Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước... => Tác giả chủ đề:: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 02:39:41 PM



Tiêu đề: Những gương anh hùng thời KCCM
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 02:39:41 PM
Có một nữ anh hùng tuổi ngoài đôi mươi, người con gái đất Quảng xinh đẹp trực tiếp chiến đấu, tiêu diệt 280 tên địch, bắn cháy hai xe tăng, một trực thăng... Chị là anh hùng liệt sĩ Lê Thị Tính...

Tuổi trẻ, chiến công lớn

Xã Điện Hòa-huyện Điện Bàn (Quảng Nam) là cái nôi cách mạng. Gia đình chị Lê Thị Tính thường xuyên tiếp tế, nuôi giấu cán bộ. Ngày ấy, cha chị bị bọn giặc giết hại, chúng đốt nhà, cướp của mang đi. Nỗi căm hờn quân xâm lược thấm sâu vào tim gan cô bé vừa tròn 10 tuổi.

Tên ác ôn đầu tiên chị Tính được cấp trên giao nhiệm vụ tiêu diệt là mụ xã Năm làm điệp viên cho địch. Chị Tính cải trang làm em họ một người bạn từ Sài Gòn ra rồi bất ngờ nổ súng bắn chết mụ ta ngay tại nhà. Sau cái chết của mụ xã Năm, địch điên cuồng điều thêm gián điệp, ác ôn về bắt bớ cơ sở cách mạng. Dạo đó, tên cảnh sát Khanh rất hách dịch và tàn bạo, hắn bắt nhân dân Điện Hoà dò gỡ mìn do du kích cài lại để bọn chúng đi càn, ai không đi chúng tra tấn rất dã man. Chị Tính nghĩ cách phải giết chết thằng này. Biết tên Khanh có bà con xa với ông Cửu Sâm nên chị cải trang thành con gái ông ấy gánh đôi giỏ bội đi cắt cỏ cho trâu. Hôm đó, chị để đôi giỏ bội cỏ giữa đường ngồi nghỉ, vừa lúc tên Khanh đi tới liền nói ngay: “Chú Khanh cho cháu xin điếu thuốc!”. Tên Khanh ngạc nhiên khi thấy đứa con gái trắng trẻo, xinh xắn, cười tươi như hoa nên hắn tít mắt hỏi con cái nhà ai rồi rút thuốc thơm đưa ngay, giọng lơi lả: “Cô em xinh dữ quá ta, ưng thuận làm zợ qua nghe?”. Không để cho tên Khanh giở trò sàm sỡ, Tính rút súng ngắn bắn 3 phát vào ngực, khiến hắn chết ngay tại chỗ.


Người con gái xinh đẹp, đánh giặc xuất quỷ nhập thần được bà con hết lòng cưu mang. Một lần về vùng Cẩm Hà nắm tình hình, Tính bị địch bắn bị thương. Lợi dụng đêm tối, chị nén cơn đau lết về căn nhà đầu xóm còn le lói ánh đèn hắt ra từ chuồng heo. Vừa tới nơi, con heo nái hộc lên liên tục vì hơi người lạ, nghe vậy bà chủ nhà đã phát hiện thấy một người con gái máu me đầy mình. Bà chưa kịp la lên, thì Tính đã nói, giọng rành rọt: “Cháu là Việt cộng đây, bác cứu cháu với, cách mạng sẽ không quên ơn bác”. Nghe Tính nói vậy, người đàn bà vội vàng dìu chị vào nhà băng bó vết thương, sau đó đưa chị về căn cứ.

Để chuẩn bị cho chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Thường vụ tỉnh ủy điều động Tính lúc này mới 25 tuổi đang là tỉnh ủy viên, huyện đội phó Điện Bàn về làm Bí thư quận Nhì (nay là quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng). Ngày 13-11-1967, mặc dầu chị Tính đang dưỡng thương do bị địch phục kích ở Thủy Tú, nhưng chị vẫn về căn cứ họp bàn công tác chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy. Chiều hôm đó Tính giả bộ như người đi chợ về, khi qua được nửa cánh đồng Hòa Liên (Hòa Vang) thì phát hiện địch mai phục cách đấy khoảng vài trăm mét. Biết mình đã bị lộ, chị bình tĩnh cất giấu tài liệu rồi lấy mấy quả lựu đạn dưới đáy mủng giắt vào người. Chị bình tĩnh bò qua con mương cạn tiến về mé bìa rừng, bất ngờ một loạt AR15 vang lên. Cánh tay trái của chị đau nhức nhối, lúc này quân địch đông như kiến đồng loạt xông tới định bắt sống chị. Biết không thoát khỏi, Tính bình tĩnh chờ cho quân địch đến gần rồi tung lựu đạn. Sau tiếng nổ nhiều tên địch ngã nhào, rống lên như bò bị chọc tiết. Bọn địch tức tối bắn xối xả vào người Tính... Người con gái xứ Quảng đã anh dũng hy sinh khi tuổi đời vừa tròn 27...

17 năm... mới có một ngày

Trong căn gác đơn sơ trên phố Phan Thanh, cô Lê Thị Nhị (chị gái của nữ anh hùng Lê Thị Tính) chậm rãi kể cho tôi nghe 17 năm trời ngược xuôi làm thủ tục để đề nghị các chính sách khen thưởng cho em gái của mình.

Giọng cô Nhị nghẹn ngào: “Để có được ngày hôm nay, tôi đã cạn khô nước mắt vì bao nỗi nhiêu khê, nhiều lúc nản lòng, nhưng được sự động viên của đồng đội nên lại kiên trì chờ đợi. Từ năm 1990, hầu như tất cả số đồng đội từng chiến đấu và đồng bào Điện Hòa biết đến Lê Thị Tính đều có tâm nguyện muốn Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng cho chị. Nhưng hồi đó, hồ sơ thất lạc do chiến tranh, có một vài người thiếu hiểu biết, phát biểu sai sự thực, do vậy cứ nhùng nhằng về mặt thủ tục. Mãi đến năm 2003, được các anh Phạm Đức Nam (nguyên Chủ tịch tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng), Nguyễn Hồng Thắng (Tỉnh ủy viên, Bí thư huyện ủy Điện Bàn), ông Bùi Văn Tiến (quận ủy Thanh Khê) và đồng đội của Tính động viên, tôi lại tiếp tục ngược xuôi tìm gặp các anh, chị một thời hoạt động với Tính để nhờ xác minh. Các anh ở phòng Chính sách Quân khu 5 cũng nhiều lần gửi tờ trình, hồ sơ lên cấp trên. Đến năm 2007, Tính được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân...”.

Với tay lần tìm tấm ảnh chụp bên mộ cô Tính ở Nghĩa trang liệt sĩ Điện Bàn trao cho tôi, cô Nhị nghẹn ngào xúc động: “Hôm ấy, tôi cùng anh Lê Nguyên Hồng - Giám đốc Sở TDTT và gia đình về Quảng Nam. Cả ngày hôm đó mưa tầm tã, vậy mà khi chúng tôi tới nghĩa trang thì trời tạnh hẳn. Đặt tấm bằng danh hiệu Anh hùng lên mộ Tính, tôi thắp bó hương lớn lên mộ rồi nói với em tôi: “Tính ơi, nhờ anh em, đồng đội và bà con giúp đỡ, đến hôm nay công lao của em đã được đền đáp...”.



Tiêu đề: Re: Nữ anh hùng tuổi đôi mươi
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 02:40:53 PM
Xin lỗi- Nguồn báo Sự kiện và nhân chứng


Tiêu đề: Nhân vật lịch sử
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 02:46:12 PM
Anh Trần Văn Đang, sinh năm 1942, ở xã Long Hồ, Châu Thành Tây, nay là xã Long Phước, huyện Long Hồ, Vĩnh Long. Anh xuất thân từ một gia đình nghèo khổ, mồ côi cha từ nhỏ, mấy mẹ con tần tảo nuôi nhau. Lớn lên, cảnh sống ở quê hương cùng cực, anh phải lần bước lên Sài Gòn theo người chú để kiếm sống qua ngày. Chú ruột anh là một đảng viên cộng sản hoạt động bí mật ở nội thành Sài Gòn. Chính ông đã hướng dẫn anh đi làm cách mạng và tháng 3-1964, đưa anh vào lực lượng vũ trang nội thành của đội biệt động thành phố Sài Gòn với bí danh là Sang. Lúc đó anh tròn 18 tuổi.

Sau một thời gian thử thách, học tập chính trị và quân sự tại căn cứ của đội biệt động Sài Gòn ở Củ Chi, anh Trần Văn Đang được lãnh đạo giao nhiệm vụ đánh mìn ở câu lạc bộ sĩ quan Mỹ tại số 3 Võ Tánh, quận Tân Bình, Sài Gòn.

Tổ chức giao cho anh một chiếc xe máy cùng 10kg thuốc nổ TNT và phân công một người lái xe đưa anh đến điểm đánh mìn. Qua công tác điều nghiên nhiều ngày, anh đã nắm được quy luật ra vào của bọn cố vấn và lính Mỹ ở câu lạc bộ này. Anh dự định dùng 10kg thuốc nổ cực mạnh đó áp sát tường căn nhà “Câu lạc bộ sĩ quan Mỹ” để phá tung cả khu nhà bọn sĩ quan và phi công Mỹ thường lui tới chơi bời sau mỗi ngày đi tàn sát nhân dân ta về.

Điều không may cho anh Đang và tổ chức đội biệt động là tên lái chiếc xe chở anh đi đánh trận ấy đã bị “chiêu hồi” mà anh và tổ chức vẫn chưa hay. Trước khi chở Trần Văn Đang đi, hắn đã mật báo cho cảnh sát ngụy quyền Sài Gòn về kế hoạch đánh mìn của anh vào bữa đó. Khi chiếc xe vừa dừng lại đúng điểm trong kế hoạch tác chiến, anh đang lên giây đồng hồ báo nổ và cũng không quên gắn thêm một kíp nổ đề phòng đồng hồ trục trặc, thì bọn cảnh sát ập đến. Chúng đã bắt anh Trần Văn Đang ngay giữa trưa ngày 20-3-1965. Chiều ngày 9-4-1965 trong một phiên tòa đặc biệt, anh Trần Văn Đang bị chúng kết án tử hình tại khám Chí Hòa.

Trong phòng biệt giam những người tử tù, Trần Văn Đang vẫn không nhận bất cứ một sự dụ dỗ nào của địch để khai báo tổ chức cho chúng, mặc dù anh biết ngày được sống sẽ không còn nhiều, vợ và con anh còn vất vả, gieo neo khi anh hy sinh. Anh vẫn bình tĩnh, thản nhiên và không để lộ bất cứ một bí mật nào của đội biệt động thành phố Sài Gòn cho bọn địch.

Đúng 5 giờ 30 phút ngày 22-6-1965, bọn gác ngục đưa anh Trần Văn Đang ra pháp trường. Dù biết cái chết đang gần kề từng phút, anh vẫn không tỏ thái độ nào run sợ. Từ phòng tử tù trên lầu xuống tầng trệt, anh ôm thêm mọi đồ dùng cá nhân và ung dung bước đi ra pháp trường trong tư thế của người lính biệt động thành chiến thắng.

Địch đưa bữa cơm cuối cùng của người tử tù, anh từ chối, chỉ xin một bình trà nhỏ. Rồi thay áo quần sạch sẽ, anh ngồi uống trà, hút thuốc, tóc chải gọn gàng, sạch sẽ, rất đĩnh đạc trước khi chúng thi hành xử bắn anh. Đồng bào Sài Gòn hôm ấy tập trung đông xung quanh khu vực chợ Bến Thành. Bà con ai thấy cũng hết sức xúc động và thán phục một chiến sĩ biệt động thành gương mặt còn quá trẻ, đi đến pháp trường của Mỹ-ngụy với một tư thế hiên ngang, bất khuất, không một chút hoang mang sợ hãi trước mũi súng quân thù.

Khi toán cảnh sát đẩy anh đến trước cọc xử bắn, anh Trần Văn Đang la lớn: “Phải để tôi thấy đồng bào tôi”. Anh yêu cầu bọn cảnh sát cho mình được nói chuyện với đồng bào anh đang tập trung xung quanh trường bắn. Chúng không đáp ứng yêu cầu của anh. Anh không chịu bịt mắt và hô lớn “Đả đảo đế quốc Mỹ”, “Hồ Chủ tịch muôn năm”, “Đả đảo đế quốc Mỹ”, “Hồ Chủ tịch muôn năm”. Những lời hô lớn của anh, theo trung tá, nguyên Chỉ huy trưởng lực lượng quân sự quận 6, thành phố Hồ Chí Minh, cũng là một thành viên trong đội biệt động Sài Gòn thời gian ấy cho biết lời hô của anh làm bà con Sài Gòn hôm ấy chứng kiến thật sự xúc động, và cảm phục.

Cùng với Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, cái chết của chiến sĩ biệt động Sài Gòn Trần Văn Đang đã thức tỉnh hàng triệu người yêu nước dấy lên phong trào đấu tranh chống Mỹ-ngụy. Sự hy sinh của anh hùng liệt sĩ Trần Văn Đang và thái độ anh dũng hiên ngang trước kẻ thù đã tác động hàng triệu trái tim của tuổi trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong thư gửi thế hệ trẻ cả nước tháng 10-1966, Bác Hồ đã động viên thanh niên cả nước học tập gương anh hùng dũng cảm của các anh Nguyễn Văn Trỗi và Trần Văn Đang. Ngày 6-11-1978, Chủ tịch nước ta đã truy tặng danh hiệu cao quý Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho liệt sĩ Trần Văn Đang


Tiêu đề: Anh hùng Nguyễn Thị Cam chỉ biết đánh không biết đầu hàng
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 02:47:42 PM
Anh hùng Nguyễn Thị Cam, sinh năm 1948, dân tộc Kinh, quê xã Gio Thành, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, trong khu vực vĩ tuyến 17. Những năm thơ ấu, thực dân Pháp và tay sai liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, lập tề, xây dựng đồn bốt, đóng chốt hầu hết các tuyến giao thông thủy bộ trên quê hương của chị. Mặc dù vậy phong trào kháng chiến vẫn phát triển. Trong ký ức tuổi thơ của chị, còn đọng mãi hình ảnh quê hương tràn ngập cờ sau ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết.
HIỆP định Giơ-ne-vơ quy định: với Việt Nam, giới tuyến quân sự (vĩ tuyến 17) chỉ có tính chất tạm thời. Sau hai năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, hai miền sẽ tiến hành tổng tuyển cử thống nhất nước nhà về mặt nhà nước. Nhưng với bản chất phản động, Mỹ-Diệm đã trắng trợn chà đạp lên công ước quốc tế, không những không tổ chức tổng tuyển cử mà còn tiến hành khủng bố lực lượng kháng chiến. Sau khi xây dựng được chính quyền phản động thân Mỹ từ trung ương đến cơ sở hòng chia cắt lâu dài đất nước ta, Mỹ–Diệm điên cuồng phản kích, dìm cách mạng miền Nam trong biển máu.

Ở xã Gio Thành, địch tiến hành các đợt tố cộng đẫm máu. Đảng viên, cốt cán bị chúng bắt tập trung vào các trại “cải huấn”, các khu “dinh điền” để “tẩy não”. Cảnh chúng lùng sục, bắn giết, tra tấn cán bộ, đảng viên diễn ra hằng ngày, như chà vôi, xát ớt vào lòng Nguyễn Thị Cam. Căm thù bọn địch dã man, chị nung nấu trong tim nguyện ước được đi chiến đấu để đuổi sạch quân thù, giải phóng quê hương.

Tháng 1-1966, Nguyễn Thị Cam tròn 18 tuổi và đạt được mơ ước của mình là gia nhập đội du kích xã Gio Thành. Thời gian này, quân Mỹ bắt đầu ồ ạt kéo vào miền Nam, thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Chúng xây dựng hệ thống căn cứ Mỹ từ Cửa Việt, Đông Hà đến Làng Vây, xây “hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra”. Chúng tung các đơn vị thám báo, biệt kích với những cái tên “Trâu điên”, “Đỉa đói”... ngày đêm tuần tra, phục kích lực lượng ta đi lại hoạt động. Địch còn dùng chất độc hóa học, bom xăng đốt phá, thiêu hủy từng lá cây, ngọn cỏ. Từ tháng 5 đến tháng 12-1967, địch đã san bằng hầu hết huyện Gio Linh. Đại bộ phận nhân dân bị dồn vào các trại tập trung lớn: Cửa Việt, Cồn Tòng, Quán Ngang... bị thiếu đói, ốm đau, kẻ địch liên tiếp thanh lọc, khủng bố, hàng trăm người đã chết. Quần chúng vô cùng căm phẫn.

Vốn thông minh, nhanh nhẹn, Nguyễn Thị Cam được cử vào đội công tác mật, thực hiện nhiệm vụ củng cố lại hệ thống hoạt động mật trong khu tập trung, hướng dẫn quần chúng đấu tranh, đòi địch giải quyết đời sống, đòi địch bồi thường thiệt hại. Dũng cảm trong chiến đấu, khôn khéo trong công tác vận động quần chúng nên chị đã được kết nạp vào Đảng. Cuối năm 1969, chị được giao làm xã đội phó xã Gio Thành, trực tiếp chỉ huy trung đội du kích mật.

Chị đã cùng anh chị em du kích sống, chiến đấu, bám trụ trên vành đai trắng, sát “hàng rào điện tử Mác Na-ma-ra”, sáng tạo nhiều cách đánh địch có hiệu quả cao. Bất kể ngày hay đêm, khi có thời cơ, đội du kích của chị lại bày trận, ra đòn với địch. Đội đã liên tục tiến công, vây ép, bắn tỉa, phóng bom, cài mìn, gây cho địch nhiều thiệt hại. Riêng chị đã trực tiếp đánh 48 trận lớn, nhỏ, diệt 31 tên địch (có 22 tên Mỹ), bắn cháy 4 xe tăng. Tháng 3-1968, ở Lâm Xuân, Nhí Hạ, đơn vị Nguyễn Thị Cam phối hợp với bộ đội đoàn Sông Dinh diệt gọn toàn bộ đoàn xe 22 chiếc của địch. Đơn vị của chị đã tham gia chiến đấu, lập công xuất sắc trong cuộc Tổng tiến công Xuân 1968, tham gia đập tan cuộc hành quân càn quét quy mô lớn mang tên “Lam Sơn 719” của địch ở đường 9-Nam Lào. Trong hội nghị tổng kết thi đua của đơn vị các năm 1969, 1970, 1971, chị đều được bình bầu là Chiến sĩ thi đua.

