Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 11:09:47 PM



Tiêu đề: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 11:09:47 PM

Tên sách: Vỏ bọc nhiệm màu
Tác giả: Hà Bình Nhưỡng
Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
Năm xuất bản:  2005
Số hoá: Excocet, ptlinh, chuongxedap




LỜI GIỚI THIỆU

Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước vẫn mãi mãi đồng hành với thời gian. Góp phần làm nên chiến thắng lịch sử đó có sự đóng góp không nhỏ của các chiến sĩ tình báo, binh vận, mà chiến công của họ ở những thời điểm nhất định đã làm thay đổi cục diện chiến tranh sang hướng có lợi cho Cách mạng. Nhưng mấy ai biết được ở mặt trận thầm lặng này lại là nơi thử thách khắc nghiệt nhất của những chiến sĩ Cộng sản. Bên cạnh sự chỉ đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, cụ thể là các đồng chí lãnh đạo Tình báo Quân đội, Tình báo Công an, Binh vận... còn đòi hỏi những người trong cuộc phải có sự kết tinh cao độ lòng dũng cảm, đức hy sinh, tinh thần yêu nước và trí tuệ con người.

Lịch sử Tình báo Việt Nam trong suốt 21 năm chống Mỹ cứu nước đã ghi nhận biết bao sự mất mát, hy sinh rất thầm lặng của các chiến sĩ trên mặt trận này. Họ hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tạo cho mình một “vỏ bọc”, khoác trên vai chiếc áo của kẻ thù, chấp nhận sống hai mặt “xanh vỏ đỏ lòng”... để rồi âm thầm cống hiến đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Những câu chuyện về họ là cả một kho tàng vô tận, không sao kể hết được, nhưng lịch sử sẽ mãi mãi không quên là luôn dành cho họ những trang trang trọng nhất.

Vỏ bọc nhiệm màu” là một trong những cuốn sách viết khá thành công về đề tài này. Là người từng có một thời gian dài phục vụ trong quân đội, nguyên là Trưởng phòng biên tập ký sự lịch sử Quân chủng Phòng không - Không quân, đại tá nhà văn Hà Bình Nhưỡng có điều kiện trực tiếp gặp gỡ hầu hết các nhân vật trong tập truyện nên ông đã  viết rất thực. Bạn đọc sẽ bị cuốn hút bởi lối viết sinh động và hấp dẫn. Đặc biệt, qua tập truyện, chúng ta sẽ có một cái nhìn toàn cảnh về diễn biến thời cuộc ở dinh Độc Lập - cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn - trong những ngày bão táp tháng 4 năm 1975 lịch sử.

Xét thấy giá trị về mặt tư liệu của tập truyện “Vỏ bọc nhiệm màu”, Nhà xuất bản Công an Nhân dân cho tái bản cuốn sách này nhân dịp 60 năm thành lập Lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam 19 tháng 8 và Quốc khánh 2 tháng 9.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nhà xuất bản Công an Nhân Dân


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:44:36 PM

VỊ CHUẨN TƯỚNG CẬN THẦN


* Tín hiệu từ một đám tang

Trời đã phú cho Bảy Lương có vóc dáng và khuôn mặt rất hợp với vai ông chủ cỡ bự người Hoa. Ông chủ đó càng sang trọng, đĩnh đạc hơn khi mang bộ đồ ký giả đắt tiền và cặp kiếng mát gọng vàng...

Với tướng mạo ấy cùng tấm chứng minh thứ thiệt mang tên Đỗ Văn Ba mà Ban Binh vận phải dứt ruột chi ra mấy cây vàng để bọn công an ngụy làm cho anh, Lê Quốc Lương càng dễ bề hoạt động trong nội thành Sài Gòn. Anh được trao trọng trách làm Đội trưởng Đội vận động sĩ quan địch, một nhiệm vụ đòi hỏi rất cao về tài trí và kinh nghiệm dày dạn của một nhà hoạt động chính trị mang dạng tình báo. Bằng kinh nghiệm và tài trí đó, anh đã bắt mối được nhiều cơ sở trong hàng ngũ địch. Song, hầu hết mới chỉ là sĩ quan cấp thấp, chưa có được một sĩ quan cao cấp nào mang tầm chiến lược như Trung ương Cục yêu cầu.

Đúng lúc ấy, vào trung tuần tháng 10 năm 1963, Bảy Lương nghe được câu chuyện về một đám tang khá đặc biệt ở xã Phú Phong, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho. Không chần chừ, anh về ngay xã Kim Sơn gần xã Phú Phong tìm gặp đồng chí Sáu Rếp, một cơ sở tin cậy, đồng thời là người có quan hệ thân thiết với mình.

Quả là anh đã tìm đúng cầu nối để dẫn đến mục tiêu. Qua Sáu Rếp và bà con nơi đây, Bảy Lương đã hiểu được tận tường về đám tang này.

Đó là đám tang ông Nguyễn Hữu Điệt, cha đẻ của Nguyễn Hữu Hạnh, đại tá Tham mưu trưởng Quân đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật, một sĩ quan cao cấp của ngụy đang có nhiều quyền thế ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng nhà của cha Hạnh nằm trong một ấp đã được giải phóng, không nằm trong vùng phong tỏa của Hạnh. Chính đó là cái khó khăn đối với viên đại tá có nhiều quyền thế ở đây về việc thực hiện lời di chúc của cha mình.

Cha Hạnh là một người có học thuộc dòng dõi nhà nho. Ở bệnh viện Cần Thơ trước khi nhắm mắt, ông đã trăn trối với Hạnh:

- Cha biết con là người con hiếu thảo. Con đã hết lòng chạy chữa cho cha. Nhưng nghiệp trời đã định, không thể cưỡng lại được số phận. Khi qua đời, cha không có mong muốn gì hơn là được về yên nghỉ ở nơi quê cha đất tổ, bên cạnh ông nội của các con.

- Thưa cha - Hạnh nghẹn ngào nói với cha - Cha cũng thể tất và hiểu cho con là việc này rất khó. Nhưng cha cứ yên lòng. Con xin hứa sẽ thực hiện bằng được nguyện vọng của cha và sẽ hoàn tất tốt đẹp.

Nghe xong lời hứa đó, ông đã trìu mến nhìn Hạnh lần cuối cùng rồi thanh thản nhắm mắt ra đi. Còn Hạnh, Hạnh đã cho người đi tìm ngay bác Chín Quá, một người quen biết với gia đình mà Hạnh biết rõ là người ở phía bên kia, đến nhà. Khi bác Chín Quá tới, Hạnh khẩn khoản thưa:

- Thưa bác, khi tới đây chắc bác đã biết lời trăn trối và cũng là nguyện vọng tha thiết của cha tôi. Vậy tôi xin cảm phiền nhờ bác về xã Phú Phong quê tôi và cả xã Kim Sơn ở bên này sông xin phép Cách mạng cho gia đình tôi được đưa thi hài cha tôi về quê chôn cất.

Đã hiểu được nguồn gốc và biết Hạnh là người rất có tình nghĩa với làng xóm quê hương, ai cần gì Hạnh cũng sẵn sàng giúp đỡ, bác Chín liền vui vẻ nhận lời và hối hả đi ngay. Lúc trở về, bác đã vui mừng thông báo cho Hạnh:

- Cách mạng ở hai xã đều đã chấp nhận đề nghị của Đại tá nhưng có yêu cầu...

- Dạ, yêu cầu như thế nào, xin bác cho biết.

Yêu cầu này chủ yếu cũng vì người quá cố, là phía Quốc gia không được hành quân, ném bom, bắn phá trong khu vực này suốt ba ngày tang lễ.

- Tôi không có toàn quyền, nhưng yêu cầu này sẽ được thực hiện, bởi tôi nghĩ ông Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật chắc chắn sẽ chấp nhận đề nghị của tôi.

Đáp lời bác Chín Quá xong, Hạnh đi ngay đến phòng viên Tư lệnh. Đúng như Hạnh dự đoán, viên thiếu tướng Tư lệnh vốn trước đây đồng khóa với Hạnh và hiện nay lại rất kính nể Tham mưu trưởng của mình nên đề nghị của Hạnh được chấp nhận ngay. Không những thế, ông ta còn gọi ngay Tham mưu phó phụ trách tác chiến của quân đoàn lên để thực thi lệnh “ngừng hoạt động...” này.

Nguồn tin ấy cũng qua bác Chín được truyền ngay đến các đồng chí lãnh đạo của xã Phú Phong. Thế nên khi thi hài của cha Hạnh được vợ con Hạnh đưa tới bên kia sông, Chín Úa và Ba Dinh, cán bộ của xã đã sang đón dể cùng với cô Năm em út của Hạnh quá giang. Lúc xe tang sang đến xã Phú Phong, cả chủ tịch xã cùng một số bộ đội Giải phóng lại cùng tiễn đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Hạnh chỉ tiễn biệt cha qua cổng bệnh viện. Vợ con Hạnh cũng chỉ đưa tiễn ông Điệt đến bên này bờ sông, việc còn lại trao cho cô Năm. Nhưng cả gia đình Hạnh đều rất yên lòng và xúc động trước tình cảm của xóm làng, quê hương đối với cha mình. Họ không ngờ đám tang người cha viên đại tá đang ở phía Quốc gia chống đối lại Cách mạng mà chỉ vì cha mình muốn được gửi xương cốt ở quê hương lại được chính quyền cách mạng và bà con đưa tiễn đông đảo đến thế. Hầu như cả xã, nhà nào cũng có người đi tiễn đưa và dự lễ an táng ông Điệt.

Theo tục lệ ở đây, ba ngày phải mở cửa mả cho linh hồn người chết được siêu thoát. Lễ mở cửa mả phải có vàng hương, hoa trái để cúng kỵ. Và phải có một con gà giò để cho người thân nhất kéo gà chạy ba vòng quanh mả, xong thả gà ra, nó vào nhà ai, nhà đó sẽ được phước.

Cô Năm đã xin ở lại để làm việc này. Nhưng Hạnh muốn được vĩnh biệt cha lần cuối cùng đúng ngày mở cửa mả, nên lại qua bác Chín Quá đề nghị với chính quyền xã Phú Phong. Lần nữa, nguyện vọng của Hạnh lại được chấp nhận với điều kiện không có trực thăng vũ trang bay kèm.

Tất nhiên Hạnh hoàn toàn chấp nhận điều kiện đó, và bằng chiếc trực thăng, anh bay ba vòng trên mộ cha mình. Đấy cũng là ba vòng mà không gian hoàn toàn yên tĩnh, không có một tiếng súng nào, để Hạnh được ngắm lại nơi chôn nhau cắt rốn của mình từ trên cao một cách yên ả và lắng sâu nhất.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:47:07 PM

Nghe đồng chí Sáu Rếp kể lại toàn bộ diễn biến về đám tang như vậy, Bảy Lương rất phấn chấn. Anh thầm cám ơn các đồng chí và đồng bào ở hai xã Phú Phong và Kim Sơn đã xử sự rất cao thượng, nghĩa tình. Việc làm đó lẽ nào lại không tác động đến lương tâm của sĩ quan, binh lính ngụy, mà ở đây, trước hết là đại tá Nguyễn Hữu Hạnh. Rõ ràng là các đồng chí và bà con ở đây đã thấm nhuần về công tác binh vận - mũi giáp công thứ ba tiến công địch của Đảng ta. Họ đã tranh thủ thời cơ và làm việc này rất tế nhị. Cũng từ đây, Bảy Lương thấy rõ ràng đại tá Nguyễn Hữu Hạnh có nhiều nét khác biệt so với các sĩ quan cao cấp khác của ngụy quyền hiện tại. Anh quyết định phải tìm hiểu kỹ để có thể “bắt rễ” ngay viên đại tá này nên liền hỏi Sáu Rếp:

- Ngoài bác Chín Quá, anh có biết ai là người đằng mình có quan hệ mật thiết về gia tộc với đại tá Hạnh không?

Sáu Rếp suy nghĩ một lát, đôi mắt chợt sáng lên:

- Tôi nhớ ra rồi. Có một người là bác họ của Hạnh.

- Ai vậy?

- Đồng chí Tám Thành, tức Nguyễn Tấn Thành, có biệt hiệu là Tám “vô tư”. Tám Thành đã từng là huyện ủy viên, được Hạnh rất quí trọng và nghe đâu năm 1956, chính Hạnh đã cứu ông Tám “vô tư” ra khỏi nhà giam Catina1.

- Chà, tuyệt quá! Vậy bây giờ anh Sáu biết ông Tám ở đâu không?

- Lâu lắm rồi tôi không biết tin tức về ổng. Chỉ biết sau lần được Hạnh cứu ra đến năm 1961, ông Tám lại bị bắt vô tù lần nữa. Mà anh biết không, ông Tám “vô tư” này có tìm thấy cũng không dễ gì tiếp cận được đâu.

Bảy Lương hơi hẫng người. Nhưng anh không thất vọng, liền động viên Sáu Rếp:

- Cái đầu mối anh vừa chỉ ra cho tôi rất quý. Bằng bất cứ giá nào, chúng ta cũng phải tìm cho ra đầu mối này. Anh tiếp tục dò tìm ở đây. Tôi về Sài Gòn để báo cáo lại các đồng chí lãnh đạo và tìm ông Tám qua các cơ sở ở trên đó. Ba hôm nữa tôi sẽ trở lại đây. Khi ấy mong sẽ nhận được ở anh những tin mới nhất về ông Tám “vô tư”.

Sáu Rếp gật đầu và xiết chặt tay Bảy Lương. Nhưng anh không để cho Bảy Lương ra khỏi nhà ngay. Anh giả đò bước ra đường, xong mới báo hiệu cho Bảy Lương trở về Sài Gòn bằng lối sau nhà mình.



* Thầy lang ẩn tích

Các đồng chí lãnh đạo trong Ban Binh vận của Trung ương Cục đều rất mừng và quan tâm đến cái tín hiệu từ đám tang ở Phú Phong. Từ tín hiệu này, lãnh đạo Ban nhất trí: Nguyễn Hữu Hạnh là người có thể để ta bắt mối xây dựng cơ sở, nhưng trước hết phải hiểu rõ và tìm gặp  được ông Tám “vô tư”.

Việc này Bảy Lương đã được hỗ trợ tối đa. Không chỉ có các cơ sở nội thành Sài Gòn-Gia Định của đồng chí Sáu Vũ2 mà các cơ sở binh vận ở tất cả các tỉnh lân cận và vùng Đồng bằng sông Cửu Long đều được lệnh của Ban cùng tìm hiểu, phát hiện. Thuận lợi nữa, đồng chí Tư Chí3 trong lãnh đạo của Ban đã biết Tám “vô tư” khi cùng hoạt động ở Mỹ Tho. Tuy nhiên, do lâu ngày Tư Chí chưa gặp lại ông Tám nên cần phải thẩm tra, nhưng Bảy Lương vẫn một mực tin rằng đây sẽ là một đầu mối đáng tin cậy. Chỉ mong sao bằng tai mắt của cả tập thể đã từng dày dạn kinh nghiệm hoạt động bí mật sẽ sớm tìm thấy người bác họ này của Hạnh.

Điều mong mỏi ấy của Bảy Lương một tuần sau đã thành hiện thực. Không phải đâu xa, chính Z5, một cơ sở ở ngay trong nội thành Sài Gòn, người cùng quê và biết rõ lai lịch, thành tích hoạt động của ông Tám Thành đã phát hiện thấy ông. Ông Tám cũng đang ở ngay trong Sài Gòn. Qua thẩm tra, Z5 biết được đồng chí Tám “vô tư” vẫn đang tiếp tục hoạt động cách mạng nhưng ẩn tích dưới danh nghĩa là một thầy lang coi mạch, bốc thuốc gia truyền khá tín nhiệm.

Theo nguyên tắc hoạt động, Bảy Lương không được trực tiếp gặp Z5. Nhưng qua đồng chí Sáu Vũ đã nghe Z5 báo cáo, anh không chỉ biết rõ lai lịch của thầy lang này mà còn được biết nhiều chuyện cả về mối quan hệ giữa ông Tám và đại tá Nguyễn Hữu Hạnh.

Ông Tám Thành là bác họ đại tá Nguyễn Hữu Hạnh, hơn Hạnh khoảng 10 tuổi. Hồi trên 10 tuổi, Hạnh đã ở nhà bác Tám để đi học. Bác đã từng kèm cặp, dạy Hạnh học thêm và hai bác cháu rất ý hợp tâm đồng. Cách mạng tháng Tám thành công, Hạnh tròn 19 tuổi, anh rất hãnh diện khi nhận được chức thư ký cho bác Tám. Bác lo về quân sự phụ trách Mặt trận Kinh Xáng, đi đâu cũng có khẩu súng sáu rất oai. Lúc ấy Hạnh rất tự hào về ông bác của mình.
___________________________________
1. Đồng chí Nguyễn Tấn Thành tức ông Tám “vô tư” là cha đẻ của đồng chí Nguyễn Tấn Phát, ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo hiện nay.”
2. Bí danh đồng chí Lê Đình Ngoạn.
3. Tức đồng chí Nguyễn Hữu Chí.



Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:49:05 PM

Đầu năm 1946, khi Pháp đã tái chiếm Mỹ Tho, nhiều cán bộ ở đây trong đó có bác Tám đã phải chạy sang Bến Tre. Khi ấy bác không kịp kéo Hạnh đi theo nên Hạnh phải bơ vơ ở nhà với ông nội. Lúc bấy giờ, quân Pháp thường đến ruồng bố ở Phú Phong nên Hạnh phải trốn lên Sài Gòn để tìm việc làm. Chưa tìm được việc làm thì có một người bạn tới lôi kéo rủ vào quân đội Pháp. Nhập ngũ xong, Hạnh được chuyển về cùng một đại đội với Dương Văn Minh.

Thế là từ đó hai bác cháu ở hai trận tuyến chống đối nhau. Ở hai trận tuyến đó thấm thoát đến năm 1954, bác Tám đã là Huyện ủy viên. Còn Hạnh là thiếu tá trong quân đội liên hiệp Pháp. Suốt thời gian ấy hai bác cháu không gặp nhau. Phải mãi mười năm sau, tức năm 1956, bác Tám mới gặp lại Hạnh, nhưng gặp trong một hoàn cảnh thật trớ trêu mà riêng với bác Tám từ quá đỗi ngại đến không khỏi nghi ngờ.

Chẳng là, dạo đó trung tá Nguyễn Hữu Hạnh đang làm Tham mưu trưởng cho đại tá Dương Văn Minh chỉ huy chiến dịch Thoại Ngọc Hầu truy quét quân giáo phái Cao Đài đang chống đối lại Ngô Đình Diệm. Ở đây, Hạnh hay tin bác Tám Thành bị quân của Diệm bắt, đang bị giam trong xà lim tại Khám Lớn Sài Gòn.

Mười năm rồi không gặp lại bác Tám và không biết bác bị bắt trong hoàn cảnh nào, nhưng lý do thì Hạnh biết chắc chắn vì bác đang hoạt động cách mạng. “Thôi lý do gì mình chẳng cần biết nữa, vì đó là lý tưởng và đường đi của bác. Nhưng vì tình bác cháu, nhất là ân nghĩa trước đây, phải tìm cách gỡ cho bác ra khỏi tù”. Hạnh nghĩ vậy, và viên trung tá Tham mưu trưởng chiến dịch đã phải hạ cố tìm đến cấp dưới của mình là đại úy Tiên đang giữ chức Trưởng phòng Nhì ở quân khu của Hạnh.

- Tôi muốn nhờ Đại úy một việc. Tôi có người bà con tên là Nguyễn Tấn Thành đang bị bắt giam ở Khám Lớn Sài Gòn. Nhờ Đại úy đến đó tìm cách lãnh ổng ra giùm tôi.

- Ông Tám có phải Việt cộng không? - Tiên hỏi.

- Từ đầu năm 1946 đến nay, tôi không gặp lại. Trước đó ông là người ở phía bên kia.

- Vậy thì trung tá đừng ra mặt nhận ông là họ hàng, chỉ nhận ông là người cùng quê ở Mỹ Tho thôi.

- Ổng đúng là ở cùng làng, cùng xã với qua.

- Trung tá cứ yên tâm. Tôi đã có cách cứu ông Tám mà Trung tá vẫn đứng ngoài cuộc. Đúng một giờ nữa, tôi xin trình diện tại văn phòng của Trung tá.

Một giờ sau, đại úy Tiên gõ cửa xin phép vào phòng làm việc của Hạnh với tờ công văn đã đánh máy trên tay.

- Xin Trung tá đọc duyệt và ký tên dưới công văn này, còn mọi việc sau đó tôi xin lo liệu.

Hạnh mừng thầm và đọc ngay:

“… Kính gửi Giám đốc Nha Công an Việt Nam Cộng hòa. Bộ Tư lệnh chiến dịch Thoại Ngọc Hầu hay tin quý Nha vừa bắt được một tên Việt cộng là Nguyễn Tấn Thành. Chúng tôi đang cần khai thác gấp những tin tức thuộc khu vực mà bọn giáo phái Cao Đài đang ẩn náu như Mỹ Tho, Cần Thơ. Chúng tôi xin giới thiệu với Giám đốc: đại úy Trần Văn Tiên, Trưởng phòng Tình báo của Bộ Tư lệnh chiến dịch. Xin phép Giám đốc cho đại úy Trần Văn Tiên nghiên cứu hồ sơ. Nếu tên Nguyễn Tấn Thành hiểu biết nhiều về khu vực đang xảy ra chiến sự, chúng tôi hy vọng Giám đốc cho chúng tôi nhận can phạm về khai thác.

TM Bộ Tư lệnh hành quân chiến dịch Thoại Ngọc Hầu


Tham mưu trưởng
Trung tá Nguyễn Hữu Hạnh”

- Đại úy khôn khéo lắm. Rất cám ơn Đại úy.

Hạnh đọc xong, ngước lên mỉm cười nói với Tiên và cầm bút ký ngay vào tờ công văn. Tiên nâng tờ công văn, đứng nghiêm chào Hạnh rồi quay ra xe đi thẳng tới Nha Công an. Quả là đối với uy tín của Bộ Tư lệnh chiến dịch do Dương Văn Minh làm Tư lệnh - người có công chỉ một tháng trong chiến dịch Hoàng Diệu trước đây đã quét sạch được Bình Xuyên, công việc mà suốt 8 năm Diệm không làm được - Tiên đã được viên Giám đốc Nha Công an đón tiếp trọng thị và chấp nhận ngay yêu cầu của Bộ Tư lệnh chiến dịch Thoại Ngọc Hầu theo như tinh thần công văn mà Hạnh đã ký. Ngay tối hôm đó, viên đại úy Trưởng phòng Tình báo của Hạnh đã đưa được bác Tám về Cần Thơ. Nguyễn Hữu Hạnh thầm mừng rỡ và hỏi Tiên với ý thăm dò:

- Đại úy nghĩ sao nếu tôi đưa bác Tám về nhà riêng?

- Thưa, việc này tùy Trung tá. Nhưng ngay bây giờ nếu muốn trả tự do cho bác Tám, tôi sẽ có cách lập hồ sơ.

- Cảm phiền Đại úy tiếp tục giúp tôi việc này. Bây giờ tôi về nhà trước, mười lăm phút sau Đại úy đưa bác Tám tới nhà tôi.

- Xin tuân lệnh!

Tiên rập hai gót giày rồi quay ra xe. Xe của Tiên vừa ra khỏi cổng thì Hạnh cũng tự lái xe về nhà. Anh thông báo với vợ con về sự có mặt của bác Tám ở nhà mình, xong thay quần áo thường phục sẵn sàng chờ.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:52:32 PM

Đúng thời gian quy định, đại úy Tiên đưa bác Tám vào phòng khách nhà Hạnh, xong lẳng lặng quay lui.

Quả là đã “vô tư” như ông Tám, nhưng từ sáng tới giờ ông đã phải hết từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác. Ông không biết vì lý do gì mà ông đang bị giam trong xà lim cấm cố bỗng nhiên bọn công an lôi ông ra và giao cho tình báo quân đội. Rồi vào trại giam quân đội vừa ngồi chưa ấm chỗ, chúng lại đưa ông tới phòng khách sang trọng này. Ông đặt ra nhiều giả thuyết mà chưa tìm ra lời lý giải xác đáng, chỉ còn biết tự nhủ mình: “Hãy giữ vững khí tiết, dù chúng tra khảo dã man hay mua chuộc, dụ dỗ...”.

- Con xin chào bác!

Ông Tám sững người khi thấy Hạnh từ trong nhà bước ra và liền nghĩ ngay: “Đây là màn kịch, phải cảnh giác”.

- A, thì ra đây là tư dinh của anh, trung tá Nguyễn Hữu Hạnh.

- Dạ, đúng đây là nhà con. Xin mời bác Tám ngồi xuống rồi con sẽ thưa chuyện.

- Anh định lãnh tôi về đây khai thác để lập công với tụi nó phải không? Nếu vậy xin mời Trung tá cứ thi hành phận sự dẹp bỏ sa lon mà đem cùm kẹp, máy quay điện và cả máy chém tới đây.

- Thưa bác Tám. Lời dạy của nội con về “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” và câu nói “Đừng làm việc gì mà mình không muốn người khác làm cho mình” con còn nhớ rõ. Con xin thề không động gì tới hoạt động của bác. Con tiếp bác trong gia đình như tiếp bác khi bác nuôi con trước đây, con không muốn vì chuyện gì khác mà tình cảm của hai bác cháu ta rạn nứt.

Nghe Hạnh nói vậy và nhìn vào gương mặt, nhất là đôi mắt, ở đó đang toát lên một tấm lòng đầy chân thực và nhân hậu, đôi mắt đang nảy lửa của bác Tám đã dịu xuống.

- Vậy thì được. Nè bây giờ anh cho ta vào thăm tụi nhỏ được không?

- Dạ, con xin mời bác! - Hạnh đáp lời xong liền đưa ông Tám vô nhà và gọi lũ trẻ ra chào ông Tám.

Mấy đứa con của Hạnh vốn lễ phép lại vừa được Hạnh báo trước “Nhà ta sắp có ông Tám đến chơi. Ông là bác họ của ba và là người đã nuôi ba từ nhỏ, các con phải quý trọng ông” nên bọn chúng đã lần lượt khoanh tay chào ông Tám. Không những thế, chúng còn quây tròn quanh ông ríu rít hỏi chuyện, làm cho ông Tám “vô tư” bỗng nhiên quên hết chuyện mình đang là người tù mà cảm thấy như đang được sống trong cảnh đầm ấm của gia đình khi Hạnh còn nhỏ. Lúc cùng Hạnh quay ra phòng khách, ông mới vỗ vai Hạnh, hỏi:

- Anh có biết tôi là Việt cộng không

- Dạ, biết!

- Vậy không sợ liên lụy sao?

- Con sẽ có cách. Nhưng bác Tám đã quy ước với con là không nói chuyện chính trị cơ mà.

- À, bác quên. Từ giờ phút này ta sẽ thực hiện nghiêm chỉnh quy ước đó.

Hạnh mỉm cười, bởi muốn qua cái quy ước này để bác Tám sống thoải mái trong nhà mình. Ngược lại, Hạnh cũng có ý trong ba ngày bác sống ở đây chính là ba ngày để Hạnh gỡ bác ra khỏi cảnh tù đày. Hạnh đã phải nói khá nhiều để bác Tám hiểu rõ được ý định của mình.

- Bác thông cảm giùm con. Thâm tâm con chỉ muốn cứu bác, nhưng thủ tục rất phiền phức. Việc làm trước tiên để cứu bác là con đã tìm cách lãnh bác từ bên công an về đây. Chuyện này và cả sự hiện diện của bác ở nhà con cũng chỉ có đại úy Tiên và con biết. Tuy vậy con không thể để bác ở lâu ngày tại đây và cũng không thể trả tự do cho bác từ ngôi nhà này. Để được êm thấm, ngày mai con sẽ gửi bác xuống trại tù chính trị ở Cần Thơ. Anh ruột vợ con làm giám ngục tại đó. Anh ấy sẽ bố trí để bác làm bồi bàn lo cơm nước cho anh. Đây là việc làm cần thiết cho hợp lệ và cũng là thời gian chờ đợi để anh ấy lo giấy tờ mà trả tự do cho bác.

Bác Tám ngồi im lặng, bác tin những lời nói này của Hạnh là hoàn toàn thật lòng, không ẩn giấu một mưu mô gì nên đã xúc động nói với Hạnh:

- Đến bây giờ, bác càng hiểu lòng anh hơn. Xin cám ơn anh và mong rằng anh sẽ mãi mãi nhớ lời ông nội của mình như anh đã nhắc lại với bác.

Đây cũng là lời chào của bác đối với người cháu họ của mình trước khi lên xe về trại tù chính trị ở Cần Thơ. Ở đó đúng một tháng, người anh vợ của Hạnh đã lo xong giấy tờ để bác được trả tự do...


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:53:01 PM

Khi nghe Sáu Vũ kể về ông Tám “vô tư” và cả về nơi đang hành nghề của thầy lang này như vậy, Bảy Lương rất mừng. Anh tham khảo ý kiến Sáu Vũ:

- Nghe nói ông Tám này khó tiếp cận lắm. Theo anh nên làm cách nào để làm quen được với ổng?

Sáu Vũ cười:

- Anh cùng người miền Nam với ông Tám, lại vốn là cán bộ đầu ngành ở một tỉnh, thế nào chẳng quen với một hai người cỡ lớn đã hoạt động với ông Tám để bắc cầu. Còn lần đầu đến với ông Tám, tôi nghĩ anh nên đóng giả vai người bệnh đến xin coi mạch, chẩn trị.

- Ý anh hay thiệt đó. Ngay chiều nay tôi sẽ là người bệnh.

Chiều hôm đó, Bảy Lương không ăn uống gì để cho người mệt phờ phạc và cũng bỏ áo quần “ông chủ” đến nơi ở của thầy lang Tám “vô tư”. Anh khấp khởi mừng, bởi đã tìm được chính xác nhân vật mình đang cần gặp và kín đáo quan sát người thầy lang có gương mặt vừa nhân hậu lại vừa kiên nghị khi đợi tới lượt mình vào để thầy hỏi bệnh.

- Nào mời bệnh nhân cuối cùng. Ông bệnh gì?

- Dạ, thưa thầy tôi bị đau ngực, tức thở suốt hai tháng nay, trị thuốc gì cũng không lành.

Ông Tám đặt ba ngón tay lên cổ tay Bảy Lương, nhưng mắt lại tập trung quan sát thần sắc của bệnh nhân. Vừa buông tay, thầy liền nghiêm nét mặt bảo:

- Ông rất khỏe. Tỳ, phế, thận đều tốt, đâu có bệnh gì. Chắc ông đến đây định thử tay nghề của tôi?

- Dạ. Thầy bảo tôi không có bệnh là rất đúng. Nhưng tôi đâu dám đến thử tài của thầy mà chỉ qua vai người bệnh để gặp được thầy về một chuyện khác.

- Tôi chỉ là môn đệ của Lãn Ông, thọ thế để trị bệnh cứu người chứ có biết chuyện gì khác nữa đâu mà ông đến nhờ tôi?

Bảy Lương biết rằng ông Tám “vô tư” đang cảnh giác, sợ bọn mật vụ của địch đến dò xét mình nên anh liền khéo léo lật ngửa bài:

- Thưa đồng chí Tám Thành. Tôi là Bảy Lương ở chỗ anh Bảy Dự và anh Tư Chí. Hôm nay tôi đến gặp đồng chí muốn được đồng chí cộng tác với chúng tôi về việc xây dựng cơ sở Nguyễn Hữu Hạnh. Thưa, đây có thư của anh Tư Chí.

Đã quan sát Bảy Lương, thấy người này không phải dạng mật vụ đến để dò xét mình, lại nghe có thấy thư của Tư Chí, ông Tám “vô tư” liền thay đổi thái độ đôi chút:

- Tư Chí nào nhỉ? Tôi có quen biết ai là Tư Chí đâu?

- Dạ, anh Tư Chí là Nguyễn Hữu Chí cùng hoạt động với bác Tám, có dạo đã là Tỉnh đội trưởng Mỹ Tho và hiện nay là một trong những cán bộ lãnh đạo của Ban Binh vận Miền. Hôm nay, chính anh Tư cử tôi tới đây đề nghị bác cộng tác với chúng tôi bắt mối Nguyễn Hữu Hạnh. Sở dĩ Ban Binh vận có ý định này vì biết bác là bác họ rất có uy tín với Hạnh. Hơn nữa, đại tá Hạnh đã từng không sợ liên lụy dám cứu bác ra khỏi khám Chí Hòa.

Nghe Bảy lương nói đến những điều cốt lõi như vậy, lại đã đọc thư của Tư Chí, tuy chỉ ít dòng ngắn ngủi, nhưng ông Tám đã nhận ra nét chữ và nhất là cái chủ định rất có lợi cho Cách mạng nên đến lúc này ông Tám mới thật tin và bắt đầu cởi mở với Bảy Lương:

- Thôi được, anh về nói với Tư Chí để chuyện này tôi suy nghĩ thêm đã. Bởi lâu nay tôi chỉ có quen với cái việc chữa bệnh tại đây. Nhưng anh đã đến để coi bệnh thì bây giờ tôi sẽ kê cho anh một toa thuốc. Anh ra tiệm thuốc bắc mua về sắc uống hết ba thang rồi đến tôi coi mạch lại cho.

- Dạ, rất cám ơn thầy! Bảy Lương rất mừng, bởi như thế là ông Tám đã nhận lời. Nhưng rõ ràng, ông cho đơn và hẹn ngày đến coi bệnh lại là để che mắt những kẻ tò mò và cũng để ông còn xin ý kiến của Tỉnh ủy Mỹ Tho. Hiểu được ngụ ý đó anh yên tâm lễ phép cáo từ thầy ra về.

- Nhớ uống thuốc đúng giờ, kiêng cữ như tôi đã dặn.

Ông Tám dặn to Bảy Lương để mọi người xung quanh nếu có chú ý đến anh đều nghe rõ khi anh bước ra khỏi nhà.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:53:58 PM

Bảy Lương về rồi, còn một mình, ông Tám mới bình tâm ngồi suy ngẫm lại việc Nguyễn Hữu Hạnh. Ông điểm lại các biểu hiện thuộc về tư chất của Hạnh từ hồi còn nhỏ, về việc cứu ông ra khỏi nhà tù, về chuyện đám tang của cha Hạnh và những chuyện Hạnh nổi sùng với các cố vấn Mỹ bởi lòng tự trọng của một sĩ quan Việt Nam Cộng hòa mà ông đã nghe được. Tổng hợp lại, ông đi đến kết luận: “Hạnh là người nhân hậu, luôn giữ vững khí tiết dòng dõi nhà nho, có tinh thần dân tộc yêu nước, nhưng đã lạc hướng, lầm đường để thực hiện lý tưởng, ta có thể giác ngộ, lôi kéo Hạnh về với Cách mạng”.

Từ kết luận đó, ông đã giả việc đi coi mạch cho người bệnh ở xa nhà, tìm đến báo cáo cấp trên về đề nghị của Bảy Lương. Được trên nhất trí và khuyến khích, ba ngày sau khi Bảy Lương đứng hẹn tới để coi bệnh lại, ông Tám đã tiếp đón anh rất thân tình. Từ đó thầy lang và người bệnh đã như đôi tình nhân đắm mình vào mối tình mới nảy nở cùng bám sát Nguyễn Hữu Hạnh.



* Vượt qua cửa ải vô hình

Các sĩ quan thân cận và lũ lính canh tư dinh của đại tá Nguyễn Hữu Hạnh đều khá quen thuộc với ông Tám “vô tư”. Chuyện Hạnh cứu ông ra khỏi khám Chí Hòa hơn sáu năm trước đây chỉ có đại úy Tiên và anh ruột vợ của Hạnh biết. Nhưng Tiên đã tử trận, còn anh vợ của Hạnh lại ở mãi tận Cần Thơ. Thế nên, tung tích của ông Tám, bọn chúng ở đây hoàn toàn không hay biết. Chỉ biết, đấy là ông bác họ của đại tá mà đại tá rất kính trọng. Chẳng những thế, bọn chúng còn được Hạnh dặn bảo: “Ông Tám là người đã nuôi qua hồi nhỏ. Thỉnh thoảng ổng có vô chơi nhà, phải đón tiếp cho thật chu đáo”.

Có được ưu thế như vậy nên việc ông tiếp cận Nguyễn Hữu Hạnh để cùng với Bảy Lương thực hiện nhiệm vụ với ông chẳng có khó khăn gì. Từ khi ông được Hạnh tìm cách đưa ra khỏi nhà tù, Hạnh vắng nhà ba năm để sang Mỹ học tới lúc cha Hạnh mất, ông mới năng lui tới để chia sẻ, làm nguôi đi nỗi đau buồn của Hạnh. Mỗi lần tới, ông đều được Hạnh tiếp đón thân tình, trọng thị. Nhưng cả hai bác cháu, nhất là Hạnh đều giữ đúng qui ước là “không nói chuyện chính trị”.

Đó là điều khó khăn nhất đối với ông Tám khi tổ chức đã nhất trí để ông chuyển hẳn sang binh vận, nhận sự chỉ đạo của Ban thông qua Bảy Lương.

Hiện tại, bên ta đang có một đồng chí tên Huỳnh Xuân nhập vai trung úy trong quân đoàn của đại tá Hạnh, Xuân mới bị địch bắt trong vụ chuyển vũ khí cho ta do tên H3 phản bội tố cáo. Bác đặt thẳng vấn đề với Hạnh, đề nghị anh cứu Xuân để thử lại xem lương tâm và chí hướng của anh thế nào.

Bảy Lương gợi ý bác Tám, để từ việc này mà đánh giá lại Hạnh. Nếu Hạnh nhận lời và cứu được Xuân, từ đó sẽ tiếp tục các bước sau.

- Để tôi thử xem sao.

Bác Tám nhất trí với Bảy Lương và hôm sau đến chơi, bác đã đưa chuyện đó ra, đề nghị Hạnh giúp.

Hạnh hơi bất ngờ, bởi lâu nay bác Tám tới chơi, trong câu chuyện trao đổi giữa hai bác cháu chỉ xoay quanh chuyện gia đình. Còn xã hội có nói đến cũng chỉ là chuyện rất chung. Tuy vậy do vì kính nể bác Tám, Hạnh đã không từ chối. Sau ít phút suy nghĩ, Hạnh nói:

- Việc này con có biết. Cùng đi nhận vũ khí rồi móc nối với du kích trao toàn bộ cho họ còn một thiếu úy nữa, nhưng viên thiếu úy này đã trốn thoát. Bây giờ vụ Huỳnh Xuân, Tòa án binh sắp đưa ra xử. Sự vụ không còn thuộc quyền của con. Nhưng bác Tám yên tâm. Con sẽ nhờ luật sư quen biết bào chữa cho Xuân.

Ông luật sư mà Hạnh nhờ bào chữa quả là rất tài trí. Ông cho Xuân cứ giữ nguyên lời cung đổ tội cho viên thiếu úy đã trốn thoát và làm một cái đơn kể lại đã có công tháp tùng bảo vệ cho đại tá Hạnh mấy lần thoát chết. Hạnh đã chứng thực vào lá đơn này. Với lời cung khai nhất quán và công tích này, Tòa đã xử Xuân trắng án.

Sau vụ Huỳnh Xuân, mặc dầu Hạnh không bị liên lụy gì, việc nhờ luật sư rất kín đáo, nhưng Bảy Lương được chỉ thị của Ban sẽ không được phiền Hạnh những chuyện tương tự mà để dành vào những việc có tầm cỡ lớn hơn. Cũng từ đây đồng thời những câu hỏi đã được đặt ra:

“Hạnh làm việc này vì động cơ gì? Vì kính nể bác Tám, vì đã có cảm tình với Cách mạng, bởi Hạnh biết rõ Xuân là người của ta, hay chỉ vì lòng nhân hậu muốn cứu người?”. Kính nể bác Tám thì rõ rồi. Còn câu hỏi sau, cả Bảy Lương và bác Tám đều chưa dám khẳng định.

Phải có lời đáp chính xác cho câu hỏi này mới đi đúng được nước cờ tiếp theo trong phương cách lôi kéo Hạnh.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:54:34 PM

Để có lời giải đáp, bác Tám lại phải xuất quân sau khi đã bàn bạc kỹ về phương cách với Bảy Lương. Lần này, bác tới nhà Hạnh với lợi thế là qua vụ Huỳnh Xuân, cái quy ước trước đây gần như đã ngầm được xóa bỏ. Hạnh không lảng tránh việc bác nói tới vài chuyện về thế sự và còn có ý muốn được thanh minh với bác về những việc bắt buộc mình phải làm theo phận sự. Nắm bắt được tâm lý đó, bác liền khéo léo gợi chuyện để Hạnh bộc lộ quan điểm của mình qua phân tích thời cuộc.

“Bác ơi, con nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Sau trận Điện Biên Phủ, Pháp đâu có muốn rút khỏi Việt Nam.Họ đưa Bảo Đại lên làm Quốc trưởng, Nguyễn Văn Tâm làm Thủ tướng, Nguyễn Văn Hinh con trai Tâm làm Bộ trưởng Quốc phòng cùng với những tay thân tín của Pháp vô trong Chính phủ của Tâm chính là để tiếp tục duy trì quyền thống trị của Pháp ở Việt Nam. Nhưng khi đó Pháp đã thất bại, lại lệ thuộc vào Mỹ nên ngày 7 tháng 7 năm 1954 Mỹ đưa Ngô Đình Diệm - cựu đại thần thân Mỹ về nước rồi bằng nhiều mưu chước để thay thế Bảo Đại. Con ủng hộ ông Diệm vì ông ấy có tinh thần dân tộc đòi Pháp rút hết kể cả quân đội ra khỏi Việt Nam. Khi quân Pháp rút hết, ông ta đã dẹp tan được các giáo phái, xây dựng quân lực Việt Nam Cộng hòa mạnh lên rất nhanh, có nhiều chính sách để biểu hiện là một quốc gia độc lập. Nhưng từ khi ông Diệm trở mặt rước Mỹ vô, hô hào Bắc tiến, ra luật 10/59 lê máy chém đi gây nên bao cảnh thương tâm khắp miền Nam thì bọn con hết tin. Thì ra, ông ta bài trừ Quốc trưởng để mình lên làm vua theo lối độc tài gia đình trị. Ông đuổi Pháp đi là để rước Mỹ vô và theo ý Mỹ lập hai đảng cho có dân chủ, nhưng lại bóp chết đảng của Phan Quang Đán. Ông và Ngô Đình Nhu - em trai ông ta - đã gian manh, ác độc hết chỗ nói. Ông Dương Văn Minh là người có công lớn, chỉ trong một tháng đã dẹp tan phái Bình Xuyên để ông ta ngồi yên trên ghế Tổng thống, vậy mà ngay sau đó vì sợ uy tín của ông Minh, anh em ông ta đã tìm cách tước hết mọi quyền hành của ông Minh. Còn với phái Cao Đài ông ta đã bày kế dụ được Trịnh Minh Thế ra hàng, nhưng sau đó liền bí mật thủ tiêu Thế. Giết xong lại truy phong Trung tướng và cho làm tang lễ rất lớn rồi xây mộ bề thế ở chân núi Bà Đen để lừa mị tín đồ, che mắt thế gian.

Diệm, Nhu được Mỹ cưng bế đưa tận Hoa Kỳ về và làm nhiều sự kiện thất nhân tâm để Mỹ có thể cắm rễ sâu ở Việt Nam như thế, nhưng đến khi tỏ ra cứng đầu không phục tùng, Mỹ thủ tiêu ngay.

Giết Diệm, Mỹ đưa Dương Văn Minh lên. Nhưng chỉ được mấy tháng ông Minh lại bị Nguyễn Khánh lật đổ.

Vì sao? Nội tình này con biết rõ. Cũng vì ông Minh không tuân theo ý đồ của Mỹ. Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính để nhanh chóng truất bỏ vị trí của ông Minh ở cái ghế này là cuộc gặp gỡ giữa ông Minh với MacNamara, Bộ trưởng Quốc phòng và Harkins, Đại sứ Mỹ ở Miền Nam.

Trong cuộc gặp gỡ ấy, MacNamara đã đề nghị: “Tướng Dương Văn Minh dùng không quân của Việt Nam Cộng hòa thả bom nổ chậm xuống các cơ sở kinh tế ở miền Bắc”. Ông Minh đã trả lời: “Làm như vậy hoạt động chống đối ở khắp miền Nam sẽ tăng lên”. Không được chấp nhận việc đó, MacNamara lại đề nghị: “Cho thả bom phá đê sông Hồng”. “Sao lại làm thế? Tôi cho rằng hành động đó là vô nhân đạo, vì người dân miền Bắc bị chết đói do hậu quả vỡ đê cũng là người Việt Nam”.

Kết quả sau cuộc gặp gỡ này là Mỹ đã ra tay bằng cách đạo diễn cho Nguyễn Khánh đảo chính lật đổ ông Minh. Chín tháng sau, tướng trẻ mới 36 tuổi Nguyễn Khánh đã từng được Taylor khen là “Mỹ con, người Mỹ da vàng”, lại bị Mỹ chê là võ biền, làm xấu mặt cả nước Mỹ nên dã buộc Khánh phải trao quyền cho Phan Khắc Sửu.

Đấy bác Tám đâu có hiểu rõ nội tình Mỹ và các Tổng thống Việt Nam hơn con. Mỹ bỏ đô la ra, ai có lợi cho Mỹ là cho lên làm Tổng thống, không dùng được nữa thì giết và phế truất đì. Trong quân đội, các cố vấn Mỹ đều là cố nội, hống hách, tiếm quyền, coi thường sĩ quan Việt Nam Cộng hòa. Vì thế, con ghét Mỹ lắm. Chúng là ngoại bang như thằng Tây Ma-rốc trước kia đã méc-xà-lù ông nội con dẫn đến thấy bị nhục quá mà ông nội con phải tự vẫn. Nhưng con đâu có chịu chết thảm như nội con. Con sẽ tìm cách để loại trừ được Mỹ ra khỏi nước ta. Để thực hiện được chí hướng đó, con đường con đang đi là đúng. Ở đây tụi con đã tranh thủ được viện trợ Mỹ, vũ khí Mỹ, kiến thức Mỹ để rồi quất lại Mỹ. Hiện giờ tụi con đang chờ thời cơ để làm việc đó...”.

Lãnh đạo Ban Binh vận đã phân tích kỹ nội dung buổi trò chuyện này và thống nhất nhận định: “Hạnh là một sĩ quan có trí thức, trình độ và có tinh thần dân tộc. Hạnh đã thấy bộ mặt thật của Mỹ, đang ghét Mỹ và những kẻ trong cùng hàng ngũ với mình đang cúc cung, tận tụy ôm chân Mỹ mà với mục đích ích kỷ đã làm những việc tán tận lương tâm với đồng bào, dân tộc để được vừa lòng Mỹ, nên đang nuôi ý chí chống Mỹ và đang chờ thời cơ để hành động.

Đó là mặt tích cực ở Hạnh. Nhưng mặt tích cực đó nếu như không có chỗ dựa vững chắc và nếu Hạnh manh động sẽ bị chính kẻ mà Hạnh đang căm ghét bóp chết ngay. Chỗ dựa đó không có lực lượng nào khác là Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Hạnh chỉ có cộng tác với Mặt trận mới không đơn độc và mới thực hiện tốt đẹp ý nguyện của mình khi có thời cơ. Còn đường đi thì không thể coi là đúng. Nó chỉ là chỗ đứng tạm thời, là cơ hội để Hạnh dùng viện trợ Mỹ, vũ khí Mỹ, kiến thức Mỹ mà quật lại Mỹ, nếu như Hạnh đã đứng trong cùng đội ngũ của nhân dân để chống Mỹ cứu nước...”.

Từ nhận định trên đây, đồng chí Tư Chí đã gặp cùng một lúc cả Bảy Lương và Tám Thành trao tiếp nhiệm vụ cho hai đồng chí đã từng dày công xây dựng được cơ sở này. Nhiệm vụ tiếp đó đồng chí Tư Chí đã nhấn mạnh: “Phải tiếp tục bám sát Hạnh để giác ngộ cách mạng, chỉ ra hướng đi cho Hạnh như lãnh đạo của Ban đã nhận định và đề ra. Đặt thẳng vấn đề yêu cầu Hạnh cộng tác với Mặt trận Dân tộc Giải phóng, thực chất là với Cách mạng. Khi Hạnh đã chấp thuận, sẽ từng bước đặt ra những yêu cầu cụ thể như:

Cung cấp cho ta những tin tình báo quan trọng.

Hạn chế xua quân đi càn quét ở vùng giải phóng. Nếu bị bắt buộc thì sẽ báo trước cho ta và huy động số quân ít nhất, trong thời gian ngắn nhất.

Nếu cần có một “quả bom chính trị” nổ giữa Sài Gòn, sẽ sẵn sàng tham gia Chính phủ Quốc gia nếu như người đảo chính là Dương Văn Minh, hoặc một người tiến bộ nào khác.

Để thực hiện được nhiệm vụ này, đồng chí Bảy Lương đã phải từng bước vạch ra đường đi nước bước, đồng chí Tám Thành đã không biết bao lần phải tới thăm Hạnh và trò chuyện với người cháu họ của mình. Cả hai đã phải vượt qua biết bao nguy hiểm, kiên trì, lăn lộn bám sát mục tiêu suốt 5 năm trời. Từ chấp thuận một, hai yêu cầu của bác, mãi tới 1969 khi Nguyễn Hữu Hạnh được phong hàm chuẩn tướng, vị Phó Tư lệnh Quân đoàn 4 và Quân khu 4 này mới hoàn toàn chấp thuận cộng tác với Cách mạng. Chỉ có yêu cầu sẽ làm quả bom chính trị nổ giữa Sài Gòn là Hạnh từ chối. Anh nói với bác Tám:

- Bác hiểu cho con, phía sau con còn vợ và hơn mười đứa con. Bọn Mỹ-Thiệu sẽ không để yên cho họ khi con đã hành động rồi đi ra vùng giải phóng.

- Bác hiểu, thực ra yêu cầu ấy lúc này cũng không cần thiết nữa. Cháu còn phải cần đến những việc lớn hơn nhiều.

Bảy Lương đã hoàn toàn nhất trí với ý kiến đó của bác Tám. Trải qua bao công phu, bây giờ mới kéo được Hạnh sang vòng tay của mình, từ thời điểm này anh cũng rất hạn chế đặt ra các yêu cầu đối với Hạnh. Anh thận trọng bảo vệ để dùng cơ sở này vào việc có giá nhất.

Cũng từ đây, Hạnh đã chính thức mang biệt danh S7. Nhưng với ước mong lớn, anh đã thường quên biệt danh đó, bởi anh đã thầm đổi lại tên S7 là Sao Mai cho mình.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:55:17 PM

* Tưởng đã “dã tràng”

Vào hạ tuần tháng 10 năm 1969, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh dẫn một toán quân đi thanh trừng Việt cộng ở Vĩnh Long. Cùng đi bên cạnh Hạnh là một đại tá cố vấn Mỹ, cấp phó là John Pauval, cố vấn trưởng quân đoàn. Cuộc hành quân đã kéo dài suốt từ sáng tới chiều vẫn không gặp được Việt cộng để thanh trừng. Thấy binh lính đã mỏi mệt và một số đã thương vong do vấp phải mìn, Hạnh ra lệnh rút quân. Thấy thế, viên đại tá Mỹ hậm hực hỏi Hạnh:

- Tại sao ông không hỏi ý kiến tôi khi ra lệnh rút quân?

- Tôi là chuẩn tướng Phó Tư lệnh Quân đoàn, chỉ huy cao nhất trong cuộc hành quân này!

Viên đại tá Mỹ càng tức tối:

- Ông đã giải vây cho Cộng sản khi chúng ta sắp quặp được chúng?

Hạnh trừng trừng nhìn thẳng vào tên Mỹ:

- Ông không được nói năng càn bậy. Ông không thấy phía trước đó là những ấp đời mới mà quân lực Việt Nam Cộng hòa có trách nhiệm bảo vệ hay sao?

Từ lúc ấy, Hạnh không thèm nói thêm một lời nào với tên Mỹ và khi về đến bản doanh, Hạnh đã phóng xe đến tận nhà riêng của John Pauval trình bày và tuyên bố không cộng tác với viên đại tá đó.

Là người thâm thúy, John Pauval đã cho đổi ngay viên đại tá đó đi nơi khác, nhưng sự vụ đó cũng liền đến tai Nguyễn Văn Thiệu.

Trải qua bao đời Tổng thống được Mỹ xếp đặt tới giờ, Thiệu là người giữ được chiếc ghế này lâu nhất. Cũng dễ hiểu, bởi Thiệu được Mỹ ưng ý nhất. Ngô Đình Diệm bị giết vì không chấp thuận cho Mỹ đổ quân vào Việt Nam thì Thiệu đã hăng hái làm việc đó. Dương Văn Minh bị đổ sau cuộc gặp MacNamara bởi không đồng ý ném bom phá đê sông Hồng thì Thiệu đã đồng tình với Mỹ mà cổ vũ Nguyễn Cao Kỳ cho máy bay vượt vĩ tuyến 17 ra ném bom Đồng Hới để mở màn cho cuộc oanh kích miền Bắc của không quân Mỹ.

Thiệu là như thế nên việc rút quân sớm, bất hợp tác với viên đại tá Mỹ của Hạnh, Thiệu đã ghi thêm một chấm đen nữa trong lý lịch của Hạnh. Với Hạnh, Thiệu - một tên lừa thầy phản bạn sống rất lươn lẹo này - đã không ưa Hạnh ngay từ khi cùng học ở trường đào tạo sĩ quan, bởi tính Hạnh cương trực lại có nhiều ưu thế hơn Thiệu. Tới khi cùng là trung tá dưới quyền Dương Văn Minh, Hạnh được Minh tin dùng hơn, Thiệu đã ghen ghét nhưng lúc đó chỉ biết ngậm bồ hòn...

Với bản chất gian manh, lại vốn ghen ghét Hạnh từ xa xưa như thế nên từ khi được Mỹ cất nhắc lên làm Tổng thống, Thiệu đã thả sức gây cho Hạnh bao nỗi thăng trầm.

Hạnh không bao giờ được làm cấp trưởng, không được ngồi lâu ở đâu ấm chỗ và khăm nhất là Thiệu thường xuyên điều Hạnh đi làm cấp phó cho những sĩ quan trước đây vốn là cấp dưới của Hạnh. Khi Hạnh đang làm phó cho Nguyễn Viết Thanh cai quản vùng Đồng bằng sông Cửu Long được Thanh vị nể, vì từng là cấp trên của mình thì Thiệu liền điều luôn Hạnh lên Tây Nguyên làm thuộc hạ cho Ngô Du - một chúa tể sơn lâm và trùm áp phe khét tiếng hoàn toàn không hợp với Hạnh.

Thế là Hạnh phải xa vùng đất có thể vùng vẫy. Ở đó, khi có thời cơ Hạnh có thể có trong tay một quân đoàn để hành động hoặc ít ra cũng ghìm chân cả quân đoàn này lại như hồi tướng Dương Văn Minh đảo chính lật đổ Diệm. Ngày đó, Hạnh chưa bắt tay với Cách mạng nhưng vì ủng hộ Dương Văn Minh mà Hạnh đã đạo diễn cho viên Tư lệnh làm việc ấy. Bên cạnh việc phải xa vùng đất này, điều trăn trở nữa với Hạnh là lên Tây Nguyên, Hạnh đã không còn điều kiện để lui tới đàm đạo với Dương Văn Minh (vì sức ép của Mỹ, Thiệu đã phải cho Minh về nước không còn phải sống lưu vong).

Trong những tháng ngày ảm đạm của Hạnh hồi năm 1973 này, bác Tám “vô tư” lại phải lặn lội lên tận Tây Nguyên để thăm Hạnh. Hạnh cũng thấy đỡ cô đơn và vui hơn khi bác nói cho Hạnh biết những chuyển biến quan trọng của cuộc chiến đang rất có lợi cho Cách mạng khi quân Mỹ đã phải rút hết về nước theo Hiệp định Paris. Cũng qua gợi ý của bác mà Hạnh đã yên tâm và có những kế sách để thực hiện ý nguyện của mình từ vùng đất Tây Nguyên này.

Nhưng Hữu Hạnh lần nứa lại bất hạnh. Khi đốm lửa lần này vừa le lói lên thì cả một thùng nước đã dội xuống. Ngày 15 tháng 5 năm 1974, đột nhiên Hạnh nhận được quyết định về hưu do Thiệu ký khi Hạnh mới ở tuổi 48.

Cuối tháng 5, bác Tám về Cần Thơ thấy Hạnh nhàn nhã ở nhà thì thấy làm lạ. Bác đã sững sờ khi Hạnh chìa ra quyết định ấy, Bảy Lương và cả các đồng chí lãnh đạo Ban Binh vận đều không khỏi buồn. Anh than phiền với bác Tám:

- Vậy là công lao của anh em mình bao năm, giờ thành công cốc!

Nhưng đó chỉ là suy nghĩ khi Bảy Lương vừa bị cú sốc mạnh. Sau cú sốc này không lâu, từ phân tích thời cuộc, anh đã thấy vẫn còn hy vọng, và đúng lúc ấy, các đồng chí lãnh đạo của Ban đã chỉ thị cho anh:

- Phải động viên S7 giữ vững tinh thần, bình tâm chờ đợi thời cơ mới. Theo xu hướng của thời cuộc, có nhiều khả năng Dương Văn Minh sẽ trở lại chính trường. S7 luôn luôn sẵn sàng nhảy vào cuộc khi Dương Văn Minh lên nắm quyền.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:55:39 PM

Cũng như mọi khi, Bảy Lương không trực tiếp gặp Nguyễn Hữu Hạnh. Việc truyền đạt và phân tích tình hình chỉ thị sẵn sàng “nhảy vào cuộc” cho Hạnh lại do bác Tám đảm nhiệm. Chính Hạnh khi chưa gặp bác Tám lần này cũng tự thấy: do thất bại liên tiếp về quân sự, do uy tín ảnh hưởng và lực lượng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngày càng lớn mạnh, do sức ép mạnh mẽ của dư luận cả trong và ngoài nước đòi Thiệu phải thay đổi chính sách, chấp nhận các yêu cầu của lực lượng hòa hợp, hòa giải dân tộc và lên án mạnh mẽ Thiệu về tội tham nhũng, buôn lậu nên Thiệu đang rất lúng túng. Còn Mỹ từ khi cho Dương Văn Minh về nước, tuy rằng không ưa ông Minh, nhưng bây giờ thấy ông Minh đang có nhiều uy tín cả trong giới quân sự, nên đã hé mở rõ chủ định sẽ dùng Minh làm con bài dự trữ để thay thế Thiệu khi Thiệu đã hết vai trò... Nghĩ vậy, Hạnh nói với bác Tám:

- Con sẽ làm theo ý bác. Về hưu con cũng có thuận lợi là được tự do và có thời gian. Với chế độ đãi ngộ cấp tướng, con vẫn còn được cấp xe hơi, vẫn còn có lính hầu, lính bảo vệ, lính lái xe, từ nay con sẽ năng lên Sài Gòn thăm viếng ông Minh để tình nghĩa vừa là thầy vừa là bạn giữa ông ấy với con ngày càng thắm thiết hơn.

- Các cụ xưa có eâu: “Trong cái rủi lại có cái may”. Biết đâu việc về hưu của anh lại là một cơ hội tốt. Anh nên tận dụng hết lợi thế đang có của mình.

Ông Tám cổ vũ Hạnh. Và ông không ngờ rằng sự mong đoán ấy đã nhanh ứng nghiệm bằng việc ông tới gấp để truyền đạt chỉ thị của Ban cho Hạnh khi ta đã mở màn chiến dịch mùa Xuân 1975 bằng chiến thắng vang động giải phóng Buôn Ma Thuột. Khi ông tới Cần Thơ, Thiệu vừa ra lệnh cho quân ngụy rút khỏi Tây Nguyên. Trong những ngày này, không khí ở Sài Gòn đang sôi động đòi Thiệu phải từ chức. Tại Pháp, một nhân vật cao cấp trong Chính phủ Pháp đã gặp bí mật Trần Văn Đôn. Đôn bay về Sài Gòn gặp hai đại tướng Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm và tướng Minh cùng với Khiêm đã ra tuyên bố đòi Thiệu từ chức. Nguyễn Bá Cần và Nguyễn Văn Hảo, Thủ tướng và Phó Thủ tướng cũng công khai ủng hộ tuyên bố của Minh - Khiêm, nhưng Thiệu vẫn không chịu, chỉ nao núng. Bác Tám đặt ra cho Hạnh một loạt câu hỏi:

- Quân ngụy còn khả năng chiến đấu tới đâu?

- Còn, nhưng coi như đã gãy xương sống khi đã phải rút chạy, bỏ mất Tây Nguyên.

- Tụi nó giải thích Phước Long bị ta chiếm là do chậm trễ trong việc điều quân cứu viện, ý kiến anh thế nào?

- Láo! Tụi nó đâu còn lực lượng để cứu viện. Bộ Tổng tham mưu có hai sư dù và thủy quân lục chiến để làm tổng trù bị thì cả hai đang mắc kẹt nằm ở Quảng Trị và An Lỗ - Thừa Thiên. Còn sư biệt động là lực lượng bảo vệ Sài Gòn thì đâu dám điều đi.

- Thiệu có buộc phải rút lui không?

- Nếu Thiệu rút, tụi nó kể như hết. Muốn Thiệu rút nhanh phải có áp lực mạnh, nhất là áp lực về quân sự. Nếu có áp lực của Quân giải phóng trên các ngả đường vào Sài Gòn thì sẽ thúc đẩy ngụy quyền mau sụp đổ.

- Ai sẽ lên thay Nguyễn Văn Thiệu?

- Con rất mong ông Dương Văn Minh, song chưa chín muồi.

- Vì sao?

- Vì người Mỹ chưa bỏ phiếu ngay cho ông ta, bởi chê ông ta không biết làm chính trị, lại thân Pháp và có em ruột là đại tá Việt cộng, mặc dù ông được lòng cả phái quân sự và dân sự. Họ vẫn đặt ông Minh là con bài quan trọng trong bàn cờ và chúng chỉ chịu đưa ông lên khi không còn ai hợp hơn. Hơn nữa, Thiệu không muốn giao quyền cho ông ta.

- Vì sao

- Vì Thiệu từng làm tình làm tội ông Minh. Trao quyền, Thiệu sợ ông ta sẽ trả thù, khi Thiệu ra đi cần phải có một chuyến bay riêng chở vàng bạc châu báu đã vơ vét được qua 10 năm cầm quyền và cầm đầu các vụ buôn lậu.

- Bao giờ anh đến gặp ông Minh trong dịp này?

- Con sẽ gặp khi ông ta lên cầm quyền.

Ông Tám tỏ ra hài lòng trước những câu trả lời của Hạnh. Ông coi đây như buổi kiểm tra cuối cùng trước khi trao nhiệm vụ cho Sao Mai vào trận. Tới lúc này ông mới truyền đạt chỉ thị của lãnh đạo Ban Binh vận qua Bảy Lương ông đã tiếp nhận được cho Hạnh:

- Tình hình chiến sự trong cuộc Tổng tiến công giải phóng miền Nam đang diễn biến rất mau lẹ. Cuộc chiến hoàn toàn có khả năng sẽ kết thúc như anh đã hiểu. Thiệu phải đi là điều tất yếu. Mỹ dù không ưa nhưng sẽ không thể cưỡng lại được việc đưa Dương Văn Minh lên thay thế. Đây sẽ là thời cơ tốt cho anh tận dụng lợi thế để thực hiện ý nguyện của mình. Bởi thế, theo chỉ thị của Ban Binh vận, khi ông Dương Văn Minh lên cầm quyền, anh phải lên ngay giành lấy vị trí quan trọng, xúc tiến việc đầu hàng của ngụy quyền càng nhanh càng tốt, cố tránh đổ máu. Chúng ta đã cùng trồng cây bây giờ ngày hái quả sắp đến. Mong anh hãy vượt qua những thử thách cuối cùng để giành được thắng lợi lớn nhất.

- Dạ thưa bác, nếu có được thời cơ như bác cháu ta mong muốn, con sẽ gắng sức hoàn thành xuất sắc sứ mạng của mình để xứng đáng với công lao và lòng mong đợi của các bác và các anh.

Hạnh hứa với bác Tám, hai ánh mắt đầy hy vọng cùng gặp nhau và chưa bao giờ hai bác cháu cùng xiết chặt tay nhau như lần này.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:59:17 PM

* “Sao Mai” vào trận

Trong cuộc đời binh nghiệp trải qua bao buồn vui, thăng trầm, chưa bao giờ Nguyễn Hữu Hạnh sống trong tâm trạng náo nức, phấp phỏng chờ đợi để bước vào trận với những hy vọng lớn như những ngày này. Nếu như trước đây, kể từ ngày tự nguyện hoàn toàn đứng hẳn sang hàng ngũ của nhân dân, nghe tin thắng lớn của Quân giải phóng, trái tim Hạnh đã đập dồn rung động thì giờ đây không chỉ có thế, nó đã rộn lên và Hạnh còn náo nức hơn cả mở cờ trong bụng khi nghe tin 5 cánh quân lớn của quân ta tiến như vũ bão áp vào Sài Gòn; tin Thiệu buộc phải từ chức ra đi; tin lão già lẩm cẩm 73 tuổi Trần Văn Hương khi mới lên thay Thiệu đã thề: Cương quyết tử chiến, dù phải hy sinh đến nắm xương tàn, nhưng chỉ sau ba ngày bây giờ đã phải chịu để cho hai viện chọn lựa Tổng thống. Trong thâm tâm, Hạnh nhận thấy thời cơ đã đến với mình ngay từ khi Thiệu ra lệnh rút khỏi Tây Nguyên. Từ hôm bác Tám trao nhiệm vụ lần cuối cùng, thời cơ ấy càng rõ. Cho tới khi Hạnh thấy Thiệu xuất hiện trên vô tuyến truyền hình vì Mỹ buộc phải từ chức với lời lẽ đầy hậm hực, kiểu hàng tôm hàng cá, chửi lại quan thầy Mỹ là phản bội, rồi tới giờ khi Trần Văn Hương buộc phải để lưỡng viện chọn Tổng thống mong cứu vớt tình hình thì thời cơ đã là chắc chắn. Mỹ phải đi đến nước cờ này thì giữa ông Dương Văn Minh và Trần Văn Lắm, Chủ tịch Thượng nghị viện, hai người này chắc chắn ông Minh sẽ đắc cử. Như vậy, cái thời cơ để chuộc lại xứng đáng lỗi lầm suốt mấy chục năm đi theo Pháp rồi theo Mỹ chống lại nhân dân và thời cơ được thiết thực đóng góp vào sự nghiệp giải phóng đất nước và được hưởng niềm vinh quang làm một người Việt Nam đích thực đã ở trong tầm tay.

Hạnh náo nức, mừng vui khôn xiết. Anh đã định lên Sài Gòn nhưng thấy lên sớm sẽ rất dễ bị phe cánh của Thiệu tiêu diệt. Còn bây giờ lúc 9 giờ ngày 27 tháng 4 này, sau khi nghe tuyên bố của Hương thì Hạnh càng đứng ngồi không yên. Anh liền gọi điện thoại cho trung tá Đẩu, Chánh văn phòng của đại tướng Dương Văn Minh.

- Alô, alô, Trung tá Đẩu đấy phải không? Tôi, Nguyễn Hữu Hạnh đây. Trung tá cho tôi gửi lời chào Đại tướng.

- Đại tướng cũng vừa nhắc đến Chuẩn tướng. Đại tướng đang bận lắm, hẹn Chuẩn tướng có mặt ở Sài Gòn ngày 29. Không cần lên ngay ngày mai, ngày mai 28 vẫn còn sớm.

Vì sao ngày 28 vẫn còn sớm? Hạnh đoán biết ông Minh lúc này đang tập trung dành được phiếu của lưỡng viện và chưa muốn công khai hết những người thân tín của mình. Nhưng nghe theo Đẩu thì chậm trễ, Hạnh không thể chờ đến ngày mai. Ngay đêm 27, Hạnh đã bảo vợ con, lính hầu, lái xe chuẩn bị đầy đủ cho cuộc hành trình và lên đường từ sớm ngày 28. Trên đường đi Hạnh rất vui khi nghe đài phát thanh Sài Gòn loan báo: Hai viện đã biểu quyết để Dương Văn Minh lên làm tổng thống với số phiếu áp đảo 135/150. Hạnh muốn có mặt thật sớm ở Sài Gòn. Nhưng lộ 4 bị cắt đứt ở đoạn Long An, xe của Hạnh phải đi vòng xa hơn theo ngả Mỹ Tho-Gò Công-Sài Gòn. Dọc đường, bao lần xe phải dừng lại để tránh pháo sáng và cũng bao lần Hạnh phải xuống xe đưa tấm thẻ cấp tướng ra trình mới qua được những điểm chốt, những chỗ xe cộ và binh lính của Thiệu đang tranh nhau đường đi gây ùn tắc. Vất vả lắm tới 6 giờ chiều Hạnh mới đến được Sài Gòn. Lúc này đứng trên sân thượng ngôi nhà người bạn cùng một quận với nhà Dương Văn Minh, quan sát Sài Gòn sắp bắt đầu vào giờ giới nghiêm, Hạnh thở phào: Nếu ngày mai mới đi chắc là không thể lên đây được! Hạnh thầm nghĩ thế và cũng nghĩ ngay đến cách ra mắt Dương Văn Minh ngày mai.

