Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2009, 06:34:56 PM



Tiêu đề: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 31 Tháng Mười Hai, 2009, 06:34:56 PM
Tên sách: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Nhà xuất bản: Chính trị Quốc gia
Năm xuất bản: 1996
Số hoá: ptlinh, chuongxedap



CHỈ ĐẠO NỘI DUNG
Trung tướng, GS HOÀNG PHƯƠNG

CHỦ BIÊN
Đại tá NGUYỄN VĂN MINH

TÁC GIẢ
Trung tướng, GS HOÀNG PHƯƠNG
Đại tá HOÀNG DŨNG
Đại tá PGS TRẦN BƯỞI
Đại tá NGUYỄN VĂN MINH




LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Trong hai năm 1990, 1991, Nhà xuất bản Sự thật đã xuất bản trọn bộ hai tập Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, nhưng đó mới chỉ là công trình bước đầu nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta nhằm phục vụ kịp thời yêu cầu của các bạn đọc.

Để có một công trình nghiên cứu sâu sắc, đầy đủ hơn, xứng đáng với tầm vóc của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại của quân và dân ta suốt 21 năm, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam đã bắt tay vào tổ chức nghiên cứu, biên soạn một bộ mới về Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, gồm 9 tập.

Đây là bộ sách lớn, giá trị, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sẽ lần lượt xuất bản trọn bộ từ tập I đến tập IX.

Tập I của bộ sách mang tiêu đề Nguyên nhân chiến tranh, gồm ba chương, tập trung luận giải vì sao Mỹ xâm lược Việt Nam và vì sao chúng ta lại phải tiếp tục cầm súng chiến đấu sau chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai đế quốc Mỹ nổi lên như một tên sen đầm quốc tế, cầm đầu phe đế quốc, có tiềm lực rất mạnh và hiếu chiến, âm mưu làm bá chủ thế giới. Lợi dụng đế quốc Pháp suy yếu và sa lầy trong cuộc chiến tranh Đông Dương, Mỹ từng bước hất cảng Pháp để độc chiếm địa bàn có vị trí chiến lược trọng yếu, giàu tài nguyên thiên nhiên này. Khi Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ, chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ thì đế quốc Mỹ đã trực tiếp nhảy vào miền Nam Việt Nam thay chân Pháp, áp đặt chủ nghĩa thực dân kiểu mới, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta.

Lúc này thế giới đã phân chia thành hai hệ thống đối đầu gay gắt bằng cuộc chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang quyết liệt. Phong trào giải phóng dân tộc dâng cao khắp nơi trên thế giới. Các nước lớn, vì mục đính vị kỷ dân tộc hẹp hòi cũng đã có những toan tính khác nhau ở Việt Nam. Tất cả những điều đó làm cho Việt Nam trở thành tiêu điểm hội tụ những mâu thuẫn của thời đại.

Hoà bình, độc lập dân tộc thống nhất Tổ quốc và toàn vẹn lãnh thổ vốn là ước vọng ngàn đời của dân tộc ta. Sau chín năm chiến đấu, miền Bắc được giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thì nhiệm vụ chiến đấu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trở thành nhiệm vụ số một của nhân dân ta.

Cuộc kháng chiến thống Mỹ, cứu nước đầy gian khổ, hy sinh, nhưng hết sức hào hùng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng kéo dài 21 năm đã giành được thắng lợi trọn vẹn vào mùa Xuân 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sau hơn 40 năm nhìn lại, câu hỏi vì sao đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam? Vì sao nhân dân Việt Nam lại phải cầm súng chiến đấu? còn là vấn đề phải dày công nghiên cứu.

Viện lịch sử quân sự Việt Nam - Bộ Quốc phòng và tập thể tác giả đã hết sức cố gắng để giải đáp câu hỏi đó, nhưng chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết. Chúng tôi mong nhận được ý kiến phê bình để lần xuất bản sau được tốt hơn.

Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

   
Tháng 11-1996
   NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Một, 2010, 02:19:51 PM

LỜI NÓI ĐẦU

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ là cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất thế kỷ này. Xét về quy mô lực lượng tham gia, phương tiện chiến tranh hiện đại được huy động và tính chất ác liệt theo chiều hướng ngày càng tăng suốt 21 năm, thì đây là cuộc đụng đầu lịch sử giữa đế quốc Mỹ với nhân dân Việt Nam - một cuộc đụng đầu, xét về mặt vật chất, là không cân sức. Bởi vì nước Mỹ, một trong những nước lớn nhất và mạnh nhất hành tinh đi xâm lược nước Việt Nam nhỏ và nghèo, lại bị tàn phá trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, chưa kịp hồi phục. Quân đội Mỹ trong vòng 200 năm kể từ khi Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thành lập đã tiến hành và tham gia tám cuộc chiến tranh lớn, nhưng chưa lần nào bại trận. Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ đã ứng dụng những thành tựu khoa học-kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất, mới nhất (trừ vũ khí nguyên tử), sử dụng tối đa sức mạnh và tiềm lực của nước Mỹ chống Việt Nam. Ngoài ra còn có 34 nước đồng minh của Mỹ tham gia đóng góp lương thực, thuốc men, trang bị kỹ thuật và huấn luyện..., giúp Mỹ tiến hành chiến tranh, trong đó có năm nước trực tiếp đưa quân chiến đấu sang Việt Nam. Với sức mạnh “không thể tưởng nổi” của nước Mỹ, giới cầm quyền Nhà Trắng, Lầu Năm Góc tin chắc sẽ chiến thắng một cách dễ dàng. Họ muốn chứng minh cho thế giới thấy rằng Mỹ đã tham chiến thì không có một lực lượng chống đối nào mà không bị đè bẹp và bị tiêu diệt.

Lúc đầu, nhiều người cho rằng trong cuộc chiến đấu không cân sức này, nhân dân Việt Nam khó có thể đứng vững. Song, qua cuộc kháng chiến, nhân dân Việt Nam đã làm cho cả thế giới kinh ngạc.

Chủ nghĩa thực dân mới cùng với viện trợ Mỹ không lừa dối được dân tộc Việt Nam đã từng đấu tranh không khoan nhượng chống sự xâm lược và áp bức, bóc lột của ngoại bang suốt nhiều thế kỷ và đã làm nên những chiến công lừng lẫy như Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa và Điện Biên lịch sử. Sự lừa mị của đế quốc Mỹ không che đậy được bản chất xâm lược và hiếu chiến của họ trước con mắt tinh tường, ý thức cảnh giác, đặc biệt là sự giác ngộ chính trị của một dân tộc đã được tổ chức tốt như dân tộc Việt Nam. Ỷ vào tiềm lực khổng lồ về mọi mặt, lại là “siêu cường” đứng đầu phe đế quốc, sau khi không lừa bịp được người dân Việt Nam bằng viện trợ, bằng “độc lập”, “tự do” giả hiệu, đế quốc Mỹ liền sử dụng vũ lực, dùng cố vấn, đôla, súng đạn để điều hành, chỉ huy chính quyền và quân đội tay sai tiến hành “chiến lược chiến tranh đặc biệt”, đánh phá dã man những người yêu nước miền Nam, dồn họ vào những “ấp chiến lược” để khống chế, kìm kẹp. Không cam chịu, nhân dân Việt Nam đã kiên quyết chống lại. Sau hơn bốn năm kiên cường chiến đấu, nhân dân ta đã đánh thắng cuộc “chiến tranh đặc biệt”, làm cho tình hình quân sự, chính trị xã hội ở miền Nam Việt Nam diễn ra ngoài dự kiến và ý muốn chủ quan của Mỹ. Ngụy quân, ngụy quyền do Mỹ dựng lên, nuôi dưỡng để tiến hành kiểu chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân mới, đứng trước nguy cơ tan rã, sụp đổ. Trong khi đó, lực lượng cách mạng ở miền Nam phát triển mạnh trên nên tảng chính trị vững chắc. Cách mạng Việt Nam ở miền Nam đã nắm quyền chủ động chiến lược, xây dựng được thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, liên hoàn. Bị thất bại trong việc áp đặt chủ nghĩa thực dân mới và “chiến tranh đặc biệt”, nhưng do quá tin vào sức mạnh vật chất to lớn của mình, do quan điểm xem xét chủ quan của chủ nghĩa đế quốc, những người cầm quyền nước Mỹ không thể nào hiểu đúng được ý chí và sức mạnh chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Phái “diều hâu” ở Mỹ cho thất bại đó là do quân đội Sài Gòn non yếu và Mỹ “chưa ra tay”. Với bản chất chống cộng điên cuồng, với vị thế của một “siêu cường” muốn làm bá chủ thế giới, chúng không chịu dừng lại, xem xét nghiêm túc, khách quan để tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh, mà tiếp tục lao sâu vào cuộc chiến tranh bằng việc đưa ồ ạt quân chiến đấu Mỹ và quân một số nước đồng minh Mỹ vào miền Nam Việt Nam, tiến hành “chiến lược chiến tranh cục bộ”, đồng thời dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Nhà trắng và Lầu Năm Góc tin tưởng rằng với chủ trương và biện pháp cứng rắn này, nhất định Mỹ sẽ đánh bại đối phương trong thời gian ngắn nhất.

Cả thế giới hồi hộp theo dõi diễn biến chiến sự và chiều hướng phát triển cuộc chiến tranh. Họ ái ngại, rồi lo lắng cho Việt Nam trước cuộc xâm lược tàn bạo của Mỹ. Các nước xã hội chủ nghĩa, nhiều nước dân chủ, nhiều tổ chức quần chúng tiến bộ ở châu Á, châu Âu, châu Phi và Mỹ Latinh trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ lên tiếng phản đối đế quốc Mỹ, ủng hộ nhân dân Việt Nam.

Khi đưa quân viễn chinh trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược, những người cầm quyền nước Mỹ lạc quan tin tưởng bao nhiêu thì qua cuộc đọ sức mùa khô lần thứ nhất, họ cảm thấy nước Mỹ đang đi trong một “đường hầm không có lối ra” và một tâm lý bi quan đã bộc lộ trong giới dân sự và quân sự. Tuy vậy, chính quyền Mỹ vẫn không từ bỏ âm mưu giành thắng lợi bằng quân sự, ngoan cố lao sâu vào cuộc chiến tranh. Tổng thống Giônxơn quyết định tăng quân chiến đấu Mỹ và phương tiện kỹ thuật chiến tranh hiện đại, tiếp tục leo thang và mở rộng chiến tranh với quy mô lớn hơn, ác liệt hơn.

Nhân dân Việt Nam với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã đoàn kết thành một khối thống nhất, kiên quyết kháng chiến. Bằng việc kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao, đánh địch bằng ba mũi giáp công trên cả ba vùng chiến lược, quân và dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược và biện pháp chiến lược của Mỹ, tiến đến mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, làm rung chuyển nước Mỹ, làm hiện lên trước mắt chính quyền Giônxơn và cả nhân dân Mỹ hình ảnh quân đội Mỹ đang bị đánh bại trong cuộc chiến tranh. Kinh ngạc vì cuộc tiến công Tết Mậu Thân, bị bối rối vì trận Khe Sanh và bị thất bại nặng nề trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, tập đoàn hiếu chiến trong bộ máy cầm quyền nước Mỹ dao động ý chí. Xã hội Mỹ khủng hoảng sâu sắc, nội bộ chia rẽ. Nhiều tầng lớp nhân dân Mỹ phản đối kéo dài chiến tranh, đòi rút quân Mỹ về nước. Cả thế giới ủng hộ Việt Nam chống Mỹ leo thang chiến tranh. Đến lúc này phía Mỹ mới chấp nhận thương lượng với Việt Nam, chấm dứt ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra. Chiến lược “chiến tranh cục bộ” bị phá sản. Tổng thống Mỹ Níchxơn muốn rút quân Mỹ nhưng vẫn duy trì được thế mạnh và chỗ dựa là ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn bằng việc thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương. Mục tiêu của Mỹ là bình định miền Nam, đẩy lùi chủ lực Quân giải phóng, triệt phá các căn cứ du kích, ngăn chặn đường tiếp tế và phá hủy căn cứ hậu cần, phong toả và đánh phá tê liệt miền Bắc Việt Nam. Đi đôi với tăng cường, mở rộng chiến tranh, đế quốc Mỹ dùng chính sách ngoại giao xảo quyệt, đánh vào sau lưng Việt Nam và tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh Việt Nam từ các nước lớn Liên Xô, Trung Quốc, trong khi những điều kiện hợp tình, hợp lý để đem lại hoà bình do phía Mặt trận Dân tộc giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đưa ra tại cuộc hoà đàm Pari đều bị Mỹ bác bỏ. Để lừa bịp và xoa dịu sự công phẫn của nhân dân Mỹ, nhân dân thế giới và đe doạ Việt Nam, Nhà trắng và Lầu Năm Góc đưa ra những đợt ngừng ném bom bộ phận miền Bắc và đòi nhân dân ta phải chấp nhận những điều kiện “hoà bình” của Mỹ. Sau này, Mắc Namara, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, cho đó là những “cơ hội hoà bình” bị bỏ lỡ. Sự thật sau những đợt ngừng ném bom, không quân Mỹ đánh phá trở lại ác liệt hơn. Thực chất Mỹ quyết giành thắng lợi trên thế mạnh, áp đặt ý chí của chúng cho nhân dân Việt Nam. Song, sự xảo quyệt và ngoan cố đó không lừa được ai, càng làm cho tinh thần kháng chiến của nhân dân ta thêm kiên quyết. Cuộc chiến tranh vẫn tiếp diễn ác liệt, nhưng đế quốc Mỹ không đảo ngược được chiều hướng đang thua của chúng. Neil Shechan - nhà báo Mỹ, một trong những người có công phanh phui Tài liệu mật Lầu Năm Góc ra trước công luận đã nhận định đúng đắn rằng: “Sau những năm dài tìm cách khuất phục những dân tộc nghèo khổ bằng sự tàn bạo của sức mạnh kỹ thuật của mình, nước Mỹ, một nước giàu mạnh nhất trên quả đất này, cuối cùng có thể bị những người cộng sản Việt Nam đuổi ra khỏi bán đảo Đông Dương. Nếu đúng như vậy, thì thắng lợi của người Việt Nam sẽ là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc” 1.

Thất bại đã rõ, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố sử dụng sức mạnh quân sự để ép ta trên bàn đàm phán, đến khi nhân dân ta tiến hành cuộc tiến công chiến lược năm 1972 giành thắng lợi rất to lớn và đánh bại chiến dịch tập kích chiến lược bằng B52 vào Hà Nội, Hải Phòng, đập tan huyền thoại về sức mạnh không quân “tượng trưng cho đòn chủ yếu trong chiến lược của Mỹ”, thì Hoa Kỳ mới chịu ký Hiệp định Pari, rút quân Mỹ về nước.
_______________________________________
1. Trích trong Lời tựa cuốn sách Cuộc chiến tranh không quân ở Đông Dương của Neil Shechan, do nhóm nghiên cứu về chiến tranh không quân Trường đại học Cornell biên soạn năm 1972. Lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 01 Tháng Một, 2010, 02:21:08 PM

Mùa xuân 1973, Mỹ cút, mùa Xuân 1975, ngụy nhào: Nước Việt Nam được độc lập, thống nhất. Điều đó khẳng định: Trong thời đại ngày nay một dân tộc dù nhỏ, nhưng có chính nghĩa, đoàn kết thành một khối thống nhất, kiên quyết chiến đấu dưới sự lãnh đạo của một Đảng macxit Lêninnít có đường lối và chiến lược đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với ý nguyện của toàn dân, được thế giới đồng tình ủng hộ thì dân tộc đó có thể đánh bại bất cứ kẻ thù xâm lược nào dù lớn mạnh hơn mình gấp bội.

Qua cuộc đấu trí, đấu lực giữa hai bên Việt - Mỹ, có thể thấy do coi thường đối phương, lại không hiểu được truyền thống ý chí của một dân tộc quyết giành độc lập, thống nhất Tổ quốc, không hiểu được quy luật của cuộc chiến tranh cách mạng chính nghĩa, nên Mỹ không thể hoạch định được chiến lược đúng, luôn luôn bị động, không làm chủ được tình thế và làm chủ được mình, gặp hết thất bại này đến thất bại khác dù đã dày công rút kinh nghiệm, huy động trí tuệ của nhiều nhà chiến lược, nhà khoa học, nhân viên nghiên cứu trong thời gian dài trong lịch sử chiến tranh của Mỹ.

Về phía Việt Nam, những vấn đề cơ bản về đường lối, phương pháp cách mạng, chiến lược chiến tranh nhân dân, về tổ chức hậu phương, tổ chức lực lượng v.v… được Đảng Lao động Việt Nam vạch ra trên cơ sở nghiên cứu điều kiện khách quan, chủ quan một cách khoa học và phổ biến cho toàn dân thực hiện. Qua thực tiễn chiến tranh, đường lối, chủ trương của Đảng được bổ sung, phát triển và hoàn chỉnh. Đó là sự kết hợp giữa trí tuệ của Ban Chấp hành Trung ương, Quân uỷ Trung ương và Bộ Chính trị với trí tuệ của các cấp chỉ huy chiến trường, mặt trận, trí tuệ của các đảng bộ địa phương, của quần chúng nhân dân và lực lượng vũ trang. Song những phát kiến chiến lược lại xuất phát từ cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng. Truyền thống dân tộc, kinh nghiệm của các thế hệ đi trước, cùng những kinh nghiệm trong kháng chiến chống Pháp là cơ sở rất quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển đường lối, chiến lược, sách lược là nghệ thuật chỉ đạo Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sự phát triển đó được thể hiện trong việc đánh giá tình hình quốc tế, trong nước, đánh giá đúng địch, đúng ta, giữ vững độc lập tự chủ khi xác định nhiệm vụ của hai miền Nam-Bắc và nhiệm vụ chung của cả nước mỗi khi đối phương tung ra những thủ đoạn mới; tổ chức cả đánh giặc trên cả ba vùng chiến lược ở tiền tuyến lớn và chống chiến tranh phá hoại, bảo vệ vững chắc hậu phương miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chi viện kịp thời, đầy đủ cho miền Nam đánh thắng và làm nghĩa vụ quốc tế.

Điều đó còn thể hiện ở trình độ nghệ thuật quân sự được nâng cao trên các lĩnh vực chiến lược, chiến dịch, chiến thuật. Do đó, ta đã biết mở đầu cuộc kháng chiến đúng lúc, biết tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ, nắm thời cơ để tổ chức tác chiến chiến lược, mở các cuộc tổng tiến công, tạo ra các bước ngoặt chiến tranh có lợi cho ta, tiến lên giành thắng lợi cuối cùng, kết thúc chiến tranh vào lúc có lợi nhất cho cách mạng Việt Nam và thế giới.

Cuộc kháng chiến vĩ đại của Việt Nam đã được sự đồng tình ủng hộ rộng lớn của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước yêu chuộng hoà bình, công lý và nhân dân tiến bộ thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Mỹ. Nhờ đó, Việt Nam đã chiến thắng trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao ở cả chiến trường Việt Nam và trên thế giới, ở tại nước Mỹ.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược đã kết thúc trọn vẹn vào Mùa Xuân năm 1975, nhân dân ta đã giành được độc lập và thống nhất đang ra sức xây dựng cuộc sống mới công bằng, văn minh và hiện đại. Cuộc chiến tranh Việt Nam trở thành một đề tài lịch sử lớn, được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử nhiều nhà chính trị trong nước và trên thế giới quan tâm tìm hiểu. Cho đến nay, đã có hàng nghìn cuốn sách và tài liệu nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam trên nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề khác nhau. Do lượng thông tin thu thập từ hai phía còn hạn chế, do quan điểm xem xét và động cơ khác nhau, nên các tác giả nước ngoài giải thích, đánh giá về cuộc chiến tranh cũng khác nhau, có nhiều điều sát thực, nhưng cũng không ít ý kiến trái ngược, nhất là về nguyên nhân chiến tranh, sự đấu trí, đấu lực của hai bên tham chiến suốt 21 năm, mà kết cục phần thắng thuộc về nhân dân Việt Nam, về tác động của nó đối với thế giới đương đại và những bài học kinh nghiệm, v.v…

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam thuộc Bộ Quốc phòng nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã biên soạn, Nhà xuất bản Sự thật đã xuất bản lần đầu vào năm 1990, 1991 bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, 1954 – 1975 gồm hai tập. Đó là hai cuốn lược sử nhằm phục vụ kịp thời việc giáo dục truyền thống trong lực lượng vũ trang, nghiên cứu, giảng dạy ở các học viện, trường sĩ quan trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau 20 năm chiến tranh kết thúc, với độ lùi thời gian đó, đã có thêm nhiều tư liệu từ hai phía, nhất là công trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II của Viện Lịch sử Đảng, Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học do Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị biên soạn, được Bộ Chính trị cho ý kiến kết luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1995 và qua khảo sát thực tế các chiến trường, ý kiến đóng góp của đông đảo bạn đọc, lần này Viện Lịch sử quân sự Việt Nam nghiên cứu, biên soạn bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 đầy đủ hơn.

Với tinh thần tôn trọng sự thật khách quan, khoa học và ý thức trách nhiệm đối với lịch sử, tập thể tác giả sẽ tái hiện toàn bộ cuộc kháng chiến tương đối tỷ mỷ, trong đó cố gắng làm nổi bật một số sự kiện trọng yếu, đồng thời chú trọng phân tích làm rõ nguồn gốc, nguyên nhân cuộc chiến tranh, sự đấu trí, đấu lực của hai bên tham chiến và những bài học kinh nghiệm...

Việc nêu rõ và đánh giá những ưu, khuyết điểm chính, cùng những nguyên nhân về thành công, thất bại qua các giai đoạn chiến tranh nhằm cung cấp những thông tin chính xác để giúp bạn đọc hiểu đúng cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân ta cũng được xác định là nhiệm vụ quan trọng trong lần biên soạn này.

Bộ Lịch sử được biên soạn thành chín tập:

Tập I: Nguyên nhân chiến tranh

Tập II: Chuyển chiến lược

Tập III: Đánh thắng chiến tranh đặc biệt

Tập IV: Cuộc đụng đầu lịch sử

Tập V: Tổng tiến công và nổi dậy năm 1968

Tập VI: Thắng Mỹ trên chiến trường ba nước Đông Dương

Tập VII: Thắng lợi quyết định

Tập VII-I: Toàn thắng.

Tập IX: Nguyên nhân thắng lợi, bài học lịch sử

Quá trình nghiên cứu biên soạn bộ lịch sử này, chúng tôi được sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Quốc phòng, đóng góp ý kiến, cung cấp tư liệu của các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân đội trong các thời kỳ chiến tranh, các cán bộ cao cấp, trung cấp, các phòng khoa học công nghệ và môi trường các quân khu, quân đoàn, tỉnh đội và nhiều nhà khoa học, đặc biệt là sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, tỉ mỉ của Ban lãnh đạo Viện Lịch sử quân sự Việt Nam cũng như cá nhân đồng chí Viện trưởng. Chúng tôi chân thành cảm ơn sự đóng góp nhiệt tình và đầy trách nhiệm này.

Mặc dù tập thể tác giả rất cố gắng trong việc sưu tầm, chỉnh lý tư liệu và thể hiện, song lịch sử Cuộc kháng chiến thống Mỹ, cứu nước diễn ra 21 năm vô cùng hào hùng, phản ánh được nó thật đầy đủ quả không phải dễ dàng, vả lại trình độ nhận thức của tập thể tác giả còn nhiều hạn chế, nên bộ sử chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót và những chỗ bất cập.

Rất mong bạn đọc phê bình, đóng góp ý kiến để giúp cho việc nghiên cứu ngày càng đạt chất lượng cao.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Một, 2010, 09:32:22 PM

Chương I
TÌNH HÌNH VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI
SAU THẮNG LỢI ĐIỆN BIÊN PHỦ


I. VIỆT NAM TỪ SAU NGÀY 20-7-1954

Cuộc kháng chiến bền bỉ, anh dũng của nhân dân Việt Nam mà đỉnh cao thắng là chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội đã buộc chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ (7-1954), công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, rút hết quân viễn chinh về nước. Đây là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta. Thắng lợi này mở đường cho cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ phát triển mới, với những điều kiện thuận lợi mới, nhưng cũng đầy những khó khăn, phức tạp mới. Đất nước tạm thời chia thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam còn dưới sự thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai. Cuộc đấu tranh để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tiếp tục bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau trong điều kiện có pháp lý của Hiệp định Giơnevơ, và thế giới chia thành hai phe đối kháng, nhưng lại “cùng tồn tại hoà bình” trong cuộc chiến tranh lạnh căng thẳng và gay gắt.

Ở miền Bắc, sau khi quân đội Pháp rút đi, nhân dân ta phải tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, bảo đảm đời sống, củng cố, xây dựng miền Bắc thành hậu phương chiến lược của cả nước, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh. Trước mắt, miền Bắc phải đối mặt với những khó khăn chồng chất - hậu quả của gần một thế kỷ thuộc địa và hơn chín năm chiến tranh.

90% dân số miền Bắc vốn sống bằng nghề nông, nhưng nền sản xuất nông nghiệp manh mún, nghèo nàn, kỹ thuật canh tác lạc hậu, đời sống người nông dân còn thiếu thốn mọi bề.

Nền công nghiệp chỉ vẻn vẹn có 20 xí nghiệp công nghiệp vào năm 1954 với thiết bị cũ kỹ, nhiều thứ đã hư hỏng, những bộ phận còn tốt và các tài liệu kỹ thuật quan trọng đều đã bị Pháp chuyển vào Nam. Tỷ trọng của công nghiệp trong giá trị tổng sản lượng công, nông nghiệp từ 10% năm 1939, tụt xuống còn 1,5%. khi miền Bắc được giải phóng. Bên cạnh công nghiệp, tiểu - thủ công nghiệp bị chèn ép, bị sa sút không có nguyên liệu sản xuất. Nhiều ngành, nghề thủ công truyền thống bị mai một hoặc mất hẳn. Hệ thống giao thông, bưu điện bị hư hỏng và xuống cấp.

Hoà bình lập lại nhưng tình hình an ninh ở miền Bắc vẫn còn phức tạp do thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bọn phản động phá hoại. Trước, trong và sau ngày đình chiến, địch cưỡng ép di cư vào Nam hàng chục vạn người, phần lớn là đồng bào theo đạo Thiên chúa, công chức, nhà buôn, nhà giáo, bác sĩ, nhân viên kỹ thuật. Địch gài lại hàng ngàn gián điệp, hàng trăm nhóm phản động, cùng với các toán biệt kích được tung ra miền Bắc phá hoại các cơ sở kinh tế, các công trình công cộng. Các phần tử tay sai, các đảng phái phản động lén lút kích động quần chúng, gây bạo loạn ở một số địa phương, tung truyền đơn, tài liệu xuyên tạc chính sách của Đảng Lao động, Chính phủ Việt Nam hòng lung lạc quần chúng, gây hoang mang, dao động trong nhân dân. Ở miền biên giới phía Bắc, hàng ngàn thổ phỉ được các thế lực phản động Pháp, Mỹ, Tưởng tiếp tay, hoạt động phá hoại. Tại nhiều vùng khác, bọn ngụy quân, ngụy quyền cũ vẫn lén lút hoạt động chống phá chính quyền cách mạng.

Sau chiến tranh, nhiều vấn đề xã hội chưa có điều kiện giải quyết. Vấn đề tôn giáo, dân tộc, giai cấp vốn đã phức tạp do chính sách chia rẽ của người Pháp, lúc này càng phức tạp hơn, vì kẻ thù kích động.

Khắc phục hậu quả chiến tranh ổn định tình hình, xây dựng lại đất nước là sự nghiệp mới mẻ, đầy gian khổ và khó khăn. Để hoàn thành sự nghiệp đó, điều cốt yếu là phải đoàn kết toàn dân, tăng cường đội ngũ cán bộ, đảng viên, kiện toàn bộ máy lãnh đạo và chính quyền các cấp. Vùng mới giải phóng, chính quyền cơ sở mới hình thành, chưa được củng cố kiện toàn. Trình độ nhận thức và năng lực tổ chức, quản lý kinh tế, quản lý xã hội của cán bộ, đảng viên còn nhiều hạn chế.

Miền Nam tạm thời thuộc quyền kiểm soát của đối phương. Từ chỗ có chính quyền, có quân đội, có vùng giải phóng, giờ đây phần lớn cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc, toàn bộ hoạt động của cách mạng phải chuyển sang phương thức vừa hợp pháp và không hợp pháp, vừa công khai lại vừa bí mật. Đó là một đảo lộn lớn, một tình thế nguy hiểm đối với cách mạng ở miền Nam. Sự thay đổi đó, tác động mạnh tới tâm tư, tình cảm của đồng bào, đồng chí miền Nam và đặt ra cho cách mạng Việt Nam những nhiệm vụ mới vô cùng khó khăn.

Cách mạng nước ta chuyển sang một thời kỳ mới - thời kỳ tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, do một Đảng duy nhất lãnh đạo. Do vậy, dù còn nhiều khó khăn, nhưng thuận lợi vẫn là căn bản: miền Bắc hoàn toàn được giải phóng trở thành hậu phương lớn của cả nước, có quân đội hùng mạnh, chính quyền hùng mạnh, Mặt trận rộng rãi. Miền Nam, nhân dân giác ngộ chính trị cao, đã cùng cả nước làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công và kháng chiến thắng lợi. Nhân dân ta có một đảng vững mạnh, có kinh nghiệm lãnh đạo, với đội ngũ đảng viên, đoàn viên hơn một triệu người, lại được nhân dân tiến bộ thế giới đồng tình ủng hộ. Thuận lợi đó sẽ được nhân lên thành sức mạnh to lớn để chiến thắng. Miền Nam Việt Nam lúc này trở thành chỗ đứng chân của hai tập đoàn tay sai thân Pháp và thân Mỹ, là nơi tranh giành ảnh hưởng giữa chúng với nhau. Pháp vẫn muốn ở lại, Mỹ quyết thay thế Pháp. Do phải lệ thuộc ngày càng nhiều vào Mỹ trong quá trình tiến hành chiến tranh Đông Dương và bị bại trận, bị những khó khăn lớn ở chính nước Pháp, họ đã phải rút dần ra khỏi miền Nam nước ta, chuyển giao quyền lực cho Mỹ. Cuộc chuyển giao này không êm thấm. Vì từ lâu, Mỹ đã có âm mưu gạt dần Pháp. Giai đoạn cuối cuộc chiến tranh chống Pháp đã hình thành trên thực tế một tập đoàn thân Mỹ trong quân đội và trong chính quyền Bảo Đại. Đứng đầu tập đoàn này là Ngô Đình Diệm do Mỹ đưa về, buộc Pháp và Bảo Đại phải để ông ta thay Bửu Lộc làm thủ tướng kiêm tổng trưởng nội vụ và quốc phòng. Trong nội các Ngô Đình Diệm, các thành viên thân Mỹ hoặc có quan hệ chặt chẽ với Diệm, chiếm đa số. Dựa vào đó ngay khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Mỹ tuyên bố công khai không bị ràng buộc bởi các điều khoản của Hiệp định này, can thiệp sâu hơn nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Để thực hiện âm mưa cơ bản, lâu dài đó, trước mắt, Mỹ tập trung nỗ lực giúp cho Ngô Đình Diệm phá hoại Hiệp nghị Giơnevơ, loại bỏ các thế lực thân Pháp, nắm trọn quyền thống trị miền Nam.

Như thế, miền Nam Việt Nam từ sau khi ký kết Hiệp nghị Giơnevơ, tồn tại ba lực lượng chính trị, quân sự chủ yếu là: Pháp (và các thế lực thân Pháp), Mỹ (và các thế lực thân Mỹ) và các lực lượng cách mạng miền Nam. Pháp và các thế lực thân Pháp nhanh chóng bị gạt bỏ, còn lại hai lực lượng đối lập nhau gay gắt là: Mỹ - Diệm và lực lượng cách mạng miền Nam.

Chính sách can thiệp của Mỹ làm cho mâu thuẫn giữa Mỹ và Pháp, giữa bọn thân Mỹ và bọn thân Pháp có lúc trở nên gay gắt. Nhiều cuộc xung đột vũ trang giữa quân đội Diệm với một bộ phận thân Pháp trong các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên... diễn ra quyết liệt, làm cho đời sống nhân dân miền Nam ngày càng thêm cơ cực.

Đi đôi với quá trình hất cẳng Pháp, tiêu diệt các thế lực thân Pháp, Mỹ - Diệm đồng thời dồn nỗ lực vào việc đánh phá cơ sở cách mạng, khủng bố nhân dân. Từ thành thị tới nông thôn, từ đồng bằng đến rừng núi, từ chót mũi Cà Mau đến bờ nam sông Bến Hải bao trùm không khí trả thù, khủng bố, ruồng ráp đầy căng thẳng. Máu của những đảng viên cộng sản và của đồng bào miền Nam tiếp tục đổ trên đường phố, trong xóm thôn. Bằng những thủ đoạn dã man, tàn bạo, thâm độc Mỹ - Diệm mưu toan sẽ nhanh chóng tiêu diệt được lực lượng cách mạng và khuất phục được nhân dân ta.

Sau chín năm ròng kháng chiến, miền Nam chưa một ngày có hoà bình. Một lần nữa, cách mạng miền Nam lại đứng trước những thử thách tưởng chừng khó vượt qua.

Tình hình trên đây cho thấy “đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương” 1 và “đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương” 2.

Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đến đây chưa hoàn thành. Cuộc đấu tranh vì nước Việt Nam độc lập thống nhất, dân chủ, hoà bình chưa kết thúc; cuộc đấu tranh đó còn phải tiếp tục dưới nhiều hình thức và bằng những phương pháp thích hợp. Trong cuộc đấu tranh này, cách mạng Việt Nam phải đồng thời tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược, nó đặt ra cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trên cả hai miền nhiều vấn đề mới, phức tạp phải giải quyết để đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục tiến lên. Trước tình thế mới của đất nước và thế giới, để hoàn thành nhiệm vụ đó, sự lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng phải tỉnh táo, sáng suốt, nhạy bén, chủ động, linh hoạt và vững vàng. Toàn quân, toàn dân và toàn thể cán bộ từ Bắc đến Nam, phải đoàn kết chặt chẽ chung quanh Đảng và Hồ Chủ Tịch, chính quyền cách mạng và mặt trận dân tộc thống nhất, tư tưởng và hành động phải nhất trí, kiên quyết, khôn khéo.
__________________________________
1, 2. Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương Đảng. tháng 7-1954.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Một, 2010, 09:39:02 PM

II. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI SAU CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

Chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam ngày 7-5-1954 là một trong những sự kiện nổi bật của phong trào giải phóng của các dân tộc bị áp bức nửa đầu thế kỷ XX, làm “chẤn Động địa cầu”.

Một nước thuộc địa nửa phong kiến vốn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị áp bức, bóc lột đến kiệt quệ suốt gần một thế kỷ, đã đánh bại hoàn toàn đội quân xâm lược nhà nghề của một đế quốc lớn. Bị tổn thất nặng về người và phương tiện chiến tranh1, Pháp buộc phải ngồi vào bàn thương lượng. Tại đây cuộc đấu tranh cũng diễn ra quyết liệt. Nhóm thực dân hiếu chiến trong giới cầm quyền đương thời ở nước Pháp và bọn can thiệp Mỹ tuy đã thất bại trên chiến trường vẫn tìm mọi cách phá hoại cuộc thương lượng, hy vọng sẽ tìm một giải pháp khác để có thể ở lại Đông Dương. Song mọi mưu mô, thủ đoạn của họ đã không thực hiện được.

Chiến thắng của nhân dân Việt Nam cả ở trên chiến trường và trong Hội nghị đã đuổi đội quân viễn chinh tinh nhuệ của Pháp về nước. Đã làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ Đông Dương, có tác động to lớn đến phong trào cách mạng thế giới nói chung và phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh nói riêng. Giữa lúc nhân loại bị áp bức đang mò mẫm trên con đường giành độc lập dân tộc, chiến thắng của Việt Nam làm tăng gấp bội nhiệt tình đấu tranh, lòng tự tin của những người cách mạng và các dân tộc bị áp bức trên khắp thế giới; đồng thời, làm cho những tập đoàn hiếu chiến trong giới cầm quyền ở các nước đế quốc phải lo đối phó với phong trào cách mạng đang dâng lên sau sự kiện Điện Biên Phủ. Cuộc đấu tranh giữa các lực lượng cách mạng và yêu chuộng hoà bình với các lực lượng hiếu chiến, chống cách mạng vì thế diễn ra dưới nhiều hình thức phong phú, quyết liệt với tính chất tiến công mạnh mẽ, có hiệu quả.

Phong trào giải phóng dân tộc.

Trước hết, ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa đang đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, những bài học rút ra trong cuộc đấu tranh giành chính quyền và kháng chiến chống thực dân Pháp với thắng lợi to lớn ở Điện Biên Phủ đã được các lực lượng cách mạng chú trọng nghiên cứu và vận dụng trong cuộc đấu tranh của mình.

Đối với nhân dân các nước châu Phi, chiến thắng của Việt Nam có sức động viên, cổ vũ mạnh mẽ, củng cố niềm tin của họ vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp giành lại độc lập dân tộc. Bài học về đoàn kết đứng dậy đấu tranh theo một đường lối đúng đắn với quyết tâm chiến đấu cho độc lập và tự do của nhân dân Việt Nam đã góp phần làm chuyển biến phong trào giải phóng dân tộc sang một giai đoạn phát triển mới sôi nổi, tích cực và liên tục. Trước đây, do âm mưu chia rẽ của đế quốc và tay sai của chúng, do thiếu kinh nghiệm, phong trào đấu tranh ở nhiều nước châu Phi thường thiếu đoàn kết giữa các lực lượng; mặt trận dân tộc thống nhất chưa hình thành; tình trạng bè phái, chia rẽ còn nặng; có nơi đảng cộng sản còn bị cô lập. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã gợi lên cho nhân dân, trước hết là các lực lượng cách mạng ở các nước châu Phi những suy nghĩ mới về đường lối và phương pháp đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Tháng 8-1954, Đảng Cộng sản Marốc ra tuyên bố đòi Chính phủ Pháp phải chấm dứt các hành động đàn áp, khủng bố những người yêu nước, phải thả tù chính trị. Bản tuyên bố đòi Pháp phải đảm bảo các quyền tự do dân chủ và tổ chức ngay cuộc đàm phán với đại biểu của nhân dân cách mạng, trên cơ sở tôn trọng độc lập dân tộc và chủ quyền của Marốc. Bản tuyên bố đó được sự ủng hộ mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân thuộc các khuynh hướng chính trị trong nước. Tháng 10-1954, một cuộc biểu dương lực lượng được tổ chức trong cả nước, tiếp đó là một cuộc tổng bãi công kéo dài ba ngày liền. Theo kinh nghiệm của nhân dân Việt Nam, nhân dân Marốc đã cầm vũ khí, kiên trì cuộc đấu tranh để giành độc lập dân tộc.

Ở các nước chảu Phi khác như Tuynidi, Angiêri, Mali, Camơrun, Mađagátxca, Cônggô, Urunđi v.v… phong trào đấu tranh giành độc lập phát triển với khí thế sôi nổi. Điển hình là phong trào giải phóng Angiêri. Trước thất bại quân sự của Pháp ở Điện Biên Phủ và được khuyến khích bởi những kinh nghiệm Việt Nam, cuộc đấu tranh của nhân dân Angiêri được tổ chức lại có quy củ hơn. Mặt trận giải phóng dân tộc Angiêri ra đời được sự hưởng ứng của phần lớn các đảng phái và tổ chức yêu nước, đại diện cho các giai cấp công nhân, nông dân, tư sản dân tộc, tiểu tư sản, các giới trí thức và các tầng lớp xã hội khác. Đây là một hiện tượng quan trọng nảy sinh sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam. Mặt trận là một tổ chức dân chủ rộng rãi, thường xuyên giữ mối quan hệ mật thiết với nhân dân lao động, nhất là nông dân. Vai trò lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng của Mặt trận ngày càng được phát huy mạnh mẽ. Khối đoàn kết toàn dân chung quanh Mặt trận hướng vào mục đích giành độc lập dân tộc, xoá bỏ chế độ áp bức bóc lột của thực dân Pháp được củng cố ngày càng vững chắc. Đó là nền tảng để xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng.

