Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: daibangden trong 27 Tháng Tư, 2010, 07:26:16 PM



Tiêu đề: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Tư, 2010, 07:26:16 PM
HỒI KÝ CÁCH MẠNG

In lần thứ ba

HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN LƯƠNG BẰNG

PHẠM HÙNG

LÊ VĂN LƯƠNG

VÕ NGUYÊN GIÁP

HOÀNG QUỐC VIỆT

VĂN TIẾN DŨNG


NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC

Hà-nội-1976


Số hoá: daibangden


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Tư, 2010, 09:09:21 PM
ĐẢNG TA THẬT LÀ VĨ ĐẠI

(Trích lời Hồ Chủ tịch khai mạc lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng)

…. Trong thời gian vừa qua, khắp miền Bắc nước ta từ thành thị đến nông thôn, các nhà máy, nông trường, hợp tác xã, các đơn vị bộ đội, các cơ quan, trường học, v.v… ai cũng hăng hái thi đua lấy thành tích chào mừng Đảng. Tôi xin thay mặt Đảng gửi lời khen ngợi và cảm ơn toàn thể đồng bào.

Đồng bào miền Nam trước đây đã từng anh dũng tham gia cách mạng và kháng chiến, ngày nay đang đoàn kết chặt chẽ, bền bỉ đấu tranh chống chế độ hung tàn của Mỹ - Diệm, đòi cải thiện đời sống, đòi tự do dân chủ, đòi hòa bình thống nhất nước nhà và luôn luôn hướng về miền Bắc. Tôi xin thay mặt Đảng gửi đến đồng bào lời chào thân ái nhất: và nói với đồng bào rằng: Cuộc đấu tranh chính nghĩa tuy phải trường kỳ gian khổ nhưng nhất định thắng lợi.


Thưa các đồng chí:

Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!

Đảng ta là con nòi, xuất thân từ giai cấp lao động. Trong đại gia đình vô sản quốc tể rực rỡ dưới ngọn cờ chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Đảng ta có nhưng người anh vĩ đại như Đảng cộng sản Liên Xô, Đảng cộng sản TRung Quốc, Đảng cộng sản Pháp và các Đảng anh em khác gồm 35 triệu an hem chiến sĩ tiên phong của giai cấp công nhân.

Đảng ta vĩ đại thật. Từ ngày bị đế quốc Pháp xâm chiếm, nước ta là một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị dày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác. Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra.

Từ ngày mới ra đời, Đảng ta liền giương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dân tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Màu cờ đỏ của Đảng chói lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dân ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế phản phong.

- Ăn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta cần phải nhớ đến những anh hùng liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta.

Trong 15 năm đấu tranh trước Cách mạng tháng Tám và trong 8, 9 năm kháng chiến, biết bao Đảng viên ưu tú và quần chúng cách mạng đã vì dân vì Đảng mà hy sinh một cách cực kỳ oanh liệt. Chỉ riêng trong cấp Trung ương Đảng đã có 14 đồng chí bị đế quốc Pháp bắn, chem., hoặc đập chết trong nhà tù. Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho màu cờ của cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ ấy đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ, và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta.

- Nhân đây, tôi muốn nhắc lại rằng: Trong 31 đồng chí hiện nay là Ủy viên Trung ương ta, trước ngày khởi nghĩa đã được đế quốc Pháp tặng cho 222 năm tù đày. Đó là không kể những án tử hình vắng mặt và những cuộc vượt ngục trước khi hết hạn ở tù. Biến cái rủi thành cái may, các đồng chí ta đã lợi dụng những ngày tháng ở tù để hội họp và học tập lý luận. Một lần nữa, việc đó lại chứng tỏ rằng chính sách khủng bố cực kỳ dã man của kể thù chẳng những khong ngăn trở được bước tiến của cách mạng, mà trái lại nó đã trở nên một thứ lửa thử vàng, nó rèn luyện cho người cách mạng càng thêm cừng rắn. Mà kết quả là cách mạng đã thắng, đế quốc đã thua.


Đảng ta vĩ đại thật. Một thí dụ: Trong lịch sử ta có ghi chuyện vị anh hùng dân tộc là Thánh Gióng đã dùng gốc tre đánh đuổi giặc ngoại xâm. Trong những ngày đầu kháng chiến, Đảng ta đã lãnh đạo hàng nghìn hàng vạn anh hùng noi gương Thánh Gióng dùng gậy tầm vông đánh thực dân Pháp.

Nhưng thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều. Ngày nay ở miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng đoàn kết và lãnh đạo nhân dân ta thi đua kiến thiết chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống vui tươi no ấm và mỹ tục thuần phong. Hễ còn một người Việt-nam nào bị bóc lột, bị nghèo nàn thì Đảng ta vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối hàng ngày cần thiết cho đời sống hàng ngày của nhân dân. Cho nên Đảng ta vĩ đại vì nó bao trùm cả nước, đồng thời vì nó gần gũi tận trong long của mỗi đồng bào ta.

- Đảng ta vĩ đại vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác.

Nhiệm vụ hiện nay của Đảng ta là lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

Các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa đều tiến bộ nhảy vọt. Thí dụ: Liên-xô sẽ căn bản hoàn thành kế hoạch 7 năm xây dựng chủ nghĩa cộng sản trước thời hạn từ 1 đến 3 năm. Chỉ trong 2 năm Trung Quốc đã căn bản hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ hai. Triều-tiên anh em căn bản hoàn thành kế hoạch 5 năm trong 2 năm rưỡi v.v…

Nhân dân ta có truyền thống lao động cần cù lại được các nước anh em hết long giúp đỡ. Chúng ta phải có quyết tâm học tập và theo kịp các nước an hem.

Kết quả tốt đẹp của đợt thi đua lấy thành tích chào mừng Đảng đã chứng tỏ rằng sang kiến và lực lượng của nhân dân rất dồi dào và to lớn. Khi tư tưởng đã thông suốt thì khó khăn gì cũng vượt được, công việc to lớn đến mấy cũng làm được.

Trung ương kêu gọi toàn thể đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động, ở bất kỳ cương vị nào, làm công việc gì cũng phải trau dồi đạo đực cách mạng, tẩy trừ chủ nghĩa cá nhân, cố gắng học tập chính trị, văn hóa và khoa học, kỹ thuật, làm tốt công tác kinh tế tài chính, gương mẫu trong việc làm. Phải đoàn kết và học hỏi những anh em ngoài Đảng và ngoài Đoàn, để cùng nhau tiến bộ.

Hồi khởi nghĩa, Đảng ta chỉ có non 5.000 đảng viên mà lãnh đạo được nhân dân cả nước làm Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Ngày nay, hàng ngũ Đảng ta đã tăng gần 100 lần, nghĩa là độ nửa triệu đảng viên. Chúng ta lại có hơn 60 vạn đoàn viên Đoàn thanh niên lao động. Chính quyền nhân dân ta vững chắc, quân đội nhân dân hùng mạnh, Mặt trận dân tộc rộng rãi. Công nhân, nông dân và trí thức ta được rèn luyện thử thách và tiến bộ không ngừng. Nói tóm lại: lực lượng của chúng ta to lớn và ngày càng to lớn. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất định thắng lợi trong công cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà và góp phần xứng đáng vào việc bảo vệ hòa bình ở châu Á và thế giới.


Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao
Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình.
Đảng ta là đạo đức, là văn minh,
Là thống nhất, độc lập, là hòa bình ấm no.
Công ơn Đảng thật là to
Ba mượi năm lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng.



Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Tư, 2010, 04:28:40 PM
ĐẢNG TA ĐÃ PHẤN ĐẤU RẤT ANH DŨNG THẮNG LỢI RẤT VẺ VANG

(Ghi tóm tắt những lời Hồ Chủ tịch nói ở Hội nghị nghiên cứu lịch sử Đảng của Ban Tuyên giáo Trung ương)

…. Trước khi thành lập Đảng ta, trong nước có ba nhóm cộng sản. Năm 1930 họp bàn về việc thống nhất. Lúc này địch khủng bố dữ. Các đại biểu phải bí mật ra Hương Cảng. Giả sử đi xem đá bong, ngồi ở sân cỏ mà bàn bạc. Rồi đồng ý với nhau ba nhóm thống nhất lại thành Đảng cộng sản Đông-dương.

Đảng ta ra đời trong lúc thực dân Pháp đang đàn áp gắt gao. Đảng ta mới ra đời đã tổ chức và lãnh đạo cuộc đấu tranh rất anh dũng là Xô-viết Nghệ-tĩnh.

Đảng 12 tuổi thì tổ chức phong trào du kích đánh Pháp, đánh Nhật.

15 tuổi tổ chức và lãnh đạo Cách mạng tháng Tám thành công.

17 tuổi lãnh đạo kháng chiến và 21 tuổi lãnh đạo kháng chiến thắng lợi.

Hòa bình lập lại, Đảng lãnh đạo và tổ chức nhân dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở đấu tranh và thực hiện thống nhất nước nhà.

Thế là trong 30 năm mà Đảng đã làm được hai cuộc cách mạng. Cách mạng dân tộc dân chủ và các mạng xã hội chủ nghĩa. Vì sao Đảng ta có những thắng lợi như thế?

Lúc đầu, Đảng ta có rất ít đảng viên, và lại thường bị thực dân Pháp bắt bớ, bỏ tù. Nhưng Đảng ta vẫn tiến lên. Tới Cách mạng tháng Tám, số đảng viên xấp xỉ 5.000 người, trong đó có một số đang bị giam ở các nhà tù đế quốc. Non 5.000 đảng viên mà tổ chức lãnh đạo 24 triệu đồng bào khởi nghĩa cách mạng cả nước thành công.

Vì sao Đảng ta anh hùng như thế? Tuy lúc bấy giờ làm cách mạng, thì hoặc là tiếp tục hoạt động cho đến khi cách mạng thành công, hoặc là bị bắt, bị giết. Nhưng vì tin tưởng rằng Đảng nhất định thành công, cách mạng nhất định thắng lợi, cho nên người này bị bắt, có người khác thay thế, một người bị giết thì có trăm người khác thay. Đảng viên thì rất đoàn kết, nhất trí, rất gần gũi nhân dân. Cho nên, tuy đảng viên ít nhưng Đảng vẫn lãnh đạo cách mạng thành công.

Đảng viên chúng ta có rất nhiều người gương mẫu có đạo đức cách mạng. Như nữ đồng chí Minh Khai, đã bị đế quốc kết án tử hình hai nơi, lúc hy sinh vẫn rất oanh liệt. Các đồng chí Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, và rất nhiều đồng chí khác đều là những gương anh hùng.

Trong công tác, gương anh hùng cũng nhiều. Thí dụ: có đồng chí làm công tác bí mật ở dưới hầm hàng tháng viết truyền đơn, dịch sách báo. Tới lúc ra ngoài ánh sáng, mắt bị mờ. Có đồng chí bị giặc tra tấn, chết đi, sống lại, không khai một lời…

Cán bộ và Đảng viên ta, ai cũng là người, cũng là da thịt nhưng vì tin tưởng vào Đảng, vào giai cấp, vào sức mạnh của tập thể, cho nên kiến quyết đấu tranh đến hơi thở cuối cùng.

Thanh niên cũng có những gương anh hùng như Trọng Con, cô Sáu… và nhiều người anh hùng vô danh khác, vì thế cho nên Đảng càng ngày càng mạnh.

Trong kháng chiến, Đảng ta có những người con anh hùng như đồng chí Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai để cho bộ đội tiến lên, đồng chí Tô Vĩnh Diện lấy thân mình chèn cho xe đại bác khỏi lăn xuống dốc, nhiều đồng chí nhịn đói hai ba ngày chạy đuổi đánh giặc. Những anh hùng ấy của Đảng, của nhân dân là anh hùng tập thể, thấm nhuần đạo đức cách mạng của Đảng. Có đạo đức cách mạng mới lãnh đạo được giai cấp, tổ chức, đoàn kết được quần chúng, làm cho cách mạng thắng lợi, kháng chiến thành công.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Tư, 2010, 04:49:29 PM
Ngày nay, xây dựng chủ nghĩa xã hội chúng ta có những công việc rất to lớn và phức tạp. Chúng ta đã đánh thắng thực dân Pháp và giai cấp phong kiến, nhưng còn phải đấu tranh với kẻ địch nguy hiểm khác. Đó là nghèo nàn, đói khổ, lạc hậu.

Chúng ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu, mức sống thấp kém. Chúng ta phải ra sức đấu tranh làm cho nhân dân ta ai cũng ăn no, mặc ấm, có việc làm, có giờ nghỉ, học tập.

Ta có điều kiện thuận lợi để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nước ta có “rừng vàng biển bạc”, nhân dân ta cần cù. Ta được các nước anh em giúp đỡ. Nhưng cũng có những khó khăn như thiên tai, lụt, hạn, văn hóa, kỹ thuật còn kém.

Nói chung, cán bộ, đảng viên của ta tốt, trung thành với cách mạng. Chúng ta đã quyết tâm đấu tranh thì nhất định vượt qua được những khó khăn đó. Giác ngộ chính trị thí cố nhiên cần rồi, vào Đảng là phải biết, phải học chính trị. Nhưng lại phải có văn hóa, kỹ thuật để sử dụng máy móc ngày càng tinh vi. Ta còn kém về mặt này. Công nhân Liên-xô ở các nhà máy có rất nhiều người học đến lớp 10. Bây giờ thử hỏi cán bộ ở đây có mấy người đã học đến lớp 10? Cho nên chúng ta phải học nhiều, phải cố gắng học. Nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội ngày càng đi tới, công việc ngày càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình.

Có đúng như thế không? Nếu đúng, thì các đồng chí phải cố gắng học văn hóa, học chuyên môn.

Trong Đảng ta có một số không ít đồng chí mắc bệnh công thần, cho rằng mình, cho rằng mình đã tham gia cách mạng lâu năm mà tự kiêu, tự mãn. Hoạt động cách mạng lâu năm là tốt, nhưng phải khiêm tốn học tập để tiến bộ mãi. Xã hội tiến lên không ngừng. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội để làm cơ sở đấu tranh thống nhất nước nhà thì phải cố gắng học tập.

Trong Đảng ta có nhiều gương đấu tranh anh dũng không sợ nguy hiểm, không sợ hy sinh vì tin tưởng vào Đảng, vào cách mạng, vào tương lai của giai cấp và của Tổ quốc. Hiện nay, đồng bào miền Nam đang bền bỉ đấu tranh chống Mỹ Diệm rất là anh hùng.

Ở miền Bắc, những anh hùng, chiến sĩ thi đua làm theo lời kêu gọi của Đảng. Họ lao động quên mình vì dân tộc, vì giai cấp. Họ không suy tính hơn thiệt. Đảng cần họ làm công việc gì, thì họ đều vui vẻ làm và làm vượt mức. Đó cũng là anh hùng.

Đảng viên chúng ta là những người rất tầm thường, vì chúng ta đều là con của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, chúng ta chỉ biết trung thành với giai cấp vô sản quyết tâm đấu tranh cho nhân dân. Thế thôi. Chính vì chúng ta rất tầm thường nên Đảng ta rất vĩ đại. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không còn lợi ích nào khác.

Hôm qua, các báo có tường thuật lại tin đồng chí dân quân tên là Trần Văn Tân, đảng viên Đảng lao động Việt Nam. Đoàn thể phái đồng chí Tân cùng mấy anh em nữa đi lấy gỗ. Vì mưa to gió lớn nên nhiều lần bè vỡ. Đồng chí Tân đã không sợ nguy hiểm, xung phong lội xuống sông cột bè. Bè về đến nới thì thấy thiếu một số cây. Đồng chí Tân lại xung phong đi hai, ba ngày tìm đủ gỗ về. Dân quân là một địa vị tầm thường. Đi tìm gỗ cũng là một việc tầm thường. Nhưng vì vượt mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, cho nên anh hùng.

Hiện giờ ở nông thôn đã thảo luận sôi nổi về hai con đường: chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Tư, 2010, 05:12:24 PM
Vì sao Đảng ta mạnh và ngày càng mạnh? Vì Đảng ta có chủ nghĩa tập thể. Mỗi Đảng viên cũng phải như thế. Nhưng có một số đảng viên chưa làm đúng như vậy, họ còn mang nặng chủ nghĩa cá nhân. Ví dụ trong vấn đề đãi ngộ, họ thường suy bì tỵ nạnh. Về công tác thì muốn chọn việc dễ, tránh việc khó, v.v… Các đồng chí đó không nhớ rằng trong thời kỳ Đảng hoạt động bí mật, trong thời kỳ kháng chiến và hiện nay, những người anh hùng, chiến sỹ thi đua phấn đấu hy sinh có phải vì đãi ngộ không? có phải vì cấp bậc không?

Trong Đảng và Nhà nước ta có sự phân công chặt chẽ như các bộ phận trong chiếc đồng hồ: cái kim, dây cót khác nhau nhưng hợp tác chặt chẽ với nhau. Thiếu một bộ phận nào cũng không được. Trong xã hội cũng như thế, Đảng ta là một tập thể chặt chẽ không thể dung thứ cho chủ nghĩa cá nhân. Do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra nhiều chứng xấu. Mỗi một người, bất kỳ công tác gì ở địa vị nào, đều là quan trọng. Công việc gì có ích cho Đảng, cho cách mạng cũng vẻ vang.

Chủ nghĩa cá nhân chỉ thấy lợi ích riêng của mình, không thấy lợi ích chung của tập thể. Về vật chất thì chỉ muốn hưởng thụ, công việc làm thì không dám xung phong. Thế là không tốt. Vì chủ nghĩa cá nhân mà không phấn khởi, không tiến bộ.

Đảng ta là một tập thể lớn, tư tưởng nhất trí, hành động nhất trí. Mỗi đảng viên phải bảo vệ Đảng và mọi chủ trương, chính sách của Đảng.

Đảng ta có khuyết điểm không? Có. Vì thay đổi xã hội cũ thành xã hội mới không phải là dễ. Cũng như phá một cái nhà cũ, xây một lâu đài mới. Trong lúc đang xây dựng lâu đài, không tránh khỏi có gạch vụn, mùn cưa, v.v… Xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng thể, không hoàn toàn tránh được khuyết điểm, sai lầm. Nhưng lúc nào có sai lầm, Đảng ta dũng cảm nhận sai lầm và quyết tâm sửa chữa.

Đảng ta có một vũ khí sắc bén để làm cho đảng viên tiến bộ, làm cho Đảng ngày càng mạnh là tự phê bình và phê bình. Lê-nin có nói rằng: Chỉ có hai hạng người không mắc khuyết điểm: là đứa bé còn ở trong bụng mẹ, và người chết đã bỏ vào quan tài. Có hoạt động thì khó tránh khỏi khuyết điểm. Nhưng khi có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình, hoan nghênh người khác phê bình mình và kiên quyết sửa chữa. Chủ nghĩa cá nhân không dám tự phê bình, không muốn người khác phê bình mình, không kiên quyết sửa chữa. Vì vậy mà thoái bộ, không tiến bộ được.

Nói tóm lại, Đảng ta trong ba mươi năm qua đã phấn đấu rất anh dũng và đã thắng lợi rất vẻ vang. Ngày nay, Đảng ta vẫn phải tiếp tục phấn đấu để xây dựng miền Bắc tiến lên xã hội chủ nghĩa làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Trong cuộc đấu tranh đó, ta có nhiều điều kiện thuận lợi. Nhưng cũng có khó khăn. Nếu mỗi cán bộ và đảng viên biết làm tròn nhiệm vụ của mình, bồi dưỡng và phát triển chủ nghĩa tập thể, tẩy trừ chủ nghĩa cá nhân, ra sức học tập chính trị, văn hóa, kỹ thuật, thì nhất định chúng ta sẽ vượt qua được mọi khó khăn, hoàn thành được mọi nhiệm vụ một cách vẻ vang.

Cuối cùng, Bác chúc các cô, các chú ghi nhớ những điểm trên để làm cho tốt. Hiện nay chúng ta đã có hơn 40 vạn đảng viên, và hơn 60 vạn đoàn viên thanh niên lao động, có chính quyền mạnh, bộ đội rất anh dũng, và nhân dân rất hăng hái. Nước ta lại là một thành viên trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên-xô vĩ đại. Cho nên, cán bộ, đảng viên ta làm tròn nhiệm vụ, ra sức học tập chính trị, văn hóa, kỹ thuật, thì nhất định chúng ta sẽ thắng lợi.

Chúc các cô, các chú luôn tiến bộ.

Ngày 28-11-1959



Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Tư, 2010, 06:26:02 PM
NHỜ DÂN NHỜ ĐẢNG MÀ TRƯỞNG THÀNH

I

Vào cuối năm 1925, tôi vừa mới ngoài hai mươi tuổi, đang làm dưới tàu biển. Tôi mới rời tàu Căng-tông sang làm ở một tàu binh Pháp ở Quảng Châu. Cảnh xa nước, xa nhà, mỗi lần được lên bờ và ra khỏi tô giới Pháp, tôi thường đi tìm anh em kết bạn. Tuổi còn trẻ cả nên gặp ai cũng dễ thân nhau.

Tôi gặp Cẩm Xuỳn vào dạo ấy.

Anh là người Trung-quốc đã từng ở Việt Nam, nói tiếng ta khá thạo. Chúng tôi trở nên quen nhau thân thiết, Cẩm Xuỳn thường rủ tôi đi chơi. Cả hai vợ chồng anh cùng hoạt động. Nghe anh em nói, chị Cẩm Xuỳn hăng hái lắm, thường khoác khăn đỏ đi tuyên truyền vận động trong công nhân.

Có một lần, vào ngày chủ nhật, anh rủ tôi mua hoa đến Hoàng-hoa-cương viếng mộ Phạm Hồng Thái. Trước nấm mồ liệt sĩ, lòng tôi rất xúc động. Ít lâu sau, Cẩm Xuỳn giới thiệu tôi với hai người Việt-nam tên là Ích và Vương.

Đồng chí Ích, tức là đồng chí Hồ Tùng Mậu, kết nạp tôi vào Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Buổi lễ kết nạp có mặt cả đồng chí Vương, nhưng đồng chí Vương không nói nhiều. Lúc ấy, Quảng-châu là thủ đô cách mạng của Trung-quốc. Đường phố ngày đêm sôi nổi không khí những cuộc mít-tinh, hội họp quần chúng của công nhân, của nhân dân. Mỗi lần tôi ra khỏi được tô giới Pháp, các đồng chí Ích và Vương kéo chúng tôi vào trụ sở công hội ở bất kỳ khu phố nào, mượn ngay trụ sở của bạn, mở lớp huấn luyện chúng tôi ở đấy.

Được hơn một năm, đồng chí Vương gặp riêng tôi và hỏi:

- Đồng chí có hoàn cảnh về nước không?

- Tôi về nước được. Đoàn thể cần thì tôi xin về ngay.

Đồng chí Vương trực tiếp tổ chức cho tôi về. Khi trao trách nhiệm, đồng chí dặn dò tôi thật chu đáo:

- Về thì đừng hoạt động gì vội. Chờ ít lâu nghe ngóng đã, kẻo mật thám nó theo đấy.

Tôi về Hải-phòng, ở phố Cầu-đất. Đúng như đồng chí Vương nói, mật thám của Pháp cứ gác suốt ngày trước cửa nhà tôi. Tôi bỏ đi chơi bời đây đó cho mãi đến khi chúng nó không còn theo dõi nữa. Đến lúc ấy, tôi mới lân la đi tìm kiếm mối liên lạc với Hồng-kông để đưa tài liệu về. Tháng 4, tháng 5 năm 1927, tôi xuống tàu Song-bô làm. Tàu này cứ cách một chuyến chạy đường Hồng-kông lại một chuyến rẽ vào Quảng-châu. Chúng tôi tổ chức đưa báo Thanh niên và tập sách Đường cách mạng cũng với những tài liệu khác của Hội về nước, phát tung khắp các nơi quen biết ở Hà-nội, Hải-phòng, Nam-định.

Một người bạn quen thường nhận tài liệu của tôi đem đi phân phát tên là Lưu Bá Ngữ, có chuyền báo và tài liệu cho một người chủ hiệu sách tên là Nguyễn Mạnh Bổng đọc. Bổng vốn là tay sai của thực dân Pháp nên hắn đem báo và tài liệu đó đi báo cho Tây. Ngữ bị bắt, Ngữ khai sách và tài liệu ấy là do một người làm tàu tên là Ba trao cho mình. Ba là bí danh của tối lúc bấy giờ.

Đế quốc truy bắt khắp các tàu không có người nào tên Ba cả. Vì từ khi thấy động, tôi đã bỏ tàu Song-bô không làm nữa. Về Thái-bình rồi đi Sài-gòn.

Vào đến Sài-gòn, tôi gặp một số đồng chí cũ ở Quảng-châu về. Chúng tôi liên lạc với anh Ngô Thiêm. Chúng tôi thấy anh cứ ra vào một căn nhà ngay xế mặt chúng tôi ở. Vì nguyên tắc bí mật, chúng tôi không bao giờ hỏi anh Ngô Thiêm về căn nhà đó. Sau này cách mạng thành công, ngồi kể chuyện cũ với nhau, tôi được bác Tôn cho biết căn nhà ấy chính là cơ quan của bác Tôn và anh Đông cùng với anh Ngô Thiêm.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Tư, 2010, 06:44:05 PM
Ở Sài-gòn, có sách báo Xiêm gửi về. Vào cuối năm 1927, 1928, phong trào đã khá, sách báo đã nhiều hơn trước. Nhưng đời sống của những người hoạt động chuyên nghiệp thật cơ cực. Tiểu tổ chúng tôi đều là anh em vừa đi làm, vừa hoạt động nên còn có cơm mà ăn, tuy sáu bảy người mỗi bữa chỉ có nồi cơm, mấy xu rau muống và hai quả trứng vịt bắc. Anh Ngô Thiêm là phụ trách tiểu tổ chúng tôi. Một hôm anh đến họp với chúng tôi. Chúng tôi hỏi anh đã ăn cơm chưa. Anh nói chưa ăn. Chúng tôi mua phở mời anh. Ăn phở xong, anh mới cho chúng tôi hay: đã ba hôm nay, anh không có hột cơm nào vào bụng, vì cơ quan không còn một đồng xu nào. Nghe anh nói, chúng tôi ứa nước mắt và anh cũng khóc theo, cảm mối tình đồng chí xót thương đùm bọc lẫn nhau giữa anh em cách mạng. Từ đấy chúng tôi đặt vấn đề bớt , bớt tiêu góp nhau giúp anh đôi phần về sinh hoạt.

Trước khi xảy ra vụ án đường Bác-bi-ê*, tôi lại ra Hải-phòng, tiếp tục hoạt động ngay. Cơ sở Hải-phòng lúc ấy đã khá, có đến hơn một trăm đồng chí.

Từ đầu năm 1929, Kỳ bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội đề ra chủ trương tất cả các đồng chi Thanh niên cách mạng đồng chí hội vô sản hóa hết. Tất cả đều mạc quần áo xanh. Người nào lọt được vào nhà máy làm được, thì tìm hết cách mà lọt vào. Ai không xin được vào nhà máy thì đi làm bất cứ một nghề lao động nào khác. Tôi cạy cục xin vào nhà máy Ca-rông mãi không được. Chấp hành chủ trương chung, tôi và một số đồng chí khác đi kéo xe.

Chủ trương vô sản hóa có tác dụng trực tiếp ngay của nó. Nhà mày nào có đồng chí ta là chỗ ấy có phong trào. Cả trong giới an hem xe kéo cũng thế. Năm 1930 có cuộc tổng bãi công của anh em xe kéo Hải-phòng.

Nghề kéo xe của tôi cũng rất tiện cho việc liên lạc với Cảng, với tàu bè qua lại.

Một hôm có người đến báo cáo với tôi có anh em đi tàu Nhật từ Hồng-kông về Phòng không có tiền tàu, dưới tàu không cho lên bờ. Đám an hem ấy là đồng chí Ngô Gia Tự và các đồng chí đại biểu khác của Bắc-kỳ bỏ đại hội của Thanh niên ra về. Vì ly khai khỏi Đại hội nên các đồng chí trở về không có tiền đi đường. Không có tiền vẫn cứ đi, các đồng chí thật là hăng, bỏ Hồng-kông, xuống tàu Nhật, nói với nó cho đi, hẹn về bến sẽ có người trả tiền.

Một phụ nữ cảm tình cách mạng đen bán ngay đồ nữ trang của mình lấy tiền nộp tiền tàu cho anh Ngô Gia Tự và các đồng chí cùng đi.

Tôi đón đồng chí Ngô Gia Tự về chỗ tôi một thời gian. Sau đó, anh về Hà-nội, ra tuyên ngôn thành lập Đông-dương cộng sản đảng, rồi đi Sài-gòn.

*
*  *

Cũng vào giữa năm 1929, Tổng bộ Thanh niên gọi tôi ra làm công tác giao thông liên lạc giữa Hồng-kông và Quảng-châu.

Trong nước là tổ chức Đông-dương cộng sản đảng, ngoài nước vẫn là tổ chức Thanh niên
------------------------------------------------------------------------------------------------------
* Sau khi ta xử một tên phản bội ở đường Bác-bi-ê, đế quốc khủng bố, cơ sở bị vỡ, một số đồng chí bị bắt và bị kết án.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Tư, 2010, 01:01:02 AM
Tôi vừa đi thì xảy ra vụ ám sát thị Nhu và thị Uyển ở đường hẻm đàng sau nhà hội Trí tri Hải-phòng. Đường hẻm ấy thông sang ngõ Tham Thuật. Nhà tôi ở ngõ này. Mật thám vào khám nhà tôi, bắt được mấy số báo Cờ đỏ trong nhà. Cờ đỏ, in nến, viết bằng bút thép và dũa sắt. Báo Cờ đỏ đang tuyên truyền tổ chức của Đảng và giai cấp công nhân.

Vì mật thám Pháp khám nhà thấy báo Cờ đỏ ở nhà tôi nên anh em ở đấy và cả mẹ tôi đều bị bắt. Tôi bỏ đi đã được hai ngày.

Sang đến Hồng-kông, tôi lại vào làm dưới tàu binh Pháp. Được hai tháng, chánh mật thám Pháp Lê-rông, chuyên về vấn đề chính trị, ra Quảng-châu. Nó vào câu lạc bộ hải quân Pháp lung. Tôi chột dạ, nghĩ bụng đến phải chuẩn bị hai tay cho nó đút vào xích. May sao lánh được. Tôi đề nghị các đồng chí phụ trách cho tôi chạy. Các đồng chí bảo cứ ở lại. Hồi ấy, tôi làm liên lạc giữa Quảng-châu và Hồng-kông, vừa làm tài chính cho đoàn thể, vừa vận động anh em lính thủy.

Được bốn tháng có thư trong nước viết về bảo ra bên ngoài để cho tôi thôi công tác dưới tàu vì đế quốc đang lung tôi riết. Một đồng chí trong Thanh niên lúc bấy giờ đến tuyên truyền tôi vào Đảng:

- Trong nước, thành lập Đảng rồi, đồng chí nghĩ thế nào?

- Tôi nghĩ: bên nào phải là tôi theo.

- Đồng chí thấy Thanh niên thế nào?

- Thanh niên thì sứ mạng lịch sử đến đây là hết rồi. Trào lưu trong nước như bây giờ thì nên tổ chức Đảng ngay.

- Theo ý đồng chí, nếu tổ chức theo Đảng trong nước hay Đảng ngoài này

- Đảng nào thì Đảng, cứ đúng mục đích, tôn chỉ của giai cấp vô sản, thì tôi theo.

- “Đông-dương” có thiếu sót, chúng tôi tổ chức ra An-nam cộng sản đảng. Nhưng trước sau “Đông-dương” với “An-nam” rồi cũng hợp nhất với nhau làm một thôi

- Tôi ở ngoài này, vào An-nam cộng sản đảng cũng được. Nhưng tôi muốn tất cả những người cộng sản phải mau đi đến một tổ chức thống nhất.

Và tôi được kết nạp vào An-nam cộng sản đảng tháng 10 năm 1929.

Sau khi tôi vào Đảng, các đồng chí trao nhiệm vụ, đề ra ba công tác, tùy tôi chọn. Một là trong nước đang cần cán bộ, tôi về nước là tốt nhất. Song vì tôi bị lộ, nên Đảng muốn tôi hoặc đi Vân-nam giúp các đồng chí ở đây vận động tuyên truyền trong Việt kiều, hoặc lên Thượng-hải gây cơ sở từ đầu trong Việt kiều và lính người Việt-nam ở đây.

Tính thanh niên ưa công tác khó khăn, mới mẻ, tôi không ngần ngại xin đi Thượng-hải. Các đồng chí phụ trách cho tôi vé tàu sáu đống, bảo tôi đến Thượng-hải tự lực cánh sinh mà sống và hẹn tôi ba tháng sau khi đến Thượn-hải phải gây được tổ chức quần chúng.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 30 Tháng Tư, 2010, 01:22:20 AM
Ở Thượng-hải, trong tô giới Pháp có 4.000 lính khố xanh và khố đỏ. Ngoài ra, có một số công nhân, công cả gia đình công nhân, binh linh có đến 6.000 người Việt-nam. Ngoài ra, có 1.000 lính Pháp; ngoài bến Ngô Tùng, thường xuyên có tàu chiến Pháp đỗ. Cảng Thượng-hải luôn luôn là địa điểm có tàu biển từ Mác-xây đi Hoành-tân qua lại. Tối biết là địa điểm Thượng-hải lợi hại lắm. Song, ở Thượng-hải tôi không quen biết ai, tiếng Thượng-hải tôi không biết. Tôi cầm cái vé sáu đồng, càng nghĩ, càng lo, càng thấy công tác đang chờ mình gay thật.

Tìm mãi, tối mới nhớ đến bác Ba đen, một công nhân có chân trong Công hội bồi bếp do Việt-nam thanh niên cách mạng đồng chí hội tổ chức ở Hồng-kông. (Hiện nay, bác Ba đen công tác ở nhà in báo Nhân dân). Bác Ba đen có người quen ở Thượng-hải. Tôi nhờ Ba đen viết thư giới thiệu với người quen này của bác.

Tôi đến Thượng-hải, thuê khách sạn ở, rồi tìm đến người quen của bác Ba đen tên là Thuyết, học y sĩ ở Thượng-hải. Tôi nói với anh Thuyết là tôi đến Thượng-hải muốn kiếm việc làm. Anh Thuyết trả lời tôi:

- Việc làm ở đất này cũng khó đấy. Hay anh hãy tạm về đàng kia với chúng tôi.

Thuyết với hai người nữa là Ngảnh và Trần Tam mở một hàng cơm bán cho lính tẩy, lấy tên là Phạm điếm Trần Tam, Trần Tam trực tiếp trông nom, còn Thuyết đi học và làm sổ sách, Ngảnh thì vừa nấu bếp cho một chủ Tây, vừa đi chợ mua bán cho cửa hàng chung. Tôi đến hầu bàn ở cửa hàng cơm của ba người.

Ở của hàng cơm, chỉ mấy ngày là bắt được mối gây cơ sở.

Một buổi sáng, một số an hem công nhân Việt-nam ở nhà máy Ô-xi-gien của Pháp ở Thượng-hải đến hàng cơm tôi lạc quyên tiền giúp một anh công nhân bị bệnh chết dưới tàu biển. Tôi thấy đám anh em công nhân sốt sắng với nghĩa cử, tôi mò đến chơi xem. Anh em đều là người Nam-bộ, có lòng yêu nước, có ý thức tốt, mà chưa gặp ai tuyên truyền giác ngộ cách mạng.