Sáng sớm ngày 29 tháng 4, Hạnh đến nhà riêng Dương Văn Minh ở số 3 Trần Quý Cáp, bởi văn phòng của ông Minh còn ở đây chưa chuyển về dinh Độc Lập. Thấy Hạnh, trung tướng Mai Hữu Xuân phụ trách sự vụ Phủ Tổng thống bắt tay rồi bảo Hạnh:

- Đại tướng đang bận họp, Chuẩn tướng chờ một chút.

Ngồi chờ ở phòng khách, Hạnh được Xuân cho biết:

- Tình hình rất đang căng thẳng. Thế mà hồi 5 giờ chiều, Cao Văn Viên, Nguyễn Cao Kỳ và linh mục Trần Hữu Thanh còn định làm đảo chính. Ông Thanh xin yết kiến Đại tướng để thay mặt cho Viên và Kỳ đòi Đại tướng phải để cho bốn bộ Quốc phòng, Nội vụ, Kinh tế, Tài chính trong Chính phủ, nhưng Đại tướng kiên quyết không chấp nhận.

- Lạy chúa, ông Viên đang nắm quân đội! Hạnh thốt lên và cảm thấy lo lắng nếu cuộc đảo chính lại thực sự diễn ra vào lúc này.

Dương Văn Minh trong bộ đồ ký giả bệ vệ, nhưng nét mặt đầy ưu tư xuất hiện. Hạnh đứng lên:

- Kính chào Đại tướng! Tôi được điện triệu tập của Trung tá Đẩu xin trình diện Đại tướng.

Minh chìa tay về phía Hạnh:

- Tốt lắm! Toa đến đúng lúc đó. Tình hình đang rất nan nguy và rất khẩn cấp.

Hạnh thấy yên tâm về cách ra mắt của mình, đang định có vài lời thăm hỏi sức khỏe Minh thì Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Huyền và tiếp đó một sĩ quan vào báo có Mê-ri-dông, Đại sứ Pháp đến. Hạnh phải qua phòng bên để Minh và Huyền tiếp Mê-ri-dông. Ở đây Hạnh cũng nghe rõ Mê-ri-dông thông báo: Tổng trưởng Ngoại giao Pháp đã liên lạc với Hà Nội về việc thương thuyết, nhưng Hà Nội trả lời: “Rất tiếc đã quá trễ rồi!”.

Nghe tới đó và nghĩ tới chỉ thị của Ban Binh vận, Hạnh thấy mình cần có ngay những hành động kịp thời trước tình hình mới. Trong khi đó, lúc Mê-ri-dông về rồi, Minh và Huyền đang trao đổi nhất trí tuyên bố thả ngay tù chính trị và đuổi Mỹ (phái đoàn quân sự Mỹ) ra khỏi miền Nam trong vòng 24 giờ. Hạnh nghĩ: Thực ra, trước sức tấn công như vũ bão của Cách mạng, không đuổi thì Mỹ cũng phải tháo chạy. Hành động này chỉ nhằm vớt vát chút hy vọng về một giải pháp chính trị đã quá muộn mằn. Anh liền mở cửa bước ra vì cả ba đã biết nhau.

- Toa đã nghe nội dung moa và ông Huyền vừa bàn?

Tướng Minh hỏi Hạnh. Hạnh tránh trả lời câu hỏi vì không muốn phê phán hành động vớt vát và giải pháp chính trị đó mà khéo léo đi ngay vào vấn đề cấp thiết đối với nhiệm vụ của mình.

- Thưa Đại tướng, còn về tình hình quân sự thì sao?

Minh nói hơi xẵng:

- Toa là quân sự, không đi xem xét tình hình mà còn hỏi nó ra sao?

Hạnh mừng thầm: Là Tổng Tư lệnh, nhưng thực ra lúc này ông Minh cũng không nắm nổi tình hình. Bây giờ mình cần nắm ngay lấy việc chỉ huy quân đội mà chắc rằng thế nào ông cũng giao việc này cho mình nên liền chớp thời cơ:

- Thưa Đại tướng! Tôi về hưu rồi đi coi sao được. Đại tướng có cho quyền tôi mới dám đi.

- Được, toa nói văn phòng viết giấy ủy nhiệm đưa moa ký rồi đi ngay xuống Bộ Tổng tham mưu.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 04:02:10 PM

Hạnh chưa kịp đi thì ông Minh nhận điện báo trung tướng Đồng Văn Khuyên mới thay Cao Văn Viên, Tư lệnh biệt khu thủ đô đã rời bỏ chức vụ chạy ra nước ngoài.

Tướng Minh cau mặt, lệnh cho điện gọi ngay tướng Vĩnh Lộc tới để trao chức Tổng Tham mưu trưởng.

Vĩnh Lộc tới, nhưng từ chối:

- Xin Đại tướng giao cho Ngô Quang Trưởng. Sớm mai này tôi còn thấy Trưởng ở Bộ Tổng tham mưu.

- Không được! Quân đoàn 1 vừa bị tan nát ở Huế và Đà Nẵng, Trưởng vừa mới chạy vào đây không thể đảm đương được trách nhiệm.

Ông Minh nói rồi liền rời phòng khách. Hạnh nghĩ đây là thời cơ tốt vì biết Lộc cũng đang chuẩn bị cho vợ con di tản nên đã mềm dẻo thuyết phục Lộc:

- Trung tướng cứ nhận đi. Trong lúc tình hình lâm nguy thế này còn có ai hơn Trung tướng. Trung tướng nhận, tôi xin giúp một tay. Tôi hiện đang có giấy ủy nhiệm của Đại tướng đi kiểm tra tình hình.

- Thôi được, có thêm toa, moa sẽ nhận. Nhưng trong lúc chúng nó chạy như chuột cả lũ này sao toa lại mặc thường phục?

- Thưa Trung tướng, từ Mỹ Tho lên, tôi có mang quân phục, nhưng đang để ở nhà người bạn.

Nghe Hạnh nói thế, Vĩnh Lộc liền vẫy tay gọi luôn một viên đại úy và bảo:

- Đại úy cởi áo ra cho Chuẩn tướng mượn.

Khi viên đại úy đang cởi áo thì Lộc giật luôn quân hàm trên vai áo của mình đưa cho Hạnh:

- Toa tháo bỏ đi hai sao và đeo vào. Còn moa trên đường cùng xuống Bộ Tổng tham mưu sẽ rẽ qua nhà lấy cặp khác1

Tuy không có nón và chân còn đi giày mõm ngóe, nhưng lúc này Hạnh rõ ràng là một cấp tướng đi bên trung tướng Vĩnh Lộc xuống Bộ Tổng tham mưu.

Ở đây đang rất hỗn loạn. Bởi hơn ai hết, các sĩ quan ở đầu mối chỉ huy này đã biết rõ 5 cánh quân của Quân giải phóng đã áp sát Sài Gòn. Tiếng đại bác vang rền xung quanh thủ đô. Sân bay Tân Sơn Nhất ở kề bên chiều qua đã bị không quân Cách mạng ném bom, trong đêm lại bị một trận pháo kích bằng pháo 130 ly khủng khiếp chưa từng có. Ở đó đang như chợ vỡ bởi cảnh tranh nhau lên máy bay di tản và cả cảnh cướp máy bay tháo chạy. Trong khi ấy ở Bộ Tổng tham mưu lại như rắn không đầu khi Khuyên đã đào tẩu. Các sĩ quan ở đây đã được thông báo về việc Vĩnh Lộc được Tổng thống bổ nhiệm làm Tổng Tham mưu trưởng. Thấy Lộc và Hạnh tới, họ đều ngước mắt còn đang hốt hoảng chờ lệnh.

Vĩnh Lộc nhìn lướt qua một lượt các tướng tá còn lại, gọi tới trình diện rồi vội vàng bổ nhiệm:

- Chuẩn tướng Nguyễn Văn Chức trước là Cục trưởng Cục Công binh làm Tổng Cục trưởng Tổng cục Tiếp vận.

- Trung tướng Trần Văn Trung vẫn làm Tổng Cục trưởng Tổng cục Chiến tranh Chính trị.

- Đại tá Hồ Ngọc Nhân giữ chức Quyền Tham mưu trưởng liên quân.

- Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh làm Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng.

Hạnh nghe tới đó mừng rơn. Ở vị trí quân sự đầy quyền lực này, trong Bộ Tổng tham mưu chỉ có đứng sau Tổng Tham mưu trưởng. Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng hoàn toàn có quyền thay Tổng Tham mưu trưởng chỉ huy quân đội. Hạnh thầm nghĩ: Từ giờ phút này mình sẽ còn mượn oai của cả Tổng thống để chi phối tình hình và sẽ thẳng tay dẹp bọn nào dám còn định đảo chính như Viên.

Bổ nhiệm xong, Vĩnh Lộc bảo Hạnh:

- Chuẩn tướng vào vị trí chỉ huy luôn đi, moa đi thị sát mấy nơi rồi về báo cáo với Đại tướng.

Hạnh càng mừng, bởi anh biết bây giờ tâm trí Lộc đâu còn dành cho việc tiêu diệt Cộng sản và phụng sự Quốc gia nên công việc ở Bộ Tổng tham mưu sẽ giao phó cả cho Hạnh. Cũng đến bây giờ anh mới thấy cái tên Hữu Hạnh không còn bất hạnh nữa mà đang liên tục gặp cơ may.
________________________________________
1. Cấp Chuẩn tướng quân đội Sài Gòn 1 sao, thiếu tướng 2 sao, trung tướng 3 sao.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 04:03:32 PM

15 giờ ngày 29 tháng 4, Hạnh ngồi vào ghế chỉ huy của Bộ Tổng tham mưu gọi điện đi các nơi, trước hết là Quân đoàn 3.

- Thưa, ai ở đầu dây đó? - Nguyễn Văn Toàn hỏi lại.

- Tôi Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng. Xin Trung tướng cho biết tình hình.

- Nguy ngập! Nguy ngập quá rồi Chuẩn tướng! 18 giờ 10 phút chiều qua, Việt cộng đã dùng xe tăng đánh chiếm chi khu Long Thành. 18 giờ 50 phút mất tỉnh lỵ Bà Rịa. 19 giờ 30 phút kho Long Thành bị pháo kích, đường 15 bị cắt, Vũng Tàu chắc cũng bị mất, còn Biên Hòa đang bị bao vây ba mặt. Tôi đề nghị cho rút bộ chỉ huy nhẹ về căn cứ thiết giáp ở Gò Vấp.

Hạnh thầm nghĩ: Viên tướng thiết giáp này muốn về gần sân bay để tẩu thoát. Hơn nữa, nếu Quân đoàn 3 về Sài Gòn thì cả quân đoàn tan nát ngay nên Hạnh liền trả lời:

- Tôi sẽ trình lên Tổng Tham mưu trưởng Vĩnh Lộc. Nhưng về phần Trung tướng, nếu xét thấy việc rút Bộ chỉ huy nhẹ về đó là để thuận lợi trong việc bảo toàn lực lượng và đánh địch thì Trung tướng cứ tùy cơ.

Hạnh nói thế, coi như đã gián tiếp đồng ý với đề nghị của Toàn và viên tướng này đã thực hiện luôn sau dó.

Hạnh quay tiếp số điện thoại gọi xuống Sư đoàn 18 của Lê Minh Đảo, viên tướng được phong vượt cấp bởi tuyên bố sẽ “tử thủ để giữ Xuân Lộc”, bây giờ đã tháo chạy khỏi Xuân Lộc, giọng Đảo lạc đi:

- Chúng tôi đang bị bọc hậu. Việt cộng tấn công bằng cả xe tăng, xin Chuẩn tướng cho tôi rút về bên này sông Đồng Nai để cố thủ.

Hạnh nhận thấy nếu Sư đoàn 18 rút đi sẽ có lợi hơn cho Quân giải phóng tấn công vào hướng này nên đồng ý với đề nghị của Đảo và quay máy xuống Sư đoàn 22 ở Tân An. Chuẩn tướng Phan Đình Niên ở sư đoàn đã bỏ trốn, Tham mưu trưởng sư đoàn báo cáo:

- Chúng tôi bị áp đảo mạnh ở hướng chính diện, một sư đoàn Việt cộng đang sẵn sàng tấn công, Quốc lộ 4 đã bị cắt đứt hoàn toàn.

5 giờ sáng ngày 30 tháng 4, thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 báo cáo lên bằng điện thoại:

- Chúng tôi bị tấn công mạnh ở ba nơi: Vĩnh Bình, Bạc Liêu, một nơi cách sân bay Trà Nóc 3 kilômét.

Hạnh hỏi:

- Thiếu tướng kháng cự thế nào?

Nam trả lời:

- Tôi đã đẩy lui được cuộc tấn công của Việt cộng cách sân bay Trà Nóc 3 kilômét. Tôi sẽ cố giữ các vị trí còn lại, các lực lượng của quân đoàn 4 và Quân khu 4 mặc dù bị tấn công vài nơi nhưng vẫn còn nguyên vẹn.

Hạnh nghĩ: Có thể hướng tấn công của Quân giải phóng đang tập trung vào hướng Bắc và Sài Gòn nên chưa sờ đến thủ phủ miền Tây. Phải giữ kín tin này không để ai biết, kể cả Vĩnh Lộc nếu ông ta không hỏi tới và phải có cách trị viên tướng đang còn hiếu chiến, chủ quan ở vùng đất quan trọng này. Hạnh giả bộ cổ vũ Nam, nhưng đồng thời thông báo vắn tắt các hướng vào Sài Gòn đang nguy ngập, nhiều tướng đã đào nhiệm không giữ vững tuyến phòng thủ được như Nam để biểu dương, song chính là để đánh đòn tâm lý đối với viên tướng này.

Đánh đòn đầu tiên với Nguyễn Khoa Nam xong, Hạnh điểm lại lực lượng thấy: Đêm qua ở hướng Thủ Dầu Một do Sư đoàn 5 trấn giữ đã bị Quân giải phóng chọc thủng, liên lạc bị cắt đứt. Thế là hướng này trống nên Quân giải phóng đã tiến tràn đến Hố Nai. Tuyến phòng thủ ở đây do Sư đoàn 18 và Lữ đoàn 5 thiết giáp đã chuyển về bên này sông Đồng Nai.

Như vậy lực lượng còn lại chưa chạm trán với Quân giải phóng chỉ còn có lực lượng của biệt khu thủ đô. Ở đây đang còn có các lữ đoàn dù, sư đoàn biệt động quân và 20 xe tăng do Lộc tối qua lúc trở lại sở chỉ huy mới lệnh cho Bộ chỉ huy thiết giáp tăng cường vào. Qua báo cáo của Tham mưu trưởng biệt khu thủ đô Hạnh còn biết, do đêm qua có nhiều đoàn xe của Quân giải phóng từ phía Hóc Môn tiến về hướng Sài Gòn nên Tư lệnh Lâm Văn Phát mới được bổ nhiệm thay Nguyễn Văn Minh. Phát đang còn hăng máu, đã lập xong kế hoạch phản công.

Lợi dụng lúc Vĩnh Lộc cũng đang hoang mang và phân tán về chuyện lo vợ con di tản, không toàn tâm toàn ý vào chỉ huy quân đội để tử thủ, có vào sở chỉ huy cũng chỉ nắm những nét lớn do Hạnh báo cáo lại, Hạnh đã giấu không báo cáo cho Lộc về việc Phát lập kế hoạch phản công. Nếu biết, Lộc dễ dàng tiếp thêm sức mạnh cho Phát bằng cách điều lữ đoàn thiết giáp bên sông Đồng Nai hoặc gọi Quân đoàn 4 ở miền Tây.

Cũng do có lợi thế được Vĩnh Lộc cho ngồi liên tục ở ghế chỉ huy, ngày hôm qua riêng ở biệt khu thủ đô, Hạnh đã khéo léo rải mỏng lực lượng quân cảnh bằng cách điện cho viên đại tá chỉ huy yêu cầu tung hết lực lượng chia thành các nhóm nhỏ ra đường phố, kiểm tra quân nhân, thu hồi vũ khí, bắt giữ những tên nào đào ngũ ở các nơi mới đổ về đang gây rối loạn, cướp bóc tài sản của dân thường để bớt đi một lực lượng phòng thủ. Đồng thời biết được tin một số sĩ quan hiếu chiến định phá cầu, Hạnh đã điện đi các nơi “không được tự động phá cầu khi chưa có lệnh của Bộ Tổng tham mưu”, để Quân giải phóng tiến vào Sài Gòn không bị trở ngại. Còn lúc này, Hạnh lại điện đi các nơi trong đó trước hết là Tư lệnh biệt khu thủ đô bằng cách mượn danh Tổng thống khuyến cáo cấp dưới: “Tổng thống không có ý định điều động quân đội từ nơi này đến nơi khác. Vì như thế sẽ không có lợi, ảnh hưởng tới việc thương thuyết với Cộng sản”.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 04:04:09 PM

5 giờ 30 phút, Tổng thống Dương Văn Minh gọi Tổng Tham mưu trưởng về dinh Độc Lập báo cáo tình hình quân sự. Trước khi di, Lộc yêu cầu Hạnh trình bày lại tình hình mới nhất mà Hạnh vừa nắm được. Cùng nghe có trung tướng Nguyễn Hữu Có. Tướng Có cũng đã đến trình diện với Đại tướng Dương Văn Minh để xin được cùng gánh vác phận sự từ tối 29.

Hạnh báo cáo với Lộc:

- Trình Trung tướng Tổng Tham mưu trưởng. Từ đêm qua tới giờ phía sân bay Tân Sơn Nhất, quân của biệt khu thủ đô đang chạm trán với Việt cộng. Có thể họ giữ được, nhưng sẽ phải chịu nhiều thiệt hại về người và của. Ở phía Biên Hòa và Thủ Dầu Một đã không còn sức chiến đấu. Trung tướng Toàn đã bỏ chạy ra nước ngoài. Chuẩn tướng Lê Công Thành Phó Tư lệnh không nắm được quân. Ông ta không còn gì để chỉ huy. Sư đoàn 18 của tướng Đảo và Lữ đoàn 5 thiết giáp bị kẹt ở tuyến Đồng Nai cũng đang ở thế không tiến, không lui được. Hướng Thủ Dầu Một như vậy hoàn toàn bị bỏ ngỏ. Một đoàn chiến xa đang tiến về Sài Gòn đã đi ngang qua Búng. Mặt trận phía này chúng ta không có quân xung kích mà chỉ có lực lượng phòng thủ. Tôi e rằng một thời gian ngắn nữa chúng ta sẽ không gạt đỡ nổi.

Nghe xong, Vĩnh Lộc tái người, bởi bất kỳ ai có một chút kiến thức quân sự đều thấy tình hình này đang ở thế ngàn cân treo sợi tóc. Lộc vội cầm lấy máy điện thoại gọi lên Phủ Tổng thống xin phép Dương Văn Minh để Lộc được ủy quyền cho Hạnh lên báo cáo.

Buông máy xuống, Lộc bảo Hạnh:

- Chuẩn tướng đi báo cáo với Tổng thống đi, moa rẽ qua nhà có chút việc.

Lộc đưa tay về phía Hạnh rồi cả Có và nói:

- Trung tướng nên cùng Chuẩn tướng đến báo cáo với Tổng thống đi.

Lộc bắt tay xong liền lầm lũi ra cửa, mặt ngượng ngùng. Hạnh và Có hiểu đó là cái bắt tay cuối cùng. Đúng thế, 2 giờ sau, viên tướng dòng dõi hoàng tộc này đã cao chạy xa bay ra nước ngoài.

Lộc đi rồi, Hạnh và Có chạy đi tìm xe. Cả xe và tài xế đều biến mất. Có phải điện về nhà đưa xe riêng đến để hai người lên gặp Dương Văn Minh.

6 giờ sáng. Giờ này mọi khi Minh đang thanh thản đi dạo quanh vườn, bây giờ ông đã ngồi chờ sẵn ở văn phòng với bộ mặt phờ phạc, ưu tư. Chào Minh xong, Hạnh để tướng Có đang là cố vấn quốc phòng cho Tổng thống trình bày. Có báo cáo lại việc gần như nguyên văn mà Hạnh vừa mới tường trình với Vĩnh Lộc. Ông Minh trầm ngâm suy nghĩ. Nhân lúc đó Hạnh liền nói thêm:

- Tình hình nguy ngập, xin Đại tướng cho quyết định gấp. Chúng ta không thể trì hoãn được nữa. Trì hoãn sẽ có hại.

Tướng Minh vội quay sang hỏi Hạnh:

- Bây giờ toa định như thế nào?

Hạnh nghĩ rằng đầu hàng sớm là tốt nhất, nhưng chưa nói thẳng điều đó mà chỉ nói:

- Thưa Đại tướng, về chính trị là quyền của Đại tướng. Riêng về quân sự thì Đại tướng phải quyết định gấp. Tình hình đã quá nguy ngập không cho phép chúng ta chần chừ được nữa.

Tướng Minh lại suy nghĩ trầm ngâm một lúc rồi mới nói:

- Thôi, để moa đi bàn với ông Huyền và ông Mẫu, các toa cứ ngồi đây đợi.

Hạnh đề nghị được đi theo, Minh đồng ý. Cả hai đến Phủ Thủ tướng ở số 7 đường Thống Nhất. Trên đường đi Hạnh càng thấy rõ cảnh hỗn loạn của Sài Gòn. Dân chúng đang thành từng dòng người bồng bế nhau xuôi ngược, nét mặt đều lộ rõ vẻ hoang mang hốt hoảng. Kẻ xấu lợi dụng hôi của. Ở tòa Đại sứ Mỹ, bọn chúng đông như kiến cỏ, chen lấn nhau bu vào tha các thứ ở đây ra làm cho xe của Hạnh không thể nào đi nhanh được.

Đến Phủ Thủ tướng, bộ ba Minh - Huyền - Mẫu vội vã họp bàn ngay kế hoạch. Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền muốn chờ kết quả của phái đoàn thương thuyết do luật sư Trần Ngọc Liễng dẫn đầu từ trại Đa-vít trở về xem sao. Liệu Mặt trận Dân tộc Giải phóng có chấp nhận được đề nghị nào của phía Quốc gia không? Nhưng đến gần 8 giờ, phái đoàn ông Liễng vẫn chưa về. Trong khi ấy tình hình mỗi phút một căng nên bộ ba này không còn con đường nào khác phải nhất trí quyết định đơn phương coi như đầu hàng, tuyên bố bàn giao chính quyền lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn lời tuyên bố, và 9 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố vào máy ghi âm.

Trong lúc tướng Minh đọc lời tuyên bố để thu băng thì Nguyễn Hữu Hạnh điểm nhanh một loạt các viên tướng đang cầm quân xem những tên nào còn máu mặt có thể phản ứng với tuyên bố này. Trừ những tên vừa bị bắt và đào nhiệm, số còn lại gần như tất cả đã mất hết tinh thần kháng cự. Chỉ còn có Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 có thể sẽ quyết tử thủ để giữ thủ phủ Tây đô. Hạnh quay máy điện thoại gọi xuống Nam:

- Alô! Anh Nam đấy phải không? Chào anh, Tổng thống sắp ra một tuyên bố quan trọng, anh chú ý nghe đài và tuyệt đối chấp hành lệnh của Tổng thống.

- Nội dung Tổng thống nói gì vậy Chuẩn tướng?

- Tôi đâu có hay. Thủ tướng Mẫu đang soạn thảo lời tuyên bố sau cuộc họp giữa ba ông. Tôi chỉ được lệnh của Tổng thống bảo phải thông báo trước xuống tất cả Tư lệnh các mặt trận...

Nói xong, Hạnh buông máy không để Nam hỏi gì thêm và tin rằng Nam sẽ thực hiện. Cũng từ giờ phút này Hạnh luôn bám sát tướng Minh chứ không trở về Bộ Tổng tham mưu. Dương Văn Minh cũng biết việc đào tẩu của Vĩnh Lộc. Còn Nguyễn Hữu Có cũng đã nhanh chân trở về nhà thay quần áo xivin để làm dân thường. Người thừa hành cao nhất các mệnh lệnh về quân sự của Tổng thống trong chính quyền Sài Còn và cũng là chỉ huy cao nhất trong quân đội Sài Gòn bên cạnh Tổng thống giờ đây không còn ai khác ngoài Nguyễn Hữu Hạnh. Không còn tướng nào có được vị trí là tướng cận thần Tổng thống duy nhất như Hạnh lúc này.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 04:04:36 PM

Thâu băng xong, tướng Minh cho người mang ngay tới Đài phát thanh trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm cho phát trên đài. Bản tuyên bố của Dương Văn Minh đơn phương xin bàn giao chính quyền được phát đi nhiều lần, Nguyễn Hữu Hạnh cũng đi theo tới Đài để chỉ thị cho quân đội và các lực lượng vũ trang Sài Gòn buông súng thi hành lệnh của Tổng thống. Khi đài phát xong chỉ thị đó, Hạnh nhận thấy nó mới chỉ phát được một lần nên đã yêu cầu phát lại và sử dụng loại băng tự động để tiếng nói được phát đi liên tục. Thấy việc đó đã được thực hiện hoàn hảo, Hạnh mới hoàn toàn yên tâm và thầm reo lên: “Thế là mình đã cơ bản hoàn thành được nhiệm vụ trọng đại mà Cách mạng giao cho, cũng là thực hiện được mệnh lệnh của lương tâm trái tim mình”.

Tiếng reo thầm đó đã theo Hạnh trên đường về Phủ Thủ tướng, bởi Hạnh nghĩ rằng, với sức tiến công như vũ bão, các cánh quân của Cách mạng đã và đang đè bẹp tất cả mọi sự kháng cự của quân Sài Gòn ở các cửa ngõ vào sào huyệt cuối cùng này, trừ những tên ác ôn, thâm thù với Cộng sản, giờ đây sau khi nghe tuyên bố của Tổng thống và chỉ thị buông súng của mình, chắc chắn tất cả quân đội Sài Gòn đã rã rời. Không những thế, đa số sĩ quan và binh lính còn tạ ơn Chúa bởi sẽ thoát được nạn phải bỏ mạng trong cuộc tắm máu. Còn nhân dân Sài Gòn thì khỏi nói, chắc chắn họ cũng đã nhẹ lòng và đang sẵn sàng đón đoàn quân chiến thắng trên khắp các ngả đường vào “Hòn ngọc Viễn Đông” còn nguyên vẹn.

Trong khi tuyên bố của Dương Văn Minh và chỉ thị buông súng của Nguyễn Hữu Hạnh đang được phát trên đài, tại Phủ Thủ tướng đã có mặt nhiều nhân vật trong Chính phủ cũ và mới. Họ tới đây để chuẩn bị đến dinh Độc Lập dự lễ ra mắt nội các Vũ Văn Mẫu mà trước đó dự kiến sẽ tổ chức vào 10 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Họ đã đến dinh Độc Lập đông đủ. Nhưng lễ ra mắt đó đã không bao giờ có được nữa. Nó đã trở thành lễ đón lực lượng giải phóng lúc 11 giờ 30 cùng ngày sau khi xe tăng của Quân giải phóng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập tiến vào dinh và lá cờ của Cách mạng đã phất phới tung bay trên đỉnh cột cờ ở nóc dinh Độc Lập.

Tại lễ đón này, Tổng thống Dương Văn Minh, Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền và toàn bộ nội các chưa kịp ra mắt của Vũ Văn Mẫu, tất cả mặt mày đều tái nhợt, bàng hoàng.

Họ không nghĩ rằng Quân giải phóng và các cán bộ Cách mạng đã tiến vào dinh Độc Lập nhanh đến thế.

Trong nội các và những người của chính quyền Sài Gòn có mặt ở đây lúc này chỉ có vài người là thần sắc không biến đổi trong đó có Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh. Những lúc đó, các sĩ quan Quân giải phóng cùng cán bộ các lực lượng khác của Cách mạng vào dinh Độc Lập không ai để ý tới.

Khi ấy Hạnh đang là người của ông Minh đứng ở cầu thang lầu 2 nhanh nhẹn đón và chỉ dẫn các sĩ quan và cán bộ Cách mạng vào phòng đại lễ - nơi ông Minh và cả bộ sậu của chính quyền Sài Gòn đang ngồi chờ để bàn giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời...

Nhưng ông Minh đâu còn chính quyền để mà bàn giao. Nguyễn Hữu Hạnh cười thầm khi thấy một cán bộ Quân giải phóng đã nghiêm khắc bác bỏ lời nói đó của ông Minh và buộc ông phải đến Đài phát thanh đọc lời cáo chung đầu hàng vô điều kiện Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Với Nguyễn Hữu Hạnh, đây là giây phút sung sướng nhất cuộc đời kể từ ngày nhận công tác với Cách mạng qua bác Tám “vô tư”.

Từ đây niềm vui đã liên tiếp đến với anh. Đấy là khi anh được Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Thành Đồng, là khi được bầu làm ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là lúc được Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cấp cho căn biệt thự ở đường Phan Kế Bính. Còn vui nữa, anh đã được là một thành viên trong buổi họp mặt các cán bộ và các cơ sở nằm trong lòng địch như anh của Ban Binh vận miền Nam. Ở đây, ngoài bác Tám “vô tư”, anh đã được gặp đông đủ các đồng chí Bảy Dự, Tư Chí, Sáu Vũ, Mười Thợ, đặc biệt là đồng chí Bảy Lương, những người mà anh mãi mãi biết ơn, bởi đã đem lại sự đổi đời cho anh để anh có thể ngẩng cao đầu, tự hào là một người Việt Nam.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 1996


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 05:16:59 PM

VAI DIỄN LÝ TƯỞNG


I

Chuyện như huyền thoại đó đã diễn ra từ sau Tết Mậu thân năm 1968. Khi ấy tất cả các tuyến đường bộ vô thị xã và tiểu khu Phước Long đều đã bị quân ta cắt đứt. Không một chuyến xe hơi nhỏ lẻ nào của Mỹ - ngụy cả quân sự và dân sự có thể vô đây. Mọi việc giao tiếp của chúng đối với tỉnh lỵ này chỉ còn bằng đường hàng không.

Chính lúc đó, đại tá Lê Văn Vĩnh - một sĩ quan tham mưu tình báo cao cấp của Quân giải phóng được lệnh phải có được bản đồ và các số liệu chính xác về: Bố trí binh hỏa lực, hệ thống phòng thủ, hệ thống hầm ngầm, căn cứ pháo binh, số lượng binh sĩ, vũ khí cả đồn trú và cơ động của tiểu khu, tòa Tỉnh trưởng, Ty công an Phước Long và chi khu Phước Bình. Bản đồ và số liệu đó lại phải do chính anh điều nghiên tác nghiệp. Thời gian cho phép để hoàn thành nhiệm vụ này không được quá một tuần.

Phước Long là thị xã nhỏ nằm ở phía Bắc cách xa Sài Gòn hơn 160 kilômét, xung quanh hầu hết là người Thượng, trinh sát bí mật đột nhập rất khó. Thời gian lại rất gấp, chỉ còn phương sách phải dùng cách trinh sát công khai mới có cơ hội vào sâu trong thị xã.

Như vậy nên sau khi đã đóng vai một nhà kinh doanh lớn để Ba Nghĩa đưa được vào nội thành Sài Gòn an toàn, lúc này Bảy Vĩnh không khỏi lo lắng, nóng lòng muốn được biết xem Ba Nghĩa đã có phương sách gì để mình có thể công khai có mặt ở thị xã Phước Long một hai ngày tới.

- Anh Ba! Tôi lo cho việc hoàn thành nhiệm vụ của chúng mình quá! Làm sao tôi sớm có mặt công khai được ở Phước Long? Với tài trí và vỏ bọc vững chắc nguyên là Trưởng Ty cảnh sát và Chủ tịch một Ủy ban của Hạ viện Sài Gòn hiện nay của anh, tôi biết rằng việc bố trí để tôi có mặt công khai ở Phước Long không phải là khó khăn lớn lắm đối với anh, nếu như các tuyến đường bộ vô thị xã đó không bị bịt kín. Nhưng trước tình huống này quả khó khăn.

Ba Nghĩa suy nghĩ một lát rồi nói:

- Cái khó lớn nhất là bây giờ làm sao phải tìm cách thoát ra khỏi các lối đã bịt kín đó anh Bảy. Muốn để anh công khai có mặt ở Phước Long là phải tìm cách sắp xếp anh là thành viên của một đoàn công vụ nào đó lên trên đấy và cái đoàn này bình thường nhất cũng phải đi xe hơi, không thể cuốc bộ mà lên.

- Trung tâm cũng đã lường hết nhũng khó khăn này. Thế nên trong điện lệnh của T11 gửi cho anh ngoài ý “Đón T5 đưa vô điểm X an toàn” còn nói rõ “Bố trí cho T5 sớm có mặt công khai ở Phước Long” và đã điện trước mấy ngày so với thường lệ để anh có thời gian chuẩn bị, toan tính mưu kế. Chắc bây giờ anh đã... Nói đến đây Bảy Vĩnh ngập ngừng.

Ba Nghĩa ha hả cười:

- Thủ trưởng nghĩ là tôi đã có sẵn những lá bài trong tay rồi phải không? Tôi nhận được điện của T1 mới có ba ngày, làm sao sắp xếp cho kín kẽ để một sĩ quan Việt cộng cỡ bự có mặt công khai ở Phước Long trong thời điểm này lại có thể dễ dàng, nhanh chóng như thế được. Nhưng anh Bảy yên tâm, xin mời anh cứ ngủ một giấc cho khỏe đã. Trước tới giờ Ba Nghĩa có chịu bó tay trước khó khăn nào đâu. Tôi đã có hướng để tìm ra lối thoát cho sự bế tắc này rồi. Có điều tôi không đủ quyền lực để tự quyết định nên chưa thể có ngay các con bài trong tay. Hiện giờ tôi đang chờ những tín hiệu mới đáp ứng cho hướng đó. Có được những tín hiệu mới này, tôi sẽ báo cáo đầy đủ ngay với anh về kịch bản của tôi. Tất nhiên trong kịch bản này anh là nhân vật trung tâm và vở diễn có thành công hay không trước hết cũng do tài nhập vai, diễn xuất của anh.

Nghe Ba Nghĩa nói đến đây, đôi mắt của Bảy Vĩnh liền sáng lên:

- Tôi đã hy vọng và phỏng đoán không lầm. Giá lúc này anh là Tổng trưởng Quốc phòng hoặc Giám đốc Tổng nha cảnh sát, chắc chắn là chúng ta không còn phải đợi những tín hiệu mới nữa phải không Ba Nghĩa? Thôi bây giờ mình có thể tạm yên tâm để trả nợ mắt được rồi.

- Anh cứ trả nợ cho đã đi!

Ba Nghĩa vừa nói vừa dắt tay đưa Bảy Vĩnh lên lầu ba, nơi có một phòng đặc biệt dành riêng cho các vị khách quý của gia đình. Sau đó anh liền xuống ngay phòng riêng nằm ngả lưng bên máy điện thoại để chờ các tín hiệu mới. Đó là những hồi âm từ các thân hữu đang giữ các vị trí then chốt ở bên Bộ Y tế, Văn phòng Chủ tịch Hạ viện, Tổng nha Cảnh sát và cả Tỉnh trưởng Phước Long mà anh chắc chỉ tối nay hoặc sớm mai sẽ điện về.

H3 đã dự đoán không sai. Chỉ 30 phút sau đó, tiếng chuông điện thoại đã réo vang và Ba Nghĩa đã quá vui nhận ra tiếng nói từ đầu dây bên kia không phải Tư Vân, chánh văn phòng mà là Chủ tịch Hạ viện Lê Bá Lương. Ông Lương cũng đang vui nên đã vội báo tin cho Ba Nghĩa: “Văn phòng Phủ Tổng thống hứa sẽ điều một máy bay đặc biệt loại taxi Cessma cho đoàn công vụ của Hạ viện ta rồi”.

Và ông hỏi Ba Nghĩa:

- Số hàng cứu trợ bên Bộ Y tế hứa cho có được như yêu cầu của Hạ viện mình không? Bao giờ ta nhận được?

- Dạ thưa Chủ tịch! Bữa qua bác sĩ, Thứ trưởng Trần Văn Khiêu đã trực tiếp điện cho tôi hứa sẽ cho ta 500 suất. Như thế là vượt cả yêu cầu của chúng ta. Hiện giờ tôi chỉ còn chờ bên đó báo lại giờ ta đến nhận. Chắc muộn lắm là chiều mai.

- Vậy tốt rồi. Nếu ngày mai có hàng, ngày mốt chúng ta bay lên Phước Long.

Buông máy, gương mặt H3 rạng rỡ hẳn lên. Có thể nói đây là tín hiệu quan trọng nhất trong kịch bản của anh.
____________________________________
1. Trung tâm chỉ đạo tình báo của B2.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 05:18:15 PM
Kịch bản này đã hé mở rồi hình thành ngay sau khi H3 nhận được điện của T1. Lúc ấy H3 đã tính toán nát óc thấy rằng không có cách nào đưa T5 lên Phước Long mà lại lên công khai bằng đường bộ được. Chỉ có cách đưa T5 lên đó bằng đường hàng không mà hiện giờ chỉ có các chuyến bay dành cho các quan chức trong chính quyền Sài Gòn. Trong chuyến bay này, tất nhiên phải sắm cho T5 một vai diễn thật lý tưởng để cùng đi công khai với mình. Nhưng bằng cách nào để mình mang theo T5 cùng đi trên một máy bay lên Phước Long trong lúc mỗi chuyến bay đều được xét duyệt rất chặt chẽ? Thầm nhắc lại câu hỏi tự đặt ra ấy, một tia sáng đã vụt lóe lên trong đầu H3: “Phải chủ động tạo ra một chuyến bay mà mình phải có được vai trò trọng yếu đó”. Với ý nghĩ đó, ngay sớm hôm sau, Nguyễn Văn Nghĩa, Chủ tịch một ủy ban có vị thế trong Hạ viện Việt Nam Cộng hòa đã có mặt trong phòng làm việc của Chủ tịch Hạ viện Lê Bá Lương.

Vốn mát tính lại vị nể và thân tình với Ba Nghĩa nên ông Lương không cự nự về chuyện Ba Nghĩa đến không báo trước mà sau lời chào hỏi đã vui vẻ hỏi ngay:

- Tới chơi hay có việc gì mà đến đây sớm vậy, anh Ba?

- Tôi gọi điện hỏi văn phòng biết anh đang ở nhiệm sở nên hạ cấp đã mạn phép bất ngờ tự tiện đến thăm và cũng có chuyện muốn nói nhỏ với anh Năm.

- Chuyện gì thế? Nói nhỏ hay nói to cũng được. Có quan trọng lắm không? Nói ngay đi coi!

Đã biết Chủ tịch Hạ viện không khi nào phân biệt đẳng cấp với mình, lại thấy việc mào đề như thế đã ngọt rồi, Ba Nghĩa liền cười giòn hồn nhiên, nhưng vẫn tỏ ý lễ độ nói luôn:

- Không quan trọng lắm đâu anh Năm. Nhưng chúng ta là Nghị sĩ được dân bầu nên tôi nghĩ, ta đã nghe được ý dân thì không thể bỏ qua. Tuần trước tôi có lên Phước Long - nơi anh đã được bà con tín nhiệm và nhiệt tình ủng hộ nên đã trúng cử với số phiếu cao. Ở trên đó sau trận chiến Mậu Thân đời sống cả tinh thần và vật chất của dân vẫn chưa ổn định. Những gia đình bị tổn thất về tài sản đang sống khó khăn lắm. Họ biết tôi là dân biểu nên có ý gửi lời nhắn trách anh là “ông ấy chỉ đến với chúng tôi khi cần chúng tôi bỏ phiếu, còn bây giờ đã quên hẳn bà con ở đây”. Tôi về lu bu chưa kịp nói lại chuyện này với anh. Hôm qua tình cờ gặp một quan chức ở trên đó về Sài Gòn, trong khi trò chuyện, ông ta đã nhắc đến lời nhắn trách đó. Thế nên sớm nay tôi phải lên để thưa truyền lại với anh.

- Chết cha rồi, anh nhắc tôi mới nhớ! - Ông Lương liền đáp lời Ba Nghĩa với giọng như thảng thốt - Đúng là chỉ chú trọng vào công việc của Hạ viện, mình đã quên mất những cử tri đã bỏ phiếu cho mình ở trên đó. Bây giờ phải sửa liền thôi. Phải lên thăm và úy lạo đồng bào, nhưng không chỉ có riêng tôi mà phải tổ chức một đoàn nhỏ mang danh nghĩa của Hạ viện.

- Đoàn nhỏ, nhưng ý nghĩa của việc làm lại rất lớn. Chắc chắn là hình ảnh của anh Năm sẽ rất ấn tượng với các cử tri người Thượng.

- May mà có anh nhắc đó. Bây giờ việc này cũng phải nhờ anh giúp tôi. Nó cũng đúng với chức năng của Ủy ban Lao động xã hội, Cựu chiến binh do anh làm chủ tịch. Anh sẽ là phó đoàn tình nghĩa này. Tình nghĩa và cả chính trị nữa đấy!

- Dạ, thưa anh! Được anh tín nhiệm tôi đâu dám trái lời. Nhưng lên trên đó, tôi nghĩ chúng ta không thể chỉ úy lạo đồng bào bằng các cuộc gặp gỡ và những lời thăm hỏi.

- Đúng thế! Tôi cũng đang định nói ý này với anh. Phải có cái gì làm quà tặng cho đồng bào thì lời úy lạo, động viên mới vô tai bà con được. Nhưng kinh phí cho khoản này chưa biết tính sao đây.

Nghe Năm Lương nói đến chuyện “chưa biết tính sao đây” này, Ba Nghĩa cũng tỏ ra cùng Chủ tịch Hạ viện trầm lặng lo lắng để rồi mấy giây sau mới nói như reo:

- Tôi nghĩ ra rồi anh Năm! Có nơi đáp ứng được đủ số quà này cho ta. Bên Bộ Y tế đang quản lý số hàng cứu trợ đồng bào lâm nạn. Ta xin bên anh Trần Lữ Y chắc anh Y, anh Khiêu không nỡ từ chối. Thôi việc này anh để tôi lo. Nếu cần có tiếng nói của anh với Bộ trưởng Trần Lữ Y, tôi sẽ thỉnh trình lên anh.

- Chà, thế thì tốt quá rồi. Anh lo ngay chuyện đó đi. Các việc còn lại kể cả việc xin máy bay, tôi sẽ chỉ thị cho văn phòng lo liệu.

“Trời ơi, ông Năm Lương! Thế là Ba Nghĩa này cài số rất thành công rồi!”

H3 như muốn reo, muốn được nói tướng lên cái điều anh đang rất vui ấy khi bước ra khỏi phòng Lê Bá Lương. Vậy là khâu then chốt nhất để tạo ra một chuyến bay mà anh lại chiếm được vị trí số 2 đã đạt được. Chỉ còn việc xin hàng cứu trợ để làm quà. Việc này với Ba Nghĩa gần như đã nắm chắc trong tay, bởi anh đã biết rõ bên Bộ Y tế đang có hàng ngàn suất quà cứu trợ. Mà Bộ Y tế với ủy ban của anh có quyền triệu tập một số Bộ trưởng trong Chính phủ, trong đó có Bộ trưởng Y tế lên điều trần trước ủy ban của anh. Khi thông qua ngân sách trước Hạ viện, tiếng nói của anh lại có thể tăng hàng triệu đồng1 hoặc được dễ dàng thông qua cho các bộ đó. Hơn nữa, Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Khiêu - người đang phụ trách khâu cứu trợ này - lại là bạn đồng môn, cánh hẩu với Nghĩa. Thế nên anh đã dám mạnh miệng nói gần như đinh đóng cột với Chủ tịch Hạ viện Lê Bá Lương.
_____________________________________
1. 45 đồng tiền Sài Gòn lúc đó bằng 1 đôla Mỹ.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 05:20:58 PM

Quả nhiên, đã như đinh đóng cột thật. Khi về đến nhà, Ba Nghĩa chỉ bằng một cuộc nói chuyện điện thoại hơi dài một chút với Thứ trưởng Trần Văn Khiêu, việc đó coi như đã xong. Đã từng có quan hệ mật thiết lại thấy việc giúp được Ba Nghĩa sẽ rất có lợi cho Bộ Y tế nên Khiêu đã hồ hởi nhận lời và hai giờ sau đó đã thông báo cấp đủ năm trăm suất quà.

Đấy cũng là một tín hiệu mới như tín hiệu đã xếp được máy bay mà ông Chủ tịch Hạ viện đã vui mừng đích thân thông báo cho anh. Để có được những tín hiệu mới mà Ba Nghĩa nói với Bảy Vĩnh đang còn phải chờ đó, Ba Nghĩa đã vừa phải dựng “kịch bản”, vừa làm “đạo diễn”, làm “diễn viên” diễn xuất biết bao lớp lang rất tài trí, hết mình. Tất cả cũng chỉ để đi tới cái đích duy nhất là tạo cho Bảy Vĩnh lên được Phước Long công khai bằng máy bay và cũng có mặt công khai ở trên đó để thực thi được nhiệm vụ của mình. Nhưng tất cả các lớp lang đã làm được đó sẽ vô nghĩa nếu như Bảy Vĩnh không có được vai diễn trong vở diễn này.

Để có được vai diễn đó, Ba Nghĩa ngoài việc phải chuẩn bị và “dọn đường” rất công phu còn phải chọn thời cơ cài số rất đúng lúc với Chủ tịch Lê Bá Lương. Đấy là hôm gặp lại ông Lương, chờ khi mọi việc về tổ chức chuyến đi lên Phước Long coi như đã bàn xong, Ba Nghĩa mới như chợt nhớ ra.

- Anh Năm! Còn việc nữa tới giờ tôi mới nghĩ ra. Đoàn của ta lên Phước Long với ý nghĩa lớn như thế, ta cũng phải ghi lại hình ảnh để làm abum lưu niệm cho Hạ viện mình chứ!

- Phải có chứ! Nhưng bây giờ không ai bằng anh, người lo toàn bộ công tác tổ chức chuyến đi phải lo cho chuyện này. Anh kiếm ngay một người ở bên anh làm việc đó đi. Cần thiết lắm đấy.

- Dạ để tôi kéo anh bạn tin cậy đang làm kinh tế với tôi nhưng rất sành nghề nhiếp ảnh cùng đi để làm chân “phó dòm” này.

- Vậy thì tốt quá. Anh báo sớm cho ông bạn đó đi.

Đến lúc ấy Ba Nghĩa mới nhẹ người về khâu then chốt nhất trong nhiệm vụ Trung tâm đã giao cho mình. Trên máy bay lúc này, Bảy Vĩnh với vai Lê Tân - bạn cộng sự của Ba Nghĩa đi làm “phóng viên nhiếp ảnh” cho đoàn - đã diễn xuất rất nhuần nhị. Làm việc chụp hình, nhưng với anh lại thể hiện phong cách là một nghệ sĩ nhiếp ảnh và luôn tỏ ra lịch lãm, tự trọng, giao tiếp rất tự nhiên với cả Chủ tịch Hạ viện, song nặng cân hơn vì anh là bạn của Ba Nghĩa nên đã được cả đoàn vì nể, cảm tình.

Chính vì thế mà Bảy Vĩnh đã hoàn thành xuất sắc “vai diễn” của mình trong mấy ngày đi với đoàn Hạ viện. Đến khi tách đoàn ra chỉ còn có H3 và T5 ở lại Phước Long với lý do “kết hợp” làm một số việc riêng của Ủy ban Lao động xã hội và công việc kinh doanh của Ba Nghĩa mà anh đã nói trước với Chủ tịch Lê Bá Lương thì việc diễn xuất của T5 càng thoải mái, tự do hơn.

Ở đây Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Lũy - người nắm quyền cao nhất cả về hành chính và quân sự ở Phước Long, không chỉ quen thân với Ba Nghĩa; đã quá chán ngán với cái địa bàn luôn bị Việt cộng tấn công, mỗi tháng mới được bay về Sài Gòn một lần, Lũy đang còn nhờ cậy anh nói giúp với Bộ trưởng Trần Thiện Khiêm để Khiêm tìm cách cho mình thoát khỏi nơi đây. Việc ấy đã gần tới đích khi Ba Nghĩa đã đưa Lưu Yểm - người có thể thay thế Lũy đến trình diện Trần Thiện Khiêm1. Thế nên lần này tới Phước Long, Ba Nghĩa và Lê Tân càng được Lũy tiếp đón nhiệt tình. Và Lũy cũng có cảm tình ngay với Lê Tân qua phong cách và bằng cả món quà rất hợp ý Lũy, Tân mang từ Sài Gòn lên.

Phòng khách sang trọng nhất trong dinh Tỉnh trưởng dành cho Ba Nghĩa và Lê Tân là tất nhiên. Nhưng H3 và T5 thích thú hơn cả là lúc nghe Lũy nói với mình: “Anh Ba thông cảm cho em. Hôm nay em bận công chuyện không đi cùng hai anh được. Xe riêng của em đó, anh Ba cứ tự lái mà dùng trong những ngày làm việc. Xong việc, hai anh ở lại chơi với em một hai ngày. Ta phải đánh phé cho đã và cũng phải để anh Tân thưởng thức tài nghệ “thư giãn” của các cô gái miền sơn cước này xem sao chứ! Còn chuyện về Sài Gòn không cần phải chờ có chuyến bay ở dưới đó lên. Muốn về Thủ đô lúc nào, em sẽ có ngay máy bay do phi công Mỹ đưa hai anh về. Mấy chú Mẽo, cố vấn đây là bồ ruột của em mà!”.

Bảy Vĩnh vui như mở cờ trong bụng. Đi cùng Ba Nghĩa đã suôn sẻ từ đầu, bây giờ tới nơi chủ chốt để mình thực thi nhiệm vụ lại không ngờ có thêm cơ may này. Vậy là tất cả các cử chỉ đều như rất vô tình, nhưng từ các hệ thống phòng thủ, hầm ngầm đến các vị trí cần biết trong ngoài dinh Tỉnh trưởng mà cũng là chi khu Phước Long đều đã qua mắt T5 dễ dàng, bởi anh đang là “người nhà” ở đây. Các nơi khác cần biết lại qua chuyện đến thăm thú các bạn thân quen của Ba Nghĩa, đến để chuyển quà từ Sài Gòn gửi lên... Trên đường đi, lúc nào cần cho chiếc xe riêng của Tỉnh trưởng chạy chầm chậm một chút, lái xe Ba Nghĩa liền đáp ứng tức thì. Còn các cứ liệu khác thuộc về nội tình thì qua những cuộc tiếp xúc với các chức sắc là thân hữu của H3 và đặc biệt qua mấy bữa nhậu lai rai với Tỉnh trưởng Lũy mà H3 đã khơi lên từ sự cảm thông với Lũy đang phải sống độc thân, T5 đã có được trong bộ nhớ của mình khá đầy đủ.

Tất cả các cứ liệu quý giá có được đó, lúc sắp rời khỏi chiếc trực thăng loại đặc biệt của Hoa Kỳ do phi công Mỹ lái đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất, lần nữa Bảy Vĩnh lại thầm thì với Ba Nghĩa là do H3 đã sắm vai rất tài nghệ cho mình.

Đúng thế, nhưng hiệu quả thỏa lòng nhất là chính từ chuyện sắm vai đó đã dẫn tới sau đấy ta đã có những trận thắng liên tiếp ở Phước Long. Và đến đầu tháng 1 năm 1975, niềm hân hoan trong lòng H3 càng trào dâng hơn khi từ cơ sở những cứ liệu T5 có được đó kết hợp với nguồn tin đặc báo anh cung cấp tiếp sau do dày công khai thác được từ viên Tỉnh trường ở đây đã là yếu tố rất quan trọng góp phần dẫn đến sự kiện lớn Phước Long là tỉnh đầu tiên ở miền Nam được giải phóng lúc lực lượng của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn đang còn nguyên vẹn.
__________________________________________
1. Trần Thiện Khiêm là anh em cọc chèo với Lũy, nhưng Lũy e ngại không muốn nói trực tiếp với Khiêm mà nhờ Ba Nghĩa vốn có quan hệ thân tình với Khiêm làm cầu nối cho dễ được việc hơn.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 05:21:48 PM

II

Khóa họp thường niên của Lưỡng viện Quốc hội Sài Gòn năm 1969 khai mạc vào đầu tháng 9. Lần này vấn đề trọng tâm mà các ông nghị đang tranh luận ầm ĩ là luật “Dân cày có ruộng” - một đạo luật theo họ chắc chắn phía Quốc gia sẽ lôi kéo được hết nông dân ở miền Nam. Đây cũng là thời điểm cả nước ta đang vô cùng đau thương trước sự ra đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vô vàn kính yêu. Nhưng ở miền Nam, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu coi như không biết và cấm nghiêm ngặt các báo không được viết bài về sự kiện này. Chính trong bối cảnh đó, vào giờ họp đầu buổi chiều ngày 4 tháng 9, hạ nghị sĩ Nguyễn Văn Lễ đã giơ tay xin được phát biểu.

Vốn tiếng nói thường có trọng lượng, lại đang có vị thế là Chủ tịch một ủy ban trong Hạ viện nên ông Lễ đã được mời phát biểu ngay. Sau khi tỏ sự nhiệt liệt đồng tình với các ý kiến đã tham luận về luật “Dân cày có ruộng”, ông liền vô đề luôn: “Tiếp đây tôi xin phát biểu một ý kiến khác mang tính thời sự mà tôi nghĩ cũng rất có lợi cho Việt Nam Cộng hòa chúng ta khi hiện nay cuộc hòa đàm về Việt Nam đang mở ra ở Paris. Đấy là sớm nay tôi vừa được biết tin về một sự kiện lớn ở miền Bắc là ông Hồ Chí Minh lãnh tụ của Bắc Việt vừa từ trần. Tôi đề nghị Lưỡng viện Quốc hội và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa chúng ta hãy cử một đoàn đại biểu ra Hà Nội phúng viếng ông Hồ Chí Minh. Bởi nghĩa tử là nghĩa tận đối với truyền thống Việt Nam ta, và dù sao ông Hồ cũng được cả thế giới biết đến. Như thế không chỉ Bắc Việt mà còn cả thế giới đều thấy rõ chúng ta rất thiện chí và nhân nghĩa. Nó rất có lợi cho Việt Nam Cộng hòa chúng ta cả về chính trị và ngoại giao khi đang có hòa đàm ở Paris hiện nay...”.

Ông Lễ mới nói đến đây, cả nghị trường đã sôi lên. Phe ủng hộ rào rào vỗ tay hoan hô ông Lễ dám cả gan đưa ra sáng kiến đáng giá. Phe phản đối, tuy ít và không trực tiếp phản bác đề xuất này, nhưng cũng la ó lấy cớ nghị sĩ Lễ nói lạc đề Quốc hội đang thảo luận, đòi diễn giả rút khỏi diễn đàn. Các nhà báo bất ngờ trước chuyện lạ chưa từng có ở diễn đàn Quốc hội tranh nhau xô tới chụp hình, phỏng vấn ông nghị vốn từ ngành công an, cảnh sát ra ứng cử vào Hạ viện.

Hạ nghị sĩ Nguyễn Văn Lễ đã chuẩn bị trước cho tình huống này. Trong tay ông đã có sẵn một xấp bản in đầy đủ nội dung ông đề xuất để nó đến được trọn vẹn với các nhà báo. Hiệu quả đã lớn không ngờ. Liền sau đó, nhiều dân biểu, nhân sĩ, trí thức đã lên tiếng tỏ rõ chính kiến, ý nguyện cùng quan điểm với ông. Còn các báo ở Sài Gòn cũng vào cuộc. Riêng tờ Tin Sáng số ra ngày thứ bảy và chủ nhật 6, 7 tháng 9/1969 có tới 5 bài viết về Bác. Dân biểu Trần Ngọc Châu đã thẳng thắn yêu cầu chính quyền Nguyễn Văn Thiệu:

“Chính phủ Việt Nam Cộng hòa nên tỏ lời phân ưu với miền Bắc trước cái chết của một lãnh tụ đã suốt đời phấn đấu cho lý tưởng - dù chúng ta đối lập với lý tưởng đó...”.

Còn nhân sĩ Hồ Hữu Tường lại đưa ra gợi ý cụ thể hơn:

“Ở Paris, đoán biết ông Hồ Chí Minh qua đời, nên tôi về nước để cùng với phái đoàn Việt Nam Cộng hòa ra Bắc Việt phúng điếu, chia buồn ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tạ thế. Tôi kêu gọi các nhà cầm quyền trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Việt Nam Cộng hòa hãy thể theo truyền thông quí báu của dân tộc Việt Nam mà tôn trọng một cuộc ngưng bắn toàn diện trong thời kỳ tang lễ...”

Mạnh dạn và sâu sắc hơn, tờ Chính Đạo số ra ngày 5.9.1969 đã in trang trọng trên trang nhất bài viết của tác giả Lê Quang Bằng với tựa đề: “Để nói lên khí thế hào hùng của dân tộc”. Bài báo viết:

“Thế là ông Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã giã biệt tất cả chúng ta! Theo truyền thông xử thế của dân tộc Việt Nam thì chết là hết, một khi một người đã nằm xuống thì việc làm của người đó lúc còn sống dù phải, dù trái đều được người còn sống bỏ qua để rồi cùng tiễn đưa nhau về nơi an nghỉ cuối cùng. Do đó tất cả những gì được gói ghém trong những dòng viết dưới đây chỉ nhằm nói lên một cảm nghĩ của một người Việt đối với “một người Việt” đã làm cho thế giới biết đến cái tên nước Việt và người Việt.

Ông Hồ Chí Minh, một con người có tiểu sử thần thoại mà có lẽ sau này khi ông chết đi, tính chất thần thoại trong tiểu sử của ông vẫn không chết theo.

Nếu chỉ phê phán ông qua sứ mạng chống xâm lăng, giành độc lập cho xứ sở thì không ai có thể phủ nhận rằng ông đã thành công trong việc lãnh đạo một dân tộc lạc hậu sau 100 năm ngoại thuộc, bị ngoại bang bóc lột đến tận xương tủy vừa phải khoác lên đầu vành tang đau thương vì 2 triệu người ruột thịt đã phải ngã gục khắp các hang cùng, ngõ hẻm, xó chợ, đầu đường bởi kế hoạch triệt đường lương thực của thực dân Ph.áp và phát xít Nhật.

Nhưng do có ông...

Chín năm sau, thực dân Pháp, một cường quốc cai trị một phần tư thế giới này được nếm đòn ở Điện Biên Phủ đã phải đầu hàng đoàn quân của ông.

Ngừng tay chiến đấu được 5 năm và giữa những lúc chưa phục hồi được những gì do 9 năm chiến tranh tàn phá đất nước, ông lại phải đương đầu với một siêu cường quốc số 1 trên thế giới này. Ai đảm bảo rằng 10 năm sau, siêu cường quốc kia chẳng phải điêu đứng và hầu như sẽ bị sụp đổ vì ông.

Cá nhân tôi, trước đây tôi ra nước ngoài, chưa mấy người ngoại quốc biết rõ Việt Nam ở đâu? Người Việt Nam da dẻ thế nào? Có phải tiểu quốc Phi châu nào đó không?... Nhưng ngày nay, con mắt người ngoại quốc nhìn chúng ta khác rồi. Và, chính tôi, dù chỉ là một công dân không tên tuổi, tôi cũng không bị ám ảnh bởi bất cứ một thứ mặc cảm, tự ti nào trước mắt họ nữa. Đó là nguyên nhân thúc đẩy tôi, dù phải nhận lãnh mọi hậu quả, tôi cũng không thể không nói lên những lời này. Tôi nói không phải làm lợi cho Cộng sản mà chính là để cho các đồng sự ngoại quốc của tôi không hiểu lầm rằng, tôi đã ngu muội tới mức không dám công khai thừa nhận một “vĩ nhân siêu việt” ấy chính là sản phẩm của giống nòi tôi…”.


Để báo chí miền Nam không bị “trói mình”, thi nhau vào cuộc đưa những tiếng nói chân thành trên đây đối với Bác Hồ kính yêu đến được với công luận và đông đảo quần chúng, dễ thấy ngay là ngoài uy tín của Hồ Chủ tịch và lòng kính yêu Người, nó đã được bắt nguồn từ tiếng nói cả gan của hạ nghị sĩ Nguyễn Văn Lễ. Nhưng yếu tố cơ bản của “tiếng nói cả gan” đó phải hơn 30 năm sau mọi người mới biết rõ. Vị hạ nghị sĩ được khá nể trọng trong chính thống Sài Gòn ấy chính là một chiến sĩ tình báo của ta. Ông đã được cài vào hàng ngũ địch từ thời kháng chiến chống Pháp và đã chui sâu, leo cao đến chức Trưởng ty Cảnh sát và Chủ tịch một ủy ban trong Hạ viện Sài Gòn. Với cái “vỏ bọc” đã dày công tạo dựng lên đó, tiếng nói của ông Lễ luôn có trọng lượng trong chính trường Sài Gòn và rõ nhất là sự bạo gan khi thuyết phục Quốc hội Sài Gòn cử đoàn đại biểu ra Hà Nội phúng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không chỉ thế, còn bao chiến công thầm lặng lớn khác nữa mà đồng chí Ba Lễ đã góp sức cho sự toàn thắng của nhân dân và Tổ quốc ta. Đấy là những tin tình báo chiến lược ông đã kịp thời cung cấp cho Bộ chỉ huy Miền trong những năm chống Mỹ. Và ông cũng là một trong ba chiến sĩ tình báo trong Tổ điệp báo H67 đã bám sát Tổng thống Dương Văn Minh ở dinh Độc Lập, góp sức cùng các mũi tiến công khác buộc Dương Văn Minh sớm phải đầu hàng Cách mạng. Sau đó, trong ngày 30.4.1975, Ba Lễ cùng với hai đồng chí Sáu Trí, Bảy Cang đã giúp Thiếu tướng Nguyễn Văn An, Tư lệnh Quân đoàn chiếm dinh Độc Lập kịp thời ra Thông cáo số 1 để ổn định tình hình khi Sài Gòn vừa được giải phóng.

Xuân Tân Tỵ – 2001


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 11:04:22 PM

NGỌN CỜ BINH BIẾN

Giôn Pi-tơ vẫn còn mỉm cười khi bước lên buồng lái. Cái bắt tay cùng ánh mắt đầy thầm ý của viên trung úy quân đội Sài Gòn ở đồn Lương Hòa hẳn đã tiếp thêm niềm thích thú cho Pi-tơ. Chiếc trực thăng UH1 theo tay lái của y nâng mình lên rất nhẹ khỏi sân đồn. Nắng sớm xôn xao nhuộm sáng cả khoảng trời miền Tây một màu hổ phách. Từ trên cao nhìn xuống, lúc này Pi-tơ càng thấy rõ Lương Hòa đúng là một “hòn đảo”. Nó đơn côi giữa một bên là Vàm Cỏ Đông, còn ba bề là đồng bưng trống trải bạt ngàn. Không có một đường bộ nào xe cộ có thể đi an toàn vào tiền đồn này. Chỉ có đi lại, vận chuyển, tiếp tế cho Lương Hòa theo dòng Vàm Cỏ. Nhưng con sông vốn hiền hòa thơ mộng ấy từ Tết Mậu Thân đã bị thiết quân luật. Thuyền ghe của dân chúng chỉ được ngược xuôi trên sông theo giờ qui định ít ỏi của Tư lệnh vùng và Tỉnh trưởng Long An. Còn tàu xuồng của quân đội Sài Gòn mỗi lần vận chuyển, hành quân đều phải “tiền hô hậu ủng”. Từ những vạt dừa xanh thẫm nối dài trên sông, các cuộc tiến công của Việt cộng luôn diễn ra ác liệt, bất ngờ. Bởi thế đội trực thăng của Pi-tơ luôn vất vả và căng thẳng. Càng tăng cường từ khi tiếng súng của Quân giải phóng nổ rộ giữa thủ đô Việt Nam Cộng hòa. Hết bay thám sát, bay yểm trợ lại bay vận chuyển. Tiền đồn Lương Hòa được nuôi sống thật sự phải trông chờ ở cái cầu hàng không của phi đội Pi-tơ. Suốt mấy tháng nay, Pi-tơ không được một ngày nào nghỉ bay. Cũng lâu lắm rồi viên đại úy phi công Hoa Kỳ này mới có một chuyến bay được thư giãn thần kinh như hôm nay. Hôm nay Pi-tơ chỉ chở một tốp lính đến Đức Hòa nhận hàng quân lương nên sẽ không có nguy hiểm do đối phương gây ra trên đường bay, nhưng thư giãn không chỉ vì thế. Cái chính làm cho Pi-tơ thích thú là trên máy bay của y hôm nay có hai phụ nữ Việt Nam. Trong đó có một cô vừa đẹp lại có duyên, cái duyên của một cô gái vùng quê. Từ trên buồng lái Pi-tơ luôn ngoái lại nháy đôi mắt hau háu xuống hai người đẹp hoài hoài. Suốt mấy tháng trước khi cuộc chiến ác liệt, không về được những hộp đêm ở Sài Gòn và Biên Hòa, có được những bóng hồng ở bên quả là vận may đã được Chúa ban cho Pi-tơ. Đã từng có thâm niên bay trên vùng trời miền Tây Nam Bộ, Pi-tơ không chỉ quen thuộc với những nhánh sông, vạt dừa, quen gieo bao đau thương cho thường dân sở tại mà vòng tay y cũng từng ôm ấp bao cô gái Việt Nam đã tự bán mình. Lúc này lời gửi gắm của trung úy, đại đội trưởng ở đồn Lương Hòa lại đang vang lên nghe rõ mồn một bên tai Pi-tơ: “Xin giới thiệu với Đại úy, đây là chị Tư, chị họ tôi. Còn đây là cháu Hồng, cháu gọi tôi bằng cậu. Nghe nói được Đại úy cho quá giang bằng máy bay đến Đức Hòa, hai dì cháu mừng lắm, nhất là cháu Hồng. Tôi đã nói với hai dì cháu về Đại úy. Biết đâu như tục ngữ Việt Nam có câu: “Chuyến đò nên quen”, từ sau chuyến đi này, Đại úy lại có thêm những người bạn mới ở Việt Nam...”.

Lúc máy bay sắp cất cánh, nghe Lê Quang Ninh nói những lời mát lòng ấy, Pi-tơ đã cười tít mắt và dang cả hai cánh tay ra mời dì cháu Hồng lên máy bay. Còn bây giờ, y thầm bảo mình: “Phải rồi! Ta phải bắt rễ ngay với trung úy Ninh để có người bạn mới là cháu gái của trung úy. Trước hết, lúc xuống Đức Hòa ta phải tỏ rõ mình là một phi công Hoa Kỳ hết sức hào hoa với hai người đẹp. Phải có một gợi ý tế nhị và hò hẹn ngay từ buổi hội ngộ ban đầu này”. Pi-tơ phát thảo ý đồ đó rất nhanh khi trở lại buồng lái. Rất may, với đoạn đường bay vốn giản đơn và an toàn này, Pi-tơ để máy bay bay theo chế độ tự động nên luôn có thể đưa mắt xuống quan sát hai vị khách quý của mình. Khi đó, chị Tư đã ngấm ngầm nắm bàn tay Hồng nắn nắn “Được lắm! Con và cậu Ninh con hôm nay diễn xuất rất giỏi. Cứ như là một nghệ sĩ thứ thiệt”. Khi máy bay đỗ xuống Đức Hòa, lúc lên đường ra xe đò, chị Tư đã nói ý nghĩ đó với Hồng. Cô cháu gái của trung úy Ninh vừa cười vừa nói:

- Dì mới là nghệ sĩ thứ thiệt chứ. Dì là Việt cộng chính cống, đi truyền đạt mệnh lệnh cấp trên cho những Việt cộng khác nằm vùng trong hàng ngũ Mỹ - ngụy lại đi đàng hoàng trên máy bay Hoa Kỳ do chính phi công Hoa Kỳ lái.