Tháng 7-1955, Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Angiêri họp và quyết định thành lập các đội vũ trang: các đội “chiến sĩ giải phóng”. Hội nghị cũng đặt ra cho các đảng viên nhiệm vụ tham gia các lực lượng du kích của Mặt trận giải phóng. Do tình hình phát triển thuận lợi, do yêu cầu thống nhất hành động và thống nhất chỉ huy tháng 7-1956, Đảng Cộng sản và Mặt trận giải phóng đã ký kết hiệp định thống nhất các đội “chiến sĩ giải phóng” của Đảng vào cơ cấu Quân giải phóng, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Mặt trận. Mặt trận giải phóng thường xuyên quan tâm củng cố khối đoàn kết thống nhất trong phong trào chống thực dân, giành độc lập dân tộc. Tháng 2-1956, Mặt trận quyết định thành lập Tổng liên đoàn lao động Angiêri. Tháng 8-1956, ban lãnh đạo Mặt trận họp đề ra cương lĩnh đấu tranh nhằm thủ tiêu chế độ thực dân Pháp, thành lập nhà nước Cộng hoà Angiêri, tiến hành cải cách ruộng đất. Cương lĩnh được công nhân và nông dân - lực lượng chủ yếu của cuộc đấu tranh hưởng ứng nhiệt liệt và tích cực tham gia thực hiện.

Từ khi Mặt trận giải phóng dân tộc Angiêri ra đời, có cương lĩnh đúng đắn được đông đảo các tầng lớp nhân dân ủng hộ, cuộc kháng chiến cứu nước phát triển và giành được thắng lợi từng bước vững chắc. Mặc dù nhiều cuộc vùng dậy của nhân dân đã bị đàn áp, song phong trào đấu tranh không hề bị dập tắt, bởi “Người Angiêri bước lên con đường mà những người anh em Việt Nam đã vạch ra” 2. Cuộc chiến đấu của nhân dân Angiêri do Mặt trận giải phóng dân tộc lãnh đạo bắt đầu nổ ra vào ngày 1-11-1954 được sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.

Mặc dầu thực dân Pháp vẫn ngoan cố kéo dài chiến tranh, song cuối cùng phải ngồi vào bàn thương lượng và ký kết Hiệp ước đình chiến Êviăng (Pháp) ngày 18-3-1962. Nước Pháp thừa nhận quyền độc lập tự chủ của Angiêri. Ngày 1-7-1962, nước Cộng hoà Angiêri ra đời. Nhân dân Angiêri đã xoá được mối nhục mất nước kéo dài 124 năm dưới ách nô lệ của chủ nghĩa thực dân Pháp.
_______________________________________
1. Tại Điện Biên Phủ, 16.200 binh sĩ thuộc 17 tiểu đoàn bộ binh và lính nhảy dù, 3 tiểu đoàn trọng pháo và súng cối nặng, 10 đại đội bổ sung người Thái và các phân đội trực thuộc khác bị tiêu diệt và bắt làm tù binh cùng với toàn bộ vũ khí và kho tàng; 62 máy bay các loại bị bắn rơi.
    Trong cả cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương mà chiến trường Việt Nam là chủ yếu, kéo dài gần 9 năm. Pháp mất khoảng 100.000 người chết, tiêu phí gần 66 tỷ Phrăng mới, không kể viện trợ của Mỹ. Nước Pháp còn phải chi phí các khoản bảo hiểm xã hội cho thương, phế binh và giai quyết hậu quả chiến tranh kéo dài khoảng 20 năm sau khi đình chiến.
2. Lời phát biểu của đồng chí Lácbi Buhali. Bí thư Đảng Cộng sản Angiêri trong dịp sang thăm Việt Nam năm 1961 - Báo Nhân dân ngày 7-5-1961.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Một, 2010, 09:40:49 PM

Cùng với Angiêri và Marốc, một loạt các thuộc địa của Pháp như Tuynidi, Ghinê, Mali, Xuđăng, Mađagatxca, Camơrun cũng vùng dậy đấu tranh. Một lúc phải đối phó với phong trào chống thực dân ở hầu hết các thuộc địa của mình, sau khi bị thất bại thảm hại ở Việt Nam, trong tình hình xã hội Pháp bị khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt, chính phủ đương thời ở Pháp dù không muốn cũng phải lùi bước trước cao trào giải phóng dân tộc. Chính vì thế, phần lớn các nước trong số 24 quốc gia châu Phi trong thời gian này được trả lại quyền độc lập dân tộc ở mức độ khác nhau.

Châu Á - đối tượng xâm lược của các đế quốc châu Âu và Bắc Mỹ từ hàng trăm năm nay, cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc ở đây được tiếp thêm sức mạnh rõ rệt. Chiến thắng của nhân dân Việt Nam chứng minh rằng lực lượng đi xâm lược của bọn thực dân tuy hùng hổ và được trang bị hiện đại, vẫn có thể bị các lực lượng cách mạng đánh bại. “Việc giải phóng Điện Biên Phủ chứng minh nhân dân châu Á có đủ khả năng kết thúc lịch sử của bọn thực dân âm mưu dùng lực lượng vũ trang để thực hiện dục vọng tham lam của chúng” 1. Sự đánh giá đó thể hiện niềm tin của các dân tộc châu Á vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, nó cổ vũ và làm tăng thêm sức mạnh, nghị lực cho các phong trào cách mạng kiên quyết hành động, dẫn tới sự sụp đổ toàn cầu của chủ nghĩa thực dân cũ.

Chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ, chủ nghĩa thực dân mới, mà điển hình là chủ nghĩa thực dân mới Mỹ, liền thay thế. Mỹ nhòm ngó vào thuộc địa cũ của các nước đế quốc.

Ở Đông Dương, sự đoàn kết gắn bó trong nội bộ nhân dân Việt Nam, cũng như sự đoàn kết giữa nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia càng thêm chặt chẽ, để chuẩn bị đối phó với những thủ đoạn xâm lược kiểu thực dân mới mà đế quốc Mỹ đang triển khai tích cực. Những nhiệm vụ xây dựng vùng mới được giải phóng, củng cố lực lượng cách mạng được thực hiện với khí thế sôi nổi.

Trong khi đó, Mỹ lập khối xâm lược Đông Nam Á (SEATO), tuyên bố đặt miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia dưới sự “bảo hộ” của khối này do Mỹ cầm đầu. Lúc này quân đội Pháp cùng với lực lượng ngụy Lào lợi dụng ngừng bắn đã tràn ra nhiều nơi, gây khó khăn cho việc tập kết của bộ đội Pathét Lào và cướp bóc, khủng bố những người kháng chiến. Ở hai tỉnh Sầm Nưa và Phongxalỳ, vùng tập kết của Pathét Lào, từ sau khi ngừng bắn đến tháng 1-1955, các toán vũ trang đối phương đã tấn công nhiều lần, làm nhiều người chết và bị thương, chúng đốt nhà cướp của, bắn giết trâu bò, lợn gà, bắt đi hàng trăm người. Những hành động phá hoại việc thi hành Hiệp định Gơnevơ diễn ra liên tục theo sự chỉ huy của đế quốc Mỹ như lấn chiếm vùng tập kết, thay đổi tay sai, lật đổ chính phủ liên hiệp, bắt lãnh tụ của Pathét Lào v.v… Tình hình Lào rất căng thẳng. Nhưng địch đã thất bại, nhờ có sự đoàn kết và hành động mưu trí, dũng cảm của quân và dân Lào dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân cách mạng Lào.

Ở Campuchia, sau Hiệp định Giơnevơ, Vương quốc Campuchia vẫn nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Tháng 3-1955, Quốc vương Xihanúc tuyên bố thoái vị và trở thành Quốc trưởng. Tháng 9 cùng năm đó, Quốc hội Campuchia tuyên bố rút ra khỏi khối liên hiệp Pháp để xây dựng “quốc gia độc lập, có chủ quyền”. Tuy nhiên, Chính phủ Campuchia đã đồng tình với việc Mỹ thành lập khối quân sự SEATO. Tháng 5-1955, Chính phủ Campuchia ký kết với Mỹ hiệp ước viện trợ quân sự và tháng 9 cùng năm ký hiệp ước viện trợ kinh tế. Việc thi hành Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương bị vi phạm nghiêm trọng. Những người kháng chiến và nhiều chiến sĩ Khơme Ítxarắc, quân tình nguyện Việt Nam trong khi tập kết và rút quân bị quân quốc gia Campuchia phục kích và bắn giết. Với mưu đồ nhanh chóng nhảy vào xứ Đông Dương để thiết lập chủ nghĩa thực dân kiểu mới, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, Mỹ tích cực chuẩn bị cho việc lập “khối Cửu Long” gồm Campuchia, Lào, Thái Lan, nhằm biến ba nước dọc sông Mê Công thành căn cứ quân sự, dùng ba nước này để chống phong trào cách mạng ở Đông Dương. Tình hình trên gây nên sự phản ứng trong nhân dân Campuchia. Sự phụ thuộc vào Mỹ ngày càng tăng lên rõ rệt làm cho chính phủ Xihanúc phải xét lại chính sách của mình và đã chủ trương đi theo đường lối hoà bình, trung lập. Tháng 2-1956, Xihanúc tuyên bố Campuchia không gia nhập khối SEATO. Khắp nơi ở châu Á, một lục địa đất rộng, người đông, nhưng lâu nay vẫn bị các đế quốc phương Tây chèn ép và khinh rẻ, đều có phong trào ủng hộ Việt Nam, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức.

Ảnh hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ lan sang cả Mỹ Latinh, một “lục địa nửa thuộc địa” ở Tây bán cầu, “cái sân sau của Mỹ” như bọn thực dân thường gọi. Ở lục địa này, cứ mỗi phút có bốn người chết đói hoặc chết bệnh, đồng thời cứ mỗi phút bọn thực dân lại hốt được khoảng bốn nghìn đôla để gửi về Mỹ2. Tiếng súng chiến thắng ở Điện Biên Phủ đã làm sôi sục thêm những tình cảm cách mạng và niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của nhân dân Cuba cũng như nhân dân Mỹ Latinh. Những kinh nghiệm kháng chiến của Việt Nam được các lực lượng cách mạng ở Mỹ Latinh coi là “ánh đèn pha chiếu rọi” cho hàng triệu người đang đấu tranh chống áp bức bóc lột trên thế giới. Nhân dân Cuba dưới sự lãnh đạo của Phiđen Cátxtơrô và đội tiên phong, mở cửa đột phá đầu tiên vào hệ thống nửa thuộc địa của đế quốc Hoa Kỳ ở Mỹ Latinh.

Cách mạng Cuba thành công trên một đất nước nằm ngay ở cửa ngõ nước Mỹ đã xua tan ấn tượng khủng khiếp về sức mạnh của bọn tư bản thống trị, củng cố lòng tin vào sức mạnh của quần chúng cách mạng, làm cho nhân dân các nước Mỹ Latinh càng giác ngộ về nhiệm vụ đấu tranh giành quyền sống và độc lập tự do cho dân tộc mình.

Nhìn chung, bằng ý chí chiến đấu kiên cường, lòng dũng cảm, trí thông minh được kết tinh trong đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã làm nên chiến thắng oanh liệt ở Điện Biên Phủ, có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Kết quả đấu tranh thắng lợi vẻ vang của một dân tộc thuộc địa trước một tên thực dân cáo già như Pháp có sức thuyết phục mạnh mẽ, tăng thêm quyết tâm, niềm tin và kinh nghiệm cho các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập và chủ quyền dân tộc. Tình hình châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh vào giữa thập kỷ 50 của thế kỷ này đã không còn giống như trước kia nữa. Từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ đến cuối những năm 60, có khoảng 40 nước giành được độc lập, trong số này có 32 nước là thuộc địa của Pháp. Các chế độ thực dân bị lên án. Các phong trào kháng chiến lớn mạnh, lan rộng ở nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc. Các phong trào đó không những giành được những thắng lợi về quân sự ở nhiều nơi mà còn góp phần rất quan trọng vào việc làm biến đổi tình hình chính trị thế giới. Do nhiều nước đã giành được độc lập cho nên vào giữa những năm 50, Liên hiệp quốc đã có tới hơn 100 nước hội viên với nhiều thành viên mới của châu Á và châu Phi. Trước kia chỉ có 50 nước mà đa số là các nước châu Âu và Mỹ Latinh. Chương trình nghị sự về vấn đề chính trị thế giới không còn do những nước lớn có tiềm lực mạnh về kinh tế và quân sự định đoạt và áp đặt cho Đại Hội đồng Liên hiệp quốc. Năm 1960, Liên hiệp quốc tuyên bố về quyền độc lập của các nước và nhân dân thuộc địa, kết tội chủ nghĩa thực dân bằng tuyệt đại đa số phiếu. Hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc bị sụp đổ liên tiếp trước những đòn tiến công của phong trào giải phóng dân tộc.
_______________________________________
1. Báo Tin tức Inđônêxia, ngày 11-5-1954
2. Theo Tuyên ngôn La Habana II, ngày 4-2-1962.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Một, 2010, 09:43:29 PM

Phong trào công nhân ở các nước tư bản

Từ sau chiến thắng của Việt Nam ở Điện Biên Phủ, cuộc đấu tranh giữa các lực lượng lao động với tư bản, giữa các lực lượng dân chủ với các lực lượng phản động ở các nước tư bản chủ nghĩa cũng nổi lên ngày càng sôi nổi. Sự thất bại của chủ nghĩa thực dân trước phong trào giải phóng dân tộc, việc mất các thuộc địa, nguồn cung cấp nhiều loại tài nguyên quý giá và phong phú, cùng với nhân công rẻ mạt, đã tác động tai hại trực tiếp đến nguồn lợi nhuận của các nước đế quốc làm cho khủng hoảng kinh tế, xã hội và chính trị ở những nước này thêm sâu sắc. Chính quyền tư sản ở đó phải tìm mọi cách cứu vãn tình thế, duy trì những vị trí của chúng ở nước ngoài và tăng cường việc bóc lột nhân dân trong nước. Vì vậy, phong trào đấu tranh của nhân dân lao động, đi sâu là giai cấp công nhân ngày càng phát triển với quy mô rộng lớn có nội dung phong phú và nhiều hình thức linh hoạt. Những đợt bãi công liên tiếp có hàng triệu người tham gia kéo dài hàng tháng. Nhiều cuộc xuống đường biểu dương lực lượng, làm cho bộ máy nhà nước tư sản phải đối phó lúng túng. Ở Italia, Pháp, nhiều cuộc đấu tranh để bảo vệ dân chủ, chống chế độ phản động của nền chuyên chế cá nhân cũng phát triển bằng nhiều hình thức. Ở Mỹ, Achentina, Anh, Canađa, Urugoay, Chilê, Bỉ và nhiều nước tư bản khác, công nhân đã tổ chức nhiều cuộc bãi công lớn. Đặc biệt, cuộc đấu tranh của người Mỹ da đen để giành quyền sống diễn ra thường xuyên, mang tính quần chúng rộng rãi. Nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha chống chế độ độc tài phát xít, nổ ra liên tiếp. Phong trào dân chủ ở Hy Lạp vào thời kỳ này đang được củng cố.

Ở nhiều nước Mỹ Latinh, giai cấp cầm quyền vẫn tiếp tục đi theo con đường cai trị của thực dân Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha đã bị lật đổ, làm cho đời sống nhân dân vẫn chịu cảnh cơ cực, xã hội càng suy thoái. Lạm phát, nợ nần, thất nghiệp, đói rách là những vấn đề nhức nhối kéo dài, mà chính quyền không giải quyết nổi. Nhân dân nổi dậy lật đổ chính quyền ở nhiều nước: tháng 1-1955, tổng thống Panama, tên độc tài khét tiếng, bị giết chết. Tháng 9-1956, tên độc tài Xômôxa ở Nicaragoa bị hạ sát. Tháng 7-1957, tổng thống Ácmát ở Goatêmala cũng bị chung một số phận, v.v… Những cuộc chính biến quân sự xảy ra liên tiếp ở Achentina, Xanvađo, Haiti, Côlômbia, Vênêduyêla. Ở Urugoay, công nhân đấu tranh buộc quốc hội phải thông qua dự luật trưng thu xí nghiệp ướp lạnh của công ty độc quyền Mỹ ở Môngtêviđêo. Nhiều cuộc đấu tranh biểu lộ thái độ chống chính sách thực dân mới cũng nổ ra rầm rộ, buộc Phó Tổng thống Mỹ Níchxơn phải bỏ dở cuộc “hành trình hữu nghị” đến tám nước Nam Mỹ, hồi cuối tháng 4 đầu tháng 5- 1958.

Ở châu Á, cuộc đấu tranh của nhân dân lao động chống sự hà khắc của chính quyền tư sản, chống việc gây thù hằn giữa các dân tộc và chuẩn bị chiến tranh cũng không kém phần sôi nổi, quyết liệt. Ở Nhật Bản có phong trào đấu tranh của quần chúng đông đảo trong công nhân, nông dân và giới trí thức, các nhà tư sản dân tộc đòi dân chủ, chống sự phụ thuộc vào đế quốc Mỹ. Những cuộc khủng bố, bắt bớ, tra tấn lan rộng ở Hàn Quốc, đã gây phẫn nộ ngày càng cao trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh niên, làm nổ ra nhiều cuộc biểu tình, bãi công kéo dài ở nhiều địa phương.

Hoà chung với phong trào chống đế quốc, các Chính phủ Ấn Độ, Miến Điện (nay là Mianma), Nam Dương (nay là Inđônêxia) tích cực thực hiện chính sách ngoại giao độc lập tự chủ, xóa bỏ những ảnh hưởng của thực dân trên đất nước mình. Tháng 6-1954. Chính phủ Ấn Độ và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra tuyên bố về năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình:

1. Tôn trọng chủ quyền và sự thống nhất lãnh thổ của nhau;

2. Không xâm lược lẫn nhau;

3. Không can thiệp vào nội chính của nhau;

4. Bình đẳng và có lợi cho hai bên;

5. Cùng tồn tại trong hoà bình.

Bản tuyên bố này được Chính phủ Nam Dương (Inđônêxia) ủng hộ. Chính phủ Miến Điện (Mianma) cũng khẳng định năm nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình là những nguyên tắc bất di bất dịch của mối quan hệ quốc tế giữa các nước trên thế giới. Tại Hội nghị Băngđung tháng 4-1955, đại biểu của 29 nước Á- Phi tham dự, trong đó có Việt Nam, đều lên án chủ nghĩa thực dân và nhấn mạnh năm nguyên tắc nói trên. Tháng 6 cùng năm đó, Đại hội Hoà bình thế giới họp ở Henxinhki (Phần Lan) có gần 2000 đại biểu của 68 nước tham dự. Nhiều đại biểu thuộc các thành phần xã hội khác nhau đã lên án những hành động xâm phạm chủ quyền quốc gia do các hiệp ước quân sự và căn cứ quân sự của đế quốc gây ra. Chính sách vũ lực, những thủ đoạn can thiệp và xâm lược của đế quốc Mỹ ở nhiều khu vực trên thế giới, đều bị vạch mặt, chỉ trích gay gắt. Nhiều đại biểu tán thành năm nguyên tắc chung sống hoà bình, hoan nghênh kết quả của Hội nghị Băngđung, ủng hộ việc giải quyết các vấn đề quốc tế bằng phương pháp thương lượng, hoan nghênh Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương. Đó là kết quả sự thức tỉnh của nhân dân thế giới. Loài người đã lên tiếng chống lại chính sách vũ lực, chống lại các khối quân sự, cuộc chạy đua vũ trang và cảnh giác trước nguy cơ bùng nổ chiến tranh hạt nhân. Ngày 6-8, thành phố Hirôsima ở Nhật Bản bị Mỹ ném bom nguyên tử đã được Đại hội quyết định lấy đó làm ngày hoạt động quốc tế cấm vũ khí hạt nhân.

Vùng Trung Đông là nơi tranh chấp kéo dài giữa nhiều cường quốc. Ở đây, phong trào giải phóng dân tộc, chống sự phụ thuộc vào nước ngoài gắn chặt với phong trào đòi cải thiện đời sống, đòi dân chủ. Ý thức dân tộc và phong trào quần chúng mạnh mẽ chống đế quốc thực dân, tác động tích cực đến thái độ và hành động của giới cầm quyền ở nhiều nước Arập. Một trong các yêu cầu quan trọng mà nhân dân đề ra là làm cho các ngành kinh tế quốc dân thoát khỏi ràng buộc vào tư bản nước ngoài, chấm dứt tình trạng các nước tư bản tự do cướp bóc tài nguyên của các nước Arập, đặc biệt là dầu lửa. Việc Ai Cập thực hiện quốc hữu hoá kênh đào Xuyê làm cho các nước tư bản, nhất là những nước có nhiều cổ phần ở đây như Anh, Pháp phản ứng quyết liệt, làm nổ ra cuộc khủng hoảng ở vùng này. Itxraen cùng với Anh và Pháp đưa quân đội tấn công chiếm một số vùng quan trọng dọc theo kênh. Hành động xâm lược này bị nhân dân thế giới lên án kịch liệt, kể cả nhân dân Anh và Pháp. Nhiều cuộc biểu tình phản đối, một số nước cắt quan hệ ngoại giao với Anh và Pháp. Ở Xyri, Libăng nhân dân phá ống dẫn dầu, đốt các trạm bơm của những nước xâm lược trên chạy qua lãnh thổ của mình. Chính phủ và nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa biểu thị thái độ kiên quyết ủng hộ Ai Cập bằng nhiều hành động tích cực. Chính phủ Liên Xô tuyên bố: Ai Cập quốc hữu hoá kênh Xuyê là hoàn toàn hợp pháp và chính đáng, đòi các nước phải tôn trọng phủ quyền của Ai Cập, giải quyết vấn đề kênh Xuyê bằng giải pháp hoà bình. Trước những hành đỏng quân sự liều lĩnh của Anh, Pháp và Itxraen, trong thư gửi cho Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô nói rõ: “Chính phủ Xôviết sẵn sàng dùng sức mạnh để đè bẹp bọn xâm lược và lập lại hoà bình ở khu vực này” 1. Liên Xô còn gửi thư cho tổng thống Mỹ Aixenhao, gợi ý: “Mỹ có lực lượng hải quân quan trọng ở Địa Trung Hải. Liên Xô cũng có một lực lượng hải quân và không quân hùng mạnh. Việc Mỹ và Liên Xô kịp thời sử dụng chung những phương tiện đó theo nghị quyết của Liên hợp quốc sẽ là một đảm bảo chắc chắn để chấm dứt hành động xâm lược chống chính phủ và nhân dân Ai Cập” 2.

Ở Liên Xô và Trung Quốc, có phong trào thanh niên tình nguyện sẵn sàng sang giúp Ai Cập, gửi giúp lương thực, quần áo, thuốc men. Nhân dân Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa khác đều nhiệt tình ủng hộ Chính phủ và nhân dân Ai Cập.

Tại Anh, các nghị sĩ thuộc Công đảng công khai phản đối quyết liệt chính sách của Chính phủ, đòi thủ tướng Idơn phải từ chức.

Tại Pháp, Đảng Cộng sản lên án cuộc chiến tranh xâm lược ngay từ đầu. Công nhân và các tầng lớp nhân dân đòi Chính phủ Pháp phải ngừng chiến ở Ai Cập, chấm dứt chiến tranh đang diễn ra lúc đó ở Angiêri. Phong trào chống đối sôi sục ở khắp nơi trên thế giới buộc Anh, Pháp và Ixraen, ngày 22-11-1956, phải rút quân khỏi vùng kênh đào Xuyê.
____________________________________
1, 2. Văn Quân: Ai Cập và các nước Arập vùng lên, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1957.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Một, 2010, 09:44:37 PM

Hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới

Sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân ở các nước tư bản cùng với phong trào hoà bình trên thế giới đã mở rộng phạm vi ảnh hưởng của hệ thống xã hội chủ nghĩa được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa được củng cố thêm và nối liền từ Âu sang Á, là thành trì của hoà bình và an ninh của các dân tộc. Chiến thắng Điện Biên Phủ góp phần quan trọng làm suy yếu một bước chủ nghĩa đế quốc. Đây là một trong những thời cơ thuận lợi để các nước xã hội chủ nghĩa tranh thủ xây dựng tiềm lực của mình.

Trên đất nước Liên Xô, kế hoạch 5 năm lần thứ năm (1951-1955) được hoàn thành trước thời hạn. Tổng sản lượng công nghiệp năm 1955 tăng 85% so với năm 1950, nhiều gấp 3,2 lần so với trước chiến tranh. Từ năm 1956 đến 1961, gần 6000 xí nghiệp lớn được xây dựng xong và đi vào sản xuất, trong đó có nhà máy thuỷ điện Lênin trên sông Vonga, các nhà máy luyện kim ở Caragađa và Quybisép v.v… Nhiều ngành sản xuất công nghiệp có những bước phát triển lớn, mặc dù trong chiến tranh đã bị tàn phá nghiêm trọng. Về than, năm 1957 Liên Xô chiếm 20% tổng sản lượng thế giới. Về dầu lửa, năm 1958, sản lượng của Liên Xô là 113 triệu tấn, đứng đầu thế giới về tốc độ khai thác dầu lửa hàng năm (từ 1953 đến 1957 mức tăng tuyệt đối hàng năm trung bình là 11,4 triệu tấn, trong khi đó, Mỹ chỉ có 8,8 triệu tấn). Từ 1950 Liên Xô đứng đầu châu Âu và thứ nhì thế giới về sản lượng điện. Năm 1958, những chiếc tuyếcbin lớn đầu tiên của trung tâm thuỷ điện Xtalingơrát với công suất 2 triệu 310 nghìn kw đã đi vào sản xuất, nâng tổng sản lượng điện của đất nước lên 233 tỷ kw/giờ. Liên Xô là nước đi đầu trong việc sử dụng năng lượng nguyên tử vào mục đích hoà bình. Tháng 6-1954, ở Liên Xô, lần đầu tiên trên thế giới, một nhà máy điện nguyên tử bắt đầu sản xuất năng lượng điện với công suất 500kw. Sau đó, nhiều trung tâm nguyên tử lớn từ 400 ngàn đến 600 ngàn kw được tiếp tục xây dựng.

Ngành nông nghiệp cũng có những bước phát triển lớn. Năm 1958, tổng số thu hoạch ngũ cốc của toàn Liên bang lên tới 8,5 tỷ pút (1 pút bằng 16,38kg) trong đó có 4,5 tỷ pút lúa mì. Từ 1954 đến 1956, diện tích vỡ hoang đạt 36 triệu héc ta, rộng hơn diện tích trồng ngũ cốc của 9 nước châu Âu cộng lại (Áo, Tây Đức, Bỉ, Đan Mạch, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Pháp và Italia). Diện tích trồng cây công nghiệp đạt 11,8 triệu hécta. Riêng nước Cộng hoà Udơbêkitxtan sản xuất số lượng bông bằng sản lượng của các nước Braxin, Pakitxtan, Thổ Nhĩ Kỳ và Iran cộng lại. Ngành chăn nuôi cũng được đẩy mạnh. So sánh năm 1953 với năm 1958, đàn bò tăng từ 55,8 triệu con lên 70,3 triệu con, đàn lợn từ 33,3 triệu con lên 48,5 triệu con, đàn cừu từ 99,8 triệu con lên 129,6 triệu con.

Mạng lưới giao thông được mở rộng. Năm 1956, mạng đường sắt có tổng số chiều dài là 120.700km; đến 1957, Liên Xô vượt lên hàng đầu trong những nước có đường sắt được điện khí hoá (với 7.700km). Đường ôtô, đường sông, đường biển, đường không được khôi phục nhanh chóng sau chiến tranh và được cải tiến rất nhiều, làm cho việc vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân được thuận tiện, an toàn. Những kết quả về xây dựng chủ nghĩa xã hội nói trên đã làm cho đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao.

Những thành tựu vĩ đại của Liên Xô trong việc phóng vệ tinh và hành tinh nhân tạo lên vũ trụ, phóng tàu vũ trụ mang theo sinh vật và con người và điều khiển nó về quả đất được an toàn, làm cho uy tín của phe xã hội chủ nghĩa tăng lên rõ rệt.

Các dân tộc yêu chuộng hoà bình đều vui mừng trước sự tiến bộ của đất nước Xôviết về chính trị kinh tế và khoa học kỹ thuật. Về đối ngoại, Liên Xô đã có nhiều cố gắng để làm dịu tình hình thế giới.

Mùa hè 1955, Chính phủ các nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp họp ở Giơnevơ, Liên Xô góp phần tích cực làm cho Hội nghị nhất trí tuyên bố cùng nhau làm dịu tình hình thế giới, gạt bỏ mọi đe doạ chiến tranh và giảm nhẹ gánh nặng quân sự. Tình hữu nghị giữa Liên Xô với nhiều nước Á - Phi : Ấn Độ, Inđônêxia, Ai Cập, Xyri, Apganítxtan, Miến Điện được củng cố. Việc Liên Xô thành lập quan hệ ngoại giao với Campuchia, Xuđăng, Xri Lanca, Tuynidi, Libêria và Nêpan được nhân dân trong nước và thế giới hoan nghênh. Năm 1956, bầu không khí chính trị ở Viễn Đông được cải thiện. Việc bình thường hoá quan hệ giữa Liên Xô và Nhật Bản mở ra triển vọng hợp tác có kết quả giữa hai nước. Nhiều cuộc viếng thăm qua lại của các đoàn đại biểu cấp cao Liên Xô và các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Miến Điện, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, Nam Tư, Inđônêxia, Nhật Bản, Yêmen, Ápganixtan, Cộng hoà Dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Ba Lan, Bungari v.v…, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiểu biết chính sách đối ngoại hoà bình hữu nghị và thiện chí của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Tháng 11-1956, Liên Xô đưa ra một chương trình giảm quân bị, trong đó có việc cấm dùng vũ khí A và thử vũ khí H, song Mỹ cho rằng chủ nghĩa cộng sản Liên Xô bành trướng thế lực của mình, đe doạ Mỹ, họ tìm mọi cách để từ chối. Tuy vậy, không đợi các nước lớn phương Tây chấp nhận giải trừ quân bị toàn bộ, năm 1957, Liên Xô đơn phương giảm bớt 1,84 triệu quân. Đối với vấn đề an ninh tập thể ở châu Âu và châu Á, Liên Xô chủ trương tạo ra ở châu Âu những đảm bảo vững chắc cho hoà bình và những điều kiện cần thiết cho sự hợp tác kinh tế lâu dài giữa tất cả các nước ở lục địa này. Liên Xô hoan nghênh hội nghị Băngđung và coi đó là “một cống hiến quý báu cho hoà bình thế giới”. Trước tình hình căng thẳng và phức tạp ở Trung và Cận Đông, tháng 2-1957, Chính phủ Xôviết gửi thông điệp cho Mỹ, Anh, Pháp đề nghị tôn trọng và thực hiện những nguyên tắc cơ ban của Bản tuyên bố chung của Hội nghị những người đứng đầu các chính phủ Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp họp ở Giơnevơ mùa hè năm 1955, bảo đảm hoà bình và an ninh ở Trung, Cận Đông và không can thiệp vào nội bộ của các nước trong khu vực này. Cụ thể là giải quyết những vấn đề tranh chấp bằng phương pháp hoà bình trên cơ sở thương lượng, tôn trọng độc lập, chủ quyền của các nước, không lôi kéo các nước đó vào các khối quân sự, trong đó có các nước lớn tham gia; huỷ bỏ các căn cứ quân sự nước ngoài, triệt hồi quân đội nước ngoài đóng ở Trung, Cận Đông, cắt đứt việc cung cấp vũ khí cho khu vực này.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Một, 2010, 09:47:39 PM

Công cuộc xây dựng đất nước ở các nước khác trong hệ thống xã hội chủ nghĩa từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai đến giữa thập kỷ 50 đã đạt nhiều kết quả tốt đẹp, mặc dù gặp nhiều khó khăn.

Các nước Đông Âu như Tiệp Khắc, Ba Lan, Đông Đức, Hunggari, Bungari, Rumani, Anbani... là những nước bị tàn phá nặng nề trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Sau khi hoà bình được lập lại, với sự giúp đỡ của Liên Xô, nhân dân lao động ở những nước này xây dựng lại đất nước, khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc dân với tốc độ khá nhanh.

Ở Tiệp Khắc, tổng sản lượng công nghiệp năm 1955 tăng gấp bốn lần năm 1937. Công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp tiến hành có kết quả tốt. Tới năm 1958, số hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đã quản lý tới 70% diện tích cày cấy của cả nước; sản xuất nông nghiệp tăng 33% so với năm 1948.

Ở Ba Lan, sau khi thực hiện kế hoạch sáu năm phát triển kinh tế (1950-1955), sản xuất công nghiệp tăng gấp 2,8 lần so với năm 1949 và 5 lần so với trước chiến tranh chống phát xít Đức. Nhiều ngành công nghiệp được hoàn toàn đổi mới như luyện kim, hoá chất và chế tạo máy móc, đồng thời cũng xuất hiện những ngành công nghiệp mới như công nghiệp xe hơi, máy kéo, đóng tàu thuỷ. Trong khi công nghiệp phát triển mạnh, sản lượng tăng 5 lần so với trước chiến tranh, thì nông nghiệp không được đầu tư thích đáng, chỉ tăng có 8%. Tình trạng đó ảnh hưởng tới đời sống của nhân dân và là một nguyên nhân làm nổ ra vụ rối loạn Pôdơnan1 tháng 6-1956. Đảng công nhân thống nhất Ba Lan đã rút kinh nghiệm, khắc phục sai lầm, do đó đã đẩy lùi được âm mưu địch kéo Ba Lan khỏi phe xã hội chủ nghĩa.

Công cuộc xây dựng đất nước ở Hunggari vào những năm 50 gặp rất nhiều khó khăn, vì một nước vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh: mất hết thiết bị các nhà máy, tất cả 1400 cầu trên sông Đanuýp và sông Títda bị phá hủy, hơn 50% số gia súc bị giết. Song, từ sau 1954, tranh thủ thời gian hoà bình và được sự giúp đỡ của Liên Xô, sự hợp tác giữa các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế quốc dân đã có nhiều biến chuyển quan trọng: sản lượng về công nghiệp, nông nghiệp vào những năm 1955-1957 đều tăng hơn những năm trước chiến tranh, tạo cơ sở cho việc phát triển tiếp sau này. Tháng 10-1956, lợi dụng tình hình khó khăn và một sai lầm của Đảng, Nhà nước Hunggari, những thế lực chống đối đã gây ra cuộc bạo động vũ trang, đẩy chính quyền nhân dân đến nguy cơ bị lật đổ. Được sự giúp đỡ kịp thời và tích cực của Liên Xô, những người cách mạng chân chính Hunggari được giai cấp công nhân ủng hộ, đã kiên quyết thành lập Chính phủ công nông cách mạng và dập tắt được cuộc bạo động. Bọn gây bạo loạn bị đánh bại2.

Ở Đông Đức, công cuộc xây dựng xã hội mới được tiến hành với ý thức lao động xã hội chủ nghĩa và tinh thần kỷ luật rất cao của toàn dân. Sau khi hoàn thành thắng lợi kế hoạch kinh tế 2 năm (1949-1950), nước Cộng hoà Dân chủ Đức đã thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1951-1955), tạo cơ sở để vươn lên thành một trong 10 nước công nghiệp tiên tiến trên thế giới và là nước đứng hàng đầu châu Âu về sản lượng điện theo đầu người, nước thứ hai trên thế giới về sản lượng hoá chất theo đầu người vào những năm 1956-1960. Sau kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1956-1960), tổng sản lượng công nghiệp tăng gấp 3 lần so với trước chiến tranh. Hợp tác hoá nông nghiệp được hoàn thành. Mức thu nhập của xã viên xấp xỉ mức thu nhập của công nhân nông nghiệp.

Ở nước Công hoà Nhân dân Rumani, kế hoạch 5 năm lần thứ hai bắt đầu được thực hiện từ năm 1953 và hoàn thành vào năm 1957. So với năm 1952, một số ngành công nghiệp nặng đạt mức tăng trưởng đáng phấn khởi: điện tăng 167%, sản lượng than đá tăng 153%, quặng sắt tăng 236%, xi măng tăng 125%, thịt tăng 67%, đường tăng 207%, đồ hộp tăng 13%. v.v… Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được xây dựng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đến năm 1958, khu vực xã hội chủ nghĩa đã sản xuất 98% sản lượng công nghiệp, hơn 90% sản lượng nông nghiệp.

Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa: Sau khi được thành lập tháng 10-1949, nhân dân Trung Quốc triển khai kế hoạch phục hồi đất nước. Đến năm 1954, giá trị tổng sản lượng công, nông nghiệp toàn quốc gần gắng 2,2 lần năm 1949. Tỷ trọng sản lượng công nghiệp hiện đại với tổng sản lượng công, nông nghiệp trong năm 1949 chỉ có khoảng 17%, nhưng đến năm 1954, đã tăng lên tới 33%. Đến năm 1952, sản lượng những nông phẩm chủ yếu đã vượt mức năm cao nhất hồi trước chiến tranh chống Nhật. Tổng sản lượng lương thực lên tới 163 triệu tấn, vượt mức trước chiến tranh 9%; bông tới hơn 1 triệu tấn, vượt 52% v.v… Về hợp tác hoá nông nghiệp, năm 1950 chỉ có 11% số hộ nông dân tham gia, năm 1952 đã có 42% và năm 1955: 60% số hộ đã vào hợp tác xã. Mạng lưới thuỷ lợi được mở rộng. Năm 1949 mới có 230 triệu mẫu Trung Quốc được tưới nước qua hệ thống thuỷ lợi, đến năm 1959 số ruộng được tưới đã là 1070 triệu mẫu. Mạng đường sá trên bộ, trên sông, biển, đường hàng không đều phát triển hơn trước nhiều. Trong 9 năm từ 1949 đến năm 1958, đường sắt tăng thêm hơn 100.000 km, đường ôtô tăng 360.000 km, đường hàng không tăng 22.000 km. Đời sống vật chất và văn hoá của mọi tầng lớp nhân dân được nâng cao rõ rệt. Chính quyền nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã đoàn kết được toàn dân hướng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ những thành qua cách mạng đã giành được.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc vẫn tích cực giúp đỡ các nước anh em trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc và phong trào hoà bình trên thế giới. Trong những năm 1954-1955, tình hữu nghị giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa với các nước Á-Phi được mở rộng và phát triển lên một bước mới, tốt đẹp. Tại nhiều hội nghị quốc tế về nhiều lĩnh vực khác nhau trong sinh hoạt chính trị thế giới, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa có vai trò quan trọng và tiếng nói được nhiều nước hoan nghênh. Sự ủng hộ và giúp đỡ của Trung Quốc đối với cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân Triều Tiên và cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc chiến tranh chống xâm lược nói trên. Vì vậy, uy tín quốc tế của Trung Quốc trong thời kỳ này được tăng lên rất nhiều.

Ở nước Công hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên: giai đoạn khôi phục đất nước bắt đầu từ năm 1954 đến hết năm 1956 và sau đó bước vào giai đoạn phát triển toàn diện. Nhân dân Bắc Triều Tiên nêu cao tinh thần cần kiệm xây dựng đất nước, đã thực hiện thắng lợi các kế hoạch khôi phục kinh tế. Riêng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất phần công nghiệp được hoàn thành trong hai năm rưỡi. Về nông nghiệp, năm 1958, hợp tác hoá cơ bản được hoàn thành. Tổng sản lượng lương thực năm 1944 là 2,41 triệu tấn, đến năm 1960 đã lên tới 3,80 triệu tấn. Đời sống văn hoá được Nhà nước quan tâm đặc biệt. Năm 1958, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên là nước đầu tiên ở phương Đông thi hành chế độ giáo dục bắt buộc bậc trung học.

Nước Công hoà Nhân dân Mông Cổ. Từ một nước chỉ có ngành chăn nuôi sau kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1953-1957) đã trở thành một nước nông, công nghiệp. Năm 1959, công cuộc tập thể hoá nông nghiệp được hoàn thành. Đàn gia súc năm 1921, khi cách mạng mới thành công, chỉ có hơn 9 triệu con, đến năm 1959 đã có 23 triệu con, trong đó 80% thuộc sở hữu quốc doanh. Diện tích trồng trọt của nông trường quốc doanh năm 1957 có 75.700 mẫu, đến năm 1960 đã lên tới 255.500 mẫu. Đời sống nhân dân ổn định.

