Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: chienvit trong 02 Tháng Năm, 2010, 03:16:10 PM



Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 02 Tháng Năm, 2010, 03:16:10 PM
Tác giả: Hồ Sĩ Thành
Nhà xuất bản: Trẻ
Năm xuất bản: 2002
Số hoá: ptlinh, chienvit


LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Rừng Sác là tên gọi rừng cây ngập mặn thuộc huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đây là căn cứ kháng chiến của quân và dân ta chống lại các thế lực ngoại bang xâm lược đất nước và bè lũ tay sai của chúng.


Với vị trí án ngự vùng cửa biển và địa hình sông nước rừng rậm hiểm yếu, Rừng Sác trở thành "trận đồ bát quái" đối với quân giặc. Đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ, Rừng Sác là nơi xuất phát những trận đánh thần kỳ của Đoàn 10 đặc công vào tàu chiến, kho tàng và sào huyệt địch tại trung tâm đầu não Sài Gòn.


Với tầm vóc và ý nghĩa của cuộc chiến đấu, năm 1966 Quân ủy Trung ương quyết đinh thành lập Đặc khu quân sự Rừng Sác.

Đặc khu Rừng Sác ra đời đã phát huy hiệu quả chiến đấu của quân và dân Rừng Sác, góp phần xứng đáng vào thắng lợi hoàn toàn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (4-1975).


Trên vùng sình lầy nước mặn, người dân Rừng Sác vốn mang đậm tính cách cần cù lam lũ "khoét rừng vớt nước”, thích tự do phóng khoáng, yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Do đặc điểm về địa lý, Rừng Sác trở thành nơi đọ sức quyết liệt giữa ta với quân thù. Trải qua biến động lớn lao trong lịch sử, Rừng Sác như người lính tiền tiêu canh giữ một vùng trời đất, son sắt, thủy chung, bất khuất kiên cường.


Rừng Sác trở thành miền đất huyền thoại, thu hút sự chú ý của mọi người đặc biệt là đối với các nhà nghiên cứu địa lý, lịch sử thiên nhiên và giới văn học nghệ thuật.
Thượng tá Hồ Sĩ Thành (nhà thơ Lam Giang) là cán bộ nghiên cứu lịch sử quân sự, qua nhiều lần khảo sát, tìm hiểu về vùng Rừng Sác và Trung đoàn 10 đặc công cũng như thu thập tài liệu qua sách báo, đã biên soạn tập sách "Đặc khu Rừng Sác" dưới dạng hói đáp, nhằm cung cấp cho bạn đọc những tư liệu đặc trưng nhất về Rừng Sác, chủ yếu là những sự kiện từ năm 1975 trở về trước.


Theo thời gian, Rừng Sác đã có những biến đổi, việc sưu tầm cái cũ, cập nhật cái mới không dễ dàng, nên tập sách không thể tránh khỏi những sơ sót. Hy vọng "Đặc khu Rừng Sác" đem lại cho bạn đọc nhiều bổ ích, nhất là góp phần giáo dục truyền thống yêu nước đối với các thế hệ trẻ Việt Nam.


NHÀ XUẤT BẢN TRẺ


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 02 Tháng Năm, 2010, 03:17:13 PM
Xin cho biết vị trí địa lý của Rừng Sác?

Rừng Sác là rừng nguyên sinh ngập mặn thuộc huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh, nằm ở hướng đông nam, cách trung tâm thành phố 8km (đường chim bay). Phía bắc giáp huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Phía đông giáp Phước Tuy, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Phía tây giáp huyện Nhà Bè. Phía tây nam giáp Long An, Tiền Giang. Phía đông nam giáp biển Đông.


Năm 1698, Rừng Sác - Cần Giờ là một làng thuộc tổng Bình Dương của huyện Tân Bình, nằm trong dinh Phiên Trấn, phủ Gia Định.

Năm 1832, triều đình nhà Nguyễn đổi trấn Phiên An thành tỉnh Phiên An và đến 1836, tỉnh Phiên An được đổi thành tỉnh Gia Định. Năm 1871, Cần Giờ được chia ra 2 tổng trực thuộc tỉnh Gia Định gồm tổng An Thít và tổng Cần Giờ. Năm 1920, Cần Giờ thuộc huyện Nhà Bè tỉnh Gia Định. Năm 1947, Pháp tách vùng Rừng Sác Cần Giờ (gồm cả tổng An Thít và tổng Cần Giờ) từ tỉnh Gia Định sang thị xã Ô Cấp (Vũng Tàu) để thiết lập một tỉnh mới là Cáp Saint - Jacques. Như vậy suốt thời gian chống Pháp, Cần Giờ nằm trong tỉnh Vũng Tàu.


Sau hiệp định Genève năm 1954, chính quyền Ngô Đình Diệm chia cắt và phân bố lại ranh giới hành chính gây ra nhiều xáo trộn. Hai tổng An Thít và Cần Giờ hợp thành quận Cần Giờ nằm trong tỉnh Phước Tuy (gom lại từ 2 tỉnh Vũng Tàu và tỉnh Bà Rịa). Năm 1959, từ quận Cần Giờ lập thành quận Quảng Xuyên. Đến năm 1965, chính quyền ngụy chuyển hai quận Cần Giờ và Quảng Xuyên từ tỉnh Phước Tuy sang tỉnh Biên Hòa. Năm 1970 Cần Giờ, Quảng Xuyên lại chuyển về tỉnh Gia Định như cũ. Quận Cần Giờ gồm 5 xã: Cấn Thạnh, Long Thạnh, Đồng Hòa, Tân Thạnh, Thạnh An. Quận Quảng Xuyên có 4 xã: An Thới Đông, Bình Khánh, Lý Nhơn, Tam Thôn Hiệp. Trong kháng chiến chống Mỹ, để thuận tiện cho chỉ đạo và hoạt động, ta vẫn coi hai quận Cần Giờ - Quảng Xuyên thuộc tỉnh Biên Hòa (nay là Đồng Nai) cho đến ngày giải phóng 30-4-1975.


Tháng 2-1978, huyện Cần Giờ (gồm cả Quảng Xuyên) nhập về thành phố Hồ Chí Minh và đổi tên thành huyện Duyên Hải. Đến cuối năm 1991 theo quyết định của Chính phủ, Cần Giờ trở lại tên cũ như hiện nay.


Rừng Sác có diện tích khoảng 710km, giới hạn bởi sông Soài Rạp và đường 15, trải từ Nhơn Trạch, Nhà Bè ra biển. Rừng Sác - Cần Giờ là cửa biển quan trọng của thành phố Hồ Chí Minh.

Vị trí địa lý: từ 106° đến 167° kinh độ đông, từ 100° đến 107° vĩ độ bắc.

Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về

Đứng ở chỗ dòng nước chia hai đó, nơi gặp nhau của ba con sông Nhà Bè, Lòng Tàu, Soài Rạp, nhìn lên hướng đông bắc là xứ "cọp Biên Hòa"; nhìn xuống phía đông nam là xứ "ma Rừng Sác”. Có ai ngờ rằng ở ngay ven "Hòn ngọc Viễn Đông" Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh lại có một khu rừng mà trước khi quân xâm lược đặt chân lên đất Việt Nam, người ta còn liệt vào loại rừng chưa khai phá trên thế giới. "Cọp Biên Hòa" đã một thời vang bóng "Ma Rừng Sác" là đề tài hấp dẫn trên những trang báo Sài Gòn xưa.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 02 Tháng Năm, 2010, 03:18:23 PM
Tại sao lại gọi là Rừng Sác?

Địa danh Rừng Sác từ lâu đã quen thuộc với mọi người, nhưng dường như có cái gì đó chưa ổn, nói cách khác là cách dùng chưa thống nhất: "Sác" hay "Sát". Nhiều sách vở ghi là Rừng Sác. "Sác" là tiếng Nôm chỉ rừng nước mặn trên bãi biển sình lầy. Nhưng cũng có sách ghi là Rừng Sát, hàm ý là rừng cây thấp sát mặt nước, hay rừng lấn ra sát biển. Chính một số anh em Trung đoàn 10, những chiến sĩ đặc công bám trụ đánh giặc cả chục năm trời trong Rừng Sác cũng nói và viết là "Rừng Sát".


Có người lại cho rằng sở dĩ có hai tiếng Rừng Sác là bắt nguồn từ chữ "rừng sắc" mà ra. Ý nói rừng ở đây có nhiều sắc, lá có nhiều màu. Tuy nhiên số đông cho rằng sở dĩ gọi là Rừng Sác, là vì ở vùng rừng nước mặn này loài cây sác hay còn gọi là cây mắm mọc thành rừng thành bãi, đi đâu cũng gặp. Giống cây này thuộc dòng họ với cây sú, vẹt, đước... thân không cứng lắm, cây không cao, nhưng có bộ rễ rất khỏe cắm chắc xuống sình lầy nước mặn. Chúng chỉ quen sống ở đất mặn, có sức chịu đựng bền bỉ với thổ nhưỡng khắc nghiệt và sóng gió của biển.


Cũng có người lập luận rằng: gọi sai từ "sác" là do cách phát âm của người miền Nam không phân biệt chữ i và c. Vì thế gọi "sác“, ra "sát", giống như gọi "Các Lái" ra "Cát Lái"1 (Có ý kiến cho rằng địa danh Cát Lái hiện tại chính là "Các Lái" vì ngày trước "các lái buôn" thường tụ tập ở ngã ba sông để buôn bán, về sau người ta bỏ chữ buôn đi cho gọn là "các lái”, đọc theo âm miền Nam là Cát Lái, gọi mãi thành danh ngã ba "Cát Lái"). Tóm lại Rừng Sác đã tồn tại hàng trăm năm từ thuở Bến Nghé - Đồng Nai, nhưng đến đầu thế kỷ XX này thì cái tên Rừng Sác vẫn chưa phải hoàn toàn thống nhất. Mặc dù vậy, địa danh Rừng Sác với ý nghĩa lịch sử và tính chất địa lý thiên nhiên đặc thù của nó, đã đi vào sử sách và lòng người như một kỳ tích anh hùng và một môi trường sinh thái có một không hai ở Việt Nam.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 02 Tháng Năm, 2010, 03:19:05 PM
Xin cho biết những nét đặc trưng của Rừng Sác?

Có thể tóm tắt những nét đặc trưng của Rừng Sác như sau: Từ Sài Gòn đi về hướng đông nam mặt đất tự nhiên thấp dần. Khi nước lớn, ở đây chỉ còn lại những gò nổi giữa vòng vây trùng điệp của lá dừa nước. Đó là nơi Rừng Sác "đặt chân" lên đất liền. Càng đi sâu về hướng nam, đông nam, địa hình càng sình lầy, sông rạch càng nhiều. Nếu từ trên máy bay nhìn xuống sẽ thấy cả một tập hợp cù lao mà người ta gọi là những "đảo triều”, chi chít đảo lớn nhỏ chen giữa đường 15 (phía Đông) và sông Soài Rạp (phía tây), được tạo nên bằng những dòng sông và hàng ngàn nhánh rẽ.


Cả Rừng Sác là một thảm thực vật bạt ngàn, nhưng chỉ gồm những loài cây rễ bám được vào đất bở, chịu đựng trước những thay đổi xoay chiều của trời đất: ngập nước - cạn khô - nước ngọt - nước mặn - nước chua - kiềm - nóng... Tất cả phần sinh vật sống phối hợp với phần "không sống": đất khoáng, nước - thành một hệ sinh thái ở thế quân bình luôn luôn trẻ, nhờ chuyển động nhịp nhàng với thủy triều.


Đất Rừng Sác có cao trình từ 2,5m đến 3,7m so với độ 0 hải đồ. Sát biển Cần Giờ nổi lên những giồng cát như giồng Ao, giồng Cháy...

Có thể nói đây là một vùng hội tụ của sông rạch, không phải hàng trăm, mà hàng ngàn, chằng chịt như một "trận đồ bát quái". Diện tích bề mặt sông rạch chiếm tới 1/4 diện tích Rừng Sác.


Rừng Sác có Vũng Gấm (Long Thành - Đồng Nai) là một vũng nước xanh trong mặt nước sóng sánh như gấm. Đó là thắng cảnh mà Trịnh Hoài Đức đã xếp ngang với những thắng cảnh Nhà Bè, gò Cây Mai, rừng Trảng Bàng, sông Mỹ Tho, bến cá Biên Hòa xưa...


Trong tổ hợp thảo mộc nhiệt đới gần 60 loài thì cây đước đứng hàng đầu về cả số lượng và chất lượng gỗ trong các loài cây ở Rừng Sác.

Chim muông Rừng Sác có nhiều dạng, có giống xuất hiện theo mùa, có giống lấy nơi đây làm quê hương như: bồ nông, cò quắm, sếu diệc, ó, hải âu, ưng, vẹt, chàng bè, bìm bịp, cú quạ, hồng hộc, le le...


Rừng Sác có nhiều giống cá, tôm, cua, ốc... đặc biệt có cá sấu là loại "chúa nước" đã từng tác oai tác quái gây nhiều khó khăn cho lực lượng của ta ở khu rừng ngập mặn này.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 02 Tháng Năm, 2010, 03:19:36 PM
Rừng Sác hình thành trong điều kiện nào?

Về sự hình thành của Rừng Sác thì chính hình dáng "bàn tay xoè" của sông rạch trên bản đồ miền Đông đã phần nào giải thích. Sông Vàm Cỏ Tây, sông Vàm Cỏ Đông, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai... là những ngón tay xòe từ lòng "bàn tay Rừng Sác", vươn dài tận biên giới Việt Nam - Campuchia. Bốn con sông lớn châu về một hướng với tốc độ giảm dần đã tạo nên sự hội tụ phù sa vùng cửa biển. Trong khi đó dòng thủy triều lại bồi cát thành gò cao ven biển chặn các luồng lạch tạo thành vùng sình lầy ứ nước bên trong. Quá trình vận động này đã diễn ra trong khung cảnh của miền khí hậu nhiệt đới. Đó là những yếu tố để cho một thảm thực vật nảy sinh.


Tài liệu của Pháp, của Mỹ và của ta ngày nay cho thấy đất đai Rừng Sác mỗi năm đều có thay đổi, tạo ra sự thay đổi không thể xem thường được giữa thực địa và bản đồ từng năm. Theo các nhà nghiên cứu, vào khoảng cuối thế kỷ thứ III đầu thế kỷ thứ IV thuộc tân sinh đại của lịch sử vỏ trái đất, thì đại bộ phận đất đai Campuchia và Nam bộ ngày nay còn là một cái vịnh ăn thông với đại dương. Sóng biển Đông còn vỗ tới chân núi Đăng Rếch. Từ ấy các địa tầng đã trải qua nhiều cuộc biến dạng, các lớp trên vỏ trái đất bồi thêm lấp lại và lở mất do các đại dương chuyển động. Đất Rừng Sác là đất đã dừng lại qua các quá trình biến dạng đó. Nếu như không có sự chịu đựng của những vùng đất như vậy thì mảng bên trong lục địa còn có thể bị biển cả nhận chìm hoặc bị phủi sạch chưa biết đến tận đâu.


Sự vận động của các địa tầng trong nhiều thế kỷ đã để lại một Rừng Sác với địa hình mang tính đặc thù của miền Đông Nam bộ, như một sự ưu đãi của thiên nhiên.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 02 Tháng Năm, 2010, 03:20:45 PM
Xin cho biết những bí ẩn thiên nhiên cua Rùng Sác?

Trong "trận đồ bát quái" của Rừng Sác, thiên nhiên đã "vẽ" ra những dáng vẻ độc đáo kỳ lạ mà đi sâu nghiên cứu ta càng thấy nhiều điều thú vị.

Chỉ trên một đoạn bờ biển dài độ 20km đã có 4 cửa sông rạch lớn của các dòng sông: Soài Rạp, Đồng Tranh, Ngã Bảy, rạch Ta chen. Sông rạch cắt ngang, cắt dọc bãi triều lớn thành các đảo triều. Những con sông đều có những bãi bùn lan xa ra cửa biển, nên dòng sông thường bị cạn, nhất là ở mạn doi Gành Rái. Cửa Cần Giở có bãi cát kéo dài đến 3km. Cửa sông Soài Rạp rộng nhất trong các cửa sông ở Rừng Sác mở ra từ 5 đến 8km đường chim bay. Cắt xuôi theo dòng nước ra cửa biển về phía Thừa Đức (hướng nam - đông nam) cửa sông rộng từ 15 đến 20km.


Các sông lạch ở Rừng Sác như sông Cái Giáp, sông Thị Vải, sông Gò Gia có độ sâu từ 15 đến 20m. Riêng sông Ngã Bảy nối liền với sông Lòng Tàu là sâu nhất. Đoạn vịnh Gành Rái có chỗ sâu 29m. Nhờ thế mà tàu có trọng tải hàng chục tấn có thể vào cảng được.


Bãi triều hoang vu ngập mặn Rừng Sác đối với các nho sĩ Gia Định xưa là chốn rừng xanh nước biếc đầy nguy hiểm dành cho những du khách hiếu kỳ: "Vũng nước sâu và có nhiều lạch lớn đổ vào khi ánh mặt trời sớm chiều với bóng mây rọi xuống lẫn vào bóng cây xanh mát, sóng nước lao xao, thì từ xa thìn đến quả là cảnh tượng tươi thắm... Trong vùng nước này có nhiều cá sấu nương náu thường rình bắt người…1 (Theo sách Gia Định Thành Thông Chí)


Đứng trên sông Ngã Bảy nổi sóng giữa Rừng Sác mà nhìn, thấy núi giăng ba mặt: bắc, đông, đông nam. "Trông về phương bắc thấy núi Dinh ở chân trời thì lòng người dân Việt cảm thông với công lao dựng nước và giữ nước của tổ tiên hơn ở đâu hết"2 (Bến Nghé xưa - Sơn Nam).


Trong Rừng Sác có những "bãi chà" mắm san sát trên mặt nước, những "ống đũa" đước mượt mà từ muôn ngàn "chiếc nơm" vọt lên cao, những "rừng gươm" dừa nước trùng trùng điệp điệp... Bên những dòng sông bao la xa tít chân trời và tràn đầy ánh nắng lại có những hang động chà là bịt bùng thế riêng một cõi, tầng cây rán che phủ như những "mái nhà" mênh mông chỉ có đất mà không có trời...


Trước khi chưa bị chiến tranh tàn phá, hầu hết các loài thú rừng nhiệt đới đều có mặt ở Rừng Sác như heo rừng, khỉ đen, khỉ đột, rái nước, trăn, kỳ đà, sóc bông, nai, tê tê, chồn hương, chồn đất, beo, mèo rừng, dơi quạ... dĩ nhiên không loại trừ "chúa nước" cá sấu và "chúa rừng" là cọp.


Xưa kia, đêm đêm dân chài lưới thường nghe cọp gầm văng vẳng ở phía sông Tiền, Rạch Lá, Thiềng Liềng, giồng Chùa, rạch Su… Dấu vết rùng rợn của cọp còn để lại một cái tên "Xóm ăn Thịt". Đó là một xóm của xã Tam Thôn Hiệp (ba thôn hiệp lại), một cù lao hình tam giác. Hồi xưa vùng này nổi tiếng "sâu rạch lá, hạm ăn thịt"1 (Dân Rừng Sác gọi hổ là con hạm). Nơi đây có một lần hạm nhảy xuống ghe tát chết người chồng rồi lôi người vợ lên bờ xé xác ăn thịt, chỉ để lại đầu, bộ lòng và xương. Nhưng nguy hại nhất chính là con beo. Beo Rừng Sác trước kia thường phục kích trên các chàng cây tại các khúc quanh âm u. Khi xuồng ghe đến, nó bất thần nhào xuống móc họng làm chết người tại chỗ.


Rừng Sác còn có con nưa chín mũi, có người gọi là trăn nước, là một con vật có thật. Thời kháng chiến chống Pháp, các chiến sĩ ta được chứng kiến những đêm giao chiến ác liệt giữa heo rừng với trăn nước. Con vật hiếm hoi này chỉ xuất hiện từng cặp vào những ngày dâng lũ, nước ngập lâu ngày. Các trận đánh giữa heo rừng và trăn nước thường xảy ra vào ban đêm trên các gò cao. Sáng ra, trên bãi chiến trường cây cối tơi tả, xác heo rừng hoặc con nưa nằm lăn lóc…


Họ hàng đông đúc ở Rừng Sác còn có rái nước, mỗi năm đều có những ngày hội của rái nước mà nhân dân ở đây gọi là "ngày giỗ rái". Ngày này, hàng trăm con rái tụ tập sắp hàng trên các gò nổi.


Dưới lớp nước Rừng Sác, người ta tìm thấy loài đất sét có thể làm gạch hay hóa chất công nghiệp, chất vôi lấy từ vỏ hào, nghêu sò, phốt phát và thạch cao có thể kết tủa.

Đối với thành phố công nghiệp đông dân, Rừng Sác trở nên một cái máy điều hòa khổng lồ được gió biển phát huy sức mạnh. Gió chuyên chở các nguồn dưỡng khí tươi mát trong lành của biển cả, rừng xanh đi vào thành phố. Cho nên vào những ngày hè nắng gắt, đi trên đường phố bụi và khói của Sài Gòn, người ta vẫn thấy hơi mát từ phương nam thổi về. Đó là nguồn dưỡng khí quý giá không gì đánh đổi được.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 02 Tháng Năm, 2010, 03:21:41 PM
Những loài thảo mộc nào tạo nên khu rừng ngập mặn này?

Rừng Sác là loại rừng ngập mặn vừa có cái âm u của rừng xứ nóng với những đám lá tối trời dây leo chằng chịt, nhưng cũng có dáng dấp của rừng xứ lạnh với những tập đoàn cây riêng lẻ mọc trên những lớp đất khác nhau về độ mặn.


Theo các nhà khoa học Rừng Sác là tổ hợp thảo mộc nhiệt đới rất đặc biệt gồm 60 loài. Cây ở đây không cao bằng cây ở Năm Căn (Cà Mau) nhưng "thịt" chắc và bền hơn. Có thể nói "người chiến sĩ tiên phong" trong cuộc chiến tranh với biển và đất là cây mắm. Với bộ rễ "vĩ đại" chiếm 80% toàn phần của cây, mắm đứng ngay đầu sóng sẵn sàng thách thức với biển cả. Đứng sau cây mắm là loài cây bần có bộ rễ đương đầu nổi với gió xoáy như bão lốc của Rừng Sác. Sau cây mắm, cây bần, các loại cây: đước, dà dá, chà là, rán... lần tượt xuất hiện theo độ mặn. Đước chỉ cho phép dà, hồi, chỉ cùng song song tồn tại. Trong đó chà là "độc quyền" từng khoảng đất. Sau cùng, nơi Rừng sác "đặt chân" lên đất liền là cây dừa nước. Dừa nước mọc dày đặc theo bờ sông, bờ rạch như những bức tưởng thành che khuất rất thuận lợi cho chiến thuật du kích, là mối hiểm họa đối với tàu địch trên sông.


Các cây dà, cây đước, cây sú và những cây tạp cành lá giao nhau tạo thành rừng cây xanh rậm che kín mặt trời. Đây là một lợi thế "thiên phú” cho các chiến sĩ Rừng Sác bám trụ và chiến đấu năm này qua năm khác. Mỗi loại cây ở Rừng Sác chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc chiến với biển, trong đó cây đước giữ vai trò củng cố trận địa, nó giữ lại những gì cần thiết mà nước đã đem lại cho đất. Trên 42.700ha Rừng Sác, cây đước đã đi hàng đầu về số lượng và là "chủ lực màu xanh" làm nên lá phổi thiên nhiên quý giá cho Thành phố Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 02 Tháng Năm, 2010, 03:22:16 PM
Có một con sông làm cho chiến khu Rừng Sác nổi tiếng, là "nghĩa địa" của tàu chiến giặc. Xin cho biết cụ thể về con sông này?

Trong tất cả các con sông của Rừng Sác, sông Lòng Tàu nổi bật hẳn lên về độ sâu và hoạt động ổn định của nước, của đất quanh năm không có sương mù. Nó lại có chiều rộng (không có chỗ nào hẹp dưới 300m). Tất cả những điều kiện đó bảo đảm cho sông Lòng Tàu trở thành một đường giao thông quan trọng không chỉ trong nước mà còn là cửa ngõ thông ra quốc tế. Lòng Tàu là tên gộp của nhiều đoạn sông, dài 45km. Tự vị Huỳnh Tịnh Của định nghĩa Lòng Tàu: "chính đường tàu chạy giữa sông". Tàu từ đại dương đi vào Sài Gòn phải qua vịnh Gành Rái bên sông Ngã Bảy ngang qua Mũi nước vận, ngược lên một đoạn dài - đoạn sông Lòng Tàu - qua khỏi ngã ba Đồng Tranh thì đi vào sông Nhà Bè để lên cảng Sài Gòn.


Với độ sâu từ 9 đến 12m, có nơi từ 20 đến 29m, sông Lòng Tàu cho phép những tàu nặng hàng chục ngàn tấn đi qua. Trước đây Mỹ, ngụy định chuyển con đường tàu bè nước ngoài vào cảng Sài Gòn bằng đường sông Soài Rạp vì có mấy cái lợi: sông ngắn, rộng, ít quanh co, quân giải phóng khó tấn công các tàu hàng quân sự. Thế nhưng lòng sông Soài Rạp cạn và tốc độ lấp cạn của dòng sông khá nhanh, khiến Mỹ phải bó tay dù phương tiện nạo vét của Mỹ thời đỏ đã rất hiện đại. Mỹ ngụy buộc phải sử dụng lại đường sông Lòng Tàu, phó mặc may rủi giữa "mê hồn trận" của du kích chiến tranh nhân dân.


Thông thường tàu trên 20.000 tấn đều có thể vào sông Lòng Tàu.  Năm 1964, chiếc tàu chở máy bay mang nhãn hiệu US CARD (ta thường gọi là "tàu Cạc" trọng tải 16.500 tấn1 (Theo tài liệu củ a Mỹ thì tàu US CARD là chiến hạm lớn nhất của Mỹ hồi chiến tranh thế giới thứ hai) đã qua đây. Nhưng đó là chuyến đi có vào mà không có ra. Ngày 2-5-1964, tại cảng Sài Gòn, nhóm biệt động Lâm Sơn Náo đã dùng thuốc nổ đánh chìm, kéo xuống đáy sông 21 máy bay lên thẳng, 2 máy bay trinh sát L19, 1 máy bay khu trục AD6 và 50 thủy thủ Mỹ. Từ đó không thấy tàu Mỹ trên 15.000 tấn dẫn xác vào Sài Gòn. Sau giải phóng vào năm 1980, hoa tiêu Việt Nam đã dẫn một tàu lớn nhất của Liên Xô 50.000 tấn từ biển Cần Giờ qua sông Lòng Tàu vào cảng Sài Gòn. Trên lộ trình sông Lòng Tàu, vào những năm đầu thập niên 80 đã xuất hiện một anh hùng lao động Tôn Thọ Thương, vốn là một nhân viên hoa tiêu chế độ cũ. Ông đã dũng cảm, tài trí, dẫn dắt hàng chục con tàu của các nước vào cảng Sài Gòn an toàn.


Nét đặc biệt nhất của sông Lòng Tàu là gắn liền với những chiến công bất hủ của Trung đoàn 10 đặc công Rừng Sác anh hùng. Nơi đây, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 10 đã đánh chìm và cháy hàng trăm tàu giặc, trong đó có nhiều tàu vận tải quân sự lớn, trọng tải hàng chục ngàn tấn như tàu Victory, tàu LCM, tàu Aridonna, tàu Patnik...


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 02 Tháng Năm, 2010, 03:22:53 PM
Nói đến Rừng Sác ta nghĩ ngay đó là miền sông nước, giao thông đi lại rất khó khăn, chủ yêu là đường thuỷ. Vậy Rừng Sác có đường bộ không?

Đường sá ở Cần Giở nói chung , Rừng Sác nói riêng quả là ít ỏi, có thể đếm được trên đầu ngón tay, bởi gần như tất cả đã nhường cho sông rạch, đầm lầy... Nếu tính rộng ra, trong chiến tranh có lộ 15 chạy từ Sài Gòn qua Quận 4, Nhà Bè ra bến sông. Đường 19, 325, 327 chạy cặp triền đồi bao quanh Thành Tuy Hạ vòng qua khu lòng chảo Nhơn Trạch đến các xã Vũng Gấm, Soài Minh, ông Kèo. Dọc theo ven biển có một đoạn đường ngắn 13km nối liền thị trấn Cần Giờ với xã Đồng Hòa.


Với tình hình đường bộ như vậy việc giao thông rất khó khăn, tốn kém thời gian. Nếu đi Cần Giờ bằng đường thủy xuất phát từ bến Bạch Đằng (Quận 1) phải mất 6 tiếng mới tới nơi. Đi về các xã xa như Lý Nhơn, Thạnh An mất cả ngày.


Sau giải phóng, do yêu cầu bức xúc về giao thông và xây dựng kinh tế, quốc phòng, thành phố mở tuyến đường bộ Nhà Bè - Duyên Hải (1985) dài gần 37km, trở thành đường chính "huyết mạch" của huyện Cần Giờ và lối ra cửa biển của thành phố.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 05 Tháng Năm, 2010, 10:09:13 PM
Rừng Sác có vai trò như thế nào trong phòng thủ vùng cửa biển thành phố?

Với địa hình sông nước rất đặc trưng của Rừng Sác, từ lâu việc phòng thủ đất nước ở cửa ngõ đại dương đã có những lợi thế rõ rệt.

Rừng Sác đủ sâu để bao trùm cả sông Lòng Tàu và đủ rộng để làm "gạch nối" giữa sông Soài Rạp với đường 15. Thiên nhiên không chỉ cho ta một cánh rừng như mọi cánh rừng khác mà là một trận đồ thiên la địa võng của "mạng nhện" những luồng lạch, một pháo đài tự nhiên của trùng điệp đảo triều.


Hàng trăm đảo triều dàn thế trận bao vây quân thù xâm lăng từ cửa ngõ đại dương cộng với "thế trận lòng dân" và sản vật sắn có từ lòng nước, Rừng Sác đủ điều kiện trở thành một căn cứ kháng chiến lâu dài. Đó là điều giải thích cho sự hình thành và tồn tại chiến khu Rừng Sác trong cuộc kháng chiến trưởng kỳ dài 30 năm; một chiến khu ở sát sào huyệt giặc và trong vòng vây của quân thù, vẫn đứng vững suốt hai cuộc khảng chiến; một trận địa mà chính tướng Wesmoreland phải ngạc nhiên cho rằng những tên lính Mỹ đã gặp phải "một cuộc chiến đấu kỳ lạ trong một cuộc chiến tranh kỳ lạ"1 ("Tường trình người lính" của Wes-moreland - NXB Trẻ, 1988) có thể nói: nếu Sài Gòn là dạ dày thì sông Lòng Tàu là cổ họng, sông Soài Rạp và sông Thị Vải là hai mạch chủ; nếu Vũng Tàu, Cần Giờ, Đồng Hòa, Vàm Láng là bốn con mắt nhìn ra đại dương thì Rừng Sác là tay chân. Nói cách khác: Rừng Sác là pháo đài giáp chiến quân thù từ phát súng xâm lăng đầu tiên trên cửa biển này.


Tầm nhìn chiến lược của các nhà quân sự Việt Nam về sông Lòng Tàu đã thể hiện ngay từ khi Nguyễn Huệ kéo đoàn chiến thuyền vòng xuống biển Nam rồi ngược sông Lòng Tàu để chiếm thành Gia Định của Nguyễn Ánh. Rừng Sác nghiễm nhiên trở thành nhân chứng lịch sử.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 05 Tháng Năm, 2010, 10:09:47 PM
Cần Giờ là pháo đài thép trấn giữ phía đông thành phố. Xin cho biết lịch sử những pháo đài ở cửa Cần Giờ?

Ở cửa biển Cần Giờ và ngã ba sông Lòng Tàu, ngày nay những người đánh cá, đôi khi vẫn kéo lên được những mũi giáo đồng. Phải chăng đầy là dấu tích binh khí của quân Tây Sơn ngày ấy Trên sông Lòng Tàu còn một tảng đá mà đêm đêm ở tây người ta thường nghe tiếng nước reo như mưa gào gió thét. Có truyền thuyết cho rằng đá hàn là công trình do ông cha làm để ngăn cản tàu Pháp, nhưng cũng có truyền thuyết cho rằng đá hàn là một vật cản mà Nguyễn Ánh bắt dân ta lâm để ngăn quân Tây Sơn.


Năm 1847, khi quân Pháp muốn gây hấn chiếm nước ta, vua Thiệu Trị đã nói: "Gia Định là cửa lớn nhất của Nam Kỳ, cửa Cần Giờ lại rất trọng yếu..."


Lịch sử ghi lại rằng: 10 giờ sáng ngày 10-2-1859 (thời Tự Đức) tàu Pháp và Tây Ban Nha đánh vào pháo đài phòng thủ Vũng Tàu. Đến 5 giờ chiều thì pháo đài này thất thủ. Tiếp theo, ngày 11-2, quân Pháp chuyển sang tấn công cửa Cần Giờ để thọc sâu vào nước ta. Lúc đó, tại đây quân ta thiết lập nhiều pháo đài và vật cản để chặn tàu giặc.


Với vũ khí tối tân hơn, quân Pháp pháo kích suốt dọc tuyến phòng thủ của ta trên bờ biển Cần Giờ gây thiệt hại nặng nề. Tuy vậy ta cũng bắn trả rất quyết liệt, các đội chiến thuyền gồm hàng trăm xuồng ghe cũng tỏa ra biển để tấn công tàu địch. Nhưng do súng ống của ta bắn không được xa, đạn bay tản mát nên không gây thiệt hại cho tàu giặc; ngược lại các thuyền của ta lần lượt bị đạn giặc bắn chìm, các pháo đài của ta hầu hết bị đạn đại bác Pháp làm vỡ tung và bốc cháy. Vị chỉ huy mặt trận này tử trận. Quân ta chết hàng ngàn người. Trận địa của ta trên bộ, dưới sông bị chọc thủng hoàn toàn. Thế nhưng quân Pháp không dám đổ bộ, có lẽ vì rừng rú âm u, nhiều con sông nhỏ và sình lầy cản trở, chúng chỉ cố sức phá banh các vật cản để chuẩn bị vượt sông vào Sài Gòn...


Ba ngày đêm của năm 1858 ấy, những trận đánh ác liệt đã diễn ra trên sông rạch, đất đai Rừng Sác tạo nên những trang sử bi hùng còn lại đến ngày nay.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 05 Tháng Năm, 2010, 10:10:22 PM
Giồng Cháy có phải là một sự tích trong các trận đánh của pháo đài Cần Giờ?

Những sự tích về cuộc chiến đấu trên các pháo đài phòng thủ Cần Giờ cho đến ngày nay vẫn còn lưu truyền trong dân gian. Và Giồng Cháy là một trong những trận đánh ác liệt nhất giữa quân ta và quân Pháp. Phương tiện chiến đấu của quân ta lúc ấy kém hẳn so với quân Pháp. Các nghĩa binh của ta chỉ có trái tim và lòng trung thành quả cảm cộng với súng ống thô sơ, giáo mác, gậy gộc... nhưng vẫn cương quyết tử thủ tại một gò đất cao. Đánh mãi không chiếm được, giặc Pháp tức tối tập trung pháo nã vào. Khói lửa ngút trời; tất cả quan binh tử thủ oanh liệt hy sinh. Vì thế gò đất ấy sau được gọi tên là Giồng Cháy.


Ngày nay có những vị thần được thờ cúng ở các đình chùa miếu mạo rải rác khắp Rừng Sác. Đó chính là những vị chỉ huy, những chiến sĩ đã trải mật phơi gan, lăn xả vào quân thù, một mất một còn với bọn giặc xâm lược trên mặt trận phòng thủ Cần Giờ năm 1858.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 05 Tháng Năm, 2010, 10:10:54 PM
Cư dân Rừng Sác có từ bao giờ?

Tuy chưa được xác định thật rõ ràng, nhưng những tồn nghi cho thấy Rừng Sác đã có người ở từ thời bộ lạc. Ở gần ngã ba Thiềng Liệng giữa một vùng phù sa bùn lầy lá mục, lại có hàng trăm gò đất màu vàng cháy và những gò đất đỏ bazan. Đào thử một số gò, năm 1980, ở gò Cái Trăm,người ta khai quật được 4 bộ xương người, nhiều vỏ ốc, sò, các tảng đá dài; trên đầu bộ xương có hoa tai bằng đồng... ở xã Long Hòa người ta cũng đào được 10 bộ xương, qua xét nghiệm nhận định đây có thể là xương người ở thế kỷ XVIII.


