Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 10:53:58 PM



Tiêu đề: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 10:53:58 PM

Tên sách: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà xuất bản: Hội Nhà văn
Năm xuất bản: 2007
Số hoá: ptlinh, chuongxedap



ĐIỂM XUẤT PHÁT


Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo khổ, có tên là Hương Sơn - huyện miền núi thuộc phía Tây tỉnh Hà Tĩnh.

Đây là vùng cằn cỗi, đất hẹp, người thưa. Người thưa vì phần lớn người dân chịu không nổi cảnh nghèo khó, phải rời bỏ quê hương tha phương cầu thực nơi đất khách quê người. Cái nghèo đã tác động, tạo cho con người nơi đây một đức tính chịu khó, thật thà, chất phác; tằn tiện là một nếp sống mang đậm nét đặc trưng của người dân quê tôi.

Hà Tĩnh có truyền thống là đất hiếu học. Người ta xem việc học hành là cứu cánh tốt nhất. Bởi thế mà khi ra đường gặp nhau, người ta thường chào hỏi: trước hết là về sức khỏe, sau đó là việc học hành của con cháu? Ai cũng cảm thấy tự hào khi con cháu mình học hành thành đạt. Thanh niên nam nữ quê tôi lớn lên đều có xu hướng tìm nơi khác để lập nghiệp cho tương lai được sáng sủa hơn.

Vì vậy mà đi từ Nam ra Bắc, từ tận đất Mũi lên đến biên giới phía Bắc; từ vùng quê đến thành thị, từ vùng đồng bằng ven biển đến hải đảo... các bạn thường gặp và nghe giọng nói “trọ trẹ” của người dân quê tôi. Chúng tôi cũng cảm thấy được an ủi và có phần tự hào, vì dân mình đã đóng góp một phần công sức xây dựng quê hương mới, làm giàu, đẹp thêm cho Tổ quốc thân yêu của chúng ta.

Đất đai vùng Hương Sơn phần lớn là đồi núi. Ruộng ít, lại là ruộng bậc thang, nên việc cày cấy gặp nhiều khó khăn. Ngàn Phố là con sông duy nhất chảy qua huyện của tôi. Có thể nói, đây là con sông đẹp, nước trong leo lẻo. Bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào, sông Ngàn Phố chảy qua huyện Hương Sơn, xuống huyện Đức Thọ, nhập vào sông La. Cũng nhờ có phù sa do con sông bồi đắp mà những làng mạc hai bên bờ trở thành những làng quê trù phú.

Ngoài nghề làm nông, phát rẫy, người dân nơi đây có thêm nghề làm vườn truyền thống. Mùa nào, thức nấy: chè xanh, cam, dứa, mít là những đặc sản mà hương vị của nó ít có nơi nào sánh được.

Một nghề truyền thống khác được cả nước biết, đến: Đó là nghề nuôi hươu để lấy nhung. Lộc nhung hươu giàu chất đạm, là loại bổ nhất trong các loại thuốc bổ Đông, Tây y. Bổ đến mức người ta phải ấn định ở lứa tuổi nào mới được dùng nhung hươu. Thanh niên từ 30 tuổi trở xuống, nếu không có bệnh tật gì, uống vào cơ thể sẽ béo phì, nứt da, nứt thịt. Từ 40 tuổi trở lên, nhất là các cụ già, những người gầy yếu, suy nhược, uống nhung hươu cơ thể sẽ khỏe mạnh cường tráng trở lại. Đây là nghề có thu nhập khá cao, chi phí thấp, chủ yếu chi phí ban đầu mua con giống. Hươu ăn các loại cỏ và lá cây, như lá mít, lá núc nác, cây đậu phộng (lạc) sau khi thu hoạch...

Nhà tôi ở trên đồi cao, đến mùa mưa lụt, nhiều gia đình nuôi hươu thường chèo thuyền đến nhà tôi xin lá mít, lá núc nác... về cho hươu.

Các xã dọc quốc lộ số 8 và những xã vùng sâu như Sơn Mai, Sơn Thuỷ, Sơn Phúc, bên Tây sông Ngàn Phố, Sơn Giang, Sơn Lệ, Sơn Tiến... phía Đông sông, có nhiều gia đình nuôi hươu. Đây là những địa phương miền núi, thức ăn cho hươu phong phú. Tuy nhiên, từ bao đời nay, nghề chăn nuôi hươu mang tính tự phát, manh mún... Những năm gần đây, trên đà phát triển kinh tế của cả nước, ở huyện Hương Sơn quê tôi, người ta đã đầu tư đáng kể cho nghề truyền thống này. Nhiều nông trại với hàng trăm hươu sao đã được tổ chức tập trung trên những diện tích hàng chục héc ta.

Hàng năm, cứ mỗi độ xuân về, trăm hoa đua nở, cây cối đâm chồi nảy lộc cũng là mùa cắt nhung hươu. Cắt nhung hươu ở quê tôi như một ngày hội. Đến mùa cắt nhung hươu, khách tứ phương toả ra các xã, đến tận chuồng thỏa thuận giá cả rồi cắt luôn tại chỗ. Khi nhung hươu đang mềm, vừa nhú nhánh bóng lộn, người ta vào chuồng trói hươu lại (cũng cần nói thêm hươu là loại động vật hoang dã, rất khó thuần hoá, tuy sống gần với con người, song nếu ra khỏi chuồng là chúng chạy biến vào rừng, rất khó bắt trở lại). Thuần hoá được một con hươu phải có thời gian và rất công phu, lấy cưa cắt giữa phần xương với phần sụn. Trong khi đó, có người đã chuẩn bị rượu trong những cái bình, hoặc chậu, sau khi lấy nhung ra, hứng huyết hươu vào những bình rượu rồi chia đều mỗi người một ly uống cạn.

Nhung hươu lấy ra khỏi đầu, chỗ cắt người ta lấy bột than băng bó lại để cầm máu và sát trùng. Từ nhát cắt này, dần dần nhung hươu lại nhú lên, đến mùa xuân năm sau lại cắt. Bởi vậy sau khi cắt nhung, hươu phải được bồi dưỡng theo một chế độ đặc biệt, ăn uống phải đủ chất.

Để bán cho người tiêu thụ hoặc xuất khẩu, nhung hươu được ướp lạnh hoặc sấy khô, cắt thành lát. Những lát nhung nhìn trong suốt, như một chất keo, cô đặc. Tất cả chất bổ dưỡng tập trung ở đấy. Nếu ta không cắt, lâu ngày chất keo này sẽ thành sụn, thành xương. Đó là sừng hươu. Trong rừng, con nai cũng cho những cặp nhung. Song vì ta không bắt được, lâu ngày sẽ thành sừng nai. Và đến một lúc nào đó, chúng sẽ rụng xuống. Nhiều người đi rừng, có khi nhặt được những cặp sừng nai (còn gọi là gạc nai) mang về đính vào tường, mắc áo, trang trí, hoặc nấu cao làm thuốc bổ (gọi là cao gạc nai).

Trong y học phương Đông (như ở Hàn Quốc) người ta dùng nhung hươu, sâm cao ly và nấm linh chi để sản xuất các loại thuốc bổ (như viên nang Sâm-Nhung-Linh chi). Những gia đình nuôi hươu, trong nhà lúc nào cũng có mấy lạng nhung hươu sấy khô, dự trữ, hoặc ngâm rượu để dùng lúc ốm đau, mỏi mệt.

Chuyện nuôi hươu lấy nhung ở quê tôi lắm điều thú vị. Mời bạn hãy đến quê tôi thưởng thức món thuốc bổ quý có một không hai này.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 10:56:29 PM

Xin trở lại với con sông Ngàn Phố thơ mộng.

Mùa hè, nước sông Ngàn Phố trong vắt, thuyền bè xuôi ngược tấp nập. Lúc còn là học sinh, sau mỗi lần tan học, chúng tôi thường lên sườn rú1. Nằm ngồi hóng mát. Nhìn qua bên kia sông là các xã Sơn Ninh, Sơn Hoà và xa hơn nữa là các xã Sơn Quang, Sơn Giang, Sơn Lệ, Sơn Tiến, rồi thẳng xuống hướng Đông là Sơn Châu, Sơn Bình, Sơn Trà, Sơn Long, Sơn Mỹ v.v...

Chúng tôi có thể ngồi yên hàng giờ, lắng nghe tiếng sáo diều, hoặc nghe tiếng rên rỉ của rừng thông khi trời trở gió. Đã có lần chúng tôi ngủ thiếp đi trong tiếng ve ngân.

Con gái Hương Sơn đẹp nổi tiếng! Có thể một phần là do được sống trong không khí trong lành của vùng quê và được tắm nước dòng sông Ngàn Phố trong vắt, ngọt ngào.

Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình miền Trung du, xung quanh là đồi núi, ôm lấy bản làng và những cánh ruộng bậc thang, mà tất cả các khe suối đều đổ dồn vào con sông Ngàn Phố. Ruộng đồng chưa đến mùa nắng đã hạn. Nhưng mới đầu mùa mưa đã bị lụt lội. Sau những trận mưa, nước từ trên nguồn đổ về, thoát không kịp, tràn ra các cánh đồng, làng mạc. Hàng năm, nơi đây không thể thoát được cảnh lụt lội triền miên. Trận lũ lịch sử đầu mùa mưa năm 2002 đã xoá đi hầu như tất cả những thành quả đã đạt được sau 10 năm đổi mới. Suy cho cùng thì đó cũng là hệ quả của những gì do con người thiếu ý thức gây nên. Cuộc sống của người dân quê tôi luôn bị thiên tai chi phối.

Việc áp dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp cũng như mở mang các ngành nghề chưa có. Mãi đến gần đây, được nhà nước quan tâm đầu tư, mới cải thiện được phần nào cuộc sống về vật chất cũng như tinh thần của người dân. Nhưng xem ra còn rất chậm, tuy không phải là nơi không có những tiềm năng về kinh tế. Tại đây có suối nước khoáng thiên nhiên (Nước Sốt), mỏ sắt (Sơn Trường), có nguồn lâm sản phong phú, có đường quốc lộ số 8 nối liền với nước bạn Lào và còn nhiều tài nguyên thiên nhiên chưa được đánh thức. Nhân dân ở đây cần cù chịu khó, trí thức dồi dào. Bởi vậy, mà có câu “Lắm tiền Thịnh - Xá, văn hoá Sơn Bằng” 2 đó sao...?! Cái chính là về vấn đề cơ chế của thời bao cấp, đã kéo dài nhiều năm, không được chỉnh sửa kịp thời nên đã không phát huy được tối đa nguồn nhân lực và tiềm năng của thiên nhiên. Đây là một vấn đề nhức nhối, không thể giải quyết được trong một sớm, một chiều.

Tôi là con út trong một gia đình có 5 anh chị em. Tuy sinh năm 1944 (năm Giáp Thân) nhưng trong giấy khai sinh của tôi lại ghi năm 1945. Có thể do các cụ ngày xưa nghĩ rằng: ghi ít tuổi thì con cái sẽ được học lâu hơn? Bố tôi là một nông dân chất phác. Thời phong kiến, ông là một chức sắc nhỏ trong làng. Ông sống tử tế, hay giúp đỡ những gia đình khó khăn, nên được mọi người kính trọng. Năm tôi được 1 - 2 tuổi thì bố tôi mất. Mẹ tôi đau buồn vô hạn. Có thể do thương ông mà bà đã dành trọn tình yêu cho chúng tôi, một mình bươn chải cố gắng nuôi dạy chúng tôi trưởng thành cho đến giờ. Tôi còn nhớ câu chuyện được bà con truyền lại. Chuyện kể rằng: Đến mùa cày cấy, các anh chị em tôi còn nhỏ, một mình mẹ thức khuya, dậy sớm lo việc ăn uống cho chúng tôi. Nhà không có gạo, chỉ ăn khoai, sắn. Sau khi ăn tối xong, mẹ thường để lại củ khoai to bằng nắm tay, để sáng hôm sau dậy sớm đem theo đi làm đồng. Ruộng nhà tôi ở tận trong núi thuộc xã Sơn Mai, cách làng những 6 - 7 cây số. Bốn, năm giờ sáng, mẹ tôi cập rập dắt bò, vác cày bừa vào ruộng. Có hôm vội quá, bà chỉ kịp vớ lấy củ khoai để ở đầu dàn bếp, gói lại treo ở đầu cái bừa rồi đi. Vào đến ruộng lấy khoai lang ra ăn thì không phải củ khoai mà là cái chày giã ớt... Mẹ tôi đành phải nhịn đói đến chiều mới về. Nhiều hôm, trước khi đi cày mẹ thường thắp đèn để đó, rồi đóng cửa đi làm trong lúc anh, chị em chúng tôi đang còn ngủ. Đi được một lúc, nghe tiếng chó sủa râm ran, nghĩ là ở nhà có trộm, mẹ tôi phải quay lại xem chừng, sau đó mới yên tâm đi tiếp. Và còn nhiều câu chuyện huyền thoại, cảm động về mẹ của chúng tôi.

Hà Tĩnh quê tôi là vùng đất cổ nghèo, nhưng là nơi có truyền thống văn hoá cách mạng. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng được sinh ra ở đây. Đó là đại thi hào Nguyễn Du, thi hào Binh bộ thượng thư Nguyễn Công Trứ, nhà địa lý huyền thoại Tả Ao, nhà chính trị Nguyễn Thiếp, nhà cách mạng Phan Đình Phùng v.v... Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ vừa qua, đã có biết bao người con ưu tú, biết bao bà mẹ Việt Nam đã hy sinh cho sự nghiệp cách mạng; đã có nhiều vị cán bộ giữ những trọng trách to lớn của Đảng và Nhà nước ta. Chúng tôi rất tự hào về truyền thống đó và cũng không thể không tự hào về truyền thống đó!

Cuộc đời niên thiếu của tôi trải nhiều cơ cực, nhưng cũng khoảng đời ấy đã cho tôi có được nhiều kinh nghiệm sống bổ ích.

Những năm sống dưới mái trường làng đã rèn luyện tôi có một phong cách, một bản lĩnh, một lối sống phù hợp với hoàn cảnh của địa phương và gia đình. Bởi vậy mà mỗi người chúng tôi dù đi đâu, ở đâu cũng mang theo trong mình dáng dấp truyền thống của quê hương, xứ sở.

Những năm học trường phổ thông, thiếu thốn đủ thứ. Gia đình thường xuyên thiếu gạo, nhiều lúc khoai sắn cũng không đủ ăn. Đi học, sách vở, bút mực thiếu thốn, thậm chí không có. Chúng tôi thường hái quả tắc (giống như quả chanh) vắt lấy nước, trộn với nước quả mua chín là được một thứ “mực” màu đỏ, hoặc màu tím; lấy que tre vót nhọn làm bút rồi viết lên những trang giấy bổi được làm từ bột trấu, có màu nâu (hồi đó gọi là giấy nâu). Đến lúc có giấy, bút, mực hẳn hoi lại không có tiền mua. Cả xã tôi lúc đó chỉ có 1 - 2 chiếc xe đạp cọc cạch, nhưng cũng thuộc diện nhà giàu mới có. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khốn khó ấy, lại cho tôi có nghị lực siêng năng, học giỏi.
_____________________________________
1. Rú: Tiếng địa phương nghĩa là núi.
2. Thịnh xá: Xã Sơn Thịnh là một trong những nơi buôn bán tấp nập. Ý nói buôn bán nên nhiều tiền bạc. Sơn Bằng: xã Sơn Bằng. Nơi phát triển về văn hoá - nhiều giáo viên.



Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 10:58:58 PM

Có hai sự kiện lúc bấy giờ, chắc nhiều người trong chúng ta còn nhớ. Đó là thời điểm trước và sau ngày hòa bình được lập lại ở miền Bắc nước ta và cuộc cải cách ruộng đất, đánh đổ giai cấp địa chủ, đem lại ruộng đất cho dân nghèo.

Những ngày này, quê hương tôi đã thực sự đổi đời, người nông dân được chia ruộng đất, trâu bò, nông cụ. Chúng tôi được ca hát, nhảy múa, sinh hoạt đội. Ban ngày được cắp sách đến trường, ban đêm đi cổ động, liên hoan văn nghệ, tham gia phong trào Trần Quốc Toản và các phong trào khác ở địa phương.

Ngày ấy, ở xã tôi có một đơn vị công binh xưởng, sơ tán về đây, lập các nhà máy sản xuất vũ khí, bom, mìn, lựu đạn. Tôi theo mấy chú vào xưởng máy, được xem những loại vũ khí do đơn vị sản xuất để cung cấp cho mặt trận. Tôi cũng đã biết được một số trang bị như nụ xòe, dây cháy chậm, kíp nổ, cách làm và nguyên lý nổ của những trái mìn, trái lựu đạn. Cũng do tính tò mò đã có những lần suýt chết, do điện giật, do nổ kíp. Sau này, khi nhập ngũ, tôi lại được biên chế vào đơn vị công binh, điều đó đã giúp tôi có được một số hiểu biết ban đầu về chất nổ và dụng cụ chế tạo bom, mìn phục vụ cho nhiệm vụ chiến đấu ở chiến trường.

Trước khi ký hiệp định Giơnevơ, thực dân Pháp cho máy bay ném bom khắp nơi. Đơn vị công binh xưởng ở quê tôi là một mục tiêu oanh tạc của máy bay địch. Nhiều phân xưởng bị bom đạn phá hủy, lửa cháy ngút trời. Các phân xưởng còn lại phải di chuyển liên tục từ xóm này sang xóm khác, hoặc phải nằm sâu dưới hầm để tránh bom. Lúc nhỏ, còn khờ dại, nên mỗi lần có tiếng máy bay gầm rú, mẹ đi vắng, anh chị em tôi kéo nhau trốn vào góc nhà, hoặc dưới gầm giường. Máy bay ném bom càng ngày càng ác liệt. Nhà nào cũng phải đào công sự để tránh bom. Trên các con đường làng đều có công sự, có nắp ngụy trang để cho người đi đường nhảy xuống ẩn nấp khi máy bay bất ngờ ập đến. Sợ quá, gia đình chúng tôi và một số gia đình khác phải sơ tán vào tận mãi trong xã Sơn Mai, cách nhà 6 - 7 cây số. Mẹ tôi thường phải đi đi, về về. Việc đồng áng, cày bừa đều do một tay mẹ tôi phải gánh vác.

Khi hòa bình được lập lại trên miền Bắc, chúng tôi được sống tự do, không còn sợ máy bay oanh tạc nữa. Anh chị em tôi theo mẹ về nhà. Song, trong niềm vui chung của một nửa đất nước được hòa bình, ở quê tôi còn nhiều gia đình có chồng, con, anh, em hy sinh ở Điện Biên Phủ, hoặc có người chết vì bị máy bay đánh phá!

Những năm học cấp 1 - cấp 2 ở trường càng là những năm tháng sôi nổi nhất, hồn nhiên, trong sáng nhất của đời tôi. Tuy nhà nghèo nhưng tôi học rất chăm chỉ, điều này đã giúp tôi có được hành trang tốt đẹp lúc bước vào đời quân ngũ.

Hồi ở quê, tôi biết yêu hơi sớm. Có lẽ, một phần do tôi xem nhiều tiểu thuyết lãng mạn. Đó là những cuốn “Mùa hoa dẻ”, “Đồi thông hai mộ”, “Cô gái màu hoàng yến” rồi “Tố Tâm”, “Biển động”... và cả những loại sách kiếm hiệp, trinh thám và sách cách mạng như “Một người chân chính”, “Thép đã tôi thế đấy”, “Chiến tranh và hòa bình”, cả những sách của các tác giả Trung Quốc như: “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, “Rừng thẳm tuyết dày”, “Đội du kích đường sắt”... tôi xem không biết chán. Mê sách đến nỗi tôi chép lại nguyên văn hai quyển tiểu thuyết “Mùa hoa dẻ” của Văn Linh và “Tố Tâm” của Hoàng Ngọc Phách... là những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng hồi đó. Văn hóa làng xã, nếp sống có đạo lý ở vùng quê đã in sâu trong tâm tưởng tôi.

Sau mỗi tác phẩm đọc xong, bao giờ tôi cũng tóm lược, hệ thống lại nội dung ghi vào một quyển tập. Điều này đã giúp tôi nhớ lâu và rút ra cho mình được nhiều điều bổ ích. Và, cũng từ đó mà trong tác phong sinh hoạt của tôi có pha chút lãng mạn và dí dỏm.

Đời học sinh, tôi có nhiều bạn bè, nam có, nữ cũng có. Đó cũng là điều tất nhiên của tuổi học trò.

Cái nghèo nó cay đắng làm sao! Năm tôi học đến cấp 3 rồi mà đôi dép cũng không có mà đi, không có một bộ quần áo cho tươm tất. Tôi thường phải cuốc bộ 6-7 km từ nhà đến trường. Hai bàn chân đã trở nên chai sạn. Mùa hè, đầu đội trời, chân đạp đất, mùa mưa phải mang tơi1 hoặc đội lá cọ đi học. Bạn bè thường trêu chọc gọi tôi là “con nhím” và viết lên mảnh giấy hai chữ “chống lả” 2 to tướng treo sau chiếc áo tơi. Bởi vậy mà bao giờ tôi cũng giữ một khoảng cách với các cô gái, bạn học mà lúc nào tôi cũng khát khao muốn được gần họ. Cái khoảng cách ấy tôi vẫn duy trì mãi cho đến ngày nhập ngũ, xa quê hương. Nói cho cùng thì đó cũng là cái cực, cái khổ của thế hệ chúng tôi lúc đó.
_____________________________________
1. Chiếc tơi làm bằng lá nón, dùng để che mưa, trông bề ngoài giống con nhím.
2. Lả: tiếng địa phương (tức là lửa) ý nói chống cháy.



Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 11:00:20 PM

Tôi học vào loại khá. Do đọc sách nhiều mà tôi có được một ít vốn liếng văn chương. Còn các môn tự nhiên thì đã là một năng khiếu đối với tôi. Ngày ấy để nhớ và nhớ lâu các công thức về lượng giác, về hóa học và các hằng đẳng thức môn đại số..., tôi thường viết lên những chỗ hàng ngày thường đập vào mắt mình nhất, để có thể ngồi đâu cũng thấy. Thậm chí, tôi viết luôn vào nhà xí, để khi đi vệ sinh cũng nhìn thấy được. Sau ba mươi năm đi chiến đấu, trở về quê nhà, tôi vẫn còn nhìn thấy các công thức toán học ghi trên xà nhà, trong chuồng heo, chuồng bò.

Tôi cùng bạn bè còn sáng tác ra những đoạn thơ ngắn để dễ học, dễ nhớ. Ví dụ: thứ tự thực hiện các phép tính đại số như:

Con chim nó hót líu lo,
Nhắc cậu học trò, năm bước tỷ ti:
Mẫu số ta phải “khử” đi,
Khai triển “dấu ngoặc” ta thì làm nhanh.
Nhắn nhủ các chị các anh:
“Chuyển vế” các số “dấu” đành đổi thay,
“Số hạng đồng dạng” ra tay,
“Ước lược” cho gọn lúc này mới chia.
Muốn cho tránh tiếng cười chê:
Hệ số là phảimột bề “khác không” (≠ 0)

Hoặc:
 
“Tang” mình cộng với “tang” ta,
Xin (sin) trên đôi lứa, “cốt” ta, “cốt” mình.

Với những kiến thức cơ bản đó, mà trong thực tế chiến đấu sau này đã giúp tôi làm được rất nhiều việc. Nó không những giúp cho tôi tiếp thu những kiến thức quân sự nhanh, mà việc áp dụng trong thực tế chiến đấu cũng rất phong phú. Trong việc tính toán lượng thuốc nổ để đánh cầu, cắt đứt giao thông trong chiến tranh chống Mỹ, hoặc phá hoại các công trình quân sự của địch, chúng tôi thường áp dụng công thức tính lượng nổ: P = 20F.

Bê tông cột thép dù dày,
Hai mươi lần ép (20F), biến mày thành than!

Rồi những môn học như địa lý, bản đồ, đo đạc... đã giúp tôi những kiến thức cần thiết trong khi đi trinh sát mục tiêu của địch ở trên chiến trường. Chỉ cần một mảnh bản đồ, một la bàn (địa bàn) là chúng tôi có thể đi cùng trời cuối đất, theo yêu cầu của người chỉ huy.

Tôi không bao giờ quên các thầy cô, như thầy Nguyễn Đình Côn, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Mộng Đào, thầy hiệu trưởng Trần Đình Tiêu, thầy chủ nhiệm Lê Bá Đô, thầy Tống Trần Trinh, Nguyễn Hữu Cầu, thầy Trần Trọng Chấm, thầy Đoàn Dánh, thầy Nguyễn Xuân Mạnh, thầy Vũ Hồng Phi, Trần Tường, cô Phạm Thị Nga, cô Đào Thanh An và nhiều thầy cô khác đã dạy dỗ tôi lúc còn là học sinh cấp 1, cấp 2 và cấp 3 huyện Hương Sơn. Các thầy cô đã “theo” tôi sát tận chiến trường, tiếp thêm sức mạnh cho tôi trong từng trận chiến đấu. Cho đến hôm nay, tôi vẫn hằng mong có ngày gặp lại các thầy cô kính mến.

Xin cảm ơn các thầy, các cô đã trang bị cho tôi kiến thức, nhân cách sống và đưa tôi vào trận cùng với dân tộc đánh thắng kẻ thù.

Nhận thức được cương vị và đức tính của người giáo viên nhân dân, tốt nghiệp cấp 2 (nay là trung học cơ sở), khi chọn ngành nghề để thi vào các trường, tôi đã chọn ngành sư phạm, nhưng vì chưa đủ tuổi, nên tôi đành phải thi chuyển cấp lên cấp 3, hệ 10 năm (nay là phổ thông trung học). Tôi thi đậu ngay vào lớp tám. Đời học sinh của tôi lại được tiếp tục thêm 3 năm nữa. Nếu không có cuộc chiến tranh đang diễn ra ác liệt ở miền Nam, chắc chắn mẹ tôi vẫn cho tôi theo học đến nơi đến chốn.

Năm 1964, kết thúc chương trình lớp 9 phổ thông, tôi được lên lớp 10. Đây cũng là thời điểm tôi đến tuổi nghĩa vụ quân sự. Sức khỏe của tôi thuộc diện A3, nên được trúng tuyển. Thời gian này phong trào đi bộ đội đang nổi lên rầm rộ. Thậm chí lúc bấy giờ những người muốn được đi bộ đội phải làm đơn, phải hội đủ các tiêu chuẩn mới được chấp nhận chứ không phải muốn đi là được.

Nhập ngũ cùng đợt với tôi, trong xã duy nhất chỉ có hai người. Tôi và Uông Văn Sâm. Các xã khác có nhiều, song tôi chỉ nhớ xã Sơn Hàm có Hồ Huy Liễu, Sơn Mai có Trần Sỹ Mỹ, Sơn Thịnh có Trần Siêu, Sơn Tân có Báu, và một người nữa tôi không nhớ quê là Nguyễn Minh Hiển. Những người bạn cùng trang lứa với tôi, sau này lần lượt hy sinh tại chiến trường Khu 5. Duy nhất có lẽ chỉ mình tôi, hầu như còn nguyên vẹn cho đến bây giờ.

Thừa hưởng truyền thống của quê hương, khi lớn lên tôi theo gót cha anh đi chiến đấu trên các chiến trường suốt 30 năm không nghỉ. Cho đến nay, nhìn lại quãng đường đời đã qua, tôi không có gì phải băn khoăn, ân hận vì đã hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó. Nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc.

Cuộc đời chiến đấu của tôi đầy ắp những kỷ niệm vui, buồn. Có những kỷ niệm phải trả giá bằng xương máu. Mỗi kỷ niệm là một sự kiện trong chiến đấu, một thành quả trong công tác, học tập và lao động. Tôi thấy mình sống được đến ngày hôm nay là điều may mắn, hạnh phúc so với biết bao đồng chí, đồng đội đã ngã xuống trên khắp các chiến trường.

Thời ấy chúng tôi không hề có tư tưởng đi bộ đội là để được làm ông này bà nọ, tất cả đều nhận thức là đi đánh giặc để cứu nước. Hơn nữa đó cũng là truyền thống chống giặc ngoại xâm của cha ông chúng ta từ xưa đến nay. Mặc dù chưa hình dung hết được sự ác liệt của chiến tranh, nhưng chúng tôi đều biết rằng vào bộ đội là phải chịu đựng mọi gian khổ, kể cả phải hy sinh xương máu, chúng tôi bước vào cuộc chiến một cách tự nguyện. Tự nguyện hiến dâng cho tổ quốc cả cuộc sống và tuổi trẻ của mình.

Trong những ngày chuẩn bị lên đường, nhà trường tổ chức liên hoan; địa phương tổ chức liên hoan; bạn bè xa gần đến chúc mừng và chia tay. Những dòng lưu niệm ghi kín cả quyển sổ tay... Thế mới biết, đời học sinh tuy gian lao, vất vả, nhưng tình cảm biết bao.

Năm tôi nhập ngũ, khí thế tham gia vào quân đội càng lúc càng sôi nổi khắp miền Bắc nước ta.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 11:01:10 PM

***

Quê tôi cũng như nhiều nơi trên miền Bắc thời bấy giờ, gia đình nào cũng tự hào khi có người thân đi bộ đội, hay thoát ly đi hoạt động cách mạng. Tôi chính thức tham gia cách mạng từ ngày 10 tháng 8 năm 1964. Trước đó, tôi chưa bao giờ đi xa khỏi huyện nhà.

Ngày nhập ngũ ghi dấu ấn sâu đậm không thể nào quên được trong đời tôi. Tôi là con út, lại có được một ít chữ nghĩa, thuộc loại có trình độ trong làng. Lúc bấy giờ, số thanh niên cùng trang lứa, học đến cấp III còn rất hiếm, do đó tôi được gia đình và bà con lối xóm đến đưa tiễn rất đông. Mọi người “rồng rắn” đưa tôi lên phố huyện. Ai cũng nói những lời tốt đẹp; ai cũng chúc cho tôi đi “chân cứng, đá mềm”, cố gắng cho bằng anh bằng em, hoàn thành nhiệm vụ, mau trở về với bà con làng xóm. Cô gái làng mà tôi đã được quen biết, đã đem lòng thương trộm, nhớ thầm, cứ e lệ, rụt rè, mắt đỏ hoe, chớp chớp nhìn tôi rồi quay mặt đi chỗ khác... Tôi còn nhớ, khi chia tay, cô bạn gái học dưới tôi một lớp, ghé sát tôi nói nhỏ:

- Anh cứ đi mạnh khỏe, ở nhà em chờ!

Nói xong cô đỏ mặt, vùng chạy, hân hoan như đã làm xong một công việc hệ trọng... Tôi chưa kịp nói một lời cảm ơn, thì cô đã mất hút trong dòng người đến đưa tiễn. Tôi hiểu tất cả nỗi lòng của mọi người trong phút chia tay. Dường như cây cỏ, hóa lá xung quanh cũng như đang chia sẻ với tôi giây phút lưu luyến ấy. Tôi chỉ biết gạt nước mắt, cảm ơn tất cả mọi người. Ngày ra đi, tôi cũng không ngờ phải đến 11 năm sau, cuối năm 1975 tôi mới được trở về quê nhà lần đầu tiên trong đời lính.

Sau cuộc tiễn đưa lưu luyến ấy, từ huyện Hương Sơn, chúng tôi hành quân bộ suốt một tuần lễ, dưới nắng hè gay gắt mới đến được nơi đóng quân ở thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Từ Vĩnh Linh thuộc tỉnh Quảng Trị ra đến các huyện Tuyên Hóa, Minh Cầm, Lệ Thủy, Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch... thuộc tỉnh Quảng Bình là địa bàn mà đơn vị chúng tôi đi ra, đi vào thường xuyên để huấn luyện quân sự, rèn luyện nâng cao thể lực. Đây cũng là những nơi đơn vị tôi thường có giúp dân chống hạn, chống lụt, thu hoạch mùa màng.

Tuy việc học tập mệt nhọc, hành quân đường dài, leo núi, leo dốc, nhưng tuổi trẻ chúng tôi lúc đó rất vui, rất yêu đời và vô tư. Phía tây tỉnh Quảng Bình có con dốc cao, dân địa phương gọi là dốc Cao Mãi. Tuần nào đơn vị chúng tôi cũng leo qua đấy để tập hành quân chiến đấu, và nâng cao thể lực. Anh em làm mấy câu thơ:

Em trông chi đó,
Em ngó chi đây.
Chồng em đang leo dốc Cao Mãi
Ở miền tây Quảng Bình.


Cuối năm 1964, tôi được biên chế vào đại đội công binh, trực thuộc Sư đoàn 325, chuẩn bị đi B (vào miền Nam).

Là một trong những đơn vị sẽ vào miền Nam ở giai đoạn đầu, nên chúng tôi được ưu tiên tối đa về các chế độ tiêu chuẩn, nhất là cung cấp về vật chất.

Ăn cơm trung táo,
Mặc áo Blu dông,
Lương tháng năm đồng
Ba năm không phép.


Thời kỳ này theo quy định về tiêu chuẩn thì có ba chế độ: Ăn theo tiêu chuẩn đại táo là thấp nhất, dành cho các lực lượng ở lại hậu phương; tiếp đến là chế độ trung táo và tiểu táo, dành cho các đơn vị đi B. Chúng tôi được hưởng chế độ “trung táo” là rất ưu tiên. Vì lúc ấy, nhân dân miền Bắc phải thắt lưng, buộc bụng để chi viện cho chiến đấu và cho đồng bào ở vùng giải phóng miền Nam, nên thực phẩm đã bắt đầu khan hiếm.

Trong hơn 6 tháng huấn luyện trên mảnh đất khô cằn của tỉnh Quảng Bình, mỗi tuần chúng tôi tập hành quân 3 ngày, mang vác trên vai bất cứ vật gì từ 25 - 30 kg, có khi là gạo, thực phẩm và nếu chưa đủ trọng lượng thì phải bỏ thêm gạch, đá vào ba lô.

Chúng tôi tập hành quân đường dài, leo núi, leo dốc, tập dã ngoại, tập vượt sông, tập các động tác quân sự và chuyên môn của binh chủng công binh, rồi lên rừng đẵn cây về xây dựng doanh trại...

Công tác chính trị lúc bấy giờ rất phong phú và được đặt lên hàng đầu, nên đã tạo được không khí hào hứng thi đua sôi nổi giữa các phân đội, mặc dù chưa ai hình dung được cuộc chiến đấu sắp tới sẽ ra sao. Trước mắt, chúng tôi chỉ biết rằng: công tác chính trị đã giúp những người lính trẻ đỡ bớt nhớ nhà, nhớ người yêu, bạn bè... Thời gian này, theo quy định, không một ai được gặp người thân, cũng không được viết thư về nhà nói đến những công việc của đơn vị. Anh em nào được cử ra ngoài đi công tác mà lén gửi thư về nhà thì thư cũng không đến được tay người nhận! Các trạm bưu điện kiểm duyệt rất chặt chẽ. Hầu hết chúng tôi đều tuân thủ các quy định một cách tự giác, vì lợi ích quốc gia.

Tình hình trên miền Bắc ngày một căng thẳng. Sau “Sự kiện vịnh Bắc bộ”, ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ đã cho máy bay ném bom ở một số nơi trên miền Bắc nước ta. Đơn vị chúng tôi nằm trong trạng thái báo động liên tục. Lúc báo động thật, lúc báo động giả. Nhiều anh lính trẻ ban đêm nằm ngủ không dám cởi giày, lúc nào cũng nơm nớp lo báo động. Một hôm, vào khoảng 8 - 9 giờ tối cuối năm 1964, địch bắn pháo dữ dội vào làng Cảnh Dương, một làng gần sát bờ biển tỉnh Quảng Bình. Chúng tôi được lệnh sơ tán vào núi. Tiếng còi báo động hú lên từng hồi. Chúng tôi chỉ kịp xách súng, khoác ba lô chạy, mãi đến gần sáng, mới được lệnh dừng chân trong một khu rừng kín đáo. Đây được coi như một thử thách đầu tiên sau một thời gian tập luyện.

Ngày 16-3-1965, thời điểm mong đợi bao ngày đã đến. Chúng tôi bắt đầu hành quân vào chiến trường miền Nam. Toàn bộ những vết tích của miền Bắc, như tiền bạc, quần áo tư trang, tranh ảnh... được lệnh không mang theo. Một kỷ niệm duy nhất là tấm hình của người bạn gái quê nhà, tôi cũng phải để lại, mà trong lòng cảm thấy nuối tiếc vì phía sau tấm ảnh có ghi địa chỉ, ngày tháng kỷ niệm của cô gái.

Tôi được trang bị một khẩu súng trường CKC dài gần bằng chiều cao của mình. Còn quân tư trang thì được trang bị một “mô đen” hoàn toàn mới. Đó là một bộ bà ba đen, hai bộ quân phục lính Pha Thét Lào (vì có những đoạn đường phải đi qua nước bạn Lào) và trang phục may theo kiểu người miền Nam thường mặc và các trang bị khác như áo mưa, tăng, võng, lương khô, giày, dép, v v… Mỗi người được nhận 7 ngày gạo, lương khô, đường, sữa và tất cả những vật dụng cần thiết, như bấm móng tay, bật lửa, kim chỉ khâu, cây rút quai dép, dao cạo râu, dụng cụ và thuốc quân y như cao con hổ, thuốc lọc nước, thuốc bổ Pôlivitamin, bông băng cá nhân và nhiều thứ khác... Tổng trọng lượng từ 25 - 30 kg.

Nhận tất cả những trang bị trên, chúng tôi thầm cảm ơn ngành hậu cần quân đội, đã quan tâm đến người lính chúng tôi thật chu đáo.

Điểm xuất phát của các đơn vị vào Nam là làng Ho, một ngồi làng ẩn trong khu rừng già phía Tây Quảng Bình, địa danh mà tất cả các đơn vị đi B vào thời kỳ ấy đều không thể nào quên được. Ở đây tất cả chúng tôi đều hô vang lời thề thiêng liêng, sẵn sàng dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trong buổi lễ xuất quân long trọng. Và đây chính là nơi chúng tôi từ giã đất Bắc, bước vào cuộc trường chinh khốc liệt của mình. Thiết nghĩ, ngày nay, sau khi đất nước ta được thống nhất, có lẽ cũng nên xây dựng một công trình văn hóa, lịch sử tại đây để các thế hệ mai sau, biết đến một địa danh đã từng là chứng tích lịch sử.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 11:02:34 PM

VƯỢT TRƯỜNG SƠN


Đại đội công binh chúng tôi được biên chế ba trung đội. Đồng chí Trần Hữu Biền là chính trị viên, Bí thư chi bộ; đồng chí Lê Xuân Chi là đại đội trưởng. Cả hai đồng chí đều quê Nghệ An. Đó là những cán bộ có ý chí, có kỷ luật và đầy trách nhiệm. Các anh là tấm gương sáng cho chiến sĩ chúng tôi noi theo.

Trước đó một tháng, đồng chí Thái Hiền Vỹ, trung đội trưởng, một cán bộ quê tỉnh Bến Tre, tập kết ra Bắc, đã đưa một trung đội đi trước cùng với một số đơn vị làm nhiệm vụ mở đường. Những năm sau đó, trung đội này chuyển đi đâu, chiến đấu như thế nào, ai còn, ai mất tôi không được rõ. Chỉ biết là sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, khi về thăm quê nhà lần đầu tiên vào tháng 11-1975, tôi được tin đồng chí Uông Văn Sâm - bạn chiến đấu cùng nhập ngũ một lúc với tôi năm 1964, đã hy sinh, cùng với một số anh em trong trung đội của đồng chí Thái Hiền Vỹ...

Đêm 16-3-1965, chúng tôi rời đất Quảng Bình, lên đường vào Nam mà lòng tràn đầy lưu luyến. Núi rừng miền tây Quảng Bình im lìm như đang trong giấc ngủ. Bầu trời không một gợn mây, đầy sao lấp lánh. Ánh trăng xuyên qua các kẽ lá, soi rõ bước chân đoàn quân đang lặng lẽ tiến về phía trước. Mọi người im lặng, không nói một câu. Chúng tôi bước đi mà trong lòng mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng tư. Nhìn những gốc cây, tảng đá, những con đường mòn dẫn vào chân núi, những con suối chảy róc rách, lòng tôi cảm thấy bồi hồi. Chúng tôi cố ghi lại trong ký ức những cảnh vật đã gắn bó với mình trong những tháng ngày luyện tập vất vả. Không ai trong chúng tôi có thể biết được là mình sẽ sống, sẽ có dịp trở lại nơi này...?

Tuyến đường ngày ấy chưa hình thành một cách rõ nét. Lúc đầu chỉ là những lối mòn từ các bản làng xuyên vào núi. Càng đi sâu vào phía Nam, đường càng khó đi. Đoàn quân bị hút dần vào đại ngàn Trường Sơn. Dọc đường, chúng tôi đi theo lối mòn của đoàn quân đi trước đã được đánh dấu. Con đường dần dần được phát rộng ra, làm thành bậc để vượt đèo. Đèo ngàn lẻ một (1001) là thử thách đầu tiên đối với tất cả các đơn vị đi B hồi đó. Sáng ăn cơm ở chân đèo phía Bắc; trưa ăn cơm nắm ở đỉnh đèo; chiều tối mới tới được chân đèo phía Nam. Sau nhiều năm, đường sá phát triển và đã sử dụng đến binh khí kỹ thuật, phương tiện vận tải cơ giới. Do đó địch đã chú ý và đánh phá ngày càng ác liệt, hòng ngăn chặn sự chi viện sức người, sức của từ miền Bắc vào miền Nam. Thế nhưng, ta cũng “Kiên quyết xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Và, con đường ấy, đã trở thành huyền thoại, thể hiện ý chí của toàn quân, toàn dân ta, quyết tâm giải phóng miền Nam. Ai đã một lần viếng thăm nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn mới thấy được sự hy sinh to lớn của cả một dân tộc, ý chí quật cường của các thế hệ vừa qua. Cho đến nay vẫn chưa có sách vở, tài liệu nào nói lên hết được những gian khổ, vất vả, ác liệt trên đường Trường Sơn của những người lính ngày ấy. Cũng chưa có một cuốn sách nào viết lên hết được về sự đóng góp, hy sinh to lớn của đồng bào các dân tộc thiểu số của chúng ta. Ngày nay, nhà nước chủ trương làm con đường Trường Sơn mang tên Bác, tạo điều kiện cho khu vực Tây Nguyên phát triển, cũng là một cách bù đắp lại một phần công lao của đồng bào trước đây.

Trên đường vào Nam chiến đấu có biết bao nhiêu câu chuyện cảm động và những tấm gương đáng khâm phục của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, những người con kiên cường anh dũng bám trụ trên trục đường và hết lòng ủng hộ bộ đội Cụ Hồ. Đó là những nam, nữ chiến sĩ giao liên, lặng lẽ, cần mẫn đưa các đoàn quân ra trận. Trên lưng họ mang gùi, bên trong là nắm cơm gạo mục, có khi chỉ là củ sắn. Họ đi suốt ngày này sang ngày khác, suốt năm này sang năm khác, bất kể gió mưa, bệnh tật, và bom đạn quân thù.

Trước đoàn quân chúng tôi là một anh giao liên, người dân tộc thiểu số, vai mang gùi, chân đi đôi dép cao su đã vẹt gót, tay cầm con dao đi rừng. Nước da ngăm đen, tóc chấm ngang vành tai, nhưng đôi mắt trong sáng và đặc biệt là dáng đi thoăn thoắt. Anh lội qua con suối, nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác như con sóc nhảy nhót trên cành cây. Mỗi lần đi lâu quá, chưa đến chỗ dừng chân, chúng tôi hỏi anh:

- Đã gần đến nơi chưa?

Anh trả lời:

- Còn một con dao quăng nữa!

Anh không giải thích độ dài “con dao quăng” là bao nhiêu, nhưng chúng tôi đi thêm một tiếng đồng hồ nữa, cũng vẫn chưa thấy đến. Chúng tôi thắc mắc. Có người vì mệt quá, cằn nhằn:

- Nói một “con dao quăng” mà sao lâu thế?

Anh đáp:

- Một giờ nữa mới đến!

Thì ra, người dân tộc ở đây khi đi rừng, đốn cây thường cầm dao một tay, một tay cầm thuốc hoặc cái tẩu đến khi mỏi thì đổi sang tay khác, mà thường phải hơn một giờ mới đổi tay. Có những anh lính, vì mệt nhọc quá, không kiên nhẫn được nữa, cứ hỏi liên tục. Anh giao liên tỉnh bơ và trả lời một câu, vừa gọn, vừa triết lý:

- Có đi, có đến, không đi không đến!

Thế là chúng tôi đành im lặng rảo bước một cách nặng nhọc. Cuối ngày, rồi cũng đến trạm dừng chân.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 11:05:31 PM

Thời gian đầu gần hậu phương miền Bắc, lương thực, thực phẩm còn dồi dào, sức khỏe mọi người còn tốt. Nhưng càng đi sâu vào miền Nam, càng xa hậu phương miền Bắc, càng thiếu thốn, sức khỏe càng giảm sút. Chúng tôi bắt đầu ăn sắn thay cơm, hái rau tàu bay, môn dóc, lá bứa1… làm thức ăn. Nhiều anh em do thiếu chất dinh dưỡng, nên đã sưng phù tay chân, mình mẩy. Những ngày nghỉ, giờ nghỉ, bộ đội lại vào rừng hái rau, hái măng, hoặc những thứ có thể cải thiện thêm bữa ăn hàng ngày của đơn vị. Đôi khi đã xảy ra tử vong do ăn phải nấm độc. Vì vậy, mà có câu thơ rằng:

Hải Dương ăn nấm từ trần
Hà Tây suýt chết một lần với Hải Dương.
Nhìn về xứ Nghệ mà thương
Chuối rừng ba nải, bụng trương phì phì...

Chả là có một số anh em quê tỉnh Hải Dương, chết vì ăn phải nấm độc trong rừng. Mấy anh em Hà Tây cũng suýt chết vì ăn theo. Còn số anh em quê Nghệ An thì ăn quả chuối rừng bị chứng khó tiêu, bụng căng phồng, nằm thở phì phò, trào cả nước mũi, nước miếng... Kinh nghiệm đường rừng dần dần được bộ đội Trường Sơn đúc kết, soạn thảo ra một cuốn sách nói về những vị thuốc Nam chữa bệnh, những loại rau ăn được hoặc những loại nấm độc, lá độc không nên đụng vào. Từ đó mà các đoàn quân sau này đã tránh được những trường hợp thương tâm.

Hàng ngày, sinh hoạt của chúng tôi theo một công thức lặp đi, lặp lại trên suốt chặng đường hành quân vào chiến trường: Sáng đi, tối đến trạm. Buổi sáng (có lúc 5 hay 6 giờ tuỳ theo đặc điểm, tính chất và tình hình của cung đường) thức dậy. Hành quân đến 11 - 12 giờ vừa được nửa cung đường, dừng lại ăn cơm nắm, sau một tiếng đồng hồ, lại tiếp tục hành quân. Chiều tối đến trạm giao liên. Trạm giao liên thường được tổ chức ở những nơi kín đáo có các khe, suối có cây để mắc võng ngủ qua đêm. Trạm này cách trạm khác một cung đường, đủ thời gian đi bộ trong một ngày. Thường thì tốc độ hành quân từ 2,5 đến 3 km trong một giờ, trong điều kiện mang vác nặng, lại phải trèo đèo, lội suối. Tùy đoạn đường xa hoặc gần địch mà có sự thay đổi về thời gian và tốc độ hành quân, cũng như đi đêm hoặc đi ban ngày. Trung bình các cung đường dài từ 25 - 30 km hoặc hơn.

Tại các trạm, thường có một số y tá, bác sĩ, một số giường bệnh và thuốc men để tiếp nhận, cấp cứu hoặc nuôi dưỡng tại chỗ cho một số thương bệnh binh trên dọc đường. Ngành Hậu Cần còn bố trí cả một số kho lương thực, thực phẩm chuyển từ hậu phương miền Bắc vào hoặc từ dưới vùng đồng bằng, địch hậu chuyển lên dự trữ và cung cấp cho các đoàn quân đi vào, đi ra khi hết lương thực. Mỗi trạm đều có một số anh chị em giao liên, người dân tộc thiểu số, hoặc anh chị em người Kinh ở dưới vùng đồng bằng lên. Tất cả đều vui vẻ, yêu đời và đầy tinh thần trách nhiệm. Có những cô gái người dân tộc mang trên vai cả bộ đàn T’rưng, đến những chỗ dừng chân nghỉ trưa, trên bờ suối nước chảy róc rách, các cô đánh đàn cho chúng tôi nghe để xua tan những mệt nhọc trên đường hành quân. Họ đã hy sinh cả những tình cảm lứa đôi từ lúc tuổi trăng tròn, ngày đêm gắn bó từng cung đường đã được phân công. Không phân biệt người Kinh hay người Thượng, họ đều gắn bó bên nhau như anh chị em trong một gia đình. Hàng ngày, họ chỉ biết lo sao cho hoàn thành nhiệm vụ đưa đoàn quân đi đến nới, về đến chốn được bí mật, an toàn.

Khi đến trạm giao liên, tiểu đội trưởng phân công các chiến sĩ, mỗi người một việc. Người chặt cây, người đi hái rau rừng, kiếm củi khô, người thì lau chùi vũ khí, che bếp, không cho ánh sáng ban đêm lọt ra ngoài, với nguyên tắc “Ban đêm cấm lửa, ban ngày cấm khói” để đề phòng máy bay địch phát hiện, oanh tạc. Ở những nơi gần địch, một số người được phân công nhiệm vụ đào công sự. Tôi thường được phân công đi tập trung các bi đông của tiểu đội, chế nước sôi vào cho ngày mai hành quân. Đôi khi trung đội trưởng điều tôi lên để ghi chép sổ sách. Đặc biệt, tiểu đội trưởng Võ Tùng, quê ở huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh rất “cưng” tôi. Đồng chí là người anh cả của tiểu đội, mẫu mực về trách nhiệm và tình cảm, luôn gần gũi, giúp đỡ động viên mọi người trong suốt chặng đường hành quân. Chúng tôi rất cảm phục đồng chí.

Có hôm, tiểu đội che xong bếp, vừa nhóm lửa lên nấu cơm thì máy bay địch xuất hiện. Lệnh báo động, phải tắt lửa ngay. Khi máy bay bay qua, vừa nhóm lửa trở lại, thì cơn mưa đầu nguồn ập đến làm tắt ngấm, khiến gần nửa đêm mọi người mới có cơm ăn.

Đêm nằm ngủ cũng không được ngon giấc, vì vắt ở Trường Sơn nổi tiếng độc địa. Những vết vắt cắn rất khó cầm máu. Có những loại vắt (gọi là vắt lá) màu xanh như lá cây, rất khó phát hiện. Thân tuy nhỏ như que tăm, nhưng chúng cắn đau nhói. Chúng thường bám vào các lá cây ven đường, ngóc đầu lên, hễ người đi qua là bám ngay vào quần áo, chui vào nách, vào bụng và những chỗ hiểm, da mỏng trong người mà cắn, mà hút máu. Khi đã no tròn chúng tự nhả ra, rơi xuống đất, máu thấm ướt quần áo suốt cả ngày cũng không cầm được. Về sau, anh em bày cho nhau lấy lá rau má, hoặc lá chua me đất đắp lên vết cắn, cầm máu ngay. Đây là một kinh nghiệm mang tính khoa học được áp dụng với bộ đội Trường Sơn ngày ấy. Trên đường hành quân cũng có lúc gặp phải nơi vắt vàng quá nhiều (một loại vắt lớn hơn vắt lá, có màu vàng sẫm, sống dưới mặt đất) thì chúng tôi lại có sáng kiến lấy một nhúm muối hạt, bọc trong một miếng vải và cột vào đầu chiếc đũa hoặc một que tre, nhúng cho ướt nước, vắt bám vào chỗ nào chỉ việc chấm gói muối lên đó là “rụng” hết.

Cũng như bếp “Hoàng Cầm” của anh nuôi, có ai đó đã thiết kế cách mắc võng rất khoa học. Những sáng kiến này đáng được tặng huân chương lắm chứ! Khi mắc võng trên rừng Trường Sơn, nhất thiết hai đầu võng phải có hai cọc phụ. Hai cọc phụ này cao khoảng 1,20m – 1,50m được buộc vào hai cây rừng tự nhiên với khoảng cách lớn hơn hoặc bằng chiều dài chiếc võng (2.50m). Từ hai đầu của hai cọc phụ, buộc hai đầu võng lại với nhau. Bên trên căng sợi dây và lợp một tấm ni lông theo hình mái nhà. Như vậy nếu trời mưa nước sẽ theo hai cây rừng tự nhiên chảy xuống đất, không bao giờ bị ướt võng. Ở bốn góc của tấm ni lông, thường được buộc với các cây tự nhiên xung quanh bởi bốn dây thun (dây cao su) có độ co dãn, để khi trời mưa có kèm theo gió thì ni lông không bị giật rách. Buộc dây võng, làm giá để ba lô cũng như “một môn khoa học” mà mọi người từ chỉ huy đến chiến sĩ đều phải thành thạo. Buộc sao cho khi báo động hành quân, hoặc sáng hôm sau thức dậy, chỉ cần rút nhẹ đầu dây là lấy được võng ra khỏi cọc phụ để xếp vào ba lô được dễ dàng và nhanh chóng. Với các thế hệ ngày nay, dù trang bị có tối tân, hiện đại đến mấy, thiết nghĩ cũng nên cho bộ đội “đi” lại những nội dung động tác cơ bản mà các thế hệ đi trước đã từng làm, như đào bếp Hoàng Cầm, động tác mắc võng, làm giá để ba lô, giá để súng, đóng quân dã ngoại trong rừng, v.v...

Mọi công việc, sau khi hành quân đến trạm giao liên phải xong trước 21 giờ (càng sớm càng tốt) để giành thời gian cho bộ đội ngủ, nghỉ. Ấy thế mà nhiều lúc nằm xuống võng chưa được bao lâu thì trời đã sáng. Lại bắt đầu một ngày trèo đèo, lội suối tiếp tục hành quân. Cứ thế, chúng tôi đi mãi, đi mãi; ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác. Bao nhiêu kỷ niệm về người thân, quê hương, bạn bè, đều lùi vào quên lãng. Chúng tôi luôn hướng về phía trước.
_______________________________________
1. Các loại rau rừng bộ đội thường dùng trên đường Trường Sơn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 11:06:47 PM

Bộ đội chúng ta phải chịu đựng biết bao vất vả, gian nan trên đường Trường Sơn ngày ấy. Anh em hy sinh trên con đường này, có người do sốt rét ác tính mà thuốc men thì đã cạn; có người bị chết đuối do mưa lũ, vượt sông, có đêm đang ngủ trên võng bị cây đổ đè lên; hoặc có người chết vì bị rắn cắn, hổ vồ, hay chết vì ăn phải nấm độc... Không sao kể xiết những trường hợp thương tâm. Chưa nói đến những lúc hy sinh do đạn pháo, máy bay hay bị địch phục kích dọc đường. Nhân đọc cuốn nhật ký của anh hùng, liệt sỹ - bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm, tôi thật sự cảm phục trước tinh thần vượt khó khăn, gian khổ của chị. Những người đã trải qua những tháng ngày vượt Trường Sơn và chiến đấu trên chiến trường ác liệt - như chị viết “Cái chết ở đây còn dễ hơn ăn một bữa cơm!...”. Chị rất xứng đáng là người anh hùng. Chúng tôi, những người lính của sư đoàn Sao Vàng, đã từng chiến đấu bên cạnh chị trong những năm tháng cực kỳ gian khổ, ác liệt trên chiến trường Khu 5 nói chung, mặt trận Bắc Bình Định - Nam Quảng Ngãi nói riêng, nên rất thấm thía những điều chị viết.

Xin được trở lại theo bước chân của những người lính vượt Trường Sơn năm xưa.

Về lương thực, do được giáo dục kỹ, nên dù bị đói, nhưng chúng tôi không hề động đến nương rẫy, hoa màu của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Câu thơ sau đây nói lên tâm trạng một vài anh lính khi không vượt qua được sự thiếu thốn:

Tà tà chân bước vào nương,
Tay ôm quả bí, lòng thương đồng bào!

Câu thơ đọc lên thoáng nghe thấy thật buồn cười, nhưng ngẫm lại thì cũng thật cảm động.

Đồng bào các dân tộc của chúng ta thiếu thốn đủ thứ, nhất là thiếu muối. Còn bộ đội chúng tôi thì lại thiếu thực phẩm. Do đó đã nảy sinh ra việc trao đổi qua lại giữa bộ đội và đồng bào các dân tộc trên dọc đường hành quân. Chúng tôi đổi muối hoặc một số tư trang lấy thực phẩm như heo, gà, bầu, bí... những thứ mà đồng bào nuôi được, trồng được. Vì vậy mà có bài thơ “Đi đổi” - có đoạn viết:

... Ngang lưng thì thắt bi đông
Đầu đội mũ cối, tay cầm gậy tre.
Vội vàng chân bước, tai nghe,
Ở đâu gà gáy te te thì vào.

Đi đường vất vả, mệt mỏi là thế, nhưng ai cũng vui vẻ, yêu đời. Đi đến đâu cũng có thể, tức cảnh, sinh tình, xuất khẩu thành thơ. Vui buồn cũng làm thơ, gian khổ vất vả cũng làm thơ. Với khí thế của đoàn quân ra trận, tuổi trẻ chúng tôi hồi đó, xem cái chết “nhẹ tựa lông hồng”.

Thỉnh thoảng trong đơn vị có anh em đau yếu, người trong trung đội, tiểu đội liền san sẻ, chia nhau mang giúp các trang bị. Hoặc có ai đó đi không nổi, chúng tôi thay nhau khiêng, cáng đến trạm giao liên gửi lại dưỡng sức và tổ chức thu dung theo sau. Tình cảm thương yêu, tương trợ nhau như anh em ruột thịt. Đó cũng là hình ảnh đẹp đẽ của tình đồng chí, đồng đội để lại ấn tượng sâu đậm đối với những ai đã từng vượt Trường Sơn.

Nhưng ngoài việc chịu đựng gian khổ, mưa dầm gió bấc, lội suối trèo đèo, ấn tượng để lại trong chúng tôi là cảnh đẹp hùng vĩ của núi rừng Trường Sơn. Gió thổi ù ù, lá cây bay xào xạc. Nước từ trên thác cao đổ xuống ầm ầm cộng với tiếng chim kêu, vượn hú... tạo nên một âm thanh sống động từ ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, không bao giờ dứt. Khí thế của đoàn quân, cùng với vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên khiến cho những người lính trẻ lúc bấy giờ có những nỗi niềm khó tả... Những đêm trăng sáng, mắc võng ở suối đá, trên sườn núi cheo leo, chúng tôi say sưa ngắm ánh trăng xuyên qua những kẽ lá. Mùi hương hoa lan tỏa khắp núi rừng, dưới ánh trăng lấp lánh. Có lẽ không một nét bút của họa sĩ hay nhà văn nào có thể nói hết được.

Trăng treo trên đầu võng
Suối thì thầm dưới lưng.

Những bản nhạc của núi rừng thiên nhiên đã đưa tôi vào giấc ngủ lúc nào không biết.

Trên đường đi, kỷ luật hành quân là yếu tố được chú trọng nhất. Chẳng hạn như khi đang đi, nếu hết nước phải chịu nhịn khát, cố gắng đến trạm uống nước đun sôi, chứ không được uống nước suối dọc đường, đề phòng bị đau bụng, tiêu chảy. Có anh khát quá, chịu không nổi giả bộ té (ngã) xuống suối để hớp ngụm nước lạnh thì tối hôm đó bị đưa ra cuộc họp kiểm điểm. Đến chỗ dừng chân, nghỉ giải lao, tiểu đội trường, hoặc trung đội trưởng cho phép uống bao nhiêu lượng nước - chẳng hạn 2 nắp bi đông - mọi người tự giác uống theo quy định, mặc dù là nước của riêng mình. Vì vậy, đi suốt ngày như thế, khi đến trạm nghỉ, mọi người vẫn còn nước trong bi đông, sức khỏe vẫn giữ vững. Đại đội chúng tôi có 150 người. Ngoại trừ trung đội 30 người của đồng chí Thái Hiền Vỹ đi trước, còn lại 120 người vượt Trường Sơn đến điểm tập kết được an toàn và khỏe mạnh. Đó là kết quả của công tác Đảng - công tác chính trị trong hành quân được cán bộ các cấp quan tâm đúng mức.

Cuộc hành quân cứ thế tiếp diễn. Khoảng cách đến các mặt trận ngày càng được rút ngắn. Hậu phương miền Bắc càng ngày càng lùi xa. Đâu đây đã nghe tiếng rì rầm của máy bay, đại bác của địch vọng lại. Chúng tôi vẫn cứ âm thầm, bí mật tiến lên phía trước.

Khi vào tới các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, cuộc sống của chúng tôi càng thiếu thốn, khó khăn nhiều mặt. Nhiều đơn vị vào sâu trong các tỉnh Nam Bộ, miền Đông Nam Bộ, giáp với biên giới Campuchia, cuộc sống còn khó khăn bội phần. Địch tăng cường đánh phá ác liệt. Chúng tung lực lượng vào các vùng giải phóng càn quét, dồn dân, lập các ấp chiến lược, tạo nên những vành đai trắng giữa vùng đồng bằng với rừng núi và xung quanh các đô thị để cắt đứt nguồn tiếp tế của quân ta. Ở trên rừng, máy bay B52 ném bom “rải thảm”, máy bay C130 rải chất độc hóa học và bắn phá những nơi nghi có bộ đội chủ lực của ta tập kết. Ban ngày, khi vượt qua những bãi trống, bộ đội phải lấy lá rừng cắm vào ba lô để ngụy trang, che mắt máy bay địch. Ở những cung đường gần bót địch hoặc có thám báo, biệt kích hoạt động, chúng tôi phải đi đêm. Nguyên tắc hành quân ban đêm là người đi sau phải bám sát người đi trước. Khi truyền lệnh thường thì từ trước ra sau. Trường hợp đang đi mà phía trước có sự cố thì đội hình phải dừng lại. Người đi sau nắm lấy ba lô hoặc cành ngụy trang cắm trên ba lô của người đi trước, để khi người phía trước đi tiếp, người đi sau biết mà bước theo. Do vậy mà có khi đã xảy ra trường hợp nhầm lẫn. Thay vì cầm lấy cành cây ngụy trang trên ba lô của người đi trước thì người đi sau lại cầm nhầm cành cây bên đường. Đến khi phát hiện ra thì đội hình đã đi xa từ lâu. Lực lượng phía sau phải ngồi tại chỗ để chờ giao liên quay lại đưa lên, nếu không sẽ bị lạc đường. Đó là những tình huống trớ trêu thường gặp và cười ra nước mắt. Cũng do những tình huống như thế này mà có lúc phải trả giá đắt - sau này tôi sẽ có dịp đề cập đến.

Sau hai tháng hành quân, đầu tháng 5-1965, đơn vị chúng tôi đã vào đến địa phận tỉnh Đắc Lắc thuộc cao nguyên trung phần, chiến trường Liên khu 5. Đây là thắng lợi bước đầu có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong cuộc trường chinh đi đánh Mỹ của đơn vị chúng tôi. Đơn giản là chúng tôi đã vượt qua được chặng đường dài đầy chông gai, ghềnh thác, đến đích an toàn, đầy đủ về người và vũ khí. Những năm đầu cuộc chiến tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ ở miền Nam đầy khó khăn gian khổ, đưa được một khẩu súng, một viên đạn vào được chiến trường đã là quý; đưa được một con người, một đơn vị vào chiến đấu lại càng quý biết bao. Có thể nói, đây là một kỳ công trong chỉ đạo chiến lược của Đảng và Nhà nước ta. Cho đến nay, nghĩ lại cuộc hành quân vượt Trường Sơn ngày ấy, tôi vẫn cảm thấy niềm tự hào với chính mình.

Trước khi bổ sung cho các chiến trường, các mặt trận, chúng tôi được nghe đại diện của Liên khu 5 và tỉnh Đắc Lắc phổ biến, quán triệt tình hình mọi mặt của địa phương, như tình hình địch, tình hình về kinh tế, chính trị của ta, tình hình phát triển lực lượng bộ đội địa phương, dân quân du kích. Đồng chí đại diện cho quân khu 5 nói đại thể: “Quân và dân Liên khu 5 mong chờ các đồng chí đã lâu. Các đồng chí đã vào thật đúng lúc. Lực lượng bộ đội địa phương và anh chị em dân quân du kích chúng tôi sẽ sát cánh cùng các đồng chí chiến đấu, cùng với toàn quân, toàn dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ Quốc!”.

Chúng tôi là quân chủ lực, từ miền Bắc mới vào, mọi cái ở đây đều hoàn toàn xa lạ. Do đó, đồng chí đại diện của địa phương nói nhiều về những phong tục, tập quán của nhân dân các dân tộc Tây nguyên và vùng đồng bằng Liên khu 5. Ngoài ra các đồng chí còn nói những thuận lợi về kinh tế - chính trị, về phong trào đấu tranh của nhân dân trong các vùng địch tạm chiếm và sự lớn mạnh không ngừng của hai lực lượng là bộ đội địa phương và dân quân du kích Liên khu 5 nói chung và vùng Tây Nguyên nói riêng. Các đồng chí còn cho biết về những âm mưu, thủ đoạn của địch trong chính sách dồn dân, lập ấp chiến lược, hệ thống các đồn bót, kìm kẹp của địch và chủ trương các hoạt động phối hợp giữa ba thứ quân trong quá trình tác chiến trên địa bàn quân khu. Có lúc đồng chí nói những câu hài hước, dí dỏm: “Chị em ở đây rất thương mến các anh bộ đội miền Bắc xa nhà. Có cô cũng đã nói một cách “mạnh bạo” rằng: “Anh hãy đổ nước” vô đây cho em!”.

Tất cả chúng tôi đều cười và có phần mắc cỡ...

Đại đội chúng tôi vẫn được giữ nguyên là một đại đội công binh. Khi Sư đoàn bộ binh số 3 còn gọi là sư đoàn Sao Vàng được thành lập, đại đội chính thức nằm trong biên chế của Sư đoàn 3 Quân khu 5. Đại đội trưởng và chính trị viên của đại đội vẫn chiến đấu bên cạnh chúng tôi cho đến những năm sau đó.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:20:28 PM

TRẬN ĐẦU ĐÁNH THẮNG


Nhân dân ta thường có câu: “Vạn sự khởi đầu nan”. Trong lĩnh vực này cũng vậy, kết quả ban đầu có một ý nghĩa rất quan trọng đối với những thành quả tiếp theo. Nó không chỉ tạo ra sự yên tâm về mặt tâm lý, mà còn tạo ra cú hích cho những thành công kế tiếp. Chẳng thế mà trong các văn kiện thường ghi rằng “chúng ta đánh thắng trận này để tạo đà cho việc xây dựng đơn vị...” đó sao! Trong thực tế chiến đấu, trận đánh mở đầu có tác động nhiều mặt đối với từng con người cụ thể cho đến một đơn vị, một chiến dịch sau đó. Vì vậy những trận đánh mở đầu thường được chuẩn bị chu đáo, được ưu tiên về số lượng, chất lượng được tập trung lãnh đạo và chỉ đạo của các cấp. Đối với tôi, trận đầu tiên được tham gia cũng mang ý nghĩa đầy đủ như vậy.

Tôi là một chiến sĩ trinh sát. Tiểu đội tôi có 12 người, cả anh em miền Bắc và anh em miền Nam. Tiểu đội do đồng chí Nguyễn Hữu Quang chỉ huy. Đồng chí Nguyễn Hữu Quang quê ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, nhập ngũ vào một đơn vị địa phương trước khi chúng tôi được bổ sung vào chiến trường khu 5. Đồng chí Quang, sau này là đại tá, Anh hùng quân đội và đã từ trần tại Quân khu 5 sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Giữa năm 1965, mặt trận Tây Nguyên mở một đợt hoạt động tập trung nhằm đánh chiếm một số đồn bót địch, mở rộng vùng giải phóng, phát động nhân dân nổi dậy phá banh các ấp chiến lược dọc đường số 7, khu vực Cheo Reo, Thuận Mẫn và một số khu vực giáp tỉnh Gia Lai, buộc chúng phải co vào trong các căn cứ lớn, hoặc các thị xã: Buôn Ma Thuột, Plâyku, Công Tum... để ta có điều kiện phát triển thực lực cách mạng ở các địa phương.

Trận đầu tiên tôi được tham gia trong đời chiến binh là trận đánh cầu Enu, bắc qua sông Ba, trên đường số 7 đi Cheo Reo, thuộc tỉnh Đắc Lắc. Ở đây do một đại đội lính bảo an, người dân tộc thiểu số chốt giữ.