- Chuyến đi này dì rất may là có con đi cùng. Không chỉ có lợi thế trẻ đẹp mà con còn sắm vai tài lắm, vượt cả kịch bản mà bà ngoại đạo diễn. Lần nữa dì rất biết ơn và phục tài đạo diễn của ngoại. Tuy vậy, quan trọng hơn chính là vì cậu Ninh nhà mình đã bám rễ rất chắc và rất có uy tín với bọn chúng, kể cả lũ cố vấn Mỹ. Đây là chuyến đi khó khăn nhất với dì kể từ khi cấp trên phân công chỉ đạo cậu Ninh. Vậy mà không ngờ mọi việc lại suôn sẻ đến thế. Đi bằng đường thủy, về bằng đường không, lại được phi công Hoa Kỳ coi như thượng khách mà niềm nở đón đưa nữa chứ.

Chị Tư vừa thủ thỉ nói, vừa nắm tay kéo sát Hồng đi bên mình. Hai dì cháu cũng nói được với nhau như thế về chuyến đi khi về đến bến xe Đức Hòa. Ở đây hai dì cháu phải ẩn giấu sự lưu luyến để rồi tách chia hai ngả. Hồng xuôi về Mỹ Tho, chị ngược lên Sài Gòn. Chị yên tâm đưa mắt ngầm tiễn cô “vệ sĩ” rất đáng yêu của mình khi chuyến xe chở Hồng chuyển bánh. Còn chị, khi về được tới thành phố an toàn rồi chị mới tạm nhẹ lòng về chuyến đi đầy mạo hiểm. Nói tạm nhẹ lòng bởi lúc cuộc chiến tranh diễn ra nhiều nơi trong thành phố, chỉ khi nào chị gặp lại, báo cáo đầy đủ về kết quả thực thi nhiệm vụ được với đồng chí Bảy Dự1 giao cho mới thật sự an toàn.

Đã bao năm “gieo mầm”, “ươm cây”, trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân này, lực lượng binh vận miền Nam, đặc biệt là ở nội thành Sài Gòn đã hoạt động rất hiệu quả, thể hiện được đúng là một trong ba mũi giáp công của Đảng. Để tăng cường cho địa bàn này, Ban Binh vận Trung ương đã cử hẳn đồng chí Bảy Dự, Phó ban vào nằm ngay tại nội đô để chỉ đạo các đầu mối hoạt động. Chị Nguyễn Thị Nhẫn là một trong những đầu mối trọng điểm, người đã có hơn mười năm xây dựng các cơ sở nội và ngoại tuyến. Vào đợt hai của cuộc tiến công, chị Tư được anh Bảy gọi đến một địa điểm bí mật. Tới nơi vừa yên vị, đồng chí Phó ban đã hỏi ngay:

- Cô Tư! Cơ sở T5 của cô vẫn vững vàng và cô vẫn thường xuyên liên lạc với cơ sở chứ?

- Dạ, T5 vẫn vững vàng và bình an trong “vỏ bọc”. Em vẫn qua gia đình T5 liên lạc, chỉ đạo thường xuyên.

- Tốt lắm! Ta đã dày công tạo được vỏ bọc cho cơ sở đó suốt 5 năm nay. Nhưng con sơn ca đó dịp này ta cần nó cất tiếng hót đã được chưa?

- Ý anh Bảy là ta sẽ đánh Lương Hòa xóa đi cứ điểm này và T5 sẽ làm nội ứng?

- Xóa được cứ điểm Lương Hòa, ta cần phải có lực lượng lớn và phải hiệp đồng quy mô, thời điểm này ta chưa đặt ra.

- Vậy ý anh Bảy là ta phải lệnh cho T5 làm binh biến dẫn đơn vị ra vùng giải phóng trong đợt hai Mậu Thân này như ta đã có ý định từ lâu?

- Đúng vậy cô Tư. Từ trước tới nay, việc T5 cung cấp các tin tức về địch cho ta chỉ là thứ yếu. Cậu ấy ở Sư đoàn 25, một sư đoàn con cưng của Mỹ - ngụy. Sư đoàn con cưng đó lại có một đơn vị phản chiến vào thời điểm này là rất có ý nghĩa.

- Theo em hiểu được tâm lý T5 thì mệnh lệnh này đã là nguyện vọng cháy bỏng từ lâu của cậu ta, bởi không chỉ nóng lòng mong lập được chiến công mà còn rất muốn được sớm giải tỏa mặc cảm. Nhưng ta phải xem thực tế tình hình để con “sơn ca” đã cất tiếng hót thì phải hót thật hay và bảo đảm an toàn.

- Chính vì thế mới cần sự có mặt của cô Tư ở Lương Hòa. Ngay sau khi về, cô Tư sẽ tìm cách tới được hang ổ của địch ở Lương Hòa để thực tế xem xét tình hình và trực tiếp bàn bạc với T5 thực hiện ngay ý định này của Ban. Hiện tại, địch đang cắm trại một trăm phần trăm, không thể nhắn với T5 về điểm hẹn, cô Tư phải tới đồn Lương Hòa. Rất khó khăn đó. Bởi vì tình hình chiến sự đang diễn ra khắp nơi, giao thông rất cản trở. Nhưng tôi tin ở sự dày dạn kinh nghiệm của cô. Tuy vậy, cô Tư phải hết sức thận trọng để vừa được việc vừa bảo đảm an toàn cho cả bản thân và cơ sở.
_____________________________________
1. Bí danh của đồng chí Nguyễn Võ Danh.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 11:05:19 PM

Anh Bảy nhỏ nhẹ, chân tình. Nhưng Tư Nhẫn đã coi đó là chỉ thị của đồng chí Phó ban, là mệnh lệnh tác chiến của người chỉ huy. Rất khẩn trương, chị đã xuất quân ngay sau khi đã phác thảo xong một kế hoạch tác chiến cho mình. Phải mất tới 4 giờ từ Sài Gòn, chị mới vượt qua được trạm kiểm soát của địch để về đến Mỹ Tho. Má Năm Long, má ruột của T5 vẫn bám trụ ở xã Đạo Thạnh ngoại thành Mỹ Tho. Muốn gặp được T5 lần này không thể nào khác hơn là chị phải về đây gặp má trước. Chính má là đầu mối để chị tiếp cận được với T5, tức Lê Quang Ninh, con trai má ngay từ buổi đầu. Ngày đó vào cuối năm 1964, Ninh đã tốt nghiệp trường sĩ quan trù bị Thủ Đức được điều về Sư đoàn 25. Ban Binh vân Mỹ Tho đã chuyển T5 về Ban Binh vận Trung ương quản lý. Chị Tư được giao nhiệm vụ trực tiếp mật giao, chỉ đạo T5 từ thời điểm này. “Làm sao gặp được T5 để làm quen với nhau khi mình chưa biết mặt T5?”. Trước khi được giao phụ trách cơ sở T5, chị đã được Ban Binh vận Mỹ Tho giới thiệu về gia đình anh Lê Quang Ninh và để việc bắt liên lạc này được tiện lợi, an toàn, chị đã nghĩ ngay đến việc gặp má Năm trước tiên. Má đã từng chủ trì cuộc họp gia đình để động viên Ninh yên tâm theo sự phân công của tổ chức đi đăng ký theo học lớp sĩ quan của quân đội Sài Gòn khi cả cha mẹ và các anh chị đều tham gia cách mạng, nhiều người đã là đảng viên Đảng Cộng sản. Quả nhiên khi gặp má Năm, chị thấy má đúng là điểm tựa vững chắc cho các con. Má là người nhân hậu, bao dung, lại rất nhạy cảm, thông minh, luôn có ý kiến một cách chính xác về mọi công việc trong gia đình. Chẳng thế, các con má kể cả các anh chị lớn tuổi đã hoạt động cách mạng lâu năm vẫn phải luôn lắng nghe và nhận được những lời khuyên có giá trị của má. “Được rồi! Từ nay việc liên lạc bố trí thằng Ninh về điểm hẹn để con gặp chỉ đạo nhiệm vụ cho em để má lo. Có điều để bọn địch và mọi người ở quanh đây khỏi nghi ngờ và con có thể đi về với má tự nhiên, từ nay con phải là cháu gọi má bằng dì, là chị bên ngoại của các em ở đây. Cả nhà chỉ mỗi thằng Ninh về bề ngoài là đi rẽ một đường. Nó không ưng lắm đâu, dù đó chỉ là cái áo bên ngoài. Nhưng theo sự gợi ý chỉ đạo của tổ chức và động viên khuyên bảo của cả gia dình nó mới vui vẻ, tự nguyện chịu vô quân ngụy mà thực hiện nhiệm vụ này. Bởi vậy, mọi việc con làm để tạo cho em Ninh hoàn thành nhiệm vụ, má nghĩ cũng là việc của má...”.

Má Năm nói như vậy trong buổi đầu chị Tư gặp má. Và chị đã gặp T5 lần đầu rất dễ dàng, hợp lý ở ngay trong nhà má. Từ đấy, mỗi lần chị muốn trực tiếp chỉ đạo cho Ninh đều phải qua má. Những lần ấy, mỗi lần mỗi cách, khi cho cháu, lúc cho vợ Ninh đến thăm Ninh để nhắn anh về thời gian, địa điểm gặp chị. Còn chị, trước con mắt của mọi người, kể cả bọn tề điệp, hương lý ở địa phương, chị cũng đã nghiễm nhiên là người nhà thân thuộc, là cháu gọi má Năm bằng dì. Đôi khi nếu ai thấy chị ngồi trò chuyện với T5 thì cũng chỉ là chuyện hai chị em hàn huyên với nhau bình thường. Suốt mấy năm nay, tất cả những lần gặp gỡ ấy qua sự sắp xếp của má đều suôn sẻ, an toàn. Lần này, tiếng súng của Quân giải phóng lại đang dội lên ở miền Nam, vừa thấy chị Tư, má linh cảm chắc cấp trên đã có nhiệm vụ cho con trai mình nên không đợi chị nói trước, má đã hỏi luôn:

- Con về đột xuất thế này, chắc thằng Ninh đã được giao nhiệm vụ khẩn cấp phải không?

- Ôi má nhạy cảm quá! Nhưng hiện tại chúng đang cắm trại một trăm phần trăm nên lần này khó mà nhắn cậu Ninh về nhà được.

Má yên lặng nhìn chị với đôi mắt suy tư như một vị chỉ huy đang tính toán trước một tình huống gay cấn của trận đánh. Rồi đột nhiên má hỏi chị:

- Con có tính đến việc phải tự mình đến Lương Hòa để gặp em Ninh không?

- Thưa má, lần này con bắt buộc phải tự mình đến đó. Nhưng con chưa tới đấy lần nào. Đường vô Lương Hòa lại chỉ có duy nhất đì bằng đường thủy theo sông Vàm Cỏ, nhưng đường sông đó bọn chúng vẫn đang thiết quân luật. Bởi thế việc đi gặp được cậu Ninh chuyến này rất khó khăn.

- Đúng! Không còn cách nào khác là con tự đến đồn Lương Hòa. Má sẽ giúp con bằng cách cho cháu Hồng đi hỗ trợ sau con.

- Cháu Hồng con anh chị Bảy phải không má? - Chị Tư hỏi má như reo lên bởi chị đã nghe nói về cháu Hồng.

- Ừ, con nhỏ đó. Cha nó đã bị Pháp bắt rồi chặt đầu hồi kháng chiến chín năm. Nó đúng là cha nào con nấy. Can đảm, thông minh, ứng phó rất lanh lẹ.

- Con đã nghe nói nhiều về cháu Hồng rồi. Nó không chỉ lanh lợi mà còn rất trẻ và rất xinh gái nữa. Má cho Hồng đi “phụ tá” cho con thì công việc nhất định suôn sẻ rồi. Nhưng má ơi? Chị Tư chọc má - Như thế là nữ tướng của con vào trận đánh này đã dùng đến cả thế mạnh của phụ nữ ta phải không?

Má cười, và từ lâu đã xem chị như con gái nên mắng yêu:

- Con Tư này! Bay lại còn phong tướng cho má và cho má là dùng mỹ nhân kế phải không?

- Má ơi, con đâu có nói như thế. Nhưng má cũng phải công nhận trẻ đẹp là một thế mạnh của phụ nữ ta đối với đấng mày râu phải không? Thế mạnh ấy lại được tung ra đúng lúc để công tác cách mạng được thuận lợi thì nó càng đẹp, càng có giá phải không má?

- Má chẳng nghĩ đến thế mạnh thế yếu như con mà chỉ nghĩ rằng chuyến đi lần này của con đến Lương Hòa rất khó khăn. Nếu có con Hồng đi cùng thì với tuổi trẻ và dáng dấp dễ thương cùng lời nói ngọt ngào của nó, chắc chắn dì cháu con sẽ qua được cả những trạm gác nghiêm ngặt nhất của bọn lính Quốc gia.

- Con hiểu ý và rất cám ơn má. Trong công việc của con với cậu Ninh, mỗi khi có khó khăn qua má lại êm xuôi. Vậy cháu Hồng bây giờ có nhà không má?

- Mấy bữa nay nó ở nhà. Má sẽ cho gọi nó sang ngay để hai dì cháu trao đổi với nhau và má cũng dặn bảo nó rút kinh nghiệm những lần trước, chuẩn bị kỹ cách ứng phó với bọn chúng cả dọc đường đi và lúc tới Lương Hòa. Nhưng má muốn hỏi con, con có thể cho má biết về nhiệm vụ lần này của em Ninh được cấp trên giao cho là gì được không? Hẳn không phải như mọi lần mà phải đụng độ với bọn chúng phải không con?

Về nguyên tắc, câu hỏi của má thật khó trả lời đối với chị Tư. Tuy chưa làm mẹ, vì mải mê công tác, chưa lập gia đình nhưng là phụ nữ gần bốn chục tuổi, chị thấu hiểu nỗi lòng của người mẹ. Hơn thế, má rất đáng tin cậy và là người trong cuộc nên chị đã không giấu má về sứ mạng cấp trên giao cho Ninh trong dịp này. Tuy vậy, để má khỏi lo lắng, chị đã nói nhiều tới “bức tranh tươi sáng”, trở về đúng nguyên hình là một đảng viên Đảng Cộng sản của Ninh. Nghe xong, gương mặt má sáng bừng lên như hồi má biết tin con gái lớn của má đã thoát ra khỏi trận càn của địch ra được tới vùng giải phóng. Hai giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má nhăn nheo, giọng má run run xúc động:

- Ôi, nếu được như thế thì má có nhắm mắt cũng yên lòng. Cầu mong cho công chuyện của các con thành công, an toàn. Em Ninh chắc sẽ sung sướng lắm khi nhận được mệnh lệnh này. Sự việc ấy trót lọt thì không riêng nó mà cả nhà đều không còn phải mặc cảm với bà con.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 11:07:07 PM

Chị Tư cũng khấp khởi với niềm hy vọng đó khi cùng cháu Hồng lên đường. Má Năm ngoài chuyện dặn dò kỹ cháu ngoại về cách ứng phó ở dọc đường cũng đã chuẩn bị cho hai dì cháu một giỏ bự quà.

- Đến thăm em và cậu lâu ngày không được về nhà là phải có mấy đồ như vậy - Má chỉ vào cặp gà mái tơ mập ú và những chùm nem hảo hạng xong còn dặn thêm Hồng - À ngoại đã bỏ mấy gói thuốc lá lẻ ra ngoài để tiện cho dì cháu con, nếu khi nào cần phải lót tay mấy thằng lính thì có ngay và dễ lấy đó con.

Quả là bao Capstan má đã chuẩn bị sẵn qua tay Hồng rất có hiệu lực khi hai dì cháu đến Bến Lức. Tên thượng sĩ phụ trách chốt gác ở bến đò vốn rất dữ dằn đã thay đổi hẳn thái độ:

- Trời ơi, em lại còn “cho anh phát súng tim anh nát” 1. Chẳng có nó mà nhìn em tim anh cũng sắp bung ra ngoài rồi - Hắn cầm bao thuốc mà nhìn như muốn nuốt tươi lấy Hồng, nói với giọng đầy tình tứ lả lơi.

Hồng chớp lấy thời cơ tấn công ngay:

- Vậy muốn tim không nát thì anh kiếm giúp dì cháu em phương tiện để vô sớm Lương Hòa với cậu em đi!

- Ôi! Khó gì đâu em! Miễn là em đừng quên anh. Sắp đến giờ ghe thuyền của dân được đi rồi. Anh kiếm một chiếc thuyền đi qua Lương Hòa gửi hai dì cháu em tới nơi ông cậu của anh mà.

Hắn vừa nói vừa nháy mắt với Hồng, đôi mắt nãy giờ như đã dính vào khuôn mặt xinh đẹp của cháu gái chị Tư. Lần nữa, nhất là khi hai dì cháu đã ung dung ngồi trong chiếc thuyền và tới được cổng đồn Lương Hòa rồi, chị Tư càng thấy chuyến đi có phụ tá như Hồng mà má Năm đã sắp xếp quả là thứ giấy thông hành đầy ma lực và màu nhiệm. Tới đây, những tên lính gác cổng chẳng những khá dễ dãi vì có Hồng mà nghe nói là người nhà trung úy Ninh, bọn chúng lại càng tỏ ra rất nhiệt tình, cố ý làm đẹp lòng hai dì cháu. Chỉ có Ninh là phải cố trấn tĩnh để không lộ ra sự biến sắc khi thấy hai dì cháu bất ngờ xuất hiện ở đây vào thời điểm này. Với linh tính của một người lính đang hoạt động bí mật ở nội tuyến, anh nghĩ ngay “Chắc có việc hệ trọng sắp đến với mình”. Tuy vậy, trước mặt các chiến hữu anh đã tỏ ra rất bất ngờ và mừng rỡ:

- Ôi chị Tư và cháu Hồng! Hẳn là lâu không thấy em về, má lại cho hai dì cháu lên thăm phải không? Bom đạn, đường sá sông nước trở ngại thế mà hai dì cháu cũng đến được tới đây giỏi thiệt.

- Nhớ cậu quá má cũng định tới xem sức khỏe cậu ra sao mà chẳng tin gì về nhà, nhưng dì cháu tôi ngăn không cho má đi đó cậu Năm.

Năm Ninh hiểu ý, nhưng trước mặt các chiến hữu, anh đã ha hả cười và pha trò với chị:

- Chà má lo sức khỏe của “con voi” này nên bắt hai dì cháu mang các thứ đồ nhậu để bồi dưỡng. Nhưng ít quá chị Tư ơi. Bằng này ăn nhằm gì.

Năm Ninh vừa nói vừa điểm các thứ trong giỏ quà, lấy thuốc lá ra mời mấy chiến hữu đứng bên và bảo mấy chú lính cận vệ:

- Này Phước! Cậu đem gà và mấy thứ này ra trổ tài bếp núc để lát nữa ta mời mấy ông chỉ huy tiểu đoàn xuống lai rai mừng dì cháu chị Tư tới thăm. Để làm cho lẹ, ta bổ sung cho cậu một nữ đầu bếp rất khéo tay này.

Ninh cười, chỉ vào Hồng. Vốn rất thông minh, Hồng hiểu ý cậu mình đang muốn gặp riêng dì Tư. Còn việc mời “mấy ông trên tiểu đoàn xuống lai rai” Hồng cũng hiểu rằng: “Đây không chỉ chiến thuật tranh thủ lòng người mà tính cậu vốn phóng khoáng, chịu chơi với bạn bè. Hơn nữa, qua mấy lần đến thăm cậu, Hồng biết không chỉ trong đại đội mà mấy ông sĩ quan cấp trên cũng rất quí nể cậu mình”.

Đây cũng là một trong những thành công về việc tạo uy tín và vỏ bọc cho mình của Ninh không riêng ở tiểu đoàn 1 mà cả trung đoàn 50. Tiểu đoàn này hiện đang đóng quân tập trung trong đồn Lương Hòa, một cứ điểm quan trọng trong thế bố trí phòng thủ ở mặt Tây Nam Sài Gòn của viên tướng Tư lệnh Quân khu 31 chiến thuật kiêm Tư lệnh Sư đoàn 25. Ninh tuy mới là trung úy Đại đội trưởng, nhưng lại là Đại đội trưởng đại đội mũi nhọn của tiểu đoàn thường được trung đoàn và cả Tư lệnh sư đoàn nhiều lần khen ngợi. Không chỉ các sĩ quan, binh sĩ thuộc cấp mà cả các sĩ quan cấp trên và các cố vấn Mỹ, đặc biệt là mấy sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn 1 đều o bế, nể mặt Ninh.

Để có được vị thế và uy tín như vậy, nhưng lại không phải là một sĩ quan ác ôn, say máu do giết được nhiều Việt cộng mới thật khó khăn đối với Lê Quang Ninh. Người hiểu rõ nhất về cuộc chiến thầm lặng đầy gay go phức tạp, từng hành động phải xử lý thật thông minh, khôn khéo để che được mắt địch, vừa đạt được mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng của Ninh chính là chị Tư. Chị biết hiện tại trong đại đội do Ninh chỉ huy, từ sĩ quan đến binh sĩ đều kính nể, quý mến và sẵn sàng chấp hành mọi mệnh lệnh của Ninh. Với Ninh từ trước tới nay, họ không hề bị Ninh chửi mắng, mà chỉ thấy ở Ninh như một người anh cả độ lượng, tôn trọng nhân phẩm của họ và mọi việc làm theo định hướng của Ninh đều có lợi cho họ. Kể cả ra trận, nếu chấp hành đúng theo lệnh của Ninh cũng đỡ tổn thất hơn các đơn vị khác.
____________________________________
1. Bọn lính ngụy thường gọi các chữ cái của tên thuốc lá CAPSTAN là: Cho anh phát súng tim anh nát.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 11:07:39 PM

Biểu hiện về uy tín và tình cảm của Ninh với các binh sĩ ở đây từ lúc tới Lương Hòa đến giờ chị Tư càng thấy rõ. Nhưng liệu dịp này cậu Năm có đưa được cả đại đội ra để gây một tiếng vang phản chiến trong quân đội Sài Gòn như ý định của cấp trên mà trực tiếp là đồng chí Bảy Dự đã ra lệnh và cử chị tới để truyền đạt cho Ninh không? Sau khi phổ biến rõ ý định và mệnh lệnh cấp trên giao cho Ninh, chị đã đặt ra câu hỏi đó với Ninh, Ninh nhìn chị Tư như nhìn người chị ruột thân thiết khi cần thổ lộ điều tâm tư thầm kín của mình.

- Chị Tư à! Em biết chị hiểu em về mọi mặt còn hơn cả má và anh chị em ruột của mình. Chị đã biết cả gia đình em đã phải họp mặt thế nào để em yên tâm vui vẻ chấp hành mệnh lệnh của gia đình khi anh Mười Hòa quyết định bố trí cho vào ngành Binh vận này hồi ở Mỹ Tho. Chị cũng biết em đã được kết nạp vào Đảng trước một ngày khi em khăn gói lên đường ra học trường Sĩ quan trù bị Thủ Đức của ngụy theo sự sắp xếp của tổ chức. Và chị cũng hiểu rõ nổi khổ tâm, mặc cảm của em mỗi khi về quê nhận được những ánh mắt trách móc của bà con.

- Ừ, chị hiểu và thông cảm với cậu. Thế nên chị cũng rất mong sớm được giao nhiệm vụ cho cậu để cậu được giải tỏa mặc cảm này. Bao ngày trồng cây nay đến ngày hái quả, cậu vui khi trở lại chính mình rồi chứ?

Chị Tư vui vẻ nói, và nghĩ là Năm Ninh sẽ rất phấn khởi khi đón nhận mệnh lệnh này. Nhưng lạ chưa, ánh mắt của Ninh sao lại chẳng có một biểu hiện nào như chị nghĩ thế kia? Chị hiểu rõ biểu hiện đó khó Ninh nói hết cả tâm tư và tình hình thực tế ở đây, điều mà đồng chí Bảy Dự dặn chị: “Tuy là mệnh lệnh, nhưng còn phải trao đổi kỹ với Ninh cụ thể về yếu tố thời cơ để có quyết định chính xác”.

Với Ninh, đúng là trong suốt 5 năm nay phải trong vỏ bọc, anh đã từng ngày, từng giờ mong nhận được mệnh lệnh như chị vừa truyền đạt để mình được tung cánh tự do. Ninh rất mừng lần này gặp chị, chị đã mang theo mệnh lệnh đó. Nhưng rất khó nghĩ cho cậu ta khi đang ở địa điểm và thời điểm này. Vì sao? Như Ninh đã nói: “Vì chị đang hiện diện ở đồn Lương Hòa nên đã phần nào thấy đó. Ở đây bốn bề là sông nước và đồng bưng trống trải. Đại đội em lại không phải đóng quân độc lập mà nằm chung trong đội hình của tiểu đoàn để trấn giữ cứ điểm này. Điều quan trọng nữa là ở đây cách rất xa dân cư và càng xa vùng giải phóng. Như vậy, về địa điểm thì hoàn toàn bất lợi nếu em tổ chức cho đại đội phản chiến thoát ra khỏi đồn. Còn thời điểm thì hiện nay cả sư đoàn đang trong trạng thái báo động, sẵn sàng nổ súng. Không một hành động khác biệt, riêng rẽ nào qua mặt được các cấp chỉ huy. Chỉ có thể kéo quân ra được nếu đại đội được lệnh độc lập hành quân tác chiến. Những cơ hội này hiện tại không thể có, bởi lâu nay cả tiểu đoàn được lệnh phải trụ vững để quân ta không xóa được các tiền đồn trọng yếu này. Trước thực tế trên đây, dù em có thuyết phục được cả đại đội theo em làm binh biến kéo quân ra vùng giải phóng thì chỉ ra khỏi đồn là đã bị phát hiện và lập tức cả đơn vị sẽ bị tiêu diệt. Kết cục như thế tất nhiên sẽ mất cả trăm mạng người. Đau xót hơn, nó sẽ dẫn đến hơn trăm bà mẹ sẽ mất con. Còn ta, nếu tổ chức binh biến mà dẫn đến sự bi thảm đó thì chẳng mang lại ý nghĩa gì cả về quân sự và chính trị. Đấy, chị bảo em trao đổi cho cặn kẽ thì em xin nói tình hình thực tế như thế. Và em đề nghị chị về báo cáo với cấp trên lần này phải lui lại chờ cơ hội khác. Đề nghị như thế không phải em nhụt chí và sợ hy sinh đâu. Em đã chấp nhận sự hy sinh ngay từ khi dấn thân vào mặt trận thầm lặng này. Hơn nữa, như chị nói về chuyện trồng cây và hái quả, ta đã dày công trồng cây thì phải hái quả cho thật nặng tay và trọn vẹn”.

Mang hy vọng lớn trong đợt hai cuộc tấn công Mậu Thân này, mũi binh vận của mình sẽ góp thêm một trái bom nổ ngay trong lòng địch và nghĩ đến việc mình phải vượt qua bao khó khăn nguy hiểm mới gặp được T5, giờ đây nghe T5 trình bày và đề nghị lui lại chờ thời cơ khác, chị Tư đã không khỏi hụt hẫng. Nhưng qua trao đổi xem xét cụ thể về thực tế, chị thấy kiến nghị của T5 hoàn toàn có lý. Không thể hành động khi không hội đủ các yếu tố cần thiết. Đã bộc lộ cơ sở, tổ chức binh biến thì phải bảo đảm chắc chắn thắng, đạt được đúng mục đích, ý nghĩa của nó. T5 rất muốn sổ lồng nhưng đã rất tỉnh táo, dám mạnh dạn thẳng thắn kiến nghị, không sợ cấp trên cho mình là nhụt chí, sợ hy sinh. Qua đây chị càng quý và tin Ninh hơn. Càng quý tấm lòng nhân hậu và ý thức trách nhiệm trước sinh mạng binh sĩ của Ninh khi cậu ta nói đến hơn một trăm bà mẹ sẽ mất con nếu như ta manh động.

Những điều suy nghĩ ấy của chị Tư càng chín hơn khi chị ngồi trên máy bay do Ninh đề nghị với cố vấn Mỹ cho dì cháu quá giang lên Đức Hòa. Từ trên cao nhìn xuống toàn cảnh đồn Lương Hòa, chị càng thấy rõ những khó khăn không thể nào khắc phục được mà T5 đã trình bày. Có thêm cơ sở thực tế này, khi về báo cáo với đồng chí Bảy Dự, đồng chí Bảy Dự đã dễ dàng nhất trí, coi việc chị và Ninh quyết định lui lại hành động lần này để chờ cơ hội khác là hoàn toàn chính xác. Đồng chí Phó ban còn vui vẻ nói thêm:

- Đừng nghĩ là ta đã thua keo này. Qua đây, cả chúng ta đều có kinh nghiệm là thắng chứ. Nhưng không được dừng lại. Với sự kiên trì, thông minh, khôn khéo, có bản lĩnh của T5 và cô, tôi tin là Ban sẽ sớm được đón chiến công lớn của hai chị em cô.

Nghe đồng chí Phó ban nói vậy, bao mệt mỏi bởi chuyến đi đầy vất vả gian nan ở chị như đã tiêu tan. Trước mắt người nữ chiến sĩ binh vận này, kế hoạch về các trận chiến đấu thầm lặng của các cơ sở mà mình phụ trách trong đó có T5 lại đang như hiện lên cuốn hút tâm tư chị. Với chị, nó vẫn là một dòng chảy không ngừng.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 11:09:17 PM

***

Điếu Capstan thứ hai cháy tiếp trên tay Lê Quang Ninh. Bình thường Ninh ít hút. Nhưng sáng nay, sau khi làm việc với ban chỉ huy các đại đội, một mình trong phòng nghỉ, bên ly cà phê đã cạn, viên Tiểu đoàn trưởng có vóc dáng to lớn, tướng tá coi bộ rất oai vệ này đã lấy khói thuốc làm bạn, đắm mình trong suy tư. “Vậy là tính từ ngày chị Tư Nhẫn đến tận đồn Lương Hòa trao nhiệm vụ mà mình không có cơ hội thực hiện, đến nay đã bảy năm. Còn tính từ ngày anh Mười Hòa kết nạp mình vào Đảng rồi đưa mình cài vào quân ngụy bằng cách gia nhập vào trường Sĩ quan trù bị Thủ Đức đến nay đã mười hai năm. Mười hai năm phải sống hai mặt xanh vỏ, đỏ lòng. Lộ danh, lộ diện nhưng lại phải ẩn tích nhập vai tài giỏi, mưu trí để từ một học viên đến nay đã leo lên được cấp thiếu tá, chỉ huy một tiểu đoàn chủ lực tinh nhuệ của địch. Nhưng mười hai năm ẩn tích với cương vị ấy, mình sẽ làm gì trước tình hình chiến sự toàn miền đang như trào dâng, thác đổ, các cánh quân lớn của ta đang áp sát Sài Gòn để bao công phu của tổ chức và của mình khỏi như công dã tràng lúc này?”.

Ninh lại đốt hết điếu thuốc Capstan thứ ba mà vẫn chưa dứt dòng suy tư ấy. Anh đang được tướng ngụy Lý Tòng Bá, Sư trưởng Sư đoàn 25 tin cậy trao cho chỉ huy tiểu đoàn 1, trung đoàn 50, một tiểu đoàn mũi nhọn của cả trung đoàn và sư đoàn. Tiểu đoàn của Ninh vừa được tách ra khỏi đội hình trung đoàn từ Tây Ninh về làm lực lượng trù bị của sư đoàn tăng cường sức mạnh phòng thủ cho căn cứ Đồng Dù ở Củ Chi, “pháo đài” trọng yếu án ngữ cửa ngõ phía Tây Bắc Sài Gòn. Với tri thức quân sự của mình cộng với sự bồi dưỡng của tổ chức qua đường dây bí mật, khi thấy Nguyễn Văn Thiệu để mất Tây Nguyên rồi tiếp đó để mất Nha Trang, Đà Nẵng và cả miền Trung, Ninh đã rất vui mừng, tin rằng từ thế thất bại chiến lược này của Thiệu, ngày toàn thắng của cách mạng đã đến gần. Hân hoan, mừng thầm, song thêm mỗi ngày tiếng súng của đại quân ta càng vọng đến gần Sài Gòn, lòng Ninh càng cồn cào nóng như lửa đốt. Chị Tư Nhẫn bị địch bắt giam hơn một năm, khi ra tù đã tiếp tục liên lạc và thay mặt Ban Binh vận trực tiếp chỉ đạo Ninh. Từ dịp nối lại này, chị đã kéo cả vợ Ninh vào cuộc. Lại do “bà cô đỡ đầu” có thế lực tạo cho, Ninh đã có nhà riêng nằm trong khu gia đình an toàn các quan chức có máu mặt của chính quyền Sài Gòn ở Long An, và với cái lon thiếu tá chỉ huy một tiểu đoàn trong sư đoàn con cưng của ngụy, “vỏ bọc” của Ninh càng cứng hơn nên việc liên lạc giữa Ninh với chị Tư càng có điều kiện đảm bảo an toàn, thuận lợi. Qua chị, ngay từ khi ta giải phóng được Tây Nguyên, Ninh đã nhận được chỉ thị của trên: “Vẫn phải nằm yên. Chỉ khéo léo làm lung lay ý chí chiến đấu tử thủ của sĩ quan, binh sĩ thuộc quyền. Sẵn sàng nhận nhiệm vụ cụ thể...”.

Ninh hiểu rõ ý nghĩa sâu xa của hai từ “khéo léo” này. Có nghĩa là như nhiều năm qua, nhất là những năm gần đây mình đã có cương vị, uy tín lớn hơn, nên cần phải hết sức mưu trí, thông minh, lợi dụng những kẽ hở trong quy chế của địch để ngấm ngầm đánh phá và bịt mắt chúng mà vẫn củng cố, nâng cao được uy tín với cả thượng cấp và thuộc cấp của mình. Phải thu phục nhân tâm. Ngầm thuyết phục cả tiểu đoàn làm theo mưu kế của mình như vụ cố vấn Mỹ đi đếm xác Việt cộng cuối năm 1971.

Ngày đó, Sư đoàn 25 của Ninh, việc cho điểm bình xét các tiểu đoàn, trung đoàn được cụ thể hóa bằng hai chỉ tiêu: Đơn vị bị thương vong, thiệt hại ít nhất. Diệt được nhiều Việt cộng nhất. Riêng chỉ tiêu diệt Việt cộng còn được tính bằng: Cứ thu được một khẩu súng cá nhân được tính bằng hai Việt cộng. Thu được một khẩu súng cộng đồng được tính bằng bốn Việt cộng. Và hàng tháng đơn vị cấp đại đội phải loại ra khỏi vòng chiến từ năm Việt cộng trở lên.

Theo chỉ tiêu đó khi các đơn vị báo cáo lên, bọn cố vấn Mỹ ở sư đoàn thấy rất nghi ngờ về số lượng Việt cộng bị diệt. Chúng yêu cầu đại diện Bộ Tư lệnh sư đoàn cùng các cố vấn Mỹ phải đếm xác Việt cộng khi đi kiểm tra tác chiến bằng máy bay trực thăng. Chúng thực nghiệm việc đếm xác này trong các cuộc đọ súng và tiểu đoàn của Ninh được tham gia trò chơi rất thực nghiệm này của Mỹ.

Ở tiểu đoàn được thực hành trước đó, viên Phó Tư lệnh sư đoàn đã ngượng chín mặt với hai tên cố vấn Mỹ vì trực thăng rà đi rà lại mãi trong khu tác chiến của tiểu đoàn cũng chỉ nghi ngờ có mấy xác Việt cộng cách xa một trời một vực với báo cáo.

Ninh nắm được thông tin này. Một lần hành quân ở khu vực Dương Minh Châu, anh cho gọi các đại đội trưởng lên chỉ dụ:

- Các chiến hữu! Trong cuộc hành quân này, tiểu đoàn 1 của chúng ta đã ba hôm giao tranh ở đây. Các sĩ quan và binh lính trong tiểu đoàn đều đã mệt mỏi muốn giải tỏa trở về doanh trại. Ở lại đây, cuộc thanh trừ Việt cộng đang ở thế giao tranh, không biết được lực lượng tiềm ẩn của đối phương, chúng ta khó tránh khỏi tăng số binh sĩ thương vong. Nhưng muốn được giải tỏa ta phải có ít nhất từ 20 Việt cộng trở lên cùng bỏ xác ở khu tác chiến của chúng ta. Con số đó không chỉ qua báo cáo của tiểu đoàn trưởng lên trên là được công nhận. Lần này và ngay chiều nay, cố vấn Mỹ của sư đoàn cùng chuẩn tướng Lê Văn Tư sẽ lên máy bay trực thăng kiểm tra chiến trường và đếm xác Việt cộng. Nếu chúng ta có đủ số đó cộng với số vũ khí thu được để tính ra đầu Việt cộng thì chẳng những tất cả những sĩ quan và binh sĩ của tiểu đoàn đều được khen thưởng mà sẽ được giải tỏa sớm về ngay doanh trại nghỉ ngơi. Vậy các chiến hữu chỉ huy các đội hãy báo cáo rõ xem ở khu vực đơn vị mình còn bao nhiêu xác Việt cộng, và thu được bao nhiêu vũ khí?

Nghe Ninh nói xong và hỏi thế, tất cả các đại đội trưởng đều im lặng, chỉ liếc mắt nhìn nhau rồi cúi mặt xuống. Đại đội trưởng đại đội 1 vốn mau miệng trong mọi cuộc họp lúc này cũng chỉ trả lời bằng động tác lấy tay che lửa mồi thuốc lá.

Thay thế Ninh ra bộ vui vẻ, giục:

- Nào các chiến hữu báo cáo đi chứ! - Anh nhìn thẳng vào đại úy Đại đội trưởng đại dội 3 khích lệ, vì thấy anh ta như muốn nói - Đại úy Vang báo cáo trước xem nào!

- Thưa Thiếu tá! - Được khuyến khích, Vang mạnh dạn - Các cố vấn Mỹ bày đặt ra chuyện đếm xác Việt cộng này, chúng ta rất khó tìm được câu trả lời, họ trả lương cho quân đội Cộng hòa nên vẽ ra nhiều chuyện để kiểm tra. Thực tế, chúng ta đã giết được bao nhiêu Việt cộng đâu. Số người bị chúng ta hạ sát có khi là thường dân. Và, nếu như là Việt cộng đã bị ta diệt mấy hôm nay, đồng đội họ cũng tìm cách lấy đưa thi thể mang đi chôn cất, đâu còn có lại nhiều xác mà đếm.

- Đại úy Vang nói đúng đó, thưa Thiếu tá! Tất cả các đại đội trưởng gần như đồng thanh nói, tỏ ý tán thành phát biểu của Vang.

- Vậy ta có cách nào ứng phó với tình thế này để cấp trên vừa không nghi ngờ về chiến tích của chúng ta mấy hôm nay, vừa sớm kết thúc việc hành quân?

Ninh đưa mắt xuống khắp lượt gương mặt các đại đội trưởng hỏi, nhưng lại cũng như lần trước, tất cả đều bối rối im lặng. Mấy phút sau, Đại đội trưởng đại đội 1 mới giơ tay, viên sĩ quan vốn mau miệng ấy bây giờ mới lên tiếng:

- Thưa Thiếu tá! Em biết Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng của chúng ta vốn nhiều sáng kiến. Trong chuyện này chắc là “đại ca” đã có mưu kế hợp lý, đề nghị “đại ca” cứ ra lệnh, bọn chúng em xin thực thi nghiêm chỉnh.

- Dạ, ý kiến của Đại úy Vi rất đúng đó, thưa Thiếu tá - Tất cả lại đồng thanh.

Ninh ra vẻ trầm ngâm. Bởi nước cờ đang ở thế chiếu tướng này đâu dễ tìm ra cách phá. Cũng qua đây, anh hiểu thêm được tâm lý các đại đội trưởng. Họ sẽ đồng tình và giữ kín giải pháp anh đưa ra, vì về danh nghĩa coi như anh đã dân chủ bàn bạc.

-  Thôi được! Các chiến hữu trước hết đều đã đồng tình là ta phải có giải pháp để gỡ thế cờ này. Vậy thì chúng ta phải cùng kín đáo bắt tay vào làm chứ không chịu bó tay. Theo tôi khu rừng chúng ta đang hành quân hiện nay rất rộng, nhiều cây cao, không có bãi đáp, máy bay dễ bị bắn từ mặt đất. Trực thăng có bay thấp cũng chỉ bay được trên cây cao. Do vậy, mấy ông cố vấn Mỹ có nhòm xuống cũng không phân biệt thấy rõ mặt mày từng xác Việt cộng. Với đặc điểm như vậy, ta hoàn toàn có thể chứng minh là ở khu vực tác chiến của ta còn có nhiều xác Việt cộng bằng cách đánh lừa mấy ổng. Lừa bằng cách nào ư? Bằng cách các chiến hữu về nói rõ lợi hại của việc đếm xác Việt cộng của mấy ông cố vấn Mỹ này cho các binh sĩ trong đại đội. Sau đó, mỗi dại đội cử từ 5 đến 7 binh sĩ “đóng kịch”. Họ phải trút bỏ hết quân phục, chỉ mặc một quần xà lỏn hoặc kiếm áo quần tựa như của du kích bận vô rồi ngụy trang hoàn toàn như một xác chết. Các “Việt cộng” đó sẽ nằm nhiều kiểu rải rác dưới các gốc cây, phải bố trí sao cho trực thăng từ trên cao nhìn xuống thấy rõ. Việc chỉ định binh sĩ và nằm ở đâu, đích thân các đại đội trưởng phải đạo diễn. Xong cuộc họp này, ngay trưa nay các “xác Việt cộng” đó phải triển khai xong vì đầu giờ chiều trực thăng sẽ bay trên khu vực này và các bạn nhớ đánh dấu các xác chết bằng khói màu để dễ quan sát. Đấy là việc thứ nhất và việc này là hệ trọng nhất. Còn việc thu được vũ khí, các dại đội vẫn cho anh em thu gom như tiểu đoàn ta đã làm qua mấy cuộc hành quân.

Về chuyện thu gom vũ khí, Ninh biết cố vấn Mỹ và chỉ huy cấp trên chỉ cần có súng chiến lợi phẩm, không kể loại súng của Nga hay của Mỹ, vì Việt cộng và du kích cũng dùng cả súng Mỹ đã thu được. Thế nên Ninh đã lệnh cho binh sĩ trong tiểu đoàn thu gom tất cả các loại súng mà chính lính Mỹ đã bỏ lại chiến trường hay súng bị cháy hỏng trong các vụ cháy kho. Thu gom xong đều nộp lên tiểu đoàn để vào kho. Có vốn đó tiểu đoàn của Ninh thường được tính điểm cao về số đầu Việt cộng do súng thu được đổi ra...


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 11:10:00 PM

Ninh nhắc lại chuyện thu súng lúc này cũng là ngầm bảo với các đại đội trưởng:

- Việc chúng ta làm đây là hoàn toàn xuất phát từ lợi ích chung của cả tiểu đoàn, các anh phải biết giữ kín mồm miệng.

Khi Ninh nói xong diệu kế đồng thời cũng như là mệnh lệnh, tất cả các đại đội trưởng đều tỏ ý bái phục thiếu tá Tiểu đoàn trưởng, khẩn trương ra về thực thi ngay công vụ.

Ba giờ sau đó, chiếc trực thăng UH1 bắt đầu rà soát trên khu vực giao chiến của tiểu đoàn 1. Lúc vắng bóng nó trên bầu trời không lâu, Ninh đã nhận được điện khen của Sư đoàn trưởng, vì các cố vấn Mỹ đã đếm được gần 20 xác Việt cộng do tiểu đoàn Ninh hạ sát. Cùng bức điện đó là một tấm huân chương cho Tiểu đoàn trưởng và một số tiền thưởng chung cho tiểu đoàn. Vui hơn cả với sĩ quan và binh sĩ tiểu đoàn 1 của Ninh là sớm hôm sau được lệnh rút quân ra khỏi khu giao tranh về doanh trại nghỉ ngơi, bởi tiểu đoàn đã hoàn thành được nhiệm vụ trong cuộc hành quân.

Ninh cười thầm khi nhận được lời ban khen này. Vậy là với một mũi tên trong “trận đánh” này, anh đã bắn trúng bốn đích:

+ Tiểu đoàn đã có nhiều chiến công cụ thể trước mắt các cố vấn Mỹ, gỡ lại thể diện cho Bộ Tư lệnh Sư đoàn.

+ Đơn vị anh đã được giải tỏa rút quân ra khỏi khu giao tranh, sẽ không gây thương vong cho nhân dân ta và cả binh sĩ trong tiểu đoàn của mình.

+ Uy tín của tiểu đoàn 1, trực tiếp là anh, được nâng cao hơn, trước mắt là cấp chỉ huy cấp trên và cả lũ cố vấn Mỹ.

+ Tiếng nói của anh với tiểu đoàn sau chuyện này càng thêm trọng lượng. Sĩ quan, binh sĩ trong tiểu đoàn từ cảm phục sẽ nhất nhất theo mọi mệnh lệnh của anh, vì họ thấy rõ, mọi diệu kế của anh cũng đều vì tính mạng và quyền lợi của mình.

Trong bốn đích đã trúng trên, chính cái đích thứ tư là quan trọng nhất đối với Ninh. Nếu cấp trên yêu cầu anh phải vận động giác ngộ cả tiểu đoàn làm nội ứng để từ trong đánh ra tạo cho quân giải phóng chiếm một căn cứ nào đó, hoặc phải đưa cả tiểu đoàn làm binh biến phản chiến kéo quân ra vùng giải phóng thì tiếng nói có trọng lượng này đối với binh sĩ của tiểu đoàn là yếu tố cần thiết hàng đầu.

Với Ninh, từ khi chỉ huy đại đội, nhất là mấy năm gần đây chỉ huy tiểu đoàn, anh không chỉ được thuộc cấp cảm phục, nhất nhất vui vẻ tuân theo mọi mệnh lệnh mà còn được trung tá Trung đoàn trưởng Vũ Lộ và cả chuẩn tướng Lý Tòng Bá, Tư lệnh Sư đoàn quý nể vì một trong những nguyên nhân là anh luôn xử lý rất khéo léo như thế. Giờ đây với mệnh lệnh của cấp trên qua chị Tư truyền xuống, Ninh suy nghĩ chín hơn về hai từ “khéo léo” này. Thực tế trong những ngày gần đây, anh càng tích cực vận dụng sự khéo léo đó. Trong các buổi họp phổ biến nhiệm vụ với các sĩ quan trong tiểu đoàn, anh đã tỏ ra rất “lo lắng” mà khách quan thông báo khá đầy đủ tình hình chiến sự, trong đó nêu rất rõ các khu vực, các trận đánh Quân giải phóng tiến đến đâu để vừa ngầm lung lay ý chí của các sĩ quan, binh sĩ trong tiểu đoàn, vừa qua đây để nắm thêm về diễn biến tâm lý của họ. Anh cũng đã khôn khéo ngầm nắm hết lực lượng và cách bố phòng trong căn cứ Đồng Dù để sẵn sàng có một bản đồ quân sự của căn cứ này cung cấp cho ta. Nhưng chẳng lẽ mất 12 năm ẩn tích, mình chỉ có khéo léo làm được thế này cho Cách mạng thôi ư? Sự khéo léo ấy bây giờ mình sẽ làm được gì khi cả tiểu đoàn đang được tăng cường để phòng thủ căn cứ Đồng Dù này? Trong mệnh lệnh của lãnh đạo Ban Binh vận có nói: “Sẵn sàng nhận nhiệm vụ cụ thể!”. Vậy “nhiệm vụ cụ thể” đó là gì? Mình có kịp làm nhiệm vụ đó khả thi toàn thắng khi chiến sự đang diễn ra với tốc độ như vũ bão này? Có làm được chuyện gì nên tấm nên miếng cho Cách mạng hay lúc Sài Gòn và cả miền Nam được hoàn toàn giải phóng mình cũng như hàng ngàn sĩ quan quân đội Cộng hòa đi trong hàng ngũ của những tù binh?

Dòng suy tư, tự vấn ấy của Ninh đã bị cắt đứt khi có tiếng gõ cửa phòng. Hạ sĩ Ngữ, công vụ của Ninh đã được lệnh không được cho một sĩ quan nào trong tiểu đoàn vào phòng làm việc lúc anh đang “mệt” cần yên tĩnh này, nhưng với vị khách đặc biệt đang phải ngồi chờ Ninh ở phòng ngoài lúc này, Ngữ bắt buộc phải gõ cửa.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 11:10:44 PM

*
*   *

Chính từ tiếng gõ cửa và tiếp đấy là sự xuất hiện bất ngờ của Loan, vợ anh ở căn cứ Đồng Dù cách đây ba hôm, mà lúc này Ninh đang ngồi đối diện với chị Tư Nhẫn.

- Chị Tư ơi! Chị biết em mừng tới cỡ nào khi Loan lên báo tin để em về gặp chị không? Ngoài thông báo chiến sự hằng ngày của Bộ Tổng tham mưu và Sư đoàn 25 qua chiếc ê-cút- tơ, em biết rõ bên ta đã mở chiến dịch với 5 cánh quân lớn đang hướng về Sài Gòn. Em tin dịp này Sài Gòn và cả miền Nam sẽ được giải phóng bởi chính quyền Thiệu đã lung lay tận gốc, quân đội thì đã rã rời ý chí ngay từ khi ta giải phóng Tây Nguyên và nhanh chóng chiếm được Đà Nẵng và miền Trung. Người Mỹ sẽ không đưa quân trở lại miền Nam và chiều hướng bỏ rơi “con đẻ” là điều chắc chắn. Do vậy em càng mong tín hiệu từ nơi chị về nhiệm vụ cụ thể của em.

- Chị biết chứ! Mười hai năm trồng cây rồi mà. Em biết không, trong cuộc Tổng tiến công giải phóng miền Nam lần này, công tác binh vận, mũi giáp công thứ ba làm tan rã hàng ngũ địch ngay từ trong lòng chúng càng được trên rất quan tâm chú trọng. Trong Ban Binh vận của miền, ngoài các đồng chí lãnh đạo cũ, riêng ở khu vực Sài Gòn, Khu ủy trực tiếp chỉ đạo. Em là một cơ sở được các đồng chí đó rất quan tâm và đặt nhiều hy vọng. Bởi thế, em không còn phải trông đợi nữa. Ngay bây giờ, chị sẽ truyền đạt nhiệm vụ cụ thể cấp trên giao cho em. Nhưng liệu...

Chị Tư nói đến đây ngừng lại làm Ninh đang bồn chồn càng thêm nóng lòng:

- Chị cứ nói đi. Nhiệm vụ cụ thể của em là gì? Sao lại “nhưng liệu...?” - Ninh hối thúc hỏi dồn chị Tư.

- À đấy là một ý chị muốn hỏi em trước khi truyền đạt. Nhưng thôi để chị sẽ hỏi sau. Bây giờ như em cũng đã nhận thức được rõ rồi đó, cuộc chiến đấu với quyết tâm giải phóng hoàn toàn miền Nam của quân và dân ta đã đến đỉnh điểm. Các cánh quân lớn của ta đang thần tốc áp sát vào sào huyệt của địch là Sài Gòn. Bởi vậy nhiệm vụ cụ thể của em ở thời điểm này là phải bằng mọi cánh làm cho quân ngụy mà trực tiếp là tiểu đoàn của em tê liệt tinh thần chiến đấu, làm rã ngũ hàng loạt, góp phần tích cực không cho địch co cụm củng cố phòng tuyến ở phía Tây Bắc Sài Gòn. Phải vận dụng mọi khả năng, sẵn sàng mở cửa tạo mọi điều kiện cho quân ta nhanh chóng tiến chiếm Sài Gòn, giảm tới mức tối đa thiệt hại về mọi mặt, nhất là nhân mạng. Muốn đạt được mục tiêu trên, cách tốt nhất là em phải tổ chức cho tiểu đoàn làm binh biến phản chiến ly khai, kéo quân ra vùng giải phóng. Làm được như thế sẽ là một trái bom nổ ngay trong lòng quân địch, có ý nghĩa lớn nhất về chính trị. Cũng chỉ có làm được “trái bom” đó mới xứng với sự hy sinh thầm lặng suốt 12 năm qua của em. Đấy, chị muốn hỏi “Liệu em có...” tức là có làm được “trái bom” đó trong thời điểm này không?

Nghe chị Tư truyền đạt mệnh lệnh và động viên như vậy, lòng dạ Ninh cứ tưng bừng, bởi anh đã chờ đợi được trao nhiệm vụ cụ thể này từ lâu. Trước mắt Ninh liền hiện lên hình ảnh cả tiểu đoàn của mình được trở về trong vòng tay đồng bào và Quân giải phóng. Và cũng từ phút ấy mình cũng đã được ngẩng cao đầu trở lại với chính con người thật của mình: một chiến sĩ cách mạng, một đảng viên Đảng Cộng sản. Nhưng niềm vui đang lóe bừng lên ấy đã bị ngưng giảm ngay khi anh chợt nhớ lại chuyện mình được giao nhiệm vụ cũng qua chính chị Tư ở đồn Lương Hòa năm xưa. Ở đây có khác nhiều so với thời mình ở “hòn đảo” đó. Tiểu đoàn đang trong đội hình lớn của địch ở căn cứ Đồng Dù này, việc tổ chức làm binh biến đưa cả tiểu đoàn ra vùng giải phóng đâu có dễ dàng. Tuy với tâm trạng vừa mừng vừa lo đó trước mặt chị Tư - vị chỉ huy trực tiếp của mình - Ninh vẫn tỏ ra rất tự tin:

- Thưa chị, em nghĩ cấp trên và trực tiếp là chị cũng thấy rõ những khó khăn khi tiểu đoàn em đang cùng co cụm để phòng thủ ở vị trí xung yếu này. Nhưng để góp được một tia lửa vào biển lửa của cách mạng thiêu cháy toàn bộ chế độ Mỹ ngụy ở thời điểm chắc chắn sẽ đi vào lịch sử này, em hứa sẽ vận dụng tạo mọi cơ hội để hoàn thành nhiệm vụ mà chị vừa truyền đạt. Với em, đây cũng là cơ hội cuối cùng. Từ giờ phút này, việc liên lạc giữa chị với em phải thật liên tục sát sao để việc hiệp đồng giữa trong và ngoài không bị trắc trở...

Chị Tư nắm chặt hai tay rồi kéo cả người Ninh về phía mình, cổ vũ:

- Chị biết trở ngại lớn đó nhưng chị tin vào bản lĩnh và sự mưu trí thông minh của em, nhất là khi em đã xây dựng được những nhân tố tích cực trong tiểu đoàn nên lần này chắc chắn em sẽ được “sổ lồng tung cánh bay xa”. Đạt được thắng lợi và ước nguyện đó, nếu còn sống, má mình sẽ là người vui sướng nhất.

Ninh xúc động. Chia tay chị Tư nhưng viên thiếu tá vốn điềm tĩnh thường luôn biết kìm chế tình cảm này cũng phải đứng lại một lúc trong nhà để sắc thái thật bình thường mới ra xe trở lại căn cứ Đồng Dù.

Ngồi trên xe, Ninh phác thảo ngay phương án hành động. Yếu tố đầu tiên anh nghĩ tới là lực lượng nòng cốt mà anh có thể tin cậy, qua tìm hiểu kỹ hoàn cảnh, tâm lý từng người từ lâu. Ngoài 3 “đệ tử” ruột là lính bảo vệ, công vụ sẽ sẵn sàng sống chết vì anh, còn có các sĩ quan, nhất là các sĩ quan chỉ huy các đại đội trong tiểu đoàn. Điểm danh lại số tin cậy được, Ninh thấy có 8 sĩ quan kể cả Tiểu đoàn phó trong số hơn 20 sĩ quan của tiểu đoàn. Trước khi hành động, chỉ cần kiếm cớ cho vắng mặt hai người mà anh thấy họ có thể chống đối lại mình hoặc do dự không dám vào cuộc. Còn lại anh tin tất cả sẽ hoàn toàn nghe theo lời kêu gọi của anh khi tình thế đã cho họ thấy, đó là sự lựa chọn tốt nhất để cứu mình và giảm được phần tội lỗi đối với đất nước và nhân dân. Khi các sĩ quan chủ chốt đó đã đứng dưới ngọn cờ của anh, các binh sĩ vốn đã cảm phục anh thì việc cả tiểu đoàn cùng phản chiến ly khai là tất yếu. Trở ngại lớn nhất là tiểu đoàn đang trong đội hình phòng thủ của căn cứ Đồng Dù, phải tìm được cớ gì để tiểu đoàn tách ra khỏi căn cứ này. Nếu không dù cả tiểu đoàn đồng lòng nổi dậy cũng rất khó khăn vì trước hết phải chống trả với lực lượng đông đảo đang còn nguyên vẹn ở ngay căn cứ này của chúng.

Suốt 3 đêm liền Ninh đã đánh vật với bài toán hóc búa phải tìm ra đáp số chính xác và thông minh nhất. Tự mình không thể tự nguyện xin cho tiểu đoàn đi dã ngoại vì khi được điều về chính là để tăng cường lực lượng phòng thủ căn cứ. Ở thời điểm này, chỉ huy căn cứ cũng không còn nghĩ tới việc cho quân ra ngăn chặn đối phương từ xa. Vậy mình chỉ còn tập trung cho phương án khi Quân giải phóng tấn công căn cứ sẽ nổi dậy làm binh biến bằng cách nội ứng đánh địch từ bên trong phối hợp với quân ta.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 11:11:24 PM

Đúng lúc Ninh đang hoàn chỉnh phương án này, ngày 25 tháng 4, tiểu đoàn 1 của Ninh được lệnh của Lý Tòng Bá cùng với thiết đoàn 10 thiết giáp rời khỏi căn cứ Đồng Dù hành quân đi giải tỏa áp lực của Quân giải phóng tại khu vực Trảng Bàng, Tây Ninh.

“Thời cơ lóe lên rồi!”. Ninh thầm reo lên sau khi nhận được tin đó. Tiểu đoàn đã được tách ra khỏi căn cứ. Nhưng thời cơ chỉ mới lóe lên, bởi ra khỏi được căn cứ Đồng Dù, song tiểu đoàn lại không độc lập hành quân mà phải đi cùng trong đội hình với thiết đoàn 10. Đi cùng với bọn này, các đại đội phải phân tán bám theo xe thiết giáp nên rất khó chỉ huy tập trung cả tiểu đoàn khi có thời cơ ly khai binh biến. Không những thế, khó khăn, trở ngại lớn nhất là ngay từ phút đầu tiên chính những nòng pháo trên xe và những vòng xích sắt của đoàn thiết giáp này sẽ nhả đạn và nghiền nát binh lính của tiểu đoàn anh khi thấy các anh trở cờ làm binh biến. Tuy vậy dù sao tiểu đoàn ra khỏi được căn cứ Đồng Dù, Ninh đã mừng. Điểm sáng từ tia lửa này, Ninh hy vọng sẽ nảy ra cơ hội mới cho mình để có được ngọn lửa rực sáng trong đêm. Sự mưu trí, thông minh của Ninh lúc này chính là phải làm sao tạo ra cơ hội đó, tức là làm sao tách được tiểu đoàn của mình ra khỏi đội hình chung với thiết đoàn 10. Đã sang ngày thứ ba ở Trảng Bàng để cùng với thiết đoàn 10 giải tỏa áp lực... Từ lúc tiểu đoàn rời khỏi căn cứ Đồng Du tới giờ, Ninh đã dồn hết tâm trí để tìm ra cơ hội này, nhưng vẫn không có kế sách nào khả thi. “Bí mật đưa tiểu đoàn tách ra khỏi đội hình ư? Không được. Đây đâu phải là tiểu đoàn đặc công hay biệt đội của ta. Và như thế các sĩ quan của thiết đoàn 10 sẽ phát hiện ngay. Vận động thiết đoàn 10 cùng phản chiến? Càng nguy hiểm! Sẽ xôi hỏng bỏng không và mình sẽ là kẻ bị thiêu thân đầu tiên!”. Khi các phương án đó đều bị tự Ninh bác bỏ thì pháo tầm xa của quân ta đã nã vào đến sân bay Tân Sơn Nhất. Tuyến phòng thủ của địch ở Xuân Lộc mà Lê Minh Đảo thề quyết tử giữ vững đã tan vỡ và đại tá Đảo vừa được đặc cách vinh thăng vượt cấp lên thiếu tướng đã bỏ chạy về Sài Gòn, lòng Ninh càng nóng bỏng khi mình chưa tìm ra phương kế gì để đưa tiểu đoàn làm binh biến. Giữa lúc như còn đang trong nước bí đó, sáng ngày 28 tháng 4 Ninh nhận được điện lệnh của tướng Lý Tòng Bá:

- Tiểu đoàn 1 cùng với thiết đoàn 10 cấp tốc trở lại ngay căn cứ Đồng Dù.

Từ điện lệnh này, Ninh nhận định: Lý Tòng Bá cho tiểu đoàn mình và thiết đoàn 10 trở lại Đồng Dù là để tăng cường lực lượng quyết “đổ bê tông” giữ chắc tuyến phòng thủ Sài Gòn ở phía Tây Bắc này. Không chặn được quân giải phóng từ xa, thấy rõ là chúng đã phải co cụm lại chốt chặt các cửa ngõ vào Sài Gòn. Theo anh biết, một cánh quân lớn của ta hình như là Quân đoàn 3 đã áp sát Đồng Dù để tiến vào từ hướng này đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng tham mưu. Muốn thế, trước hết quân ta phải đọ sức và nhổ phá được căn cứ này. Như thế, nếu lực lượng phòng thủ ở đây càng yếu đi bao nhiêu thì càng có lợi cho tốc độ tiến quân của ta bấy nhiêu.

Cũng từ điện lệnh này ánh mắt của Ninh bỗng vụt sáng lên. Một kế sáng đã nảy ra rất nhanh trong anh. Ninh đến ngay Ban chỉ huy thiết giáp gặp viên thiếu tá Thiết đoàn trưởng thiết đoàn 10:

- Chúng tôi vừa nhận được lệnh của Tư lệnh sư đoàn, cấp tốc trở lại Đồng Dù. Chắc bên anh cũng nhận được điện đó?

- Đúng vậy, Thiếu tá. Cách đây chừng 10 phút. Vậy bên anh đã sẵn sàng được chưa? Tôi cũng đang định gọi điện sang anh trao đổi để cùng hành quân.

- Tôi sang anh cũng vì chuyện đó. Từ Đồng Dù, chúng ta đã cùng nhau đi tới nơi suôn sẻ. Bây giờ quay trở về cũng phải làm sao về đến chốn an toàn. Có điều, ba ngày qua chiến sự đã diễn biến rất nhanh lẹ ở khắp các nơi Đô thành nên chúng ta phải bàn bạc hiệp đồng chặt chẽ, không được chủ quan phải không anh?

- Tôi rất hoan nghênh và đồng tình với sự cẩn trọng và tầm nhìn xa đó của anh. Hôm trước, khi trao nhiệm vụ hành quân cho tôi, chuẩn tướng Tư lệnh đã nói “Đi với Năm Ninh sẽ rất yên tâm” quả là chính xác. Việc quay trở lại Đồng Dù, tôi cũng đang có suy nghĩ, lo lắng giống như anh, vậy theo ý anh, ta phải làm thế nào để về đến chốn an toàn?

- Tôi nghĩ, lộ 22 mà chúng ta phải hành quân trở lại Đồng Dù rất có thể sẽ không còn vắng bóng Việt cộng như bữa chúng ta lên đây, vì chiến sự đang diễn biến rất nhanh như anh đã biết. Do vậy ta phải có phương án tối ưu để dù có gặp Cộng quân, chúng ta cũng không phải ứng chiến trong thế bị bất ngờ.

- Đúng, ta phải chủ động bằng cách có phương án tối ưu. Nếu không, lỡ ta lọt vào ổ phục kích thì những chiếc xe thiết giáp của tôi sẽ là mục tiêu đầu tiên cho các tay súng chống tăng thiện xạ vốn có xác suất rất cao của Việt cộng.

- Đấy điều tôi nghĩ tới chính là như ý anh nói, thế nên ta phải bàn kỹ với nhau để chúng ta không phải cùng chạm trán bất ngờ với Việt cộng. Để nếu ta có gặp địch thì thiết đoàn của anh vẫn chủ động phát huy thế mạnh về hỏa lực cơ động đánh áp đảo và nghiền nát Cộng quân. Muốn thế ta phải sắp xếp lại đội hình hành quân. Không thể đi xen kẽ như hôm chúng ta lên đây.

- Hay lắm! Tôi hiểu tầm nhìn của Thiếu tá rồi. Vậy không xen kẽ, chúng ta sẽ đi theo đội hình như thế nào?

- Tôi nói ý kiến của tôi để anh cùng nghiên cứu nhé. Chúng ta vẫn chung một đội hình kéo dài trên lộ 22, nhưng lần trở về Đồng Dù này, bộ binh chúng tôi phải có trách nhiệm đi trước mở đường. Thiết đoàn 10 của anh sẽ đi sau đơn vị cuối cùng của tiểu đoàn tôi với khoảng chừng 2 km, tôi và anh phải liên tục bắt liên lạc với nhau. Nếu thông suốt thì cứ như thế, tôi trước, anh sau cùng hành quân tiến về đến Đồng Dù. Còn có phải chạm trán với địch, đại đội tiền tiêu của tôi sẽ nổ súng trước. Cả tiểu đoàn sẽ triển khai chiến đấu mở đường. Thiết đoàn của anh lúc này đã được báo động sẽ dừng lại hoặc nếu cần sẽ nhanh chóng tiến lên hiệp đồng chiến đấu. Như vậy, về cơ bản, nếu có gặp địch, chúng ta vẫn chủ động đánh trả và tiêu diệt chúng. Đấy, ý của tôi về đội hình “tôi trước anh sau” là như vậy. Nếu không theo đội hình đó khi bất ngờ gặp địch chúng ta sẽ “vón cục” lại với nhau, và đúng như anh nói, lúc đó thiết giáp của chúng ta sẽ là mục tiêu đầu tiên cho những tay súng chống tăng của Việt cộng.

- Chà, qua phương án này càng thấy anh đúng là người không những cẩn trọng lại còn rất cao thượng. Tôi nhất trí với anh. Nhưng anh đợi mười phút nữa tôi sẽ gọi điện cho anh. Ngay bây giờ tôi sẽ trao đổi với mấy anh em trong Bộ chỉ huy thiết đoàn xem còn có ý kiến gì nữa bổ sung để bàn thống nhất với anh.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 11:11:52 PM

Ninh rời Ban chỉ huy thiết đoàn, đi bộ quay về Ban chỉ huy tiểu đoàn, gương mặt chưa biểu lộ hoàn toàn sự phấn chấn. “Mình diễn đạt có gì sơ hở không nhỉ? Liệu có phải lời khen trên và sự nhất trí của cá nhân Phong là chân thật hay đấy chỉ là sự ngụy trang khéo léo khi y đã phát hiện ra ý đồ của mình? Mình cũng đã chú ý đến sắc thái của Phong khi đang đối thoại với mình, nhưng vẫn khó phỏng đoán...”.

Ninh lặng lẽ ngồi điểm lại nội dung cuộc nói chuyện và tự hỏi mình. Anh tin vào những điều mình vừa thuyết lý, nhưng không khỏi lo câu trả lời của Bộ chỉ huy thiết giáp tới đây có thể sẽ là sự bác bỏ toàn bộ hoặc một phần đề xuất của anh.

Có tiếng ồn từ chiếc máy PRC25 được khuếch âm. Ninh vội lắng nghe và gương mặt anh cứ sáng dần lên với đầy sự phấn hứng theo giọng nói từ bên kia Ban chỉ huy thiết giáp của Phong:

- Chúng tôi hoan nghênh và hoàn toàn nhất trí với phương án của anh. Chỉ đề nghị anh cho giữ liên lạc thật tốt và liên tục với chúng tôi. Mọi tình huống anh đều đã tính toán lo xa. Bên chúng tôi thấy không cần gì phải bổ sung thêm.