Dân cư của Rừng Sác không phải là người chính gốc ở đây. Họ là người tứ xứ đến Rừng Sác làm ăn, sinh cơ lập nghiệp, phần lớn là những người lánh né chính quyền và mưu đồ "đại sự"... Với họ, coi như trên đầu không có kẻ quyền lực, dưới chân là đất thiêng một cõi, chim trời cá nước không thuộc của ai. Vì vậy, Rừng Sác có một đời sống xã hội dữ dội hơn thiên hạ.


Cùng bởi nơi đây tụ tập "anh hùng hảo hớn", "hào kiệt phi nhân" nên dưới thời cai trị của thực dân Pháp, chúng hầu như bất lực. Vì lẽ đó, bộ máy hành chính của xứ này cũng chỉ là tượng trưng cho lấy có. Khi thì Rừng Sác thuộc tỉnh Gia Định, lúc thì nằm trong tỉnh Chợ Lớn, có thời lại dính với Biên Hòa, Bà Rịa... Nói chung Rừng Sác là một vùng đất trôi qua dạt lại trong sự cai quản hành chính qua các thời kỳ, nhưng dân Rừng Sác bao giờ cũng vẫn là dân Làng Sác.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 05 Tháng Năm, 2010, 10:11:19 PM
Rừng Sác là "thánh địa” của cá sấu. Người dân Rừng Sác săn chúng như thế nào?

Quả Rừng Sác là giang sơn của cá sấu nhất là ở các con sông, rạch, lớn. Nó có hàm răng sắc và "lực dập" rất mạnh, có thể ví như kềm cộng lực, khi đã xiết vào thì con mồi dường như khó bề thoát nổi. Cá sấu được mệnh danh là "chúa nước", là hiểm họa đối với con người nhưng chúng vẫn bị con người khuất phục.


Ở Rừng Sác có một kiểu săn cá sấu nguy hiểm không kém săn hổ. Dùng đèn và chĩa thịt chỉ bắt được những con "tí hon" 5 đến 10kg. Nếu câu bằng chó, vịt thì không đánh lừa nổi những con sấu nặng cả tạ. Muốn bắt được thứ sấu khổng lồ này người ta phải lấy thân mình làm mồi. "Người mồi" trước hết phải có gan và phải lão luyện, và chính đó là người thợ săn cá sấu. Đầu tiên, thợ săn thả thử "con mồi thử” với lưỡi câu là hai thanh sắt nhọn hàn hình chữ nhật (nó không móc họng mà chống ngang mang cá sấu). Cá sấu chỉ lởn vởn mà không đến thì đó là con mồi lớn. Lúc đó "người mồi" xung trận. "Người mồi" trên mình có vẽ những đường rằn ri dữ lợn, trước ngực và sau lưng là bó phao tre, tay cầm một thanh lao bằng gỗ mun đầu bịt sắt, buộc một sợi dây dẫn hàng trăm mét. “Người mồi" lao ra giữa sông, xung quanh, các xuồng ghe đã phục kích sẵn sàng tiếp ứng. "Người mồi" đập nước rầm rầm cho cá sấu nghe mà tới... Khi nó xuất hiện thì đã ở sát bên "người mồi". Và cuộc giao chiến bắt đầu. Sấu nhào tời táp, cổ họng hả ra. Lập tức nước tràn thành sóng. Nước dạt ra, "người mồi" càng xáp tới. Sấu không chịu thua, người lừa thế đâm vào mang, thả dây rồi bơi vào bờ. Cá sấu bị trọng thương tìm về hang, rúc vào bùn. Số xuồng ghe phục kích lao ra theo sợi dây lần đến nơi, cặp hai bên lườn cá sấu, kè về bến.


Những thợ săn cá sấu hợp thành từng "gánh" hoạt động trong Rừng Sác, cho đến hết thời kháng chiến chống Pháp vẫn còn những gánh săn sấu như gánh ông Tư Xe ở vùng Lý Nhơn, họ thường chỉ lấy da, còn thịt cho bộ đội.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 05 Tháng Năm, 2010, 10:11:55 PM
Xin cho biết sự tích "Thần Không Đầu" ở Lý Nhơn?

Ở xã Lý Nhơn ngày nay vẫn còn một ngôi đình thở vị thần có tên là "Thần Không Đầu”. Theo ông Lê Văn Kiên (Năm Kiên) là ông từ của đình và các vị bô lão trong xã Lý Nhơn kể lại thì ông Thần Không Đầu lúc còn sống tên là Dương Văn Hạnh (Sáu Hạnh). Xã Lý Nhơn xưa là một khu rừng hoang vu chưa có tên. Theo truyền thuyết, có một người họ Lý tên Nhơn đến đây khai phá, quy tụ cư dân. Ông Lý Nhơn đến lúc chết vẫn không có con nên dân lấy tên ông đặt tên làng để tưởng nhớ "người khai thiên lập địa". Lúc ông Trương Định rút quân về chiến khu Lý Nhơn thì ở đây đã có nhiều dân cư, có chính quyền tự quản do ông Dương Thường làm xã trướng, ông Dương Văn Hạnh là phó xã trường, ông Cả Hành đứng ra cáng đáng việc chung của xã. Ông Hạnh trở thành "đệ tử” của nguyên soái Trương Định, chuyên lo việc hậu cần trong thời gian ngài còn ở đây.


Giặc Pháp tràn tới, cả ba ông đều bị bắt vì có liên quan đến nghĩa quân. Về sau ông Cả Hành bị dẫn ra Côn Đảo, ông Dương Thế Đường mất tích. Còn ông Dương Văn Hạnh, bọn Pháp đưa về Sài Gòn một thời gian ngắn, hứa phong quan tiến chức nếu ông chịu chỉ chỗ Trương Định ẩn nấp. Ông Sáu Hạnh quyết không khai. Hai câu trả lởi đầy khí phếch của ông còn truyền lại trong dân gian là:

- Ta thà chết chứ không để giặc bắt ông Định.

- Sinh vi quân, tử vi thần.

Thuyết phục mãi không được, giặc Pháp đưa ông Sáu về Lý Nhơn, tập trung dân ra bờ sông. Chúng dùng thân tre chẻ đôi kẹp vào cổ ông Sáu rồi chém đứt đầu, quăng xác xuống sông. Dân tìm vớt xác ông đem chôn tại khoảng đất phía trong nơi ông bị chém và xây mộ bằng đá, cử người trông coi mồ mả, nhang đèn tử tế.


Sau khi dập tắt cuộc khởi nghĩa của Trương Định, giặc Pháp rút đi, người già tìm thầy xem đất. Một thầy địa lý không hiểu vì mê tín hay cảm thương người vì nước quên thân, đã phán rằng: "Đất Lý Nhơn đã có chủ, nhưng hiện nay chưa ổn định, vì người chủ mất đầu còn đi lang thang, chưa có nơi yên nghỉ. Người già cần xây đình để thờ ông Sáu Hạnh". Nhân dân Lý Nhơn góp tiền xây đền thờ, phải dấu tên ông Sáu Hạnh mà gọi là "ông Thần Không Đầu”. Ngôi đình lúc đầu xây ngay chỗ ông Sáu bị chém, nên gọi là bến Đình. Lâu ngày đất lở, đình có nguy cơ bị đổ nên phải dời đi nơi khác nhưng tên gọi bến Đình vẫn không thay đổi. Thời đánh Mỹ, ngôi đình này chính là nơi cách mạng hội họp nên bị giặc đánh phá tan nát. Một lần nữa ngôi đình lại phải dời đến vị trí nay là khu vực trụ sở xã Lý Nhơn.


Noi gương Thần Không Đầu, từ bao nhiêu cuộc khởi nghĩa xưa kia cho đến thời đánh Pháp, đánh Mỹ, người dân xã Lý Nhơn luôn luôn là những "người lính hậu cần" của chiến khu đừng Sác. Nay toàn xã có hơn 400 hộ, trong đó 82% là gia đình liệt sĩ.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 05 Tháng Năm, 2010, 10:12:35 PM
Ở Rừng Sác có Đạo ông Trần?

Giang sơn "Đạo ông Trần" chỉ gói gọn trong một cù lao, ở giữa có núi lượn hình rồng xanh nên nó từng mang tên Sơn Long, làng Núi Nứa, từ năm 1962 đổi là xã Long Sơn.
Đạo ông Trần là một hiện tượng xã hội vừa mang "sắc thái Rừng Sác" vừa có dáng dấp của những vùng đạo giáo Bảy Núi, Hòa Hảo, đất chùa Tây An... ở vùng Long Xuyên, Châu Đốc (An Giang).


Rừng Long Sơn xưa có nhiều cọp dữ. Cuối thế kỷ XIX đã có hai người đến đây lập hội múa lân để chiêu mộ người đến khai hoang, nhưng đều chịu không nổi, phải bỏ đi. Tuy nhiên có một người bám trụ lại là Bà Trao. Sau đó có một người nữa tên là Lê Văn Mưu đi một chiếc xuồng cùng đứa con trai và cái "túi đựng trời đất" đến xin "lập lân" (lập hội múa lân). Họ cùng nhau chiêu mộ người khắp bốn phương đến lập "giang sơn" Đạo Ông Trần.


Số là ông Mưu sinh năm 1856 ở tỉnh Hà Tiên (nay là An Giang) đi học thầy đạo và được thầy giao cho một cái "túi đựng trời đất" để đi về phía đông lập "giang sơn đạo pháp". Ra đi, ngoài cái "túi đựng trời đất" với những câu sấm, vè bí hiểm, ông có nghề bốc thuốc. Đặc biệt, ông là người biết tổ chức công việc và làm việc hết mình. ông tự xưng là "bề trên" nhưng cách xử sự khiêm nhường, nhân danh là "Tướng Điều' do trời sai xuống và giải thích cái tật chân trái ngắn hơn chân phải của mình là do bị tội trên thiên đình. Từ đó, ông ở lại trần gian, có đặc tính là không bao giờ tắm nên người ta gọi ông là "ông Trần". Ông Trần chỉ ăn bốn thứ là đậu xanh, cua, tôm, ốc.


Năm Giáp Thìn (1904) dân bị thiên tai bão lụt, ông Trần xuất bảy thiên lúa (7 ngàn giạ) cho người thân tín ở Gò Công, Cái Bè, Cai Lây... đón người bị nạn lên Long Sơn cấp tiền, gạo, dao, cuốc cho họ dựng chòi, khai hoang. Tiếng lành đồn xa về một người Trời được phái xuống cứu khổ đang ở Long Sơn, lan ra lục tỉnh. Dân tứ xứ quy tụ về ngày càng đông. Ông Trần khoanh đất khai hoang cho bất cứ ai đến đảo, không phân biệt giàu nghèo, giang hồ hảo hớn, miễn chịu theo những điều ông đặt ra.


Đất khai phá ngày càng rộng, kéo dài từ đồng Bà Cúc, xóm Đất sét phía bắc xuống xóm Gò Xu, xóm Chín Mẫu. Riêng phần đất ông Trần đứng tên trong sổ địa bạ Bà Rịa cũ là 56 mâu, 99 sào, 98 cao (?!) Ông còn cho xây "ngũ hồ" chứa nước ngọt, đào kênh, đắp đập ngăn mặn, xây chợ, dựng nhà máy xay.


Từ 1910 đến 1928, Long Sơn xây đền gồm lầu Trời, lầu tiên, lầu Phật, lầu Thánh, lầu cầu, nhà dài, nhà hội, thờ cả ông Trần lẫn Khổng Tử... Tuy bị cướp sạch vào năm 1931, nhưng đến nay bề thế đền đài vẫn vượt quá tầm cỡ của một đạo chỉ gói gọn trong một cù lao, khiến ai đến xem cũng phải ngạc nhiên.


Dân làng Long Sơn tăng nhanh, đến năm 2000 đã lên tới trên 10.000 dân, gần 4/5 theo đạo ông Trần, đa số làm ăn phát đạt nhờ biển hơn nhớ đất. Đây cũng là điều làm cho người ta càng tin vào sự che chớ của "người Trời".


Long Sơn là nơi gặp gỡ của vùng giải phóng chiến khu Rừng Sác với vùng giải phóng Bà Rịa - vũng Tàu trong chiến tranh. Từ năm 1945 đến năm 1959, Long Sơn đã có ba chi bộ, gần 100 đảng viên (dân số lúc đó 3000 người). Du kích xã Long Sơn từng tiêu diệt một trung đội Pháp (1947) tại thôn Hai Cầu Đá. Thời đánh Mỹ, chi bộ Long Sơn vẫn đứng vững trong lòng dân dù địch đánh phá chà đi xát lại rất ác liệt. Đội du kích Long Sơn là một đội du kích mạnh của Đặc khu Rừng Sác. Long Sơn trở thành "điểm hậu cần" của đặc công Rừng Sác.


Ngày nay, đến xã Long Sơn, ta vẫn gặp nhiều ông già tóc bới "củ hành" nhưng lại là đảng viên cộng sản, trong đó có công Chín Gần là người đảng viên đầu tiên của dân "Đạo ông Trần".


Long Sơn ngày nay không còn là đảo nữa. Một cây cầu xinh xắn đã bắc từ đất liền ra đảo, biến nơi đây thành một vùng dân cư trù phú đông vui.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 05 Tháng Năm, 2010, 10:13:41 PM
Những lực lượng kháng chiến chống Pháp nào có mặt đầu tiên ở Rừng Sác?

Những biến cố đầu tiên tại Sài Gòn khi quân Pháp trờ lại Việt Nam đã biến Rừng Sác thành một trong 5 lõm du kích vùng ven đầu tiên: Gò Vấp, Hóc Môn, Thủ Đức, Rừng Sác, Bến Cát.


Tháng 10 năm 1945, theo hội nghị Chợ Đệm, Sài Gòn - Chợ Lớn được chia thành 5 mặt trận. Lúc đó ở phía nam, lực lượng Dương Văn Dương và các đơn vị Tân Thuận, Tân Quy, Nhà Bè đã rải từ nam Thủ Đức vắt ngang Nhà Bè vào tận cầu Hiệp Ân...


Theo quyết định của Uỷ ban kháng chiến Nam bộ, đồng chí Nguyễn Văn Trân (Nguyên bí thư tỉnh ủy Chợ Lớn) là Chính ủy; Dương Văn Dương (lúc đó là Trưởng ban sưu tầm vũ khí miền Đông Nam bộ) làm Tư lệnh mặt trận số 4, bao gồm cả các đơn vị Nhà Bè, Tân Thuận, Tân Quy đã được hợp nhất giữa lực lượng Dương Văn Dương, lực lượng Mai Văn Vĩnh (nhân danh lực lượng bộ đội số 2 Độc lập được lập lên tại làng Chánh Hưng sau 23-9-1945) và lực lượng Nguyễn Văn Hoạch đóng ở Cần Giuộc (Nguyễn Văn Hoạch là một giang hồ đã được cách mạng thu phục).


Dương Văn Dương lập tổng hành dinh tại Rạch Đỉa, lần đầu tiên trương cờ "Hải quân Bình Xuyên" trên chiếc tàu võ trang chạy dọc mặt trận số 4, kiểm soát từ Rạch Đỉa đến bến đò Thủ Thiêm. Lực lượng Dương Văn Dương đứng hàng đầu về trang bị lúc bấy giờ: có đủ các loại trung liên, hốc-kiss brem, "bầu dầu”, hơn nửa chục trọng liên 13.2 ly, đại bác 24 ly (do mua sắm, lấy của giặc, trục vớt tháo gỡ trên máy bay của Nhật và của đồng minh...)


Tháng 11 năm 1945 , từ mặt trận số 4, lực lượng Dương Văn Dương lui về xã Phước An (ven Rừng Sác thuộc huyện Long Thành). Từ đây đem quân chi viện mặt trận Biên Hòa rốt trở lạc thành lập chi đội 2 và 3 theo quyết định của Khu bộ trưởng Nguyễn Bình. Dương Văn Dương nhận chức Khu bộ phó Khu 7, lập tổng hành dinh Rạch Xu đề tên “Tư lệnh vệ quốc đoàn liên khu Bình Xuyên, Chi đội 2, 3, Khu bộ phó". Lúc này mặt trận Cần Giuộc đã thất thủ, bộ đội cách mạng Cần Giuộc do đồng chí Trương Văn Bang (nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ từ năm 1933 đến năm 1936) chỉ huy lui về Giồng Nổi, Rạch Dột...


Cuối năm 1945 đầu năm 1946, Dương Văn Dương đích thân chọn 5 địa điểm xây dựng căn cứ ở Rạch Xu, Vàm Tượng, Rạch Lá và chỉ thị cho cấp dưới việc xây dựng cơ sở đánh lâu dài. Vùng căn cứ Rừng Sác hình thành cùng lúc với chiến khu Đ. Sau đó là các chiến khu Tân Long, Khu 5 (Hóc Môn), Rừng Nhúm, Dộng Dinh, Đồng Tháp... ra đời.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 05 Tháng Năm, 2010, 10:15:23 PM
Trên địa hình sình lầy phức tạp như vậy, làm sao tổng hành dinh các lực lượng và cơ quan, đơn vị "đứng chân” được?

Không phải ngẫu nhiên mà một bãi triều ngập mặn hoang vu trở thành nơi hội tụ của gần một trăm cơ quan kháng chiến1 (Theo thống kê của đồng chí Đỗ Tầm Chương, một cán bộ quân đội đã chiến đấu ở Rừng Sác). Chỉ nhỏ hơn 1/10 của Đồng Tháp , nhưng vị trí của Rừng Sác vượt hẳn về bề rộng, bởi Rừng Sác vốn là một "trận đồ bát quái" chặn ngang "cổ họng" quân thù. Từ nơi đây "bước một bước" là đụng vào sào huyệt của chúng.


Đối với thực dân Pháp hồi đó, những con đường độc đạo dẫn đến những cù lao âm u có thể coi là bất khả xâm phạm. Có những gò chìm hẳn khi nước lớn, nhưng cũng có những cù lao cao hơn mặt thủy triều có thể đứng chào cờ cả đại đội Dưới những vòm cây rán mênh mông, có thể phóng tầm mắt ra xa hàng trăm mét để quan sát, nhưng đứng trước những chùm rễ chồng chất, những "hang động" chà là bít bùng thì chỉ cách nhau vài mét đã không thấy nhau. Tất cả những yếu tố nhân hòa địa lợi đó đã giúp cho các chiến sĩ Rừng Sác chế ngự lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, để trụ bám vững chắc trên sông nước sình lầy.


Các chiến sĩ Rừng Sác đã sáng tạo ra những cách đánh phù hợp vời địa hình: "đánh giặc theo tiếng chim bìm bịp", "đánh một ngày, gỡ hai ba ngày".... Tiếng chim bìm bịp vốn có quan hệ đến con nước (bìm bịp kêu con nước lớn ròng). Đánh giặc, hành quân ở Rừng Sác mà không quan tâm đến con nước thì có thể bất ngờ bị sa lầy, không gỡ được.


Trong căn cứ Rừng Sác những ngồi nhà kháng chiến nối nhau qua cầu khỉ, những đường cầu chà là dài dằng dặc lao qua những "đám lá tối trời", nối từ gò nổi này sang cù lao kia, tựa như những "lối mòn" trong chiến khu Đ, Dương Minh Châu...


Cùng với sự hình thành các tổng hành dinh, các cơ sở quân nhu lần lượt có mặt tại Rừng Sác từ cấp khu đến cấp xã thoát ly. Nơi đây còn có cả hậu cứ của các cơ quan lãnh đạo Gò Công, Chợ Lớn, Bà Rịa, Vũng Tàu, các cơ quan kháng chiến ở Sài Gòn như: Liên hiệp công đoàn, đặc công biệt động, công an xung phong..., các cơ quan dân chính đảng của các quận Nhà Bè, Cần Giuộc, Cần Đước, Hòa Tân (Gò Công), các xã đất liền ven tây sông Soài Rạp... Những cơ quan này theo cách gọi hồi đó thường đứng "hai chân" một ở Rừng Sác, một duỗi vào đất liền. Từ năm 1947, các đơn vị quân giải phóng miền Đông tiếp tục tăng cường xuống Rừng Sác như Trung đoàn 300 Dương Văn Dương, trường lý luận Mác - Lênin của Khu ủy, các khóa huấn tuyền Phan Đăng Lưu của Khu 7, lực lượng liên huyện Nhà Bè - Cần Giuộc.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 11:57:16 AM
Bình Xuyên là một lực lượng nổi tiếng ơ Rừng Sác. Thực chất lực lượng này như thế nào?

Lịch sử đã đi qua cái thời xưng hùng xưng bá của những giang hồ hảo hớn, những con người bị chế độ thực dân dồn đến chân tường, sống ngoài vòng pháp luật, muốn đứng lên đạp đổ tất cả. Nhưng nói đến sự hình thành của chiến khu Rừng Sác không thể không nói đến lực lượng Bình Xuyên, người chủ đầu tiên ở Rừng Sác. Lực lượng này từng chiếm 7 trong 25 chi đội ở Miền Đông lúc bấy giờ.


Dòng xoáy cách mạng mùa Thu 1945 đã cuốn hút lực lượng Bình Xuyên giang hồ cát cứ vốn mang dòng máu chống cường quyền áp bức, chống thực dân để chuyển hóa, phát triển thành những đơn vị quân đội nhân dân Việt Nam. Nhưng không phải tự nhiên mà thành, đó là một quá trình, một cuộc đấu tranh gian khổ hi sinh của những chiến sĩ cách mạng trước âm mưu của thực dân Pháp: muốn bằng chiến tranh gián điệp để chiếm lực lượng Bình Xuyên mà không tốn một viên đạn và biến Rừng Sác thành "chiến khu ma".


Vốn là người dân nghèo mang dòng máu Thiên địa hội của cha, một giang hồ có bản lĩnh, hào hiệp, Dương Văn Dương sớm nắm bắt được chủ trương cách mạng. Ông đứng ra thành lập lực lượng lấy tên là Bình Xuyên, vốn là tên một ấp của làng Chánh Hưng (Quận 8), bao gồm tất cả các nhóm võ giang hồ trong vùng. Thanh thế của lực lượng này vang dội từ Sài Gòn, Chợ Lớn lan ra lục tỉnh. Tháng 8-1945, Sài Gòn cướp chính quyền, lực lượng Bình Xuyên rất hăm hở, tự hào đứng vào đội ngũ Mặt trận Việt Minh. Mỗi thủ lĩnh Bình Xuyên được cách mạng giao cho một cương vị chỉ huy.


Dương Văn Dương kêu gọi binh sĩ Bình Xuyên "hãy tỏ ra mình là chiến sĩ cách mạng". Ông tuyên bố tước khí giới của những nhóm nào chưa chịu từ bỏ giang hồ và cướp bóc, bắt trói những "đệ tử lưu linh" rượu chè la cà hàng quán, đặt hình phạt nặng nề, không loại trừ tử hình tại chỗ về tội ức hiếp dân chúng.


Khi giặc Pháp tỏ rõ thái độ ngang ngược muốn gây hấn trở lại, chiến sĩ Bình Xuyên đã thề:

"Quyết tử đồng sinh quyết tử thù
Chí khí giang hồ không chịu lụy"

(Thơ trong lực lượng Bình Xuyên)



Từ cuối năm 1946, lực lượng Bình Xuyên được biên chế thành 7 chi đội (theo biên chế thống nhất của Vệ quốc đoàn). Hệ thống chính trị viên và tổ chức Đảng lần lượt hình thành từ các đại đội. Các đồng chí Bảy Trân, Ba Bang, Tám Mạnh, Từ Văn Ri, Nguyễn Văn Tư, Huỳnh Đình Hai... là những người đặt viên đá đầu tiên của tổ chức Đảng trong lực lượng Bình Xuyên.


Cùng với quá trình chuyển hóa, phát triển, nhiều cán bộ, chiến sĩ Bình Xuyên lần lượt đứng vào hàng ngũ của Đảng và có những người đã trở thành cán bộ cao cấp của quân đội nhân dân Việt Nam như Huỳnh Văn Trí, Dương Văn Hà, Mai Văn Vĩnh...


Dương Văn Dương, người thủ lĩnh có uy tín của Bình Xuyên đã có ý xây dựng một lực lượng giang hồ đi theo cách mạng và chiến đấu anh dũng ngay từ khi quân Pháp trở lại Sài Gòn. Sau khi hi sinh trong cuộc hành quân về Bến Tre (với cương vị Khu bộ phó Khu 7, chỉ huy trưởng cuộc hành quân) Dương Văn Dương được Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa truy phong quân hàm thiếu tướng.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 11:58:05 AM
Ngoài lực lượng Bình Xuyên, có những lực lượng nào quan trọng ở Rừng Sác?

Cùng với lực lượng Bình Xuyên, có nhiều đơn vị cách mạng địa phương và vệ quốc đoàn gắn liền với lịch sử Đặc khu Rừng Sác suốt cả thời kỳ chống Pháp - Trước hết là lực lượng Cần Giuộc.


Lực lượng này thành lập từ tháng 8-1945 do đồng chí Trương Văn Bang (nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ từ 1933-1936, tỉnh ủy viên Chợ Lớn, Thường vụ huyện ủy Cần Giuộc) chỉ huy. Đồng chí Lưu Quang Tuyến làm Chính trị viên. Cuối năm 1946 đặt phiên hiệu là tiểu đoàn Nguyễn An Ninh, có đủ 3 đại đội bộ binh và các bộ phận trinh sát, quân báo. Tiểu đoàn hoạt động quân sự kết hợp với công tác tuyên truyền và có các cơ sở quân nhu tập trung ở Lý Nhơn. Người ta gọi đây là "bộ đội đỏ vì lực lượng do Đảng tổ chức.


Đầu năm 1947, theo chỉ thị tăng cường lực lượng cho Nam bộ và công tác Bình Xuyên của Trung ương, một tiểu đoàn Nam tiến mang tên Dương Văn Dương lên đường. Tới Đồng Tháp Mười tiểu đoàn Dương Văn Dương cùng chi đội 13, trung đội Giồng Dinh Giồng Dứa thành lập Trung đoàn 300. Trung đoàn giã từ xứ "muỗi kêu như sáo thổi" về Rừng Sác với nhiệm vụ quân sự đặc biệt là đánh giao thông địch ở vùng nam đông nam Sài Gòn và phát triển phong trào cách mạng địa phương...


Ngày 21-2-1948,chính thức lễ thành lập Trung đoàn 300 Dương Văn Dương ở ấp Gia Thuận xã Lý Nhơn. Đây là trung đoàn đầu tiên của miền Đông Nam bộ, Ban chỉ huy gồm các đồng chí Mười Thìn trung đoàn trưởng, Tư Việt Hồng chính trị viên kiêm bí thư đảng ủy trung đoàn. Hai đơn vị tác chiến: Tiểu đoàn Lý Chính Thắng do hai đồng chí Võ Văn Thạnh1 (Đồng chí Võ Văn Thạnh về sau được phong quân hàm thiếu tướng, rồi chuyển sang làm Tổng cục Phó Tổng cục cao su và đã từ trần năm 1992) và Trần Sơn Triệu chỉ huy. Tiểu đoàn Lê Hồng Phong do hai đồng chí Trán Sơn Tiêu và Tư Thiện chỉ huy.


Các đơn vị của Trung đoàn 300 hoạt động ở các vùng Nhà bè, Cần Giuộc dài xuống Đông Hòa, Cần Thạnh (Cần Giờ). Đến năm 1948, "chân duỗi" của trung đoàn lên đất liền đã bám được cơ sở nội thành, "chân sau” cắm chắc khắp Rừng Sác. Cũng trong năm này, tiểu đoàn Nguyễn An Ninh (Cần Giuộc) sát nhập với chi đội 15 Trung đoàn 308, hoạt động ở vùng cận Rừng Sác, Cần Giuộc, Cần Đước... mở rộng sang nam Chợ Lớn, Nhà Bè, Bà Rịa, Long Thành, Đất Đỏ...


Qua tổ chức củng cố các đơn vị phân khu miền Duyên Hải, Trung đoàn 300 Dương Văn Dương, Trung đoàn 309 và các lực lượng địa phương hình thành thế quân sự vững chắc của chiến khu Rừng Sác. Vùng tranh chấp địch - ta đã áp Sài Gòn - Chợ Lớn.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 11:58:43 AM
Số phận hai chiến hạm đầu tiên của Mỹ đi qua Rừng Sác vào Sài Gòn như thế nào?

Năm 1950, trước tình hình khốn quẫn trong cuộc chiến Đông Dương, thực dân Pháp phải quy lụy đế quốc Mỹ xin viện trợ. Đế quốc Mỹ vốn đã có âm mưu lâu dài về Đông Dương, quyết định mở màn cho sự có mặt của Mỹ ở đây, bằng cuộc phô trương sức mạnh. Ngày 17-3-1950, chúng cho hai chiến hạm diệt ngư lôi Stikken và Anderson cặp bến Sài Gòn và theo kế hoạch thì có 70 máy bay chiến đấu từ chiếc hàng không mẫu hạm ngoài khơi sẽ mở cuộc thao diễn lớn trên tuyến sông Lòng Tàu và vùng trời Sài Gòn.


Quần chúng Sài Gòn sục sôi trước sự có mặt của tên xâm lược mới. Đặc khu ủy Sài Gòn - Gia Định quyết định đánh phủ đầu bọn giặc láo xược bằng một đòn chính trị có quân sự phối hợp. Đồng chí Nguyễn Văn Bứa1 (Đồng chí Nguyễn Văn Bứa còn có tên là Nguyễn Hồng Lâm, sau này là thiếu tướng Phó Tư lệnh Quân Khu 7. Lúc đó được trên điều về thay thế đồng chí Mười Thìn làm trung đoàn trưởng Trung đoàn 300) được đặc khu ủy phổ biến chủ trương huy động lực lượng biệt động và một số khẩu pháo của trung đoàn 300 đánh chiến hạm Mỹ, nổ phát súng đầu tiên của Việt Nam vào tên đế quốc đầu sỏ. Trận đánh sử dụng cối 82 ly tự chế của xưởng công binh 312, loại cối không dùng cò chết mà dùng cò giật, mỗi lần bắn phải giật cò.


Tại xóm Triều Rừng Sác, các chiến sĩ căn bản đồ, căng dây đo cự ly bắn thử. Ba khẩu đội trợ chiến thuộc Trung đoàn 300 xuất trận, có hai đội biệt động yểm trợ. Đồng chí Trần Sơn Tiêu đã tổ chức trinh sát và lập trận địa pháo tại Thủ Thiêm. Đúng như phương án đề ra, 10 giờ đêm ngày 18 tháng 3 năm 1950, 3 khẩu cối đồng loạt nổ 20 phát. Hai chiến hạm Mỹ và thành Thủy quân Francis Garnier (Bạch Đằng) bị trúng đạn. Theo tin của quân báo: 10 tên Mỹ trên hai hạm ngư lôi và 1 sĩ quan Pháp trong thành Thủy quân chết. Phối hợp nhịp nhàng với các khẩu đội cối các đội biệt động tập kích nhiều bót ở nội thành và đồn cảnh sát quận 4.


Ngày 19-3-1950, bùng nổ cuộc mít tinh lớn tại Sài Gòn, trên 30 ngàn đồng bào rầm rộ xuống đường với khẩu hiệu: "Đả đảo thực dân Pháp và bè lũ tay sai", "Đế quốc Mỹ cút đi". Cờ Pháp, cờ Mỹ và cờ "ba que" của ngụy bị hạ xuống, xé nát, nhiều xe nhà binh bị đốt; nhiều binh lính Mỹ bị giật mũ, lột quân hiệu ném xuống đường. Chúng hoảng hốt chạy tán loạn. Bị đòn cảnh cáo nảy lửa, chương trình "không diễn" của Mỹ phải cấp tốc hủy bỏ. Ngay tối 19-3, hai chiến hạm Mỹ nhục nhã tháo chạy khỏi Sài Gòn.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 11:59:21 AM
Có phải những đội biệt động đứng chân ở Rừng Sác được hình thành từ Trung đoàn 300?

Tháng 9-1950, Trung ương Cục chủ trương giải thể các trung đoàn địa phương, thành lập các trung đoàn chủ lực và củng cố các đơn vị độc lập hoạt động ở các địa phương. Đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh Đặc khu Sài Gòn Chợ Lớn, trực tiếp giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 300. Và theo chủ trương mới, một bộ phận của Trung đoàn 300 chia thành 3 đại đội hoạt động ở ba khu vực: đại đội 2696 ở khu vực Cần Đước, Cần Giuộc; đại đội 2697 ở khu vực Tân Quy, Phước Long, Nhà Bè; đại đội 2694 cơ động vừa chi viện đất liền vừa bảo vệ căn cứ An Thới Đông, Bình Khánh, Lý Nhơn, Đồng Hòa, Long Thạnh...


Cũng từ Trung Đoàn 300 hình thành 3 đội biệt động: Biệt đội 1 có nhiệm vụ công tác quần chúng ở kho xăng Soconi (Esso sau này), Shell, Texaco và hoạt động tuyên truyền võ trang trên đất liền Nhà Bè; Biệt đội 2 hoạt động võ trang tuyên truyền ở khu vực Chánh Hưng (Quận 8 ), Khánh Hội, xóm Chiếu (Quận 4), cảng Sài Gòn và cả bên kia Thủ Thiêm; Biệt đội 3 hoạt động ở Bình Đông (quận 6) và một phần quận 8.


Phần lớn lực lượng còn lại của Trung đoàn 300 được tổ chức thành Tiểu đoàn 300, do đồng chí Nguyễn Văn Bứa tỉnh đội phó tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn, làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Đặng Quang Long1 (Đồng chí Đặng Quang Long, sau này là thiếu tướng Phó Tư lệnh Quân Khu 7) chính trị viên, các đồng chí Trần Kim Ba, Bùi Xuân Cương tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn 300 hoạt động từ vùng Đất Đỏ (Bà Rịa) sang vùng sông Soài Rạp và từ Nhà Bè xuống Cần Giờ. Các đội biệt động có hai chân đứng, một chân ở Rừng Sác, một chân là cơ sở nhân dân đất liền từ khu vực kho tàng Nhà Bè đến những đường phố nam Sài Gòn, Chợ Lớn vòng lên Thủ Thiêm. Các chiến sĩ biệt động dũng cảm, táo bạo, được đồng bào tặng danh hiệu “cảm tử quân". Dạo ấy có tên Tây lai Francois phòng nhì (tình báo) chỉ huy lưới điệp báo hãng Texaco được biệt động "tính sổ". Các chiến sĩ biệt động hóa trang thành lính Cao Đài mang súng, xách gà đi đón tên ác ôn cáo già tại ngã ba hãng Shell. Y vừa trờ tới trên chiếc mô tô đã bị "ăn" hai loạt đạn, đổ kềnh xuống đất.


Tên Móc cánh tay đắc lực của cò Phú Xuân vốn là một cán bộ kháng chiến phản bội chuyên nhìn mặt chỉ điểm cho giặc bắt cán bộ ta, đã bị biệt đội 1 bắn chết ngay trước chợ gần cầu Phú Xuân (Nhà Bè).


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 12:00:02 PM
Có một ổ gián điệp nguy hiểm của giặc Pháp ở Rừng Sác bị xử tội?

Trước ngày giải thể, Trung đoàn 300 nhận được tin quân báo là có một ổ gián điệp của giặc Pháp nằm trong nội bộ của Trung đoàn. Bọn này từ lâu đã "chui sâu leo cao" lên được tới trung đoàn bộ, đầu mối của chúng có cơ sở cả ở tham mưu, chính trị, quân nhu (như tên Sơn trưởng văn phòng Trung đoàn, tên Lá - trường đài VTĐ, tên Paul - trưởng ban quân y, tên Hai Điều ở ban quân nhu, Bảy Nghiệp và một tên nữa ở tổ quân báo và địch vận).


Nhờ nắm phương tiện thông tin VTĐ nên địch biết được tin tức trong nội bộ của ta. Chúng đã lập kế hoạch để đánh một cú quyết định nhằm tiêu diệt toàn bộ Ban chỉ huy trung đoàn cùng với trung đoàn bộ và 3 cơ quan huyện đội, đồng thời nắm lại lực lượng Bình Xuyên. Nhưng "vỏ quít dày có móng tay nhọn", ta đã điều tra nắm rõ âm mưu của chúng và bắt toàn bộ bọn gián điệp trước khi chúng hành động.


