VM xuất hiện cực kỳ đột ngột. Hàng trăm "bộ đội" trong bộ quân phục đen của quân chủ lực miền ào ào xông lên, không hề bị khựng lại khi họ vượt qua những nhóm dân công hoả tuyến đang chở đạn hoặc tải thương.
Bị mắc lại trên mặt đường ngổn ngang xe cộ, không thể nào chấn chỉnh lại được đội hình, chúng tôi chỉ có thể bất lực chứng kiến những chiếc GMC, 4x4 và Jeeps thay nhau bốc lửa. Trên hàng trăm mét, những chiếc xe cùng với hành khách đang bốc cháy rừng rực. Trong tầm bắn chính xác của hoả lực VM, những xe chở đạn liên tục nổ vang bắn văng tung toé ra xung quanh những mẩu sắt cháy đỏ rực cùng với những mẩu thi thể.
2 đại đội bộ binh của BM 43 đã mở lại được đường tiến trong khi 2 đại đội khác lại bị hững lại dưới làn đạn súng liên thanh ngay ở chỗ những chiếc xe của ban tham mưu binh đoàn bị phá huỷ. Các đơn vị người việt của các tiểu đoàn khinh quân hoàn toàn vô tích sự trong việc bảo vệ các cánh; họ nhanh chóng đào ngũ và biến mất trong thiên nhiên...
Những chiếc xe bọc thép bị tắc nghẹn trên đường, một số đang bốc cháy, nhưng vẫn bắn trả lại hoả lực bọc quanh của Việt Minh. Đại tá Barrou [chỉ huy GM 100] cũng tự nhẩy lên 1 khẩu liên thanh 12.7 thay thế xạ thủ vừa bị bắn chết và cũng nhanh chóng bị trúng đạn vào 2 chân. Lúc này tất cả các sỹ quan xung quanh ông ta đều đã bị chết hoặc bị thương.

Tiểu đoàn 2 Triều Tiên lúc đó cũng đang cố gắng tiến lên nhằm phá vỡ gọng kìm phía trước. Đại đội 5 và đại đội 7 Bergerol chiến đấu như những con thú trước khi bị tràn ngập, đập tan ra thành từng nhóm nhỏ, cô độc, chiến đấu để tự cứu lấy mình.

Trung đội của tôi, lúc đó đi sát vào đại đội 5. Binh lính của đơn vị này bị bắn gục càng lúc càng nhiều. 1 người trong số họ lui về phía chúng tôi với một lỗ hổng khủng khiếp to tướng đỏ lòm trên mặt. Tất cả những người sống sót đều phải rút lui, trung đội của tôi nhận được lệnh phòng ngự đoạn đường này trong khi thương binh được về phía sau. Để thực hiện mệnh lệnh này, chúng tôi đã phải xung phong 4 lần nhằm an toàn hoá những vùng xung quanh. Nhưng cuối cùng bọn Việt vẫn đặt được 1 khẩu liên thanh 12.7 để bắn trực tiếp vào chúng tôi. Sau đó, mọi việc tiến triển rất nhanh. Tôi thấy 1 chiếc xe bọc thép đi lùi với 1 người tài xế, hoá ra đó là trung tá Kleinman, 1 trong những sỹ quan còn lại chưa bị thương : " Chúng tôi rút lui, Arrighi... anh cố gắng giữ vị trí thêm một chút nữa để cho những đơn vị cuối cùng đưa thương binh đi..." Thế cánh quân đi đón đâu? Không quân, phi pháo đang làm gì vậy...?
Đột nhiên 1 loạt đạn cối 81 rơi xuống cách chúng tôi khoảng 200m về phía bắc, trong tình huống hỗn loạn thế này khó có thể chuẩn đoán chính xác được khoảng cách... loạt thứ 2 rơi xuống cách 100m, loạt sau sẽ là cho chúng tôi. Tôi ra lệnh tản mát đơn vị ra... một lúc sau tôi ngã gục với cảm giác cơ thể bị thép nung xuyên vào khắp mọi nơi. Bò trên 4 cẳng, mật mũi bầy nhầy máu, tôi nhìn đờ đẫn khẩu súng các-bin cong queo và chiếc điện đài TRPP-8 tan nát. Như một con rối, tôi nằm vặt xuống như những người bị thương khác xung quanh.

Lúc đó là khoảng 17 giờ 30, Trung tá Kleinman quyền chỉ huy binh đoàn có 2 cách : hoặc là lùi về phía cây số 11 tạo thành con nhím phòng thủ, hoặc bỏ mặc đoàn xe, đi bộ về phía cây số 22. Bộ chỉ huy chiến dịch Atlante đã chọn kế hoạch thứ 2. Thời tiết oi bức của lúc bắt đầu trận đánh cũng chuyển thành 1 cơn mưa lớn và mát mẻ. Tự nhiên không có lý do gì hết, quân Việt Minh rút lui. Cái này nó cũng như vô vàn sự kiện bất ngờ ngoài lô-gích xẩy ra trong1 trận đánh, có khi nó giúp ta, lúc khác nó lại hại ta...

Khoảng thời gian yên tĩnh không ngờ này đã giúp chúng tôi tập trung lại được. Hậu quân của binh đoàn bắt đầu phá huỷ những chiếc xe còn nguyên vẹn và phá những nòng pháo 105 bằng lựu đạn cháy.
Vào khoảng 19 giờ, các đơn vị tan tác của binh đoàn 100 lại được các sỹ quan sống sót tổ chức lại và dưới sự chỉ huy của trung tá Kleinmann, lợi dụng trời tối để tiến về phía nam, quay tránh hệ thống phòng thủ của VM.
Cơn mưa đã giúp chúng tôi lúc nẫy bây giờ lại làm hãm tốc độ hành quân của những người sống sót kiệt sức và bị thương... Câu chuyện của tôi cũng chấm dứt ở đây vì đối với đa số những người này, trong đó có tôi, cuộc đi bộ tiếp theo là cuộc đi bộ đầy đau khổ về những trại tù binh của Việt Minh...

Trận phục kích ngày 24 tháng 6 năm 1954 đã làm tổn thất, chỉ duy nhất trong binh đoàn cơ động 100, gần 1000 người chết và mất tích trong vòng 3 giờ đồng hồ. Ở Paris, ngày hôm sau, Quốc Hội sẽ giữ 1 phút yên lặng để tưởng niệm họ..."


 



Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 23 Tháng Sáu, 2008, 08:00:19 AM

Pháp KIA 500, WIA 600, CIA 800. 375 xe bị cháy và hư hỏng. Ta thu 229 xe còn nguyên hoặc hư hỏng ít, 18 pháo 105 (không rõ còn dùng được không).
Em đồ rằng, 229 xe còn nguyên hoặc hư hỏng ít là nằm trong số 375 xe.
Pháo 105 thì còn dùng được (ko rõ số lượng), khi thành lập F305, các bác còn lôi ra diễu binh tại Quy Nhơn. Tôi đã đọc trong đống sách của mình, nhưng chưa tìm ra nó ở đâu ;D


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 23 Tháng Sáu, 2008, 10:05:45 AM
Hơn 600 xe thì hơi nhiều thật, bọn này cũng chỉ có khoảng 3000 quân thôi chứ mấy.
Ờ mà cái 800 CIA hình như gồm cả 600 WIA rồi.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: ptlinh trong 23 Tháng Sáu, 2008, 10:58:29 AM
Trong quyển "Trung đoàn 96-Trận tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 của Pháp" có nói thêm là nhà mình còn thu được cả xe tăng.
"... Số xe còn nguyên và bị hư hỏng ít là 229 xe, có một xe tăng còn nguyên vẹn, 18 pháo 105 ly, và rất nhiều súng đạn các loại...."


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 23 Tháng Sáu, 2008, 11:49:09 AM
Trong quyển "Trung đoàn 96-Trận tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 của Pháp" có nói thêm là nhà mình còn thu được cả xe tăng.
"... Số xe còn nguyên và bị hư hỏng ít là 229 xe, có một xe tăng còn nguyên vẹn, 18 pháo 105 ly, và rất nhiều súng đạn các loại...."
Hơ hơ, bỏ qua bản quyền phỏng?
Ko convert được thì type đền đi chứ? ;)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: altus trong 23 Tháng Sáu, 2008, 03:13:44 PM
Em đồ rằng, 229 xe còn nguyên hoặc hư hỏng ít là nằm trong số 375 xe.
Pháo 105 thì còn dùng được (ko rõ số lượng), khi thành lập F305, các bác còn lôi ra diễu binh tại Quy Nhơn. Tôi đã đọc trong đống sách của mình, nhưng chưa tìm ra nó ở đâu ;D

375 xe cháy và hư hỏng đã phải là tất cả đâu, còn "...cùng một số xe tăng thiết giáp vẫn còn ngổn ngang trên mặt đường". Vậy có lẽ 229 xe này chọn trong 375 + X tăng thiết giáp.

Bọn Tây nó nói là quân Pháp đã cố gắng phá hủy khí tài trước khi bỏ nên tôi mới thắc mắc 18 khẩu 105 kia có bao nhiêu khẩu còn dùng được.

Trích dẫn
Ờ mà cái 800 CIA hình như gồm cả 600 WIA rồi.

"hình như" là trên cơ sở nào thế? ;) "...bị thương rải rác trên toàn khu vực khoảng 600 tên bị ta bắt 800 tên..." đấy thôi.

Bọn Tây cũng có tổ chức phản kích mấy đợt cũng ác chứ không phải là hoàn toàn thúc thủ nằm hứng đạn của ta nhỉ.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 23 Tháng Sáu, 2008, 04:07:37 PM
Phần cuối cuốn đó có dịch 1 đoạn của Bécna Fall về trận chiến.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 23 Tháng Sáu, 2008, 04:34:40 PM
375 xe cháy và hư hỏng đã phải là tất cả đâu, còn "...cùng một số xe tăng thiết giáp vẫn còn ngổn ngang trên mặt đường". Vậy có lẽ 229 xe này chọn trong 375 + X tăng thiết giáp.

Bọn Tây nó nói là quân Pháp đã cố gắng phá hủy khí tài trước khi bỏ nên tôi mới thắc mắc 18 khẩu 105 kia có bao nhiêu khẩu còn dùng được.

Theo sách bọn Tây thì cả đoàn có hơn 250 xe thôi, thiết giáp chỉ thấy có trung đội 2 M8 + 3 M3 halftrack đi cùng chỉ huy sở. Kể cũng lạ là cánh quân to như thế mà chỉ có vài xe thiết giáp.

Bọn Tây thường dùng lựu đạn phốt pho phá quy lát với ruột nòng, không dùng được thì vẫn diễu binh tốt ;D ;D ;D

Trích dẫn
Trích dẫn
Ờ mà cái 800 CIA hình như gồm cả 600 WIA rồi.
"hình như" là trên cơ sở nào thế? ;) "...bị thương rải rác trên toàn khu vực khoảng 600 tên bị ta bắt 800 tên..." đấy thôi.

Thương binh nằm lại đương nhiên là tù binh rồi. Với lại con số 500 KIA + 800 CIA (kể cả 600 WIA) = 1300 hợp lý hơn.

Trong số 222 người của đại đội chỉ huy khi G.M.100 rời An Khê, chỉ còn lại 84 người. Tiểu đoàn 43 thuộc địa, tiểu đoàn 1 và tiểu đoàn 2 Triều Tiên, gồm 834 lính mỗi tiểu đoàn giờ còn lại tương ứng là 452, 497 và 345. Tiểu đoàn 2, trung đoàn 10 pháo binh thuộc địa còn lại 215 so với quân số ban đầu là 474 => thiệt hại 1605, thực tế sẽ ít hơn vì mấy tiểu đoàn bộ binh đánh nhau cả năm, quân số không còn được như trên giấy tờ.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: altus trong 24 Tháng Sáu, 2008, 02:58:48 PM
Bọn Tây thường dùng lựu đạn phốt pho phá quy lát với ruột nòng, không dùng được thì vẫn diễu binh tốt ;D ;D ;D

Chắc chắn là có một số dùng được, Street Without Joy có cả một chương nói về GM100 ở Tây Nguyên. Fall nói là ngày 27/06 có một đồn của Pháp trên đường 19 bị pháo kích bởi 105mm. Không pháo của GM100 thì còn 105 nào vào đấy? :-D


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 25 Tháng Sáu, 2008, 08:02:31 AM
Cũng trong cuốn sách đó, bài viết tiêu đề "Vận dụng tư tưởng quân sự lấy ít địch nhiều trong trận phục kích Đăk pơ"  - Trung tướng - TS Đào Văn Lợi - Giám đốc học viện Lục quân (Đà Lạt) có 1 số thông tin như sau:

Hỏa lực chính của E96 gồm:
- 6 cối 81 mm
- 4 DKZ
- 11 SKZ (60 mm)

Ngoài ra còn 1 bài về địa hình cực kỳ chi tiết khu vực phục kích.
Mà không bác nào đưa cái bản đồ khu vực này lên à? ;D


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: altus trong 26 Tháng Sáu, 2008, 01:47:39 PM
Hỏa lực chính của E96 gồm:
- 6 cối 81 mm
- 4 DKZ
- 11 SKZ (60 mm)

Tr. 37 sách chép hỏa lực trung đoàn là cối 82, đây thì lại là 81. Tụi Tây chúng nó có phân biệt ĐKZ và SKZ không nhỉ ? Không thấy đả động gì đến súng phóng bom ?

Bác có bản đồ thì ụp luôn đi thôi.  ;D


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 26 Tháng Sáu, 2008, 03:45:55 PM
ĐKZ = súng không giật Mỹ (+Nga, TQ...)
SKZ = súng không giật VN

Bọn Tây chắc còn chả biết SKZ là thứ gì, nhưng ta thì phải quảng cáo cho hàng VN chất lượng cao ;D

Cối 81 có lẽ hợp lý hơn, các cụ sau mấy chục năm nhầm lẫn tí cũng là chuyện thường.





Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: ChimViet trong 17 Tháng Bảy, 2008, 03:30:01 PM
Trận này hay quá, trước đây mới biết lơ mơ.
Thành phần d Triều tiên là thế nào về quốc tịch ?
Xem ra cuộc chống Pháp, xét về quốc tịch, phải gọi là cuộc chống Pháp Mỹ Đức (có khá nhiều tụi SS hay sao ấy) Phi Thái Triều...v.v...


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: Ngocvancu trong 17 Tháng Bảy, 2008, 03:36:39 PM
Đọc kỹ lại đi.Tiểu đoàn Triều Tiên là vì mới rút ở Triều Tiên về chứ 0 phải quốc tịch Triều Tiên đâu.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 11 Tháng Mười, 2008, 06:02:16 PM
Chiến lợi phẩm trong trận tiêu diệt GM 100:

Thu được 229 xe cơ giới các loại.
12 khẩu pháo 105 ly. (Dị bản mới  ???)
Hơn 200 tấn đạn và nhiều lương thực thực phẩm, quân trang quân dụng.
Hậu cần chiến dịch đã chuẩn bị hơn 100 lái xe nhưng không đủ, phải huy động cả tù binh biết lái xe để sơ tán phòng máy bay Pháp phá hủy.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 22 Tháng Mười Một, 2008, 06:06:05 PM
Bổ sung thêm tư liệu về trận Đắk Pơ (thanks bác fanlong74 ;))

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/11-1.jpg)

Hướng d79 (thiếu) được tăng cường 1b cối, 2 ĐKZ và 2 súng phóng bom.
Hướng d40 được tăng cường 2 ĐKZ chặn đầu.

Theo tài liệu ta, e96 mới thành lập, chiến sĩ phần lớn được đôn từ dân quân lên nên chưa có kinh nghiệm tác chiến chính quy. Vũ khí cá nhân đa số là súng trường chứ trung liên, đại liên không nhiều.

Phía ta hy sinh 80 và bị thương 200 người.

(http://i84.photobucket.com/albums/k29/chiangshan3012/12-1.jpg)

Về diễn biến tài liệu 2 bên tương đối thống nhất, trừ 2 điểm bị cụ Nguyễn Minh Châu phản đối rất quyết liệt:

- Theo B. Fall thì đại tá Barrou bị bắt sau khi trận đánh đã kết thúc. Theo cụ Nguyễn Minh Châu thì Barrou bị bắt ngay từ đầu và bị chính d trưởng 79 thẩm vấn ngay tại trận địa.

- Pháp tố ta bỏ mặc thương binh Pháp chết (tất lẽ dĩ ngẫu là ta bác bỏ). Tuy nhiên nhìn vào con số thương vong của e96 thì e rằng ngay chính thương binh ta cũng chưa chắc đã được cứu chữa hết.


Trận này không được lên phim thì hơi phí!


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: altus trong 23 Tháng Mười Một, 2008, 06:00:53 AM
- Pháp tố ta bỏ mặc thương binh Pháp chết (tất lẽ dĩ ngẫu là ta bác bỏ). Tuy nhiên nhìn vào con số thương vong của e96 thì e rằng ngay chính thương binh ta cũng chưa chắc đã được cứu chữa hết.

Vụ này chính xác là Fall viết chỉ huy Việt Minh ở chiến trường (field commanders) cư xử rất mã thượng, thậm chí băng bó cho thương bình rồi để lại cho Pháp đón, tuy nhiên một bác sỹ quân y Pháp, tên tuổi đầy đủ, tình nguyện đi cùng số bị bắt, được ta lấy xe tải chiến lợi phẩm chở về đến bệnh viện dã chiến của Pháp đã bị quân ta chiếm ở An Khê, ông này xin phép được làm phẫu thuật cho cả binh sỹ Pháp và Việt Minh nhưng một chính uỷ ta không cho, nói rằng quân VM không có ai cứu chữa nên quân Pháp cũng không được cứu chữa, cấm ông này hành nghề. Ông này thúc thủ nhìn đồng đội chết trong khi dụng cụ thuốc men xung quanh khá đầy đủ.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: Ngocvancu trong 23 Tháng Mười Một, 2008, 06:34:44 PM
Thế sau này có ai đem chuyện viên Chính ủy ra rút kinh nghiệm 0?Theo tôi là phải kỷ luật thật nặng thậm chí tước quân tịch đuổi về quê cắm câu luôn.Ai đời Chính ủy lại làm mất mặt Đảng và Quân đội nhân dân VN như thế.Bác sỹ Pháp đã xin cứu chữa cho cả quân ta và quân Pháp cơ mà hay là anh ta sợ vì 0 kiểm soát được BS Pháp?


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 23 Tháng Mười Một, 2008, 06:46:20 PM
Đâu có nhỉ???
Ông Fall viết như vậy?
Tướng Nguyễn Minh CHâu phản ứng rất dữ dội chuyện B. Fall viết rằng:
- Quan năm Barrou không phải bị thương và bị bắt ngay từ đầu trận đánh, bị thẩm vấn ngay tại địa đoạn phục kích và
- Đả kích vào những ủy viên chính trị Việt Minh, vu khống họ có thái độ hẹp hòi thiển cận với tù binh bị thương.

Trong cuốn "Chiến thắng đường 19 An Khê - Đakpơ Liên khu 5 trong chiến dịch ĐÔng xuân 1953 - 1954" có hồi ký của Đại tá - BS Nguyễn Công Nghiêm, nguyên Quân y trưởng Trung đoàn 96, có mô tả công tác cứu chữa thương binh Pháp, do các quân y sỹ Việt Minh và tù binh là quân y sỹ Phát thực hiện.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: altus trong 23 Tháng Mười Một, 2008, 07:06:54 PM
Đâu có nhỉ???
Ông Fall viết như vậy?

Street Without Joy, Stackpole Books, 1994, tr. 219, "End of A Task Force". Thiếu tá bác sỹ Varme-Janville, sau này được trao trả.

http://books.google.com/books?id=GkHH8OoCTtAC&printsec=frontcover&dq=street+without+joy#PPA218,M1

Trích dẫn
Trong cuốn "Chiến thắng đường 19 An Khê - Đakpơ Liên khu 5 trong chiến dịch ĐÔng xuân 1953 - 1954" có hồi ký của Đại tá - BS Nguyễn Công Nghiêm, nguyên Quân y trưởng Trung đoàn 96, có mô tả công tác cứu chữa thương binh Pháp, do các quân y sỹ Việt Minh và tù binh là quân y sỹ Phát thực hiện.

Sách của Fall chép một số sự kiện quân ta (Fall hồi đó chép là TĐ 803) cứu chữa, cho phép Pháp lấy thương binh nặng, nhiều chỗ miêu tả sỹ quan Pháp bàn nhau thôi thì cứ để tạm thương binh lại mặt đường, chắc không sao đâu, vì TĐ này đã có tiền lệ cư xử nhân đạo với thương binh v.v. nói chung là khá khách quan, tuy nhiên xen vào thì có vụ miêu tả ở trên tại An Khê. Số thương binh nặng chết dần trong vòng vài ngày vì không được phép cứu chữa Fall chép là khoảng hơn hai chục người.

Nói chung những vụ thế này thì khó cãi đến nơi đến chốn thật hay bịa. Đọc thế biết thế thôi. Có thể có cả những trường hợp được cứu chữa như ông Nghiêm kể lại, có cả những vụ như vụ kia.



Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 24 Tháng Sáu, 2009, 06:22:27 PM
Hôm nay đúng tròn 55 năm chiến thắng Đắk Pơ:

http://baogialai.vn/channel/1622/2009/06/1711263/

Hồi ức về một trận đánh hay

55 năm sau ngày Chiến thắng Đak Pơ, chúng tôi tìm gặp một nhân chứng sống quan trọng của trận chiến này để nghe kể về một trận đánh được cho là có sự phối hợp hiệu quả với chiến thắng Điện Biên Phủ, góp phần kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ông là Nguyễn Tự- nguyên cán bộ tham mưu tác chiến của Tiểu đoàn 40- Trung đoàn 96 Anh hùng và hiện là Trưởng ban Liên lạc của Trung đoàn 96 tại Bình Định.
 
(http://baogialai.vn/dataimages/200906/original/images36072_I-M-G_6653.jpg)
Ông Nguyễn Tự.

Thành phố Quy Nhơn những ngày giữa hè oi ả. Ở một góc sân nhỏ trong căn nhà số 79 trên đường Trần Cao Vân, ông Tự nhanh nhẹn lấy ra những tập tài liệu liên quan đến trận chiến năm xưa, và trong cuộc chuyện trò về quá khứ, không ít lần mắt ông rơm rớm.
 
Trận giao thông chiến lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam
 
Để câu chuyện dễ hiểu và sinh động hơn, ông Tự lấy ra một mảnh giấy và cây bút, phác lên đó những đường nét rắn rỏi về sơ đồ chiến thuật trận đánh và bắt đầu kể lại diễn biến bằng giọng điệu thật hào hứng. 55 năm đã trôi qua, nhưng trong ký ức của ông, từng chi tiết nhỏ nhất của cuộc chiến đấu vẫn được lưu giữ.
 
...Đông Xuân 1953-1954, thực hiện kế hoạch Na-va, địch mở chiến dịch Atlante ở miền Trung hòng chiếm toàn bộ vùng tự do Liên khu V. Ngày 20-01-1954, 4 Binh đoàn Cơ động (BĐCĐ) của địch gồm Binh đoàn số 10, 100, 41 và 42 với lực lượng nòng cốt là BĐCĐ 100 (thuộc loại mạnh nhất từng tham chiến ở Triều Tiên) tiến đánh Phú Yên. Lúc này, nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do được giao lại cho lực lượng địa phương, toàn bộ quân chủ lực tiến lên đánh địch trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên. Đêm 27-01-1954, ta tấn công tiêu diệt cụm cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, Kon Rẫy, mở toang cửa ngõ Bắc Tây Nguyên, khiến địch hoảng hốt bỏ Kon Tum tháo chạy.
 
Trước tình thế Pleiku và quốc lộ 19 bị uy hiếp nặng, địch buộc phải điều BĐCĐ 100 từ Phú Yên lên chống đỡ. Thua đau tại 3 mũi tấn công: Từ Quy Nhơn đánh lên, An Khê đánh xuống và Phú Yên đánh ra, địch buộc phải hủy cuộc tấn công và rút quân, chỉ để BĐCĐ 100 ở lại cố thủ tập đoàn cứ điểm An Khê. Ngày 1-5-1954, để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh của chiến trường, Trung đoàn 96- bộ đội chủ lực Liên khu V ra đời (gồm Tiểu đoàn 40 và Tiểu đoàn 79) ngay trên tuyến lửa và được lệnh cấp tốc hành quân lên phối hợp với đơn vị bạn cắt quốc lộ 19, triệt đường tiếp tế buộc địch phải rút bỏ An Khê, đồng thời lên kế hoạch đánh tiêu diệt khi chúng rút chạy.
 
(http://baogialai.vn/dataimages/200906/original/images36073_hoi-uc-1.jpg)
Nhà bia tưởng niệm liệt sĩ Đak Pơ. Ảnh: Lê Anh

Hơn 2 tháng bị bao vây cô lập, máy bay không đủ sức tiếp tế, ngày 24-6-1954 toàn bộ lực lượng địch ở An Khê rút về Pleiku. 12 giờ 30 phút, địch vừa đến Đak Pơ thì lọt ngay vào trận địa phục kích của ta. Ta phục kích tại một khúc cua tay áo gần đỉnh dốc Đak Pơ, quyết chiến điểm được xác định tại cây số 95. Đây là một đoạn đường hẹp, hai bên cỏ cây và vách đá dựng đứng, nếu chiếc xe đầu tiên “chết” ở đoạn này thì đoàn xe phía sau không thể tiến lên được và địch hết đường thoát. Để chuẩn bị, trước đó, Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu chỉ thị cho Tiểu đoàn 40 dùng chiếc đồng hồ duy nhất của cả Tiểu đoàn (chiếc đồng hồ này chính là của ông Tự, hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng tỉnh) xác định thời gian một cách chuẩn xác nhất để tính thời điểm hạ lệnh tiến công, sao cho khi chiếc xe đầu tiên của địch tới quyết chiến điểm thì ta cũng từ bên sườn theo hướng vuông góc kịp đến nơi và nổ súng đúng lúc tiêu diệt gọn chiếc xe này. “Đây là một chi tiết rất quan trọng, vì nếu xuất kích sớm thì xung kích của ta bị phi pháo, thương vong nhiều trước khi nổ súng; nếu xuất kích chậm, nhiều xe và bộ binh của địch đã vượt qua khỏi quyết chiến điểm và sẽ quay lại đánh tạt sườn”- ông Tự phân tích.
 
Sau khi địch lọt vào trận địa phục kích, Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu hạ lệnh cho toàn Trung đoàn xuất kích. Trung đội ĐKZ trong đội hình Tiểu đoàn 40 mở hết tốc lực xuyên qua lực lượng bảo vệ sườn của địch, đến nơi kịp lúc và bắn gục chiếc xe công binh đầu tiên đang chạm quyết chiến điểm ở đỉnh dốc. Ngay sau đó, mấy trăm chiếc xe bị ùn lại, dồn sít vào nhau như một con rắn khổng lồ dài hơn 5 km! Cùng với ĐKZ, các mũi xung kích cũng đồng loạt ào ạt xông lên, đánh tan lực lượng bảo vệ sườn và tràn xuống mặt đường. Chỉ sau 10 phút, tất cả chỉ huy BĐCĐ 100 đều bị loại khỏi vòng chiến. Mất chỉ huy, lại bị đánh phủ đầu, đội hình của chúng lớp chết lớp bị thương, số còn sống bỏ chạy thục mạng. Sau cơn hoảng loạn, địch củng cố đội ngũ, phản kích ác liệt, tuy nhiên, đợt phản kích cuối cùng của địch đã bị đập tan. 19 giờ cùng ngày, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Ông Tự vẫn còn nguyên niềm tự hào, hồ hởi khi nói về kết quả trận thắng này: “Trung đoàn 96 lúc đó vừa mới thành lập được 55 ngày là đã vào trận đánh này, chỉ có 700 chiến sĩ “đầu trần chân đất” nhưng đã đánh tan Binh đoàn Cơ động 100 của địch và lực lượng chiếm đóng An Khê với quân số lên đến 3.900 tên! Lúc đó chúng tôi không còn quan tâm đến cái chết nữa dù biết tương quan lực lượng hết sức chênh lệch”.
 
Đặc biệt, có một điều ít được biết đến, đó là:  Chính Trung đội du kích của Anh hùng Núp đã phối hợp với Trung đoàn 96 trong trận đánh vang dội này. Ông Tự sôi nổi kể lại: “Hồi đó, khi chúng tôi phổ biến kế hoạch tác chiến trên sa bàn thì ông Núp cũng có mặt ở ngay bên cạnh mà”. Cùng với Trung đoàn 96, bằng tinh thần chiến đấu cao độ, Trung đội du kích gồm các chiến sĩ người Bahnar dưới sự chỉ huy trực tiếp của Anh hùng Núp đã tích cực tham gia tải đạn, cõng thương binh, chôn cất liệt sĩ... Có thể nói, Chiến thắng Đak Pơ có một phần không nhỏ sự hỗ trợ tác chiến của lực lượng du kích địa phương.
 
Được tin thắng trận Đak Pơ, Bác Hồ đã gửi thư khen: “Các chú hoạt động có thành tích khá. Bác vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú và thưởng đoàn vừa thắng khá ở An Khê Huân chương Kháng chiến hạng nhất... Bác chờ nhiều tin thắng lợi của các chú và thân ái hỏi thăm đồng bào trong đó”. Trong cuốn sách “Đại tướng Võ Nguyên Giáp với chiến dịch Điện Biên Phủ”-NXB Quân đội Nhân dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đánh giá rất cao chiến thắng này: “...Đây là một trận vận động phục kích lớn, dũng cảm và linh hoạt, tận dụng được yếu tố bất ngờ, sử dụng lực lượng với hiệu quả cao, đánh trúng vào chỗ yếu của địch, bồi thêm cho chúng một đòn thất bại nặng nề...”.
 
Chiến thắng đã được tôn vinh đúng tầm vóc?
 
Những ngày này, bên cạnh việc bận rộn chuẩn bị cho Lễ kỷ niệm 55 năm Chiến thắng Đak Pơ, Ban Liên lạc Trung đoàn 96 tại Bình Định cũng đang làm đơn thỉnh nguyện gửi các cấp cao nhất của Nhà nước để đề nghị xem xét, truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu vì thành tích xuất sắc không chỉ trong trận Đak Pơ mà còn những chiến công trước và sau đó. Hiện Bộ Tư lệnh Quân khu 5 cũng đã có công văn đề nghị lập hồ sơ, thủ tục gửi về Quân khu 5 để thẩm định và hoàn chỉnh hồ sơ trình Bộ Quốc phòng xét đề nghị truy tặng danh hiệu này cho Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu, đã mất năm 1999.
 

Những kỷ lục của chiến thắng Đak Pơ:
Riêng về đánh giao thông, trong suốt 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chưa có trận vận động phục kích nào lớn hơn trận Đak Pơ.
Cụ thể:
Kỷ lục về tiêu diệt sinh lực địch: Địch chết và bị thương 700 tên, bị bắt sống 1.200 tên.
Kỷ lục về chiến lợi phẩm: Thu 229 xe cơ giới, 20 đại bác và hàng ngàn súng các loại.
Kỷ lục về hiệu quả chiến đấu: Lực lượng của ta ít hơn địch trên 5 lần nhưng chỉ trong vòng 7 tiếng đồng hồ đã xóa sổ cả một Binh đoàn Cơ động, loại khỏi vòng chiến 3.900 tên địch.
Nguồn: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai

Có thể thấy, Đak Pơ là một trận đánh được báo chí quốc tế ca ngợi là một trận đánh hay, là chiến công lớn nhất Liên khu V, và chỉ khi tin BĐCĐ 100 bị tiêu diệt bay tới Genève, địch mới chịu đưa ra điều kiện đàm phán và ký kết Hiệp định Genève. Thế nhưng, cho đến nay, dường như chiến thắng Đak Pơ vẫn chưa được tôn vinh xứng tầm, dù rằng Trung đoàn 96 đã được tuyên dương Anh hùng và địa điểm Chiến thắng Đak Pơ được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia. Suốt nhiều năm qua, ông Tự không ngừng băn khoăn: “Không biết vì sao cho đến nay Chiến thắng Đak Pơ không được sử sách ghi chép đầy đủ, báo đài không nói, không viết gì nhiều, trừ một vài tờ báo địa phương và mấy quyển sách lưu hành nội bộ”.
 
Ông Nguyễn Tự cho biết thêm, hiện phần mộ của 147 liệt sĩ trong trận đánh này (trong đó có 87 người là bộ đội, còn lại là dân quân du kích và thanh niên xung phong) đều chưa được tìm thấy, mặc cho những nỗ lực tìm kiếm không ngừng của địa phương và của Ban Liên lạc Trung đoàn 96. Đã 6 lần ông cùng chính quyền An Khê tìm lại dấu tích những nơi chôn cất cũ nhưng đào lên chỉ thấy đất đen. “Về chuyện này chúng tôi thấy quá day dứt nhưng chưa biết cách sao?”- ông Tự lặng đi. Bình Định, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Phú Yên, Quảng Nam... quê hương của những liệt sĩ này vẫn còn biết bao người thân mong ngóng nhưng chưa biết bao giờ mới được đón con, em, cha, chú mình trở về. Cùng với Đài tưởng niệm Chiến thắng Đak Pơ, hiện chỉ còn một chứng nhân câm lặng bên vệ đường phía Nam quốc lộ 19 tại cây số 94. Đó là tấm bia tưởng niệm những người lính chết trận trong trận này. Những dòng chữ (bằng tiếng Pháp) cuối cùng trên bia còn ghi: “Nơi đây, ngày 24 tháng 6 năm 1954, những người lính Pháp và Việt Nam đã hy sinh vì Tổ quốc của họ...”.
 
Phương Duyên


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: Que huong trong 03 Tháng Mười, 2009, 11:39:59 AM
Ông già nhà em có tham gia trận đánh hào hùng đó:
- Binh đoàn 100 này rất thiện chiến và kinh nghiệm bên chiến trường Triều Tiên
- Thành phần gồm lính Pháp, Ma rốc và có cả lính da đen (ông cụ tham gia phỏng vấn tù binh)
- Người chỉ huy trận đánh: Bác Năm Ngà
-  Khi ông già nhà em dẫn đoàn tiếp vận (gần 300 người) từ Bình Định lên thì trận đánh vừa kết thúc. Pháp chết thì không thể đếm xuể, nhiều thằng chết trong rừng, bụi rậm..., thương binh, tù binh thì vô số
- Chuyện linh tinh như báo chí nước ngoài đưa là hoàn toàn không có. Ông già nhà em kể bọn tù binh chưa bị thẩm vấn thì đã khóc sụt sùi rồi, có muốn "hét" cũng không nỡ.
- Riêng tỉnh Bình Định đã có hàng chục đoàn tiếp vận cho mặt trận, vui như đi hội. Dùng sức người là chính, không có xe đạp thồ như chiến dịch Điện Biên Phủ
- Võ trang của đoàn tiếp vận "mạnh lắm", 01 súng ngắn và và vài khẩu súng Mút cơ tông ;D


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: vovanha trong 21 Tháng Mười, 2009, 06:49:48 PM
Nhà mình bác nào chỉ huy trận này vậy?
, tham mưu phó trung đoàn Khiếu Anh Lân làm quyền tham mưu trưởng trong trận đánh. d trưởng d40 là cụ Huỳnh Hữu Anh....
Khiếu Anh Lân nguyên Tư lệnh MT 479.
Huỳnh Hữu Anh nguyên Tư lệnh MT579 ( 1981 ) quê Phù Cát Bình Định ?
Banzua giải thích hộ đi .


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: rongxanh trong 12 Tháng Mười Một, 2009, 10:20:46 PM
Em xin đặt gạch trước: Chiến lệ trận tiêu diệt GM 100 trên Ql19
-------
Trận phục kích Dakpo (Đường 19)
của Trung đoàn bộ binh 96/ Liên khu 5
Ngày 24/6/1954

Trong chiến dịch Bắc Tây nguyên (xuân hè 1954) trên chiến trường Liên khu 5 địch bị thất bại liên tiếp. ĐƯờng 19 từ Quy Nhơn lên An Khê bị cắt đứt, An Khê bị bao vây cô lập.

Trong thế bị động và trước sức ép của ta, ngày 24/6/1954 quân địch buộc phải rút khỏi An Khê.

Lực lượng địch gồm binh đoàn cơ động 100 (GM100); 1 tiểu đoàn khinh quân ngụy, 1 tiểu đoàn địa phương chiếm đóng An Khê và 1 tiểu đoàn pháo binh 105 ly.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chientruong_k trong 18 Tháng Ba, 2010, 03:59:02 PM
Vậy mà nguồn tư liệu ít quá ! :-\
Một trận đánh đáng đi vào huyền thoại của quân đội Việt Nam.
Mong rằng với tinh thần xây dựng của tập thể ta sẽ tìm và gìn giữ những nguồn tư liệu quý để mãi mãi còn lữu giữ sử xanh .


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: vmt trong 25 Tháng Sáu, 2010, 10:29:48 PM

[/quote]:Đây là một trận đánh xuất sắc của bộ đội ta và các lực lượng tham gia phối hợp.Nhiều bài học quý báu chắc đã được rút ra trong trận đánh này.Tôi nghe nói đã có một số lượng lớn xe pháo là chiến lợi phẩm trong trận đánh này được mang ra ngoài bắc để phục vụ cho lễ duyệt binh mừng chiến thắng thưc dân pháp. Tuy nhiên cũng phải công bằng mà nói rằng trận này ta đánh địch trong thế chủ động phục kích còn địch trong thế rút chạy nên cũng dễ thắng hơn nhiều so với thế trận tấn công giằng co với quân pháp ở Điện biên phủ.Hơn nữa có vẻ như công tác thương binh tử sỹ trận này làm chưa tốt hay sao mà trong một trận thắng như vậy mà cho đến bây giờ vẫn chưa tìm thấy mộ phần các liệt sỹ.Hy vọng sớm tìm thấy để đưa các liệt sỹ vào nghĩa trang


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:18:52 AM
NHÌN TỪ ĐIỆN BIÊN PHỦ ĐẾN BẮC TÂY NGUYÊN

Thượng tướng NGUYỄN MINH CHÂU, Nguyên trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 - chủ lực Liên khu 5

Kỷ niệm 40 năm chiến dịch giải phóng Bắc Tây Nguyên và tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 của thực dân Pháp, càng thấy rõ sự vĩ đạì của chiến thắng Điện Biên Phủ và các chiến thắng trên toàn chiến trường Đông Dương năm 1953 - 1954. Nó có ý nghĩa cực kỳ to lớn trong sự nghiệp kháng chiến của nhân dân ta, cũng như góp phần trong cuộc đấu tranh làm sụp đổ chế độ thực dân cũ trên thế giới. Chúng ta càng nhận rõ hơn sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Trung ương Đảng, của Hồ Chủ tịch và Bộ Tổng Tư lệnh; nhận rõ hơn sức mạnh to lớn, sức mạnh vô đích của các dân tộc Việt Nam.