Nói cả 12 năm cũng đúng, nhưng đúng hơn là từ đầu cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975, đặc biệt là từ hôm được chị Tư Nhẫn trao “nhiệm vụ cụ thể” đến nay, chưa lúc nào lòng Ninh lại trào lên đầy hy vọng như lúc này. Cái “mắt xích” trọng yếu để mở đầu sự chuyển động cho cả một vòng quay đã được tháo gỡ. Qua giọng nói của viên chỉ huy thiết đoàn 10, anh tin bên đó sẽ không thể có còn ý kiến thay đổi. Phương án đó đến với thiết đoàn khác nào có thêm một lớp vỏ bọc thép nữa “bảo thọ” cho họ còn gì. Lại chắc chắn là, cũng như anh, Phong chẳng báo cáo đội hình “anh trước tôi sau” này lên Bộ chỉ huy sư đoàn, vì Lý Tòng Bá đã trao quyền hiệp đồng hành quân cho chỉ huy hai đơn vị. Việc quan trọng hàng đầu của Ninh lúc này là phải tập trung nghĩ cánh triển khai ngay các bước tiến hành của nhiệm vụ cụ thể mà anh đã bao năm chuẩn bị, chờ đợi tới giờ mới có thời cơ. Chiếc xe chỉ huy của Ninh đã từ cuối vượt qua hết lượt lên đầu rồi lại quay về đi giữa đội hình của tiểu đoàn đang hành quân trên lộ 22. Phong cách chỉ huy nắm quân đó của thiếu tá Năm Ninh đã trở thành quen thuộc của tiểu đoàn 1. Nhưng ngồi trên xe lúc này Ninh đâu chỉ có đi điểm quân như mọi khi. Các sĩ quan và binh sĩ của cả tiểu đoàn 1 cũng không ai biết rằng, ngoài việc kiểm tra các đại đội đã bám sát nhau như đúng mệnh lệnh chưa, lúc này thiếu tá Tiểu đoàn trưởng của mình đang còn phóng tầm mắt ra hai bên đường để tìm một địa điểm thuận lợi. Đang tính toán xem đến vị trí và thời điểm nào sẽ cho tiểu đoàn rẽ ngang, và cùng với tìm chọn cái hữu hình ấy, Ninh đang phải tính đến bao nhiêu chuyện khác, có chuyện vô hình, nhưng vô cùng quan trọng như phải nói thế nào rất ngắn gọn, song lại thuyết phục được cả tiểu đoàn mà trước hết là các sĩ quan chỉ huy nhất loạt theo mình phản chiến ly khai...

Đây rồi, cái xóm nhỏ của xã An Tịnh ở bên đường kia đúng là địa điểm thuận lợi mà Ninh đang cần tìm. Nó rất hợp với ý Ninh để anh làm nơi mở cuộc họp bắt đầu khởi sự. Ninh bảo lái xe rẽ liền vô xóm nhỏ đó và cho xe dừng bánh ở ngay bên gốc cây xoài có tán rộng phủ che. Xuống xe, Ninh kéo theo tài xế rồi vẫy gọi ba hạ sĩ làm cận vệ và công vụ mà từ lâu cả bốn người này đều đã tự coi mình là “đệ tử ruột” của anh cùng đến ngồi xuống quanh anh. Rồi bằng giọng nói thân tình đồng thời cũng thay đổi cả cách xưng hô, Ninh vào đề ngay:

- Bốn chú em! Bốn chú đã từng suốt mấy năm vào sinh ra tử cùng với anh Năm, đã tin tưởng nghe lời và luôn sẵn sàng dám lấy thân mình bảo vệ anh Năm. Vậy bây giờ trước tình hình khẩn cấp, chính quyền và quân đội Cộng hòa đã tan rã sắp sụp đổ hoàn toàn, để tự cứu lấy mình, anh Năm sẽ đưa cả tiểu đoàn ly khai, kéo quân ra vùng giải phóng, các em có theo và có dám sống chết để bảo vệ anh Năm không?

Không khỏi sững sờ bởi quá bất ngờ, nhưng khi vừa nghe hết lời của Ninh, cả bốn “đệ tử ruột” của anh gần như cùng đồng thanh:

- Dám chứ Thiếu tá!

Và Ngữ liền nói tiếp theo:

- Chúng em đã thấy rõ, từ trước tới nay mọi việc làm theo Thiếu tá đều đúng, đều có lợi cho chúng em. Việc Thiếu tá, à anh Năm đưa tiểu đoàn ly khai ra vùng giải phóng lúc này là rất đúng. Chúng em không chỉ theo mà dám sống chết bảo vệ anh Năm.

- Hạ sĩ Ngữ nói rất đúng ý chúng em.

Lữ, Thọ và Nghiêm lái xe lại cùng lên tiếng tiếp lời Ngữ.

- Tốt lắm. Rất cám ơn các em. Vậy ngay từ lúc này các em hãy sẵn sàng ra tay đối với kẻ nào dám chống đối có ý ám hại anh Năm.

- Dạ, chúng em xin tuân lệnh!

Đáp lại lời Ninh xong, cả bốn đều tự động kiểm tra lại các băng đạn súng tiểu liên cực nhanh của mình...

Nhìn các “đệ tử ruột” đang biểu hiện sự đồng tình bằng hành động như thế, Ninh yên tâm mình đã làm xong được một việc không kém phần quan trọng. Anh liền trở về xe chỉ huy lần lượt điện gọi Tiểu đoàn phó và các đại đội trưởng về chỗ mình họp. Khi điện, Ninh không quên nhắc các đại đội phó cho các đại đội tiếp tục hành quân và bám sát nhau trong đội hình chung của tiểu đoàn.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 11:12:42 PM

Mười phút sau, các sĩ quan được mời về họp bất thường đã có mặt đầy đủ, việc Tiểu đoàn trưởng triệu tập các sĩ quan chỉ  huy đại đội về gặp chỉ huy tiểu đoàn để nhận thêm chỉ lệnh trong lúc đơn vị đang thi hành công vụ vẫn là chuyện bình thường đối với họ. Nhưng lần này, khi về tới đây, tuy không ai nói với ai, mọi người trong họ đều linh cảm thấy ngay đây không phải là một cuộc họp bình thường.

Linh cảm ấy của họ là không sai khi Tiểu đoàn trưởng Lê Quang Ninh đứng lên lướt ánh mắt qua hết một lượt rồi lên tiếng bằng giọng nói trang nghiêm, song rất thân tình và đầy tính thuyết phục:

- Các anh em! Tình hình chiến sự đã và đang diễn ra bất lợi và tồi tệ đối với quân lực Việt Nam Cộng hòa. Chính quyền trung ương đã tan rã. Ông Thiệu đã chạy ra nước ngoài. Bộ Tổng tham mưu không còn. Các cánh quân lớn có xe tăng trọng pháo của Cách mạng đang áp sát Sài Gòn. Đô thành và cả chế độ Sài Gòn sụp đổ hoàn toàn chỉ còn là ngày một, ngày hai. Vậy chúng ta tiếp tục đổ xương máu để chiến đấu cho ai? Để còn có lợi ích gì cho chúng ta? Vì thế trước tình hình khẩn cấp này, chúng ta phải tự cứu lấy mình. Cứu bằng cách nào? Bằng cách, tôi đề nghị các anh em cùng tôi đưa cả tiểu đoàn ly khai quân đội Cộng hòa kéo quân ra vùng giải phóng!

Nói đến đây, Ninh ngưng lại, quan sát sự phản ứng trên gương mặt mọi người. Anh thấy rõ họ đều thay đổi sắc thái bởi quá đột ngột. Nhưng không ai tỏ ra đang “nổi nóng” phản đối mà tất cả đều im lặng chờ anh nói tiếp. Thế nên anh quyết định tung tiếp đòn thuyết phục cân não vào các sĩ quan dưới quyền mà mình phải lôi kéo bằng được để họ sẽ là lực lượng nòng cốt cho mình trong cuộc binh biến này.

- Bây giờ tôi xin tự giới thiệu với mấy anh em, tôi là người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Mặt trận đã có chính sách 7 điểm với những người trong chính quyền và quân đội Sài Gòn, trong đó hoan nghênh và khoan hồng với những ai rời bỏ hàng ngũ Mỹ - ngụy quay về với cách mạng với nhân dân, sẽ xóa bỏ tội lỗi và khen thưởng với những người đó nếu có chiến công. Tôi xin bảo đảm với anh em điều này. Hiện nay tôi đã liên lạc được với người của Mặt trận. Mặt trận và Quân giải phóng đã sẵn sàng đón tiếp chúng ta. Vậy tôi kêu gọi anh em hãy làm theo lệnh tôi là hướng dẫn anh em binh sĩ dưới quyền theo tôi ra vùng giải phóng. Tôi xin bảo đảm an toàn cho tất cả anh em và binh sĩ trong tiểu đoàn. Anh em có đồng ý theo tôi không?

Câu hỏi cuối của Ninh làm cả 8 sĩ quan đều cùng giật thót người. Từ lúc Ninh đang nói họ đã ngầm liếc nhau. Rồi lại thấy cả bốn “đệ tử ruột” của Ninh cũng đều có mặt, súng tiểu liên lăm lăm trong tay. Ai cũng tự hỏi “không biết trong số có mặt ở đây, ai là người của Ninh?”. Trước tình hình khẩn cấp, với lời kêu gọi “phải tự cứu lấy mình” đúng lúc, hợp thời, đầy sức thuyết phục của Ninh, thêm yếu tố tâm lý này, chẳng ai bảo ai, khi nghe Ninh vừa nói xong và hỏi câu cuối cùng đó, tất cả đã đồng loạt giơ tay hưởng ứng.

Ninh tươi cười nhìn các sĩ quan vốn đã từ lâu dưới quyền mình bằng ánh mắt đầy khích lệ khác hẳn mọi khi và nói ngay:

- Rất hoan nghênh sự tự cứu lấy mình của anh em. Vậy bây giờ chúng ta phải thành lập một ủy ban khởi nghĩa phản chiến và tôi xin công bố luôn danh sách 6 người, có cả sĩ quan và hạ sĩ quan trong ủy ban này.

Tiểu đoàn phó Lam Sơn, hai đại đội trưởng Lê Kim Thành, Trương Văn Tuệ cùng hai hạ sĩ Nguyễn Văn Ngữ và Lê Văn Lữ được có tên trong danh sách ủy ban khởi nghĩa binh biến do Lê Quang Ninh đứng đầu đều tỏ ra rất xúc động. Ninh kéo cả năm anh em vừa có tên khoác chặt vai nhau trước ánh mắt kính nể của các sĩ quan còn lại và anh cũng ra lệnh ngay:

- Từ phút này, mọi mệnh lệnh của tôi cũng là mệnh lệnh của ủy ban khởi nghĩa binh biến. Việc tiểu đoàn khởi sự mà chúng ta vừa nhất trí, các anh em chưa phổ biến ngay cho các sĩ quan và binh sĩ thuộc cấp của mình. Khi nào từ lộ 22 rẽ ra hướng vô vùng giải phóng, có lệnh tôi, mới phổ biến. Thôi, tất cả về đơn vị thực thi ngay phận sự của mình. Nhớ mọi việc đều nhất nhất phải theo mệnh lệnh và sự hướng dẫn của tôi.

Ninh dứt lời, các sĩ quan trong đó có tiểu đoàn phó của anh đều rảo bước nhảy lên xe về vị trí trong đội hình của tiểu đoàn đang tiếp tục hành quân. Từ lúc Ninh bắt đầu lên tiếng cho tới lúc này, anh nhìn đồng hồ chỉ mất có 8 phút. Tám phút để lật thế cờ này sẽ mãi mãi in sâu trong ký ức cuộc đời của anh. Sau chuyện làm Phong chẳng những lọt tai mà còn hết lời khen anh, kết qua 8 phút này đã có giá hơn cả vàng ngọc. Tuy vậy, Ninh vẫn đang trong tâm trạng của một người cưỡi được lên lưng hổ. Anh biết lời kêu gọi của mình đối với các sĩ quan, binh sĩ của tiểu đoàn ở thời điểm này là rất thuận lợi. Họ thấy nó như là một cái phao cứu nguy cho họ. Nhưng không thể dám chắc cả tiểu đoàn đều như thế khi họ được phổ biến chủ trương khởi sự này. Ngay tám sĩ quan được anh mới mời họp vừa xong, tuy tất cả đều đồng loạt giơ tay hưởng ứng theo anh, nhưng rất có thể có người đã giơ tay vì khi ấy không thể nào làm khác. Còn chung trong tiểu đoàn chắc chắn sẽ có một số chưa hiểu thấu đáo tình hình, vì họ nghĩ chung quanh họ, các lực lượng chi khu, tiểu khu, sư đoàn vẫn còn nguyên vẹn, đặc biệt là khu vực phía Tây Bắc Sài Gòn từ Gò Dầu về Củ Chi chưa có đơn vị nào bị đánh thiệt hại nặng hay bị tiêu diệt trong thời gian này nên cuộc chiến còn kéo dài, do đó mà họ do dự... Một bộ phận khác thuộc các thành phần mà gia đình hoặc bản thân họ là ác ôn, tư tưởng còn căm thù Cộng sản nên họ muốn tiếp tục chiến đấu, “còn nước còn tát” đến cùng.

Tin rằng đã qua được hai cửa ải quan trọng nhất rồi, mình nhất định sẽ đưa được tiểu đoàn ra vùng giải phóng, nhưng Ninh vẫn không thể không nghĩ đến những trở ngại thực tế đó mà có biện pháp hạn chế nó ở mức thấp nhất để không cản được “cơn lốc” của cả tiểu đoàn. Anh lệnh cho Tiểu đoàn phó Lam Sơn, ủy viên ủy ban khởi nghĩa đi cuối đội hình để thúc gọn quân lên. Còn anh lại phóng xe đi lướt hết một lượt dài hàng quân để thầm bảo các đại đội trưởng hãy giữ vững quyết tâm rồi ở hẳn vị trí dẫn đầu khi anh đã quyết định cho tiểu đoàn rời lộ 22 rẽ vào một xã cách lộ chừng 1km. Ở đây, qua chị Tự Nhẫn anh biết sẽ dễ dàng bắt liên lạc được với Quân giải phóng. Trong khi ấy, Ninh vẫn liên lạc đều đặn với thiếu tá Phong để viên chỉ huy thiết đoàn 10 vẫn luôn yên tâm cho thiết đoàn giữ đúng cự ly như quy ước hiệp đồng. Ninh có biết đâu lúc này thiết đoàn 10 vẫn chưa rời khỏi Trảng Bàng, bởi Phong cho rằng: “Xe tăng của mình đuổi theo bộ binh mấy chốc?”. Thêm cơ may vô tình đó đã tăng khoảng cách an toàn cho tiểu đoàn của Ninh. Chính lúc này, các đại đội trưởng được lệnh của anh đã cùng lúc phổ biến quyết định: “Khởi sự ly khai phản chiến” của ủy ban khởi nghĩa. Ủy ban đó lại do chính tiểu đoàn trưởng Lê Quang Ninh, người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đứng đầu nên “cơn lốc” của tiểu đoàn anh đã thật sự “nổi gió” từ đây. Không một sĩ quan binh sĩ nào dám tỏ ra công khai chống lại “cơn lốc” đó dù họ nằm trong các thành phần mà Ninh dự đoán. Chỉ có một số nhỏ mà sau này, khi điểm quân lại, Ninh mới biết là họ đã lặng lẽ rời bỏ đơn vị trước khi tổ chức đặc nhiệm do Ninh cử đi đã bắt liên lạc được với Quân giải phóng.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 11:13:21 PM

Tổ chức đặc nhiệm đó gồm bốn sĩ quan và binh sĩ không mang súng, chỉ mang theo một máy thông tin do tiểu đoàn phó Lam Sơn dẫn đầu. Họ phải vượt qua một cánh đồng trống rộng mênh mông để tới một làng bạt ngàn màu xanh phía trước, nơi mà Ninh biết chắc chắn đã có mặt Quân giải phóng. Tử chiếc xe chỉ huy của mình, bằng ống nhòm, Ninh theo sát từng bước đi của họ. Trên dọc đường Ninh đã thấy họ gặp một tốp dân vệ. Ninh yên tâm thấy họ đã nhanh chóng tước súng rồi trói và nhét khăn vào miệng tốp dân vệ để bọn chúng “bất động” tại đó. Qua được “chướng ngại” này, Ninh vẫn thấp thỏm nỗi lo lớn nhất là tổ đặc nhiệm của mình bị phía bên ta bắn ra mặc dù trên tay Tiểu đoàn phó Lam Sơn bây giờ đã luôn giơ cao lá cờ hàng làm vội bằng mảnh võng màu nõn chuối. Ninh cũng hồi hộp, tim đập dồn dập hơn khi Lam Sơn cùng cả tổ đã vô rồi chìm hẳn trong màu thảm xanh phía trước đó. Chiếc ống nhòm trên tay lúc này đã hoàn toàn vô hiệu, anh chỉ còn tập trung đón chờ tín hiệu trong cáp nghe của chiếc máy thông tin vô tuyến. Sự yên lặng của nó lúc này làm Ninh còn lo hơn cả mọi nỗi lo sợ anh đã trải qua. Trạng thái ấy bỗng ngược lại hoàn toàn khi tiếng nói của Lam Sơn từ phía trước đã vang về:

- Anh Năm! Báo cáo anh Năm, chúng tôi đã gặp được Quân giải phóng, các anh rất hoan nghênh chúng ta. Anh cho anh em của tiểu đoàn mình sang luôn đi. Đơn vị quân đội ở đây sẽ rải ra bảo vệ và cùng đồng bào sẵn sàng đón chúng ta!

Ninh muốn reo to lên: “Ôi mẹ Việt Nam ơi! Cuộc binh biến của chúng con chắc chắn sắp thắng lợi hoàn toàn rồi!”, nhưng tiếng reo ấy lúc này chỉ thể hiện và hòa trong mệnh lệnh:

- Anh em sĩ quan và binh sĩ tiểu đoàn 1! Chúng ta đã bắt được liên lạc với Quân giải phóng rồi. Bộ đội và đồng bào ở phía trước đang sẵn sàng đón tiếp chúng ta. Tất cả cùng theo tôi tiến sang!

Nói xong mệnh lệnh chưa có trong đời chỉ huy của mình đó, Ninh liền bảo lái xe mở hết tốc lực. Sau chiếc xe Jeep dẫn đầu của anh là 2 chiếc xe GMC vận tải chở nặng quân cụ của tiểu đoàn và cả đội hình của tiểu đoàn, không phải đi mà cùng chạy ào ào theo xe. Trong cuộc đời binh nghiệp, có lẽ đây là lần đầu tiên những sĩ quan và binh sĩ của tiểu đoàn Lê Quang Ninh có được một quãng hành quân trong tâm trạng đột ngột thay đổi cuộc đời đầy náo nức như thế này.

Sau tổ đặc nhiệm, Ninh là người đầu tiên được ôm gọn trong vòng tay của một đồng chí chỉ huy Quân giải phóng. Cũng như anh, toàn thể anh em binh sĩ của tiểu đoàn, gương mặt ai cũng từ ngỡ ngàng đến hết sức xúc động khi mình được bộ đội giải phóng và đồng bào đón tiếp như đón tiếp người thân đi xa trở về. Không hề có biểu hiện gì là người của hai chiến tuyến khi cả tiểu đoàn anh đã xếp súng đạn thành từng đống nhưng vẫn còn mặc nguyên sắc phục quân đội Sài Gòn. Ninh đã phỏng đoán không sai. Bộ đội đón các anh là một đơn vị chủ lực của Quân đoàn 3. Đã thống nhất từ trước với chị Tư Nhẫn “Nếu lúc ly khai ra gặp Quân giải phóng mà không có chị...”, Ninh đã báo cáo ngay với các đồng chí chỉ huy ở đây về sơ bộ lai lịch của mình. Vì thế, từ mới biết Ninh là người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, khi biết thêm Ninh còn là đảng viên Đảng Cộng sản đã được gài trong quân ngụy từ 12 năm nay, hai đồng chí chỉ huy đơn vị ở đây cùng siết chặt tay anh. Ninh cùng hai anh đi song hành kiểm tra lại đội ngũ, bố trí cho tiểu đoàn sẵn sàng đối phó nếu địch phản kích. Có điều, Ninh lệnh cho cả tiểu đoàn bỏ súng vào từng nơi quy định để nộp cho cách mạng nhưng riêng anh vô tình đã quên làm việc đó do thói quen vẫn mang khẩu Col bên mình. Với nguyên quân phục và chiếc lon thiếu tá quân đội Sài Gòn, Ninh tự nhiên sóng bước đi bên hai cán bộ của Quân giải phóng trước mặt cả sĩ quan, binh lính tiểu đoàn mình và cả cán bộ, chiến sĩ quân đội Cách mạng, nhưng cũng không hề có ai tỏ ra phản ứng. Chẳng ai để ý đến chuyện đó khi Ninh đã dẫn được cả một tiểu đoàn còn nguyên vẹn về với cách mạng, với nhân dân. Mặc nhiên, tất cả đã coi Ninh là người của đằng mình.

Người Ninh cứ lâng lâng trong tình cảm “con đã được về với mẹ”. Làm xong việc kiểm tra đó, Ninh mời cả tiểu đoàn phó cùng báo cáo lại chi tiết về tình hình bố trí quân của Sư đoàn 25 và khu chiến thuật 31, trong đó mô tả rất kỹ sơ đồ về căn cứ Đồng Dù với Ban chỉ huy Quân giải phóng. Ninh cũng không quên làm ngay việc thu âm lời kêu gọi sĩ quan và binh sĩ ngụy rã ngũ rồi dùng máy truyền tin liên lạc trực tiếp với Sư đoàn 25 cùng tiểu khu Hậu Nghĩa kêu gọi họ cùng hưởng ứng phản chiến, rã ngũ, kéo quân ra với Quân giải phóng như tiểu đoàn mình.

Tới lúc nghe lời kêu gọi cùng “phản chiến rã ngũ” này của Ninh, tức là sau 2 giờ kể từ lúc tiểu đoàn 1 của Ninh rời khỏi Trảng Bàng, Bộ Tư lệnh Sư đoàn 25 mới biết tiểu đoàn Ninh đã phản chiến. Chúng không còn lực lượng để phản kích bằng bộ binh hay máy bay, thiết giáp mà chỉ sử dụng pháo binh nã đạn suốt mấy giờ liền vào khu vực nghi ngờ tiểu đoàn đang trú quân. Qua trận pháo kích này, được tận mắt chứng kiến lần nữa, Ninh và anh em binh sĩ của tiểu đoàn anh lại rất cảm kích, xúc động. Biết rằng đây là những con em của mình đã thấy lỗi lầm vừa “trở về với mẹ” nên khi những trái pháo bắt đầu vừa nổ, bà con kể cả các em thiếu nhi ở đây đã dắt tay, chỉ chỗ, nhường hầm trú ẩn cho tất cả anh em vừa phản chiến. Dứt pháo, thấy một số cô bác đã vì nhường hầm cho mình mà bị thương, những người lính của tiểu đoàn anh đã không chỉ cảm phục, xúc động mà trong ánh mắt họ còn biểu lộ rõ cả sự xót xa ân hận về những lỗi lầm đã qua với nhân dân.

Họ cũng mang tình cảm và tâm lý ấy khi được đồng bào xã An Tịnh mang quà ra biếu lúc tiểu đoàn di chuyển đi qua và khi được Huyện ủy và Ủy ban Cách mạng huyện Trảng Bàng dù bộn bề bao việc cũng tổ chức gặp mặt và làm cơm thết đãi cả tiểu đoàn.

Từ sau trận pháo kích tới lúc này, Ninh lại càng thấm thía thấy công tác binh vận của Đảng đã thật sự thấm sâu trong nhân dân, mình chỉ là hạt cát trong sa mạc. Còn anh em binh sĩ trong tiểu đoàn 1 của anh trong những giờ phút xúc động mà cả đời họ chưa được ấy, họ lại nhìn anh với ánh mắt đầy niềm kính phục, biết ơn. Không có Ninh dẫn đường làm “ngọn cờ binh biến”, họ đâu được hưởng sự ưu ái từ lòng đại lượng này. Điều chắc chắn là không ít người trong số họ sẽ vùi xác ở cửa ngõ Sài Gòn để là những tên lính phản dân hiến thân cuối cùng cho chế độ Cộng hòa bán nước mà chỉ 2 ngày sau đó đã phải sụp đổ hoàn toàn trước bão táp và sức mạnh của quân dân cả nước.

Với Lê Quang Ninh, bên cạnh phần thưởng cao quí là những tấm Huân chương được Nhà nước tặng thưởng, chính những ánh mắt ấy cũng là một phần thưởng ghi dấu ấn đẹp mãi trong đời anh.

Sau bao ngày đêm căng thẳng tính toán để hoàn thành nhiệm vụ cụ thể mà chị Tư Nhẫn đã thay mặt tổ chức trao cho, đêm 28 tháng 4 hôm ấy, trên thiếc giường tre của một nhà dân trong vùng vừa được giải phóng, Ninh đã ngủ được một giấc ngon lành.

Cũng trong thời điểm này ở thị trấn Trảng Bàng, thiếu tá Phong, người bạn Ninh mới hiệp đồng hành quân ban sáng đang gào to rát cổ trong máy bộ đàm vẫn không cản được cả thiết đoàn chạy toán loạn như ong vỡ tổ. Khi tiểu đoàn 1 của Ninh đã ly khai vô tới tận vùng giải phóng, thiết đoàn của Phong không có bộ binh tháp tùng đã giống như cua gãy càng. Lại biết tiểu đoàn 1 bảo vệ mình đã phản chiến, thế là cả thiết đoàn lợi dụng bóng đêm đã nhằm hướng Sài Gòn băng đồng mà chạy. Mạnh ai nấy chạy, không còn đội hình, không ai chỉ huy. Một số xe bị bắn cháy, số khác bỏ lại dọc đường. Số còn lại về tới cầu Bông bị Quân giải phóng chốt chặt, cả đoàn bỏ xe tăng chạy lấy người. Thế là cả thiết đoàn với hơn 30 xe tăng đã tan rã ngay đêm hôm đó. Ý đồ chiến thuật của Lý Tòng Bá là rút lực lượng mạnh gồm thiết đoàn 10 và tiểu đoàn 1 của Ninh về làm vành đai thép cố thủ căn cứ Đồng Dù, Củ Chi để án ngữ ngăn chặn Quân giải phóng tiến đánh Sài Gòn từ hướng Tây Bắc này cũng đã tan rã ngay từ đêm 28 tháng 4. Không riêng thiết đoàn 10 đang lung lay ý chí hoảng loạn tinh thần, bởi đã nhìn thấy rõ thất bại của quân lực Cộng hòa là vô phương cứu vãn, lại nghe thấy lời kêu gọi “Ly khai, tự cứu lấy mình” của Lê Quang Ninh và các sĩ quan tiểu đoàn 1, tinh thần và ý chí của quân ngụy càng thêm nhanh rã rời, sụp đổ. Thêm đòn tác động tâm lý đó, ngay từ đêm 28 tháng 4 này, khắp các đơn vị nhất là Sư đoàn 25 và các đơn vị phòng thủ Sài Gòn đều diễn ra cảnh tượng của bầy vịt bắt đầu tan đàn. Từng tốp nhỏ và riêng rẽ cá nhân, rất nhiều binh sĩ và cả sĩ quan đã lặng lẽ trút bỏ súng đạn, quân phục, rời khỏi hàng ngũ ngụy quân để tìm con đường sống cho mình. Tác động của tiểu đoàn Lê Quang Ninh đã đúng như một “trái bom” nổ trong lòng quân ngụy trước lúc đại quân ta đồng loạt nổ súng Tổng công kích giải phóng Sài Gòn.

Trong giấc ngủ dài và ngon lành đêm 28 tháng 4 này, Lê Quang Ninh đã không mơ thấy cảnh Lý Tòng Bá bị “chặt tay” ấy. Cũng không mơ thấy cảnh quân ngụy như bầy vịt bắt đầu tan đàn. Anh lại mơ thấy cảnh cả nhà mình, từ chị Bạch, ngườì đã cùng má chủ trì cuộc họp gia đình để Ninh vào làm nội tuyến, đến Loan và các con, rồi anh Phát, anh Lộc, các anh chị, các em, các cháu... đã chạy ùa ra tận bến sông mừng mừng tủi tủi ôm choàng lấy anh. Anh mơ thấy mình thong thả đi bên hàng dừa ven sông ở quê hương trong những ánh mắt trìu mến thân thương của bà con hàng xóm khi đã biết rõ mình là ai; mơ thấy mình đang đứng trước bàn thờ má, với hai hàng nước mắt: “Má ơi! Sao má không còn sống được đến hôm nay để thấy được bao công lao của má nay đã trở thành hiện thực!”.

Đâu còn phải trong mơ nữa. Những cảnh tượng ấy chỉ sau đêm 28 tháng 4 mấy hôm đã là sự thật đối với Ninh. Sự thật cho đến cả hôm nay. Sau 22 năm, anh nhòa nước mắt đứng trước bàn thờ của má anh khi má đã được Nhà nước ta tuyên dương danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 1997


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:36:54 PM

BA CHIẾN SĨ ẨN DANH ANH HÙNG

Ba Lễ nhẹ nhàng rời khỏi lầu ba. Anh muốn Sáu Trí được chợp mắt ít phút, bởi A51 đã thức trắng suốt đêm qua. H32 cũng thế, thương lo cho sức khỏe của đồng đội nhưng quên rằng chính mình cũng suốt đêm qua 29 tháng 4 đã luôn làm việc bên cạnh H5. Mà ngủ sao được khi Sài Gòn đã sắp đến đỉnh cao của cuộc đại hồng hỏa. Trọng pháo 130 ly - loại pháo tầm xa cực lớn của quân ta đã liên tiếp dội lửa vào sân bay Tân Sơn Nhất. Các mũi nhọn đột kích của 5 cánh quân, mỗi cánh với sức mạnh một quân đoàn và các đơn vị Đặc công, Biệt động của Miền (B2) 3, của Sài Gòn ở tất cả các hướng đã áp sát các mục tiêu trọng yếu của nội đô. Tiếng súng liên tiếp dội lên từng đợt khắp tuyến vành đai. Bầu trời “Hòn ngọc Viễn Đông” tưởng cũng muốn vỡ tung ra bởi suốt đêm rung động, rền rĩ tiếng động cơ các loại máy bay của không lực Việt Nam Cộng hòa cất cánh tháo chạy, của không lực Hoa Kỳ cố sức chở người di tản, trước hết là người Mỹ ra khỏi Sài Gòn.

Sáu Trí và Ba Lễ phải nắm biết nhanh chóng đầy đủ hiện tình trên để vừa báo cáo kịp thời ra T14, vừa phục vụ trực tiếp cho nhiệm vụ quan trọng mà mình đang phải ứng phó từng phút, từng giây ở thời điểm này. Thực tế A5 và H3 đã đạt được cả hai mục tiêu đó, nhất là với hiệu quả của đêm qua - đêm mà Ba Lễ đã lâng lâng cảm thấy đó là đêm “giao thừa” giữa hai chế độ và “giao thừa” của cả đời mình. Cũng đến đêm qua, căn nhà riêng ba lầu của Ba Lễ ở cư xá Nguyễn Tri Phương, quận 10 đã thực sự là cơ sở chỉ huy của cụm tình báo H67 do Sáu Trí chỉ huy. Chiếc máy điện đài vô tuyến được H3 cất giấu từ hồi Tết Mậu Thân năm 1968 ở chính căn hộ ba lầu này của anh bây giờ cũng là chiếc đài thu phát duy nhất trong nội đô Sài Gòn của tình báo B2. Sáu Trí và hai chiến sĩ giao liên, điện đài cũng ăn ở ngay tại nhà Ba Lễ từ hôm H3 mạo hiểm ra ngoài căn cứ đón anh bí mật vô Sài Gòn để thực hiện nhiệm vụ mà tướng Ba Trần đã giao cho anh trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhiệm vụ cấp bách mang ý nghĩa và tầm vóc lớn. Nhưng rất may đã có H3 vốn là Trưởng ty công an cảnh sát, là Nghị sĩ và hơn nữa là Chủ tịch một ủy ban của Hạ viện Sài Gòn ở bên đang làm tấm lá chắn rất hữu hiệu cho mình. Mấy hôm nay H3 đã như con thoi trong nội thành không chỉ để giúp Sáu Trí điều hành chỉ đạo H1, H2, P38, P42... những cơ sở tình báo của B2 thực hiện các nhiệm vụ có hiệu quả. Còn việc nữa trọng đại hơn trong lúc này là phải bám sát được diễn biến trong dinh Độc Lập qua Tô Văn Cang để góp thêm tác động làm rã ngay ý chí của Dương Văn Minh và nội các của ông ta.

Với Tô Văn Cang, cả Ba Lễ và Sáu Trí đều không lạ, nhưng cả ba chỉ mới thực sự gắn bó với nhau từ bữa kia. Trưa hôm kia, 28 tháng 4, Sáu Trí và Ba Lễ đang làm việc trên lầu ba bỗng thấy Mỹ Linh - con gái của Ba Lễ - vội vã chạy lên trình báo:

- Thưa bác Sáu, thưa ba! Có hai người lạ mặt không phải bạn của ba, vì nếu quen con đã biết mặt đến muốn được gặp bác Sáu.

Một tình huống quá bất ngờ. Nhưng Sáu Trí nghĩ ngay: “Dù sao né tránh cũng vô ích. Cần phải tìm hiểu cụ thể” và anh liền bảo H3:

- Anh xuống phòng khách kiểm tra xem, hai người ấy là ai? Đi tìm ai? Tại sao lại biết Sáu Trí ở đây và gặp Sáu Trí để làm gì?

Lát sau, H3 trở lên báo cho A5 biết: Hai người khách không phải quen, nhưng không có gì nguy hiểm. Đó là anh Tô Văn Cang, một trí thức yêu nước, đang công tác tình báo trong mạng lưới tình báo của anh Đinh Sơn Đường tức Hai Thắng thuộc cụm A24 từ đầu năm 1973. Anh có một con trai đã bí mật thoát ly theo Quân giải phóng. Cùng đi với anh là kỹ sư Nguyễn Văn Giàu, cơ sở trí vận. Anh Cang đến đây là do nội các của Dương Văn Minh mà trực tiếp là ông Nguyễn Văn Diệp, một Tổng trưởng có uy tín, thân cận của tướng Minh và là bạn thân của Tô Văn Cang nhờ anh đi tìm một đại diện của Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng cấp Trung ương để đưa ra các vấn đề xin thương lượng. Còn anh Cang biết anh đang có mặt ở Sài Gòn là do Hai Thắng tiết lộ.

Thấy việc mình có mặt ở Sài Gòn đã lộ trong nội bộ của ngành nhưng việc lộ này cũng diễn biến hợp lý, không có hiện tượng phức tạp nên A5 đồng ý với H3 cùng xuống phòng khách gặp Tô Văn Cang và Nguyễn Văn Giàu. Qua cuộc gặp bất ngờ mà anh Cang đã xin lỗi, vì đã vi phạm nguyên tắc đường đột đến gặp mình, lúc này Sáu Trí và Ba Lễ mới hiểu rõ hơn vì sao Tô Văn Cang phải mạo hiểm đóng vai “sứ thần” này. Theo Bảy Cang cho biết: Tướng Dương Văn Minh muốn tìm gặp người của ta vì hiện giờ nội các của vị tân Tổng thống này đang chia làm hai phe. Phe thứ nhất do Nguyễn Văn Diệp đứng đầu chịu thương lượng với Mặt trận Dân tộc Giải phóng để kết thúc chiến tranh với bất cứ giá nào. Phe thứ hai do đám công giáo phản động cầm đầu, đại diện là Nguyễn Bảo Kiếm, nhất quyết không nhân nhượng, quyết tử thủ Sài Gòn, cố gắng kéo dài chiến tranh thêm một thời gian nữa để tìm giải pháp có lợi cho Việt Nam Cộng hòa. Tới lúc này, trước thế thắng áp đảo của Cách mạng và sự tan rã, rối ren trong nội tình, tướng Dương Văn Minh đã ngả về phía chủ hòa Nguyễn Văn Diệp. Bảy Cang thấy quan điểm của Diệp rất có lợi cho Cách mạng. Lại biết rõ Ba Diệp vốn là một trí thức yêu nước, tham gia vào nội các Sài Gòn cũng là để chờ thời thế và rất được xã hội vị nể về nhân cách. Vì thế mà anh đã nhận lời Ba Diệp tìm đến Sáu Trí, nghĩ rằng Sáu Trí là cán bộ cao cấp của quân đội đang giữ cương vị quan trọng ở đây có thể là người thay mặt được cho Cách mạng để “sứ giả” của Dương Văn Minh tiếp xúc xin ý kiến xử lý trong bối cảnh căng thẳng này. Sáu Trí lắng nghe, khi Bảy Cang vừa dứt lời, anh đã nói ngay:

- Không! Tôi không có tư cách đại diện cho Cách mạng để gặp bất cứ ai. Tôi vào Sài Gòn có việc riêng của tôi. Chính phủ Dương Văn Minh nếu muốn gặp Chính phủ Cách mạng Lâm thời thì cứ đến cơ quan bốn bên tại Tân Sơn Nhất. Ở đó luôn có người thường trực.

- Cám ơn anh! - Bảy Càng sôi nổi - Tôi xin thực hiện ngay lời chỉ dẫn này của anh. Nhưng tôi cũng xin truyền đạt câu hỏi thứ hai của anh Diệp đề nghị anh giúp cho ý kiến là trong hoàn cảnh bức bách trước mắt, anh Diệp và nội các của Dương Văn Minh nên xử lý thế nào?

- Xử trí ra sao đối với đất nước trong hoàn cảnh rất phức tạp và khẩn trương, bức bách này ư? Tôi đề nghị anh về nói với anh Diệp để anh Diệp nói lại ngay với tướng Minh mấy ý như sau:

Thứ nhất, Dương Văn Minh là nhà quân sự nên có thừa khả năng để đánh giá tình thế trước mắt của thủ đô Sài Gòn đang bị các quân đoàn của Quân giải phóng bao vây; nhân dân Sài Gòn đang sẵn sàng đập nát sự đề kháng và đã bắn cảnh cáo bằng pháo hạng nặng vào phi trường Tân Sơn Nhất; các máy bay MIC của Không quân Nhân dân Việt Nam đã có mặt trên sân bay Đà Nẵng, quân đội Sài Gòn không còn cả lực lượng và tinh thần để chống đỡ.

Thứ hai, Mỹ đã rút quân do thất bại và bị áp lực của phong trào phản chiến ở Mỹ. Hoa Kỳ không thể đưa quân trở lại và cũng không còn thì giờ để tiếp cứu Sài Gòn. Các ông đừng ảo tưởng về cứu viện của Mỹ cũng như bất cứ cường quốc nào.

Thứ ba, quân và dân Việt Nam sẽ đập tan mọi sự đề kháng. Sự sụp đổ của chế độ Sài Gòn đang được tính từng ngày, từng giờ. Chính phủ Dương Văn Mình không còn thái độ nào khác vừa có lợi lớn, vừa hợp đạo lý là chấp nhận đầu hàng vô điều kiện như lời kêu gọi của Chính phủ Cách mạng Lâm thời loan báo trên các đài phát thanh. Nếu hành động khác, kéo dài chiến tranh, chế độ Sài Gòn cũng sẽ sụp đổ. Thời gian kéo dài không lâu, có thể tính từng ngày, nhưng sự kéo dài ấy sẽ gây tác hại lớn không lường được. Đồng bào thành phố sẽ bị thương vong nhiều, thành phố Sài Gòn sẽ đổ nát. Hậu quả đau thương này, nội các Dương Văn Minh nếu chọn giải pháp tử thủ Sài Gòn sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước lương tâm và trước nhân dân. Nhân dân Việt Nam sẽ không tha thứ cho thái độ vô trách nhiệm đó. Ông Minh là người thức thời nên thấy rõ tình hình thực tế để chọn thái độ khôn ngoan, đúng đắn. Đầu hàng ngay và đầu hàng vô điều kiện là thái dộ thức thời, khôn ngoan, có trách nhiệm trước sinh mạng của nhân dân Sài Gòn. Như thế ông ta mới còn một chút phẩm giá, còn có cơ hội để còn được tự hào là người Việt Nam.
___________________________________
1. Bí số của đồng chí Nguyễn Văn Khiêm, tức Sáu Trí.
2. Bí số của đồng chí Nguyễn Văn Lễ tức Ba Lễ.
3. Bộ Tư lệnh miền Nam.
4. Trung tâm chỉ huy của B2.



Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:37:53 PM

Tô Văn Cang đã thông qua Tổng trưởng Nguyễn Văn Diệp để phản ánh được nguyên vẹn những ý kiến đó của đại tá Nguyễn Văn Khiêm tức Sáu Trí không chỉ đến có Dương Văn Minh mà cả với Nguyễn Văn Huyền và Vũ Văn Mẫu - bộ ba đầu não của chính quyền Sài Gòn. Chắc chắn tác động đó đã như cuốn thêm gió để rung cây. Và, để thêm tác động mạnh mẽ hơn nữa, sáng ngày 29, Bảy Cang lại hăng hái nhận lời dẫn Nguyễn Văn Diệp và Nguyễn Đình Đầu - đại diện cho nội các của Dương Văn Minh - vào trại David để gặp đại diện chính thức của Chính phủ Cách mạng Lâm thời đề cập việc thương lượng. Biết chắc rằng, tới thời điểm này, đề xuất của Dương Văn Minh càng không thể được bên ta chấp nhận, nhưng anh vẫn dẫn đoàn của ông Diệp đi. Dẫn đi với ý định để cho các sứ giả này được trực tiếp tiếp xúc với người có thẩm quyền của Cách mạng mà trước hết là họ rồi sau đó tác động đến bộ ba Minh - Huyền - Mẫu và cả nội các Sài Gòn không còn có ảo tưởng thương lượng. Chỉ còn có nhanh chóng đầu hàng.

Đúng là Bảy Cang đã đạt được ý định này khi đoàn phải vượt qua bao “cửa ải” mới vào được trại David để rồi chỉ gặp được có đại úy Tài và nghe đại úy truyền đạt lại ý kiến của Trưởng phái đoàn quân sự của ta: “Chúng tôi không tiếp đại diện của chính quyền Sài Gòn. Cũng không có chủ trương nào khác là nội các Dương Văn Minh phải đầu hàng vô điều kiện!”.

Được trực tiếp thấy thái độ cứng rắn và nhất quán này, phái đoàn đại diện của ông Diệp vội vàng qua đại úy Tài đề nghị với Mặt trận: Nên xem Chính phủ Dương Văn Minh chịu đầu hàng vô điều kiện nếu chiều nay 29 tháng 4, lúc 16 giờ, Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền lên đài phát thanh tuyên bố “Sẵn sàng thương thuyết hòa bình với Mặt trận”. Phải tuyên bố như vậy vì Mỹ chưa rút hết, và phe hiếu chiến vẫn chưa hết mơ tưởng, đang còn hung hăng, hò hét “tử thủ”.

Những diễn biến từ trong nội bộ dinh Độc Lập trên đây, Sáu Trí và Ba Lễ đã sớm biết được tường tận, chuẩn xác qua Tô Văn Cang. Đây cũng là yêu cầu cấp thiết về nghiệp vụ trong nhiệm vụ đột xuất, song lại là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với A5 và H3 lúc này. Trước đây hai ngày, khi Bảy Cang chưa bất ngờ xuất hiện ở nhà H3, Sáu Trí và Ba Lễ không nghĩ rằng là mình lại có cơ may được Trung tâm trao nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị lớn này. Hơn nữa, trọng trách của A5 trong chiến dịch Hồ Chí Minh cũng rất nặng. Anh phải dựa vào H3 và cùng với H3 thực hiện được các nhiệm vụ lớn: Nắm chắc đại tá Nguyễn Văn Lộc mới được Thiệu chỉ định làm Tư lệnh Liên đoàn 316 biệt động quân để sử dụng Lộc phá tan liên đoàn này, không cho nó làm được “lá chắn” ở vùng trong phía Tây Sài Gòn. Thông qua H81, giải phóng và tiếp nhận Phủ Đặc ủy tình báo - cơ quan đầu não điệp báo và kho lưu trữ lớn nhất các tài liệu, hồ sơ tối mật về chính trị, an ninh của Công an Việt Nam Cộng hòa. Bắt liên lạc và chỉ đạo các điệp viên: H1, H2, P38, P42, P71... đang còn “mai danh” trong hàng ngũ địch, hoạt động có hiệu quả, phục vụ thiết thực cho chiến dịch Hồ Chí Minh. Bảo đảm thông tin thông suốt và an toàn sở chỉ huy bí mật ở nhà H3. Đáp ứng kịp thời đầy đủ các yêu cầu về tình báo của Trung tâm.

Khẩn trương triển khai các nhiệm vụ trên để nó đang tiến triển rất khả quan như hiện giờ đã không phải dễ dàng, tổn ít tâm lực. Tuy vậy từ hai hôm nay, việc ưu tiên hàng đầu đối với Sáu Trí và Ba Lễ vẫn là bám sát các diễn biến của nội các Dương Văn Minh qua Tô Văn Cang để thực hiện nhiệm vụ hàng đầu của mình.

Tối qua khi Bảy Cang ở dinh Độc Lập vừa về đến nhà, Sáu Trí và Ba Lễ đã biết được tin mới nhất: “Cùng với việc để cho Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền lên Đài phát thanh tuyên bố “Sẵn sàng thương thuyết với Mặt trận”, Dương Văn Minh đã cử tiếp một phái đoàn do luật sư Trần Ngọc Liễng dẫn đầu vào trại David đưa thêm một số kiến nghị để vừa chiều lòng một số thành viên trong nội các, vừa tiếp tục hy vọng được thương lượng với Mặt trận. Còn bây giờ, giọng nói của Bảy Cang lại đang tỏ ra còn rất bực bội khi trả lời Ba Lễ trên điện thoại:

- Tôi vừa điện thoại liên lạc với anh Diệp và anh Đầu cách đây 5 phút. Anh Diệp cho biết vừa được tướng Minh mời vào dinh Độc Lập lúc 7 giờ, thấy nhiều tên trong phe chủ chiến vẫn muốn và đang hí hửng chờ đợi được ra mắt trong nội các Vũ Văn Mẫu vào lúc 10 giờ sáng nay. Tôi liền nổi nóng với Tổng trưởng Diệp: “Chết đến nơi rồi mà còn ở đó lo tranh nhau chia ghế. Anh báo tin ngay cho ông Dương Văn Minh là Quân giải phóng đã đánh tới ngã tư Bình Hòa. Hướng Đông và hướng Tây, xe tăng của họ đang vào gần đến thành phố rồi. Đầu hàng đi kẻo chết hết bây giờ!”. Tôi cũng dựa vào thế trận của ta đóng vai hùm hù anh Diệp để anh ấy hù lại nội các Dương Văn Minh. Không biết về các mũi tiến quân của ta đã đúng như thế không?

- Anh nổi nóng và hù như thế là rất đáng giá. Thực tế về các hướng tấn công của quân ta còn vũ bão hơn anh suy đoán nhiều. Rất có thể ngày 30 tháng 4 hôm nay sẽ là ngày quyết định của chiến dịch Hồ Chí Minh. Thế nên ngay sáng nay anh phải làm sao để anh Diệp cũng nổi nóng như anh đối với ê-kíp của Dương Văn Mình thì chuyện nổi nóng của anh mới đáng khích lệ.

Sáu Trì cũng đã qua điện thoại vừa nói, vừa cười vui cổ vũ Bảy Cang. Anh tin Bảy Cang và Ba Diệp nhất định sẽ thể hiện được cái sứ mệnh do chính hai anh tự nguyện làm sứ giả này. Cũng qua Bảy Cang, Ba Diệp và nhiều nguồn tin khác, Sáu Trí và Ba Lễ được biết mấy hôm nay không chỉ riêng có nhóm của các anh tác động vào ý chí của Dương Văn Minh, hướng ông ta có quyết định khôn ngoan, thức thời nhất trước thời điểm trọng đại của lịch sử, mà còn mấy tác nhân khác cũng đang ở trong dinh Độc Lập.

Thực tiễn đúng như Sáu Trí đã biết và cũng không chỉ một chiều. Riêng chiều tích cực, hướng Dương Văn Minh có quyết định khôn ngoan, đúng đắn, ngoài nhóm Nguyễn Văn Diệp trong nội các và giới trí thức, còn có chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh bên quân đội, luật sư Đệ nhất phó Biện lý Triệu Quốc Mạnh bên cảnh sát công an.

Mạnh là chiến sĩ cách mạng ẩn danh trong cơ quan pháp luật Sài Gòn được bên trí vận “sắp xếp” vào nội các của Dương Văn Minh đúng lúc ông ta đang cần Mạnh. Và anh đang nắm toàn quyền chỉ huy công an, cảnh sát Đô thành từ hôm qua. Còn Nguyễn Hữu Hạnh bị Thiệu ghét bỏ cho hồi hưu non, là người cùng cánh với Dương Văn Minh được Ban Binh vận của ta giác ngộ từ lâu nên ngày 28 tháng 4 đã chủ động từ Cần Thơ lên gặp Dương Văn Minh xin “giúp Tổng thống một tay”. Rất may, Hạnh đã được trao chức Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng, phụ trách hành quân và lại được Trung tướng Tổng Tham mưu trưởng Vĩnh Lộc ủy quyền cho ngồi ghế trực chỉ huy của Bộ Tổng tham mưu nên đã nắm toàn quyền chỉ huy, điều hành quân đội đã suốt hai hôm nay. Có được vị trí đó, Hạnh đã khéo léo tác động góp phần quan trọng để quân ngụy đang hoang mang tan rã từng mảng, càng nhanh tan rã đến mất sức chiến đấu hoàn toàn.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:39:19 PM

5 giờ 30 sáng nay, Vĩnh Lộc yêu cầu Hạnh báo cáo tổng hợp tình hình chiến sự trước khi trình lên Tổng thống. Nghe xong, Vĩnh Lộc đã tái người liền kiếm cớ vội vã ra phía sau tìm lối đào tẩu nên Hạnh lại nghiễm nhiên thay cương vị Tổng Tham mưu trưởng của Lộc. Tướng Hạnh được Dương Văn Minh gọi lên báo cáo tình hình với Tổng thống đúng vào thời điểm này. Hạnh mời tướng Nguyễn Hữu Có “cố vấn quốc phòng” - người vừa cùng Vĩnh Lộc nghe Hạnh báo cáo cùng đi.

Hai người đến dinh Độc Lập lúc kim đồng hồ trên tay Hạnh chỉ 6 giờ 10. Chào Minh xong, Hạnh để tướng Có đang là “cố vấn quốc phòng” cho Tổng thống trình bày hiện tình chiến sự. Có báo cáo lại gần như nguyên văn mà Hạnh vừa mới tường trình với Vĩnh Lộc.

Ông Minh cũng tái người như Vĩnh Lộc, trầm ngâm suy nghĩ. Nhân lúc đó, Hạnh liền nói thêm:

- Tình hình rất nguy ngập, xin Đại tướng quyết định gấp. Chúng ta không thể trì hoãn được nữa. Trì hoãn và không có quyết định đúng đắn lúc này chắc chắn sẽ dẫn đến thảm họa lớn biến Sài Gòn thành biển máu.

Dương Văn Minh chau mày. Ông biết ý Hạnh muốn gì.

- Thôi để moa đi bàn ngay với ông Huyền và ông Mẫu. Các toa cứ ngồi đợi ở đây.

Hạnh đề nghị được đi theo. Minh đồng ý. Đến Phủ Thủ tướng ở số 7 đường Thống Nhất, bộ ba Minh-Huyền-Mẫu vội vã họp bàn ngay. Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền muốn chờ phái đoàn thương thuyết Trần Ngọc Liễng từ trại David trở về xem Mặt trận có chấp nhận được đề nghị nào của phía Quốc gia không. Nhưng đến gần 8 giờ phái đoàn này vẫn bặt tin. Trong khi ấy tình hình mỗi phút càng thêm nguy ngập nên bộ ba này không còn con đường nào khác là phải nhất trí quyết định đơn phương tuyên bố bàn giao chính quyền lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu ngồi ngay tại chỗ soạn thảo tuyên bố để 9 giờ sẽ phát trên đài phát thanh Sài Gòn sau khi Tổng thống Dương Văn Minh đã đọc vào băng ghi âm. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh với danh nghĩa thay quyền Tổng Tham mưu trưởng chỉ huy quân đội Sài Gòn cũng viết ngay “Nhật lệnh buông súng” để phát tiếp sau tuyên bố của Tổng thống.

Sự kiện hệ trọng nhất trong dinh Độc Lập từ khi Dương Văn Minh nhậm chức Tổng thống, Nguyễn Văn Diệp rồi Tô Văn Cang đã được biết ngay qua Nguyễn Đình Đầu. Đầu là bạn thân của Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền lại đang được Huyền-Minh coi là “cố vấn” nên đã cùng có mặt ở đây. Tất nhiên khi cái tin vượt cả tầm quốc gia này đã đến được với Bảy Cang và Ba Diệp thì sẽ đến liền với Sáu Trí và Ba Lễ.

Đúng thế, chỉ mấy giây sau đó, tiếng Bảy Cang đã sang sảng, rộn ràng trong máy điện thoại ở nhà Ba Lễ:

- Dương Văn Minh chịu bó giáo, hạ cờ rồi! Ba mươi phút nữa tức 9 giờ sáng nay, ông Minh sẽ nói trên đài phát thanh Sài Gòn, xin đơn phương tuyên bố bàn giao chính quyền lại cho Cách mạng. Tổng thống họ Dương tránh không nói chính quyền Sài Gòn xin dầu hàng vô điều kiện, nhưng thực chất đơn phương bàn giao là đầu hàng rồi. Như thế riêng với chúng ta là đã đạt yêu cầu về hiệu quả tác động. Với nhân dân cả nước là đại thắng, quá vui mừng và mừng nhất là tránh được cho Sài Gòn không đổ nát, không thành biển máu!

Niềm vui mừng, hưng phấn mỗi lúc lại hiện lên rạng rỡ hơn trên gương mặt Sáu Trí khi nghe Bảy Cang nói như reo trong máy điện thoại. Rồi từ Sáu Trí, niềm hân hoan sang Ba Lễ, sang cả ba nữ chiến sĩ hậu cần, giao liên và điện thính viên của cụm. Đấy đâu phải ai xa lạ mà là chị Hồng Như, cháu Mỹ Linh - phu nhân và con gái Ba Lễ, là cháu Ngọc Khánh - điện thính viên thông minh và cũng là cô con gái dễ thương được cưng nhất của Sáu Trí. Không reo to, cười lớn hỉ hả, nhưng giờ đây cả “đại gia đình tình báo” này đang cùng reo mừng bằng những ánh mắt vụt sáng long lanh. Ở đây trong cái tiểu sở chỉ huy tình báo nằm giữa Sài Gòn mà Sáu Trí đã coi như gia đình của mình này, anh cũng vừa nhận được tin vui lớn: H2 theo bám đại tá Nguyễn Văn Lộc, Tư lệnh Liên đoàn biệt động 316 mới báo cáo lên: “Cho đến 6 giờ sáng nay, 30 tháng 4, Liên đoàn biệt động quân 316 do Lộc vừa giả bộ không đủ tài thu nạp tàn quân vừa khéo léo cho giải tán từng đơn vị nhỏ lẻ nên Liên đoàn đã hoàn toàn tan rã. Tuyến phòng thủ vòng trong ở phía Tây Nam Sài Gòn do Liên đoàn 316 đảm nhiệm đã không còn có ý nghĩa thực tế. Nó đã như cửa thành bỏ ngỏ giúp cho quân ta bớt đổ xương máu và tiến quân mau chóng khi tiến công vào hướng này”.

Đây là một chiến công lớn mà không phải nổ súng. Chiến công lớn bắt nguồn trước hết từ sự chỉ đạo, tác động của Sáu Trí và Ba Lễ này đã làm cho trái tim hai anh náo nức, xôn xao như khi được yêu lần đầu hồi trẻ. Nhưng sự náo nức ấy cũng không thể nào so được với niềm vui sướng đang dâng trong lòng Sáu Trí và Ba Lễ khi hai anh đang nghe Bảy Cang nói về tuyên bố của Dương Văn Minh lúc này. Buông ống nghe điện thoại, Sáu Trí liền viết ngay điện báo cáo “sự kiện long trời” ở dinh Độc Lập ấy ra T1. Phần cuối bức điện, anh mới thêm một dòng: “Từ 6 giờ sáng nay, Liên đoàn biệt động 316 đã hoàn toàn tan rã”. Ngọc Khánh đỡ cuốn sổ thảo điện trên tay cha. Lần này đôi tay cô gái rượu của anh hình như đã run run. Qua nhịp ma-níp, rõ ràng nữ chiến sĩ này đã xúc động khi truyền ra T1 những dòng chữ: “Dương Văn Minh đã phải chấp nhận tuyên bố đơn phương bàn giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng, 9 giờ sáng nay sẽ tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn...”. Chỉ mấy giây, sau nhịp ma-níp này của Ngọc Khánh, chắc chắn Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh rồi cả Tổng Hành dinh và Bộ Chính trị ngoài Hà Nội sẽ nhận được nguồn tin rất quan trọng và rất vui mừng này, nhận trước lúc Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn hơn 20 phút. Hơn 20 phút lãnh đạo biết sớm hơn này không chỉ có vui sớm hơn, còn quý giá biết bao cho sự chỉ đạo, ứng phó của ta trên cả chiến trường và chính trường.

Sáu Trí và Ba Lễ đã thấu hiểu sâu sắc về giá trị ấy trong tình báo. Cả hai càng phấn chấn hơn khi biết T1 đã nhận được đủ nội dung điện báo đó. Lại vui hơn nữa bởi phúc trùng lai: Đúng lúc này, P14 báo cáo lên với A5: “P14 đã kìm chân được tất cả sĩ quan và nhân viên trong Phủ Đặc ủy trung ương tình báo”. H1- đại tá Trần Bá Thành, con “hùm xám miền Đông” báo lên với H3: “Đã rời khỏi khách sạn Hoàng Gia an toàn đến thuyết phục được chuẩn tướng Bùi Văn Nhu, Phó Tổng giám đốc Công an cảnh sát Sài Gòn ở lại không chạy theo Mỹ ra nước ngoài để giữ nguyên vẹn Tổng nha Công an cảnh sát”.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:40:01 PM

A5 quên mệt. Chưa bao giờ toàn mạng hoạt động đồng đều, sôi động, có hiệu quả như lúc này. Tuy vậy, cơ sở phải quan tâm hàng đầu của anh bây giờ vẫn là H23 tức Bảy Cang. H23 cũng ý thức được điều đó. Cho nên lúc 10 giờ 30 khi được Nguyễn Văn Diệp điện mời vào dinh Độc Lập, Bảy Cang đã không quên điện báo cho Sáu Trí: “Ba Diệp mời tôi vào dinh Độc Lập để tổ chức đón Quân giải phóng. Tôi sẽ liên lạc về ngay với A5. Nghe anh Diệp nói, nội các của ông Minh cũng có mặt đầy đủ trong dinh không phải để “ra mắt” mà để bàn giao chính quyền cho Cách mạng. Vậy là ván cờ đã đến đỉnh điểm rồi!”.

“Ván cờ đã đến đỉnh điểm”. Đây chính là câu nói của Nguyễn Văn Diệp mà Bảy Cang đã mượn lời đó để nói với A5. Diệp cũng vừa ở bên dinh Thủ tướng cùng Minh - Huyền sang đây. Trước lúc điện mời Bảy Cang vào dinh Độc Lập, Ba Diệp vừa phải chứng kiến hai cuộc gặp gỡ, đối thoại cũng có thể nói là hiếm có ở cả hai dinh.

Thứ nhất, đấy là cuộc gặp giữa Vanuxem, tướng Pháp đã hồi hưu, với Dương Văn Minh ở dinh Thủ tướng. Vanuxem gặp Minh để cổ vũ Minh tình hình chưa hết hy vọng. Vanuxem xuất hiện đúng lúc tướng Minh vừa đọc xong bản tuyên bố “Xin bàn giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng” vào máy ghi âm đang chờ để đưa sang Đài phát thanh. Ngồi cùng với Dương Văn Minh lúc này có Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu và Nguyễn Văn Diệp.

- Tôi từ Pháp mới đến chờ các ông ở dinh Độc Lập. Nghe nói các ông đang ở đây nên tìm đến hỏi xem tình hình hiện nay ra sao rồi.

- Tình hình không hy vọng gì nữa - Dương Văn Minh trả lời - Để tránh đổ máu vô ích, tôi sắp phát thanh lời tuyên bố bàn giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

- Không phải hết hy vọng đâu. Tôi đã thu xếp xong công việc này từ ở Pari. Đề nghị ông nên tuyên bố nhờ nước C bảo hộ cho.

- Tôi không có liên lạc với nước C.

- Tôi đã thu xếp liên lạc rồi. Ngay tại đây.

Tại đây, cả bộ ba Minh - Huyền - Mẫu và Ba Diệp cũng hiểu ngay là ở Sứ quán Pháp - nơi Đại sứ Merisson đang nắm quyền. Biết thế, nhưng tướng Minh vẫn tiếp giọng lạnh lùng:

- Tôi không còn ngày giờ nữa.

Tức thì Vanuxem hỏi:

- Ba ngày có được không?

Dương Văn Minh liền trả lời:

- Tôi không có ba ngày đâu.

Vanuxem trả giá:

- Một ngày có được không? Thưa Tổng thống!

- Một ngày tôi cũng không có - tướng Minh nói dứt khoát - Việc là việc hàng phút. Việc bây giờ.

Biết không còn ma lực nào thuyết phục được Dương Văn Minh, Vanuxem đứng dậy chào tạm biệt. Khi viên tướng già tình báo này vừa bước ra khỏi cửa, Dương Văn Minh liền gọi Lý Quý Chung tới bảo Chung cho phát thanh ngay lời tuyên bố đã ghi âm. Lý Quý Chung đi rồi, cả bốn người còn ngồi lại đều im lặng chẳng ai trao đổi gì với ai. Trong cái không khí im lặng ấy, tự nhiên ông Minh thốt lên: “Mình đã lỡ đi theo Mỹ rồi. Bây giờ họ lại xúi mình bán nước cho C!”. Câu nói ấy không chỉ bộc lộ riêng tâm trạng Dương Văn Minh mà cũng là cả với Vũ Văn Mẫu và Nguyễn Văn Huyền lúc này.

Đúng 9 giờ, lời tuyên bố “xin bàn giao chính quyền...” của Tổng thống Dương Văn Minh được phát trên đài phát thanh Sài Gòn. Tuyên bố này đã đột nhiên làm chấn dộng dư luận cả nước và thế giới, trước hết là Sài Gòn. Hai mươi phút sau, Dương Văn Minh và Nguyễn Văn Huyền ra đứng trên bao lơn lầu một quan sát cảnh tượng trên đường phố trước cửa dinh để thư giãn thần kinh trong thời gian chờ đợi. Nhìn xuống phía dưới sân, cả hai bỗng thấy có một chiếc xe bọc thép chở đầy lính chạy xộc vào đậu trước dinh. Liền sau đó, một anh chàng mặc đồ rằn ri, súng ních bên hông, tướng mập mạp, bậm trợn, trông vẻ rất kệch cỡm, có một bông mai trên ve áo, bước thẳng lại trước mặt tướng Minh đưa tay lên chào, rồi hỏi:

- Thưa Đại tướng! Anh em chúng tôi sẵn sàng chiến đấu, sao Đại tướng đầu hàng? Tại sao?

Tuy trong tuyên bố, Dương Văn Minh chỉ nói “bàn giao...”, nhưng rõ ràng viên thiếu tá này cũng hiểu thực chất đó là “đầu hàng” nên y đã hỏi tướng Minh hai tiếng “tại sao” bằng ánh mắt nảy lửa, giọng nói dữ dằn. Còn hai chân y bẹt bẹt ra, hai tay oam oam như sẵn sàng móc súng. Cả hai ông Minh và Diệp đều lạnh xương sống. Ông Minh trầm ngâm nhìn anh chàng này, im lặng một giây rồi mới nói:

- Qua cũng như em, là quân nhân, đầu hàng thật là nhục nhã. Nhưng mà em nên nghĩ nếu tiếp tục đánh nhau thì số phận của anh em binh sĩ sẽ ra sao. Và đánh nhau rồi thì dân chúng sẽ chịu sao nổi. Sẽ còn đổ biết bao máu của người Việt ta?

Câu trả lời vừa bộc lộ rõ sự đồng cảm “là quân nhân đầu hàng là nhục” vừa biết nghĩ đến số phận của binh sĩ và dân chúng đó đã có sức thuyết phục khá màu nhiệm. Từ hùng hổ, anh chàng sĩ quan mà sau đó ông Diệp biết là anh ta thuộc binh đoàn cảm tử Lôi Hổ, bỗng như quả bóng xẹp hơi tiu nghỉu quay gót đi xuống. Thật hú hồn, nếu như đôi mắt dữ dằn của viên sĩ quan kia cứ ngùn ngụt tăng lửa bốc lên thì...


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:41:14 PM

Hai chuyện gặp gỡ ở trên Nguyễn Văn Diệp có ý dốc bầu ngay với Bảy Cang khi Cang theo lời mời của Diệp đã vào tới dinh Độc Lập, nhưng phải đến 1 giờ chiều mới kể lại được. Bởi lúc này sau khi Bảy Cang đã vượt qua bao đoạn đường mà ta và địch vẫn còn nổ súng rồi làm cả chiến sĩ dẫn đường cho xe tăng ta, lúc chiếc xe du lịch của anh vào được đến dinh Độc Lập thì cũng đúng là lúc hai chiến xe tăng của Quân giải phóng húc đổ cánh cổng chính mở đường cho quân ta tràn vào. Anh cũng chạy lên bao lơn sau một anh bộ đội cầm cờ để kéo trên nóc dinh mà sau này anh biết đó là Đại đội trưởng xe tăng Bùi Quang Thận.

Nhìn thấy Bảy Cang, Nguyễn Văn Diệp mừng quá. Diệp giơ tay mời Cang đi tới chỗ mình và Dương Văn Minh có ý muốn được sự che chở, bởi lúc này bộ đội ta đang vây lấy từng nhóm nội các. Bảy Cang rảo bước đi tới đứng sát vào Diệp và Minh. Tướng Minh vừa bị một anh bộ đội la “Không có bàn giao gì hết. Xếp hàng lại”, khi ông nói “Chúng tôi đã sẵn sàng chờ bàn giao chính quyền...”. Cả hai mặt mày đang xanh tái. Cang hiểu ngay nguyên do: Dương Văn Minh vẫn còn ảo tưởng vào chuyện đàm phán, bàn giao, không nói ngay là “Chúng tôi đã đầu hàng rồi!”. Còn bộ đội ta do đang trên đường tiến công thần tốc nên không nghe được tuyên bố “xin bàn giao chính quyền” cũng tức như là “xin đầu hàng” của Dương Văn Minh. Do vậy có đồng chí vừa nói lớn: “Chúng tôi được lệnh tiến kích dinh Độc Lập và bắt làm tù binh tất cả. Hãy xếp hàng hai lại!”. Cang giơ tay định nói cũng bị gạt ra cùng tiếng la: “Anh là ai? Hãy xếp hàng lại?”. Tới lúc này Bảy Cang phải lộ diện trước một đồng chí bộ đội mà anh đoán chắc cũng là một cấp chỉ huy:

- Thưa đồng chí! Tôi là Tô Văn Cang, người của Mặt trận ở Đoàn 22 của tướng Ba Trần, bộ đội tiền phương. Vì các đồng chí đang hành quân tốc chiến không biết được tướng Dương Văn Minh đã tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh Sài Gòn lúc 9 giờ. Bằng cớ là khi các đồng chí vào dinh Độc Lập không có ai chống cự. Tất cả đều sẵn sàng chờ đón bộ đội vào.

- Tôi có thể tin lời đồng chí. Vậy bây giờ đồng chí muốn gì?

- Tôi đề nghị bộ đội ta nên đối xử với tướng Minh và những người trong nội các của ông ta là hàng binh. Không coi họ là tù binh và thực hiện đúng chính sách về hàng binh của Mặt trận đối với họ. Mọi việc giải quyết ở đây, tôi nghĩ lúc này cần hết sức bình tĩnh, tránh vi phạm kỷ luật, chính sách.

- Tình hình lộn xộn quá! Đúng là chúng tôi không nghe được tuyên bố của tướng Minh. Chắc là lúc đó còn đánh nhau ngoài phố.

Thấy đồng chí chỉ huy chịu nghe, Bảy Cang liền chủ động mời tất cả vào phòng lớn của Phó Tổng thống ở phía tay mặt. Vô đây rồi, anh thấy tình hình có khá hơn, nhưng vẫn còn rất căng thẳng, bởi hầu hết ác chiến sĩ áo còn sặc mùi thuốc súng có mặt ở đây đều đang trút chí khí ngùn ngụt lên các tên cầm đầu bộ máy bán nước này, đều nhìn nhận họ là tù binh cấp cao cần phải trói tay tất cả lại. Còn Dương Văn Minh vẫn còn “nồng máu sĩ” vịn lý do đã tuyên bố trên đài rồi, chưa chịu viết và đọc ngay bản tuyên bố “Đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng và Chính phủ Cách mạng...” theo yêu cầu của bộ đội ta.

