Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: thapbut trong 24 Tháng Mười Hai, 2009, 03:46:49 PM



Tiêu đề: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 24 Tháng Mười Hai, 2009, 03:46:49 PM
Nhà nước Vạn Xuân thành lập cách nay gần 15 thế kỷ, nguồn sử liệu thời kỳ này vừa hiếm hoi lại có điểm còn chưa thống nhất. Trước hết cùng tìm hiểu một số nội dung:
1. Khởi nghĩa Lý Bí
2. Chuẩn bị thành lập nhà nước Vạn Xuân
3. Cuộc kháng chiến chống nhà Lương (545-550)
4. Nội chiến Triệu Việt Vương - Lý Phật Tử
5. Triều hậu Lý Nam Đế


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: spirou trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 09:12:03 AM
Khởi nghĩa Lí Bí có lẽ không phải xuất phát từ lòng yêu nước hay tinh thần dân tộc của nhân dân như chúng ta từng nghĩ. Nguyên nhân xuất phát cuộc khởi nghĩa phức tạp hơn nhiều.

Trong suốt hơn ngàn năm bắc thuộc, đã có một sự hợp tác giữa giới quan lại TQ và giới quý tộc bản xứ. Xung đột chỉ xảy ra khi có mâu thuẫn quyền lợi hai bên. Ở đây, rõ ràng Lí Bí, một quý hào trưởng có quân đội riêng, không hài lòng với địa vị một viên giám quân nhỏ ở Cửu Đức, một vùng xa xôi phía Nam. Tương tự như trường hợp của Tinh Thiều, bất mãn vì không được trọng dụng. Giới quý tộc bản xứ, bị bó chặt trong địa phương mình, không ngoi lên nắm quyền, cạnh tranh được với các đại tộc Trung Hoa, đã thấy được thời cơ, liên kết nhau dưới quyền Lí Bí vùng lên. Trước đó cũng đã từng có những xung đột như vậy, như trường hợp Lý Trường Hiến hay Lý Tắc (ta chưa rõ họ là người Hán hay người bản xứ gốc Hán như Lí Bí), dùng tông binh - quân riêng của gia tộc- giành quyền bính mà chính quyền trung ương phải làm ngơ một thời gian dài. Tới thời Lí Bí, ông nâng mức độ tự chủ lên tầm cao hơn, ông xưng Nam Việt đế( lưu giữ truyền thống Triệu Đà xưa)




Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: spirou trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 09:20:12 AM
Ở đây có vài điều nói về Triệu Việt Vương: một trong những cuốn sử cổ nhất của Việt cố là: Việt sử lược (viết thời Trần) lại không đề cập đến nhân vật này. Khiến ta nghi ngờ ông ta là một nhân vật thần thoại, hay một ông thần phù trợ cho Lý Nam Đế. Ông mang họ Triệu của Triệu Đà, tên Quang Phục có thể mang ý nghĩa khôi phục lại truyền thống nước Nam Việt xưa.


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: lonesome trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 09:08:49 PM
Ở đây có vài điều nói về Triệu Việt Vương: một trong những cuốn sử cổ nhất của Việt cố là: Việt sử lược (viết thời Trần) lại không đề cập đến nhân vật này. Khiến ta nghi ngờ ông ta là một nhân vật thần thoại, hay một ông thần phù trợ cho Lý Nam Đế. Ông mang họ Triệu của Triệu Đà, tên Quang Phục có thể mang ý nghĩa khôi phục lại truyền thống nước Nam Việt xưa.

Trong Thần Người Đất Việt của cụ Đại Trường có nhắc tới thì phải.


Tiêu đề: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 10:09:18 PM
Bác spirou cho rằng là thế nào mới là mang tinh thần tự hào dân tộc và yêu nước? Thế nào mới là động cơ chân chính cho cuộc khởi nghĩa đánh đuổi ách đô hộ? Rõ ràng việc nhà Lương thực hiện chế độ "sĩ tộc" khắc nghiệt, đè nén các tầng lớp thấp làm tăng thêm mâu thuẫn với nhân dân là cơ hội để Lí Bí thu hút nhân tài và khởi binh, nhưng mục đích cao cả, chân chính nhất của cuộc khởi nghĩa là để giành lại độc lập cho dân tộc Việt ta, giành lấy tự do cho nhân dân ta. Việc Lí Bí nỗ lực xây dựng đất nước (định đô, đặt chế độ quan lại, đặt quốc hiệu mong muốn thái bình muôn đời) cho thấy ông thực sự là người có chí lớn mong muốn độc lập thái bình lâu dài cho đất nước và lòng tự hào dân tộc của ông; chứ chẳng phải anh "ăn xổi" muốn xưng hùng nhất thời mà thôi. Cái thời cơ giúp có thể tận dụng hoàn toàn không thể làm sai lệch mục tiêu của cuộc khởi nghĩa thành việc thực hiện tham vọng của vài cá nhân đơn lẻ, không thể trở thành bản chất của sự kiện.

Khi kẻ đô hộ còn đủ thực lực và biết dùng những biện pháp thì hòa hoãn mâu thuẫn, kìm hãm sự đấu tranh của nhân dân thì rõ ràng cuộc khởi nghĩa không thể nổ ra thắng lợi. Làm trái lại tức là tự sát thôi. Còn khi kẻ thù suy yếu hay đã không còn khả năng sử dụng biện pháp đô hộ "hòa hoãn" làm nhân dân tăng thêm căm thù, thì việc những người mưu cầu việc giành lại độc lập tận dụng được cơ hội để nổi dậy là sự sáng suốt chớp đúng thời cơ.

Bà Trưng khởi binh sau khi chồng bà bị Tô Định giết. Nhưng chẳng thể vì thế mà nói cuộc khởi nghĩa chẳng qua chỉ là là cuộc làm loạn của một người đàn bà phẫn uất muốn trả thù chồng. Xem xét cuộc khởi nghĩa của Lí Bí cũng phải như vậy.


Tiêu đề: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: macbupda trong 25 Tháng Mười Hai, 2009, 10:24:38 PM
Việc Đại Việt sử lược không có ghi chép gì về Triệu Quang Phục - Triệu Việt Vương, theo em là do thời ký từ sau khi Nam Việt bị nhà Hán thôn tính đến khi Ngô Quyền giành được độc lập phản ánh trong Việt Sử Lược quả thật là rất "lược". Nhiều cuộc khởi nghĩa lớn của Phùng Hưng, Mai Thúc Loan, Đinh Kiến và Lý Tự Tiên, Dương Thanh đều hoàn toàn không được nhắc tới. Hơn nữa, phần này lại ghi dưới dạng danh sách các quan cai trị các đời (lịch đại thủ nhiệm), cuộc khởi nghĩa Lĩ Bí và nước Vạn Xuân cũng không được tách thành "kỉ" riêng như trong Đại Việt Sử kí toàn thư mà chỉ chép trong đoạn nói về thứ sử Dương Phiêu, còn Lý Phật Tử chỉ chép trong đoạn nói về Lưu Phương (tướng nhà Tùy). Triệu Việt Vương nằm trong giai đoạn Trần Bá Tiên về nước, quan cai trị phương Bắc ở nước ta không có nên không được nhắc đến. Có thể là do tác giả tham khảo sách sử Trung Quốc mà không được chỉnh sửa lại chính xác. Sau khi Lí Bí chết, cuộc khởi nghĩa bị sử Trung Quốc coi là đã bị dập tắt, và chỉ nói đến việc đánh dẹp "tàn dự" là Lí Thiên Bảo mà không nhắc đến Triệu Quang Phục đang ẩn náu và tiến hành chiến tranh du kích ở đầm Dạ Trạch.


Tiêu đề: Câu hỏi 1: Thành Long Biên ở đâu?
Gửi bởi: thapbut trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 02:46:33 PM
Có rất nhiểu vấn đề mà giới Sử học còn chưa thống nhất về giai đoạn này. Do vậy chúng ta cùng thảo luận để tháo gỡ dần từng vấn đề. Chủ đề này cố gắng nêu hết các vấn đề còn vướng mắc. Bàn bạc xem giải quyết được bao nhiêu nghi vấn. Còn bao nhiêu điều chưa thể giải quyết được. Thời đó cách chúng ta đến năm mươi thế hệ, do vậy có nhiều quan điểm chúng ta phải xem xét bị thay đổi do có thể của nhìn nhận của đời sau mà không phù hợp thời Tiền Lý.

Quan đô hộ Thứ sử Tiêu Tư là người hoàng tộc nhà Lương nổi tiếng tàn bạo. Trị sở đóng ở thành Long Biên. Long Biên xưa là đất nay thuộc địa phương nào? Quá trình hình thành, phát triển và lụi tàn của thành này?


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:19:03 PM
Long Biên: Vốn là nơi quan lại nhà Hán, Nguỵ, Tấn, Nam Bắc triều (thế kỷ III, IV, V và VI) đóng trị sở của Giao Châu (tên nước Việt Nam thời đó). Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long - Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838 - 1877); ghi lại bài thơ của vua Tự Đức viếng ông, có hai câu đầu như sau:

Long Biên tài hướng Phượng thành hồi

Triệu đối do hi, vĩnh biệt thôi!

Dịch nghĩa:

Nhớ người vừa từ thành Long Biên về tới Phượng Thành.

Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi và triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay.

Thành Long Biên ở đây, vua Tự Đức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877 vua Tự Đức triệu ông về kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất.

http://bacninhworks.com/?page=news_detail&id=5801&category=3064&portal=vieclamthanhnienbacninh

Trích:Khởi nghĩa Lý Bí và Nhà nước Vạn Xuân (542 - 602)

--- không rõ tác giả ---

Mùa xuân năm 542, Lý Bí phất cờ nổi dậy. Khởi nghĩa thành công nhanh chóng. Trong vòng chưa đầy 3 tháng, nghĩa quân đã chiếm được hầu hết các quận, huyện. Thứ sử Tiêu Tư run sợ, vội vã bỏ thành Long Biên (Yên Phong - Bắc Ninh) rút chạy về Trung Quốc. Lý Bí đem quân vào Long Biên, ổn định tình hình mọi mặt.
http://www.suutap.com/default.asp?id=850&muc=3


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 03:30:12 PM
Theo ông Trần Việt Bắc:


1. An Nam Long Biên thành , Phụng Thiên, Quảng Đức , Thọ Xương An Nam Long Biên thành (安 南 龍 翩 城): Xin trình ra một vài tài liệu có sẵn để độc giả dễ bề tham khảo:
Theo ĐVSKTT, quyển 1, trang 161, thì Sĩ Nhiếp … “…làm thái thú Giao Châu…, đóng đô ở Liên Lâu (tức là Long Biên)3 .” Tuy nhiên ghi chú số 3 cùng trang viết là: “Liên Lâu: cũng thường đọc là Luy Lâu, ở Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc (NV: ngày nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ), nay còn di tích thành, theo nhiều nhà khoa học, thành Liên Lâu không phải là Long Biên”.

Theo ANCL của Lê Trắc, trang 5: “Tôn Quyền thấy Giao Chỉ ở xa, bèn chia Giao Châu, đặt Quảng Châu và dời quận trị của Giao Châu qua Long Biên” (NV: Rời quận trị từ Luy Lâu sang Long Biên ).

Theo KĐVSTGCM, Tiền biên, quyển 2 có ghi chú như sau: “Long Uyên: Tức là Long Biên, tên hiệu về đời Hán, thuộc quận Giao Chỉ, trị sở của quận về thời Đông Hán.

Theo sách Thủy kinh chú, nhà Hán, năm Kiến An thứ 13 (208), khi mới đắp thành, có giống giao long lượn đi lượn lại ở hai bên bờ sông; nhân thế đổi gọi là Long Uyên. Nhà Lý đóng kinh đô ở đấy, đổi tên là Thăng Long; nhà Trần, nhà Lê cũng đóng kinh đô ở đấy cả. Bây giờ là tỉnh thành Hà Nội”.

Ghi chú trong ĐVSKTT, quyển 1, trang 179 viết: “Vị trí của thành Long Biên đến nay vẫn chưa xác định được, có thể ở vùng gần thị xã Bắc Ninh, tỉnh Hà Bắc”. Ông Lê Quí Đôn trong sách Vân Đài Loại Ngữ của (ấn bản của nhà sách Tự Lực) do Phạm Vũ, Lê Hiền dịch và chú giải), trang 151 viết: “76. Điạ thế nước ta… Kinh đô ở Long Biên, giữa khoảng hai phủ Thường Tín và Quốc Oai, tây bắc tựa nhiều núi, đông nam ngăn sông lớn, trên bến dưới thuyền là nơi đô hội. Chính tây là các phủ Lâm Thao, Đoan Hùng, Đà Dương và hai xứ Tuyên Quang, Hưng Hoá; chính bắc là một xứ Thái Nguyên, …. Phía tây có các phủ Ứng Thiên (ND: nay là Ứng Hoà ), Quảng Oai; phía bắc có các phủ Thuận An, Từ Sơn; phía đông có ba phủ, hai phủ Hồng (Thượng Hồng, Hạ Hồng) và Nam Sách, ruộng đất phì nhiêu; phía Nam có các phủ Tiên Hưng, Khoái Châu, Lý Nhân, Thiên Trường (sau là Xuân Trường), Kiến Xương, Thái Bình, Nghĩa Hưng, …”. Tuy nhiên trang 169 viết: “Sách Đông Hán chí chép. … 5. Giao -chỉ 12 thành: Long-biên; Liên-lâu; An-định; Câu-lậu; Mê-linh, Khúc-dương, Bắc-đái, Kê-từ, Tây-vu, Chu-diên, Phong-khê. … Đời xa, sự tích mai một; các thành, huyện xưa, nay không biết ở những xứ sở nào, dấu cũ không còn mấy. Chỉ có Long-biên là trị sở Giao-châu đời Hán, tức kinh đô ngày nay. Còn Phong-khê ở đất Yên-lãng. … . Một mình Sĩ Vương giữ Giao-châu được trọn vẹn, đóng đô ở Liên-lâu tức Long-biên.” Trang 170 viết: “Nhà Tấn bình được nhà Ngô, đặt ra Giao-châu bộ, thống trị 7 quận, 5 huyện: … 2. Giao-chỉ thống trị 14 huyện: Long-biên, Câu-lậu, Vọng-hải, Liên-lâu, Tây-ngọ, Vũ-ninh, Chu-diên (nay là Yên-lãng), Khúc-dương, Giao-hưng, Bắc-đái, Kê-từ, An-định, Nam-định, Hải-bình.” Trong đoạn đầu, có lẽ ông Lê Quí Đôn đã nói về vị trí của Liên Lâu thay vì Long Biên, mặc dù ông chắc cũng biết Long Biên và Liên Lâu là hai thành khác nhau.

Năm 541, thành Long Biên được Lý Nam Đế đặt làm kinh đô của nước Việt (quốc hiệu là Vạn Xuân). Phỏng đoán là vùng thị xã Bắc Ninh ngày nay (tham khảo từ "Đất nước Việt Nam qua các đời", trang 72-74, Đào Duy Anh). Năm 548, Triệu Việt Vương cũng đóng đô ở Long Biên, sau đó ông dời đô sang Vũ Ninh (NV: theo ghi chú trong ĐVSKTT thì Vũ Ninh thuộc huyện Quế Võ ( do hai huyện Quế Dương và Võ Giàng gom lại) thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay). Rồi nước Việt lại rơi vào vòng Bắc thuộc, dưới sự cai trị của An Nam Đô Hộ phủ, trị sở đặt ở Long Biên. Năm 825 trị phủ rời về thành Đại La thuộc huyện Tống Bình, là Thăng Long sau này ( Hà Nội ngày nay), từ đó, thành Long Biên mới không được dùng làm kinh đô. Long Biên ngày nay là tên một quận, được tách ra từ quận Gia Lâm. Đây không phải là vị trí của Long Biên thời Bắc thuộc.

Vậy "An Nam Long Biên thành" trong ĐVQTLĐ là Thăng Long thời Lý Trần, trung tâm thành phố Hà Nội ngày nay.

http://www.bienkhoi.com/so-44/Dai%20Viet%20Quoc%20Tong%20Lam%20Do%20-%20TranVietBac.pdf

Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ (ĐVQTLD)
Việt Sử Tân Biên, quyển 2, trang 394, sử gia Phạm Văn Sơn đã viết về Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ như sau:
“- Là bản-đồ nước ta do hai Đại-tướng nhà Minh, Chinh-nam tướng-quân kiêm Quốc-công Mộc-Thạnh và Tân-binh-hầu Trương-Phụ phác-họa trong niên-hiệu Vĩnh-Lạc (1403-1424).
- Là bản-đồ nước ta gồm đủ sông núi và vị trí các quận, huyện cùng thị-trấn dưới đời Trần (thế kỷ XIII).
- Là bản-đồ đã được quâm Minh đặc-biệt xử-dụng trong suốt thời-kỳ chinh-phục và đô-hộ nước ta dưới đời Hồ, Hậu Trần và trong giai-đoạn chiến-tranh với Bình-Định vương Lê-Lợi. Đến đời Gia-Long (1802), một số tên trong các địa-hạt hành-chính trong bản-đồ nay đã thay đổi. Ngày nay miền Bắc nằm dưới chế-độ mới, bộ mặt cũ và tên tuổi các xóm làng, Thành-thị ở đây cũng lại thay đổi phen nữa cũng như đời sống chính-trị của nhân-dân vậy.
- Tài-liệu rất quý này đã do bạn Thái-Văn-Kiểm có nhã-ý gởi tặng, tác-giả Thành-thực cảm-ơn
.”
Việt Sử Tân Biên ,trang 395.


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:45:01 AM
Theo ông Nguyễn Gia Liên trên vantuyen.net

1. Vị Trí Thành Long Biên Và Hồ Lãng Bạc

Thăng Long là cố đô của nước Việt Nam có liên quan đến những biến cố lớn trong một giai đoạn lịch sử gần một ngàn năm trước khi có địa danh Hà Nội thay thế. Ngày nay, hai chữ “Thăng Long” vẫn còn khắc sâu trong tâm khảm người dân Việt sau những thăng trầm của lịch sử đã diễn ra ngay tại nơi cố đô nghìn năm văn vật:

Cố đô rồi lại tân đô,

Nghìn năm văn vật bây giờ vẫn đây.


Ca dao

Đã có rất nhiều sách báo đủ các bộ môn sử địa, thi ca, v.v... viết về nơi đế đô cổ kính này. Trong các tác phẩm đó có một số dữ kiện nhầm lẫn cần phải đính chính, đúng với những khám phá mới. Tuy mới nhưng cũng đã trên dưới một thế kỷ nay. Trong những điểm sai lầm tôi chỉ xin góp ý về địa điểm đích thực của thành Long Biên và hồ Lãng Bạc.

Hiện nay, khi viết về Long Biên và Lãng Bạc, có nhiều tác giả vì không theo dõi các khám phá mới nên vẫn theo các sách cổ như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Đại Nam Nhất Thống Chí, v.v... Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đã có một số nhà nghiên cứu người Việt cộng tác với giới khảo cổ Pháp trong việc tìm kiếm các di tích lịch sử. Cơ quan chủ yếu của các nhà khảo cổ này là Trường Bác Cổ Viễn Đông (École Francaise d’Extrême-Orient), hoạt động tại Hà Nội từ năm 1902. Họ đã khám phá nhiều di tích lịch sử và tìm ra nhiều địa điểm đích thực của những địa danh cổ như hồ Lãng Bạc, hay các thành Luy Lâu, Long Biên, Đại La, v.v... Hai địa điểm Long Biên và Lãng Bạc tọa lạc trong vùng đất của tỉnh Bắc Ninh ngày nay chứ không phải ở Thăng Long hay Hà Nội. Sau nhiều năm khai quật các di tích lịch sử nằm dưới lòng đất, các nhà khảo cổ Pháp đã khẳng định rằng Bắc Ninh ngày xưa là cái nôi của nền văn minh Việt Nam (Bắc Ninh fut le berceau de la civilisation vietnamienne).