Chiến thắng Điện Biên Phủ cùng với các chiến thắng khác trong cả nước đã cổ vũ  chúng ta quyết đánh và quyết thắng, đã tạo ra bối cảnh thuận lợi cho chúng ta tiêu diệt bình đoàn cơ động 100 của Pháp và Bắc Tây Nguyên và vũ khí trang bị, phi pháo, khả năng cơ động. Nhưng Bộ Chỉ huy chiến dịch đã phân tích và đánh giá đúng so sánh lực lượng ta và địch, đã chọn đúng hướng chiến trường Bắc Tây Nguyên, tập trung đại bộ phận lực lượng chủ lực kết hợp với lực lượng địa phương, nhằm vào sơ hở của địch mà đánh. Chúng ta cũng đã chọn đánh mục tiêu là cụm cứ điểm đông bắc Kon Tum để nhanh chóng tác động, rồi phát triển lên phía tây, tập kích thị xã Kon Tum làm cho địch hoảng hốt bỏ chạy. Khi địch đưa chủ lực lên lập phòng tuyến phòng ngự từ An Khê lên Plây Ku và Trà Khê, thì chủ lực ta tập trung đánh mạnh vào tuyến đường chiến lược 19, đồng thời chọn đúng mục tiêu Đắc Đoa để tác động, rồi nhanh chóng phát triển vào phía nam  đường 19, buộc địch phải bung ra đối phó. Chúng ta đã tạo thế, khoét sâu sơ hở của địch để tiêu hao chúng ở Plê Ring, rồi tác động chúng ở Đắk Pơ. Trong lúc chủ lực ta chưa tập trung đến cỡ sư đoàn, nhưng sự phối hợp chặt chẽ giữa các trung đoàn, dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ Chỉ huy chiến dịch, chúng ta đã tạo ưu thế hơn địch. Bộ Chỉ huy đã nắm vừng thời cơ cho phát triển lực lượng kịp thời ngay trong chiến đấu, ngay tại chiến trường như Trung đoàn 96, đơn vị chủ lực thứ 3 của Liên khu và các tiểu đoàn tập trung khác của địa phương. Vào cuối chiến dịch ta đã có ba trung đoàn đầy đủ, để tiến về Nam Tây Nguyên. Chiến đấu trên một chiến trường xa, với một lực lượng chưa từng có, nhưng công tác hậu cần vẫn bảo đảm cho cuộc chiến đấu kéo dài từ Đông - Xuân sang Hè.

Chủ lực của ta vận dụng tương đối thuần thục các chiến thuật công đồn kết hợp diệt viện, đánh giao thông liên tục, bao vây chia cắt địch, và tập kích các trung tâm co cụm của địch như Kon Tum, Plây Ku, vừa tập trung đập nát đầu cầu bàn đạp trên công của chúng, làm cho địch bị động lúng túng, cụm lại không yên, duỗi ra không được. Nghệ thuật quân sự được sử dụng sáng tạo linh hoạt, nhằm sơ hở của địch, luôn luôn tạo ra sơ hở cho chúng để mà đánh, nhất là đánh địch trong lúc rút lui, như Ở An Khê, ở đèo Chư Dré. Nhờ biết dựa vào sự che chở của nhân dân, sự giúp đỡ của lực lượng vũ trang địa phương và với một nghệ thuật nghi binh khéo léo, chúng ta đã giữ bí mật tuyệt đối với địch. Chúng không phát hiện được Trung đoàn 96 đã ra đời ngay trên đường 19 và đã đánh chúng đòn trời giáng mà chỉ nghĩ đó là Trung đoàn 803 lúc bấy giờ đã tiến xuống Nam đường 19. Nhờ vậy ta dạt hiệu quả cao, với lực lượng sử dụng ít.

3. Trước khi bị tiêu diệt, binh đoàn cơ động 100 đã bị điều đi nơi này nơi khác, đã bị các trung đoàn bạn đánh những đòn đau ở Đắc Đoa, Plây Ring, trên đường 19, ở Biển Hồ v.v... nó đã bị cú sốc tâm lý sau khi Điện Biên Phủ bị tiêu diệt. Tất cả những điều đó dã tạo nên yếu tố khách quan để kết liễu số phận của binh đoàn thiện chiến này. Binh đoàn cơ động 100 thuộc loại mạnh nhất của quân đội Pháp, được trang bị rất tối tân so với lúc bấy giờ, quân số còn rất đông có sự phối hợp của phi pháo, của hệ thống cứ điểm trên đường 19 và có binh đoàn cơ động 42 ở Plây Ku tiến xuống đón nó. Nhưng trung đoàn 96 quyết tâm tiêu diệt nó không phải là một hộ phận, chặt đầu hay cắt đuôi, mà là tiêu diệt toàn bộ quân địch gồm sáu trâu đoàn, đánh không hết trong ngày đầu, thì tiếp tục truy kích, tiêu diệt trong những ngày sau. Đây là quyết tâm táo bạo, chính xác, dám đánh và dám thắng. Chúng ta nghiêm chỉnh chấp hành lệnh của Bộ Chỉ huy chiến dịch: “Nếu không tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 ngay lúc ấy, thì sau này cũng phải đánh nó. Để cho nó cụm lại ở Plây Ku, hay liên lạc được binh đoàn cơ động 42 thì cũng phải đánh, nhưng đánh rất khó, phải đổ xương máu nhiều”. Nếu lúc đó không phải binh đoàn cơ động 100, mà là đơn vị nào khác của quân Pháp thì ta cũng phải tiêu diệt toàn bộ. Nếu Bộ Tư lệnh không giao cho Trung đoàn 96, mà giao cho đơn vị bạn nào khác thì đơn vị đó cũng phải thi hành và thỉ hành thắng lợi nhiệm vụ lịch sử này. Có khác nhau chăng là ở chỗ ta thắng nhiều hay ít, chịu sự hy sinh ít hay nhiều mà thôi.

Ở đây không có sự phiêu lưu mạo hiểm. Lực lượng ta tuy ít nhưng rất tinh nhuệ, trang bị tương đối tốt, cán bộ dày dạn kinh nghiệm, trong khi chúng ta đã tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ, tạo yếu tốt bất ngờ để tiêu diệt nó. Địa điểm phục kích rất tốt. Hỏa lực ta đánh rất tập trung, lực lượng xung lực ta ít, nhưng đánh rất trúng. Trong lúc Đảng ủy của Trung đoàn 96 đang có nhiều ý kiến cân nhắc khi tình thế rất khẩn trương, đích đang đi vào trận địa phục kích, đồng chí Nguyễn Chánh đã chỉ thị: “phải đánh theo ý kiến của người chỉ huy (tức trung đoàn trưởng)”. Lệnh này củng cố quyết tâm cho trung đoàn trưởng kiên quyết tiêu diệt binh đoàn cơ động 100. Từ quyết tâm của trung đoàn trưởng, trở thành quyết tâm của toàn đơn vị. Điều đó tạo ra sự  thống nhất trên dưới, tạo ra sức mạnh quyết định.

4. Vai trò của hậu phương trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên nói chung, trong trận tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 nói riêng rất quan trọng. Có thể nói cả Liên khu đã được huy động sức người, sức của cho một chiến trường rộng lớn, không những cho Bắc Tây Nguyên mà cá Nam Tây Nguyên, cho Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Nam, Hạ Lào... Hàng chục vạn dân công, xếp lại việc quê hương mình sắp bị giặc chiếm đóng, liên tục kẻo ra tiền tuyến phục vụ bộ đội, tải lương, tiếp tế đạn dược vũ khí, vận chuyển thương binh v.v... Hàng vạn thanh niên xung phong ưu tú đã theo sát bộ đội phục vụ chiến đấu và khi cần thiết đã nhập ngũ ngay tại chiến trường. Chính đồng bào các dân tộc đã đóng góp rất lớn trực tiếp vào việc tiêu diệt binh đoàn cơ động 100.

5. Do điều kiện đặc biệt của những năm 1954 - 1955, ngay sau trận đánh thắng lợi ở Bắc Tây Nguyên, bộ đội Liên khu 5, trong đó có Trung đoàn 96, đã phải nhanh chóng rút quân về, tập kết ra Bắc theo đúng tinh thần của Hiệp định Giơ-ne-vơ. Chúng ta lại phải gấp rút khẩn trương xây dựng quân đội và làm nhiệm vụ quan trọng khác nên chưa có thời gian để kiểm điểm, tổng kết đầy đủ. Đó cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho một số vấn đề còn tồn tại.

Việc khen thưởng cho cán bộ chiến sĩ tham gia trận đánh có ý nghĩa lớn này, xây dựng một tượng đài trên đường 19, trong phạm vi Liên khu hay từng địa phương, nên tổ chức kỷ niệm chiến thắng này như thế nào... nhất là trong những năm chẵn kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Nhưng điều quan trọng nhất đối với chúng ta - Những người từng đứng trong đội hình Trung đoàn 96 là học tập, phát huy truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, của lực lượng vũ trang Liên khu 5, của Trung đoàn 96 nói riêng.

Nhiều cán bộ và chiến sĩ đã hy sinh trong Chiến dịch Đông - Xuân - Hè 1953 - 1954 trên các chiến trường của Liên khu 5, trong Chiến dịch Bắc Tây Nguyên. Nhiều đồng chí đã chỉ huy chiến đấu ở Bắc Tây Nguyên bây giờ không còn nữa. Chúng ta vô cùng thương tiếc đồng chí Nguyễn Chánh người anh cả kính mến, các đồng chí Nguyễn Bá Phát, Lư Giang, Giáp Văn Cương, Huỳnh Hữu Anh... những vị tướng lĩnh, những cán bộ chỉ huy xuất sắc của Liên khu 5, trong đó có những đồng chí là cán bộ chỉ huy của Trung đoàn 96. Bây giờ các đồng chí không còn nữa nhưng tên tuổi của các đồng chí sẽ sống mãi với Chiến dịch Bắc Tây Nguyên, với trận tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 của thực dân Pháp.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:19:42 AM
TRUNG ĐOÀN 96 - TRẬN TIÊU DIỆT BINH ĐOÀN CƠ ĐỘNG 100 CỦA PHÁP

Trung tướng - PGS KHIẾU ANH LÂN, Nguyên Giám đốc Học viện Lục quân (Đà Lạt). Nguyên Tham mưu phó Trung đoàn 96, chủ lực Liên khu 5.

Một ngày tháng 6 năm 1954, trước ngày ngừng bắn theo Hiệp định Gíơ-ne-vơ (20-7-1954) 28 ngày, bộ đội Liên khu 5 đã đánh một trận phục kích vào loại nhất nhì của lịch sử kháng chiến chống Pháp.

Sau trận này, các quan 5, quan 6 của Pháp như Barrou, Sockel đều có suy nghĩ và băn khoăn, có người đã xin gặp chỉ huy ta để trao đổi và tìm hiểu.

Thời gian đã trôi đi nhanh, đoạn đường An Khê - Đắc Pơ - Plây Ku (đường 19) nay đã trở thành một con đường tốt vào loại nhất của Tây Nguyên. Nhớ đến trận đánh này, là nhớ đến một chiến công oanh liệt của Liên khu 5, nhớ đến những cán bộ, chiến sĩ quân đội, nhớ đến đồng bào thời đó đã góp công sức và xương máu cho trận thắng oanh liệt mà ngày nay mỗi lần nhắc đến cứ như một huyền thoại.

1. HÌNH THÁI CHIẾN TRƯỜNG LIÊN KHU 5 CHIẾN D!CH ÁT-LAN-TA 1954, CUỘC PHẢN CÔNG LÊN TÂY NGUYÊN

1. Hình thái chiến trường Liên khu 5 năm 1953.


Sau các chiến thắng liên tiếp Xuân - Hè, chiến tranh du kích vùng sau lưng địch ở chiến trường phát triển cao. Nhiều vùng bị địch chiếm Ở Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, trở thành vùng du kích. Căn cứ du kích Tây Nguyên mở rộng đến đường 14, nối liền các căn cứ kháng chiến của nước bạn, đến Hạ Lào, đến Đông Bắc Cam-pu-chia; ở khu vực Nam Tây Nguyên, một bàn đạp của chủ lực Liên khu đã vượt qua sông Ba áp sát đường 14.

- Tháng 1 năm 1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ IV quyết định đẩy mạnh các hoạt động quân sự, chính trị thành cao trào, đưa cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ ở nước ta lên một giai đoạn mới.

- Tháng 3 năm 1953 Na-va - đại tướng nổi tiếng nhất của Pháp lúc đó được cử sang Đông Dương làm tổng chỉ huy quân Pháp. Sau đó kế hoạch Na-va ra đời. Ờ Nam Trung Bộ (Liên khu 5) kế hoạch hành quân chiến dịch Át-lan-ta cũng hình thanh.

Ý đồ của bộ tổng tham mưu quân Pháp là bằng mọi cách, tập trung một lực lượng cơ động lớn, tổ chức thành những binh đoàn cơ động mạnh (Groupement Mobile: GM) thực hiện tiến công chiến lược ở phía nam, chiếm đóng hết các vùng tự do còn lại như Nam, Ngài, Bình, Phú ở Liên khu 5(1). Sau đó mới quay ra phía Bắc, cùng với khối chủ lực cơ động đã được thử thách, quyết chiến chiến lược với chủ lực Việt Nam, giành thắng lợi quyết định.

2. Chiến dịch Át-lan-ta.

Chiến dịch Át-lan-ta, bộ tổng tham mưu Pháp chia thành ba bước:

Bước 1:

Tập trung 22 tiểu đoàn đánh chiếm thị xã Tuy Hòa và toàn tỉnh Phú Yên bằng đổ bộ đường biển vào,
Khánh Hòa đánh ra, Tây Nguyên (Đắc Lắc) đánh xuống.

Bước 2:

Đánh chiếm Qui Nhơn và toàn tỉnh Bình Định cũng bằng ba hướng: từ Phú Yên đánh ra, Tây Nguyên (An Khê) xuống và đổ bộ đường biển vào.

Bước 3:

Là bước quyết định, đánh chiếm thị xã Quảng Ngãi, thủ đô kháng chiến của Liên khu, mục tiêu then chốt nhất, bằng bốn cánh quân: từ Bình Định đánh ra, Quảng Nam đánh vào, Tây Nguyên (Kon Tum) đánh xuống và đổ bộ đường biển lên.

Quân và dân Liên khu phát hiện sớm ý đồ tham vọng này của địch. Các cuộc hội thảo, hội nghị quân chính các cấp trung đoàn, tỉnh, Liên khu đều nổi bật quyết tâm chung là kiên quyết chặn đánh địch, không để chúng chiếm đóng vùng tự do.

Quyết tâm là vậy, nhưng chặn đánh địch thế nào:

- Tung các đơn vỉ chủ lực của Liên khu ra các tỉnh đồng bằng vừa phối hợp vừa làm hạt nhân ở các địa phương chặn đánh địch, giữ vùng tự do?

- Hay là giao việc bảo vệ vùng tự do cho các địa phương, do từng tỉnh tổ chức chỉ huy, chỉ đạo. Còn khối chủ lực là các trung đoàn, tiểu đoàn đã dạn dày thử thách, thì tấn công lên Tây Nguyên, đánh ngay vào khu vực bàn đạp của địch, phá ngay một mắt xích quan trọng trong thế trận của chúng, tiêu diệt nhiều sinh lực buộc chúng phải quay về giữ vùng cao nguyên chiến lược này? Làm như vậy ta vẫn bảo vệ được vùng tự do, lại mở rộng được vùng du kích, vùng giải phóng Tây Nguyên, mà vẫn tiêu diệt được sinh lực địch.

Quân và dân Liên khu chấp nhận phương án tác chiến thứ hai và bắt tay ngay vào công tác chuẩn bị, thiết bị chiến trường, tổ chức thêm các đơn vị mới.

Bốn tỉnh tự do của Liên khu gần như bật dậy, náo nức chuẩn bị, người sẵn sàng chờ đón địch, người rèn luyện, sẵn sàng cho cuộc vượt sông, băng rừng lên hướng Tây Nguyên.

3. Cuộc đánh trả ban đầu.

Ngày 20 tháng giêng năm 1954, địch tiến công Phú Yên bằng 22 tiểu đoàn quân Pháp, gồm bốn Linh đoàn cơ động số 10, 100, 41, 42 và hai tiểu đoàn dù ngụy. Chúng gặp ngay sự đánh trả quyết liệt của các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Đắc Lắc. Và ngay ngày 26 tháng giêng, theo kế hoạch định sẵn một cách chủ động trên hướng Tây Nguyên, chủ lực Liên khu đã nổ súng trên hai hướng, hướng chính Kon Tum và hướng diện đường 19 - An Khê. Trong vòng chưa đầy 15 ngày (đến ngày 7/2/1954) ta đã giải phóng toàn tỉnh Kon Tum bao gồm cả thị xã, rộng trên 140.000 kí-lô-mét vuông với trên 200.000 dân. Thắng lợi này cùng với những đòn mạnh và hiểm ở Nam Tây Nguyên, quân và dân Liên khu đã bắt địch phải tính lại về kế hoạch chiến dịch Át-lan-ta ở bước 1, bước 2. Ta đã dồn chúng từ thế chủ động tiến công sang thế bị động quay lại đối phó, chống đỡ ở Tây Nguyên. Các binh đoàn cơ động địch dành cho tiến công nay buộc phải kẻo về hướng Tây Nguyên:

- Chín tiểu đoàn (trong đó có GM - 100) bố trí ở Plây Ku và xung quanh.

- Chín tiểu đoàn (trong đó có GM 11 và 21) bố trí trên đường 19 An Khê.

- Hai binh đoàn 41 và 42 phòng thủ Nam Tây Nguyên.

Thắng lợi ban đầu của ta buộc địch kéo lực lượng về Tây Nguyên, tạo diều kiện thuận lợi cho quân và dân vùng tự do Phú Yên đánh trả địch. So sánh lực lượng trên từng hướng, địch vẫn còn ưu thế. Bộ Tư lệnh Liên khu 5 vừa huy động thêm lực lượng để bổ sung cho các đơn vỉ, vừa rút quân ở địa phương lên bổ sung cho chủ lực, vừa tách nhiều tiểu đoàn từ các trung đoàn chủ lực thiện chiến ra xây dựng các đơn vị mới. Trong vòng 30 ngày, ta đã có Trung đoàn 96, một tiểu đoàn bộ binh (Tiểu đoàn 375) và một số đại đội địa phương khác.

- Ngày 12 tháng 3 năm 1954, địch thực hiện bước hai chiến dịch Át-lan-ta đánh lên Qui Nhơn. Chúng gặp ngay giai đoạn mở đầu của chiến dịch Điện Biên Phủ trên chiến trường chính và sự chống trả có tổ chức ở ngay tỉnh Bình Định. Chỉ mới năm ngày, Na-va lại rơi vào tình thế bất lợi mới, buộc phải co kéo lực lượng về chiến trường chính Bắc Bộ. Ngày 16 tháng 3 năm 1954, binh đoàn cơ động dù ở An Khê vội vã bay ra hướng Bắc. Cuộc co kéo lực lượng của Pháp ngày càng khẩn trương, cùng với sự phối hợp chiến trường Bắc - Nam rất chặt chẽ và đầy hiệu lực của ta, đang dẫn đến, đang tạo ra bước suy sụp lớn của quân đội Pháp ở Tây Nguyên, đang dẫn chúng đến một thảm họa.


(1) Các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên của Trung Bộ - Vùng Hậu Giang của Nam Bộ.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:21:28 AM
II. ĐƯỜNG 19, TIỂU KHU AN KHÊ - TRUNG ĐOÀN 96 VÀ QUYẾT TÂM TÁO BẠO

Chiến dịch Điện Biên Phủ và các chiến trường Trung Bộ, Nam Bộ đang chiến thắng. Hướng Bắc Tây Nguyên ở Liên khu 5 và cả chiến trường Đông Dương của Pháp đang ở vào một tình thế nguy hiểm. Đông Dương có nguy cơ bị cắt đôi và chính từ những bàn đạp này, bộ đội Việt Nam có đầy đủ các điều kiện để phát triển vào hướng Nam Tây Nguyên (Cheo Reo, Buôn Ma Thuột, Quảng Đức), vào đông bắc Cam-pu-chía (Stưng-treng - Lom Phát) mở đường tiến về hướng Nam Bộ. Na-va đã phải ra lệnh cho quân khu Tây Nguyên (tướng Debeaufort) bỏ Kon Tum, đưa quân về phòng thủ Plây Ku, tạm dừng cuộc hành quân Át-lan-ta, chuyển các lực lượng đang tiến công Phú Yên lên tăng cường tuyến đường 19 và Nam Tây Nguyên. Mâu thuẫn giữa tiến công ra vùng tự do và kẻo quân về bao vệ Tây Nguyên càng phát triển gay gắt, đặt quân Pháp vào thế bị động, lúng túng hơn.

1. Đường 19, Tiểu khu An Khê.

Đường 19, một trục đường ngang từ vùng tự do Bình Định (Quy Nhơn) lên Tây Nguyên, qua An Khê lên Plây Ku và kéo thẳng đến biên giới Cam-pu-chia - Việt Nam đến tận Stung-treng trên bờ sông Mê Công thành đường 19 kéo dài. Đây là con đường huyết mạch của chiến trường Tây Nguyên. án ngữ đường 19, đoạn Plây Ku - An Khê vừa bảo đảm chặn được những đợt tiến công của bộ đội Việt Nam từ hướng Kon Tum xuống, lại vừa bảo đảm việc tiếp tế cho tiểu khu An Khê, một bàn đạp của quân đội Pháp khi muốn tiến công xuống vùng tự do Bình Định. Đây là con đường ta và địch đang tranh chấp quyết liệt. Bộ đội ta luôn bám đánh, phá hoại, địch liên tục cơ động, vận chuyển nhưng lại không có thời gian củng cố bảo quản. Đường 19 là loại đường xấu, hẹp nhưng địch vẫn phải cơ động.

Từ những ngày tháng 4 năm 1954, bộ phận chủ lực của Liên khu gồm Trung đoàn 108, Trung đoàn 96 cùng các đơn vị địa phương đã bám đường 19, bám quanh thị xã Plây Ku, đánh nhỏ bằng phục kích, tập kích, uy hiếp địch từ nhiều phía, căng chúng ra các hướng. Ta đánh theo cách đánh của ta, khoét sâu mâu thuẫn giữa tập trung và phân tán, giữa phòng thủ và tiến công, buộc dịch phải đi vào cái bẫy của ta.

- Ngày 4 tháng 4 năm 1954 ta diệt chín xe địch trên đoạn Hà Tam từ An Khê đi Plây Ku.

- Ngày 9 tháng 4 năm 1954, 20 xe địch từ hướng Plây Ku về An Khê lại bị đánh ở chân đèo Măng Yang.

Từ 12 tháng 4 đến 28 tháng 4 năm 1954 sáu đoàn xe khác bị diệt trên đoạn đông và tây cầu A Dưng.
Những cuộc tiến công nhỏ nhùng đầy hiệu quả đó đã làm cho lực lượng quân Pháp bối rối, đã phải tạm dừng chiến dịch Át-lan-ta điều quân về Tây Nguyên bảo vệ lực lượng ở các tiền đồn; ở ngay tiểu khu An Khê, cố tránh nguy cơ bị tiêu diệt lớn; GM. 100 đã được diều động đến An Khê trong tình thế đó.

Tiểu khu An Khê gồm hàng loạt các cứ điểm ngoại vi và các vùng phụ cận phía đông (cứ điểm Thượng An, Cửu An, Tú Thủy) là bàn đạp, đầu cầu tiến công xuống vùng tự do ven biển, là bình phong án ngữ đầu cực đông của đường 19. Từ chiến thắng Đông - Xuân 1952 - 1953, ta đã lần lượt giải phóng các vùng phụ cận bắc, đông - bắc, tây - bắc và đông - nam An Khê. Địch chỉ còn chiếm đóng chính thị trấn An Khê và một số đồn bót nhỏ ngay trên trục đường 19 như Cà Tung, Xà Huống, Hà Tam, Măng Yang kẻo lên đến thị xã Plây Ku. Chung quanh An Khê là các buôn rẫy của đồng bào Ba Na, dân tộc ít người của Anh hùng Núp. Đã từ lâu nhân dân Tây Nguyên chạy vào rừng, thành lập các đội du kích phối hợp với bộ đội đánh địch. Địch ở tiểu khu An Khê cuộn tròn trong một thị trấn nhỏ, không có dân, không có tai mắt. Chúng đã bị bao vây, bị cô lập hoàn toàn.

2. Trung đoàn 96.

Trung đoàn 96 được thành lập từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở Đà Nẵng nằm trong biên chế Đại đoàn 31 (Trung đoàn 68, 69, 93, 96). Lúc đó, Trung đoàn 96 là một trung đoàn mạnh gồm các tiểu đoàn 17, 18, 19 đã đánh quân Pháp nhiều trận thiệt hại nặng ở Đà Nẵng. Sau nhiều lần biên chế tổ chức lại, Trung đoàn 96 không còn... và đến đầu năm 1954 được phục hồi lại với biên chế ba tiểu đoàn bộ binh (Tiểu đoàn 79, 40, 30 + 2 đại đội hỏa lực... ) do đồng chí Nguyễn Minh Châu nguyên là trung đoàn trưởng Trung đoàn 108 về phụ trách cùng đồng chí Nguyễn Hữu Thành là chính ủy. Dàn cán bộ tiểu đoàn cũng là những cán bộ dạn dày trận mạc. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 79 là Đỗ Hữu Đào (nguyên là tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 19). Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 40 là Huỳnh Hữu Anh (tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn độc lập của quân khu). Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 30 là Đoàn Phong (tiểu đoàn độc lập của Quân khu(1))và hàng loạt cán cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, các phân đội hỏa lực đều thuộc các trung đoàn chủ lực chuyển về. Toàn Trung đoàn chào mừng chiến thắng Diện Biên Phủ và hân hoan sau những chiến thắng trên đường 19. Cán bộ và chiến sĩ mừng vui vì được giao một nhiệm vụ đánh địch trên đường 19, sẵn sàng đánh phá tiểu khu An Khê, tiêu diệt địch rút chạy, nhưng cũng có nhiều băn khoăn về lực lượng của mình quá mỏng. Mang tiếng là một trung đoàn nhưng chỉ có năm đại đội bộ binh (Tiểu đoàn 79 chỉ có hai đại đội). Tuy được phối thuộc một đại đội địa phương của Trung đoàn 120, nhưng phạm vi hoạt động lại quá rộng. Cán bộ ở các phân đội đa số mới được bổ nhiệm và có nhiều vị trí còn bỏ trống, trung đoàn phó có tên nhưng chưa về đơn vị, tham mưu trưởng chưa có, cơ quan tham mưu mới lắp ghép. Số đông chiến sĩ lại mới vừa được bổ sung từ các đơn vị địa phương, hoặc từ các đội dân quân tuyển vào. Trong không khí chiến thắng chung, tất cả mừng vui, nhưng trong thâm tâm cán bộ, nhất là những cán bộ chủ trì, không phải không có những lo lắng, suy nghĩ trước thời cơ mới, thế trận mới đầy thuận lợi của chiến trường, nhưng lực lượng của trung đoàn thì quá mỏng.

3. Quyết tâm táo bạo.

Trung đoàn đã liên tục hoạt động từ ngày được thành lập lại ngay trên đường 19 đã lập chiến công ở Hà Tam, Ở đông Măng Yang. Để chuẩn bì cho nhiệm vụ tiến công tiểu khu An Khê và đánh địch rút chạy, Trung đoàn đã quan sát nhiều lần đoạn đường 19 Măng Yang - An Khê, và đã tổ chức nhiều trận đánh trên đoạn đường này.

Đoạn đường cầu Đắk Pơ hiểm trở nằm giữa hai cứ điểm cách nhau chưa đầy 15 kí-lô-mét (Cà Tung, Mũi Nhung) là đoạn đường đã bị bộ đội ta phục kích nhiều lần. Bọn Pháp cũng biết vậy, nhưng chưa có cách gì khắc phục.

Nắn lại hoặc mở rộng cho bớt gấp khúc quanh co chưa được vì phía bắc đường là những đồi núi đất đá xen kẽ, có những vách đứng, những “ta-luy” cao 2-3 mét, về phía nam lại có các hố sâu kéo dài đến tận thung lũng sông Ba. Quân Pháp lúc đó không có thời gian và cũng không có cả tiền của để làm việc này. Chúng chỉ còn cánh tăng cường trinh sát bằng không quân, bằng biệt kích thám báo để nắm hành động của bộ đội ta. Khi cần vận chuyển thì có lực lượng đi trước, chiếm lĩnh các điểm cao, các khu vực nguy hiểm, tổ chức lực lượng tiễn đưa và lực lượng chờ đón. Phần ta tuy làm chủ cả đoạn đường, nhưng cũng đang muốn kẻo địch ra để phục kích, đánh vận động, nên cũng không có kế hoạch phá hoại thêm con đường.

Đoạn đường cầu Đắk Pơ trở thành một địa danh lẫy lừng vì đây là một khúc “cua” tai ác. Phía Cà Tung đi lên vừa hết dốc đã tụt xuống ngay một cầu nhỏ, bắc qua con suối hẹp gấp khúc (chữ chi), rồi lại bắt đầu lên dốc nối tiếp ngay vào một đoạn đường có nhiều mỏm đá nhô ra, bám sát đường rất thuận tiện cho cả việc chặn đầu và khóa đuôi của một trận phục kích. Phía bắc đoạn đường là những đồi đá xen kẽ, không rộng lắm, nhưng trải dài ra phía bắc hình thành một khu vực tập kết quân thuận tiện và một bàn đạp để xung phong ra mặt đường tuyệt vời. Ta từ thế trên cao đánh xuống, mọi loại hỏa lực, xung lực đều phát huy được hết. Từ đây ta đánh nhất địch xuống phía nam. Lọt vào đoạn này địch chỉ còn đối phó tại chỗ. Cơ giới đã không cơ động được, mà ngay xung lực cũng khó  khăn, phía bắc là đối phương, phía nam là những hố sâu chỉ tiện cho việc tránh né, lẩn trốn, rút chạy/

Với địa hình đó Trung đoàn 96 đã chọn đoạn suối Đắk Pơ (về phía đông) là đoạn phục kích chủ yếu do Tiểu đoàn 79 phụ trách (khoảng 800m). Đoạn từ suối Đắk Pơ lên phía tây do Tiểu đoàn 40 phụ trách (khoảng 400m). Cả hai tiểu đoàn đều có bộ phận đòi diện. Hỏa lực của Trung đoàn là Đại đội cối 81 bố trí ở vị trí dễ quan sát, phát huy được hỏa lực ở cả hai hướng đông và tây, bắn vào trận địa. Trung đoàn giữ một đại đội bộ binh của Tiểu đoàn 40 làm lực lượng dự bị. Đại đội địa phương 120 đánh địch trên đoạn An Khê -  Cà Tung để ngăn chặn, phá cầu, cống kìm chế bớt sức cơ động của địch.

Để nắm địch, ở hai đầu trận địa, Trung đoàn bố trí các đài quan sát, phát hiện địch từ xa, nhất là hướng An Khê lên. Các đài quan sát này đã phát huy rất hiệu quả. Trung đoàn vẫn chuẩn bị kế hoạch đánh địch cả từ hai phía. An Khê lên và Plây Ku xuống. Vấn đề thông tin liên lạc cũng được giải quyết chu đáo. Trung đoàn liên lạc với Bộ Tư lệnh Liên khu bằng vô tuyến điện, liên lạc với các tiểu đoàn, các đài quan sát, cả với mũi đối diện cũng bằng diện thoại. Công tác chuẩn bị đã được toàn Trung đoàn thực hiện tốt. Mọi người, chiến sĩ cũng như cán bộ đều thấy sẽ có một sự kiện quan trọng sắp xảy ra, lúc này đã là cuối tháng 6 năm 1954.



(1)Lúc thành lập Trung đoàn 96, tiểu đoàn 30, như một tiểu đoàn độc lập thuộc Liên khu 5, vẫn đang làm nhiệm vụ đánh địch ở Qui Nhơn khi chúng đố bộ ở đây.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:22:47 AM
III. NGÀY BÁO TỬ CỦA BINH ĐOÀN CƠ ĐỘNG 100

1. Thế trận.


Trên chiến trường Tây Nguyên và ở các tỉnh vùng tự do Liên khu 5, quân và dân ta đã liên tục chiến đấu đến tháng thứ 7 của cuộc phản công Đông - Xuân 1953 - 1954. Cùng với bộ đội cả nước, chúng ta đã bẻ gãy cuộc hành quân Át-lan-ta, đã phối hợp tuyệt đẹp với chiến trường Điện Biên Phủ và đang sẵn sàng giương bẫy, đánh tiếp những trận trên đường 19, dành cho quân đội Pháp một bài học nhớ đời, trước khi ký kết ở Hội nghị Giơ-ne-vơ.

Ở Liên khu 5 cũng như ở chiến trường toàn Đông Dương, quân Pháp đang ở vào thế hết sức bê bối. Tham vọng tổ chức các binh đoàn cơ động để đánh chiếm vùng tự do đã không dạt được, không còn lực lượng để tăng viện cho cuộc hành quân Át-lan-ta, từ tháng 4 năm 1954, bộ chỉ huy quân Pháp đã phải cay đắng rút ở Tây Nguyên các binh đoàn 11, 21 và một số tiểu đoàn khinh quân ngụy để chi viện cho các hướng. Còn Ở Tây Nguyên, chúng ra lệnh rút bớt các đồn lẻ, co cụm lực lượng vào các thị xã, thị trấn, dựa vào những điểm cao hình thành từng khu vực phòng ngự mạnh như An Khê, Plây Ku, Buôn Ma Thuột. Tinh thần địch đã sa sút lại càng suy sụp thêm. Tiểu khu An Khê cũng nằm trong bối cảnh đó.

Lực lượng ở tiểu khu An Khê có binh đoàn cơ động 100 gồm hai tiểu đoàn Pháp, một tiểu đoàn ngụy Cam-pu-chia, tiểu đoàn khinh quân ngụy, tiểu đoàn ngụy địa phương chiếm đóng, tiểu đoàn pháo 105... chúng còn có các phân đội xe tăng, thiết giáp, các loại xe đặc chủng công bính, thông tin bảo đảm. Binh đoàn cơ động 100 là lực lượng quân Pháp tham chiến ở Triều Tiên trong thành phần đội quân Liên hiệp quốc xâm lược Triều Tiên. Vừa được thay phiên, bộ tư lệnh quân Pháp tăng cường ngay binh đoàn này cho chiến trường Đông Dương vào giai đoạn cuối cùng của kế hoạch Na-va. Đây là một lực lượng khá đông, có đủ trang bị và phương tiện chiến đấu hiện đại hơn hẳn Trung đoàn 96, nhưng tinh thần thì sa sút. Bọn chỉ huy biết rằng rút tiểu khu An Khê, kéo chạy về Plây Ku là  nguy hiểm, chắc chắn sẽ bị chặn đánh, nhưng chúng vẫn tin là lực của chúng khá đông, khá mạnh, lại có binh đoàn 42 từ Plây Ku xuống đón. Chúng cũng biết ở từng chặng đường, sẽ gặp các lực lượng Trung đoàn 108, Trung đoàn 96. Nhưng chúng vẫn phải đi, phải rút.

Các ngày 19, 20 tháng 6 đến 21 tháng 6 ở cả hai hướng Plây Ku xuống và An Khê lên, địch đều tung các lực lượng nhỏ ra thăm dò. Hướng An Khê lên đến cứ điểm Cà Tung, hướng Plây Ku xuống đến gần ngã ba Plây Bôn cách Plây Ku trên 30 ki-lô-mét. Các cứ điểm dọc đường cũng đưa quân ra kiểm soát thăm dò dấu vết. Máy bay trinh sát quần lượn suốt ngày. Đêm 23 tháng 6 địch ở An Khê và các cứ điểm xung quanh nổ súng liên hồi suốt đêm. Bọn chúng đã được lệnh chuẩn bị để rút chạy (sau này mới biết).

2. Xung trận

Ngày 24 tháng 6 năm 1954

* Lúc 7 giờ:

24 giờ ngày 23 tháng 6 Trung đoàn nhận được thông báo của Liên khu là: đích ở Plây Ku ra lệnh cho binh đoàn 42 hành quân ngay xuống ngã ba Plây Bôn để sáng 24 tháng do đến đồn điền Lơ-mát. Ở đó có Trung đoàn 108 của ta đang đón chờ.

Trung đoàn nhận định: binh đoàn 42 đi đâu?  Chúng xuống An Khê thay thế hay đi đón binh đoàn 100, binh đoàn 42 xuống đến ngã ba Plây Bôn sẽ gặp ngay Trung đoàn 108 của ta. Nếu binh đoàn 100 cơ động từ An Khê lên, đó là đối tượng tác chiến của Trung đoàn ta. Nếu binh đoàn 42 xuống thay thế binh đoàn 100, chúng xuống thẳng An Khê cũng sẽ bị Trung đoàn 108 chặn đánh không thể xuống nhanh được và cũng sẽ có lực lượng của binh đoàn 100 lên đón. Trung đoàn ta đứng ở đoạn giữa, ngay gần An Khê nên tổ chức đánh bọn binh đoàn 100, sau đó quay lại đón đánh binh đoàn 42 là vừa. Từ nhận định đó, Trung đoàn ra lệnh hành quân chiếm lĩnh trận địa phục kích.

Tám giờ ngày 24 tháng 6 toàn Trung đoàn đã chiếm lĩnh xong, các đài quan sát đã báo cáo về sở chỉ huy. Đài quan sát hướng Đắk Pơ báo cáo có nhiều tiếng xe chạy lên, dọc đường 19, máy bay trinh sát lượn vòng quan sát.

* Lúc 10 giờ:

Máy bay trinh sát địch vẫn quần đảo, bộ đội ta ngụy trang kỹ, sửa sang công sự. Nhiều cuộc trao đổi, dặn dò giữa cơ quan với các đơn vị, giữa chỉ huy Trung đoàn với các tiểu đoàn, không khí chờ đợi căng thẳng nhưng trật tự.

Tám giờ đài quan sát hướng Đắk Pơ báo cáo (do trưởng ban trinh sát Tạ Hiên trực tiếp phụ trách) những chiếc xe đầu tiên từ An Khê lên đã đến cứ điểm Cà Tung. Chúng tập trung dọc đường cái và cả trong cứ điểm và lần lượt những chiếc xe khác đang chạy đến. Đã thấy có cả xe thiết giáp, xe kéo pháo, binh lính, xe cộ dày đặc đang lên. Giọng nói của đồng chí Tạ Hiên vừa như cố nén sự xúc cảm, vừa như chứa đựng vui mừng. Cơ quan tham mưu Trung đoàn thông báo ngay tình hình đó cho các mũi các hướng và nhắc nhở quyết tâm đánh đích. Lúc này là 10 giờ, đài quan sát tổng hợp báo cáo có khoảng trên 200 xe các loại đã đến Cà Tung. Có lẽ chúng tạm nghỉ. Trên hướng Plây Ku xuống chưa thấy có hoạt động gì đặc biệt.