Đại đội Công binh được Mặt trận giao nhiệm vụ đánh sập cầu này, cắt đứt giao thông, tiếp tế của địch từ Phú Yên lên, hoặc ngăn quân tăng viện từ hướng Plâyku, Gia Lai xuống, tạo điều kiện cho các đơn vị bạn đánh chiếm một số đồn bót địch, mở rộng vùng giải phóng trong tam giác Phú Yên - Đắc Lắc - Gia Lai thuộc cao nguyên trung phần. Trận này nằm trong tổng thể chiến dịch do Mặt trận B3 thực hiện. Theo hợp đồng, các đơn vị bộ binh tiến công tiêu diệt bộ binh địch canh giữ cầu; còn công binh chúng tôi có nhiệm vụ đánh sập cầu tại mố cầu phía đông bằng bộc phá và các phương tiện của binh chủng.

Chúng tôi khẩn trương bắt tay vào công tác chuẩn bị. Đơn vị tôi đóng quân trong một cánh rừng khoọc. Mùa khô ở Tây Nguyên nắng như đổ lửa, bụi đất Bazan bay đỏ cả một vùng trời. Lá rừng khô rang như những chiếc bánh đa nướng. Nếu sơ ý, chỉ cần một tàn thuốc rơi xuống là có thể thiêu rụi cả một cánh rừng trong chốc lát. Trên thực tế, đã có nhiều đám cháy nổi lên. Từng bầy chim tan tác, bay vút lên không trung cùng với tro tàn. Khí hậu về đêm, nơi đây lại trở nên lạnh giá, rét run người. Sự nóng lạnh luôn trở mặt đột ngột, có khi đang từ 34 – 35oc tụt xuống còn 11 – 12oc. Thời tiết khô, hanh khiến cho con người luôn cảm thấy khó chịu. Ở tỉnh Đắc Lắc, mùa khô trong một ngày khí hậu có thể mang dấu ấn của cả bốn mùa (xuân, hạ, thu, đông). Đặc biệt nước uống ở đây quý hơn vàng. Vàng thì còn có thể mua được, nhưng nước thì không. Nước về mùa khô hầu như đã biến thành mây khói bay lên không trung hết. Các khe suối chỉ còn trơ lại đá. Còn được giọt nước nào ở những chỗ trũng thì chim chóc, hươu, nai và cả những con người ở đây giành giật nhau, uống cạn. Nước đã chi phối đến mọi hoạt động của vùng Tây Nguyên này hàng bao thế kỷ. Ngày nay, để phát triển kinh tế, dân sinh cho vùng Tây Nguyên, đầu tiên phải suy nghĩ đến là vấn đề nước, phải tiến hành một cuộc cách mạng nước.

Toán trinh sát chúng tôi, do đồng chí Nguyễn Hữu Quang chỉ huy đã luồn qua hệ thống ấp chiến lược của địch, vượt qua các nương rẫy, buôn làng để tiếp cận mục tiêu. Chúng tôi men theo sông K’rông Năng đi xuống. Ban đêm, trời rét như cắt da thịt. Dưới ánh sáng lờ mờ, trên mố cầu, chúng tôi đã nhìn thấy những đống lửa, do địch đốt để sưởi ấm. Còn bót địch nằm ở mố cầu phía Tây thì im phăng phắc. Có lẽ chúng sợ bị lộ mục tiêu, đề phòng ta pháo kích ban đêm. Hoặc cũng có thể chúng đang ngủ say với vợ con trong chăn nệm. Chúng tôi chiếu theo ánh lửa lập lòe ở mố cầu phía Đông mà tiếp cận. Cách 10 mét, rồi 5 mét địch vẫn không phát hiện được chúng tôi. Thông thường, người ngồi bên đống lửa nhìn ra thì rất khó thấy, nhưng chúng tôi ngồi trong bóng tối nhìn vào lại thấy rất rõ. Tôi cũng ngửi thấy mùi khói thuốc khét lẹt - sản phẩm bản địa mà người dân tộc thường hút! Mùi của loài thuốc lá này vừa khét, vừa nặng làm cho tôi suýt bị sặc sụa. Sông Ba rộng khoảng gần 200 mét. Hai bên bờ mọc đầy những cây hương nhu. Một loài thảo dược chữa được bệnh nhức đầu. Đây cũng là một loài cây có mùi hương thơm phức, được chị em nấu nước để gội đầu! Dưới sông, thỉnh thoảng có những lá cây khô lặng lờ trôi theo dòng nước. Những đàn cá đi ăn đêm nhảy lên đớp mồi kêu lép chép. Không gian xung quanh vẫn im lìm trong giấc ngủ.

Sau khi quan sát kỹ nhịp cầu và địa hình, địa vật xung quanh, chúng tôi đã xác định được điểm đặt thuốc nổ... rồi im lặng rời khỏi mục tiêu.

Vào đêm N, các lực lượng bộ binh tiếp cận, sẽ tiến công đại đội lính bảo an bảo vệ cầu. Đại đội công binh chúng tôi (thiếu một trung đội) dùng 100 kg thuốc nổ TNT đánh cầu.

Để chuẩn bị cho nhiệm vụ này, sau lần đi trinh sát, điều nghiên về, chúng tôi được huấn luyện rất kỹ về kỹ thuật đánh bộc phá, bao gồm các nội dung rất cơ bản. Song, khi bước vào chiến đấu thực sự lại đòi hỏi người chiến sĩ phải toàn diện. Chiến đấu là một sự kết hợp giữa tinh thần tư tưởng, chiến thuật, kỹ thuật và ý thức tổ chức kỷ luật cao; là nơi quyết định giữa cái sống và cái chết. Do đó, trên thao trường luyện tập bao nhiêu cũng vẫn cảm thấy chưa đủ theo yêu cầu chiến đấu.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:25:03 PM

So với hôm đi chuẩn bị, mục tiêu vẫn không có gì thay đổi. Trên mố cầu vẫn một toán binh lính địch canh gác. Dưới sự chỉ huy của tiểu đội trường Nguyễn Hữu Quang, chúng tôi bí mật đưa từng lượng nổ vào cố định tại điểm tiếp giáp giữa mặt cầu với trụ cầu. Đây là tử huyệt, là nơi hiểm yếu nhất của một cây cầu. Bởi thế mà càng về sau, trong chiến tranh, các kỹ sư cầu đường đã thiết kế ra các loại cầu khắc phục được những điểm yếu này. Có nghĩa là cố định các lượng nổ vào vị trí hiểm yếu của cầu rất khó.

Sau gần một tiếng đồng hồ, chúng tôi đã đặt xong tất cả các khối thuốc nổ. Tiểu đội trưởng là người trực tiếp liên kết các lượng nổ với nhau bởi dây nổ và kíp nổ. Đây là một công việc đặc biệt quan trọng về công tác kỹ thuật, mang tính quyết định việc hoàn thành nhiệm vụ của trận đánh. Chỉ cần một sai sót nhỏ, không những không hoàn thành được nhiệm vụ mà có khi phải chịu những hậu quả khôn lường... Vì vậy, người làm việc này phải là người chỉ huy trực tiếp.

23 giờ 45 phút, chúng tôi đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị. Chỉ ít phút nữa thôi, toán lính địch kia, hoặc là bị quân ta tiêu diệt bằng các loại hỏa lực bắn thẳng, hoặc là theo một nhịp cầu đổ xuống dòng sông...

Sóng nước dưới sông vỗ vào bờ ào ạt. Đêm càng về khuya càng lạnh cộng với tinh thần căng thẳng, hai hàm răng của tôi va vào nhau lập cập. Đúng là trận đầu mọi cái đều chưa quen, chưa có kinh nghiệm.

Lệnh nổ súng bắt đầu.

Một ánh chớp sáng lòa vỡ ra kèm theo tiếng nổ long trời lở đất, làm vạn vật nơi đây, dạt ra trên một vùng rộng lớn.

Mặc dù đồn bót địch bên bờ phía tây có hệ thống hàng rào dây thép gai, xen kẽ các loại mìn bao bọc xung quanh; bên trong có công sự, hầm hào, nhưng sau tiếng nổ của khối bộc phá, chúng đã hoảng hồn tháo chạy. Đây là một đặc điểm của binh lính người dân tộc thiểu số, bị ép buộc, bắt bớ và lừa phỉnh của bọn chỉ huy ngoan cố. Do đó tinh thần chiến đấu kém. Các đơn vị bộ binh ta không cần phải nổ súng, chỉ vào tiếp quản đồn địch.

Kết quả ta đã đánh sập một nhịp cầu, tiêu diệt toán lính gác cầu, cắt đứt hoàn toàn con đường số 7, gây rất nhiều khó khăn cho việc tiếp tế, chi viện của địch đối với các mục tiêu trong vùng. Trận này chúng tôi được Bộ chỉ huy Mặt trận đánh giá là hoàn thành tốt nhiệm vụ, đơn vị không có thương vong.

Sau khi đánh chiếm và cắt đứt được đường số 7 tại cầu Enu; các đơn vị bạn đánh chiếm một loạt đồn bót địch, phát động hàng ngàn dân, cùng lực lượng dân quân, du kích phá banh các ấp chiến lược, thoát khỏi ách kìm kẹp của địch, trở về quê cũ làm ăn, hoặc chạy về vùng giải phóng.

Không chịu mất các căn cứ, địch đưa lực lượng lên giải tỏa đường số 7, hòng chiếm lại cầu Enu và những cứ điểm đang bị ta chiếm giữ. Các đơn vị bộ binh của ta, từ trong các cánh rừng hai bên trục đường số 7 vận động, tiến công, tiêu diệt nhiều sinh lực của chúng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh cầu, chúng tôi vượt qua đường số 7 vẫn còn nhìn thấy xác giặc ngổn ngang.

Tại các khu vực như buôn Ma Rốc, buôn Ma Lá, Cà Lúi... ngày ấy có rất nhiều cọp (hổ). Cứ sau mỗi trận đánh, cọp thường mò ra ăn thịt các xác chết. Nhiều lần như thế đã trở thành phản xạ tự nhiên đối với loài cọp ở đây. Cho nên trên vùng này, ở đâu có tiếng súng là ở đó, đi đêm sẽ gặp cọp. Còn cá ở sông Ba nhiều vô kể. Chỉ cần cho nổ 100 giam thuốc nổ TNT dưới sông thì bắt cả buổi không hết cá. Vì vậy mà có câu nói cửa miệng: “Cọp Ma Lá, cá sông Ba”.

Cho đến bây giờ, ở bất cứ đâu, khi đi dọc các bờ sông có mùi thơm thoang thoảng của cây hương nhu xen lẫn những rẫy bắp xanh tốt trổ cờ, hoặc những túp lều tranh bên sườn đồi... tôi lại bồi hồi nhớ lại những ngày tháng hoạt động ở vùng sông Ba - Đắc Lắc...

Sau đợt hoạt động, tình hình chung trên chiến trường có những chuyển biến mới. Quân đội Sài Gòn liên tiếp bị tiến công. Vùng giải phóng được mở rộng đáng kể; vùng địch tạm chiếm bị thu hẹp dần.

Để chuẩn bị cho kế hoạch hoạt động mùa khô năm 1966, với đối tượng tác chiến chủ yếu là Sư đoàn kỵ binh bay số 1 của Mỹ (Sư đoàn không vận số 1) ở vùng đồng bằng miền Trung, thuộc Liên khu 5; đơn vị chúng tôi được lệnh cơ động xuống vùng núi giáp ranh đồng bằng khu 5.

Song song với việc phát triển lực lượng vũ trang địa phương, các đơn vị chủ lực có sự điều chỉnh trên các mặt trận B1, B2, B31 và mặt trận Thừa Thiên Huế. Hậu phương miền Bắc tiếp tục chi việc sức người, sức của, bổ sung cho các mặt trận. Từ những năm 1966 - 1967 trở đi, trên chiến trường miền Nam chúng ta đã thành lập nhiều đơn vị chủ lực. Đường Trường Sơn ngày càng được mở rộng và tỏa đi khắp các vùng, từ rừng núi xuống đến đồng bằng ven biển; từ biên giới Việt - Lào xuống tận các tỉnh miền Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Suốt đêm ngày trên các ngả đường Trường Sơn, các tiểu đoàn bộ binh nườm nượp vào Nam. Đường giao liên bị địch đánh phá ngày càng ác liệt. Chúng tập trung mọi cố gắng hòng ngăn chặn nguồn tiếp tế của ta từ miền Bắc đang “chảy” vào các chiến trường.
________________________________________
1. Toàn miền được chia thành 4 chiến trường gồm:
    - B1: Thuộc các tỉnh ven biển miền Trung, từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa.
    - B2: Từ Ninh Thuận - Lâm Đồng trở vào vùng đồng bằng Nam Bộ.
    - B3: Các tỉnh Tây Nguyên (Đaklak, Gia Lai, Kontum).
    - B4: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:26:31 PM

Để chuẩn bị cho mùa khô 1965 - 1966, đế quốc Mỹ và tay sai cũng đã tập trung nhiều lực lượng và phương tiện chiến tranh, hòng giành thắng lợi quyết định trong chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam. Máy bay vận tải hiện diện trên bầu trời miền Nam suốt ngày đêm. Các kho dự trữ chiến lược đầy ắp phương tiện chiến tranh và lương thực. Không lúc nào chiến trường miền Nam lại sôi động như lúc này.

Trên đường chuyển quân từ Tây Nguyên xuống vùng giáp ranh của chiến trường Khu 5, chúng tôi đến huyện Vĩnh Thạnh, thuộc tỉnh Bình Định. Những đoàn quân đi lên, đi xuống, im lặng mà hối hả. Một lần, trên đường hành quân, bất ngờ tôi nhác thấy một bóng người quen. Tôi dừng lại, ngoảnh mặt về phía sau, thì đồng thời người ấy cũng nhận ra tôi:

- Có phải Hồng, con bà Ôn đó không?

Tôi sững sờ, không kịp trả lời thì anh nói nhanh qua hơi thở:

- Ở nhà, bà vẫn khỏe. Mọi người ai cũng nhắc đến em! - Nói dứt câu, anh khóc. Tôi cũng nước mắt lưng tròng.

Đó là anh Khoái - Nguyễn Khoái, một người hàng xóm cùng trang lứa với anh cả tôi. Cuộc đời của anh và gia đình anh cũng nhiều cơ cực. Trong cải cách ruộng đất, anh bị oan sai, bị bắt đi cải tạo, chỉ vì tính tình hơi nóng nảy, không được lòng cán bộ Đội cải cách. Họ ghép cho anh cái tội ngang tàng, phản động. Vậy mà giờ đây, anh đã là một chiến sĩ giải phóng quân xông pha trận mạc. Hai đứa em trai của anh thì một người bị bom Mỹ sát hại ở quê nhà, một người bị bệnh điên mà chết. Cô em gái út đã có con, có cháu và cũng đã qua đời. Bà mẹ già của anh cũng đã mất ở tuổi gần 100. Tôi không ngờ lại được gặp anh tại chiến trường và đó cũng là lần gặp nhau cuối cùng giữa tôi với anh... Anh hành quân từ miền Bắc vào tỉnh Đắc Lắc, còn tôi chuyển quân từ Đắc Lắc xuống vùng giáp ranh đồng bằng. Giây phút gặp nhau giữa đường quá ngắn ngủi, để lại trong tôi bao nhiêu cảm xúc.

- Có một ít, anh cầm lấy mà đi đường! Em mong gặp lại anh! Cầu chúc anh mạnh khỏe!

Tôi móc trong túi áo, đưa anh mấy chục đồng bạc (tiền miền Nam được cấp lúc đó) để anh uống nước. Chúng tôi vội vàng chia tay nhau...

Lần đầu tiên xuống đồng bằng, chúng tôi đóng quân tại huyện Vĩnh Thạnh, và huyện Bình Khê là những huyện miền núi vùng giáp ranh thuộc tỉnh Bình Định. Một trong những đặc sản của vùng này là “đường bát”1.

Muốn ăn lá giang thì về Phù Cát2
Muốn ăn đường bát thì về Bình Khê.

Phía Tây - Nam huyện Phú Phong (nay là huyện Tây Sơn) là con sông Côn - một trong những con sông lớn của tỉnh Bình Định. Phía Nam có đường quốc lộ số 19 chạy từ thành phố Quy Nhơn lên các tỉnh Tây Nguyên qua đèo An Khê. Nơi đây là quê hương cách mạng, là căn cứ địa của anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ. Đây là một địa phương có truyền thống chống giặc ngoại xâm trong kháng chiến chống thực dân Pháp và nay chống đế quốc Mỹ. Vì vậy mà ngay những ngày đầu xuống đây, chúng tôi đã được sự giúp đỡ, chở che của chính quyền, nhân dân địa phương và sự phối hợp chặt chẽ với bộ đội địa phương và dân quân du kích.

Quan điểm bạo lực cách mạng, phù hợp với quy luật phát triển của cuộc chiến tranh lúc này là: Muốn thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho ta, trên chiến trường phải vừa đẩy mạnh tác chiến quy mô thấp, để tiêu hao sinh lực địch rộng khắp bằng cuộc chiến tranh du kích toàn diện; đồng thời phải nỗ lực mọi mặt để xúc tiến thành lập các đơn vị cơ động tập trung, tác chiến với quy mô ngày càng lớn, tiêu diệt lớn sinh lực địch, tạo chuyển biến về cục diện trên chiến trường.

Theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị cùng với các chiến trường, các quân khu, vào ngày 2-9-1965, tại dốc Bà Bơi, thuộc huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định, Quân khu 5 đã thành lập Sư đoàn bộ binh số 3. Lấy tên là Sư đoàn Sao Vàng, đảm nhiệm chủ yếu 2 tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi. Khi cần mở rộng đến Bắc Phú Yên và Đông Gia Lai. Mật danh Sư đoàn gọi là Nông trường, các Trung đoàn gọi là Công trường. Người Sư đoàn trưởng đầu tiên là anh Giáp Văn Cương, chính ủy sư đoàn là anh Đặng Hòa. Đơn vị chúng tôi lúc đó vẫn là đại đội công binh, trực thuộc Sư đoàn bộ binh số 3.

Sư đoàn 3 lúc mới thành lập, đã có đủ ba trung đoàn bộ binh là trung đoàn 2, 12, 22, và một số đơn vị binh chủng, như pháo binh, công binh, thông tin, trinh sát, nhưng chưa thật hoàn chỉnh. Về sau, được bổ sung quân số, vũ khí, nên về tổ chức, từ các cơ quan Sư đoàn đến các đơn vị trực thuộc ngày càng được hoàn chỉnh. Đội ngũ cán bộ cũng theo năm tháng mà lớn lên, trưởng thành qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau, từ anh Giáp Văn Cương, anh Đặng Hòa, Nguyễn Nam Khánh; đến anh Mai Tân, anh Huỳnh Hữu Anh, anh Trần Bá Khuê, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Duy Thương, Lê Ba và nhiều đồng chí khác... Cùng thời gian đó, ngày 20-10-1965 sư đoàn bộ binh số 2 được thành lập, đảm nhiệm tác chiến địa bàn tỉnh Quảng Nam - Bắc Quảng Ngãi và tỉnh Kon Tum3. Hai Sư đoàn Bộ binh của Quân khu 5 ra đời, thực sự là hai quả đấm thép, có tính quyết định thắng lợi trong các chiến dịch lớn của Quân khu ở vùng đồng bằng miền Trung và chiến trường Tây Nguyên. Sư đoàn bộ binh số 2 và 3 đã cùng với nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương, làm thất bại hết âm mưu chiến lược này đến âm mưu chiến lược khác của địch, từ cuộc tổng tiến công Mậu Thân năm 1968 đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, mùa xuân năm 1975 sau này.

Từ khi ra đời, Sư đoàn Bộ binh 3 đã chiến đấu liên tục, tham gia nhiều chiến dịch của Quân khu 5, mở nhiều đợt hoạt động trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng và đô thị. Lực lượng “ba thứ quân” phát triển một cách nhanh chóng.
________________________________________
1. Đường bát: đường làm từ mía được cô đặc trong cái bát (chén) ăn cơm. Khi lấy ra có hình cái bát.
2. Lá giang: Một loại cây leo, mọc nhiều ở bờ rào, đồi tranh. Nhân dân (và cả bộ đội) thường lấy để nấu canh chua.
3. Lịch sử sư đoàn bộ binh 2 - Tập 1 - NXB Đà Nẵng.



Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:27:43 PM

TRƯỚC KHI ĐẾ QUỐC MỸ Ồ ẠT ĐỔ QUÂN VÀO MIỀN NAM


Trước khi bước vào mùa khô năm 1965 - 1966 chủ trương của đảng ủy và bộ tư lệnh Quân Khu 5 là mở chiến dịch tiến công các căn cứ vùng đồng bằng và vùng giáp ranh miền trung, tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận quan trọng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, buộc chúng phải đưa những đơn vị chủ lực ra phản kích, tạo điều kiện cho quân chủ lực của ta đánh những trận vận động tiêu diệt lớn, góp phần cùng với các chiến trường làm thất bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và tay sai ở miền Nam Việt Nam.

Trận đầu tiên tôi được tham gia trên địa bàn đồng bằng miền Trung là trận tập kích tiêu diệt đại đội lính bảo an đóng tại đèo Phú Cũ, trên trục đường quốc lộ số 1, thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định vào ngày 23-9-1965. Đây là trận đánh điểm, diệt viện, là trận đánh đầu tiên của sư đoàn bộ binh 3 từ sau ngày thành lập.

Đánh tốt trận này sẽ khẳng định được một tiền đề là địch không chỉ bị tiêu hao trong khi đi hành quân càn quét, bởi phong trào du kích chiến tranh, mà ngay cả khi chúng ở trong căn cứ, có công sự vững chắc, có nhiều lớp hàng rào kẽm gai và mìn sát thương bao bọc, cũng bị tiêu diệt.

Đồn Phú Cũ, đóng trên một quả đồi thấp, khống chế đường Quốc lộ số 1 tại đèo Phú Cũ. Phía Tây, đối diện với đồn địch là một ngọn đồi khác cao hơn và “chiếu” xuống đồn địch, đồng thời nối dài với các dãy núi chạy về phía tây, ra đến vùng giải phóng. Về mặt địa hình, rất thuận lợi cho ta triển khai lực lượng và binh khí kỹ thuật, các trận địa hỏa lực bắn thẳng cũng như bắn cầu vồng. Đứng trên điểm cao đối diện có thể nhìn thấy rất rõ các mục tiêu tiền duyên phía tây và trung tâm của đồn địch. Phía đông căn cứ là những ngọn đồi nhỏ, thấp, tiếp đến là đồng bằng thuộc huyện Phù Mỹ. Đường số 1 chạy theo hướng Bắc - Nam cặp với đường xe lửa, chui qua đèo bằng một đoạn đường hầm. Hai bên đường, cả phía Nam và Bắc đèo là làng mạc trù phú, xen kẽ những cánh đồng tươi tốt, phì nhiêu.

Đồn Phú Cũ thuộc vào loại mục tiêu “công sự vững chắc” thời đó. Chúng bố trí đội hình phòng ngự có chính diện và chiều sâu. Bên ngoài có 4 lớp rào kẽm gai xen kẽ với mìn sát thương bộ binh. Bên trong là hệ thống chiến hào từ trong trung tâm ra đến tiền duyên, nối với các công sự chiến đấu, ụ súng và lô cốt xếp bằng bao cát. Hướng Tây, địch bố trí các lô cốt bê tông và công sự vững chắc hơn. Điều này cũng dễ hiểu, vì hướng này, địa hình bất lợi cho chúng. Ngoài những hỏa lực bộ binh thông thường, ở đây còn có trận địa cối 106,7mm. Hướng đề phòng ta tiến công là hướng Tây - nơi có các dãy đồi cao hơn và liên hoàn ra đến vùng giải phóng của ta. Vì vậy, chúng rất coi trọng việc tung thám báo, biệt kích, theo dõi, nắm tình hình ta từ xa.

Chi viện trực tiếp cho chúng về bộ binh, chủ yếu là Sư đoàn bộ binh 22, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Về hỏa lực, có các trận địa pháo ở Đệ Đức, Thiết Đính, Bồng Sơn thuộc huyện Hoài Nhơn; trận địa pháo tại nhà thờ Dốc, xã Mỹ Hiệp, quận lỵ Phù Mỹ và một số trận địa pháo khác, thuộc huyện Hoài Ân. Điều đó, chứng tỏ địch rất coi trọng sức mạnh của hỏa lực pháo binh.

Mục tiêu mở màn chiến dịch là đánh tiêu diệt đại đội bảo an đóng tại đèo Phú Cũ, cắt đứt đường quốc lộ số 1, huyết mạch giao thông quan trọng của địch. Nhiệm vụ và mục tiêu tiếp theo là vận động tiêu diệt lực lượng của Sư đoàn 22 từ căn cứ Bình Dương ra phản kích, và trung đoàn 40 từ căn cứ Đệ Đức vào giải tỏa.

Đầu tháng 9 năm 1965 đoàn cán bộ của cơ quan Sư đoàn 3 và hai Trung đoàn bộ bình tiến hành đi nghiên cứu chiến trường. Trước hết, tập trung chuẩn bị mục tiêu đèo Phú Cũ. Đây là “ngòi nổ”, là “phát pháo hiệu” đầu tiên của chiến dịch.

Trong trận này, đại đội công binh sư đoàn làm nhiệm vụ “mở cửa”. Tôi vừa là trinh sát viên, vừa là chiến sĩ công binh thuộc phân đội mở đường qua bãi mìn và lớp rào kẽm gai để cho bộ binh công kích vào bên trong đồn địch, tiêu diệt chúng.

Những ngày đi chuẩn bị chiến trường, đồng chí Trần Văn Hồng, trợ lý công binh Sư đoàn, đưa tiểu đội trinh sát chúng tôi vượt qua đỉnh núi Chóp Chài, xuống vùng biển Hà Ra - Phú Thứ, rồi từ đó, vượt đường trở lại điều nghiên hướng Tây đồn Phú Cũ. Ban ngày, chúng tôi  trà trộn trong dân. Các anh chỉ huy dặn tôi: “Không được nói chuyện với nhân dân địa phương!” vì giọng nói “trọ trẹ” của tôi rất dễ bị phát hiện là người từ ngoài Bắc vào. Sự xuất hiện người miền Bắc lúc này chỉ có thể là quân chủ lực mà thôi. Nếu địch nắm được, chúng sẽ tích cực đề phòng, làm mất yếu tố bất ngờ của quân ta và còn nhiều tác hại khác nữa.

Đây là lần đầu tiên, tôi được xuống vùng đồng bằng, hơn nữa lại là đồng bằng ven biển. Ban ngày, nằm trong gia đình cơ sở cách mạng, sát chân núi Chóp Chài, nhà bà Hùng, phòng khi nếu địch càn quét, chúng tôi sẽ nhanh chóng sơ tán vào núi. Ban đêm, chúng tôi được các anh chỉ huy và cơ sở của ta dẫn ra cửa biển Hà Ra - Phú Thứ hóng mát. Tôi đã được tận hưởng, những cơn gió mát rượi nồng nàn muối mặn và được nghe tiếng sóng biển ầm ầm suốt đêm. Tôi có thể nhìn thấy ánh đèn hắt ra từ trên thuyền bè của dân đánh cá, câu mực. Biển về đêm trông giống như bầu trời đầy sao lấp lánh.

Bằng sự quan sát tinh tế, các mẹ, các chị đều biết tôi là bộ đội miền Bắc mới vào, nên ai cũng quý mến. Bà Hùng là cơ sở cách mạng. Chồng bà tập kết ra Bắc, và đã vào miền Nam, nhưng chưa liên lạc được. Bà có hai cô con gái xinh đẹp, có tên rất con trai là Hùng và Huy. Cô chị kém tôi khoảng 6 - 7 tuổi. Sau mỗi đêm đi trinh sát về, chúng tôi lại vào nhà bà để nghỉ. Đêm đi, ngày ngủ là sở trường của lính trinh sát chúng tôi. Bà thường dặn tôi: “Con cố gắng công tác, sau này khi nước nhà thống nhất, về đây tao gả cho một đứa!”. Tôi cứ ngơ ngác, ậm ờ, không biết nói gì... Năm 1974, tôi có dịp đi qua đây, ghé thăm bà. Bà đã già yếu, nhưng vẫn còn nhận ra tôi. Cô Hùng đã thoát ly lên căn cứ làm dược tá, còn Huy đang là một cô giáo xinh đẹp, sắp lấy chồng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:29:40 PM

Sau khi chuẩn bị chiến trường xong, chúng tôi lại vượt núi, vượt đường quốc lộ số 1 về lại căn cứ để làm kế hoạch và tổ chức hiệp đồng tác chiến. Hồi đó, tôi là một chiến sĩ của một đơn vị cơ sở, nên chưa biết được nhiều, chưa hiểu được rộng như các cấp chỉ huy Trung đoàn, Sư đoàn hoặc cao hơn. Tôi chỉ có thể biết được nhiệm vụ của mình trong phạm vi nhất định. Sau này, tôi mới biết, hướng nghiên cứu của chúng tôi là hướng chủ yếu - có nhiệm vụ cùng với tiểu đội dò gỡ sạch mìn và đánh bộc phá liên tục, mở cửa qua các lớp rào kẽm gai, dẫn dắt bộ binh vào bên trong tiêu diệt địch. Và cũng sau này, tôi mới được biết rằng đây là trận mở màn chiến dịch, đánh chiếm một số đồn bót địch, vừa để mở rộng vùng giải phóng, vừa để kéo quân chủ lực địch từ các căn cứ ra ngoài công sự để tiêu diệt. Lực lượng bộ binh tiến công đánh chiếm mục tiêu này là tiểu đoàn 4 (tăng cường) thuộc trung đoàn bộ binh 12. Trung đoàn bộ binh số 2 phục kích phía Nam đèo Phú Cũ và tiến công đèo Nhông. Trung đoàn bộ binh 12 (thiếu tiểu đoàn 4) phục kích đánh viện ở khu vực Lại Khánh. Ý định của đợt tác chiến này là “đánh điểm diệt viện”. Trung đoàn bộ binh số 22 làm nhiệm vụ kìm chế pháo địch ở Thiết Đính, tập kích sân bay địch ở An Khê.

Đêm 22-9, quân ta bắt đầu triển khai đội hình chiến đấu tiến công. Trên các sườn đồi phía Tây đèo Phú Cũ, các trận địa hỏa lực như cối 120 mm, cối 82 mm, ĐKZ75 và súng máy 12,7 mm đã triển khai xong lúc 22 giờ. Phía sau là trạm sơ phẫu, có rất nhiều anh chị em dân công sẵn sàng tiếp đạn, tải thương. Phía trước trên hướng chủ yếu, bộ binh được triển khai sau trung đội công binh mở đường của chúng tôi. Trong nghệ thuật quân sự, mọi ưu tiên đều hướng về bộ binh, dành cho bộ binh. Vai trò của bộ binh là lực lượng chủ yếu làm chủ chiến trường, là lực lượng trực tiếp tiêu diệt bộ binh địch. Mọi lực lượng, mọi binh chủng đều bảo đảm những yếu tố cần thiết để bộ binh hoàn thành được nhiệm vụ của một chiến dịch hoặc một trận chiến đấu. Vì vậy, trước khi bộ binh vào chiếm lĩnh thì các trận địa hỏa lực phải trong tư thế sẵn sàng nhả đạn vào các mục tiêu được phân công. Trước khi bộ binh xung phong vào đồn địch cửa mở phải được thông suốt, các mục tiêu “đầu cầu” phải được tiêu diệt hoặc chế áp mãnh liệt, dập tắt mọi sự kháng cự của địch. Giai đoạn mở cửa, đánh chiếm “đầu cầu” trong chiến đấu tấn công địch trong căn cứ bao giờ cũng mang tính quyết định thắng lợi của trận đánh. Đây là giai đoạn chiến đấu vô cùng quyết liệt, một mất, một còn. Hiệu suất chiến đấu cao hay thấp cũng thể hiện ở giai đoạn này. Anh hùng Phan Đình Giót đã xả thân vì đồng đội và để tăng tốc độ đột phá trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ cũng diễn ra ở trong giai đoạn này.

Đêm ấy, trời không trăng nhưng nhiều sao. Ánh sáng của những ngọn hỏa châu do địch bắn lên cũng đủ để soi sáng cho các lực lượng trên các hướng vào tiếp cận mục tiêu. Tôi cùng với tiểu đội đánh bộc phá cũng đã triển khai đội hình xong trước cửa mở, sát với hàng rào đầu tiên. Từ vị trí này đến lô cốt “đầu cầu” 1 khoảng 120m - 150m. Từ trong đêm tối khó có thể nhìn thấy lô cốt một cách tường tận. Nhưng nếu nằm xuống mà nhìn lên sườn đồi phía địch, nơi tiếp giáp với khoảng trống của bầu trời thì thấy được khá rõ hình dáng những lô cốt, ụ súng lô nhô trước mặt. Tại căn cứ của địch, thỉnh thoảng có ánh lửa lập lòe, lóa lên rồi tắt ngấm. Có lẽ bọn lính canh gác hút thuốc lá. Trong bóng đêm tĩnh mịch, ánh đèn pha của địch chợt lóe lên quét ngang, dọc theo các lớp rào. Chúng tôi nằm im, nín thở. Có anh lính, mới ngày đầu ra trận, căng thẳng đến nỗi “tè” ra ướt cả quần lúc nào không hay. Lúc này, có lẽ không có người lính nào nghĩ đến chuyện vợ, con, gia đình, quê hương, bạn bè, tiền bạc, giàu nghèo; chỉ có hồi hộp chờ lệnh và sẵn sàng xông lên...

Theo hợp đồng, tiến công vào đồn Phú Cũ sẽ diễn ra trên hai hướng. Hướng chính, từ sườn đồi phía Tây. Hướng này, mục tiêu “cứng” hơn lực lượng địch tập trung cao hơn, trong đó phải nói đến mật độ hỏa lực pháo binh được chuẩn bị trước, kết hợp với bọn biệt kích, thám báo lùng sục từ xa. Song, địa hình ở đây cao hơn, rất thuận lợi cho ta bố trí lực lượng, triển khai đội hình. Nếu khắc phục được những khó khăn do địch tạo nên, thì đây là hướng tiến công lý tưởng. Theo nguyên tắc chiến thuật, nếu ta tập trung lực lượng tiến công vào chỗ mạnh, chỗ hiểm yếu của địch, làm mất chỗ dựa của chúng thì trận đánh sẽ được giải quyết nhanh. Sau khi cân nhắc, Sư đoàn và Trung đoàn quyết định chọn hướng này làm hướng tiến công chính. Chỉ còn lại một vấn đề cần giải quyết thật tốt là bám sát bọn biệt kích, thám báo để vô hiệu hóa các hoạt động của chúng, hợp đồng với các đơn vị kể cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích kìm chế các trận địa pháo binh của địch, tạo điều kiện cho Trung đoàn bộ binh 12 tiến công. Hướng thứ hai là từ Đông Nam đánh lên, chiếm mục tiêu ở mỏm đồi phía Đông.

Hiệu lệnh nổ súng tiến công là tiếng nổ dầu tiên của ống bộc phá do chúng tôi thực hiện tại lớp rào kẽm gai thứ nhất trên hướng tiến công chủ yếu.

Hồi đó, lực lượng mở cửa không được trang bị máy thông tin, nhưng để chỉ huy được kịp thời, đồng chí Trần Văn Hồng - trợ lý công binh Sư đoàn ngồi ở vị trí chỉ huy, phía sau chúng tôi 20 m để nhận lệnh cấp trên và ra lệnh cho chúng tôi nổ bộc phá.

23 giờ 45 phút, lực lượng mở cửa đã đưa được ống bộc phá, cố định vào hàng rào thứ nhất và chờ lệnh trong tư thế điểm hỏa.

Lúc 0 giờ (giờ G) lệnh nổ súng bắt đầu. Đồng chí tiểu đội trưởng điểm hỏa quả bộc phá đầu tiên. Tiếng nổ của ống bộc phá đã đánh thức tất cả mọi lực lượng ta và địch trên một vùng rộng lớn. Tiếp đó là âm thanh hỗn độn của bộc phá, của pháo cối, của các loại vũ khí tham gia trận đánh... Tiếng nổ dồn dập, đinh tai, nhức óc, đến nỗi ghé vào sát mang tai hét mà vẫn không nghe được; nhất là ở tiểu đội đánh bộc phá và trận địa ĐKZ75, súng máy 12,7 mm.

Giữa tiếng súng vang rền, là tiếng la hét của các cấp chỉ huy. Người nào, việc nấy, khẩn trương, hoạt bát, theo một “kịch bản” đã được chuẩn bị. Dưới làn đạn của hai bên, tiểu đội bộc phá chúng tôi, người lên, người xuống nhịp nhàng, vào ra như những con ong. Các trận địa hỏa lực, rót đạn vào mục tiêu, lúc thì rỉ rả, lúc thì cấp tập. Súng máy 12,7 mm bố trí hai bên cửa mở bắn từng loạt, từng loạt. Đạn vạch đường như những mũi tên từ sườn đồi găm xuống, trúng vào lô cốt, ụ súng, gốc cây; có những viên đạn vọt lên không trung vạch thành vệt sáng như ánh sao băng.

Lực lượng xung kích, nhích dần từng bước, lên sát cửa mở, sẵn sàng xung phong vào đồn giặc.

Sau năm phút, công binh mở xong cửa. Bộ binh từ các hướng ào ạt xông lên, đánh chiếm lô cốt đầu cầu, mở rộng sang hai bên và phía trước. Các trận địa pháo cầu vồng chuyển làn, bắn tập trung vào trung tâm đồn địch. Đội hình thọc sâu như một mũi tên, lao lên đánh chiếm sở chỉ huy, khu thông tin và các mục tiêu quan trọng trong đội hình đóng quân của địch.

Đã có một số đồng chí hy sinh và bị thương được đưa ra hướng cửa mở của chúng tôi. Cuộc chiến đấu mỗi lúc một quyết liệt. Nhiều đồng chí của ta tiếp tục bị hy sinh, bị thương.

Bây giờ đã là phút thứ 25, tính từ lúc bắt đầu nổ súng. Lực lượng thọc sâu của ta bị địch chống trả quyết liệt và bị chặn lại ở tuyến giữa.

Tại Sở chỉ huy, Trung đoàn nhận định: Địch có hầm ngầm chăng?
_________________________________________
1. Lô cốt đầu cầu: Là mục tiêu trên tiền duyên mà các hỏa lực của ta phải tiêu diệt, lực lượng mở cứa phải đánh chiếm để làm bàn đạp cho bộ binh tiến công vào bên trong đồn địch.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:30:21 PM

Trên hướng thứ yếu, phía đông đường số 1, địch có sơ hở, chủ quan, nên từ đầu đã tạo được lợi thế cho ta. Trên hướng này, ta đã chiếm được mỏm đồi phía đông đèo Phú Cũ.

Sau khi xốc lại đội hình, hai hướng hiệp đồng với nhau cùng tiến công lên mục tiêu chính: Mỏm đồi phía tây đường số 1.

Pháo địch trên các hướng tập trung bắn vào sườn đồi đối diện ở phía tây trên hướng tiến công chủ yếu của quân ta. Sau hơn một giờ đồng hồ công kích ta đã hoàn toàn làm chủ trận địa, tiêu diệt và bắt sống trên 150 tên, thu toàn bộ vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng.

Trước cửa mở còn một khối thuốc nổ 20 kg nằm chỏng chơ. Khối bộc phá này là khối bộc phá dự bị, đề phòng địch dựa vào lô cốt, hầm ngầm cố thủ thì sẽ đem vào cho nổ tung. Với tính năng của khối thuốc nổ và nhất là khối thuốc nổ đã tra kíp nổ, nụ xòe và dây cháy chậm, chỉ cần một quả đạn cối, hoặc quả lựu đạn nổ gần cũng có thể bị kích nổ, giữa một đội hình chiến đấu của quân ta, tai họa sẽ khó lường. Thấy rõ sự nguy hiểm của khối thuốc nổ, tôi đã phải bò lên, kéo khối thuốc nổ ra xa đội hình và vô hiệu hóa khi không dùng đến nó nữa.

Trận tiến công đồn Phú Cũ thắng lợi. Nhưng ta thương vong lại khá cao, gần 100 đồng chí.

Những ngày sau đó, địch điên cuồng phản kích để giải tỏa đường quốc lộ số 1 đã bị ta cắt đứt tại đèo Phú Cũ và nhiều nơi khác. Các lực lượng chủ lực của ta kết hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích đã tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch khi chúng đi càn quét trên địa bàn các huyện Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ... Bọn địch trong các căn cứ, đồn bót chưa bị tiến công hết sức hoang mang, lo sợ.

Trong chiến dịch Thu - Đông, nhất là sau trận tiến công đồn Phú Cũ thắng lợi, cùng với chiến trường toàn miền, tại Quân khu 5, trên địa bàn ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định, các đơn vị chủ lực của Quân khu, phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương đã tiến công một loạt các căn cứ, các chi khu quân sự và cơ quan chính quyền của địch, gồm chi khu quân sự Minh  Long, căn cứ Gia Vực, Quảng Ngãi, chi khu quân sự và Quận lỵ Thượng Đức, vùng B Đại Lộc và nhiều nơi khác, bức rút hàng loạt đồn bót địch như đồn Cộng Hòa, đồn số 7 ở Quảng Ngãi, v.v... Vùng giải phóng được mở rộng ở các huyện miền núi như Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Ba Tơ (Quảng Ngãi), An Lão, Vân Canh, Vĩnh Thạnh (Bình Định). Vùng địch kiểm soát bị thu hẹp.

Hầu hết, các huyện miền núi thuộc các tỉnh đồng bằng ven biển Khu 5 ta có nhiều lợi thế về địa hình, một trong ba yếu tố (Thiên thời - Địa lợi - Nhân hòa) của cuộc chiến tranh Nhân dân Việt Nam. Trong các chiến dịch tiến công và cả trong từng trận chiến đấu của ta, địch đều bị ta bao vây, chia cắt cô lập từng khu vực, từng mục tiêu và bị hạn chế rất nhiều về sức mạnh của binh khí kỹ thuật. Đây là điểm bất lợi, không dễ gì khắc phục được của chúng.

Trận tiến công chi khu quân sự Minh Long và căn cứ Gia Vục của trung đoàn bộ binh số 22 và lữ đoàn 52 Quân khu 5 tại tỉnh Quảng Ngãi là một ví dụ.

Chi khu quận lỵ Minh Long là một căn cứ tầm cỡ của địch ở tỉnh Quảng Ngãi, xa các căn cứ của lực lượng có thể chi viện cho chúng; lại nằm trong một lòng chảo, xung quanh có các điểm cao, đối phương có lợi thế hơn về nhiều mặt, nhất là về địa hình; cho nên bọn địch đóng ở đây có hệ thống công sự, vật cản tương đối chắc chắn. Ngoài hai tiền đồn ở trên hai hướng Đông Bắc và Tây Nam là Gò Quang và Gò Găng, mỗi nơi một đại đội lính bảo an, chúng còn bố trí nhiều điểm chốt và hệ thống ấp chiến lược. Binh lính ở đây phần lớn là người dân lộc H’re, khét tiếng gian ác.

Đánh chiếm quận lỵ Minh Long, để bảo đảm chắc thắng, sư đoàn 3 đã sử dụng cả 3 trung đoàn bộ binh: Trung đoàn 22 và 12 tiến công các căn cứ đồn trú; quận lỵ. Trung đoàn 2 làm nhiệm vụ đánh viện.

Các trận địa cối 106,7 và 120mm bố trí trên các điểm cao 500 - 600 cùng với các trận địa phòng không, hiệp đồng với hỏa lực đi cùng các trung đoàn, chi viện cho bộ binh đánh chiếm lần lượt các mục tiêu.

Quyết tâm của sư đoàn là: lực lượng chặn viện phải loại trừ cho được bọn địch tăng viện từ bên ngoài, khống chế cho được sân bay dã chiến. Lực lượng tiến công quận lỵ, đánh đêm chưa dứt điểm, chuyển sang đánh ngày; bao vây, chia cắt tiêu diệt từng mục tiêu đến tiêu diệt toàn bộ. Làm chủ hoàn toàn quận lỵ Minh Long.

Tháng 12 năm 1965, trước khi đánh chiếm chi khu Minh Long, quân ta chiếm lĩnh toàn bộ các cao điểm xung quanh chi khu, thiết bị các trận địa hỏa lực. Trên các ngả đường từ đồng bằng lên quận lỵ đều bị ta phục kích, ngăn chặn. Chi khu quân sự Minh Long coi như bị cô lập.

Đại đội công binh chúng tôi được giao nhiệm vụ làm đường cơ động cho pháo vào triển khai, bố trí mìn tự động và mìn điều khiển để đánh quân đổ bộ xuống khu vực sân bay, và xây dựng sở chỉ huy cho Sư đoàn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:30:57 PM

Đêm N - (29-12-1965 trước Tết nguyên đán) quân ta tiếp cận các mục tiêu trong khi nhân dân và binh lính đang xem chiếu phim. Do hệ thống phòng thủ của địch trong căn cứ bố phòng phức tạp, ngay từ đầu bộ đội ta có thương vong do vướng phải mìn địch.

23 giờ 30 phút, buổi chiếu phim kết thúc. Bọn lính vừa về đến căn cứ thì cũng là lúc bộ đội ta nổ súng tấn công các mục tiêu. Dưới sự chi viện của các trận địa súng cối bố trí ở dãy cao điểm 500 và ĐKZ 75 đi cùng, các hướng, các mũi thực hành tiến công các mục tiêu. Các trận địa pháo có thể chi viện được của địch thì ít, lại xa và đã bị ta kiềm chế. Do địa hình rừng núi và đêm tối nên lực lượng bộ binh của địch từ đồn Cộng Hòa - đồn số 7 không thể nào chi viện được. Các chốt tại chi khu Minh Long dựa vào công sự và hệ thống ấp chiến lược chống cự quyết liệt. Một số tên đầu sỏ, ngoan cố dựa vào những đường hầm bí mật tháo chạy.

Sau hơn 5 giờ đồng hồ chiến đấu, ta đã đánh chiếm được toàn bộ quận lỵ Minh Long, tiêu diệt nhiều sinh lực gồm một chi khu, hai căn cứ đồn trú, một sân bay và cơ quan hành chánh cấp quận của địch. Thu toàn bộ vũ khí, kho tàng.

Ngày hôm sau, địch cho 2 tốp máy bay lên ném bom, bị các trận địa phòng không của ta bố trí trên các điểm cao 500 - 600 bắn trả. Chúng phải bay ở độ cao ném bom, nên không trúng mục tiêu.

Đánh chiếm được căn cứ Minh Long, trước mắt đã giúp cho quân ta giải quyết được khó khăn về lương thực. Bộ đội ta thu được hàng chục tấn lương thực, thực phẩm, bao gồm gạo thơm, đường, sữa, dầu ăn,... Đại đội công binh chúng tôi được một thời gian ăn uống thoải mái, sung túc.

Một phần trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn và một phần công tác Đảng - công tác chính trị chưa thấm sâu vào mọi người, trong trận này một số đơn vị, bộ đội thu được tiền của địch (chúng chuẩn bị phát lương cho lính ăn tết) không chịu giao nộp. Suốt mấy ngày liền các phố xá dọc sông Trường Giang, Trường Lệ, bộ đội hành quân qua đây đã mua hết hàng hóa như kẹo bánh, đường sữa, thuốc lá và nhiều thứ khác. Sư đoàn phải thi hành kỷ luật một số cán bộ chỉ huy.

Phối hợp với trung đoàn bộ binh số 22, trung đoàn bộ binh số 2 bao vây đồn số 7 trên trục đường từ Thạch Trụ, huyện Mộ Đức lên huyện Nghĩa Hành và phục kích chặn viện ở phía Đông núi Lớn, tạo điều kiện cho trung đoàn bộ binh 22 giải quyết mục tiêu quận lỵ Minh Long. Nhưng địch không ra phản kích, đồn số 7 bí mật rút chạy  và bỏ luôn chi khu quận lỵ Minh Long.

Thừa thắng ở quận lỵ Minh Long, trung đoàn bộ binh 22 được lệnh tiến công đồn Thạch Trụ, núi Xương Rồng. Đêm chiếm lĩnh, trời mưa to, nước lũ tràn về, cho  nên trung đoàn 22 không thực hiện được ý định của sư đoàn. Chiến dịch Thu - Đông năm 1965 kết thúc.

Tại chiến trường khu V, lữ đoàn 52 của quân khu, do lữ đoàn trưởng Lê Chí Thuận chỉ huy cũng đã đánh chiếm căn cứ Gia Vực trong một đêm bằng chiến thuật tập kích hiệp đồng binh chủng.

Cũng như quận lỵ Minh Long, Gia Vực thuộc địa bàn rừng núi phía Tây tỉnh Quảng Ngãi. Là một trong những căn cứ vững chắc nhất của địch ở miền Trung, do một tiểu đoàn đồn trú lính người dân tộc Re đóng giữ. Do phòng thủ trong một địa thế bất lợi, xa sự chi viện của các lực lượng bên ngoài, nên mục tiêu này, địch cấu trúc khá hoàn chỉnh. Bên trong có lô cốt bê tông và lô cốt bằng bao cát xếp dày, nối liền với chiến hào từ tiền duyên vào tung thâm. Trung tâm chỉ huy có hầm ngầm kiên cố. Toàn bộ căn cứ được bao bọc bởi 9 lớp rào kẽm gai đủ loại, xen kẽ mìn sát thương bộ binh và mìn chống xe tăng. Có thể nói, căn cứ Gia Vực thuộc vào loại mục tiêu công sự vững chắc, hệ thống vật cản phức tạp. Lữ đoàn 52 đã triệt để lợi dụng địa hình rừng núi, đưa pháo vào gần, lên cao. Toàn bộ căn cứ địch nằm dưới tầm hỏa lực của ta. Các loại hỏa lực ngắm bắn trực tiếp, xác suất trúng mục tiêu rất cao. Nhờ vậy đã chi viện đắc lực cho bộ binh đột phá, tiến công đánh chiếm toàn bộ căn cứ, diệt gọn tiểu đoàn đồn trú của địch, thu toàn bộ vũ khí. Do có ưu thế về địa hình, vận dụng cách đánh sáng tạo, sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các lực lượng, bộ đội ta đã loại trừ được sự chi viện bằng bộ binh, pháo binh và không quân của địch.

Qua những trận đánh điển hình của Lữ 52, của sư đoàn bộ binh 2 và 3 trên địa bàn các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đã nói lên những vấn đề sau đây:

1. Thiên nhiên đã tạo cho chiến trường khu 5 có được một địa thế lý tưởng, có điều kiện phát huy tốt cách đánh truyền thống của quân đội ta, sức mạnh của chiến tranh nhân dân Việt Nam được nhân lên; khơi thêm những điểm yếu, những bất lợi không dễ gì khắc phục được đối với kẻ thù; nhất là kẻ thù xâm lược.

2. Lực lượng ba thứ quân của ta trên chiến trường, nhất là quân chủ lực đã có bước phát triển nhanh chóng toàn diện về nghệ thuật chỉ huy chiến dịch và chiến đấu.

3. Thắng lợi này là tiền đề mở ra khả năng đánh tập trung với quy mô cao hơn, lớn hơn; có thể mở các chiến dịch tổng hợp và tiến công địch trong căn cứ, có công sự vững chắc; đồng thời vận động tiêu diệt địch bung ra phản kích trong một không gian rộng, thời gian dài ngày ở vùng rừng núi và đồng bằng. Nhờ vậy mà sau một loạt các trận đánh tiếp theo trên địa bàn các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Quảng Tín và Đà Nẵng, vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, vùng bị địch tạm chiếm ngày càng thu hẹp. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và Ngụy quyền Sài Gòn tiến hành trên chiến trường miền Nam nói chung, trên địa bàn Liên khu 5 nói riêng, sẽ bị phá sản.

Trước tình hình đó, đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam Việt Nam và cho máy bay, tàu chiến ra khiêu khích, đánh phá miền Bắc nước ta. Vai trò của quân Mỹ, từ chỗ làm cố vấn cho quân đội và chính quyền Sài Gòn, đến chỗ trực tiếp tham chiến để cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chính quyền tay sai. Trên chiến trường Liên khu 5 lúc bước vào mùa khô lần thứ nhất (1965) có 120000 lính 1 Mỹ, bằng 2/3 tổng số lực lượng Mỹ tại miền Nam..


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:32:53 PM

Tại tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, Đà Nẵng và Phú Bài có hai Sư đoàn thủy quân lục chiến, Sư đoàn bộ binh American, Lữ đoàn dù 196, Lữ đoàn xe tăng (thiết xa vận) Mỹ, Sư đoàn Thanh Long (Rồng Xanh) lính Nam Triều Tiên, Sư đoàn bộ binh 2 của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và các liên đoàn biệt động.

Tại tỉnh Bình Định có 20000 lính Mỹ, 500 máy bay, hàng chục tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp, pháo binh. Sang mùa khô thứ 2 (1966) số binh lính Mỹ, cả bộ binh và Binh khí kỹ thuật tăng lên gấp đôi, chủ yếu tập trung ở chiến trường Bắc Bình Định - Nam Quảng Ngãi, có Sư đoàn không vận số 1 (Sư đoàn kỵ binh bay) Mỹ, Lữ đoàn dù 101 và Sư đoàn Mãnh Hổ Nam Triều Tiên cùng với Sư đoàn bộ binh 22 và các Liên đoàn biệt động của quân đội Sài Gòn. Tại tỉnh Phú Yên có sư đoàn Bạch Mã (Đại Hàn), Lữ đoàn dù 173 (sau này được trang bị xe tăng, trở thành Lữ đoàn Kỵ binh Thiết giáp).

Chiến trường Tây Nguyên (mặt trận B3) có 2 Sư đoàn bộ binh đánh rừng núi là sư đoàn bộ binh số 25 và sư đoàn bộ binh số 4 của Mỹ, sư đoàn 23 lính Sài Gòn và các Liên đoàn biệt động. Ngoài ra còn có một đội quân đông đảo bao gồm các đơn vị bảo an, dân vệ, các lực lượng cảnh sát đô thị với hệ thống đồn bốt, ấp chiến lược dày đặc. Các lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu của các quốc gia đồng minh của Mỹ như Thái Lan, Úc, Phi Luật Tân và một số nước khác cũng đã hiện diện trên chiến trường miền Nam nói chung và Liên khu 5 nói riêng.

Trên biển Đông, Hạm đội 7 của Mỹ thường xuyên túc trực, với các loại pháo tầm xa có thể bắt sâu vào nội địa miền Trung. Lính thủy đánh bộ Mỹ có thể đổ bộ từ Hạm đội 7 vào đất liền bất cứ lúc nào... Ở mặt trận Quảng Trị có Sư đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, sư đoàn bộ binh số 1 quân lực Việt Nam Cộng hòa và nhiều Sư đoàn, Lữ đoàn thiện chiến khác...

Lúc bấy giờ, trên chiến trường Liên khu 5 mạnh nhất là Sư đoàn không vận số 1 Mỹ. Chúng tập trung trọng điểm đánh phá trên một địa bàn không lớn so với chiến trường Khu 5, là Bắc Bình Định, Nam Quảng Ngãi, bao gồm các huyện như An Lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Vân Canh, Phù Cát, Phù Mỹ, An Nhơn, Tuy Phước thuộc tỉnh Bình Định; Sơn Tịnh, Bình Sơn, Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Cùng với lính Nam Triều Tiên và các lực lượng thuộc ngụy quyền Sài Gòn, nên có thể nói mật độ của các sắc lính ở đây rất cao.

Cả miền Nam tràn ngập lính Mỹ, và quân Đồng minh với Mỹ. Riêng lính Mỹ, đã có lúc lên đến nửa triệu tên.

Sư đoàn Bộ binh 3 Sao Vàng tác chiến trên chiến trường Khu 5, chủ yếu là hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi. Trong hai mùa khô đỏ lửa (1966 - 1967) chúng tôi đã phải giáp mặt với Sư đoàn không vận số 1 và Sư đoàn Mãnh Hổ lính Đại Hàn, là những lực lượng ngoại bang, mạnh nhất, thiện chiến nhất, hung bạo nhất lúc bấy giờ. Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt và không cân sức Cả hai bên đều thương vong cao. Chiến thắng của sư đoàn 3 ở Bồng Sơn, Thuận Ninh, chợ Cát, chợ Gồm, đồi Mười, Quy Thuận, An Lão, Hoài Ân, suối Đá Tượng, Long Giang, Lộc Giang, Xuân Sơn và nhiều nơi khác đã ghi vào lịch sử của sư đoàn 3 nói riêng, của quân đội ta nói chung1.

Cùng với việc máy bay B52 rải bom xuống các vùng rừng núi, nông thôn, làng mạc của miền Trung, địch còn dùng máy bay phun chất độc hóa học làm trụi lá cây, hoa màu, hủy diệt sự sống. Song song với các hoạt động về quân sự, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn ráo riết thực hiện chính sách dồn dân vào các ấp chiến lược, với âm mưu “tát nước, bắt cá”, đẩy lực lượng ta ra khỏi đồng bằng để dễ dàng tiêu diệt bằng chiến thuật “trực thăng vận” và “thiết xa vận”. Các lực lượng liên quân Mỹ - Ngụy - chư hầu càn quét liên tục, chà đi xát lại khắp nơi... Cái danh từ “Mỹ Lết”, hay địa danh “Dốc Lết”, có thể cũng được sinh ra từ âm mưu thủ đoạn của giặc Mỹ lúc này.

Ngoài các thủ đoạn đánh phá ta về quân sự, đế quốc Mỹ và chính cjuyền tay sai còn tiến công ta bằng một thủ đoạn hết sức nham hiểm là đánh vào tinh thần tư tưởng. Chúng mở những trung tâm “chiêu hồi” và cái gọi là các “lớp cải huấn” hòng làm lung lạc ý chí chiến đấu của quân ta. Trong khi trên chiến trường cuộc chiến đấu giữa ta và địch rất gian khổ ác liệt; và trong khi địch đẩy mạnh chiến dịch dồn dân, hàng ngày chúng dùng máy bay L19, máy bay trực thăng phát đi những băng ghi âm kêu gọi bộ đội ta đầu hàng, chạy về với “chính nghĩa quốc gia”, vào các trung tâm “chiêu hồi”. Trong thực tế cũng đã có một số ít bộ đội, du kích ta, không chịu nổi ác liệt, đã buông súng, đầu hàng giặc. Tôi còn nhớ, sau khi đi điều tra căn cứ Gò Loi, một căn cứ vững chắc nhất ở huyện Hoài Ân, một trinh sát do sợ quá đã chạy theo giặc... Hoặc ở nơi này, nơi khác, có một số giảm sút ý chí chiến đấu, nằm im chờ thời cơ thuận lợi với tư tưởng cầu an.

Có những tình huống bất ngờ, mà lúc đầu bộ đội ta cũng phải trả giá bằng xương máu do những thủ đoạn vô cùng nham hiểm của kẻ địch: Có một lần, tại một cửa khẩu (nơi giáp ranh giữa miền núi và đồng bằng, là nơi các lực lượng vận tải hậu cần của các đơn vị thường qua lại để vận chuyển lương thực, thực phẩm từ đồng bằng lên căn cứ) thuộc một vùng kiểm soát của Sư đoàn Mãnh Hổ, Đại Hàn, khi đài quan sát của ta phát hiện một toán lính “mang ba lô” quàng áo mưa, băng qua cánh đồng trống vào chân núi. Khi tạnh mưa, cũng toán lính đó đi ra khỏi khu vực chân núi. Anh em ta cứ đinh ninh cho rằng địch đã rút, đường xuống núi đã an toàn, liền cho bộ đội xuất phát một cách rất chủ quan. Khi ra khỏi bìa rừng thì đội hình lọt ngay vào ổ phục kích của địch. Tất nhiên là ta bị tổn thất nặng nề, vì phần lớn lực lượng này là lực lượng phục vụ chiến đấu, trang bị vũ khí ít, lại bị bất ngờ do chủ quan, mất cảnh giác, trong khi kẻ địch đã có sự theo dõi quy luật của ta và chuẩn bị một cách chu đáo và nham hiểm.

Sau khi bị cú bất ngờ đó, chúng tôi được biết, lợi dụng trời mưa, toán địch đó, cứ mỗi tên cõng theo một tên, trùm áo mưa lên để cho đài quan sát của ta tưởng là chúng mang ba lô hoặc vũ khí. Sau khi vào đến chân núi, chúng để lại những tên đã được cõng vào, phục kích, còn lại công khai đi ra.

Lính Mỹ cũng nham hiểm không kém lính Đại Hàn. Chúng phục kích trên các đường mòn. Khi anh em ta bị hy sinh, chúng cho trực thăng chở các toán lính khác đến, chở toán này về căn cứ. Bộ đội ta cứ tưởng là trực thăng xuống bốc quân rút đi. Khi ta quay lại để đưa tử sĩ về chôn cất thì bọn địch đã được máy bay trực thăng đổ xuống, cài lại nổ súng, và anh em ta lại bị thương vong tiếp.
___________________________________________
1. Sư đoàn Sao Vàng - Nxb.QĐND - 1984.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:33:18 PM

Cũng như nhiều địa phương trên cả nước, ở Liên khu 5, mỗi tỉnh đều có một đặc sản riêng, thế mạnh về kinh tế riêng: Quế ở Quảng Nam, đường ở Quảng Ngãi (đường phèn), lúa Phú Yên, cà phê Đắc Lắc... Tỉnh Bình Định nổi tiếng về dừa là thế, “Tam Quan bóng mát, xanh tươi rừng dừa”. Rừng dừa bạt ngàn trải dài từ Tam Quan, đến các xã Hoài Châu, Hoài Sơn, Hoài Hảo, Hoài Ân, phía tây quốc lộ số 1 - xuống đến tận Hoài Thanh, Hoài Hương, Phù Mỹ, Phù Cát, phía đông đường số 1, v.v... đâu đâu cũng thấy dừa và dừa. Từ trên máy bay nhìn xuống, bạn sẽ thấy những rừng dừa xanh tươi bát ngát, xen lẫn với những cánh đồng ruộng lúa chín vàng và những dòng sông, lũy tre bao quanh những khu nhà ngói mới... tạo nên bức tranh tuyệt đẹp của vùng đồng bằng Khu 5. Dừa ở đây được sử dụng hầu như không bỏ đi một cái gì. Nước dừa dùng để uống, cùi dừa ép dầu, chế biến thành thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày, làm xà phòng, kẹo bánh; sọ dừa làm gáo, làm than hoạt tính trong công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao; lá dừa lợp nhà, cây dừa làm khung nhà không thua loại gỗ tốt, xơ dừa làm dây thừng, làm võng... Trong chiến tranh cây dừa làm công sự, tránh bom, đạn của địch và các công trình chiến đấu của bộ đội.

Thế mà chỉ trong một thời gian ngắn, do chất độc hóa học của Mỹ, màu xanh của rừng dừa bị biến mất, chỉ còn lại thân cây. Hàng triệu cây dừa đã bị giết chết, cụt ngủn, chọc lên trời.

Vùng giáp ranh các huyện An Lão, Hoài Ân, Nghĩa Điền, Dốc Lết, Kim Sơn, Xuân Phong, An Đỗ thuộc tỉnh Bình Định; Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Đức Phổ... thuộc tỉnh Quảng Ngãi, là trọng điểm của chiến dịch phát quang, dồn dân của địch. Đồng ruộng, hoa màu, cỏ cây, nương rẫy khô héo. Còn chút hoa màu nào sót lại cũng không có người thu hoạch. Chất độc hóa học tan trong nước, thấm vào đất đai, vào các lớp tế bào của cây cỏ, củ đậu, hạt lúa, quả dừa, từ đó len lỏi vào cơ thể con người để lại di chứng qua bao thế hệ không dễ gì xóa đi được. Đó là những hậu quả của cuộc chiến tranh do đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai gây ra cho nhân dân ta nói riêng và loài người nói chung phải gánh chịu...

Nhân dân bị dồn vào các ấp chiến lược, bộ đội ta gặp rất nhiều khó khăn về lương thực.

Chúng tôi phải thay đổi phương thức tác chiến trong từng trận chiến đấu, từng đợt hoạt động, từ tác chiến tập trung, đến phân tán, linh hoạt. Đội hình Sư đoàn Bộ binh số 3 phải cơ động liên tục. Khi thì ở tỉnh Quảng Ngãi, lúc thoắt xuống Bình Định. Có những lúc Sở chỉ huy Sư đoàn vừa chuyển đến buổi chiều thì buổi tối máy bay B52 đến “rải thảm”... Tháng 3 năm 1967, Sở chỉ huy Sư đoàn đóng tại Dốc Lá Lốt, khu vực Sông Re, bị máy bay B52 đến ném bom, phải di chuyển đến Vực Lim (đông nam Ba Tơ 10 km). Đài kỹ thuật báo tin địch sẽ cho máy bay B52 đến ném bom. Sở chỉ huy phải di chuyển gấp về Sa Lung, huyện An Lão (phía Bắc tỉnh Bình Định). Vừa đến Sa Lung hôm trước, hôm sau máy bay B52 đến “rải thảm”. Hồi đó có tin địch đã cài được gián điệp vào nội bộ ta...

Pháo đài bay B52 là loại máy bay chiến lược, bay ở độ cao trên 10000 m. Song, trên chiến trường Khu 5, B52 đã như loại máy bay chiến thuật, có thể ném bom chính xác trong mọi điều kiện, địa hình, thời tiết... phục vụ trực tiếp các chiến dịch “tìm diệt” của liên quân Mỹ và đồng minh trên chiến trường.

Phương châm chiến lược của ta lúc bấy giờ là kết hợp “Hai chân, ba mũi”, bao gồm: Quân sự - Chính trị - Binh vận. Phương châm này đã được quán triệt ở mọi đơn vị, từ Quân khu đến tận cơ sở. Đây là sợi chỉ đỏ, xuyên suốt quá trình đấu tranh vũ trang trong cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam, trên khắp các chiến trường. Nổi bật nhất là trong hai mùa khô 1966 - 1967, rồi đến cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968 và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam sau này.

Tại các vùng nông thôn, bộ đội chủ lực sát cánh với bộ đội địa phương và dân quân du kích cùng với “đội quân tóc dài” tiến công địch khắp nơi, bằng quân sự kết hợp với binh vận, vận động binh lính địch đầu hàng, phản chiến, chạy về với đội ngũ cách mạng. Tại các đô thị, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, các tôn giáo, của học sinh, sinh viên liên tục nổ ra, gây cho địch nhiều lúng túng. Các đơn vị biệt động đã đánh nhiều trận ngay trong sào huyệt của địch, gây cho chúng nhiều tổn thất nặng nề. Chưa có thời kỳ nào phương thức tác chiến lại phong phú như thế, phong trào đấu tranh, chống Mỹ lên cao như thế...

Từ kinh nghiệm đánh Mỹ của quân và dân Quảng Nam (ngọn cờ đi đầu diệt Mỹ của cả nước), tư tưởng chỉ đạo tác chiến lúc này là “Bám thắt lưng địch mà đánh”. Lợi dụng ưu thế về địa hình rừng núi, bộ đội ta phát huy sở trường đánh đêm để tập kích tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch phá huỷ phương tiện chiến tranh của chúng. Kết hợp đánh vừa và đánh nhỏ, tiến công mọi nơi, mọi lúc, tiến công liên tục, đều khắp cả ba vùng chiến lược và tận hang ổ của chúng. Ta đã tạo được thế bố trí, xen kẽ với địch, nên đã hạn chế được sức mạnh của pháo binh, máy bay trên phạm vi từng khu vực, từng trận chiến đấu cụ thể. Muốn tiêu diệt được xe tăng, ta ít thương vong, phải đánh gần, khoét sâu điểm yếu cơ bản của xe tăng, tiếp cận “góc chết”, góc an toàn dùng thủ pháo, lựu đạn và súng phóng hỏa tiễn mà tiêu diệt.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:34:57 PM

TRẬN ĐẦU ĐÁNH MỸ


Tháng 3 năm 1965 đế quốc Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam. Chiến trường Khu 5 là một trọng điểm. Mở đầu phong trào đánh Mỹ là địa bàn tỉnh Quảng Nam, sau đó là Bình Định và Phú Yên. Tại tỉnh Bình Định, những trận đánh đẫm máu giữa lực lượng của sư đoàn 3 với quân Mỹ ở thung lũng Thuận Ninh huyện Bình Khê, tiếp đến trên cánh đồng Long Giang, Lộc Giang huyện Hoài Ân, chợ Gồm, Núi Một huyện Phú Cát và một số nơi khác, đã mở đầu giai đoạn đánh Mỹ quyết liệt đầu mùa khô lần thứ nhất1. Đâu đâu cũng dấy lên phong trào thi đua diệt Mỹ, với khẩu hiệu nổi tiếng lúc bấy giờ là “Tìm Mỹ mà đánh, gặp Ngụy là diệt!”. Đối với tôi, trận chiến đấu đánh Mỹ dưới đây là trận đầu tiên tôi và nhiều đồng chí khác được tham gia.