“Phải có mặt anh Sáu Trí ở đây. Có anh - một sĩ quan cao cấp của B2 đang ở Sài Gòn lại là một đại tá kỳ cựu chắc chắn sẽ quen biết nhiều sĩ quan cao cấp vào dinh Độc Lập lúc này nên tiếng nói sẽ có trọng lượng. Cũng cần cả Ba Lễ nữa, vì Ba Lễ biết mặt hầu hết các vị trong nội các nên họ không dối trá được. Có Sáu Trí và Ba Lễ lúc này sẽ giúp cho đơn vị bộ đội mới vào dinh Độc Lập đang rất lạ lẫm giải quyết tốt nhiều việc hiện tại và nhất là giúp cho việc tiếp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh đúng cách”. Ý nghĩ đó chợt lóe lên trong đầu Bảy Cang. Ý định phải thuyết phục Dương Văn Minh cũng lóe lên. Anh quyết định phải hành động ngay, liền quay sang nói với tướng Minh:

- Hồi sáng anh tuyên bố trên đài mới là đơn phương. Bây giờ đã gặp và có cả sự tiếp nhận của Quân giải phóng, anh nói lại là hợp lẽ. Nói cho mọi người cùng rõ để không còn đánh nhau nữa. Nên làm lẹ đi cho tình hình mau êm đẹp.

Nói xong với tướng Minh, Bảy Cang liền lách ra khỏi dinh Độc Lập lên xe phóng về nhà Ba Lễ. Sau 30 phút, khi quay lại dinh Độc Lập, trên xe của Bảy Cang đã có Sáu Trí và Ba Lễ. Nhưng tốc độ xe đi rất chậm vì nhân dân vừa nghe Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện và tiếng nói tiếp nhận hùng hồn của đại diện Quân giải phóng vừa phát trên đài mà đã đổ ra đường phố reo mừng. Súng đạn, quân trang, nón sắt... của quân ngụy tràn ngập ngổn ngang hơn trên mặt đường. Cũng may, Bảy Cang đã chuẩn bị sẵn một lá cờ Giải phóng để cắm trên đầu xe. Quần chúng thấy cờ Mặt trận đã tự giác nhường lối cho xe đi nên các anh đã nhanh chóng tới được dinh Độc Lập. Tới đây vừa vào phòng Phó Tổng thống, Sáu Trí đã phải nhảy ngay vào cuộc. Nhưng cũng đúng như dự đoán của Bảy Cang, đúng lúc khi anh vì mặc thường phục nên đang phải tự giới thiệu mình là đại tá ở Bộ Tham mưu B2 đang làm công tác đặc biệt của chiến dịch Hồ Chí Minh để kịp thời ngăn cản việc làm quá cứng rắn của mấy đồng chí bộ đội đang canh gác các thành viên trong nội các Sài Gòn thì đại tá Đinh Công Trang ở Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 xuất hiện.

- Ủa, Sáu Trí! Có phải Sáu Trí ở B2 đấy không?

Nghe thấy người gọi đúng tên “cúng cơm” của mình, Sáu Trí quay lại ngạc nhiên, mừng rỡ:

- Trời ơi, Công Trang! Ông cũng đi cùng Lữ đoàn thiết giáp tiến công vào dinh Độc Lập này à? Chà, tái ngộ ở đây thật tuyệt vời!

Sáu Trí vừa dứt lời, cả hai cùng tiến lại ôm chầm lấy nhau. Rồi đại tá Công Trang vừa nhìn như thôi miên ngắm ông bạn cùng học một khóa quân sự cao cấp ở Hà Nội cách đây mấy năm với mình vừa cười ha hả:

- Cái thằng cha tình báo này, đi đâu cũng gặp. Nhưng gặp ông, một “thổ công của Sài Gòn” ở đây và trong lúc này quả là quá hữu duyên, may mắn lớn cho bọn mình. Bộ Tư lệnh Lữ đoàn thiết giáp và cả Bộ Tư lệnh quân đoàn 2 trong đó có anh Nguyễn Hữu An, Tư lệnh quân đoàn vừa mới tới đây, đang còn rối tinh với bao việc phải giải quyết, nhất là các thành viên trong nội các Sài Gòn. Có ông ở đây cộng tác và giúp bọn này một tay đúng như rồng gặp mây còn gì?

- Không chỉ có riêng tôi đâu - Sáu Trí đưa tay về phía Nguyễn Văn Lễ và Tô Văn Cang - còn có hai anh Ba Lễ và Bảy Cang. Cả hai đều là chiến sĩ tình báo của ta đã “ẩn tích” từ lâu ở trong lòng địch. Đã từng là Trưởng ty Công an cảnh sát và Chủ tịch một ủy ban trong Hạ viện Sài Gòn, anh Ba Lễ có thể giúp các anh về cách xử lý và hiểu rõ ngay về từng thành viên trong nội các của ông Minh đang bị quản ở đây. Ngoài ra, về công tác bảo vệ và đảm bảo sinh hoạt bình thường của dinh Độc Lập, các anh cũng có thể yên tâm. Tất cả những người phụ trách về thông tin, điện nước, thang máy... trong dinh này đều là tay trong của anh Lễ. Còn công tác hành chính, và quan hệ với phát thanh, truyền hình... anh Bảy Cang rất thành thạo. Anh hoạt động trong giới trí thức có nhiều bạn là nhân sĩ yêu nước, tiến bộ nên vừa rồi tiếng nói của anh đã khá có trọng lượng tác động tích cực vào nội các của Dương Văn Minh.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:42:26 PM

Đại tá Đinh Công Trang một lần nữa đưa tay về phía Ba Lễ và Bảy Cang xiết chặt hơn khi nghe Sáu Trí dứt lời giới thiệu rồi tươi cười nói:

- Rất cám ơn anh Sáu Trí đã đưa hai bạn đến với chúng tôi lúc này. Tiếc quá, ban nãy nếu ba anh có mặt ở đây sẽ được chứng kiến một sự kiện lịch sử hiếm có. Nói ban nãy, nhưng cụ thể cách đây chừng 30 phút, chúng tôi vừa đại diện cho Quân đội, và cho Cách mạng tiếp nhận sự đầu hàng vô điều kiện của nội các Dương Văn Minh. Thật buồn cười cho sự ảo tưởng của tướng Minh. Đã đến lúc này rồi mà ông ta vẫn còn nói tới chuyện “tự nguyện bàn giao chính quyền”. Chúng tôi phải la lên: “Các ông đâu còn có chính quyền để bàn giao. Người ta không thể giao cái gì không còn có trong tay”, ông ta mới hết mơ hồ và mới chịu viết, đọc lời “xin đầu hàng vô điều kiện Quân giải phóng và Chính phủ Cách mạng Lâm thời...”. Anh Bùi Văn Tùng, Chính ủy của Lữ đoàn chúng tôi đã đọc lời tiếp nhận rất sâu sắc, hùng hồn thể hiện rõ khí phách anh hùng của quân dân Việt Nam ta. Hai bài nói bàn giao và tiếp nhận ấy không ghi âm được ở đây nên chúng tôi đã phải cho xe chở ông Dương Văn Minh và đồng chí Bùi Văn Tùng của chúng ta lên đọc trực tiếp trên đài phát thanh Sài Gòn và họ đã đọc rồi!

- Đọc rồi! Đúng đọc rồi. Chúng tôi vừa mới nghe xong. Đã đoán biết trước được rồi mà khi nghe vẫn quá vui mừng, xúc động không cầm được nước mắt.

Gần như cả Ba Lễ, Bảy Cang, Sáu Trí cùng nói, và Sáu Trí liền quay sang phía đại tá Công Trang:

- Bây giờ, tôi nghĩ còn rất nhiều việc phải giải quyết gấp. Đề nghị anh cho chúng tôi gặp Thiếu tướng Nguyễn Hữu An để bàn bạc mà trước hết là bàn việc tiếp thu dinh Độc Lập.

Đề nghị Sáu Trí rất hợp ý Công Trang. Chỉ ít phút sau đó, Sáu Trí và hai chiến hữu của mình đã ngồi đối diện với Thiếu tướng Nguyễn Hữu An. Vị tướng mưu lược có vóc dáng, phong cách rất trí thức và rất tướng này đã gây ấn tượng, chiếm được cảm tình của Bảy Cang và Ba Lễ ngay từ phút đầu trong buổi gặp đầu tiên. Với Sáu Trí đã từng gặp gỡ, mến mộ thì giờ đây trước hình ảnh một vị tướng Tư lệnh Quân đoàn nổi tiếng, áo quần đang còn đầy bụi chiến trường đã ra tận cửa tươi cười và dang rộng đôi tay chào đón các anh thì khỏi nói sự mến mộ của anh đã nâng cao tới mức nào. “Thôi ta vào việc ngay. Nào xin mời các “chiến sĩ ẩn danh anh hùng” và “thổ công” của Sài Gòn, tôi xin nghe ý kiến “cố vấn” của các bạn đây!”. Lại bằng cách vào đề như vậy nên cả ba chiến sĩ tình báo này đã mở lòng dâng hết kế hay về những việc phải làm ngay đối với một đơn vị quân đội đang đại diện cho Cách mạng, cho toàn quân trong ngày đầu giải phóng Sài Gòn. Tướng An vui vẻ hoan nghênh và gần như chấp nhận tất cả. Đặc biệt ông tỏ ra rất thích thú với đề xuất của Ba Lễ:

- Thưa đồng chí Thiếu tướng! Việc quan trọng nhất của Cách mạng ta hôm nay đối với dư luận rộng rãi trong nước và thế giới, ta đã vừa làm xong. Đó là việc bắt buộc Tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh phải tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” trên đài phát thanh. Tiếp đó đài cũng phát lời tiếp nhận đầu hàng của đại diện Quân giải phóng. Thế là tốt, là kịp thời rồi, nhưng chưa đủ. Cần phải có tiếp ngay lời công bố chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam trên đài phát thanh, vì quân ta đã vào Sài Gòn và chiếm được cơ quan đầu não của ngụy quyền là dinh Độc Lập. Nên làm sớm ngay việc này để công bố cho đồng bào trong và ngoài nước biết, đồng thời làm tan rã tinh thần của ngụy quân ở những nơi ta chưa giải phóng.

- Ý kiến của anh Ba Lễ rất đúng, thưa anh An - Sáu Trí tiếp lời - Ngoài ý như anh Ba Lễ nói Sài Gòn không thể một ngày không có chủ, ta đã làm chủ Sài Gòn rồi phải có ngay tiếng mới của người chủ. Quan trọng lắm. Có tiếng nói đó mới vãn hồi được an ninh trật tự trong thành phố. Mới đảm bảo được sinh hoạt bình thường của nhân dân.

- Rất hoan nghênh đề xuất của các đồng chí. Các đồng chí rất nhạy cảm về chuyện thời sự này - Thiếu tướng Nguyễn Hữu An tươi cười và đứng hẳn dậy, nói - Việc này đúng là phải làm và làm ngay bây giờ. Nhưng tôi đề nghị ta chỉ làm ở dạng thông cáo và thông cáo này với danh nghĩa của Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Nội dung thông cáo này phải có những quy định cụ thể buộc nhân dân, công chức và ngụy quân ngụy quyền đã tan rã ở trong thành phố phải chấp hành. Đề nghị ba đồng chí thảo giúp chúng tôi và thảo ngay tại đây. Xong rồi chúng ta cùng thông qua và cho đưa lên Đài phát thanh, phát ngay chiều nay.

Đấy không chỉ là kết luận của Thiếu tướng Nguyễn Hữu An mà Sáu Trí, Ba Lễ và Bảy Cang đã coi như là mệnh lệnh của Cách mạng nên ba anh đã làm ngay. Bảy Cang thạo việc văn phòng được phân công chấp bút. Những qui định hiện lên rất nhanh trên trang giấy dưới ngòi bút của anh. Và 15 phút sau, tướng An đã rất hài lòng về bản thông cáo này. Toàn Thông cáo như sau:

Thông cáo số 1 của Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn – Gia Định.

Quân giải phóng đã chiếm dinh Độc Lập và làm chủ tình hình tất cả Sài Gòn lúc 12 giờ trưa hôm nay 30 tháng 4 năm 1975.

Bắt đầu từ phút này, yêu cầu tất cả nhân dân thi hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Quân giải phóng:

- Tất cả quân đội Sài Gòn, dân quân tự vệ, cảnh sát của ngụy quyền Sài Gòn đến trình diện nộp vũ khí tại các Ủy ban Quân quản các quận.
 
- Anh chị em công nhân phải giữ gìn, bảo vệ các xí nghiệp, nhà máy.

- Lệnh giới nghiêm bắt đầu từ 18 giờ đến 6 giờ sáng.

- Công chức các cấp trên lãnh vực: điện, nước, viễn thông, vệ sinh công cộng… phải tiếp tục điều hành và tuyệt đối không được hủy hoại tài sản của Nhà nước.

Bộ Tư lệnh Quân giải phóng sẽ nghiêm trị hành động trộm cướp, gây xáo trộn, làm mất trật tự. Nghiêm trị gây tiếng nổ, bắn súng bừa bãi gây hoang mang trong dân chúng.


Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975
Bộ Tư lệnh Quân giải phóng Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định

Tướng Nguyễn Hữu An xiết chặt tay cả ba chiến sĩ tình báo khi nghe đọc xong thông cáo rồi ông cho ngay một chiếc xe Command-car của quân đoàn đưa Bảy Cang và Nguyễn Văn Giàu lên Đài phát thanh Sài Gòn.

Phải khó nhọc lắm xe của Bảy Cang mới đến được Đài phát thanh. Đến đây cũng phải quen thân, thành thạo lắm anh và Nguyễn Văn Giàu mới vào được phòng đọc để thay nhau đọc được hai lần. Sau đấy anh yêu cầu nhân viên kỹ thuật cài chế độ tự động để cứ 5 phút lại lặp lại một lần.

Khi ấy ở dinh Độc Lập, Sáu Trí và Ba Lễ lại đang đắm mình vào việc đột xuất mới theo gợi ý của tướng Nguyễn Hữu An: “Hai anh là người miền Nam nên đến gặp gỡ các thành viên trong nội các của Dương Văn Minh trò chuyện và nói rõ về chính sách của ta cho họ yên tâm”.

Lúc này nhiều người trong số họ vốn đã quen biết Ba Lễ đã tròn mắt ngạc nhiên trước sự “đổi ngôi” đột ngột của anh. Nhìn những ánh mắt ấy của họ, anh cũng mới chợt nhớ ra và mừng thầm cho mình. “Ôi, hôm nay cũng còn là ngày lịch sử của ba chiến sĩ tình báo chúng mình, nhất là của đời mình! Hôm nay mình đã vĩnh viễn vứt bỏ được tấm áo khoác đã mặc suốt gần 30 năm!”.

Tô Văn Cang từ trên Đài phát thanh hứng khởi trở về. Ba chiến sĩ ẩn danh anh hùng như tướng Nguyễn Hữu An “phong tặng” lại cuốn vào công việc tiếp theo trong “Phủ đầu rồng”.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 2000


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:49:46 PM

CHIM XANH NỔI NHẠC

Thời điểm “Chim xanh” lên tiếng, bắt đầu nổi nhạc đó là 9 giờ 30 phút Chủ nhật ngày 9 tháng 9 năm 1972. Trước đó vài phút, Huỳnh Bá Tính và Từ Văn Bê, hai viên chuẩn tướng nắm quyền chỉ huy cao nhất của Sư đoàn 3 và căn cứ Không quân Biên Hòa còn đang ngây ngất tận hưởng khoái lạc thường lệ trong những ngày nghỉ. Một giờ vui dành riêng cho các sĩ quan cao cấp ở đây, phòng chiến tranh chính trị hôm nay quả đã tìm được những món ăn rất hợp với khẩu vị của Tính.

Tiếng nhạc bazơ gợi tình. Ánh đèn xanh mờ ảo và cái thân hình nõn nà thon thả của hai vũ nữ với điệu vũ ba-lê đã Mỹ hóa đang sà vào trước mắt Tính làm cho cả thân thể y cũng run rẩy theo. Đến lúc điệu nhảy tới đỉnh tột cùng, cô gái rung rung bộ ngực và đôi chân cho bung ra mảnh vải cuối cùng trên người thì Tính như rú lên, bóp chặt lấy cánh tay Bê.

- Tuyệt mỹ! Tuyệt mỹ! Một tác phẩm tuyệt mỹ mà Chúa đã ban cho cánh mày râu chúng ta, anh Bê.

Bê cũng bị kích động không kém. Hắn nhắc lại lời Tính: “Ô kê, tuyệt mỹ, tuyệt mỹ”. Nhưng đôi mắt ốc nhồi vẫn như dính chặt không rời thân hình, nhất là đôi gò bồng đảo của hai vũ nữ. Rồi ra bộ thư thái, Bê vừa mỉm cười đắc ý vừa quay sang ghé sát miệng vào tai Tính thì thầm.

- Ô kê! - Tính cười khoái trá - Anh với tôi quả là ý hợp, tâm đồng.

Nói xong, Tính đưa mắt, gật đầu ra lệnh gọi tên thiếu tá, sĩ quan tâm lý đến, tươi cười:

- Các ông khá lắm! Những vũ nữ hôm nay, ông chọn về quả là số zách của Sài thành.

- Dạ, dạ! Thưa Chuẩn tướng, đúng vậy. Những tiên nữ này đâu phải có nhiều tiền là mời được. Họ thường chỉ đến với Tổng thống và các Tổng trưởng, Tỉnh trưởng. Họ quí trọng và biết các sĩ quan cao cấp của không quân ta rất hào hoa, chơi đẹp nên tôi mới mời được. Đắt giá và cũng là cao cấp nhất đó thưa Chuẩn tướng.

- Được, được! Tôi sẽ ghi công tích này của ông. Nhưng bây giờ thế này nhé - Tính gật gù nói nhỏ - Tôi sẽ cùng ông Bê điện về nhà trước, sau đó nếu các bà nhà chúng tôi có điện hỏi thì cứ nói đúng như ông Bê và tôi đã thông báo là chúng tôi có việc gấp phải lên Bộ Tư lệnh không quân. Tất nhiên là ông hiểu, sau đây tôi và ông Bê sẽ ra nghỉ ngoài Ô Cấp chứ lên Bộ Tư lệnh không quân làm gì. Nhưng để cho ngày nghỉ có đầy đủ ý nghĩa và cũng là để ban thưởng cho tài nghệ của hai vũ nữ vừa rồi nên ông mời hai cô cùng ra chơi ngoài Vũng Tàu với chúng tôi.

- Dạ, xin tuân lệnh! Chuẩn tướng thật cao thượng. Chắc là hai cô sẽ rất vui lòng nhận lời mời của Chuẩn tướng.

- Lời mời của cả Chuẩn tướng Bê nữa chứ!

Tính vừa cười vừa nhìn Bê nói với viên thiếu tá. Tên sĩ quan tâm lý coi như vừa được nhận một phần thưởng, hắn dạ dạ rối rít rồi hăm hở trở lại hậu trường. Tính hả hê nhìn theo hắn và tâm trí bắt đầu để cả vào cái biệt thự riêng mới tậu giấu vợ ở ngoài Vũng Tàu với bao dự tính tiêu khiển khi có bên mình một nàng vũ nữ tuyệt mỹ kia. Cũng như Bê, hắn còn phác thảo kế hoạch để đối phó hữu hiệu nếu như “con gấu mẹ vĩ đại” phát hiện được hắn đang có mặt ở nơi “tiên cảnh” này. Về các sự vụ của Sư đoàn, hắn cũng yên chí vì đã trao lại, dặn dò kỹ viên đại tá Phó Tư lệnh. Hơn nữa, trước khi vào dự trò giải trí và rồi quyết định đưa cô gái nhảy thoát y này ra Vũng Tàu, Tính đã đi kiểm tra khắp một lượt những nơi trọng yếu trên sân bay. Hắn hiểu rõ vị trí của mình: Sư trưởng Sư đoàn anh cả của Không quân Việt Nam Cộng hòa, được trao toàn bộ số máy bay phản lực F.5 do Mỹ mới trang bị để quân đội Việt Nam Cộng hòa thay thế quân đội Mỹ trong chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Hoa Kỳ.

Biên Hòa, một căn cứ liên hợp quân sự có sân bay lớn nhất miền Nam Việt Nam, là vị trí cốt tử có tầm quan trọng bậc nhất trong việc phòng thủ phía Đông Bắc Sài Gòn. Vì thế, chúng đã rải hầu hết lực lượng Quân đoàn 3 đóng kín hết vòng trong, vòng ngoài căn cứ. Riêng trong sân bay, chúng đã bố trí tương đương 2 sư đoàn không quân, đó là Sư đoàn 3 của Huỳnh Bá Tính và Bộ Tư lệnh bảo trì tiếp liệu của Từ Văn Bê. Tính và Bê tuy mới chỉ là chuẩn tướng, nhưng được Thiệu và Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng cưng bế xếp vào vị trí đó nên tất cả lũ tướng lĩnh Không quân đều kiêng nể. Với Tính, trong 6 sư đoàn không quân ngụy, số quân của hắn thường bao giờ cũng gấp rưỡi, có khi gấp đôi sư đoàn khác. Tính có trong tay gần 300 máy bay các loại, trong đó có trên 100 máy bay phản lực F.5E, những máy bay hiện đại nhất được Mỹ trang bị hồi đầu năm. Lực lượng không quân của Tính không chỉ bao hết cả vùng trời miền Đông Nam Bộ, mỗi ngày hắn còn phải thường xuyên tung đi hàng chục phi đoàn tăng cường chi viện cho khắp các mặt trận ở miền Nam.

Còn Từ Văn Bê, tuy không có nhiều máy bay như Tính, nhưng hắn lại thường giơ cả hai tay lên huênh hoang: “Cái dạ dày của Không quân Việt Nam Cộng hòa nằm ở trong này”.

Đúng vậy. Với hơn một chục xưởng sửa chữa và kho khí tài vào loại lớn và quý nhất của Không quân ngụy chiếm quá nửa phần nhà cửa ở sân bay Biên Hòa, Bê đã là viên tướng có thế lực trong không quân ngụy. Hắn không chỉ nhận đại tu, bảo dưỡng nhiều loại máy bay mà còn nắm trong tay quyền trang bị cho tất cả 6 sư đoàn không quân của bọn chúng.

Cùng ở vị trí quan trọng lại cùng được Thiệu tin cẩn như thế nên Tính và Bê tuy có nhiều điểm bất đồng ngấm ngầm đá nhau, nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra thân thiện để cùng nhau lo giữ được cái ghế của mình.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:50:51 PM

Hôm nay tuy là ngày nghỉ, nhưng cùng lúc ngay từ sáng sớm khi Tính đi kiểm tra các phi đoàn, thì Bê cũng phóng xe đi kiểm tra một lượt các kho hàng, công xưởng. Cả hai tên chỉ huy giờ đây đã yên chí và tâm trí đang để hết vào cái thú vui sắp tới ở ngoài Ô Cấp với các nàng vũ nữ xinh đẹp đầy khiêu gợi trước mặt này.

Sau khi thì thầm với tên thiếu tá xong, Tính quay sang phía Bê hất hàm nói nhỏ bằng tiếng Pháp:

- En’promenada!

Bê hiểu ý nghĩa ngay câu giục “Ta đi chơi lang thang đi!” của Tính liền gật đầu đứng dậy. Nhưng cả hai vừa đứng lên chưa kịp bước ra khỏi ghế, bất thần cùng líu ríu ngã xô xuống.

Một tiếng nổ long trời. Tiếp theo là cả một loạt âm thanh dữ dội như sấm rền phát ngay ra từ phía trung tâm đậu máy bay.

Tòa nhà Tính và Bê đang đứng chao đi như sắp sụp xuống. Cả bầu trời trên sân bay bỗng chốc tối đặc. Những cột lửa đỏ liên tiếp phụt lên rần rật cùng tiếng cuồn cuộn cuốn lên ngất trời rồi quần lại như nấm bom nguyên tử.

Tính rụng rời chân tay. Phải mấy phút sau hắn mới nhìn rõ những người xung quanh. Trước mắt hắn, tất cả đều nghiêng ngả và nhòa đi trong màu khói đen. Cạnh Tính, Bê và một viên đại tá nữa, mặt mày đều như gà cắt tiết. Chiếc mũ kê pi của Tính đã biến đi đâu mất. Hắn với vội lấy cái mũ to bè của Bê theo tên cận vệ lao vội ra xe để mặc Bê đầu trần cũng đang hốt hoảng phóng ra phía trái.

Bên ngoài, một cảnh hỗn loạn chưa từng thấy. Còi báo động, còi xe cứu hỏa, còi của bọn cảnh sát, của lũ quân cảnh cùng với các loại xe phóng bạt mạng, nhưng chẳng xe nào dám phóng tới nơi đang có tiếng nổ. Trên các ngả đường trong sân bay nhốn nháo đầy lính, đầy xe. Từ các khu gia binh, bọn lính và cả vợ con chúng chạy tóe ra như ong vỡ tổ để tránh xa nơi có tiếng nổ.

Tính lập cập bước lên ô tô. Hắn rối trí, phân vân không biết nên đi đâu lúc này. “Về Bộ Tư lệnh hay đến nơi đang phát ra tiếng nổ?”.

Xe chuyển bánh, hắn mới định thần lệnh cho tên lái xe về khu bản doanh của Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3. Hắn chẳng dại gì đến khu có bom đang nổ lúc này.

Suốt một giờ liền sân bay Biên Hòa vẫn chưa ngớt tiếng nổ. Khói bom cùng với lửa của những chiếc máy bay đang chứa nhiều dầu bị trúng bom bốc cháy tạo thành một lớp mây đen mù mịt trùm kín cả lên sân bay. Không còn nhìn rõ đường băng, chiếc trực thăng chở tên Phu-đơn, tướng Mỹ từ sân bay Tân Sơn Nhất tới phải bay vòng ra xa mãi mới tìm được một khoảng trống để chui xuống hạ cánh.

Viên phó tướng của Mo-ơ1 này đã từng xem kỹ những cuốn phim quay cảnh căn cứ Biên Hòa bị đánh những lần trước đây. Hắn có ấn tượng rất mạnh về lần bị đánh đầu tiên vào ngày 31 tháng 10 năm 1964 mà hình ảnh Mácxen Taylo là tiêu biểu cho sự chua xót của Mỹ. Nhà chiến lược gia kiêm toàn quyền Mỹ ở Sài Gòn khi ấy, mặt ngửa lên trời, miệng há to mếu máo, đứng thẫn thờ dưới cột khói bom hình nấm như cột khói bom nguyên tử. Ai cay cú, lo lắng bằng Taylo lúc đó vì chỉ bằng một trận tấn công chớp nhoáng của Việt cộng mà Mỹ đã bị tiêu biến mất 59 máy bay và gần 300 phi công lẫn nhân viên kỹ thuật Không quân.

Rồi đến trận bị pháo kích gần đây nhất đêm mồng 1 tháng 8 năm nay. Đây là một trận khủng khiếp mà các hãng thông tấn Mỹ đều phải hốt hoảng kêu to lên rằng: Đây là trận pháo kích dữ dội nhất, lớn nhất và là một đòn rất hiểm của Việt cộng trong vùng Sài Gòn!

Những trận đánh ấy, Không quân Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã tính vào những vụ tổn thất rất đậm. Vậy mà so với lần này, Phu-đơn thấy sự thiệt hại phải nhân lên nhiều lần. Hắn quay sang nói với Võ Xuân Lành, Thiếu tướng Phó Tư lệnh Không quân và viên phụ tá Tổng Tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hòa:

- Sức công phá thật không thể tưởng tượng được. Chắc chắn Việt cộng chỉ sử dụng một lực lượng nhỏ, nhưng các ông đã trả họ một cái giá quá ư nồng hậu.

- Dạ, thưa Thiếu tướng, đúng là mức độ thiệt hại chưa từng có.

Lành lễ độ trả lời viên thiếu tướng Mỹ, nhưng đôi mắt đỏ ngầu của hắn lại quăng về phía Huỳnh Bá Tính và Từ Văn Bê ra ý muốn hỏi “Thế nào, các ông có nghe rõ lời ông Phu-đơn không?”.

Tính cúi mặt tránh cái nhìn bực bội của viên Phó Tư lệnh. Bây giờ theo sau Phu-đơn và các viên tướng cấp trên ra quan sát thực tại hiện trường, hắn thấy câu nói “Các ông đã trả họ một cái giá quá ư nồng hậu” ấy, tuy có mai mỉa, chua xót, nhưng quả vẫn chưa cân xứng.
_________________________________________
1. Mo-ơ là Tư lệnh Không quân Mỹ ở Nam Việt Nam.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:51:21 PM

Trước mắt bọn Tính lúc này, cả một khu vực rộng lớn của sân bay đã bị phá hủy tan tành với cảnh tượng thật hãi hùng thê thảm. Hơn một trăm chiếc máy bay từ F.5 phản lực đến A.37, trực thăng đến trinh sát, vận tải... khi Tính ngồi trên xe đi kiểm tra còn theo từng khu, mỗi loại đậu thành hàng dài kiêu hãnh như sắp bước vào một cuộc duyệt binh lớn, giờ đây tất cả đã cháy rụi thành một bãi tha ma khổng lồ kim loại phế thải. Trong bán kính sát thương của hàng tấn bom, không còn có được một chiếc máy bay nào hình thù nguyên vẹn. Cái gãy cánh, cái cụt đầu, cái nổ tung như xác pháo, xáo trộn vào nhau lỏng chỏng, cháy đen... Những chiếc máy bay đậu xa hơn khu bom nổ dây chuyền đều bị hư hại. Và, tất cả những dãy nhà, kho xưởng ở gần đó do sức chấn động của tiếng nổ cùng những mảnh bom bắn tới cũng đều tan hoang. Các cửa kính đều bị vỡ tung, các mái nhà đều bị bốc đi từng mảng để trơ lại những khung sắt sạm màu khói bom...

Trải ra xung quanh là la liệt xác chết của những tên phi công và nhân viên kỹ thuật cả Mỹ lẫn ngụy. Mùi khói bom, mùi khét lẹt của kim loại bị cháy cùng mùi tanh của máu hòa trộn vào nhau làm cho Tính và những tên cùng đi thị sát đều ớn người, nghẹt thở. Tính đã cho huy động toàn bộ các loại xe và lực lượng cấp cứu của sân bay nhưng vẫn chưa nhặt hết được lũ Mỹ - ngụy bị tử thương. Mỗi lần thấy xe hồng thập tự bỏ qua mình đến chở bọn Mỹ, lũ lính ngụy bị thương lại la hét, chửi bới ầm ĩ.

Phu-đơn định đi tới khu nhà bị phá, nhưng thấy thế hắn kéo bọn Lành và Tính đi sang trái. Không chỉ vấp phải lời chửi bới mà một trái bom còn sót lại nổ tiếp ở sân đậu phía phải làm cho bọn chúng thêm xanh xám mặt mày. Tuy đã cho lính dọn sạch những mảnh kim khí, nhưng mỗi bước đi, Phu-đơn vẫn thấy rờn rợn. Hắn bước nhanh vào một bãi trong để kéo lại khoảng cách khu vực có thể còn nguy hiểm mới dừng lại bất thần hỏi Tính:

- Ông chuẩn tướng Tư lệnh! Ông có thể cho biết về sự thất thiệt hôm nay được không?

Tính hơi luống cuống. Bởi hắn cũng chỉ mới dám ra đây trước khi Phu-đơn, Võ Xuân Lành và viên phụ tá Tổng Tham mưu trưởng đến kiểm tra có ít phút. Các phi đoàn đều tán loạn chưa đâu báo cáo lên. Tất cả đều phơi bày trước mặt Tính khi mà với số bom ở hai ụ cùng với số bom chất trên 4 xe vừa chở tới tổng cộng tới gần 3.000 trái nằm sát khu vực đậu máy bay cùng nổ. Vì vậy, sau mấy giây ra bộ suy nghĩ trước mặt Phu-đơn, Tính đã chậm rãi trả lời:

- Dạ thưa, sự thất thiệt phải nói là rất nặng. Bởi cả số bom ở trong và ngoài hai ụ và số bom đã lắp vào máy bay cùng nổ do kích thích dây chuyền, sơ bộ bước đầu có thể ít nhất là trên 100 máy bay bị phá hủy. Còn về tử thương với các chiến hữu Hoa Kỳ, tôi chưa có con số chính xác. Riêng Sư đoàn 3 chúng tôi cũng phải mất gần một trăm sĩ quan và binh lính. Cũng may, hôm nay là chủ nhật nên chỉ có những quân nhân phải trực chiến...

- Lại còn may nữa, thiết tưởng rằng với những con số kia lòng ông phải bốc cháy hơn cả ngọn lửa đã thiêu cháy chúng mới phải chứ. Vậy trong số máy bay bị phá hủy đó có bao nhiêu là F.5?

- Dạ, thưa có đến gần một phần ba là F.5.

- Chết cha không! Thế là mất gần một nửa sinh lực chủ yếu của không quân chúng ta rồi còn gì?

Đến lượt Võ Xuân Lành thảng thốt. Đôi môi dày, bự vốn đã trồi lên mất cân đối trên khuôn mặt ngắn choằn của Lành giờ đây càng trề ra, căng phồng, đen sẫm. Tính thấy như có thêm ngọn lửa phả sang mình. Hắn biết đây là sự thiệt hại mà Bộ chỉ huy quân sự Mỹ cũng như Việt Nam Cộng hòa rất xót xa và đang đặc biệt quan tâm. Nó là lực lượng xung kích của Không quân Việt Nam Cộng hòa mà Hoa Kỳ mới cấp tốc viện trợ cho để ứng phó với tình thế mới. Việt cộng chơi hiểm quá, họ đã đánh một đòn phủ đầu cực mạnh vào cái chiến lược Mỹ hóa trở lại của Hoa Kỳ khi quân Mỹ sẽ buộc phải rút chạy ra khỏi miền Nam.

Biết rằng cấp trên đang trong cơn thịnh nộ, Tính càng khôn ngoan hơn. Đáng ra Tính còn phải báo cáo về những thất thiệt khác cũng đáng giá, nhưng hắn chỉ nói vắn tắt: “Thưa, đây là số người và máy bay, còn nhà cửa, kho tàng và các thiết bị tài sản khác qua thị sát các ngài đã rõ cả”. Tính vừa nói vừa khoa cánh tay ra phía trước.

Qua cái khoa tay lướt đi rất nhanh đó của Tính, Phu-đơn hiểu ngay được lời báo cáo rất ma lanh đó của Tính. Trước mắt Phu-đơn chỉ riêng ở hai khu nhà sĩ quan Mỹ và liên đoàn phòng thủ, mỗi nơi y thấy đang có gần một chục chiếc xe điều tới để giải quyết hậu quả, nhưng lúc này số xe đó cũng chẳng thấm vào đâu. Khi nhìn vào những vệt máu trên bộ quân phục xộc xệch của Tính, do Tính đã tận tụy vỗ về các quân nhân Mỹ bị thương, Phu-đơn đã hạ hỏa chuyển sang hỏi về nguyên nhân vụ nổ:

- Ông Chuẩn tướng Tư lệnh! Theo ông, nguyên nhân vụ nổ kho bom này là do đâu? Ông đã để tâm suy nghĩ về nó chưa?

- Dạ, thưa Thiếu tướng! Tôi đã chỉ thị ngay cho cơ quan an ninh đang làm việc này và tôi cũng nghĩ như một số sĩ quan trong sư đoàn là do Việt cộng pháo kích.

- Pháo kích à? Các sĩ quan của ông còn ngây thơ quá đấy. Có ai trong họ nghe được tiếng đề-pa của pháo không? Các ông đã quá đề cao pháo binh Việt cộng. Sao các ông không nghĩ chỉ bằng một lượng rất nhỏ thuốc nổ đặt vào kho bom kia đã có thể cho căn cứ của ta ngưng hoạt động một tuần hoặc một tháng? Còn họ đột nhập bằng cách nào ư? - Phu-đơn càng nói mặt càng đỏ như mào gà chọi - Điều này mới cần suy nghĩ, chắc các ông đã nghĩ đến đặc công Việt cộng. Nhưng chúng ta chẳng đã rất tin vào những hàng rào cả chìm và nổi mà ta đã giăng ra rất dày đặc và công phu đó sao?

Nghe Phu-đơn nói đến dây, bất thần cả Tính và Lành cùng ngước nhìn ra phía trước. Đập vào mắt chúng là lớp lớp những hàng rào kẽm gai gài kín các loại mìn, những bót canh, những lô-cốt lúc nào cũng đầy lính, tua tủa những nòng súng ngắn chĩa ra giăng kín từ vòng trong ra vòng ngoài.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:51:52 PM

Phải rồi. Đó là lớp lớp hàng rào nổi, chưa kể các đội tuần tra có cả xe bọc bép thường xuyên đi tuần cả ngày lẫn đêm. Còn hàng rào chìm, Lành và Tính cũng hiểu ngay đấy là hàng trăm tên lính kín. Chúng có mặt khắp nơi, mặc đủ các sắc phục mà nhiều tên đang thực thi công vụ đắc lực ở cả ngay trong lũ lính đang tất bật tới lui giải quyết hậu quả vụ nổ bom kia. Nhưng Phu-đơn đặt ra câu hỏi như vậy có ngụ ý gì? Phải chăng... ?

Hai viên sĩ quan cao cấp của Không quân Sài Gòn đã nghĩ tới, nhưng không đợi Tính hay Lành phát biểu, Phu-đơn đã nêu ra giả định và cũng là câu hỏi làm Tính giật nảy mình.

- Ông Tính! Ông có bao giờ nghĩ rằng, đặc công Việt cộng lại không từ ngoài những hàng rào kia lọt vào mà lại ở ngay trong tay áo của các ông không? Tôi biết các ông đã có nhiều biện pháp kiểm tra rất hữu hiệu. Nhưng...

Phu-đơn đang nói bỗng nhiên dừng lại, lừ mắt nhìn sang mấy viên sĩ quan cận vệ của Tính đang đứng gần đó. Biết ý, Tính ra hiệu cho bọn chúng ra xa.

Tất nhiên lúc này, cả những tên chuyên viên về vũ khí như Vũ Xuân Vị, Từ Ngọc Hóa và cả Nguyễn Văn Thôn mà từ sau khi nổ bom đến giờ đã thực thi công vụ rất tận tụy, dám liều mình đi dọn đường để cho bọn Phu-đơn thị sát cũng bị Tính đuổi hết ra xa.

Phải ra xa để mình Tính nghe rõ chỉ thị của Phu-đơn:

- Ông Tính! Ngay sau đây ông phải áp dụng kiểm tra rất nghiêm ngặt toàn bộ sĩ quan, binh lính trong sư đoàn. Phải tìm ra ngay ngòi nổ của vụ này. Hãy gạt bỏ giả định vì sơ suất ngẫu nhiên mà đây là hành động rất công phu của đặc công Việt cộng. Tôi nghĩ trước hết các ông sẽ truy tìm chúng ngay ở trong phòng ngủ của các ông.

- Dạ, xin tuân lệnh. Tôi sẽ thực thi ngay.

Tính nhanh nhảu đáp lời Phu-đơn.

Ngòi nổ vụ này ở đâu? Có đúng nó ở ngay trong phòng ngủ của Huỳnh Bá Tính như Phu-đơn đã khẳng định không?

Tính đã thực hiện mọi phương cách: Cho thẩm tra lại lý lịch và hoạt động của toàn bộ sĩ quan, binh lính trong sư đoàn. Cho rà soát lại kỹ hiện trường chỉ để tìm ra một dấu vết, di tật dù nhỏ để có thể kết luận có bàn tay nội gián. Cho gọi các sĩ quan, binh lính có liên quan hoặc có một chút nghi ngờ lên thẩm vấn nhiều lần... Nhưng tất cả các biện pháp đó đều vô hiệu hóa, Tính không có được câu trả lời chính xác. Kẹt cho cơ quan an ninh của Tính là tất cả những tên sĩ quan trực và những tên lính bảo vệ ụ bom đều bị tan xác hoặc cháy đen như những máy bay của chúng. Ngay Z42, một sĩ quan tin cẩn của Tính, người mà sau ngày miền Nam giải phóng đã kể tường tận về vụ này cho tôi cũng không biết được cái ngòi nổ này. Anh cũng chỉ phán đoán theo cảm tính của mình. Thực ra, cả Z42 và “cái ngòi nổ” đó đều cùng có mặt ở hiện trường lúc Phu-đơn đến kiểm tra.

Vậy cái ngòi nổ đó là ai?

Chỉ có các đồng chí Bảy Dự, Tư Chí, Sáu Vũ, Tư Cao, Tư Dũng... trung Ban Binh vận của Trung ương Cục và nội thành Sài Gòn - Gia Định mới trả lời được chính xác câu hỏi ấy.

Đấy là “Chim xanh” - một biệt danh mà đồng chí Tư Chí đã đặt cho Nguyễn Văn Thôn. Đặc biệt, ý đồng chí Tư Chí muốn rằng: Thôn cũng là một chiến sĩ được gài vào Không quân địch như Nguyễn Thành Trung. Có khác là anh mặc áo xanh và hoạt động ở mặt đất, nhưng tin chắc Thôn sẽ bay lên cùng với những chiến công thầm lặng, song không kém phần vang dội.

Nhưng đấy là về sau này, khi Thôn đã được tổ chức bố trí yên vị làm nhân viên quân khí ở Sư đoàn 3 Không quân ngụy tại sân bay Biên Hòa. Còn những ngày đầu để đặt được Thôn ngồi ở đó đâu dễ dàng.

Cái khó đầu tiên lại là ở Thôn. Cậu thanh niên đã từng tham gia đội ám sát tề điệp, ác ôn và hăng hái hoạt động trung phong trào sinh viên, học sinh ở Cai Lậy này đâu có dễ dàng nghe lời thuyết lý của đồng chí Tư Dũng, người đã đưa Thôn vào tổ chức.

- Không. Em không thể nào làm một tên lính ngụy, dù chỉ là cái vỏ bên ngoài.

- Chú đã thi rớt tú tài. Trước sau tụi nó cũng bắt chú đi quân dịch. Chú đã hai lần khai rút tuổi. Một thanh niên đã có vợ con, lại cao tới 1,70 mét, nặng gần 70 ký mà cứ ở mãi tuổi 16 thì kỳ quá.

- Vậy, đề nghị các anh cho em đi bộ đội giải phóng. Em có sức khỏe và sẵn sàng chịu được mọi thử thách, hy sinh...

Chưa bao giờ Hai Thôn trái lời khuyên của Tư Dũng. Nhưng lần này Tư Dũng tạm chịu dừng ở đây để về báo cáo lại với đồng chí Bảy Dự, Phó ban Binh vận của Trung ương Cục. Đồng chí Bảy Dự nghe Tư Dũng báo cáo xong, cười bảo:

- Đây cũng là một dấu hiệu tốt đó chú Tư. Sống trong vùng địch mà thanh niên ta không bị quyến rũ bởi những lời dụ dỗ của địch để đi lính cho chúng, còn hăng hái sẵn sàng xin vô Quân giải phóng như Hai Thôn là vốn quý. Có điều ta phải biết thuyết phục anh em để họ hiểu rằng: Lòng yêu nước và ý chí đánh giặc lập công phải được thể hiện bằng nhiều cách. Mình đã nghiên cứu kỹ lý lịch của Hai Thôn rồi. Các anh Tư Chí và Sáu Vũ cũng đề nghị: Ta đã đưa được người vào hàng ngũ phi công của chúng. Bây giờ cần có người của ta ở cả trong đội ngũ kỹ thuật của Không quân địch và người nên chọn đó là Hai Thôn. Mình cũng nhất trí như ý kiến của các anh đó. Vậy Tư Dũng cố thuyết phục Hai Thôn và tổ chức thực hiện được đúng ý định này của Ban.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:52:38 PM

Ba hôm sau, Tư Dũng trở lại Cai Lậy. Với cái thẻ căn cước Việt kiều hồi hương và cái thẻ miễn quân dịch, Tư Dũng đã đi đây đi đó khá dễ dàng. Lần này tài thuyết phục của Tư Dũng quả đã có hiệu quả. Hai Thôn vui vẻ chấp nhận sự gợi ý của tổ chức, làm đơn xin gia nhập quân chủng Không quân liền. Nhưng cái khó là thời gian này, việc tuyển chọn vào Không quân rất ngặt nghèo. Không chỉ riêng việc chúng rà soát kỹ lý lịch và chọn về sức khỏe mà thanh niên ở các tỉnh Nam Bộ và cả nội thành Sài Gòn đến tuổi quân dịch đều vì sợ phải ra trận đã nộp đơn tình nguyện vào quân chủng này rất đông.

Tuy vậy, với Thôn về sức khỏe và văn hóa anh đã qua khá dễ dàng, chỉ có một trở ngại nhỏ, khi khám ngoại khoa, viên y sĩ chê hai bên tinh hoàn của anh lớn nhỏ không đều, Thôn liền giúi cho hắn 15 ngàn là êm luôn. Còn lý lịch với Thôn, dù những tên chuyên viên an ninh tìm đủ mọi cách soi mói vẫn không tìm ra ở Thôn điều gì khả nghi. Từ nhỏ đến khi học hết đệ nhất, Thôn đều ở xã Bình Phú, Cai Lậy, nơi ngụy quyền Sài Gòn kiểm soát. Các hoạt động trong đội ám sát tề điệp ác ôn, Thôn vẫn giữ được tuyệt đối bí mật, chưa hề lộ mặt, kể cả với bà con trong gia tộc. Đến khi vấn đáp bằng Anh ngữ ở cửa ải cuối cùng trước tên đại úy Mỹ và hai tên thiếu tá ngụy, Thôn đều bình tĩnh trả lời rất trôi chảy. Thôn đã ở hàng đầu trong danh sách được tuyển vào Không quân. Không những thế, khi bốc thăm chọn ngành nghề, Thôn còn may mắn trúng cái phiếu được ưu tiên chọn ngành nghề có ở sân bay hợp với nguyện vọng của mình. Cậu thanh niên lực sĩ đang ở tuổi 18 này hăm hở khoe ngay tất cả những điều đó với Tư Dũng. Dũng cũng không giấu nổi niềm vui:

- Vậy thì tuyệt quá! Nhưng cậu hãy nói xem, chúng bảo cậu khai nguyện vọng để chọn trong những việc gì nào?

- Làm văn phòng, thống kê, quét đường băng, sửa chữa máy bay, chữa súng, gấp dù, lắp bom... mình ưng việc gì là được sắp xếp làm việc đó liền đấy anh Tư. À, còn nữa em quên, là làm lính bắn súng trên máy bay trực thăng. Những việc trên, anh xem em nên chọn việc nào có lợi cho ta?

- Được rồi Hai Thôn. Chúng ta cùng bàn và sẽ chọn ngay bây giờ. Theo ý cậu thì cậu ưng việc gì nào.

- Văn phòng với thống kê cứ phải ngồi lỳ một chỗ thì không hợp với tính em rồi. Quét đường băng chẳng có cơ hội để bén mảng đến kho tàng của chúng. Còn bắn súng trên máy bay thì dứt khoát em không nhúng tay vào máu đồng bào mình.

- Vậy còn những bốn việc mà Hai Thôn đều có thể ưng phải không? - Tư Dũng thăm dò Thôn và rất mừng là Hai Thôn đã tự loại được những việc mà chính các đồng chí lãnh đạo của Ban đã không muốn để Thôn làm.

Nghe Tư Dũng hỏi vậy, không cần suy nghĩ lâu, Thôn đề nghị luôn:

- Đề nghị các anh cho em nhận việc lắp bom. Chỉ có việc này, em mới có cơ hội ra vô các kho bom và nó mới là thứ gậy ông đập lưng ông đã đời.

- Cậu thông minh đấy. Nhưng nhớ là làm việc này phải hết sức cẩn thận. Chỉ một lần sơ suất là sẽ không còn có lần thứ hai để sửa chữa sai lầm. Và cậu cũng nên dự tính chuẩn bị sẵn ngay câu trả lời bọn chúng: “Vì sao em thích làm việc lắp bom”.

Tư Dũng dặn dò Thôn, đồng thời anh cũng gợi ý cho Thôn về câu trả lời với bọn địch cho hợp lý nếu chúng hỏi và cùng nhiều việc khác khi cậu tân binh này bước vào trại lính, xong mới yên tâm xiết chặt tay Thôn ra về. Phút cuối cùng anh không quên trao lại mật hiệu hẹn địa điểm và thời gian liên lạc với Thôn khi anh “lính ngụy” này đã yên vị ở sân bay Biên Hòa.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:53:50 PM

*
*   *

Nắng chiều trải rộng một màu vàng sẫm trên căn cứ Không quân Biên Hòa. Vào những chiều thứ bảy như hôm nay, ở cổng phi trường rất đông người lui tới xin gặp người nhà. Sáu Ánh cũng hòa vào trong dòng người đó. Cô gái có dáng người thon thả, nước da trắng hồng và cái miệng rất tươi này có lẽ đã lọt vào đôi mắt hau háu của tên lính gác từ xa nên khi Ánh vừa đến tới vọng gác, hắn đã đon đả:

- A, chào cô em! Em đến gặp anh phải không?

- Dạ, em sẽ gặp anh sau. Bây giờ xin mấy anh cho em gặp cậu Hai Thôn trước đã.

- Hai Thôn nào? Hai Thôn ở Cai Lậy phải không?

- Dạ đúng.Thế em với Hai Thôn là thế nào?

- Dạ, em là chị, con bác ruột cậu ấy. Tên em là Ánh.

- Vậy hả? Thế em có gia đình chưa?

- Chưa ạ.

- Chà tốt quá. Anh tự nguyện làm anh rể Hai Thôn, em có ưng không.

Sáu Ánh giả bộ thẹn thùng, tự nhiên hai má cũng ửng hồng lên:

- Ưng, nhưng chuyện trăm năm cũng phải từ từ chứ anh. Mà cũng để em còn hỏi cả ý kiến của cậu Hai Thôn xem anh đã có vợ chưa đã chứ!

- Em trả lời ngon thiệt, người lại càng ngon hơn. Thôi em đứng tạm đó, chờ anh vào gọi điện thoại cho Hai Thôn nhé.

Tên lính háu gái nháy mắt với tên quân cảnh đứng bên rồi biến vào trong. Vài phút sau, hắn ra với bộ mặt cảm thông.

- Hai Thôn đang bận với công vụ ngoài phi đạo nên không ra được đâu em. Mà dạo này như em biết đấy, Việt cộng quấy phá rất mạnh ở các nơi nên thượng cấp rất hạn chế cho binh lính ra khỏi trại. Em ráng đợi đến mai vậy.

- Dạ, em cám ơn mấy anh. Lâu không thấy cậu Hai về thăm nhà nên tiện đi qua, em rẽ thăm. Không có việc gì cần thiết nên chẳng cần đợi đến mai. Bây giờ xin phép mấy anh, em về.

- Thế em về Cai Lậy có nhớ anh không? Anh cũng người ở Mỹ Tho quê ta cả đây mà.

Lời tán tỉnh sát sạt cùng ánh mắt lắng lơ thèm khát của tên lính gác cổng phi trường còn bám theo mãi mái tóc óng ả và tấm lưng tròn lẳn của Ánh khi cô gái miền Tây Nam Bộ này đã khuất hẳn, hòa vào dòng người, xe cộ trên đường.

Còn Phạm Thị Ánh với cả lần táo bạo, dám vi phạm nguyên tắc liên lạc này, cô đã thất vọng. Bao câu hỏi và giả định về sự im lặng của Hai Thôn mấy tháng nay lại cùng lúc dồn dập hiện lên trong tâm trí cô.

Hơn một năm qua, kể từ khi đã ngồi yên chỗ trong Ban trang bị hỏa lực của Sư đoàn 3 trong sân bay Biên Hòa, Hai Thôn đã liên lạc khá đều đặn với Tư Dũng. Với sự thông minh lại cần cù có sức khỏe tốt và luôn tỏ ra rất mẫn cán trong công vụ, Hai Thôn đã được các sĩ quan trực tiếp chỉ huy rất tín nhiệm. Còn với đồng ngũ, anh luôn tỏ ra rất hào phóng tiếp xúc rộng rãi nên Thôn chẳng những đã quen thân với các bạn trong Ban trang bị hỏa lực mà cả trong đám lái xe cẩu, xe nâng bom và quân cảnh, nhiều tên đã là bạn thân của anh. Bởi thế, với chế độ kiểm tra rất khắt khe khi ra vào sân bay, nhất là vào kho bom và khu đậu máy bay đối với Thôn có khi nào bị xét hỏi cũng chỉ là phải làm cho qua lệ.

Từ việc đã được ấm chỗ như thế cộng với nghiệp vụ về binh khí đã tinh thông, Hai Thôn nhiều lần xin Tư Dũng được hành động.

- Anh Tư! Em đã tìm được cách phá máy bay của tụi nó. Mấy anh trao thuốc nổ cho em đi.

- Anh Tư! Em đã điều tra chính xác khu vực chúng bố trí kho nhiên liệu. Các anh cho pháo kích vào sân bay, lợi dụng lúc đó em sẽ cho nó một mồi lửa là tiêu hủy hết.

Trước những đề nghị ấy của Hai Thôn, Tư Dũng đã phải bằng nhiều cách để chận lại, phải giảng giải trên cơ sở hiểu rõ tâm lý của Hai Thôn. Từng ngày, từng ngày, Thôn phải lắp bom cho bọn phi công để giết hại đồng bào, tàn phá quê hương mình. Tư Dũng phải phân tích cho Thôn về thời cơ để đã ra tay là bắt gọn chúng phải trả nợ xứng đáng nhất. Có lần anh phải ra mặt giận dữ, đe nạt Thôn:

- Tôi cấm chú không được manh động khi chưa có lệnh. Không dễ gì tạo được cho chú được một vị trí như bây giờ. Nhớ rằng đừng vì nôn nóng muốn được trả thù mà chơi trò thí nghiệm làm cho mấy trái bom đã lắp trên máy bay thả xuống không nổ như vừa rồi. Cũng may là khi điều tra, chúng đã kết luận là do trục trặc về hệ thống điện khi điều khiển bom rơi mà không rờ đến chú đó.

- Dạ, em nhớ lời dặn của anh Tư.

Hai Thôn đáp lại, nhưng đôi mắt nhìn Tư Dũng vẫn lộ rõ đầy vẻ mong chờ giờ phút có lệnh của Dũng. Vậy mà những ngày gần đây, lãnh đạo của Ban Binh vận đang rất cần gặp Thôn để trao nhiệm vụ cho con “Chim xanh” này thì suốt ba tháng nay cậu ta lại bặt vô âm tín. Tư Dũng đã phải về tận gia đình Hai Thôn nói với vợ Thôn lên thăm chồng để nhắn Thôn ra địa điểm liên lạc. Vợ Thôn đã lên Biên Hòa nói lại lời nhắn của Dũng. Và Tư Dũng cũng đợi ở địa điểm đó 4 ngày liền. Cả 4 ngày đều không thấy bóng Thôn nên Ánh đã vi phạm cả nguyên tắc vô tận cổng gác để mong được gặp Thôn. Nhưng kết quả, cô vừa đã tay không trở về, vừa bị phê bình về sự mạo hiểm.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:54:18 PM

Việc mất liên lạc với Hai Thôn đó đè nặng lên tâm trạng không chỉ riêng Tư Dũng mà cả với các đồng chí Bảy Dự, Tư Chí, Tư Cao...

Vì sao Hai Thôn im lặng? Phải chăng Thôn đã bị địch nghi ngờ nên phải nằm im, lỡ hẹn? Hay cậu ta sợ chết, sợ liên lụy đến gia đình mà lảng tránh sự nguy hiểm, chờ cho hết thời hạn quân dịch để về với người vợ trẻ? Cũng có giả định nêu ra để đề phòng là Thôn đã phản bội.

Ba ý kiến này, mọi người đều nghiêng về giả định thứ nhất nhiều hơn. Bởi đúng trong thời điểm này, tên trung úy Nguyễn Văn Hiến tức Hai Hương đã ra đầu hàng địch. Tên phản bội đã phun ra với địch tất cả những bí mật mà hắn biết. Hắn đã từng gặp mặt đồng chí Sáu Vũ tức Lê Đình Ngoạn hiện đang là ủy viên Ban Binh vận Trung ương Cục kiêm Trưởng ban Binh vận đặc khu Sài Gòn. Vì thế mà Trung ương Cục phải điều đồng chí Nguyễn Hữu Chí tức Tư Chí về thay thế để đồng chí Ngoạn tạm thời về R (khu căn cứ) “trị bệnh”.

Để xác minh được rõ ràng các giả định trên, Tư Dũng lại phải về Bình Phú quê Thôn lần thứ hai. Đến đây, qua Kim Chi vợ Thôn, Tư Dũng mới rõ: Thì ra Hai Thôn cũng rất tỉnh táo khôn ngoan. Thôn đâu có biết tên Hai Hương nào đó đã phản bội, nhưng anh linh cảm thấy dạo này bọn an ninh hoạt động rất ráo riết nên mặc dù biết Tư Dũng đã cử người đến bắt liên lạc, Thôn vẫn im lặng và không lộ diện mà chỉ gián tiếp báo ra với tổ chức về ý định của mình qua lá thư rất hợp lý gửi về cho Kim Chi. Trong thư có đoạn viết:

“… Em ơi, vợ chồng mình mới cưới nhau nhưng vì việc quân ngũ mà anh phải xa em. Vậy sao em chẳng nghe anh mà thuê một căn nhà ở ngoài phố như vợ những người lính khác để chúng ta có điều kiện thường xuyên được gặp nhau. Như thế em chẳng còn phải vất vả lên thăm mà nhiều khi bận công vụ anh lại không ra ngay được với em để em phải chờ đợi cực thân...”.
 
Tư Dũng thấy nhẹ bổng trong lòng, liền trở lại ngay Sài Gòn báo cáo lại với hai đồng chí Tư Chí, Tư Cao. Hai đồng chí liền đồng ý chi tiền cho Thôn thuê một căn phòng ở ngoài phố và cho đón Kim Chi lên ở ít ngày đầu. Từ đó, Tư Dũng vốn đã có cái mác Việt kiều hồi hương lại mới có thêm cái chứng chỉ là cựu hạ sĩ biệt kích - người đã làm vệ sĩ cho đại úy Trương Văn Quang, Phó đồn trưởng nổi tiếng ở Ba Chúc - nên đã thường xuyên đến được với Thôn. Ở đó, một “điểm hẹn” rất hợp lý, Thôn đã báo đầy đủ cách bố phòng và các hoạt động thường lệ ở sân bay cho Dũng, đồng thời còn đưa cả các tài liệu học tập về binh khí của Thôn cho Dũng nghiên cứu.

Qua sơ đồ và báo cáo của Hai Thôn, Tư Dũng đã hình dung ra các mục tiêu lớn ở đây mà nếu “Chim xanh” châm ngòi được đều có thể gây được tiếng vang lớn. Đó là kho bom, kho nhiên liệu, kho khí tài và bãi đậu máy bay của địch. Anh loại trừ dần mục tiêu nào mà “Chim xanh” rất khó tiếp cận và hiệu quả về tiêu diệt sinh lực địch không cao, có dự định rõ rệt để về báo cáo với các đồng chí Bảy Dự, Tư Chí, Tư Cao. Anh chưa nói rõ vội ý định của cấp trên với Hai Thôn về nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể mà chỉ gợi ý, hỏi Thôn về những điều cần thiết phục vụ cho dự án.

- Khi lắp bom, thường phải có một thằng nữa đi kèm với chú. Chú có tìm cách nào để tách được nó ra ít phút khi cần thiết không?

- Dạ, rất khó. Nhưng để em nghĩ cách.

- Tụi nó thường gởi nhau trực để đi lơ xe kiếm tiền về chia nhau nhậu. Chú có nhập băng với tụi nó bao giờ chưa?

- Dạ chưa. Em đâu có cần tiền, nhưng nếu cần làm vì nhiệm vụ thì em hòa vào với chúng nó dễ ợt. Em sẽ trực thay chúng, còn bổng lộc được chúng chia cho, em chỉ nhận chút đỉnh là kết cánh liền ngay mà.

- Động tác cuối cùng trong việc thường nhật của chú là lắp ngòi vào bom trước khi lắp nó vào máy bay. Thế cái ngòi nổ đó hình dáng thế nào? Lắp nó xong mất bao nhiêu thời gian?

- Lắp nhanh thôi anh Tư. Các thao tác chừng một trăm giây là xong. Còn cái ngòi nổ hình trụ lắp vào một a-đáp-tơ to chừng bằng cái ly ta uống la-de. Em chỉ dùng tay xoay cái vòng cho đầu bom rời ra, lắp ngòi nổ vào trong a-đáp-tơ rồi trả nó về vị trí, vặn ngược lại mấy vòng là xong.

Từ những câu hỏi và trả lời như thế, Tư Dũng đã có thêm nhiều kiến thức để bổ sung được nhiều chi tiết trong phương án báo cáo lên các đồng chí lãnh đạo Ban. Cũng qua cuộc gặp này, lần nữa Tư Dũng lại củng cố thêm quyết tâm và niềm tin cho Hai Thôn.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:54:48 PM

*
*   *

Sắm vai “giáo sư” dạy tư để sống hợp pháp hoạt động trong nội thành quả rất hợp với đồng chí Tư Chí. Với cặp kiếng trắng, nước da trắng trẻo, dáng hình mảnh khảnh lại rất lịch thiệp, hào phóng mỗi khi cần thiết phải qua các trạm gác của địch nên đồng chí thường qua lại rất ung dung. Tất nhiên, với các phong độ đó, lại ngồi trên xe hơi sang trọng, Trưởng ban Tư Chí còn đủ thẻ căn cước, các giấy tờ tùy thân khác, toàn là thứ thiệt do chính quyền Sài Gòn cấp.

Đồng chí Tư Chí từng là Phó Bí thư tỉnh ủy Bến Tre chuyên chỉ đạo về binh vận trong những năm Đồng Khởi, sau đó là Tỉnh đội trưởng Mỹ Tho. Do vậy, đồng chí vừa có năng lực kinh nghiệm về lãnh đạo chính trị và chỉ huy quân sự, vừa rất khéo léo nhập vai khi phải hoạt động trong lòng địch. Đặc biệt đồng chí còn có trí nhớ trời cho rất tuyệt vời. Có lần nhận nhiệm vụ đến Cà Mau phổ biến Nghị quyết của Trung ương Cục, do phải giữ bí mật khi đi theo đường công khai trong lòng địch nên không được mang theo bất cứ tài liệu gì. Thế nhưng khi đến đó đồng chí đã truyền đạt đầy đủ gần như nguyên văn Nghị quyết, kể cả các số liệu cụ thể.

Từ khi Trung ương Cục điều về trực tiếp chỉ đạo công tác binh vận trong nội thành Sài Gòn - Gia Định, đồng chí Tư Chí đặc biệt quan tâm đến các cơ sở nội tuyến trong Phủ Tổng thống, Bộ Tổng tham mưu, đặc khu Sài Gòn và Không quân ngụy.

Sau khi nghe Tư Dũng ở chỗ Thôn về báo cáo, Tư Chí nói với hai cộng sự gần gũi nhất của mình:

- Đây là thời cơ tốt nhất để Binh vận ta góp phần làm sụp đổ mưu đồ chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Mỹ sẽ phải rút quân và sẽ choàng cái gánh nặng chiến tranh lên đầu thằng ngụy bằng cách tăng nhanh các trang bị vũ khí, kỹ thuật hiện đại và phương tiện chiến tranh gấp nhiều lần hiện nay để lũ tay sai này tự đảm nhiệm. Ta phá hủy sinh lực cao cấp của chúng tức là đánh vào chỗ cốt tử nhất của cả Mỹ lẫn ngụy. Tôi đồng ý và ta phải lên phương án thật nhanh để cho “Chim xanh” lần này vào trận. Phương châm của trận đánh này là “Đánh chắc, đánh hiểm, thắng lớn, tuyệt đối an toàn” để cơ sở còn tiếp tục hoạt động.

Ngừng lại một chút, ông đưa mắt sang phía đồng chí Tư Cao.

- Chuẩn bị kế hoạch để vào trận này, Tư Dũng đã có điểm hẹn hợp lý theo sát được Hai Thôn. Còn cậu may mắn là đã được “bồ” Hồng. Viên thiếu tá, bạn cũ của cậu đã mở lòng mở dạ giảng giải và cho ông bạn Việt cộng Tư Cao ngồi trên trực thăng bay suốt mấy vòng nên đã ngắm được toàn bộ cách bố phòng của sân bay Cần Thơ. Có thể về nguyên tắc chung việc bố trí kho tàng và bãi đậu máy bay đều giống nhau. Nhưng để chắc thắng trước khi quyết định trận đánh ở Biên Hòa lần này, Tư Cao xem có cách nào để không riêng cậu mà cả mình cũng quan sát được toàn bộ cách bố phòng của sân bay này được không?

Tư Cao hơi bất ngờ trước yêu cầu này của thủ trưởng. Nhưng anh đã nghĩ ngay tới mảnh vườn ở quê ngoại cách sân bay Biên Hòa chỉ có 3 cây số. Anh đã phải bán hết cả tư trang mới mua được nó để có điều kiện trực tiếp nắm Hai Thôn một cách hợp lý. Tư Dũng đã đóng vai người làm thuê cho anh, vừa chăm vườn, vừa mang thỏ lên viện Pasteur bán. Có vườn, anh có cớ đi lại thường xuyên tới Biên Hòa và đôi khi có những ông bạn từ Sài Gòn về chơi thăm trại của anh cũng là chuyện thường tình. Từ mảnh vườn này, Tư Cao đã phác thảo rất nhanh ra một diệu kế và mỉm cười báo cáo với Trưởng ban:

- Anh Tư cũng muốn được đi thị sát sân bay Biên Hòa bằng trực thăng ư? Điều này em chưa dám hứa. Bởi em cũng vô tình mà gặp lại thằng Hồng, bạn học thời xưa. Em đã chiêu đãi nó xả láng, lại tỏ ra để cho nó tưởng em đang là dân áp phe giàu sụ nên nó mới chiêu đãi lại em như vậy. Nhưng hiện giờ nó đang ở sân bay Cần Thơ. Dù vậy, anh Tư cứ yên chí, em đã có cách để anh quan sát được toàn bộ sân bay Biên Hòa.

Mình đâu có yêu cầu là phải được đi thị sát bằng trực thăng như cậu. Nhưng Tư Cao có cách gì vậy?

- Em sẽ đưa anh tới một địa điểm để thực hiện được ý định này nhưng anh phải...

- Phải làm gì?

- Phải cải trang đúng như một thầy đồ nho ngày xưa chứ không phải như giáo sư bây giờ. Nghĩa là anh phải đóng quần trắng, áo the đen dài, khăn hộp để hòa vào với thiện nam, tín nữ rồi em cùng đưa anh lên chùa Bửu Phong lễ Phật.

- Chùa ở trên núi Bửu Long à?

- Đúng thế!

- Nhưng mình không biết cầu kinh, lễ Phật.

- Không cần! Anh chỉ cần vào kính cẩn thắp hương rồi chắp tay vái Phật tổ. Xong rồi chúng ta ra ngoài dạo thăm cảnh chùa để rồi tha hồ thả tầm mắt xuống toàn bộ sân bay. Từ đó nhìn xuống, ta thấy rõ được cả từng chiếc máy bay đang đậu.

- Chà! Như vậy thì tuyệt quá! Tư Cao quả là một cây sáng kiến phải không Tư Dũng?


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:56:02 PM

Đúng như Tư Cao đạo diễn, ba ngày sau vào sáng chủ nhật, anh đưa khách Sài Gòn của mình từ trại chăn nuôi lên viếng chùa Bửu Long. Với bộ đồ như anh đã vẽ mẫu, Trưởng ban Tư Chí của anh trông hệt như một tín đồ sang trọng ở thành phố về. Cả hai cùng hòa vào dòng khách thập phương kéo đến cầu nguyện rất đông trong ngôi chùa có tiếng linh thiêng này. Cũng cung kính thắp hương, khấn vái hết một vòng như các Phật tử, đến khi ra dạo cảnh và phóng tầm mắt xuống sân bay Biên Hòa, ông khách của Tư Cao quả đã thấy được gần như toàn bộ cách bố phòng của địch ở đây. Từ thực tế trục tiếp thị sát này, cộng với sơ đồ và tình hình cụ thể mà Tư Cao và Tư Dũng đã báo cáo, ông cũng tin tưởng và khẳng định quyết tâm để “Chim xanh” dịp này tung cánh.

- Phong cảnh ở đây nên thơ đấy chứ anh Tư?

- Chẳng những nên thơ mà còn rất hữu tình. Cảnh chùa đẹp thế này mà những người ở Sài Gòn chưa được một lần đến đây lễ Phật thì thật đáng tiếc.

Ông khách Sài Gòn phát biểu cảm tưởng với chủ trại chăn nuôi Tư Cao như vậy khi hai người lần nữa lại hòa vào dòng thiện nam, tín nữ xuống núi. Trong khi ấy ở trại, món thịt thỏ quay rôti và nấu kiểu Tàu do Dũng ra tay đã tỏa hương vị thơm lừng.