Như vậy, đến 10 giờ ngày 24 tháng 6 đoàn xe địch ở An Khê lên, đã đến Cà Tung, xe cộ các loại đến trên vài trăm chiếc. Địch rút bỏ An Khê hay chỉ có binh đoàn 100 rút về để binh đoàn 42 thay thế? Trung đoàn vẫn chưa được thông báo và cũng chưa có báo cáo của đại đội địa phương hoạt động dọc đường. Ban chỉ huy Trung đoàn họp cùng cán bộ cơ quan. Quyết tâm chung là chặn đánh đoàn vận chuyển này, nhưng đánh thế nào, đánh cả đoàn xe hay chỉ chặn đánh một đoạn, đoạn đầu hay đoạn cuối? Trung đoàn trưởng lệnh cho cơ quan tham gia trao đổi trước với hai ban chỉ huy tiểu đoàn.

* Từ 10 giờ đến 13 giờ:

Cuộc họp trao đổi cách đánh thật dân chủ, cởi mở. Cơ quan tham mưu tranh thủ ý kiến cả trưởng ban trinh sát Trung đoàn đang ở đài quan sát. Đánh giá, phân tích... Nhưng vẫn chưa ngã ngũ. Có người muốn chặn đánh cả đoàn xe, Tiểu đoàn 40 phải chặn đầu. Có người cân nhắc do lực lượng ta có hạn, chỉ nên chặn đánh khúc đuôi ăn gọn một miếng cho vừa sức. Còn ý kiến của hai tiểu đoàn trưởng cũng rất đặc biệt. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 40 đề nghị chặn đánh cả đoàn xe và hứa sẽ bảo đảm chặn đầu đúng kế hoạch. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 79 yêu cầu chặn đánh đoạn cuối, cứ để cả đoàn xe đi qua, ta chặn đánh đoạn giữa là vừa phải, ăn ít nhưng chắc chắn. Tiểu đoàn nào cũng muốn đánh gọn, chỉ đối phó một hướng, Tiểu đoàn 40 đánh đoạn đầu thì đoạn giữa và đoạn cuối nằm trong phạm vi Tiểu đoàn 79; Tiểu đoàn 79 chặn đánh đoạn cuối thì các lực lượng đi đầu đã nằm ngoài phạm ví của tiểu đoàn...

Trung đoàn trưởng suy nghĩ và cân nhắc. Người chỉ huy dày dạn trận mạc này không muốn những cuộc thảo luận biến thành tranh cãi dài dòng. Anh muốn nhận định gọn, kết luận rõ sau đó mới phân giải lý lẽ. Và sau khi dùng điện thoại trao đổi với hai tiểu đoàn trưởng, anh quyết định:

“Ta chặn đánh cả đoàn xe. Tiểu đoàn 40 chặn ngay chiếc xe đi đầu, không cho một chiếc nào lọt khỏi trận địa. Tiểu đoàn 79 đánh ngay đoạn đích có ở trước mặt, tìm đánh trúng sở chỉ huy, vì đây là binh đoàn 100 rút chạy. Đánh không hết, ta liên tục tập kích, truy kích. Ngày 24 tháng 6 không xong, đánh tiếp sang ngày 25, 26 tháng 6. Trung đoàn nắm chắc đại đội dự bị, chuẩn bị tinh thần và đạn dược để đánh cả binh đoàn 42 khi chúng xuống đón binh đoàn 100".


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:22:52 AM
* Từ 13 giờ đến 15 giờ 30:

- Trong lúc trung đoàn trao đổi, quyết định cũng là lúc địch tiếp tục cuộc hành quân (từ 12 giờ). Đài quan sát báo cáo lực lượng đi đầu có cả xe thiết giáp, xe công binh sau đó là xe vận tải chở người xen kẽ cùng đi, tốc độ chậm. Xe chạy trên đường, lính đi hai bên, có đoạn chúng mở rộng đội hình lên phía bắc đường. Cuộc rút chạy vẫn rầm rộ, ồn ào. Đài quan sát báo cáo các khẩu pháo 105 vẫn còn thấy bít nòng. Càng gần đến cuối Đắk Pơ, đường càng hẹp, bọn địch càng dồn ép, thúc nhau vượt nhanh, xe dồn lên, người bám sát. Những xe đi đầu đã vượt cầu Đắk Pơ, đoàn sau lại dồn lên, chúng không thể ngờ rằng toàn Trung đoàn 96 của ta đã được lệnh xuất kích lúc 12 giờ 30 và bộ phận chặn đầu đã sẵn sàng nổ súng.

- Do quyết tâm phải chặn ngay từ chiếc xe đi đầu, Tiểu đoàn 40 bố trí thêm một bộ phận nhỏ cách trận địa chặn đầu khoảng 200 mét bằng cách sẵn sàng những tàng đá to để khi có lệnh là lăn xuống đường làm chướng ngại vật chặn xe địch. Tiểu đoàn 40 gọi đó là bộ phận chặn đầu kép. Quả nhiên khi bộ phận tiền vệ của tiểu đoàn 520 ngụy vượt qua cầu Đắk Pơ thì 4, 5 xe công trình cũng nặng nề thúc lên theo và phía sau ba bốn xe thiết giáp (halftraek). Địch đang vượt qua khu vực chặn đầu của Đại đội 68 - Tiểu đoàn 40, Trung đoàn ra lệnh nổ súng.

- Ở đoạn Tiểu đoàn 40:

Tiếng súng của bộ phận chặn đầu vang lên, cối 82 của Trung đoàn, ĐKZ của các tiểu đoàn cũng nổ theo, nhằm thẳng các cụm xe, cụm địch đang xô đẩy nhau dưới mặt đường để tránh đạn. Có bộ phận dựa vào các thành xe, có bộ phận ép hẳn vào vách núi để tránh làn đạn cấp tập. Súng cối và ĐKZ của ta bắn khá chính xác. Lực lượng xung kích đã có bộ phận xuống mặt đường, đã có một hai xe vận tải bốc cháy.

Đại đội 3 và hai trung đội của Đại đội 68 đã xung phong xuống mặt đường, địch không dám đánh trả (bọn tiểu đoàn khinh quân ngụy), số sống sót bỏ chạy xuống phía nam đường. Một số vượt nhanh qua đoạn chặn đầu chạy thẳng về cứ điểm Mũi Nhung. Bọn này rút cục cũng bí lực lượng ta ở ngay sát cứ điểm Mũi Nhung gọi hàng, bắt làm tù bính. Số chạy xuống phía nam cũng bí mũi đối diện chặn đánh. Nếu tính cả bộ phận đối diện trên hướng Tiểu đoàn 79, bộ phận phía nam đường đã thực hiện đánh ngay phía sau đích diệt một số lớn và bắt trên 200 địch.

- Ở đoạn Tiểu đoàn 79:

Tiểu đoàn 79 có hai đại đội, vừa xuất kích, gặp ngay đoạn giữa của đoàn vận chuyển địch, đánh trúng ngay tiểu đoàn đi đầu của binh đoàn 100, có cả sở chỉ huy của binh đoàn. Bọn này chống cự quyết liệt. Dựa vào xe tăng, xe bọc thép chúng chặn các mũi xung kích của ta từ phía bắc đánh xuống, chúng dạt lên đồi và cố đưa xe tăng, xe thiết giáp lên khống chế, cố chặn các mũi xung phong của Đại đội 224, Đại đội 223 của ta. Vừa có lệnh xung phong, có mũi của Đại đội 224 đã vượt nhanh xuống đường. Một số thương vong. Các tiểu đội, trung đội vẫn bám địch, theo từng khu vực chia nhỏ chúng để tiêu diệt. Chiến sĩ mới chưa biết cách đánh xe tăng thì dại đội trưởng, tiểu đoàn phó đã đi sau hướng dẫn. Một hai xe tăng địch đã bốc cháy. Lừa cháy từ các xe vận tải, xe tăng càng thúc đẩy tinh thần chung, cả khối của Tiểu đoàn 79 ào ra. Đại đội 224 đã bắt được một số tù binh, Đại đội 223 đánh tan các bộ phận địch ngoan cố chống cự xung phong ra đường, liên lạc được ngay với Đại đội 224 và bộ phận đối diện. Địch vẫn chống trả khá mạnh nhưng bị động và lúng túng nhất là khi Đại đội 224 bắt được tên chỉ huy bị thương đang cố lẩn trốn xuống hướng nam. Đó là tên quan năm Barroux chỉ huy binh đoàn 100 Lúc này là 15 giờ 20 phút.

Tính đến 15 giờ 30 phút, toàn bộ quân địch lọt vào trận địa phục kích đã bị tiêu diệt hoặc chạy toán loạn. Xe tăng, thiết giáp, xe kéo pháo cháy ngổn ngang. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 79 báo cáo về Sở Chỉ huy Trung đoàn là đang hỏi cung tên chỉ huy binh đoàn 100. Chúng khai: “Quân Pháp đã rút chạy khỏi An Khê. Binh đoàn 100 đi trong đoàn vận chuyển này và cơ quan chỉ huy đã bị tan rã. Binh đoàn 42 sẽ xuống đón ở ngã ba Plây Bôn”.

* Từ 15 giờ 30 đến 18 giờ 30 phút:

Quân địch ở đoạn sau cũng đã dồn lên nhưng một phần không có chỉ huy, một phần bị hỏa lực ta chế áp, địa hình lại trống trải nên không chi viện được cho bọn bị đánh ở phía trước. Chúng hối thúc nhau co cụm lại, vừa đón số thương binh phía trước chạy về vừa chuẩn bị phản kích vào trận địa Đại đội 223 của ta. Chúng còn pháo, còn xe tăng và vẫn giữ liên lạc được với máy bay. Lúc này Đại đội 223, Tiểu đoàn 79 chỉ còn tại trận địa 25 đồng chí (vì còn phân tán đánh địch) cả chỉ huy, cả chiến sĩ đã bám chắc công sự đánh lại đợt xung phong của địch có cả pháo và máy bay chi viện (phản kích lần thứ nhất). Quân ta chờ địch đến gần, trung liên bắn từng đợt ngắn, lựu đạn, cối 60 bắn ngay vào những tốp địch ở gần, chúng bị thương vong một số nhưng vẫn ào ạt tiến lên. Đại đội trưởng phải xin tăng viện. Trung đoàn ra lệnh cho một trung đội của đại đội dự bí đến tăng cường cho Đại đội 223 nhưng trung đội này đã đi lạc.

Lúc này trung đoàn trưởng nhận định: ta đã đánh tan đoàn địch rút chạy trong đó có binh đoàn 100, nhưng địch còn bộ phận khá đông nằm ngoài trận địa phục kích ở phía sau. Lực lượng này có thể phản kích để mở đường rút chạy nếu chúng ta không giữ vững trận địa ở các mỏm đồi phía bắc. Vì vậy Trung đoàn phải vừa tiếp tục chỉ huy các lực lượng đánh bại các đợt phản kích của địch, vừa sẵn sàng truy kích địch ngay trong đêm, cố diệt thêm nhiều sinh lực địch hơn nữa. Từ quyết tâm đó, trung đoàn trưởng ra lệnh cho Tiểu đoàn 79 củng cố công sự ở các mỏm đồi đang chiếm lĩnh, hình thành các trận địa phòng ngự, lệnh tiếp cho hai trung đội, đại đội dự bị xuống tăng viện cho Đại đội 323, ra lệnh cho Tiểu đoàn 40 củng cố ngay một đại đội bộ binh để làm dự bị trung đoàn và cả hai tiểu đoàn cùng các đơn vị hỏa lực sẵn sàng truy kích địch.

Khoảng 16 giờ địch lại đánh vào trận địa Đại đội 223 lần thứ hai. Đại đội 223 vẫn kiên cường đánh trả địch, có bộ phận xuống mặt đường lục tìm lựu đạn, đạn nhọn và súng của địch để đánh địch. Mặt trời đã gần lặn, quân địch lại bị thương vong thêm một số, viện binh các hướng đến không có. Nhưng đến 16 giờ 30 phút địch lại tổ chức phản kích lần thứ ba, dùng khoảng một đại đội bộ binh có thiết giáp và bốn máy bay chi viện đánh vào trận địa ta. Lúc này, lực lượng dự bị ta đã đến kịp, liên lạc được với Đại đội 223 và cả hai phân đội cùng chặn đánh địch. Địch lại bị thương vong nhiều, buộc phải tháo chạy. Lần này chúng chạy thẳng xuống hướng nam. Đại đội 223 truy kích một đoạn ngắn.

18 giờ Tiểu đoàn 79 báo cáo về Trung đoàn, ta đã làm chủ hoàn toàn đoạn phục kích, đang ra lệnh cho Đại đội 223 xuống kiểm soát đoạn đích vừa co cụm. 18 giờ 30 trung đoàn trưởng ra lệnh cho các tiểu đoàn nắm lại tình hình các mặt, xóc lại lực lượng, sẵn sàng truy đuổi địch. Cơ quan tham mưu Trung đoàn điện, báo cáo về Bộ Tham mưu Liên khu. Qua điện đài, ta được thông báo binh đoàn 42 từ hướng Plây Ku xuống đã bị Trung đoàn 108 chặn đánh, không xuống đón binh đoàn 100 được. Tin này lại thúc đẩy thêm ý định truy kích địch ngay trong đêm của trung đoàn trưởng.

- Từ 20 giờ ngày 24 tháng 6 đến 12 giờ ngày 25 tháng 6:

Khu vực địch co cụm ở cuối đoạn vận chuyển vẫn còn tiếng súng nổ. trung đoàn trưởng phán đoán địch còn bám khu vực này để chờ viện binh. 20 giờ trung đoàn trưởng đi cùng lực lượng Tiểu đoàn 40 xuống tập kích khu vực còn lại của địch. Trinh sát ta đến nơi thì phát hiện địch đã rút chạy bỏ lại toàn bộ thương binh, xe pháo ngổn ngang. Trung đoàn trưởng ra lệnh cho Tiểu đoàn 40 lần theo dấu vết địch chạy, truy đuổi ngay trong đêm. Bộ phận đuổi địch đã gặp và đánh địch hai lần, bắt sống chỉ huy và cơ quan tham mưu tiểu đoàn 1, GM 100 và nhiều tên khác. Càng dò theo dấu vết địch chạy, càng thấy rõ chúng chạy theo hướng tây - bắc, lên hướng đèo Măng Yang. Tiểu đoàn 40 truy bám suốt đêm Và cả sáng 25 tháng 6 ta thu nhặt nhiều trang bị vũ khí và các đồ dùng quân sự địch bỏ lại. Khoảng 12 giờ ngày 25 tháng 6 trung đoàn trưởng ra lệnh chấm dứt cuộc lùng sục truy kích địch.

3. Thắng lợi.

Từ 8 giờ ngày 26 tháng 6, máy bay địch vẫn bay lượn và thả dù tiếp tế cho bọn địch bị thương đang co cụm ở đoạn cuối. Những chiếc dù hoa chở nước, đổ hộp và thuốc men rơi rải rác quanh trận địa, địch dùng loa từ máy bay kêu gọi xin được tiếp tế cho thương binh, xin bộ chỉ huy khoan hồng và Trung đoàn cũng nhận lệnh của Liên khu là Bộ chỉ huy Pháp ở Tây Nguyên xin cho đón thương binh ở chân đèo Măng Yang. Trung đoàn cũng được thông báo binh đoàn 42 do tên quan năm Sockel chỉ huy vẫn đang bị Trung đoàn 108 (do đồng chí Đoàn Khuê chỉ huy), chặn đánh ở ngã ba Plây Bôn. Trên mặt đường lúc này có nhiều phân đội của các Tiểu đoàn 79, 40 và của Trung đoàn kiểm soát chiến trường, có bộ phận quân y đi thu lượm và săn sóc thương binh địch. Bọn này hôm qua còn là địch, nay ta vẫn săn sóc giúp đỡ.

Trung đoàn trưởng và cơ quan Tham mưu Trung đoàn đi quan sát toàn bộ trận địa, từ khu vực chặn đầu đến đoạn địch co cụm, đếm tất cả được 375 xe các loại vừa bị cháy, bị hư hỏng cùng một số xe tăng thiết giáp vẫn còn ngổn ngang trên mặt đường. Kết quả chung: địch bị chết khoảng trên 500 tên, bị thương rải rác trên toàn khu vực khoảng 600 tên và bị ta bắt 800 tên (có cả tên quan năm Barraux chỉ huy GM 100). Số xe còn nguyên và bí hư hỏng ít là 229 chiếc, có một xe tăng còn nguyên vẹn, 18 pháo l05mm, và rất nhiều súng đạn các loại. Đây là cả gia tài của một tiểu khu và một bính đoàn cơ động của Pháp.

17 giờ ngày 25 tháng 6, trung đoàn trưởng cùng bộ phận cơ quan Tham mưu lấy ngay năm chiếc xe Jeep, bắt năm tên tù binh lái xe chở thẳng xuống tiểu khu An Khê. Tại đây đã gặp đại đội địa phương, Trung đoàn 120 cùng các phân đội dân quân và cán bộ huyện An Khê đang bố trí lực lượng canh gác, ổn định tình hình, tiếp xúc với dân tại chỗ. Cờ đỏ sao vàng đã kêu lên chính trung tâm tiểu khu An Khê .

Trung đoàn 96 đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt cánh quân đích rút chạy, tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 của Pháp và giải phóng tiểu khu An Khê.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:23:28 AM
IV. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

1. Lý luận và thực tiễn.


Chiến thuật phục kích, một chiến thuật tiến công lấy ít thắng nhiều. Nguyễn Trãi đã tổng kết: “Yếu đánh mạnh hay đánh bất ngờ, ít đích nhiều thường dùng mai phục”. Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta từ xưa đến nay đã có những trận phục kích thật lẫy lừng. Trong giai đoạn chống Pháp, hình thức chiến thuật mà bộ đội ta thường vận dụng đến độ thuần thục, thiện chiến thường là phục kích. Từ phục kích tại chỗ, đến vận động phục kích có chặn đầu khóa đuôi, có đối diện. Chiến thuật phục kích được phát triển theo sự phát triển của hành động địch, của quy mô chiến tranh. Địch đi bộ ta phục kích khác. Địch đi xe cơ giới, đi trên xe lửa ta phục kích khác. Tùy tình hình địch để thay đổi, bổ sung những biện pháp cụ thể cho phù hợp với thực tiễn.

Thông thường một trung đoàn có ba tiểu đoàn bộ binh có thể phục kích trên một đoạn đường dài khoảng 3, 4 ki-lô-mét, đoạn phục kích chủ yếu là đoạn ta phán đoán địch sẽ tập trung ở đấy, là lực lượng chủ yếu của địch, có cả chỉ huy. Đó là phần lý luận đã tổng kết, nhưng bản lĩnh của chỉ huy là phải vận dụng, tùy thuộc vào thực tế địa hình, quy luật hành quân của địch, tùy thuộc vào trình độ, khả năng chiến đấu của lực lượng ta mà quyết định. Trong trận phục kích Đắc Pơ của Trung đoàn 96, trung đoàn trưởng bố trí Tiểu đoàn 79 có hai đại đội bộ binh trên một đoạn phục kích chủ yếu đài 800 mét từ cầu Đắn Pơ về phía đông, ngược lại dùng cả Tiểu đoàn 40 (ba đại đội bộ binh) phục kích địch trên đoạn đường 400 mét về phía tây. Đây là sự vận dụng sáng tạo. Đoạn 800 mét, trận địa phục kích chủ yếu có địa hình lý tưởng cho việc tiến công địch từ phía bắc (trên cao) xuống. Khi địch bị chặn ở phía tây cầu Đắk Pơ thì đoạn này chính là chỗ địch bắn trả lại bộ đội ta ở độ tà dương, khó trúng đích mà ngược lại ta lại phát huy được đầy đủ các loại vũ khí, cả xung lực. Chính ở đoạn này Tiểu đoàn 79 đã bắt được viên chỉ huy GM 100, bắt sống một xe tăng còn nguyên vẹn. Hai đoạn phục kích của hai tiểu đoàn có độ dài ngắn khác nhau, nhiệm vụ có khác nhau còn phải xét đến trình độ và khả năng chiến đau của từng đơn vị phụ trách. Tiểu đoàn 79 tuy có hai đại đội bộ binh nhưng là hai đại đội chủ công của Trung đoàn, có dàn cán bộ tiểuđội trung đội, đại đội dạn dày kinh nghiệm, đánh công kiên cũng giỏi, đánh vận động cũng có rất nhiều kinh nghiệm. Giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 79 đánh đoạn chủ yếu là rất phù hợp. Thực tế diễn biến đánh địch phản kích giữ vững trận địa đã chứng minh rõ. Đại đội 223 chỉ còn trong đội hình 25 đồng chí cũng vẫn kiên quyết đánh trả địch, lấy súng đạn địch để đánh địch, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.

Chiến tranh là trường học lớn để thử thách con người. Nghiên cứu lý luận để nắm chắc các nguyên tắc, các quy định là điều cần thiết nhưng vận dụng và thực tế cho phù hợp lại đòi hỏi tư duy sáng tạo của người chỉ huy, của cán bộ, đây là vấn đề quyết định. Thực hiện đúng những điều sách vở đã ghi chép có thể là đúng nhưng chưa phải là sáng tạo. Trận đánh Đắk Pơ, sử dụng lực lượng như vậy có thể đạt đến trình độ khá cao của tư tương lấy ít thắng nhiều. Ta chỉ có hai tiểu đoàn bộ binh, địch có một binh đoàn cơ động, cả lực lượng một tiểu khu, vũ khí trang bí đầy mình nhưng vẫn bị tiêu diệt, bị tan rã hoàn toàn. Ta lấy hai tiểu đoàn bộ binh đánh với sáu tiểu đoàn bộ binh địch có cả xe tăng thiết giáp và máy bay chi viện nhưng vẫn thắng. Đây là thắng lợi của lòng dũng cảm và sự vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn.

2. Cán bộ quyết định.

Trung đoàn 96 đã dàn xong thế trận. Địch đã cơ động, tiểu khu An Khê và CIM 100 đang rút chạy. Chúng đã tập kết ngay sát nách trận địa phục kích của Trung đoàn (cử điểm Cà Tung). Qua đài quan sát ta biết được lực lượng địch. Chúng có 5, 6 tiểu đoàn, có 18 khẩu pháo 105, có xe tăng thiết giáp và hàng ngàn vũ khí hiện đại các loại khác. Trên không lại có máy bay quan sát, khí nổ súng chỉ sau 20 phút đã có bốn máy bay phóng pháo bắn ngay vào đội hình ta. Trên đường chúng rút chạy vẫn còn cả một hệ thống đồn bót sẵn sàng phối hợp, đưa tiễn và ngay tại ngã ba Plây Bôn lại có GM 42 chờ đón. Chúng tuy là rút chạy nhưng vẫn ỷ vào số đông, ỷ vào trang bị vũ khí trong tay, ỷ vào con đường cơ động quen thuộc. Địch có nhiều cái mạnh mà chỉ có một cái yếu duy nhất là tinh thần. Cả bọn lính Pháp và lính ngụy đều bị tâm lý “phải rút chạy” đè nặng. Chúng lo sợ, e ngại nhưng lại nôn nóng muốn vượt nhanh đoạn đường nguy hiểm, muốn gặp ngay GM 42 để cùng dựa dẫm vào nhau kéo về Plây Ku. Còn Trung đoàn 96 lực lượng quá ít, vũ khí trang bị không nhiều, cả trung đoàn chỉ có một đại đội cối. Các tiểu đội chỉ có súng trường lựu đạn địch, tiểu liên, trung liên cũng không có nhiều... Như vậy căn cứ vào đâu mà trung đoàn trưởng dám hạ quyết tâm chặn đánh cả đoàn xe, chặn đứng ngay chiếc xe đi đầu? Và thực tế quyết tâm đó là đúng, một quyết tâm rất đáng giá. Phải chăng bên cạnh cái thế hiểm của một trận địa phục kích ở cầu Đắk Pơ ra, Trung đoàn còn có một đội ngũ cán bộ tiểu đội, trung đội đến tiểu đoàn, trung đoàn đều đã được thử thách rèn luyện. Tuy là một đơn vị mới tập hợp lại, nhưng phần đông các cán bộ chủ chốt đều là những bạn chiến đấu quen thuộc ở cùng một đơn vị, đã gắn bó tin cậy lẫn nhau. Từ đó trung đoàn trưởng chỉ cần nói ý định, phân tích thuận lợi khó khăn là cán bộ cấp dưới đã hiểu ý, đã đồng tình và kiên quyết chỉ huy, lãnh đạo đơn vị thực hiện. Chính là do sức mạnh của ý chí tập thể đó mà từ chủ trì của trung đoàn đến các đơn vị dưới, đã đánh giá đúng lực lượng và tính thần đích, đánh giá đúng quyết tâm của bộ đội ta, tin vào bản thân mình, tin vào đơn vị mình dám chặn đánh toàn bộ đoàn vận chuyển dịch. Thực tế diễn biến là cán bộ các cấp đã rất anh dũng, người trước ngã, người sau tiến lên, bị thương vẫn nằm lại trận địa, cùng đồng đội đánh địch đến chiến thắng hoàn toàn. Trong số các đồng chí hy sinh có nhiều cán bộ tiểu đội, trung đội, đại đội Chính là nhờ tác phong chiến đấu dũng cảm của cán bộ nên mặc dù chiến sĩ đa số là mới tuyển vào, từ dân quân du kích đôn lên, kinh nghiệm trận mạc chưa nhiều nhưng vẫn dám vận động tiếp cận dưới hỏa lực phi pháo của địch, vẫn dám dùng lựu đạn đánh gần với bọn lính Pháp cả da đen và da trắng, vẫn cùng cán bộ các cấp liên tục chiến đấu đánh ban ngày, truy kích đích suốt đêm và sau đó ba ngày (29 tháng 6 năm 1954) lại hành quân bôn tập bao vây cứ điểm Cheo Reo, tiến công địch cho đến khi có lệnh ngừng bắn (ngày 22 tháng 7 năm 1954).

Chiến sĩ có được tác phong chiến đấu dũng cảm là do có cán bộ lấy hành động của mình làm gương cho chiến sĩ, vừa động viên vừa giáo dục bằng chính tác phong chiến đấu của mình.

Rõ ràng, đối với quân đội ta, cán bộ quyết định thực sự là nguyên tắc muôn thuở.

3. Thời cơ và thế trận.

Trận phục kích ở Đắk Pơ tiêu diệt GM 100 là một dẫn chứng rõ nét của mối quan hệ của thời - thế trong hoạt động quân sự.

Vào một giai đoạn bình thường của chiến tranh, có thể không có một đồng chí trung đoàn trưởng nào dám dùng hai tiểu đoàn bộ binh với trang bị vũ khí không nhiều, không mạnh để tiến công tiêu diệt cả một GM (trung đoàn), có cả lực lượng một tiểu khu, đang  di chuyển bằng cơ giới. Nếu tạo được bất ngờ và hội tụ được nhiều điều kiện thuận lợi khác cung chỉ tiến công vào một đoạn của đoàn xe rồi nhanh chóng dứt chiến, cơ động đi nơi khác để tránh một cuộc phản ứng giải tỏa bằng máy bay, pháo binh và lực lượng cơ động ứng cứu của địch. Nhưng Trung đoàn 96 đã táo bạo và dũng cảm chặn đánh cả đoàn vận chuyển GM 100. Đó là Trung đoàn đã tận dụng được thời cơ chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương, quân Pháp đang hết sức hoang mang dao động sau chiến thắng Điện Biên Phủ của ta, sau những thất bại liên miên ở tất cả các hướng chiến trường và thực tế cuộc chiến tranh Việt - Pháp đang ở giai đoạn cuối, giai đoạn ngừng bắn theo Hiệp định Giơ-ne-vơ. Ở ngay chiến trường Tây Nguyên địch cũng đang ở vào thế bị động. Chúng không dám xua quân đi tiến công vùng tự do mà phải quay về giữ các tiền đồn, giữ các thị xã, thị trấn, các trục đường giao thông chính. Quân Pháp đang lo sợ thảm họa bị tiêu diệt lớn. Đây là thời cơ địch hoang mang giao động cực điểm, Trung đoàn 96 lại lợi dụng được thế hiểm của đoạn đường cầu Dân Pơ nên mặc dù lực lượng không nhiều, không ưu thế hơn địch mà vẫn giành thắng lợi giòn giã.

Có thời cơ, có thế trận tốt, chiến sĩ mới, cán bộ mới cũng lập được công to.

Lực lượng đông, có trang bị mạnh mà bị hãm vào đất hiểm, lại bị thời cơ chi phối thì kẻ địch dù là Pháp, hay kẻ thù nào khác cũng sẽ bị tiêu vong.

Trung đoàn 96 đã tận dụng được thời cơ, nhanh chóng hình thành thế trận, lợi dụng được thế hiểm và dựa vào thế trận đó để lấy ít thắng nhiều, phát huy được sức mạnh cao nhất để dám dùng một lực lượng ít hơn địch đánh tan một lực lượng đối phương lớn hơn ta gấp nhiều lần.

Đây là vấn đề cần suy ngẫm. Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta sau này vẫn còn đặc điểm lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Ta không thể chỉ đánh địch bằng sức mạnh, mặc dù là sức mạnh của cả nước đánh giặc mà phải dùng mưu kế, phải có nghệ thuật tạo ra thời cơ, chuyển hóa thế trận, tạo thế có lợi và kết hợp chặt chẽ với thời cơ. Khi đã có thời cơ thuận lợi, có thế trận vững chắc thì lực lượng của ta sẽ tăng lên gấp nhiều lần để đánh thắng địch. Trong chiến tranh là vậy thì trong nghệ thuật vận dụng chiến thuật cũng cần những suy nghĩ đó.

4. Chiến công Đắk Pơ mãi mãi được trân trọng.

Ngoài bản lĩnh tài giỏi của đội ngũ cán bộ toàn Trung đoàn, ngoài tinh thần chiến đấu dũng cảm và tác phong chấp hành mệnh lệnh, tác phong kỷ luật mẫu mực của chiến sĩ ta, trong trận này phong cách anh hùng của quân đội cách mạng cũng đã thể hiện rõ ràng. Ngay cả địch cũng phải công nhận điều đó. Trận này ta chiến thắng một đối phương có lực lượng đông, trang bị hiện đại nhưng tổn thất của ta không phải nhẹ. Trong thời gian chờ địch khi xung phong ra mặt đường, mặt đối mặt với quân địch, chiến sĩ ta tìm mọi cách, bằng mọi thủ đoạn để diệt địch bảo vệ mình đó là hành động tự nhiên phải có. Nhưng khi địch đã bị chặn đánh, kẻ bị thương, đứa bị giết, bị bắt thì bộ đội ta lại tỏ rõ  phong cách anh hùng thực hiện đúng lời Bác Hồ dạy, nhân đạo đối xử với tù binh, thương binh địch. Sáng ngày 25 tháng 6 năm 1954 ta không bắn máy bay thả dù tiếp tế của địch, ta vẫn cử người đi thu lượm và chăm sóc thương binh của chúng. Trong các ngày sau đó bộ đội ta đã giao trả thương binh cho địch. Đó là phong cách của quân đội cách mạng, phong cách Việt Nam. Hành động này đã được các sĩ quan tù binh Pháp xác minh, công nhận và họ đã rải rác công bố trên báo chí. Trận đánh của ta ở Đắk Pơ đã đạt được thắng lợi trọn vẹn cả về quân sự và chính trí .

Nghiên cứu trận đánh Đắk Pơ, học tập những kinh nghiệm, thấy được những cái hay, cái cao đẹp của trận đánh để suy nghĩ và vận dụng cho sau này đó là một việc cần làm.

Hãy nhớ lời khen của Bác Hồ về trận đánh này: “Các chú hoạt động có thành tích khá. Bác vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú và thưởng đoàn vừa thắng khá ở An Khê - Huân chương Kháng chiến hạng nhất”.

Hãy đọc lại tổng kết lịch sử của Quân khu 5:

“Trận Đấu Pơ, tiêu diệt hoàn toàn binh đoàn cơ động 100 là một trong những trận đánh mẫu mực về mưu trí, anh dũng, về đánh tiêu diệt gọn quân địch. Đắk Pơ mãi mãi là một trong những chiến công oanh liệt của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Bên cạnh rất nhiều những trận đánh đạt hiệu suất cao của quân đội ta, trận đánh tiêu diệt ở Đắk Pơ thật sự là một trận đánh được trân trọng và ghi nhớ”.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:24:55 AM
LÀM ĐỊCH VẬN BẰNG CÔNG TÁC Y TẾ TẠI TRẬN ĐẮK PƠ

Đại tá - BS NGUYÊN CÔNG NGHIÊM, Nguyên Quân y trưởng Trung đoàn 96

Sau khi tiếng súng chấm dứt, Ban Chỉ huy Trung đoàn đã chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Như Trinh, Trưởng ban địch vận của Trung đoàn đến trạm phẫu thuật. Chúng tôi đi thăm thương binh địch bị bắt, trong đó có viên quan năm Barrou, chỉ huy binh đoàn cơ động 100. Đồng chí Trinh giới thiệu tôi là y sĩ trưởng của Trung đoàn 96, đơn vị vừa đánh tiêu diệt binh đoàn của ông ta, đến thăm và khám vết thương cho ông. Viên quan năm vẫn ngồi im lặng, bên cạnh vẫn còn hai tên hầu cận thường ngày như trước đây. Đồng chí Trinh nói tiếp:

- Theo chính sách nhân đạo và bác ái của Hồ Chủ tịch và Chính phủ Việt Nam, Ban Chỉ huy Trung đoàn chúng tôi cử thầy thuốc đến thăm và khám vết thương cho ông.

Lúc bấy giờ Barrou mới ngẩng đầu lên, nét mặt tươi hẳn, nhưng vẫn tỏ thái độ lãnh đạm và có vẻ khinh thường nữa. Lúc bấy giờ tôi còn là một thanh niên tuổi hai mươi, mặc bộ bà ba đen, đội mũ bê-rê, vai mang xắc thuốc và  dụng cụ y tế, súng lục ngang hông. Tôi thấy cần phải thuyết phục y. Tôi bảo hai tên hầu cận ra ngoài, rồi trực tiếp nói chuyện với viên quan năm. Trong lúc đó đồng chí Trình đã đi làm nhiệm vụ của mình, chỉ nhắc nhở tôi: hãy làm công tác địch vận bằng chính công tác của mình, công tác y tế

- Chắc ông đã hiểu chức năng của tôi - Tôi nói với Barrou thẳng bằng tiếng Pháp mà nhiều năm qua chúng tôi rất ít dùng đến - Tôi đến đây hoàn toàn với tấm lòng nhân đạo của người thầy thuốc Việt Nam, để khám sức khỏe và chăm sóc vết thương của ông và đồng đội ông, hiện còn ở dưới sự kiểm soát của chúng tôi - Tôi tin chắc rằng với chính sách khoan hồng của Chủ tích Hồ Chí Mình và Chính phủ Việt Nam, sớm hay muộn các ông cũng sẽ được trao trả về với gia đình, vợ con đang nong đợi ông. Bây giờ đối với chúng tôi ông không phải là một quan năm đã chiến bại mà là một người lính đang bị thương... xem ông như một thương binh của chúng tôi.

Tôi thấy Barrou tỏ vẻ bối rối trước những lời có lý, có tình đó và đã xin lỗi tôi với thái độ thay đổi hẳn:

- Lúc đầu tôi không hiểu hết mọi việc và có phần mặc cảm, bây giờ tôi yêu cầu bác sĩ kiểm tra lại vết thương cho tôi.

Khi ấy tôi gọi các tên hầu cận vào và mời một viên quân y của Pháp đi theo. Tôi khám bệnh và xem lại vết thương, cho thay băng và hướng dẫn cách điều trị và thuốc men cần dùng, bắt đầu từ viên quan năm rồi lần lượt đến các tên khác.

Sau đó tôi bảo hai tên hầu cận của viên quan năm Barrou mời các viên quân y của Pháp đến. Tôi nói rõ mục đích của tôi, một quân y trưởng trung đoàn đến là để giúp họ trong công tác chuyên môn và điều trị vết thương của những người bị thương. Tôi dẫn các viên quân y của Pháp đì kiểm tra qua một lượt các lán trại để điểm các thương bính nặng. Tôi đã nhanh chóng phát hiện trong số nhân viên quân y này không có một y sĩ nào cả, mà chỉ có y tá trưởng phụ trách các tiểu đoàn và đơn vị phối thuộc. Nhưng không phải trong số họ ai cũng đều biết về ngoại khoa. Với một số thương binh nặng, tôi trực tiếp khám, thay băng, rửa lại các vết thương, kiểm tra lại các nẹp cố định băng bó các trường hợp bị gãy chân tay. Hai y tá trưởng của Pháp đi theo đã cẩn thận ghi chép các đơn thuốc mà tôi cho, nội dung hướng dẫn điều trị cho mỗi người.

Nhờ thông thạo ngoại khoa dã chiến và nói được tiếng Pháp, cho nên tôi đã nhanh chóng chinh phục cảm tình của những người lính quân y đối phương. Sau khi khám bệnh xong cho số thương binh nặng, tôi triệu tập tất cả y tá của Pháp lại, nêu một số ý kiến về công tác chuyên môn, về việc điều trị ngoại khoa mà tôi vừa thoáng thấy có điểm họ chưa nắm được. Một số viên quân y đã hỏi tôi những vấn đề mà họ nói chưa biết. Cũng có thể để thử khả năng của tôi về chuyên môn y tế. Với kinh nghiệm nghề nghiệp tôi đã giải đáp trôi chảy. Cuối cùng họ đã đề nghị cho phía Pháp được tiếp tế thuốc men và thực phẩm.

Buổi họp chuyên môn y tế ngay giữa chiến trường của những người làm công tác quân y hai bên kết thúc. Một số y tá trưởng Pháp đã phát biểu những lời cảm ơn xúc động: “Đây là một cuộc gặp gỡ hết sức bổ ích, có nhiều điều đáng học tập về chuyên môn. Nhưng trước hết chúng tôi xin cảm ơn về lòng nhân đạo bác ái của quân đội các ông, cảm ơn bác sĩ đã tận tình hướng dẫn công việc điều trị cho thương binh.”

Họ không quên nói lên nguyện vọng cuối cùng là được nhanh chóng hưởng lượng khoan hồng của Chính phủ ta để được trớ về với gia đình. Họ tranh nhau bắt tay tôi, nhiều người đã hô to: “Vive le président HỒ Chí Minh" (Hồ Chí Minh muôn năm) hai ba lần. Tôi cảm ơn họ đã biểu thị lòng kính trọng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với nhân dân Việt Nam. Tôi chúc họ mạnh khỏe mau được trở về đoàn tụ với gia đình.