Ngày 14-2-1972, tổ công tác năm người của chị có nhiệm vụ đột nhập vào khu tập trung dân ở Cửa Việt để chúc Tết đồng bào và cắm cờ Mặt trận giải phóng vào sáng mùng một Tết, gây khí thế cho nhân dân, chuẩn bị phát động quần chúng chống phá bình định, giải phóng tỉnh Quảng Trị vào cuối tháng 3 năm 1972. Trên đường đi, tổ của Nguyễn Thị Cam lọt vào ổ phục kích của một thiết đoàn xe tăng và một đại đội bảo an địch. Dưới sự chỉ huy của chị, toàn tổ vừa chiến đấu vừa rút lui. Ba người rút an toàn, một người trúng đạn hy sinh, còn một mình Nguyễn Thị Cam trên bãi cát rộng. Địch cho xe tăng và xe bọc thép cùng bộ binh vây bắt. Chúng dùng loa kêu gọi chị đầu hàng. Tranh thủ thời cơ, Nguyễn Thị Cam cắm lá cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam lên cồn cát cao. Địch tưởng chị đầu hàng, ào lên bắt sống. Nguyễn Thị Cam bình tĩnh đợi địch đến gần, nã đạn vào đội hình địch, diệt hai tên và hô lớn: “Con Cam này chỉ biết đánh, không biết đầu hàng”. Biết không thể bắt được chị, quân địch dùng xe tăng, xe bọc thép lao vào đè nát chị. Nguyễn Thị Cam tung liên tiếp hai quả lựu đạn vào xe địch. Bọn chúng tức tối nghiền nát thi thể của chị.

Gương hy sinh của Nguyễn Thị Cam đã được nhân dân truyền tụng, kẻ thù kinh hoàng, thán phục. Năm đó chị mới tròn 24 tuổi.

6 năm hoạt động cách mạng, chị Nguyễn Thị Cam đã được tặng thưởng 3 huân chương Chiến công hạng ba, 4 danh hiệu "Dũng sĩ diệt Mỹ", 4 danh hiệu "Dũng sĩ diệt xe cơ giới", được ủy ban nhân dân khu Trị-Thiên-Huế tặng huy hiệu “Tấn công nổi dậy, anh dũng kiên cường”. Ngày 11-6-1999, chị được Nhà nước truy tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

(Nguồn: Báo Quân đội nhân dân)


Tiêu đề: Re: Nhân vật lịch sử
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 03:03:27 PM
Đội trưởng đặc công ở "Củ Chi đất thép"

Hồi kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ở vùng “Đất thép Củ Chi” (phía Bắc Sài Gòn-Gia Định) có anh cán bộ Quân giải phóng rất trẻ và hiền lành. Anh được bà con, cô bác và các chiến sĩ du kích mến thương. Bọn Mỹ-ngụy tại Củ Chi rất ớn Năm Thiềng và tức tối khi nghe tên anh, vì anh là người chỉ huy đội đặc công Quân giải phóng. Chúng xếp anh vào danh sách “những Việt cộng nằm vùng nguy hiểm”. Nhiều lần chúng từng treo giải và bao vây, lùng sục để bắt anh, nhưng đều không được. Đó là anh Đoàn Xuân Thiềng, còn gọi là Năm Thiềng, chàng trai quê ở huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Ở vùng này, nhiều căn cứ quân sự, đồn bốt, kho tàng của Mỹ-ngụy, dù được bảo vệ cẩn mật, Năm Thiềng và các chiến sĩ của anh vẫn đột nhập như có phép “xuất quỷ nhập thần” và bất ngờ đánh những đòn hiểm.

Bọn giặc khó kiếm Năm Thiềng vì anh và các đội viên đội đặc công thường sống phân tán cùng bà con trong các xã, ấp, dưới địa đạo, được nhân dân và anh em du kích giúp đỡ, chở che.

 Các chiến sĩ du kích Củ Chi còn nhớ: đầu xuân 1972, Năm Thiềng chỉ huy trận đánh Đồng Dù, gây nỗi kinh hoàng đối với Mỹ-ngụy. Hay tin bọn Mỹ vận chuyển hàng chục nghìn tấn đạn dược cùng nhiều đồ dùng quân sự từ Long Bình, Gò Vấp về chứa đầy bảy dãy kho trong căn cứ Đồng Dù, chuẩn bị đưa đi ứng cứu đồng bọn đang bị Quân giải phóng tấn công ở Tây Ninh, Dầu Tiếng và Lai Khê, Năm Thiềng lập tức chỉ huy đội đặc công đột nhập.


Hôm đó là ngày 18-1-1972. Trời vừa tối, trong khi bọn chỉ huy Mỹ-ngụy đang tung thêm lực lượng biệt kích, gián điệp rải khắp các xã, ấp và đốc thúc quân lính liên tục tuần tiễu để “ngăn chặn Việt cộng”, thì Năm Thiềng đã áp sát phía Tây Nam căn cứ quân sự lớn của chúng. Do nhiều lần từng ra vào điều tra và tấn công Đồng Dù, Năm Thiềng và các đội viên của anh (gồm Nguyễn Huyền Nhung, Ngô Vững Bền và Nguyễn Văn Long) nhớ rõ những vị trí quan trọng của địch tại đây. Các chiến sĩ đặc công mưu trí, dũng cảm, dưới sự chỉ huy của đội trưởng Năm Thiềng mau lẹ tiếp cận khu trung tâm Đồng Dù.

23 giờ 30 phút, Năm Thiềng và toàn đội của anh vừa rời khỏi Đồng Dù thì từ nơi ấy, những tiếng nổ dữ dội, những cột lửa khổng lồ ngùn ngụt bốc lên. Cùng với lửa và khói là tiếng nổ liên hồi của các loại đạn lớn nhỏ.

Ở cạnh khu bưng biền Bàu Chứa cách đó không xa, các anh cán bộ lãnh đạo chủ chốt của xã Trung Lập Hạ, gồm Sáu Tâm, Tư Nghĩa, Tám Trệt và các chiến sĩ du kích trong lực lượng yểm trợ đội đặc công đang nóng ruột đón đợi anh em từ Đồng Dù trở ra. Vừa thấy Năm Thiềng và các đội viên xuất hiện, mọi người chạy ùa tới ôm chầm các anh, ai cũng rưng rưng vui sướng. Những nụ cười trong phút gặp lại thật xúc động.

Đến chiều hôm sau, lửa vẫn cháy và đạn vẫn nổ rung chuyển cả Đồng Dù. Bọn Mỹ-ngụy hoảng hốt báo động, la lối om xòm, những tên đóng trong các đồn bốt quanh đó cuống cuồng hối nhau rút chạy vì sợ quân chủ lực “Việt cộng” sắp đánh lớn.

Cũng chiều hôm ấy, giữa lúc cả chi khu Củ Chi của địch đang rối bời và sống trong hoảng loạn thì tại hậu cứ của đội 5 đặc công Quân giải phóng ở khu rừng chồi An Nhơn Tây lại rộn niềm vui mới: Năm Thiềng và đồng đội của anh chuẩn bị đón khách quý. Khách đang đến phải tạm dừng bên chiến hào vì chiếc máy bay L19 của địch bay thấp phát loa oang oang kêu gọi nhân dân hãy chỉ cho chúng biết “các cán binh đặc công Việt cộng nằm vùng”, chúng sẽ “trọng thưởng”. Mọi người, kể cả Năm Thiềng, không ai nhịn được cười về trò chiến tranh tâm lý ấy của Mỹ-ngụy tái diễn lâu nay. Chiếc máy bay lượn mấy vòng như để có mặt rồi quay đi.

- Chúng em đến thăm mấy anh “Việt cộng nằm vùng” đây!

Có tiếng cười và tiếng nói thân quen. Nhìn ra, Năm Thiềng đã thấy “đoàn khách đặc biệt” đang tới. Đó là các nữ du kích Củ Chi từng sát cánh với đội đặc công của anh đánh giặc, đến chúc mừng toàn đội vừa lập chiến công. Năm Thiềng và các cán bộ, chiến sĩ của đội lúng túng trước các nữ du kích tươi trẻ, hồn nhiên, cô nào cũng súng ngang vai, khỏe mạnh mà duyên dáng trong bộ bà ba đen, đội mũ tai bèo và quấn khăn rằn mềm mại. Nhìn mấy cô xách những giỏ trái cây, bánh tét của bà con, cô bác trong ấp gửi tặng, Năm Thiềng vỗ tay và thốt lên:

- Ôi, mùa xuân đã đến!

Anh nhớ hôm ấy là ngày hai mươi tám tháng Chạp năm Tân Hợi, chỉ hai bữa nữa là đón Tết Nhâm Tý 1972
Nguồn- Báo Quân đội nhân dân


Tiêu đề: Re: Nhân vật lịch sử
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 03:51:40 PM
Chị Hai Riêng
Những dòng cuối cùng trong cuốn nhật ký của mình, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân “Hai Riêng” (tên thật là Lê Thị Riêng, nguyên Trưởng ban Phụ vận Khu Sài Gòn-Gia Định, Phó hội trưởng Ban chấp hành Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Giải phóng, ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) viết: “Tôi sẽ chiến đấu cho hạnh phúc không tan, cho con sớm gần mẹ, cho người người không còn tang tóc chia ly…”.

Chiến đấu để không còn tang tóc chia ly...

Bà sinh năm 1925, trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Vĩnh Mỹ, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. 16 tuổi, bà đã được giác ngộ cách mạng và trở thành chiến sĩ cách mạng với tên “Hai Riêng”. Tháng Tám năm 1945, Việt Minh nổi dậy, thị xã Rạch Giá, cờ đỏ rợp trời, người dân nô nức kéo nhau đi cướp chính quyền. Trong dòng người đó có bà. Bà đã trưởng thành trong phong trào phụ nữ của miền Nam, được bầu là Phó hội trưởng Hội Phụ nữ Cứu quốc miền Đông những năm 50.

Năm 1954, ông, bà thành hôn ở chiến khu Đ. Lễ cưới có mặt đông đủ các đồng chí lãnh đạo trong phân khu và bạn bè. Cuối năm 1961, sau đợt đi công tác dài ngày, bà trở lại khu rừng cũ nơi đã chia tay với chồng. Đến nơi, bà nhận được câu trả lời của đơn vị “Anh ấy đi công tác chưa về”. Bà nhẫn nại đợi. Một ngày chờ như thể mấy năm, bà càng đợi, càng biệt tăm. Biết không thể giấu được, đơn vị đành báo tin ông đã hy sinh…

Với nỗi niềm ấy, bà đã đau đớn viết vào cuốn nhật ký: “Ngày 28 tháng 10 năm 1960, vợ chồng tôi chia tay nhau và cũng là ngày cuối cùng chúng tôi xa nhau mãi mãi.

Chúng tôi đã nhiều lần hợp tan như thế nhưng chuyến đi này tôi cảm thấy quyến luyến xót xa vì mới xa con lại phải xa chồng…

Sáu tháng sau, sau khi đi công tác trở về khu rừng cũ, tôi nuôi hy vọng đầu tiên là sẽ gặp chồng. Đến nơi, tôi được biết anh đi công tác chưa về… Phải kéo dài thời gian chờ đợi, cứ thế mà mỗi ngày một biền biệt xa. Ai đã trải qua tất sẽ thông cảm đầy đủ tình cảnh lo sợ, nhớ mong của vợ đối với chồng của tôi lúc bấy giờ.

Mãi tới ngày 29-4-1961, được các đồng chí cấp ủy mời đến, câu nói đầu tiên của các anh mà tôi bắt buộc phải nghe, mãi đến nay, mỗi khi nhớ đến tôi còn thấm sợ: “Xin báo cáo chị một tin buồn, anh ấy đã hy sinh”. Tôi phải nhắm mắt lại để tránh một sự thật đau thương, mong rằng tất cả những người đàn bà trên thế gian này, không ai phải nghe câu nói ấy đến với mình”.



Sau những ngày hốt hoảng, tôi nghe các đồng chí thuật lại rằng: “Đêm 4-12-1960, nhằm đêm rằm tháng 11-1960, trên đường công tác, không may anh bị phục kích, chống cự đến viên đạn cuối cùng và cũng đêm ấy anh không bao giờ trở lại với vợ con”.

Xóm mộ Đông Yên, xã Đông Hòa (Dĩ An) là nơi an nghỉ cuối cùng. Khi ngồi viết những dòng này tôi vẫn chưa tìm đến được nắm đất thân yêu, nơi chồng tôi gửi xác.

Bảy năm trời chung sống, từ ngày 3-5-1954, đến tháng 4 năm 1960, bao tình sâu nghĩa nặng của vợ chồng tôi đã kết thúc trên đời. Còn lại hai con đang sống xa mẹ. Chúng là nguồn hạnh phúc, là sức mạnh chiến đấu giúp tôi hăng hái đi lên không bao giờ chùn bước. Tôi sẽ chiến đấu cho hạnh phúc không tan, cho con sớm gần mẹ, cho người người không còn tang tóc chia ly…”.
Bài thơ “Ước mơ” và nỗi niềm của người mẹ(Bài thơ này ở cuối bài)

Chồng hy sinh, để bảo đảm an toàn cho hai con và tiện công tác, sau nhiều đêm đấu tranh với bản thân mình, bà quyết định gửi con ra Bắc. Không có người mẹ nào trên đời này muốn xa con. Bà đã chấp nhận chọn cho mình con đường đi làm cách mạng.

Ngày đó, để ra được Hà Nội, Minh Chánh và Chí Công - hai người con của Hai Riêng được tổ chức đưa qua Cam-pu-chia, sang Hồng Công rồi ra Hà Nội an toàn. Bà yên lòng khi biết chúng được gửi tới mẹ Mai Khanh chăm nom, được đồng chí Phạm Hùng đỡ đầu. Thỉnh thoảng, có người ra Bắc, nhớ con, bà viết thư cho mẹ Mai Khanh hỏi thăm tình hình. Trong một lá thư bà viết: “Tuy vừa qua gặp chuyện đau lòng, nhưng không đến nỗi nào làm mình nản bước đâu. Nhưng luôn luôn phải tự động viên mình, chỉ có một con đường này mới có tương lai… Nhớ con, đau nhói cả ruột gan, chị ơi!”.

Khi đó bà Riêng được cử vào nội thành công tác, tham gia xây dựng cơ sở cách mạng ở Biên Hòa - Chợ Lớn. Bà tham gia đóng góp tích cực cho tờ báo Phụ nữ Giải phóng và là một trong những người trực tiếp lãnh đạo phong trào phụ nữ đấu tranh, biểu tình chống Mỹ Diệm ở nội đô. Một lần vừa từ xe lam bước xuống, bà bị một tên chiêu hồi nhận ra. Tên Ca Vĩnh Phối đã chỉ điểm để 3 tên mật vụ khác đón bắt bà. Hôm đó vào ngày 9-5-1967. Trong tù, bọn địch dùng mọi cực hình tra tấn dã man hòng khuất phục bà. Chúng đánh đập, tra điện, đốt cháy trụi những ngón tay của bà. Những ngón tay ngày nào bà từng dệt vải, viết báo, viết thư nay đen tím, phồng rộp, đau đớn, nhức nhối đến nỗi bà không cầm nổi được chiếc lược, búi được mớ tóc của mình. Hàng trăm ngày đêm, địch tra tấn, đánh đập tàn khốc nhưng chúng không lấy được một lời khai của bà. Bất lực trước tinh thần bất khuất của bà, đêm mồng 2 Tết Mậu Thân, khi Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam đồng loạt nổ ra, bọn địch đã đưa bà cùng nhiều chiến sĩ cách mạng khác trên chiếc xe bịt kín đi thủ tiêu.

Ở Hà Nội, một hôm, Má Thùy - Cô Hiệu trưởng và thầy chủ nhiệm xuống tận lớp học đón Minh Chánh và Chí Công lên phòng hiệu trưởng để báo tin “Má Hai Riêng của các con đã hy sinh”. Hai anh em ôm nhau khóc ròng, sưng cả mắt, mãi mãi không còn được đọc những dòng thư đằm thắm yêu thương từ miền Nam gửi ra: “Con viết nhiều chữ, mẹ mừng quá, chữ con viết đẹp và sạch sẽ. Mẹ nhớ con, nhớ cái gối con nằm, cái mền con đắp, cái áo con mặc, cái bô con tiêu. Mẹ mong nước nhà thống nhất để được rước con về nuôi. Mẹ hôn hết hai con và bạn bè của con”.

Vĩ thanh

Chính những dòng chữ nắn nót, ghi lại những dòng tâm sự đầy xúc động trong cuốn sổ nhật ký của nữ anh hùng Hai Riêng đã khiến tôi quyết tâm đi tìm những người thân của chị.

Chí Công - người con trai đầu của anh hùng Hai Riêng- hiện đang công tác tại Công ty Dịch vụ Hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất. Tay run run đưa cho tôi cuốn sổ nhật ký của mẹ, giọng nghẹn ngào anh nói: “Sau hai năm ba tôi hy sinh, ngày 9-12-1962, mẹ tôi đã viết những dòng nhật ký đẫm nước mắt này”.

Nói đến đây, anh Công nhìn vào khoảng không xa như nghĩ điều gì? Rồi anh nói: “Đọc những dòng của Má, tôi hiểu sâu sắc hơn vì sao Má tôi đã chọn con đường bất chấp sự hy sinh, đau khổ của riêng mình và vì sao Má lại yêu ba như vậy, sự chịu đựng cũng khôn cùng như vậy”.

Anh Công kể: Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, hai anh em chúng tôi được bác Phạm Hùng - Bí thư Trung ương cục miền Nam, Chính ủy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, Chính ủy Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh và bà Đỗ Duy Liên đưa về thăm miền Nam và đến viếng nghĩa trang Đô Thành, ở đó có 3 tấm bia nhỏ ghi: “Nơi an táng 37 nạn nhân chiến cuộc Mậu Thân 1968”.

