Lịch sử Quân sự Việt Nam

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: menthuong trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 05:56:55 pm



Tiêu đề: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 05:56:55 pm
Diễn đàn chúng ta đã có trang riêng về thời đại Hùng Vương; về nhà Trần, nhà Nguyễn. Trong khi Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long đang đến gần. Nói đến Thăng Long không thể không nói đến Lý Công Uẩn và nhà Lý.

Ngày 21/11/2009 tại Bảo tàng Hồ Chí Minh đã có Hội thảo khoa học 1000 năm Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long.

Tất nhiên đấy là diễn đàn của các nhà khoa học đầy kiến thức uyên thâm và uy tín. Nhưng với chúng ta, những người quan tâm đến Quân sử Việt Nam chả lẽ lại đứng ngoài. Và chưa chắc những phát biểu hùng hồn của các vị GSTS hay những nhà ngoai giao, hoạt động chính trị đáng kính trên diễn đàn đã thuyết phục được số đông quần chúng và những người như chúng ta lại không được tỏ bày?.

Xin phép Caytrevietnam cho mở diễn đàn này.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 06:03:32 pm
Tôi xin trình bầy vài hiểu biết ít ỏi và nêu một số vướng mắc của mình qua những trang sách đã học thời phổ thông và qua các phương tiện thông tin đại chúng. Mong được cùng sẻ chia, thảo luận và chỉ giáo.

1. Người khởi đầu cho nhà Lý là Lý Công Uẩn. Lý Thái Tổ (李太祖; tên húy là Lý Công Uẩn 李公蘊; 974–1028) là người ở làng Cổ Pháp, nay là xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Nhưng thân phận của Lý Công Uẩn thấy nặng về giai thoại, đượm mầu Phật giáo không hiểu cuộc Hội thảo này kết luận đựoc chưa?

2. Năm 1010, khi vua Lê Long Đĩnh mất, Lý Công Uẩn 35 tuổi đang giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ được lực lượng của quan Chi hậu Đào Cam Mộc cùng với sư Vạn Hạnh đã tôn ông lên làm vua đặt niên hiệu là Thuận Thiên. Tháng 7, Thuận Thiên nguyên niên (1010) ông cho rời đô về thành Đại La. Đánh giá về lý do và dữ liệu lịch sử việc này ?

3. Khi ra đến La Thành, Thái Tổ lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên trời nên đổi tên Đại La thành sang Thăng Long thành, và cải Hoa Lư làm Trường An phủ và Cổ Pháp làm Thiên Đức phủ. Việc chọn nơi đây làm kinh đo có ảnh hưởng bởi những người trước đó (có Cao Biền) đã chọn hay không? Việc đặt tên?

4. Ý nghĩa về việc làm của vị vua khai sáng Vương triều này trong việc chăm lo đến đạo Phật, sửa sang chính sự, đặt nền tảng cho nhiều chính sách mới.

5. Vai trò của Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054--1072) có nhiều công lao trong việc định đô (Thăng Long, 1010), đặt quốc hiệu (Đại Việt từ tháng 10 âm lịch năm 1054 khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi), sửa sang chính sự, mở khoa thi đầu tiên (02/1075), đánh tan quân Tống (1076), đòi đất nhà Tống lấn, giao hảo tốt với các nước, được vua Tống chính thức phong Vương ( An Nam Quốc vương cho Lý Anh Tông vào năm 1164) thu phục được các tù trưởng thiểu số, thực hiện bước Nam tiến đầu tiên (1069) … Về cuộc chiến Lý-Tống, dân gian có câu:

Nực cười châu chấu chống xe,
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng.

6. Tác giả thực sự bài “Nam quốc sơn hà” thường được coi là bảnTuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt.

7. Nguyên nhân suy tàn của Vương triều. Lịch sử ghi nhận rằng: Lý Nhân Tông (1072-1127) là vua trị vì lâu nhất trong lịch sử Việt Nam (56 năm) nhưng người kế nghiệp là Lý Thần Tông (1128-1138) không con. Kết cục là nhà Lý bắt đầu suy tàn từ thời vua Lý Cao Tông (1175-1210).

9. Nhà Lý chấm dứt khi vua Lý Chiêu Hoàng (1224-1225), khi đó mới có 8 tuổi bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225. Việc Trần Thủ Độ “Đảo chính cung đình” thành công để lại bài học gì cho nhậu thế?

10. Trong thời kỳ nhà Lý (216 năm) vai trò của Nguyên phi Ỷ Lan Lê Thị Yến (1044–1117), của tướng quân Lý Thường Kiệt (李常傑 tên thật là Ngô Tuấn, 1019–1105), các nhân vật có nhiều công lao và tài năng Lê Phụng Hiểu, Lý Đạo Thành, Lê Văn Thịnh...vẫn còn nhiều khoảng trống trong sử liệu mà tôi được đọc. Ỷ Lan công tội ra sao? Ngô Tuấn có phải là người được ban Quốc tính đầu tiên không? Vụ án “Lê Văn Thịnh hoá hổ”…

11. Chuyện Hoàng tử (Lý Long Tường) sang Cao Ly sinh sống, lập nhiều chiến công và lập ra dòng họ Lý Hàn Quốc ngày nay ?. Lý Long Tường là con thứ của vua Lý Anh Tông, em của vua Lý Cao Tông và là chú của vua Lý Huệ Tông hay do hiền phi Lê Mỹ Nga sinh vào năm Giáp Ngọ 1174 ? Kiến Hải vương Lý Dương Côn, đô đốc thủy quân, cũng mang gia quyến lên thuyền lưu vong đến Cao Ly vào năm 1150 quan hệ thế nào với Lý Long Tường và hậu duệ của 2 Vương tử này có liên hệ với nhau không?. Lý Thừa Vãn (이승만, Syngman Rhee, 1875-1965) từng là tổng thống Đại Hàn dân quốc có phải là hậu duệ của Hoàng tử triều Lý không?

12. Ngoài việc xây thành Thăng Long, nhà Lý vốn sùng đạo Phật nên đã cho xây dựng rất nhiều chùa tháp. Trong đó đáng kể là chùa Một Cột (tức Diên Hựu tự 延侑寺, xây năm 1049), chùa Sùng Khánh (崇慶寺,Lý Thánh Tông cho dựng 1056), Tư Thiên Bảo tháp (1057). Chính triều đại này đã đưa múa rối nước thành môn nghệ thuật duy trì tới nay. Từ đây tín ngưỡng Thần Ðồng Cổ (Thần Trống Ðồng) được triều đình chính thức áp dụng. Thần Hoàng Thổ thần cùng với Tam giáo, Phật Nho và Lão với Phật giáo ảnh hưởng chính. Tư tưởng này trải tới đới Trần. Ngoài ra còn những gì nữa?

13. Một thời đại oai hùng và bi thương như thế, với nhiều chiến công và còn lắm tồn nghi như vậy...chắc không thiếu đất để các nhà viết truyện, làm phim cày xới. Nhưng sao ta không thấy những bộ phim hoành tráng cỡ đàn em của TH nhỉ? Dự án phim Lý Thái Tổ rầm rộ một thời nay sao rồi?


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: linhtapsu trong 23 Tháng Mười Một, 2009, 07:52:38 pm
Bài viết của bạn menthuong đưa ra những cái rất hay , mình cũng có 1 số kiến thức ít ỏi :
Thân thế của Lý Thái Tổ thực ra đến bây giờ cũng còn rất nhiều tranh cãi , các sử gia cũng đưa ra rất nhiều ý kiến không giống nhau , mới đây BBC còn có 1 bài giả thuyết về thân thế của vua Lý Thái Tổ : http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2009/11/091122_lyconguan.shtml
Còn việc vua Lý Thái Tổ lên ngôi thay vua Lê Ngọa Triều cũng hợp lý thôi , bởi nước ta lúc đó cũng cần 1 người tài để lãnh đạo , nhà Tống lúc đó đang trong giai đoạn thịnh vượng nhất lúc nào cũng nhăm nhe nước ta . Nhưng có lẽ cái cách ông lên ngôi cũng không được minh bạch cho lắm có rất nhiều sách sử chê trách ông về việc này như Đại Việt Sử ký tiền biên , Khâm Định Việt sử của thời Nguyễn :
Trích 1 đoạn Đại Việt Sử ký nhé :
Vạn Hạnh mới bảo Lý Công [32a] Uẩn rằng:
"Mới rồi tôi thấy chữ bùa sấm kỳ lạ, biết họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp. Nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng Thân vệ là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại đang nắm binh giữ quyền trong tay, đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân vệ thì còn ai đương nỗi nữa. Tôi đã hơn 70 tuổi rồi, mong được thư thả hãy chết, để xem đức hóa của ông như thế nào, thực là cái may nghìn năm có một". Công Uẩn sợ câu nói ấy tiết lộ, bảo người anh đem Vạn Hạnh giấu ở Tiêu Sơn366 . Song từ ấy cũng lấy thế tự phụ mới nảy ra lòng nhòm ngó ngôi vua, mà người ta cũng quy phụ.
.... Hôm sau Cam Mộc lại bảo Công Uẩn: "Người trong nước ai cũng nói họ Lý khởi nghiệp lớn, lời sấm đã hiện ra rồi, đó là cái họa không thể che dấu được nữa. Chuyển họa làm phúc, chỉ trong sớm chiều. Đây là lúc trời trao người theo, Thân vệ còn nghi ngại gì nữa?". Công Uẩn nói:" Tôi đã hiểu rỏ ý ông, không khác gì ý của Vạn Hạnh, nếu thực như lời ấy thì nên tính kế thế nào ?". Cam Mộc nói:" Thần Vệ là người khoan thứ, nhân từ, lòng người chịu theo. Hiện nay trăm họ mỏi mệt kiệt quệ, dân không chịu nổi, Thân vệ nên nhân đó lấy ân đức mà vỗ về, thì người ta tất xô nhau kéo về như nước chảy chỗ thấp, có ai ngăn được!". Cam Mộc biết việc cần kíp, sợ sinh biến, mới nói chuyện với khanh sĩ và các quan, ai cũng vui theo. Ngay ngày hôm ấy, điều họp cả ở trong triều, bàn rằng:" Hiện nay, dân chúng ức triệu khác lòng, trên dưới lìa [33b] bỏ, mọi người chán ghét tiên đế hà khắc bạo ngược, không muốn theo về vua nối mà đều có lòng suy tôn quan Thân vệ, bọn ta không nhân lúc này cùng nhau sách lập Thân vệ làm thiên tử, lỡ bối rối có xảy ra tai biến gì, liệu chúng ta có giữ được cái đầu hay không?".
 Thế rồi cùng nhau dìu Công Uẩn lên chính điện, lập làm thiên tử, lên ngôi Hoàng đế. Trăm quan đều lạy rạp dưới sân, trong ngoài đều hô "vạn tuế", vang dậy cả trong triều. Đại xá cho thiên hạ, lấy năm sau làm niên hiệu Thuận Thiên năm đầu. Đốt giềng lưới, bãi ngục tụng, xuống chiếu từ nay ai có việc tranh kiện cho đến triều tâu bày, vua thân xét quyết. Các quan dâng tôn hiệu là "Phụng Thiên Chí Lý ứng Vận Tự Tại Thánh Minh Long Hiện Duệ Văn Anh Vũ Sùng Nhân Quảng Hiếu Thiên Hạ Thái Bình Khâm Minh Quang Trạch Chương Minh Vạn Bang Hiển Ứng Phù Cảm Uy Chấn Phiên Man Duệ Mưu Thần Trợ Thánh Tri Tắc Thiên Đạo Chính Hoàng Đế.

Thực ra Cao Biền là 1 nhà phù thủy và địa lý rất giỏi , khi sang nhận chức Tiết độ sứ cai quản nước ta ông ta đã cho đắp lại thành Đại La ( trước đó đã có rồi ) để yểm long mạch hơn nữa có lẽ ông ta nhận ra đây là vùng trung tâm của Châu Giao . Mình nghĩ vua Lý Thái Tổ có tầm nhìn rất lớn trong Đại Việt sử ký có đoạn :
Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng: "Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại [2b] không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương377 , ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?"

.. Còn về bài thơ " Nam Quốc Sơn Hà " đa phần các cuốn sử đều chép đó là bài thơ của Lý Thường Kiệt nhưng cũng có các tác giả khẳng định bài thơ được sáng tác thời Tiền Lê và cũng được Lê Hoàn vận dụng, trong đó bài thơ có một vài chữ sai khác với văn bản mọi người thường biết. Trên thực tế,tư liệu để lại xác đáng hơn cả viết bài thơ này được Lê Hoàn sử dụng là sách Lĩnh Nam trích quái.

Nhà Lý rất sùng đạo Phật ngoài chùa Một Cột và các chùa khác nhà Lý còn xây dựng được 2 trong Tứ Đại Khí của nước ta 4 vật quốc bảo của nước ta thì 2 được xây dựng vào thời nhà Lý là Tháp Báo Thiên và chuông Quy Điền , nhưng cũng có rất nhiều sử gia phê phán nhà Lý vì quá sùng bái đạo Phật :
Lê Văn Hưu nói: Lý Thái Tổ lên ngôi mới được 2 năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà trước đã dựng tám chùa ở phủ Thiên Đức, lại trùng tu chùa quán ở các lộ và độ cho làm tăng hơn nghìn người ở Kinh sư, thế thì tiêu phí của cải sức lực vào việc thổ mộc không biết chừng nào mà kể. Của không phải là trời mưa xuống, sức không phải là thần làm thay, há chẳng phải là vét màu mỡ của dân ư? Vét máu mỡ của dân có thể gọi là làm việc phúc chăng? Bậc vua sáng nghiệp, tự mình [4a] cần kiệm, còn lo cho con cháu xa xỉ lười biếng, thế mà Thái Tổ để phép lại như thế, chả trách đời sau xây tháp cao ngất trời, dựng cột chùa đá, điện thờ Phật, lộng lẫy hơn cung vua. Rồi người dưới bắt chước, có kẻ hủy thân thể, đổi lối mặc, bỏ sản nghiệp, trốn thân thích, dân chúng quá nửa làm sư sãi, trong nước chỗ nào cũng chùa chiền, nguồn gốc há chẳng phải từ đấy?

Mệt quá bài viết của mình cũng hơi dài rồi mai viết tiếp có gì các bạn khác tiếp tục nhé !












Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: caytrevietnam trong 24 Tháng Mười Một, 2009, 12:19:55 am
1. Người khởi đầu cho nhà Lý là Lý Công Uẩn. Lý Thái Tổ (李太祖; tên húy là Lý Công Uẩn 李公蘊; 974–1028) là người ở làng Cổ Pháp, nay là xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Nhưng thân phận của Lý Công Uẩn thấy nặng về giai thoại, đượm mầu Phật giáo không hiểu cuộc Hội thảo này kết luận đựoc chưa?

Sử sách và giai thoại về vấn đề thân thế của ông vua này rất đa dạng, mờ ảo, nhất là vè người cha (nào là thần nhân, bạch hầu, người ăn mày, sư Vạn Hạnh, sư Khánh Văn...) thế nhưng trong ĐVSKTT có đoạn chép về tước hiệu của người cha này khi Lý Công Uẩn lên ngôi đã phong cho

Gốc gác, quê quán cũng vậy. Từ xưa ở bên Tàu đã đồn đại về quê gốc Mân của vua Lý nhưng có lẽ cái này 1 phần do ông Tiến sĩ họ Từ tung tin chăng? vì trước khi quân Việt do Lý Thường Kiệt kéo vào đất Tống, tiến sĩ bất mãn họ Từ đã tung nhiều tin, trong đó có tin do vua Lý vốn gốc người Mân nên ở nước Việt có nhiều người Mân được dùng làm quan

2. Năm 1010, khi vua Lê Long Đĩnh mất, Lý Công Uẩn 35 tuổi đang giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ được lực lượng của quan Chi hậu Đào Cam Mộc cùng với sư Vạn Hạnh đã tôn ông lên làm vua đặt niên hiệu là Thuận Thiên. Tháng 7, Thuận Thiên nguyên niên (1010) ông cho rời đô về thành Đại La. Đánh giá về lý do và dữ liệu lịch sử việc này ?

Lê Long Đĩnh mất vào năm 1009 chứ bác
Vụ tôn lên ngôi này thực ra là đảo chính cung đình do giới quân đội và tăng quan "cấu kết"  ;D. Cái chết của vua Lê cũng đầy mờ ám.

Ngoài các lý do dời đô được viết trong chiếu thì có lẽ 1 lý do khác là muốn tránh xa đất Hoa Lư nơi còn nhiều tình cảm của dân chúng với nhà Lê

3. Khi ra đến La Thành, Thái Tổ lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên trời nên đổi tên Đại La thành sang Thăng Long thành, và cải Hoa Lư làm Trường An phủ và Cổ Pháp làm Thiên Đức phủ. Việc chọn nơi đây làm kinh đo có ảnh hưởng bởi những người trước đó (có Cao Biền) đã chọn hay không? Việc đặt tên?

Việc chọn kinh đó về văn bản thì theo đất tốt của Cao Biền chọn, nhưng chắc là muốn gần quê hương hơn. Còn rồng vàng kia chắc là khi đoàn thuyền về đến Đại La vào tầm chiều hoặc vào lúc thời tiết có thay đổi mà trên trời hiện lên vệt mây vàng (giống kiểu hiện tuợng vảy rồng ở bầu trời Hà Nội mấy tháng trước ấy)  :D

4. Ý nghĩa về việc làm của vị vua khai sáng Vương triều này trong việc chăm lo đến đạo Phật, sửa sang chính sự, đặt nền tảng cho nhiều chính sách mới.

Từ nhỏ được nuôi dưỡng, giáo dục trong chùa, lên ngôi nhờ sự ủng hộ của giới tu hành, tăng quan trong triều. Thử hỏi sao lại không "báo đáp" ơn sâu, 1 mặt là củng cố thêm lực lượng, thế lực cho chính quyền? Còn đưa ra các chính sách mới là chuyện đương nhiên của mỗi vị vua khi lên ngôi (các quan ta ngày nay cũng thế còn gì, như trong ngành giáo dục ấy)

5. Vai trò của Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054--1072) có nhiều công lao trong việc định đô (Thăng Long, 1010), đặt quốc hiệu (Đại Việt từ tháng 10 âm lịch năm 1054 khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi), sửa sang chính sự, mở khoa thi đầu tiên (02/1075), đánh tan quân Tống (1076), đòi đất nhà Tống lấn, giao hảo tốt với các nước, được vua Tống chính thức phong Vương ( An Nam Quốc vương cho Lý Anh Tông vào năm 1164) thu phục được các tù trưởng thiểu số, thực hiện bước Nam tiến đầu tiên (1069) … Về cuộc chiến Lý-Tống, dân gian có câu:

Nực cười châu chấu chống xe,
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng.

Vai trò, công lao của các vua này có thể thấy qua 1 số lời bình viết trong chính sử (kể cả lỗi lầm nữa). Riêng về vấn đế Nam tiến, nền móng đầu tiên của tiến trình này là do Lê Đại Hành thực hiện trước nhất.

6. Tác giả thực sự bài “Nam quốc sơn hà” thường được coi là bảnTuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt.

Đúng như bác Pan nói, 1 số tư liệu cho biết bài thơ này có từ thời Tiền Lê với nội dung khác chút ít. Còn ai viết thì chịu luôn vì đó là lời thần nói  :D. Cụ Thường Kiệt có thể sử dụng lại, sửa chữa chút ít cho phù hợp (đây không phải là trường hợp duy nhất, các bác đọc thơ của Lê Thánh Tông sẽ thấy có bài mà đời sau có thể "xào" lại, như bài Đánh đu của Hồ Xuân Hương, hay bài vịnh tượng đá khỏa thân trong truyện Trạng Quỳnh)  ;D

7. Nguyên nhân suy tàn của Vương triều. Lịch sử ghi nhận rằng: Lý Nhân Tông (1072-1127) là vua trị vì lâu nhất trong lịch sử Việt Nam (56 năm) nhưng người kế nghiệp là Lý Thần Tông (1128-1138) không con. Kết cục là nhà Lý bắt đầu suy tàn từ thời vua Lý Cao Tông (1175-1210).  

Nguyên nhân suy tàn của 1 triều đại đều như nhau cả (ăn chơi, dâm dục...) chứ ko phải vì không có con  ;D và vua không có con trai kế vị là Lý Nhân Tông chứ không phải Lý Thần Tông bác ạ

9. Nhà Lý chấm dứt khi vua Lý Chiêu Hoàng (1224-1225), khi đó mới có 8 tuổi bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225. Việc Trần Thủ Độ “Đảo chính cung đình” thành công để lại bài học gì cho nhậu thế?

Không để lại bài học gì bác ạ!  ;D mà chỉ có thể cung cấp thêm chứng cứ cho câu nói "SỐ TRỜI ĐÃ ĐỊNH"  ;D. Nếu là bài học thì sao trước đó chuyện hôn nhân của con cái mà mất nước giữa An Dương vương và Triệu Việt vương giống nhau thế? Rồi Trần Thủ Độ bắt hôn nhân nội tộc để tránh, cuối cùng có tránh được đâu, Hồ Quý Ly cũng nhờ hôn nhân mà đoạt được ngôi đó thôi

10. Trong thời kỳ nhà Lý (216 năm) vai trò của Nguyên phi Ỷ Lan Lê Thị Yến (1044–1117), của tướng quân Lý Thường Kiệt (李常傑 tên thật là Ngô Tuấn, 1019–1105), các nhân vật có nhiều công lao và tài năng Lê Phụng Hiểu, Lý Đạo Thành, Lê Văn Thịnh...vẫn còn nhiều khoảng trống trong sử liệu mà tôi được đọc. Ỷ Lan công tội ra sao? Ngô Tuấn có phải là người được ban Quốc tính đầu tiên không? Vụ án “Lê Văn Thịnh hoá hổ”…

Công tội bà Ỷ Lan đã rõ mà, các tên gọi của bà cũng được liệt kê. Một số vấn đề như vụ án hóa hổ cũng được đem ra bàn thảo nhiều trên các diễn đàn, sách vở

11. Chuyện Hoàng tử (Lý Long Tường) sang Cao Ly sinh sống, lập nhiều chiến công và lập ra dòng họ Lý Hàn Quốc ngày nay ?. Lý Long Tường là con thứ của vua Lý Anh Tông, em của vua Lý Cao Tông và là chú của vua Lý Huệ Tông hay do hiền phi Lê Mỹ Nga sinh vào năm Giáp Ngọ 1174 ? Kiến Hải vương Lý Dương Côn, đô đốc thủy quân, cũng mang gia quyến lên thuyền lưu vong đến Cao Ly vào năm 1150 quan hệ thế nào với Lý Long Tường và hậu duệ của 2 Vương tử này có liên hệ với nhau không?. Lý Thừa Vãn (이승만, Syngman Rhee, 1875-1965) từng là tổng thống Đại Hàn dân quốc có phải là hậu duệ của Hoàng tử triều Lý không?  

Thông tin về những người này gần đây có nhiều, nhưng chắc chắn khi ở Hàn họ không biết nhau hoặc có liên hệ.

Còn Lý thừa Vãn khi sang Nam VN chính mồm ông ấy nói là con cháu họ Lý gốc Việt

12. Ngoài việc xây thành Thăng Long, nhà Lý vốn sùng đạo Phật nên đã cho xây dựng rất nhiều chùa tháp. Trong đó đáng kể là chùa Một Cột (tức Diên Hựu tự 延侑寺, xây năm 1049), chùa Sùng Khánh (崇慶寺,Lý Thánh Tông cho dựng 1056), Tư Thiên Bảo tháp (1057). Chính triều đại này đã đưa múa rối nước thành môn nghệ thuật duy trì tới nay. Từ đây tín ngưỡng Thần Ðồng Cổ (Thần Trống Ðồng) được triều đình chính thức áp dụng. Thần Hoàng Thổ thần cùng với Tam giáo, Phật Nho và Lão với Phật giáo ảnh hưởng chính. Tư tưởng này trải tới đới Trần. Ngoài ra còn những gì nữa?

Còn nhiều cái nữa ạ: như sự phát triển của nho giáo, thi cử; xây dựng luật pháp với bộ luât thành văn đầu tiên, chữ nôm phát triển, chính sách tiền lương cho quan quân...
(Riêng cái gọi là tín ngưỡng Thần đồng cổ có vẻ không chính xác bác ạ, đó chỉ là một nhân vật thờ phụng như các nhân vật khác trong hệ thống thờ cúng thôi, nó có phổ thông đâu mà gọi là tín ngưỡng)

13. Một thời đại oai hùng và bi thương như thế, với nhiều chiến công và còn lắm tồn nghi như vậy...chắc không thiếu đất để các nhà viết truyện, làm phim cày xới. Nhưng sao ta không thấy những bộ phim hoành tráng cỡ đàn em của TH nhỉ? Dự án phim Lý Thái Tổ rầm rộ một thời nay sao rồi?
[/quote]

Trả lời đoạn 1: ĐÚng ạ (và không chỉ có triều đại này mà các triều đại khác cũng đau thuơng, oai hùng không kém). Các nhà viết truyện, tiểu thuyết thì đã cày xới 1 thời gian rồi, còn phim thì mới ở "thời ký quá độ" nên phim bình thường còn ít ỏi nói gì đến phim hoành tráng

Trả lời đoạn 2: Phim đó "teo" rồi


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 25 Tháng Mười Một, 2009, 01:18:27 pm
Người mở đầu Vương triều Lý

...Vị vua khai sáng này rõ ràng có một sự nghiệp vĩ đại và hiển hiện, nhưng lại có một lai lịch không hề rõ ràng. Ngay cái tên Lý Công Uẩn, theo GS Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển kiêm Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội, dường như cũng mang tính biểu trưng của một làng quê đầy huyền bí (hương Diên Uẩn, sau đổi thành hương Cổ Pháp), chứ khó ai có thể biết rõ tên thật của ông.

Mặt khác, các bộ sử cũ của Việt Nam, hoặc không chép đến, hoặc không xác định được ai là cha của Lý Công Uẩn. Sách Đại Việt sử ký toàn thư, dựa theo truyền thuyết dân gian, chỉ kể chuyện mẹ ông “đi chơi chùa Tiêu Sơn, cùng với người thần giao hợp rồi có chửa, sinh vua ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình năm thứ 5 (974) thời Đinh”. Nhưng cũng có tài liệu nói rằng Lý Thái Tổ là con của Thần Khỉ, con của Lão Sa Môn, Thánh tổ Hiển Tông hay thậm chí là con của thiền sư Vạn Hạnh. Lại có giả thuyết Lý Công Uẩn sở dĩ mang họ Lý là vì Vạn Hạnh đã “bố trí” cho em ruột Lý Khánh Văn nhận vua Lý làm con nuôi để hợp thức hóa tên họ Lý cho người con trai đích thực của mình.

Lý Công Uẩn không phải người gốc Mân

GS Nguyễn Quang Ngọc đã bước đầu đưa ra kết luận mới có phần đảo ngược những hiểu biết trước đây về nhân vật Lý Công Uẩn. Bằng những cứ liệu khoa học, trong đó quan trọng nhất là văn bia Lý gia linh thạch lập năm 1793 tại chùa Tiêu Sơn có ghi: “Đắc Đông Ngàn Hoa Lâm nhan Phạm Mẫu tiêu dao kỳ tự”, ông Ngọc cho rằng Dương Lôi (Từ Sơn, Bắc Ninh) là quê nội và Hoa Lâm (xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Hà Nội) là quê ngoại của vua nhà Lý.

Cũng về vấn đề nguồn gốc nhà Lý, trong khi nhiều sử sách “huyền thoại hóa” và “thần thánh hóa” nhân vật Lý Công Uẩn, thì GS Nguyễn Quang Ngọc xác định thân phụ Lý Thái Tổ không phải là “thần nhân” mà là người thật, gia đình Lý Công Uẩn tuy gặp hoàn cảnh éo le nhưng Lý Công Uẩn vẫn có đầy đủ cả cha lẫn mẹ. Ông Ngọc đã “giải ảo” bằng cách xác định chính xác vị trí của ngôi mộ Hiển Khánh Vương, thân phụ Lý Thái Tổ, trong khu Rừng Miễu làng Dương Lôi, tức khu cánh đồng giáp giới giữa Đình Bảng, Đình Sấm, Đại Đình.

Câu chuyện Đình Bảng hay Dương Lôi mới đích thị là quê nội Lý Thái Tổ cũng là câu hỏi làm đau đầu không ít nhà sử học. Tất cả các bộ sử cũ đều chép Lý Công Uẩn là người châu Cổ Pháp. Song, trên thực tế, Cổ Pháp thời Lý quy mô ra sao và làng nào là làng quê gốc của nhà Lý, thì lại không dễ trả lời. Theo GS Nguyễn Quang Ngọc, đã có một thời, hễ nói đến quê hương nhà Lý là người ta nghĩ ngay đến làng Đình Bảng (nay là phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, Bắc Ninh), mặc dù ai cũng biết hương Cổ Pháp (hay châu Cổ Pháp) thời Lý không phải chỉ có một làng Đình Bảng. Thế nhưng, nhiều người đã đơn giản đồng nhất châu (hay hương) Cổ Pháp thời Lý với làng Cổ Pháp - được cho là làng Đình Bảng, và quy tất cả những vấn đề về quê hương nhà Lý hay có liên quan đến quê hương nhà Lý vào riêng làng Đình Bảng. Trên thực tế, GS Nguyễn Quang Ngọc cho rằng làng Đình Bảng, dù đã được nghiên cứu nhiều, khảo sát nhiều, nhưng hầu như không có dấu tích đáng kể nào về gia đình (cha, mẹ), dòng họ hay sự sinh trưởng của Lý Công Uẩn. Đình Bảng cũng chưa bao giờ thờ các vị vua nhà Lý làm thành hoàng làng. Đền Đô thờ 8 vị vua nhà Lý, nhưng nguyên thủy thì không phải là đền hay miếu của làng Đình Bảng.

Cũng theo GS Ngọc, khu rừng Báng đúng là dấu tích còn lại của Thọ Lăng nhà Lý, nhưng Thọ Lăng không phải là đất của riêng làng Đình Bảng. Hơn nữa, nhiều nguồn tư liệu cho thấy bà Phạm Thị - thân mẫu Lý Công Uẩn, chỉ gắn bó với Dương Lôi và khi chết được chôn cất tại Dương Lôi, đúng như phong tục phổ biến của người Việt về cuộc đời người phụ nữ: sinh quê cha, thác làm ma quê chồng. Như vậy, theo GS Ngọc, Dương Lôi, chứ không phải Đình Bảng, mới đúng là gốc gác của Lý Thái Tổ. Bà Phạm Thị đã sinh Lý Công Uẩn tại đây. Lý Công Uẩn lớn lên ở đây, và khi làm nên công danh sự nghiệp cũng gắn chặt với nơi đây.