Đây là buổi công tác đặc biệt chưa hề có với tôi suốt chín năm kháng chiến, lăn lộn nhiều chiến trường, tham gia nhiều trận đánh. Tôi thấy rõ hơn tác dụng của công tác địch vận, của công tác tuyên truyền, vận động, tranh thủ binh lính địch. Chiến thắng tiêu diệt binh đoàn cơ động 100 cùng với những việc làm cụ thể thiết thực của ta, trong đó có công tác y tế, đã nhanh chóng chinh phục được tình cảm của những người hôm qua còn là đối phương quyết liệt một mất, một còn của nhau. Tin rằng những người lính và sĩ quan Pháp đó sẽ hiểu đúng về cuộc chiến đấu của quân và dân ta.

Sau khi tôi báo cáo, Ban Chỉ huy Trung đoàn đã điện đề nghị với Bộ Chỉ huy mặt trận cho phép quân Pháp tiếp tế thuốc men và lương thực để điều trị cho thương binh của họ. Bộ chỉ huy quân Pháp không thể không chấp nhận chủ trương đầy tính nhân đạo của ta. Mỗi ngày có hai chuyến máy bay trực thăng từ Plây Ku hạ cánh ngay trên đường 19 tại những địa điểm ta qui định vào giờ giấc ta cho phép. Tín hiệu là một lá cờ hồng thập tự lớn được trải giữa đường 19, con đường mới hôm qua còn đẫm máu của quân đội viễn chính Pháp. Hai ngày sau, nó đã trở thành con đường thể hiện chính sách nhân đạo của ta. Chính đồng chí Nguyễn Như Trinh, đã vận động những tù binh ngụy trong binh đoàn cơ động 100 lái trên 200 chiếc xe chiến lợi phẩm đưa vào rừng cất cho ta để tránh máy bay địch đến oanh tạc phá hủy.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:25:56 AM
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ “LẤY ÍT ĐỊCH NHIỀU” TRONG TRẬN PHỤC KÍCH ĐẮK PƠ

Trung tướng - TS ĐÀO VĂN LỢI, Giám đốc Học viện Lục quân (Đà Lạt)

Nguyễn Trãi, nhà chính trị - quân sự lớn của dân tộc ta đã tổng kết chân lý: “Yếu chống mạnh, hay đánh bất ngờ, ít địch nhiều, thường dùng mai phục”. Lấy ít địch nhiều trở thành quy luật tất yếu của một nước nhỏ phải chống lại một nước lớn, là sự đúc kết tư tưởng chỉ đạo nghệ thuật quân sự truyền thống của dân tộc Việt Nam. Trận vận động phục kích Đắk Pơ của Trung đoàn bộ binh 96, Liên khu 5 tiêu diệt binh đoàn cơ động số 100 của quân viễn chinh Pháp đã thể hiện khá rõ nét tư tưởng của Nguyễn Trãi.

Chúng ta đều biết, tư tưởng “lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh” là tư tưởng chỉ đạo về mặt chiến lược, song ở từng điều kiện cụ thể vẫn có thể vận dụng vào cấp chiến thuật. Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã từng nói xây dựng quân đội thì “Quý hồ tinh bất quý hồ đa” nghĩa là quân không cần đông mà cần tinh nhuệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ; phải xây dựng quân dội có số lượng thích hợp, có chất lượng cao, có tổ chức hợp lý, quân đội phải “tinh”, sức chiến đấu phải mạnh. Ngày nay chúng ta thường nói “lấy chất lượng cao thắng số lượng đông”. Muốn lấy ít địch nhiều thì yếu tố chất lượng quân đội là điều tối quan trọng.

Ở trận Đắk Pơ so sánh tương quan lực lượng hai bên: Trung đoàn bộ binh 96 thực tế chỉ có hai tiểu đoàn bộ binh và một đại đội địa phương, có sáu khẩu cối 81 mm, bốn khẩu ĐKZ, 11 khẩu SKZ (60 mm). Trong khi đó đối tượng tác chiến là binh đoàn cơ động số 100 (GM 100) có: năm tiểu đoàn bộ binh (Gồm hai tiểu đoàn Âu Phi, một tiểu đoàn lính ngụy Cam-pu-chia, một tiểu đoàn chủ lực ngụy, một tiểu đoàn lính địa phương), một tiểu đoàn pháo lựu 105 mm và một chi đội thiết giáp. Như vậy, lực lượng địch đông hơn ta về số đơn vị gấp 2,5 lần, đặc biệt có hỏa lực ấp đảo, sức cơ động cao.

VÌ SAO CHÚNG TA GIÀNH THẮNG LỢI LỚN?

Trước hết phải nói đến yếu tố chất lượng của Trung đoàn bộ binh 96. Mặc dù là Trung đoàn mới thành lập, song các tiểu đoàn đều có tinh thần và ý chí chiến dấu của cán bộ, chiến sỹ ta rất cao, lại được động viên cổ vũ bởi chiến thắng Điện Biên Phủ “Chấn động địa cầu” tiếp sức. Ngược lại, GM 100 của quân Pháp tuy là tinh nhuệ nổi tiếng, song tính thần ý chí đang sa sút vì thất bại chiến lược chúng đông mà không mạnh.

Trình độ chỉ huy tác chiến của bộ đội ta thời kỳ cuối chiến tranh đã được tôi luyện nhiều. Cán bộ Trung đoàn bộ binh 96 là những đồng chí chỉ huy dạn dày kinh nghiệm qua suốt chín năm kháng chiến. Ta không có không quân, xe tăng, pháo lớn, chỉ đánh bằng vũ khí mang vác, ta vẫn chiến thắng quân địch có ưu thế cả về sinh lực lẫn binh khí kỹ thuật.

Hai là: ta biết tận dụng triệt để thế chiến lược tạo ra.

Chiến thắng Điện Biên Phủ, như “tiếng chim báo bão” đánh dấu sự thất bại về chiến lược của quân đội Pháp trên chiến trường Đông Dương, chính Điện Biên Phủ cùng với các hoạt động trên khắp cả nước đã thu hút nhiều lực lượng cơ động của quân đội Pháp, không cho chúng tập trung lực lượng để đối phó với ta ở Trung Bộ và Tây Nguyên. Thắng lợi Điện Biên Phủ càng làm cho thế trận của địch tan vỡ, . tinh thần hoang mang, dao động cực độ.

Ở Tây Nguyên do bì thất bại liên tiếp ở Bắc Tây Nguyên, cộng với tác động rung chuyển của Điện Biên Phủ, buộc quân đội pháp phải rút bỏ một số vị trí về phòng ngự ở các thị xã, quận lỵ. Lực lượng ở An Khê (binh đoàn cơ động số 100) có quân số đông, nhiều xe cộ và vũ khí, nhưng tinh thần bị dao động, trong trạng thái chờ rút lui, dẫn đến sức chiến đấu kém. Đó là lợi thế cơ bản của trận Đắk Pơ.

Ba là: muốn”lấy ít địch nhiều”, thường phải đánh bất ngờ - bất ngờ và hiểm hóc, là lơi thế rất quan trọng của trận phục kích Đắk Pơ.

Trung đoàn bộ binh 96 đã lựa chọn đoạn phục kích vào địa hình khu vực cầu Đắk Pơ là nơi vô cùng hiểm trở, rất bất lợi cho địch cơ động qua. Bởi lẽ: một bên núi cao, một bên vực sâu, mặt đường hẹp độ dốc lớn, cua ngoặt gấp. Địa thế có lợi cho tổ chức chặn đầu, khóa đuôi, triển khai lực lượng bí mật, từ trên cao đánh xuống tiếp cận mặt đường nhanh, thực hành các thủ đoạn chiến đấu, chia cắt, diệt địch. Đây thực là thế “hổ vồ mồi” sẵn sàng “chộp” địch trong thế hoàn toàn bất ngờ, khó triển khai chống đỡ, thoát ly công sự, rơi vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”. Nên dù có quân đông, nhiều súng, sức cơ động nhanh vẫn bị tiêu diệt. Trung đoàn bộ binh 96 đã mưu trí lựa chọn nơi địa hình thiên hiểm để lập thế ta phá thế địch, nên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của đơn vỉ để đánh thắng địch.

Bốn là: để thực hiện được tư tướng “lấy ít địch nhiều” phải liên tục chuyến hóa thế trận linh hoạt.

Chuyển hóa thế trận, là làm thay đổi thế trận cho phù hợp với tình hình hoặc ý định tác chiến mới. Chuyển hóa thế trận có thể thực hiện trước khi bát đầu hoặc trong quá trình tác chiến.

Chuyển hóa thế trận nhằm làm thay đổi tương quan lực lượng giữa ta và địch, tạo thế và lực mới hơn đích để giành thắng lợi.

Chuyển hóa thế trận có thể: điều chỉnh tổ chức, thay đổi vị trí bố trí lực lượng, hướng tiến công, thủ đoạn là hình thức chiến thuật.

Trong trận phục kích Đắk Pơ thấy trước sự tan ra nhanh chóng và bỏ chạy cua lực lượng còn lại, chỉ huy Trung đoàn bộ binh 96 đã chủ động nhạy bén tổ chức lực lượng sẵn sàng chuyển sang truy kích. Vì vậy khi thời cơ đến, mặc dù trời tối, rừng rậm, tiểu đoàn bộ binh 40 vẫn liên tục chiến đấu truy kích địch. Tạo nên thế và lực mới làm thay đổi tương quan lực lượng: ta ít trở thành nhiều, yếu thành mạnh; địch đã yếu càng yếu hơn và nhanh chóng bị tiêu diệt. Kết quả: khi truy kích ta đã tiêu diệt một số tên, bắt 400 tên (trong đó có toàn bộ chỉ huy tiểu đoàn bộ bính 1 của GM 100). Chứng tỏ Trung đoàn bộ binh 96 đã vận dụng chuyển hóa thế trận rất linh hoạt, để thực hiện có hiệu quả nghệ thuật “lấy ít địch nhiều” trong trận Đắk Pơ.

Từ những nguyên nhân trên, khẳng định Trung đoàn bộ binh 96 đã tận dụng triệt để thế chiến lược, chiến dịch và thế của địa hình, phát huy cao độ ưu thế chính trí tinh thần của bộ đội, vận dụng sáng tạo cách đánh, thực hiện bao vây chia cắt, liên tục tiến công, chuyển hóa linh hoạt các hình thức chiến thuật để tiêu diệt địch có quân số đông hơn nhiều lần và giành thắng lợi vang dội.

Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc tương lai, đối tượng tác chiến của ta là kẻ địch được trang bị vũ khí công nghệ cao, nhưng chúng là quân đội xâm lược, chiến đấu vì mục đích phi nghĩa, do vậy tinh thần chiến đấu dễ bị dao động. Ta chiến đấu trong thế trận chiến tranh nhân dân được chuẩn bị từ thời bình, cán bộ chiến sĩ thông thạo địa hình là điều kiện thuận lợi để tiếp tục nâng cao trình độ vận dụng tư tưởng “lấy ít địch nhiều" trong chiến đấu phục kích.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:27:20 AM
NGHỆ THUẬT LẬP THẾ TRẬN TRONG TRẬN PHỤC KÍCH ĐẮK PƠ CỦA TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 96

Đại tá - TS PHẠM QUỐC VĂN, Chủ nhiệm Bộ môn Khoa Chiến dịch - Học viện Lục quân (Đà Lạt)

Trong lịch sử kháng chiến chống Pháp, quân đội ta đã vận dụng chiến thuật phục kích rất phổ biến, giành nhiều thắng lợi với hiệu suất chiến đấu cao và đã trở thành cách đánh truyền thống của quân đội ta. Trong đó trận Đắk Pơ ngày 24 tháng 6 năm 1954 của Trung đoàn bộ binh 96 là trận vận động phục kích, đạt hiệu suất chiến đấu cao nhất, giành thắng lợi vang dội, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở chiến trường Tây Nguyên, góp phần đánh bại ý chí xâm lược của quân đội viễn chinh Pháp. Là thế hệ kế tiếp, với năm mươi năm nhìn lại, xin trình bày một số suy nghĩ bước đầu về nghệ thuật lập thế trận của trận đánh lịch sứ này.

Lập thế trận phục kích gồm nhiều yếu tố, trong đó có ba yếu tố cơ bán là: chọn địa điểm, xác định đoạn phục kích và bố trí lực lượng phục kích.

1. Chọn địa điểm

Đường 19 là đường huyết mạch từ đồng bằng ven biển lên Tây Nguyên, nhưng do lực lượng có hạn nên địch chỉ có thể chiếm đóng thị trấn An Khê và một số đồn bót nhỏ trên trục đường 19 như Xà Huống, Hà Tam, Cà Tung, Mũi Nhung, Măng Yang. Trung đoàn 96 đã chọn khu vực Đắk Pơ là trung điểm trong đoạn Cà Tung - Mũi Nhung và cũng là trung điểm giữa An Khê - Măng Yang. Chọn vị trí Đắk Pơ trận đánh sẽ có những thuận lợi:

Một là, với khoảng cách từ An Khê - Đắk Pơ trong điều kiện lực lượng vũ trang địa phương hoạt động khá mạnh, địch phải cơ động mất từ 5 đến 6 giờ, trung đoàn sẽ có thời gian tiến hành công tác tổ chức chuẩn bị; mặt khác với đoạn đường dài từ sáu đến bảy ki-lô-mét địch cũng bộc lộ những điểm mạnh, yếu trong khi hành quân, qua đó trinh sát trung đoàn có thể nắm bắt được.

Hai là, nếu bị đánh thì lực lượng của địch ứng cứu chi viện từ Cà Tung hay Mũi Nhung đều có khoảng cách như nhau là sáu đến bảy ki-lô-mét nên dễ ỷ lại, đùn đẩy cho nhau, nên sự chi viện, ứng cứu không có hoặc kém hiệu quả.

2. Xác định đoạn phục kích

Do ý nghĩa của đường 19 nên ta và địch thường xuyên tranh chấp quyết liệt. Mỗi khi phải hành quân hoặc vận chuyển tiếp tế, địch phải tổ chức lực lượng đưa, đón hộ tống chặt chẽ, tuy vậy vẫn bị lực lượng ta chặn đánh liên tục, chỉ tính riêng trong tháng 4 năm 1954 địch đã tám lần bị chôn đánh trên đoạn đường từ An Khê đến Măng Vang. Vì vậy cả ta và địch đều hiểu rõ rõ địa hình, giá trì chiến thuật của từng đoạn đường, từng quả đồi, từng khe suối.

Đoạn phục kích được xác định, đoạn chặn đầu tây cầu Đắk Pơ khoảng 400 mét; đoạn phục kích chủ yếu và khóa đuôi đông cầu Đắk Pơ 800 mét. Đối với địch đoạn đường cầu Đắk Pơ là cửa tử kinh hoàng. Phía Cà Tung đi lên vừa hết dốc đã tụt xuống ngay cầu Đắk Pơ vừa lên dốc vừa phải uốn lượn nhiều khúc bởi các mỏm đá nhô ra sát đường. Đây là đoạn đường chạy kẹp giữa các điểm cao, phía bắc là mỏm 1 và mỏm 2, phía nam là mỏm 5, cả hai bên đường đều có ta-luy cao từ một đến hai mét, các đồi trên là những điểm cao có độ dốc không quá lớn, có thể dấu quân, cơ động bí mật triển khai chặn đánh địch rất thuận lợi. Nếu bị chặn thì đội hình địch phải dừng ngay và bị chia cắt nhỏ, địch không thể triển khai, chỉ có thể đối phó tại chỗ, cơ giới không thể cơ động được mà ngay xung lực cũng khó khăn, vì cả phía bắc và nam đường đều có lực lượng đối phương chiếm giữ, đoạn đường ngắn này phải hứng chịu mật độ hỏa lực lớn và thực sự trở thành túi lửa. Đoạn đường tây cầu Đắk Pơ là một đoạn chặn đầu lý tưởng, có giá trị chiến thuật cao, vừa có thế chặn, thế đánh, thế giữ, vừa tận dụng đặc điểm địa hình, lăn những tảng đá lớn xuống chặn đường, hỗ trợ thêm cho sự chiếu hụt hỏa lực diệt xe cơ giới của Trung đoàn.

Đoạn phục kích chủ yếu, được xác định đông cầu Đắk Pơ khoảng 800 mét. Từ phía Cà Tung về Măng Yang phải lên dốc khoảng 400 mét rồi lại xuống dốc 400 mét. Phía bắc đoạn đường là dãy đồi gồm mỏm 3 và mỏm 4 song song với đoạn đường. Tiếp giáp với mỏm 3 và mỏm 4 về phía bắc à một yên ngựa rồi tới một đồi nhỏ có rừng cây kín đáo, hình thành một khu vực tập kết thuận lợi và là một bàn đạp tốt đánh vào sườn đội hình hành quân của địch. Đặc biệt mép đường phía bắc là một ta-luy cao từ hai đến ba nét chạy suốt chiều dài dãy đồi, vì vậy toàn bộ đội hình của Tiểu đoàn bộ binh 79 khi vận động xung phong đều được che khuất, che đỡ, địch ở mặt đường không thể quan sát hoặc dùng hỏa lực bắn thẳng sát thương được. Khi đến vị trí triển khai đánh địch ta lại ở thế cao áp đảo, lựu đạn hoặc thủ pháo chỉ cần tác động một lực nhỏ, tận dụng độ dốc cũng có thể lăn xuống mặt đường sát thương địch, với các loại hỏa khí đều có thể phát huy tác dụng tối đa, khi xung phong ta ở thế đứng trên đầu thù đánh hất địch xuống phía nam đường.

Phía nam đường là sườn dốc tụt xuống thấp bởi thung lũng kéo dài suốt đoạn phục kích, nam thung lũng là mỏm đồi 6, địa hình không cao và thoải dần phía nam. Nếu lọt vào trận địa phục kích này, địch chỉ còn đối phó tại chỗ, lên không được mà lui cũng không xong, địch chỉ có thể tháo chạy, lẩn trốn về phía nam.

Tóm lại, với địa hình như trên là đoạn phục kích khá lý tưởng. Đặc biệt là đoạn chặn đầu, vừa có thể ngăn chặn địch từ hướng An Khê về, vừa có thế chặn địch từ hướng Măng Yang tới. Một khu vực địa hình có thể chỉ sử dụng một lực lượng không nhiều, hỏa lực không mạnh lắm vẫn có thể ngăn chặn được địch, kìm giữ địch. Đoạn tập trung diệt địch có thể bí mật dấu quân, cơ động lực lượng khi triển khai đánh địch ở thế có lợi vượt trội hơn địch. Tuy nhiên địa hình đông cầu Đắk Pơ không thuận lợi cho tổ chức bố trí triển khai bộ phận khóa đuôi, nhưng Trung đoàn 96 đã khéo tổ chức bố trí lực lượng tiêu diệt địch, hoàn thành nhiệm vụ.

3. Bố trí lực lượng

Thông thường lực lượng là cơ sở vật chất của thế, có lực lượng nhất định mới hình thành thế; lực lượng càng mạnh càng có khả năng tạo ra thế mạnh. Nhưng điều quan trọng hơn là lực lượng ấy được tổ chức bố trí, triển khai như thế nào? Trên địa hình nào? Ở thời cơ chiến dịch, chiến lược như thế nào? Trung đoàn 96 đã nhận thức được tình thế của chiến tranh sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đánh giá đúng ảnh hưởng to lớn, sự tác động sâu sắc của chiến thắng Điện Biên Phủ đến thế trận trên chiến trường của các quân khu, các địa phương trong cả nước, nhận rõ tính thần hoang mang, dao động của địch ở An Khê và sức chiến đấu giảm sút của chúng. Vì thế trung đoàn trưởng và cơ quan chỉ huy đã có sự vận dụng hết sức táo bạo, sáng tạo đúng đắn trong tổ chức sử dụng lực lượng, khác hẳn cách tổ chức sử dụng lực lượng ở trận Bông Lau - Lũng Phầu hoặc các trận phục kích khác. Trung đoàn 96 đã tận dụng tối đa thế và thời cơ, biến thế và thời cơ thành sức mạnh chiến đấu làm chuyển hóa tương quan sức mạnh chiến đấu giữa ta và địch có lợi cho ta.

Trung đoàn 96 nhận định, trong thế bị động, địch sẽ rút bỏ An Khê về Plây Ku. Quyết tâm của trung đoàn là chặn đánh cá đoàn xe và nhận đỉnh địch chủ trương mớ đường rút là chính, vì thế lực lượng đi đầu của địch sẽ mạnh, tâm lý địch không muốn đánh nhau, mà chỉ hướng về Plây Ku. Nếu bị chặn lại thì mọi nỗ ]ực của địch là tập trung đánh bật chốt chặn đầu, mớ đường rút chạy. Mặt khác trung đoàn cũng được biết còn có địch từ Plây Ku xuống đón, vì thế lực lượng chặn đầu của Trung đoàn có khả năng vừa phải đối phó với đích từ An Khê về vừa phải đối phó với địch từ Măng Yang xuống. Vì vậy, Trung đoàn tập trung lực lượng Tiểu đoàn bộ binh 40 làm lực lượng chặn đầu ở tây cầu Đắk Pơ, bố trí lực lượng cả ở mỏm 1, 2 và 5, đánh địch trên đoạn đường khoảng 400 mét.

Phía đông cầu Đắn Pơ là khu diệt địch chủ yếu, dài 800 mét, Trung đoàn đã sử dụng Tiểu đoàn bộ binh 79 (thiếu một đại đội) vừa làm lực lượng tiến công tiêu diệt địch, vừa ngăn chặn địch từ phía sau phản kích lên. Tiểu đoàn 79 là đơn vị chủ công có nhiệm vụ đánh vào giữa đội hình địch, tiêu diệt sở chỉ huy địch, mặc dù lực lượng của địch ở phía sau còn rất lớn, nhưng tinh thần hoang mang, lại mất chỉ huy nên phản ứng yếu ớt, Trung đoàn đã thực hiện được ý định tập kích, truy kích địch trong đêm 24 và ngày 25 tiêu diệt triệt để quân địch.

Do nhận định, khi bị tiến công địch sẽ giạt xuống phía nam đường lẩn trốn, mặc dù có rất ít lực lượng, trung đoàn vẫn sử dụng một bộ phận làm lực lượng đối diện, bố trí ở mỏm 5 và 6. Riêng lực lượng ở mỏm 5 vừa là đối diện đồng thời cũng là lực lượng tham gia tiến công đánh địch trên đoạn tây cầu Đắk Pơ ngay từ đầu.

Nhìn chung cách tổ chức bố trí, sử dụng !ực lượng của Trung đoàn 96 trong trận Đắk Pơ rất sáng tạo, táo bạo, có tính khoa học cao, thể hiện tầm nhìn rộng, nghiên cứu, xem xét một cách toàn diện. Khi phân tích tương quan lực lượng, không dừng lại ở số liệu quân số, vũ khí, trang bị thông thường, người chỉ huy và cơ quan tham mưu biết tận dụng thời thế của chiến tranh, biến thời thế thành sức mạnh vật chất để đánh địch giành thắng lợi. Tuy vậy, nếu lực lượng dự bị của Trung đoàn bố trí ở phía sau Tiểu đoàn bộ binh 79 thì cơ động bước vào đánh địch kịp thời hơn.

Trận phục kích Đắk Pơ của Trung đoàn bộ binh 96 là một trận phục kích đạt hiệu suất chiến đấu cao nhất trong những trận phục kích. Những gì mà Trung đoàn bộ binh 96 đạt được thực sự là một kỳ tích, là một dấu son chói sáng trong nghệ thuật lập thế trận phục kích của quân đội ta. Tuy trận đánh diễn ra cách đây gần 50 năm, nhưng những đóng góp về nghệ thuật quân sự, tinh thần dũng cảm, táo bạo, sự vận dụng sáng tạo, đúng đắn của cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 96 là rất đáng trân trọng, là bài học lớn cho các thế hệ tiếp sau.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:33:34 AM
CÁI CHẾT CỦA MỘT BINH ĐOÀN CƠ ĐỘNG

BERNARD FALL

ĐOÀN VĂN NGHỆ và TẠ XUÂN LINH dịch


Bernard Fall vốn là nhà báo, nhà văn Pháp, nổi tiếng trong những thập kỷ 50 và 60 với những tác phẩm về Đông Dương, chủ yếu về Việt Nam (Hai nước Việt Nam; Việt Minh; Chiến tranh Đông Dương 1946-1954...). Về sau B.Fall sang Mỹ, viết cho các báo Mỹ; sang Việt Nam đưa tin về các hoạt động của quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. B.Fall đã trở thành người đưa tin có thẩm quyền và thế lực về vấn đề Việt Nam. Năm 1962, đã sang thăm Hà Nội và được lãnh đạo của ta tiếp. Năm 1966 trong chuyến đi đưa tin truyền hình cuộc hành quân của lính thủy đánh bộ Mỹ trên “con đường không vui” (Quốc lộ 1 đoạn Quảng Trị - Thừa Thiên) xe bị trúng mìn và ông ta đã chết tại chỗ.

Chính giới Mỹ thương tiếc, Thượng viện Mỹ đã tổ chức truy điệu B.Fall. Hai mươi tám thượng nghỉ sĩ đã đọc điếu văn.

Bài viết sau đây “Cái chết của một Binh đoàn cơ động”, (La mortd'un groupement mobilé) là một chương trong cuốn sách “Guerre d'indochine 1946-1954”, lần tái bản thứ hai được mang tên: “Chiến tranh Đông Dương - Pháp năm 1946-1954, Mỹ năm 1957”.

Do vị thế của mình, tác giả đã có được những tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Pháp và được tiếp xúc với nhiều sĩ quan cao cấp, kể cả những người chỉ huy binh đoàn đã bị tiêu diệt, thu thập được nhiều tài liệu chưa phổ biến. Trích đăng bài viết của Bernald Fall xem như một “nhân chứng” từ phía bên kia nhằm giúp cho việc đánh giá, chiến thắng tiêu diệt bình đoàn cơ động 100 của Pháp ở Bắc Tây Nguyên năm 1954 đầy đủ hơn.

-----------------------
… Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954; nhưng rất sớm trước khi tập đoàn cứ điểm sụp đổ, cuộc tiến công của quân Việt Minh đã phát triển trên nhiều mặt trận và nhất là trên cao nguyên phía nam (Tây Nguyên). Đó là quãng ngắn nhất trên trục đường Bắc - Nam chạy qua, không quân khó mà kiểm soát hay ném bom.

Nếu cộng sản tăng cường thâm nhập Tây Nguyên thì Hạ Lào mất, nước Cam-pu-chia thanh bình sẽ bị Việt Nam xâm lăng; hơn thế nữa những đầu cầu quan trọng của Pháp - Việt bờ bể Trung Bộ, từ Đồng Hới đến Huế, Đà Nẵng và Nha Trang sẽ bị uy hiếp trực tiếp.

Nhằm tăng cường lực lượng phòng thủ Điện Biên Phủ và để ngăn chặn sự tiến quân không tránh khỏi của quân địch xuống đồng bằng sông Hồng, Bộ chỉ huy quân Pháp buộc phải rút bớt từ vùng cao nguyên phần lớn các binh đoàn cơ động đã tác chiến ở đó và trao việc phòng giữ cho đơn vi chiếm đóng, cho sư đoàn sơn chiến thứ 4, những đơn vị biệt kích nhỏ hoạt động trong rừng. Binh đoàn cơ động Việt Nam (ngụy) số 11 đảm nhận việc phòng giữ An Khê, nhưng chỉ có tiềm lực tiến công hạn chế. Tất cả sức mạnh phòng giữ đè nặng lên binh đoàn cơ động 100 (GM 100) một binh đoàn chiến đấu có sức cơ động hành quân cao và hỏa lực mạnh.

… GM 100 là một trong những đơn vị xuất sắc nhất sức cơ động và hỏa lực mạnh cũng là một trong những đơn vị nặng nề nhất. Rường cột cho trung đoàn này gồm những binh sĩ lão luyện của tiểu đoàn quân Pháp ở Triều Tiên...

… Quân số của GM được nâng lên 3.498 người. Trang bị tốt và thể lực tuyệt diệu, những lính chiến cũ ở Triều Tiên đã trải qua năm tháng nghỉ ngơi, binh đoàn đã trở thành một đơn vị hoàn thiện sẵn sàng đương đầu với kẻ thù, ngay sau đó.

GM 100, trong địa ngục.

… Lúc 14 giờ ngày 24 tháng 6 năm 1954. GM 100 đã rời cây số 14 chậm rãi đi qua miền rừng núi cao nguyên Nam Đông Dương.

Lúc 14 giờ 5 phút máy bay Mô-ran của GAO báo về phát hiện thêm một chướng ngại vật bằng các đống đá rải ngay đường ở cây số 15, nhưng không phát hiện được dấu hiệu gì khả nghi xung quanh. Nhân viên điều hành của sở chỉ huy trả lời cụt lủn “Biết rồi”. Số mệnh của GM 100 đã thật sự chấm dứt từ đây.

Đi đầu đoàn xe là tiểu đoàn dã chiến hành động thận trọng và chính xác, ở đoạn rộng của đương, lính tiểu liên Mát 49 khom khom trong tư thế bắn (súng ở khuỷu tay, với động tác đơn giản có thể bắn được ngay) hàng người tiến theo hàng dọc hai bên đường. Quân Pháp và quân Cam-pu-chia này biết cặn kẽ nghề lính, họ biết làm những gì cần thiết để cứu đơn vị khỏi bị tiêu diệt.

Quá cây số 15 một ít, đường cái thoát ra khỏi rừng dày, khởi đầu là một vòng cung lớn đi về hướng tây trong bình nguyên đầy bụi bờ và dày đặc cỏ voi, có chỗ cao hai mét. Một làn gió nhẹ lượn uốn đám xanh, vàng ấy, bên trong không gì lay động, không có linh hồn sống cũng như chim chóc.

Đại úy Léoujon, đại đội trưởng đại đội 1 tiểu đoàn dã chiến dừng lại bên trái đường và ngắm nghía bình nguyên, tất cả biểu hiện yên tĩnh.

Léoujon gặp Muller, tiểu đoàn trưởng và nói: “Khoảng đất này làm tôi lo quá, là nơi lý tưởng nếu quân Việt Minh có ý định xông vào chúng ta. Nó giành cho họ hỏa lực tuyệt vời những đường lui quân tốt trở về rừng và che kín họ đối với sự quan sát của không quân. Tôi muốn thám sát để xem lời giải đáp của chúng ta về vấn đề nan giải này”.

- Léoujon, thẳng thắn mà nói, tôi đồng ý với anh, nhưng thám sát vào sâu thì chúng ta không có thời giờ. Nếu anh làm việc đó thì tôi bắt buộc sẽ tách đại dội 3, đại đội 4 để chi viện cho anh và tất nhiên đoàn xe sẽ bị suy yếu.

- Thôi được, chúng ta chẻ đôi quả lê vậy, Léoujon nói, thay vì đi theo đường cái với đại đội của mình, tôi sẽ băng xuyên qua bụi bờ bằng đường thẳng và sẽ gặp lại đường cái khi ra khỏi khúc quanh. Theo cách ấy tôi không tự tách xa và nếu tôi bị rơi vào một tình huống nào đó thì anh cũng sẽ được báo trước và anh có thể dựa vào tôi mà không đến nỗi làm suy yếu việc phòng vệ đoàn xe. Muller tán thành và đại đội 1 rời khỏi đường, biến mất trong tiếng sột soạt của đám cỏ voi sắc cạnh như lưỡi dao và bị ngột ngạt của cái nóng bức ban ngày. Giống như biển cả với những làn sóng xanh, đám cỏ và bụi bờ trong giây lát đã nuốt cái đội hình bé nhỏ sắp sửa leo qua gò. Mặc dầu cỏ bao phủ vẫn giúp được cho Léoujon tầm nhìn khá hơn phần còn lại của trảng nhỏ, trung sĩ Li-som ra hiệu cho quân mình dừng lại và bảo chúng phải im lặng tuyệt đối.

Trong chốc lát đại đội dừng hẳn lại và im lặng. Chỉ nghe tiếng sột soạt và tiếng răng rắc liên tục cả tiếng đôm đốp Đó là tiếng động mà Li-som đang theo dõi, cái tiếng động của đám cỏ cao bị đoàn quân ôi qua dẫm lên. Mỗi lần như vậy cỏ rung động và trong trường hợp ấy, như thường lệ ở rừng, lỗ tai có ích cho người hơn là con mắt. Việc báo hiệu quá rõ ràng đối với Li-som, quân địch đã ở gần đây. Trận phục kích lớn mà GM-100 sẽ bị rơi vào và sẽ bị tiêu diệt đã sẵn sàng. Trung đoàn 803 của Việt Minh đã hợp điểm chính xác.

Quân Việt Minh bị không quân và đại đội của Vitasse phát hiện ở bắc đường 19 chỉ là con mồi được sử dụng để đánh lừa GM 100 hoặc đó chỉ là lực lượng tăng viện bổ sung.

Lực lượng chủ yếu của quân Việt đã chiếm lĩnh trận địa và vũ khí đã dàn trận. Nếu ví chỉ huy của Trung đoàn 803 biết lịch sử nước Pháp thì ông ta có thể hét lên, như Guillanne đệ nhất khi thấy kỵ binh của Sedan: “Aha! Những con người bạo gan thật!”.

Đúng 14 giờ 20 phút, sự im lặng bị xé toạc bởi tiếng nổ đanh gọn của hai phát súng bắn cách nhau, tiếp đến hai đại liên bắn, không tới 30 mét, vào sườn trái đội hình của Léoujon. Riêng Li-som anh bổ chồm về phía trước, hiểu ngay rằng cái gì đang xảy ra, nhảy xổ qua dám cỏ, lợi dụng cỏ rung rinh, chạy về phía các ổ đại liên.

- Đến đây! Tiểu đội thứ hai! Anh ta vừa hét lên vừa chỉ mô đất, mở chốt lưu đạn và ném.

Cái chết của trung sĩ bộ binh bé nhỏ thuộc địa thật nhanh chóng: nhận đầy ngực loạt đạn của khẩu đại liên thứ hai cùng lựu quả lựu đạn của anh ta loại khỏi vòng chiến khẩu thứ nhất, làm nổ đạn dược và sát thương pháo thủ.

- Đưa Li-som ra! Những tiếng nói vang lên trong hàng ngũ đại đội 1.

Trung sĩ Cam-pu-chia, đối với mọi người, là biểu hiện quyết tâm phải làm những gì lúc có thời cơ tốt. Tiểu đội anh ta, mặc dầu dưới làn đạn chết người của khẩu đại liên thứ hai của súng trường, tiểu liên, đang chiếm lại mô đất. Hai người ngã tiếp, nhưng tiểu đội vẫn đưa được xác của trung sĩ đến vị trí của đại đội đang dàn hình cánh cung trong bụi rậm. Nhưng Li-som, anh chàng Cam-pu-chia bé nhỏ tóc ánh bạc đã chết, vết thương toang hoác ở ngực. Ai đó đã nhanh chóng phủ lên anh ta tấm khăn choàng. Lúc này còn những công việc khác khẩn cấp phải làm.

Đồng hồ của Léoujon chỉ 14 giờ 25 phút và cũng như đồng đội, anh ta biết mình sẽ chết ở đó, giữa đám cỏ voi, trong thung lũng gần cây số 15. Anh ta cũng biết rằng giờ tận số đã đến với GM-100 xấu số, mệt lử, bị săn đuổi, kiệt sức sau ngần ấy thử thách.

Người ta biết tự hủy, đại úy Léoujon nói sau đó, rồi người ta làm tất cả theo điều lệnh. Thời gian không còn nữa.

Như một giấc mộng mị, khó mà thấy tí sợ hãi trên nét mặt quân của đại đội 1 đang chiếm vị trí chiến đấu, phần nào hình như đối với họ chỉ là một cuộc luyện tập trước vị tướng đến kiểm tra, chẳng khác gì như họ xin lỗi khi xô đẩy người bạn.

- Xin lỗi đại úy, tôi sẽ chết mất thôi - pháo thủ đại bác không giật nói, và anh ngã gục cạnh Léoujon.
Cách đó vài mét, hạ sĩ Beausset, với mơ ước sẽ trở lại thường dân, tìm việc lái xe bồn chở rượu ở Montpellier, không gọi điện được về sở chỉ huy tiểu đoàn. Chán ngán, anh thả rơi điện đài khi nhận viên đạn 12 ly 7 xuyên suốt.

- Không thể làm việc nghiêm túc được trong hoàn cảnh này, anh ta lầu bầu, rồi dùng gậy đánh nát cái bóng đèn còn tốt của điện đài hòng không cho quân Việt tận dụng. Khói mù loang có mùi hăng hắc của thuốc súng cháy, bắt đầu bay lên trên cỏ voi và bìa rừng, nơi pháo thủ địch bắn dồn dập bằng tất cả súng cối, súng không giật, ba-dô-ca.

Đối với Trung đoàn 803 là trận đánh được chờ đợi để trả đũa với quân thù sáu tháng hành quân kiệt sức trong rừng, sáu tháng phải đau đớn gánh trên vai hàng tấn khí cụ đồ tiếp tế, sáu tháng mà ngày qua ngày được nuôi dưỡng bằng những nắm cơm nguội cùng gia vị nước mắm để cung cấp Vitamin cần thiết... Bao lần họ phải nằm sát đất lo lắng, căm tức, lúc máy bay B.26 quần trên đầu và sẵn sàng trút bom, bắn rốc-két rải na-pan.

Nhưng cái chết của GM 100 sẽ bù lại những cái đó.

Thế là giờ từng chờ đợi đã đến, cái giờ của trận chiến đấu trả thù hàng trăm sinh mạng đã hy sinh trong hàng ngũ họ, trận chiến đấu đang nộp cao nguyên cho họ trước khi những cuộc thương lượng ở Giơ-ne-vơ quyết định đình chiến, trận chiến đấu sẽ làm tiêu vong mãi mãi trung đoàn Triều Tiên này…

Sự hấp hối của đại đội 2 bị cô lập trong bụi rậm là một sự việc tất nhiên của trận đánh chung vì hiện giờ trận phục kích đang triển khai trên diện rộng và những đơn vị của GM 100 đã bị ngoạm bởi cái bẫy.

Trận địa bố trí của địch rất lớn, kéo dài ba ki-lô-mét, những vũ khí tự động đặt hai bên đường đã được hiệu chỉnh sẵn, quân địch được các trinh sát chỉ dẫn sự tiến quân của đoàn xe nên biết mục tiêu nào cần chọn trong từng khối của đội hình. Tất nhiên sở chỉ huy của binh đoàn nằm trong số đó.