Bà Phùng Ngọc Anh nguyên là cán bộ tự vệ thành, người chứng kiến cái đêm bọn địch đem đi thủ tiêu những chiến sĩ cách mạng đã kể lại tấm gương hy sinh bất khuất của liệt sĩ Lê Thị Riêng: Hôm bọn địch đưa tù nhân đi thủ tiêu, trên xe có chị Lê Thị Riêng, anh Trần Văn Kiểu, tôi và một số đồng chí khác. Đi sau là một chiếc xe chở bọn lính trang bị đầy súng ống. Hai chiếc xe lăn bánh từ Tổng nha cảnh sát chạy vô hướng Chợ Lớn. Ngồi trên xe, chị Riêng nói với tôi: “Lực lượng ta nổ súng tấn công. Chúng đang tìm cách hãm hại mình, Ngọc Anh phải sẵn sàng đối phó, nghe em. Trong tình huống này phải xứng đáng là một người Cộng sản”. Anh Chín Kiểu dự đoán: “Bên ngoài ta tấn công vô, bên trong bắn ra. Thế là nó tìm cách thủ tiêu mình một cách hợp pháp”. Đúng như dự đoán, chiếc xe đột nhiên dừng lại ở bốt Bà Hòa. Bọn lính trên chiếc xe sau hò nhau nhảy xuống. Biết có điều chẳng lành, tất cả mọi người trên xe đồng thanh hô: “Đả đảo tàn sát, đả đảo khủng bố”, “Hồ Chí Minh muôn năm”… Bọn địch dàn hàng ngang sau xe, đồng loạt nổ súng vào xe. Khói thuốc mù mịt…

Bà Ngọc Anh xúc động: “Lúc đó tôi bị thương vào đùi, máu thấm ướt. Chị Riêng còn chút sức lực vừa hô, vừa đạp cửa xe định xông ra nhưng không nổi. Bọn địch nghe tiếng động, chúng bắn tới tấp. Tôi ngất đi, khi tỉnh dậy thấy xung quanh im lặng, tất cả đã hy sinh. Tôi thấy chị Riêng đang nằm đè lên che đạn cho tôi...”.

Câu chuyện của những người bạn tù, những dòng nhật ký còn đang viết dở trong đó lấp lánh một câu chuyện huyền thoại về mẹ, là thông điệp của quá khứ gửi tới thế hệ sau về một tấm gương hy sinh cao cả của người nữ liệt sĩ anh hùng. Gần 40 năm trôi qua, anh hùng Hai Riêng đã đi xa… nhưng những kỷ niệm về bà vẫn còn sống mãi trong lòng mỗi chúng ta. Tên bà được đặt cho một đường phố, một chung cư, một công viên tại TP Hồ Chí Minh để chúng ta luôn nhớ đến bà, nhớ về quá khứ và những gì thế hệ trước đã ngã xuống để có được ngày tươi sáng như hôm nay
Ước mơ

(Gửi tặng hai con: Minh Chánh, Chí Công)


Tôi ước mơ một ngày nào đâu đó…

Hà Nội ơi! Cho tôi đến Thủ đô

Gặp lại hai con, tôi ôm cả vào lòng

Tôi siết mãi, không bao giờ buông ra nữa.


Nhớ lắm rồi, bao năm trời chất chứa

Bóng hình con cứ lảng vảng đêm ngày

Bữa tiệc đời sao lắm vị chua cay

Mẹ đã chịu, trong những ngày xa cách.


Tôi ước mơ một ngày xuân thống nhất

Được gặp con, được ôm ấp vỗ về

Thèm thuồng nhìn đôi mắt trẻ ngây thơ

Bao hạnh phúc mẹ dồn về con cả.


Nhưng con hỡi, nước non còn chia cắt

Bởi kẻ thù tàn bạo gây nên

Bao gia đình tan nát điêu linh

Bao em bé phải đoạn tình mẫu tử.


Màu đen tối sẽ lùi về dĩ vãng

Vì toàn dân đã vùng dậy đứng lên

Mẹ nguyện làm, một chiến đấu viên

Mẹ chiến đấu, cho ngày mai tươi sáng.


Cho Bắc Nam thống nhất

Cho đất nước hòa bình

Cho mọi người được no ấm quang vinh

Cho con được hưởng trọn tình thương của mẹ.


Anh hùng-Liệt sĩ LÊ THỊ RIÊN




Tiêu đề: Re: Nhân vật lịch sử
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 03:53:13 PM
“Nữ thần” sông nước miền Tây
“Anh Mẫn đẹp trai” lấy chồng

Ai cũng biết Sáu Mẫn “đẹp trai” có tiếng. Một lần hành quân qua sóc Nha Xi của người Khơ-me ở Sóc Trăng, Mẫn đã lọt vào “mắt xanh” của một thiếu nữ dân tộc dễ thương nhất vùng. Cô gái Chăng Cà Mun mới thấy người chỉ huy “đẹp trai” đã say như đang được cùng “anh” múa điệu Lâm Thôn. Chăng Cà Mun nằng nặc đòi cha mẹ nhận Sáu Mẫn làm con rể. Cha mẹ cô gái Khơ-me gặp Mẫn thật. Người trung đoàn trưởng của chị lại còn hăng hái nhận đứng ra làm chủ hôn cho hai người nữa chớ. Thiệt tình, Sáu cũng “mê” cô gái Khơ-me. Đó là một thiếu nữ có gương mặt tròn trĩnh, làn da thơm mùi nắng và cặp mắt long lanh như sao trên trời. Trông Chăng Cà Mun như một nữ thần đang múa Áp-sa-ra. Nếu là con trai, Sáu Mẫn không thể bỏ qua một cơ hội tốt như vầy. Chị thấy thương người bạn gái quá trời. Nhưng sợ bị bại lộ, Mẫn đành phải nhận lời hứa hôn.

“Cái kim để trong bọc lâu ngày cũng lòi ra”. Chuyện Sáu Mẫn là gái giả trai bị đổ bể, khiến mọi người kinh ngạc. Chả là khi Sáu mới chào đời, có bà cô của một cậu bé quê cũng ở xã Vĩnh Thạnh, nhưng ra đảo Phú Quốc sinh sống đã gặp cha chị xin được nhận Mẫn là cháu dâu. Ông bà Hai Phước đã nhận lời. Khi hai người lớn lên, gia đình đôi bên vẫn liên tục nhắc đến chuyện hôn lễ. Bà cô của cậu bé cũng mang sính lễ và đưa cháu tới nhà ông bà Hai Phước để tụi trẻ sau này không thể bội ước. Cô Sáu lớn lên, giả trai đi bộ đội thì chàng trai Nguyễn Hữu Bé cũng đã là một chiến sĩ Vệ quốc đoàn. Tuy phải chiến đấu với quân địch hàng ngày, nhưng Mười Bé vẫn không quên lời ước hẹn. Anh về quê thăm Sáu. Biết người thương đã đi kháng chiến, Bé lặn lội đi khắp các đơn vị du kích, bộ đội để kiếm Mẫn. Một lần đến đại đội 70, Trung đoàn 124, anh đã gặp người trung đội trưởng giống như Sáu Mẫn. Mười Bé hỏi:

- Có phải là Sáu Mẫn đó hôn?

- Tui… tui là… là Sáu Mẫn. Có chi hông đồng chí?

- Trời đất. Tui là Mười Bé, người đã hứa hôn bữa xưa nè. Tụi mình xin thủ trưởng tổ chức lễ cưới ha?

- Cái đồng chí này kỳ quá ta. Tui là con trai sao lấy đồng chí được? - Mẫn gân cổ cự lại.

Chiều ấy, khi cùng đồng đội đi tắm, Sáu Mẫn vẫn lặn sâu vào rừng bần. Ngâm mình cùng làn nước trong xanh, cô bắt đầu cởi bỏ quần áo ra. Đúng lúc cái áo rời khỏi tay Sáu, thì một cái đầu người nhô lên khỏi mặt nước. Mười Bé xuất hiện như một con rái cá. Sáu luống cuống la lên: “Cái…cá..i đồng…đồ..ng chí này làm chi vậy? Bộ không biết mắc cỡ sao, m.. à.. mà coi tui tắm”. Bé nổi trên mặt nước, lặng yên như một bông súng mới nở. Anh tròn mắt như đang được ngắm một nàng tiên từ trên trời xuống trần thế tắm xuân... Một lúc sau, Mười Bé nói ngọt như mật tràm: “Em có thể giấu được cấp trên, chứ không giấu được anh đâu”. Sáu cúi đầu xuống dòng nước lững lờ. Bao nhiêu nét hùng dũng, mạnh mẽ thường ngày bỗng dưng biến đi đâu hết, trên người cô chỉ còn lại nét thanh tú, dịu dàng của người phụ nữ…

Bé dắt Sáu Mẫn đến trước mặt người chỉ huy của cô xin được tổ chức đám cưới. Thủ trưởng của Sáu bật cười nói lớn:

- Cậu không nói giỡn đó chớ?

- Báo cáo thủ trưởng. Sáu Mẫn là con gái thiệt mà. Gia đình cổ và nhà tui đã hứa gả con cho nhau - Bé thanh minh.

Đứng trước người chỉ huy và vị hôn phu, mặt Sáu đỏ hồng lên. Chị cứ ấp úng mãi mà không thoát ra thành lời. Sự kiện Sáu Mẫn từ trai thành gái là một câu chuyện hấp dẫn, ly kỳ, được lan truyền khắp các đơn vị trong Quân khu 9 lúc bấy giờ. Để tổ chức hôn lễ, Sáu phải về tận Sóc Trăng từ hôn với cô gái Chăng Cà Mun. Người thiếu nữ Khơ-me bị “phụ bạc” khóc ròng và trách Sáu: “Hay anh có người yêu từ trước rùi mà vẫn hứa hôn với tui? Nếu không lấy được anh, tui sẽ tự tử cho mà coi”. Sáu Mẫn lau những giọt nước mắt đầm đìa trên mí mắt của cô gái Khơ-me và dắt Chăng Cà Mun vô buồng, cởi áo của mình ra… Đám cưới của chiến sĩ Nguyễn Hữu Bé với người nữ trung đội trưởng Trần Quang Mẫn đông vui chưa từng thấy. Anh em trong đơn vị, chiến sĩ các đơn vị bạn và bà con trong vùng kéo đến như đi trẩy hội.

Diệt ác ôn, đánh cai ngục

Những năm cuối thập kỷ 50 của thế kỷ trước, ở Rạch Giá có nhiều tên ác ôn khét tiếng. Bọn chúng giết người không biết run tay. Trong số những tên này, nổi lên là thiếu tá Lâm Quang Phòng, chỉ huy tiểu đoàn bảo an Kiên Giang. Tên tay sai bán nước này đi đến đâu là giết người, cướp của, hãm hiếp phụ nữ đến đó. Hắn nhiều lần chỉ huy quân đi càn quét, thấy cán bộ Việt cộng là cắt đầu, moi gan. Những người nuôi giấu Việt cộng cũng bị tên Phòng treo cổ mấy ngày ở chợ hay những con đường lớn. Có lần nó dám mổ bụng, uống máu của 7 thanh niên một lúc mà không ghê sợ. Tên Phòng đã thề: “Nhổ cỏ U Minh, uống máu Việt cộng”. Thấy cảnh người dân bị Lâm Quang Phòng chém giết, hãm hại, dòng máu trong người Sáu Mẫn sôi lên sùng sục.

Không thể để hắn giết đồng bào, đồng chí mãi được, Sáu Mẫn quyết định gặp lãnh đạo Tỉnh ủy, tình nguyện xin đi trừ khử tên ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân. Được cấp trên chấp thuận, Sáu về mài một con dao thiệt bén và tập kỹ các động tác triệt hạ đối thủ. Để lọt vào trong nhà tên Phòng, Mẫn đã phải làm quen với một người cô của hắn và xin vô nhà của bà giả làm người giúp việc. Qua bà cô hắn, chị biết sắp tới tên Phòng tổ chức đám giỗ cha, nhưng thiếu một số người nấu bếp giỏi.

Ngày giỗ cha, tên Phòng lại không tổ chức ở nhà mẹ đẻ hay nhà bà cô như mọi khi. Hắn chuyển việc tổ chức đám giỗ về nhà mình. Sáu báo cáo với tổ chức xin được giết Phòng tại nhà của hắn. Trước khi đến nhà tên ác ôn, Sáu giấu kỹ chiếc dao dưới đáy rổ rau. Chị được bà cô tên Phòng dẫn vô bếp, nên bọn lính canh không nghi ngờ gì cả. Sự việc không theo ý của Sáu. Hôm đó bọn bảo an về dự tiệc rất đông. Chị chưa tìm được thời cơ hành động thuận lợi. Ngay cả khi tên Phòng nằm ngủ trên sập, cũng có bọn lính canh bên ngoài. Nếu không hành động bây giờ, khó có cơ hội tốt để diệt tên đồ tể! Còn hành động giết hắn, mình sẽ bị bắt, thậm chí bị địch bắn chết! Sáu suy nghĩ mông lung trong vài phút. Cuối cùng chị quyết định: Phải làm lẹ. Lợi dụng lúc bọn bảo an tán dóc với nhau, Sáu lấy chiếc dao bén ra. Chị xông thẳng đến chỗ ngủ của tên Phòng vung dao lên. Nghe tiếng la hét của mấy tên lính gác, tên ác ôn bừng tỉnh. Hắn định chạy ra ngoài, nhưng Sáu đã túm được cái tóc của nó. Tên Phòng hất tay của Sáu ra. Do đầu nó hớt cua nên tay Sáu bị tuột ra ngoài. Sáu nhanh tay cầm dao chém mạnh xuống. Tên ác ôn kêu rống lên, máu me chảy khắp mặt của hắn. Một mình giữa đám quân đông, Mẫn vẫn rượt và chém cho tên Phòng 5 nhát vào người. Đám bảo an kéo đến như kiến cỏ. Sáu bị chúng túm được, ghì xuống đất, trói chặt chân tay. Tuy chưa giết chết được tên ác ôn khét tiếng nhưng sự kiện tên thiếu tá Lâm Quang Phòng chỉ huy tiểu đoàn bảo an bị Trần Quang Mẫn hành thích tại nhà đã làm nức lòng quân và dân Rạch Giá. Từ đó, hắn không còn hung hăng như trước nữa. Những tên ác ôn khác cũng “co vòi”, ít dám làm càn vì sợ bị xử như tên Phòng. Sau sự kiện này, nhiều loại báo chí của Sài Gòn phát hành năm 1958 đã đăng các bài viết chế nhạo sự yếu kém về an ninh của quân ngụy. Đáng chú ý là bài “Nữ thần hạ sát Lâm tướng quân”, bài báo đã có chút “li kỳ hóa” sự việc làm cho kẻ địch run sợ và kính nể Việt cộng.

Sau khi bị bắt, địch đưa Sáu Mẫn ra tòa án binh xét xử. Chị bị kết án 7 năm tù khổ sai, 5 năm đi biệt xứ.

Trong tù, Sáu Mẫn cùng các đảng viên trong ngục giảng giải cho mọi người hiểu về con đường giải phóng dân tộc của nhân dân ta do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, giác ngộ cách mạng cho nhiều người tù khác. Sau mỗi lần bị địch tra khảo về, Sáu Mẫn sống lạc quan, còn làm thơ ca ngợi Đảng, Bác Hồ viết trên tường, sáng tác các bài ca cổ lên án bọn đế quốc, thực dân và chế độ hà khắc của nhà tù Phú Lợi.

Do không buộc tội được Sáu Mẫn, kẻ địch đã phải thả chị ra khỏi trại giam. Thoát khỏi cảnh tù tội, chị trở về đội ngũ tiếp tục chiến đấu với quân thù. Cũng từ đó, cái tên “Nữ thần miền Tây” truyền đi khắp vùng sông nước Cửu Long, làm cho kẻ địch chỉ nghe tên đã bạt vía, kinh hồn.

Thương đau chồng chất

Tuần trăng mật của Sáu Mẫn với Mười Bé chìm trong tiếng bom đạn. Sau đám cưới “độc nhất, vô nhị” trong căn cứ kháng chiến, Sáu Mẫn chỉ được gần chồng có 7 ngày. Những đêm chồng vợ, cô kể cho anh nghe bao nhiêu là chuyện trong những năm tháng chiến đấu của mình và của đơn vị. Mặc dù biết vợ mình giả trai đi bộ đội, Nguyễn Hữu Bé vẫn không khỏi bất ngờ. Sáu thì thào với chồng: “Anh có giận em hôn?”. “Giận sao được. Mình là người tuyệt vời nhứt đó”. - Giọng Mười Bé trào dâng. “Nhưng anh phải để cho em tiếp tục chiến đấu đó nghen.”. “Ừ. Đánh nhau thì cứ đánh nhau. Nhưng phải sanh cho anh một thằng nhỏ để sau này gửi nó ra Bắc học”. Tiếng thúc giục của chiến trường đã đưa Sáu Mẫn trở về với đơn vị. Họ có biết đâu, một mầm sống trong lòng Mẫn đang hình thành.

Niềm vui sắp có con không ngăn nổi đôi vợ chồng trẻ lao vào những trận chiến đấu. Mười Bé quần nhau với giặc khắp vùng tứ giác Long Xuyên. Sau mỗi trận đánh, anh mơ ước mình được bồng trên tay đứa con thơ ngây trong lời ru: Ầu ơi! Ví dầu lắc lẻo cầu tre. Cha đi đánh giặc, mẹ đi diệt thù. Mong sao con lớn thành người. Trai tài, gái sắc dựng xây nước nhà. Cái bụng của Sáu bự lên từng ngày. Ấy thế mà mọi người vẫn nhìn thấy chị ngồi vót chông, lau súng, hay sải bước ra bãi tập để hướng dẫn cánh lính trẻ cách chống càn.

Gần tới ngày sanh, Sáu xin phép đơn vị về nhà ba má ở Vĩnh Thạnh. Một buổi chiều, khi đang khấp khởi chuẩn bị cho ngày sinh con thì Sáu nghe tin bà con nói nhỏ với nhau: “Cậu Mười đã hy sinh khi đánh đồn Chàng Chẹt rùi”. Tai Sáu Mẫn ù đặc. Chị như nghe thấy có hàng trăm, hàng nghìn tiếng bom giội vào màng nhĩ, phá nát từng mảng trong tâm hồn. Nước mắt Sáu chảy thành dòng. Người thiếu phụ đau đớn, quằn quại như có ai đang cắt từng khúc ruột. Còn đâu người chồng quanh năm ham mê đánh giặc mà vẫn thương yêu vợ hết lòng. Ảnh biểu, sau khi sanh con sẽ đưa cả nhà về Phú Quốc thăm nội. Ảnh còn nói, sau này khi đánh tan giặc sẽ dựng cho hai má con một căn nhà thiệt to để ở. Sáu như đang bị rơi từ trên trời xuống đất. Có lúc chị mơ hồ nghĩ đến cái chết. Nhưng đứa bé trong bụng càng quẫy mạnh hơn. Có lẽ nó cũng đang đớn đau như chị vậy. Chị xỉu lên, xỉu xuống. Bà Hai Phước ôm lấy con năn nỉ: “Sáu ơi, con đừng đau đớn nữa mà. Má sợ lắm. Con phải sống để nuôi đứa con sắp sanh nữa chớ”. Đúng, chị phải sống để nuôi con thành người, để sau này nó có thể trả thù cho cha nó. Chị ghìm chặt nỗi đau vào trong.