Đêm Noel 1966, Sư đoàn bộ binh 3 Quân khu 5 trực tiếp là trung đoàn bộ binh 22, đánh trận tập kích Tiểu đoàn pháo binh và 1 tiểu đoàn thiếu bộ binh thuộc Sư đoàn không vận số 1 Mỹ,. đóng tại Gò Xuân Sơn, huyện Hoài Ân tỉnh Bình Định. Tiểu đoàn pháo này trang bị các loại lựu pháo 105 - 155 mm và pháo tự hành 175mm, chi viện cho các lực lượng bộ binh Mỹ trong phạm vi bán kính từ 10 - 15 km. Đây là trận đánh tập kích hợp đồng binh chủng, quy mô cấp Trung đoàn tăng cường, đối tượng là lính Mỹ, công sự vật cản sơ sài, ở địa hình giáp ranh miền núi. Chủ yếu địch dựa vào sức mạnh của pháo binh và máy bay trực thăng. Trận đánh đã để lại trong tôi một ấn tượng mạnh mẽ, không bao giờ quên.

Gò Xuân Sơn so với địa hình xung quanh cao hơn một đường bình độ, nơi mà trước đó không lâu, Sư đoàu 3 đã làm thao trường để luyện tập. Chiều dài Gò Xuân Sơn khoảng 350 m, rộng trên 200m, xung quanh có các thửa ruộng nhỏ, có nước và đã bỏ hoang từ lâu. Phía tây có con sông Kim Sơn, mùa khô lội qua được. Con sông ôm lấy một phần ba quả đồi về hướng Tây Nam. Phía Đông và Đông Nam là những gò đất trống, xen kẽ các khoảnh ruộng, lau lách mọc um tùm. Về phía Tây Bắc gần một cây số là những dãy rừng già, rừng tái sinh liên hoàn. Xa xa về hướng Đông Bắc là làng mạc thuộc cách xã Ân Tín, Ân Tường, Ân Hảo huyện Hoài Ân. Nơi đây, làng mạc, đồng ruộng bị đạn, bom cày xới bỏ hoang, không một bóng người. Nhân dân bị dồn vào các ấp chiến lược, chỉ còn lại lực lượng du kích và những người chí cốt với cách mạng mới dám ở lại cùng với bộ đội chủ lực, ngày đêm bám trụ, chiến đấu với địch.

Đúng vào đêm Noel, trời rét như cắt da thịt, Trung đoàn bộ binh 22, do đồng chí Sơn Diệp, Trung đoàn trưởng chỉ huy thực hành tiến công căn cứ pháo binh địch. Hướng tiến công chủ yếu là Đông Bắc. Hướng này, ta có nhiều thuận lợi về địa hình. Hướng phối hợp là hướng Đông Nam. Hai hướng này đều nằm về phía đông sông Kim Sơn. Sư đoàn còn tổ chức thêm hướng “dương công” về phía Tây căn cứ địch, và cũng diễn ra ở phía bờ Tây sông Kim Sơn.

Đêm cuối tháng, trời tối đen như mực. Khí hậu về đêm lạnh buốt. Tôi còn nhớ, cách đây mấy hôm, tôi dẫn đoàn cán bộ đi trinh sát, điều nghiên; do trời lạnh và tinh thần căng thẳng mà cổ họng tôi ngứa rát. Tôi cố nín nhịn để khỏi phát ra tiếng ho, khi đang gần địch có mấy chục mét. Nhưng càng nhịn lại càng như tắt thở. Không sao chịu được. Ruột gan cuộn lên như sắp trồi ra nơi cuống họng. Tôi phải nằm úp xuống đất, đào bới một lỗ nhỏ, cho miệng vào đó, để nếu bị cơn ho ập đến thì đỡ bớt được tiếng động. Hai tay tôi cào cấu xung quanh, vớ được lá gì, cây cỏ gì đều cho vào miệng, nước mắt, nước mũi trào ra. Nhưng rồi tiếng ho vẫn cứ phụt ra ục ục... Mọi người lạnh cả xương sống... May sao, địch vẫn không phát hiện được.

Còn đêm nay, giờ “G” sắp đến. Vào giờ này, nhân dân Mỹ nói chung, binh lính Mỹ trên chiến trường Việt Nam nói riêng có lẽ đang cầu nguyện, mong Chúa đem lại phước lành cho họ trong cuộc chiến tranh này. Bọn diều hâu, hiếu chiến, đâu có biết rằng, chỉ ít phút nữa thôi, cái Tiểu đoàn pháo binh đầy tội lỗi kia, sẽ phải đền tội trước Chúa...

Nhiệm vụ của tôi trong trận này là một trinh sát viên, dò gỡ mìn địch, đưa đội hình bộ binh vào chiếm lĩnh trên hướng tiến công chủ yếu của Trung đoàn. Sau khi bộ binh phát triển chiến đấu trong trung tâm trận địa địch thì tôi cùng với tiểu đội công binh phá hủy các khẩu pháo của chúng.

Trước giờ “G” mười lăm phút, tôi đã ở bên này bờ ruộng hai mươi mét. Bên kia là tiền duyên địch. Nhìn qua màn đêm lờ mờ, tôi thấy một dãy công sự được xếp bằng bao cát nằm trên sườn gò thoai thoải, cách bờ ruộng chừng 10 mét. Phía sau, trên cao là những ngôi nhà vải bạt được căng trên các hầm thùng (chúng tôi gọi là hầm bò). Phía sau tôi là những cán bộ chỉ huy trên hướng này, cúi lom khom, bổ sung nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc quyền và hiệp đồng lần cuốn tại thực địa trước khi nổ súng.

Tôi men theo bờ ruộng để tiếp cận sườn gò bên kia. Khát nước quá, tôi vục miệng xuống ruộng tợp một ngụm nước. Một con đỉa dài gần bằng gang tay bám ngay vào môi dưới của tôi. Sợ quá, tôi kéo mãi mới bứt được con đỉa ra khỏi miệng. Đỉa ở đây rất nhiều, cổ chân tôi đỉa bám đầy. Mặc kệ, tôi vẫn bí mật trườn lên và gỡ được một trái lựu đạn “mỏ vịt”, một quả mìn chiếu sáng. Lúc này cũng sắp đến giờ nổ súng, đội hình trên các hướng cũng đã triển khai xong. Đồng chí Thiếu tá Trần Khánh Tường chủ nhiệm công binh Sư đoàn, lệnh cho tôi lui về sở chỉ huy Trung đoàn 22, đặt ở một gò đất cách mục tiêu địch khoảng 250 mét, trên hướng tiến công chủ yếu. Bên cạnh là khẩu pháo bắn thẳng ĐKZ75 mm. Sát phía trước là một tiểu đoàn bộ binh tiến công trên hướng chủ yếu.

Vì sao tôi lại được điều ra đây, và vì sao đồng chí Trần Khánh Tường, chủ nhiệm công binh Sư đoàn lại ở đây, trực tiếp ra lệnh cho khẩu ĐKZ75 bắn hết quả đạn này, tiếp đến quả đạn khác vào mục tiêu? Sau này tôi mới được biết là chủ nhiệm công binh điều tôi ra đây, có nghĩa là tôi đã làm xong nhiệm vụ được giao. Còn việc đồng chí có mặt trên hướng tiến công chủ yếu và trực tiếp chỉ huy hỏa lực, là do cương vị và vị trí của một chỉ huy Trung đoàn. Sau trận này có thể đồng chí sẽ được bổ nhiệm lên làm Trung đoàn trưởng. Khi lùi ra tôi mang theo luôn những quả mìn, quả lựu đạn gỡ được của địch và đã vô hiệu hóa chúng.

0 giờ, lệnh nổ súng bắt đầu.

Cả một khu vực đang im lặng, bỗng rung chuyển bởi tiếng pháo, cối, tiếng mìn, tiếng bộc phá nổ, vang trời, dậy đất. Rồi đến tiếng gầm rú của máy bay trực thăng, máy bay phản lực, xé nát không trung. Mắt tôi hoa lên, tai bị điếc đặc bởi tiếng nổ đầu nòng của khẩu súng ĐKZ bên cạnh.

Đã quen với những trận đánh trước, tôi không còn run nữa, mà chỉ cảm thấy nỗi bức xúc dồn nén từ tối đến giờ đã được giải thoát. Lòng tôi cảm thấy nhẹ nhõm, lâng lâng, sau khi đã hoàn thành phần việc của mình.

Tất cả các loại hỏa lực của ta, từ các hướng rót vào trận địa địch. Cả một Tiểu đoàn pháo binh Mỹ đóng trên Gò Xuân Sơn hoàn toàn bị tê liệt. Không kịp phản ứng.
______________________________________
1. Lịch sử sư đoàn Sao Vàng - Nxb. QĐND - 1984.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:35:48 PM

Dưới ánh trăng muộn màng của đêm cuối tháng, cùng với ánh đèn dù vàng vọt từ chiếc máy bay Dacota thả ra, của các trận địa pháo xung quanh bắn lên bộ binh ta ào ạt, dũng mãnh, xông lên diệt địch. Anh Trần Khánh Tường và tôi lao theo sau đội hình bộ binh, vượt qua cửa mở, đến “lô cốt đầu cầu”. Lô cốt đầu cầu ở đây, thực chất là một ụ súng, được đắp nổi, được xếp bao cát thành một vành bán nguyệt, cao khoảng 60 - 80 cm. Hỏa điểm là một khẩu đại liên 30. Phía sau hỏa điểm này là cái hầm bò, chiều rộng khoảng 2 mét, chiều dài khoảng hai mét rưỡi, phía trên phủ bạt.

Tôi và anh Tường vừa bước lên, thì phát hiện một nòng súng thò ra. Anh Tường la lên:

- Hồng đâu?

Tôi lia ngay vào đó mấy loạt đạn. Hai anh em nhảy xuống hầm thì thấy ba tên Mỹ và khẩu đại liên đã cháy đen, khét lẹt. Đây là mục tiêu đầu tiên trước tiền duyên của địch, bị ĐKZ của ta xóa sổ.

Tiểu đội công binh, do anh Được, tiểu đội trưởng chỉ huy, mang theo bộc phá, bám sát sau đội hình bộ binh. Anh em leo lên những khẩu pháo vừa mới chiếm được, cho thuốc nổ vào nòng, vào hộp tiếp đạn để phá hủy chúng. Anh Được leo lên một khẩu pháo 155 mm. Toàn thân anh nằm dài trên nòng pháo để đưa thuốc nổ vào, thì bị trúng đạn, rơi xuống đất. Anh đã hy sinh...

Mặc cho máy bay trực thăng quần lượn trên đầu, đạn pháo địch rơi xung quanh trận địa, máy bay phản lực gầm rú, xé nát bầu trời, tiểu đội công binh vẫn tiến hành phá hủy hết khẩu pháo này đến khẩu pháo khác. Cho đến khi bộ binh ta hoàn toàn làm chủ trận địa, cũng là lúc công binh chúng tôi phá hủy được toàn bộ 11 khẩu pháo. Ta bắt sống được một tên tù binh Mỹ. Tiểu đoàn pháo binh địch đóng trên Gò Xuân Sơn bị xóa sổ.

Mất một Tiểu đoàn pháo binh là mất một chỗ dựa quan trọng của lính bộ binh Mỹ, địch điên cuồng cho máy bay và các trận địa pháo ở những khu vực lân cận bắn phá khắp nơi. Từng đàn máy bay trực thăng đổ quân chặn đường rút lui của quân ta và càn quét suốt một tuần lễ từ huyện Hoài Ân đến huyện An Lão tỉnh Bình Định.

Sau trận tập kích tiêu diệt Tiểu đoàn pháo binh Mỹ ở Xuân Sơn và nhiều trận đánh khác, chúng tôi đã rút ra được nhiều bài học bổ ích, nhiều kinh nghiệm đánh Mỹ quý báu. Những bài học đầu tiên đánh Mỹ có tính nguyên tắc đó là việc đánh giá về khả năng chiến đấu, sức mạnh của pháo binh, máy bay Mỹ trên chiến trường Việt Nam; về khả năng chiến đấu của bộ đội chủ lực của Quân khu với lính bộ binh Mỹ.

Từ trận tiến công, tiêu diệt đồn Phú Cũ, với đối tượng tác chiến là quân đội Sài Gòn, có công sự, vật cản phức tạp, đến trận tập kích tiêu diệt căn cứ pháo binh ở Xuân Sơn, đối tượng là lính Mỹ thuộc Sư đoàn không vận số thiện chiến, được trang bị tối tân, hiện đại, là một khoảng thời gian không dài nhưng sư đoàn đã giành được thắng lợi một cách tốt đẹp, đạt hiệu suất chiến đấu cao. Điều đó nói lên trình độ tác chiến tập trung, hợp đồng binh chủng của bộ đội chủ lực ta trên địa bàn Quân khu 5 đã có bước tiến bộ vượt bậc trên nhiều mặt.

Lúc bấy giờ, Quảng Nam - Đà Nẵng là ngọn cờ đi đầu diệt Mỹ của cả nước, bằng những trận đánh với lực lượng ít, mà đã tiêu diệt được nhiều sinh lực bộ binh, bắn cháy được nhiều máy bay, xe tăng Mỹ. Ở tỉnh Bình Định cũng có nhiều trận đánh Mỹ liên tiếp nổ ra. Trận đánh Mỹ của Trung đoàn bộ binh số 2 ở suối Đá Tượng, ở thung lũng Thuận Ninh, trận đánh quân Mỹ của trung đoàn bộ binh 12 ở Long Giang, Lộc Giang xã Mỹ Lộc... là những trận điển hình của chủ lực ta ở Khu 5.

Những thắng lợi bước đầu trong giai đoạn trực tiếp chiến đấu với binh lính Mỹ trên chiến trường, đã chứng minh cho quan điểm lấy ít thắng nhiều, lấy yếu tố tinh thần dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, đánh thắng một đối tượng quân đông, vũ khí trang bị hiện đại, nhưng lại có nhiều yếu điểm không thể khắc phục được. Ý chí, quyết tâm đánh Mỹ và khả năng giành thắng lợi đã được khẳng định trên chiến trường. Điều đó đã có tác động lớn lao đối với quân và dân ta. Đây là tiền đề hết sức quan trọng để giành thắng lợi trong những trận đánh tiếp theo; giải quyết được một cách cơ bản về tư tưởng và hành động: Dám đánh và biết đánh thắng Mỹ, góp phần cùng với toàn quân và toàn dân ta đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ ở miền Nam, trước mắt giành thắng lợi trong 2 cuộc phản công chiến lược của Mỹ, mùa khô 1966 - 1967 trên chiến trường.

Sư đoàn bộ binh 3 Quân khu 5, lúc mới thành lập, có hai đại đội công binh. Mỗi đại đội, lúc đầu có những sở trường riêng và đảm nhiệm các nhiệm vụ riêng, do đồng chí Trần Khánh Tường, chủ nhiệm công binh Sư đoàn trực tiếp chỉ đạo. Đồng chí là một cán bộ nhanh nhẹn, sâu sát và có năng lực. Trong cuộc chiến tranh này, nhiệm vụ của binh chủng công binh nói chung và công binh của Sư đoàn nói riêng rất nặng nề và phức tạp. Dưới sự chỉ huy của đồng chí, và sự tận tình, tận tâm của hàng ngũ trợ lý, đã tạo nhiều thuận lợi cho chúng tôi hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Sau trận tập kích Tiểu đoàn pháo binh Mỹ ở Xuân Sơn, đồng chí được phong hàm Trung tá. Tiếc thay chưa nhận được quyết định, đồng chí đã bị hy sinh trong trận bố ráp bằng máy bay trực thăng của Mỹ mùa khô 1967 tại huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Là những chiến sĩ dưới quyền, chúng tôi rất thương tiếc đồng chí. Đó là một cán bộ mẫu mực, một đảng viên kiên cường, một người con xuất sắc của quê hương Quảng Trị...

Tôi được biên chế vào đại đội 2 - đại đội trưởng là đồng chí Ngô Quỳ, thay đồng chí Lê Xuân Chi đã hy sinh, chính trị viên vẫn là đồng chí Trần Hữu Biền. Đại đội tôi đóng quân tại Xóm Mít, Vạn Tín, Vạn Trung thuộc huyện An Lão, nay thuộc huyện Hoài Ân. Còn đại đội 1 - đại đội trưởng là đồng chí Trương, chính trị viên là đồng chí Tương; đóng quân ở xóm Tranh, xóm Ghềnh, xã Châu Sơn trước đây cũng thuộc huyện An Lão. Đại đội 1 đã có từ trước, phần lớn cán bộ, chiến sĩ là người miền Nam - còn đại đội 2 của chúng tôi mới vào, hầu hết đều là anh em các tỉnh miền Bắc. Đại đội 1 thường được giao nhiệm vụ: đánh cầu có địch canh giữ, cắt giao thông, mở đường qua các bãi vật cản trong đánh công kiên và một số nhiệm vụ chiến đấu khác. Đại đội 2 chủ yếu làm nhiệm vụ bảo đảm chiến đấu, như làm đường, bắc cầu, vượt sông, thi công các Sở chỉ huy và tham gia đánh giao thông, chặn đường vận chuyển tiếp tế của địch, đánh quân đổ bộ đường không bằng các vật liệu nổ...


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:37:39 PM

Theo yêu cầu chiến đấu, sau này, hai đại đội công binh còn đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác, tác chiến được mọi loại địa hình như một đơn vị “đa năng”. Sau trận đánh tại Xuân Sơn, hai đại đội công binh được sát nhập thành Tiểu đoàn công binh số 19 của Sư đoàn bộ binh 3. Trước mắt, các đơn vị vẫn hoạt động mang tính độc lập dưới sự chỉ đạo của chủ nhiệm công binh Sư đoàn.

Thời gian đầu, trước khi bước vào mùa khô 1965 - 1966, các địa phương thuộc huyện An Lão vẫn còn là một vùng quê yên tĩnh. Chúng tôi đóng quân trong nhà dân. Trước mặt phía Đông là sông An Lão, phía Tây dựa lưng vào dãy núi liên hoàn. Các phong trào cách mạng của nhân dân từ khi bộ đội về đóng quân, phát triển rất mạnh. Bộ đội chủ lực kết hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích thường xuyên luyện tập đánh địch càn quét diệt ác phá kềm, tuần tra canh gác bảo vệ cuộc sống yên lành cho nhân dân.

Từ khi Mỹ đổ quân vào miền Nam, cuộc sống của người dân vùng này đã bắt đầu bị đe dọa. Trên vùng trời An Lão đã xuất hiện các loại máy bay ném bom, máy bay trinh sát thường xuyên hoạt động. Những người đã từng sống ở nơi đây hẳn còn nhớ, ban đêm, dọc theo hai bên thung lũng An Lão, máy bay Bồ Hok của Úc chụp ảnh liên tục trong một thời gian dài. Dấu hiệu đó cho thấy đây là một trong những mục tiêu hủy diệt của Sư đoàn không vận số 1 Mỹ trong hai mùa khô 1966 - 1967 tại chiến trường Bắc Bình Định - Nam Quảng Ngãi.

Trước những diễn biến không bình thường trên khu vực này, chúng tôi đã có sự chuẩn bị để đối phó với những tình huống xấu có thể xảy ra, như chuẩn bị đường cơ động từ vị trí đóng quân là xóm Tranh, xóm Mít, Vạn Tín, Vạn Trung lên dãy núi Hòn Chè, phía Tây thung lũng An Lão, cơ động lên hướng Bắc - Dốc An Toàn. Mặt khác chúng tôi xây dựng kế hoạch đánh địch, nếu chúng đổ quân xuống đây. Máy bay Bồ-Hok hàng ngày vẫn cứ bay dọc theo hai bên thung lũng An Lão. Mỗi ngày 2 lần: Sáng khoảng từ 8 - 9 giờ; chiều tối khoảng 17 - 18 giờ. Chúng bay rất thấp, súng AK hay CKC có thể bắn được.

Chúng tôi đã tổ chức các trận địa phục kích bắn máy bay bay thấp bằng súng bộ binh. Phía dưới xóm Ghềnh là đại đội Một, phía trên, trước xóm Mít là đại đội Hai, sử dụng súng máy 12 1y 7 để đón lõng. Hồi đó nghe người ta nói rằng: “Loại máy bay này súng phòng không từ 14 ly 5 trở xuống không bắn được. Vì dưới bụng chúng có một lớp cao su chống đạn rất dày, không thể xuyên được”. Điều này chưa hẳn là như vậy, bởi trên địa bàn, trong thời điểm đó chúng chưa bị bắn rơi và chưa được kiểm chứng.

Một ngày đầu của mùa khô tháng năm 1967, trong lúc tôi đang huấn luyện cho một phân đội về khoa mục “Bộc phá liên tục...” trên sườn đồi phía Tây xóm Tranh, thì một chiếc “đầm già” (máy bay trinh sát L19) bay từ hướng thị trấn Bồng Sơn lên. Sau khi qua khỏi xóm Mít, chiếc “đầm già” đột ngột bay vòng trở lại. Tôi đã nghe thấy tiếng máy bay phản lực rít từ xa. Chiếc “đầm già” phóng 1 quả rốc két xuống ngay thao trường, nơi chúng tôi đang tập luyện. Linh tính báo cho biết đã gặp sự nguy hiểm. Tất cả đội hình được lệnh giãn ra. Cả tiểu đội nằm bẹp gí giữa các luống khoai lang. Đồng chí Nguyễn Minh Hiển, chiến sĩ đánh bộc phá, vừa chạy vào một hang đá gần đó thì cũng là lúc một quả bom Napan rơi xuống trùm lên cửa hang. Đồng chí bị chết cháy. Liên tiếp những ngày sau đó, kết hợp với máy bay B52 “rải thảm” dọc theo sườn núi phía Tây thung lũng An Lão, các trận địa pháo ở Bồng Sơn, Thiết Đính, Nhà Thờ1 Bình Hòa, Thánh Giá và cả pháo biển ở hạm đội 7... bắn phá dữ dội vào các làng mạc dọc bờ sông. Từ xóm Ghềnh, xóm Tranh (xã Châu Sơn) lên xóm Mít, An Tín, Vạn Tín, Vạn Trung bị tàn phá nặng nề. Hàng đoàn máy bay trực thăng đổ quân, càn quét, xúc dân đưa vào các ấp chiến lược xung quanh thị trấn Bồng Sơn và dọc trục đường số 1.

Sau khi dùng bom pháo triệt hạ, một chiến dịch phát quang được bắt đầu. Chỉ trong một thời gian ngắn, đế quốc Mỹ và tay sai đã biến một vùng đất trù phú, làng mạc đông vui, nhộn nhịp thành vùng đất chết. Cả thung lũng An Lão không một bóng người. Làng mạc, cây cối, hoa màu khô héo. Trên trời, máy bay trực thăng, máy bay phản lực ngày đêm túc trực. Dưới đất là lính Mỹ tràn ngập... Mục tiêu của Mỹ trong mùa khô thứ nhất này là tiêu diệt quân chủ lực của ta. Trên chiến trường Bình Định - Quảng Ngãi, lực lượng Mỹ và liên quân mở các chiến dịch “tìm diệt” ở vùng giáp ranh và miền núi. Tại các vùng nông thôn, đồng bằng chúng ráo riết thực hiện kế hoạch “bình định”, dồn dân, lập ấp, cùng với mục đích là đẩy bật quân chủ lực của ta khỏi đồng bằng để tiêu diệt bằng chiến thuật “trực thăng vận”.

Chúng tôi bắt đầu phân tán. Đại đội Một xuống vùng giáp ranh Hoài Nhơn - Phù Mỹ. Đại đội Hai bám vào sườn núi phía Tây thung lũng An Lão. Từ đây, chúng tôi quần lộn với địch khắp nơi trên địa bàn hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi suốt gần 10 năm trời, với quy mô tác chiến ngày càng lớn. Có thể nói thời gian cao điểm đánh phá ác liệt nhất của Mỹ ở chiến trường Khu 5 tập trung vào hai mùa khô: 1966 - 1967, kéo dài đến năm 1969.

Một buổi sáng mùa khô năm 1967, sau những đợt ném bom, bắn pháo dữ dội lên cao điểm Hòn Chè, phía Tây thung lũng An Lão, hàng đàn máy bay trực thăng từ hướng thị trấn Bồng Sơn, thuộc huyện Hoài Nhơn, Bình Định bay tới đổ quân xuống Hòn Chè. Lúc này đại đội 2 chúng tôi đã sơ tán lên sườn đồi, dựa vào các hang đá để tránh pháo và sẵn sàng chiến đấu. Mấy chiếc HU1A quần đảo nhiều vòng rồi hạ độ cao. Cây cối trên các hang đá ngả nghiêng, tơi tả. Chiếc HU1A như dừng hẳn, cánh quạt vẫn quay tít. Tôi ngồi dưới hang đá nhìn lên, thấy rõ thằng Mỹ, mặt đỏ như gà chọi, tay lăm lăm khẩu đại liên, ngón tay để trong vòng cò như sẵn sàng nhả đạn.

“Lộ rồi!” - tôi nghĩ thầm. Bỗng từng tràng súng liên thanh và lựu đạn từ trên máy bay tung xuống. Khói lửa mù mịt, khét lẹt. Tất cả đại đội 2, dựa vào hang đá, sẵn sàng chiến đấu.

Một toán lính Mỹ từ trên Hòn Chè tiến xuống, sục sạo khu vực hang đá. Tiểu đội trinh sát được phân công cảnh giới trước các cửa hang. Mỗi người một hướng.
___________________________________________
1. Nhà thờ: Ở xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, có một đoạn đường số 1 dốc khoảng 150. Bên cạnh có Nhà thờ. Địch đã bố trí ở đây một trận địa pháo. Vì vậy nhà thờ Dốc là địa danh do nhân dân đặt ra.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:38:41 PM

Trời càng về trưa, càng nóng như đổ lửa. Máy bay trực thăng, hết tốp này đến tốp khác tiếp tục phóng rocket, ném lựu đạn xuống hang đá. Chúng như bầy quạ đen đang giành ăn. Mùi thuốc súng, mùi bom xăng tràn vào các cửa hang, ngợp thở. Bỗng trước cửa hang đá hướng Tây (hướng Hòn Chè) tiếng súng rộ lên từng tràng. Nghe như có cả tiếng súng AK của bộ đội ta.

Tiếng máy bay trực thăng, máy bay phản lực cùng với tiếng bom, pháo ầm ầm mãi cho đến chiều. Khoảng 16 giờ, địch cho trực thăng đáp xuống một đồi sim gần khu vực hang đá, bốc quân đi.

Tất cả chúng tôi mặt mũi lấm lem, bơ phờ, mệt mỏi. Cảnh vật nơi đây như vừa trải qua trận bão khủng khiếp. Những cây gỗ to đường kính 2-3 tấc, bị đạn pháo tiện đứt, đổ ngổn ngang. Xung quanh bốn bề yên tĩnh lạ. Mọi người túa ra các hướng kiểm tra lại quân số. Tất cả bàng hoàng khi phát hiện Hồ Huy Liễu - một chiến sĩ trinh sát - hy sinh ngay trước cửa hang, xung quanh vương vãi mấy vỏ đạn AK, song súng không còn, địch đã lấy đi mất. Rất có thể Liễu đã chiến đấu với toán lính Mỹ từ trên Hòn Chè xuống sục sạo, sau những loạt đạn AK, anh đã hy sinh. Cả đại đội 2 chúng tôi vô cùng thương tiếc.

Đến nay tôi vẫn còn nhớ rất rõ về anh. Quê anh ở xã Sơn Hàm, cùng huyện với tôi, cùng nhập ngũ một ngày, cùng biên chế vào đại đội 2 công binh và cùng ở tiểu đội trinh sát với tôi. Anh có dáng người cao, thanh thoát. Tóc hai bên thái dương chảy dài xuống má thành hình râu quai nón. Vậy là trong đợt nhập ngũ với tôi, đến thời điểm này, trong đại đội đã bị “mất” 3 người: Nguyễn Minh Hiển, Hồ Huy Liễu và sau đó ít ngày là Trần Sỹ Mỹ. Quân số tiểu đội trinh sát nói riêng, đại đội nói chung, cứ thế vơi dần...

Với sức mạnh về binh khí kỹ thuật và sức cơ động cao, chúng có lợi thế hơn ta gấp nhiều lần. Những chiến dịch “tìm diệt” với chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, “Phượng hoàng tung cánh”, “Phượng hoàng vồ mồi”, “Bủa lưới phóng lao”, v.v... được thực hiện khắp nơi trên cả ba vùng chiến lược.

Trước sức mạnh và tương quan lực lượng trên chiến trường nghiêng về phía địch, quân ta đã nhanh chóng chuyển phương thức tác chiến cho phù hợp với tình hình trên chiến trường. Vừa đánh nhỏ, lẻ tiêu hao địch, vừa xây dựng lực lượng tạo thời cơ để tổ chức những trận đánh quy mô vừa, tiêu diệt nhiều sinh lực của chúng. Giai đoạn này chúng tôi thường áp dụng theo lối đánh của đặc công (đặc công hóa bộ binh), phát huy sở trường đánh đêm, tập kích vào các cụm quân dã ngoại của lính Mỹ khi vừa đổ quân xuống. Đã có những gương chiến đấu dũng cảm xuất hiện trong những ngày đầu đánh Mỹ. Tôi còn nhớ, trong một lần đi bám địch để tập kích tại thung lũng An Lão, tổ trinh sát chúng tôi do Nguyễn Hữu Quang chỉ huy, đột nhập vào một toán lính Mỹ vừa mới đổ xuống và co cụm lại trên một gò đất gần chân núi. Anh Quang đi trước. Do trời tối và do địa hình cây cối lúp xúp, chúng tôi vào sát khẩu đại liên 30 của địch mà không biết. Khi phát hiện được tên xạ thủ Mỹ nằm bên khẩu súng thì cũng là lúc nó phát hiện được Quang. Thằng Mỹ cao, to ôm lấy Quang vật xuống đất. Anh Quang bình tĩnh, gí khẩu súng Col 45 vào nách thằng Mỹ, bóp cò. Nó ngã vật xuống không kêu lên được một tiếng. Anh Quang vác khẩu đại liên về đơn vị. Hoặc như anh Phan Hành Sơn, một mình đã quần lộn với địch tại núi Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) diệt hàng chục lính Mỹ. Sau này các anh được Đảng và Nhà nước tuyên dương danh hiệu “Anh hùng quân đội”.

Việc nhanh chóng chuyển phương thức tác chiến, vận dụng sáng tạo trong cách đánh... là những vấn đề rất mới và rất phù hợp trong thời kỳ đầu, Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam.

Trước một đối tượng lợi thế hơn ta về nhiều mặt, chúng ta chưa có đủ điều kiện cần thiết để chiến đấu giữ đất, giành dân. Hơn lúc nào hết, vấn đề được đặt ra lúc này là tiêu hao, tiêu hao ngày càng nhiều sinh lực địch, chủ yếu là lính Mỹ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng. Vừa chiến đấu, vừa rút kinh nghiệm thành những “bài học đánh Mỹ”, tìm và khoét sâu những điểm yếu cơ bản không thể khắc phục được của chúng.

Phong trào thi đua diệt Mỹ được phát động, nổi lên rầm rộ trên khắp các chiến trường. Đánh nhỏ kết hợp với đánh vừa bằng mọi hình thức tác chiến, với mọi vũ khí trong tay nhằm tiêu hao, tiêu diệt địch khắp nơi.

Với đặc điểm địa hình giáp ranh, cho phép chúng ta không những áp dụng lối đánh tập kích ban đêm, mà ngay trong điều kiện ban ngày, ta cũng có thể chuyển sang đánh phục kích tại chỗ, hoặc phục kích vận động.

Một ngày gần cuối mùa khô năm 1966, đại đội 1 công binh chúng tôi đang trú quân ven sườn đồi, dưới chân dãy núi Yến Luyện thuộc xã Cát Sơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định thì trực thăng đổ một đại đội lính Mỹ xuống một trảng trống, trên con đường từ thung lũng Cát Sơn xuống cửa khẩu của ta ở Dốc Dài (đường đi xuống xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ). Theo phán đoán lính bộ binh Mỹ sẽ theo con đường mòn này đi ngược lên khu vực trú quân của đơn vị để lùng sục, tìm diệt quân ta. Con đường mòn đi qua một thửa ruộng rộng khoảng 50m, trèo lên cái dốc ngắn, cao khoảng 2m, lên tiếp phía trên dốc là đường bằng. Hai bên đường là rừng cây lúp xúp và cao hơn mặt đường một bình độ, rất thuận lợi để bố trí đội hình phục kích. Chúng tôi đã có dịp đi nghiên cứu trước đoạn đường này. Do địa hình không cho phép, bắt buộc các đơn vị qua đây phải đi thành hàng dọc. Khi đến đầu dốc này, bộ phận lên trước, tiếp tục tiến theo trục đường, lực lượng đi sau sẽ ùn lại dưới chân dốc để chờ nhau leo lên. Như vậy lực lượng chủ yếu của chúng sẽ tập trung từ chân dốc ra phía sau.

Chúng tôi bố trí một tiểu đội phục kích đón đầu ở đoạn đường trên dốc; đại bộ phận lực lượng của đại đội được bố trí phục kích trên đoạn đường từ chân dốc về phía sau khoảng hơn 100 mét, cách đường khoảng 40 - 50 mét. Súng cối 82 và 60 mm bố trí phía sau, bắn chặn không cho địch rút chạy. Với phạm vi như vậy ta có thể diệt gọn được một trung đội lính Mỹ, hoặc đánh thiệt hại nặng một đại đội của chúng.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:39:12 PM

Đúng như dự kiến, sau khi đổ quân, binh lính Mỹ, dưới sự yểm trợ của máy bay trực thăng và pháo cối, bắt đầu tiến theo con đường mòn đi ngược lên, đội hình rất dày.

Trong khi máy bay quần lượn, đổ quân, đơn vị tôi đã kịp thời cơ động ra bố trí đội hình phục kích. Tại chân dốc, có con mương nước nhỏ chảy qua, nơi phán đoán đội hình phía sau của địch sẽ ùn lại, chờ vượt dốc, tôi bố trí một quả mìn định hướng 10 kg (ĐH10) và giao cho một chiến sĩ trực tiếp quan sát, điểm hỏa.

Khoảng 10 giờ trưa, một tiểu đội 10 tên Mỹ leo lên khỏi dốc, tiếp tục theo con đường mòn đi tiếp. Ở phía sau đội hình đã ùn lại dưới chân dốc, chờ nhau leo lên. Một số tên rải rác theo sau đang ở ngoài ruộng. Đây là thời cơ tốt nhất để nổ súng.

Tôi ra lệnh điểm hỏa quả mìn ĐH10. Tiểu đội chặn đầu diệt tại chỗ 7 tên lính Mỹ trên đầu dốc. Ở phía sau từ chân dốc trở ra, lực lượng chủ yếu của ta nổ súng, tiến công vào ngay bên sườn đội hình địch. Cối 82 – 60 mm tập trung bắn chặn phía sau. Bị tiến công bất ngờ trên địa hình bất lợi, cự ly giữa ta và địch chỉ 20 - 30m, chúng không kịp phản ứng. Pháo cối của địch mất hiệu lực.

Bộ đội ta xung phong ra thu được trên chục khẩu AR15 và trung liên. Tại chân dốc, địch chết chồng lên nhau vì bị quả mìn định hướng sát thương, đứa mất đầu, đứa gãy chân, gãy tay, thịt, xương văng ra khắp nơi. Nhìn cảnh tượng mà thấy khiếp đảm. Chúng tôi đã diệt gọn một trung đội Mỹ, trong thời gian rất ngắn, quân ta an toàn.

Những trận đánh nhỏ lẻ, đạt hiệu suất cao như trên đã diễn ra khắp nơi, nhất là vùng đồi núi và vùng giáp ranh miền Trung. Trong việc chuyển phương thức tác chiến, tùy theo từng điều kiện cụ thể trên từng chiến trường mà phát huy tối đa những lợi thế của từng đơn vị, không nhất thiết phải theo thứ tự từ đánh nhỏ, lẻ rồi mới đánh vừa, đánh lớn. Xác định rõ mục tiêu lúc này là tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, thu và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng.

Cùng một thời điểm quân Mỹ ồ ạt đổ quân vào miền Nam năm 1966, trong khi chiến trường B3 đánh những trận phủ đầu quân Mỹ với quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn, diệt gọn từng đại đội, đánh thiệt hại nặng từng tiểu đoàn Mỹ, thì ở vùng đồng bằng, vùng giáp ranh quân khu 5, lúc đầu với điều kiện không cho phép, chúng ta đã chuyển sang phương thức tác chiến phân tán, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch bằng lối đánh tập kích, phục kích, vận động tiến công, phổ biến là tập kích ban đêm theo lối đánh của Đặc công. Trong quá trình phân tán đánh nhỏ, lẻ, ta đã tổ chức những trận đánh quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn và trung đoàn tăng cường (như đã nói ở trên)...

Một đặc điểm “cố hữu” của binh lính Mỹ lúc mới sang chiến trường Việt Nam là chúng thường ỷ lại vào quân đông, trang bị tối tân, hiện đại, dựa vào máy bay, đại bác, xe tăng nên thường hung hăng. Chúng như những con thiêu thân, lớp này chết, lớp khác tiến lên, dàn hàng ngang tiến vào làng, trước mũi súng của quân ta. Đây là thời cơ để ta tiêu diệt nhiều sinh lực của chúng trong những lần chúng đi càn quét.

Quán triệt tư tường “lấy ít đánh nhiều”, ngay từ đầu, trên chiến trường, chúng ta đã có cách đánh phù hợp với đối tượng tác chiến, khoét sâu những điểm yếu cơ bản, loại dần những yếu tố tạo nên sức mạnh của chúng.

Sự sáng tạo trong cách đánh đã đưa nghệ thuật quân sự Việt Nam lên đỉnh cao, đánh bại từng âm mưu chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của địch. Chỉ cần một tiểu đội, một trung đội, thậm chí một tổ, chiếm lĩnh địa thế có lợi, dựa vào công sự vững chắc, ta có thể kéo cả một tiểu đoàn, một trung đoàn địch ra khỏi công sự, điều chúng đến những nơi bất lợi để tiêu diệt chúng...

Lịch sử đã chứng minh: Thắng lợi của cuộc chiến tranh dựa trên cơ sở thắng lợi quyết định về quân sự trên chiến trường. Trong từng trận chiến đấu cũng vậy, lấy việc tiêu diệt sinh lực của đối phương, làm chủ trận địa là yếu tố quyết định cho việc hoàn thành nhiệm vụ của trận đánh, để đạt được mục tiêu của chiến dịch.

Lính Mỹ bị toại khỏi vòng chiến đấu ngày càng nhiều sẽ góp phần quyết định làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta. Binh lính Mỹ trên chiến trường thương vong ngày càng nhiều, nhân dân trong nước Mỹ sẽ càng đấu danh kịch liệt, buộc nhà cầm quyền phải đối phó cùng một lúc trên hai mặt trận là ở Việt Nam và ngay trong lòng nước Mỹ. Hậu phương rắc rối, sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới tư tưởng binh sĩ ở chiến trường.

Từ khi Mỹ đổ quân xuống chiến trường khu 5, dải đất miền Trung thực sự là lò lửa thiêu đốt các đơn vị thiện chiến Mỹ và các nước đồng minh trong những năm 1966 - 1967 và các năm sau đó.

Những tên núi, tên sông với những con người ở đây kiên cường, dũng cảm đã in sâu vào ký ức của những người lính chúng tôi. Những năm tháng chiến đấu ở đây đã trở thành kỷ niệm, một phần cuộc đời cũng như sự nghiệp cách mạng của tôi. Những địa danh: An Lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước, với những Đèo Nhông, Đèo Ngụy, Đèo Cây Sung, Đèo Phú Cũ, Dốc Bà Bơi, Dốc Lết, Dốc Dài, Dốc An Toàn, An Đỗ thuộc tỉnh Bình Định; Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Ba Tơ, Gia Vụt, Bình Sơn, Sơn Tịnh, Đức Phổ, Sa Huỳnh... thuộc tỉnh Quảng Ngãi đã trở thành vùng đất sinh tử của người lính chúng tôi. Chúng tôi làm sao có thể quên được những người dân ngày đêm bám trụ, phá banh ấp chiến lược, về với cách mạng, đấu tranh trực diện trước mũi súng quân thù, sát cánh chiến đấu cùng với bộ đội, đào hầm, đắp lũy, tiếp tế, tải thương. Nếu không được sự giúp đỡ của nhân dân, sự sát cánh chiến đấu của nhân dân, chúng tôi khó có thể thực hiện được nhiệm vụ của mình. “Một tấc không đi, một ly không rời!”. Đó là khẩu hiệu hành động của quân và dân miền Trung lúc đó. Nó không chỉ là quyết tâm mà là thực tế có thật trên chiến trường.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:40:04 PM

TẬP KÍCH ĐẠI ĐỘI MỸ Ở DỐC LẾT


Cái địa danh “Dốc Lết” không biết có tự bao giờ. Có lẽ do độ cao của dốc quá lớn mà ai đi qua đấy, cũng phải bò, phải lết chăng? Hay là do quá trình càn quét của địch dai dẳng, có những trung đội, đại đội địch không chịu rút đi mà thường di chuyển ngắn, lết đi, lết lại hòng ngăn chặn lực lượng ta từ trên núi xuống đồng bằng? Ở đây người ta thường gọi những lực lượng này là “Mỹ lết”. Nhưng địa danh “Dốc Lết” không hẳn nói về quân Mỹ, mà có thể nói về một kỷ niệm của chính những người đặt ra nó.

Dốc Lết thuộc khu vực đồi núi huyện Hoài Ân. Từ thung lũng An Lão ở phía Đông, nếu ta đi qua khu vực “32 đồi tranh” xuống đến Hội Văn, lội qua con suối đá rộng khoảng 50 mét, nước trong xanh, đi lên hướng Tây chừng một tiếng rưỡi đồng hồ thì sẽ đến Dốc Lết. Đây là con đường mòn, nhân dân địa phương thường đi qua để khai thác song, mây, gỗ. Các đơn vị bộ đội cũng thường hành quân cơ động lực lượng qua đây để về các căn cứ trên dốc Bà Bơi, Kim Sơn, Nghĩa Điền là những xã thuộc miền núi, rồi tỏa đi các nơi khác.

Đồi núi ở đây, phần lớn thuộc rừng tái sinh xen kẽ những đồi sim và các trảng trống, rất thuận tiện cho việc giấu quân, cơ động lực lượng để tiếp cận địch; nhất là buổi chiều tối và tờ mờ sáng.

Vào một buổi chiều mùa khô năm 1966, khi tổ trinh sát chúng tôi dẫn đoàn cán bộ của Sư đoàn 3 đi khảo sát địa hình, nơi đây vẫn còn yên tĩnh. Vài tiếng đồng hồ sau, bỗng nhiên hàng đàn máy bay trực thăng ồ ạt đổ một đại đội bộ binh Mỹ thuộc Sư đoàn không vận số 1 xuống một trảng trống phía Đông Nam Dốc Lết khoảng 500 mét. Theo sau các tốp trực thăng đổ quân là máy bay CH47 (chúng tôi thường gọi là Sâu Cà, vì nó giống như con sâu cà) thả xuống những loại súng hỏa lực và đồ hộp, thức ăn hàng ngày của lính Mỹ.

Mùa khô, trời nóng nực. Sáu giờ chiều mà trời vẫn sáng rõ, khí nóng bốc lên hầm hập. Bọn địch bắt đầu co cụm lại, trên khoảng đất trống. Trên trời không ngớt tiếng máy bay trực thăng, máy bay phản lực. Cạnh bãi đất trống về phía Tây là rừng cây lúp xúp, tiếp đến là rừng già, giáp với con đường đi xuống Dốc Lết, về thôn Hội Văn, Hội Phú. Phía dưới, hướng Đông Nam là những thửa ruộng đã bỏ hoang từ lâu.

Đại đội công binh được giao nhiệm vụ tổ chức tập kích và tiêu diệt bọn địch ngay trong đêm, khi chúng vừa đổ quân xuống. Đây là thời cơ thuận lợi, chúng đang tập trung, chân ướt chân ráo chưa có công sự, đội hình chưa kịp phân tán. Thời kỳ đầu, lính Mỹ mới sang Việt Nam, chỉ quen dựa vào máy bay, pháo binh, xe tăng và tác chiến theo lối chính quy; lại không thông thuộc địa hình, không quen với khí hậu thời tiết, chưa hiểu được cách đánh của ta. Qua thực tế được rút ra từ các trận đánh của các đơn vị, tạm thời ta có kết luận là trình độ tác chiến của lính bộ binh Mỹ trên chiến trường khu 5 kém xa so với bộ đội ta. Tuy nhiên, càng về sau, chúng càng tích lũy được kinh nghiệm và trở nên lọc lõi, ranh mãnh.

Là tổ trưởng tổ trinh sát, tôi dẫn theo hai đồng chí đi trước đội hình, phía sau là hai trung đội, hình thành hai mũi, gần như song song với nhau tiếp cận mục tiêu. Bộ đội lúc này đã ở sâu trong đội hình địch. Lợi dụng tối đa địa hình đồi núi và đêm tối, chúng tôi mặc quần đùi, bôi nhọ nồi lên người, cầm thủ pháo, lựu đạn, mỗi tổ chỉ sử dụng vài khẩu súng AK, nên rất gọn, nhẹ. Chúng tôi im lặng, mò mẫm trong đêm tối, theo hai bên trục đường mà lúc chiều đoàn cán bộ của Sư đoàn 3 vừa đi qua.

Mệt mỏi với cái nắng nóng của mùa khô khắc nghiệt ở miền Trung, lại vừa đổ bộ bằng trực thăng xuống một khu vực hoang vắng, bọn lính Mỹ nằm lăn ra ngủ như những đống xác chết.

22 giờ, trong khi đang lần từng bước, tổ trinh sát chúng tôi dẫm đạp lên mấy tên Mỹ đang ngủ say. Tôi giật lùi một bước, đánh tín hiệu về phía sau cho đồng đội. Hai trung đội nhanh chóng triển khai đội hình và đồng loạt tiến công. Trên khu đất trống chỉ nghe tiếng thủ pháo, lựu đạn nổ, và từng loạt súng tiểu liên. Bọn địch rối loạn, không phát hiện được quân ta ở chỗ nào. Bị tiến công bất ngờ ngay trong đội hình, địch không phản ứng kịp. Trận địa cối của chúng ở phía Nam bãi đất trống bắn lên khu rừng già, trên đường đi về Dốc Lết.

Sau ít phút chiến đấu, máy bay trực thăng lên quần đảo, rọi đèn pha, các trận địa cối 81 mm cũng bắn đèn lên, chói sáng cả một vùng.

Trên trận địa, thủ pháo, lựu đạn, súng AK vẫn tiếp tục nổ vang. Tổ trinh sát chúng tôi vẫn theo sát đội hình các trung đội, tiến sâu vào trong đội hình địch. Bộ đội tỏa ra trên các hướng, từng tổ, từng tổ, vừa nổ súng, vừa ném lựu đạn và lùi dần vào cánh rừng phía Đông.

Sau hơn hai mươi phút chiến đấu, đơn vị thu quân rút về căn cứ Hội Văn, cách đó khoảng hai giờ đi bộ.

Riêng tôi, khi tiến sâu vào đội hình địch, xung quanh súng nổ loạn xạ, bị mất phương hướng không tìm được lối ra, cũng không liên lạc được với đồng đội. Tôi nép mình vào một bờ ruộng. Phía sau bờ ruộng mấy mét, lính Mỹ đào công sự, hất đất cả lên đầu tôi. Theo bờ ruộng và cây cỏ lúp xúp, tôi bò ra xa. Trong khoảnh khắc im tiếng súng, nhưng tiếng máy bay vẫn gầm rít trên trời, lợi dụng ánh đèn dù của địch, tôi quan sát thật nhanh xung quanh. Khi ánh đèn vừa tắt, tôi “nhảy cóc” di chuyển từ bụi cây này sang bụi cây khác, theo hướng dãy rừng già trước mặt khoảng 200 mét, là nơi lui quân của đơn vị.

Bỗng một tên Mỹ, không mang súng, cao lêu khêu, ở đâu xuất hiện, tiến thẳng đến bụi cây tôi đang ngồi. Dưới ánh đèn dù lờ mờ, tôi thấy rõ thằng Mỹ. Khi nó chỉ còn cách tôi khoảng 5 mét, không chần chừ, tôi giương khẩu súng CKC, bóp cò. Thằng Mỹ đổ vật xuống kêu rống lên...


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:41:27 PM

Đèn vừa tắt, tôi nhanh chóng nhảy sang một bụi cây khác. Một tốp lính khoảng 5 - 6 tên, từ những vạt ruộng khô ở phía Nam, rập rập chạy tới, khiêng tên bị thương. Bên lưng tôi còn một trái lựu đạn chày1 duy nhất, chớp thời cơ, tôi tung luôn vào tốp địch. Sau tiếng nổ đanh là những giây phút im lặng. Rồi tiếng pháo, cối, tiếng động cơ ầm ầm của máy bay trực thăng làm rung chuyển cả một vùng rừng núi. Lợi dụng đèn pháo sáng của địch và địa hình đồi núi, với kinh nghiệm của người lính trinh sát, cuối cùng tôi cũng thoát ra khỏi khu chiến, về đến vị trí tập kết tối qua.

Trước mỗi trận đánh, bộ đội được tập trung tại một địa điểm kín đáo, có địa hình che đỡ và che khuất (thường được gọi là địa điểm tập kết), để lại tất cả quần áo, tư trang, kiểm tra các trang bị trước lúc xuất phát đến vị trí chiếm lĩnh, và cử người ở lại trông coi. Sau trận đánh, các hướng các mũi rút về.đây, kiểm tra lại quân số, vũ khí, rồi theo những con đường đã được chuẩn bị để rút về căn cứ.

Khi tôi ra đến đây thì đại đội đã lui quân, không để lại dấu vết gì. Có thể anh em cho rằng tôi đã bị mất tích, hoặc đi lạc. Tôi lần theo đường mòn để về nơi trú quân ở Hội Văn. Tụt xuống dốc Lết đã là 7-8 giờ sáng. Mệt quá tôi chui vào một cái hầm ếch của du kích địa phương, hoặc của dân làm ruộng, để tránh pháo địch. Phía trên hầm ếch là sườn đồi, người ta bạt taluy để làm đường, tạo thành vách đứng cao khoảng gần 2m. Trước mắt là những thửa ruộng đã bị bỏ hoang. Cơn buồn ngủ ập đến, không sao cưỡng nổi, tôi ngủ thiếp đi một lúc. Tiếng pháo, cối nổ trên sườn đồi, tiếng máy bay phản lực xé không khí, nhào xuống trút bom, tiếng máy bay, trực thăng phóng rocket... làm tôi tỉnh giấc. Vừa mở mắt nhìn ra trên những khoảng ruộng trước mắt, trong cự ly từ 30-50 m, lính Mỹ dàn hàng ngang, tiến vào nơi tôi đang ẩn nấp...

Không còn đủ thời gian để sợ sệt và suy tính, với sự phản xạ tự nhiên, lợi dụng lúc mấy tên Mỹ chính diện trước mặt đang ngoái cổ nhìn về phía sau, nói với nhau điều gì đó, tôi quàng vội khẩu súng CKC lên cổ, đu người trườn lên dốc. Ở phía Nam sườn đồi khoảng 100 m, máy bay trực thăng phóng rocket và ném lựu đạn xuống một ngôi nhà tranh ẩn mình dưới những rặng tre. Ngôi nhà bốc cháy dữ dội, nổ lốp bốp. Lợi dụng những đám khói đang cuồn cuộn bốc lên, che khuất, tôi đứng thẳng người vùng chạy, chạy mãi trong những vườn cây lúp xúp ven sườn đồi về hướng thôn Hội Văn, nơi đóng quân của đại đội. Bình thường, nếu đi trong địa hình như thế, dễ đạp phải gai hoặc dây leo quấn vào chân. Nhưng sao hôm đó, tôi vượt tất cả mọi chướng ngại vật trên sườn đồi và còn lội qua con suối rộng khoảng 30 m, đá lởm chởm mà không hề sứt da, chảy máu hoặc té ngã... quả là như có một phép lạ. Nếu hôm đó, ngoại cảnh không làm tôi tỉnh giấc thì rất có thể đã bị lính Mỹ bắn chết hoặc bắt sống trong lúc tôi đang ngủ trong cái hầm ếch đó. Khi đến được Hội Văn thì căn cứ đã bị địch càn quét, đốt phá tan hoang, và đơn vị cũng đã di chuyển. Mới rời xa đồng đội có một đêm và một buổi sáng, tôi cảm thấy cô đơn vô cùng. Tôi tin là đơn vị đã kịp di chuyển trước khi địch càn vào đây. Trong chiến đấu đã tạo cho con người kinh nghiệm hơn, nhạy bén hơn. Quả đúng như vậy, đại đội đã rút về khu vực “32 đồi tranh” và sau đó về huyện An Lão. Tôi lại lần theo đường mòn đi suốt ngày hôm đó. Vừa đói, vừa mệt, vừa khát. Tối đến tôi chui vào bụi rậm ven đường ngủ, hy vọng ban đêm đơn vị sẽ hành quân qua đây. Tờ mờ sáng, tôi nhìn lên khu vực “32 đồi tranh”, thấy máy bay trực thăng hạ cánh. Bọn lính Mỹ khuân vác hàng từ trên máy bay xuống. Một số đi đi lại lại, trên các điểm cao. Chúng đã đổ quân xuống khu vực này, hòng chặn đường rút của ta về thung lũng An Lão. Tôi vẫn men theo đường mòn về hướng đó, vì nghĩ rằng: địch vừa đổ quân sáng nay, chưa triển khai lùng sục trên các đường mòn. Đúng lúc đó, tôi gặp được đồng đội, do đồng chí tiểu đội trưởng Võ Tùng dẫn đầu, cũng đang đi tìm tôi đã hai ngày nay... Chúng tôi ôm chầm lấy nhau, cảm động, không nói nên lời, nước mắt lăn trên gò má sạm đen... Đây là một trong những kỷ niệm sâu sắc của đời lính chúng tôi về tình đồng chí, đồng đội trên chiến trường. Sau trận này, tôi được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”.

Trận tập kích đại đội lính Mỹ ở Dốc Lết, theo tin tức của “đài kỹ thuật”, Sư đoàn thông báo, ta đã tiêu diệt và làm bị thương gần 100 tên địch.

Mấy ngày sau, chúng tôi về lại thung lũng An Lão, đóng quân tại Châu Sơn - một làng sát chân núi. Từ khi Sư đoàn không vận số 1 Mỹ đổ quân xuống vùng này, nhân dân ở đây bị chúng dồn vào các ấp chiến lược ở thị trấn Bồng Sơn. Nhà cửa, ruộng vườn không có người trông coi. Tại đây có những hang đá lớn, chứa được cả tiểu đoàn, tránh được cả bom, pháo Mỹ. Trên các nương rẫy, nhân dân trồng các loại cây ăn trái như: chuối, đu đủ, xoài, mít, cam, quýt... Ở đây còn có rừng chuối bạt ngàn, đi cả ngày không hết. Từ bìa rừng ra đến bờ sông An Lão là làng mạc. Trước đây thung lũng An Lão là một miền quê trù phú. Dọc theo hai bên bờ sông là những vườn dâu xanh tốt. Trên các bãi phù sa, nhân dân trồng hoa màu như bắp, đậu phộng (lạc) và những đồng lúa phì nhiêu, những vườn dừa trĩu quả, chạy từ Xuân Phong - Bình Hòa, Thánh Giá (phía đông sông) sang tận Châu Sơn, Tân Sơn, Vạn Tín, Vạn Trung (phía tây sông). Dưới sông thuyền bè lên xuống tấp nập; hai bên đường, phố xá đông vui.

Thế mà, bây giờ làng xóm tiêu điều, xơ xác. Đồng ruộng, vườn tược chỉ còn một màu vàng úa, khô héo. Sông An Lão, mùa này nước cạn, nhô lên những cồn cát. Những đám ruộng lúa chín non, vì chất độc hóa học của Mỹ đã khô héo; những vườn đậu phụng rụng lá, trơ gốc không người thu hoạch. Ban đêm, bộ đội xuống núi, vừa để nắm tình hình địch, tổ chức những trận tập kích, vừa thu hoạch lúa và hoa màu để có nguồn dự trữ cho cuộc chiến đấu ở nơi đây. Khi cần, có thể chi viện cho Sư đoàn trên căn cứ đang gặp khó khăn về lương thực. Bộ Tư lệnh và cơ quan Sư đoàn đóng ở dốc Bà Bơi, thường xuyên bị máy bay B52 oanh tạc. Phải ra tận tỉnh Quảng Ngãi mới nhận được lương thực. Nhưng thời gian đi về phải mất 10 - 15 ngày.

Lương thực thu hoạch xong, được vận chuyển lên núi. Một số dân không chịu vào các ấp chiến lược, lên đây sống cùng bộ đội tổ chức xay lúa, giã gạo, chế biến dầu dừa, dầu lạc... làm các kho dã chiến để dự trữ, phục vụ cho cuộc chiến đấu lâu dài, gian khổ ở nơi đây.
___________________________________________
1. Lựu đạn chày: Cán bằng gỗ, thân đúc bằng gang, thường dùng trong chiến đấu phòng ngự. Thời gian nổ chậm hơn lựu đạn tiến công.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:44:22 PM

Cuộc sống cứ trôi đi theo ngày tháng. Ban ngày địch đánh phá ác liệt. Máy bay trực thăng bốc quân đổ xuống nơi này, nơi khác, nhằm “tìm diệt” lực lượng ta. Máy bay B52, máy bay phản lực ném bom, đánh phá tất cả những nơi chúng nghi ngờ có căn cứ của bộ đội chủ lực. Máy bay vận tải rải chất độc hóa học xuống làng mạc, ruộng đồng, nhằm hủy diệt sự sống của mọi loại động vật, cây cỏ... Ở đồng bằng, chính quyền Sài Gòn ráo riết thực hiện kế hoạch bình định nông thôn, tạo nên những vành đai trắng. Nhưng, khi màn đêm buông xuống, sự sống ở đây lại trỗi dậy, sôi động. Bộ đội từ các căn cứ, hang động lại tỏa ra trên các hướng. Bộ phận này đi tìm địch để tập kích, lực lượng kia ra đồng để thu hoạch hoa màu; lại có cả những đơn vị vượt sông An Lão, lên Xuân Phong, xuống Phước Bình, Thánh Giá1… Vì vậy có thơ rằng:

Khách đến Tân Sơn, gọi đò Vạn Tín,
Cô gái Vạn Trung bồi hồi xao xuyến,
Nẩu
2  về đâu không ghé bến ghe mình!

Những đêm trăng sáng vằng vặc, gió từ bờ sông thổi vào mát rượi. Xong công việc, chúng tôi nằm giữa cánh đồng khô ngắm trăng, thì thầm tâm sự với nhau; mọi chuyện trên đời đều bung ra, kể cho nhau nghe hết. Pháo địch cứ bắn vu vơ, cầm canh vào bìa rừng. Tờ mờ sáng, chúng tôi lại lên núi.

Ngoài số lương thực của dân để lại trên cánh đồng, làng mạc, chúng tôi còn có nguồn “cung cấp” khác cũng đã được tận dụng để bồi dưỡng lực lượng ta. Đó là thực phẩm thu được của địch.

Trên chiến trường Khu 5, tại các vùng giáp ranh, miền núi, khi đổ quân xuống, Sư đoàn Không vận số 1 Mỹ thường đổ luôn xuống các loại đồ ăn, thức uống cho binh lính trong một ngày, có khi cả một tuần lễ. Tại nơi đóng quân của Mỹ ngoài súng đạn, còn có các loại nhu yếu phẩm và thực phẩm như bánh mỳ, đồ hộp, đường, sữa, thuốc lá, v.v... chất hàng đống. Không quen với khí hậu thời tiết mùa khô, binh lính Mỹ không sử dụng hết, hoặc sử dụng rất ít. Khi rút đi, chúng để lại gần như nguyên vẹn số nhu yếu phẩm trên những bãi đổ quân. Bộ đội ta thu về, làm kho bảo quản để sử dụng dần. Vì vậy, trong các bữa ăn hàng ngày của nhiều đơn vị ở đây đã có thịt hộp, cá hộp, đường sữa cho thương bệnh binh. Sau bữa ăn còn được uống cà phê Mỹ, hút thuốc lá Salem, Palman, Camen và nhiều thứ mới lạ khác.

Về sau, có thể do bọn Việt gian đi theo “bày đặt”, “mách nước”, nên trước khi rút quân, bình lính Mỹ chọc thủng các loại đồ hộp, vi khuẩn xâm nhập vào, không dùng được. Còn các nhu yếu phẩm khác, chúng chất thành đống, tưới xăng, đốt.

Về nguồn lương thực, thực phẩm trên cấp, chúng tôi tổ chức nhận ở các địa phương. Mỗi đơn vị có một bộ phận hậu cần, túc trực tại các cửa khẩu. Ban đêm, xuống đồng bằng bám vào trong các ấp chiến lược mua lương thực, thực phẩm. Được nhân dân giúp đỡ, cơ quan “kinh tài” 3 địa phương cũng thu mua được nhiều lương thực cung cấp cho các đơn vị theo yêu cầu. Nhiều khi còn thua được một số trang bị của quân đội địch do gia đình và binh lính tuồn ra ngoài bán, như quân trang, quân dụng, thuốc quân y hay thuốc lá “Quân tiếp vụ”... Nhiều đồng chí cán bộ địa phương bị hy sinh, hoặc bị bắt trong khi luồn lách đưa bộ đội đi thu mua lương thực trong vùng địch hậu. Nhiều đồng chí thoát ly gia đình lên núi bám vào các cửa khẩu, ngày đêm lo “chạy” gạo, “chạy” thực phẩm cấp cho bộ đội, như ở cửa khẩu Dốc Dài xuống xã Mỹ Hiệp huyện Phù Mỹ; cửa khẩu Hưng Nhượng xuống Hoài Nhơn, cửa khẩu ở Nam đường 19 xuống xã Bình Nghi, Bình Tường huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định. Ở tỉnh Quảng Ngãi có cửa khẩu Sa Lung xuống Đức Phổ qua Đèo Ải xã Phổ Cường, hay cửa khẩu Cảng Sa Huỳnh, v.v...

Sự liên hệ máu thịt giữa nhân dân vùng địch tạm chiếm với các đơn vị chủ lực ta ở đâu cũng có. Âm mưu chiến lược của kẻ thù dồn dân, lập ấp để “tát nước, bắt cá” không bao giờ thực hiện được. Mối tình “cá nước” quân dân đã có từ bao đời nay, không kẻ thù nào có thể chia cắt được. Trên một chiến trường gian khổ, ác liệt, sư đoàn Sao Vàng đã tạo được chỗ đứng trong lòng dân, xen kẽ với địch ở vùng đồng bằng thuộc hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi trong những năm đánh Mỹ, là một trong những nguyên nhân thắng lợi của quân đội ta nói chung, của bộ đội sư đoàn Sao Vàng thuộc Quân khu 5 nói riêng.

Tuy nhiên, để đưa được một kg gạo, một hộp sữa, một cân đường, một gói thuốc... từ đồng bằng lên căn cứ là cả một vấn đề, không dễ dàng chút nào.

Thực túc, binh cường, non lương, yếu gối.

Có thời kỳ do địch tập trung đánh phá ác liệt, lực lượng ta không cân sức, bộ đội gặp rất nhiều khó khăn về lương thực, bị đánh bật khỏi vùng đồng bằng, không làm chủ được địa bàn, không nắm được dân; nhiều trận chiến đấu, nhiều chiến dịch mở ra, hiệu suất chiến đấu bị hạn chế hoặc không thực hiện được. Bộ Tư lệnh sư đoàn đã phải hạ quyết tâm, đưa nhiều tiểu đoàn xuống vùng sâu, vùng xa, bám dân, phối hợp cùng lực lượng vũ trang địa phương để hoạt động.
______________________________________
1. Những địa danh, làng mạc ở phía Đông sông An Lão.
2. Nẩu: họ
3. Mỗi địa phương huyện, hoặc xã có một tổ chức chuyên lo thu mua lương thực, thực phẩm để cung cấp cho các đơn vị, gọi là cơ quan kinh tài (Kinh tế, tài chính).



Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:45:53 PM

Từ ngày vào miền Nam, tôi cũng như bao anh em khác, chiến đấu liên tục. Hàng ngày chỉ tập trung lo làm sao để diệt được nhiều địch, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trên giao. Ngoài ra, không có một suy nghĩ nào khác. Vào một ngày đầu năm I966, đồng chí chính trị viên đại đội, gọi tôi lên, gặp và nói: “Đồng chí làm đơn để chi bộ xét kết nạp Đảng!”. Có lẽ, tổ chức đã quan tâm, theo dõi tôi từ lâu, mà tôi không biết. Đồng chí Võ Tùng, tiểu đội trưởng cũng được làm đơn xin kết nạp Đảng cùng lúc với tôi.

Ngày 17-01-1966, tôi và đồng chí Tùng được kết nạp vào Đảng - Đồng chí Trần Hữu Biền, chính trị viên, bí thư chi bộ là người giới thiệu thứ nhất, đồng chí Phan Xuân Đực, quản lý của đại đội là người giới thiệu thứ hai cho tôi. Ngày đó, điều lệ Đảng quy định: thời gian dự bị đối với những đồng chí có thành phần bần nông là 9 tháng và 12 tháng đối với những đồng chí có thành phần trung nông. Tôi thuộc diện dự bị 12 tháng. Ngày 17-01-1967 tôi chính thức trở thành đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đây là một vinh dự lớn, một sự thay đổi quan trọng trong cuộc đời tôi. Từ đây, tôi sẽ có điều kiện phấn đấu nhiều hơn, đảm nhiệm những trọng trách lớn hơn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng.

Cuối năm 1967 và cả năm 1968, Trung đoàn bộ binh 12 vẫn tiếp tục hoạt động ở địa bàn tỉnh Bình Định. Đại bộ phận lực lượng của Sư đoàn Bộ binh 3, theo lệnh của Quân khu, cơ động ra Quảng Ngãi, phối hợp với Sư đoàn 2, mở đợt hoạt động quân sự gọi là chiến dịch X2, do Quân khu 5 tổ chức. Đây là đợt phối hợp hoạt động trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Trong chiến dịch này, nhiều đơn vị chủ lực của ta cùng với lực lượng vũ trang địa phương đã tiến công mãnh liệt trên toàn chiến trường. Có nơi ta đã làm chủ một số thị trấn, thị xã và những vùng chủ yếu. Một số đơn vị thuộc sư đoàn 3 hoạt động ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, mang tính chất phối hợp, nhằm căng kéo các lực lượng địch ở đây tạo điều kiện cho các đơn vị giải quyết những mục tiêu then chốt của địch. Đối tượng tác chiến là Sư đoàn American Mỹ, Sư đoàn “Thanh Long” Đại Hàn và Sư đoàn Bộ binh 2 quân đội Sài Gòn tại các vùng thuộc huyện Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ, Bình Sơn, Sơn Tịnh và huyện lỵ Sơn Hà...

Tại mặt trận Nam Bình Định, trung đoàn bộ binh 12 một mình một hướng, hoạt động trên hai huyện Phú Mỹ và Phù Cát. Đối tượng tác chiến, ngoài lực lượng sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn, có sư đoàn “Mãnh Hổ” Nam Triều Tiên, đồng minh của Mỹ. Nắm được phần lớn sư đoàn 3 ra Quảng Ngãi, sư đoàn “Mãnh Hổ” dưới sự yểm trợ của không quân, pháo binh Mỹ, mở cuộc hành quân quy mô vào núi Bà thuộc huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, nơi sở chỉ huy và một số lực lượng thuộc trung đoàn bộ binh 12 đang đứng chân và hoạt động tại đó. Trong điều kiện bất lợi về nhiều mặt, cuộc chiếu đấu trong vòng vây của quân thù diễn ra rất ác liệt. Trung đoàn 12 đã phải chịu tổn thất nặng nề tại khu vực núi Bà. Song cũng vì thế mà phần lớn lực lượng cơ động của sư đoàn “Mãnh Hổ” bị thu hút vào đấy, tạo thuận lợi cho các đơn vị của ta tiêu diệt nhiều địch ở phía Tây huyện Phù Mỹ1.

Lực lượng công binh Sư đoàn Bộ binh 3, lúc này tổ chức thành Tiểu đoàn công binh, lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn số 19. Đồng chí Trần Văn Hồng là tiểu đoàn trưởng, đồng chí Trần Hữu Biền, là chính trị viên và đồng chí Nguyễn Hữu Quang, tiểu đoàn phó. Đại đội Một, tiếp tục hoạt động ở tỉnh Bình Định suốt mùa khô năm 1967.