Vài phút trước 14 giờ, đại tá Barrou ở đầu bộ phận thứ hai, nói đúng hơn, xe Jeep của ông ta theo sau trung đội thiết giáp. ông ta thấy bộ phận mình đi hơi nhanh và trung đội thiết giáp sắp dính vào khối trước. Về với xe điện đài Barrou tự mình ra lệnh cho đơn ví thiết giáp đi chậm lại dừng để khoảng cách xa giữa thiết giáp và sở chỉ huy, đúng lúc này Barrou nghe những tiếng súng dầu tiên báo hiệu cuộc đụng độ bắt đầu. Trong tiếng nổ khủng khiếp, trận mưa đạn cối dội vào khối cơ quan chỉ huy, những xe thiết giáp nhờ có xích và trục máy nên băng qua được bụi bờ xông vào những bộ phận địch đang ẩn khuất trong khói dày đặc. Quân Việt cũng dè chừng những khả năng và quyết định cô lập những xe thiết giáp vào cuộc. Sau bốn phút, một trong hai xe AM gắn đại liên và ba xe Half Trach bị bốc cháy. Chiếc xe AM gắn đại liên cuối cùng đã đến và phát hiện một ổ đại liên từ mỏm cao bắn vào đội hình đang đi hàng dọc và phóng lựu đạn “Canister”, xe thiết giáp tấn công và ghìm họ trong chốc lát.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:33:56 AM
Barrou đối phó lại nhanh chóng. Cầm ngay súng các-bin trong xe jeep của mình, đi theo đại úy Fievet cùng vài người của đại đội chỉ huy (CCS), tiến hành phản kích vào mỏm cao đang khống chế sở chỉ huy. Hành động của họ vô hiệu. Lúc 14 giờ 35 phút bị bắn ở đùi bằng một viên đạn súng liên thanh, gần ông ta đại úy Fievet sắp chết như vài phút trước trung sĩ Li-som nhận một loạt đạn đại liên ở giữa ngực.

Về phần mình, trung tá Lajouanie tập họp vài người trên đường cái và lao theo Barrou. Lúc 14 giờ 40 phút, hình như trong chốc lát những bộ phận của đại đội chỉ huy (CCS) vừa mới chiếm được mỏm cao tạo nên một điểm nhô ra nằm giữa vị trí đối phương và làm câm họng các khẩu súng đích đặt ở phía nam đường cái. Họ không phải ở trong tình trạng như thế lâu. Lúc 14 giờ 15 phút Lajounanie bị thương nặng ngã xuống, Barrou trao cho anh ta huân chương Bắc đẩu bội tinh. Dĩ nhiên người sĩ quan trẻ không còn nghe được nữa lời nói của người chỉ huy của mình. Xung quanh họ quân lính của đại đội chỉ huy những ai còn lại lần lượt ngã xuống, xạ thủ của ôtô gắn đại liên chết, đại bác câm. Trong lúc tình thế của đại đội chỉ huy trở nên thất vọng, Barrou lăn xuống đất ở gờ đường và mặc dầu bí thương, ráng leo lên tháp xe để thay thế xạ thủ nhưng quân Việt đã theo dõi cấp hiệu của ông ta. Bị thương tiếp, nhưng lần này là một viên đạn tiểu liên, Barrou lăn trong đám bụi. Giờ của ông ta đã điểm. Chỉ còn một nhiệm vụ cuối cùng phải làm: không cho kẻ thù chiếm giấy tờ, đừng để họ khoái trá biết rằng đã giết được người chỉ huy đoàn công-voa. Một cách có phương pháp, ông ta xé giấy tờ và dấu các mảnh vụn dưới hòn đá cạnh đường, sau đó lột cấp hiệu ra. Một hạ sĩ quân y đang đi gấp đến đầu đoàn xe, thấy ông ta nhưng không nhận ra là ai.

- Tôi không thể làm gì được đối với anh, ông bạn ơi? Anh ta hổn hển nói, không có cáng, không có gì cả, nhưng tôi sẽ băng bó.

Với bàn tay thành thạo, anh ta băng bó vết thương cho viện đại tá rồi tiếp tục đi về phía đầu cánh quân.
Bộ phận còn lại của xe chỉ huy cũng không còn tồn tại nữa. Tham mưu trưởng trung đoàn Triều Tiên, thiếu tá Hippolite, bị giết gần Lajounaie và lúc 14 giờ 25 phút, xe điện đài của GM 100 bị trúng nhiều đạn pháo và bị phá hủy. Sau 10 phút từ lúc trận đánh bắt đầu, GM 100 đã mất tất cả những người chỉ huy và đứt liên lạc với bên ngoài.

Sự hỗn độn lan đi nhanh chóng, những toán quân kém thiện chiến là những người đầu tiên đào ngũ. Những lái xe công binh An Khê bỏ phương tiện làm nghẽn tắc đoàn xe, còn đơn vị 520 tiểu đoàn khinh quân thì bốc hơi hoàn toàn, bỏ mặc số phận những người còn lại của đại đội chỉ huy của đại tá Barrou và những pháo thủ của IOcRAC.

Lúc 15 giờ một tiếng nổ lớn dội vang các điểm cao gần đó làm run sợ đoàn quân, những ngọn lửa vàng và trắng bùng thẳng lên trời, những mảnh vụn, khí cụ, những mảnh xác người bay tứ tung. Bị trúng đạn cối, những xe công binh chở đạn nhảy tưng lên, tiếp tục nổ và cháy cho đến 17 giờ 30 phút. Cùng lúc các khối thứ ba thứ tư tức là tiểu đoàn 1, 2 Triều Tiên và pháo binh tháp tùng đã đến cây số 15, kịp thời cứu những gì còn lại của đại đội chỉ huy. Cũng như đơn vị 43cRIC, họ cũng tự biết là phải “biến” đi, nhưng vẫn tiếp tục làm nhiệm vụ mình theo điều lệnh tiểu đoàn không ngừng giây phút nào, hai đại đội đi đầu của tiểu đoàn 1 Triều Tiên tự khai thông lối đi theo dọc đường cái, nơi bị tắc nghẽn bởi những xe hỏng và bắt liên lạc với bộ phận chủ yếu của tiểu đoàn bộ bính trung đoàn 43 mới được tập trung lại một ít, được tách ra từ đơn vị công bình lúc xe đang nổ. Họ cùng nhau tìm cách tránh đường cái để nhường lối đi cho những xe chưa hỏng.

Dưới làn đạn tử thần đào thành những lỗ hổng khổng lồ trong đoàn quân, tiểu đoàn bộ binh, trung đoàn 43 cũng đã cho được 22 xe lên đường, đột phá mở lối đi, nhưng những đợt phản xung phong ác liệt của quân Việt nhanh chóng bịt kín nơi đột phá đó. Chỉ có những xe này phá được vòng vây và đến được cây số 22. Ở giữa cái lờ đó sự xuất hiện những tiểu đoàn của trung đoàn Triều Tiên đã tạo được phần nào ổn định tình thế. Tiểu đoàn 1 Triều Tiên và những tàn quân đơn vị khác núp trong vòng vây chật ních, tìm cách giãn ra theo hướng bụi rậm và các lùm cây mà từ đó quân thù bắn ra.

Lúc 15 giờ 20 phút, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 Triều Tiên, thiếu tá Kbínmann, sĩ quan kỳ cựu, tạm quyền chỉ huy GM 100 thiết lập liên lạc với tổng hành dinh (QG) của tướng Beaufort.

Thám sát không quân đã tiến hành chu đáo trong quá trình trận đánh, đã báo cho sân bay Nha Trang về tai họa này, người ta hứa sẽ tung ra chiến trường nhiều phi vụ máy bay B.26.

Ngoài ra pháo binh đoàn xe cũng tỏ sự kỳ diệu của chủ nghĩa anh hùng: hai khẩu đội chưa bị quân thù phá hủy từ đầu trận đánh, khẩu đội 4 và khẩu đội 6, đặt trước các khẩu pháo ở đường cái, chịu đựng trực tiếp hỏa lực của địch cách đó không đầy 100 mét. Khẩu đội 4 lúc 14 giờ còn bắn được nơi tập trung cua địch ở Kon Barr. Thật là vất vả mới móc ráp được các bộ phận pháo để lên đường, thì lại có lệnh phải bắn đều đặn tối đa vào trung tâm đoàn xe. Tại địa điểm này địch đang tìm cách tràn ngập vào “túi” của tiểu đoàn 1 Triều Tiên. Khẩu đội 4 bắt đầu bắn lúc 14 giờ 35 phút, sau đó thì khẩu đội 6 bắn.

Lúc 18 giờ, khi mà những khẩu pháo cuối cùng bị địch phá hủy, đã có 600 đạn pháo 105 được bắn. Trong quá trình trận đánh, các khẩu pháo đã di chuyển hai lần. Thường thường các pháo thủ bị giết chưa kịp chôn các bộ phận súng, hạ sĩ quan và sĩ quan thay thế họ để tiếp tục bắn, thước ngắm để con số 0, ngòi đạn điều chỉnh tối thiểu để bắn vào đám đông dày đặc của những làn sóng xung phong của địch. Thiếu tá pháo binh, cụm trưởng Arvienx bị giết trên khẩu pháo của khẩu đội 4 lúc 16 giờ 30 phút.

Lúc 16 giờ 20 phút Abinmann và Guinan, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 Triều Tiên hội ý ngắn gọn trong cái túi, của tiểu đoàn 1 Triều Tiên. Vắng mặt Muller của BM 43cRIC, do ông ta bị kẹt ở đầu đoàn xe nên không thể đến được sở chỉ huy. Họ quyết định rằng những bộ phận còn nguyên của binh đoàn có thể giúp họ giữ chu vi phòng ngự cũng như chuẩn bị bãi để nhận đạn thả dù, đạn dược bắt đầu thiếu hụt vì xe đạn bị hất tung.

Sự xuất hiện của máy bay B.26 trên bầu trời đã làm chựng tình thế nhưng với một cách bất ngờ: trong nhiều chỗ người ta đã xung phong, máy bay thả bom ghìm quân Pháp và Việt Minh sát đất, làm đứt đoạn chốc lát trận đánh. Những loạt đạn liên thanh bắn rà sát đất làm quân lính nằm im, đôi khi cách nhau vài mét giữa người này người kia. Những loạt đạn phóng ra từ các máy bay cánh thon và ánh bạc làm bắn tung bùn lên. Đạn đại liên, đạn đại bác... chết chóc, gợi lên sự hãi hùng, sự hận thù ở người này, người kia, cái chết mù quáng không chừa ai. Bị ghìm xuống đất như những người khác, nhân viên điện đài của đại đội chỉ huy thuộc tiểu đoàn 1 Triều Tiên đưa ra một nhận xét, việc yểm trợ của không quân vừa là giúp đỡ, vừa là phá hoại.

Trong khi đó hoàng hôn đến gần, rõ ràng không thể giữ vững được trận địa. Nếu những đợt tấn công của bộ binh Việt giảm mật độ thì ngược lại hỏa lực súng cối không suy giảm. Pháo binh Pháp chỉ bắn lác đác phần do pháo thủ phần do đạn dược. Đầu cùng vị trí chiếm lĩnh của đoàn xe, trên 100 thương binh đang rên rỉ trong trạm xá tạm thời được tổ chức giữa vài xe cứu thương bị lật đổ. Thiếu tá quân y Varme Janville, những bác sĩ y tá, hành nghề trong điều kiện không thể tưởng tượng được, họ làm hết sức mình trong quá trình trận đánh, đôi lần phải trả giá bằng sinh mạng mình khi cấp cứu thương binh, những thương binh này lại tiếp tục bị thương dù đã qua sự chăm sóc đầu tiên.

Để bảo vệ họ chắc chắn, người ta đưa thương binh nặng vào dưới xe, nhưng dưới đó cũng có nhiều người nên phải phân tán ra ngoài trời, có khi chưa đầy 20 mét cách tuyến lửa. Hiển nhiên những thương binh nặng không thể sống đến ngày mai, nếu người ta không đưa sớm ra khỏi chiến trường.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:34:16 AM
Dĩ đào vi thượng sách, nhưng…

Lúc 17 giờ 15 phút, tổng hành dinh của khu chuyển cho Kbinmann lệnh bỏ xe và khí cụ về hợp điểm với bộ binh ở cây số 22 đem theo tất cả thương binh có thể chuyển được. Khinmann báo đã được lệnh và trao đổi tình hình với Guinar. Lúc đó tiểu đoàn sơn chiến - tiểu đoàn bộ binh, trung đoàn 43 đã tự giải vây được và thoát ra khỏi cái lờ không có sự yểm trợ.

Đối với các thiếu tá tiểu đoàn 1, 2 Triều Tiên thương bính là một vấn đề lớn, không thể bỏ họ lại, nhưng thật là điên rồ phải chuyên chở họ. Ở giữa rừng thẳm phải tính rằng tám người một cáng, hai toán hộ tống có vũ khí và còn phải lệ thuộc vào đường mòn của một vùng không dễ tồn tại, hoặc sẽ bị địch bắt, tất nhiên thương binh sẽ bị bỏ rơi người này đến người khác.

Hai thiếu tá nhất trí quyết định để lại thương binh ở đường cái, cấp cho họ những gì cần thiết của người sống và thuốc men. Những bác sĩ và y tá tình nguyện ở lại với họ để cùng chia sẻ số phận.

Dù sao Trung đoàn 803 lúc ấy, cũng đã tỏ ra nhân đạo đối với những thương binh. Thiếu tá bác sĩ Varme Janville được gọi đến, đó là người vùng Bắc nước Pháp, người đầy máu me, kiệt sức, anh ta nhìn hai người đối thoại, và biết rõ tình thế hơn ai hết.

- Janville, chúng tôi vừa mới. nhận được lệnh rời đường lúc 19 giờ 00.

- Còn những thương binh?

- Để họ lại ở đây. Các anh thừa biết chúng tôi không thể làm gì được đối với họ một khi chúng tôi quay lại rừng.

- Có thể chăng, chúng ta đề nghị tạm đình chiến để di tản thương binh? Quân Việt trên mảnh đất này rất nghĩa hiệp đối với thương binh trong những lần trước.

- Chúng tôi không có quyền, không có lệnh tạm đình chiến, ngay cả ở Điện Biên Phủ cũng chẳng có tạm đình chiến…

Bác sĩ thiếu tá Janville nhấp nháy mắt, nhìn đường cái la liệt những sườn xe đang bốc khói của thiết giáp và pháo. Anh ta nhìn ngắm họ, những con người không có một giọt nước để uống, đã chiến đấu sáu giờ liền dưới nắng hừng hực trên con đường có nhiều cao điểm khống chế tạo cho đối phương xạ trường tốt. Anh ta biết rằng sự chia tay lệ thuộc vào sự lui quân nhanh để cho rừng che chở khi việc đề nghị tạm đình chiến bị từ chối. Những thương binh chắc sẽ giao chiến trận cuối cùng, không còn cách nào khác, nhiệm vụ anh ta là quay về với thương binh.

- Thưa các ông, tôi nghĩ rằng tôi không thể làm gì có ích hơn. Có bác sĩ giỏi ở Plây Ku và thương binh cần tôi, tôi sẽ ở lại với họ.

Không phải lúc của những diễn văn tình cảm, thiếu tá bác sĩ Jarme Janville bắt chặt tay hai người bạn, quay nửa vòng và đến với thương binh đang hấp hối ở đường cái, dưới các xe rỗng bụng, xe cứu thương bị đạn pháo lật nhào. Ông ta là nhà khoa học nhưng hành động như người lính và trên hết là con người có lương tâm.

Sự hy sinh của Varme Janville không đạt hiệu quả, chắc là quân Việt không tàn sát thương binh ở chiến trường. Họ đã dùng những xe ôtô còn chạy được chở thương binh về bệnh viện trống rỗng ở An Khê. Janville năn nỉ trại trưởng tù binh cho phép chữa người của mình và của cả đối phương…

Varme Janville thoát chết trong cuộc phiêu lưu hãi hùng và được giải ngũ sau chiến tranh, kiệt quệ cả tinh thần lẫn thể xác.

Lúc 19 giờ tàn quân của binh đoàn cơ động 100 được tổ chức lại thành một đơn vị gọn để đánh trận cuối cùng nhằm thoát khỏi cái bẫy ở cây số 15 mà qua sáu giờ đã nghiền nát dần dần GM-100.

Đêm tối đã bao trùm cách đây gần một giờ (ở vùng nhiệt đới mặc dầu tháng 6, đêm đến sớm) một loạt ánh chớp lóa mắt báo hiệu sự chuẩn bị, người ta nhét lựu đạn cháy vào nòng đại bác, tưới xăng lên khí cụ và châm lửa, người ta lôi ra những viên đạn cuối cùng của những đại bác không giật cuối cùng còn nguyên vẹn và đốt những băng đạn trọng liên sau khi đã đập nát súng và quăng bộ khóa nòng.

Chính tiểu đoàn 1 Triều Tiên mở đường hành quân, theo sau là tiểu đoàn 2 Triều Tiên và pháo thủ, còn nhúm lính thê thảm sống sót của 520e tiểu đoàn khinh quân thì lê thê đi sau cùng có đêm tối trợ giúp cho quân Pháp.

Mặc dầu bắn dữ dội, Việt Minh cũng không cản được sự đột phá của quân Pháp, lẽ ra phải chọn đột phá hướng tây là hướng cây số 22, thì đơn vị lại đi về hướng chính nam và dấn sâu vào rừng. Rời rừng thưa ở cây số 15, quân thoát nạn của GM 100 nhìn thấy những thương binh còn sức cầm súng đang chiến đấu một cách vô vọng dưới ánh sáng của đại bác đang cháy.

Sau đó tiếng súng thưa dần, Việt Minh đập tan dần những kháng cự cuối cùng và lo thu nhặt đoàn xe những gì có thể dùng dược. Họ không cần ở lâu tại chiến trường để đợi bom dội, mặc dầu sự có mặt tù binh Pháp bảo đảm sự che chở chốc lát cho họ.

Hôm sau, tảng sáng, khu vực đánh nhau vắng teo, trên đường cái chỉ còn những đại bác và xe hỏng, những xác chết, một số thương binh Pháp để lại sắp chết. Đại tá Barrou cũng ở trong số các thương bình này. Trong hai ngày ông ta trốn trong bụi và nuôi hy vọng sẽ có đội tuần tra Pháp đến chiến trường. Mỗi đêm ông ta lê đến xe cứu thương Dodge đã bị lật nhào, cạnh đường trong đó có hai người Cam-pu-chia đang thoi thóp, để hớp ngụm nước sạch cho đỡ khát.

Ngày 26 tháng 6 ông ta thấy xuất hiện toán lính Pháp. ông đã bị què và bị thương khi chạy thoát trong đợt truy quét đầu tiên của địch, lúc tìm cách chạy về Plây Ku, xa 70 ki-lô-mét. Họ cáng Barrou và lên đường. Ba giờ sau đó khi vượt qua ba ki-lô-mét một cách mệt nhọc mất nhiều máu, thương binh đuối sức vì đã nhịn ăn ba ngày. Đạn lại đang vèo vèo trên đầu. Một bộ phận Việt Minh tổ chức “Nhét nút” giữa Mang Yang và An Khê đánh chặn. Họ quay về hướng đông và bị bao vây chặt bởi chủ lực Việt Minh. Đại tá Barrou và những người sống sót của GM-100 được trả tự do sáu tuần sau đó, sau hiệp định đình chiến được ký ở Giơ-ne-vơ.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:34:47 AM
Bị truy kích sát gót

Từ khi bị lún sâu trong rừng, đoàn quân dồn đống lại rất khó chỉ huy. Quân Việt nhanh chóng thấy rằng đây là một bộ phận chiến lợi phẩm sống ngon lành đang trốn chạy và khống chế, đẩy họ về cây số 22, không cho họ liên lạc với binh đoàn của Sockel.

Lúc 19 giờ 30, hai thiếu tá quyết định phân chia đội ngũ thành những bộ phận nhỏ cỡ phân đội dưới sự chỉ huy của sĩ quan hoặc thượng sĩ.

Đối với hầu hết các đơn vị và ngay cả tiểu đoàn sơn chiến - tiểu đoàn bộ binh, trung đoàn 43 khi tiến quân riêng lẻ, dù có tiến nhích lên kẻ khác một ít thì đêm ấy quả thật là một cơn ác mộng thật sự. Họ đi thành từng toán nhỏ hoặc riêng lẻ, phá rừng bằng lưỡi lê, rựa, để mở lối đi bị gai cứa lòng bàn tay và cào rách nát quần áo. Đây đó sự mệt nhọc chôn vùi con người, họ ngã xuống chẳng có một lời, thỉnh thoảng người dân miền núi rình rập phát hiện và cắt cổ chẳng kịp kêu. Cuộc hành quân càng khó khăn hơn khi đến gần cây số 22 vì quân Việt thừa biết rằng không sớm thì muộn những người chạy trốn cũng phải ra đường cái nên bố trí “Nhét nút” chặn tất cả khu vực Mang Yang. Hằng trăm người mất mạng trong vài giờ lúc rạng đông. Tiểu đoàn 1 Triều Tiên dẫn dắt đội hình đang còn là một đơn vị có tổ chức. Từ 6 giờ 30 đến 8 giờ 30 ngày 25 tháng 6 cách khoảng 5 ki-lô-mét cây số 22, họ đã đẩy lùi ba đợt tấn công liên tục của địch. Lúc tám giờ đại đội 4 đi đầu rơi vào ổ phục kích, chiến đấu với tâm trạng thất vọng để mở đường cho tiểu đoàn và giết được 12 binh lính địch.

Lúc 1 1 giờ 30, một mảnh trời xanh xuất hiện trên đỉnh cây tán dày và làn gió nhẹ lay động lá

- Ai đi đó?

- Đừng bắn! Người Pháp đây!

Từ lùm cây cách đại đội 4 không xa lắm, ba bóng người quân phục rằn ri ló ra, ngón tay để ở cò súng tiểu liên: đó là quân nhảy dù của binh đoàn không vận tuần tra ở cây số 22. Quân của tiểu đoàn 1 Triều Tiên nhảy xô vào lính dù, ôm chặt họ và khóc vì kiệt sức, vì sợ hãi đã kìm chế, vì vui mừng được thoát nạn lành lặn và ra khỏi cuộc tàn sát. Hẳn là họ được sống sót từng người một song GM 100 thì đã chết trọn vẹn ở cây số 15 ngày 24 tháng 6 rồi.

Vị trí ở cây số 22 không thể giữ được và quân dù chỉ bám đó để làm chỗ đón tiếp GM 100. Các phân đội khác lần lượt kéo đến Mang Yang và đơn vị cuối cùng đến lúc 19 giờ, trải qua 40 giờ hành quân hoặc chiến đấu, quân lính không nghỉ ngơi, không ăn uống. Họ lại được đưa tiếp đến Mang Yang tại đây đại tá Sockel và binh đoàn cơ động GM 42 đón họ, tập trung tại và chuyển ngay thương binh về Plây Ku bằng ôtô.
Bị liệt vào loại mất tích và tưởng như đã chết rồi, xốc xếch mặc vỏn vẹn chỉ có áo sơ mi, quần rách nát vì gai cào, sự xuất hiện của đại úy Léoujon đi đầu những người sống sót của đại đội mình, gây nên sự kinh ngạc ở Mang Yang.

Về phía họ, Việt Minh tạm ngừng để thu dọn khí cụ bỏ lại của GM 100, chuyển thương binh của mình về An Khê và tiếp nhận lực lượng tăng viện khoảng một tiểu đoàn. Họ đã sẵn sàng chuyển qua giai đoạn hai đợt tấn công, nhằm tiêu diệt binh đoàn 42 và quân dù của binh đoàn không vận đang di chuyển chậm chạp do phương tiện chuyên chở và do tàn quân GM 100 làm nặng nề thêm.

Những đơn vị Pháp ra lại đường cái, lần này là để rút lui về căn cứ cố thủ Plây Ku nơi mà cách đây hai tháng GM 100 ra đi đầy tự tin. Tuy nhiên bài học cay đắng đã có rồi, rằng đội ngũ dân vệ miền núi, quân dù, những đơn vị của GM 100 tăng cường chiến xa của trung đoàn thiết giáp số 5 (“Hoàng gia Ba Lan”) chỉ tiến quân được trong sự thận trọng lớn và sự yểm trợ thường xuyên của bộ binh, ở hai bên.

Chiều ngày 26 GM 42 (chiếm Phú Yên) ở khoảng mười ki-lô-mét tây Mang Yang, những phân đội còn lại của đơn vị bắt đầu rút về vị trí mới này. Mục tiêu ngày mai là đến tây Phú Yên 12 ki-lô-mét, chỗ cầu Đak Va Ayun. Tiểu đoàn 1 Triều Tiên lại đi đầu đội hình bị rơi vào trận phục kích được chuẩn bị rất tốt của Việt Minh ở phía đông cầu. Nhưng đơn vị đã nhớ lại bài học ở cây số 15, trung đội chiến xa “Hoàng gia Ba Lan” đi trước bộ binh, kiên quyết xông vào đoạn chướng ngại vật của Việt Minh, trong khi đó quân dù, tiểu đoàn 1 Triều Tiên, tiểu đoàn 6 sơn cước bỏ đường cái, ráng chạy ngay thật xa vào rừng. Súng địch, như ở trận tấn công cây số 15, đã hiệu.chỉnh sẵn vào đường cái, không thấy mục tiêu nên phải hiệu chỉnh lại. Bộ binh Việt tưởng rằng như chiến đấu với đội quân mất tinh thần đã chạm trán cách đây ba ngày. Họ bị đẩy lùi bởi sự phản kích của quân Pháp với tinh thần tấn công đã chứng minh.

Trong giây lát việc đụng độ rất quyết liệt. Đại đội chỉ huy và ôm đội 1 tiểu đoàn 1 Triều Tiên bị tràn ngập bởi những đợt xung phong của Trung đoàn 803. Họ được cứu thoát nhờ sự phản kích của đại đội 2 tiểu đoàn Triều Tiên ở cây số 15 được gọi về, cấp xe đi tiếp viện. Khi quân địch ngừng đánh lúc 1 1 giờ 15 và lui vào rừng thì quân Pháp làm chủ trận địa, nhưng thắng lợi phải trả giá hàng trăm sinh mạng. Trung đoàn 1 Triều Tiên với quân số 834 người vào tháng 12 năm 1953 chỉ còn 452 vào tháng 5 năm 1954, riêng trận Đak Ya Ayun mất 59 người.

Ngày 28 tháng 6 đoàn quân đổ ra đồng nội rộng dần, thấy trân làng đây nó, cả những cánh đồng trồng trọt. Quân Pháp có cảm giác là đã an toàn. Plây Ku chỉ cách 30 ki-lô-mét.

Lúc 11 giờ 00 tiền vệ gồm hai đại đội của BM/43cRIC, làm quân của trung đoàn 1 Triều Tiên, cụm bơn pháo binh Việt Nam (GAVN) và một trung đội của phân đội 3/5 Cuir đến được địa điểm cách ba ki-lô-mét giao lộ 19 và 19 bis. Qua những dấu hiệu khác nhau như: chim chóc im lặng, cảnh vật tự nhiên, những đống đá rải trên đường cái… chắc hẳn sự phục kích, một lần nữa đang đợi quân Pháp.

Lần này quân Việt tung ra đơn vị anh em với Trung đoàn 803 là Trung đoàn 108 vừa mới được bổ sung một đơn vị tinh nhuệ, Tiểu đoàn 30 độc lập, vấn đề thắng bại cũng quan trọng như ngày 24 tháng 6 vì đánh tan hoàn toàn GM 42 thì quân Pháp không thể phòng thủ nổi vùng cao nguyên. Sự kiện ở Đak Ya Ayun đã nêu bài học. Ngay từ những tiếng súng đầu tiên quân của đoàn dã chiến và của trung đoàn 1 Triều Tiên đã triển khai vòng cung phòng ngự trên đường 19, trong khi đó thì những chiến xa bảo vệ đầu đoàn xe, còn các khẩu pháo của bốn GAVN thì bố trí ở giữa vòng cung. Đại tá Sockel cùng sở chỉ huy bố trí ở tung thâm “túi” và đại tá đích thân chỉ huy tác chiến.

Đoàn xe của GM 42 bị phá hủy bởi loạt bắn chết người khi xe còn ở bên ngoài trận địa phòng ngự. Trong tiếng ầm ầm kinh khủng của nhiều xe nhảy lên, một lần nữa, đã có bài học ở cây số 15, những lái xe Việt Nam chậm buông tay lái, mải miết theo đường cái nên hút vào những xe đang cháy tại chỗ vào lề đường và cán nát những người bị thương hoặc người chết. Lúc 12 giờ 8 phút đoàn xe ôtô đến được vùng an toàn, bỏ lại 10 xe cháy, 12 thương vong.

Lúc 12 giờ 15, bộ binh Việt xuất hiện từ các bụi rậm và tấn công. Lại một lần nữa những quân lính mệt lử của trung đoàn 1 Triều Tiên chịu đựng một quả đấm điếng người.

Mất tất cả trọng liên ngày 24 tháng 6, chứng kiến 20 đồng đội chết hoặc bị thương trong trận phục kích ở cầu Đak Va Ayun và vừa mới bổ sung đạn dược của vũ khí cá nhân, 50 lính của đại đội 1 không còn tí hy vọng gì thoát được Tuy vậy họ thực hiện nhiệm vụ đến cùng để giúp cho đại tá Sockel trong giây lát tổ chức phòng ngự. Lúc 12 giờ 35' đại đội 1 của tiểu đoàn 1 Triều Tiên không còn nguyên vẹn nữa, bị nghiền nát bởi làn sóng xung phong của địch tiến sâu vào trận đìa pháo Việt Nam. Pháo để thước ngắm số không, bắn các hướng để yểm trợ các đơn vị. Khí quân Cộng sản chiếm trận đỉa pháo, đại tá Sockel dùng ba trung đội của đại đội 2 trung đoàn 1 Triều Tiên lực lượng dự bị đang ở giữa “túi” đi cứu viện cho đồng đội. Lúc 13 giờ tiếng la ó “Triều Tiên” nổi lên từ đám cỏ cao, quân đại đội 2 chồm dậy và vượt qua đường 19 dưới hỏa lực để thọc sườn quân địch. Không giống cuộc tàn sát như ở cây số 15, lần này trong quân Pháp không có tân binh, không có đơn vị hậu cần ngờ nghệch, nên khỏi phí sức để chỉ huy. Còn pháo thủ Việt Nam (ngụy) thì có mặt tại khẩu đội và bắn trực tiếp loạt này đến loạt khác, hỏa lực tập trung, nên kiểm tra được hiệu quả bắn.

Từ Nha Trang, những máy bay đáng tin cậy B.26 có một lần, phát hiện quân Việt ở khoảng đất trống rất xa rừng nên các loạt đại liên và bom Napal tìm mục tiêu dễ dàng và thêm một lần nữa đối phương rời bỏ trận đánh để lại những xác bị thiêu do bom Napal (Na-pan) ném trúng.

- Trong mùi xăng khét lẹt mọi nơi, một trong những người thoát nạn của đại đội 1 nhận xét rằng cảm thấy rõ mùi heo quay.

Những đơn vị khác nhau của đoàn xe tập trung chậm chạp dọc đường 19, quân lính nhìn nhau ngạc nhiên thấy mình còn sống.

Tiểu đoàn 1 Triều Tiên lại một lần nữa, bị chạm trán khốc liệt, khoảng 60 phút chiến đấu, tiểu đoàn đã mất 42 người, hầu hết của đại đội 1, bị chết khi đối đầu với bộ phận chủ yếu của địch. Trong năm ngày đánh nhau trên đường 19, tiểu đoàn 1 Triều Tiên có quân số bị chết bằng hai năm ở chiến tranh Triều Tiên và không thể tham gia trận cuối cùng được.

Tuy nhiên sự đau khổ dai dẳng của quân lính GM 100 sắp kết thúc. Sau một đêm vô sự ở dã ngoại, chỗ giao lộ 19 và 19 bis cạnh cứ điểm Đak Đoa bị phá hủy, họ đến được Plây Ku ngày 30 tháng 6. Đại tá Masse, người chỉ huy mới của đơn vị, chờ thêm một vài phân đội để làm hạt nhân cho bộ tham mưu binh đoàn thành lập lại. Đây là lần đầu tiên sau một tuần và cũng là lần đầu tiên kể từ tháng chạp năm 1953, quân lính GM 100 mới được rảnh rang nhìn nhau. Cảnh tượng thật là khủng khiếp, râu ria xồm xoàm, áo quần rách nát, bị kiết lỵ nhiều tháng, ghẻ lở khắp người. Họ giống những người trốn trại tập trung hơn là binh lính của đơn vị chủ lực. Còn đơn vị thì cũng bị tổn thất kinh khủng: đại đội chỉ huy (CCS) chỉ còn lại 84 người/222, tiểu đoàn 1 và 2 Triều Tiên và tiểu đoàn dã chiến mỗi đơn vị có 834 người trước khi đánh nhau thì nay còn 452, 497 và 345. Cụm 2 của trung đoàn pháo binh thuộc địa bị diệt 215 người trong số 474, đơn vị này sau khỉ bị mất đại bác ở cây số 15 đã lập thành một đại đội bộ binh và chiến đấu tốt như những lính bộ binh trong ngày 26 và 28 tháng 6. Quân khí cũng thế, mất rất nhiều: 85 phần trăm xe, bao gồm một trung đội thiết giáp phải bỏ lại tất cả pháo; phương tiện thông tin mất 68 phần trăm; vũ khí tự động bộ binh, đại liên, bán tự động mất 50 phần trăm. Ngược lại, những người chạy thoát đem theo vũ khí cá nhân, họ được chỉ bảo rằng đánh nhau ở rừng, khi bị lẻ loi trong bụi bờ mà không có vũ khí là một người đã mất. Thỉnh thoảng trên đường cái thấy nhiều người mang hai vũ khí, của mình và của thương binh, để bắn trong trường hợp xâu xảy ra.

GM 100 đã trở nên vô dụng đối với một đơn vị cơ động, một mặt vì mất tất cả xe cộ, mặt khác vì quân lính kiệt quệ và mất tinh thần. Mặc dầu quân Pháp và Việt (ngụy) bị đe dọa tiêu diệt, nhưng họ vẫn đứng được đến bây giờ và sự phản ứng đã nổ ra.

Trong khi đó tình hình chung đã suy sụp nhiều, bộ chỉ huy phải giao việc chỉ huy phòng thủ quân khu Plây Ku cho lực lượng còn lại của GM 100. Tiềm lực phòng thủ quân khu này vừa bị giảm đi bởi sự chuyển ra Bắc Kỳ binh đoàn không vận 1 và chuyển tiểu đoàn sơn cước xuống duyên hải Trung Bộ.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:34:59 AM
Làm sống lại một thây ma.

Lúc này tổng hành dinh vùng (QG) tập trung một số quân cụ để tổ chức lại binh đoàn cơ động 100 với lực lượng trích từ các đơn vị khác, mượn ba xe Jeep của Plây Ku, ba ôtô của GM 42 và cụm pháo 10e RAC nhận ba đại bác 105 ly. Một phân đội nhỏ dược tăng cường cho trung đoàn Triều Tiên. Quân lính của GM ngủ, ăn và làm công sai như những cái máy, nhưng ý chí của họ đã kiệt quệ. Đối với họ cuộc chiến tranh đã kết thúc. Xa xăm bên kia, ở Giơ-ne-vơ các chính khách đang đặt dấu chấm ở những dòng cuối cùng của hiệp định ngừng bắn. Pierre Mendes-France, thủ tướng nội các, ngày 20 tháng 6 cam kết ngừng bắn trong thời hạn 30 ngày, vì thiếu cái gì đó nên nội các từ chức và chiến tranh tiếp tục.

Tuy nhiên bộ chỉ huy vùng cao nguyên tiến hành kết thúc chiến tranh bằng một chiến dịch tấn công cuối cùng đặt tên thơ mộng “Hoa Myosotis”. Mục đích là tiêu diệt chủ lực Việt Minh thâm nhập vào phía nam và đang kiểm soát thật sự đường 14 giữa Plây Ku và Buôn Ma Thuột. Khu vực giữa hai thị trấn ở núi Chu Đrek, là một dãy núi nhỏ rừng bao phủ, quân Việt có thêm tiềm lực qua nguồn tin của bộ tộc Ê-đê ở cao nguyên Đắc Lắc. Các đoàn xe kế tiếp lên Buôn Ma Thuột đến các điểm tựa phía bắc đều phải có sự hộ tống của pháo binh, thiết giáp và không quân, mỗi lần mở đường đều là một cuộc chiến đấu thật sự.

Sớm hay muộn, cuộc càn quét ở Chu Đrek sẽ không tránh khỏi, nhưng thật là không sáng suốt. Khi nên để nhiệm vụ đó về sau, thì lại thực hiện bằng những đơn vị vừa mới thoát khỏi nanh vuốt tử thần. Trung tá Soc Kel, chỉ huy GM sơn cước số 42, là người phải chỉ huy chiến dịch, chống lại tổng hành dinh vùng (QG) trên nhiều vấn đề và cuộc tranh cãi kéo dài đến rạng đông của ngày bắt đầu càn quét. Tổng hành dinh vùng không nhượng bộ. Những đơn vị còn lại của tiểu đoàn dã chiến, trung đoàn 43 đến với trung đoàn họ và tiểu đoàn 2 Triều Tiên được chỉ định đảm nhiệm phòng thủ Plây Ku, còn nhiệm vụ khai thông đường một lần nữa, lại giao cho tiểu đoàn 1 Triều Tiên dũng cảm, với quân số hiện có bằng hai đại đội rưỡi bộ binh. Sau bảy tháng chiến đấu với khí hậu khắc nghiệt chỉ huy và đứng đầu hầu hết các trung đội là các trung sĩ bình thường và một vài thượng sĩ. Người ta hoài nghi khi được biết tin là tiểu đoàn sẽ đột phá mở đường như thế đó.

- Mẹ kiếp? Họ muốn lột da chúng ta đến cùng! - Hạ sĩ Cadiergue thốt lên - con người được tuyên dương hai lần ở chiến trường Triều Tiên - Như thế chưa đủ sao?

Ngày 14 tháng 7, ngày Quốc khánh, ba tiểu đoàn sơn cước của GM 42, cụm bốn pháo binh Việt Nam (GAVN), Tiểu đoàn 1 Triều Tiên và một trung đội tăng cường, chí cốt của phân đội 3 trung đoàn 5 thiết giáp “Hoàng gia Ba Lan”, lên đường về phía nam dọc theo đường 14, mục tiêu đầu tiên của đoàn quân đến là đồn Ea H'leo, cách Plây Ku 85 ki-lô-mét, một điểm tựa sơ sài do đại đội sơn cước đóng, được tăng cường ba chục dân vệ địa phương. Từ đây đoàn quân phải đến núi Chu Đrek để cô lập và đánh tan địch với sự hỗ trợ của các đồn bốt địa phương và máy bay B.26. Chiều ngày 16 tháng 7 các đơn vị khác nhau đến Ea H'leo. Ngày “G” được quyết định là rạng đông ngày mai.