Tôi bàn với anh em lập hội tương tế để cùng một nước đùm bọc lẫn nhau trong lúc xa nước, xa nhà. Thế là, không đầy một tháng công tác ở Thượng-hải, tôi đã báo cáo được kết quả công tác về Hồng-kông.

Tổ chức quần chúng từ công nhân, phát triển sang anh em bồi, bếp, bà con buôn bán, do đó, bắt mối vào trại lính. Khố đỏ vào trước, khố xanh vào sau, rồi đến cả trong lính thủy cũng có cơ sở. Rồi bắt đầu xây dựng tổ chức Đảng.

Phong trào lên mạnh, tôi phụ trách không xuể, phải báo cáo về Hồng-kônh xin phái thêm một số đồng chí cùng tôi làm việc. Năm, sáu đồng chí lần lượt lên Thượng-hải giúp sức cho tôi, trong số đó có đồng chí Phiếm Chu. Phiếm Chu – tên thật là Đỗ Ngọc Du – là một trong số bảy người sáng lập ra chi bộ cộng sản đầu tiên ở Hà-nội.

Một hôm, tôi nhận được thư không biết của ai gửi tới, hẹn gặp tôi, thứ viết như nhân tình, nhân ngãi hẹn tới gặp nhau. Chỗ gặp là chỗ đánh bi- của Tiên Thi công ty, một của hàng bách hóa tổng hợp hạng lớn của Thượng-hải. Đúng giờ, tôi đến chỗ hẹn. Không thấy ai hết, tôi liền quay ra.

Đang đi, có người đi sau gọi giật tôi lại:

- Anh Hai!

Tôi quay lại, mừng quá: người gọi tôi chính là đồng chí Vương.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Năm, 2010, 11:51:09 AM
Đồng chỉ rủ tôi ra đường, cho tôi địa chỉ ở khách sạn, hẹn hôm sau đến gặp. Lẽ tất nhiên, tôi không thể nào sai hẹn với đồng chí được. Đến chỗ ở của đồng chí, tôi báo cáo với đồng chí về tình hình công tác và đồng chí giới thiệu tôi  lien lạc với các đồng chí Đảng cộng sản Trung-quốc.

Đồng chí Trung-quốc đầu tiên liên lạc với chúng tôi ở Thượng-hải là nữ đồng chí Thái Xương, hiện là ủy viên trung ương của Đảng cộng sản Trung-quốc. Đồng chí đến tận chỗ tôi làm tìm tôi, dẫn tôi đến một khách sạn khá sang và giới thiệu tôi với một đồng chí đã đợi sẵn ở đấy:

- Đây là một đồng chí ủy viên Trung ương đến bàn công tác với đồng chí.

Đồng chí Trung ương đặt vấn đề về vận động binh lính nước ngoài ở Thượng-hải và bàn với tôi về việc vận động binh lính Pháp và Việt-nam, cung cấp cho chúng tôi giấy nến, bút thép, dũa sắt để viết và in truyền đơn.

Có truyền đơn, làm thế nào để mà phát được ở cái địa bàn Thượng-hải rộng lớn này? Các đồng chí Trung-quốc bảo cứ vẽ bản đồ, cần phát đâu, đã có đội tán phát đi phát. Công tác của các đồng chí Trung-quốc ở Thượng-hải năm ấy đã phát triển rất cao. Phát truyền đơn là có đội phát tán rất đông, chuyên làm việc ấy. Công tác tuyên truyền cổ động sôi nổi y như thời kỳ tiền khởi nghĩa ở ta.

Có lần, tôi đang ngồi chơi ở nhà cơ sở, các đồng chí tán phát đội Trung-quốc ném truyền đơn vào nhà. Anh em cở sở nhặt lấy tờ truyền đơn, xuýt xoa bảo nhau:

- Ra người Việt-nam mình làm cách mạng ở các nước cũng đông thật

Truyền đơn tuyên truyền cổ động càng phát, phong trào càng bốc lên như gió. Do tình hình phát triển, sự lien hệ với Đảng Trung-quốc càng chặt chẽ hơn nữa. Trung ương Đảng Trung-quốc tổi chức ra ủy ban vận động binh sĩ nước ngoài có Việt-nam và Nhật-bản tham gia. Các đồng chí Trung-quốc trực tiếp vận động lính Anh; các đồng chí Nhật-bản vận động lính Nhật, lính người Triều-tiên và lính người Đài-loan (bấy giờ Đài-loan còn là thuộc địa của Nhật). Ta thì phụ trách lính Việt-nam và lính Pháp. Chúng tôi liên lạc thư từ với tổ chức qua một hiệu sách của một đồng chí người Nhật. Công việc sau này càng mở rộng thì Trung ương Đảng Trung-quốc giao hẳn ủy ban vận động binh sĩ nước ngoài này cho tỉnh ủy Giang-tô. Việc tuyên truyền vận động, dựa vào cơ sở Đảng, càng mạnh thêm lên.

Công tác của chúng tôi phát triển sang đến binh lính Pháp. Cửa hang cơm Trần Tam là chỗ lui tới của lính. Nghề lính tẩy vào hang quán, chắc ai cũng biết, vốn dĩ là hay say rượu đập phá. Trong bọn họ, cũng có người ăn uống đứng đắn, vẻ mặt điềm đạm, ưu tư. Gặp những người lính tư cách khác như thế, tôi thường lân la hỏi chuyện rồi giới thiệu với Phiếm Chu biết tiếng Pháp rủ đi chơi, trò chuyện. Có anh thổ lộ mình ở bên Pháp hoặc đã tham gia Đảng Pháp, hoặc đã tham gia những tổ chức quần chúng của Đảng Pháp.



Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Năm, 2010, 12:26:52 PM
Phong trào không những có trong trại lính khố đỏ, khố xanh, trong lính Pháp, mà phát triển cả sang lính thủy Việt-nam người Nam-bộ và lính thủy Pháp dưới các tàu biển và tàu chiến Pháp nữa. Chín chiếc tàu hàng từ Mác-xây sang Hoành-tân như những chiếc Đác-ta-nhăng, A-tô-xơ II, Sơ-nông-sô, Sphanh, Boóc-tô-xơ, v.v… đều có cơ sở. Tàu nào cũng tổ chức được hải viên công hội (trừ tàu Sphanh chỉ có hai người Việt-nam làm, không tổ chức được). Có tàu có cả đồng chí Đảng. Mối liên lạc từ Thượng-hải và Hồng-kông, Sài-gòn và cả đi Pa-ri nữa rất tiện.

Vì phong trào lên như thế nên chúng tôi chuyển sang phát lấy truyền đơn. Các đồng chí đội tán phát Trung-quốc phát theo đại chỉ vẽ trên bản đồ, chỉ phát truyền đơn trước cửa nhà, ngoài hàng rào hay ném lên tàu và trao tay khi binh lính đi chơi ngoài đường mà thôi. Có cơ sở khắp nơi, chúng tôi có thể bỏ truyền đơn vào bất cứ đâu cũng được. Chúng tôi xuất bản cả báo, mới đầu là tờ Giác ngộ cho chung cả Việt kiều và binh lính, sau ra tờ Kèn gọi lính riêng cho binh lính Việt-nam và tờ Hồng quân (Arméc rouge) cho binh lính người Pháp.

Tôi nhớ đồng chí Vương có viết một số bài văn xuôi và văn vần cho báo của chúng tôi. Tôi được gặp đồng chí ở Thượng-hải cả thảy bốn lần. Lần cuối cùng được gặp là lần đồng chí đến cơ quan chúng tôi, họp với chúng tôi, đưa từng số báo của chúng tôi ra phê bình, hướng dẫn cho chúng tôi về cách viết báo. Lần họp ấy càng làm cho tôi thêm một ấn tượng rất sâu sắc về tác phong công tác tỉ mỉ, chu đáo của đồng chí.

Câu chuyện lý thú nhất đối với chúng tôi trong thời gian công tác ở Thượng-hải là đã gây được cơ sở cách mạng ngay trên tàu chiến Oan-đê-sơ Rút-sô của Pháp. Chính chiếc tàu này đã kéo cờ khởi nghĩa đầu tiên ở Hắc-hải năm 1918. Anh em đồng chí dưới tàu dán truyền đơn vào phòng ăn, trong chuồng tiêu, bỏ cả truyền đơn trong các ngăn kéo, bọn chỉ huy xanh mắt tìm kiếm, tra hỏi mãi cũng không tài nào biết được truyền đơn ở đâu ra. Say sưa với thắng lợi, anh em đồng chí mình ở dưới tau hăng quá, vào dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Mười năm 1930, đề nghị cho kéo cờ đỏ lên cột cờ của tàu, muốn diễn lại sự kiện anh hung trên Hắc-hải. Đảng ngăn anh em không nên manh động, khuyên anh em hết sức giữ gìn cơ sở.

Nhưng cái gì đã thúc giục chúng tôi càng hăng hái, say sưa công tác? Đọc trên báo công khai, từ trong nước gửi ra, vào năm 1930 lịch sử, đầy những tin tức về phong trào đấu tranh sôi nổi ở nước nhà. Đối với chúng tôi, đấy là nguồn động viên cực kỳ mạnh mẽ. Nhất là tin về Xô-viết Nghệ-an làm cho chúng tôi ở xa nước càng bừng bừng ngọn lửa phấn khởi cách mạng. Trong chúng tôi có anh Quốc Long, vốn là người Nghệ, đã học qua trường Hoàng Phố, bỏ chức quan trong quân đội Tưởng, về hoạt động bí mật cho Đảng cùng với chúng tôi. Có một lần anh cầm tờ báo bên nhà mới gửi sang, mắt sang và reo lên, mừng khôn tả xiết:

- A, a, thú quá! Anh em họ họp mít tinh ngay chính làng mình.

Cụ Hồ Ngọc Lãm bấy giờ là sĩ quan cao cấp trong Bộ tổng tham mưu của Tưởng Giới Thạch, có lần từ Nam-kinh xuống Thượng-hải, gặp chúng tôi rồi đưa nhau vào tiệm ăn cơm.Trong lúc trò chuyện, cụ ngỏ ý:

- Phong trào ở nhà cao như thế, nếu Đảng cần, tôi xin về chỉ huy quân sự

*
* *

Cuối năm 1930, tôi bị bắt lần đầu tiên. Hóa ra địch đã rình tôi từ lâu. Khi tôi ở nhà máy Ô-xi-gen đi ra thì mật thám chộ ngay. Lý do: chúng thấy mỗi lần tôi đến đây, thì sau đó có truyền đơn rải khắp nơi.



Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Năm, 2010, 12:58:06 PM
Trên người tôi, giấy tờ đủ cả và không có mang tài liệu bí mật gì. Chúng khám mãi người tôi chỉ có một nắm vé xe điện là khả nghi. Tôi giữ những vé xe điện trong người vì kỷ luật tài chính của Đảng rất nghiêm, tiêu mỗi đồng xu nhỏ cũng phải có đủ chứng từ thanh toán. Chúng xem đống vé xe điện và quay ra vặn tôi.

- Tại sao anh có vé xe điện sang tô giới Nhật, tô giới Anh, sang cả Thành Tầu nữa thế này (Thành Tầu, tên chúng gọi địa phận của Thượng-hải không thuộc các tô giới khác của đế quốc).

Tôi bình tĩnh trả lời:

- Tôi đi chơi các công viên. Bên các tô giới và bên Thành Tầu có công viên đẹp, tôi rỗi thì tôi đi chơi.

Chúng như đã ngờ tôi là ai rồi. Tôi một mực nói:

- Tôi sang đây kiếm việc làm. Các ông có việc gì tìm giúp cho, tôi xin làm ngay.

Chúng gọi Trần Tam đến, bắt tôi quay mặt vào tường và hỏi thẳng Trần Tam:

- Nhà anh có chứa ai là Nguyễn Lương Bằng không?

Trần Tam trả lời:

- Nguyễn Lương Bằng? Không, nhà tối không có chứa ai là Nguyễn Lương Bằng cả.

Chánh mật thám bắt tôi quay mặt lại và hất hàm hỏi Trần Tam:

- Anh có chứa người này không?

- Có. Người này tên là Hai đến ở tạm với chúng tôi đợi kiếm việc làm.

Mật thám bảo Trần Tam:

- Tôi giao cho anh người này, anh nuôi cho đến khi nào có tàu về Việt-nam.

Trần Tam nhận tôi về. Anh ta vốn là một người đang làm giàu, thường ngày thờ ơ với cách mạng. Ý thức chính trị vốn đã mơ hồ, lại bị tuyên truyền lừa bịp, nên bấy giờ cho Tưởng Giới Thạch cái gì cũng hay. Nhưng đối với Pháp, anh ta cũng không ưa gì. Trong trường hợp tôi bị bắt và đợi giải về nước, anh ta đối xử với tôi rất tốt.

Đến ngay có tàu về Hải-phòng, viên quản khố xanh tên là Thiệu đến tìm tôi, đưa cho chiếc vé và hai đồng ra giọng ái quần, ái quốc, bảo tôi:

- Tôi rất ái ngại cho bác. Sang bên này không có công ăn việc làm, phải về, quần áo không có, vốn liếng cũng không. Thôi quan trên đã định thế, thì không thể nào khác được. Chỗ tình nghĩa đồng bào, tôi giới thiệu bác cứ về đến Hồng-kông, lên tìm ông Sửu ở lãnh sự quán Bỉ, ông ấy sẽ giúp đỡ.

Tôi nghe đến tên Sưu, chột dạ ngầm trong bụng. Chính tên Sửu này mình kết nạp vào tổ chức thanh niên. Sao tên Sửu lại liên lạc với tên quản Thiện này? Nhất định là một tên chó săn chui vào tổ chức. Đến Hồng-kông, có thể hắn sẽ thi hành chỉ thị của đế quốc, giao mình cho Pháp đấy.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 02 Tháng Năm, 2010, 01:25:30 PM
Tôi đang nghĩ lung tung trong óc thì quản Thiện dẫn tôi xuống đến tàu, giao tôi cho tên mại bản tàu, giọng làm ra bộ tử tế lắm:

- Tôi có người anh em đi tàu, nhờ bác trông giúp.

Tôi đã có chủ trương nên cứ xuống tàu ngủ, định nửa đêm, tàu cập bến Sơn-đầu thuộc Quảng-đông, sẽ trốn lên bờ bỏ chạy. Khi tỉnh dậy thì mãi đến sáng tàu vẫn chưa rời bến Thượng-hải. Tôi bèn gửi bà con đi tàu chiếc va-ly mây với chiếc va-ly giấy của tôi chứa toàn giẻ rách, rồi bỏ đi, cốt đánh lạc hướng bọn mật thám. Tôi cứ đi đi, lại lại khắp nơi trong tàu, trà trộn vào hành khách tấp nập. Thoáng thấy anh em làm tàu sắp sửa kéo dây tàu, tôi chạy vụt lên bờ, giả vờ mua ít hoa quả ăn đường, cứ lúi húi mặc cả cho đến khi tàu rời bến. Tàu quay mũi. Tối chạy biến lên xe điện, sang tô giới công cộng.
*
* *

Từ đấy, tôi vì lộ rồi, nên thôi công tác chạy ở ngoài, ở nhà giữ việc đánh máy và in báo.

Trong nước thiếu cán bộ. Tôi tình nguyện xin về, chuẩn bị đâu vào đấy, đợi tàu có anh em cơ sở để bí mật về nước, thì lại xảy ra một chuyện không hay. Câu chuyện như sau: Trong trại lính khố xanh có hải tiểu đoàn, cơ sở phát triển, cả cai đội cùng vào tổ chức. Có người vào hàng cai, đội, tha thiết xin gặp đồng chí phụ trách. Chúng tôi bàn đi tính lại: phải hết sức cảnh giác nhưng không thể nào không đến gặp.

Tôi đi gặp. Người đó ngồi ở một tiệm giải khát. Tôi trao cho anh ta một số truyền đơn về ngày 1 tháng 5. Chia tay, mỗi người đi một ngả. Cảnh giác, tôi rẽ về một đường thật vắng. Đúng là có người theo. Tôi đi lung tung, lên xe điện, nhảy sang xe hơi. Mấy người lạ mặt cứ đi theo miết. Từ chiều đến quá nửa đêm mới bỏ được chúng. May mà thạo đường không có thì dẫn nó về nhà mình.

Tôi về bàn với anh em đặt vấn đề cảnh giác. Có anh em cho có thể là vì tôi mặc quần tây với áo “xửng xám” dài kiểu học sinh Trung-quốc lúc bấy giờ nên mật thám nó nghi.

Lần hẹn gặp sau, một đồng chí khác đi đến chỗ hẹn, còn tôi hóa trang, mặc rất sang đi theo xem xét. Chưa đến nơi, mật thám đã bao vậy kín cả các ngả đường. Mãi đến một giờ khuya, chúng tôi mới thoát khỏi sự theo riết của chúng.

Lần thứ ba, anh em lại trao cho tôi đi. Tôi nhận nhiệm vụ, rất bình tĩnh, đoán già là mật thám nó có bắt thì theo dõi đến ổ nó mới bắt. Chỗ hẹn là Tân tân công ty, một cửa hàng to ở Thượng-hải. Vừa bước chân đến trước của hiệu, mật thám đã nhô ra. Tôi vội đi thẳng. Chúng bám sát đằng sau. Trời lâm râm mưa. Tôi đi bộ đã đến mười cây số, từ đường Nam Kinh đến tận vườn hoa Hồng-kông bên tô giới Nhật, chúng vẫn không rời tôi một bước. Tôi rẽ vào hàng mua hạt dẻ ăn, đợi chiếc xe kéo lẻ đi đến nơi, nhảy lên xe, bảo người kéo xe chạy rõ nhanh. Ngồi trên xe, ngoái lại, đã thấy chúng nó đuổi đằng sau rồi. Đến phố Nam-kinh, tôi nói dừng xe lại, trả tiền rất hậu, rồi chạy tọt vào cửa hàng Vĩnh-an đang đông nghìn nghịt, nhảy tót lên thang máy, nhập vào dòng người cuồn cuộn rồi biến mất hút.

Đúng là có kẻ phản rồi.



Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 16 Tháng Năm, 2010, 09:32:00 PM
Cơ quan chung của chúng tôi ở tô giới Anh, dưới là chủ nhà bán than, gác trong một người đàn bà Trung-quốc ở. Chúng tôi ở gác ngoài. Thường thường cứ năm giờ chiều, chúng tôi đi đón anh em ở các nơi tan giờ về làm. Một buổi chiều, tôi thấy ở gác nhà thợ cạo trước mặt có người lạ cứ vén rèm cửa nhòm sang bên chúng tôi.

Tôi bảo Phiếm Chu:

- Có lẽ lộ rồi. Anh thử ăn mặc thật chỉnh tề đi ra đầu phố rồi quay về xem nó có đi theo không.

Phiếm Chu làm theo. Tên lạ mặt đi theo liền. Đúng là mật thám. Lộ rồi, chúng tôi quyết định dọn tất cả về cơ quan in của tôi. Phiếm Chu tạm đến thuê khách sạn ở. Tôi dọn một chuyến tài liệu về nhà tôi chót lọt. Về dọn quần áo, đồ đạc nốt chuyến nữa thì vừa ra khỏi cổng phố, tôi bị mật thám Pháp sang tân tô giới Anh bắt tôi.

Tối hôm ấy, nó tra ngay:

- Chuyến đồ trước mày đưa đi đâu?

- Tôi đưa cho người Trung-quốc đón tôi ở đường.

Đánh mấy cũng không moi tôi được điều gì. Cho nên các đồng chi còn ở ngoài đến cơ quan cũ của tôi rất lấy làm lạ: tài liệu nguyên vẹn mà không hiểu sao người thì mất.

Ít lâu sau, Phiếm Chu cũng bị bắt trong khi tuyên truyền lính Tây ở vườn hoa Hồng-khẩu. Sau đó Quốc Long và các đồng chí khác cũng sa vào lưới mật thám đế quốc.

Thế là cơ sở bị vỡ. Cả anh Thuyết cũng bị giam. Anh vừa đỗ y sĩ xong, đã mở phòng khám bệnh khá sang, đang đông khách lắm, ngay giữa Thượng-hải. Tuy còn đứng ngoài phong trào cách mạng, vì liên lụy mà bị bắt, mất cả cơ nghiệp, anh vẫn không hề thốt ra một lời oán than nào.

Mười lăm năm sau, đúng sáng sớm ngày 20-12-1946, tờ mờ sáng hôm sau đêm bùng nổ ra kháng chiến toàn quốc, tôi đi xe đạp qua Nga tư Vác Hà-đông. Bỗng có người gọi tôi:

- Hai ơi, anh Hai ơi.

Tôi quay lại. Thì ra anh Thuyết.

- Ô kìa, anh, tôi vẫn tưởng anh còn bên Thượng-hải.

- Còn tôi với Ngảnh cứ tưởng anh bị chúng đem đi bắn hay chém rồi. Sau khởi nghĩa mới biết được anh còn sống.

Anh néo tôi bằng được: “Nhà tôi ở cách đây có mấy cây số, xin mời anh về chơi”. Hàn huyên rồi anh nói với tôi: “Nước nhà đã kháng chiến. Tôi xin anh cho cả gia đình tôi theo anh”.

Từ đấy anh theo đoàn thể, trong những năm đầu kháng chiến, lên rừng chế thuốc chữa bệnh cho anh chị em cán bộ ta. Rồi anh trở thành một đảng viên của Đảng Lao động Việt-nam và hiện công tác ở Công ty Dược phẩm Hà-nội.

Còn người cai khố xanh chui vào tổ chức giăng bẫy cho mật thám bắt chúng tôi sau này xác minh là một tên chó săn thực thụ. Hắn được Tây cho lên đóng tại quản. Nghe đồng bào Việt kiều ở Thượng Hải nói lại, sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, tất cả đồng bào ở Thượng-hải ai nấy nức lòng hởi dạ. Còn hắn thì hắn dí súng lục vào thái dương, bắn vào óc tự tử.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 17 Tháng Năm, 2010, 07:00:34 PM
II

Suốt một tháng bị giam ở Thượng-hải, mấy tên mật thám thay phiên nhau tra tấn tôi hết trận này đến trận khác.

Một đêm, chúng đánh tôi một trận mê man rồi chìa ra một tấm ảnh dụ tôi:

- Mày có biết đây là ai không? Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ của chúng mày, đã bị bắt ở Hồng-kông rồi. Mày khôn hồn thì khai đi thôi!

Tôi nhìn tấm ảnh. Thì ra Nguyễn Ái Quốc chính là đồng chí Vương mà tôi đã gặp. Chúng tưởng báo tin đồng chí Nguyễn Ái Quốc bị bắt sẽ làm tôi bị lung lay tinh thần. Trái với ý muốn của chúng, tên Nguyễn Ái Quốc và tấm ảnh của đồng chí càng cho tôi thêm lòng căm thù đế quốc và kiên quyết không khai.

Tôi với Phiếm Chu bị giải về Sài Gòn rồi chở ra Hải-phòng bằng tàu Cơ-lốt-dơ Sáp pơ. Hai anh em bị cùm suốt ngày trên boong tàu. Chuyến tàu có một trung đoàn lính vừa Pháp, vừa khố đỏ ở Pháp về. Chúng tôi thấy lính là tuyên truyền ngay.

Một hành khách đến chỗ chúng tôi bị cùm:

- Tôi hỏi không phải, các ông bị bắt về việc gì ạ?

- Chúng tôi bị bắt ở Thượng-hải

- Các ông thuộc về phái nào ạ?

- Chúng tôi thuộc Đảng cộng sản

Chúng tôi tự hào về hai tiếng cộng sản ấy. Còn người hành khách thì lễ phép quay đi. Một chốc ông ta trở lại, đem biếu chúng tôi bánh mỳ và thức ăn.

Anh em lính khố đỏ dần dần đến gần chúng tôi rồi xúm quanh hai chúng tôi. Chúng tôi càng tuyên truyền khỏe.

Sĩ quan Pháp ra lệnh cho lính đứng ra xa. Anh em đứng xa, chúng tôi vẫn cứ nói. Tên sen đầm áp giải đưa chúng tôi xuống hầm với hành khách. Ngồi với hành khách càng là một cơ hội cho chúng tôi tuyên truyền. Thấy thế không lợi, sen đầm lại giải chúng tôi xuống quầy hàng. Quầy hàng nóng như thiêu, tên sen đầm không dám xuống, chỉ đứng ở đầu thang sắt dốc thẳng canh chúng tôi. Dưới quầy hàng thế nào lại toàn bà con đồn điền cao su ở Nam-kỳ về. Hơn một trăm bà con, cả đàn bà, trẻ con, chen chúc nhau trong quầy hàng nóng bỏng. Chúng tôi tha hồ tuyên truyền.

Tên sen đầm quát tháo, dậm dọa, chực đánh chúng tôi. Chúng tôi tuyệt thực phản đối. Nó quay xuống quát:

- Không ăn, chết ông vứt xác xuống biển.

- Anh không có quyền hành hạ chúng tôi giữa đường.

Và chúng tôi nói với bà con:

- Rồi các ông, các bà xem: chúng nó được hay chúng tôi được?


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 17 Tháng Năm, 2010, 07:50:20 PM
Cuối cùng chúng nó phải mời chúng tôi lên hạng ba ngồi, quạt máy chạy vù vù. Bà con hành khách và anh em binh lính lại hỏi thăm chúng tôi. Đến bến Hải-phòng, bà con cao-su còn đến chào hỏi chúng tôi rồi mới ra về.

Ở  sở mật thám Hà-nội, chúng tôi bị cùm hai chân, xích hai tay. Chúng tôi đấu tranh tuyệt thực đến bật cả cùm xích. Bấy giờ vào cuối năm 1931, Hồi đồng đề hình đã giải tán, đế quốc đưa tôi về Hải-dương giao cho tòa Nam án xử. Tôi còn nhớ khi lính khố xanh giải tôi từ Hỏa-lò ra đến ga Hàng Cỏ, tôi bị xích hai tay đứng ở ke đợi tàu Phòng thì có một gã khăn xếp, giày ban, áo xa, quần ống xớ, trông rõ ra là một tay thượng lưu xã hội lúc bấy giờ, cũng chờ tàu, đang đi đi lại lại, ung dung lắm, trước mặt tôi. Gã ta mặt xương xương, da nhợt nhợt nhìn tôi bằng con mắt thương hại, rồi cười nhếch răng vàng hỏi tôi:

- Tôi hỏi khí vô phép: ông bị hạn về việc gì thế ạ?

Tôi bầy giờ còn trẻ, tính bồng bột, trả lời thẳng như ruột ngựa:

- Tôi không bị hạn gì cả. Đế quốc bắt tôi vì tôi làm cộng sản.

- Thế thì đáng kiếp lắm.

Gã lẩm bẩm một cách láo xược và rảo bước tránh xa chỗ tôi đứng. Ở nhà pha Hải-dương, tôi lại đấu tranh tuyệt thực đòi bỏ cùm, bỏ xích, đòi chăn, đòi chiếu phát chung cho cả anh em thường phạm. Có nhà sư bị giam phát điên, đập bát cứa cổ tự tử, tên chánh sứ Hải-dương ra lệnh tịch thu hết bát. Tôi vận động đấu tranh đòi bát lại, đòi cả áo tơi, nón lá đi làm.

Đấu tranh thắng lợi, an hem thường phạm rất có cảm tình với tôi. Anh em nói:

- Được thế này là nhờ ông Sao đỏ cả đấy. – (Sao đỏ là tên các đồng chí vui mà đặt cho tôi ở mật thám Hà-nội).

Tôi bảo anh em thường phạm:

- Nhờ cả anh em mới đấu tranh được. Chứ một mình tôi thì làm gì được.

Trong anh em sau này, nhiều người tốt với cách mạng.

Tháng 6 -1932, tòa án Hải dương xử tôi phát lưu chung thân.

Tôi lại bị giải về Hỏa-lò Hà-nội. Chuyến xe lửa từ tỉnh Đông về ấy, có một kỷ niệm tôi không bai giờ quên được. Tôi là tù đã thành án, đi như thế là có lính khố xanh vác súng đi kèm. Ngồi bên cửa sổ, tôi đang mải nhìn ra cánh đồng mới gặt thì có một cụ già, chạc tuổi gần năm mươi, ăn mặc ra lối tiểu thương, vẻ mặt phúc hậu, đến hỏi thăm người lính khố xanh, xin phép anh lính đó đến gần tôi nói chuyện.

Thấy bà cụ ân cần, tôi nói thật là tôi bị bắt ở Thượng-hải. Nghe tôi kể, bà cụ nhận ra ngay:

- Thế ra cậu tên là Nguyễn Lương Bằng, người Thanh-miện đấy. Việc của cậu, em nó xem báo đọc cho tôi nghe, tôi được biết. Các cậu thanh niên, đem nhiệt huyết ra làm việc nước, chúng tôi rất khâm phục. Thời buổi này, người Pháp họ cai trị nước mình, họ bắt những người như các cậu, làm tù, làm tội, chém giết, chúng tôi rất thương xót, ái ngại. Chẳng giấu gì cậu, tối có mấy người em, người cháu cũng đi cách mạng như các cậu, cũng bị bắt tù đày nên trông thấy cậu là nghĩ đến các em.



Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 18 Tháng Năm, 2010, 09:52:32 PM
Rồi bà cụ gọi cô con gái lại. Cô gái tuổi chừng mười tám, mười chin, đến chào tôi: “Anh ạ”. Bà cụ bảo cô em:

- Con xem có quà bánh gì mua đem lại đây mời anh đi con.

Cô em bưng về nào bánh dò, nào bánh đậu, mua nước chè mạn và cả nước chanh nũa lễ phép mời tôi dùng. Tôi từ chối thì bà cụ khẩn khoảng nói:

- Cậu đừng nề hà. Các cậu với tôi là người nhà cả. Gặp nhau có một quãng đường, cậu sơi tấm bánh, cốc nước cho tôi vui.

Rồi suốt từ ga Cẩm-giàng về đến ga Gia-lâm, bà cụ ngồi bên tôi, bà cụ ngồi bên tôi hỏi chuyện tình hình, chuyện Pháp, chuyện Đức, chuyện Nhật, chuyện bên Nga, bên Tàu và chuyện các nhà cách mạng của ta. Cô em cũng ngồi nép bên bà cụ, ngước cặp mắt bồ câu, nhìn tôi chằm chằm, nghe tôi chăm chú, vẻ thùy mị dễ thương một cách lạ. Tôi nhớ hình như bà cụ với cô em quê đâu bên Lim hay Đặng vùng Bắc ấy…

Đến ga Gia-lâm thì bà cụ và cô em xuống. Hai mẹ con dồn cả tiền còn lại trong túi, trong thúng, trong thắt lưng, còn được một đồng tư bạc, bà cụ biếu cả cho tôi. Tôi một mực không nhận thì, vì tay tôi bị xích ngược, bà cụ cứ ấn cả số tiền và túi áo của tôi. Rồi hai mẹ con cắp thúng mủng dảo bước xuống tàu.

Xuống đến ga, bà cụ và cô em còn tần ngần đứng ở xe. Xe chuyển bánh, bà cụ, cặp mắt ngậm ngùi, gọi với tôi:

- Cậu Bằng ơi, cậu đi may mắn nhớ!

Và cả cô em nữa, hai người cứ nhìn theo tôi mãi.

Vào đến Hỏa-lò, suốt bao nhiêu ngày, tôi cữ nghĩ đến cuộc gặp gỡ trên quãng đường ngắn ấy. Người đâu mà tốt lạ! Nghĩ đến chân tình của đồng bào đối với người cách mạng, tự nhiên, dung dị lạ thường, tôi càng thêm tin tưởng; cứ có cán bộ, cứ có người đem đường lối, chính sách chủ trương của Đảng đến với quần chúng, là có phong trào.

Tôi đã nuôi ý định trốn. Ý tôi rất hợp với ý anh Nguyễn Tạo. Trước tình hình thế giới đã bắt đầu phát triển đi đến chiến tranh, nhiều anh em còn nhiệt tình cũng đều nóng ruột với phong trào. Chúng tôi chui xuống gầm sàn, họp hội nghị bàn vượt ngục. Cuộc họp hội nghị ấy có cả anh Duẩn và anh Thức (hiện công tác ở Bộ Công an) tham gia.

Kế hoạch bàn không thực hiện được. Sau một buổi chúng tối tổ chức diễn kịch trong nhà lao, anh Duẩn, anh Thức và một số anh em khác diễn kịch, bị thằng xế ngục già cho là cầm đầu, kiếm cớ bắt vào xà lim cùm. Cả trại chín mươi người cùng bị chúng phạt cùm một tháng. Tôi với anh Nguyễn Tạo bàn nhau phải trốn bằng được.

Có anh em bàn lấy hết quần áo may dù nhảy từ trên nóc trại xuống mà trốn ra đường. Mạo hiểm! Chỉ còn một cách là sang nhà thương cưa chấn song trốn.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 18 Tháng Năm, 2010, 10:40:08 PM
Tạo, Tuyền, Hào Lịch, Đàm, Mẫn vẽ ra đủ các thứ bệnh và đòi được đưa ra nhà thương trước. Tôi và anh Cương chưa ra được thì trong lao lại nổ ra đấu tranh tuyệt thực đòi quyền lợi viết thư, đọc báo, đòi thuốc lào, thuốc lá như cũ. Đến ngày thứ sáu, địch vẫn chưa nhượng bộ, thì bọn anh Tạo đã nhắn về là chuẩn bị sắp xong rồi.

Làm thế nào ra nhà thương được? Đầu tiên anh Cường và tôi định làm ra bệnh tả. Nghe nói đồng chí Trần Đức Thịnh, lúc ấy cũng bị giam ở Hỏa-lò, có giữ được nhiều vị thuốc bắc, chúng tôi đến xin hột ba đậu uống để đi ỉa chảy.

Uống ba đậu mà đã tuyệt thực 6 ngày, trong ruột không còn gì, nên chỉ nôn ra đằng mồm. Lại xoay sang cách lấy máu ở “ven” ra, ngậm vào mồm làm thổ huyết. Nhưng không có kim rỗng lòng, không thể rút máy ở “ven” được.

Chỉ còn một cách: đâm cổ, giả tự tử.

Chúng tôi đâm cổ họng rất cẩn thận, xong rồi để máu chảy ròng ròng xuống ngực, áo trắng đỏ lòm, ra trước anh em, kêu gọi anh em giữ vững đấu tranh và hô khẩu hiệu rồi ngã vật xuống.

Anh em kêu lên:

- Ôi thôi, Sao đỏ chết rồi!

*
* *

Đế quốc trúng kế, xe hai chúng tôi ra nhà thương ngay.

Ông bác sĩ khâu cho chúng tôi là một nha phẫu thuật Việt-nam mới tốt nghiệp ở Pháp về. Ông ta khâu xong, chép miệng nói bằng giọng đường trong:

- Việc quái gì mà tự tử. Cứ sống. Có gì oan ức thì làm giấy gửi quan trên, chứ việc gì mà phải tự tử.

Rồi ông ta gọi y tá nhà pha là bác Phèng vào, giao lại:

- Đây, băng quấn lỏng đây nhé, kẻo họ có chết lại bảo tại tôi quấn băng chặt.

Phèng và mấy thường phạm xếp hai chúng tôi nằm thẳng cẳng lên xe bò, đem từ nhà mổ xuống “xan” các nhà tù chính trị. Nằm trên xe bò, tôi hé mắt nhìn Cương và Cương hé mắt nhìn tôi. Hai anh em khẽ mỉm cười với nhau.

Tạo đã đứng đợi ở trước “xan” nhà thương, từ xa đã gọi:

- Cụ Phèng ơi, ai đấy?