 
THÀNH LONG BIÊN

Georges Azambre viết trong bài nghiên cứu địa lý Hà Nội rằng : “Trong những thời gian đầu, các thủ đô [của Việt Nam] tọa lạc ở các địa điểm khác nhau [...] Long Biên ở trong tỉnh Bắc Ninh hiện nay [...]”

(Les capitales ont, au cours des premiers temps, occupé des sites différents [...] Long-Biên, dans l’actuelle province de Bắc Ninh [....]”) (Bulletin de la Société des Études Indochinoises, No. 4, 1955, page 356).

Địa danh Long Biên xuất hiện lần đầu tiên trong thời Bắc thuộc lần thứ hai (43-544 C.N.). Từ năm 142 đến 544, trị sở Giao Châu từ thành Mê Linh (về sau thuộc tỉnh Phúc Yên) dời về thành Long Biên. Thành này tọa lạc ở phía tây-bắc tỉnh Bắc Ninh, trong vùng thị xã Bắc Ninh và huyện Yên Phong ngày nay, cách tây-bắc thành phố Hà Nội khoảng 22 miles (35 km).

Trong đời Lý Nam Đế (544-548), dân Giao Châu thoát ách nô lệ Tàu. Vua Lý đặt quốc hiệu là Vạn Xuân và đóng đô ở Long Biên.

Trong thời Bắc thuộc lần thứ ba (603-939), trị sở của Giao Châu vẫn ở Long Biên trong thời gian đầu. Năm Kỷ Mão (679), Giao Châu được chia thành 12 châu và 59 huyện, đặt dưới quyền cai trị của An Nam Đô Hộ Phủ. Năm Bính Ngọ (766), phủ Đô hộ từ Long Biên dời về huyện Tống Bình, tức Hà Nội ngày nay.

Sau khi đến Tống Bình, quan Kinh lược sứ là Trương Bá Nghi khởi công xây thành Đại La, còn gọi là La Thành. (Có sách ghi nhầm rằng năm 791, thứ sử Tàu là Triệu Xương mới xây thành Đại La.) Thành Đại La cao 2 trượng 2 thước, tức 7,70 mét (1 trượng = 10 thước = 3,5 mét). Thành có cửa ở ba hướng: Hướng đông và tây mỗi hướng có 3 cửa, mỗi cửa đều có lầu; hướng nam có 5 cửa. Trong thành xây 20 tòa nhà. Năm Mậu Tý (808), quan Kinh lược sứ là Trương Châu sửa sang thành Đại La, xây thêm 30 gian nhà có lầu để chứa trên 300.000 khí giới. Năm Bính Tuất (866), quan Tiết độ sứ là Cao Biền sửa sang thành Đại La.

Bắc thuộc lần thứ ba chấm dứt năm Kỷ Hợi (939). Từ đó không có một cơ quan cai trị nào đóng tại thành Đại La trong 71 năm cho tới năm Canh Tuất (1010) mới được vua Lý Thái Tổ đổi tên là thành Thăng Long, kinh đô mới của nước Đại Cồ Việt.


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 03:59:06 AM
Hán chí chép : Quận Giao chỉ khởi trị ở Luy lâu, đời Hậu Hán trị ở Long biên. Việc ghi chép này đúng, nhưng cần phải giải rõ hơn. Khi nhà Hán lấy được Nam Việt rồi thì chia đất này ra làm nhiều quận, trong đó có quận Giao chỉ . Hợp tất cả mậy quận lại gọi chung là bộ Giao chỉ . Trị sở bộ Giao chỉ tức bộ lị buổi đầu đặt ở Luy lâu . Sau 5 năm dời sang Thương ngô (Quảng tây) thì chỗ bộ lị cũ đặt làm quận trị Giao chị Ðến năm Kiến an thứ 25 đời Hán Hiến đế (215 s. T.L.) Sĩ Nhiếp mới dời quận trị Giao chỉ đến Long uyên (sẽ giải thích ở dưới) sau đổi thành Long biên. Ðời Ngô, Long biên là châu trị, vì Giao chỉ bộ đã chia thành Quảng châu và Giao châu .

Long biên 龍 編 : nguyên cũ là Long uyên 龍 淵, một tên huyện đặt về đời Hán Võ đệ Khi khởi đặt huyện lị ở đây, người ta thấy Giao long xuất hiện trên sông nên mới đặt tên là Long uyên (vực rồn). Năm Kiến An thứ 25 (215) đời Hán Hiến đế, khi Sĩ Nhiếp dời quận trị từ Luy lâu đến đây và xây quận thành, cũng lại thấy Giao long lượn quanh ở hai bờ nam bắc, bèn đổi tên là Long biên (biên là bên lề). Nhưng có người ngờ rằng : Mãi đến đời Ðường, vì kiêng tên Cao tổ Lý Uyên, Nhan Sư Cố mới đổi trong Hán chí chữ Uyên thành chữ Biên, như vậy không rõ lý nào đúng hơn. Ðời Ngô Tôn Hạo chia Giao chỉ bộ thành 2 châu thì cũng nơi đó lập thành châu trị Giao châu . Cũng nơi đó nhà Ðường xây La thành 羅 城 rồi mở rộng thành Ðại la thành 大 羅 城. Cũng trong khu, nhà Lý lập đô Thăng long 昇 龍, lại cũng gọi là Nam kinh 南 京 Niên hiệu Thiệu Bảo (1279-1284) đời Trần Nhân tôn gọi là Trung kinh 中 京 rồi đổi thành Ðông đô 東 都. Hồi thuộc Minh có tên là Giao châu phủ 交 州 中 lại có tên là Ðông quan thành. Nhưng sử Hoa ghi nhận tên Ðông quan do người Việt đặt sau đời Ngũ Ðại . Sau đời Ngũ Ðại ở nước ta có nhà Ngô, thời Thập nhị Sứ quân, nhà Ðinh, nhà Tiền Lê, nếu có tên đó thì sử đâu bỏ sót. Có lẽ tên đó đặt về đời Hộ Hồ Qúy Ly lập Tây đô 西 都 là có ý đề phòng quân Minh sang đánh, có sẵn nơi để, nếu cần, sẽ thiên độ Họ Hồ còn muốn nâng địa vị Tây đô, chẳng những ngang hàng với Ðông đô mà còn muốn người ta chú ý đến khu mới ấy, bèn đổi Ðông đô thành Ðông quan 東 關 và Tây đô thành Tây giai 西 階. Chỉ vì lòng dân ưa họ Hồ, nên những danh từ này chưa được phổ biến sâu rộng thì đã gặp hồi Minh thuộc. Sử gia sau chép tên Ðông quan, nhân những việc xẩy đến về hồi thuộc Minh, không nói đết xuất xứ của tên đó, nên người sau lầm là tên do người Minh đặt, còn sử Hoa không nhận đã đặt tên đó nên mới có sự cải chính như trên. Ðời Lê, hồi đầu, nơi đây gọi là Ðông kinh 東 京, rồi đến năm Quang Thuận thứ 7 (1466) đời Lê Thánh tôn đổi gọi là Trung đô phủ 都 府 中. Nhà Mạc lấy lại tên Ðông đô 東 都. Ðời Tây sơn là Bắc thành 北 城. Ðời Gia Long cũng gọi thế rồi đến khi xây lại thành Thăng long theo kiểu Tây phương thì phần đất lại được mang tên Thăng long với chữ Long 隆 là thịnh thay cho chữ Long 龍 là rồng. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đặt làm tỉnh lỵ Hà nôị Năm 1888 là thành phố Hà nội
theo www.vutien.com


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 04:11:10 AM
43 – Quý Mão Tháng năm - Hai Bà Trưng thua trận gieo mình xuống sông Hát tự vẫn (một số tài liệu khác ghi Hai Bà tử trận tại Cẩm Khê: “Việt điện u linh, Lĩnh Nam trích quái. Toàn thư, Cương mục, Hậu hán thư, Nam Việt chí”).  
203 – Quý Mùi - Nhà Hán đặt tên Giao châu, gồm 7 quận.  
264 – Giáp Thân - Nhà Ngô chia Giao Châu thành hai: Quảng Châu và Giao Châu. + Quảng Châu gồm 3 quận: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm. Giao Châu gồm 4 quận: Giao Chỉ, Cửu chân, Nhật Nam, Hợp Phố. Châu lỵ đóng ở Long Biên (Yên Phong, Bắc Ninh)   
454 – 456 Giáp Ngọ - Bính Thân - Thành lập huyện Tống Bình.  
541 – Tân Dậu - Lý Bí khởi nghĩa, đánh đuổi thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư, đóng giữ Long Biên.  
544 – Giáp Tí Tháng hai - Lý Bí xưng làm Nam Việt Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở Vạn Xuân (Vĩnh Tuy, Thanh Trì)
545 – Ất Sửu Tháng bảy - Lý Bí đánh quân xâm lược nhà Lương, dựng thành bằng tre gỗ ở cửa sông Tô Lịch (chợ gạo). + Phạm Tu, tướng tài của nghĩa quân (người xã Thanh Liệt, Thanh Trì) chiến đấu chống giặc đến hơi thở cuối cùng tại đây ngày 20 tháng 7 Ất sửu (Tháng 8-545) - Tống Bình trở thành quận với 3 huyện: Xương Quốc, Nghĩa Hoài và Tuy Ninh.  
557 – Đinh Sửu - Cuộc tranh chấp gữa hai thế lực phong kiến: Triệu Quang Phục đóng giữ Long Biên chống lại Lý Phật Tử đóng ở thành Ô Diên (Hạ Mỗ, Đan Phượng), sau 2 bên lấy bãi Quân thần (Thượng Cát, Từ Liêm) làm ranh giới.  
571 – Tân Mão - Lý Phật Tử giành được chính quyền trong cả hai châu, bỏ thành Ô Diên dời đô lên ở Phong Châu (Bạch Hạc nay thuộc Phú Thọ).  
602 – Nhâm Tuất - Quân nhà Tùy sang xâm lược, Lý Phật Tử lui về tổ chức phòng ngự ở Cổ Loa.  
603 – Quý Hợi - Giặc Tùy do Lưu Phương cầm đầu vây Cổ Loa, bức Lý Phật Tử đầu hàng.  
618 – Mậu Dần - Dời trị sở Giao Châu từ Long Biên (Bắc Ninh) về Tống Bình (Hà Nội).    

http://www.1000namthanglonghanoi.vn/index.php?act=news_detail&Cat_Level1=54&Cat_Level2=73&View=256&Level=2


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 27 Tháng Mười Hai, 2009, 04:34:04 AM
Nếu cầm quyền thời đó, quý vị chọn vị trí nào để đặt thành Long Biên?
1. Vùng huyện Yên Phong và Bắc Ninh
2. Vùng Thăng Long
Cơ sở để chọn?


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 01:13:52 AM
Sau khi chiếm xong nước Nam Việt, Hán Vũ Đế tiến hành tổ chức chính trị, niên hiệu Nguyên Đỉnh thứ 6 (-111CN), chia đặt lại các đơn vị hành chính ở miền đất mới xâm chiếm được. Đặt ''châu'' thống suất các ''quận'', dưới ''quận'' là ''huyện''. Từ đó lãnh thổ của Nam Việt chia đặt làm 9 quận, liệt làm ''Giao Chỉ bộ'', cho viên quan người Hán là Thạch Đái làm Thái thú coi công việc của 9 quận.
Ở mỗi quận lại đặt một viên Thái thú người Hán trực tiếp cai trị công việc.
9 quận chia đặt của thời bấy giờ sử CM, dẫn theo thiên ''Địa lý chí'' trong sách ''Tiền Hán thư'' như sau:
l. QUẬN NAM HẢI: Thống trị 6 huyện: Phiên Ngung, Long Xuyên, Bác La, Tứ Hội, Trung Túc, Yết Dương.
Là quận cũ của nhà Tần, đất Quảng Đông của nhà Minh, nay thuộc tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
2- QUẬN THƯƠNG NGÔ: Thống trị là huyện: Quảng Tín, Lâm Hạ, Lệ Phố, Tạ Mộc, Đoàn Khê, Mãnh Lăng, Cao Yến, Phùng Thặng, Phong Dương, Phú Xuyên.
Nhà Đường đổi gọi là Ngô Châu, nay là huyện Thương Ngô, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.
3- QUẬN UẤT LÂM: Thống trị 12 huyện: Bồ Sơn, Trung Lưu, An Quảng, Quế Lâm, A Lâm, Đàm Trung, Quảng Uất, Lâm Trần, Định Chu, Tăng Thực, Lĩnh Phương, Ung Kê.
Tên cũ của nhà Tần là Quế Lâm, Hán Vũ Đế Đổi ra Uất Lâm, nay thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
4- QUẬN HỢP PHỐ: Thống trị 5 huyện: Từ Văn, Cao Lương, Hợp Phố, Lâm Doãn, Chu Lư.
Đời Tần thuộc đất Tượng Quận, nay thuộc Liêm Châu, tỉnh Quảng Đông.
5- QUẬN GIAO CHỈ: Thống trị 10 huyện, nay là vùng trung du và trung châu Bắc Bộ Việt Nam, gồm:
- Huyện Lơi Lâu: Sách ''Hán chỉ'' chép là La Lũ, sử CM (T.b II. 5) chép là Liên Thụ, nay là vùng huyện Siêu Loại , tỉnh Bắc Ninh. Xã Lũng Khê còn dấu tích thành cũ.
- Huyện An Định: Nay là vùng huyện Gia Lương (Gia Bình) tỉnh Bắc Ninh và Chí Linh tỉnh Hải Dương.
- Huyện Câu Lậu: Có thuyết cho là vùng huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Theo sách ''An Nam chí nguyện'' và ''Đại Thanh nhất thống chỉ ở huyện Thạch Thất có núi Câu Lậu, huyện lỵ đóng dưới chân núi ấy. Giáo sư Trần Quốc Vượng căn cứ theo sách''thiền uyển tập anh'' cho rằng ''Huyện Câu Lậu quận Tế Giang'' nay thuộc đất Văn Giang- Khoái Châu tỉnh Hưng Yên. Bởi ở đó có dòng chảy Kim Ngưu (Trâu vàng), có vũng Trâu Đằm, có huyền tích về Trâu vàng chạy từ Phật Tích xuống, có khu mộ.
- Huyện Mê Linh:
Ở phía bắc huyện Chu Diên, 2 huyện liền nhau, tức Phong Châu đời Đường, vùng đỉnh xưa nhất của tam giác châu thổ sông Hồng, tức là đất phủ Tam Đái đời Lê, phủ Vĩnh Tường đời Nguyễn, gồm đất các huyện Vĩnh Tường, Yên Lạc. 2 huyện này luôn có sự xê dịch địa giới qua các đời.
- Huyện Bắc Đái:
Đời Tấn (265- 419) vẫn còn, đến đời Nam Tề (479- 502) mới giảm bớt. Nay chưa rõ ở đâu.
- Huyện Kê Từ:
Nay tương đương với huyện Lạng Giang, Sơn Động, Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang.
- Huyện Tây Vu:
Là huyện có đất đai rộng nhất, dân số đông nhất quận Giao Chỉ, tới 3 vạn 3 nghìn hộ, thuộc vùng đất 2 tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên cũ về phía bắc và phía đông.
- Huyện Long Biên:
Ở về tả ngạn sông Hồng, xưa gọi là Long Uyên, nay là vùng các huyện Từ Sơn, Tiên Du tỉnh Bắc Ninh.  
- Huyện Khúc Đương:
Về sau là vùng đất Võ Giai, nay là vùng đất các huyện Việt Yên, Yên Dũng, Lạng Giang tỉnh Bắc Giang
- Huyện Chu Diên: Huyện này, sách ''Thuỷ kinh chú'' dẫn lại lời sách ''Giao Châu ngoại vực ký'' thế kỷ IV, chép là có suối Phù Nghiêm ở phía Bắc quận (Giao Châu), tức là phía bắc của vùng Hạ Lôi, thủ phủ của Giao Chỉ quận đời Quang Vũ Đế (25-56CN), sau 1à phần đất có huyện Yên Lãng đời Hồng Đức. Suối Phù Nghiêm là con sông Phan phía bắc đồng bằng Giao Chỉ, tức là bờ bắc của huyện Chu Diên. Con sông mà về thế kỷ XIX sách ''Đại Nam nhất thống chỉ'' chép là ''Khe huyện Yên Lạc''.
Nay thần tích các làng Hiền Lương, Hợp U, Mộ Đạo, Yên Lỗ, Can Bi huyện Bình Xuyên và các làng huyện Yên Lãng đều chép thuộc huyện Chu Diên đời Hán.
6- QUẬN CỬU CHÂN: Thống trị 7 huyện: Tư Phố, Cư Phong, Đô Bàng, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết, Vô Biên. Nay tương đương phần đất các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An.
7- QUẬN NHẬT NAM: Thống trị 5 huyện: Chu Ngô, Tị ảnh, Lư Dung, Tây Quyến, Tượng Lâm. Nay là phần đất tỉnh Hà Tỉnh. (Quận này xưa kia là bộ Việt Thường. Đời Tấn là đất Tượng quận. Đời Triệu thuộc quận Cửu Chân. Đầu đời Hán tách ra đặt làm Nhật Nam- kể là quận thứ 9 ở Giao Chỉ và là quận thứ 3 thuộc nước ta).
8- QUẬN CHÂU NHAI:
9- QUẬN ĐẠM NHĨ:
Hai quận nằm trong biển lớn. Nay là đất đảo Hải Nam, Trung Quốc.
Như vậy là trong 9 quận đặt ra ở thời tây Hán thuộc cương giới nước Nam Việt của Triệu Uý Đà, chỉ có 3 quận là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam là thuộc về nửa phần phía bắc của lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày nay. Thời nội thuộc Tây Hán (từ năm -l11CN đến 25CN) và Đông Hán (25-40CN), trị sở của quận Giao Chỉ đặt long Uyên. Sử T.T chua ''tức là Long Biên"
Nay là vùng đất các huyện Từ Sơn, Tiên Du tỉnh Bắc Ninh Trong quận Giao Chỉ, những Lạc hầu, Lạc tướng vẫn được thế tập giữ quyền cai trị các huyện địa phương, được quyền của quận Thái Thú là người Hán như:
- Thi Sách (có văn bản chép là Sách Thi) làm quan huyện lệnh huyện Chu Diên,vốn là người xã Yên Lãng. Nay thuộc xã Thanh Lãng huyện Bình Xuyên.
- Phạm Công Huyền, người làng Kỳ Hợp huyện Chu Diên (là làng Hạ Lôi huyện Yên Lãng cũ) làm quan huyện lệnh huyện Khúc Dương, vùng đất có huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang ngày nay.
- Trần Hậu, người làng Tuyền Liệt. Nay là thôn Phú Mỹ xã Tự Lập, làm huyện quan huyện Chu Diên.

http://www.dangcongsan.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30387&cn_id=116270


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 01:36:23 AM
Nhìn trên bản đồ chúng ta nhận thấy vị trí Long Biên 1 là không đắc địa vì thời trước giao thông đường thủy là chính. Sông Thiên Đức -sông Đuống vẫn là đường giao thông quan trọng. Luy Lâu vốn bên bờ nam sông Thiên Đức, Long Biên có thể cũng bên dòng sông này.
Còn vị trí Long Biên 2 thì không do sau đó trị sở mới chuyển về đây.
Chắc chắn Long Biên nằm ở tả ngạn sông Hồng, nhiều khả năng trong vùng đất quận Gia Lâm thời Lý. Chúng tôi nhận thấy có một vị trí mà có thể Lý Bí tập kết quân để đánh vào thành Long Biên, do đó có thể thành Long Biên gần ở đó. Đó chính là làng Tình Quang bên ngoài đê bờ nam sông Đuống (nay thuộc phường Giang Biên, quận Long Biên)
Xin trích dẫn bài viết của tác giả Võ Văn Trực trên Sưu tập viết về địa điểm này
Suốt mấy năm liền, thôn Tĩnh Quang (Gia Lâm, Hà Nội) được mùa ngô, cả một triền phù sa dọc sông Hồng từ cầu Đuống kéo dài về xuôi hơn 3km, quanh năm bờ bãi thay đổi mầu sắc theo mùa gieo trồng. Đất nâu mịn màng lấm tấm hạt ngô vàng như cái cúc áo. Rồi ngô nhu nhú mầm non dễ thương như những chiếc răng sữa. Rồi bãi vồng lên mầu xanh của lá. Rồi bạt ngàn ngô lên ngọn, tưởng như tự dưới tầng sâu lắng đọng màu mỡ đã trào lên sắc biếc để rồi thai nghén một mùa thu hoạch lớn. Chiều chiều, lũ trẻ dong trâu về làng, tôi thường lấy râu ngô dán lên cằm vờ làm ông Lý Bí cưỡi voi đánh giặc Lương, hát mấy câu ca không biết được truyền lại tự bao giờ:

Nhớ thời đất dựng Vạn Xuân
Trời Nam có ngọn cờ thần tung bay
Bắc triều chính sự lung lay
Lên ngôi thần lại đặt bày núi sông.