Lúc 14 giờ 30 phút tiểu đoàn 1 bính đoàn 42 sơn cước rời đồn trại, sau đó nửa giờ là tiểu đoàn 1 Triều Tiên. Hai đơn vị này gồm cựu binh đã chiến đấu ở đường 19 với tất cả các biện pháp được áp dụng để khỏi rơi vào cuộc phục kích bất ngờ. Đoàn quân tiến từng đoạn một dưới sự yểm trợ của pháo binh của bốn GAVN đến tận vị trí phòng ngự mới, còn pháo binh thì được chiến xa bảo vệ cũng tiến từng khẩu đội như cách trên. Đoàn quân đến làng Ban Ea Ten, bắc đèo Chu Đrek hai ki-lô-mét vào lúc tám giờ. Tại đây chả có dấu vết gì của địch.

Giai đoạn tiến quân này, thứ tự hành quân được thay đổi. Tiểu đoàn 1 Triều Tiên làm hậu vệ, dừng lại chốc lát với pháo binh cạnh làng Ban Ea Ten. Ba tiểu đoàn sơn cước bảo vệ đội hình trong quá trình tiến quân đoạn thứ hai, đoạn đường rất khó khăn qua đèo. Dần dần khung cảnh địa thế rộng ra, quanh đèo vách đứng cản trở tầm nhìn, vả lại có nhiều bụi bờ bên phải đường. Giữa Plây Ku và Buôn Ma Thuột, địch không thể chọn địa điểm nào tốt hơn để phục kích bất ngờ.

Trinh sát kỹ xung quanh, quân lính của tiểu đoàn 1, 5 và 18 sơn cước đến gần đội 'hình, tay lăm lăm cò súng, mắt cố phát hiện dấu hiệu sự có mặt của địch nhưng chẳng có gì khả nghi. Những xe thiết giáp và Half-Track chạy loanh quanh như chó bẹc-giê chầu giữ đàn súc vật.

Lúc 10 giờ 15 phút những bộ phận đi đầu nối dọc với đội hình phía sau không có gì trở ngại.

Lúc 10 giờ 30 phút cơ quan tham mưu của GM-42 rời Ban Ea Ten và 11 giờ 15 phút đơn vị hậu vệ - tiểu đoàn 1 Triều Trên cùng pháo bính được lệnh vận động. Năm phút sau có lệnh trái ngược, đồng thời có mật lệnh cho pháo binh bắt đầu bắn. Máy bay trinh sát báo có khả nghi ở phía nam và tây của đội hình. Lúc 11 giờ 15 phút, có lệnh ngừng bắn và pháo binh một lần nữa được lệnh móc pháo vào xe.

Giữa trưa, trung đội thiết giáp làm bốc một đám bụi lớn phía sau, nối được với pháo binh ở đoạn giữa Ban Ea Ten và chân đèo. Tiểu đoàn Triều Tiên thận trọng theo sau, thứ tự tiếp theo là đại đội 4, đại đội chỉ huy và đại đội 1.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:35:08 AM
Đòn tối hậu

Trận phục kích của quân Việt đã diễn ra ác liệt và được chuẩn bị chu đáo. Lúc 12 giờ 15 phút khi những bộ phận chủ yếu ra khỏi đội hình thì cối 81 và 60 ly, ĐKZ bắn.

Ngụy trang tài tình, toàn thể quân địch tấn công chính nhằm vào các xe không thiết giáp của đoàn xe như: Xe chở đại, xăng, xe Jeep. Phút chốc, cả tá xe bốc cháy như những ngọn đuốc, với những tiếng nổ đinh tai của các hòm đạn lẫn lộn với các thùng xăng lần lượt bị tung lên. Trong thế trống trải giữa đội hình, đại đội 4 của tiểu đoàn 1 Triều Tiên chỉ có chết mà thôi. Không có rãnh để núp, chẳng có cây con để ẩn. Súng tự động quân Việt bắn xuyên táo dọc đường, giống hoàn toàn như bắn bia ở trường bắn.

Việc tiêu diệt đại đội 4 giúp cho đại đội chỉ huy và đại đội 1 sự may mắn sống sót. Họ tạt vào bụi bờ bên phải đường chỗ chân đèo và tìm cách khai thông đường đến làng Ban Ea Ten, đem theo những thương binh, trong đó có Guinase, thiếu tá của tiểu đoàn và trung úy trẻ của đại đội 4.

Tiểu đoàn 1 Triều Tiên thấy giờ tận số đã đến. Những con người đã đánh bại quân Trung Quốc ở Triều Tiên tại Wonýu và Mont Chave, được sống sót trong cơn ác mộng An Khê và trong địa ngục ở cây số 15, đang ngã xuống, ba ngày trước khi kết thúc cuộc chiến tranh đã kéo dài tám năm.

Nhưng quân lính vẫn tiếp tục chiến đấu “theo điều lệnh”. Đại đội chỉ huy chiếm lĩnh vị trí ở chân đèo, bắn súng tự động để bảo vệ đại đội 1 rút lui đem theo tất cả thương binh thu nhặt được và cách yểm trợ nào cũng được áp dụng để bảo vệ đại đội chỉ huy rút lui, cứ như thế lập đi lập lại quá trình hành quân. Mỗi bước luân chuyển lại có thêm những người bị thương hoặc chết.

Ở đoạn cuối của đội hình, những tiểu đoàn của GM 42 được vô sự mặc dù địch phá hủy được 47 xe. Một lần nữa, máy bay B.26 bay đến sau tiếng gọi đầu tiên, nhưng thắng lợi của sự chi viện, tiếng rít của bom và tiếng ồn của các loạt đạn chỉ cản trở GM 42 báo cáo về sự hấp hối của tiểu đoàn 1 Triều Tiên; vì không những nó chết mà chết đơn độc tất cả các điện đài không hoạt động, không thể nghe được do rừng núi cản ngăn. Đến 13 giờ 35 phút chỉ huy trung đội thiết giáp, một trong những đồng minh trung thành của GM 100 mới báo cáo việc tiểu đoàn 1 không thoát ra được nơi mà pháo binh của GM 42 vừa vượt ra. Không do dự và không có bộ binh kèm theo, những xe thiết giáp và Half Track dũng cảm đã lao vào đội hình. Quân Việt không thèm bắn ba-dô-ka mà dùng bộ binh xung phong với hy vọng chiếm đại bác, nhất là điện đài quý giá. Trong vài phút bầy ong bộ binh mặc đồ đen nhảy xổ lên các xe thiết giáp và cuộc giáp chiến đẫm máu diễn ra, đặc biệt là ở thành xe Half Track mở trống.

Những kíp xe chiến đấu đến cùng, họ đẩy ra khỏi đường cái những xe do địch làm hỏng và làm câm họng vài khẩu đại liên địch - đang ghìm xuống đất tiểu đoàn 1 Triều Tiên, hành động này đã trả giá đắt, nhưng dù sao cũng cứu được những lực lượng còn lại của tiểu đoàn 1 Triều Tiên khỏi bị tiêu diệt. Lúc 14 giờ những người lính mặc đồ đen đột ngột ngừng tấn công biến mất vào rừng Chu Đrek.

Chừng mực nào đó tiểu đoàn 1 Triều Tiên đơn vị giương cao ngọn cờ Pháp trong đoàn quân Liên hiệp quốc ở Triều Tiên và là mũi nhọn của GM 100 không còn tồn tại nữa. Vài ngày sau đó người ta điểm danh những người thoát nạn, trong đó có trung sĩ Luttringer và hạ sĩ Cadiergue, Levet đến ngày 25 tháng 7 mới trở về, quân số còn lại chính xác là 44 người khỏe mạnh trong 834 người đầu chiến dịch, tiểu đoàn 1 Triều Tiên và GM 100 đã làm tròn nhiệm vụ đến cùng.

Quân Việt Minh đã tỏ thái độ nghĩa hiệp đối với tiểu đoàn 1 Triều Tiên. Ngày 19 tháng 7, người chỉ huy Quân đội nhân dân vùng Chu Đrek thông báo cho viên chỉ huy đồn Ea H'leo cho phép dùng xe y tế không mang theo vũ khí đến thu nhặt những thương binh trên đường, cách đồn 10 ki-lô-mét tại đây có 37 thương binh trong trận phục kích ngày 17 tháng 7. Dưới sự hướng dẫn của trung úy bác sĩ Patrouilleau cùng cha Pere Currien biết tiếng địa phương, đoàn xe rời Plây Ku độ vài giờ thì qua Ea H'leo, và mất hút trong bốn ngày. Toán 17 thương binh đi bộ về Plây Ku ngày 23 tháng 7 báo lại rằng nhân viên y tế bị quân Việt giữ lại ở bót gác tiền tiêu để đợi lệnh cấp trên. Họ được trở về Plây Ku với những thương binh ngày 23 tháng 7.

Lúc đó quân cố thủ đồn nhỏ Eo H'leo, nơi có quân thoát nạn của tiểu đoàn 1 Triều Tiên ẩn náu, đến lượt mình, bị kẻ địch bao vây. Đêm 19 rạng 20, hai mươi dân vệ miền núi đào ngũ mang theo vũ khí. Quân đồn trú gồm bảy cảnh sát Pháp, hai mươi dân vệ miền núi ít nhiều đáng ngờ về sự trung thành, vài quân nhân thoát nạn của tiểu đoàn 1 rất dao động vì những trận đánh ngày 17 làm tăng thêm quân số của vị trí này. Đồn trương quyết định chiều 20 tháng 7, ngày ký đình chiến ở Giơ-ne-vơ sẽ đưa quân ra các cao điểm để băng rừng đến một địa điểm ở bắc Buôn Ma Thuột, thay vì rút về Plây Ku nơi mà quân Việt phục kích sẵn dọc đường 14.

Ngày 24 đoàn quân đến Buôn Ma Thuột kiệt sức, nhưng bình yên và sự.

Đối với lực lượng Pháp ở miền nam cao nguyên, tình hình quân sự trong tháng, sau tuyên bố ngừng bắn, thật là thất vọng. Nhân việc liên lạc giữa các đơn vị bấp. bênh, thiếu đảm bảo (có phần nào đúng), quân Việt Minh tiếp tục tấn công và quân của các binh đoàn cơ động ở cao nguyên mặc dầu mệt mỏi và đình chiến đã ký vẫn phải tiếp tục chiến đấu. Lực lượng GM-100 phòng thủ Plây Ku bị tấn công ngày 27  tháng 7.

Ngừng bắn hoàn toàn kết thúc vào ngày 1 tháng 8 năm 1954 và 13 ngày sau lực lượng GM 100 còn lại: nửa tiểu đoàn 2 Triều Tiên, một ít quân sống sót của tiểu đoàn 1 Triều Tiên, khẩu đội cuối cùng của 2/10 RAC và đại đội chỉ huy bắt đầu hành quân vào Sài Gòn và Vũng Tàu.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:35:21 AM
Quyết định xóa sổ GM ở Việt Nam không phải ở Triều Tiên.

Ngày 1 tháng 9 năm 1954 bộ chỉ huy tối cao Pháp ở Đông Dương ra lệnh giải thể binh đoàn cơ động 100.

Như vậy đã mất đi một đơn vị, có nguồn gốc, có thể là một trong số đơn vị chiến đấu xuất sắc ở Đông Dương, gồm một phần ba quân lính còn sống sót hai năm ở Triều Tiên vẫn còn hăng hái, vì đa số là quân tình nguyện, được lựa chọn kỹ lưỡng và là những quân nhân nhà nghề. Rất đáng tin cậy trong binh đoàn GM 100 có tiểu đoàn ưu tú hỗn hợp là tiểu đoàn dã chiến của TĐBB-TĐ43 không làm phương hại tinh thần chung mà còn ngược lại nữa, chắc là việc bổ sung những thành phần bộ binh Nam Kỳ trong lúc bộ chỉ huy tách đôi tiểu đoàn 1 Triều Tiên gửi lên vài lo sợ, nhưng bị lãng quên ngay ở các chiến dịch tiếp theo. Trong thời kỳ sụp đổ to lớn của GM 100 và những đơn vỉ phối thuộc đã kéo theo sự rạn nứt tỉnh thần từ quân Việt Nam (ngụy) ở đồng bằng hoàn thành nhiệm vụ lừng lẫy tiếng tăm.

Nhắc lại rằng vùng cao nguyên là một vùng xa lạ thù địch đối với quân Nam Kỳ và bị ngăn cách lâu dài. Sáu tháng xa gia đình để bị phơi bày trước những cuộc tiến công của quân Việt Minh, tất nhiên sẽ đóng góp vào việc mất tinh thần của họ Nhưng sự bỏ ngũ của quân lính Nam Kỳ với số lượng khá lớn, chỉ nảy sinh sau đình chiến, khi những người lính bắt đầu đau khổ vì nỗi bất hạnh của xứ sở và những trận đánh ở cao nguyên không còn nghĩa lý gì nữa dưới mắt họ.

Một điều bất lợi khác về tâm lý không thể xem nhẹ: quân lính đã quen nếp ở Triều Tiên, trên phương diện rộng, trong cuộc chiến tranh được đáp ứng những phương tiện hậu cần một cách đầy đủ và xa hoa, mà những người chiến đấu ở Đông Dương chưa hề biết đến.

Trên chiến trường của GM 100 tham gia, có một việc trở nên khôi hài: một tiểu đoàn Triều Tiên có 20 thương binh yêu cầu trực thăng di tản, viên chỉ huy quân khu đến tận mi-crô và gầm lên:

- Trời ơi! Không phải chúng ta đang ở Triều Tiên. Các anh không thể cáng thương binh của mình như mọi người ư?

Đến tháng 4 năm 1954 số máy bay trực thăng dùng ở Đông Dương thường là dưới 10 chiếc, còn ở Triều Tiên trực thăng tha hồ dùng như dùng xe Jeep năm 1942-1945. Sự chi viện của không quân, pháo binh cũng thế, rất dồi dào Ở Triều Tiên, còn ở Đông Dương thì ít khi đủ và thường chậm. Hơn nữa, trừ giai đoạn ngắn của chiến dịch từ Ichon đến Yalu, chiến tranh Triều Tiên thuộc loại cổ điển, có chiến tuyến giới hạn giữa hai biên trường, được tổ chức có chiều sâu.

Phải nói thêm rằng chiến tuyến ở Triều Tiên chỉ có 280 ki-lô-mét chiều dài và mỗi đơn vị phụ trách một đoạn ngắn có ranh giới rõ ràng, còn binh đoàn GM 100 thường phải di chuyển từ 20-30 ki-lô-mét hàng ngày trong sáu tháng của quá trình chiến dịch, GM 100 lòng vòng trên 3.000 kỉ-lô-mét và thường chạm trán với địch.

Cuối cùng vì cơ giới hóa nên GM 100 buộc phải đi đường cái hiện có và không thể nào đi ngoài trục này được, tạo cho địch lợi thế lớn lao để kiểm soát hậu phương. Còn Trung đoàn 803 sau tấn công quyết liệt GM-100 ngày 14 tháng 3 trên quốc lộ 19 đã bám trụ lại sáu ngày sau đó ở Plây Ring với chiến công lừng lẫy.

Trong sáu ngày đi bộ hơn 80 ki-lô-mét xuyên qua rừng núi, quân địch đã đánh bại một cách dễ dàng tốc độ của binh đoàn cơ động vượt qua 150 ki-lô-mét phải đi mất bảy ngày.

Thiên nhiên của rừng núi vùng nam Đông Dương là thế, nên việc tăng cường những phương tiện khí cụ hiện đại như máy bay lên thẳng với chiến thuật “Bao vây thẳng đứng” chẳng những đơn vị du kích đã không làm thay đổi chút nào tình thế chung. Vì ít có trảng bằng đủ điều kiện để nhiều trực thăng lớn cùng một lúc hạ cánh. Việc hạ cánh từng chiếc hoặc tốp nhỏ chỉ dẫn đến sự mất mát chiếc này đến chiếc khác.

Hơn nữa bình diện vùng rừng núi lại cần xây dựng cơ sở hạ tầng với những sân bay trực thăng cùng với những đồn bót phòng thủ, có thể tạo nên những mục tiêu hấp dẫn thường xuyên đối với địch. Việc bất động của những lực lượng đó sẽ làm giảm bớt khá nhiều quân số cần dùng cho cuộc chiến tranh chống du kích.

… Một đại tá Anh đã nói vấn đề đó khi trung đoàn bị tiêu diệt ở Ma-lai-xi-a bởi quân Nhật:

“Chiến tranh rừng núi đòi hỏi sự khôn khéo hơn bất kỳ loại chiến tranh nào khác…

… Chiến tranh rừng núi là một cuộc chiến tranh chuyên viên, được huấn luyện đặc biệt cao hơn mà yếu tố con người và chiến thuật nhỏ của bộ binh là những yếu tố ưu thế”.

… GM 100 không còn nữa nhưng tinh thần của nó tiếp tục sống trong lòng của tiểu đoàn Triều Tiên, giống như phượng hoàng sống lại từ đám tro, được thành lập lại không có thành phần người Việt (ngụy) và trở thành một tiểu đoàn “cỡ bự” theo kiểu lê dương hải ngoại. Biểu tượng được gắn với đơn vị này là: tiểu đoàn vẫn là người bảo vệ truyền thống quân tình nguyện Pháp ở Triều Tiên.

Ngày 17 tháng 7 năm 1955 ngày giáp năm của trận đánh ở Chu Đrek, tiểu đoàn Triều Tiên rời Đông Dương tới An-giê-ri…

Một lần nữa những tên Đac To, Kon Brai, Kon Tum và Đak Đoa đã được nêu lên trên báo chí Sài Gòn bên cạnh danh sách những người Việt Nam đã chết và còn chờ một ngày mà tên tuổi những người Anglo - Xắc Xông (ám chỉ Mỹ) sẽ được ghi nối tiếp…

… Ngày 2 tháng 7 năm 1964 một đoàn xe đạn dược của quân Việt Nam (ngụy) được một trực thăng trinh sát Mỹ hộ tống đi từ Quảng Ngãi qua An Khê, để đến Plây Ku lúc 11 giờ 15 phút đoàn xe tiến vào thung lũng nhỏ trước lúc đến đèo Mang yang, xe đi đầu trúng mìn nhảy tung lên. Trong mươi phút những làn sóng của bộ binh Cộng sản tràn ngập đội hình xe ôm. Chỉ có những máy bay lên thẳng chiến đấu đến nhanh mới cứu được những người sống sót cuối cùng của đoàn xe bị tiến công, nhưng một phần khá lớn các kiện hàng trong đoàn xe đã rơi vào tay địch…


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng Đắc Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 31 Tháng Mười, 2010, 09:39:47 AM
LỜI BẠT CỦA NGƯỜI THAM GIA TRẬN ĐÁNH

Thượng tướng Nguyễn Minh Châu.

Đối với người lính, nhất là người chiến thắng, rất thú vị được nhìn từ hai phía, trận đánh mà mình đã cùng đồng đội lập công lớn. Càng thú vị hơn nhiều khi một trận đánh diễn ra khá lâu, nay được thấy tái hiện trong một bài tường thuật khá tường tận với cái nhìn ít nhiều khách quan có thể giúp cho những nhà viết sử ghi chép lại một sự kiện rất có ý nghĩa vào thời điểm cuối cuộc chiến tranh của Pháp, đang bắt đầu cuộc chiến tranh của Mỹ. Một đơn vị thuộc loại sừng sỏ nhất của Pháp mà nòng cốt xây dựng đơn vị này đã từng chiến đấu ở Triều Tiên trong đội hình của một sư đoàn Mỹ, được trang bị và cơ giới hóa đến độ cao nhất so với các đơn vị bạn của nó, đã bị tiêu diệt và vĩnh viễn xóa sổ. Điều ấy có thể báo hiệu một cách có sức thuyết phục về số phận của cuộc chiến tranh tiếp theo trên bán đảo Đông Dương.

Điều hiển nhiên là cuộc chiến tranh do Nhà Trắng chỉ huy đã thất bại. Nhưng nguyên nhân thất bại thì không phải dễ dàng thống nhất. Lửa và máu trên chiến trường đã chấm dứt từ lâu. Nhưng về mặt nghiên cứu lích sử, việc khai thác về sự thật không bao giờ chấm dứt. Đối với chúng ta việc phát huy truyền thống luôn luôn đòi hỏi sự nhớ lại và suy nghĩ để làm giàu thêm kho tàng chiến công với tất cả ý nghĩa và tầm vóc của nó,. để lưu lại cho các thế hệ mai sau.

Là những người đã cầm súng chiến đấu trong những điều kiện khó khăn gian khổ hàng chục năm trường, chúng ta không bao giờ xem thường người lính nhà nghề của Pháp đã từng được đào tạo trong những trường chính quy. Nhưng chúng ta có sự phân biệt rõ những người lính ở tập đoàn quân thứ 5 của tướng De Lat-tre Tassigny đã cùng quân Đồng Minh chiến thắng quân Đức phát xít, hay những đơn vị thiết giáp của tướng Leclerc đã đè bẹp những đơn vị chiến xa của tướng Rommel ở Bắc Phi. Đó là khi họ chiến đấu theo lời kêu gọi của nước Pháp. Nhưng họ đã bị đánh bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ở đây hình ảnh của đại tá Barrou đã được dựng lên và tô vẽ một cách sai sự thật. Có thể ông ta đã được nhiều Bắc đẩu bội tinh ở Triều Tiên hay ở một nơi nào đó. Nhưng trong trận đánh trên đường 19, trong đoàn quân rút chạy bị phục kích, sở chỉ huy của ông bị trận mưa đạn pháo của Trung đoàn 96, dội xuống làm tê liệt. Người chỉ huy binh đoàn đã bị thương và bị bắt ngay từ ngày đầu. Làm gì có chuyện đại tá cùng những người trong đại đội chỉ huy của ông ta, cầm tiểu liên phản kích lại những người xung phong. Càng không có chuyện ông ta lết đi gắn huân chương cho đồng đội đã chết hay bị thương, hủy hoại hết giấy tờ quan trọng, Ông ta đã bị thẩm vấn ngay tại địa đoạn phục kích.

Bài tường thuật khá hay có nhiều hình ảnh của B. Fall vẫn còn sót lại “Những hạt sạn” của một cách nhìn thiên kiến. Trong khi B. Fall nhiều lần ca ngợi tinh thần nhân đạo thượng võ của những người lính của Trung đoàn 108 và 803. Ông ta lại đả kích vào những ủy viên chính trị quân đội ta, vu khống họ có thái độ hẹp hòi thiển cận với tù binh bị thương. Đó chính là những người đã lãnh đạo và giáo dục chiến sĩ của mình thể hiện một trong những phẩm chất tốt đẹp của người quân nhân chiến đấu có lý tưởng, có mục đích chính trị. Tác giả đã tự mâu thuẫn với mình!

Tất nhiên mỗi một người có những nhận định khác nhau trước những sự kiện, trước thực tế khách quan. Người đứng bên này hay bên kia có những hạn chế nhất định trong tầm nhìn và cách nhìn. Nhưng như nhà chiến lược thiên tài của Trung Quốc cổ đại đã nói. “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng”, B. Fall đã nói đúng, với những phương tiện tối tân, nhưng binh đoàn cơ động 100 không thể di chuyển nhanh hơn Trung đoàn 803 chỉ hành quân bằng đôi chân. Trong những cuộc hành quân tìm kiếm đối phương, quân Pháp thường chỉ phát hiện ra những lán trại bỏ không mà không biết họ ở đâu. Tuy thế khi quân Pháp dừng lại hay trú quân dã ngoại thì lập tức nó bị tiến công ngay như ở Plây RING hay ở đèo Chư Đrek. Trong cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích, sự cơ động của lực lượng được tiến hành bằng những phương tiện thích hợp với mọi địa hình, địa vật. Sự cơ động đó phát huy được nhiều tác dụng khi chúng ta chủ động chọn ra trận địa tốt nhất, tạo ra yếu tố bất ngờ, tạo cả thế và lực để đánh địch vào thời điểm tốt nhất. Đến nỗi bộ chỉ huy Pháp thừa biết các đơn vị Việt Minh đang ở ven đường số 19, nhưng họ không biết rõ cự ly, dự đoán sai khả năng xuất phát của ta. Còn ta thì đã dự kiến cuộc rút lui tất yếu của họ, nắm được cả ngày giờ, đếm được từng khối hành quân, từng chiếc xe cơ giới. Nên ta đã đánh rất trúng, tập trung vào đội hình của địch. Trước hết là làm vô hiệu sở chỉ huy của Barrou, đập nát mọi phương tiện liên lạc của nó với bộ chỉ huy ở Plây Ku, với các đơn vị đi sau và cả với máy bay. Dù đã có được những tài liệu mật quý giá, B. Fall cũng không thể phát hiện ra được đơn vị tiến công vào GM 100 là một trung đoàn mới được thành lập ngay trên tuyến của đường 19, chứ không phải là Trung đoàn 803 đối thủ đáng sợ. Chắc cho đến lúc kết thúc chiến tranh Đông Dương, bộ chỉ huy quân đội Pháp cũng không hiểu được rằng đơn vị tiêu diệt GM 100 chỉ có hai tiểu đoàn thiếu một đại đội và hai đại đội trợ chiến mà diệt sáu tiểu đoàn của họ! Làm sao Pháp thắng được một kẻ địch mà mình không thấy rõ, trong khi kẻ địch thấy rất rõ mình?

Ngay về phía quân Pháp, B. Fall cũng chỉ mới phát hiện nguyên nhân thất bại của họ là chưa có phương pháp và tổ chức thích hợp, là vẫn dựng chiến tranh cổ điển chống lại chiến tranh du kích không có trận tuyến. Đứng trên quan điểm vũ khí luận đơn thuần, quân sự đơn thuần, nhà báo Pháp nổi tiếng cũng chỉ thấy được là những binh đoàn xe pháo nặng nề không thích hợp với cuộc chiến tranh ở vùng rừng núi nhiệt đới để chống lại quân du kích rất năng động. Vì vậy các lôgic của vấn đề là để chống lại cuộc chiến tranh đặc biệt phải có lực lượng đặc biệt. Pháp đã tổ chức những đơn vị sơn chiến, những đơn vị Com-măng-đô. Pháp đã thua. Người Mỹ cũng tổ chức lực lượng đặc biệt để chống lại những người Việt cộng, Mỹ cũng vẫn thua. Cuối cùng phải đưa quân đội viễn chinh với những sư đoàn cồng kềnh vẫn không làm gì được phải cuốn gói, để cho quân ngụy tay sai ở lại bị đánh tơi bời chịu thất bại hoàn toàn.

Họ không thể không thừa nhận sự thất bại đã hiển nhiên, nhưng không hiểu được hay không thể hiểu được nguyên nhân của sự thất bại trước lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Đó là sức mạnh của chiến tranh nhân dân, sức mạnh của đất nước, của toàn dân được huy động với những chính sách đúng đắn. Đó là đường lối quân sự, chiến lược chiến thuật của chiến tranh nhân dân phát triển từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn kết hợp mọi hình thức... Tuy vượt xa hơn các bạn đồng nghiệp phương tây của mình, thấy rõ được tác dụng của chiến tranh du kích. Nhưng bao giờ thì B. Fall mới hiểu được cái yếu tố quyết định các yếu tố nói trên, bao trùm lên hết, đó là sự lãnh đạo của một Đảng chân chính: Đảng Cộng sản Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 09:08:05 AM
http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/56/57/57/118470/Default.aspx

Huyền thoại Đắk-pơ (bài 1)


LTS: Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trên địa bàn Bắc Tây Nguyên diễn ra một trận đánh được thực hiện bởi Trung đoàn 96 Liên khu 5, đó là trận Đắk-pơ. Nếu không có chiến thắng Đắk-pơ, hội nghị Giơ-ne-vơ còn giậm chân tại chỗ, cuộc kháng chiến chống Pháp chưa thể dứt điểm, quân và dân ta còn phải hy sinh nhiều xương máu. Chiến thắng Đắk-pơ có quy mô, tầm vóc lịch sử, ý nghĩa chiến lược quan trọng nhưng bao năm qua ít được nói đến. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã lần tìm những nhân chứng với hy vọng làm sống lại chiến thắng oai hùng, lừng lẫy một thời.

Bài 1: “Điệu hổ ly sơn”

Từ cuốn sổ nhỏ và chiếc bình tông

Hà Nội giữa những ngày hè nắng nóng cao điểm, trong căn hộ khiêm nhường nhưng gọn gàng, ngăn nắp ở ngõ 186, Ngọc Hà, Ba Đình, tôi đã gặp được cựu chiến binh Trương Quang Quyền sau nhiều lần lỡ hẹn. Minh mẫn, khỏe mạnh, nhanh nhẹn vẫn điều khiển xe gắn máy, đạp xe hoặc lên tàu Bắc - Nam đi thăm bạn bè, đồng đội ít ai nghĩ rằng người cựu chiến binh này đã bước sang tuổi 82. Ông rời quê hương Đức Chánh, Mộ Đức, Quảng Ngãi tham gia hoạt động cách mạng từ tháng 3-1945 vào hoạt động bí mật tại Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Toàn quốc kháng chiến, ông gia nhập quân đội thuộc Tiểu đoàn Cảm tử quân Liên khu 5 và liên tục gắn bó với vùng đất Tây Nguyên lịch sử cho đến ngày kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp...

(http://202.151.160.172/Upload//hoangha/2010/7/19/190710hha11.jpg)
Trang đầu của cuốn sổ mà cựu chiến binh Trương Quang Quyền đang lưu giữ.  Ảnh: Kim Thanh.

Ông khẽ khàng mở tủ kính lấy ra tập giấy tờ dày cộp rồi lần lượt bày ra trước mặt tôi các tài liệu và cả những kỷ vật trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Những cử chỉ, động tác của ông như mách bảo tôi rằng, con người này rất trân trọng quá khứ.

Trong số những tài liệu, kỷ vật mà ông Quyền còn lưu giữ tôi đặc biệt chú ý tới cuốn sổ nhỏ in bằng tiếng Pháp đã ố màu thời gian và chiếc bình tông nham nhở những vết trầy xước do va đập. Theo lời kể của ông, năm 1954 ông là chính trị viên phó thuộc Tiểu đoàn 40, Trung đoàn 96 – đơn vị chủ công làm nên chiến thắng Đắk-pơ. Cuốn sổ và chiếc bình tông này quân Pháp đã làm rơi khi tháo chạy trong trận chiến ấy, ông thu được và lưu giữ trong suốt 56 năm qua.

Khi nhắc đến chiến công ngày ấy nét mặt bỗng trở nên đăm chiêu, giọng bùi ngùi, ông Quyền nói:

- Anh em Cựu chiến binh Trung đoàn 96 rất buồn. Chẳng hiểu vì lý do gì mà Đắk-pơ, chiến thắng lớn nhất trên chiến trường Tây Nguyên trong thời kỳ chống Pháp lại bị rơi vào quên lãng. Anh em Ban liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 96 nghĩ, để làm sống lại Đắk-pơ huyền thoại trước tiên phải nhờ đến Báo Quân đội nhân dân.

Nghe ông nói tôi bỗng thấy mình cũng có lỗi trong chuyện này. Tôi đề xuất với ông nên trao hai kỷ vật kháng chiến cho bảo tàng, biết đâu trong số các cựu chiến binh Pháp trở lại Việt Nam có chủ nhân của cuốn sổ và chiếc bình tông ấy. Ông Quyền cho biết: "Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam đã liên hệ với tôi muốn xin hai kỷ vật này nhưng tôi chưa đồng ý".  Hỏi ra mới hay, người cựu chiến binh này vẫn hy vọng một ngày nào đó có một khuôn viên bảo tàng ngay tại Đắk-pơ và ông sẽ trao hai kỷ vật này cho chính bảo tàng đó.

 Từng trang tài liệu cứ lần lượt được ông Trương Quang Quyền mở ra và quá khứ cứ theo nhau hiện về. Nhìn bàn tay run rẩy và lời kể bồi hồi của người cựu chiến binh già tôi hiểu rằng trong con người này cảm xúc, niềm tự hào đã góp phần làm nên chiến thắng Đắk-pơ huyền thoại đang dâng trào.

Hành quân lên Tây Nguyên

Ông Quyền nói: "Muốn hiểu về Đắk-pơ trước hết phải hiểu về tình hình lúc bấy giờ” và ông bắt đầu câu chuyện. Cục diện chiến trường Liên khu 5 khi ấy phát triển mau lẹ theo chiều hướng có lợi cho ta nhờ sự tác động của những thắng lợi liên tiếp trên khắp cả nước. Nhiều vùng ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa… trước đây bị địch chiếm đóng trở thành vùng du kích. Ở Tây Nguyên, các căn cứ của du kích và bộ đội chủ lực Liên khu 5 ngày càng được mở rộng. Để đưa cách mạng phát triển lên giai đoạn mới, Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp và quyết định đẩy mạnh các hoạt động quân sự, chính trị thành cao trào.

Trước nguy cơ ngày càng lún sâu vào bị động, nhằm gỡ thể diện, Pháp đã cử Na-va – viên đại tướng nổi tiếng sang Đông Dương làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh. Vừa đặt chân đến vùng đất “nóng” này Na-va đã cho ra đời kế hoạch mang chính tên ông ta – kế hoạch Na-va. Bước vào giai đoạn cuối của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, thực hiện kế hoạch Na-va, trên địa bàn Liên khu 5, thực dân Pháp mở Chiến dịch Át-lăng, hòng tìm mọi cách, tập trung một lực lượng cơ động lớn đánh chiến toàn bộ vùng tự do. Chúng chia Chiến dịch Át-lăng ra làm ba bước. Bước một chúng tập trung khoảng 25 tiểu đoàn đánh chiến thị xã Tuy Hòa và toàn tỉnh Phú Yên trên ba hướng từ đường biển đổ bộ đánh vào, từ Khánh Hòa đánh ra và từ Đắc Lắc đánh xuống. Bước hai chúng đánh chiếm Quy Nhơn và toàn tỉnh Bình Định cũng theo ba hướng từ Phú Yên đánh ra, từ An Khê đánh xuống và đổ bộ đường biển đánh vào. Bước thứ ba được chúng xem là bước quyết định nhất, đánh chiếm thị xã Quảng Ngãi - thủ đô kháng chiến của Liên khu 5 bằng bốn mũi từ Bình Định đánh ra, Quảng Nam đánh vào, Kon Tum đánh xuống và từ biển đổ bộ đánh vào.

Mưu toan là thế nhưng thực hiện đâu có dễ. Ý đồ và tham vọng của địch sớm bị ta phát hiện. Sau nhiều cuộc họp bàn ở các cấp, quân và dân Liên khu 5 xác định quyết tâm đánh địch, bảo vệ vùng tự do. Nhưng chặn đánh chúng như thế nào trong điều kiện ta còn nhiều khó khăn, đặc biệt là VKTB còn thiếu thốn, thô sơ, đây là việc phải tính toán rất thận trọng, kỹ lưỡng…
Về chuyện này ông Quyền cho tôi số địa chỉ để liên hệ với cựu chiến binh Nguyễn Tự, nguyên là cán bộ tác chiến thuộc Tiểu đoàn 40, Trung đoàn 96 trong trận Đắk-pơ, hiện là Trưởng ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 96.  Cựu chiến binh Nguyễn Tự kể: Có nhiều phương án được đưa ra nhưng nổi lên có hai phương án chính. Thứ nhất là tung lực lượng chủ lực xuống các tỉnh đồng bằng vừa làm nòng cốt vừa phối hợp với lực lượng tại chỗ để chặn địch, bảo vệ vùng tự do. Thứ hai là giao nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do cho lực lượng tại chỗ của các địa phương, còn lực lượng chủ lực của Liên khu thì tấn công lên Tây Nguyên, đánh thẳng vào khu vực bàn đạp để buộc địch phải quay về giữ vùng chiến lược này…

(http://202.151.160.172/Upload//hoangha/2010/7/19/190710hha12.jpg)
Cựu chiến binh Trương Quang Quyền bên những kỷ vật thu được trong trận Đắk-pơ.

Phân tích kỹ tình hình, ta thấy nếu thực hiện phương án hai thì vừa bảo vệ được vùng tự do, vừa mở rộng được vùng du kích, vùng giải phóng mà vẫn tiêu hao, tiêu diệt được sinh lực địch. Do đó quân và dân Liên khu 5 thống nhất chọn phương án thứ hai. Mọi công tác chuẩn bị chiến trường, phát triển lực lượng được triển khai rất nhanh. Lực lượng tại chỗ sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do, lực lượng chủ lực mở chiến dịch hành quân lên Tây Nguyên diệt giặc.

Trung đoàn 96 được tái lập

Thực hiện bước một của Chiến dịch Át-lăng, ngày 20-1-1954, quân Pháp sử dụng 4 binh đoàn cơ động (binh đoàn số 10, 100, 41 và 42) gồm 25 tiểu đoàn đánh lên Phú Yên. Lực lượng nòng cốt trực tiếp nhất trong cuộc hành binh này là Binh đoàn cơ động 100.

Mở màn chiến dịch, Trung đoàn 108 – chủ lực của Liên khu 5 được giao nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Mang Đen – xương sống trong cụm phòng thủ phía Đông, tỉnh Kon Tum của Pháp. Đây là một cứ điểm được xây dựng hết sức kiên cố, VKTB hiện đại... Chẳng thế mà bọn địch ở đây thường huênh hoang rằng “Nước sông Re chảy ngược Mang Đen mới bị mất”.

Đêm 27-1-1954, sau khi hỏa lực chế áp, các mũi quân ta tiến vào mở cửa đột phá. Quân địch dựa vào boong ke chống trả quyết liệt, tình hình trở nên gay go. Vào thời khắc ấy, Tiểu đoàn 79 (Trung đoàn 108) đưa ra phương án tổ chức lực lượng tập kích đánh cả vào sau lưng địch. Sau khi cân nhắc, phương án của Tiểu đoàn 79 được phê duyệt. Bất ngờ bị đánh cả trước mặt và sau lưng nên quân địch ở Mang Đen không kịp trở tay... Chiến thắng Mang Đen tạo ra một phản ứng dây chuyền, bộ đội chủ lực và lực lượng tại chỗ của các địa phương lần lượt tấn công tiêu diệt thêm nhiều cứ điểm phá tung hệ thống phòng ngự của địch ở Bắc Tây Nguyên, khiến cho Chiến dịch Át-lăng bị sa lầy.

Theo thông tin mà ta nắm được thì Binh đoàn cơ động 100 (GM-groupement mobile) do tên Đại tá Ba-ru (Barrou) chỉ huy, với lực lượng rất mạnh vừa được địch kéo từ Triều Tiên sang, nó đã từng đụng đầu với liên quân Trung – Triều nhưng chẳng hề hấn gì. Biết rõ ý đồ của địch, sau khi giao lại nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do cho lực lượng địa phương, toàn bộ quân chủ lực của ta được dồn lên đánh địch trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên.