Đại đội Hai, cơ động cùng đội hình Sư đoàn 3 ra hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Lúc này đồng chí Tôn Mười làm đại đội trưởng, đồng chí Nguyễn Minh Tiến chính trị viên.

Tại địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, có thể nói, không có một huyện nào không có dấu chân của chúng tôi để lại. Tại các huyện miền núi, chúng tôi tham gia các trận chiến đấu ở Ba Tơ, Gia Vụt; trận tập kích chi khu quân sự Minh Long; ở các huyện giáp ranh và đồng bằng như: Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Bình Sơn, Sơn Tịnh, phía Bắc giáp với tỉnh Quảng Nam, chúng tôi tập kích mục tiêu Cống Đôi, thuộc xã Bình Nguyên, gần căn cứ Chu Lai, tỉnh Quảng Nam. Phía Nam, giáp với xã Tam Quan thuộc huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định, có trận phục kích trên đường giao thông số 1, tiêu diệt đoàn xe cơ giới của địch tại đèo Phổ Trang, phía Bắc Sa Huỳnh, thuộc huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi.

Bước sang năm 1968 - chiến dịch Mậu Thân, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, với cương vị là trung đội bậc trưởng, rồi đại đội bậc phó (thời kỳ này quân giải phóng chưa có quân hàm, chỉ có cấp bậc, mà chỉ được gọi là đại đội bậc trưởng, tiểu đoàn bậc phó,v.v… ), tôi đã tham gia chỉ huy nhiều trận đánh xuất sắc, cấp phân đội, như: Trận đánh sập cầu ở Châu Ổ đêm 22 rạng 23-2-1968, trận tập kích cụm xe tăng Mỹ ở Dốc Sỏi trên đường từ thị trấn Châu Ổ lên huyện Trà Bồng đêm 25-2, bắn cháy 7 xe tăng và xe bọc thép của địch; trận đánh địch càn quét vào thôn Trà Bình, bắn cháy xe tăng, bắt sống một tên chỉ huy Mỹ thuộc Sư đoàn American và một số trận đánh khác mà tôi xin được đề cập ở những trang sau.

Đại đội hai chúng tôi là một đơn vị công binh, nhiệm vụ chính được xác định lúc đầu như đã nói ở trên là xây dựng và sửa chữa hầm hào, thi công công trình Sở chỉ huy cho Bộ tư lệnh và Cơ quan Sư đoàn. Khi tác chiến yêu cầu thì được giao nhiệm vụ làm đường cho xe, pháo cơ động vào triển khai chiến đấu, mở đường qua bãi vật cản cho bộ binh bước vào chiến đấu bên trong đồn bót địch; hoặc bố trí mìn tiêu diệt xe cơ giới, đánh quân địch đổ bộ đường không, v.v... Cuộc chiến đấu trên chiến trường đòi hỏi lực lượng ta phải càng đánh, càng mạnh, càng phải trưởng thành nhiều mặt. Vì vậy, tuy là một đơn vị binh chủng, mang tính phục vụ chiến đấu, nhưng nhiều lúc, đã làm được mọi nhiệm vụ như một đơn vị bộ binh, hoặc chiến đấu theo kiểu của đặc công. Chúng tôi thường được giao nhiệm vụ chiến đấu độc lập, nhưng khi chiến dịch được mở, hay trong những đợt hoạt động tập trung, đại đội tôi luôn chấp hành nghiêm theo mệnh lệnh hiệp đồng tác chiến.
______________________________________
1. Lịch sử Sư đoàn Sao Vàng. Trang 143 - Nxb. QĐND - 1984.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:46:43 PM

TRẬN ĐÁNH CẦU CHÂU Ổ


Trong các chiến dịch được mở ra, lực lượng công binh, ngoài các nhiệm vụ bảo đảm chiến đấu, thường được giao một nhiệm vụ hết sức quan trọng, góp phần hoàn thành mục tiêu của chiến dịch đề ra. Đó là nhiệm vụ đánh phá giao thông, cắt nguồn tiếp tế của địch. Trên chiến trường, tùy theo tính chất và tầm quan trọng ở các khu vực và mục tiêu cụ thể, địch rất chú ý đến hệ thống đường sá, cầu cống. Vì đây là sự sống còn đối với các đồn bót, các căn cứ quân sự và cả sự tồn tại chính quyền của chúng ở địa phương.

Đặc điểm chiến trường Liên khu 5 có nhiều sông, suối, hầu hết đều cắt ngang qua quốc lộ số 1 nên có rất nhiều cầu cống. Ngoài đường ô tô, còn có đường tàu hỏa. Do vậy, để đảm bảo giao thông liên tục thông suốt, địch đã thiết lập được hệ thống bảo vệ khá nghiêm ngặt. Các cầu đều có lô cốt, rào thép gai, mìn sát thương bao bọc và có lực lượng bảo vệ. Đánh cầu có địch canh giữ là nhiệm vụ hết sức phức tạp. Bởi thế, có nhiều trận không thành công.

Đánh cắt giao thông thắng lợi, sẽ hạn chế rất nhiều sự di chuyển lực lượng tiếp tế của địch từ vùng này sang vùng khác; quân ta tạo được thế bao vây, cô lập về mặt chiến dịch và chiến thuật, góp phần giành thắng lợi trên từng khu vực, có khi trên một chiến trường rộng lớn. Trong chiến tranh, vũ khí, phương tiện càng hiện đại, công tác bảo đảm chiến đấu càng phải được coi trọng. Việc cơ giới hoá bộ binh, tăng cường được sức cơ động phải song song với việc bảo đảm đường sá mới phát huy được tác dụng của binh khí kỹ thuật. Đặc điểm chiến trường Việt Nam là một bất lợi không dễ gì khắc phục đối với địch, cả trong kháng chiến chống thực dân Pháp trước đây và trong chiến tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ vừa qua.

Đầu năm 1968, đại đội tôi được giao nhiệm vụ đánh sập cầu Châu Ổ, trên đường quốc lộ số 1, nằm kế gần một bên thị trấn cùng tên, thuộc huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, cắt đứt giao thông tiếp tế của địch, không cho chúng chi viện từ căn cứ hậu cần ở Đà Nẵng, Nước Mặn, Chu Lai vào, hoặc từ thị xã Quảng Ngãi, Sa Huỳnh ra, tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn đánh dứt điểm một số mục tiêu trong chiến dịch Xuân - Hè, 1968.

Ở tỉnh Bình Định, Trung đoàn bộ binh 12 sau những tổn thất nặng nề tại khu vực núi Bà, đang gặp rất nhiều khó khăn về lương thực, đạn dược. Tại tỉnh Quảng Ngãi, trung đoàn bộ binh số 2 và 22 cũng không mấy thuận lợi, nhưng nhờ sự chi viện của Quân khu và sự phối hợp tác chiến với Sư đoàn bộ binh số 2 ở tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nên bớt khó khăn hơn. Giữa tháng 2-1968, hai trung đoàn đã mạnh dạn, thọc thẳng xuống vừng sâu. Để chuẩn bị trước cho đợt ra quân lần này, cuối tháng 11 năm 1967, chúng tôi được giao nhiệm vụ nghiên cứu mục tiêu cầu Châu Ổ. Từ một vị trí đóng quân ở phía tây huyện Bình Sơn, đoàn cán bộ do đồng chí Tiểu đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Tiểu đoàn, Nguyễn Hữu Quang phụ trách, tiến hành đi trinh sát. Đoàn cán bộ có hai tổ, gồm 7 người. Do trên đường tiếp cận mục tiêu phải luồn lách qua hệ thống ấp chiến lược, với nhiều tuyến bố phòng của địch; phải vượt qua sông Trà Bồng, sang phía bờ bắc cầu Châu Ổ để điều tra, nên lực lượng đi trinh sát phải thật gọn, mới giữ được bí mật. Cũng như nhiều nơi khác, ở đây ta đã xây dựng được “đường dây” cơ sở cách mạng khá vững chắc. Đây là “tai mắt”, là lực lượng trinh sát “ngầm” vô cùng quý giá. Các cơ sở cách mạng đã cung cấp cho chúng tôi những tin tức rất có giá trị, và là một chỗ dựa vững chắc của chúng tôi tại vùng địch hậu.

Đây là trận đánh cầu có địch canh giữ, có hệ thống bảo vệ phức tạp, nên phải có bước chuẩn bị thật tốt, làm cơ sở cho niềm tin tất thắng đối với đơn vị và cơ sở cách mạng ở đây. Cần phải nói thêm rằng, trước đây, đã có đơn vị đánh cầu Châu Ổ bị “phơi áo ngoài rào”, không hoàn thành nhiệm vụ, thương vong cao...

Cầu Châu Ổ xây bằng bê tông cốt thép, chân hình trụ, dài khoảng 200 mét bắc qua sông Trà Bồng, nước sâu, chảy xiết.

Đại đội lính bảo an chốt giữ cầu, có hai phần ba lực lượng bố trí ở bờ Bắc, một phần ba ở bờ Nam. Trên các trụ cầu đều có lính thường trực canh giữ. Thỉnh thoảng, hoặc những lúc nghi ngờ, chúng thường ném lựu đạn xuống chân cầu. Dưới mố cầu cả hai phía Bắc và Nam, đều có lô cốt hình lục giác, được đúc bằng bê tông cốt thép, có lỗ châu mai bắn được mọi hướng, có hàng rào kẽm gai bao quanh lô cốt, bao quanh chân cầu và dọc theo bờ sông, dưới nước, đề phòng quân ta đột nhập từ dưới sông lên. Hai đầu cầu là trại lính. Bên bờ Nam cầu là chi khu quân sự đóng tại thị trấn Châu Ổ. Từ trại lính ở đầu cầu phía Bắc, có con đường đất đỏ rộng khoảng 6 mét, chạy dọc theo bờ sông, qua khu gia binh lên hướng Tây. Cầu đường sắt cách cầu Châu Ổ khoảng 1 km về phía Tây.

Đây là mục tiêu khá hóc búa về địa thế và sự bố phòng của địch. Nhưng cũng có thể vì vậy mà địch lại sinh ra chủ quan. Đêm đi điều nghiên là một thời khắc tôi không thể nào quên được. Dưới cái lạnh thấu xương cuối năm 1967, lực lượng trinh sát được du kích dẫn đường, tập trung tại một gia đình cơ sở cách mạng cách mục tiêu 500 mét về phía tây. Chúng tôi tổ chức thành ba tổ, với ba nhiệm vụ khác nhau. Tổ thứ nhất do đồng chí Ngô Đức Trân, tiểu đội trưởng, tiềm nhập theo bờ sông, đi dưới nước từ phía thượng lưu xuống, có nhiệm vụ đo chân cầu để về tính toán lượng thuốc nổ, xác định điểm đặt thuốc nổ và vị trí bố trí hỏa lực để tiêu diệt lô cốt dưới chân cầu.

Lúc này, tôi là đại đội phó, cùng đồng chí Bùi Văn Tôn, trung đội trưởng, đi trinh sát khu trại lính ở bờ Bắc, để làm kế hoạch tiến công trại lính, bảo đảm cho lực lượng đánh cầu; dù tình huống nào cũng hoàn thành được nhiệm vụ.

Bên bờ phía Nam, một tổ, do đồng chí Nguyễn Sương, trợ lý tác huấn chỉ huy, cùng với du kích nghiên cứu kế hoạch chế áp lực lượng ở chi khu Châu Ổ, không cho chúng chi viện sang bờ Bắc.

Sau khi đo được kích thước trụ cầu và tìm được vị trí đặt hỏa lực để tiêu diệt lô cốt đầu cầu, đồng chí Ngô Đức Trân lên gặp tôi ở lớp rào kẽm gai bùng nhùng, cách lô cốt khoảng 10 mét, để báo cáo kết quả điều tra. Nghe xong, tôi khoát tay, ra hiệu cho đồng chí Trân ra trước, vì nằm lại lâu trong bót địch không tiện, dễ bị nguy hiểm. Tôi và đồng chí Tôn nằm lại dưới chân hàng rào kẽm gai tiếp tục quan sát.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:47:31 PM

Do chủ quan, lúc đi ra, qua khu gia binh dọc bờ sông, đồng chí Trân không thận trọng như lúc tiếp cận, nên bị hai tên địch phát hiện. Chúng ném lựu đạn vào đồng chí Trân. Nhưng lựu đạn không nổ. Đồng chí Trân tưởng tôi ném đá làm tín hiệu gì đó, đang định quay lại, thì cũng là lúc bọn địch ném quả lựu đạn thứ hai. Biết đã bị địch phát hiện, đồng chí Trân vọt qua lớp rào đơn, ra ngoài. Tôi và đồng chí Tôn kẹt lại ở bên trong. Lúc đó là 23 giờ 30 phút ngày 25- 11-1967. Lập tức bọn địch từ trên cầu, trong các lô cốt và trại lính bắn ra bờ sông như vãi đạn. Đạn trung liên, đại liên bay chíu chíu trên đầu. Súng phóng lựu M79 của địch bắn theo hướng đồng chí Trân nổ như bắp rang. Các trận địa cối ở đầu cầu và trong chi khu Châu Ổ bắn đèn lên sáng rực cả một vùng. Chúng tôi nằm sát lớp rào kẽm gai mà lòng bồn chồn lo lắng. Rơi vào tình thế ấy đồng chí Trân khó có thể thoát khỏi lựu đạn và lưới lửa dày đặc của địch.

Đồng chí Ngô Đức Trân, quê ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, là một người to, khoẻ, nặng phải đến 70 kg, vui tính hay kể chuyện “tiếu lâm”. Ở đâu có Trân, ở đó sôi nổi hẳn lên. Trong chiến đấu đồng chí rất chai lỳ. Giao cho đồng chí chỉ huy tiểu đội đánh cầu, đại đội Hai rất tin tưởng. Đây là lực lượng chủ yếu để làm nhiệm vụ chủ yếu của trận đánh, là đánh sập cầu, nhằm đạt mục đích chính là chia cắt giữa bờ Nam với bờ Bắc cầu, gây khó khăn cho việc di chuyển lực lượng và tiếp tế của địch trên trục đường số 1 ở Quảng Ngãi. Lực lượng đánh cầu tuy ít, nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng.

Tôi và đồng chí Tôn che chung một tấm vải dù hoa ngụy trang, nằm bên cống thoát nước đầy những rác rưởi. Hai anh em cầm hai khẩu súng ngắn K54 chĩa nòng về hai hướng và thống nhất với nhau rằng: Nếu bị địch phát hiện thì cứ nổ súng, rồi nhảy xuống sông bơi về hướng hạ lưu, thoát ra ngoài, tìm đường về đơn vị... Tuy là trong vùng địch kiểm soát, nhưng đại bộ phận nhân dân ta luôn hướng về cách mạng, chúng tôi sẽ được dân che chở.

Pháo sáng bắn lên, mỗi lúc một nhiều. Một toán năm tên địch, từ trong lô cốt dưới mố cầu, súng lăm lăm trong tay tiến ra và bắt đầu lùng sục dọc bờ sông. Chúng đi qua, cách chỗ hai chúng tôi nằm khoảng hơn ba mét. Chúng quay mặt ra hướng bờ sông, nên không phát hiện được chúng tôi đang nằm sau lưng chúng. Lúc này trời bắt đầu mưa, mỗi lúc càng nặng hạt. Tôi nhắm mắt cầu trời mưa thật to. Lùng sục một lúc theo hướng đồng chí Trân, không phát hiện được gì, trời đổ mưa xối xả. Bọn địch kéo vào một ngôi nhà trong khu gia binh, sát bờ sông. Hai chúng tôi bắt đầu bò ra bờ sông, đang tính lặn xuống nước bơi ra khỏi khu vực nguy hiểm, thì một con mèo hoang ở đâu đó chạy băng qua chỗ chúng tôi kêu “meo, meo”. Một con chó từ trong trại lính chạy ra sủa ăng ẳng. “Lạy chúng mày để cho chúng tao yên” - tôi lẩm bẩm. Nhưng con chó vẫn cứ sủa mãi, sủa mãi... Nó phát hiện được chúng tôi chăng? Tôi nghĩ vậy mà lạnh xương sống... Có lẽ bọn địch cho rằng, con chó đang sủa vì con mèo, nên chúng không lùng sục về phía chúng tôi.

Thời gian này, tôi là một chi ủy viên, phụ trách công tác thủ quỹ của chi bộ, có giữ một ít tiền và một ít giấy tờ cá nhân, vì chủ quan, nghĩ là không phải tiếp cận dưới nước, nên mang theo trong người. Tôi cho hết tiền bạc, giấy tờ vào một bọc ni lông, đưa cho đồng chí Tôn, ngậm vào miệng bảo đồng chí ra trước. Đồng chí Tôn quê ở huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An, là một thanh niên trắng trẻo, đẹp trai nhất nhì trong đại đội, ở nhà làm nghề đi biển, đánh cá, bơi lội rất giỏi. Đồng chí trườn xuống sông, lặn một hơi, bơi ngầm dưới nước, rồi men theo bờ sông, thoát ra ngoài.

Đồng chí Tôn vào nhà cơ sở, trao bọc giấy tờ, tiền bạc của tôi cho đồng chí tiểu đoàn phó Nguyễn Hữu Quang. Vì mệt quá nên chưa có một lời giải thích, anh em tưởng tôi đã hy sinh trong đó. Tất cả ngồi lặng người, buồn bã...

Một lúc lâu sau, đoán biết đồng chí Tôn đã thoát được ra ngoài, tôi bò xuống sông. Tôi không lặn được như đồng chí Tôn mà đi ngầm dưới nước, ngửa mặt lên trời. Lúc qua dãy nhà bên bờ sông, tôi dựng cả tóc gáy, khi nghĩ đến việc địch sẽ phát hiện được mình. Nhưng rồi mọi việc đều trôi qua một cách tốt đẹp. Gặp lại đồng đội, mọi người vui mừng khôn xiết...

Qua thực tế nhận biết từ đợt đi chuẩn bị này và qua nhiều nguồn tin cơ sở cung cấp, đại đội tôi đã nổ ra những cuộc tranh luận sôi nổi và khá gay gắt, xoay quanh vấn đề: “Chọn hướng nào để tiến công đánh sập cầu”. Có hai ý kiến:

- Ý kiến thứ nhất: Nên tiến công trại lính và đánh sập một nhịp cầu ở mố phía Nam. Vì cho rằng, hướng này lực lượng bảo vệ cầu chỉ bằng một phần ba bờ Bắc. Bọn địch dựa vào chi khu quân sự và sát thị trấn Châu Ổ, nên rất chủ quan. Hướng này từ trước tới giờ chưa có đơn vị nào của ta tiến công, đường hành quân tiếp cận gần được một nửa, do không phải vượt sông Trà Bồng, không phải luồn lách qua hệ thống ấp chiến lược và những khu vực dễ bị địch phục kích bên ngoài, nhất là đoạn đường sắt. Xem ra ý kiến này rất có lý, nhất là sau lần đi chuẩn bị này đã xảy ra “sự cố” như đã nói ở trên.

- Ý kiến thứ hai: hoàn toàn ngược lại với ý kiến thứ nhất. Tức là, chọn hướng tiến công chủ yếu, đánh sập một nhịp cầu bên bờ Bắc. Lập luận cho rằng, tuy mục tiêu được bao bọc bởi hệ thống ấp chiến lược và lực lượng địch hoạt động bên ngoài, nhưng ở bên trong, bản thân mục tiêu vẫn có nhiều điểm yếu. Ngoài cùng là một lớp hàng rào đơn bằng kẽm gai, cách cầu khoảng 100 mét, có thể cắt được dễ dàng, có địa hình để triển khai Sở chỉ huy (vị trí chỉ huy của Tiểu đoàn), vị trí cứu thương, trận địa hỏa lực và các lực lượng phía sau. Trong chiến đấu, có địa hình thuận lợi để triển khai binh hỏa lực là yếu tố rất quan trọng. Lực lượng chi viện trực tiếp của địch là chi khu quân sự Châu Ổ ở bên bờ Nam, dễ bị ta chia cắt và ngăn chặn chúng ngay giữa cầu bằng hỏa lực bắn thẳng, không dễ gì chúng vượt cầu sang được bên bờ Bắc. Hướng này tuy đường hành quân xa, nhưng ta có thể lợi dụng những ruộng mía dọc bờ sông, địa hình kín đáo để đảm bảo bí mật và nâng tốc độ hành quân chiếm lĩnh. Nếu nắm chắc được khu vực hoạt động từ xa của địch thì lại càng thuận lợi trong việc luồn lách. Trước đây, đã có đơn vị bị thất bại khi đánh cầu này, thời gian đã khá lâu, đủ để xóa đi những “ám ảnh” của địch trong việc đề phòng ta tiến công. Ta tiến công địch lần này nằm trong thế tiến công của chiến dịch, sự phối hợp giữa các lực lượng trên một phạm vi rộng lớn. Địch đang hoang mang, dao động.

Sau “sự cố” vừa qua, lúc mưa to đã xóa đi dấu vết của chúng tôi để lại. Theo tin cơ sở của ta, lần đó địch cho rằng chúng “nhìn gà hóa cuốc”. Một điểm vô cùng thuận lợi cho ta là các gia đình cơ sở cách mạng rất vững tin. Họ sẽ theo dõi mọi diễn biến về tình hình địch và cung cấp cho ta kịp thời. Sau cùng, chúng tôi hạ quyết tâm là tiến công vào mục tiêu từ phía Bắc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:49:11 PM

Nghị quyết chi bộ xác định: “lấy mục tiêu chủ yếu của trận đánh là “đánh sập một nhịp cầu cắt đứt giao thông huyết mạch của địch, tạo thuận lợi cho các đơn vị bạn đánh chiếm một số mục tiêu của chiến dịch”. Từ đó, yêu cầu công tác chuẩn bị phải chư đáo, trong mọi tình huống, phải hoàn thành được mục tiêu đề ra. Muốn vậy, công tác Đảng, công tác chính trị, phải xây dựng ý chí chiến đấu cao, chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật chiến trường.

Về công tác tổ chức chỉ huy, phải tiếp tục theo dõi, nắm chắc mọi diễn biến của địch ở bên trong và bên ngoài mục tiêu, thông qua mạng lưới cơ sở và sự phối hợp với du kích địa phương. Tư tưởng chỉ đạo tác chiến là: tận dụng yếu tố bí mật bật ngờ, đưa các lượng nổ vào trụ cầu, đồng thời sẵn sàng đánh chiếm trại lính, tiêu diệt bọn lính bảo vệ cầu, bảo đảm cho lực lượng đánh cầu hoàn thành nhiệm vụ. Mọi ưu tiên phải dành cho lục lượng đánh cầu. Tiêu diệt lực lượng bảo vệ cầu của địch, làm chủ trận địa, được coi là biện pháp hàng đầu.

Quyết tâm và kế hoạch chiến đấu của đại đội và Tiểu đoàn được Sư đoàn chuẩn y.

Hơn một tháng sau, ăn tết Nguyên đán xong, chúng tôi triển khai trận đánh phối hợp với các đơn vị hoạt động trong chiến dịch Xuân - Hè.

Hôm xuất quân, đêm 22 tháng 2 năm 1968, các mẹ, các chị trong hội phụ nữ đến động viên, gắn huy hiệu “cảm tử” cho tiểu đội làm nhiệm vụ đánh cầu. Địa phương huy động 50 dân công đi phục vụ trận chiến đấu, trước mắt giúp đơn vị mang vác các trang bị để bộ đội được nhẹ bớt trên đường hành quân tiếp cận; sau đó, làm nhiệm vụ tải thương.

Tiểu đội làm nhiệm vụ đánh trụ cầu gồm 6 đồng chí, mang theo 6 khối thuốc nổ, mỗi khối 20 kg. Tất cả 120 kg, chưa kể lượng nổ dự bị.

Sau khi vượt sông Trà Bồng sang bờ Bắc, chúng tôi men theo bờ sông, đi trong những vườn ngô, ruộng mía, tiến vào mục tiêu. Khi gần đến cầu đường sắt, bất ngờ gặp một lực lượng quân Mỹ phục kích. Một số đồng chí bị thương. Trong đó có đồng chí Tiểu đoàn trưởng Trần Văn Hồng. Lúc đó khoảng 21 giờ. Đội hình tạm thời dừng lại triển khai bên bờ sông. Lực lượng dân công mang theo bộc phá và một số trang bị giúp bộ đội, bị thất lạc. Một lúc lâu sau, đồng chí Nguyễn Duy Chinh, trợ lý chính trị tiểu đoàn đã cùng vời tổ trinh sát và du kích đi tìm và thu gom lại được. Chúng tôi rất lo lắng. Gặp lính Mỹ phục kích cách mục tiêu tiến công (cầu Châu Ổ) chỉ chưa đến một cây số, bọn lính bảo vệ cầu chắc chắn sẽ đề phòng. Lo nhất lúc này là chúng sẽ phái lực lượng ra ngăn chặn ta từ bên ngoài. Nếu vậy, tình huống sẽ phức tạp, khó lường...

Do ta không đánh trả, bọn Mỹ phục kích sau đó cũng im tiếng súng. Số anh em bị thương được băng bó và tiếp tục đi theo đội hình. Hơn một tiếng đồng hồ sau, đại đội đến được vị trí triển khai. Mặc dù bị địch phục kích trên dọc đường, nhưng tình hình trong mục tiêu vẫn im ắng, không có hiện tượng đối phó nào. Có lẽ chúng cho rằng đã có lực lượng ngăn chặn vòng ngoài, nên chủ quan chăng?

Hôm đi điều nghiên, ít người, cảm thấy lạnh lưng. Hôm nay cả một đại đội, có đầy đủ trang bị vào tiếp cận, ai cũng tự tin và rất yên tâm, không thấy sợ.

Vị trí chỉ huy của Tiểu đoàn triển khai trong khu vườn của gia đình cơ sở cách mạng mà lần trước đã giúp đỡ chúng tôi trong công tác chuẩn bị. Tại đây có đầy đủ cán bộ Tiểu đoàn: đồng chí Trần Văn Hồng, Tiểu đoàn trưởng (bị thương nhẹ); Trần Hữu Biền, Chính trị viên; Nguyễn Hữu Quang, Tiểu đoàn phó. Trận địa cối 82 bố trí gần bờ sông. Phía sau vị trí chỉ huy Tiểu đoàn là trạm sơ phẫu và lực lượng dân công. Các anh đã cho đào một số huyệt để nếu có hy sinh thì giải quyết chôn cất. Trong chiến đấu, mọi tình huống đều có thể xảy ra. Nhiều khi buổi tối lúc ăn cơm, mỗi mâm còn đủ 6 người. Sau trận đánh, có thể sẽ mất đi một, hai người là chuyện thường xảy ra đối với người lính chiến. Không có thắng lợi nào mà không phải trả giá. Đêm nay, ai cũng suy nghĩ và đặt cho mình tình huống cao nhất, có thể hy sinh và chôn cất trong những cái huyệt vừa mới đào kia tại trạm sơ phẫu của tiểu đoàn. Song, một trăm phần trăm cán bộ, chiến sĩ ở đại đội Hai này không có ai tháo lui, và bây giờ sắp bắt đầu nổ súng tiến công địch. Trên các hướng, các mũi tiến công có anh chị em du kích dẫn đường và cũng tham gia chiến đấu với bộ đội. Một lần nữa, nhân dân Bình Sơn, Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi lại thể hiện tinh thần dũng cảm, kiên cường, không ngại hy sinh, gian khổ, sát cánh cùng bộ đội chủ lực chiến đấu để giải phóng quê hương.

Chúng tôi áp dụng phương án: tập trung lực lượng tiến công địch ở đầu cầu phía Bắc; sử dụng một lực lượng nhỏ, cùng với du kích địa phương, chế áp địch ở đầu cầu phía Nam và chi khu quân sự Châu Ổ bằng cách phóng 6 khối thuốc nổ, mỗi khối 20 kg thuốc TNT, chi viện cho lực lượng chủ yếu của ta ở bờ Bắc.

Lúc 23 giờ 45 phút, toàn đại đội đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị. Tổ hỏa lực B40, do đồng chí Tuất chỉ huy, đã kê súng lên hàng rào, chuẩn bị tiêu diệt lô cốt gần trụ cầu. Lực lượng chiến đấu trên bộ, cải trang như những chiến sĩ đặc công, đã áp sát khu nhà lính. Mọi người cầm lựu đạn trong tay, sẵn sàng ném vào nhà, nơi bọn lính đang ngủ. Tiểu đội đánh cầu đã đặt xong thuốc nổ xung quanh trụ cầu, địch ngồi gác trên cầu, trong lô cốt gần đó không hề hay biết. Bên bờ Nam, bộ đội và du kích đã liên kết xong 6 khối thuốc nổ, sẵn sàng, có lệnh là phóng vào chi khu quân sự và trại lính, bằng kỹ thuật “bộc phá phóng 320” ().

Đúng lúc này, đồng chí Trân, Tiểu đội trưởng kiểm tra lại đồ dùng gây nổ, phát hiện số kíp hẹn giờ đã bị tuột khỏi các khối thuốc nổ và rơi xuống sông. Thật là tai hại! Một tình huống tuy đã có dự kiến, có phương án xử trí, nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy bàng hoàng, vì không thể ra ngoài để lấy kíp hẹn giờ khác.

Những người đã trải qua chiến đấu, sẽ hiểu được tác hại của những sơ xuất có tính xương máu này. Tôi ngồi ở vị trí chỉ huy, cách cầu khoảng 30 mét, đưa tay nhìn đồng hồ mà hết sức lo lắng. Chiếc đồng hồ dạ quang chỉ đúng 23 giờ 50 phút. Ra ngoài lấy kíp hẹn giờ khác? Không được! Trễ mất rồi! Cho điểm hỏa nụ xùy? Còn sớm hơn theo hiệp đồng 10 phút! Chờ đến giờ G của chiến dịch? Nhỡ ra... mất thời cơ!... Tôi cho liên lạc chạy ra báo cáo Tiểu đoàn. Trong giây phút lúng túng đó, đồng chí Trân đã quyết định điểm hỏa bằng cách giật nụ xùy; sớm hơn giờ G gần 10 phút.

Lập tức bọn địch trên cầu la hét, bắn và ném lựu đạn xuống sông. Chúng đã báo động chiến đấu.

Quả đạn B40 của đồng chí Tuất bắn sập ngay lô cốt bảo vệ cầu, tiêu diệt luôn số địch ở trong đó. Ở trên bộ quân ta nhanh chóng đánh chiếm trại lính, hất chúng xuống phía Đông đường số 1. Một tiếng nổ long trời lở đất của 120 kg thuốc nổ TNT làm sập hai nhịp cầu xuống lòng sông đang chảy xiết, hất tung cả tổ hỏa lực B40 của đồng chí Tuất ra xa mấy mét.
_______________________________________
1. Bộc phá phóng 320: Là kỹ thuật phóng các khối thuốc nổ bằng các liều phóng chôn sâu dưới đất. Khi liều phóng nổ sẽ đẩy các lượng nổ 20 kg có tra kíp, nụ xùy, dây cháy chậm đi xa được 300m.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:49:39 PM

Tại vị trí chỉ huy, tôi ngẩng đầu lên quan sát. Vui mừng không thể tả xiết, khi tận mắt nhìn thấy hai nhịp cầu hoàn toàn đổ xuống dòng sông. Chiếc trụ cầu bê tông với bề ngang bằng một sải tay và thêm bốn gang tay, đã bị bay mất, chỉ để lại một dòng nước chảy xiết. Tôi hân hoan nghĩ thầm: “Thế là đơn vị mình đã hoàn thành nhiệm vụ!”.

Bên bờ phía Nam, tổ bộc phá cũng phóng vào chi khu quân sự Chân Ổ, sáu khối thuốc nổ, mỗi khối 20 kg thuốc nổ TNT, làm cho bọn chúng ở bờ phía Nam không phản ứng, chi viện được.

Chưa đầy 30 phút đồng hồ, lực lượng đánh địch trên bộ ở bờ Bắc cũng hoàn toàn làm chủ trận địa. Các dãy nhà lính của địch dọc đường quốc lộ 1, bốc cháy dữ dội. Tôi và đồng chí Tôn vượt qua một khoảng sân, theo sau đội hình bộ binh, lợi dụng một lô cốt bằng bao cát đã bị bắn sập để theo dõi diễn biến trận đánh, tiếp tục chỉ huy bộ đội. Bỗng nghe ở đâu đây có tiếng rên khe khẽ. Tôi vỗ vai đồng chí Tôn để cùng lắng nghe. Đúng rồi, có ai đó bị thương đang nằm rên bên một góc sân. Qua ánh sáng của những đám cháy tôi nhận ra ngay đồng chí Thanh, tiểu đội trưởng, chỉ huy mũi chính diện, tiến côngvào khu trại lính. Trong một trận đánh trước đó, đồng chí Thanh được tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhất, vì có thành tích xuất sắc, ôm bộc phá lên phá rào trong trận đánh công kiên, vừa hoàn thành nhiệm vụ được giao; vừa làm nốt nhiệm vụ của đồng chí bên cạnh khi đồng chí đó bị hy sinh. Trận này, đồng chí bị thương khá nặng. Trong hơi thở gấp gáp, đồng chí hỏi chúng tôi:

- Cầu đã bị đánh sập chưa và anh em mình đã đánh đến đâu rồi?

Ngước mắt nhìn tôi, Thanh nói khẽ:

- Em sẽ không qua khỏi đâu! Thủ trưởng cứ để em lại đây tiếp tục chỉ huy đại đội cho hoàn thành nhiệm vụ!

Nuốt cảm xúc vào bụng, tôi động viên Thanh:

- Thanh cố gắng chịu đựng, chúng tôi sẽ đưa đồng chí ra ngay. Cầu đã bị sập hai nhịp, đại đội ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa!

Tiếc thương thay, sau khi đưa Thanh ra đến trạm phẫu, do vết thương quá nặng, anh đã hy sinh... để lại trong chúng tôi niềm đau xót và cảm phục vô hạn.

Trận đánh thắng lợi, đại đội chúng tôi được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng nhất thay vì huân chương Quân công, do nổ súng trước giờ quy định của chiến dịch, đã gây khó khăn cho một số đơn vị gần đó. Đây là bài học đắt giá về ý thức chấp hành mệnh lệnh hiệp đồng chiến đấu, mà những người chỉ huy như chúng tôi thấy thấm thía.

Chiến dịch mở ra, quân địch bị tiến công khắp nơi. Trên chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định đồng loạt tiến công, đẩy địch vào thế bị động, đối phó lúng túng. Đường giao thông huyết mạch bị cắt nhiều khúc. Sự chi viện giữa vùng này sang vùng khác của địch rất khó khăn. Thị xã Quảng Ngãi bị uy hiếp. Viên tư lệnh Sư đoàn 2 quân đội Sài Gòn, Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn vô cùng bối rối, phải cầu cứu đến bộ binh, xe tăng của Sư đoàn American Mỹ chi viện, giải tỏa. Nhưng chính các đơn vị bộ binh, xe tăng Mỹ cũng đang bị ta cầm chân trong các căn cứ, không thoát ra được.

Trong thế chiến lược mới của cách mạng Việt Nam, các lực lượng vũ trang ta, gồm ba thứ quân đã phát triển đều khắp trên chiến trường. Phong trào đấu tranh của quần chúng đã trở thành cao trào ở cả ba vùng chiến lược áp dụng phương châm kết hợp “hai chân, ba mũi” ở mọi nơi, mọi lúc, làm cho hàng ngũ địch mau tan rã. Nếu không có sự chi viện trực tiếp của quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên, chính quyền phản động Sài Gòn sẽ không thể tồn tại được đến mùa xuân năm 1975.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:52:15 PM

TẬP KÍCH CỤM XE TĂNG MỸ Ở DỐC SỎI


Sau khi cầu Châu Ổ bị đánh sập, sự chi viện, tiếp tế giữa vùng I và vùng II chiến thuật của địch gặp nhiều khó khăn. Đường số 1 ở tỉnh Quảng Ngãi và một số nơi khác bị băm nát, bị cắt thành nhiều khúc. Những nơi không đánh sập được cầu cống, nhân dân ta dựng các chướng ngại vật. Lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích phục kích, chặn đánh địch khắp nơi. Các căn cứ, thị trấn, thị xã bị uy hiếp. Nhiều nơi địch bị bức hàng, bức rút, hoặc thỏa hiệp với địa phương cho chúng án binh bất động. Đồn Núi Lá ở chân núi Dốc Dài, thuộc xã Mỹ Hiệp, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định bị vô hiệu hóa. Đồn Cộng Hòa, đồn số 7 ở Quảng Ngãi, ta không tiến công mà địch đã tháo chạy, v.v...

Trước tình hình đó, lực lượng liên quân Mỹ - Sài Gòn bằng mọi cách muốn tồn tại, phải giải tỏa bằng được những vùng trọng điểm.

Ngày 25-2-1968, một đại đội xe tăng, xe bọc thép, thuộc Sư đoàn American Mỹ tiến hành càn quét giải tỏa dọc trục đường đất đỏ từ thị trấn Châu Ổ, lên hướng huyện lỵ Trà Bồng, một huyện miền núi đang bị ta uy hiếp.

Sau khi đánh sập cầu Châu Ổ, cắt đứt đường quốc lộ số 1 đại đội tôi được lệnh di chuyển về thôn Trà Bình để phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương đánh địch càn quét.

Con đường đất đỏ, bắt nguồn từ đường quốc lộ số 1, tại thị trấn Châu Ổ, chạy dọc phía Nam sông Trà Bồng, lên huyện lỵ Trà Bồng, đã được nâng cấp. Dốc Sỏi không cao lắm, gần như bằng phẳng so với địa hình xung quanh và cách thị trấn Châu Ổ khoảng 3 km. Hai bên đường là vườn tược đã bỏ hoang. Nhân dân ở đây đã bị địch dồn vào các ấp chiến lược. Những vườn cây ăn trái như cam, chuối, dừa bị đốt cháy, khô héo. Dừa chỉ còn lại gốc; có gốc còn đang cháy âm ỉ, ban đêm ánh lửa lập lòe như ma trơi. Từ đường ra đến bờ sông, có nơi chỉ cách 200 - 300 mét. Có đoạn phải vượt qua hào ấp chiến lược, rộng khoảng 2 - 3 mét, sâu khoảng 1,5 mét, cây cối mọc um tùm. Được các đồng chí du kích dẫn đường, tôi đã hình dung được phần nào về địa hình ở đây khá thuận lợi cho việc tiếp cận, tập kích địch.

Càn quét dọc trục đường đất đỏ, bị bộ đội địa phương và dân quân du kích chặn đánh, đại đội xe tăng, xe bọc thép, chủ yếu là xe thiết giáp M113, và xe tăng M41, thuộc một Lữ đoàn của Sư đoàn American Mỹ, co cụm tại Dốc Sỏi vào buổi tối, để sáng hôm sau tiếp tục càn quét lên hướng huyện lỵ Trà Bồng. Chúng tôi được lệnh tập kích cụm xe tăng này ngay đêm đó.

Vừa đánh cầu Châu Ổ hai ngày và vừa di chuyển đến vị trí mới, nhưng theo yêu cầu nhiệm vụ, chúng tôi nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh cấp trên. Phải nói rằng: nếu không được sự giúp đỡ của lực lượng vũ trang địa phương ở đây, chúng tôi sẽ gặp nhiều khó khăn trên địa hình mới lạ này.

Tôi tổ chức một trung đội, chia làm hai tổ. Tổ thứ nhất, do một đồng chí tiểu đội trưởng chỉ huy, có du kích dẫn đường, tiếp cận từ hướng Tây tiến công dọc theo đường đất đỏ xuống cụm xe tăng địch. Tổ thứ hai do tôi trực tiếp chỉ huy, tiếp cận từ hướng bờ sông Trà Bồng đánh vào. Lực lượng phối hợp là du kích địa phương. Trên chiến trường miền Trung nói chung và tại tỉnh Quảng Ngãi nói riêng, bộ đội địa phương và dân quân du kích là những người kiên cường, dũng cảm, ngày đêm bám sát địch. Trình độ tác chiến của anh chị em không thua kém bộ đội chủ lực bao nhiêu. Khác chăng chỉ là không được trang bị vũ khí mạnh hơn và lực lượng không được tập trung hơn. Lực lượng du kích ở đây không phân biệt già, trẻ, con trai hay con gái, đàn ông hay đàn bà, tất cả cùng sát cánh bên nhau chiến đấu để bảo vệ quê hương với khẩu hiệu: Quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc! Chúng tôi rất khâm phục và học tập được rất nhiều điều trong những ngày cùng chiến đấu bên cạnh bộ đội địa phương và dân quân du kích. Ở đây họ là hai lực lượng chiến đấu tại chỗ trên địa bàn huyện, xã, rất thông thạo địa hình và thường xuyên nắm rõ tình hình địch. Không có lực lượng này thì bộ đội chủ lực gặp rất nhiều khó khăn nếu như không nói là có lúc không hoàn thành được nhiệm vụ. Bộ đội chủ lực, phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích, cùng với đội quân tóc dài mãi mãi là sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân Việt Nam, toàn dân, toàn diện, đánh đuổi ngoại xâm từ xưa đến nay, cũng như trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau này.

Trong trận này, chúng tôi được các đồng chí du kích thôn Trà Bình, bám sát địch từ chiều dẫn đường vào tận nơi, cách địch từ 15 đến 20m, chỉ cho chúng tôi từng chiếc xe tăng đang giấu mình trong các lùm cây hoặc sau các gò đất. Các đồng chí còn đề xuất với tôi cách đánh rất táo bạo.

Tôi bố trí tổ hoả lực chống tăng B41 dưới một gốc dừa đã bị cháy, nhô lên như một mô đất, cách xe tăng từ 15-20 m. Nằm ở vị trí này có thể quan sát hầu hết các mục tiêu, nhưng địch lại khó phát hiện được ta. Dưới ánh trăng cuối tháng lờ mờ, hơi nước từ dưới sông bốc lên mát lạnh. Có tiếng lách cách từ đâu vọng lại y nhu tiếng lên quy lát súng. Trong khu vực, mục tiêu vẫn yên tĩnh. Sau nhiều lần bị ta tập kích lúc đi càn quét ngoài căn cứ, địch rất sợ ban đêm.

Tôi chọn các mục tiêu cần tiêu diệt trước, giao nhiệm vụ cho đồng chí Bình, xạ thủ súng B41, rồi cùng đồng chí du kích lùi lại phía sau, lợi dụng bờ ấp chiến lược để quan sát. Lúc này đúng 22 giờ 45 phút.

Đồng chí Bình, người dân tộc Mường, quê Thanh Hoá, là một chiến sĩ vừa to,vừa khỏe, nặng phải đến 70 - 75 kg, rất bình tĩnh và có tinh thần dũng cảm tuyệt vời. Với trình độ “thiện xạ” của đồng chí, trong nhiều trận phục kích giao thông, diệt các đoàn xe địch, đồng chí thường được giao nhiệm vụ chặn đầu bằng súng B41. Giao nhiệm vụ cho đồng chí, lần nào tôi cũng tin tưởng và an tâm.

Tiếc thay, trong một trận chiến đấu trên đường số 1 tại Cống Đôi thuộc xã Bình Nguyên, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi tháng 12/1968, đồng chí đã anh dũng hy sinh cùng với đồng chí Đức và một du kích, tên là Huỳnh Văn Bình. Trận đánh này, cũng cho tôi một bài học về việc đánh giá tình hình địch, việc ta áp dụng hình thức chiến thuật trong điều kiện cụ thể trên chiến trường. Trong chiến đấu, có tinh thần, ý chí cao vẫn chưa đủ, người chỉ huy, dù ở cấp nào cũng phải có kiến thức cần thiết trên cương vị của mình. Yêu cầu cao nhất trong từng trận chiến đấu là tiêu diệt được địch, làm chủ được trận địa, tổn thất của ta phải thấp nhất.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:52:43 PM

Trận đánh giao thông trước đó tại Cống Đôi, địch có khoảng một trung đội, chốt giữ trên 2 cái cống, cống đường số 1 và cống đường sắt, cách nhau khoảng 10 - 15m, cho nên ở đây nhân dân thường gọi là Cống Đôi. Địch tập trung ở Cống đường sắt. Chúng có công sự và hầm kiên cố xếp bằng bao cát. Bên ngoài có một lớp rào kẽm gai lò xo, xen kẽ mìn sát thương bộ binh. Mục tiêu Cống Đôi thuộc loại “Địch trong công sự”. Với mục tiêu này theo nguyên tắc chiến thuật và trong thực tế chiến đấu trên chiến trường lúc bấy giờ, để đánh chiếm, lực lượng ta cần phải có một đại đội và tổ chức hỏa lực chặt chẽ mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ. Ở đây, chúng tôi chỉ tổ chức một tổ 3 đồng chí, trong đó có một du kích, bí mật chui qua lớp rào, đột nhập từ hướng Bắc vào mục tiêu. Tổ này đã vào được sát lô cốt. Hỏa lực chỉ có 2 khẩu B41, bố trí ở cống đường số 1, phía Đông. Thông tin liên lạc chỉ theo hiệp đồng ban đầu. Mãi đến 4 giờ sáng mới nổ súng. Tổ chiến đấu do đồng chí Bình chỉ huy bị “tà” ngay sau những quả đạn B41 đầu tiên...

Bị đánh bất ngờ, bọn lính kêu la. Có mấy tên bị rơi xuống ruộng. Trong lúc đội hình lộn xộn, một tên Mỹ giơ hai tay đầu hàng... Trong lúc tranh tối, tranh sáng, thằng Mỹ “nhìn gà hóa cuốc”, tưởng rằng Việt cộng đã tràn ngập mục tiêu. Thấy vậy mấy tên lính bảo an trao súng cho hắn.

Hôm sau du kích phái cơ sở mật đi nắm tình hình. Mấy tên lính địch ở đó nói rằng:

- Rất may, ba ông Việt cộng bị chết, nếu không, họ chiếm được lô cốt ở phía Bắc Cống thì bọn tôi đã “tiêu” hết cả rồi!

Ngay sáng hôm đó, địch đổ quân lên khu vực phía tây căn cứ Nước Mặn, đồng thời chúng cho quân càn vào thôn Trị Bình (phía Tây Cống Đôi) đốt phá nhà dân. Chúng đã bắn chết đồng chí Bia, một cán bộ xã ngay ở đầu làng, lúc đồng chí chưa kịp sơ tán lên núi. Sau đó đồng chí Mau, xã đội trưởng và một số du kích, cũng hy sinh tại đây.

Đầu năm 2004, tôi có dịp đi qua xã Bình Nguyên tìm viếng mộ đồng chí Bình và đồng chí Đức, tại nghĩa trang toạ lạc trên sườn đồi, cạnh đường quốc lộ số 1 thuộc xã Bình Nguyên, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Bên cạnh mộ của đồng chí du kích Huỳnh Văn Bình, đồng chí xã đội trưởng Nguyễn Văn Mau, có rất nhiều nấm mộ “Chiến sĩ vô danh”... Chắc chắn hai đồng chí của chúng ta đang nằm trong số “Chiến sĩ vô danh” đó. Cô cháu gái của đồng chí Bia, nay là một cán bộ xã làm việc tại ủy ban nhân dân xã Bình Nguyên, huyện Bình Sơn.

Xin trở lại với trận đánh đêm nay tại Dốc Sỏi.

Trời đã về khuya. Cảnh vật đang im lìm như trong giấc ngủ. Khí hậu từ chỗ mát dịu chuyển sang lạnh lẽo. Sương đêm đã ướt áo. Trăng lặn từ hồi nào không hay, nhưng nền trời vẫn đầy sao lấp lánh. Ngày mai trời sẽ nắng to. Tôi đưa tay xem đồng hồ. Đã 0 giờ 30 phút. Tức là 12 giờ rưỡi đêm. Đã qua giờ G theo hợp đồng mà tôi vẫn chưa liên lạc được với tổ thứ nhất, mặc dù hai tổ không cách xa bao nhiêu và đã có du kích dẫn đường. Lúc vào tiếp cận, từ vị trí chỉ huy, tại bờ hào ấp chiến lược, trước khi hai tổ tách ra theo hai hướng tôi đã bổ sung hiệp đồng với hai đồng chí tiểu đội trưởng. Sau này mới biết, ở hướng đó, địch sợ bị ta tập kích, nên đã bí mật di chuyển vị trí, dồn về hướng tiến công của tổ chúng tôi. Chúng dựa vào bờ sông, đề phòng trên trục đường phía Tây, nhưng hướng bờ sông lại là nơi chúng không ngờ. Thế mới biết, ý kiến đề xuất của anh em du kích, chọn hướng từ bờ sông đánh vào là rất chính xác. Trong chiến đấu, mọi tình huống đều có thể diễn ra. Có khi đúng theo dự kiến, nhưng có lúc lại hoàn toàn khác. Trên chiến trường, đã có vài đơn vị, do nắm địch không chắc, không liên tục nên bị mất mục tiêu, đánh vào đất trống hoặc bắn vào đụn rơm, ụ mối, vì tưởng đó là xe tăng địch...

Không thể chờ đợi thêm được nữa. Tôi ra lệnh cho đồng chí Bình nổ súng. Quả đạn B41 đầu tiên, Bình tiêu diệt ngay một xe tăng cách đó khoảng 15 mét. Địch dựa vào các xe tăng, xe bọc thép bắn ra như mưa. Đạn bay vèo vèo trên đầu. Những luồng đạn lửa của súng trung liên, đại liên, từ các tháp pháo xe tăng, phóng ra xung quanh tua tủa. Có những luồng đạn lửa chạm vào đá sỏi, gốc cây bay vút lên không trung như những chùm pháo “thăng thiên”. Ánh chớp đầu các nòng pháo thỉnh thoảng lại loé lên như những cái máy chụp ảnh có dùng đèn flash... Nhưng mọi loại hỏa lực đều bắn vút ra phía sau. Vì chúng tôi đã lọt vào góc tử giác (cự ly an toàn). Lúc này, chúng tôi mới thấy hết tác dụng của lối đánh gần (bám thắt lưng địch mà đánh), nhất là mục tiêu xe tăng.

Trong lúc giặc điên cuồng bắn ra xung quanh, anh em nằm sát vào gốc dừa “giải lao” quan sát từng luồng đạn lửa của chúng đang phun ra từ các họng súng trên xe tăng để xác định vị trí cụ thể của từng mục tiêu. Sau hơn 10 phút sôi động, trận địa lại im ắng, chỉ còn lại các trận địa pháo, cối từ các căn cứ bắn xung quanh. Nhưng chúng tôi vẫn an toàn, vì đang “nằm chung” với xe tăng địch trong một cự ly rất gần. Xa xa về hướng Nam, tiếng súng lại rộ lên, pháo sáng địch bắn lên từng chùm, treo lơ lửng trên không trung, toả sáng cả một vùng. Chắc giờ này, một số căn cứ địch ở hướng Đức Phổ, Mộ Đức hay thị xã Quảng Ngãi... cũng đang bị ta tiến công. Quan sát một lúc khá chính xác, đồng chí Bình lại giương súng lên bắn phát thứ hai. Thêm một chiếc xe tăng bốc cháy. Qua ngọn lửa và ánh chớp, chúng tôi phát hiện thêm các mục tiêu khác. Sau phát đạn thứ hai này, bọn địch không phản ứng đồng loạt, vì sợ lộ mục tiêu. Chỉ có chỗ nào bị đánh, chỗ đó phản ứng. Pháo cối từ chi khu Châu Ổ và các căn cứ gần đó bắn liên tục ra xung quanh, nhất là hai bên trục đường phía Tây mục tiêu đang bị chúng tôi tiến công. Lần này, chúng sử dụng cả “pháo chụp”, đạn nổ trên không trung chụp xuống, hòng sát thương ta. Chúng tuyệt nhiên không bắn pháo sáng, sợ lộ các mục tiêu còn lại.

Trong thực tế chiến đấu, có những trận không theo một nguyên tắc, bài bản nào cả. Chúng tôi bám vào mô đất, gốc dừa, trụ lại một chỗ, bắn cháy lần lượt từ xe này đến xe khác, cho đến lúc hết một cơ số đạn B41 mà vẫn không bị địch phát hiện. Cuối cùng địch chỉ còn lại một xe, trong khi chúng tôi đã hết đạn, phải rút lui. Lại thêm một lần ân hận. Lúc xuất phát anh Quang và anh Biền nhắc chúng tôi mang thêm mấy trái lựu đạn chống tăng để dự bị. Chúng tôi đã không thực hiện.

Sáng hôm sau địch cho một tiểu đoàn hỗn hợp dưới sự yểm trợ của máy bay trực thăng chiến đấu, có kết hợp với pháo binh, từ thị trấn Châu Ổ lên càn quét hai bên trục đường đất đỏ. Chúng cho xe tăng lên kéo 6 chiếc xe tăng, xe thiết giáp bị chúng tôi bắn cháy, bắn hỏng về căn cứ.

Cuộc hành quân càn quét giải tỏa của địch lên huyện lỵ Trà Bồng bị bẻ gãy, không thực hiện được.

Sau trận này, đại đội chúng tôi được tăng cường thêm hoả lực B40 - B41 - ĐKZ để có thể độc lập chiến đấu, tiêu diệt xe tăng, xe thiết giáp địch ở vùng đồng bằng và vùng giáp ranh Quân khu 5. Điều này chứng tỏ trình độ kỹ thuật, chiến thuật, tinh thần dám đánh quyết đánh Mỹ của bộ đội ta và kinh nghiệm tổ chức chỉ huy của đội ngũ cán bộ các cấp, qua chiến đấu có bước trưởng thành về nhiều mặt.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:53:52 PM

ĐÁNH ĐỊCH CÀN QUÉT TẠI THÔN TRÀ BÌNH


Năm 1968, tôi đã trở thành một cán bộ đại đội, phụ trách về quân sự. Đồng chí Nguyễn Minh Tiến là chính trị viên. Hai anh em ngang nhau về tuổi đời, tuổi quân và cấp hàm. Cả hai đều hát hay so với anh em trong đại đội và biết ngâm thơ. Tiến hát hay hơn tôi, nên thường được anh em cổ vũ nhiệt liệt trong các buổi sinh hoạt đại đội. Anh hay hát bài “Tình đồng chí”, còn tôi lại thích bài “Tình ca Tây Bắc”. Trong công việc, hai chúng tôi rất tâm đầu ý hợp, cùng chia ngọt xẻ bùi trong những năm tháng chiến đấu gian khổ trên chiến trường. Điều này có tác dụng tích cực trong tập thể lãnh đạo, đảm bảo cho đơn vị luôn đoàn kết, nhất trí cao.

Đại đội công binh chúng tôi, từ khi cơ động ra Quảng Ngãi, thường chiến đấu độc lập, sát cánh với bộ đội địa phương và dân quân du kích. Lúc này, anh Nguyễn Hữu Quang được bổ nhiệm Tiểu đoàn trường, anh Trần Hữu Biền, chính trị viên Tiểu đoàn.

Trận đánh địch càn quét vào thôn Trà Bình thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi đã ghi thêm một chiến công mới trong thành tích diệt Mỹ của đại đội tôi. Đặc biệt trong trận này, đại đội bắn cháy hai xe tăng, bắt sống một tên chỉ huy thuộc Sư đoàn America Mỹ, góp phần cùng các đơn vị bạn đẩy địch vào thế bị động, đối phó lúng túng trên chiến trường tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, trong chiến dịch Xuân - Hè Mậu Thân năm 1968.

Một buổi sáng cuối tháng 3 năm 1968, mặt trời vừa nhô lên khỏi rặng tre đầu làng, toả ánh sáng lấp lánh xuống ruộng đồng làng mạc. Bỗng máy bay trực thăng bay đến, quần lượn trên đầu. Pháo từ các nơi dồn dập bắn vào thôn xóm. Ngoài đồng ruộng, bộ binh, xe tăng địch dàn hàng ngang tấn công vào làng. Có lẽ, chúng đã biết được lực lượng của ta, sau trận tập kích cụm xe tăng ở Dốc Sỏi rút về đây, nên cho quân đến càn quét.

Dưới làn đạn pháo địch, bộ đội và du kích kịp thời cơ động lực lượng ra triển khai dọc tuyến chiến hào ở bìa làng. Ngày ấy, làng mạc của ta cũng là làng chiến đấu. Nhân dân đã đào tuyến chiến hào ở bìa làng, có công sự chiến đấu, hầm tránh pháo, nối liền từ phía sau ra phía trước, tạo nên thế trận vững chắc từ làng nọ đến làng kia. Đây là chỗ dựa rất tốt cho lực lượng vũ trang địa phương, ngày đêm bám trụ, chiến đấu bảo vệ quê hương.

Xe tăng địch từ ngoài đồng, cách 200 mét, dùng hỏa lực bắn dọc bìa làng. Các trận địa pháo và máy bay oanh tạc sâu vào trong làng. Mảnh bom, đạn bay vèo vèo, cây cối đổ ngổn ngang, nhà dân bốc cháy dữ dội. Lính bộ binh Mỹ, dưới sự yểm trợ của xe tăng, lò dò từng bước tiến vào. Toàn bộ đại đội tôi đã triển khai dọc tuyến chiến hào ngoài cùng, sẵn sàng chiến đấu.

Một tốp lính bộ binh Mỹ, súng lăm lăm trong tay, theo sau là tên chỉ huy và tên lính mang máy bộ đàm. Chúng tiến theo con đường mòn, từ ngoài đồng ruộng vào thẳng chính diện, nơi có một trung đội ta được bố trí, bí mật “đón” chúng. Đợi cho bộ binh địch vào thật gần, hai mươi mét, rồi mười mét... toàn trung đội mới đồng loạt nổ súng. Chính diện là một tiểu đội, trang bị súng B40 và tiểu liên AK. Hai bên sườn là súng đại liên và súng máy 12 ly 7, bắn chéo vào đội hình tấn công của địch. Ngay phút chiến đấu đầu tiên, ta đã diệt gọn toán lính Mỹ. Đồng thời, các tổ săn xe tăng, trang bị súng B40, lợi dụng địa hình làng mạc, vận động theo các chiến hào, vòng ra phía sau tiến công vào sườn địch bắn cháy 2 xe tăng.

Bị đánh bất ngờ, địch không phản ứng kịp. Tên lính thông tin bị chết, máy bộ đàm bị hư hỏng, tên chỉ huy bị thương nằm ở bờ ruộng. Nhìn thấy khẩu súng col45 trơ nòng trắng toát, tôi biết hắn đã hết đạn.

Quyết tâm từ lâu của chúng tôi là phải bắt sống bằng được tù binh Mỹ khi có thời cơ. Đây là thời cơ tốt nhất. Từ tuyến chiến hào ở rìa làng ra đến bờ ruộng, nơi tên chỉ huy Mỹ đang nằm khoảng hơn hai mươi mét. Xung quanh nó, các thuộc hạ đã bị chết. Súng của nó đã hết đạn. Sau khi bị bắn cháy hai chiếc xe tăng, đội hình của chúng nó còn đang ở ngoài đồng.

Tôi ra lệnh cho đồng chí Châu, trung đội trưởng:

- Không được bắn! Phải bắt sống bằng được tên chỉ huy Mỹ!

Đồng chí Châu rời chiến hào xung phong ra bờ ruộng. Hai bên có hai chiến sĩ, xách súng AK. Đồng chí Châu ném một quả lựu đạn trước mặt tên Mỹ khoảng gần chục mét để uy hiếp. Lựu đạn nổ, hai chiến sĩ xung phong vào bắt sống. Nó đã bị thương vào cánh tay phải. Ta thu trên chục khẩu súng và một máy bộ đàm PRC25.

Tên chỉ huy bị bắt, máy thông tin bị ta thu, bọn địch ở phía sau không nắm được tình hình của bọn phía trước. Máy bay quần lượn trên trời, không dám bắn vào làng, vì sợ bắn vào quân của chúng. Kinh nghiệm chiến đấu ở vùng đồng bằng mách bảo, chúng tôi không lùi sâu trong làng dễ bị phi pháo mà toàn bộ đại đội triển khai ra rìa làng, bám vào các chiến hào để tiếp tục đánh những đợt tấn công tiếp của địch.

Trời đã về chiều, sau khi mở đợt tấn công cuối cùng vào lấy xác, địch rút lui về căn cứ của chúng. Sau khi tên chỉ huy bị bắt, máy bay trực thăng vẫn tiếp tục quần lượn nhiều vòng như thể tìm kiếm.

Chúng tôi dẫn tên tù binh về phía sau. Đi đến đâu, cũng gặp cảnh tượng nhân dân căm phẫn vác gậy, giáo mác đến để đánh chết “thằng giặc Mỹ xâm lược!”. Vất vả lắm, chúng tôi mới giữ được mạng hắn đem về căn cứ giao cho Sư đoàn.

Tại Sở chỉ huy Sư đoàn, mọi người rất phấn khởi. Có người còn nói khích đồng chí chủ nhiệm công binh và cán bộ của tiểu đoàn tôi lên họp rằng: “Lính các anh chỉ bắt sống được tù binh Mỹ khi nó bị thương thôi”!

Với chính sách nhân đạo đối với tù binh chiến tranh, mặc dù sư đoàn đang trong điều kiện khó khăn về lương thực, nhưng đã tập trung mọi khả năng có được, trước mắt là cứu chữa vết thương cho tên Mỹ và bảo đảm hàng ngày cho nó ăn uống hợp khẩu vị. Nó rất thích món khoai sắn nướng. Món này đối với ta, không thiếu.

Sau hai mùa khô năm 1966 - 1967, đến cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân năm 1968, chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ có nguy cơ bị phá sản. Trên chiến trường, binh lính Mỹ và lính Nam Triều Tiên bị chết ngày càng nhiều. Phong trào phản chiến ngay tại nước Mỹ lên cao chưa từng thấy. Bọn đế quốc hiếu chiến không những bị chết, bị sa lầy ở Việt Nam, mà còn phải lo đối phó với tình hình phản chiến ngay trong nước, ngày càng bị cô lập trên trường quốc tế. Nhưng Mỹ là nước đế quốc giàu mạnh nhất trên thế giới, chưa dễ gì chúng đã chịu thất bại hoàn toàn.

Cả thế giới lên án cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Bị sa lầy và ngày càng bị tổn thất nặng nề trên chiến trường, đế quốc Mỹ đưa ra chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, mà thực chất chỉ là “thay màu da của xác chết”, trốn tránh sự thất bại trong chiến tranh Việt Nam, chịu “thua trong danh dự”. Buộc phải rút quân trong “vũng lầy” của chiến tranh Việt Nam. Nhưng Mỹ vẫn rất ngoan cố, muốn tiếp tục duy trì chính quyền phản động ở Sài Gòn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:58:19 PM

PHỤC KÍCH GIAO THÔNG TIÊU DIỆT ĐOÀN XE CƠ GIỚI ĐỊCH


Cuối năm 1969, Tiểu đoàn Công binh số 19 chúng tôi vẫn tiếp tục các hoạt động đánh phá giao thông trên đường quốc lộ số 1, thuộc địa bàn tỉnh Quảug Ngãi. Đại đội 1 độc lập tác chiến tại tỉnh Bình Định ở các khu vực Bồng Sơn, Thiết Đính, Đệ Đức huyện Hoài Nhơn.

Sư đoàn 3 (thiếu trung đoàn bộ binh 12) cơ động về lại địa bàn tỉnh Bình Định, mở một đợt hoạt động mới, nhằm kìm chân các Sư đoàn chủ lực Sài Gòn, các Liên đoàn biệt động và quân Mỹ, tiêu hao tiêu diệt một bộ phận quan trọng về sinh lực của chúng để phối hợp với mặt trận Đường 9.

Đại đội công binh số 2 chúng tôi cùng với Ban chỉ huy Tiểu đoàn và các phân đội trực thuộc, di chuyển vào huyện Đức Phổ, giáp Sa Huỳnh. Vừa đến nơi, được tin Bác Hồ mất... Chúng tôi bàng hoàng đau đớn. Một không khí ảm đạm như đám mây đen bao phủ bầu trời... Chúng tôi đau trong cái đau của cả nước, như cảm thấy bị hẫng hụt. Cuộc chiến tranh ở miền Nam đang đi đến điểm cao, đang chuẩn bị bước sang một trang mới... thì Bác lại ra đi... Quân và dân miền Nam chưa được đón Bác vào thăm. Chúng tôi như cảm thấy chưa hết phần trách nhiệm trong cuộc chiến tranh này...

Tất cả các đơn vị, phát động phong trào “Biến đau thương thành hành động cách mạng, quyết tâm xốc tới, tiêu diệt thật nhiều sinh lực địch, rút ngắn sự chia cắt hai miền, thực hiện trọn vẹn di chúc của Bác Hồ”.

Toàn đơn vị cơ động về khu vực giáp giới giữa hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, triển khai trên trục đường số 2. Đây là một địa bàn hết sức hiểm yếu. Nơi tiếp giáp giữa hai đơn vị hành chính thường có những sơ hở. Phía Bắc là huyện Đức Phổ thuộc tỉnh Quảng Ngãi, có cảng Sa Huỳnh. Phía Nam là huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Phía Đông là biển và đầm An Khê. Phía Tây là đồi núi liên hoàn. Đường sắt và đường quốc lộ số 1, chạy song song từ thị trấn Tam Quan, theo sườn núi ven biển ra Quảng Ngãi, tạo nên những lợi thế rất lý tưởng cho ta tổ chức những trận địa phục kích, như khu vực Sa Huỳnh, núi Sắn, chợ Chiều và nhiều nơi khác. Đường số 2 xuất phát từ quốc lộ số 1, đoạn núi Sắn, đầm An Khê, chạy song song với quốc lộ số 1, qua khu vực giáp giới hai tỉnh và thẳng vào phía Nam. Con đường rải đá này đã bỏ từ lâu, hai bên cây cối mọc um tùm.

Đối tượng tác chiến trên địa bàn phía Nam tỉnh Quảng Ngãi, ngoài lực lượng địa phương quân và sư đoàn bộ binh số 2 của quân đội Sài Gòn, trong những năm 1965 đến 1970 có sư đoàn “Thanh Long” Nam Triều Tiên, Lữ đoàn 11 thuộc sư đoàn America Mỹ. Mục tiêu của đơn vị chúng tôi là các đoàn xe vận tải của địch chạy trên đường quốc lộ số 1. Dù là xe của Mỹ, của binh lính Đại Hàn, của quân đội Sài Gòn; dù là xe chở nhiên liệu, xe vận tải chở hàng, xe tăng thiết giáp, hoặc lính bộ binh, trên đoạn đường xảy ra chiến sự, đều nằm trong tầm ngắm của quân ta và sẽ phải “thanh toán” trong thời gian ngắn nhất.

Để phối hợp với chiến dịch Thu - Đông năm 1969, trên chiến trường Khu 5, đại đội chúng tôi được giao nhiệm vụ đánh giao thông cắt vận chuyển tiếp tế của địch trên đường quốc lộ số 1, từ cảng Sa Huỳnh hoặc từ cảng biển Quy Nhơn ra Quảng Ngãi và Chu Lai (Quảng Nam).

Căn cứ đặc điểm địa hình và nhiệm vụ cấp trên giao, Tiểu đoàn quyết định chọn khu vực bắc Sa Huỳnh khoảng 2 - 3 km, đèo Phổ Trang, để tổ chức trận phục kích, diệt đoàn xe vận chuyển của địch, chủ yếu từ hướng Nam ra.

Trên một đoạn đường dài khoảng một cây số rưỡi, từ cầu Chui (phía Bắc Sa Huỳnh) đến Núi Sắn, thuộc địa phận huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi, chúng tôi bố trí hai tổ hỏa lực ở hai đầu, được trang bị súng chống tăng B41 và đại bác không giật ĐKZ75 làm nhiệm vụ chặn đầu và khóa đuôi. Đây là hai thành phần trong đội hình của một trận phục kích, vô cùng quan trọng, không thể thiếu được. Để bảo đảm chặn đứng một đoàn xe đang cơ động với một vận tốc cao, có khi phải tổ chức “chặn đầu kép”, hoặc tập trung 2 - 3 khẩu hỏa lực tiêu diệt một mục tiêu đầu tiên. Bằng bất kỳ giá nào cũng buộc đoàn xe địch phải dừng lại. Ở đoạn giữa, dựa vào sườn đồi phía tây, bố trí lực lượng chủ yếu của trận đánh, lực lượng quyết định tiêu diệt bộ binh và xe cơ giới địch hất chúng xuống đầm An Khê.

Một buổi sáng, tháng 10 năm 1969, lúc 6 giờ 30 phút, máy bay trinh sát L19, xuất hiện từ hướng Sa Huỳnh, bay dọc quốc lộ số 1 bay ra tỉnh Quảng Ngãi. Sau đó là xe tăng đi trước, mở đường. Bọn bộ binh địch được rải ra, chốt lại ở những nơi hiểm yếu.