Cả ba vui vẻ cùng ngồi vào bàn nhậu, nhưng chủ yếu không phải để thưởng thức cái tài nấu ăn của Dũng mà để quyết định phương án đánh địch lần cuối. Bằng giọng thân tình, Trưởng ban Tư Chí nói:

- Ý kiến đề nghị về mục tiêu cụ thể của Tư Cao và Tư Dũng rất chính xác. Ta không thể đánh được kho bom, vì nó ở xa, Hai Thôn rất khó tiếp cận. Hơn nữa hiệu quả sẽ không cao bằng cho bom nổ từ ụ chứa bom, nơi có nhiều máy bay đậu gần. Như thế mới tiêu diệt được nhiều sinh lực cao cấp của địch.

- Nó lại có điều kiện để cho Hai Thôn tiếp cận nữa chứ anh Tư - Tư Cao tiếp lời - Nhiệm vụ của Hai Thôn là lắp bom vào cánh máy bay. Cậu ấy phải lấy bom từ ụ chứa này ra để lắp. Tuy số bom ở mỗi ụ chứa chỉ từ 500 đến 600 quả, nhưng từng ấy quả, mỗi quả nặng 300 pound tức bằng 250 kg, sức công phá dây chuyền qua ụ rốc két và cả dãy máy bay đậu gần đó sẽ không nhỏ. Cái khó nhất còn lại bây giờ là làm thế nào để Hai Thôn bí mật gài được thuốc nổ vào ụ chứa bom đó đúng thời điểm mà vẫn bảo đảm được an toàn cho Hai Thôn như phương châm anh Tư đã đề ra.

Cả ba cái đầu cùng chụm lại bàn bạc từng chi tiết để gỡ cái khó đó. Và lần này Tư Cao đã phải đến Biên Hòa gặp Hai Thôn để kiểm tra, hướng dẫn, nghe Thôn trình bày về cách xử lý từng tình huống sẽ phải xảy ra.

Từ ngày lập trại chăn nuôi ở ấp Tân Ba, đội trưởng Tư Cao đã đến chơi ở nhà Thôn rất thuận lợi, hợp lý. Anh đã làm quen và có bữa nhậu cùng với cả các chiến hữu của Thôn. Bọn chúng rất quý trọng ông chủ trại hào phóng, vui tính, có dáng dấp rất trí thức này.

Với Thôn, mỗi lần được gặp chú Tư, Thôn lại thấy mình lớn khôn hơn một bước. Cậu không hiểu đội trưởng của mình đã nhập vai bằng cái vỏ bọc gì mà qua mặt địch đi được khắp cả Sài Gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho, Biên Hòa... Chính chú đã đàng hoàng mang “quà” (thuốc nổ) đến và hướng dẫn sự cấu tạo của ngòi nổ cùng cách sử dụng nó cho Thôn. Lần này, khi mà Thôn đang nóng lòng chờ đợi ngày giờ G, sự xuất hiện của Tư Cao đã làm cho Thôn rất phấn chấn. “Chắc chắn mình sắp được vào trận rồi!”.

Còn đội trưởng Tư Cao thoáng qua sắc thái của Hai Thôn ngay từ phút đầu, anh đã tin ngay rằng: chắc chắn những khó khăn còn lại về trận đánh sắp tới, “Chim xanh” sẽ không chịu bó tay.

Nhận định này càng rõ qua những câu trả lời của Thôn:

- Theo cậu, ta nên đánh vào ngày giờ nào?

- Vào chín đến mười giờ sáng ngày chủ nhật, chú Tư.

- Vì sao?

- Vì lúc đó mật độ sân bay giảm quá nửa. Những tên làm việc xong buổi sáng đã vù về nhà. Còn tụi lính gác cũng bắt đầu đói bụng, mệt mỏi nên ít để ý đến cháu.

- Vậy cậu đã có cách gì để tách bọn chúng ra cho cậu có điều kiện vào đặt ngòi nổ ở ụ bom mà chúng không phát hiện và nghi ngờ được cậu chưa?

- Khó nhất là chuyện này. Nhưng chú Tư yên tâm đi. Từ bữa anh Dũng gợi ý, cháu đã nghĩ ra được kế “điệu hổ ly sơn” rồi.

- Kế đó chắc ăn không?

- Chắc chứ chú Tư.

Thấy đội trưởng Tư Cao vui vẻ, tin cậy, Thôn khoe luôn kế đó và cả những mẹo khác.

- Cháu đã bắt đầu nhận trực thay cho mấy thằng cùng phiên ban với cháu để chúng đi lơ xe kiếm tiền, vì bọn chủ xe có lính Không quân làm lơ thì tất cả lũ anh chị và trộm cướp không dám hoạnh họe gì. Cháu lấy cớ là “Vợ tao ở Cai Lậy, tao chẳng cần đi đâu, ở nhà cho khỏe”. Được đi thoải mái, lại có tiền, bọn chúng khoái lắm. Cháu còn gợi ý cho những thằng lái xe bom: “Tụi bay đưa bom lên ngày thứ sáu, tụi tao xài hết ngày thứ bảy, phải đưa đủ dự trữ cho tụi tao hai ngày”. Mục đích để ngày chủ nhật khi ta đánh, ụ bom vẫn còn đầy và cũng bớt được những con mắt dòm ngó khi cháu ra tay.

- Bọn chúng có ưng làm như cậu gợi ý không?

- Có chứ chú Tư. Lợi ích thiết thực, được nghỉ ở nhà với vợ con ngày chủ nhật, chúng sướng thấy mồ. Nhưng chúng cũng đang làm từ từ, sợ bọn sĩ quan trực tiếp cai quản việc vận chuyển phát hiện. Thực ra bọn sĩ quan có biết cũng lờ đi, vì ở ụ có đủ bom, chúng cũng được nghỉ ngày chủ nhật mà.

Tư Cao gật gù. Anh chợt nhớ ra chi tiết cái nắp nhựa ở đầu quả bom mà khi thông qua kế hoạch, các đồng chí lãnh đạo trong Ban Binh vận đều chú ý. Bởi vì khi muốn đặt thuốc nổ vào đầu quả bom, Thôn phải tháo cái nắp nhựa này ra. Phải có cớ gì để khi Thôn đang tháo nắp nhựa đó nhỡ có tên nào đó nhìn thấy thì cũng cho là chuyện vặt vãnh, bình thường. Tư Cao hỏi Thôn:

- Việc hợp thức hóa về cái nắp nhựa, cậu đã giải quyết thế nào rồi?

- Dạ, bữa trước nghe anh Tư Dũng gợi ý, ngoài việc tụi lính thuộc bộ phận trang bị hỏa lực của cháu có quyền tháo nắp nhựa đã dự trữ cả bao tải để bán, cháu đã làm như anh Tư Dũng mách bảo.

- Tức là cậu đã rủ thêm những thằng bạn thích táy máy tháo nắp nhựa để gom lại đem bán?

- Dạ, đã có mấy đứa làm như thế để có Capstan hút. Như vậy khi cháu vào trận, rủi có đứa nào trông thấy cháu đang tháo thì cũng chẳng có gì là chuyện lạ.

- Vậy, tốt rồi. Chúng ta phải chuẩn bị thật kỹ từng chi tiết. Tuyệt đối không để có kẽ hở nào. Nhớ rằng phải luôn luôn tỉnh táo, không được một giây phút nào chủ quan. Chỉ cần sai một ly là đi một dặm. Công phu trồng cây này không chỉ riêng cậu đâu. Phải hái lứa quả này thật lớn, tuyệt đối an toàn mà người cuối cùng thực hiện được tổ chức tin cậy là Hai Thôn đó.

- Dạ, cháu rõ. Các chú cứ yên tâm.

Tư Cao nắm chặt bàn tay Hai Thôn, nhìn “Chim xanh” bằng ánh mắt đầy khích lệ và hỏi thêm:

- Sáu Ánh đã chuyển ngòi nổ được chế tạo từ ngoài chiến khu vào cho cậu chưa?

- Dạ, rồi! Anh em ta ngoài đó rất giỏi. Hình dáng và kích thước giống hệt cái ngòi nổ ở đầu trái bom cháu đã đưa mẫu ra.

- Ừ, rất giống. Mình đã xem nó khi cháu Toàn mang vật quý đó qua mặt địch ở Lái Thiêu về. Thôi bây giờ mình về nhé, mọi việc êm đẹp cả rồi. Chỉ còn chờ nhạc điệu của “Chim xanh” quyết tâm nổi nhạc cho thật hùng tráng - Tư Cao dặn thêm và xiết chặt tay Thôn hơn mọi lần.

Cuộc kiểm tra trực tiếp Hai Thôn lần này đã làm cho anh càng thêm tin tưởng vào thắng lợi của trận đánh sắp tới. Không riêng anh, các đồng chí Bảy Dự, Tư Chí, Tư Mai khi duyệt lại phương án cuối cùng đều tin tưởng ở “Chim xanh” và kế hoạch đã chuẩn bị rất công phu của mình. Dịp này, đồng chí Tư Chí đã lên Ban Binh vận Trung ương Cục, trực tiếp nắm các cơ sở nội tuyến toàn miền. Đồng chí Tư Mai mới được điều về thay vị trí Trưởng ban Binh vận đặc khu Sài Gòn - Gia Định. Tuy ở cương vị mới phải nắm bắt rất nhiều cơ sở nội tuyến quan trọng, nhưng “giáo sư” Tư Chí vẫn đặc biệt quan tâm và bám sát “Chim xanh”.

Tại cuộc họp này, ngày giờ G để “Chim xanh” nổi nhạc đã đượ c quyết định.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:57:22 PM

*
*   *

Sáng chủ nhật ngày 9 tháng 9 năm 1972.

Suốt hai năm làm lính ở sân bay Biên Hòa, chưa ngày nào Hai Thôn cảm thấy mình bồn chồn với tâm trạng vừa vui mừng, vừa lo lắng, hồi hộp như thế. Bởi suốt mấy năm ẩn mình “gieo hạt” và phải kìm nén căm thù mỗi khi nhìn thấy lũ phi công đi ném bom tàn sát nhân dân về hả hê khoe khoang chiến tích, đến nay mới được tính sổ nợ với lũ Mỹ-ngụy. Nhưng liệu có hái quả trót lọt không? Nhớ tới lời dặn của chú Tư Cao và ánh mắt tin cậy của anh Tư Dũng cùng chị Sáu Ánh trong lần gặp cuối cùng trước khi vào ngày giờ G hôm rồi, Hai Thôn lại thấy mình như có thêm sức mạnh nên hết sức bình tĩnh. Anh cho tay vào trong chiếc túi áo không quân rộng thùng thình nhiều túi của mình sờ lại gói thuốc nổ mà chiều qua anh đã khéo léo che mắt được tên lính gác quen mặt bằng cách quẳng cho nó nửa bao thuốc lá để đem “vật quí” đó từ nhà ở đến giấu trước tại nơi làm việc trong phi đạo. Kíp nổ hẹn giờ cũng được lắp sẵn với thời gian nổ chậm là sau một giờ. Thôn đã được chị Sáu Ánh trao cho ba loại kíp nổ chậm, nổ sau nửa giờ, một giờ và hai giờ khi đã rút chốt an toàn. Hôm nay, Thôn quyết định dùng kíp nổ sau một giờ, bởi chiều qua Thôn thấy ngoài số bom trong ụ còn đầy, bên ngoài còn có tới bốn xe chưa cẩu bom xuống. Như vậy là trong thời gian ấy nếu chúng có lấy đi để lắp vào máy bay cũng không hết bao nhiêu và chủ yếu là mình đã ra khỏi được phi trường khi mà ụ bom đã nổ.

Việc quan trọng nhất thế là ổn. Thôn lại khéo léo gợi ý để tên Bi lái xe luôn cặp kè bên anh phải đề nghị: “Bữa nay ít việc, mày lái đỡ cho tao để tao vù về Sài Gòn với vợ con một chút nghe!”

Thôn ra vẻ ngần ngừ:

- Nhưng tao sợ bọn lính gác gây khó dễ, vì như thế là sai qui định mà.

- Mày quen hết bọn chúng, lo gì?

Thôn gật đầu và trong bụng rất mừng, vì đã loại ra khỏi vòng sự dòm ngó của một đối thủ, mặc dù chưa bao giờ hắn nghi ngờ và chơi xấu anh.

Bây giờ chỉ còn mấy đứa gác ụ bom và đang cẩu bom. Phải làm sao tách chúng ra được ít phút? Lúc này cái kế “điệu hổ ly sơn” như Thôn đã báo cáo với đội trưởng Tư Cao, anh mới tung ra. Anh để thò đầu chai rượu ra cho một tên lính gác trông thấy. Đã mệt mỏi lại đang đói bụng, hắn liền kêu:

- Anh Hai! Anh Hai! Có cái chất cay mà sao không bỏ ra để cho anh em giải lao thưởng thức một chút?

Cái lệ mỗi khi “bà chị vợ” lên chơi lại có quà để cho các bạn cùng làm việc được hưởng chung Thôn đã cố ý tạo ra cho bọn này được mấy lần nên đã thành thói quen.

Thế là bọn chúng cùng bu lại và Thôn ngoài chai rượu còn rút trong túi ra cả đậu phộng cùng một gói thịt bò khô ngồi nhấm nháp với lũ bạn. Thôn tợp một hớp rượu, nói mấy câu về sự tốt bụng của “bà chị vợ” mình, xong ngơ ngác giả bộ đi tìm Bi.

- Không biết ông Bi đi đâu mất tiêu rồi, không vô nhậu!

Chính lúc đó, Thôn đã lẩn nhanh ra ụ bom. Anh bình tĩnh vặn nắp nhựa quả bom ở hàng cuối cùng. Với động tác rất thành thạo, Thôn mở nắp ở đầu trái bom ra đặt vào đó cài ngòi nổ trong có thuốc nổ C4 đã được tạo ra vừa khít kích cỡ như ngòi nổ của bom. Để chắc ăn, Thôn đặt liền hai kíp nổ cùng giờ hẹn, xong rút chốt an toàn cẩn thận nhét vào gót giày rồi vặn nắp đầu trái bom lại cho thật chắc chắn.

Tất cả các động tác đó, Thôn hoàn thành với thời gian không đầy hai phút. Anh thở phào nhẹ nhõm vì công việc làm trọng đại đó của mình tất cả những tên địch đang thực thi công vụ ở đây không một tên nào biết được. Chúng vẫn đang truyền tay nhau chai rượu. Như người vừa trút được một gánh nặng, Thôn lại thản nhiên sà vào nâng chai tiếp với chúng. Khi tan cuộc, chúng tản về vị trí cũ thì Thôn cũng nhảy lên buồng lái, lái chiếc xe chở bom ra thả ngoài kho. Tên lính gác đã quen Thôn hỏi:

- Sao Tư Bi không đi? Một mình mày làm sao móc bom kéo lên được?

- Làm xong hết rồi. Nếu có kéo một vài xe nữa cũng phòng có lệnh gấp thôi.

Thấy Thôn nói hợp lý, hơn nữa lại vẫn mời thuốc nhau nên tên lính gác bỏ qua luôn cái quy định “xe phải đi hai người” liền cười để Thôn đi.

Trả xong, vừa ra khỏi cổng gác ngoài một đoạn, Thôn ngạc nhiên nghe tiếng gọi của Bi. Thì ra con bồ bán cà phê của Bi đã giữ chân hắn lại không để hắn về ngay với vợ ở Sài Gòn. Thôn đáp lại lời mời gọi của Bi và rủ hắn:

- Thôi, tao không uống cà phê nữa đâu. Đói bụng rồi, với lại sáng nay mấy thằng cha phi công không cất cánh, biến ra nhà tao kiếm cái gì nhậu chơi mày!

Tên tài xế nghe lời Thôn và ít phút sau hai đứa đã bắt đầu chén chú, chén anh. Tuy cùng vui vẻ nâng ly, nhưng Thôn luôn ngầm liếc vào mặt đồng hồ trên tay. Một giờ rồi, tính từ lúc Thôn rút chốt an toàn kíp nổ, sao tới giờ vẫn im lặng? Thôn thấy lo lắng khi ly rượu trên tay đang phải tràn đầy để cụng ly với tên Bi. Đúng lúc ấy, một tiếng nổ long trời rồi cứ thế rền vang như sấm dậy làm cho không chỉ khu nhà của Thôn chao đi mà cả thành phố Biên Hòa đều rung lên như đang trong trận động đất.

Theo phản xạ tự nhiên, cả Thôn và Bi đều bất thần nằm sấp xuống, run rẩy. Thôn ngóc đầu lên giả bộ sợ sệt.

- Việt cộng pháo kích mày ạ!

- Mày ngu thấy bà! Pháo kích phải nghe tiếng đề-pha chứ!

- Chết cha, thế thì nổ bom rồi.

- Kho bom đâu phải ở chỗ đó. Phía đấy là ụ bom. Không biết mấy thằng cha gác ụ và cẩu bom đánh lộn hay sơ ý làm ẩu thế nào mà đã gây nên chuyện tày trời này.

- Chắc bọn chúng chết hết trọi rồi! Bây giờ làm thế nào mày? Ta phải chạy ra phi đạo xem sao chứ?

- Mày lại ngu một lần nữa. Phải để ngớt tiếng bom đã chứ. Kiểu này là nó kích thích nổ dây chuyền sang tất cả các máy bay đã lắp bom và tra dầu. Bây giờ việc trước tiên là tao với mày phải chứng cho nhau: Chúng ta đều có mặt trên cả hai chuyến xe nhận bom và cùng thống nhất các câu trả lời. Thế nào bọn an ninh cũng triệu chúng mình lên hỏi đó.

- Ừ, thì chứng. Nhưng mày vội lo xa quá. Chuyện nổ ở ụ bom là do trách nhiệm của tụi nó, đâu mắc mớ gì đến mình.

Thôn giả bộ nói thế, nhưng rất mừng là tên Bi đã chủ động đề ra cách ứng phó này. Chính có cách ứng phó và trả lời thống nhất như thế nên sau vụ nổ này, ba hôm liền, bọn an ninh gọi Thôn lên vặn hỏi, chúng đều không tìm ra sơ hở gì để nghi Thôn. Những tên có thể phát hiện ra sự nghi ngờ ở Thôn đều đã bị bom tiêu diệt hết. Chẳng những thế, Thôn còn được cấp trên nhận xét là: Một nhân viên rất có trách nhiệm. Bởi Thôn và Bi đều có mặt ngay trong tốp lính đầu tiên vào cứu nguy phi trường. Khi ấy đại úy Thoàn ở cơ quan tham mưu Sư đoàn đã chạy ra cổng để đón và kiểm tra các quân nhân vào cứu nguy. Thấy Thôn có đủ bốn thứ bảo bối: một giấy chứng chỉ tại ngũ, một căn cước quân nhân, một giấy thông hành qua các cổng đang đeo trước ngực, một thẻ cấm địa do an ninh Không quân cấp dành riêng cho toán trang bị hỏa lực được đi lại trong kho bom và tất cả các phi đạo, Thoàn liền cho Thôn vào ngay nơi trung tâm bị thiệt hại nặng nhất để dọn chỗ đón các viên tướng ở trên xuống kiểm tra.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:57:56 PM

Thôn đã năng nổ, xông pha vào cả những nơi nguy hiểm nhất để giải quyết hậu qua vụ nổ bom, trước hết để dọn đường cho Phu-đơn cùng bọn tướng lĩnh của Huỳnh Bá Tính đi kiểm tra. Bởi thế, Thôn đã chứng kiến được phần lớn các cuộc đối thoại giữa Phu-đơn với Tính và Từ Văn Bê. Phu-đơn chỉ thị cho Tính phải tìm ra bằng được cái ngòi nổ vụ này. Nhưng cả tên tướng Mỹ và Tính lúc ấy đâu có biết rằng cái ngòi nổ đó đang đứng trước mặt mình. Còn Thôn vừa tỏ ra rất mẫn cán với bọn Tính vừa vô cùng hả hê. Chiến công trả đũa cho việc Không quân Mỹ đã đánh phá trở lại miền Bắc thật đã đời, ngoài sức tưởng tượng của Thôn khi anh tận mắt nhìn thấy la liệt đủ các loại máy bay của Mỹ trang bị cho quân ngụy đã bị phá hủy tan tành cùng cảnh tan hoang đầy xác chết của bọn Mỹ - ngụy trên sân bay Biên Hòa.

Ôi cái ngòi nổ thần kỳ. Cái ngòi nổ chứa chất biết bao trí tuệ cùng công sức của đồng dội và nén chặt bao năm! Thôn đã nhiều lần thốt lên một mình như vậy trong đêm ấy, cái đêm vì quá vui mừng anh đã không thể nào ngủ được.

Cũng trong đêm ấy, không riêng các đồng chí lãnh đạo trong Ban Binh vận, trong Trung ương Cục cùng Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam mà cả các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta ở ngoài Hà Nội cùng tất cả chiến sĩ, đồng bào cả nước, ai đã biết được tin này đều vô cùng hả dạ.

Riêng Ban Binh vận, sáng nay hai đồng chí Tư Chí và Tư Hoài đã chờ sẵn trên núi Bửu Long. Thế nên, tuy chưa được báo cáo cụ thể, các đồng chí đã hình dung ra thắng lợi của trận đánh thần kỳ này. Nhưng bên cạnh niềm vui vô hạn đó, mọi người đều đang cùng lo lắng cho số phận của “Chim xanh”. Rõ ràng “Chim xanh” đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ rồi, nhưng “Chim xanh” có an toàn không? Có thoát ra được trước khi bom nổ và có bị chúng nghi ngờ gì không?

Nỗi lo lắng đè nặng lên trái tim mọi người ấy phải đến bốn ngày sau khi Thôn tìm cách nhắn khéo bằng một mẩu tin thư ngắn gởi ra cho Sáu Ánh, mọi người mới nhẹ nhõm, an lòng.

Thôn hiểu tâm trạng đó của các đồng chí mình. Nhưng anh không có cách nào làm được sớm hơn. Sau vụ này, Huỳnh Bá Tính đã ra lệnh cấm trại 100% liền một tháng. Còn các báo chí được lệnh của Tổng thống Thiệu: Cấm ngặt không được đưa tin, nhưng trước sức ép mạnh mẽ của dư luận cả trong và ngoài nước, đặc biệt là phái “Bồ câu” (Đảng Dân chủ) đang công kích mạnh mẽ phái “Diều hâu” (Đảng Cộng hòa) đứng đầu là Nich-xơn và Kit-xinh-giơ về chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nich-xơn nên sau năm ngày vụ nổ bom, Thiệu đã phải cho các báo đăng tin do Bộ Quốc phòng của ngụy công bố.

Tuy còn rất xa với sự thật, nhưng tờ Chính luận số ra ngày 13 tháng 9 năm 1972 đã viết: “Các hãng thông tấn ngoại quốc thuật nguồn tin quân sự Mỹ cho biết: Tại phi trường Biên Hòa vào sáng chủ nhật 9.9.1972, một vụ nổ bom chưa rõ nguyên nhân đã làm nổ tung một hầm chứa 150 quả bom 250 kg làm 32 quân nhân Việt Nam Cộng hòa chết, 20 người bị thương. Phía Hoa Kỳ có 41 quân nhân bị chết và bị thương. Có 70 phi cơ, phần lớn là trực thăng bị phá hủy và hư hại”.

Có lẽ chính Huỳnh Bá Tính cũng phải cười mỉm khi đọc tin này, vì nó đã khác xa ngay với những con số mà viên tướng này đã báo cáo với Phu-dơn.

Riêng Thôn trong lúc đang bị cấm trại, được đọc những dòng tin trên, anh đã cười thầm: “Chỉ cần chúng mày công nhận như thế cũng đã đời rồi!”. Anh có biết đâu lúc này một tin mừng lớn nữa đã đến với anh: Đảng ủy Ban Binh vận đã chấp nhận đơn và quyết định kết nạp anh vào Đảng Lao động Việt Nam. Đồng thời Ban cũng đề nghị lên trên tặng thưởng huân chương Thành đồng hạng hai - phần thưởng cao quý, rất ít cá nhân có được vinh dự này - cho anh.

Hơn một tháng sau, khi Thôn đã hết thời hạn cấm trại, không ai khác, chính đội trưởng Trần Lê Quân, tức Tư Cao, người đã theo sát, dìu dắt, chỉ đạo cho “Chim xanh” vào trận đã đến Biên Hòa tổ chức lễ kết nạp Đảng và báo tin Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã quyết định tặng thưởng Huân chương Thành đồng hạng hai cho anh.

Trước giờ phút vào việc trọng thể này, lúc Thôn vừa thấy đội trưởng, hai chú cháu đã ôm chầm lấy nhau và cả hai đều nghẹn lời, ướt nhòa nước mắt vì quá vui sướng.

- Trơi ơi, thằng Hai! Mày có biết chúng tao ở ngoài khi nghe thấy tiếng bom nổ rồi nhận được tin mày an toàn đã vui sướng đến thế nào không? Mừng hết chỗ nói! Thật tuyệt vời! Chỉ có một cái ngòi nổ của chúng ta mà sức chấn động không chỉ ở trong nước, rung sang cả Mỹ và Hội nghị Paris. Phái đoàn của ta ở bên ấy mừng lắm, tiếng nói có thêm trọng lượng nên đã điện về nhiệt liệt hoan ngliênh chúng ta.

Tư Cao nói một hơi dài. Khi xong phần nghi lễ, anh mới thư thái ngồi nghe Thôn tường trình lại diễn biến trận đánh và tình hình ở sân bay Biên Hòa từ bữa ấy đến nay. Nghe xong, anh nói:

- Bọn chúng không nghi ngờ gì về cậu là tốt rồi. Nhưng đừng có chủ quan. Vẫn phải coi chừng chúng bí mật thả mồi lôi cá đó. Không được hăng ăn mà làm tiếp ngay những tiệc mới, dù là tiệc nhỏ như cậu đề nghị đâu. Phải lặn đi một thời gian để cho chúng nguôi nguôi vụ này đi đã.

“Chim xanh” đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh im lặng này của đội trưởng. Đến khi được phép đánh nhỏ lẻ, từ tháng 11 năm 1972 đến tháng 7 năm 1973, “Chim xanh” lại tiếp tục tung cánh:

Lần thứ nhất, một chiếc khu trục Ska-rai-đo bị rớt do “sự cố bất ngờ” ở trên không.

Lần thứ hai, một phản lực F.5 bỗng nhiên bị bốc cháy ngay giữa đường băng trước khi cất cánh, kéo theo cả bốn trái bom đã cài dưới cánh cùng nổ.

Lần thứ ba, một khu trục cánh quạt đang bay bị gãy càng phải cấp tốc đáp xuống sân bay Đức Phổ.

Lần thứ tư, lại một khu trục Ska-rai-đơ nữa bị nổ tung giữa trời làm cho một chiếc đang bay cũng phải từ Long Khánh quay về.

Cũng trong lần thứ tư nay, khi “Chim xanh” được tặng thưởng thêm ba Huân chương Chiến công nữa thì bọn an ninh Không quân đã mở cuộc điều tra ráo riết. Chúng khẳng định có bàn tay phá hoại ngay trong Ban trang bị hỏa lực. Thôn bị chúng nghi ngờ, tuy không có bằng cớ gì cụ thể, nhưng chúng vẫn bắt giam Thôn để tra khảo và sau đó cho biệt tích ra Côn Đảo.

Thôn phải bước vào trận đấu mới với những thử thách quyết hệt. Suốt trong những năm tháng bị giam giữ, tù đày, anh đã phải nếm trải đủ các đòn dụ dỗ và tra tấn dã man của địch. Nhưng biết chúng không có chứng cứ, anh đã một mực không khai báo, giữ tròn khí tiết của một chiến sĩ Cộng sản để rồi ngẩng cao đầu cùng các đồng chí của mình xuống tàu trở về với cách mạng, với mẹ hiền sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Đón “Chim xanh” trở về ở bến tàu ngày hôm ấy thật cảm động. Không chỉ có Kim Chi và gia đình anh, cả vợ chồng chú Sáu Vũ, chú Tư Cao, anh Tư Dũng đại diện cho đại gia đình binh vận đã choàng rộng cánh tay ôm Hai Thôn vào lòng.

Nguyễn Văn Thôn quá xúc động không nói lên lời. Hai dòng nước mắt của niềm tự hào và sự sung sướng đã chảy dài trên má anh. Trong suốt 5 năm chiến đấu thầm lặng, đây là ngày hạnh phúc nhất của anh.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 4 năm 1995.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:59:37 PM

BỮA NHẬU VÔ GIÁ

Hẳn bạn sẽ phỏng đoán: Đây là bữa nhậu kiểu đế vương để sau đó một hợp đồng có lợi nhuận bạc tỉ được ký kết hay một quyết định rất béo bở về quyền lực được ban ra hoặc một ước nguyện hoan lạc bất chính đã đạt được quá mức. Không phải! Những loại nhậu như trên đều có giá trị. Bữa nhậu mà Thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm - một chiến sĩ tình báo đã trải qua hàng chục năm mưu trí, kiên cường chiến đấu trong mặt trận thầm lặng đang kể với tôi lúc này mới đúng nghĩa là vô giá.

Cuộc nhậu đó đã diễn ra ở ngay giữa Sài Gòn lúc 11 giờ ngày 29 tháng 4 năm 1975, ngày mà ở sào huyệt cuối cùng này của Mỹ - ngụy đang đứng trước cơn hấp hối. Các tuyến phòng thủ thép của chúng đã vỡ tung. Năm cánh quân lớn của đại quân ta đã áp sát các cửa ngõ Sài Gòn. Chiều qua, Sân bay Tân Sơn Nhất đã bị không quân ta đánh bom bằng chính 5 chiếc máy bay A.37 vừa đoạt được của không quân ngụy. Đến đêm, lại bị trọng pháo 130 ly của ta dội tới buộc Mỹ phải cấp tốc lập cầu hàng không bằng máy bay lên thẳng, sân đậu là nóc tòa nhà sứ quán Mỹ để di tản các quan chức Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn. Đã hỗn loạn, trên các đường phố Sài Gòn càng hỗn loạn hơn bởi tràn ngập tàn quân ngụy từ các nơi đổ về. Chúng thi nhau phá phách, cướp bóc tài sản của nhân dân. Trong số đó, một toán 40 lính dù đi trên 3 chiếc GMC đã xông thẳng vào trụ sở Ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến ICCS trên đường Trần Quốc Toản - nơi ở của 4 phái đoàn quốc tế: Ba Lan, Hungarie, Iran và Indonesia. Ở đây, hai phái đoàn Iran và Indonesia đã được Mỹ bốc đi từ hôm qua, còn lại có hai đoàn Ba Lan và Hungarie. Toán lính dù này đang cay cú vì bị quân ta đánh cho tan tác, phải ôm đầu máu chạy về đây, chúng đang rắp tâm phải được rửa hận bằng máu của Cộng sản. Vậy nên lũ lính khét tiếng tàn ác, kiêu căng này đã phóng xe hướng thẳng vào trụ sở Ủy hội quốc tế với chủ định “sẽ làm cỏ hai phái đoàn Cộng sản Ba Lan và Hungarie”. Khi xuống xe, viên đại úy chỉ huy toán dù đã đặt tay vào khẩu Col tuyên bố thẳng thừng như thế với đại tá Lưu Quang Hồng, bất kể ông Hồng là thượng cấp vượt xa cấp hàm của y. Lưu Quang Hồng là sĩ quan cao cấp đại diện cho quân lực Việt Nam Cộng hòa bên cạnh Ủy hội kiểm soát đình chiến quốc tế ICCS. Còn Vũ Quốc Phong là cấp phó của Quang Hồng, nhưng đây cũng chỉ là cái bình phong của một chiến sĩ tình báo để hoạt động cho Cách mạng ở ngay trong hang ổ của địch từ nhiều năm qua.

Tình huống này quả anh không lường tới, kể cả hôm qua lúc đồng chí Nguyễn Văn Khiêm, sau khi vào nội thành được 2 ngày để trực tiếp chỉ đạo mạng tình báo của B2 trong đợt tổng tiến công đã công khai gặp anh động viên trao nhiệm vụ và dự báo tình hình. Nhưng với bản lĩnh nghề nghiệp đã được tôi luyện nhiều năm, sau giây phút bị bất ngờ, Vũ Quốc Phong đã tỏ ra rất bình tĩnh. Một phương sách đối phó dựa vào vị thế của đại tá Hồng đã nảy ra rất nhanh trong anh. Anh nói nhỏ với đại tá Hồng:

- Phải kìm chân lũ lính dù tại đây để cứu hai phái đoàn. Trước hết, Đại tá cứ bình tĩnh tiếp họ, tôi đã có cách đối phó. Chỉ đề nghị Đại tá sẽ khéo hòa mình vào kịch bản bữa nhậu của tôi.

Phong đề nghị như thế với Đại tá Hồng, bởi anh ngầm biết ông đã được cách mạng bắt mối đang ngả hẳn về phía mình. Và kịch bản đó đã được anh mở đầu bằng nụ cười thân thiện cùng giọng nói mềm mỏng, song vẫn tỏ rõ vị thế là ở nơi có một sĩ quan cao cấp đang thay mặt quân lực Việt Nam Cộng hòa thực thi nhiệm vụ bên Ủy hội quốc tế.

- Đại úy, đây là cơ quan ngoại giao. Nhưng mời Đại úy và anh em vừa dấn thân đánh trả với Cộng quân về đang mệt mỏi hãy ngồi cả xuống đây xả hơi vài ly rượu đã. Sau đó, yêu cầu của anh em quân lực Cộng hòa chúng ta sẽ được đáp ứng.

Phong vừa nói xong thì đại tá Lưu Quang Hồng lúc này cũng rất khéo léo nhập vai, liền hướng vào phía trong gọi to viên đại úy thuộc quyền:

- Đại úy Tiên! Mấy anh em bên Dù về đây đang mệt. Cho mang rượu và kiếm đồ nhậu ra đây để anh em lai rai nghe.

- Dạ, bẩm Đại tá có ngay.

Đang mệt mỏi, lại cũng đã quá đói bụng, nghe thấy vậy, viên đại úy cùng cả toán linh dù liền hạ hỏa, mắt cùng sáng lên, bỏ súng ngồi luôn xuống đất kín cả trước cửa phòng khách. Rồi tất cả lại cùng nhìn đại tá Hồng - một sếp bự khoan dung, biết thương lính với ánh mắt thiện cảm khi ông lấy ra nửa cây thuốc lá Capstan đưa cho viên đại úy mời bọn chúng trước khi vào cuộc nhậu. Cùng lúc ấy, rượu tây, thịt bò, thịt heo đã được đại úy Tiên cho các nhân viên mua ngay ở mấy cửa hàng trước cửa mang ra. Lưu Quang Hồng và Vũ Quốc Phong cũng liền ngồi bệt xuống nhập cuộc. Cả hai vừa lần lượt cụng ly vừa vui vẻ trò chuyện, tỏ ra rất thông cảm với sự vất vả của những người lính trận, nhất là lính dù luôn phải đương đầu ở nơi nguy hiểm nhất. Vừa được thỏa mãn cái bao tử đang lép kẹp, vừa được lời úy lạo đúng gan ruột đó, tên đại úy cùng cả toán lính dù cùng bốc men hò nhau “dô, dô” chúc mừng, cám ơn đại tá. Trước mắt bọn chúng bấy giờ gần như chỉ còn mấy chai rượu tây uống đã đời và đồ nhậu ngon lành mà tạm quên đi chuyện làm cỏ “bọn Cộng sản”. Trong khi đó, ở hai dãy nhà phía sau, từ lúc nghe tiếng la thét đòi xông thẳng vào khám để xét và làm cỏ mình tới giờ, cả hai phái đoàn quân sự Ba Lan và Hunggarie đều không khỏi xanh tái mặt mày. Tình huống quá bất ngờ. Bỗng nhiên tính mạng của cả hơn 20 sĩ quan quốc tế này đang như tử tù đứng trong trường bắn. Họ đâu có vũ khí tự vệ. Chỉ còn có ý chí quyết tử của người lính để chống lại lũ lính dù đang cay cú vì bị thất trận lại vốn hung hăng say máu như dã thú này. Nhưng điều trước hết bây giờ chỉ còn chờ đợi ở sự đối phó khéo léo của trung tá Phong.

Tâm lý lo sợ như “cá nằm trên thớt” ấy đang choáng váng, đè nặng trong tâm trí tất cả hơn 20 sĩ quan Ba Lan và Hungarie, nhất là hai trưởng đoàn. Hầu hết họ đã nghĩ tới giây phút thân mình đẫm máu thảm thương ở xứ sở xa xôi tổ quốc mà vĩnh viễn không còn được gặp lại vợ con. Đồng thời với danh dự người lính, trong mỗi đoàn một phương án quyết tử với lũ lính dù cũng được chớp nhoáng vạch ra. Bỗng họ cùng định hồn trở lại khi thấy trung tá Phong xuất hiện đang đi về phía mình với vẻ mặt khá điềm tĩnh. Khi lũ lính dù đã ngà ngà đang hò nhau “dô, dô” cụng ly, trung tá Phong xin phép Lưu Quang Hồng và ra hiệu cho mấy sĩ quan khác tiếp tục nhậu tới bến với các chiến hữu, còn mình cáo lỗi phải vô toilet. Chính với lý do chính đáng mà bọn lính dù không hề nghi ngờ này, anh đã nhanh chóng thực hiện bước hai mưu kế của mình. Trước hết, anh chỉ dẫn đưa ngay các thành viên của cả hai phái đoàn vào các căn trại cuối cùng của Ủy hội quốc tế và giao cho mấy sĩ quan thuộc quyền, nếu thấy tình hình quá nguy cấp, sẽ lẹ làng dẫn họ vượt tường rút qua Viện hóa đạo để tẩu thoát. Riêng với hai trưởng đoàn, anh đã tận dụng lợi thế có chế độ bảo vệ đặc biệt không ai được tự động vô phòng riêng của đại tá, đưa hai vị đó vô đây, vặn khóa trái cửa lại, chỉ khi nào nghe thấy ông Hồng gọi mới mở cửa. Khỏi phải nói, các thành viên của hai phái đoàn Ba Lan và Hungarie đã hết nghẹt thở và xúc động biết nhường nào khi như đang sắp chết chìm đã được anh mở đường cứu mạng bằng cái phao như thế.

Bước hai này, anh và các sĩ quan thuộc quyền của anh làm rất lẹ. Những sĩ quan này kể cả đại úy Tiên - sĩ quan thân cận của Lưu Quang Hồng - đâu có ai biết rằng, ông Hồng đã xử lý như vậy không chỉ xuất phát từ lương tâm mà còn do hành động theo mưu kế khôn khéo của Vũ Quốc Phong - một chiến sĩ tình báo từ lâu đã ở ngay bên mình. Tuy cả hai không nói ra, nhưng họ đều đồng tình với hành động nhân hậu này và thầm hiểu ý định của hai vị chỉ huy: “Phải kiềm chân lũ lính dù lại bằng bữa nhậu để có thời cơ cứu mạng hai phái đoàn” nên họ đã cùng thực thi ý định đó nhuần nhị hơn cả diễn viên trên sân khấu.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:00:10 PM

Diễn tài và lẹ thế nên chỉ 15 phút sau khi trung tá Phong rời khỏi bàn nhậu, hơn 20 sĩ quan trong hai phái đoàn quốc tế Ba Lan và Hungarie coi như đã “mất bóng” trong trụ sở Ủy hội quốc tế. Bây giờ anh lại đĩnh đạc tiếp tục nhập tiệc rượu với lũ lính dù. Đến lúc này đại tá Lưu Quang Hồng mới vừa cười vừa nói:

- Đại úy cùng anh em cũng biết rồi đó. Đây chỉ là trụ sở ngoại giao. Trước đây cả 4 phái đoàn quốc tế: Iran, Indonesia, Ba Lan, Hungarie đều ở cả trụ sở này. Nhưng do chiến sự diễn biến quá ác liệt và mau lẹ nên hai phái đoàn Iran và Indonesia đã về nước. Còn hai phái đoàn Ba Lan và Hungarie cũng đã rời khỏi đây vô trại David để được bảo vệ an toàn.

Lưu Quang Hồng vừa dứt lời, viên đại úy dù liền buông ly, giương cặp mắt dữ tợn lên tiếng:

- Đại tá! Tôi nghe nói sáng nay hai toán Cộng sản Ba Lan và Hungarie vẫn còn ở đây cơ mà? Có thế chúng tôi mới cất công tới đây để cắt tiết bọn Cộng sản này.

- Đại úy nghe được cũng khá chính xác đấy. Nhưng hai phái đoàn này biết mình là Cộng sản, lại là nhân viên quân sự, họ sợ sẽ bị chết kẹt tại đây nên sáng nay đã vội vã vô trại David để nhanh chóng lên được máy bay rời khỏi Sài Gòn rồi.

Giải thích cho viên đại úy xong, Lưu Quang Hồng bảo đại úy Tiên và cả đích thân ông dẫn tên đại úy cùng một số lính dù đi vào xem các phòng ngủ ở phía trong. Đúng là các phòng ông đưa chúng tới đều trống rỗng. Chỉ mấy phòng có người ở, nhưng đấy lại là phòng ngủ của các sĩ quan Việt Nam Cộng hòa mà tất cả đều đang mở rộng cửa. Chúng cũng được dẫn qua các phòng riêng của sếp Hồng. Tuy phòng của ông đang đóng kín cửa, nhưng chúng cũng biết rằng mấy chục sĩ quan Ba Lan và Hungarie không thể nào nhét hết trong đây. Hơn nữa, dù có xấc xược đến đâu, trước sự cư xử hòa nhã, đĩnh đạc của ông, chúng cũng phải tỏ chút lễ độ tối thiểu đối với vị đại tá đại diện quân đội mà tôn trọng quy chế bảo vệ đặc biệt, không dám tự động mở cửa phòng riêng của ông.

Thấy được tận mắt, rõ ràng cả hai phái đoàn quân sự Ba Lan và Hungarie không còn ở đây, tên đại úy liền khoát tay:

- Đại tá nói đúng. Bọn Cộng sản Ba Lan và Hungarie đã đào tẩu khỏi đây rồi, còn đâu mà làm cỏ chúng. Thôi, ta đi anh em!

Nói vậy rồi y liền quay người lại đứng nghiêm trước mặt Lưu Quang Hồng và Vũ Quốc Phong đưa tay lên mũ:

- Xin cảm ơn và chia tay Đại tá! Mong Đại tá và Trung tá thứ lỗi cho việc chúng tôi đã làm phiền.

- Không sao! Việc đó cũng là thể hiện lòng căm thù Cộng sản của anh em quân lực Việt Nam Cộng hòa chúng ta. Chắc bây giờ Đại úy phải sớm đưa anh em xuống miền Tây để tử thủ ở dưới đó. Biết thế nên đại tá chúng tôi đã bảo mấy chiến hữu ở đây chuẩn bị cho đại úy cùng anh em một số lương thực để ăn dọc đường.

Vũ Quốc Phong vừa dứt lời thì các nhân viên của đại úy Tiên đã bê ra 5 bọc lớn trong đó có bánh mì, thịt hộp và cả mấy chai rượu.

Thêm nghĩa cử hào hiệp và rất chân tình này nữa nên nét mặt tên đại úy và cả 40 lính dù đều mất hết vẻ cao ngạo, khát máu. Bản tính con người đã trở lại gần như nguyên vẹn với chúng. Chúng rối rít cám ơn, cùng nhìn đại tá Hồng với ánh mắt kính phục và lại tỏ ra rất đúng quân kỷ khi chào tạm biệt ông để lên xe về miền Tây.

Bây giờ Vũ Quốc Phong mới nhẹ người. Nhưng anh chỉ thực sự thở phào khi đã bố trí nơi ở mới và cách bảo vệ tuyệt đối an toàn cho hai phái đoàn. Đến lúc này, khi biết chắc chắn toán lính dù đã đi xa, ông Lưu Quang Hồng và anh đã bị nghẹt thở trong vòng tay của các sĩ quan Ba Lan và Hungarie. Họ ôm hôn thắm thiết ông Hồng và các đồng sự, mắt ướt nhòa lệ cùng tỏ lòng biết ơn sâu sắc. Với hai trưởng đoàn càng thể hiện tình cảm đặc biệt. Mỗi vị đều nói với ông bằng những lời tâm huyết và sâu sắc nhất về lòng biết ơn và sự cảm phục tài ứng phó mưu trí của ông để bản thân và phái đoàn của mình không phải bị lũ lính dù đang say máu làm cỏ.

Sự tri ân và cảm phục đó còn thể hiện sâu sắc và tế nhị hơn qua hai bức thư mà ngày 3 tháng 5 năm 1975 Trưởng đoàn Ba Lan Ryszard Fijalkowoki và ngày 6 tháng 6 năm 1975 Trưởng đoàn Hungarie Dr. Jozsef Nemeth đã gửi tới cho Lưu Quang Hồng và Vũ Quốc Phong. Sâu sắc bởi những cảm nghĩ tự đáy lòng họ coi Lưu Quang Hồng như đã cải tử hoàn sinh cho mình. Còn tế nhị hơn là cả hai vị Trưởng đoàn này đều muốn qua lá thư của mình để chính quyền Việt Nam biết rõ công lao to lớn của ông - một sĩ quan cao cấp của quân đội Sài Gòn, nhưng đã có hành động cao cả cứu mạng cho phái đoàn của mình là Cộng sản mà sẽ giảm nhẹ tội lỗi, khoan hồng cho ông. Khi ấy hai Trưởng đoàn này đâu có biết được thực chất về Lưu Quang Hồng và nhất là Vũ Quốc Phong cũng là chiến sĩ Cộng sản như mình. Còn đến bây giờ rất có thể hai vị đó cũng chưa biết rõ đầy đủ con người thật của hai ân nhân cứu nguy cho mình. Bởi chính cả ông Lưu Quang Hồng và đồng chí Vũ Quốc Phong suốt mấy chục năm qua cũng lặng lẽ như hai lá thư vô tri này. Chỉ có qua anh Sáu Trí, tức thiếu tướng Nguyễn Văn Khiêm, vật kỷ niệm đó mới lần đầu tiên được ông cho nó ra mắt để lúc này tôi mới có trong tay.

Tp. Hồ Chí Minh, Xuân 2000


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:02:32 PM

MỘT NGÀY LÀM CHỈ HUY CẢNH SÁT ĐÔ THÀNH

Triệu Quốc Mạnh tốt nghiệp Đại học Luật khoa Sài Gòn và ghi tên theo học Ban tiến sĩ kinh tế rồi được bổ vào ngành thẩm phán năm Mạnh vừa 23 tuổi. Đó là một thẩm phán trẻ nhất trong ngành Tư pháp Sài Gòn hồi đó. Không những thế, năm 1966, dưới trào của Trần Văn Hương, Triệu Quốc Mạnh đã được bổ nhiệm là thẩm phán hàng thứ ba trong tổng số 9 thẩm phán mà cũng là toàn bộ số thẩm phán của tổ chức ngành Tư pháp Sài Gòn hiện có thời đó. Cũng trong thời điểm này, được sự dìu dắt của đồng chí Tám Cần khi hoạt động trong tổ chức trí vận nằm bên cánh thanh niên công nhân và nhân dân lao động, Triệu Quốc Mạnh đã là một nhân tố nòng cốt của Cách mạng trong lực lượng thứ ba.

Trong khi đó, Triệu Quốc Mạnh vẫn được chính quyền Sài Gòn tín nhiệm, trưng dụng. Chúng đâu có biết trái tim người trí thức trẻ này đã hiến dâng và thuộc về Cách mạng nên chúng đã vinh thăng Mạnh lên Đệ nhất phó Biện lý của tòa Sài Gòn - Gia Định khi anh vừa tròn 30 tuổi.

Đấy là một chức vụ có đầy quyền hành và uy lực không chỉ trong ngành Tư pháp mà còn với cả ngành Cảnh sát của ngụy quyền Sài Gòn. Bởi vào năm 1970 hồi đó, ngành Cảnh sát ngụy đã được quân sự hóa theo hệ thống tổ chức của Mỹ cùng là hệ thống Cảnh sát quốc tế phe tư bản. Ngành Tư pháp cũng phải theo cải cách nên khi đó Mạnh có quyền và hưởng các chế độ tương đương hàm trung tá của Sở Hình cảnh Tư pháp.

Hôm Triệu Quốc Mạnh được bổ nhiệm chức vụ này, anh Tám Cần mừng lắm. Trong phòng khách khi chỉ có hai anh em, anh Tám đã uống một mạch cạn ly bia, điều mà hiếm thấy ở anh.

- Anh rất mừng là chú đang có uy tín với bọn chúng. Nhưng như thế khi hoạt động càng phải rất khôn khéo. Hiện nay, lực lượng thứ ba chủ trương đấu tranh trực diện với địch đòi hòa giải dân tộc, đuổi Mỹ về nước đang còn được Thiệu nới tay bởi sợ dư luận cả trong và ngoài nước lên án. Chú là phó Tổng thư ký lực lượng này phải khéo léo đưa lực lượng đi theo quỹ đạo của ta, nhưng đừng có bao giờ để không chỉ kẻ địch mà cả những người trong lực lượng biết chú là một chiến sĩ cách mạng. Chú chỉ để họ hiểu và yêu quý chú như một trí thức tiến bộ có tinh thần yêu nước theo hướng hòa giải dân tộc.

- Dạ, em hiểu, em sẽ làm theo lời căn dặn của anh Tám.

Mạnh trả lời và xiết chặt tay anh Tám, ra về với ánh mắt cùng gặp nhau đầy sự đồng cảm, tự tin và hy vọng. Anh vừa về đến nhà liền nhận được điện thoại của ông Dương Văn Minh gọi đến chúc mừng. Anh hồ hởi đáp lại thịnh tình đó, nhưng cũng hiểu ngay ý nghĩa cú điện sốt dẻo của ông cựu Tổng thống đã bị Thiệu - Kỳ buộc phải sống lưu vong này.

Từ Thái Lan được về nước năm 1970, Dương Văn Minh đã mau chóng gần gũi lực lượng thứ ba do luật sư Trần Ngọc Liễng làm Tổng thư ký và Triệu Quốc Mạnh làm Phó Tổng thư ký nhằm để tạo cho ông ta một hậu thuẫn chính trị về sau.

Tất nhiên, với uy tín vốn có cả trong giới quân sự và dân sự của ông Minh, hai luật sư Trần Ngọc Liễng và Triệu Quốc Mạnh cũng thấy ông ta có thể là đồng minh để tiếng nói của lực lượng mình thêm trọng lượng đồng thời cũng là chỗ dựa để thực hiện mục tiêu của mình.

Chính bởi mối quan hệ hai chiều đó mà trung tuần tháng 4.1975, ông Dương Văn Minh đã cử giáo sư An Cư là người của phái ông Minh đến tìm gặp Bảy Mạnh.

Khi đó mặc dù Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa chịu từ chức, nhưng trước xu thế cấp bách của thời cuộc, bởi sự nguy ngập về quân sự, ông Minh đã chuẩn bị và biết chắc mình sẽ lên thay chức Tổng thống nên cử giáo sư An Cư đến gặp Mạnh, truyền đạt lời mời của ông với danh nghĩa Tổng thống mời Bảy Mạnh tham gia chính phủ sẽ thành lập do ông lãnh đạo. An Cư trình bày xong, Bảy Mạnh hỏi:

- Thưa Giáo sư, Giáo sư có thể cho tôi biết Đại tướng trao cho tôi nhiệm vụ gì trong chính phủ mới này?

An Cư thành thật:

- Theo tôi biết, Đại tướng muốn giao cho ông chức vụ Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đô thành.

Triệu Quốc Mạnh bất ngờ và mừng thầm trước chức vụ này, nhưng anh không dám nhận lời ngay bởi chưa thật tin ông An Cư và cũng còn để xin ý kiến của Mặt trận nên Mạnh đã từ chối khéo là “xin để còn suy nghĩ...”.

Khi Giáo sư An Cư về rồi, Triệu Quốc Mạnh liền gặp ngay đồng chí Tám Cần. Bảy Mạnh trình bày ngay buổi gặp An Cư để xin ý kiến anh Tám.

- Chú có biết tại sao ông Minh lại cần và trao cho chú chức vụ này mà không trao cho một tướng nào khác không? Đây là một điều rắc rối trong luật lệ cảnh sát mà chú đã hiểu, nhưng nó cũng chứng tỏ Bộ tham mưu của ông Minh cũng đã nắm chắc về pháp lý trong việc trao chức vụ này.

- Dạ, em đã hiểu vì sao ông Minh tín nhiệm “bỏ phiếu” cho em và cả sự rắc rối trong luật lệ cảnh sát nữa.

Bảy Mạnh trả lời anh Tám và lần nữa lại rất cảm phục, bởi anh không ở trong ngành Tư pháp như mình mà đã nắm rất chắc các luật lệ hiện hành khi anh nói mấy nét cơ bản về sự rắc rối đó.

Sự rắc rối đó hiện hữu từ ngày quân Mỹ tràn vào Nam Việt Nam. Khi ấy, gần như mọi tổ chức đều rập khuôn theo Mỹ. Riêng ngành Cảnh sát, Mỹ bắt Thiệu phải giải tán hết mọi loại cảnh sát áo trắng, áo đen cũ để thành lập một Tổng nha Cảnh sát. Cũng chính Mỹ đã lựa chọn những tên tay sai ác ôn nhất để nắm lực lượng Cảnh sát như các tướng: Trần Thanh Phong, Nguyễn Ngọc Loan và hiện nay là tướng Nguyễn Khắc Bình làm Chỉ huy trưởng Tổng nha Cảnh sát. Bên dưới Tổng nha ở Sài Gòn-Gia Định có Bộ chỉ huy Cảnh sát Đô thành, toàn bộ ngành Cảnh sát được tổ chức hoàn toàn theo lối quân sự hóa.

Lối tổ chức quân sự hóa từ trên xuống dưới này nhằm duy trì kỷ luật sắt. Cấp dưới chỉ biết phục tùng mệnh lệnh cấp trên mà không được có ý kiến. Mặt khác, không phải bất cứ ai, dù là cấp tướng, Đô đốc, Bộ trưởng, Tổng trưởng cũng có quyền chỉ huy cảnh sát. Nhưng cũng có ngoại lệ. Đấy là các thẩm phán có quyền ký giấy ra lệnh cho cảnh sát và chấp nhận lời tuyên thệ khi nhận chức của các Cuộc trưởng, Quận trưởng Cảnh sát; cũng có quyền được chỉ huy cảnh sát. Những thẩm phán này khi được trao quyền chỉ huy, cấp dưới phải phục tùng, bởi đó là luật lệ...

Chính cái ngoại lệ trong luật lệ cảnh sát đó mà tướng Dương Văn Minh đã tiến cử Triệu Quốc Mạnh vào chức Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đô thành Sài Gòn-Gia Định. Chức vụ này hiện do Trang Sĩ Tấn - viên chuẩn tướng ác ôn từng chống đối tướng Minh đang nắm.

Sau khi trao đổi để hiểu rõ ý định của Dương Văn Minh xong, anh Tám Cần bảo Mạnh:

- Chú nên đến nhà riêng ông Minh nhận lời mời của ông ta. Nhưng phải nói rõ là chỉ nhận khi nào ông ta thực sự nắm chính quyền.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:03:04 PM

Hôm Triệu Quốc Mạnh đến gặp tướng Dương Văn Minh dể nhận lời là 28 tháng 4. Và anh đã chính thức nhận chức Chỉ huy trường Cảnh sát Đô thành Sài Gòn-Gia Định ngày 28 tháng 4 sau khi Dương Văn Minh đã được lưỡng viện bỏ phiếu tán thành bầu làm Tổng thống ngụy quyền.

Đấy là ngày mà 5 cánh quân của đại quân ta đã áp sát Sài Gòn. Tiếng đại bác của Quân giải phóng đã rền vang ở tất cả các cửa ngõ của thủ đô Việt Nam Cộng hòa. Cảnh hỗn loạn, hoang mang đang diễn ra trong khắp các công sở, đường phố nội thành. Quân ngụy đang tập trung lực lượng cố thủ, nhưng nhiều tướng tá kể cả đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Cao Văn Viên đã đào tẩu. Riêng Cảnh sát Đô thành trừ Trang Sỹ Tấn đã cao chạy xa bay, lực lượng kiên trung một trong những bảo kiếm bảo vệ Đô thành này vẫn còn khá nguyên vẹn.

Với dáng người cao lớn, đĩnh đạc, phong độ, diện mạo vừa toát lên vẻ lịch thiệp, uyên thông của một trí thức lại vừa có cái oai nghiêm, kiên quyết tự tin của một quan tòa, luật sư Triệu Quốc Mạnh đã tới bản doanh Bộ chỉ huy Cảnh sát Đô thành bằng chiếc xe hơi mang cờ chuẩn tướng đúng vào thời điểm nóng bỏng đó.

Tuy rằng anh mặc thường phục, nhưng đã từng biết tên tuổi, chức vụ, tiếng tăm và tướng mạo của vị Đệ nhất phó Biện lý này như thế, hơn nữa lại có trung tướng Mai Hữu Xuân, Sự vụ của Tổng thống Dương Văn Minh cùng đi giới thiệu nên các sĩ quan Cảnh sát Đô thành đều nhìn anh với ánh mắt nể sợ. Đại tá Lâm Chính Nghĩa, Phó chỉ huy, khi Trang Sỹ Tấn đào tẩu đã nhấp nhổm hy vọng được lên thay Tấn, lúc này đã chạy ra tận nơi xe hơi đậu đón Triệu Quốc Mạnh.

Anh vui vẻ làm thân ngay với Nghĩa để có thêm thuận lợi tạo uy thế và quan trọng là trước hết buộc Nghĩa sẽ phải thực hiện các mệnh lệnh của mình. Anh nhìn hết một lượt bản doanh, đặc biệt là Sở chỉ huy. Việc trước tiên là lệnh cho Nghĩa tập hợp tất cả các sĩ quan cao cấp của Đô thành lại để anh hiệu triệu và thông báo tình hình.

Trong nội dung thông báo, anh đã đặc biệt nhấn mạnh đến tình hình lúc này là vô cùng nghiêm trọng và hiệu triệu các sĩ quan phải làm hết phận sự của mình, tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh của cấp trên và kỷ luật thời chiến sẽ được thực thi ngay đối với bất cứ ai trái lệnh.

Cũng trước cử tọa này, anh đã qua mặt Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố: Anh đã được Tổng thống giao cho vai trò thương thuyết với phe Cách mạng và bịa ra việc thương thuyết của Tổng thống hiện giờ đã đạt tới 60%, yêu cầu các sĩ quan ở đây không được làm gì ảnh hưởng đến việc thương thuyết.

Cùng với cú đòn cân não ấy, Triệu Quốc Mạnh lại tỏ ra cảm thông với hoàn cảnh gia đình, vợ con của các sĩ quan đang bối rối, lo sợ và hứa sẽ tạo điều kiện họ có thể giúp đỡ gia đình trong lúc lâm nguy hiện tại để tác động thêm lòng tin của cấp dưới với mình.

Trước lời hiệu triệu vừa cứng rắn vừa có tình đó, những tên sĩ quan cảnh sát vốn khét tiếng ác ôn lúc này đều răm rắp lắng nghe và rồi cùng đều phải răm rắp thi hành. Còn anh, ngay sau đó đã yêu cầu Lâm Chính Nghĩa nộp cho anh bản danh sách tù chính trị và gọi một sĩ quan thông tin giữ về điện tử vào Sở chỉ huy.

Ở đây bằng các mật mã thông tin riêng của ngành Cảnh sát, dựa vào việc không để ảnh hưởng đến việc thương thuyết của Tổng thống, việc đầu tiên Chỉ huy trưởng Triệu Quốc Mạnh làm là ra lệnh giải tán F5 - một lực lượng cảnh sát đặc biệt được trang bị mạnh cả về vũ khí và phương tiện. Thứ hai, là lệnh cho toàn lực lượng an ninh bất động, không được nổ súng khi chưa có lệnh của Chỉ huy trưởng.

Xong các việc hệ trọng đó, Triệu Quốc Mạnh mới ra hiệu gọi Lâm Chính Nghĩa tới bên mình rỉ tai:

- Như moa đã hứa với anh em sĩ quan của ta, Đại tá đi xem những ai đang khẩn thiết về chuyện lo thu xếp cho gia đình vợ con lúc này thì cho phép anh em lần lượt thay nhau về giải quyết. Còn Đại tá, chiều nay khi nhiệm vụ được Tổng thống giao cho chúng ta tạm ổn định, Đại tá cũng nên qua nhà một chút. Mọi việc ở đây moa sẽ lo liệu.

- Dạ, cám ơn sếp. Tôi sẽ đi thực thi ngay công việc tình nghĩa này.

Nghĩa hẳn cũng đang mừng, vì chiều nay sẽ được qua nhà nên hối hả ra ngay khỏi phòng.

Mạnh nhìn theo mừng thầm: “Thế là một việc hệ trọng nhất làm tan rã ngay lực lượng Cảnh sát Đô thành mà cấp trên giao cho, mình đã làm xong”. Anh tin những mệnh lệnh của anh ban ra từ sáng tới giờ cấp dưới đều đã phải nhất nhất thi hành, bởi kỷ luật sắt vốn có của luật lệ cảnh sát và cả vì tình hình thực tế đang nguy ngập.

Bây giờ anh bắt đầu triển khai sang nhiệm vụ hệ trọng thứ hai. Lướt qua một bản danh sách dài tù chính trị, Mạnh thấy anh em ta đang bị giam rải rác ở tất cả các quận, nhiều nhất là ở Bộ chỉ huy Cảnh sát Đô thành ở Thủ Đức và Tổng nha Cảnh sát.

Tất cả các nơi đó trừ Tổng nha Cảnh sát, còn lại đều thuộc quyền của Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đô thành. Ban nãy, khi yêu cầu Lâm Chính Nghĩa đưa cho anh bản danh sách này, anh đã mượn oai Tổng thống hù Nghĩa:

- Việc đầu tiên của Tổng thống để tỏ thiện chí mà dễ dàng thương thuyết với phía Cách mạng là Tổng thống cùng ông Huyền, ông Mẫu đã nhất trí phải thả hết tù chính trị, đuổi Mỹ ra khỏi ngay Việt Nam trong vòng 24 giờ.

Thực tế có chuyện này, nhưng hôm sau ông Minh mới tuyên bố, song lúc đó Nghĩa đã không có biểu hiện gì phản ứng về điều đó. Thế nên bây giờ, anh càng rảnh tay điện ngay xuống cho tất cả trại trưởng các trại giam thuộc quyền của mình, ra lệnh thả ngay hết tù chính trị với lý do như anh đã dọa Lâm Chính Nghĩa. Qua giọng nói khi nhận lệnh, anh biết chúng sẽ phải thi hành ngay. Xong lãnh địa của mình, Triệu Quốc Mạnh quay máy gọi sang Tổng nha Cảnh sát.

Ở đầu dây bên kia chỉ có đại tá Quy, cấp phó của Nguyễn Khắc Bình trả lời. Mạnh cũng không cần hỏi lý do vắng mặt của Bình mà thông báo luôn ý định của Tổng thống. Quy bối rối không dám quyết ngay, bởi việc này với Quy quá lớn. Ba mươi phút sau khi Quy gọi điện lại cho Mạnh, anh đã chủ động tấn công ngay:

- Thưa Đại tá, Tổng thống đang có những phương sách khẩn cấp để tháo gỡ tình hình nguy ngập. Cụ bắt tôi phải thả hết tù chính trị, để tiện cho cụ thương thuyết. Tôi đã phải tuân lệnh làm việc đó ở các trại giam thuộc quyền. Cụ nhắc tôi phải thông báo cho cả Tổng nha. Đại tá có thể gọi điện lên hỏi lại Tổng thống ngay đi. Nếu chậm trễ sẽ phải chịu trách nhiệm nặng nề đó.

Quy hoảng hốt:

- Khỏi cần phải hỏi lại nữa. Tổng thống đã có lệnh như thế, bên Đô thành đã làm, tôi phải làm theo thôi.

Mạnh buông ống nói. Anh tin các đồng chí của ta đang bị giam ở các trại giam Nguyễn Trãi và Chí Hòa cũng sẽ được thả ra hết ngay sau đó. Anh bước ra khỏi Sở chỉ huy thấy lòng bỗng nhẹ hẳn đi và bầu trời Sài Gòn như cao rộng hẳn ra.

Nhưng Mạnh chưa thấy yên tâm, anh liền lên xe đi kiểm tra hết một lượt các đơn vị cảnh sát, trại giam khắp các quận nội thành. Khi ấy toàn bộ hệ thống cảnh sát ở Đô thành đã hoàn toàn tê liệt, tan rã và các anh em tù chính trị đã được thả ra hết, anh mới thở phào sung sướng. Lúc ấy Triệu Quốc Mạnh mới thật sự hạnh phúc và “Hòn ngọc Viễn Đông” của mình - một phần máu thịt của mẹ Việt Nam trở nên đẹp tuyệt vời.

Chiếc xe hơi của anh đã không trở về Bộ chỉ huy Cảnh sát Đô thành nửa. Nó đã đưa anh về nhà một người bạn tri kỷ cùng chí hướng với anh trong lực lượng thứ ba để niềm vui của anh được thả sức trào lên với bạn. Lúc ấy, anh nghĩ ngay đến anh Tám Cần, anh Châu Long và các đồng chí khác. Hẳn giờ này các anh cũng đang hết sức vui mừng bởi sự mẫn cán với Tổng thống Dương Văn Minh của Mạnh. Còn những sĩ quan cảnh sát đã tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh của anh rồi vui mừng được anh cho về nhà lo cho vợ con lánh nạn để cho toàn bộ lực lượng cảnh sát ở Đô thành tê liệt, tan rã chính là vì để cho Tổng thống dễ dàng thương lượng đâu có biết anh làm thế chính là vì trách nhiệm thiêng liêng của một trí thức, chiến sĩ cách mạng.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 1996


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:09:46 PM

CUỘC CHIA LY

Cô sinh viên Sài Gòn hồn nhiên, xinh đẹp ấy có cái tên cũng rất đẹp: Trần Thị Bạch Hồng. Chính vì mê người và mê cái tên đó mà chàng trai Hoàng Vinh, bác sĩ trẻ mới tốt nghiệp Đại học Y khoa Sài Gòn khi đứng trên ban công nhà mình, nơi có những bông hồng trắng đang nở và nhìn xuống đám cưới dưới đường thấy trên ngực áo cô dâu cũng đang cài một bông hồng trắng nên đã liên tưởng, tức cảnh thành thơ:

“Đã Hồng lại Bạch mới hay
Khen ai khéo đặt tên này cho em
Để gái trai buổi se duyên
Sắc em tinh khiết nở trên tim hồng
Nói rằng, đời vẫn trắng trong
Tơ vàng chờ nắng sang hong vườn trầu
Chỉ hồng, lá thắm, hương cau
Mượn em trao gởi cho nhau ngàn lời
…”


Ngay chiều hôm đó, Hoàng Vinh đi đến nhà Bạch Hồng cùng mấy vần thơ vừa sáng tác. Khác với mọi lần, lần này, vừa ngồi với nhau, Hoàng Vinh đã sôi nổi kể lại cảm xúc của mình ban sáng và đưa trang giấy hồng ra nói với Bạch Hồng:

- Anh nghĩ đây mới chỉ là phần mở đầu của bài thơ mà anh đã lấy tựa đề là “Hồng Bạch”. Đề nghị em làm tiếp các đoạn sau, nhưng kết bài xin được để hai câu thế này: “Ơn trời em đã đẹp tên, Thau vàng, tin vẫn vẹn nguyên Bạch Hồng”. Anh tin là cô sinh viên Văn khoa của anh sẽ có tứ thơ rất sâu sắc bay bổng nữa trong phần tiếp nối này.

Nghe Hoàng Vinh nói, rồi đọc kỹ lại những câu thơ còn nóng hổi cảm xúc của Vinh, ánh mắt của Bạch Hồng qua cặp kính trắng sáng lên long lanh cùng nụ cười rất duyên hướng thẳng vào đôi mắt như đang mơ màng chờ đợi của Vinh, sôi nổi nói liền một hồi:

- Anh đã có một sĩ là bác sĩ, không ngờ giờ lại thêm một sĩ nữa là thi sĩ. Với giọng ca hay, tài đàn giỏi, em chắc anh sẽ thêm một sĩ nữa là nhạc sĩ, nếu sáng tác được mấy bản nhạc thì trở thành chàng “tam sĩ” đấy.

- Em lại giễu anh rồi. Nếu thế thì phải là chàng “tứ sĩ” chứ? Vì em còn cho anh là “chàng sĩ” nữa cơ mà. Nhưng giễu bao nhiêu cũng được, miễn là đừng quên đề nghị của anh. Mà phần tiếp sau, anh nghĩ mới là cốt lõi của bài thơ, bởi đến đây mới là lúc Bạch Hồng thổ lộ hết ý tưởng, nỗi lòng của mình.