Tình hình chiến trường phát triển hết sức nhanh chóng. Để đáp ứng kịp yêu cầu, ngày 1 tháng 5 năm 1954, Trung đoàn 96 - chủ lực Liên khu 5 được tái lập ngay trên tuyến lửa với 3 tiểu đoàn gồm: Tiểu đoàn 30, 40, 79 và 2 đại đội hỏa lực... Nói là tái lập bởi theo cựu chiến binh Nguyễn Tự, Trung đoàn 96 được thành lập từ những ngày đầu chống Pháp ở Đà Nẵng nằm trong biên chế của Đại đoàn 31. Qua nhiều lần tổ chức biên chế lại, Trung đoàn 96 đã không còn.

Đồng chí Nguyễn Minh Châu được trên “chọn mặt gửi vàng” giao làm Trung đoàn trưởng (trước đó đồng chí Nguyễn Minh Châu là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 108). Đồng chí Nguyễn Hữu Thành làm Chính ủy. Trung đoàn 96 khẩn trương củng cố biên chế, tổ chức huấn luyện. Cựu chiến binh Nguyễn Tự nhớ lại: Trung đoàn lớn nhanh như Phù Đổng, chỉ sau chưa đầy 2 tháng đã đủ sức bước vào một trận đánh lớn. Khi tái lập Trung đoàn 96, Tiểu đoàn 30 vẫn đang làm nhiệm vụ đánh địch đổ bộ ở Quy Nhơn, còn Tiểu đoàn 40 và Tiểu đoàn 79 cùng toàn đơn vị cấp tốc hành quân làm nhiệm vụ phối hợp với Trung đoàn 108 tiếp tục cắt đứt quốc lộ 19. Thực hiện kế “Điệu hổ ly sơn” quân ta khống chế không cho địch từ Plei-cu tiếp tế xuống An Khê, tạo thế bao vây buộc quân địch phải rút ra khỏi An Khê. Đồng thời xây dựng kế hoạch tiêu diệt địch khi chúng rút chạy theo đường 19 về Plei-cu.

Kế “Điệu hổ ly sơn” này của quân ta đã phát huy hiệu quả rất rõ rệt. Do không được tiếp tế, chi viện kịp thời lại bị quân và dân Liên khu 5 quần cho "ăn không ngon, ngủ không yên" nên vào trung tuần tháng 6 năm 1954, tình hình quân Pháp ở An Khê hết sức nguy khốn. Bộ tư lệnh Mặt trận nhận định: Địch sẽ rút khỏi An Khê. Nhiệm vụ tiêu diệt quân địch rút chạy trên đường 19 được giao cho Trung đoàn 96.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 09:09:10 AM
Bài 2: Trận chiến không cân sức

“Đánh theo quyết tâm của người chỉ huy”

Sau khi nhận nhiệm vụ, đêm 17-6-1954, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 dẫn đoàn cán bộ đi khảo sát thực địa. Quyết chiến điểm được xác định tại Đắk-pơ trên quốc lộ 19 phía tây An Khê 15km, vì đây là đoạn có cầu Đắk-pơ, đường quanh co, khúc khuỷu, phía bắc là những núi đất, đá đan xen với những vách đứng ta luy cao 3-5m; phía nam là những hố sâu kéo dài đến tận thung lũng Song Ba… Tiểu đoàn 79 có nhiệm vụ phục kích trên hướng chủ yếu diệt địch từ cầu Đắk-pơ lùi về phía đông khoảng 800m. Tiểu đoàn 40 có nhiệm vụ chặn đầu, tiêu diệt địch từ cầu Đắk-pơ đến đỉnh dốc Đắk-pơ khoảng 400m.

Tính toán chính xác thời gian trừ hao để hạ lệnh xuất kích là một chi tiết rất quan trọng trong đánh vận động phục kích. Cựu chiến binh Nguyễn Tự giải thích: Nếu xuất kích sớm hơn, trên mặt đường chưa có địch, xung kích của ta sẽ dính phi pháo dọn đường, thương vong nhiều trước khi nổ súng; Ngược lại nếu xuất kích chậm hơn, một bộ phận quân địch sẽ vượt qua vị trí chặn đầu, ta nổ súng chúng sẽ quay lại đánh tạt sườn đơn vị chặn đầu khó hoàn thành nhiệm vụ. Vì thế, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 hết sức quan tâm đến việc này. Đồng chí chỉ thị các cơ quan tham mưu trung đoàn, tiểu đoàn đi vẽ thực địa sơ đồ trận đánh, sau đó đắp sa bàn phổ biến kế hoạch tác chiến đến tận chiến sĩ.

(http://202.151.160.172/Upload//hoangha/2010/7/20/200710hha86.jpg)
Quân Pháp đầu hàng trong trận Đắk-pơ. Ảnh tư liệu.

Ngày 24-6, Trung đoàn 96 được lệnh chiếm lĩnh trận địa trước khi trời sáng. Vào 8 giờ, tin từ đài quan sát báo về có nhiều xe quân sự từ An Khê lên, có cả xe tăng, xe thiết giáp... trinh sát đếm được gần 400 chiếc. Trên không, máy bay địch quần lượn trinh sát dọc theo quốc lộ 19, chỉ huy Trung đoàn 96 nhận định: “Hơn hai tháng bị bao vây cô lập, máy bay không đủ sức tiếp tế cho nên toàn bộ lực lượng của chúng ở An Khê buộc phải rút về Plei-cu”. Quyết tâm chung là chặn đánh cả đoàn xe. Nhưng đánh như thế nào thì cần phải bàn kỹ. Là cán bộ tác chiến của Tiểu đoàn 40 nên đồng chí Nguyễn Tự được tham gia bàn cách đánh. Ông nhớ lại: Tại hội nghị có nhiều ý kiến tranh luận gay gắt. Một số ý kiến cho rằng, do lực lượng của ta quá mỏng, vũ khí trang bị kém xa địch… chỉ nên cắt đánh tiêu diệt một bộ phận. Nhưng Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu thì trước sau vẫn bảo lưu ý kiến đánh cả đoàn. Đồng chí phân tích: Địch đông hơn nhưng ở thế rút chạy, tinh thần đang hoang mang dao động đến cực độ. Ta đánh cả đoàn xe nhưng phải bao vây, chia cắt rồi tiêu diệt lần lượt từng bộ phận. Mặt khác đoạn đường mà ta chặn đánh có cầu Đắk-pơ với nhiều khúc cua tay áo, địa hình hiểm trở… lực lượng ta tuy không đông nhưng ở thế mạnh hơn địch… Trước tình hình đó, Chính ủy Trung đoàn thay mặt Đảng ủy giao cho Trung đoàn trưởng toàn quyền quyết định. Đây là tình huống cực kỳ khó khăn. Nếu đánh cả binh đoàn thì khó kham, vì đúng là lực lượng ta quá mỏng so với địch, VKTB cũng kém chúng một trời một vực! Hơn nữa, nếu đánh cả đoàn xe là trái với nguyên tắc chiến thuật: “Phải tập trung ưu thế binh hỏa lực gấp 3 lần kẻ địch, mới đánh thắng được chúng”. Nhưng nếu cắt đánh đoạn cuối cho vừa sức thì có tội với Đảng, với nhân dân, với bộ đội. Vì để sổng phần lớn Binh đoàn cơ động 100 chạy thoát về Plei-cu và cuộc kháng chiến còn kéo dài, ác liệt, kẻ địch còn gây nhiều tội ác, quân và dân ta còn phải hao tốn thêm nhiều xương máu. Với tinh thần trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, trước sinh mệnh của cả trung đoàn, Trung đoàn trưởng phải hết sức tỉnh táo, suy tính hết mọi yếu tố để có một quyết đoán khoa học, không phiêu lưu mạo hiểm, bảo đảm chắc thắng.

Thời gian còn rất ngắn, Trung đoàn trưởng hạ quyết tâm táo bạo: Đánh hết không cho xe nào chạy thoát, liên tục tập kích, truy kích, ngày 24 không xong, đánh tiếp sang ngày 25, nắm chắc đội dự bị chuẩn bị đánh cả Binh đoàn chủ lực 42 với 400 xe xuống đón Binh đoàn cơ động 100 - Quyết tâm này đã được truyền đạt đến tận chiến sĩ. Qua điện đàm, Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu xin ý kiến cấp trên. Đồng chí Nguyễn Chánh, Tư lệnh Mặt trận chỉ thị: “Đánh theo quyết tâm của người chỉ huy...”.

“Con trăn khổng lồ” và… “lưỡi búa Thạch Sanh”

Đến 12 giờ 30 phút, quân địch lọt vào trận địa phục kích. Trung đoàn trưởng hạ lệnh toàn Trung đoàn xuất kích. Trung đội ĐKZ trong đội hình Tiểu đoàn 40 mở hết tốc lực đến trận địa đúng giờ quy định. Ngay trong loạt đạn đầu tiên, ĐKZ đã bắn gục chiếc xe công binh đi trước đội hình địch khi nó vừa ngoi lên tới đỉnh dốc. Chiếc đi đầu khựng lại làm mấy trăm chiếc xe phía sau bị ùn ứ, dồn sát vào nhau như một con trăn khổng lồ dài hơn 5km, phơi mình chờ sự trừng phạt của “lưỡi búa Thạch Sanh”.

Cùng lúc với ĐKZ, cối 82mm… các mũi xung kích của ta cũng ào ạt xông lên. Trên hướng Tiểu đoàn 40, quân địch dựa vào thành xe, nép vào vách núi để tránh những làn đạn cấp tập của ta. Hỏa lực của ta bắn rất chính xác, nhiều tên địch bị tiêu diệt, một số xe tăng, xe bọc thép... đã bốc cháy. Lực lượng ta xung phong xuống mặt đường. Quân địch chống cự yếu ớt, số sống sót bỏ chạy thục mạng xuống phía nam đường 19 nhưng cũng bị chặn đánh. Một số tên vượt qua đoạn chặn đầu tháo chạy về phía cứ điểm Mũi Nhung nhưng cũng bị lực lượng ta phục bắt sống.

Tiểu đoàn 79 sau khi diệt gọn lực lượng địch bảo vệ sườn, đã đụng ngay tiểu đoàn đi đầu của Binh đoàn 100, trong đó có cả sở chỉ huy binh đoàn. Quân địch dựa vào xe tăng, xe bọc thép chống cự quyết liệt. Lệnh xung phong phát ra, quân ta ào xuống mặt đường. Mặc dù một số đồng chí bị thương vong nhưng Đại đội 224 vẫn bám địch theo từng khu vực, chia cắt chúng ra để tiêu diệt. Cối 82mm, ĐKZ cũng kịp thời nổ súng chính xác vào đội hình địch, yểm trợ đắc lực cho bộ binh ta xung phong. Xe chỉ huy của Binh đoàn cơ động 100 bị trúng đạn, tên quan năm Ba-ru bị thương chạy trốn (hôm sau bị ta bắt); Trung tá La-giu-an (Lajouanie) bị thương nặng. Đại đội chỉ huy của Binh đoàn cơ động 100 lần lượt ngã gục, Thiếu tá Hip-pôn (Hippolite) - Tham mưu trưởng Binh đoàn, Thiếu tá A-ri-ê (Arieux) - Cụm trưởng pháo binh, đều bị tử trận, xe điện đài bị phá hủy hoàn toàn. Sau 15 phút, tất cả các nhân vật chỉ huy Binh đoàn cơ động 100 đều bị loại khỏi vòng chiến đấu và binh đoàn bị cắt đứt hoàn toàn liên lạc với bên ngoài. Như rắn mất đầu lại bị đánh phủ đầu, đội hình của địch rối loạn, lớp chết lớp bị thương, số còn sống bỏ chạy thục mạng xuống phía nam, ngoan cố dựa vào thành xe, vách đá liều chết chống cự, các ổ đề kháng của địch lần lượt bị hỏa lực ta dập tắt.

15 giờ 30 phút, quân ta làm chủ địa đoạn phục kích. Nhận định, lực lượng phía sau của địch còn rất mạnh, nhất định chúng sẽ tổ chức phản kích, Trung đoàn trưởng lệnh cho các đơn vị khẩn trương củng cố công sự trận địa, chuẩn bị đánh địch phản kích. Quả không sai, sau cơn hoảng loạn, Thiếu tá Ka-bin-man (Kbinmann) lên nắm quyền chỉ huy binh đoàn, củng cố lại lực lượng, tổ chức nhiều đợt phản kích ác liệt. Chúng cho phi pháo cấp tập dọn đường, dùng nhiều xe tăng dẫn bộ binh đánh thẳng vào trận địa ta. Áp dụng lối đánh cận chiến chờ địch đến thật gần quân ta mới phát dương mọi thứ hỏa lực có trong tay, nhất là ĐKZ đã phát huy tối đa uy lực bắn cháy nhiều xe tăng, tất cả các đợt phản kích của địch đều bị đẩy lùi. Lối đánh cận chiến của ta còn vô hiệu hóa được sự chi viện của không quân, pháo binh địch. 17 giờ 30 phút với nỗ lực cuối cùng, địch tăng cường phi pháo, huy động tối đa xe tăng, bộ binh quyết chiếm lĩnh trận địa của ta. Đại đội 223 của Tiểu đoàn 79 chỉ còn 25 tay súng vẫn kiên cường đánh trả quyết liệt, nhưng vì địch quá đông, hỏa lực dày đặc, tình thế hết sức nguy cấp, Trung đoàn trưởng đã kịp thời lệnh cho cối 82mm, lực lượng phóng bom, ĐKZ tập trung hỏa lực cao độ bắn vào đội hình của địch, đồng thời tung ngay đội dự bị tăng cường cho Tiểu đoàn 79. Chấp hành mệnh lệnh của trung đoàn trưởng, hỏa lực vòng đầu và ĐKZ của ta bắn rất chính xác, nhiều xe tăng bốc cháy, tạo thành hàng rào lửa đạn, chặn đứng bước tiến của kẻ thù. Cùng lúc, lực lượng dự bị kịp thời đến chi viện, hai đơn vị phối hợp chiến đấu có sự yểm trợ tối đa của hỏa lực trung đoàn, gây cho địch nhiều thương vong buộc phải tháo chạy. Đợt phản kích ác liệt cuối cùng của địch đã bị ta đập tan.

Vào 19 giờ, quân ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Toàn bộ tàn quân của địch vứt bỏ tất cả xe pháo, phương tiện vũ khí khí tài, quân trang, quân dụng... bươn rừng chạy trốn về hướng Nam, giữa đêm tối, trong một cơn ác mộng thực sự. Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu điều một trung đội bộ binh tăng cường 4 khẩu đại liên truy kích địch ngay trong đêm. Đích thân đồng chí đi cùng và trực tiếp chỉ huy. Trung đội truy kích chỉ với 30 tay súng đã xóa sạch 3 ổ đề kháng của địch, bắt sống hơn 300 tù binh...

Trước khi tháo chạy, Thiếu tá Ka-bin-man mới lên nắm quyền chỉ huy Binh đoàn 100 đã quyết định để toàn bộ thương binh tại trận địa, giao nhiệm vụ cho Thiếu tá bác sĩ Gia-vin (Janville) chăm sóc. Từ 8 giờ sáng 25-6-1954, máy bay địch lượn vòng vừa thả dù thuốc men, vừa dùng loa xin quân ta cho phép được dùng máy bay tiếp tế thực phẩm, thuốc men cho thương binh của họ. Thực hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, quân ta chấp nhận đề nghị của họ, mỗi ngày cho 2 chuyến trực thăng từ Plei-cu hạ cánh ngay trên mặt đường 19, nhưng thời gian và địa điểm do ta quy định. Không chỉ thế, ta còn cử cán bộ y tế đến chăm sóc điều trị thương binh của họ.

Đại tá, Bác sĩ Nguyễn Công Nghiêm, nguyên Quân y trưởng Trung đoàn 96 trong trận Đắk-pơ nhớ lại: Sau khi tiếng súng chấm dứt, chỉ huy Trung đoàn chỉ thị cho đồng chí Nguyễn Như Trinh, Trưởng ban Địch vận trung đoàn đến trạm phẫu cùng tôi đi thăm thương binh địch bị bắt, trong đó có cả tên quan năm Ba-ru. Đồng chí Trinh giới thiệu tôi là Quân y trưởng của Trung đoàn 96 – đơn vị vừa đánh tiêu diệt binh đoàn của ông ta, đến thăm và khám vết thương cho ông. Ba-ru vẫn ngồi im lặng, bên cạnh hắn vẫn còn hai tên hầu cận như trước đây. Đồng chí Trinh nói tiếp: “Theo chính sách nhân đạo và bác ái của Hồ Chủ tịch và Chính phủ Việt Nam, Ban chỉ huy Trung đoàn 96 chúng tôi cử thầy thuốc đến thăm, khám vết thương cho ông.” Lúc này Ba-ru mới ngẩng đầu lên, nét mặt tươi hẳn, nhưng vẫn tỏ thái độ lãnh đạm. Lúc bấy giờ tôi còn là thanh niên tuổi hai mươi, mặc bộ bà ba đen, đầu đội mũ bê-rê, vai mang xắc thuốc và dụng cụ y tế, súng lục vẫn ngang hông. Nhìn thái độ của Ba-ru, thấy cần phải thuyết phục y nên tôi bảo hai tên hầu cận ra ngoài rồi trực tiếp nói chuyện với Ba-ru. Trước khi đi làm nhiệm vụ, đồng chí Trinh nhắc tôi: “Hãy làm công tác địch vận bằng chính công tác của mình – công tác y tế”.

- Chắc ông đã hiểu chức năng của tôi? – Tôi nói với Ba-ru bằng tiếng Pháp – Tôi đến đây hoàn toàn với tấm lòng nhân đạo của người thầy thuốc Việt Nam, để khám sức khỏe và chăm sóc vết thương của ông và đồng đội ông hiện đang dưới quyền kiểm soát của chúng tôi-Tôi tin chắc rằng với chính sách khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam, sớm hay muộn các ông cũng sẽ được trao trả về với gia đình, vợ con đang mong đợi ông. Bây giờ đối với chúng tôi, ông không phải là một quan năm đã chiến bại mà là một người lính đang bị thương… xem ông như một thương binh của chúng tôi.

Ba-ru tỏ vẻ bối rối trước những lời nói có lý, có tình đó và đã xin lỗi tôi. Ba-ru nói: “Lúc đầu, tôi không hiểu hết mọi việc và có phần mặc cảm, bây giờ tôi đề nghị bác sĩ kiểm tra lại vết thương cho tôi”. Khi ấy tôi gọi hai tên hầu cận vào và mời một viên quân y của Pháp đi theo. Tôi khám bệnh và xem lại vết thương, cho thay băng, hướng dẫn cách điều trị và thuốc men cần dùng. Bắt đầu từ Ba-ru rồi chúng tôi lần lượt khám vết thương cho các tên khác…. Ít lâu sau, những tù binh, thương binh này đều được ta trao trả cho phía Pháp.

Kim Lân


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 09:09:57 AM
Bài 3: Người chỉ huy mưu lược, quyết đoán

Đắk-pơ với những kỷ lục


Cuộc đối đầu lịch sử đã kết thúc. Binh đoàn cơ động 100 cùng với lực lượng chiếm đóng trong khu vực hoàn toàn bị tiêu diệt. Nhưng phải đến ngày 1-9-1954, Đại tá Masse mới đọc nhật lệnh giải thể Binh đoàn cơ động 100. Cựu chiến binh NguyễnTự cho biết thêm: Lịch sử cũng có sự trùng lặp, ngày 24-6-1946, Pháp đánh chiếm Đắk-pơ và 8 năm sau cũng đúng vào ngày tháng này (24-6-1954), chúng phải đền mạng tại Đắk-pơ.

Chiến thắng Đắk-pơ là một chiến công lớn nhất trên chiến trường Liên khu 5, đứng hàng thứ hai sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Riêng về đánh giao thông, trong cả 30 năm đánh Pháp và đánh Mỹ, chưa có trận vận động phục kích nào lớn hơn trận Đắk-pơ. Chiến thắng Đắk-pơ đã lập nhiều kỷ lục trong một trận giao thông chiến. Trước hết là kỷ lục về tiêu diệt sinh lực: Trong trận Đắk-pơ địch chết 500 tên; bị thương 600, bị quân ta bắt 800 tên (trong đó có quan năm Bờ-râu chỉ huy Binh đoàn). Kỷ lục về chiến lợi phẩm, trong chiến thắng này ta thu 375 xe cơ giới, có 1 xe tăng và 229 xe còn nguyên, 18 khẩu đại bác 105mm cùng toàn bộ vũ khí, khí tài, quân trang, quân dụng. Về hiệu quả chiến đấu, chưa có trận nào lực lượng của ta ít hơn địch tới 5-6 lần mà chỉ trong vòng 7 tiếng đồng hồ đã xóa sổ cả một binh đoàn cơ động, số địch bị loại khỏi vòng chiến đấu gần bằng ¼ ở Điện Biên Phủ (gần 4.000 so với xấp xỉ 16.000 tên). Số liệu trên đây được Trung tướng Khiếu Anh Lân  nguyên quyền Tham mưu trưởng Trung đoàn 96 xác nhận (in trong cuốn Trung đoàn 96-NXB QĐND - trang 39) và đã được khắc vào bia đá đặt tại Đắk-pơ.

Tâm sự với tôi, bác Nguyễn Tự và bác Trương Quang Quyền cho biết thêm, toàn bộ xe pháo chiến lợi phẩm ở Đắk-pơ đều được đưa lên tàu tập kết ra Bắc và nhiều năm được tham gia duyệt diễu binh trong ngày Quốc khánh 2-9. Ông Phạm Hồng, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai còn cho biết thêm: Chính khẩu Garant thu được trong trận Đắk-pơ đã nổ phát súng đầu tiên vào ngày 24-10-1958 mở đầu thời kỳ đấu tranh vũ trang chống Mỹ của quân và dân Gia Lai.

(http://202.151.160.172/Upload//hoangha/2010/7/21/210710hha04.jpg)
Đồng chí Nguyễn Minh Châu - Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 quán triệt nhiệm vụ cho đơn vị trước khi thực hiện nhiệm vụ. Ảnh tư liệu.

Chiến thắng Đắk-pơ được đánh giá cao không phải chỉ vì diệt được nhiều địch, thu được nhiều xe pháo… mà là vì ý nghĩa lịch sử và những tác động mang tính chiến lược của nó. Qua các tài liệu còn lưu giữ, sau thất bại của Binh đoàn cơ động 100, các binh đoàn còn lại (10, 41, 42, 21…) như bầy thú bị mất con đầu đàn, rất hoang mang, tinh thần rệu rã, nhiều đơn vị của Binh đoàn cơ động 42, mới nghe ta nổ súng đã bỏ chạy). Chiến thắng Đắk-pơ đã làm rung chuyển cả Tây Nguyên. Như đánh cờ bị mất hết xe, cả pháo, tình hình địch ở Tây Nguyên hết sức nguy khốn. Trong cuốn sách “Đông Dương hấp hối”, Tướng Na-va viết: “Tình thế nguy ngập tạo nên ở Cao Nguyên trước khi đình chiến là hậu quả trực tiếp của việc rút bỏ An Khê. Tình thế đó không thể xảy ra nếu không có cuộc rút chạy đó".

Trước sức tấn công mạnh mẽ của quân và dân ta, đầu tháng 7-1954, quân địch đã phải rút quân, tháo chạy khỏi nhiều nơi ở Bắc Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ. Sau chiến thắng Đắk-pơ, quân ta tiếp tục bao vây, chuẩn bị giải phóng Cheo Reo (Phú Bổn). Ngày 17-7, quân Pháp bỏ Plei-cu tháo chạy và bị quân ta tiêu diệt ở Chư Drek. Cùng lúc quân ta cũng áp sát và chuẩn bị đánh vào Buôn Ma Thuột… Có thể nói vào thời điểm sau chiến thắng Đắk-pơ, quân và dân ta đã đủ thế và lực để giải phóng Tây Nguyên. Các nhà quân sự chiến lược đều có chung nhận định: “Đông Dương như con voi, Tây Nguyên như lưng voi, ai ngồi lên lưng voi, thì người đó thắng”. Nỗi lo sợ nhất của Pháp lúc đó là, địa bàn chiến lược quan trọng này sắp thuộc về quân và dân Việt Nam. Tình hình địch ở Tây Nguyên trong thế ngàn cân treo sợi tóc. Nguy cơ tháo chạy là không thể tránh khỏi. Mất Tây Nguyên là mất tất cả. Và chỉ 3 ngày sau khi quân địch rút bỏ Plei-cu, ngày 20-7-1954, thực dân Pháp phải nhanh chóng hạ bút ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Được tin Trung đoàn 96 thắng trận Đắk-pơ, Bác Hồ đã gửi thư khen, trong thư Bác viết: “... Các chú hoạt động có thành tích khá, Bác vui lòng thay mặt Chính phủ khen ngợi các chú, và thưởng đoàn vừa thắng khá ở An Khê, Huân chương Kháng chiến hạng nhất…”. Ai cũng hân hoan với chữ “Bác vui lòng”. Bác vui bởi chiến thắng Đắk-pơ đã góp phần rút ngắn được cuộc chiến, hòa bình sớm được ngày nào thì bộ đội và đồng bào ta đỡ đổ mồ hôi, xương máu ngày ấy.

Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì đánh giá: “…Đây là một trận vận động phục kích lớn, dũng cảm và linh hoạt, tận dụng được yếu tố bất ngờ, sử dụng lực lượng với hiệu quả cao, đánh trúng vào chỗ yếu của địch, bồi thêm cho chúng một đòn thất bại nặng nề…”.

Người chỉ huy trong ký ức

Bồi hồi nhớ về trận chiến năm xưa, các cựu chiến binh Nguyễn Tự, Trương Quang Quyền... của Trung đoàn 96 không ngớt lời khen ngợi, thán phục Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu - người chỉ huy mưu lược, quyết đoán trong tay chỉ có 700 chiến binh đầu trần, chân đất, mà dám tung ra đánh tan cả một binh đoàn cơ động cùng với lực lượng chiếm đóng An Khê, quân số lên đến gần 4000 tên. Đắk-pơ là chiến công chung của cả Trung đoàn 96 và các lực lượng tham gia chiến đấu nhưng với cương vị chỉ huy, đồng chí Nguyễn Minh Châu, Trung đoàn trưởng là người có công lớn nhất. Hiếm có một người chỉ huy nào mưu lược, quyết đoán, táo bạo như đồng chí Nguyễn Minh Châu.

Với thái độ trân trọng, cựu chiến binh Nguyễn Tự nói: “Hiếm có vị chỉ huy nào có gan to như vậy, thật là phi thường ”. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Minh Châu, mới thành lập được 55 ngày, tổ chức chưa ổn định, Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng chưa về kịp, Tiểu đoàn 30 đang phải kìm chân địch ở Quy Nhơn, chỉ còn lại Tiểu đoàn 40 và Tiểu đoàn 79, trang bị vũ khí còn đơn giản, nhưng với “gan vàng dạ sắt”, với những trái tim rực lửa căm thù và truyền thống anh hùng bất khuất của cha ông, Trung đoàn 96 bỗng vụt lớn nhanh như Phù Đổng, trở thành một quả đấm thép đập tan cả một binh đoàn cơ động thuộc loại mạnh nhất lúc bấy giờ”.

Kể về tài mưu lược và sự tính toán kỹ lưỡng của đồng chí Trung đoàn trưởng, cựu chiến binh Nguyễn Tự bồi hồi nhớ lại: “Để bàn tính cách đánh, Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu đã chỉ thị cho Tiểu đoàn 40 cử cán bộ chạy thật nhanh từ vị trí đứng chân của Trung đội ĐKZ ra đến chỗ đặt súng bắn chặn đầu, dùng đồng hồ xác định thời gian vận động hết bao nhiêu phút, rồi báo lên Sở chỉ huy để tính thời điểm hạ lệnh xuất kích, sao cho chiếc xe đi đầu vừa lên tới đỉnh dốc, cũng vừa hứng ngay loạt đạn ĐKZ đầu tiên của ta. Vị trí đó đường hẹp, hai bên vách đá dựng đứng, nếu một chiếc xe bị chết tại đây, thì không xe nào vượt qua nổi”. Cựu chiến binh Nguyễn Tự cũng cho biết, chiếc đồng hồ dùng để bấm giờ đánh trận Đắk-pơ được ông lưu giữ như một báu vật suốt từ ngày đó cho đến gần đây ông mới trao nó cho Bảo tàng tỉnh Gia Lai và hiện nó đang được trưng bày phục vụ khách tham quan tại bảo tàng này.

Trong trận phục kích Đắk-pơ của Trung đoàn 96, Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu bố trí Tiểu đoàn 79 có hai đại đội bộ binh trên đoạn phục kích chủ yếu dài khoảng 800m từ cầu Đắk-pơ về phía đông, ngược lại dùng cả Tiểu đoàn 40 với 3 đại đội bộ binh phục kích trên đoạn đường 400m về phía tây. Theo Trung tướng, PGS Khiếu Anh Lân, nguyên quyền Tham mưu trưởng Trung đoàn 96 trong trận Đắk-pơ: “Đây là sự vận dụng sáng tạo”. Lý giải rõ hơn về sự sáng tạo này Trung tướng Khiếu Anh Lân đã viết: “Đoạn 800m - trận địa phục kích chủ yếu, có địa hình lý tưởng cho việc tiến công địch từ phía bắc (trên cao) xuống. Khi địch bị chặn ở phía tây cầu Đắk-pơ thì đoạn này chính là chỗ địch bắn trả bộ đội ta ở độ tà dương, khó trúng đích mà ngược lại ta phát huy được đầy đủ các loại vũ khí, cả xung lực… Hai đoạn phục kích của hai tiểu đoàn có độ dài ngắn khác nhau, nhiệm vụ có khác nhau còn phải xét đến trình độ và khả năng chiến đấu của từng đơn vị phụ trách. Tiểu đoàn 79 tuy chỉ có hai đại đội bộ binh nhưng là hai đại đội chủ công của trung đoàn, có dàn cán bộ tiểu đội, trung đội, đại đội dạn dày kinh nghiệm, đánh công kiên cũng giỏi, đánh vận động cũng rất nhiều kinh nghiệm. Trung đoàn trưởng giao cho Tiểu đoàn 79 đánh đoạn này là rất phù hợp…”.

Đề cập đến vai trò và tài mưu lược của Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu trong chiến thắng Đắk-pơ, Đại tá cựu chiến binh Lê Ngọc Khuê, nguyên chính trị viên Đại đội 223, Tiểu đoàn 79, Trung đoàn 96 nhớ lại: “... Ngày 17-6-1954, chúng tôi được lệnh của đồng chí Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu về trung đoàn họp để nghe phổ biến nhiệm vụ mới và kế hoạch tác chiến. Rất phấn khởi trước nhiệm vụ quan trọng mà cấp trên giao cho, nhưng chúng tôi vẫn còn có những băn khoăn lo lắng về lực lượng của ta tương đối mỏng… Đồng chí Nguyễn Minh Châu đã phân tích rất cặn kẽ, đồng chí nhấn mạnh đến thời cơ mới, khi địch đang ở thế bị động đối phó. Chiến dịch Át-lăng đang bị sa lầy ở Quy Nhơn, Tuy Hòa, nhiều binh đoàn cơ động của địch buộc phải phân tán đối phó khắp nơi. Trung đoàn 96 tuy mới tổ chức nhưng gồm những đơn vị đã kinh qua chiến đấu và chiến thắng, được trang bị khá đầy đủ so với khi mới bước vào chiến dịch. Cán bộ và chiến sĩ ta sau chiến thắng Kon Tum đã dày dạn kinh nghiệm chiến đấu... Tư tưởng được giải quyết, chúng tôi rất phấn khởi và quyết tâm đánh địch...”.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 09:10:57 AM
Bài 4: Hành trình tìm lại Đắk-pơ

Đắk-pơ không thể rơi vào quên lãng


Không chỉ gây tiếng vang trong nước, Đắk-pơ còn gây ấn tượng mạnh ở nước ngoài, đặc biệt là tại Pháp. Nhà văn nổi tiếng Bernard Fall (Pháp) đã viết rất kỹ về Đắk-pơ và cái chết của Binh đoàn cơ động 100 trong cuốn sách “Chiến tranh Đông Dương”. Trong cuốn “Đông Dương hấp hối”, tướng Na-va cũng viết khá kỹ về cuộc bỏ An Khê rút chạy của Binh đoàn cơ động 100. Sau khi được trao trả về nước, các sĩ quan, binh lính Pháp cũng viết rất nhiều bài đăng trên báo chí nước ngoài ca ngợi khí phách anh hùng và tinh thần nhân đạo cao cả của Nhà nước, bộ đội và nhân dân Việt Nam. Có thể nói, Đắk-pơ đạt được thắng lợi trọn vẹn cả về quân sự và chính trị.

Thế nhưng bẵng đi suốt mấy chục năm không ai nhắc đến Đắk-pơ nữa, ngay cả sau giải phóng (1975) ngày kỷ niệm chiến thắng Đắk-pơ cũng không có các hoạt động. Chỉ trừ một số rất ít sách lưu hành nội bộ và một vài tờ báo địa phương có đề cập sơ lược, các sách, báo, phương tiện truyền thông cũng hầu như không nói, không viết gì nhiều về chiến thắng này.

(http://202.151.160.172/Upload//hoangha/2010/7/23/230710hha10.jpg)
Đồng chí Nguyễn Tự - Trưởng ban liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 96 tại Bình Định tặng kỷ niệm chương chiến thắng Đắk-pơ các cựu chiến binh.
Ảnh do Ban liên lạc cung cấp.

Lý giải về việc này, các cựu chiến binh Trung đoàn 96 cho rằng một phần là do ngay sau chiến thắng (tháng 10-1954), Trung đoàn 96 trong đội hình của Đại đoàn 305 tập kết ra Bắc (thực hiện hiệp định Giơ-ne-vơ) và bắt tay ngay vào nhiệm vụ mới, còn An Khê (Gia Lai) cũng chìm trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.  Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu, một con người khiêm tốn, giản dị chỉ biết cống hiến, hy sinh chứ ít quan tâm đến khuếch trương chiến quả.

Đến nay, hầu như rất ít người biết về chiến thắng Đắk-pơ. Các em học sinh có thể thuộc lòng trận La Ngà diệt 59 xe quân sự và 150 tên địch; trận Tầm Vu diệt 20 xe; trận Cầy Giấy diệt tên Henry Rivire… nhưng hỏi đến chiến thắng Đắk-pơ diệt 375 xe, xóa sổ cả một binh đoàn cơ động với số quân bị loại khỏi vòng chiến đấu gần 4.000 tên thì không biết. Các nhà sử học, các nhà báo, nhà văn… đã bỏ quên một sự kiện rất quan trọng trước thềm Hội nghị Giơ-ne-vơ. Có chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại thì mới có chiến thắng Đắk-pơ, nhưng nếu không có chiến thắng Đắk-pơ góp phần thì Hội nghị Giơ-ne-vơ còn giậm chân tại chỗ, cuộc chiến còn kéo dài, cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta còn phải hy sinh, đổ máu.

Trong thư khen gửi quân và dân ta sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Bác Hồ đã chỉ rõ rằng: “… Thắng lợi tuy lớn nhưng mới là bước đầu…”. Một số chiến lược gia cho rằng: Pháp thua ở Điện Biên, nên phải ký đình chiến…, theo chúng tôi điều đó đúng nhưng chưa đủ. Trở lại lịch sử, nếu chỉ có Bạch Đằng mà không có Vạn Kiếp, Chương Dương, Hàm Tử (bắt sống Toa Đô) thì chúng ta không thắng được quân Nguyên. Nếu chỉ có chiến thắng Đông Đô mà không có Chi Lăng, Xương Giang, Mã Yên (chặt đầu Liễu Thăng) thì không thể đuổi được giặc Minh... Và, nếu chỉ có Điện Biên Phủ mà không có một Đắk-pơ huyền thoại thì chưa thể kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bởi có một thực tế là sau thảm bại ở Điện Biên Phủ, quân Pháp vẫn ngoan cố thực hiện co cụm chiến lược nhằm bảo vệ lực lượng, giằng co kéo dài cuộc chiến, cố ép ta ký Hiệp định Giơ-ne-vơ với các điều khoản có lợi cho họ. Chính điều này đã khiến cho Hội nghị đàm phán giữa ta và Pháp giậm chân tại chỗ.

Trước ngày 24-6-1954, Pháp gấp rút chuẩn bị đưa thêm 3 sư đoàn cùng nhiều VKTB hiện đại sang chiến trường Việt Nam. Ngày 25-6, Pháp đề nghị với ta lấy vĩ tuyến 18 làm điểm phân chia tạm thời. Ngày 28-6, ta công bố việc phân chia tạm thời phải được thực hiện ở vĩ tuyến 13. Nhưng phía Pháp vẫn giữ những đề nghị của họ và cuộc đàm phán một lần nữa lại giậm chân tại chỗ. Nhưng khi tin Binh đoàn cơ động 100 bị tiêu diệt bay tới Giơ-ne-vơ, phía Pháp hết sức sửng sốt vì một binh đoàn cơ động tinh nhuệ vào bậc nhất của họ đã bị xóa sổ bởi một trung đoàn của Quân đội Việt Nam chỉ trong vài tiếng đồng hồ. Chiến thắng Đắk-pơ đã buộc Pháp không dám mạo hiểm thực hiện được ý đồ bổ sung quân vào Việt Nam. Bởi họ cho rằng, tăng thêm quân vào thời điểm Binh đoàn cơ động 100 vừa bị xóa sổ là đồng nghĩa với nướng thêm quân.

Về chiến thắng Đắk-pơ, nhà sử học Dương Trung Quốc – Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử Việt Nam bày tỏ: “Cần thiết phải đánh giá đúng tầm vóc của chiến thắng này trong toàn bộ chiến cục Đông Xuân 1953-1954 nói chung và là chiến thắng phối hợp với Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng”.

Những chuyển động bước đầu

Hơn nửa thế kỷ đã qua đi, không ít người từng làm nên chiến thắng ngày ấy đã về với ông bà, tổ tiên, người còn cũng đã ở vào tuổi xưa nay hiếm nhưng tất cả đều đau đáu một nỗi niềm là làm sao tìm kiếm, quy tập được đầy đủ hài cốt của 149 anh hùng, liệt sĩ đã anh dũng hy sinh để làm nên một Đắk-pơ huyền thoại; đề nghị Đảng, Nhà nước phong tặng Trung đoàn 96 và cá nhân đồng chí Trung đoàn trưởng Nguyễn Minh Châu danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân; tổ chức hội thảo khoa học nhằm đánh giá đúng tầm vóc của chiến thắng Đắk-pơ trong toàn bộ chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954; công nhận Đắk-pơ là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, xây dựng Tượng đài chiến thắng Đắk-pơ…

Người đi tiên phong trong thực hiện nỗi niềm mong ước ấy của các cựu chiến binh Trung đoàn 96 và nhân dân An Khê là cựu chiến binh Nguyễn Tự. Ông kể: Năm 2000, chúng tôi bắt đầu đề đạt với địa phương làm các thủ tục đề nghị Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận Đắk-pơ là di tích lịch sử văn hóa; đề nghị Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT cho Trung đoàn 96. Đây được xem là việc làm quan trọng đầu tiên để đưa chiến thắng Đắk-pơ vào trang sử vẻ vang chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Mọi chuyện ban đầu tưởng như khó khăn, nhất là về hồ sơ thủ tục, nhưng nhờ sự tích cực của địa phương, lại được các ban, ngành quan tâm nên ngày 10 tháng 4 năm 2001, Trung đoàn 96 – Liên khu 5 (hiện nay là Đơn vị 96, Đoàn 309, Binh đoàn Cửu Long) được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân và ngày 22 tháng 12 năm 2001, địa điểm chiến thắng Đắk-pơ được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa. Khó có thể tả hết niềm vui sướng của các cựu chiến binh Trung đoàn 96 trước các sự kiện này.