Tình hình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học - kỹ thuật ở các nước xã hội chủ nghĩa đã tạo cho các nước này một vị thế mới, làm cho so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng trên thế giới thay đổi lớn, có lợi cho hoà bình, độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Ở các nước xã hội chủ nghĩa mọi người dân đều được bình đẳng, tự do, đời sống vật chất, tinh thần, văn hoá từng bước được cải thiện. Mặc dù còn nhiều khó khăn trên bước đường đi tới tương lai, nhưng những thay đổi đó là căn bản, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản, mối đoàn kết giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo ở mỗi nước, tình đoàn kết quốc tế, sự giúp đỡ lẫn nhau, ý chí đấu tranh kiên quyết vì hoà bình và tiến bộ xã hội, đã nâng cao uy tín các nước xã hội chủ nghĩa trên trường quốc tế. Chính những nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đã làm nên những kỳ tích trong lịch sử nhân loại ở nửa đầu thế ký XX: Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga; chiến thắng phát xít Hítle và quân phiệt Nhật trong cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941-1945) của nhân dân Liên Xô; Cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa ra đời (10-1949); Cách mạng Tháng Tám và Chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp, mở đầu sự tan rã không gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Những sự kiện đó đã làm thức tỉnh loài người tiến bộ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của các dân tộc bị chủ nghĩa đế quốc, thực dân áp bức bóc lột ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vùng lên đấu tranh để tự giải phóng mình. Đồng thời, nó kích thích đến cao độ phong trào đòi dân chủ, đòi cải thiện đời sống, đòi quyền bình đẳng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa.
______________________________________
1. Pôdơnan là một trong những thành phố công nghiệp lớn của Ba Lan. Ngày 28-6-1956, công nhân các nhà máy ở đây bất bình với việc tổ chức tiếp tế không chu đáo, làm thiệt hại một phần lương, nên đã bãi công và biểu tình trên đường phố. Bọn phản động tay sai đế quốc lợi dụng tình hình này huy động những nhóm vũ trang được chuẩn bị từ trước cùng những bọn người theo chúng, tấn công các công sở và tuyên truyền lăng mạ, đòi lật đổ chính quyền nhân dân. Những vụ rối loạn làm 53 người chết, 300 người bị thương, phần lớn thuộc các lực lượng công an (dựa theo Tạp chí Dân chủ mới của Đảng Cộng sản Pháp số 8, tháng 8-1956).
2. Vụ bạo động không phải xảy ra ngẫu nhiên mà là một âm mưu đã được chuẩn bị từ lâu với sự giúp đỡ và chỉ huy của phương Tây. Những phần tử cầm đầu phần lớn là những tên đã bị toà án nhân dân kết án về tội phản quốc, âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng. Trong khi đó: một số người lãnh dạo trong Đảng Lao động và Nhà nước Hunggari lúc đó vì “say sưa với thắng lợi” của sự nghiệp xây dựng đất nước, đã vi phạm những nguyên tắc dân chủ, xa rời quần chúng, không thấy những khuyết điểm trong việc phát triển kinh tế, mất cảnh giác trước những hoạt động phá hoại. Nội bộ lãnh đạo thiếu đoàn kết thống nhất, làm yếu sức chiến đấu của tổ chức đảng, gây bất mãn trong quần chúng. Lợi dụng tình hình đó, ngày 23-10-1956, bọn chống đối kích động quần chúng biểu tình ở Thủ đô Buđapét và dùng lực lượng vũ trang đã được chuẩn bị tiến hành bạo động, đánh vào các cơ quan hành chính và các mục tiêu quan trọng khác như sân bay, ga xe lửa, nhà máy sản xuất vũ khí. Báo chí, truyền đơn phản cách mạng được phát hành. Những chủ trương của Trung ương Đảng vũ trang cho công nhân, huy động toàn bộ lực lượng công an, tuyên bố tình trạng khẩn cấp… không được thực hiện, do sự phản bội của những tên chống đối nằm trong bộ máy chính quyền như Cục trưởng cục cảnh sát Kôpắcxi, đại tá Malêtơ trong Bộ Quốc phòng, Imrê Nátgơ làm Thủ tướng từ tối 23-10. Chính vì vậy bọn chúng thả sức hoành hành, tàn bát những người cộng sản và quần chúng trung thành với chính quyền nhân dân. Chỉ trong vài ngày, toàn quốc lâm vào tình trạng vô chính phủ. Trong những giờ phút nguy ngập đó, Chính phủ công nông cách mạng được thành lập do Ianốt Cađa đứng đầu, đã tập hợp các lực lượng trung thành với cách mạng để phản công lại, đồng thời yêu cầu quân đội Liên Xô giúp khôi phục lại trật tự. Ngày 4-11-1956, cuộc bạo động bị đập tan.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 08 Tháng Một, 2010, 09:49:56 PM

Ngược lại, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, trong các nước tư bản cũng động viên nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa và các nước dân chủ nhân dân nỗ lực xây dựng chế độ mới vững mạnh, để làm chỗ dựa và góp phần ngày càng có hiệu quả vào cuộc đấu tranh chung đang diễn ra sôi nổi trên khắp hành tinh. Đế quốc Mỹ cho rằng sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới dẫn đến sự tan rã của hệ thống thuộc địa, là do “cộng sản mở rộng bá quyền”, Mỹ và phe Mỹ phải ngăn chặn để bảo vệ “thế giới tự do”. Song, chủ nghĩa tư bản thế giới đang gặp nhiều khó khăn lớn, phải dựa vào Mỹ.

Nước Pháp sau thất bại ở Việt Nam đã rơi vào một tình trạng suy thoái kéo dài trong nhiều năm. Chính quyền đương thời vừa phải giải quyết hậu quả của chiến tranh Đông Dương, trong khi vẫn tiếp tục duy trì chế độ thực dân ở Angiêri bất chấp phong trào cách mạng ở đây đã phát triển thành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Những cuộc đấu tranh giành độc lập ở các nước khác trong hệ thống thuộc địa của Pháp, việc thi hành Hiệp định Giơnevơ và ổn định tình hình nội bộ, cũng như giải quyết những mối quan hệ phức tạp giữa các nước Tây Âu lúc đó, đặt chính phủ Pháp trước tình cảnh vô cùng bê bối. Nền tài chính kiệt quệ, lạm pháp tăng, số người thất nghiệp ngày càng đông. Ngay từ những năm 1951-1953, nhiều ngành kinh tế quan trọng của Pháp như khai thác than, dầu lửa, sản xuất điện bị suy sụp. Mức sống của nhân dân sút kém. Tiền lương của khoảng 60% công nhân viên thấp hơn nhu cầu tối thiểu cho đời sống. Hàng triệu gia đình không nhà cửa. Ở nông thôn, 60 vạn gia đình nông dân không có điện. Trong số 35.000 xã, chỉ có 11.000 xã được cung cấp nước sạch. Việc nhập và bán phá giá sản phẩm nông nghiệp của Mỹ càng làm cho nông dân thêm điêu đứng. Hàng triệu các nhà tiểu nông không có khả năng sinh sống trên mảnh đất của họ. Vai trò của Pháp trên trường quốc tế giảm sút nhiều. Tuy vậy, những người cầm quyền lúc đó ở Pháp vẫn đeo đuổi cuộc chiến tranh xâm lược ở Angiêri, đẩy nước Pháp càng lún sâu vào cuộc tổng khủng hoảng. Tình hình trên làm cho Pháp càng bị ràng buộc vào viện trợ và chính sách của Mỹ trong các vấn đề quốc tế. Thái độ của Pháp sau Hội nghị Giơnevơ là biểu hiện của sự ràng buộc đó. Chính phủ Măngđét Phrăngxơ theo đuôi Mỹ vừa muốn thiết lập các quan hệ văn hoá và kinh tế với miền Bắc Việt Nam, để tạo những thuận lợi trong tương lai, vừa muốn không làm phật ý Mỹ để tiếp tục được Mỹ viện trợ. Chính sách đó đã bị phá sản. Pháp phải cam chịu một bề, để cho Mỹ độc chiếm miền Nam Việt Nam và tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược mà Pháp không theo đuổi được. Pháp còn gia nhập khối SEATO, từ bỏ trách nhiệm thi hành Hiệp định Giơnevơ mà họ đã ký kết và cam đoan thực hiện nghiêm chỉnh.

Tình hình rối ren nói trên làm cho mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền và giữa các đảng phái ở nước Pháp ngày càng sâu sắc, nhất là trong những năm từ 1954 đến 1960. Phái hữu trong chính quyền vẫn chi phối việc hoạch định chính sách của chính phủ. Vì vậy, những quyền dân chủ của nhân dân như quyền tự do báo chí, quyền tự do hội họp, v.v… Đều bị hạn chế. Ở các thuộc địa còn lại của Pháp, những hành động khủng bố, đàn áp dã man những người yêu nước, cùng với những cuộc đấu tranh đòi quyền sống, đòi hoà bình và cơm áo của nhân dân lao động diễn ra khắp nơi. Pháp càng gặp khó khăn càng phải theo đuôi Mỹ.

Nước Anh, một nước thắng trận trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, có nền kinh tế rất mạnh, nhưng vào những năm 50 không còn giữ được vai trò quốc tế của mình như trước nữa. Hệ thống thuộc địa của Anh bị tan rã không cứu vãn được. Mặc dù Anh còn giữ được mức sản xuất công nghiệp trước chiến tranh, nhưng nền kinh tế tài chính bị khủng hoảng nghiêm trọng1.

Trong khi đó, sự lớn mạnh của phong trào công nhân trong nước cũng như trên thế giới, sự phát triển của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa làm cho những người cầm quyền nước Anh phải nhượng bộ Mỹ trong nhiều vấn đề quốc tế. Những giới cực hữu cho rằng lối thoát duy nhất là con đường tranh thủ viện trợ của Mỹ. Đương nhiên, viện trợ Mỹ có tác dụng đối với nước Anh, cũng như các nước khác trong việc phục hồi kinh tế, song, lại bị Mỹ chèn ép về nhiều mặt. Ngay sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ đã chiếm của Anh những vị trí chủ chốt, giàu dầu lửa ở Trung, Cận Đông. Năm 1937, Mỹ chỉ nắm được 13% số nước có dầu ở Cận Đông, Anh nắm hơn 80%. Đến năm 1956, Mỹ đã kiểm soát được hơn 60%, còn Anh chỉ giữ được khoảng 30%. Sau thất bại trong cuộc xâm lược Ai Cập, Anh và Pháp mất nhiều ưu thế và quyền lợi ở vùng này. Ở các nước thuộc địa của Anh, hàng hoá của Mỹ đưa vào ngày càng tăng2. Đồng thời Mỹ lại kiểm soát được các nguyên liệu quan trọng ở các thuộc địa này.

Ở Cộng hoà Liên bang Đức, tình hình vào những năm từ 1950 đến 1960 có nhiều điểm đặc biệt. Được Mỹ tích cực chi viện với mưu mô làm cho Tây Đức vượt hẳn lên để trở thành lực lượng chủ yếu của khối NATO. Tây Đức đã phát triển rất nhanh về kinh tế. Trong 10 năm kể từ 1950, mức tăng trung bình hàng năm của sản lượng công nghiệp đạt 9,6%. Đầu thập kỷ 60, Tây Đức đã vượt Anh, đứng thứ hai trong các nước tư bản về sản xuất công nghiệp. Với tốc độ phát triển đó, lại được Mỹ đỡ đầu và Anh, Pháp nhượng bộ, việc tái vũ trang Tây Đức được thực hiện, quân đội chính quy của nước Đức bại trận được phục hồi dưới danh nghĩa quân đội châu Âu của khối NATO.

Trong thời gian này, ở châu Á, nước Nhật đã lập lại được mức thu nhập bình quân theo đầu người của thời kỳ trước chiến tranh (1934-1936). Bước vào năm 1955, Nhật Bản không ngừng là vô địch tuyệt đối về chỉ số tăng trưởng của tổng sản lượng quốc gia (GNP). Chỉ số tăng trưởng đã đạt mức bình quân 9,9% trong suốt thập niên 1955-1965. Cũng trong năm 1955, uy tín về kinh tế của Nhật trên thế giới được đánh dấu bằng việc gia nhập Quỹ tiền tệ quốc tế IMF và Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT).

Mỹ cần một nước Nhật đồng minh để đối phó với Liên Xô và Trung Quốc, biến nước Nhật thành hậu phương của cuộc chiến tranh ở Triều Tiên và Việt Nam và thành trì của “thế giới tự do” nằm sát Trung Quốc, Liên Xô. Mỹ ký Hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ. Hiệp ước nêu rõ: Nhật nằm trong hệ thống chiến lược nguyên tử của Mỹ và là căn cứ chiến tranh hạt nhân ở châu Á. Nước Nhật trở thành trung tâm để Mỹ cung cấp vũ khí, đạn dược cho khối SEATO, phục vụ cho âm mưu xâm lược và mở rộng thế lực của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á. Chính quyền Nhật phải thực hiện những điều khoản của Hiệp ước an ninh Mỹ - Nhật làm cho nhân dân rất bất bình. Năm 1960, phong trào phản kháng bùng nổ. Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, Hội sinh viên quốc gia phản đối. Nhiều cuộc biểu tình nổ ra và lan rộng khắp nước. Thủ tướng Nhật Kisi buộc phải từ chức. Chuyến viếng thăm Nhật của Tổng thống Mỹ Aixenhao bị huỷ bỏ. Phong trào đấu tranh của nhân dân Nhật chống lại chính sách của chính quyền, chứng tỏ quần chúng Nhật không muốn phụ thuộc vào Mỹ, làm mất chủ quyền của Nhật và gây nguy cơ lớn cho việc giữ gìn hoà bình ở khu vực và trên thế giới. Đối với Mỹ, việc viện trợ cho Nhật đã đưa lại kết quả rõ rệt trong việc biến nước này thành căn cứ quân sự lớn của Mỹ, nhưng lại làm cho nước này thành một cường quốc về kinh tế, cạnh tranh với các nước đế quốc khác, kể cả Mỹ.

Mỹ là nước có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, các nhà cầm quyền Mỹ có tham vọng “điều chỉnh thế giới” vào quỹ đạo của Hoa Kỳ. Xuất phát từ tư tưởng chống cộng sản, Mỹ lập ra nhiều căn cứ quân sự ở khắp nơi trên thế giới, nhằm bao vây Liên Xô, Trung Quốc và những nước dân chủ nhân dân. Năm 1955 là năm chiến lược toàn cầu của Mỹ nhằm bao vây ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản trên thế giới lên tới đỉnh cao. Mỹ đã đặt được khoảng 1400 căn cứ quân sự ở 31 nước, trong đó có 275 căn cứ dùng cho máy bay chiến lược ném bom nguyên tử. Những khối quân sự do Mỹ cầm đầu ra đời.

Tháng 10-1949, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập là một cú “sốc” mạnh đối với Mỹ. Chính quyền Mỹ lúc đó quyết định phải vạch ra một đường ranh giới không cho xuất hiện bất kỳ quốc gia cộng sản mới nào nữa ở châu Á. Trước thành công của Liên Xô về củng cố quốc phòng, có bom A và H, phóng thành công tên lửa vũ trụ, Mỹ càng lao vào cuộc chạy đua vũ trang.

Sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh đã làm cho chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ lo sợ. Đế quốc Mỹ trở thành tên sen đầm quốc tế, kẻ bóc lột lớn nhất và là tên trùm chủ nghĩa thực dân mới. Trong khi đó nhiều vấn đề của nội bộ nước Mỹ như những cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính (1953-1954 - 1957-1958), nạn thất nghiệp, tệ phân biệt màu da, những cuộc khủng bố gây mất trật tự an ninh xã hội không được khắc phục.

Nhằm giải quyết những vấn đề trên, chính quyền Mỹ lại hướng các chủ trương của họ vào việc chống chủ nghĩa cộng sản ở khắp các châu lục. Chiến tranh lạnh vẫn tiếp diễn ngày càng gay gắt, nhưng vẫn có hoà hoãn bộ phận. Trong thế hình thành hai cực trên thế giới, hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa vừa chống đối nhau quyết liệt, đồng thời vẫn phải hợp tác với nhau trong những chừng mực có thể chấp nhận được để giai quyết các vấn đề quốc tế.

Lợi dụng những thời khắc hợp tác hoà hoãn, Mỹ tranh thủ mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình ở mọi nơi bằng viện trọ và bằng hành động quân sự làm cho tình hình thế giới càng căng thẳng thêm và Mỹ càng bộc lộ rõ bản chất gây chiến và xâm lược.

Những nước đồng minh của Mỹ như Anh, Pháp, Tây Đức, Nhật, sau khi được Mỹ vực lên đã trở thành những đối thủ cạnh tranh lợi hại. Nước Mỹ có tiềm lực mạnh về kinh tế và quân sự, nhưng lại yếu về chính trị trên phạm vi thế giới. Không nhận ra điều đó, Mỹ thường bị động đối phó với phong trào chống Mỹ nổi lên trong nhân dân các nước châu Âu, châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Mặc dù trong những năm 50, trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ được xác định là châu Âu nhưng Mỹ phải phân tán khá nhiều lực lượng ra những nơi khác, đặc biệt ở châu Á. Tiến hành chiến tranh xâm lược ở Triều Tiên, can thiệp ngày càng sâu rộng vào cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam, Lào và Camphuchia. Năm 1957, các nước Tây Âu lập khối Thị trường chung châu Âu không có Mỹ. Năm 1958, Tổng thống Đờgôn không cho khối NATO đặt tên lửa trên đất Pháp, đòi rút hết các căn cứ quân sự của khối này ra khỏi nước Pháp. Năm 1959 Anh cùng với ba nước Bắc Âu, hai nước Trung Âu và Bồ Đào Nha lập khối Mậu dịch tự do châu Âu cũng không có Mỹ. Những sự kiện đó làm cho mâu thuẫn trong khối các nước tư bản chủ nghĩa bộc lộ ngày càng thêm sâu sắc. Trong khi đó, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những phát triển mới, nhưng cũng nảy sinh những mối bất đồng. Chiến tranh lạnh càng phức tạp hơn. Những nước được gọi là “thế giới thứ ba” đòi hỏi Liên hợp quốc phải đáp ứng những yêu cầu ngày càng tăng về việc chấm dứt sự “chậm phát triển”. Điều này đụng đến các nước đế quốc, họ cho rằng “thế giới thứ ba” đang có xu hướng chống phương Tây. Sự hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội đối với những nước đã giành được độc lập và đang đấu tranh để xây dựng đất nước và bảo vệ hoà bình, làm cho Mỹ và các nước đế quốc khác càng ra sức chống chủ nghĩa cộng sản, chống Liên Xô, Trung Quốc và các nước dân chú nhân dân. Mỹ tự dựng lên những “nguy cơ cộng sản” để tự hù doạ mình bằng “học thuyết” đôminô. Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân thế giới trong những năm 1950 làm cho Mỹ tìm cách ngăn chặn và dấn sâu vào sự can thiệp thô bạo ở khắp nơi.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hệ thống xã hội chủ nghĩa được mở rộng, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân ở các nước tư bản liên kết, hợp thành ba dòng thác cách mạng lớn, lại có thêm điều kiện khách quan và chủ quan để tấn công vào chủ nghĩa đế quốc. Khí thế chung trong phong trào cách mạng thế giới mạnh mẽ thêm. Phấn khởi, tin tưởng, quyết tâm là đặc điểm rõ nhất của phong trào trong những năm cuối của thập kỷ 50. Hệ thống xã hội chủ nghĩa là chỗ dựa cho phong trào giải phóng dân tộc, chống áp bức bóc lột, là lực lượng trụ cột của phong trào đấu tranh cho hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng nhằm bao vây, chia rẽ, chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc, duy trì địa vị lãnh đạo “thế giới tự do”. Chiến tranh lạnh diễn ra gay gắt. Đó là bối cảnh lịch sử tác động đến diễn biến cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược.
______________________________________
1. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai chi phí quân sự của Anh mất 25 tỷ bảng, tổn thất gần 1/3 trọng tải thương thuyền, mất 1/3 số vốn gửi ở nước ngoài. Số vàng và ngân phiếu dự trữ chỉ còn gần 50% Anh trở thành con nợ lớn trên thế giới, phải nhập 2/3 lương thực và hầu hết nguyên liệu (trừ than ).
2. Trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai, tỷ lệ hàng của Anh đưa vào là 31%, của Mỹ chỉ có 20%. Đến năm 1952, số hàng Mỹ đã ngang số hàng Anh và vượt lên trong những năm sau.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Một, 2010, 10:17:55 PM

Chương II
VIỆT NAM TRONG CHIẾN LƯỢC KHU VỰC VÀ CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU CỦA ĐẾ QUỐC MỸ


Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông cùng với hai nước Lào và Campuchia, ở trên bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam châu Á. Việt Nam có diện tích lục địa rộng hơn 33 vạn km2 với số dân hồi đầu thế kỷ XX trên 20 triệu (1995: 75 triệu).

Đất nước Việt Nam có núi rừng trùng điệp chạy dài từ Bắc đến Nam, có nhiều đồng bằng phì nhiêu và bờ biển dài 3.260 km với vùng thềm lục địa rộng lớn. Dưới lòng đất và thềm lực địa Việt Nam chứa đựng rất nhiều tài nguyên phong phú: vàng, bạc, đá quý, đồng, sắt, chì, kẽm, thiếc, than, vônphram, bốcxít, dầu mỏ, khí đốt v.v…

Nằm trên một địa bàn chiến lược quan trọng: vừa tiếp giáp với Thái Bình Dương vừa nối liền với đại lục châu A, Việt Nam án ngữ một phần quan trọng con đường thông thương chiến lược hàng hải từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á từ Tây Thái Bình Dương sang Đông Ấn Độ Dương và đường hàng không trực tiếp giữa Thái Bình Dương và Nam Á. Ngay từ thế kỷ XVI, XVII, XVIII... nhiều thương thuyền và hạm đội của Trung Quốc, Nga, Hà Lan, Anh, Bồ Đào Nha, Pháp... Đã từng ra vào trú chân ở một số hải cảng Việt Nam.

Do vị trí chiến lược và nguồn tài nguyên phong phú, từ lâu Việt Nam đã trở thành mục tiêu xâm chiếm, thôn tính của các thế lực xâm lược bên ngoài.

Vào những năm 50 của thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam và đến năm 1883 chúng chiếm xong toàn bộ Việt Nam. Tháng 10-1887 Pháp lập ra Đông Dương thuộc Pháp (gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia thuộc Pháp - Indochine Francaise) và đến tháng 4-1889 Pháp tổ chức lại “Liên bang Đông Dương” bao gồm cả Lào.

Từ đó Pháp ra sức bóc lột nhân dân ta, vơ vét của cải, khai thác tài nguyên thiên nhiên của nước ta đem về chính quốc. Theo các số liệu của Pháp, chỉ riêng trong năm 1929, tổng giá trị các loại khoáng sản Pháp khai thác được ở Việt Nam tăng gấp 4, 6 lần năm 19191.

Dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và chế độ phong kiến tay sai, nhân dân Việt Nam bị đè nén, áp bức đến cùng cực. Trong cảnh nước mất nhà tan đó, dân tộc Việt Nam không ngừng đứng lên đấu tranh nhằm đánh đổ ách thống trị thực dân, giải phóng đất nước. Nhưng những cuộc đấu tranh ấy đều bị thất bại, vì thiếu một ngọn cờ đủ sức tập hợp lực lượng toàn dân tộc, chưa có một đường lối chính trị đúng đắn và phương pháp hữu hiệu. Lịch sử đã từng chứng minh, chủ nghĩa đế quốc không bao giờ từ bỏ sự thống trị của chúng đối với các dân tộc, chúng sẵn sàng dùng quân sự đàn áp, tiêu diệt tất cả những ai chống lại chúng, bằng bất cứ hình thức nào. Vì vậy, muốn chiến thắng kẻ thù trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng.

Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (3-2-1930) do Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nguyễn Ái Quốc sáng lập đảm đương sứ mệnh lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản, đáp ứng được nhu cầu của lịch sử và phù hợp với quy luật và tính chất thời đại, là một sự kiện lớn có ý nghĩa quyết định sự phát triển của cách mạng Việt Nam và xã hội nước ta.

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ tháng 9-1939. Tháng 9-1940, phát xít Nhật đưa quân vào Đông Dương. Mặt trận đoàn kết dân tộc - Việt Nam độc lập Đồng minh (Việt Minh) được thành lập (19-5-1941).

Tháng 8~1945, Mặt trận Việt Minh do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo động viên nhân dân ta đứng lên tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa, lật đổ ách thống trị của Nhật Bản, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (quyền thống trị của Pháp đã bị quân đội Nhật Bản đánh đổ ngày 9-3 cùng năm ).

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám mở đầu kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập, tự do, chấm dứt vĩnh viễn chế độ quân chủ, thiết lập chế độ Cộng hoà dân chủ trong cả nước.

Thắng lợi vĩ đại đó của nhân dân ta đã phá vỡ một khâu quan trọng nhất trong hệ thống thuộc địa của Pháp, tạo nên ảnh hưởng to lớn đối với phong trào giải phóng dân tộc, trực tiếp là hệ thống thuộc địa của thực dân Pháp, góp phần tích cực vào việc mở ra thời kỳ tan rã của hệ thống thuộc địa kiểu cũ của chủ nghĩa đế quốc thế giới.

Khoảng thời gian từ khi Pháp đô hộ Việt Nam, đến khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, giữa Việt Nam và Mỹ cũng đã từng có những mối quan hệ khác nhau.

Từ đầu thế kỷ XIX, các thương gia Mỹ đã đưa tàu đến Việt Nam buôn bán. Đầu những năm 1930, lại có những người Mỹ đến Việt Nam nghiên cứu về Đông Dương.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai tháng 1-1944, Tổng thống Mỹ Rudơven (Rudơvelt) trong văn kiện gửi Ngoại trưởng Mỹ, đã chỉ trích chế độ cai trị của Pháp ở Việt Nam, phê phán thái độ của Pháp đã đầu hàng Nhật ở Đông Dương. Tổng thống Mỹ chủ trương đặt ba nước Đông Dương dưới quyền uỷ thác quản lý quốc tế.

Sau khi Nhật lật đổ Pháp ở Đông Dương (9-3-1945), Tư lệnh không quân Mỹ ở Trung Quốc đưa ra đề nghị dùng không quân Mỹ yểm trợ cho quân Pháp ở vùng bắc Đông Dương, nhưng Chính phủ Mỹ đã bác bỏ đề nghị đó. Bộ Quốc phòng Mỹ còn chỉ thị cho Tư lệnh không quân Mỹ ở Trung Quốc không được tiếp tế vũ khí, quân dụng... cho tàn quân Pháp đang chạy trốn. Trong những diễn biến phức tạp lúc đó, Chính phủ Mỹ vẫn tỏ thái độ tiếp tục cản trở việc Pháp chuẩn bị điều kiện để chiếm lại Đông Dương.

Việc Mặt trận Việt Minh tuyên bố ủng hộ phe Đồng Minh chống phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai và tiếp đó là việc cứu sống một phi công Mỹ đưa sang Côn Minh trao trả cho Bộ tư lệnh Mỹ ở Trung Quốc đã dẫn đến những cuộc tiếp xúc và trao đổi thư từ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại diện Bộ tư lệnh Mỹ ở Trung Quốc. Phía Mỹ đã có thái độ tích cực trong việc hợp tác với Mặt trận Việt Minh để chống Nhật ở Việt Nam.

Sau ngày Tổng khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam (19-8- 1945), Bộ tư lệnh Mỹ ở Trung Quốc cử đại diện sang Hà Nội (22-8). Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại diện Chính phủ lâm thời của Việt Nam tiếp xúc với đại diện Bộ tư lệnh Mỹ.

Lúc này, thái độ của Chính phủ Mỹ do Tơruman đứng đầu đối với Việt Nam không tích cực như trước, vì nhiều lý do nhưng chưa phải đã hoàn toàn ủng hộ Pháp đánh chiếm và lập lại chế độ cai trị thực dân của Pháp ở Việt Nam và Đông Dương.

Giữa Việt Nam với Mỹ từ xưa đã có ít nhiều quan hệ trên các lĩnh vực buôn bán, chính trị, ngoại giao, văn hoá. Những quan hệ đó tuy không nhiều, nhưng là mối quan hệ có thiện chí mong muốn mở rộng bang giao, không phải là quan hệ thù địch. Cho đến thời điểm đó, cả Việt Nam với Mỹ không hề thù địch lẫn nhau.
______________________________________
1. Theo tài liệu: Annuaire Statistique de l’ Indochine 1923-1929, thì năm 1919 tổng giá trị các loại khoáng sản Pháp khai thác được ở Việt Nam là 4,6 triệu Phrăng; 1929: 213,7 triệu Phrăng... tr. 352-353.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Một, 2010, 10:20:46 PM

I. NƯỚC MỸ VÀ CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC

Mỹ là một nước ở miền bắc châu Mỹ, đến thế kỷ XIII, còn là một vùng cư trú của người da đỏ. Về sau nhiều người da trắng từ châu Âu sang sinh sống. Thực dân Anh xâm chiếm và cai trị một số vùng. Năm 1775, cuộc cách mạng ở Mỹ bắt đầu lật đổ chế độ thực dân Anh. Nước Mỹ - Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (The United States of America) ra đời lúc đó mới gồm 13 bang, với Tuyên ngôn độc lập được ký ở Philađenphia ngày 4-7-1776. Ngày nay, Mỹ gồm 50 bang với diện tích 9.408.802 km2, số dân khoảng 250 triệu trong đó, hơn 88% là người da trắng. Còn lại là da màu.

Cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX nước Mỹ đưọc coi là miền đất tự do. Số đông người da trắng ở Mỹ là dân nhập cư từ châu Âu sang. Hồi đó, các chế độ thống trị hà khắc tàn bạo của giai cấp phong kiến quí tộc ở các nước châu Âu, cũng như tình trạng các cuộc chiến tranh liên miên, đặc biệt là trong nửa đầu của thế kỷ XX, châu Âu là chiến trường lớn của hai cuộc Đại chiến thế giới thứ nhất và thứ hai, đã tạo ra những làn sóng di dân ồ ạt sang châu Mỹ để sinh sống và lập nghiệp. Nhiều người ở các nước châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh nhập cư vào Mỹ trong nhiều thời kỳ khác nhau cũng trong những hoàn cảnh tương tự. Đặc điểm đó làm cho cộng đồng xã hội Mỹ in đậm dấu ấn của một ý thức và tinh thần yêu chuộng tự do. Đông đảo những người Mỹ chân chính, tiến bộ thường tự hào về điều này.

Mặt khác, sự nhập cư ồ ạt này cùng với việc phát hiện các vùng có nhiều mỏ vàng lớn ở Caliphoócnia, Alátxca... Đã kéo theo nhiều thứ cực đoan khác xâm nhập vào xã hội nước Mỹ, như: chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa thực dụng, maphia, v.v.. Đặc điểm này còn làm cho nước Mỹ cũng là nơi quy tụ điển hình của các tiêu cực đó. Đó là một trong những tiền đề về cơ sở xã hội, góp phần ảnh hưởng rất quan trọng vào việc hình thành những đặc thù về bản chất của chủ nghĩa đế quốc Mỹ sau này.

Là một đất nước rộng, rất giàu tài nguyên được thiên nhiên ưu đãi về nhiều mặt, cả về nông nghiệp, lâm nghiệp và công nghiệp. Mỹ thường dẫn đầu thế giới trong nhiều ngành sản xuất cũng như về tổng sản phẩm xã hội và mức sống cao.

Do ít bị sự kìm hãm nặng nề và lâu đời của chế độ phong kiến như ở châu Âu, nước Mỹ phát triển trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản đang hưng thịnh, có nền công nghiệp và khoa học kỹ thuật phát triển rất nhanh. Trong khoảng chưa đầy 75 năm (từ 1893 đến 1970) trên toàn thế giới có hơn 190 phát minh sáng chế lớn về khoa học, kỹ thuật, thì người Mỹ đóng góp đến 87 phát minh. Trong ngót 150 năm (kể từ 1822), nền y học thế giới có khoảng 40 phát hiện lớn, đánh dấu các bước tiến quan trọng có ý nghĩa quyết định, thì các nhà bác học về y khoa của Mỹ chiếm đến một nửa.

Mỹ cũng là nước cùng với Liên Xô trước đây, đi đầu trong lĩnh vực du hành, nghiên cứu vũ trụ. Chỉ trong vòng hơn 10 năm (từ 1961 đến đầu 1972), trong tổng số 44 lần đưa con người bay vào vũ trụ, thì Mỹ đã đóng góp 26 lần.

Cùng với nhiều nhà khoa học lỗi lạc khác của thế giới, các nhà khoa học nổi tiếng của Mỹ trong lĩnh vực vật lý như Comtơn (Arthur Holly Compton), Anbe Anhxtanh (Abbert Einstein) gốc Đức…, trong lĩnh vực hoá học như Pôlinh (Linus Oral Pauling), Uri (Harold Clayton Urey)..., trong lĩnh vực toán học như Uynnơ (Robert Wiener), Giôn Nơman (John Von Neumann) gốc Hunggari,... Đã có nhiều cống hiến xuất sắc cho nhân loại.

Tất cả những điều đó tạo cho cộng đồng xã hội Mỹ ý thức được rằng, Mỹ là một trong những dân tộc vĩ đại (ngoại trừ sự tuyên truyền thổi phồng và xuyên tạc ý thức đó để lợi dụng vào những mục đính chính trị khác).

Năm 1915, Lênin đã đánh giá một cách tương đối khái quát về nước Mỹ như sau: “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là một nước mà không có nước nào sánh kịp được, cả về tốc độ phát triển của chủ nghĩa tư bản vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, cả về mức độ phát triển hết sức cao mà nước đó đã đạt được, cả về mặt diện tích rộng lớn của đất đai, trên đó người ta đã áp dụng một kỹ thuật được trang bị theo những thành tựa mới nhất của khoa học và có tính đến sự đa dạng hiếm có của những điều kiện tự nhiên, lịch sử, cả về mặt quyền tự do chính trị và trình độ văn hoá của quần chúng nhân dân. Về nhiều mặt, nước Mỹ là mẫu mực và là lý tưởng của nền văn minh tư sản của chúng ta” 1.

Mỹ là một nước rất giàu tài nguyên và không bị các cuộc chiến tranh liên miên tàn phá như các nước châu Âu, nhưng lại là nước tư bản ra đời muộn. Mãi đến đầu thế kỷ XX, lúc các đế quốc châu Âu như Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức, đã xâm chiếm được rất nhiều vùng rộng lớn ở khắp các châu lục, thì Mỹ lại có rất ít thuộc địa. Đến tận năm 1914, đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất, tổng số thuộc địa của Mỹ chỉ rộng có 30 vạn km2 với số dân 9,7 triệu người (chỉ bằng một nửa số dân thuộc địa của Nhật). Hồi đó, Mỹ chỉ đứng ở hàng thứ sáu trong các nước đế quốc về chỉ tiêu thuộc địa2. Đem so sánh, hồi đó Mỹ còn kém thua Anh hơn 41 lần về số dân thuộc địa và kém hơn 111 lần về diện tích thuộc địa. Đầu thế kỷ XIX, Mỹ đã dùng nhiều cánh để bành trướng lãnh thổ quốc gia cả bằng súng đạn và cả bằng đôla (như mua Guyana của Pháp, mua Alátxca của Nga...).

Tháng 12-1823, Tổng thống Mỹ Mơnrâu (James Monrow) công bố học thuyết Mơnrâu, tuyên bố công khai ý đồ phân chia lại thế giới. Học thuyết đó coi phần đất Tây bán cầu là của Mỹ, với khẩu hiệu “châu Mỹ của người Mỹ” và “bất kỳ một nỗ lực nào của các quốc gia châu Âu nhằm thực dân hoá, hoặc can thiệp vào nội bộ các nước ở khu vực này, đều sẽ bị coi là hành động thù địch” với Mỹ.

Thực hiện học thuyết đó, suốt cả thế kỷ XIX, Mỹ đã dùng sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự để bành trướng thế lực, nhằm thống trị cả châu Mỹ.

Lịch sử châu Mỹ còn ghi lại hàng loạt những cuộc thôn tính của Mỹ hồi đó. Chiếm vùng Tếcdát của Mêhicô và buộc nước này để cho Mỹ sáp nhập xứ Niu Mêhicô vào lãnh thổ của Mỹ (1848). Thôn tính Achentina (1852-1853), Urugoay (1855-1858), Panama (1856-1857 và 1894), Paragoay (1859), Haiti (1891), Nicaragoa (1856-1857 và 1894), Cuba (1894), v. v… Hồi đó, chính giới Mỹ đã coi vùng Trung Mỹ và Caribê là “cái sân sau”, “cái ao nhà” của Mỹ.

Trong quá trình bành trướng của Mỹ ở cuối thế kỷ XIX, cuộc chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha nổ ra tháng 4-1898, kéo dài trong 3 tháng nhân vụ chiếc tàu chiến Maine bị đánh đắm ở cảng Havanna (Cuba). Các nhà sử học Mỹ và thế giới coi đây là cái mốc quan trọng đánh dấu việc Hợp chủng quốc Hoa Kỳ chuyển mạnh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Sau thất bại của Tây Ban Nha trong cuộc chiến tranh này, theo Hiệp ước Pari, Mỹ buộc Tây Ban Nha phải để cho Mỹ chiếm Cuba, đặt cả Puéctô Ricô, Guam và Philippin dưới quyền thống trị thuộc địa của Mỹ. Để đổi lại, Mỹ trả cho Tây Ban Nha 20 triệu đôla. Trước đó, từ năm 1893, Mỹ đã đánh chiếm quần đao Haoai, quần đáo Mácsan và lập căn cứ hải quân ở Xamoa. Đánh giá những sự kiện trên trong bước phát triển mới của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, Lênin đã viết rằng: Cuba, Philippin, Haoai chỉ là những “món khai vị” cho một bữa ăn thịnh soạn hơn.
_______________________________________
1. V.I. Lênin: Toàn tập, tiếng Việt Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.27, tr 171.
2. Theo tư liệu thống kê trong V. I. Lênin: Toàn tập, tiếng Việt. Nxb Tiến bộ. Mátxcơva, 1980. t.27. tr.478.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 09 Tháng Một, 2010, 11:24:58 PM

Sự bành trướng của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Tiếp theo sau Mỹ Latinh và việc Mỹ chinh phục lục địa này bằng học thuyết Mơnrâu, thì quá trình phát triển của chủ nghĩa đế quốc Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương chiếm một vị trí rất quan trọng cả về địa lý và lịch sử. Sự bành trướng của Mỹ ở khu vực này diễn ra từ thế kỷ XIX và trong nửa đầu thế kỷ thứ XX, trước khi hình thành chiến lược châu Á - Thái Bình Dương và chiến lược toàn cầu của Mỹ. Điều này cũng tạo ra những mối liên hệ dẫn đến sự dính líu của Mỹ vào cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam sau này.

Nước Mỹ nằm trên bờ Thái Bình Dương, vì vậy, có vùng tiếp giáp tự nhiên rất quan trọng với đại dương này. Trong tư liệu lịch sử hàng hải thế giới có ghi nhận rằng, năm 1892, nước Mỹ chính thức công bố phần lãnh hải của mình là ba hải lý (5,5 km). Nhưng đến năm 1898, thương nghị sĩ N. Đêpiu đã tuyên bố trước Thượng nghị viện Mỹ rằng: chúng ta đang sống trong một thế giới 800 triệu người và Thái Bình Dương đã trở thành một cái hồ của Mỹ1. Cùng với sự phát triển của thế giới, châu Á - Thái Bình Dương ngày càng quan trọng về mọi mặt.

Khu vực này chiếm hơn một nửa Tây Bán Cầu và ngót 1/3 Đông Bán Cầu. Châu Á rộng hơn 43 triệu 475 nghìn km2, trong đó có 8 triệu km2 là bán đảo và hơn 2 triệu km2 là đảo, 57% số dân trên toàn thế giới sinh sống ở châu lục này. Còn Thái Bình Dương rộng 179,7 triệu km2 trong tống số 361 triệu km2 diện tích toàn bộ các đại dương trên trái đất. Khu vực này rất giàu tài nguyên, có đầy đủ các loại nguyên liệu chiến lược và khoáng sản quý hiếm, có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt rất lớn. Chỉ riêng vùng Đông Nam Á đã chiếm gần 80% trữ lượng thiếc toàn thế giới. Các hệ thống căn cứ chiến lược trên lục địa và hải đảo, các quân cảng, thương cảng, cùng các hệ thống giao thông đường bộ, đường biển, đường không của khu vực này có thể khống chế được sự thông thương, vận chuyển trên 3/4 bề mặt trái đất, kiểm soát một phần quan trọng đáy đại dương.

Quá trình phát triển của chủ nghĩa đế quốc Mỹ gắn liền với quá trình bành trướng và khai thác khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tuy nhiên, khi chủ nghĩa tư bản Mỹ bắt đầu phát triển, thì Đại Tây Dương hầu như không còn chỗ cho Mỹ len chân vào, còn châu Á - Thái Bình Dương cũng không còn là vùng bỏ trống nữa2.

Vì vậy việc Mỹ tiến vào châu Á - Thái Bình Dương là một sự giành giật bằng nhiều cách.

Năm 1854, một sĩ quan hải quân Mỹ, M.Peri, đưa chiến hạm đến Nhật, thúc ép triều đình Thiên Hoàng mở cửa buôn bán với Mỹ. Trước đó, Mỹ đã tìm cách len chân vào Trung Quốc3.