Nghe các cụ nói, hồi trước Lý Bí có đóng quân tại vùng này, trừ được giặc, nhân dân nhớ ơn, lập đền thờ ngài. Lúc đầu chỉ là ngôi miếu nhỏ lợp gianh. Về sau, dân làng quyên góp tiền của dựng thành tòa đền lớn... Cụ từ đền cho con cháu nghe bài văn tế kể lại công đức của thần:

"Khôi phục chân thành mà dấy lên, nước Vạn Xuân cũng như bàn thạch. Bảy năm việc lớn bèn thành tựu, thế Thăng Long mạnh tựa âu vàng...".

http://www.suutap.com/default.asp?id=1056&muc=3

Sự tích làng Lệ Mật vào thời Lý còn có:
Tương truyền, vào đời vua Lý Nhân Tông, có một công chúa cưng của vua thường bơi thuyền du ngoạn trên dòng Thiên Đức (sông Đuống ngày nay) và vào một hôm, công chúa bị đắm thuyền chết đuối không thấy xác. Vua trao giải cho ai tìm thấy nhưng không người nào tìm được. Có một chàng thanh niên họ Hoàng ở Lệ Mật đã chiến đấu dũng cảm với thủy quái và cuối cùng đưa được ngọc thể của công chúa lên bờ. Vua ban thưởng cho chàng rất nhiều gấm vóc, vàng bạc, nhưng chàng từ chối tất cả, chỉ xin vua cho đưa dân nghèo Lệ Mật và mấy làng quanh đó sang khai khẩn vùng đất phía Tây kinh thành Thăng Long làm trang trại. Sau khi được vua ưng thuận, dân chúng Lệ Mật đã cùng chàng vượt dòng sông Nhị Hà (sông Hồng) sang khai khẩn khu đất phía Tây thành Thăng Long. Vùng đất ấy dần trở nên trù phú, mở rộng thành 13 trại ấp mà sách sử gọi là khu "Thập Tam trại".
http://www.hanoivanhien.com/xem-tin-tuc/hoi-le-mat.html
Lệ Mật nổi tiếng với đặc sản rắn, thủy quái chính là Giao long ở sông Đuống.

Long Uyên - rồng cuộn có lẽ rất gần vùng sông Đuống này và cũng rất gần Cổ Loa vốn là kinh đô xưa và Cổ Loa cũng đã được Lý Phật Tử lựa chọn đóng quân. Sau đó đến đời Đường thì chuyển trị sở vào Tống Bình (vẫn bên sông Tô sông Hồng là phù hợp). Đó chính là vùng đất trù phú đông dân dọc theo sông Thiên Đức thời Sỹ Nhiếp. Có lẽ chính việc phong hầu cho Sỹ Nhiếp là Long Biên hầu phần nào khẳng định vai trò của viên quan đô hộ này với việc lập thành Long Biên. Theo tôi Yên Viên, Ninh Hiệp thuộc Gia Lâm chính là địa điểm đáp ứng nhiều điều kiện để Sỹ Nhiếp "định đô".
Xem thêm nghiên cứu về Đại địa mạch quốc gia của KTS Trần Thanh Vân. Trên bản đồ chúng ta có thể thấy sông Thiên Đức nối từ Tây sang Đông và chạy dọc theo Đại địa mạch quốc gia và Long Biên ở giữa Thăng Long và Luy Lâu. Xem tài liệu về Nguyễn Bỉnh Khiêm chúng ta có thể giải thích việc chuyển trị sở do đổi dòng sông, long mạch thay đổi và các nhà địa lý đã thấy huyệt đạo quan trọng này chuyển dần từ Luy Lâu đến Long Biên và sau đó là Thăng Long.
http://www.tuanvietnam.net/dai-dia-mach-quoc-gia


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: spirou trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 11:40:19 AM
Bác spirou cho rằng là thế nào mới là mang tinh thần tự hào dân tộc và yêu nước? Thế nào mới là động cơ chân chính cho cuộc khởi nghĩa đánh đuổi ách đô hộ? Rõ ràng việc nhà Lương thực hiện chế độ "sĩ tộc" khắc nghiệt, đè nén các tầng lớp thấp làm tăng thêm mâu thuẫn với nhân dân là cơ hội để Lí Bí thu hút nhân tài và khởi binh, nhưng mục đích cao cả, chân chính nhất của cuộc khởi nghĩa là để giành lại độc lập cho dân tộc Việt ta, giành lấy tự do cho nhân dân ta. Việc Lí Bí nỗ lực xây dựng đất nước (định đô, đặt chế độ quan lại, đặt quốc hiệu mong muốn thái bình muôn đời) cho thấy ông thực sự là người có chí lớn mong muốn độc lập thái bình lâu dài cho đất nước và lòng tự hào dân tộc của ông; chứ chẳng phải anh "ăn xổi" muốn xưng hùng nhất thời mà thôi. Cái thời cơ giúp có thể tận dụng hoàn toàn không thể làm sai lệch mục tiêu của cuộc khởi nghĩa thành việc thực hiện tham vọng của vài cá nhân đơn lẻ, không thể trở thành bản chất của sự kiện.

Khi kẻ đô hộ còn đủ thực lực và biết dùng những biện pháp thì hòa hoãn mâu thuẫn, kìm hãm sự đấu tranh của nhân dân thì rõ ràng cuộc khởi nghĩa không thể nổ ra thắng lợi. Làm trái lại tức là tự sát thôi. Còn khi kẻ thù suy yếu hay đã không còn khả năng sử dụng biện pháp đô hộ "hòa hoãn" làm nhân dân tăng thêm căm thù, thì việc những người mưu cầu việc giành lại độc lập tận dụng được cơ hội để nổi dậy là sự sáng suốt chớp đúng thời cơ.

Bà Trưng khởi binh sau khi chồng bà bị Tô Định giết. Nhưng chẳng thể vì thế mà nói cuộc khởi nghĩa chẳng qua chỉ là là cuộc làm loạn của một người đàn bà phẫn uất muốn trả thù chồng. Xem xét cuộc khởi nghĩa của Lí Bí cũng phải như vậy.

Bác macbupda dường như chưa hiểu rõ vai trò của "nhân dân" (hoặc giả bị lậm từ này) trong thời tiền trung cổ ở xứ Giao Châu. Trong suốt thời đô hộ, giới quan lại cai trị chỉ cai trị trung gian qua quý tộc bản xứ, mọi khoản đóng góp đều do quý tộc bản xứ (QTBX) thu rồi nộp lại cho quan cai trị. Do vậy, ảnh hưởng của của sự thay đổi triều đại, thay đổi quan cai trị và chính sách chỉ tác động tới QTBX. Cứ thử nhìn lại cổ sử, ta  thấy các cuộc khởi nghĩa đều do QTBX lãnh đạo, không có người bình dân nào. QTBX ở đây là ai? Họ có thể là những quý tộc Âu Lạc còn sót lại qua cuộc tận diêt của Mã Viện nay tiếp thu văn hóa Hán, có người Hán bị bản xứ hóa như trường hợp ông tổ Lý Bí, rồi những quan cai trị có lãnh địa ở Giao Châu, thế mới xây dựng được lực lượng quân riêng cho mình: tông binh, như Lý Trường Hiến, Lý Tắc,...

Còn người bình dân Giao Châu không đóng vài trò gì, họ chỉ có tên mà không họ, chỉ là thằng này hay ả nọ, lo còng lưng cày ruộng mà nạp thuế. Trong mắt họ chỉ có làng xóm, thị tộc chứ không có mức độ to tát như dân tộc, thế thì làm sao mà có lòng yêu nước hay tự hào dân tộc.

Thế nên, từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà cho tới Ngô Quyền sau này, những xung đột dẫn đến giành độc lập chỉ là mâu thuẫn quyền lợi của QTBX với chính quyền đô hộ mà thôi. Việc Lý Bí nỗ lực xây dựng một quốc gia riêng mình chưa thấy rõ ông ta có vì dân tộc hay không hay vì tham vọng lớn nảy sinh khi thấy nhà Lương bị Bắc Ngụy đánh cho te tua.




Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: spirou trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 01:33:03 PM


Trong Thần Người Đất Việt của cụ Đại Trường có nhắc tới thì phải.
Chính hắn anh ạ  :). Mặc dù cụ TCDT giải thích chưa thuyết phục cho lắm, nhưng nội dung câu chuyện Nhã Lang- Cảo Nương rất giống chuyện Mỵ Châu- Trọng Thủy khiến chúng ta phải hoài nghi nhiều.


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: spirou trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 01:55:42 PM
Vào cổ thời, đồng bằng sông Hồng thường xuyên bị ngập lụt, một nhà buôn phương Tây cũng ghi nhận rằng vào TK 17 nhiều làng ở miền Bắc dân chúng sống trong bùn tới nách, đi lại giữa các làng chỉ có thể dùng thuyền (vào mùa ngập lụt, khi nước sông Cả dâng cao). Nếu vậy, vào thời Bắc thuộc khi không có đê điều thì chắc còn ngập nặng hơn. Thế nên khi chọn đất xây trị sở, các quan đô hộ phải lo tìm nơi gò đồi cao. Bên cạnh đó còn có yếu tố phong thủy, Sỹ Nhiếp khi thấy lúc nhúc từng đàn cá sấu/ thuồng luồng/ giao long nằm phơi nắng trên bờ ông ta hẳn cho rằng đất tốt thì đám thủy quái giống con rồng này mới chọn nơi để ở. Và thế là Long Biên ra đời. Còn tại sao bỏ Luy Lâu thì chưa rõ.


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 02:03:06 PM
ảnh hưởng của của sự thay đổi triều đại, thay đổi quan cai trị và chính sách chỉ tác động tới QTBX.
...
Thế nên, từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà cho tới Ngô Quyền sau này, những xung đột dẫn đến giành độc lập chỉ là mâu thuẫn quyền lợi của QTBX với chính quyền đô hộ mà thôi.

Sao sự thay đổi triều đại, thay đổi quan cai trị và chính sách chỉ tác động tới QTBX được, trong khi chính người bình dân phải đóng thuế, đi phu, phục dịch; chính họ cũng là người sống dưới pháp luật. Chính sách thuế má nặng thì đánh vào người nông dân trước tiên chứ ai?

Không có người bình dân ủng hộ, quý tộc bản xứ làm sao có đầy đủ lực lượng mà đấu tranh và có được thắng lợi? Sao lại có thể xem những cuộc khởi nghĩa giành độc lập cho dân tộc chỉ đơn thuần là xung đột quyền lợi với chính quyền đô hộ.

Kết luận của spirou là quá cùn, bịt mắt trước thực tế rõ ràng. Nói nghe hơi sách vở, như Mác nói: "Quần chúng là người sáng tạo nên lịch sử" chứ không phải chỉ đơn thuần là kẻ bị động bị người thống trị lợi dụng và sai khiến. Nghe thì hơi sách vở, nhưng ấy vẫn là chân lí.

Còn cái đoạn này:

Còn người bình dân Giao Châu không đóng vài trò gì, họ chỉ có tên mà không họ, chỉ là thằng này hay ả nọ, lo còng lưng cày ruộng mà nạp thuế. Trong mắt họ chỉ có làng xóm, thị tộc chứ không có mức độ to tát như dân tộc, thế thì làm sao mà có lòng yêu nước hay tự hào dân tộc.

thì cẩn thận, đấy có thể hiểu là sự vu khống cả dân tộc, hay ít ra là phần lớn dân tộc đấy.


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 05:06:58 PM
Vào cổ thời, đồng bằng sông Hồng thường xuyên bị ngập lụt, một nhà buôn phương Tây cũng ghi nhận rằng vào TK 17 nhiều làng ở miền Bắc dân chúng sống trong bùn tới nách, đi lại giữa các làng chỉ có thể dùng thuyền (vào mùa ngập lụt, khi nước sông Cả dâng cao). Nếu vậy, vào thời Bắc thuộc khi không có đê điều thì chắc còn ngập nặng hơn. Thế nên khi chọn đất xây trị sở, các quan đô hộ phải lo tìm nơi gò đồi cao. Bên cạnh đó còn có yếu tố phong thủy, Sỹ Nhiếp khi thấy lúc nhúc từng đàn cá sấu/ thuồng luồng/ giao long nằm phơi nắng trên bờ ông ta hẳn cho rằng đất tốt thì đám thủy quái giống con rồng này mới chọn nơi để ở. Và thế là Long Biên ra đời. Còn tại sao bỏ Luy Lâu thì chưa rõ.
Nhất trí là nơi đựng thành thời này cao ráo, thành của thời Tam Quốc. Sỹ Nhiếp là một quan đô hộ mang tư tưởng "ly khai" mẫu quốc nhưng khá mềm mỏng không đối đầu với Đông Ngô của Tôn Quyền.
Việc rời Luy Lâu có thể do thay đổi phong thủy, hoặc Sỹ Nhiếp nhận ra Long Biên bấy giờ tốt hơn. Dựng thành bờ bắc sông Thiên Đức cũng là để nhìn xuống phương nam là hướng chính của cổng thành phù hợp phong thủy và tư tưởng "ly khai". 
Thế của Long Biên dựa vào vùng Kinh Bắc cao hơn, nhìn ra bờ bãi sông Thiên Đức và sông Cái thấp hơn, quay xuống phương Nam, không bị dòng sông chảy mạnh sau lưng như Luy Lâu. Dòng sông nơi đây uốn lượn đã là hai con rồng khổng lồ: sông Cái và sông Thiên Đức.


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 10:35:09 PM
Có thể vùng Ninh Hiệp (huyện Gia Lâm, Hà Nội) và Đình Bảng (huyện Từ Sơn, Bắc Ninh) là nơi Sỹ Nhiếp lập thành Long Biên vào năm 215?
Trong khu vực này hiện có thôn mang tên Long Vĩ, không rõ có liên quan gì không? Đó là thôn đánh dấu hình đa giác ngay chữ Biên màu đỏ.


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 11:06:14 PM
Một phương án trả lời câu hỏi 1:
Thành Long Biên có thể ở cực nam huyện Từ Sơn trên đất Đình Bảng-Ninh Hiệp,
do Sỹ Nhiếp quan đô hộ thời Tam Quốc lập thành vào năm 215.
Trải qua 400 năm tồn tại là trị sở của Giao Châu.
Ban đầu nghĩa quân Lý Bí chiếm và đóng ở Thành này, sau ông định đô ở hữu ngạn sông Hồng. Năm 602 nhà Tùy chiếm được Long Biên nhưng nhận ra vị trí vùng đất cửa sông Tô đến vùng định đô của Lý Bí có nhiều lợi thế khi đánh xuống phía Nam.
Năm 618, trị sở chuyển vào Tống Bình là vùng Thăng Long sau này.


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 31 Tháng Mười Hai, 2009, 12:03:34 AM
Điều chúng tôi nhận thấy là dòng sông Thiên Đức gắn liền với sự phát triển của Luy Lâu rồi Long Biên. Chúng ta nhận thấy Bạch Đằng giang là phần cuối của con sông chính này. Phương Bắc trước vào nước ta đều qua con đường thủy quan trọng đó: chống Nam Hán thời Ngô Quyền; chống Tống thời Lê Hoàn, chống Nguyên Mông thời Trần Hưng Đạo. Và thời Tiền Lý, chính Lý Bí cùng cầm quân chống giặc ở Chu Diên thuộc lưu vực sông Thiên Đức.

nay xin bổ sung thông tin đổi dòng của sông Đuống thế kỷ XIX

Làng Tình Quang nằm ven sông Thiên Đức (sông Đuống). Xưa kia, sông ở cách xa làng. Năm 1856, nhà Nguyễn cho nắn dòng sông Thiên Đức từ Du Lâm về phía Nam. Sông chia làng Tình Quang thành hai khối, dần dần tách thành hai làng : làng ở bờ Nam là Vịa Lớn (chính là làng Tình Quang hiện nay), còn làng ở bờ Bắc là Vịa Con (nay là làng Cống Thôn xã Yên Viên). Tuy vậy, hai làng vẫn chung đình, chung chùa, song làng Vịa Con được tổ chức hội trước (từ mồng 8 - 12 tháng Hai).
...
Làng Tình Quang có ngôi đình được dựng vào năm đầu niên hiệu Vĩnh Trị (Bính Thìn, 1676). Năm Vĩnh Khánh thứ hai (Canh Tuất, 1730) trùng tu lần thứ nhất, năm Khải Định thứ chín (Giáp Tý, 1924) trùng tu lần thứ hai và gần đây nhất năm 1994 được trùng tu lớn. Đình thờ ba vị thần là Lý Bí, Đinh Điền (một tướng của Đinh Bộ Lĩnh) và Lý Chiêu Hoàng - vị vua cuối cùng của nhà Lý. Làng còn có ngôi chùa Phổ Quang, không rõ được dựng từ bao giờ.
(Theo PGS Bùi Xuân Đính)
http://www.hanoimoi.com.vn/vn/53/143211/


Tiêu đề: Danh sách một số nghi vấn cần giải đáp
Gửi bởi: thapbut trong 03 Tháng Một, 2010, 10:34:06 PM
1. Thành Long Biên (đã bàn ở trên)

2. Quê của Lý Bí nay ở đâu?

3. Chu Diên thời Vạn Xuân ở đâu? Triệu Túc và Triệu Quang Phục quê ở đâu?

4. Vùng hoạt động chính của nghĩa quân tham gia khởi nghĩa Lý Bí?

5. Danh sách 100 quan của nhà nước vạn Xuân?

6. Kinh đô Vạn Xuân nay là địa phương nào?

7. Tại sao lập Tô Lịch giang thành? Năm 545, Trần Bá Tiên tấn công theo đường nào?

...

Trân trọng kính mời thành viên QSVN và bạn đọc tham gia thảo luận và nêu câu hỏi.