Trước tòa án quân sự mở tại Long Thành, bọn này phải cúi đầu nhận tội và chịu xử án tội phản quốc. Đây là vụ án gián điệp lớn nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp ở Rừng Sác.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 12:00:26 PM
Có phải đối tượng số một của biệt động Rừng Sác là kho xăng Nhà Bè và tàu địch trên sông?

Vâng, đây là những mặt trận chính của đặc công biệt động trong những năm đánh Pháp và cả 21 năm chống Mỹ sau này. Bởi kho tàng nhiên liệu là dạ dày chiến tranh, sông ngòi là huyết mạch vận chuyển của chúng. Đánh vào hai đối tượng này là chặt đứt hậu cần của bọn xâm lược, có thể nói đó là những "tử huyệt của chúng".


Đối tượng hàng đầu của biệt đội 1 là khu vực kho tàng ở Nhà Bè, nằm gần mé sông. Trong đó kho xăng Nhà Bè có quy mô lớn nhất, gần các kho Soconi, Shell, Texaco với hàng ngàn công nhân. Địch ở đây có 3 đại đội, trong đó có đại đội Âu - Phi đóng ở kho Shell, xung quanh có 5 lớp rào thép gai, ban đêm đèn pha sáng rực, cứ 15 phút có một toán lính tuần tra. Quá trình chuẩn bị cho trận đánh kho xăng công phu, gian khổ. Đêm đêm anh em bò vào nằm sát địch để nghiên cứu mục tiêu, ban ngày phải ém xuống hầm bí mật ở các nhà cơ sở quanh khu kho. Chuyện rủi ro đã xảy ra. Địch phát hiện được một hầm bí mật, khui lên bắt được hai người. Trong lúc bị di chuyển, hai chiến sĩ tìm cách trốn, nhưng địch phát hiện bắn theo làm một chiến sĩ hy sinh. Tuy vậy phương án tác chiến (đánh từ đất liền ra) vẫn không thay đổi. Để khắc phục rào cản, anh em đem theo kéo và mã tấu để cắt rào và đào ngách khi qua những hàng rào mà kéo không cắt được. Khối nổ dùng để phá hủy mục tiêu là loại mìn điện do xưởng quân giới Nam bộ sản xuất.


Gần 11 giờ đêm, các chiến sĩ đã tiềm nhập đem mìn áp sát 2 bồn xăng máy bay và lùi ra vị trí an toàn, bấm công tắc điện. Hai bồn xăng bốc cháy rực trời. Bọn giặc hoảng hốt vãi đạn ra như mưa. Anh em nằm bên cạnh hàng rào, chờ cho ngớt đạn địch mới bò ra khỏi khu vực trận địa. Lúc này xe nhà binh, xe chữa cháy chạy ầm trên đường 15 để ứng cứu, nhưng xăng vẫn cháy đến 4 giờ chiều hôm sau, mới dập tắt được.


Cuộc chiến đấu của các chiến sĩ biệt động là những trận đánh cảm tử. Chỉ riêng biệt đội 1 quân số lúc đầu là 40 đồng chí, qua thay thế bổ sung nhiều lớp trong vòng mấy năm, đã có hơn 100 cán bộ, chiến sĩ hy sinh.


Trên mặt trận đường sông, các chiến sĩ biệt động Rừng Sác đánh giặc theo cách của mình. Từ lâu, đơn vị đã phát hiện và theo dõi chiếc tàu Klataken chở lương thực, máy móc, xe đạp... thường kéo theo cả một đoàn ghe dài trên sông Soài Rạp, đi Phnôm Pênh. Biệt đội 1 và biệt đội 2 góp người thành lập một "tiểu đội xung kích" trên mặt nước luôn ở tư thế sẵn sàng hành động. Một hôm “con cá sấu sắt” Klataken đến gần Rạch Lá, các chiến sĩ xung kích ôm súng lặn ra, bất thần nhảy lên tàu dí súng vào lưng bọn giặc và bắt tài công phải lái tàu vào Rạch Lá. Hôm đó Rừng Sác được một kho bột mì lớn, lại có cả máy phay, gò tiện, nguội và hàng trăm xe đạp là những thứ mà lực lượng ta cần nó như súng đạn. Rạch Lá đèn đuốc sáng đêm mừng thắng lợi bắt sống tàu giặc.


Trên sông Lòng Tàu ngày 26-5-1951, các biệt động đội và Tiểu đoàn 300 đã đánh chìm tàu Saint Loubenbier trọng tải 7000 tấn bằng hai quả mìn Curassier của Nhật tại Vàm Bà Nghĩa. Chiếc tàu hàng quân sự này trở thành chiếc tàu lớn nhất bị đánh chìm trên sông Lòng Tàu trong thời kỳ chống Pháp (1945 - 1954).


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 12:00:59 PM
Xin cho biết trận đánh tiêu diệt chi khu Cần Giờ?

Chi khu Cần Giờ là căn cứ quan trọng bậc nhất ở vùng này của giặc Pháp, án ngự mũi Cần Thạnh và khống chế một vùng cửa biển rộng lớn. Vì thế nó là mục tiêu tấn công của ta.


Căn cứ này do đại đội Partisan đóng giữ, tên quan hai (trung úy) Pháp, quận trưởng Cần Giờ chỉ huy. Căn cứ này không chỉ là nơi khống chế kìm kẹp nhân dân địa phương mà còn là một chốt phòng thủ chủ yếu của địch trong hệ thống phòng thủ cửa biển và con đường vận chuyển quốc tế huyết mạch của chúng.


Tổng chỉ huy trận đánh Chi khu Cần Giờ là đồng chí Nguyễn Văn Bứa. Lực lượng tham gia chiến đấu gồm hai đại đội chủ công thuộc Tiểu đoàn 300, lực lượng cản hậu do đại đội Nhà Bè đảm trách, đồng chí Trần Minh Tâm chỉ huy. Lễ xuất quân được tổ chức tại căn cứ Phú Mỹ có đại biểu các cơ quan dân chính và đồng bào đến dự.


Sau hai ngày đêm băng rừng lội rạch, vượt lộ 15 và băng sông... đoàn quân đã về đến xã Long Thạnh, Đồng Hòa, nơi Trung đoàn 300 từng đóng quân những ngày đầu ở Rừng Sác. Các má, các chị, các em tíu tít đón mừng bộ đội. Đồng bào trong hai xã lũ lượt đem gạo, cá, mắm, nước ngọt... cho bộ đội chuẩn bị bước vào trận đánh. Các đội nữ dân quân ngày đêm canh gác, đặc công bám sát chi khu... Trinh sát nhân dân xã Long Thạnh, Đồng Hòa, Cần Thạnh theo dõi nắm tình hình hoạt động ra vào chi khu của địch, phục vụ cho các đơn vị chiến đấu.


Đêm 30 tết Nhâm Thìn (1952), vào lúc 11 giờ, ta bất ngờ đột kích từ phía biển. Có nội ứng mở cửa, các xung kích liền thọc sâu phát triển nhanh. Bọn địch trong chi khu bị bất ngờ không kịp chống trả và bị tiêu diệt gọn hai đại đội Pantisan. Ta làm chủ huyện ly ngay trong đêm đó. Tiếng loa vang lên kêu gọi binh sĩ địch đầu hàng. Đây là trận tiêu diệt căn cứ địch cấp quận đầu tiên của miền Đông Nam bộ sau ngày "Nam bộ kháng chiến" (23-9-1945).


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 12:01:32 PM
Nhân dân đã giúp bộ đội thoát hiểm sau trận đánh chi khu như thế nào?

Chiến trường thu dọn xong lúc trời chưa sáng, nhưng địch đã khẩn cấp tập trung lực lượng cứu nguy. 30 tàu chiến lớn nhỏ ập tới trong khi các phân đội chiến đấu của ta đang vật lộn với dòng nước ngược sông Đồng Tranh đang chảy xiết ra biển. Địch phát hiện và bủa vây tất cả các sông rạch. Mũi chủ công do đồng chí Hai Bứa chỉ huy ẩn lại phía Rừng Vũ theo đúng phương án. Một số chiến sĩ phía sau bị địch chặn ngang, nhưng họ rất giỏi sông nước, mỗi người tự nhắm hướng thoát đi. Còn lại 2 cánh quân của ta bị địch bao vây là cánh của đồng chí Ngô Quang Phiến, Đặng Văn Thêu và cánh quân "cản hậu” của đồng chí Trần Minh Tâm. Mười ngày đêm ròng rã không một giọt nước, không một hạt cơm, cánh quân của đồng chí Phiến, Thêu nhờ cua sống, bần chua, mà vượt qua những cơn đói khát hoành hành. Nhưng ngày càng nguy ngập vì trung đoàn có 6 chiến thương; tuy quyết tâm "gặp giặc là đánh" nhưng thực sự đã rơi vào cảnh "tiến thoái lưỡng nan".


Đang trong tình thế ngặt nghèo, bỗng xuất hiện hai cha con ông bán dưa hấu với chiếc ghe chở đầy dưa từ bên sông Đồng Tranh sang cũng lâm vào cảnh ngộ nằm trong vòng vây của giặc. Ông già và cô gái trẻ gặp bộ đội mừng rỡ và cho hết cả ghe dưa. Hỏi ra mới biết gia đình ông cũng đi theo kháng chiến. Nhờ có dưa hấu, nhiều chiến sĩ kiệt sức, hôn mê đã tỉnh dậy.


Ông già xin gặp đồng chí chỉ huy để hiến kế cho bộ đội thoát vây ông nói: "Tôi ở vùng này đã mấy năm làm rập cua, bắt ốc, nên thuộc sông rạch như bàn tay. Hiện tại các con rạch chúng đã chặn hết rồi, nhưng còn một ngả chắc chắn nó bỏ sót, vì ngả đó không có đường vô, đó là chỗ hở... mình cho xuồng xuống nước nhỏ giọt, từng tốp sang sông".


Theo cách đã bàn, cô gái ôm bập dừa bơi sang bên kia sông Đồng Tranh báo cho đồng bào lo liệu việc đón bộ đội.

Trời vừa tối, xuồng xuống nước cách địch không đầy 500 mét. Chúng liên tục chiếu đèn pha và tàu tuần chạy lên xuống 15 phút một lần. Chờ cho tàu tuấn vừa "vuốt đuôi”, xuồng bộ đội lao ra... Cứ như vậy, từ đầu hôm đến sáng, đơn vị qua sông hết người cuối cùng. Đồng bào chôn rộn suốt đêm nấu cơm, làm bánh, đun nước... gặp được bộ đội chiến thắng trở về lòng vui sướng cảm động rơi nước mắt. Cánh quân "cản hậu” của đồng chí Năm Tâm chạm súng quyết liệt với địch ở sông Lò Vôi, nhưng chúng quá đông, phải phá vòng vây thoát ra biển. Đại đội 150 người lâm vào cảnh lạc rừng giữa bốn bề nước mặn xã Đồng Hòa. Các chiến sĩ bắt sò đập vào báng súng vắt nước uống, cua sống thì bẻ càng nhai nuốt, ăn cả đọt chà là. Đến ngày thứ chín, sau khi coi trời coi nước, đoàn quân long1 (Long là bơi dọc theo sông rạch) sông về hướng bắc để tìm dân, được một ông già cho 20 lít nước ngọt, 150 người, mỗi người uống một ly, tỉnh lại sau cơn mệt mỏi mê man. Nhờ ông già chỉ đường đoàn quân đã về được căn cứ có dân đón tiếp ân cần. Kế hoạch bao vây đơn vị đánh chiếm Cần Giờ của giặc Pháp hoàn toàn thất bại.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 12:02:06 PM
Thuỷ lôi Rừng Sác đã đánh chìm chiếc tàu lớn nhất của giặc Pháp trên sông Lòng Tàu?

Trên sông Lòng Tàu, thủy lôi ra trận vào tháng 4-1951. Đội thủy lôi do đồng chí Hai Bứa và Sơn Tiêu phụ trách. Thủy lôi được đưa ra trận địa bằng cách quay tời cáp. Hì hục mất một đêm, trái thủy lôi Curassier của Nhật nặng 80kg do quân giới Nam bộ lấy được trên một hạm ngư lôi, mới "đứng" được trên vàm Bà Nghĩa. Nhưng sáng ra tàu rà của giặc chạy trên mé sông cắt đứt dây cáp làm thủy lôi nổi lên. Địch nhốn nháo xả súng bắn nhưng chỉ trúng phần nổi không có thuốc. Trái thủy lôi này phải đem về xưởng công binh để "vá” lại.


Phương án dùng dây tời bị loại bỏ thay vào phương án "con cóc": Dùng một khối sắt đá và mỏ neo để giữ thủy lôi với độ chìm theo ý muốn. Còn lại "cái đuôi dài" là dây điện, muốn tránh được tàu rà phải rải dây vào lúc tàu rà vừa qua, tàu chiến chưa tới. Khoảng cách thời gian này chỉ độ 15 phút.


Ròng rã một tuần lễ, đêm nào ghe xuồng cũng ra sông thao tác thử để rút kinh nghiệm.

Trận địa phục kích thủy lôi chuyển về Rạch Lá, nhưng một lần nữa bị thất bại do sơ suất của tổ cảnh giới, tàu địch phát hiện được, ghe thủy lôi phải vội "tháo thân" vào bờ.

Sau lần thất bại này, Tiểu đoàn 300 tăng cường lực lượng cho đội thủy lôi, củng cố đội trinh sát quân báo, rút kinh nghiệm về cấu tạo trái, quyết tâm đánh một trận lớn trên sông để kỷ niệm sinh nhật Bác Hồ. Trận địa thủy lôi trở lại vàm Bà Nghĩa. Ngày 26-5-1951, nơi bờ sông có đủ mặt các đồng chí chỉ huy. Năm phút sau khi tàu rà vừa quét qua, 2 trái mìn Nhật (được cải tiến thành mìn đánh chập điện trực tiếp) đã nằm trên lạch tàu theo đúng yêu cầu kỹ thuật. ở phía cửa Cần Giờ, một chiếc tàu chiến lớn lù lù xuất hiện. Mấy phút sau, các chiến sĩ thủy lôi đọc được dòng chữ trên thân tàu: Saint Louberbier. Tham mưu trưởng Trần Sơn Tiêu đứng sau bụi lá mắt không rời mục tiêu. Khi ước lượng khoang chứa hàng và hầm máy ngang với thủy lôi, ông hô lớn:

- Ngàn nóp!

Đó là tín hiệu bấm nút điện. Một tiếng nổ vang rền trên sông. Chiếc tàu dạt về phía bên kia, mũi cắm phập vào bờ.

Sau này, theo các thợ lặn báo lại đó là chiếc tàu 7000 tấn, bị thương một lỗ có đường kính 8 mét, giặc Pháp phải kéo về Philippin đại tu.

Từ đó, trên sông này có hẳn một đại đội đánh thủy lôi do đồng chí Đức chỉ huy. Kỹ thuật thả neo phát triển. Thủy lôi trên dưới 10kg đánh được tàu đổ bộ trên sông rạch Rừng Sác. Ta làm chủ khu vực sông Thị Vải. Từ tháng 6-1951 đến tháng 7-1954, trên sông rạch Rừng Sác có 32 tàu địch bị đánh chìm, 8 trung đội, 13 tiểu đội, 16 sĩ quan Pháp từ thiếu úy đến trung úy bị chết.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 12:02:29 PM
Trong Rừng Sác cũng có công binh xương sản xuất vũ khí?

Ngay những ngày đầu, khi tổ chức lực lượng hậu cần cho Rừng Sác, người ta nghĩ ngay đến những công binh xưởng sản xuất các loại vũ khí thô sơ để đánh giặc. Súng đạn cối với chiến si Rừng Sác cũng cần như cơm ăn, khí trời vậy Không còn phương cách nào là phải tự lực cánh sinh mà trường kỳ kháng chiến. Vì thế có rất nhiều xưởng quân giới của các đơn vị, cơ quan, và tuổi hình thành của nó cùng với tuổi của chiến khu trên mặt nước này. Xây dựng xưởng quân giới mạnh trở thành một đặc điểm của các đơn vị trong chiến khu Rừng Sác. Lực lượng Bình xuyên, bộ đội Cần Giuộc, Trung đoàn 300... đều có công binh xướng chế tạo vũ khí đa dạng, tinh xảo phục vụ chiến đấu tại chỗ. Tiểu đoàn 105 Gò Công xây dựng xưởng quân giới ở chi đội 7 Mai Văn Vĩnh, thu góp gầy dựng được một công binh xường đủ lệ bộ trên một chiếc ghe lớn.

 
Bên cạnh xướng quân giới còn có đội sưu tầm nguyên vật liệu có "chân duỗi" tận nội thành lại có đội mò vớt trên sông thu lượm súng đạn, vật dụng của địch bị chìm tàu. Có lần một đội sưu tầm của Trung đoàn 300 mò được một trái lựu đạn lớn, dài hơn 1 mét đem về xưởng, cưa lấy thuốc nổ bên trong. Lưỡi cưa vừa "ăn" hết phần sắt (vỏ trái đạn) thì một làn khói xanh bốc lên, anh em vội vàng xô trái đạn xuống nước; thấy hết khói, vớt lên, lại có khói... thế là trái đạn buộc phải cưa dưới nước. Mọi thao tác phức tạp đều làm trong nước thật nguy hiểm nhưng anh em vẫn quyết tâm làm để có thuốc nổ làm trái mìn tiêu diệt quân giặc. Kết quả là một trái Tromblon ém chặt thuốc nổ từ trái đạn cưa ra, đã bắn cháy bót Bà Nghĩa. Phần thuốc nổ còn lại, anh em cho vào chai (dưới thuốc trên nước), khi cần chỉ đập chai là nổ. Đó là thứ vũ khí đã sử dụng một trong những trận đánh kho xăng Nhà Bè, thiêu hủy các bồn xăng của giặc. Sau này anh em mới biết đó là phốt pho trắng, một chất hóa học cháy trong không khí.


Sau nà y đoàn 10 còn có xưởng quân giới mang phiên hiệu đại đội 8. Từ một tổ sửa chữa vũ khí với một số thương binh không còn đủ sức ra phía trước và một vài người biết kỹ thuật, đã trở thành một xưởng quân giới có kỹ sư và 20 công nhân, do đồng chí Tư Tiên làm xưởng trưởng. Quá trình phát triển của xưởng gắn liền với yêu cầu chiến đấu trên mặt nước. Từ những trái thủy lôi, mìn đánh tàu tự tạo, các loại kíp nổ điện đã truyền lại từ những xưởng quân giới kháng chiến, xưởng Đoàn 10 đã chế tạo ra được bệ phóng B72, đồng hồ hẹn giờ đơn giản và tiện lợi bằng hóa chất, cải tiến mìn ĐH10, K69, đầu đạn ĐKP, H12, B41... Trái ĐH10 tăng lượng thuốc nổ đã có sức công phá tàu trên sông nhỏ. Súng B41 tầm bắn chính xác trên 150m trở thành súng bắn tỉa trên sông Lòng Tàu rộng cả ngàn mét. Trái ĐKP bắn chỉ thủng tàu mà không chìm, nhưng khi bỏ đầu đạn, thay vào khối nổ 100kg trở thành trái "bom bay” hạ gục chiếc tàu 7000 tấn đến 10.000 tấn trên sông Lòng Tàu.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 12:03:57 PM
Sống trong Rừng Sác rất gian khổ và dường như bị cô lập bởi sông nước và sự bao vây của giặc, vậy hậu cần của bộ đội ở đâu?

Hồi đầu kháng chiến, nhiều bờ sông trong Rừng Sác san sát nhà cửa của dân đi làm củi, làm cá, có quán xá, chợ búa tấp nập... Nhưng rồi dân làng tản mát theo cường độ ác liệt của chiến tranh. Tuy nhiên họ không chạy mà luồn lách, vừa lo kiếm sống vừa hoạt động cách mạng. Nhiều gia đình có bốn năm người đi kháng chiến; cha mẹ, vợ con cũng xuống ghe đi luôn vào rừng. Bộ đội, cơ quan ở đâu, họ cắm sào, dựng chòi ở đó. Họ chắt chịu từng đồng bạc, chia đôi, nửa nuôi thân, nửa nuôi kháng chiến. Má Tám ở An Thới Đông có nhà trong rừng bên cạnh căn cứ bộ đội, ngày ngày đốn lá dừa nước lên bán trên đất liền, mua hàng về cho đơn vị. Ông Năm Phân và bà Bông có đàn chó săn tinh khôn, săn được con gì, lại nhắn anh em vào lấy. Những người dân trong rừng đều chí tình với bộ đội. Họ là đội quân hậu cần nhân dân rộng lớn của các chiến sĩ Rừng Sác.


Hồi ấy ghe xuồng vào Rừng Sác nhiều. Hoạt động thám báo, gián điệp, tâm lý chiến của cả hai bên cùng theo dòng nước trôi chảy. Về phía ta, qua đó mà nắm được tình hình địch một cách nhanh chóng, chính xác, biết trước những trận càn của chúng nên tránh được nhiều tổn thất. Dân tình chạy giặc sống tạm bợ, có khi nghèo đến không còn một đôi đũa ăn cơm, nhưng sống chết họ không rời kháng chiến. Dân có ăn thì bộ đội cũng có ăn... Bộ đội, cơ quan và dân cùng ăn củ mì, rau rừng, cua ốc ròng rã tháng này qua tháng khác, để kháng chiến trong những năm đầu thập niên 50.


Chỉ riêng việc mua bán, người dân Rừng Sác phải chịu một hy sinh to lớn. Với con cua con cá kiếm được, họ bán tại chỗ lấy đồng bạc Cụ Hồ. Tiền này chỉ lưu hành được trong vùng giải phóng. Lại có bà con chuyên đưa cua, cá mua bằng tiền Cụ Hồ ra thành bán lấy "tiền xanh"1 (Tiền Đông Dương ngân hàng thời bấy giờ) rồi mua hàng về cho kháng chiến...


Chiến khu Rừng Sác ăn gạo từ nhiều nơi: Bến Tre, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Chợ Lớn. Địch kiểm soát gắt gao, nhưng gạo vẫn từ người dân đến với bộ đội. Họ chỉ nhận biên lai mà không có tiền mặt. Chỉ riêng xã Bình Khánh trong 2 năm 1947 - 1948, số "gạo biên lai" cho chi đội 2, 3 và Trung đoàn 300 Dương Văn Dương đã lên tới 27 ngàn giạ (1 giạ 40 lít). Những tấm biên lai như vậy, hai chục ba chục năm sau vẫn còn nguyên đó, đủ biết người dân Rừng Sác gánh chịu hy sinh đến mức nào.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 12:04:22 PM
Các chiến sĩ Rừng Sác đã tự lực hậu cần ra sao để sống và chiến đấu?

Các chiến sĩ vệ quốc quân khi mới về Rừng Sác chưa biết kiếm ăn. Ngoài những thứ dân cho thì quanh đi quẩn lại chỉ có "mắm đuôi”, "mắm quệt", chổi quét1 (Cách nói lái, nói vui của anh em hồi đó: "mắm đuôi" là muối đâm, mắm quệt là nước mắm cô trên mẻ sành, “chổi quét" là đọt rán, một thứ cây làm chổi), ăn riết phát ngán... Còn "thực phẩm" dùng cho bữa ăn coi như đã chấm dứt "chế độ cung cấp" từ năm 1947.
Sau đó, người dân Rừng các đã chỉ vẽ cho các chiến sĩ cách "khoét rừng vớt nước" mà sống! Trên mặt nước mặn, từ đọt rán, họ phân ra các thứ khác như đọt chà là, rau đắng, rau chiếc, cọng mái dầm, bần ổi, bần sẻ, bần nếp... Rán và đọt chà là trở thành món rau chủ lực, chẳng khác nào rau tàu bay và măng tre ở đất liền miền Đông.


"Kho tàng bí mật" dưới mặt nước cũng không đòi hỏi quá nhiều công sức mới "khai thác" được. Vào những ngày nước ươn, trên những bãi đầy cỏ lác, những con cua vừa thay vỏ to kềnh mập mạp, mềm nhũn nằm la liệt, chỉ cần đưa tay lượm là có ăn. Khi con cua đã cứng cáp, xuống nước bò vào hang sẽ gặp cái rập, cài cù nèo lôi ra. Thế là cua nướng, cua kho, cua xào dấm, cua nấu canh với bần chín và cọng mái dầm... dần dần thay thế "mắm đuôi”, "mắm quệt".


Quả là thiên nhiên Rừng Sác "ưu đãi thịnh tình" nhưng bằng lao động và khéo léo, lính ta đi tát bưng, xúc tôm, thả trúm... đem về cho bữa ăn những của ngon vật lạ, "đặc sản" như tôm bạc, tôm kéc, tôm thẻ, cá nâu, cá mang rỗ, cá bống cát, cá bống dừa, cá ngác, cá lăn, cá lù đù v.v... Một mẻ lưới chặn ngang rạch lúc nước đứng, kín từ mặt bùn đến mặt nước cho đến khi nước ròng có thể hứng được từ hai ba chục ki lô đến một tạ cá đối cá chém, tôm thẻ đuôi xanh... Vào lúc trời mưa lớn, trong các luồng lạch cá đối từng bầy ngược nước, ngước đầu "ăn nước ngọt". Lính ta đắp đập kín trên dòng, chặn lưới ở dưới, dùng chà cây lùa từ trên xuống dồn cá vào lưới có khi bắt được năm sáu thùng (loại 20 lít).


Rừng Sác có một món ăn đặc biệt là món đuông chà là. Đuông chà là chỉ lớn xấp xỉ đuông dừa nhưng hương vị thì đuông dừa không thể nào so sánh được. Một con đuông chà là ở chợ có thể ngang giá với vài ki lô gạo.


Sự dẫn giải trên đây chỉ nói về chiến sĩ Rừng Sác tự lực thức ăn. Còn rất nhiều thứ phải tự lực khác do nhu cầu của cuộc sống để tồn tại và hoạt động cách mạng.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 12:04:58 PM
Làm sao chiến sĩ Rừng Sác có nước ngọt để ăn uống sinh hoạt giữa rừng ngập mặn quanh năm?

Rừng Sác là một biển nước mênh mông, nhưng con người ở đây lúc nào cũng 'khát nước", Sự “bạc đãi" duy nhất của thiên nhiên, chính là "cúp" nước ngọt trên "quần đảo”, kỳ lạ này. Đây chính là vấn đề gay gắt hàng đầu ở Rừng Sác thời chiến tranh. Bên cạnh "lon gạo" thì "nước ngọt" là cuộc vật lộn giữa con người với trời đất, giữa ta và địch, là nỗi đau đầu của lãnh đạo và chỉ huy.


Ở vùng này, người ta có thể tìm được vài mội nước ngọt phun lên giữa dòng nước mặn của sông Thị Vải, Rạch Gầm hoặc những vũng nước mưa đọng trên bãi cát ven biển. Nước mặn ở Rừng Sác không chỉ từ biển tràn vào mà còn dâng lên từ dưới những lớp lá rụng. Muốn có nước ngọt giữa lòng nước mặn thì phải đợi nước ròng, chụp một cái ống lên mội rồi chờ nước ngọt dâng trong ống mà múc.


Giữa vòng vây của nước mặn, nguồn nước ăn chủ yếu của chiến khu là nước mưa, nước giếng ven đất liền, nước ròng của sông Đồng Nai. Một bộ phận lớn của chiến khu đổ về Vũng Gấm, Bà Bông để chở nước ngọt, nơi gần phải đi từ 5 đến 7km. Vùng An Thới Đông, Tam Thới Hiệp phải đi xa vài chục kilômét, vượt sông Lòng Tàu, Đồng Tranh mới có nước ngọt. Những chuyến đi lấy nước trở thành những trận đánh sinh tử. Vì thế đi lấy nước phải có trinh sát, bộ đội, du kích mang theo vũ khí sẵn sàng chiến đấu.


Hàng năm bắt đầu mùa nắng, địch đổ bộ lên xóm ấp, đập phá lu hũ, bồn chứa, triệt nguồn nước ngọt dự trữ từ mùa mưa. Nhiều đơn vị tổ chức những "trận lấy nước" ban đêm. Địch cho tàu vào, tắt máy, thả trôi để phục kích ta. Thế là những cuộc chạm súng diễn ra quyết liệt... "Cuộc chiến tranh nước" ở Rừng Sác đã cướp đi hàng trăm sinh mạng. Chiến sĩ ghi dòng chữ trên các bồn nước: "Giọt nước là giọt máu”. Có bao nhiêu câu chuyện về "nước" đã đi vào lịch sử Rừng Sác không phải chỉ là những bát nước tình nghĩa quân dân, mà là vấn đề sống chết của những người bám trụ chiến đấu giữa vòng vây quân giặc và nước mặn.


Trong hoàn cảnh khắc nghiệt đó, chiến sĩ Rừng Sác đã tìm cách sống hòa hợp với thực tế: Hốt bùn non gội đầu, hái bần chín giặt áo, xả nước mặn, tuy chưa sạch bằng xà bông giặt nước ngọt nhưng cũng đủ tẩy mồ hôi.


Cuối năm 1947, binh công xướng thuộc khu 7 nằm giữa sông Lòng Tàu và Đồng Tranh đã phát minh ra một cách chế nước ngọt tại chỗ: đắp lò đất, đặt thùng phuy cất nước mặn như cất rượu, hơi nước đọng chảy ra vòi thành một thứ nước tinh khiết. Ba người canh nước, một người quơ củi, trong một ngày có thể cất được 250 lít nước ngọt. Sáng kiến này truyền nhanh ra các đơn vị, cơ quan. Từ đó thùng đựng đạn, xoong nồi.. đều có thể trở thành "đồ nghề" cất nước. Bộ đội địa phương Nhà Bè, Cần Giuộc có cả kho chứa nước ngọt bằng thùng ván cây dầu dấu trong rừng, có người canh gác cẩn thận. Quả là cái khó không bó được cái khôn của chiến sĩ Rừng Sác. Ngay trong "cuộc chiến tranh nước" họ đã chiến thắng.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 09 Tháng Năm, 2010, 12:05:33 PM
Ngoài sự ăn uống kham khổ, các chiến sĩ còn phải chịu đựng những khắc nghiệt gì?
 
Sự chịu đựng kham khổ của người chiến sĩ Rừng Sác kể không hết, chỉ nêu một vài chuyện như ăn mặc, ngủ đêm, đã hết sức gay go.


Những ngày mới rời mái ấm gia đình, rời Sài Gòn hoa lệ ra đi kháng chiến, chiến sĩ Rừng Sác còn giàu một chút, có đủ áo tay dài, quần dài. Dần dần ống tay, ống quần ngắn dần đến cùi chỏ, đầu gối, và cuối cùng chỉ còn độc một chiếc "quần xà lỏn", một áo ngắn mất tay. Có lẽ như thế hợp hơn với cuộc sống sình lầy sông nước nhưng không chịu thấu cái lạnh về đêm và dễ làm mồi cho muỗi mòng tiêm chích, cỏ lá cào xước chân tay.


Ở đây người chiến sĩ trong cái nghèo chung của đoàn quân vệ quốc, nhưng sức chịu đựng thật phi phàm. Hết muỗi rừng bám từng cục, chộp tay cũng bắt được cả nắm, lại đến loài bù mắt nhỏ li ti rộ lên lúc nước lớn, bâu vào người hút máu đến căng bụng mới buông. Bận quần áo cộc coi như trần mình chịu trận.


Sự chịu đựng "siêu phàm" nhất, phải kể đến chị em phụ nữ. Có người chỉ có quần tây ngắn và áo cộc tay, nhưng phải bước ra một bước là bùn và nước. Đó là chưa kể những ngày đến kỳ kinh nguyệt. Việc sinh hoạt cũng phức tạp hơn nam giới rất nhiều. Tất nhiên, giới mày râu lúc nào cũng "ra tay" giúp đỡ "phái yếu” nên chị em trong chiến khu cũng cảm thấy dễ chịu.


Khoảng giữa năm 1946, mỗi cán bộ chiến sĩ Rừng Sác được cấp một chiếc nóp thay cho mùng mền. Mùa nắng nóp khô, muỗi và bù mắt vẫn lách vào được. Anh em phải ngâm nóp ướt cho cọng bàng nở ra, mới chui vô nằm. Giữa năm 1947, trên lại cấp cho cán bộ đại đội trở lên mỗi người một bộ đồ vải đen: quần đùi, áo dài tay; còn từ cấp trung đội trở xuống mỗi người được một bộ đồ ngắn. Đó là hai lần cấp quân trang duy nhất. Ngoài ra, anh em còn đi xin và mua sắm áo quần bằng tiền lao động mò cua, bắt ốc trong rừng. Kham khổ như vậy, nhưng các chiến sĩ rất lạc quan. Đêm đêm Rừng Sác lại vang lên tiếng hát từ những chiếc nóp lăn trên nệm rán: "Mùa thu rồi ngày hăm ba, ta ra đi... Nói với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng..." Những dòng thơ, lời hát của chiến sĩ miền Đông "chảy ra từ mạch máu”: "Anh em ơi, chúng ta người chiến sĩ miền Đông, chiến đấu đã từng, thêm lòng kiên quyết chống đói, chống rét, chống thú rừng, chống giặc ngoại xâm, biết bao hờn căm trong bao nhiêu năm..."1 (Lời hát của các chiến sĩ đêm lửa trại)


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:38:32 PM
Có phải Rừng Sác là một nhánh rẽ của "đường mòn trên biển”?

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi vào tháng 7-1954. Hòa bình được lập lại trên miền Bắc, nhưng miền Nam tạm thời nằm dưới sự kiểm soát của Mỹ - ngụy. Từ đây, bắt đầu cuộc chiến đấu mới của nhân dân miền Nam hết sức quyết liệt, gian khổ, cần có sự chi viện to lớn của miền Bắc.


Lúc này, vùng biển thuộc Đông Nam bộ có 2 khu vực cửa biển trọng yếu: Xuyên Mộc và Rừng Sác. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về việc tiếp nhận vũ khí từ miền Bắc chuyển vào bằng đường biển, đầu năm 1962, Trung ương Cục miền Nam và Ban quân sự miền quyết định thành lập đơn vị tiếp nhận mang phiên hiệu Đoàn 555, do đồng chí Dương Quang Đông phụ trách. Tháng 10-1963, đồng chí Phạm Văn Bính được Bộ chỉ huy Miền điều về Rừng Sác triển khai khu vực tiếp nhận mới, tổ chức lực lượng đứng chân ở sông Đồng Tranh, lập một "đầu cầu' đón nhận hàng từ Bến Tre (qua đoàn 702), làm kho cất giấu, từ đây vận chuyển đường sông lên bờ sông Thị Vải giao cho đơn vị của đồng chí Lê Minh Thịnh tiếp chuyển...


Trước khi nổ ra đồng khởi năm 1960, quân và dân Rừng Sác đã chuẩn bị tư thế cùng cả nước bước vào trận đụng đầu lịch sử với đế quốc Mỹ. Rừng Sác trở thành một nhánh rẽ của con "đường mòn trên biển", đồng thời là nơi đứng chân của hàng trăm đảng viên và các lực lượng địa phương Cần Giờ, cần Giuộc, Cần Đước, Nhà Bè, Thủ Đức, Nhơn Trạch, Long Thành... Một con đường bí mật qua rừng đất liền, xuyên qua đường 15; một con đường từ đồng bằng xuyên qua sông Soài Rạp và nhánh rẽ của "đường mòn trên biển" được tiếp nhận của các đơn vị đầu mối mang phiên hiệu Đoàn 60B thuộc Đoàn 84 và Đội 702 của Đoàn 962. Địch đã phát hiện được "hành lang" bí mật này và đánh hơi thấy các kho vũ khí của ta trên vùng biển Cần Giờ cung cấp cho các lực lượng cách mạng ở phía nam và đông nam Sài Gòn.


Chúng đã tìm mọi cách để ngăn chặn nhưng các chiến sĩ Rừng Sác lúc ấy đã củng cố được lực lượng, chuỗi rễ đã ăn sâu vào phong trào đấu tranh chính trị với các cuộc diệt ác trừ gian, phá thế kìm kẹp của giặc để làm chủ rừng, làm chủ sông nước. Và những cửa sông Rừng Sác vẫn bí mật tiếp nhận vũ khí từ "đường mòn trên biển" về chiến khu Rừng Sác, Sài Gòn và miền Đông Nam bộ.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:39:05 PM
Bước sang thời kỳ chống Mỹ, những đơn vị nào có mặt đầu tiên ở chiến khu Rừng Sác?