Bốn ngày sau, Sáu Mẫn sinh được một bé trai bụ bẫm. Khi cậu bé ra khỏi lòng mẹ, bà đỡ đã kêu lên: “Thằng nhỏ giống cha quá ta”. Thằng bé khóc to đòi bú, nhiều người xung quanh lại biểu: “Cái tánh này chỉ có ở má Mẫn thôi à”. Sáu Mẫn chẳng biết nói gì, cô nhìn con và xót xa nhớ về chồng. Cậu bé tuổi Nhâm Thìn (1952) được ông ngoại đặt tên là Nguyễn Quốc Hưng với lòng mong mỏi Tổ quốc sẽ có ngày thanh bình, hưng thịnh.

Sinh con được vài tháng, Sáu Mẫn gửi Quốc Hưng lại cho ông bà ngoại còn mình trở về đơn vị chiến đấu cùng đồng đội.

Bé Quốc Hưng càng lớn, càng giống ba má cái tính gan dạ, nhanh nhẹn và hoàn cảnh đã sớm cho anh chí căm thù giặc. Đến năm 10 tuổi, Quốc Hưng không chịu ngồi yên ở nhà nữa, cậu đã trốn ông bà ngoại và má lên tỉnh đội Rạch Giá xin được làm liên lạc. Thấy cậu bé còn nhỏ, mấy chú biểu: “Con về với ông bà cho lớn thêm chút nữa nhen”. Nhưng Quốc Hưng quả quyết: “Con chiến đấu được mà”. Không thể thuyết phục được cậu bé, cán bộ tỉnh đội đã phải bố trí cho Quốc Hưng công tác ở đội U Minh 10. Bà Hai Phước thấy mọi người kể vậy đã lắc đầu thở dài: “Đúng là má nào, con nấy”. Làm liên lạc rất ít có cơ hội đi chiến đấu, Quốc Hưng nằng nặc xin bác Bốn Tâm cho sang bộ phận trinh sát. Tuy nhỏ tuổi, nhưng Quốc Hưng rất mưu trí, dũng cảm. Năm 15 tuổi, Quốc Hưng đã chững chạc, từng trải trận mạc. Anh có người bạn rất thân trong đơn vị tên là Nguyễn Tấn Dũng. Đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, nay là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo lời kể của Má Mẫn, hồi đó đồng chí Nguyễn Tấn Dũng là chiến sĩ quân y trong đội U Minh 10 cùng với anh Quốc Hưng. “Quốc Hưng và Tấn Dũng thương nhau dữ lắm, thân nhau còn hơn anh em ruột thịt đó” – Má Mẫn nói. Hầu như có chuyện to, chuyện nhỏ, anh Quốc Hưng và anh Tấn Dũng đều tâm sự với nhau. Mỗi lần đi đánh trận về, hai người lại trò chuyện to nhỏ trong niềm vui chiến thắng.

Quốc Hưng là niềm tự hào của Sáu Mẫn. Chị mong con phát huy được đức tính của người cha, chiến đấu dũng cảm và lập nhiều chiến công. Nhưng trong trận chống càn đánh nhau với bọn chi khu Chương Thiện năm 1967 ở Vĩnh Hòa Hưng, Quốc Hưng đã anh dũng hy sinh. Lần ấy đơn vị anh bị địch phục kích, đồng đội hy sinh gần hết. Quốc Hưng chiến đấu rất mưu trí, dũng cảm. Mỗi tay anh cầm một khẩu súng quét đạn vào kẻ thù. Một đồng đội của Quốc Hưng kể lại, khi thấy gần 10 tên địch gục xuống trước làn đạn của mình, anh đã la to: “Thế là tôi đã trả thù được cho cha rùi”. Nhưng đúng lúc ấy, một viên đạn quái ác của quân thù đã bắn trúng anh. Khi ngã xuống, hai tay Quốc Hưng vẫn nắm chặt khẩu cacbin và AR15. Anh hy sinh khi vừa tròn 15 tuổi.

Chồng và con đã hy sinh, nhưng nỗi đau của Sáu Mẫn còn tăng thêm khi được tin hai người anh ruột là Hai Thu, Ba Đáng và em trai Trần Út cũng hy sinh trên chiến trường. Những giọt nước mắt của Sáu Mẫn bây giờ quánh lại, không chảy được thành dòng.

Ngó thấy đôi mắt của Sáu Mẫn quầng thâm, các anh trong cơ quan khuyên: “Hãy bớt đau buồn đi em. Sáu còn phải sống để giải phóng miền Nam nữa chớ”. Người nữ chỉ huy chợt nhận ra ngoài bưng kia còn vang rền tiếng bom đạn. Quê hương còn đầy bóng giặc, máu và nước mắt của người dân vẫn hằng ngày đổ xuống. Chị và đồng đội phải sống, phải chiến đấu để trả thù cho đồng bào, đồng chí, trả thù cho những người thân của mình và giải phóng quê hương. Trái tim đang bị bóp nát của Sáu Mẫn bỗng trỗi dậy… Chị gạt nước mắt, xách súng đi về phía đồng đội đang chờ.

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 10-2007

Nguồn- Báo Quân đội nhân dân


Tiêu đề: Re: Nhân vật lịch sử
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 03:54:42 PM
Chiến công quả cảm của anh hùng không quân Vũ Xuân Thiều
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Xuân Thiều trước đây là một học sinh Trường phổ thông Chu Văn An, niên khóa 1959-1962. Bản chất hiền lành, giản dị, học giỏi, hay giúp đỡ bạn nên Vũ Xuân Thiều được mọi người quý mến. Tốt nghiệp trung học, Thiều trúng tuyển vào học khóa 7, ngành Vô tuyến điện Trường đại học Bách khoa. Khi đang chuẩn bị làm luận án tốt nghiệp, anh tình nguyện nhập ngũ, được tuyển chọn vào Binh chủng Không quân, được cử đi học lái máy bay MIG-21 ở Liên Xô trước đây từ giữa năm 1965.

Đang học bay bên nước bạn, Thiều được tin, giặc Mỹ đã dùng máy bay B-52 đánh bom miền Bắc Việt Nam ở đèo Mụ Giạ, Quảng Bình từ ngày 12 tháng 4 năm 1966. Các đồng chí Phùng Thế Tài, Đặng Tính, Tư lệnh và Chính ủy Quân chủng Phòng không-Không quân khi gặp Bác Hồ đã hứa với Người, “cán bộ, chiến sĩ quân chủng quyết tâm vượt qua mọi khó khăn đánh thắng B-52”.

Các phi công Việt Nam cùng khóa học với Thiều, ai nấy đều thể hiện quyết tâm học bay thật tốt để nhanh chóng về nước chiến đấu, tiêu diệt nhiều máy bay địch, tìm cách đánh thắng được B-52 Mỹ.

Năm 1968 tốt nghiệp về nước, Thiều nhận nhiệm vụ chiến đấu tại Trung đoàn 921. Sau một thời gian, anh cùng các phi công Vũ Đình Rạng, Đinh Tôn... được điều về phi đội 5 huấn luyện bay và chiến đấu ban đêm.

Thời gian này, máy bay B-52 Mỹ liên tục ném bom rải thảm trên đường mòn Hồ Chí Minh nhằm ngăn chặn những hoạt động vận tải của binh đoàn 559 chi viện chiến đấu cho miền Nam. Cuối năm 1971, một số sĩ quan không quân được cử đến Quảng Bình, Vĩnh Linh nghiên cứu hoạt động chiến đấu của máy bay B-52. Một số đơn vị ra-đa cũng được điều đến đây nhằm bảo đảm cho các đơn vị phòng không, không quân chiến đấu đánh B-52 Mỹ.

Hồi 19 giờ ngày 4-10-1971, phi công Đinh Tôn nhận lệnh xuất kích đánh một tốp B-52 nhưng vì máy bay địch quay lại Thái Lan nên MIG - 21 của Đinh Tôn không được đánh B-52 địch lần ấy.

Đêm 20-11-1971, được thông báo có B-52, Vũ Đình Rạng nhận lệnh xuất kích từ sân bay Anh Sơn, phóng tên lửa trúng chiếc B-52 Mỹ do phi công Kalp Wetter Haln điều khiển.

Chiếc B-52 không rơi tại chỗ nhưng bị hỏng phải hạ cánh xuống sân bay Nakhon Phanomb ở Thái Lan, sau đó phải tháo rời đưa về Utapao.

Cuối tháng 12 năm 1972, Kalp Wetter Haln bay trên một B-52 khác, bị tên lửa ta bắn rơi tại Hà Nội, bị bắt làm tù binh đã khai với ta trường hợp B-52 của Kalp bị MIG-21 của Vũ Đình Rạng bắn rơi.

Ngày 14-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn thông qua kế hoạch dùng máy bay B-52 đánh Hà Nội và Hải Phòng. Từ 18-12, Mỹ bắt đầu chiến dịch tập kích đường không đánh phá Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố trên miền Bắc. Tối 27-12-1972, các phi công trực chiến đấu được thông báo có B-52 từ Mộc Châu đến. Lúc 22 giờ 30 phút, phi công Phạm Tuân nhận lệnh cất cánh từ sân bay Yên Bái, phát hiện mục tiêu, đã tăng tốc độ đạt 1.200km/g, bay lên độ cao 10.000m, phóng 2 tên lửa ở cự ly 2.000m, tiêu diệt chiếc B-52 số 2 rồi vòng gấp sang trái, hạ cánh an toàn xuống sân bay Yên Bái.

Rút kinh nghiệm đánh B-52 của phi công Vũ Đình Rạng và Phạm Tuân, thực hiện quyết tâm: “Bắn rơi B-52, bắt sống phi công B52 Mỹ”, Thượng úy phi công Vũ Xuân Thiều báo cáo với trung đoàn trưởng:

- Lần sau khi phát hiện B-52, xin phép cho tôi được xuất kích tiêu diệt. Bắn mà B-52 không rơi tại chỗ, tôi sẽ xin lao thẳng vào nó!

Và rồi cuối cùng, anh đã thực hiện được mơ ước cao đẹp ấy của mình.

Đêm 28-12-1972, được thông báo có B-52, Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích từ sân bay Cẩm Thủy. Lúc này nhiều sĩ quan cao cấp của quân chủng như Đào Đình Luyện, Trần Mạnh, Trần Hanh… đã có mặt tại Sở chỉ huy mặt đất. Anh Lê Thiết Hùng dẫn đường bay, hướng dẫn Vũ Xuân Thiều tiếp cận B-52 địch ở độ cao 10.000m. Thiều báo cáo về Sở chỉ huy mặt đất:

- Hồng Hà (mật danh Sở chỉ huy). Sao Mai (mật danh MIG của Thiều) đã thấy rõ Mây Đen (mật danh B- 52). Mây Đen bắt đầu thả khói vàng.

- Sao Mai. Tiếp cận công kích.

- Hồng Hà. Sao Mai đã công kích. Mây Đen chỉ bị thương. Sao Mai xin công kích lần 2. Quyết tiêu diệt Mây Đen.

- Sao Mai! Sao Mai!… Sao Mai! Sao Mai!…

- Không có tín hiệu trả lời. Ra-đa cũng mất tín hiệu.

Lúc này là 21 giờ 45 phút ngày 28-12-1972.

Hôm sau, tỉnh đội Sơn La báo cáo: Đêm qua có một máy bay B-52 bị cháy rơi, một MIG-21 cũng rơi gần đó trên cánh đồng xã Tạ Khoa, Yên Châu, Sơn La. Một số phi công trong phi đội bay đêm nhận lệnh đến ngay Tạ Khoa, tìm đến khu vực chiếc B-52 Mỹ bị cháy rơi. Chiếc MIG-21 của Vũ Xuân Thiều nằm cách đấy không xa lắm. Đơn vị và nhân dân địa phương đã tổ chức trọng thể lễ an táng phi công Vũ Xuân Thiều tại Nghĩa trang Liệt sĩ tỉnh Sơn La.

Anh em trong Trung đoàn, Sư đoàn, Binh chủng, Quân chủng xác định, sau khi phóng tên lửa, Vũ Xuân Thiều đã lao thẳng MIG của mình vào chiếc B-52 vừa bốc cháy. Cả hai chiếc máy bay đều đã bị rơi tại chỗ.

Sau này, hằng năm các bạn chiến đấu trong Quân chủng gặp nhau vẫn nhắc đến câu nói lịch sử của Thiều hôm rút kinh nghiệm đánh B-52: “Bắn mà B-52 không rơi tại chỗ là tôi lao thẳng vào nó…”.

Vũ Xuân Thiều đã thực hiện được quyết tâm và hoài bão cao đẹp của mình. Anh được tặng Huân chương Quân công hạng ba, sau đó được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Ở Hà Nội hiện nay đã có một đường phố mang tên Vũ Xuân Thiều.

Tháng 10 năm 2002, một số chuyên viên Cục Hàng Không dân dụng Việt Nam sang công tác bên Mỹ đã đọc cuốn sách “Không chiến trên bầu trời Bắc Việt” của nhà xuất bản Squadron, bang Tếch-dát trưng bày ở Viện Bảo tàng Bay Hoa Kỳ tại Oa-sinh-tơn. Các anh chị thấy trong cuốn sách nói nhiều đến chiến công của những phi công Nguyễn Văn Cốc, Trần Hanh, Phạm Tuân, Phạm Thanh Ngân, Phạm Ngọc Lan, Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Đức Soát, Đinh Tôn, Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Tiến Sâm… và 3 phi công đã bắn rơi B-52 Mỹ: Vũ Đình Rạng, Phạm Tuân, Vũ Xuân Thiều.

Nói đến chiến công của Vũ Xuân Thiều, tác giả Istvan Toperczer viết:

“Hồi 21 giờ 41 phút ngày 28-12-1972, được thông báo có B-52, phi công Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích từ sân bay Cẩm Thủy, theo chỉ huy của Sở chỉ huy mặt đất đuổi đánh tốp B-52.

Phát hiện mục tiêu trên bầu trời Sơn La, Thiều tiếp cận, phóng một tên lửa. B-52 trúng đạn. MIG-21 của Vũ Xuân Thiều bay sát rồi lao thẳng vào máy bay Mỹ, vỡ tan cùng chiếc máy bay B-52” .

Không phải đây là cuốn sách duy nhất ở Hoa Kỳ viết về chiến công của phi công Vũ Xuân Thiều. Đại tá Vũ Xuân Thăng, anh ruột liệt sĩ Thiều cho tôi xem bức thư của cháu anh, một sinh viên Việt Nam đang học bên Hoa Kỳ gửi về, kèm theo bài báo của một tác giả Mỹ viết về trận không chiến mà Thiều đã lao thẳng chiếc MIG-21 của mình vào chiếc B52-D của sĩ quan không quân Mỹ mang tên Lewis trên bầu trời Sơn La đêm 28-12-1972.

Trên căn gác nhà 21 Đặng Dung, Hà Nội, nơi Vũ Xuân Thiều trước đây vẫn hằng ngày đạp xe đi học tại Trường Chu Văn An, Trường đại học Bách khoa, vợ chồng Đại tá Vũ Xuân Thăng đã đưa tôi xem nhiều lưu niệm của Vũ Xuân Thiều khi anh còn học tại Trường Chu Văn An, Trường đại học Bách khoa, nhiều sách, báo viết về chiến công của Anh hùng Liệt sĩ Vũ Xuân Thiều, nhiều kỷ vật của Thiều hoặc nói về Thiều mà gia đình còn giữ. Trong những kỷ vật đáng quý đó có mảnh xác chiếc B-52 Mỹ đã bị MIG của Thiều tiêu diệt trên không phận Sơn La, được đơn vị chiến đấu của Thiều gửi tặng.

Kim chiếc đồng hồ Quân chủng tặng gia đình đặt bên bàn thờ Vũ Xuân Thiều đã được đặt cố định ở 9 giờ 45 phút (đêm), cái thời điểm vinh quang mà người phi công anh hùng Vũ Xuân Thiều đã anh dũng hy sinh.