PGS-TSKH Nguyễn Hải Kế, Chủ nhiệm khoa Lịch sử, ĐH KHXH-NV, ĐH Quốc gia Hà Nội, và Ths Nguyễn Ngọc Phúc cũng bóc tách vấn đề “gốc người Mân” của Lý Công Uẩn và chứng minh những cứ liệu mà các sử gia Trung Quốc dựa vào để khẳng định “nguồn gốc Mân” (Phúc Kiến, Trung Quốc) của Lý Công Uẩn, như Mộng Khê bút đàm, Tốc thủy ký văn hay bức thư của Từ Bá Tường viết cho Đại Việt vào năm 1076 và cả Lý trang Chử Nội Lý thị phòng phả là không đáng tin cậy vì có rất nhiều nhầm lẫn, sai sót về số liệu, sự kiện, nhân vật.

Nguồn: http://www.lyhocdongphuong.org.vn/diendan/index.php?s=0dbc57f20df009607e985e0920a605f8&showtopic=9591&pid=58262&st=0&#entry58262


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 25 Tháng Mười Một, 2009, 01:34:09 pm
Dự án phim Lý Thái Tổ rầm rộ một thời nay sao rồi?[/color]

Trả lời đoạn 2: Phim đó "teo" rồi


Quyết định thành lập Đoàn làm phim Thái tổ Lý Công Uẩn

Ban biên tập: NGND Lê Đăng Thực
                  Nhà sử học Lê Văn Lan
                  Nhà văn Lê Ngọc Minh
                  NSƯT Vũ Xuân Hưng


Chỉ đạo nghệ thuật và Giám đốc sản xuất: NSƯT Lê Đức Tiến


Đạo diễn: NSƯT Lưu Trọng Ninh

Đỗ Minh Tuấn (Phụ trách các cảnh Kỹ xảo và Chiến tranh)


Quay phim: NSND Nguyễn Hữu Tuấn

NSƯT Lý Thái Dũng


Thiết kế mỹ thuật và dựng cảnh: NSƯT Phạm Quốc Trung


Họa sĩ phục trang: TS Đoàn Thị Tình


Họa sĩ phụ trách đạo cụ: NSƯT Vũ Huy

Nguyễn Dân Nam


Chủ nhiệm: Lê Mạnh Tuấn

Lê Hồng Sơn

(Nguồn: http://vietbao.vn/Van-hoa/Phim-Ly-Cong-Uan-co-khong-chi-2-ong-dao-dien/20769742/181/)


Một đội ngũ hùng hậu thế mà hoạt động như vậy kể cũng tiếc!


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: thapbut trong 25 Tháng Mười Một, 2009, 03:08:41 pm
Bác menthuong ơi! Tiếc là mất thời gian, tiền của đã bỏ thôi. Mừng là không mất tiền thêm cho những sản phẩm chẳng ra hồn Việt. Nếu không thành công thì tên tuổi các vị nêu trên cũng là một vấn đề không hay trước đại lễ 1000 năm Thăng Long.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: linhtapsu trong 25 Tháng Mười Một, 2009, 03:54:47 pm
Đúng đây mình thấy dừng không làm phim này thì hơn ,chứ  làm xong nhìn nước ta mọi người chắc lại tưởng nước Tàu  :-\


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 25 Tháng Mười Một, 2009, 05:49:33 pm
Nghe nói chưa dừng mà mới chỉ là "giãn tiến độ" thôi!

Dù gì thì cũng phải làm rõ (bởi chắc chắn đã tốn không ít tiền rồi) nguyên nhân:

- Do không đủ 200 tỷ?
- Do kịch bản kém?
- Do trường quay không có?
- Do thiếu diễn viên?
- Do chưa thống nhất được trang phục hồi đó?
- Do "va chạm" giữ bên đặt hàng và bên sản xuất?
- Do vân vân....

Đại lễ kỷ niệm 1000  năm Thăng Long mà không có phim về Lỹ Công Uẩn, về chuyện dời đô thì cũng hẫng quá!


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: caytrevietnam trong 25 Tháng Mười Một, 2009, 09:58:37 pm
Nghe nói chưa dừng mà mới chỉ là "giãn tiến độ" thôi!

Dù gì thì cũng phải làm rõ (bởi chắc chắn đã tốn không ít tiền rồi) nguyên nhân:

- Do không đủ 200 tỷ?
- Do kịch bản kém?
- Do trường quay không có?
- Do thiếu diễn viên?
- Do chưa thống nhất được trang phục hồi đó?
- Do "va chạm" giữ bên đặt hàng và bên sản xuất?
- Do vân vân....

Đại lễ kỷ niệm 1000  năm Thăng Long mà không có phim về Lỹ Công Uẩn, về chuyện dời đô thì cũng hẫng quá!

Có những câu hỏi bác menthuong đặt ra rất hay, nhưng cũng có câu hỏi đặt ra không phải vì bác không biết mà chắc là muốn có thêm ý kiến của mọi người chăng? Về lý do vì sao bộ phim Lý Công Uẩn chưa tiến hành đã "lởm khởm" rồi thì cách đây mấy tháng báo chí đã cày xới rất rõ, bác cho thể hỏi chú Gúc, chứ nhìn 1 loạt cái Do ở trên của bác, em hoa mắt quá


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 26 Tháng Mười Một, 2009, 12:00:56 pm

Ngoài các lý do dời đô được viết trong chiếu thì có lẽ 1 lý do khác là muốn tránh xa đất Hoa Lư nơi còn nhiều tình cảm của dân chúng với nhà Lê


Nguyên nhân dời đô:

1.   Do kinh đô cũ không còn thích hợp:

Người mở đầu nền tự chủ phong kiến Việt Nam vào năm 939 là Ngô Quyền (吳權; 898–944, quê ở Đường Lâm, Ba Vì) đóng đô ở Cổ Loa, đặt các chức quan văn võ, quy định nghi lễ trong triều mang tính tập quyền.

Trong bối cảnh Loạn 12 sứ quân (966-968), Đinh Bộ Lĩnh tập hợp dân chúng vùng Hoa Lư, chiêu mộ binh lính, chống nhà Ngô và các sứ quân khác. Nhờ sự giúp đỡ và giao quyền của sứ quân Trần Minh Công ở Bố Hải Khẩu (Vũ Thư, Thái Bình), chỉ trong vài năm, Đinh Bộ Lĩnh lần lượt đánh thắng 11 sứ quân khác. Năm Mậu Thìn 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.

Hoa Lư là kinh đô đầu tiên của nhà nước phong kiến tự chủ Trung ương tập quyền ở Việt Nam. Kinh đô này tồn tại 42 năm (968 - 1010), gắn với sự nghiệp của ba triều đại liên tiếp là nhà Đinh (968-990), nhà Tiền Lê (980-1009) và nhà Lý (1009-1010) với các dấu ấn lịch sử: thống nhất giang sơn, đánh Tống - dẹp Chiêm.

Hoa Lư là một nơi núi non hiểm trở làm nơi đóng đô chỉ với dụng ý phòng thủ, xây dựng chính quyền còn non trẻ nhưng hẹp, bao bọc bởi núi non, khó phát triển mở mang khi đất nước đã ổn định phát triển. Hơn nữa trong Chiếu dời đô, Lý Công Uẩn đã chỉ rõ: “… hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp…”. Một điều nữa là phong thuỷ nơi đây “có long mạch gọi là thế Âm lai Dương thụ. Đó là thế đất cường (cương mãnh), khí tiêu tán ở bên trên mà ngưng tụ ở bên dưới. Thiên huyệt kết ở chỗ thấp nhất. Long mạch Hoa Lư lợi cho phòng thủ, chiến tranh, có thể lập nghiệp đấy nhưng phúc trạch không dài”.

Và, theo tôi  bác caytrevietnam đã đúng khi cho rằng: “Ngoài các lý do dời đô được viết trong chiếu thì có lẽ 1 lý do khác là muốn tránh xa đất Hoa Lư nơi còn nhiều tình cảm của dân chúng với nhà Lê”.

2.   Vùng đất Đại La:

2.1.   Có lịch sử lâu đời, đã được xây đắp thành thành luỹ:

Hà Nội có cội nguồn từ làng Long Đỗ ven sông Tô với trung tâm là núi Nùng. Đến năm 544, Lý Bí (503-548) nổi lên đánh đuổi quan lại nhà Lương, xưng Hoàng đế lấy hiệu là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, cho xây dựng kinh đô ở miền cửa sông Tô Lịch (Hà Nội) và cho dựng điện Vạn Thọ làm nơi vua quan họp bàn việc nước. Đây là tòa thành đầu tiên dựng ở đất nội thành Hà Nội được ghi chép trong sử sách. Sau đó nhiều thành lũy nối nhau được xây dựng trên đất này.
Quy mô các tòa thành ngày càng được mở rộng, có nghĩa là dãi đất này ngày càng phát triển, quan trọng hơn lên, bên cạnh thành hẳn đã có phố phường, chợ búa nhộn nhịp. Thời kỳ nhà Đường, An Nam được chia thành 12 châu với 50 huyện, Tống Bình là trung tâm của An Nam đô hộ phủ. Năm 866, viên tướng nhà Đường Cao Biền xây dựng một thành trì mới, Tống Bình được đổi tên thành Đại La – thủ phủ của Tĩnh Hải quân. Từ thế kỷ 10,Sang đầu thế kỷ XI, thành Đại La trở nên một chốn đô hội có sức hút lớn, lớn đến mức hút luôn cả kinh đô về phía mình.

2.2.   Có phong thuỷ đắc địa:

- Lý Thái Tổ khẳng định: “được thế rồng chầu hổ phục”
- Đại La giới hạn bởi ba con sông: sông Hồng ở phía Đông, sông Tô phía Bắc và sông Kim Ngưu phía Nam xa xa có núi Tản Viên là tổ sơn.
- Có người đã phân tích: “Càng đắc địa hơn vì trước khi chảy đến đất này, sông Hồng đã bao lần ngoằn ngoèo, uốn khúc để thải bớt khí hung. Đến đây vừa đủ để lập nên một vùng cát địa, có long mạch đạt tầm cỡ thượng đô kinh sư. Thế mà trước khi chảy ra với biển, dòng sông vẫn còn muốn ngoái lại, lưu luyến như tiếc nuối điều gì... Rồi cũng từ đại can long Hồng Hà vĩ đại ấy, tỏa ra các chi long, cước long... vây bọc, tạo nên bức gấm thêu giữa một vùng trời nước.
Cũng cần phải nói rằng Thăng Long (thành Đại La cũ) là một vùng đất ngưỡng diện (ngửa mặt lên trời), sách xưa gọi là thế Dương lai Âm thụ (khí dương phủ xuống, khí âm ngẩng lên đón). Đất này nhược (mềm mỏng), khí ngưng kết ở bên trên mà tiêu tán ở bên dưới. Địa huyệt kết ở nơi cao nhất, chính là khu vực có tên gọi núi Nùng ngày trước. Long mạch này không nộn (non), song cũng chưa phải lão (già), tuy "cát" đấy nhưng chưa hẳn đã hết khí "hung".

2.3. Địa hình bằng phẳng thoáng đãng, thông thương:

Lý Thái Tổ viết “….thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh.”

 Vừa có đất đai bằng phẳng, cao mà thoáng, lại tiện hướng nhìn sông  Hồng, sông Tô; dựa núi Tản Viên, có thể phát triển mọi mặt kinh tế, chính trị đến muôn đời sau.

Hơn nữa, theo tôi, Đại La gần quê hương của Lý Công Uẩn nên có thể dựa vào tình cảm chăng?

Tóm lại Nguyễn Lương Bích ngay từ 1960 đã rất có lý khi đưa ra nhận định trong cuốn Lịch sử thủ đô Hà Nội : “Lý Thái Tổ đã chọn miền Hà Nội, vì miền Hà Nội lúc ấy, ngoài những điều kiện thiên nhiên thuận lợi sẵn có, còn có những điều kiện kinh tế xã hội rất tốt để làm nền tảng cho việc xây dựng kinh thành mới được bền vững lâu dài. Những điều kiện kinh tế xã hội của miền Hà Nội thời ấy đã được Lý Thái Tổ nhận thấy và nói rõ trong bài Chiếu thiên đô”.

3. Quần thần nhất trí:

Khi được vua hỏi về việc dời đô ra Đại La, Bề tôi đều nói: "Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo". Vua cả mừng.

4. Ý nghĩa việc dời đô:

Ngày 2/11 năm Kỷ Dậu (tức 21/11/1009), tại Kinh đô Hoa Lư, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập ra Vương triều Lý (1009 – 1225). Năm sau, vào mùa thu tháng 7 năm Canh Tuất (tức khoảng 13/8 đến 10/9 năm 1010), Lý Thái Tổ tổ chức việc dời đô từ Hoa Lư ra ở thành Đại La. Khi thuyền đến nơi, đang tạm đỗ dưới thành thì bỗng có rồng vàng hiện lên thuyền ngự, nhân đó Lý Thái Tổ quyết định đổi tên thành là Thăng Long, tức rồng bay lên. Cải cố đô Hoa Lư làm Trường An phủ và Cổ Pháp làm Thiên Đức phủ. Theo PGS-TS Vũ Văn Quân, nhà Lý ra đời và dời đô ra Thăng Long đã chính thức khép lại một thế kỷ với dồn dập những sự kiện quân sự, với sự thay đổi liên tục các dòng họ, phản ánh một bước tiến lớn về tư duy quản lý đất nước, về trách nhiệm trước vận hội đi lên của đất nước trên con đường phục hưng và phát triển.

Từ đó đến nay, trừ 143 năm triều Nguyễn (1802-1945) di đô vào Huế (khi đó chữ Long trong Thăng Long được viết là 隆 với nghĩa thịnh vượng chứ không viết bằng chữ 龍 nghĩa là rồng), non sông đất nước ta dù phải trải qua bao vận hội và thử thách có lúc thăng trầm, Thăng Long vẫn là kinh đô. Đó là ở triều Trần (1225-1400),  nhà Lê sơ (1428 - 1527), nhà Mạc (1527-1533), nhà Lê Trung Hưng (1533-1789) với tên gọi Đông Đô. Từ 8/1945 là thủ đô của Việt Nam dân chủ cộng hoà và đang là Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976) với tên gọi: Thủ đô Hà Nội. Tất nhiên quy mô mọi mặt của Hà Nội ngày nay vượt xa thành Đại La cách đây 1000 năm!

Ấy mà theo một số "hãng thông tấn vỉa hè" thì đầu những năm 70 thế kỷ trước từng có ý định thiên đô sang phía Bắc sông Hồng đấy.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 27 Tháng Mười Một, 2009, 04:43:59 pm
Bàn về vị trí đắc địa của Đại La, có bài viết của Nhi Anh trên báo Nhân dân cuối tuần rất sâu.

Chú giải thêm về thế đất "Rồng cuộn hổ ngồi"

-Nhi Anh-

Văn Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) của vị vua khai sáng triều Lý, cũng là khai mở Kỷ nguyên Ðại Việt - Thái Tổ Lý Công Uẩn, cho thấy bậc quân vương - trí thức lớn uyên thâm cả Thiền học lẫn Nho học cùng kho tàng kiến thức phương Ðông đương thời, đã thấy rõ, đã thấu tỏ về mọi phương diện, rằng không đâu bằng đất Ðại La hội đủ các yếu tố của một "kinh sư của muôn đời".

Con mắt nhà chính trị ở Người thấy rõ ưu thắng của Ðại La về địa - chính trị, địa - kinh tế: "ở giữa nam bắc đông tây", "đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh", "chỗ hội họp của bốn phương". Và sự thấu tỏ cái thế đất nhiều ưu việt hơn so với một nhược điểm về địa - quân sự trong việc giữ thành: "có thế rồng (tức là sông-long-long mạch-Thanh Long...) cuộn, hổ (núi-Bạch Hổ...) ngồi", "hình thế núi sông sau trước", "chỗ cao mà sáng sủa" (đất kết, khí ngưng tụ), thì rõ ràng là từ con mắt của người am tường phong thủy học phương Ðông.
 
Những người hiểu biết về phong thủy học từ trước đến  nay tham khảo tài liệu của ông cha cùng lời truyền tụng dân gian, suy ngẫm và đã bàn luận ít nhiều trên sách, báo. Xin lược thuật giúp bạn đọc tham khảo hẳn cũng là có ích.

Các đời Ðinh, Tiền Lê vun đắp nền độc lập non trẻ sau nghìn năm bị đô hộ, thế nước không thể không thiên về phòng thủ, nên lập đô ở thung lũng Hoa Lư với thế núi bốn bề vây bọc như thành cao, sông suối ngoằn ngoèo như hào sâu, là dễ hiểu. Theo  phong thủy, thế đất ấy hãm nhiều hơn phát, thế đất "cường", khí tiêu tán bên trên, ngựng tụ bên dưới, thiên huyệt kết ở chỗ trũng, nên được nghiệp nhưng  phúc trạch không dài - như Lý Thái Tổ viết trong Chiếu dời đô: "thế đại không dài, vận số ngắn ngủi". 

Còn Ðại La thì sao? Nhìn đại cục, thì một mạch đất cực lớn (đại can long) khởi từ núi Côn Lôn xứ bắc chạy  đến nước ta đã chia làm ba chi lớn, trong đó có tới 27 "ngôi đất kết" (khí ngưng tụ), có thể phát tới thiên tử, còn lại là hàng nghìn ngôi đất lớn nhỏ kết phát nhân kiệt.

 Có một diễn ca  nói về thế đất Ðại La thời đất ấy còn thuộc Giao Châu  (vì thế hai chữ  "thăng long" trong diễn ca là  để chỉ "khí thăng lên từ long mạch") - miền đất mà sau đó, Lý Thái Tổ định đô, đổi gọi Thăng Long (có thể gồm cả hai nghĩa: khí Thăng từ Long mạch, và Rồng Bay dựa theo truyền thuyết bóng Rồng vàng bay lên đón ngự thuyền Lý Thái Tổ):

"Thăng long đệ nhất đại huyệt mạch, đế vương quý địa  (Huyệt mạch thăng khí từ long mạch lớn nhất, đất quý phát đế vương).
  Giao Châu hữu chi địa, thăng long thành tối hùng (Giao Châu có một ngôi đất như thế, khí thăng từ long mạch hùng mạnh nhất)
Tam hồng dẫn hậu mạch (Ba sông lớn dẫn hậu mạch đó là sông Thao, sông Lô, sông Ðà)
Song ngư trĩ tiền phương (Hai con cá dẫn phía trước-hẳn là hai doi đất nổi trên sông Hồng)
Tản Lĩnh trấn Kiền vị (Núi Tản Lĩnh, tức Ba Vì, trấn tại phương Càn - tây bắc)
Ðảo Sơn đương Cấn cung (Núi Tam Ðảo giữ phương Cấn - đông bắc)
Thiên phong hồi Bạch Hổ (Nghìn ngọn núi quay về Bạch Hổ)
Vạn thủy nhiễu Thanh Long (Muôn dòng nước từ ba con sông Thao, Lô, Gâm hội nhau ở Bạch Hạc rồi chảy về bao quanh Thanh Long)
Ngoại thế cực trường viễn (Thế bên ngoài cực rộng dài)
Nội thế tối sung dong (Thế bên trong rất mạnh, đầy)
Tô Giang chiếu hậu hữu (Sông Tô Lịch dẫn mạch từ phía sau, bên phải)
Nùng Sơn cư chính cung (núi Nùng đóng chính cung)
Chúng sơn giai củng hướng (Mọi núi non đều hướng đến)
Vạn thủy tận triều tông (Nơi tận cùng tụ hợp mọi dòng nước từ thượng nguồn dẫn khí mạch về)
Vị cư cửu trùng nội (Là nơi ở của đế vương)
Ức niên bảo tộ long (Bền vững tới chục vạn năm)"

Quả là thế vượng địa trường cửu, xứng đáng là "Nơi thượng đô của kinh sư muôn đời" vậy.

Ðại La - Thăng Long vậy là nằm bên "đại can long" Nhĩ Hà - sông Hồng, khởi từ nguồn xa xứ bắc, vòng vèo uốn khúc để khi bao bọc Ðại La ở mạn bắc, mạn đông thì đã thải bớt (chứ chưa hết) khí hung, rồi xuôi nam chảy về biển cả. Ðại can long Nhĩ Hà tỏa các "chi long" (cành), "cước long" (nhánh) như Tô Lịch, Kim Ngưu (mà từ thời người Pháp lập phố xá đến giờ nhiều đoạn đã bị lấp mất tăm), cùng nhiều lạch nước nối thông chằng chịt thời ấy tạo nên thế phong thủy tuyệt vời. Thế đất này là "dương lai" (khí dương phủ xuống), "âm phụ" (khí âm ngẩng lên đón), và  "nhược" (mềm), khí ngưng kết bên trên, tiêu tán bên dưới. Thế nên địa huyệt "kết" (tụ khí) ở nơi cao nhất - núi Nùng (nay vẫn đang được dò tìm, có thể suy đoán ở vị trí chính tâm Hoàng Thành chăng?).

Với vượng khí Thăng Long, nhà Lý làm chủ xã tắc 216 năm, trải 9 triều (vị) vua; nhà Trần 175 năm, với 12 triều (vị) vua; nhà Lê được 11 triều (vị) vua (1428-1527) thì bị gián đoạn bởi nhà Mạc (1527-1592), nếu cộng cả thời Lê trung hưng, sau đó là Lê mạt (chỉ có hư vị, thực quyền trong tay các chúa Trịnh) thì được 356 năm, 26 triều (vị) vua.
 
Ðầu thời Nguyễn, tên đất Thăng Long chưa đổi hẳn, nhưng chữ "Long" nghĩa là "Rồng" thay bằng chữ "Long" nghĩa là "thịnh", và  những gì còn sót lại của Hoàng Thành sau thời quân nước ngoài phá phách cùng cơn binh lửa Hoàng Ðế Quang Trung đuổi chúng về nước, lần lượt bị các đời vua nhà Nguyễn chuyển hầu hết  vào Phú Xuân để xây cất tân đô Huế.  Năm 1805, Gia Long cho phá bỏ tường của Hoàng Thành cũ, xây thành mới gọi là Trấn Bắc thành, quy mô nhỏ hơn nhiều và theo  kiểu vô-băng (vauban) của Pháp. Các nhà sử học đối chiếu thành Nguyễn với  Hoàng Thành ngày trước, thấy rằng, thế phong thủy của thành Nguyễn đã biến dịch  khi trục chính đạo của nó  lệch đi 3 độ về hướng tây bắc so với Hoàng Thành.
Phong thủy học cũng lưu ý rằng, thế đất đế đô bao giờ cũng kén bậc quân vương có Ðức Sáng, "trên theo lẽ trời" (tức là am hiểu, để biến cải thích ứng chính sách trị quốc, cả luật biến thiên của trời đất lẫn lẽ thịnh suy của thời cuộc), "dưới thuận lòng người" (tức là yêu nước, thương dân, biết giữ gìn bờ cõi, chăm sóc sức dân nên được dân theo). Diễn đạt rõ hơn, thì có thể nói trong lẽ thịnh suy xoay vần muôn thuở, phong thủy gồm cả ba ngôi tam tài "Thiên-Ðịa-Nhân" trong tương tác, biến thiên theo quy luật ("lẽ trời") nằm ngoài ý muốn con người. Có "Thiên thời"- thời vận, thời cơ; có "Ðịa lợi"-lợi thế địa lý, sông núi, tài nguyên; nhưng phải có nhiều "Nhân kiệt" hết lòng vì dân vì nước mà chèo lái cơ đồ, và "Nhân hòa"- thuận lòng dân cả nước, thì nghiệp lớn mới thành, cơ đồ mới vững, hưng vượng mới bền lâu.

Lại nữa, các triều đại xưa dù thời thịnh hay thời suy đều  kiêng kị không dám phạm vào phong thủy, không dám làm hư tổn long mạch Thăng Long, tránh làm phương hại hay biến dị núi non, làm úng ngập phố xá, hay làm ô uế, nghẽn tắc các dòng sông lạch muôn đời chuyển vận khí từ thượng nguồn về làm vượng khí đất này. Thắng địa Thăng Long - Hà Nội, với linh khí và tinh khí của núi sông và từ lịch sử oai hùng nghìn năm tàng ẩn, biết gìn giữ và bồi đắp, thì có thể muôn đời hưng vượng.
Nguồn tin: Theo Báo Nhân Dân
[/i]
Đây là thế đất của kinh đô dưới góc nhìn người hiểu biết sâu về thuật Phong thuỷ.

Riêng tôi, tôi thấy Hà Nội có vị trí đẹp, là trung tâm vùng Bắc bộ (tương đương cương vực thời nhà Lý). Không hiểu Hà Nội mở rông như ngày nay có cái thế đó nữa không chưa thấy ai phân tích?

Nhưng Phong Thuỷ tốt giúp giảm được tai hoạ khi vào vận xấu, giúp gia tăng sự thành công và may mắn khi vào vận tốt. Sự vận dụng Phong Thuỷ là phải biết kết hợp giữa số mệnh của chủ nhân, góp phần cải biến vận mệnh chứ không tự tạo ra vận mệnh của lãnh đạo và quốc gia...Nhưng lại có câu “Nhất phận, nhì duyên, tam phong thổ, tứ tích âm công, ngũ độc thư” và điều cần là “Tiên tích đức hậu tầm long”. Do vậy, muốn thành công viên mãn một sự việc nào, cần đủ ba điều thiết yếu: thiên thời, địa lợi, nhân hoà.
Lịch sử đã minh chứng điều đó.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 27 Tháng Mười Một, 2009, 04:55:55 pm
Thiên đô thì thuận đạo trời, hợp lòng người và cũng đúng nhu cầu mở mang phát triển, phù hợp khả năng triều đình. Nhưng dời đô ra sao và đưa cả Hoàng triều đi từ Hoa Lư ra Đại La cách đây 1000 năm phải đâu chuyện dễ. Bài viết sau đây trên Báo Bắc Ninh chắc cũng chỉ là một trong những cách lý giải:

Nhà Lý dời đô bằng đường nào ?


Ngày Tân Hợi tháng 10 năm Kỉ Dậu vua Lê Ngọa Triều qua đời trong tẩm điện ở kinh đô Hoa Lư. Ngày Quý Sửu quần thần tôn Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế.

Tháng 2 năm sau (Canh Tuất) nhà vua về thăm châu Cổ Pháp. Chuyến đi này nhà vua còn có chủ ý tìm đất đặt đô. Vùng đất phía Bắc Sông Hồng thời ấy đã từng có các cố đô Cổ Loa, Luy Lâu, Long Biên. Thành Cổ Loa vẫn còn dấu vết. Thành Luy Lâu mới bỏ từ cuối thời Đường nên còn vững dễ khôi phục. Nhưng nhà vua đã chọn thành Đại La do Cao Vương khởi xây thời Đường để dễ bề phòng thủ khi nước lớn phương Bắc sang xâm chiếm.

Trở về kinh đô Hoa Lư nhà vua nghị bàn việc dời đô.


Chí lớn của vua Lý Thái Tổ đã được triều thần đồng lòng hưởng ứng: Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế dài lâu để trên cho cơ nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho nhân dân được giàu có nhiều người, việc lợi như thế ai không dám theo.

Tháng 7 năm Canh Tuất nhà Lý bắt đầu dời đô từ Hoa Lư về Đại La. Nghĩa là từ việc tìm đất, nghị bàn đến việc chuẩn bị để dời đô diễn ra tương đối khẩn trương. Việc chọn phương thức di chuyển cũng đã được tính đến. Từ Hoa Lư về thành Đại La có thể đi theo đường bộ hoặc theo đường thuỷ. Sử cũ không ghi chép chi tiết nhà Lý dời đô bằng đường nào. Các nhà nghiên cứu đã kết luận: Nhà Lý dời đô bằng đường thuỷ. Và chỉ có dời đô bằng đường thuỷ thì mới an toàn và tải được cả bộ máy triều đình đông đảo cùng vật chất bảo đảm đồ sộ đi kèm.

Từ thời vua Lê Đại Hành đã phát triển đội thuyền. Khi tiếp sứ thần nhà Tống nhà vua đã sai bày thuỷ quân và chiến cụ để khoe sự mạnh giàu. Năm Thái Bình thứ 7 (976) đã có việc buôn bán với nước ngoài bằng thuyền. Như vậy nhà Lý dời đô cũng cần đưa đội thuyền đi theo. Đoàn thuyền xuất phát từ bến Ghềnh Tháp (Hoa Lư), cách kinh đô cũ không xa, nơi có đền vua Đinh vua Lê. Đây là hồ nước lớn, núi Ghềnh Tháp bao bọc kín đáo, dùng làm nơi luyện thuỷ quân rất tốt. Rồi thuyền vào sông Sào Khê, qua cầu Đông, cầu Dền ở Hoa Lư để ra bến đò Trường Yên vào sông Hoàng Long. Đi tiếp đến Gián Khẩu thì rẽ vào sông Đáy. Từ sông Đáy lại rẽ vào sông Châu. Đến Phủ Lý đoàn thuyền ngược sông Hồng, rồi vào sông Tô Lịch trước cửa thành Đại La. Khi vua Lý Thái Tổ vừa bước lên bờ thì trời rạng ánh rồng vàng nên Người đã thốt lên: Thăng Long! Thăng Long! Rồng vàng bay lên báo hiệu điềm lành cho đất nước sang trang sử mới.

Sở dĩ nhà Lý đi bằng đường sông chứ không đi bằng đường biển cũng là bảo đảm an toàn vì thuyền phải tải nặng không chịu nổi sóng dữ ở biển. Đến thời Trần, vua Trần Dụ Tông đã phải hi sinh nữ phi cho thần biển để cầu sóng yên khi đi đánh Chiêm Thành. Đi bằng đường sông đức vua còn có dịp ngắm nhìn giang sơn gấm vóc thanh bình của mình. Và chính vì đi bằng đường thuỷ mà thành Đại La đã được đổi tên là Thăng Long. Đến nay Thăng Long - Hà Nội đã sắp tròn nghìn năm tuổi mà vẫn đang càng ngày càng phát triển nhanh chóng xứng với tầm vóc trung tâm đất nước và thành phố vì hoà bình của nhân loại. Những nhận định làm cơ sở để dời đô của vua Lý Thái Tổ vẫn ngày càng khẳng định tính đúng đắn trong chiến lược dời đô của Người là lập kế lâu dài cho con cháu, cho thiên hạ.