Ngay từ hồi đó, Mỹ thâm nhập vào châu Á không phải chỉ bằng các con đường buôn bán và truyền giáo.

Năm 1898, sau khi chiếm xong Guam (đảo lớn nhất trong quần đảo Marianna, cách Philippin 1500 dặm), Mỹ công khai tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Philippin, là nước đã tích cực ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha vì muốn chấm dứt ách thống trị của Tây Ban Nha suốt mấy trăm năm trên đất nước mình. Sau khi đánh thắng Tây Ban Nha, Mỹ vin vào Hiệp ước Pari (Mỹ ký với Tây Ban Nha) buộc Philippin chấp nhận là thuộc địa của Mỹ, nhưng không thực hiện được. Quân đội Mỹ lúc đó đã bất ngờ nổ súng tiến công. Phong trào kháng chiến của nhân dân Philippin bị quân đội Mỹ dìm trong biển máu. Mãi đến năm 1905, Mỹ mới thôn tính xong Philippin.

Trung Quốc hồi đó đã là một thị trường rộng lớn, nhưng các đế quốc phương Tây đã nhảy vào chia nhau nguồn lợi trước Mỹ. Năm 1899, Tổng thống Mỹ Kinlây đưa ra yêu sách đòi các cường quốc khác cũng thi hành chính sách “mở cửa” ở Trung Quốc. Thực chất yêu sách đó là đòi các nước tư bản khác phải mở cửa thị trường Trung Quốc cho Mỹ vào.

Tháng 8-1990, Mỹ đưa quân viễn chinh cùng với liên quân Anh, Đức, Pháp, Nhật, Ý và Nga tiến vào thành phố Bắc Kinh, đàn áp phong trào Nghĩa Hoà Đoàn của nhân dân Trung Quốc.
_________________________________
1. Theo Ph.Falner: Cuộc chiến tranh Mỹ - Cuba - Tây Ban Nha và sự ra đời của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, Niu Oóc, 1972.
2. Từ thế kỷ XVI, tư bản Bồ Đào Nha đã đến Đài Loan. Từ năm 1641, Hà Lan đã chiếm đóng Đài Loan suốt hơn hai thập kỷ (đến 1662), Inđônêxia cũng bị Hà Lan chiếm đóng và thống trị từ thế kỷ XVII, còn Philippin bị Tây Ban Nha thống trị suốt 300 năm trước khi nổ ra cuộc chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha (1898). Sang thế kỷ thứ XIX, trong lúc Mỹ đang phải mở rộng, củng cố địa bàn ở Mỹ Latinh, thì ở châu Á - Thái Bình Dương, Anh đã nắm quyền bá chủ ở Ấn Độ (1763), thôn tính xong Mianma (1888), chiếm các vùng Mãlai, Xaraoăc, Xingapo, Bruây (từ 1867), và sau Chiến tranh thuốc phiện (1839-1842) đã giành được nhiều vùng đất và nhiều quyền lợi ở Trung Quốc, tư bản Nhật đã chiếm Triều Tiên, Đài Loan, quần đảo Bành Hồ và bán đảo Liêu Đông của Trung Quốc sau cuộc chiến tranh Trung - Nhật (1894-1895).
3. Các nhà nghiên cứu Mỹ xác nhận cho đến năm 1875, Mỹ đã có 400 nhà truyền giáo hoạt động ở Trung Quốc. Năm 1905, con số đó tăng lên 2000 và đến năm 1925 lên 8000 người.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 08:41:30 AM

Năm 1914, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất giữa các tập đoàn đế quốc bùng nổ ở châu Âu. Trong những năm đầu chiến tranh, Mỹ đứng ngoài với cái vỏ giữ vai trò trung lập. Bằng cánh cung cấp hàng quân sự và phương tiện chiến tranh, Mỹ đã thu được những món lợi nhuận khổng lồ. Mặt khác, đây cũng là thời cơ để Mỹ chuẩn bị cho một kế hoạch bành trướng mới ở châu Á - Thái Bình Dương. Lênin nhìn thấy trước điều đó. Tháng 4-1917, Mỹ mới bắt đầu tham chiến, thì tháng 5 năm đó, Lênin đã tiên đoán rằng đế quốc Mỹ không tránh khỏi sẽ gây ra chiến tranh để phân chia Thái Bình Dương. Cuộc chiến tranh đó được chuẩn bị từ hàng chục năm nay rồi và mục đích thực sự của Mỹ nhảy vào chiến tranh chính là muốn chuẩn bị cho cuộc chiến tranh sau này với Nhật Bản.

Cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, địa vị của Mỹ đã thay đổi. Trước chiến tranh, Mỹ là con nợ của các nước tư bản châu Âu, với tổng số nợ là hơn 6 tỷ đôla; sau chiến tranh, Mỹ chẳng những trả xong nợ, mà các nước châu Âu còn phải mắc nợ Mỹ đến trên 10 tỷ đôla. Nhiều nước gặp phải khó khăn chồng chất. Do vậy, thế và lực của họ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương bị suy yếu.

Để kiềm chế sự phát triển nhanh chóng của hải quân Nhật, tháng 2-1922, trong hội nghị các cường quốc gồm năm nước: Mỹ, Anh, Pháp, Nhật và Italia họp ở Oasinhtơn, Mỹ vận động ký kết “Hiệp ước tay năm” gọi là “Hiệp ước hạn chế vũ trang hải quân”. Theo Hiệp ước đó, tổng trọng tải tàu chiến của các nước tham gia ký kết được quy định như sau:

- Mỹ và Anh, mỗi nước 525.000 tấn tàu

- Nhật Bản 315.000 tấn tàu

- Pháp và Itaha, mỗi nước 175.000 tấn tàu

Với mức quy định hạn chế không ngang nhau như vậy, Mỹ đã giành cho mình một sức mạnh trên biển áp đảo sức mạnh của hải quân Nhật.

Đi đôi với việc củng cố và mở rộng hệ thống căn cứ quân sự ở Thái Bình Dương, Mỹ đưa thêm lực lượng vào khu vực này, tham gia các hoạt động quân sự ở một số nơi. Trong năm 1927, hải quân Mỹ được tăng cường cùng với hải quân Anh, Pháp, Italia tham gia bắn phá thành phố Nam Kinh (Trung Quốc), đàn áp phong trào giải phóng ở Philippin, càn quét, đốt phá, bắn giết thường dân ở đó.

Về kinh tế, Mỹ cũng đã tăng cường được vai trò của mình. Tính đến đầu năm 1930, riêng về đầu tư của tư bản Mỹ vào Trung Quốc đã lên đến 239,9 triệu đôla, nhiều gấp bốn lần mức đầu từ năm 1914 (59,3 triệu đôla).

Trung Quốc trở thành thị trường ngày càng quan trọng mà các giới tư bản độc quyền Mỹ quyết giành giật lấy.

Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới những năm 1929-1933 làm cho những mâu thuẫn giữa các nước đế quốc càng gay gắt. Sau cuộc khủng hoảng này tình hình thị trường ở châu Á - Thái Bình Dương không có lợi cho Mỹ.

Mặt khác, nhiều diễn biến mới trong giai đoạn này ở châu Á cũng tạo ra những mâu thuẫn mới. Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời (năm 1921) lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc nội chiến cách mạng và kháng chiến chống Nhật. Liên bang Xôviết phát triển và củng cố sức mạnh ở vùng Trung Á và Viễn Đông. Năm 1921, Nhật xâm lược Mông Cổ. Đảng Nhân dân cách mạng Mông Cổ đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy, giải phóng Ulan Bato giành chính quyền, thành lập nước Cộng hoà nhân dân Mông Cổ (1924). Những sự kiện đó là những nhân tố rất quan trọng dần dần chi phối chính sách và chiến lược của Mỹ ở Trung Quốc và ở châu Á - Thái Bình Dương về sau.

Vào thời kỳ này, Trung Quốc trở thành vấn đề trung tâm trong chính sách đối ngoại của Mỹ ở châu Á. Những lợi ích của Mỹ đã giành được ở Trung Quốc đang bị Nhật đe doạ. Nhật trở thành một địch thủ tiềm tàng lâu nay đối với Mỹ, buộc Mỹ phải đối phó. Ở Đông Nam Á, ngoài Philippin ra, lợi ích của Mỹ chưa có gì lớn. Mỹ đã trở thành cường quốc hàng đầu về kinh tế, nhưng về quân sự chưa phải là cường quốc mạnh nhất. Vì vậy, nội dung chủ yếu chính sách của Mỹ ở châu Á bao gồm hai mặt: vừa tìm mọi cách kiềm thế sự bành trướng của Nhật ở châu Á - Thái Bình Dương, vừa triệt để lợi dụng khả năng và sức mạnh quân sự của Nhật để tiến công Liên Xô từ phía Đông, với mục tiêu làm cho cả hai đều bị suy yếu, nhất là từ khi Đức ký Hiệp ước không xâm lược với Liên Xô (1939). Trong những năm ấy, Mỹ vừa chấp nhận bán trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh cho Nhật, đồng thời khuyến khích và ủng hộ chủ trương Quốc - Cộng hợp tác (hợp tác giữa Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch và Đảng Cộng sản) chống Nhật ở Trung Quốc. Điều đó thể hiện rõ bản chất hai mặt của Mỹ.

Trước khi bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhật đã nhanh chóng chiếm đảo Hải Nam của Trung Quốc (2-1939), tiếp đó chiếm luôn quần đảo Spratley (3-1939), quần đảo Trường Sa của Việt Nam ở Biển Đông.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 08:42:28 AM

Cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1-9-1939), lúc đầu Mỹ chưa tham chiến mà đứng ngoài cung cấp vũ khí, phương tiện chiến tranh cho cả hai phía, để thu lợi. Quy mô cuộc Đại chiến ngày càng mở rộng, uy hiếp lợi ích sống còn của Mỹ. Ngày 11-12-1941, Đức và Italia tuyên chiến với Mỹ, buộc nước này phải tham chiến. Trong lúc phát xít Đức tiến công sâu vào lãnh thổ Liên Xô, Mỹ và Anh lợi dụng tình hình này muốn Nhật mở mặt trận phía Đông tiến công vào Liên Xô. Nhưng ở Châu Á - Thái Bình Dương tình hình diễn biến không có lợi cho Mỹ. Mâu thuẫn Mỹ - Nhật trở nên hết sức gay gắt. Nhật tiến quân vào Đông Dương (9-1940) và ký Hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương với Pháp (29-7-1941).

Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương bắt đầu. Trong ngày đầu chiến tranh, Nhật sử dụng lực lượng chủ yếu của các hạm đội cùng với 1600 máy bay, 15 sư đoàn bộ binh và các binh đội độc lập. Còn các lực lượng quân Mỹ, Anh và Hà Lan ở Thái Bình Dương có tới 22 sư đoàn, 237 tàu chiến (3 tàu sân bay), 88 tàu ngầm và 1290 máy bay, nhưng lại bố trí dàn mỏng, bị phân tán ở nhiều căn cứ.

Chỉ trong vòng năm tháng đầu, Nhật đã chiếm được Philippin, Mianma, Thái Lan, Malaixia, tất cả các đảo chính của Inđônêxia, phần lớn đảo Niu Ghinê, đảo Átnunan và nhiều đảo quan trọng khác nữa. Các căn cứ hải quân quan trọng của Mỹ ở Guam và Uâycơ cũng bị Nhật chiếm đóng.

Sau các chiến dịch và các trận đánh lớn trên các tuyến đảo, so sánh lực lượng hai bên đã dần dần thay đổi. Mãi đến cuối tháng 6-1945, quân đội Mỹ mới chiếm được Ôkinaoa, nhưng tiềm lực chiến tranh của Nhật vẫn còn, đặc biệt là ở Mãn Châu (Trung Quốc).

Ngày 26-7-1945, Mỹ - Anh - Trung Quốc kêu gọi Nhật Bản đầu hàng, nếu không, sẽ sử dụng “đòn cuối cùng”, nhưng Nhật đã bác bỏ. Ngày 6 và 9-8, không quân Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Nagadaki và Hirôsima, mở đầu cho “chính sách ngoại giao nguyên tử” của Mỹ, hòng khuất phục thế giới, vừa trả thù Nhật Bản và răn đe, ngăn chặn Liên Xô. Trong khi đó phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa phát xít tạo thêm thuận lợi cho phe Đồng Minh thừa thắng tiến lên.

Ngày 9-8, Liên Xô tuyên chiến với Nhật.

Ngày 10-8, Chính phủ Nhật gửi công hàm cho Mỹ bác bỏ yêu cầu đầu hàng, vì lúc này Nhật còn hơn 5 triệu quân được trang bị mạnh.

Để đập tan lực lượng quân Nhật ở Mãn Châu, Nội Mông, Triều Tiên, Nam Xakhalin, quần đảo Curin1, quân đội Liên Xô đã tập trung lực lượng với ưu thế áp đảo: Về người gấp 1,2 lần, đại bác gấp 4,6 lần, xe tăng gấp 4,8 lần, máy bay gấp 1,9 lần của Nhật. Cuộc chiến diễn ra ác liệt cho đến ngày 14-8, Liên Xô mới tiêu diệt và làm tan rã đội quân Quan Đông. Thấy không thể chống cự được, ngày 15-8-1945, Nhật hoàng mới tuyên bố đầu hàng Liên Xô và Đồng Minh không điều kiện.

Cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Trong 2194 ngày đêm của chiến tranh, Mỹ tham chiến trên chiến trường Thái Bình Dương có 1.376 ngày đêm. Tuy thiệt hại của quân đội Mỹ ở khu vực này nặng nề, nhưng trong quá trình chiến tranh giai cấp tư bản độc quyền Mỹ thu được những món lợi rất lớn. Theo các số liệu công bố của Mỹ, nước này đã cung cấp một khối lượng chiến cụ, vật tư, lương thực, nguyên liệu cho các nước Đồng Minh chống phát xít (kể cả Liên Xô), trị giá 45 tỷ đôla. Nền công nghiệp sản xuất vũ khí và phương tiện chiến tranh của Mỹ phát triển rất mạnh2. Mỹ là nước đầu tiên chế tạo và sử dụng bom nguyên tử, nắm độc quyền về vũ khí hạt nhân lúc đó. Đây là cơ sở vật chất, cơ sở xã hội rất quan trọng để hình thành tổ hợp công nghiệp quân sự Mỹ sau này, và hình thành vai trò, cùng sự phát triển ảnh hưởng của chủ nghĩa quân phiệt trong chiến lược toàn cầu của Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Về kinh tế, Mỹ cũng đạt được những lợi thế rất lớn. Chẳng những đất nước Mỹ không bị chiến tranh tàn phá, mà qua cuộc chiến, các tập đoàn tư bản độc quyền Mỹ còn thu được 116,8 tỷ đôla lợi nhuận. Mỹ dẫn đầu thế giới cả về sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, nắm trong tay 71,5 % dự trữ vàng trong thế giới tư bản. Năm 1945, giá trị tổng sản phẩm quốc dân của Mỹ tăng 63% so với năm 1939, riêng sản phẩm công nghiệp chế tạo tăng gần gấp đôi. Tỉ trọng của Mỹ trong sản xuất công nghiệp của thế giới tư bản tăng từ 41,4% lên 56,4%. Trong tổng xuất khẩu của thế giới tỉ trọng của Mỹ từ 14,2% tăng vọt lên 32,5%. Cả về quân sự và kinh tế, Mỹ đã chiếm vị trí hàng đầu. Trung tâm của chủ nghĩa đế quốc thế giới chuyển từ châu Âu sang châu Mỹ và Mỹ trở thành đế quốc hùng mạnh nhất cầm đầu phe đế quốc, sẵn sàng đóng vai trò sen đầm quốc tế đối với thế giới.

Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, về mặt chiến lược, Mỹ đã nhanh chóng mở rộng được địa bàn đứng chân trên nhiều vị trí quan trọng rộng lớn. Sau khi thực hiện chiếm đóng bằng quân sự ở Nhật, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Philippin v.v... Mỹ còn giành được quyền uỷ trị trên nhiều tuyến đảo rộng lớn ở Thái Bình Dương như các quần đảo Micrônêdia, Mariana, v.v... để thiết lập một loạt căn cứ quân sự ở đó. Một trong những mục tiêu chiến lược quan trọng nhất mà Mỹ hằng đeo đuổi ở châu Á - Thái Bình Dương cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ vẫn chưa đạt được việc xâm chiếm Trung Quốc, mặc dù Mỹ đã dốc ra hàng trăm triệu đôla vũ khí và viện trợ quân sự, cùng nhiều cố vấn quân sự cho quân đội Quốc dân đảng nhằm đạt được mục tiêu đó.

Chủ nghĩa tư bản Mỹ ra đời muộn hơn ở các nước châu Âu, nhưng vẫn mang đủ bản chất và thuộc tính của chủ nghĩa tư bản. Nó có một quá trình tích luỹ tư bản nhanh hơn, mạnh hơn và cũng đầy tội ác trên xương máu, mồ hôi nước mắt của nhân dân lao động da trắng và da màu. Cũng như tư bản chủ nghĩa nói chung, chủ nghĩa tư bản Mỹ cũng có vai trò lịch sử tích cực của nó. Chính chế độ tư bản Mỹ, nước Mỹ đã có những đóng góp rất lớn cho sự phát triển về văn hoá, khoa học, kỹ thuật cùng nhiều lĩnh vực khác của nền văn minh nhân loại trong các thế kỷ XIX và XX đạt đến mức “là mẫu mực và là lý tưởng của nền văn minh tư sản”, như Lênin đã viết. Chính sự phát triển mạnh của chủ nghĩa tư bản Mỹ đã đẩy nhanh quá trình từ tự do cạnh tranh lên độc quyền và độc quyền nhà nước, độc quyền xuyên quốc gia nhanh hơn ở các nước tư bản khác, trên cơ sở đó mà chủ nghĩa đế quốc Mỹ ra đời.

Chủ nghĩa đế quốc Mỹ, tuy sinh sau đẻ muộn, nhưng vẫn mang đầy đủ bản chất phản động của chủ nghĩa đế quốc. Nó ra đời và phát triển theo đúng quy luật của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, nhưng vẫn có những đặc trưng riêng của nó. Một mặt, về cơ sở chính trị, xã hội Mỹ có sự du nhập rất mạnh, trong nhiều thời kỳ khác nhau của các loại chủ nghĩa cực đoan (phát xít, sôvanh, quân phiệt, phân biệt chủng tộc, phục thù, v.v...) làm cho bản chất phản động, tàn bạo, độc ác, hung hãn, hiếu chiến của nó trong bành trướng, xâm lược và thôn tính trở nên cực đoan hơn, thường được gọi chung là “kiểu Mỹ” hoặc “rất Mỹ”. Mặt khác, ra đời xuất xứ từ một đất nước và cộng đồng xã hội như trên đã nói, nó tận dụng chỗ mạnh về ý thức dân tộc Mỹ để chuyển thành chủ nghĩa dân tộc siêu đẳng, sô vanh nước lớn, tự cho mình có “sứ mạng” lãnh đạo thế giới, nhân danh “tự do” đi “giải phóng” các dân tộc “bị xâm lược”, áp bức, giúp các nước khác “chống xâm lược”, để tranh thủ sự ủng hộ chính trị của xã hội Mỹ đối với chính sách xâm lược, bành trướng của đế quốc Mỹ.

Sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc Mỹ gắn liền với quá trình bành trướng của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương. Quá trình này, xét về thời gian là một thời kỳ quan trọng trong lịch sử của chủ nghĩa đế quốc Mỹ, khi Mỹ đặt chân lên châu Á thì nó tạo ra mối liên hệ, sau này dẫn đến sự dính líu của Mỹ vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Những mâu thuẫn gay gắt của chủ nghĩa đế quốc thế giới trong nửa đầu thế kỷ thứ XX, đẩy Mỹ tất yếu phải tham gia vào phe Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trong những điều kiện lịch sử đó, nước Mỹ đế quốc chủ nghĩa, trong lúc đeo đuổi những tham vọng riêng của mình, đã đóng góp một phần rất quan trọng vào việc cùng các nước Đồng Minh đánh bại chủ nghĩa phát xít.
______________________________________
1. Quân Nhật có bảy tập đoàn quân dã chiến, hai tập đoàn không quân, 42 sư đoàn bộ binh, bảy sư đoàn kỵ binh và nhiều đơn vị độc lập, 2000 máy bay.
2. Sản xuất máy bay từ 19.390 chiếc (năm 1941) tăng lên đến 96.370 chiếc (năm 1944), xe tăng từ 4.250 chiếc (1941) lên 17.565 chiếc (1944) và trọng tải tàu chiến từ 1,2 triệu tấn tàu (1941) lên 11,6 triệu tấn tàu (1944).



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 08:57:39 AM

II. SỰ DÍNH LÍU CỦA MỸ Ở VIỆT NAM
QUA CÁC CHIẾN LƯỢC TOÀN CẦU

1. Mỹ và thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành cường quốc kinh tế số một thế giới1. Nền kinh tế Mỹ phát triển tăng vọt đến mức, cứ hai năm thì riêng phần tăng về sản lượng của Mỹ đã bằng tổng sản lượng hàng năm của nước Anh. Nghĩa là không còn cường quốc nào có hy vọng đuổi kịp Mỹ.

Trong lúc đó, các nước tư bản lớn khác trong phe Đồng Minh như Anh, Pháp… tuy thắng trận, nhưng đất nước bị tàn phá nặng nề, kinh tế bị kiệt quệ, sản xuất bị sụt hẳn xuống, nợ nần chồng chất. Các nước tư bản lớn thuộc phe phát xít Đức, Italia, Nhật bại trận, gần như sụp đổ và bị các nước Đồng Minh chiếm đóng.

Liên Xô là nước chiến thắng đang nắm ưu thế quân sự về vũ khí thông thường, nhưng đất nước bị tàn phá hết sức nặng nề2. Một số nước dân chủ nhân dân lần lượt ra đời, nhưng là những nước nghèo.

Phong trào công nhân và phong trào dân chủ trong các nước tư bản lên cao, lôi cuốn hàng triệu người tham gia đấu tranh, uy hiếp các dinh luỹ lâu đời của chủ nghĩa tư bản. Thế và lực của các đế quốc suy yếu, tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển mạnh, làm rung chuyển cả hệ thống thuộc địa rộng lớn của chủ nghĩa đế quốc. Trận địa của chủ nghĩa tư bản thế giới bị thu hẹp, đang đứng trước nguy cơ tiếp tục bị thu hẹp hơn nữa.

Như vậy, khi khói lửa của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai vừa tắt, thì chủ nghĩa tư bản quốc tế đứng trước ba yêu cầu quan trọng, bức bách:

1. Giữ và khôi phục lại các nước tư bản chủ nghĩa đã bị chiến tranh tàn phá, trọng điểm ở châu Âu và Nhật Bản.

2. Níu giữ và củng cố hệ thống thuộc địa của các nước đế quốc.

3. Ngăn chặn, dập tắt sự phát triển của các trào lưu cách mạng thế giới.

Ba yêu cầu đó đặt lên vai đế quốc Mỹ sứ mạng duy trì sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản thế giới. Đây là thời cơ để Mỹ thực hiện mưu đồ bành trướng bằng chính sách thực dân kiểu mới. Lênin đã vạch rõ tham vọng về quyền bá chủ thế giới là nội dung của chính đế quốc Mỹ.

Chủ nghĩa thực dân mới, một chính sách thực dân giấu mặt, trá hình mà đế quốc Mỹ dùng để thay thế chính sách thuộc địa kiểu cũ, là một hình thức buông ra để nắm lại lãnh địa thực dân một cách vững chắc hơn.

Là nước siêu cường duy nhất hồi đó về kinh tế, nhưng sức mạnh của Mỹ cũng không phải là vô hạn. Vì vậy, trong ba yêu cầu trên, Mỹ đã phải lựa chọn và tập trung ưu tiên cao nhất vào yêu cầu thứ nhất (trong đó, còn là lý do để buộc các nước này chịu sự lệ thuộc và khống chế lâu dài của Mỹ). Qua đó, tiếp sức vực các nước đế quốc khác dậy, giữ vững hệ thống các thuộc địa. Lúc này, Mỹ chưa đủ sức thay thế các nước đế quốc khác trên các vùng thuộc địa xa và rộng lớn. Là một cường quốc mới vượt lên sau chiến tranh, Mỹ không đủ sức một mình đồng thời tiến công Liên Xô và các lực lượng cách mạng nổi lên ở các khu vực được. Đặc biệt, lúc này phong trào hoà bình ở Mỹ đang lên, buộc chính quyền phải cho giải ngũ hàng triệu binh sĩ. Vì vậy, Mỹ buộc phải chịu chấp nhận thực tế đã hình thành khi kết thúc chiến tranh, nhưng tìm cách ngăn chặn lại, không cho các lực lượng cách mạng tiếp tục phát triển. Chính sự lựa chọn một giải pháp thực thi chiến lược toàn cầu trong tình thế như vậy, đã đặt Mỹ và chủ nghĩa đế quốc vào thế phòng ngự trước sự phát triển mạnh mẽ của các trào lưu cách mạng. Đó cũng là cơ sở xuất phát của tư tưởng chỉ đạo chiến lược sau này của Mỹ. Các quyết định quan trọng nhất của Mỹ sau chiến tranh là bỏ ra gần 10 tỉ đôla cho việc khôi phục các nước tư bản châu Âu và dành cho Nhật 2,4 tỉ đôla trong “tín dụng ban đầu” để khôi phục nước Nhật.
______________________________________
1. Theo các nhà nghiên cứu Mỹ, trong thời kỳ này nước Mỹ sản xuất 70% máy móc của thế giới, kiểm soát 73% dầu mỏ của thế giới và nước Mỹ chỉ chiếm 5,7% dân số của thế giới, nhưng đã tiêu thụ đến 40% sản phẩm của thế giới về tài nguyên thiên nhiên.
2. Thiệt hại của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai gồm: 22 triệu người hy sinh. 1.710 thành phố lớn, nhỏ, trên 70.000 làng mạc, 32.000 xí nghiệp công nghiệp, 98.000 nông trường tập thể, 1876 nông trường quốc doanh bị phá hủy.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 08:58:42 AM

2. Mỹ với vấn đề Việt Nam trong thời kỳ cuối Chiến tranh thế giới thứ hai và những năm đầu sau chiến tranh

Đối với Mỹ, ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương trước và sau khi nổ ra chiến tranh Thái Bình Dương, Nhật là địch thủ chủ yếu, Trung Quốc là thị trường rộng lớn, là địa bàn chiến lược quan trọng nhất mà hầu như các kế hoạch chiến lược của Mỹ ở vùng này đều nhằm vào đó. Ý đồ của Mỹ là tăng cường cả thế và lực cho Trung Hoa Dân Quốc thành nước lệ thuộc vào Mỹ, biến Trung Quốc thành địa bàn đứng chân để ngăn chặn Liên Xô và bành trướng, khống chế cả châu Á. Trong quan hệ Mỹ - Pháp, do Pháp tỏ ra quá yếu đuối trước phát xít Đức, địa vị của Pháp không được Mỹ coi trọng, vì vậy lập trường của Mỹ đối với các thuộc địa của Pháp là muốn xoá bỏ từng bước (kể cả Đông Dương). Tháng 4-1943, Tổng thống Mỹ tuyên bố về vấn đề Đông Dương nên áp dụng chế độ uỷ thác quản lý quốc tế (còn gọi là uỷ trị quốc tế). Sau đó, tùy Mỹ phải chấp nhận (trong Hội nghị Quebec ở Canađa, 8-1943) giao chiến trường Nam Á cho Anh phụ trách, nhưng Bộ tư lệnh của Anh ở Đông Nam Á vẫn phải chịu đặt dưới quyền điều hành của Bộ tư lệnh tối cao của Mỹ ở Viễn Đông.

Sau khi Đức đầu hàng Đồng Minh, khi bàn đến vấn đề mở mặt trận tiêu diệt phát xít Nhật (tại Hội nghị Pốtđam cuối tháng 7 và đầu tháng 8-1945), Tổng thống Mỹ Tơruman chấp nhận cho Anh mở rộng địa bàn hành quân vào Đông Dương nhưng chỉ đến nam vĩ tuyến 16 (Đà Nẵng). Còn từ phía bắc vĩ tuyến 16 trở ra, giao cho quân đội Trung Hoa Dân Quốc dưới danh nghĩa quân đội Đồng Minh tiến vào. Cả Anh và Tưởng Giới Thạch đang chuẩn bị các kế hoạch tiến vào Đông Dương để chống Nhật, thì chiến thắng nhanh chóng, to lớn của quân đội Liên Xô ở Viễn Đông, việc Nhật tuyên bố đầu hàng và thắng lợi hoàn toàn của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám của nhân dân Việt Nam trong cả nước là những bất ngờ lớn, làm cho các kế hoạch đó bị đảo lộn. Mặc dầu vậy, cuộc tiến quân của Anh và Trung Hoa Dân Quốc vẫn được chuyển thành cuộc giải giáp quân đội Nhật đầu hàng. Với lý do đó, Tưởng Giới Thạch đã đưa 20 vạn quân vào Bắc Việt Nam. Quân Anh vào Nam Bộ và miền Nam Đông Dương. Sự thoả thuận đó của Mỹ đã mở đường cho Pháp dựa vào quân Anh đánh chiếm Sài Gòn1, châm ngòi cho cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.

Những năm 1946 và 1947, Mỹ không ngăn cản Pháp mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, nhưng cũng không trực tiếp viện trợ cho các lực lượng viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Mãi đến năm 1947, khi Mỹ viện trợ cho nước Pháp 3 tỷ đôla theo kế hoạch Mácsan, nhờ đó Pháp mới đỡ khó khăn hơn trong việc tiếp tục chiến tranh xâm lược ở Việt Nam.

Lúc này, tuy Mỹ có chú ý đến “tính chất cộng sản” của Chính phủ kháng chiến Việt Nam, nhưng họ lại đang bị cuốn hút vào những vấn đề lớn của châu Âu. Việc chiếm đóng và xây dựng lại Nhật, sự tiến triển của các lực lượng cách mạng trong cuộc nội chiến ở Trung Quốc, sự phát triển mạnh của phong trào đòi độc lập và giải phóng dân tộc ở các khu vực thuộc địa rộng lớn, kể cả ở Đông Nam Á, v.v... làm cho Mỹ lúc này muốn Pháp giải quyết nhanh cuộc chiến tranh Đông Dương, kể cả bằng thương lượng2. Nhưng trước sau Pháp vẫn không chấp nhận thương lượng, mà còn đòi Chính phủ kháng chiến của Việt Nam phải đầu hàng.

Về phía Việt Nam, thể hiện nguyện vọng thiết tha của toàn dân mong muốn hoà bình, độc lập và chủ quyền dân tộc được tôn trọng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nhiều lần tỏ rõ lập trường mềm dẻo, sẵn sàng có nhiều nhân nhượng với Pháp. Nhưng càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Nhân dân Việt Nam không còn con đường nào khác là phải đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến trong tình thế cực kỳ khó khăn, hiểm nghèo. Để tránh và hạn chế nguy cơ chiến tranh do Pháp gây ra, thấy rõ vai trò, ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới, ngay sau khi giành được chính quyền, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã nhiều lần liên hệ (bằng điện, thư và tiếp xúc trực tiếp) với các cơ quan đại diện của chính quyền Oasinhtơn, bày tỏ lập trường và nguyện vọng của mình, kêu gọi và hy vọng Mỹ sử dụng ảnh hưởng của họ đối với Pháp để giải quyết cuộc xung đột. Chính quyền Mỹ đã không đáp ứng tích cực.

Tóm lại, cho đến những năm 1946-1947, Mỹ chưa quan tâm nhiều đến vấn đề Việt Nam và Đông Dương.

Trung tâm chú ý của Mỹ ở châu Á lúc này là củng cố vị trí của họ ở Nhật, Nam Triều Tiên và tiếp sức cho Tưởng Giới Thạch, hòng giành thắng lợi trong cuộc nội chiến ở Trung Quốc. Việc Mỹ ủng hộ chủ trương của Pháp xâm chiếm trở lại thuộc địa của Pháp là Việt Nam và Đông Dương còn do lúc này Mỹ đang cần tập hợp các đồng minh phương Tây, nhưng Mỹ lại muốn Pháp giải quyết nhanh cuộc chiến tranh Đông Dương, vì sợ tác động dây chuyền, từ đây sẽ thúc đẩy các phong trào đòi độc lập ở khu vực Đông Nam Á và Nam Á, không có lợi cho Mỹ và phương Tây.
______________________________________
1. Ngày 5-9-1945, Graxay, Tổng chỉ huy quân đội Anh ở Nam Đông Dương đòi giải giáp quân đội Việt Nam. Ngày 12-9-1945, quân Anh chiếm đóng trụ sở của Uỷ ban Hành chánh Nam Bộ và cho treo cờ Pháp lên. Đêm 22 rạng ngày 23-9-1945, quân Anh đi trước mở đường và yểm trợ cho quân viễn chinh Pháp đánh chiếm Sài Gòn.
2. Ngày 8-1-1947, thông qua Đại sứ Mỹ ở Pháp, Mỹ ngỏ ý sẵn sàng làm trung gian để giải quyết cuộc xung đột Pháp-Việt, nhưng Chính phủ Pháp đã bác bỏ. Sau đó, Mỹ mấy lần nhắc lại và muốn thúc Pháp giải quyết nhanh cuộc chiến tranh, nhưng Pháp vẫn khước từ.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:00:02 AM

3. Sự hình thành chiến lược toàn cầu của Mỹ. Chiến lược quân sự toàn cầu “ngăn chặn” (1948- 1952).

Làm bá chủ thế giới là tham vọng từ lâu của chủ nghĩa đế quốc, nhưng trong lịch sử của chủ nghĩa tư bản chưa có đế quốc nào có được những điều kiện đặc biệt thuận lợi như Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Thế giới trước kia và trong thế kỷ XX là một cộng đồng của nhiều quốc gia, do đó, tồn tại rất nhiều mâu thuẫn. Để giành quyền làm bá chủ một thế giới như vậy không phải chỉ có sức mạnh quân sự, kinh tế và chính trị, mà còn cần phải có một chiến lược toàn cầu phù hợp, một chính sách xâm nhập và bành trướng khôn khéo. Đó là điều rất khó khăn đối với Mỹ hồi đó, tuy rằng Mỹ là nơi sản sinh ra nhiều nhân tài tri thức, nhiều nhà khoa học lỗi lạc, nhưng những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ phải tập trung chất xám, động viên lực lượng trí tuệ để phát triển kinh tế và khoa học - kỹ thuật quân sự, tạo cơ sở để những năm sau cho ra đời được chiến lược toàn cầu.

Chiến lược toàn cầu của Mỹ gồm có chiến lược chung (gtand strategy) có khi còn gọi là chiến lược tổng quát, và chiến lược quân sự toàn cầu. Chiến lược chung bao gồm những quan điểm, tư tưởng và phương hướng chỉ đạo chiến lược cho tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế ngoại giao v.v... và thường được mang tên là học thuyết hoặc chủ nghĩa1. Kèm theo là một chiến lược quân sự toàn cầu.

Ra đời trong bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai có nhiều biến động, Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa vừa chiến thắng phát xít, uy tín quốc tế đang lên cao, tuy bị tàn phá nhiều, nhưng vẫn đang nắm ưu thế quân sự về vũ khí thông thường. Các nước dân chủ nhân dân lần lượt ra đời được Liên Xô ủng hộ và bắt đầu hình thành một hệ thống thế giới. Phong trào cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đang trên đà phát triển. Phong trào giải phóng dân tộc lên cao. Trong lúc đó, các trung tâm tư bản chủ yếu ở châu Âu và Nhật chưa được củng cố, phục hồi, tập hợp lại. Bối cảnh lịch sử đó đặt chiến lược toàn cầu Mỹ xuất phát từ một thế phòng ngự. Định để trung tâm của học thuyết Tơruman là ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản. Đó cũng là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong chiến lược quân sự toàn cầu của đế quốc Mỹ. Sau khi trúng cử vào Nhà Trắng lần thứ hai (lần thứ nhất liên danh với Rudơven và lên thay năm 1945-1948), Tơruman đề ra học thuyết mang tên mình. Học thuyết Tơruman, coi Liên Xô là đối tượng chủ yếu và lập luận rằng các nước dân chủ nhân dân được Liên Xô ủng hộ là chư hầu, tay sai của Liên Xô, coi các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc cũng là tay sai của cộng sản do Mátxcơva điều khiền. Do vậy, chiến lược của Mỹ là phải bao vây và ngăn chặn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa đồng thời phải chống lại phong trào giải phóng dân tộc. Để củng cố lực lượng đồng minh của Mỹ, tập hợp lại trong phe đế quốc, học thuyết Tơruman chấp nhận kế hoạch Mácsan ở châu Âu, thay chân các đế quốc ở các thuộc địa bằng việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới2.

Kế hoạch thừa nhận quan điểm thực lực “cái gậy lớn” và ỷ lại vào độc quyền nguyên tử, chính quyền Tơruman đề ra chiến lược quân sự toàn cầu mang tên “chiến lược ngăn chặn”, coi đó là nhân tố then chốt, quyết định thành công của học thuyết Tơruman, vì Mỹ cho “sức mạnh quân sự là phương tiện chính thức để ngăn chặn”. Nhiều nhân vật trong chính giới Mỹ hồi đó đã tuyên bố thẳng ra rằng “có hai cách để chinh phục một nước. Cách thứ nhất là, dùng sức mạnh của vũ khí để nắm quyền kiểm soát nhân dân nước đó; cách thứ hai là, nắm quyền kiểm soát nền kinh tế nước đó bằng các phương tiện tài chính”.

Hàng loạt kế hoạch quân sự của chiến lược ngăn chặn bắt đầu triển khai3.

Trong những năm 1947, 1948, 1949, tình hình quốc tế có nhiều diễn biến gây cho Mỹ bị những bất ngờ lớn, tác động mạnh đến vị trí của Mỹ, nội tình nước Mỹ và việc triển khai chiến lược ngăn chặn làm cho chiến lược này cần phải có những điều chỉnh quan trọng.

Trên lục địa châu Á, Quân giải phóng Trung Quốc đã chuyển sang phản công (từ tháng 7-1947). Sau khi tiêu diệt hơn một triệu quân Tưởng, Quân giải phóng đã vượt sông Trường Giang (24-4-1949), tiếp tục giải phóng hoàn toàn lục địa Trung Quốc4, buộc chính quyền Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch và Bộ tư lệnh Mỹ ở Trung Quốc phải rút chạy ra Đài Loan.

Trong lúc ở châu Á tình hình diễn ra như vậy thì ở châu Âu, Đại nguyên soái Stalin ra lệnh phong toả Béclin (1948) và tiếp đó là nước Cộng hoà Dân chủ Đức được thành lập (10-1949). Ngày 10-7-1949, Liên Xô thử thành công bom nguyên tử, làm cho Mỹ mất độc quyền vũ khí nguyên tử.

Mất Trung Quốc và mất độc quyền vũ khí nguyên tử là hai thất bại chiến lược lớn nhất lúc đó, làm cho chính giới Mỹ choáng váng. Nó chứng minh học thuyết Tơruman và chiến lược quân sự toàn cầu ngăn chặn đã không ngăn chặn được sự phát triển của các lực lượng cách mạng.

Trước tình hình đó, ở Mỹ, các thế lực chính trị cực đoan, quân phiệt hiếu chiến dấy lên một làn sóng cực hữu, đòi tiêu diệt hết tay sai cộng sản ở trong nước, đòi tái vũ trang Tây Đức và Nhật, đòi dùng vũ lực đè bẹp Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, v.v... Trong chính giới Mỹ nổ ra một cuộc tranh cãi lớn “ai đã để mất Trung Quốc?” (kéo dài trong gần ba năm). Chính quyền liên bang dùng bạo lực đàn áp các phong trào hoà bình, dân chủ, dân sinh và chống phân biệt chủng tộc đang lan rộng trong nước. Một không khí chống cộng ngột ngạt bao trùm nước Mỹ. Thậm chí: trong các thành phố khắp nước Mỹ, cảnh sát tích trữ cả xe thiết giáp, máy bay lên thẳng, đại bác tầm xa... Bộ Quốc phòng cũng gấp rút hoàn thành một trung tâm tác chiến của lục quân tốn nhiều triệu đôla ở dưới hầm ngầm của Lầu Năm Góc dùng để làm một sở chỉ huy trong trường hợp nổ ra các cuộc nổi loạn ở các thành phố.