Ông Nguyễn Tự tâm sự: “Chúng tôi đã có gần 20 năm theo đuổi để thực hiện tâm nguyện”. Cho đến bây giờ ông cũng không nhớ rõ mình đã soạn biết bao văn bản, gửi đến bao nhiêu nơi, đi đến bao nhiêu chỗ, gặp biết bao nhiêu người… để tập hợp tài liệu, hoàn chỉnh hồ sơ, đề đạt nguyện vọng đưa chiến thắng Đắk-pơ về với đúng tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của nó. Ban liên lạc đã có người nản lòng nhưng cựu chiến binh Lê Tự vẫn động viên “Hãy biết chờ đợi và hy vọng”. Việc tổ chức lễ dâng hương kỷ niệm chiến thắng Đắk-pơ hằng năm, ban đầu thì các cựu chiến binh tự đứng ra tổ chức, rồi “kéo” địa phương vào cuộc và quy mô, tầm vóc cứ lớn dần. Cho đến năm 2004 và năm 2009, lễ kỷ niệm 50 năm, 55 năm chiến thắng Đắk-pơ đã được huyện An Khê và tỉnh Gia Lai tổ chức trọng thể. Nhân kỷ niệm 55 năm chiến thắng Đắk-pơ (24-6-1954/24-6-2009), đồng chí Lê Tự cùng Ban liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 96 tiếp tục làm đơn thỉnh nguyện gửi tới Bộ Chính trị; Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ; Hội đồng Thi đua khen thưởng Trung ương và Đảng ủy – Bộ Tư lệnh Quân khu 5… đề nghị truy tặng Thượng tướng Nguyễn Minh Châu, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 – Liên khu 5 danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Cho đến tận bây giờ, cựu chiến binh  Nguyễn Tự vẫn nhớ như in những dòng chữ trong lá đơn thỉnh nguyện. Ông viết: “Trong chiến đấu, nhiều đồng chí có thành tích đặc biệt xuất sắc và chỉ tỏa sáng trong khoảnh khắc như: La Văn Cầu, Bế Văn Đàn, Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Nguyễn Quốc Trị… đều được Nhà nước phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Đồng chí Nguyễn Minh Châu chỉ huy Trung đoàn 96 diệt gọn Binh đoàn cơ động 100 của Pháp, chiến thắng Đắk-pơ được Bác Hồ vui lòng khen ngợi, đã giải tỏa được tình trạng giậm chân tại chỗ của Hội nghị Giơ-ne-vơ, có ý nghĩa quan trọng chẳng những đối với Tây Nguyên mà còn đối với cả nước, góp phần kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đây là chiến công của Trung đoàn 96 và quân – dân An Khê, trong đó công đầu lớn nhất thuộc về đồng chí Nguyễn Minh Châu và đây cũng là thành tích đặc biệt xuất sắc, được tỏa sáng trong khoảnh khắc của đồng chí Trung đoàn trưởng…”.

Đơn gửi đi, ông Tự và các cựu chiến binh nóng lòng chờ đợi. Thế rồi đúng dịp kỷ niệm sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh 19-5, Ban liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 96 tại Bình Định nhận được tin: Văn phòng Ban chấp hành Trung ương Đảng đã chính thức có ý kiến với Bộ Quốc phòng và Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương về việc truy tặng đồng chí Nguyễn Minh Châu, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 – Liên khu 5 danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Tiếp đó, Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 96 nhận được công văn số 992/BTL-CCT của Bộ tư lệnh Quân khu 5. Nội dung công văn cho biết, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã cho ý kiến chỉ đạo Tổng cục Chính trị và các cơ quan chức năng về việc thẩm định thành tích đề nghị truy tặng Thượng tướng Nguyễn Minh Châu, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 – Liên khu 5 danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, theo “Đơn thỉnh nguyện” của Ban liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 96 – Liên khu 5. Hồ sơ, thủ tục đề nghị truy tặng được Ban liên lạc phối hợp với địa phương và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 nhanh chóng hoàn tất. Và cho đến ngày 23 tháng 2 năm 2010, Thượng tướng Nguyễn Minh Châu  (Năm Ngà), nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 96 chủ lực thuộc Liên khu 5 đã được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Sự ghi nhận trong các cuốn sách lưu hành nội bộ; xây dựng Đài tưởng niệm liệt sĩ Đắk-pơ; công nhận Đắk-pơ là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia; phong tặng Trung đoàn 96 và truy tặng Thượng tướng Nguyễn Minh Châu danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân… phần nào cho thấy Đảng, Nhà nước và nhân dân đã đánh giá, ứng xử đúng với chiến thắng này cũng như chiến công của Trung đoàn 96 và nhân dân An Khê.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 09:12:02 AM
Bài 5: Để Đắk-pơ mãi âm vang

Đắk-pơ cần được đánh giá đúng tầm


Mặc dù đã thực hiện được một phần tâm nguyện nhưng giờ đây các Cựu chiến binh Trung đoàn 96 vẫn mong muốn tổ chức một cuộc hội thảo khoa học về chiến thắng Đắk-pơ; xây dựng Tượng đài chiến thắng Đắk-pơ và tìm kiếm quy tập hài cốt các cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong trận Đắk-pơ.

Theo chúng tôi, đó là những việc rất nên làm không chỉ cho quá khứ mà quan trọng hơn, ý nghĩa hơn là cho tương lai. Chiến tranh, gian khó, hy sinh là môi trường để tôi luyện, để thử thách con người. Không chỉ có các liệt sĩ mà tất cả những con người đã từng góp phần làm nên chiến thắng ấy rất đáng được trân trọng, tôn vinh. Trận Đắk-pơ, tiêu diệt hoàn toàn Binh đoàn cơ động 100 là một trong những trận đánh mẫu mực về sự mưu trí, anh dũng, về đánh tiêu diệt gọn quân địch, là điển hình của tư tưởng “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều” - nét đặc sắc của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Từ chiến thắng Đắk-pơ có nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn như: tổ chức bố trí, sử dụng lực lượng; vai trò của cán bộ; thời cơ và thế trận… cần được làm sáng tỏ để thế hệ hôm nay tiếp tục suy nghĩ, học tập, vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nếu không có một cuộc hội thảo khoa học đúng tầm mức thì không thể khơi dậy được những cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc, những giá trị đích thực của Đắk-pơ.

Về việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm chiến thắng Đắk-pơ, trong đó có tổ chức hội thảo khoa học về chiến thắng, trong công văn số 307/CV-VLS ngày 11 tháng 10 năm 2006 của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam do Thiếu tướng Trịnh Vương Hồng, Viện trưởng ký gửi Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 96 đã bày tỏ: “Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam rất hoan nghênh và ủng hộ đề xuất của các cựu chiến binh Trung đoàn 96....”

(http://202.151.160.172/Upload//hoangha/2010/7/23/230710hha15.jpg)
Các cựu chiến binh đã từng tham gia chiến dịch Bắc Tây Nguyên và tiêu diệt Binh đoàn cơ động 100, tham dự hội thảo nhân kỷ niệm 40 năm chiến thắng Đắk-pơ (24-6-1994). Ảnh do Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 96 cung cấp.

Ông Nguyễn Tự cho chúng tôi biết thêm về quan điểm của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam trong thư gửi Ban liên lạc Cựu chiến binh Trung đoàn 96 là: Việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm, trong đó có cuộc hội thảo có thể diễn ra ngay trên địa bàn Đắk-pơ (Gia Lai) nhưng nên đặt tầm vóc của sự kiện có ý nghĩa rộng lớn, hơn nhất là trong thời điểm chúng ta cần quan tâm đến vùng đất Tây Nguyên đã gắn bó với sự nghiệp chung của cách mạng mà Đắk-pơ - An Khê là một sự kiện tiêu biểu… Về phần mình ông Dương Trung Quốc khẳng định: “Chúng tôi sẽ phát biểu ý kiến của mình với các đồng nghiệp quân đội và sẵn sàng tham gia theo đúng chức năng…”. Ông Nguyễn Tự bày tỏ: “Quyết tâm là thế và ai cũng thấy ý nghĩa, sự cần thiết của việc làm này, nhưng đã mấy năm rồi vẫn chưa tổ chức được?”.

Theo chúng tôi việc tổ chức một cuộc hội thảo không khó. Vấn đề là ở chỗ cần có một Ban tổ chức, một địa phương (đơn vị) chủ trì. Ban liên lạc cựu chiến binh Trung đoàn 96 nên đề nghị để Bộ tư lệnh Quân khu 5 hoặc Tỉnh ủy, UBND tỉnh Gia Lai làm công việc này cùng với sự vào cuộc của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam… Chúng tôi tin rằng, cuộc hội thảo về chiến thắng Đắk-pơ sẽ được tổ chức đúng ý định.

Không để tượng đài trên giấy

Còn về việc xây dựng Tượng đài chiến thắng Đắk-pơ, cựu chiến binh Nguyễn Tự cho biết, sau nhiều lần đề nghị, ngày 10-3-2004 tâm nguyện ấy đã được Bộ Văn hóa Thông tin cho ý kiến. Theo đó, Bộ Văn hóa - Thông tin đề nghị tỉnh Gia Lai giao cho Sở Văn hóa - Thông tin chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng trong tỉnh xây dựng Đề án tổng thể về hình thức lưu niệm, ghi công chiến thắng Đắk-pơ để UBND tỉnh xem xét, quyết định. Tâm nguyện của các Cựu chiến binh Trung đoàn 96 cũng được Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam hoan nghênh và đồng tình ủng hộ. Thiếu tướng Trịnh Vương Hồng, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cho rằng: “Đây là việc làm cần thiết nhằm tôn vinh và thể hiện lòng biết ơn của các thế hệ người Việt Nam với những người có công”. Đồng thời với tình cảm và trách nhiệm của mình, Thiếu tướng Trịnh Vương Hồng - Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam khi đó (năm 2004) đã có công văn thẩm định về nội dung, đồng thời đề nghị Bộ Văn hóa - Thông tin và các cơ quan chức năng tỉnh Gia Lai sớm nghiên cứu, xem xét đề nghị của các Cựu chiến binh Trung đoàn 96.

Như vậy có thể thấy việc đầu tư xây dựng công trình Tượng đài chiến thắng Đắk-pơ là cần thiết và khách quan. Nhận thức rõ điều đó, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Gia Lai đã chỉ đạo Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Tài chính, Ban Tuyên giáo, Hội Cựu chiến binh… lập dự án xây dựng công trình Tượng đài chiến thắng Đắk-pơ với tổng số vốn đầu tư khoảng 16 tỷ đồng và giao cho UBND huyện Đắk-pơ làm chủ đầu tư… Thế nhưng kể từ đó đến nay đã 5 năm, dự án chưa được triển khai. 

Ông Nguyễn Tự cho biết: "Tôi đã nhiều lần lên tỉnh, ra huyện để hỏi về việc triển khai thực hiện dự án nhưng đều nhận được câu trả lời là “kinh phí khó khăn, địa phương đang phải cân đối”.

Tượng đài chiến thắng Đắk-pơ được xây dựng sẽ trở thành dấu ấn lịch sử, minh chứng hùng hồn khẳng định những giá trị của chiến thắng. Tuy nhiên, ai cũng biết Gia Lai là một tỉnh nghèo. Hiểu được điều này nên trong công văn số 729/VHTT-VP ngày 10 tháng 3 năm 2004 gửi UBND tỉnh Gia Lai, Bộ Văn hóa - Thông tin đã chỉ rõ: “Nếu có việc gì vượt quá khả năng và thẩm quyền, UBND tỉnh cần đề nghị các bộ, ngành Trung ương giải quyết”. Nếu thực sự quá khó khăn về tài chính, theo chúng tôi UBND tỉnh Gia Lai cần đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương hỗ trợ để công trình Tượng đài chiến thắng Đắk-pơ sớm được khởi công. Mặt khác, đã có biết bao xương máu của bộ đội và nhân dân đổ xuống, đặc biệt là sự hy sinh anh dũng của 147 cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 96 để đổi lấy một Đắk-pơ huyền thoại. Về với Đắk-pơ hôm nay, chứng kiến một Đắk-pơ khởi sắc từng ngày hẳn ai cũng cảm nhận được giá trị của sự hy sinh thiêng liêng, cao cả ấy. Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” chúng tôi tin việc huy các doanh nghiệp góp “viên gạch hồng” xây Tượng đài chiến thắng Đắk-pơ không phải là quá khó.

Hài cốt 147 liệt sĩ đang ở đâu?

Có thể chậm, nhưng ông Tự và các cựu chiến binh Trung đoàn 96 vẫn tin một ngày gần đây, Tượng đài chiến thắng Đắk-pơ sẽ được khởi công đáp ứng lòng mong đợi của quân và dân cả nước. Điều mà các cựu chiến binh trăn trở nhất bây giờ là làm sao để tìm được phần mộ 147 liệt sĩ đã hy sinh trong trận Đắk-pơ. Thông tin từ Văn phòng UBND huyện Đắk-pơ cho biết, trong 147 liệt sĩ đó mới có 93 người xác định được họ tên, quê quán, còn lại 54 người chưa xác định. Ông Nguyễn Tự cho biết: Trong số các cựu chiến binh Trung đoàn 96 có ông Nguyễn Văn Song và một số người từng trực tiếp tham gia chôn cất 49 liệt sĩ hy sinh ngay tại mặt trận. Dưới sự chỉ dẫn của ông Song, các cựu chiến binh Trung đoàn 96 đã nhiều lần trở lại chiến trường xưa để tìm hài cốt đồng đội nhưng vẫn chưa có kết quả bởi mọi dấu tích giờ đã mất hết. Còn lại gần 100 cán bộ, chiến sĩ bị thương được đưa về cấp cứu tại Trạm phẫu thuật Quân y tiền phương của Trung đoàn 96 rồi hy sinh, được các chiến sĩ quân y và nhân dân địa phương chôn cất ngay gần trạm (thuộc địa phận xã Đắk-pơ). Từ những thông tin do người dân và Đại tá, Bác sĩ Nguyễn Công Nghiêm, nguyên Quân y trưởng Trung đoàn 96 ngày ấy cung cấp, các cựu chiến binh Trung đoàn 96 cũng nhiều lần trở khu vực đặt trạm phẫu năm xưa nhờ các già làng giúp đỡ tìm kiếm hài cốt đồng đội như cũng chưa có kết quả.

Theo cựu chiến binh Nguyễn Tự, công việc này ngày càng trở nên khó khăn bởi vừa rồi ông Nguyễn Văn Song và một số cựu chiến binh trực tiếp tham gia chôn cất những đồng đội hy sinh đều đã qua đời do tuổi cao, sức yếu. Những già làng ở xã Đắk-pơ đã từng tham gia chôn cất những cán bộ, chiến sĩ hy sinh tại trạm phẫu tiền phương cũng lần lượt qua đời. Mặc dù vẫn đau đáu một nỗi niềm là đưa các đồng đội về yên nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ nhưng với ông Nguyễn Tự và các cựu chiến binh Trung đoàn 96 công việc này bây giờ như “mò kim đáy biển”. Tại buổi gặp mặt truyền thống nhân kỷ niệm 56 năm chiến thắng Đắk-pơ vừa qua, các cựu chiến binh Trung đoàn 96 cùng Hòa thượng Thích Nguyên Phước-Phó trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Gia Lai và các vị sư trụ trì chùa Long Khánh đã tiến hành lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ và tiếp tục bàn tính chuyện mời những người có khả năng ngoại cảm giúp đỡ tìm hài cốt các đồng đội. Theo ông Nguyễn Tự, nếu thuận lợi thì công việc này sẽ được triển khai sớm.

Dù có bị lãng quên, chiến thắng Đắk-pơ vẫn là một sự thật lịch, mãi mãi là niềm tự hào của Quân đội và nhân dân Việt Nam. Đối với kẻ thù, Đắk-pơ vẫn là một điều bí ẩn về sức mạnh của con người Việt Nam... Những tâm nguyện của các cựu chiến binh Trung đoàn 96 là hoàn toàn chính đáng và đó cũng là tâm nguyện của toàn dân. Đáp ứng những tâm nguyện ấy là trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến cơ sở mà trực tiếp là Tỉnh ủy, UBND tỉnh Gia Lai. Nếu mọi người chúng ta ai cũng hiểu việc giải quyết những tâm nguyện ấy không phải vì quá khứ, không chỉ cho hôm nay mà là cho muôn đời con cháu mai sau thì chắc chắn đó không phải là những việc khó thực hiện. Hy vọng một ngày không xa, mọi trăn trở, băn khoăn của các cựu chiến binh Trung đoàn 96 sẽ được giải tỏa. Đắk-pơ huyền thoại sẽ đi vào chính sử, góp phần làm rạng danh truyền thống chống giặc ngoại xâm hào hùng của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 30 Tháng Mười Một, 2010, 09:15:30 AM
DANH SÁCH 93 TRONG TỔNG SỐ 147 CÁN BỘ, CHIẾN SĨ HY SINH TRONG TRẬN ĐÁNH ĐẮK-PƠ (do UBND huyện Đắk-pơ cung cấp)

1) Võ Duyên – quê Tuy Phước, Bình Định;
2) Lê Định - quê Quảng Ngãi;
3) Trần Nhất – quê Quảng Ngãi;
4) Nguyễn Công - quê Hoài Nhơn, Bình Định;
5) Nguyễn Xuân Lượng - quê Hoài Nhơn, Bình Định;
6) Hồ Biền - quê Hoài Nhơn, Bình Định;
7) Nguyễn Hữu Sen - quê Diễn Châu, Nghệ An;
8 ) Nguyễn Văn Tâm - quê Hoài Nhơn, Bình Định;
9) Mai Viết Lượng - quê Hoài Nhơn, Bình Định;
10) Nguyễn Mài - quê Hoài Nhơn, Bình Định;
11) Võ Văn Đinh - quê Quảng Nam;
12) Nguyễn Sĩ Chiến - quê Hoài Nhơn, Bình Định;
13) Nguyễn Văn Hưởng – quê Quảng Nam;
14) Nguyễn Thành Mai – quê Quảng Nam;
15) Lê Tấn Đắc – quê Quảng Nam;
16) Lâm Khắc Dung - quê Hoài Nhơn, Bình Định;
17) Trần Đức Thăng - quê Hoài Nhơn, Bình Định;
18) Ngô Văn Sơn - quê Bình Định;
19) Trần Văn Lý - quê Bình Định;
20) Nguyễn Văn An - quê Phù Mỹ, Bình Định;
21) Nguyễn Hữu Tài-Hoài Nhơn, Bình Định;
22)  Bùi Văn Hải-Quảng Ngãi;
23) Ngô Văn Luận-Bình Định;
24) Trần Sĩ Mai-Phú Yên;
25) Phan Lung-Tam Quan, Bình Định;
26) Trần Văn Liên-Cán bộ Đại đội ĐKZ;
27) Nguyễn Hương-Cán bộ Đại đội ĐKZ;
28) Nguyễn Văn Thiện–Bình Định;
29) Đồng chí Tâm-Quảng Ngãi;
30) Đồng chí Ngưỡng–Nghệ An;
31) Đồng chí Thành-An Khê, Gia Lai;
32) Đồng chí Lực-Phú Tài, Bình Định;
33) Đồng chí Đức-Đức Phổ, Quảng Ngãi;
34) Hrinh-Gia Lai;
35) Đồng chí Choang - Gia Lai;
36) Đồng chí Tpích - Gia Lai;
37) Đồng chí Chương - Vĩnh Thạch, Bình Định;
38) Đồng chí Ửng – xã Hoài Thanh, Hoài Nhơn, Bình Định;
39) Đồng chí Đức - Điện Bàn, Quảng Nam;
40) Đồng chí Tiến - Quảng Nam;
41) Đồng chí Sử - Quảng Nam;
42) Lê Văn Cầu - Nhơn Bình, Quy Nhơn, Bình Định;
43) Nguyễn Đình Phú - Quy Nhơn, Bình Định;
44) Văn Ngọc Sơn – xã Vĩnh Hội, Tây Sơn, Bình Định;
45) Trần Ngọc Đạm - Vĩnh Hội, Tây Sơn, Bình Định;
46) Lê Phát - Vĩnh Hội, Tây Sơn, Bình Định;
47) Trần Đình Hoành - Duy Xuyên, Quảng Nam;
48) Nguyễn Bình - Đại Lộc, Quảng Nam;
49) Nguyễn Văn Ký - chưa xác định được rõ quê;
50) Ngô Dây - Phù Cát, Bình Định;
51) Hồ Tạo - Tây Sơn, Bình Định;
52) Trần Đề - chưa xác định được;
53) Lê Màng - Chưa xác định được;
54) Đồng chí Giảng - Điện Bàn, Quảng Nam;
55) Đồng chí Hiền - chưa xác định được quê;  
56) Lê Trung Cát - Chưa xác định được;
57) Đồng chí Lung - chưa xác định được;
58) Đồng chí Đoan - Quảng Nam;
59) Đồng chí Chanh - Chưa xác định được;
60) Trần Sao - chưa xác định được;
61) Võ Thôn - Thăng An, Thăng Bình, Quảng Nam;
62) Nguyễn Văn Thái - Phổ Thuận, Đức Phổ, Quảng Nam;
63) Nguyễn Văn Tước - Tịnh Minh, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi;
64) Nguyễn Trung Quyết – chưa xác định được;
65) Nguyễn Văn Sở - Điện Bàn, Quảng Nam;
66) Bùi Đức Ái - Sơn Tịnh, Quảng Nam;
67) Nguyễn Luân - Tịnh Minh, Tịnh Sơn, Quảng Nam:
68) Nguyễn Xuân Cảnh - Tuy Hòa, Phú Yên;
69)  Nguyễn Văn Chức - Nghĩa Thắng, Tư Nghĩa, Quảng Nam;
70) Nguyễn Mẹo - Sông Cầu, Phú Yên;
71) Nguyễn Tấn - chưa xác định được quê…
72) Nguyễn Quang Huy - Tịnh Hiệp, Tịnh Sơn, Quảng Ngãi;
73) Nguyễn Tấn Sang - Điện Bàn, Quảng Nam;
74) Nguyễn Lộc - Gò Cồi, Bình Định;
75) Đồng chí Tấm, Quảng Ngãi;
76) Đồng chí Hạc - Quảng Ngãi;
77) Lê Văn Le - Bình Định;
78) Nguyễn Dầy - Quảng Ngãi;
79) Phan Bài - Bình Định;
80) Lê Văn Lại - Quảng Nam;
81) Đồng chí Phan - Bình Định;
82) Đồng chí Mạnh - Quảng Nam;
83) Phan Tiếp - Quảng Nam;
84) Huỳnh Văn Điểu - Quảng Nam;
85) Nguyễn Anh Hùng - Quảng Nam;
86) Cao Thái Hoàng - Tây Sơn, Bình Định;
87) Cao Thái Hiệp - Tây Sơn, Bình Định;
88) Phạm Bảy - Tây Sơn, Bình Định;
89) Nguyễn Thơ - Phù Cát, Bình Định;
90) Phạm Thành Chung - Quảng Nam;
91) Nguyễn Ngọc Hỷ – Quảng Nam;
92) Nguyễn Hòa - Bình Đông, Bình Sơn, Quảng Ngãi;
93) Nguyễn Trung - Phú Lê, Phú Yên.


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: vmt trong 18 Tháng Một, 2011, 08:46:24 PM
Trong bản thành tích của anh hùng Võ Thiết cũng thấy nói đến thành tích chỉ huy đại đội chiến đấu trong trận đánh Đăk-pơ :
 
 ( ..... Trong trận tiêu diệt binh đoàn cơ động số 100 của địch trên đường 19 ngày 24 tháng 6 năm 1954, Võ Thiết chỉ huy đại đội tiến công cắt đứt đội hình phía sau đoàn quân địch, diệt gọn 14 xe chở đầy lính. Đoàn quân đi trước quay lại phản kích, đồng chí chỉ huy đơn vị nhanh chóng chiếm điểm cao đánh lui 3 đợt phản kích của 2 tiểu đoàn địch, giữ vững trận địa và giam chân chúng tại chỗ, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn trung đoàn triển khai, cơ động lực lượng, kết quả: đã đánh tan binh đoàn cơ động của Pháp gồm 5 tiểu đoàn, bắt sống 800 tên, thu 279 xe quân sự, thu và phá hủy 12 khẩu pháo địch....)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: SaigonGuider trong 12 Tháng Hai, 2011, 12:12:47 PM
Bài 5: Để Đắk-pơ mãi âm vang...

Mặc dù đã thực hiện được một phần tâm nguyện nhưng giờ đây các Cựu chiến binh Trung đoàn 96 vẫn mong muốn tổ chức một cuộc hội thảo khoa học về chiến thắng Đắk-pơ; xây dựng Tượng đài chiến thắng Đắk-pơ và tìm kiếm quy tập hài cốt các cán bộ, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong trận Đắk-pơ.
...
Điều mà các cựu chiến binh trăn trở nhất bây giờ là làm sao để tìm được phần mộ 147 liệt sĩ đã hy sinh trong trận Đắk-pơ. Thông tin từ Văn phòng UBND huyện Đắk-pơ cho biết, trong 147 liệt sĩ đó mới có 93 người xác định được họ tên, quê quán, còn lại 54 người chưa xác định. Ông Nguyễn Tự cho biết: Trong số các cựu chiến binh Trung đoàn 96 có ông Nguyễn Văn Song và một số người từng trực tiếp tham gia chôn cất 49 liệt sĩ hy sinh ngay tại mặt trận. Dưới sự chỉ dẫn của ông Song, các cựu chiến binh Trung đoàn 96 đã nhiều lần trở lại chiến trường xưa để tìm hài cốt đồng đội nhưng vẫn chưa có kết quả bởi mọi dấu tích giờ đã mất hết. Còn lại gần 100 cán bộ, chiến sĩ bị thương được đưa về cấp cứu tại Trạm phẫu thuật Quân y tiền phương của Trung đoàn 96 rồi hy sinh, được các chiến sĩ quân y và nhân dân địa phương chôn cất ngay gần trạm (thuộc địa phận xã Đắk-pơ). Từ những thông tin do người dân và Đại tá, Bác sĩ Nguyễn Công Nghiêm, nguyên Quân y trưởng Trung đoàn 96 ngày ấy cung cấp, các cựu chiến binh Trung đoàn 96 cũng nhiều lần trở khu vực đặt trạm phẫu năm xưa nhờ các già làng giúp đỡ tìm kiếm hài cốt đồng đội như cũng chưa có kết quả.

Theo cựu chiến binh Nguyễn Tự, công việc này ngày càng trở nên khó khăn bởi vừa rồi ông Nguyễn Văn Song và một số cựu chiến binh trực tiếp tham gia chôn cất những đồng đội hy sinh đều đã qua đời do tuổi cao, sức yếu. Những già làng ở xã Đắk-pơ đã từng tham gia chôn cất những cán bộ, chiến sĩ hy sinh tại trạm phẫu tiền phương cũng lần lượt qua đời. Mặc dù vẫn đau đáu một nỗi niềm là đưa các đồng đội về yên nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ nhưng với ông Nguyễn Tự và các cựu chiến binh Trung đoàn 96 công việc này bây giờ như “mò kim đáy biển”. Tại buổi gặp mặt truyền thống nhân kỷ niệm 56 năm chiến thắng Đắk-pơ vừa qua, các cựu chiến binh Trung đoàn 96 cùng Hòa thượng Thích Nguyên Phước-Phó trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Gia Lai và các vị sư trụ trì chùa Long Khánh đã tiến hành lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ và tiếp tục bàn tính chuyện mời những người có khả năng ngoại cảm giúp đỡ tìm hài cốt các đồng đội...
Gần như phù hợp với kết quả có từ sự hỗ trợ của Bác fanlong74 mà Bác ChiangShian đã đưa trong bài post#39 (http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1781.39.html) - lần theo đường link tư liệu dossier.pdf (trang 38) do bác Altus cung cấp trong bài post#9 (http://www.quansuvn.net/index.php/topic,1781.9.html) - SGG nhặt ra được một sơ đồ diễn biến trận đánh, từ phía "chứng nhân" bên kia, dưới đây:

(http://i6.photobucket.com/albums/y238/nttuan/QsVN/MangYangPass-Dakpo1954.jpg)

Thoạt đầu, với nhiều thông tin nào là trận đánh nổ ra từ bên kia cầu Đakpơ, trận địa kéo dài ba cây số rồi chốt chặn địch viện từ phía sau, diệt 14 xe... dẫn đến cứ thắc mắc mãi về vị trí chính xác với các định danh "Trận Đèo Mang Yang" và "Trận cây số 15"...
Thì ra, cây số 15 phải tính từ... An Khê (trong một đoạn của B.Fall có câu "ngồi xe qua khỏi km14 thấy khung cảnh dễ bị...")
Và cái đoạn địa lý để định danh đèo Mang Yang đã không còn dài như ngày xưa nữa từ sau những năm cuối thập niên 50's (sau hàng loạt cuộc "tái thiết công chánh..." của hai thời cộng hòa ở miền nam trước 1975). Lại càng xa xôi hơn nữa nếu tính vào thời điểm bây giờ

Tạm căn cứ từ địa hình thực địa mà chủ yếu là dòng Đakpơ... nơi mà dân cư chung quanh cái cầu Đăkpơ hiện nay chỉ là những di dân kinh tế mới từ sau 1979

(http://i6.photobucket.com/albums/y238/nttuan/QsVN/Dakpo1954140K.jpg)

Trong suốt giai đoạn từ 1960 đến 1965 - những cuộc càn trắng, dồn dân về Cheo reo - Phú Bổn, An định - An khê được tiến hành tận tình, những làng dân tộc lại càng khốn khó hơn khi dân "canh tác vùng triền - làm rẫy" lại bị đẩy lên vùng "cao, bằng..." hay "thung lũng, lõm..." (các trại Lực lượng Đặc biệt/Dân sự Chiến đấu/Huấn luyện Biệt kích Nùng... thực chất là một dạng như Ấp Chiến lược/Chi khu ở đồng bằng - mà chỉ yếu dựa vào "lấy gạo, muối" để sử dụng tính dẽo dai đường rừng và văn hóa, ý thức thấp của bà con dân tộc thiểu số - tất nhiên là cũng có những "già, ama, y..." thuộc diện khá là... ác ôn sừng sỏ)

(http://i6.photobucket.com/albums/y238/nttuan/QsVN/Dakpo19541250K.jpg)

Lại nữa, thật sự, từ trước đến giờ hình như cũng chưa bao giờ có một "xã Đăkpơ"... ở một vùng địa hình mà trong chiến tranh KCCM, gần như được gọi là "vùng trắng/vùng mất kiểm soát" đến độ gần như mỗi cuộc chuyển quân lớn của lính sư đoàn 1 American hoàn tất được coi như là một "thành công chiến thuật xuất sắc" - mà tính ra cũng chỉ được có 2-3 lần chuyển quân lớn chứ mấy đâu!
Tại sao địch gọi là "trắng/mất kiểm soát" thì chắc phải hỏi mấy Cụ Sư 2, Sư 3 Sao Vàng... thì mới biết được nhỉ?

(http://i6.photobucket.com/albums/y238/nttuan/QsVN/Dakpo1954150K.jpg)

Nhìn cái vệt "đường bò" trên bản đồ 1/50K (1970) và so lại với bản sơ đồ địa hình trên kia... thấy chi tiết "trận địa kéo dài 3km" thì vẫn còn... ít quá so với diễn tiến trận đánh!
Trong bản sơ đồ kia còn có hai chữ "PK21" và "PK11" - có ai giúp giải thích cho em nhờ chút...

Vấn đề SGG đưa ra là... "Lấy đâu ra xã Đakpơ hay già làng Đakpơ để các Cụ cựu nhà ta đi tìm để hỏi?"
Chuyện "mai táng tại trận địa" có còn nằm ở một địa bàn nhỏ hẹp chung quanh cây cầu?
Cũng như khi trận đánh diễn tiến lan dài như thế trong mấy ngày thì việc "trạm phẫu tiền phương trung đoàn" có cơ động thêm "số nóc lều" như thế nào để bây giờ có thể "tìm lại dấu xưa" cho dễ?

Ngay cả cái làng Đakpơ hay xã Đakpơ cũng là một chi tiết!

Chúng ta đang nói về thời chiến đấu của các cụ "bạch đầu quân" phía Nam, khi mà "quân chủ lực" đã dồn hết sức (vũ khí khí tài trang thiết bị) về phía Bắc, Điện Biên Phủ chỉ mới "vừa xong"
Ấy là chưa nói đến thời kỳ này, các tên làng xã vùng này phần lớn vẫn còn giữ danh bắt đầu bằng chữ "Plei" - chứ chưa có thói quen ở đâu cũng dùng chữ "Đak" như từ sau những năm 59-62 (chỉ từ khi có một vị "Trưởng ty sắc tộc" của thời ấy là người... Ê-đê quê xứ Ban Mê thuộc - Vâng, người Ê-Đê/rhades - thường là sắc tộc nòng cốt của... Fulro - thì mới hay lập làng xã bắt đầu từ chữ Đắk)

Lại nôn nao chuyện của mấy cụ già quá đi thôi!


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 12 Tháng Hai, 2011, 12:37:25 PM
Trong bản sơ đồ kia còn có hai chữ "PK21" và "PK11" - có ai giúp giải thích cho em nhờ chút...

"Cây số" bác ạ (khu vực diễn ra trận đánh là cây số 15 - PK15).


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: SaigonGuider trong 12 Tháng Hai, 2011, 01:10:46 PM
Trời đất, thì ra sơ đồ ký chú tiếng Pháp mà "hắn" dùng Piont Kilometer (tiếng Pháp thì Borne Kilométrique)

Cảm ơn Bác ChiangShian nhé (à! cậu có hỏi các Cụ ý kiến gì về những tọa độ bên ChưTanKra chưa?)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: star trong 13 Tháng Hai, 2011, 10:00:20 AM
Trời đất, thì ra sơ đồ ký chú tiếng Pháp mà "hắn" dùng Piont Kilometer (tiếng Pháp thì Borne Kilométrique)

PK đúng là tiếng Pháp đấy bác ạ, nó là viết tắt của Poste Kilométrique


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: SaigonGuider trong 13 Tháng Hai, 2011, 10:19:17 AM
Trời đất, thì ra sơ đồ ký chú tiếng Pháp mà "hắn" dùng Piont Kilometer (tiếng Pháp thì Borne Kilométrique)

PK đúng là tiếng Pháp đấy bác ạ, nó là viết tắt của Poste Kilométrique
Ừ nhỉ... nhớ từ trước giờ mình biết nguyên tắc công chánh thời Pháp, đặt cột cây số cự ly tính theo "Bưu điện địa phương" - chẳng qua vì không rành tiếng Pháp nên không biết... mà cũng không thấy quy định ký chú cột cây số là PK nên mù tịt.

Cảm ơn Bác Star!


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: star trong 13 Tháng Hai, 2011, 10:32:05 AM
PK đúng là tiếng Pháp đấy bác ạ, nó là viết tắt của Poste Kilométrique
Ừ nhỉ... nhớ từ trước giờ mình biết nguyên tắc công chánh thời Pháp, đặt cột cây số cự ly tính theo "Bưu điện địa phương" - chẳng qua vì không rành tiếng Pháp nên không biết... mà cũng không thấy quy định ký chú cột cây số là PK nên mù tịt.

Em vừa tìm hiểu thêm 1 số tài liệu tiếng Pháp thì thấy rằng em cũng nhầm, PK trong bản đồ là viết tắt của "Point Kilométrique" thì đúng hơn.

Em cũng không rành lắm về những từ tiếng Pháp dùng trong ngành giao thông, nhưng có vẻ "borne kilométrique" có nghĩa là "cái cột mốc" hay cái "cột cây số", còn "point kilométrique" là giá trị (độ lớn) khoảng cách ghi trên cái cột đó.

Trước em nhầm vì đầu tiên em đoán chữ P là viết tắt của Poste, tìm trên mạng thì cũng thấy một số tài liệu tiếng Pháp dùng cụm "poste kilométrique" để chỉ vị trí địa lý. Nhưng sau đó em tìm sang cụm "Point Kilométrique" thì thấy kết quả nhiều hơn và các nguồn đáng tin cậy hơn.

Đây là một đoạn tại trang 72, cuốn "Cessez-Le-Feu" (Sự Ngừng Chiến) của Gérard Santelli, nguyên trung sĩ thuộc tiểu đòan 2 Triều Tiên:
Đoạn sách này em tìm được trên Google Books với các từ khóa: PK "Point Kilométrique" "Mang Yang"
Đây là tài liệu do một quân nhân Pháp viết nên chắc là đáng tin cậy (đối với việc tìm hiểu ký hiệu viết tắt trên tấm bản đồ quân sự):

(http://img6.imageshack.us/img6/5917/pkpointkilometrique.png)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: chiangshan trong 09 Tháng Tư, 2012, 11:29:52 AM
Một số hình ảnh về trận Đăk Pơ.

GM 100 rút khỏi An Khê.

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/ANKHE1Colonne_de_vehicules_partant_d_Ankhe.jpg)

Phục kích.

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/ANKHE2Antenne_chir_et_mdic_aprs_embuscade_.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/ANKHE3Lendemain_embuscade.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/dakpo2.jpg)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/dakpo1.jpg)

Xe chiến lợi phẩm từ trận Đăk Pơ (đây có lẽ là ảnh chụp khi chuẩn bị tập kết)

(http://i378.photobucket.com/albums/oo229/chiangshan1/IMG_0331.jpg)


Tiêu đề: Re: Trận đánh cây số 15 đèo Mang Yang - Chiến thắng ĐắK Pơ 24/6/1954
Gửi bởi: lonesome trong 29 Tháng Sáu, 2019, 04:02:58 PM
http://redsvn.net/cay-so-15-deo-mang-yang-tran-danh-bi-lang-quen/

"Theo Quân Sử Việt Nam"

http://www.a70thvets.com/file/Savage/G100/G100.htm