Đơn vị võ trang mang phiên hiệu "Tiểu đoàn 508" hình thành ở rạch Hốc Quê. Đây chính là một trong hai đơn vị võ trang tập trung của Long An có trước đồng khởi. Quân số đơn vị ban đầu có 60 người. Mang danh là tiểu đoàn nhưng thực sự quân số không đầy đủ, mỗi trung đội chỉ có 20 người. Trong số người vượt ngục Biên Hòa về xây dựng đơn vị có đồng chí Tám Chùa (Nguyễn Văn Tiến) nguyên là phó chính trị viên của liên huyện Cần Giuộc - Cần Đước - Nhà Bè thời đánh Pháp, nay trở thành người chỉ huy đầu tiên của Tiểu đoàn 508.


Về trang bị, lúc đầu tiểu đoàn chỉ có 1 trung liên "mát" và một số sú ng trường "mát". Năm 1958, tiểu đoàn ra quân đánh một đồn ngụy ở Rừng Sác, lấy thêm được 12 khẩu súng, sau đó được cấp thêm các loại súng chiến đấu từ năm 1954, vừa được moi từ những nơi cất giấu lên. Cuối năm 1958, Tiểu đoàn 508 thu thêm tân binh từ số thanh niên cơ sở của hai huyện Cần Đước - Cần Giuộc, xây dựng đầy đủ 3 trung đội, mỗi trung đội 35 người, trong đó 1 trung đội cơ động, 2 trung đội phân tán đi xây dựng cơ sở ở các xã. Cuối năm 1959 từ Rừng Sác, đơn vị xuất quân đánh đồn Hưng Lâm, đồn ngã tư Đông Thạnh (Cần Giuộc). Sang năm 1960, tiểu đoàn tăng quân số lên 108 người vừa phòng ngự chống càn vừa tiến công địch, sau đó hành quân về Đồng Tháp cùng với đơn vị bạn thành lập Tiểu đoàn Long An.


Cùng với việc thành lập Tiểu đoàn 508, năm 1956, tại Rạch Rào, Rạch Sóc thuộc Rừng Sác, một tổ quân y được thành lập do đồng chí Ba Lai phụ trách, về sau phát triển thành hai trung đội quân y có cả y sĩ chữa trị, nuôi dưỡng hàng trăm thương, bệnh binh trên sạp chà là, dưới mái dừa nước.


Năm 1957, cũng tại đây, một xưởng quân giới được thành lập, từ cơ ngơi chỉ là một tổ sửa súng, thụt nòng những khẩu súng gỉ sét từ dưới đất moi lên. Bước vào cuộc chiến đấu chống Mỹ, tổ quân khí trở thành "công trường" quân giới sản xuất vũ khí thô sơ phục vụ bộ đội du kích chiến đấu.


Nhìn bao quát ta thấy những lực lượng đầu tiên xuất hiện ở Rừng Sác thời đánh Mỹ có đủ bộ binh chiến đấu và hậu cần phía sau như quân y, quân giới là những đơn vị luôn đi sát bảo đảm cho hoạt động vũ trang.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:39:34 PM
Có phải đặc công Rừng Sác bắt đầu từ đội công binh và đặc công nước?

Trong suốt giai đoạn "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - ngụy và tận đến sau này, Rừng Sác luôn là vùng căn cứ kho tàng, vận chuyển và ém quân. Lực lượng chủ lực của ta xuất hiện ở đây từ chiến dịch Bình Giã. Hạt nhân đầu tiên là tiểu đội đặc công nước đánh thủy lôi do Cục Tham mưu B2 (miền Đông Nam Bộ) cử về hoạt động hưởng ứng chiến dịch Bình Giã. Tiểu đội này do đồng chí Cù Văn Điển chỉ huy hoạt động từ Cần Giờ lên Tam Thôn Hiệp. Tiếp theo, đồng chí Cao Thanh Tao (sáu Tao) được Cục Tham mưu B2 giao nhiệm vụ về Rừng Sác xây dựng một đại đội công binh chuyên trách đánh tàu địch trên sông Lòng Tàu. Tháng 10-1964, một đại đội hỏa lực có huấn luyện đặc công của Bộ tổng Tham mưu, vượt Trường Sơn vào tăng cường cho Rừng Sác.Tiểu đội công binh cùng với hỏa lực đặc công thành lập đại đội đặc công nước thứ hai, do đồng chí Sáu Tao chỉ huy. Tháng 5-1965, Bộ Tư lệnh Hải quân lại chi viện cho Rừng Sác 2 trung đội công binh. Cuối năm 1 965 Rừng Sác thành lập tiểu đoàn đặc công thủy mang số hiệu 125 do đồng chí Nguyễn Văn Bảo (từ miền Bắc trở về) làm tiểu đoàn trường. Tiểu đoàn này lấy tên công khai là Đoàn 5001.


Đoàn 5001 "xuất đầu lộ diện", dần dần trở thành đối tượng chủ yếu của địch, nên đổi tên là Đoàn 43 do đồng chí Nguyễn Văn Mây (Chỉn Mây) phụ trách1 (Đồng chí Nguyễn Văn Mây sau này là Đại tá chỉ huy phó Bộ chỉ huy quân sự Thành phố Hồ Chí Minh, rồi chỉ huy trưởng BCH Quân sự tỉnh Sông Bé (Bình Phước - Bình Dương hiện nay)).


Trên đây là những đơn vị đặc công đầu tiên của Rừng Sác trong thời kỳ chống Mỹ, là nền móng tiền thân của Đoàn 10 đặc công Rừng Sác lừng danh sau này.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:40:43 PM
Rừng Sác có địa đạo không?

Thực ra thì địa hình sông nước Rừng Sác không thể đào địa đạo được, nhưng vùng đất thuộc chiến khu Rừng Sác là cửa ngõ, bàn đạp, vì thế anh em có cấu trúc hệ thống địa đạo đơn giản để bám trụ hoạt động, chiến đấu giữ địa bàn và làm "cầu nối" giữa đất liền với vùng sông nước sình lầy.


Ở vùng lòng chảo Phước An của huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai có một địa đạo như thế. Hệ thống đường hầm này được xây dựng từ giữa năm 1962, nhằm tránh địch càn quét và làm nơi đứng chân cho huyện ủy Nhơn Trạch và một số lực lượng của Đặc khu.


Địa đạo này gồm có đường "xương sống" và nhiều đường nhánh ăn thông nhau, độ sâu cách mặt đất từ 3-5m, rộng từ 60-80cm, cao lừ 1,5-1,8m, có thể đi lại, sinh hoạt bình thường trong lòng đất. Trong lòng địa đạo có cấu trúc những công trình thiết yếu như phòng họp, trạm xá, bếp ăn... nối với hệ thống giao thông hào và các ụ chiến đấu.


Từ địa đạo này, quân và dân Nhơn Trạch đã anh hùng chống trả, bẻ gãy nhiều cuộc càn của địch, đồng thời là nơi xuất phát tấn công san bằng 5 đồn: Phước Thọ, Phú Hột, Phước Khánh, Phước Lý, ông Kèo. Bọn dân vệ, bình định, bảo vệ 7 ấp chiến lược bao quanh các đồn bót này hoang mang bỏ chạy. Nhân dân nổi dậy phá tan toàn bộ ấp chiến lược, trở về đất cũ làm ăn.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:42:05 PM
Vì sao chính quyền ngụy Sài Gòn thành lập "Biệt khu Rừng Sác"?

Ngay từ những năm đầu cuộc "chiến tranh đặc biệt" (1960-1965) địch đã nhận thức tầm quan trọng của những cánh rừng ngập mặn mênh mông. Chúng đánh hơi "Việt cộng nằm vùng" ở đó và sự xâm nhập của đối phương qua đường biển. Để đối phó với những nguy cơ có thật, một tổ chức quân sự ngụy gọi là "Biệt khu Rừng Sác" trực thuộc khu 31 chiến thuật được thành lập để đương đầu với cuộc chiến sẽ diễn ra ngày càng quyết liệt ở đây.


Năm 1963, để tăng cường sức mạnh cho vùng này, Bộ tổng tham mưu ngụy cho đổi "Biệt khu Rừng Sác" thành "Đặc khu Rừng Sác”, đặt dưới sự chỉ huy của tư lệnh Quân khu 3 về mặt lãnh thổ và trực thuộc chỉ huy của Bộ tư lệnh hải quân về mặt hành quân và tác chiến. Bộ chỉ huy đặc khu có căn cứ quy mô theo hình thức một căn cứ hải quân nằm ngay sát quân cảng Nhà Bè do trung tá Nguyễn Việt Thanh, một tên ác ôn khét tiếng đã được lĩnh thưởng gần 20 huân chương, làm chỉ huy trướng. Thiếu tá Lương Văn Bé làm chỉ huy phó. Lực lượng đặc khu tương đương một trung đoàn chủ lực hợp thành từ các binh chủng hải quân, pháo binh, được tăng cường một phi đội máy bay lên thẳng võ trang và được trang bị tàu bo bo, tàu tuần, tàu "há mồm" đổ bộ LCM và tàu quét mìn. Về pháo binh, có trận địa pháo 105 ly và 155 ly đặt tại các căn cứ Nhà Bè, Phước Khánh, An Thít1 (Địa danh "ăn thịt" nói tránh đi). Lính đặc khu mang phù hiệu con cá sấu hung hãn màu xám đang chồm lên cái nền xanh Rừng Sác, nhe răng nhọn hoắt...


Cùng với đặc khu Rừng Sác, đặc khu Vũng Tàu, 5 tiểu khu Gò Công, Long An, Gia Định, Biên Hòa, Phước Tuy; các chi khu: Lý Nhơn, An Thít, Cần Giờ, Quảng Xuyên, Nhơn Trạch và các đơn vị bảo an địa phương hình thành thế bao vây, chia cắt Rừng Sác một cách chặt chẽ, quy mô. Cũng từ tính toán vị thế sông Lòng Tàu và Rừng Sác, Mỹ đã điều động cho đặc khu lữ đoàn thủy quân lục chiến 199, đồng thời ưu tiên cho mọi chi viện, không loại trừ quy mô huy động nào để tiêu diệt hoặc ít nhất phải trục xuất đối phương ra khỏi Rừng Sác, kể cả sử dụng không quân chiến lược B52, hải quân Mỹ, trong đó có cả pháo Hạm đội 7.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:42:38 PM
Ta thành lập "Đặc khu Rừng Sác" từ lúc nào?

Những hoạt động đầy nỗ lực và tham vọng của Mỹ làm cho tầm vóc, ý nghĩa của sông Lòng Tàu và Rừng Sác trở lên hết sức đặc biệt, đòi hỏi cấp thiết một sự thay đổi về quy mô, về tổ chức và hoạt động của các lực lượng cách mạng ở đây.


Đầu năm 1966, đồng chí Phan Hàm, phái viên của Bộ tổng tham mưu quân đội nhân dân Việt Nam mang ý định của Quân ủy Trung ương về việc thành lập một đặc khu quân sự ở phía đông nam Sài Gòn để khống chế sông Lòng Tàu đã vào tới Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền (B2). Theo ý định trên, tại chiến khu Đ, một dự án về tổ chức và nhiệm vụ cụ thể của Đặc khu Rừng Sác được hình thành. Trong một buổi gặp đặc biệt, đồng chí Lương Văn Nho (Hai Nhã)1 (Về sau được đề bạt Thiếu tướng, Phó tư lệnh Quân khu 7. Ông đã từ trần 10-8-1984) lúc ấy là Tham mưu trưởng Sư đoàn 5, đã được đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh B2 và đồng chí Trần Độ phó chính ủy trực tiếp giao nhiệm vụ phụ trách việc thành lập đặc khu.


Quyết định ngày 15-4-1966 quy định Đặc khu Rừng Sác là một khu quân sự đặc biệt gồm một khu vực rộng 60.000 ha, phía đông giáp đường 15, phía tây giáp sông Soài Rạp, phía bắc giáp đường 19, phía nam giáp biển. Đặc khu gồm 10 xã thuộc nhiều tỉnh khác nhau: Phú Hữu, Phước Khánh (quận Nhơn Trạch, Biên Hòa), Long Sơn - Bà Trao, núi Nứa (quận Châu Đức, Bà Lịa), Lý Nhơn, Bình An, (quận Nhà Bè), Đồng Hòa, Cần Thạnh, Tân Thạnh, Thạnh An, Tam Thôn Hiệp (quận Cần Giờ).


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:43:10 PM
Xin cho biết những nhiệm vụ chính của Đặc khu?

Với tính chất quan trọng của Đặc khu Rừng Sác, trên quy định những nhiệm vụ cụ thể về xây dựng và nhiệm vụ tác chiến:

- Xây dựng một khu căn cứ bàn đạp vững chắc ngày càng củng cố, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang của khu đứng vững tại chỗ, luôn luôn tấn công địch trong mọi tình huống.

- Chiến đấu bằng mọi cách trên các dòng sông, chủ yếu là đánh địch trên sông Lòng Tàu, kiên quyết tiêu diệt và phá hủy thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của chúng.

- Kết hợp chặt chẽ với các tổ chức Đảng, dân chính, tiến hành công tác; tranh thủ nhân dân để xây dựng cơ sở, phát động mạnh mẽ chiến tranh du kích trong toàn đặc khu.

- Bảo vệ an toàn hành lang vận chuyển của ta.


Quyết định số 149/TGK ngày 14-8-1966 của Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ công tác bảo quản, bảo vệ và vận chuyển hàng chiến lược của Miền trong phạm vi đặc khu, quản lý về mọi mặt cơ sở của Đoàn 84 ở phía tây đường 15 và Đội 702 của Đoàn 962.


Do những biến đổi nhanh chóng của chiến trường là khu vực vừa áp sát địch vừa là cửa ngõ quốc tế sống còn của chúng, nhiệm vụ của Đặc khu luôn được điều chỉnh, bổ sung theo yêu cầu của toàn chiến trường và sự phát triển của lực lượng. Các nhiệm vụ về sau được xác định lại:

- Đảm nhiệm một hướng tấn công vào cơ quan đầu não, sào huyệt cuối cùng của địch.

- Tấn công liên tục vào các mục tiêu bến cảng. Đánh chìm tàu chở hàng quân sự ở các cảng Nhà Bè, Rạch Dừa, Cát Lái, Thành Tuy Hạ. Phá hủy nhiều dụ ng cụ phương tiện chiến tranh. Đánh trúng tàu chở bom đạn, xăng dầu.

- Đánh phá các kho tàng có tính chất chiến lược như: Thành Tuy Hạ, Nhà Bè, Cát Lái.
- Cùng với các đơn vị hỏa lực, các đơn vị đặc công thủy dùng nhiều phương thức đánh chìm và cháy nhiều tàu vận tải hàng quân sự trên sông Lòng Tàu... nhằm ngăn chặn, cản trở gián đoạn giao thông của địch trong từng thời gian nhất định.

- Tích cực hoạt động hỗ trợ phong trào cách mạng địa phương: diệt ác phá kềm, phát động quần chúng nổi dậy và xây dựng lực lượng bán võ trang ở xã ấp.

Trong các nhiệm vụ trên đây, thì nhiệm vụ đánh chìm tàu tại cảng và đánh kho tàng lớn của địch là chính.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:44:09 PM
Chỉ huy Đặc khu Rừng Sác gồm những ai?

Quân ủy Miền xác định tính chất Đặc khu Rừng Sác là một khu quân sự chứ không phải là một quân khu, phụ trách luôn cả công tác quân - chính và phong trào cách mạng địa phương.


Tên ngụy trang của Đặc khu Rừng Sác là T10 về sau đổi thành Đoàn 10 để khỏi trùng với một tổ chức mới của Trung ương Cục miền Nam.

Theo quyết định của Bộ Tư lệnh Miền, cơ quan chỉ huy đầu tiên của Đặc khu Rừng Sác gồm có các đồng chí:

- Lương Văn Nho - Đặc khu trướng kiêm Chính ủy.

- Nguyễn Văn Mây, Sáu Tâm, Mười Thà - Chỉ huy phó.

- Trần Mân - Tham mưu trường.

- Nguyễn Văn Quảng1 (Đồng chí Nguyễn Văn Quảng, sau này được phong quân hàm thiếu tướng và chuyển ngành làm thứ trưởng Bộ Thương binh và Xã hội) chủ nhiệm chính trị.

Do yêu cầu của chiến trường, Đặc khu bổ nhiệm các đồng chí:

- Cao Thanh Tao chỉ huy khu B (phía tây sông Lòng Tàu).

- Trần Thành Lập1 (Đồng chí Trần Thành Lập về sau là thiếu tướng, Chỉ huy phó chính trị BCHQS thành phố Hồ Chí Minh) chính trị viên khu A (phía đông sông Lòng Tàu).


Nếu như đồng chí Lê Bá Ước là người đứng mũi chịu sào qua những tháng năm ác liệt nhất sau này thì đồng chí Cao Thanh Tao là người giữ chức đoàn trường đặc công Rừng Sác cuối cùng trước ngày giải phóng miền Nam.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:44:53 PM
Cố thiếu tướng Lương Văn Nho là người chỉ huy có định hướng sâu sắc nhất với chiến khu Rừng Sác. Xin cho biết về vị tướng của miền sông nước này?

Đồng chí Lương Văn Nho (thường gọi là Hai Nhã) quê ở xã Tân Ba, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, nhập ngũ năm 1946.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông trưởng thành từ một chiến sĩ lên tỉnh đội trưởng tỉnh Bà Rịa.

Từ năm 1964, hoạt động ở chiến trường miền Đông Nam bộ, một chiến trường trọng điểm rất gian lao và ác liệt, ông ngày càng dày dạn và lần lượt giữ các chức vụ quan trọng: Phó chủ nhiệm pháo binh Miền, Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, Tư lệnh kiêm Chính ủy Đặc khu Rừng Sác, Chỉ huy trưởng Quân khu 7, Chỉ huy trưởng căn cứ 20, rồi 50.


Tháng 1-1973, ông được đề đạt giữ chức Phó tham mưu Quân giải phóng miền Nam. Sau ngày giải phóng miền Nam, từ năm 1976 đến năm 1984, là Phó Tư lệnh Quân Khu 7. Năm 1980 ông lược phong hàm thiếu tướng.

Năm 1966, đồng chí Lương Văn Nho được trên cử về phụ trách đặc khu Rừng Sác, là thời điểm Rừng Sác bước vào giai đoạn quyết liệt.

Tháng 4-1966 ông cùng đồng chí Năm Mân1 (Đồng chí Năm Mân (Trần Văn Phú, Trần Mân) sau này là thiếu tướng Chỉ huy trướng BCHQS thành phố Hồ Chí Minh) và 4 chiến sĩ trinh sát rời Sư đoàn 5, suối Tầm Bó với số tiền vốn để thành lập Đặc khu là 500.000 đồng (tiền ngụy).


Căn cứ chỉ huy của Đoàn 43 lúc bấy giở ở Rạch Tràm. Từ suối Tầm Bó, đoàn công tác của ông phải băng qua trận địa Bình Giã, qua Suối Cả, vượt đường 15 vào "lòng chảo" Long Thành. Từ đây, đoàn móc nối với Đoàn 43 để vào Rừng Sác. Từ vị trí này đồng chí Lương Văn Nho đã có nhiều đóng góp to lớn trong lãnh đạo, chỉ huy xây dựng lực lượng đặc công Rừng Sác và tác chiến giành thắng lợi vang dội trên mặt trận đường sông và các cảng tàu, kho tàng của địch ở cửa ngõ đông nam thành phố.


Trong giai đoạn từ năm 1975 đến 1984, đồng chí Lương Văn Nho hết sức quan tâm chỉ đạo tổng kết và biên soạn nhiều công trình lịch sử quân sự Quân khu 7. Đặc biệt ông đã trực tiếp chỉ đạo hoàn thành biên soạn tập sách "Chiến khu Rừng Sác" do Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành năm 1980. Ông đã qua đời năm 1984 tại thành phố Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:45:15 PM
Tổ chức đặc khu có hiệu lực từ khi nào?

Tháng 6-1966, số cán bộ thuộc Đặc khu mới về đủ, cùng thời gian này, 125 chiến sĩ công binh thuộc đoàn 126 hải quân đang trên đường vượt Trường Sơn về Rừng Sác.
Đến đầu tháng 1-1966, tổ chức Đặc khu mới chính thức hình thành và có hiệu lực với quân số đầu tiên trên 600 cán bộ, chiến sĩ, gồm 7 cơ quan, 6 đơn vị cấp đại đội, 2 đội công binh nước đánh thủy lôi dây, một đội cối 82 và ĐK57, một đơn vị bộ binh, một đơn vị trinh sát và một đơn vị vận chuyển hàng chiến lược. Cuối năm 1967, Đặc khu được bổ sung thêm một đại đội công binh nước. Sau năm 1968, 200 cán bộ, chiến sĩ ở Rừng Sác được về đất liền. Thời kỳ 1970-1971, hơn nửa quân số còn lại đã ngã xuống trong cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt. Năm 1970, mỗi đại đội còn 10 đến 15 người, quân số bổ sung không vượt qua được hành lang ngăn chặn của bọn Mỹ, Úc, Thái Lan và quân ngụy dọc đường 15. Từ cuối năm 1971, hành lang này của địch bị chọc thủng, Rừng Sác tiếp nhận được sự chi viện của cấp trên. Quân số dần dần tăng lên gấp đôi ban đầu và được biên chế vào 13 cơ quan, 14 đại đội. Từ hai cụm quân ở phía nam ngã ba Chàng Hảng và sông Ông Kèo, Đoàn 10 đặc công Rừng Sác rải quân trên dưới 50km từ Vũng Tàu lên hai bờ sông Lòng Tàu đến Nhà Bè sang đường 15 lên Thành Tuy Hạ và hai đơn vị trụ ở phía đông đường 15.


Như vậy, Đặc khu Rừng Sác đã hình thành từ khi "chiến tranh cục bộ" của Mỹ diễn ra ác liệt ở miền Nam Việt Nam. Một lực lượng tương đương một trung đoàn hoàn chỉnh về tổ chức (nhưng không đủ về quân số) đứng chân sát đầu não và trên cửa ngõ sống còn của địch, đã đương đầu với những thử thách vô cùng khắc nghiệt, không ngừng chiến đấu, trưởng thành và tung những đòn hiểm vào bọn xâm lược và tay sai.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:46:05 PM
Trước những âm mưu của địch chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ hai (1966 - 1967), đặc công Rừng Sác đã có những đối pháp gì?

Tháng 7-1966, Ban chỉ huy Đặc khu nhận được điện của Bộ Tư lệnh Miền giao nhiệm vụ đột xuất đầu tiên cho Đoàn 10: Khắc phục mọi khó khăn đánh mạnh vào giao thông và hậu cứ địch, phối hợp với chiến trưởng toàn Miền, làm cho địch đã thất bại càng thất bại nặng nề hơn.


Chấp hành mệnh lệnh của trên, Đoàn 10 mở hội nghị cán bộ, thống nhất hạ quyết tâm: lợi dụng sơ hở của địch, tập trung khả năng của Đặc khu tạo thành một quả đấm bất ngờ, đánh một cú thật đau. Trận đầu đảnh tập trung phối hợp các khả năng của Đặc khu trên sông Lòng Tàu, đoạn từ Phước Khánh đến Ngã Bảy (35km). Sau trận đầu, phân tán từng tổ, đội, liên tục tấn công trên sông Lòng Tàu 7 ngày.


Tư lệnh quân Mỹ ở miền Nam Việt Nam Wesmoreland đã chuẩn bị cho mùa khô phản công chiến lược "đánh gãy xương sống Việt cộng" gần một năm trời. Mùa mưa 1966, đứng bất cứ nơi nào trên miền Đông Nam bộ đều có thể nghe mặt đất rung chuyển bới những loạt bom từ "pháo đài bay" B52. Cũng chính lúc này, các con tàu quân sự của Mỹ lần lượt nối đuôi nhau vượt trùng dương hướng về vùng biển nước ta. Trên sông Lòng Tàu, các chiến sĩ Rừng Sác đếm được 30 chiếc tàu trọng tải từ năm, sáu đến 13 ngàn tấn lừng lững vào Sài Gòn. Chiến sĩ đoàn 10 sôi sục muốn chặn ngay "yết hầu” quân địch. Hàng chục cách đánh được đề nghị lên trên, nhiều lá đơn tình nguyện xin cho khối thuốc nổ ém sẵn, khi tàu giặc đến sẽ bí mật kéo ra, áp vào mạn tàu, sẵn sàng lấy thân mình đánh đổi tàu vạn tấn. Trong khi thủy lôi đường dây chưa vượt nổi mạng lưới tàu rà trên sông lớn, còn ĐK, B40, B41, không đủ sức hạ tàu lớn trên lòng sông rộng cả ngàn mét, thì đây là một đề nghị đáng chú ý. Nhưng Đảng ủy và Ban chỉ huy Đặc khu không nhất trí: Chiếc tàu vạn tấn có cả bầy máy bay lên thẳng và tàu hộ tống đi theo, liệu người chiến sĩ cảm tử có đến được mục tiêu hay đã hy sinh trước khi hành động? Cần hy sinh cho chiến thắng, nhưng chiến thắng mà tổn thất ít nhất, để tiếp tục cuộc chiến đấu còn đầy thử thách hy sinh...


Sau nhiều đắn đo, Ban chỉ huy Đặc khu nhất trí đã đến lúc đưa “hàng dự trữ" ra trận. Đó là hai trong số bốn trái thủy lôi sừng chạm K5 có duy nhất trong tay, là thứ "hàng tối mật" do nước bạn giúp, được Đoàn vận tải đặc biệt 759 chuyển theo đường biển qua hàng ngàn kilômét xuống miền Tây Nam bộ rồi vòng trở lại Rừng Sác. Chưa có dấu hiệu nào chứng tỏ kẻ thù đã đánh hơi thấy, nhưng từ đó, 4 quả thủy lôi hiện đại cũng phải theo dấu chân các chiến sĩ Rừng Sác vượt qua hàng chục trận càn và trận bom địch.


Ban chỉ huy trận đánh thủy lôi được thành lập gồm các đồng chí:

- Lương Văn Nho chỉ huy trưởng.

- Nguyễn Hồng Sơn chỉ huy phó kiêm tham mưu trưởng.

- Cao Thanh Tao chỉ huy phó.

- Hồ Xuân Cảnh phụ trách trinh sát - kỹ thuật.

Để thực hiện trận đánh đầy khó khăn trên dòng sông quá rộng và sâu tới 30m, chống được tàu quét mìn của địch, chủ nhiệm trinh sát Hồ Xuân Cảnh và tổ trinh sát đặc công đến bờ sông Lòng Tàu đào hầm bí mật. Cuộc tập trận trên sông kéo dài ròng rã một tháng. Cùng thời gian này, má Đỗ Thị Trị (còn gọi là má Hai Vũng Tàu) vào Sài Gòn sắm vai người đi buôn, đưa 4 chuyến dây cáp qua nhiều đồn bót và ổ phục kích của địch, về Vũng Tàu. Trên sông Lòng Tàu gần ngã ba Vàm Cống, đêm đêm các chiến sĩ trinh sát lao ra giữa dòng, lặn xuống để thăm dò và đo lạch tàu dưới lòng nước... Những vấn đề "hắc búa" của trận đánh dần dần được giải quyết, nhưng đưa thủy lôi ra sông bằng cách nào là điều chưa "hóa giải" được. Với ý định dùng sà lan có đường ray, đồng chí Ngô Hồng Thắng được phái đi Long An với số tiền 1,3 triệu đồng (tiền ngụy lúc đó) để đặt hàng. Sau một thời gian, mọi việc chuẩn bị đã hoàn tất anh em chỉ còn chờ giặc tới là liêu diệt.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:49:13 PM
Có phải tàu Victory là con mồi đầu tiên của Đặc công Đoàn 10?

Trận địa thủy lôi được chọn để hạ tàu lớn của địch là một khúc quanh ở vàm Ngã Bảy gần ngã ba Vàm Cống. Một bộ phận chốt hành lang rải ra 10km từ Rạch Tràm qua Dần Xây, Mống Nam, Ăn Chè ra Vàm Cống. Nữ chiến sĩ Bảy Nga làm giao liên trinh sát trên sông Lòng Tàu, cung cấp tin thường xuyên cho Đoàn 10.


Đơn vị bố trí 2 khẩu ĐKZ75 phía nam sông Dần Xây và phía bắc đồn Đèn Xanh để chặn địch ở ngã ba sông Lồi Giang, ngả Nhà Bè xuống và 1 khẩu 12ly 7 gần trận địa chính để đánh địch trên không.


Đêm 21-8-1966, Đặc khu nhận được tin có 3 chiếc tàu hàng quân sự của Mỹ chuẩn bị vào bến Ô Cấp (Vũng Tàu), sau đó sẽ vào sông Lòng Tàu. Trên chỉ thị đánh chiếc đi sau cùng mang tên Victory. Anh em cho rằng tại khúc sông Ngã Bảy chỉ cần 2 trái thủy lôi bố trí cách nhau 45m ở hai bên lạch tàu và ở một độ sâu thích hợp thì không một chiếc tàu cỡ lớn nào trên dưới 10 ngàn tấn có thể thoát được.


Đơn vị ra trận vào đêm hạ tuần, đoàn xuồng ra đi trước giờ trăng sáng. Thủy lôi, pháo, súng, cơm vắt, gạo rang, nước ngọt hành quân cùng chiến sĩ qua những luồng lạch khúc khuỷu quanh co.


0 giờ ngày 23-8, 2 trái K5 đã vào vị trí, 2 khẩu ĐK cũng đã đến trận địa. Đến 3 giờ, tất cả đã sẵn sàng. 7 giở, 2 chiếc trực thăng từ Nhà Bè bay lên sà thấp gần mặt sông, xả súng vào các đám lục bình và những khúc cây trôi nổi. Một lát sau, chúng bay ngược dòng sông dắt theo 4 tàu quét mìn quét cặp hai bờ. Từ phía xa xuất hiện lá cờ Mỹ chót vót trên cột tàu.


Hai chiếc đầu lướt qua vòng cua một cách êm xuôi. Anh em thất vọng không thấy chiếc thứ ba. Bỗng một chấm đen xuất hiện rồi lớn dằn, thoáng chốc con thủy quái khổng lồ hiện nguyên hình. Đến vòng cua nó đột ngột dừng lại. Mọi người vừa đọc được dòng chữ trắng trên thân tàu Baton Rugiơ Victory thì hai tiếng nổ vang lên làm rung chuyển cả dòng sông. Lập tức hai bức tường nước trắng xóa dựng lên như cái hàm thủy thần nuốt chửng con tàu đang bị phủ một luồng lửa lớn. Bức tường nước từ từ choãi xuống, rồi mặt sông sóng sánh chỉ còn trơ lại cái đài chỉ huy trống toang và lá cờ 50 ngôi sao ngậm nước ủ rũ. Lúc đó là 8 giờ 15 phút ngày 23-8-1966.


Trong chốc lát, 16 tầu tuần tiễu từ hai phía lao tới ồ ạt vãi đạn, rồi 16 lượt trực thăng đổ quân xuống hai bờ sông... Trận đánh kéo dài 7 ngày đêm quyết liệt trên trận địa dài 30km. 8 chiếc tàu lớn nhỏ của giặc bị trúng đạn. Trên ngã ba sông Lôi Giang, 1 tàu 8 ngàn tấn lọt vào trận địa C2, bị trúng đạn ĐKZ bốc cháy, lửa khói ngùn ngụt suốt hai ngày đêm.


Về sau qua tài liệu của Mỹ, đơn vị mới biết vì sao cấp trên chỉ thị đánh mục tiêu thứ ba, bởi đây là tàu chở hậu cần của sư đoàn 4 Mỹ, trên đó có 45 thủy thủ, gần 100 xe thiết giáp M113, 3 máy bay phản lực và một khối lượng lớn lương thực, thực phẩm đủ cho một sư đoàn ăn trong chiến dịch mùa khô.


Vài tháng sau, với kỹ thuật trục vớt hiện đại, Mỹ đã đưa cái "quan tài thép rỉ" lên mặt nước để cho vào một lò tái sinh ở Nhật Bản. Đây là một cú đấm chí mạng đầu tiên với tàu vận tải quân sự cỡ bự trên sông Lòng Tàu, báo hiệu những thảm hại của bọn xâm lược dưới ngọn chùy sấm sét của đạc công Đoàn 10 Rừng Sác.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:50:17 PM
Sau trận đánh chìm tàu Victory, địch đã đối phó với thuỷ lôi của ta ra sao?

Sau trận đánh tàu Baton Rugiơ Victory, Mỹ đưa tiếp vào sông Lòng Tàu 15 tàu quét mìn. Cùng với sự có mặt của một lữ đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, một chương trình khống chế mặt nước mang tên Garne Warden đã lấy Rừng Sác làm nơi thí điểm và sau đó làm trọng điểm lâu dài. Theo tướng Wes, chương trình Garne Warden gồm 120 tàu tuần giang của Mỹ hàng ngày khám xét trên 2000 xuồng ghe trên các đường sông chằng chịt của Việt Nam... Một tàu LTS được cải tiến dùng làm tàu mẹ cho các tàu tuần tra và một đội trực thăng võ trang của lục quân Mỹ, sẽ được điều động đi cứu mỗi khi các tàu tuần tra bị đánh. Ở Rừng Sác, tàu tuần tra hoạt động theo chương trình này thường xuyên theo nhóm nhỏ gồm tàu biệt kích của hải quân Mỹ và hải quân ngụy gọi là đội SEAL (trên biển, trên bộ, trên không) có thể vào tận các luồng lạch... Vì thế vào những ngày cao điểm có đến hàng trăm tàu xuồng lớn nhỏ bâu vào một khúc sông chưa đầy 50km, đủ thấy sự phòng vệ dày đặc của giặc.


Sau ngày tàu Victory bị đánh, địch cho tàu rà, tàu tuần tiễu ngày đêm săn lùng "vũ khí mới" của ta. Trái thủy lôi chạm sừng thứ ba được đưa ra cửa sông Lòng Tàu và bị tàu quét mìn phát hiện. Địch phán đoán "đây chính là bí mật của trận đánh kinh hoàng Baton Rugiơ Victory". Chúng dùng một tàu nhỏ đưa 7 nhân viên kỹ thuật đến để vớt "vũ khí bí mật”, nhưng do vô ý, cái sừng chạm bị gãy khi chiếc tàu vừa lao tời Cả bọn tan xác theo tàu.


Trái K5 thứ tư lại được đưa ra sông lớn nhưng nó đã dạt vào quân cảng Nhà Bè. Địch lấy được và làm một cuộc triển lãm ầm ĩ "vũ khí mới bắt được của đặc công Rừng Sác".

Trong khi thủy lôi đường dây trên sông Lòng Tàu chưa tìm ra lối thoát thì đầu năm 1967 tại sông Lôi Giang, trong một trận đánh chống càn, hạ sĩ Bạch C2 đã dùng trái thủy lôi 30kg nhận chìm một tàu há mồm chở một đại đội Mỹ... Thủy lôi tự tạo tiếp tục "đứng vững" trên sông Lòng Tàu cùng với thủy lôi giả, tạo điều kiện cho pháo mang vác và những họng súng bắn tỉa phát huy sức mạnh.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:50:43 PM
Pháo Rừng Sác là nỗi ám ánh tử thần trên sông Lòng Tàu đối với Mỹ, ngụy?

Pháo Rừng Sác thời đánh Mỹ bắt đầu từ những khẩu B50 năm 1966, đã xuất hiện cùng những khẩu súng trường "bá đỏ" (K44) ở khu vực Dần Xây, Chàng Hãng... Hơn 8 năm sau, pháo Rừng Sác vẫn chưa vượt khỏi những khẩu ĐKZ75, cối 81, sự hiện đại không có gì hơn những trái ĐKP, H121 (Hai loại hỏa tiễn của Liên Xô có mặt ở chiến trường miền Đông Nam Bộ từ năm 1967, đường kính 122 ly và 106 ly còn gọi là hỏa tiễn Cachiusa) trong điều kiện ta phải đắn đo từng viên một, từng mục tiêu một.