Tình hình đó tác động rất mạnh vào cơ cấu bộ máy cầm quyền và quân đội Mỹ, cả vào chính sách đối ngoại và chiến lược toàn cầu của Mỹ. Các thế lực cực hữu, tướng lĩnh quân phiệt diều hâu tăng cường được vai trò, vị trí của chúng trong các cơ quan quyền lực nhà nước liên bang và trong quân đội. Chiến tranh lạnh bắt đầu và được tăng cường bằng chính sách “bên miệng hố chiến tranh”, mở rộng cuộc chạy đua vũ trang giữa hai phe trên quy mô mới.
______________________________________
1. Học thuyết Tơruman có chiến lược quân sự toàn cầu là “Chiến lược ngăn chặn”. Chủ nghĩa Aixenhao có chiến lược quân sự toàn cầu là “trả đũa ồ ạt”, học thuyết Kennơđy có chiến lược quân sự toàn cầu là “phản ứng linh hoạt”.
2. Kế hoạch Mácsan do Mácsan, quốc vụ khanh Mỹ nêu ra ngày 5-6-1947, nhằm khôi phục lại châu Âu bằng viện trợ Mỹ. Các nước Anh, Pháp, Bỉ, Áo, Hà Lan, Lúcxămbua, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Ailen, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Italia, Bồ Đào Nha, Tây Đức, Tơriet… đã tiếp nhận với điều kiện giành cho Mỹ những đặc quyền kinh tế theo yêu cầu của Mỹ, cắt đứt quan hệ ngoại giao với Liên Xô và một số nước dân chủ nhân dân.
3. Đưa thêm quân Mỹ sang Chiến trường Tây Âu, thành lập Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) theo Hiệp ước ký ngày 4-4-1949 ở Oasinhtơn, tăng cường lực lượng cho Hạm đội 6 ở Địa Trung Hải. Hạm đội 7 ở Tây Thái Bình Dương; xây dựng hệ thống căn cứ quân sự ở Guam, ở Ôkinaoa (Nhật), ở Philíppin v.v..., lập khối OEA (tổ chức các nước châu Mỹ). Năm 1948, ký hiệp ước gồm các nước: Mỹ, Canađa, Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Anh, Ailen, Italia, Lúcxămbua, Na Uy, Hà Lan, Bồ Đào Nha; đến năm 1952 có thêm hai nước tham gia là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ.
4. Tháng 12-1949. Quân giải phóng Trung Quốc tiến xuống Quảng Tây, ngày 19-12-1949, giải phóng bản đảo Lôi Châu (Quảng Đông), ngày 11-12-1949, tiến xuống biên giới phía nam giáp Việt Nam và đến ngày 23-4-1950 giải phóng Hải Nam. (Trong lúc đó trong tay của Tưởng Giới Thạch có lực lượng gần ba triệu quân, có sự chỉ đạo của Bộ tư lệnh Mỹ ở Trung Quốc).



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:01:24 AM

4. Mỹ với cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam và Đông Dương.

Chiến lược “ngăn chặn” (hình thành từ năm 1947 đến năm 1948 được hoàn chỉnh, công bố và triển khai) coi Liên Xô là đối tượng chủ yếu, lấy châu Âu là chiến trường trọng điểm số một. Trung Cận Đông, Mỹ Latinh và Đông Á - Tây Thái Bình Dương là những chiến trường quan trọng.

Sức mạnh quân sự được coi là yếu tố then chốt quyết định, theo đó quân đội Mỹ được tổ chức lại. Đi đôi với việc bắt đầu cuộc chạy đua vũ trang, Oasinhtơn còn xúc tiến việc nghiên cứu cho sản xuất bom khinh khí (H) để giành và giữ độc quyền về vũ khí hạt nhân, Mỹ giành nhiều nỗ lực tập trung cho chiến trường Tây Âu. Các lực lượng tinh nhuệ của lục quân Mỹ được tăng cường ở Tây Đức, Mỹ vận động thành lập Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO), cử tướng Aixenhao sang làm Tổng chỉ huy tối cao các lực lượng quân đội thống nhất của khối này. Viện trợ quân sự Mỹ cho Tây Âu trong thời kỳ này cũng tăng lên đáng kể1.

Từ năm 1949, do những biến động mới của tình hình quốc tế và trong nội tình chính giới Mỹ2, các xu hướng thiên hữu, cực đoan đang thắng thế, chiến lược ngăn chặn buộc phải có những điều chỉnh mới.

Từ cuối năm 1949, ở Tây Âu, Mỹ tăng số đơn vị lục quân Mỹ đóng ở đó lên gấp ba lần3.

Ở châu Á - Thái Bình Dương, chiến lược ngăn chặn ở khu vực này cũng có những điều chỉnh lớn. Nước Trung Hoa - (lục địa) lúc đầu là địa bàn chiến lược phải giành giật để ngăn chặn và bao vây Liên Xô, lúc này trở thành một đối tượng chủ yếu để ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản châu Á. Nhật Bản trở thành chỗ dựa và căn cứ bàn đạp chủ yếu của chiến lược quân sự ở châu Á4.

Chiến lược ngăn chặn ở châu Á lúc này lấy Đông Bắc Á làm chiến trường trọng điểm và hình thành thế bố trí chiến lược Nhật Bản - Nam Triều Tiên - Đài Loan. Tình hình chính trị ở châu Á có những phát triển không thuận lợi cho Mỹ. Tiếp theo các sự kiện nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên ra đời, mở rộng đáng kể địa bàn của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên lục địa châu Á, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở vùng này đang lên cao ở Malaixia, Inđônêxia, Mianma, Philíppin, Việt Nam, Lào, Campuchia... Ngay ở Nam Triều Tiên, dưới sự chiếm đóng trực tiếp của Mỹ, đến cuối năm 1948, phong trào du kích đã lan rộng đến 77 huyện và trong năm 1949, các trận chiến đấu đã diễn ra ở 8 tỉnh. Các đế quốc khác liên tiếp bị thất bại và bất lực không ngăn chặn nổi xu thế phát triển đó. Hà Lan bị thất bại ở Inđônêxia; Anh không tiêu diệt được các lực lượng nổi dậy ở Malaixia, Pháp đang bị sa lầy trong chiến tranh xâm lược ở Đông Dương.

Sự điều chỉnh chiến lược ngăn chặn của Mỹ ở châu Á được thực hiện bằng ba chủ trương lớn: bố trí hệ thống căn cứ quân sự bao quanh phe xã hội chủ nghĩa, hình thành thế “chiến lược vành đai”, áp dụng chính sách và công cụ quân sự của chủ nghĩa thực dân mới để tăng cường khả năng của các chính quyền tay sai thân Mỹ, đối phó với các phong trào giải phóng dân tộc và mở cuộc phản công để đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản trên chiến trường trọng điểm (Đông Bắc Á - Triều Tiên). Xây dựng thế bố trí chiến lược vành đai ở khu vực này, Mỹ đã dần dần xây dựng ở Nhật một mạng lưới gồm 125 căn cứ quân sự, biến Ôkinaoa thành trung tâm bố trí chiến lược quan trọng nhất. Mỹ bắt đầu xây dựng các căn cứ quân sự ở Nam Triều Tiên (từ cuối 1948, 1949), Đài Loan (từ cuối 1950, 1951). Để tăng cường sự vững chắc cho tuyến vành đai đó, Lầu Năm Góc đã có những biện pháp mở rộng, củng cố hệ thống căn cứ tuyến sau bao gồm ở Philippin, Mariana, Guam, Haoai, v.v..., hình thành một thế bố trí liên hoàn. Tiếp sau việc quyết định để Hạm đội 7 ở lại lâu dài ở Tây Thái Bình Dương, nhiều đơn vị quân Mỹ được tiếp tục đưa thêm tới, đã khẳng định sự có mặt của sức mạnh quân sự Mỹ ở châu Á5.

Về các công cụ và chính sách quân sự của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ: Việc xây dựng các chính quyền quân phiệt tay sai, dùng hệ thống cố vấn quân sự và viện trợ quân sự để xây dựng các quân đội quốc gia (ngụy), làm công cụ bành trướng... được vận dụng tích cực ở Nam Triều Tiên, Philíppin, Thái Lan... Các phái đoàn quân sự Mỹ MAAG đã đặt chỗ đứng chân ở thủ đô một số nước, bắt đầu hoạt động.
______________________________________
1. Từ cuối năm 1946 đến sau năm 1950, viện trợ quân sự cho Tây Âu chiếm 65,6% tổng số viện trợ quân sự cho nước ngoài.
2. Năm 1948, trong số 125 người được Tổng thống Tơruman bổ nhiệm vào các cương vị trọng trách của liên bang, có 66 người là tư bản tài chính, chủ ngân hàng, nhà công nghiệp hoặc cố vấn pháp luật của các tập đoàn tài chính và Công nghiệp quân sự lớn nhất hồi đó, có nhiều quyền lợi ở Tây Âu, Trung Cận Đông, Mỹ Latinh và châu Á như các tập đoàn Rốccơphenlơ, Moócgan, v.v…
3. Thành lập bộ chỉ huy tác chiến của khối NATO, thúc ép các nước thành viên khối này xây dựng 75 sư đoàn lục quân (cả thường trực và dự bị) để sử dụng cho chiến trường Trung Âu. Vận động tái vũ trang Tây Đức, nhưng không thành (bị nhiều nước phản đối).
4. Theo Michael T.Klare: Chiến lược lòng chảo Thái Bình Dương của Mỹ, Niu Oóc. 1975.
5. Tính đến đầu năm 1949, lực lượng chiến đấu trên bộ của Mỹ bố trí ở khu vực này đã có 4 Sư đoàn, 2 trung đoàn và nhiều đơn vị độc lập khác: bằng 34% tổng số đơn vị chiến đấu của quân đội Mỹ hồi đó.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:02:48 AM

Ở Đông Bắc Á, Mỹ quyết định tiến hành cuộc chiến tranh Triều Tiên. Ngày 25-6-1950, chiến tranh bùng nổ, tiếp ngay sau đó ngày 27-6-1950, đại biểu Mỹ vận động được Hội đồng bảo an ra nghị quyết ủng hộ Mỹ và Lý Thừa Văn. Một số nước đồng minh và phụ thuộc Mỹ, gửi quân sang tham chiến (kể cả Pháp) dưới danh nghĩa của Liên hợp quốc. Tháng 9-1950, quân đội viễn chinh Mỹ do tướng Mác Áctơ chỉ huy, sử dụng 500 máy bay, 300 tàu chiến và 50.000 quân thuộc tập đoàn quân số 10, đổ bộ lên Nhân Xuyên để thực hành phản công. Tiếp đó, thừa thắng, quân Mỹ và liên quân đã vượt qua vĩ tuyến 38, tiến công thẳng lên phía Bắc, định đánh chiếm hoàn toàn bán đảo Triều Tiên. Sự phản ứng mạnh của Liên Xô và Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là một bất ngờ đối với giới chiến lược quân sự Mỹ. Được sự hỗ trợ của Liên Xô, Trung Quốc đã đưa chí nguyện quân sang tham chiến (10-1950), đẩy lùi Mỹ và liên quân xuống vĩ tuyến 38, cuộc chiến tranh tiếp tục giằng co1.

Cuộc chiến tranh Triều Tiên kéo dài. Mỹ không chịu chấp nhận những điều kiện chấm dứt chiến tranh do Trung Quốc và Bắc Triều Tiên đưa ra. Quan hệ Mỹ - Trung ngày càng gay gắt. Mỹ doạ sẽ dùng bom nguyên tử, tuyên bố cấm vận đối với Trung Quốc, phong toả tài sản của Trung Quốc ở Mỹ v.v… Trung Quốc đã phản ứng lại một cách cứng rắn. Từ đó trong chính giới Mỹ không còn có ý kiến muốn tranh thủ Trung Quốc nữa. Chiến lược của Mỹ xác định Trung Quốc là nguy cơ đe doạ chủ yếu ở châu Á. Chiến lược ngăn chặn ở châu Á - Thái Bình Dương được bổ sung thêm một chủ trương mới - tái vũ trang Nhật. Ý đồ chủ trương này xuất hiện từ trước2 và đến tháng 11-1951, Hiệp ước an ninh Nhật - Mỹ được ký kết, tạo cơ sở hợp thức để thực hiện. Việc tái vũ trang Nhật Bản được lặng lẽ bắt đầu.

Trong quá trình điều chỉnh chiến lược ngăn chặn ở châu Á mọi nỗ lực quân sự của Mỹ được tập trung vào chiến trường trọng điểm là Đông Bắc Á, nên ở Lầu Năm Góc có sự đánh giá lại “chiến lược vành đai”. Giới chiến lược quân sự Mỹ phát hiện thấy lúc này hướng yếu nhất trong chiến lược của Mỹ ở châu Á là Đông Nam Á, một khu vực rộng lớn tiếp giáp với Trung Quốc ở phía nam. Bởi vì “Đông Nam Á có tầm quan trọng về chiến lược, nó kiểm soát cửa ngõ ra vào giữa hai biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương”, “Đông Nam Á rất quan trọng đối với Mỹ”... Quan điểm ngăn chặn đã tạo ra một cơ cấu chặt chẽ cho đường lối của Mỹ ở Đông Nam Á. Trong văn kiện NSC51, nhan đề Chính sách của Mỹ đối với Đông Nam Á do Bộ Ngoại giao Mỹ trình lên Hội đồng an ninh quốc gia ngày 1-7-1949, có đánh giá “ở Đông Dương, chính sách của Pháp là đánh chiếm lại, v.v... nhưng Pháp không thể dùng biện pháp quân sự để tiêu diệt Việt Minh, tình hình Đông Dương đang xấu đi rất nhiều. Cộng sản chiếm vị trí khống chế trong phong trào dân tộc...”. Sau đó, Tổng thống Tơruman đã phê chuẩn (ngày 30-12-1949) một văn kiện của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, trong đó nhấn mạnh “cần thiết phải ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản ở Đông Dương”. Đông Nam Á trở thành chiến trường quan trọng (lúc đó vẫn là sau Đông Bắc Á) trong chiến lược của Mỹ ở châu Á. Chiến lược ngăn chặn ở Đông Nam Á coi như chính thức bắt đầu từ đó và Đông Dương trở thành trọng điểm của chiến lược Đông Nam Á của Mỹ.

Những năm 1948, 1949 triển khai học thuyết Tơruman và chiến lược quân sự toàn cầu ngăn chặn, Mỹ đặt trọng tâm chiến lược là Tây Âu. Yêu cầu cấp thiết của Mỹ là, tập hợp đồng minh, chuẩn bị xây dựng liên minh chiến lược chống Liên Xô. Ở châu Âu, lúc này nước Pháp có vị trí rất quan trọng, thậm chí là then chốt trong việc hình thành liên minh đó. Do vậy, Mỹ đã cố gắng tranh thủ Pháp để khai thác vai trò của Pháp3. Đó là nhân tố có tác động mạnh, chi phối thái độ, chính sách của Mỹ đối với cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam và Đông Dương.

Năm 1948, trong một văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ (27-9-1948) tổng kết tình hình Việt Nam và chính sách của Mỹ đối với Việt Nam, có nêu rõ mục tiêu lâu dài của Mỹ là: thủ tiêu ở mức độ tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Dương, Mỹ muốn thấy Việt Nam và Đông Dương có một nhà nước dân tộc chủ nghĩa tự trị thân Mỹ. Việc “Pháp dùng quân sự đánh chiếm lại Đông Dương không phải là giải pháp nên có”. Văn kiện đó đánh giá: Cụ Hồ Chí Minh là người mạnh nhất và có lẽ là người có khả năng nhất ở Đông Dương, bất cứ giải pháp nào được đề nghị mà gạt Cụ Hồ ra thì chỉ là một biện pháp mà kết quả không chắc chắn. Do vậy, Mỹ do dự không ép Pháp quá mạnh hoặc dính líu quá sâu chừng nào chưa có thể gợi ý một giải pháp, hoặc Mỹ chưa sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm của sự can thiệp. Trên thực tế, trong nội bộ chính giới Mỹ lúc này có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng ở Việt Nam không thấy có ảnh hưởng của Liên Xô. Có ý kiến lo ngại Trung Quốc sẽ thống trị Việt Nam. Có ý kiến cho rằng mặc dầu chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang tính chất cộng sản, nhưng vẫn có thể khuyến khích Pháp thoả hiệp với hy vọng đây là chủ nghĩa cộng sản dân tộc, có thể trở thành một “Titô châu Á” và sẽ không chịu sự kiểm soát của Liên Xô. Đáng chú ý hơn cả là những ý kiến cho rằng Pháp không nên rút khỏi Việt Nam, và Mỹ cần tính đến khả năng can thiệp trực tiếp vào chiến tranh4. Các ý kiến trên đây đại biểu cho các xu hướng khác nhau trong chính quyền Mỹ lúc ấy. Tuy quan điểm và lập luận khác nhau, thậm chí đối lập nhau, nhưng tất cả đều xuất phát từ góc độ vì lợi ích của Mỹ trong chiến lược toàn cầu (phải tập hợp đồng minh, ưu tiên cho Tây Âu, tập trung cho Đông Bắc Á... ) để chống Liên Xô, sau đó cả Trung Quốc nữa. Không thấy có một ý kiến nào xuất phát từ lợi ích dân tộc và độc lập chủ quyền thật sự của Việt Nam, của các nước Đông Dương, ngay cả khi họ lập luận rằng chế độ thực dân của Pháp đã lỗi thời và Mỹ “cần tích cực tham gia một giải pháp hoà bình và xây dựng ở Đông Dương”.

Những xu hướng bất đồng ý kiến như vậy trong nội bộ giới cầm quyền Oasinhtơn làm cho thái độ của chính quyền Mỹ trong năm 1948 tuy đã tỏ ra ủng hộ Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương, nhưng chưa ngả hẳn về chủ trương can thiệp mạnh vào cuộc chiến tranh.
______________________________________
1. Trong chiến tranh Triều Tiên, quân Mỹ lúc cao nhất là 472.000. Quân đội Mỹ đã sử dụng 2.746.000 tấn bom đạn. Chi phí của Mỹ gần 21 tỉ đôla. Thương vong của quân Mỹ là 136.913 binh sĩ bị loại khỏi chiến đấu, trong đó bị chết 33.629.
2. Tác giả R.Ghilanh trong sách: Nhật Bản - cường quốc thứ ba, Pari, 1969, có ghi lại chuyện sau: vào một ngày đầu năm 1951: Quốc vụ khanh Mỹ G.Ph. Dalet, sau khi đi thị sát chiến trường Triều Tiên tỏ ra rất bi quan với tình hình. Đalet phải ghé thăm Tôkyô để gặp thủ tướng Yôsiđa của Nhật. Trong buổi hội đàm kéo dài giữa hai chính khách, Đalet có lúc đã (bất chấp cả nghi lễ ngoại giao) đấm tay xuống bàn và rít lên: “Phải tái vũ trang! Tái vũ trang!”.
3. Năm 1947: Mỹ viện trợ cho Pháp 3 tỉ đôla theo kế hoạch Mácsan. Năm 1948. Tổng thống Mỹ đã có sự phê chuẩn đặc biệt để trang bị cho 3 sư đoàn Pháp đóng ở Đức.
4. Ngày 22-9-1947, cựu đại sứ Mỹ W. Bullit sang Đông Dương gặp Bollaert, sau đó sang Hồng Kông gặp Bảo Đại (chuyến đi này diễn ra sau 12 ngày khi Bollaert đọc diễn văn ở Hà Đông đòi Chính phủ kháng chiến Việt Nam đầu hàng). Sau khi về Mỹ, Bullit có viết bài trên báo Life (12-1947) nhấn mạnh “cần sử dụng con bài Bảo Đại... để có thể loại trừ cộng sản”. Đến cuối tháng 9-1948, Bullit gặp lại Bảo Đại ở Giơnevơ và hứa sẽ ủng hộ Bảo Đại. Nhưng tiếng nói của phái Bullit không có trọng lượng lắm đối với chính quyền Tơruman.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:03:47 AM

Thực tế từ năm 1947, Mỹ đã viện trợ cho Pháp theo kế hoạch Mácsan và Pháp đã dùng một phần viện trợ đó vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Báo chí Mỹ cho biết: năm 1947 Chính phủ Tơruman đã cho Pháp vay 160 triệu đôla để mua xe cộ và một số thiết bị liên quan cho chiến trường Đông Dương. Trong văn kiện NSC51 của Bộ Ngoại giao Mỹ gửi Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ (ngày 1-7-1949) có xác nhận, trong năm 1948 khoảng 100.000 quân Pháp với trang bị của Mỹ... đang bị hao tổn ở Đông Dương.

Chính phủ Mỹ nói là từ năm 1945 đến đầu năm 1948, Mỹ cố gắng giữ thái độ trung lập về cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam, nhưng dư luận và báo chí Mỹ cho rằng Ngoại trưởng Akyxơn và Tổng thống Tơruman hầu như từ đầu đã dính líu đến chính sách của Mỹ đối với Đông Dương.

Sự phát triển của tình hình cách mạng ở châu Âu và châu Á, làm cho chiến lược ngăn chặn ở châu Á của Mỹ có điều chỉnh mới. Sự điều chỉnh chiến lược đó đã dần dần đưa Mỹ dính líu ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương, kể từ những năm 1949-1950 trở đi. Mỹ đã từng khuyên Pháp nên tìm một con bài chính trị. Tháng 1-1949, Bộ Ngoại Giao Mỹ thúc ép Pháp thoả thuận với Bảo Đại để lập Chính phủ bù nhìn. Tiếp đến tháng 2-1949, Ngoại trưởng Akyxơn lại hối thúc và đến ngày 8-3-1949, Pháp đã ký Hiệp nghị Êlidê với Bảo Đại. Ngày 10-5-1949, Bộ Ngoại giao Mỹ điện cho lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn, khẳng định Pháp, các cường quốc phương Tây khác và các nước không cộng sản ở châu Á, hết sức cố gắng để đảm bảo thắng lợi tốt nhất cho thí nghiệm Bảo Đại.

Từ cuối năm 1949, Mỹ chính thức cam kết dính líu vào cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam bằng một loạt bước đi liên tiếp: tháng 10-1949, Mỹ cử phái đoàn đầu tiên gồm các đại biểu Quốc hội và cán bộ ngoại giao đến Đông Nam Á, rồi đến Sài Gòn nghiên cứu tình hình. Ngày 28-11-1949, Oasinhtơn chính thức mời đại diện của Chính phủ bù nhìn Bảo Đại sang thăm Mỹ1. Trong văn kiện của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ (NSC.51) do Tổng thống Tơruman phê chuẩn ngày 30-12-1949, nhấn mạnh sự cần thiết phải ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản ở Đông dương bằng sự trợ giúp về chính trị, viện trợ kinh tế và quân sự. Đầu năm 1950, trong lúc Quốc hội Pháp đang thảo luận Hiệp ước Êlidê (ký giữa Pháp và Bảo Đại), thì đại sứ lưu động Mỹ P.Giétxớp (Jessup) vội đến gặp Bảo Đại, trao thư của Ngoại trưởng Mỹ Akyxơn tỏ ý hài lòng và mong muốn lập quan hệ chặt chẽ. Ngày 1-2-1950, cơ quan Bộ Ngoại giao Mỹ chuẩn bị văn kiện về khả năng Mỹ viện trợ quân sự cho Pháp ở Đông Dương.

Ngày 15-2-1950, Quốc hội Mỹ quyết định viện trợ cấp tốc 15 triệu đôla cho chính quyền Bảo Đại. Ngay ngày hôm sau, 16-2-1950, Pháp yêu cầu tăng cường viện trợ quân sự cho Pháp và doạ: nếu không, Pháp có thế bắt buộc phải xem xét việc giảm thương vong và rút khỏi Đông Dương, buộc Hội đồng an ninh quốc gia và Hội đồng Tổng tham mưu trưởng liên quân Mỹ phải đưa ra thảo luận. Trong thời gian này, mặc dù chính Truyền đã cam kết công khai dính líu vào cuộc chiến Việt Nam, nhưng trong chính giới Mỹ vẫn có những xu hướng bất đồng, có khi gay gắt. Đại biểu cho một trong những xu hướng đó là R.B.Phôđích (Fodick) chuyên viên về chính sách Viễn Đông của Bộ Ngoại giao Mỹ. Ngày 4-11-1949, Phôđích gửi một bị vong lục cho đại sứ Mỹ Giétxớp, phản đối việc Mỹ công nhận chính quyền bù nhìn Bảo Đại và cho rằng, nếu Mỹ ủng hộ cố gắng của Pháp, thì điều đó sẽ có hại cho vị trí và uy tín của Mỹ ở Đông Nam Á, sau khi đã mất uy tín rất nhiều với sự thất bại của Tưởng Giới Thạch. Bị vong lục đó đã đặt vấn đề một cách thẳng thắn rằng: “Bất kể người Pháp thích hay không thích, đọc lập đang đến với Đông Dương. Vì vậy, tại sao chúng ta lại tự ràng buộc mình vào đuôi cái điều rách nát của họ” 2. Có ý kiến khẳng định mạnh mẽ rằng “nếu Mỹ ủng hộ giải pháp Bảo Đại thì chắc chắn sẽ thất bại”. Có xu hướng phản đối khác mà tiêu biểu là Ápbốt (George Abbott) một quan chức ngoại giao Mỹ, đã có hẳn một văn bản nhấn mạnh rằng: Chính phủ Hồ Chí Minh vẫn hy vọng có thể tranh thủ được sự ủng hộ của Mỹ, hoặc ít nhất thì Mỹ cũng chấp nhận Chính phủ Việt Minh. Lúc này, ngay trong giới cầm quyền ở Pháp cũng có những người ngả theo xu hướng muốn chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương3.

Những xu hướng thức thời; tỉnh táo, có lương tri trong giới cầm quyền ở Mỹ, ở Pháp dần dần bị lấn át bởi các xu hướng quân phiệt, thiên hữu đại biểu cho quyền lợi của các tập đoàn độc quyền sản xuất và buôn bán vũ khí trong các tổ hợp công nghiệp quân sự là những thế lực đẩy Mỹ can thiệp ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh Đông Dương và đẩy thực dân Pháp ngoan cố hơn trong việc kéo dài chiến tranh.

Sau khi Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đưa ra ý kiến viện trợ quân sự cho chính quyền bù nhìn Bảo Đại và Pháp, (ngày 27-2-1950) được Hội đồng tham mưu trưởng liên quân ủng hộ, Mỹ đã để lộ ý đồ muốn trực tiếp nắm lấy chính quyền bù nhìn Bảo Đại và quân ngụy, thông qua viện trợ quân sự thẳng cho Bảo Đại. Mâu thuẫn giữa Pháp và Mỹ trong chiến tranh Đông Dương lúc này đã bộc lộ công khai và có phần gay gắt.
______________________________________
1. Bảo Đại cử Bửu Lộc, Chánh văn phòng của Chính phủ Báo Đại, sang Mỹ.
2. Biên bản Quốc hội Mỹ - Nxb Quốc hội, 1949.
3. Ramadier đã bày tỏ ý kiến công khai là Pháp nên rút khỏi Đông Dương.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:04:13 AM

Khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Tơruman tuyên bố (27-6-1950) rằng Mỹ sẽ xúc tiến việc cung cấp viện trợ cho Pháp ở Đông Dương, tiếp đó quyết định cử một phái đoàn quân sự và ngoại giao do Hakin (trung tướng) và Menbai cầm đầu. Ngày 10-8-1950, chuyến tàu viện trợ vũ khí đầu tiên của Mỹ đến Đông Dương. Phái đoàn viện trợ quân sự MAAC bắt đầu hoạt động ở Sài Gòn. Mỹ cử thiếu tướng Brincơ (Franois L.Brink) làm trưởng đoàn, điều hành toàn bộ viện phân phối, sử dụng viện trợ quân sự Mỹ ở Đông Dương (ngày 4-10-1950).

Trong cuộc đàm phán Mỹ - Pháp ở Oasinhtơn ngày 17-10-1950, Mỹ quyết định dành phần lớn số tiền 500 triệu đôla viện trợ quân sự cho khu vực Viễn Đông, để viện trợ cho Pháp trong chiến tranh Đông Dương, giành ưu tiên cho Pháp về vận chuyển vũ khí và phân phối viện trợ. Cũng trong cuộc đàm phán này, Mỹ còn quyết định giành cho Pháp một phần quan trọng trong số 5 tỷ đôla viện trợ quân sự Mỹ cho Tây Âu theo kế hoạch của khối NATO trong tài khoá 1950-1951. Ngày 23-12-1950, Mỹ, Pháp và ba chính quyền bù nhìn ở Đông Dương ký Hiệp ước phòng thử hỗ tương, trong đó, Mỹ cam kết viện trợ vũ khí, thiết bị quân sự và nắm quyền kiểm soát việc sử dụng viện trợ quân sự.

Sau khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, không khí chống cộng sản được kích động sôi sục ở Mỹ, Mỹ coi Trung Quốc là đối tượng chủ yếu ở châu Á, quan hệ thù địch giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng căng thẳng. Để công khai khẳng định quyền can thiệp của Mỹ ở Đông Dương, ngày 14-9-1951, Tổng thống Tơruman tuyên bố vị trí của Pháp ở Đông Dương cũng giống như vị trí của Liên hợp quốc (Mỹ) ở Triều Tiên. Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao Mỹ liền đó cũng ra tuyên bố chung nhấn mạnh rằng, bảo vệ Đông Dương một cách thắng lợi là điều thiết thân cho việc bảo vệ Đông Nam Á. Giới quân sự thiên hữu, chủ chiến trong chính quyền Pari đã lợi dụng điều đó, buộc Mỹ tăng cường viện trợ quân sự cho Pháp. Tháng 9-1951, tướng Đờtátxinhi (De Lattre de Tassinky) được mời sang Mỹ để hội đàm, đánh giá về tình hình cuộc chiến tranh Đông Dương. Sau các buổi hội đàm, Đờtátxinhi tuyên bố nếu để mất Đông Dương, thì chủ nghĩa cộng sản sẽ thẳng tiến đến tận kênh Xuyê, không thể nào ngăn chặn nổi.

Chiến tranh Đông Dương kéo dài, sự can thiệp của Mỹ càng tăng, ý đồ thực sự của Mỹ càng lộ rõ, làm cho nội bộ chính quyền Pháp ở Pari phân hoá mạnh. Trong những năm 1951 -1952, hàng ngũ chính giới Pháp xao xuyến, tranh luận kéo dài. Đến đầu năm 1953, trong số đó, có nhiều người đã ngả hẳn sang quyết tâm đi tìm một giải pháp bằng đàm phán cho cuộc chiến tranh Đông Dương, kể cả một số nhân vật thuộc phái hữu. Họ đã nhận ra rằng (tuy đã muộn) nếu dựa vào Mỹ mà đẩy lùi được các lực lượng cách mạng ở Đông Dương thì thành quả cuối cùng cũng sẽ rơi vào tay Mỹ.

Đối phó với xu hướng chủ hoà trong chính giới Pháp, Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự, đáp ứng mau chóng yêu cầu chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Từ tháng 7-1950 đến 1-1-1952, Mỹ đã cung cấp cho Pháp gần 300 triệu đôla vũ khí và trang bị quân sự. Tại hội nghị tay ba Mỹ, Pháp, Anh họp ở Pari bàn về các vấn đề Đông Nam Á ngày 28-5-1952, Ngoại trưởng Mỹ Akyxơn nói từ tháng 6-1951 đến tháng 6-1952, Mỹ đã gánh chịu một phần ba (1/3) chi phí cho cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Và từ hội nghị này, Mỹ đồng ý tăng thêm 150 triệu đôla trong tài khoá 1952-1953 viện trợ quân sự cho Pháp. Lơtuốcnô (Le Tourneau) đại diện Chính phủ Pháp xác nhận sáu tháng tới viện trợ quân sự Mỹ sẽ chiếm tỷ lệ 40% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Mặc dầu vậy, Pháp vẫn không bớt lo ngại trước ý định của Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông Dương.

Ngày 16-6-1952, Lơtuốcnô, Bộ trưởng phụ trách Đông Dương trong Chính phủ Pháp tuyên bố ở Mỹ rằng, Pháp cần Mỹ tăng cường viện trợ quân sự, nhưng không muốn có quân đội nước ngoài ở Đông Dương (ý nói không muốn Mỹ đưa quân vào).

Cuộc chiến tranh Triều Tiên kéo dài, Mỹ không đạt được mục tiêu đã định, các thế lực quân phiệt hiếu chiến ở Mỹ muốn mở rộng chiến tranh đánh vào Trung Quốc và đánh cả vào Liên Xô, nếu cần. Sợ ảnh hưởng đến lợi ích của mình ở Viễn Đông, Pháp và Anh không tán thành, gây sức ép mạnh với chính quyền Mỹ. Do sức ép đó, cùng những nguyên nhân khác, Tổng thống Tơruman cuối cùng đã phải bác bỏ kế hoạch mở rộng chiến tranh nói trên do giới diều hâu quân phiệt Mỹ đề xuất, mà đại biểu là tướng Mác Áctơ, Tư lệnh tối cao của Mỹ ở Thái Bình Dương.

Trong những năm 1951-1952 và đầu năm 1953, tình hình của Pháp trong chiến tranh xâm lược Việt Nam và Đông Dương ngày càng xấu hơn, quyết tâm chiến tranh của chính giới Pháp lung lay mạnh. Cả hai cuộc chiến tranh của Mỹ, của Pháp ở Triều Tiên và Đông Dương, đẩy chiến lược ngăn chặn của Mỹ ở châu Á vào thế lúng túng, buộc các giới cầm quyền Mỹ phải xem xét lại để tìm ra một sự chuyển hướng chiến lược mới. Đây cũng chính là thời kỳ chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” của Mỹ bị phá sản.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:05:40 AM

5. Mỹ với cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Việt Nam trước và sau Điện Biên Phủ

Chiến lược ngăn chặn sau mấy năm triển khai và điều chỉnh đã đẩy Mỹ lao nhanh vào cuộc chạy đua vũ trang. “Trước khi kết thúc cuộc chiến tranh Triều Tiên, những chi phí quân sự của Mỹ đã nhảy vọt từ 13 tỷ đôla một năm, lên tới 50 tỷ đôla. Một lực lượng quân đội khổng lồ của Mỹ gồm 1.461.000 người trong tháng 6-1950, sau hai tháng đã tăng gấp hai lần” 1.

Đến lúc này, nước Mỹ có một sức mạnh quân sự rất hùng hậu. Sức mạnh đó được coi là trụ cột của chiến lược ngăn chặn. Tuy nhiên chiến lược ngăn chặn toàn cầu đã không đem lại hiệu quả là ngăn chặn sự phát triển của các trào lưu cách mạng khác nhau, mà Mỹ thường gộp chung lại gọi là nguy cơ cộng sản. Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa được mở rộng từ Âu sang Á. Phong trào đấu tranh giành độc lập và giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển mạnh, nhất là ở Đông Nam Á. Chiến tranh Triều Tiên giằng co kéo dài, bộc lộ rõ những hạn chế của Mỹ trong khả năng chiến thắng bằng chiến tranh thông thường. Chiến lược quân sự toàn cầu ngăn chặn bị phá sản. Năm 1952, kết quả cuộc vận động tranh cử tổng thống ở Mỹ đưa tập đoàn Aixenhao - Níchxơn của Đảng Cộng hoà lên cầm quyền ở Nhà Trắng. Nhiệm vụ quan trọng cấp bách đầu tiên của tập đoàn lãnh đạo mới là xác định một chiến lược toàn cầu mới và tìm ra một chiến lược quân sự toàn cầu khác, thay thế cho chiến lược “ngăn chặn”. Năm 1953, Aixenhao - Níchxơn chính thức cầm quyền sau khi đánh giá lại tình hình, đã đề ra “chủ nghĩa Aixenhao”, thay cho “học thuyết Tơruman” và lấy chiến lược “trả đũa ào ạt” làm chiến lược quân sự toàn cầu mới, thay cho chiến lược “ngăn chặn”.

Tuyên bố về sự ra đời của “chủ nghĩa Aixenhao”, chính quyền ở Mỹ gọi đây là “bộ mặt mới” (có khi còn gọi là “cách nhìn mới, quan điểm mới”). Nó sẽ có hiệu lực ngăn chặn ngay bất kỳ một cuộc bùng nổ cách mạng nào ở bất cứ đâu, có ảnh hưởng đến lợi ích của Mỹ và phương Tây. Trình bày tinh thần và nội dung cốt lõi của chiến lược quân sự toàn cầu “trả đũa ào ạt”, Đalét, ngoại trưởng Mỹ giải thích “quyết định cơ bản mới về chính sách là chủ yếu dựa vào một khả năng to lớn để đánh trả ngay lập tức bằng phương thức do Mỹ lựa chọn” 2.

So sánh lực lượng giữa hai phe chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội đã thay đổi, trong đó có một yếu tố rất quan trọng mà “chủ nghĩa Aixenhao” với chiến lược “trả đũa ào ạt” dựa làm cơ sở chủ yếu là, ưu thế nguyên tử hạt nhân còn nằm trong tay Mỹ” 3.

Triển khai chiến lược “trả đùa ào ạt”, Mỹ tập trung ưu tiên cho các lực lượng không quân chiến lược, tên lửa và vũ khí hạt nhân4.

Trong thời kỳ này, Mỹ mở rộng vũ trang can thiệp cả ở châu Á, Trung Đông, Mỹ Latinh. Mỹ lập thêm các khối quân sự xâm lược để củng cố và xiết chặt tuyến vành đai bao quanh các nước xã hội chủ nghĩa: khối SEATO ở Đông Nam Á (1954), khối BAGDAD ở Trung Đông (1955), sau đổi thành khối CENTO (1959), đưa Tây Đức vào khối NATO (1955). Mỹ còn vũ trang can thiệp vào Libăng 1958, vào Đômimca (1960), Cônggô (1960) 5.
______________________________________
1. Ralph Cologh: Đông Á và nền an ninh của Mỹ, Viện Brooking xuất bản.
2. Biên bản Quốc hội Mỹ 1954, lưu trữ Ban Tổng kết chiến lược Bộ Quốc phòng.
3. Năm 1949, Liên Xô có bom nguyên tử, phá vỡ độc quyền của Mỹ, nhưng đến năm 1952, Mỹ đã sản xuất thành công bom khinh khí (H). 1952 lúc “chủ nghĩa Aixenhao” được chuẩn bị, Mỹ nắm độc quyền về bom khinh khí. Năm 1953, sau khi “chủ nghĩa Aixenhao” ra đời, Liên Xô mới có bom khinh khí.
4. Lực lượng không quân được phát triển mạnh, năm 1953 có 110 liên đội, trong đó có 84 đại đội máy bay ném bom chiến lược. Chi phí cho lực lượng tên lửa tăng lên rất nhanh. Quy mô xây dựng lực lượng lục quân từ 20 sư đoàn (1953) giảm xuống (đến 1960) còn 14 sư đoàn, chuyển biên chế từ sư đoàn có ba lữ đoàn thành biên chế sư đoàn 5 cụm để tác chiến trong điều kiện nguyên tử. Sau chiến tranh Triều Tiên và sau Điện Biên Phủ, lục quân Mỹ còn lập ra (1958) lực lượng cơ động chiến lược (STRAC) để sẵn sàng cơ động can thiệp ở nước ngoài.
    Đến năm 1959-1960, lực lượng không quân Mỹ đã lên đến 137 liên đội, trong đó có 140 đại đội máy bay ném bom chiến lược.
    Chi phí cho lực lượng tên lửa đến năm 1957 tăng gấp 7 lần mức chi phí năm 1953.
5. Từ năm 1928, Mỹ - Anh ký kết hiệp định “Đường chỉ đỏ” quy định Mỹ Latinh là của Mỹ, Trung Đông là của Anh, nhưng đến 1954, Aixenhao đưa ra thuyết “lấp lỗ trống” nhảy vào Trung Đông nhằm gạt Anh và Pháp ra khỏi vùng này.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:06:34 AM

Chiến lược quân sự toàn cầu “trả đũa ào ạt” 1 được triển khai với sự hỗ trợ của chính sách ngoại giao “bên miệng hố chiến tranh” 2 đưa cuộc chiến tranh lạnh lên đỉnh cao mới, đẩy nước Mỹ vào tình thế bị quân phiệt hoá cao độ. Các tác giả Mỹ đã kết luận: “Nhà nước Mỹ ngày nay đã trở thành một nhà nước chiến tranh, chứ không phải là một nhà nước phúc lợi”. Trên một cơ sở chính trị xã hội như vậy, các thế lực quân phiệt hiếu chiến cực hữu tất yếu nhảy lên nắm quyền điều hành chiến lược ở Mỹ.

Triển khai chiến lược “trả đũa ào ạt” ở châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ có sự điều chỉnh lại việc bố trí lực lượng chiến lược. Do tư tưởng chỉ đạo là trả đũa bằng hạt nhân, Mỹ phải đưa không quân lên hàng lực lượng chủ yếu và chuẩn bị đưa vũ khí hạt nhân vào khu vực này. Một loạt căn cứ không quân và không-hải quân liên hợp được mở rộng ở Nhật, Philippin, Nam Triều Tiên..., nhất là từ những năm 1955, 1956, 1957. Theo các tài liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ, tính đến năm 1957, hệ thống căn cứ không quân Mỹ ở Haoai, Guam, Nhật, Nam Triều Tiên, Philíppin có khả năng tiếp nhận 25 liên đội máy bay chiến đấu. Đến năm 1958, Mỹ đã bố trí ở vùng này hai tập đoàn không quân chiến đấu.