Tiêu đề: Re: Nhân vật lịch sử
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 04:09:59 PM
Vị Tướng tài hoa Nguyễn Chánh (1914-1957)
     

            Đồng chí Nguyễn Chánh quê ở Thọ Lộc (nay thuộc xã Tịnh Hà) huyện Sơn Tịnh. Ông sinh ra ở một trong mười hai cảnh đẹp của Quảng Ngãi (Hà nhai vãn độ ). Nơi đây, ngày xưa sát bờ sông là chợ chiều buôn bán tấp nập, bến Biền ghe thuyền qua lại đông vui, xóm làng sầm uất, kéo dài từ sát bờ sông ra phía Bắc giáp đường lộ từ huyện lỵ Sơn Tịnh đi Đồng Ké. Ở đây đào giếng nơi nào cũng mạch nhiều, nước ngọt lịm nên có câu ca:

                         

“Ai xa nhớ trở về quê

Trước sông, sau chợ, giếng kề một bên”

 

            Quê hương ông đã sinh ra biết bao nhiêu người có học vị, cử nhân, tú tài nho học. Nhiều nhà yêu nước đứng lên lãnh đạo nhân dân, tổ chức nhiều cuộc bạo động chống Tây xâm lược và triều đình phong kiến bán nước. Hàng chục sĩ phu đã bị quân giặc xử chém, bêu đầu, nhưng phong trào vẫn liên tiếp bùng nổ lan rộng. Bản thân ông Tây học không bao nhiêu, nhưng Hán học thì rất giỏi. Gia đình ông nhất là về phía mẹ là một gia đình có truyền thống văn chương, mẹ ông thường ca ngợi cuộc khởi nghĩa do Lê Trung Đình lãnh đạo. Ông sinh ra trên mãnh đất địa linh nhân kiệt, sản sinh nhiều nhà yêu nước, nhiều nhà thơ phú. Ông đã hấp thụ dòng sữa của mẹ có dòng máu tài hoa, phong phú, thâm thuý. Có thể coi là nền tảng văn hoá sâu sắc, ông cũng làm nhiều thơ. Ông tham gia cách mạng rất sớm, bị địch bắt tra tấn tù đày ở lao Quảng Ngãi, về năm 1933 ông có làm bài thơ kích động phong trào cách mạng, cổ vũ thanh niên đứng lên bẻ gãy gông xiềng:

“Đường dài còn lắm nỗi chông gai

Tri kỷ ai về nhắn với ai

Vàng thật quản gì lo lửa đốt

Ngựa hay đâu sá nỗi đường dài

Mong cho thành Gấm: Chờ thêu dệt

Muốn được nên Kim: Đợi sắt mài

Nước chảy đá mòn là thế ấy

Cho hay thành bại bởi nhân tài”

 

            Ông đã có nhận định, làm cuộc cách mạng này phải trải qua một con đường dài, lắm nỗi chông gai. Thật vậy, từ ngày ra đời của bài thơ ấy cho đến cách mạng tháng tám thành công phải trải qua mười hai năm, biết bao nhiêu thăng trầm, nhiều cuộc nổi dậy bị dìm trong bể máu, nhiều chiến sĩ bị chặt, bêu đầu. Tuy vậy, ông cũng khuyên những người tri kỹ “Vàng thật không quản gì lửa đốt, ngựa hay không sá nỗi đường dài. Mong cho thành Gấm (Quảng Ngãi) chờ thêu dệt” thành những bông hoa tươi thắm. Quả thật như vậy, một người ngã xuống thì mười ngưòi đứng lên, làm nên cuộc khởi nghĩa Ba Tơ (11/3/1945), cùng cả nước cướp chính quyền trong cách mạng tháng tám (14/8/1945). Câu kết của bài thơ mới tuyệt làm sao: “Cho hay thành bại bởi nhân tài”. Câu này làm chúng ta nhớ lại câu kết truyện Kiều của Nguyễn Du

 

“Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”

 

            Với Nguyễn Chánh, cuộc cách mạng có thành công hay không chính là ở con người, con người làm nên lịch sử, phải là con con người hiền tài, phải có cả đức lẫn tài mới làm nên sự nghiệp vẻ vang . Ở Nguyễn Du rất coi trọng chữ tâm, coi đạo đức là gốc, nếu có tài mà không có đức cũng trở thành vô dụng.

           

            Sau khi thoát khỏi nanh vuốt kẻ thù, Nguyễn Chánh là ngôi sao toả sáng, có nhiều công lao ở Quảng Ngãi và liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp, là Bí thư liên Khu uỷ kiêm Chánh uỷ Quân khu 5. Sau khi tập kết ông giữ trọng trách ở Bộ Quốc phòng, là chủ nhiệm Tổng Cục cán bộ. Nhưng tiếc thay, viên ngọc toả sáng ấy không dài, ông đã mất năm 1957 ở tuổi 43 đầy sức sống.

Nguồn- báo Quảng Ngãi


Tiêu đề: Re: Nhân vật lịch sử
Gửi bởi: yeulichsu1982 trong 16 Tháng Năm, 2008, 04:17:09 PM
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Út
1. Ngày tháng năm sinh: Sinh năm 1920; Hy sinh năm 1969.
 


2. Quê quán: Xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.


3. Thành tích: 

    Nguyễn Thị Út, tham gia cách mạng năm 1945. Từ năm 1945 đến năm 1965, Nguyễn Thị Út là du kích xã Tam Ngãi, cùng Đội du kích của xã Tam Ngãi kiên cường, mưu trí, sáng tạo, đánh 23 trận (có 8 trận trong kháng chiến chống Pháp), diệt và làm bị thương 200 tên địch, thu 70 súng, làm thất bại nhiều cuộc càn quét của địch, tuyên truyền vận động nhiều binh lính địch bỏ ngũ, nhiều lần dẫn đầu bộ đội diệt đồn bốt địch, thu vũ khí không phải nổ súng.

    Nguyễn Thị Út nuôi dưỡng 6 con nhỏ nhưng vẫn tham gia đánh giặc giữ làng, làm nòng cốt trong đấu tranh chính trị ở địa phương, là người có câu nói nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ "Còn cái lai quần cũng đánh".


      Nguyễn Thị Út được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng ba, ngày 5/5/1965, được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.




Tiêu đề: Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân, nhằm thẳng quân thù mà bắn
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:09:30 AM
(http://img213.imageshack.us/img213/7160/thieuuynguyenvietxuanxx3.jpg)

Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Viết Xuân (1934-1964), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (Truy tặng, 1/1/1967), Khi hy sinh, anh là thiếu uý, chính trị viên đại đội 3, tiểu đoàn 14 pháo cao xạ, sư đoàn 325, Quân khu 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Huy chương Kháng chiến hạng Nhì, 6 bằng khen và giấy khen.


Nguyễn Viết Xuân sinh năm 1934, dân tộc Kinh, quê xã Ngũ Kiên, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc-một vùng quê có truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm.

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, lên 7 tuổi, Nguyễn Viết Xuân đã phải sống một cuộc đời đi ở kéo dài suốt 10 năm. Khi vừa tròn 18 tuổi, anh đã dũng cảm vượt vùng tạm chiến ra vùng tự do, xin đi bộ đội. Nhập ngũ tháng 11 năm 1952, lúc đầu, anh làm chiến sỹ trinh sát, rồi tiểu đội trưởng trinh sát, trung đội trưởng pháo cao xạ, sau làm chính trị viên đại đội. Bất kỳ ở cương vị nào, Nguyễn Viết Xuân cũng luôn nêu cao quyết tâm chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, gương mẫu, xung phong đi đầu, cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, anh đã cùng đồng đội dũng cảm chiến đấu, không ngại hy sinh, gian khổ, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch, giải phóng miền Bắc, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp trên đất nước ta, đưa cách mạng Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn xây dựng miền Bắc theo con đường xã hội chủ nghĩa và tiến hành cách mạng giải phóng miền Nam.

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, đơn vị của Anh làm nhiệm vụ huấn luyện và xây dựng. Bản thân, tuy sức yếu hơn so với đồng đội, song công việc nào được giao, dù nặng nhọc, vất vả, đồng chí vẫn phấn đấu hoàn thành và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Năm 1964 bị thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam, Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ra miền Bắc nước ta, Nguyễn Viết Xuân với vai trò là một bí thư chi bộ, một chính trị viên đại đội pháo cao xạ, đã nêu tấm gương sáng ngời về tinh thần kiên quyết tiến công địch. Tiêu biểu là trận đánh địch ngày 18 tháng 11 năm 1964. Trong trận chiến đấu này, Mỹ đã huy động nhiều tốp máy bay đánh phá ác liệt vùng ChaLo thuộc miền tây tỉnh Quảng Bình. Ngay đợt đầu, 3 chiếc máy bay F.100 bất ngờ lao vào trận địa của đại đội Nguyễn Viết Xuân. Loạt đạn đầu tiên của khẩu đội 3 đã đón đánh chiếc đi đầu trong tốp, bọn địch đổi hướng tấn công và tập trung oanh tạc vào Khẩu đội 3. Cả trận địa nổ súng giòn giã, đánh trả quyết liệt lũ cướp trời, một chiếc trong tốp bay của địch trúng đạn bốc cháy, nhưng một chiếc khác đã phóng một loạt tên lửa về phía khẩu đội 3. Bất chấp nguy hiểm, Nguyễn Viết Xuân lao ra khỏi công sự, đứng bên khẩu đội 3 đĩnh đạc tỏ rõ khí phách và hô lớn: “Nhằm thẳng quân thù, bắn!”

Giữa làn bom đạn địch, tiếng hô dõng dạc của anh vang trên trận địa đã trở thành khẩu hiệu khích lệ mạnh mẽ tinh thần quyết chiến quyết thắng của toàn đơn vị và trên khắp các chiến trường đánh Mỹ. Lưới lửa của đại đội vây chặt lũ máy bay Mỹ và một chiếc nữa lại phải đền tội. Trận chiến đấu vừa tạm dứt, anh đi khắp các khẩu đội để nắm tình hình động viên quyết tâm tiếp tục chiến đấu. Máy bay địch lại ập đến, điên cuồng bắn phá trận địa của đại đội. Một lần nữa cuộc chiến đấu lại diễn ra khốc liệt tiếng máy bay của địch gầm rú trên bầu trời liên tiếp nhả các loạt bom xuống trận địa, anh bị thương nặng, gãy nát đùi bên phải. Nhưng Nguyễn Viết Xuân vẫn thản nhiên bảo y tá cắt nốt phần thịt dính vào chân, bỏ chân đi cho đỡ vướng. Đồng chí nói: “Tôi không việc gì” và căn dặn y tá không được cho mọi người biết. Và vẫn tỉnh táo theo dõi cuộc chiến đấu, biểu dương kịp thời những chiến sĩ và khẩu đội lập công. Sau trận chiến đấu ác liệt, anh chỉ định người thay thế, phân công người chăm sóc các đồng đội bị thương, bình tĩnh bàn giao cộng việc rất tỉ mỉ, rõ ràng. Trở về tuyến sau, vết thương quá nặng, máu ra nhiều, nguyễn Viết Xuân thấy mình khó qua được, anh đã bình tĩnh trao đổi nhiệm vụ với người thay thế, dặn dò cặn kẽ việc chấp hành Nghị quyết của Chi bộ và nêu một số đề nghị về công tác phát triển Đảng, Đoàn và khen thưởng trong đơn vị. Khi hy sinh, anh là thiếu uý, chính trị viên đại đội 3, tiểu đoàn 14 pháo cao xạ, sư đoàn 325, Quân khu 4, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tấm gương chiến đấu anh dũng quên mình vì nhiệm vụ của đồng chí được cán bộ chiến sĩ trong đơn vị rất cảm phục, cả đại đội 3 đã dấy lên một cao trào thi đua, kiên quyết chiến đấu lập công, trả thù cho người chính trị viên yêu quý của mình.





Tiêu đề: Anh hùng Thái Văn A, mắt thần trên đảo Cồn Cỏ
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:14:38 AM
(http://img156.imageshack.us/img156/2409/anhhungthaivanajy8.jpg)

Anh hùng Thái Văn A(1942 - 2001), Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Việt Nam (1967).

Huân chương Chiến công hạng nhì.


Ông quê ở xã Trung Hoá, huyện Minh Hoá, tỉnh Quảng Bình. Nhập ngũ năm 1962, đại tá (1988), đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1965.

Trong Kháng chiến chống Mĩ, là chiến sĩ trinh sát trên đảo Cồn Cỏ, nơi bị máy bay và tàu chiến đánh phá ác liệt. Chân đài quan sát bị gãy, đài bị nghiêng, người bị thương, Thái Văn A vẫn không rời vị trí quan sát, tiếp tục theo dõi xác định vị trí mục tiêu cho đơn vị bắn. Trong 3 năm làm nhiệm vụ trên đảo, Thái Văn A đã góp phần cùng đơn vị bắn rơi 20 máy bay Mĩ (riêng tổ trinh sát trực tiếp bắn rơi một chiếc) và xác định các vị trí có bom địch chưa nổ để công binh xử lí (máy bay địch thường trút bom ở đây trước khi về hạ cánh trên tàu sân bay).

Cái tên Thái Văn A gắn liền với đảo Cồn Cỏ anh hùng đã đi vào trong thơ, văn, nhạc.


Tiêu đề: Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Thị Suốt, mẹ Suốt
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:24:21 AM
(http://img515.imageshack.us/img515/1213/mesuotgf5.jpg)

Cụ Nguyễn Thị Suốt-mẹ Suốt (1906-21/8/1968), Liệt sĩ, Mẹ Việt Nam Anh hùng Anh hùng Lao động.

Mẹ Suốt tên thật là Nguyễn Thị Suốt, sinh năm 1906 tại xã Bảo Ninh, thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Mẹ sinh trưởng trong một gia đình ngư dân nghèo, lớn lên phải đi ở cho địa chủ 18 năm, sau Cách Mạng tháng Tám mẹ mới lấy chồng làm vợ lẽ.


Trong thời kỳ đế quốc Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc Việt Nam, Quảng Bình được coi là một trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay và hải quân Mỹ, trong đó đặc biệt chúng bắn phá ném bom cầu phà, các bến sông… nhằm hạn chế đến thủ tiêu sự chi viện của hậu phương miền Bắc cho chiến trường miền Nam.

Trước tình hình như vậy Nguyễn Thị Suốt đã xung phong đảm nhiệm công việc quan trọng này. Từ nhỏ mẹ đã quen với công việc sông nước, tuy tuổi cao nhưng vẫn bình tĩnh điều khiển con đò đưa cán bộ và bộ đội qua sông. Nhiều lần khi đò ra giữa sông thì máy bay địch lao đến bắn phá rất ác liệt, nhưng mẹ vẫn bình tĩnh, khéo léo điều khiển đò cập bến an toàn. Hàng ngày mẹ trực tiếp vận chuyển đưa bộ đội từ Lào về Việt Nam qua sông, vận chuyển vũ khí, lương thực ra các tàu Hải quân ta để tăng cường thêm cho cuộc chiến đấu ở chiến trường miền Nam.

Đáng kể nhất là trong các trận diễn ra ngày 7,8 và 11/021965 địch tập trung đến oanh tạc khu vực thị xã Đồng Hới, trong lúc lửa đạn mịt mù ngút trời, bà đã dũng cảm đưa chị Nguyễn Thị Trang sinh cháu mới 12 ngày tuổi, hốt hoảng vì bom đạn của kẻ thù do máy bay oanh tạc, chị đã nhảy xuống sông Nhật Lệ. Mẹ suốt đã cứu được mẹ con chị Trang khỏi chết đuối.


Một lần khác đưa mười em bé sang sông cũng vì bom Mỹ thuyền bị lật, các em nhảy xuống sông mẹ đã dũng cảm cứu cho các cháu được vẹn toàn, không một cháu nào bị thương vong.

Hình ảnh người mẹ với một con đò, một mái chèo và bộ quần áo bà ba, có chiếc khăn dù ngụy trang, từ tháng 2/1965 đến tháng 4/1966, bà đã chèo hàng trăm lượt qua sông. Trong đó có không ít lần phải vượt qua làn bom lửa đạn và các trận đánh phá ác liệt của giặc Mỹ trên dòng sông Nhật Lệ. Cảm phục trước tấm gương lao động quên mình ở bất kỳ hoàn cảnh nào cũng làm tròn nhiệm vụ của người chèo đò. Các cán bộ, chiến sỹ, bà con qua sông đều gọi mẹ với cái tên thân thương Mẹ Suốt.

Từ đó Mẹ Suốt đã đi vào lòng người qua lời thơ tiếng hát của thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Hình ảnh của Mẹ Suốt còn là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam anh hùng bất khuất, là nguồn sức mạnh cổ vũ động viên hàng ngàn cán bộ chiến sỹ ta vững tay súng ở chiến trường đánh Mỹ. Do những công lao đóng góp đó, ngày 1/1/1967 Mẹ Suốt được nhà nước trao tặng danh hiệu anh hùng lao động.

Ngày nay để giáo dục tinh thần yêu nước cho thế hệ trẻ, nhân dân Quảng Binh quê hương tôn vinh mẹ đã dựng tượng Mẹ Suốt ngay trên dòng sông Nhật Lệ với dáng đứng hiên ngang cùng năm tháng như một huyền thoại về đức hy sinh, tinh thần xả thân của phụ nữ Việt Nam nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành độc lâp tự do.

 “…Tàu bay mày bắn sớm trưa
                                        Thì tui cứ việc sớm trưa đưa đò…
                                                Mẹ đi trọn một đời mình
                                  Sông bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…”
 
Đây là những câu thơ trong bài thơ Mẹ Suốt của nhà thơ Tố Hữu viết về bà mẹ Việt Nam anh hùng, người đã không quản mưa bom bão đạn đưa bộ đội qua sông Nhật Lệ - Quảng Bình trong những năm 1965 – 1966.




Tiêu đề: Anh hùng La Thị Tám, người con gái sông La
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:32:00 AM
(http://img206.imageshack.us/img206/8159/anhhunglathitamor9.jpg)

La Thị Tám (1949), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (1969).

Chị La Thị Tám sinh ra và lớn lên tại xã Vĩnh Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Có lẽ vì sinh ra và lớn lên trong tiếng bom rơi đạn nổ cùng với sự khắc nghiệt của thiên nhiên, nên con người ở đây đã luôn tỏ rõ ý chí và nghị lực sắt đá.

Năm 1967, chị Tám vào bộ đội (thuộc đơn vị chủ lực Đại đội 2 - Giao thông vận tải) đóng tại Đồng Lộc. Theo miêu tả của nhiều người, chị là một người con gái bé nhỏ như... hạt mít, nhưng lại đảm nhiệm một công việc nguy hiểm, ngày đêm đối diện với cái chết.

Chị luôn đứng trên một quả đồi cao, phía trái của ngã ba Đồng Lộc  vào những lúc máy bay Mỹ ném bom để đếm số lượng bom kẻ thù trút xuống. Chị phải nhìn thật tinh và hết sức tập trung xem có bao nhiêu quả đã rơi, bao nhiêu quả đã nổ, những quả chưa nổ thì rơi ở khu vực nào, để khi máy bay đi khỏi thì chạy đến cắm tiêu, chờ bộ đội công binh đến rà phá. Suốt 200 ngày đêm ròng rã, chị đã đếm được, cắm tiêu được một số lượng bom hết sức khủng khiếp: 1.205 quả. Hiện lên giữa bom đạn mù trời là một người con gái dũng cảm, kiên trung, cái sống và cái chết thật mong manh mà miệng vẫn luôn nở nụ cười. Đoàn xe nào đi qua khu vực này cũng được nghe kể về người con gái kiên trung ấy...

Sau chiến tranh chị về quê hương, lập gia đình rồi chuyển về làm việc ở Đảng uỷ cơ quan dân chính Đảng cấp tỉnh.

Năm 1970, nhạc sĩ Doãn Nho đã viết ca khúc Người con gái sông La dựa trên lời thơ Phương Thúy, lấy từ hình ảnh La Thị Tám và 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc.