Bộ đội ta ẩn mình trong các bụi cây, khe đá, có nơi cách mép đường 10 - 15 mét, có nơi do địa hình trống trải phải xa hơn, 50 - 100 mét. Có những chỗ sườn đồi hiểm trở, địch không bò lên được, nhưng đối với ta, đây là nơi bất ngờ nhất, bí mật nhất, dù khó khăn nhưng bộ đội ta vẫn khắc phục để giấu quân. Giờ này, nhân dân đang bị “nhốt” trong các ấp chiến lược, chưa đi làm, nên chúng tôi an tâm, không sợ bị phát hiện.

09 giờ, đoàn xe vận tải 20 chiếc từ hướng cảng Sa Huỳnh chạy ra. Đài quan sát của ta báo cáo: “Có xe thiết giáp đi hộ tống. Đi đến đâu, những chỗ nghi ngờ có ta phục kích, chúng bắn như vãi đạn.”.

Khi đoàn xe đến khu vực Núi Sắn, tổ chặn đầu, trang bị một khẩu ĐKZ75, một khẩu súng chống tăng B41 đồng loạt nổ súng. Chiếc xe vận tải GMC đi đầu bốc cháy, quay ngang, làm cho toàn bộ đội hình phía sau phải dừng lại. Đây là thời cơ tốt nhất, lực lượng chủ yếu của ta từ trên sườn đồi, xung phong ra mặt đường tiêu diệt bộ binh địch, bắn cháy và phá hủy các xe quân sự của chúng. Biết bị lọt vào trận địa phục kích ở thế bất lợi, bọn lính chốt đường lợi dụng một đoạn đường sắt, chống trả, một số bí mật luồn ra phía sau đánh tạt sườn vào đội hình ta...

Một tổ, do đồng chí Xuyên, trung đội trưởng chỉ huy, bố trí trên sườn đồi trong phạm vi diệt địch chủ yếu, sử dụng hỏa lực B40 và lựu đạn chống tăng tung xuống đường, bắn cháy, phá hỏng một lúc 5 chiếc xe cơ giới, có một xe thiết giáp M113. Một tổ “khóa đuôi” bố trí ở cầu chui, tiêu diệt một toán lính chốt đường, bắn cháy 3 chiếc xe vận tải. Toàn bộ đội hình của đại đội ta đồng loạt xung phong ra mặt đường, tảo trừ bọn lính chốt đường, bắn cháy và phá hủy các xe vận tải quân sự và xe thiết giáp M113. Ở khu vực núi Sắn, sau khi bắn cháy chiếc xe vận tải GMC, tổ chặn đầu đoàn xe địch cũng phối hợp, xông ra mặt đường bắn cháy một số xe cơ giới. Ta đã làm chủ hoàn toàn trận địa. Đoàn xe địch bị bắn cháy và phá hủy gần hết.

Máy bay phản lực ném bom dọc theo trục đường số 2, nhưng toàn bộ lực lượng của ta đã bám trên mặt đường, kết thúc nhanh chóng trận đánh. Đáng tiếc, trên đường rút về phía sau, đồng chí Trần Văn Hồng, Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Tổng, liên lạc, bị lọt vào ổ phục kích của địch, hy sinh. Trận này ta đã bắn cháy và phá hủy mười lăm xe quân sự của địch. Những chiếc xe chở xăng dầu, xe vận tải chở lương thực, quân trang quân dụng và đạn dược ra tiếp tế cho các căn cứ quân sự ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, đã bị bắn cháy ngùn ngụt trên một đoạn đường dài hơn 1 km. Nhân dân tập trung bên kia đầm An Khê đứng xem, hả lòng, hả dạ... Đường số 1 từ cảng Sa Huỳnh ra Quảng Ngãi bị cắt đứt ở khu vực núi Sắn, chợ Chiều; gây khó khăn cho địch trong việc vận chuyển tiếp tế từ phía Nam ra thị xã Quảng Ngãi, buộc chúng phải điều lực lượng vào giải tỏa.

Một sự trùng hợp kỳ lạ và hy hữu khi Lê Thành Giai, cựu thông dịch viên cho đại đội tình báo quân sự 635 Military Intelligence Detachiment (MID) thuộc lữ đoàn 11 (hiện đang định cư tại Mỹ), trong cuốn “Bảy ngày và ba mươi lăm năm” có đoạn viết: “Đại tá OK'Ral K. Henderson, chỉ huy trưởng lữ đoàn 11 có lần chỉ tay lên bản đồ trận liệt treo trên tường của trung tâm hành quân lữ đoàn, nói: “Tai hoạ đến từ khu vực này1!”. Lúc đó (tức 1969) một trung đoàn của sư đoàn Sao Vàng, di chuyển xuống đối diện với các căn cứ hỏa lục của Mỹ. Quân Bắc - Việt phục kích các đoàn tiếp vận từ Quy Nhơn ra Đức Phổ và Chu Lai, cắt mạch giao thông trên quốc lộ số 1, hoặc pháo kích các căn cứ hỏa lực phụ, tấn công các tiền đồn quân sự của Mỹ và Nam Việt Nam (tức quân đội Sài Gòn cũ!)...”.
 
Trong một tác phẩm khác (Đặng Thuỳ Trân - NXB Phụ Nữ - 2006) trang 110, Lê Thành Giai viết từ Kali (Mỹ) nói về trận đánh phục kích giao thông tháng 10 năm 1969 như sau: “Tôi nhớ đến cuộc phục kích do quân chính quy Bắc Việt thực hiện tại đèo Phổ Trang đã xác định giá trị tin tức tình báo thu được. Trận đánh ấy chỉ cách vành đai phòng thủ của căn cứ Bronko khoảng 4 km. Tôi đọc báo cáo tình hình trong ngày của phòng 2 (tức phòng quân báo - TG): Hai đại đội chính quy Bắc Việt chặn đánh đoàn quân xa chở nhiên liệu tiếp vận: Bốn chiếc xe bồn và hai xe hai tấn rưỡi bị phá hủy hoàn toàn. Trung đội hộ tống bị thiệt hại: 16 KIA (tử thương), 12 WIA (bị thương).

Thực tế trên một trận địa có chiều dài khoảng 1 km, một số xe lam chở khách Đức Phổ và Sa Huỳnh, xe vận tải tuyến Sài Gòn - Quảng Ngãi - Đà Nẵng theo đuôi đoàn hộ tống Mỹ cũng chịu chung số phận... Nhiều người sống sót cho biết, sau tiếng nổ đầu tiên, các xe bồn nhiên liệu bốc cháy. Quân chính quy Bắc - Việt thanh toán chiến trưởng trong 20 phút. Quân Mỹ phản ứng khá nhanh... Một số chiến binh chính quy Bắc - Việt bị trực thăng và pháo binh cầm chân chống tra rất mãnh liệt. Trận chiến kết thúc vào khoảng 5h chiều... Đơn vị chính quy Bắc - Việt đánh trận đèo Phổ Trang được huyện uỷ Đức Phổ cung cấp nhiều dân công tải đạn tải thương.


Nghe Hiếu Nguyễn2 nhận định, tôi chợt nghĩ ra trong số dân công kỹ thuật ngày đó, chắc có cả nhóm quân y của bác sỹ Đặng Thuỳ Trâm!
________________________________________
1. Theo Lê Thành Giai: đó là khu vực tam giác Kontum - Pleiku - Quảng Ngãi.
2. Nguyễn Trung Hiếu, thông dịch viên cho Lữ Đoàn 11, Sư đoàn America Mỹ, người đã khuyên Frederic giữ lại cuốn nhật ký của bác sĩ Đặng Thùy Trâm.



Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 04:05:05 PM

CHIẾN TRƯỜNG ĐƯỜNG SỐ 19


Cuối năm 1969, toàn bộ đội hình Sư đoàn Bộ binh 3 rời địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trở lại Bình Định, nơi đã sinh ra và lớn lên của sư đoàn. Hơn một năm qua, Trung đoàn bộ binh 12 “ở nhà” trụ lại trên địa bàn phía Nam tỉnh Bình Định và phía Đông tỉnh Gia Lai, phối hợp hoạt động cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích, nay như được tiếp thêm sức mạnh, được Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy và cùng hợp đồng chiến đấu trong đội hình sư đoàn sức chiến đấu của các lực lượng trên địa bàn tỉnh Bình Định được nhân lên gấp bội.

Nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Bình Định hết sức vui mừng như gặp lại những đứa con đi xa lâu ngày trở về.

Song, trong lòng những người lính chúng tôi không khỏi bồi hồi, lưu luyến khi phải xa địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, xa những con người đã ngày đêm gắn bó, chiến đấu bên nhau, đã làm nên chiến công “Cầu Châu Ổ”, “Dốc Sỏi”, “Ba Tơ”, “Minh Long”, Gia Vụt”, “Đức Phổ” và biết bao trận đánh thắng lợi khác. Chia tay với quân và dân Quảng Ngãi mà không hẹn ngày gặp lại...

Trở lại tỉnh Bình Định, đơn vị chúng tôi không hành quân theo đội hình của sư đoàn mà vừa tổ chức những trận đánh nhỏ, lẻ dọc đường số 1 và vùng ven vừa di chuyển vào phía Nam. Đi đến đâu, chúng tôi cũng dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích đánh địch nống lấn, càn quét ra vùng giải phóng. Tại huyện Tư Nghĩa, chúng tôi đã cùng với du kích các xã Nghĩa Kỳ, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thuận hoạt động, xây dựng phong trào cách mạng ở địa phương. Dựa vào địa đạo thôn An Tráng, chúng tôi đã cùng với anh chị em du kích ở đây, đánh địch ở khu vực Gò Su, xung quanh sân bay Gò Huỳnh, tiêu hao, tiêu diệt một số sinh lực địch, làm cho chúng mỗi lần nống ra càn quét không dám liều lĩnh đi sâu vào vùng giải phóng của ta. Phong trào cách mạng ở đây luôn được giữ vững và phát triển. Những ngày được sống và chiến đấu cùng lực lượng vũ trang địa phương bên bờ sông Trà Khúc đã để lại trong tôi những kỷ niệm đẹp đẽ, những dấu ấn khó quên về những con người ở đây. Trong chiến đấu gian khổ, ác liệt, họ vẫn yêu đời, tin tưởng mãnh liệt vào thắng lợi cuối cùng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Tôi còn nhớ, những ngày tháng lưu lại ở huyện Tư Nghĩa, địch càn quét vào thôn An Tráng, giữa cuộc chiến đấu ác liệt, chúng tôi được anh chị em du kích dẫn xuống địa đạo để đánh vu hồi vào bên sườn quân địch. Địa đạo đào sâu dưới lòng đất, những đường hầm ngang dọc vừa đủ một lối đi. Dẫn đường là cô du kích Huỳnh Thị Yến, khoác trên vai khẩu Cabin. Khi đến một lối hẹp, không biết vô tình hay cố ý, Yến quay người lại, áp sát vào người tôi. Bất ngờ, cô ôm lấy tôi, nói trong hơi thở: “Em yêu anh! Sau ngày giải phóng, anh về quê em nhé !”. Cô run rẩy đặt lên môi tôi một nụ hôn nóng hổi... Hạnh phúc đến quá bất ngờ, tôi đứng ngây như một pho tượng mà quên mất xung quanh mình, trên mặt đất cuộc chiến đấu với địch đang diễn ra... Trước những cử chỉ vừa mộc mạc, vừa bạo dạn lòng tôi cảm thấy xốn xang. Từ đó trở đi, trong những lần tổ chức hợp đồng tác chiến, hoặc những buổi sinh hoạt chung giữa bộ đội và du kích xã, tôi thường bắt gặp ánh mắt và nụ cười của Yến hướng về phía tôi.

Cuộc chiến đấu nơi đây diễn ra ngày càng ác liệt. Trong một trận đánh địch càn quét ở phía Tây thôn An Tráng, đồng chí Lê Văn Phác trợ lý công binh sư đoàn hy sinh, nhiều đồng chí bị thương. Đơn vị tôi hoạt động độc lập, xa sự chỉ viện của sư đoàn, thuốc quân y thiếu nghiêm trọng. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, Huỳnh Thị Yến và anh chị em du kích đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Các cô cải trang vào vùng địch, luồn lách qua các trạm kiểm soát của chúng để mua thuốc men đem về cứu chữa thương binh. Những tình cảm ấy chúng tôi ghi nhớ mãi.

Trong chiến đấu gian khổ và ác liệt, chúng tôi luôn luôn được nhân dân trong các vùng tạm chiếm và những vùng giáp ranh thương yêu, đùm bọc, che chở. Bên cạnh tình cảm quân dân, tình bạn, tình đồng chí, nhiều người trong chúng tôi còn nhận được cả những tình yêu lứa đôi nồng nàn, say đắm của các cô gái vùng địch hậu. Do vậy chúng tôi càng thêm yêu đời, lực lượng 3 thứ quân luôn luôn sát cánh bên nhau, chiến đấu trên một chiến hào.

Câu thơ hóm hỉnh sau đây vừa nói lên vai trò của bộ đội chủ lực trong việc tiêu diệt địch trên địa bàn, vừa nói lên tình cảm của nhân dân dành cho bộ đội:

Ba năm du kích nằm kề
Không bằng chủ lực đi về một đêm.


Tại Gò Huỳnh, có một tiểu đoàn lính Sài Gòn bảo vệ sân bay. Chúng tôi đã theo dõi quy luật hoạt động của chúng. Tiểu đoàn này thường nống ra càn quét các xã Nghĩa Kỳ, Nghĩa Thắng, Nghĩa Thuận thuộc huyện Tư Nghĩa. Mỗi lần nống ra càn quét vào vùng giải phóng của ta, chúng đều cho máy bay, pháo binh bắn vào thôn xóm để dọn đường. Sau đó xe tăng, xe thiết giáp chở quân lên lùng sục.

Cứ mỗi buổi sáng từ 05h30 đến 06h bọn lính bảo vệ sân bay Gò Huỳnh thường tập trung để tập thể dục. Chúng tôi đã nghiên cứu rất kỹ quy luật đó của chúng, với ý định sẽ tập kích bằng hỏa lực, ngay lúc chúng đang tập thể dục buổi sáng.

Đêm ngày 15-08-1969, được một tổ du kích dẫn đường, chúng tôi sử dụng 06 lượng nổ TNT, mỗi lượng 20kg được đúc bằng thuốc nổ lấy từ những quả bom lép của Mỹ, để phóng vào trại lính.

Từ xã Nghĩa Thắng, chúng tôi băng qua cánh đồng lúa nước rộng khoảng 300m. Sau khi “tác nghiệp” sáu khối thuốc nổ, cách mục tiêu trại lính khoảng 250 - 300m, anh em kéo dây điện qua cánh đồng và ngồi chờ ở tư thế chuẩn bị điểm hỏa.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 04:05:53 PM

Đúng 05h 30 phút, đại đội địch tập trung tập thể dục. Anh em hồi hộp, chờ lệnh, 05 giờ 35 phút, tôi ra lệnh điểm hỏa... Đồng chí Xuyên, trung đội trưởng chập mạch điện, nhưng các khối thuốc phóng không nổ... Điện yếu chăng? Không phải! Chúng tôi đã tính toán rất kỹ. Mỗi một viên pin dùng cho máy bộ đàm PRC25 với điện áp 1,5 vol, một lốc có 10 viên không thể có chuyện yếu điện được. Trong khi đó, chỉ cần 1 viên là có thể bảo đảm cho 1 kíp nổ điện. Trước đó anh em đã thử 2 - 3 lần, với đường dây điện 300m, thông suốt và nổ tốt.

Trước tình huống đó, tổ điểm hỏa đã tỏ ra lúng túng, không rút dây điện về. Dây điện chôn qua đường bị trồi lên. Sau giờ tập thể dục, bọn lính tuần tra phát hiện được. Chúng cho bọn công binh ra thu về 6 khối thuốc nổ kèm theo 6 liều phóng của chúng tôi.

Sau này, tìm ra nguyên nhân là do anh em kéo dây điểm hỏa qua cánh đồng, chỗ nối dây điện bị hở chùng xuống ruộng nước, nên dòng điện bị thất thoát không đủ để kích thích kíp nổ. Thật tiếc và uổng công. Đây cũng là một bài học về chuyên môn mà chúng tôi thấy rất thấm thía, chỉ một sơ xuất về kỹ thuật, bỏ lỡ cho cơ hội trận đánh. Ở Nghĩa Thắng được một thời gian, chúng tôi cơ động vào tỉnh Bình Định, chiến đấu tại mặt trận đường 19.

Từ ngày ấy cho đến nay chúng tôi chưa có dịp nào để về lại nơi ấy và không biết sau đó, Huỳnh Thị Yến và đội du kích thôn An Tráng như thế nào, ai còn, ai mất. Đã trên 35 năm rồi, hình ảnh cô du kích Quảng Ngãi và những ngày chiến đấu bên họ còn đọng mãi trong tôi. Mong sao mọi người đều được bình an và hạnh phúc!


* * *

Chiến trường khu 5 chia thành hai mặt trận chính: vùng đồng bằng và giáp ranh, thuộc mặt trận B1; Tây Nguyên là mặt trận B3. Hai mặt trận này lúc nào cũng sôi động. Đứng vào thế chiến dịch, chiến lược quân sự, chiến trường B3 có tính quyết định sống còn của vùng đồng bằng khu 5 và cả chiến trường miền Nam. Đường Quốc lộ số 19 và 21 (nay là đường số 26) là đường huyết mạch chính của địch nối liền vùng đồng bằng ven biển với Tây Nguyên.

Để chuẩn bị phối hợp tác chiến giữa hai mặt trận trong chiến dịch Đông - Xuân năm 1969 - 1970, cũng như các chiến dịch mở ra sau này, ý định của Quân khu 5 lúc bấy giờ là cần phải có một lực lượng chuyên trách đánh phá giao thông trên hai trục đường quốc lộ 19 và 21. Trong thực tế, trên hai trục đường này, cũng đã có một số đơn vị được triển khai và hoạt động mấy năm trước đó. Nhiệm vụ trên giao cho chúng tôi là thường xuyên đánh phá giao thông tiếp tế của địch, gây khó khăn cho chúng trong công tác vận chuyển. Vừa tác chiến, vừa chuẩn bị mọi mặt để khi chiến dịch mở ra ở Tây Nguyên thì tập trung cắt đứt tiếp tế của địch dài ngày theo yêu cầu của mặt trận.

Tiểu đoàn chúng tôi (gồm Tiểu đoàn bộ và Đại đội 2) được lệnh sáp nhập với tiểu đoàn 6 thuộc Trung đoàn bộ binh 12, đã có mặt ở đây từ trước, chuyển sang hoạt động ở phía Nam đường số 19, phía đông đèo An Khê.

Cuộc vượt đường quốc lộ 19 của chúng tôi sang phía Nam vào cuối năm 1971, là một đêm tang tóc... Cho đến nay, tôi không bao giờ quên được, chúng tôi đã phải chịu tổn thất nặng nề như thế. Trong chỉ đạo chiến lược, chiến tranh, mỗi quan điểm, mỗi đường lối đúng, sai đều liên quan đến vận mệnh sống còn của đất nước. Trong chiến dịch, chiến thuật và chiến đấu, mỗi động tác, mỗi hành động cẩu thả, đơn giản, chủ quan của chỉ huy sẽ phải trả giá bằng máu của đồng chí, đồng bào...

Đêm 4 rạng 5, tháng 11 năm 1971, Tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ tổ chức hành lang, bám địch và bảo đảm cho tiểu đoàn chúng tôi vượt sông Côn, vượt đường 19 sang phía Nam được an toàn.

Sông Côn rộng khoảng 200 mét, nhiều đoạn nước sâu, chảy xiết. Sau khi vượt sông sang bờ phía Nam, đội hình tiểu đoàn tiếp tục vượt đường số 19. Khi qua ấp Bình Tường, thuộc huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, những người chịu trách nhiệm bảo đảm ở đây nắm tình hình không chắc, tổ chức không chặt chẽ, chu đáo; không có kế hoạch xử trí những tình huống có thể xảy ra, tổ liên lạc dẫn đường đi vào đúng trận địa phục kích của địch ở rìa ấp. Từ các chiến hào trong ấp chiến lược, địch dùng tất cả các loại hỏa lực bắn ra, trong khi đội hình của tiểu đoàn chúng tôi đang đi trên cánh đồng, không có một vật gì che đỡ và che khuất. Phần lớn lực lượng nòng cốt của tiểu đoàn, gần ba mươi đồng chí bị thương vong. Tôi thuộc nhóm đi đầu, vừa qua khỏi một khoảnh ruộng thì địch nổ súng. Tôi và anh Biền, chính trị viên tiểu đoàn, kịp lợi dụng một mô đất nên thoát được. Địch bắn pháo sáng lên, sáng như ban ngày. Một số đồng chí bị thương cũng không thoát được dưới làn đạn dày đặc của địch từ trong rìa ấp bắn ra. Đồng chí phó trung đoàn trưởng Phạm Bảy bị bắt. Năm 1973, đồng chí được trao trả, trở về với đồng đội. Đồng chí đã kể lại với chúng tôi rằng: “Khoảng hai giờ sáng ngày 5-11-1971, toàn bộ đội hình đã vượt qua sông Côn và đường quốc lộ số 19 được an toàn. Nhưng khi qua ấp Bình Tường, huyện Tây Sơn, để vào chân núi thì bị địch phục kích, nổ súng. Đồng chí Bảy đi trước đội hình và bị thương ngay từ loạt đạn đầu. Ở phía sau đồng chí có nhiều người hy sinh và bị thương. Do vết thương quá nặng, mất máu nhiều, nên bò được một đoạn thì đồng chí lại mê man. Khi tỉnh dậy, biết mình đã bị sa vào tay giặc. Liên tiếp những ngày sau đó, bọn tình báo của sư đoàn 22 quân đội Sài Gòn, cùng với bọn Mỹ và Đại Hàn thay nhau thẩm vấn. Kẻ thù đã dùng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ, mua chuộc đến tra tấn tàn bạo nhất. Được sự giúp đỡ chỉ vẽ, chở che của anh chị em bị bắt trước đó, nên anh đã giấu được tung tích của mình. Bọn chúng chỉ nắm được qua lời khai của anh:

Họ tên: Nguyễn Văn Hiền

Quê quán: Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi

Năm 1954 vào Bình Định sinh sống tại Bình Khê. Khi quân đội giải phóng về họ bảo làm liên lạc cho họ. Vì là dân dưới quyền của họ thì phải làm theo nhiệm vụ: theo họ sang nam đường 19 để nhận tài liệu...


Song chúng vẫn nghi ngờ anh là một cán bộ chỉ huy, thấp nhất cũng là cấp tiểu đoàn, hoặc là một cán bộ huyện. Vì lẽ đó, anh đã nếm đủ các đòn tra tấn dã man. Chúng đưa anh đi qua các nhà tù: Quy Nhơn, Phú Tài, Cần Thơ và cuối cùng đưa ra đảo Phú Quốc, cho đến ngày được trao trả theo hiệp định Paris năm 1973...”


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 04:06:18 PM

Trong số anh em bị thương tối hôm vượt đường 19, có đồng chí Lộc, y tá đại đội, bị thương nặng. Sau này một cán bộ kể lại rằng, giữa tiếng súng nổ chát chúa xung quanh, đồng chí Lộc nói trong hơi thở gấp gáp: “Thủ trưởng ơi! Em chết mất thôi! Em ân hận quá, vì phấn đấu mãi mà vẫn chưa được kết nạp Đảng... Mong các thủ trường hãy bỏ qua những khuyết điểm của em!...”

Thật cảm động biết bao, trước mũi súng quân thù cái chết gần kề, chiến sĩ ta vẫn luôn nhớ đến Đảng, vẫn trung thành với Đảng đến hơi thở cuối cùng. Vậy mà xung quanh có biết bao nhiêu đảng viên, cán bộ đã thiếu sự quan tâm đến công tác bồi dưỡng quần chúng để họ được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Lực lượng còn lại của tiểu đoàn, sau đó sáp nhập vào tiểu đoàn 6, do đồng chí Chu Đức Liên làm tiểu đoàn trưởng, đồng chí Trần Hữu Biền, chính trị viên, các anh đã đề nghị lên trung đoàn và sư đoàn, điều động những cán bộ, chiến sĩ thuộc tiểu đoàn trước đây, đã bổ sung cho các đơn vị, nay trở về để xây dựng lại tiểu đoàn sau biến cố này. Trung đoàn 12 và sư đoàn bộ binh 3 đã chấp thuận đề nghị đó.

Được một thời gian, đồng chí Liên đi học, Ban chỉ huy tiểu đoàn lúc này gồm có: Đồng chí Lê Hoài, tiểu đoàn trưởng; Trần Hữu Biên, chính trị viên; đồng chí Đề (rất tiếc tôi quên họ của đồng chí), chính trị phó và Nguyễn Khánh Hạt, tiểu đoàn phó. Tôi giữ chức tham mưu trưởng tiểu đoàn. Lúc này, cấp tiểu đoàn còn có chức danh “Tham mưu trưởng”.

Trong những năm làm nhiệm vụ đánh giao thông trên đường 19, tiểu đoàn 6 nói riêng, trung đoàn bộ binh 12 nói chung thường phối hợp, hiệp đồng với trung đoàn bộ binh 95 Quân khu 5 đánh cắt giao thông trên hai đoạn đường đèo hiểm trở. Trung đoàn bộ binh 95 hoạt động tại đèo Mang Giang, trung đoàn bộ binh 12, thường xuyên là tiểu đoàn 6, đảm nhiệm tại đèo Thượng Giang (nay là đèo An Khê), đã tiêu diệt, phá hủy nhiều đoàn xe, tốp xe của địch tiếp tế từ đồng bằng lên Tây Nguyên, gây cho địch nhiều khó khăn.

Đường 19 và đường 21 có vị trí chiến lược hết sức quan trọng đối với lực lượng quân đội và chính quyền của địch ở Tây Nguyên. Đường 19 và đường 21 được ví như cái cuống họng, chiến trường Tây Nguyên như cái dạ dày. Ngoài hai trục đường này còn có thêm đường số 7 nối liền quốc lộ 1 ở tỉnh Phú Yên với quốc lộ 14 tỉnh Đắc Lắc. Tuy nhiên đường số 7 đã hư hỏng, từ lâu không sử dụng được. Đường 19 và 21 trở thành 2 trục đường huyết mạch, nối liền các tỉnh đồng bằng miền Trung với Tây Nguyên, và có tính quyết định sống còn đối với quân đội và chính quyền của địch ở đây.

Nếu bạn có dịp đi từ thành phố Quy Nhơn, theo đường Quốc lộ số 1 ra hướng Bắc, đến ngã ba đường số 1 và đường số 19, đi tiếp khoảng 60km theo đường số 19 là đến đèo An Khê. Đèo An Khê dài trên 10 km, rất hiểm trở có nhiều đoạn cua, gấp khúc, xe cơ giới không sao chạy nhanh được. Hai bên đường đèo là đồi núi liên hoàn. Do chất độc hóa học của Mỹ rải xuống, dãy núi Ông Bình phía Bắc đường, trước kia là rừng già, nay trở thành những quả đồi cỏ tranh. Địa hình phía Nam đường 19 thấp, tất cả các khe suối từ sườn Nam dãy núi Ông Bình đều chảy xuống suối Đồng Xoài. Tuy nhiên, toàn bộ phía Nam đường 19 là rừng già liên hoàn, kín đáo, rất thuận lợi cho ta trong việc giấu quân và cơ động lực lượng. Cuối xã Bình Tường về phía Tây huyện Bình Khê, nơi có lăng Mai Xuân Thưởng, đi tiếp khoảng 20km qua huyện Phú Phong, đèo An Khê hiện ra với con đường ngoằn nghèo chạy theo sườn phía Nam dãy núi Ông Bình. Từ cống Hang Dơi, chân đèo thuộc phần đất của tỉnh Bình Định, lên núi Cây Rui dài khoảng 10 km, là đoạn đường hiểm trở nhất. Núi Cây Rui là ranh giới giữa hai tỉnh: Bình Định và Gia Lai. Chạy gần như song song với đường 19 về phía Đông - Đông Nam là sông Côn và một nhánh của sông Côn là sông Cái. Sông Côn rộng có nơi khoảng 200m, cách đường 19 trung bình 1km. Có nơi gần sát đường 19. Sông Côn là một trong những con sông lớn của tỉnh Bình Định. Mùa khô có thể lội qua được, nhưng mùa mưa, nước sâu, chảy xiết, có ảnh hưởng không nhỏ, là điều bất lợi đối với ta. Vì vậy trong những năm làm nhiệm vụ ở đây, tiểu đoàn 6, trung đoàn 12 gặp rất nhiều khó khăn. Bù lại, địa hình phía Nam đường 19 thật lý tưởng đối với ta. Núi rừng liên hoàn kéo dài về phía Nam 20 - 30km, nối liền các huyện Phú Phong, Bình Khê, Vân Canh của tỉnh Bình Định với các huyện An Khê, Công – Ch’Ro phía đông tỉnh Gia Lai. Từ căn cứ đóng quân của tiểu đoàn 6, trung đoàn 12 đi bộ khoảng 2 giờ đồng hồ là đến dãy cao điểm Hòn Giác, nam đường 19, cao trên 300m so với mực nước biển. Đứng trên Hòn Giác ta có thể thấy rất rõ toàn bộ đèo An Khê, từ núi Cây Rui Cao điểm 638 xuống cống Hang Dơi. Phía Nam Hòn Giác là suối Đồng Tre, có nước quanh năm - phía Bắc Hòn Giác đến suối Đồng Xoài, địa hình thoai thoải và kín đáo. Khu vực này khá an toàn, nên mỗi lần đi chuẩn bị trận địa trên trục đường 19 xong, chúng tôi lui về đây, có khi ở phía Bắc Hòn Giác, có khi ở phía Nam Hòn Giác, nghỉ lại qua đêm, hôm sau mới về căn cứ.

Cứ mỗi lần đi chuẩn bị chiến trường, tôi thường phái một tổ thông tin, một tổ trinh sát cùng với các đồng chí đại đội trưởng trực tiếp tham gia trận đánh. Tất cả khoảng trên 10 người. Sau khi chuẩn bị xong, thống nhất phương án tại thực địa, chúng tôi về căn cứ, báo cáo Đảng ủy và chỉ huy tiểu đoàn. Khi xuất quân đi đánh, tiểu đoàn thường triển khai Sở chỉ huy (SCH) tại sườn phía Bắc Hòn Giác. Với cương vị là tham mưu trưởng tiểu đoàn lúc còn là đơn vị cơ sở, và sau này là tham mưu trưởng quân đoàn; những người làm công tác tham mưu thường xuyên gắn bó với các lực lượng thuộc cấp như thông tin, trinh sát... tôi không bao giờ quên những khuôn mặt thân thương, quen thuộc đã cùng nhau chia ngọt, xẻ bùi, trong những năm tháng gian khổ, ác liệt trên chiến trường, như các anh Nguyễn Hữu Quang, Nguyễn Văn Chạy, Nguyễn Đình Cổn, Nguyễn Văn Trung, Phạm Lê Hoa, Nguyễn Minh Tiến, Nguyễn Văn Cọng, Lê Anh Kiên, Nguyễn Văn Thảo, Lê Văn Phược, Hồ Huy Liễu, Vũ Văn Thủy, Hoàng Chuân, Nguyễn Thanh Nhàn, Nông Văn Mạnh... và còn rất nhiều cán bộ, chiến sĩ khác, không thể nào kể ra đây hết được. Trong những anh em đã gắn bó với tôi, đã có nhiều đồng chí nằm lại vĩnh viễn trên các chiến trường, như đồng chí Thảo, đồng chí Cổn, đồng chí Hoa, đồng chí Chạy, đồng chí Liễu, đồng chí Trung, đồng chí Dân, v.v... Qua những dòng hồi ký này, tôi xin gửi lời chia buồn đến gia đình các đồng chí đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 04:09:49 PM

Xin trở lại với nhiệm vụ của trung đoàn 12 tại khu vực đường 19.

Đối lượng tác chiến của trung đoàn bộ binh 12 1úc này và những năm tiếp theo sau trên đường 19 chủ yếu là sư đoàn “Mãnh Hổ” - Nam Triều Tiên.

Lực lượng Nam Triều Tiên, đồng minh của Mỹ, trên chiến trường thuộc Liên khu 5, có 3 sư đoàn: Tại tỉnh Quảng Ngãi có sư đoàn “Rồng xanh” (Thanh Long); sư đoàn “Bạch Mã” ở Phú Yên. Sư đoàn “Mãnh Hổ” ở tỉnh Bình Định, chủ yếu làm nhiệm vụ bảo vệ đường 19. Tại đèo An Khê, chúng thiết lập hệ thống các điểm chốt hai bên đường. Chỉ chưa đầy 10 km đường chim bay có đến 12 - 15 điểm chốt, được bố trí liên hoàn trên các điểm cao, khống chế mặt đường. Trên đỉnh đèo, mỏm núi Cây Rui, chúng đóng chốt một đại đội. Kế tiếp là các chốt Mâm Xôi, Hòn Kiềng1, Chóp Vung, cao điểm 105 (Nam đường 19), và các mỏm đồi gần mặt đường của dãy núi Ông Bình (Bắc đường 19). Mỗi nơi có từ một trung đội đến một đại đội. Phía Tây đèo An Khê, thuộc tỉnh Gia Lai, cũng có hệ thống chốt bảo vệ đường, như điểm chốt ở núi Bìm Bìm, ở suối Vối, cao điểm 602 và núi Nhọn (cao 674m). Hỏa lực bắn thẳng, hỏa lực cầu vồng trên các chốt, kết hợp với các trận địa pháo ở Đồn Phó (huyện Phú Phong), Lai Nghí (huyện An Nhơn) cao điểm 105, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định và các trận địa pháo ở huyện An Khê, tỉnh Gia Lai, tạo nên lưới lửa trực tiếp chi víện cho đèo An Khê.

Lực lượng cơ động của sư đoàn “Mãnh Hổ” thường xuyên càn quét, sục sạo trên các địa hình, làng mạc hai bên trục đường 19 từ xã Bình Nghi lên xã Bình Tường và phía Bắc, Đông Bắc sông Côn.

Để ngăn chặn quân ta tiến ra mặt đường địch rải các loại mìn sát thương hai bên trong phạm vi 200 - 300 mét. Ngoài 300 mét là bom vướng nổ được máy bay thả xuống. Một “bom mẹ” khi rơi xuống bung ra hàng trăm “bom con”, như quả cam, có màu xanh lá cây, rất khó phát hiện. Loại bom này khi chạm đất sẽ bung dây ra bốn góc, như những sợi chỉ dù, cũng màu xanh như lá cây. Một con thú rừng đi qua, thậm chí một luồng gió thổi mạnh bom cũng nổ. Vì vậy, nơi đây nghe tiếng bom nổ suốt ngày đêm.

Nhưng đối với chúng tôi, đây là khu vực khá an toàn. Bởi vì chỗ nào đã gài mìn, thả bom vướng thì bọn thám báo, biệt kích, không bao giờ bén mảng đến. Địch ở trong chốt không dám thoát ra khỏi công sự, không nắm được tình hình diễn ra xung quanh. Chúng tôi triển khai đội hình tiểu đoàn cách mép đường 200 - 300 mét ban ngày, địch vẫn không hay.

Ngày cũng như đêm, lính Nam Triều Tiên đều ở dưới hầm, rất ít khi xuất hiện trên mặt đất. Từ trên các điểm cao xung quanh nhìn xuống, các đồn bốt của chúng im phăng phắc như chỗ không người. Tinh thần binh lính địch ở đây rất căng thẳng, luôn phải đề phòng hỏa lực của ta dội xuống đầu bất cứ lúc nào.

Nguy hiểm nhất đối với ta là các bãi mìn địch rải xuống hai bên vệ đường, chủ yếu là mìn Zíp. Mìn này có độ chống ẩm cao, cỏ mọc phủ lên rất khó phát hiện. Sau năm, mười năm chúng vẫn còn tác dụng. Tôi còn nhớ, một lần, từ suối Dầu (suối Đồng Xoài) phía Nam đường, đoàn cán bộ chúng tôi tiếp cận lên đường để chuẩn bị phương án tác chiến, ba đồng chí đi trước, tôi là người đi thứ tư, không việc gì. Nhưng cũng trên lối mòn đó, đồng chí Trần Nựu, trợ lý tác huấn là người thứ năm đạp phải quả mìn Zíp. Đồng chí chỉ bị mất một bàn chân. Nhưng do đường về căn cứ xa, núi non hiểm trở, vết thương bị hoại tử, khi đến được trạm xá, phải cắt chân lên trên đầu gối. Còn nhiều trường hợp, khi xung phong ra mặt đường, hoặc lúc lui quân, bộ đội ta bị các bãi mìn gây sát thương.

Tiểu đoàn 6 đánh giao thông liên tục trên đoạn đường đèo này, các đoàn xe địch bị bắn cháy, bị phá hủy, đều lăn xuống con suối phía Nam đường, xăng dầu chảy thành suối. Vì vậy trong bản đồ của khu vực này có con suối lúc thì in suối Dầu lúc gọi là suối Đồng Xoài. Dòng nước tuy trong, nhưng không dùng được. Đất ở đây cũng bị thấm dầu, ô nhiễm cả một vùng. Vận chuyển tiếp tế của địch bằng cơ giới luôn bị chặn đánh, chúng đã thiết lập hệ thống cung cấp bằng đường ống, chôn sâu dưới đất, nhưng cũng bị ta phá liên tục. Địch ở Tây Nguyên không được tiếp tế, có lúc vô cùng khốn đốn.

Khi mặt trận B3 chưa mở chiến dịch, hoặc đã kết thúc, chúng tôi lại liến hành những trận phục kích nhỏ lẻ, diệt từng chiếc xe, tốp xe, luôn luôn gây tâm lý bất an cho địch khi đi qua đoạn đường này. Tất cả các loại xe vận tải khi bắt đầu lên đèo, lính lái xe cứ mở sẵn cửa ca bin, hễ nghe phía trước có tiếng súng, lập tức dừng lại nhảy xuống xe, tìm đường trốn thoát, “bỏ của chạy lấy người”. Địch vẫn gọi nơi đây là “đoạn đường máu lửa”. Lợi dụng ưu thế về địa hình, công tác chuẩn bị chu đáo, hầu hết các trận đánh giao thông trên đường 19 của Tiểu đoàn 6 nói riêng, trung đoàn 12 nói chung đều đạt hiệu suất chiến đấu cao. Bộ đội ở đây đã nêu cao tinh thần tự lực tự cường, chủ động, khắc phục khó khăn trong công tác bảo đảm, sáng tạo trong cách đánh trên một địa bàn xa xôi, cách trở nguồn cung cấp của sư đoàn. Hiện tại và mãi mãi về sau, Tiểu đoàn 6 vẫn là ngọn cờ đầu của Trung đoàn bộ binh 12 và của Sư đoàn 3 Sao Vàng.

Để chuẩn bị cho đợt hoạt động, phối hợp với mặt trận Quảng Trị, đường 9 - Nam Lào đầu năm 1971, sau tổn thất nặng nề khi vượt đường 19 sang phía Nam, được sự giúp đỡ của trung đoàn, sư đoàn, tiểu đoàn 6 đã nhanh chóng ổn định tình hình, ra quân cùng với trung đoàn bộ binh 95, đánh cắt giao thông trên đường 19. Đây là đợt hoạt động phối hợp đầu tiên từ sau ngày hai tiểu đoàn: tiểu đoàn 6 trung đoàn 12 (đã có ở đây từ trước) sáp nhập với tiểu đoàn 19 công binh, vẫn giữ nguyên phiên hiệu là tiểu đoàn 6 thuộc trung đoàn bộ binh 12.

Thời gian này đại bộ phận lực lượng trung đoàn 12 cùng đội hình của sư đoàn đang hoạt động ở phía Bắc tỉnh Bình Định. Tiểu đoàn 6 tác chiến ở phía Nam đường 19 mang tính độc lập, các trận đánh của tiểu đoàn, chủ yếu cấp đại đội, bằng hình thức phục kích, tiêu diệt các tốp xe vận tải của địch, có khi tiêu diệt cả những đoàn xe trên 10 chiếc tại đèo An Khê. Tuy nhiên, trong các trận đánh, dù quy mô nào, tiểu đoàn đều sử dụng hầu hết các phân đội hỏa lực trong biên chế, bảo đảm cho bộ đội làm chủ mặt đường, thu chiến lợi phẩm, phá hủy các phương tiện vận tải của địch, giải quyết thương binh, tử sĩ và lui quân được an toàn.

Tổng hợp đợt hoạt động đánh cắt giao thông phối hợp với mặt trận đường 9 - Nam Lào năm 1971, tiểu đoàn 6 đã tiêu diệt và phá hủy 25 xe vận tải quân sự của địch, cùng với trung đoàn bộ binh 95, gây cho địch nhiều khó khăn trong việc tiếp tế hậu cần từ đồng bằng lên Tây Nguyên.

Kết quả đợt hoạt động này còn nhiều hạn chế. Trước hết, chất lượng chiến đấu của bộ đội có ảnh hưởng sau “biến cố” xảy ra và công tác bảo đảm chiến đấu có nhiều khó khăn. Song, đây là những kinh nghiệm làm cơ sở cho những năm sau này, ta tập trung lực lượng cắt đường dài ngày và triệt để hơn trong những chiến dịch lớn có tính chiến lược được mở ra ở Tây Nguyên.
_________________________________________
1. Địa danh do bộ đội ta đặt.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 04:11:47 PM

Bước sang năm 1972, trên chiến trường khu 5, ta tiến đánh hàng loạt căn cứ địch hỗ trợ phong trào nổi dậy, diệt ác phá kềm ở các địa phương vùng đồng bằng và giáp ranh 3 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một phần tỉnh Phú Yên. Ở Tây Nguyên sư đoàn bộ binh 2 tiến công trung đoàn 47 và 42 quân chủ lực Sài Gòn ở Đắc Tô, Tân Cảnh, uy hiếp căn cứ chỉ huy tiền phương của sư đoàn 22, từ đồng bằng vừa chuyển lên1.

Trên địa bàn tỉnh Bình Định, nơi sư đoàn bộ binh số 3 đảm nhiệm, đối tượng tác chiến là sư đoàn bộ binh số 22 quân lực Việt Nam Cộng hòa và sư đoàn “Mãnh Hổ”- Nam Triều Tiên. Sư đoàn 22 Cộng hòa có các căn cứ ở tỉnh Bình Định, là lực lượng chủ lực cơ động trên chiến trường khu 5, kể cả Tây Nguyên.

Căn cứ Đệ Đức (huyện Hoài Nhơn), là trung đoàn 40; Căn cứ Trà Quang - Bình Dương (huyện Phù Mỹ), trung đoàn 41; Căn cứ Lai Nghi (huyện An Nhơn), trung đoàn 42 và căn cứ An Sơn (huyện Vân Canh) là Sở chỉ huy sư đoàn và các đơn vị trực thuộc khác.

Sư đoàn bộ binh số 3 của ta, sau khi cơ động từ tỉnh Quảng Ngãi vào chỉ còn lại hai trung đoàn là trung đoàn bộ binh số 2 và 12. Sau tết Mậu Thân 1968, địch đã phục hồi lại và phản kích quyết liệt. Quân ta bị tổn thất nặng nề, nhất là lực lượng vũ trang và cơ sở cách mạng ở các địa phương. Theo lệnh của Quân khu, tháng 2 năm 1970, sư đoàn bộ binh 3 giải thể trung đoàn 22, đưa lực lượng xuống các tỉnh để hoạt động: Tiểu đoàn 7 về tỉnh Quảng Ngãi; Tiểu đoàn 8 về Bình Định; Tiểu đoàn 9 về Phú Yên. Trung đoàn bộ binh 21 từ miền Bắc vào, do đồng chí Việt Sơn làm trung đoàn trưởng, được điều về thay cho trung đoàn bộ binh 22 và sau đó, năm 1972, quân khu 5 quyết định giải thể sư đoàn 711 và trung đoàn bộ binh 21. Trung đoàn bộ binh 2 và các đơn vị trực thuộc sư đoàn 3, hoạt động tại các huyện Hoài Ân, Phù Mỹ, Phù Cát. Trung đoàn bộ binh 12 chuyển vào phía Nam tỉnh Bình Định, tập trung chủ yếu đường 19.

Trên chiến trường đã hình thành thế “cài răng lược” giữa ta và địch, đan xen nhau như “vết da báo”. Nhờ những hoạt động tích cực, đều khắp, vùng giải phóng ngày càng được mở rộng, vùng địch tạm chiến, một số thị trấn, thị xã có nguy cơ bị ta đánh chiếm. Có nhiều vùng, ban đêm nằm trong sự quản lý của chính quyền và lực lượng vũ trang cách mạng. Bộ đội, du kích và nhân dân đi lại tự do như sống trong không khí hòa bình thực sự. Có nơi, như có sự “phân chia” ngày địch, đêm ta. Tuy bị địch khống chế trong các vùng chúng kiểm soát, nhưng lòng dân đã thuộc về các mạng.

Mùa xuân năm 1972, mặt trận B3 mở chiến dịch Tây Nguyên nhằm: “Tiêu diệt địch, giải phóng Daktô, Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kontum, và phát triển xuống Plâyku, giải phóng thị xã Buôn Mê Thuột, hình thành căn cứ địa hoàn chỉnh, nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ

Xác định vị trí tầm quan trọng con đường chiến lược số 19 đối với chiến trường Tây Nguyên, trung đoàn bộ binh 12 bắt tay vào công tác chuẩn bị phối hợp với mặt trận B3.

Trung đoàn bộ binh 12 (thiếu tiểu đoàn 6) ở Bắc đường 19 có thuận lợi hơn. Tiểu đoàn 6 ở phía Nam đường 19. Công tác chuẩn bị của tiểu đoàn 6, chủ yếu là cơ sở vật chất. Ở đây công tác bảo đảm về lương thực, thực phẩm, đạn dược, thuốc quân y đều phải vận chuyển từ căn cứ hậu cần sư đoàn ở phía Bắc đường 19 và phía Bắc sông Côn. Mỗi chuyến hàng đưa được sang Nam đường 19 phải mất cả tuần lễ. Nhiều khi gặp phải những nguy hiểm trên đường. Trong Ban chỉ huy Tiểu đoàn, chúng tôi thường thay phiên nhau đi chỉ huy các đoàn vận tải. Khi đi ra theo đường từ căn cứ xuống xã Bình Tường, huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, khi quay về thường đi theo đường rừng qua Công Hà Nừng, tỉnh Gia Lai, vượt đường 19 đoạn Suối Vối, phía đông thị trấn An Khê (nay là thị xã An Khê) tỉnh Gia Lai. Đường đi vô cùng gian truân vất vả. Những đồng chí đã lớn tuổi như anh Trần Hữu Biền (chính trị viên), anh Lê Hoài - Tiểu đoàn trưởng (trước đó là anh Chu Đức Liên), anh Đỗ Cung - quân y sĩ, vẫn phải gò lưng, cùng với bộ đội cõng hàng vượt gần trăm km đường rừng, qua những vùng nguy hiểm.

Việc lấy hàng ở Bắc đường 19, chủ yếu là đạn dược (nhất là đạn hỏa lực), thuốc quân y, nguồn pin cho máy thông tin... Vì những trang bị này chúng tôi không làm ra được, không sản xuất được. Còn lương thực, thực phẩm, đơn vị tự túc (chăn nuôi, sản xuất) và xuống các xã: Bình Tường, Bình Nghi thuộc huyện Bình Khê, hoặc xuống huyện Văn Canh thu mua của dân... Nhưng đường đi cũng khá xa. Mỗi một chuyến phải mất 3 ngày 2 đêm. Để rút ngắn thời gian, một hôm anh Biền và anh Hoài gợi ý với tôi nghiên cứu xuyên một con đường khác từ căn cứ xuống cửa khẩu thuộc xã Bình Nghi, cố gắng rút được một ngày thì tốt, thay vì con đường hiện tại phải mất 3 ngày và phải đi qua những đồi tranh, trống trải, dễ bị máy bay phát hiện và dễ bị lính Nam Triều Tiên phục kích.

Tôi trải tấm bản đồ, tỷ lệ 1/100.000 để nghiên cứu xuyên một con đường từ căn cứ của Tiểu đoàn, qua sườn của một loạt cao điểm có in màu xanh lá cây (thể hiện đó là rừng già) tránh các điểm cao có in màu trắng (thể hiện đó là đồi tranh, bãi trống). Lấy điểm đến là suối Ông Già, một con suối rộng chừng 15 - 20m, phía tây xã Bình Nghi - nơi đây gọi là cửa khẩu, có các lực lượng hậu cần của ta túc trực, hàng đêm bám đường xuống đồng bằng thu mua lương thực và các nhu yếu phẩm, cho bộ đội xuống nhận, vận chuyển về đơn vị.

Tưởng đi xuyên con đường mới này là dễ dàng. Trên bản đồ đo được từ 20 - 25 km đường chim bay. Tôi mang theo tấm bản đồ, địa bàn và một cái võng cùng đồng chí Hoàng Chuẩn, chiến sĩ thông tin xách súng, hăng-gô và một ít gạo, lương khô, xuất phát ra đi.

Buổi sáng hôm đó, đường đi thuận lợi, vì địa hình tương đối bằng phẳng, có các con suối lớn, dễ xác định được địa hình trên bản đồ và ngoài thực địa.

Đến chiều gặp toàn núi cao, rừng rậm rất khó đi. Hai anh em luôn luôn bắt gặp heo rừng, nai và hàng đàn Dọc (Voọc) 2 nhảy nhót trên cây. Đây là khu rừng già, nguyên sinh, rất ít dấu vết của con người vào đây. Tôi đang say sưa ngắm cảnh núi rừng mát mẻ, yên tĩnh dưới ánh nắng xế chiều xuyên qua các tán lá cây, thì phát hiện bên kia con suối rộng khoảng 15 mét, nước chảy trong xanh, hai con chó sói đang quần nhau với một con heo rừng.
_______________________________________
1. Lịch sử sư đoàn 2 - Nxb. Đà Nẵng.
2. Một loài vượn màu đen rất nhiều ở phía Nam đường 19.



Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 04:13:14 PM

Hồi còn ở nhà, lúc nhỏ, nghe những người thường hay đi rừng ở quê tôi nói rằng: chó sói bắt được cả trâu, bò để ăn thịt. Khi phát hiện con mồi như con bò hoặc con heo, chúng chạy vòng quanh con mồi, đái lên những cành cây lúp xúp rồi lùa con mồi tới đó. Nước đái của chúng sẽ quệt vào mắt con mồi, làm cho con mồi bị mù. Chó sói liền nhảy lên, cắn vào đít con mồi, moi ruột ra để ăn. Ngày ấy, miền núi vùng Hương Sơn quê tôi có rất nhiều chó sói, và cọp (hổ) thường vào làng bắt heo, bò kéo vào rừng ăn thịt. Ban đêm gia đình tôi thường phải ngủ trên chạn (trên gác) và đánh mõ xua đuổi.

Bây giờ trước mắt tôi, bên kia bờ suối khoảng 20 mét, hai con chó sói đang quyết định sự sống của một con heo khoảng 50 kg.

Tôi vẫy tay cho đồng chí Chuẩn ngồi xuống, giương khẩu súng AK lên ngắm vào con heo điểm xạ hai phát đạn. Hai con chó sói chạy biến vào rừng, để lại con heo đang giãy dụa. Tôi và Chuẩn kéo con heo xuống suối khoảng vài trăm mét, định bụng dừng lại xẻ thịt để luộc ăn và nghỉ qua đêm thì nghe có tiếng người và tiếng xoong nồi khua loảng xoảng dưới đó một đoạn. Tôi liền phái đồng chí Chuẩn xuống đó xem sao, thì phát hiện... bếp nuôi quân của Tiểu đoàn đang nấu cơm chiều. Thì ra từ sáng tới giờ, hai anh em tôi chưa ra khỏi khu vực đóng quân của đơn vị, đi loanh quanh thế nào mà cuối cùng lại về nơi xuất phát. Quả là đi theo góc phương vị trên địa hình rừng núi rậm rạp không dễ chút nào. Song, tôi vẫn chưa chịu bó tay, dặn đồng chí Chuẩn về nghỉ, ngày mai đi lại.

Sáng hôm sau chúng tôi đi tiếp. Lần này có thêm 1 đồng chí liên lạc nữa, đồng chí Nông Văn Mạnh và đồng chí trợ lý tác huấn - Bốn anh em xuyên qua dãy rừng già. Đi được mấy trăm mét lại dừng để lấy góc phương vị chính xác rồi mới đi tiếp. Đến trưa, chúng tôi đang chuẩn bị vượt qua một con suối thì thấy phía bên kia, một con nai đang hốt hoảng từ trên bờ nhảy xuống và lội qua suối sang chỗ chúng tôi. Có thể con nai này cũng đang bị chó sói rượt đuổi. Đồng chí liên lạc quỳ xuống, giương súng lên. Con nai vừa lên bờ thì trúng 1 viên đạn gục xuống...

Bây giờ, mỗi lần nhớ lại, có lúc tôi vẫn còn ân hận và tự hỏi: “Vì sao lúc đó, mình không bắn con chó sói để cứu con heo và con nai tội nghiệp? Trong lúc hai con vật bị chó sói tấn công, mình lại đứng về phía chó sói để hạ sát con heo và con nai, khi chúng đang hốt hoảng trước cái chết gần kề?”. Nhưng rồi tự an ủi: “Hoàn cảnh lúc bấy giờ chưa cho phép mình nghĩ đến việc bảo vệ động vật hoang dã. Điều cần thiết lúc đó là sự sống của người lính. Người lính thiếu thốn đến mức phải mò cua, bắt ốc, thiếu thực phẩm phải hái rau rừng bổ sung vào bữa ăn hàng ngày. Nhiều khi phải hy sinh mạng sống vì những chuyến hàng thực phẩm từ dưới đồng bằng lên căn cứ. Không thể oán trách việc bắn thú rừng lấy thịt!”.

Kết quả lần đi này là chúng tôi đã xuyên đường xuống được cửa khẩu Bình Nghi. Tuy có kín đáo hơn nhưng con đường này không thể sử dụng được - vì qua nhiều ghềnh thác, núi non hiểm trở. Hôm sau, chúng tôi đi chọn địa điểm đặt kho tàng, để nếu sau này sử dụng thì đưa lực lượng xuống phát đường, làm kho, trạm.

Chúng tôi, theo một con suối nhỏ vào chân núi thì đi đúng vào ổ phục kích của lính Đại Hàn. Tất cả các loại súng bắn dồn dập theo con suối. Đồng chí Nông Văn Mạnh đi trước bị thương vào bàn tay trái. Tất cả lợi dụng vào bờ suối lùi lại, xuyên đường vòng tránh trận địa phục kích của địch. Đồng chí Mạnh bị thương, được đưa về phía sau sang phía Bắc đường 19. Và cũng từ đó đến nay, từ năm 1971, tôi chưa có lần nào gặp lại đồng chí.

Những năm kháng chiến đấu trên đường 19, mỗi một viên đạn, mỗi hạt gạo ở đây đều nhuốm máu, mồ hôi, nước mắt của biết bao cán bộ, chiến sĩ. Mỗi một trận đánh phải tính toán chi li từng viên đạn, từng kg thuốc nổ. Trong điều kiện khó khăn về vũ khí, đạn dược, chúng tôi tổ chức một bộ phận gọi là “tổ kỹ thuật”. Tuy trong biên chế không có, đây là sự sáng tạo trong công tác tổ chức theo yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Tổ này có nhiệm vụ tìm kiếm “pháo lép”, “bom câm” đem về tháo ngòi nổ, cưa lấy thuốc để sử dụng trong nhiệm vụ đánh giao thông. Tổ này do đồng chí Mai Văn Minh phụ trách. Trong những năm ấy, “Tổ kỹ thuật” đã “khai thác” được hàng chục tấn thuốc nổ, đáp ứng được một phần quan trọng đối với nhiệm vụ trong điều kiện khó khăn về cơ sở vật chất. Tuy rất nguy hiểm, nhưng mọi việc đều tốt đẹp.

Nhiệm vụ của trung đoàn bộ binh 12 (thiếu tiểu đoàn 4) 1 trong chiến dịch Xuân - Hè năm 1972 là cắt đứt giao thông tiếp tế của địch trên đường 19 từ đồng bằng miền Trung lên cao nguyên kìm giữ sư đoàn “Mãnh Hổ” - Nam Triều Tiên và một bộ phận quân chủ lực Sài Gòn, tạo thuận lợi cho mặt trận B3 ở Tây Nguyên và đồng thời cho sư đoàn hoàn thành nhiệm vụ tại chiến trường Bắc - Bình Định.

Ý định tác chiến của trung đoàn bộ binh 12 như sau:

Tập trung lực lượng, xây dựng cụm chốt cắt giao thông tại đèo An Khê, chủ yếu từ Cống Hang Dơi phía Đông đèo đến núi Cây Rui, đỉnh đèo có chiều dài từ 15 đến 20 km, với quyết tâm là đánh bại mọi cuộc phản kích giải tỏa của địch, cắt đứt mọi sự vận chuyển tiếp tế của chúng từ đồng bằng lên Tây Nguyên, trong thời gian quy định của cấp trên.
_________________________________________
1. Trong chiến dịch Xuân-Hè 1972, Tiểu đoàn 4 hoạt động cùng với các lực lượng sư đoàn 3 ở vùng Hoài Ân - Phù Mỹ - Phù Cát.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 04:13:54 PM

Hướng chủ yếu là Nam đường, hướng phối hợp là Bắc đường 19. Lực lượng chủ yếu là tiểu đoàn 6. Dự bị, cơ động là tiểu đoàn 5. Nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị:

- Tiểu đoàn 6: Đại đội 61, trong đêm N, rạng sáng N2, sau khi lực lượng đặc công tập kích, đánh chiếm chốt Cây Rui của một đại đội Nam Triều Tiên, vào chốt giữ, được chi viện hỏa lực của trung đoàn, chặn cắt giao thông tiếp tế của địch tại đỉnh đèo An Khê.

Tiểu đoàn 6 thiếu đại đội 61, tổ chức hai chốt giao thông gồm:

Chốt tại cao điểm 384, do đại đội 62 đảm nhiệm; chốt tại Cống Hang Dơi do đại đội 63 đảm nhiệm. Sở chỉ huy (vị trí chỉ huy) của tiểu đoàn 6 triển khai phía Nam núi Cây Rui, sau đó cơ động xuống phía Nam đường 19 đèo An Khê để chỉ huy trong thời gian cắt đường.

Đại đội đặc công (sư đoàn tăng cường): Đêm N rạng sáng N2, tập kích đại đội Nam Triều Tiên đóng tại núi Cây Rui, sau đó bàn giao trận địa cho đại đội 61 chốt giữ. Công binh trung đoàn và tiểu đoàn 6, rạng sáng N2 đánh sập Cống Hang Dơi, sau đó làm lực lượng cơ động, cùng đại đội 63 đánh địch phản kích, giữ vững chốt Hang Dơi, cắt đứt vận chuyển tiếp tế của địch qua đèo An Khê.

- Tiểu đoàn 5 làm lực lượng dự bị, cơ động cùng với các trận địa hỏa lực của trung đoàn, chiếm lĩnh khu vực núi Ông Bình, sẵn sàng phối hợp với tiểu đoàn 6, đánh địch phản kích, giải tỏa đường 19 tại đèo An Khê đến cầu Suối Vối, phía Đông thị trấn An Khê (Gia Lai).

Đối với trung đoàn 12, đây là lần đầu tiên làm nhiệm vụ đánh giao thông, cắt đường 19 với yêu cầu rất cao: Cắt đứt mọi sự vận chuyển tiếp tế của địch từ vùng đồng bằng lên Tây Nguyên, thời gian dài ngày, trong điều kiện xa sự chỉ huy, chỉ đạo trực tiếp của sư đoàn.

Về phía địch: Do vị trí hết sức quan trọng của tuyến đường 19 đối với sự sống còn của các lực lượng đồn trú và hệ thống chính quyền của địch ở vùng cao nguyên; đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã bố trí tại đây (chủ yếu tại đèo An Khê xuống xã Bình Nghi trên trục đường 19) cả một sư đoàn thiện chiến “Mãnh Hổ” và nhiều tiểu đoàn bảo an, bảo vệ. Khi cần chúng có thể tung các trung đoàn chủ lực cơ động lên giải toả. Cuộc chiến đấu ở đây sẽ diễn ra ác liệt giữa lực lượng giữ chốt, cắt đường của bộ đội ta với lính Nam Triều Tiên, từ trên các chốt dọc đường đèo tiến công xuống và từ phía Đông tấn công lên phản kích, giải tỏa.

Thời điểm trước khi mở màn chiến dịch, thế và lực giữa ta và địch trên khu vực này rõ ràng không cân sức. Tương quan lực lượng nghiêng hẳn về phía địch.

Để chuẩn bị cho nhiệm vụ, ngay từ những tháng cuối năm 1971, đầu năm 1972, trung đoàn đã có một thời gian chuẩn bị khá chu đáo. Đến tháng 3 năm 1972, với sự nỗ lực của tất cả các đơn vị, được sự giúp đỡ chỉ đạo của bộ tư lệnh, các cơ quan sư đoàn, trung đoàn 12 đã cơ bản hoàn thành công tác chuẩn bị. Đặc biệt là tiểu đoàn 6 vừa hoạt động thường xuyên, vừa chuẩn bị mọi mặt cho nhiệm vụ. Có thể nói, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, đã động viên toàn bộ chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên nỗ lực cao nhất cho nhiệm vụ chiến đấu sắp tới. Tất cả những nhu cầu về lương thực, đạn dược, khí tài và cả những vật liệu để xây dựng trên trận địa... từ căn cứ xa hàng chục km, vượt qua núi cao, rừng rậm, được đưa đến tuyến tập kết. Không thể nào tính hết được bao nhiêu tấn cơ sở vật chất phục vụ cho chiến đấu của một tiểu đoàn tăng cường, trong thời gian hàng tháng trời. Tất cả được vận chuyển bằng đôi vai và đôi chân của bộ đội. Từ cán bộ tiểu đoàn đến người chiến sĩ; từ lực lượng trực tiếp chiến đấu đến đội ngũ nhân viên chuyên môn và cơ quan, tất cả đều là lực lượng vận tải và sau này, tất cả đều là những “Dũng Sỹ” kiên cường trụ bám trên đường 19...

Đầu năm 1972, sau Tết nguyên đán, Bộ Chính Trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở chiến dịch Trị Thiên - Bắc Kontum và Bình Long; đồng thời các mặt trận trên toàn chiến trường miền Nam ra sức hoạt động phối hợp để “chia lửa” với các chiến trường chính. Mặt trận B3 và vùng đồng bằng Khu 5 bắt đầu hưởng ứng, phối hợp.

Mở đầu chiến dịch Xuân Hè năm 1972, trên đường quốc lộ số 19, là trận tập kích của đại đội đặc công ta vào chốt Cây Rui.

Chốt Cây Rui nằm trên một ngọn đồi phía Nam đỉnh đèo An Khê, do một đại đội lính Nam Triều Tiên chốt giữ. Đứng ở cao điểm 638, phía nam núi Cây Rui, có thể quan sát hầu như toàn bộ đèo An Khê, cả phía đông và phía tây. Hệ thống vật cản tại chốt là 4 lớp rào kẽm gai, xen kẽ mìn sát thương bộ binh. Bên trong là công sự kiến cố. Chi viện cho chốt Cây Rui là hệ thống hỏa lực được tổ chức chặt chẽ. Ngoài các trận địa hỏa lực bắn thẳng và cầu vồng trên các chốt thuộc dãy núi Ông Bình và các đồn bót dọc đường đèo, còn có các trận địa pháo ở Đồn Phó, Vĩnh Thạnh, An Xuân tỉnh Bình Định và thị trấn An Khê, tỉnh Gia Lai có thể chi viện bất cứ lúc nào.

Từ khi sang Việt Nam, trên chiến trường khu 5, lính Nam Triều Tiên đã bị quân ta tiến công không những lúc chúng đi càn quét, và cả khi chúng đóng quân trong căn cứ. Tháng 12 năm 1966, trung đoàn bộ binh 1, thuộc sư đoàn 2 quân khu 5, đã tiêu diệt một tiểu đoàn tăng cường lính Nam Triều Tiên trong công sự vững chắc tại đồi Tranh, xã Quảng Thạnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 10-1-1967 một lực lượng của sư đoàn 2 tiêu diệt tiếp một đại đội lính Nam Triều Tiên tại An Điềm bằng chiến thuật phục kích. Bọn chỉ huy thường tuyên truyền xuyên tạc rằng: Nếu Việt Cộng bắt sẽ bị moi gan, mổ bụng, chặt đầu, nên lính Nam Triều Tiên rất ngoan cố, không để bị bắt sống, lại càng không chịu đầu hàng. Nếu bị bắt sống, chúng sẽ tự tử. Đến nay, lịch sử Việt Nam còn ghi đậm nét tội ác của lính Nam Triều Tiên, dưới thời tổng thống Păk Chung Hy đối với nhân dân ta ở tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên và nhiều nơi khác.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 04:15:25 PM

Đêm ngày 9-4 tất cả các lực lượng làm nhiệm vụ chiến đấu tại đèo An Khê của trung đoàn bộ binh 12 đã triển khai xong kế hoạch. Một tình huống bất ngờ xảy ra: đại đội đặc công tiếp cận chốt Cây Rui bị lộ ngay tại lớp hàng rào kẽm gai đầu tiên, không thực hiện được đánh chốt địch bằng “mật tập”.

Cuộc chiến đấu ác liệt trên đường đèo An Khê bắt đầu tại núi Cây Rui, một bộ phận lính Nam Triều Tiên ra khỏi căn cứ, triển khai giữa các lớp hàng rào, làm công sự bằng bao cát, cố thủ. Ngay từ sáng sớm 10-4, những trận mưa bom, bão đạn đã dội xuống xung quanh núi Cây Rui. Điểm cao 638 rung chuyển.

Từ ngày 10-4 trở đi, trên núi Cây Rui có hai đại đội: đại đội 61 của ta và đại đội lính Nam Triều Tiên. Địch trong chốt, có công sự vững chắc, có hàng rào kẽm gai xen kẽ mìn sát thương bộ binh; Các mỏm đồi đối diện, phía Bắc đường 19 có các chốt có thể chi viện trực tiếp cho chúng ở chốt Cây Rui bằng bộ binh và hỏa lực. Các trận địa pháo ở Đồn Phó, Vĩnh Thạnh, An Xuân kết hợp với hỏa lực hai bên đường đèo, tạo thành lưới lửa ken dày xung quanh chốt Cây Rui.

Đại đội 61 của ta trong đêm 9-4, do tình huống đặc công bị lộ, như đã nói ở trên, công sự chưa hoàn chỉnh; ngay từ ngày đầu tiên đã bị tổn thất bởi đạn pháo và máy bay địch oanh tạc.

Lực lượng trực tiếp tiếp xúc với chốt địch đã phải chiến đấu bằng lựu đạn, tiểu liên. Dưới sự chỉ huy của tham mưu trưởng tiểu đoàn Nguyễn Hữu Thông, đại đội trưởng Nguyễn Hữu Tài và chính trị viên Ninh Văn Xá, đại đội 61 đã bẻ gãy nhiều đợt tiến công của quân Nam Triều Tiên, giữ vững trận địa đến ngày thứ 7. Núi Cây Rui - điểm cao 638, nơi đại đội 61 đang chốt giữ, ngày 9- 4 còn là rừng già, cây cối rậm rạp; sau một ngày chiến đấu ác liệt bom, đạn địch cày xới tan hoang, biến quả đồi thành một màu đỏ quạch. Từ đây, chốt Cây Rui đã đi vào lịch sử như một bản anh hùng ca bất diệt, là niềm tự hào của quân và dân tỉnh Bình Định, Quân khu 5 và của trung đoàn bộ binh 12, sư đoàn Sao Vàng. Đã có nhạc sĩ sáng tác bài hát về chốt Cây Rui “Như hình ảnh Ngô Mây đã in vào vách núi... Chiến sỹ Cây Rui vẫn lăn mình trong bão đạn...”.

Địch chưa chiếm lại được chốt Cây Rui của ta thì đường 19 chưa thể thông suốt được. Chốt Cây Rui của ta vẫn hiên ngang đứng đó, như cái gai trước mắt đối với binh lính Nam Triều Tiên. Chúng tập trung mọi cố gắng đánh chiếm.

Các lực lượng “tinh nhuệ” của địch được điều đến thay quân. Chúng căng vải đỏ, ném hỏa mù phân tuyến cho máy bay, pháo binh tiếp tục dội bom, đạn xuống, hết đợt này đến đợt khác. Dứt bom, pháo, bộ binh địch ào ạt xung phong lên chốt của ta. Cuộc chiến đấu càng lúc càng quyết liệt. Địch cố đẩy bật lực lượng của ta ra khỏi chốt; ta quyết bám trụ, đẩy lực lượng của chúng xuống sườn đồi. Hai bên đã diễn ra những trận đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê, bằng súng và tay không.