Nguồn tin: Theo Báo Bắc Ninh

Xem ra việc tập trung các công sở (hợp nhất) của Hà Nội về một chỗ sau khi mở rộng Thủ đô còn chậm hơn các cụ ta xưa.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: macbupda trong 27 Tháng Mười Một, 2009, 05:20:07 pm

Ngoài các lý do dời đô được viết trong chiếu thì có lẽ 1 lý do khác là muốn tránh xa đất Hoa Lư nơi còn nhiều tình cảm của dân chúng với nhà Lê

Hì, em không ủng hộ lí do này lắm. Vua Đinh là người quê gốc ở Hoa Lư, nếu ngại chuyện dân chúng cảm tình với vua cũ thì có lẽ các vua triều tiền Lê đã rời đô sớm hơn. Lê Long Đĩnh lại là ông vua có nhiều "tai tiếng", nên sự ủng hộ trong dân chúng với nhà Tiền Lê chắc chắn có sự giảm sút. So sánh trường hợp nhà Đinh mất ngôi, vua Đinh Tiên Hoàng bị ám sát, Đinh Toàn còn nhỏ nối ngôi, chưa có lỗi lầm gì, Lê Hoàn lên ngôi là do yêu cầu về người lãnh đạo kháng chiến chống Tống, thì rõ ràng trường hợp vua Đinh mất ngôi dễ gây "thương cảm" trong nhân dân ở Hoa Lư hơn.
Theo em, việc Lý Công Uẩn rời đô ra Thăng Long, một là gần đất Cổ Pháp quê nhà, hai là để tiện khống chế toàn cục đất nước. Hoa Lư hiểm trở, dễ phòng thủ, nhưng cũng vì thế mà cách biệt với các vùng khác của đất nước, tạo điều kiện cho các thế lực địa phương âm mưu cát cứ, thời Lê Long Đĩnh cũng đã phải đi đánh dẹp khá nhiều. Từ thời Lý, với nhiều biện pháp, trong đó có vị thế trung tâm đất nước của kinh đô Thăng Long, thì nước ta đã bắt đầu xây dựng được một nhà nước phong kiến trung ương tập quyền mạnh mẽ, vững chắc.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 27 Tháng Mười Một, 2009, 09:13:05 pm
Từ Thăng Long đến Hà Nội

1. Thăng Long, Đông Đô, Đông Kinh-kinh đô Đại Việt:

Nhà Lý (1009 - 1225), chia cả nước ra thành 24 Lộ, (ngoài ra còn có Phủ, Châu) dưới trung ương. Khi đó vùng Đại La, chỉ sau một thế kỷ, Thăng Long  trở thành trung tâm văn hóa, chính trị và kinh tế của cả quốc gia. 

Nhà Trần (1225 - 1400) chia các đơn vị hành chính dưới trung ương là: 9 Lộ, 4 Phủ, 7 Trấn. Đơn vị hành chính dưới Lộ, Phủ, Trấn: là Châu, dưới Châu là Huyện. Kinh thành vẫn đặt và giữ tên gọi Thăng Long. Năm 1230, Thăng Long được chia thành 61 phường, kinh thành đông đúc hơn dù địa giới không thay đổi.

Nhà Hồ (1400 - 1407) Kinh đô chuyển vào Thanh Hoá mang tên Tây Đô, Thăng Long được đổi thành Đông Đô. Nhưng vương triều của nhà Hồ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn ngủi. Năm 1406, nhà Minh đưa quân xâm lược Đại Ngu, Thăng Long bị chiếm đóng và đổi tên thành Đông Quan  (1407-1428), với hàm nghĩa kỳ thị kinh đô của nước ta, chỉ được ví là "cửa quan phía đông" của Nhà nước phong kiến Trung Hoa.

Cuối cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1428) Thái Tổ nhà Hậu Lê chia cả nước ban đầu thành 4 đạo, đến năm 1428 chia thành 5 đạo: Đông, Tây, Nam, Bắc (tương ứng với Bắc Bộ ngày nay) và Hải Tây (từ Thanh Hóa vào đến Thuận Hóa). Dưới đạo là trấn, lộ, huyện, châu và cấp cơ sở là xã. Năm 1430, kinh đô được đổi tên thành Đông Kinh,  để phân biệt với Tây Đô ở Thanh Hoá. Năm 1466 vua Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên, đổi trấn thành châu, đổi lộ thành phủ và gọi kinh đô là phủ Trung Đô, năm 1469 đổi thành phủ Phụng Thiên.

Thời Lê Trung Hưng (1533-1789): xứ Đàng ngoài dưới quyền Chúa Trịnh (1545-1787) có 12 trấn và 5 phiên trấn. Trung Đô, là kinh đô của Triều Đình.

2. Bắc Thành, thủ phủ xứ Bắc Hà:

Sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa (1789), nhà Tây Sơn trị vì Đại Việt với kinh đô mới ở Huế, Thăng Long trở thành thủ phủ của Bắc Thành.

Vua Gia Long của triều Nguyễn (1802-1945) lên ngôi 1802 chia cả nước thành 23 trấn, 4 doanh (dinh), đặt kinh đô ở Phú Xuân., đổi phủ Phụng Thiên (vốn là đất đai kinh thành Thǎng Long cũ) thành phủ Hoài Đức và vẫn coi là đơn vị ngang với trấn, tức trực thuộc Trung ương mà đại diện là Tổng trấn ở Bắc Thành. Năm 1805, Gia Long cho phá tòa thành cũ của Thăng Long, xây dựng thành mới. Từ đây Thắng Long chấm dứt vai trò là kinh đô của nhà nước phong kiến Việt Nam. Kinh thành đã chuyển làm trấn thành nhưng vì tên Thǎng Long đã có từ lâu đời quen dùng trong nhân dân, nên Gia Long không tiện bỏ đi ngay mà đổi chữ "Long" (龍) là "Rồng" thành chữ "Long" (隆) là "thịnh vượng".

3. Danh xưng Hà Nội, kinh thành làm chức năng tỉnh lị:

Từ năm 1831-1832, vua Minh Mạng chia cả nước thành 31 đơn vị hành chính cấp tỉnh gồm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên, trực tiếp dưới cấp trung ương (triều đình). Dưới tỉnh là phủ, huyện. Bắc Kỳ gồm 13 tỉnh (Bắc Kỳ thập tam tỉnh,), trong đó có Hà Nội  (đứng đầu là Tổng đốc).

Hà Nội khi đó gồm thành Thăng Long,  huyện Từ Liêm của trấn Sơn Tây và ba phủ Ứng Hòa (gồm 4 huyện Sơn Minh (nay là ứng Hoà), Hoài An (nay là phía nam ứng Hoà và một phần Mỹ Đức), Chương Đức (nay là Chương Mỹ), Thanh Oai), Thường Tín (gồm Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên), Lý Nhân (gồm 5 huyện: Nam Xang (nay là Lý Nhân và Kim Bảng), Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục) của trấn Sơn Nam. Thăng Long hạ xuống thành tỉnh lỵ Hà Nội. Riêng khu vực kinh thành Thăng Long cũ gồm 2 huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận (tên mới của Quảng Đức) cùng huyện Từ Liêm lập thành phủ  Hoài Đức.
 
Như vậy tỉnh mới này  nằm trong 3 con sông Hông, sông Nhuệ và sông Đáy nên mang danh Hà Nội, có nghĩa là phía trong sông.

Cũng có người kể rằng, chữ Hà Nội là lấy từ câu trong sách Mạnh Tử (Thiên Lương Huệ Vương): "Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ túc ư Hà Nội" (Hà Nội bị tai hoạ thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc Hà Đông về Hà Nội). Nhưng đó là trường hợp nǎm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na, "tiểu ban đặt tên" mới lấy câu sách Mạnh Tử nói trên để đổi tỉnh Cầu Đơ ra tỉnh Hà Đông.

4. Thủ phủ của Bắc Kỳ và Đông Dương dưới thời thuộc Pháp:

Năm 1886, sau khi chiếm hoàn toàn Bắc kỳ, Pháp thành lập mới các tỉnh trên cơ sở tách các tỉnh cũ và chia các Đạo quan binh ra. Sau khi Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội, ngày 1 tháng 10 năm 1888, vua Đồng Khánh ra đạo dụ nhượng hẳn cho Pháp thành Hà Nội. Ngày 26 tháng 12 năm 1896 tỉnh Hà Nội (phần còn lại) đến ngày 3 tháng 5 năm 1902 thì đổi tên thành tỉnh Cầu Đơ chuyển tỉnh lỵ về Cầu Đơ (nay là quận Hà Đông). Đến 1890 phủ Lý Nhân của Hà Nội tách ra lập tỉnh Hà Nam.

 Ngày 17 tháng 10 năm 1887 Chính phủ Cộng hoà Pháp có Sắc lệnh lập Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise,東洋聯邦), đôi khi gọi là Đông Dương thuộc Pháp (Indochine française) hoặc Đông Pháp, là thuộc địa dưới sự bảo hộ của thực dân Pháp nằm ở khu vực Đông Nam Á. Khi đó Khi đó Tonkin (Bắc kỳ): từ Ninh Bình ra bắc là xứ bảo hộ bởi Pháp (protectorat) do  Thống sứ (Résident supérieur) đứng đầu đóng ở Hà Nội. Hà Nội là nhượng địa và cũng là thủ phủ đóng đô của Toàn quyền (Gouverneur Général de l'Indochine française từ 1887 đến 1945) hay Cao ủy (từ 1945 đến 1954).

 5. Hà Nội, thủ đô của chính thể mới:

Sau khi giành chính quyền, theo Hiến pháp năm 1946: Nước Việt Nam về phương diện hành chính gồm có ba bộ: Bắc, Trung, Nam. Mỗi bộ chia thành tỉnh, mỗi tỉnh chia thành huyện, mỗi huyện chia thành xã . Do đó, vào thời kỳ này các đơn vị hành chính của Việt Nam được phân thành 4 cấp, ngoài các cấp xã, huyện, tỉnh như sau này vẫn còn thì còn có cấp Bộ. Cả nước có 3 Bộ: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ và chia thành 65 tỉnh, riêng Bắc Bộ có 27 tỉnh, trong đó có Hà Nội và là thủ đô  của Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Sau hiệp định Giơ ne vơ, theo Hiến pháp năm 1959, Các đơn vị hành chính trong nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gồm: Nước chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố, thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn. Theo đó, miền Bắc Việt Nam năm 1954 có 30 tỉnh, 2 thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Hải Phòng), 1 đặc khu (Hòn Gai) và khu vực Vĩnh Linh. Trong số các tỉnh, có tỉnh Hà Nội là thủ đô.

Sau khi thống nhất đất nước, theo Hiến pháp năm 1980, Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương; Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Các đơn vị hành chính kể trên đều thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. Theo đó, cả nước có 38 đơn vị hành chính cấp tỉnh (35 tỉnh và 3 thành phố): Bắc Bộ có 13 tỉnh và 2 thành phố, Trung Bộ có 10 tỉnh, Nam Bộ có 12 tỉnh và 1 thành phố. Trong số đó Hà Nội là thủ đô và là thành phố trực thuộc Trung ương.

Sau những lần thay đổi hành chính, điều chỉnh địa giới, đến năm 2008, hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây, chuyển toàn bộ huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình về thành phố Hà Nội.

6. Hà Nội hào hoa:

Ngoài những tên gọi chính thức được ghi chép trong chính sử kể trân (Đại La, Thăng Long, Đông Đô, Đông Quan, Đông Kinh, Hà Nội), còn có những tên "không chính quy" nhiều được sử dụng khá linh hoạt trong trong vǎn thơ, ca dao, khẩu ngữ..., như: Trường An (Tràng An), Phượng Thành (Phụng Thành), Long Biên,  Long Thành, Hà Thàn, Hoàng Diệu, Kẻ Chợ, Thượng Kinh, Kinh Kỳ.

Nay có người muốn lấy lại tên Thăng Long, nên chăng?

Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_N%E1%BB%99i; http://hanoi.vnn.vn/chuyen_de/0010/ban_co_biet/bai_1.htm; http://hanoi.vnn.vn/chuyen_de/0010/ban_co_biet/bai_2.htm;
Đất nước Việt Nam qua các đời…


Tiêu đề: Re: Những Giai nhân ảnh hưởng đến sự hưng vong của Vương triều Lý
Gửi bởi: menthuong trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 06:13:03 pm
Khi con người đã biết tới hôn nhân thì bất cứ ở chế độ nào vai trò của người phụ nữ cũng rất quan trọng. Càng quan trong hơn nếu họ là giai nhân bởi tuyệt sắc giai nhân càng hiếm và ảnh hưởng của họ lại càng tới nhiều người và là ở những người có vai trò quan trọng với tiến trình xã hội.

Người khởi đầu cho nhà Lý (李朝, 1009 - 1225) là Lý Công Uẩn. Lý Thái Tổ (李太祖; tên húy là Lý Công Uẩn 李公蘊; 974–1028) là người ở làng Cổ Pháp, nay là xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh được quần thần nhà Lê (前黎氏,980 - 1009) suy tôn sau cái chết của Lê Long Đĩnh. Sau Lý Thái Tổ là Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054--1072), Lý Nhân Tông (1072-1127), Lý Thần Tông (1128-1138), Lý Anh Tông (1138-1175), Lý Cao Tông (1175-1210), và Lý Huệ Tông (1210-1224) chấm dứt khi vua nữ Lý Chiêu Hoàng (1224-1225), khi đó mới có 8 tuổi bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (太宗陳煚, 1225-1258) vào năm 1225, mở ra triều Trần (陳朝,1225 - 1400).

Nhà Lý là triều đại nhiều công lao trong việc định đô (Thăng Long, 1010), đặt quốc hiệu (Đại Việt,  tháng 10 năm 1054), sửa sang chính sự, mở khoa thi đầu tiên (02/1075), đánh tan quân Tống (1076), đòi đất nhà Tống lấn, giao hảo tốt với các nước, được vua Tống chính thức phong Vương ( An Nam Quốc vương cho Lý Anh Tông vào năm 1164) thu phục được các tù trưởng thiểu số, thực hiện bước Nam tiến đầu tiên (1069) …Chính vì vậy, nước Đại Cồ Việt trở thành Đại Việt tuần tự đi lên không bị suy sút, thua thiệt vững vàng trước ý đồ bành trướng của Bắc triều và sự tráo trở của người Chiêm.

Trong 216 năm cai quản Đại Việt, ngoài những đấng minh quân sáng lập, củng cố và phát triển Vương triều, thời đại này cũng có sự đóng góp của các nhân vật có nhiều công lao và tài năng như Lý Thường Kiệt, Lê Phụng Hiểu, Lý Đạo Thành, Lê Văn Thịnh...Đặc biệt đây cũng là triều đại mà trong quá trình tồn tại, phát triển, suy tàn có sự đóng góp không nhỏ của những tuyệt sắc giai nhân, họ là các bậc “mẫu nghi thiên hạ”, các Công chúa “lá ngọc cành vàng”.

Thời phong kiến Vua là Thiên tử có quyền tối thượng nên chuyện phòng the, hậu cung của Vua cũng khác thảo dân và vợ, mẹ, bà, họ hàng bên ngoại Vua, con trai, con gái, anh em Vua có danh xưng tôn quý khác người thường.

 Hoàng hậu là vợ chính của Vua còn vợ thứ gọi là Hoàng phi khi con lên ngôi trở thành Thái hậu hay Hoàng Thái hậu, còn bà nội Vua được suy tôn là Thái Hoàng Thái hậu còn vợ Thái tử được gọi là Hoàng Thái tử phi. Hoàng Thái hậu nhiều khi còn được gọi dưới danh xưng Quốc mẫu. Trường hợp Hoàng hậu không con trai hoặc không được yêu quý nhiều thì người vợ chính là Nguyên phi và khi con trai người này lên ngôi thì Nguyên phi được tôn xưng là Hoàng Thái phi. Ngoài ra Vua còn có nhiều phi tần, nàng hầu mà mỗi thời gọi, phân hạng khác nhau.

Mẹ Vua, vợ các Vua đã băng hà được ở trong cung Diên Thọ (kéo dài tuổi thọ); mẹ, vợ các Vua tại vị ở cung Trường Sinh còn Hoàng Quý phi ở cung Khôn Thái gần nơi Vua ở. Ba cung này hợp thành Tam cung, phối đủ âm dương, trời đất.

Khi Vua lên ngôi, bố vợ Vua được gọi là Quốc trượng, được tặng Quận công, vợ là Quận Phu nhân và họ hàng vợ Vua được gọi là Quốc thích.

Trong hoàn cảnh đó, khi con gái Vua đi lấy chồng (chữ gọi là Hạ giá) có quan tước Công, tước Hầu làm chủ hôn nên được gọi là Công chủ hay Công chúa. Còn chị em Vua khi đó gọi là Trưởng Công chúa và cô Vua được tôn là Đại trưởng Công chúa hay Thái Trưởng Công chúa. Còn con gái các quan trong tôn thất có tước Vương, con gái Chúa Trịnh được gọi là Quận chúa.

Phò mã nguyên là chức quan cưỡi ngựa theo hầu bên cạnh Vua, về sau được dùng để chỉ chồng của Công chúa còn chồng Quận chúa gọi là Quận mã.

Thời nhà Lý có là những bà Hoàng, bà Phi giúp chồng làm nên nghiệp lớn (Nguyên phi Ỷ Lan), giúp cha nắm chặt đảm bảo được sự trung thành của các tù trưởng nơi phiên trấn (các Công chúa) nhưng cũng người để lại vết nhơ cho Vương triều (Cảm Thánh phu nhân Lê Thị) bởi thói dâm tình hay là cầu nối để vương quyền về tay họ khác (Hoàng hậu Trần Thị Dung) hoặc lên đến ngôi tuyệt đỉnh - Nữ Hoàng, để từ đó chấm dứt 216 năm của Vương triều (Lý Chiêu Hoàng Phật Kim). Công tội của họ, chuyện tình của các bậc tuyệt sắc giai nhân này với các đấng quân vương, với những thủ lĩnh tài ba đầy những tình tiết đẹp đẽ, bi hùng.
Chính sử thì chép qua loa, dã sử thì cũng ít và tản mát, chuyện về các “bóng hồng” này đến nay cũng rất thưa bóng. Qua những cuốn chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử lược, qua các trang trên Internet, qua cuốn “Chuyện tình Vua Chúa Hoàng tộc Việt Nam” tôi tìm thấy nhiều chuyện hay, nhiều chi tiết thú vị và cảm nhận được nhiều bài học lý thú. Thiết nghĩ cũng nên chép lại.


Tiêu đề: Re: Những Giai nhân ảnh hưởng đến sự hưng vong của Vương triều Lý
Gửi bởi: menthuong trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 06:18:17 pm
Một số Hậu và Phi nổi tiếng của Vương triều:
Tiếp nhận Vương quyền từ nhà Tiền Lê, trong việc hậu cung, hai Vua đầu nhà Lý đều phong các bà vợ mình là Hoàng hậu mà không nêu cụ thể ai thực sự là chính thê, các đời sau phong cả Phi, Ngự nữ.

1. Khi lên ngôi, năm 1010 Lý Thái Tổ lập 6 Hoàng hậu trong đó nổi bật là Lập Giáo Hoàng hậu, sinh ra Thái tử Phật Mã có quy chế xe ngựa, y phục khác. đến năm 1016 lập lại 3 Hoàng hậu là: Tá Quốc, Lập Nguyên và Lập Giáo. Thái Tổ sinh hạ được 13 Công chúa.

2. Lý Thái Tôn Phật Mã (1028-1054) tôn mẹ là Lê thị (Lập Giáo Hoàng hậu) làm Linh Hiển Thái hậu và năm 1028 lập Kim Thiên Mai Thị (mẹ Lý Nhật Tông) và 6 vị khác làm Hoàng hậu. Đặc biệt năm 1035 lập nàng hầu làm Hoàng hậu Thiên Cảm sau lại lập Đào Thị (vốn giỏi nghề ca hát) làm Phi. Vua sinh 2 Hoàng tử và nhiều Công chúa, trong đó trưởng nữ là An Quốc Công chúa. Trong thời Lý Thái Tôn, một người con gái nước Chiêm là Mỵ Ê được ông phong là Hiệp Chính Hựu Thiện Phu nhân. Bà chính là phi của Sạ Đẩu bị bắt khi kinh thành Phật Thệ của Chiêm thất thủ (1044) khi được Thái Tôn vời đã lao xuống sông để giữ lòng trinh.

3. Lý Thánh Tông Nhật Tôn (1054-1072) lập Dương thị làm Hoàng hậu Thượng Dương (không con trai, sinh hạ Công chúa: Từ Thục, Từ Huy), Ỷ Lan Lê Thị Khiết là Nguyên phi, Dương Thị Quang là Thứ phi (mẹ Công chúa Động Thiên, Khâm Thánh). Trong đó nổi bật Nguyên Phi Ỷ Lan mà sử sách hay nhắc đến.

 Bà này người làng Thổ Lỗi nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội được Nhật Tôn cảm yêu khi nghe tiếng hát vào năm 1063 phong làm Ỷ Lan (cô gái tựa gốc Lan) phu nhân. Hai năm sau Ỷ Lan đậu thai (truyền rằng do Chi hậu Nội nhân Nguyễn Bông dùng thuật “đầu thai thác hoá” học được từ sư thầy mà ra) và sinh hạ Hoàng năm vào năm 1066 (khi Vua đã 43 tuổi). Ấu tử Càn Đức lập tức được lập làm Hoàng Thái tử và mẹ nâng thnàh Thần phi. Hai năm sau Ỷ Lan sinh tiếp 1 Hoàng tử nữa (Minh Nhân Vương) rồi năm sau sinh tiếp Sùng Hiến Hầu. Ỷ Lan góp nhiều kế trị nước an dân cho Vua nên được Lê Thánh Tông yêu và từng được Vua giao chấp chính khi Thánh Tông cầm quân đi đánh Chiêm Thành (Ất Dậu, 1069). Tháng Giêng Nhâm Tý (1072) Thánh Tông băng, Càn Đức nối ngôi, Ỷ Lan Nguyên phi được tôn làm Hoàng Thái phi, Thượng Dương Hoàng hậu tôn làm Hoàng Thái hậu cùng buông rèm nghe chính sự. Năm 1073, vua nghe lời mẹ đẻ đã bắt giam, sau đó bức tử Dương Thái hậu và 76 thị nữ bởi lòng ganh ghét và lòng đó kị trả thù thời gian 4 tháng bị Thượng Dương và Lý Đạo Thành gạt ra khỏi guồng máy quyền lực. Bà có công trong việc cho các công thần trên 80 tuổi được chống gậy ngồi ghế khi lâm triều; mở khoa thi “Minh kinh bác học”, “Nho học tam trường” (1075); huy động nhân tài, vật lực cho công cuộc “Kháng Tống, Bình Chiêm”; đắp đê sông Như Nguyệt (1077); sửa đê La Thành (1078). Nhưng bà đã bất nhẫn trong vụ giết hại Hoàng hậu Thượng Dương và 76 cung nhân năm 1073. Sau đó chắc do hối hận sự tàn bạo của mình, Ỷ Lan đã cho trai giới cầu tự (1102); xuất tiền chuộc những người con gái bị gia đình bán độ để gả cho người goá vợ (1103); để Thánh Tông lập 3 Hoàng hậu, 36 cung nhân; dựng chùa cầu Phật. Không hiểu hiệu quả ra sao nhưng vào năm Bính Thân 1116, Phu nhân họ Đỗ của Sùng Hiến hầu (một người con khác của Ỷ Lan) sinh con trai (Dương Hoán) được Thánh Tông lập làm Hoàng Thái tử. Ngày 25/7 Đinh Dậu (1117) Ỷ Lan băng được hoả táng và chôn theo 3 thị nữ.

4. Lý Nhân Tông Càn Đức (1072-1128) nối nghiệp, lập 3 Hoàng hậu (Lan Anh, Khâm Thiên, Chấn Bảo) và 36 cung nhân nhưng không có con. Có thuyết nói kiếp trước ông là hoạn quan (chuyện Nguyễn Bông) hay bởi tại quả báo của cái ghen chết người năm 1073. Lại có chuyện rằng, Kiến Hải vương Lý Dương Côn, tước đô đốc thủy quân, con nuôi của vua Lý Nhân Tông, khi vua băng, triều thần muốn đưa Lý Dương Côn lên làm vua nhưng không được. Do vậy năm 1150, Lý Dương Côn mang gia quyến lên thuyền lưu vong đến Cao Ly, khởi lập dòng họ Lý Tinh thiện. Hậu duệ đời thứ 6 của Lý Dương Côn là tướng quân Lý Nghĩa Mẫn (Lee Ui Min), một nhân vật kiệt xuất trong lịch sử Cao Ly dưới triều vua Uijiong, kế đó theo phò tướng Jeong Jung-bu, sau này giữ chức tể tướng suốt 14 năm. Tiếc là một cuộc binh biến trong triều đã hạ sát Lý Nghĩa Mẫn cùng các con trai, chỉ còn một người anh bà con trốn thoát. Từ đó dòng họ Lý Tinh thiện phát triển không mạnh mẽ dù hậu duệ vẫn còn đến hôm nay (như giáo sư Lý Gia Trung ở Đại học Seoul). Công lao của tể tướng Lý Nghĩa Mẫn từng được phản ánh trong một bộ phim truyền hình nhiều tập thể loại dã sử do Đài truyền hình KBS phát sóng cuối năm 2002, trong đó đề cập cụ thể Lý Nghĩa Mẫn có dòng dõi từ vua nhà Lý ở An Nam.

5. Lý Thần Tông Dương Hoán (1128-1138) nối nghiệp Vua bác và ông này lập con gái Lê Bá Thiên làm Hoàng hậu Lê Thiên và có 5 phu nhân: Lý Thị, Minh Bảo, Cảm Thánh Lê Thị (mẹ Thái tử Thiên Tộ), Nhật Phong, Phụng Thánh; sinh hạ Thái tử Thiên Tộ, Hoàn tử Minh Đạo Vương; Công chúa Thuỵ Thiên, Thuỵ Minh…Thần Tông là ông Vua từng cho phép vợ mình về thăm nhà (1128); ban chiếu: Con gái các quan chỉ được lấy chồng khi việc chọn vào hậu cung bị loại ra (1130), cấm gia nô hoàng thân quốc thích lấy con gái các quan chức đô và của nhân dân (1131).

6. Lý Anh Tông Thiên Tộ (1138-1175) lập Đỗ Thị làm Phu nhân (sinh ra Long Trát Thái tử) và có lẽ là Hoàng đế đầu tiên lấy vợ ngoại quốc: Con gái vua Chiêm Chế Bilabut. Vua có bảy người con là Long Xưởng, Long Minh, Long Đức, Long Hòa, Long Ích, Long Trát và Long Tường. Trong số đó, hoàng tử Lý Long Tường , con trai thứ của Lý Anh Tông, để tránh hoạ tru di, vào năm 1226 cùng đoàn tùy tùng khoảng 40 người vượt biên sang lập nghiệp ở Cao Ly tức Korea, lập ra dòng họ Lý Hoa Sơn. Tại đây, ông lập công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông được phong Bạch mã tướng quân, cấp Thái ấp tại Hoa Sơn, cho dựng Thụ hàng môn và khắc Thụ hàng môn bi kí. Tám trăm năm sau, hậu duệ đời thứ 31 của Hoàng tử này là ông Lý Xương Căn đã về Việt Nam thăm lại đất Tổ.

Đây là triều đại đã để lại vết nhơ: Bởi Anh Tông còn nhỏ (3 tuổi) nên Thái hậu Lê Thị cầm quyền nhiếp chính nhưng Thái hậu lại tư thông với đại thần Đỗ Anh Vũ. Vì vậy Anh Vũ lộng quyền, triều thần căm giận tìm cách trừ khử nhưng lộ mưu Đỗ Anh Vũ đã giết họ. May nhờ các tôi trung tài giỏi như Tô Hiến Thành nên nước được giữ yên và khi Anh Tông khôn lớn càng chăm lo kiến quốc, giữ vứng biên cương. Dù sao bậc “Mẫu nghi thiên hạ” lại tư thông với gian nịnh, hại trung thần đã là dấu hiệu báo trước sự suy vi của Vương triều.

7. Lý Cao Tông Long Trát (1176-1240) được nối ngôi không nằm trong ý muốn của Chiêu Linh Thái hậu lại ham mê săn bắn, không lo triều chính nên Vương triều đã suy vi rõ. Ông này lập An Toàn Hoàng hậu lại lấy Đàm Thị làm phi. Đàm thị là mẹ của Thái tử Long Sảm và Hoàng tử Long Thầm. Đây là triều đại đã xẩy ra loạn Qúach Bốc (1209) buộc Vua chạy lên Tam Nông còn Thái tử về Lưu Gia ở miền biển Thái Bình. Họ Trần họp hương binh đánh về Thăng Long, rước Thái tử về triều, trừng trị phản loạn, đón Cao Tông về triều. Thấy Trần Thị Lý đẹp, Thái tử Sảm lấy làm vợ. Và cuộc hôn nhân Lý-Trần này là bước ngoặt để họ Trần thay thế họ Lý làm chủ Đại Việt.

8. Lý Huệ Tông Long Sảm (1211-1224) thay cha kế nghiệp đã lập người vợ yêu sắc nước hương trời thuộc dòng họ Trần ở Lưu Gia làm Nguyên phi mặc dù không được Đàm Thái hậu ủng hộ.