Trận đánh pháo dài ngày diễn ra đầu tiên trên sông Bà Nghĩa, Dần Xây, Chàng Hãng ngay sau khi Đặc khu Rừng Sác hình thành. Những khẩu ĐKZ75, B50, trường "bá đỏ" đã bám trụ được bờ sông lớn ròng rã suốt nửa tháng chống chọi với cả giặc dưới nước, trên bộ và trên không, dưới sự chỉ huy của đồng chí Sáu Tao, Mười Thà.


Trên thực tế lòng sông rộng trên dưới 1000m, các loại súng này khó làm nên những đám cháy lớn có hiệu quả tiêu diệt đối với tàu chở xăng dầu, trong khi chúng là đối tượng hàng đầu của các chiến sĩ Rừng Sác. Trong quá trình tìm tòi cách phát huy sức mạnh có hạn của loại hỏa lực này, các chiến sĩ Rừng Sác đã sáng tạo ra cách phối hợp giữa pháo và thủy lôi đường dây. Tư lệnh đặc khu Lương Văn Nho còn có sáng kiến áp dụng thủy lôi giả. Những trận địa thủy lôi khi thật khi giả xen kẽ gây cản trở địch, tạo điều kiện cho pháo "bắn tỉa" ngắm vào các mục tiêu là hoa tiêu, lái tàu, thùng xăng máy... những nơi "cốt tử, của tàu địch. Với cách đánh biến hóa như vậy, pháo Rừng Sác đã trở thành "tử thần" đối với tàu giặc trên sông Lòng Tàu.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 11 Tháng Năm, 2010, 08:51:45 PM
Pháo của đặc công Rừng Sác đã tham gia trận đánh "để đời" vào lễ quốc khánh ngụy2 (Về trận pháo kích vào lễ quốc khánh ngụy xin xem thêm trong tập "Biệt động những chiến công bất tử", ở đây chúng tôi chỉ đi sâu vào việc bố trí trận địa và rút ra an toàn của các chiến sĩ đặc công Rừng Sác), xin cho biết về trận pháo kích vang dội này?

Hàng năm, vào ngày 4-11, chính quyền Sài Gòn thường tổ chức lễ quốc khánh rất rầm rộ. Năm 1966 chúng định làm "lớn chưa từng thấy" để phô diễn lực lượng hùng hậu về vũ khí tối tân nhằm nâng cao uy thế.


Nhận được lệnh tác chiến trận đánh quan trọng, Đoàn 10 Rừng Sác đã điều một khẩu pháo ĐKZ75 tới trận địa Thủ Đức cách mục tiêu 5387m. Khẩu đội pháo do đồng chí Nguyễn Văn Nga phụ trách; đồng chí Nguyễn Văn Tăng (anh hùng biệt động) phụ trách chung khu vực trận địa có cả biệt động và du kích địa phương hỗ trợ và bảo vệ trận địa pháo. Trước đó, nhân dân đã chở đến 3 ghe cát vô sẵn trong 1000 cái bao, để cấu trúc bệ pháo, vì đất ở đây sình lầy không đủ độ cứng. Trận địa nằm giữa những lùm cây trâm bầu, bình bát và bở kênh bạt ngàn dừa nước. Đây chính là điều quá bất ngờ đối với địch. ở phía nam thành phố, trận địa pháo của Tiểu đoàn 6 Bình Tân tại Nhà Bè cũng được chuẩn bị hết sức công phu và bí mật tới giờ nổ súng, cho dù một số anh em bị hy sinh do địch đánh bom.


Theo hợp đồng, trận địa Nhà Bè nổ súng trước, vào lúc địch khai mạc cuộc lễ, trận địa Thủ Đức nổ súng vào lúc chúng duyệt binh.

Trên khán đài cuộc lễ không vắng mặt tên đầu sỏ nào từ đại sứ Cabologe, Wesmoreland đến Thiệu, Kỳ, Hương...

Đúng 7 giờ 5 phút, Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đọc diễn văn, trận địa pháo ở Nhà Bè bắn liền 12 quả đạn vào mục tiêu. Quan quân nháo nhào tan tác. Cuộc lễ bị gián đoạn. Sau đó địch cố gắng vãn hồi trật tự để tiến hành duyệt binh. 7 giờ 20 phút đài phát thanh Sài Gòn lại lên tiếng, trung tướng Vĩnh Lộc bắt đầu điều khiển diễu binh. Lập tức khẩu đội ĐKZ của Đoàn 10 bắn cấp tập vào cuộc lễ. Trong vòng 5 phút, 12 quả đạn ĐKZ lao vút về phía Sài Gòn, trong tiếng nổ của 6 trận địa bộc phá nghi binh. Địch phản pháo dồn dập xuống vùng Bưng Sáu xã. Trong cảnh hoảng loạn, bọn bảo an và biệt động quân nã súng vào nhau, một số tên bị thương vong Lễ quốc khánh phải giải tán.


Bị thất bại cuộc lễ trọng đại nhất, địch phản ứng dữ dội. Sân bay Tân Sơn Nhất được lệnh khẩn cấp. Máy bay phản lực, trinh sát L19, trực trăng võ trang... bay loạn xạ trên bầu trời Sài Gòn. Dưới đất, bọn cảnh sát mật vụ sục sạo từng nhà, trèo lên cả nóc chuông nhà thờ Đức Bà. Trên quân cảng, các tàu xuồng chiến đấu được lệnh xuất kích. Chúng tập trung về hướng Thủ Đức, Nhơn Trạch, Nhà Bè.


Mười hai chiến sĩ biệt động Thủ Đức bảo vệ khẩu pháo cảm tử nhanh chóng thay quần áo của những người đi bắt cua, lấy củi ở Rừng Sác. Họ xuống 3 chiếc xuồng cùng lao về điểm hẹn. Đồng chí Nam Bình gặp lại 8 pháo thủ Rừng Sác trong một đám dừa nước.


Ngày 2-11, một ngày sau trận đánh, trực thăng mới đổ quân xuống khu vực trận địa pháo Đoàn 10. Một cánh quân khác gốm 2 tiểu đoàn đổ xuống ấp Gốc Tre và ấp Lò Lu xã Phong Phú, quận Thủ Đức chặn đứng đường rút lui của chiến sĩ ta. Các chiến sĩ khiêng xuồng qua ấp Gốc Tre Bé, xong việc thì trời đã tối. Trăng mở, xuồng thả trôi qua cầu sắt rẽ vào Nước Trong rồi ghé bến Phú Hội. Tối hôm đó cả khẩu đội luồn về nhà má Tư ấp Phú Hội, quận Nhơn Trạch, sáng hôm sau tiếp tục hành quân...


Đường về Rạch Tràm còn xa. Rời nhà má Tư một ngày đêm rồi mà cuộc truy lùng của địch vẫn còn ráo riết, các anh phải ẩn lại. Bất ngờ, một chiếc xuồng máy của hai vợ chồng thuyền chài chạy qua, người chồng bị thương do pháo địch nên phải tấp vào bờ để băng bó. Tình cờ gặp các chiến sĩ Đoàn 10 đang ẩn náu, nhận ra là các chiến sĩ giải phóng, hai vợ chồng chở các anh về Rạch Tràm.


Sau 9 ngày đêm gian nan, khẩu đội pháo Đoàn 10 đã về sum họp với đơn vị trong niềm vui sướng tràn đầy xúc động. Người vui mừng nhất là Tư lệnh Hai Nhã. Ông nghe trận đánh pháo Đoàn 10 của Đặc khu Rừng Sác trên đài phát thành tỏa đi khắp thế giới.


Với các chiến công xuất sắc này, hai khẩu đội pháo cảm tử của Tiểu đoàn 6 Bình Tân và Đoàn 10 đặc công Rừng Sác được thưởng huân chương chiến công hạng nhất, mỗi pháo thủ được thưởng một huân chương chiến công hạng.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:22:13 AM
Xin cho biết trận đánh cảm tử của Đặc công Rừng Sác trên cù lao Lôi Giang?

Trên sông Lòng Tàu, đánh pháo từ chiến thuật phục kích dưới hầm bí mật đến vận động theo thời cơ là một trong những thủ đoạn, sở trường của Đoàn 10. Hầm bí mật được phủ bằng những cây lá vớt trên sông, các chiến sĩ tốc lên bám vào tàu giặc, lập tức họ trở thành mục tiêu của tàu hộ tống, trực thăng và cả những cuộc bao vây của bộ binh địch.


Năm 1966, xảy ra một tổn thất cũng là bài học xương máu ghi lại trong lịch sử Rừng Sác: trên 30 chiến sĩ đại đội 3 hy sinh trên cù lao sông Lôi Giang.

Tại đây, một tàu giặc bị bắn cháy, nhưng trận địa của ta là một cù lao hoàn toàn bị cô lập. Sau tiếng nổ, địch gọi hàng chục máy bay đến vây chặt cù lao suốt một giờ liền. Tiếp đó là cuộc đổ bộ đường không ào ạt từ sau lưng các chiến sĩ. Do lực lượng không cân sức, các chiến sĩ thương vong nặng, rơi vào tình huống quyết tử với kẻ thù. Khi địch "dọn trắng" bờ sông, những trận đánh tàu càng gay go ác liệt hơn. Mỗi lần nổ súng, các chiến sĩ không còn vật gì che đỡ ngoài sự nhanh nhẹn và chính xác. Nhưng khi bị giặc bao vây cả ba bề: pháo binh, không quân, bộ binh trên một cù lao trơ trụi giữa thanh thiên bạch nhật thì sự tổn thất là điều khó tránh khỏi. Cả 30 chiến sĩ đặc công tinh nhuệ đều hy sinh. Từ đó ta nghĩ đến vấn đề "đặc công hóa pháo thủ và pháo thủ hóa đặc công" là một yêu cầu để tồn tại và làm nên sức mạnh của pháo mang vác đứng chân trên chiến khu sông nước.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:22:38 AM
Ta thường nghe nói "đòn đánh sau lưng" ở Đặc khu Rừng Sác. Thực chất ra sao?

Trong cuộc chiến đấu ở Rừng Sác lực lượng ta ở ngay phía sau, sát đầu não đối phương, vừa trong vòng vây, vừa cài răng lược với chúng. Địch có khả năng sau một tiếng nổ, tổ chức ngay một cuộc bao vây bằng trực thăng, tàu chiến... Một đối thủ nguy hiểm như vậy phải có đòn đánh sau lưng để đối phó có hiệu quả với chúng.


Quá trình chiến đấu cho thấy thủy lôi tự tạo bị hạn chế nhiều mặt. Pháo đặc công là mũi tấn công lợi hại nhưng không giải quyết được yêu cầu lớn của chiến trường. Lịch sử đã chứng kiến trận đánh tàu US Card của biệt động Sài Gòn (tháng 5-1964), trong khi đó Rừng Sác đang trong quá trình "đặc công hóa" toàn diện và đang đứng trước những quân cảng, kho tàng lớn nhất của đối phương. Lịch sử và hoàn cảnh đặt ra những bước đi mới của đặc khu Rừng Sác.


Lúc này 7 cảng quân sự ở sông Sài Gòn đã thực sự thay thế cảng Sài Gòn về mặt tiếp nhận hàng quân sự. Quân cảng và kho Nhà Bè trở thành nơi tiếp nhận và tàng trữ xăng dầu lớn nhất ở miền Nam. Ở đây có thể cùng một lúc có từ 6 đến 8 tàu trên dưới 10 ngàn tấn neo đậu tại cảng. Cảng và kho Thành Tuy Hạ, Cát Lái là nơi nhận và tàng trữ một khối lượng khổng lồ phương tiện chiến tranh. Phía nam sông Lòng Tàu lại có cảng và kho Rạch Dừa là nơi tiếp nhận và tàng trữ hàng quân sự. Mục tiêu hàng đầu của những trận đánh ở Rừng Sác này không chỉ là tàu bè địch trên sông Lòng Tàu mà còn là kho tàng, quân cảng. Đó là những "đòn đánh sau lưng" có ý nghĩa đặc biệt với miền Đông Nam bộ và cả miền Nam. Đặc công Rừng Sác lãnh trọng trách này. 


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:23:28 AM
Đội 5 đặc công anh hùng xuất hiện ở Rừng Sác vào thời gian nào?

Tháng 6-1967, một đơn vị đặc công nước gồm 59 cán bộ, chiến sĩ do đại đội trưởng Bùi Hữu Loan chỉ huy đã đến Rừng Sác sau 7 tháng trời gian khổ vượt Trường Sơn. Đó là Đại đội 5 đặc công. Đây chính là đơn vị gốc của Đại đội 5, Trung đoàn 10 đặc công được Đảng và Nhà nước tuyên dương anh hùng hai lần.


Trước ngày vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, các chiến sĩ Đại đội 5 vẫn còn dai dẳng cơn sồi rét rừng mang từ đại ngàn xuống đồng bằng sát Sài Gòn. Mặc dù vậy, anh em đều viết đơn tình nguyện xin được ôm chất nổ vào quân cảng áp mạn tàu giặc, góp lửa chiến công cho mùa xuân lịch sử. Một "bài ca ra trận" của đội 5 cảm tử ra đởi trên Rừng Sác:

"Lương khô, cơm nắm, gạo rang lên đường.
Lòng căm thù giặc nước, quyết nhận chìm tàu vạn tấn trên đường sông A
1 (sông A, tên ngụy trang của sông Lòng Tàu)

Ba người đầu tiên của Đội 5 được chọn đi đột phá quân cảng Nhà Bè là đội trưởng Bùi Hữu Loan, Trịnh Xuân Bảng và Nguyễn Văn Hưởng.

Quân cảng Nhà Bè của địch đang nằm trong tình trạng "báo động đỏ" sau trận đánh của đơn vị bạn và những hoạt động liên tục của ta. Ngoài hải quân ngụy, quân cảng vừa được tăng cường hải quân Mỹ.


Đêm 25-12-1967, sau ba ngày đêm vật lộn với sông nước, 3 chiến sĩ của Đội 5 Đoàn 10 đã lọt được vào quân cảng, áp khối thuốc nổ vào mạn của một chiếc tàu có trọng tải 10 ngàn tấn. Khối thuốc nổ 100kg đã làm nứt đôi thân tàu và nhận chìm tàu xuống sông Nhà Bè.


Tiếng nổ vang trời đêm cuối năm 1967 đã mở màn "chiến dịch Card" ở Rừng Sác. Đại đội 5 ra quân lần đầu lập công và trở thành đơn vị đột phá quân cảng của Đoàn 10 đặc công Rừng Sác. Trận đánh đã làm xuất hiện một chiến sĩ có bản lĩnh chiến đấu ngoan cường, táo bạo, bắt đầu quá trình trở thành người anh hùng đầu tiên của Đoàn 10: Trịnh Xuân Bảng.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:23:53 AM
Đội 2 đặc công Rừng Sác là đơn vị thiện chiến đánh pháo. Xin cho biết những chiến công xuất sắc của đơn vị này?

Đêm 30 rạng 31-1-1968, cuộc tống tiến công và nổi dậy của quân và dân miền Nam diễn ra vô cùng sôi động hào hùng. Tuy nhiên lúc lệnh tổng tấn công phát đi, hỏa lực trong tay Đoàn 10 còn có 14 trái đạn B.41, 12 trái ĐKZ. Các trận đánh pháo phải bắt đầu bằng việc vận chuyển từ bên kia đường 15. Thật vô cùng bức xúc, nan giải đối với đơn vị.


Trong khí thế hừng hực của mùa xuân lịch sử, pháo Rừng Sác vừa vận chuyển vừa đánh thọc sâu Các quân cảng, kho tàng quân sự Nhà Bè, Cát Lái, Thành Tuy Hạ lần lượt trúng đòn. Ngày 23-1-1968, tổng kho xăng dầu Nhà Bè bị cháy lớn. Ngày 14-2, chiếc tàu Roasis 10 ngàn tấn bị bắn cháy trên sông Lòng Tàu. Đêm 17-2, pháo đặc công Đại đội 2 áp sát 3 chiếc tàu hàng quân sự đang đậu tại cảng Cát Lái. Pháo thủ mục kích rõ trên thân tàu các dòng chữ Efflo, Touris, Anava US. Cả ba con sấu sắt bị trúng đạn bốc cháy. Ngày 26-7, đơn vị pháo kích vào quận 8 làm cháy kho xăng Esso thiêu hủy 40 ngàn lít.


Đại đội 2 pháo đặc công nổi tiếng và trở thành mối hiểm họa của giặc Mỹ ở Rừng Sác và trên bờ. Địch ra công tìm tòi và phát hiện một sở chỉ huy của Đặc khu trên sông ông Kèo và âm mưu đánh tiêu diệt. Ba chiếc tàu LCM xuất hiện vào lúc 9 giờ đêm, địch định bất thần đánh úp khi nước lớn. Tại sở chỉ huy, đồng chí Lê Bá ước Phó Chính ủy Đoàn 10 quyết định hành động trước, tranh thủ thời cơ con nước còn thấp để đánh tàu. ĐK áp sát bắn chính xác. Đoàn tàu vừa cháy vừa chìm mất dạng xuống lòng sông. Gần một đại đội Mỹ chầu hà bá khi chưa kịp ra tay.


Vào ngày 19-5-1968, kỷ niệm lần thứ 78 sinh nhật Hồ Chủ tịch, diễn ra trận đánh lịch sử trên sông Lòng Tàu (đoạn giữa Độ Hòa và Rạch Bàng dài 3km). Trong vòng 30 phút chiến đấu, đại đội 2 bắn cháy 1 tàu chớ dầu 10 ngàn tấn và bắn chìm một tàu hàng quân sự 7 ngàn tấn. Bốn trái ĐKP được thay đầu đạn bằng khối thuốc nổ 100kg lần đầu xuất hiện trên sông đã lập công. Loại hỏa tiễn cõng thuốc nổ này về sau đã hạ thêm một đoàn tàu LCM và một tàu chở dầu 7 ngàn tấn trên đoạn sông ngã ba Đồng Tranh - Phước Khánh.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:24:25 AM
Sau Mậu Thân, địch phản kích ác liệt, đặc công Rừng Sác đã đối mặt với Mỹ, ngụy ra sao?

Sau đợt 2 Mậu Thân (tháng 6-1968), địch bắt đầu phản kích quyết liệt đẩy dần cường độ chiến tranh ở vùng ven Sài Gòn lên mức cao chưa từng có. Đặc công Rừng Sác đối mặt với quân Mỹ và ngụy ngay ở hậu cứ sông nước. Sau trận đánh trên sông Lòng Tàu nhận chìm tàu chở dầu và tàu hàng quân sự (19-5), địch bắt đầu mở trận càn lớn vào sông ông Kèo do lữ đoàn 199 lính thủy đánh bộ Mỹ chủ công.


Đây là trận càn có thể nói là lớn nhất vào Rừng Sác và là một điển hình về sự huy động sức mạnh theo kiểu Mỹ trên một địa bàn không lớn. Địch khoác lác: dùng B52 bừa nát, sau đó cho một bộ phận bộ binh hỗn hợp Việt - Mỹ không mang theo vũ khí, chỉ mang sổ vào sông Ông kèo để ghi thành tích". Nhưng trận đánh không kết thúc sớm như mong đợi của chúng, mà kéo dài suốt 40 ngày liền với 4 đợt tấn công lớn mở rộng ra cả vùng đông bắc Rừng Sác. Ngày 24-6-1 969, từ 4 giờ sáng, một cuộc "dọn bãi" khốc liệt của "pháo đài bay" khổng lồ B52 và pháo binh Mỹ kéo dài hơn một giờ liền như băm vằm vùng sông ông Kèo và rải rác khắp Rừng Sác.


Trước sự điên cuồng của giặc, các chiến sĩ đặc công Đoàn 10 không hề nao núng. Trong lúc pháo địch đang nổ, các phân đội đã nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí chiến đấu theo hợp đồng, đón địch từ sông Lòng Tàu dẫn xác vào. Bọn giặc vào đúng như dự đoán của đơn vị. Phía bắc, một tiểu đoàn ngụy tràn qua ấp Soài Minh tiến về sông ông Kèo. Phía nam, 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ trên 12 chiếc tàu lá mồm LCM từ sông Lòng Tàu lần lượt rẽ vào sông Ông Kèo. Chờ chiếc tàu thứ 12 lọt vào trận địa, chiến sĩ An bấm công tắc điện nổ hai quả mìn cùng một lúc. Hai chiếc tàu đi cuối bốc cháy chìm dần xuống sông. Mười chiếc đi trước không quay đầu lại được, chỉ còn cách sống chết lao tới, dấn sâu vào "tử địa". Đã đúng thời cơ, trận địa mìn của đồng chí Năm Thạch bùng lên một lưới lửa kinh người vây chặt 10 chiếc tàu. Cả lũ "há mồm" lần lượt về nơi "thủy tận".


Trong lúc đó, trận địa phục kích của đại đội 2, quân ngụy đông gấp đôi nên tràn qua được. Trận "huyết chiến" kéo dài từ 12 đến 15 giờ. Đơn vị bị tổn thất khá nặng nhưng vẫn bám chặt trận địa. Một tổ hỏa lực B41 có AK yểm trợ đã xuất kích vượt qua lưới lửa của máy bay trực thăng và bộ binh địch tiến ra cửa sông. Lựa lúc chiếc trực thăng hạ càng xuống boong tàu, các chiến sĩ bóp cò. Chiếc trực thăng trúng đạn lật nghiêng, cánh quạt đập vào đài chỉ huy bung ra từng mảng. Bọn Mỹ trên máy bay và trên tàu hầu hết toi mạng. Tướng hai sao Đêvít lữ trưởng lữ đoàn 199, bị bắn gãy cột sống. Trận đánh chấm dứt vào lúc 18 giờ.


Sau hơn 40 ngày đánh vào sông Ông Kèo, lữ đoàn 199 thủy quân lục chiến Mỹ bị trả giá đích đáng với 30 tàu bị bắn chìm và cháy, gần 100 tên chết1 (Số phận đen đủi còn đeo đuổi lữ đoàn 199 Mỹ. Sau vụ Đêvít gãy cột sống ở Rừng Sác, ngày 20-4-1970, trung tướng Uyliam Bon thay Đêvít bị quân giải phóng bắn chết tại Bình Tuy)


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:24:49 AM
Hoả tiễn ĐKP của đặc công Rừng Sác đã giáng những đòn sấm sét xuống đầu Mỹ, nguỵ?

Tháng 8-1968, theo chỉ thị của Bộ tư lệnh B2, Rừng Sác phải giáng những đòn chí mạng vào những mục tiêu trọng yếu của Mỹ ngụy. Lần này ĐKP lãnh sứ mệnh đánh vào đầu não: dinh Độc Lập và Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Phó chính ủy Lê Bá ước trực tiếp chỉ huy trận đánh. 14 chuyến xuồng ĐKP với sức kéo của chiến sĩ đội 5 ngược dòng nước xiết, hướng về Sài Gòn. Trận địa pháo thiết lập ở Phước Lương và Đập Đất xã Phước Khánh, cách dinh Độc Lập trên 10km. Cùng lúc đó, đồng chí Sáu Tao chỉ huy hai đại đội ĐKZ sẵn sàng kiềm chế pháo ở Nhà Bè và máy bay lên thẳng trong căn cứ của địch.


Sau những ngày đêm vật lộn với nước ngược, tàu tuần và pháo của địch từ nhiều hướng, ĐKP đã đến trận địa để tác chiến theo kế hoạch.

24 giờ đêm 21-8-1968, sấm chớp bùng nổ trên căn cứ Long Bình và sân bay Tân Sơn Nhất. Lập tức những quả đạn 122 ly lao vút vào dinh Độc Lập và Sứ quán Mỹ. Trong khi những hang ổ đầu não của địch bì giáng đòn thì 5 tàu quân sự trọng tải từ 7 đến 10 ngàn tấn trên sông Lòng Tàu bị đặc công Rừng Sác đánh cháy. Địch phải đổ một tiểu đoàn Mỹ xuống khu vực này và bị giam chân ròng rã một tháng trời.


Tiếp theo, tại cảng Nhà Bè, 2 tàu 13 ngàn tấn tương đương 30 triệu lít xăng dầu vừa cập bến hãng Caltex đã bị các chiến sĩ Đoàn 10 áp chất nổ đánh chìm.

Sau Mậu Thân 1968, toàn bộ Rừng Sác biến thành trận địa. Các chiến sĩ phải vượt qua những thử thách gay go nhất để tồn tại và chiến thắng kẻ thù. Trong hoàn cảnh đó, đại đội 5 giành danh hiệu "Thành đồng quyết thắng" và về sau trở thành đơn vị anh hùng với chiến công đứng hàng đầu: đánh chìm 5 tàu từ 10 đến 13 ngàn tấn và 12 sà lan bằng kỹ thuật binh chủng trong các quân cảng. Đội 1 chiếm hàng đầu về đánh tàu trên sông: làm chìm, cháy và trọng thương 67 tàu, trong đó có 10 tàu từ 7 đến 10 ngàn tấn. Đại đội 2 chiếm kỷ lục hạ tàu địch bằng pháo, đạt danh hiệu "Thành đồng quyết thắng" với thành tích đánh chìm, cháy và trọng thương 53 tàu, trong đó có 17 tàu từ 6 đến 13 ngàn tấn, diệt 1 đại đội Mỹ. Đại đội 3 vác pháo luồn sâu áp sát mục tiêu đất liền, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh và sinh lực địch. Đại đột 6 tuy điều kiện bám trụ hết sức ác liệt vẫn đánh chìm và cháy 26 tàu, trong đó có 3 tàu từ 5 đến 12 ngàn tấn.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:25:13 AM
Trong quá trình chiến đâu Đoàn 10 Rừng Sác xuất hiện nhiều anh hùng. Cho biết ai là người anh hùng được tuyên dương đầu tiên của Đoàn 10?

Vâng, trong điều kiện tương quan lực lượng và địa hình khó khăn như Rừng Sác, việc xuất hiện những tập thể và cá nhân anh hùng là điều đương nhiên. Và những chiến công của họ cũng rất đặc biệt so với các chiến trường trên bộ. Có thể nói những hành động của họ dường như ở đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng.


Từ sau trận đột phá vào quân cảng Nhà Bè đêm 25-12-1967, 2 quân cảng Nhà Bè và Cát Lái trở thành mục tiêu ráo riết tấn công của các “chiến sĩ người nhái". Khi kẻ địch bắt đầu phản công quyết liệt, dài ngày, Rừng Sác xuất hiện người anh hùng đầu tiên: Trịnh Xuân Bảng. Sau trận Nhà Bè, anh đương đầu với một thử thách gay go hơn: đánh một tàu Mỹ cỡ lớn chở vũ khí trên sông Đồng Nai.


Chiếc tàu này được canh phòng nghiêm ngặt, xung quanh có một hàng rào xuồng và sà lan, đèn pha; dưới nước có dây thép gai và mìn chống đặc công; trên không trực thăng xoay quần rọi đèn suốt đêm. Để diệt được tàu này, Trịnh Xuân Bảng phải ngâm mình dưới nước 6 giờ liền, không ăn, không uống, đột qua các "hàng rào sống" nòi trên, dùng kỹ thuật đặc công áp chất nổ vào mạn tàu...


Bằng sức chịu đựng gian khổ và lòng dũng cảm phi thường, Bảng cùng tổ chiến đấu đánh chìm 3 tàu hàng quân sự của Mỹ, trọng tải từ 7 đến 19 ngàn tấn. Chiến công này xác nhận khả năng hiệp đồng tiếng nổ không cần tới một mũi tấn công lớn mà chỉ cần một vài chiến sĩ đặc công điêu luyện. Trước hệ thống phòng thủ không ngừng tăng cường và đổi mới của địch ở các quân cảng hai đầu sông Lòng Tàu, hình ảnh Trịnh Xuân Bảng có sức cổ vũ gây niềm tin chiến thắng đối với những chiến sĩ ôm mìn trong lòng sông nước Rừng Sác.


Trịnh Xuân Bảng sinh năm 1945 tại xã Quảng Hưng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Anh nhập ngũ tháng 5-1965, được tặng 2 huân chương chiến công giải phóng và được tuyên dương anh hùng ngày 20-12-1969. Lúc đó anh là trung đội trường Đội 5, Đoàn 10 đặc công Rừng Sác.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:25:46 AM
Rừng Sác còn có một dũng sĩ nổi tiếng "xuất quỷ nhập thần"?

Đó là Lê Công Nghĩa trung đội trưởng Đội 5 nhiều lần đương đầu với cả 3 đối tượng trên sông Lòng Tàu: Kẻ thù, sóng to, cá sấu. Một lần cùng đồng đội kéo vũ khí qua sông Lòng Tàu, trên đường về lúc 3 giờ sáng, anh đụng đầu đoàn tàu kéo của giặc. Chúng thả lưới kéo Nghĩa đi hàng cây số. Tàu vừa cập bến, Nghĩa cũng vừa gỡ lưới chui ra được. Từ mê hồn trận, Nghĩa phát hiện ra được một dịp “làm ăn". Thấy bọn giặc trên tàu kéo hết lên bờ, vào đồn chơi, chỉ còn một tên gác lơ đãng ở cuối tàu Nghĩa trèo lên cướp khẩu tiểu liên cực nhanh AR15, đập chết tên lính gác. Bọn ở tàu bên cạnh trông thấy hô lên cùng bọn trên đồn xuống bắt sống "đặc công Việt Cộng". Nghĩa nhằm vào cụm giặc đông nhất xả hết đạn rồi cầm khẩu AR15 nhảy xuống sông biến đi mất dạng.


Trong một chuyến đi trinh sát trận địa, Nghĩa và một cán bộ chỉ huy bị tàu địch bao vây trong khi đang lênh đênh giữa dòng sông lớn. Vốn là con người của sông nước, anh nhanh chóng luồn vào bờ, rút dao găm đâm chết hai tên giặc, thoát vòng vây.
Trong chuyến đi điều nghiên cảng Nhà Bè, thấy một toán lính bình định đang ngủ mê mệt trong ấp Nghĩa vác luôn khẩu đại liên Mã Lai và khẩu cạc-bin của chúng, bơi ra sông...


Trong trận đánh cuối cùng, con người "xuất quỷ nhập thần" ấy gặp một đối thủ nguy hiểm đã nhiều lần chạm trán với chiến sĩ ta trên sông. Đó là một con cá sấu hung hãn có tiếng. Hôm ấy, Nghĩa, Mướt1 (Lương Văn Mướt về sau cong được tuyên dương Anh hùng) và Bạch trên đường đi công tác phải qua một đoạn sông gần ngã ba Đồng Tranh. Chỗ này rất nguy hiểm, nhưng không còn lối đi khác để qua bên kia sông Lòng Tàu. Ba người dàn hàng ngang để sẵn sàng ứng cứu nhau. Ra giữa dòng, họ phát hiện một con cá sấu lởn vởn trước mặt... Cả ba người lùi lại, vòng sang trái, bơi được một quãng thì cá sấu đuổi theo. Chưa ai kịp hành động, con cá sấu đã nhào tới "gắp" Nghĩa ngay trên mặt nước... Ba tháng sau, chiếc bồng con và dây lưng của nghĩa dạt lên bờ, trong bồng còn nguyên 130 ngàn đồng tiền ăn của đơn vị.

Trung đội trướng Lê Công Nghĩa được truy phong hành động anh hùng.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:26:19 AM
Quân Mỹ đã dùng những biện pháp nào để trục xuất Đoàn 10 ra khỏi Rừng Sác?

Mỹ có kế hoạch trục đối phương ra khỏi Rừng Sác từ những cuộc chạm trán nhớ đời đầu tiên, không phải chỉ ở dưới đầm lầy sông nước mà cả trên bộ. Bởi thế nên mục tiêu trục xuất Đoàn 10 đặc công và các lực lượng của ta ở Rừng Sác là rất bức xúc đối với chúng. Có thể kể ra một số thủ đoạn khốc liệt sau đây.


Trong các hồ sơ mật của Bộ tổng tham mưu ngụy để lại, có công văn tuyệt mật mang số 1821/TTM/P3 ngày 20-2-1964, các biên bản về chiến dịch rải chất độc mang ký hiệu "hành quân DTTCC-1" và "DTCC-61" do một viên tướng của MAAG trình bày tại Bộ tổng tham mưu ngày 3-1-1962, xác nhận Rừng Sác là nơi thí nghiệm chất độc hóa học màu da cam từ tháng 11 và tháng 12-1961, sau đó là chiến dịch rải ồ ạt chất này xuống Rừng Sác, Long Thành năm 1962... Những vùng rải chất độc đều được hoạch định trên không ảnh và do máy bay trinh sát L19 dẫn đường chỉ điểm cho các máy bay C123 lắp trang bị ép hơi phản lực phun chất độc hóa học.


Từ sau trận tàu Victory bị đánh ngày 23-8-1966, các hoạt động trục xuất Đoàn 10 ra khỏi Rừng Sác để tiêu diệt ngày càng ráo riết. Một trận "mưa" chất độc đã trút xuống đây ròng rã 15 ngày. Tiếp theo là "pháo đài bay" khổng lồ B52 và "pháo bầy" mặt đất, Hạm đội 7... những trận "ruồi xe", "ong ruồi", súng phun lửa và chất độc triền miên dội xuống, dần mòn giết chết khu rừng nổi tiếng âm u tĩnh mịch và bí hiểm. Về kỹ thuật tàn phá, Mỹ có đầy kinh nghiệm như Wes đã mô tả cảnh khai quang vùng ven Sài Gòn một cách tự hào trong cuốn Tường trình người lính: "Cây cối và bụi rậm đều bị đốt cháy trụi, khiến cho du kích Việt Cộng không còn nơi ẩn nấp...". Sau giải phóng (4-1975) tài liệu ta thu được của địch trong căn cứ Đặc khu Rừng Sác, cho thấy, để hủy diệt một mục tiêu, địch có thể huy động sức mạnh bằng bất cứ giá nào. Các cù lao Ba Doi, Rạch Tràm, gò Chà Là, sông Ông Kèo, Rạch Lá... ghi dấu những trận đổ quân của hàng sáu bảy chục lượt máy thay lên thẳng hoặc của 80 đến 100 tàu thủy.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:26:49 AM
Phèn chua đã trở thành vũ khí lợi hại như một chuyện thần kỳ, xin cho biết cụ thể về loại "axít" đặc biệt này?

Trong quân giới có lắm chuyện thần kỳ. Từ ý nghĩ "phèn chua tan trong nước rất giống kim loại bị ăn mòn trong axít”, cuối năm 1968, đồng chí Mười Thiện và Tư Tiên thí nghiệm mìn định giờ 3kg, ngòi bằng phèn chua. Trái mìn nổ đúng theo tính toán.


Dạo đó, có một chiến sĩ của Đại đội 5, từ ngoài Bắc bổ sung vào đơn vị, cất trong ba lô từ trường của một trái bom từ trường Mỹ bị lép. Từ trường này đưa vào xưởng được khống chế bằng ngòi phèn chua trở thành kíp định giờ có hiệu lực của từ trường. Một trái thủy lôi ngòi phèn chua khống chế từ trường được 4 giờ, đã ra đời cuối năm 1968 tại Chà Là và đi vào trận hiệp đồng đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất và kho Long Bình. Trong trận này, chiếc tàu địch 10.000 tấn, thủy lôi đón đánh hụt tại khúc sông Đỗ Hòa và Đồng Tranh, nhưng chiếc tàu "thập ác" (loại đổ bộ) đi trước bị thủy lôi 1 tấn ngòi phèn chua húc tan xác không còn để lại một dấu vết nào trên mặt sông. Từ đó, những trái thủy lôi ngòi phèn chua lần lượt ra đời trong Rừng Sác.


Về sau công binh xưởng Đoàn 10 còn cải tiến mìn K69 của Liên Xô bằng ngòi phèn chua, nó hơn hẳn mìn K69 định giờ ở chỗ áp vào mạn tàu xong mới điểm hỏa, giờ giấc có thể chế tạo theo ý muốn, nên tránh được thương vong đáng tiếc cho chiến đấu viên. Các anh hùng Trịnh Xuân Bảng, Nguyễn Chất Xê, Trần Văn Dần... và các chiến sĩ đặc công Rừng Sác đều ưa thích ngòi phèn chua hơn các ngòi khác. Mìn ngòi phèn chua đã đi vào các trận đánh vang dội tại quân cảng Nhà Bè, Cát Lái, Thành Tuy Hạ, Rạch Dừa nhận chìm nhiều tàu giặc trọng tải từ 6 đến 12 ngàn tấn và đã gây một nỗi kinh hoàng nhớ đời đối với công binh Mỹ tại Đặc khu Rừng Sác.