- Sao đỏ với cậu nữa.

- Sao thế?

- Tuyệt thực sáu ngày, tự tử.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 19 Tháng Năm, 2010, 08:01:44 PM
Vào đến “xan”, Tạo bảo chúng tôi:

- Đóng kịch khéo không ở đây có lẫn bọn Quốc dân đảng. Nó biết thì nguy hiểm lắm.

Rồi anh cho biết thêm:

- Sáu đầu chấn song, cưa được năm rồi. Tối mai đi được. Đau thế có đi được không?

- Được.

Cuối “xan” nhà thương, là bốn xà-lim giam tù bệnh nặng hay án nặng. Ở hai xà-lim liền nhau, hai người điên trên nhau la hét đập phá om xòm. Một người điên thật là đồng chí Quỳ, thợ điện Nam-định, bị đế quốc dùng búa bổ vào đầu loạn óc. Một người điên vờ là anh Tuyển trong bọn tôi. Anh vờ điên đi đập cửa thình thình, lấp tiếng cưa song sắt của anh em khác. Chúng tôi cưa chấn song cửa sổ chính trong xà-lim anh Tuyển nằm.

Đốc tờ Xồm đến khám, bắt tôi và Cương cũng lại vào nằm xà-lim, khóa lại cho cẩn thận. Tôi đã hoang mang thì anh Tạo, anh Đàm vận động được lính khố xanh cho mượn chìa khóa mở thăm chúng tôi rồi không khóa lại.

Chúng tôi nằm chung với người của Quốc dân đảng. Lần trước, tôi ốm thật, ra nhà thương bọn nó đã đồn rầm là Sao đỏ tìm đường định trốn đấy. Chính vì thế mà lần này anh em chủ trương tôi nên ra sau cho bọn nó khỏi ngờ. Bọn họ ra nằm nhà thương cũng có mưu vượt ngục. Họ phần nhiều đều là con nhà khá giả, ai cũng có thừa tiền nhưng vì không có tổ chức như ta, nên mưu của họ không thực hiện được. Ta trốn họ biết, nhất định họ phá. Nhất là trong bọn họ có tên Lâm mặt sắt là một phần tử chống cộng rất dữ.

Làm thế nào để đi được mà không cho họ biết? Có anh em bàn cách này cách khác, sau cùng, pha thuốc ngủ vào cà-phê và đường mời họ uống.

Họ ngấm thuốc ngủ, nghe nói đến tận sáng hôm sau, mật thám, sen đầm biết tin chúng tôi trốn, vào khám, họ hãy còn ngủ li bì.

Chúng tôi lần lượt chui đít ra trước, khỏi khoảng chấn song sắt đã cưa, xé chăn ra làm dây, nối lại, dòng xuống để bám tụt xuống đất rồi trèo tường đắp mảnh chai lởm chởm, vạch dây thép gai chui ra, nhảy phốc xuống mặt đường.

Tuyển đi trước, Tạo đi thứ hai, rồi đến Đàm, Mẫu, Hào Lịch, Cương, Tôi thì đi sau cùng.

Chúng tôi đã trốn khỏi nhà thương ra đường Phủ-doãn. Đúng đêm Nô-en. Đồng bào vẫn đông, đổ vào ngõ Huyện, kéo đến nhà thờ Lớn. Bọn chúng tôi hòa vào dòng người đi xem lễ.

Muốn vượt ngục, phải chuẩn bị tiền. Có tiền rồi phải giữ được tiền cho đến giờ hành động.

Cương có tờ giấy hai chục đồng Đông-dương lúc bấy giờ. Anh đưa tôi giữ từ Hỏa-lò. Gấp nhỏ lại cho vào mồm ư? Vào nhà thương nó có thể khám và thấy tiền giấu như thế, nó không thể không nghi.

Tôi đem vo viên tờ giấy bạc lại thật cẩn thận, lấy giấy bong bọc thật kỹ, nhét vào hậu môn. Giấu vào đấy thật yên trí! Đến nhà thương, tôi bảo Tạo thò tay vào gắp tiền ra. Tạo thò ngập hết ngón tay mà moi vẫn không thấy. Thì ra y tá nhà thương bơm sữa với thuốc cho tôi bằng đường hậu môn, đã đun tờ giấy bạc của tôi sâu vào trong ruột rồi. Tạo phải mượn bốc thụt cho tôi mới lấy được tiền ra.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 20 Tháng Năm, 2010, 10:34:20 PM
Tờ giấy bạc vẫn khô nguyên. Khéo lắm mới đổi được ra tiền lẻ. Chỗ hai chục ấy, cộng với số tiền riêng của anh Hào Lịch, anh em chia nhau, mỗi người được gần năm đồng. Theo kế hoạch đã định, bọn anh Tạo đi về phía Nam, còn Cương và tôi lên phía Bắc. Hai chúng tôi vừa đi vừa tuyệt thực sáu ngày, đã mệt lả lại vừa đâm cổ, máu ra khá nhiều. Thế mà ra đến đường, quên hết cả đau, cả mệt, cứ cắm cổ mà đi. Đêm đông, gió bấc, trời rét cắt thịt. Ra đến bờ sông Cái, gió táp vào mặt vù vù. Chúng tôi chui xuống gầm cầu, rẽ lau sậy và men theo những đám ngô, đám đậu lên thẳng Nghi-tàm, Tứ-tổng rồi thuê thuyền ngược Việt-trì.

Đi được nửa đường thì tối, chúng tôi bảo áp thuyền vào bờ. Chỗ ấy thuộc địa phận Yên-lạc, Vĩnh-yên. Hai anh em xếp đất cày, nằm giữa ruộng ngủ một giấc cho đến sáng. Rồi suốt ngày đi miết theo đường sông máng, rồi tắt cánh đồng chiêm, qua đồi, qua núi, đi mãi đến xế chiều, thì tới gần quê ngoại của Cương, Cương bàn với tôi để anh về qua đấy, nhân tiện bắt mối với cơ sở ở làng. Anh đưa tôi vào một khu rừng vắng, dặn tôi ngồi đấy, sẽ cho người đem cơm ra cho tôi.

Tôi ngồi giữa rừng, trời tối đen như mực, mưa dầm lạnh buốt. Anh em chia cho được hai bộ quần áo mặc cả vào người. Dọc đường, tôi mua được chiếc áo tơi và chiếc nón lá. Vừa rét, vừa sợ. Sợ rắn, sợ trăn, sợ hùm. Ra đến đây không phải là để chết mất xác giữa rừng này. Tôi mò ra ruộng, vơ đống ra đắp lên người, tính chợp mắt một lúc. Rét quá, năm ấy rét lạ rét lung, tôi không tài nào thiếp đi được. Sáng ngày, tôi lại trốn vào rừng núp trong bụi cây, giương mắt nhìn quanh, canh rắn, rết, canh giống thú giữ. Đêm đến, lại cứ ngồi xổm, tùm hum áo tơi nón lá che mưa. Đêm đến, cũng chẳng có ai ra tìm. Bụng đói, dạ khát, đầu óc căng thẳng, ngồi đợi bạn. Cho đến sáng bạch, Cương vẫn biệt vô âm tín.

*
* *

Tôi phải mò xuống thị xã, tìm vào mấy nhà cơ sở mà Cương đã có lần giới thiệu. Gõ cửa nhà nào cũng vậy, hết nói xa đến nói gần, chẳng ai người ta nhận mình. Chuyến đi thị xã, mất công không, chỉ làm được mấy bát phở vào bụng, lấy lại chút ít sức mà sống, mà đương đầu với khó khăn sẽ đến. Gần về đến rung, gặp một người hao hao giống Cương, thì ra là người anh cùng mẹ khác bố của Cương. Anh bảo tôi:

- Ấy, chú nó đêm qua đem năm sáu anh em về đón. Chú nó ra tìm không thấy anh lại về không. Anh đi đâu thế?

- Tôi chờ mãi không thấy, bò ra ngoài ruộng nằm.

- Chú nó bảo anh cứ nán đợi ngoài rừng, tối nay hay tối mai, chú nó lại đem người về đón.

Lại về rừng ngồi. Đêm vẫn mưa thảm, mưa bại. Tôi ngồi chờ hai ngày hai đêm nữa. Đến đêm thứ ba, bụng sinh ra sốt ruột lạ lung. Đành liều mò vào làng Cương tìm nhà người anh Cương.

Người anh Cương hé cửa ra, xua tay bảo tôi đi, nói không ra tiếng:

- Cương bị tóm rồi. Mật thám đầy làng, chạy ngay đi.

Đi đâu? Tôi lại về xó rừng ngồi cắn răng suy nghĩ. Rồi quyết định: về Thanh-miện, về đấy được.

Tôi vuốt lại mảnh vải chăn giả làm chăn phu-la, quấn lại cổ che kín mảnh vải băng trên vết thương ở cổ họng. Rồi đi thẳng ra tỉnh, đến ga mua vé xe lửa, về xuôi.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 22 Tháng Năm, 2010, 07:03:09 PM
Mấy ngày liền, cảnh sát, sen đầm ra ga, bắt hành khác trật mũ nón, khăn quàng cổ ra xem. Đầu trọc, cổ bị thương, hình tích của tôi với Cương thật dễ nhận. Nhưng chúng không mà không ngoan. Chúng chỉ khám hành khách xuống xe mà không khám hành khác lên xe.

Tôi ngồi xe lửa, đến ga Yên-viên thì nhảy xuống rồi cứ tắt cánh đồng mà đi, sang đến Ngặt-kéo, nghỉ ăn cơm. Có chiếc xe ô-tô hàng chạy qua, Tôi vẫy lại, đáp xuống Quán Gỏi rồi đi bộ về Thanh-miện.

Khi tôi còn nằm ở nhà pha Hải-dương, anh em tù thường phạm mến tôi lắm, có bác Cựu Tần, cùng ở nhà lao với tôi bấy giờ, là người đồng huyện, cứ thường bảo tôi:

- Bao giờ bác ra, có về thăm nhà, em mời bác thế nào cũng lại nhà em chơi nhé.

Tôi không ngờ lại có dịp đáp lại sự mời mọc chí tình của người bạn nhà tù. Tối khuya, tôi đến nơi, Cựu Tần đón tôi rất thân thiết. Đêm khuya, nằm với nhau, tôi nói thật tình cảnh của tôi cho bác ta nghe. Lúc hoạn nạn mới thật biết lòng nhau. Cựu Tần rất tốt, lo giấu tôi rất chu đáo.

Bác đưa tôi sang ấp Dọn, gửi nhà một người tá điền tên là Tư Hợi, nói là anh em bị nạn, nhờ Tư Hợi là bạn thân cho ở độ. Bác Tư Hợi đồng ý ngay. Ít lâu sau, Cựu Tần nói thật với nhà Tư Hợi rằng tôi là cán bộ hoạt động, vợ chồng Tư Hợi vẫn không sợ hãi gì. Khổ một nỗi, nhà bác nghèo quá, nuôi vợ con chẳng đủ, lại còn phải nuôi thêm miệng tôi nữa, cảnh nhà thật lúng túng!

Tôi khó nghĩ quá, nói với ông bà Tư Hợi:

- Ông bà cảnh nhà nghèo túng. Thêm tôi lại túng thêm ra. Xin phép ông bà cho tôi mai đi sớm.

- Ông chớ đi đâu, nó bắt thì uổng. Ông cứ ở lại đây với vợ chồng nhà cháu, có rau ăn rau, có cháo ăn cháo.

Bà con nông dân chưa được giác ngộ đã tốt bụng như thế đấy. Tôi càng có lòng tin sâu sắc ở quần chúng. Ngẫm lại, thấy người tốt thì nhiều, người phản phúc ít lắm. Ông Tư Hợi, sau khi tôi bị bắt lại, cũng bị bắt giam một dạo, cửa nát nhà tan, phiêu bạt lên đất Vĩnh-yên, đến kháng chiến lại chứa anh em cán bộ địch hậu của ta. Hòa bình rồi, ông bà về chơi Hà-nội, có đến thăm tôi. Bà Tư còn nhớ chuyện cũ, bảo tôi:

- Hồi bác ở nhà chúng tôi, vợ chồng tôi cứ bảo nhau: quái, cái nhà ông này rõ ràng, không phải con nhà làm ruộng mà khỏe thật lực.

Lúc đầu, về ở nhà ông bà Tư Hợi, tôi còn chưa biết ăn làm. Người ở trong tù ra, trắng như bột, cứ phải nói dối hàng xóm là đi phu Nam-kỳ về bị ngã nước. Ra đồng, đùi trắng lòm lốp, cứ phải lấy bùn mà bôi đắp đến bẹn. Chỉ mấy tháng làm ruộng, người đen thủi ra, nước da bóng lộn, làm đồng khỏe lắm. Gánh gồng, phân tro, phạt bờ, cuốc góc, đập lúa, mò cua, bắt ốc, đánh dậm, đủ cả, việc gì cũng làm được. Nhổ mạ, lúc đầu chẳng biết bó thế nào, sau nhổ nhanh gấp đôi, gấp rưỡi bà con. Vụ trước, vụ sau đã biết cầm bừa. Đang võ vẽ học cày thì bị bắt.

Tôi ở ấp Dọn ít lâu thì gây cơ sở, ra báo Công nông, tự viết, tự in, gửi đi các nơi, gửi cả ra Phòng chuyển cho anh em làm tàu biển. Anh em làm tàu nhận được báo, có gửi tiền về ủng hộ. Tôi nhớ hồi ấy cấp dọn có một chú thanh niên công giáo, được tôi tuyên truyền, thường lên chợ Sặt mua mực, mua giấy, mua thạch về cho tôi. Tuy còn ít tuổi, chú giúp việc cho tôi rất chăm chỉ và không để lộ bí mật bao giờ.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 22 Tháng Năm, 2010, 07:44:11 PM
Khi tôi bị bắt, cả hàng ấp rất tốt, không ai chịu nói cho Tây biết những người thường liên lạc với tôi. Bà con nông dân bấy giờ, giáo cũng như lương, tuy chưa hiểu thật rõ cánh mạng, nhưng oán ghét Tây, oán ghét sự bất công và sẵn lòng che chở cho cán bộ cách mạng.

Tôi bị đế quốc bắt lại, kết một án khổ sai chung thân lần nữa.

*
* *

Mang hai cái án chung thân trên người, tôi không chịu để đời mình mọt với gong cùm của đế quốc.

Tôi bị phát vãng đi Sơn-la cùng lớp với anh Trường-Chinh. Khi các anh được về, tôi nói với anh em về dưới này rồi, thì đặt mối liên lạc tổ chức cho tôi ra. Anh em bị cuốn vào phong trào sôi nổi Mặt trận dân chủ bấy giờ, bận trăm công nghìn việc, vả lại đường xá xa xôi, liên lạc khó khăn nên đã không thể làm theo yêu cầu của tôi được.

Tôi ở lại Sơn-la có một mình với bốn người Quốc dân đảng. Trong bốn người đó, ba anh sau này giác ngộ cộng sản và tham gia chiến đấu trong hàng ngũ chúng ta. Mấy năm trời, tôi với mấy anh em ấy lủi thủi bảo nhau học.

Anh em đồng chí ra về hoạt động vẫn nghĩ đến tôi. Tết năm 1937, gửi quà lên cho tôi to lắm. Rồi gửi báo của ta lên cho tôi xem. Báo gửi lên qua địa chỉ anh thợ điện cảm tình Đảng ở Sơn-la. Hai anh nhận được báo, công phu lắm mới chuyển được cho tôi: Hai anh bỏ báo vào một hộp bánh bích quy sơn sắc ín, chon ở chân cầu Giảng Bản, ngay đầu thị trấn Sơn-la. Tuần lễ hai lần, tôi được ra suối tắm đến chân cầu Giảng Bản giả vờ đi đồng, bới đất đào lên lấy báo rồi đặt lại hộp bích quy và chỗ cũ. Cứ như thế suốt ba năm trời, tôi nhận được đều hết báo Tin tức đến báo Đời nay, hết tờ này chết đi anh em lại gửi cho tờ khác. Nhờ được đọc báo, tôi luôn luôn được cảm thấy, dù ở giữa cảnh lẻ loi trong tù, mình vẫn được gắn liền với Đảng, nghe thấy hơi thở của phong trào mỗi ngày một lớn mạnh bồng bột. Quả nhờ có báo anh em gửi lên, tôi nuôi dưỡng được tinh thần phấn đấu, thắng được tư tưởng bi quan đôi khi nhoi lên trong cảnh đi đày cô đơn nơi rừng xanh nước độc.

Sang năm 1937 thì có đám anh Hoàng Đình Rong và anh Bùi Bảo Vân ở phong trào Cao-bằng bị đưa lên Sơn-la ở một năm rồi về. Đầu năm 1940 đám ma anh Liệu, anh Xuân Thủy lên. Giữa năm 1940 thì anh Tô Hiệu lên. Rồi hết lớp này đến lớp khác, bên cạnh những anh em cũ lại có thêm nhiều anh em mới bị bắt đưa lên.

Từ khi có anh Tô Hiệu lên, Chi bộ nhà tù thành lập, chúng tôi đã bàn đến vấn đề tổ chức vượt ngục. Công việc chuẩn bị đặt ra từ đấy. Nào gây cơ sở trong đồng bào và anh em thanh niên người Thái. Nào chuẩn bị thuốc, tiền, quần áo, và nhất là thẻ thuế thân. Có anh em  phán ký tòa sứ cảm tình với cách mạng, cung cấp cho chúng tôi những tấm thẻ mới nguyên. Thiếu con triện, chúng tôi mượn thẻ cũ “can-ke”, vẽ dấu triện giả.

Vào mùa hè năm 1943, ở trước tình hình ngoài phong trào Việt Minh đang lên mạnh, Đảng cần cán bộ, chi bộ nhà tù quyết định cho anh Ninh, anh Trân, anh Hiểu và tôi vượt ngục.

Câu chuyện vượt ngục Sơn-la của anh  em chúng tôi, anh Trần Đăng Ninh đã tả kỹ trong cuốn “Hai lần vượt ngục” của anh. Nghĩ đến chuyến vượt ngục ấy, lòng chúng tôi thương nhớ không bao giờ nguôi anh Giá, người đồng chí thanh niên dân tộc Thái đã dẫn đường cho chúng tôi trốn khỏi đất Sơn-la, sau khi làm xong nhiệm vụ trở về đã bị đế quốc lung bắt được và đem xử bắn. Anh được anh Hoàn giác ngộ, là một trong những người thanh niên cứu quốc người Thái đầu tiên. Nhiều anh  em người Thái được anh em nhà tù Sơn-la dìu dắt, cùng với anh, sau này trở nên những cán bộ tốt của phong trào, trong cuộc chiến đấu giải phóng Tây Bắc sau này và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Tây Bắc hiện nay.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Năm, 2010, 12:57:08 PM
Từ Sơn-la, chúng tôi băng đường rừng đến Tạ-khoa, tính vượt sông Đà về Phú-thọ, bắt liên lạc với khu du kích Thái Nguyên. Bị mưa lũ cản đường, chúng tôi phải từ sông Đà, rẽ rừng ra đường 41. Anh Trân, anh Hiểu, mặc giả con trai người Thai và tôi thì đóng vai lái buôn đi sau. Hai chúng tôi ra đến đường cái đã thấy ngay cả bộ máy của đế quốc huy động đi lung bắt mình. Hết chạm trán với tên châu Yên-châu lại đụng phải tên Mộc-châu. Vậy mà cứ đường lớn mà đi, tối đến vào hắn nhà quản bản, quản tuần xin ngủ, nhiều phen tưởng khốn, chỉ nhờ điềm tĩnh mà thoát được.

Trải qua gian nan lắm trận, chừng non một tháng sau, anh Ninh với tôi đã về gặp được anh Hoàng Văn Thụ tại làng Vạn-phúc, Hà-đông, nói chuyện với nhau một đêm. Nghe chuyện phong trào, lòng càng phấn chấn. Rồi từ Vạn-phúc, anh Ninh với tôi lại sang Mỗ, qua Cót, lên Bưởi, ra đê sông Hồng. Lại qua bến đò Từ-tổng. Hơn mười năm trước đây, khi tôi cùng anh Cương trốn khỏi nhà thương Phủ-doãn, chúng tôi cũng xuống đò này ngược sông Hồng, bấy giờ phong trào còn như đêm sương mù mịt. Giờ đâyy thì khắp nơi cách mạng đã bồng bột như sức con trai đang lớn rồi… Theo đồng chí phục trách công tác đội của Trung ương, đồng chí đó là đồng chí Bạch Thành Phong, chúng tôi sang sông, gặp anh Trường Chinh ngồi đón chúng tôi ở giữa cánh đồng. Tôi ở lại làm việc với anh Trường Chinh còn anh Ninh thì sang Bắc gặp anh Hoàng Quốc Việt.

Anh Trường Chinh bố trí tôi về ở làng Trài (Võng-la) đối diện với làng Chèm và hẹn sẽ cho người liên lạc sau. Để đảm bảo an toàn người của Đảng bố trí đến ở, đồng chí cơ sở làng Trài nhốt tôi vào buồng suốt ngày, đêm mới cho ra sân quanh quẩn một lát. Đồng chí ấy có ý thức bảo mật tốt, song lại vì đối xử quá trọng đối với người cán bộ của Đảng mà lần ấy đã làm tôi suýt bị lộ.

Tôi đang chờ liên lạc từ chỗ anh Trường Chinh đến đón tôi thì nhà chỉ hôm ấy mời một anh cử nhân làng Đông-ngạc về nhà để nhờ đề chủ vào bài vị. Anh cử nhân làng Vẽ ấy có họ với lão lý trưởng làng Trài này. Chủ nhà thết cơm anh cử nhân, lại mời luôn cả lão lý trưởng đến ăn.

Đồng chí chủ nhà vừa dọn cơm cho khách, lại vừa mang thức ăn cho tôi. Tôi nói thế nào anh cũng không để tôi ăn sau khách. Thấy anh cứ thì thọt ra vào trong buồng, bưng đi bưng lại, tên lý trưởng sinh nghi. Sắp ăn, hắn đi quanh buồng tôi nghe ngóng. Tôi mở hòm ra, chui tọt vào trong đó nằm. Vừa vặn sau đó anh con rể của gia đình, vốn không phải là người tốt, đi thẳng vào buồng tôi.

Có thể lộ mất rồi. Đồng chí chủ nhà bố trí cho tôi sang cơ sở khác. Đến chỗ hẹn để có người đón đi đợi mãi không ai đến đón. Chỗ ấy là một gốc cây gạo. Trẻ em chăn trâu, thấy tôi lạ mặt, xúm lại hỏi:

- Ông chờ đón ai thế hở ông?

Đợi đến tối mịt không thấy ai đến gặp mình, phải chuồn thôi. Và tôi sang sông, lên Chèm, tôi đi thẳng về Hà-nội.

*
* *

Tôi vào thẳng Hà-nội đến nhà anh V, mà tôi đã gặp ở Sơn-la năm 1940. Anh bị bắt với những anh em làm báo Tân xã hội hồi công khai, hết án được về trước.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Năm, 2010, 07:43:26 PM
Nhà anh lúc ấy ở phố Nhà Rượu. Anh bảo tôi cứ ở lại nhà anh, đợi gặp anh Văn Tiến Dũng, thường mặc giả nhà sư đến nhà anh bắt liên lạc luôn.

Gần một tháng qua, không thấy anh Dũng đến. Tôi lại bỏ Hà-nội, về nhà cơ sở đầu tiên tôi đã đến ở sau khi ở Sơn-la về. Nhà hai an hem đồng chí ở xóm Yên-thành, xã Mai-lĩnh nghèo hết chỗ nói: cơm bốn phần ngô, một phần gạo. Thức ăn lạt rau, lá bí chấm muôi. Rét đến cái chiếu rách không có. Lúc ấy, thật chỉ những bà con nghèo như thế mới dám chứa mình. Hai đồng chí cũng đều tốt, cả ông cụ, bà cụ và vợ con hai đồng chí đã chết hết vào năm đói. Hai đồng chí cũng đều hy sinh trong kháng chiến sau này.

Ở Mai-lĩnh, tôi bắt mối lại được với Trung ương.

Gặp lại anh Trường Chinh và gặp anh Việt, tôi thấy, tôi thấy hai anh nét mặt đau buồn. Hai anh cho tôi biết tin: anh Thụ đã bị bắt. Nghĩ đến anh Thụ, cả mấy anh em đều bùi ngùi, ngẩn ngơ, buồn tiếc.

Thời gian qua, địch khủng bố rất dữ. Thảo nào mà việc liên lạc của tôi với Đảng gặp nhiều khó khăn, trắc trở.

Anh Trường Chinh và anh Việt phân công tôi phụ trách dân vận một bộ phận an toàn khu, phụ trách binh vận và phụ trách tài chính. Nhận nhiệm vụ công tác tài chính của Đảng, tôi hỏi hai anh: quỹ Đảng ta còn bao nhiêu tiền?

Anh Trường Chinh trả lời:

- Tất cả còn hai mươi bốn đồng.

Bấy giờ vào cuối năm 1943, đầu năm 1944, phong trào cứu quốc đang lên mạnh, chi tiêu của Đảng mỗi ngày một nhiều. Nhất là công tác tuyên truyền của Đảng, của Việt Minh đòi hỏi mỗi ngày một nhiều vật liệu, mực, nhất là giấy. Cơ quan in cả báo Cờ giải phóng lẫn báo Cứu quốc bấy giờ do anh Khiêm phụ trách, chỉ có độc một hòn đá mà thôi. Tiền không phải cái quyết định song có tiền thì có thêm sức mạnh cho phong trào.

Tôi nhớ anh V. có nhắn tôi một câu chuyện mà tôi không để ý lắm: có một bạn cảm tình Đảng nghe tiếng Sao đỏ đã vượt ngục, nhờ anh V. chuyển biếu một số tiền, một số vải may quần áo và khuyên tôi nên đi trốn sang Trung-quốc.

Tôi đề nghị anh V. tổ chức cho tôi gặp bạn đó ngay giữa Hà-nội. Người bạn cảm tình Đảng đưa tôi một vạn đồng ủng hộ quỹ Đảng và sau đó còn tiếp tục gửi thêm nữa. Người bạn này bây giờ đang công tác ở một cơ quan Nhà nước mà tôi vẫn thường gặp luôn. Đối với những người có lòng sốt sắng với cách mạng như thế, Đảng không bao giờ quên.

Có số tiền đó, việc đầu tiên là thiết bị thêm cho các cơ quan in mua thêm đá, mua cả chữ đúc, mua giấy tốt chợ đen, in truyền đơn các loại, in truyền đơn chữ Pháp, in những số báo đặc biệt. Một phần tiền nữa thì tôi tổ chức buôn, làm tài chính cho Đảng. Tôi từ làng Thượng-cát chỉ huy các mối buôn, thôi thì buôn đủ thứ, buôn gạo, buôn khô dầu, buôn dầu ve, dầu trẩu, buôn bè, buôn mật Mai-lĩnh bán vào Hà-nội, buôn gỗ chai làm lược bán về dưới chợ Bằng.

Cuối năm 1944, đi đến đâu cũng thấy đói. Cán bộ đến nhà dân, đều đưa tiền ăn vì nhà đồng bào bấy giờ đang túng thiếu đến cùng cực. Tôi về Liên-mạc, ở nhà một quần chúng cơ sở, lúc ấy là trung nông, mà ngày hai bữa phải ăn rau khùng khỉu giả làm bánh khúc, ăn cơm độn ngô, độn khoai rồi cả cháo cám. Tôi còn nhớ lúc ấy anh chị em cán bộ vùng Nam-định, Thái-bình xin Trung ương trợ cấp cho sinh hoạt phí, không dám xin Trung ương cho tiền ăn gạo, chỉ xin Trung ương cho tiền ăn cháo cám.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 23 Tháng Năm, 2010, 08:11:00 PM
Sau khi nhận công tác tài chính, tôi đề nghị với Trung ương và Tổng bộ Việt Minh phát hành tín phiếu. Trung ương và Tổng bộ đã đồng ý. Tín phiếu in ở cơ quan in của Đảng, lúc ấy anh Hoàng đã nghĩ ra cách in bằng trục xe đạp. Tín phiếu có in hàng chữ “Tổ quốc ghi công” bằng chữ đỏ. Dưới hàng chữ ấy, là sáu chữ “Độc lập, tự do, hạnh phúc”. Tôi được ký vào tín phiếu, lấy bí danh Triệu Vân. Tên Triệu Vân là do một sự liên tưởng. Cụ Đinh Chương Dương lấy bí danh là Triệu Phong, tên một huyện ở Quảng-trị. Tôi liên tưởng mà đặt bí danh cho mình là Triệu Vân. Còn con dấu Tổng bộ Việt Minh in lên tín phiếu là con con dấu bằng đồng. Ai làm con dấu ấy? Tôi đã hỏi nhiều đồng chí, không ai biết được người thợ vô danh ấy là ai.

Tín phiếu Việt Minh được đồng bào các tầng lớp nhiệt liệt hoan nghênh (bọn Quốc dân đảng, bọn Phục quốc thấy thế giả làm tín phiếu của ta đề làm tiền). Tín phiếu đã góp một phần nhất định vào công cuộc chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 của toàn Đảng, toàn dân ta.

Trong Đảng, bấy giờ, chúng tôi đề ra kỷ luật tài chính rất nghiêm. Ba chúng tôi, anh Trường Chinh, anh Việt và tôi, mỗi lần họp đều có tiến hành kiểm tra tài chính của nhau. Một xu đò, một trinh nước cũng phải ghi vào mảnh giấy dài như chiếc bùa, vê lại giấu trong người. Chi tiêu mọi khoản thanh toán xong, lại kiểm lại tiền mặt còn trong túi. Trừ anh em ở cơ quan in vì lao động nhiều, có tiêu chuẩn riêng, có tiền tiêu vặt, còn ai cũng chỉ được cấp tiền ăn ngày hai bữa tối thiểu.

Bấy giờ anh Thụ đã mất, anh Trường Chinh ở vùng Phúc-yên, anh Việt ở vùng Bắc Ninh, Hưng-yên, tôi ở vùng Hà-đông. Chúng tôi thường họp nhau ở nhà anh Hợi bên kia sông Hồng, ngay trong bếp nhà anh, họp khuya quá thì ngủ lăn ngay trong bếp. Có khi thì ra họp ngoài cái lều của một anh Nông dân cứu quốc. Đêm tháng chạp, nằm ngủ không chăn, không chiếu, phải lấy lá tre rải làm đệm. Gai đâm vào người đến đâu thì lại lấy tay vặt gai vứt đi đến đấy.

Sau chúng tôi lại gây cơ sở được ở một ngôi chùa tôi quên mất tên, họp nhiều lần ở đấy. Họp ở chùa lạnh quá. Đêm mệt, anh em nằm úp thìa vào với nhau mà ngủ. Sáng sớm ngủ dậy, lại họp. Chùa làng Đồng-ky, chúng tôi cũng thường hay về họp ở đấy. Ông sư và bà hộ đều rất tốt, coi chúng tôi như người nhà. Trước ăn cơm phải trả tiền, sau ông sư bảo chùa đã khá rồi, nhất định không lấy tiền. Ăn thì vẫn ăn độn nhưng ăn cơm đã có tương. Tôi nhớ họp ở chùa Đồng-ky nhiều lần lắm. Một đêm, đang họp thường vụ Trung ương mở rộng, anh  em đông, trương tuần đến hỏi:

- Nhà chùa sao chứa lắm người lạ mặt thế này?

Nhà sư bình tĩnh nhận tất cả chúng tôi là người làng ở dưới vùng Nam đói kéo lên đây tìm kiếm công việc. Tên trương tuần vẫn không chịu đi. Họp như thế là bị động rồi, tất cả anh em trốn ra vườn, chui qua rào lần về Đình-bảng họp.

Đêm hôm ấy đúng là đêm mùng 9 tháng 3, bên Hà-nội súng nổ đì đoàng. Từ cuộc hội nghị long đong ấy đã đẻ ra chỉ thị về Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của ta.

*
* *

Rồi đến đầu tháng Tám năm 1945, chúng tôi lên chiến khu Việt Bắc họp Hội nghị Trung ương Đảng và Quốc dân đại hội Tân-trào. Tôi lại được gặp Bác.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 24 Tháng Năm, 2010, 12:49:30 AM
Trong những ngày lịch sử ấy, Bác ở một căn nhà nhỏ ở ngay chân đèo Re. Chúng tôi ở xóm Cây Đa, tối tối thường sang bên Bác rất gần. Có một lần, nhân ngồi nói chuyện, Bác nhìn tôi và nói:

- Trong chú so với ngày ở Trung-quốc già đi nhiều nhỉ?

Tôi hỏi lại Bác:

- Bác còn nhớ tôi cơ ạ?

- Nhớ chứ, quên sao được.

- Thưa Bác, trông Bác cũng già đi nhiều.

Bấy giờ, Bác không được khỏe, người vừa ốm dậy, gầy và xanh. Tôi nghĩ đến lần đầu tiên tôi được gặp bác ở gần Quảng-châu, chả mấy chốc mà đã hai mươi năm trời!

Quốc dân đại hội Tân-trào bầu ra Ủy ban dân tộc giải phóng. Tôi còn nhớ sau khi bầu xong, tất cả các vị trong Ủy ban đứng ra trước dinh Tân-trào làm lễ tuyên thệ. Chính Bác thân đọc lời thề đó. Đối với mỗi ủy viên chúng tôi, giờ phút đó thật vô cùng thiêng liêng. Ai nấy cảm thấy từ đây cách mạng bước sang hẳn một giai đoạn mới. Một đơn vị vũ trang của ta nổ ba loại súng vang khắp núi rừng, chào mừng sự kiện lịch sử của dân tộc. Về đến Hà-nội, Ủy ban dân tộc giải phóng mở rộng và đổi thành Chính phủ cách mạng lâm thời đầu tiên của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa. Được sự đồng ý của Trung ương và Bác, tôi xin rút ra khỏi chính phủ để chuyển làm công tác mặt trận và công tác tài chính của Đảng.

Sau khi cùng anh Trần Huy Liệu và anh Cù Huy Cận vào Huế, thay mặt Chính phủ lâm thời nhận cho Bảo Đại thoái vị, tôi về đến Hà-nội lại được phân công di theo bên cạnh Bác để trong nom sức khỏe của Bác. Thời kỳ ấy, công việc bề bộn, Bác rất bận. Ngày mùng 2 tháng 9 đọc Tuyên ngôn độc lập xong ở vườn hoa Ba-đình, Bác về ngay Bắc bộ phủ làm việc đến đêm, người ra người vào xin chỉ thị, không lúc nào ngớt. Ở Bắc bộ phủ đến giờ ăn cơm, Bác xuống ăn với anh em cán bộ, nhân viên. Anh em cấp dưỡng ở Bắc bộ phủ cứ thổi một nồi cơm to, thức ăn thường là cá mè kho, cán bộ, nhân viên chia nhau cùng ăn. Tối đến, tôi lại đi đón Bác về ở số 8 Lê Thái Tổ.

Rồi đến bao nhiêu khó khăn đổ xô tới. Giặc Pháp khởi hấn ở miền Nam. Quân đội Tưởng Giới Thạch lấy cớ giải giáp quân Nhật, tiến vào Bắc-bộ. Bác không còn lạ gì bọn Quốc dân đảng Trung-quốc. Ngay sau khi nghe tin chúng sắp kéo sang, Bác đã biết trước nó sang là dắt theo bọn phản cách mạng đủ các hạng về phá mình. Bác bảo:

- Chính sách của ta đối với chúng nó, là chính sách Câu Tiễn.