- Anh ranh mãnh lắm. Từ tức cảnh của mình, bác sĩ đã sinh tình định “giải phẫu” trái tim em bằng thơ. Ôi em sợ mổ xẻ lắm. Nhưng Tứ sĩ của em ơi, đề thi này khó hơn tất cả mọi đề thi em đã nhận ở trường đó. Nếu khi trả bài mà lạc đề thì “giáo sư” đừng buồn, đừng phạt em đấy nhé.

Gặp gỡ rồi yêu nhau từ mấy năm trước đây khi cùng xuống đường trong phong trào đấu tranh chống Mỹ - ngụy của học sinh, sinh viên Sài Gòn, bây giờ tình duyên đã mặn nồng, sâu sắc lại cùng hoạt động trong Thành đoàn, mỗi lần gặp nhau Bạch Hồng và Hoàng Vinh vẫn trêu đùa nhau hồn nhiên như thế. Trước đó Bạch Hồng - một nữ sinh duyên dáng, xinh đẹp con nhà gia giáo, chỉ biết tu chí học hành, đã có không ít chàng trai hào hoa, danh giá ước ao, theo đuổi, nhưng chưa một ai nhận được ánh mắt tỏ tình của Hồng. Còn Hoàng Vinh cũng có không ít các tiểu thư yêu kiều say mê muốn “chết” với chàng bác sĩ trẻ tài hoa, lịch lãm lại khá điển trai có tướng mạo rất nam nhi. Tuy vậy, Bạch Hồng và Hoàng Vinh, đôi trai tài, gái sắc yêu nhau say đắm, nguyện cùng “kết tóc xe tơ” mà hai gia đình đã làm lễ “dạm ngõ” không chỉ riêng vì thế. Họ gặp nhau và hợp nhau còn vì cả hai cùng chung lý tưởng quyết không chịu sống quỳ trước quân cướp nước và bán nước Mỹ - ngụy. Cha mẹ của Bạch Hồng là trí thức yêu nước đã qua đời. Hồng chỉ còn có hai anh trai. Cả hai anh đang bí mật hoạt động cho Cách mạng và đều có cảm tình, yêu quí Hoàng Vinh, dù hai anh biết rõ trong gia đình Vinh có người đang làm việc cho chế độ Sài Gòn. Với cuộc tình duyên trong ngoài đều quá êm đẹp ấy, Bạch Hồng càng xinh tươi rực rỡ như bông hồng mới nở, càng như được “chắp cánh” trong học đường và trong công tác cách mạng. Nhiều đêm trong những giấc mơ, Bạch Hồng thấy mình rất kiều diễm, thướt tha trong bộ đồ cưới lộng lẫy trắng tinh đi bên Hoàng Vinh. Chỉ một năm nữa, sau khi Hồng tốt nghiệp đại học, mộng đẹp đó sẽ là hiển nhiên, bởi cả Bạch Hồng và Hoàng Vinh cùng gia đình đã thống nhất ngày tháng làm lễ tơ hồng.

Cùng giấc mơ đó là bao ước vọng và viễn cảnh rực rỡ nữa mà Bạch Hồng thấy nó đang bay bổng như những vần thơ mình đang tiếp nối phần Hoàng Vinh đã viết. Nhưng lúc sắp hoàn thành thì Hồng đã bàng hoàng không còn tâm trí nào để tiếp được nữa khi Hoàng Vinh đến nhà mình lần này. Lần này Bạch Hồng sửng sốt không tin viên trung úy với bộ quần áo mang sắc phục lính thủy quân lục chiến Sài Gòn đang đứng trước mặt mình đây là Hoàng Vinh. Mặt cô biến sắc mãi mới nói được một câu: “Hoàng Vinh! Anh là thế này ư?”, rồi ôm mặt khóc nức nở. Trong cuộc chiến hiện tại, Hồng đã biết rằng Vinh không thể yên bình hành nghề bác sĩ ở thành phố và trước sau Vinh cũng phải xa mình, nhưng là xa để đi vào chiến khu. Cô không ngờ, không nghĩ tới Vinh lại xa và đến chia tay mình với bộ đồ của sĩ quan ngụy thế này. Phải một hồi lâu, Bạch Hồng mới định thần nói tiếp được với Vinh trong nước mắt: “Anh Vinh ơi! Nếu anh đã thực lòng và còn yêu thương em thì hãy trút bỏ bộ đồ này tại đây và trốn ngay vào chiến khu làm bác sĩ cho Quân giải phóng đi. Chỉ có thế thì cả cuộc đời mình, anh và em mới dám ngẩng mặt lên nhìn bạn bè và mọi người. Có thế đôi mắt em mới sáng lên, không bị là kẻ đui mù bởi đã nhìn lầm anh. Bài thơ chúng ta đang viết cũng thế. Nó chỉ nên thơ và hoàn chỉnh khi anh đúng là Hoàng Vinh như trái tim em đã mách bảo”.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:10:16 PM

Hoàng Vinh đã lường trước phút chia tay phải nén chặt nỗi đau và đầy nước mắt này. Nhưng anh không thể nào đảo ngược, thực hiện được mong muốn và lời khuyên của Hồng. Và anh cũng chỉ nói được rất ngắn với cô : “Em phải hiểu cho cái khó của anh lúc này. Hẳn em cũng biết rõ, tất cả các sinh viên đã tốt nghiệp đại học ở Việt Nam Cộng hòa nếu không muốn làm lính theo chế độ quân dịch đều phải vô làm sĩ quan trong quân đội. Nhưng dù thế, anh tin và mong rằng chúng ta sẽ sống xứng đáng và chung thủy với nhau suốt đời”. Biết rằng nói thế, Bạch Hồng vẫn không thể nào thông suốt, yên lòng. Nhưng Vinh không còn biết làm gì hơn để Bạch Hồng bình tâm, không thất vọng và mất niềm tin với mình lúc này. Sẽ rất dễ dàng giải tỏa và còn làm cho Hồng sung sướng, tự hào sẵn sàng chấp nhận mọi thử thách, âm thầm chờ đợi, để cùng anh đi đến mọi bến bờ, nếu như Vinh nói thật hết lý do vì sao anh phải xung vào đội ngũ của ngụy quân Sài Gòn. Nhất là vì sao mới một tuần chưa gặp nhau anh đã mang lon, khoác áo sĩ quan. Nhưng anh không thể nào nói được điều đó với Bạch Hồng, dù Hồng sẽ là bạn đời, là người đồng chí rất yêu quý tin cậy. Bởi đây là nguyên tắc hàng đầu trong hoạt động tình báo mà anh đã được huấn luyện, thử thách ngay từ anh đang còn là sinh viên trường Đại Học Y khoa Sài Gòn. Việc anh vô làm sĩ quan quân y của quân lực Việt Nam Cộng hòa, về mặt sau của nó chỉ có hai đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương) và Lê Thanh Vân (Sáu Ngọc) - trưởng phó Ban An ninh T4 trực tiếp chỉ đạo phương án tung anh vào mai phục lâu dài trong lòng địch được biết.

Do biết rõ ý định, quan điểm, tư cách của Vinh và lai lịch gia đình anh mà lãnh đạo T4 đã “ươm mầm” ngay từ khi, Hoàng Vinh còn là sinh viên. Về lai lịch gia đình anh quả đúng là một “điểm tựa” hiếm có để anh dễ tiến thân cho chế độ Việt Nam Cộng hòa. Đấy là anh trai của Vinh đang lành Đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ nội các Nguyễn Văn Thiệu, chị gái anh là trợ lý đặc biệt cho Chủ tịch Thượng viện Quốc hội Sài Gòn. Cha anh trước khi qua đời là Thứ trưởng Bộ Giáo dục thời Ngô Đình Diệm, những người thân đó của Vinh đều là người của cách mạng đã ẩn tích từ lâu khá yên ổn được tín nhiệm trong chính quyền Sài Còn.

Dựa vào lợi thế đó và nhằm đúng cơ hội Hoàng Vinh vừa tốt nghiệp bác sĩ, hai đồng chí Mười Hương và Sáu Ngọc đã tung Vinh vào nằm vùng mai phục lâu dài trong lòng địch với vỏ bọc là một sĩ quan quân y của sư đoàn thủy quân lục chiến. Chính vì bị lừa bởi “tấm áo khoác” ngoài khá quyền quý, trong sạch này của Hoàng Vinh, tướng Bùi Thế Lân đã không cần phải thẩm tra, đắn đo gì về lý lịch của Vinh mà còn tìm cách tiếp nhận Hoàng Vinh một cách hợp lý và nhanh nhất. Với Vinh, tấm bằng bác sĩ ngoại khoa lúc này cũng thêm lợi thế để tướng Lân dễ dàng nhận anh. Có thêm anh, nhiều binh sĩ bị thương mà họ đang nằm đầy ứ ngoài các phòng phẫu thuật sẽ mau được mổ xẻ, cứu chữa. Nghĩ tới lợi thế này, bây giờ Hoàng Vinh mới cảm phục, hiểu rõ vì sao khi mình thi đậu vào Đại học Y khoa, đồng chí Sáu Ngọc đã đặt rõ yêu cầu là phải học ngoại khoa. Không những thế phải học giỏi, nhất là giỏi về môn giải phẫu. Với trí thông minh và cả quyết tâm phải học giỏi bởi trách nhiệm trước tổ chức, anh đã được tướng Lân bổ nhiệm làm bác sĩ trưởng ở Lữ đoàn 38 ngay khi mới vô sư đoàn thủy quân lục chiến.

Từ một bác sĩ mới ra trường và đang cùng với Bạch Hồng sát cánh trong các phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên, Hoàng Vinh đã ngoặt bước trở hành bác sĩ quân y ở một đơn vị đặc biệt trong quân ngụy Sài Gòn diễn ra rất nghiễm nhiên bằng sự nhìn xa “ươm mầm” và sắp xếp của Cách mạng, cụ thể là của lãnh đạo An ninh T4 như vậy làm sao Hoàng Vinh có thể nói được với Hồng. Và khi nhìn thấy “tấm áo khoác ngoài” này của anh, làm sao Hồng không buồn giận, thất vọng, không dằn vặt suy nghĩ, đặt ra bao câu hỏi về anh. Trong các câu hỏi không tự giải đáp được đó, có lúc Bạch Hồng đã nghi hoặc: “Khoác bộ đồ sĩ quan ngụy này, phải chăng Hoàng Vinh đang làm một việc gì đó bí ẩn?”. Nhưng vừa chợt nghĩ tới giả thiết đó cô lại phủ định: “Nếu thế anh phải cho mình biết, vì mình đã là của anh...”.

Trong lúc Bạch Hồng đang đau khổ, thất vọng, chưa lý giải được nguyên do vì đâu thì bao lời chê trách, mỉa mai về hành động phản bội của Hoàng Vinh trong các bạn cùng hoạt động lại liên tiếp bay tới tai Hồng: “Thằng giả nhân, phản bội. Bây giờ Tư Vinh mới lộ mặt công khai theo giặc. Lâu nay chúng ta, nhất là em có mắt mà như đui. Em yêu nó là tiếp tay cho nó phá hoại cách mạng, tổ chức sẽ bị lộ. Sau này em có hối hận cũng không kịp”. Những lời nói căm giận đó đã như những ngọn roi tới tấp quất vào mặt, vào trái tim của Hồng. Và Hồng càng đau lòng hơn khi các bạn cùng phẫn nộ biết tin Vinh đã tự nguyện ra tuyến lửa Quảng Trị, nhất là khi Vinh được tướng Bùi Thế Lân tuyên dương, ban cho ân thưởng đặc biệt, tận tay gắn huy chương cho Vinh tại mặt trận.

Trước những sự tác động liên tiếp đó, đã đau khổ, Bạch Hồng lại càng tủi hổ, xót xa. Cô như đang một mình trên con thuyền xoay tròn giữa biển khơi đầy sóng gió. Không còn cách nào hơn để tự giải tỏa cho mình, Hồng đã bí mật rời Sài Gòn tìm vô chiến khu, mong qua tổ chức sẽ biết được nguồn gốc về hành động hiện tại của Vinh, vì cô vẫn không tin Vinh lại có thể đi theo địch. Vô đây Hồng coi như vô nhà mình, bởi việc hoạt động cách mạng của cả gia đình cô, nhiều đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, Thành đoàn đều biết. Thế nên chẳng những Hồng đã thông thuộc cách vô đây mà còn tin rằng mình sẽ đạt được ý định. Nhưng bằng cả phương cách này, Bạch Hồng cũng vô vọng. Tất cả các đồng chí gặp Hồng ở đây đều không biết hoặc có biết thực chất về Hoàng Vinh cũng không ai được phép nói rõ với Hồng. Ngược lại, lòng tự trọng của Hồng càng bị xúc phạm nặng nề, bởi cô lại nhận thêm những lời chê trách và phẫn nộ đối với Vinh của một số bạn quen biết cả hai người. Hồng càng buồn giận Hoàng Vinh. Tuy vậy, Hồng không lúc nào quên được Vinh. Hình bóng anh vẫn cứ luôn ngự trị trong trái tim cô. Nhưng lạ thay, trái tim Hồng đã như hóa đá với tất cả bọn họ. Trong lòng cô vẫn không một ai thay thế được Vinh. Nếu Vinh là một người khác thì cô đâu phải để cho trái tim bị ràng buộc, vò xé, đau khổ không dứt ra như vậy. “Sẽ dứt bỏ ngay không nuối tiếc kẻ phản bội để chỉ đau một lần rồi cho tâm hồn thanh thản”. Nhưng khổ tâm, khó xử và trong lòng không dứt giằng xé đối với cô, kẻ ấy lại là Hoàng Vinh, một người tốt, người đàng hoàng mà trong mắt cô anh đã là thần tượng về mọi mặt.

Qua nhiều nguồn tin và tự lòng mình suy ra, Hoàng Vinh hiểu rất rõ tâm trạng đó của Hồng. Đây cũng là nỗi đau luôn canh cánh, bức xúc trong lòng Vinh, bởi anh rất thương Hồng phải một mình đương đầu với “đòn sét đánh” quá sức chịu đựng. Và cũng luôn phấp phỏng lo rằng, với sự thất vọng lớn lại liên tiếp bị tác động từ nhiều phía, kể cả gia đình Hồng về “tấm áo khoác ngoài” này của anh, anh sẽ mất Hồng. Nhìn thấy rõ hậu quả có thể phải nhận đó, nhưng lúc này anh cũng đành chịu bó tay. Ngay cả thư từ bình thường để chứng tỏ anh vẫn luôn thương nhớ Hồng cũng không được phép viết. Có lúc vì quá thương Hồng tâm hồn luôn bị vò xé và cũng sợ bị mất cô, anh định giấu cấp trên bí mật tiết lộ về “vỏ bọc” của mình với Hồng, nhưng ý thức kỷ luật của một chiến sĩ tình báo đã chặn liền ý nghĩ này lại. Mọi việc đành phải để nó diễn ra đúng như hiện tại và chỉ còn biết chờ đợi, tin vào một thời điểm nào đó trước mắt Hồng sẽ ướt đẫm ngực áo anh vì sung sướng bởi đã hiểu rõ được sứ mạng và sự hy sinh của anh. Chỉ có điều, anh được an ủi là từ những lời chê trách, miệt thị của các bạn và nỗi đau đó của Hồng đã làm cho cái “vỏ bọc” của anh thêm dày, thêm chắc; đôi mắt, đôi tai tình báo của anh càng tăng dần, rộng hướng. Rõ ràng từ sau khi tấm huy chương được tướng Lân trực tiếp gắn cho anh giữa trận tiền và tờ báo Chính Luận có bài viết ca ngợi, tuyên dương anh là “một bác sĩ quân y anh hùng” không chỉ đã làm cho các sĩ quan binh sĩ lữ đoàn nhìn Vinh bằng con mắt nể trọng, mà anh còn tiếp cận, quen thân được với nhiều sĩ quan có vị thế trong sư đoàn. Với một bác sĩ trẻ lãng mạn, tài hoa, lại là “con ông cháu cha”, nhưng dễ hòa mình như anh, họ đều mau gần gũi, thân tình. Qua họ, anh đã có trong bộ nhớ của mình nhiều tin hệ trọng trong sư đoàn, trong đó có tin còn mang tầm lớn góp phần thêm vào công tác tình báo của anh. Từ đó Hoàng Vinh đã chọn lọc, cung cấp cho An ninh T4 nhiều tin tình báo quan trọng. Từ nguồn tin báo này, ngay tại Quảng Trị nhiều trận quân ta đã chủ động tấn công địch thắng lớn hoặc tránh được tổn thất cho ta. Có khá nhiều chiến công thầm lặng như thế, nhưng đây vẫn không phải là nhiệm vụ thường nhật đối với Vinh. Tiếp tục củng cố cho cái “vỏ bọc” thật dày, thật chắc với hướng trường kỳ ẩn tích trong lòng địch vẫn là nhiệm vụ chủ yếu của anh. Bằng chí kiên định, trí thông minh, phong cách Nam bộ và công việc bác sĩ của mình, Vinh đã thực hiện xuất sắc các yêu cầu của T4 với nhiệm vụ chủ yếu này.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:10:45 PM

Tuy vậy trong tình huống cấp thiết để tránh được tổn thất lớn cho ta, Vinh vẫn tìm cách thông tin tình báo kịp thời như hôm anh giả vờ say rượu. Hôm ấy anh được gọi đến chăm sóc sức khỏe cho một tên phản bội chiêu hồi. Ở đây Vinh được chứng kiến y đã khai nhiều điều bí mật của quân Giải phóng bên bờ Bắc sông Thạch Hãn cho những tên tình báo Sài Gòn. Thấy rõ là quân ta sẽ bị thương vong lớn nếu không biết những điều bí mật này đã bị lộ, nhưng anh lại không thể liên lạc được với lực lượng cách mạng ở địa phương nên ngay sau khi ở đây ra, anh đã kéo một số lính ra quán nhậu như mọi lần. Có điều lần này, anh đã uống nhiều rượu rồi giả vờ say nói huyên thuyên về cả lời khai của tên chiêu hồi với ý nghĩ là tai mắt tình báo nhân dân của ta sẽ biết ngay nguồn tin lợi hại này mà kịp thời báo cho phía ta ở bên kia bờ sông. Quả nhiên, lần say rượu này, Vinh đã đạt được ý định từ cái đầu tỉnh táo, thông minh không say của mình.

Hoàng Vinh phải khoác áo sĩ quan chế độ Sài Gòn và những chiến công thầm lặng như thế làm sao Bạch Hồng có thể biết được? Cũng như thế trong cuộc Tổng tiến công mùa xuân năm 1975, khi bọn ngụy quân Sài Gòn bị Quân giải phóng đánh cho tan tác, lũ tướng tá chỉ huy của chúng đã bỏ lính cao chạy thoát thân, cô làm sao biết được Hoàng Vinh đã bằng uy tín của mình và nhân danh sự tồn tại của người lính Cộng hòa, anh đã ngầm làm công tác binh vận rất hợp tình, đúng lúc, phá rã được một tiểu đoàn trong sư đoàn thủy quân lục chiến. Tiếp đó, khi bọn ngụy ở đây trong tình thế hoảng loạn cao độ, Hoàng Vinh đã nâng tài nghệ binh vận của mình ở mức cao hơn để hơn một trăm binh sĩ trong sư đoàn đã theo anh về đầu hàng Cách mạng.

Thời điểm này, Hoàng Vinh vứt bỏ bộ đồ sĩ quan ngụy. Nhưng anh đã không thể về được với Bạch Hồng ở Sài Gòn mà lại mang ngay bộ áo trắng của thầy thuốc vào làm việc cho một bệnh viện ở Đà Nẵng theo yêu cầu của Ủy ban quân quản thành phố này. Do vậy, Sài Gòn và cả miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng gần 2 tháng, khi lãnh đạo An ninh T4 đã điện đi khắp nơi tìm anh, Hoàng Vinh mới được về với “Mẹ”. Khỏi nói Hoàng Vinh đã vui sướng biết nhường nào khi anh được ghì chặt trong vòng tay các đồng chí của mình ở giữa Sài Gòn thân yêu - nơi anh đã phải giấu mình xót xa khi chia tay với Hồng và các bạn cùng hoạt động trong phong trào xuống đường ra đi trước ánh mắt khinh thường của họ. Tới lúc này, trong niềm vui lớn Sài Gòn và cả miền Nam đã rợp bóng cờ hồng, Hoàng Vinh rất khấp khởi, hy vọng chắc chắn sẽ được tổ chức cho anh nói hết được sứ mệnh của anh vừa qua với Bạch Hồng. Anh đã hình dung ra cảnh tượng tột cùng vui sướng trong giờ phút đầu tiên tái ngộ và Hồng sẽ ướt đầm nước mắt vui mừng rồi đẹp rực rỡ hẳn lên khi cô đã hiểu rõ về anh. Nhưng cũng vừa lúc về lại Sài Gòn, do yêu cầu của tổ chức, anh đã phải khăn gói vô trại học tập cải tạo bình thường như những sĩ quan khác của quân ngụy Sài Gòn, vì tổ chức vẫn cần anh trong hoạt động tình báo lâu dài. Rất thương Hồng và thương mình, nhưng đây lại là một thử thách tiếp tục về ý chí và lần nữa anh đã sẵn sàng chấp nhận với tinh thần suốt đời chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng của một đảng viên Cộng sản, một chiến sĩ tình báo Việt Nam.

Việc Hoàng Vinh phải tiếp tục ẩn tích bằng việc phải vô trại học tập, cải tạo này, tất nhiên chỉ có các đồng chí lãnh đạo An ninh T4 và anh biết. Nhưng sự hiện diện của Vinh ở Sài Gòn và anh đang phải đi học trong trại cải tạo các sĩ quan của quân đội Sài Gòn thì đương nhiên Bạch Hồng và các bạn bè của cô ở khắp thành phố đều biết.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, không phải Bạch Hồng không chờ đợi Hoàng Vinh, bởi cô vẫn hy vọng mong manh trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến Vinh sẽ đới tội lập công như một số sĩ quan khác để được Cách mạng khoan hồng. Nhưng từ lúc biết tin anh phải đi cải tạo, nhất là nghe thấy những ý kiến của bạn bè: “Thấy chưa, Vinh là đại úy ngụy thứ thiệt chứ đâu có gì bí ẩn ở cha đó. Nếu hắn là cơ sở của Cách mạng thì đâu phải đi cải tạo, hoặc có đi cũng chỉ đi học mấy ngày...” thì Hồng đã hoàn toàn tuyệt vọng, và đau đớn, tủi hổ trước bạn bè. Lúc này Bạch Hồng càng dằn vặt, đau đớn hơn với một bên là tình, một bên là trách nhiệm với tổ chức. Sài Gòn trong không khí mới đổi đời tràn đầy niềm vui hân hoan, tưng bừng như hội. Các bạn cô đổ ra đường tìm gặp lại nhau và hòa vào guồng máy sôi động của thành phố đang tắm mình trong chiến công lịch sử. Nhưng Hồng lại như một cái bóng không hồn, chẳng muốn gặp ai. Trách nhiệm bắt buộc cô phải lao vào công việc, nhưng luôn luôn mang trong lòng nỗi day dứt, đau khổ và cảm thấy bế tắc, không lối thoát.

Ở trong trại cải tạo, Hoàng Vinh đã thầm hiểu được sự vò xé nhức nhối đó trong tim Hồng. Chỉ riêng việc suốt 6 tháng anh ở đây do nguyên tắc công tác anh cũng lại không thể viết thư cho Hồng càng gây nên sự nghi ngờ đối với bạn bè, nhất là đối với Hồng. Biết thế, nhưng anh và cũng không một ai được phép nói cho Hồng hiểu về sự mai danh của anh. Anh chỉ còn chờ đợi sắp tới đây khi anh ra trại cải tạo, Hồng sẽ được giải tỏa tư tưởng bởi đến dịp này anh đã được tổ chức cho phép. Từ hôm nhận được thông báo này lòng Vinh càng rạo rực với biết bao hình ảnh hạnh phúc, tủi mừng trong những phút giây đầu tiên khi gặp lại Bạch Hồng. Nhưng khi Hoàng Vinh đang lâng lâng như thế và chỉ còn ba ngày nữa là anh được ra trại cải tạo thì cô em gái với gương mặt thất thần và hai hàng nước mắt ròng ròng đã mang đến tới anh một tin như sét đánh: “Bạch Hồng đã quyên sinh đêm qua rồi!”. Vinh choáng váng, trời đất như quay cuồng, sụp đổ trước đôi mắt tối sầm của anh. “Trời ơi! Bạch Hồng em ơi! Đây là sự thật ư?”. Hoàng Vinh nấc lên không nói thành lời rồi gục xuống chết lặng hồi lâu, một biểu hiện chưa từng có bao giờ ở một con người cứng rắn, giàu nghị lực như anh. Trái tim anh như có hàng trăm mũi kim đâm vào khi nghe cô em nói tiếp: “Chị Bạch Hồng đã kết liễu đời mình bằng giấc ngủ dài vĩnh viễn. Chỉ khác giấc ngủ bình thường là trên đầu giường có một bó hoa hồng trắng và bài thơ anh và chị đang làm dở. Không một lời nào để lại ngoài hai di vật đó”.

“Ôi đau đớn, oan nghiệt quá Bạch Hồng ơi!”. Vinh nghẹn ngào thốt lên và anh hiểu ngay, chỉ với hai di vật đó, nó đã là tất cả những lời Bạch Hồng cần nói lại với anh, với đời. Đúng lúc Hoàng Vinh đang đau xót cao độ và tâm trạng như tơ vò đang định đi xin được ra trại sớm mấy ngày để về tiễn đưa Bạch Hồng thì đồng chí trưởng trại cùng ba người nữa mà Vinh chưa quen biết xuất hiện trước mặt anh. Tất cả đều nhìn anh bằng ánh mắt đầy cảm thông, quý trọng. Chỉ ít phút sau, anh đã hiểu ra: “Thành ủy đã chỉ thị cho An ninh T4 và Thành đoàn phải cử cán bộ xuống ngay trại cải tạo đón anh về để làm tang lễ cho Bạch Hồng”. Rời trại - nơi suốt nửa năm nay anh đã hoàn toàn bị cách biệt với cuộc sống bên ngoài - Hoàng Vinh bước lên xe theo những bàn tay đón đỡ của các đồng chí mình mà như bước trong mây. Suốt mấy năm liền, anh chỉ gặp Hồng trong những giấc mơ và trong tưởng tượng, với những day dứt, nhớ thương khôn xiết, bây giờ về đến nhà em, Hoàng Vinh đã xô mọi người lao tới ôm chầm lấy em mà gào khóc gọi tên em. Nhưng Bạch Hồng đâu còn nói, còn cười, còn âu yếm ngắm nhìn và nghe được tiếng anh gọi nữa. Em chỉ còn là một thi thể lạnh giá, bất động trong vòng tay của anh. Chỉ còn có linh hồn em thấu hiểu và nghe được tiếng khóc thống thiết của những người thân bỗng rộ lên lúc này. Nhìn cảnh thương tâm ấy, nhất là lúc Hoàng Vinh trong bộ đồ tang, hai tay ôm di ảnh của Bạch Hồng lặng lẽ đơn côi đi trước linh cữu em, tất cả những người có mặt đã không ai cầm được nước mắt.

Cho đến lúc buộc Hoàng Vinh phải lộ diện để linh hồn Bạch Hồng được thanh thản này, gia đình Hồng và bạn bè mới biết rõ đích thực Hoàng Vinh là ai, biết được sứ mệnh cao cả của Vinh với đất nước mà anh đã phải chịu mọi hy sinh, trong đó hy sinh lớn nhất, đau đớn nhất là đã mất Hồng. Anh đã vì sứ mệnh thiêng liêng này mà đã không bộc lộ được với Hồng để cô - một “bông hoa” trong trắng, ngát hương phải tức tưởi lìa đời. Từ thầm biết như vậy nên đã thương xót cho cuộc đời bất hạnh của cô, lúc này mọi người càng xót xa, thương cảm cho cả Bạch Hồng và Hoàng Vinh. Càng tiếc đau cho mối tình cao đẹp của hai bạn trẻ, hai chiến sĩ cách mạng đã tắt lửa giữa chừng trong cảnh bi ai đầy nước mắt. Cũng qua những dòng nước mắt ấy, bây giờ các bạn bè thân thiết của anh và Hồng không chỉ thương cảm mà đã nhìn anh bằng ánh mắt đầy cảm phục, quý trọng. Nhưng Hoàng Vinh không hề để ý đến những chuyện đó, tâm trí anh chỉ còn hình bóng của Hồng và nỗi đau xé lòng đang cồn lên không ngớt. Nỗi đau này chỉ nhẹ vơi đôi chút khi một mình anh lẳng lặng ra mộ Hồng với bó hoa hồng trắng và nắm hương trên tay ngay chiều tối hôm ấy. Lúc này đã tắt hẳn hoàng hôn. Không riêng nghĩa trang vắng lặng mà cả đất trời cũng như chỉ còn có anh và Bạch Hồng đang hiện lên từ tấm hình Hồng anh đem theo đã đặt trên mộ ngay trước mặt mình. Bây giờ hai mắt anh mới nhòa đi để nói hết những điều bí ẩn xuất phát từ sứ mệnh thiêng liêng của anh với Tổ quốc và sự vò xé nỗi nhớ thương Hồng mà suốt mấy năm xa em anh đã phải nuốt kín không nói được với Hồng. Tiếng rì rầm của anh đã quyện vào khói hương tỏa lên trọn vẹn trên tấm di ảnh mà anh thấy cả đôi mắt của Bạch Hồng như đang nhòa lệ. Và lạ chưa, khi anh rạp người, hai tay bấu chặt xuống mộ Hồng và nấc lên trong nỗi đau mất em thì từ nắm hương của anh cắm giữa đám chân hương ban sáng ở trước di ảnh Bạch Hồng bỗng bốc lửa sáng bừng. Từ trong ánh lửa soi rõ cả hai gương mặt ấy, anh thấy như Bạch Hồng đang mỉm cười với anh, như Bạch Hồng đã nghe rõ hết cả lời mình đang nói với em: “Ôi, thế là từ lúc này lòng em đã thanh thản. Chỉ còn nỗi đau mãi mãi không tan là em đã bạc mệnh để anh phải vĩnh viễn mất em. Là chúng ta phải chia lìa, xa nhau để bài thơ Hồng Bạch mãi mãi dở dang và anh phải mang trái tim đau buốt suốt đời, Bạch Hồng, em ơi!”.

Buổi trò chuyện với Bạch Hồng đêm ấy đã trôi qua gần 30 năm. Nhưng đến nay chiến sĩ tình báo Hoàng Vinh vẫn không quên nấm mồ phủ kín màu hoa trắng và ánh lửa soi rõ gương mặt Bạch Hồng và cả nỗi lòng mình đêm đó.

T.p Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2002


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:28:30 PM

CÁNH ÉN MÙA XUÂN

Chiếc xe Ford màu xanh cánh trả - màu sơn dành riêng cho các loại xe của Không quân Sài Gòn - êm ả lượn một vòng quanh dinh Độc Lập.

Giữa dòng xe và người, nét mặt người lái xe mỗi lúc một tươi hơn trước, xung quanh là những nụ cười và những bàn tay vẫy vẫy. Giữa những bàn tay vẫy ấy có cả tiếng reo:

- A, không quân giải phóng!

- Hoan hô không quân giải phóng!

Lúc ấy, đôi mắt anh lại càng lấp lánh. Bữa nay trong bộ quân phục giải phóng bằng loại vải mịn mỏng còn mới tinh, trông anh khỏe khoắn hơn. Tuy vậy, qua diện mạo bên ngoài, người ta vẫn thấy ở anh còn nhiều nét mang dáng dấp của một thanh niên Sài Gòn. Anh có nét mặt thanh tú, nụ cười trẻ trung, đôi mắt trong sáng và giọng nói từ tốn, nhỏ nhẹ rất dễ thương. Chính anh cũng vừa đưa tay lái cho xe đi qua Trường Đại học Khoa học, nơi cách đây 7 năm anh là sinh viên năm thứ hai.

Người lái xe ấy là Nguyễn Thành Trung - phi công đã ném bom xuống dinh Độc Lập.

Bằng chiếc xe này, chỉ có hai anh em, mấy hôm nay tôi đã được Trung đưa về Bến Tre, Mỹ Tho, Cần Thơ thăm quê hương nội ngoại, gia đình, vợ con anh. Thú vị nhất là được Trung cho tiếp cận cái kho báu như được gặp chú Nguyễn Hữu Chí, tức Tư Chí - một cán bộ chỉ đạo của Binh vận Miền đã dìu dắt Trung từ ngày đầu hoạt động cách mạng, hiện giờ đang là Bí thư quận ủy Tân Bình nên tôi càng như đã sống bên Trung từ lâu.


* Nước mắt trong “Phủ đầu rồng”

Sáng nay, Trung vừa về lại và đưa cho tôi tấm bản đồ trận đánh. Nơi hai trái bom Trung đáp xuống đó, anh vẽ thành hai vòng tròn nhỏ rất đúng với vị trí địa hình. Lúc ấy, Trung cứ xuýt xoa: “Giá hai trái bom ấy trúng Nguyễn Văn Thiệu cả thì hay biết mấy!”.

Giờ đây, khi đang đi bên những hố bom ấy, tôi lại càng nhớ tới buổi gặp chú Tư. Bao chuyện lý thú, có chuyện tưởng như thần thoại về sự tài tình của cách mạng. Chú biết khá nhiều điều bí mật ở “Phủ đầu rồng”. Thứ nhất, chú Tư tả nỗi khiếp sợ kinh hoàng của Nguyễn Văn Thiệu khi Trung giáng bom xuống dinh hắn sớm ngày mồng 8 tháng 4 năm 1975.

Tối hôm ấy, từ Phan Rang, Phan Thiết, đại quân ta đang tiến vào, toàn bộ miền Trung với cả một vùng đất đai rộng lớn đã được giải phóng.

Thiệu hoang mang nao núng lắm. Nhưng hắn vẫn tin còn có Sài Gòn và cả một vùng Đồng bằng sông Cửu Long giàu có, còn tới gần một triệu quân và nhất là vẫn còn tới gần 5 sư đoàn không quân - loại con cưng thân cận nhất của hắn. Vì thế, tối tối Thiệu vẫn về biệt thự riêng ở gần Bộ Tổng tham mưu. Tuy nhiên, mỗi sáng tới dinh Độc Lập hắn lại đi theo một lối riêng không theo quy định nào.

Bữa ấy gần 8 giờ Thiệu mới tới, vào dinh qua lối cổng bên. Hắn không đi lên phòng ngủ ở lầu ba như thường lệ. Nơi đó ngoài mụ Sáu - vợ hắn - chỉ có một hạ sĩ, người nhà của mụ được lui tới hầu hạ. Hắn vào ngay bàn giấy. Vũ Quang Chiêm chánh võ phòng đã có mặt từ lâu đợi Thiệu. Thấy Chiêm mặt mày ủ rũ, tay cầm một tập công văn, giấy tờ, Thiệu đã nghĩ ngay tới những chuyện chẳng lành như đã diễn ra gần một tháng nay. Đấy là những bản báo cáo từ bên Bộ Tổng tham mưu về một tỉnh hoặc những quận lỵ, chi khu mới bị mất thêm. Hoặc đấy là sự trả lời mới nhất về khoản chi viện trợ khẩn cấp quá ít ỏi mà bên tòa đại sứ Mỹ vừa báo sang.

Thiệu ra vẻ thản nhiên hỏi Chiêm:

- Có chuyện chi mà coi bộ không vui vậy ông đại tá?

- Thưa Tổng thống, không ạ. Chiêm vội vàng trấn tĩnh rồi nói tiếp về tin chiến sự mới ở Phan Rang, Phan Thiết, về hai mũi tiến quân lớn nữa của Cộng quân ở phía Đông Sài Gòn.

- Còn gì nữa? - Thiệu hỏi.

- Dạ, còn có bản ghi lại lời mấy ông đại tá thất thủ ở Đà Nẵng kêu gọi sĩ quan binh lính chúng ta, xin trình Tổng thống tường.

- Lũ chó má! - Thiệu ném tập giấy xuống bàn. Hai má Thiệu rung rung rồi phun ra thành lời - Chúng ta đã phí cơm nuôi những tên sĩ quan hèn hạ ấy. Thật là họa vô đơn chí! Đã mất thêm mấy tỉnh nữa lại còn...

Thật vậy, Chiêm chỉ còn biết đứng nghiêm cứng người.

Cơn thịnh nộ vừa nguôi thì bỗng nhiên có tiếng máy bay phản lực gầm rít trên đầu. Bầu trời như bị xé ra. Thiệu vừa mới kịp chột dạ thì hai tiếng nổ như sét đánh giáng xuống tòa nhà. Cả tòa nhà rung lên. Khói bụi mù mịt. Những tấm cửa kính bị giật vỡ tung ra.

Mặt Thiệu xanh xám rồi vàng bệch ra. Chân hắn tự nhiên bị xiêu vẹo, miệng lắp bắp nói không ra lời: “Đảo chính! Đảo chính!”. Và hắn lúng túng như gà mắc tóc, không biết chui vào đâu. Xung quanh Thiệu, tất cả nhốn nháo. Pháo phòng không trên nóc nhà quanh dinh Độc Lập bấy giờ mới cập rập nổ được mấy tràng. Giữa lúc đang bàng hoàng cực độ ấy, tiếng gầm rít ghê sợ của chiếc phóng pháo lại tới. Và rồi, một tiếng nổ rất kinh khủng, tòa nhà như rung lên bần bật. Mắt Thiệu hoa lên. Thiệu sợ cả tên sĩ quan cận vệ vào cứu hắn. Nhưng bây giờ hắn chỉ còn biết để mặc cái xác nặng nề theo tay viên trung tá...

Đấy là lúc hai trái bom đợt sau của Nguyễn Thành Trung đã ném trúng tòa nhà Thiệu làm việc. Chỉ có một trái nổ, nó xuyên sâu xuống tầng hai.

Đã náo động cả thành phố Sài Gòn lúc này càng náo động hơn trước cột khói đen cuồn cuộn bốc lên cao giữa dinh lũy của Thiệu. Xe cứu hỏa, xe cảnh sát, xe quân cảnh rú còi phóng như điên loạn.

Trông lúc ấy Thiệu thật sự tiều tụy. Bộ đồ trắng hắn mặc lọ lem. Hết tiếng máy bay lâu rồi, Thiệu vẫn còn nguyên trong xó hầm.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:30:33 PM

Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân đội ngụy hốt hoảng phóng xe tới. Nhưng Viên chờ đợi rất lâu, Thiệu vẫn chưa dám lên phòng khách Tổng thống.

Viên gọi điện rồi đưa thư xuống. Thư, điện, chờ đợi đều uổng công. Thiệu không trả lời. Lòng Thiệu rối bời, chẳng còn biết tin ai. Hình ảnh Ngô Đình Diệm bị giết ngày 1.11.1963, sau đó là cuộc đảo chính hiện ra rất rùng rợn trước mắt Thiệu... Mãi hơn một giờ sau, lúc dứt tiếng bom và những lời lẽ rất thống thiết của Viên chuyền xuống, Thiệu mới dò bước lên. Đi bên Thiệu là hai viên sĩ quan cận vệ, tay sẵn vào cò súng. Vừa thấy Viên, nước mắt Thiệu đã rơi lã chã:

- Ông Viên! Tôi đối với quân đội các ông có đến nỗi nào mà các ông định giết tôi?

- Thưa Tổng thống! Tổng thống hiểu cho đó chỉ là hành động riêng lẻ. Còn chúng tôi, quân đội của Tổng thống vẫn một mực trung thành với ngài.

Viên nói xong cả hai cùng lau nước mắt.

Bây giờ Thiệu mới tạm hoàn hồn. Hắn ngước nhìn lên. Lá cờ vàng “Tổng thống” vẽ diều hâu chân quắp kiếm với sáu chữ “Danh dự, Trách nhiệm, Tổ quốc” lúc này bị sức chấn động mạnh đã bật lên rũ xuống quá nửa.

Rồi chẳng kịp ăn trưa, hắn vội vã ra trấn an dư luận. Đấy là lúc bà con ta thấy Thiệu xuất hiện trên màn ảnh vô tuyến truyền hình với bộ mặt và lời lẽ cố giấu sự sầu bi.

Nhiều người tưởng Thiệu hết đời bán nước đã mừng hụt, nhưng trông bộ mặt bi thảm của Thiệu cũng tạm hả lòng, nhất là lúc nghe cái giọng ấp úng của hắn:

- Thư...a đồng bào! Hôm nay lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa chúng ta đã xảy ra một chuyện không hay và đáng tiếc. Một hoa tiêu1 với hành động riêng lẻ cá nhân đã ném bom xuống dinh Độc Lập định giết hại tôi. Nhưng ơn bề trên, tôi và gia đình tôi vẫn bình an. Vậy tôi xin...

Sau Thiệu lại đến Cao Văn Viên. Viên ra bộ chững chạc hơn trong bộ quân phục màu xám, có bốn ngôi sao đen trên ve áo. Như trên sân khấu, người ra trò sau thường đỡ ngượng hơn kẻ ra trước, và cũng để gỡ lại cái vẻ mặt còn quá hốt hoảng lúc trước của Thiệu, Viên thong thả rút bài nói trong túi áo ra. Nhưng trên màn ảnh tivi, Viên chỉ đặt bài ra cho oai, chứ y chẳng đọc, mà lại lải nhải nhắc lại những ý như Thiệu đã nói. Có điều khác hơn, sau khi thanh minh cho quân lực Việt Nam Cộng hòa, y lên mặt răn đe những kẻ nào có hành động chống đối lại Tổng thống. Viên muốn công khai trước dư luận về tấm lòng trung thành của hắn với Thiệu.

Bà con miền Nam tưởng thấy mặt hai tên đầu sỏ ngụy quyền, ngụy quân hoảng hốt sau tiếng bom của Nguyễn Thành Trung trên tivi thế cũng đủ. Không dè sau Viên, tướng Trần Văn Minh, Tư lệnh không quân lại xuất đầu lộ diện. Bộ mặt lưỡi cày với hàng ria con kiến của hắn lúc này càng đầy vẻ hài hước nhưng không giấu nổi sự hoang mang tột độ - không phải vì chết hụt như Thiệu mà vì sợ cái chức Tư lệnh không quân của mình rồi sẽ ra sao. Lo cho số phận mình, hắn đã phải trổ hết tài ba hoa để điều trần trước dư luận về lòng trung thành của không quân với Tổng thống...

Một ngày sau khi bọn Thiệu thi nhau làm cho hãng truyền hình ở Sài Gòn thêm đắt khách đó, chúng liền họp Hội đồng An ninh quốc gia cũng là vì chuyện tiếng bom của Nguyễn Thành Trung. Bởi thế, tướng Minh không có chân trong Hội đồng cũng được mời về dự. Tờ báo Trắng Đen ở Sài Gòn đăng tấm ảnh bọn chúng họp đã vạch một gạch đậm dưới gáy tướng Minh. Trước lúc chúng họp bàn chuyện an ninh quốc gia đó, Thiệu đã lệnh cho Cao Văn Viên điều một đơn vị công binh tinh nhuệ về dinh Độc Lập cấp tốc hàn lấp lại những nơi vừa bị bom phá hủy và cũng là để hàn lấp dư luận. Hắn cấm ngặt các nhà báo không ai được tới.

Cùng trong ngày, Trần Văn Minh được “đặc ân” mời về dinh Độc Lập họp Hội đồng An ninh quốc gia, hắn đã phải vội vã xuống Sư đoàn 3 không quân ở Biên Hòa trấn an tinh thần binh sĩ.

Ở đây, chuẩn tướng Huỳnh Bá Tính, Tư lệnh Sư đoàn vừa bị triệu về Bộ Tổng tham mưu và cơ quan An ninh quốc gia thẩm vấn. Còn đại tá Nguyễn Văn Lê, Tham mưu phó hành quân và Võ Văn Sĩ, Không đoàn trưởng Không đoàn 450 (đơn vị có Nguyễn Thành Trung) cũng đã được “mời” lên trình diện tại Bộ Tư lệnh Không quân. Trong khi ấy, phi tuần trưởng Ngô Hoàng và hoa tiêu Nguyễn Văn Lượm đã được Minh cho đi “nghỉ” ở nhà đá.

Mọi lần đến Biên Hòa, Minh thường dừng lại ở nơi hai chiếc máy bay triển lãm truyền thống Moran và T28 ở trước cửa nhà Bộ Tư lệnh Sư đoàn 3. Đấy là biểu tượng sự kế thừa của không quân ngụy đã từng là lũ đánh thuê cho thực dân Pháp rồi sang đế quốc Mỹ mà chính Minh đã xuất thân từ một tên lái máy bay trinh sát chỉ điểm cho Pháp từ xưa. Tên tay sai mẫn cán của hai chủ Pháp, Mỹ ấy tới đây thường ngắm nghía hoặc chỉ vào nhưng chiếc máy bay đó mà khoa trương chiến tích với bọn đàn em.

Lần này, vừa được cơ quan An ninh Quốc gia thẩm vấn, Minh đã quên hẳn chuyện đó. Hắn không lên phòng khách ở ngôi nhà hai tầng của Sư đoàn 3 mà xuống câu lạc bộ Trần Thế Vinh2 ở phía cổng số 2. Hơn 600 tên sĩ quan, kể cả lũ hoa tiêu của Sư đoàn 3 đã có mặt chỗ y tới. Huỳnh Bá Tính và mấy viên Phó Tư lệnh Sư đoàn 3 - một sư đoàn thường vỗ ngực là con cưng của không quân vì được trao loại F.5E vẫn ngồi trên hàng ghế đầu như mọi khi. Nhưng lần này bọn Tính mặt mày đều tiu nghỉu...

Trần Văn Minh cũng không tươi tỉnh gì hơn nhưng nhìn những bộ mặt bi thảm ấy, hắn cũng gắng lên gân:

- Đây chỉ là hành động riêng lẻ, cá nhân. Việc hoa tiêu Trung ném bom dinh Tổng thống không thể làm mất được danh dự và ảnh hưởng gì xấu đến không quân ta. Các chiến hữu đừng vì thế mà lo ngại...

Y nói thế, nhưng chính lúc ấy bọn an ninh đang dùng kính hiển vi để rà kỹ lại lý lịch ba ngàn hoa tiêu theo lệnh của y. Và song song đó là một loạt qui định mới được ban hành như từ nay mỗi hoa tiêu trước khi lên máy bay đều phải xuất trình phiếu bay...

Nói tới đây, chú Tư chuyển sang kể lại với tôi quá trình chỉ đạo những hoạt động của Trung, khen Trung đã kiên định, mưu trí, giữ vững được tinh thần cách mạng trong nhiều tình huống gay go, trong đó nhiều lúc còn khá nhanh nhạy lấy được những tin tức quan trọng của địch báo được kịp thời về cho ta.
_____________________________________
1. Trong không quân ngụy thường gọi các phi công là hoa tiêu lúc không dùng tiếng Pháp: Pilot.
2. Trần Thế Vinh là một tên lính ngụy có nhiều chiến tích giết hại đồng bào ta và đã bị trừng trị.



Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:32:01 PM

Khi nói tới thời cơ và phút giây hành động của Trung mà chính chú cùng các đồng chí lãnh đạo khác trong cơ quan binh vận đã theo sát từng ngày, từng giờ, chú cười tươi hỏi tôi:

- Đồng chí hiểu rõ về Trung rồi chứ?

- Dạ, qua chú càng biết thêm nhiều hơn.

Chú Tư cười:

- Thằng nhỏ đó đâu phải họ Nguyễn.


* Nguyễn Thành Trung là ai?

Đúng như chú Tư nói, Trung họ Đinh, Đinh Khắc Chung - cái tên họ được cha mẹ đặt cho từ khi cất tiếng khóc chào đời nhưng đã phải giấu kín bởi từ một sự kiện mở đầu. Mở đầu từ ngày mồng 2 tháng 3 năm 1963.

Khi ấy Trung đang cùng anh ruột là Đinh Khắc Nhàn trọ học ở bên Mỹ Tho. Hai anh em được ba má cho lánh sang bà cô bên đó học ở trường phổ thông cấp ba Nguyễn Đình Chiểu.

Từ Mỹ Tho về nhà Trung, xã An Khánh, huyện Châu Thành, Bến Tre chừng 5 km, nhưng phải qua vựng, một trong những đoạn rộng nhất của sông Cửu Long. Bình thường sóng yên, gió lặng, đi bắc (phà) qua vựng cũng phải mất 30 phút. Chiều chiều, những lúc nhớ nhà, hai anh em Trung vẫn dẫn nhau tha thẩn ra bến bắc bên này nhìn sang bến Rạch Miễu bên kia, phóng tầm mắt qua đảo Dừa theo màu xanh của rừng dừa bát ngát ở tận xa xa, phía đó là xã An Khánh nhà Trung. Nơi ấy, cô Ba Định đã quá quen thuộc và là nơi diễn ra cuộc Đồng Khởi năm 1960. “Tổ ấm” của gia đình Trung ở đó, cạnh bờ sông. Cùng những rặng dừa là những lùm cây xoài, mận phủ kín lên mấy gian nhà nhỏ. Ở đó bây giờ chỉ còn có má và Út Xinh. Anh Hai Cần đã đi tập kết, anh Ba Trí thoát ly. Trung và anh Tư Nhàn đi lánh. Còn ba thì năm thì mười họa mới về nhà một lần, mà toàn về trong đêm. Từ khi biết nhận mặt ba đến bây giờ đã 16 tuổi, Trung mới được gặp ba có 3 lần vào ban ngày. Lần gần đây nhất là sau ngày Đồng Khởi năm 1960. Lần ấy, Trung càng thấy má và các cô các chú nói đúng. Trung rất giống ba. Giống từ vầng trán, khuôn mặt, nụ cười đôi mắt. Ba dắt Trung và Út Xinh đi thăm từng gốc cây trong vườn. Ba thương má một mình ở nhà nuôi con, lại còn phải tiếp tế cho ba. Vì thế đêm nào về nhà ba cũng xoay trần ra hì hục làm vườn, vun gốc xoài, tỉa cành mận. Cũng lần đầu tiên được nhìn ba dưới ánh nắng chan hòa và gió mát từ sông Cửu Long làm mái tóc ba lất phất bay, Trung muốn ba cứ ở bên anh em Trung mãi thế này. Ba bồng Út Xinh lên cười nói với má: “Má Xinh gắng nữa lên. Chúng ta sẽ cố cho bé Trung và Út Xinh được học hành đến nơi đến chốn. Lớn lên chắc chúng sẽ hết khổ và làm được nhiều việc cho Cách mạng. Các con ta không còn phải biệt tăm suốt năm suốt tháng như ba nó, mà sẽ sống đàng hoàng tự do...”.

Buổi sáng cuối cùng được gặp ba vào ban ngày hôm ấy, ba đã để lại trong trí nhớ của Trung những hình ảnh đẹp nhất.

Sáng nay, đột nhiên Trung nhớ ba vô cùng. Được nghỉ học, Trung rủ anh Nhàn ra bến bắc. Từ màu xanh của rừng dừa phía bên kia, hai anh em Trung đều bỗng sững người. Những làn khói đen đang cuồn cuộn bốc lên cao. Giặc đốt nhà ở xã An Khánh của Trung rồi. Chuyện đó lâu nay đã như cơm bữa đối với xã anh. Nhưng lần này linh tính báo cho anh em Trung thấy mình đang có điều gì bất hạnh lớn lắm. Trung nghĩ ngay đến đám khói đen kia chính là nhà mình. Và tự nhiên Trung lo sợ, nghĩ đến ba. Lâu nay không thấy ba về, rất có thể lần này nghe tin anh Ba Trí bị bệnh nặng phải bí mật đưa đi từ khu du kích về trị bệnh ở nhà thương tư, ba sẽ về thăm chăng?

Nghĩ tới đó, chẳng còn sợ gì nữa, hai anh em Trung chạy luôn xuống bắc sang sông. Đứng dưới bắc nhìn ngọn lửa mỗi lúc một gần, lòng Trung càng nóng hơn lửa cháy. Tới bến Rạch Miễu, hai anh em Trung chạy như bay sang bến đò ngang để về An Khánh. Nhưng mấy cô chú trong làng đã chạy tới ngăn anh em Trung lại:

- Các cháu quay lại ngay. Thằng ách Thao dẫn quân về bố nhà. Chúng đã bắn chết ba các cháu, đốt nhà và bắt cả má và Út Xinh đi rồi. Hiện giờ chúng đang đi lùng hai cháu.

Như sét đánh bên tai, anh em Trung đứng lặng người. Rồi bỗng nhiên cả hai cùng xô mọi người chạy xuống đò. Mấy cô bác thương hai đứa nhỏ nhưng cũng phải nạt nộ dắt hai anh em xuống bắc, bắt quay trở lại Mỹ Tho.

Đêm đó, bầu trời như đầy u ám. Hai anh em Trung không về nhà trọ mà đi lang thang suốt đêm.

Ba ngày sau, bà con huyện Châu Thành mới tìm được xác cha Trung - đồng chí Đinh Văn Dậu, Phó Bí thư nhưng đang quyền Bí thư Huyện ủy, rất tận tụy của mình - trên dòng Cửu Long mênh mông. Khi anh em Trung được cơ sở bố trí cho về nhà, cha anh đã được bà con lo cho yên nghỉ ở ngay mảnh vườn nhà. Tới lúc này, hai anh em Trung mới tường tận về cái giây phút trước lúc hy sinh của ba mình.

Từ sau ngày Đồng Khởi tới nay, phong trào nổi dậy của Bến Tre tuy bị Mỹ - ngụy ra sức khủng bố, nhưng cơ sở thuộc huyện Châu Thành vẫn giữ vững. Lò than hồng được tôi luyện trong đấu tranh, nhân dân huyện Châu Thành càng vững vàng. Bằng ba mũi giáp công, các đảng viên huyện Châu Thành vẫn bám sát dân, chỉ đạo quần chúng liên tục tiến công quân thù. Bọn giặc đưa quân về cào nhà, bắt dân vào khu trù mật, thực hiện tát nước bắt cá. Bà con biểu tình đấu tranh hợp pháp với giặc. Chúng càn quét khủng bố, hàng trăm tên địch đã bỏ xác tại đây. Bọn ngụy ở Châu Thành lồng lộng, tức tối. Chúng biết rằng người chủ yếu chỉ đạo phong trào đó là Tư Dậu. Vì thế, từ lâu tên ách Thao - một tên phản bội Cách mạng - đã cố công dò la tìm cách giết hại cha Trung. Hắn thuộc đường ngang ngõ tắt trong xã An Khánh như thuộc lòng bàn tay. Mãi tới dịp này Thao mới đánh hơi thấy người Phó Bí thư Huyện ủy. Ông về họp với cán bộ cơ sở ở xã. Họp xong, ông vừa rẽ về nhà để biết tin đau yếu của con thì chúng ập tới. Ách Thao đã cho quân phục sẵn quanh nhà. Biết lộ, ông vừa rút súng ra thì bọn ách Thao đã xả liền mấy loạt đạn vào cha Trung ngay trước mặt má và Út Xinh. Má không khóc. Má chồm tới ôm chặt lấy ba, chửi rủa chúng không cho chúng mang xác ba đi. Bọn ách Thao xúm vào giằng ra, má lại lăn vào. Nhưng sức má sao đọ nổi với lũ ác ôn. Chúng trói má lại, kéo xác cha ra liệng xuống sông, rồi châm lửa đốt nhà. Khi bà con kéo tới, ngọn lửa đã bùng bùng bốc cháy...

Đấy là những ngày mà tuổi thiếu niên của Trung và gia đình anh đã ghi một món nợ máu, một cái tang thương đau nhất đời.

Cũng từ ấy theo lời đề nghị thiết tha của Trung, chú Bảy Dự, bạn cùng hoạt động với ba Trung đồng ý, anh đã chuyển từ họ Đinh sang họ Nguyễn với một lý lịch mới.

Hôm đó Trung đã nằn nì xin chú Bảy mãi để được thoát ly đi giải phóng, trực tiếp chiến đấu với quân thù. Chú nghiêm trang bảo Trung:

- Cháu còn nhỏ, chiến đấu làm sao được?

Trung xịu mặt, nhưng rồi lý sự:

- Cháu nhỏ, nhưng thằng ách Thao có từ cháu đâu. Nó chẳng đã cho quân đi lùng bắt anh em cháu sau khi đã bắn ba và bắt má cháu là gì đó chú?

Chú Bảy phải nín cười:

- Chú thử cháu đó thôi. Nhưng cháu có sợ chết, nhất là có kiên trì và giữ được bí mật không?

Trung mừng rỡ:

- Được chứ chú Bảy! Nếu sợ chết cháu đã không tìm đến chú. Cháu sẽ kiên trì như ba cháu.

Trung nói xong, ngước nhìn chăm chăm chú Bảy, mong chú nói ra điều gì đó thỏa mãn yêu cầu của mình. Nhưng chú Bảy ngồi im. Trong đêm mênh mông, chú nhìn Trung rồi lại nhìn ra xa phía những rặng dừa nước mới trồng bên dòng Cửu Long. Mãi sau chú mới bảo Trung:

- Ngày còn ba cháu, các chú và ba cháu đã bàn tới đường đi của từng anh em cháu. Riêng về cháu, các chú và ba cháu đã có ý định khác hơn. Bởi ba cháu và các chú nghĩ rằng cháu có điều kiện làm được. Nhưng đấy là chuyện dài lâu mà yêu cầu của cách mạng cần phải có những chiến sĩ trong lĩnh vực đó. Tới hôm nay các chú thấy có thể trao được nhiệm vụ ấy cho cháu. Đường đi của cháu bắt đầu từ hôm nay. Nhưng nhiệm vụ trước mắt của cháu bây giờ vẫn là tiếp tục đi học.

Nghe chú Bảy nói đến tiếp tục đi học, Trung giãy nảy:

- Ôi chao chú Bảy! Cháu đến gặp chú có phải để xin tiếp tục đi học đâu.

- Thằng nhỏ này sốt tính vậy không làm được việc mấy chú trao đâu.

Như cậu học trò có lỗi, Trung hối hận với câu nói của mình, ngồi lặng yên. Một lúc sau, chú Bảy mới giảng giải:

- Không phải cháu tiếp tục đi học chỉ để có cái bằng tú tài, bằng cử nhân đâu. Cách mạng miền Nam ta còn lâu dài. Đời cha chưa hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam đời con sẽ tiếp tục. Cháu sẽ tiếp tục sự nghiệp của ba cháu. Nhưng tiếp tục thế nào, có nhiều con đường đi đến đích. Trước mắt bây giờ, cháu sẽ kế tục sự nghiệp bằng việc đi học. Ở đấy cháu sẽ tôi luyện mình trong phong trào đấu tranh với Mỹ-Diệm của thanh niên sinh viên. Cháu phải tập luyện nâng cao thể lực. Việc cách mạng sẽ giao cho cháu, ngoài tinh thần, ý chí còn rất cần có sức khỏe. Đấy là một sự tập dượt để đi tới nguyện vọng của cháu. Muốn làm được việc lớn cần phải công phu và có thời gian chuẩn bị, như hạt thóc trở thành cây lúa phải trải qua quá trình tự nảy mầm. Việc đó là của cháu, còn tìm mảnh đất nào gieo xuống, chăm bón sao cho tốt tươi, sai bông trĩu hạt là việc của các chú, của cách mạng.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:33:28 PM

Tới lúc này, giọng nói của chú Bảy càng ân cần thủ thỉ. Khi chú nói đến cụ thể hướng đi, mắt Trung càng sáng lên. Dưới bóng cây dương, hai chú cháu như hai người bạn tri kỷ ngồi mãi hồi lâu. Chú chỉ lên dải Ngân Hà trên bầu trời đầy sao, nói với Trung:

- Thiên nhiên có dải Ngân Hà kia là do hàng ngàn triệu ngôi sao hợp lại. Nhưng không phải sao nào cũng xuất hiện cho ta thấy. Cách mạng ta cũng thế. Mỗi người là một ngôi sao...

Chú Bảy ngừng lại hỏi Trung:

- Cháu hiểu lời chú nói chứ?

- Dạ, cháu hiểu.

- Thế thì bắt đầu từ ngày mai cháu không phải là Đinh Khắc Chung nữa. Cháu mang họ mới và tự quen với mình là Nguyễn Thành Trung, con ông...

Trung bồi hồi cảm động về sự chăm lo, tin cậy của chú Bảy. Mãi mãi sau này Trung vẫn nhớ như in đêm mở đầu cuộc đời hôm ấy và nhớ nhất là lời căn dặn cuối cùng của chú trong đêm đó: “Trăm con sông rồi cũng đổ ra biển cả. Cháu sẽ đi theo một dòng sông. Dòng sông ấy càng tới lúc gần biển cả càng lắm thác ghềnh. Nhưng cháu đừng lo rằng mình đơn độc. Trước hết và chủ yếu cháu phải kiên trì, khôn khéo vượt qua để ra được biển cả gặp dòng sông mà cha cháu đã đi...”.


* Bước ngoặt trong cuộc đời

Sáng mồng 8 tháng 4 năm 1975. Trời cao lồng lộng. Mấy hôm nay các không đoàn F.5 ngụy ở căn cứ liên hợp Biên Hòa có thêm nhiều phi tuần được lệnh bay đột xuất đi cứu nguy cho quân bạn. Các lực lượng vũ trang nhân dân đã đánh chiếm, làm chủ những phần đất cuối cùng của miền Trung. Chiến sự đang diễn ra ở Phan Rang, Phan Thiết. Những phi đoàn máy bay A.37 đi oanh kích không xuể. Vì thế từ hai hôm nay, không đoàn F.5E trong sư đoàn đã được lệnh tháo bỏ tên lửa không đối không trên máy bay để lắp bom vào đi oanh kích.

Sự thay đổi hiếm có đó làm Nguyễn Thành Trung thấy lòng nóng bừng. Anh thầm hy vọng: “Đây sẽ là lúc được sổ lồng tung cánh bay xa...”. Hôm nay, phi tuần của Trung cũng có phi vụ. Nhưng ác thay, phòng tham mưu hành quân lại xếp anh vào hoa tiêu dự bị của phi tuần.

Trung ở phi tuần 1. Phi tuần trưởng là Ngô Hoàng. Hoàng là người có chiều cao nhất sư đoàn, và hay cười. Có lần Trung đi chợ Bến Thành với Hoàng, hai người lạc nhau, nhưng chẳng cần phải tìm lâu. Anh đứng cao hơn một chút đã thấy ngay đầu Hoàng trồi lên giữa đám đông chen chúc. Đối với Trung, Hoàng tỏ ra thân thiết vì nể, bởi Trung là một trong số 5 hoa tiêu bay giỏi nhất của không đoàn 540. Nhưng Trung biết đó là bộ mặt bên ngoài của một tên ác ôn. Nó chửi những tên cảnh sát đánh giết người dã man, nó cười tối ngày nhưng lại rất say và lao vào bay không biết mệt trong những chuyến bay đi oanh kích giết hại đồng bào mình.

Thấy Trung đi ra đi vô nhìn trời ngó đất, Hoàng hỏi:

- Trung úy Trung! Coi bộ ông nóng lòng muốn được bay phải không?

- Trời đẹp thế này, không nóng lòng sao được Đại úy! Việt cộng đã chiếm gần hết miền Trung rồi, thế mà hôm nay tôi lại là hoa tiêu dự bị, chán thấy mẹ.

Trung trả lời phi tuần trưởng. Anh vẫn thản nhiên cười với Hoàng.

Đã sáu năm nay Trung phải trả lời, phải nói những tiếng nói ngược với lòng mình. Sáu năm, từng giây, từng phút lúc nào cũng phải bên ngoài giá lạnh bên trong nóng hồng.

Bây giờ, tuy nói chujện với Hoàng, nhưng Trung đang nghĩ lung lắm: “Thời cơ đến rồi đó! Máy bay F.5E của phi tuần mình đã lắp bom. Liệu dịp này và ngay hôm nay có cách nào để sổ lồng tung cánh hay chưa? Đây là điểm nút của bước ngoặt thứ hai trong cuộc đời mình đây...”.

Bước ngoặt thứ nhất của Trung, anh đã ghi vào ký ức mình trong buổi tối đầy xúc động, đó là ngày 31 tháng 5 năm 1969.

Qua bao lần khám tuyển thẩm tra xét duyệt, khám sức khỏe, Bộ Tư lệnh Không quân của tướng Trần Văn Minh đã chấp nhận đơn của Nguyễn Thành Trung, sinh viên năm thứ hai trường Đại học Khoa học Sài Gòn vào trường Sĩ quan không quân, đào tạo phi công. Sớm mai, ngày mồng 1 tháng 6 năm 1969, Trung sẽ lên đường, chính thức là một học viên trường Sĩ quan không quân ở Nha Trang.

Trung đang băn khoăn có nên về nhà chào tạm biệt má hay không thì đồng chí liên lạc tìm bảo:

- Tối nay đúng 19 giờ, anh đến địa điểm X. có người gặp.

Địa điểm X. là nhà chú Sáu Phát - ông chú họ của Trung ở thị xã Mỹ Tho. Người gặp mình là ai? Có phải chú Bảy không hay là một người nào khác của tổ chức đến chỉ thị nhiệm vụ cho mình?

Trung quyết định sau này có điều kiện sẽ về chào má. Trong khi chờ đợi tới giờ đến nhà chú Sáu, Trung đặt ra bao câu hỏi về cuộc gặp mặt tối nay. Giá người đó là chú Bảy? Được gặp chú anh sẽ như được thấy lại ba mình. Trên đường dạo phố cho hết giờ, anh đi qua trường Nguyễn Đình Chiểu. Đó là một ngôi trường lớn, cổ nhất ở miền Nam, có từ thời Pháp thuộc, nơi Trung đã học hết lớp 12 và đã yêu Cẩm, người vợ mới cưới của Trung bây giờ.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:34:40 PM

Đúng giờ hẹn, Trung đến nhà chú Sáu Phát. Anh thấy ngoài chú ra có một người trạc ngoài 50 tuổi, tóc đã hoa râm. Người của tổ chức đến gặp mình đây chăng? Trung đang thầm nghĩ thì chú Sáu chỉ chỗ cho Trung ngồi rồi nói.

- Chú Ba đến đây gặp cháu đó.

Chú Sáu nói xong, bỏ ra ngoài. Từ trong nhà nhìn ra ngoài đường cái, Trung thấy chú Sáu đang ung dung tỉa lại những nhành cây phủ xuống hàng rào.

- Cháu Trung chưa gặp chú lần nào phải không?

Cuộc gặp gỡ mở đầu bằng một câu nói dịu dàng đó, nhưng Trung vẫn cảm thấy có điều gì đó rất thiêng liêng được gặp qua đôi mắt người của tổ chức mà Trung mới được gặp lần đầu này. Bỗng nhiên chú chuyển sang gọi Trung là đồng chí. Sau khi giới thiệu họ tên và cấp bộ Đảng của mình, chú Ba Hóa nói:

- Đồng chí Đinh Khắc Chung! - Trung bừng bừng sung sướng khi lần đầu được nghe tiếng gọi ấy. Rồi anh nghe như nuốt lấy từng lời - Tổ chức đã nghiên cứu lý lịch, theo dõi quá trình hoạt động của đồng chí trong phong trào thanh niên sinh viên chống Mỹ - ngụy. Hôm nay thay mặt tổ chức, tôi đến truyền đạt lại quyết định kết nạp đồng chí vào Đảng Lao động Việt Nam và trao nhiệm vụ mới cho đồng chí.

Trung bồi hồi xúc động nghe tiếp:

- Ngày mai đồng chí sẽ lên dường đi làm nhiệm vụ trong trường Sĩ quan không quân của địch. Vì sao không đưa đồng chí vào các sắc lính khác, chắc đồng chí hiểu. Đó là mục đích to lớn của cách mạng tới đây. Rất thuận lợi trong dịp này, không quân của Thiệu đang trưng đầy những bảng quảng cáo hãy ghi tên vào trường Sĩ quan không quân. Mặt khác, tổ chức cũng chuẩn bị chu đáo để bịt mắt chúng về lý lịch của đồng chí. Vào được trường Sĩ quan không quân, nhất định chúng sẽ đưa đồng chí sang Mỹ học. Tổ chức chỉ yêu cầu đồng chí phải học thật giỏi. Học giỏi để được xếp thứ nhất hoặc cùng lắm đến thứ năm trong khóa học. Vì sao đồng chí hiểu không? Vì theo lệ ở Mỹ, nếu học giỏi được xếp từ thứ nhất đến thứ năm, tốt nghiệp sơ cấp xong sẽ được tự chọn học lái tiếp loại máy bay nào tùy thích. Đảng yêu cầu đồng chí phải được chúng trao cho lái máy bay phản lực chiến đấu. Đây là một mặt trận, trong mặt trận ấy càng đòi hỏi người chiến sĩ cách mạng phải hết sức giữ vững vàng, tuyệt đối trung thành, dám hy sinh, giữ tấm lòng son sắt với Đảng. Đảng tin tưởng và luôn luôn theo sát, chỉ đạo mọi hoạt động của đồng chí. Tuy vậy, trong lĩnh vực này, người chiến sĩ phải hoàn toàn chủ động và tự mình luôn giữ linh hồn của Đảng trong trái tim mình. Chúc đồng chí luôn hoàn thành nhiệm vụ của một chiến sĩ cách mạng trên mặt trận mới, luôn xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, xứng đáng với bà con và cha anh mình.