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Một, 2010, 08:38:40 PM
Nhắc đến các hoạt động kiến lập quốc gia của Lí Bí sau khi lên ngôi, sách báo ngày nay (ví dụ như cuốn Danh tướng Việt Nam tập 4 của Nguyễn Khắc Thuần, hoặc cả quyển sách giáo khoa lịch sử lớp 6 hồi trước em học) thường hay nói đến việc đặt quốc hiện, niên hiệu, định đô, xây dựng Điện Vạn Thọ và chùa Khai Quốc. Nhưng em xem trong một số sách sử xưa của nước ta thì không thấy nói đến chuyện Lí Bí dựng chùa Khai Quốc. Tài liệu chữ Hán có nhắc đến việc ngôi chùa này do Lí Bí xây dựng là Tây Hồ chí, và nói là trên nền một ngôi chùa từ thời Hùng Vương (?). Vì vậy em cho rằng tài liệu này không đáng tin cậy lắm. Trong sách Đại cương Lịch sử Việt Nam tập I cũng chỉ nói đến chuyện Lí Bí dựng điện Vạn Tho mà không thấy nói đến chùa Khai Quốc̣. Vậy không rõ căn cứ gốc để xác thực chuyện này ở đâu? Em nghe nói trong chùa Trấn Quốc hiện nay còn lưu 14 bia đá, có thể nguồn gốc tài liệu từ đó chăng? Nhưng em chưa đến đó tham quan được. Xin các cao nhân am tường hơn chỉ giáo cho em. :D


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: lonesome trong 05 Tháng Một, 2010, 10:23:14 PM
Nhắc đến các hoạt động kiến lập quốc gia của Lí Bí sau khi lên ngôi, sách báo ngày nay (ví dụ như cuốn Danh tướng Việt Nam tập e của Nguyễn Khắc Thuần) thường hay nói đến việc đặt quốc hiện, niên hiệu, định đô, xây dựng Điện Vạn Thọ và chùa Khai Quốc. Nhưng em xem trong một số sách sử xưa của nước ta thì không thấy nói đến chuyện Lí Bí dựng chùa Khai Quốc. Tài liệu chữ Hán có nhắc đến việc ngôi chùa này do Lí Bí xây dựng là Tây Hồ chí, và nói là trên nền một ngôi chùa từ thời Hùng Vương (?). Vì vậy em cho rằng tài liệu này không đáng tin cậy lắm. Trong sách Đại cương Lịch sử Việt Nam tập I cũng chỉ nói đến chuyện Lí Bí dựng điện Vạn Tho mà không thấy nói đến chùa Khai Quốc̣. Vậy không rõ căn cứ gốc để xác thực chuyện này ở đâu? Em nghe nói trong chùa Trấn Quốc hiện nay còn lưu 14 bia đá, có thể nguồn gốc tài liệu từ đó chăng? Nhưng em chưa đến đó tham quan được. Xin các cao nhân am tường hơn chỉ giáo cho em. :D

Việc này chắc phải nhờ cụ Chitto ra thực mục sở thị hộ anh em. Không biết đồng chí Tre có liên lạc được với cụ Chít để nhờ vụ này không nhỉ?


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: caytrevietnam trong 09 Tháng Một, 2010, 09:58:09 PM
Nhắc đến các hoạt động kiến lập quốc gia của Lí Bí sau khi lên ngôi, sách báo ngày nay (ví dụ như cuốn Danh tướng Việt Nam tập e của Nguyễn Khắc Thuần) thường hay nói đến việc đặt quốc hiện, niên hiệu, định đô, xây dựng Điện Vạn Thọ và chùa Khai Quốc. Nhưng em xem trong một số sách sử xưa của nước ta thì không thấy nói đến chuyện Lí Bí dựng chùa Khai Quốc. Tài liệu chữ Hán có nhắc đến việc ngôi chùa này do Lí Bí xây dựng là Tây Hồ chí, và nói là trên nền một ngôi chùa từ thời Hùng Vương (?). Vì vậy em cho rằng tài liệu này không đáng tin cậy lắm. Trong sách Đại cương Lịch sử Việt Nam tập I cũng chỉ nói đến chuyện Lí Bí dựng điện Vạn Tho mà không thấy nói đến chùa Khai Quốc̣. Vậy không rõ căn cứ gốc để xác thực chuyện này ở đâu? Em nghe nói trong chùa Trấn Quốc hiện nay còn lưu 14 bia đá, có thể nguồn gốc tài liệu từ đó chăng? Nhưng em chưa đến đó tham quan được. Xin các cao nhân am tường hơn chỉ giáo cho em. :D

Việc này chắc phải nhờ cụ Chitto ra thực mục sở thị hộ anh em. Không biết đồng chí Tre có liên lạc được với cụ Chít để nhờ vụ này không nhỉ?

Lâu không liên lạc với bác Chitto, nhưng số vẫn lưu, bác nào cần không?


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: lonesome trong 09 Tháng Một, 2010, 11:06:19 PM
Lâu không liên lạc với bác Chitto, nhưng số vẫn lưu, bác nào cần không?

Bác Tre mời cụ Chít vào đây trao đổi với bác thapbut đi, có nhiều vấn đề chỉ có cụ Chít mới đủ sức giải đáp thôi.


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 10 Tháng Một, 2010, 12:58:13 AM
Được các cụ chỉ giáo thì quý hóa quá. Nhiều điều có thể biết nhưng lại không lý giải được, phải nhờ các vị uyên thâm dẫn giải để làm rõ vấn đề.


Tiêu đề: Thành Long Biên
Gửi bởi: thapbut trong 28 Tháng Hai, 2010, 11:57:13 PM
Theo Đào Duy Anh trong cuốn "Đất nước Việt Nam qua các đời"

 - An Nam đô hộ phủ lúc đó là thành Tống Bình, mà Tống Bình ở đời Tuỳ là ở phía nam sông Hồng và sông Đuống (gồm cả Gia Lâm và nội thành Hà Nội nay), về sau nó chỉ nằm ở phía nam sông Hồng (Hà Nội nay), còn nam sông Đuống là huyện Long Biên.

Vậy là thành Long Biên đến 99% ở vùng gần sông Đuống!

và quận Long Biên ngày nay có lẽ cũng thuộc vùng huyện Long Biên xưa?

http://lichsuvn.info/forum/archive/index.php/t-8054.html


Tiêu đề: Re: Thành Long Biên
Gửi bởi: lonesome trong 01 Tháng Ba, 2010, 01:18:44 AM
Theo Đào Duy Anh trong cuốn "Đất nước Việt Nam qua các đời"

 - An Nam đô hộ phủ lúc đó là thành Tống Bình, mà Tống Bình ở đời Tuỳ là ở phía nam sông Hồng và sông Đuống (gồm cả Gia Lâm và nội thành Hà Nội nay), về sau nó chỉ nằm ở phía nam sông Hồng (Hà Nội nay), còn nam sông Đuống là huyện Long Biên.

Vậy là thành Long Biên đến 99% ở vùng gần sông Đuống!

và quận Long Biên ngày nay có lẽ cũng thuộc vùng huyện Long Biên xưa?

http://lichsuvn.info/forum/archive/index.php/t-8054.html

Quan trọng cái chỗ "về sau " là từ khi nào ạ??


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 01 Tháng Ba, 2010, 10:40:53 AM
"Về sau" chính là khi nhà Đường chuyển hẳn An Nam đô hộ phủ từ thành Long Biên sang vùng đất Thăng Long (thành Tống Bình) đó là những năm ngay sau năm 621.Và khi đó: vùng có thành Long Biên được gọi là huyện Long Biên
Việc chuyển Đô hộ phủ đã đề cập ở bài trước đây trong chủ đề này.


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: lonesome trong 01 Tháng Ba, 2010, 05:00:25 PM
"Về sau" chính là khi nhà Đường chuyển hẳn An Nam đô hộ phủ từ thành Long Biên sang vùng đất Thăng Long (thành Tống Bình) đó là những năm ngay sau năm 621.Và khi đó: vùng có thành Long Biên được gọi là huyện Long Biên
Việc chuyển Đô hộ phủ đã đề cập ở bài trước đây trong chủ đề này.

Thế "Về sau" có thể muộn hơn thời điểm trên được không ạ?


Tiêu đề: Thành Long Biên qua nhà nghiên cứu văn bia
Gửi bởi: thapbut trong 14 Tháng Tư, 2010, 12:12:03 AM
http://www.tuanvietnam.net/2010-04-05-nguyen-ngoc-thach-nguoi-dinh-do-lai-thanh-thang-long

Nhiều bài dịch của ông được đánh giá cao như bài nghiên cứu "Luy Lâu, Thăng Long là hai hay là một địa danh". Theo đó, bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành - Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: "...Mậu Tài, bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu, đóng đô tại Long Biên 40 năm, thọ 90 tuổi". Từ đó, so với nhiều văn bản của các tác giả khác như Đại Việt sử ký toàn thư (1679), ông Thạch cho rằng: Luy Lâu và Long Biên là cùng một địa danh.

Xem ra ông Sỹ Nhiếp này cũng có điều gì đó liên quan đến đất Long Độ?


Tiêu đề: Re: Thành Long Biên qua nhà nghiên cứu văn bia
Gửi bởi: caytrevietnam trong 15 Tháng Tư, 2010, 03:02:52 PM
http://www.tuanvietnam.net/2010-04-05-nguyen-ngoc-thach-nguoi-dinh-do-lai-thanh-thang-long

Nhiều bài dịch của ông được đánh giá cao như bài nghiên cứu "Luy Lâu, Thăng Long là hai hay là một địa danh". Theo đó, bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành - Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: "...Mậu Tài, bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu, đóng đô tại Long Biên 40 năm, thọ 90 tuổi". Từ đó, so với nhiều văn bản của các tác giả khác như Đại Việt sử ký toàn thư (1679), ông Thạch cho rằng: Luy Lâu và Long Biên là cùng một địa danh.

Xem ra ông Sỹ Nhiếp này cũng có điều gì đó liên quan đến đất Long Độ?

Cái cũng chỉ là ý kiến cá nhân của ông Thạch khi "cho rằng"


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: 6604 trong 15 Tháng Tư, 2010, 03:31:26 PM
Thành Đại la

Thành Ðại La là một kiến trúc vĩ đại, có đầu tiên ở trên đất này. La thành không phải là một tên riêng, chỉ có nghĩa là một bức thành lớn bao quanh một bức thành nhỏ ở bên trong. La thành có từ đời nhà Ðường bên Trung Quốc, những căn cứ của những đất đã chiếm được đều đắp hai lần thành, thành ngoài gọi là La thành.

Suốt cả thời kỳ Bắc thuộc (111 trước Công lịch đến 939 sau Công lịch), bọn vua quan phong kiến Trung Quốc sang xâm lược nước ta, đều đóng căn cứ địa ở mấy nơi bên tả ngạn sông Hồng, như Liên Lâu (Tiên Du, Bắc Ninh), rồi đến Long Biên (phía Bắc sông Ðuống). Ðến đời Ðường, thường có quân Chà Và ở ngoài bể tràn vào và quân Nam Chiếu ở mạn Vân Nam tràn xuống, kéo đến vây đánh phủ Ðô hộ; hơn nữa nhân dân không chịu nổi sự áp bức bóc lột của bọn xâm lược, cũng thường nổi lên chống đánh. Năm 824, Ðô hộ là Lý Nguyên Gia, tin theo thuyết phong thuỷ, cho rằng trước cửa thành Long Biên có dòng nước chảy ngược, nên nhân dân hay nổi lên "làm phản". Lý Nguyên Gia bèn rời phủ trị sang địa phận huyện Tống Bình, gần sông Tô Lịch. Lúc đầu chỉ xây một toà thành nhỏ, sau đó nhận thấy nơi ấy có địa thế hiểm yếu, liền lập phủ trị vĩnh viễn ở đó, đắp rộng cao thêm thành, làm cho dân ta hồi đó phải phục dịch rất khổ sở.

Ðến năm 866, nhà Ðường đổi An Nam đô hộ phủ làm Tĩnh Hải quân, sai Cao Biền sang làm Tiết độ sứ. Cao Biền là một tướng có nhiều tài lược và mưu trí, đã dùng nhiều thủ đoạn để loè nạt dân chúng, như việc phá những thác ngầm ở dọc sông: đêm đến, hắn cho đục đá đặt thuốc nổ, làm nổ tung những thác ấy, rồi nói phao lên là vì trời giúp vua Ðường sai thiên lôi xuống phá thác, làm cho nhân dân sợ hãi. Muốn củng cố thêm căn cứ thống trị, Cao Biền cho đắp lại thành Ðại La, bốn mặt dài hơn 1.982 trượng linh 5 thước, cao 2 trượng linh 6 thước. Muốn ngăn ngừa không cho nước sông Tô, sông Hồng tràn vào phủ trị, Cao Biền lại cho đắp một đường đê bao bọc ở ngoại thành, dài hơn 2.125 trượng linh 8 thước, cao 1 trượng, dày 2 trượng, trong thành cho nhân dân làm nhà ở hơn bốn chục vạn nóc. Ðường đê bao ngoài thành gọi là Ðại La thành, cũng gọi là Ngoại La thành.

Với Cao Biền, ngày nay ở dân gian ta vẫn còn những truyền thuyết hoang đường, như nói Cao Biền thấy ở đất Giao Châu ta có nhiều kiểu đất đế vương, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét, rồi dùng phép thuật phá những nơi có hình thế sơn thuỷ đẹp, và chặn những đất có long mạch bằng cách đào những giếng khơi rất sâu. Vì vậy, ở nông thôn, làng nào có nhiều giếng khơi, người ta vẫn nói đó là giếng do Cao Biền đào ra. Lại như, mỗi khi thấy người nào yếu sức, tay chân cử động run rẩy, thường vẫn nói câu đã gần thành tục ngữ: "Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non". Người ta giải thích là Cao Biền có phép thuật "tản đậu thành binh" nghĩa là mỗi khi cần có quân lính đi đánh dẹp, không cần mộ người chỉ cần rắc đậu vào một bãi đất, rồi ủ kín, đọc một trăm lần thần chú rồi mở ra, mỗi hạt đậu hoá thành một người lính. Có lần Cao Biền đọc thần chú còn thiếu, khi mở ra những hạt đậu đã thành lính nhưng đều còn non chưa đủ sức, đứng lên không vững. Lại còn chuyện nói Cao Biền đắp La thành, mấy lần bắt đầu đều bị sụt lở; một đêm Biền đứng trên vọng lâu nhìn ra, thấy một vị thần cưỡi ngựa trắng chạy đi, chạy lại như bay, rồi bảo cho Biền cứ theo vết chân ngựa chạy mà đắp thành. Vì vậy, sau khi đắp thành xong, Biền cho lập đền thờ vị thần ấy ở ngay nơi hiển hiện, gọi là đền Bạch Mã. Ðền thờ ngày nay vẫn còn ở phố Hàng Buồm.

Từ năm 939, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, nước ta bắt đầu độc lập tự chủ, nhưng đời Ngô Vương Quyền lại đóng đô ở Cổ Loa, hai đời Ðinh, Lê thì đóng đô ở Hoa Lư, thành Ðại La trở nên hoang phế. Mãi đến năm 1010, Lý Thái Tổ mới dời kinh đô đến đó, nhưng lại đắp một thành khác nhỏ hẹp hơn gọi là thành Thăng Long. Nền cũ của thành Ðại La, phần lớn không còn lại dấu vết, chỉ còn nhận thấy những khoảng từ Thanh Nhàn (giáp Thanh Trì) đi lên cửa ô Cầu Dền sang ô Chợ Dưà, rồi thẳng đến ô Cầu Giấy, ngược lên đến làng Bưởi. Năm kia, ta đã cho theo dấu cũ ấy, sửa chữa lại nhiều nơi, đắp cao lên làm thành thân đê, đề phòng nạn lụt. Còn phần đê La Thành về phía sông Hồng, từ đời Lý đã nhập vào với đê Cơ Xá, và từ đời Trần đã nhập vào với đê Quai Vạc, chuyên ngăn nước sông Hồng.

Ðê Ðại La thành này khi còn độc lực giữ việc chống nước lụt cho nội thành, thường bị sạt lở. Năm 1243, đời vua Thái Tôn nhà Trần, nước sông Hồng lên to quá, phá vỡ một đoạn thân thành, làm cho nội thành bị ngập lụt. Cũng từ đó, các đời vua Trần mới nghĩ đến việc đắp đê quai vạc suốt từ đầu nguồn trở xuống cho đến miền bể, dọc hai bên bờ sông Hồng.

Bài thơ "Ðiếu cổ La thành" của nhà thơ Tế Xuyên, đời cuối Lê đã mai mỉa dã tâm xâm lược của Cao Biền, tốn công, nhọc lòng đắp nên thành ấy, kết cục bọn phong kién thống trị Trung Quốc đều phải diệt vong. Sau chiến công trên sông Bạch Ðằng năm 939, nước ta hoàn toàn tự chủ. Bài thơ đại ý như sau:

"Ðại La thành tốn công xây,
Cao Biền tưởng chiếm đất này dài lâu.
Nào ngờ mấy chục năm sau,
Vùi quân xâm lược dòng sâu Bạch Ðằng"

- Doãn Kế Thiện (Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội)


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: 6604 trong 15 Tháng Tư, 2010, 03:52:25 PM
Thời kỳ tiền Thăng Long
 
Những di chỉ khảo cổ tại Cổ Loa cho thấy con người đã xuất hiện ở khu vực Hà Nội từ cách đây 2 vạn năm, giai đoạn của nền văn hóa Sơn Vi. Nhưng đến thời kỳ băng tan, biển tiến sâu vào đất liền, các cư dân của thời đại đồ đá mới bị đẩy lùi lên vùng núi. Phải tới khoảng 4 hoặc 5 ngàn năm trước Công Nguyên, con người mới quay lại sinh sống ở nơi đây. Các hiện vật khảo cổ giai đoạn tiếp theo, từ đầu thời đại đồ đồng đến đầu thời đại đồ sắt, minh chứng cho sự hiện diện của Hà Nội ở cả bốn thời đại văn hóa: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn. Những cư dân Hà Nội thời kỳ đó sinh sống nhờ trồng trọt, chăn nuôi và chài lưới. Giai đoạn tiền sử này tương ứng với thời kỳ của các Vua Hùng trong truyền thuyết. Thế kỷ 3 trước Công Nguyên, trong cuộc chiến với quân Tần từ phương Bắc, Thục Phán quyết định đóng đô ở Cổ Loa, nay là huyện Đông Anh, cách trung tâm Hà Nội khoảng 15 km. Sự xuất hiện của thành Cổ Loa ghi dấu Hà Nội lần đầu tiên trở thành một đô thị trung tâm về chính trị và xã hội.

Thất bại của Thục Phán đầu thế kỷ 2 trước Công Nguyên đã kết thúc giai đoạn độc lập của Âu Lạc, bắt đầu giai đoạn một ngàn năm bị các triều đại phong kiến Trung Hoa thống trị. Thời kỳ nhà Hán, nước Âu Lạc được chia thành ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, Hà Nội khi đó thuộc quận Giao Chỉ. Vắng bóng trong sử sách suốt năm thế kỷ đầu, đến khoảng năm 454–456, Hà Nội mới được ghi lại là trung tâm của huyện Tống Bình. Năm 544, Lý Bí nổi dậy chống lại nhà Lương, tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Người cháu của Lý Bí là Lý Phật Tử tới đóng đô ở Cổ Loa, nhưng nền độc lập này chỉ kéo dài tới năm 602. Thời kỳ Nhà Đường, An Nam được chia thành 12 châu với 50 huyện, Tống Bình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ. Năm 866, viên tướng nhà Đường Cao Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được đổi tên thành Đại La – thủ phủ của Tĩnh Hải quân. Theo truyền thuyết, khi đắp thành, Cao Biền thấy một vị thần hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Vì vậy, sử sách còn gọi Thăng Long là đất Long Đỗ. Thế kỷ 10, sau chiến thắng của Ngô Quyền trước quân Nam Hán, Cổ Loa một lần nữa trở thành kinh đô của nước Việt.