Và trong những ngày chính quyền nhân dân con trong trứng nước, khó khăn không nói sao cho hết, Bác cùng Trung ương đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, dựa vào lòng yêu nước sáng suốt và sức mạnh đoàn kết vô địch của nhân dân đấu tranh không khéo trừ hết được kẻ thù này đến kẻ thù khác. Trong những giờ phút hết sức hiểm nghèo ấy, không những Bác phải lo nghĩ đêm ngày mà chính Bác đã phải thân hành đối phó hàng ngày với bọn phản động Quốc dân đảng Trung-quốc. Lực lượng của nhân dân ta đã thắng và óc minh mẫn của lãnh tụ đã lái con thuyền cách mạng ra khỏi bao nhiêu thác ghềnh.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 24 Tháng Năm, 2010, 07:05:38 PM
Trong những ngày gay go ấy, thường tối đến, tôi đón Bác ra ngoại thành ngủ. (Nhà nghỉ đêm của Bác lúc ấy là một căn nhà ở trên đê La-thành, giữa dốc Ngọc-hà và chợ Bưởi. Ngày mới về Hà-nội, tôi có ra tìm lại căn nhà đó, không thấy dấu vết: Căn nhà đã bị chiến tranh phá trụi, không còn để lại một dấu vết gì nữa). Bác về đến chỗ ngủ còn làm việc đến tận khuya. Sáng hôm sau, Bác đã đánh thức tôi dậy bảo về trong thành phố, bắt đầu ngày làm việc rất sớm. Trời rét căm căm, ra xe lạnh giá, Bác chỉ mặc có một bộ ka-ki màu vàng mỏng.

Từ ngày gặp Bác ở Quảng-châu, ở Thượng-hải cho đến ngày nay, nhiều lần được ở gần Bác, tôi thấy Bác cũng sinh hoạt giản dị. Tôi nhớ lầ tôi được đến chỗ làm việc của Bác ở Thượng-hải. Bấy giờ là thời tiết mùa đông, trời rét dưới độ không. Chúng tôi sinh hoạt rất là túng thiếu, thế mà vẫn phải mua than để sưởi vì rét không thể nào chịu được. Đang đi ở ngoài, có vận động nên nóng người lên, tôi bước chân vào phòng Bác, rùng mình vì lạnh:

- Đồng chí không có lò sưởi mà ngồi đượng sao?

- Mình không có lò sưởi.

- Ở thế này thì lạnh chết, đồng chí ạ.

- Mình quen rồi.

Lúc ấy, Bác đang làm việc giở, trên bàn xếp đầy những tài liệu bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài.

Quyển sách về cuộc đời của Bác mới thật là quyển sách đáng quý nhất.

*
* *

Theo yêu cầu của báo Đảng, tôi đã kể một vài mẩu chuyện về bước đường vào Đảng và theo Đảng hoạt động của tôi, cùng với mỗi anh chị em cách mạng chúng ta, nhân dịp kỷ niệm lần thứ ba mươi ngày thành lập Đảng quang vinh, ôn lại quá trình nhờ Đảng mà trưởng thành của mình.

Nghĩ đến những việc đã qua, tôi nhớ đến bao nhiêu đồng chí và anh em đã cùng nhau phấn đấu cho lý tưởng của Đảng, đã dìu dắt tôi, đã giúp đỡ tôi, đã chia bùi sẻ ngọt, đã thương yêu, đùm bọc lẫn nhau trong những ngày gian khổ. Trong số anh em đồng chí, nhiều người hiện nay không còn nữa. Công tác của Đảng càng phát triển, càng nhớ tiếc các đồng chí đã mất.

Gần đây, tôi có lần được hỏi chuyện Bác về Cẩm Xuỳn, người dìu dắt tôi đến với cách mạng, với Bác. Bác cũng nhớ đồng chí ấy lắm, nhớ người thanh niên rất tốt bụng, rất vui vẻ, rất linh lợi. Bác bảo Bác cũng có ý hỏi thăm và tìm khắp mọi nơi mà không thấy đồng chí ấy đâu. Cả chị Cẩm Xuỳn cũng vậy. Nghe nói cả hai anh chị đều hy sinh trong phong trào công xã Quảng-châu.

Đồng chí Nguyễn Lương Bằng kể

Thép Mới ghi


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 24 Tháng Năm, 2010, 07:40:11 PM
TRONG XÀ LIM ÁN CHÉM

CÒN SỐNG CÒN LÀM VIỆC

Khi tôi đến xà-lim án chém khám lớn Sài-gòn, xà-lim đã có ba người thường phạm cũng án xử tử. Thanh, Rỗ bị án lưu ngoài Côn-đảo, sau giết người bị lên án xử tử. Một Dậm thì can tội giết người ở Gia-định.

Tôi vào, họ biết tôi là tù chính trị. Ngay từ phút đầu đã cảm tình với tôi. Họ bảo tôi: “Ngày trước ông Nhỏ ở đây. Còn quyển Kiều của ông Nhỏ đó”. Trong xà-lim án chém, tù thường và cả ma tà, gác-điêng đều kính phục gọi Lý Tự Trọng là ông Nhỏ.

Anh Trọng đã ở đây ư? Góc xà-lim có mấy tờ sách in khổ nhỏ, đã ngả màu vàng: mấy trang Kiều của Nguyễn Du mà anh Trọng để lại. Nhà thơ lớn của dân tộc theo con người cộng sản vào tận xà-lim án chém, đến tận giờ lên máy chém. Anh Trọng đi, còn quyển Kiều đã rách trong xà-lim án chém và tên ông Nhỏ trong lòng mấy người tù thường bị tội tử hình.

Tôi xếp mấy trang Kiều lại, thương nhớ anh Trọng không để đâu cho hết.

Hôm chúng đem anh Trọng đi hành hình, tôi còn dưới khám Mỹ-tho. Trước hôm ấy, cả khám chúng tôi đấu tranh, bỏ ăn phản đối.

Tôi bị bắt ở Mỹ-tho. Về cái “tội biểu tình có giết người, đốt phá và quấy rối trị an”. Cuộc biểu tình ấy là cuộc biểu tình 1-5 đầu tiên ban ngày ở Mỹ-tho năm 1931. Lần ấy, quần chúng bắt và xử bắn một tên hương quản rất gian ác.

Đế quốc giải tôi đi đủ các khám. Sau tòa đại hình đặc biệt xử tôi tử hình, giải tôi về xà-lim án chém. Lúc ấy tôi mới hai mươi tuổi…

Xà-lim án chém là một gian buồng hẹp, chiều ngang độ ba thước, chiều dài năm sáu thước. Ba bức tường kín và một tấm cửa sắt đóng bịt bùng. Trên một phía tường có “cửa sổ”: một miếng sắt đục lỗ li ti không đút lọt điếu thuốc lá. Xà-lim tối như bưng, suốt ngày thắp một ngọn đèn nhỏ đòng đọc. Lại nóng vô chừng; phải ở trần chuồng mới chịu được. Nằm ngay sàn xi-măng, một chân đút vào cái cùm dài suốt chiều dài xà-lim. Vài ba tháng bọn ma tà mở cùm cho đổi chân một lần. Mỗi lần tôi đổi chân thì chúng phải đóng kín tất cả các khám khác, tập trung lính tráng, ma tà, gác-điêng rầm rập đến y như là tập trận rồi mới dám vào mở khóa còng.

Trong xà-lim, không có một tí gì bằng kim khí. Bát gáo dừa, thùng gỗ đai bằng mây. Chỉ có cái bô ỉa đái là bằng tôn.

*
* *

Những thường phạm bị án tử hình cho mình đằng nào cũng chết, tuyệt vọng rồi, cho nên tính tình hung hãn đặc biệt. Động là chửi, tục tằn lỗ mãng, rất hay gây gổ làm cho mã tà mất vía. Gác-điêng phần đông là Tây Coóc (1) cũng kiềng mặt họ. Tôi nghe Thanh, Rỗ, Dậm chửi bọn này ra rả, chẳng khác gì bố chửi con. Cứ mở cửa xà-lim đưa cơm nước vào là y rằng bị chửi. Có tên gác-điêng bị cả một bô cứt lên đầu, chụp đến tận cổ. Cứt đái bê bết trên người mà cứ phải chịu đi. Nghe nói có lần một cố đạo người Pháp đến hỏi họ: “Các con muốn gì không, cha giúp?” Trong cuối xà-lim, một người ngồi dậy lễ phép: “Mời cha vào, con xin thưa ạ”. Cha vào. Thế là họ túm chặt lấy, reo lên: “Vào đây, cha vào đây, ở đây cho vui…” và nắm râu giật liên hồi.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1) Quê ở đảo Coóc (Corse) thuộc Pháp.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 25 Tháng Năm, 2010, 07:00:10 PM
Tôi thấy như vậy không tốt. Bọn mã tà, gác-điêng nói với nhau: “Chấp gì bọn tù tử hình, lũ chó dại”. Tôi nghĩ có lẽ chúng cho người cộng sản bị xử tử cũng vậy cả. Nên tôi nói với Thanh, Rỗ, Dậm:

“Người ta sống là để làm việc tốt. Làm việc tốt, tiếng để về sau. Ta vào đến đây, chờ lên gươm máy mà vẫn giữ được phẩm giá cũng là để tiếng tốt về sau… Gươm máy kề ở phòng gần đây. Nhưng ta vẫn phải sống cho đúng, cho đàng hoàng, cho ra con người. Như thế bọn Tây mới phục và kính nể. Chúng mới thấy luật pháp của chúng có án xử tử cũng không đạt ý muốn của chúng.”.

Ba người lặng im nghe, tôi liền nói thẳng: “Trong cách sống, chúng tôi khác các anh. Chúng tôi làm cách mạng. Tôi đi đã lắm khám, gặp thường phạm đã nhiều, thấy thường phạm thường theo tù chính trị… Dẫu thế nào con người vẫn là con người. Con người mình đừng để bọn thực dân nó khinh. Mình chết, nó cũng không khinh được…”

Ba người bảo: “Chúng tôi hiểu. Chúng tôi cũng biết giết người là xấu. Nhưng chúng tôi bị dồn vào thế bí”.

Tôi phân tích “thế bí” của họ, mọi tỗi lỗi của xã hội chung quy là do chế độ thực dân Pháp. Mình muốn không khổ, không tội lỗi nữa thì cần lật đổ chế độ ấy, lập xã hội mới, xã hội cộng sản. Đánh chửi bọn gác này có nghĩa lý gì. Phải đánh vào cái “rễ” ấy, tức là sự người bóc lột người, người áp bức người.

Sau dần, tôi “tổ chức” xà-lim. Tôi bảo: “Giao thiệp với bọn gác mà cứ mỗi người một phách thì lung tung lắm. Ta nên cử một người thay mặt chung đứng ra giao thiệp. Thanh, Rỗ, Dậm bằng lòng và đồng thanh đề cử tôi. Từ đấy, xà-lim có trật tự, nền nếp. Sáng đến, người “nấu bếp” của chúng tôi, cũng là tù nhưng không án chém, tới hỏi ăn gì thì tôi đặt món. Không như trước đây cái tay Thanh, Rỗ, Dậm là thét lác: “Nghe đây ra chợ Bến-thành mà mua xà-lách cho tươi”. “Nghe đây mua con gà thiến thật béo, còn sống đem về đây, cho trông thấy kêu quác quác mới được giết, biết không?”.

Bọn Pháp cho tù xử tử ăn sang. Theo chúng, cho ăn sướng rồi chết. Cho nên bữa nào cũng chân giò, sườn rán, gà quay hay cơm Tây. Muốn gì, bảo một tiếng là có. Cháy cơm đem chiên mỡ thật giòn mới đưa ăn. Đúng như bên ngoài đồng chí mình nói vào xà-lim án chém là “đi ăn cơm cháy chiên mỡ bằng muỗm dừa”.

Ở gần xà-lim án chém có khám phụ nữ giam lẫn tù chính trị với tù thường. Ngồi ở cửa xà-lim, chúng tôi trông thấy chị em. Nhiều chị còn mang theo con bé. Các cháu lon ton chạy chơi trong sân lao, gầy còm nhem nhuốc trông tội lắm. Tôi bàn với anh em mỗi bữa dành một phần cho các cháu. Từ đấy, bữa nào cũng đều có một suất khá hậu cho trẻ con bên khám phụ nữ. Quen lệ. Hôm nào, cơm muộn, các cháu lại đứng xa xa ngó nhìn chúng tôi, ra ý đợi.

*
* *

Bọn ma tà, gác-điêng thấy đỡ bị chửi, bị đánh đã mon men đến của xà-lim. Biết được như thế là nhờ có tù chính trị, chúng lân la nói chuyện với tôi. Tôi cũng hỏi xem Sài-gòn phố xá ra sao, dân chúng thế nào cho đỡ buồn.

Một gác-điêng tên là A-lếch-dăng, nhận là đảng viên của Đảng xã hội hay đến nói chuyện với tôi. Một lần, hắn có vẻ suy nghĩ lắm, hỏi tôi: “Có điều tôi rất lạ, không hiểu được. Những người cộng sản lúc nào cũng vui, dù họ chờ chết. Khi họ ở ngoài thì đấu tranh rất dữ, khi vào tù thì ngó bộ đứng đắn…”.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Năm, 2010, 01:26:25 AM
Lúc nào người cộng sản cũng đứng đắn. Ở ngoài hay ở xà-lim án chém cũng thế thôi. Các anh lấy làm lạ vì các anh lầm tưởng chế độ xử tử làm chúng tôi mất lý trí, sợ hãi hóa rồ dại. Nhưng người cộng sản biết đường đi và mục đích của mình nên lúc nào cũng sáng suốt. Chế độ xử tử đem cái cuồng dại hung hãn cho người không có mục đích sống, không có lý tưởng chính trị, không có tương lai. Còn chúng tôi, chúng tôi nhận rõ tương lai của chúng tôi lắm. Tuy bị xử tử nhưng tương lai tôi là: chắc chắn các anh không còn mà chúng tôi thì độc lập, chủ nghĩa cộng sản thực hiện ở đất nước tôi. Chúng tôi biết rằng làm cách mạng chống chế độ các anh là không tránh khỏi tù hoặc chết. Giữa chúng ta phải một mất một còn. Vì thế vào đây, tôi không lạ.

Bọn ma tà, gác-điêng nói với nhau: “Cộng sản vẫn đứng đắn. Họ không phải đòi hỏi cái tẹp nhẹp. Họ có cái lớn của họ”. A-lếch-dăng sau ra làm gác-điêng ở Côn-đảo lại gặp tôi. Hắn ta không đánh một ai nữa, hễ nghe ra-đi-ô có tìn gì thì báo cho tôi biết.

Có hôm, tôi nói chơi với tụi nó: “Chế độ xử tử của các anh tàn bạo, khủng khiếp quá… Khủng khiếp cho cả các anh, vì các anh đặt ra nó mà không điều khiển nổi nó. Các anh bị thường phạm chửi đánh. Nhưng xử tử đối với người cộng sản không có tác dụng gì hết. Chúng tôi cải tạo cả “chế độ khủng khiếp” ấy cho các anh. Các anh phải cảm ơn chúng tôi nhiều lắm”.

Chúng nói gỡ sĩ diện: “Ờ, bọn thường phạm, lũ chó điên, xá gì!”. Ài ngờ trong xà-lim có người, không nhớ là Thanh hay Rỗ, hiểu tiếng Tây bồi, anh ta ngồi phắt dậy:

“A,… bảo ai “siêng-răng-a-dê” (chó điên)… Mẹ mày chứ, Để cho nó một bô”.

Tôi vội can ngay. Còn tên gác-điêng cũng vội vàng chuồn thẳng… Nom nó khiếp ra mặt.

*
* *

Trong xà-lim chúng tôi làm bài xi, làm xúc xắc đánh chơi. Bài bằng giấy bồi cũ bồi lại rồi vẽ. Xúc xắc thì lấy ruột bánh mỳ nặn thật nhẵn. Hút thuốc lá dí vào tường, cho hắc ín chảy ra để chấm số đen. Chữ số đỏ thì lấy vỏ bao thuốc lá xoe tròn khảm vào. Cơm xong lại truyện. Truyện xong lại bài cào, cắc tê, cờ tướng. Được thua mất “tiền” cẩn thận. “Tiền” là cơm. Người bị thua được bắt ăn thật nhiều, thật no.

Trong khám lớn có thư viện để bọn Tây đọc. Tôi mượn sách về xem rồi kể cho Thanh, Rỗ, Dậm nghe. Họ thích lắm. Ví dụ như truyện “Những người cùng khổ” của Huy-gô, “Ba người ngự lâm pháo thủ”…

Rồi tôi nghĩ đến dạy chữ cho anh em. Nghe tôi hỏi: “Có muốn học chữ không”, họ ồ lên:

- Trời; sắp xuống lỗ rồi còn học chi!... Cha, vào khám xử tử, gối đầu lên gươm máy còn ngồi học. Thôi!

- Các anh nghĩ thế không được. Nếu cho cái người mình là bỏ đi rồi thì mới lười. Nếu cho mình còn có ích cho xã hội được thì ngày giờ nào còn sống còn làm việc. Học cũng là làm việc. Ở đây, học để đọc sách cho vui, lại hiểu thêm nhiều điều hay. Nếu chết cũng không thiệt. Mà nếu không chết lại có lời.

Rồi tôi nhờ mua cho thật nhiều sách tuồng, cải lương, hát bộ có in ảnh cần thận cho họ xem. Người Nam-bộ ai mà không thích cải lương! Họ chỉ xem được ảnh còn không hiểu tích. Tôi đọc lên, họ nằm cạnh ngóc đầu lắng nghe. Chốc tôi lại hỏi: “Chỗ này nó tẩu mã, các anh tẫu mã cho tôi nghe”. Cả ba tẩu mã ran lên. “Chỗ này nam khách, nam khách đi”. Cả ba người nam khách.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 26 Tháng Năm, 2010, 06:46:58 PM
Sinh mê, ba người bèn đòi học chữ. Tôi dạy cho mỗi ngày một ít. Độ ba tháng đánh vần, đọc được võ vẽ càng say. Sáng chưa mở mắt đã: “Anh Hùng, học chứ!”. Ít lâu thì đọc thông thạo, mỗi tay một cuốn sách nằm đọc. Nếu không có cùm thì tưởng xà-lim là buồng của học trò nghèo mất.

Biết chữ rồi chúng tôi đóng tuồng. Sẵn vở đấy, chia nhau học rồi diễn. Lật úp bô đựng … lại làm trống chầu gõ nhịp. Hát theo vai, theo vở. Í a ì a, giọng kim giọng thổ trầm thanh đủ cả, cứ um lên, rất vui. Đang đêm, bọn gác không hiểu là cái gì, chạy xô đến, ngạc nhiên thấy chúng tôi trần như nhộng đang vuốt râu (tưởng tượng) mà đang hát. Tôi bảo chúng: “Đi đi, không xảy ra cái gì đâu. Nhà tù các anh buồn lắm, chúng tôi diễn tuồng chơi đấy”.

*
* *

Theo lệ thường thì án tử hình cứ đến tháng thứ sáu, thứ bảy là rõ kết quả. Hoặc ý án: lên máy chém. Hoặc phá án: không lên máy chém, án tử hình hạ xuống chung thân hoặc khổ sai.

Tôi đã nằm đến tháng thứ bảy. Một Dậm bị rồi. Trước khi chém, bọn Tây lôi anh đến giam ở nơi khác. Một buổi sáng, còn mờ mờ đất, có tiếng người qua cửa. Rồi Dậm hỏi: “Anh Hùng ơi, chúng nó đem chém tôi đây. Các anh ở lại mạnh khỏe”. Trước đây ít lâu, Dậm rất bồn chồn, không ăn được. Tối thừ ra không nói, không đọc sách, chỉ nằm nhìn trần nhà rồi cuốn một điếu thuốc to bằng ngón tay cái, hút xong nhổ bẹt lên tường. Cuống thuốc lá dính lên tường đã thành một hàng dài khô đét, chúng mới giải anh đi.

Còn tôi và hai đồng chí đảng viên cùng đến đây với tôi: Ó, và Cẩu, vẫn chưa thấy đả động gì đến hết. Nhưng kinh nghiệm là nếu có phá án thì đã biết từ tháng thứ sáu kia rồi. Ngâm đến tháng thứ bảy này chắc khả năng là chém. Chúng tôi bèn bàn nhau, chuẩn bị sao cho khi chết vẫn chủ động. Biết lúc ra máy chém thế nào bọn Pháp cũng hỏi: “Muốn gì?”, chúng tôi định trước “để tự chúng tôi xếp đặt lấy trật tự lên máy chém, không cần các anh”. Bố trí đồng chí Cẩu lên trước đến đồng chí Ó, rồi tôi cuối cùng. Các đồng chí Cẩu và Ó bảo tôi: lên cuối cùng phải chính mắt nhìn thấy những người bị chém trước, anh bằng chết mấy lần đấy.

Nhưng chúng lại giải chúng tôi đến tòa án. Để dự vào vụ án chung mà bọn Pháp gọi là “vụ án Đảng cộng sản Đông-dương” xử tù các đồng chí Trung ương đến Xứ ủy, Tỉnh ủy. Lúc ấy là đầu tháng 5-1933, cách mạng đang thoái trào. Ở tòa án  tôi gặp lại các đồng chí Ngô Gia Tự, Lê Văn Lương.

Đồng chí Phạm Hùng kể
T.Đ ghi


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 27 Tháng Năm, 2010, 10:37:01 PM
SẴN SÀNG LÊN MÁY CHÉM

Tôi làm công nhân ở Nhà-bè và tham gia lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân ở đấy. Trong lần này, quần chúng đánh chết một tên cai và trọng thương một tên bếp, giật mấy khẩu súng khu lính đến khủng bố anh  em. Tôi bị bắt, năm ấy mười chín tuổi và ra tòa cùng “vụ án Đảng cộng sản Đông-dương”.

Ngô Đức Trì bị bắt chịu đòn đến ngày thứ bảy thì chịu không nổi nữa, khai ra hết. Chính vì nó khai mà anh Trần Phú bị bắt. Bọn Tây để Trì ngồi ở bóp Ca-ti-na dịch tài liệu cho chúng và có gì chúng hỏi thì thưa. Còn anh  em khác đánh chán ở bóp rồi bị điệu vào khám. Tôi không nhận gì hết, nên phải vào hầm cấm cố, tối như đêm. Tôi ở đó hai mươi mốt ngày, không trông rõ cái gì. Đêm hôm thứ năm mới biết mỗi bữa nó vất cho hai ca cơm với thức ăn. Trước tưởng chỉ có một.

Khi ra tòa. Trì cứ cúi đầu ngồi, không dám nhìn ai, mặt tái đi. Tòa kết “tội chính trị” cho những người tổ chức và viết báo cách mạng, còn bãi công và lấy thóc, đánh lính… chúng nhất loạt gọi là “ăn cướp, giết người”, không coi là tù chính trị. Ra tòa, chúng không cho cãi. Tôi chỉ nói được mấy câu: “Các ông muốn chặt đầu người ta mà chỉ cho người ta nói “ủy” hay “nông” còn là cái quái gì!” liền bị lính xách cổ ra ngoài mất. Anh Hùng được một câu: “Luật pháp các ông kỳ thật. Tôi có mỗi cái đầu, đã bị án chém, nay các ông muốn chém thì còn đầu nào nữa mà chém?”, lính cũng xách tuột anh đi. Anh Tự trước sau khăng khăng: “Các ông vu khống Đảng của tôi. Trước hết, phải để tôi bào chữa cho Đảng tôi. Còn phần tôi, tôi trả lời sau”. Cứ đòi cãi cho Đảng mình như thế.

Lần xử này, Quốc tế cứu tế đỏ, Đảng cộng sản Pháp mượn thày kiện tiến bộ ở Sài-gòn bênh vực chúng tôi. Có một đồng chí nhất định không nhận gì hết, tòa nó bảo: “Đồng chí Trì của anh khai là có anh kia mà?”. Một thày kiện chỉ ngay vào mặt Trì: “Sao tòa lại nghe lời một tên phản phúc?”. Trì run lên, gập mặt xuống. Có một thày kiện bào chữa: “Xin xét cho thân chủ của tôi còn trẻ: suy nghĩ chưa chín…”. Đồng chí của ta đứng ngay lên: “Không! Cãi thế không đúng! Tôi không nhận. Chúng tôi còn trẻ, nhưng chúng tôi có suy nghĩ. Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, làm việc ấy ai dám nói là suy nghĩ chưa chín?”.

Cuối cùng, chúng nghị án. Đối với “tội chính trị” thì phát lưu chung thân 20, 15 năm, đày ra Côn-đảo. Còn tù “giết người, làm loạn” như đồng chí Lê Quang Sung (1), tôi và sáu người nữa thì tử hình. Riêng đồng chí Hùng ngoài án xử tử cũ lại đèo them hai mươi năm khổ sai nữa.
*
* *

Tôi với anh Sung vào khám lớn Sài-gòn, vừa đến khu xà-lim án chém, tôi đã nghe có tiếng gọi quen quá:

“Lương, Lương, thôi có bạn rồi, vào ở đây cho vui!”.

Ngỡ ai hóa ra anh Hùng. Anh đang ngồi kề ngay cửa xà-lim chơi. Lúc bấy giờ, các anh đã đòi phải mở cửa xà-lim, mỗi ngày vài bận cho sáng xà-lim, và nhìn ra ngoài cho vui. Thanh và Rỗ cũng mời: “Các anh vào đây. Chật một tý không sao ạ!”. Thế là bảy mạng cả thảy trong một xà-lim.

Anh Hùng nói đùa: “Để mai, bảo nó dọn bữa tiệc ta nhậu nhẹt với nhau.”. Trong này, mỗi chủ nhật muốn uống rượu, cứ gọi y tá đến “Ờ, thày này, bọn tôi “ho” quá, có gì uống nhỉ?”. Y tá hiểu ý, đem rượu ở nhà thuốc lên ngay.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------
(1). Đồng chí Lê Quang Sung quê ở Quảng-nam Bí thư Tỉnh ủy Chợ-lớn đầu tiên của Đảng ta, sau cùng ra Côn-đảo, trong chuyến vượt biển đã hy sinh cùng đồng chí Ngô Gia Tự, Tô Chấn.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 29 Tháng Năm, 2010, 12:41:50 AM
Được vài hôm sau, tên gác-điêng sếp người Pháp đến. Nó bảo anh Hùng: “Y án chém các anh rồi. Nhưng gặp vụ án vừa qua phải đợi Pa-ri xét thêm nên còn chờ. Thấy các anh không phải người sợ chết, tôi mới nói cho mà biết đấy. Tôi đã mua rom và xì-gà. Mỗi người một ly rượu rom và một điếu xì-gà”. Bọn Pháp cho tù tử hình uống rom và hút xì-gà trước khi chém, nghe đâu để cho hăng.

Anh Hùng nói luôn: “Đâu, thôi đem chúng tôi dùng ngay bây giờ. Lúc nào chém sẽ hay!”. Tên gác-điêng sếp đưa rượu rom và ba điếu xì-gà đến. Anh Hùng vặn nó: “Chúng tôi bảy người, anh đưa có ba, không đủ”. Nó lại lấy thêm. Chúng tôi mỗi người phì phèo một điếu. Khói um xà-lim.

Mấy hôm mà anh Hùng ra tòa xử, ở “nhà”, Thanh, Rỗ lại chửi, lại đánh bọn ma tà. Bọn này đến thưa kiện với chúng tôi. Hỏi ra mới biết ma tà có xấc với Thanh và Rỗ.

Nhưng sự thật từ ngày Một Dậm bị chém, Thanh và Rỗ có điều nghĩ ngợi. Họ chắc sắp tới ngày lên máy chém nên có lúc tính hung hăng lại nổi dậy. Chúng tôi tìm lời giải thích. Nói nhiều hơn nữa về cái xã hội đã đưa họ vào đường tội lỗi. Thanh và Rỗ kể cho chúng tôi nghe những ngày ở Côn-đảo bị mà tà, gác-điêng hành hạ. Họ rất thù ma tà, gác-điêng. Ở Côn-đảo khổ lắm. Có nhiều tội nhân phải tự vẫn. Có tội nhân không giết người nhưng khi có người bị giết cũng nhận là thủ phạm để “được tử hình” cho xong đời. Chúng tôi cứ điều một, điều hai nhẹ nhàng mà nói, Thanh và Rỗ lại nghe ra.

*
* *

Vào được ít lâu, bọn coi khám hỏi tôi: “Có chống án không?” Tôi trả lời: Có. Chẳng có tội gì hết mà xử tử sao lại không chống?”. Rồi chúng tôi ký giấy chống án.

Thày kiện Căng-xen-tơ-li , có Quốc tế cứu tế đỏ mượn cãi cho chúng tôi vẫn đến thăm chúng tôi. Nghe nói ông ta trước đây cũng là đảng viên đảng cộng sản Pháp, sau xin ra Đảng nhưng vẫn là người cảm tình. Môi lần vào ông lại mua quà bánh, thuốc lá. Một hôm, Căng-xen-tơ-li đưa tiền cho chúng tôi.

Chúng tôi từ chối không lấy: “Chúng tôi đủ cả, không cần tiền. Ông cãi cho chúng tôi là tốt rồi”.

Căng-xen-tơ-li vội vàng nói: “Tiền của Quốc tế cứu tế đỏ gửi các anh đấy”.

- Của Quốc tế cứu tế đỏ à? Thế thì chúng tôi nhận. Nhờ ông gửi lời cảm ơn Cứu tế đỏ hộ chúng tôi.

Căng-xen-tơ-li còn cho biết Đảng cộng sản Pháp đang mở cuộc vận động đòi phá án tử hình cho chúng tôi. Chúng tôi đọc báo Pháp cũng biết qua loa chuyện đó. Vì sao có báo Pháp đọc?

Nguyên là chúng tôi đòi mượn báo. Tên sếp ngục không dám cho xem báo của Sài-gòn bèn đưa báo Anh-tơ-răng-xi-giăng, Mác-xây-e, Pa-ri buổi chiều rồi bảo chúng tôi: “Đây là báo riêng của tôi, tôi đặc biệt cho các anh mượn”. Thế là hàng ngày chúng tôi có báo xem.

Lúc bấy giờ xem báo thích nhất là theo dõi vụ án Lép-dích, phát-xít Đức xử đồng chí Đi-mi-tơ-rốp. Vụ án chấn động thế giới, nên báo chí tư sản tường thuật rất tỉ mỉ. Có lẽ ở xà-lim án chém, chúng tôi theo dõi còn được kỹ hơn cả ở ngoài. Chúng tôi đọc lời cãi của đồng chí Đi-mi-tơ-rốp, học cách dựa vào luật pháp phản động mà cãi cho Đảng, buộc tội lại đế quốc. Ngoài tinh thần, thái độ của người cộng sản bênh vực Quốc tế cộng sản, bênh vực Đảng cộng sản Bun-ga-ri, bênh vực dân tộc Bun-ga-ri, chỉ vào mặt Gơ-rinh, Hít-le mà kết tội lại chúng, còn học cách thức đấu tranh ở tòa án. Các báo tư sản Pháp gọi đồng chí Đi-mi-tơ-rốp là “Đi-mi-tơ-rốp, người dũng cảm”. Chúng tôi đọc thích lắm, thấy tự hào và già dặn thêm. Anh em bảo nhau: nếu được hiểu như thế này, thì hôm ở phiên tòa xử, bọn mình còn đả thằng Tây thích biết mấy!


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 29 Tháng Năm, 2010, 03:33:18 PM
Bấy giờ, bắt liên lạc được với tù chính trị ở khám ngoài. Chúng tôi mượn sách của thư viện nhà lao, lấy nước cơm viết vào trong sách. Biết tên sách, đồng chí ở ngoài khám đi mượn về đọc, chỉ việc bôi “tanh-tuya-đi-ốt” pha loãng vào chỗ đã hẹn là chữ sẽ nổi lên. Nhờ thế, chúng tôi biết được tình hình bên ngoài. Còn phần chúng tôi chỉ còn đợi ngày đem đi chém nên không có gì báo cáo ra cả.

Đằng sau xà-lim có rặng đu đủ. Chim sẻ đến ríu rít, nghe rất vui. Nhưng ít ngày sau thấy tù án thướng cứ vác sào, vác gậy đuổi ồi ồi. Hỏi mới biết gác-điêng ra lệnh cho họ phải đuổi chim giữ đu đủ chín cho chúng tôi ăn. Chúng tôi gọi nó vào, bảo: Cho các anh đuổi chim, chúng tôi không nghe chim ríu rít nữa cũng được… Nhưng đu đủ chín phải để cho con nít ở khám phụ nữ. Chúng không có tội gì mà đã phải ở tù.

Một hôm, ma tà mang rất nhiều quà ngon đến. Chúng tôi không biết ở đâu gửi cho. Thì ra chúng tước của cha mẹ, vợ con tù thường đem vào cho chồng con mình.

Chúng tôi bảo bọn này: Người ta ở tù so với chúng tôi còn khổ hơn, chúng tôi cấm các anh lấy của người ta như thế.

Ma tà càng ngày càng phục chúng tôi. Có người cảm kích đến tỏ lòng ăn năn, xin lỗi chúng tôi. Chúng tôi nói: “Chúng tôi đánh thằng Tây, đánh đế quốc, thù oàn gì các ông”. Họ lại càng phục.

Chúng tôi suốt ngày ăn rồi đùa nghịch. Đánh bài, hát bộ, đóng tuồng inh cả lên. Khi cửa khám mở, thấy ai đi qua cũng kiếm được một câu nói giỡn, nói đùa. Tối đến, nằm trong xà-lim nghe bên ngoài có tiếng hàng rao. Chúng tôi rao theo: “Ai nước dừa đường cát”. Tưởng như mình đang đi trên phố thật. Nghe những tiếng động bên ngoài, lúc nhớ phố xá, nhớ nhà máy rộn lên, không thể nào chịu được.

*
* *

Một hôm, Thanh và Rỗ bị mệt. Xoàn thôi, nhưng gác-điêng sếp cũng đến bảo họ đi nhà thương. Chúng lấy cớ như vậy để đem chém hai anh cho tiện. Hai anh trước khi chia tay, hỏi chúng tôi: “Các anh bảo trước khi chết cần tỉnh táo, và hô khẩu hiệu. Bây giờ các anh cho chúng tôi một vài khẩu hiệu”.

Hai anh đã cảm có một cái gì khác thường. Chúng tôi cũng thấy như thế. Giá hai anh còn đến bây giờ, nhất định sẽ là người tốt.

Mấy hôm sau, độ năm giờ sáng, tự nhiên nghe đằng xa có tiếng hô văng vẳng nhưng cũng rành rọt lắm: “Đả đảo đế quốc Pháp!”, “Đảng cộng sản Đông-dương muôn năm!”. Tiếng hô bình tĩnh. Chúng thôi nghe thấy cả, biết là Thanh, Rỗ đã ra máy chém.

Lát sau, tên gác-điêng sếp vào: “Bạn các anh vừa chào từ biệt các anh đấy. Các anh có nghe thấy họ chào không?”

- Có

- Còn hai điếu thuốc..., các anh hút?


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 31 Tháng Năm, 2010, 12:42:51 AM
Chúng tôi lấy hai điếu xì-gà còn lại trong bao thuốc chúng đưa Thanh và Rỗ sáng nay.

Tên gác-điêng sếp quanh quẩn một lúc rồi hỏi:

- Họ không là bọn các anh, sao cũng hô khẩu hiệu nhỉ?

- Có gì là lạ. Họ đã nhìn ra lẽ phải. Khi người ta đã hiểu lẽ phải thì anh cũng đả đảo các anh. Các anh không hiểu à?