Dạo đó, tháng 8-1969, trên đường hành quân đánh kho Shell Nhà Bè, 3 chiến sĩ của Đội 5 đặc công đã bị địch phát hiện bao vây ở đoạn sông ngay xã Phước Khánh.Trong tình huống khẩn cấp trước khi thoát vòng vây, 3 chiến sĩ đã để lại quả mìn 100kg ngòi phèn chua, sau khi đã tháo chốt bảo hiểm. Địch lấy được quả mìn lạ, kéo về cảng hải quân. Bộ chỉ huy công binh Mỹ phái xuống 1 đại tá và 11 sĩ quan kỹ thuật công binh. Viên đại tá Mỹ chủ trì cuộc khảo sát quả mìn lạ của cộng sản trước gần 100 tên lính, sĩ quan công binh và hải quân ngồi vòng quanh. Tên kỹ sư công binh rút chốt an toàn phía dưới và tưởng là còn chốt an toàn nằm trên. Không ngờ lượng phèn chua cách điện đã tan hết từ trước, chốt vừa ra khỏi trái, mạch điện được nối lại Quả mìn nổ. Gần 100 tên Mỹ toi mạng. Riêng viên đại tá chỉ còn hai chân. Chiếc xe con cóc vỡ tung và chiếc máy bay lên thẳng chở bọn công binh tới, lật nhào xuống sông Nhà Bè.


Cuối năm 1969, từ một trái bom lép 750 cân Anh, các chiến sĩ Đoàn 10 đã chế lại kéo từ Rạch Lá vào cảng Nhà Bè xa hàng chục cây số, đánh chìm tàu 10.000 tấn.

Sau những trận đánh mìn tự tạo cán bộ chiến sĩ Đoàn 10 được đồng chí Trần Văn Trà và Hoàng Văn Thái trong Bộ tư lệnh Miền gởi điện khen: "R rất thông cảm với hoàn cảnh về ăn ở, vũ khí của các đồng chỉ. Địch phản kích ác liệt, nhưng Đoàn 10 bằng mòi giá đã bám chặt Rừng Sác, đánh liên tục trên sông Lòng Tàu, bến cảng phối hợp tốt với chiến trường toàn Miền đang tiến công".


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:27:17 AM
Trong sự bao vây phong tỏa cực kỳ khốc liệt của quân thù, chiến sĩ Rừng Sác đã trụ lại bằng cách nào?

Nếu như đánh giặc ở Rừng Sác là một nhiệm vụ đã rất khó khăn thì bám trụ để tồn tại và chiến đấu là những bài học đắt giá, mà chỉ những con người dạn dày sông nước mới có thể vượt qua. Chỉ nói riêng về tự lực để sống được trong hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến trường Rừng Sác đã là chuyện phi thường.


Trong thời đánh Mỹ, rau kềm là món quà tặng đặc biệt của thiên nhiên với Đặc khu Rừng Sác. Đó là một thứ dây leo của rừng cây nước mặn. Sau những trận mưa dầm chất độc hóa học, nó lại leo lan tràn khắp chốn cung cấp thức ăn cho bộ đội. Qua hai mùa kháng chiến, lá rau kềm đã đi vào lịch sử Rừng Sác, như củ mài, củ chụp, lá bướm của miền Đông, lá bép, môn rừng của Trường Sơn.


Gia tài của người chiến sĩ Rừng Sác thật giản dị: dao găm, bình toong, khăn đùm cơm vắt, tấm nilông, cái xoong. Vậy là có thể đương đầu với bốn mùa giặc giã, gian truân. Tấm nilông là chiếc xuồng trên mặt nước cái bình toong là phần nước ngọt sống chết cuối cùng trong vòng vây của nước mặn và quân thù; cái khăn đùm cơm, đó là phần gạo mà nhân dân Rừng Sác tảo tần chắt chiu bằng cả mồ hôi và máu; con dao và cái xoong là vật để con người tồn tại giữa cánh rừng hoang vu không cơm không nước. Ở rừng đất liền, người ta có thể ôm cái xoong mà chết đói, nhưng ở Rừng Sác thì cái xoong giúp người lính cầm cự được với cuộc sống ngày này qua ngày khác.


Để bám trụ và chiến đấu thắng lợi nghị quyết đầu tiên của Ban cán sự Rừng Sác là: "Công tác hậu cần lấy việc xây dựng cơ sở vật chất, lương thực, nước ngọt và vũ khí làm trọng tâm". Văn kiện số 10/BC ngày 26-2-1967 ghi: "Vấn đề gạo, muối, nước ngọt phải khắc phục trong mọi hoàn cảnh và tiền chỉ để lo dự trữ gạo, nước ngọt từ 20 đến 30 ngày". Chiến sĩ Rừng Sác gọi những năm 1969, 1970, 1971 là thời kỳ "bắt cá, mò cua, mua gạo", "thời cháo rau kềm".


Hàng ngày từ 4 giờ sáng việc nấu nướng cho một ngày phải hoàn tất, toàn bộ những phương tiện không cần cho chiến đấu gói vào nilông đạp xuống bùn, xóa dấu vết, chuẩn bị chống càn... Khi mặt trời sắp tắt mỗi người đem về "tổ ấm" một rổ rau kềm, một gánh cua, một thùng cá... Cua, cá, tôm, sò, vọp, đông chà là... không chỉ là bữa ăn mà là tất cả cơm áo gạo tiền, nồi niêu xoong chảo và cả quần áo, thuốc men... Cua, cá từ Rừng Sác ra Sài Gòn, Nhà Bè, Vũng Tàu và trở lại bằng vải, gạo, thuốc men... Sự "buôn bán" trao đổi này nhiều khi nguy hiểm, nhưng đồng bào đã lĩnh phần này cho bộ đội.


Mùa khô, ở nơi cất nước, trung bình mỗi ngày một chiến sĩ được 3 lon nước, phải phân chia tỷ mỉ: nước ăn, nước để dành, nước ra trận, nước chống càn... Nước ngọt quá hiếm hoi, các chiến sĩ vệ quốc năm xưa "phát minh" ra bần chín giặt áo, bùn non gội đầu... là kinh nghiệm quý giá với quân giải phóng sau này. Hơn 40 chị em bộ đội Rừng Sác về mùa khô thường tắm giặt như vậy. Hi hữu lắm mới có xà bông thơm thì các chị chiết ra một phần nước ngọt để gội đầu.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:27:40 AM
Ở Rừng Sác cũng có những trận chiến "không đổ máu" nhưng không kém phần ác liệt?

Ở Rừng Sác, những ai bị lạc rừng đều được coi là bước vào một trận chiến thực sự, nếu không tìm được đường về thì cầm chắc hy sinh dù là "không đổ máu”. Đây là những câu chuyện có thật đã xảy ra nghe như những cổ tích, huyền thoại. Có những tình huống đặt ra dù không đổ máu nhưng không có "gan vàng dạ sắt" của người chiến sĩ thì không thể vượt qua. Ai từng lọt vào "trận đồ bát quái" của Rừng Sác với những hang động chà là bịt bùng, những "mái nhà rán" mênh mông có đất mà không có trời với vòng vây trùng điệp của muỗi mòng, nước mặn, gai góc... mới hiểu được những trận đánh tay không của các chiến sĩ lạc rừng. Có khi suốt mấy ngày trời chỉ có cua sống bẻ càng nhai nuốt; Sò, vọp đập vào báng súng, thân cây cho nước ngọt chảy ra, ngửa cổ mà hứng... Đọt chà là ăn được, nhưng phải có sức giật tuột bẹ mới lấy được. Cho nên với những chiến sĩ kiệt sức chỉ nhìn đọt chà là mà chịu đói.


Trong một trận đánh, chiến sĩ Chu Văn Khi mới bổ sung về đại đội 1, Đoàn 10, bất ngờ bị địch tấn công lúc đang ngồi trên xuồng... Trong tình huống hiểm nghèo đó, Khi chỉ kịp chộp được chiếc máy ngắm súng B41 rồi bươn vào rừng. Từ giây phút ấy, cuộc sống của anh trở nên hoang dã. Một mình vật lộn với cái đói, cái khát mỗi lúc thêm quyết liệt. Đêm trèo lên ngọn cây nghe tiếng chân của heo rừng, ngày xuống đất làm bạn với muỗi mòng... Đọt chà là ban đầu còn bứt được, sau chỉ nằm gốc cây mà nhìn... Tranh chấp giữa cái sống và cái chết từng ngày, cho đến ngày thứ 24, Khi gặp lại đơn vị trong tình trạng kiệt sức trầm trọng. Chiếc máy ngắm B41 vẫn còn nguyên vẹn đã nói lên nghị lực phi thường của người chiến sĩ.


Trong một trường hợp khác, chiến sĩ Hoàng Lâm rơi vào tình huống lạc rừng sau một trận đụng đầu với địch, bị sa vào vòng vây của trực thăng. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt đó, anh phát hiện một đồng chí bị địch bắn gãy chân. Hoàng Lâm xốc người bạn lên lưng băng qua lưới lửa của địch từ trên không bủa xuống. Khi thoát khỏi vòng vây của trực thăng thì vòng vây cuối cùng là rừng hoang và nước mặn. Hai chiến sĩ vật lộn với đói khát và vết thương nhiễm trùng suốt ba ngày đêm, bằng rau kềm và cua sống.


Trường hợp của chiến sĩ Hiệp đại đội 7 Đoàn 10 cũng không kém gay go. Trong khi đang lạc rừng không cơm không nước lại sa vào trận địa phục kích của địch. Chúng vừa bắn rát vừa gọi hàng. Hiệp thoát được nhờ tài lặn dưới nước nhưng lại gặp bất ngờ khác: phía trước có 4 chiến sĩ hy sinh nằm giữa rừng, do địch bắn chết vài ngày, đã có mùi. Mặc dù sức đã kiệt, Hiệp vẫn nuốt rau kềm để lấy thêm sức rồi dùng tay moi đất chôn bốn đồng đội, sau đó mới tiếp tục cuộc hành trình đầy gian nan để tìm về đơn vị.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:28:23 AM
Trong những năm 1970 - 1971, Đặc khu Rùng Sác bị hoàn toàn cô lập?

Từ giữa năm 1970 đến cuối năm 1971, Đoàn 10 lâm vào cảnh cực kỳ khó khăn do địch đánh phá vô cùng ác liệt. Không chỉ cơm áo gạo tiền bị cắt đứt mà súng đạn cũng không đến được Rừng Sác. Đến giữa năm 1970, súng chống tăng B41 chỉ còn 4 trái đạn, thuốc nổ còn hai trái bom lép đủ cho 2 trái CK2.


Không chịu bó tay để địch đánh mình, Đảng ủy Đoàn 10 ra lời kêu gọi: "Quần chúng, đảng viên, chiến sĩ, cán bộ hãy tự làm vũ khí, tự kiếm vũ khí để đánh địch, đánh địch để kiếm vũ khí". Nguồn "cung cấp" bom pháo lép dưới sình lầy Rừng Sác cũng dần dần vơi cạn. Địch phát hiện các chiến sĩ ở đây cưa bom pháo để lấy thuốc nổ, chúng cho máy bay trực thăng lùng sục phát hiện để hủy diệt. Nhiều chiến sĩ hy sinh trong khi đi lượm và cưa bom pháo lép, nhưng phong trào tự tạo vũ khí vẫn rầm rộ khắp nơi, gây cho địch nhiều thương vong, góp phần bảo vệ vùng căn cứ kháng chiến. Đây là một trong những điểm nổi bật về tinh thần tự lực tự cường của chiến sĩ Rừng Sác.


Trong thời gian này, tuyến tải hàng và đường dây giao liên bị kẻ thù ngăn chặn ráo riết, đồng lõa với chúng là sóng to, cá sấu cản đường. Địch kiểm soát dày đặc, đường về chiến khu Đ qua sông Thị Vải và bốn con đường chiến lược số 15, số 1, số 20, số 22 phải mất hàng tháng trời mới "dùi” qua được. Đường về miền Tây phải qua sông Soài Rạp, sông Bạc Đầu mênh mông trống trải. Sông Lòng Tàu chia đôi Rừng Sác, chia đôi Đoàn 10. Mỗi chuyến hàng qua sông như một trận đặc công nước. Những lúc như thế này, vai trò của người dân ven Rừng Sác vô cùng quan trọng. Có những gia đình đã trở thành "điểm chốt" trên hành lang của Đoàn 10 như nhà ông Năm ở quán chim đường 15, mà anh em Rừng Sác thường gọi bằng cái tên dân dã là "Ông Năm mạt cưa", đã góp nhiều công sức giúp đỡ cưu mang đơn vị.


Tình hình ngày càng ác liệt thêm. Giữa năm 1970, các chiến sĩ "dùi" về chiến khu Đ đều hy sinh. Đến giữa năm 1971, đội vận tải "chạy gạo" cho Đoàn 10, hi sinh trên 1/3 quân số. Nhiều chiến sĩ đã tỏ rõ hành động dũng cảm trên mặt trận sống còn này. Bên cạnh câu chuyện hi sinh của chiến sĩ đặc công “xuất quỉ nhập thần" Lê Công Nghĩa đã bị cá sấu cướp đi, là cái chết của Huấn và Liêm. Huấn đã từng đánh tàu Mỹ ở quân cảng Nhà Bè. Một đêm vào Phước Khánh lấy gạo, ra về đến bờ sông không may trượt ngã. Nghe động, chó sủa, bọn dân vệ đốt đuốc vây lùng. Thím Tám kéo Huấn vào hầm bí mật, nhưng sợ liên lụy đến cô bác, anh chọn con đường hi sinh. Anh bình tĩnh hạ hai tên giặc, trước khi ngã xuống. Còn Liêm, trong một chuyến đi thư hỏa tốc cùng với hai đồng đội qua lộ 15 (quãng Long Thành) bị lọt vào ổ phục kích của địch. Hai chiến sĩ hi sinh từ đầu, Liến bị thương nặng. Biết không thể thoát được, anh xé nát thư trước khi xả những viên đạn chống trả cuối cùng...


Hơn ba năm từ 1969-1971, 324 chiến sĩ, cán bộ Đoàn 10 lần lượt ngã xuống mảnh đất Rừng Sác chiếm gần 1/2 số liệt sĩ Rừng Sác trong 8 năm (1966-1975). Ở phía đông và tây sông Lòng Tàu, đơn vị tổn thất 2/3 quân số. Đội 5 sau một trận chống càn, hi sinh tới phân nửa, toàn bộ còn 9 tay súng, mỗi chốt trụ lại chỉ còn 2 đến 3 chiến sĩ.


Tuy nhiên ác liệt hi sinh không làm lung lay ý chí các chiến sĩ đặc công đặt Tổ quốc trên hết, coi cái chết "nhẹ tựa lông hồng". Ở phía đông sông, Ban chỉ huy Đoàn 10 nhận được từ những chuyến liên lạc "quyết tử” những lá thư "quyết tử bám trụ” ở phía tây sông Lòng Tàu. Lá thư viết bằng máu của đại đội 6: "Chúng tôi một tấc không đi, một ly không rời khi chưa có lệnh, còn người còn chiến đấu, còn người còn trận địa?'. Đây là những ngày tháng mà chiến sĩ Rừng Sác "đánh giặc theo xã luận trên đài phát thanh giải phóng và đài tiếng nói Việt Nam".


Nhưng chính trong thời kỳ đầy gian khổ, ác liệt và hi sinh này là lúc Rừng Sác nở rộ anh hùng và huân chương.

Nghị quyết đại hội Đảng bộ Đoàn 10 lần thứ 3 đặt nhiệm vụ và quyết tâm chiến đấu lên hàng đầu và trở thành bài ca đầy tính lạc quan chiến đấu phổ biến rộng rãi trong toàn đơn vị đứng chân trên Rừng Sác mênh mông:

"Rừng Sác là nhà
Sông Lòng Tàu là trận địa
Bến cảng, kho tàng, tàu địch là quyết chiến điểm
Có lệnh là đi, hoàn cảnh nào cũng đánh đánh là thắng”



Đại đội 5, đơn vị "Thành đồng quyết thắng" (về sau được tuyên dương anh hùng) chiếm kỷ lục về huân chương từ năm 1969. Đơn vị nổi tiếng đánh chìm tàu lớn này, cũng có bài ca:

"Sông Lòng Tàu là trận địa
Quân cảng Nhà Bè là quyết chiến điểm
Từ trận địa cháo rau kềm... lương khô
Cơm nắm, gạo rang lên đường...
Nhận chìm tàu vạn tấn trên sông..."


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:29:03 AM
Trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của chiến trường sông nước, Đoàn 10 lại xuất hiện những anh hùng?

Đối với chiến sĩ đặc công Rừng Sác thì những quyết chiến điểm là nơi những anh hùng gặp nhau.


Đêm 10-11-1969, tại quân cảng Nhà Bè, một trận đánh làm xuất hiện một lúc hai anh hùng: Nguyễn Chất Xê, Trần Văn Dần1 (Cả hai đều đã hi sinh và được truy tặng danh hiệu anh hùng năm 1973). Trần Văn Dần sinh năm 1948 ở xã Xuân Phố, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nhập ngũ tháng 7-1965 thuộc Đội 5, Đoàn 10 đặc công Rừng Sác. Trong quá trình chiến đấu, Dần cùng tổ đặc công đánh chìm 7 tàu địch trọng tải từ 10 đến 12 ngàn tấn, thiêu hủy 15 triệu lít xăng dầu.


Ba lần lọt vào cụm pháo địch để truy theo một khẩu 105 luôn dời chỗ vì sợ đặc công. Lần thứ ba anh mới tìm thấy và áp khối nổ vào bộ phận máy của súng, một khối nổ khác dành cho bọn pháo thủ đang ngủ. Cả hai mục tiêu này cùng nổ một lúc. Một lần trên đường về ngang Độ Hòa sau trận đánh trong quân cảng, Dần thấy một chốt địch mới đóng, anh dừng lại quan sát và thấy chỗ sơ hở liền tìm về đơn vị xin một tổ chức đi đánh ngay trong đêm đó.


Anh cũng đã 23 lần kéo đạn ngược sông Lòng Tàu, một mình thay cho 2 đồng đội kéo ĐKZ đánh dinh Độc Lập.

Còn Nguyễn Chất Xê sinh năm 1947 ở xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 6-1965 thuộc Đội 5 Đoàn 10 đặc công Rừng Sác1 (Từ đầu năm 1968 đến 5-1971, anh đã tham gia 18 trận, cùng tổ đặc công đánh chìm 12 tàu trọng tải 8 đen 13 ngàn tấn, đánh trọng thương 4 tàu vận tải lớn, thiêu hủy 15 triệu lít xăng dầu). Khi được giao nhiệm vụ đánh quân cảng Nhà Bè, hai anh nói với nhau: "Chết không sợ, chỉ sợ đánh mà địch không đau”. Đêm N (ngày qui định trận đánh) hôm ấy lại là đêm nước ngược, địch rải nhiều chốt dọc đường đến mục tiêu. Hai người có lúc cách chúng chỉ một mép nước, phải tranh chấp thời gian từng phút cho kịp giờ quy định. Tới nơi, áp chất nổ vào mạn tàu giặc thì trời đã gần sáng. Vừa "điểm hỏa" xong thì một tàu chở đầy hàng xuất hiện. Thời cơ chỉ còn trong khoảng thời gian hết sức eo hẹp. Cả hai đều thấy rằng phải thay đổi mục tiêu, có nghĩa là phải đánh trận thứ hai với sự nguy hiểm hơn nhiều, gần như cầm chắc hi sinh. Muốn vậy, phải trở lại tàu giặc, tranh chấp với nước ngược, với thời gian đang từng giây nhích dần đến tiếng nổ dữ dội của khối 100kg ôm trong người... Đánh rồi phải thoát ra như thế nào đây?


Không còn thời gian để tính toán thêm... Dần cắt dây, tháo trái nổ từ mạn tàu giặc, một tay nâng, một tay giữ ngòi nổ để tránh chấn động, chỉ còn hai chân chống chọi với nước ngược. Lúc trời rạng sáng, một tiếng nổ long trời nhận chìm chiếc tàu 10 ngàn tấn. Còi báo động rú lên, pháo, bo bo, xuồng chiến đấu... trong giây lát cuốn thành một vòng vây trên sông. Không thể thoát ra ngay được, Dần và Xê chia nhau gạo rang, nước uống, mỗi người một ngả "chém vè" ngay trong vòng vây của giặc. Cuộc lùng sục kéo dài cả ngày, không còn một con sông cùng, một tắc1 (Tắc là con rạch nhỏ) hẻm nào xung quanh quân cảng mà địch không tới. Nhưng chúng đã bỏ sót hai chân hàng rào nơi hai đồn ở mí sông. Từ đây, hai chiến sĩ đã trở lại điểm hẹn lúc trời vừa tối.


Năm 1971 cả hai anh đều anh hùng hi sinh cách nhau 1 tháng. Trong trận đánh đêm 10-5-1971, Nguyễn Chất Xê cùng tổ đặc công áp sát mục tiêu thì bị lộ Địch cho xuồng máy bao vây ném lựu đạn và gọi hàng. Anh lệnh cho tổ viên bí mật vượt sông, còn mình thu hỏa lực địch, và bị bắt. Xê hủy khối thuốc nổ rồi rút lựu đạn diệt hàng chục tên và anh dũng hi sinh.


Nguyễn Chất Xê được tặng 2 huân chương chiến công, 18 lần dũng sĩ, 2 lần chiến sĩ thi đua. Ngày 23-9-1973, anh được Chính Phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.


Trần Văn Dần1 (Trong trận đánh địch càn quét tháng 6-1971, anh cũng đã anh dũng hi sinh trong khi chỉ huy đơn vị chiến đấu. Ngày 20-12-1973. Trần Văn Dần được Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang) cũng được tặng 2 huân chương chiến công, 11 lần danh hiệu dũng sĩ, 2 lần chiến sĩ thi đua.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:30:02 AM
Trận đánh trả bọn Mỹ đen ở cù lao Cá Tán đã diễn ra như thế nào?

Vào một ngày đầu tháng 6 năm 1971, Đảng ủy Đoàn 10 vừa họp xong trong đêm mọi người bí mật lội qua sông Thị Vải để về các phân đội, thì mờ sáng địch bao vây đánh vào Cù lao Cá Tán. Bên trên trực thăng "đầm già" L19 quần thảo bắn phá, dưới sông, bo bo, khinh tốc, tàu há mồm, đổ quân bao vây càn bốn mặt. Tình thế cực kỳ nguy hiểm, không còn con đường nào thoát, tất cả gom lại trong mấy công sự thủ trên sình lầy với mấy quả mìn Clây mo, DH10 và B40... ráng kéo dài thời gian để đến tối "mở đường máu” rút lui.


Trung đoàn trưởng Bảy Ước hội ý với chính ủy Tám Lập xác định kiên quyết tiêu diệt địch, ráng bám công sự, đến tối tổ chức vượt sông. Số tiền 300.000 đồng mua gạo cho đơn vị, chia ra mỗi người một ít, có bề gì không mất hết.


Mọi người về hầm sẵn sàng chờ địch. Đến trưa một tốp Mỹ đen dùng mã tấu chặt đước, cắt rừng tiến vào trận địa. Bảy ước khoát tay ra hiệu. Tiếng nổ DH10 gầm lên, tiếp theo là các cỡ súng của hai bên đổ đạn tung tóe sình lầy và phạt đứt cây rừng. Sau quả hỏa tiễn chỉ điểm của con "đầm già", phản lực lao xuống trút bom rung chuyển cả cánh rừng cùng với các trận địa pháo ở Phước Hòa, Bàu Sen "giã giò" xuống trận địa... Anh em không nao núng vừa quần nhau với địch trong cù lao, vừa rút dần ra. Sau hai ngày đêm bọn Mỹ bị thương vong và không đạt được mục đích, phải xuống tàu rút về căn cứ hải quân Nhà Bè. Đoàn 10 bị thương vong hơn 10 người, trong đó có trung đoàn phó Tư Hương và bác sĩ Ba.


Chỉ huy trưởng Bảy Ước vẫn ấm ức về trận càn cù lao Cá Tán, bèn ra lệnh cho ĐKP đánh vào dinh Độc Lập và Đội 5 xuất kích bằng khối nổ 100kg đánh chìm chiếc tàu vạn tấn vừa tới cảng Nhà Bè.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:30:38 AM
Từ Đặc khu Rừng Sác, những con "rái cá" Đoàn 10 đã lên đất liền?

Trong chiến dịch Nguyễn Huệ 1972, đặc công Đoàn 10 nhận nhiệm vụ là một mũi trong đội hình cánh đông nam của Miền. Giai đoạn tiến công thứ nhất bắt đầu từ đêm 30-3 đến 30-5-1972. Đoàn 10 Rừng Sác có nhiệm vụ giữ vững địa bàn và từ Rừng Sác tiến công liên tục các mục tiêu bến cảng, tàu hàng quân sự trên sông để làm cản trở vận chuyển của địch.


Sau những năm dài bị bao vây trên địa hình sông nước, đây là một thử thách mới đối với Đoàn 10 trong điều kiện quân số, vũ khí bị tiêu hao chưa được bổ sung.

Một lần nữa, Đội 5 xác định vai trò mũi nhọn chủ công của mình. Đêm cuối tháng 3-1972, toàn Miền vào chiến dịch, tổ đặc công ba người do Cao Hồng Ngọt chỉ huy đã chọc thủng lưới phòng thủ quân cảng Nhà Bè. Một tàu quân sự 10 ngàn tấn đậu tại cảng đã bị khối thuốc nổ 100kg đánh chìm. Đoàn 10 đã dóng tiếng nổ hợp đồng chiến dịch ngay sát sào huyệt địch ở Sài Gòn.


Kể từ đêm đột phá quân cảng Nhà Bè cuối năm 1967 cho đến chiến dịch Nguyễn Huệ xuân - hè 1972, Đội 5 đã đánh chìm và cháy 35 tàu địch trong đó có 30 tàu trọng tải từ 8 đến 13 ngàn tấn.


Bị tổn thất nặng, địch tức tối lồng lộn tung lực lượng Đặc khu vào những điểm mà chúng nghi ngờ là căn cứ của đặc công Rừng Sác Nhưng chính những ngày đó, hàng chục tàu quân sự cỡ lớn, tàu đổ quân đã bị ăn đòn ở sông Đồng Tranh, sông ông Kèo, Tắc Bài...


Trong hai tháng thử thách, với 4 khối nổ loại 100kg và 80 quả B41, đặc công Rừng Sác đã đánh đắm hàng chục tàu chở hàng quân sự và tàu quét mìn của Mỹ. Đoàn 10 đã hoàn thành một phần trọng trách trong giai đoạn đầu chiến dịch Nguyễn Huệ 1972.

Giai đoạn 2 chiến dịch Nguyễn Huệ diễn ra từ tháng 6 đến tháng 10-1972. Đoàn 10 được bổ sung thêm 4 đại đội vừa đặc công vừa hỏa lực và bộ binh, để chuẩn bị cho phương án mới cao hơn đợt 1, với nhiệm vụ nâng gấp đôi chỉ tiêu diệt địch đồng thời mở thêm hai mũi tấn công vào cảng Cát lái và cảng Thành Tuy Hạ.


Tháng 9-1972, để hỗ trợ cho mặt trận ngoại giao ở hội nghị Paris, đòi hỏi những quả đấm lớn trên chiến trường. Cục tham mưu Miền giao nhiệm vụ cho Đoàn 10: "phát triển thế tiến công thành diện rộng ở hậu cứ địch để phối hợp với chiến trường toàn Miền... Tập trung đánh hủy diệt từ 70 đến 80% bom đạn, xăng dầu và phương tiện chiến tranh của địch...".


Thực hiện chỉ thị của Miền, Đoàn 10 Rừng Sác hình thành các mũi tiến công các quân cảng, kho tàng phía đông nam Sài Gòn và tàu hàng quân sự trên sông Lòng Tàu và khống chế các đoạn sông quan trọng với tổng số 40km đường sông.


Sau tiếng nổ mở màn chiến dịch của Đội 5 trong quân cảng Nhà Bè, một "chiến trận Card" trở nên dữ dội hơn bất cứ thời gian nào trước đây. Kể từ tháng 6-1972, không còn một quân cảng nào ở hai đầu sông Lòng Tàu không bị đòn của đặc công và pháo đặc công Rừng Sác. Trong vòng 5 tháng, địch bị đánh ở cảng Nhà Bè 10 trận, cảng Thành Tuy Hạ 3 trận, cảng Cát Lái 2 trận. Ở cảng Rạch Dừa, địch còn bị đánh dữ dội hơn ở Cát Lái và Thành Tuy Hạ.


Tháng 7-1972, 3 dũng sĩ: Niêm, Dũng, Điều đã áp được khối thuốc nổ 100kg vào mạn tàu 12 ngàn tấn đậu cách cảng Rạch Dừa 2km. Đây là chiếc tàu quân sự lớn đầu tiên bị đánh ở khu vực cảng Rạch Dừa. Kể từ đêm đó đến cuối chiến dịch Đồng Khởi, 10 tàu hàng quân sự trên dưới 10 ngàn tấn bị đánh đắm ở đây.


Nếu như trong giai đoạn 1, trung bình mỗi tháng có 1,5 tàu vạn tấn bị đánh đắm thì trong giai đoạn 2 là 4 tàu. Một con số kỷ lục.

Trong khi đó, trên mặt trận đường sông dài hơn 40km bị ta khống chế, pháo đặc công Rừng Sác đã đánh chìm và cháy 42 tàu, trong đó có 20 tàu tải trọng trên dưới 10 ngàn tấn.


Đối với kẻ thù, nếu quá trình đánh pháo trên sông đã gây một điệp khúc "tử thần trên sông Lòng Tàu” và "chảy máu xăng dầu” thì "chiến trận Card" là những quả đấm chí mạng vào hệ thống phòng thủ hiện đại vốn được địch đề cao một cách kiêu căng. "Máu xăng dầu” của quân thù không ngừng chảy trên sông nước Rừng Sác. Chỉ riêng trong năm 1972, 16 tàu chở xăng dầu tải trọng từ 8 đến 13 ngàn tấn đã bị đánh chìm và cháy... tương đương 2045 triệu lít.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:31:12 AM
Đội 32 đã làm nổ tung kho bom Thành Tuy Hạ như thế nào?

Vào cuối năm 1972, lúc hội nghị bốn bên ở Paris bàn về chấm dứt chiến tranh Việt Nam gần đi đến được thỏa thuận thì tổng thống Mỹ Nixơn giở ngón lật lọng, đồng thời ráo riết chuẩn bị trận tập kích chiến lược bằng máy bay B52 vào thủ đô Hà Nội. Đoàn 10 được lệnh phải đánh bằng được kho xăng Nhà Bè và kho xăng Thành Tuy Hạ.

Tình hình rất khẩn trương, Đoàn 10 quyết định phân tán cán bộ chỉ huy về trực tiếp chỉ đạo các mũi tấn công chủ yếu.


Đoàn trường kiêm chính ủy Lê Bá Ước trực tiếp chỉ đạo đánh kho bom Thành Tuy Hạ. Đội 32 lĩnh trách nhiệm phá hủy mục tiêu này, do đội trưởng Quyết chỉ huy.

Kho bom Thành Tuy Hạ cấu trúc kiên cố và được bảo vệ nghiêm ngặt với 7 hàng rào thép gai tổng hợp và một hệ thống mìn cạm bẫy, pháo sáng dày đặc, trong một bờ đê cao 3m như một bức tường. Dưới chân đê có hào sâu ngập nước. Bên trong lớp rào có thả chó và ngỗng, một trăm mét có một bót canh.


Để vào được Thành Tuy Hạ, Đội 32 thực hiện 8 lần đột nhập cực kỳ gian khổ và nguy hiểm, hi sinh 1 chiến sĩ. Đêm 11 rạng 12-11-1972, tổ đặc công bốn người do đồng chí Hòa trực tiếp chỉ huy, với 16 khối nổ, đã vào được khu hóa chất và bom napan. Đúng giờ hẹn, hàng loạt tiếng nổ vang dội Sài Gòn. Chất nổ và bom napan tạo nên những đám cháy khổng lồ choán cả một vùng trời đen nghịt khói lửa suốt 2 ngày đêm. 23 kho bom đạn và 9 kho chứa bom napan (khoảng 200.000 quả) bị thiêu hủy.


Trong số bốn chiến sĩ tham gia trận đánh, đồng chí Trình đã anh dũng hi sinh, được truy tặng huân chương chiến công hạng nhất.

Với trận đánh kho bom Thành Tuy Hạ đêm 12-11-1972, Đội 32 đã trở thành đơn vị "đột phá lên đất liền" của đặc công Rừng Sác, tạo nên một tiền lệ nguy hiểm cho kẻ thù.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:31:38 AM
Kho bom Thành Tuy Hạ bị đánh lần thứ hai vào lúc nào?

Phương án đánh kho bom Thành Tuy Hạ lần thứ hai được thông qua trên sa bàn với một khí thế khác hẳn. Các chiến đấu viên được cử đi làm nhiệm vụ gồm: Sáng, Chữ, Thắng.


Tuy nhiên, lần đánh này gặp không ít khó khăn. 7 đêm liền, các hướng đông, tây nam, và nam, các chiến sĩ đều không lọt được vào bên trong mục tiêu. Bởi sau trận đánh lần trước (12-11-1972) địch thiết bị một hàng rào thiếc cao 2,5m chôn sâu 30cm, không thể cắt được ở phía đông và nam, địch tăng cường lính phục kích giữa hai hàng rào, đặt đèn dầu dọc đường kính bảo vệ. (Đèn dầu đặc công khó qua hơn là đèn điện).


Sau nhiều đêm điều nghiên tiếp theo, các chiến sĩ với gạo rang, cơm nắm, dầu nóng, mứt gừng ém ngay trong kho bom đã tìm ra các khu kho quan trọng của địch. Vào 1 giờ sáng ngày 13-12-1972, tổ đặc công đã lọt vào trong thành. Các chiến sĩ hội ý với nhau kiên quyết đánh bằng được kho bom và quy ước: Nếu bị lộ là đánh ngay. Tiếng nổ đầu là mệnh lệnh, quyết không để một ai bị địch bắt.


Trời sáng rõ, căn cứ Thành Tuy Hạ rầm rầm tiếng máy nổ của hàng chục xe xúc thu dọn hậu quả của trận đánh trước. Có tiếng rú, một xe xúc tiến về bãi cỏ tranh, nơi các chiến sĩ đang ém. Một chiến sĩ đứng vụt dậy đón đầu xe. Tên lính giật mình định nhảy ra, nhưng anh ra hiệu cho nó ngồi yên. Nhìn thấy những người lính ở trần đeo đầy thủ pháo, lựu đạn, tên công binh lái xe xúc hiểu ra cơ sự và cặm cụi xúc dưới sự giám sát của người chiến sĩ đặc công.

Đến 10 giờ đêm hắn vẫn phải ở tại đống sắt và gạch vụn. Anh tổ trưởng đặc công nói với hắn:

- Muốn sống với vợ con thì phải ở đây, không được gặp bất kỳ ai. Đến 1 giờ sáng anh tìm cách thoát khỏi nơi này, nghe chưa!

Sau đó các chiến sĩ lao về hướng nam. Một dãy nhà lù lù xuất hiện. Mọi người sung sướng như không tin vào mắt mình: Kho bom dày đặc những trái đen trũi lộ thiên. Mỗi kho 8 dãy bom, đếm được bề đáy 66 trái, bề cao 6 trái. Các chiến sĩ Hòa, Chữ và Hai gặp nhau ở kho bom 7 tấn đang đặt mìn nổ chậm, trong khi Thắng và Sáng đang mải miết "cắn kíp" ở một kho xa hơn. Đúng 1 giở sáng anh em thoát ra khỏi Thành Tuy Hạ gặp nhau đủ mặt, mừng khôn xiết mỗi người cắn hết 25 kíp theo quy định.


Gần 3 giờ sáng, tổ đặc công ra đến Bàu Sen thì kho bom phát nổ, tiếng nổ dây chuyền như sấm sét liên hồi của hàng ngàn quả bom làm rung chuyển mặt đất. Cả khu kho rộng lớn chìm trong biển lửa cuồn cuộn suốt ba ngày đêm thiêu hủy một khối lượng bom đạn, nhiên liệu khổng lồ của bọn xâm lược Mỹ gồm:

- 19 nhà chứa bom khoảng trên 18 ngàn tấn.