Mối tình giữa Long Sảm và Trần Thị Dung (con Trần Lý) ban đầu (1209) chỉ là mối  tình của Thái tử chạy loạn với cô gái vùng biển đẹp xinh. Nhưng Trần tộc sớm nhận ra yếu tố chính trị của mối tình này và Trần Thủ Độ đã nén tình riêng để mưu việc lớn. Song Huệ Tông vẫn chưa hẳn đã tin người họ Trần, nghi Trần Thị dung thông mưu làm phản nên đã từng giáng Nguyên phi xuống làm Ngự nữ (1213) đến 1216 sắc phong làm phu nhân Thuận Trinh. Vì quá yêu Trần Thị Dung nên Huệ Tông đã nhiều lần cứu vợ mình thoát chết trước những mưu toan của Thái hậu và có lần đã phải đem Trần Thị Dung đi trốn. Từ những biến cố đó, tình duyên của họ càng mặn nồng và em họ Hoàng hậu (được sắc phong cuối 1216) là Trần Thủ Độ, bộ óc của Trần tộc, được đưa lên giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ nắm giữ toàn bộ binh quyền, quyết định mọi việc của Lý triều và “tình cũ không rủ cũng tới”, Hoàng hậu xinh đẹp, trẻ trung cùng vị tướng đầy quyền uy, mạnh khoẻ đã có những việc làm ngoài lẽ quân thần. Trong khi đó vua chỉ sinh được 2 gái Thuận Thiên (sinh 1216) và Chiêu Thánh (sinh 1218). Công chúa lớn được gả cho Phụng Kiền Vương Trần Liễu. Vua ngày càng rượu chè, bỏ bê chính sự, chỉ nắm hư quyền. Tháng 10 Bính Thân Trần Hoàng hậu cùng quan Thái sư họ Trần ép Vua nhường ngôi cho Chiêu Thánh Công chúa, không nhường ngôi cho các cháu trai của Lý tộc và vào chùa Chân Giáo đi tu. Sau Huệ Tông tự tử mất tại đó. Khi đó Trần Tự Khánh (người Trần Thủ Độ kiêng dè nhất) cũng đã mất, đôi Trần Thị Dung-Trần Thủ Độ không còn kiêng dè gì nữa và thao túng toàn bộ Lý triều. Cuối 1225 Trần Thị Dung thấy Trần Cảnh là cháu ruột (con Trần Thừa - anh của Dung) nhà Lý đã hết vượng khí, quân Nguyên lại lăm le cõi bờ nên đã thông mưu cùng người tình Thái sư Trần Thủ Độ dàn cảnh để CLý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Khi nhà Lý mất ngôi, triều Trần nắm quyền thì tân triều đã tổ chức hôn lễ cho 2 chị em họ. Sau đó Trần Thị Dung được phong là Linh từ Quốc mẫu và bà đã có công không nhỏ trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất (1257). Đối với nhà Trần, với đất nước bà có công song đối với nhà Lý và nền đạo đức phương Đông thì bà lại có tội. 

9. Lý Chiêu Hoàng Phật Kim (1225) là con gái thứ hai được vua cha, dưới sức ép của Thủ Độ lập làm Thái tử và  nhường ngôi khi mới 7 tuổi.

Do đạo diễn của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh, con anh trai Thái hậu là Trần Thừa khi đó 8 tuổi được đưa vào làm Chánh thủ (Đội trưởng Đội Hậu cần). Giữa Nữ hoàng và Chánh thủ có cảm tình và trong lúc vui đùa đã đụng chạm vào nhau. Nhân đó Thủ Độ loan báo Bệ hạ có chồng và ngày 21/10 Ất Dậu ban Chiếu nhường ngôi để nghi lễ trao Long bào cho chồng Vua là Trần Cảnh diễn ra ngày 11/12 năm đó. Nhà Lý qua 8 đời Vua chấm dứt ở vị Nữ hoàng nhỏ tuổi này (Vua thứ 9) và vương quyền về tay họ Trần. Lý Chiêu Hoàng trở thành Nữ hoàng duy nhất của nước ta, là người kết thúc triều Lý, mở ra triều Trần. Sau khi nhường ngôi, Chiêu Hoàng trở thành Hoàng hậu Chiêu Thánh của triều Trần. Nhưng hơn 10 năm sau Chiêu Thánh vẫn không sinh nở, Thủ Độ sợ không người nối dõi nên vào năm 1237 lấy Thuận Thiên (chị Chiêu Thánh, vợ Trần Liễu tức chị dâu Trần Cảnh) làm Hoàng hậu Thuận Thiên, giáng Chiêu Thánh xuống làm Công chúa. Trần Thái Tông muốn chống lại việc vô luân đó cũng không được, Chiêu Thánh uất ức ẩn trong cung sâu.
20 năm sau, vào năm Mậu Ngọ 1258, khi ban thưởng sau chiến thắng quân Nguyên Mông, Thái Tông đã cho Lê Phụ Trần (tức Lê Tần, từng cứu Trần Thái Tông thoát hiểm trong trận Bình Lệ, 1257 thuộc dòng dõi Lê Hoàn) làm Ngự sử đại phu và gả Công chúa Chiêu Thánh cho ông này. Làm vợ tướng quân Lê Tần, Chiêu Thánh sinh được Lê Tông và Ngọc Khuê. Lê Tông sau được phong Thượng Vị hầu, Ngọc Khuê được ban Ứng Thuỵ Công chúa. Còn con người vợ trước của Lê Tần do lập công lớn đã được ban Quốc tính chính là dũng tướng Trần Bình Trọng. Chiêu Thánh thọ 60 tuổi, mất Bính Dần 1278 trong niềm yêu thương của chồng và con.

Việc Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng đã gợi cho Trần Thủ Độ một bài học và từ đó nẩy ra cái lệ: Vua quan nhà Trần chỉ lấy người nội tộc và thói loạn luân gây hậu quả từ đó mà ra. Nhưng dù muốn hay không sau đó 175 năm nhà Trần vẫn phải dẫm lại bước chân nhà Lý là mất ngôi về tay họ ngoại, họ Hồ.
Như vậy Chiêu Thánh đáng thương hơn đáng trách và bà có công chứ chẳng có tội gì với cả đất nước, hay 2 triều Lý-Trần. Việc Đình Đô chỉ thờ Bài vị 8 Vua nam xem ra chưa mấy công bằng.


Tiêu đề: Re: Những Giai nhân ảnh hưởng đến sự hưng vong của Vương triều Lý
Gửi bởi: menthuong trong 30 Tháng Mười Một, 2009, 06:22:29 pm
Những Công chúa  đem thân  Lá ngọc cành vàng rời lầu son gác tía ra nơi biên cảnh phục vụ chính sách nhu viễn của Vương triều:
Cho đến khi họ Lý nắm quyền thì triều đình phong kiến Việt Nam cũng mới chỉ nắm chặt vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ ngày nay. Còn vùng núi phía bắc xa xôi, tại các châu, động, do điều kiện địa lý và giao thông nên các triều đình phong kiến chưa thực sự đặt được bộ máy cai quản theo đúng nghĩa tại vùng này. Đây là vùng do các tù trưởng người địa phương cai quản, nắm giữ theo chế độ kimi từ đời Đường. Những thổ hào vùng này chịu nộp thuế cho các thế lực nào mạnh hơn và nó là trái độn giữa Đại Việt, Đại Lý, và các triều đại Trung Hoa.

Để nắm giữ và tăng cường ảnh hưởng, ràng buộc, liên kết giữa chính quyền trung ương với các châu mục, thổ ty các địa phương miền núi , nhà Lý áp dụng chính sách nhu viễn và đưa con của mình làm vợ những người này.

1.Vào thế kỷ XI, ở biên giới đông bắc nước Đại Việt có vùng đất tên là Lạng Châu (phía bắc tỉnh Bắc Giang và phía nam Ải Chi Lăng thuộc tỉnh Lạng Sơn nay). Ở đó có Động Giáp mà chúa Động là Giáp Thừa Quý cai quản một bộ lạc dân tộc lớn. Giáp Thừa Quý được vua Lý Thái Tổ gả con gái (chưa tra được tên), trở thành Phò mã của triều đình. Từ đây, ông đổi tên họ Giáp thành họ Thân và lấy tên là Thân Thừa Quý. Đây chính là việc đầu tiên thành lệ các vua nhà Lý gả Công chúa cho dòng hok Thân tù trưởng vùng này.

2. Tiếp theo chính sử có chép chuyện Công chúa Bình Dương, con gái của Lý Thái Tông vào năm 1029 được gả cho Châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái. Năm 1059, quan lại nhà Tống lại dụ dỗ một số dân vùng châu Lạng sang Tống, Phò mã Thân Thiệu Thái đưa quân lên vùng biên giới đòi nhà Tống trả lại dân. Tướng Tống ở Ung Châu là Tống Sĩ Nghiêu đem quân đánh sang châu Lạng, bị quân ta do Thân Thiệu Thái chỉ huy đánh cho đại bại và  cùng với các cánh quân khác, Thân Thiệu Thái rầm rộ tiến quân lên Ung Châu, bắt sống tại trận viên chỉ huy quân Tống là Dương Bảo Tài và nhiều quân giặc, trâu, ngựa...Triều đình Tống yếu thế, viện cớ rằng những cuộc xung đột ở biên giới là do các tướng Tống ở biên giới gây ra và phải xin thương lượng với ta. Từ đây dòng họ Thân xứ Lạng nối đời thế tập nắm giữ biên cương xây dựng vùng này trở thành “phên dậu quốc gia” đi đầu trong việc cảnh báo, ngăn chặn các thế lực bành trướng từ Bắc quốc tràn sang.

3. Sau đó người em là Công chúa Kim Thành được gả cho Châu mục châu Phong là Lê Thuận Tông vào năm 1036. Cùng năm gả tiếp Công chúa Trường Ninh cho Châu mục Thượng Oai là Thiện Lãm. Đây là những châu lớn, lắm tiền nhiều người và là áo giáp che chắn cho Kinh thành.

4. Năm 1066, con của Thân Thiệu Thái là Thân Cảnh Phúc được vua Lý Thánh Tông gả con gái là Công chúa Thiện Thành. Đây là vị phò mã thứ 3 của tộc Thân thời 3 vị Vua đầu triều đại nhà Lý. Mối quan hệ hôn nhân giữa các vị đậu mục Thân tộc nói trên với các công chúa  nhà Lý đã góp phần quan trọng giúp đất nước ta, từ Ải Nam Quan đến thung lũng sông Lục Nam, củng cố biên giới chiến thắng quân Tống xâm lược và giữ yên bờ cõi. Sử Tống triều chép rằng nhiều lần họ Thân kéo quân đánh sang đất Tống để đuổi bắt bọn người chạy trốn sang nước ngoài, đánh bại quan quân nhà Tống giữ người không trả.Phò mã Thân Cảnh Phúc, vào đầu năm 1077 đã lãnh đạo quân dân Châu Lạng chiến đấu kiên cường và đầy mưu trí làm tiêu hao sinh lực địch rất nhiều khiến quân Tống phải gọi là “Thiên thần động Giáp”. Cuộc kháng chiến chống Tống thắng lợi của nhà Lý ghi một chiến công hào hùng cho lịch sử dân tộc. Thân Cảnh Phúc đã hi sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến như một vị tướng của quê hương.

5. Đến đời Lý Nhân Tông, vào năm 1082 ông đã đem em mình là Công chúa Khâm Thánh gả cho Châu mục Vị Long là Hà Di Khánh.

6. Năm 1127 Lý Thần Tông gả em mình là Công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh Phủ Phú Lương là Dương Tự Minh và 17 năm sau Lý Anh Tông lại gả tiếp cô mình là Thiều Dung cho thủ lĩnh vùng núi phía Bắc kinh thnàh và gia phong ông làm Phò mã Lang. Chính Dương Tự Minh có công lớn giữ yên vùng phía Bắc Thắng Long, được nhân dân suy tôn “Thủ lĩnh áo chám”.

7. Cũng Lý Anh Tông, năm 1148 gả Công chúa Thuỵ Thiên về Châu Lạng.

Trên đây là một số Công chúa triều Lý được gả cho các thủ lĩnh vùng biên viễn, vùng áo giáp để che chắn cho kinh thành. Nhưng khi cần thiết thì vua, con trai vua hay các quan cũng có thể đánh dẹp để đảm bảo khối thống nhất của đất nước. Trong sách Đại Việt Sử ký Toàn thư có rất nhiều đoạn nói về việc đánh dẹp của các vua đối với các châu (Vị Long, Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên, Định Nguyên, Trệ Nguyên, Thất Nguyên, Văn Châu, châu Hoan v.v). Đỉnh cao là đánh dẹp cha con Nùng Tồn Phúc và Nùng Trí Cao ở châu Quảng Nguyên (1039-1053).

8. Hai Công chúa cuối cùng của Lý triều được gả cho người họ Trần và đó là cái cầu bắc để vương quyền về tay họ khác, bước đệm để hào khí Đông A toả sáng.

Chuyện những “Lá Ngọc cành Vàng” của triều Lý được gả về cho các tù trưởng, các dòng họ có thế lực ở những vùng xung yếu quốc gia đã góp phần củng cố vương quyền, giữ yên xã tắc, đưa đất nước thịnh trị đi lên. Việc làm này không mới với sử Hoa nhưng trong sử Việt, đặc biệt là chính sử thì ghi chép rất mờ nhạt.

 Nếu viết thành truyện chắc lâm ly, hấo dẫn chẳng kém chuyện Tầu. Nhưng ai làm?


Tiêu đề: Re: Những Giai nhân ảnh hưởng đến sự hưng vong của Vương triều Lý
Gửi bởi: menthuong trong 01 Tháng Mười Hai, 2009, 10:17:37 pm

6. Năm 1127 Lý Thần Tông gả em mình là Công chúa Diên Bình cho thủ lĩnh Phủ Phú Lương là Dương Tự Minh và 17 năm sau Lý Anh Tông lại gả tiếp cô mình là Thiều Dung cho thủ lĩnh vùng núi phía Bắc kinh thnàh và gia phong ông làm Phò mã Lang. Chính Dương Tự Minh có công lớn giữ yên vùng phía Bắc Thắng Long, được nhân dân suy tôn “Thủ lĩnh áo chám”.


Như vậy Dương Tự Minh được lấy tới 2 Công chúa và theo lẽ thường phải là 2 lần Phò mã, vậy sẽ là chức gì? và trong lịch sử Việt Nam, thế giứoi có trường hợp tương tự nào không? (Dĩ nhiên không tính triều Trần bởi ở đó nội tộc lấy lẫn nhau)!


Tiêu đề: Re: Phải chăng vấn đề "loạn luân" trong hoàng thất đã được khởi mào từ th
Gửi bởi: menthuong trong 03 Tháng Mười Hai, 2009, 07:42:06 pm
Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Trước đó vua sai Viên ngoại lang Lý Khánh Thần và [30b] vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn, Viên ngoại lang Trần Ngọc Độ và vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sư Lý Sơn,…, sách lập con gái Sơn làm hoàng hậu Lê Thiên,…; thắng Sơn lên tước hầu…”

Ta biết rằng, thời phong kiến những người nắm giữ chức vụ cao đa phần là người hoàng tộc. Hơn nữa Thần Tông (1128-1138) là vua thứ 5 của triều Lý và khi đó họ Lý đã xác lập vương quyền được 118 năm (1128-1010) nên  rất có thể quan Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn (cha Lê Thiên hoàng hậu) là người trong Lý tộc.

Nếu đúng vậy Triều Lý Thần Tông đã đặt tiền lệ cho việc các vua và quan đầu triều lấy vợ trong Hoàng tộc, tức tệ loạn luân cho triều Trần sau này!


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: macbupda trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 04:25:04 pm
Hai năm sau Ỷ Lan đậu thai (truyền rằng do Chi hậu Nội nhân Nguyễn Bông dùng thuật “đầu thai thác hoá” học được từ sư thầy mà ra) và sinh hạ Hoàng năm vào năm 1066 (khi Vua đã 43 tuổi). Ấu tử Càn Đức lập tức được lập làm Hoàng Thái tử và mẹ nâng thành Thần phi. Hai năm sau Ỷ Lan sinh tiếp 1 Hoàng tử nữa (Minh Nhân Vương) rồi năm sau sinh tiếp Sùng Hiến Hầu.

Xin hỏi bác menthuong, bác căn cứ vào đâu để xác định năm sinh của Sùng Hiền Hầu? Sử cũ chỉ thấy ghi: Lý Nhân Tông sinh ngày 25 tháng 1 năm Long Chương Thiên Tự thứ nhất (Bính Ngọ, 1066); em cùng mẹ là Minh Nhân Vương sinh tháng 2 năm Long Chương Thiên Tự thứ ba (Mậu Thân, 1068), còn không thấy tài liệu nào (Toàn thư, Cương mục, Đại Việt sử lược, An Nam chí lược) ghi rõ năm sinh của Sùng Hiền Hầu, cũng không thấy ghi tuổi thọ của ông khi mất để xác định năm sinh. Vậy thông tin bác viết ra là dựa vào đâu?


Tiêu đề: Re: Phải chăng vấn đề "loạn luân" trong hoàng thất đã được khởi mào từ th
Gửi bởi: caytrevietnam trong 04 Tháng Mười Hai, 2009, 11:34:57 pm
Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Trước đó vua sai Viên ngoại lang Lý Khánh Thần và [30b] vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn, Viên ngoại lang Trần Ngọc Độ và vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sư Lý Sơn,…, sách lập con gái Sơn làm hoàng hậu Lê Thiên,…; thắng Sơn lên tước hầu…”

Ta biết rằng, thời phong kiến những người nắm giữ chức vụ cao đa phần là người hoàng tộc. Hơn nữa Thần Tông (1128-1138) là vua thứ 5 của triều Lý và khi đó họ Lý đã xác lập vương quyền được 118 năm (1128-1010) nên  rất có thể quan Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn (cha Lê Thiên hoàng hậu) là người trong Lý tộc.

Nếu đúng vậy Triều Lý Thần Tông đã đặt tiền lệ cho việc các vua và quan đầu triều lấy vợ trong Hoàng tộc, tức tệ loạn luân cho triều Trần sau này!


Đó là suy đoán của bác. Biết đâu ông kia họ Lý thật nhưng không phải là hoàng tộc, hoặc là người được ban quốc tính thì sao?


Tiêu đề: Re: Phải chăng vấn đề "loạn luân" trong hoàng thất đã được khởi mào từ th
Gửi bởi: menthuong trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 10:57:36 am
Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Trước đó vua sai Viên ngoại lang Lý Khánh Thần và [30b] vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn, Viên ngoại lang Trần Ngọc Độ và vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sư Lý Sơn,…, sách lập con gái Sơn làm hoàng hậu Lê Thiên,…; thắng Sơn lên tước hầu…”

Ta biết rằng, thời phong kiến những người nắm giữ chức vụ cao đa phần là người hoàng tộc. Hơn nữa Thần Tông (1128-1138) là vua thứ 5 của triều Lý và khi đó họ Lý đã xác lập vương quyền được 118 năm (1128-1010) nên  rất có thể quan Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn (cha Lê Thiên hoàng hậu) là người trong Lý tộc.

Nếu đúng vậy Triều Lý Thần Tông đã đặt tiền lệ cho việc các vua và quan đầu triều lấy vợ trong Hoàng tộc, tức tệ loạn luân cho triều Trần sau này!


Đó là suy đoán  của bác. Biết đâu ông kia họ Lý thật nhưng không phải là hoàng tộc, hoặc là người được ban quốc tính thì sao?

Vâng, mới "có thể", "nếu" và "suy đoán" thôi. Các sử gia và QSVN gia nào có tư liệu khẳng định (kết luận hay loại trừ) được xin chỉ giáo!

Xin hỏi bác menthuong, bác căn cứ vào đâu để xác định năm sinh của Sùng Hiền Hầu? Sử cũ chỉ thấy ghi: Lý Nhân Tông sinh ngày 25 tháng 1 năm Long Chương Thiên Tự thứ nhất (Bính Ngọ, 1066); em cùng mẹ là Minh Nhân Vương sinh tháng 2 năm Long Chương Thiên Tự thứ ba (Mậu Thân, 1068), còn không thấy tài liệu nào (Toàn thư, Cương mục, Đại Việt sử lược, An Nam chí lược) ghi rõ năm sinh của Sùng Hiền Hầu, cũng không thấy ghi tuổi thọ của ông khi mất để xác định năm sinh. Vậy thông tin bác viết ra là dựa vào đâu?

Do ham muốn tìm hiểu những vấn đè thuộc "thâm cung bí sử" nên tôi hay tìm đọc và ghi lại để biết và không định nghiên cứu hay công bố gì nên thường không ghi xuất xứ tư liệu. Nay bác macbupda @ hỏi mới chợt nhớ ra nhưng tìm mãi chả thấy đã ghi điều đó đọc ở đâu. Thế mà lúc "say" quá đã đưa lên, Khất lỗi, sẽ tìm lại sau.
Trước mắt xin sửa đoạn "rồi năm sau sinh tiếp Sùng Hiến Hầu" thành "sau sinh tiếp Sùng Hiền hầu". Hoặc bác nào có tư liệu nhắn lại để cùng nhớ thì hay quá, được không ạ!


Tiêu đề: Re: Một số kỷ lục Vương triều Lý xác lập
Gửi bởi: menthuong trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 12:04:29 pm
Tiếp thu thành quả của các tiền triều: Ngô (吳氏,938 - 967), Đinh (丁氏,968 - 980), Tiền Lê (前黎氏,980 - 1009), Nhà Lý (李朝, 1009 - 1225) trong 216 năm tồn tại, trải qua 9 đời Vua (Lý Thái Tổ (974–1028), Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054--1072), Lý Nhân Tông (1072-1127), Lý Thần Tông (1128-1138), Lý Anh Tông (1138-1175), Lý Cao Tông (1175-1210), Lý Huệ Tông (1210-1224), Lý Chiêu Hoàng (1224-1225)) là triều đại nhiều công lao trong việc định đô (Thăng Long, 1010), đặt quốc hiệu (Đại Việt,  tháng 10 năm 1054), sửa sang chính sự, phát triển văn hoá, đặt nền ngoại giao…Đồng thời cũng là triều đại lập nhiều kỷ lục đáng nhớ. Đó là triều đại :

1. Mở khoa thi đầu tiên (02/1075): đó là kỳ thi Tam trường “Minh kinh bác học” năm Ất Mão (02/1075) dưới triều Lý Nhân Tông. Kỳ này chọn được 10 người. Thủ khoa là Lê Văn Thịnh, làm quan lên đến chức Thái Sư nhưng sau đó năm 1096 bị đày vì tội “giết vua”. Việc thi cử theo chế độ Nho học ở ta bắt đầu từ đó và chấm dứt vào năm 1919 dưới thời vua Khải Định.

2. Có Vua lập nhiều Hoàng hậu nhất: Lý Thái Tôn Phật Mã (1028-1054) tôn mẹ là Lê thị (Lập Giáo Hoàng hậu) làm Linh Hiển Thái hậu và năm 1028 lập Kim Thiên Mai Thị (mẹ Lý Nhật Tông) và 6 vị khác làm Hoàng hậu. Đặc biệt năm 1035 lập nàng hầu làm Hoàng hậu Thiên Cảm sau lại lập Đào Thị (vốn giỏi nghề ca hát) làm Phi.

3. Hoàng đế đầu tiên lấy vợ ngoại quốc: Lý Anh Tông Thiên Tộ (1138-1175) lấy  Con gái vua Chiêm Chế Bilabut (chưa tìm thấy tư liệu chi tiết).

4. Thái hoàng đầu tiên:  Sùng Hiến hầu, là con trai của vua Lý Thánh Tông, em của Lý Nhân Tông. Năm 1115, phu nhân họ Đỗ của ông có mang, trở dạ mãi không đẻ, liền sai người đi báo với Từ Đạo Hạnh. Từ Đạo Hạnh trút xác trong núi. Sau đó Đỗ thị sinh ra con trai, đặt tên là Dương Hoán, vua Nhân Tông đưa vào cung làm nghĩa tử. Đến năm 1117 thì Dương Hoán được lập làm Thái tử, khi lên ngôi 1129, tôn ông làm Thượng hoàng (1129-1130).

5. Hoàng đề đầu tiên xuất gia đi tu: Lý Huệ Tông (1211-1224) là con trưởng của Lý Cao Tông, mẹ là hoàng hậu họ Đàm, sinh tháng 7 năm Giáp Dần (1194). Năm Mậu Thìn (1208), ông được vua cha lập làm hoàng thái tử, lúc đó ông 15 tuổi. Tháng 10 năm 1210, Lý Cao Tông chết, Lý Sảm nối ngôi. Đến tháng 10, dưới sức ép của Trần Thủ Độ, ông chính thức nhường ngôi lại cho con gái là công chúa Chiêu Thánh mới lên 8 tuổi, tức là Lý Chiêu Hoàng. Huệ Tông lên làm Thái thượng hoàng và đi tu ở chùa Bút Tháp, lấy pháp danh là Huệ Quang đại sư. Năm 1226 Trần Thủ Độ ép ông tự tử, chết ở chùa Chân Giáo. Như vậy Lý Hạo Sảm thọ 33 tuổi, làm vua 14 năm, đi tu 2 năm.

6. Triều đại đầu tiên có Thái giám góp nhiều công đức cho đất nước: Lý Thường Kiệt (李常傑 tên thật là Ngô Tuấn, 1019–1105) với chiến công đánh úp 3 châu nhà Tống, phá Tống, Bình Chiêm và với bài thơ Thần nổi tiếng. Thực ra trước đó dã có Thái giám Lý Nhân Nghĩa vào năm 1028 từng tâu xin Thái tử Phật Mã và có công cùng tướng lĩnh dẹp “Loạn Tam vương”.

7. Nữ hoàng đầu tiên và duy nhất của Việt Nam: Lý Chiêu Hoàng Phật Kim (1225) là con gái thứ hai được vua cha, dưới sức ép của Thủ Độ lập làm Thái tử và  nhường ngôi khi mới 7 tuổi, cuối năm trao áo Long bào nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (tức Trần Thái Tôn, 1225-1258) mở ra triều Trần (陳朝,1225 - 1400).

8. Triều đại có nhiều lần bắc tiến nhất:
- Năm Nhâm Tuất (1022) vua Lý Thái Tổ sai Dực Thánh Vương (Nhị Hoàng tử) đem quân đi đánh Đại Lịch do người Nùng ở đây làm phản, sau đó “quân ta đi sâu vào trấn Như Hồng đất Tống, đốt kho tàng rồi rút về” .
- Tháng 3 năm Kỷ Hợi (1059) vua Lý Thánh Tông cho quân “đánh Khâm Châu nước Tống, khoe binh uy rồi về, vì ghét nhà Tống phản phúc”.
- Năm Canh Tý (1060) châu mục Lạng Châu của nước ta là Phò mã Thân Thiệu Thái đánh vào đất Tống, bắt được tướng Tống là Dương Bảo Tài và quân lính, trâu ngựa đem về.
- Ngày 15/9 Ất Mão (27/10/1075) bằng chiến sách khôn khéo, bất ngờ và táo bạo, 40.000 quan quân Đại Việt do Lý Thường Kiệt 李常傑 thống lĩnh tấn công thành Khâm châu (30/12/1075), tiếp làm chủ Liêm châu (03/01/1076). Đây là 2 châu giáp biển thuộc Quảng Tây giáp với Quảng Ninh và Lạng Sơn nay. Sau đó Lý Thường Kiệt sai làm Phạt Tống lộ bố văn 罚宋路佈文,yết dọc đường để lấy danh nghĩa và gây thanh thế rồi đem quân tiến tới tận Ung châu (cung xthuộc Quảng Tây) phá được thành này sau 42 ngày vây hãm. Trận “Tiên hạ thủ vi cường” này làm cả triều Tống lo sợ và bối rối. Tống Thần Tông dặn ty kinh lược Quảng Tây : “Nếu xem chừng có quân Giao Chỉ tới đâu mà không đủ quân giữ, thì chỉ giữ mấy chỗ hiểm yếu mà thôi…” sau đó lại dụ : “Nếu quân bỏ thành mà đi chỗ khác, thì lo rằng lòng dân rối sợ. Hãy bảo các quan ti đều phải trở lại thành mình”. Rõ là hai đạo chiếu trái ngược nhau, kết cụ là thành trì và quân Tống bị thiệt hại nặng. Như vậy, trong hơn 3 tháng trời, Lý Thường Kiệt cùng binh khê động tâm phúc các nơi tiến quân vào đất Tống, phá hết các cứ điểm của Tống mà có thể dùng để đánh ta, phá thành Ung, Khâm, Liêm; đốt các trái Vĩnh Bình, Thái Bình, Cổ Vạn, Thiên Long, giết người vô số (khoảng 7-10 vạn người) rồi rút quân về đem theo hàng ngàn quân dân Tống bị bắt đem về Đại Việt cùng nhiều của cải. Tất cả chuẩn bị đợi Tống sang làm nên trận Như Nguyệt nổi tiếng (Xuân Hè 1076).

9. Triều đại chính thức xác định chủ quyền vùng Tây Bắc ngày nay:
Năm 1014, tướng nước Đại Lý là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long (nay là huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang) và châu Đô Kim (nay là huyện Hàm Yên - Tuyên Quang), vua Lý Thái Tổ sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, quân Đại Lý đại bại, nhân cơ hội đó nhà Lý sát nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Việt. Sau đó vào năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Bạch ở Yên Bái, Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt.
Đây là bước đệm, cơ sở để sau này năm 1478, vua Lê Thánh Tông, sau khi thu phục tiểu vương quốc Bồn Man của người Thái đã sát nhập vùng Sơn La, các huyện phía tây Thanh Hóa, Nghệ An ngày nay vào đất Đại Việt. Tiếp theo, năm 1885, Pháp (khi đó đang xâm lược Việt Nam) đã gây chiến với nhà Thanh tranh dành ảnh hưởng ở miền bắc Việt Nam và giành được chiến thắng. Công ước Pháp-Thanh 1885 đã đưa về vùng đất Lai Châu, Điện Biên, bắc Lào Cai ngày nay thuộc về xứ Bắc kỳ.

10. Triều đại thực hiện đòn răn đe đầu tiên của Đại Việt buộc các đời vua Chăm phải triều cống: Năm 1069, vua Lý Thánh Tông Nhật Tôn (李聖宗日尊, 1054-1072) thân chinh mang 10 vạn quân vào đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm Thành bấy giờ là Chế Củ 制矩 và nhiều quan quân, dân chúng Chiêm. Chế Củ buộc phải dâng đất của ba châu Bố Chính 布政, Địa Lý 地理 và Ma Linh 痲令 cầu hòa. Vua Lý Thánh Tông đặt tên cho vùng đất mới này là trại Tân Bình, lãnh thổ Đại Việt thêm vùng đất nay là Quảng Bình và bắc Quảng Trị. Những dân Chiêm bị bắt được đưa đi khai khẩn những vùng đất hoang ở xa, trong đó có châu Đăng nay là Lào Cai . Chính dịp Nam tiến này, Lý Thánh Tông đã giải phóng khỏi kiếp nô lệ đối với Thảo Đường, người Trung Quốc đang bị bắt và giam tại Chiêm Thành đưa về Đại Việt. Vị sư này đã được vua cho mở đạo tại chùa Khai Quốc vào năm 1069, lập ra dòng Thiền tông thứ ba của Phật giáo Việt Nam. Sau đó, vào năm 1075, trước khi “tiên phát chế nhân” đánh Tống, Thái úy Lý Thường Kiệt đã kéo quân vào đánh Chiêm, vẽ địa đồ 3 châu mà Chế Củ đã dâng và 3 châu ấy chính thức nội thuộc Đại Việt từ đây. Ông còn Nam chinh đánh Chiêm lần nữa vào năm 1104 lấy lại 3 Châu trên mà vua Chiêm được phản tướng Lý Giác dâng nộp cho vua Chiêm Thành là Chế Ma Na (Jaya Indravarman 2, 1086-1113). Như vậy Danh tướng Lý Thường Kiệt mặt Bắc kéo quân sang đất Tống đánh Khâm Châu, Liêm Châu (thuộc tỉnh Quảng Đông, 1075), trong nước phá Tống trên phòng tuyến  Như Nguyệt (1076) mặt Nam thì 2 bận bình Chiêm (1075 và 1104). Đây là bước Nam tiến đầu tiên, đất đai nhà Lý đã kéo xuống đến sông Thạch Hãn.
Từ sau trận đánh của Lý Thường Kiệt vào năm 1104, các vua Chiêm trở nên thần phục Đại Việt hơn, đây là giai đoạn Chiêm Thành và Đại Việt có mối giao hảo tốt đẹp.