Cuộc chiến tranh Triều Tiên ác liệt kéo dài gây ra tâm lý chán ghét chiến tranh trong nhân dân Mỹ. Phong trào đấu tranh bảo vệ hoà bình của nhân dân thế giới phát triển sôi nổi, rộng rãi. Nhiều nước đồng minh của Mỹ không muốn Mỹ mở rộng và kéo dài chiến tranh ở châu Á. Tình hình đó, cùng với cục diện chiến tranh diễn biến bất lợi cho Mỹ, buộc chính quyền Aixenhao phải chấp nhận đàm phán, chấm dứt cuộc chiến tranh Triều Tiên, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới giữa hai miền Nam và Bắc Triều Tiên mà không dám trả đũa ồ ạt bằng vũ khí hạt nhân đối với Trung Quốc, Liên Xô. Quân đội Mỹ và liên quân, dưới danh nghĩa Liên hợp quốc, cùng quân đội Nam Triều Tiên đóng và kiểm soát phía Nam. Quân đội nhân dân Triều Tiên và quân chí nguyện Trung Quốc đóng và kiểm soát từ phía bắc vĩ tuyến 38.

Chiến tranh Triều Tiên kết thúc, hai bên trở về vị trí nguyên trạng ban đầu. Thực tế là sự cân bằng chiến lược giữa hai bên ở khu vực đã hình thành (đây cũng là điểm tiêu biểu cho thế cân bằng chiến lược chung giữa hai phe trong thời điểm đó), tạo cho chiến trường Đông Bắc Á ở trong trạng thái ở phân tuyến và tương đối ổn định.

Giải pháp đình chiến và kết thúc chiến tranh Triều Tiên bằng đàm phán hoà bình có tác động mạnh đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong năm 1953, những thất bại liên tiếp ở Việt Nam và Đông Dương (cùng với nhiều nguyên nhân khác nữa) đã làm cho chính giới Pháp, ngay cả phái hữu trong chính phủ Pháp, cũng muốn chủ trương kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương với “thắng lợi khiêm tốn nhất” gọi là “trong danh dự”. Người Pháp định bỏ cuộc, vì không còn khả năng tiếp tục cuộc chiến tranh. Cuộc kháng chiến chính nghĩa của Việt Nam và các nước Đông Dương đang trên đà phát triển thắng lợi. Nhân dân Đông Dương, nhân dân Đông Nam Á và châu Á, cũng như Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa lúc này muốn chấm dứt cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương, tiếp sau việc kết thúc cuộc chiến tranh của Mỹ ở Triều Tiên.

Song, lúc này trọng điểm chiến lược quân sự của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương đang được chuyển từ Đông Bắc Á xuống Đông Nam Á với tiêu điểm là Việt Nam và Đông Dương. Với sự chuyến hướng chiến trường này, Mỹ dính líu sâu hơn vào Việt Nam, Đông Dương và Đông Nam Á. Trong nghị quyết của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ (NSC - 124/2 ngày 25-6-1952) đã nhấn mạnh rằng, Đông Dương, Nam Á là khu vực có tầm quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ và Mỹ phải bảo vệ Đông Nam Á bằng cách ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản từ Việt Nam và Đông Dương.

Năm 1953, Mỹ nhận thấy quyết tâm của Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương đã bị lung lay: Việc chính phủ Pháp rút Henri Nava (H.Navare), đại tướng, Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp trong khối Bắc Đại Tây Dương về Pari, giao cho chức Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương (ngày 18-5-1953), chỉ nhằm mục đích giành một số thắng lợi quân sự, tạo điều kiện cho Pháp kết thúc chiến tranh “trong danh dự”. Trong tình hình Pháp đang gặp rất nhiều khó khăn và ở thế bất lợi trong cuộc chiến tranh, một mặt, Mỹ dốc thêm nhiều viện trợ cho Pháp; mặt khác, tìm mọi cách để trực tiếp nắm lấy việc điều hành chiến tranh ở Đông Dương. Tháng 7-1953. Mỹ phê chuẩn Kế hoạch Nava, của bộ chỉ huy Pháp, gánh chịu mọi khoản chi phí cho kế hoạch đó, gồm gần 400 triệu đôla3.
______________________________________
1. The Strategy of massive retaliation.
2. Một trong những chủ trương phiêu lưu của chính sách “bên miệng hố chiến tranh” là thường xuyên cho máy bay ném bom chiến lược mang bom hạt nhân bay tuần tiễu trên không.
3. Tính đến tháng 1-1954, riêng về vũ khí và phương tiện chiến tranh, Mỹ đã viện trợ cho Pháp ở Đông Dương gồm 360 máy bay, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 390 tàu chiến và tàu quân sự, 16.000 xe quân sự các loại, 175.000 súng trường và súng máy.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:07:27 AM

Nếu như năm 1950, Mỹ chỉ viện trợ quân sự 10 triệu đôla cho Pháp trong cuộc chiến tranh, thì đến lâu năm 1954, số lượng này đã tăng lên đến 1,1 tỉ đôla, chiếm 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương. Từ 1950 đến 1954, tổng số viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ cho Pháp trong chiến tranh Đông Dương đã vượt quá 3,5 tỉ đôla. Chính Nava sau này nói rõ rằng: địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần.

Năm 1953, Mỹ vừa tăng viện trợ quân sự cho Pháp, vừa không ép Pháp nhiều, sợ Pháp bỏ cuộc sớm trong khi Mỹ chưa chuẩn bị đủ các điều kiện thuận lợi để thay Pháp, mặt khác, Mỹ cũng còn tính những kế hoạch riêng. Ngày 21-7-1953, Tổng thống Aixenhao chính thức mời Thủ tướng của chính quyền (bù nhìn) Sài Gòn Nguyễn Văn Tâm sang thăm Hoa Kỳ và được Mỹ cam kết ủng hộ giúp đỡ. Trong khi đó, Mỹ cũng bắt đầu cổ động cho con bài chính trị khác đã được chuẩn bị là Ngô Đình Diệm. Nhiều nhà trí thức có tên tuổi ở Mỹ cho rằng “mục tiêu lâu dài của Mỹ là tiêu diệt ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Dương tới mức tối đa và đưa Đông Dương vào quỹ đạo của phương Tây.

Để thuyết phục nội bộ chính giới Mỹ và dư luận Mỹ tán thành ủng hộ chủ trương chiến lược can thiệp vào Đông Dương nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á, chính quyền Aixenhao nhiều lần nhắc đến và nhấn mạnh hậu quả, tác động phản ứng dây chuyền của thuyết Đôminô1. Chính quyền Oasinhtơn cho rằng, nếu để mất Đông Dương sẽ gây ra những hậu quả xấu về tâm lý, chính trị, kinh tế, quân sự trọng yếu và sẽ mất nốt phần còn lại của Đông Nam Á. Đông Dương đang trở thành con bài Đôminô đầu tiên.

Cuối năm 1953, đầu năm 1954, tình hình của quân Pháp trên chiến trường Đông Dương ngày càng xấu hơn. Mỹ rất muốn cuộc chiến tranh của Pháp tiếp tục cho đến thắng lợi. Ở Hội đồng an ninh quốc gia và Bộ Quốc phòng Mỹ, một số dự án can thiệp quân sự trực tiếp bằng lực lượng của Mỹ đã được chuẩn bị. Nhưng giữa Mỹ với Pháp và Anh có nhiều bất đồng về cách kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương. Mục tiêu của Mỹ không phái chỉ có Việt Nam và Đông Dương, mà là toàn bộ vùng Đông Nam Á. Vì đây là “một trong những khu vực giàu có nhất thế giới, đã mở ra cho kẻ nào thắng trận ở Đông Dương. Đó là lý do giải thích vì sao Mỹ ngày càng quan tâm đến vấn đề Việt Nam... Đối với Mỹ đó là một khu vực phải nắm lấy bằng bất kỳ giá nào” 2.

Tuy mục đích trước mắt của Mỹ là ngăn chặn “chủ nghĩa cộng sản bành trướng” xuống vùng Đông Nam Á, đánh bại phong trào giải phóng dân tộc, nhưng mục tiêu cơ bản và lâu dài của Mỹ là xâm lược miền Nam Việt Nam bằng chủ nghĩa thực dân mới, biến nơi đây thành căn cứ quân sự, để từ đó tiêu diệt các phong trào đấu tranh của nhân dân các dân tộc mà Mỹ cho là những “cuộc nổi dậy do cộng sản xúi giục”, chiếm đoạt, khai thác vùng Đông Nam Á giàu tài nguyên chiến lược và nhân công rẻ mạt. Xuất phát từ mục tiêu cơ bản này, đế quốc Mỹ đã dính líu ngày càng sâu vào Việt Nam bằng nhiều hình thức và biện pháp, từ việc dựng lên chính quyền tay sai, rồi viện trợ kinh tế, quân sự, cố vấn cho chúng, đến việc chủ động gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Song, do tình hình nội bộ nước Mỹ và phe Mỹ cố nhiều phức tạp, do so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản động trên thế giới nghiêng về phía cách mạng, có lợi cho hoà bình, độc lập dân tộc, cùng sự thức tỉnh của nhân loại, nên việc Mỹ chuẩn bị các dự án can thiệp quân sự trực tiếp vào Việt Nam gặp không ít khó khăn. Ít nhất có ba dự án can thiệp đã được đưa ra bàn bạc và xem xét: dùng lục quân Mỹ trực tiếp tham chiến; quốc tế hoá cuộc chiến tranh; dùng vũ khí hạt nhân. Những mâu thuẫn và bất công căng thẳng trong nội bộ Mỹ và giữa Mỹ với đồng minh đã làm cho dự án đó không thể thực hiện được.

Các nhà sử học Mỹ, Pháp, cũng như của phương Tây và phương Đông, thường không chú ý đầy đủ đến một đặc điểm của cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ở Đông Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân ta nên hiểu nó chưa đầy đủ thậm chí đánh giá sai lệch về bản chất cuộc chiến tranh. Kể từ năm 1950 trở đi, cuộc chiến tranh tuy hai bên đối địch nhau trên chiến trường vẫn như cũ, nhưng đã mang thêm tính chất mới, khác với tình hình từ 1950 trở về trước. Sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và việc Việt Nam chính thức gia nhập hệ thống đó, việc thế giới hình thành hai phe đối địch, làm cho cuộc chiến tranh dần dần mang tính chất cuộc đấu tranh giữa hai phe. Do đó, cuộc đấu tranh giữa hai phe, chính sách của các nước lớn đều có tác động đến tiến trình và kết cục của chiến tranh. Diễn biến của tình hình trong năm 1953 và 1954 chứng minh điều đó.
______________________________________
1. Thuyết Đôminô được đưa ra ở Quốc hội và Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đầu năm 1947, để biện minh cho việc can thiệp vào Hy Lạp, nói rằng nếu để mất Hy Lạp thì sẽ mất cả Thổ Nhĩ Kỳ và xa hơn là mất cả vùng Trung Đông giàu nhiên lìệu. Sau này khi xảy ra chiến tranh Triều Tiên, Mác Áctơ cũng nói nếu để mất Triều Tiên, thì sẽ mất cả Đông Bắc Á và vùng quần đảo quan trọng ở Tây Thái Bình Dương. Đến chiến tranh Đông Dương, Mỹ lại dùng thuyết Đôminô, cho rằng nếu để mất Đông Dương sẽ mất cả Đông Nam Á. Có ý kiến đánh giá rằng các chính quyền ở Mỹ kế tiếp nhau sở dĩ dính líu ngày càng sâu vào chiến tranh ở Việt Nam, vì họ bị ám ảnh nặng nề bởi lô gích của thuyết Đôminô. Thực ra hoàn toàn không phải như vậy, bản thân các tập đoàn vạch chính sách của Mỹ không tin vào thuyết Đôminô. Đây chỉ là luận điệu ngụy biện lừa bịp để che đậy âm mưu bành trướng,bá quyền của Mỹ.
2. Theo Félix Green: Kẻ thù.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:08:15 AM

Đầu năm 1953, trước sự đe doạ hạt nhân của Mỹ, Liên Xô và Trung Quốc đã hình thành sự hợp tác mới về nhiều mặt trên cơ sở quan tâm, thừa nhận và ủng hộ quyền lợi của nhau, tạo không khí hoà dịu trong quan hệ với Mỹ và phe đế quốc. Liên Xô và Trung Quốc đều thống nhất một chiến lược tiến công hoà bình. Hai bên nhấn mạnh nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình, tranh thủ hướng tới chấm dứt chiến tranh Triều Tiên, tiếp đó sẽ đạt tới một giải pháp hoà bình cho cuộc chiến tranh Đông Dương. Giải pháp đó, phải dựa trên cơ sở chấp nhận chia cắt Việt Nam, góp phần thúc đẩy hoà hoãn giữa Liên Xô và phương Tây, củng cố an ninh của Liên Xô ở châu Âu, tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc triển khai chiến lược hoà bình ở châu Á và trên thế giới.

Do đó, chỉ một thời gian rất ngắn sau khi có sự ký kết đình chiến ở Triều Tiên, Liên Xô đã đề xuất và chủ động vận động Mỹ, Anh, Pháp họp hội nghị năm nước, có Trung Quốc tham gia, để bàn cách làm giảm tình hình căng thẳng ở Viễn Đông.

Chủ nghĩa đế quốc, từ trước đã có ý đồ về một giải pháp chia cắt Việt Nam. Anh đã vận động Pháp và Mỹ tán thành giải pháp chia cắt Việt Nam, nhưng mãi đến đầu năm 1954, cả Mỹ và Pháp còn hy vọng ở kế hoạch Nava. Từ giữa tháng 3-1954 (quân đội Việt Nam bắt đầu tiến công Điện Biên Phủ), Pháp bắt đầu lo lắng và tỏ ý tán thành giải pháp chia cắt Việt Nam, còn Mỹ vẫn phản đối. Ngày 29-3-1954, ngoại trưởng Đalét đọc một bài diễn văn quan trọng, nhấn mạnh rằng: “Việc Liên Xô và Trung Quốc áp đặt chế độ thống trị cộng sản đối với khu vực Đông Nam Á bằng bất cứ biện pháp nào, là nguy cơ nghiêm trọng cho toàn bộ thế giới tự do. Cần phải chống lại nguy cơ đó bằng hành động chung. Làm như thế sẽ nguy hiểm, nhưng còn ít nguy hiểm hơn là tình hình sau đây vài năm nữa, nếu bây giờ không dám đánh trả lại một cách kiên quyết” 1. Đầu năm 1954, tình hình quân sự trên chiến trường Đông Dương trở nên tồi tệ đối với Pháp.

Sau một quá trình điều đình, vận động và khắc phục khó khăn từ phía Mỹ, tháng 2-1954, bốn nước Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp họp ở Béclin ra thông báo (ngày 18-2-1954) nói sẽ triệu tập hội nghị họp ở Giơnevơ để bàn về lập lại hoà bình ở Đông Dương, có sự tham gia của Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và các nước hữu quan.

Tháng 4- 1954, Mỹ còn vận động để quốc tế hoá cuộc chiến tranh, nhưng không được Anh, Pháp ủng hộ; cuối cùng Mỹ buộc phải đồng ý tham gia họp Hội nghị Giơnevơ. Tuy đến dự hội nghị, nhưng Mỹ vẫn vận động lập liên minh quân sự và doạ sẽ can thiệp quân sự trực tiếp nhằm chuẩn bị hành động trong trường hợp hội nghị thất bại, đồng thời cũng để gây sức ép không cho các nước đồng minh nhượng bộ quá nhiều.

Hội nghị Giơnevơ sắp sửa họp, Mỹ lập cầu hàng không Philíppin - Đông Dương, tiếp tế cho quân đội Pháp mỗi ngày từ 200 đến 300 tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, quân dụng. Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương đưa hai tàu sân bay thuộc Hạm đội 7 vào vịnh Bắc Bộ. Ở Oasinhtơn, “bản kế hoạch diều hâu” đã chuẩn bị xong, Aixenhao và Níchxơn (Tổng thống, Phó tổng thống) cùng Rítuây (Tham mưu trưởng liên quân Mỹ) đưa trình Hội đồng an ninh quốc gia và Quốc hội, nhưng bị phản đối, không được phê chuẩn2. Trước đó một tuần, ngoại trưởng Mỹ Đalét tuyên bố: Từ nay, Đông Dương nằm trong khu vực bất khả xâm phạm của chiến lược Mỹ.

Sau đòn thất bại choáng váng của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ (ngày 7-5-1954), ngày 8-5-1954, Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương mới bắt đầu họp. Phong trào đấu tranh của nhân dân Pháp đòi chấm dứt cuộc chiến tranh ở Đông Dương lúc này phát triển rất mạnh, cộng thêm những tác động khác, làm cho Chính phủ Lanien của Pháp bị đổ, Chính phủ mới do Măng đét Phrăngxơ làm Thủ tướng (ngày 18-6-1954), đã góp phần thúc đẩy Hội nghị Giơnevơ chuyển biến thực sự. Thủ tướng Anh Sớcsin sang Oasinhtơn, đạt được thỏa thuận với Mỹ về các điều kiện tối thiểu cho giải pháp Giơnevơ. Vấn đề đặt ra giữa các nước tham gia Hội nghị Giơnevơ phải thương lượng, mặc cả và nhân nhượng với nhau lúc này, là chia cắt Việt Nam từ đâu (có các dự án cắt từ vĩ tuyến 18, 17, 16 hay 14) và giải pháp về Lào, Campuchia. Mỹ đồng ý chia cắt Việt Nam từ vĩ tuyến 17, nhưng tuyên bố sẽ không ký và không bảo đảm Hiệp nghị. Đồng thời, Mỹ ép Pháp đưa Ngô Đình Diệm lên làm thủ tướng (chính phủ ngụy) chuẩn bị cho kế hoạch Mỹ vào thay chân Pháp ở miền Nam Việt Nam.

Chiến thắng vang dội của quân và dân ta ở Điện Biên Phủ quyết định thắng lợi của ta ở Hội nghị Giơnevơ, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Đông Dương. Các nước tham gia Hội nghi Giơnevơ tuyên bố công nhận độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam. Hội nghị Giơnevơ 1954 là cơ sở pháp lý đề nhân dân ta tiếp tục đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
______________________________________
1. Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ, tlđd.
2. Theo Lanien viết trong sách Tấn thảm kịch Đông Dương thì kế hoạch Diều hâu dự định đưa 8 sư đoàn quân chiến đấu trên bộ của Mỹ vào trực tiếp tham chiến. Trong số đó sẽ điều ngay một lúc 35 tiểu đoàn vào đồng bằng Bắc Bộ. Tập trung 300 máy bay cường kích để xoá trắng “khu vực Điện Biên Phủ”. Và có thể dùng vũ khí nguyên tử đánh vào miền nam Trung Quốc, nếu Trung Quốc đưa quân vào tham chiến.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:09:03 AM

Chiến thắng Điện Biên Phủ có ảnh hưởng to lớn, cổ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang lên cao ở nhiều nơi trên thế giới, báo hiệu thời kỳ sụp đổ từng mảng của chủ nghĩa thực dân. Những nỗ lực can thiệp của Mỹ ở Đông Dương đã không ngăn chặn được sự phát triển thắng lợi của cách mạng Việt Nam và cách mạng các nước Đông Dương. Đó là thắng lợi rất to lớn có tầm quan trọng quyết định đến tiến trình phát triển của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc sau này của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào, nhân dân Campuchia.

Kết thúc Hội nghị Giơnevơ, trưởng phái đoàn Chính phủ Mỹ tuyên bố ghi nhận và cam kết tôn trọng quyết định của chín nước thành viên Hội nghị Giơnevơ. Nhưng liền sau đó, chính Tổng thống Mỹ lại tuyên bố không bị ràng buộc bởi Hiệp định này. Từ đây, Mỹ chủ trương và dùng nhiều biện pháp cản trở việc thực hiện Hiệp định. Đúng 20 ngày sau khi Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết, đô đốc Mỹ Sabin đến Hà Nội, họp với phái đoàn quân sự Mỹ do Lênđên cầm đầu1. Một bộ phận quan trọng trong kế hoạch đó là kích động, cưỡng ép hơn một triệu đồng bào ta di cư vào Nam. Phần đóng góp của Mỹ cho kế hoạch này là 1.455.000 đôla, 41 lượt tàu biển và 19 máy bay vận tải.

Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương vừa được ký kết (20-7-1954), thì Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ thông qua “kế hoạch Menxphin”. Tinh thần và nội dung cơ bản của kế hoạch này là “biến vĩ tuyến 17 thành một phòng tuyến ngăn chặn (chủ nghĩa cộng sản) không thể xoá bỏ được”, chia cắt lâu dài nước Việt Nam. Để lập được phòng tuyến đó cần có một tổ chức liên minh quân sự do Mỹ nắm quyền điều hành.

Sau một thời gian ngắn vận động chuẩn bị, Mỹ triệu tập một hội nghị ở Đông Nam Á, bao gồm: Mỹ, Anh, Pháp, Ôxtrâylia, Niu Dilơn, Pakitxtan, Philíppin, Thái Lan họp ở Manila (Thủ đô Philíppin). Ngày 8-9-1954 các nước này đã ký “Hiệp ước phòng thủ Đông Nam Á”. Như vậy, chỉ hơn một tháng sau khi Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được ký kết, Mỹ đã thành lập Khối quân sự Đông Nam Á (gọi tắt là SEATO). Trong Hiệp ước này (còn gọi là Hiệp ước Manila) có điều 2, điều 4, điều 8 và một khoản phụ đặt xứ Đông Dương gồm ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia vào “khu vực bảo hộ” của khối Đông Nam Á.

Ngày 13-12-1954, Mỹ và Pháp ký kết văn kiện cho phép các cố vấn quân sự Mỹ tham gia huấn luyện quân đội Sài Gòn. Mỹ thực sự từng bước thay chân Pháp ở miền Nam Việt Nam. Tháng 1-1955, Mỹ chính thức viện trợ quân sự trực tiếp cho quân Sài Gòn. Tháng 8-1955, Mỹ và Ngô Đình Diệm công khai bác bỏ tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam theo quy định của Hiệp định Giơnevơ. Để hoàn toàn xoá bỏ ảnh hưởng của Pháp, ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm tổ chức ra cuộc “trưng cầu dân ý” để phế bỏ Bảo Đại, lên làm Tổng thống. Ngày 26-4-1956, Pháp đã rút hết quân khỏi miền Nam Việt Nam. Từ ngày 28-4-1956 phái đoàn MAAG của Mỹ chính thức thay Pháp nắm và huấn luyện quân đội Sài Gòn.

Để xoá bỏ hoàn toàn Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương, hợp pháp hoá việc xoá bỏ đó, đầu năm 1957, Mỹ đưa ra Hội đồng bảo an Liên hợp quốc xem xét đề nghị của Mỹ cho ngụy quyền Việt Nam (Ngô Đình Diệm) vào Liên hợp quốc để vĩnh viễn chia cắt nước Việt Nam2, nhưng không thành.

Quá trình thay chân Pháp và phá hoại việc thi hành hiệp định Giơnevơ, Mỹ cũng đồng thời áp đặt chế độ thực dân mới đối với miền Nam Việt Nam. Mỹ xây dựng chính quyền Ngô Đình Diệm thành một bộ máy cai trị quân phiệt đàn áp dã man nhân dân miền Nam Việt Nam bằng các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”, bằng luật 10-59. Với những công cụ thực dân mới do cố vấn Mỹ chỉ đạo như bộ máy cảnh sát, hệ thống nhà tù và quân đội dựa vào viện trợ Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm thực sự điển hình cho chế độ tay sai thực dân mới Mỹ. Tính ra, từ năm 1954 đến năm 1960, Mỹ đã viện trợ cho chính quyền miền Nam Việt Nam 1.500 triệu đôla.

Trong những năm 1955-1956, Mỹ đã bỏ ra 414 triệu đôla xây dựng các lực lượng thường trực quân ngụy, gồm 170.000 tên và lực lượng cảnh sát 75.000 tên; 80% ngân sách quân sự của ngụy quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ đài thọ. Từ năm 1955 đến 1960, có tất cả 800 chuyến tàu chờ vũ khí và phương tiện quân sự của Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Mỹ bắt đầu xây dựng các cơ sở quân sự quan trọng như các sân bay Biên Hoà, Tân Sơn Nhất, Sơn Trà, Vũng Tàu. Đến giữa năm 1956, Mỹ đã đặt ở Sài Gòn bốn phái đoàn: MAAG, TRIM, CATO, TERM và đến năm 1960 thêm hai phái đoàn: MSU và USOM. Riêng phái đoàn quân sự MAAG, năm 1954 có 200 cố vấn và nhân viên, đến năm 1960, con số đó đã lên đến gần 2.000 trong đó có 800 cố vấn quân sự.
______________________________________
1. Lênđên là đại tá không quân, đại diện cho cơ quan tình báo trung ương CIA mới được điều đến Việt Nam từ đầu 1954 thực hiện một kế hoạch đã được thông qua.
2. Đại diện của Liên Xô đề nghị giải quyết bằng cách kết nạp cả Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam cùng vào Liên hợp quốc, vì theo đại diện của Liên Xô lúc đó “ở Việt Nam đã tồn tại hai nhà nước riêng biệt”.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:10:11 AM

Đánh giá chế độ thực dân mới tay sai của Mỹ ở miền Nam Việt Nam hồi đó, giáo sư Mỹ Nôam Chômxki (Noam Chomxki) đã nói trước Uỷ ban đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ rằng: “Chính phủ Nam Việt Nam đã trở thành nơi ẩn nấp của những người Việt Nam từng đi theo Pháp trong cuộc chiến đấu chống lại nền độc lập của đất nước họ”. Và “Chính phủ Nam Việt Nam không có cơ sở thành trì trong nhân dân. Nó đi theo hướng bóc lột dân chúng nông thôn và tầng lớp dưới ở thành thị, trên thực tế nó là sự tiếp tục chế độ thuộc địa của Pháp” 1. Sở dĩ Mỹ càng dính líu sâu và bám chặt lấy miền Nam Việt Nam là vì giới cầm quyền Mỹ quyết tâm chiếm bằng được miền Nam Việt Nam làm thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự. Muốn cho cuộc xâm lược được thuận lợi, đế quốc Mỹ đã cường điệu và khoác cho Việt Nam một mục tiêu chiến lược rộng lớn hơn: “Nam Việt Nam giống như một quãng đê xung yếu, nếu quãng đê này bị vỡ, thì sẽ làm cho làn sóng ảnh hưởng của cộng sản cuồn cuộn tràn vào các khu vực lân cận” 2. Để vào đứng chân được ở Việt Nam làm nhiệm vụ ngăn chặn đó, Mỹ cần có một chiêu bài chính trị. Chiêu bài ấy, theo lời đại tướng Mỹ Oétmolen, Mỹ vào miền Nam Việt Nam là: “Để bảo vệ thế giới tự do, chống lại miền Bắc xâm lược miền Nam Việt Nam” 3.

Chủ trương can thiệp và xâm lược Việt Nam của tập đoàn Aixenhao không được sự nhất trí ủng hộ ngay trong nội bộ giới cầm quyền Mỹ. Có những người, vì lý do này hoặc lý do khác, sớm tỉnh táo nhận ra nguy cơ dẫn đến hậu quả xấu của sự can thiệp. Ngày 23-10-1954, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Uynxơn đã lên tiếng phản đối việc Mỹ can thiệp ở Việt Nam và cho rằng Mỹ nên rút khỏi khu vực này. Đó là những tiếng nói thức thời, có lương tri, biết cân nhắc đâu là lợi ích thực sự của nước Mỹ.

Việc dựng lên chế độ cai trị thực dân mới, gia đình trị, quân phiệt độc tài ở miền Nam, làm cho các tầng lớp nhân dân ta căm phẫn, chống lại Mỹ và Ngô Đình Diệm. Nhiều lực lượng không thích cộng sản, không hoặc ít có cảm tình với chế độ dân chủ cộng hoà ở miền Bắc như lực lượng phản động trong các giáo phái Cao Đài, Hoà Hảo, Bình Xuyên, Thiên chúa giáo, Phật giáo cũng chống đối lại Mỹ - Diệm rất quyết liệt.

Việc Mỹ quyết tâm biến miền Nam Việt Nam thành một phòng tuyến chống cộng bằng cách trực tiếp nắm lấy bộ máy ngụy quyền, ngụy quân từ cơ sở, do các cố vấn Mỹ quyết định mọi việc, còn tạo ra những mâu thuẫn ngày càng tăng giữa Mỹ và chính quyền tay sai. Mặc dầu, chính quyền Ngô Đình Diệm dựa hẳn vào Mỹ để tồn tại và chính Diệm đã tuyên bố (ở Mỹ, tháng 5-1957): “Biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17”, nhưng suốt trong một thời gian tương đối dài, tập đoàn Ngô Đình Diệm vẫn tìm mọi cách đấu tranh, hạn chế sự lấn át của Mỹ để vớt lại một phần quyền lực độc lập tương đối với Mỹ. Chính sự phản ứng khá mạnh và kéo dài này, làm cho Mỹ nhiều lần định thay thế anh em Ngô Đình Diệm bằng các nhóm tay sai khác. Đây là một trong những đặc điểm của các chế độ thực dân mới Mỹ nói chung, vì không phải riêng gì đối với chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam, mà cả ở nhiều nơi khác, Mỹ cũng thường phải dùng đảo chính quân sự để “thay ngựa”.

Sau một thời gian ra đời, chiến lược “trả đũa ào ạt” bộc lộ nhiều nhược điểm, gây nên những cuộc tranh cãi trong nội bộ giới cầm quyền, ngay cả một số nhân vật có uy tín trong giới quân sự cũng chỉ trích, phê phán. Đại tướng lục quân Mỹ M. Taylo viết: Từ ngày đề ra chính sách “trả đũa ào ạt” đến nay, trên thế giới đã xẩy ra nhiều việc lớn. Những sự kiện ấy đã rủ bóng đen xuống chính sách “trả đũa ào ạt”, đồng thời cũng vạch trần tính chất giả dối của nó4. Các cuộc chiến tranh cục bộ diễn ra trong những năm năm mươi, không có một sự kiện nào Mỹ dám sử dụng vũ khí hạt nhân đã được quy định trong chiến lược “trả đũa ào ạt”. Thậm chí, khi dùng hành động quân sự để đe doạ bằng vũ lực, Mỹ cũng phải dùng lực lượng thông thường. Mỹ đã phải chấm dứt chiến tranh Triều Tiên (1953); huỷ bỏ “kế hoạch diều hâu” cứu nguy cho quân Pháp ở Điện Biên Phủ (1954); rút gần 50.000 quân (vừa đổ vào Libăng) (1958); không ngăn cản được thắng lợi của cách mạng Cuba. Và tiếp sau việc mất độc quyền bom khinh khí (1953), “cuộc khủng hoảng Spútních” 5 nổ ra 1957, đã gây nên những cuộc tranh cãi gay gắt đòi xét lại và thay đổi chiến lược. Các chuyên gia chiến lược Mỹ rất nhạy cảm, họ nhìn thấy ngay thực chất của vấn đề. Tướng Mỹ M.Taylo viết: “Chữ ký trên chính sách Bộ mặt mới (tức chủ nghĩa Aixenhao) chưa ráo mực, thì đã mất Điện Biên Phủ. Sự kiện đó là một thử thách thực tế đối với Bộ mặt mới, đồng thời cũng làm bộc lộ những nhược điểm của chiến lược đó” 6.
______________________________________
1. Nguồn gốc, nguyên nhân và những bài học về chiến tranh Việt Nam, Biên bản Quốc hội Mỹ, 1973, tài liệu lưu trữ tại Ban tổng kết chiến lược - Bộ Quốc phòng.
2. Theo Ralph Cologh: Đông Á và nền an ninh của Mỹ.
3. Westmorland: Một quân nhân tường trình (A soldier reports), Nhà xuất bản Doubleday and Company, New York. 1976.
4, 6. M.Taylo: Tiếng kèn bất định (The Trumpet incertain)
5. Năm 1957, Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên của trái đất mang tên Spútních, sự kiện đó làm cho dư luận chính giới Mỹ hốt hoảng, gây ra một cuộc khủng hoảng gọi là “cuộc khủng hoảng Spútních”.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:10:58 AM

Cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc đang cuồn cuộn dâng cao trên thế giới sau Điện Biên Phủ, đặc biệt là ở Đông Dương và Đông Nam Á. Các nhà kiến trúc chiến lược toàn cầu mới của Mỹ đã quyết định chuyển hướng chiến lược: Từ chuẩn bị chiến tranh bằng vũ khí hạt nhân, nhằm trực tiếp đánh thẳng vào phe xã hội chủ nghĩa là chủ yếu, chuyển sang chiến tranh hạn chế cục bộ, bằng vũ khí thông thường, tiến công trực tiếp vào phong trào giải phóng dân tộc là chủ yếu. Vũ khí hạt nhân từ vị trí tiến công, chuyển thành “lá chắn”. Nói về sự chuyển hướng chiến lược này, Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ viết: “Tiêu điểm của kế hoạch quân sự Mỹ đã chuyển từ động lực của cuộc chiến đấu hạt nhân giữa các nước công nghiệp tiên tiến, sang mối đe doạ của các cuộc nổi dậy du kích ở các vùng xa xôi thuộc thế giới thứ ba”. Từ quá trình hình thành và hoàn chỉnh dần từng bước cho đến lúc chính thức ra đời và được chấp nhận, chiến lược quân sự toàn cầu mới ra đời, mang tên “Phản ứng linh hoạt” của Học thuyết Kennơđy. Các nhà nghiên cứu Mỹ khẳng định rằng, đế quốc Mỹ đã dùng Việt Nam làm nơi thí nghiệm điển hình cho học thuyết về chiến tranh chống nổi dậy và có sự lựa chọn chính xác, có căn cứ. Mỹ đã thể hiện quyết tâm chứng minh ở Việt Nam rằng các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc nhất định sẽ bị đánh bại. Đầu năm 1961, khi vào Nhà Trắng, chuẩn bị công bố chiến lược “phản ứng linh hoạt”, Tổng thống Kennơdy tuyên bố: Bây giờ đây, chúng ta có một vấn đề là phải làm cho thiên hạ tin vào sức mạnh của chúng ta, mà Việt Nam chính là nơi để thực hiện điều đó. Như vậy càng làm sáng tỏ nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam là hoàn toàn từ phía Mỹ, do Mỹ chủ tâm gây ra.

Ở Việt Nam, Mỹ đã gặp phải một đối phương không chịu chấp nhận chế độ thực dân mới, không chịu quỳ gối trước sức mạnh quân sự Mỹ. Ngoài ý chí kiên cường, quyết tâm sắt đá, nhân dân ta còn sáng tạo ra một đường lối, chiến lược và biện pháp đấu tranh phù hợp với hoàn cảnh để phát huy sức mạnh của cả dân tộc và thời đại, đánh thắng kẻ thù. Chính Mỹ cũng phải thừa nhận:

“Đối phương đã tìm ra được một chiến lược khôn khéo đến mức rất nguy hiểm để đánh bại Mỹ. Chiến lược đó là tiến hành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc dựa trên nguyện vọng của nông dân Việt Nam muốn độc lập và công bằng xã hội. Nước ngoài không bao giờ có thể địch nổi chiến lược đó” 1.

Quá trình dính líu của Mỹ qua các giai đoạn cho thấy rõ, Việt Nam từng bước trở thành trung tâm đối phó của chiến lược toàn cầu Mỹ, vì đây là điểm nóng bỏng nhất ở Đông Dương và Đông Nam Á, nơi diễn ra cuộc cách mạng giải phóng dân tộc triệt để nhất do giai cấp vô sản lãnh đạo. Vì vậy, xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ còn nhằm chống lại, tiêu diệt phong trào giải phóng dân tộc đang dâng cao khắp nơi trên thế giới và trào lưu muốn thoát khỏi sự nô dịch của chủ nghĩa tư bản, hướng theo chủ nghĩa xã hội của nhân loại cần lao.

Đầu năm 1960, trước khi lên cầm quyền, Tổng thống Mỹ Giôn Kennơđy đã nói với Oan Rôxtâu (lúc đó là cố vấn Hội đồng an ninh quốc gia) rằng đối với Việt Nam, ngày nay tôi không chấp nhận một thất bại kiểu 1954 nữa. Sau đó, Phó tổng thống Mỹ Giônxơn khi đi nghiên cứu và kiểm tra tình hình ở Nam Việt Nam về tuyên bố: “Cần phải tiến hành cuộc chiến tranh chống cộng sản ở Đông Nam Á một cách mạnh mẽ và kiên quyết” và đề nghị đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Phái đoàn viện trợ MAAG ở Sài Gòn được nâng lên thành Bộ tư lệnh MAAG. Ngay lúc đó, Kennơđy đã muốn dựng lên một lý do nào đó để làm nguyên cớ cho cuộc chiến tranh, với hy vọng che giấu được nguyên nhân thật sự chính sách xâm lược của Mỹ. Trong cuộc họp của Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ, Kennơđy tỏ ra đắn đo và không yên tâm với nguyên nhân được dựng lên, là “miền Bắc xâm lược miền Nam Việt Nam”. Kennơđy nói: “Triều Tiên là trường hợp có xâm lược rõ ràng..., còn cuộc xung đột ở Việt Nam thì “sự xâm lược” là không rõ ràng và kém trắng trợn”. Mặc dầu vậy, vì không tìm ra lý do nào khác, nên các chính quyền Mỹ thường tuyên bố rằng nguyên nhân cuộc chiến tranh ở Việt Nam chính là vì để giúp miền Nam chống miền Bắc xâm lược. Số đông nhân dân Mỹ thường ghét áp bức, bất công và xâm lược. Cách tuyên truyền đó nhiều lúc kích động được tâm lý của người dân Mỹ, đồng thời cũng làm cho nhiều người có lương tri trong chính giới Mỹ bị mơ hồ, lẫn lộn về nguyên nhân thật sự của cuộc chiến tranh này.

Chính vì vậy, mãi sau này (1972), Uỷ ban đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ quyết định tổ chức một cuộc báo cáo điều trần về cuộc chiến tranh Việt Nam suốt ba ngày liền, (9, 10, 11-5-1972) xoay quanh chủ đề nguồn gốc, nguyên nhân của cuộc chiến tranh Việt Nam và những bài học rút ra từ đó. Bốn nhà chính khách, đồng thời là bốn học giả2 có tên tuổi L.Genbơ, Giêm Tômxơn, Áctơ Sơlesinhgơ và Nôam Chômxki được coi là những người am hiểu tình hình đã từng nghiên cứu nhiều về Việt Nam, được Quốc hội Mỹ mời đến báo cáo góp ý kiến cho Quốc hội về cuộc chiến tranh Việt Nam.