PS: - Từ những địa danh Luy Lâu, Cổ Loa, Cổ Pháp, Phù Đổng, Đại La thì Hà Nội đã là Trung tâm của Đồng bằng Bắc Bộ từ thời thượng cổ vì rất thuận tiện cho giao thông, vận tải. Không thể chỉ dựa vào 1 tấm bia được dựng vào năm 1676 để phỏng đoán một vấn đề gì đó được.



Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: caytrevietnam trong 16 Tháng Tư, 2010, 11:55:14 PM
Năm 544, Lý Bí nổi dậy chống lại nhà Lương, tự xưng hoàng đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân. Người cháu của Lý Bí là Lý Phật Tử tới đóng đô ở Cổ Loa, nhưng nền độc lập này chỉ kéo dài tới năm 602.

Cái này hình như không đúng nhá


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 21 Tháng Tư, 2010, 05:13:50 PM
Nhầm Cổ Loa vì chuyện Lý Phật Tử-Triệu Quang Phục giống chuyện Triệu Đà-An Dương Vương


Tiêu đề: Re: Thành Long Biên qua nhà nghiên cứu văn bia
Gửi bởi: thapbut trong 21 Tháng Tư, 2010, 05:18:34 PM


Nhiều bài dịch của ông được đánh giá cao như bài nghiên cứu "Luy Lâu, Thăng Long là hai hay là một địa danh". Theo đó, bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành - Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: "...Mậu Tài, bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu, đóng đô tại Long Biên 40 năm, thọ 90 tuổi". Từ đó, so với nhiều văn bản của các tác giả khác như Đại Việt sử ký toàn thư (1679), ông Thạch cho rằng: Luy Lâu và Long Biên là cùng một địa danh.

Xem ra ông Sỹ Nhiếp này cũng có điều gì đó liên quan đến đất Long Độ?

Thời Tam Quốc có quan cai trị của triều đình nhà Hán ở Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp (137-226). Các sử gia Việt Nam đánh giá cao công lao của ông trong hoàn cảnh loạn lạc của phương Bắc mà Giao Chỉ vẫn phát triển phồn thịnh nhất là về Nho học. Trong đó có người coi ông như vị vua tự trị ở Giao Chỉ bấy giờ.

Sĩ Nhiếp một người họ Phạm Trung Quốc đã được Tôn Quyền - vua Đông Ngô phong là Long Biên hầu. Nhiều Vua Việt Nam về sau vẫn tiếp tục có sắc phong ghi nhận đóng góp của ông.

Đối với Họ Phạm Việt Nam tự hào có một vị thượng thủy tổ Phạm Tu (476-545) là khai quốc công thần nhà Tiền Lý, một nhà nước độc lập có tổ chức đầu tiên ở nước ta. Ông có nhiều công lao trong khởi nghĩa, công phá thành Long Biên của giặc, bình ổn phía Nam khỏi sự xâm lấn của Lâm Ấp, (có thể chính ông là người cầm quân đánh giặc ở Hợp Phố mà sau này chúng ta có Lý Thường Kiệt đánh thành Ung Châu), tròn 70 tuổi vẫn hiên ngang chống giặc bảo vệ quê hương đất nước ngay trên chiến thành bằng đất với tre gỗ ở cửa sông Tô. Chiến thành là dấu ấn của thời kỳ tiền Thăng Long - Hà Nội cách nay đã 15 thế kỷ.

Danh tướng Phạm Tu sống mãi với mảnh đất Thủ đô, ông được phong là Đô Hồ đại vương, Long Biên hầu.

Như vậy có một người họ Phạm Trung Quốc có công lao đối với Giao Chỉ, nhất là thủ phủ Luy Lâu, tạo sự phát triển ở thành Long Biên sau này thuộc vùng Kinh Bắc; Hơn ba thế kỷ sau một người họ Phạm Việt Nam đã đứng dậy quật khởi chống sự đô hộ của phương Bắc, phá tan thành trì của giặc tại Long Biên.

Điều trùng hợp là hai vị đều được phong Long Biên hầu


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: lonesome trong 21 Tháng Tư, 2010, 10:15:48 PM
Sĩ Nhiếp họ Phạm hả bác thapbut? Sách nào ghi vậy ạ?  Ghi năm nào? Ai ghi? Sao các sách sử như An Nam Chí Lược, ĐV Sử Ký TT ... đều không thấy nhắc ạ?


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 22 Tháng Tư, 2010, 12:30:51 PM
Theo cuốn sách Tàu viết về 5000 năm của họ Phạm TQ thì Lưu Bang, Sỹ Nhiếp đều là Họ Phạm của TQ.
Có thể đọc "Bách gia tính" để rõ hơn.


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 22 Tháng Tư, 2010, 12:37:56 PM
Thời xa xưa ở Trung Quốc người ta hình thành tên các họ tộc theo vùng đất sinh sống,theo sắc phong và theo họ chủ mà mình thờ. Họ Phạm cũng nằm trong quy luật đó.

Theo "Lộ Sử" và "Nguyên Hà Tính Toản", Lưu Ly thuộc dòng họ Đường Đế Nghiêu lập ra nước Đường Đỗ Thị (nay ở tỉnh Sơn Tây,TQ). Vào cuối đời Tây Chu,TQ. Chu Tuyên Vương tin vào những điều huyền hoặc, thượng đại phu là Đỗ Bá không làm theo bị Tuyên Vương giết. Con là Đỗ Thấp Thúc trốn sang nước Tấn. Người đời sau thương Đỗ Bá là người trung lập miếu thờ gọi là "Miếu Đỗ Chủ" cũng gọi là "Hữu Tướng Quân Miếu".
Thấp Thúc trốn sang nước Tấn làm quan Sĩ Sư nên đổi từ họ Đỗ ra họ Sĩ (đó là vào thời vua Chu U Vương 781-771 TCN) .

Đến đời chắt của Thấp Thúc là Sĩ Hội,(Sĩ Hội là người tín nghĩa, ôn hòa mà không nhu nhược, uy nghiêm mà không dữ tợn). Ông có công dẹp những nước thuộc giống Xích Địch nên được vua nhà Chu phẩm phục chức Thượng đại khanh lại kiêm chức Thái phó và được phong ở đất Phạm, nên lại đổi ra họ Phạm. Sĩ Hội là ông tổ của họ Phạm ở Trung Quốc người đời thường gọi ông là Phạm Mạnh, con là Phạm Mang cháu là Phạm Phường (đó là vào thời vua Chu Định Vương 607-571 TCN).

Vào những thời gian sau đó quyền lực nước Tấn rơi vào tay một số họ, các họ tiêu diệt lẫn nhau để tranh dành quyền lực cuối cùng nước Tấn bị ba họ Hàn-Triệu-Ngụy chia làm ba nước, các sử gia gọi là Tam Tấn.

Khi đó, họ Triệu lấy danh nghĩa vua Tấn kết hợp với họ Ngụy và họ Hàn đánh họ Phạm và họ Trung. Phạm Cát Xạ và Trung Hàng Di phải chạy đến Triều Ca (kinh đô nhà Thương) cố thủ. Triều Ca vỡ những người con cháu họ Phạm phải chạy sang nước Tề. Từ đó con cháu họ Pham lưu lạc khắp mọi nơi.

PHẠM DUY TRƯỞNG
email: cacanhsontay@yahoo.com


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: lonesome trong 23 Tháng Tư, 2010, 12:04:21 AM
Theo cuốn sách Tàu viết về 5000 năm của họ Phạm TQ thì Lưu Bang, Sỹ Nhiếp đều là Họ Phạm của TQ.
Có thể đọc "Bách gia tính" để rõ hơn.
Đoạn Đến đời chắt của Thấp Thúc là Sĩ Hội,(Sĩ Hội là người tín nghĩa, ôn hòa mà không nhu nhược, uy nghiêm mà không dữ tợn). Ông có công dẹp những nước thuộc giống Xích Địch nên được vua nhà Chu phẩm phục chức Thượng đại khanh lại kiêm chức Thái phó và được phong ở đất Phạm, nên lại đổi ra họ Phạm. Sĩ Hội là ông tổ của họ Phạm ở Trung Quốc người đời thường gọi ông là Phạm Mạnh, con là Phạm Mang cháu là Phạm Phường (đó là vào thời vua Chu Định Vương 607-571 TCN). chép từ Đông Chu Liệt Quốc, liệu tính sử liệu có đảm bảo không bác? (Dù đó gần như là tài liệu thành văn duy nhất viết về thời này)
http://www.haingoaiphiemdam.com/van-hoc-trung-quoc/%C4%90%C3%B4ng-Ch%C3%A2u-Li%E1%BB%87t-Qu%E1%BB%91c-H%E1%BB%93i-th%E1%BB%A9-56.php
Chưa hết, bài của bác Phạm Duy Trưởng thì bảo ông Sĩ Hội đổi sang họ Phạm và con cháu đều mang họ Phạm tứ tán khắp nơi. Sao đến đời Sĩ Nhiếp thì lại không lấy họ Phạm mà quay về họ Sĩ vậy ạ? Sử đều chỉ ghi là Sĩ Nhiếp - Sĩ vương chứ có ai ghi là Phạm Sĩ Nhiếp hay Phạm vương đâu bác?


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 23 Tháng Tư, 2010, 09:24:36 AM
TB được biết Đài Loan, Hồng Công, TQ có môn Phạm học, họ xếp các vị ấy vào họ Phạm của TQ


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: lonesome trong 23 Tháng Tư, 2010, 10:03:34 PM
TB được biết Đài Loan, Hồng Công, TQ có môn Phạm học, họ xếp các vị ấy vào họ Phạm của TQ

Vậy là cũng chỉ có bằng chứng gián tiếp chứ không có cơ sở chính xác để coi Sĩ Nhiếp là họ Phạm đúng không bác? Biết đâu các vị "Phạm học" kia cũng cảm tính chẳng kém việc con cháu Việt Nam bây giờ đang gán cho các Hùng vương nhưng tên hiệu và tổ chức nhà nước sặc mùi phong kiến thì sao, bác nhỉ?


Tiêu đề: Dấu tích thời Lý Nam Đế ở Hà Nội
Gửi bởi: thapbut trong 01 Tháng Năm, 2010, 09:13:02 AM

 
 
Lý Nam Đế tên huý là Lý Bí. Ông là hào trưởng người Việt, có tài văn võ, từng giữ chức giám quân của nhà Lương ở Châu Đức (tỉnh Hà Tĩnh ngày nay). Do bất bình với quan quân đô hộ, ông về quê ở Thái Bình (vùng đất giữa huyện Thạch Thất và thị xã Sơn Tây), ngầm chiêu dụ hào kiệt để mưu tính việc lớn.

Mùa xuân năm 542, cuộc khởi nghĩa do Lý Bí lãnh đạo đã được toàn dân hưởng ứng. Thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư khiếp sợ phải chạy trốn sang Quảng Châu. Và sau đó, chỉ trong vòng ba tháng, nghĩa quân đã quét sạch bọn đô hộ nhà Lương, khôi phục được nền độc lập của Giao Châu. Bị đánh một đòn đau, tháng 4-542 và đầu năm 543 nhà Lương tổ chức hai cuộc phản kích nhưng đều bị nghĩa quân của Lý Bí đánh tan.

Sau những thắng lợi này, tháng giêng năm Giáp Tý (544) Lý Bí tuyên bố dựng nước Vạn Xuân, lên ngôi vua, xưng Nam Việt Đế, sử sách thường gọi là Lý Nam Đế, đặt niên hiệu là Thiên Đức, lập triều đình bách quan văn võ. Xây đài Vạn Xuân, tức cung điện Vạn Xuân làm nơi triều hội và cho dựng chùa Khai Quốc (có nghĩa mở nước) ở bên bờ sông Nhĩ Hà, khu vực phường Yên Phụ ngày nay.

Đầu năm 545, nhà Lương cử Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem quân xâm lược nước Vạn Xuân non trẻ. Lý Nam Đế dẫn ba vạn quân ra chống giặc ở vùng Chu Diên (Hưng Yên?). Bị thua, ông cho xây dựng thành luỹ ở cửa sông Tô Lịch để chống giặc.

Trong lịch sử, nhà nước Vạn Xuân chỉ tồn tại có 3 năm, nhưng đối với riêng Hà Nội, việc dựng nước Vạn Xuân lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Chính Lý Bí là người đã nhận ra vị trí quân sự hiểm yếu của vùng đất Hà Nội cổ, cho dựng thành luỹ bằng tre gỗ ở cửa sông Tô Lịch. Năm 824, đô hộ Lý Nguyên Gia, thấy thành Long Biên ở bên kia sông Đuống có địa thế bất lợi, bèn rời phủ trị sang địa phận huyện Tống Bình, gần sông Tô Lịch. Lúc đầu chỉ xây toà thành nhỏ, sau đó nhận thấy nơi này có địa thế hiểm yếu, liền lập phủ trị vĩnh viễn ở đó, cho đắp rộng cao thêm thành. Năm 866, nhà Đường sai Cao Biền sang làm Tiết độ sứ, ông cho đắp thêm thành Đại La. Đến năm 1010, sau khi lên ngôi, Lý Thái tổ nhận ra thành Đại La là nơi “bốn phương tụ hội” nên cho chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra Đại La và cho đổi gọi Thăng Long.

Lâu nay, các nhà nghiên cứu nêu giả thiết cửa sông Tô nằm ở vùng chợ Gạo (quận Hoàn Kiếm) nhưng cố GS Trần Quốc Vượng và cụ Vũ Tuân Sán lại cho biết rằng, trên đất huyện Thanh Trì có đầm hay hồ Vạn Xoan (nay thuộc phường Thanh Trì, quận Hoàng Mai). Xoan tức là xuân đọc theo âm cổ dân gian. Tương truyền bên bờ đầm nơi đó, khi xưa là nơi thiết lập triều đình Vạn Xuân của Lý Nam Đế. Sông Tô Lịch và Kim Ngưu đều dồn nước xuống miền Thanh Trì. Thanh Liệt ở Thanh Trì, bên bờ sông Tô như đã biết, là quê của lão tướng Phạm Tu, cầm đầu ban võ của triều đình Vạn Xuân. Năm 1962, Sở Văn hoá Hà Nội tìm thấy một tấm bia cổ bên bờ đầm Vạn Xoan, ghi niên hiệu nhà Lương, tức thời Tiền Lý.

Nhằm tôn vinh công trạng của vị vua anh hùng, trước đây, một phố dài 1,1 km ở phía đông thành cổ Hà Nội đã được thành phố đặt tên là Lý Nam Đế. Và ở đầu phố này có vườn hoa được đặt tên là Vạn Xuân. Ngày 10-9-2006, đến phường Giang Biên, quận Long Biên ở bờ nam sông Đuống, chúng tôi được biết ở thôn Tình Quang có ngôi đình thờ Lý Nam Đế. Đây là nơi duy nhất ở Hà Nội có ngôi đình thờ vị vua này. Các phụ lão ở đây cho biết, vào giữa thế kỷ VI, nhân dân Tình Quang đã trực tiếp tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Lý Bí, trong đó có Cao Dương Công, là một trong bốn người có công giúp Lý Bí dựng nước Vạn Xuân. Năm 550, sau khi Lý Nam Đế mất hai năm, Cao Dương Công cùng dân làng dựng đền thờ vua tại Tình Quang. Năm 1676, có quan Thái giám họ Đào người làng đã chi nhiều tiền của dựng ngôi đình thờ Lý Nam Đế trên nền đền cũ. Đình 5 gian hai dĩ, hậu cung 3 gian. Trước đình có sân rộng, nghi môn ba cửa và hồ nước lớn, tất cả đã tôn thêm vẻ đẹp và quy mô hoành tráng của ngôi đình. Tại đình có trang trí các bức cốn và các đầu dư chạm khắc hết sức tinh xảo. Trước cánh cửa gian giữa toà đại đình và bức chạm rồng chầu mặt trời đặt tại xà ngang trước hậu cung có chạm nổi hai chữ “Vạn Xuân”. Năm 2002 dân thôn đóng góp 246 triệu, Nhà nước chi hơn 500 triệu để sửa chữa ngôi đình.

Đình Tình Quang có cảnh quan đẹp và mang đậm nghệ thuật kiến trúc đời Lê đã được Nhà nước xếp hạng bảo tồn năm 1993.
Theo HNMCT


Tiêu đề: Danh sách 100 quan
Gửi bởi: thapbut trong 30 Tháng Năm, 2010, 12:12:30 AM
Danh sách 100 quan
1. Hoàng đế: Lý Nam Đế (503-548)
2. Thái phó: Triệu Túc (phó vương)
3. Hoàng thất: Lý Thiên Bảo(499-555)-anh Lý Bí

4. Đứng đầu Ban Văn: Tinh Thiều
5. Đứng đầu Ban Võ: Phạm Tu(476-545)
Trong Ban Võ có các tướng:
6. Triệu Quang Phục (?-571) (con Triệu Túc, sau là Triệu Việt Vương)
7. Phạm Tĩnh (con Phạm Tu, sau là Tướng quốc của Lý Phật Tử)
8. Lý Phật Tử
9. Lý Phục Man ở Yên Sở, Hoài Đức
10. Phùng Thanh Hòa (528-?) ở Phùng Xá, Thạch Thất
11. Vương Công Hiển ở An Tràng, Hải Phòng
12. Tiền tướng quân Phạm Khanh (510-547) thờ ở Đền Mỹ Thành, Mỹ Lộc, Nam Định
13. Trung quân Đô úy Phạm Nguyên (510-547)thờ ở Đền Mỹ Thành, Mỹ Lộc, Nam Định
14. Phạm Thị Toàn thờ ở Xã An Ninh nay là An Bình, Nam Thanh, Hải Dương
14. Phạm Công thờ ở Đình Đào Lâm, xã Đoàn Tùng, Thanh Miện, Hải Dương
15. Lôi Công ở An Cước, Nam Định
16. Trương Hống anh em họ Trương là tướng dưới quyền Triệu Quang Phục
17. Trương Hát
...