Tiêu đề: Anh hùng Liệt sĩ Lê Thị Hồng Gấm, cánh chim Hồng Gấm
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:38:04 AM
(http://img380.imageshack.us/img380/9177/anhhunglethihonggamra9.jpg)

Anh hùng Liệt sĩ Lê Thị Hồng Gấm (1950-1969), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

Huân chương Quân công giải phóng hạng ba.


Chị Lê Thị Hồng Gấm sinh năm 1950 tại tỉnh Mỹ Tho nay thuộc tỉnh Tiền Giang, trong một gia đình lao động nghèo.

Ngay khi còn nhỏ, chị đã được nghe kể những tấm gương hy sinh anh dũng của những người con ưu tú quê hương Mỹ Tho. Tấm gương can đảm của những Thủ Khoa Huân, Trần Xuân Hoà đã tạo cho chị lòng yêu quê hương, căm thù quân xâm lược. Chị còn nghe kể về chiến công nghĩa quân Tây Sơn tại Rạch Gầm - Xoài Mút vào năm 1779.

Năm 16 tuổi, chị tham gia du kích, được Cách mạng phân công làm giao liên. Rất nhiều lần chị dũng cảm đưa cán bộ vượt qua vòng vây của kẻ thù. Có lần chị đã vượt sông đánh lạc hướng quân giặc, để cán bộ cách mạng thoát khỏivòng vây.

Năm 18 tuổi, chị được phân công về làm xã đội phó xã nhà. Khi ấy, chị ở hầm bí mật, cứ đêm lại về từng gia đình vận động nhân dân. Quê hương giải phóng, chị cùng bà con tổ chức sản xuất.

Với những thành tích ấy, chị được kết nạp vào Đảng nhân dân cách mạng miền Nam, tức Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1969, trong một lần đi công tác, chị savào trận địa phục kích của giặc và bị hi sinh. Chị được tặng danh hiệu Anh hùng giải phóng Miền Nam.

Sau cái chết của người anh hùng 19 tuổi, phong trào học tập chị được dấy lên. Ngay quê hương chị, một đơn vị vũ trang nữ được mang tên Lê Thị Hồng Gấm. Tinh thần hy sinh kiên cường của chị là nguồn sức mạnh tiếp thêm, tạo ra những chiến công của đơn vị.

Cảm động trước sự hy sinh anh dũng của Lê Thị Hồng Gấm, nhạc sĩ Phạm Tuyên đã sáng tác ca khúc Những cánh chim Hồng Gấm.



Tiêu đề: Liệt sĩ Võ Thị Tần, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:49:46 AM
(http://cakhuc.congan.com.vn/UserFiles/Image/vo-thi-tan.jpg)

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo nhưng giàu lòng yêu nước, lại được sự giáo dục của nhà trường nên chị Võ Thị Tần đã sớm hình thành lý tưởng cách mạng, lối sống giản dị, tiết kiệm, chịu đựng gian khổ để học tập.

Năm 1963 –1964, chị là Phó bí thư chi đoàn địa phương. Tần đã góp sức cùng bà con xóm làng xây dựng cuộc sống mới tươi đẹp, thúc đẩy phong trào HTX lớn mạnh. Năm 1965, Tần đã cùng nhiều chị em trong huyện xung phong vào lực lượng TNXP trực tiếp lao dộng, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thân yêu.
 
Ngày mới nhập ngũ, Tần được biên chế vào C552 – P18 Hà Tĩnh có nhiệm vụ bảo vệ thông suốt các tuyến đường ra mặt trận. Mồng 2-5-1965, Tần cùng đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ thông đường và bốc xếp hàng ở bến phà Địa Lợi thuộc đường 15A trên đất Hương Khê. Tháng 11-1965 đến 6-1966, Tần được điều về làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông trên đường 15A đoạn từ cầu Tùng Cốc đến Đức Thọ. Do có nhiều thành tích trong công tác và anh dũng trong chiến đấu, đạo đức tư cách tốt nên Tần đã được chi bộ C552 đề nghị Đảng ủy cấp trên chuẩn y kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam vào dịp kỷ niệm Đảng ta 37 tuổi (3-2-1967). Ban chỉ huy đã quyết định giao cho Tần nhiệm vụ Tiểu đội trưởng Tiểu đội 4- C552.

Tháng 4-1967 đến tháng 6-1967, Tần cùng đơn vị được điều về công tác bảo vệ đường 15A ở Đồng Lộc. Trong quá trình từ ngày nhập ngũ đến tháng 7-1968, chị đã phấn đấu lập nhiều thành tích, chỉ huy tiểu đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tiểu đội do chị phụ trách luôn xứng đáng là lực lượng chủ công, con chim đầu đàn của đơn vị.
 
Trong cuộc sống hàng ngày, Tần là cô gái vui vẻ, cởi mở, tính nết thẳng thắn, vô tư yêu đời song rất dứt khoát, rành mạch. Cuộc đời chị vì thế có phần đơn giản, hạnh phúc hơn chị Cúc. Bố mẹ cưng con gái lớn. Ông Cung - bố chị bao giờ cũng coi Tần như còn nhỏ. Mẹ chị càng yêu con gái hơn ai hết. Mẹ không muốn con gái đi lấy chồng xa. Mẹ đồng ý gả chị cho một anh trai làng, người mà chị yêu. Tuy nhiên, cuộc chiến đấu chống Mỹ còn đang ác liệt. anh Hồng đã vào bộ đội, lên đường vào chiến trường miền Nam. Còn Tần sau đó đi TNXP. Họ hẹn nhau ngày toàn thắng sẽ nên duyên vợ chồng. Ngày anh Hồng xuất ngũ trở về địa phương thì chị Tần đã vĩnh viễn ra đi. Đau đớn và xót thương người yêu, anh đã đi lại săn sóc bố mẹ già của chị. Mãi sau này khi đã nguôi ngoai, anh mới xây dựng gia đình với người con gái khác. Thật cảm động vì anh chị đã rước ảnh chị Tần về thờ trong ngôi nhà của mình và vẫn tiếp tục đi về với bố mẹ chị Tần như con cai trong gia đình.
 
Ngày 19-7-1968, trước lúc hy sinh 5 ngày, chị Tần đã viết thư về cho mẹ. Bức thư tràn đày tình cảm yêu thương nhớ mong mẹ và cũng tràn đầy tinh thần yêu nước, căm thù giặc, quyết tâm sắt đá đánh kẻ thù và tinh thần lạc quan cách mạng phơi phới.

Theo báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Liệt sĩ Nguyễn Thị Xuân, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:51:42 AM
(http://cakhuc.congan.com.vn/UserFiles/Image/nguyen-thi-xuan.jpg)

Chị Nguyễn Thị Xuân sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Bố chị là đảng viên 1930 – 1931. Tuổi thơ Xuân gắn liền với hình ảnh ngôi nhà nhỏ 3 gian, cái bếp con con và mảnh sân vuông vắn trước thềm.

Có chừng ấy thôi mà những ngày tháng ở TNXP, Xuân nhớ nhà đến phát khóc lên được. Xuân nhớ cây mít đầu ngõ múi ngọt như đường phèn. Bây giờ đang mùa quả chín, cây hồng ít hạt quả sai trĩu cành.Trước cửa nhà Xuân còn có cây cam giấy tứ thời bao giờ cũng có quả dành cho Xuân mỗi buổi Xuân về. Buồng cau chi chít quả như còn đợi Xuân về hái cho mẹ. Xuân sẽ ngồi dưới bậc thềm, ngả lưng vào mẹ cho mẹ rẽ tóc như ngày còn bé. Mẹ nhìn Xuân lặng lẽ xoa tay lên đôi gò má có lúm đồng tiền của Xuân, Xuân nũng nịu áp mặt vào đầu gối mẹ cười.
 
Năm 1967, học xong lớp 7 Xuân cùng nhiều chị em khác trong toàn huyện lên đường thực hiện nghĩa vụ thiêng liêng của tuổi trẻ.
 
Xuân quen anh Vĩnh trên một bãi bom nổ chậm. Hôm ấy, trên đường từ Vĩnh Lộc về đơn vị. Xuân gặp máy bay đánh bất ngờ. Trong lúc chạy vào hầm trú ẩn, Xuân đánh rơi cái túi xáh nhỏ, trong đó có nhiều thứ, tìm không thấy đâu cả. “ Có lẽ đất đá vùi lấp đi rồi” – Xuân ngơ ngẩn muốn khóc. Anh Vĩnh đến - Anh đội mũ sắt, quân phục bạc màu. Câu đầu tiên anh nói với Xuân là: ”Còn bao nhiêu bom nổ chậm, sao o lại vào đây?”. Xuân nói vắn tắt việc mất cái túi, ròi dè dặt:

- Trong túi em để thẻ đoàn viên, không thể đánh mất thẻ đàn được anh ạ!
 
- Nó bị văng ra xa, nắp túi vẫn còn, nhưng o thử xem có rơi mất chi không?
 
- Em cảm ơn anh!
 
Xuân đi cùng anh trong sự im lặng. Thỉnh thoảng Xuân nhìn sang anh. Dáng anh cao lớn, chắc đậm. Tự nhiên Xuân thấy tin anh ấy. Xuân hỏi tên và quê quán anh. Thế là câu chuyện bắt đầu từ đó.
 
 Đơn vị bộ đội công binh phá bom của anh Vĩnh phối hợp với C2 đảm bảo giao thông gần một năm. La Khê - Địa Lợi, Cầu Ác, Cầu Cháy...Biết bao nhiêu kỉ niệm. Anh Vĩnh là một đảng viên, một tiểu đội phó dũng cảm và kiên quyết. Xuân càng quý và tin anh. Ngày hôm sau anh Vĩnh lên đường đến trận địa mới. Rồi thư anh về, những lá thư viết vội giữa nhiều trận đánh. Những lá thư không được phẳng phiu và có nhiều nếp gấp, như có cả mùi bom đạn hăng nồng. Càng xa anh, Xuân càng yêu càng nhớ và một lòng chờ đợi. Xuân tâm sự với bạn bè:” Nhiều đêm nằm em thấy anh Vĩnh về thăm. Bẵng đi một thời gian không có thư anh về, em đã lo. Em nghĩ đến tình huống xấu nhất có thể xảy ra. Nhưng em vẫn đợi...”. Sau này Xuân mới biết anh Vĩnh nhiều lần bị thương...
 
Mối tình đẹp vừa chớm nở thì một ngày tháng 7, Xuân cùng đồng đội vĩnh viễn ra đi.

Theo Baó công an thành phố Hồ Chí Minh


Tiêu đề: Liệt sĩ Hà Thị Xanh, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:53:53 AM
(http://cakhuc.congan.com.vn/UserFiles/Image/ha-thi-xanh.jpg)

Sinh ra ở vùng quê Đức Hoà - Đức Thọ, Xanh vốn là cô gái hiền lành, ít nói nhưng làm việc thì rất chăm. Xanh đậm người, khoẻ mạnh, làm việc gì cũng xốc vác, hay nhận việc khó về mình.
 
Môi trường chiến đấu, lao động, học tập đã khiến cho Xanh cùng chị em trong tiểu đội gắn bó với nhau như ruột thịt. Một lần được nghỉ phép, Xanh rủ Hà về nhà mình chơi. Cả 2 đến Đức Hoà vào lúc quá trưa. Đang đi trên đường làng rợp bóng, Hà chợ nảy ra ý tinh nghịch: ”Thế này nhé, lát nữa mình vào trước nói chuyện với mẹ chút việc này. Khi nào nghe mình gọi, Xanh hãy ra được không?”. Xanh mỉm cười gật đầu. Thật lòng Xanh muốn chạy về nhà ngay. Hà đẩy Xanh vào bụi chuối, xốc ba lô đi vào nhà. Xanh hồi hộp nhìn qua kẽ lá, thấy mẹ đang ngồi khâu ở đầu hè. Mấy đứa em đang quây quần xung quanh. Thấy Hà, các em reo ầm lên:
 
- Chị Xanh về mẹ ơi!
 
Mẹ Xanh ngẩng lên hơi luống cuống nhưng khi thấy Hà, bà bình tĩnh lại. Các em Xanh bị tẽn tò, đứng im như tượng nhìn Hà. Hà bỏ mũ ra và tươi cười nói:
 
- Con ở đơn vị Xanh được về thăm bọ mạ một lát.
 
- Mần răng con Xanh không về con?
 
Hà mỉm cười ngồi xuống ghế:
 
- Lẽ ra Xanh cũng về nhưng ngại mẹ ạ.
 
Mẹ Xanh chưa hiểu:
 
- Nó ngại chi con?.
 
Chờ mẹ Xanh rót nước chè ra bát, Hà tủm tỉm:
 
- TNXP chống Mỹ cứu nước chúng con thực hiện phong trào “ba khoan”, nghĩa là khoan lấy chồng.
 
Mẹ Xanh sốt ruột:
 
- Việc nớ can chi mà con Xanh không về?
 
- Con sẽ có cách gọi Xanh về ngay!
 
- Thật không?
 
- Dạ thật ạ!
 
Thấy các em tò mò theo dõi câu chuyện, Hà đứng dậy tới gần chiếc cột ngoài hiên tưởng tượng đó là điện thoại. Hà làm động tác quay máy, nhấc ống nghe lên nói như thật: “A lô! Tổng đài đâu? Cho tôi gặp tổng đội 55. Năm Lam đấy phải không? Cho tôi gặp C552.C2 đấy à? Hà đây? Sao lâu thế? Đang tắm à? Này, thu xếp ba lô về nhà ngay. Mẹ chờ đây! Sao ngại à? Mẹ đồng ý là không nhắc đến chuyện “vớ vẩn” ấy nữa đâu. Không có ô tô à? Thế thì đi máy bay lên thẳng vậy. chìa khoá mình bỏ trong ống đũa ấy!
 
Cả nhà cười ầm lên. Hà vẫn tiếp tục đùa:“Sao? Máy bay hết xăng à? Lấy vài bát cơm nguội cho nó ăn tạm vậy. Ừ! Về ngay nhé, mình ra sân đón Xanh đây!”. Hà ra sân nhìn lên trời, các em ùa ra theo.
 
- Máy bay lên thẳng của chị Xanh kia rồi. Nó hạ cánh xuống rồi. Chị Xanh về đến nhà rồi. Các em nhao lên.
 
- Xanh ơi! Vào nhà đi
 
Xanh ra khỏi bụi chuối, tươi cười bước lên gò đất nhà mình
 
- Chị Xanh về thật mẹ ơi!

Theo báo công an thành phố Hồ Chí Minh


Tiêu đề: Liệt sĩ Võ Thị Hợi, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:55:23 AM
(http://cakhuc.congan.com.vn/UserFiles/Image/vo-thi-hoi.jpg)

Sinh trưởng trong một gia đình nông dân ở xã Thiên Lộc – Can Lộc, nơi có dãy Hồng Lĩnh quanh năm mây vờn và ngôi chùa Hương cổ kính nằm ẩn mình trên đỉnh núi, từ nhỏ, cô bé Hợi đã cảm thấy yêu quê hương, yêu ruộng đồng yêu những người dân quê mộc mạc,  “một nắng hai sương”.
 
Hợi là con thứ 5 trong gia đình. Để giúp bố mẹ, hàng ngày Hợi đem bò đi ăn trên những bãi cỏ gần chân núi cùng đám bạn bè trong xóm. Mỗi lần thôn xóm có lễ hội gì, nhất là những ngày đón tết, Hợi thường cùng các bạn đội viên tập văn nghệ, múa hát suốt đem. Hợi và đám bạn bè hay hát những bài hát về Đảng, về Đoàn thanh niên, về Bác Hồ kính yêu.
 
Năm 1965, học xong lớp 7, Hợi xung phong đi “Ba sẵn sàng”. Tính tình Hợi hiền lành, tác phong nhanh nhẹn, tóc dài, nước da ngăm đen. sống trong tập thể TNXP, Hợi nhanh chóng hoà nhập, chia ngọt sẻ bùi với chị em, nhất là chị em trong tiểu đội A4 nơi tuyến lửa. Thi thoảng, Hợi mới có dịp về thăm nhà, thăm cha mẹ: ”Bom đạn dội xuống ghê gớm lắm mẹ ạ! Tiếng bom nổ, tiếng máy bay gầm xé suốt đêm ngày, đất đá bụi tung mù mịt. Nhưng tất cả bọn con đều không sợ. Cứ đợi dứt đợt bom là chúng con ra đường ngay, để xe khỏi bị tắc trên đường vào Nam mẹ ạ!”.
 
Bà Em - mẹ Hợi vừa thương con vừa cảm phục nghị lực đứa con gái trông bề ngoài hết sức hiền lành. Không cần nghe con kể, bà cũng hình dung đựơc cuộc sống của con và đồng đọi ở nơi đó. Bà lựa lời khuyên con giữ gìn sức khoẻ để bình yên trở về trong ngày thắng Mỹ.
 
Bà đâu có ngờ đứa con gái bé bỏng ngoan hiền, khúc ruột thứ 5 của bà đã vĩnh viễn không bao giờ trở về, góp một giọt máu đỏ tươi để tô thắm lá cờ vẻ vang của dân tộc.


Tiêu đề: Liệt sĩ Dương Thị Xuân, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:56:59 AM
(http://cakhuc.congan.com.vn/UserFiles/Image/duong-thi-xuan.jpg)

Sinh ra và lớn lên ở vùng quê Đức Tân - Đức Thọ, trong một gía đình đông con, chị Xuân sớm ý thức được trách nhiệm người chị cả của mình. Là con gái đầu lòng nên Xuân khá vất vả. Bố làm thợ mộc, mẹ bận bịu với nghề bán hến ở chợ. Nhiều khi Xuân phải nghỉ học để trông nhà, trông em. Xuân hiền hậu, nhu mì, mẹ mắng không bao giờ cãi lại.
 
Học hết lớp 7, Xuân xin cha mẹ cho đi làm trên nhà máy đường Sông Lam gần Rú Thành. sống cuộc đời công nhân, Xuân phổng phao và đẹp hẳn lên. Xuân chăm làm, chịu khó học hành và công tác nên được nhà máy thưởng nhiều lần. Năm 1965-1966, Xuân được thưởng chiếc áo lụa hoa rất đẹp, thỉnh thoảng mới diện đôi chút. Sau đó nhà máy đường Sông Lam bị giặc Mỹ tàn phá, công nhân phải tạm chuyển đi làm việc khác. Xuân đi vào TNXP. Ra đi Xuân vẫn nhớ ngọn núi Thành cao chót vót bên nhà máy, nhớ Ngã ba Sông Lam và Sông La, nhớ khu nhà tập thể bên sườn núi đất.
 