Nó cười gượng quay đi. Đối với óc hạng người như chúng nó, có rất nhiều điều cưa phải một lúc mà vỡ nhẽ ran gay được.

…………………………………………………………………………………………………….

Thấm thoát được sáu tháng. Anh Hùng thể là đã ngồi xà-lim án chém đã mười ba tháng. Tôi thì đến đây là tháng thứ sáu rồi. Chúng tôi chuẩn bị mọi việc khi ra máy chém, có chết cũng chết một cách đường hoàng.

Chúng tôi bảo bọn gác-điêng tả cho xem hình thù cái máy chém ra sao. Chúng tả xong, hỏi tôi hỏi để làm gì. Tôi đáp: “Biết rõ để lúc bước lên khỏi bỡ ngỡ”.

Lại hỏi chúng về cung cách dẫn tù ra máy chém. Thường thường chúng sẽ hỏi người bị chém: Có rửa tội không? Chúng đưa cố đạo đến. Nhưng chúng tôi có tội gì mà rửa? Có khai thêm gì không? Bọn Tây cho rằng lúc sắp chết, cuống lên muốn được sống, người ta dễ khai thêm, và lúc ấy, đã khai là đúng vì sắp chết linh hồn người ta trong sạch. Chúng cũng khôn ranh thật, nhưng việc này đối với chúng tôi, chúng đừng hòng. Có muốn viết thư gì cho gia đình không? À, viết thư thì rất tốt. Theo lệ nhà tù đế quốc, mỗi người được viết một lá thư. Chúng tôi bàn nhau: Anh Lê Quang Sung có vợ là Sáu Điếc, một nữ đồng chí rất can đảm, mà anh rất yêu. Anh nên viết thư cho Sáu Điếc. Anh Hùng và tôi thay mặt anh em sẽ viết thư cho anh Ngô Gia Tự và các đồng chí ngoài Côn-đảo, những người bạn chiến đấu và thân thiết nhất của chúng tôi.

Rồi chúng tôi chuẩn bị trước khi lên máy chém sẽ nói những gì để buộc tội đế quốc, tuyên truyền cho Đảng, hô hào quần chúng. Chắc chúng không dám cho quần chúng công nông đến xem chém chúng tôi đâu, và thời giờ sẽ không nhiều, nhưng chúng tôi cứ chuẩn bị, nói gì cho đích đáng, và nói cho gọn. Chúng tôi chọn bốn khẩu hiệu: “Đả đảo đế quốc Pháp!”, “Đảng cộng sản Đông-dương muôn năm”, “Cách mạng Đông-dương muôn năm”, “Quốc tế cộng sản muôn năm”.

Chúng tôi học hát Quốc tế ca. Tập hát sao cho đều, cho đúng nhịp để hát khi ra máy chém. Lúc đó Quốc tế ca đã dịch sang tiếng ta rồi, căn bản giống như lời ta hát bây giờ, chỉ khác đâu đôi ba chữ.

Và từ đấy, tối nào chúng tôi cũng đi ngủ sớm. Biết chúng nó thường lôi đi chém khoảng năm giờ sáng chúng tôi ngủ sớm để được dạy sớm, rửa mặt chải đầu, mặc quần áo sẵn sàng để lên máy chém cho chỉnh tề.

Đến tháng thứ bảy, thằng gác-điêng sếp vào hỏi: “Sao các anh không xin ân xá?”.

Chúng tôi cự lại: “Có tội gì mà xin ân xá? Làm cách mạng không có tội… Chúng tôi chỉ chống án, chống lại tòa án, pháp luật của các anh, chứ không xin ân xá. Muốn chém hay thế nào, tùy các anh”.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: DesantnhikVDV trong 31 Tháng Năm, 2010, 01:41:34 AM
Gác-điêng sếp rồi chưởng lý vào thuyết, khuyên chúng tôi:

- Các anh còn trẻ, đời còn dài lắm. Người lại có học thức… - Lải nhải đến hai ngày, chúng tôi nghe sốt cả ruột, sau phải đuổi, chúng nó mới ra.

Căng-xen-tơ-ri cũng đến bảo: (ý chừng là tên chưởng lý vận động ông ta chăng?) “Các anh không chịu xin ân xá, bảo vệ danh dự đảng viên như thể là một cử chỉ cao quý. Nhưng theo tôi, xin ân xá cũng được, chỉ là thể thức thôi, không quan hệ gì, không phạm gì đến danh dự của Đảng”.

Chúng tôi trả lời ông ta:

- Từ trước đến nay ông giúp chúng tôi nhiều việc, chúng tôi rất cảm ơn ông. Song lần này, xin cho chúng tôi không làm theo lời ông bảo.

Lúc bấy giờ phong trào bên Pháp đấu tranh đòi thả chính trị phạm ở Đông-dương đang mạnh lắm. Bọn đế quốc bên này muốn rằng tự tay chúng tôi phải làm đơn xin chúng nó ân xá. Chúng tôi đời nào chịu. Tối đến, chúng tôi vẫn học hát Quốc tế ca, vẫn đi ngủ sớm, và sáng nào cũng vậy dậy thật sớm mặc quần áo, chải đầu chỉnh tề ngồi đợi.

*
* *

Non một tháng sau thì tên gác-điêng sếp lại vào, hai tay cứ xoa vào nhau và nói:

“Thôi, thôi… xong rồi!”

- Cái gì xong rồi?

- Thôi các anh xong rồi. Mai đi khỏi đây.

- Mai đi à? Đi thì đi, sẵn sàng. Chúng tôi chờ lâu quá rồi.

- Không, đi đây là đi nơi khác… Đi Côn-đảo.

Đảng cộng sản Pháp mở cuộc vận động rất rầm rộ đòi ân xá “10.000 chính trị phạm ở Đông-dương”, đặc biệt đòi bỏ mười mấy án tử hình. Cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa quốc tế vô sản ấy đã thắng lợi. Nhưng khi báo tin, tên gác-điêng sếp còn ỡm ờ thử xem chúng tôi có sợ không. Sau này, Căng-xen-tơ-ri cho tôi xem những bài báo, những bài can thiệp của nghị sĩ cộng sản Pháp ở nghị viện, mới rõ suốt bảy, tám tháng chúng tôi ở trong xà lim án chém, công nhân, nhân dân Pháp liên tiếp đấu tranh không mệt mỏi đòi lại cuộc sống cho chúng tôi. Tôi nói với anh Hùng, anh Sung bảo nhau: Chuyến này chúng mình sống được là nhờ vô sản Pháp…

Đầu tháng 1-1934, chúng tôi ra Côn-đảo. Thoát âm ty dưới đất lạ sa vào âm ty trần gian. Mười một năm nữa, anh Hùng và tôi lại chung banh, chung công, chung xiềng như ngày ở xà-lim án chém. Lại đấu tranh, lại hoạt động. Anh Hùng hăng lắm, sổ tù của anh vì nó phạt nhiều, đỏ lòm những dấu là dấu… Đến khi cách mạng thành công, Đảng và Chính phủ cho tàu ra đón, chúng tôi mới được trở về đất liền. Đặt chân lên đất liền thì đúng lúc bọn Pháp khởi hấn ở Sài-gòn, 23-9-1945.

Thế là lại bắt đầu vào cuộc chiến đấu mới…

Đồng chí Lê Văn Lương kể

T.Đ ghi


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Sáu, 2010, 12:44:20 PM
TỪ NHÂN DÂN MÀ RA

Quân đội ta là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Quân đội ta được thành lập trong phong trào đấu tranh cách mạng của toàn dân, được đông đảo quần chúng, trước hết là thanh niên công nông, tham gia và ủng hộ.

Điều đó thấy rõ trong cả quá trình hình thành và lớn mạnh của quân đội, từ khi các đơn vị tiền thân của quân đội ta ra đời cũng như, trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám và những năm kháng chiến, từ Nam chí Bắc, khắp nơi liên tiếp thành lập những đơn vị mới của quân đội từ quần chúng mà ra.

Nhần dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, tôi muốn kể lại với các đồng chí công cuộc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa ở Cao – Bắc – Lạng. Công cuộc đó đã được tiến hành trong những năm đại chiến thế giới lần thứ 2, dưới ánh sang của nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 8. Thực tế lịch sử đó đã giúp chúng ta thấy rõ lực lượng vũ trang cách mạng quả thật đã sinh ra và lớn lên trong phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 11 Tháng Sáu, 2010, 08:04:48 PM
CAO BẰNG, MỘT TRONG HAI TRUNG TÂM CỦA PHONG TRÀO VIỆT BẮC.
HỒ CHỦ TỊCH VỀ NƯỚC

Cao-bằng là một tỉnh có phong trào cách mạng rất sớm. Từ năm 1929, ở đây, đã có nhiều cho bộ của Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Và trong khi Đảng Cộng sản Đông-dương mới ra đời, ở Cao-bằng cũng đã thành lập những chi bộ của Đảng. Trong những năm khủng bố trắng, cơ sở của Đảng vẫn được duy trì. Đến thời kỳ Mặt trận bình dân, phong trào cách mạng phát triển khá rộng rãi trong nhân dân, có nhiều cuộc biểu tình hưởng ứng Đông-dương đại hội, có nhiều cuộc đấu tranh của anh  em công nhân ở mỏ Tinh-túc. Đến khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, bọn thực dân Pháp đi vào con đường đầu hàng phát-xít Nhật, đồng thời chúng ra sức đàn áp phong trào cách mạng. Lúc bấy giờ Cao-bằng cũng bị khủng bố. Cán bộ và đảng viên chuyển vào hoạt động bí mật, duy trì cơ sở, giữ vững cho phong trào đang gặp nhiều khó khăn.

Đúng vào lúc đó, “ông Cụ” – tức là Hồ Chủ tịch – về đến biên giới. Hồi ấy, chúng tôi có các đồng chí Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan, Vũ Anh và tôi, đang công tác ở Trung-quốc. Sau khu Pháp mất nước, Bác nhận thấy việc chính là gấp rút trở về nước gây cơ sở và lien lạc với Trung ương Đảng. Thế là Bác với một số đồng chí trở về biên giới Trung – Việt. Lúc mới về còn ở tạm ở mấy làng bên kia biên giới; đồng bào Trung-quốc ở đây rất tốt, đã từng chịu ảnh hưởng của Hồng quân, nghe nói có cán bộ cách mạng Việt-nam là hết long giúp đỡ. Lúc đó, một số cán bộ, đảng viên Cao-bằng, như các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, Bằng Giang, v.v… bị khủng bố chạy sang Trung-quốc để tìm liên lạc với cấp trên, và may mắn được gặp Bác. Bác chủ trương đưa các đồng chí đó về biên giới, mở lớp huấn luyện rồi phái về nước để tổ chức Việt Minh. Lớp huấn luyện ngắn kỳ được mở tại một làng Trung-quốc gần biên giới. Lối làm việc của Bác rất cần thận chu đáo. Sau khi bàn chương trình viết ra làm sau, bảy bài; mỗi bài đều phải soạn trước dàn bài đem ra bàn, rồi mới viết; viết xong, đem tập thể duyệt lại. Phải hết sức chú trọng sao cho nội dung và lời lẽ dễ hiểu hợp với trình độ quần chúng. Những bài huấn luyện đó sau có in thành sách đặt tên là “Con đường giải phóng”. Lớp huấn luyện cán bộ Việt Minh đầu tiên có kết quả rất tốt; lớp kết thúc thì Tết sắp đến; anh em hăng hái lên đường về nước, tin tưởng công tác củng cố và phát triển phong trào, tổ chức Việt Minh chắc chắn sẽ thu được nhiều kết quả thắng lợi.

Ăn Tết xong, Bác cũng về nước. Cơ quan đặt ở hang Pắc-bó. Vùng Pắc-bó là một vùng núi rộng độ 2, 3 cây số, dài 5,6 cây số. Từ hang tới biên giới Trung – Việt chỉ độ hơn một cây số. Đồng bào Nùng ở đây rất tốt, ở rải rác dưới thung lũng hoặc trên sườn núi, mỗi xóm vài ba nhà, nhiều lắm là mươi nhà. Đây là một vùng núi đá, rừng rậm, cây to, xen lẫn giữa những thửa ruộng nhỏ. Cửa hang cây cối um tùm, cỏ gianh, lau rừng phủ kín, đi đến gần cũng không biết là có hang. Hang rất sâu; ngoài hang, ngay ở chân núi, có một con suối rất đẹp, có chỗ nước suối tụ lại thành vũng lớn gần như một cái hồ con. Bên bờ suối, đá lô nhô, có chỗ thạch nhũ rủ xuống, xen lẫn với những phiến đá to rộng tương đối bằng phẳng. Hằng ngày Bác thường làm việc ở bên bờ suối, hoặc đi huấn luyện trên làng ở gần đến bữa thì về hang ăn cơm. Ban đem, ngủ ở trong hang, hơi đá lạnh buốt nên phải đốt lửa, và có thể đốt được vì hang rất kín, bên ngoài không nom thấy ánh lửa.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Sáu, 2010, 12:03:03 AM
Bác rất chú trọng vấn đề cảnh giác, lúc nào cũng hết sức giữ bí mật an toàn cho cơ quan. Hễ ở một nơi nào đã thấy hơi lộ hoặc có triệu chứng địch để ý là Bác lại bảo rời đi chỗ khác. Có lúc, có địch tung do thám vào vùng này, nên cơ quan lại phải vào một địa điểm kín trong rừng sâu. Phải đi theo một con suối, đi qua mấy cái thác cao, leo mấy lần thang mới tới nơi; cái “thiêng” (lán) bí mật làm ngay dưới một lùm cây song leo chằng chịt. Ở đấy, ban ngày cũng tối om, nên thường phải leo lên núi mà làm việc. Qua một thời gian, đề phòng bị lộ, cơ quan lại dọn vào một hốc đá. Chỗ này hẹp, chỉ vừa 3, 4 người nằm. Những khi trời mưa lũ to, rắn rết cùng bò tới đây trú ẩn.

Đời sống bí mật rất gian khổ. Để có sức khỏe mà làm việc, Bác rất chú ý giữ gìn vệ sinh. Sáng nào Bác cũng dậy sớm, rất đều đặn, gọi cả cơ quan dậy, tập thể dục rồi làm việc. Tối lại, vì không có dầu thắp đền nên lại ngồi quây quần bên bếp lửa khai hội hoặc nói chuyện. Ăn cơm đúng giờ, cơm thường chả có gì. Thỉnh thoảng mới được một ít thịt mà chúng tôi gọi là “thịt Việt Minh”, tức là món thịt băm nhỏ rang mặn, một phần thịt trộn với ba phần muối. Có bữa tổ chức bắt cá dưới suối để cải thiện. Giúp việc cấp dưỡng trong cơ quan có lão đồng chí Lộc, một đồng chí rất tốt, hết sức trung thành với cách mạng, hàng ngày chăm lo cơm nước săn sóc sức khỏe của Bác và anh em trong cơ quan rất chu đáo, rất tận tụy. Khi nào Bác mệt, đồng chí Lộc thổi cơm lai “ưu tiên” chắt cho Bác một bát nước cơm. Nước uống thì dung nước suối, nhưng thường lấy than, sỏi, cát lọc qua rồi mới dung.

Tuy giữ gìn như vậy, nhưng không đồng chí nào là không bị sốt rét rừng. Bác cũng nhiều lần bị sốt. Có lần lên cơn, anh  em mời Bác đi nằm. Bác cứ ngồi tiếp tục khai hội. Bác bảo: “Phải đấu tranh mới thắng được bệnh, đỡ ốm”.

Về sau, phong trào lan rộng, cơ quan dọn xuống thung lũng Lạng-sơn, gần Nước-hai trong một dẫy núi đá hiểm trở, chúng tôi gọi là “Lô cốt đỏ”. Gọi như thế là vì đá núi sắc hơi đỏ, lại vì ở đâu từ trước vận là nơi đi lại gặp gỡ của các đồng chí cách mạng. Ở đây Bác vẫn giữ nếp sinh hoạt giản dị. Cuộc sống ở hang, ở lán bí mật, đã ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của Bác. Những khi phong trào lên, việc tiếp tế không đến nỗi thiếu thốn lắm; nhưng khi địch bao vây khủng bố gay gắt, cơ quan phải rút vào tận rừng sâu thì việc tiếp tế lương thực trở nên rất vất vả. Có lúc cơ quan phải dời lên vùng đồng bào Mán Trắng; đồng bào ở đây không có gạo, phải ăn bắp quanh năm, anh  em trong cơ quan bí mật cũng ăn cháo bắp hết tháng này qua tháng khác. Sức khỏe của Bác càng giảm sút. Đồng chí Lộc cố để dành một ít gạo để nấu riêng cho Bác, nhưng Bác không ăn. Bác bảo để gạo, nấu cho những đồng chí ốm mệt và cùng ăn cháo bắp với anh em.

Trong thời gian hoạt động ở Việt Bắc, Bác bị ốm nặng nhất là khoảng năm 1945, sau khi Nhật đảo chính. Lúc đó, Khu giải phóng đã thành lập và mở rộng. Chúng tôi cùng Bác từ Cao-bằng về Tân-trào. Hồi đó, vào quãng tháng 7-1945, đang chuẩn bị hội nghị toàn quốc, theo quyết nghị của Trung ương. Cơ quan chỉ huy lâm thời Khu giải phóng đóng trong một ngôi nhà sàn ở làn Tân-trào, gần cây đa to lịch sử; lúc đó, tôi làm nhiệm vụ thường trực ở đây. Còn Bác thì ở một cái lán nhỏ trên sườn núi cách làng chưa đầy một cây số. Có lẽ vì đi bộ từ Cao-bằng quá sức, nên Bác bị mệt một thời gian rồi ốm nặng, sốt liên mien. Lúc đầu không ăn được cơm, chỉ ăn cháo. Sau cháo cũng không ăn được chỉ húp tí nước hồ loãng. Có lúc Bác mê man. Điều kiện thuốc men lúc bấy giờ đã khá hơn trước, nhưng cũng chỉ có mấy viên ký ninh và mấy ống thuốc long não.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 12 Tháng Sáu, 2010, 11:13:34 PM
Hằng ngày, tôi lên báo cáo công việc với Bác; thấy Bác mệt, tôi rất lo. Hỏi sức khỏe Bác thì Bác bảo có hơi mệ nhưng không sao, cứ yên tâm xuống giải quyết công tác đi. Đến hôm thứ sáu hay thứ bảy, tối lên báo cáo thì thấy Bác mệt quá. Nghe báo cáo xong, Bác bảo tôi về. Tôi nói với Bác hiện nay không có việc gì gấp, tôi ở lại với Bác. Hình như Bác cũng cảm thấy mệt nhiều nên đồng ý để tôi ngủ lại. Lúc nào Bác tỉnh Bác lại nói chuyện. Tôi có cảm giác như Bác muốn dặn dò lại. Với một giọng bình tĩnh thong thả, Bác nói: “Lần này điều kiện trong nước và ngoài nước đều rất thuận lợi. Vì vậy Đảng ra nhất đoinhj phải lãnh đạo nhân dân giành độc lập, dù có phải chiến đấu đốt cháy cả giải Trường-sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập”. Bác ngừng lại để nghỉ rồi lại dặn tiếp một số việc cụ thể trước mắt: “Phong trào cách mạng đang lan rộng, nhưng khi có phong trào lên bao giờ cũng phải chú trọng củng cố phong trào, bồi dưỡng những phần tử trung kiên, đào tạo cán bộ. Phải mở những lớp huấn luyện ngắn kỳ để kịp thời đào tạo cán bộ địa phương, phải chú ý xây dựng chi bộ, thì lúc gặp khó khăn phong trào mới giữ vững được. Còn việc đấu tranh vũ trang, khi ta có điều kiện thuận lợi thì phải ra sức phát triển, nhưng lại phải chú trọng củng cố căn cứ địa cho vững chắc để đề phòng những lúc khó khăn”. Nghe Bác dặn dò, tôi cảm thấy như Bác cũng lo lắng cho bệnh tình của mình nên trong lòng tôi rất lấy làm lo. Tôi liên biên thư cho giao thông mang đi báo cáo tình hình sức khỏe của Bác với Trung ương. Một mặt cho hỏi tất cả các đồng chí ở trong bản xem có cách gì chạy chữa cho Bác không. Hỏi các cụ già, các cụ bảo đây là bệnh sốt nóng, và ở gần địa phương đây có một ông lang trị bệnh này rất giỏi. Ngay đêm hôm ấy lập tức cho người phóng ngựa đi mời. Sáng sớm hôm sau; ông lang ấy đến. Ông ta sờ trán Bác, bắt mạch xong, vào rừng đào thứ củ gì không biết. Ông cho đốt cháy củ đó rắc vào cháo loãng đem cho Bác ăn. Bác ăn hai lần thấy đỡ, và mấy hôm sau thì khỏi hẳn.

Chúng tôi mừng quá. Nhưng cho đến nay cũng vẫn không biết ông lang đã cho Bác uống thử củ gì mà trị bệnh chóng khỏi thế.

Ta trở lại Cao-bằng, thời gian Bác còn ở Pắc-bó. Lúc ấy, các đồng chí Phùng Chí Kiên và Vũ Anh đã về Pắc-bó. Anh Lâm (tức đồng chí Phạm Văn Đồng), anh Lý (tức đồng chí Hoàng Văn Hoan), và tôi còn công tác ở Tĩnh-tây và có khi đi lại giữ Tĩnh-tây và Quế-lâm. Chúng tôi thường về Pắc-bó khai hội báo cáo tình hình với Bác. Hoặc có khi Bác với anh Phùng Chí Kiên đi lên gặp chúng tôi ở một địa điểm giữa đường. Bác đi bộ rất khỏe, có lần đi một mạch tới hàng chục cây số đường núi mà không biết mệt. Một hôm Bác ở dưới lên, chúng tôi ở Tĩnh-tây về, gặp nhau khai hội ở một cái chợ; một đồng chí ở trong nước mới ra vừa gặp Bác liền báo một tin:

- Đồng chí X. bị bắt rồi!

Bác thản nhiên bảo tất cả hay vào quán nghỉ ngơi, gọi bún phở ăn trưa. Xong xuôi, bắt đầu khai hội. Lúc đó, Bác mới thong thả nói: “Bây giờ trong nước có tin gì thì đồng chí báo cáo! Không nên hấp tấp, vội vã!”

Mỗi lần chúng tôi về cơ quan gặp Bác, ai nấy đều cảm thấy là về nhà, về với Đảng, trong một không khí gia đình cách mạng rất thân yêu, đầm ấm. Bác lại thường nói: “Đảng là gia đình của người cộng sản”, lại luôn nhắc nhủ: “Muôn việc phải lấy Đảng làm gốc”. Bác hỏi han sức khỏe, lo lắng chăm sóc cho anh  em từng ly từng tý. Về cơ quan, lúc nào cũng thấy một không khí lạc quan cách mạng trong sáng. Lúc phong trào lên, anh em vui sướng mang theo về tinh thần bồng bột ở địa phương; về đến cơ quan thấy không khí bình tĩnh, lại nhơ ngay rằng đấu tranh cách mạng còn phải lâu dài gian khổ. Khi phong trào xuống, địch khủng bố, quần chúng xao xuyến, đi anh  em đi công tác trở về cơ qua cũng lại thấy không khí bình tĩnh với cả một tinh thần tin tưởng không gì lay chuyển được vào tiền đồ cách mạng.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Sáu, 2010, 01:22:05 AM
Bác thường nói: “Làm cách mạng là công việc lâu dài, “niên chí công, nguyệt chí công”, phải bền lòng vững chí mọi việc đều phải suy nghĩ chín chắn, không nên hấp tấp vội vàng”. Cho nên, thương thường, đi công tác về, nếu không có việc gì thật gấp thì vẫn có cái lệ làm việc như thế này: Bao giờ Bác cũng đề ra vấn đề và để cho chúng tôi có thời gian chuẩn bị suy nghĩ, sau đó mới khai hội bàn bạc. Những ý kiến chỉ đạo của Bác rất cụ thể, thiết thực. Và sau khi đã bàn bạc kỹ và đã quyết nghị rồi thì phải chấp hành cho bằng được. Bác thường đi vào kiểm tra cụ thể việc đặt kế hoạch công tác, từ việc nhỏ đến việc lớn. Cả một thời gian được ở gần Bác, tôi có được một nhận thức rất sâu sắc là: trong khi định ra đường lối cách mạng, thì phải nhìn xa thấy rộng; nhưng khi bắt tay vào thực hiện, phải rất chú trọng công việc cụ thể, từ việc lớn đến việc nhỏ. Nếu không chú ý làm tốt từng viêc nhỏ thì việc lớn cũng khó thành công.

Bác về hang Pắc-bó, liền chỉ thị cho ra tờ báo Việt-nam Độc lập. Báo phát hành bí mật, mỗi tuần, mỗi kỳ, hai trang giấy nhỏ, in đá, chữ to, bài đơn giản, ngắn. Chúng tôi thấy tờ báo bài ngắn quá, cho thế là quá đơn sơ, nên cùng nêu ý kiến là nên tăng thêm nội dung, in chữ bé hơn, cho được nhiều bài, và đẹp. Nhưng Bác bảo: “Cứ nên viết bài ngắn, tin ngắn, chữ to, như thế mới hợp trình độ quần chúng”. Quả nhiên, sau một thời gian, thấy rõ tác dụng tuyên truyền tổ chức to lớn của báo Việt Lập. Ảnh hưởng của nó không những vì nó có một nội dung chính trị đúng, mà lại vì nó rất hợp trình độ quần chúng muốn nghe, những lời quần chúng hiểu được thì mới mong giác ngộ quần chúng và lãnh đạo quần chúng tiến lên. Về sau, báo phát triển thành bốn trang, in đẹp hơn và được quần chúng hoan nghênh nhiệt liệt.

Bác rất chú trọng công tác giáo dục huấn luyện cán bộ. Bác đã dịch cuốn Lịch sử Đảng Cộng sản (bôn-xê-vích) Liên-xô ra tiếng Việt, tự tay Bác đánh máy làm mấy bản, gửi cho mỗi tổ công tác chúng tôi một bản, để chúng tôi tổ chức nghiên cứu học tập.

Bác hết sức gần gũi đồng bào địa phương, thường đi lại hỏi thăm các cụ già, dạy thanh niên học chữ. Bác rất yêu các cháu nhi đồng. Bác thường mặc một tấm áo chàm của người Thổ, trông chẳng khác gì một ông cụ già người địa phương. Đồng bào rất quý mến Bác, thường gọi Bác là “ông ké”, ông cụ cấp trên đáng kính. Cái tác phong giản dị, lạc quan, gần gũi nhân dân, cái tình thương yêu đồng chí nồng nhiệt ấy, có thể nói mãi cho đến ngày nay, Bác vẫn giữ như thế.

Vào tháng 3-1941, Hội nghị Trung ương lần thứ 8 mở rộng, do Bác chủ tọa, họp ở Pắc-bó. Như chúng ta đã biết, đây là một hội nghị có tầm quan trọng lịch sử. Hội nghị đã quyết định chính sách mới của Đảng, đặt vấn đề giải phóng dân tộc thành nhiệm vụ trung tâm và cấp thiết của toàn dân, và đề ra chủ trương tổ chức Việt-nam Độc lập Đồng minh, chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Cũng trong hội nghị đó, Trung ương đã quyết định duy trì và phát triển cơ sở Bắc-sơn, Vũ-nhai, củng cố và mở rộng cơ sở Cao-bằng, gây dựng hai nơi đó làm hai trung tâm của phong trào chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa ở Việt Bắc.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 19 Tháng Sáu, 2010, 05:18:21 PM
PHONG TRÀO LÊN MẠNH

Sau thời gian hoạt động ở Trung-quốc, chúng tôi bị bọn Quốc dân đảng biết là cộng sản. Chúng tôi được chỉ thị trở về nước công tác.

Lúc anh Tống (tức đồng chí Phạm Văn Đồng) và tôi về thì phong trào Cao-bằng đã được củng cố, nhiều nơi đang phát triển mạnh. Bấy giờ là vào cuối năm 1941.

Phong trào Việt Minh lan rộng khắp nhiều châu huyện. Đồng bào Thổ và Nùng nô nức tham gia các hội cứu quốc. Ở đâu, thanh niên nam nữ cũng dẫn đầu phong trào, nào tuyên truyền, tổ chức, nào luyện tập quân sự. Các chị em phụ nữ cũng có tinh thần đấu tranh cách mạng bền bỉ, kiên quyết. Có nhiều địa phương, các em nhi đồng cũng tham gia hội cứu quốc, các em tích cực tham gia vào liên lạc, canh gác. Chi bộ của Đảng được phát triển khắp các xã có phong trào cao. Các xã “hoàn toàn” dần dẫn xuất hiện. Rồi đến tổng “hoàn toàn”, châu “hoàn toàn”, ban Việt Minh xã giải quyết hầu hết các việc sinh hoạt hàng ngày cho nhân dân; việc cưới xin thì có đoàn thể chứng kiến, việc tranh chấp ruộng rẫy cũng do đoàn thể hòa giải. Các hương lý phần lớn đều tranh thủ được, hoặc có cảm tình với cách mạng, hoặc tham gia hội cứu quốc. Số rất ít phần tử phản động bị phân hóa hay bao vây. Một thứ chính quyền hai mặt đã hình thành ở cơ sở: các chức việc trước khi lên châu lên tỉnh thường xin chỉ thị của ban Việt Minh và khi về cũng báo cáo lại mọi việc.

Còn lính dõng thì phần lớn hoặc tổ chức hoặc có cảm tình với cách mạng. Lúc bấy giờ để đề phòng phong trào cách mạng, đâu đâu cũng có lệnh của “quan trên” là phải tăng cường cảnh giác rất nghiêm ngặt. Mỗi xã có hai, ba điếm canh. Nhưng vì lính dõng và dân làng đều có cảm tình với cách mạng, nên phần lớn những điếm canh đó của địch đều biến thành điếm canh của ta. Trên những con đường đi lại bí mật, ta đa dùng một số điếm canh làm trạm liên lạc.

Ở vùng núi cao, vùng đồng bào Mán Trắng, phong trào cũng phát triển mạnh. Đồng bào ở đây sống rất khổ cực. Núi đá hiểm trở, không có đất đai trồng trọt, được đi xuyên núi đá tai mèo rất khó khăn, hầu như không có, qua lại như chim. Bọn Tây, quan và tổng lý áp bức bóc lột hết sức tàn bạo. Chi nên tinh thần cách mạng đồng bào rất cao. Đồng bào Mán Trắng rất mừng rỡ khi gặp cán bộ Việt Minh. Đồng bào hết sức cảm động khi thấy đã cùng nhau vào hội, làm anh em để đánh Tây đánh Nhật, thì người Kinh, người Thổ với người Mán, lại thân nhau đến thế. Đồng bào coi chúng tôi như anh  em ruột thịt, thương vô kể và ủng hộ cách mạng không tiếc một cái gì.

Hội cứu quốc phát triển nhanh và rộng ở đấy. Rồi tổ chức Đảng cũng được thành lập. Một trong những đồng chí đảng viên Mán Trắng đầu tiên là đồng chí Hồng Trị, nhà nghèo xơ xác, tinh thần cách mạng rất hăng. Về sau lúc Nhật tấn công càn quét, đồng chí đã đứng ra chỉ huy dân làng chiến đấu và đã hy sinh anh dũng.

Đoàn kết dân tộc là một nét rất đặc biệt của phong trào. Ngay trong những ngày đấu tranh bí mật, ở Cao-bằng đã từng tổ chức nhiều cuộc liên hoan giữa đại biểu các dân tộc Thổ, Mán, Nùng, Kinh, Hoa kiều, v.v…, kết quả rất tốt. Lại có những đoàn đại biểu Mán xuống thăm phong trào ở dưới cánh đồng được đồng bào cánh đồng đón tiếp và úy lạo nhiệt liệt, sau đó trở về họp mít tinh báo cáo lại. Từng thời gian, ở dưới cánh đồng cũng như ở trên núi cao, đều có tổ chức những cuộc triển lãm tranh ảnh, nêu tội ác của Tây, Nhật, nêu sự tiến bộ của phong trào cách mạng, trưng bày súng và cờ, tuyên truyền cho Liên-xô và cách mạng thế giới.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 20 Tháng Sáu, 2010, 02:40:15 PM
Sau một thời gian, ban Tỉnh ủy Cao-bằng được chấn chỉnh. Sang tháng 11 năm 1942, Đại hội đại biểu Việt Minh tỉnh chính thức. Hệ thống tổ chức của Việt Minh đã thông suốt từ xã qua các châu huyện lên đến tỉnh. Trong các tổng và các châu “hoàn toàn”, đều có cuộc bầu cử dân chủ từ các xã lên. Rồi tiếp theo đó, ban liên tỉnh ủy Cao – Bắc – Lạng được thành lập, do đồng chí Lạ làm bí thư. Đồng chí là một cán bộ lâu năm, đã từng lăn lộn nhiều, có nhiều kinh nghiệm công tác, có uy tín lớn trong quần chúng, được đảng viên và nhân dân mến phục. Đồng chí làm việc Đảng hết sức tận tụy, mặc dầu người không được khỏe. Sau này, đồng chí Lạ vẫn làm bí thư tỉnh ủy Cao-bằng và mới mất năm ngoái.

Bấy giờ, để củng cố phong trào, công tác huấn luyện rất được coi trọng. Bác nói: “Trước hết phải có dân đã rồi mới nói đến chuyện khởi nghĩa được”. Cho nên phải ra sức củng cố cơ sở, phát triển cơ sở. Nhiều lớp huấn luyện ngắn kỳ được tổ chức ở các châu huyện. Nhưng đi học xa làng bản như thế, cán bộ ngại mất công ăn việc làm và dễ bị lộ. Nên các đồng chí “giáo viên” được tổ chức thành từng tổ lưu động, lần lượt đi về các địa phương. Địa phương chuẩn bị một địa điểm huấn luyện bí mật ở xa làng, từng đợt cán bộ đến tập trung huấn luyện từ năm đến bảy ngày, lương thực phải tự túc lấy. Qua một thời gian, hầu hết các cán bộ xã đều được huấn luyện. Liên tỉnh ủy liền đặt kế hoạch mở những lớp mới với trình độ cao hơn, đồng thời mở rộng phạm vi huấn luyện đến các thanh niên nam nữ không ở trong ban chấp hành. Các phần tử trung kiên trong các hội Cứu quốc yêu cầu đi học rất đông. Mỗi lớp học xong thường có tổ chức một buổi mít-tinh, liên hoan có đại biểu các giới đến dự, có khi có ca hát rất vui, để động viên mọi người hăng hái làm công tác, Bác cũng trực tiếp động viên đi huấn luyện cho cán bộ và cho cả một số nông dân gần cơ quan. Các anh chị em cán bố địa phương chỉ có một số biết tiếng Kinh, còn phần lớn không biết, nhất là chị em phụ nữ. Bác dặn chúng tôi phải học tiếng Thổ. Ở vùng đồng bào Mán Trắng, trong các lớp huấn luyện đầu tiên, phải dùng hình thức vẽ để giảng cho đồng bào. Ví dụ muốn nói Tây, Nhật áp bức bóc lột dân ta thì vè thằng Tây, Nhật đánh đập dân ta, vẽ người dân trên lưng, chồng chất sưu cao thuế nặng. Hoặc vẽ người Mán, người Thổ, người Kinh cùng bắt tay nhau để nói lên cần phải đoàn kết để đánh đuổi Tây, Nhật. Dần dần về sau, đồng bào Mán cũng biết chữ, học chữ Mán. Nội dung huấn luyện đơn giản thôi: học qua tình hình thế giới, tình hình trong nước, tại sao phải đánh Tây, đánh Nhật, rồi nói đến công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, đến cách tổ chức hội cứu quốc, các đội tự vệ, năm bước công tác bí mật, lại học cách khai hội, cách phát biểu ý kiến v.v…

Tôi cũng được phân công phụ trách một tổ huấn luyện, đi công tác ở Hòa-an, ở Nguyên-bình, ở trên Mán Trắng. Các lớp huấn luyện đều thu được kết quả rất tốt. Tôi chỉ nhớ có một lần, lớp huấn luyện cũng học theo nội dung thường, nhưng về tình hình thế giới thì có nói đến bốn mâu thuẫn. Huấn luyện xong, đến hôm “tốt nghiệp”, một đồng chí hội viên tốt, bí danh là Đề Thám giơ tay xin phát biểu: “Đề nghị thượng cấp cho tôi xin ra hội”. Tôi hết sức ngạc nhiên, hỏi:

- Vì sao đồng chí lại xin ra hội?