11. Triều đại đầu tiên gả Công chúa cho các tù trưởng vùng trọng yếu quốc gia. Đó là các Công chúa: …., Bình Dương (năm 1029 được gả cho Châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái), Kim Thành (được gả cho Châu mục châu Phong là Lê Thuận Tông vào năm 1036), Khâm Thánh (gả cho Châu mục Vị Long là Hà Di Khánh), Diên Bình (gả cho thủ lĩnh Phủ Phú Lương là Dương Tự Minh năm 1127) và 17 năm sau gả tiếp công chúa Thiều Dung cho ông này,  Thuỵ Thiên (về Châu Lạng năm 1148).
 
12. Triều đại duy nhất có Phò mã lấy 2 Công chúa và Phò mã đó là Dương Tự Minh. Ông là thủ lĩnh miền Phú Lương và được Lý triều gả Công chúa Diên Bình vào năm 1127 và Công chúa Thiều Dung vào năm 1144.

13. Triều đại có Hoàng đế xuất gia mở đầu cho việc kết thức Vương triều. Đó là: Lý Huệ Tông (李惠宗,
1211 – 1224) là vị vua thứ tám của nhà Lý, tháng 10/1224, dưới sức ép của Trần Thủ Độ, ông nhường ngôi lại cho con gái là công chúa Chiêu Thánh mới lên 8 tuổi, tức là Lý Chiêu Hoàng. Huệ Tông lên làm thái thượng hoàng và đi tu ở chùa Bút Tháp, lấy pháp danh là Huệ Quang đại sư.Không lâu sau, Trần Thủ Độ sắp đặt để Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tức là Trần Thái Tông. Năm 1226 tự tử tại chùa Chân Giáo.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 04:26:11 pm
Việc Lý Anh Tông lấy vợ nước ngoài (con gái vua Chiêm Thành là Chế Bì La Bút) xảy ra tháng 10 năm Đại Định thứ 15 (Giáp Tuất, năm 1154). Vua Lý trước đó do lời xin của một người Chiêm Thành là Ung Minh Tạ Điệp (Vancarâja), sai Thượng chế Lý Mông đem quân đưa Ung Minh Ta Điệp về định lập làm vua Chiêm. Vua nước ấy là Chế Bì La Bút (Jaya Haivarman I, vốn là em vợ Ung Minh Ta Điệp) chống cự và giết cả Lý Mông lẫn Ung Minh Ta Điệp. Sợ bị vua Lý "hỏi tội" giết Lý Mông, Chế Bì La Bút dâng con gái cho vua Lý Anh Tông, vua nhận. Việc này xem ở trong Đại Việt sử ký toàn thư.
Từ đó có thể thấy thêm một việc nữa là: Triều Lý là vương triều đầu tiên của ta đem quân can thiệp công việc nội bộ của nước khác. ;D


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 04:30:30 pm
Việc Lý Anh Tông lấy vợ nước ngoài (con gái vua Chiêm Thành là Chế Bì La Bút) xảy ra tháng 10 năm Đại Định thứ 15 (Giáp Tuất, năm 1154). Vua Lý trước đó do lời xin của một người Chiêm Thành là Ung Minh Tạ Điệp (Vancarâja), sai Thượng chế Lý Mông đem quân đưa Ung Minh Ta Điệp về định lập làm vua Chiêm. Vua nước ấy là Chế Bì La Bút (Jaya Haivarman I, vốn là em vợ Ung Minh Ta Điệp) chống cự và giết cả Lý Mông lẫn Ung Minh Ta Điệp. Sợ bị vua Lý "hỏi tội" giết Lý Mông, Chế Bì La Bút dâng con gái cho vua Lý Anh Tông, vua nhận. Việc này xem ở trong Đại Việt sử ký toàn thư.
Từ đó có thể thấy thêm một việc nữa là: Triều Lý là vương triều đầu tiên của ta đem quân can thiệp công việc nội bộ của nước khác. ;D
Trời, bác macbupda@ tìm đâu ra vậy  ???, tôi đã lục tung khối sách vở mình và thư viện quanh nơi sống tìm mà hổng ra  ::). Bộ Đại Việt sử ký toàn thư tôi cũng có (do Cao Huy Giu dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, NXB Văn hóa thông tin-Hà Nội-2006) mà tìm không được, chắc đọc chưa kĩ, chán thật. Xin cám ơn nhiều.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: macbupda trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 04:45:19 pm
Bác hỏi câu này lạ quá?  ??? Bác đã biết là việc này xảy ra thời Lý Anh Tông, lại có sẵn trong tay bộ Đại Việt sử ký toàn thư thì mở ngay phần Lý Anh Tông ra xem rồi tìm thì thấy dễ ợt mà. Chắc bác đọc không kĩ thôi. Bản em xài của Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin năm 2003, Ngô Đức Thọ dịch, Hà Văn Tấn hiệu đính.

Nhân đây cũng nói rõ việc Ung Minh Ta Điệp cầu cứu với nhà Lý. Chế Bì La Bút là con được truyền ngôi của vua Civânandana (người lập ra vương triều XI của Champa). Ông đã lên ngôi từ năm 1147, và có công đánh đuổi người Chân Lạp đang chiếm miền Bắc Chiêm Thành vào năm 1149. Sau người Kiratas, tức người Mọi ở miền núi nổi loạn, tôn Ung Minh Ta Điệp là anh vợ Chế Bì La Bút làm thủ lĩnh. Năm 1151, Chế Bì La Bút đánh bại Ung Minh Ta Điệp, bắt hết vây cánh. Vì vậy mới có việc Ung Minh Ta Điệp chạy ra Đại Việt cầu cứu vua Lý vào năm 1152. Việc này xem trong sách: Việt sử xứ Đàng Trong của nhà nghiên cứu Phan Khoang.


Tiêu đề: Re: Phải chăng vấn đề "loạn luân" trong hoàng thất đã được khởi mào từ th
Gửi bởi: lonesome trong 05 Tháng Mười Hai, 2009, 09:17:12 pm
Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Trước đó vua sai Viên ngoại lang Lý Khánh Thần và [30b] vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn, Viên ngoại lang Trần Ngọc Độ và vợ đi đón con gái của Điện tiền chỉ huy sư Lý Sơn,…, sách lập con gái Sơn làm hoàng hậu Lê Thiên,…; thắng Sơn lên tước hầu…”

Ta biết rằng, thời phong kiến những người nắm giữ chức vụ cao đa phần là người hoàng tộc. Hơn nữa Thần Tông (1128-1138) là vua thứ 5 của triều Lý và khi đó họ Lý đã xác lập vương quyền được 118 năm (1128-1010) nên  rất có thể quan Điện tiền chỉ huy sứ Lý Sơn (cha Lê Thiên hoàng hậu) là người trong Lý tộc.

Nếu đúng vậy Triều Lý Thần Tông đã đặt tiền lệ cho việc các vua và quan đầu triều lấy vợ trong Hoàng tộc, tức tệ loạn luân cho triều Trần sau này!


Đó là suy đoán  của bác. Biết đâu ông kia họ Lý thật nhưng không phải là hoàng tộc, hoặc là người được ban quốc tính thì sao?

Vâng, mới "có thể", "nếu" và "suy đoán" thôi. Các sử gia và QSVN gia nào có tư liệu khẳng định (kết luận hay loại trừ) được xin chỉ giáo!
Xin phép các bác tôi chen ngang: Bác MT không thể đưa ra 1 giả thuyết rồi bắt người khác đi chứng minh giả thuyết của mình được. Trong luận điểm bác đưa ra có sơ hở: Bác dùng 2 mệnh đề chưa biết đúng sai (Nếu - Rất có thể) để đưa ra 1 câu hỏi. Bác Mác cũng đã hỏi bác rồi nhưng hình như bác vẫn chưa thỏa mãn ?!? Khuyên bác không nên sa đà vào những giả thuyết kiể đấy nếu không muốn làm 1 Trương Thái Du thứ 2.
Kính


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 07 Tháng Mười Hai, 2009, 05:57:02 pm
Tôi nói rồi: bởi đọc tại thư viên không kĩ thôi, hôm sau nghe con gái mách nước xem lại ở đây http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1ntn4ntn31n343tq83a3q3m3237nnn cũng có nên lao vào đọc, đúng thiệt!.

Riêng Trương Thái Du tôi chẳng biết là ai. Sau hỏi anh Gúc biết đó hình như là nhà văn, thế thì càng chẳng liên quan gì đến một người mới qua "đọc thông viết thạo" như tôi. Nơi ở, quan điểm, địa vị xã hội càng xa nhau. Xin bác  lonesome @ yên tâm và đừng có ý định "phong" cho tôi cái vinh hạnh KHÔNG BAO GIỜ CÓ đó!


Tiêu đề: Re: Giáo dục và thi cử thời nhà Lý
Gửi bởi: menthuong trong 11 Tháng Mười Hai, 2009, 05:39:33 pm
Buổi đầu của thời kỳ xây nền tự chủ, dưới các triều Ngô (吳氏,938 - 967), Đinh (丁氏,968 - 980), Tiền Lê (前黎氏,980 - 1009) nhà nước trọng dụng các nhà sư và chính họ đã có một vai trò quan trọng trong việc cai trị đất nước. Nhưng thủa ban đầu xây dựng nhà nước phong kiến, các vị vua còn lo phòng thủ, giữ nước, việc dùng người chỉ tùy đức độ và khả năng thiên bẩm. Do vậy việc học hành thi cử chưa mấy chú trọng và thực tế chính sử ít chép về việc này.

Tiếp thu và phát triển thành tựu của 3 Vương triều trước đó, nhà Lý (李朝, 1009 - 1225) đã quan tâm hơn đến việc học. Vị Vua khai quốc là Lý Thái Tổ là học trò nhà sư Lý Khánh Vân ở chùa Lục Tổ. Các sư tăng đồng thời cũng là những trí thức và những người đi học thường đến chùa học giống như Campuchia và người Khơ Me còn duy trì cách thức đó cho đến nay. Do vậy khi đó, cách dùng người đều do các nhà sư có địa vị lựa chọn, cất nhắc những người thông minh, nhanh nhẹn. Sau kháng Tống, bình Chiêm thắng lợi, triều Lý chú ý đến phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, làm nền cho việc xây dựng triều chính, quốc gia. Về tư tưởng, Phật giáo đang ở thời kỳ hoàng kim, nhưng Nho giáo - đạo trị nước lại cần cho việc củng cố chính quyền, mở rộng bang giao, được coi trọng và Nho học đựoc chú ý. Tuy nhiên, Nho học và khoa cử thời Lý vẫn chưa ổn định. Sau vụ Lê Văn Thịnh bị buộc tội mưu phản (1096), khoa cử hầu như đã bị đình hoãn. Trong 216 năm (1010 - 1225) Đại Việt sử ký toàn thư chỉ chép việc nhà Lý tổ chức 7 khoa thi, trung bình hơn 30 năm một khoa, quả là ít so với các Vương triều phong kiến về sau; các khoa thi này đều là loại Chế khoa thi bất thường, theo chiếu chỉ nhà Vua.
 
Thống kê thấy có các sự kiện liên quan đến việc học và việc thi thời Lý ở Đại Việt sử ký toàn thư (Bản kỷ phần về nhà Lý, quyển 2 đến quyển 4) có các mốc sau:


Tiêu đề: Re: Giáo dục và thi cử thời nhà Lý
Gửi bởi: menthuong trong 11 Tháng Mười Hai, 2009, 05:40:47 pm
1. Mở đầu cho công cuộc giáo dục và thi cử là vào năm Canh Tuất, tức Thần Vũ năm thứ 2 (1070 ứng với Tống Hy Ninh, năm thứ 3) vào mùa Thu, tháng 8, Lý Thánh Tông (1054--1072) cho xây Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Đây còn là nơi để Hoàng thái tử đến học. Có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử). Năm 1156, Lý Anh Tông (1138-1175) cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử.

2. Đến năm Ất Mão, tức Thái Ninh năm thứ 4 (1075, ứng với Tống Hy Ninh năm thứ 8) vào mùa xuân, tháng 2, Lý Nhân Tông (1072 - 1127) xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học. Đây là mở khoa thi đầu tiên ở nước ta. Khoa thi này lấy đỗ 10 người, sử sách chỉ ghi được Lê Văn Thịnh người đỗ đầu khoa. Về khoa này, sử sách ghi là: "Tuyển Minh kinh bác học dữ nho học tam trường". Câu này nay còn những cách hiểu khác nhau, có thể đây là 2 khoa riêng biệt trong đó gồm Khoa Minh kinh bác học và khoa thi Nho học tam trường (Tam trường gồm 3 nhóm bài thi, ba đợt thi, vì các kỳ thi Nho giáo thời kỳ này chưa tổ chức quy mô của khoa thi tứ trường). Theo thông lệ bên Trung Hoa thì Minh kinh là hông hiểu kinh điển Nho giáo, còn Minh kinh bác học là chức quan trong nhà Quốc Tử Giám. Do vậy rất có thể đây là kỳ thi nhằm mục đích chọn thầy cho Quốc Tử Giám được mở vào năm sau (1076).

Thủ khoa khoa này là Lê Văn Thịnh (黎文盛, 1038?-?) quê xã Chi Nhị, tổng Đại Lai, huyện Gia Bình, ngày nay là thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Là người có tài năng, lại có công lao lớn nên làm quan tới chức Thái sư, nhưng năm 1096, ông bị ghép vào tội mưu phản giết vua, nên đã bị đi đầy. Hiện vẫn chưa xác định được ngày, tháng, năm sinh và mất của ông.

3. Vào năm Đinh Tỵ, tức Anh Vũ Chiêu Thắng năm thứ 2 (1077,  ứng Tống Hy Ninh năm thứ 10). Mùa xuân, Lý Nhân Tông (1072 - 1127) mở hội Nhân Vương ở điện Thiên An sau đó thi lại viện bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật. Nhưng không thấy tài liệu nào chép là một kỳ thi và lấy ai đổ.

4. Mãi 11 năm sau kỳ thi đầu tiên, năm 1086, tức Bính Dần, Quảng Hựu năm thứ 2, ứng với Tống Triết Hú, Nguyên Hựu năm thứ 1 vào mùa thu, tháng 8, Lý Nhân Tông cho thi người có văn học trong nước, sung làm quan ở Hàn lâm viện, Mạc Hiển Tích trúng tuyển, bổ làm Hàn lâm học sĩ.

Mạc Hiển Tích (莫顯績, ?-?), là người đỗ đầu tại khoa thi Hàn lâm học sĩ năm đó. Ông người làng Long Động, huyện Chí Linh (nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ, tức là đỗ đầu hàng Tiến sĩ tương đương như Trạng nguyên sau này. Ông được bổ làm Hàn lâm viện học sĩ, Thượng thư Bộ Lại, đi sứ Chiêm Thành năm 1094. Em ruột Mạc Hiển Tích là Mạc Kiến Quan đỗ Tiến sĩ cùng khóa với anh làm đến Thượng thư dưới triều Lý Nhân tông. Nhưng sau này có dị nghị rằng Mạc Hiển Tích tư thông với Thái hậu. Sách Đại Việt sử lược (quyển 3, tờ 12-a) cho biết, vào năm Kỷ Dậu (1189), vua Lý Cao Tông giao cho đình thần xét xử vụ án Mạc Hiển Tích, nhưng đình thần sợ Mạc Hiển Tích, không dám xử đến nơi đến chốn. Bởi vậy, tháng 3 năm Canh Tuất (1190), vua Lý Cao Tông phải tự xuống chiếu đày Mạc Hiển Tích đến trại Quy Hóa.

 Đến đời Trần, năm 1304 hậu duệ của Mạc Hiển Tích là Mạc Đĩnh Chi lại đỗ Trạng nguyên. Ông nổi tiếng thông minh từ nhỏ, đi sứ Trung Quốc do đối đáp tài giỏi được Vua Nguyên phong là Lưỡng quốc Trạng nguyên. Ông để lại một số tác phẩm thơ văn, trong đó có bài Ngọc tỉnh liên phú bất hủvà được dân gian truyền lại nhiều giai thoại về một vị quan thanh liêm, cương trực.

5. Sau đó 66 năm nữa vào Nhâm Thân, tức Đại Định năm thứ 13 (1152, ứng với Tống Thiệu Hưng năm thứ 22) Lý Anh Tông (1138-1175) cho thi Ðình  (theo Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú) hay còn gọi là thi điện (theo Đại Việt sử ký toàn thư). Các sách ghi Thi điện hay thi đình là ghi địa điểm thi tại Điện, Đình Hoàng đế chứ không phải là kỳ thi Đình thi Điện trong thi tiến sĩ.

6. Rồi 13 năm sau, năm Ất Dậu, tức Chính Long Bảo Ứng năm thứ 3 (1165 ứng Tống Càn Đạo năm thứ 1) vào mùa thu, tháng 8, Lý Anh Tông (1138-1175) thi học sinh có sách gọi là Thái học sinh hỏi cách trị dân, người đỗ bổ làm quan các trấn. Chưa tìm thấy danh sách người đỗ và ai đỗ đầu.

7. Lại 20 năm sau, năm Ất Tỵ, Trinh Phù năm thứ 10 (1185, Tống Thuần Hy năm thứ 12) vào mùa xuân, tháng giêng, Lý Cao Tông (1175-1210) thi sĩ nhân trong nước, người nào từ 15 tuổi mà thông thi thư thì được vào hầu học ở ngự điện nên gọi là khoa "thiên hạ sĩ nhân". Lấy đỗ Bùi Quốc Khái, Đặng Nghiêm 30 người, còn thì đều ở lại học.
 
8. Vào năm Quý Sửu, Thiên Tư Gia Thuỵ năm thứ 8 (1193, Tống Thiệu Hy năm thứ 4). Khảo khóa các quan văn võ trong ngoài, để rõ nên giáng hay thăng, thi các sĩ nhân trong nước để chọn người vào hầu vua học (thị học). Không rõ có phải là một khoa thi không?

9. Ất Mão, tức Thiên Tư Gia Thuỵ năm thứ 10 (1195, Tống Ninh Tông Khuếch, Khánh Nguyên năm thứ 1) Lý Cao Tông cho thi Tam giáo, cho đỗ xuất thân. Khoa thi "Tam Giáo" nguyên văn trong sử sách ghi là "Thí tam giáo tử": thi người trong ba giáo Nho, Phật, Đạo.  Khoa thi "Tam giáo" sang đến đời Trần vẫn tổ chức.

10. Theo Việt Sử Lược thì năm Mậu Dần, tức Hội Phong năm thứ 7 (1098, Tống Nguyên Phù năm thứ 1) đã phân biệt ra hai hạng Cập đệ và Xuất thân.

11. Ngoài ra còn có các kỳ thi Hình Luật, Thư Toán để kén lại điển.

Như vậy nền Khoa cử mới bắt đầu khởi phát, them vào đó là Thủ khoa Minh kinh bác học (Lê Văn Thịnh) và Thủ khoa Hàn lâm viện (Mạc Hiển Tích) đều có kết hậu không tốt nên Vương triều ít mặn mà với khoa cử. Do vậy khoảng cách giữa các kỳ thi, yêu cầu đặt ra của kỳ thi chưa rõ ràng, thiếu thống nhất. Các khoa thi đều do triều đình đứng ra tổ chức, chỉ đạo thi  khi nào cần người mới mở khoa thi và nội dung thi theo nhu cầu tuyển bổ, danh vị người đỗ đạt cũng chưa rõ.

Dù sao, tất cả những việc làm đó trong 216 năm tồn tại của nhà Lý đã tạo điều kiện tốt cho nhà Trần (陳朝,1225 - 1400) tiến hành việc tổ chức học hành và thi cử có quy củ. Ở Kinh sư có Quốc học viện ; các lộ, châu, phủ, có nhà Học, nhà Hiệu, do các Ðốc học và Giáo thụ coi. Lại định rõ phép thi 4 trường và phép bổ dụng, phân biệt thi Hội, thi Ðình.


Tiêu đề: Re: Một số kỷ lục Vương triều Lý xác lập
Gửi bởi: caytrevietnam trong 11 Tháng Mười Hai, 2009, 07:49:24 pm

3. Hoàng đế đầu tiên lấy vợ ngoại quốc: Lý Anh Tông Thiên Tộ (1138-1175) lấy  Con gái vua Chiêm Chế Bilabut (chưa tìm thấy tư liệu chi tiết).


Cái này là không đúng đâu bác ạ! Có thể Lê Hoàn mới là người đầu tiên, 1 bà vợ của ông "nghi" là người Chiêm, bà là mẹ của Lê Trung Tông và Lê Ngọa Triều. Có điều sử ghi chung chung là "chi hậu Diệu nữ"

Còn ghi rõ hơn thì có Lê Ngọa Triều, ĐVSKTT có đoạn viết về thời trị vì của ông vua này như sau:

"Kỷ Dậu, /Cảnh Thụy/ năm thứ 2 /1009/ , (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 2). Mùa xuân, Minh Xưởng ở Tống về, xin đưởc kinh Đại Tạng và dụ được người con gái nước Tống là Tiêu thị  đem dâng. Vua thu nạp làm cung nhân".



Tiêu đề: Re: Một số kỷ lục Vương triều Lý xác lập
Gửi bởi: menthuong trong 12 Tháng Mười Hai, 2009, 10:14:29 am
Các bác tham gia đúng quá!. Vì vậy cần thêm cho chính xác là:

3. Hoàng đế nhà Lý  đầu tiên lấy vợ ngoại quốc: Lý Anh Tông Thiên Tộ (1138-1175) lấy  Con gái vua Chiêm Chế Bilabut, Việc này xảy ra tháng 10 năm Đại Định thứ 15 (Giáp Tuất, năm 1154). Vua Lý trước đó do lời xin của một người Chiêm Thành là Ung Minh Tạ Điệp (Vancarâja), sai Thượng chế Lý Mông đem quân đưa Ung Minh Ta Điệp về định lập làm vua Chiêm. Vua nước ấy là Chế Bì La Bút (Jaya Haivarman I, vốn là em vợ Ung Minh Ta Điệp) chống cự và giết cả Lý Mông lẫn Ung Minh Ta Điệp. Sợ bị vua Lý "hỏi tội" giết Lý Mông, Chế Bì La Bút dâng con gái cho vua Lý Anh Tông, vua nhận. Nguồn: Đại Việt sử ký toàn thư.

Về bà vợ người Chiêm của Lê Hoàn ngoài chi tiết ghi chung là "chi hậu Diêu nữ" như lời dẫn của bác caytrevietnam @ thì tìm trong Đại Việt Sử Lược và Đại Việt Sử Ký Tòan Thư có chú giải như sau : Mẹ của Lê Long Việt và Lê Long Đĩnh là Hầu Di Nữ (Con người hầu gái người Chiêm Thành).





Tiêu đề: Re: "Tiên phát chế nhân" thời nhà Lý
Gửi bởi: menthuong trong 13 Tháng Mười Hai, 2009, 01:39:34 pm
1. Kế sách “Tiên phát chế nhân”

“Tiên phát chế nhân” 先发制人 là một trong 36 kế của các chiến lược gia cổ. Kế này còn được diễn tả cách khác là “tiên hạ thủ vi cường”, với ý nghĩa ra tay trước sẽ lấn át được kẻ khác và tất thành công.

Khởi thuỷ kế này được đề cập trong cuốn “Sử ký Hạng Võ bản kỷ”. Chuyện rằng vào thời Tần Nhị Thế (秦二世; 230 - 207 tCn) , nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra mà tiêu biểu là khởi nghĩa của Trần Thắng-Ngô Quảng (209 tCn) làm lung lay nhà Tần (秦朝; Qín Cháo; Ch'in Ch'ao; 221 tCn - 206 tCn). Tháng 7 năm 2009 tCn, chú cháu Hạng Lương (?-208 tCn), Hạng Võ (項籍, 232 tCn-202 tCn), dùng sách tấn công bất ngờ, hành động trước, giết chết Thái thú quận Cối Kê là Ân Thông rồi giương cao cờ diệt Tần, trở thành đội quân chủ lực lật đổ Vương triều đế quốc đầu tiên của Trung Quốc. Nhưng rồi, Hán Cao Tổ Lưu Bang 漢高祖劉邦, lợi dụng thành quả của các cuộc khởi nghĩa nông dân, diệt nhà Tần vào thời Tử Anh (子嬰, 207 tCn-206 tCn) lên làm vua lập ra nhà Hán (漢朝,Han cháo, 206 tCn. - 220 sCn) sử gọi là Tiền Hán 前漢 hay Tây Hán (西漢, 206 tCn–9 CN, đóng đô ở Trường An) . Từ đó kế sách “tiên phát chế nhân” được sử dụng nhiều trong quá trình “tranh bá đồ vương” và nói nhiều trong các tài liệu bàn về chiến cuộc.

2. Một vài ví dụ:

Lịch sử quá trình hợp cửu tất phân, phân cửu tất hợp 合久必分,分久必合 của Trung Hoa đã có nhiều ví dụ điển hình cho sự thành công của  mưu chước này. Trong đó phải kể đến việc Ban Siêu nhanh tay hạ thủ đoàn sứ giả Hung Nô 匈奴 trong dịp cùng đoàn sứ giả nhà Hán sang Tây Vực 西域 trên đất Thiên Thiện (vùng Tân Cương nay) vừa thoát hiểm trong gang tấc vừa lập công lớn cho nhà Hán; trong sự biến cửa Huyền Vũ (玄武門之變, Huyền Vũ môn chi biến) Tần Vương Lý Thế Dân 李世民 ra tay trước giết anh và em mình là Thái tử Kiến Thành, Tề Vương Nguyên Cát trừ được mối tranh giành quyền bính, được lập là Thái tử, nắm mọi quyền lực và năm 626 lên ngôi Hoàng đế, tức Đường Thái Tông (唐太宗; 626-649) đổi hiệu là Trinh Quan…Thời Chiến quốc (戰國時代/战国时代, TK 5 tCn-221 tCn) có Chung Vô Diệm (鐘無艷, ?-?) cũng áp dụng mưu chước này nên mặc dù rất xấu nhưng sớm được Tề Tuyên Vương (齐宣王;319 tCn-301 tCn) chú ý, sủng ái sau được lập làm Vương Hậu.

Trong lịch sử thế giới cận đại, hồi cuối tháng 8/1939 trong khí các nước Đức, Ý, Anh, Pháp đang vòng vo tranh cãi nhau tại hội nghị 4 nước về việc thực hiện Hiệp ước Đức-Ba Lan năm 1934  thì ngày 01/9/1939 quân Hít Le đồng loạt tấn công toàn tuyến biên giới Ba Lan và thu được toàn thắng. Tương tự như vậy, Liên Xô và Đức ký “Hiệp ước hoà bình hữu nghị” và đến tháng 4/1941 một lãnh đạo nhà nước Xô viết còn khẳng định với Đại sứ đức là “Chúng tôi sẽ luôn là người bạn tốt của các bạn”  nhưng vào ngày 22/6/1941 ba Tập đoàn quân Đức đã tấn công toàn diện Liên Xô đẩy Liên Xô vào thế bị động gặp muôn vàn khó khăn.

Thời hiện đại chính quyền Bush đã áp dụng chiến lược đánh phủ đầu, thực chất là kế sách “Tiên phát chế nhân” trong chống khủng bố. Nhưng quá trình vận dụng sau đó đã bộc lộ 3 dấu hiệu của sự thất bại: Chia rẽ nội bộ, tác động xấu đến các mặt của đời sống xã hội và hao người tốn của. Do đó, ngay sau khi trúng cử Tổng thống Mỹ, Obama đã thay bằng chiến lược “Chiến tranh mềm” . Tinh thần chủ yếu của chiến lược này là bảo vệ những lợi ích hiện có của người Mỹ tại Iraq, trên cơ sở đó cần phải thay đổi logic cứng nhắc trong việc áp dụng các phương thức tấn công, chiếm đóng và trấn áp truyền thống nhằm tránh lặp lại bi kịch lịch sử phải rút lui trong mà Mỹ đã từng nếm trải. Nhưng cũng phải nhấn mạnh một điều, chiến lược này không có nghĩa người Mỹ đã cất vũ khí vào kho, thế giới thái bình, mà là sự tiếp tục thực hiện chiến tranh theo những nguyên tắc mới do đảng Dân Chủ chỉ ra mà thôi. 

Nguồn: "Tinh hoa xử thế"- Lưu Đình Hoa, NXB LĐXH; Bách khoa toàn thư mở Wikipedia...


Tiêu đề: Re: "Tiên phát chế nhân" thời nhà Lý
Gửi bởi: menthuong trong 13 Tháng Mười Hai, 2009, 01:40:53 pm
3. Việc thực hiện kế sách thời Lý:

Lúc bấy giờ ở Trung Hoa, nhà Tống (宋朝, 960-1279) gặp nhiều rối ren, Tể tướng Vương An Thạch (王安石, 1021 – 1086),  đưa ra nhiều cải cách nhưng không có kết quả. Vua tôi nhà Tống mong tìm lối thoát bằng cách xâm lược Đại Việt.

Năm 1070, Vương An Thạch cầm quyền chính nhà Tống, tâu với vua Tống là Đại Việt bị Chiêm Thành đánh phá, quân còn sót lại không đầy vạn người, có thể dùng kế chiếm lấy được. Vua Tống sai Thẩm Khởi, và Lưu Di làm tri Quế Châu ngầm dấy binh người Man động, chuẩn bị Nam chinh. Vua Tống phái Thẩm Khởi làm Quảng Tây kinh lược sứ năm 1073 lo việc xuất quân. Thẩm Khởi đặt các doanh trại, sửa đường tiếp tế, phủ dụ 52 động thuộc Ung Châu sung công các thuyền chở muối để tập thủy chiến. Thẩm Khởi sau đó làm trái ý vua Tống, bị điều đi nơi khác và Lưu Di thay chức. Lưu Di được lệnh tăng cường binh lực, tiếp tục điểm dân, tích lương, đóng chiến thuyền, luyện tập thủy binh và cấm người Đại Việt sang đất Tống buôn bán vì sợ bị do thám.  Đặc biệt, nhà Tống đã biến Ung Châu thành một căn cứ xuất phát để đánh Đại Việt và giao cho Tô Giám, một viên tướng dày dặn kinh nghiệm trong cuộc chiến chống Nùng Trí Cao trước đây chỉ huy căn cứ này.