Ông Quý - bố Xuân rất chiều con. Những lúc rảnh rỗi trước đây, ông thường xuống đơn vị thăm con. Nhiều bạn Xuân thầm ước ao có một người cha như thế, nhất là Nhỏ, Cúc và Hường.
 
Trước khi đi TNXP Xuân có quen anh Tân người cùng xã. Gia đình anh rất quý Xuân nhưng anh Tân chưa dám ngỏ lời với cha mẹ Xuân. Xuân mến anh Tân nhưng chưa muốn vấn vương chuyện gia đình, chuyện chồng con. Xuân hẹn anh khi nào thống nhất đất nước thì hẵng liệu. Anh Tân nghĩ vậy là đúng. Trước khi Xuân lên đường, anh trao cho Xuân một quyển điều lệ Đảng mà anh vẫn dùng. Anh nói với Xuân:
 
- Anh cũng đi bộ đội. Sau này trở về chúng ta sẽ lo hạnh phúc riêng.
 
Anh lấy sợi ni lông xanh, đỏ buộc vào cổ tay Xuân rồi nói:
 
- Màu đỏ là của anh, màu xanh lam này là của em. Khi nào nhớ đến anh, em hãy nhìn chiếc vòng này.
 
Cũng như mối tình Tần – Hồng, Xuân và anh Tân đã không thể thực hiện được lời hẹn ước vì đất nước còn có giặc, chuyện riêng tư đành gác lại. Và ngày toàn thắng thì đã đến nhưng… Xuân, chị Tần và 8 chị em trong A4 cùng bao nữ TNXP khác đã mãi mãi không trở về, gửi lại tuổi trẻ và tình yêu trên những tuyến đường.


Tiêu đề: Liệt sĩ Nguyễn Thị Nhỏ, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:58:33 AM
(http://cakhuc.congan.com.vn/UserFiles/Image/nguyen-thi-nho.jpg)

Cùng sinh năm 1944 như chị Tần, chị Cúc, nhưng Nhỏ có một hoàn cảnh tương tự Cúc. Bố mẹ mất sớm, nhà chỉ có 2 chị em gái: chị Miên và Nhỏ. Chị Miên thay bố mẹ nuôi Nhỏ từ tấm bé. Gọi Nhỏ vì bố mẹ mất sớm, cơm không có ăn, áo không có mặc, bệnh tật hành hạ, càng ngày cô bé càng còi cọc, không lớn được chút nào. Rồi đến tuổi, chị Miên đi lấy chồng, nhưng chị không về quê chồng mà ở lại cùng em. Chồng chị là bộ đội thỉnh thoảng mới ghé thăm nhà. Sau khi chị sinh cháu trai đầu lòng, chồng chị hy sinh. Chị đành ở vậy nuôi em và nuôi con.
 
Thế rồi chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ngày một ác liệt. Nhỏ xin chị vào TNXP. Chị sợ em còn bé dại thơ ngây, chưa gánh vác nổi việc nước. Nhưng chị Miên vẫn để Nhỏ đi. Chị cho em bộ quần áo lành lặn nhất, gói cho em một nắm cơm, rồi bế con tiễn em gái lên đường. Nhỏ ra đi chỉ với bộ quần áo và nắm cơm của chị. 2 chị em quyến luyến bịn rịn khi chia tay. Nhỏ ôm chầm lấy cháu. Thằng bé cũng bám chặt lấy dì. Chị Miên dặn: “Em gắng làm việc cho bằng chị bằng em, phải cẩn thận nơi mũi tên hòn đạn. Nếu em làm sao thì chị chỉ còn một mình em thôi”. Bà con làng xóm ra tiễn đứng nhìn theo cho đến khi bóng cô khuất hẳn.
 
Sau một thời gian ở TNXP, Nhỏ về thăm quê. Bộ quần áo TNXP cô mặc còn nguyên nếp gấp khiến cô chững chạc hẳn lên. Chỉ một thời gian ngắn ở TNXP, Nhỏ phổng phao lên trông thấy. Khi vào TNXP Nhỏ mới thật sự bước vào tuổi dậy thì. Trên đôi má mới vương sắc máu hồng. Nhỏ ngày một xinh tươi hơn, thường lấy gương của Cúc soi trộm. Nhỏ chăm làm, xung phong gương mẫu hơn các em nên được chị Lê Thị Hồng kèm cặp để học thêm. Càng lăn lộn với thực tế của cuộc chiến đấu, Nhỏ càng thấm thía ý nghĩa tuổi thanh xuân và mong muốn đóng góp được nhiều sức lực hơn nữa để Nam - Bắc sum họp một nhà.
 
Nhỏ ra đi vào lúc 24 tuổi, không kịp giã biệt người chị và đứa cháu nhỏ thân yêu, để lại tiếc thương cho biết bao người.


Tiêu đề: Liệt sĩ Trần Thị Hường, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 03:59:46 AM
(http://cakhuc.congan.com.vn/UserFiles/Image/tran-thi-huong.jpg)

Chị Trần Thị Hường là con của một liệt sĩ chống Pháp. Cha chị là vệ quốc quân hy sinh năm 1953 ở mặt trận. Khi ông hy sinh, Hường mới 4 tuổi, mẹ Hường đang có mang em Lý. Năm em Lý lên 2 và Hường tròn 5 tuổi, mẹ đi lấy chồng. Hai chị em ở với bà ngoại và cậu mợ tại xóm Đông Quế, thị xã Hà Tĩnh.

Tuy sống thiếu tình cảm bố mẹ nhưng được bà và cậu mợ thương yêu rất mực nên tính tình của Hường vẫn hồn nhiên vui vẻ. Chị có giọng hát hay và lại hay hát. Hường được mệnh danh là “chim sơn ca” của tiểu đội và của cả C522. Mái tóc Hường đen dài và óng ả. Với mái tóc và giọng hát trời phú ấy, Hường đã được nhiều chàng trai cảm mến. Sau những giờ lao động mệt nhọc ở ngoài trận địa. Hường và anh chị em lại quây quần hát múa, diễn kịch. Phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” đã lan rộng khắp các chiến trường từ Bắc vào Nam. Ở C552 trong các buổi tập văn nghệ, Hương bao giờ cũng là hạt nhân chính. Những bài hát “Cô gái mở đường”,”Đường ta đi dài theo đất nước”,”Cô gái Sài Gòn đi tải đạn”... đã được Hường và anh chị em hát say sưa. C522 còn diễn kịch hát dân ca, vở “Con đường và dải lụa”.
 
Hường không chỉ hát hay mà còn là cô gái đằm thắm và dịu dàng, thích quan tâm đến mọi người theo cách riêng của mình. Cuộc chiến ngày càng ác liệt song không làm nụ cười và tiếng hát tắt trên đôi môi Hường. Chỉ tiếc rằng Hường không còn chờ đến ngày toàn thắng để cùng đồng đội hát bài ca khải hoàn. Hường đã vĩnh viễn ra đi giữa mùa hạ thứ 21 của đời mình.


Tiêu đề: Liệt sĩ Trần Thị Rạng, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 04:01:11 AM
(http://cakhuc.congan.com.vn/UserFiles/Image/tran-thi-rang.jpg)

Sinh ra tại xóm chài Thọ Thủy - Đức Vĩnh – Đức Thọ, từ nhỏ cô bé Rạng đã tỏ ra can đảm, ít nói song tinh nghịch. Thời thơ ấu Rạng theo cha mẹ làm nghề chèo lái trên sông La.
 
Rạng lớn lên lúc bom đạn giặc Mỹ đánh phá ác liệt ở bến đò Hào – quê hương. Chứng kiến cảnh đau thương của xóm và nhân dân. Rạng quyết định rời cuộc sống sông nước lên bờ sinh hoạt với đoàn thanh niên, tham gia phục vụ chiến đấu tại huyện nhà.
 
Ngày 3-11-1967, chị vào TNXP. Đơn xin tình nguyện thì nhiều nhưng số trúng vào TNXP thì ít. Rạng may mắn được ở trong số những người trúng tuyển. Rạng mừng lắm, về thuyền soạn sửa đồ đạc và từ giã gia đình. Ngày Rạng ra đi bố mẹ lên bờ tiễn và theo dõi bóng con. Rạng dong dỏng cao, nước da trắng hồng như bao nhiêu ngườì con gái từng uống nước sông La. 17 tuổi, chân trời mơ ước mở ra trước mắt Rạng. Được sống và chiến đấu ở nơi chiến trường khốc liệt đối với Rạng coi như là đã được thực hiện hoài bão của tuổi trẻ.
 
Đồng đội TNXP đều là những người cùng trang lứa. Cả tiểu đội A4 của Rạng chỉ có chị Tần, chị Cúc, chị Nguyễn Thị Xuân và chị Thao là đã từng ở TNXP 3 năm còn Rạng và 12 người nữa đều là “lính nhiệm kỳ II” vào TNXP với bao điều bỡ ngỡ. Vốn là con nhà chèo lái, tay cầm cào cuốc thuổng không quen, trình độ văn hoá còn thấp song với một quyết tâm sắt đá” vươn lên cho bằng chị, bằng em”, Rạng đã nhiệt tình lao động và say mê học tập văn hoá. Ngoài giờ ra trận địa, Rạng cùng chị em làm toán, làm văn, tập hát, lúc nghỉ giải lao lại tìm cách trêu đùa đại đội trưởng và mấy anh lái xe ủi. Cuộc sống tuy gian khổ, ác liệt nhưng vui tươi, sôi nổi, tràn đầy tinh thần lạc quan. Rạng ngày càng rắn rỏi, mạnh dạn.
 
Mặc dù lăn lộn với nắng mưa, bom đạn nhưng vẻ xinh tươi trên khuôn mặt Rạng vẫn không bao giờ tắt. 18 mùa xuân, cuộc đời đang như ánh ban mai, vậy mà Rạng đã phải vĩnh viễn giã từ đồng chí, đồng đội, yên nghỉ ngàn thu trên núi đồi quê hương.


Tiêu đề: Liệt sĩ Võ Thị Hà, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 04:02:42 AM
(http://cakhuc.congan.com.vn/UserFiles/Image/vo-thi-ha.jpg)

Sinh ra ở thị trấn Đức Thọ, Hà vốn là cô gái không quen lao động nặng. Cha Hà – ông Võ Trọng Lạc quê gốc ở thị trấn Đức Thọ gặp bà Trần Thị Khuyên quê Bến Thuỷ- Vinh. Hai người cưới nhau và sinh được 5 người con. Hà là con thứ ba.
 
Khi Hà sinh ra thì đã có dòng sông La mải miết chảy xuôi về biển cả. Sông La cũng hiền hoà như người con gái dịu dàng, xinh đẹp, nhiều mộng mơ. Thuyền bè đi lại tấp nập. Những cánh buồm xa, cánh buồm gần, những chiếc ca nô ngược lên Linh Cảm hoặc xuôi về Vinh.
 
Chưa đầy 17 tuổi Hà đã gác lại những ước vọng về con đường học hành để lên đường vào TNXP, đến với Ngã ba Đồng Lộc, nơi “túi bom” khốc liệt. Mẹ Hà chuẩn bị đủ thứ cho Hà đi và dặn :” Con làm sao cho bằng chị, bằng em”. Có hôm Hà về thăm nhà, ăn vội ăn vàng để đi kẻo chậm. Lúc nào về Hà cũng mang theo một vài quyển truyện để đọc “ Không có sách, ngoài giờ ra trận địa con buồn lắm mẹ ạ”. Mẹ Hà hiểu đứa con gái thuỳ mị, đa cảm, có phần “tiểu tư sản” của mình, chưa từng lăn lộn với thực tế của cuộc sống, vẫn còn non dại so với chị em trong tiểu đội nên tìm mọi cách để động viên con. Sau mấy tháng ở tập thể, thấy con khoẻ mạnh , rắn rỏi hơn, bà rất mừng.
 
Lần cuối cùng Hà về thăm nhà, mẹ Hà có ý tìm đàn gà nhưng không thấy đâu cả. Biết mẹ tìm gà để làm thịt, Hà yên lặng, tủm tỉm cười quay đi ”mẹ tìm chi đó?”. Mấy con gà nỏ biết đi mô, hay lại mất rồi” “ mất sao được, con vừa thấy chúng ở sân mà”. Mẹ Hà yên tâm, 5 mẹ con quây quần bên nhau, ăn rất ngon lành. Các em tíu tít nghe chuyện, chuyện Khe Sanh, chuyện Đồng Lộc. Sau đó mẹ Hà gửi máy con gà con đến Đồng Lộc để chị em nuôi. Nó càng sinh sôi nảy nở. rồi có lần Hà đem về nhà một con gà mái. Một hôm tự nhiên nó vỗ cánh gáy như gà trống. Mẹ của Hà bảo với em” thế nào chị Hà cũng có chuyện rồi”. Quả thật như vậy – 2 ngày sau nghe tin Hà hy sinh.
 
Những ngày ở tiểu đội, vì Hà ít tuổi nhất nên bao giờ cũng được chị Tần, chị Cúc, chị Nhỏ coi như em út. Việc nặng các chị giành lấy, không cho Hà làm. Chị Tần hay vuốt tóc, tâm tình, động viên Hà những giây phút nhớ nhà, nhớ mẹ. Hà hay nghĩ ngợi. Thỉnh thoảng ngồi một mình trầm tư, có khi thơ thẩn một mình, có khi lại cặm cụi ghi nhật ký 17 mùa trăng, Hà thanh thản ra đi khi chưa hề vướng một chút tơ lòng.


Tiêu đề: Liệt sĩ Hồ Thị Cúc, 10 cô gái ngã ba Đồng Lộc
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 04:08:45 AM
(http://cakhuc.congan.com.vn/UserFiles/Image/ho-thi-cuc.jpg)

Cúc cất tiếng khóc chào đời trên mảnh đất Nương Bao - xã Sơn Bằng – Hương Sơn, bên con sông Ngàn Phố trong xanh. Cúc vừa đầy một tuổi, nạn đối khủng khiếp năm 1945 đã cướp mất người cha, bà nội Cúc và bao người khác trong làng. Ông nội Cúc đưa 2 mẹ con Cúc về nha rau cháo lần hồi đợi ngày lúa chín... Đến năm Cúc 4 tuổi, mẹ Cúc đi bước nữa.
 
Từ đây Cúc sống trong sự đùm bọc của ông nội và o Loan. Chẳng bao lâu, vào một ngày tháng chạp, ông nội qua đời, một mình o Loan nuôi cháu, đến năm sau chú Dũng đi bộ đội về và cưới vợ. Từ đây Cúc sống với chú, mự và o Loan. Bà Trinh - mẹ Cúc lấy chồng ở Sơn Bằng thỉnh thoảng về thăm con, nhưng chẳng có gì để nuôi Cúc. Thời gian này Cúc còi cọc, mặt choắt lại, đôi mắt luôn nhìn xuống, lâu dần thành thói quen. Tóc Cúc vàng hoe, cụt cỡn như một túm đuôi lông bò. Quanh năm Cúc mặc chiếc quần lửng với tấm áo vá. Cúc đi chăn bò, cắt cỏ, bế em và làm bao việc không tên khác ở trong nhà. Cúc làm chậm nhưng cần cù, cẩn thận và thật thà nên thường gọi là “Cúc mục”.
 
Hồi Cúc lên 8, một hôm đun nồi cám lợn xong, Cúc lúi húi quét dọn bếp. Mự vào bưng nồi cám lợn ra, chẳng may trượt chân làm đổ cả nồi cám lên lưng Cúc. Cúc bị bỏng nặng, suốt ngày nằm sấp trên chiếc chõng con, lúc tỉnh lúc mê. O Loan hồi ấy ở nhà, thương xót cháu, 3 tháng liền tìm cách chữa cho cháu bằng các bài thuốc dân gian. Cuối cùng Cúc cũng khỏi. Nhưng vết sẹo sần sùi rất lớn, chạy suốt từ bả vai xuống đến thắt lưng thì không bao giờ xoá được. Cúc giấu tất cả mọi người điều đó.
 
Năm 1965 Cúc đi TNXP chống Mỹ cứu nước. Ba năm sống trong tập thể nam nữ thanh niên, chiến đấu trên mặt đường địch đánh phá, chị đã trưởng thành và không còn là o “Cúc mục “ ngày xưa nữa. Duy chỉ có vết sẹo trên lưng và nỗi đau sâu lắng trong lòng là không thể quên đi được.
 
Ngày nhập ngũ, chị Cúc đựợc ở với chị Tần. Đôi bạn cùng lứa tuổi, cùng ngày nhập ngũ đã sống với nhau trong niềm thương yêu đồng chí, đồng đội, luôn giúp đỡ nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đựơc giao. Trong 3 năm cùng sống, cùng làm việc cả 2 chị đã đạt nhiều thành tích. Vinh dự lớn nhất trong đời, đó là giờ phút thiêng liêng 2 chị được đứng dưới Đảng kỳ và chân dung Hồ Chủ Tịch đọc lời tuyên thệ trước lúc vào Đảng 3-2-1967. Sau đó Cúc được giao nhiệm vụ Tiểu đội phó, tiểu đội 4C522. Càng vui sướng với niềm vui ấy bao nhiêu, Cúc càng hăng say công tác bấy nhiêu. Ba năm trời trôi qua, Cúc đã cùng Tần chỉ huy tiểu đội bám trụ chiến đấu, đảm bảo thông suốt đường 15A trên trận địa Ngã ba Đồng Lộc.
 
Một ngày tháng 7 nắng gắt ở Đồng Lộc, vào lúc 16 giờ ngày 24-7-1968, trong lúc cùng 11 người trong tiểu đội (trừ 5 cô đi lấy quân trang quân dụng, 1 người đã hy sinh trước đó) ra mặt đường cách Ngã ba Đồng Lộc về phía Nam khoảng 300 m để san lấp hố bom, sửa chữa đường kết hợp củng cố hầm trú ẩn, Cúc cùng 9 chị em trong tiểu đội đã hy sinh. Trong tiểu đội còn có chị Trần Thị Thao, “lính nhiệm kỳ I” vì lý do tập văn nghệ đi sau cùng tiểu đội 5 nên đã sống sót.
 