Hết phần trang nghiêm trao nhiệm vụ mới và căn dặn Trung với cương vị là một cấp bộ Đảng, chú Ba chuyển sang nói chuyện thân tình với Trung. Chú kể tóm tắt tình thế mới của cách mạng cả nước từ sau ngày Giôn-xơn phải chấp nhận sự thất bại, chịu đơn phương xuống thang ném bom bắn phá miền Bắc và lại phải ngồi vào bàn Hiệp định Paris. Chú nói tới nhiệm vụ hiện tại của cách mạng miền Nam rồi chuyển sang kể chuyện về Bác Hồ và các anh hùng dũng sĩ miền Nam vừa được ra thăm Bác. Lúc này, giọng chú sao đầm ấm thiết tha quá. Những mẩu chuyện, những lời nói của Bác với đồng bào chiến sĩ miền Nam, qua lời kể của chú, Trung tưởng như chính Trung vừa có vinh dự được gặp Bác. Trung hình dung thấy Bác qua tấm ảnh Bác ngày xưa má đã cho Trung coi với một tình cảm xúc động. Trung càng bồi hồi và rất đỗi sung sướng khi chú Ba bảo Trung:

- Bác Hồ rất yêu thương bộ đội. Đối với các chiến sĩ không quân, Bác thường dành cho những tình cảm đặc biệt. Từ mai cháu đã là một chiến sĩ, chỉ khác là một chiến sĩ không quân ở ngay trong lòng địch. Cháu hãy cố gắng, kiên trì phấn đấu làm tròn nhiệm vụ để đi tới đích. Khi ấy cách mạng và các chú chắc chắn sẽ dành cho cháu một vinh dự đặc biệt được cùng với các đồng chí không quân ta ở miền Bắc lái máy bay đưa Bác Hồ và Bác Tôn vào thăm đồng bào, chiến sĩ miền Nam ta...

Nghe tới đó lòng Trung càng rạo rực tưởng như được chắp cánh bay lên. Mãi mãi Trung không quên được giờ phút đã ghi bước ngoặt thứ nhất trong cuộc đời đó.

Bước ngoặt thứ nhất ấy đến nay đã sáu năm. Sáu năm qua đối với Trung tưởng đã dài chừng thế kỷ, nhất là ba năm anh học ở Mỹ.

Những năm ở trong nước còn có sự chỉ đạo ở trên, và bằng cái “ê-cút”, Trung còn có thể theo dõi được tình hình qua chiếc máy thu thanh bán dẫn, hai năm ở thành phố In-gơ-lăng bên Mỹ, ngoài những bức thư của chị Chín Vân gửi sang chỉ thăm hỏi bình thường để giữ đều liên lạc, Trung hoàn toàn bị cách biệt. Anh chỉ sống với mình và biết tin tức trong nước qua một phần nào ở báo chí bọn chúng gửi sang. Xung quanh là một cuộc sống rất hoa lệ. Nhiều đứa bạn cùng học với Trung đã choáng ngợp, nhất là các buổi chiều nghỉ, bọn Mỹ cho xe đến đón đi chơi thỏa thích. Chúng muốn bọn Trung sẽ phải suốt đời khâm phục, mang ơn nước Mỹ và làm tay sai rất mực trung thành cho chúng, cho nên chúng làm mọi điều tỏ ra rất quí các hoa tiêu Việt Nam. Trung là học viên bay giỏi, khi tốt nghiệp, Trung đứng thứ hai trong hơn 500 học viên (cả Mỹ và các nước chư hầu), nên chúng càng quí hơn. Có lần tên đại tá chủ nhiệm lớp bay đã vỗ vai Trung bảo: Tôi rất hy vọng và tin tưởng rằng sau này ông sẽ là một vị chỉ huy có tài của không quân Việt Nam Cộng hòa. Hắn còn hết lời tán dương và nhắc lại lời Ken-nét-sam, một tên tướng không quân Mỹ: Hoa tiêu Việt Nam, thành phần ưu tú nhất của Việt Nam Cộng hòa đã được các tướng lĩnh không quân Hoa Kỳ đánh giá là thuộc vào những phi hành viên xuất sắc thế giới.

Những lúc ấy, trước mặt chúng, Trung vẫn phải tỏ ra hớn hở. Nhưng đêm về anh lại suy nghĩ mông lung: Thực tế tình hình đất nước bây giờ ra sao? Liệu lúc mình về nước còn kịp làm gì để đáp lại công ơn cách mạng đã bao năm ươm giống, gây mầm hay không?

Biết bao nỗi day dứt trong lòng, Trung phải vui cười và tỏ ra thân thiết với những kẻ mà chính chúng hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đã đem bom đi giết hại đồng bào ruột thịt, tàn phá quê hương mình. Anh phải tỏ ra đồng tình và say sưa nghe bọn chúng nói xấu Cách mạng. Cách mạng đâu phải ai xa lạ, mà chính là ba, là chú Tư Chí, chú Bảy Dự, chú Ba Hóa, chú Bảy Lương, là anh Cần, anh Nhàn, anh Trí... và là chính mình. Những lúc ấy, Trung muốn xé tung bộ quần áo ngụy ra, đứng lên dùng lý lẽ của Cách mạng, của chính nghĩa đập thẳng vào mặt chúng. Nhưng lý trí lại không cho phép Trung được bộc lộ tình cảm của mình.

Cũng còn may mắn, sau khi học lái loại máy bay ném bom A.37, về nước một thời gian, Trung được chọn sang học lái loại tiêm kích F.5E. Loại này phần lớn làm nhiệm vụ yểm trợ trên không, cho nên Trung chỉ có ít lần đi ném bom. Những lần ấy Trung khôn khéo tìm cách ném vào những nơi ít gây thiệt hại nhất đối với tính mạng nhân dân. Tất nhiên, khi về bọn chúng vẫn thấy anh hoàn thành xuất sắc phi vụ. Trong những phi vụ xuất sắc như thế, có nhiều trái bom của anh đã rơi vào khoảng trống, có trái trúng vào quân ngụy trong những trận đánh giáp nhau. Sau những phi vụ như thế, Trung phóng honda rời căn cứ về nhà thấy mát mẻ, ngủ ngon. Còn các phi vụ khác, tuy biết rằng bom của mình chỉ trúng vài cái cầu hoặc nơi đó không có dân, Trung cũng thấy lòng đau như cắt. Chính mắt anh thấy những trái bom của những tên mà anh vẫn gọi là chiến hữu đã gây nên những tội ác ghê tởm với đồng bào.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:35:05 PM

Một hôm Trung đi bay về, anh phóng xe về đến trước cửa, mặt mày vẫn tươi tỉnh như mọi khi. Nhưng lúc cởi bỏ bộ đồ lính ra, Trung chỉ uống qua quít cốc nước ngọt rồi đi nằm. Cẩm thấy vậy cho là chồng bị mệt nên không ép nài Trung phải ăn cơm, để yên cho anh nghỉ. Thật ra Trung đâu có mệt về thể xác. Hôm ấy Trung vừa bay qua xã An Khánh của anh, từ trên máy bay, anh càng thấy nguồn tin em Thiện con ông chú ruột - một chiến sĩ biệt động nội thành - báo cáo cho anh là hoàn toàn chính xác. Sau những trận càn quét đốt phá của bọn giặc dưới mặt đất như tên ách Thao, lũ máy bay của Sư đoàn 4 ở Trà Nóc lại đến rải bom tiếp làm xã anh không còn một nóc nhà nào. Chúng đã bắt và giết tới tám mươi phần trăm thanh niên trong xã. Má anh và Út Xinh cũng phải bỏ xã đi lánh ở một túp lều bên đảo Dừa. Bọn chúng đã bắt má anh đến lần thứ năm khi má đang chèo đò qua sông mang gạo tiếp tế cho anh Tư. May mà chúng vẫn chưa biết con má đang làm hoa tiêu ở đây...

Lúc này, Trung càng suy nghĩ triền miên. Anh thấy nhớ da diết tới những cảnh đẹp của làng mình khi xưa. Những rặng dừa, những hàng dương rợp bóng tỏa xuống những dòng kênh. Trên những con đường mát xanh rất Nam Bộ ấy, vào mùa xuân, cả xã đều hoan hỉ kéo đến ngôi đền lớn trong ngày hội rước thần. Ở đó có những cây dương cao vút đã tồn tại qua bao đời trùm lên khu đền thờ và những miếu mạo uy nghi. Nơi ấy đã ghi biết bao kỷ niệm của Trung với các bạn nhỏ những ngày thơ ấu, nhất là những ngày hòa bình lập lại sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi.

Những cảnh đẹp, những di tích lịch sử, nơi đã ghi bao kỷ niệm thời thơ ấu cùng với căn nhà nhỏ ấm cúng của Trung này đâu còn nữa.

Đêm ấy, trong giấc ngủ chập chờn, Trung lại thấy tên ách Thao với bộ mặt bên ngoài rất thư sinh nhưng tim hắn đã đen bầm, đã từng ăn gan biết bao người, hắn đang giương súng bắn chết ba anh ngay trước mặt má và Út Xinh, rồi tự tay nó châm lửa đốt nhà mình.

Sáu năm trời với cuộc sống của một phi công - loại lính con cưng được chiều chuộng nhất của chế độ Thiệu - với Trung đã là hơn hai ngàn ngày phải đóng kịch với nỗi lòng luôn day dứt.

Từ mấy tháng nay, Trung rất khấp khởi. Anh đã được chỉ thị của lãnh đạo Ban Binh vận Miền chọn thời cơ ném bom vào dinh Độc Lập và tòa Đại sứ Mỹ rồi bay ra vùng giải phóng. Lòng Trung luôn rộn rã với tâm tình của đứa con xa đã bao ngày giấu mặt được trở về với Mẹ. Anh hiểu rất rõ ý nghĩa tiếng bom của mình trong những ngày chuyển biến rất nhanh của cách mạng. Nhưng mấy lần sau khi anh vừa báo cho cơ sở ngày giờ hành động thì không đoàn 540 của anh lại được lệnh chuyển sân bay. Lần trước, chuyển ra Đà Nẵng nằm lỳ hơn một tháng phơi nắng miền Trung để chờ không chiến với máy bay MIC trên vùng trời Quân khu I. Vừa về đến Biên Hòa được ít ngày, phi tuần của Trung lại được lệnh bay đến sân bay Phù Cát. Hết Nha Trang lại chuyển sang sân bay Phù Cát. Những lần ấy, theo sự chỉ đạo sát sao của đồng chí Lê Quốc Lương tức Bảy Lương, em Huỳnh Tấn Phong lại bỏ dạy học, từ Sài Gòn đi du lịch hoặc thăm cô cậu để đến với Trung, chuyển tiếp chỉ thị của cấp trên cho anh. Nếu Phong kẹt thì Nguyễn Trọng Hạnh cũng là bà con với Trung lại thay thế để không một ngày nào sự chỉ đạo của Ban Binh vận gián cách với anh. Và anh biết việc các đồng chí lãnh đạo ở miền đã bí mật tác động để kẻ địch điều phi đoàn của anh về Biên Hòa, tạo được thời cơ cho anh là việc làm vô cùng công phu, tài tình. Ở trong quân chủng không quân của kẻ địch, làm một ngọn đèn phải tỏa sáng được hai nhà (hoàn thành nhiệm vụ Cách mạng giao cho và che mắt được địch, không bị lộ) với bản thân Trung đã là rất khó. Nhưng chỉ đạo cho Trung làm được việc đó quả là cả một sự mưu lược tài ba của các bác, các chú lãnh đạo mũi giáp công thứ ba.

Bao nhiêu ngày chờ đợi thời cơ, cho đến hôm nay trên sân bay Biên Hòa máy bay của phi tuần Trung đã lắp bom. Nhưng trớ trêu thay, anh lại là hoa tiêu dự bị.

Phải bay đi sớm nay. Đây là thời cơ tốt nhất. Quân ta đang thắng như chẻ tre. Có thêm tiếng bom phản chiến của mình sẽ làm cho ngụy quân, ngụy quyền càng hoang mang hơn, anh em bà con ta thêm phấn khởi hơn.

Trung nghĩ thế, nhất là lúc thấy Huỳnh Duy Anh đang lắp bắp phàn nàn với phi tuần trưởng Ngô Hoàng về việc Nguyễn Văn Lượm đến trễ.

Trung úy Lượm hôm nay là hoa tiêu số hai chính thức trong phi tuần bay ba chiếc.

Nhà riêng của Lượm ở Sài Gòn nên đôi khi vẫn phóng xe đến muộn. Còn Huỳnh Duy Anh là thiếu tá, nhưng vì cái tật nói lắp nên chỉ được bay số 3 trong phi tuần.

Thấy Duy Anh lắp bắp phàn nàn với Hoàng và cũng lại sắp đến giờ bay nên Trung chớp thời cơ luôn:

- Đại úy à Lượm đến trễ, để tôi tình nguyện bay thế cho kịp giờ phi tuần cất cánh.

Huỳnh Duy Anh nói ngay:

- Ha... y, ha... y lắm!

Ngô Hoàng cũng thấy Trung đã gỡ nút cho mình nên hoan nghênh và đồng ý ngay. Từ trước tới nay, Trung vẫn là hoa tiêu bay giỏi và được tin cậy. Lời nói của Trung thường rất có trọng lượng trong không đoàn. Vì thế, không riêng phi tuần trưởng mà cả Tham mưu phó hành quân cũng đồng ý việc thay thế của Trung.

Trung sung sướng quá. Anh xách mũ bay cùng Ngô Hoàng và Duy Anh ra ngay máy bay. Anh mong cho Lượm trễ lâu hơn nữa, đừng tới trước lúc anh cất cánh.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:35:46 PM

* Một giờ hai cảnh trái ngược

Hai chị em bé Thương Thương ngồi giỡn với nhau. Bé Thanh Phương cười giòn như nắc nẻ. Mỗi lần Thương Thương thổi quả bóng bay màu hồng đung đưa qua mặt, nó vồ được, lại cười nấc lên. Cẩm ngồi bên vừa chuẩn bị cơm trưa vừa tham gia trò chơi với hai đứa nhỏ. Đôi mắt một mí của chị cũng luôn nhỏ tí lại theo tiếng cười của các con.

Thương Thương thật giống ba, còn bé Phương thì giống má. Cả hai có điểm giống nhau là đều rất yêu ba. Mỗi lần thấy ba về, Thương Thương lon ton ra sà ngay vào lòng.

Sáng nay, lúc Trung ra đi, nó cũng níu chân, ríu rít như chim:

- Ba! Ba! Chừng nào ba về?

Để Trung khỏi trễ giờ, Cẩm phải chạy ra dắt tay con:

- Thương Thương để ba đi nghe con, hôm nay ba sẽ về sớm thôi mà.

Chị nựng con và cũng nghĩ thế thật. Tối qua Trung nói: Hôm nay anh chỉ là hoa tiêu dự bị thôi. Đã quen rồi, chị biết là hoa tiêu dự bị rất ít khi bay. Những ngày ấy Trung thường về sớm với các con.

Cẩm đứng dậy, xem đồng hồ. 8 giờ 40 phút, chị quay lui lấy giỏ đang định bồng con Thanh Phương đi chợ thì thấy trước cửa nhà có hai tên sĩ quan an ninh đang đi đi lại lại. “Quái lạ, ở ngõ cụt này có chuyện chi mà mấy ông an ninh đến”. Cẩm nghĩ thế nhưng chắc nhà mình là phi công, chẳng có chuyện gì nên chị vẫn bình thản như thường. Cùng lúc ấy, chị lại thấy có mấy tên cảnh sát nữa, đầu mang mũ sắt trắng, mặt hầm hầm đứng trước cửa nhà mình.

- Bà Trung úy! Xin mới bà lên xe!

Cẩm giật thót mình, bây giờ chị mới nhìn thấy chiếc xe hòm đậu ngoài đường lớn.

- Tôi làm gì mà các ông vô cớ bắt tôi?

Cẩm phản đối. Thương Thương ôm chặt lấy chân chị. Bé Thanh Phương thấy đông người liền bỏ quả bóng bay lồm cồm bò vội vàng lại với má.

Tên sĩ quan an ninh bây giờ mới nói:

- Không phải bắt mà mời bà đi.

- Mời làm chuyện gì, tôi không đi.

- Chuyện lên quan đến ông Trung. Mời bà cứ đến phòng an ninh sẽ rõ.

Bọn chúng vừa nói dứt lời, liền lôi xốc chị và quắp luôn cả hai đứa trẻ vô xe hòm, mặc cho chúng khóc ré lên.

Lúc đó vừa đúng 9 giờ, sau khi Nguyễn Thành Trung đã chấm dứt trận ném bom vào dinh Độc Lập tròn 30 phút.

Cũng trong thời điểm ấy, Nguyễn Thành Trung đang được cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta nồng nhiệt đón tiếp trên một sân bay trong vùng giải phóng.

Trung phải bay đi bay lại mấy vòng mới hạ cánh xuống được sân bay Phước Long này. Anh mới chỉ biết sân bay anh vừa đáp xuống trên bản đồ là một sân bay có đường băng đất lát ghi, có nhiều dài hơn 1 kilômet. Nó chỉ dùng cho các loại máy bay vận tải có tốc độ nhỏ lên xuống.

Chiếc tiêm kích F.5E thường bay với tốc độ nhanh nhất là 1900 kilômét/giờ theo tay lái của Trung lúc này đã phải lượn tới vòng thứ hai trên đỉnh sân bay. Để đảm bảo an toàn, theo quy định với loại máy bay có tốc độ lớn như thế này, đường băng hạ cánh ngắn nhất cũng phải có độ dài là 2 kilômét. Nhưng ở đây Trung ước tính chỉ được trên 1.000 mét. Nguy hiểm hơn, lúc là xuống thấp, Trung thấy có khá nhiều hố bom lỗ chỗ ở cạnh và hai đầu đường băng lát ghi vừa sửa vội. Suốt mấy năm trời cầm lái, kể cả lúc lái máy bay A37 có tốc độ nhỏ hơn, Trung chưa đáp xuống một phi trường kiểu dã chiến như thế này bao giờ. Nhưng bây giờ phải xuống, và xuống được an toàn cả người và máy bay. Đấy là yêu cầu của chính anh cũng như đối với cách mạng qua bộ óc và tay lái của Trung lúc này. “Mình phải về với má hoàn toàn nguyên vẹn”. Quyết tâm của Trung đã có cơ sở từ khi được lệnh của Ban Binh vận qua đồng chí Lê Quốc Lương truyền đạt: “Sẵn sàng và tạo thời cơ dùng F.5E ném bom một hai mục tiêu quan trọng của Thiệu ở Sài Gòn”. Trung biết rằng làm xong việc đó, mình sẽ phải bay hạ cánh xuống một sân bay dã chiến đường băng rất ngắn hẹp, nếu không muốn nhảy dù. Do vậy trong vai phi tuần, lúc trở về hạ cánh, Trung đã thầm luyện tập, cố tình rút ngắn đoạn đường lăn trên sân bay. Các lần đó, máy bay lúc thì bị gãy càng, lúc thì cháy phanh dẫn đến bị kiểm điểm, mang tiếng bay dở và bị Tư lệnh Không quân trừ 30 điểm tiêu cực nên đã không được lên cấp đại úy đúng niên hạn, dù là phi công bay giỏi nhất không đoàn. Nhưng Trung đã yên tâm và thỏa mãn vì đã đạt được ý định của mình.

Sau khi quan sát kỹ sân bay lần nữa, Trung lại vọt lên cao. Anh bay rộng vòng lượn hơn ít nữa rồi giảm cửa dầu cho máy bay là sát mút đầu đường băng với tốc độ nhỏ nhất. Mặt Trung đầm đìa mồ hôi, mắt anh mở căng, nhìn thẳng ra phía trước... Chiếc F.5E tiếp đất ngay từ vệt cỏ sát nút đường băng làm Trung giật bắn người. Lúc ấy chân Trung đã phải ghì chặt trên bàn đạp giữ cho máy bay thăng bằng rồi tắt máy, giật phanh... Bao động tác hạ cánh đáng ra làm dần trên quãng đường băng dài gần 3 kilômét, Trung như cùng phải làm một lúc để bù lại đoạn đường bị thiếu.

Nhanh tới mức ấy mà theo quán tính, chiếc F.5E suýt nữa cũng lao ra ụ đất phía ngoài. Rất bình tĩnh, linh hoạt, Trung ngoặt cần lái cho chiếc máy bay xoay ngang dừng lại bên cạnh miệng một hố bom. Thật rợn người, căng thẳng...

Đấy là những giây phút mà thần kinh Nguyễn Thành Trung phải tập trung cao trong vòng 30 phút sáng nay.

Nhưng căng thẳng nhất vẫn là lúc anh đã ngồi vào khoang lái máy bay thế chân hoa tiêu số 2 Nguyễn Văn Lượm.

Trước đó ít phút, Trung cũng chợt nghĩ đến má, đến Cẩm và hai đứa con nhỏ. Anh biết chắc chắn rằng sau khi ném bom, chúng sẽ đến bắt vợ anh bỏ tù cùng hai đứa nhỏ. Từ đó chúng sẽ tìm ra tung tích mà lùng tới bắt má và Út Xinh.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:36:22 PM

Từ hơn 6 năm nay, Cẩm rất yêu anh nhưng chưa biết đúng về hình dạng của anh. Như mọi lần, sáng nay anh cũng chia tay Cẩm ra đi một cánh bình thường. Trong kế hoạch hành động của Trung có lần cấp trên đã có ý kiến lo chuyện an toàn cho vợ con Trung để thăm dò quyết tâm của Trung. Nhưng anh đề nghị không nên, như thế sẽ bị lộ, vì bọn tình báo của Mỹ ngụy rất tinh ma. Chắc chắn thấy tiếng bom nổ ở dinh Độc Lập, bọn an ninh và cảnh sát sẽ tới bắt vợ con anh. Điều không tránh được là Cẩm nếu không bị tra tấn dã man, thì cả ba mẹ con cũng bị tù đày. Cả tính mạng anh nữa. Phát hiện thấy anh ném bom, pháo phòng không của chúng sẽ bắn lên. Và chúng cũng rất đủ điều kiện cho các tốp máy bay khác cất cánh lên đuổi theo, chưa kể Ngô Hoàng và Duy Anh sẽ dễ dàng quay lại nã súng vào máy bay của anh.

Những chuyện đó đến và qua đi rất nhanh trong ý nghĩ của Trung. Lời căn dặn của chú Bảy, của chú Ba Hóa: “Cháu phải kiên trì, biết vượt qua mọi thác ghềnh để ra được biển cả gặp dòng sông mà cha cháu đã đi. Trong mặt trận mới này, người chiến sĩ cách mạng phải hết sức vững vàng, tỉnh táo, dám hy sinh, giữ trọn lòng sắt son với Đảng...”. Hình ảnh ba và đồng bào cùng làng xóm quê hương bị kẻ thù giết hại, tàn phá; những lời nói và hình ảnh ấy từ lâu đã thấm sâu vào máu thịt Trung nên mọi suy nghĩ của anh lúc này đã dồn vào việc phải nhanh chóng làm sao tách mình ra khỏi phi tuần, đánh được vào dinh lũy của tên bán nước Nguyễn Văn Thiệu.

Chiếc F.5E theo tay lái của Trung trong phi tuần ba chiếc ầm ầm lăn ra khỏi sân đỗ. Hệ thống đồng hồ công tắc điều khiển, nút ấn bom... tất cả đều rất tốt, rất nhạy. Trung thấy mình hoàn toàn yên tâm. Yên tâm với phương tiện tiến công, yên tâm vì đã có cách hợp lý để tách riêng mình ra khỏi phi tuần.

Phi tuần trưởng mang biệt hiệu “Li-ve-1” lăn bánh lên đầu đội hình. Tiếng Ngô Hoàng oang oang báo cho “Thần Phong”:

- Hello, Thần Phong cho Li-ve cất cánh!

- Li-ve một! Thần phong đồng ý cho Li-ve cất cánh!

Thần Phong vừa dứt lời thì tiếng Nguyễn Thành Trung vang lên:

- Li-ve-một! - Rồi Trung giơ hai ngón tay ra ám hiệu qua cửa kính khoang lái báo gấp với Hoàng - Máy bay của Li-ve hai trục trặc, xin tự sửa lại chút xíu.

Máy bay trục trặc trước lúc cất cánh đôi khi vẫn xảy ra. Với Trung, không riêng Ngô Hoàng, cả những viên sĩ quan đang điều khiển tiến trình bay trong sở chỉ huy đều rất tin tưởng, không ai tỏ ra nghi ngờ. Thời gian phi tuần của Ngô Hoàng đến yểm hộ cho quân bạn ở Phan Rang đã đến nên y liền lệnh luôn cho Trung cũng bằng ám hiệu:

- Được! Li-ve hai, sửa xong cất cánh bay sau.

Hoàng thả ga cho máy bay của hắn cùng Duy Anh lăn nhanh và cất cánh. Hai rẽ quạt lửa phụt dài phía trước mặt Trung.

Mấy giây sau, chẳng cần phải tự sửa, chiếc F.5E đầu nhọn hoắt như một mũi tên của Trung hùng dũng lao vút lên. Trung không bay về phía Phan Rang như hai chiếc máy bay kia đã cách anh khá xa. Anh đã lừa được cả Hoàng và sở chỉ huy, liền kéo nhẹ cần lái vào lòng tăng độ cao lao về phía Sài Gòn. Quả việc Lượm đến sân bay trễ hôm nay đã tạo thời cơ rất tốt cho Trung. Nhưng nếu không có yếu tố từ hoa tiêu số 2 Nguyễn Văn Lượm này thì ngày mai, ngày mốt, khi đã ở trong đội hình cất cánh, Trung cũng phải tự tạo cho mình thời cơ để lừa địch, tách mình ra khỏi đội hình của phi công đội như lúc này. Không còn thời gian dài hơn cho anh chờ đợi.

Từ trên cao anh đã nhìn thấy rõ dinh Độc Lập. Thành phố Sài Gòn với nhiều khu nhà đồ sộ nằm trải rộng mênh mông. Nhưng đã từng bay qua nhiều lần, nên khu nhà hình chữ T nằm giữa nơi tiếp giáp của ba đường: Công Lý, Hồng Thập Tự, Thống Nhất ấy không có gì khó phát hiện. Tên đầu sỏ bán nước Nguyễn Văn Thiệu và bè lũ tay sai của nó giờ này chắc chắn đã có mặt ở đây. Lòng Trung sung sướng vô cùng khi nghĩ tới những trái bom trả nợ nước, báo thù nhà của mình sắp được ném xuống đầu bọn chúng. Trong khu nhà hình chữ T kia, Trung đã nghĩ đến việc phải ném bom vào đâu để trúng vào chỗ làm việc của tên Thiệu. Đã đủ độ cao để bổ nhào, Trung nhằm thẳng xuống cánh bên phía hình chữ T của tòa nhà.

Tới đúng vị trí, Trung giữ nguyên cần lái đang đưa gần hết về phía trước, ấn nút thả bom.

Tiếc quá!

Vì cố tránh vào khu những người phục dịch, hai trái bom đều bị chệch ra ngoài rơi ở phía sân bên cạnh tòa nhà.

Trung nhận ra ngay điều đó. Anh kéo cần lái đưa máy bay lên cao. Pháo phòng không của chúng lúc này đã nổ. Chi chít các vệt đạn đuổi theo Trung. Anh giận mình quá. Nhưng còn hai trái bom nữa. Có bị bắn rớt thì mình cũng phải quyết ném trúng phòng làm việc của Thiệu. Trung lái máy bay vòng trở lại. Khu đầu phía phải tòa nhà đã nằm trong kính ngắm. Chút nữa, chút nữa. Trung chờ nó trùng hết trong khuôn hình, mới ấn nút. Hai trái bom lao vút xuống. Cột khói đen từ mục tiêu đã định bùng lên giữa thành phố Sài Gòn. Nếu hai trái trước trúng dinh Độc Lập thì hai trái này là phần của tòa Đại sứ Mỹ. Anh thấy cánh bay của mình nhẹ tênh. Sáu năm trời nay, lúc này nó mới được thả sức tung hoành. Trên đường bay về vùng giải phóng còn mấy băng đạn nữa anh “tặng” gọn cho bọn hải quân ngụy ở cảng Nhà Bè. Để tránh ra-đa của ngụy phát hiện, chiếc F.5E của anh như bay sát trên những trảng cây. Cũng đến lúc này Trung mới để ý nghe trên sóng vô tuyến đủ thứ tiếng Việt, Anh hỏi dồn, quát tháo. Và có cả mệnh lệnh của Bộ Tổng tham mưu ngụy: “Tất cả các phi cơ đang hoạt động trên không phải về căn cứ. Tất cả các phi cơ ở các căn cứ phải nằm yên tại chỗ, không được cất cánh”. Trung cười thầm: “Thì ra bọn địch đang tưởng tượng không quân Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính ném bom xuống dinh Độc Lập để giết Thiệu”.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:37:05 PM

Hạ cánh. Sau 30 phút từ lúc ở sân bay lên xe và trong ngôi nhà trang hoàng khá đẹp ở vùng giải phóng, Trung vẫn chưa hết xúc động. Anh luôn bị siết chặt trong những vòng tay. Đồng chí Khúc Đình Bính, một cán bộ không quân từ lâu đã được lệnh đón một máy bay phản chiến sung sướng hồ hởi. Anh tự tay mang đến cho Trung nào trái cây, nước ngọt và một bộ quân phục giải phóng mới tinh.

Cánh én mùa xuân đã trở về trong bão táp cách mạng thế tiến công.

Nhưng lúc này, chị Nguyễn Thị Cẩm nào biết được chồng mình đang ở đâu, đã làm gì mà phòng an ninh lại “mời” chị đến đây vì lý do liên quan tới ông Trung ở phi trường. Khi chiếc xe hòm chở ba mẹ con chị tới, tên Trường, trưởng phòng an ninh sân bay Biên Hòa đã ngồi đợi sẵn từ lâu. Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên và Trần Văn Minh, ba tên đầu sỏ ngụy quyền, ngụy quân trên ba tấm ảnh cũng như Trường đang chăm chắm nhìn vào ba mẹ con Cẩm khi chị bước vào. Trên bàn, cạnh nơi chị vừa ngồi xuống, la liệt những máy quay điện, kìm, đinh ghim, dây trói, roi đánh người bằng đuôi cá đuối đầy gai.

Tên Trường ra vẻ lịch sự mỉm cười đưa nước mời chị. Hắn cười nhưng vẫn không giấu hết sự nham hiểm trên bộ mặt đen sì. Trường không nói gì về việc Trung vừa hành động. Nó chỉ mời Cẩm đến để muốn biết thêm về Trung. Tuy vậy chị cũng hiểu mình phải nói gì, làm gì. Nhất định không bỗng dưng chúng lại bắt chị đến đây thẩm vấn.

- Cha ông Trung ở đâu? - Sau mấy lời xã giao, tên Trường bắt đầu cuộc hỏi cung

- Nghe nói chết rồi.

- Chết vì lý do gì?

- Bị bệnh chết.

- Không có lý.

- Già mắc bệnh chết mà cũng không có lý sao?

Tên Trường bị vặn lại, hắn bí vì chưa có chứng cứ nên lờ đi.

- Vậy ông Trung có mấy anh em?

- Anh và một người em gái.

- Có đúng thế không?

- Đúng.

- Ông Trung có họ tên gì khác nữa không?

- Từ ngày yêu nhau tới nay, tôi chỉ thấy anh có một họ tên là Nguyễn Thành Trung thôi.

Hỏi xong một loạt câu về lý lịch của Trung, tên trưởng phòng an ninh lại chuyển sang hỏi về quan hệ tình cảm, việc Trung vừa đi Đà Nẵng về có buồn không? Có nhiều tiền không? Gần đây có ai tới chơi không?...

Từ 10 giờ sáng tới chiều, hắn chỉ xoay quanh một số câu hỏi như thế cốt sao chỉ dụng ý để moi ra những lời sơ hở của Cẩm. Cẩm hiểu điều đó. Thực ra lai lịch của Trung từ ngày gặp và yêu Trung chị cũng không biết gì hơn, mấy lần trước cùng Trung về thăm má anh, chị cũng thấy có má và Út Xinh. Gần đây, Cẩm láng máng biết Trung cũng có anh trai. Chị vừa trả lời tên Trường vừa nghĩ đến cách đối phó, trước sau chị chỉ nói như vậy.

Đêm ấy, Cẩm suy nghĩ rất lung. Chị bắt đầu hệ thống, ôn lại những điều mình nghi hoặc về Trung. Bây giờ so sánh chị càng thấy anh có nhiều điều khác thường. Anh cũng để râu như Nguyễn Cao Kỳ. Khi ra đường, lúc vô sân bay, anh cũng ngang tàng như các hoa tiêu khác. Nhưng về nhà, anh lại hiền khô. Chẳng thuốc sái, chẳng rượu chè, chẳng đi nhảy, đi tiệc. Anh nói với cô bác, bạn bè là vì chị hay ghen, ớt nào mà ớt chẳng cay! Rồi vì sao anh chẳng nghe đài công khai mà đêm nào cái ê-cút cũng liền tai tới tận khuya.

“Phải chăng anh là người của Cách mạng như mình nghĩ?” Cô giáo trẻ dáng người mảnh khảnh này nghĩ miên man và bắt đầu tin là mình đúng. Mặc dù chị chưa biết anh đã làm gì và đang ở đâu, số phận thế nào.

Hai đứa nhỏ lạ nhà, lại không có quạt, bé Thanh Phương nóng quá khóc giãy lên làm cho Thương Thương cũng dậy theo. Cả ba mẹ con cùng thức.

Cũng lúc đó, trong gian nhà thoáng mát ở vùng giải phóng, Trung đang thao thức. Bây giờ thời gian mới dành cho anh để nghĩ về má, về Cẩm và hai bé gái rất yêu của mình.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:37:53 PM

Trung biết Cẩm không những yêu mà còn rất tin anh. Tuy vậy anh không thể nói cho Cẩm biết được rõ chân dung và nhiệm vụ của mình, kể cả sáng nay. Trung biết có khả năng thời cơ sẽ đến với Trung và anh phải xa Cẩm, xa các con. Chắc Cẩm sẽ hết sức ngỡ ngàng. Nhưng Trung tin rằng khi biết rõ việc mình làm, Cẩm sẽ có nghị lực. Tuy là vợ phi công, nhưng Cẩm khác hẳn với nhiều vợ con những tên sĩ quan khác. Lòng yêu nước của Cẩm, Trung đã biết từ hồi còn đi học với nhau. Có những điều Cẩm không nói nhưng Trung biết nhiều khi Cẩm đã có ý nghi ngờ mình, nhất là chuyện sinh hoạt hơi khác thường của Trung. Cũng may, như thế càng có cớ để Trung dựa vào đó làm cho cả bọn địch và Cẩm không nghi ngờ. Khi Trung vào học hoa tiêu cũng đúng dịp bọn không quân phát động phong trào xây dựng quân nhân kiểu mẫu trong quân chủng. Chúng cũng nêu ra nhiều tiêu chuẩn về đạo đức, kỷ luật. Tuy rằng, đó chỉ là cái vẻ màu mè bề ngoài để che đậy bản chất xấu xa của chúng, nhưng để tỏ rõ là một quân chủng anh chị, trí thức trong quân lực Việt Nam Cộng hòa, bọn chúng đã có nhiều công phu trong việc này. Rất nhiều tên đã được tặng huân chương riêng về đạo đức, kỷ luật. Được bọn chúng vị nể, Trung cũng là một trong số đó. Vì thế việc không thích đi tiệm, đi nhảy... Trung cũng có lý do chính đáng để nói với mọi người. Riêng với Cẩm, chuyện đó thể hiện Trung rất yêu mình. Do đó, cái máu Hoạn Thư vốn có của phụ nữ đối với Cẩm đa phần đã dẹp được, ít nổi lên gây bất lợi cho Trung.

Đấy là những lúc chính mắt Cẩm thấy các cô gái trẻ ra ngăn xe Trung lại. Thậm chí, các cô còn theo Trung về tận nhà riêng, để tấn công Trung và trêu Cẩm. Điều dễ hiểu mà Cẩm biết rõ là Trung khá đẹp trai, lại là pi-lot. Với số đông các cô gái ở đô thị, pi-lot luôn là mục tiêu lý tưởng. Trong số sĩ quan ngụy, các cô đã công khai mê pi-lot hơn hết. Chuyện đó bọn tâm lý chiến của không quân cũng công khai tuyên truyền và lấy làm kiêu hãnh, Trung đã nhiều lần chứng kiến chuyện kiêu hãnh đó. Lần gần đây nhất là bữa Trung cùng Kha trên đường về Sài Gòn. Khi xe dừng lại, hai người cùng vào tiệm giải khát, tên Kha nhìn sang ghế bên, hắn thấy một cô gái đẹp ngồi cạnh một viên đại úy thiết xa. Kha đưa mắt nhìn Trung ra ý bảo: Mày có đố tao phỗng được nàng tiên nữ trên tay thằng cha này không?

Trung mỉm cười, tên Kha đưa mắt chiếu tướng sang cô gái. Bốn mắt gặp nhau.

- Chào người đẹp! Người đẹp đi đâu lại lạc tới đây? Lâu lắm rồi ta không gặp nhau, chắc người đẹp đã... nên cùng đi chơi với Đại úy?

Tên Kha nói một hồi rồi gật đầu chào viên đại úy thiết xa ra vẻ lịch sự. Cô gái nghe nói vậy, cười tít mắt, giọng õng ẹo:

- Trời, chào anh Đại úy pi-lot. Xin lỗi, em không nhìn thấy anh. Anh lầm rồi đó, ngài đại úy chiến xa này em mới quen thôi.

Cô gái nói rồi nghiêng đầu chào viên đại úy chiến xa thay cho lời xin lỗi, bỏ lại cốc Cocacola còn nguyên chạy lại với tên Kha. Ả cười ngặt nghẽo và nói uốn éo với Kha như đã là bạn tình thân thiết từ lâu. Một lát sau, ả điềm nhiên ngồi lên xe, ôm chặt eo tên đại úy hoa tiêu. Tiếng cười như nắc nẻ bỏ xa dần tên đại úy chiến xa đang ngồi lại một mình tưng hửng trong tiệm. Hắn biết, tên đại úy hoa tiêu kia chẳng quen biết gì cả nhưng hắn đành chịu mất mồi bởi chẳng có lý do và dại gì đi gây gổ vì thấy rõ mình yếu thế, không được các cô gái mê bằng pi-lot. Thật ra, hắn đâu có kém hung dữ như chiếc chiến xa của hắn.

Lúc ấy, Trung cũng đưa mắt, cùng cười hòa “tiếng đàn” với tên Kha. Nhưng anh lại ý nhị để cho Kha đèo ả đi một mình cho thoải mái.

Chuyến đó, khi về Trung đã kể lại với Cẩm. Anh muốn xem phản ứng của Cẩm. Nhưng rõ ràng Cẩm rất tin Trung. Cô chỉ dướn mắt dọa Trung.

Lúc này đây anh càng thương Cẩm và điều rõ nhất làm anh thao thức là lo cho Cẩm và hai bé gái của mình.


* Lá thư trong phong bánh

Bé Thương Thương tỉ ti vòi má nó mãi không được liền khóc giãy lên đòi cho ra sân chơi. Bé không biết tại sao má lại đưa chị em nó tới đây, không đưa về nhà ngoại ở Mỹ Tho như mọi lần. Ở đây, mấy má con cứ ôm nhau ở rịt trong buồng nhỏ, cửa đóng suốt ngày. Cẩm không như mọi lần mỗi khi Thương Thương quấy nhè thường nghiêm mặt dọa nó về méc ba, bây giờ chị vẫn ngọt ngào:

- Thương Thương ơi, ra chơi sao được con. Con không biết má con ta đang ở tù sao?

Bé Thương nào biết ở tù là gì, nó càng khóc giãy lên. Thấy vậy nữ trung sĩ Nhung, người canh tù nhân đi tới:

- Thôi bé Thương, không được quấy rầy má nữa, để cô mở cửa cho con ra.

Như con chim được sổ lồng, vừa ra khỏi cửa, Thương Thương đã lon ton chạy tung tăng đi khắp nơi. Chị Cẩm nhìn con qua khe cửa, nghe lời hỏi của nữ trung sĩ:

- Đêm qua chị ngủ được không?

- Được chút xíu!

- Cháu nhỏ của chị còn ăn sữa không?

- Dạ, còn.

- Nếu hết, chị kêu em nghe.

Cẩm cảm thấy lạ, tại sao cô trung sĩ này lại xưng em với mình và ra bộ tử tế vậy. Chị để ý thấy không riêng cô gái canh tù này mà cả trung úy Liêm cùng các binh sĩ ở đây khi gặp chị đều nhìn chị với thái độ thiện cảm. Ba hôm nay, họ đều bí mật đưa đến cho má con chị nào sữa, nào trái cây, bánh mì.

Một lát sau, bé Thương Thương hớn hở chạy về.

- Má! Má! Con thấy ba! Cả hình má và con nữa!

Chị Cẩm ngây người, mãi sau mới hiểu là con mình đã thấy ba, má và hình nó in trên báo. Chị tin đứa con 5 tuổi của mình nói đúng, và nó đã thấy thật. Nhưng tại sao họ lại in hình anh Trung và cả hình mình, hình con trên báo?

Phía ngoài, mấy tên lính ngụy cũng đang tranh nhau xem tờ báo Độc Lập số ra ngày 10.4.1975. Ngay trên trang nhất, báo đưa tin thêm về vụ ném bom dinh Độc Lập của Nguyễn Thành Trung. Báo này cải chính tin các báo đưa hôm qua nói Trung đã bay sang Thái Lan và đoán rằng anh đã bay ra Đà Nẵng. Cạnh tin đó là ba tấm hình liền nhau: Nguyễn Thành Trung hiên ngang đứng bên chiếc F.5E; chị Cẩm tay đang hái cam, miệng mỉm cười nhìn ra phía trước; còn Thương Thương lúc 4 tuổi, bụ bẫm ngây thơ.

Ban nãy, đúng lúc tờ báo mới về, bọn lính ngụy đang tranh nhau xem thì bé Thương Thương nhìn thấy. Bọn lính được nghiêm lệnh tuyệt đối không cho Cẩm biết Trung đã ném bom dinh Độc Lập. Nhưng mấy đứa xem báo lại xì xào bàn tán: “Ông này lầm lì ít nói mà ghê thiệt”.

Cẩm biết ngay đây là những tấm ảnh bọn an ninh đã lấy trong tập album ở nhà mình. Nhà mình bây giờ ra sao? Cái ngõ hẻm ở Biên Hòa, cạnh khách sạn gần trường bay ấy, chắc giờ đây đang náo động lắm. Liệu hạ sĩ Thịnh - người đã từng hai lần bị nhốt vào chuồng cọp sân bay, hay lui tới chơi nhà chị có giữ được tài sản giúp chị không? Trước lúc lên xe hòm, Cẩm chỉ kịp trao lại chiếc chìa khóa cho Thịnh, nhờ anh trông nhà hộ, nếu cần thì chuyển hết đồ đạc về Mỹ Tho giúp chị. Thịnh đã làm việc đó rất tận tình, thuê xe đưa tất cả tài sản về quê giúp Cẩm. Nhưng chính lúc này Thịnh cũng đang phải ngồi trong phòng cảnh sát trả lời những câu hỏi về quan hệ với Nguyễn Thành Trung, và vì sao lại hết lòng giúp Cẩm như vậy.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:38:46 PM

Những sự việc trong mấy ngày qua, những suy nghĩ của Cẩm đã giúp chị khẳng định: chồng mình là người của Cách mạng thiệt rồi. Anh đã lái máy bay đi đánh lại quân của Thiệu rồi về với bên kia chăng? Phải vậy không? Hay ảnh đi làm gì bị lộ nên đã bị giết chết?

Nghĩ tới đó, Cẩm thấy rụng rời chân tay. Nhưng mấy phút sau chị định thần trở lại: chắc không, nếu giết ảnh rồi, tên Trường chẳng phải thẩm vấn kỹ mình về lai lịch của ảnh như thế?

Hai hôm sau, nhân lúc tên Trường đi vắng, trung úy Liêm mở cửa phòng giam chị Cẩm, đưa cho bé Thương Thương gói quà rồi bảo bé ra ngoài chơi. Anh ta nhìn ra phía ngoài không thấy ai liền nói nhỏ với chị về hành động ném bom dinh Độc Lập của Trung. Trước lúc ra về, Liêm dặn chị:

- Bà yên chí! Ông Trường không dám tra tấn, đánh đập bà đâu. Bà cứ trước sau như một, đừng có thấy ông Trường dọa mà khai thêm. Việc làm của ông Trung, anh em ở đây nhiều người rất hoan nghênh. Tôi nói thiệt, nếu có điều kiện như ông Trung, tôi cũng làm thế? Vì vậy đa số anh em binh sĩ ở đây đều quí mến bà, họ sẵn sàng ủng hộ bà nếu trung tá Trường giở trò ác ôn như đối với những tù nhân khác...

Liêm nói với Cẩm những điều đó sau khi chị vừa nhận được một bức thư. Thư được nhét vào trong phong bánh. Các tù nhân ở phòng bên đưa cho bé Thương Thương và dặn bé về nói với má bóc ra ăn ngay. Quả nhiên, chị đã biết được những điều mà mình phỏng đoán từ mấy hôm nay. Trong thư, các bác tù nhân đã động viên chị:

Hành động của anh Trung rất anh hùng. Anh chị em tù nhân chúng tôi đều cảm phục, hoan nghênh. Sau khi ném bom, anh Trung đã ra vùng giải phóng an toàn. Vậy chị đừng lo cho ảnh. Hiện giờ tên Trường đang muốn qua chị để biết rõ về ảnh. Bọn chúng có thể đánh đập, tra tấn chị. Nhưng chị cứ vững lòng. Chúng tôi sẵn sàng đấu tranh, kể cả việc tuyệt thực để bảo vệ chị.

Đọc xong thư, Cẩm rất cảm động. Chị không ngờ việc làm của chồng mình tác động tới cả nhưng người tù này như thế.

Chị chợt hiểu ra vì sao tên Trường chưa dám tra tấn, đánh đập chị. Nó sợ bị sự phản đối của binh sĩ, của anh chị em trong tù. Và điều chủ yếu hơn như trong thư của các bác tù đã viết: “Bọn chúng đã sắp đến ngày tận số nên rất sợ uy thế của Cách mạng”.

Đêm ấy, trong bốn bức tường, Cẩm càng nhớ tới Trung. Hai đứa quen nhau rồi thân nhau trong một chuyện tình cờ. Hồi ấy, giữa một buổi trưa hè, Cẩm từ trường Trương Công Định về, tới giữa đường chẳng may xe bị hỏng. Nắng bỏng lưng. Tấm áo dài trắng của Cẩm đã bết mồ hôi nhưng loay hoay mãi chiếc xe cứ nằm lỳ không nổ máy. Vừa lúc ấy Trung đi bộ tới. Anh hỏi Cẩm xe hư sao, rồi bỏ cặp ra bên, xắn tay lên sửa liền một mạch. Nửa giờ sau, chiếc xe nổ máy. Cẩm cảm động mời Trung cùng đi, nhưng anh từ chối, nói đã gần tới nhà.

Từ ấy Cẩm nhiều lần để ý tìm anh, người bạn học chưa kịp hỏi tên. Nhưng rồi mãi tới một buổi hội thảo học sinh hai trường Nguyễn Đình Chiểu và Trương Công Định, Cẩm mới gặp lại anh. Hai người ý hợp tâm đầu trong hội thảo rồi yêu nhau từ đó.


*
*   *


Nắng nháy bỏng đường băng.

Ngồi trong khu đợi cất cánh, các chiến sĩ trong phi đội Quyết Thắng nghe hơi nóng bốc lên hừng hực. Nguyễn Thành Trung rồi cả phi đội đều bắt chước Từ Đễ lấy chì xanh đỏ vẽ hình cờ giải phóng lên trên nền trắng của những chiếc máy bay.

Trung vừa vẽ cờ vừa nghĩ tới đường bay về Sài Gòn. Cánh én của anh đã bay qua khoảng trời Biên Hòa 20 ngày rồi, anh chưa biết tình hình vợ con ra sao. Trung vừa hình dung Cẩm đang ngồi trong phòng thẩm vấn với dụng cụ tra tấn đầy bàn, thì phía trước ngọn cờ đỏ quay tít trên tay đồng chí chỉ huy. Anh chạy tới chiếc máy bay đầu, nhảy lên buồng lái. Máy nổ giòn... Năm chiếc máy bay A37 mới lấy được từ trong tay địch như năm chiến sĩ biệt động theo Trung dẫn đường chỉ huy hùng dũng bay... tới mục tiêu sân bay Tân Sơn Nhất.

Trung đâu biết rằng chính vợ con mình lúc này cũng đang ở gần khu vực mục tiêu phi đội anh bay tới tấn công.

Sáng qua (ngày 27 tháng 4), tên Trường đã làm việc khác thường. Từ sáng sớm, hắn không cho gọi Cẩm lên mà hối hả tới phòng giam của chị:

- Bà Trung úy. Xin mời bà về Sài Gòn ngay cho!

- Sao thế? Các ông cho má con tôi về nhà, tôi không đi đâu hết.

- Còn sao nữa. Quân địch tới nơi rồi. Đến chúng tôi cũng phải di tản hết nữa, huống hồ là bà. Thôi, bà đi ngay cho.

Tên trưởng phòng ác ôn nói rồi vội vã ra ngay. Vậy là ba má con chị lại phải lên xe hòm chuyển đến trại giam của an ninh quân đội trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn.

Từ mấy hôm nay, tên Trường như quên không gọi Cẩm lên thẩm vấn. Nó thường lánh mặt khi thấy chị được phép ra ngoài.

Bữa trước, sau hơn một tuần thẩm vấn, tên Trường đã gọi Cẩm lên. Biết rằng không giấu được việc Trung ném bom vào dinh của Thiệu nữa, hắn phải nói rõ với Cẩm và ra bộ thông cảm:

- Tôi thấy má con bà ở đây cực quá, chúng tôi muốn trả tự do cho bà. Chỉ cần bà ký vào tờ giấy đã viết sẵn này.

Đấy là một bài phát biểu mà bọn chúng đã viết sẵn cho Cẩm với nội dung hành động của Trung ném bom dinh Độc Lập là sai lầm, là bị xúi giục...

Cẩm xem xong, quăng tờ giấy trả lại tên Trường:

- Đây là ý của các ông. Tôi không nghĩ về anh Trung như thế, tôi không ký.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:39:36 PM

Hai hôm sau, cũng với giọng lưỡi như thế, hắn lại bảo chị viết một bức thư, mời ba má của chị ở Mỹ Tho lên bảo lãnh cho má con chị về.

Cẩm nhận lời. Nhưng khi xem xong thư, tên Trường lắc đầu:

- Bà phải bỏ đoạn cuối “Nếu con không vì hai đứa cháu mà chỉ một mình, con sẽ chịu giam tới bao giờ thì tới, không dám phiền ba má!”, chúng tôi mới chuyển thư này.

- Tôi nghĩ sao viết vậy. Chuyển hay không là quyền ở các ông.

Bây giờ nghĩ lại chuyện đó, Cẩm cũng thấy lạ, không ngờ lúc đó mình cứng rắn được như vậy. Qua bộ mặt lầm lỳ cúi gằm của tên Trường, chị càng tin rằng cách mạng đã thắng tới nơi. Chuyện nó vội vã giục chị di tản về Sài Gòn này lại càng rõ. Chị nghĩ, đó mới là lý do chủ yếu nó không dám tra tấn chị...

Chiều nay, đã gần hai ngày má con chị ở trại giam mới ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nơi đây, tới thời điểm này, sự hoảng loạn của quân ngụy cũng chẳng khác nào Biên Hòa. Đường phố Sài Gòn tràn ngập các sắc lính bị đánh tơi tả từ các nơi đổ về. Ở Tân Sơn Nhất, các sư đoàn không quân thất trận của ngụy cũng đã kéo về làm cho các sân bay như bầy ong vỡ tổ. Giữa lúc ấy, phi đội Quyết Thắng của Nguyễn Thành Trung tới dội bom xuống trúng đầu bọn chúng. Từ trên cao, giữa tiếng nổ dậy đất và khói lửa ngút trời, Trung thấy rõ cảnh hốt hoảng của lũ Mỹ - ngụy và tiếng kêu la của chúng ở sở chỉ huy qua vô tuyến điện, nhưng không có làn sóng nào để cho anh nghe thấy tiếng reo vui của các đồng chí và đồng bào ta trong trại giam, trong đó có Cẩm và hai con anh. Trung không ngờ rằng giữa những loạt bom của phi đội Quyết Thắng, lợi dụng lúc bọn gác tù hốt hoảng chạy trốn, ngay đêm đó các đồng chí bị giam đã phá ngục bung ra, tự giải phóng cho mình. Má con chị Cẩm cũng đã được hai đồng chí cùng quê dẫn nhanh ra tới bến xe đò để về Mỹ Tho.


* Về với má thân yêu

Sau trận ném bom Tân Sơn Nhất ít ngày, phi đội Quyết Thắng của Trung được lệnh chuyển về sân bay Biên Hòa, nơi gần một tháng trước đây Trung đã bay đi ném bom vào dinh Độc Lập. Bây giờ cũng tại đây, anh đã là một chiến sĩ không quân nhân dân Việt Nam anh hùng. Gần đây, cơ sở đã cho anh biết tin về má và Cẩm. Anh mừng, nhưng vẫn chưa có điều kiện về gặp má, gặp Cẩm để biết được tường tận hơn.

Trung có thuê một gian nhà nhỏ trong một hẻm ở thị xã Biên Hòa - nơi anh đã tạm biệt Cẩm và hai con ra đi, ngày 5 tháng 5 năm 1975, anh đã được phép ra thăm. Mặc dầu bên ngoài anh đã hoàn toàn khác hẳn trong bộ quân phục quân giải phóng, không còn bộ ria Nguyễn Cao Kỳ nữa, bà con lối phố vẫn nhận ra anh. Phút chốc, tất cả quây quần tíu tít đón Trung. Một trung úy hoa tiêu cùng trong sân bay Biên Hòa trước đây chạy tới ôm chầm lấy anh. Niềm vui hân hoan thật bất ngờ.

Giữa những phút giấy cảm động ấy, bỗng có tiếng reo. Trung nhìn ra, anh tưởng mình mơ. Nhưng kìa, đúng thiệt rồi, Cẩm đang bồng Thanh Phương đi tới. Vừa nhìn thấy Trung, Cẩm đã trào nước mắt. Lại đến lượt chị ngỡ ngàng. Từ Mỹ Tho lên chỉ với ý định xem lại nhà ở của mình, có ngờ đâu vợ chồng lại được gặp nhau. Trung khác nhiều quá, bộ ria ngổ ngáo đã mất đi, anh lại y hệt như ngày hai đứa mới gặp nhau: đẹp trai, khỏe mạnh và trông càng hiền hơn. Chẳng riêng vợ chồng Trung, nhiều bà má cũng rưng rưng nước mắt.

Đồng chí cán bộ cùng đi với Trung mời Cẩm đưa bé Phương vào đơn vị trong sân bay.

Ở đây vẫn là những ngôi nhà như trước chị đã có dịp tới. Nhưng với Cẩm sao cái gì cũng mới lạ. Không khí đầm ấm, tiếng cười, tiếng nói chan hòa, sự săn sóc chân tình của các anh giải phóng... Rồi một tin mới cho Cẩm: cấp trên vừa quyết định cho phép Trung đưa Cẩm và bé Thanh Phương về quê thăm gia đình.

Trung hiểu rõ má mình: khi buồn vui, cả lúc gặp họa bất ngờ bao giờ cũng rất tỉnh. Tình cảm của má sâu sắc nhưng rất ít bộc lộ bồng bột ra ngoài. Năm lần, hết bọn giặc ở chi khu đến lũ cảnh sát ở quận bắt má, cả năm lần tra hỏi, rồi giam, chúng lại phải thả má về, chẳng moi được ở má điều gì trước sự tỉnh táo, cương nghị của má.

Vậy mà có lần gặp Trung, má đã sửng sốt. Ấy là dịp cuối năm 1969, khi bỗng nhiên má thấy Trung mặc bộ đồ học viên sĩ quan không quân ngụy về thăm má. Hôm đó má đang đi trên bờ rạch bên đảo Dừa. Nghe thấy tiếng gọi dồn “Má! Má!”, má quay lại, sững sờ. Má không ngờ tên lính ngụy gọi má đó lại là con má - thằng Năm Trung. Má tưởng mình nhìn lầm, nhưng không! Rõ ràng đôi mắt và cái miệng in hệt ba nó đang cười trước mặt má. Mấy tháng nay, vắng tin Trung, má mong, nhưng vẫn tin rằng con má đang học ở Sài Gòn. Và nếu nó có đi đâu xa thì chú Bảy và các anh nó đã tìm đường cho đi, đâu phải đi bận bộ đồ ngụy thế này. Suốt bữa sáng hôm ấy, Trung biết má buồn lắm mặc dù sau phút giây sửng sốt má vẫn bình thản, vẫn ân cần săn sóc Trung như mọi bữa anh về nhà. Mãi tới lúc Trung đội chiếc nón lính ra đi, má mới bảo Trung:

- Má không ngờ con đã thay đổi nhanh đến thế. Đi trên dòng Cửu Long này, con còn nhớ đến ba con không? Suốt ba ngày đêm ròng rã, bà con cả huyện Châu Thành này đã vừa đánh giặc, vừa bơi xuồng để tìm bằng được xác ba con. Con là hòn máu của ba con, con nghĩ sao cho phải thì nghĩ...

Trung xuống bến, nước mắt lưng tròng khi nghe má nói. Còn má, nước mắt chỉ chảy trong lòng. Anh im lặng, chịu để thêm một nỗi khổ nữa đè lên thân hình gầy yếu của má.

Gần sáu năm trời hai má con Trung tuy đi chung một dòng sông, nhưng lại phải sống trong nỗi lòng day dứt như vậy.

Tới một ngày gần đây, tấm màn ngăn cách vô hình ấy mới được mở ra. Trung chưa thấy lần nào má khóc nhưng ngày giỗ ba anh đầu năm nay má đã khóc. Hôm ấy, được sự đồng ý của tổ chức, sau lúc cúng cha, cả nhà đi nghỉ hết, Trung mời má ra một chỗ vắng, hai má con nói chuyện. Khi đó, Trung mới nói rõ về mình. Anh kể cả nỗi day dứt và xin má thứ lỗi cho anh đã không thể nói ra được để má phải buồn phiền đau khổ. Tới lúc nghe Trung nói “Má ơi, con chỉ là hoa tiêu ngụy với chiếc áo khoác ngoài”, thì bỗng dưng đôi mắt má cũng sửng sốt như hồi nào. Rồi tới lúc Trung nhắc tới lời chú Bảy: “Trăm con sông đều theo một dòng”, thì má không cầm được nước mắt nữa. Má vừa khóc vừa đưa bàn tay nhăn nheo vuốt lên đầu Trung. 

Từ bữa ấy tới nay, Trung mới lại có dịp về thăm má. Cũng từ bến Rạch Miễu trên con thuyền nhỏ sang sông đến bên đảo Dừa tới nơi má ở như mọi lần, nhưng hôm nay anh đã là sĩ quan Quân đội Nhân dân. Khi biết Trung là phi công ném bom dinh Độc Lập, bác lái thuyền cứ ngắm mãi hồi lâu chiếc quân hiệu trên mũ cứng của Trung. Bác cười vui, hể hả kể lại, bao nhiêu chuyện của bà con huyện Châu Thành nói về anh.


Tiêu đề: Re: Vỏ bọc nhiệm màu
Gửi bởi: chuongxedap trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 06:49:20 PM

Mấy hôm nay Trung đã sống trong những tình cảm rất đằm thắm như vậy.

Bữa qua, khi Trung đến sân bay Trà Nóc (Cần Thơ), nơi anh đã ở đó hai năm lái máy bay A.37, một hạ sĩ ngụy cũ đã nhận ra Trung. Anh ta tên là Vũ Thế Kỷ, trước đây làm nhiệm vụ kiểm soát nắm chất lượng máy bay, hiện nay đang cùng với mấy binh sĩ ngụy khác được ta sử dụng đi thu dọn, sửa chữa các loại ô tô đang vứt ngổn ngang trong sân bay.

Thấy Trung, Kỷ tỏ ra rất mừng rỡ và rối rít khoe: - Chà, ông Trung úy, à mà bây giờ là Đại úy không quân giải phóng. Cha mẹ ơi, gần một tháng trước nay cả sân bay Trà Nóc chúng em đã sôi nổi bàn luận về chuyện ném bom của ông. Chuẩn tướng Tần ra lệnh cấm, nhưng cứ vắng mấy ông trên là chúng em bàn luận. Các ông hoa tiêu càng bàn dữ. Các ông ấy bảo ông khôn ngoan, thức thời. Em biết nếu trung tướng Minh không ra lệnh rà lại lý lịch và kiểm tra, phát phiếu bay ngặt nghèo, chắc còn có hoa tiêu sẽ làm tiếp như ông đó.

- Đúng vậy đấy ông Trung ạ! - Nguyễn Hữu Hãn đang làm việc với Kỷ nói tiếp - Ông thấy không - Hãn sôi nổi chỉ về một chiếc máy bay A.37 đang đậu ở phía trước - Một hoa tiêu nào đó chắc đã rất yêu và muốn làm như ông nên đã viết cả họ tên ông lên bên buồng lái. Có điều ai cũng tiếc và nhiều hoa tiêu cũng chê ông ném bom còn yếu quá, chưa giết chết được “ông” Thiệu...

Trung cười, công nhận mình yếu. Nhưng một người lính khác đứng bên Hãn lại nói đỡ luôn:

- Không giết được Thiệu, nhưng dù sao tiếng bom đó cũng đã cảnh cáo được cả cái chế độ của Thiệu rồi.

Từ Trà Nóc trở về, lúc qua sông Tiền, một chuyện nữa làm Trung rất cảm động...

Trên dòng sông Cửu Long đối với Trung đã có biết bao kỷ niệm, anh đã bao lần đi trên dòng sông quê hương này, nhưng hôm nay Trung thấy thật bồi hồi xúc động và thấy lòng mình thanh thản và rộn ràng như những làn sóng trên sông nước tự do.

Cũng trong dịp này, khi hai vợ chồng cùng được về thăm má, tất cả những chuyện bí mật về gia đình mình, Trung mới nói hết được với Cẩm. Anh trai cả của Trung - anh Đinh Khắc Cần - sau dịp trao trả tù binh năm 1973, lại trở về tiếp tục hoạt động, hiện giờ đang ở Sài Gòn. Riêng với anh cũng đã là tấm gương cổ vũ Trung. Anh đi bộ đội kháng chiến chống Pháp từ thời Trung chưa đến tuổi đi học. Tập kết ra miền Bắc đến năm 1966, anh lại được trở về quê hương chiến đấu. Sáu tháng sau, không may anh bị bắt rồi bị đày ra Côn Đảo cho tới ngày trao trả tù binh năm 1973. Ở tù ra chỉ nghỉ ngơi mấy tháng cho lại sức, anh lại đổi họ tên trở về hoạt động công khai cho tới ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Dịp trở về, Trung được gặp lại anh và cũng thêm một dịp anh bồi dưỡng, củng cố lòng tin và quyết tâm cho Trung. Cũng qua việc được công khai gặp anh Hai Cần, Trung đã biết thêm tin tức về anh Nhàn, anh Trí. Anh Nhàn hiện giờ đang công tác ở thị ủy Bến Tre. Còn anh Trí đang nghỉ ngoài miền Bắc sau bao năm bị đày ra Côn Đảo.

Sau khi bị bọn giặc đốt sạch nhà cửa ở xã An Khánh, chị Ba Trí cũng đã về ở cùng với má trong túp lều nhỏ bên đảo Dừa, má con nương tựa vào nhau. Tháng tháng trên con thuyền nhỏ, má và chị Ba mang gạo về xã tiếp tế cho anh Tư Nhàn...

Lòng Cẩm nao nao. Hai hôm nay từ giây phút gặp lại Trung, chị biết hết chuyện bất ngờ này lại sang điều lạ lùng khác về chồng mình mà suốt gần bảy năm sống chung, Cẩm không hề biết. Cả về má nữa, đến hôm nay qua Trung, Cẩm mới hiểu hết má. Thảo nào có lần về thăm má, Cẩm gọi anh em đàng mình là Việt cộng, má đã bảo Cẩm:

- Gọi là Giải phóng con ạ.

Trung và Cẩm đều nóng lòng mong tới phút được gặp má thân yêu.

Phút giây ấy tới rồi! Con thuyền vừa tới bờ rạch, Trung và Cẩm đã nhìn thấy bóng má trên vườn.

- Má! Má!

Bé Thương Thương cũng rối rít:

- Nội! Nội!

Má ngừng tay, quay ra. Ôi, đúng là vợ chồng thằng Năm Trung và hai cháu nhỏ.

Nhìn bước đi của má, Trung hiểu ngay lần này má quá xúc động. Má nhìn vợ chồng Trung, rưng rưng như muốn khóc, nhưng cũng như những lần trước, má chẳng nói ra lời. Má chỉ gọi “Thương Thương” và vội vã đưa tay ra đỡ bé.

Mái nhà tranh vừa kê đủ hai chiếc giường của má càng trở nên chật chội. Má băn khoăn không đủ ly róc nước mời bà con tới thăm. Mọi người vồn vã chia vui với má. Tiếng cười giòn giã vang khắp trong nhà, ngoài sân. Má ôm cả hai bé Thanh Phương và Thương Thương ngồi nghe chuyện mà lòng nhẹ nhõm hân hoan. Đôi mắt dịu hiền của má cứ ngắm mãi thằng Năm Trung của mình có cái miệng cười giống in hệt miệng ba nó, bồi hồi nhớ lại biết bao chuyện đã qua đối với gia đình mình và cuộc đời với bao năm dài âm thầm, cần cù nuôi chồng nuôi con đi đánh giặc. Bỗng mắt má rưng rưng, hai tay má run run đỡ lấy món quà Trung đưa ra biếu má. Đó là tấm hình Bác Hồ mà Trung đã được cô Ba Định, Phó Tư lệnh các lực lượng vũ trang miền Nam tặng Trung khi anh tới sân bay ở vùng giải phóng.

Ôi bao nhiêu năm rồi má mới lại thấy tấm hình của vị Cha già dân tộc. Hai hàng lệ làm mắt má nhòa đi. Khi xưa má đã từng giấu kỹ được một tấm hình của Bác. Nhưng đến lúc tên ách Thao dẫn quân đến giết chồng và đốt nhà má, bọn chúng đã cướp đi cả những vật kỷ niệm rất quý đó của má. Từ bấy đến nay má mới lại nhìn thấy hình Hồ Chủ tịch, nhưng bây giờ chỉ còn được thấy hình Người thôi. Cái ước vọng khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, má và đồng bào miền Nam được hân hoan đón Bác vào thăm không còn có được nữa rồi.

Mọi người trân trọng chuyền tay nhau tấm hình của Bác đều rưng rưng xúc động như má. Mãi một lúc sau, má và bà con mới trở lại câu chuyện về Trung lúc ở vùng giải phóng và chuyện má con Cẩm những ngày ở tù. Khi nói tới chuyện đó, chị Ba Trí đã kể lại với mọi người:

- Hôm ấy, lúc mới nghe tin có một phi công phản chiến đánh bom vào dinh Độc Lập, má đã nghĩ ngay “chắc là thằng Năm Trung”. Và khi đài của bọn Thiệu đưa tin về trận ném bom vào sân bay Tân Sơn Nhất, má đã nói với chị Ba: “Chắc đó là máy bay của giải phóng và nhất định có thằng Năm Trung tham gia”1.

Nó đó, con má đã đi theo một dòng sông và ra biển cả gặp dòng sông mà ba nó đã đi...
 
Sài Gòn, tháng 5 năm 1975
Hà Nội, tháng 6 năm 1975



_______________________________________
1. Từ ngày ấy đến nay, do có thêm nhiều thành tích, Nguyễn Thành Trung đã được phong hàm Đại tá; được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân và đang là Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam.
 




Hết!