Nói về nguyên nhân của cuộc chiến tranh Việt Nam, các học giả trên đã bác bỏ lý do của chính quyền Mỹ dựng lên là “chống miền Bắc Việt Nam xâm lược”, Áctơ Sơlesinhgơ khẳng định: “Thật là sai lầm khủng khiếp, nếu coi Hà Nội và Việt cộng là mũi lao xâm lược”. Nôam Chômxki kết luận: “chính Mỹ đã đẩy nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào vòng chiến”. L. Genbơ nhấn mạnh dứt khoát rằng “lời giải thích thoả đáng duy nhất là đối phương vẫn tiêu biểu cho chủ nghĩa dân tộc và nền độc lập của họ”, “Mỹ phải chịu trách nhiệm đặc biệt về cuộc chiến tranh này và về việc kéo dài chiến tranh”. Áctơ Sơlesinhgơ lập luận, “sở dĩ có cuộc chiến tranh này là vì chính sách áp đặt những sở thích của chúng ta cho người khác”. Do đó, “nếu người Việt Nam không coi trọng sự khôn ngoan của chúng ta, thế là chúng ta quyết định dùng sức mạnh ưu thế của mình để bắt họ phải làm theo ý muốn của chúng ta”. Trước Quốc hội, các học giả Mỹ kết luận: nguyên nhân cuộc chiến tranh Việt Nam là bắt nguồn từ chiến lược và chính sách xâm lược của Mỹ. Điều đó coi như đã được xác nhận từ phía Mỹ.
______________________________________
1. Nguồn gốc, nguyên nhân và bài học trong chiến tranh Việt Nam, Biên bản Quốc hội Mỹ, 1973, sách đã dẫn.
2. Giêm Tômxơn là giáo sư Trường đại học Havớt từng là quan chức ở Nhà Trắng thời Kennơđy và Giônxơn, Nôam Chômxki giáo sư Học viện kỹ thuật Matxachuset. Lebi Genbơ, tiến sĩ ở học viện Brúckinh, nguyên Chủ tịch cơ quan đặc nhiệm về Việt Nam và là người chịu trách nhiệm soạn thảo tập Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ, Áctơ Sơlesinhgơ, giáo sư cố vấn đặc biệt của Tổng thống Kenơđy.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:18:17 AM

Chương III
HOÀ BÌNH PHẢI TRÊN NỀN TẢNG ĐỘC LẬP, TỰ DO, THỐNG NHẤT TỔ QUỐC


I. ĐỘC LẬP, TỰ DO, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC LÀ ĐIỀU KIỆN SỐNG CÒN VÀ PHÁT TRIỂN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Việt Nam là một quốc gia có lịch sử lâu đời. Ngày nay mọi người đều thừa nhận ở vùng Đông Nam Á trước công nguyên đã tồn tại một nhà nước Văn Lang độc lập với 18 chi các vua Hùng thay nhau trị vì đất nước. Đó là một nhà nước sơ khai, nảy sinh và trùm lên hệ thống các thủ lĩnh địa phương (lạc tướng). Trải qua bao biến thiên lịch sử, nhà nước Văn Lang mở rộng thành Âu Lạc rồi Vạn Xuân, Đại Việt, Đại Cồ Việt đến Việt Nam ngày nay đều do chủ nhân là các dân tộc bộ tộc của nước Việt Nam cùng chung một nền văn hoá cộng đồng - đa tộc. Nằm ở vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực, ngã ba giao lưu văn hoá, Việt Nam cũng là vùng đất bị các thế lực nước ngoài luôn tìm cách xâm lấn, thôn tính. Chỉ tính trong vòng một nghìn năm qua, nhân dân Việt Nam đã phải tiến hành kháng chiến hàng chục lần, chống các thế lực xâm lược, giải phóng đất nước và bảo vệ nền độc lập thống nhất của Tổ quốc.

Trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nhân dân Việt Nam rất thiết tha với hoà bình, ổn định để tập trung lực lượng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nhưng phải là hoà bình trong độc lập tự do, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

Với việc các vua Hùng dựng nước Văn Lang, người Việt đã xây dựng được nhà nước đầu tiên của mình có nền văn hoá mang đậm bản sắc dân tộc được hình thành và phát triển cùng lịch sử. Nhưng, dân tộc ta cũng đã trải qua hai thời kỳ mất nước, tuy dài ngắn khác nhau. Đó là thời Bắc thuộc phong kiến Trung Quốc kéo dài hơn nghìn năm và thời thuộc địa của thực dân Pháp gần 80 năm.

Sử sách còn ghi lại cảnh sống cơ cực của mọi tầng lớp nhân dân dưới ách đô hộ của các thế lực xâm lược. Không chỉ toàn dân tộc mà từng gia đình và mỗi người dân đã bị tước đoạt mất quyền tự do, sống cuộc đời nô lệ. Những chính sách đồng hoá chủng tộc và văn hoá ngu dân cùng với đàn áp tàn bạo đã dìm nhân dân ta trong thảm cảnh. Sự cống nạp, lao dịch nặng nề của chế độ phong kiến, cùng với chính sách cai trị hà khắc, các thủ đoạn bóc lột và khai thác tài nguyên trắng trợn của chế độ thực dân, làm cho đất nước ta lâm vào tình trạng nghèo nàn, lạc hậu kéo dài. Song, sự thống trị hà khắc đó vẫn không làm tê liệt và mất đi được tinh thần yêu nước nồng nàn và khát vọng độc lập, tự do của nhân dân ta. Ngược lại, quá trình dựng nước và giữ nước, nhất là qua các cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập, tự do cũng như nền văn hoá Việt Nam vẫn tồn tại phát triển trong tầng sâu tâm thức của người Việt. Đấy là căn nguyên để Việt Nam không bị vong thân qua chặng đường dài lịch sử nhọc nhằn và gian nan, mà còn luyện rèn được bản lĩnh và sức mạnh của dân tộc, giữ gìn được bản sắc văn hoá của chính dân tộc mình... Hơn mười thế kỷ mất nước, mặc dù kẻ thù không từ một thủ đoạn tàn bạo và thâm độc nào hòng đồng hoá dân tộc ta, hòng biến nước ta thành quận, huyện của phong kiến Trung Hoa..., nhưng tổ tiên ta đã không hề bị khuất phục. Trong suốt quá trình đó, nhiều cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng của nhân dân ta đã vùng lên, lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Năm 42 sau công nguyên, Hai Bà Trưng đã phát động nhân dân cả 654 huyện, thành trong nước vùng lên khởi nghĩa. Tuy thắng lợi oanh liệt, nhưng cuộc khởi nghĩa chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi. Dù vậy, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã thức tỉnh mạnh mẽ và hun đúc tinh thần đấu tranh bất khuất của dân tộc vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ X, nhiều cuộc đấu tranh chống ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc của nhân dân ta do Triệu Thị Trinh, Lý Bí, Lý Tự Tiên, Đinh Kiên, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Thanh, Khúc Thừa Dụ khởi xướng và lãnh đạo... liên tiếp nổ ra. Như thế, ý thức về nền độc lập và chủ quyền Tổ quốc được hình thành trong cộng đồng các bộ tộc Việt đã hình thành, phát triển từ thời các vua Hùng dựng nước được thể hiện rõ nét, mạnh mẽ nhất từ cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Lý Bí (544-602). Ý thức đó thực sự là nguồn sức mạnh to lớn để đưa dân tộc ta vượt qua bao thăng trầm của lịch sử khẳng định sự tồn tại ngày càng vững chắc của chính mình.

Sau khi giành được chính quyền (544), Lý Bí nêu cao ý chí tự cường, xưng Nam Đế sánh với Bắc Đế, lập đô ở Long Biên, đặt tên nước là Vạn Xuân, lấy niên hiệu là Thiên Đức. Ông muốn tỏ rõ tư thế của nước ta cũng ngang hàng với vương triều lân bang.

Triều đại Lý Nam Đế đã củng cố nền móng cho ý thức dân tộc về quốc gia độc lập và có chủ quyền. Để thực hiện được quan điểm về độc lập và chủ quyền đó, cha ông ta còn phải trải qua một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ.

Năm 938, chiến thắng oanh liệt của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đã chấm dứt hoàn toàn thời kỳ mất nước kéo dài hơi nghìn năm. Chủ quyền đất nước được khôi phục, ý thức làm chủ của dân tộc ta càng được nâng cao. Một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc - thời kỳ phát triển của quốc gia phong kiến tập quyền độc lập bắt đầu.

“Vạn sự khởi đầu nan”, sau khi Ngô Quyền mất, nền độc lập vừa giành lại được sau hơn mười thế kỷ đấu tranh bền bỉ chống xâm lược và đô hộ của phương Bắc, dân tộc ta lại đứng trước những thứ thách mới. Thử thách đầu tiên là các thế lực phong kiến địa phương nhân lúc chính quyền trung ương còn yếu, đã nổi lên, cát cứ những vùng rộng lớn. Loạn 12 sứ quân (954-967) đã chia rẽ giữa các thế lực cầm quyền và gây ra biết bao tổn thất, đau khổ cho nhân dân ta, đi ngược lại nguyện vọng hoà bình, thống nhất, độc lập của dân tộc. Khôi phục và củng cố sự thống nhất của quốc gia, của khối đoàn kết dân tộc, trở thành yêu cầu bức thiết để giữ vững nền độc lập và sự sống còn của đất nước. Nói cách khác, độc lập dân tộc phải gắn liền với thống nhất quốc gia, đó là nhu cầu tất yếu của một nước nhỏ sống giữa vùng bão lụt của thiên nhiên và sự đe thách xâm lược của nước lớn. Sự nghiệp thống nhất quốc gia đã được Đinh Bộ Lĩnh thực hiện. Ông đã có công dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, làm cho thế nước thêm mạnh và lực lượng quốc phòng được tăng cường. Thế nhưng, xu hướng cát cứ vừa bị đè bẹp, công cuộc xây dựng đất nước đang được tiến hành chưa bao lâu, thì vận mệnh dân tộc lại bị đe doạ. Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị ám hại (979), nhiều vụ xung đột xảy ra trong nội bộ triều đình, các thế lực phong kiến địa phương âm mưu lật đổ chính quyền trung ương. Nhân sự suy yếu của triều đình, nhà Tống - một triều đại cường thịnh của một quốc gia phong kiến lớn nhất châu Á đương thời, đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta (981). Trước thử thách ngặt nghèo của lịch sử, vì sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc, quân sĩ và một số quan lại đã suy tôn Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên làm vua. Triều Tiền Lê đã gấp rút tăng cường lực lượng, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống xâm lược Tống, giữ vững nền độc lập và đưa lại cho nhân dân ta niềm tự hào sâu sắc, tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:20:37 AM

Hai triều đại Lý - Trần tiếp theo kéo dài gần bốn thế kỷ độc lập (1010 - 1400) là thời kỳ hưng thịnh trong lịch sử dân tộc. Nhìn chung, đó là thời kỳ ý chí, quyết tâm xây dựng và bảo vệ nền độc lập của nhân dân ta được biểu hiện rực rỡ thông qua công cuộc phát triển toàn diện đất nước và đánh bại các cuộc chiến tranh xâm lược của những thế lực thù địch bên ngoài. Thời kỳ này, việc củng cố nhà nước phong kiến tập quyền giữ vững ổn định an ninh trong nước, tăng cường quốc phòng đã tạo điều kiện để xây dựng và phát triển đất nước về mọi mặt. Giới quý tộc trong các triều vua đầu của thời Lý - Trần do nhân quan chính trị rộng lớn, sâu sắc như biết nêu cao tinh thần độc lập và bảo vệ chủ quyền, biết khoan thư sức dân... nên đã xây dựng được khối đoàn kết dân tộc, tạo nên sức mạnh to lớn để đánh bại nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tống và Mông - Nguyên. Song, đến các triều vua cuối của thời Trần do sự sa đoạ của giai cấp quý tộc cùng với chế độ bóc lột nặng nề quần chúng lao động, nhất là nông dân, tình hình đất nước bắt đầu khủng hoảng. Những cuộc nổi dậy chống triều đình và nạn cướp hoành hành khắp nơi, đời sống cực khổ, lòng dân ly tán, đất nước trì trệ và suy yếu. Đó là tình trạng nước ta ở cuối thế kỷ XIV khi nhà Hồ lên thay nhà Trần (1399). Mặc dầu ban hành nhiều chính sách cải cách táo bạo, nhưng nhà Hồ đã không ổn định được xã hội, không thu phục được nhân tâm. Đúng lúc đó thì nhà Minh phát quân xâm lược Đại Việt (1406-1407). Cuộc kháng chiến của Hồ Quý Ly thất bại nhanh chóng. Nền độc lập và chủ quyền quốc gia liên tục được giữ vững trong suốt mấy trăm năm, qua hai triều đại Lý - Trần, một lần nữa bị mất vào tay quân xâm lược. Mất độc lập và chủ quyền, đất nước bị dày xéo, xã hội bị kìm hãm, quyền sống của nhân dân và phẩm giá của con người bị chà đạp. Ngay sau khi đánh bại nhà Hồ, quân Minh đã thiết lập một nền cai trị tàn bạo, hà khắc, hòng đè bẹp ý chí của nhân dân ta. Đó là một nền đô hộ kết hợp giữa áp bức bóc lột nặng nề bằng bạo lực, với những âm mưu, thủ đoạn chia rẽ, đồng hoá quỷ quyệt. Thế nhưng, bạo tàn và quỷ quyệt không thể nào và chưa bao giờ khuất phục được nhân dân Việt Nam. Suốt những năm dưới ách thống trị của nhà Minh, ý thức độc lập, tự chủ của nhân dân ta vẫn mạnh mẽ, biến thành những phong trào đấu tranh chống quân xâm lược liên tục và rộng lớn, lôi cuốn mọi tầng lớp, mọi dân tộc từ miền xuôi đến miền ngược tham gia. Nhờ vậy, khi ngọn cờ tụ nghĩa của Lê Lợi phất lên ở Lam Sơn, Thanh Hoá (1418) thì đông đảo nhân dân trong cả nước nhanh chóng hướng ứng.

Chẳng mấy chốc, từ chỗ chỉ giới hạn ở một địa phương, cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi đã lan rộng và phát triển thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trong toàn quốc. Mười năm (1418 - 1428) “nếm mật, nằm gai”, chiến đấu bền bỉ và quyết liệt, quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Bộ chỉ huy do Lê Lợi và Nguyễn Trãi đứng đầu, đã làm nên những chiến thắng vang dội ở Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng, Xương Giang... đập tan ý chí xâm lược của kẻ thù, giải phóng hoàn toàn đất nước. Một lần nữa, ý chí độc lập của dân tộc Việt Nam đã chiến thắng. Vì quý trọng độc lập tự do, nên nhân dân ta càng thiết tha với hoà bình, mong muốn thân thiện với các dân tộc lân bang. Đó là nghĩa cử cao đẹp của người Việt Nam. Nghĩa cử ấy, tinh thần ấy được Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn khẳng định:

“… Thần võ không giết
Đức lớn hiếu sinh
Nghĩ về kế lâu dài của nhà nước
Tha cho mười vạn sỹ binh
Sửa hoà hiếu cho hai nước
Tắt muôn đời chiến tranh
Chỉ cần vẹn đất, cốt sao an ninh” 1.

Hoà bình lập lại, thay mặt Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã soạn Đại cáo Bình Ngô, khẳng định ý chí, quyết tâm xây dựng và bảo vệ vẹn toàn nền độc lập của quân dân Đại Việt cả về văn hoá, lãnh thổ, phong tục nhà nước, chủ quyền. Có thể xem đây là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc Việt Nam.

Triều đại Hậu Lê tồn tại hơn 300 năm, dài nhất trong lịch sử dân tộc, nhưng lại diễn biến rất phức tạp. Thời kỳ Lê Sơ (1428-1504), đất nước ổn định, bình yên và phát triển đến mức thịnh đạt. Các mặt của cuộc sống được xây dựng tương đối quy củ văn hoá phát triển rực rỡ, cơ sở vật chất và tinh thần quốc gia được củng cố vững vàng, địa vị, uy tín của nhà nước Đại Việt được nâng cao, nền độc lập dân tộc được đảm bảo. Trên nền tảng đó, nhà Lê thi hành một chính sách đối ngoại mềm mỏng, nhưng kiên quyết nhằm bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia.
____________________________________
1. Phú núi Chí Linh, dẫn theo Lịch sử Việt Nam, t.1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr.254.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:20:59 AM

Bước sang thế kỷ XVI, những mâu thuẫn nội bộ của nhà Lê phát triển. Mâu thuẫn đó đã dẫn đến sự bùng nổ phong trào nông dân khởi nghĩa và những cuộc xung đột triền miên giữa các phe phái phong kiến dẫn đến nhà Mạc chiếm ngôi (1527) và xung đột Nam - Bắc triều kéo dài hơn nửa thế kỷ (1527 - 1592)... Vì quyền lợi ích kỷ của dòng họ, một bộ phận đất đai của Tổ quốc bị nhà Mạc đem dâng cho nhà Minh để mong rảnh tay đối phó với các phe phái đối lập trong nước. Độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ vốn là những giá trị thiêng liêng, bền vững trong tâm khảm người Việt Nam từ xưa, nay bị xâm phạm. Đó chính là lý do quan trọng khiến họ Mạc bị thất bại trong cuộc tranh chấp với Nam Triều. Họ Mạc vừa bị dẹp xong thì Trịnh, Nguyễn phân tranh, đất nước lại bị chia cắt. Đàng ngoài, Đàng trong lao vào cuộc nội chiến kéo dài hàng trăm năm (1627-1775), làm cho dân chúng khổ cực, điêu đứng, đất nước kiệt quệ. Nguyện vọng độc lập của nhân dân lúc này nếu không gắn với yêu cầu thống nhất Tổ quốc, dân chủ xã hội, thì sẽ không thể có được sức mạnh để đưa đất nước thoát khỏi cơn khủng hoảng.

Chính vào lúc đó, cuộc khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ (1772). Dưới ngọn cờ nghĩa phù hợp lòng dân, cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng phát triển khắp vùng Quy Nhơn. Thế nhưng, “trong chưa ấm”, nên “ngoài chưa yên”, nhân lúc nước ta rối ren, ở phía Nam, 5 vạn quân xâm lược Xiêm kéo vào miền Gia Định (1784); phía Bắc, 20 vạn quân chiến đấu và hàng chục vạn quân vận chuyển, phục dịch của nhà Thanh, chia thành bốn đạo, tiến vào nước ta. Hơn lúc nào hết, thống nhất đất nước là yêu cầu bức xúc và là nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự mất còn của quốc gia, dân tộc. Trong những điều kiện đó, từ chỗ là cuộc khởi nghĩa nông dân, phong trào Tây Sơn do anh em Nguyễn Huệ cầm đầu đã phát triển thành phong trào quật khởi của cả dân tộc đè bẹp các tập đoàn thống trị trong Nam, ngoài Bắc, đánh bại các đạo quân xâm lược Xiêm La, Mãn Thanh. Rõ ràng, khi vươn lên làm nhiệm vụ khôi phục sự thống nhất đất nước, bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, phong trào Tây Sơn là đại biểu cho ý chí độc lập, thống nhất của toàn dân tộc. Đó chính là nguồn gốc, tạo ra sức mạnh to lớn, làm nên những chiến công chói lọi của vương triều Quang Trung. Như ánh sao băng, triều đại Quang Trung tồn tại ngắn ngủi (1781-1802).

Lợi dụng cơ hội sau khi vua Quang Trung mất, Nguyễn Ánh dựa vào thế lực và sự viện trợ của Pháp, đánh đổ Tây Sơn, lập vương triều Nguyễn. Triều Nguyễn chuyên chế, đối nội thì hà khắc, đối ngoại thì yếu hèn, nên trước sự xâm lược của thực dân Pháp, đại diện cho một trình độ phát triển cao hơn hẳn, triều đình một mực lùi bước, không dám phát động cuộc kháng chiến toàn dân, trái lại, đàn áp những cuộc chiến đấu của nhân dân. Sau khi nhường ba tỉnh miền Đông lục tỉnh cho giặc (1862), triều đình lại nhượng đứt cả Nam Bộ (1874), cuối cùng nhượng nốt chủ quyền độc lập, cam chịu làm thuộc địa của Pháp (1883). Một lần nữa, dân tộc ta lại lâm vào thời kỳ đen tối kéo dài dưới ách thống trị của nước ngoài. Nhưng, ý thức độc lập dân tộc của nhân dân ta vẫn mạnh mẽ, tác động đến một số người trong hoàng tộc và những sĩ phu yêu nước dựng cờ Cần Vương chống Pháp. Song, vì không có đường lối phù hợp và phương pháp hữu hiệu, cho nên các lãnh tụ của phong trào chống Pháp lúc bấy giờ không huy động được đông đảo dân chúng tham gia. Phong trào Cần Vương thất bại. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta vẫn tiếp diễn dưới nhiều hình thức, lúc âm thầm, lúc dữ dội. Cũng vì vậy, mãi đến những năm đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp mới “bình định” xong và thiết lập hệ thống cai trị thuộc địa trên cả nước ta.

Thời đại đang đổi khác, vận nước và kẻ thù cũng đã khác xưa, nhưng ý chí độc lập, tự do của toàn dân Việt Nam thì không bao giờ thay đổi và không một thế lực nào, không một kẻ thù nào khuất phục được. Ngược lại. trong cơn nguy biến, ý chí ấy, tinh thần ấy càng trở nên thiêng liêng trong mỗi người dân yêu nước. Nó trở thành khát vọng cháy bỏng, thành niềm tin to lớn, thôi thúc mọi thế hệ người Việt Nam không nề gian khổ, không sợ hy sinh, nhiều lần đứng lên cầm vũ khí chống lại kẻ thù, mà tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa do Trương Định, Thủ Khoa Huân, Cai Tổng Vàng, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám, Lương Ngọc Quyến... lãnh đạo. Các vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân... cũng đứng lên chống Pháp. Theo một hướng khác, sau khi các cuộc khởi nghĩa đang trên đường thất bại hoặc dẫm chân tại chỗ và trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, một số trí thức yêu nước Việt Nam tìm con đường mới, mong giải phóng dân tộc thoát khỏi ách ngoại xâm. Cụ Phan Bội Châu hướng sang Nhật, theo con đường Duy Tân rồi về Trung Quốc, theo con đường cách mạng Tân Hợi. Cụ Phan Châu Trinh lại theo con đường nghị viện tư sản của các nước phương Tây. Tuy sắc thái khác nhau, nhưng tựu trung, những con đường cứu nước trên đây đều là con đường của chủ nghĩa dân chủ tư sản. Dẫu nó còn là mới mẻ và không phải không hấp dẫn đối với các nhà yêu nước Việt Nam lúc bấy giờ, nhưng nhìn khung, so với thời đại, chủ nghĩa đó đã lỗi thời. Bởi thế, lòng yêu nước thương nòi và tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc không thiếu trong mỗi người yêu nước Việt Nam, nhưng tất cả các phong trào chống Pháp và tất cả các con đường cứu nước ấy đều không thành công.

Với lòng yêu nước, thương dân tha thiết, bằng thiên tài trí tuệ và công phu nghiên cứu đầy hy sinh, gian khổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm được con đường giải phóng đúng đắn cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam - con đường giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc do Mác - Lênin đề xướng. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối chính trị trong hai phần ba thế kỷ, mở đường cho nhân dân ta đi tới những thắng lợi lịch sử. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, có đường lối chính trị phù hợp với những điều kiện cụ thể của đất nước, xã hội ta và nguyện vọng, lợi ích tối cao của toàn dân tộc, nên đã nhanh chóng tập hợp được toàn dân vào mặt trận chống đế quốc. Phong trào Xôviết Nghệ - Tĩnh những năm 1930-1931 thể hiện ý chí độc lập, tự do của nhân dân ta, mặc dù cuộc khởi nghĩa thất bại, bị Pháp khủng bố tàn khốc. Chúng bắt bớ, tù đày gần hai chục vạn người, bắn giết hàng nghìn người yêu nước. Nhưng cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta không bị tiêu diệt, ý chí độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam không bị lung lay. Trái lại, Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn tồn tại và phát triển, nhân dân Việt Nam vẫn quyết tâm chiến đấu. Vượt qua tổn thất hy sinh, chỉ bốn năm sau, phong trào đấu tranh lại được khôi phục, phát triển. Cao trào Mặt trận dân chủ dấy lên trong cả nước, tạo ra một đội quân chính trị gồm hàng triệu người yêu nước trong các tầng lớp xã hội, đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ, chuẩn bị lực lượng và thế trận tiến công cho cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:44:48 AM

Tháng 9-1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nước Pháp thất bại, đầu hàng phát xít Đức (6-1940). Quân phiệt Nhật đem quân vào Đông Dương (tháng 9-1940). Pháp ra tay khủng bố, bỏ tù hàng nghìn người con ưu tú của nhân dân. Cả Nhật và Pháp thực hành một chính sách phát xít man rợ trên toàn bộ đất nước ta. Nhưng cả Nhật lẫn Pháp đều không dập tắt được ngọn lửa cách mạng, không ngăn cản được phong trào yêu nước của toàn dân đang ngày càng bốc cao. Nhân dân ta liên tiếp vùng lên chống Nhật, Pháp bằng ba cuộc khởi nghĩa oanh liệt: Bắc Sơn (22-9-1940), Nam kỳ (23-11-1940), Đô Lương (Nghệ An ) (13-1-1941). Phong trào cứu nước từng bước dâng lên hoà nhịp với cuộc tổng phản công chống phát xít trên toàn thế giới do Hồng quân Liên Xô làm đội quân chủ lực.

Những tháng đầu năm 1945, nước Đức phát xít đại bại trên chiến trường châu Âu, bị dồn vào ổ cuối cùng của chúng. Nhiều nước Đông Âu được Hồng quân Liên Xô giải phóng. Trên chiến trường châu Á - Thái Bình Dương, phát xít Nhật lâm vào thế nguy khốn. Ngày 9-3-1945, Nhật làm cuộc đảo chính ở Đông Dương, hất cẳng Pháp để củng cố căn cứ quan trọng chống các nước Đông Dương, và loại trừ nguy cơ bị Pháp trả thù. Một cao trào chống Nhật, cứu nước, tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền bùng lên mạnh mẽ dưới ngọn cờ của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Làn sóng đấu tranh cho độc lập dân tộc như triều dâng, thác đổ. Vùng căn cứ Việt Bắc rộng lớn chuẩn bị sục sôi, chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần mở rộng và phát triển từ rừng núi lan xuống trung du và một bộ phận đồng bằng. “Một nước Việt Nam phôi thai từ đó... Một phần Bắc Bộ đã thực tế đặt dưới quyền cách mạng”1.

Ngày 14-8-1945, phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh. Với quyết tâm dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập, tự do, ngày 16-8-1945, từ Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ủy ban dân tộc giải phóng kêu gọi đồng bào cả nước “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”2. Nhân dân cả nước liên tiếp nổi dậy giành chính quyền. Chỉ trong vòng nửa tháng, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đã thành công trên cả nước.

Chế độ thực dân thống trị nước ta gần 80 năm và chế độ quân chủ hàng nghìn năm đã bị lật nhào. Đồng bào cả nước làm cuộc tổng khởi nghĩa lay trời chuyển đất, thực hiện đúng lời kêu gọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Nói về ý nghĩa lịch sử vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh viết: “Chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đao cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc3. Cách mạng Tháng Tám là sự nổi dậy đồng loạt của nhân dân trong cả nước từ miền Bắc tới miền Trung, miền Nam, từ rừng núi đến đồng bằng, từ nông thôn đến thành thị, biểu thị ý chí độc lập, tự do của một dân tộc có bề dày truyền thống hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Do vậy, dù với một lực lượng vũ trang nhỏ bé (5000 người), với 5000 đảng viên, hầu hết vừa thoát khỏi nhà tù đế quốc, nhưng Cách mạng Tháng Tám đã phát huy sức mạnh chính trị, động viên cao độ tinh thần yêu nước, tạo nên sức mạnh áp đảo của cả một dân tộc, làm tê liệt mọi sự phản kháng của quân đội Nhật, buộc ngụy quyền tay sai phải đầu hàng. Nó diễn ra nhanh chóng làm cho quân đội Anh, Tưởng, Pháp không kịp đưa quân vào và sử dụng chúng chống lại cách mạng Việt Nam.

“Cuộc khởi nghĩa Tháng Tám đã đạt được mục đích giành chính quyền, mục đích trực tiếp của mọi cuộc cách mạng, vì nó là sự nghiệp của toàn dân đoàn kết, kiên quyết chiến đấu để tự giải phóng, do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”4.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những trang sử vẻ vang, chói lọi nhất, là một trong những bước ngoặt vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc. “Cách mạng Tháng Tám thắng lợi mở ra một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc, một cuộc đổi đời chưa từng có đối với mỗi người Việt Nam”5.
_______________________________________
1. Trường Chinh: Cách mạng tháng Tám, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, Nxb Sự thật 1975. t 1. tr 348.
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai. Nxb chính trị quốc gia. Hà Nội. 1995, t.3. tr. 554
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1995, t 6, tr 159.
4. Trường Chinh: Cách mạng Tháng Tám, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt nam, Nxb Sự thật. Hà Nội. 1975, t 1. tr 374.
5. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, vì tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật. Hà Nội. 1980. tr 13.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 09:46:17 AM

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước cuộc mít tinh của trên nửa triệu người, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và tuyên bố “thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”1.

Sau gần 80 năm dưới ách đô hộ của đế quốc, thực dân, giờ đây “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy” 2.
 
Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử, với hệ thống chính quyền từ trung ương tới cơ sở được thiết lập, một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam đã mở ra. Đó là kỷ nguyên của độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch thực sự là người chủ của đất nước Việt Nam, tiếp đón và ứng phó với quân đội Đồng Minh vào nước ta giải giáp quân Nhật.

Nhưng tất cả mới chỉ là sự khởi đầu. Để đạt tới độc lập, tự do và hạnh phúc toàn vẹn, dân tộc Việt Nam còn phải trải qua chặng đường đấu tranh lâu dài, đầy gian khổ, hy sinh. Độc lập, tự do, và thống nhất Tổ quốc là khát vọng, là động lực to lớn, thôi thúc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tăng cường đoàn kết, kiên quyết chiến đấu chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn thôn tính, chia cắt lâu dài đất nước ta của các thế lực đế quốc và bọn phản động trong nước.

Sau ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng vừa mới ra đời đã phải đối phó ngay với một tình thế vô cùng hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”. Chưa bao giờ đất nước ta có nhiều kẻ thù như hồi bấy giờ, giặc ngoài, thù trong đủ loại, cấu kết với nhau, hòng lật đổ chế độ dân chủ cộng hoà. Cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ của nhân dân ta tiếp diễn trong một tình thế mới. Để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng thiêng liêng ấy, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao khẩu hiệu “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết” và vạch ra nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn để bảo vệ và xây dựng chính quyền cách mạng. Một số tổ chức chính trị, xã hội lần lượt được thành lập3. Mặt trận đoàn kết dân tộc thống nhất được mở rộng làm cơ sở vững chắc cho công cuộc bảo vệ và xây dựng nhà nước cách mạng Việt Nam. Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải hoàn chỉnh và chính thức hoá cơ quan quyền lực dân tộc tối cao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tức là phải xúc tiến bầu Quốc hội để xây dựng Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức.

Thực hiện Sắc lệnh số 14, ngày 6-1-1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đã diễn ra thắng lợi trong cả nước. Thắng lợi của Tổng tuyến cử bầu Quốc hội đầu tiên ở nước ta là “kết quả của sự hy sinh, tranh đấu của tổ tiên ta, nó là kết quả của sự đoàn kết anh dũng phấn đấu của toàn thể đồng bào Việt Nam ta, sự đoàn kết của toàn thể đồng bào không kể già trẻ, lớn, bé, gồm tất cả các tôn giáo, tất cả các dân tộc trên bờ cõi Việt Nam đoàn kết chặt chẽ thành một khối hy sinh không sợ nguy hiểm tranh lấy nền độc lập cho Tổ quốc”4.

Quốc hội đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là thành quả đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong gần chín thập kỷ, đặc biệt là 15 năm đấu tranh trực tiếp dưới ngọn cờ độc lập, tự do của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đến sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Kỳ họp thứ hai Quốc hội diễn ra cuối năm 1946. Quốc hội lập chính phủ mới. Đây thực sự là một chính phủ đại biểu cho nguyện vọng và ý chí của toàn dân. Chính phủ đó bao gồm các nhà cách mạng, các nhân sĩ, trí thức và đại diện của các tầng lớp, các đảng phái trong xã hội Việt Nam. Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hiến pháp nêu rõ: “Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ”5. Đó là một nhiệm vụ vô cùng trọng đại, vô cùng khó khăn. Bởi lẽ, sau ngày Cách mạng Tháng 8-1945 thành công, khoảng 300.000 quân đội đế quốc và phản động Anh, Pháp, Nhật, Tưởng đua nhau xâu xé và tìm mọi cách bóp chết nước Cộng hoà dân chủ trẻ tuổi. Chỉ ba tuần sau ngày Việt Nam lập nước mới, thực dân Pháp thực hiện dã tâm cướp nước ta một lần nữa. Ngày 23-9-1945, chúng núp sau lưng quân Anh, nổ súng gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Và hơn một năm sau, ngày 19-12-1946, chúng mở rộng chiến tranh xâm lược ra cả nước. Nền độc lập sau gần một trăm năm tranh đấu với biết bao, xương máu của nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước mới giành được, quyền tự do, mơ ước ngàn đời mới có, đang bị kẻ thù uy hiếp. Đã từng mấy mươi năm mất nước, sống kiếp nô lệ, lầm than, chỉ mới được vài tuần sống trong không khí độc lập, tự do sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, toàn dân Việt Nam càng thấm thía ý nghĩa thiêng liêng của chữ “độc lập”, “hoà bình”. Nhưng đó phải là hoà bình trong độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Độc lập, tự do là quý báu, quý giá vô ngần; ta đã khổ sở trong bao năm mới giành được, cần phải cố gắng giữ gìn và bảo vệ”6.

Lúc này đối với nhân dân ta độc lập không thể tách rời chế độ dân chủ cộng hoà. Có bảo vệ được đất nước mới giữ được chế độ mới, có tự do thật sự, mới giữ được chính quyền dân chủ nhân dân. Đó vừa là lý tưởng, nguyện vọng của dân tộc, vừa là mục tiêu trước mắt của cách mạng và cũng là động lực của đấu tranh. Bởi lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hoà bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến. Vì dân Việt Nam tin chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến này cũng thành công”7.

Vào lúc đó, chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ, đất nước bị bao vây bốn bề, còn thiếu thốn đủ bề và chồng chất khó khăn. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời chưa được một nước nào trên thế giới công nhận. Lực lượng vũ trang cách mạng chưa phải là đội quân chính quy có vũ khí, trang bị hiện đại. Nền kinh tế vốn đã lạc hậu, nghèo nàn lại bị Pháp, Nhật bòn rút, vơ vét xác xơ và bị chiến tranh cũng như thiên tai tàn phá nặng, mà hậu quả là nạn đói năm 1945 khủng khiếp đã cướp đi hai triệu đồng bào ta. Cách mạng Tháng Tám thành công, nạn đói vẫn còn đang hoành hành dữ dội, sản xuất đình đốn, hàng chục vạn người vẫn tha phương cầu thực, hàng vạn công nhân không có việc làm, hàng hoá khan hiếm, ngoại thương bế tắc, kho bạc trống rỗng, ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản Pháp... Trong cơn hiểm nghèo của vận mệnh dân tộc, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng tình hình, vững tin ở khối đại đoàn kết toàn dân, ở lòng yêu nước và ý chí quyết tâm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” của cả một dân tộc vừa thoát khỏi hoạ mất nước kéo dài 80 năm ... Đảng ta một mặt, đề ra đường lối, chủ trương, biện pháp nhằm lãnh đạo, chỉ đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ổn định tình hình, ra sức chuẩn bị ứng phó với những thử thách trước mắt cũng như lâu dài; mặt khác khôn khéo thực hành chủ trương mềm dẻo theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” nhằm lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, phân tán, cô lập chúng đặng giữ vững chính quyền dân chủ nhân dân non trẻ, đưa cách mạng Việt Nam tiếp tục tiến lên.
_______________________________________
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai. Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội. 1995. t.3. tr 557.
3. Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (tháng 5-1946 ). Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (tháng 5-1946), Đảng Xã hội (7-1946), Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (10-1946).
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. t 4 tr. 189.
5. Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980, 1992), Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1995. tr 7-8.
6. Những sự kiện lịch sử của Đảng, Nxb Sự thật. Hà Nội. 1976, t 1 (1920 – 1945), tr. 665.
7. Những sự kiện lịch sử Đảng, Nxb Sự thật. Hà Nội. 1976. t.1 (1920 - 1945), tr. 665.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 10:42:42 AM

Từ tháng 9-1945 đến tháng 12-1946 - tức là trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ - dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, dân tộc ta đã vượt qua một chặng đường lịch sử vô cùng khó khăn, gian khổ, phức tạp, nhưng thắng lợi vẻ vang. Chúng ta đã phát huy sức mạnh toàn dân, dũng cảm đương đầu với những kẻ thù nguy hiểm, giữ vững chính quyền, xây dựng và phát triển lực lượng, sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài trong cả nước.

Với ý chí sắt đá vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, miền Nam thành đồng đã đi đầu trong sự nghiệp kháng chiến. Nhân dân miền Nam không tiếc xương máu, tài sản, đem hết sức lực và của cải để chống chọi với kẻ thù hung bạo, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Cuộc chiến đấu anh dũng của đồng bào miền Nam đã ngăn chặn một bước sự xâm lược của thực dân Pháp, làm thất bại âm mưu của chúng định nhanh chóng đánh chiếm miền Nam, góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh giữ vững chính quyền nhân dân, chủ quyền đất nước. Cuộc chiến đấu đó để lại những kinh nghiệm đầu tiên hết sức quý báu cho nhân dân cả nước. Điều mà tướng Pháp Lơcơléc huênh hoang tuyên bố rằng: Việc chiếm lại Việt Nam chỉ là “một cuộc dạo mát quân sự” (Promenade militaire) đã trở thành một chuỗi dài thất bại thảm hại. Theo đường lối chiến tranh toàn dân của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân miền Nam bước đầu đã làm phá sản chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của Pháp.

Trong khi đó, ở miền Bắc, bằng cuộc đấu tranh kiên quyết, giàu trí tuệ sáng tạo trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao, quân và dân ta vừa chi viện cho cuộc kháng chiến chống Pháp ở miền Nam, vừa đẩy lùi mọi âm mưu lật đổ của các thế lực phản động, bảo vệ chính quyền cách mạng bằng cách, khi thì tạm hoà hoãn với Tưởng để kháng Pháp ở miền Nam và làm chậm bước tiến ra Bắc của chúng, khi thì tạm hoà hoãn với Pháp để đẩy quân Tưởng ra khói nước ta và quét sạch bọn tay sai của chúng. Ta đã tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng chuẩn bị thế và lực, sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài. Giữ được chính quyền cách mạng, tránh được nguy cơ bị bóp nghẹt ngay khi nguy cơ mới hình thành là một thắng lợi to lớn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng lâu dài của nhân dân Việt Nam nói chung và đối với công cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nói riêng. Chính quyền mới, chế độ mới, chế độ dân chủ cộng hoà được giữ vững, củng cố và phát triển là nhân tố cơ bản bảo đảm cho dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Chính quyền mới dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân là vũ khí đấu tranh sắc bén để chiến thắng thù trong giặc ngoài, đưa cách mạng vượt qua những thử thách, vững bước tiến lên phía trước. Nhân dân Việt Nam đã vượt qua được một chặng đường đấu tranh hết sức gay go, để bảo vệ nền độc lập vừa mới giành được. Trong khi thi hành sách lược “hoà để tiến” với đủ loại thù trong, giặc ngoài, Đảng ta đồng thời lãnh đạo toàn dân ra sức chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến. Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng (họp ngày 19-10-1946) chỉ rõ: Nhất định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình, và mình nhất định cũng phải đánh Pháp. Vào lúc đó, quân đội Nhật, Anh, Tưởng lần lượt phải rút khỏi nước ta, Các thế lực tay sai thực dân, đế quốc, bọn giả danh cách mạng chống phá sự nghiệp độc lập và thống nhất đất nước của nhân dân ta bị tiêu diệt và tan rã. Kẻ thù của dân tộc ta giờ đây là thực dân phản động Pháp xâm lược. Toàn dân ta tập trung mũi nhọn đấu tranh đánh đuổi chúng.

Thực dân Pháp, mặc dù chiếm đóng gần như toàn bộ miền Nam và đã đưa quân ra đóng xen kẽ với ta trên nhiều khu vực ở miền Bắc, nhưng chúng không thể thực hiện được mưu mô nhanh chóng thôn tính toàn bộ nước ta.

Tham vọng cướp nước ta đã dẫn thực dân Pháp lao sâu và một cuộc “chiến tranh bẩn thỉu” không lối thoát. Song, với truyền thống lấy “đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thắng cường đạo” và với thiện chí hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng nhiều lần nhằm đẩy lùi chiến tranh, tránh một cuộc đổ máu cho cả hai dân tộc Việt - Pháp. Vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Pháp bản Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước 14-9 năm đó, nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi. “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! chúng ta thà hy sinh tất các chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”1. Đó là lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là ý chí, quyết tâm, là lẽ sống của mọi người yêu nước trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam trước khó khăn và hiểm nghèo của vận nước.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ngày 21-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi dân chúng Việt Nam, dân chúng Pháp và dân chúng các nước Đồng Minh, Người viết:

“Dân tộc Việt Nam nay bị đặt trước hai đường: một là khoanh tay, cúi đầu trở lại nô lệ; hai là đấu tranh đến cùng để giành lấy tự do và độc lập.

Không! Dân tộc Việt Nam không để cho người ta trở lại thống trị nữa.

Không! Dân tộc Việt Nam không bao giờ muốn trở lại nô lệ nữa. Dân tộc Việt Nam thà chết chứ không chịu mất độc lập và tự do”2.

Trong Lời kêu gọi nhân dịp sáu tháng kháng chiến toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại một lần nữa tuyên bố:

“Toàn dân Việt Nam chỉ có một lòng: Quyết không làm nô lệ.

Chỉ có một chí: Quyết không chịu mất nước,

Chỉ có một mục đích: Quyết kháng chiến để tranh thủ thống nhất và độc lập cho Tổ quốc”3.