- Vào hội làm việc gì em cũng làm được, nhưng học thế này khó quá, không nhớ được, sợ không làm tròn nhiệm vụ.

Thật là một bài học thấm thía về cách huấn luyện. Tôi đã hết sức cố gắng đặt một chương trình dễ hiểu, phù hợp với trình độ an hem, nhưng lần đó sở dĩ đồng chí Đề Thám xin ra khỏi hội là vì tôi đã thêm vào… bốn mâu thuẫn.

Trong Đảng, việc huấn luyện cũng được coi trọng. Các lớp huấn luyện đảng viên do Liên tỉnh ủy phụ trách. Đối với một số cán bộ cấp tỉnh, thì ngoài nghị quyết của Trung ương và các chủ trương công tác của Liên tỉnh ủy, cũng có bắt đầu huấn luyện về lịch sử Đảng cộng sản


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Sáu, 2010, 01:15:12 AM
CHUẨN BỊ CƠ SỞ VŨ TRANG

Vào cuối năm 1941, cùng ở Pắc-bó, Bác ra chỉ thị tổ chức đội vũ trang đầu tiên của Cao-bằng; tiểu đội gồm có các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, Bằng Giang, Lê Thiết Hùng, Đức Thành, Thế An, v.v…, do đồng chí Lê Quảng Ba chỉ huy. Đội có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo của Đảng, củng cố và giữ vững đường giao thông, đồng thời giúp việc huấn luyện tự vệ và tự vệ chiến đấu.

Ở tất cả các địa phương phong trào cách mạng lan đến, quần chúng tham gia đông đảo vào các hội cứu quốc, đều tổ chức ra những đội tự vệ trong thanh niên nam nữ. Vấn đề huấn luyện quân sự trở nên cấp thiết. Các nơi quần chúng đòi hỏi, nhưng cán bộ thì thiếu. Đồng chí nào biết quân sự một chút ít là đều phải đi huấn luyện, như các đồng chí Thiết Hùng, Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, đồng chí Cáp. Vấn đề soạn tài liệu quân sự cũng được đặt ra. Bác có viết một cuốn sách về chiến thuật du kích đơn giản dễ hiểu. Liên tỉnh có chỉ thị soạn chương trình huấn luyện quân sự và định ra các khẩn lệnh thống nhất. Việc đó lúc đầu cũng không phải đơn giản vì nó mới mẻ quá. Chỉ có một việc như hô một, hai, mà khi ra tập người hô cũng chưa quen, mà quần chúng lại càng bỡ ngỡ. Phong trào luyện tập quân sự lên mạnh. Mỗi kỳ tập từ năm đến bảy ngày, hễ việc đồng áng hơi rỗi thì lại tập. Khi các cơ sở tự vệ thường đã được củng cố qua một đợt, thì các đội tự vệ chiến đấu được lập nên, bao gồm nhưng đội viên tự vệ dũng cảm nhất trong xã. Có thể nói hầu hết thanh niên nam nữ trong các xã “hoàn toàn” đều tham gia tổ chức tự vệ và đã trải qua luyện tập một hay hai kỳ. Mỗi một xã lại có một hay hai trung đội tự vệ chiến đấu được tổ chức và luyện tập khá chặt chẽ. Cũng trong thời gian ấy, Liên tỉnh đã tổ chức các lớp huân luyện cán bộ quân sự, mỗi khóa một tháng, mỗi khóa có tới 5, 6 chục cán bộ về học. Mặc dầu hoàn cảnh bí mật eo hẹp, trường học dựng lên trong các khu rừng cũng không kém “quy mô”. Như lớp quân chính khóa thứ ba ở tổng Kim-mã, khi bị phát lộ, đã làm cho bọn đế quốc phải kinh ngạc: mấy ngôi nhà lá cọ chứa hàng trăm người. Rồi nào giảng đường, nào nơi ăn, nơi ngủ, nào giá súng, sân tập, với những tam cấp cao đến hàng 50, 60 bậc. Cuối năm 1943, ở vùng Nước-hai, châu Hòa-an, đã từng có những cuộc duyệt binh giữa ban ngày ở ngay cánh đồng, và có những cuộc tập trận giả huy động hàng bốn, năm trăm người, có khi đến trên dưới nghìn người, trong phạm vi mấy tổng liền. Với sự bành trướng của lực lượng vũ trang, không khí khởi nghĩa ngày càng bồng bột.

Ngoài việc huấn luyện, việc lo sắm vũ khí đạn được cũng là một vấn đề rất quan trọng và khó giải quyết. Mỗi đội viên tự vệ phải tự sắm vũ khí: dáo, mác, súng kíp, súng hỏa mai. Có nơi đồng bào góp tiền mua súng trường thổ tạo ở bên kia biên giới. Mỗi đội tự vệ lại phải có một cuộn dây thừng, để tập bắt Việt gian. Để giải quyết khó khăn về vũ khí, Liên tỉnh ủy quyết định lập một cơ sở lò rèn nhỏ, thí nghiệm đúc lựu đạn, địa lôi, giao cho đồng chí Cáp phụ trách. Lò có độ năm, sáu anh em công nhân làm việc. Nguyên liệu như nồi sắt, chậu thau, mâm đồng, đều do đồng bào ủng hộ. Việc chọn địa điểm dựng lò là cả một vấn đề: phải đặt vào trong một thung lũng rất sâu, sau mấy dãy núi đá ở cùng Lô cốt đổ, để cho tiếng búa tiếng đe khỏi lọt ra ngoài. Sau mấy tháng thì nghiệm hết sức vất vả, quả địa lôi đầu tiên được hoàn thành. Các bộ phận của nó, khi thử riêng đều tốt cả. Hôm chuẩn bị thử toàn bộ địa lôi đầu tiên, anh Vũ Anh và anh Tống nhắn tôi về dự. Địa điểm thử chọn ở một nơi gần lò, xung quanh có núi đá cao. Quả địa lôi được đặt vào trong một hốc đá ở chân núi, còn các “khán giả” thời ngồi trên cao sau những tảng đá to để đề phòng những mảnh gang bắn phải. Một sợi dây thừng dài gần 100 thước đã được buộc vào quả địa lôi và sẵn sàng chờ lệnh giật. Chúng tôi hồi hộp đợi. Anh Cáp ra lệnh: giật đi! Tất cả nhìn về phía quả địa lôi. Thấy nó xì khói rồi… thôi. Đợi một lúc lâu chẳng thấy tiếng nổ nào cả. Một đồng đồng chí người Thổ vừa cười vừa nói: “Te nằng du tỷ” (nó còn ngòi đấy)!Cuộc thí nghiệm đầu tiên thế là đã thất bại. Nhưng sau đó anh Cáp lại kiên nhẫn nghiên cứu và đã thành công. Lò rèn đó cứ tiếp tục hoạt động mãi cho đến khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi, được mở rộng thành binh công xưởng Lam-sơn và có nhiều công lao trong việc cung cấp vũ khí đạn dược cho mặt trận. Có thể nói là lò rèn Lô cốt đỏ này là binh công xưởng đầu tiên của chúng ta.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 26 Tháng Sáu, 2010, 01:02:24 AM
NAM TIẾN ĐÁNH THÔNG ĐƯỜNG LIÊN LẠC GIỮA CAO-BẰNG VÀ THÁI NGUYÊN

Từ khi Bác về biên giới, Bác luôn luôn chú trọng đến vấn đề liên lạc với Trung ương ở xuôi. Nhất là sau khi Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đã quyết định gây dựng hai trung tâm của phong trào ở Việt-Bắc thì vấn đề liên lạc giữa Cao-bằng và Bắc-sơn, Vu-nhai lại càng cấp thiết.

Ngoài lối liên lạc thường dùng bằng giao thông bí mật, cần phải cấp tốc tổ chức những con đường quần chúng từ Cao-bằng đi về miền xuôi. Có thế thì những lúc địch khủng bố mới giữ vững được mối liên lạc, lúc hoạt động vũ trang các đội du kích mới có thể vận động một cách thuận lợi.

Theo chỉ thị của Bác và quyết định của Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng, vấn đề Nam tiến được đặt ra. Một mặt, đồng chí Lý (tức anh Hoàng Văn Hoan) cùng một số cán bộ có nhiệm vụ đánh thông con đường từ Đông-khê về Đình-cả. Một mặt, tôi và đồng chí Thiết Hùng phụ trách Ban xung phong Nam tiến, có nhiệm vụ mở con đường từ Nguyên-bình qua Ngân-sơn, Chợ Rã để nối liền với Chợ Chu Đại-từ. Chúng tôi quyết định phát triển phong trào tổng Kim-mã để làm chỗ đứng chân. Ban đầu ở đấy chỉ mới có 3, 4 hội viên Việt Minh. Chúng tôi cùng các đồng chí Quang và Lạc thành lập chi bộ Nam tiến và bắt tay vào phát triển phong trào. Không bao lâu tổ chức Việt Minh lan rộng khắp trong tổng Kim-mã. Các tổ chức cứu quốc được thành lập khắp nơi, nhiều lớp huấn luyện cán bộ được mở ra liên tiếp. Các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu được huấn luyện rộng khắp tổng Kim-mã đã trở nên một tổng “hoàn toàn”.

Muốn mở con đường về xuôi, cần đi qua nhiều địa phương người Thổ và người Mán Tiền. Chúng tôi bắt đầu tổ chức đồng bào Mán Tiền. Lúc đầu cho một đồng chí người Thổ có bạn đồng canh trên Mán đi tuyên truyền. Cũng như anh  em Mán Trắng, anh  em Mán Tiền sắn có một tinh thần phản đế khá cao, tính tình chất phác, đơn giản, có nhiều tập tục giúp đỡ nhau rất tốt. Đồng bào rất hoan nghênh cùng nhau kết nghĩa vào hội, đánh đuổi Tây Nhật, nhưng muốn phải cùng nhau ăn thề mới thật tin. Ăn thề bằng cách tắt cây hương hoặc chém đầu gà. Lời thề đại ý nói: phải cùng nhau đoàn kết như anh em ruột thịt để đánh Nhật, đánh Tây, cứu nước nhà, cứu làng bản, thực hiện chương trình Việt Minh; gặp khó khăn cũng không bỏ nhau, gặp khủng bố cũng không phản Hội; nếu ai làm phản sẽ bị tiêu diệt. Vừa dứt lời thề tay liền dúng nén hương đang cháy vào nước cho tắt, hoặc cầm dao chem. Phập đứt đầu con gà. Dần dần trong đồng bào Mán cũng có chi bộ Đảng. Người đảng viên Mán Tiền đầu tiên là đồng chí Hoan. Đồng chí quê ở Hà-hiệu (Chợ Rã) hoạt động rất hăng hái, có uy tín lớn trong đồng bào, có công lớn trong việc xây dựng khu Mán Tiền. Về sau, đồng chí bị đế quốc bắt. Chúng tra tấn đồng chí 11 lần, ngất đi sống lại, đồng chí vẫn không khai một lời. Chúng đem đồng chí ra xử bắn ở Bắc-cạn. Trước khi đồng chí bị bắn, vợ đồng chí có đến thăm. Đồng chí nhắc nhủ: “Có thể là nó bắn tôi; nhưng ở nhà đừng lo, cách mạng thế nào cũng thành công. Ở nhà phải trung thành với đoàn thể, giúp đỡ anh em cán bộ hoạt động”. Nói rồi đồng chí đưa vợ một miếng cao hổ cốt và bảo: “Giữ lấy miếng cao này, gặp đồng chí Văn thì nói tôi có lời hỏi thăm và nhớ đưa cho đồng chí dùng để giữ sức khỏe mà làm công tác”. Sau đó ít lâu, tôi có dịp đi qua Hà-hiệu; tôi ghé vào thăm gia đình đồng chí Hoan, có gặp mẹ và vợ đồng chí và các cháu nhỏ. Chị Hoan khóc rất nhiều, kể lại câu chuyện và đưa tôi miếng cao hổ cốt. Bà cụ lại cũng vừa nói vừa khóc: “Bây giờ tuy Hoan đã mất và mùa màng cũng kém, nhưng năm nao, mùa nào, mẹ cũng để giành lúa nếp cho đội du kích. Các con cố gắng giết sạch bọn Tây Nhật, người Mán mới sống được”.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 29 Tháng Sáu, 2010, 06:55:50 PM
Phong trào vừa lên mạnh thì địch bắt đầu khủng bố. Chúng đưa lính ở tỉnh và châu về, từ Ngân-sơn tiến lên, từ Nguyên-bình và Cao-bằng tiến vào, bao vây tổng Kim-mã, chặn các đường giao thông lớn nhỏ để lùng bắt cán bộ và cơ quan bí mật của ta. Lúc đó, tôi và anh Thiết Hùng còn đang mở lớp huấn luyện, tôi lại bị sốt rét. Đồng bào nói: “Hiện nay, Tây khủng bố dữ. Nó mang lính về đây lùng các đồng chí. Chúng ta hãy tạm nghỉ việc Hội. Các đồng chí tạm rút lên rừng hay trở về thượng cấp, đợi khi tình hình “bớt nóng” hẵng hay. Bác và Liên tỉnh ủy nghe tin khủng bố, liền cho cán bộ vào để đón chúng tôi trở về cơ quan. Anh Thiết Hùng và tôi trao đổi ý kiến, nếu đi thì cơ sở sẽ tan, nên đề nghị với Bác cho ở lại tiếp tục công tác, cùng cán bộ địa phương chống khủng bố, giữ cơ sở. Hôm đó, địch lại đi lùng ráo riết. Đồng chí Lạc và đồng chí Khanh dẫn chúng tôi đi suốt đêm, hết núi lại khe, đường đi không có, trời mưa tầm tã, đêm tối như mực. Đi mãi đến sáng, sương mù dày đặc, vẫn không thấy gì hết. Đến nửa buổi, bỗng tan sương, thì hóa ra chúng tôi đang ở trên một ngọn đồi trọc gần làng, dưới chân đồi, bọn lính đang đi lùng cách mạng. Chúng tôi bảo nhau phải năm sát xuống, bò lê trên mấy cây số mới đến ven rừng. Rồi lại tiếp tục đi. Đến trưa, mệt quá không đi được nữa, anh em địa phương phải nắm lấy tay dắt đi. Xế chiều thì đến địa điểm dự định, ở trên một đỉnh núi cao. Dừng lại ở đấy, chuẩn bị làm lán ở và cùng nhau đặt kế hoạch liên lạc với dân làng và chỉ đạo chống khủng bố. Sau chuyến đi đó, đồng chí Thiết Hùng và tôi đều bị sốt nặng, ốm liên miên trong hai tháng rưỡi. Thuốc men chả có, chỉ uống rễ cây nụ ảo. Có mấy nữ đồng chí lo ngại cho bệnh tình chúng tôi, lấy tấm áo thổ dài của chúng tôi đem đi bói may ra khỏi bệnh. Nhưng khỏi sao được! Mãi tới khi đường giao thông liên lạc được nối lại, anh Cáp ở ngoài cơ quan Bác vào liên lạc, cho mấy viên ký ninh uống mới đỡ.

Kể ra, làn khủng bố này cũng chỉ mới là khủng bố nhỏ. Nhưng vì đây là khủng bố lần đầu ở trong vùng nên việc củng cố cơ sở gặp nhiều khó khăn. Phong trào sụt xuống một thời gian. Nhưng công tác giải thích và các lớp huấn luyện vẫn tiếp tục. Rồi phong trào lại lên. Các hội cứu quốc, các tổ chức tự vệ được một dịp thử thách rèn luyện. Dưới cánh đồng Kim-mã, các cuộc mít-tinh để chuẩn bị khởi nghĩa lại kế tiếp rầm rộ. Rồi không bao lâu, hội nghị đại biểu đầu tiên của đồng bào Má được triệu tập, khu Quang Trung được thành lập. Phong trào lại lên mạnh. Đã có lần, nhân dịp Cách mạng tháng Mười Nga, đại biểu nhân dân mấy tổng Nguyên-nình, Ngân-sơn cùng nhau họp hội nghị chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, có đến 2, 3 trăm người tham gia và có đến mười đội tự vệ chiến đấu biểu diễn quân sự.

Để tiện việc tuyên truyền, chúng tôi đem chương trình Việt Minh soạn thành văn vần: Việt Minh Ngũ Tự Kinh. Tôi lại dịch ra tiếng Mán Tiền, tiếng Mán Trắng, cũng bằng văn vần. Nhiều bài hát lượn cách mạnh đã xuất hiện, bằng tiếng Thổ, tiếng Mán, nhờ thế mà chương trình Việt Minh được truyền đi rất rộng và rất nhanh. Có bản, đồng bào mới được tổ chức, mà khi đến khai hội chúng tôi đã nghe các chị phụ nữ và các em nhi đồng đọc thuộc làu Việt Minh Ngũ Tự Kinh trong khi cán bông hay giã gạo.

Lúc bấy giờ, tổ chức Đảng đã được phát triển ở Bắc-cạn, Tỉnh ủy lâm thời Bắc-cạn thành lập. Đồng chí Đăng là đồng chí bí thư tỉnh ủy đầu tiên. Đồng chí là một cán bộ trung thành, kiên quyết. Trong cuộc khủng bố, lính địch về vây cơ quan, đồng chí đã chống cự và hy sinh anh dũng.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 03 Tháng Bảy, 2010, 12:34:09 AM
Công tác Nam tiến càng phát triển càng đòi hỏi cán bộ. Hưởng ứng lời kêu gọi của Liên tỉnh ủy, Cao-bằng gần một trăm cán bộ thanh niên nam nữ bỏ gia đình ra đi, tham gia vào các tổ chức vũ trang xung phong công tác. Anh  em thường tự sắm lấy súng hoặc lựu đạn. Đồng chí Thiết Hùng cũng có một khẩu súng sáu, bắn phát nổ phát không, còn tôi thì có một quả lựu đạn, một quả lựu đạn điếc; chúng tôi vẫn đeo luôn bên người vì tác dụng tinh thần vẫn tốt. Phối hợp cùng cán bộ địa phương, các tổ vũ trang xung phong công tác đã dùng lối vũ trang tuyên truyền, chia ra mấy đường Nam tiến. Tổ xung phong phát triển đi trước, bắt mối, điều tra, tuyên truyền, gây cơ sở. Tổ xung phong củng cố tiếp đến, chọn cốt cán trong quần chúng, mở lớp huấn luyện ngắn kỳ, rồi dựa vào cán bộ địa phương mới được đào tạo mà phát triển phong trào. Để cho cơ sở quần chúng được mở rộng nhanh chóng, không nhất định phải tuần tự tổ chức hết xã này đến xã kia, mà khi có điều kiện thì thực hiện phát triển cách quãng, phái từng tổ xung phong bí mật vượt qua những chặng đường dài đi đến một địa phương quần chúng tương đối tốt, gây cơ sở ở đó, rồi dần dần nối liền các cơ sở lại với nhau. Chúng tôi gọi cách phát triển ấy là “lối nhảy dù”. Đặc biệt tích cực, tôi nhờ có tổ đồng chí Quang. Đồng chí quê ở Cao-bằng, hiện nay là Khu ủy viên khu Việt Bắc. Tổ xung phong do đồng chí làm tổ trưởng đã từng hoạt động từ dãy núi Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo, đi qua Ngân-sơn, Chợ Rã, tiến dọc núi Phia-bioóc (tiếng Thổ nghĩa là Núi đá hoa, sau này chúng tôi đặt tên là núi Cứu quốc), tổ chức quần chúng suốt dọc triền núi đó đến tận xã Nghĩa-tá thuộc châu Chợ Đồn, giáp giới Chợ Chu. Chúng tôi đặt tên xã Nghĩa-tá là xã Thắng lợi.

Giữa chừng trên đường Nam tiến xảy ra một câu chuyện đáng ghi. Theo tình hình phát triển của phong trào, tôi đi dần từ tổng Kim-mã qua tổng Hoàng Hoa Thám đi xuống đến Ngân-sơn để kiểm tra công tác và mở lớp huấn luyện cán bộ địa phương. Một hôm, đang ở trên núi gần châu lỵ Ngân-sơn thì nhận được thu hỏa tốc của anh Tống. Mở ra thấy anh bảo về ngay cơ quan có việc cần. Tôi vội trở về Cao-bằng. Cơ quan lúc đó vẫn ở núi Lam-sơn. Về đến nơi, anh Tống và anh Vũ Anh liền cho biết tin là Bác sang Trung-quốc đã bị bắt giam một thời gian và gần đây bị bệnh mất rồi. Tin đột ngột quá. Tôi choáng váng cả người. Chúng tôi đau đớn vô hạn. Bác mất! Thật là một cái tang lớn cho Đảng ta, cho dân tộc ta. Chúng tôi bàn biên thư báo cáo Trung ương rõ. Rồi bàn nhau tổ chức lễ truy điệu, phân côn cho anh Tống chuẩn bị điếu văn. Anh Cáp mang va-li mây của Bác ra, xem thử có thứ gì nên giữ lại làm kỷ niệm. Chúng tôi định phái anh sang Trung-quốc lần nữa , tìm xem chúng nó mai tang Bác ở đâu. Rồi sau đó mấy hôm, tôi lại lên đường đi công tác. Tôi còn nhớ đêm ấy ra đi, một mình với một đồng chí cán bộ Nam tiến đi qua những ngọn núi gianh, vắng vẻ, đêm lạnh buốt, trời trong vắt, sao rất sáng. Trong lòng cảm thấy bơ vơ, buồn vô hạn. Không biết nói với ai. Chỉ nhìn sao rưng rưng.

Qua một thời gian, chúng tôi bỗng nhận được một tờ báo ở Trung-quốc gửi về, bên rìa có mấy câu chữ nho đúng chữ Bác viết: “Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng công tác. Ở bên này bình yên”, và kém mấy câu thơ:

“Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân
Giang tâm như kính, tịnh vô trần.
Bồi hội độc bộ Tây Phong Lĩnh
Dạo vọng Nam thiên ức cố nhân.

Tạm dịch như sau:

Mây ôm dãy núi, núi ôm mây
Lòng song như gương, không chút bụi.
Một mình dạo bước trên núi Tây Phong trọng dạ bồi hồi.
Nhìn về trời Nam xa xăm nhớ bạn cũ.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 14 Tháng Bảy, 2010, 09:30:40 PM
Chúng tôi mừng quá. Đem báo ra hỏi anh Cáp: “Thế là thế nào? Sao lại thế này?” Anh Cáp trả lời: “Cũng không rõ là thế nào! Khi tôi sang Trung-quốc chính tên quan Quốc dân đảng nói với tôi là Bác mất rồi!” Hỏi đi hỏi lại anh Cáp: “Thế anh thử nói lại những câu nó nói với anh bằng tiếng Trung-quốc xem thế nào”. Anh Cáp nhắc lại. Chúng tôi mới đoán: có lẽ trong lúc nghe tên Quốc dân đảng nói chuyện, anh đã nghe lầm tiếng sư lờ, sư lờ, nghĩa là phải, phải, ra tiếng xử lờ, xử lờ, nghĩa là chết rồi, chết rồi.

Chúng tôi phá lên cười vui sướng. Thế là làm mất mấy tháng trời buồn bã, đau đớn.

Vào khoảng tháng tám năm 1943, con đường Nam tiến đã thông, tôi lên đường về xuôi để gặp anh Ba tức là đồng chí Chu Văn Tấn.

Nhớ lại hơn một năm về trước, sau khi đi Nam tiến một thời gian thì nhận được tin anh Tấn đã từ Bắc-sơn đi bí mật ra biên giới rồi từ biên giới đã về đến cơ quan liên tỉnh Cao-Bắc-Lạng. Tôi trở về núi Lam-sơn gặp anh Tấn. Buổi họp mặt có cả anh Vũ Anh, anh Tống, anh Lạ. Theo quyết định của Đảng lúc bấy giờ, anh Tấn trở về Bắc-sơn theo đường Thất-khê, Đình-cả, để củng cố cơ sở ở dưới đó và từ Thái-nguyên tổ chức quần chúng mở con đường liên lạc với Cao-bằng. Còn tôi thì tiếp tục tổ chức con đường Nam tiến về xuôi. Chúng tôi cùng nhau phác ra mấy con đường có thể gặpnhau. Anh Tấn lại giới thiệu một số đồng chí cán bộ Bắc-sơn ở lại tham gia công tác Nam tiến: như đồng chí Khai Lạc đi cùng bộ phận anh Hoàng Văn Hoan, các đồng chí Hiền, Quyền, Thơ đi cùng bộ phận tôi phụ trách.

Trải qua một thời gian công tác khá dài, vượt qua biết bao khó khăn gian khổ, trên con đường Nam tiến về xuôi, từ tổng Kim-mã ở Cao-bằng đi qua Ngân-sơn, Phủ-thông, Chợ Rã cho đến Chợ Đồn thuộc tỉnh Bắc-cạn, đến giáp giới Chợ Chu thuộc tỉnh Thái-nguyên, quần chúng nhiều địa phương đã được tổ chức khá rộng rãi. Con đường Nam tiến đi qua nhiều triền núi và cánh đồng, qua các làng bản đồng bào Thổ, Mán Tiền, Mán Đỏ. Một nhánh đi từ Kim-mã qua Ngân-sơn, Hà-hiệu phía Chợ Rã rồi rẽ lên triền núi Phia bioóc ở phía tây Bắc-cạn, chạy xuống cánh đồng Đông-viên gần Chợ Đồn cho đến xã Nghĩa-tá gần Chợ Chu. Một nhánh khác từ Kim-mã đi qua tổng Hoàng Hoa Thám, theo các bản phía đông Ngân-sơn, xuống đến cánh đồng Phủ-thông, đi qua Đèo Giàng, rồi từ đó lại rẽ vào phía Chợ Đồn.

Tôi đi về xuôi theo con đường Phủ -thông, Chợ Đồn, đi đến đâu cũng thấy không khí chuẩn bị khởi nghĩa sôi nổi, tinh thần quần chúng lên cao. Đồng bào người Thổ cũng như người Mán rất tốt, đón tiếp cán bộ cách mạng với một nhiệt tình đặc biệt. Nhất là trên các bản người Mán ở dọc đỉnh núi Phia-bioóc, một vùng rẻo cao lúc nào cũng như lấm tấm mưa, dù dưới chân núi trời nắng. Đồng bào Mán đều tham gia Việt Minh, các chị phụ nữ cũng như các em nhi đồng đều thuộc lầu quyển Việt Minh Ngũ Tự Kinh tiếng Mán và nhiều bài ca cách mạng. Những khi có bọn phản động đến dò la, đồng bào hết sức che giấu cán bộ, có khi để ở ngay trong buồng riêng của vợ chồng hay nhưng nơi thờ mà là nhưng người trước đây đồng bào rất kiêng, không bao giờ để người lạ vào.

Đi khoảng mười lăm ngày thì đến giáp Chợ Chu, đi tiếp theo con đường núi dưới chân đồn Cóc, quá đồn Cóc một quãng đến địa điểm hẹn gặp nhau với anh Tấn. Chúng tôi gặp nhau ở một đám rẫy trong rừng sâu, mừng rỡ vô hạn. Chúng tôi triệu tập một số cán bộ Bắc-sơn đang hoạt động trong vùng và một số cán bộ Nam tiến về họp để cùng nhau trao đổi kinh nghiệm. Họp xong, tổ chức liên hoan kể chuyện; khuya lại rải lá cọ nằm ngủ ngay giữa rừng.

Anh Tấn cho biết tình hình phong trào ở Thái-nguyên và ở miền xuôi. Bấy giờ cơ sở của ta ở Bắc Sơn, Vũ Nhai đã được củng cố và phong trào đang mở rộng sang Chợ Chu, Đại-từ. Chính sách khủng bố của địch vẫn tiếp tục. Các đồng chí cán bộ Bắc-sơn hoạt động hết sức anh dũng, không quản khó khăn gian nguy, ra sức củng cố và mở rộng cơ sở quần chúng. Anh Tấn lại cho biết đã báo cáo về Trung ương và sẽ có đồng chí ở Trung ương lên gấp. Tôi ở lại đợi một thời gian, ngày nào cũng nghe nói đồng chí ở Trung ương sắp đến, nhưng vì bấy giờ địch đang khủng bố gắt gao, giao thông đi lại khó khăn, nên đợi mãi hai tuần lễ mà vẫn không thấy; tôi phải trở về Cao-bằng vì đã hẹn với trên đó như vậy, dự định củng cố thêm đường giao thông sau này sẽ trở xuống. Trong mấy ngày chờ đợi sốt ruột, tôi nằm trên lán viết tập “Kinh nghiệm Việt Minh ở Việt Bắc” để gửi về xuôi.

Tôi về đến Cao-bằng thì vừa Tết. Đúng hôm ba mươi, phần lớn cán bộ gần hai mươi đội vũ trang xung phong Nam tiến đều về tập trung để ăn mừng thắng lợi. Lá cờ thêu “Xung phong thắng lợi” của Tổng bộ Việt Minh và Đảng bộ Cao-Bắc-Lạng trao cho Đoàn cán bộ Nam tiến làm cho mọi người vô cùng phấn khởi.

Cũng vào lúc bấy giờ cuộc đại khủng bố của địch bắt đầu.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Bảy, 2010, 12:58:20 PM
KHỦNG BỐ TRẮNG Ở CAO-BẮC-LẠNG

Cũng cần nói rõ thêm:: trong những năm 1942 – 1943 phong trào Việt Minh ở Cao-Bắc-Lạng lên cao chưa từng thấy. Ở Cao-bằng trong chin châu huyện thì đã có ba châu “hoàn toàn” là Hà-quảng, Hòa-an và Nguyên-bình, ngoài ra cơ sở đã lan rộng đến tất các các châu khác. Ở Bắc-cạn, phong trào đã mở rộng trong bốn châu; còn ở Lạng-sơn thì đã phát triển đến Thất-khê. Phong trào ở các vùng Mán rất mạnh. Khu Thiện Thuật (Mán Trắng) và các khu Quang Trung (Mán Tiền) phát triển rầm rộ.

Lấy một thí dụ như châu Hà-quảng là một địa phương dân cư thưa thớt, đa số là đồng bào Nùng, theo con số châu ủy đã ghi lại, thì năm 1941, hội viên cứu quốc có 1.053 người, đến năm 1943 đã lên tới 3.096 người, trong đó có 1.049 quần chúng tring kiên và 235 tự vệ và tự vệ chiến đấu. Châu đã mở sáu lớp huấn luyện chính trị và ba lớp huấn luyện quân sự ngắn kỳ. Sang năm 1943 thì toàn thể nhân dân trong châu đều gia nhập các tổ chức cứu quốc, có 5.453 hội viên, trong đó có 2.250 phần tử trung kiên, 1.004 tự vệ thường và mười lăm đội tự vệ chiến đấu, châu đã mở lớp huấn luyện quân sự. Nhân dân còn lập ra mười trường văn hóa để thanh toán nạn mù chữ. Nhiều nơi các chị em phụ nữ thi đua trồng rau, trồng dâu nuôi tằm để lấy tiền ủng hộ cán bộ bí mật.

Về mặt quân sự khắp các địa phương có tổ chức trong liên tỉnh hầu hết thanh niên nam nữ đều tham gia tự vệ và tự vệ chiến đấu và đã trải qua luyện tập nhiều kỳ. Có thể nói: trong thời kỳ bí mật, vùng nông thôn Cao-Bắc-Lạng, đã thực hiện chủ trương tổ chức toàn dân, vũ trang toàn dân.

Trong thời gian từ 1942 đến 1943. Liên tỉnh ủy đã mở nhiều khóa đào tạo cán bộ quân sự. Nhiều cuộc duyệt binh, tập trận đã tổ chức. Như cuộc tập trận ở xã Hồng-việt tháng 7 năm 1943, nếu kể cả tự vệ, tự vệ chiến đấu, cán bộ Việt Minh xã và các hội viên trung kiên về dự thì con số người dự lên tới 1.000. Mục đích các cuộc duyệt binh và tập trận này là tạo điều kiện cho cán bộ học tập chỉ huy, tăng cường huấn luyện cho các đội tự vệ chiến đấu, đồng thời biểu dương lực lượng, gây tin tưởng trong quần chúng cách mạng, lôi kéo những phần tử lừng chừng, uy hiếp bọn phản động địa phương. Nhưng cách làm như vậy cũng dễ bộc lộ lực lượng, để lộ bí mật, gây ra khủng bố.

Việc tích trữ lương thực cũng được tiến hành tích cực. Các châu, huyện đều có kho thóc, kho ngô khởi nghĩa. Kế hoạch thực hiện vườn không nhà trống từng phần ở trong các thôn xóm được quần chúng tích cực chấp hành. Đồng bào thường đào những hầm bí mật ở trong rừng sâu, đốt củi nung đất cho thật khô rắn rồi lát gỗ và giải lên một lớp cót rồi để thóc lên trên; xong lại lát gỗ giải cót lần nữa rồi lấp đất. Việc mua sắm vũ khí cũng đã thành một cao trào. Gia đình nào cũng tìm mọi cách, kể cả bán thóc, bán trâu, để mua súng lậu của quân Tưởng bên kia biên giới. Các lò rèn sửa chữa súng kíp, súng hỏa mai, rèn gươm, dao, kiếm v.v… mọc lên ở nhiều nơi. Đồng bào nô nức quyên sắt, quyên đồng, lưỡi cày, chậu thau, mâm đồng, sắt vụn v.v…


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 15 Tháng Bảy, 2010, 01:20:43 PM
Bọn phát-xít Pháp, tay sai phát-xít Nhật, quyết định ra sức đàn áp phong trào, hòng tiêu diệt cuộc vũ trang khởi nghĩa từ trong trứng. Kế hoạch của chúng là vừa đàn áp tàn khốc vừa dụ dỗ lừa gạt, nhằm để phá cơ sở quần chúng, triệt đường tiếp tế lương thực của cán bộ bí mật, rồi sau đó dùng quân sự tấn công để tiêu diệt các cơ quan bí mật của Việt Minh.

Chính trong lúc địch tăng cường khủng bố thì tôi từ biệt anh Chu Văn Tấn, từ giáp giới Chợ Chu, Chợ Đồn trở về Cao-bằng.