Tiêu đề: Danh sách 100 quan
Gửi bởi: thapbut trong 10 Tháng Sáu, 2010, 04:49:42 PM
Bổ sung:
1. Hoàng đế: Lý Nam Đế (503-548)
2. Thái phó: Triệu Túc (phó vương)
Hoàng thất:
3. Lý Thiên Bảo(499-555)-anh Lý Bí
4. Lý Xuân)-em Lý Bí
5. Lý Hùng-em Lý Bí
6. Lý Phật Tử-cháu Lý Bí
(người này khá giống Lý Phục Man, có thể là anh em thân thích)


7. Đứng đầu Ban Văn: Tinh Thiều
8. Đứng đầu Ban Võ: Phạm Tu(476-545); có tài liệu cho ông là Thái sư, có phải chính ông là thầy dạy văn võ cho Lý Bí từ thưở hàn vi?
Trong Ban Võ có các tướng:
9. Triệu Quang Phục (?-571) (con Triệu Túc, sau là Triệu Việt Vương)
10. Phạm Tĩnh (con Phạm Tu, sau là Tướng quốc của Lý Phật Tử)
11. Lý Phục Man ở Yên Sở, Hoài Đức
12. Phùng Thanh Hòa (528-?) ở Phùng Xá, Thạch Thất
13. Vương Công Hiển ở An Tràng, Hải Phòng
14. Tiền tướng quân Phạm Khanh (510-547) thờ ở Đền Mỹ Thành, Mỹ Lộc, Nam Định
15. Trung quân Đô úy Phạm Nguyên (510-547)thờ ở Đền Mỹ Thành, Mỹ Lộc, Nam Định
16. Phạm Thị Toàn thờ ở Xã An Ninh nay là An Bình, Nam Thanh, Hải Dương
17. Phạm Công thờ ở Đình Đào Lâm, xã Đoàn Tùng, Thanh Miện, Hải Dương
18. thái tử Mạnh, thờ ở Đình Đào Lâm, xã Đoàn Tùng, Thanh Miện, Hải Dương
19. Hoàng Công Bỉnh thờ ở Đình Đào Lâm, xã Đoàn Tùng, Thanh Miện, Hải Dương
20. Vũ Công Tạo thờ ở Đình Đào Lâm, xã Đoàn Tùng, Thanh Miện, Hải Dương
21. Lôi Công ở An Cước, Nam Định
22. Trương Hống anh em họ Trương là tướng dưới quyền Triệu Quang Phục
23. Trương Hát
24. Chu Hạo hiệu là Phi Bồng tướng quân
(Đền Sinh còn có tên là đền Thánh Phi Bồng ở vùng núi thôn An Mô, xã Lê Lợi, cách đền Sinh chừng 700m về phía Bắc là đền Hoá. Đền thờ Chu Hạo, tự Phúc Uy, hiệu là Phi Bồng tướng quân, có công phù Lý Nam Đế đánh giặc Lương ở thế kỷ VI)
25. Chỉ huy sứ đại tướng Trình Đô (502-545)
26. Tam Cô
(Ngôi đình chung của hai thôn Yên Bệ và Yên Vĩnh, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Đình thờ Trình Đô và Tam Cô là 2 vị tướng của Lý Nam Đế, có nhiều công lao trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Lương, bảo vệ đất nước Vạn Xuân đầu thế kỷ VI. Hai ông quê ở quận Cửu Chân (Thanh Hoá). Vì chưa có con trai nên Trình Đoan (bố Trình Đô) đem con người em tên là Tam Cô về nuôi, sau đó mới sinh ra Trình Đô. Ông sinh vào giờ Sửu ngày 13 tháng Mười năm Nhâm Ngọ (502). Ông được Lý Bí phong làm chỉ huy sứ đại tướng quân. Ông đã từng đi kinh lý qua Yên Bệ, Yên Vĩnh, thấy phong cảnh đẹp bèn lập trại đón quân để phò vua chống giặc. Vào mùa hạ năm 545, trong trận chiến với quân Lương, quân Trình Đô tan vỡ, ông hy sinh trên dòng sông Lễ Khê (vùng Hoài Đức ngày nay).

Đình Hai Thôn có thể ra đời vào khoảng thế kỷ XVII, khi tín ngưỡng thờ thành hoàng phát triển rầm rộ ở các vùng quê. Đình được tu sửa lớn vào năm Duy Tân 4 (1910) gồm nghi môn, sân đình, nhà tiền tế, nhà đại bái, hậu cung. Đây là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của cả làng xã trong những dịp lễ hội làng quê.

Hàng năm, đình tổ chức lễ hội vào ngày 4, 12, 13 tháng Giêng và 15/6, 13/10. trong các dịp này, nhân dân thường tổ chức các trò vui chơi, giải trí mang ý nghĩa lịch sử. Ngôi đình Yên Bệ - Yên Vĩnh còn lại đến nay là một di tích hiếm hoi có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Lý Bí và cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Lương vào thế kỷ VI ở vùng Hà Nội, Hà Tây. Đình đã được xếp hạng là di tích lịch sử vào năm 1989.)
theo: http://www.vietgle.vn/
27. Đàm Hựu Quốc
(Đình xã Đại Lai, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình, thờ Đàm Hựu Quốc đời Tiền Lý Nam Đế. Ông kết nghĩa anh em với Lý Thiên Bảo, theo làm tướng cho Lý Phật Tử đem quân đi đánh Triệu Quang Phục).
28. Phả Lượng
29. Phả Hồng
30. Phả Chí
(Ngôi đình của thôn Đồng Quan Nội, xã Quang Trung, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Đình thờ 4 thành hoàng là Thiên Ân Đại Vương và 3 anh em họ Phả huý là Lượng, Hồng và Chí. Các vị là những danh tướng có công phò Lý Nam Đế đánh giặc Lương hồi thế kỷ VI.)

...


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 16 Tháng Sáu, 2010, 09:43:02 PM
Trung tâm khởi nghĩa Lý Bí là vùng Đan-Hoài?


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: caytrevietnam trong 17 Tháng Sáu, 2010, 09:22:26 PM
Bác thapbut có thể thống kê đầy đủ danh sách 100 quan văn võ của nhà Tiền Lý không?


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 18 Tháng Sáu, 2010, 12:23:58 AM
số 100 cũng là con số ước lệ thôi, chắc chắn không thể thống kê hết. Nhưng cố gắng tìm những vị thời Lý Nam Đế có ghi trong các thần phả, tuy nhiên tư liệu này cũng khó xác minh đúng sai.


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: lonesome trong 24 Tháng Sáu, 2010, 03:12:29 PM
Mời bác Thapbut xem topic sau, nếu được mời bác tham gia thảo luận với hậu bối cho vui: Những vấn đề về Triệu Quang Phục và nhà Tiền Lý (http://ttvnol.com/forum/f_533/931848.ttvn)


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 24 Tháng Sáu, 2010, 07:17:08 PM
Mời bác Thapbut xem topic sau, nếu được mời bác tham gia thảo luận với hậu bối cho vui: Những vấn đề về Triệu Quang Phục và nhà Tiền Lý (http://ttvnol.com/forum/f_533/931848.ttvn)

TB sẽ suy ngẫm vấn đề này. Bản thân TB khi chưa đọc topic này cũng xác định năm 602, Lý Phật Tử trên 70 tuổi, đó cũng là một dấu hỏi cần giải thích.
Theo TB có thể Lý Phật Tử là con Lý Xuân và giải thích:
Anh em Lý Bí có: Lý Thiên Bảo, Lý Bí, Lý Xuân, Lý Hùng,...
Lý Bí - Lý Nam đế đến 548
Lý Thiên Bảo - Đào Lang vương đến 555
Lý Xuân, sau đó Lý Phật Tử(con) thay Lý Xuân(cha) 590-602
Việc đầu hàng giặc dễ dàng thế dễ có ở con người Hạng Lang, cái tên cũng nói lên phần nào điều đó?
Và Hạng Lang lấy con gái Triệu Quang Phục phải chăng là Lý Phật Tử?



 


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 24 Tháng Sáu, 2010, 07:45:04 PM
Việc du nhập Thiền Tông Phái một giáo phái mới, việc chấp nhận một vị sư phụ là người nước ngoài, việc xây dựng một ngôi chùa mới, và việc tụ tập bao nhiêu sư sãi sẽ không thể thực hiện được nếu không có một môi trường ủng hộ tôn giáo. Thêm vào đó còn cần một cộng đồng có đủ tư cách để giữ chân được một vị sư phụ đến từ nước ngoài, và đủ trưởng thành để đáp ứng và tiếp thu được sự hướng dẫn và dạy bảo của sư phụ người Ấn Độ ấy. Và trên hết cần phải có một lãnh tụ sùng đạo và có thực quyền để có thể bảo đảm điều kiện thái bình ở trong nước. Lý Phật Tử chính là một lãnh tụ như thế. Tên của ông là Phật Tử, tức con Phật, đã phần nào nói lên điều này. Thật ra chưa chắc ông đã dùng đến tên ấy cho đến mãn đời vì có giả thuyết cho rằng Lý Hữu Vinh, viên “Thứ Sử Giao Châu”, mà năm 583 đã tiến voi triều cống nhà Nam Trần chính là Lý Phật Tử. Lý Hữu Vinh có thể là một tên khác mà Lý Phật Tử  đã dùng thời gian triều cống voi nhà Nam Trần, lý do phải dùng tên khác vì ông không muốn tiết lộ tên thật cho Trung Quốc biết vì sự bất trắc của thời đại mà cũng có thể là vì kế sách ngoại giao. Chắc vì thế mà trong cảnh hỗn loạn đánh dấu cuộc chuyển tiếp quyền hành từ nhà Trần sang nhà Tùy năm 580-590, Lý Phật Tử được sử sách Trung Quốc gọi là Lý Xuân. Lý Bí đã đặt tên nước là Vạn Xuân nên trong thời gian rối ren ấy, tên họ của Lý Phật Tử có lẽ đã được ghép với tên nước Vạn Xuân để thành Lý Xuân chăng?
Với ba chục năm dài trị vì, sử liệu Việt Nam đã tôn vinh Lý Phật Tử như một người có công rất lớn trong việc làm sáng tỏ được bối cảnh chính trị thời gian đó bằng việc tạo cơ hội cho Thiền Tông Phái du nhập và phát huy tại Việt Nam khi đức Tỳ Ni Đa Lưu Chi, người khai xướng thiền phái này, du hành xuống miền Nam để tìm một môi trường thái bình yên ổn có thiện cảm với Phật Giáo. Cũng như trong các thời kỳ trước đó, mỗi khi có binh biến hoặc thay đổi triều đại ở Trung Quốc, Việt Nam lại được hưởng một thời kỳ thái bình và thịnh vượng dưới sự lãnh đạo của các lãnh tụ địa phương tài đức. Chính môi trường ủng hộ tôn giáo như đã nói ở trên đã lôi cuốn đức Tỳ Ni Đa Lưu Chi, khiến ông có thể yên tâm sáng lập được một tông phái mới ở Việt Nam mang tên ông. Phái Tỳ Ni hay còn gọi là Thiền Tông Phái là phái thứ nhất trong ba tông phái Thiền Phật Giáo chính trong lịch sử Việt Nam. Ba tông phái Phật Giáo Việt Nam này [Thiền Tông, Tịnh Tông, và Mật Tông] đã đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ độc lập sơ khai và kéo dài mãi cho tới thế kỷ 13.

Theo
Keith Weller Taylor
Chuyển ngữ: Lê Hồng Chương
http://htx.dongtak.net/spip.php?article3363


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: caytrevietnam trong 24 Tháng Sáu, 2010, 11:54:31 PM
Mời bác Thapbut xem topic sau, nếu được mời bác tham gia thảo luận với hậu bối cho vui: Những vấn đề về Triệu Quang Phục và nhà Tiền Lý (http://ttvnol.com/forum/f_533/931848.ttvn)

TB sẽ suy ngẫm vấn đề này. Bản thân TB khi chưa đọc topic này cũng xác định năm 602, Lý Phật Tử trên 70 tuổi, đó cũng là một dấu hỏi cần giải thích.
Theo TB có thể Lý Phật Tử là con Lý Xuân và giải thích:
Anh em Lý Bí có: Lý Thiên Bảo, Lý Bí, Lý Xuân, Lý Hùng,...
Lý Bí - Lý Nam đế đến 548
Lý Thiên Bảo - Đào Lang vương đến 555
Lý Xuân, sau đó Lý Phật Tử(con) thay Lý Xuân(cha) 590-602
Việc đầu hàng giặc dễ dàng thế dễ có ở con người Hạng Lang, cái tên cũng nói lên phần nào điều đó?
Và Hạng Lang lấy con gái Triệu Quang Phục phải chăng là Lý Phật Tử?

Bác Tháp bút xem Việt điện U linh tập sẽ thấy có 2 Hậu Lý Nam đế cơ, người đầu hàng giặc là ông Hậu Lý Nam đế (con) tên là Lý Sư Lợi, còn ông Hậu Lý Nam đế (cha) là người cướp quyền của Triệu Việt vương


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 25 Tháng Sáu, 2010, 06:35:49 AM
GS Keith Weller Taylor có lẽ căn cứ nhiều vào VĐULT, xem ra có 2 vua Hậu Lý Nam đế cũng là hợp lý.


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 25 Tháng Sáu, 2010, 06:42:23 AM
Lý Phật Tử sau khi hại xong Triệu Việt Vương bèn dẫn quân vào Vũ Ninh thu vén vàng bạc châu báu, bắt đ àn bà con gái, rồi rút về Ô Diên, tự đắc lên ngôi Hoàng đế , cũng xưng là Lý Nam Đế, người đời sau gọi Lý Bí là Tiền Lý Nam Đế, còn Lý Phật Tử là hậu Lý Nam Đế.

     Những ngày mới lên ngôi, tuy bề ngoài hớn hở vui tươi, nhưng bên trong thì Hậu Lý Nam Đế đau xót âm thầm vì đứa con nối dõi đã chết. Việc đầu tiên mà Hậu Lý Nam Đế làm là cho xây dựng ở thành Ô Diên (xã Hạ Mỗ, Từ Liêm) một ngôi đền đã tờ Nhã Lang, đứa con mà xác đã thành tro bụi ở thànhVũ Ninh từ mấy tháng trước.

     Nhận thấy ở Ô Diên chỉ gợi lại nỗi buồn phiền làm cho lương tâm luôn luôn cắn rứt, nên Hậu Lý Nam Đế cho dời đô về Phong Châu,nơi đất Kinh đô của các vua Hùng thuở trước. Ý của Hậu Lý Nam Đế là nối lại chính thống của các vua Hùng từ xa xưa để lại, chứ Tiền Lý Nam Đế bất quá cũng chỉ là người ngang hàng với ông mà thôi.

     Vị Hoàng đế không còn chút liêm sĩ này, chỉ có mỗi một tài là tài lừa lọc, đã không nhìn thấy Ô Diên (ở ngay cành thành Đại La, tức là thành Thăng Long sau này)là vị trí trung tâm để chấn hưng đất nước và phát triển quân đội (đặc biệt thủy quân) nhằm kế sách lâu dài,mà chỉ thấy trước mắt cần phải chính thống ngay tức khắc.

     Quả là Hậu Lý Nam Đế đã chính thống được cái tước hiệu.Thực tế ông ta đã kéo lùi sự phát triển của đất nước lại 32 năm, tức là cả thời gian hết cha đến con trị vì.

     Mặc dù lúc bấy giờ đã lớn tuổi, nhưng Hậu Lý Nam Đế vẫn mãng "đi lại" với các cung nữ. Thế rồi ông ta cũng sinh được một người con trai nữa đặt tên là Lý Sư Lợi.

     Là một kẻ vô lại, nên dưới quyền Hậu Lý Nam Đế, chỉ là một lũ quan lại bất tài, vừa tham vừa ác chẳng nghĩ gì đến dân, đến nước. Cũng may, một thời gian dài phương Bắc có loạn liên miên, hết nhà Lương là  đến nhà Trần ngắn ngủi, nên cha con Hậu Lý Nam Đế mới bình yên kéo dài được 32 năm (571 - 602).

     Quả nhiên, nhà Tùy vừa chính vị được năm thứ nhất (602) đã cử ngay Dương Tố sang làm Tổng quản Giao Châu. Tố tiến cử Lưu Phương, người Trường An, vốn là một kẻ mềm mỏng, dẫn đại binh đi trước mở đường.

     Quân Lưu Phương ùn ùn kéo sang, lúc bấy giờ Hậu Lý Nam Đế đã mất được mấy năm, và Lý Sử Lợi, cũng vẫn tự xưng là Lý Nam Đế, đang trị vì.

     Vị Hậu Lý Nam Đế thứ hai này, đang trẻ người non dại, vốn chỉ quen ăn chơi hưởng lạc, nên vừa nghe tin quân giặc tới, là  đã mặt xanh nanh vàng, mất hết can đảm của một người điều binh khiển tướng.

     Lưu Phương đánh đến núi Đô Lương thì gặp một tốp lính nhỏ người địa phương xông ra chống cự, y cho quân dẹp được ngay, rồi tiến vào Phong Châu, đóng doanh trại ngay sát cạnh dinh của Lý Sư Lợi.

     Nếu gặp phải một triều đình có sĩ khí nào khác, thì trước khi đến đây, ít nhất quân của Lưu Phương cũng phải bị sứt trán bứu đầu, đằng này Lưu Phương vẫn cứ dẫn quân lẳng lặng mà tiến, hầu như không vấp phải một sức đề kháng nào đáng kể.

     Lý Sư Lợi cùng triều đình hèn nhát đã đ ành. Ngay cả hai người tôn thất, một là Lý Đại Quyền làm Thái Bình hầu giữ thành Long Biên, và một người nữa là  đại tướng Lý Tấn Đỉnh làm An Ninh hầu giữ thành Ô Diên, ca hai viên tướng này trong tay đều cóhàng vạn quân, vậy mà vẫn ngồi yên, không đi tiếp ứng! Thật đúng là cha nào con nấy, vua nào tướng ấy, kể từ đời Lý Phật Tử, họ chỉ mang lại nỗi nhục cho dân cho nước!

     Lưu Phương cho người sang tận triều đình Lý Sư Lợi để dụ hàng. Vị Hoàng đế hèn mạt cùng trăm quan vội vàng quỳ ngay xuống để nghe chếu chỉ. Thế là Hậu Lý Nam Đế thứ hai cũng chấm dứt nốt.

     Lưu Phương cho quân dẫn Lý Sư Lợi về phương Bắc, rồi cho chết biệt tăm ở nơi đất khách quê người. Còn các viên tướng của triều đình Hậu Lý Nam Đế, Lưu Phương cho bắt tất cả, rồi mang ngay ra bãi chém hết!

     Chắc đến lúc chết, cả Sư Lợi và các tướng đãhiểu được thế nào là lời lẽ phủ dụ của những ke chuyên đi xâm lược!

     Sau khi Triệu Việt Vương đi xuống biển ở cửa Đại Nha (cũng có sách viết rằng nhà vua đã tự tử) mọi người trong vùng thương tiếc bèn lập đền thờ ở đấy để thờ Ngài.

     Về sau những người họ Lý cùng chi phái của Lý Phật Tử cũng lập ở của Tiểu Nha đền thờ Hậu Lý Nam Đế.Tiểu Nha đối diện Đại Nha, codnghĩa là Hậu Lý Nam Đế đã đối mặt với Triệu Việt Vương mà song song tồn tại vậy!

     Chả biết vì thần linh không cho có sự đánh lộn sòng hay do trời xui đất khiến thế nào, mà một đ êm mứa gió bão bùng, sấm sét nổ ra dữ dội, sáng hôm sau thấy ngôi đền Tiểu Nha bị đánh bạt xuống sông, không còn tăm tích.

     Dân làng Độc Bộ, vốn đã lập đền thờ Triệu Việt Vương ở Đại Nha, nay dựng thêm ngôi đền khác ở Tiểu Nha. Họ không thờ Hậu Lý Nam Đế như làng Phù Xa trước kia, mà thờ Ngô Nhật Khánh, một trong 12 vị xứ quân của đời sau, cách gần 400 năm.

     Đại Việt sử ký toàn thư vân gọi Lý Phật Tử là vua, là  đế, nhưng cũng không ngần ngại đưa ra lời bình "không bằng chó lợn" để chỉ nhhững hành vi và việc làm của vị đế này.

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=7542.50


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 25 Tháng Sáu, 2010, 05:14:58 PM
Theo cuốn Gia phả - khảo cứu và thực hành của nhà gia phả học Dã Lan – Nguyễn Đức Dụ, chúng ta được biết về hậu duệ của Phạm Tu:

Đời thứ 2: có con là Phạm Tĩnh

Phạm Tĩnh là con của Phạm Tu. Năm 582 đã giúp Lý Phật Tử - Hậu Lý Nam Đế (571-582) chống quân Phương Bắc, khôi phục thành đô. Ông khuyên Lý Phật Tử dời đô từ Ô Diên đến Phong Châu (Hạc Trì). Ông là tướng quốc thời này.

Đời thứ 3: có cháu là Phạm Hiển

Phạm Hiển là con Tướng quốc Phạm Tĩnh đã chiêu mộ dân chúng kháng Tùy từ 603-605 để rửa hận cho Vua (Hậu Lý Nam Đế) và cho cha (Phạm Tĩnh).

Nhưng có một số bài viết đưa tin, Lý Phật Tử và Phạm Tĩnh bị Lưu Phương bắt về Bắc làm chúng tôi không khỏi nghi ngờ.