- 15 nhà chứa bom (loại có dù để phá địa hình).

- 17 kho đạn 105 ly.

Toàn khu kho Thành Tuy Hạ bị phá hủy gần 60%, riêng khu bom thiệt hại 80%. Khu vực bom nổ có 1 tiểu đoàn bảo an, 1 tiểu đoàn quân cụ và 1 tiểu đoàn chó bẹcgiê 100 con.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:32:16 AM
Tổng kho xăng dầu Nhà Bè là mục tiêu số 1 của đặc công Rừng Sác. Xin cho biết sự bố phòng cua địch ở đây?

Tháng 10-1972, Bộ Tư lệnh Miền chỉ thị cho Đoàn 10 tấn công mục tiêu quan trọng: Tổng kho xăng dầu Nhà Bè.

Từ đó, suốt 7 tháng trời Đội 21 điều nghiên, từng ở lại ban ngày giữa hai lớp rào, nhưng rồi cũng tạm "thúc thủ” vì không vượt qua nổi hàng rào song sắt.

Cảng và kho xăng dầu Nhà Bè cách Sài Gòn 8km (theo đường chim bay). Từ một thương cảng của Pháp, Mỹ đã xây dựng thành quân cảng lớn để tiếp nhận phương tiện chiến tranh, đặc biệt là xăng dầu. Bên cạnh cảng là một hệ thống kho hoàn chỉnh của ba hãng Caltex, Shell và Esso. Kho Shell lớn nhất, rộng 14 ha có 72 bồn, cung cấp 60% xăng dầu quân sự và dân sự cho miền Nam.


Do tầm vóc quan trọng nên Shell được bảo vệ đặc biệt. Trong 12 lớp rào đủ loại bao bọc, có loại đã thách thức đặc công qua nhiều lần đột nhập như hàng rào song sắt không cắt được, hàng rào chẻ ba thả bùng nhùng cao 3,5m. Ngoài chó, ngỗng, mìn chiếu sáng là hệ thống đèn pha, tháp canh, tường cao 2,5m, đường tuần tra bộ, xe đạp, honđa, ô tô... Ngoài ra là lực lượng trên bộ, dưới nước, trên không đặt dưới sự chỉ huy của trung tá Nguyễn Bá Di quận trưởng kiêm chi khu trưởng Nhà Bè. Cao hơn có lực lượng của Bộ tổng tham mưu và Quân đoàn 3 ngụy sẵn sàng ứng cứu.


Các kho Caltex, cảng hải quân, căn cứ Đặc khu Rừng Sác ở phía nam, hãng Shell ở phía bắc và kho Esso cũng được tổ chức bảo vệ hết sức chặt chẽ từ xa đến gần với nhiều lực lượng, binh chủng...


Những người làm việc trong đây phải đeo thẻ nhận dạng do hãng Shell cấp sau khi được cảnh sát điều tra lý lịch. Vào khỏi cổng chính 100m là trạm kiểm soát đặc biệt do yếu khu cảnh sát cấp... Vào khu vực bồn chứa xăng dầu sự kiểm soát còn gắt gao hơn.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 14 Tháng Năm, 2010, 07:32:59 AM
Xin cho biết trận đánh cảm tử của Đội 5 vào "dạ dày" nhiên liệu Nhà Bè?

Kho Nhà Bè cách căn cứ xuất phát của đặc công Rừng Sác 20km và cách rừng thưa 8km. Địa hình cách trở sông rạch, sình lầy, rộng nhất là sông Nhà Bè 1300m. Những yếu tố trên gây nhiều khó khăn cho các chiến sĩ Đoàn 10 trong điều nghiền và tác chiến, nhất là khi phải ém quân nhiều ngày trong vòng vây của địch.


Sau nhiều lần đột nhập không thành, theo lệnh của Đoàn, Đội 21 bàn giao mục tiêu "khó nuốt" này cho Đội 5, do Cao Hồng Ngọt làm đội trưởng. Trên tăng cường cho Đội 5 một số đặc công giỏi như Hà Quang Vóc, Nguyễn Hồng Thế1 (Về sau hai đồng chí này được tuyên dương Anh hùng).


Từ căn cứ Cát Lái chuyển về mục tiêu quan trọng số 1, cán bộ chiến sĩ Đội 5 tất cả đều xin ra trận. Có người viết đơn đến 3 lần. Qua nhiều lần xem xét, ban chỉ huy Đội 5 quyết định cử 8 đồng chí lãnh trọng trách đánh kho xăng Nhà Bè: Hà Quang Vóc (Đội phó), Nguyễn Văn Rực, Trần Ngọc Sĩ, Hoàng Hữu Hình, Phạm Văn Tiềm, Đỗ Hải Quân.


Phụ trách chung trận đánh: Đội trưởng Cao Hồng Ngọt; Đoàn trưởng Lê Bá ước chỉ đạo trực tiếp.

Suốt 6 tháng trời, cơm nắm, gạo rang, dầm nắng dãi rét, nhịn khát... 4 hướng kho Shell mòn dấu chân của chiến sĩ đội 5. Vượt qua nhiều hiểm nguy vẫn không qua được hàng rào chẻ ba cao 3,5m. Chuyến đi thứ 13 (18-11-1973) gặp địch dùng dao phát cỏ gần đụng đầu, anh em phải lùi ra gần 10m, cũng là khi phát hiện chỗ hở của hàng rào "độc chiêu” này. Chuyến đi thứ 14, tổ đặc công đột nhập được từ hướng nam, luồn giữa kho Shell và cảng, kho Caltex cảng hải quân và sở chỉ huy đặc khu của chúng.


Toàn bộ kế hoạch trận đánh được Tư lệnh B2 Trần Văn Trà kiểm tra mọi chi tiết. Căn cứ vào quyết tâm của cấp ủy và ban chỉ huy Đội 5, Đoàn 10 hạ quyết tâm phá hủy từ 80 đến 90% kho Shell vào đêm 3-12-1973 trước Bộ Tư lệnh Miền và Sư đoàn 27 đặc công.


Có 11 tình huống dự kiến nhưng toàn bộ là phương án xông lên, chứ không có phương án rút lui nửa chừng.

Ngày 30-11, đơn vị làm lễ xuất quân với khẩu hiệu "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh". Đoàn trường Lê Bá Ước đọc mệnh lệnh chiến đấu đội phó Hà Quang Vóc thay mặt toàn đội thề: "Chưa đốt cháy kho Shell, chưa trở về!". Đại đội trưởng Cao Hồng Ngọt tiễn anh em tới tận bở sông Nhà Bè.

Tám chiến sĩ nhìn nhau trong ánh mắt "quyết tử". Câu nói cuối cùng của họ: "Đồng chí nào về được xin gởi lời thăm anh em ở nhà và bà con Rừng Sác".

Sau khi dùng kỹ thuật khắc phục các chướng ngại vật, mìn, cạm bẫy và lính tuần, 0 giờ, toán đặc công nhảy xuống khỏi mặt tường cuối cùng, tỏa ra tìm đến mục tiêu áp trái, điểm hỏa theo qui định, rồi nhanh chóng vượt ra khỏi hàng rào 3,5m. Riêng Quân khi thao tác gặp 3 tên lính đi tới, phải dừng hành động, nên không ra đúng hẹn.


0 giờ 35 phút, lửa bốc lên trời, Kho Nhà Bè bùng nổ. Địch phản ứng bằng các loại súng, cho máy bay lên pha đèn, tuôn đạn đỏ rực. Bao và Tiềm rơi vào vòng vây tàu địch. Sĩ, Hình, Rực bị địch phát hiện khi đã ra 1/3 sông, bị chúng ném lựu đạn ra tới tấp. Ba anh cởi dây liên kết, mỗi người thoát đi một ngả. Lúc nổ kho xăng, Quân vẫn ở trong hàng rào 3,5m. Lợi dụng cảnh nhốn nháo, anh vượt qua hàng rào nhưng đến bờ sông đụng xuồng lính. Chúng bắn anh bị thương, anh ném lựu đạn, thoát vây. Vóc và Thế đón đồng đội ở cửa mở, ra sau cùng bị địch phong tỏa đường rút lui, phải ém lại trong khu cảng hải quân một ngày.


Kho xăng Shell lửa nổi lên ầm ầm như một cơn bão, càng lúc càng dữ dội, sáng rực cả bầu trời Sài Gòn. Lửa cháy suốt 9 ngày đêm. Đến ngày 11-12, lửa bắt sang bồn dầu ma dút 11 triệu lít. Địch sợ cháy lây sang hãng Caltex, phải mở khóa xả ống dẫn dầu. Dầu chảy lênh láng ra sông Sài Gòn, sông Lòng Tàu, sông Soài Rạp... chảy tới tận Vàm Láng, Gò Công.


Địch thú nhận: Kho Shell hoàn toàn bị thiêu cháy 35 triệu lít gallon xăng dầu tương đương 140 triệu lít, 12 bồn butaga, 1 tàu dầu Hà Lan 12 ngàn tấn, 1 cơ sở lọc dầu, 1 cơ sở trộn nhớt, 1 khu chứa lương thực, 1 khu nhà binh... thiệt hại tổng cộng khoảng 20 triệu Mỹ kim.


Trong trận đánh lịch sử này, 2 đồng chí Bao và Tiềm hi sinh, còn lại (kể cả bộ phận phục vụ chiến đấu) đều rút về căn cứ Rừng Sác an toàn. Về sự kiện Tiềm và Bao hi sinh, nhân dân Nhà Bè cho biết hai anh bị 7 tàu giặc vây chặt, đã dùng lựu đạn "tự hi sinh" và làm chết hàng chục tên trên tàu.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:29:43 PM
Sau trận đánh kho xăng Nhà Bè, có một bức thư từ nội đô Sài Gòn gửi ra Rừng Sác cho bộ đội Đoàn 10. Xin kho biết nội dung bục thư đó?

Sau trận đánh kho xăng Nhà Bè, báo chí Sài Gòn tới tấp đưa tin, bình luận. Chúng thừa biết là đặc công Rừng Sác, nhưng bọn chóp bu vẫn tung tin là bị pháo kích cho đỡ bẽ mặt.


Cho đến năm 1975, ta vào tiếp quản cơ quan Bộ quốc phòng ngụy (63 Gia Long nay là Lý Tự Trọng, Quận 1) mới phát hiện hồ sơ vụ kho Shell chất đầy 4 tủ sắt. Nhưng trong đó có một biên bản mang kí hiệu 081/TTLQ/ĐT kết luận "đây là một trận đánh do nội tuyến kết hợp với đặc công Việt cộng thực hiện".


Trận đánh được tặng phần thưởng lớn: Toàn đội được tặng huân chương quân công hạng nhì. Hai đồng chí Hà Quang Vóc và Nguyễn Hồng Thế được tuyên dương anh hù ng. Hai liệt sĩ Nguyễn Công Bao và Phạm Văn Tiềm được tuyên dương hành động anh hùng. 4 chiến sĩ Rực, Sĩ Hình, Quân được tặng thưởng huân chương chiến công hạng hai. Ngoài ra, đơn vị nhận được bức thư từ nội đô:

“Kính gửi đơn vị quân giải phóng đốt kho xăng Nhà Bè.

Anh em công nhân chúng tôi vô cùng phấn khởi được chứng kiến cảnh hỗn loạn của đô thành Sài Gòn ngày 3 tháng 12 năm 1973 khi các anh đốt kho xăng.

Vô cùng khâm phục và ngưỡng mộ lòng dũng cảm, tài trí của anh em, bằng cách nào mà lọt vào kho Nhà Bè với sự phòng vệ tối tân của Mỹ, Anh ở một khu chứa nhiên liệu quốc phòng lớn ở miền Nam. Anh em công nhân Sài Gòn chúng tôi xin nguyện đoàn kết đấu tranh chống bất công của chính quyền Thiệu, cùng quân giải phóng buộc chúng phải thi hành hiệp định Paris.

Sau đây chúng tôi có món quà 500 đồng gửi tặng các anh mừng chiến thắng. Thay mặt anh em công nhân Sài Gòn.

Tư công nhân.

Kính nhờ tỉnh Biên Hòa chuyển giùm cho đơn vị đốt kho xăng Nhà Bè"


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:30:21 PM
Người anh hùng còn lại trong 8 dũng sĩ đánh kho xăng Nhà Bè nay ở đâu, làm gì?

Đó là anh hùng Nguyễn Hồng Thế sinh năm 1953 quê ở huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, nhập ngũ tháng 1-1971, lúc anh mới 18 tuổi cuối năm đó đã có mặt ở chiến trường Rừng Sác trực tiếp chiến đấu. Liên tục bám trụ Rừng Sác Thế trưởng thành từ chiến sĩ lên cán bộ đặc công.


Trong trận đánh kho xăng Nhà Bè, Thế ở vị trí mũi nhọn điều nghiên, 14 lần vào căn cứ địch, Thế đã cắt được nhiều hàng rào và thí điểm ém đội hình lại khu vực mục tiêu, góp phần hoàn thành xuất sắc trận đảnh vang dội.


Trong trận đánh hãng Caltex Nhà Bè ngày 19-5-1974, Thế phụ trách tổ đặc cộng thiêu hủy 50 triệu lít xăng dầu của địch. Trong mùa khô 1974-1975, tổ đặc công Nguyễn Hồng Thế đánh sập một nhịp cầu dài 15m và 1 cầu dài 40m, phá hủy 1 trạm biến thế điện... thọc sâu đánh chiếm sở chỉ huy tiểu đoàn 385 tại vàm ông Đông, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn.


Nguyễn Hồng Thế được tặng huân chương chiến công hạng nhì, danh hiệu dũng sĩ trong trận đánh kho xăng Shell, 4 năm liền là chiến sĩ thi đua cấp trung đoàn.

Sau ngày giải phóng thành phố (30-4-1975), Nguyễn Hồng Thế vẫn gắn bó với sông nước Rừng Sác, được bổ nhiệm về giữ chức trung đoàn trưởng Trung đoàn 10 anh hùng và thăng cấp thượng tá năm 1997. Từ năm 1999, do yêu cầu nhiệm vụ, Nguyễn Hồng Thế rời Trung đoàn 10 về giữ chức Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh, đảm trách khu vực phòng thủ cửa biển phía đông nam thành phố.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:31:45 PM
Các chiến sĩ đặc công còn một cuộc chiến đấu khủng khiếp với cá sấu Rùng Sác?

Thời đánh Mỹ, những câu chuyện đánh cá sấu của chiến sĩ Rừng Sác xảy ra nhiều nhất ở vùng sông ông Kèo.

Sông ông Kèo là con sông nhỏ đổ ra sông Lòng Tàu và đi vào đường 19 miệt Vũng Gấm - Xoài Ninh. Vùng này xưa kia cây cối um tùm, hoang vu, dòng nước khá sâu, chảy chậm dưới có đá ngầm và vô vàn hang hốc. Hai bên mép nước, cây cỏ phủ đầy, cá tôm nhiều vô kể. Do thế sông ông Kèo trở thành xứ sở của loài cá sấu. Vì là căn cứ hành lang của Đặc khu nên nhiều cuộc đọ sức đã xảy ra giữa đặc công Rừng Sác với Mỹ ngụy ở đây.


Trước đây, chiến sĩ Rừng Sác qua lại sông ông Kèo gặp cá sấu nhiều lần nhưng "vô hại", dường như chúng không quan tâm đến con người. Nhưng rồi những xác lính Mỹ bỏ lại sông ông Kèo sau trận đánh ngày 24-6-1968 đã gây một hậu quả tai hại: lũ chúa nước đã tìm ra một nguồn thức ăn mới. Từ đó cá sấu vùng sông ông Kèo trở nên hung hãn.


Vào một đêm cuối tháng, trăng mờ, một tổ chiến đấu vượt qua Rạch Vọp, bỗng có tiếng kêu "ối”. Mọi người quay lại chẳng thấy người đồng đội đâu nữa, chỉ còn lại một dợn sóng trên mặt nước.


Mấy ngày sau, Khét quê ở Long An, một cán bộ chỉ huy đánh tàu bằng B41 đi kéo cá trên sông ông Kèo, khi bơi ra giữa sông, bỗng "rầm" một cái, Khét mất tăm. Đội 2 cho người lùng sục, năm ngày sau mới thấy xác Khét bị cá sấu ăn gần hết.


Trong những người từng vật lộn với cá sấu, có một anh hùng. Đó là Lương Văn Mướt. Trước khi trở thành anh hùng, anh đã quà một chuyến đi thư đẫm máu. Anh đi tắt từ bót Độ Hòa về Rạch Lá, đến bở sông khi trời vừa sáng. Trong tay chỉ có một đoạn cây chà là dài hơn 1 in xỏ vào mang một con cá nặng 3kg, Mướt quyết định vượt sông.


Vừa ra khỏi mép bờ, nước lên tới bắp vế, Mướt chợt nhìn thấy hai mắt cá sấu đỏ lừ. Anh định trở lại nhưng không kịp. Con cá sấu nhào tới, hai hàm răng cắn phập vào đùi phải. Anh liền trở đầu gậy nhắm thẳng vào mắt trái đối thủ đâm xuống. Bị đòn hiểm, con cá sấu nhả mồi giáng trả đòn đuôi, đồng thời cướp luôn con cá trên cây gậy, bỏ chạy. Máu người lẫn máu cá sấu hòa vào dòng nước đỏ sẫm.


Mướt trở lại được bờ thì quị xuống. Răng cá sấu kéo những đường toạc dài từ đùi xuống bắp chân. Vết thương nhiễm độc khiến Mướt nằm mê man trong bụi rậm. Anh em Đội 5 tìm suốt 3 ngày không thấy tăm hơi, nhưng chính lúc đó Mướt tỉnh dậy bứt rau rừng nhai đắp lên vết thương, thấy đỡ đau. Lúc này anh mất phương hướng nhưng nhờ tiếng chuông đổ trong nhà thờ mà định hướng lại được Muốn trở về đơn vị không còn cách nào phải trở lại nơi giao chiến với cá sấu... Mướt xuống mé sông khua thử nước không thấy động tĩnh gì, từ từ lao xuống vượt sông... Đêm thứ năm, anh đã về được đơn vị.


Lương Văn Mướt sinh năm 1948, quê ở xã Hoàng Đông, huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng, nhập ngũ tháng 9-1965. Từ chiến trường Rừng Sác, anh tham gia chiến đấu nhiều trận. Trong trận đánh tại cảng Nhà Bè đêm 5-11-1969, Mướt cùng một đồng đội bơi 6km vượt qua nhiều sình lầy, đồn bót, mang khối thuốc nổ 150kg đánh chìm tàu 10 ngàn tấn. Hai lần tại cảng Cát Lái (sát Sài Gòn), anh vừa điều nghiên vừa trực tiếp đánh chìm 2 tàu 10 ngàn tấn và 12 ngàn tấn.


Lương Văn Mướt được tặng thưởng 3 huân chương chiến công, 14 lần là chiến sĩ thi đua và dũng sĩ, 31 lần được tặng bằng khen, giấy khen. Ngày 6-11-1978, anh được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng võ trang.


Ngoài anh hùng Lương Văn Mướt ra, những trận chiến ác liệt với cá sấu Rừng Sác còn diễn ra với chiến sĩ Hoàng Chương, Mười Mót, đội phó Hùng... ở Rạch Lá, rạch Bào Thai, mà phần thắng thuộc về các chiến sĩ đặc công gan dạ đầy bản lĩnh. Các anh đã diệt được những con cá sấu hung dữ nhất ở Rừng Sác.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:32:15 PM
Những chuyện về ông Năm mạt cưa, Bảy dùa khô là có thật?

Có thể nói mỗi người dân Rừng Sác đi theo cách mạng là một chiến sĩ trên mặt trận hậu cần, trong nhiều trường hợp trở thành những người lính chiến đấu dũng cảm. Có những người dân không rõ tên tuổi, nhưng khi nhắc đến những "biệt danh" của họ, anh em Đoàn 10 hình dung ra là những chiến sĩ trên trận địa hơn là những người dân bình thường. Đó là bà Hai Trầu, ông Năm mạt cưa, ông Năm đầu tóc, Bảy dừa khô, Tư mập v.v...


Ông Năm mạt cưa là một nông dân chất phác, không biết chữ nhưng lại có năng lực nhiều mặt như có trí nhớ "mật hiệu”, am hiểu địch, xử lý tình huống linh hoạt. Ngoài những việc làm ruộng, ông còn có nghề bán mạt cưa ở quán chim đường 15. Còn anh Bảy sở dĩ có tên Bảy dừa khô là do anh làm nghề bán dừa khô. Cả hai đều là những cơ sở chí cốt của Đoàn 10. Mỗi khi cần đến ông Năm mạt cưa, cán bộ Đoàn 10 thường dù ng chữ "xuất tướng" tức là chuẩn bị hậu cần cho những trận đánh lớn như kho xăng Nhà Bè, kho bom Thành Tuy Hạ.


Trong lúc địch phong tỏa kinh tế gắt gao, Đoàn 10 cần 20 tấn gạo "dằn kho", anh Bảy dừa khô tức tốc lên đường. Anh về tận Bến Tre móc nối cơ sở xay xát để mua gạo. Khi tàu anh Bảy đang rẽ sóng ra khơi, thì ở Rừng Sác, các chiến sĩ đặc công đánh thủy lôi, điện đài; các tổ hỏa lực B41 đã chiếm lĩnh trận địa, bám sát địch trên sông. Các tổ chiến đấu sẵn sàng đánh tàu, xuồng giặc để bảo vệ tàu gạo của Bảy dừa khô trót lọt về căn cứ.


Trên tàu gạo 12 tấn của anh còn có cả những "hàng quốc cấm" không kém phần nguy hiểm như thuốc kháng sinh, máu khô, thuốc tê, băng gạc... trên phủ một lớp dừa nước để che mắt địch và những buồng dừa tươi dằn lên rất nặng. Tên ác ôn ở Bình Đại thấy tàu khẳm, nhảy lên dùng chĩa xăm, nhưng không phát hiện được gì Gặp tàu hải quân ở cửa biển, anh phải hối lộ 20 ngàn mới qua được Khi về đến Lý Nhơn (Rừng Sác) lại càng rắc rối: bọn lính xuống đòi khám tàu. Để tránh tình huống xấu nhất, anh Bảy bày rượu và khô mực ra làm chúng "quên hết sự đời". Bót Đồng Hòa là chặng gay go hơn cả, anh Bảy vẫn vượt qua được sau, khi "ngã giá" với xếp bót tới 50 ngàn đồng... Cuộc hành trình của người chiến sĩ hậu cần nhân dân tuy không có tiếng nổ mà dữ dội biết chừng nào. Nhưng đổi lại là niềm vui khi những hạt gạo xương máu đã vào kho an toàn.


Sau chuyến đi này, Bảy dừa khô còn nhận nhiệm vụ của đoàn trướng Bảy ước nâng trọng tải gạo lên 15 tấn, đồng thời lo 500 lố pin, 200m vải nilong, 500 đôi giày ba ta mắt cua, 200 ngàn đồng thuốc tây và nhất là dịch truyền, máu khô, kháng sinh... Những khó khăn chết người này, anh Bảy đều cố gắng hoàn thành.


Ở Rừng Sác, những chiến sĩ hậu cần từ em bé đến ông già hết lòng cưu mang chiến sĩ Đoàn 10. Chính họ góp phần làm nên những biển lửa Nhà Bè, Thành Tuy hạ, sông Lòng Tàu và huyền thoại đặc công Rừng Sác.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:32:53 PM
Xin cho biết huyền thoại về má Hai Trầu?

Chiến sĩ Rừng Sác không ai không biết tới má Hai Trầu. Có lẽ người chiến sĩ hậu cần cao tuổi nhất, từng vào sinh ra tử, nếm trải nhiều đau thương chính là bà Hai Trầu. Bà tên thật là Đỗ Thị Trị, quê ở Phước Thọ, Long Thành, người đã vào chiến khu phục vụ cho kháng chiến từ thuở đừng Sác còn dùng đồng bạc Cụ Hồ. Má Hai Trầu đã nhiều lần đối mặt với bọn giặc.


Vào một ngày cuối năm 1968, má Hai bị địch bắt vì chở "hàng quốc cấm" vào Rừng Sác. Tên thiếu tá an ninh quắc mắt hỏi:

- Bà vô rừng Rừng Sác làm gì?

Không hề tỏ ra lo sợ, má bình thản trả lời hắn:

- Tui vô thăm con tui ở Đoàn 10.

- Đoàn 10 ở đâu?

- Trong Rừng Sác!

Cứ như thế, má "chày cối" và chửi lại chúng thậm tệ, khiến bọn giặc nản lòng thua cuộc.

Đúng như lời "khai báo" của má Hai trước bọn giặc, má có hai con là chiến sĩ Đoàn 10, và thực chất thì cái tên má Hai Trầu đã trở thành thân thiết với cán bộ chiến sĩ Rừng Sác từ lâu. Trong thời kỳ đánh Mỹ, má từng là chiến sĩ quân báo vừa là chiến sĩ hậu cần. Những chuyến hàng bí mật từ Sài Gòn vào Rừng Sác không còn có con đường nào hơn lộ trình Sài Gòn - Vũng Tàu, Sài Gòn - Nhà Bè - sông Lòng Tàu. Má Hai đã lập nên một mạng lưới sơ sở cho mình với đủ phương tiện: xe lam, xe be, xe đò, canô. Mỗi chuyến đi coi như một trận đánh với đủ sắc lính: Mỹ, ngụy, Úc, Thái Lan... có những chuyến thắng lớn, nhưng cũng có những chuyến đổ vỡ phải vào tù. Tính ra má bị địch bắt tất cả 6 lần. Thấy công việc nguy hiểm, có lần Đoàn 10 định cung cấp súng cho má Hai, nhưng má nói: "Tụi bay đánh giặc bằng súng, còn má có cái lưỡi". Một lần bọn ngụy đưa má ra tòa vì tội vẽ sơ đồ sân bay Biên Hòa và tuyên án 5 năm tù. Má chẳng sợ, còn hăm dọa:

- Năm năm tù, tui ở một năm, còn bốn năm dành cho các ông!

Bọn quan tòa ngụy hết sức ngạc nhiên, nhưng đúng là năm 1975 đã cáo chung chế độ tay sai Sài Gòn.

Trong lần vẽ sơ đồ lần 2, má Hai cầm đầu cuộc đấu tranh, bị địch bắn bị thương phải vào điều trị ở nhà thương trong căn cứ Nước Trong. Lợi dụng tính hợp pháp má "điều nghiên" rất tỉ mỉ, dùng nước trầu vẽ căn cứ địch lên tấm giấy, gửi ra cho đơn vị trong một khúc ruột heo.


Sáu lần bị bắt, má phải nếm đủ đòn thù qua các nhà lao Thủ Đức Biên Hòa, Côn Đảo. Có lần chúng dắt má ra một cái hố đào sẵn đầy phân người, nổ súng ngang tai rồi đạp nhào xuống hố... Kể cả "đi tàu ngầm", dùng trùn hổ, chích điện... vẫn không khuất phục được má.


Nhưng trận ác liệt nhất là trận cuối cùng vào khoảng năm 1972, trong một chuyến đi "chở hàng" cho bộ đội Rừng Sác, má Hai Trầu lại bị bắt. Cô Tiến 19 tuổi con gái của má đi thay cũng bị bắt, và oái ăm thay hai mẹ con má Hai lại gặp nhau trong nhà tù. Đó là điều quân địch mong muốn để khuất phục má. Cô Tiến bị tra tấn cực hình dã man khi gặp mẹ thân thể tàn tạ. Địch ra điều kiện, má phải ký vào bản ly khai thì cho mẹ con được đoàn tụ. Sức khỏe Tiến tồi tệ và đang trong tình trạng nguy hiểm nằm mê man... Mọi người khuyên má tạm ký để cứu lấy con, nhưng má Hai Trầu không thể bỏ cách mạng, bỏ Đoàn 10...


Đến ngày giải phóng, hai mẹ con má Hai gặp lại nhau khi thoát khỏi nhà lao Côn Đảo và Tân Hiệp, nhưng cô Tiến đã hoàn toàn vô thức, không còn nhận ra đồng đội cũng như mẹ mình. Sau ngày "sum họp" ngắn ngủi, người con gái dũng cảm của người mẹ huyền thoại đã vĩnh viễn ra đi.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:33:28 PM
Ở Rừng Sác, có một gia đình cả nhà đi bộ đội?

Không chịu nổi ách kìm kẹp của Mỹ, ngụy, ông Năm Hổ cùng ba con trai từ giã quê hương Cần Thạnh đi vào chiến khu vào một đếm tối trời. Họ bỏ tất cả: nhà cửa, đồ đạc gia sản, lên ghe bơi vào sông Tiều, Cá Nhám. Vậy là Đoàn 10 được bổ sung 4 tân binh của địa phương tại chỗ. Suốt nhiều năm liền, với cây súng bá đỏ, tay chèo tay chống, cha con ông Năm lặn lội khắp sông rạch cùng anh em chiến đấu săn tàu, chống càn, đột nhập chi khu Quảng Xuyên...


Nhưng rồi trong cuộc chiến đấu tự cứu lấy mình và cứu nước, trong tổn thất chung có những mất mát riêng khó lòng tránh khỏi. Một trận đánh trên sông Lòng Tàu, tiểu đội trưởng Hùng, con trai đầu của ông Năm trúng đạn hi sinh, lúc đó anh mới gần 30 tuổi. Thi hài của Hùng bọc trong nilông đưa về bắc Rừng Sác. Ông Năm đến xem không nhận ra con mình. Lần đầu, ông lau nước mắt tiễn người con thân yêu về nơi an nghỉ cuối cùng, để lao vào trận chiến mới.


Nhưng đau thương còn bám đuổi người cha gan vàng dạ sắt. Một năm sau, trong lần Đội 3 ĐKZ phục kích bắn chìm 3 tàu giặc trên sông Đồng Tranh, trung đội phó Phước đã ngã xuống dưới gốc chà là. Anh em Đoàn 10 đưa về chôn cất ở gò Bà Bông. Lần này đơn vị chưa dám báo tin dừ cho ông Năm, nhưng dần dần ông cũng biết. Nỗi thương tiếc con khiến lòng người cha đau quặn nhưng ông lại nguôi ngoại khi nghĩ không chỉ có hai con mình hi sinh mà còn có hàng trăm con em hậu phương miền Bắc, vượt Trường Sơn vào đổ máu xuống Rừng Sác.


Ban chỉ huy Đoàn 10 có ý giữ tiểu đội trường Hiệp, người con trai còn lại duy nhất của ông Năm, bằng cách điều anh từ đơn vị chiến đấu về làm trinh sát, bảo vệ hạn chế đi công tác xa, để hai cha con ông Năm gần nhau hơn.


Nhưng rồi chiến trường ác liệt hơn sau Mậu Thân đã đưa đến cái tang thứ ba đau đớn cho ông Năm. Trong trận tuyến cách địch không đầy 100m, A trưởng Hiệp vác mìn ĐH10 đi bám địch, diệt được nhiều tên tại Bờ Tràm nhưng lại vấp phải trái mìn Clâymo của Mỹ, hi sinh trên đồi cát mênh mông...


Ông Năm trở nên trầm lặng, nếp nhăn hằn sâu hơn trên gương mặt sắp tuổi thất tuần. Tuy nhiên từ đó ông Năm càng gắn bó với Đoàn 10 như gia đình và cán bộ, chiến sĩ trung đoàn cũng kính trọng chăm sóc ông như người cha ruột, làm ông khuây khỏa chuyện riêng tư. Trong bom đạn vang rền, trong tiếng gầm rú ì ầm của máy bay, tàu chiến giặc, ông Năm lặng lẽ làm một chiến sĩ hậu cần trung thành của đoàn 10 Rừng Sác. Tháng ngày ông vui với điếu thuốc rê, nhâm nhi chén rượu, con khô bên chiếc radio nghe tin tức...


Sau ngày giải phóng ông Năm được "xuất ngũ” với cấp bậc thượng sĩ Sau nảy ông có thêm một căn "nhà tình nghĩa". Ở đó ông sống với người con gái út năm nay đã 51 tuổi và có 9 người con. Đó là nơi để anh em Đoàn 10 ghé tới thăm hỏi đồng chí thượng sĩ, ba Năm Hổ của mình.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:33:57 PM
Bến Gò Dầu có gì đặc biệt?

Từ hạ lưu sông Thị Vải ngược nước rẽ về vàm Phước Thái là đến bến Gò Dầu xã Thái Thiện, trong chiến tranh là khu vực trống trải do sự tàn phá của bom đạn và chất độc hóa học Mỹ.


Qua các cuộc chiến tranh giải phóng, địa điểm này trở thành quen thuộc với mọi người. Bọn phát xít Nhật từng có mặt ở đây, lập sân bay Phước Biên, cũng là nơi chúng rút chạy khi thua đồng minh. Chín năm kháng chiến, giặc Pháp thua trận, cũng xuống tàu tại đây Lực lượng Việt minh từ Gò Dầu qua Ô Cấp tập kết ra Bắc theo hiệp định Genève. Đáng nói là bọn xâm lược Mỹ tưởng ăn tươi nuốt sống miền Nam, khi thua trận, những tên tuổi sừng sỏ như: "Anh cả đỏ", “Tia chớp nhiệt đới", “Kỵ binh bay" cũng tại đây xuống tàu ra biển cút về nước.


Cũng chính nơi đây là "cửa khẩu”, bà con cô bác, chiến sĩ hậu cần Rừng Sác cung cấp "vật tư” tôn, sắt, dây thép gai cho Đoàn 10 luyện tập đánh kho tàng giặc.

Sở chỉ huy Đoàn 10 đã từng trú đóng không xa Gò Dầu, cách nhà thờ khu giáo dân Phú Hà vài trăm thước, có thể bị hủy diệt bất cứ lúc nào, nhưng vẫn yên ổn trong vòng tay che chở đùm bọc của nhân dân.


Đối với những cán bộ chỉ huy Đoàn 10, bến Gò Dầu để lại biết bao kỷ niệm trong những năm tháng chiến đấu ở Rừng Sác.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:34:24 PM
Có một nữ quân y hi sinh anh dũng trong Rừng Sác?

Năm 1967 "R" bổ sung cho Đoàn 10 một quân y sĩ tên là Nguyễn Kim Mến. Đó là một phụ nữ tầm thước, tóc ngắn ngang vai, một "tân binh C" từ hậu phương lớn miền Bắc, vai còn đeo ba lô "con cóc". Chị từ chối đi học bác sĩ để trở về Nam chiến đấu. Kim Mến sung sướng gặp người chồng yêu thương là đoàn trưởng Lê Bá Ước nhưng lại đeo đẳng nỗi nhớ thương hai con nhỏ nơi ngàn trùng xa cách, để lại trên đất Bắc. Vừa đến Rừng Sác, mang theo cả sốt rét rừng Trường Sơn, người nữ quân y đã vào cuộc, cứu sống một chiến sĩ bằng ca mổ lấy ra chiếc đầu đạn AR15 găm trong cổ hết sức hiểm nghèo. Người chiến sĩ này đã qua 25 ngày đêm đi lạc đơn vị sau một trận đánh trên sông Lòng Tàu, sống bằng đọt chà là và vọp sống, mình đầy thương tích. Chỉ với lưỡi dao lam và chai thuốc đỏ, Kim Mến đã hoàn thành ca phẫu thuật có một không hai.


Kim Mến đã bám trụ cùng anh em trong những tháng ngày gian khổ, ác liệt nhất của chiến trường Rừng Sác. Nhiều đêm trắng "đội bom pháo", kéo cá, đột ấp tải gạo nuôi thương binh. Trong những ngày này, chị sinh cháu trai trong căn cứ, sau 15 ngày đã phải gửi vào ấp chiến lược Phước Thái, nhờ cơ sở nuôi dưỡng.

Ba tháng sau ngày gửi con, Kim Mến vĩnh viễn ra đi...

Hôm đó tại căn cứ quân y ở tắc Kỳ Quang trên bờ sông Thị Vải, chiếc OH6 của Mỹ phát hiện được đơn vị. Thấy tình hình nguy hiểm, đội phó Kim Mến bàn với đơn vị nhanh chóng đưa thương binh ra khỏi căn cứ, còn mình nán lại thu dọn dụng cụ thuốc men.Chỉ vài phút sau bọn "cá lẹp" tới phóng hỏa tiễn ào ạt xuống khu rừng. Cây cối, hầm hố tanh bành trong bùn sình tung tóe. Người nữ y sĩ nằm úp mặt sóng soài, một chân gãy nát, vai còn nặng trĩu túi cứu thương, ba lô rách toác văng ra chiếc áo gối chị may cho con chưa kíp gửi.