Tuy Tống cố gắng giữ bí mật, nhưng tình báo của Đại Việt vẫn nắm được ý đồ của quân Tống. Đặc biệt, năm 1073, một tiến sỹ nhà Tống là Từ Bá Tường vì không được trọng dụng nên đã thông báo với nhà Lý. Biết tin, vua Lý cho hội quần thần, Lý Thường Kiệt (李常傑 tên thật là Ngô Tuấn , 1019–1105) đã tâu: "Ngồi yên đợi giặc sao bằng đem quân đánh trước để chặn các mũi nhọn của giặc". Đó là cơ sở của chiến lược "Tiên phát chế nhân". Để thực thi kế sách với tầm nhìn xa trông rộng, muốn lập lại khối đoàn kết trong triều, ông đã bỏ qua hiềm khích đề nghị Linh Nhân Thái hậu Ỷ Lan cho gọi Tể tướng Lý Đạo Thành (?-1081) về trao chức Thái phó, cùng bàn việc giữ nước. Bên trong giữ yên nội trị chuẩn bị kháng chiến chống ngoại bang.

 Để có quyết sách trên, một mặt Lý Thường Kiệt học được mưu kế của sách Tầu nhưng cũng biết phát huy và học những bài học từ tổ tiên người Việt. Đó là các trận “Tiên phát chế nhân” đã từng diễn ra trong lịch sử nước Việt:

- Mùa xuân năm Nhâm Tuất (542), vua Lương sai quân sang đánh nước ta nhưng bọn tướng cầm đầu là Tôn Quýnh, Lư Tử Hùng sợ nên dùng dằng không dám tiến, do đó quân giặc đi rất chậm. Khi chúng mới kéo đến Hợp Phố thì Lý Nam Đế đã cho quân chủ động đánh vào đất giặc, sử cũ chép “quân Lương 10 phần chết đến 6,7 phần, quân tan rã chạy về”.

- Mùa xuân năm Kỷ Mùi (995) hơn 100 chiến thuyền của nước ta đánh vào trấn Như Hồng thuộc Khâm Châu sau đó rút quân. Đến mùa hạ cùng năm, hơn 5000 hương binh châu Tô Mậu (nay thuộc Lạng Sơn) tấn công vào Ung Châu rồi lui binh.

- Năm Nhâm Tuất (1022) vua Lý Thái Tổ sai Dực Thánh Vương (Nhị Hoàng tử) đem quân đi đánh Đại Lịch do người Nùng ở đây làm phản, sau đó “quân ta đi sâu vào trấn Như Hồng đất Tống, đốt kho tàng rồi rút về” .

- Tháng 3 năm Kỷ Hợi (1059) vua Lý Thánh Tông cho quân “đánh Khâm Châu nước Tống, khoe binh uy rồi về, vì ghét nhà Tống phản phúc”.

- Năm Canh Tý (1060) châu mục Lạng Châu của nước ta là Phò mã Thân Thiệu Thái đánh vào đất Tống, bắt được tướng Tống là Dương Bảo Tài và quân lính, trâu ngựa đem về.

Ngày 15/9 Ất Mão (27/10/1075) bằng chiến sách khôn khéo, bất ngờ và táo bạo, 40.000 quân thủy cùng voi chiến do Lý Thường Kiệt 李常傑 thống lĩnh theo đường biển từ châu Vĩnh An (Quảng Ninh) đổ bộ lên đánh các châu Khâm, Liêm. Ngày 30 tháng 12 năm 1075, quân Nam tiến chiếm thành Khâm Châu 钦州, bắt toàn bộ quan quân mà không phải giao chiến một trận nào. Ba ngày sau, 2 tháng 1 năm 1076, Liêm Châu 廉洲 cũng thất thủ. Đây là 2 châu giáp biển thuộc Quảng Tây 廣西 giáp với Quảng Ninh và Lạng Sơn nay.

Ngoài ra, còn một đạo quân 60.000 người do Nùng Tôn Đản (1046-?) cùng Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An chỉ huy, gồm quân Lý và dân binh tập trung ở Quảng Nguyên, Môn (Đông Khê), Quang Lang, Tô Mậu theo đường bộ tràn sang đánh các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Hoành Sơn, châu Tây Bình, Lộc Châu. Một cánh quân khác đóng gần biên giới Khâm Châu cũng kéo tới đánh các trại Như Hồng, Như Tích và Đề Trạo, "quân ta tới đâu như vào nhà trống không người".

Sau đó, Lý Thường Kiệt cho đạo quân ở Khâm và Liêm Châu tiến lên phía Bắc. Đạo đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường thẳng dài chừng 120 cây số, nhưng phải qua dãy núi Thập Vạn. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu tiến sang phía đông bắc, chiếm lấy Bạch Châu, dường như để chặn quân tiếp viện của Tống từ phía đông tới. Hẹn ngày 18 tháng 1 năm 1076, hai đạo quân sẽ cùng hội lại vây chặt lấy Ung Châu. Đồng thời Lý Thường Kiệt sai làm Phạt Tống lộ bố văn 罚宋路佈文,yết dọc đường,  nói rõ lý do cuộc hành quân của mình là đập tan sự chuẩn bị xâm lược của nhà Tống và giúp nhân dân Hoa Nam thoát khỏi cảnh lầm than do Vương An Thạch cùng triều đình nhà Tống gây ra.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 13 Tháng Mười Hai, 2009, 01:41:25 pm
Nguyên văn “Phạt Tống bố lộ văn”

伐宋露布文
天生蒸民,君德則睦。君民之道,務在養民。今聞宋主昏庸,不循聖範,聼安石貪邪之計,作青苗助役之科。使百姓膏脂凃地,而資其肥己之謀。
蓋萬民資賦於天,忽落那要離之毒。在上固宜可憫,從前切莫須言。
本職奉國王命,指道北行,欲清妖孽之波濤,有分土無分民之意。要掃腥穢之污濁,歌堯天享舜日 之佳期。
我今出兵,固將拯濟。檄文到日,用廣聞知。切自思量,莫懷震怖。

Phiên âm:  PHẠT TỐNG LỘ BỐ VĂN

Thiên sinh chưng dân, quân đức tắc mục. Quân dân chi đạo, vụ tại dưỡng dân. Kim văn, Tống chủ hôn dung, bất tuần thánh phạm. Thính An Thạch tham tà chi kế, tác "thanh miêu", "trợ dịch" chi khoa. Sử bách tính cao chi đồ địa, nhi tư kỳ phì kỷ chi mưu.
Cái vạn dân tư phú ư thiên, hốt lạc na yếu li chi độc. Tại thượng cố nghi khả mẫn, tòng tiền thiết mạc tu ngôn.
Bản chức: Phụng quốc vương mệnh; Chỉ đạo Bắc hành. Dục thanh yêu nghiệt chi ba đào, hữu phân thổ vô phân dân chi ý; Yếu tảo tinh uế chi ô trọc, ca Nghiêu thiên hưởng Thuấn nhật chi giai kỳ.
Ngã kim xuất binh, cố tương chửng tế. Hịch văn đáo nhật, dụng quảng văn tri. Thiết tự tư lường, mạc hoài chấn bố.

Dịch nghĩa: BÀI VĂN TUYÊN BỐ VỀ VIỆC ĐÁNH TỐNG

Trời sinh ra dân chúng, Vua hiền ắt hoà mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép "thanh miêu","trợ dịch", khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thỏa cái mưu nuôi mình béo mập.
Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót. Những việc từ trước, thôi nói làm gì!
Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình!
Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi!

(TRẦN VĂN GIÁP dịch)
Nguồn: Ngẫu hứng đại quan viên


Tiêu đề: Re: "Tiên phát chế nhân" thời nhà Lý
Gửi bởi: menthuong trong 13 Tháng Mười Hai, 2009, 01:42:15 pm
Ông cũng ra lệnh cho quân không được động tới "cái kim sợi chỉ" của dân. Nhờ đó, quân ông đi đến đâu, quân Tống bị đánh tan đến đấy. Nhân dân Hoa Nam gọi ông là "cha họ Lý". Quan quân Việt tiến tới tận Ung Châu (Quảng Tây) phá được thành này sau 42 ngày vây hãm (18/01/1076-01/3/1076). Lý Thường Kiệt làm cỏ xong thành Ung, lại lấy đá lấp sông ngăn cứu viện rồi đem quân lên phía Bắc lấy Tân Châu. Viên quan coi Tân Châu, nghe thấy quân Nam kéo gần đến thành, liền bỏ thành chạy trốn.

Mục tiêu hoàn thành, tháng 3/1076, Lý Thường Kiệt cho rút quân về. Người ba châu ấy đem về nước, cho vào khai phá vùng Hoan - Ái (Thanh - Nghệ).

Trận “Tiên hạ thủ vi cường” này làm cả triều Tống lo sợ và bối rối, đối phó rất lúng túng. Vua Tống cách chức Lưu Di và sai Thạch Giám thay coi Quế Châu và làm kinh lược sứ Quảng Tây. Tống Thần Tông (神宗, 1067-1085) dặn Ty kinh lược Quảng Tây : “Nếu xem chừng có quân Giao Chỉ tới đâu mà không đủ quân giữ, thì chỉ giữ mấy chỗ hiểm yếu mà thôi…” sau đó lại dụ : “Nếu quân bỏ thành mà đi chỗ khác, thì lo rằng lòng dân rối sợ. Hãy bảo các quan ti đều phải trở lại thành mình”. Rõ là hai đạo chiếu trái ngược nhau, kết cụ là thành trì và quân Tống bị thiệt hại nặng.

Như vậy, trong hơn 3 tháng trời, quân nhà Lý cùng binh khê động tâm phúc các nơi, dưới sự thống lĩnh của Lý Thường Kiệt tiến quân vào đất Tống, phá thành Ung, Khâm, Liêm; đốt các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Cổ Vạn, Thiên Long (những cứ điểm của Tống mà có thể dùng để đánh ta), giết người vô số (khoảng 7-10 vạn người) rồi rút quân về đem theo hàng ngàn quân dân Tống bị bắt đem về Đại Việt cùng nhiều của cải. Thấy cuộc hành quân đã đạt kết quả, ông hạ lệnh rút quân về, chuẩn bị đợi quân Tống kéo sang .

Do tUng Châu là căn cứ tập trung quân để Nam tiến bị phá tan, thế mạnh bị giảm sút, nhà Tống phải điều động thêm nhân lực và lương thảo để thực hiện chiến tranh với Đại Việt và quan quân nước ta có điều kiện chuẩn bị, khí thế hăng say làm nên trận Như Nguyệt nổi tiếng (Xuân Hè 1076).

Năm 1077, 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy tràn sang Việt Nam ta. Ông cho lập phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chặn giặc rồi cho thủy quân đánh bại giặc ở vùng biển Quảng Ninh. Quân bộ của Quách Quỳ đánh đến sông Như Nguyệt bị chặn đứng. Nhiều trận chiến đấu quyết liệt xảy ra. Giặc Tống không sao vượt được phòng tuyến Như Nguyệt, đành đóng trại chờ viện binh. Đang đêm, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở phía nam bờ sông Như Nguyệt, giả làm thần đọc vang bài thơ, sau này được coi như "Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên" của Việt Nam:

南國山河南帝居
截然定分在天書
如何逆虜來侵犯
汝等行看取敗虛

Phiên âm:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch thơ:
Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Phận ấy sách trời định rõ ràng.
Cớ sao giặc kia xâm phạm tới?
Rồi bay sẽ chuốc họa vỡ tan.

Nhờ thế tinh thần binh sĩ thêm hăng hái. Thời cơ đến, ông tổ chức một trận quyết chiến, vượt sông đánh vào trại của giặc. Hơn một nửa số quân giặc bị tiêu diệt. Tiếp đó, ông cho người sang nghị hòa, mở đường thoát cho giặc: Quách Quỳ đồng ý và vội vã rút quân về. Quân Việt bám sát giặc và chiếm lại những vùng đất đã mất.

Như vậy, để giữ vững chủ quyền và răn đe nhà Tống, Lý triều đã nhiều lần cất binh sang tận đất Tống thảo phạt (1022, 1059, 1060) đặc biệt là trận tấn công của Lý Thường Kiệt làm cỏ châu Khâm, Liêm, Ung vào 12/1075, 01/1076. Chiến thắng oanh liệt sau lại dùng Biện sĩ bàn hòa để kết thúc chiến tranh. Phương châm vừa đánh vừa đàm, phòng ngự tích cực được thực hiện rõ và thành công nhất dưới triều Lý.

Nhận định về sách lược này, nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Hãn cho rằng: Tống tiếc rẻ không đánh Đại Việt trước, nhưng không biết rằng sở dĩ Tống bị đánh trước vì dự định đánh Đại Việt. Trong cuộc chiến này, phía Đại Việt nhờ có Lý Thường Kiệt chủ động đi bước trước nên đã giành thắng lợi hoàn toàn và tránh khỏi được thất bại về sau (trong toàn cuộc chiến với Tống)

Chúng ta ai cũng rõ lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của chúng ta là lịch sử người Việt ngăn chặn chống lại sự bành trướng nam chinh của các thế lực đại Hán. Tất nhiên, trong lịch sử từng có hơn chục lần cha ông ta Bắc tiến, nhưng hầu như chỉ nhằm mục đích “tiên phát chế nhân”, phòng ngự tích cực từ xa chứ không nhằm chiếm đất, chiếm dân. Trong đó chiến dịch tiến quân vào đất Tống Đông Xuân 1075-1076 do Lý Thường Kiệt chủ trương và thống suất là chiến dịch quy mô nhất, thành công nhất trên mọi phương diện.

Ngoài phần tư liệu trong Đại Việt sử lý toàn thư, trong Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, bài viết có sử dụng một số ý kiến của Phó tiến sĩ:  Văn Khuê


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: lonesome trong 24 Tháng Mười Hai, 2009, 09:58:55 am
http://36pho.vn/index.php/cafe-sang/suy-ngam/1402-thoi-diem-thang-long-nghin-nam-can-noi-lai Các bác cho ý kiến xem nào


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: spirou trong 24 Tháng Mười Hai, 2009, 10:47:59 am
Một cách giải thích khá lý thú (và trần tục) về tên tuổi của Lý Thường Kiệt  ;)

"Một tên khác của Lí Thường Kiệt cho ta thêm một gợi ý về địa vị đó của hoạn quan. Ông Hoàng Xuân Hãn trong Lí Thường Kiệt, khi đối chiếu với sách Trung Quốc, thấy ông danh tướng của Lí cũng được gọi tên khác là Lí Thượng Cát. Do cách phiên âm qua một thứ chữ không thể sát với âm vận bản xứ nên khó có thể biết tên nào là đúng nhưng ta hãy đoán ra theo cung cách bình thường. Chữ "thượng"/"thường" gần cận, thường được thấy phiên âm cho chữ "thằng". Và nó không phải lúc nào cũng có ý nghĩa khinh miệt. Nguyễn Ánh gọi tướng Tây Sơn là "thằng Sâm", "thằng Hưng" nhưng bia ruộng đời Trần chỉ chủ đất hẳn là theo tiếng gọi thông tục đương thời, cũng như "thằng" ngày nay còn có ý nghĩa thân mật là khác. Với chữ "cát" thì ta có câu chuyện tranh chấp binh quyền cũng đời Lí về Vũ Cứt, Vũ Đái (chuyện năm 1150)... Ngay chữ "Kiệt" cũng có thể từ "C*t" mà ra như trong chuyện năm 1189 (Đại Việt Sử Lược, tr. 229): Vua sai quan lớn trong triều xử vụ kiện Mạc Hiển Tích (chắc vì bị tố cáo tư thông với Thái hậu), quan sợ, bị người đời chê: "Ngô Phụ quốc (giúp nước). là "lan (l*n), Lê Đô quan là "kích" (kít/c*t). Vậy thì Thường Kiệt / Thượng Cát có thể là "thằng C*t". Ông Hoàng Xuân Hãn cho biết Thường Kiệt là tên "tự", dẫn bia Nhữ Bá Sĩ đoán tên tự có từ lúc xuất thân, hiểu một cách khác, là lúc vào cung, làm hoạn quan. Tự "thằng C*t" là một thứ nickname trong cung gọi ông danh tướng tương lai nọ như ngày nay trong dân gian còn gọi "thằng Bò", "thằng Cu"..., có vẻ còn dễ nghe hơn tên của đám nô Trần Quốc Tuấn là "Voi rừng", "Chó săn / Cồng cộc". "

Tác giả: Tạ Chí Đại Trường , cuốn: Sex Và Triều Đại


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 24 Tháng Mười Hai, 2009, 05:18:27 pm
Tôi thấy ý kiến nêu ở http://36pho.vn/index.php/cafe-sang/suy-ngam/1402-thoi-diem-thang-long-nghin-nam-can-noi-lai rất có lý và đầy trách nhiệm. Nhưng tiếc là hơi muộn bởi mọi việc hình như đã an bài.
 Mà xứ ta cũng lạ, nhiều việc trọng đại cứ quyết rồi mới thấy báo chí đăng rào rào các ý kiến phản biện của các nhà khoa học...Không biết mai này có lập lại những việc khác không?


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: macbupda trong 26 Tháng Mười Hai, 2009, 08:46:56 pm
như trong chuyện năm 1189 (Đại Việt Sử Lược, tr. 229): Vua sai quan lớn trong triều xử vụ kiện Mạc Hiển Tích (chắc vì bị tố cáo tư thông với Thái hậu), quan sợ, bị người đời chê: "Ngô Phụ quốc (giúp nước). là "lan (l*n), Lê Đô quan là "kích" (kít/c*t).

Nguyên văn trong Đại việt sử lược bài thơ chê hai vị quan Ngô  Lý Tín và Lê Năng Trường là như thế này:

Ngô phụ quốc thị Lan,
Lê đô quan thị Kích,
Án nhất tụng Mạc Tích,
Đản cục tích nhi dĩ

Dịch là:

Ngô phụ quốc là Lan,
Lê đô quan là Kích,
Xét việc kiện Hiển Tích,
Chỉ sợ hãi mà thôi!

Và ở dưới đã chú rõ: Lan, Kích là tên hai thằng điên (Lan, Kích nhị cuồng nhân danh). Làm gì có ý nghĩa như xuyên tạc như thành viên spirou nêu ra đây. Suy "loạn" quá quắt như vậy nghe phát sợ. Cứ thế thì mọi âm "L", "K", "C" cũng có thể liên tưởng đến tận đâu? Mong rằng lần sau gửi bài thành viên spirou nên xem xét kĩ lại nội dung.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: spirou trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 10:14:38 am
Đây là cách giải thích mới của nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường. Cứ cho 2 chữ Lan và Kích là tên 2 người cuồng theo ĐVSL đi, thì ngay người dịch cũng chú dẫn thêm là tra cứu cổ sử không thấy 2 tên này. Tuy nhiên, tiếng Việt cổ còn rất lạ lẫm với chúng ta, như trường hợp: Toàn thư khi nhắc đến biến động đảo chính và phản đảo chính năm 1150 nhằm lật đổ quyền thần Đỗ Anh Vũ, cho biết nhân vật Vũ Đái đã bị mắng là Vũ “Cứ.t”, phải ghi bằng chữ Hán (Việt) là “Cát”, vậy nếu Lan là l...và Kích là kít/cứ.t cũng có lý của nó chứ có gì là quá quắt. Như vậy, Lý Thượng Cát được giải thích là Lý “thằng Cứ.t.”  không có gì là xấu xa ở đây cả. Chỉ là cách dùng từ mỗi thời đại khác nhau mà thôi.

Trước khi kết thúc, xin mọi người  chiêm nghiệm: cứ thử nghe hai bà nông dân hay mấy bà bán hàng ngoài chợ chửi nhau ở dưới quê mà coi, sẽ còn nhiều từ khủng khiếp hơn. Tương tự, dân thời Lý còn rất mộc mạc, họ không thể có cách chửi một cách nho nhã được.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: _new trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 10:26:36 am
Em đọc báo thấy ông Tạ Chí Đại Trường bị phê nặng vụ tên họ mấy bà phi, con của Lê Hoàn cũng như về chữ Cồ trong Đại Cồ Việt.  :)


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: macbupda trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 01:53:46 pm
Chuyện dự đoán tên "Thường Kiệt" có gốc gác từ cái "biệt hiệu" trong cung kia thì tôi chưa nói đến (mặc dù đúng là bản thân tôi cũng chẳng ủng hộ giả thuyết lơ mơ này). Tôi đang chỉ nói đến vấn đề hai cái tên Lan, Kích bị suy diễn như thế kia thôi. Không tìm thấy trong cổ sử, không có nghĩa là có thể phủ nhận thông tin đã ghi chú trong nguyên bản tác phẩm (Lan, Kích là tên hai thằng điên). Nếu là lời của tầng lớp nho sĩ, văn nhân thì ta cần chú ý tìm trong cổ sử vì họ hay mượn việc xưa để nói (kiểu như con chó của Chích cắn vua Nghiêu, thì Chích là tên thằng ăn trộm thời cổ, Nghiêu là vị vua hiền). Còn đây là lời nói giễu xuất phát từ dân gian. Vậy thì Lan, Kích có thể chỉ là tên hai người điên bình thường ở kinh thành hay ở nước ta thời ấy mà thôi. Không có trong cổ sử thì cũng có thể hiểu được.

Vả lại, spirou lấy hai cái tên này để làm chỗ dựa cho dự đoán về xuất xứ cái tên "Thường Kiệt", trong khi chính ý nghĩa hai cái tên này cũng mới chỉ là... dự đoán (một dự đoán cũng lơ mơ, không như trường hợp Vũ Đái, Vũ Cát thì đã được khẳng định chắc chắn). Vậy là đem một dự đoán làm cơ sở cho một dự đoán khác. Người ta có thể nói: "Trời có thể mưa vì có mây đen" chứ ai lại nói: "Trời có thể mưa vì có thể có mây đen".


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: dongadoan trong 28 Tháng Mười Hai, 2009, 09:10:24 pm
Bạn spirou hồi này có những lập luận quay ngược 1800 so với hồi bên LSVH nhỉ?


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 29 Tháng Mười Hai, 2009, 07:05:08 am
Muốn nói gì thì nói nhưng khi đụng đến những bậc tiền nhân đã đi vào tâm thức dân gian nên cẩn trọng! Khi chưa có tư liệu thành văn đáng tin cậy thì mọi suy đoán theo chiều hướng ngược lại những gì xưa nay vẫn tôn thờ đều chẳng được ai ủng hộ!


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: spirou trong 29 Tháng Mười Hai, 2009, 05:27:19 pm
Muốn nói gì thì nói nhưng khi đụng đến những bậc tiền nhân đã đi vào tâm thức dân gian nên cẩn trọng! Khi chưa có tư liệu thành văn đáng tin cậy thì mọi suy đoán theo chiều hướng ngược lại những gì xưa nay vẫn tôn thờ đều chẳng được ai ủng hộ!
Theo em, những điều bác nói vô tình tạo thành rào cản trong nghiên cứu lịch sử, nhất là trong điều kiện nước ta khi những chứng tích khảo cổ không nhiều, không hỗ trợ được nhiều trong nghiên cứu. Vì vậy chúng ta buộc phải suy đoán, đi theo nhiều hướng khác nhau. Không phải suy đoán là chính xác cao, nhưng thế còn hơn là theo 1 lối tư duy cũ. Mà thực ra, các bậc tiền nhân cũng là người cả thôi mà.

Bạn spirou hồi này có những lập luận quay ngược 1800 so với hồi bên LSVH nhỉ?
Mỗi năm thêm một tuổi thì kiến thức mình thêm vài cuốn sách bác ạ.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: dongadoan trong 29 Tháng Mười Hai, 2009, 05:29:18 pm
Tốt quá, chắc không phải dặn bạn: chọn sách mà đọc đâu nhỉ? ;D


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: spirou trong 29 Tháng Mười Hai, 2009, 05:31:34 pm
Xin phép được đăng bài viết của nhà nghiên cứu TCDT về nhà Lý trong cuốn "Bài Sử Khác Cho Việt Nam"- CHƯƠNG VI: MỘT GIAI ĐOẠN TÔNG TỘC TRỊ NƯỚC

Triều mới, đô mới và thời mới

Cho tới gần đây (và với một số lớn người mày mò kinh sách) thì nhà Lí (và Trần) là triều vua Việt rực rỡ nhất mở đầu cho những triều vua tiếp theo, biểu hiện cho một nền văn minh riêng biệt sau thời Bắc thuộc được mệnh danh là văn minh Đại Việt, mang những yếu tố ưu việt trường tồn đến tận ngày nay. Điều đó cũng không có gì là sai nếu gạt bớt ý nghĩ “thuần tuý” chủng tộc, độc tôn văn hoá trong sự tán dương nọ vốn dựa trên các chứng tích sai lầm, mà khi biết ra vẫn cố tình giấu diếm hoặc tránh né để khỏi phải thay đổi thành kiến.

Chống Tống, bình Chiêm là công trình của các ông vua đầu đời thu xếp theo tình thế trong ngoài đương thời chứ không phải vì một chủ nghĩa dân tộc riêng biệt, hay một ý thức trung quân quá sớm. Tập họp thiểu số biên giới phụ hoạ Lí đánh Tống chỉ là theo thói quen của một tâm thức cướp đoạt bình thường, xuôi ngược theo hướng gió chiến thắng chứ không phải là sự chọn lựa của lí tưởng. Cho nên năng lực tích tụ từ đất Hoa Lư qua hai phần ba thế kỉ tự chủ đã chuyển qua tập họp Lí của một vùng khác thì phải đi theo chủ về quê hương bản quán mới: Đó là lí do khởi phát bình thường của việc dời Đô. Họ về vùng đất ngày nay tuy không còn “sơn lăng” nhưng còn đền Lí Bát Đế, chứng tích 8 đời vua, xưa gọi là Cổ Pháp, có vua theo cách “áo gấm (rồng) về làng,” cho tiền bạc, xây chùa chiền, thu phục cảm tình dân chúng, trước tiên là để ổn cố vị trí của mình.

Đô mới không phải là nơi hoang địa mà là Tống Bình, Đại La của thời thuộc trị, từ Long Biên dời về (khoảng 590), là “đô cũ của Cao Vương (Biền), ở giữa khu vực trời đất… chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi sông núi sau trước… chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.” Người nào làm bài Chiếu dời đô cho vua Lí, không nói ngoa mà chỉ tán dương một điều đã cũ. Viên quan phương Bắc nào chọn lị sở cho châu Giao, giữ chỗ cho phủ Đô hộ An Nam để mở cơ quan cai trị nơi mang tên Tống Bình, La Thành, Đại La hẳn đã thấy rõ rằng với vị trí này có thể phát triển được thuộc địa trong khả năng tối ưu. Nó được đặt tên mới Thăng Long từ khi thấy bầy cá sấu bỏ chạy trước binh thuyền Hoa Lư rộn ràng cập bến, sẽ lại cũng mang ưu thế đó cho người chủ mới. Trở về với thủ phủ thời thuộc địa, Lí lại có cơ hội liên hệ với thân tộc xa đời hơn về phía bắc, mở rộng tầm vóc phát triển. Và tất nhiên tình thế mới đó là của một nước có chủ quyền chứ không phải là một thuộc địa như cũ.

Quyền lực của Lí và tình trạng liên minh với tầng lớp hào trưởng, hào sĩ

Hoa Lư tuy cũng là một bộ phận của hệ thống karstic Hạ Long, nằm bên rìa nam của đồng bằng sông Hồng nhưng tính chất địa lí đã không thể đi đôi với tình hình chính trị. Dưới chủ quyền hai họ Đinh Lê, vùng phía Bắc không được chú trọng như vùng phía Nam. Có thể Đinh còn phải lo ổn định, trong lúc Lê Hoàn gốc “con nuôi” đất Thanh Hoá, đã hướng nhiều về đất căn bản đó để lấy thế cân bằng với Hoa Lư, rồi đến Ngoạ Triều thì còn nhìn về phía nam xa hơn vì vị thế càng cô lập của ông ở Hoa Lư. Tất nhiên, Lê Hoàn đã phong đất cho con trên đồng bằng phía Bắc, lại cũng “cày tịch điền” ở núi Đội để xác nhận quyền uy nơi đó, nhưng so ra thì rõ ràng các biến động trong đời ông không thấy xảy ra nhiều, và dữ đội như ở phía Nam. Tuy nhiên, như đã nói, Hoa Lư dù sao cũng chỉ là một nơi ẩn nấp của một chính quyền non trẻ, có sức mạnh cấp thời mà không có một truyền thống. Sự co cụm tạo nên được sức mạnh cố thủ mà không có hướng phát triển về tương lai. Truyền thống xây dựng một tổ chức tập trung quyền hành là ở Đại La của cựu thuộc địa, bây giờ được nâng cấp làm trung ương ở Thăng Long của Lí Công Uẩn vừa dời đến, không phải đơn độc với dòng họ mà cả một lực lượng quân binh, một kho tàng tích trữ, đủ để đàn áp chống đối cũng như để ban ân mua chuộc trong bước khởi đầu.

Trong chuyến “về làng” thăm dò tháng 2âl. (1010) trước khi đổi chỗ hẳn, Lí Thái Tổ đã ban tiền lụa cho các bô lão “theo thứ bực khác nhau,” nghĩa là không để sót người có chút uy thế nào. Hướng mua chuộc thật có chủ đích về đối tượng nên ban hành đại xá, hai lần tuyên bố tha thuế ba năm (1010, 1016) để ngăn chận chống đối, tìm thêm vây cánh. Chính sách có tính toán nặng nhẹ, bỏ lơ một ít quyền lợi bản thân, không màng tính cách hào nhoáng tô vẽ cho gia tộc mà chú trọng vào những việc thấy là thiết yếu cấp thời hơn. Giá có biết đến lời phê phán của Lê Văn Hưu đời sau, mang một ý thức hệ khác, ông chắc cũng bỏ mặc: “Lí Thái Tổ lên ngôi mới được hai năm, tông miếu chưa dựng, đàn xã tắc chưa lập mà đã dựng làm chùa ở phủ Thiên Đức (Cổ Pháp), lại trùng tu chùa quán ở các lộ… tiêu phí của cải vào việc thổ mộc không biết bao nhiêu mà kề.” Không phải chỉ ở đời ông, đến đời sau, Lí Thái Tông còn “phát tiền thuê thợ làm chùa quán đến 950 ngôi ở các hương ấp…” Rõ ràng ông vua con không chỉ làm chùa trên đất riêng của mình mà còn trên lãnh thổ của các thủ lãnh nhỏ khác. Con số to lớn 950 khiến người nay ngần ngại nhưng dễ chấp nhận với chút rộng rãi nếu ta nhìn ra được ý nghĩa mua chuộc kia.