Vừa đi được nửa đường qua gần tỉnh lỵ Cao-bằng thì đã thấy dấu hiệu khủng bố. Đến Nà-lùm, nghĩa là “Ruộng bỏ quên”, một làng hẻo lánh ở trên đỉnh núi Phia-biaoóc, tôi nhận được một lá thư của đồng chí Đức Xuân, báo cáo tình hình phong trào đang lên và đề nghị tôi xuống cánh đồng tham gia cuộc mít-tinh của đồng bào. Đồng chí Đức Xuân là đội trưởng Đội Tuyên truyền xung phong Nam tiến, một đồng chí rất tích cực, anh dũng, có tài làm dân ca và tuyên truyền giỏi. Tôi đang ở trên đường đi xuống cánh đồng, đi đến một bản ở chân núi thì bỗng được tin địch đã mang quân về khủng bố cơ sở gần Phủ-thông. Vì thiếu cảnh giác, đồng chí Đức Xuân đã bị chúng mai phục bắn chết trong khi đang khai hội, chúng đã chặt đầu, chặt hai tay đem bêu ở chợ.

Thế là con đường đó bị tắc. Quần chúng hoang mang.

Tôi quay trở lại đi theo đường rừng xuyên qua dãy núi Phia-bioóc về Cao-bằng. Như trên đã nói, về đến Kim-mã thì đúng vào Tết ta. Ở đây địch cũng đang tăng cường khủng bố. Chúng chú trọng nhất những vùng đã xảy ra các cuộc tập trận rầm rộ.

Cơ quan Liên tỉnh ủy đặt ở trong lũng Lam-sơn, bị bọn đế quốc đem quân bao vậy nhiều lần. Mỗi lần chúng kéo đến, ta chủ trương tạm lánh đi nơi khác, không vũ trang chống lại, có lần chúng đã nã súng cối vào địa điểm báo Việt Lập, nhưng chả có kết quả gì. Vả lại binh lính của chúng cũng nhát gan, nên mới thò vào rừng thì một chú thiếu niên của cơ quan đánh lừa thét lên “xung phong!”, thế là cả bọn ù té chạy.

Có địa phương, quân địch dùng cách dụ dỗ. Chúng ra tuyên cáo, yết thị, gọi dân đến, hiểu dụ phải yên ổn làm ăn, chớ theo Việt Minh làm loạn. Chúng dùng luận điệu lừa phỉnh bịp bợm, tuyên bố sẽ đảm bảo cho người “đi bí mật” được tự do về nhà, và mời các cán bộ bí mật ra làm việc cho “chính phủ”. Kết quả: chúng đã thất bại hoàn toàn. Hàng ngũ Việt Minh đã được chuẩn bị tinh thần từ trước, đã được giải thích sâu rộng về âm mưu của địch nên không hề chút nào nao núng.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 16 Tháng Bảy, 2010, 12:21:21 PM
Có địa phương, quân địch dùng cách dụ dỗ. Chúng ra tuyên cáo, yết thị, gọi dân đến, hiểu dụ phải yên ổn làm ăn, chớ theo Việt Minh làm loạn. Chúng dùng luận điệu lừa phỉnh bịp bợm, tuyên bố sẽ đảm bảo cho người “đi bí mật” được tự do về nhà, và mời các cán bộ bí mật ra làm việc cho “chính phủ”. Kết quả: chúng đã thất bại hoàn toàn. Hàng ngũ Việt Minh đã được chuẩn bị tinh thần từ trước, đã được giải thích sâu rộng về âm mưu của địch nên không hề chút nào nao núng.

Bọn đế quốc quay ra đàn áp. Chúng tăng cường lưới mật thám, lập đồn bốt bổ vây những nơi xung yếu và những nơi phong trào cách mạng lên cao. Chúng đặt thêm bang lá, tập trung thêm lính khố xanh, tổ chức các đội lưu động “gúp-phơ-răng” (groupesfrancs). Bọn chúng đi vây bắt cán bộ cách mệnh, bắt cả thân nhân; nhà nào có con em làm cán bộ hay tình nghi có liên quan tới cách mạnh là có thể bị đốt, tài sản bị tịch thu. Nhiều nơi các kho thóc bí mật bị khám phá, bị đốt sạch, nhiều làng mạc bị triệt hạ. Người nào bị bắt có tài liệu Việt Minh trong người lập tức bị đem đi bắn, chặt đầu, chặt chân tay, đem bêu ở tỉnh lẻ hay ở châu. Chúng lại treo giải thưởng rất hậu cho những kẻ lấy được đầu những người bí mật. Đầu cán bộ, cái nào rẻ cũng được treo giá một nghìn bạc với một tấn muối; có cái đến hai ba vạn bạc.

Rút kinh nghiệm khủng bố trắng ở Bắc-sơn, Vũ-nhai, chúng ra lệnh dồn làng. Làng nào dưới hai mươi nhà ở nơi hẻo lánh đều phải dỡ đi tập trung tại những địa điểm nhất định. Thế là không biết bao nhiêu làng mạc bị bỏ hoang, nhà cửa bị dỡ, rất nhiều nhà không kịp dọn bị chúng đốt luôn. Biết bao lần, chúng tôi ở trên núi, chính mắt trông thấy những đám cháy thê thảm do bọn đế quốc gây nên ở dưới cánh đồng, ở những làng đồng chí. Cảnh điêu tàn hoang vu lan tràn khắp Cao-Bắc-Lạng.

Khi đã bị dồn làng rồi, đời sống của đồng bào thật là muôn phần khổ cực. Chúng bắt mỗi làng lớn phải trồng ba lớp hàng rào tre và đêm lại phải canh gác, mỗi ngày phải điểm danh một lần. Cấm ngặt từ sáu giờ tối đến sáu giờ sáng không được ra khỏi cổng làng. Cấm tuyệt đối không được mang cơm gạo ra ngoài. Có những đồng bào chỉ vì mang một thúng thóc giống đi ngâm hay một bị gạo ra chợ mà đã bị bắt và bị bắn ngay tại chỗ.

Đế quốc lại cho tay sai chui vào hàng ngũ cách mạng gieo rắc mối hoài nghi giữa đồng chí. Không ngày nào là lính không kéo về bắn phá, cướp đốt ở các làng và bắt buộc dân chúng phải đi phu và làm tờ cam kết là không theo Việt Minh nữa.

Trước tình hình ấy, Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng , đã kịp thời quyết định phát động quần chúng đấu tranh chống khủng bố. Các chi bộ của Đảng, các ban Việt Minh xã đều tổ chức Ban xung phong chống khủng bố, gồm các đảng viên, các hội viên Cứu quốc trung kiên. Lại phải tăng cường đề phòng bọn phản động chui vào các tổ chức cứu quốc của ta.

Tinh thần chống khủng bố của dân chúng rất cao. Mỗi một lần có lính đế quốc về bắn phá là các đảng viên, các thanh niên nam nữ trung kiên chia nhau đi khắp nơi giải thích tuyên truyền để giữ vững tinh thần của đồng bào. Tuy vậy, trước những thủ đoạn tàn khốc của quân thù, cũng có nơi đâm ra nao núng. Có nơi quần chúng yêu cầu tạm nghỉ việc Hội; có nơi trong một xã, mà thanh niên nam nữ chạy vào rừng có đến 40, 50 người.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Bảy, 2010, 06:41:42 PM
Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng ra chỉ thị cho các cán bộ còn sống công khai phải tăng cường cảnh giác đề phòng, không được để địch bắt; cần phải “đi bí mật”, nghĩa là tối không được ngủ nhà, ban ngày đi đâu phải có tự vệ, phải tích trữ sẵn hai ba tháng lương, phải giữ liên lạc với các đồng chí phụ trách để lúc động thì rút lui vào bí mật. Số đồng chí bí mật tăng lên khá đông. Liên tỉnh ủy chủ trương dùng hình thức “tiểu tổ bí mật” để tổ chức các đồng chí đó lại, lam nòng cốt để giữ vững phong trào. Một tiểu tổ bí mật gồm các đồng chí bí mật trong một hay hai xã, phần nhiều là đảng viên, đã thoát ly gia đình trốn vào rừng núi. Mỗi tiểu tổ bí mật có một cơ quan, nghĩa là một cái “thiêng” (lán) bí mật nhỏ hơn cái lán ta đi chiến dịch vẫn làm, dưới lát vầu, trên lợp cỏ gianh hay lá chuối, làm ở trên đỉnh núi, trong ngàn sâu. Đường vào lán cơ quan chỗ tôi phải đi qua mấy thác nước cao, muốn lên không được đi theo đường bên cạnh mà phải leo vào chính giữa thác như vậy để khỏi lộ dấu vết, cho nên mỗi khi lên lám đều phải chịu ướt.

Tiểu tổ bí mật thường có 4, 5 người, có khi đến gần mười ngời, sinh hoạt theo một quy tắc nhất định, kỷ luật rất nghiêm, có thời gian làm công tác quần chúng, ngày học, tăng gia, độ ba, bốn giờ chiều thì ăn cơm sớm. Rồi tà tà là các “người bí mật” vượt rừng núi suối khe đi tới chỗ hẹn, theo một dấu hiệu bí mật, gặp các đảng viên hay những hội viên trung kiên ở dưới làng đã không quản nguy hiểm đến tính mệnh, lặn lội đem lương thực tới ủng hộ, báo cáo tình hình, bàn bạc công tác đấu tranh chống khủng bố ở từng làng xóm. Rồi khuya lại nằm ngủ một giấc nhè nhẹ trên bờ sông hay bên ruộng nếu trời tối. Tảng sáng là trở về cơ quan. Làm sao phải vào rừng trước lúc sương tan mới khỏi bị phê bình và không làm lụy đến địa phương. Đời sống gian khổ, tinh thần gan góc, bền bỉ bám lấy cơ sở, bám lấy quần chúng của các cán bộ bí mật đã truyền sức mạnh đấu tranh cho quần chúng cách mạng.

Đế quốc cảm thấy rằng có sợi dây mật thiết giữa Đảng và quần chúng, giữa “tiểu tổ bí mật” và các thôn xóm. Chúng càng khủng bố ráo riết, đóng đồn trại khắp nơi, bao vây những dãy núi hiểm yếu rồi đẩy dân làng đi trước, chúng đi sau. Thế là “sáo động”, nghĩa là lùng rừng săn cách mệnh. Hoặc là, buổi tối, chúng chia nhau đi phục kích các miệng suối, hoặc tảng rạng cho bọn do thám người Mán đi dò vết sương để theo dõi sào huyệt của những người bí mật. Chúng sẽ đem quân đến bao vây tiêu diệu. Có khi gặp những ngày nắng hè, chúng đốt cháy từng khu rừng một, những khu rừng bị tình nghi. Có lần chúng tôi đã thoát khỏi bị chết thiêu vì đã tìm được một chỗ ẩn nấp bên cạnh một con suối. Nhiều cơ quan của tiểu tổ bí mật luôn luôn bị vây. Một lần tôi, đồng chí Hoàng Sâm cùng hai cán bộ địa phương bị vây ba ngày liền trên một đỉnh núi ở tổng Hoàng Hoa Thám. Chúng tôi phải dùng ống nứa và chặt dây rừng lấy nước mà thổi cơm. Tuy vậy chúng tôi còn may mắn hơn biết bao đồng chí thân yêu khác đã bị đế quốc bắn chết trong thời kỳ đại khủng bố này. Và mỗi lần chúng tìm ra một cơ quan bí mật là các làng lân cân bị triệt hại. Ở tổng Hoàng Hoa Thám là nơi phong trào rất cao, hai phần ba dân chúng đều bỏ làng chạy vào rừng.

Phong trào quần chúng tạm thời bị thu hẹp. Đồng bào vẫn tốt, nhưng vì khủng khiếp nên nói: đến ngày khởi nghĩa sẽ đứng dậy giết quân thù, những trước ngày khởi nghĩa, gặp một đồng chí bí mật là cả làng bị đốt, thì không dám. Nhưng nếu cơ sở quần chúng không giữ vững được thì khởi nghĩa thế nào được.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 18 Tháng Bảy, 2010, 07:11:39 PM
Cho nên nhất định phải giữ vững cơ sở quần chúng. Chúng tôi giải thích cho các chi bộ và toàn thể cán bộ hiểu như vậy. Dù khó khăn đến đâu, đảng viên và cán bộ cũng vẫn phải bám lấy quần chúng. Khủng bố của địch cũng là một dịp để chọn lọc các phần tử trung kiên.

Sau mỗi cuộc hội nghị, là cán bộ các tổ bí mật lại chia nhau đi các địa phương, mỗi người một túi lương khô đi đón đồng bào hoặc trên đường đi chợ, hoặc ngoài ruộng rẫy, để bắt liên lạc, cho đồng bào biết tình hình Liên-xô và Đồng minh đã thắng, phong trào dưới xuôi lên cao, khủng bố quyết không thắng lợi được cách mệnh, đặt kế hoạch cho đồng bào tiếp tục việc Hội. Rồi đến kỳ khai hội sau, ai nấy đều họp điểm mặt: rất có thể thiếu mặt một vài đồng chí hay nhiều hơn nữa. Thường thường đến hẹn mà không về là đã bị hy sinh trong lúc đi công tác. Về mặt sinh hoạt vật chất, có vùng mấy tháng liền chỉ ăn bắp thay gạo xay, có vùng phải đào củ để ăn thay cơm. Cơ quan chỗ tôi suốt mấy tháng ăn cơm với nõn chuối rừng, cho nước muối vào nấu cho hết chất nước nhựa đen rất chát rồi ăn, nhưng vẫn xót ruột lắm. Vì ăn uống như vậy nên có khi không leo núi được nữa, chân cú rủn ra. Mãi đến khi phong trào lên mới có một tí mỡ. Thế mà với ngọn lửa tin tưởng, với chí hy sinh, ai nấy đều sẵn sàng tiến tới, vẫn kiên quyết, vẫn vui.

Do vũ trang tiến công của đế quốc, cơ sở cách mạng tuy phạm vi bị thu hẹp nhưng càng rắn chắc thêm. Qua một thời gian ở nhiều địa phương phong trào đã lên trở lại và tiến dần lên đấu tranh vũ trang. Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng ra chỉ thị cho các tiểu tổ bí mật phải thực hiện quân sự hóa nghĩa là phải có súng có đạn, phải tăng cường luyện tập quân sự, sinh hoạt quân sự phải tiến hành song song với sinh hoạt chính trị; và phải thực hiện du kích hóa nghĩa là phải hết sức gọn gang, bao giờ cũng phải chuẩn bị sẵn sàng, có lệnh là lập tức gói mang vai, có thể đi ngay nơi khác.

Các châu tổ chức ra những đội vũ trang hoàn toàn thoát ly, thường thường từ bảy đến mười hai người, nơi nào có điều kiện thì tổ chức đến trung đội. Các đội vũ trang địa phương này thường sống tập trung làm nhiệm vụ võ trang tuyên truyền, tiêu diệt bọn phản động đầu sỏ, hoặc phục kích các đội tuần tiễu nhỏ của giặc nhằm thực hiện chủ trương làm chủ núi rừng. Song phạm vi hoạt động phải ở xa quần chúng để tránh khỏi bị khủng bố trả thù, do đó cung bị hạn chế. Thí dụ việc theo dõi để hạ thủ tên Việt gian Tổng đoàn Kim-mã, anh em cũng làm chật vật. Chọn được địa điểm phục kích tốt, ở xa cơ sở, thì nó lại không đi tới. May đâu một bữa nó đi chợ, đội vũ trang liền theo dõi rồi bắn chết. Chị em phụ nữ đi chợ hôm đó về đều bàn tán: chính Hội bắn nó đấy! Bọn Việt gian khác sau đó cũng nhụt đi. Nhưng một thời gian chúng lại hoạt động ráo riết.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Bảy, 2010, 06:45:58 PM
Trước khủng bố của địch, con đường Nam tiến bị đứt ở nhiều nơi. Chúng tôi liên tiếp phái các tổ xung phong công tác đi giúp quần chúng chống khủng bố và giữ vững cơ sở, nhưng cũng chỉ đánh thông được từng quãng. Vào đầu năm 1941, việc liên lạc với xuôi đã trở nên hết sức cấp thiết. Theo quyết định của Đảng, chúng tôi bèn tập trung một số đội vũ trang địa phương tổ chức thành trung đội Nam tiến, đặt kế hoạch đi theo đường rừng hết sức bí mật, nhằm liên lạc với các cơ sở quần chúng ở chân núi Phia-bioóc. Trên đường đi, nhiều làng mạc bị đốt phá. Tại các làng bản tập trung, địch canh gác rất nghiêm ngặt. Trung đội Nam tiến xuất phát từ Kim-mã đi về phía Nam, ban đêm thì đi, ban ngày thì nghỉ, đến chiều xẩm tối lại đi. Tôi nhớ những đêm mưa ngàn tầm tã, đường rừng biến thành suối, ai nấy đều ướt sạch, đi mãi mới đến một hang núi, dừng lại ẩn nấp, đốt lửa hơ áo cho khô, rồi lại đi. Đi mãi đến bảy, tám giờ sáng lại tìm chỗ kín, giải lá giữa rừng mà ngủ. Có khi đi liền hai ba đêm mới tới một bản có cơ sở, có đêm phải đi qua những bản do bọn phản động khống chế, đường thì độc đạo, phải qua gần điếm canh của bọn chúng, nên chân giẫm xuống bùn hay tay chống gậy cũng phải hết sức cẩn thận, tuyệt đối không có tiếng động.

Chúng tôi đi tám chín ngày thì qua khỏi Chợ Rã, đến địa điểm đã định ở chân núi Phia-bioóc, cùng đi với đội vũ trang, có một số cán bộ mang theo một phiến đá in và giấy mực, dự định đến nơi, sau khi liên lạc được với cơ sở, củng cố vùng này, thì sẽ đặt cơ quan và ra báo. Đến nơi, tuy mệt nhưng ai cũng thấy mừng, nên đáng lẽ như mọi hôm, thì đi ngủ ngay, nhưng hôm đó anh  em có đẵn cây làm lán xong xuôi mới nghỉ. Trong khi đó, tôi cử đồng chí Thanh Quang, một đồng chí cán bộ quê ở Chợ Rã đi bắt liên lạc với các cơ sở tốt trong địa phương. Chiều lại, đồng chí về, cho biết vừa mới đây ở các làng lân cận, cơ sở đều bị phá vỡ, nhiều nhà đồng chí vừa bị đốt sạch. Gặp đồng bào hỏi thì mới biết chính lúc đó địch đang khủng bố, lính đang về lùng. Thế là chúng tôi chia nhau canh gác các ngả đường, ngủ một giấc cho lại sức, rồi lại lên đường trở về Cao-bằng. Vì lương thực chỉ chuẩn bị cho chuyến đi nên trên đường về phải ăn cháo. Lần đó về, tất cả anh em đều ốm nặng.

Cuộc đại khủng bố tuy có gây nhiều khó khăn cho ta, nhưng cũng đem lại kết quả rèn luyện cho các cán bộ và quần chúng một tinh thần hy sinh dũng cảm rất cao. Tinh thần đó là một điều kiện tất yếu để tiến lên vũ trang khởi nghĩa.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 21 Tháng Bảy, 2010, 07:10:50 PM
TIẾN LÊN ĐẤU TRANH VŨ TRANG

Đến tháng 6-1944, khủng bố trắng tàn khốc của phát-xít Pháp lên đến cực điểm. Ngày ngày, căm hờn tiếng súng khủng bố điên cuồng của giặc Pháp, nhân dân càng nóng lòng mong đợi tiếng súng của cách mạng Cao - Bắc – Lạng như một lò thuốc súng sắp bùng nổ.

Trong khi đó tình hình thế giới đã chuyển dần đến bước đại bại của chủ nghĩa phát-xít. Bên Âu châu, sau trận Sta-lin-gơ-rát và cuộc đại phản công của Liên-xô, mặt trận thứ hai đã mở. Ỏ Thái-bình-dương, phát-xít Nhật cũng đã bắt đầu bị nguy khốn, mất dần một số căn cứ quan trọng ở ngoại vi hải phận Nhật-bản.

Đầu tháng 7-1944, chính phủ phát-xít Pháp do Pê-tanh cầm đầu sụp đổ. Đờ-gôn thao sau quân Anh Mỹ trở về Pháp lập chính phủ mới. Tình hình đó lại làm cho mâu thuẫn giữa phát-xít Nhật và phát-xít Pháp ngày càng sâu sắc hơn. Một cuộc đảo chính để tiêu diệt thế lực của Pháp không thể tránh khỏi.

Phong trào cách mạng ở trong nước đang lan rộng. Tổ chức Việt Minh ngày càng bành trướng. Nhân dân thấy rõ thế nào cũng có và phải có một cuộc thay đổi.

Trước tình hình ấy, Liên tỉnh ủy Cao – Bắc – Lạng triệu tập một cuộc hội nghị cán bố vào khoảng cuối tháng 7-1944 để thảo luận vấn đề vũ trang khơi nghĩa. Cán bộ phụ trách các địa phương đều về họp. Điểm lại các mặt quen thuộc, thấy rằng sự nỗ lực của đế quốc không có kết quả bao nhiêu: các cán bộ lãnh đạo của ta đều bảo toàn được.

Hội nghị họp trong một hang núi cao rộng, xung quanh là rừng đại ngàn. Hội trường bố trí chu đáo, có cổng chào, có cột quốc kỳ, có mấy dãy bàn cho đại biểu dự họp, có nơi ăn, nơi ngủ. Xung quanh, trên các ngả đèo, đã bố trí canh phòng ba lớp; ngoài các đồng chí Mán địa phương ra, các đội vũ trang của các châu đã được điều động về để bảo vệ hội nghị. Sau bao nhiêu tháng chống chọi với địch, vào sinh ra tử, nay được họp mặt để bàn một số vấn đề ai cũng mơ ước, sự hân hoan thực là không bờ bến. Trong niềm hân hoan đó, có lẫn một chút tự hào, tự hào cho nhân dân, tự hào cho Đảng: rõ ràng khủng bố không bao giờ thắng được cánh mạng.

Bản báo cáo chính trị đọc trong hội nghị đi đến kết luận: “Căn cứ vào tình hình thế giới, tình hình trong nước, tình hình phong trào Cao – Bắc – Lạng, điều kiện đã chín mùi để phát động du kích chiến tranh trong liên tỉnh”.

Cuộc thảo luận đi tới nghị quyết khởi nghĩa rất nhanh vì nó phù hợp với tình hình đang bị kích thích, căng thẳng trước cuộc khủng bố trắng tàn khốc của giặc. Toàn thể đại biểu hoan hô nghị quyết khởi nghĩa. Một đại biểu Nùng, thốt ra lòng khao khát như sau: “Con đói sữa đã bao lâu rồi. Bây giờ mẹ mới cho con bú! Phen này nhất quyết tiêu diệt quân thù”. Mẹ tức là Đảng, Đoàn thể. Sự yêu quý hâm mộ Đảng thật là vô cùng tận.

Ngay hôm sau, hội nghị thảo luận về nội dung của danh từ khởi nghĩa và quyết định dùng danh từ phát động du kích chiến tranh thay vào để trành mọi nhận thức sai lầm trong cán bộ và quần chúng. Hạn trong một thời gian phải tích cực làm xong mọi công tác chuẩn bị.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Bảy, 2010, 06:34:47 PM
Các địa phương phải theo kế hoạch của Liên tỉnh ủy mà huấn luyện lại một lần nữa các đội trưởng và chính trị viên cho đủ số dự định. Ngoài số đội trưởng và chính trị viên hiện đã ở trong hàng ngũ các đội vũ trang, còn phải huấn luyện một số đội trưởng và chính trị viên hậu bị: toàn thể các đồng chí bí mật nam nữ khỏe mạnh đều bắt buộc phải tham gia lớp huấn luyện đội trưởng và chính trị viên. Liên tỉnh ủy phụ trách mở lớp huấn luyện cho các trung và đại đội trưởng.

Chúng tôi lại cấp tốc mở thêm những lớp huấn luyện cán bộ hậu phương, chọn trong mỗi một xã từ ba đến năm người trung kiên và có uy tín, huấn luyện công tác hậu phương kháng Nhật và công tác chính quyền cho họ, để đến lúc phát động họ sẽ thành lập chính quyền nhân dân lâm thời.

Các địa phương phải theo kế hoạch của Liên tỉnh ủy mà động viên đội viên các đội tự vệ chiến đấu tham gia vào bộ đội du kích. Các đội viên ấy chia ra làm hai bộ phận: một bộ phận tham gia ngay lúc phát động, một bộ phận làm hậu bị. Tất cả đều ghép sẵn thành tiểu đội, trung đội và được tăng cường luyện tập, chuẩn bị sẵn sàng vũ khí và lương thực.

Phải gấp rút mua và chế tạo thêm vũ khí, nhất là lựu đạn. Mỗi khẩu súng kíp phải sẵn sàng 150 liều đạn. Lương thực tích trữ đủ sáu tháng, một phần làm thành lương khô, đủ ăn từ mùa lúa năm nay đến mùa ngô năm sau.

Các châu ủy và huyện ủy phải chỉnh đốn lại các đường giao thông bí mật, chỉnh đốn các ban trinh sát và huấn luyện tình báo phổ thông cho nhân dân.

Về việc vườn không nhà trống thì quần chúng đã được giáo dục từ trước, nhiều nơi đã có kinh nghiệm, đã có cách giấu thóc dưới hầm. Chỉ còn chỉnh đốn lại các bản vườn không nhà trống của các xã và các tổng và căn cứ vào bản kê khai của các xã về người và của mà chuẩn bị trước kế hoạch vườn không nhà trống cho triệt để và chu đáo hơn. Trong việc tản cư, phải chú ý một nguyên tắc là: trong lúc tản cư, nhân dân phải ở trong khuôn khổ tổ chức để có điều kiện mà tham gia sản xuất và ủng hộ mặt trận.

Để đẩy phong trào đi tới và chuẩn bị phát động du kích, các đội vũ trang được lệnh đánh lui các cuộc tấn công của địch, thực hiện nghị quyết làm chủ các vùng rừng núi.

Để đôn đốc công việc chuẩn bị, thu thập tài liệu về địch tình và nghiên cứu kế hoạch phát động, một Ủy ban quân sự liên tỉnh được thành lập.

Cán bộ đảng viên có bao nhiều sức lực đều trút cả vào công việc chuẩn bị. Một quang cảnh tấp nập rộn rịp nhưng im lặng của sự hoạt động bí mật. Tinh thần quần chúng cũng bùng mạnh lên. Vụ quyên thóc du kích có nhiều nơi vượt quá mức quy định. Có bà cụ bán phấn lớn gia sản để mua súng cho con gái và con giai. Ở nhiều châu huyện các bậc lão thành biểu quyết ra lệnh cho toàn thể thanh niên nam nữ phải tòng quân lúc đoàn thể kêu gọi. Nhân dân sống trong hy vọng và hồi hộp của giờ phút khởi nghĩa. Theo chỉ thị của cấp trên, khắp nơi, cán bộ họp mít-tinh giải thích cho nhân dân rõ phát động chưa phải là thành công ngay, mà còn phải phấn đấu, còn phải hy sinh, lắm khi lại thất bại tạm thời và cục bộ. Cho nên đời sống của nhân dân sau khi phát động còn chịu đựng nhiều hy sinh gian khổ. Công việc giải thích ấy làm khá chu đáo.

Tháng 9.

Mùa gặt sắp xong.

Kế hoạch chuẩn bị đã thực hiện được một phần lớn. Tiếng súng vũ trang hành động đã nổ ở nhiều nơi. Tất cả đang ở trong tình trạng căng thẳng và chờ đợi…


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 22 Tháng Bảy, 2010, 11:48:47 PM
ĐỘI TUYÊN TRUYỀN VIỆT NAM GIẢI PHÓNG QUÂN

Trước tình hình đó, Liên tỉnh ủy mở một cuộc hội nghị cuối cùng để quyết định ngày giờ phát động chiến tranh du kích. Thì vừa được tin Bác ở Trung-quốc sau khi thoát khỏi ngục tù của bọn Tưởng, đang trên đường về nước. Bác về đến Pắc-bó, nghe báo báo về tình hình phong trào và nghị quyết phát động du kích chiến tranh. Bác họp các đồng chí phụ trách phân tách tình hình, phê phán nghị quyết đó mới chỉ căn cứ vào tình hình Cao – Bắc – Lạng mà chưa căn cứ vào tình hình toàn quốc tức là chỉ thấy bộ phận không thấy toàn thể. Trong điều kiện bấy giờ, nếu phát động du kích theo quy mô và phương thức mà Ban liên tỉnh đã quyết định thì tất nhiên sẽ gặp nhiều khó khăn. Các địa phương khác trong nước chưa nơi nào có điều kiện sẵn sàng hưởng ứng cả; đế quốc sẽ tập trung lực lượng để đối phó với ta. Về quân sự, nghị quyết đã không thực hiện được nguyên tắc tập trung lực lượng; cán bộ, vũ khí đều phân tán, thiếu hẳn một lực lượng nòng cốt.

Bác nhận định rằng: bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa đến. Nếu chúng ta chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy mạnh phong trào đi tới. Nhưng nếu phát động khơi nghĩa ngay thì sẽ bị quân địch làm nguy khốn. Cuộc đấu tranh phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Cho nên cần phải tìm một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên.

Cũng trong buổi họp cán bộ ấy, Bác đề ra chủ trương thành lập Đội Quân Giải Phóng. Đội quân ấy lúc đầu còn bé nhỏ nên lấy tên là Đội tuyên truyền Việt-nam Giải phóng quân; nó có nhiệm vụ dùng vũ trang đấu tranh để động viên và kêu gọi nhân dân đứng dậy, nhưng lúc đầu, phương châm hoạt động còn trọng chính trị hơn quân sự, tuyên truyền quan trọng hơn tác chiến.

Sau khi nghe Bác phân tích tình hình và đề ra chủ trương mới, cán bộ đều thấy rất thông suốt và hoan nghênh.

Thế là Đội Tuyên truyền Việt-nam Giải phóng quân ra đời.

Sau khi đã giải quyết vấn đề nguyên tắc, vẫn theo lối làm việc chu đáo của Bác, Bác còn hướng dẫn cho tôi làm kế hoạch cụ thể: tổ chức đội thế nào? Bao nhiêu người? lấy ở đâu? Bao nhiêu súng? Lương thực thế nào? Liên lạc với địa phương thế nào?

Dự thảo kế hoạch trong một hôm, đêm lại còn trao đổi ý kiến, mãi đến khuya  Bác mới đắn đo, sáng hôm sau thì đưa ra tập thể bàn thêm.

Để phát động phong trào đấu tranh vũ trang theo phương châm mới này, Bác nhấn mạnh hai điểm: phải hành động kiên quyết và nhanh chóng, một tháng sau khi thành lập phải có thành tích chiến đấu, và cuộc chiến đấu đầu tiên phải thắng lợi; trong hoạt động, phải chú ý xây dựng quan hệ tốt giữa bộ đội chủ lực với các đội địa phương, giữa bộ đội và nhân dân, và bao giờ cũng luôn luôn giữ vững liên lạc với cơ quan lãnh đạo.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Bảy, 2010, 12:33:27 AM
Ngoài ra, Bác hết sức chú trọng đến vấn đề bí mật. Lúc sắp lên đường, Bác còn dặn: không chủ quan, không bộc lộ lực lượng, cần phải giữ bí mật, bí mật hơn nữa, bí mật hoàn toàn. Giấu hẳn lực lượng của ta; ta ở đông, địch tưởng là ở tây; ta mạnh, địch tưởng ta yếu; ta sắp hành động; địch không ngờ gì hết.

Trên đây, tôi đã kể lại phong trào đấu tranh cách mạng và công việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa ở Cao – Bắc – Lạng cho đến ngày thành lập đội Tuyên truyền Việt-nam Giải phóng quân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, lại được sự lãnh đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch, nhân dân Cao – Bắc – Lạng đã đấu tranh anh dũng biết bao, các chi bộ và đảng viên, các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu, các tổ bí mật, các tổ xung phong vũ trang, các tiểu đội và trung đội vũ trang địa phương đã phấn đấu gian khổ biết bao, biết bao đồng chí ưu tú đã hy sinh oanh liệt. Địch càng khủng bố, phong trào càng được rèn luyện, có khi bị thu hẹp, nhưng rồi lại lên cao. Tất cả những điều đó chứng tỏ không phải ngẫu nhiên mà Đội Tuyên truyền Việt-nam Giải phóng quân sinh ra trong miền rừng núi Cao – Bắc – Lạng. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà Đội quân ấy “lúc đầu còn bé nhỏ nhưng tiền đồ rất rộng lớn”. Sức mạnh của nó cũng như nói chung sức mạnh của quân đội ta, chính ở trong sức mạnh đoàn kết đấu tranh rất to lớn của quần chúng nhân dân. Trên đây chính là những điều mà tôi muốn kể lại với các đồng chí nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng. Chỉ tiếc kể lại vẫn không đầy đủ, vì trong hoàn cảnh hoạt động bí mật lúc bấy giờ tôi chỉ biết rõ tình tình những địa phương tôi làm công tác. Từ khi Đội Tuyên truyền Giải phóng quân thành lập, về sau, phong trào vũ trang ở Cao – Bắc – Lạng đã phát triển như thế nào, các đồng chí đều biết rồi. Tôi chỉ nói thêm một vài nét vắn tắt.

Nhận chỉ thị mới, chúng tôi từ Pắc-bó trở về Liên tỉnh ủy, lòng hết sức phấn khởi và tin tưởng. Chỉ thị được chấp hành hết sức tích cực. Cán bộ và vũ khí đều được điều động ngay về. Ba mươi tư đồng chí đầu tiên tham gia thành lập đội, chính là những trung đội trưởng, tiểu đội trưởng hay những chiến sĩ xuất sắc rất dũng cảm của các đội vũ trang địa phương hay đội tự vệ chiến đấu. Lại thêm một số cán bộ vừa đi học quân sự ở Trung-quốc mới về. Bấy giờ ở Cao – Bắc – Lạng, đã hình thành ba thứ lực lượng vũ trang: Đội Tuyên truyền là đội chủ lực, chung quanh nó có những đội vũ trang của địa phương, rồi đến những đội tự vệ nửa vũ trang, - mặc dầu tất cả còn ở trình độ du kích, ba lực lượng ấy đoàn kết phối hợp chặt chẽ với nhau. Tôi nhớ rất kỹ điều đó, vì đối với tôi, đó là một điều rất mới mẻ, ấn tượng sâu sắc.

Một hôm trước ngày thành lập của Đội, tôi nhận được bức thư chỉ thị của Bác viết trên mảnh giấy con, gói trong bao thuốc lá. Và hai ngày sau, theo đúng chỉ thị, Đội Tuyên truyền đã lập được hai chiến công đầu tiên: chiến thắng Phay-khắt và Nà-ngần. Báo Việt Lập đăng luôn thông cáo chiến thắng đầu tiên. Đồng thời, Liên tỉnh ủy kêu gọi nhân dân mở rộng phong trào ủng hộ bộ đội về mọi mặt. Ảnh hưởng của Đội lan rất nhanh. Nhân dân hết sức phấn khởi. Những phần tử lừng chừng ngả theo cách mạng. Bọn Việt gian tỏ ra sợ hãi, địch đi lùng cũng dè dặt hơn. Nhiều cơ sở được khôi phục và mở rộng nhanh chóng. Phong trào lên mạnh. Nhân dân ủng hộ bộ đội lương thực rất nhiều, quà bánh từng gánh, có nơi ủng hộ cả trâu, bò, lợn, nào thơ TT, nào gạo TT, nào quỹ ủng hộ TT để mua vũ khí (TT là bí danh viết tắt của Đội). Trong thanh niên, xuất hiện phong trào rầm rộ tham gia Đội quân giải phóng, yêu cầu “đi Giải phóng”.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Bảy, 2010, 11:55:12 AM
Từ Phay-khắt, Nà-ngần, Đội Tuyên truyền Giải phóng quân tiến thằng về khu Thiện Thuật để phát triển thành các đại đội. Các chiến sĩ bổ sung chọn trong các đội vũ trang địa phương được tập trung rất nhanh. Nhiều nơi các đội vũ trang đó đang phát triển thành trung đội. Số súng cướp được của địch một phần đem phân phối cho các đội địa phương. Anh em rất thích. Độ ấy, được trang bị thêm hai, ba khấu súng khai hậu hay giáp năm cũng đã làm cho anh em rất phấn khởi. Các địa phương nỗ lực chuẩn bị công tác chiến trường và yêu cầu chủ lực về đánh địch.