Nếu triều Hậu Lý Nam đế chỉ có một Lý Phật Tử trị vì thì chúng tôi thấy vị vua này trên 70 tuổi (năm 555 đã nắm quyền bính, đến 602 bị bắt). Phạm Tĩnh nhiều phần là cao tuổi hơn Lý Phật Tử và có lẽ cũng khoảng 80 tuổi ư? Vì Phạm Tu mất năm 545 ở tuổi 70. Sau năm 571, Phạm Tĩnh là Tướng quốc, có lẽ ông và các anh em của ông đều sinh ra trong khoảng 500-530 là phù hợp với tuổi tác của Phạm Tu.

Nhưng sau một số thông tin cho phép xác định người bị bắt về phương Bắc là Lý Sư Lợi con Lý Phật Tử (Lý Xuân) cho phép chúng tôi khẳng định: hoàn toàn không có việc Phạm Tĩnh bị bắt về phương Bắc. Ông có thể bị mất do tuổi cao trước khi nhà Tùy đem quân sang vào năm 602.


Tiêu đề: Re: Thành Long Biên qua nhà nghiên cứu văn bia
Gửi bởi: thapbut trong 02 Tháng Bảy, 2010, 09:59:20 PM
http://www.tuanvietnam.net/2010-04-05-nguyen-ngoc-thach-nguoi-dinh-do-lai-thanh-thang-long

Nhiều bài dịch của ông được đánh giá cao như bài nghiên cứu "Luy Lâu, Thăng Long là hai hay là một địa danh". Theo đó, bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành - Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: "...Mậu Tài, bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu, đóng đô tại Long Biên 40 năm, thọ 90 tuổi". Từ đó, so với nhiều văn bản của các tác giả khác như Đại Việt sử ký toàn thư (1679), ông Thạch cho rằng: Luy Lâu và Long Biên là cùng một địa danh.

Xem ra ông Sỹ Nhiếp này cũng có điều gì đó liên quan đến đất Long Độ?

Phải chăng Hồn ông Sỹ Nhiếp vẫn còn đâu đây?

Năm 705, sau khi Võ Tắc Thiên bị buộc phải thoái vị, có hai quan chức học giả bị tạm thời đày xuống An Nam Đô Hộ Phủ. Đỗ Thẩm Ngôn bị đày xuống châu Phong và Thẩm Toàn Kỳ xuống châu Hoan. Hai ông này đều để lại những bài thơ cảm thán trong thời gian bị đi đày ở miền Nam. Dưới đây là một trong những bài thơ của Toàn Kỳ:

Ta được nghe nói nhiều về Giao Chỉ
Rằng những tục lệ miền Nam đi sâu vào lòng người
Mùa đông thì ngắn
Còn ba mùa còn lại thì mặt trời luôn toả sáng
Ở đó quan Úy Tô từng có cả một vương quốc
Và Sĩ Nhiếp vẫn lảng vảng từ thế giới bên kia
Nhà cửa trong làng truyền từ đời này sang đời nọ
Cá và muối đã có từ thuở xa xưa
Từ thời thượng cổ, người Việt triều cống chim bạch trĩ
Tướng quân Hán trầm tư vì con chim bồ cắt
Chòm sao Đại Hùng treo lơ lửng trên non Chung
Ngọn gió Nam thổi trên biển Trang
Từ khi ta rời quê nhà, năm tháng qua lại qua
Mái tóc bạc báo tin nay ta đã già
Các huynh đệ ta ai cũng chào thua định mệnh
Vợ con ta cũng đã ra người thiên cổ
Kìa con đường hiu quạnh, kìa bức tường đổ nát
và những giọt lệ rơi
Trái tim ta chẳng còn âm vang ý muốn của Trời nữa

http://damau.org/archives/11466


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: phuongcacanh trong 17 Tháng Tám, 2010, 08:36:53 PM
Phạm Duy Trưởng là tôi đấy. Muốn tìm hiểu thêm về đề tài này mời các bạn sang bên Wikipedia tiếng Việt, bên đó tôi cũng là thành viên: Phuongcacanh và có viết một số bài liên quan đến chủ đề này.


Tiêu đề: Quê Triệu Quang Phục ở đâu?
Gửi bởi: thapbut trong 05 Tháng Mười Hai, 2010, 03:26:54 PM
Một điều mà chúng ta nhận thấy Triệu Túc cha của Triều Quang Phục được coi là thủ lĩnh ở Chu Diên. Thế nhưng có nhiều tài liệu chép Chu Diên ở vùng Đan Phượng ngày nay.
Nhưng năm 545 Lý Bí cầm quân chống giặc lại ở Chu Diên sau đó mới rút về phòng tuyến Tô Lịch. Do vậy nhiều người cho rằng Chu Diên là vùng Hải Dương, Hưng Yên ngày nay.
Như vậy có thể khẳng định Triệu Quang Phục không có quê ở Đan Phượng mà sẽ ở vùng châu thổ phía bắc sông Hồng.
Điều mà nhiều người nhầm có Chu Diên gắn liền với Đan Phượng có thể thời xa xưa (Hai Bà Trưng) Chu Diên rộng và có thể trùm đất Đan Phượng ngày nay.
Tuy nhiên năm 545 Lý Bí hành quân chống giặc đã sát cánh cùng tướng trẻ Triệu Quang Phục và đã để lại nhiều dấu ấn ở Thái Bình ngày nay. (Chính điều này khiến nhiều người nhầm tưởng Lý Bí quê ở Thái Bình tỉnh)
Và thần tích ở Cổ Trai, Hưng Hà, Thái Bình chép vị tướng trẻ lúc này là Tả tướng

http://baothaibinh.com.vn/19/186/Dung_co_trai_cho_dat_nuoc_Van_Xuan_.htm

Dựng Cổ Trai cho đất nước Vạn Xuân

Cách bến đò Tịnh Xuyên trên sông Luộc đỏ nặng phù sa chảy qua địa phận Thái Bình không xa là làng Cổ Trai, xã Hồng Minh huyện Hưng Hà. Nơi đây còn ghi dấu tích một thời liệt oanh của đất nước, khi Vua Tiền Lý (Lý Bí) về Cổ Trai dựng biệt đồn, lập nên nước Vạn Xuân. Thời gian trôi đi kéo theo bao biến cố, thăng trầm. Chỉ còn lại trong ký ức người dân Cổ Trai về một thời vàng son đất nước. Cụm di tích đình đền Cổ Trai xã Hồng Minh là một minh chứng sinh động ghi dấu một thời rực rỡ, hào hùng của dân tộc. Nào đâu ranh giới Chu Diên vùng đất cổ, nào đền Tịnh Thủy là nơi tưởng niệm Kim Xa, Mỹ Hy với hành cung Lỗ Giang thời Trần với biệt cung của Khâm Từ và Tuyên Từ Thái Hậu. Đâu rồi dấu vết An Lăng, tẩm điện của Vua Trần Anh Tông, Trần Cao Tông... Cổ Trai ôm vào lòng tất cả, cho dù năm tháng tàn phai, nhưng những dấu ấn đẹp đẽ về một thời hùng oai của đất nước vẫn còn in dấu quanh ta. Kiến trúc của đình Cổ Trai gồm năm gian. Nóc đình đắp lõng hoa chanh, đao đắp rồng chầu, phượng mớm, bảy chạm tứ quý, tứ linh, các vì mái chạm đấu sen, long chầu, hổ phục, liên quy, phượng vũ, hai tòa cửa võng chạm lõng bong kênh có đủ long - li - quy - phượng, cuốn thư, đại tự, câu đối sơn son, thếp vàng. Các đồ tế khí còn lưu giữ được gồm: ngai, khám thờ vua hai, ba tầng cửa võng, bát bửu, chấp kích được sơn son, thếp vàng cẩn thận. Trong đình vẫn còn trwo những bức trướng bằng gấm, nỉ đỏ có thêu kim tuyến; các kiệu bát cống có đủ 10 rồng...Ngọc phả còn ghi: "Một ngày, Lý Nam Đế và tả tướng quân hành quân đến Cổ Trai, trông thấy địa thế tốt, dân chúng no đủ, phong tục tốt đẹp liền thiết lập biệt đồn...".  Theo các tài liệu nghiên cứu của các sử gia và một phần Ngọc phả, thần tích của làng Cổ Trai xã Hồng Minh (Hưng Hà), từ năm 250 – 543 (sau Công Nguyên), Giao Châu rơi vào tình trạng bất ổn, bị nhiều nước tranh giành, xâu xé. Khoảng gần 300 năm, Giao Châu lần lượt thuộc các nước Tấn (năm 250 - 420); Tống (năm 420 - 478), Tề (năm 479-502), Lương (năm 502-557). Bị cai trị, đời sống người dân Giao Châu vô cùng cơ cực. Thời nhà Lương cai trị, đánh thuế rất nặng nề, có đến hàng trăm thứ thuế, dân nghèo thậm chí phải bán vợ, đợ con để đóng thuế. Chính sách cai trị của nhà Lương là phân biệt giữa hai tầng lớp sĩ tộc (quan lại người Hán mới được cử sang Giao Châu) và hàn môn (gốc người Hán nhưng đã di cư đến Giao Châu nhiều đời) trong việc bổ nhiệm các chức quan địa phương. Điều nó dẫn đến sự bất mãn trong lớp hàn môn, nảy sinh xu hướng liên kết ngày càng mạnh giữa họ với những hào trưởng người Việt chống bọn quan lại sĩ tộc. Lại thêm nạn tham quan ô lại, các nhà thế tộc giàu có, địa chủ hoành hành, bóc lột của cải, chiếm đoạt ruộng đất khiến cho dân chúng nổi lên chống đối khắp nơi.  Lý Bí (Lý Bôn) người quê Thái Bình, xuất thân là một hào trưởng địa phương có tài văn võ song toàn là một ví dụ điển hình. Đầu năm 542, cuộc khởi nghĩa của Lý Bí, đã nổ ra chống lại ách đô hộ của nhà Lương. Lý Bí, nhân lòng oán hận của dân dâng trào đã liên kết với hào kiệt các châu thuộc miền đất Giao Châu  (nước Việt Nam xưa), đồng thời dấy binh chống nhà Lương. Theo sử cũ của Việt Nam ghi: "thủ lĩnh Chu Diên (vùng Đan Hoài, nay thuộc ngoại thành Hà Nội) là Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục, phục tài đức Lý Bí đã đem quân theo trước tiên, Phạm Tu cũng là một tướng tài của Lý Bí từ buổi đầu khởi nghĩa. Cuộc khởi nghĩa thành công rất nhanh. Phải đối đầu với cuộc khởi nghĩa có sự liên kết giữa các địa phương, Tiêu Tư (thứ sử Giao Châu) khiếp hãi, không dám chống cự chạy trốn về Việt Châu (bắc Hợp Phố) và Quảng Châu. Cuộc khởi nghĩa nổi dậy từ tháng một năm 542, không quá 3 tháng nghĩa quân đã chiếm được châu thành Long Biên (Bắc Ninh). Sau những giờ phút kinh hoàng buổi đầu, chính quyền nhà Lương lập tức có phản ứng đối phó. Tháng 4 năm 542 vua Lương sai thứ sử Việt Châu là Trần Hầu, thứ sử La Châu là Nịnh Cư, thứ sử An Châu là Lý Trí, thứ sử ái Châu là Nguyễn Hán, từ hai phía bắc - nam Giao Châu cùng tiến đánh nghĩa quân Lý Bí. Cuộc phản kích này của giặc Lương đã hoàn toàn thất bại. Từ đồng bằng (Bắc Bộ Việt Nam ngày nay), Lý Bí đã kiểm soát được tới vùng Đức Châu (Hà Tĩnh) ở phía nam và vùng bán đảo Hợp Phố (Quảng Châu) ở phía bắc. Thất bại nặng nề vua Lương lại sai thứ sử Cao Châu là Tôn Quýnh, thứ sử Tân Châu là Lư Tử Hùng điều khiển binh mã đi đánh Lý Bí vào mùa đông năm ấy. Bọn này dùng dằng không chịu tiến quân, lấy cớ mùa xuân lam chướng, xin đợi mùa thu hẵng khởi binh song vẫn bất đắc dĩ phải động binh (tháng 1 năm 543). Chủ động đánh giặc, nghĩa quân Lý Bí tổ chức một trận tiêu diệt lớn ngay trên miền cực bắc Châu Giao. Trăm trận, trăm thắng. Đến năm 544, nhằm tháng giêng, ông tự xưng là Nam Việt Đế, lên ngôi đặt niên hiệu là Thiên Đức, lập trăm quan, lấy tên nước là Vạn Xuân thể hiện mong muốn  xã tắc lưu truyền đến muôn đời. Lý Nam Đế cho dựng điện Vạn Thọ làm nơi triều hội. Phong Triệu Túc làm thái phó, Tinh Thiều đứng đầu tướng văn, Phạm Tu đứng đầu tướng võ. Lý Nam Đế còn sai dựng một ngôi chùa lớn ở phường Yên Hoa (Yên Phụ- Hà Nội) lấy tên là chùa Khai Quốc. Chùa Khai Quốc là tiền thân của chùa Trấn Quốc, trên đảo Cá Vàng (Kim Ngư) ở Hồ Tây Hà Nội. Sử cũ ghi: "Năm 548, Lý Nam Đế mất. Sự nghiệp của Lý Nam Đế đã được Lý Thiên Bảo (anh của Lý Nam Đế) và Triệu Quang phục đứng ra gánh vác chống lại nhà Lương. Theo các tài liệu nghiên cứu của các sử gia, tại Trung Quốc (năm 557), Trần Bá Tiên lật đổ nhà Lương, tự phong Hoàng Đế dựng nên nhà Trần. Trong lúc tình hình phương Bắc rối loạn, Giao Châu bị bỏ ngỏ, Triệu Quang Phục dần chiếm lại được lãnh thổ Giao Châu, giành quyền tự trị, xưng Vương (Triệu Việt Vương). Năm 555, Lý Thiên Bảo mất, một viên tướng cùng họ là Lý Phật Tử lên thay thế. Từ năm 557 trở về sau Triệu Quang Phục và Lý Phật Tử tranh giành quyền lực, hai bên giao tranh nhiều lần bất phân thắng bại, phải kết thông gia để giảng hoà. Đến 571, Lý Phật Tử bất ngờ đánh úp Triệu Quang Phục, thâu tóm toàn bộ quyền lực, rồi tự xưng là Nam Đế để tiếp tục kế nghiệp Vạn Xuân của Lý Bí trước đó. Sử cũ thường gọi là Hậu Lý Nam Đế. Cũng theo sử cũ thì ở Trung Quốc vào năm 589, Dương Kiêu diệt nhà Trần, lập nên nhà Tuỳ, xưng là Tuỳ Văn Đế, thống nhất Trung Quốc. Năm 602, nhà Tuỳ triệu Lý Phật Tử vào triều yết kiến. Phật Tử chống lệnh, kiên trì giữ đất Giao Châu. Nhà Tuỳ đem quân sang đánh. Quân của Nam đế Lý Phật Tử thất bại trứơc quân nhà Tuỳ. Nước Vạn Xuân bị rơi vào tay nhà Tùy bắc phương sau 60 năm độc lập. Sử cũ thường gọi thời kỳ này là thời kỳ "Tiền Lý" để phân biệt với nhà Lý về sau.  Theo sử cũ ghi: Lý Bí sinh ngày 12 tháng 9 năm Quý Mùi (17-10-503). Lý Bí 5 tuổi thì cha mất, 7 tuổi thì mẹ qua đời. Ông đến ở với chú ruột. Tương truyền, có một vị Pháp tổ thiền sư lỡ độ đường, trông thấy Lý Bí đang chơi đùa cùng lũ trẻ, vẻ mặt khôi ngô, tuấn tú, người này liền xin Lý Bí đem về chùa nuôi dạy. Sau hơn 10 năm rèn sách chuyên cần, lại được vị thiền sư gia công chỉ bảo nên Lý Bí trở thành người học rộng, hiểu sâu, ít người sánh kịp. Nhờ có tài văn võ kiêm toàn, Lý Bí được tôn lên làm thủ lĩnh địa phương. Cũng theo sử cũ, Lý Bí đã từng ra làm quan cho nhà Lương, nhưng do bất bình với các quan lại đô hộ tàn ác, nên ông bỏ quan, về quê, chiêu binh mãi mã chống lại chính quyền đô hộ. Tù trưởng ở Chu Diên (Hải Dương ngày nay) là Triệu Túc cùng con là Triệu Quang Phục, hết sức phục tài đức của Lý Bí nên đã đem quân nhập với đạo quân của ông. Năm 541, thứ sử Giao Châu Tiêu Tư vô cùng tàn bạo nên bị người dân oán giận. Cùng thời điểm ấy, biên ải có giặc Lâm Ấp quấy phá. Nhân dân Giao Châu lâm vào tình thế rất khổ cực. Lý Bôn làm quan cho chính quyền đô hộ nhưng bất bình nên bỏ về quê (Thái Bình nay) chiêu mộ nghĩa quân. Tinh Thiều, một người giỏi văn chương, từng đến kinh đô nhà Lương xin được chọn làm quan, nhưng nhà Lương chỉ bổ cho chức "Quảng Dương môn lang", nên bỏ về Giao Châu theo Lý Bôn. Sử cũ cho rằng, lúc bấy giờ ông làm chức giám quân ở châu Cửu Đức (huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay), liên kết với hào kiệt mấy châu đứng lên chống lại nà Lương đều "nhất hô, bá ứng". Quân của Lý Bôn đánh cho Tiêu Tư thua chạy về Quảng Châu và chiếm lấy Long Biên. Tháng 12 năm 542, vua Lương sai Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng sang trả thù. Thứ sử Quảng Châu không đồng ý nhưng Tiêu Tư vẫn thúc giục tràn sang. Tử Hùng đi đến Hợp Phố, quân lính mười phần chết đến quá nửa, thành đám tàn quân, tan rã dần. Đến năm 543, tháng 4, vua Lâm Ấp xâm chiếm quận Nhật Nam, Lý Bôn sai Phạm Tu đánh tan địch ở Cửu Đức.

Theo các sử gia thì việc Lý Bôn đặt tên nước là Vạn Xuân, tự xưng là Hoàng Đế, định niên hiệu, lập một triều đình riêng ngang hàng với nước lớn phương Bắc là sự khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc và sự bền vững muôn đời của đất trời phương Nam. Tưởng nhớ Lý Nam Đế, người anh hùng dân tộc mở đầu nền độc lập, tự chủ của đất nước, nhân dân nhiều nơi lập đền thờ ông theo nghi lễ thờ vua. Tính riêng ở miền Bắc có hơn 200 đền, miếu thờ Lý Bí và các tướng của ông. Làng Cổ Trai vẫn còn đền, miếu thờ Vua Tiền Lý (Lý Bôn) và Tả Tướng quân Triệu Quang Phục. Cách ngôi đền thờ vua Tiền Lý khoảng 200 mét là khu miếu cổ, cạnh đó là đền Quốc Mẫu, tương truyền nơi đây thờ phu nhân Tướng quân Triệu Túc...Người dân làng Cổ Trai cũng dựng đền, đình thờ Lý Bí, coi ông là Thành Hoàng làng. Đình, đền Cổ Trai được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia.

Bài và ảnh: LÊ QUANG VIỆN

(Tài liệu tham khảo: - Tiên Hưng phủ chí.

- Ngàn năm đất và người Thái Bình. - Tư liệu của cố GS Trần Quốc Vượng.)