Bởi vì Lí không phải là chủ nhân ông thực sự của toàn thể vùng đất của phủ Đô hộ cũ, của nước Đại Cồ Việt mới. Kế tiếp Đinh, Lê, họ đã hưởng thành quả của những người này về phương diện chủ quyền đất đai. Bộ phận vùng Ái Châu, Cửu Chân của ông Đại diện vua nước Đô hộ ở Hoa Lư, ông Lê Lương, chắc bị Lê Hoàn chiếm trong vụ đánh Dương Tiến Lộc (989) nên đất đai đã thuộc về Lí, bằng chứng từ việc trả lại đất năm 1093. (Có tác giả cho là các năm 1081, 1091, tuỳ người đọc bia xưa.) Vụ việc này cho thấy có liên quan đến hành trạng chìm nổi của một người trong dòng là Lê Văn Thịnh. Tuy nhiên Lí vẫn phải khó nhọc trong vùng với “man” Cử Long (1011), có vẻ là toán tiền phong của tộc Thái men theo sông Mã đi xuống –tên tộc người có dáng dấp loài rắn như tộc Ngưu Hống / rắn hổ mang, phía sông Đà. Lí phải đánh “dân châu Diễn ngu dại làm càn” (1013) nhưng không biết vào lúc nào, vẫn phải gả con gái, lập liên minh thông gia với một “trại chủ” họ Hồ – họ này qua bao nhiêu chìm nổi rồi sẽ làm vua nước Việt. Lí dẹp loạn châu Hoan (1031), châu Ái (1035) trước khi đặt thân vương cai trị, nhưng vì đi ra Bắc, đất Thanh Nghệ đã trở thành “trại” xa lạ, xuống cấp so với “kinh” của trung châu nên thế kềm giữ phải lỏng lẻo hơn. Ở đó có những người thu thuế cho vua, chắc theo quy định ăn tiền “hoành đầu” năm 1042 với các danh hiệu Thái tử Chủ bộ, Vương phủ Chủ bộ. Trên bậc cao nhất có em vua (Lí Hoảng / Lí Nhật Quang) như một Phó Vương (1041), nhưng chức phận nổi bật là “thâu thuế châu Nghệ An” chứa trong 50 kho, người với những xếp đặt cai trị va chạm đến trung ương, có vẻ như đã bị giết, được cho là oan ức nên oai vọng còn đi xa về sau, giống như những trường hợp tương tự, đến mãi trên những vùng chiếm được của Chiêm Thành.

..còn tiếp...



Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: spirou trong 29 Tháng Mười Hai, 2009, 05:36:01 pm
Tốt quá, chắc không phải dặn bạn: chọn sách mà đọc đâu nhỉ? ;D
.
Đúng vậy bác ạ. Em cũng hơi già rồi, thế nên cũng tự lo được.  ;D

..tiếp....

 Trên vùng trung châu phía Bắc, có thể theo dõi việc “thăm ruộng, cày tịch điền” thì biết được các vùng đất triều cũ chuyển qua Lí. Đó là những vùng của cựu sứ quân Ngô, Đỗ phía tây, phía nam Thăng Long, tất nhiên không thể bị chiếm hết nhưng là những vùng màu mỡ như chuyện ở hương Tín có cây lúa chiêm 9 nhánh (1032). Vì thế vùng Ứng Thiên được nâng lên làm Nam Kinh (1014). Xem gặt ở Vĩnh Hưng (1030 – đất họ Phạm?), xây hành cung (1064, ĐVSL), lần đầu khoe tài vua biết cày ruộng ở cửa Bố – đất Trần Lãm cũ (1038, 1065, ĐVSL), đất núi Đọi của Lê Hoàn xuất hiện theo bia Sùng Thiện Diên Linh (1121), tất cả chứng tỏ đã đổi chủ… Dò theo các hành cung, chùa tháp Lí xây cất, ta cũng có thể đoán ra những lãnh địa thuộc quyền Lí như vùng cửa sông Đáy (Ứng Phong), Đồ Sơn (tháp Tường Long)… không kể các khu vực an tháp tù binh Chàm. Toàn thể các khu vực này được các sử quan coi như đất của hoàng đế nhưng qua cách ứng xử mà chính sử quan cũng không che giấu được, thì có thể gọi đó là đất của các ông điền chủ hoàng đế.

Phần chừa lại là đất của các điền chủ khác mà sử gọi là những “hào trưởng.” Những người này tuy cũng không đủ binh lực chống lại Lí nhưng còn thế lực địa phương mà Lí không với tới. Họ đã thực sự làm chủ đất đai đã đành mà còn có kiến thức để được gọi là hào sĩ, như ta sẽ thấy trong hành trạng xuất thân của vài người phục vụ Lí. Đó là người của những “hương ấp” mà Lê Tắc ở thế kỉ XIII còn thấy hiện diện, là đất “thế tập” truyền đời của những người có danh hiệu Chủ đô, Đại toát, Tiểu toát… Bằng chứng có thể suy đoán từ ngay các dòng sử để lại như khi ta xét đến một vài vấn đề về sau, nhưng cũng có thể thấy ngay trên bia đá muộn “Đại Việt Quốc, Binh Hợp hương, Thiệu Long tự bi” (1226) của một người họ Đỗ, Đỗ Năng Tế, nói là được cấp làm ấp thang mộc. Ông chủ đất này được sách ĐVSL ghi vào năm 1216 với tên Đỗ Tế, bị biến loạn xua đuổi khỏi ấp Hợp, chắc là đã lợi dụng lúc chuyển đổi triều đại (1226) để trở về đất cũ. Như vậy tấm bia, dù là đánh dấu tự xác nhận chủ quyền hay được Trần cho tiếp tục chủ quyền cũ, cũng chứng nhận rằng một người họ Đỗ đã có riêng một “hương” gần kinh thành. Những người họ Đỗ khác đã thấy rất nhiều, hiện diện ngay vào lúc thành lập triều đại, nằm ở tột đỉnh quyền lực (Đỗ Hưng vào Thân vương ban, 1039), có lúc khuynh loát triều đại như sẽ thấy về sau, dai dẳng đến mức còn một người được vào họ Trần cao vòi vọi (Đỗ/Trần Khắc Chung), tất cả hẳn là dòng gần gũi của sứ quân Đỗ Cảnh Thạc. Họ Đinh, họ Phùng đã làm Điện tiền chỉ huy sứ trước khi bị thanh trừng, họ Quách đã có chức phận cao mà còn đẩy thêm một nhân vật cùng họ vào nắm tột đỉnh quyền hành. Liên hệ với họ Đỗ, họ Quách còn có họ Tô với Tô Hiến Thành may mắn, khác với người thất bại là Tô Hậu, bị giết (1109).

Ta không kể những dòng họ có lãnh thổ xa hơn như họ Thân, họ Lương làm đệm trên đường qua Trung Quốc, lâu đời như họ Mạc và sau này, họ Trần lấp khoảng trống trên vùng sông nước hạ lưu ngoại biên. Đất vùng Yên Tử, thời Tường Phù (1008-1016) vua Tống còn được nhà sư ở đấy dâng bản đồ, được ban tên là Tử Y Động Uyên, giữa thế kỉ lại mang tên Xử Châu cũng của Tống (An Nam chí lược), nghĩa là không phải thuộc họ Lí như ta có thể tưởng. Với những người ở ngoài tầm tay thì họ Lí kết thông gia (họ Thân, họ Lương phía bắc, họ Lê cũ trên vùng châu Phong), với những người trong tầm quyền lực thì Lí phong tước trong triều theo với tương quan uy thế có sẵn ứng hợp với thời mới. Cho nên ta thấy trong quy định thu thuế 1042, ngoài “quản giáp” có “chủ đô” (hương-ấp-quan theo Lê Tắc) tham dự, mà thành phần này khi về phục vụ Lí chắc được gọi “quan chức đô,” chỉ là hạng sai phái – như chứng tích nằm trong các lệnh về sau.

Các “tư gia” được người của Lí bỏ chủ ra phục dịch hẳn là thuộc cấp cao, làm việc cho Lí mà không lãnh lương như Phan Huy Chú ghi nhận. Tất nhiên không phải họ nhịn đói mà là lấy “lương” từ lãnh địa riêng của họ. Đăt trong viễn tượng này, ta giải thích được tại sao Lê Văn Thịnh đậu trong một kì thi chỉ lấy có một người (1075), được ngày nay tán tụng là “trạng nguyên đầu tiên của nước Việt,” đúng ra chỉ là được lấy vào để dạy ông vua 9 tuổi, “hầu vua học.” Ông bị kết tội âm mưu giết vua mà không bị tru di tam/cửu tộc, hay ít ra là “lên ngựa gỗ,” “phơi xác chợ Đông/Tây” theo luật pháp đương thời. Ta cũng không biết tại sao Mạc Hiển Tích (đậu 1086, đi sứ Chiêm 1094) được gán cho là dám ve cả bà Thái hậu (chỉ có thể tương đương với bà Ỷ Lan) – sự việc chắc được nhớ lộn với của một ông Thái sư quyền thế ở thế kỉ sau, lúc triều chính có một ông Phụ quốc họ Ngô, một ông xử án họ Lê. Những người đó phạm tội tầy đình mà được ngó lơ hoặc xử nhẹ, rõ ràng là còn có cả một thế lực quê gốc đằng sau. Họ đến phục vụ Lí như liên kết với một thế lực mạnh, mới, thừa hưởng được khung cảnh trật tự chung từ thời thuộc địa, có một quyền bính trung ương mang tên cũ là Đại La, nay là Thăng Long. Ông hoàng đế điền chủ Lí có binh lực lớn, có tay chân, lập được một tổ chức quân quyền đủ đàn áp những thế lực nhỏ nhưng vì vướng víu với ruộng đất, nên chưa đủ khả năng quản lí toàn cõi. Nhờ đứng ở vị trí cựu thủ phủ thuộc địa, ông trở thành một điểm hướng chầu về một cách tự nhiên của con cháu các lãnh chúa địa phương, hành động giống như cha ông họ trước kia.

.......


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: macbupda trong 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:09:25 pm
Trong bài viết spirou giới thiệu có đoạn này:
“phát tiền thuê thợ làm chùa quán đến 950 ngôi ở các hương ấp…”

ấy là nói sự việc năm Tân Mùi 1031, tháng 3, vua xuống chiếu phát tiền thuê thợ làm chùa quán ở các hương ấp, tất cả 150 chỗ. Bản in sớm nhất của Bộ Đại Việt sử ký toàn thư, tức bản Chính Hòa năm thứ 18 (1697) ghi là: "... vu hương ấp, phàm bách ngũ thập sở" nghĩa là "ở hương ấp, tất cả 150 chỗ". Còn các bản in khắc sau bản Chính Hòa này thì thấy chữ "phàm" thay bằng chữ "cửu", nên 150 trở thành 950. Chữ "phàm" và chữ "cửu" dáng chữ gần giống nhau, dễ đọc và chép lầm. Đại Việt sử lược cũng ghi: "tạo tự quán phàm nhất bách ngũ thập xứ".

Ấy là nói về câu chữ, bây giờ bàn về tinh thần chính của bài viết. Cùng một sự việc, nhưng dưới góc nhìn rất khác của ông Tạ Đại Chí Thường, thì lại có ý nghĩa hoàn toàn thay đổi. Việc vua Lý xây chùa nhiều thì chứng tỏ họ Lý sùng đạo Phật, và cũng có thể về mặt chính trị thì thấy đó là việc triều đình thống trị muốn gây ảnh hưởng trong tôn giáo để thống trị nhân dân cả về tinh thần. Đó là hoạt động chính trị bình thường. Ngày nay chẳng ai phủ nhận bên cạnh ý nghĩa tôn giáo tinh thần, các hoạt động của triều đình còn mang ý nghĩa chính trị. Nhưng dưới giọng văn của ông Tạ Đại Chí Thường thì tất cả chẳng qua biến thành mưu mô xấu xa, thật hết sức cực đoan quy chụp. Triều đình muốn thu phục lòng người, thì ông Tạ Chí Đại Thường kêu lên là "mua chuộc". Không biết có phải ông cho là phải không được tha thuế, không cày tịch điền để khuyến khích sản xuất, không được cấm giết trâu, thì mới là triều đình "thành thật".


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 29 Tháng Mười Hai, 2009, 10:29:17 pm
Một cách giải thích khá lý thú (và trần tục) về tên tuổi của Lý Thường Kiệt  ;)
"...Chữ "thượng"/"thường" gần cận, thường được thấy phiên âm cho chữ "thằng". Và nó không phải lúc nào cũng có ý nghĩa khinh miệt. ...Ngay chữ "Kiệt" cũng có thể từ "C*t" mà ra ...
Tác giả: Tạ Chí Đại Trường , cuốn: Sex Và Triều Đại
Khi chưa có tư liệu thành văn đáng tin cậy thì mọi suy đoán theo chiều hướng ngược lại những gì xưa nay vẫn tôn thờ đều chẳng được ai ủng hộ!
Theo em, những điều bác nói vô tình tạo thành rào cản trong nghiên cứu lịch sử, nhất là trong điều kiện nước ta khi những chứng tích khảo cổ không nhiều, không hỗ trợ được nhiều trong nghiên cứu. Vì vậy chúng ta buộc phải suy đoán, đi theo nhiều hướng khác nhau. Không phải suy đoán là chính xác cao, nhưng thế còn hơn là theo 1 lối tư duy cũ. Mà thực ra, các bậc tiền nhân cũng là người cả thôi mà.

Tôi cũng đã đọc một vài bài của TCĐT ở http://damau.org/archives/3729. Tại đây ông này viết:..."...Ta đoán rằng tầng lớp cầm quyền buổi đầu của Đại Việt đã dùng song ngữ trong giao thiệp hàng ngày. ...Họ còn dùng tiếng bản xứ để nói với nhau, nguyên cả một câu phẩm bình đầy giận dữ: “Ngô Phụ quốc là lồn, Lê Đô quan là cứt!” (Từ nguyên văn “Ngô Phụ quốc thị Lan, Lê Đô quan thị Kích.”) ".. Từ đó tác giả này suy tiếp: "Toàn thư khi nhắc đến biến động đảo chính và phản đảo chính năm 1150 nhằm lật đổ quyền thần Đỗ Anh Vũ, cho biết nhân vật Vũ Đái đã bị mắng là Vũ “Cứt”, phải ghi bằng chữ Hán (Việt) là “Cát”, nhân tiện chú thêm lời cho rằng đương thời có dùng chữ “cứt đái” (cát đái.) Lời nói trong lúc giận dữ thì không thể “hiền lành, nho nhã” được... Cho nên ta có quyền suy đoán thêm. Một danh tướng đương thời được nho thần Bắc ghi là Lí Thượng Cát và sử thần ta ghi là Thường Kiệt. Chữ “thượng” thấy trong văn bia đương thời là dùng cho tiếng gọi “thằng”... Vậy “thượng cát” là “thằng Cứt.” Và “thường kiệt” là “thằng Cặt.” Ông danh tướng này có tên gốc chữ Hán: (Quách) Tuấn, tên dùng đặt cho người con trai, đàn ông – chỉ là một cách gọi nho nhã, chủ đích làm nổi bật tính cách giống đực của ông, nhưng vẫn cùng một ý nghĩa: thằng Cặt, bình thường. Không có ý gì khinh miệt cả vì người ta đã dùng tên này cho ông suốt cuộc đời, không bỏ nó khi ông làm quan đầu triều, Thái uý, tư lệnh quân đội, khi là Thiên tử nghĩa nam, nghĩa là thuộc dòng vua, cuối cùng, cả khi đi vào sử sách cho đời sau ngưỡng vọng – tên “xấu” được che chắn qua một sự chuyển đổi văn tự và nhờ thời gian khoả lấp."

Theo tôi:

1. Cho đến giờ chưa ai dám chắc biết rõ chữ Nôm xuất hiện từ khi nào nên tiếng nói người Nam thời ...Lê, Lý, Trần... phát âm ra sao lại càng không rõ. Vậy suy đoán từ cái mù mờ (việc phát âm) ra cái chưa rõ (việc ghi âm bằng chữ) để kết luận ngược lại về một vấn đề quan trọng đã được nhiều người đi trước (có uy tín) biên chép hẳn hoi e có đảm bảo tính chính xác, khoa học và khách quan không ?

2. Các chữ Hán có âm “thượng” (丄上妴尙尚躺鞝) và các chữ có âm “thường” (偿償嘗嚐嫦尝常徜裳鱨鲿), chữ âm “thằng” (澠繩绳衎) đâu có gần cận nhau về mặt chữ và nghĩa. Nó chử gần nhau về cách phát âm theo lối nay thôi! Chữ Lan và chữ Kích lại càng xa với chữ mà TCĐT đã suy diễn. Còn chữ Nôm thì người Hán đâu có dùng nên việc gán ghép đó có khiên cưỡng không?

3. Hơn nữa, chẳng lẽ tự nhiên mà dân ta suy tôn Lý Thường Kiệt và rất ưu ái khi họ đặt câu đố về ông:

Ai người phá Tống bình Chiêm
Ba ngày phá vỡ Khâm, Liêm hai thành
Ung Châu đổ nát tan tành
Mở đầu Bắc phạt, uy danh lẫy lừng?
...
Tuổi già nhưng sức không già
Vung gươm Bắc phạt: quân nhà Tống tan
Xuôi Nam: Chiêm quốc kinh hoàng
Thơ Thần một áng lời vàng còn lưu?”

Không biết spirou@ và mọi người thấy thế nào?


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: lonesome trong 29 Tháng Mười Hai, 2009, 11:28:23 pm
Chú Sờ Pi Rởm dạo này đọc sách mà không phát hiện mấy hư chiêu thì cũng lạ nhỉ? Cái trò dùn 1 giả thuyết chưa được chứng minh để làm tiền đề chứng minh 1 giả thuyết khác đâu phải là mới? Đành rằng nên nhìn nhận vấn đề theo nhiều cách - kể cả suy đoán - nhưng cách nào thì cách vẫn phải có những logic của nó chứ không thể mù mờ mà phán được.
Ông TCDT có 1 vài cuốn viết cũng được nhưng cũng có nhiều bài lại sa vào suy diễn chủ quan quá. Chú nên biết chọn lựa, sàng lọc và có kiểm chứng lại chứ. Cái gì thái quá cũng không tốt mà :D


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: lonesome trong 08 Tháng Giêng, 2010, 09:55:57 am
Mời các bác:
http://thethaovanhoa.vn/133N20100105104455242T0/kham-pha-dong-ho-ly-tu-khoi-nguon-den-ly-cong-uan-bai-1.htm
http://thethaovanhoa.vn/133N2010010611115996T0/ai-la-nguoi-trao-so-do-thanh-dai-la-cho-ly-cong-uan-bai-2.htm

Bác menthuong: mời bác tham khảo 1 số bài viết của TTD tại 2 chủ đề
Trương Thái Du tiếp tục Lịch Sử (http://ttvnol.com/forum/f_533/621665.ttvn) và
An Dương Vương (http://ttvnol.com/forum/f_533/888829.ttvn)
[/url].
TTD dùng nick Ledung18 để tự quảng cáo cho  mình.


Tiêu đề: Re: Về bài thơ "Nam quốc sơn hà"
Gửi bởi: menthuong trong 10 Tháng Giêng, 2010, 05:06:22 pm
Có lẽ ít người Việt không biết tới bài thơ “THẦN” “ Nam quốc sơn hà nổi tiếng. Nhưng hiểu về xuất xứ và nguyên gốc bài này ngay cả các bậc túc nho cũng chưa chắc đã dám khẳng định. Bài của GS.TS. LÊ VĂN QUÁN (Đại học Quốc gia Hà Nội) đăng trên Tạp chí Hán Nôm, Số 1 (74) 2006; Tr.3-8 đã đặt ra nhiều vấn đề bổ ích. Xin trích những đoạn thiết yếu để cùng thảo lụân:


Trước hết phải nói rằng bài thơ Nam quốc sơn hà ra đời là từ truyền khẩu (truyền miệng) hay nói đúng hơn, nó xuất hiện là theo truyền thuyết dân gian. Vì hoàn cảnh nước ta lúc bấy giờ chưa có văn tự hoặc đã có nhưng lâu ngày bị mai một, cho nên sử sách sau này không ghi được tên tác giả của bài thơ. Vì thế, nảy sinh ra những dị bản khác nhau, đó là điều không thể tránh khỏi. Cũng có thể sau này chúng ta sẽ phát hiện được nhiều dị bản khác nữa, nhưng trước mắt các nhà khảo cứu đã phát hiện được hai bài:

Bài 1:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm,
Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.”

Bài 2:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

Để các bạn dễ theo dõi, chúng tôi tạm gọi bài trên là Bài 1, bài dưới là Bài 2. ...

Lịch sử ghi nhận bài thơ nào xuất hiện đầu tiên là thời điểm quan trọng trong lịch sử, nhưng cùng một bài thơ, bài nào được công chúng lưu truyền và sử dụng trong xã hội, trong lịch sử, hết thế hệ trước đến thế hệ sau lại càng quan trọng hơn. Giá trị thực của bài thơ là ở chỗ đó, nhất là bài thơ đã được công chúng sau này công nhận là bài Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam ta. Bài viết này chính là đi vào tìm hiểu vấn đề đó.
...


Tiêu đề: Re: Về bài thơ "Nam quốc sơn hà"
Gửi bởi: menthuong trong 10 Tháng Giêng, 2010, 05:07:37 pm
Bài 2 xuất hiện có thể với hai khả năng:

Một là, mãi đến trước khi Lý Thường Kiệt xung trận, bài thơ mới được bổ sung, chỉnh sửa và ngâm đọc ở đền Trương Hống, Trương Hát để lấy khí thế thần linh, tạo cho tướng sĩ niềm tin có thần phù trợ đánh thắng giặc Tống xâm lược.

Hai là, sau khi Lê Hoàn dùng bài thơ ngâm đọc ở đền Trương Hống, Trương Hát tạo niềm tin có thần phù trợ, thôi thúc, khích lệ tướng sĩ đánh thắng giặc Tống. Khí thế linh thiêng của bài thơ ngâm đọc ở đền Trương Hống, Trương Hát cùng với chiến thắng đánh tan giặc Tống của tướng sĩ ta đã khiến cho dân chúng càng tự hào, tin tưởng. Họ hào hứng ngâm đọc bài thơ. Bài thơ mỗi ngày một lắng đọng trong tâm hồn dân chúng. Họ nhẩm đọc, bổ sung, và chỉnh sửa bài thơ, đến khi quân Tống sang xâm lược nước ta, Lý Thường Kiệt lại dùng hình thức đọc bài thơ này ở đền Trương Hống, Trương Hát để cầu thần linh phù trợ, tạo niềm tin, thôi thúc tướng sĩ đánh thắng giặc Tống lần thứ hai.

Như vậy, theo ý chúng tôi, Bài 2 có khả năng xuất hiện sau. Vì một bài thơ chữ Hán thất ngôn tứ tuyệt không thể dễ dàng một lúc có thể chỉnh sửa ngay được, mà cần phải có thời gian nhất định. Nhưng thời gian chỉnh sửa bài thơ không lâu, chắc chắn không phải là một quá trình lâu dài. Thời điểm xuất hiện của hai bài thơ sẽ không cách xa nhau lắm. Nhất là hai bài thơ đều là vô danh, không có tên tác giả, lại cùng ra đời trong khoảng thời gian ấy, do đó, việc xác định thời điểm trước sau của hai bài thơ cũng chỉ là phỏng đoán, không đáng kể.

Vấn đề cần bàn là, giá trị của bài thơ, cái giá trị được dân chúng sử dụng và truyền tụng, chẳng phải là điều "nhân hòa" mà chúng tôi đã nêu lên ở trên đó ư !

Như chúng ta đã biết, bài thơ được truyền tụng lâu nay, và được nhà sử học Ngô Sĩ Liên ghi vào sử sách, đó là Bài 2. Việc làm của Ngô Sĩ Liên, nếu phải là “theo quan điểm Nho giáo chính thống, ghét cái vô luân của Lê Hoàn, ưa lòng trung nghĩa của Lý Thường Kiệt, nên đã đem bài thơ thần phù trợ vua Lê gán cho phù trợ tướng Lý” thì chỉ là yếu tố phụ, mà có khi một vài nhà sử học của ta ngày nay suy diễn phiến diện, chắc đâu Ngô Sĩ Liên lại có cách nhìn lệch lạc đó! Ngô Sĩ Liên là nhà nho, nhà sử học uyên bác, nhưng điều ông khen hay chê vua đều là sự thực lịch sử, là chính kiến của nhà sử học chân chính. Ngô Sĩ Liên học rộng, biết nhiều, ông thừa hiểu cái đạo của thánh hiền là “lấy dân làm gốc” (dĩ dân vi bản 以 民 為 本). Lúc bấy giờ, hết thảy dân chúng đều truyền tụng ngâm đọc Bài 2, tức là dân chúng vô cùng sáng suốt, dân chúng đã biết được thẩm mỹ, biết đến giá trị của bài thơ. Bài thơ được dân chúng “mệnh danh” là bài thơ thần, chứ không phải là “thơ thần”, và bình giá bài thơ là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam ta. Đó là yếu tố chính đã khiến nhà sử học chân chính Ngô Sĩ Liên ghi bài thơ vào sử sách. Việc làm của ông là theo đúng yêu cầu, ý nguyện của dân chúng, cho nên người đời sau mãi mãi suy tôn ông là nhà sử học kiệt xuất - tác giả của Đại Việt sử ký toàn thư.


Tiêu đề: Re: Về bài thơ "Nam quốc sơn hà"
Gửi bởi: menthuong trong 10 Tháng Giêng, 2010, 05:11:38 pm
...Bây giờ nói về ý nghĩa của chữ “cư” 居. Căn cứ vào từ điển Từ hải, trang 1209 giải thích: “Cư” 居 có nghĩa là ở, nơi ở, “cư” 居 còn có nghĩa là trị lư 治 理 (= quản lư, cai trị)(3). Nhưng ở trong câu thơ này, chữ “cư” 居 không thể dịch nghĩa là “ngự trị, cai trị”.

Người dịch chữ “cư” 居 trongcâu này với ý nghĩa là “ngự trị” có thể là để biểu thị thanh thế của vua nước Nam đối với phương Bắc, hoặc cũng có thể là biểu thị uy quyền của nhà vua đối với dân chúng nước ta. Nếu chúng ta dịch chữ “cư” 居 với ý nghĩa như thế, thực ra không có sức lôi cuốn người đọc. Vì thơ là “ý tại ngôn ngoại”, nói về thanh thế, thì tác giả bài thơ đã dùng từ “Nam đế” đối với “Bắc đế”. Vua nhà Tống và vua nước Nam mỗi đằng làm đế một phương, chẳng ai hơn ai, không ai có quyền xâm phạm đến ai, việc gì phải lập lại ư ngự trị nữa. Nếu chữ “cư” 居 mang ý nghĩa “ngự trị” thì còn gì là tình bang giao thanh cao của nước Việt đối với các nước láng giềng nữa. Dân tộc Việt Nam xưa nay có truyền thống hòa hiếu, chỉ riêng cách đặt tên làng, tên đất cũng đã phản ánh nguyện vọng, tâm thế của người dân làng xã thích sống chan hòa với thiên, địa, nhân. Ở một đất nước có truyền thống chống ngoại xâm, thế nhưng tên làng, tên đất có chữ Vơ (Vũ) không được dùng nhiều lắm. ...

Còn đối với dân chúng, nếu dịch nghĩa chữ “cư” 居 trong câu thơ này là “ngự trị” thì lại càng không đúng. Từ lâu bài thơ đã được dân chúng công nhận là bài Tuyên ngôn độc lập, mà tác giả nói đến “ngự trị”, thì còn đâu là bài Tuyên ngôn độc lập về quyền bình đẳng, quyền độc lập tự chủ của dân tộc. Hơn nữa, câu mở đầu bài Tuyên ngôn độc lập của một nước mà tác giả nói ngay đến quyền ngự trị của vua thì còn ai muốn theo vua, bảo vệ đất nước. Tác giả làm bài thơ này là để động viên tướng sĩ quyết tâm chiến đấu, bảo vệ chủ quyền đất nước, chủ quyền độc lập dân tộc. Chủ quyền ở đây không chỉ có "quyền ngự trị sông núi nước Nam của vua Nam". Chỉ có ông vua hôn mê, tối tăm thì mới nghĩ về mình như thế, làm vua một nước mất chủ quyền, ngự trị một nước nô lệ thì có hay ho gì ? Thực tế lịch sử Việt Nam đã chứng minh, mất nước, mất chủ quyền độc lập, vua quan triều Nguyễn vẫn trị vì, cai trị, ngự trị đất nước đấy thôi. Huống hồ, đây là bài Tuyên ngôn độc lập, ngay ở câu mở đầu bài thơ đã dịch chữ “cư” 居 là “ngự trị” thì rơ ràng người dịch chưa thấy được tính thiêng liêng cao cả của bản Tuyên ngôn độc lập. Nhất là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt hình thành bố cục: đề, thực, luận, kết càng cho ta thấy rõ chữ “cư” 居 ở đây không có nghĩa là “ngự trị”.

Ý nghĩa của bốn câu thơ đề, thực, luận, kết liên kết với nhau rất biện chứng, rất lôgích làm nổi lên chủ đề của một bài Tuyên ngôn độc lập: quyền bình đẳng (Nam đế đối với Bắc đế), quyền lãnh thổ thiêng liêng (trời xanh đã định địa phận, địa giới), quyền độc lập tự chủ (Cớ sao giặc Bắc dám xâm phạm đất đai, quyền độc lập tự chủ của dân tộc ta)…

Qua đó, ta thấy nhân dân ta suy tôn bài thơ là bài Tuyên ngôn độc lập là có đầy đủ cơ sở khoa học, xác thực, chứ không phải là dựa vào thơ thần. Nếu là thơ thần thì làm sao được gọi là bài Tuyên ngôn độc lập !