Hôm đó, 10 cô gái ra đến hiện trường đã nhanh chóng triển khai công việc. Kẻ đào, người xúc, hồ hởi làm việc, vừa làm vừa chuyện trò trêu đùa nhau. Bỗng có một tốp máy bay vượt qua trọng điểm. Tất cả chị em nhanh chóng nép mình vào triền đồi, nơi thành hố bom cũ tạo nên một cái rãnh lớn. Tốp đi sau của tiểu đội 5 cũng dừng lại quan sát. Một lúc sau, hết tiếng máy bay cả tiểu đội chồm dậy để tiếp tục làm việc. Bất ngờ, một trong tốp chiếc máy bay lúc nãy quay lại, thả một loạo bom. Một quả bom rơi trúng vào chỗ của các cô đang làm việc. Tiếng nổ chát chúa, đất đá tung toé, khói bom mù mịt, đen ngòm trùm lên cả đội hình 10 cô.
 
Tốp TNXP tiểu đội 5 đi sau chạy ào đến gào thét, bộ đội, nhân dân ở gần đó cũng lao ra gọi tên từng người. Đến nơi, chỉ còn thấy hố bómâu hoắm, một vài chiếc cuốc, xẻnh văng ra nhưng không còn thấy một ai, không nghe thấy một tiếng người. Cả 10 cô gái TNXP đã anh dũng hy sinh. Suốt đêm hôm đó và cả ngày hôm sau, đồng đọi đã đoà bới, tìm kiếm thi hài các chị, đem về tắm rửa sạch sẽ. Tất cả đều như đang vừa đi vào giấc ngủ dài. Đồng đội đã đặt các chị vào khu đồi Bãi Dịa với lòng xót thương vô hạn.
 
Riêng chị Hồ Thị Cúc, mãi sang ngày thứ 3 đồng đội mới tìm thấy chị trên đồi Trọ Voi cách hố bom cũ chừng 20m trong tư thế ngồi, đầu đội nón, bên cạnh là cái cuốc, 10 đầu ngón tay bị ứa máu vì đang bới đất để tìm đường ra. Thương xót người em, người đông đội có số phận không may mắn, tác giả Yến Thanh (tên thật Nguyễn Thanh Bình - cán bộ phụ trách kỹ thuật ngành GTVT) cùng có mặt lúc đó nghẹn ngào viết lên bài thơ: “Cúc ơi” 

Tiểu đội đã về xếp một hàng ngang
Cúc ơi! Em ở đâu không về tập hợp
Chín bạn đã quây quần đủ hết
Nhỏ, Xuân, Hà, Hường, Hợi, Rạng, Xuân, Xanh
A trưởng Võ Thị Tần đã điểm danh
Chỉ thiếu mình em
Chín bỏ làm mười răng được
Bọn anh đã bới tìm vẹt cuốc
Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng
Cúc ơi! Em ở đâu?
Đất nâu lạnh lắm
Da em xanh
Áo em thì mỏng
Cúc ơi! Em ở đâu?
Về với bọn anh
Tắm nước sông Ngàn Phố
Ăn quýt đỏ Sơn Bằng
Chăn trâu cắt cỏ
Bài toán lớp 5 em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở
Cơm chiều chưa ăn
Ở đâu hỡi Cúc?
Đồng đội tìm em
Đũa găm cơm úp
Gọi em,
Gào em
Khản cổ cả rồi
Cúc ơi!
 
25-7-1968


Tiêu đề: Anh hùng Liệt sĩ Hồ Thị Kỷ, biến mình thành thuốc nổ
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 04:21:24 AM
(http://img373.imageshack.us/img373/3184/hothikyrj7.jpg)

Hồ Thị Kỷ (1949-3/4/1970), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy tặng; 1972).

Sinh năm 1949 ở ấp Cây Khô xã Tân Lợi huyện Thới Bình (nay là xã Hồ Thị Kỷ), trong một gia đình nông dân nghèo. Năm 10 tuổi Hồ Thị Kỷ đã được hướng dẫn biết đưa thư bí mật, đưa tin; năm 12 tuổi được kết nạp vào Đội TNTP, sau đó tiếp tục làm giao liên ở ấp, xã. Năm 1968 chị được kết nạp vào Đoàn thanh niên.

 Năm 1969 chị tổ chức nhiều trận đánh biệt động vào thị xã Cà Mau diệt ác ôn và phá hủy kho tàng vũ khí, xe của địch. Với những thành tích xuất sắc chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Ngày 03/04/1970  chị đưa 10 kg mìn vào đánh ty Cảnh sát nhưng tình huống diễn ra ngoài ý định, không bỏ lỡ thời cơ chị giả giờ làm quen với địch và kịp ấn kíp mìn, một tiếng nổ long trời từ chị phát ra diệt 27 tên ác ôn (trong đó có 1 sĩ quan Mỹ)  3 xe quân sự và bốt gác địch bị phá sập.

 Là trận đánh mà Hồ Thị Kỷ đã anh dũng hy sinh trong tiếng nổ, chị là biểu tượng của tuổi trẻ anh hùng trên quê hương cách mạng Cà Mau. Chị hy sinh để lại muôn vàn tình thương của nhân dân với người con gái 21 tuổi vì nước quên mình. Trong mấy năm làm chiến sĩ biệt động chị đã đánh 6 trận diệt 46 tên địch, phá hủy nhiều xe, đạn dược, kho tàng của địch, Với thành tích đó năm 1972 chị được truy tặng danh hiệu anh hùng.

Để ghi nhận chiến công oanh liệt của nữ tuổi trẻ anh hùng, xã Tân Lợi quê hương chị đã mang tên Hồ Thị Kỷ; một trường cấp 3, một đường phố Cà Mau cũng được mang tên Hồ Thị Kỷ.

Theo trang thông tin điện tử Cà Mau.


Tiêu đề: Anh hùng Liệt sĩ Phan Thị Ràng, nguyên mẫu chị Sứ trong Hòn Đất
Gửi bởi: panphilov trong 08 Tháng Sáu, 2008, 04:38:56 AM
(http://img266.imageshack.us/img266/7209/chisuphanthirangum5.jpg)

Phan Thị Ràng sinh năm 1937 ở xã Lương Phi (Tri Tôn, An Giang) theo cách mạng năm 1950 khi mới 13 tuổi và hy sinh vào rạng sáng ngày 9/1/1962 khi mới 25 tuổi ở chân núi Hòn Đất này.

Cuộc đời thực của chị Phan Thị Ràng trở thành nhân vật trong tiểu thuyết dữ dội và tuyệt đẹp dường như không phải thêm thắt. Khi các chiến sỹ quân giải phóng bị vây hãm 100 ngày trong hang núi, được thế hiểm của núi non quê hương che chở, kẻ địch vũ trang tận răng và tập trung sát chân núi nhưng vẫn không “chạm được sợi chân lông”.

Tuy nhiên, những người ở trong hang núi hùng vĩ giữa mùa khô Nam Bộ lại có “gót chân Asin” là thiếu nước uống. Chị Phan Thị Ràng đã khôn khéo và dũng cảm đi hứng nước ở ngọn suối Lươn bằng chiếc nồi đất sản phẩm của xứ Hòn để tiếp tế cho bộ đội trong hang.

Đêm 8/1/1962, chị sa vào tay giặc và kẻ địch nham hiểm đã bỏ thuốc độc vào suối Lươn, đồng thời nới vòng vây cho bộ đội ta đi lấy nước. Trước khi chết, chị Phan Thị Ràng kịp hét vào vách núi báo cho bộ đội trong hang biết nước suối đã có độc. Chị cứu cả một đoàn quân cũng là cứu một chiến thắng oanh liệt.

Cây dừa treo cổ bà Phan Thị Ràng ở khoảnh đất bên trái mộ chị, nhìn từ dưới lên, nay không còn. Nơi đó, nay xanh tươi một vạt dừa lớn lên từ ngày giải phóng, không phải vạt dừa khô héo khói lửa chiến tranh.

Phía trước mộ chị Phan Thị Ràng, chân núi Hòn Đất, hồi nào khét mùi thuốc súng với máu chảy và tiếng kêu la vang động đất trời, bây giờ là khoảng sân rộng ấm ánh nắng thanh bình.

Chị Phan Thị Ràng chính là nguyên mẫu để Thiếu tướng Nhà văn Quân đội Anh Đức xây dựng lên nhân vận Chị Sứ trong tác phẩm Hòn Đất nổi tiếng.


Tiêu đề: Re: Những gương anh hùng thời KCCM
Gửi bởi: hoacuc trong 17 Tháng Bảy, 2008, 06:17:28 PM
Nữ anh hùng... giả trai đi đánh giặc

Trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, có lẽ bà là trường hợp duy nhất cải nam trang đi đánh giặc. Từ một cô gái xinh đẹp, da trắng, tóc đen dài, bà phơi nắng, cắt tóc như con trai, gào thét cho vỡ giọng để có tiếng nói được ồm ồm như đàn ông…

Cắt máu ăn thề trốn nhà đi kháng chiến

Sinh ra trong một gia đình khá giả ở huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang, Trần Thị Quang Mẫn được ba má cho ra tỉnh học trường tư thục. Khi đó, không ưa người Pháp, bà ghét luôn ngôn ngữ của họ nên không tha thiết với việc học lắm. Học hết lớp Nhứt, bà và người em về quê làm ruộng. Bà thường ra đồng thả trâu, bò, bày trò chơi trận giả với đám con nít xung quanh. Tính tình khảng khái như con trai, bà mê đọc sách sử, mê Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trung Trực, Phan Bội Châu…

Là phận gái nhưng trong bà luôn day dứt một điều. Đất nước bị xâm lược, đang cần người trẻ nhưng anh chị em bà không ai ra giúp nước. Ông ngoại bà vốn là người của Nguyễn Trung Trực, bị giặc Pháp giam cầm 18 năm ngoài Côn Đảo, các cậu bà hy sinh vì đất nước… Biết tính cha vốn không thích tham gia chính sự, bà “nhỏ to” với người em gái kế, hai chị em cắt máu ăn thề và lên kế hoạch trốn nhà theo kháng chiến. Ngón áp út bên tay trái của bà giờ vẫn còn hằn vết sẹo cắt máu ăn thề của 50 năm về trước.

Lần thứ nhất, khi bà và em gái lén mang túi xách trốn đến điểm đóng quân gần nhà khoảng một cây số thì bị người cha huy động lực lượng trong gia đình bắt mang về. Hai chị em bà bị nhốt kín trong nhà. Lần thứ hai, sau khi dặn em chạy theo mình, bà vừa phóng ra khỏi nhà mấy chục mét thì cha bà đã cầm con dao chạy theo. Ông dọa sẽ tự sát nếu chị em bà bỏ đi lần nữa. Giận con gái cứng đầu, sẵn con dao bén trên tay, ông cắt phăng mái tóc óng ả của con gái.

Càng bị cha ngăn cản, bà càng nung nấu khát vọng được cầm súng trực tiếp đánh giặc. Bà nhờ người anh họ xa đang tham gia kháng chiến viết thư báo lên cấp trên. Thư hồi âm của người Đội trưởng, trong đó có đoạn: "…Chúng tôi chỉ dám nhận khi có sự đồng ý của cha mẹ hai cô".

Người cha trước sau như một. Thấy không lay chuyển được ý định của con gái, ông mang hết quần áo hai cô ra đốt và đuổi hai chị em đi. Người mẹ vừa khóc vừa chạy theo dúi cho bà mấy đồng bạc và xấp vải xô có sẵn trong nhà. Đến bây giờ bà vẫn còn nhớ như in lời mẹ dặn: “Hai chị em con đi phải cho thành danh. Nếu không thành hay hư hèn gì thì đừng có vác mặt về nhà, xấu hổ cha mẹ lắm”.

Chuyện "anh" Mẫn đào hoa... cưới vợ

Bà quyết định giả làm con trai, đổi tên là Trần Quang Mẫn. Em gái bà được đưa vào đội cứu thương, còn bà ở bộ phận giao liên, trinh sát và khi cần thiết cũng trực tiếp cầm súng giết giặc trong Trung đội 1. Nam giới đi đánh giặc vốn đã cực khổ, người cải trang như bà càng khổ hơn. Mỗi tháng, sắp tới ngày của phụ nữ, bà lấy rau dăm giã nát, đổ rượu trắng vào uống nửa chén. Đây là "bài thuốc" bà học lóm từ người chị lớn. Áo quần mặc phải rộng hơn, ngủ trong nóp, tắm phải dòm trước ngó sau. Cũng may là sau một ngày đánh giặc mệt mỏi, mạnh ai nấy nhảy ào xuống sông tắm cho nhanh lên nghỉ nên không ai chú ý đến "anh" Mẫn da trắng trẻo như con gái.

Công việc của bà vất vả hơn em gái, thường ngủ lùm ngủ bụi. Mỗi lần đi thăm "anh Sáu" (em gái bà gọi thế), cô em cứ khóc sụt sùi vì thương chị. Bà động viên em, nhắc lại lời thề không sạch bóng quân thù không về khi hai chị em cắt máu ăn thề. Đối với bà, được cầm súng đánh giặc thì mọi vất vả chỉ là chuyện nhỏ. Gan dạ, thông minh, bà được cấp trên cử đi học sĩ quan ở Quân khu 9. Trở về đơn vị, bà lãnh đạo cảnh vệ binh Trung đoàn.

Cao 1,62m, da trắng, giọng nói trong trẻo, cải thành nam giới, bà nổi tiếng “đẹp trai” trong đơn vị, đi đến đâu cũng được các cô gái để ý đánh mắt làm quen.

Không may, gần nơi đóng quân của đơn vị có cô gái người Khơme xinh xắn để ý thương “anh” Mẫn. Hàng ngày, cô thường tới lui thăm nom anh. Cha cô gái biết chuyện đã đánh tiếng gả cô cho bà.

Biết được bà vốn là con của người quen, cha cô đã lân la đến nhà bà uống rượu với cha bà dò hỏi. Còn giận bà, người cha cũng không nói thật. Thế là trước sự thúc ép của gia đình cô gái và của cả đơn vị, bà phải hứa hôn với cô gái… Đến đây, bà ngừng lại. Cô gái yêu thương "anh" Mẫn ngày xưa đã bị bom vùi thây cùng người chồng bộ đội, để lại mấy đứa con thơ dại mà bà vẫn chưa một lần có dịp về thăm...

Bại lộ

Trước khi giả trai, gia đình bà có hứa hẹn gả bà cho một chàng trai ở huyện Phú Quốc. Hai người cũng qua lại thăm viếng vài lần. Từ ngày bà cải thành nam giới đi cách mạng, anh con trai tên Nguyễn Văn Bé đang đi bộ đội ở Tiểu đoàn 4010 tới lui không thấy, điều tra biết được bà đang ở Trung đoàn 124. Sau nhiều lần ông dò hỏi, thắc mắc, cuối cùng sự việc của bà bị bại lộ. “Anh” Trần Quang Mẫn trở lại là chị Trần Thị Quang Mẫn. Cả Trung đoàn bật ngửa vì trong suốt năm năm trời, không ai phát hiện ra chuyện "động trời" này.

Sau đó, đơn vị đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người. Lúc này, bà lên chức Đại đội trưởng Trung đoàn 124, ông giữ chức Đại đội phó. Năm 1952, ông hy sinh, để lại đứa con trai mới bốn ngày tuổi lại cho bà. Mười tuổi, con trai bà tiếp bước cha mẹ đi bộ đội, 15 tuổi người con trai duy nhất của ông bà hy sinh…

Ước nguyện thành sự thật, tôi mãn nguyện rồi!

Có một giai thoại mà những người lính khi đó truyền nhau mãi. Vào năm 1974, trong một đợt hành quân, bà đã dùng dao rạch bụng cứu sống một đứa bé khi người mẹ bị bom dội chết.

Nghe tôi hỏi, bà chỉ tay lên tấm ảnh một người phụ nữ đang cười rạng rỡ bên đứa con trai bảo: "Nó đó!".

Lúc đó, bà là Tiểu đoàn trưởng. Gặp đợt oanh kích của giặc, cả tiểu đoàn chui hầm tránh bom. Khi chui ra khỏi hầm, bà phát hiện một người phụ nữ mang thai gần đến ngày sinh bị trúng bom đã tắt thở. Thấy thai nhi chòi đạp dữ dội, không chần chừ bà móc con dao găm nhỏ luôn mang sẵn bên mình rạch bụng người mẹ cứu đứa con. Không đành lòng mang đứa nhỏ đi cho, bà gởi người quen gần đó nuôi vài tháng rồi nhận lại đứa bé gái nuôi dưỡng đến ngày hôm nay.

Cô gái được bà đặt tên là Ngọc Hân, tốt nghiệp Đại học, hiện đang làm ở Ngân hàng Công thương tại TP.HCM. Vì việc học của con gái, bà đã bán nhà ở Kiên Giang, lên TP.HCM mua nhà sinh sống từ năm 1993 tại quận Tân Bình.

Bà được Nhà Nước phong tặng nhiều Huân chương và danh hiệu cao quý: Huân chương chiến công, Huân chương kháng chiến, Huân chương Độc lập… và Bà mẹ Việt Nam anh hùng trong đợt đầu tiên. Năm 1967, cùng với chị Út Tịch, bà được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.

Tháng 4/1967, bà được ra Hà Nội gặp Bác Hồ, được Bác ưu ái tặng cho bà khẩu súng K54 làm kỷ niệm. Cuộc đời bà đã được nhà văn Bùi Hiển viết thành quyển sách “Cuộc đời tôi”. Bà suy nghĩ đơn giản rằng: “Hồi đó đi đánh giặc để giải phóng đất nước, mong cho đồng bào mình được sống trong cảnh thanh bình. Giờ ước nguyện đã thành sự thật, so với nhiều người khác, tôi may mắn còn sống đến ngày hôm nay. Đối với tôi như vậy đã mãn nguyện lắm rồi”.

Thanh Phúc


Tiêu đề: Re: Anh hùng Liệt sĩ Phan Thị Ràng, nguyên mẫu chị Sứ trong Hòn Đất
Gửi bởi: anhkhoi trong 17 Tháng Bảy, 2008, 08:12:27 PM

Chị Phan Thị Ràng chính là nguyên mẫu để Thiếu tướng Nhà văn Quân đội  Anh Đức xây dựng lên nhân vận Chị Sứ trong tác phẩm Hòn Đất nổi tiếng.


Sợ quá  ;D