Đế “tranh thủ độc lập và tự do cho Tổ quốc”, toàn thể dân tộc Việt Nam không phân biệt gái, trai, già, trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, không kể miền ngược, miền xuôi... đều nhất tề đứng lên kháng chiến. Cho dù, “Cuộc trường kỳ kháng chiến còn kinh qua nhiều bước gian nan.

Chúng ta phải hy sinh, chịu khó và phải gắng sức. Nhưng chúng ta quyết hy sinh chịu khó và gắng sức 5 năm, 10 năm để phá tan cái xiềng xích nô lệ hơn 80 năm vừa qua, để tranh lấy quyền thống nhất và độc lập cho muôn đời sắp đến”4. Trong cuộc kháng chiến đó, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ kháng chiến, do đồng tâm nhất trí của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc, dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu phải bức tường đó, chúng cũng phải thất bại.

Như lịch sử đã chứng minh, với ý chí, quyết tâm không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, toàn thể dân tộc Việt Nam đã tăng cường đoàn kết, ra sức khắc phục gian khổ, hy sinh vừa kháng chiến vừa kiến quốc, liên tiếp đánh bại các âm mưu và thủ đoạn của địch, từng bước làm chuyển biến tình hình chiến trường có lợi cho ta. Trải qua 3223 ngày đêm ròng rã chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ (từ 23-9-1945 đến 20-7-1954), dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu cũ của Pháp, đưa cách mạng Việt Nam bước sang một giai đoạn mới với những thuận lợi mới, nhưng cũng nhiều thử thách, khó khăn mới, trên hành trình đi tới hoà bình, thống nhất, độc lập và tự do.
_______________________________________
1, 2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội: 1995 t.4: tr.480, tr. 483.
3, 4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nôi. 1995, t.5. tr 150, 151, 152.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 10:43:44 AM

II. KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU ĐẤU TRANH VÌ HOÀ BÌNH, THỐNG NHẤT, ĐỘC LẬP, DÂN CHỦ VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI.

Hiệp định Giơnevơ được ký kết, hoà bình lập lại ở Việt Nam và trên bán đảo Đông Dương. Miền Bắc được giải phóng, nhưng miền Nam lại bị đế quốc Mỹ và tay sai thống trị bằng chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Nhân dân miền Nam chưa được hưởng một ngày hoà bình trọn vẹn, thì đã bị địch ruồng bố, bắt giam, tra tấn, chém giết. Theo Hiệp định Giơnevơ, ngày 20-7-1956, tức là đúng hai năm sau ngày Hiệp định này được ký kết, phải tiến hành Tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam. Nhưng Mỹ - Diệm đã không thực hiện. Đây là hành động phá hoại hoà bình, gây chiến nguy hiểm nhất, trắng trợn nhất của đế quốc Mỹ và tay sai. Nỗi đau chia cắt vẫn tiếp tục nhức nhối dân tộc Việt Nam ta.

Mục tiêu cách mạng và cũng là hoài bão của nhân dân Việt Nam là Tổ quốc phải được độc lập, thống nhất hoà bình, dân tộc phải được tự đo, đồng bào ta phải có cơm ăn, áo mặc và được học hành. Theo nguyện vọng và ý chí của toàn dân, tháng 7-1954, Hội nghị lần thứ sáu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) xác định nhiệm vụ phải đấu tranh để giành lấy và củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc. Đó là nghĩa vụ thiêng liêng của toàn dân.

Ngay từ khi đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã nêu rõ tính chất của cách mạng Việt Nam là tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới “xã hội cộng sản”. Trong khi đất nước chưa được độc lập, nhân dân chưa được tự do, thì nhiệm vụ của cách mạng là đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, nhân dân đưọc tự do, lấy ruộng đất của đế quốc làm của công và chia cho dân nghèo, quốc hữu hoá toàn bộ xí nghiệp của thực dân Pháp, tổ chức ra chính phủ công - nông - binh và quân đội công - nông. Rõ ràng, độc lập cho dân tộc và tự do cho nhân dân đã mang bản chất cách mạng khác hẳn với các phong trào đấu tranh trước đó, do giai cấp phong kiến, tư sản lãnh đạo.

Trải qua các thời kỳ đấu tranh, Đảng ta đã vận dụng chiến lược và sách lược cách mạng một cách linh hoạt, phù hợp với tình hình mỗi thời kỳ, nhưng mục tiêu độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa cộng sản (sau này ta gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội) không hề thay đổi. Vào đầu thập kỷ 40, khi yêu cầu độc lập dân tộc được đặt lên hàng đầu, Đảng ta đã phân tích: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”1.

Do vậy, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta kiên quyết vượt qua những thử thách gian khổ, ác liệt, làm cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công và kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Nay cuộc kháng chiến đó đã kết thúc, hoà bình được lập lại, miền Bắc được giải phóng hoàn toàn, nhưng mục tiêu thống nhất, độc lập chưa được thực hiện trọn vẹn trên toàn quốc. Nhân dân ta còn phải tiếp tục tranh đấu để đạt cho được mục tiêu đó trong những điều kiện mới, đối mặt với kẻ thù mới là đế quốc Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ vừa có tiềm lực, vừa có mưu đồ đen tối, thủ đoạn xảo quyệt. Vì vậy, cuộc đấu tranh nhất định sẽ gian khổ, lâu dài, phức tạp. Trong điều kiện đó, độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào vẫn là nhiệm vụ hàng đầu, to lớn và nặng nề của cách mạng Việt Nam.

Vì truyền thống ngàn năm văn hiến, biết bao anh hùng, liệt sĩ cùng lớp lớp đồng bào các thế hệ kế tiếp nhau chiến đấu, hy sinh cho độc lập, thống nhất Tổ quốc, nay không cho phép chúng ta dừng lại ở nửa chặng đường. “Dân tộc Việt Nam về mặt lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hoá là một khối duy nhất, không thể phân chia. Lãnh thổ Việt Nam là một dải đất thống nhất, không thể chia cắt được”2. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 22-7-1954, đã một lần nữa khẳng định: “Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng”3. Có thể nói nguyện vọng thiết tha vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc của các thế hệ người Việt Nam đang đòi hỏi đồng bào cả nước cùng chung sức, chung lòng tiếp tục thực hiện.
_______________________________________
1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá I), dẫn theo Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Sự thật. Hà Nội, 1981. t.1, tr.332.
2. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II), tháng 8 – 1955, tài liệu lưu trữ tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội. 1996. t.7. tr.322.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 10:44:07 AM

Sau nhiều năm chiến tranh ác liệt, nhân dân ta muốn duy trì hoà bình để tập trung sức lực xây dựng đất nước, chuẩn bị mọi mặt để tiếp tục cuộc đấu tranh hoàn thành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trong điều kiện mới. Tuy mục tiêu của cách mạng Việt Nam không thay đổi, nhưng hình thức đấu tranh cũng như chủ trương, sách lược phải phù hợp với tình hình quốc tế và trong nước sau khi có Hiệp định Giơnevơ năm 1954 - nhất là khi đế quốc Mỹ đang tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp độc lập thống nhất của dân tộc Việt Nam. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu (khoá II) chỉ ra rằng: Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, và hiện nay đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương. Cuộc đấu tranh cho hoà bình, độc lập, thống nhất, tự do, dân chủ do Đảng lao động Việt Nam lãnh đạo dưới con mắt của Mỹ là một mối hiểm hoạ, đe doạ mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ là chiếm một bàn đạp đầu cầu ở Đông Nam Á, ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc và ảnh hưởng của trào lưu xã hội chủ nghĩa ở vùng này. Vì vậy, trước, trong và sau ngày Hiệp đinh Giơnevơ ký kết, Mỹ tìm mọi cách ngăn cản, phá hoại Hiệp định, tìm cách thế chân Pháp, độc chiếm miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta.

Vấn đề có tính chất sống còn và cấp thiết lúc này đặt ra cho nhân dân Việt Nam là tiếp tục đấu tranh để thực hiện tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, đồng thời, phải bảo vệ và xây dựng miền Bắc, góp phần giữ gìn hoà bình thế giới trong điều kiện có pháp lý của Hiệp định Giơnevơ. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện thống nhất Việt Nam trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình. Đấy chính là một chủ trương được Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ tám (khoá II) chỉ ra. Trong hội nghị này Đảng ta dự đoán rằng: cuộc đấu tranh để thống nhất nước nhà là một quá trình đấu tranh rất gian khổ và phức tạp. Đó cũng là quá trình tìm tòi con đường tiến lên đấu tranh nhằm đạt cho được mục tiêu thiêng liêng của nhân dân ta là hoà bình, độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trước kia, lúc đang còn tập trung vào nhiệm vụ kháng chiến thì chủ nghĩa xã hội mới là phương hướng và mong muốn của nhân dân ta. Nó đã thực sự là nguồn cổ vũ, động viên to lớn toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền phấn đấu hy sinh cho mục đích cao cả đó. Nay, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đã kết thúc, có nửa nước hoà bình xây dựng, thì chủ nghĩa xã hội trở thành mục tiêu và nguyện vọng của nhân dân. Nó là nền tảng, là gốc rễ, là bảo đảm vững chắc cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước giành thắng lợi. Bởi lẽ, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đảm bảo cho miền Bắc được củng cố toàn diện để trở thành căn cứ địa cách mạng của cả nước, thành hậu phương vững chắc của cách mạng miền Nau. Miền Bắc còn là cơ sở để Đảng và Nhà nước ta thực hành, mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm tranh thủ rộng rãi sự đoàn kết, đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ quốc tế, Ngoài ra, miền Bắc phải xây dựng một chế độ xã hội ưu việt với một nền kinh tế phát triển, một nền văn hoá dân tộc và hiện đại, một nền an ninh - quốc phòng không ngừng lớn mạnh là niềm cổ vũ mạnh mẽ đồng bào ta ở miền Nam, là sức mạnh tập hợp tất cả những người yêu nước, tiến bộ vì một tương lai tươi sáng của dân tộc. Dân tộc Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh cho độc lập, thống nhất Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân. Cuộc đấu tranh đó là chính nghĩa, hợp với pháp lý của hiệp định Giơnevơ và trào lưu tiến bộ của thời đại, hợp với truyền thống ngàn năm văn hiến của dân tộc, nhưng đế quốc Mỹ đã tìm mọi cách ngăn chặn, hòng thực hiện cho được mục tiêu chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng. Cậy có sức mạnh kinh tế, quân sự và là cường quốc trong phe đế quốc, nên Mỹ đã gây ra cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam một cách tàn bạo với ý thức có thể đè bẹp dễ dàng cuộc đấu tranh của nhân dân ta. Đây vừa là căn nguyên sâu xa, vừa là lý do trực tiếp của cuộc chiến tranh Việt Nam, làm cho cuộc đấu tranh giành độc lập, dân chủ, thống nhất đất nước của nhân dân ta trở nên gay go, kéo dài.

Sự thật lịch sử là sau ngày kháng chiến chống Pháp kết thúc, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, với khẩu hiệu: Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập dân chủ, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chủ trương:

- Lập lại quan hệ bình thường và quyền tự do đi lại giữa hai miền; tạo điều kiện cho các đoàn thể chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền Bắc và miền Nam được liên lạc với nhau.

- Mở hội nghị hiệp thương hai miền để bàn về vấn đề tổng tuyển cử tự do nhằm thống nhất nước nhà trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ.

- Duy trì quan hệ kinh tế, mậu dịch giữa hai miền.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 10:44:27 AM

Để chỉ đạo kịp thời cuộc đấu tranh ở miền Nam, đầu tháng 9-1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ: trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ của đảng bộ ở miền Nam là lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định, củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, tranh thủ độc lập... Những chủ trương trên đây của Đảng và Chính phủ rõ ràng là mong muốn sử dụng các hình thức đấu tranh hoà bình để từng bước thực hiện nhiệm vụ cách mạng.

Những biện pháp và yêu cầu đầu tiên đặt ra để thực hiện chủ trương trên đây là: đôi bên phải tuân thủ và thi hành hiệp định để có hoà bình; qua hiệp thương tổng tuyển cử để thành lập chính phủ liên hợp, thống nhất đất nước; bảo đảm lợi ích dân tộc giữ vững nền độc lập về mọi mặt; không được khủng bố, đàn áp những người đã tham gia kháng chiến chống Pháp, bảo đảm cho các đảng phái, đoàn thể được hoạt động và thực hiện quyền tự do dân chủ của nhân dân.

Để đáp ứng các yêu cầu trên, Quốc hội, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã đi trước nhiều bước với tinh thần mong muốn hoà bình thống nhất Tổ quốc. Liên tục những tháng đầu năm 1955, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra tuyên bố “sẵn sàng lập lại quan hệ bình thường giữa hai miền; sẵn sàng mở hội nghị hiệp thương; đề nghị chính quyền miền Nam cử đại biểu hiệp thương, đề nghị với hai Chủ tịch Hội nghị Giơnevơ có biện pháp thúc đẩy hiệp thương...” v.v... Những chủ trương, biện pháp đó thể hiện nguyện vọng được sống trong hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc của nhân dân Việt Nam.

Nhưng đế quốc Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm ở miền Nam đã đi ngược lại nguyện vọng chính đáng đó của nhân dân ta. Chúng từ chối hiệp thương giữa hai miền, cự tuyệt tổng tuyển cử để thống nhất đất nước Mỹ - Diệm ráo riết khủng bố, đàn áp đồng bào ta, tàn sát những người kháng chiến cũ bằng các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” và “luật 10/59” được thực hiện khắp nơi ở miền Nam.

Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ ngày càng lộ rõ bộ mặt phản động của nó. Chính quyền phản động Pháp bị suy yếu sau cuộc chiến tranh Đông Dương là con nợ của Mỹ đã rũ bỏ trách nhiệm một bên thi hành Hiệp định..., tạo điều kiện thuận lợi cho Mỹ nhảy vào miền Nam. Mỹ lôi kéo các nước trong phe thành lập khối Đông Nam Á, đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này hòng tạo thế công khai để có thể dùng sức mạnh xâm lược miền Nam Việt Nam.

Chuỗi các sự kiện diễn ra đối lập nhau giữa một bên là nhân dân ta mong muốn hoà bình, hiệp thương, tổng tuyển cử để thống nhất Tổ quốc, còn bên kia là đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng ở miền Nam thì ra sức phá hoại Hiệp định, âm mưu chia cắt lâu dài và thành lập ở miền Nam một quốc gia riêng tách khỏi Tổ quốc Việt Nam, cũng đã chứng tỏ một sự thật lịch sử rằng: “Cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng”. Nhân dân Việt Nam muốn hoà bình, kiên trì giải pháp hoà bình, mặc dù Mỹ - Diệm đã không thực hiện đúng thời hạn tổng tuyển cử, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám (khoá II) dự kiến: …Muốn thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình, ta cần phải tiến hành thống nhất từng bước; từ chỗ tạm thời chia làm hai miền tiến đến chỗ thống nhất chưa hoàn toàn, từ chỗ thống nhất chưa hoàn toàn sẽ tiến đến chỗ thống nhất hoàn toàn.

Tiếp sau Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám, những nghị quyết và chỉ thị hướng dẫn đấu tranh đều nhấn mạnh, phải tập hợp và đoàn kết mọi lực lượng chống Mỹ - Diệm, kiên quyết chống chính sách “tố cộng, diệt cộng” của địch.

Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã dùng chiến tranh đơn phương để chống lại nguyện vọng độc lập, hoà bình, thống nhất Tổ quốc của cả dân tộc, đánh phá dã man phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta ở miền Nam: Nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác ngoài con đường đấu tranh cách mạng bằng bạo lực. Vì đấu tranh chính trị hoà bình để thống nhất nước nhà theo Hiệp định Giơnevơ quy định không có kết quả, Mỹ - Diệm càng dấn tới quyết tiêu diệt cách mạng Việt Nam ở miền Nam bằng vũ lực, nên Hội nghị Trung ương lần thứ 15 (tháng 1-1959) sau nhiều lần cân nhắc kỹ lưỡng tình hình trong nước và thế giới mới quyết định phải qua con đường đấu tranh cách mạng bằng bạo lực, mà cụ thể là dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ và tập đoàn quân sự phong kiến, tư sản mại bản theo Mỹ. Đó là quyết định đúng, hợp với ý nguyện của toàn dân.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 10:45:36 AM

KẾT LUẬN

Cuộc chiến tranh giữa Việt Nam với Mỹ kết thúc cánh đây 21 năm với việc nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi hoàn toàn. Nhưng, câu hỏi do đâu có cuộc chiến tranh này, điều gì khiến cho các chính quyền Mỹ kế tiếp nhau từ Tơruman, Aixenhao đến Kennơđi, Pho, nhất là thời kỳ Giônxơn và Níchxơn làm Tổng thống nước Mỹ đã dính líu ngày càng sâu vào cuộc chiến tranh, đã làm cho hàng triệu người Việt Nam và Mỹ thiệt mạng, mất tích, tàn phế, tiêu tốn hành trăm tỷ đôla cùng khối lượng vật chất khổng lồ? Robert S.Mc Namara, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, một trong những người góp phần hoạch định chính sách Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã thừa nhận rằng: “Chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp. Chúng tôi đã mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao lại sai lầm như vậy”1. Và, Mc.Namara cho nguyên nhân sai lầm đó là vì Mỹ “đã hiểu sai thậm tệ những mục tiêu của Trung Quốc và lầm lẫn cho rằng những ngôn từ hiếu chiến của nó hàm ẩn động cơ giành bá quyền khu vực. Chúng tôi cũng hoàn toàn đánh giá thấp khía cạnh dân tộc chủ nghĩa trong phong trào Hồ Chí Minh. Chúng tôi coi ông, trước hết là một người cộng sản, rồi mới là một người Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc”2.

Để hiểu rõ nguồn gốc và nguyên nhân cuộc chiến tranh phải xem xét từ bản chất và biểu hiện của cuộc chiến tranh đó. Bản chất là cơ sở bên trong, nó vạch ra nguyên nhân sâu xa phát sinh ra cuộc chiến tranh với mọi biểu hiện cụ thể. Còn biểu hiện của chiến tranh thì bộc lộ trực tiếp ra bên ngoài thông qua đấu tranh vũ trang. Vì vậy, tìm rõ nguyên nhân cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Việt Nam phải dựa vào quá trình vận động, phát triển của các sự kiện, hiện tượng có thể thấy, nhận thức được, để tìm cái ẩn giấu bên trong.

Sau Đại chiến thế giới thứ hai, các nước Đông Âu được giải phóng, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội. Những nước này cùng với Liên bang Xôviết, Mông Cổ, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Việt Nam hợp thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng. Các dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Âu, châu Phi, và Mỹ Latinh được phe xã hội chủ nghĩa ủng hộ - nhất là Liên Xô, Trung Quốc, đã vùng lên tiến công liên tục vào chủ nghĩa đế quốc, thực dân, giành độc lập dân tộc. Các nước đế quốc mất dần các thuộc địa và đang lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế, chính tri, xã hội trầm trọng. Riêng Mỹ, tuy có bị thiệt hại về người và của trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai, nhưng chiến tranh không đến nước Mỹ. Nhờ vào đất nước không bị tàn phá và kiếm được nhiều lời lãi trong buôn bán vũ khí, phương tiện chiến tranh, nền kinh tế của Mỹ phát triển rất cao. Mỹ vượt lên trên các nước tư bản về mọi phương diện. Do đó, đế quốc Mỹ trở thành kẻ cầm đầu các nước đế quốc, tên Sen đầm quốc tế, kẻ bóc lột và nô dịch lớn nhất, tên trùm thực dân mới, thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng nhằm củng cố vị trí làm bá chủ thế giới, ngăn chặn chủ nghĩa xã hội và đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, chèn ép các nước đế quốc khác để giành giật thuộc địa mở rộng khu vực ảnh hưởng. Đó là điểm xuất phát chính sách đối ngoại hiếu chiến và chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ. Bởi vậy, những phong trào đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc chống ách thống trị, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc để giành độc lập cho dân tộc nêu trên, là sự nghiệp chính nghĩa, nhưng đều bị đế quốc Mỹ coi là sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, Liên Xô, Trung Quốc “đỏ” hợp tác với nhau để mở rộng bá quyền, đe doạ đến nền an ninh nước Mỹ và “thế giới tự do”. Những năm năm mươi, không cam chịu sự cai trị nghiệt ngã, sự bóc lột thậm tệ của thực dân Anh, Pháp, Mỹ, nhân dân các nước Mianma, Inđônêxia, Malaixia, Philíppin… đã vùng lên đấu tranh để thoát khỏi ách thống trị của chúng. Đó là cuộc đấu tranh cho quyền con người được sống trong độc lập tự do, bình đằng và bác ái, hợp với đạo lý. Nhưng, Mỹ cho những cuộc đấu tranh chính nghĩa đó “có liên quan chặt chẽ với sự chỉ đạo của những người cộng sản Việt Nam”, đe doạ đến lợi ích và an ninh nước Mỹ. Mỹ có “trách nhiệm” và “nghĩa vụ” can thiệp và ngăn chặn bằng mọi biện pháp để dập tắt các phong trào nổi dậy đó. Mục tiêu của Mỹ là không để bất cứ vùng đất nào nữa của thế giới rơi vào tay cộng sản, không để mất miền Nam Việt Nam và vùng Đông Nam Á giàu tài nguyên chiến lược. Đế quốc Mỹ ngang nhiên nói biên giới Hoa Kỳ kéo dài đến vĩ tuyến 17 và được Ngô Đình Diệm phụ hoạ theo. Đó là nguồn gốc dẫn đế quốc Mỹ can thiệp ngày càng sâu, đi đến gây chiến tranh xâm lược Việt Nam và Đông Dương. Đó cũng là nguồn gốc làm cho giới cầm quyền Mỹ luôn phạm phải sai lầm không thể hiểu được dân tộc Việt Nam.

Khi thấy thực dân Pháp có nguy cơ bị đánh bại, tháng 6-1950, Tổng thống Mỹ Tơruman chỉ thị gấp rút viện trợ cho Pháp ở Đông Dương để tiêu diệt Việt Minh và lập “phái đoàn viện trợ quân sự MAAG” để giúp Pháp kéo dài cuộc chiến tranh, chuẩn bị sẵn sàng thay Pháp áp đặt chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở Việt Nam. Kế hoạch quân sự của Mỹ ở Việt Nam, theo Bộ Quốc phòng Mỹ tiết lộ trong Tổng kết cuộc chiến tranh Việt Nam được soạn thảo từ những năm 1950 chứng minh rõ ý đồ xâm lược bằng quân sự của đế quốc Mỹ ngay từ lúc nhân dân Việt Nam đang kháng chiến chống thực dân Pháp để giải phóng Tổ quốc.
_______________________________________
1, 2. Robert S. Mc Namara Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm kịch và những bài học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 12, 45.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 10:46:47 AM

Mặc dù Mỹ và đồng minh của Mỹ ra sức ngăn chặn, chống phá phong trào cách mạng thế giới mà chúng cho là “sự bành trướng của cộng sản”, nhưng sức sống của thời đại được cách mạng Tháng Mười cổ vũ và thắng lợi của cuộc chiến tranh chống phát xít, phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vẫn phát triển mạnh mẽ. Đặc biệt, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của Việt Nam và hai nước Lào, Campuchia lên mạnh. Việt Nam chiến thắng quân Pháp trong chiến dịch Biên giới 1950, tạo chuyển biến căn bản cho cuộc kháng chiến từ chiến đấu trong vòng vây chuyển sang thế chủ động, liên tục tiến công. Nguy cơ quân Pháp sẽ bị đánh bại ở Việt Nam và Đông Dương đã rõ ràng. Trước tình hình đó, Mỹ sợ một sự phản ứng dây chuyền: “Việc mất Đông Dương sẽ gây nguy hiểm cho nền an ninh của Hoa Kỳ. Quyền kiểm soát của cộng sản ở Đông Dương sẽ doạ các nguồn nguyên liệu thiết yếu, làm yếu lòng tin của các quốc gia Đông Nam Á1.

Các Tổng thống Mỹ Tơruman, Aixenhao, Kennơđi đều thực hiện mục tiêu chiến lược toàn cầu của Mỹ luôn luôn coi Đông Dương là một bộ phận cần thiết trong chính sách ngăn chặn - “một bức tường thành quan trọng trong chiến tranh lạnh”2. Mất Việt Nam sễ dẫn đến nguy cơ mất ca Đông Nam Á giống như sự sụp đổ của các quân bài Đôminô, nên Mỹ phải lập “tuyến kiềm chế”, ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản ở Đông Dương. Xuất phát từ quan điểm thể hiện của thuyết Đôminô và cũng là bản chất chủ nghĩa đế quốc Mỹ là tự cho mình có quyền tối cao định đoạt cho mọi dân tộc phải theo hình ảnh của Mỹ lựa chọn, Hoa Kỳ đã từ chỗ can thiệp vào cuộc chiến tranh Đông Dương bằng viện trợ kinh tế, tiếp tế vũ khí và đưa cố vấn, chuyên gia kỹ thuật sang Việt Nam để giúp Pháp, đến chỗ trực tiếp xâm lược Việt Nam. Trong báo cáo nhan đề “Về mối đe doạ của chủ nghĩa cộng sản”, do Uỷ ban đặc biệt của Tổng thống Mỹ soạn thảo, nói rõ lập trường của Mỹ đối với Việt Nam là:

1. Chính sách của Mỹ là không chấp nhận điều gì khác ngoài một thắng lợi về quân sự ở Đông Dương

2. Lập trường của Mỹ là tranh thủ sự ủng hộ của Pháp đối với lập trường này, nếu không được như vậy, thì Mỹ sẽ kiên quyết phản đối mọi thương lượng về Đông Dương tại Giơnevơ.

3. Trong trường hợp không thực hiện được điều hai nói trên thì Mỹ đề ra các biện pháp cấp bách với chính phủ các nước liên kết, nhằm tiếp tục cuộc chiến tranh ở Đông Dương mà không có sự ủng hộ của Pháp nếu cần thiết3.

Mỹ đang mưu tính những nước cờ nhảy vào Việt Nam sao cho thuận lợi, thì tháng 5-1954, quân Pháp bị đánh bại ở Điện Biên Phủ; tháng 7-1954, Chính phủ Pháp phải ký với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Hiệp định Giơnevơ, tuyên bố công nhận các quyền dân tộc cơ bản và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia, được 9 nước thành viên tham gia Hội nghị ghi nhận trong tuyên bố cuối cùng và cam kết tôn trọng, trong đó có Hoa Kỳ4. Nhưng sau đó để mở đường cho Mỹ thay thế Pháp, phá hoại Hiệp định Giơnevơ, ngày 22-7-1954, Tổng thống Mỹ Aixenhao tuyên bố: Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội nghị Giơnevơ và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy. Cũng như các Tổng thống của mình, khi còn là thượng nghị sĩ Kennơđi cũng nói “Việt Nam là hòn đá tảng của thế giới tự do ở Đông Nam Á. Đó là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó”5. Khi được bầu làm tổng thống nước Mỹ thay Aixenhao, trong diễn văn nhậm chức, Kennơđi nói: “Hãy để cho các quốc gia biết rằng dù họ muốn chúng ta khoẻ mạnh hay ốm yếu. Chúng ta sẽ trả bất cứ giá nào, chịu hứng mọi gánh nặng, đường đầu mọi khó khăn, hậu thuẫn bất cứ người bạn nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào để bảo đảm sự sống còn và thắng lợi của tự do”6. Những tuyên bố trên đây thể hiện bản chất xâm lược của đế quốc Mỹ thực hiện tham vọng bá chủ thế giới, áp đặt sự thống trị, khống chế các quốc gia, dân tộc trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng. Bởi vậy, năm 1954, lợi dụng sự suy yếu của Pháp, đế quốc Mỹ liền nhảy vào miền Nam Việt Nam, thực thi chính sách xâm lược thực dân kiểu mới, dựng lên ở đây một chính quyền, một quân đội tay sai do tập đoàn Ngô Đình Diệm cầm đầu, hòng biến miền Nam thành căn cứ quân sự để chống lại Liên Xô, Trung Quốc, chống nhân dân Việt Nam, mà Mỹ cho là “sự bành trướng” của chủ nghĩa cộng sản.
_______________________________________
1. Văn kiện số 16 Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ ngày 5-8-1953, Tài liệu mật Lầu Năm Góc, q 5. t 1 Trung tâm TTKHKT dịch.
2. Robert S Mc Namara. Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.43.
3. Bị vong lục về Đông Nam Á từ 30-1 đến 5-4-1954, Tài liệu Bộ quốc phòng Mỹ - t. 1, tlđd.
4. Ông W.Biđôn Smít thay Đalét làm trưởng phái đoàn Mỹ tại Hội nghị Giơnevơ công bố tuyên ngôn của chính phủ Mỹ, trong đó có đoạn “Chỉnh phủ Hoa Kỳ ghi nhận các thoả ước quân sự và bản tuyên bố cuối cùng và sẽ không dùng đến vũ lực để làm tổn hại đến các văn kiện ấy...”.
5, 6. Robert S.Mc.Namara: Nhìn lại quá khứ..., Sđd, tr.43-44.



Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 10:47:09 AM

Nhân dân ta ở miền Bắc cũng như miền Nam đều nhận thức rằng Hiệp định Giơnevơ chưa đem lại kết quả đầy đủ, nhưng đã thật sự chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp, nên nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định để tiến tới sẽ lựa chọn một chính phủ và thể chế chính trị phù hợp với quyền lợi cơ bản và nguyện vọng thiêng liêng của mình bằng cuộc tổng tuyển cử tự do và dân chủ vào tháng 7-1956 như Hiệp định Giơnevơ quy định.

Chính phủ và nhân dân ta đã làm hết sức mình để đạt được mục tiêu độc lập, hoà bình, thống nhất mà không xẩy ra chiến tranh. Song, đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai Mỹ ở miền Nam cũng đã bằng mọi biện pháp chống lại sự nghiệp giải phóng miền Nam, hoà bình thống nhất đất nước. Chúng tuyên bố không có hiệp thương tổng tuyển cử theo quy định của Hiệp định Giơnevơ, và phát động các chiến dịch “tố cộng” đàn áp đẫm máu những người yêu nước và các phong trào hoà bình, cưỡng bức dồn trên mười triệu nông dân miền Nam vào hàng trăm “khu dinh điền”, “khu trù mật” và 16.000 “ấp chiến lược” để kìm kẹp, khống chế, làm cho đời sống và hạnh phúc của người dân lương thiện bị thách thức, bị tước đoạt. Các chính sách tay sai ở miền Nam được Mỹ nuôi dưỡng, hỗ trợ, ngang nhiên hô hào “lấp sông Bến Hải”, “Bắc tiến”. Đế quốc Mỹ đã thông qua bộ máy chính quyền tay sai ở miền Nam, dùng mọi biện pháp, thủ đoạn nham hiểm, để lật đổ, đàn áp, gây chiến tranh một phía, giấu mặt đến công khai gây chiến tranh chống lại nhân dân Việt Nam.

Nhân dân ta thiết tha với hoà bình, nhưng phải là hoà bình trong độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là lẽ sống của các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam và, vì nó, mà nhân dân ta suốt nhiều thế kỷ đã liên tục chiến đấu, hy sinh. Vì thế, trước việc Mỹ dùng sức mạnh kinh tế, chính trị và quân sự để khuất phục nhân dân ta phải theo con đường do Mỹ áp đặt, nhân dân ta không còn cách nào khác là buộc phải đấu tranh chống lại. Không áp đặt được chủ nghĩa thực dân mới bằng cách dùng quân đội và chính quyền người bản xứ, Mỹ liền dùng sức mạnh của đội quân viễn chinh gây ra cuộc chiến tranh hòng tiêu diệt nhân dân ta cả về thể xác lẫn tinh thần và tài sản. Nhưng, ý chí quyết tâm của một dân tộc quyết giành độc lập, tự do, không cam chịu nô lệ của nhân dân ta đã trở thành sức mạnh vô địch, làm thất bại mọi âm mưu, hành động của Mỹ. Việt Nam không đem quân đội, vũ khí sang đánh nước Mỹ, nhưng những nhà cầm quyền Hoa Kỳ từ Kennơđi, Giônxơn đến Níchxơn, Pho đã đem hơn nửa triệu quân Mỹ, hơn sáu mươi nghìn quân các nước đồng minh cùng với một triệu quân ngụy, tiến hành xâm lược Việt Nam gây ra cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử. Chính Mỹ đã ném xuống lãnh thổ Việt Nam hơn 8 triệu tấn bom đạn và hàng chục vạn tấn hoá chất độc nhằm hủy diệt nhân dân ta, đẩy xã hội Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá” như Mỹ đã từng tuyên bố. Tin tưởng vào sức mạnh và chính nghĩa, nhân dân Việt Nam vừa kiên quyết chiến đấu, vừa tỏ rõ thiện chí, nhiều lần đưa ra những giải pháp mở đường cho Mỹ rút khỏi cuộc chiến tranh trong danh dự: Lập trường 4 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, lập trường 5 điểm của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và giải pháp 10 điểm của Chính phủ Cách mạng lârn thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Song, đế quốc Mỹ không những bác bỏ lập trường thiện chí đó của Việt Nam mà còn tiếp tục gia tăng cường độ chiến tranh và mở rộng quy mô cuộc chiến sang Campuchia, Lào.

Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tiếp tục kéo dài và ngày càng ác liệt, cho đến khi bị quân và dân Việt Nam đánh bại các chiến lược, biện pháp chiến lược, thủ đoạn tác chiến của quân Mỹ, ngụy, làm lung lay ý chí của tập đoàn cầm quyền Nhà Trắng và Lầu Năm Góc thì đế quốc Mỹ mới chịu chấm dứt chiến tranh.

Rõ ràng, cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là sự tiếp tục chính sách chiến tranh lạnh của Mỹ. Tập đoàn cầm quyền Ngô Đình Diệm và các chính quyền ngụy tiếp theo là những tên tay sai do Mỹ dựng lên nuôi dưỡng và chỉ huy nhằm thực hiện chính sách xâm lược của Hoa Kỳ. Chính sự xâm lược bành trướng của đế quốc Mỹ là nguồn gốc, nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh. Năm 1973, Mỹ rút và từ giảm dần đến không can thiệp bằng quân sự, thì chiến tranh chấm dứt, nước Việt Nam thống nhất, hoà bình, ổn định, đang ra sức phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”. Điều đó chứng tỏ, không có bàn tay xâm lược của Mỹ thì không có chính quyền Sài Gòn và cũng không có chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975 - Tập 1
Gửi bởi: chuongxedap trong 10 Tháng Một, 2010, 10:47:59 AM

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH


Tiếng Việt

1. J.A.Amtơ: Lời phán quyết về Việt Nam, NXB QĐND, HN, 1982.
2. G. Côncô: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, t. 1, NXB QĐND, HN, 1989.
3. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, vì tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, NXB ST, HN, 1976.
4. Lê Duẩn: Về chiến tranh nhân dân Vi.ệt Nam, NXB CTQG, HN, 1993.
5. Hồ Chí Minh: Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, NXB ST, HN, 1970.
6. Hồ Chí Minh: Tuyển tập, t.1, NXB ST, HN, 1980.
7. P. Kennơđi: Hưng thịnh và suy vong của các cường quốc, NXB TTLL, HN, 1992.
8. Nguyễn Kiên: Miền Nam Việt Nam từ sau Điện Biên Phủ, HN, 1983.
9. V.I. Lênin: Toàn tập, t.27, NXB Tiến bộ Mátxcơva, 1980.
10. V.I. Lênin: Bàn về chiến tranh, quân sự, khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự, NXB QĐND, HN, 1964.
11. Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, t.1, NXB ST, HN, 1981.
12. Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, t.2, NXB CTQG, HN, 1995.
13. Robert S. Mc Namara: Nhìn lại qúa khứ - tấn thảm kịch và bài học Việt Nam, NXB CTQG, HN, 1995.
14. C. Mác - Ph. Ăngghen - V.I. Lênin - Stalin: Những quan điểm cơ bản về khởi nghĩa, chiến tranh và quân đội, NXB QĐND, HN, 1973.
15. C.Mác - Ph. Ăngghen: Về chiến tranh và quân đội, NXB QĐND, HN, 1993.
16. Maicơn Máclia: Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, NXB ST, HN, 1990.
17. Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ tám (khoá II), tháng 8-1958, TLLT tại VLSQSVN.
18. Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ sáu (khoá II), ngày 15-7-1954, TLLT tại VLSQSVN.
19. Những sự kiện lịch sử Đảng, t.III (1954-1975), NXB TTLL, HN, 1985.
20. W. Oétmolen: Tường trình của một quân nhân, TVQĐ dịch, HN, 1982.
21. P.A. Pulơ: Nước Mỹ và Đông Dương từ Ruzơven đến Níchxơn, NXB TTLL, HN, 1985.
22. Đặng Phong: 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam, Viện Nghiên cứu thị trường - giá cả, HN 1991.
23. Tài liệu một Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, t. 1, VNTTX dịch và phát hành, HN, 1971.
24. Tài liệu mật Lầu Năm Góc, Trung tâm Thông tin Khoa học kỹ thuật dịch, HN, 1980.
25. Mácxoen Taylo: Tiếng kèn ngập ngừng, TVQĐ dịch, HN, 1965.
26. Tóm tắt tổng kết chiến tranh Việt Nam của Bộ Quốc phòng Mỹ, t.V (bản đánh máy), TLLT tại VLSQSVN.
27. Nguyễn Cơ Thạch: Tìm hiểu nguyên nhân của cuộc chiến tranh Mỹ xâm lược Việt Nam, in trong Kỷ yếu hội nghị khoa học nhân kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng miền Nam do VLSQSVN tổ chức, NXB QĐND, HN, 1995.
28. Đỗ Thiện - Đinh Kim Khánh: Tiếng sấm Điện Biện Phủ, NXB QĐND, HN, 1984.
29. Trường Chinh: Cách mạng Tháng Tám - Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, t.I, NXB ST, HN, 1975.
30. Văn kiện Đảng (1930-1945), NXB ST, HN, 1962.
31. Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ III (1960), TLLT tại VLSQSVN.
32. Ralph Cologh: Đông Á và nền an ninh Mỹ - Học viện Brooking (Lưu trữ Ban TKCL).
33. Biên bản Quốc hội Mỹ, NXB Quốc hội Mỹ 1949 (Lưu trữ Ban TKCL).


Tiếng nước ngoài:

1. Cazov, Jean Marie: Cinquante ans Viet Nam (50 năm Việt Nam), Paris ed. Plon, 1969.
2. Cook, Fred: Les vautours de la guerre froide (Những con diều hâu của chiến tranh lạnh), Julliard, Paris, 1964.
3. Chaffard, George - Les deux guerres du Viet Nam - De Valluy à Westmoreland (Hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam - từ Valuy đến Oétmolen), Paris, Latable ronde de Combat, 1969.
4. Dovovan, James: Militarism USA (Chủ nghĩa quân phiệt Mỹ), Charles Siribner’s Sons, New York, 1970.
5. Deviliers, Philippe - Lacouture, Jean: Viet Nam de la guerre Francaise à la guerre Americaine (Việt Nam - từ cuôc chiến tranh của người Pháp đến cuộc chiến tranh của người Mỹ), Paris, Edition du Seuil, 1969.
6. P. Deviliers - J. Lacouture: End of the war Indochina 1954 (Sự kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương 1954), New York Frederiek A, Praeger publishers, 1969.
7. Falk, Richard A: The Viet Nam war and international law (Chiến tranh Việt Nam và luật pháp quốc tế), Princeton University Press, 1969.
8. Fall, Bernard: Les deux Viet Nams (Hai nước Việt Nam), Payot, Paris, 1967.
9. Hammer, E. J: The Struggle for Indochina (Cuộc đấu tranh để giành Đông Dương), Stanford University, 1954.
10. Julien, Claude: L’ Empire Américain (Đế quốc Mỹ), Grasset, Paris, 1968.
11. Kolko, Gabriel: The root of American foreign policy, Beacon Press, Boston, 1970.
12. Moisy, Claude: L’ Amerique sous les armes (Nước Mỹ dưới sự vũ trang), Du Seuil, Paris, 1971.
13. Melman, Seymour: Pentagon capitalism (Chủ nghĩa tư bản Lầu Năm Góc), Mc Graw Hill, New York, 1970.
14. Pluvier, J. - South: East Asia from colorialism to independence (Đông Nam Á - từ thời kỳ thực dân thống trị đến thời kỳ độc lập), London, Oxford University, 1974.
15. J. Sainteny: Histore d’ une paix manquée (Lịch sử một nền hoà bình bị bỏ lỡ), Amiot Dumont, Paris, 1954.
16. A. Jr. Schelesinger: Les mille jours de Kennedy à la Maison Blanche (1000 ngày của Kennơđi ở Nhà Trắng), De Noel, Paris, 1966.



Hết!