Tiêu đề: Quê Triệu Quang Phục ở đâu?
Gửi bởi: thapbut trong 06 Tháng Mười Hai, 2010, 02:44:01 PM
Đoạn cuối của bài viết cho ta một số thông tin: Triệu Quang Phục là Tả tướng, Mẹ Triệu Quang Phục được lập đền thờ và gọi là Quốc Mẫu tại mảnh đất Hưng Hà giáp ranh với Hưng Yên-Chu Diên xưa.
Triệu Quang Phục đã là Tả Tướng sau năm 545 (khi Phạm Tu đã hy sinh), nên về Cổ Trai ông là đại tướng chỉ huy cánh quân chặn giặc ở biển phía Thái Bình, Nam Định
Còn Triệu Túc cũng chỉ huy cánh quân phía Lục Đầu Giang (Chu Diên), Lý Bí đã đi thị sát hai trận địa này và trực tiếp chỉ huy đánh Trần Bá Tiên ở Chu Diên.
Về sau Triệu Túc hy sinh, nhưng chưa thấy có nơi nào còn đền thờ ông.
Mẹ Triệu Quang Phục được lập đền ở Cổ Trai, là Quốc Mẫu vì bản thân Triệu Quang Phục là vua. Nhưng việc lập đền thờ Bà ở Cổ Trai có thể nói lên quê hương Bà ở đó, hay Bà là người cũng đã cùng con trai hành quân chống giặc ở đất này. Có thể Bà có công lao lớn trong việc chuẩn bị chống giặc nên đã được lập đền thờ riêng.
Cổ Trai có điều gì gắn bó với Triệu Quang Phục giống như Dạ Trạch chăng?


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: bachviet18 trong 07 Tháng Hai, 2012, 09:51:40 AM
Kính chào bạn Tháp bút và các anh dòng họ Phạm.
Hôm nay có ít tư liệu và thông tin về Sĩ Nhiếp cùng họ Phạm muốn chia sẻ với các anh.

Câu đối ở cổng đền Sĩ Nhiếp tại thôn Tam Á – Thuận Thành – Bắc Ninh:
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì / bỉ hà trường thử hà trường / an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích / trị diệc tiến loạn diệc tiến / tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.


(http://i303.photobucket.com/albums/nn137/ndtluu/BieuGiaoChau.jpg)  (http://i303.photobucket.com/albums/nn137/ndtluu/NhiepLamAp.jpg)

Tạm dịch:
Với tấm lòng trung nghĩa công thần, việc này việc kia đều bền, sáu trăm năm đức khoan dung để lại giúp dựng cơ đồ Lâm Ấp.
Nhờ sự nghiệp văn hóa khoa cử cũ, thời bình cũng như thời loạn, bốn mươi thu qui củ chính sách làm rạng tỏ Giao Châu.


Câu đối này có một thông tin rất lạ: đức độ để lại của Sĩ Nhiếp đã giúp cai quản nước Lâm Ấp 600 năm. Phải hiểu việc này thế nào đây? Thái thú Giao Châu Sĩ Nhiếp thì có liên quan gì đến người Lâm Ấp?

Xem lại sử chỉ thấy có Toàn thư, Ngô Sĩ Liên bình về Sĩ Nhiếp:
"Tục truyền rằng sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà Tấn đã hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại đắp lại, người địa phương cho là thần, làm miếu để thờ gọi là "Tiên Sĩ Vương". Có lẽ là khí tinh anh không nát, cho nên thành thần vậy".

Chuyện này thật rối rắm. Người Lâm Ấp vào đào mộ Sĩ Nhiếp, sau đó đền thờ lập tại đó lại ghi “lòng khoan dung của Sĩ Nhiếp giúp Lâm Ấp tồn tại 600 năm”.

Theo chính sử Lâm Ấp lập quốc từ Khu Liên vào khoảng năm 137-138 (hoặc 187-190). Sau đó họ bên ngoại của Khu Liên là họ Phạm kế nghiệp. Họ Phạm trị vì Lâm Ấp tới năm 757, tiếp theo là thời gian của Hoàn Vương. Như vậy Lâm Ấp là quốc gia đã tồn tại khoảng 600 năm, cai trị bởi Khu Liên và họ Phạm.

Như đã biết Sĩ Nhiếp có thể mang họ Phạm. Đây là thông tin mang tính quyết định cho phép suy đoán:
-    Chữ “nhiếp” trong câu đối trên cho thấy thực ra tên Sĩ Nhiếp chỉ là một danh hiệu với nghĩa kẻ sĩ nhiếp chính, rất phù hợp với ghi chép về công trạng của Sĩ Nhiếp gồm góp phần giáo hóa Nho học và an trị Giao Châu trong 40 năm đầu thời Tam Quốc. Sĩ Nhiếp không phải là họ Sĩ.

-    Sĩ Nhiếp mang họ Phạm, chính là tiền nhân của các vị vua Lâm Ấp họ Phạm sau này. Việc người Lâm Ấp ra Luy Lâu đào mồ Sĩ Nhiếp 160 năm sau thực ra là họ đi tìm mồ mả tổ tiên, “bốc mộ” cha ông và lập đền thờ. Người ngoài không hiểu chuyện nên “tục truyền” là người Lâm Ấp thấy sợ mà lấp mộ lại.

Xem lại con đường sự nghiệp của Sĩ Nhiếp được chép trong Toàn thư:
"Đinh Mão, năm thứ 1 [187], (Hán Trung Bình năm thứ 4). Vương có ba em trai tên là Nhất, Vĩ và Vũ. Bấy giờ Thứ sử Chu Phù bị giặc Di giết chết, châu quận rối loạn, vương bèn dâng biểu cử Nhất làm Thái thú Hợp Phố, Vĩ làm Thái thú Cửu Chân, Vũ làm Thái thú Nam Hải. Vương độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người.”

Thời điểm anh em Sĩ Nhiếp làm thái thú các châu cũng chính năm “giặc Di” Lâm Ấp giết thứ sử Chu Phù và là năm Khu Liên lập nước Lâm Ấp. Nước Lâm Ấp theo cách hiểu ngày nay là vốn là huyện Tượng Lâm của quận Nhật Nam, nổi dậy giết thứ sử Giao Chỉ bộ. Ấy vậy mà trong lúc thứ sử Giao Chỉ bộ bị giết thì thái thú Giao Châu là Sĩ Nhiếp lại vẫn sống đoàng hoàng, thậm chí còn đang lo dạy học và được người địa phương kính trọng.

Giải thích làm sao đây khi cả bộ Giao Chỉ bị người Lâm Ấp tấn công, giết thứ sử mà anh em nhà họ Sĩ lại "an trị" được vùng này? Thậm chí danh sĩ các nơi còn kéo về tụ họp như chưa hề có chuyện Lâm Ấp đánh giết thứ sử. Chỉ có thể hiểu được nếu anh em nhà họ Sĩ đã "thông đồng" với người Lâm Ấp, hoặc chính anh em Sĩ Nhiếp là người Lâm Ấp đã nổi dậy chiếm các quận ở Giao Chỉ năm 187.

Nói cách khác Sĩ Vương mang họ Phạm, là tổ tiên người Lâm Ấp. Chính vì vậy các vị vua Lâm Ấp họ Phạm luôn cố gắng tấn công ra Bắc nhằm đòi lại vùng đất của cha ông. Điển hình là chuyện Phạm Dương Mại đã sai sứ xin nhà Nam Tống cho được lĩnh quản Giao Châu. Nếu không phải tổ tiên họ Phạm đã từng làm chủ Giao Châu thì sao Phạm Dương Mại lại có thể đưa ra đề nghị hoang đường như vậy?

Cho đến khi nhà Tùy diệt Lâm Ấp, họ Phạm vẫn không ngừng chí "Bắc tiến", đã tham gia khởi nghĩa của Mai Thúc Loan và Phùng Hưng. Phạm Thị Uyển là Mai hoàng hậu, đã chống quân Đường và hy sinh bên dòng Tô Lịch. Phạm Miện, Phạm Huy là tướng của Phùng Hưng.

Long biên hầu Sĩ Nhiếp và Long biên hầu Phạm Tu cùng là họ Phạm, cùng có quan hệ với Lâm Ấp. Phải chăng hai vị này là một?

Xin xem thêm: http://báchviệt18.vn/


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: spirou trong 07 Tháng Hai, 2012, 04:15:47 PM
Nhà em cũng họ Phạm đây, nhưng mà đọc bài trên em thấy cái lý luận sao mà chán quá là chán. Họ Phạm của các vua Lâm Ấp là phiên âm từ từ Varma trong tiếng Sanscrit mà ra. Nước Lâm Ấp có nhiều triều đại khác nhau, nhưng đa số ông nào lên cũng có từ Varma kèm theo, thành ra từ Varma không chắc đó là họ mà có khi chỉ là tôn hiệu cao quý dành cho vua mà thôi.

Mà chắc gì nhà Ngô dễ dàng cho 1 ông Lâm Ấp làm quan cai trị xứ Giao Châu.


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: bachviet18 trong 21 Tháng Hai, 2012, 03:22:36 PM
Chỉ vì vẫn giữ quan niệm Lâm Ấp là Chiêm Thành của người Chăm nên mới thắc mắc như trên. Ở đây nói Lâm Ấp là một quốc gia của người Việt, do họ Phạm người Việt thành lập vào thời đầu Tam quốc. Còn tiền thân của Hoàn Vương - Chiêm Thành là nước Hồ Tôn, một nước có từ thời Hùng Vương chứ chẳng phải đợi đến lúc Khu Liên nổi dậy mới có.

Thông tin từ chính gia phả họ Phạm cho biết họ Phamh của Lâm Ấp chính là người Việt: http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=23476

" Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành ( con Lý Thân-Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu ( gọi là xứ Lâm ấp)-tức là Nam Trung bộ ngày nay.
Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766)
Thấy xứ Lâm ấp phải lo chống đối với nhà Đường ở phía Bắc, nên thừa cơ hội này, người Chà Và (Java, Inđônêxia ngày nay) gồm các bộ tộc Dừa và bộ tộc Cau kéo sang xâm chiếm xứ Lâm ấp và lập nên Vương quốc Chiêm Thành vào năm 705. Phạm Chính, con của Phạm Trung, cháu nội cuả Phạm Chí, khi thất bại trở về, đành phải chịu nhận vùng đất quanh thành Châu Sa làm xứ tự trị của dòng họ Phạm. Hiện nay, tại núi An Điềm, xã Bình Chương, huyện Bình Sơn , còn có đền thờ vị Triệu tổ họ Phạm là Đại lang Phạm Duy Hinh. "


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: spirou trong 21 Tháng Hai, 2012, 08:49:49 PM
Nói chung, nghiên cứu cổ sử không bao giờ dùng gia phả vì tính thiếu chính xác. Ngay như đoạn trích dẫn này đã thấy nản rồi:
" Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 trước CN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành ( con Lý Thân-Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu ( gọi là xứ Lâm ấp)-tức là Nam Trung bộ ngày nay..."



Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: thapbut trong 01 Tháng Ba, 2012, 03:35:56 PM
Rất cám ơn ý kiến đóng góp của các bạn.
Tuy nhiên suy luận của bạn bachviet18 có nhiều điều phải xem xét cho kỹ. Nhưng có nhiều điều thì tôi thấy không hợp lý vì:
Sỹ Nhiếp sống đời Hán, mất thế kỷ III, Phạm Tu sống sau đó 3 thế kỷ, mất giữa thế kỷ VI (cách nhau khoảng 300 năm) hai người này không thể là 1 người. Nhưng xét theo luân hồi theo quan điểm về cụ Hoàng Mười trên blog Phạm Viết Đào thì lại có thể?
Sỹ Nhiếp là người họ Phạm Trung Quốc, còn đến nay chúng tôi chưa thấy có tài liệu nào xác định Phạm Tu là người phương Bắc hay Lâm Ấp. Chính Phạm Tu là người cầm quân đánh tan quân Lâm Ấp, lúc đấy có thể vua-"Phạm" Lâm Ấp (không phải họ Phạm) cầm quân. Nhiều lần ông cầm quân chống lại quân nhà Lương nên là người đầu tiên có chiến công "Phá Bắc, Bình Nam", về sau có Phạm Cự Lượng, Lý Thường Kiệt,... có chiến công "Phá Tống, Bình Chiêm". Vị Đại tướng như vậy khác hẳn với Vương - Sỹ Nhiếp không hề động binh.


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: lonesome trong 07 Tháng Ba, 2012, 10:20:30 AM
Cứ theo cái gia phả kia thì từ thời HV người Việt đã có họ, đã có tổ chức bộ máy nhà nước cùng lề luật y choang TQ rồi. Vậy mà tới thời Mã Viện bình Hai Bà xong vẫn kêu là luật Việt khác luật Hán ít nhất 10 điều, Hai Bà Trưng và tướng lĩnh chẳng có họ tên gì giống kiểu TQ cả...

Vậy là sao?


Tiêu đề: Thành Long Biên ở gần Đình Bảng
Gửi bởi: thapbut trong 04 Tháng Sáu, 2013, 08:56:39 PM
Năm 2012 phát hiện 2 cổ vật được đặt vào năm 601 ở chùa Thiền Chúng thuộc Dịch Bảng huyện Long Biên, đất Giao Châu. Cho thấy chùa này gần trung tâm chính trị thời bấy giờ là thành Long Biên.
Dịch Bảng lại được cho là Đình Bảng ngày nay do vậy nghi vấn thành Long Biên có thể ở trong vùng Đình Bảng đang ngày một rõ hơn. Có lẽ chùa Thiền Chúng chính là chùa Lục Tổ?

http://www.dch.gov.vn/pages/news/preview.aspx?n=436&c=%2062
“Bài minh tháp Xá Lị.
Trước ngày Ất Sửu (tức ngày 15), tháng Tân Hợi (tháng 10), năm Tân Dậu niên hiệu Nhân Thọ năm thứ nhất (năm 601), nước Đại Tùy. Hoàng đế kính cẩn dựng ngôi bảo tháp và đặt Xá Lị tại chùa Thuyền Chúng (Thiền Chúng) thuộc huyện Long Biên đất Giao Châu để phổ độ cho muôn cõi sinh linh.
Cùng nguyện cầu cho Thái tổ Vũ Nguyên hoàng đế, hoàng hậu Nguyên Minh, chư vị hoàng đế, hoàng hậu, thái tử, con, cháu, thân thích trong hoàng tộc, tất thảy quần thần, thứ dân, chúng sinh trong cõi "lục đạo, tam đồ", Khẩn na la - Bát bộ chúng... đời đời, kiếp kiếp đều được theo Phật nghe Pháp, thoát li khổ ải, hưởng quả phúc lành.
Sắc cho pháp sư Đại đức Tuệ Nhã, Vũ kỵ uý Khương Huy, Bộ Lại dựng tháp và an vị xá lợi trong tháp".

http://www.vinhanonline.com/index.php?option=com_content&view=article&id=562:su-van-hanh-932-1025&catid=95&Itemid=278
Theo Thiền Uyển Tập Anh, Vạn Hạnh Thiền sư họ Nguyễn, người thuộc châu Cổ Pháp, hương Dịch Bảng, phủ Thiên Đức(nay là làng Đình Bảng, Bắc Ninh)


Tiêu đề: Re: Nhà nước Vạn Xuân và một số câu hỏi ở thời kỳ này
Gửi bởi: menthuong trong 05 Tháng Sáu, 2013, 06:16:36 AM
Kính chào bạn Tháp bút và các anh dòng họ Phạm.
Hôm nay có ít tư liệu và thông tin về Sĩ Nhiếp cùng họ Phạm muốn chia sẻ với các anh.

...

Như đã biết Sĩ Nhiếp có thể mang họ Phạm. Đây là thông tin mang tính quyết định cho phép suy đoán:
-    Chữ “nhiếp” trong câu đối trên cho thấy thực ra tên Sĩ Nhiếp chỉ là một danh hiệu với nghĩa kẻ sĩ nhiếp chính, rất phù hợp với ghi chép về công trạng của Sĩ Nhiếp gồm góp phần giáo hóa Nho học và an trị Giao Châu trong 40 năm đầu thời Tam Quốc. Sĩ Nhiếp không phải là họ Sĩ.

-    Sĩ Nhiếp mang họ Phạm, chính là tiền nhân của các vị vua Lâm Ấp họ Phạm sau này. Việc người Lâm Ấp ra Luy Lâu đào mồ Sĩ Nhiếp 160 năm sau thực ra là họ đi tìm mồ mả tổ tiên, “bốc mộ” cha ông và lập đền thờ. Người ngoài không hiểu chuyện nên “tục truyền” là người Lâm Ấp thấy sợ mà lấp mộ lại.

...

Nói cách khác Sĩ Vương mang họ Phạm, là tổ tiên người Lâm Ấp. Chính vì vậy các vị vua Lâm Ấp họ Phạm luôn cố gắng tấn công ra Bắc nhằm đòi lại vùng đất của cha ông. Điển hình là chuyện Phạm Dương Mại đã sai sứ xin nhà Nam Tống cho được lĩnh quản Giao Châu. Nếu không phải tổ tiên họ Phạm đã từng làm chủ Giao Châu thì sao Phạm Dương Mại lại có thể đưa ra đề nghị hoang đường như vậy?

Cho đến khi nhà Tùy diệt Lâm Ấp, họ Phạm vẫn không ngừng chí "Bắc tiến", đã tham gia khởi nghĩa của Mai Thúc Loan và Phùng Hưng. Phạm Thị Uyển là Mai hoàng hậu, đã chống quân Đường và hy sinh bên dòng Tô Lịch. Phạm Miện, Phạm Huy là tướng của Phùng Hưng.

Long biên hầu Sĩ Nhiếp và Long biên hầu Phạm Tu cùng là họ Phạm, cùng có quan hệ với Lâm Ấp. Phải chăng hai vị này là một?

Xin xem thêm: http://báchviệt18.vn/

Mẹ, vợ và con dâu tôi đều họ Phạm nên tôi cũng say tìm hiểu về dòng họ này. Theo tìm hiểu của tôi đã được chép lại ở   http://holuongduclaocai.blogspot.com/2013/01/tim-hieu-ve-nguoi-uoc-cho-la-ua-thanh.html thì Sĩ Nhiếp (士燮, 137-226) tự là Ngạn Uy 彦威, tổ tiên là người Vấn Dương 汶陽 nước Lỗ (魯國,1043 – 256 tCn).
Khi Vương Mãng (王莽,45 tCn - 23) cướp ngôi nhà Hán (漢朝, 203 tCn–220), tổ tiên Sĩ Nhiếp mới tránh loạn sang ở đất Quảng Tín 廣信, thuộc Giao Châu 交州 (nay là huyện Thương Ngô 蒼梧, tỉnh Quảng Tây 廣西).
Hơn nữa, chữ ghi tên ông (燮) theo 说文解字 (Thuyết văn giải tự) có cấu tạo: 从 tòng 言 ngôn, 从 tòng 又 hựu, 炎 viêm và phiên thiết là 穌叶切 (tô diệp thiết) nên phải đọc là “tiếp” (xiè) nhưng các sách Việt đều đọc là “nhiếp”.
Ông có 3 người em (Sĩ Nhất 士壹,Sĩ Vĩ 士䵋, Sĩ Vũ 士武) và sinh 5 người con (là: Sĩ Hân 士廞,  Sĩ Chi 士祗, Sĩ Huy 士徽, Sĩ Cán 士幹 và Sĩ Tụng 士幹).   Sau khi Sĩ Nhiếp mất (226), người con thứ ba của ông là Sĩ Huy (士徽,165-227) tự xưng làm Thái thú Giao Chỉ 交趾.
 Nhưng sau đó vua Đông Ngô là Tôn Quyền (孫權, 182 – 252) cho Đái Lương 戴良 làm Thứ sử, sai Trần Thời 陳時  làm Thái thú 太守 Giao Châu 交州. Tiếp sai Lữ Đại 呂岱 lThứ sử 刺史 Quảng Châu 廣州 kéo quân sang, dùng kế dụ lừa bắt được anh em Sĩ Huy đưa ra ngoài, đem chém cả, lấy đầu đưa về Vũ Xương 武昌. Cả gia tộc và hàng nghìn quan quân chết theo Sĩ Huy.

Như vậy thì sao có đoạn sau được!