Từ lòng chảo Nhơn Trạch, chỉ huy Bảy Ước nhận được tin sét đánh, anh lặng người đi trong nỗi đau thương quá lớn. Những giọt nước mắt thương nhớ người vợ hiền thân yêu vừa gặp lại chưa lâu, thấm xuống lòng địa đạo.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:36:02 PM
Đại tá Lê Bá Ước là một trong những cán bộ chỉ huy Đoàn 10 đặc công từng lặn lội trên chiến trường Rừng Sác nhiều năm, đồng thời ông là một nhà văn nghiệp dư. Xin cho biết sơ qua về người chỉ huy "gạo cội" này và một vài tác phẩm của ông?

Đại tá Lê Bá Ước sinh năm 1931, quê ở Gò Quào, Rạch Giá (nay là tỉnh Kiên Giang), nhập ngũ năm 1945, tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau hiệp định Genève, ông tập kết ra miền Bắc, học tập xây dựng quân đội chính quy rốt lại trở về miền Nam chiến đấu trên chiến trường Rừng Sác, với cương vị chính ủy và trung đoàn trưởng Trung đoàn 10 đặc công. Với bản lĩnh của một cán bộ đặc công dũng cảm và giàu kinh nghiệm chiến đấu, bám trụ, ông đã góp nhiều tâm sức xây dựng Đoàn 10 thành đơn vị anh hùng, lập nhiều thành tích, chiến công vang dội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Sau khi rời Đoàn 10, ông giữ chức Phó chỉ huy trưởng tỉnh đội Đồng Nai và nghỉ hưu năm 1994 với cấp bậc đại tá.

Mặc dù là "con nhà binh chính thống" nhưng đại tá Lê Bá Ước rất yêu văn học, nghệ thuật. Ông đã sáng tác nhiều thơ ca, truyện ký, tham gia sáng tác tượng đài chiến sĩ Rừng Sác ở đền thờ liệt sĩ Nhơn Trạch và là cố vấn của một số phim về Rừng Sác.
Hiện nay ông là hội viên Hội văn học - nghệ thuật tỉnh Đồng Nai, tác giả của tập truyện "Một thời Rừng Sác". Xin trích giới thiệu bài thơ "Thương nhớ” in ở cuối tập sách này.


THƯƠNG NHỚ

Trở lại Rừng Sác quê tôi
Mênh mông sông nước bồi hồi nhớ thương
Bao nhiêu bom đạn chiến trường
Bấy nhiêu kỷ niệm tình thương mặn nồng
Lặn sâu xuống sông Lòng Tàu
Đồng đội ngày xưa có thấy đâu
Hỏi ốc, ốc nằm im chẳng nói
Hỏi cua, cua bảo sấu ăn rồi.
Xương trắng nở hoa tận đáy sông
Mênh mông Rừng Sác nhuốm màu hồng.
Năm trăm hài cốt chưa tìm được
Rừng đước bạt ngàn những chiến công

1996
Lê Bá Ước


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:36:26 PM
Rừng Sác có hội "Anh chiến sĩ"?

Trong chiến tranh thường có hội "mẹ chiến sĩ” là tổ chức mang ý nghĩa tình quân dân cá nước để giúp đỡ, động viên bộ đội. Nhưng ở Rừng Sác lại có hội "Anh chiến sĩ”, mới lạ. Chính tổ chức này hình thành khi chiến trường Rừng Sác trải qua những tháng ngày khốc liệt nhất. Đầu tiên là một hội "ăn thề" của nhưng người nông dân trong ấp chiến lược An Thít, ra làm ăn hàng ngày ở chiến khu, có nguyện vọng được nhận việc của cách mạng.


Tại một gốc cây xã Bà Bông trong một buổi tề tựu có chính ủy Đoàn 10 Lê Bá Ước, ông Bảy Cóc, anh Hai Trâm và những người nông dân ở xã An Thít đã "ăn thề": "Ai gia nhập hội mà phản bội sẽ bị cách mạng trừng trị". Tôn chỉ mục đích của Hội có thể tóm tắt ngắn gọn: "Chống Mỹ, cứu nước, sẵn sàng gia nhập và hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao phó". Ông Bảy Cóc và anh Hai Trâm đứng ra cáng đáng việc điều hành, hội họp. Trong đó ông Bảy Cóc là chủ tịch Hội. Khi có mật hiệu truyền đi trong các ấp chiến lược, trong vòng một con nước có thể vài tạ gạo đã tới tay chiến sĩ Rừng Sác. Hội “Anh chiến sĩ” hoạt động rất có hiệu quả, chỉ một thời gian từ An Thít lan ra Thạnh An, Lý Nhơn và lập được nhiều chiến công trên mặt trận hậu cần trong thời điểm Đặc khu Rừng Sác bị địch bao vây phong tỏa quyết liệt nhất.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:36:51 PM
Trong chiến dịch Hồ Chí Minh tháng 4-1975, Đoàn 10 Rừng Sác và lực lượng cách mạng Cần Giờ đã sôi nổi tham gia tiến công và nối dậy. Toàn huyện được giải phóng ngày nào?

Từ 17 giở ngày 26-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn cuối. Vòng vây của quân ta đã khép chặt Sài Gòn. Ở hướng đông và đông nam thành phố, đường 15, sông Lòng Tàu, sân bay Biên Hòa bị khống chế, chặn đường rút lui của quân địch về phía biển. Mặt trận cánh đông đã bao vây cô lập Sài Gòn, đánh phá trận địa pháo Nhơn Trạch, tạo thế tiến công cho toàn mặt trận. Đoàn 325 đã chiếm được Long Thành, phát triển theo lộ 25 về hướng Nhơn Trạch. Trung đoàn 116 đã chiếm được xa lộ và cầu Rạch Chiếc.


Trên sông Lòng Tàu từ ngày 27-4, Đoàn 10 đã khống chế đoạn sông từ Phước Khánh đến ngã ba Đồng Tranh. Lực lượng của Đoàn 10 còn lại ở Rừng Sác, một mũi tiến công Hải quân công xưởng và phà Cát Lái, một mũi phối hợp quân dân tiến công chi khu Cần Giờ và Quảng Xuyên. Sáng 30-4 đã bao vây chặt hai chi khu, phát loa kêu gọi binh sĩ ngụy đầu hàng. Tuyệt vọng hoàn toàn, đại úy Mùi, quận phó Cần Giờ cùng toàn bộ sĩ quan và binh lính kéo cớ trắng đầu hàng. 12 giờ, ta chiếm lĩnh chi khu Cần Giờ. Ở Quảng Xuyên, trung tá quận trưởng Nguyễn Hữu Nghĩa bỏ trốn, bọn còn lại xin hàng. Đến 18 giờ 30 ngày 30-4, các xã ở Cần Giờ và Quảng Xuyên hoàn toàn giải phóng.


Tại cửa sông Lòng Tàu, đội 12 Đoàn 10 làm nhiệm vụ chốt chặn, bắn chìm 20 tàu thuyền của địch trên đường chạy trốn ra biển. Quân và dân Cần Giờ cùng với Đoàn 10 Rừng Sác đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến dịch, góp phần giải phóng Sài Gòn trong giờ khắc lịch sử ngày 30-4-1975.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:37:40 PM
Đoàn 10 đặc công là đơn vị bám trụ Rừng Sác trong thời kỳ ác liệt nhất và lập nên những kỳ tích chiến công trên mặt trận sông nước sát hang ổ quân thù. Xin cho biết thành tích của tập thể anh hùng này?

Kể từ khi vào làm nhiệm vụ chiến đấu trên chiến trường đừng Sác, qua 9 năm đương đầu với Mỹ, ngụy, cán bộ, chiến sĩ Đoàn 10 đã vượt qua vô vàn gian khổ, hi sinh và lập nên một bảng vàng chiến công rực rỡ, tô thắm thêm lịch sử binh chủng Đặc công - Biệt động Sài Gòn - Gia Định anh hùng:

- Chiến đấu 595 trận, diệt 6200 quân địch (trong đó diệt gọn 2 đại đội Mỹ, 1 đại đội bảo an ngụy).

- Đánh chìm và cháy 365 tàu, thuyền chiến đấu.

- Đánh đắm 133 tàu vận tải từ 800 đến 13 ngàn tấn và cháy 145 tàu vận tải khác.

- Bắn rơi 29 máy bay trực thăng.

- Đột nhập kho bom Thành Tuy Hạ hai lần, phá hủy trên 110 ngàn tấn bom đạn; phá hủy 200 triệu lít xăng và khí đốt butaga tại tổng kho xăng dầu Nhà Bè.

- Pháo kích 70 trận làm cháy hàng triệu lít xăng dầu.

- Phá hủy 1 trận địa pháo 2 khẩu 105 ly; 10 đồn bót cấp đại đội và nhiều tua chốt dã ngoại, đánh sập và hỏng 4 cầu, 3 khu chỉ huy cơ sở của quân ngụy.


Được khen thưởng:

- Toàn Trung đoàn được tuyên dương anh hùng (23-9-1973).

- Đội 5 của Trung đoàn được tuyên dương đơn vị anh hùng hai lần (20-12-1972) và (12-9-1975).

- Đội 5 và Đội 2 được tặng danh hiệu "Thành đồng quyết thắng" 2 năm 1968-1969.

- Toàn Trung đoàn được tặng thưởng 1 huân chương thành đồng hạng nhất, 15 huân chương quân công hạng hai và ba, 24 huân chương chiến công hạng nhất, nhì, ba.

- 6 đồng chí được tuyên dương anh hùng:

+ Trịnh Xuân Bảng

+ Nguyễn Hồng Thế

+ Nguyễn Chất Xê

+ Trần Văn Dần

+ Hà Quang Vóc

+ Lương Văn Mướt

- Các đơn vị của Đoàn được tặng 4 huân chương quân công, 90 huân chương chiến công...

- Cán bộ chiến sĩ Trung đoàn 10 được tặng 6 huân chương quân công, 154 huân chương chiến công, 1841 bằng khen, 1740 giấy khen, 16 chiến sĩ thi đua cấp phân khu, 268 chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, 155 dũng sĩ các cấp.

Riêng Đội 5 với những chiến công xuất sắc đánh kho xăng Nhà Bè, kho bom Thành Tuy Hạ và nhiều tàu lớn trên sông Lòng Tàu, được Đảng và Nhà nước 2 lần tuyên dương anh hùng và 6 cá nhân anh hùng. Đây là đơn vị cấp đại đội có nhiều anh hùng nhất trong Quân đội nhân dân Việt Nam.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:38:32 PM
Có thể cho biết những tổn thất của Đoàn 10 và các lực lượng trong Đặc khu Rừng Sác qua hai cuộc chiến tranh? Những con em của địa phương nào trong cả nước đã hi sinh ở Rừng Sác?

Trung đoàn 10 đặc công anh hùng lập được những chiến công làm nức lòng nhân dân cả nước trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, là nỗi kinh hoàng của bọn xâm lược và tay sai. Lịch sử Đoàn 10 gắn với chiến khu Rừng Sác và những con người làm nên kỳ tích lẫy lừng đã đi vào huyền thoại của thế kỷ 20.


Giá của lịch sử Đoàn 10 đã phải trả bằng máu lớp lớp cán bộ, chiến sĩ của nhiều miền đất nước hội tụ về đây. Họ chấp nhận hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc và vĩnh viễn hóa thân vào sông nước Rừng Sác mênh mông.


Theo thống kê đến năm 2000, ở chiến trường Rừng Sác có 800 người hi sinh. Trong đó có 600 chiến sĩ, cán bộ của Trung đoàn 10 anh hùng. Do điều kiện đặc thù của chiến trường sông nước, sình lầy rừng rậm, cá sấu, bom đạn... nên đến nay khoảng 2/3 số liệt sĩ không tìm được hài cốt.


Số liệt sĩ của Trung đoàn 10 đặc công (1965-1975) là 621 đồng chí.


Phía Bắc: 319

- Hà Nội: 18

- Hà Tây: 9

- Vĩnh - Phú: 33

- Thái Bình: 38

- Quảng Bình: 9

- Thanh Hóa: 50

- Nghệ - Tĩnh: 59

- Hải Phòng: 16

- Quảng Ninh: 9

- Hà - Nam - Ninh: 33

- Hải - Hưng: 36

- Lạng Sơn: 1


Phía Nam: 302

- Long An: 115

- Tp.Hồ Chí Minh: 69

- Tiền Giang: 33

- Bến Tre: 32

- Bà Rịa - Vũng Tàu: 14

- Đồng Nai: 10

- Cần Thơ: 4

- Sóc Trăng: 4

- Trà Vinh: 4

- Bạc Liêu: 4

- Tây Ninh: 4

- Vĩnh Long: 3

- Bình Dương: 2

- Quảng Nam: 2

- Rạch Giá: 1

- Sa Đéc: 1


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:39:10 PM
Đền thờ liệt sĩ và tượng đài đặc công Rừng Sác xây dựng năm nào, ở đâu xin cho biết ý nghĩa của trang đài này?

Với tất cả lòng biết ơn các chiến sĩ đã hy sinh thân mình cho Tổ quốc trong các cuộc chiến tranh giải phóng, một đền thờ liệt sĩ bề thế, uy nghiêm được dựng lên trên vùng Nhơn Trạch, Đồng Nai. Địa điểm chính tại Long Thọ giáp ranh với Phước An là 2 xã anh hùng. Đây cũng là địa bàn cửa ngõ bước vào chiến khu Rừng Sác năm xưa, mà Bà Bông từng một thời mệnh danh là "thủ đô giải phóng" đối diện với Nhà Bè, nơi đứng chân của Đoàn 10 Rừng Sác điều nghiên và tấn công vào kho tàng, sào huyệt giặc...
Đền Nhơn Trạch là một công trình kiến trúc hoành tráng (tựa như đền Bến Dược - Củ Chi) tọa lạc trên 20.000m2, khánh thành ngày 1-9-1999. Từ cổng tam quan vào có nhà bia khắc chữ vàng. Bên phải là tượng đài đặc công Rừng Sác cao 9m trên hồ nước rộng 825m2.


Trong chính điện khắc tên 80 bà mẹ Việt Nam anh hùng của huyện Nhơn Trạch và hơn 2000 liệt sĩ của 30 tỉnh, thành phố, trong đó có 800 liệt sĩ Rừng Sác. Ngày 31-8-1999, đông đảo cán bộ lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, huyện Nhơn Trạch, Trung đoàn 10 và đồng bào trong vùng đã làm lễ rước vong linh liệt sĩ Rừng Sác về đền Nhơn Trạch.

Tượng đài "Đặc công Rừng Sác là ý tưởng của nhóm tác giả trong Hội Văn học - nghệ thuật tỉnh Đồng Nai gồm: Thanh Thanh, Lê Bá Ước, Sĩ Nguyên.

Trên mặt nước, một cuộn sóng cao nói lên sự khắc nghiệt của thiên nhiên Rừng Sác. Nó còn là ngọn sóng thần kỳ bất khuất tiều biểu khí phách kiên cường của quân và dân Rừng Sác và các chiến sĩ đặc công quả cảm. Trên ngọn sóng là hai chiến sĩ đặc công ôm mìn lao vào tàu giặc, vung nắm tay với quyết tâm cảm tử và niềm tin chiến thắng, mang dáng dấp hiên ngang của Quang Trung Nguyễn Huệ từng nhận chìm hàng trăm tàu giặc ở cửa biển Đông... của Yết Kiêu trên Bạch Đằng Giang.


Bị nhận chìm dưới "chân ngọn sóng" là hình chiếc tàu của bọn xâm lược (chỉ còn nhô lên phần mũi cùng chiếc mỏ neo) song song với đầu con cá sấu đang nhe hai hàm răng hung dữ...


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:39:59 PM
Đoàn 10 đặc công Rừng Sác hiện nay còn tồn tại không?

Đoàn 10 Rừng Sác được thành lập từ đầu năm 1966 cho đến ngày 30-4-1975 coi như đã hoàn thành sứ mạng chiến đấu giữ vững vùng căn cứ Rừng Sác, bàn đạp trọng yếu phía nam Sài Gòn.


Tuy nhiên, sau hòa bình lập lại trong điều kiện nhiều phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, Đoàn 10 vẫn đứng nguyên vị trí bảo vệ vùng cửa ngõ phía đông nam thành phố.


Tháng 4-1976, Trung đoàn 10 đặc công được tách khỏi Đoàn 27 đặc công của Miền về sát nhập trực thuộc Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh. Đơn vị có nhiệm vụ chiến đấu trên sông và ven biển, đảm nhiệm các địa bàn Cần Giờ, Nhà Bè, sông Lòng Tàu, Đồng Tranh, Soài Rạp...; biên chế gồm 3 tiểu đoàn với quân số trên 700 cán bộ, chiến sĩ, trang bị 33 tàu, xuồng (nhưng 67% đã hư hỏng).


Năm 1979, 1 đại đội pháo của Trung đoàn 10 tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia.

Phát huy truyền thống đơn vị anh hùng, cán bộ chiến sĩ trung Đoàn 10 lập nhiều thành tích trong xây dựng và sẵn sàng chiến đấu, đặc biệt đã bắt được nhiều toán vượt biên trái phép, phát hiện và phối hợp với đơn vị bạn và địa phương bắt nhiều tổ chức nhen nhóm phản động chống phá cách mạng, thu nhiều vũ khí, tiền bạc, hiện vật có giá trị...


Từ khi thực hiện đổi mới công tác quân sự trong công cuộc đổi mới chung của đất nước, Trung đoàn 10 chuyển sang làm nhiệm vụ quản lý quân dự bị động viên. Tuy quân số ít (chỉ có bộ khung chỉ huy và cơ quan) nhưng trung đoàn vẫn cố gắng nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ, xây dựng lực lượng tại chỗ, củng cố khu vực phòng thủ trên địa bàn trọng yếu, góp phần giữ vững ổn định một thành phố lớn có tầm chiến lược quan trọng đối với cả nước và khu vực trên bước đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:40:24 PM
Xin cho biết mức độ tàn phá của chiến tranh đối với Rừng Sác, do Mỹ, ngụy gây nên?

Như ta đã biết Rừng Sác - Cần Giờ là căn cứ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, là bàn đạp của lực lượng vũ trang nhân dân tiến công các mục tiêu quân sự của địch sát trung tâm đầu não chiến tranh của chúng và khống chế đường thủy của giặc từ cửa Cần Giờ vào Sài Gòn. Do đó khu ngập mặn Rừng Sác - Cần Giờ phải hứng chịu sự đánh phá, hủy diệt của kẻ thù, chủ yếu là bom đạn và chất độc hóa học.


Cho đến tháng 4-1975, rừng ngập mặn Cần Giờ bị hủy diệt hoàn toàn. Theo tài liệu tổng kết chiến tranh, vùng Rừng Sác - Cần Giờ từ năm 1962 đến năm 1971, Mỹ rải 4.000.000 lít chất độc hóa học khai quang, bình quân mỗi ha rừng 56 lít, 42.000 ha rừng bị phá hủy gần 100%. Đến năm 1977, Rừng Sác vẫn còn trơ trụi, thảm thực vật, động vật dưới tán rừng, các loài thủy sinh biến mất; hệ sinh thái môi trưởng bị biến đổi nghiêm trọng. Mặt khác, do sức ép về dân số và kinh tế sau chiến tranh, tài nguyên rừng càng thêm cạn kiệt... dăn đến diện tích đất thoái hóa ngày càng tăng, nước mặn lấn sâu vào nội địa; nhiều nguồn giống loài thủy sản, thú rừng, chim muông... mất nơi sinh sống. Hiện tượng xói lở bờ biển, bớ sông diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh. Đời sống dân nghèo vùng biển càng thêm khó khăn.


Sau chiến tranh, huyện Cần Giờ có 8.651 hộ với 52.491 người thì có 2512 hộ nạn nhân chiến tranh với 12.479 người. Ở thành phố Hồ Chí Minh, nếu như sự hủy diệt về bom Củ Chi đứng hàng đầu thì Cần Giờ đứng thứ nhất về chất độc hóa học khai quang.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:40:54 PM
Huyện Cần Giờ được tuyên dương Anh hùng lúc nào? Trong huyện có mấy xã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang. Có bao nhiêu bà mẹ Việt Nam anh hùng?

Vốn mang nặng lòng yêu nước, trong cuộc cách mạng Tháng 8 lịch sử, nhân dân Cần Giờ đã vùng lên hưởng ứng thới cơ khởi nghĩa, giành lấy chính quyền. Trong 9 năm chống thực dân Pháp (1945-1954) quân và dân Cần Giở ra sức xây dựng lực lượng, đóng góp sức người sức của, chịu đựng gian khổ bảo vệ vùng giải phóng và tiến công tiêu hao, tiêu diệt địch trên đất liền và dưới nước.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) đầy thử thách gian lao, ác liệt, hi sinh to lớn, lực lượng vũ trang khống chế một trong những tuyến đường thủy quan trọng của Mỹ - ngụy ở miền Nam, đánh phá nhiều căn cứ, kho tàng chiến lược của địch, góp phần vào thắng lợi vẻ vang giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Đã tiêu diệt và làm bị thương 7000 tên địch, đánh chìm và cháy trên 80 tàu thuyền các loại, trong đó có gần 300 tàu trọng tải 7 ngàn tấn đến 15 ngàn tấn, bắn rơi và bị thương gần 100 máy bay, thiêu hủy 250 triệu lít xăng dầu...


Với những thành tích nổi bật, lực lượng vũ trang và nhân dân Cần Giờ đã được tặng thưởng 10 huân chương các loại. Ngày 28-4-2000, được Đảng và Nhà nước tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Hai xã được tuyên dương anh hùng là Lý Nhơn (20-12-1994), Cần Thạnh (30-8-1995). Toàn huyện được tuyên dương 28 bà mẹ Việt Nam anh hùng.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:41:13 PM
Xin cho biết về một bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu của huyện Cần Giờ?

Trong 30 năm kháng chiến chống xâm lược, giải phóng đất nước, biết bao bà mẹ ở Cần Giờ đã thầm lặng hiến dâng chồng con cho Tổ quốc. Trong số những bà mẹ Việt Nam anh hùng được Đảng và Nhà nước tuyên dương, có cụ Phan Thị Lâu và má Đoàn Thị Thê là hai mẹ con của một gia đình 6 liệt sĩ Đây là một trường hợp khá đặc biệt ở Thành phố Hồ Chí Minh.


Má Đoàn Thị Thê quê ở Cần Thạnh là con thứ hai một gia đình có 15 anh em, cha mẹ đều tham gia kháng chiến và đã qua đời. Riêng cụ Phan Thị lâu (bà mẹ Việt Nam anh hùng) mất cách đây hơn một chục năm. Trong nhà trên bàn thờ có 6 liệt sĩ: Đoàn Văn Quang, Đoàn Văn Lực, Đoàn Thị Hồng Vân, hy sinh các năm 1968, 1970, 1971, Lê Văn Trung (chồng má) và hai con: Lê Văn Vinh và Lê Thị Lọt hi sinh các năm 1962, 1973.


Nỗi đau chồng chất lên cuộc đời người mẹ, nhưng má Đoàn Thị Thê vẫn sống và cưu mang cách mạng như biểu tượng của lòng nhân nghĩa, đức hi sinh của những bà má Rừng Sác anh hùng.  


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:42:36 PM
Cần Giờ có một thời gian mang tên Duyên Hải, sau được đổi lại như cũ. Hiện tại Cần Giờ có bao nhiêu xã? Đặc điểm địa lý có gì khác truớc?

Trước ngày gỉai phóng (4-1975) Cần Giờ thuộc tỉnh Biên Hòa (lúc này chưa có tỉnh Đồng Nai) gồm 12 xã: Thạnh An, Tân Thạnh, Cần Thạnh, Long Thạnh, Đồng Hòa, Lý Nhơn, An Thới Đông, Bình Khánh, Tam Thôn . Hiệp, Phú Hữu, Phước Khánh và Long Sơn.


Tháng 2-1978, Cần Giờ chuyển từ tỉnh Đồng Nai (lúc này hợp 4 tỉnh lại: Biên Hòa, Long Khánh, Bà Rịa, Vũng Tàu) về Thành phố Hồ Chí Minh và mang tên mới: Duyên Hải. Đến ngày 18-12-1991, trở về tên cũ Cần Giờ như hiện nay, với tổng diện tích 70.415.595 ha, dân số 59.676 người, gồm 7 xã - 33 ấp:

1 - Xã Cần Thạnh

2- Xã Long Hòa

3- Xã Thạnh An

4- Xã Tam Thôn Hiệp

5- Xã An Thới Đông

6- Xã Bình Khánh

7- Xã Lý Nhơn

Như vậy so với trước năm 1975, Cần Giờ hiện nay bớt đi 5 xã do chuyển về các địa phương Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu.

Từ khi Cần Giờ chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh, được sự quan tâm của lãnh đạo thành phố và Trung ương, đã đổi mới toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng. Cần Giờ trở thành một địa bàn quan trọng của thành phố nên được đầu tư ngày càng nhiều, cuộc sống của nhân dân được cải thiện ngày càng cao.


Đáng kể nhất là hoàn thành con đường bộ từ bến phà Bình Khánh đến ngã ba Long Hòa dài 36 km, vào năm 1985. Đến năm 2000, làm xong cầu Dần Xây là cầu lớn và khó khăn nhất trên tuyến đường này. Từ khi có đường bộ nối liền thành phố với vùng cửa biển, đã rút ngắn hành trình đường thủy (sông Lòng Tàu) từ 6 giờ đi tàu thủy còn 2 giờ đi xe.


Ngoài ra những công trình lớn khác như đường dây điện cao thế vượt sông Nhà Bè đưa điện về Cần Giờ, khánh thành ngày 23-9-1990; cải tạo môi trường sinh thái kết hợp phát triển du lịch, tu bổ "buồng phổi" thiên nhiên của thành phố ngày 21-1-2001, UNESCO đã ký quyết định công nhận rừng ngập mặn Cần Giờ là khu dự trữ sinh quyển thế giới đầu tiên ở Việt Nam, chính thức gia nhập mạng lưới 368 khu dự trữ sinh quyển của 91 nước trên thế giới.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:43:11 PM
Trên đà đổi mới chung, thế mạnh của Cần Giờ thể hiện ở những mặt nào?

Có thể nói khái quát thế mạnh của Cần Giờ hiện nay là "phát triển kinh tế biển", bao gồm trên các mặt sau đây:

- Khai thác biển: tại đây có 5 bãi cá, 4 bãi tôm, 3 bãi mực tốt nhất Việt Nam. Về tôm có 35 loài, giá trị xuất khẩu 50%. Mực có 3 họ có giá trị lớn: mực nang, mực ống, mực sim.

- Nuôi trồng thủy sản: có 5.454 ha diện tích với 10 lồng nuôi thủy sản. Tôm chiếm 69% tổng diện tích nuôi trồng. Ngoài ra là nghêu, sò hàu... Tổng sản lượng khai thác thủy sản khoảng 32.700 tấn tương đương 101 triệu đồng.

- Chế biến thủy sản: chế biến th ủy sản đông lạnh và dạng cổ truyền như nước mắm, cá khô các loại...

- Cảng và bến cá: Có 14 bến cá tập trung, tổng chiều dài 118m, sâu 2m đến 5m.

Thế mạnh thứ ba: Phát triển khu du lịch sinh thái: Khai thác các điểm du lịch như lăng Cá ông, bãi biển 30-4, khu nhà vườn cây trái, nuôi trồng thủy sản, triển vọng nhất là khu lâm viên Cần Giờ thuộc Tổng công ty du lịch Sài Gòn.

- Về rừng: lâm viên có 1700 ha rừng trồng và rừng tự nhiên, độ che phủ đạt 80% với hệ thực vật đặc trưng của rừng ngập mặn.

- Về động vật rừng ngập mặn nhưcác loài thú, chim, bò sát, lưỡng thể. Trong đó có những loài quý hiếm như cá sấu, rái cá lông mượt, bồ nông xám, mèo cá...

Ngoài ra lâm viên còn khoanh nuôi nhiều đàn khỉ, tổng số 400 con.

Hoàn chỉnh hệ thống nhà nghỉ trong rừng, nhà ăn uống, nhà hàng bán đặc sản, khu nuôi thú tự nhiên, các đường cầu an toàn để ngắm nhìn động vật hoang dã, khu giải trí, nhà truyền thống, phòng trưng bày hiện vật khảo cổ học...


Lâm viên Cần Giờ được coi là một bảo tàng hệ sinh thái rừng ngập mặn độc đáo nhất Việt Nam.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:43:40 PM
Những lợi thế của Cần Giờ để thành lập khu kinh tế mở?

Theo quy định đã được công bố, trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, Thành phố Hồ Chi Minh sẽ phát triển dần ra biển Đông theo hướng Nhà Bè - Cần Giờ, tạo thành hành lang kết nối kinh tế khu vực với bên ngoài.

Huyện Cần Giờ có nhiều đặc điểm thuận lợi về địa lý, môi trường... để lựa chọn thành lập khu kinh tế mở.

- Có điều kiện thuận lợi về giao thông quốc tế.

- Có chỗ dựa ban đầu để hình thành khu kinh tế mở... do nằm trong khu “hạt nhân" của địa bàn kinh tế trọng điểm phía nam.

- Địa bàn đông nam thành phố tương đối bằng phẳng, mật độ dân cư thấp, nhà cửa phần lớn kiến trúc tạm thời, thuận tiện cho việc qui hoạch, xây dựng mới ngay từ đầu.

- Cần Giờ và nam Nhà Bè có quy mô diện tích đủ rộng để phát triển đồng bộ... và trở thành một khu kinh tế mở tầm cỡ khu vực và quốc tế.

- Địa bàn khu kinh tế mở có khả năng truyền lan tỏa thúc đẩy phát triển kinh tế chung.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:44:09 PM
Cần Giờ có lễ hộ  Nghinh Ông Thủy Tướng?

Cũng như nhiều vùng biển khác ở nước ta, ngư dân Cần Giờ thường có tục thờ Thần Nam Hải tức cá voi để tỏ lòng biết ơn, đồng thời nhờ oai linh của thần mà ngư dân có được những mùa cá bội thu. Do số dân ngư nghiệp khá đông (khoảng 10.500 người, bằng 1/6 dân số toàn huyện), nên tục thở cá voi có ảnh hưởng sâu sắc hơn cả trong đời sống tín ngưỡng của nhân dân, thể hiện bằng lễ hội hàng năm, gọi là hội "Nghinh Ông Thủy Tướng".


Lễ hội dân gian này bao gồm các nghi lễ cổ truyền, giải trí dân gian; ngày nay có thêm những hoạt động văn hóa thể thao hiện đại Lễ hội được tổ chức vào dịp thời tiết thuận hòa, trời yên biển lặng. Lăng ông Thủy Tướng ở xã Cần Thạnh (thị trấn Cần Giở) là nơi lễ hội diễn ra linh đình náo nhiệt nhất.


Chương trình lễ hội như sau: Lễ tại Chánh điện, rước kiệu từ làng ra biển, lễ Nghinh Ông Cá voi) trên biển. Đây là nghi thức sôi động nhất của toàn bộ lễ hội, cho nên nhân dân thường gọi là hội Nghinh Ông. Các tàu thuyền được trang hoàng cờ hoa rực rỡ và bàn thờ với nhiều lễ vật. Các tàu thuyền cùng xuất phát một lúc, lao nhanh ra bờ biển với ý tưởng đi tìm cá voi để cúng. Hành trình chỉ một vài dặm, các tàu thuyền dừng lại làm lễ rồi rải tất cả thức ăn, đồ cúng lên mặt biển, trước khi quay về.

Các trò chơi giải trí khác cũng đồng thời diễn ra như bơi lội, đua thuyền, đi cà kheo, kéo co, múa lân, đấu võ, bóng đá, bóng chuyền đua xe đạp...


Lễ hội Nghinh Ông trở thành nét truyền thống văn hóa đặc sắc của Cần Giờ, thu hút sự tham gia đông đảo của nhân dân địa phương và các vùng lân cận, cũng như khách du lịch trong và ngoài nước.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:44:45 PM
Cần Giờ là cửa ngõ phía đông thành phố tiếp giáp với biển. Xin cho biết vài nét về thế trận phòng thủ ở đây?

Cần Giờ được xác định là vị trí quan trọng trong sự nghiệp quốc phòng an ninh của Thành phố, là địa bàn chiến lược phía nam và cả nước. Do đó được thành phố và Quân khu 7 đầu tư xây dựng kế hoạch phòng thủ nhằm bảo vệ vững chắc cửa ngõ đông nam thành phố.


Nhận thức được ý nghĩa quan trọng của địa bàn, Đảng bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân Cần Giờ không ngừng xây dựng củng cố thế trận chiến tranh nhân dân. Các đơn vị bộ đội, dân quân tự vệ được phối hợp thường xuyên, cùng với các cơ quan ban ngành đoàn thể diễn tập phòng thủ xử lý các tình huống, nâng cao trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu.


Trên địa bàn Cần Giờ, các cụm chiến đấu phía trước và phía sau hình thành theo thế liên hoàn, vừa chống địch đổ bộ đường biển và đường không vừa hỗ trợ tác chiến lẫn nhau... Đối với hải phận, việc bố trí tổ chức xây dựng lực lượng bảo vệ được điều hành theo đặc thù riêng của huyện kinh tế biển... Có sự phối hợp, hiệp đồng chiến đấu với các địa phương tiếp giáp.


Dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ huy quân sự thống nhất, công tác hợp huyện, phối hợp hoạt động giữa các lực lượng: quân sự, công an, biên phòng, hải đội tự vệ cơ quan, xí nghiệp, lâm trường... tiến hành đồng bộ đạt kết quả tốt.


Với thế trận quốc phòng - an ninh vững chắc, Cần Giờ trở thành pháo đài canh giữ cửa ngõ phía đông trong thế trận phòng thủ chung của Thành phố Hồ Chí Minh.



Rừng Sác ngày nay được đặt tên cho một con đường. Vậy đường Rừng Sác ở đâu?

Đường Rừng Sác nằm trên địa bàn huyện Cần Giờ, từ ngã ba Bình Khánh đến ngã ba Long Hòa, dài 36.500m, lộ giới 60-120m. Đây vốn là trục đường thành phố đi Cần Giờ, lúc mới xây dựng gọi là đường Nhà Bè - Duyên Hải, là kết quả của quyết tâm và công sức của lãnh đạo thành phố, nhân dân Cần Giờ, bộ đội Đoàn 10, Trung đoàn Gia Định và nhiều đơn vị cơ quan... Con đường vượt qua nhiều sông rạch, sình lầy, hoàn thành năm 1985 như một kỳ tích nối tiếp những chiến công lẫy lừng của đặc công Rừng Sác và được đặt tên Rừng Sác ngày 7-4-2000.


Tiêu đề: Đặc khu Rừng Sác
Gửi bởi: chienvit trong 15 Tháng Năm, 2010, 06:45:09 PM
TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Chiến khu Rừng Sác - Lương Văn Nho - Trần Phấn Chấn, NXB Đồng Nai, 1983.

- Đoàn 10 Rừng Sác anh hùng - Phòng KHQS - BCHQS Thành phố Hồ Chí Minh.

- Trung đoàn 10 - NXB Tp. Hồ Chí Minh.

- Một thời Rừng Sác - Lê Bá ước - NXB Tổng hợp Đồng Nai, 1999.

- Lịch sử LLVT Tp. Hồ Chí Minh - Trần Phấn Chấn - Trần Thị Nhung - Hồ Sĩ Thành - Đinh Thu Xuân - NXB Quân đội nhân dân, 1998.

- Những anh hùng của thành phố Hồ Chí Minh - Hồ Sĩ Thành - Trần Phương Lan - NXB Trẻ, 1999.

- Từ điển Thành phố Sài Gòn - Hồ Chí Minh - NXB Trẻ, 2001.

- Cần Giờ huyện biển anh hùng - xuất bản nội bộ, 1999.

- Cần Giờ, tiềm năng và cơ hội đầu tư - xuất bản nội bộ, 1999.

- Báo Quân khu 7, Báo Quyết Thắng...