Có nhiều gương chiến đấu của bộ đội ta vô cùng dũng cảm1. Xung quanh chốt Cây Rui, xác giặc ngổn ngang, song đại đội 61 của ta, quân số cũng vơi đi nhiều...

Các đợt tấn công lên chốt bị thất bại, ngày 23-4 địch đã sử dụng đến vũ khí hoá học. Từ các trận địa pháo, đạn hơi cay của địch đã bao trùm lên trận địa của đại đội 61, bọn Nam Triều Tiên đeo mặt nạ phòng độc lại ào ạt tấn công lên chốt. Tham mưu trưởng Thông, đại đội trưởng Tài lần lượt hy sinh. Phó đại đội trưởng Vũ Xuân Quỳnh lên thay thế. Đến ngày 24-4, đại đội 61 chỉ còn lại quân số bằng một tiểu đội. Vũ Xuân Quỳnh, sau khi đã tiêu diệt được nhiều hỏa điểm của địch đã anh dũng hy sinh. Song, những người còn lại vẫn hiên ngang giữ vững trận địa trong khói lửa mịt mù...

Tại cao điểm 384, ngay từ ngày 10-4, địch đã sử dụng hỏa lực bắn phá dồn dập trong điều kiện đại đội 62 của ta chưa xây dựng được công sự hoàn chỉnh. Sau các đợt bom, pháo, bộ binh địch tấn công lên chốt của ta với cường độ và quy mô ngày càng tăng.

Ngày 18-4, địch đã dùng đến 2 tiểu đoàn, từ phía bắc và phía đông ào ạt tấn công lên cao điểm. Đại đội 62 kiên cường trụ bám, đẩy lui nhiều đợt tấn công của địch. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, tiểu đoàn phó chính trị Đề, đại đội trưởng Đồng Xuân Soạn và 8 chiến sĩ vẫn không rời trận địa, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng trên cao điểm 384...

Ở chốt thứ ba - Cống Hang Dơi: Cống Hang Dơi nằm gần chân đèo An Khê về phía Đông, thuộc phần đất của tỉnh Bình Định. Xung quanh phía Bắc và Nam có các chốt của địch như Chóp Vung, điểm cao 231, Hòn Kiềng Nam đường 19, các cao điểm thuộc sườn phía Nam dãy núi Ông Bình, khống chế. Phía Đông là ấp Vườn Xoài, và cao điểm 105. Cống Hang Dơi lọt thỏm vào giữa, nằm trong tầm bắn có hiệu quả của các loại hỏa lực của địch. Đại đội 63 đã thiết lập điểm chốt ngay tại Cống Hang Dơi. Đêm 9, rạng sáng 10-4 lực lượng công binh đã đánh sập một phần Cống Hang Dơi. Cũng như cụm chốt Cây Rui và cao điểm 384, sáng 10-4 địch đã tiến hành phản kích, giải tỏa, nhằm khôi phục lại cống đã bị ta đánh sập và đang chốt giữ.

Phối hợp với đại đội 61 ở chốt Cây Rui, đại đội 62 ở cao điểm 384, đại đội 63 và đại đội công binh ở Cống Hang Dơi, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Nguyễn Việt Trì, chính trị viên Hoàng Sinh Tùng, trung đội trưởng Nhâm Xuân Tải và Nguyễn Đình Tấn... đã đánh lui nhiều đợt phản kích giải tỏa của bộ binh và xe tăng địch từ hướng Đông tấn công lên. Ngay trong ngày đầu tiên bộ đội ta đã diệt hàng trăm tên địch, bắn cháy 4 xe tăng, xe thiết giáp và một máy bay lên thẳng.
_______________________________________
1. Sư đoàn Sao Vàng - Nxb. Quân Đội Nhân Dân - Hà Nội 1984.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 04:16:14 PM

Sau những trận đầu tiên, thua đau, địch như con thiêu thân, tung hết tiểu đoàn này đến tiểu đoàn khác; có máy bay, pháo binh và xe tăng yểm trợ đã mở nhiều đợt tấn công vào cống Hang Dơi. Từ ngày 10 đến 17-4 cuộc chiến đấu tại cống Hang Dơi đã diễn ra vô cùng ác liệt, địch tập trung lực lượng tấn công dồn dập vào cống Hang Dơi. Giữa bốn bề khói lửa mịt mù, chốt Hang Dơi vẫn giữ vững. Từ cán bộ đến chiến sĩ, từ lực lượng chiến đấu đến lực lượng phục vụ đều tiêu diệt được địch, lập công xuất sắc; kiên cường giữ chốt. Chiến sĩ liên lạc Nguyễn Phương Nam với 2 loạt đạn tiểu liên diệt 2 tên lính Nam Triều Tiên ngay trước cửa cống 3 mét; Tiểu đội trưởng Hà Sỹ Hạ, một xạ thủ súng B41, trong nhiều trận đánh phục kích giao thông trước đây, vì trình độ “thiện xạ”, được giao nhiệm vụ “chuyên trách”, đánh chặn đầu, đã bắn cháy nhiều xe vận tải quân sự của địch. Dù mục tiêu ở cự ly xa 500 - 1.000 mét Hạ đều bắn trúng. Lần này, tại cống Hang Dơi, Hạ đã bắn liên tiếp 9 quả đạn B41 diệt nhiều hỏa điểm và xe tăng, xe thiết giáp của địch; Chiến sĩ thông tin Nguyễn Kiên Cường, ngoài nhiệm vụ bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, Cường đã cùng đồng đội đẩy lui nhiều đợt tấn công của địch và bắt sống được một tù binh Đại Hàn khi chúng đột nhập vào cống Hang Dơi. Tổ chiến đấu của trung đội trưởng Nhâm Xuân Tải bắn cháy 3 xe thiết giáp, bẻ gẫy hoàn toàn một mũi tấn công của địch... và còn rất nhiều, rất nhiều gương chiến đấu dũng cảm, từ đại đội trưởng Nguyễn Việt Trì, chính trị viên Hoàng Sinh Tùng đến các chiến sĩ; lợi dụng ưu thế về địa hình có lực lượng tiêu diệt địch trước công sự, có lực lượng cơ động đánh tạt sườn... làm cho đội hình địch bị rối loạn. Kể cả những trận đánh giáp lá cà, địch vẫn bị áp đảo bởi tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời của cán bộ chiến sĩ ta.

Cuộc chiến đấu vô cùng quyết liệt, xác giặc chết ngổn ngang dọc đường đèo. Lực lượng chi viện cho chúng cũng đang bị ta kìm giữ ở khắp nới. Các trận địa pháo bị ta chế áp. Tin vui chiến thắng của quân ta từ mặt trận Tây Nguyên, mặt trận Quảng Trị, Đông Nam Bộ và nhiều nơi khác bay về càng động viên khích lệ bộ đội, nâng cao khí thế quyết tâm diệt giặc lập công, đánh bại mọi cuộc phản kích giải tỏa của địch, giữ vững trận địa. Đặc biệt, tin sư đoàn hoạt động ở Bắc tỉnh Bình Định tiêu diệt gọn chiến đoàn đặc nhiệm số 40 ở Hòn Bồ, (19-4) giải phóng hoàn toàn huyện Hoài Ân làm nức lòng cán bộ, chiến sỹ trung đoàn 12.

Huyện ủy Gia Lai, huyện ủy Bình Khê, tỉnh Bình Định, huy động mọi lực lượng, phục vụ trung đoàn 12 chiến đấu. Bất chấp bom, pháo và bộ binh địch phản kích, cản đường, từng đoàn dân công, các đội xung kích phục vụ hoả tuyến,... mang lương thực, thực phẩm đến tận trung đoàn. Những gùi sắn, chuối, rau...của đồng bào các dân tộc tỉnh Gia Lai, cũng được gửi đến cho chiến sĩ. Đó là sự cổ vũ, nguồn động viên to lớn của nhân dân đối với cả trung đoàn 12.

Đêm 20-4-1972, mười ngày sau khi mở chiến dịch, trung đoàn 12 nhận được điện của khu ủy và quân khu ủy khu 5 gửi xuống: “Nhiệt liệt khen ngợi cán bộ, chiến sỹ trung đoàn 12, đã chiến đấu rất dũng cảm. Địch ở Tây Nguyên đang khốn đốn. Chúng sẽ còn cố sức giải toả đường số 19. Cuộc chiến đấu sẽ quyết liệt dữ dội hơn. Các đồng chí hãy nêu cao quyết tâm, công sự phải vững chắc hơn, đánh địch phải linh hoạt hơn, để làm chủ mặt đường triệt để hơn...”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ quốc phòng, trực tiếp điện thẳng cho trung đoàn bộ binh 12, khen ngợi: “Các đồng chí đã đứng vững như bàn thạch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giai đoạn đầu cắt đường số 19, phối hợp với chiến trường chung...”.

Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nguyên tư lệnh mặt trận B3 lúc đó cũng gửi điện: “Cảm ơn chiến sỹ trung đoàn bộ binh 12 đã anh dũng cắt đường số 19, phối hợp với chiến trường chung...”.

Đối với binh lính Nam Triều Tiên, từ khi sang chiến trường Việt Nam “đánh thuê”, đây là lần đầu tiên, lực lượng của Sư đoàn “Mãnh Hổ” - Đại Hàn đóng chốt nơi đây đã bị tổn thất nặng nề. Lực lượng còn lại ở trên các chốt không dám bung ra khỏi công sự, vũ khí, đạn dược, lương thực bị tiêu hao, không được tiếp tế, bổ sung. Lính chết không lấy được xác, lính bị thương không chuyển đi được. Đường bộ bị cắt, đường không bị khống chế. Tình cảnh vô cùng bi đát đối với binh lính Nam Triều Tiên. Ở chính quốc, Tổng thống Pắc Chung Hy bị chỉ trích gay gắt, nhân dân Hàn Quốc phản đối quyết liệt. Bọn địch ở Tây Nguyên rất khốn đốn, vì không được tiếp tế. Tại đèo An Khê, địch tập trung mọi cố gắng giải tỏa; ta kiên quyết cắt đứt tiếp tế của địch. Vì vậy cuộc chiến đấu ngày càng ác liệt.

Tại cống Hang Dơi, và chân đèo, thuộc phần đất tỉnh Bình Định nơi có một bộ phận đại đội 63 chốt giữ, một toán lính Đại Hàn 5 - 6 tên, trong đó có một tên mang máy ảnh, từ dưới chân đèo đột nhập vào cống này. Khi chúng vừa vào bên trong, lực lượng ta tiêu diệt được mấy tên và bắt sống 2 tên. Anh em đưa chúng vào trong cống để đưa về tuyến sau, trước mắt khai thác chúng để phục vụ cho chiến đấu ở đây, sau đó mới bàn giao cho sư đoàn. Nhưng một tên cương quyết không chịu đi. Anh em trói, cho lên cáng khiêng, nó lăn xuống đất đập đầu tự tử. Tên còn lại đưa được về phía sau. Cơ quan địch vận đem máy ghi âm và cho phiên dịch tiếng Hàn Quốc xuống, giải thích chính sách của mặt trận, vận động nó kêu gọi lính đầu hàng, phản chiến. Tiểu đoàn đã cho ghi âm, phát trên loa phóng thanh, trên các chốt dọc đường 19. Tên tù binh này, sau đó được ta phóng thích.

Trung đoàn nhận định, thế nào địch cũng tập trung mọi khả năng, giải toả bằng được đường số 19. Trước hết chúng sẽ đánh chiếm Cây Rui, uy hiếp cống Hang Dơi đang bị đại đội 63 chiếm giữ.

Trung đoàn trưởng trung đoàn 12 quyết định, rút bớt một số chốt phụ để tăng cường lực lượng bảo vệ Cây Rui. “Còn Cây Rui thì cống Hang Dơi còn đứng được, còn cắt được đường”. Trận địa hỏa lực di chuyển vào gần Cây Rui để chi viện có hiệu quả hơn cho lực lượng giữ chốt.

Từ ngày 23 đến tối ngày 24-4, tài núi Cây Rui đã diễn ra những trận chiến đấu vô cùng ác liệt giữa lực lượng còn lại của đại đội bộ binh 61 với lính Đại Hàn.

Trước tinh thần chiến đấu kiên cường, dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ đại đội 61, trận địa ta vẫn đứng vững. Song, đại đội bộ binh 61, chiều 24-4 chỉ còn lại 5 đồng chí, dưới sự chỉ huy của chính trị viên đại đội Ninh Văn Xá; cũng là lúc lực lượng cơ động của tiểu đoàn lên tiếp sức. Tại cống Hang Dơi, đại đội 63 và công binh, sau những đợt phản kích ác liệt của địch, đại đội trưởng Nguyễn Việt Trì, chính trị viên Hoàng Sinh Tùng lần lượt bị hy sinh; Trung đội trưởng Nhâm Xuân Tải lên thay thế... Trung đội trưởng hy sinh, chiến sĩ lên thay thế… và cuộc chiến đấu tại chốt Hang Dơi vẫn tiếp tục.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 04:18:30 PM

Đêm hôm ấy, sau 14 ngày chiến đấu ác liệt, đường 19 hoàn toàn bị cắt đứt tại đèo An Khê, trung đoàn bộ binh 12 được lệnh chấm dứt đợt 1, chuẩn bị cho đợt 2, với cách đánh sở trường của mình “phục kích vận động”, tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của địch trên đường 19, tiếp tục biến đoạn đường này thành lò thiêu cháy mọi cơ sở vật chất hậu cần tiếp tế lên Tây Nguyên của chúng. Ngày 25-6 tại phía Tây đèo An Khê dưới sự chỉ huy của trung đoàn trưởng Nguyễn Duy Thương và chính ủy Lê Huẩn đã diễn ra trận đánh phục kích vận động phá hủy đoàn xe vận tải 35 chiếc, có 10 xe tăng, xe bọc thép, diệt và bắt 318 tên, bắn rơi 3 máy bay, ghi thêm chiến công mới trong lịch sử truyền thống của trung đoàn bộ binh 121.

Trong trận này, tiểu đoàn 6 là lực lượng chủ công, cùng với các trận địa hỏa lực của trung đoàn, bố trí phía nam đường 19, từ suối Vối đến chân núi Cây Rui (phía đông thị trấn An Khê). Tiểu đoàn 5 là lực lượng đối diện, bố trí phía bắc đường 19.

Trong một trận phục kích vận động khác cũng trên đường số 19, trung đoàn bộ binh 12 đã tiêu diệt và phá hủy 54 xe quân sự của địch vận chuyển tiếp tế lên Tây Nguyên, trên đoạn đường từ xã Bình Nghi lên Đồn Phó2.

Cuộc chiến đấu diễn ra trong suốt thời gian 18 ngày đêm trên đường 19, đèo An Khê của trung đoàn bộ binh 12, sư đoàn Sao Vàng thật oanh liệt. Trung đoàn bộ binh 12, thiếu tiểu đoàn 4 đã phải chiến đấu với sư đoàn “Mãnh Hổ” thiện chiến, trang bị đầy đủ, trực tiếp là trung đoàn 24 và nhiều tiểu đoàn bảo an, có máy bay, pháo binh và xe tăng yểm trợ. Cán bộ chiến sĩ trung đoàn 12 đã thể hiện ý chí sắt đá, lòng dũng cảm vô song, khí phách anh hùng, người trước ngã xuống, người sau tiến lên, chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, quyết không rời trận địa.

Thắng lợi của trung đoàn bộ binh 12 trên đường 19, trong chiến dịch Xuân 1972, một lúc đã hoàn thành được hai nhiệm vụ: Cắt đứt hoàn toàn sự tiếp tế của địch từ vùng đồng bằng lên Tây Nguyên, trong một thời gian khá dài; làm cho lực lượng của chúng trên chiến trường cao nguyên vô cùng khốn đốn; đồng thời ta đã kìm chân sư đoàn “Mãnh Hổ” và một bộ phận quân đội Sài Gòn tại đây tạo điều kiện cho sư đoàn 3 giành thắng lợi lớn ở chiến trường bắc Bình Định, giải phóng nhiều vùng quan trọng. Sư đoàn “Mãnh Hổ” bị thiệt hại nặng trên đường 19, đã phải nằm tại chỗ, “án binh, bất động” cho đến ngày cuốn cờ về nước.

Trước khi triệt thoái khỏi chiến trường Việt Nam, tại đỉnh đèo An khê, chúng đã dựng bia để gọi là tưởng niệm những tên lính đã chết tại đây. Trên tấm bia mang dòng chữ “Nơi đây quân đội Nam Hàn đã đánh những trận đẫm máu với trung đoàn 12 Bắc Việt để bảo vệ lãnh thổ chính thể Việt Nam Cộng hòa”.

Gần đây đầu năm 2004, trước khi qua đời, thiếu tướng Lê Huẩn, nguyên chính ủy trung đoàn 12, trong những năm 1971-1972, kể lại rằng: Có một đoàn làm phim viết sử của Hàn Quốc sang Việt Nam tìm hiểu những trận đánh trên đường 19 đầu năm 1972, họ cũng gọi là “các trận đánh ở Cây Rui” và nói rằng: Trong lịch sử quân đội Hàn Quốc có ghi “Đây là trận đánh đẫm máu nhất của lính Nam Hàn ở Việt Nam, trung đoàn 24 của sư đoàn Mãnh Hổ có 1150 binh sĩ chết, bị thương, bị bắt...”. Tấm bia do quân đội Đại Hàn dựng lên ở đỉnh đèo An Khê, sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, đã bị ai đó đập phá. Tuy nhiên, sự tích anh hùng của trung đoàn 12, đánh cắt giao thông trên đường 19 trong chiến dịch xuân năm 1972 đã đi vào lịch sử và mãi mãi là niềm tự hào của cán bộ, chiến sĩ sư đoàn 3 Sao Vàng, của quân dân tỉnh Bình Định và Quân khu 5.

Trong những ngày cả nước ta tổ chức kỷ niệm lần thứ 30, ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, một tổ làm phim của đài truyền hình KBS Hàn Quốc, được sở ngoại vụ TP.HCM giới thiệu đến gặp tôi và một số đồng chí đã trải qua những năm chiến đấu với binh lính Hàn Quốc tại đường số 19 - Quân khu 5, xin được cung cấp một số tình hình về sư đoàn “Mãnh Hổ”. Họ cho biết thời tổng thống Pắc Chung Hy đã lừa dối nhân dân Hàn Quốc, bưng bít sự thật về quân đội của họ tham chiến ở Việt Nam. Họ phải đi tìm sự thật. Song, dù có nói lên điều gì đi chăng nữa, họ cũng không thể hiểu một cách đầy đủ về sự thất bại thảm hại của sư đoàn mang tên “Mãnh Hổ”, một trong những đơn vị được cho là thiện chiến nhất của đội quân đồng minh với Mỹ trên chiến trường Việt Nam. Tuy nhiên, tôi cũng đã nói với họ rằng: “Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên những đau thương, mất mát do quân đội các nước gây ra cho đất nước này. Cảm ơn nhân dân Hàn Quốc - những người yêu chuộng hoà bình, đã đấu tranh phản đối nhà cầm quyền dưới thời Pak Chung Hy làm tổng thống, đã đem quân sang chiến trường Việt Nam, tiếp tay cho Mỹ. Ngày nay, Hàn Quốc là một trong những quốc gia đầu tư vào Việt Nam lớn nhất. Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đang trên đà phát triển tích cực. Mong rằng lịch sử quân đội Hàn Quốc không lập lại ở Việt Nam một lần nữa!...”.

Đối với thế hệ chúng ta, thiết nghĩ, nên xây dựng tại đỉnh đèo An Khê một công trình lịch sử - văn hóa, chí ít cũng là một tượng đài liệt sĩ, ghi danh những cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đã chiến đấu, hy sinh tại đây, để các thế hệ mai sau được biết đến những chiến công oanh liệt, góp phần giải phóng Tây Nguyên dẫn đến chiến dịch Hồ Chí Minh, mùa xuân năm 1975.
__________________________________________
1, 2. Sư đoàn Sao Vàng - Nxb. QĐND - Hà Nội 1984.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:00:02 PM

SAU HIỆP ĐỊNH PARIS

Cuối năm 1972, chính quyền Sài Gòn liên tục xua quân nống ra đánh phá vùng giải phóng của ta. Trên địa bàn tỉnh Bình Định, lực lượng chủ lực quân đội Sài Gòn có sư đoàn 22 bộ binh và hai liên đoàn biệt động số 4 và số 6. Nhưng lực lượng địa phương quân khá đông. Trước khi hiệp định Paris được ký kết, địch tung lực lượng ra vùng giải phóng của ta, tranh thủ chiếm đất, giành dân. Nống ra đến đâu, chúng cắm cờ và xây dựng đồn bót đến đó. Do thất bại nặng nề trên khắp các chiến trường miền Nam, và sau thắng lợi của quân và dân ta ở miền Bắc trong “chiến dịch Điện Biên Phủ trên không” 12 ngày đêm ở Hà Nội, Hải Phòng, buộc đế quốc Mỹ phải quay lại ngồi vào bàn hội nghị và ký kết hiệp định Paris với ta vào ngày 27 tháng 1 năm 1973. Hội nghị Paris kéo dài gần 5 năm với trên 350 cuộc họp công khai và bí mật, Đảng ta đã rất khéo kết hợp đường lối quân sự với chính sách ngoại giao, buộc đế quốc Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Chiến lược chiến tranh cục bộ của chúng bị thất bại hoàn toàn. Đây là thắng lợi có ý nghĩa cực kỳ quan trọng của quân và dân ta, mở ra thời cơ chiến lược mới, có lợi cho cuộc cách mạng giải phóng miền Nam.

Lúc bấy giờ nhiều người nghĩ rằng: Sau khi hiệp định Paris được ký kết, Việt Nam sẽ có hòa bình, sẽ không còn những cuộc hành quân càn quét bằng bộ binh, xe tăng của địch như trước, sẽ không phải nằm ngủ dưới hầm vì máy bay, pháo binh của chúng. Thế nhưng, trước và sau hiệp định Paris, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu càng ngoan cố hơn, chúng mở những đợt hành quân quy mô trên cả ba vùng chiến lược, hòng thu hẹp vùng giải phóng của ta. Lúc đầu quy mô nhỏ, sau đó quy mô lớn diễn ra không gian rộng, kéo dài rất ác liệt.

Trước tình hình đó trên địa bàn 2 tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, sư đoàn bộ binh 2 cùng vời sư đoàn bộ binh 3 (chủ yếu trung đoàn 12), Quân khu 5, nhanh chóng đánh chiếm một số mục tiêu trên khu vực tiếp giáp giữa 2 tỉnh: Phía bắc Bình Định từ khu vực Chương Hòa đến Tam Quan; thuộc huyện Hoài Nhơn, phía nam tỉnh Quảng Ngãi, từ xã Phổ Khánh (huyện Đức Phổ) đến đèo Bình Đê phía nam Sa Huỳnh, tạo nên thế liên hoàn giữa hai tỉnh hàng chục km, có cảng biển Sa Huỳnh và Trường Xuân. Đồng thời kiên quyết bảo vệ vùng giải phóng, và những địa bàn có tính chiến lược của giai đoạn sau hiệp định Paris đối với chiến trường khu 5: đó là Hiệp Đức (Quảng Nam), Ba Tơ (Quảng Ngãi), Hoài Ân (Bình Định).

Tình hình tư tưởng lúc bấy giờ diễn biến theo hai chiều hướng. Thứ nhất, tỏ ra rất lạc quan. Vấn đề này có lý do của nó. Khi thời gian hiệp định có hiệu lực, trên chiến trường nói chung hầu như im tiếng súng. Chúng ta có quyền tận hưởng những ngày tháng thanh bình đầu tiên sau bao nhiêu năm chiến tranh gian khổ, ác liệt.

Tại các ranh giới giữa hai bên, đã ấn định những địa điểm và thời gian để đại diện hai phía gặp nhau. Nhân dân được đi lại giữa hai vùng. Đây là một thời điểm vô cùng quý giá để chúng ta có điều kiện hoàn thiện thêm về nhiều mặt, phòng ngừa phía bên kia tráo trở, phá bỏ Hiệp định.

Những người đã trải qua các giai đoạn lịch sử của đất nước, ắt hẳn đã quá hiểu bản chất của kẻ thù. Không một ai có ảo tưởng chút nào về hòa bình sau khi Hiệp định Paris ký kết.

Song, những gì đã đem lại cho chúng ta cái không khí yên bình là một thực tế hiển nhiên mà chúng ta đang tận hưởng trên chiến trường vừa mới im tiếng súng. Trong lòng người lính luôn cảm thấy lâng lâng, tựa như không khí của những ngày sau hòa bình được lập lại trên miền Bắc vào năm 1954.

Bộ đội đã bắt đầu chuyển xuống vùng đồng bằng, đóng quân trong nhà dân, xây dựng nơi ăn, ở, nơi hội họp, giao ban, bắt đầu duy trì nề nếp sinh hoạt chính quy huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Trong các vùng dân cư đông đúc, chợ búa, trường học đã mở trở lại. Tuy thời gian ngắn ngủi, nhưng rõ ràng là cuộc sống về vật chất cũng như tinh thần của quân và dân các nơi này được cải thiện đáng kể.

Cuộc sống nhộn nhịp ở các vùng giải phóng của ta đã có tác động nhất định đối với binh lính ngụy quyền Sài Gòn. Thời gian này chúng ta lại đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tiến công đối phương bằng công tác binh vận. Đây là một mũi tiến công sắc bén vào tinh thầu chiến đấu của lực lượng phía bên kia.

Chiều hướng thứ hai, chủ yếu là các lực lượng trực tiếp tiếp xúc với địch. Tuy rằng so với những năm trước đây, cuộc chiến đấu có “nhẹ” bớt, song không khí chiến tranh vẫn bao trùm lên trên hết. Cái yên tĩnh ở đây giống như ở vùng mắt bão, giống như khoảng lặng giữa hai đợt chiến đấu, làm cho mỗi bên cảnh giác hơn, sẵn sàng chiến đấu cao hơn.

Tại tỉnh Bình Định, địa bàn do sư đoàn bộ binh số 3, Quân khu 5 đảm nhiệm, luôn sôi động. Bọn lính bảo an, dân vệ, biệt động và cả lính Cộng hòa nống ra vùng giáp ranh xung quanh Du Tự, núi Chéo, cầu Giáo Ba, quận lỵ Hoài Ân. Ở huyện Hoài Nhơn chúng nống lên các xã Hoài Châu, Hoài Hảo, Hoài Sơn dãy cao điểm 209, khu vực tiếp giáp với tỉnh Quảng Ngãi. Tại huyện Phù Mỹ chúng nống ra các xã Mỹ Hiệp, Mỹ Trinh, Mỹ Lộc... Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, địch cũng nống ra hầu hết vùng giáp ranh thuộc các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ... và nhiều nơi khác.

Đánh địch nống lấn là một giai đoạn không kém phần quyết liệt. Giữa ta và địch đã có phân tuyến. Mỗi bên đều có những nỗ lực, cố gắng giữ đất, giành dân, mở rộng vùng kiểm soát.

Khác với những năm 1966 - 1967, khi quân Mỹ đổ quân ào ạt vào miền Nam, điều kiện chưa cho phép chúng ta chiến đấu để giữ đất, giành dân. Từ năm 1972, nhất là từ sau ngày hiệp định Paris được ký kết, quân ta có đủ khả năng đánh bại những cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng. Lực lượng ta phát triển rộng khắp. Với thế bố trí chiến lược mới trên toàn miền, cho phép lực lượng vũ trang ta ở đâu đánh đó. Bộ đội chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân du kích tiến công địch khắp nơi. Địch căng ra lo đối phó trên phạm vi toàn miền, chúng vấp phải khó khăn muôn thuở là tập trung được chỗ này thì hở chỗ khác, tập trung trên tuyến tiếp xúc với ta thì các vùng ven, nông thôn và vùng rừng núi bị bỏ trống. Vì vậy ở những nơi ta có sơ hở, mất cảnh giác, chúng cho quân nống lấn sâu vào vùng kiểm soát của ta; những nơi ta đề phòng, triển khai lực lượng sẵn sàng chiến đấu thì địch dùng chiêu bài hòa hợp và gặp nhau theo định kỳ giữa hai bên. Đây là một thủ đoạn vô cùng nham hiểm của địch, nhằm “tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu” của ta.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:00:39 PM

Tại tỉnh Bình Định, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt nhất giữa ta và địch là xung quanh núi Du Tự, huyện Hoài Ân và dọc trục đường số 2 huyện Hoài Nhơn. Hai nơi này có một vị trí hết sức quan trọng đối với hệ thống phòng thủ cơ bản của địch trên quốc lộ số 1. Mất Du Tự là mất quận Hoài Ân, làm cho hệ thống phòng thủ của địch từ đèo Phú Cũ trở vào sẽ bị rúng động. Mất trục đường số 2 sẽ mất khu thị tứ Tam Quan, cảng Sa Huỳnh và thị trấn Bồng Sơn sẽ bị uy hiếp. Trên địa bàn các nơi khác cũng tương tự như phía tây các huyện Đức Phổ, Mộ Đức, Bình Sơn, Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) hoặc Tam Kỳ, Duy Xuyên, Thăng Bình, và huyện Hoà Vang sát thành phố Đà Nẵng.

Trên chiến trường Khu 5, đồn bót địch mọc lên như nấm sau cơn mưa. Cách mạng miền Nam đã sang trang mới. Chúng ta đã buộc được đế quốc Mỹ ký kết Hiệp định Paris, thực hiện được quyết tâm “đánh cho Mỹ cút khỏi Việt Nam”, làm thất bại hoàn toàn chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ và tay sai. Những sư đoàn hùng mạnh nhất của Mỹ và các nước đồng minh phải cuốn cờ về nước. Tại chiến trường Liên Khu 5, sư đoàn kỵ binh bay (không vận) số 1, hai sư đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ số 1 và 3, sư đoàn American, sư đoàn số 4 và 25 đánh vùng núi, hai Lữ đoàn dù Mỹ, sư đoàn Mãnh Hổ, Rồng Xanh, Bạch Mã Nam Triều Tiên và nhiều đơn vị thiện chiến khác của Mỹ và đồng minh lần lượt rút khỏi nước ta. Đây là thắng lợi vĩ đại của cả dân tộc, của đường lối chiến lược quân sự Việt Nam, là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương và là thắng lợi của phe Xã hội Chủ nghĩa và của loài người tiến bộ.

Như vậy là tình hình trên chiến trường sau khi Hiệp định Paris được ký kết, đã tạo ra hai vùng một cách rõ rệt, có ranh giới rõ rệt. Tuy nhiên, cái ranh giới đó có chỗ “lồi”, có nơi “lõm” do kết quả tạo nên của mỗi bên trước ngày Hiệp định Paris có hiệu lực. Nhưng nhìn chưng, trên chiến trường vùng đồng bằng khu 5, quân ta đã áp sát đường quốc lộ số 1, uy hiếp các mục tiêu then chốt của địch, như sân bay, thị trấn, thị xã, và các căn cứ quân sự. Theo quy luật của chiến tranh, đến một lúc nào đó, địch buộc phải tập trung, co cụm để bảo vệ các thị xã, thị trấn; tạo cho ta thời cơ để tiến hành những trận đánh tập trung tiêu diệt lớn sinh lực địch trong căn cứ hoặc khi ra phản kích giải tỏa, phá vỡ hệ thống phòng thủ cơ bản của chúng, làm thay đổi cục diện trên chiến trường có lợi cho ta.

Trước tình hình diễn biến có lợi và mau lẹ trên chiến trường, bước sang năm 1973, ta mở đợt hoạt động đánh địch nống lấn, trước và sau hiệp định Paris, nhằm mở rộng, củng cố và giữ vững vùng giải phóng, tiến tới thực hiện quyết tâm cuối cùng “đánh cho ngụy nhào” giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Thời cơ chiến lược vô cùng quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của quân và dân ta đã đến.

Vì vậy, đầu năm 1973 sư đoàn 3 được tăng cường trung đoàn bộ binh số 141, và cũng từ đây về sau, trung đoàn bộ binh 141 thuộc biên chế chính thức của sư đoàn. Trước mắt, sư đoàn nhanh chóng đánh chiếm các điểm cao xung quanh quận lỵ Hoài Ân, điểm cao 174 phía Nam sông Lại Giang, đồng thời áp sát sân bay Thiết Đính, thị trấn Bồng Sơn, bao vây, cô lập quận lỵ Hoài Ân, buộc quân chủ lực Sài Gòn bung ra phản kích để ta có điều kiện tiêu diệt lớn sinh lực của chúng. Đây là một chủ trương rất sáng suốt và kịp thời của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5.

Trung đoàn bộ binh số 12 từ phía nam tỉnh Bình Định, đường số 19 cũng cơ động về huyện Hoài Nhơn. Tiểu đoàn 6 chúng tôi cũng được lệnh cơ động từ phía nam đường 19 về huyện Hoài Ân. Chỉ có trung đoàn bộ binh số 2, chủ công của sư đoàn, đang giấu mình ở huyện Hoài Ân sẵn sàng ra tay, đánh những trận quyết định, tiêu diệt lớn quân địch.

Một vấn đề đặt ra được nghiên cứu, bàn luận ở sư đoàn Bộ binh 3 và cơ quan Quân khu là: Binh lính Mỹ rút khỏi miền Nam, trên chiến trường chỉ còn lính Sài Gòn. Đó là thời cơ chiến lược cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, đánh đổ chính quyền tay sai. Nhưng thời cơ để ta giải phóng từng vùng, từng tỉnh và thành phố phải trên cơ sở tiêu diệt lớn sinh lực, làm tan rã về tổ chức của những đội quân chủ lực của chúng. Về tương quan lực lượng trên chiến trường, liệu áp lực của quân ta có đủ sức để buộc quân chủ lực địch ra phản kích, tạo thời cơ cho ta tiêu diệt lớn sinh lực chúng? Đây là vấn đề thuộc về nghệ thuật chiến dịch, buộc địch phải hành động theo ý định của ta, trong điều kiện ta đã đủ mạnh.

Tại quận lỵ Hoài Ân, trung đoàn bộ binh 141, do đồng chí Cảo, trung đoàn trưởng chỉ huy, là trung đoàn mới chuyển về từ stư đoàn bộ binh số 2, quân khu 5, và tiểu đoàn 6 trung đoàn bộ binh 12, tiến hành đánh chiếm cao điểm 305 phía đông nam Du Tự, và một loạt các cao điểm khác. Ở phía đông ta đánh chiếm cao điểm 174 chia cắt chúng ở cầu Vợi, trên đường quốc lộ số 1. Quận lỵ Hoài Ân nằm dưới tầm hỏa pháo của quân ta, bị cô lập hoàn toàn. Muốn tồn tại, địch phải tiến hành phản kích. Hoặc là bỏ huyện lỵ Hoài Ân. Điều này đồng nghĩa với việc sư đoàn số 3 của ta sẽ tràn qua đường quốc lộ số 1 chia cắt Phù Mỹ, Phù Cát, Hoài Nhơn. Và như vậy, hệ thống phòng thủ của địch tại tỉnh Bình Định sẽ nhanh chóng bị phá vỡ.

Trực tiếp chi viện cho quận lỵ Hoài Ân là căn cứ Gò Loi, một căn cứ vững chắc nhất tại đây đã bị quân ta chia cắt, vây ép. Bắt buộc sư đoàn 22 chủ lực Sài Gòn phải ra phản kích để cứu vãn tình thế. Tình hình trên các chiến trường tại các tỉnh thuộc Khu 5 cũng ở trong trạng thái như vậy.

Tháng 3-1973, trước yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, theo đề nghị của sư đoàn 3, Quân khu 5 quyết định bổ nhiệm tôi làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 6 thuộc trung đoàn bộ binh 12, chính trị viên là đồng chí Trần Sỹ Mỹ. Anh Trần Hữu Biền, chính trị viên tiểu đoàn lên cơ quan chính trị trung đoàn 12, anh Lê Hoài, tiểu đoàn trưởng đi nhận công tác khác.

Hơn một năm trước đây, tôi chia tay với anh em tiểu đoàn ở phía Nam đường số 19 trong tình hình chiến dịch mùa xuân năm 1972 vừa mở màn với hy vọng sẽ có ngày được gặp lại. Sau hơn một năm học tập ở trường Quân chính Quân khu 5, tôi đã tiếp thu được nhiều kiến thức cần thiết và bổ ích. Hôm được quay về với đội ngũ để tiếp tục chiến đấu, tôi cảm thấy ước mơ của mình đã được toại nguyện, nên rất phấn khởi.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:01:22 PM

Về với trung đoàn bộ binh 12, được gặp lại những đồng chí, đồng đội thân thương, những chiến sĩ gái trai của quê hương Bình Định rất đỗi thân quen đã cùng nhau chia ngọt, xẻ bùi trên chiến trường đường số 19, lòng tôi vô cùng xúc động. Tôi nhớ tới các đồng chí nữ như: Trương Thị Sen, Trần Thị Hướng, Mai Thị Trọng, Huỳnh Thị Tâm, Nguyễn Thị Hảo và biết bao nữ đồng chí khác đã hy sinh cả tuổi xuân của mình, theo sát trung đoàn trên khắp chiến trường. Tình cảm đồng chí, anh em trong cuộc đấu tranh này đã để lại trong tôi những dấu ấn khó quên, những tình cảm mến yêu, trân trọng. Gặp nhau, tôi nghĩ thầm: “Không biết ngày mai, khi chiến tranh kết thúc, cuộc đời họ sẽ thế nào? Liệu họ có thể sống được cho đến cái ngày cuối cùng của chiến tranh?”.

Tôi về đến huyện Hoài Ân cũng là lúc tiểu đoàn 6 vừa cơ động từ phía nam đường số 19 sang. Tôi cùng với Ban chỉ huy tiểu đoàn bắt tay vào công tác triển khai nhiệm vụ. Tình hình xung quanh huyện lỵ Hoài Ân lúc này rất sôi động, tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ xây dựng cụm điểm tựa trên dãy cao điểm 305, đông nam quận lỵ Hoài Ân.

Các đơn vị xây dựng công sự trận địa vững chắc và đưa các loại hỏa lực lên điểm cao. Địch đóng ở đồi Du Tự nằm dưới tầm hỏa lực của ta. Dưới sự chi viện tối đa của máy bay, pháo binh, địch đã tiến hành phản kích quyết liệt, quyết đẩy lực lượng của ta khỏi những cao điểm bao quanh chi khu quận lỵ Hoài Ân. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Trên các ngọn đồi xung quanh quận lỵ Hoài Ân không còn một gốc cây, ngọn cỏ. Toàn bộ được phủ lên một lớp đất bột lội đến mắt cá chân. Bom, pháo dội xuống liên tục. Giữa các đợt bắn phá, bộ binh địch lại nối nhau lên phản kích. Ta với địch giành giật nhau từng mỏm đồi.

Qua kinh nghiệm của những năm trực tiếp chiến đấu với lính bộ binh Mỹ, tại đây bộ đội ta đã áp dụng chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt”. Trên các điểm cao, lực lượng chốt của ta được bố trí rất ít nhưng tinh. Dựa vào công sự vững chắc, tiêu diệt địch trước trận địa; kết hợp với lực lượng cơ động đẩy lùi nhiều đợt phản kích của địch.

Trung đoàn bộ binh 141 được tăng cường tiểu đoàn 6 làm nhiệm vụ chốt giữ trên các điểm cao. Trung đoàn bộ binh 2 là lực lượng cơ động đánh những trận tiêu diệt cả chiến đoàn địch ra phản kích. Nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật của sư đoàn 3 đã thành công tại huyện Hoài Ân. Đó là bằng mọi cách điều được quân chủ lực Sài Gòn thoát ra khỏi căn cứ đi vào những trận địa đã được ta chuẩn bị sẵn để tiêu diệt lớn sinh lực của chúng. Quận Hoài Ân là nơi được ta giải phóng hoàn toàn và đầu tiên của tỉnh Bình Định. Sư đoàn Bộ binh 3 thọc thẳng xuống đường số 1. Có đơn vị xuống đến xã Mỹ Thọ, Mỹ Thắng huyện Phù Mỹ, sát với biển.

Tại huyện Hoài Nhơn, một huyện đồng bằng thuộc tỉnh Bình Định, nơi nổi tiếng về những rừng dừa bát ngát, những cánh đồng lúa tốt phì nhiêu. Tuy bị địch kìm kẹp trong những năm chiến tranh, nhưng lại là nơi có phong trào du kích lên mạnh, có những “kho” lương thực cung cấp cho bộ đội trong những năm tháng ngặt nghèo nhất. Đến xã Hoài Châu, huyện Hoài Nhơn, dọc theo những cồn cát trắng xóa chạy dài vào đến xã Hoài Hảo là những “kho” lương thực, thực phẩm đủ cung cấp 2 - 3 tiểu đoàn nhận một lúc. Nhân dân từ trong các ấp chiến lược thu mua nào gạo, nào đường, sữa, đồ hộp, thuốc men... gom góp lại, ngụy trang, đi qua những trạm kiểm soát của địch, đưa lên chôn giấu dưới những cồn cát để hàng đêm bộ đội từ trên căn cứ xuống nhận. Đúng như lời Bác Hồ đã dạy:

Dễ trăm lần không dân cũng chịu.
khó vạn lần dân liệu cũng xong!

Trên trục đường số 2, từ sau ngày ký Hiệp định Paris, địch đưa 2 liên đoàn biệt động số 4 và số 6 cùng với lực lượng bảo an, dân vệ đóng chốt trên một tuyến dài 4 - 5 km từ thôn Bình Đê đến thôn An Quý, xã Hoài Châu; thôn Cự Tài, xã Hoài Hảo... thiết lập một phòng tuyến ngăn chặn không cho quân ta tiến xuống quốc lộ số 1. Ở phía bắc tỉnh Bình Định chúng cho quân chiếm đồi 9, đồi 10, dãy cao điểm 209 (nơi tiếp giáp giữa hai tỉnh Bình Định - Quảng Ngãi). Mỗi nơi, một đại đội lính biệt động hoặc bảo an trấn giữ.

Sau khi quận lỵ Hoài Ân được giải phóng, tiểu đoàn 6 được lệnh rời khỏi trung đoàn bộ binh số 141 về đội hình trung đoàn bộ binh 12 chiến đấu trên địa bàn phía tây huyện Hoài Nhơn (trên trục đường số 2 thuộc hai xã Hoài Châu và Hoài Hảo).

Đội hình trung đoàn 12 lúc này do trung đoàn trưởng Lê Văn Thái chỉ huy, chính ủy là đồng chí Trần Hữu Biền, được bố trí thành “khu vực phòng ngự” tại ba xã phía tây Bắc huyện Hoài Nhơn. Hai tiểu đoàn phòng ngự phía trước, đối đầu với hai liên đoàn biệt động và nhiều đại đội bảo an, dân vệ; tiểu đoàn 4 đứng tại khu vực Bình Đê, nhà thờ Quy Thuận, đối diện với mục tiêu Đồi 9, Đồi 10, phía tây thị tứ Tam Quan. Tiểu đoàn 6 được bố trí cuối xã Hoài Châu, giáp với xã Hoài Hảo, đối diện với hai đại đội biệt động đóng chốt ở thôn An Quý và Cự Tài. Tiểu đoàn 5 là lực lượng cơ động của trung đoàn, bố trí đầu đường số 3, đường này chạy song song với đường số 2. Sở chỉ huy trung đoàn đứng ở nơi tiếp giáp xã Hoài Châu và Hoài Sơn. Lúc bấy giờ, giữa vùng đồng bằng và giáp ranh, bố trí đội hình một trung đoàn theo nguyên tắc “hai trước, một sau” trong chiến đấu phòng ngự là rất lý tưởng. Có nhiều ý kiến cho rằng, trong tư tưởng chỉ đạo tác chiến của ta không có khái niệm “phòng ngự”? Trên chiến trường lại càng không có “hành động phòng ngự”. Điều đó không thể phủ nhận. Tuy nhiên, chúng ta không phòng ngự một cách đơn thuần, thụ động, mà phải thể hiện được tư tưởng tiến công trong chiến đấu phòng ngự. Trong đơn vị chiến thuật hoặc chiến dịch, có lực lượng lợi dụng vào hệ thống công sự, vật cản kết hợp với hệ thống hỏa lực để tiêu diệt địch trước trận địa, đồng thời có lực lượng cơ động tiến công vào bên sườn và phía sau đội hình địch để tiêu diệt chúng. Trong cuộc chiến tranh này chúng ta thường áp dụng chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt”. Trong thành phần chiến thuật, có lực lượng “phòng ngự” (chốt), có lực lượng tiến công. Lực lượng tiến công thường chiếm ưu thế về nhiều mặt.

Chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt” đã tỏ ra có hiệu quả, và đã được chứng minh trong thực tế chiến đấu trên chiến trường.

Trong thời điểm sau Hiệp định Paris, chúng ta có một thời gian ngắn dừng lại để củng cố về mọi mặt, chỉ tiến công địch bằng công tác “địch vận”.

Việc trung đoàn bộ binh 12 bố trí đội hình như đã nói ở trên là hoàn loàn phù hợp với tình hình và nhiệm vụ địa bàn ở phía Tây huyện Hoài Nhơn. Với thiện chí ta không chủ động tiến công đối phương sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, nhưng không để bị động khi đối phương tiến công ta.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:02:04 PM

Cuộc chiến đấu tại huyện Hoài Nhơn, sau ngày ký Hiệp định Paris không kém phần ác liệt. Chứng tỏ, kẻ thù vô cùng ngoan cố. Đúng như câu dân gian ta thường nói: “Cà cuống chết đến đít vẫn còn cay”, đó cũng là bản chất của kẻ thù. Câu thơ sau đây, do địch rải truyền đơn xuống xã Hoài Châu đã nói lên tính chất quyết liệt của cuộc chiến đấu giành và giữ đất giữa ta và địch:

Mười phần chết bảy, còn ba,
Chết hai, còn một, vẫn ra Đồi Mười!

Đồi Mười là ngọn đồi ở xã Hoài Châu, giáp với thị tứ Tam Quan, nằm cạnh Đồi 9, có địa thế rất hiểm yếu, quyết định sự tồn tại của khu thị tứ Tam Quan của địch. Nếu chiếm được Đồi 10 sẽ khống chế được Tam Quan và đường quốc lộ số 1. Đồng thời sẽ phá vỡ được hệ thống phòng ngự của địch dọc trục đường số 2. Vì vậy, ở đây, cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra hàng ngày giữa ta và địch. Nhà thờ Quy Thuận là một công trình đồ sộ, có tháp chuông cao ngất, nằm ở phía tây Đồi 10 đã bị bom pháo địch san bằng. Địch đã dùng xe tăng mở nhiều đợt tấn công vào đây, nhưng bị đánh bật ra, phải tháo lui. Ngày nay, dấu vết của nhà thờ Quy Thuận chỉ còn trơ lại những trụ bê tông, nhô lên khỏi mặt đất 2 đến 3 tấc.

Xã Hoài Châu được tuyên dương là xã Anh hùng cũng xuất phát từ những trận chiến đấu kiên cường ở đây suốt hàng chục năm. Trong các trận đánh, nhân dân sát cánh cùng bộ đội chiến đấu bảo vệ làng mạc, ruộng đồng suốt những năm tháng ác liệt nhất của chiến trường Khu 5, với khẩu hiệu nổi tiếng “Một tấc không đi, một ly không rời!”. Hình ảnh những người mẹ, ngườì chị xã Hoài Châu cùng với đội quân tóc dài, chặn đầu xe tăng giặc, những tiểu đội du kích sát cánh với bộ đội chủ lực chiến đấu bảo vệ ruộng đồng, làng mạc; chị Hai Nhạn, xã Hoài Châu dành những giọt sữa của con thơ để tiếp sức cho thương binh; những đêm dưới tầm pháo địch, nhân dân ở đây đào hầm, tiếp tế, tải thương giúp bộ đội và còn nhiều hình ảnh đẹp đẽ, cảm động, luôn in đậm nét trong ký ức người lính sư đoàn 3 Sao Vàng.

Để góp phần cùng quân và dân đánh bại âm mưu nống lấn của địch, giữ vững và phát triển thực lực cách mạng ở các vùng giải phóng; ngay từ đầu 1973, trên chiến trường Khu 5, hầu hết các đơn vị chủ lực đã tràn xuống đồng bằng, phối hợp cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích, đánh chiếm các đồn bót địch mới được thiết lập từ sau ngày ký kết Hiệp định Paris, xóa bỏ các “vết da báo”, mở rộng vùng giải phóng.

Tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ xóa sổ hai đại đội địch nống lên đóng chốt tại thôn An Quý, xã Hoài Châu và thôn Cự Tài, xã Hoài Hảo. Hai căn cứ này nằm về phía đông trục đường số 2. Tiểu đoàn 4 tiêu diệt một đại đội địch nống lên đóng chốt tại phía đông nhà thờ Quy Thuận, phía tây Đồi 10.

Trước ngày hiệp định Paris có hiệu lực, địch cho một đại đội biệt động quân, thuộc Liên đoàn Biệt động số 6, càn quét lên trục đường số 2, đóng chốt lại ở thôn Cự Tài, xã Hoài Hảo, thuộc huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Chúng đóng trên một gò đất, mỗi bề rộng khoảng 200 - 250 mét. Ba mặt Bắc - Đông - Nam là ruộng bao bọc. Phía tây giáp với làng mạc. Dân ở đây đã bị dồn vào ấp chiến lược từ lâu. Gò đất, cao hơn mặt ruộng khoảng 1 mét, chúng ủi đất, đắp thành bờ bao như chiếc vành khăn. Trên bờ đất là các lô cốt bằng bao cát và các ụ súng. Trung tâm bót địch như cái lòng chảo, có các chiến hào chạy ra tiền duyên. Bên ngoài bờ bao là 3 lớp rào kẽm gai kết hợp với mìn sát thương bộ binh.

Trung đoàn trưởng trung đoàn bộ binh 12 Lê Văn Thái, trực tiếp giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn 6: “bằng bất kỳ giá nào cũng “nhổ” bằng được mục tiêu này!”.

Đêm 22 tháng 5, tôi tổ chức một bộ phận cán bộ và trinh sát đi điều nghiên, được du kích xã dẫn đường, băng qua làng mạc không người, tiếp cận mục tiêu. Cũng như các cứ điểm khác, ban đêm trong mục tiêu không một tiếng động. Địch ở đây rất cảnh giác, đề phòng. Chúng tôi tiềm nhập trên hai hướng: Hướng tây tiếp giáp với làng mạc ăn ra đến đường số 2, nên địch đề phòng nhiều nhất. Hướng này chúng tôi dự kiến là hướng tiến công thứ yếu. Hướng bắc, phải vượt qua một khoảng ruộng khô, khoảng 50 mét sẽ đến lớp rào đầu tiên. Chúng tôi chọn hướng này là hướng chủ yếu. Tuy phải vượt qua ruộng, nhưng đội hình có thể tiếp cận một hàng dọc, men theo bờ ruộng, bảo đảm bí mật được.

Các cán bộ đang ngồi quan sát, thì một đồng chí trinh sát cảnh giới bị vướng quả mìn chiếu sáng. Ánh lửa bùng lên, chúng tôi nằm rạp xuống đất. Địch trong bót bắn ra như vãi đạn. Mười, mười lăm phút sau súng im bặt, chúng tôi lùi dần ra ngoài. May mắn không có thương vong. Ngày 23 và 24 tháng 5, chúng tôi gài trinh sát và du kích bám sát, theo dõi diễn biến của địch. Tiểu đoàn tiến hành làm công tác tổ chức, chuẩn bị. Trong cuộc họp đảng ủy mở rộng sáng 23 tháng 5, sau khi phân tích đánh giá tình hình, chúng tôi thấy rằng:

Về phía địch: Do bị tiến công liên tục trên chiến trường, mất chỗ dựa vào sự chi viện của binh lính Mỹ, nên trong các cứ điểm, địch tăng cường mức độ công sự chắc chắn hơn. Cụ thể ở cứ điểm Cự Tài, chúng có lợi thế, dựa vào bờ bao, lô cốt, ụ súng để chống trả lực lượng tiến công của ta, trong khi ta hoàn toàn ở trên mặt đất. Tuy nhiên, trung tâm cứ điểm địch có nhiều u bất lợi, nếu ta bám vào được bờ bao thì địch hoàn toàn nằm dưới tầm hỏa lực của ta. Chướng ngại vật tuy có ba lớp rào và mìn xen kẽ, nhưng hàng rào ở đây còn đơn giản, chiều sâu ngắn, khoảng 10 - 15 mét, nếu bí mật tiếp cận và chế áp hỏa lực trước cửa mở tốt, ta có khả năng khắc phục nhanh chóng. Đặc biệt, từ khi Mỹ rút quân, tinh thần binh lính địch dao động mạnh, sức chiến đấu sa sút. Khi có nguy cơ bị tiêu diệt, có khả năng chúng sẽ tháo chạy hoặc đầu hàng.

Về tình hình của tiểu đoàn 6: Trải qua những năm chiến đấu trên chiến trường, tiểu đoàn luôn luôn giáp mặt với mọi đối tượng, từ lính bộ binh, xe tăng Mỹ, đến lính Nam Triều Tiên; chiến đấu với địch bằng nhiều hình thức: đánh tập kích, đánh vận động, đánh cầu có địch canh giữ, đánh phục kích giao thông trên những địa bàn vô cùng gian khổ và ác liệt, đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tiểu đoàn đã có một bề dày lịch sử oanh liệt như đã nói ở những phần trên. Cán bộ chiến sĩ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm, được trưởng thành trong thực tế chiến đấu. Tiểu đoàn 6 không những là lá cờ đầu của trung đoàn bộ binh 12 mà còn là ngọn cờ tiêu biểu của sư đoàn bộ binh số 3.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:04:33 PM

Về phương án chiến đấu, sau khi cân nhắc, chúng tôi quyết định: hướng đột kích chủ yếu từ hướng bắc. Lực lượng sử dụng một đại đội. Hướng thứ yếu, không đột kích từ phía tây mà chuyển lực lượng trên hướng này xuống đón lõng ở hướng đông. Với lý do trên hướng này ta mới phát hiện có con đường từ trong cứ điểm địch chạy xuống. Khi bị tiến công mạnh, có thể chúng sẽ tháo chạy theo hướng này. Phía tây chỉ triển khai trận địa cối 82 và 120mm.

Quyết tâm và kế hoạch chiến đấu, nhanh chóng được trung đoàn chuẩn y và được đem ra “Đại hội quân nhân” thảo luận.

Cũng như những trận tiến công vào căn cứ địch trước đây, trong trận này, chúng tôi tổ chức một tiểu đội mở đường qua các chướng ngại vật, được trang bị mìn định hướng ĐH10 và bộc phá ống. Ngoài hỏa lực chi viện chung, hai bên cửa mở bố trí hai khẩu pháo không giật ĐKZ75, ĐKZ82 và súng máy 12,7 mm để tiêu diệt lô cốt đầu cầu và chế áp các hỏa điểm, trực tiếp chi viện cho lực lượng mở cửa bằng “bộc phá liên tục”.

Đêm 24 tháng 5, trời không trăng, nhưng sao lấp lánh. Chúng tôi tổ chức một tổ trinh sát và một tổ thông tin đi trước, rải “lộ tiêu” 1, cho đội hình tiểu đoàn theo sau vào tiếp cận.

23 giờ, các trận địa hỏa lực đã triển khai xong. Lực lượng mở cửa đã đưa được mìn định hướng vào ngay sát hàng rào ngoài cùng. Lực lượng đánh “bộc phá liên tục” nằm một hàng dọc ép sát bờ ruộng. Trong cứ điểm im phăng phắc. Địch đã bí mật rút đi rồi chăng? - Tôi tự hỏi - Bỗng ở trên bờ bao có tiếng lính đập muỗi, rồi một ánh lửa lóe lên. Lính gác hút thuốc! Tôi yên tâm. Đến đây, trận đánh coi như đã thắng lợi được một nửa.

Đồng chí liên lạc đã “moi” cho tôi một công sự tròn như cái miệng thúng, sâu hơn một mét, vừa đủ cho một người ngồi, gần khẩu ĐKZ75. Phía sau tôi, đồng chí chiến sĩ thông tin còn rất trẻ mang máy bộ đàm cũng đang hì hục moi đất làm công sự. Nhìn anh em làm việc miệt mài, lòng tôi vô cùng thương cảm. Cảm ơn những bà mẹ đã sản sinh ra những người con tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, không quản ngại hy sinh gian khổ. Ai có thể biết được, trong đêm nay sẽ có những người phải ngã xuống trước làn đạn của kẻ thù để cho thế hệ mai sau mãi mãi sống trong hoà bình?

Đúng 24 giờ, tôi ra lệnh nổ súng.

Cùng lúc với tiếng nổ của quả mìn định hướng 10 kg xé nát màn đêm, hai khẩu ĐKZ bắn sập ngay lô cốt đầu cầu. Tiếp đến là các loại hỏa lực bắn thẳng, hỏa lực cầu vồng rót vào bót địch. Ánh chớp lóe lên trong màn đêm, tiếng nổ ầm ầm không ngớt, vang lên cả một vùng...

Lực lượng mở cửa, ôm bộc phá lao lên, phá nốt hai lớp rào còn lại. Một đồng chí bộc phá viên bị thương đứt một chân khi lao lên lô cốt đầu cầu do trúng mảnh đạn ĐKZ của ta...

Bộ đội ào ạt xông lên bám vào bờ bao. Địch hoàn toàn bị tê liệt. Lực lượng xung kích của ta nhanh chóng phát triển sang hai bên và thọc sâu vào trung tâm đồn địch. Phần lớn địch bị tiêu diệt. Số còn lại theo đường mòn tháo chạy xuống phía đông, bị lực lượng đón lõng của ta bao vây, tiêu diệt nốt... Đơn vị làm chủ hoàn toàn trận địa. Pháo địch bắn xung quanh, nhất là hướng tây, nơi trước đây dự kiến hướng thứ yếu của trận đánh.

Hiểu rõ bản chất thâm độc của địch, khi đã hoàn toàn mất trận địa, chúng có thể dùng máy bay, pháo binh bắn thẳng vào đồn để hủy diệt. Sau khi đã thu dọn xong, tôi ra lệnh cho bộ đội nhanh chóng rời trận địa.

Vừa ra đến đường số 2 khoảng 1 km, tôi được tin đồng chí Hoàng Công Nghiêm, đại đội trưởng bị hy sinh trong trận địa. Anh em đã khiêng xác đồng chí ra vị trí khẩu ĐKZ75 trước cửa mở và chôn vội đồng chí xuống công sự đặt súng máy 12,7 mm. Tôi bàng hoàng cả người. Không chần chừ, tôi kéo theo đồng chí trợ lý chính trị tiểu đoàn và một tổ vận tải, vượt qua làn đạn pháo địch chạy vội trở lại moi đất đem xác đồng chí Nghiêm ra.

Đồng chí Hoàng Công Nghiêm, là người con của quê hương xứ Nghệ, vừa mới đi học về, được bổ nhiệm làm đại đội trưởng. Đồng chí chỉ huy đại đội đột kích vào bót địch, chiến đấu gan dạ, tác phong nhanh nhẹn và đầy trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao.

Để khôi phục lại tuyến ngăn chặn trên trục đường số 2, sau khi ta đánh chiếm cứ điểm Cự Tài, ngay sáng hôm sau, ngày 25-5, liên đoàn biệt động số 6 của địch tung lực lượng lên giải tỏa chiếm lại. Điều đó nói lên rằng: sau khi quân Mỹ rút đi, cuộc chiến đấu trên chiến trường tuy có giảm đáng kể về quy mô, nhưng tính chất của nó vẫn còn rất quyết liệt. Cuộc chiến đấu giữa ta và địch không thể giải quyết trong một sớm, một chiều.

Trưa ngày 25-5, đồng chí trung đoàn trưởng trung đoàn 12 gửi cho tôi bức điện:

Gửi tiểu đoàn 6:

Nhanh chóng ổn định đơn vị về mọi mặt, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. 11 giờ 30 trưa nay, tôi xuống làm việc cụ thể.

Lai Văn Thế
2.

Quyết tâm đánh thiệt hại nặng liên đoàn biệt động số 6 của địch, tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ tập kích tiếp cứ điểm Cự Tài trong đêm 25 rạng sáng 26-5, lúc địch vừa chiếm lại.

Chúng tôi thấy, tuy tiểu đoàn vừa mới đánh chiếm cứ điểm này đêm 24-5, bộ đội có một số thương vong, vật chất trang bị chưa bổ sung kịp; nhưng đây là thời cơ tốt nhất - địch vừa mới lên chiếm lại chưa được một ngày, công sự, vật cản chưa được khôi phục, tinh thần binh lính còn hoang mang, dao động.
_________________________________________
1. Ban đêm, đề phòng bị lạc đường, ta thường làm lộ tiêu màu trắng để rải trên đường cho bộ đội thấy, đi đúng đường dành cho từng đơn vị.
2. Lai Văn Thế: nói lái, tức là Lê Văn Thái (trung đoàn trưởng Trung đoàn 12 (để giữ bí mật).



Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:06:16 PM

Đối với bộ đội ta, khí thế đang lên. Sau thắng lợi vừa qua, anh em rất phấn khởi và thông thạo địa hình. Tiểu đoàn hạ quyết tâm với Thường vụ Đảng ủy và Chỉ huy Trung đoàn là sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

14 giờ cùng ngày, tôi phái ngay một tổ trinh sát đi bám địch. Đồng thời gấp rút chuẩn bị hành quân. Kế hoạch tiến công lần này, về phương án cơ bản như lần trước. Theo nhận định của chúng tôi, địch chưa thể khôi phục lại cửa mở, có chăng chỉ gài được một ít quả mìn. Vả lại chúng cũng không thể ngờ được quân ta sẽ tiến công tiếp trong đêm nay. Do đó, đối với ta vẫn còn yếu tố bất ngờ.

18 giờ, bộ đội đã tập kết ở trục đường số 2 xã Hoài Châu, tiếp giáp với xã Hoài Hảo. Trong khi đang chờ trinh sát về báo cáo, cán bộ các đại đội tranh thủ hội ý, kiểm tra lại trang bị và nhắc lại công tác hiệp đồng với bộ đội.

20 giờ vẫn chưa thấy trinh sát về báo cáo. Sốt ruột quá. Xung quanh tôi, bộ đội thì thầm bàn tán. Pháo địch thỉnh thoảng bắn từng loạt lên trục đường số 2, tiếng nổ nghe rất gần. Có tiếng quát tháo của một cán bộ nào đó khi nghe chiến sĩ của mình nói chuyện lớn tiếng một chút.

Bỗng 2 đồng chí trinh sát lôi về hai tên lính biệt động mặc quần áo rằn ri. Đồng chí tổ trưởng trinh sát dẫn hai tên lính địch đến ngay chỗ tôi:

- Báo cáo thủ trưởng! Bọn em bắt được hai thằng này! Chúng em vừa mới bám vào một căn hầm trong vườn của dân đã bỏ đi, thì hắn từ dưới hầm chui lên. Chúng em chĩa súng vào hắn và nói nhỏ: “Giơ tay lên, chống cự, tao bắn!”. Chúng nó ngoan ngoãn làm theo. Chúng em tước súng và hỏi: “Dưới hầm còn có ai nữa không?”, chúng nó lắc đầu và xin tha tội chết!

Chúng tôi khai thác ngay hai tên tù binh. Chúng khai: “Đại đội tôi được lệnh lên chiếm lại cứ điểm Cự Tài, bị các ông đánh chiếm tối hôm qua. Sau khi giải quyết đem số bị chết về, chúng tôi phân tán vào trong làng, dựa vào hầm hào của dân để ẩn nấp thì bị các ông bắt!”.

Trong cứ điểm Cự Tài hiện có bao nhiêu lực lượng? - Tôi hỏi.

- Dạ! ở trỏng có rất ít, hầu hết phân tán ra xung quanh, trong làng đề phòng các ông pháo kích, hoặc đánh chiếm lại!

Nếu ngay bây giờ chúng tôi tấn công cứ điểm Cự Tài, thì đột kích vào hướng nào là tốt nhất? - Tôi hỏi tiếp.

Tên tù binh trả lời:

- Ở trong cứ điểm rất ít người, chỉ có một tiểu đội. Còn toàn bộ đều nằm bên ngoài. Nếu chỉ huy tôi biết tôi mất tích, thì có thể họ sẽ rút hết về dưới đường số 1 trong đêm nay!

Thấy tên tù binh nói có lý và có vẻ thật thà, tôi điện báo cáo trung đoàn trưởng, và đề xuất ý kiến: đêm nay ta chưa tiến công vội. Ngày mai sẽ nắm tình hình, quyết định sau.

Trung đoàn trưởng nhất trí.

Phải nói rằng, phân đội trinh sát của tiểu đoàn 6 do đồng chí tiểu đội trưởng Lê Anh Kiên chỉ huy, có những chiến sĩ thật tuyệt vời. Họ không chỉ thể hiện ý chí dũng cảm, bình tĩnh, trong trường hợp diễn ra đêm nay, mà cả quá trình chiến đấu trên trục đường 19 và nhiều nơi khác. Họ thực sự là tai, mắt của người chỉ huy. Họ là những người thường xuyên mặt giáp mặt với kẻ thù, thường xuyên xa đơn vị, độc lập xử trí nhiều tình huống gay cấn, nguy hiểm.

Tôi thầm nghĩ: “Nếu không bắt được hai tên tù binh này, đêm nay, khi tiến công vào cứ điểm Cự Tài thì không biết sự thể sẽ ra sao?”.

Lo sợ bị ta tiến công, nhất là sau khi biết được hai tên lính biệt động bị “mất tích”, địch không dám đóng tại Cự Tài nữa. Ban ngày chúng lên càn quét, chốt lại; ban đêm rút xuống đường quốc lộ số 1.

Như vậy, trên tuyến ngăn chặn ở trục đường số 2, địch đã bị xóa sổ hai cứ điểm là Cự Tài và Quy Thuận. Tiểu đoàn 6 xóa sổ cứ điểm Cự Tài. Tiểu đoàn 4 xóa sổ cứ điểm Quy Thuận. Trên tuyến này chỉ còn lại cứ điểm của một đại đội địch, đóng ở thôn An Quý, thuộc xã Hoài Châu, nằm ở đoạn giữa hai cứ điểm trên.

Trung đoàn trưởng trung đoàn 12 giao cho tiểu đoàn 6 nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm này. Tiểu đoàn 6 nhận lệnh trước hết, vì cứ điểm An Quý nằm trong phạm vi đảm nhiệm của tiểu đoàn, thứ đến là trung đoàn tin tưởng tiểu đoàn 6 sẽ hoàn thành được nhiệm vụ.

Khác với cứ điểm Cự Tài, cứ điểm địch đóng ở thôn An Quý hoàn toàn nằm trong làng mạc. Bốn phía là vườn tược đã bỏ hoang, vì nhân dân ở đây đã bị địch dồn vào thị trấn Bồng Sơn, và các ấp chiến lược. Cây cối trong làng bị chất độc hóa học giết chết. Chỉ còn cỏ tranh và lau lách, lớp này chết, lớp khác lại mọc lên, tốt hơn. Ở đây phong trào du kích phát triển mạnh. Chúng tôi được anh chị em du kích dẫn đường vào sát hàng rào dây thép gai. Cứ điểm địch có 3 lớp rào và mìn sát thương bộ binh bao bọc. Lác đác trong khu vườn vẫn còn một số công sự hầm kèo1 của nhân dân, có thể còn sử dụng được.

Phạm vi cứ điểm An Quý cũng gần bằng cứ điểm Cự Tài. Nhưng các lô cốt, ụ súng tiền duyên rất khó phát hiện, vì địa hình bằng phẳng, có nhiều vật che khuất. Đứng cách căn cứ khoảng 50 mét, chỉ thấy được cột anten cao vút cùng với những ngọn tre đung đưa trước gió Thông thường trung tâm thông tin nằm bên cạnh mục tiêu chủ yếu - vị trí chỉ huy của địch. Vì vậy, quá trình “bắn chuẩn bị” chúng tôi sẽ tập trung hỏa lực cầu vồng bắn vào đó.

Đánh giá được những mặt yếu của địch ở đây, trận đánh này, chúng tôi tổ chức đột kích một mũi từ hướng tây bắc - còn hướng thứ yếu, đông bắc thì chỉ làm nhiệm vụ “dương công” - nghĩa là cùng nổ súng tiến công, nhưng không đột phá vào cứ điểm của địch. Mục đích là để phân tán sự đối phó của chúng và hình thành thế tiến công bên sườn và phía sau, làm cho địch tan rã mau chóng - Phương pháp mở cửa qua bãi vật cản vẫn dùng mìn định hướng và bộc phá liên tục. Trung đoàn tăng cường cho tiểu đoàn 6 một khẩu đội cối 120 mm.
__________________________________________
1. Hầm Kèo: Là một kiểu hầm tránh pháo, hình chữ A, được cấu trúc 1/2 ÷ 2/3 âm dưới đất.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:06:46 PM

Ngày 27-5-1973, Tiểu đoàn 6 đã hoàn thành công tác chuẩn bị. Trên hướng chủ yếu, một đại đội bộ binh, được trang bị một quả mìn định hướng 10 kg, hai ống bộc phá dài 1,20 m và một tổ máy thông tin, vô tuyến và hữu tuyến, một tổ trinh sát cùng với du kích bảo đảm cho đội hình vào chiếm lĩnh đúng vị trí và thời gian quy định. Tiểu đoàn cử đồng chí Nguyễn Sương, trợ lý tác huấn cùng đi với đại đội trên hướng chủ yếu để giúp đỡ và nắm tình hình kịp thời báo cáo tiểu đoàn.