Sau  khi đã phát triển thành đại đội, chúng tôi để lại một bộ phận làm võ trang tuyên truyền ở Kim-mã, Tĩnh-túc, và núi Phi-a-uắc, còn đại bộ phận kéo lên hoạt động ở vùng Đồng Mu Bảo-lạc, giáp biên giới Trung – Việt để đánh lạc hướng quân địch, rồi bí mật kéo về giáp giới Cao-bằng, Bắc-cạn. Dự định thừa cơ phong trào lên sẽ tiến về phía Nam. Dọc đường từ biên giới về, nhân dân đón tiếp hết sức nồng nhiệt. Có nhiều nơi cách đồn địch chỉ hai ba cây số, đồng bào ngang nhiên đốt đuốc đi đón bộ đội. Bấy giờ đã gần Tết; có nơi thanh niên nam nữ dọn bàn ghế cạnh đường bày cỗ, đợi bộ đội suốt đêm để khao quân. Lúc về đến tổng Hoàng Hoa Thám, chúng tôi thấy nhân dân đã chuẩn bị đầy đủ để đón bộ đội, đã cất nhà lá ở trong rừng có thể trú được cả đại đội, lại có cả bãi tập và nhiều lương thực bánh trái. Đồng bào sinh hoạt rất nghèo khổ, thế mà lại hết sức ủng hộ quân đội cách mạng không tiếc một thứ gì. Trong ba ngày Tết, nhiều anh chị em thanh niên, nhiều cụ phụ lão bỏ nhà lên ăn Tết với bộ đội. Ngẫm lại không biết lấy gì để đền đáp công ơn của nhân dân.

Chính lúc đó, các đường liên lạc về Thái-nguyên bị khủng bố bị đứt quãng đã được các tổ chức xung phong nối lại. Chúng tôi chuẩn bị gấp rút để xuất phát về Nam. Anh Tống và anh Vũ Anh vào đến tận khu  rừng Trần Hưng Đạo để thăm bộ đội và bàn kế hoạch Nam tiến. Hai anh vừa chia tay trở ra thì cuộc đảo chính 9-3 nổ ra. Tình hình biến chuyển càng thuận lợi. Đội Tuyên truyền Việt-nam Giải phóng quân từ trong rừng sâu ban ngày kéo quân xuống cánh đồng Kim-mã, cờ đỏ sao vàng đã được nêu cao khắp các bản làng, đồng bào mừng rỡ khôn xiết. Tôi nhớ mãi quang cảnh ngày hôm đó. Vòm trời xanh biếc cao lồng lộng. Người và cây cỏ đều tươi sáng hẳn lên. Hương vị đầu tiên của đất nước độc lập tràn ngập tâm hồn của mọi người.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 23 Tháng Bảy, 2010, 12:20:02 PM
Ở Cao – Bắc – Lạng, cơ quan lãnh đạo của Đảng đã kịp thời ra chỉ thị thành lập chính quyền nhân dân ở nông thôn, phát động chiến tranh du kích, mở rộng bộ đội. Ngay sau khi Nhật đảo chính, khoang mười lăm đến hai mươi đại đội mới của Giải phóng quân liên tiếp được thành lập ở Sóc-giang, Cao-bằng, Bảo-lạc, Nguyên-binh, Thất-khê. Đâu đâu cũng có những cuộc tuyển binh sĩ mở rộng Giải phóng quân, ở gần Nước-hai, trong cuộc tuyển binh, có đến ba nghìn thanh niên tình nguyện tòng quân. Nông thôn Cao – Bắc – Lạng đã biến thành một địa phương giải phóng.

Chính trong lúc ấy, tại trung tâm Bắc-sơn, Vũ-nhai, ở mạn Thái-nguyên, Tuyên-quang, Cứu quốc quân cũng nổi dậy đánh du kích, thành lập chính quyền cách mạng mở rộng lực lượng vũ trang. Chẳng bao lâu, các đơn vị của Cứu quốc quân và của Giải phóng quân gặp nhau. Rồi hội nghị quân sự Bắc-kỳ họp ở Hiệp-hòa quyết định thống nhất các lực lượng võ trang cách mạng lấy tên là Việt-nam Giải phóng quân. Rồi khu Giải phóng được thành lập gồm các tỉnh Cao-bằng, Bắc-cạn, Lạng-sơn, Hà-giang, Thái-nguyên, Tuyên-quang và một phần tỉnh Bắc-giang, Vĩnh-yên.

Tình hình biến chuyển mau lẹ. Phong trào kháng Nhật cứu nước dâng lên cuồn cuộn. Rồi Hội nghị toàn quốc của Đảng, và Đại hội đại biểu toàn quốc họp ở Tân-trào. Rồi Nhật đầu hàng, Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Nước Việt-nam Dân Chủ Cộng-hòa ra đời.

Nhìn lại quá trình hình thành các đơn vị tiền thân của quân đội ta, từ các đội Cứu quốc quân, Việt-nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đội du kích Ba-tơ, và cho đến ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám, trong khi hàng triệu quần chúng đứng dậy cướp chính quyền, biết bao nhiêu đơn vị Giải phóng quân từ Nam chí Bắc đã xuất hiện từ trong quần chúng, từ các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu của nhân dân, rõ ràng quân đội đã sinh ra và lên lên trong phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ những ngày đầu, nó đã được Đảng lãnh đạo, được nhân dân nuôi dưỡng, ủng hộ. Và cũng chính vì vậy mà nó đã trưởng thành nhanh chóng, đã lập nên những sự tích anh hùng trong kháng chiến, góp phần cống hiến to lớn vào sự nghiệp giải phóng vĩ đại của dân tộc. Chính vì vậy mà trong khi Cách mạng chuyển sang giai đoạn mới, quân đội ta nhất định làm tròn nhiệm vụ vẻ vang của nó: bảo vệ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà, góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới.

Có thể nói rằng: có nhân dân, có Đảng, có Hồ Chủ tịch thì mới có quân đội nhân dân ngày nay. Quân đội ta là một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Đồng chí VÕ NGUYÊN GIÁP kể
Trần Cư ghi


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Bảy, 2010, 06:11:53 PM
NHÂN DÂN TA RẤT ANH HÙNG

I

Nhắc lại chuyện ngày xưa, tôi lại nhớ đến cả một thời nô lệ, tất cả bao nỗi cay đắng, nhục nhằn của một người dân mất nước, mối thâm thù quân cướp nước.

Đối với lớp người chúng tôi, tiếng bom của Phạm Hồng Thái đã có ảnh hưởng rất mạnh.

Chúng tôi đang học ở trường Kỹ nghệ thực hành Hải-phòng thì toàn quyền Méc-lanh đi sang Nhật. Khi hắn qua Hải-phòng có vào trường chúng tôi, bắt đón tiếp linh đình lắm, bày ra rất nhiều lính tráng, súng ống, phô trương lực lượng để uy hiếp tinh thần thanh niên ta. Méc-lanh ở Nhật trở về, qua Quảng-châu thì xảy ra vụ anh Phạm Hồng Thái ném bom, suýt giết chết. Được tin, học sinh chúng tôi sôi lên, tấm tắc bảo nhau:

- Nó mạnh như thế mà anh Phạm Hồng Thái dám hạ thủ! Giỏi, anh hùng thật!

Rồi đến năm sau, cụ Phan Bội Châu bị bắt giải về nước và bị thực dân Pháp kết án tử hình. Méc-lanh về Pháp, Va-ren sang thay. Cữ ấy vào tháng bảy dương lịch, từ trên Hà-nội có liên lạc xuống bảo chúng tôi làm đơn xin ân xá cho cụ Phạm. Vừa gặp lúc Va-ren ra Đồ Sơn nghỉ mát. Thế là học sinh chúng tôi, mới gà gáy sáng, đã nhảy rào ra khỏi ký túc xá, kéo nhau đến huyện Rào, chờ Va-ren từ Đồ-Sơn trờ về, giữ xe lại, đưa đơn. Tên đốc trưởng đến giờ vào học chẳng thấy bóng học trò nào, bổ khắp nơi đi tìm, sang tận huyện Rào dồn chúng tôi về trường. Về đến trường, bọn Tây giở trò thực dân, lôi chúng tôi ra đánh. Chúng tôi bảo vệ nhau, giữ người lại, không cho nó đánh. Hăng nhất là anh Lương Khánh Thiện, đứng ở hàng đầu, cứ ẩy sấp bọn Tây ra. Trong lúc xô xát, tên giáo sư Gát-xi bị rách áo. Thế là nó tru tréo lên, đổ cho chúng tôi đánh nó, gọi mật thám đến vây bắt. Chúng tôi bãi khóa phản đối.

Trên ba chục người bãi khóa đến cùng, bỏ trường đi, trong số đó có anh Lương Khánh Thiện, anh Lưu Bá Kỳ và tôi. Mấy anh  em ý hợp tâm đầu phải xa nhau, mỗi người đi một ngả, đi kiếm công ăn việc làm. Tôi lên mỏ Phấn-mễ làm được mấy tháng rồi về làm ở mỏ Mạo-khê. Ở Mạo-khê, tôi còn nhớ lúc bấy giờ, anh  em công nhân thích nghe nói chuyện cách mạng lắm. Tôi làm ở bộ phận cơ khí, anh  em đến buổi làm, cứ đem xe đi chữa vào “bát-xanh” là tháo “biên” ra rồi để đấy, hai anh gác hai đầu, còn thì xúm nhau lại nghe chuyện về vụ án cụ Phan Bội Châu, đám ma cụ Phan Chu Trinh, phong trào Nguyễn An Ninh ở trong Nam, về cụ Nguyễn Ái Quốc ở bên Nga. Tôi tìm anh em tốt lập hội thể thao, gây quỹ cứu tế, góp tiền mua sách báo đọc, lòng rất ham muốn hoạt động mà chưa biết đi đường nào…Tâm trạng ấy cũng là tâm trạng của nhiều anh  em thanh niên lúc bấy giờ đang khủng hoảng về tinh thần, náo nức đi tìm lý tưởng, tìm một ý nghĩa, một cái gì mới cho cuộc sống. Anh Lương Khánh Thiện về làm máy sợi Nam-định, anh Lưu Bá Kỳ xuống làm ở tàu biển Săng-ti-y chạy đường Mác-xây – Sài-gòn – Hải-phòng. Các anh thường gửi thư cho tôi, nói bóng gió xa xôi về cách mạng. Tội càng giậm dật, nóng lòng muốn về những chỗ đông đúc dễ có cơ hội tìm đến với phong trào.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 27 Tháng Bảy, 2010, 06:55:50 PM
Đầu năm 1928, tôi trở về Hải-phòng, có nghề thợ nguội nên xin được ngay vào nhà máy Ca-rông làm. Rồi gặp anh Lương Khánh Thiện, lúc ấy cũng bỏ nhà máy sợi Nam-định ra làm máy sợi Hải-phòng. Gặp nhau, anh hỏi tôi liền:

- Thế nào, mày đã có gì chưa?

- Có gì là thế nào?

- Có Đảng, có chủ nghĩa. Thế mà tao cứ tưởng mày có rồi.

Anh nói chuyện với tôi về phong trào rồi giới thiệu tôi với anh Cảnh kết nạp tôi vào Thanh niên. Anh Nguyễn Đức Cảnh còn trẻ lắm, người mảnh khảnh, rất nhanh, là một trong những đồng chí có trình độ, lý luận lúc bấy giờ. Anh phụ trách Tỉnh bộ Thanh-niên Hải-phòng. Anh nói chuyện với tôi về lao động, về công nhân với tư bản, về thặng dư giá trị. Tôi nghe anh đến đâu thấm vào óc đến đấy, như hòn phấn khô mà ngấm nước.

Việt-nam Quốc dân đảng cũng tuyên truyền trong công nhân. Ở Ca-rông, có anh Trần Xuân Độ làm thợ tiện, tuyên truyền Quốc dân đảng hăng lắm.. Chúng tôi kiên quyết đấu tranh chống lại sự tuyên truyền của anh. Anh Nguyễn Đức Cảnh, anh Trịnh Đình Cửu cung cấp cho chúng tôi tài liệu nghiên cứu bác lại chủ nghĩa tam dân, bác hẳn cái lý thuyết đề huề giai cấp.

Tranh luận nhiều, anh Độ lúc bí hay nói:

- Chúng ta như có người mẹ ốm trên giường bệnh. Con có hiếu phải đùm bọc lấy nhau mà cứu mẹ.

Luận điệu ấy của anh không phải không làm cho chúng tôi rung động. Song chúng tôi đã bắt đầu nhận thấy rõ:

-  Không anh ạ, thời đại này phải làm cách mạng xã hội mới được.

Cuối cùng, anh Độ nói:

- Thôi, chúng ta hiểu nhau rồi: chúng tôi quốc gia vàng, các anh thanh niên đỏ.

Tôi nói tiếp:

- Dù thế nào, chúng ta vẫn phải thống nhất hành động chống đế quốc xâm lược và tay sai của chúng.

Chi bộ thanh niên của tôi là một chi bộ ghép, có anh Đoài ở nhà đèn Cửa Cấm, anh Ngô Kim Tài cảnh sát, anh Tư Biêu chồng chị Tư già, chúng tôi thường đến họp ở nhà chị Tư. Cháu bé lớn của anh chị lúc bấy giờ mới khoảng chừng năm, sáu tuổi, lúc thường sà vào lòng chú nghịch, thế mà lúc chúng tôi đến họp đã biết đứng trước cửa nhà, trông thấy người lạ đến là nói to lên. Anh Tài làm cảnh sát, hễ biết Tây sắp quét khu phố nào, để ý đến xóm nào, lại báo ngay cho tổ chức biết. Hễ có đấu tranh, anh lại xin đi gác đêm. Định dán truyền đơn ở đâu là anh đi trước, trát cồn lên tường, chúng tôi đi sau chỉ việc áp giấy dán lên, không bao giờ bị lộ ca. Đầu năm 1929, phần lớn các xĩ nghiệp của Hải-phòng như xi-măng, máy điện, máy chai, máy sợi, Ca-rông và sở cảng đều có cơ sở. Tháng 4, tháng 5, tháng 6, nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của công nhân. Ít lâu sau, anh Thiện bị bắt.

Từ đầu năm 1929, tôi bị đuổi hẳn ra khỏi nhà máy Ca-rông, đi vào hoạt động bí mật. Lúc ấy cũng là lúc các chi bộ cử đại biểu ra ngoài họp Thanh niên. Chi bộ tôi đặt vấn đề họp kỳ này nên xây dựng Đảng cộng sản đi thôi, phong trào công nhân đã có rồi. Tất cả các chi bộ ngoài Bắc đều cùng ý nguyện như thế cả. Tháng 7, được tin đại biểu Bắc-kỳ đưa ra việc thành lập Đảng cộng sản, bị bác đi, đã bỏ hội nghị ra về. Cuối tháng 8 thì có tuyên ngôn thành lập Đông-dương cộng sản đảng. Thành lập Đảng rồi, các đồng chí phân phối lực lượng lại. Tôi được điều vào Nam công tác.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 28 Tháng Bảy, 2010, 12:40:51 PM
*
* *

Khi tôi vào Nam, anh em giới thiệu tôi liên lạc với một đồng chí tên là Ngô Sĩ Quyết. Gặp người, tôi nhận ran gay: Ngô Sõ Quyết chính là anh Ngô Gia Tự. Hồi tôi bị đuổi học, trong những ngày chưa có việc làm, có lần tôi về Tam-sơn, Bắc-ninh, chơi với một người bạn. Tôi gặp anh Tự lần đầu tiên chính ở Tam-sơn là quê anh. Anh cũng vừa bị đuổi khỏi trường Bưởi, tạm lánh về quê. Ngay lần gặp đầu tiên, tôi đối với anh rất có cảm tình, không ngờ lại có dịp gặp nhau trên đường công tác. Anh là một đồng chí tốt, một người có giác ngộ sâu sắc. Tuy làm công tác chỉ đạo, bận nhiều, anh vẫn lẩn vào với công nhân, pha trộn với anh  em, trên bến tàu Sài-gòn, đẩy than, đẩy xi-măng, dầm mưa dãi nắng, làm mọi thứ công việc vất vả. Anh  em công nhân giác ngộ thương anh lắm, cứ bảo: “Các anh để anh ấy ở nhà, có cần tiền, chúng tôi góp lại nuôi anh ấy”. Anh Tự vừa làm ở bến, vừa giải quyết các công việc rất siêng năng, bất cứ cuộc họp nào, dù xa đến mấy, anh cũng không bỏ.

Anh Ngô Gia Tự, anh Lê Văn Lương và tôi ở vùng xóm Chiếu, bên Khánh-hội. Tôi đi tìm việc làm, kéo cả anh Lương vào làm việc ở đấy. Được ít lâu, vì thấy xưởng Ba-đê công nhân ít, tôi lạ sang làm bên xưởng Phat-xi đông công nhân hơn.

Trong Nam, công tác tuyên truyền vận động công nhân của chúng tôi có phần thuận lợi hơn ngoài Bắc. Tôi với anh Lương cùng ở một chỗ, sáng nấu một nồi cơm rồi đổ mỡ muối lên trên, ăn rồi, còn thì nắm, vác đi làm. Trưa đến, xách gói cơm ra vỉa hè đường, tìm cùng ăn rồi lân la nói chuyện. Chúng tôi cứ lấy thí dụ thực tế trong đời sống mà phân tích, gợi cho anh em liên hệ, so sánh, anh  em rất dễ nhận ra chân lý cách mạng. Anh  em thấy chúng tôi cũng là con nhà thợ, cùng bạn nghề đói khổ với nhau nên thông cảm rất mau. Anh Lương lúc bấy giờ còn trẻ măng thì đi với anh  em thợ trẻ. Về đến xóm thợ, anh dễ thân thiện với mọi nhà bà con hàng xóm vì anh rất yêu trẻ; thiếu nhi ở đâu cũng quý anh lắm. Anh dạy cho các cháu hát, anh dạy cho các cháu học. Ở xóm Chiếu, chúng tôi gây được hội chơi bóng. Nhưng anh  em, bà còn càng quý mình, gần gũi mình, phong trào cứ nhen lên là chúng tôi lại dễ bị lộ, nên cứ phải dọn nhà, đổi chỗ ở luôn. Thêm một nỗi, vì anh Lương đang tuổi thanh niên mới lớn, trông rất xinh trai, các cô con gái xóm nghèo cứ nhìn anh chỉ trỏ nhòm ngó. Có cô hàng xóm, tính tình rất bạo, cứ chọc giấy giấy báo dán khe vách gỗ trông sang bên chỗ chúng tôi ở mà nhìn trộm. Chúng tôi sợ lộ, cứ phải chạy trốn hoài, dọn nhà loanh quanh hết cả đất xóm Chiếu, phải đi lên tận Thủ-thiêm ở. Đến Thủ-thiêm, tôi gặp anh Lưu Bá Kỳ ở dưới tàu ghé lên chơi. Vừa lúc đó, đoàn thể cử tôi đi sang Pháp tìm bắt liên lạc với Đảng cộng sản Pháp. Anh Kỳ giới thiệu, tôi xuống tàu Săng-ti-y xin việc làm, đưa sổ thợ ra là được nhận ngay.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Bảy, 2010, 06:32:55 PM
Tháng 11-1929, chúng tôi đáp tàu Săng-ti-y sang Pháp, lên đến bến Mác-xây, tìm đến địa chỉ đã được dặn ở nhà. Anh  em Đảng Pháp tiếp chúng tôi rất ân cần, rồi điện ngay lên Pa-ri thỉnh thị các đồng chí phụ trách. Pa-ri trả lời mời chúng tôi lên ngay. Tôi làm buồng máy dưới tàu, vì lò hơi của tàu hỏng, phai ở lại chữa, không được lên bờ, đành nhờ anh Kỳ lên Pa-ri liên lạc. CCCác đồng chí Pháp hết sức giúp đỡ, hỏi han tình hình cặn kẽ, cho sách, cho tài liệu, giúp cho một số phương tiện làm việc, cho một số súng ngắn tự vệ và đặt mối liên lạc về sau.

Cuối tháng giêng, đầu tháng 2-1930, chúng tôi trở về đến Sài-gòn thì được tin hội nghị Hương-cảng đã họp, việc hợp nhất các nhóm cộng sản đã thành công. Đoàn thể cử anh Lầu với tôi ra Bắc họp Hội nghị Trung ương lần thứ nhất của Đảng. Tôi ra đến Hải-phòng, ngay chiều hôm đó, đồng chí liên lạc đưa tôi đến Hội quán của Hoa kiều bảo tôi ngồi đợi, đồng chí phụ trách sẽ đến. Tôi tưởng sẽ gặp một người to lớn, mạnh mẽ. Đồng chí phụ trách đến nơi, người gầy yếu, mặc vét-tông, quân ta, đầu đội mũ phớt, mắt le lé. Nghe anh nói, giọng xứ Nghệ, mệt và ho luôn, tôi rất thương. Anh bảo tôi:

- Ta sẽ tham gia hội nghị chính thức bầu Trung ương Đảng. Thời gian còn thong thả. Đồng chí cứ ở đây, tôi sẽ đưa tài liệu cho đồng chí nghiên cứu. Còn đồng chí Lầu, tôi sẽ cho người lên Hà-nội đón đồng chí ấy về dươi này.

Sau này tôi mới biết đồng chí tôi gặp hôm đó chính là anh Trần Phú. Tôi từ biệt anh, tôi về chỗ chị Tư già. Chị bố trí cho tôi về ở một ngõ hẻm phố Bắc-ninh. Không ngờ, ngay đêm hôm đó, do Nghiêm Thượng Biền phản bội, cả một lô cơ quan khu ấy bị lộ, mật thám quét tơi bời, tôi chân ướt chân ráo mới đến, không chuẩn bị đối phó kịp, nên cũng bị bắt với chị Tư: “Phải giữ vững tinh thần”. Và trong suốt bao nhiêu ngày bị giam cầm, tra tấn dã man, chị Tư rất anh dũng, không chịu khai một lời nào.

Chúng tôi bị giam ở sở mật thám Hải-phòng. Sang đầu tháng 5, nhiều anh  em cũng bị bắt về giam cùng với chúng tôi. Anh Lê Thanh Nghị và nhiều anh em ở các mỏ cũng bị bắt đưa về Hải-phòng. Tôi bị bắt chừng độ một tuần thì ngày 1-5 nổ ra. Mới đầu xà-lim còn rộng, nhiều xà-lim khác cũng bỏ không. Sau ngày 1-5, xà lim nào xà-lim ấy chật ních. Anh em các mỏ cũng bị đưa về sở mật thám Hải-phòng. Anh Lê Thanh Nghị bị bắt ở Cọc 5, đưa về xà-lim tôi. Anh cho biết ngoài mỏ anh  em treo cờ, dán truyền đơn, căng khẩu hiệu ngày 1-5 như thế nào. Ngày 1-5-1930, phong trào đấu tranh của ta nổ ra rộng khắp, đã sôi nổi.

Đến giữ hè thì anh  em bị bắt về sở mật thám Hải-phòng lại càng đông. Trong xà-lim nóng không chịu được. Anh  em phải bê thùng cứt để lên giường rồi quét xi măng nằm cho mát.

Ở sở mật thám, đến đêm khuya, chúng mới lôi chúng tôi ra đánh, tra hỏi. Hễ nghe thấy tiếng chìa khóa đụng cửa đến cạch một cái là mấy chục anh em đều giật mình đến thót. Rồi đêm đêm đầu óc căng thẳng, người nào, người nấy nghiến răng mà nghe anh  em mình vật vã trước ngọn roi của quân thù. Đến khi anh  em bị đánh nhừ rồi, bị bọn mật thám kéo lê quẳng trả vào xà-lim, các đồng chị lại xúm lại xoa bóp cho nhau.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 31 Tháng Bảy, 2010, 10:49:47 PM
Tôi bị đánh mười mấy đêm liền. Một đêm, bị đánh đau quá, tôi ngã lăn ra ngất đi. Đến khi tỉnh dậy, tôi thấy chiếc roi của mật thám, do nó quất mạnh quá, văng ra, rơi ở bên người tôi. Tôi đưa mắt nhìn chiếc roi bị xước: bên trong roi là dây đồng đỏ, bên ngoài bọc một lần da. Tôi mới hiểu vì sao mà roi nó đánh nặng như chì, bổ vào đầu làm tôi choáng óc, đầu không chảy máu mà sọ lấy tay ấn lõm được như quả bưởi khô, máu dồn xuống đỏ cả hai mắt, sưng mọng ra như mắt cá vàng. Anh  em nhìn tôi gọi đùa là Chung Vô Diệm. Tôi còn giữ được chiếc áo lương rách, mỗi lần bị đánh xong, lấy áo quấn chặt lấy đầu. Dù lấy áo buộc chặt như thế mà vẫn còn rức quá, tôi cứ phải tìm góc xà-lim nằm, ấn đầu vào khe tường để bưng lấy óc. Đến mùa rét, tôi lại bị chúng tấn cho một tấn nữa. Chân tôi bị đánh sưng ú lên, về xà-lim lại phải tra chân vào cùm sắt. Tôi bị hỏng chân từ đấy.

*
* *

Chưa thành án, Tây đã giải chúng tôi sang nhà đá Hải-phòng, giam lẫn với anh  em tù bên Quốc dân đảng. Chúng tôi tổ chức học văn hóa, mở lớp huấn luyện cho nhau. Có anh  em đảng viên thường bên Quốc dân đảng vào nhà lao thấy chúng tôi hoạt động, sinh ra có cảm tình với những người cộng sản. Lại thấy chúng tôi rất nêu cao tinh thần tập thể, luôn luôn cứu giúp lẫn nhau ai có đồ người nhà gửi vào, thứ nào bổ thì giúp người yếu, còn thì chia đều, nên các bạn ấy càng ngày càng muốn gần gũi chúng tôi.

Do học tập, do đấu tranh, do tổ chức, trình độ chung của anh chúng tôi tiến bộ rõ rệt. Anh  em tù kinh tế dần dần hiểu chúng tôi hơn, được cảm hóa, nên khi đi làm cỏ-vê ngoài phố, thường giúp chúng tôi liên lạc với bên ngoài. Đám anh  em tù làm trên phòng giấy cũng có nhiều người cảm tình với cách mạng, giúp đỡ chúng tôi hăng lắm. Lính Tây cũng có người rất tốt.

Thường ở nhà lao, tối đến là có lính Tây vào gác đêm. Canh gác đêm cũng buồn tênh nên thấy chúng tôi nói được tiếng Pháp, mấy anh cũng hay mò đến chuyện gẫu. Trong số mấy anh có hai người quê ở Mác-xây. Thấy tôi cũng biết Mác-xây. Thấy chúng tôi cũng biết Mác-xây hai anh rất thú, hay đến nói chuyện về quê hương mình. Từ đấy, thân nhau, cần gì là hai anh tìm cho bằng được, cho chúng tôi thuốc kiết lỵ, thuốc đau mắt nữa, và hai anh là nguồn cung cấp thuốc lào cho cả bọn chúng tôi. Một đêm vào đầu tháng 11, trời đã trở rét, hai anh hỏi chúng tôi:

- Các anh có cần gì không?

Chúng tôi bàn nhau rồi trả lời:

- Cho chúng tôi mấy thước vải đỏ.

Chúng tôin nghĩ đến cái lô-cốt nhà lao rất cao, treo cờ lên đó được thì thú lắm. Mấy anh lính Tây cho chúng tôi vải. Chúng tôi may cờ. Rồi đúng đêm mùng 6 rạng ngày mùng 7 tháng 11 năm 1930, kỷ niệm 13 năm Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, chúng tôi thi hành kế hoạch đã định. Tôi và mấy anh nói được chút ít tiếng Pháp rủ hết lính Tây về góc chúng tôi, tán hết chuyện này chuyện khác. Ở phía lô-cốt, đồng chí Phúc An, người Hoa-kiều, vốn làm nghề thợ điện, leo trèo rất giỏi, trèo lên tận đỉnh lô cốt, cắm lá cờ lớn tươi đỏ của chúng ta.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Tám, 2010, 06:55:56 PM
Sáng hôm sau, bọn chúng tôi trông lên cờ đỏ, sướng mắt quá. Bọn giám thị vẫn không biết gì. Mãi chín giờ sáng, tên chủ đề lao ở Lạc-viên về, nhìn lên lô-cốt nhà mình thấy có cờ đỏ, tức tốc chạy về, tập hợp cả bọn giám thị lại, quát tháo ầm ĩ. Bọn giám thị anh nào anh nấy xanh lè mắt. Chúng đổ riệt cho anh  em lính khố xanh đã cắm cờ:

- Thằng nào treo, thằng ấy muốn sống thì leo lên hạ xuống.

Chúng bắt lính khố xanh trèo lên hạ cờ. Cao quá, không anh nào trèo được. Cuối cùng, đến quá còi tầm các nhà máy, chúng mới huy động được thang xe hơi chữa cháy đến, sai lính cứu hỏa lên lấy lá cờ đỏ xuống.

Tối đến, anh  em tù thường phạm về nói với chúng tôi: đồng bào ngoài phố thấy các anh treo cờ thích lắm. Ít lâu sau, có nhiều người vô danh gửi anh  em tù thường phạm quà bánh, thuốc men vào ủng hộ chúng tôi.

Vải đỏ, chúng tôi hãy còn. Chúng tôi gửi các nữ đồng chí giấu vào trong khăn, giả làm độn tóc, chúng khám tợn lắm mà không tài nào tìm ra được. Đợi đến hôm chúng giải chúng tôi sang Kiến-an ra tòa đại hình chúng tôi rút cờ đỏ ra, phất lên cao, hô vang: “Đả đảo đế quốc”. Chúng đuổi hết dân phố vào trong nhà, bắt đóng cửa lại không cho dân xem. Chúng tôi càng hô khẩu hiệu to hơn nữa.

Ra tòa, tôi bị kết án tù chung thân biệt xứ, khi chúng đã tuyên án “mớ” hàng trăm người chúng tôi xong rồi, chúng tôi còn hai lá cờ đỏ, khá to, giấu trong người, bèn tung ra, anh  em cùng hô “Đả đảo đế quốc”, “Đảng cộng sản muôn năm!”. Lính Tây, mật thám xông vào đánh đập chúng tôi túi bụi.

Thấy chúng tôi giữ vững ngọn ờ đấu tranh như thế, nhiều anh  em Quốc dân đảng càng ngả về chúng tôi. Anh  em nói:

- Phải làm như các ông mới được. Các cụ lãnh tụ bên chúng tôi chỉ nằm đợi chết mà thôi.

Lên đến Hỏa-lò Hà-nội, anh  em lại càng mến chúng tôi. Có người thấy chúng tôi không xưng hô với họ bằng anh như trong đồng chí chúng tôi với nhau, thì không bằng lòng, trách chúng tôi sao lại còn phân biệt. Khi chúng tôi tổ chức vui chơi, anh  em cũng tham gia. Có những người ở nhà đã làm hương lý, tiên chỉ, chánh tổng, khi chúng tôi tổ chức vui chung, thì bày trò cúng tế, lấy quần xanh nhà tù xỏ vào tay làm áo thụng, hưng hưng, bái bái trên sàn xi-măng Hỏa-lò, diễn lại hủ tục chốn hương thôn để góp vui với anh  em. Các bạn ấy đóng giống quá, chúng tôi cứ bò ra mà cười.

Các thủ lĩnh bên Quốc dân đảng tức lắm, đổ cho chúng tôi cướp người của họ. Mọi chủ trương thống nhất hành động đòi cải thiện chế độ nhà tù của chúng tôi đều bị họ phản đối kịch liệt. Chúng tôi đấu tranh đòi cơm gạo tốt, có rau, có đũa, có bát thì một thủ lĩnh Quốc dân đảng gàn đi, nói: “Đấu tranh chủ tổ nó khủng bố. Vẽ chuyện mâm với bát! Ấn-độ ăn bốc, cũng có sao đâu?”. Chúng tôi cứ đấu tranh, Tây có khủng bố nhưng đa số kiên quyết thì nó phải chịu, cấp đũa, cấp bát và phải để cho chúng tôi dọn cơm lấy.


Tiêu đề: Re: Nhân dân ta rất anh hùng - Nhà xuất bản Văn học - 1976
Gửi bởi: daibangden trong 01 Tháng Tám, 2010, 10:20:54 PM
Cuối mùa hè năm 1931, trời dạo ấy còn nóng, thực dân Pháp lại giải chúng tôi xuống Hải-phòng cho xuống tàu Cơ-lốt-đơ Sáp-pơ giải đi Sài-gòn. Chúng tôi bị nhốt dưới hầm tàu, cứ mười người một, cùm vào một thanh sắt dài năm, sáu thước. Lên đến bờ là lại phải vác chiếc cùm sắt ấy lên vai, khệ nệ khiêng đi. Bọn Tây tải ác lắm, đánh chúng tôi rất dữ. Thấy anh em bị đánh, mình hơi cau mặt là tên quỷ sừng sộ luôn.

- Mày không bằng lòng ư?

Rồi quất roi gân bò như mưa lên mặt người tỏ lòng thương cảm anh  em đồng chí.

Đến Ô-cấp, chúng ném hết quần áo của chúng tôi xuống biển. Đêm đến, trời lạnh, anh  em nằm sàn xi-măng ốm la liệt. Ngoài Côn-đảo, chúng chưa kịp dồn xà-lim nên bắt chúng tôi chờ ở đất liền.

*
* *

Chúng tôi ra đến đảo vào giữa một đêm không trăng, không sao mờ mịt. Vào đến banh, thấy bốn chung quanh là tường đá cao, khu vực banh này rộng hơn mười mẫu tây, cỏ rậm, bóng những gốc đa, gốc bàng đen như mực, âm u như rừng. Chúng tôi tưởng chừng như đi vào một bãi tha ma lớn. Chúng lùa chúng tôi qua hết cổng to đến cổng con, cổng nào cũng có gác-điêng Tây gác. Chúng tôi cứ sờ soạng mà đi, đến khi cánh cửa tôn, dày đến năm ly, mở ra đến két, nghe lạnh cả người, thì biết là đã vào đến khám. Lại một tầng cửa chấn song nữa. Chúng tôi chưa hiểu vị trí ra thế nào thì gác-điêng Tây đã khóa trái cả hai cửa lại, đi thẳng.

Thật là như lạc xuống âm phủ cả. Bóng tối dày đặc bưng lấy mắt chúng tôi. Người nọ sờ người kia hỏi nhau í ới, chưa biết đối phó với tình thế mới như thế nào. Thì thấy trên đầu tường có tiếng gõ cạch cạch. Chúng tôi nín thở, ngẩng lên, không trông thấy gì hết. Lại cạch cạch. Chúng tôi hỏi vọng lên:

- Ai đấy? Gì thế?

- Các đồng chí trong đất mới ra đấy có phải không?

- Phải.

- Có ai lên đây nói chuyện.

Anh Lương Khánh Thiện rất hăng, bảo chúng tôi:

- Đứa nào kiệu tao lên.

Chúng tôi xúm lại kiệu anh Thiện. Tối quá, không biết lên đằng nào. Từ trên mái có tiếng:

- Diêm đây.