Trên hướng dương công, có một tổ du kích dẫn đường và phối hợp chiến đấu. Trong những năm chiến đấu trên chiến trường Khu 5, chúng tôi luôn luôn được sự giúp đỡ tích cực của lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích. Chiến đấu ở vùng đồng bằng, bộ đội địa phương và dân quân du kích đóng vai trò rất quan trọng trong các hoạt động của bộ đội chủ lực.

Cũng như trong trận tiến công cứ điểm Cự Tài, hai bên đội hình mở cửa, chúng tôi bố trí hai khẩu ĐKZ75 và súng máy 12,7 mm.

Tôi và đồng chí chính trị viên Trần Sỹ Mỹ, lợi dụng căn hầm tránh pháo của dân, ở phía sau hướng chủ yếu cách lớp rào ngoài cùng khoảng 50 mét, làm vị trí chỉ huy. Phía sau vị trí chỉ huy tiểu đoàn là đại đội dự bị và trận địa cối 120 mm và 82 mm. Nói chung tất cả các thành phần trong đội hình chiến thuật tập kích địch trong căn cứ đều được tổ chức đầy đủ theo nguyên tắc.

22 giờ, trước lúc xuất phát vào vị trí triển khai tôi điện báo cáo trung đoàn trưởng. Đồng chí cho biết, theo tin cơ sở tình hình trong cứ điểm không có gì thay đổi. Đồng chí căn dặn cần chú ý kiểm tra, phát hiện và dò gỡ mìn thật an toàn, khi vào chiếm lĩnh phải thận trọng để bảo đảm yếu tố bí mật bất ngờ. Đồng chí không quên chúc tiểu đoàn hoàn thành nhiệm vụ.

Nghe xong, tôi trao máy điện thoại cho đồng chí chính trị viên tiểu đoàn gặp chính ủy trung đoàn và gọi đồng chí trợ lý thông tin đến.

- Đồng chí kiểm tra lại 2 quả pháo hiệu màu đỏ và hai quả màu xanh giúp tôi! Tôi nói.

Đồng chí trợ lý thông tin đáp “rõ” rồi chạy đi ngay, đến đại đội đột kích trên hướng chủ yếu.

Đến 22 giờ 30 phút, đội hình bắt đầu xuất phát. Trên các hướng đều có trinh sát và du kích dẫn đường. Tôi cảm thấy yên tâm và rất tự tin.

Pháo địch vẫn bắn cầm canh. Tuy đã quen với tiếng pháo nổ, nhưng có những quả pháo bay rít trên đầu, nổ rất gần, chúng tôi vẫn cứ bị giật mình. Nhiều lúc, nghe tiếng rít, theo phản xạ tự nhiên, bộ đội ta cứ nằm rạp xuống đất. Vẫn biết rằng, khi nghe tiếng rít của đạn pháo, tức là đạn đã bay qua và nổ ở nơi khác, nhưng người lính không thể chống lại phản xạ tự nhiên được.

Sau một tiếng rưỡi đồng hồ, bộ đội mới đến được vị trí triển khai. Do trong vườn của dân đã có một số hầm tránh pháo, nên đỡ được công việc làm công sự. Chỉ cần kiểm tra mìn, đề phòng địch gài lại. Từ đây tổ thông tin hữu tuyến bắt đầu kéo dây điện thoại tới đại đội đột kích và trận địa cối. Vì đã chiến đấu nhiều, nên anh em thông tin rất thành thạo công việc. Họ vừa nhanh nhẹn, vừa bí mật. Sở chỉ huy trung đoàn ở quá xa, nên trung đoàn phái một tổ thông tin vô tuyến tăng cường cho tiểu đoàn, về chuyên môn hoàn toàn do trung đoàn nắm và trang bị.

24 giờ, hướng đột kích chủ yếu gỡ được hai trái lựu đạn và một quả mìn chiếu sáng của địch. Trận địa cối 120 mm và 82 mm triển khai xong và sẵn sàng nhả đạn. Chỉ có hướng “dương công” chưa nắm được, vì không kéo theo dây điện thoại. Chúng tôi qui định chỉ dùng phương tiện thông tin vô tuyến, nhưng khi nổ súng mới được mở máy liên lạc.

Đêm cuối tháng, trăng lên muộn. Những ngọn gió từ vùng biển thổi vào mát rượi. Trong vườn, lá khô bay xào xạc. Những cây tre cọ vào nhau kêu cót két. Nhờ thế những động tác của bộ đội tiếp cận, phát ra tiếng kêu cũng được xóa đi. Bỗng một loạt súng tiểu liên từ trong cứ điểm bắn ra làm chúng tôi giật mình... Tôi nhấc máy điện thoại, thổi vào tổ hợp, nói nhỏ:

- Cho gặp đồng chí Sương!

Đầu dây bên kia, đồng chí Sương cầm máy

- Súng nổ ở đâu u đấy? - Tôi hỏi

- Súng trong cứ điểm bắn ra, nhưng nó bắn về hướng của lực lượng “dương công”! - Đồng chí Sương báo cáo.

24 giờ 45 phút, đại đội trưởng trên hướng chủ yếu báo cáo:

- Báo cáo thủ trưởng, tổ mở cửa đã cố định xong mìn định hướng, tất cả đã sẵn sàng!

- Đồng chí kiểm tra lại dây điện, máy điểm hỏa! Trường hợp điểm hỏa điện không nổ thì lên giật nụ xùy. Hoả lực ĐKZ và cối sẽ bắn ngay sau tiếng mìn của đồng chí! - Tôi nhắc lại hiệp đồng cho đại đội đột kích.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:07:28 PM

Đúng 01 giờ ngày 28-5, tôi ra lệnh nổ súng.

Một tiếng nổ “ầm” của quả mìn định hướng kế tiếp là hai khẩu ĐKZ với 2 luồng lửa, xé màn đêm, bao trùm lên mục tiêu là ụ súng đầu cầu. Ba khẩu cối 120 và 82 mm tập trung hỏa lực vào khu thông tin. Những ánh chớp lóe lên kèm theo tiếng nổ liên tục.

Sở chỉ huy tiểu đoàn nhộn nhịp hẳn lên. Các chiến sĩ thông tin vô tuyến gọi đi các hướng, nhắc đầu bên kia giữ vững liên lạc. Những anh mới “vào nghề” không thuộc hết mật mã, nhiều câu cứ phải nói “toạc móng heo”.

Đại đội đột kích báo cáo:

- Quả mìn định hướng đã “quét sạch” hai lớp rào, tôi đang cho đánh nốt hàng rào cuối cùng.

Trong khi tôi đang chỉ huy thì đồng chí Trần Sỹ Mỹ, chính trị viên tiểu đoàn xuống động viên đại đội dự bị sẵn sàng bước vào chiến đấu.

Đại đội đột kích báo cáo:

- Cửa mở đã xong, bộ đội đang lên đánh chiếm đầu cầu, đề nghị cho cối bắn vào trung tâm và cho ĐKZ bắn xa ra hai bên cửa mở!

Tôi nghĩ thầm: “Có lẽ ảnh hưởng của trận tiến công cứ điểm Cự Tài hôm trước, một đồng chí bị gãy một chân do ĐKZ của ta bắn lúc anh em xung phong lên đánh chiếm đầu cầu, đã tác động làm cho bộ đội ngần ngại hỏa lực của ta chăng?”

Song, bây giờ mà gọi điện thoại cho 2 khẩu ĐKZ “có trời mới nghe được”. Lỗ tai của xạ thủ đã bị điếc đặc. Chỉ có trận địa cối thì không ảnh hưởng gì. Tôi chỉ thị cho trợ lý pháo đến ngay chỗ hai khẩu ĐKZ truyền đạt mệnh lệnh cho pháo chuyển làn.

Sau 05 phút đại đội đội kích mở xong cửa. Đến phút thứ 06 thì đã chiếm được “đầu cầu”.

Địch chống trả quyết liệt. Đã có một đồng chí hy sinh, hai đồng chí bị thương, anh em đã đưa ra cửa mở. Đồng chí trợ lý chính trị dẫn một tổ vận tải và y tá lên đón và đưa ra phía sau. Tôi ra lệnh cho lực lượng “dương công”, tiến công vào phía sau cứ điểm địch, đồng thời trao đổi với đồng chí Mỹ cho điều đại đội dự bị lên gần cửa mở.

Sau 25 phút chiến đấu, đại đội đột kích chiếm được hai phần ba cứ điểm địch về bên trái, dồn chúng xuống một góc cứ điểm trên hướng đông nam.

Địch phản ứng dữ dội. Các trận địa pháo, từ hướng “nhà thờ” bắn đến, cối từ đường quốc lộ 1 bắn lên. Đạn nổ xung quanh nghe chát chúa. Lại thêm một số chiến sĩ bị thương. Đồng chí Nguyễn Sương báo cáo:

- Địch đang co cụm ở phía đông nam, dựa vào công sự, chiến hào chống trả. Muốn đánh sang đó, anh em phải qua một bãi trống, chiến hào ở đây bị đứt quãng. Một số đồng chí vượt qua, bị thương phải quay lại. Đề nghị tiểu đoàn cho lực lượng dự bị vào tiến công từ cánh phải sang phối hợp để dứt điểm!

- Tôi đồng ý! Đồng chí phổ biến cho anh em phối hợp!

Đại đội dự bị được tung vào trận đánh ngay sau đó. Các chiến sĩ tiến dọc theo chiến hào tiền duyên bên phải cửa mở, phối hợp với đại đội hai đột kích từ cánh trái. Lực lượng “dương công” nổ súng vào phía sau cứ điểm, cùng tiến công vào ba phía. Ít phút sau, ta hoàn toàn làm chủ trận địa. Hai phát pháo hiệu màu đỏ được bắn lên. Sở chỉ huy trung đoàn, qua pháo hiệu biết được tiểu đoàn 6 đã làm chủ cứ điểm của địch. Số địch sống sót chạy xuống hướng đông nam. Các trận địa cối của tiểu đoàn chuyển sang bắn chặn. Ta tiêu diệt được 35 tên địch tại chỗ, thu trên 20 súng các loại.

03 giờ sáng, tiểu đoàn tổ chức lui quân. Trên đường bị địch bắn pháo dữ dội. Đồng chí Nguyễn Sương “lãnh trọn” một quả cối 81 mm của địch, hy sinh.

Đồng chí Nguyễn Sương là một cán bộ tham mưu hăng hái, có nhiều kinh nghiệm. Năm 1964, khi tôi mới nhập ngũ, đồng chí đã là một cán bộ tiểu đội trưởng cùng trang lứa với đồng chí Võ Tùng, Trần Đình Liệu và nhiều đồng chí khác. Sinh ra và lớn lên trên quê hương Bà Trưng, Bà Triệu (Thanh Hóa), bản chất thật thà, tác phong nhanh nhẹn, vui tính và không bao giờ tự ái khi bị anh em kê kích, trêu chọc... Đồng chí mất đi là một tổn thất lớn của tiểu đoàn tôi...

Đầu năm 2004, tôi có dịp đi qua huyện Hoài Nhơn, về xã Hoài Châu với ý định tìm mộ Nguyễn Sương. Mặc dù, đồng chí và nhiều đồng chí khác hy sinh trong thời gian này được chôn cất chu đáo, nhưng cảnh vật nơi đây, sau 30 năm đã nhiều thay đổi. Tôi chưa tìm lại được. Tôi không hiểu là, gia đình đã đưa đồng chí về quê hay chưa?

Như vậy, đến giữa năm 1973, trong một thời gian rất ngắn, trên địa bàn trung đoàn bộ binh 12, đã xóa sổ 3 đại đội địch, đóng chốt ở 3 cứ điểm, phá vỡ tuyến ngăn chặn của địch dọc trục đường số 2, trên một tuyến dài gần 10 km, không những bảo vệ vững chắc vùng giải phóng phía tây huyện Hoài Nhơn, mà còn cùng với các đơn vị trong sư đoàn 3 tràn xuống vùng đồng bằng ven biển thuộc huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, uy hiếp căn cứ Trà Quang, Bình Dương của sư đoàn 22 chủ lực Sài Gòn, thị trấn Bồng Sơn, sân bay Phù Cát và nhiều mục tiêu quan trọng khác tại tỉnh Bình Định.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:07:58 PM

Khác với thời kỳ quân Mỹ chiếm đóng, những năm 1973 - 1974, tại hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi, nhân dân các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Đức Phổ (Quảng Ngãi), Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước (Bình Định) không chịu vào ấp chiến lược, vẫn bám trụ trên quê hương, tham gia du kích hoặc đấu tranh trực diện với địch. Khẩu hiệu địch vận của ta trong thời gian này là: “Mỹ thua về Mỹ, còn binh sĩ về đâu?” hoặc là: “Súng Mỹ, lòng ta”. Các địa phương tổ chức một hệ thống làm công tác địch vận từ xã lên đến huyện, tỉnh. Trong mỗi trận chiến đấu đều kết hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương và quân dân du kích. Đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và binh vận, làm cho địch bị tê liệt, mất sức chiến đấu, chính quyền của chúng mất hiệu lực. Các nhà văn nhà thơ theo sát chúng tôi suốt chiều dài lịch sử chiến tranh giải phóng miền Nam. Nhiều đồng chí có mặt trong những năm đấu tranh chống địch nống lấn, như nhà văn Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Chí Trung, Bùi Thị Chiến, Nguyễn Thị Bắc Hà và nhiều anh chị em khác. Hình bóng và khuôn mặt thân thương, quen thuộc của họ luôn là nguồn động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ sư đoàn Bộ binh 3 Sao Vàng, thời gian ấy!

Tại những vùng chiến tranh ác liệt, rất nhiều người dân tạm sống trong vùng địch kiểm soát, nhưng vẫn tìm cách tiếp tế lương thực cho bộ đội. Sau thời gian tạm yên, có người trở về, nhà cửa bị bom đạn địch đánh phá tan hoang. Họ lại dựng lều ngay bên cạnh hố bom để ở. Nhưng trong lòng vẫn tin tưởng ngày toàn thắng đã đến gần. Chiến tranh đã tạo cho con người thêm dày dạn trong bom đạn ác liệt của kẻ thù, gắn bó với quê hương, xem thường cái chết và luôn khao khát được sống trong hòa bình.

Từ khi ký Hiệp định Paris, Mỹ rút quân về nước. Trên chiến trường, quân đội Sài Gòn bị thua liên tiếp. Vùng giải phóng không ngừng được mở rộng, chính quyền cách mạng ngày càng được củng cố vững chắc.

Tiểu đoàn 6 cùng với đội hình trung đoàn được lệnh phát triển xuống đồng bằng ven biển từ xã Hoài Thanh đến xã Hoài Hương (huyện Hoài Nhơn) vào đến xã Mỹ Thắng - Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ).

Huyện Hoài Ân được giải phóng. Đội hình sư đoàn 3 chiếm lĩnh một vùng rộng lớn của tỉnh Bình Định, chia cắt, cô lập các mục tiêu then chốt, như thị xã Quy Nhơn, sân bay Phù Cát, thị trấn Bồng Sơn, căn cứ Đệ Đức, Thiết Đính và Trà Quang của sư đoàn 22 Cộng Hòa. Sư đoàn 3 đã có trung đoàn bộ binh 12 ở Đông đường quốc lộ số 1, hai trung đoàn ở phía tây là trung đoàn bộ binh số 2 và số 141. Địch phải co vào trong các căn cứ. Hầu hết các huyện giáp ranh và các huyện vùng đồng bằng, ban ngày nhân dân đi lại tự do. Ban đêm bộ đội, du kích di chuyển từ vùng này sang vùng khác, từ phía tây xuống phía đông đường số 1, tấp nập như trẩy hội.

Để tạo thế liên hoàn, vững chắc, nhiệm vụ trước mắt của sư đoàn 3 là “giải quyết” một số mục tiêu dọc trục đường số 1, gồm núi Nùng, đèo Nhông, đèo Phú Cũ tiến tới bao vây, cô lập các căn cứ còn lại của địch, phối hợp với các lực lượng vũ trang quân khu, mở chiến dịch quy mô lớn giải phóng tỉnh Bình Định khi có thời cơ mới. Thời gian lúc này, “một ngày bằng hai mươi năm”.

Kế hoạch tác chiến của chiến dịch Mùa Thu năm 1974, được mở đầu bằng trận tiến công đánh chiếm núi Nùng, tiến tới đánh chiếm Đèo Nhông, cắt đứt hoàn toàn đường số 1, buộc sư đoàn 22 Cộng hòa ra phản kích để ta tiêu diệt lớn sinh lực của chúng.

Núi Nùng và Núi Chóp Vung (Đèo Nhông) đều nằm trên trục đường quốc lộ số 1, thuộc huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Núi Nùng nằm cạnh đường số 1 về phía Tây; đèo Nhông nằm cạnh đường số 1 về phía đông. Hai quả núi cách nhau khoảng một km, có độ cao tương đương, gần 200m so với mực nước biển.

Phía bắc là đèo Phú Cũ (đã đề cập đến ở phần trước); phía nam là ấp Diêm Tiêu. Thứ tự từ hướng bắc vào: Phú Cũ, đèo Nhông, núi Nùng, Diêm Tiêu, tạo nên thế liên hoàn trong hệ thống phòng thủ cơ bản của địch dọc theo đường số 1, khống chế trên một đoạn đường dài 20km, nối liền hai huyện Phù Cát và Hoài Nhơn. Chi viện cho các mục tiêu trên, chủ yếu là sư đoàn 22 Cộng hòa, có các căn cứ ở Đệ Đức, Trà Quang ở hướng Bắc, An Sơn ở hướng Nam.

Về tình hình sư đoàn 3: giữa năm 1974, trung đoàn bộ binh 12 xuống hoạt động phía đông huyện Phù Mỹ, bao gồm các xã Mỹ Thắng, Mỹ Quang, Mỹ Thọ và đã chiếm lĩnh hoàn toàn dãy núi “Mẹ bồng con”, Đông đường số 1, đối diện với núi Nùng và đèo Nhông. Sư đoàn 3 (thiếu trung đoàn bộ binh 12), triển khai tại huyện Hoài Ân: trung đoàn bộ binh 141 bảo vệ vùng giải phóng và làm dự bị. Lực lượng chủ yếu tiến công núi Nùng là trung đoàn bộ binh số 2 và tiểu đoàn 5 thuộc trung đoàn bộ binh số 12. Tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ tiến công, đánh chiếm đèo Nhông.

Tình huống tác chiến bây giờ là đánh địch theo mệnh lệnh, vì sự phát triển quá nhanh trên chiến trường. Tiến công địch không có sự chuẩn bị hoặc chuẩn bị gấp. Mọi tình huống giờ đây đến rất nhanh và qua đi rất nhanh. Nếu xử trí chậm, có khi chủ động sẽ trở nên bị động, lúng túng và mất thời cơ thuận lợi.

Đêm 22-7-1974, chúng tôi tiến hành đi trinh sát mục tiêu đèo Nhông. Sườn đồi phía đông dốc chừng 60 độ, hỏa lực bắn thẳng rất khó bố trí. Ở đây có hai lớp rào kẽm gai bùng nhùng, rải theo sườn đồi. Tôi và hai đồng chí trinh sát vừa bò lên đến lớp rào thứ nhất, một đồng chí trinh sát đạp lên một cục đá to bằng quả bóng, cục đá lăn xuống theo sườn đồi nghe lộc cộc... Địch trên đỉnh đồi ném lựu đạn xuống, nhưng lựu đạn cũng lăn xuống dưới chân đồi nổ chát chúa. Địch bắn mãi rồi cũng phải im lặng, không gian bốn bề trở lại yên tĩnh. Gió biển thổi vào mát lạnh. Từ đèo Nhông nhìn xuống biển xã Mỹ Thọ và Mỹ Thắng thấy vô số những ngọn đèn nêông hắt ra từ những tàu thuyền đánh cá, sáng rực cả một vùng trời.

Đêm nay các đơn vị thuộc sư đoàn 3 cũng tung trinh sát, cán bộ đi nghiên cứu, chuẩn bị cho những trận chiến đấu ngày mai, có thể diễn ra xung quanh núi Nùng, trên đường quốc lộ số 1 từ đèo Phú Cũ đến đèo Nhông, ấp Diêm Tiêu. Trung đoàn bộ binh 12 đang xây dựng trận địa phòng không xung quanh dãy núi “Mẹ bồng con”, và nhiều nơi khác. Có ai hiểu được rằng trong đêm tối mịt mùng, trên chiến trường có biết bao nhiêu con người đang lặn lội trong sương gió, chuẩn bị khẩn trương cho những trận đánh ác liệt sẽ diễn ra sau đó mấy tiếng đồng hồ...

Sáng 23-7, chúng tôi đã trinh sát xong mục tiêu đèo Nhông. Trận địa cối và ĐKZ75 dự kiến bố trí ở sườn đông nam, cách đỉnh đèo Nhông khoảng 400 mét. Trận địa ĐKZ gần mục tiêu hơn và bắn theo “tà dương”. Đội hình đột kích trên hai hướng: đông - đông nam, chủ yếu và phía nam, thứ yếu.

Theo hiệp đồng, cối 120 mm của sư đoàn, từ phía tây đường số 1 chi viện cho chúng tôi trong thời gian “bắn chuẩn bị”, bắn trực tiếp lên đỉnh Chóp Vung. Xem ra thì cũng “mạo hiểm”. Bởi lẽ, đội hình đột kích của chúng tôi ở Đông đường số 1, hỏa lực chi viện của sư đoàn ở phía tây đường số 1, thông tin liên lạc bằng phương tiện vô tuyến. Giữa hỏa lực và đội hình xung lực có phần đối diện nhau, những điều “tối kỵ” trong chiến đấu. Song, sau này khi tiến công mục tiêu mọi việc đều tốt đẹp.

Đêm 27 rạng sáng 28/7/1974, trung đoàn bộ binh 2, được tăng cường tiểu đoàn 5 trung đoàn bộ binh 12, được sự chi viện bằng pháo binh của sư đoàn, thực hành tiến công đánh chiếm núi Nùng, tiêu diệt một đại đội địch đóng chốt ở đây. Lập tức, liên đoàn biệt động số 4 từ căn cứ Trà Quang, dựa vào đèo Phú Cũ và đèo Nhông ra phản kích hòng chiếm lại núi Nùng. Suốt ngày 28 và sang ngày 29/7 diễn ra những trận chiến đấu ác liệt xung quanh núi Nùng và trên đoạn đường hơn một km, từ đèo Nhông đến ấp Diêm Tiêu giữa lực lượng cơ động của ta với liên đoàn biệt động số 4 của địch. Liên đoàn biệt động bị tiêu diệt gần hết.

Đúng lúc đó, đêm 29 tháng 7 tiểu đoàn 6 áp sát đèo Nhông, 0 giờ 30 phút (ngày 30-7) dưới sự chi viện trực tiếp của hỏa lực, tổ bộc phá leo lên sườn, mở qua hai lớp rào kẽm gai. Sau ít phút hỏa lực bắn chuẩn bị, trận địa cối 120 mm của Sư đoàn từ phía tây đường số 1 bắn lên đỉnh đèo Nhông làm nổ tung một kho đạn của địch. Đạn nổ dữ dội, miểng bay văng ra xung quanh sườn đồi, lửa khói bốc lên sáng rực. Đạn địch trong kho nổ hết, hai hướng bộ đội ta xông lên. Hầu hết, địch trong căn cứ bị chết. Lực lượng của chúng đóng dưới sườn đồi, bỏ chạy về phía bắc đường số 1. Ta làm chủ hoàn toàn đèo Nhông, thu toàn bộ vũ khí. Địch chết 14 tên tại chỗ.

Cuộc phản kích hòng chiếm lại núi Nùng của địch bị thất bại, đèo Nhông bị ta đánh chiếm, địch ở đèo Phú Cũ bỏ chạy. Ta làm chủ hoàn toàn đường số 1 nối liền các huyện Hoài Nhơn - Phù Mỹ - Phù Cát.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:08:41 PM

TRỞ LẠI ĐƯỜNG SỐ 19

Sau những thất bại nặng nề trên khắp các chiến trường, thế và lực của địch ngày càng suy yếu, không còn những ngày đưa quân đi nống lấn và làm mưa, làm gió như trước đây. Chúng phải co vào trong các căn cứ lớn.

Trong những năm vừa chiến đấu, vừa xây dựng và củng cố lực lượng, đến nay ta có thể phối hợp mở nhiều chiến dịch, tiến công địch đồng thời trên phạm vi toàn miền Nam, từ đồng bằng sông Cửu Long đến miền Đông Nam bộ; từ Tây Nguyên đến đồng bằng ven biển miền Trung.

Tại vùng đồng bằng miền Trung, sau khi ta đã giải phóng hàng loạt mục tiêu, trung đoàn bộ binh 12 được lệnh quay lại chiến trường cũ là đường số 19 để chuẩn bị phối hợp với mặt trận B3, Tây Nguyên.

Các năm trước, khi lực lượng ta chưa được phát triển cao, cứ sau mỗi chiến dịch hoặc các đợt chiến đấu tập trung, các đơn vị chỉ để lại một bộ phận duy trì hoạt động thường xuyên. Còn đại bộ phận rút về căn cứ để chỉnh huấn chính trị, huấn luyện quân sự bổ sung quân số và trang bị rồi lại hoạt động tiếp. Điều này đã thành quy luật, không thể làm khác được. Vì thế mà sau các chiến dịch, kẻ địch lợi dụng lúc ta hết lương thực, đạn dược, lực lượng bị tiêu hao, điên cuồng phản kích. Một số mục tiêu ta vừa mới giải phóng, bị địch “líp” lại, đã gây không ít khó khăn cho phong trào cách mạng của quần chúng ở một số địa phương.

Nhưng từ năm 1973 đến đầu năm 1975, bộ đội giải phóng đến đâu, kết hợp với phong trào đấu tranh của quần chúng, trụ lại ở vùng đồng bằng chiến đấu cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Tháng 10 năm 1974, Quân khu 5 triệu tập cán bộ từ trung đoàn trở lên về dự hội nghị tổng kết, đánh giá tình hình từ sau ngày ký kết Hiệp định Paris. Đoàn cán bộ của sư đoàn 3, do đồng chí Trần Bá Khuê, sư đoàn trưởng dẫn đầu. Đoàn bao gồm thủ trưởng 4 cơ quan sư đoàn, các đồng chí chỉ huy về quân sự, chính trị của các đơn vị trực thuộc.

Cùng đi với đoàn cán bộ của sư đoàn bộ binh 3 về Quân khu dự hội nghị quân chính, có cả một số nhà văn, nhà thơ quân đội, như anh Nguyễn Chí Trung, chị Bùi Thị Chiến, anh Nguyễn Trí Huân... Tất cả trên ba mươi người. Khi đi ra Quân khu, hoàn toàn đi bộ; nhưng khi quay về được đi bằng ô tô, theo một nhánh đường Trường Sơn. Anh em chúng tôi thường gọi là “đường dây Trung ương”.

Ngày ấy, các chiến trường trên toàn miền đang đi vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh. Nhu cầu cung cấp về lực lượng, binh khí kỹ thuật, lương thực, đạn dược rất lớn. Đoàn 559 bộ đội Trường Sơn đã nỗ lực phi thường mở rất nhiều nhánh đường, từ trục đường chính Đông Trường Sơn, Tây Trường Sơn đến các địa bàn trên chiến trường Nam bộ, miền Đông Nam bộ và Liên khu 5. Ở Quân khu 5, chúng tôi đã có thể nhận gạo, đạn... của miền Bắc tại các vùng giáp ranh đồng bằng với miền núi.

Anh Nguyễn Tiến Trình (mật danh của đồng chí Đoàn Khuê) Phó Tư lệnh Quân khu cũng đi với đoàn cán bộ sư đoàn 3 để chỉ đạo triển khai nhiệm vụ sắp đến.

Trước đó, Đảng bộ Quân khu đã họp Đại hội lần thứ ba (từ ngày 15 đến 27-12-1973) quán triệt nghị quyết XXI của Trung ương Đảng, đề ra phương hướng nhiệm vụ của Quân khu trong tình hình mới.

Đảng ủy và Bộ tư lệnh Quân khu 5 chủ trương mở một đợt hoạt động mạnh, nhằm tiêu diệt một số cứ điểm chi khu, quận lỵ, phá vỡ từng hệ thống phòng ngự cơ bản của địch... Hỗ trợ lực lượng vũ trang địa phương và phong trào nổi dậy của quần chúng phá thế kìm kẹp của địch.

Chủ trương của quân khu, phù hợp với quy luật chiến tranh trong tình hình mới. Từ chỗ đánh nhỏ, phân tán, kết hợp ba thứ quân để phát triển lực lượng ngày càng lớn mạnh, đến hình thành những chiến dịch, những đợt hoạt động, với hàng loạt những trận đánh vang dội. Vừa tiến công địch bằng quân sự, vừa xây dựng và phát triển thành phong trào nổi dậy của quần chúng, đấu tranh chính trị trực diện với địch, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực, phá hủy phương tiện chiến tranh của chúng. Địch bị tiêu diệt ngoài công sự lúc đi càn quét, nống lấn, giải tỏa, phản kích ngày càng nhiều. Đến lúc chúng phải co cụm trong các căn cứ để phòng ngự, chống đỡ, nhằrn bảo toàn lực lượng. Đến lúc này, trên chiến trường tất yếu sẽ dẫn đến những trận đánh tập trung của quân ta, tiêu diệt sinh lực, phá vỡ thế phòng ngự của địch, đưa cuộc chiến tranh sang bước ngoặt mới, mang tính quyết định thắng lợi chiến tranh, như chiến dịch Điện Biên Phủ, tiêu diệt tập đoàn cứ điểm trong chiến tranh chống Pháp trước đây.

Tôi cũng được triệu tập về Quân khu dự hội nghị và được phân công báo cáo chiến lệ về trận tiến công đánh chiếm đèo Nhông trước hội nghị. Chúng tôi hiểu được phần nào về tầm quan trọng của cuộc họp cán bộ ở quân khu lần này.

Những ngày dự hội nghị Quân chính ở Quân khu 5 thực sự rất bổ ích đối với tôi. Qua báo cáo sơ kết của cơ quan Quân khu và các Tư lệnh chiến trường, tôi thấy được một cách khái quát cục diện chiến trường toàn miền nói chung, trên chiến trường Liên khu 5 nói riêng, đã nâng cao được tầm nhìn về chiến cuộc, chiến dịch và triển vọng vô cùng sáng sủa đang tiến gần của cách mạng giải phóng miền Nam.

Sau cuộc họp, chúng tôi thấy phấn chấn, nôn nao. Ai cũng muốn về nhanh đơn vị để triển khai các kế hoạch.

Trên đường đi, anh em trong đoàn thường hay trêu chọc tôi với chị Bùi Thị Chiến - nhà văn. Thế rồi, sau khi bế nạc hội nghị ở Quân khu, trước khi về đơn vị, tôi nhận được mấy dòng ngắn ngủi của Bùi Thị Chiến - Chiến viết rằng: “... Em vẫn còn giữ mãi cái nhìn và nụ cười gần gũi của anh!...”. Cảm ơn Bùi Thị Chiến, chúng mình tạm chia tay, về lại chiến trường, nơi đang rất cần đến chúng ta...

Trên đường về đơn vị, anh Biền cho tôi biết: Quân khu đã quyết định bổ nhiệm tôi làm cán bộ trung đoàn.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:09:17 PM

Cuối năm 1974, tôi nhận quyết định Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn bộ binh 12. Khi tôi về đây, anh Lê Văn Thái, trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Trọng Di, chính ủy. Trước đó, anh Nguyễn Duy Thương, trung đoàn trưởng, anh Lê Huấn, chính ủy. Hai anh được điều về sư đoàn nhận nhiệm vụ mới.

Cả sư đoàn bộ binh 3 được lệnh chuyển hướng hoạt động phía Nam tỉnh Bình Định - chiến trường đường số 19, với nhiệm vụ:

* Tiêu diệt lần lượt toàn bộ các cứ điểm chốt bảo vệ đường 19, từ chi khu quận lỵ An Khê tỉnh Gia Lai đến chi khu quận lỵ Phú Phong tỉnh Bình Định. Cắt đứt hoàn toàn đường 19, chủ yếu đèo An Khê, từ cầu Vườn Xoài đến Suối Vối

* Kéo sư đoàn 22 Sài Gòn ra phản kích, giải tỏa để tiêu diệt, không cho chúng tăng viện lên Tây Nguyên theo đường 19 và tiêu diệt địch từ Tây Nguyên theo đường 19 xuống Quy Nhơn, tạo điều kiện cho quần chúng nổi dậy, giải phóng vùng đồng bằng. Quân khu tăng cường cho sư đoàn bộ binh 3 lữ đoàn công binh 40 mở đường cho cơ giới cơ động từ Nam Quảng Ngãi vào đến huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.

* Sư đoàn còn được bổ sung trung đoàn pháo xe kéo gồm một tiểu đoàn lựu pháo 122mm, một tiểu đoàn pháo nòng dài 85mm, một tiểu đoàn pháo phòng không 37mm. Sư đoàn mở một con đường cho xe, pháo cơ động từ huyện Hoài Ân đến huyện Vĩnh Thạnh.

Tháng 12 năm 1974 sư đoàn đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị. Đầu tháng hai, năm 1975, tại huyện Vĩnh Thạnh, Bộ tư lệnh sư đoàn báo cáo quyết tâm với đồng chí Chu Huy Mân, tư lệnh Quân khu 5. Sư đoàn xác định nhiệm vụ cho các đơn vị như sau:

* Trung đoàn bộ binh 12 được tăng cường một đại đội pháo 85 mm, 3 khẩu; một đại đội cối 120mm, 2 khẩu và được pháo binh sư đoàn chi viện, có nhiệm vụ lần lượt tiêu diệt các cứ điểm chốt của địch hai bên trục đường 19 từ cao điểm 105 đến núi Cây Rui, bao gồm cao điểm 105, Chóp Vung, đồi RaĐa (tức Hòn Kiềng), Mâm Xôi, Cây Rui và các chốt sườn phía Nam dãy núi Ông Bình, bắc đường 19. Cắt đứt hoàn toàn đoạn đường đèo An Khê. Khi có thời cơ tiến công giải phóng chi khu quận lỵ An Khê. (Ba khẩu pháo 85mm, sau đó được kéo lên đặt ở sườn Nam dãy núi Ông Bình, ngắm bắn trực tiếp xuống các cứ điểm của địch ở đồi Mâm Xôi, Hòn Kiềng, Chóp Vung, Cây Rui...)

* Trung đoàn bộ binh 141 được pháo binh, pháo phòng không sư đoàn trực tiếp chi viện, đêm N tấn công tiêu diệt cụm cứ điểm của tiểu đoàn Bảo An địch ở Truông Ổi, ấp Vườn Xoài (chân đèo An Khê tại tỉnh Bình Định). Sau đó cùng với trung đoàn bộ binh số 2 đánh địch phản kích ở khu vực này.

* Trung đoàn bộ binh số 2 là lực lượng cơ động của sư đoàn, nhiệm vụ chủ yếu là đánh địch phản kích, tăng viện ở khu vực Truông Ổi, ấp Vườn Xoài. Khi có thời cơ phát triển tiến công xuống hướng Quy Nhơn.

Đây là đợt hoạt động tập trung, nằm trong chiến dịch tấn công của quân khu 5 nói riêng, trên toàn chiến trường nói chung của sư đoàn bộ binh 3, có sử dụng đến pháo xe kéo đầu tiên từ sau ngày thành lập sư đoàn. Pháo 85 mm nòng dài, khi đưa lên điểm cao, vào gần mục tiêu trong tầm bắn 1 km, ngắm bắn trực tiếp, xác suất trúng mục tiêu rất cao, địch trong công sự không chịu nổi.

Trước khi chiến dịch mở màn, tháng 2 năm 1975, tại Sở chỉ huy sư đoàn ở huyện Vĩnh Thạnh, sư đoàn tổ chức giao nhiệm vụ và phổ biến kế hoạch hiệp đồng cho các đơn vị. Tại hội nghị cán bộ lần này thể hiện quyết tâm rất cao, bàn bạc rất kỹ, niềm vui lộ rõ trên khuôn mặt của từng người. Tình hình như vậy là đã rõ. Chiến tranh đã tạo cho con người khôn lên, nhạy bén hơn và kinh nghiệm hơn trong thực tế chiến đấu. Những người trong cuộc thường có những nhận định về thời thế trên từng phạm vi của mình rất sát với tình hình thực tế đã diễn ra và sẽ diễn ra. Ở đây, vào thời điểm này, chúng tôi đã cảm nhận được một sự thay đổi lớn lao về diễn biến tình hình trên chiến trường, về tương quan lực lượng giữa ta và địch... Trước đây, trên quốc lộ 19 này chỉ có trung đoàn bộ binh 95 đảm nhiệm đánh giao thông trên đoạn đèo Mang Giang, trung đoàn bộ binh 12 đảm nhiệm đoạn đèo An Khê. Dù mặt trận B3 mở chiến dịch ở Tây Nguyên, cũng vẫn là hai đơn vị trên làm nhiệm vụ phối hợp cắt đường 19. Nay Quân khu 5 và Bộ tổng tham mưu quyết định điều cả sư đoàn bộ binh 3, mở chiến dịch cắt đường 19. Điều đó cho thấy mục đích và tầm quan trọng của nhiệm vụ cắt giao thông lần này mang tầm vóc lớn lao. Cắt đứt đường 19 lần này là thực hiện chia cắt chiến lược có liên quan đến chiến trường miền Nam, là cắt đứt mọi sự liên hệ giữa vùng cao nguyên với vùng đồng bằng của địch.

Tiểu đoàn 6 lại vượt đường 19 sang địa bàn quen thuộc năm xưa. Nhưng lần này với một khí thế hoàn toàn khác trước. Trung đoàn 12 (thiếu tiểu đoàn 6) và một số đơn vị của sư đoàn (chủ yếu là pháo binh) chiếm lĩnh toàn bộ dãy núi Ông Bình, đưa pháo vào gần, lên cao để chế áp toàn bộ các cứ điểm của địch hai bên đường đèo trong phạm vi 9 km đường 19; đồng thời, kìm chế các trận địa pháo của địch ở Truông Ổi, Đồn Phó, cao điển 105... Việc đưa pháo vào gần, lên cao đã được Quân khu 5 đưa ra sau khi đúc kết kinh nghiệm của sư đoàn bộ binh 2 ở Quảng Nam - Đà Nẵng, của lữ đoàn 52 và trung đoàn 22 ở Ba Tơ, Gia Vụt, Minh Long, hoặc ở quận lỵ Hoài Ân của sư đoàn bộ binh 3, v.v...

Tiểu đoàn 6 sang phía nam đường 19 lần này, kéo luôn đường dây điện thoại từ sở chỉ huy trung đoàn ở bắc đường, luồn qua các cầu cống trên đường 19 sang phía nam. Đây là việc mà từ trước đến giờ chưa làm được. Tất cả mọi tình huống đều được xử trí mau chóng từ đơn vị cơ sở phân đội lên đến trung đoàn, sư đoàn và ngược lại. Đây là một thành công trong công tác bảo đảm của ngành thông tin liên lạc.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:10:35 PM

Đầu năm 1975, sư đoàn bộ binh 3 đã triển khai xong trên mặt trận phía nam tỉnh Bình Định, trọng điểm là đường quốc lộ số 19. Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương hạ quyết tâm chọn Tây Nguyên là hướng tiến công chiến lược chủ yếu trong chiến dịch tổng lực mùa xuân 1975. Tất nhiên, lúc đó đâu có ai biết được. Mọi người chỉ phán đoán theo quy luật là mặt trận B3 mở chiến dịch, chúng tôi có nhiệm vụ cắt đường 19 để phối hợp.

Trước khi trận “điểm huyệt” then chốt vào Buôn Ma Thuột nổ súng vào ngày 10-3-1975, trên chiến trường toàn miền nói chung, trên chiến trường Quân khu 5 nói riêng, ta đã tiến công đồng loạt các mục tiêu căn cứ hành quân, chi khu quân sự của địch ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và các tỉnh cũ ở nam Đắc Lắc, đưa lực lượng áp sát các sân bay, thị xã và các thành phố lớn như Đà Nẵng, Chu Lai, Tam Kỳ, vào đến thị xã Quy Nhơn, kìm chân các sư đoàn, lữ đoàn chủ lực địch, không cho chúng chi viện lên chiến trường Tây Nguyên, sẵn sàng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu của địch khi có thời cơ đến.

Một sự phối hợp tiến công trên toàn chiến trường miền Nam, buộc địch phải căng lực lượng ra đối phó. Tạo nên sự bất ngờ về chiến dịch mang tính chiến lược đối với Tây Nguyên nói chung và trận đánh Buôn Ma Thuột nói riêng. Phối hợp với Trung đoàn bộ binh 95, thuộc Quân khu 5, trung đoàn 12, nằm trong đội hình Sư đoàn 3, chốt chặt đường 19, đoạn đường đèo An Khê. Dưới sự chi viện của hỏa lực pháo binh Sư đoàn từ phía Bắc đường 19, trung đoàn 12 cùng các đơn vị đã đánh chiếm một loạt các cứ điểm từ Cây Rui xuống Mâm Xôi, Hòn Kiềng, Chóp Vung, cao điểm 105 phía Đông đèo An Khê và các chốt sườn phía Nam dãy núi Ông Bình. Trung đoàn bộ binh 141 đánh chiếm Truông Ổi, ấp Vườn Xoài, góp phần không nhỏ vào thắng lợi trên chiến trường Tây Nguyên.

Tại cứ điểm Hòn Kiềng, còn gọi là đồi RaĐa, địch có một đại đội. Phía bắc có con suối Dầu chảy qua. Phía bắc suối Dầu là đường 19 chạy ngoằn ngoèo theo sườn dãy núi Ông Bình để lên đỉnh đèo An Khê. Phía nam cứ điểm Hòn Kiềng là rừng liên hoàn. Có thể nói, ít có trận đánh nào có được yếu tố về địa hình thuận lợi như ở đây. Phía bắc đường 19, trận địa ĐKZ75 của trung đoàn 12 bố trí trên sườn núi Ông Bình, ngắm bắn trực tiếp vào cứ điểm ở Hòn Kiềng theo tà âm. Tiểu đoàn 6 sử dụng một đại đội, từ hướng nam, mở qua ba lớp rào kẽm gai, tiến công lên Hòn Kiềng. Sau khi mở xong cửa mở, bộ đội xung phong lên đánh chiếm. Hầu hết địch ở đây bị tiêu diệt. Số sống sót chạy xuống suối Dầu thoát thân. Trận này ta chỉ bị thương một đồng chí, do đạn cối 81mm của địch, đồng chí Đặng Thành Kính, tiểu đoàn phó, tiểu đoàn 6. Hòn Kiềng bị ta đánh chiếm. Bọn địch ở cứ điểm Chóp Vung gần đó bỏ chạy xuống cao điểm 105.

Ngày 4 - 3, tiểu đoàn 4 trung đoàn bộ binh 12, từ sườn phía nam dãy núi Ông Bình đã tiến công đánh chiếm một lúc ba điểm chốt của địch ở phía bắc đường đèo An Khê và chốt lại ở đỉnh đèo. Chốt Cây Rui ở gần đó phải tháo chạy. Trong thời điểm ta tiến công, địch đã tăng cường lên đường 19, (chủ yếu tập trung tại đèo An Khê xuống đến huyện Bình Khê) trung đoàn 47 thuộc sư đoàn 22 cộng hòa cùng với liên đoàn bảo an số 927, thiết lập hệ thống chốt dày đặc để bảo vệ trục đường 19. Chỉ tính riêng 10 - 15 km đèo An Khê, từ núi Cây Rui xuống cống Hang Dơi và cao điểm 105 có từ 12 - 15 điểm chốt. Hầu hết các chốt của địch đều chiếm lĩnh trên điểm cao. Tuy nhiên, do đặc điểm về địa hình ở đây, có khi ta chỉ cần đánh chiếm một số mục tiêu then chốt thì toàn bộ hệ thống phòng thủ của địch sẽ bị rung động. Thực tế đó là khi tiểu đoàn 4 đánh chiếm 3 điểm chốt sườn phía nam núi Ông Bình, bắc đường 19 thì chốt Cây Rui phía nam đỉnh đèo tháo chạy, và khi tiểu đoàn 6 đánh chiếm Hòn Kiềng thì Chóp Vung gần đó tháo chạy xuống cao điểm 105. Tại cao điểm 105 có sở chỉ huy nhẹ của trung đoàn 47 và tiểu đoàn bảo an số 209 chiếm giữ. Mỗi khi trên đường đèo bị ta tiến công, địch thường kéo pháo lên khu vực cao điểm 105 để chi viện cho lực lượng của chúng. Ngày 8 - 3, tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 47 của địch đóng ở ấp Vườn Xoài bị tiểu đoàn 3, trung đoàn bộ binh 2 của ta đánh chiếm lần 2, chúng cũng dựa vào cao điểm 105 làm bàn đạp để phản kích, chiếm lại.

Sau khi đánh chiếm Hòn Kiềng, tiểu đoàn 6, trung đoàn bộ binh 12 cơ động xuống, áp sát cao điểm 105 (mỏm phía tây); tiểu đoàn 2 trung đoàn bộ binh 2 phối hợp tiến công mỏm phía đông. Ngày 10 - 3 hai tiểu đoàn ta đã đánh chiếm và làm chủ dãy cao điểm 105. Mất cao điểm 105, mọi cuộc phản kích hòng chiếm lại ấp Vườn Xoài của địch đều bị thất bại. Tình hình diễn ra từ Đồn Phó xuống xã Bình Tường cũng tương tự. Quân ta đã lần lượt đánh chiếm hầu hết hệ thống chốt bảo vệ giao thông đường 19 của địch. Ta đã đạt được 2 mục tiêu là cắt đứt giao thông tiếp tế của địch lên Tây Nguyên và loại khỏi vòng chiến đấu trung đoàn 47 sư đoàn 22 Cộng hòa và liên đoàn Bảo an số 927. Tình hình trên khu vực tác chiến cho thấy, tuy địch tập trung một lực lượng khá lớn (từ 8 - 10 tiểu đoàn bộ binh, 3 chi đoàn xe tăng, thiết giáp), thiết lập một hệ thống chốt kết hợp với cơ động để bảo vệ đường 19; song lực lượng của chúng bị dàn mỏng trên một tuyến (dọc trục đường 19) dễ bị chia cắt, khi bị ta đánh chiếm những mục tiêu then chốt, có ý nghĩa về chiến dịch, chiến thuật, cộng với tinh thần đang hoang mang, dao động thì toàn bộ hệ thống phòng thủ của chúng sẽ mau tan rã.

Rạng sáng ngày 17-3-1975, trung đoàn bộ binh 12 tiến vào An Khê diệt và bắt gần hai ngàn tên địch, thu 1500 súng, có 6 khẩu pháo 155 và 105 mm, 2 cối 106,7 mm, 6 xe tăng, xe bọc thép và nhiều quân trang, quân dụng, góp phần giải phóng hoàn toàn tỉnh Gia Lai1.

Đây là trận đánh tập trung của trung đoàn bộ binh 12, được hỏa lực pháo binh và pháo phòng không của sư đoàn chi viện. Trung đoàn đã hoàn thành toàn bộ nhiệm vụ ở khu vực đường 19. Cao nguyên bị thất thủ, đường số 19 bị cắt đứt, đường 21 cũng bị ta chặn đánh tại đèo Khánh Dương, đèo Phượng Hoàng, buộc địch phải chọn đường số 7 (là con đường về Củng Sơn đã bỏ từ lâu) hòng tháo chạy xuống tỉnh Phú Yên, nhưng đã bị các lực lượng của ta vận động đánh tơi bời không thoát được. Một bộ phận địch từ tỉnh Kontum, Gia Lai, băng rừng hòng tháo chạy xuống Quy Nhơn bị ta đánh tan tác ở hai đoạn đường đèo Mang Giang và An Khê.
____________________________________
1. Sư đoàn Sao Vàng-Nxb. QĐND - 1984.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:11:06 PM

THAM GIA CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH

Cuộc chiến tranh nào dù sớm hay muộn cũng có ngày kết thúc. Thế hệ chúng tôi vinh dự được tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Đầu năm 1975, ta mở chiến dịch giải phóng Tây Nguyên, những thất bại liên tiếp trên các chiến trường gây tâm lý hoang mang, hoảng loạn đối với địch. Diễn biến trên chiến trường Tây Nguyên làm cho chính quyền trung ương của Nguyễn Văn Thiệu thêm lúng túng. Cuộc tháo chạy chiến lược của địch khỏi Tây Nguyên sau khi bị mất Buôn Ma Thuột, đã tác động mạnh mẽ đến hệ thống phòng thủ của địch trên toàn chiến trường miền Nam nói chung, các tỉnh duyên hải miền Trung nói riêng.

Khí thế tiến công của quân ta mạnh như chẻ tre. Anh em lính vận tải, mang đạn từ phía sau ra phía trước, khiêng cáng thương binh dọc đường cũng bắt sống được tù binh. Dọc đường địch bỏ lại xe, pháo, mũ mão, giày dép, áo quần, súng đạn ngổn ngang.

Trước đây không lâu, bộ đội chúng tôi còn đi thu nhặt từng khẩu súng, từng quả lựu đạn để tính thành tích thu chiến lợi phẩm. Nay thì thu không xuể, mà toàn là những trang bị vũ khí, phương tiện tối tân, hiện đại như xe tăng, thiết giáp, pháo hạng nặng... Địch vừa tháo chạy vừa ngăn chặn ta từng bước. Ngăn chặn để tháo chạy, đó là sức chiến đấu của kẻ chiến bại, một đội quân khi đã vỡ thế trận, đã mất hết tinh thần thì sức kháng cự còn được bao nhiêu trước sự tiến công như vũ bão của quân ta?

Dọc đường tiến quân, truy kích địch, chúng tôi tổ chức lực lượng dập tắt các ổ đề kháng của chúng để tiến về phía trước. Phía sau giao cho lực lượng tại chỗ và cơ quan hậu cần, kỹ thuật, thu dọn chiến trường. Hai trung đoàn bộ binh số 2 và 12 phối hợp tiến công dọc theo trục đường quốc lộ số 19 xuống Diêu Trì, Quy Nhơn và căn cứ huấn luyện An Sơn của sư đoàn 22 địch.

Cuối tháng 3 năm 1975, sau khi trung đoàn bộ binh 12 hoàn thành nhiệm vụ trên đường 19, tôi được điều động sang trung đoàn bộ binh 2, vẫn cương vị là phó trung đoàn trưởng. Chỉ huy trung đoàn 2 lúc này là đồng chí Đoàn Mai Ngữ, quyền trung đoàn trưởng, thay đồng chí Vũ Quang Trắc đi công tác. Chỉnh ủy trung đoàn là đồng chí Nguyễn Văn Chước, Phó chính ủy là anh Lê Văn Quýt.

Địa bàn chiến lược Tây Nguyên bị mất, trục đường quốc lộ số 1 từ Trị Thiên Huế đến tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa bị cắt nhiều khúc. Các mục tiêu địch ở các thành phố, thị xã bị đánh chiếm, bị cô lập. Tại chiến trường Nam Bình Định, ta đã làm chủ hoàn toàn các huyện Vĩnh Thạnh, Bình Khê, Vân Canh, Tuy Phước... Và chiếm lĩnh tuyến An Sơn - Diêu Trì - Phú Tài - Quy Nhơn.

Toàn bộ sư đoàn 3 tiếp tục tiến công, truy kích địch vào phía nam.

Trên đường tiến quân, các đơn vị ta, lúc thì cơ động trên trục đường quốc lộ số 1, khi thì băng rừng, đón đầu địch, vượt lên phía trước để nâng cao tốc độ tiến công. Đến thị trấn Ninh Hòa, thuộc tỉnh Khánh Hòa, nơi ngã ba đường quốc lộ số 1 và 21, chúng tôi vừa dừng lại củng cố đội hình, thì được lệnh tiến công tiếp.

Khi đội hình chiến dịch đến huyện Du Long tỉnh Ninh Thuận, địch đã thiết lập tại đây tuyến ngăn chặn phía Bắc thị xã Phan Rang, sân bay Thành Sơn.

Thị xã Phan Rang và sân bay Thành Sơn thuộc tỉnh Ninh Thuận. Phía Bắc và Tây Bắc là huyện lỵ Du Long và ấp Bà Râu, địch đã thiết lập tuyến phòng thủ hình vòng cung để bảo vệ Phan Rang, sân bay Thành Sơn - phía Đông có cảng biển Ninh Chữ. Khi nguy cơ bị tiêu diệt, địch có thể tháo chạy ra hướng biển. Trong thời điểm hiện tại, địch ở Phan Rang có liên đoàn biệt động số 6, lữ đoàn dù số 3, sư đoàn không quân số 6, trung đoàn 22 mới được khôi phục lại và lực lượng địa phương quân.

Sư đoàn bộ binh 3 Quân khu 5 được tiền phương Bộ Tổng tham mưu giao nhiệm vụ tiến công giải phóng thị xã Phan Rang trong điều kiện thời gian chuẩn bị gấp. Sư đoàn được tăng cường trung đoàn bộ binh 25, Tây Nguyên. Trong quá trình tiến công, sư đoàn được tăng cường một tiểu đoàn xe tăng - thiết giáp của quân đoàn 2 để nâng cao tốc độ tiến công. Như vậy đánh vào thị xã Phan Rang có tất cả 4 trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo binh hỗn hợp (gồm pháo 85, 105, 155 mm) 36 khẩu, cối 120mm, 16 khẩu, ĐKZ 75mm 16 khẩu và một tiểu đoàn pháo cao xạ 37mm 12 khẩu.

Sư đoàn tổ chức 3 mũi. Mũi thứ nhất tiến công đánh chiếm ấp Bà Râu từ hướng tây và tây bắc sau đó tiến ra đường số 1 và đường sắt. Đây được xác định là hướng chủ yếu, không đột phá chính diện theo trục đường số 1, mà từ căn cứ Bác Ái tiến công vào ấp Bà Râu, bên sườn trái hệ thống phòng thủ của địch ở Phan Rang. Mũi này do trung đoàn bộ binh số 2 đảm nhiệm. Mũi thứ hai tiến công tiêu diệt quận lỵ Du Long, do trung đoàn bộ binh 12 đảm nhiệm. Mũi thứ ba tiến công vào sân bay Thành Sơn do trung đoàn bộ binh 25 được tăng cường tiểu đoàn pháo 85 và tiểu đoàn pháo cao xạ 37 mm đảm nhiệm. Trung đoàn bộ binh 141 làm nhiệm vụ thọc sâu vào núi Quýt - cảng Ninh Chữ, chặn đường rút lui của địch ra biển. Phối hợp với các mũi tiến công lên thị xã Phan Rang.

Trải qua chặng đường dài, hành quân truy kích địch từ Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, đêm 13 tháng 4 năm 1975, đội hình sư đoàn 3 đã vào đến tuyến tiếp giáp với địch phía Bắc thị xã Phan Rang. Sở chỉ huy trung đoàn 2 chúng tôi đã triển khai trên sườn núi đá phía tây - bắc ấp Bà Râu. Đứng ở đây, ta có thể thấy rõ được rìa ấp phía Bắc, nơi đối diện với đội hình tiến công của quân ta. Những ánh chớp, kèm theo tiếng nổ xuất hiệu liên tục trên các hướng. Địch kéo pháo ra đặt trên đường số 1, bắn như điên, như dại dọc đường và những nơi chúng nghi có quân ta tiếp cận.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:13:00 PM

5 giờ sáng ngày 14-4, lực lượng của trung đoàn bộ binh 2 đã áp sát ấp Bà Râu. Pháo binh ta đang chế áp mãnh liệt vào thị xã Phan Rang, sân bay Thành Sơn. Lúc này, sở chỉ huy trung đoàn có anh Đoàn Mai Ngữ, trung đoàn trưởng, anh Nguyễn Văn Chước, chính ủy, anh Lê Văn Quýt, phó chính ủy và tôi. Chúng tôi hội ý chớp nhoáng và phân công nhau đi xuống các mũi, các hướng.

Lúc 9 giờ 30 ngày 14-4-1975, trung đoàn 2 nổ súng tiến công ấp Bà Râu. Tôi theo một mũi tiến công từ phía tây vào ấp. Vừa từ ngoài đồng ruộng khô bước vào bờ hào rìa ấp đã thấy xác hai tên lính mặc quần áo rằn ri, nằm đè lên nhau, vắt qua bờ ấp, bên cạnh một hố đất cháy xám. Có thể mấy tên địch chết do một quả B40 của bộ đội ta khi tiến công vào ấp. Trung đoàn bộ binh 2 làm chủ hoàn toàn ấp Bà Râu, tiến ra đường quốc lộ số 1 và đường tàu hỏa. Súng nổ dữ dội, khắp nơi. Cuộc chiến đấu quyết liệt với địch từ quận lỵ Du Long dọc theo đường số 1, trên các điểm cao phía đông đường của các lực lượng sư đoàn 3 kéo dài đến tối.

Tuyến phòng thủ của địch Du Long - ấp Bà Râu - Thành Sơn, cơ bản bị đập tan. Để nâng cao tốc độ tiến công ngày 15 tháng 4, Bộ tăng cường cho sư đoàn một tiểu đoàn xe tăng của quân đoàn 2.

Cánh cửa phía bắc đã mở, quân ta tiến công như vũ bão vào thị xã Phan Rang - sân bay Thành Sơn. Ngày 16-4-1975 tỉnh Ninh Thuận được hoàn toàn giải phóng. Toàn bộ lực lượng địch ở đây bị quân ta tiêu diệt, bắt sống, tan rã. Ta thu toàn bộ máy bay, trên 30 chiếc tại sân bay Thành Sơn, hàng chục khẩu pháo các loại và các phương tiện chiến tranh khác của địch.

Phải nói rằng: Địch chọn tuyến ấp Bà Râu - Du Long làm lá chắn trong hệ thống phòng thủ Phan Rang - Tháp Chàm là rất lợi hại. Trên hướng chính diện, chúng dựa vào chi khu quận lỵ Du Long, dọc phía đông quốc lộ số 1 vào Phan Rang có dãy cao điểm khống chế. Địch hoàn toàn chiếm địa hình có lợi tại khu vực này. Phía tây, liên hoàn với ấp Bà Râu, xung quanh đối diện với đội hình tiến công của ta là cánh đồng trống, tiếp đến là tuyến chiến hào rìa ấp. Chính vì thế mà đã gây không ít khó khăn cho ta trong quá trình đột phá tiến công.

Sư đoàn bộ binh 3, sau khi cùng với các lực lượng của chiến dịch, tiến công giải phóng thị xã Phan Rang, được giao nhiệm vụ quân quản, tổ chức tuyên truyền, vận động quần chúng, ổn định trật tự, lùng sục tàn binh địch và thu dọn chiến trường - một nhiệm vụ khá phức tạp trong tình hình lúc đó.

Được nhân dân báo tin: ở vườn chuối, dọc con mương nước phía tây, thị xã Phan Rang có một toán địch đang lẩn trốn. Chúng tôi phái ngay một đại đội thuộc tiểu đoàn 1, trung đoàn 2 đến bao vây, lùng sục. Quả nhiên, sau một hồi tìm kiếm, một tổ ba đồng chí, gồm Loan, Mưu, Quân, do đồng chí Loan làm tổ trưởng, bắt gọn Bộ chỉ huy tiền phương quân khu Ba của địch tại khu vực Bửu Sơn; trong đó có thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, tư lệnh vùng 3 chiến thuật, chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang, tư lệnh sư đoàn không quân số 6, một đại tá cố vấn quân sự Mỹ và hàng chục sĩ quan cấp tá khác1.

Ngay lập tức, tin trung đoàn 2 bắt được tướng ngụy và cố vấn Mỹ được báo cáo lên Bộ tư lệnh chiến dịch.

Chúng tôi đưa bộ ba tướng, tá này vào một ngôi nhà bỏ trống tại thị xã Phan Rang. Cùng lúc, trên bầu trời chiếc máy bay trinh sát (L19) quần lượn nhiều vòng, có lẽ chúng đang cố gắng tìm hai tên tướng ngụy và cố vấn Mỹ để giải thoát. Nhưng vô vọng. Các loại súng phòng không của ta bắn lên. Chiếc máy bay bay vút lên cao rồi chuồn thẳng vào phía nam.

Ba tên sĩ quan cao cấp bị bắt thuộc Bộ tư lệnh quân đoàn Ba của quân đội Sài Gòn vừa được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phái ra lập tuyến phòng thủ ở Phan Rang để bảo vệ Sài Gòn từ xa. Chúng tôi đang khai thác hai tên tướng ngụy để phục vụ cho chiến đấu trước mắt, thì nhận được điện của Bộ tư lệnh sư đoàn, đưa ngay tù binh về Bộ tư lệnh chiến dịch.

Trong tình hình hiện nay, việc bắt gọn được tên cố vấn Mỹ và cả bộ tư lệnh phòng thủ của địch trên hướng tiến công chủ yếu vào mục tiêu chiến lược cuối cùng là Sài Gòn - Gia Định, là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong ý đồ tiếp theo của quân ta.

Sự việc diễn ra bất ngờ, đến nỗi khi chúng tôi báo cáo lên cấp trên, Bộ tư lệnh và cơ quan chiến dịch chưa tin, chỉ thị xuống cho sư đoàn thẩm tra lại. Khi đã được khẳng định tin này, từ Bộ tư lệnh sư đoàn đến Bộ tư lệnh và cơ quan tiền phương Bộ tổng tham mưu đều vui mừng và xúc động không sao tả hết.

Ngay lập tức, tin sư đoàn 3 bắt được cố vấn Mỹ và Bộ chỉ huy phòng thủ của địch tại Phan Rang - được báo cáo lên Tổng tư lệnh - Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng thời tư lệnh chiến dịch Lê Trọng Tấn chỉ thị cho sư đoàn 3:

* Canh giữ tù binh chặt chẽ, không để chúng trốn thoát.

* Chấp hành nghiêm chỉnh chính sách đối với tù binh, cho ăn uống tử tế, động viên chúng an tâm.

* Tổ chức lực lượng tin cậy, áp giải ra Bộ.

Đêm hôm đó (16/4) sư đoàn 3 nhận được điện khẩn của Bộ Tổng tham mưu với nội dung phải đưa và hộ tống những tù binh sau đây ra Hà Nôi:

1, Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.

2, Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang.

3, Đại tá cố vấn Mỹ

4, Đại tá Lã Xuân Thu (Lữ trưởng lữ dù số 3)

Bộ sẽ thông báo và ra lệnh cho các đơn vị đang hành quân trên đường số 1 giúp đỡ và tạo điều kiện cho sư đoàn 3 đưa tù binh ra Hà Nội an toàn và nhanh nhất.

Sau đó, Đại tướng tổng tư lệnh cũng gửi điện khẩn cho sư đoàn và dặn thêm: “Cầm bức điện này để tiện giao dịch trên đường”.

Sư đoàn đã tổ chức 2 chiếc xe và 12 đồng chí trinh sát, cảnh vệ được lựa chọn kỹ, do đồng chí Võ Khắc Vẽ, trưởng ban trinh sát sư đoàn trực tiếp chỉ huy, đi ra Hà Nội an toàn, theo đúng kế hoạch.
___________________________________________
1. Ký ức Sư đoàn 3 - Tập 2 - Nxb. QĐND - 2005: Xem bài “Chúng tôi bắt tướng nguỵ thế nào” của Nguyễn Văn Quân - trang 288.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:15:05 PM

Ngày 26-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu với quyết tâm là “Thần tốc, táo bạo, giải phóng Sài Gòn trong thời gian ngắn nhất - trước mùa mưa”.

Đúng với tư tưởng chỉ đạo là “Thần tốc”, trên đường hành tiến, chúng tôi gặp bất cứ phương tiện gì thì sử dụng ngay phương tiện đó để tiến lên phía trước, chạy đua với thời gian. Các loại xe của nhân dân đều được trưng dụng để chuyển quân. Nhân dân lúc ấy sẵn sàng giúp đỡ bộ đội. Chúng tôi chỉ cần ghi cho họ mấy dòng chữ: “Người này đã giúp đỡ quân giải phóng trên đường tiến công địch”. Họ rất vui mừng và tự hào, vì được giúp đỡ cách mạng. Quân ta tiến công như vũ bão trên khắp các mặt trận hướng về Sài Gòn.

Phòng tuyến Phan Rang bị thất thủ, địch dồn mọi lực lượng lùi về cố thủ tại Xuân Lộc - Đồng Nai và thị xã Bà Rịa. Trong khi đó, trên các hướng, quân ta đang nỗ lực tiến về Sài Gòn. Lực lượng của địch căng ra, lo đối phó, không chi viện được cho nhau.

Sư đoàn bộ binh số 3, thuộc Quân khu 5 trong cánh quân duyên hải tiến công giải phóng thị xã Phan Rang. Từ đây sư đoàn nằm trong đội hình Quân đoàn 2, đảm nhiệm tiến công địch trên hướng đông nam Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Khi đội hình sư đoàn 3 tập kết tại Rừng Lá, quân đoàn 4 đã làm chủ khu vực Trảng Bom, theo quốc lộ 20 tiến công đánh chiếm ngã ba Dầu Dây. Sân bay Biên Hòa bị chế áp. Phòng tuyến bảo vệ Sài Gòn trên hướng Bắc, dọc quốc lộ 1 mà địch tập trung mọi cố gắng thiết lập tại Xuân Lộc đã bị chia cắt bởi 2 cánh quân ta: Phía đông nam là quân đoàn 2, phía tây là quân đoàn 4 và có nguy cơ bị bao vây từ hướng Bà Rịa, Xuyên Mộc. Sư đoàn 18 và các lực lượng địch tại Xuân Lộc vô cùng hoang mang, tuyệt vọng. Chúng dồn mọi khả năng trong bước đường cùng hòng ngăn chặn bước tiến công của quân ta, tạo cơ hội cho Sài Gòn di tản. Vì vậy cuộc chiến đấu ở đây vẫn không kém phần quyết liệt.

Những ngày này, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, cực Nam Trung bộ và Nam bộ vô cùng sôi động.

Không chịu nổi trước sức mạnh tiến công của quân ta, ngày 21 tháng 4, sư đoàn 18, lữ đoàn Ky binh thiết giáp, 1 liên đoàn biệt động và các lực lượng khác của địch tháo chạy khỏi Xuân Lộc. Tỉnh Long Khánh được hoàn toàn giải phóng.

Đội hình Quân đoàn 2 trong chiến dịch Hồ Chí Minh hướng đông nam Sài Gòn gồm có: Sư đoàn bộ binh 304, 325, 3, lữ đoàn pháo binh, lữ đoàn pháo cao xạ, lữ đoàn xe tăng.

Tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Hữu An và chính ủy Lê Linh giao nhiệm vụ cho sư đoàn 3 như sau:

“Sư đoàn 3 được tăng cường một đại đội xe tăng T54 (5 chiếc); một đại đội pháo 130 mm (4 khẩu); một đại đội pháo phòng không 100mm (4 khẩu) có nhiệm vụ tiến công tiêu diệt toàn bộ quân địch ở tỉnh Phước Tuy (nay là Bà Rịa) và thành phố Vũng Tàu. Sau đó sẵn sàng ra giải phóng một số đảo như Cần Giờ, Côn Sơn, khi có lệnh. Hiệp đồng chặt chẽ với sư đoàn bộ binh 325 quân đoàn 2 bên cánh phải ở Long Thành, Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ...”

Quyết tâm của đảng ủy và bộ tư lệnh sư đoàn 3 được xác định như sau: Tập trung mọi lực lượng của sư đoàn và lực lượng tăng cường, trước mắt tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, giải phóng tỉnh Phước Tuy. Mục tiêu chủ yếu là dinh tỉnh trưởng, trường hạ sĩ quan Vạn Kiếp, nhanh chóng chiếm giữ cầu Cỏ May, tạo thế để tiến công tiếp xuống thành phố Vũng Tàu.

Nhiệm vụ tiếp theo là tiến công giải phóng Vũng Tàu.


Nhiệm vụ của các đơn vị:

* Trung đoàn bộ binh 141, được tăng cường đại đội xe tăng, được cụm pháo binh sư đoàn chi viện, tiến công trên hướng chủ yếu của sư đoàn, tiêu diệt và làm tan rã quân địch ở thị xã Bà Rịa, nhanh chóng phát triển chiếm cầu Cỏ May. Mục tiêu chủ yếu là dinh tỉnh trưởng. Sau đó làm lực lượng dự bị, sẵn sàng bước vào chiến đấu, giải phóng thành phố Vũng Tàu.

* Trung đoàn bộ binh 12 được chi viện hỏa lực của cụm pháo binh sư đoàn, tiến công tiêu diệt chi khu quận lỵ Đức Long, huyện Đất Đỏ, phát triển đánh chiếm chi khu quận lỵ Long Điền, khu căn cứ của sư đoàn 18 địch ở Phước Tỉnh. Sau đó cơ động đánh chiếm thành phố Vũng Tàu bên cánh trái của sư đoàn.

* Trung đoàn bộ binh số 2, giai đoạn trước mắt làm lực lượng dự bị của sư đoàn, giai đoạn tiếp sau làm lực lượng chủ yếu, tiến công theo trục đường số 51, giải phóng thành phố Vũng Tàu.

Ngày 28 tháng 4, lực lượng quân đoàn 3 Sài Gòn cùng với các lữ đoàn xe tăng thiết giáp, các lữ đoàn thủy quân lục chiến lùi về thiết lập tuyến ngăn chặn Hố Nai - Biên Hòa - Long Bình, trực tiếp bảo vệ Sài Gòn từ hướng đông và đông bắc.

Ngày 29 tháng 4, trên các hướng khác, các binh đoàn chủ lực của ta cùng đồng loạt tiến công, hình thành thế bao vây và tiến dần đến mục tiêu cuối cùng là Sài Gòn - Gia Định. Hướng bắc, Quân đoàn 1 đã tiến đến sông Bé, vượt qua các tuyến phòng thủ của địch, áp sát đến Lái Thiêu. Hướng tây bắc, Quân đoàn 3 đánh chiến căn cứ Đồng Dù, trường huấn luyện Quang Trung (Hóc Môn). Hướng tây nam, đoàn 232 cũng đã giải phóng thị xã Hậu Nghĩa và tiến đến vùng ven thành phố1.

Trên hướng Bắc - Đông Bắc Sài Gòn, Quân đoàn 4 đã phá vỡ được tuyến ngăn chặn Hố Nai - Long Bình, chế áp mãnh liệt sân bay Biên Hòa. Trên hướng của Quân đoàn 2, quân ta tập trung mọi cố gắng tiến công vào căn cứ Nước Trong, trường huấn luyện thiết giáp. Ở đây địch chống cự quyết liệt. Một cánh quân tiến công đánh chiếm thị trấn Long Thành, mở đường thọc xuống Nhơn Trạch, Thành Tuy Hạ, Cát Lái.
_____________________________________
1. Lịch sử Quân đoàn 4 - Nxb. QĐND 6/2004.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:15:42 PM

Tại thị xã Bà Rịa, tàn quân của sư đoàn 18 Sài Gòn, lữ đoàn Kỵ binh thiết giáp 3 từ Xuân Lộc rút về, cùng với lính dù, lính thủy quân lục chiến, tập trung tại căn cứ huấn luyện Vạn Kiếp chống trả quyết liệt. Trung đoàn 141 được tăng cường 5 chiếc xe tăng cùng trung đoàn bộ binh 12, phải đột phá liên tục vào thị xã Bà Rịa. Hai xe tăng của ta đã bị bắn cháy, bắn hỏng ngay trước cửa ngõ chính từ hướng bắc vào thị xã. Khoảng 19 - 20 giờ ngày 27-4-1975, tôi đi qua đây thấy một số đồng chí của ta hy sinh bên cạnh những chiếc xe tăng bị bắn cháy, chưa được chuyển đi. Thật xót xa, trước thắng lợi hoàn toàn gần kề, chiến sĩ ta vẫn còn phải ngã xuống...

Trước sức tiến công mãnh liệt của 2 trung đoàn bộ binh 12 và 141 thuộc sư đoàn 3, đến 21 giờ, sư đoàn 3 đã làm chủ thị xã Bà Rịa, căn cứ Vạn Kiếp. Sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn 141, trận địa pháo và xe tăng triển khai tại thị xã Bà Rịa. Hai trung đoàn 2 và 12 nống ra hướng đông nam thị xã. Trung đoàn bộ binh 12 nống ra hướng biển Long Hải, trung đoàn 2 tiến đến đầu đường số 51 Bà Rịa đi Vũng Tàu. Toàn bộ địch còn lại tại thị xã Bà Rịa tháo chạy xuống Vũng Tàu. Chúng đã đánh sập cầu Cỏ May và thiết lập tại đây một ổ đề kháng tại mố cầu phía nam, hòng làm chậm bước tiến của quân ta.

Nhiệm vụ của sư đoàn 3 lúc này là nhanh chóng đánh chiếm thành phố Vũng Tàu, vu hồi, chặn địch từ Sài Gòn tháo chạy theo đường biển. Do đó, tiến công đánh chiếm Vũng Tàu càng sớm càng tốt. Nhưng tại cầu Cỏ May, địch dựa vào sông Cỏ May chống trả quyết liệt.

Trong quá trình tiến công đánh chiếm thị xã Bà Rịa, trung đoàn bộ binh 141 báo cáo: “Đã đánh chiếm được cầu Cỏ May!”. Nhưng không phải. Đó là chiếc cầu nhỏ, trước cầu Cỏ May. Còn cầu Cỏ May đã bị địch phá sập trước khi rút chạy khỏi thị xã Bà Rịa.

Phía bên kia cầu (hướng Vũng Tàu) địch có khoảng một tiểu đoàn và hàng chục xe tăng - xe thiết giáp. Chúng xếp thùng khuy, đổ đầy cát, dựa vào sông Cỏ May làm thành trận địa phòng ngự mạnh, chống trả quyết liệt.

Ngày 28 - 4, tiểu đoàn 3, do tiểu đoàn trưởng Lê Đình Như và chính trị viên Nguyễn Văn Hùng, tổ chức tiến công nhiều lần, không thành công. Ta thương vong cao. Khu vực này, địa hình trống trải, đường độc đạo, hai bên sình lầy. Khi thủy triều lên, nước mênh mông; khi thủy triều xuống, lầy lội. Địa hình chật hẹp, không có chỗ để triển khai binh hỏa lực. Tiểu đoàn phải dừng lại.

Lúc này theo kế hoạch ban đầu, tập trung lực lượng tiến theo đường 51 xuống Vũng Tàu sẽ bị chậm trễ. Trước tình hình đó, thường vụ đảng ủy sư đoàn họp. Sau khi phân tích tình hình, nhất trí thay đổi quyết tâm ban đầu: Chuyển hướng tiến công chủ yếu sang hướng trung đoàn bộ binh 12 dọc theo bờ biển, phía đông đường 51. Tuy khó khăn, phức tạp, nhưng hoàn toàn chính xác. Việc cần phải triển khai gấp là cơ động cụm pháo binh sư đoàn (thiếu) gồm: một tiểu đoàn lựu pháo 155mm, một tiểu đoàn pháo 130 mm, một tiểu đoàn (thiếu) pháo chống tăng 85 mm và tiểu đoàn (thiếu) pháo cao xạ 37 mm xuống hướng trung đoàn bộ binh 12 ở khu vực Phước Tĩnh.

Tư lệnh sư đoàn, đồng chí Trần Bá Khuê bổ sung nhiệm vụ cho các đơn vị qua điện thoại, trước hết là trung đoàn 12:

* Trung đoàn bộ binh 12, do đồng chí Đới Ngọc Cầu, trung đoàn trưởng chỉ huy, từ đông nam thị xã Bà Rịa, vượt qua cửa biển Long Hải, tiến theo bờ biển xuống chiếm bãi Thùy Dương, phát triển đến ngọn Hải Đăng, chặn địch tháo chạy ra biển, vu hồi vào trung tâm thành phố.

* Trung đoàn bộ binh số 2 nhạnh chóng khắc phục để vượt qua cầu Cỏ May, tiến công đánh chiếm Núi Lớn, khu vô tuyến viễn thông, phát triển xuống Bãi Trước, làm chủ dọc đường ven biển đến tòa Bạch Dinh, khách sạn Palas.

* Trung đoàn bộ binh 141 dùng một tiểu đoàn đánh chiếm núi Nưa, trung đoàn thiếu một tiểu đoàn làm lực lượng dự bị.

Đồng chí Phó tư lệnh tham mưu trưởng sư đoàn Nguyễn Duy Thương cùng với chủ nhiệm pháo binh và một số cán bộ cơ quan sư đoàn xuống trực tiếp chỉ huy, và chỉ đạo giúp đỡ trung đoàn bộ binh 12 vượt qua cửa biển Long Hải (Phước Tĩnh). Các anh hạ quyết tâm vượt qua cửa biển bằng hai phương pháp:

* Một, bằng bí mật.

* Hai, nếu bị lộ, địch ngăn chặn thì dùng sức mạnh hỏa lực để vượt qua.

Tình hình ở phía bên kia (hướng Vũng Tàu) chủ yếu chúng ngăn chặn ta tiến công theo trục đường 51. Hướng bờ biển có nhiều sơ hở và nhất là chúng đang trong thời kỳ tan vỡ, tinh thần dao động mạnh.

Trung đoàn bộ binh 12 đã huy động trong nhân dân được 40 chiếc thuyền, mỗi chiếc chở được hơn một trung đội bộ binh, có cả hỏa lực đi cùng. Nhân dân ở đây rất nhiệt tình giúp đỡ, nếu không trung đoàn bộ binh 12 không thể nào vượt qua được một cửa biển rộng gần 1 km. Điều đó, nói nên rằng, không những nhân dân các tỉnh Liên khu 5 đã nuôi nấng, giúp đỡ sư đoàn 3 gần 10 năm chiến đấu trong những năm ngặt nghèo nhất, mà đồng bào ở dưới vùng kiểm soát của chế độ Mỹ - Ngụy từ bao năm nay cũng náo nức, vui mừng khi được góp sức cùng với quân giải phóng trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:16:17 PM

Đêm 28-4, trung đoàn bộ binh 12, do trung đoàn trưởng Đới Ngọc Cầu và chính ủy Trần Hữu Biền chỉ huy, đã vượt qua eo biển Long Hải được bí mật, an toàn, tiến vào nội ô thành phố Vũng Tàu. Tiểu đoàn 6 được tăng cường 2 khẩu ĐKZ82, tiến công quặt ra hướng đường 51, sau cầu Cỏ May, bắn cháy 2 xe thiết giáp M113 của địch, làm chủ ấp Thắng Nhất, Thắng Nhì, tạo điều kiện cho trung đoàn bộ binh 2 tiến công cụm quân địch ở cầu Cỏ May.

Trên hướng tiến công của trung đoàn bộ binh 2, lúc 21 giờ 30 ngày 28-4. Sở chỉ huy trung đoàn đặt trên sân thượng của tòa nhà ba tầng, ngay ngã ba đầu đường số 51 rẽ xuống Vũng Tàu. Đứng ở đây, ban ngày có thể nhìn thấy toàn cảnh phía đông nam thị xã Bà Rịa và trục đường 51. Nhưng bây giờ trời tối, chỉ thấy những ánh chớp kèm theo tiếng nổ của đạn pháo trên các hướng tiến công của quân ta. Xung quanh chúng tôi có mấy chiếc xe GMC, địch tháo chạy không kịp tắt máy, vẫn nổ xình xịch...

Sau khi đánh chiếm thị xã Phan Rang, trên đường tiến công vào phía Nam, đồng chí Đoàn Mai Ngữ bị tai nạn, phải đi viện. Tại sở chỉ huy lúc này có anh Nguyễn Văn Chước chính ủy, anh Lê Văn Quýt và anh Lưu Quang Đông, phó chính ủy và tôi. Anh Chước ở lại sở chỉ huy để theo dõi tình hình trên các mũi tiến công của trung đoàn, tôi trực tiếp đi xuống cầu Cỏ May. Khi chúng tôi bàn cách tổ chức cho bộ đội vượt cầu Cỏ May, anh Chước lo lắng, nhắc tôi:

- Cậu hãy thận trọng, nắm thật chắc tình hình địch bên kia cầu và cho trinh sát bí mật sang trước!

- Anh yên tâm? Có tình hình gì tôi sẽ điện về ngay! - Tôi trả lời rồi điều đồng chí chủ nhiệm công binh cùng đi xuống cầu Cỏ May. Tại cầu Cỏ May tiểu đoàn 3 đang tập trung mọi cố gắng đập tan mọi sự kháng cự của địch để vượt qua. Tôi bò vào sát mố cầu phía Bắc để quan sát.

Cầu bị đánh sập một nhịp. Nước sông sâu, chảy xiết. Bên kia cầu dưới ánh sáng lờ mờ trong đêm tối, thấp thoáng có một số tên địch đi lại, canh gác. Chúng tôi điều ngay một khẩu ĐKZ75, một khẩu cối 120mm và một khẩu súng máy 12,7 mm triển khai bên này cầu để bảo đảm cho bộ đội vượt sông. Ở đây, do địa hình hai bên đường chật hẹp, nên không thể triển khai được nhiều hơn. Suốt từ chiều đến 20 giờ ngày 28-4 tiểu đoàn trưởng Như và chính trị viên Hùng tổ chức đột phá liên tục, không vượt qua được. Địch dựa vào sông Cỏ May chống trả quyết liệt. Có nhiều đồng chí bị thương tại đây.

Trong khi một tổ trinh sát đang bí mật bơi qua sông để nắm tình hình bên kia cầu Cỏ May, đồng chí chủ nhiệm công binh trung đoàn lên phía trên, cách cầu khoảng 500 mét để tìm phương tiện vượt sông. Chúng tôi được bà con ngư dân ở đây giúp đỡ. Mờ sáng ngày 29-4 một phân đội vượt sông, đánh chiếm đầu cầu. Lúc tiểu đoàn 6 trung đoàn 12 tiến ra đường 51, phía sau cầu Cỏ May, bọn địch ở đây chống trả một cách tuyệt vọng và tháo chạy. Tranh thủ thời cơ, đội hình trung đoàn bộ binh 2 ào ạt vượt qua sông Cỏ May tiến thẳng xuống Vũng Tàu.

Sở chỉ huy trung đoàn bộ binh 2 di chuyển liên tục, bám sát đội hình để chỉ huy bộ đội, và xử trí các tình huống kịp thời. Lúc này mũi tiến công phía đông, trung đoàn bộ binh 12 đã đổ bộ vào Bãi Sau tiến vào thành phố Vũng Tàu. Chúng tôi được thông báo liên tục về tình hình diễn biến trên các hướng chiến dịch.

Sáng ngày 30 tháng 4 thắng lợi đã nắm chắc trong tầm tay. Nhưng cuộc chiến đấu vẫn diễn ra quyết liệt tại trung tâm thành phố. Trên các hướng chiến dịch, máu của chiến sĩ ta vẫn phải đổ xuống trên đường tiến quân vào Sài Gòn - Gia Định.

Rạng sáng ngày 30-4, sở chỉ huy trung đoàn bộ binh 2 đã triển khai tại căn cứ Hải quân Vũng Tàu. Các lực lượng bộ binh đã áp sát dưới chân Núi Lớn.

Trung đoàn bộ binh 12 đã tiến đến khu vực Thùy Dương và đang tiến lên Núi Nhỏ. Một mũi khoe của trung đoàn tiến công vào trung tâm thành phố. Dưới sự lãnh đạo và tổ chức của địa phương, nhân dân ở đây đã chuẩn bị từ trước, nên bộ đội ta tiến đến đâu, cờ đỏ sao vàng, cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng mọc lên tới đó. Chúng tôi như hành tiến dưới rừng cờ với bao cảm xúc sung sướng và tự hào. Thế mớí biết, mấy chục năm qua, sống dưới ách kìm kẹp của đế quốc Mỹ và tay sai, đại bộ phận nhân dân miền Nam vẫn luôn hướng về cách mạng. Các mẹ, các chị chạy ra, tiếp tế cho chúng tôi nước uống, kẹo, bánh và trái cây.

Vào lúc 09 giờ 30 phút, lực lượng đầu tiên của Trung đoàn bộ binh 2 đến khu vực ngã ba đường, dưới chân Núi Lớn. Nơi đây trông có vẻ như một trường học. Trên đỉnh Núi Lớn có đài vô tuyến viễn thông. Những chiếc “rổ sắt” khổng lồ được bao bọc bởi một lớp hàng rào bằng lưới sắt chống đạn B40 cao 2 - 3 mét trong một khu vực rộng gần chục héc ta.

Chúng tôi tiến vào khu nhà hai tầng sát chân núi thì bỗng nhiên súng từ trên sườn Núi Lớn bắn xuống, trong nhà bắn ra. Đạn bay chíu chíu trên đầu. Cùng anh em nép vào các căn nhà hai bên đường để tránh đạn, tôi ra lệnh cho cối 120 mm bắn lên sườn đồi đối diện để uy hiếp, nhưng yêu cầu không được bắn lên đỉnh đồi, nơi có đài vô tuyến viễn thông. Vì máy móc thiết bị trên đó nay như đã thuộc về ta rồi. Khi im tiếng súng, chúng tôi tiến vào sân trường. Tại đây có một nhóm học sinh khoảng 14, 15 tuổi đứng trước cổng trường. Trên sân trường có 4 - 5 khối học sinh, đội ngũ chỉnh tề, nhưng không thấy thầy, cô giáo. Khi chúng tôi hỏi: “Những loạt súng vừa rồi ở đâu bắn ra?”. Các em trả lời: “Không biết!”.

Suy nghĩ, đây chỉ là học sinh của một trường phổ thông, chúng tôi cho các em ra về, chỉ giữ lại một số người lớn tuổi.

Khi các em đã rời sân trường, chúng tôi lên kiểm tra trên các tầng lầu của căn nhà thì thấy toàn bộ các phòng đều bỏ trống, chăn, màn, quần áo vứt ngổn ngang. Tại các cửa sổ đều có bao cát, xếp thành những lô cốt, có lỗ châu mai hướng ra ngoài. Mỗi cửa đều có 1 - 2 khẩu súng AR15. Thì ra, đây là những ổ chiến đấu mà chủ nhân những khẩu súng kia chính là những học sinh lúc nãy, và có thể chính nơi đây là trường “thiếu sinh quân” của quân đội Sài Gòn.

Tôi dẫn theo một tổ ba đồng chí, trèo qua lớp hàng rào lưới sắt, lên đỉnh đồi, kiểm tra toàn bộ khu vô tuyến viễn thông. Một quả đạn cối 120 mm của ta đã bắn sập một góc nhà kho, các thiết bị trên Núi Lớn vẫn còn nguyên vẹn. Số địch đóng chốt ở đây đã chạy xuống bờ biển. Các lực lượng của Trung đoàn bộ binh 2 phối hợp từ trên Núi Lớn thọc xuống, từ phía Bắc và phía Nam tiến theo con đường dọc bờ biển tại khu vực Bãi Trước. Trên con đường này ngổn ngang xe vận tải, xe thiết giáp M113. Có nhiều chiếc đâm đầu xuống biển, có những chiếc đang nổ máy xình xịch... Một đám lính địch rất đông, đang tập trung tại đây, đủ các đơn vị: lính dù, lính xe tăng, lính vận tải, lính biệt động... Khi thị xã Bà Rịa bị thất thủ, số lính sống sót chạy về đây trong bước đường cùng, tuyệt vọng.

Trước những bãi xe ngổn ngang, làm thế nào để thu dọn và đưa về đơn vị. Tôi tập trung đám tàn quân lại một nơi, hỏi: “Ai là người biết lái xe?”. Cả bọn có vẻ sợ sệt, không dám trả lời.

- Trong tất cả các anh, ai biết lái xe? - Tôi nhắc lại lần thứ hai.

Một người trong bọn, khoảng 50 tuổi, vừa giơ tay lên, thì rất nhiều người trong toán lính này giơ tay. Sau này tôi mới được biết, tay đứng tuổi là Tiểu đoàn trưởng, còn đám tàn binh kia là lính lái xe của tiểu đoàn tiếp vận từ thị xã Bà Rịa chạy về đây. Sau khi tuyên truyền cho chúng hiểu về chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, tôi ra lệnh mỗi người lên một chiếc xe, kiểm tra lại xăng dầu và tình trạng về kỹ thuật, cho nổ máy thử và khi có lệnh, lái xe về căn cứ của quân giải phóng. Chúng nó chấp hành răm rắp. Thế là chúng tôi đưa được 22 xe vận tải về sở chỉ huy sư đoàn. Số địch còn lại, gồm nhiều sắc lính khác nhau, chúng tôi giao lại cho lực lượng phụ trách tù binh giải quyết.

Đúng 10 giờ 30 phút ngày 30-4, hai cánh quân trực tiếp tiến công giải phóng thành phố Vũng Tàu là trung đoàn bộ binh số 2 và 12 sau khi dập tắt sự kháng cự cuối cùng của một lực lượng địch ở khách sạn Palas, đã gặp nhau tại đây.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:17:44 PM

SAU GIẢI PHÓNG

Trải qua bao nhiêu năm gian khổ, hy sinh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, được sự ủng hộ to lớn của các nước XHCN anh em và cả loài người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, cuộc chiến tranh của nhân dân ta chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ đã thắng lợi một cách vẻ vang. Đây là thắng lợi của cả dân tộc.

Riêng người lính chúng tôi, sau những năm tháng chiến đấu vô cùng khốc liệt trên chiến trường, đến lúc này mới tin là mình còn sống.

Chúng tôi tổ chức ngay cuộc diễu binh tại thành phố Vũng Tàu trong ngày Quốc tế Lao động mùng 1 tháng 5, để biểu dương lực lượng của người chiến thắng.

Sư đoàn bộ binh 3 đứng lại đây một thời gian cùng với chính quyền địa phương, ổn định mọi mặt cuộc sống của nhân dân. Trung đoàn bộ binh 2 được giao nhiệm vụ quân quản thành phố, từ trung tâm kéo về phía tây, bao gồm Núi Lớn, dọc con đường ven biển đến khách sạn Palas và khu vực trường “thiếu sinh quân”. Trung đoàn bộ binh 12 phụ trách khu vực bãi Thùy Dương đến ngọn Hải Đăng. Tiểu đoàn 6 cùng với lực lượng Hải quân vượt biển ra tiếp quản Côn Đảo.

Trung đoàn bộ binh 2, phối hợp cùng chính quyền và lực lượng vũ trang địa phương tiếp thu, quản lý các cơ sở của chính quyền Sài Gòn tại Vũng Tàu. Bao gồm những khu biệt thự sang trọng của quan chức ngụy quân, ngụy quyền dọc bờ biển, trong đó có tòa “Bạch dinh” khách sạn Palas; những nơi mà các đời tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn, các cố vấn ngoại bang và bọn sĩ quan cao cấp của quân đội thường đến nghỉ mát, ăn chơi trác táng trong mấy chục năm chúng cầm quyền. Nhà nào cũng có “quản gia” 1. Khi bộ đội vào tiếp quản họ giao lại nhà và chìa khóa, sẵn sàng làm mọi việc khi được yêu cầu. Trước mắt, chúng ta vẫn giao lại cho họ quản lý.

Việc cần tập trung giải quyết trước mắt là bảo đảm cho thành phố hoạt động một cách bình thường, chống sự phá hoại của các phần tử phản động, chống đối, trộm cắp và các loại tội phạm khác. Vận động quần chúng nhân dân tham gia các hoạt động bảo đảm trật tự trong thành phố, tổ chức cho binh lính, sĩ quan, nhân viên, chế độ cũ ra trình diện chính quyền cách mạng...

Đêm đêm, bộ đội kết hợp với lực lượng vũ trang địa phương tổ chức tuần tra trên các trục đường dọc bờ biển, trong thành phố. Tôi sung sướng ưỡn ngực hít thở không khí trong lành mà qua mấy chục năm chiến đấu, đánh đổi biết bao xương máu của các thế hệ mới có được. Sóng biển vỗ rì rào, tung bọt trắng xóa. Dưới ánh đèn điện lung linh, mờ ảo, các cô gái “đi ăn sương” cứ bám theo các tổ tuần tra dọc bờ biển mời mọc:

- Các anh bộ đội có biết “xài” không?

Một vài anh lính trẻ cứ ngơ ngác, không biết trả lời sao. Về sau, anh em mới biết, đó là những cô gái làng chơi. Các cô tưởng rằng bộ đội cách mạng cũng “ham vui” như “lính quốc gia”, nên cứ đeo bám suốt.

Trong suốt những năm chiến tranh ác liệt, bộ đội chúng ta chỉ tập trung hết tâm trí vào nhiệm vụ chiến đấu. Những đơn vị chủ lực, cơ động thường biên chế rất ít quân nhân nữ. Phụ nữ thường được tập trung ở các đơn vị phục vụ chiến đấu như ngành quân y, hậu cần, vận tải và một số lực lượng phục vụ phía sau. Tuy nhiên, ở sư đoàn 3 Sao Vàng và một số đơn vị khác thuộc Quân khu 5 lúc bấy giờ đã tổ chức các đại đội, tiểu đoàn vận tải nữ, các đơn vị trợ chiến bộ đội địa phương. Song đối với các đơn vị chủ lực, bộ đội ta ít khi được tiếp xúc với phụ nữ. Nay về sống ở nơi trung tâm thành phố, tiếp xúc với nữ giới, anh em còn e lệ, rụt rè. Kể cả các anh em đã lớn tuổi. Điều đó thật dễ hiểu, bởi không có dịp nào để suy nghĩ đến chuyện riêng tư. Nhiều lúc cảm thấy mình chai lì, khô khan, ngớ ngẩn trong các mối quan hệ. Nhất là quan hệ với người khác giới. Đó cũng là một trong những lý do mà mãi đến gần cuối năm 1979, tôi mới lập gia đình ở tuổi ba mươi lăm.

Chế độ Sài Gòn thân Mỹ sụp đổ, quân và dân ta giải phóng hoàn toàn miền Nam một cách trọn vẹn. Các thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Cần Thơ v.v... hầu hết đều nguyên vẹn. Điều đó khác với luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ thù. Chúng cho rằng Sài Gòn sẽ có “tắm máu” khi Việt cộng tấn công vào.

Trung tuần tháng 5 năm 1975, chúng tôi bàn giao viện quân quản thành phố Vũng Tàu cho địa phương và cơ động về lại Quân khu 5. Chiến trường quen thuộc mà sư đoàn 3 Sao Vàng đã được sinh ra, lớn lên và trưởng thành trong suốt 10 năm chiến tranh ác liệt, chống lại sự xâm lược của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.

Sư đoàn 3 triển khai tại tỉnh Khánh Hòa - thành phố Nha Trang đến huyện Cam Ranh. Bộ tư lệnh sư đoàn cùng với các cơ quan, đóng tại căn cứ Đồng Đế, dưới chân đèo Rù Rì. Mặc dù bộn bề công việc, nhưng sư đoàn vẫn quyết tâm chỉ đạo huấn luyện điều lệnh, tổ chức lễ kỷ niệm ngày quốc Quốc khánh 2-9 tại Thành phố Nha Trang, hỗ trợ chính quyền trong các hoạt động tuyên truyền chính sách của Đảng và Nhà nước. Nhất là chính sách đối với các cá nhân và những gia đình trước đây ít nhiều có dính dáng đến chế độ cũ để họ yên tâm khai báo, đi học tập cải tạo và làm việc trở lại.
_____________________________________
1. Quản gia: Ở các thành phố, những nhà giàu có thường thuê người quản lý tài sản, nhà cửa. Thường là những người thân của gia đình - có khi gắn bó cả cuộc đời với chủ nhà.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:18:19 PM

Sau một thời gian, đội hình sư đoàn 3, được triển khai như sau:

Bộ tư lệnh và các cơ quan sư đoàn cùng với trung đoàn pháo binh đứng chân tại thị trấn Dục Mỹ thuộc huyện Ninh Hòa. Là căn cứ pháo binh của sư đoàn 23 quân đội Sài Gòn. Nơi đây trong thời điểm này còn trưng bày khẩu pháo 175 mm (vua chiến trường) của địch, ta chiếm được trong cuộc tổng tiến công vừa qua.

Trung đoàn bộ binh 12 triển khai tại huyện Cam Ranh - Trung đoàn bộ binh 141 tại huyện Diên Khánh.

Trung đoàn bộ binh 2, triển khai trên trục đường 21, nơi có trường đào tạo hạ sĩ quan thuộc sư đoàn 23 địch trước đây, có sân bay dã chiến với hàng trăm héc ta thao trường chạy vào sát chân đèo Phượng Hoàng. Nhiệm vụ mới lại đến với những người lính chúng tôi.

Trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên, khi quân địch tháo chạy, chúng vứt súng, đạn khắp nơi. Nhân dịp này bọn Fulrô tích cực thu nhặt, vận chuyển vào rừng cất giấu. Dưới sự chỉ đạo của các thế lực thù địch trong và ngoài nước, chúng lợi dụng vấn đề dân tộc dưới các triều đại từ trước đến nay chưa giải quyết được, kích động nhân dân, chống đối ta lâu dài. Vì vậy trung đoàn bộ binh 2 được giao nhiệm vụ cơ động về đây để vừa giải quyết các chế độ, chính sách cho bộ đội sau chiến tranh, vừa chuẩn bị dẹp tổ chức Fulrô ở vùng cao nguyên.

Dẹp Fulrô là một chủ trương rất kịp thời, rất nhạy bén, có liên quan đến chính sách đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, sự ổn định chính trị trên địa bàn Tây Nguyên, và toàn vẹn lãnh thổ vùng biên giới với các nước trong khu vực.

Cho đến bây giờ, vấn đề Tây Nguyên vẫn đang là vấn đề rất nhạy cảm.

Dẹp Fulrô là một cuộc chiến hoàn toàn khác trước. Vì lực lượng Fulrô là đồng bào các dân tộc thiểu số của mình ở Tây Nguyên, bị địch kích động, lợi dụng để chống phá cách mạng Việt Nam, với chiêu bài là giành lại quyền tự trị cho vùng Tây Nguyên. Do vậy, chủ trương của ta là kêu gọi lực lượng Fulrô về trình diện, vận động các gia đình có người đi theo bọn Fulrô quay về với cách mạng, chứ không chủ trương dùng vũ lực để giải quyết vấn đề Fulrô.

Trước khi trung đoàn 2 triển khai nhiệm vụ mới, tháng 11 năm 1975 tôi được hưởng kỳ nghỉ phép đầu tiên của đời lính, sau 11 năm xa quê hương. Lúc đó, tôi đang là thiếu tá, Phó trung đoàn trưởng, trung đoàn bộ binh số 2.

Trên đường về quê, tôi đã có dịp hồi tưởng lại những chặng đường chiến đấu đã qua trên mảnh đất nóng bỏng của chiến trường Khu 5, trong những năm dài đánh Mỹ. Đã có biết bao đồng chí, đồng đội của tôi đã ngã xuống, không được hưởng ngày vui trọn vẹn như tôi hôm nay. Qua chiếc Radio cassete tôi nghe đi nghe lại bài hát “Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh” mà rạo rực trong lòng...

Mười năm qua, quê hương tôi có biết bao thay đổi, nhưng con người vẫn một nắng hai sương, vết thương chiến tranh còn in hằn đây đó. Tôi đi cùng anh Lê Ba (Phó Chính ủy Sư đoàn) về Quảng Trị quê anh để tìm lại người thân. Sau cuộc chiến tranh, Quảng Trị quê anh đã bị bom đạn cày xới, tan hoang, xơ xác. Đi đâu, đến đâu cũng gặp người ta đi tìm thân nhân. Cha đi tìm con, vợ đi tìm chồng, anh đi tìm em trong cảnh hoang tàn đổ nát...

Không riêng gì Quảng Trị, dọc hai bên đường trên quê hương tôi, trong cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, cầu cống bị phá hủy, làng mạc, nhà cửa bị cháy đen, những hố bom sâu hoắm khắp nơi; những nấm mồ vừa mới xanh cỏ, khói nhang đang bốc lên dưới ánh chiều tà...

Sau bao nhiêu năm chiến tranh, về đến quê hương mới được tận mắt nhìn thấy, người dân miền Bắc khổ sở như thế nào. Sau mấy chục năm thắt lưng buộc bụng, chi viện cho cuộc chiến tranh ở miền Nam, đến nay vẫn hoang tàn. Hà Tĩnh quê tôi vốn đã nghèo lại càng nghèo hơn. Nghèo đến nỗi không thể nghèo hơn được nữa. Nhìn cuộc sống của đồng bào mình, mắt tôi cứ rưng rưng...

Ngày ấy, nhân dân miền Bắc nói chung, người Hà Tĩnh chúng tôi nói riêng sống trong chế độ bao cấp, đời sống rất khó khăn. Người lính chúng ta khi về thăm nhà cũng chỉ là hai bàn tay trắng. Trong ba lô chỉ có mấy bộ quân phục đã bạc màu, chưa rũ sạch bụi chiến trường.

Sau khi miền Nam ta được hoàn toàn giải phóng, trên đất nước ta có biết bao nhiêu gia đình, kẻ cười, người khóc. Cùng với thắng lợi trọn vẹn là những mất mát, đau thương không gì có thể bù đắp được. Trong khi những gia đình như tôi được hưởng niềm vui sum họp, sau bao nhiêu năm xa cách thì còn biết bao nhiêu gia đình có chồng, con, anh em hy sinh, nằm lại trên các chiến trường, để lại cho gia đình, người thân nỗi đau, và một khoảng trống vời vợi giữa tâm hồn. Chúng ta xót xa, chia sẻ nỗi đa u này...

Trong những ngày nghỉ phép, tôi được sống trong tình cảm yêu thương vô bờ bến của mẹ, các anh, các chị, và bà con lối xóm. Nhà tôi lúc nào cũng tấp nập khách khứa ra vào. Mẹ tôi bị bệnh nằm một chỗ đã nhiều năm, vậy mà khi thấy tôi trở về bỗng nhiên bà ngồi  dậy, hoạt bát hẳn lên và đi thăm viếng nơi này, nơi khác, cứ như có phép lạ. Hẳn trong những năm qua mẹ tôi đã đổ hết nước mắt và trông đợi mỏi mòn ngày hôm nay...

Cuộc chiến tranh nào mà chẳng phải trả giá. Song nỗi đau nào rồi cũng sẽ qua đi. Cả nước lại bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới, không thể nào khác được. Trong hoàn cảnh miền Nam vừa mới được giải phóng, kinh tế nhà nước bị kiệt quệ, các thế lực thù địch đang manh nha, tìm cách quay trở lại trên đống đổ nát của cuộc chiến tranh vừa qua... Hơn lúc nào hết, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta lúc này là nỗ lực khắc phục hậu quả của cuộc chiến tranh và bảo vệ thành quả cách mạng vừa mới giành được. Sau một tháng trời nghỉ phép, tôi lên đường về đơn vị nhận nhiệm vụ mới.

Gia đình, bạn bè có vẻ thất vọng khi tôi không đề cập gì đến chuyện vợ con, trong khi bạn bè cùng trang lứa có nhiều người đã lên “chức ông”, “chức bà”. Trong làng cũng có vài cô gái mà gia đình tôi hy vọng sẽ có cô trở thành con dâu trong nhà. Hoặc có người, ngày xưa cùng tôi nhìn trộm, nhớ thầm thì nay lại có phần e ngại. Ai cũng hiểu rằng chuyện nhân duyên đâu phải ngày một, ngày hai mà nên được.

Ngày tôi trở lại đơn vị, bà con lại “rồng rắn” đưa tiễn tôi tận cuối làng, y hệt như mười năm trở về trước.Tôi bùi ngùi từ giã những người thân yêu, lòng tràn đầy lưu luyến.

Trung đoàn bộ binh 2 đang làm nhiệm vụ truy quét Fulrô ở Đắc Lắc. Nhiệm vụ trung đoàn lúc này là triển khai lực lượng dọc theo trục đường 21, chủ yếu từ đèo Khánh Dương đến huyện MaĐ’Rắc. Ban ngày thâm nhập vào các bản làng, vận động đồng bào các dân tộc vào rừng kêu gọi con em họ rời bỏ hàng ngũ Fulrô, trở về nhà, ra trình diện chính quyền cách mạng, hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng. Phương châm chỉ đạo trong nhiệm vụ truy quét Fulrô là kiên trì trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, kết hợp các biện pháp cắt nguồn tiếp tế, buộc chúng phải về đầu hàng, giao nộp vũ khí cho chính quyền địa phương. Vì vậy, sau một thời gian ngắn, lính Fulrô ra hàng, mang theo vũ khí ngày càng đông. Chỉ chưa đầy một tháng hoạt động, trung đoàn bộ binh 2 kết hợp cùng các lực lượng vũ trang địa phương gọi hàng, bắt trên 500 lính Fulrô ở hai huyện MaĐ’rắc và K’rôngpách. Nhưng bọn sĩ quan ngoan cố vẫn chưa chịu đầu hàng, vẫn lẩn sâu vào rừng, cấu kết với bọn phản động quốc tế để chống phá ta lâu dài. Điều đó đặt ra cho các lực lượng vũ trang và chính quyền các tỉnh Tây Nguyên phải tiếp tục giải quyết trong những năm sau này. Thực tế cho thấy, đến nay các thế lực thù địch vẫn lợi dụng bọn chỉ huy Fulrô để dựng lên cái gọi là Nhà nước Đềga ở Tây Nguyên hòng làm mất ổn định chính trị đối với nước ta, nhất là các tỉnh Tây Nguyên.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:22:02 PM

* * *


Sau đại thắng mùa xuân năm 1975 với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nước ta được thống nhất. Nhân dân ta đã hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Lịch sử Việt Nam nói riêng, trên bán đảo Đông Dương nói chung đã sang trang mới. Tình hình trong khu vực đã có những biến động mới...

Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương rất sáng suốt. Trước mắt, tuy miền Nam vừa mới giải phóng, đang bộn bề công việc phải làm ngay, song với quan điểm là tiến hành thống nhất giữa hai miền Nam - Bắc càng sớm càng tốt và bắt tay ngay vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định tình hình mọi mặt để khôi phục lại kinh tế đã bị kiệt quệ. Đây là một chủ trương hoàn toàn đúng, phù hợp với nguyện vọng của toàn quân và toàn dân ta trong mấy chục năm chiến tranh. Song song là một cuộc điều chỉnh lại thế bố trí chiến lược trên phạm vi cả nước...

Giữa năm 1976, sư đoàn bộ binh 3 Sao Vàng được lệnh chuyển quân ra miền Bắc. Tôi được điều động về trường Quân chính Quân khu 5, làm cán bộ khung của nhà trường, đào tạo và bổ túc cán bộ phân đội. Đây là lý do vì sao, một quân nhân được sinh ra và trưởng thành ở sư đoàn 3 Sao Vàng để rồi sau đó, năm 1982 lại trở thành một cán bộ sư đoàn trưởng sư đoàn bộ binh 309 trong mười năm làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia mà tôi đã đề cập trong cuốn hồi ký “Cuộc chiến tranh bắt buộc”1.

Sư đoàn bộ binh 3 cơ động ra Bắc. Tuy không nói ra nhưng chúng tôi đã cảm nhận được có điều gì đó bất ổn đối với nền an ninh nước nhà... Thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước quá lớn, dễ làm cho người ta nhìn nhận tình hình đang diễn ra trong khu vực một cách chủ quan. Trong thời điểm này, những gì sẽ xảy ra ở hai đầu đất nước trong những năm sau này chỉ có các cơ quan chỉ đạo chiến lược mới có thể tiên liệu được.

Năm 1976, để giúp chính quyền các cấp nắm lại tài sản, thực lực, để có kế hoạch khắc phục hậu quả của cuộc chiến tranh, đề ra kế hoạch phát triển kinh tế, trường Quân chính Quân khu 5 được giao nhiệm vụ tổ chức một bộ phận cán bộ về thành phố Đà Nẵng phối hợp với các tổ chức quần chúng hướng dẫn nhân dân kê khai tài sản. Thời kỳ này nhiều người thường gọi là “đánh tư sản”, một công việc mới mẻ và có nhiều phức tạp đối với chúng tôi ngày đó. Nhất là trong các mối quan hệ đối với nhân dân sau ngày giải phóng.

Những năm tháng giữa hai cuộc chiến tranh (cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã qua và cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ tổ quốc sau này) thật ngắn ngủi so với chiều dài lịch sử của đất nước. Trong thời điểm này không ai hiểu được những gì sẽ xảy ra sau vài năm nữa... Chỉ biết rằng những người lính chúng tôi trải qua cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ, ác liệt nay được sống trong hòa bình thật sung sướng, thoải mái biết bao. Những lớp người như thế thường hay thỏa mãn với cuộc sống hiện tại. Thật vậy, khi tôi được điều về trường Quân chính Quân khu 5, được phái xuống thành phố Đà Nẵng công tác, tôi đã sống hết mình, hăng hái trong công việc và yêu đời với lứa tuổi “ngoài xuân” của mình.

Những ngày công tác tại thành phố Đà Nẵng, lần đầu tiên trong đời tôi biết đến một thứ tình cảm ngọt ngào, êm ái. Đó là tình cảm nam - nữ, mà trong những năm dài chiến tranh khốc liệt chưa có điều kiện để nghĩ đến.

Lúc bấy giờ, bộ đội chúng tôi mới có thời gian để tìm cho mình một người yêu, mong có một mái ấm sau bao nhiêu năm chiến đấu gian khổ, nay là thời điểm thích hợp nhất, là thời cơ tốt nhất.

Trong các cô gái tình cờ tôi được gặp, tôi chú ý chiều nhất đến Thanh, cô gái mười chín tuổi, đang còn đi học, con một gia đình cách mạng. Lúc này giữa hai chúng tôi có nhiều điểm trái ngược (nếu như không nói là đối nghịch nhau). Trước hết là về tuổi tác, tôi hơn Thanh những “một giáp”. Nhà Thanh không giàu, nhưng cuộc sống, sinh hoạt của người dân đô thị so với người lính thì chúng tôi, nằm mơ cũng không có được. Ngày ấy hình ảnh cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng luôn đậm nét trong lòng người dân thành phố.

Ngay từ đầu, tôi cũng đã được đón nhận những tín hiệu từ đôi mắt, nụ cười kín đáo của Thanh. Tình yêu đến với tôi không sớm, nhưng bất ngờ, mãnh liệt, làm cho tôi “mất ăn, mất ngủ”. Tuy vậy, tôi không định hướng được cuộc sống gia đình của mình sẽ thế nào? Rồi đây tôi sẽ đi đâu, về đâu? Chỉ biết rằng sau thời gian công tác, tôi tìm mọi điều kiện, viện ra mọi lý do để được đến với Thanh, gần Thanh, đi bên nhau trên những con đường bên bờ sông Hàn thơ mộng, đến khuya mới trở về đơn vị trong niềm vui rạo rực...

Say sưa với cuộc sống hiện tại, thời gian như trôi nhanh, đường đi như ngắn lại, mới đó đã hết đợt công tác, tôi lại phải trở về với vị trí của mình ở trường Quân chính Quân khu. Thế là tôi với Thanh đành chia tay nhau, không một lời hẹn ước, chưa một kỷ niệm riêng tư...

Có lẽ “mối tình đầu” của chúng tôi sẽ đơm hoa, kết trái, nếu như không có một cuộc chiến tranh khác đang manh nha xuất hiện ở hai đầu đất nước ta...

Trường Quân chính Quân khu 5 đóng ở chân núi Phước Tường, xã Hòa Cầm, một căn cứ huấn luyện của quân đội Sài Gòn trước đây. Trường lúc này do đồng chí Phan Viên làm hiệu trưởng, Nguyễn Hải, chính ủy, Lê Minh Châu hiệu phó, trưởng phòng huấn luyện.

Tôi được điều về đây, có lẽ cũng trên cơ sở trong những năm 1972 - 1973 sau khi dự lớp bổ túc cán bộ tiểu đoàn, lúc trường còn ở trên sông Xà Lò thuộc tỉnh Quảng Ngãi, tôi được nhà trường giữ lại làm giáo viên khoa công binh. Giờ đây tôi được phân công làm phân khoa trưởng lớp bổ túc cán bộ tiểu đoàn. Anh Phan Văn Dần làm chính trị viên. Cả anh Dần và tôi đều mang quân hàm thiếu tá.

Chiến tranh vừa mới kết thúc, nhà trường còn bộn bề công việc. Điều cốt lõi đối với nhà trường là “Nội dung huấn luyện”, vẫn như cũ, chưa có bổ sung, phát triển gì mới so với trước đây, lúc tôi còn là học viên của trường. Một mặt do chưa có thời gian để tổng kết cuộc chiến tranh vừa qua bổ sung vào tài liệu giảng dạy, mặt khác ta cũng chưa định hình được một cuộc chiến tranh tương lai? Chủ yếu vẫn cứ loay hoay giải quyết vấn đề đời sống vật chất, tinh thần và cơ sở hạ tầng của nhà trường. Những ai đã từng công tác ở đây hẳn còn nhớ: cứ mỗi buổi chiều hàng trăm cán bộ nhân viên, học viên phải đi bộ 2 -3 cây số, lên sông Túy Loan mới có nước để tắm giặt. Cán bộ nhà trường thường phải đứng ra phân phối nước hàng ngày cho bộ đội.
_______________________________________
1. Nhà xuất bản Trẻ, xuất bản 10/2004.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:22:35 PM

Tháng 6 năm 1977, Quân khu điều động tôi về làm phó hiệu trưởng trường Hạ Sỹ quan Quân khu, đóng quân tại xã Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, cạnh đường quốc lộ số 1. Đây là trường đào tạo tiểu đội trưởng bộ binh, khẩu đội trưởng trợ chiến và chuyên môn các ngành công binh, thông tin, trinh sát... Hiệu trưởng của trường lúc này là đồng chí Phan Thanh Dư, sau đó là Phạm Xưởng; chính ủy là đồng chí Nguyễn Văn Chước, người đã cùng với tôi đi suốt chặng đường dài từ chiến dịch Xuân - Hè năm 1975 cắt đường quốc lộ số 19 đến kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong Ban giám hiệu còn có anh Phạm Tấn Bá, thiếu tá, hiệu phó.

Thế là tôi xa trường Quân chính Quân khu 5, xa thành phố Đà Nẵng, cùng với “mối tình đầu” vừa chớm nở. Trong “tình trường” người ta thường nói: “Mối tình đầu” có mấy ai thành công. Sau này tôi và Thanh nằm trong trường hợp đó...

Về nhận công tác ở trường Hạ Sỹ quan quân khu, được làm việc cùng các đồng chí trong Ban giám hiệu là những người đã cùng sống và chiến đấu bên nhau trên chiến trường Quân khu 5, tôi rất vui. Ban giám hiệu có 5 đồng chí, thì ba người đang là “lính trơn” chưa có gia đình riêng. Tôi với đồng chí Phạm Tấn Bá là người ít tuổi nhất.

Thời gian giữa hai cuộc chiến tranh quá ngắn ngủi. Nhiều người trong chúng tôi chưa có đủ điều kiện để lo việc riêng. Trước tình hình đó, nhà trường đã bắt đầu quan tâm đến chính sách hậu phương quân đội. Trong cuộc chiến tranh lâu dài, gian khổ, mọi người đều dồn hết tâm trí vào nhiệm vụ. Có nhiều người suốt chiều dài cuộc chiến tranh mười năm, 20 năm cha chưa gặp được con, vợ chưa gặp được chồng, nay dù hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, nhưng đây là nguyện vọng, là nhu cầu chính đáng, nên chúng tôi đã tạo mọi điều kiện để anh em đoàn tụ với gia đình ngay trong khu vực doanh trại. Các đơn vị đều tổ chức nhà “chiêu đãi sở”, đón khách gia đình quân nhân. Khu nhà khách gia đình lúc nào cũng nhộn nhịp, đông vui.

Ngoài giờ làm việc tôi không biết đi đâu, làm gì. Nhiều lúc cảm thấy thời gian như dài thêm.

Đang lúc ước ao có một “niềm vui nho nhỏ” để cho các ngày nghỉ, giờ nghỉ, có ý nghĩa hơn, tôi đã gặp cô giáo Lê Thị Minh Luân - người mà sau này là vợ tôi. Luân kém tôi 8 tuổi, là giáo viên của trường công nhân khảo sát thủy lợi, thuộc Bộ thủy lợi. Hai trường chúng tôi chỉ cách nhau 3 km. Tình yêu đến với chúng tôi không sớm, đã hội đủ những điều kiện để thành vợ,  thành chồng. Nhưng cuộc chiến mới lại ập đến, bắt buộc chúng tôi phải tạm gác tình cảm lại. Sau năm tháng phục vụ ở trường Hạ Sỹ quan, vào tháng 11 năm 1977, Quân khu ra quyết định điều động tôi về làm trung đoàn trưởng, trung đoàn bộ binh 31 thuộc sư đoàn 2. Như vậy, tôi phải trở lại Quảng Nam - Đà Nẵng, nơi trung đoàn bộ binh 31 đang đóng quân tại huyện Thăng Bình.

Những ngày đầu tiên ở trường Hạ Sỹ quan quân khu, khi chưa có gì để mà đốt cháy thời gian rảnh rỗi, nhưng từ ngày tôi và Luân gặp nhau, tình cảm ngày một đằm thắm thì thời gian như ngắn lại. Mới đó mà đã qua 5 tháng, tôi lại phải xa trường Hạ Sỹ quan quân khu về trung đoàn bộ binh 31. Tâm trạng tôi lúc này như có cái gì níu kéo: một bên là tổ chức phân công, không thể thoái thác; một bên là tình yêu vừa chớm nở cũng không kém phần “quyết liệt”. Những năm tháng chiến đấu, được Đảng và quân đội giáo dục, rèn luyện, tôi đã quyết định sự lựa chọn là chiến trường, nơi đang cần đến những người lính chúng tôi. Thương thay cho những người phụ nữ đã không được quyền quyết định số phận của những người lính trong lúc này. Hai chúng tôi đành tạm chia tay nhau, hy vọng thời gian sẽ không xoá đi những gì mà chúng tôi đã xây dựng được và nhất định rồi đây sẽ nên vợ, nên chồng.

Cuộc tình lãng mạn của chúng tôi phải kéo dài đến năm 1979 mới trở thành hiện thực. Nhưng đó là chuyện sau này. Còn hiện tại, tôi tổ chức đoàn cán bộ của trung đoàn bộ binh 31 đi lên tỉnh Dăklăk để chuẩn bị cho nhiệm vụ sắp đến. Lúc này, trung đoàn bộ binh 31 vẫn đang tập trung huấn luyện tại căn cứ của sư đoàn bộ binh số 2 ở Tuần Dưỡng tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng. Chưa biết tính chất, nhiệm vụ sắp đến như thế nào, nhất là đối tượng tác chiến và địa hình trên chiến trường; do đó, nội dung huấn luyện hiện tại chưa có gì mới. Trung đoàn vẫn huấn luyện theo chương trình đã được sư đoàn phê chuẩn. Trong đó các nội dung về chiến thuật vẫn theo lối đánh truyền thống của quân đội ta trong các cuộc chiến tranh, như chiến thuật “vận động tiến công kết hợp chốt”, “tập kích hiệp đồng binh chủng” tiến công địch trong công sự vững chắc... Về kỹ thuật vẫn “đánh bộc phá liên tục”, “khắc phục vật cản qua các lớp rào thép gai”... Thực tế sau này cho thấy, khi cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc trên tuyến Biên giới Tây Nam nổ ra, các nội dung trên chưa thật phù hợp với đối tượng tác chiến và địa hình nơi trung đoàn hoạt động.

Tháng 12 -1977, đoàn cán bộ trung đoàn bộ binh 31 xuất phát từ căn cứ đóng quân ở huyện Thăng Bình, theo quốc lộ số 1 vào tỉnh Bình Định, rồi theo trục đường 19 lên tỉnh Gia Lai, Đăklăk. Mối tình vừa chớm nở, những kỷ niệm đẹp đẽ với bao hy vọng về một cuộc sống tương lại, hạnh phúc... lùi dần về phía sau. Đoàn xe đưa chúng tôi lao nhanh về phía trước, nơi sắp bắt đầu một cuộc chiến tranh mới...

Lúc đi qua ấp Bình Tường, thuộc huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định, tôi vẫy tay cho đồng chí lái xe dừng lại. Cùng với mấy anh em trong cơ quan tham mưu trung đoàn xuống xe, đứng lại bên vệ đường.

Nơi đây đã ghi vào ký ức tôi một kỷ niệm đau buồn, không bao giờ quên được! (Tôi nghẹn ngào nói với anh em). Cuối năm 1969 tiểu đoàn công binh số 19 của chúng tôi, trong một lần vượt đường qua đây đã bị tổn thất nặng nề (như trong phần đầu tôi nói đến).

Chúng tôi dành mấy phút tưởng nhớ các đồng chí đã hy sinh rồi tiếp tục lên xe hướng về đèo Thượng Giang (tức là đèo An Khê về phía đông, thuộc địa giới tỉnh Bình Định).

- Đây là xã Phú Phong!

Vừa đi, tôi vừa chỉ cho anh em những địa danh, kèm theo những sự kiện mà tôi được trực tiếp tham gia - Ở cái cầu này đây! Chúng tôi đã tổ chức dập tắt ổ đề kháng của địch, đồng chí chính trị viên tiểu đoàn Ninh Văn Xá hy sinh. Kia là trận địa pháo của địch chi viện cho các đồn bốt trên đường đèo; chúng bắn như điên, như dại mỗi khi các đoàn xe đi lên đường đèo bị tiến công!

Khi Tây Nguyên bị thất thủ, trên các trục đường bị chặn cắt, chúng bỏ cả xe pháo lại đây, cắt rừng tháo chạy!

Đến chân đèo, chúng tôi dừng lại hơi lâu một chút. Trải qua những năm chiến đấu ở đây, tuy đã có nhiều lần đi chuẩn bị chiến trường, bò ra mặt đường để quan sát, phục kích, diệt xe cơ giới địch, làm chủ mặt đường diễn ra thường xuyên, song không được tự do đi lại trên đường như bây giờ. Từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi cũng chưa có dịp nào được đi qua đây. Đến thời điểm này thì cũng đã hai năm. Những sự kiện diễn ra trên chiến trường này vẫn còn nóng hổi. Dấu vết của cuộc chiến tranh ở đây chưa bị xóa mờ.

- Đây là cống Hang Dơi! Tôi giới thiệu với anh em cùng đi. Thực ra Hang Dơi là cái tên của bộ đội ta đặt ra. Vì trong cống này có rất nhiều Dơi.

Cống được đúc bằng bê tông, lòng cống là những tấm tôn vòm chắc chắn. Độ dày từ nóc cống lên đến mặt đường phải đến hai mét. Trong cống có thể chứa được đến cả một trung đội, có nước suối trong xanh chảy qua. Phía bắc cống Hang Dơi là sườn của dãy núi Ông Bình. Phía nam là con suối Dầu, bên kia suối Dầu là núi Chóp Vung và núi Hòn Kiềng, là những điểm chốt trước đây từ một trung đội đến một đại đội địch trấn giữ.

Tại cống Hang Dơi này đầu năm 1972, đại đội 63 tiểu đoàn 6 chiến đấu ở đây, đánh bại nhiều đợt phản kích giải tỏa của địch, bắt sống được hai tên lính Nam Triều Tiên, một tên đã tự sát trong chiến dịch cắt đường 19 kéo dài hơn hai tuần, phối hợp với mặt trận B3 - Tây Nguyên. Trong cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975, trung đoàn bộ binh 12 đã đánh chiếm một loạt chốt địch từ đỉnh đèo An Khê xuống đến cống này. Trung đoàn bộ binh 141 đánh chiếm các mục tiêu từ cống Hang Dơi xuống cầu Vườn Xoài, cao điểm 105. Đường quốc lộ số 19 vĩnh viễn sạch bóng quân thù từ đó.

Tôi muốn giới thiệu cụ thể với anh em cán bộ cùng đi, một mặt vì trung đoàn bộ binh 31 thuộc sư đoàn 2 trong chiến tranh chống Mỹ hoạt động ở tỉnh Quảng Nam. Mặt khác, tôi cũng muốn, trong dịp này có điều kiện ôn lại những năm tháng chiến đấu gian khổ, ác liệt, mà đã có biết bao đồng chí, đồng đội ngã xuống trên đoạn đường đèo “máu lửa” này. Tôi muốn đứng lại lâu trên đỉnh đèo để một lần nữa, ngắm lại toàn bộ đèo An Khê, con đường quốc lộ 19 chạy ngoằn ngoèo giữa một vùng rừng núi hiểm trở, đã chôn vùi biết bao xác giặc ngoại xâm trong các cuộc chiến tranh của thế hệ cha anh trước đây và trong cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược đối với thế hệ chúng ta ngày nay.

Chúng tôi tiếp tục hành quân hướng về chiến trường biên giới Tây Nam.


Tiêu đề: Re: Cuộc chiến đấu tự nguyện
Gửi bởi: chuongxedap trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 08:24:55 PM

THAY LỜI KẾT


Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã trôi qua được trên 30 năm. Trên 30 năm ấy, đất nước thân yêu của chúng ta đã trải qua nhiều biến động, thay đổi. Màu xanh đã giành lại quyền sống trên những cánh đồng. Dấu vết của những hố bom đã phai mờ trên cơ thể của quê hương. Tuy vậy, hình bóng của chiến tranh vẫn còn lẩn khuất ở đâu đó trên cõi đời này. Nó vẫn tồn tại một cách dai dẳng trong sâu thẳm tâm hồn và trong lòng người chiến sĩ. Mỗi lần nhớ về chiến tranh, tôi luôn tự hỏi thầm rằng: vì sao, vì lẽ gì mà dân tộc Việt Nam lại dám đương đầu với đế quốc Mỹ và đã đánh thắng chúng - gã sen đầm hùng mạnh nhất trong thế giới thực dân - kẻ chưa từng biết đến mùi vị thất bại? Rằng: vì sao, trong những tháng năm tàn khốc ấy, nhất là sau tổng công kích, tổng khởi nghĩa tết Mậu Thân, chúng ta kiệt sức, bị địch càn quét, rượt đuổi, phong tỏa, nhiều đơn vị phải ăn rau rừng, nhiều chiến sĩ phải chết đói, vậy mà, chúng ta vẫn tìm được cách để tồn tại và tồn tại một cách kiêu hãnh. Nhiều lúc, tôi không thể hiểu được, lý giải được là vì sao, trong cơn đói hành hạ dai dẳng, người lính lấy đâu ra sức lực để có thể đánh bại được kẻ thù?...

Thế nhưng, chính những người lính bình thường đang run rẩy vì đói rách kia vẫn tiếp tục cầm súng chiến đấu, cắn răng mà chiến đấu cho tới thắng lợi hoàn toàn. Trong những trận đánh công kiên vào đồn địch, nhiều chiến sĩ trong đơn vị tôi đã hy sinh ngoài cửa mở. Những người khác phải băng qua cái chết của đồng đội, tiếp tục ôm bộc phá xông lên phá tan hàng rào cuối cùng cho bộ binh đánh chiếm đồn địch. Những người chiến sĩ ấy, chẳng lẽ không biết sợ ư? Họ đã được giáo dục như thế nào để có thể làm được một công việc khó khăn như thế? Tôi cũng đã từng chứng kiến những người mẹ, người chị, người anh trên mảnh đất miền Trung tham gia cách mạng, bị địch bắt, bị tra tấn, hành hạ đến thân tàn ma dại, nhưng vẫn không khuất phục quân thù? Vậy thì, tại sao, vì lẽ gì mà người ta lại có thể chịu đựng được như vậy? Có người nói đó là lòng tin. Nhưng cao hơn lòng tin là cái gì? - Phẩm hạnh chăng? Vâng, có thể chính phẩm hạnh mới giúp cho con người vượt qua tất cả. Bởi phẩm hạnh chỉ có thể có khi con người bị chà đạp, đọa đày. Càng nghĩ tôi càng cảm thấy có một điều gì đó vừa vĩ đại, vừa thần bí trong lòng dân tộc ta. Sự vĩ đại, thần bí ấy luôn được nuôi dưỡng và gìn giữ một cách cẩn trọng trong lòng mỗi người dân và bùng phát khi hữu sự. Làm sao ta có thể hiểu được một bà mẹ miền Bắc có thể ngồi chửi cả tuần lễ chỉ vì bị mất cắp một con gà, nhưng bà mẹ ấy lại sẵn sàng chấp nhận cho các con của mình lần lượt lên đường chiến đấu bảo vệ Tổ quốc? Cũng chính bà mẹ ấy ở nhà tham gia lao động sản xuất, ăn đói mặc rách dành từng bát gạo, thước vải, gởi ra chiến trường. Và, cũng lại những bà mẹ ấy, khi cần, dỡ cả ngôi nhà - tổ ấm của mình - làm đường cho xe qua, làm hầm cho người chiến sĩ... Rõ ràng, phẩm chất ấy chỉ có thể có được ở con người Việt Nam và làm nên tố chất Việt Nam. Tố chất ấy đã tạo ra trí tuệ, khí phách, sức chịu đựng dẻo dai của người dân Việt. Chính cái tố chất thần bí ấy đã làm nên những chiến công vang dội trong lịch sử dân tộc như: Bạch Đằng, Xương Giang, Chi Lăng, Rạch Gầm, Đống Đa, Tây Kết, Vạn Kiếp, Điện Biên Phủ, Vạn Tường, Bàu Bàng, Đồng Rùm, Khe Sanh, đường 9 - Nam Lào, Buôn Ma Thuột và chiến dịch Hồ Chí Minh. Chính tố chất Việt Nam đã hun đúc nên Đảng ta mà chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta là tinh hoa, tổng hòa của các tố chất đó. Nếu không có tố chất Việt Nam, chúng ta khó có thể trụ vững được trước 10.000 ngày đạn bom và sự tàn bạo của quân thù.

Để giải thích sự chiến thắng của dân tộc ta, có người cho rằng cuộc chiến tranh của chúng ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Chúng ta chiến thắng vì chúng ta có chính nghĩa. Sự lý giải đó, dĩ nhiên không ai phủ nhận, nhưng trên thực tế, có nhiều dân tộc cũng cầm súng chống lại đế quốc, họ có chính nghĩa đấy, song có giành được thắng lợi trọn vẹn đâu? Chính nghĩa là một trong những yếu tố quan trọng để giành thắng lợi, nhưng chính nghĩa không phải là tất cả. Tự đề cao mình là một điều không nên có trong lòng người cách mạng, nhưng trong trường hợp duy nhất này, chúng ta có đánh giá nào khác hơn khi nói về Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ, nhà văn hóa vĩ đại, của dân tộc ta, quân đội ta. Chính Người đã giáo dục, đào tạo, bồi đắp, làm cho trí tuệ Việt Nam, tố chất Việt Nam trong lòng chúng ta trở nên mạnh mẽ. Dân tộc ta giành được chiến thắng là do có một nền tảng bền vững như thế.

Trong những năm qua, phía Mỹ cũng đã có nhiều cuộc hội thảo nhằm mổ xẻ, tìm ra nguyên nhân dẫn đến thất bại trong chiến tranh Việt Nam. Một trong những nguyên nhân lớn nhất, theo họ, là cuộc chiến không được lòng nhân dân Mỹ. Chính nhân dân Mỹ đã không cho nước Mỹ chiến thắng(?). Phải thừa nhận rằng: cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ cũng đã góp một phần quan trọng trong chiến thắng của dân tộc ta. Nhưng nếu chúng ta không đánh bại được các lực lượng tinh nhuệ, sừng sỏ nhất của Mỹ trên chiến trường làm thất bại lần lượt từng âm mưu chiến lược của chúng; nếu hiệu suất của các trận đánh không cao, binh lính Mỹ không bị thương vong nhiều thì chưa chắc các cuộc biểu tình phản đối, đòi rút quân Mỹ về nước đã xảy ra. Sự giàu có và tiềm năng quân sự hùng hậu luôn tạo cho quân Mỹ thói ngạo ngược, coi thường tất cả. Họ tôn sùng sức mạnh và luôn dùng sức mạnh để giải quyết xung đột, giành chiến thắng. Ở nhiều nơi trên thế giới, họ đã làm được điều đó. Nhưng ở Việt Nam thì không, mãi mãi không. Người Việt Nam đã tìm được tập thể lãnh đạo và lãnh tụ cho mình. Người Việt Nam luôn đoàn kết dưới ngọn cờ đó. Người Việt Nam luôn đem sức mạnh của lòng tin để đánh bại kẻ thù có lòng tin sức mạnh. Tôi nghĩ: người Mỹ khó có thể hình dung ra sự thất bại qua ý nghĩa này. Tôi cho rằng: việc các chính khách Mỹ phải làm trước tiên sau chiến tranh Việt Nam chưa phải là việc tìm ra nguyên nhân thất bại, mà là việc phải nghiên cứu lại lịch sử Việt Nam. Nghiên cứu để biết, để rút ra các bài học là không bao giờ có thể dùng sức mạnh áp đặt được lối sống lên dân tộc Việt Nam, áp đặt được ý muốn lên dân tộc Việt Nam.

Cũng trong thời gian gần đây, theo đề xuất của các nhà khoa học trên thế giới, một bộ môn khoa học mới xuất hiện là “Việt Nam học”. Rõ ràng, việc xuất hiện bộ môn khoa học này chứng tỏ Việt Nam là một hiện tượng mang ý nghĩa toàn cầu. Hiện tượng đó đã được giới khoa học quan tâm. Giới khoa học mong muốn qua việc nghiên cứu về Việt Nam có thể tìm ra những kinh nghiệm quý báu, trước tiên là vì Việt Nam và cũng vì nhân loại. Chúng ta không thể không tự hào về dân tộc mình - một dân tộc lấy nhân nghĩa làm đầu, lấy nhân nghĩa để tồn tại và lấy nhân nghĩa mà chiến thắng.


***


Trong quá trình sưu tầm các tư liệu và hoàn thiện bản thảo của cuốn sách, tôi đã được sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ nhiệt tình của nhiều đồng chí, đồng đội và bạn bè gần xa. Có nhiều đồng chí là bạn chiến đấu, là “người trong cuộc”, đã gắn bó với nhau trong suốt những năm ác liệt chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ ở chiến trường miền Nam nói chung và Liên khu 5 nói riêng, đã cung cấp, bổ sung nhiều tư liệu xác thực.

Nhân dịp cuốn sách ra mắt bạn đọc, tôi xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bản đã tạo điều kiện thuận lợi để cuốn sách được đến tay bạn đọc trong dịp kỷ niệm những ngày lễ trọng đại của nước ta nói chung; ngày truyền thống của sư đoàn Sao Vàng nói riêng. Cũng nhân dịp này, một lần nữa tôi xin cảm ơn nhà văn Văn Lê, nhà thơ Phạm Sỹ Sáu, thiếu tướng Nguyễn Duy Thương, nguyên phó tư lệnh - tham mưu trưởng sư đoàn bộ binh 3 thuộc Quân khu 5 trong chiến tranh chống Mỹ, nguyên phó tư lệnh - tham mưu trưởng Quân đoàn 14, nguyên trưởng khoa chiến dịch, chiến thuật Học viện Quốc phòng; đại tá Nguyễn Văn Tích - nguyên cán bộ thuộc phòng chính trị sư đoàn bộ binh số 3, đã chiến đấu và công tác suốt 10 năm tại chiến trường Liên khu 5, nguyên cán bộ phòng bảo tàng quân đội; đại tá Mai Tiến Mỹ - nguyên sư đoàn trường sư đoàn bộ binh số 2 Quân khu 5; đại tá Lưu Quang Đông nguyên phó chính ủy trung đoàn bộ binh số 2 thuộc sư đoàn 3, người đã cùng với chúng tôi tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng thị xã Bà Rịa và thành phố Vũng Tàu - nguyên phó tư lệnh về chính trị Quân đoàn số 26; Đồng chí Nguyễn Kiên Cường, người chiến sĩ thông tin liên lạc thuộc tiểu đoàn 6, trung đoàn bộ binh 12 đã cùng đại đội 63 chiến đấu dũng cảm trong 18 ngày đêm tại cống Hang Dơi - đường 19, đèo An Khê năm 1972, bắt sống tù binh Đại Hàn; cùng nhiều đồng chí khác.

Ngoài sự giúp đo bổ sung của các đồng chí nói trên, tác giả có sử dụng một số tư liệu từ cuốn lịch sử Sư đoàn 2, Sư đoàn Sao Vàng thuộc Quân khu 5 và các tác phẩm viết về nữ anh hùng liệt sĩ - bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm.

Tuy nhiên vì thời gian các sự kiện đã quá xa, cuốn sách sẽ còn có thiếu sót, kính mong các đồng chí và các bạn tiếp tục góp ý kiến, bổ sung để cuốn sách được hoàn thiện hơn.

TP. HCM, ngày 30 tháng 04 năm 2007
Đại tá NGUYỄN VĂN HỒNG




Hết