Tiêu đề: Re: Về bài thơ "Nam quốc sơn hà"
Gửi bởi: menthuong trong 10 Tháng Giêng, 2010, 05:12:21 pm
Bây giờ đối chiếu những chỗ khác nhau giữa Bài 1 và Bài 2, như "Hoàng thiên dĩ định - (Trời xanh đã định)", chúng ta sẽ thấy tác giả làm bài thơ này theo quan niệm của Hán Nho. Đổng Trọng Thư: Trời như một thượng đế có quyền uy tối cao, loài người đều do Thượng đế sáng tạo ra. Trời sinh ra cho xã hội loài người một vị vua có quyền lực tối cao để “thay trời hành đạo”. Nhưng nhân dân Việt Nam sáng suốt khẳng định không phải do trời và chỉnh sửa ngay phân câu thơ ấy là: “Tiệt nhiên định phận”. Tiệt nhiên 截 然 (= rơ ràng, rành rành, rạch ròi) cả phân câu ấy có nghĩa là: rành rành định địa phận. Như thế, ư nghĩa của câu thơ này càng dứt khoát, rơ ràng là định địa phận, lãnh thổ (Rành rành định địa phận ở sách trời) gắn kết với chữ “cư” 居 (= ở) của câu đề (câu 1).

Ở câu luận (câu 3), “Bắc lỗ” (giặc Bắc) được thay bằng “nghịch lỗ” (lũ giặc). Từ “Bắc lỗ” chỉ đích danh giặc phương Bắc, còn từ “nghịch lỗ” tuy là từ chỉ chung bọn giặc, nhưng bài thơ đã được Lư Thường Kiệt sử dụng ngâm đọc lúc xung trận đánh quân Tống. Lúc này từ “nghịch lỗ” vừa chỉ giặc Tống vừa ám chỉ bọn giặc nước ngoài nói chung lại càng sáng rơ tính chất của bài Tuyên ngôn độc lập. Vì Tuyên ngôn độc lập của một nước không chỉ thu hẹp trong một trận đánh nào, hay của một địa phương nào, mà là của cả dân tộc, của cả đất nước. Vai trò của bài thơ là như thế đấy. Chính vì những nguyên nhân trên, cho nên Bài 1 CÓ THỂ xuất hiện trước, nhưng lâu nay ít được dân chúng và sử sách nhắc đến.

Câu kết (câu 4): "Bạch nhận phiên thành phá trúc dư” (Bay bị gươm sắc chém tan như chẻ tre)" được thay bằng câu "Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” (Chúng bay chờ xem, sẽ chuốc lấy thất bại). Tuy hai câu thơ ngôn từ khác nhau, nhưng đều là câu kết, cùng một ư khép bài, nói lên chủ đề của bài thơ: kẻ nào xâm phạm nước ĐẠI VIỆT sẽ bị đánh tả tơi. Nghĩa là giặc đến nhà là phải đánh, đánh cho chúng biết tinh thần của dântộc Việt Nam là: bảo vệ lãnh thổ thiêng liêng của đất nước, quyền độc lập tự chủ, quyền bình đẳng và quyền sống của con người. Rơ ràng, đó là chủ đề Tuyên ngôn độc lập của một nước. Đã là Tuyên ngôn độc lập, dân chúng đọc lên đều cảm thấy thiêng liêng, tự hào về đất nước mình. Đó chẳng phải là vô hình, trừu tượng mà là những hình ảnh thiêng liêng về non sông đất nước, về những mảnh đất thiêng Như Nguyệt, Bạch Đằng… oai hùng lại hiện lên trong tâm trí họ. Từ những hình ảnh biểu tượng thiêng liêng đó mà ngày xưa, ngày nay chẳng kẻ thù nào ngăn nổi bước ta đi. Vì thế, dân chúng và các nhà nghiên cứu xưa nay cũng đã chọn Bài 2: Nam quốc sơn hà Nam đế cư (Sông núi nước Nam, vua Nam ở) vào sách giáo khoa, sách sử. Gần đây Thơ văn Lý - Trần, Tập 1, Nxb. KHXH, H. 1977, tr.321-322 cũng đã chọn bài 2, làm bài đọc chính, bài 1 chỉ là bài khảo đính. Chẳng phải đợi chờ lâu xa, Viện Văn học và Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã làm đúng với ý nguyện của dân chúng, không làm mất đi những hình ảnh, biểu tượng thiêng liêng đó trong tâm thức con người hôm nay và các thế hệ mai sau.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 05 Tháng Hai, 2010, 05:52:06 pm
Nghe nói chưa dừng mà mới chỉ là "giãn tiến độ" thôi!

Dù gì thì cũng phải làm rõ (bởi chắc chắn đã tốn không ít tiền rồi) nguyên nhân:

- Do không đủ 200 tỷ?
- Do kịch bản kém?
- Do trường quay không có?
- Do thiếu diễn viên?
- Do chưa thống nhất được trang phục hồi đó?
- Do "va chạm" giữ bên đặt hàng và bên sản xuất?
- Do vân vân....

Đại lễ kỷ niệm 1000  năm Thăng Long mà không có phim về Lỹ Công Uẩn, về chuyện dời đô thì cũng hẫng quá!

Có những câu hỏi bác menthuong đặt ra rất hay, nhưng cũng có câu hỏi đặt ra không phải vì bác không biết mà chắc là muốn có thêm ý kiến của mọi người chăng? Về lý do vì sao bộ phim Lý Công Uẩn chưa tiến hành đã "lởm khởm" rồi thì cách đây mấy tháng báo chí đã cày xới rất rõ, bác cho thể hỏi chú Gúc, chứ nhìn 1 loạt cái Do ở trên của bác, em hoa mắt quá

Phim “Chiếu dời đô” được đổi sang “Khát vọng Thăng Long”?
http://www.vnexpress.net/GL/Van-hoa/San-khau-Dien-anh/2010/02/3BA188CA/


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 24 Tháng Hai, 2010, 04:55:03 pm
Khi những dự án phim về vua Lý vẫn luẩn quẩn, bế tắc trong những cuộc tranh cãi của các nhà làm phim Việt Nam, một bộ phim truyền hình 12 tập mang tên Lý Công Uẩn - Đường đến thành Thăng Long đã được âm thầm bấm máy tại trường quay Hoàng Điếm thuộc tỉnh Triết Giang - Trung Quốc ngày 9/1/2010....

http://dantri.com.vn/c23/s23-380621/dao-dien-bao-thanh-thien-lam-phim-ve-ly-cong-uan.htm

“Một bộ phim lịch sử Việt Nam nhưng quay tại Trung Quốc, do đạo diễn Trung Quốc thực hiện, nhà sản xuất có đặt ra tình huống, phim sẽ khó thuyết phục được khán giả Việt Nam?”...


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 26 Tháng Hai, 2010, 09:06:18 am
Triều Lý thoát nạn nhờ sự may mắn của Liệt hầu Cao Kha

Phạm Bỉnh Di bị giết rồi, phe đảng còn lại đứng đầu là Quách Bốc quyết định trả thù. Tháng 8 năm Kỉ Tị (1209), Quách Bốc cho thuỷ quân đánh vào kinh sư. Tiền quân của Quách Bốc có nhiệm vụ băng qua khu vực dốc Hàng Than (Hà Nội) để đánh thẳng vào cấm thành mà cướp báu vật, còn đại quân của Quách Bốc thì đóng ở bến Thiên Hà (Hà Nội) rồi đánh thẳng vào cửa Thiên Thu. Tình hình kinh đô trở nên hết sức nguy cập, ngai vàng của Lý Cao Tông có cơ bị lật nhào.

Song, đội quân hùng mạnh ấy của Quách Bốc đã bị thất bại một cách hài hước chỉ bởi một mũi tên bắn lén của Liệt hầu Cao Kha. Sách Đại Việt sử lược (quyển 3, tờ 19-b và tờ 20-a) cho biết, khi đại quân của Quách Bốc vừa tiến vào đến quán Vũ Sư thì bị Liệt hầu Cao Kha nấp sẵn ở Chấn Vi bắn cho một phát. Mũi tên ấy trúng ngay vú một người lính của Quách Bốc. Cao Kha thấy thế thích quá, quên cả nguy hiểm mà vỗ tay reo hò. Chẳng ngờ mũi tên bắn lén và hú hoạ mà trúng ấy, cộng với tiếng vỗ tay reo hò rất tự nhiên của Cao Kha đã làm cho toán lính đi đầu hốt hoảng bỏ chạy ra bờ sông. Bấy giờ, lính giữ thuyền thấy vậy cứ tưởng là quân đội triều đình ra đánh, bèn vội chèo thuyền ra giữa sông. Đúng lúc đó, gió bấc thổi mạnh, thuyền bè vì thế mà trôi dạt hết cả. Quân Quách Bốc đang ở trên bờ thấy thuyền trôi thì mất hết tinh thần mà tự tan vỡ, nhân đó, bị tiêu diệt, chết hơn 300 người. Hài hước hơn nữa, người tiêu diệt quân Quách Bốc lại chính là dân kinh thành chứ không phải là quân đội triều đình!

Lời bàn: Trong cuộc chém giết đương thời, không một ai là người có chính nghĩa cả. Không có chính nghĩa thì chẳng có gì đáng giá để cố kết lòng người. Đội quân ấy chỉ trông cậy ở vũ khí và phương tiện chiến đấu mà thôi. Thuyền mới trôi mà đã mất tinh thần rồi tự tan vỡ, ấy cũng là chuyện dễ hiểu.

Trong chỗ không ngờ, triều Lý đã gặp may nhờ mũi tên tình cờ mà trúng của Liệt hầu Cao Kha. Ở đời, có người nổi tiếng nhờ tài đức, nhưng cũng có người nổi tiếng nhờ sự tàn bạo, hoặc giả là gặp chuyện hi hữu, đại loại như Cao Kha. Ôi, thời loạn quả là lắm chuyện lạ! (Theo “Việt sử giai thoại” của Nguyễn Khắc Thuần – NXB Giáo Dục)


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: haruharu069 trong 09 Tháng Năm, 2010, 05:46:17 pm



2. Năm 1010, khi vua Lê Long Đĩnh mất, Lý Công Uẩn 35 tuổi đang giữ chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ được lực lượng của quan Chi hậu Đào Cam Mộc cùng với sư Vạn Hạnh đã tôn ông lên làm vua đặt niên hiệu là Thuận Thiên. Tháng 7, Thuận Thiên nguyên niên (1010) ông cho rời đô về thành Đại La. Đánh giá về lý do và dữ liệu lịch sử việc này ?

Lê Long Đĩnh mất vào năm 1009 chứ bác
Vụ tôn lên ngôi này thực ra là đảo chính cung đình do giới quân đội và tăng quan "cấu kết"  ;D. Cái chết của vua Lê cũng đầy mờ ám.

Ngoài các lý do dời đô được viết trong chiếu thì có lẽ 1 lý do khác là muốn tránh xa đất Hoa Lư nơi còn nhiều tình cảm của dân chúng với nhà Lê

Chào bác!
Tôi không hiểu sao bác lại nghĩ như vậy? Bác cũng biết Lê Long Đĩnh là "vua" như thế nào rồi mà, chẳng vậy lại gọi là "ngọa triều". Nếu không chấm dứt tình trạng ấy thì muôn dân trăm họ sẽ phải sống ra sao? fải chịu nhiều thống khổ thế nào? có khi còn mất nước với ngoại bang ấy chứ! Do tính cấp thiết như vậy nên việc thành lập một chính quyền mới với những cải cách lớn và làm cho dân chúng ấm lo, nhà nước độc lập tự chủ là một điều cần thiết.
Có một nhà nước độc lập thì đồng nghĩa fải có thủ phủ, thủ phủ fải là nơi tốt về mọi thứ, fải có thế núi sông và thuận tiên thông thương. Bác nghĩ xem, đất Hoa Lư như vậy có thể nào làm thủ phủ lau dài không? mùa nước thì ẩm ướt, ngập úng, đi lại thì khó khăn, diện tích thì eo hẹp... vậy sao mà làm thủ phủ đc? Thăng Long là chốn rộng rãi, thoáng mát, có thế núi sông thuận tiên, đất đai màu mỡ, bằng fẳng... vậy thì sao không chọn Thăng Long?

3. Khi ra đến La Thành, Thái Tổ lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên trời nên đổi tên Đại La thành sang Thăng Long thành, và cải Hoa Lư làm Trường An phủ và Cổ Pháp làm Thiên Đức phủ. Việc chọn nơi đây làm kinh đo có ảnh hưởng bởi những người trước đó (có Cao Biền) đã chọn hay không? Việc đặt tên?

Sao bác lại có thế nói rằng Vua Lý Thái Tổ "lấy cớ" có điềm trông thấy rông vàng bay lên trời nên đổi tên Đại La thành Thăng Long? tuy rằng trong chúng ta không ai biết về thời kỳ lịch sử đó có rồng thật hay không nhưng chúng ta hãy cứ tin rằng một triều đại hùng mạnh khi ấy đã đánh tan bao âm mưu xâm lược của ngoại bang, đã cho lũ tàu khựa biết tay Đại Việt. vậy chuyện thấy rồng biết đâu lại là sự thật thì sao? vả lại, người làm "thiên tử" chắc hẳn fải có tư chất khác người thường chứ. fiền bác lần sau để ý giúp đc k?

Việc chọn kinh đó về văn bản thì theo đất tốt của Cao Biền chọn, nhưng chắc là muốn gần quê hương hơn. Còn rồng vàng kia chắc là khi đoàn thuyền về đến Đại La vào tầm chiều hoặc vào lúc thời tiết có thay đổi mà trên trời hiện lên vệt mây vàng (giống kiểu hiện tuợng vảy rồng ở bầu trời Hà Nội mấy tháng trước ấy)  :D
Bác cũng biết rằng: Tàu khựa là nước có thuật tướng số và phong thủy bậc nhất thế giới !, ngay từ những nhà nước đầu tiên của " Tung của lả" đã xuất hiện nhiều điều liên quan đến phong thuỷ, đã biết dùng phong thủy vào nhiều việc trọng đại. vậy chúng ta cũng nên tham khảo của chúng chút ít ( NHƯNG FẢI CÓ CHỌN LỌC) . Cao Biền đã biết chọn đất đóng làm thành lũy lâu dài, vậy hẳn fải có dụng ý! vậy tận dụng điều tốt và có thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh của mình là một điều tốt chứ sao k?

Từ nhỏ được nuôi dưỡng, giáo dục trong chùa, lên ngôi nhờ sự ủng hộ của giới tu hành, tăng quan trong triều. Thử hỏi sao lại không "báo đáp" ơn sâu, 1 mặt là củng cố thêm lực lượng, thế lực cho chính quyền? Còn đưa ra các chính sách mới là chuyện đương nhiên của mỗi vị vua khi lên ngôi (các quan ta ngày nay cũng thế còn gì, như trong ngành giáo dục ấy)


Đạo phật là một đạo giúp con người ta hướng thiện, một đạo mà ảnh hưởng của nó rất lớn và tồn tại đến ngày nay, một đạo mà luôn hướng thiện, luôn đấu tranh vì tổ quốc và vì lẽ phải. (trong kháng chiến chống ĐQ mỹ và tay sai tại VN) .
Mặt khác, có một quốc giáo như vậy chẳng tốt hơn hay sao? người đứng đầu nhà nước là người lắm quyền cao nhất, là một người theo đạo đó, có fải sẽ dễ dàng hơn trong việc triều chính. nếu như có nhiều đạo thì sẽ dễ nảy sinh mâu thuẫn giữa các đạo với nhau, vậy thì sao nước bình yên và độc lập được?


7. Nguyên nhân suy tàn của Vương triều. Lịch sử ghi nhận rằng: Lý Nhân Tông (1072-1127) là vua trị vì lâu nhất trong lịch sử Việt Nam (56 năm) nhưng người kế nghiệp là Lý Thần Tông (1128-1138) không con. Kết cục là nhà Lý bắt đầu suy tàn từ thời vua Lý Cao Tông (1175-1210).  

Nguyên nhân suy tàn của 1 triều đại đều như nhau cả (ăn chơi, dâm dục...) chứ ko phải vì không có con  ;D và vua không có con trai kế vị là Lý Nhân Tông chứ không phải Lý Thần Tông bác ạ

Về điểm này thì em cũng có ý kiến như của Bác.  ;D

9. Nhà Lý chấm dứt khi vua Lý Chiêu Hoàng (1224-1225), khi đó mới có 8 tuổi bị ép thoái vị để nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh vào năm 1225. Việc Trần Thủ Độ “Đảo chính cung đình” thành công để lại bài học gì cho nhậu thế?

Không để lại bài học gì bác ạ!  ;D mà chỉ có thể cung cấp thêm chứng cứ cho câu nói "SỐ TRỜI ĐÃ ĐỊNH"  ;D. Nếu là bài học thì sao trước đó chuyện hôn nhân của con cái mà mất nước giữa An Dương vương và Triệu Việt vương giống nhau thế? Rồi Trần Thủ Độ bắt hôn nhân nội tộc để tránh, cuối cùng có tránh được đâu, Hồ Quý Ly cũng nhờ hôn nhân mà đoạt được ngôi đó thôi

[color=yellow]Đúng vậy, em đồng ý thế. nhưng có thêm chút bổ sung. Việc đảo chính là chuyện thường trong xã hội phong kiến (mà cả một số nước tư bản ngày nay) đó là việc không thể tránh nếu như người đứng đầu nhà nước đó không còn đủ thực lực để lãnh đạo đất nước và quân đôi, không lấy được lòng dân nữa thì chuyện lập nên một nhà nước mới là điều dễ thấy.


11. Chuyện Hoàng tử (Lý Long Tường) sang Cao Ly sinh sống, lập nhiều chiến công và lập ra dòng họ Lý Hàn Quốc ngày nay ?. Lý Long Tường là con thứ của vua Lý Anh Tông, em của vua Lý Cao Tông và là chú của vua Lý Huệ Tông hay do hiền phi Lê Mỹ Nga sinh vào năm Giáp Ngọ 1174 ? Kiến Hải vương Lý Dương Côn, đô đốc thủy quân, cũng mang gia quyến lên thuyền lưu vong đến Cao Ly vào năm 1150 quan hệ thế nào với Lý Long Tường và hậu duệ của 2 Vương tử này có liên hệ với nhau không?. Lý Thừa Vãn (이승만, Syngman Rhee, 1875-1965) từng là tổng thống Đại Hàn dân quốc có phải là hậu duệ của Hoàng tử triều Lý không?  

Thông tin về những người này gần đây có nhiều, nhưng chắc chắn khi ở Hàn họ không biết nhau hoặc có liên hệ.

Còn Lý thừa Vãn khi sang Nam VN chính mồm ông ấy nói là con cháu họ Lý gốc Việt

Cái này mong bác dẫn nguồn giúp nhé !

13. Một thời đại oai hùng và bi thương như thế, với nhiều chiến công và còn lắm tồn nghi như vậy...chắc không thiếu đất để các nhà viết truyện, làm phim cày xới. Nhưng sao ta không thấy những bộ phim hoành tráng cỡ đàn em của TH nhỉ? Dự án phim Lý Thái Tổ rầm rộ một thời nay sao rồi?
[/quote]

Việc làm phim " Lý Thái Tổ" theo tôi là rất tốt và rất bổ ích vì sẽ cho các thế hệ người việt biết về một thời kỳ lịch sử cực thịnh của dân tộc việt. nhưng có một điều rằng, tại sao các nhà làm phim đó cũng như những người có liên quan của nhà nước lại đem sang Tàu khựa để làm? mặc đồ tàu khựa, mướn diễn viên tàu khựa, thuê đạo diễn tàu khựa, .. nói chung là gần như tất cả là của tàu khựa. như vậy thì sao mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Đại Việt được?


Tiêu đề: Re: Lợi thế khi chọn Đại La làm Kinh đô
Gửi bởi: menthuong trong 22 Tháng Năm, 2010, 06:35:55 am
Cuộc thi tìm hiểu "THĂNG LONG - HÀ NỘI NGHÌN NĂM VĂN HIẾN VÀ ANH HÙNG" có Câu hỏi 1: Trong bài “Chiếu dời đô”, Hoàng đế Lý Thái Tổ đã xác định những lợi thế nào của đất Thăng Long? với 4 phương án ra của Ban Tổ chức cuộc thi đưa ra là:

a. Là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương.
b. Được thế rồng cuộn hổ ngồi.
c. Có núi cao sông dài
d. Muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh.

Tôi thấy các đáp án: a, b, d đều được Lý Công Uẩn viết rõ trong “Chiếu dời đô”. Riêng phương án c thì cần bàn.

Trong “Thiên đô chiếu” 遷都詔, khi nói về vị thế chiến lược của thành Đại La, Lý Công Uẩn viết: “便江山向背之宜” được phiên âm là “Tiện giang sơn hướng bối chi nghi”. Bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, in trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993 là: “Tiện nghi núi sông sau trước” (http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFu_d%E1%BB%9Di_%C4%91%C3%B4) . Hiểu sát thực hơn là: “Có vị thế thuận tiện nhìn ra sông, tựa vào núi” rất lợi hại về mặt chiến lược của Thăng Long. Chứ không đề cập đến “núi cao sông dài” như đáp án (c) trong đề thi. Theo tôi:

1. Có thể đây là một phương án BTC cho là sai đưa ra để bẫy, thử tài người thi, ai nói đúng người ấy mất điểm.
2.  Biết đâu BTC có tư liệu cho rằng vị Vua khai sinh triều Lý, khai sinh ra Thăng Long-Jà Nội biết rằng 998 năm sau Hà Nội có Ba Vì nên dịch thoát ý lời chiếu của cụ.

Không hiểu các bậc cao minh nghĩ sao?


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 08 Tháng Tám, 2010, 04:21:24 pm
Cuối cùng thì cũng có môtk bộ phim, phim: "Huyền sử thiên đô"- 70 tập về Lý Công Uẩn sắp được công chiếu.
(http://vovnews.vn/Uploaded_VOV/thuyhoa/20100616/ca-doan.jpg)
Nóng lòng chờ xem! http://vovnews.vn/Home/Huyen-su-thien-do-phim-70-tap-ve-Ly-Cong-Uan/20106/146825.vov


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 25 Tháng Chín, 2010, 07:49:43 am
Chờ mãi mơi được bộ phim về thời kỳ này. Nhưng phim "Lý Công Uẩn - Đường đến thành Thăng Long" được Công ty cổ phần truyền thông Trường Thành, Hà Nội hợp tác với Hiệp hội truyền hình Đông Nam Á (东盟卫视, ASEAN TV, Đông Minh Vệ Thị) sản xuất lại bị phê phán khá gay gắt.

Dư luận lên án không hẳn vì phim được khởi quay ngày ngày 9 tháng Giêng tại Hoành Điếm Trung Quốc mà còn vì nhiều sự thật lịch sử (theo dư luận) đã bị bóp méo.

Nhân vật chính, vị Vua khai sáng triều Lý, người đặt nền móng cho Thăng Long Hà Nội được http://blog.ifeng.com/article/3973714.html hiểu như thế này đây:

" Lý Công Uẩn nguyên tịch Phúc Kiến (原籍福建), kiều cư (侨居) thôn Cổ Pháp, Bắc Việt (越北古法)...Năm 1010, Lý Công Uẩn định đô ở Đại Long Thành, kiến lập triều Lý trong lịch sử An Nam (建立安南历史上的李朝).
Bản thân Lý Công Uẩn thực ra là người Trung Quốc (本人实际就是中国人). Cho nên, trong thời gian tại vị ông ta hết sức đề cao văn hóa nội địa Trung Quốc, mở rộng chính sách Hán hóa (他在位期间极力推崇中国内陆文化,推行汉化政策)..."

Họ hiểu thế hay cố tình hiểu ra thế (nhất là những chữ tôi tô đỏ đó) thì sao mà họ giúp ta làm Phim cho đúng tầm được. Còn đâu là hình ảnh của Lý Thái Tổ nữa?


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: tra kute trong 25 Tháng Chín, 2010, 08:16:23 pm
Em đồng ý với ý kiến của bác đại úy.Em cũng đã nghe nói về bộ phim này một chút.Theo em được biết thì đúng là dư luận cũng có nhiều tiếng chỉ trích.Nhưng khi nào phim công chiếu sẽ còn có nhiều chuyện vui để bàn


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: chiangshan trong 27 Tháng Chín, 2010, 01:16:14 pm
Nhà em vốn không thích bình luận khi chưa xem, nhưng đọc những phản bác theo kiểu "thời Nguyễn mới chỉ được thế này nên thời Lý không thể được thế kia" mà thấy chuối cả nải.

Mỗi thời 1 khác chứ, có phải lúc nào đời sau cũng cao cấp hơn đời trước. Lính thời Lý-Trần có giáp, lính thời Nguyễn chỉ có áo vải thì sao? Bộ đội ta thời CT biên giới ăn mặc rách rưới, lôi thôi hơn cả thời chống Pháp, Mỹ thì sao?

Thực tế tư liệu, hình ảnh về trang phục của TQ cũng chỉ phong phú từ thời Tống trở đi, nên rất nhiều phim về thời kỳ trước họ áp nguyên trang phục Tống hoặc phóng tác đi. Cùng 1 thời nhưng xem trong Tam quốc cũ, Tam quốc mới hay Xích Bích là đã mỗi phim 1 kiểu rồi.

Phải mạnh dạn làm mới tiến bộ được, chứ để cái bệnh sợ Tàu nó ăn vào tâm thì đến đời nào mới khá lên?



Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Lancelot trong 02 Tháng Mười, 2010, 01:37:18 pm
em đã cãi đến khản cổ bên Hoangsa, kết cuộc là đi đến kết luận " ai bảo giáo dục có thể khiến mọi người tốt hơn, đó là nói dóc.". Trong vụ này, cả 2 phe đều có những cái quá lố trong lý luận. Phe bảo vệ phim thì cho rằng " năm... Lê Long Đĩnh thay đổi toàn bộ triều phụ theo nhà Tống" thì cứ bê nguyên xi nhà Tống vào là xong. Thế thì quá khinh suất. Còn phe chống đối thì ngày càng theo hướng cực đoan.

Sau vụ này, em đâm chán nản trước kiến thức lẫn cách tranh luận của 1 số ông như Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hồng Kiên.

- Ông Diện mang danh giáo sư viện Hán Nôm mà tranh luận thì đầu tiên... chửi cái đã rồi mới... đạp xe đi hỏi những người nghiên cứu khác như ông Trịnh Quang Vũ rằng " phim sai chỗ nào, ông có biết không?". Thật sự là ko thể hiểu nổi làm việc ở viện Hán Nôm mà phải đi nhờ người khác chứng minh dùm vấn đề phim Tàu chỗ nào, Việt chỗ nào?
- Ông Nguyễn Đắc Xuân thì hăng hái hò hét, toàn lấy sử liệu đời... Nguyễn suy ngược lên đời Lý để phản bác. Đến gần cuối mới biết là ông toàn...nghiên cứu nhà Nguyễn chứ ko biết mô tê gì nhà Lý cả. Thế nên mới có những lý thuyết dạng:

Trích dẫn
"Ngay cả trong các hình chụp của người Pháp thì thấy nhiều nơi dân ta vẫn cởi trần đóng khố, vậy làm sao 1000 năm trước lại có giáp trụ ..."
1/ quả có bằng chứng binh sĩ nướng giáp da ăn thời Hồ, tướng tá mặc giáp sắt kín tới cả sau lưng, bị phục kích dùng giáo đâm thủng thời Lý Mạt ( sách trong quansuvn nói cũng nhiều).
2/ thời nay cũng khối người cởi trần, chẳng có liên can cản trở gì chuyện hồi xưa có thế có mặc giáp, quần áo tươm tất hay ko.
3/ Champa đóng khố toàn diện và vẫn mặc giáp:

(http://img25.imageshack.us/img25/9770/champawar3.jpg)

cách lý luận của ông Xuân ấu trĩ đến độ kinh khủng.

Ông XUân còn bình luận chuyện thời Nguyễn mới có sơn sơn cung điện Huế thì sao thời xưa trang trí hoành tráng vậy được. Nếu nói về bối cảnh Tần Hán mượn trường quay Tàu mà quay như phim thì đúng là sai, nhưng bảo thời Nguyễn mới có sơn thì trước đó ko thể làm cung điện hoành tráng được thì thật bó chiếu. Sách sử ghi rõ vua Tiền Lê dát vàng bạc lên cột, xây cung điện lợp ngói bạc. Đến cả Chu Khứ Phi nhà Tống còn chép lời đồn rằng vua Việt dùng đồng lợp ngói. Ko có sơn thì vẫn thiếu gì cách trang trí.

Nghe ông Xuân mà tưởng như đang diễn ra trân đánh giữa 2 phá " cha ông là phải mặc như Tàu" và " cha ông là phải cởi trần đóng khố, nhà thấp lụp xụp, nhỏ bé, lạc hậu". Chẳng thấy ai khá hơn ai.

--------------------------------

nhưng kinh nhất là ông Nguyễn Hồng Kiên. Ổng là tiến sĩ khảo cổ mà bao nhiêu luận cứ cứ trớt quớt. Tiến sĩ khảo cổ mà cả bộ phim có nhiều chi tiết chắp vá mượn thẳng áo quần từ trường quay TQ thế mà ổng ko chỉ ra được. Ổng lại đi săm soi cụ rồng Lý, mà càng chỉ ra những chi tiết sai về cụ rồng trong phim, ổng càng tỏ ra kém hiểu biết và mánh lới khủng khiếp.

VD:
- ổng bắt bẻ rằng rồng Lý phải uốn từng nếp gấp hình chữ C, phim làm uốn chữ U là sai. TRong khi mới mấy tháng trước, cũng trong blog, ổng lại bắt bẻ 1 bức tượng rồng Lý mới làm khác, trong bài đó, ổng lại hét rằng " nếp gâp của rồng Lý phải theo hình ...nửa chữ O.". Trước sau bất nhất, ấu trĩ nặng. Tự chế ra cái luận rồng Lý phải uốn theo chữ latinh, trong khi đã tra 4 cuốn sách, sách nào cũng chỉ đơn giản bảo " Rồng Lý gấp thành nhiều khúc, phỏng theo hình sóng lượn, dòng sông,...."

- kế đó, ổng còn kinh hơn khi đăng những hình ảnh nào có lợi cho mình để cố tình bắt bẻ kiểu gàn. VD ổng đòi rồng Lý trên áo phải căng tròn như rồng trên đá, trong khi hình thêu trên áo làm sao làm được điều đó? Rồi rồng Lý ngóc cổ xéo, ổng ôm 1 hình nhân vật đang quay nghiêng người, sao cho cái cổ xéo nhìn vào có vẻ dựng đứng rồi kêu ca là thêu sai.

- Khủng khiếp nhất là ổng ăn cắp, trích dẫn thẳng bài nhận xét về Minh Quang Giáp của 1 thành viên nghiệp dư của forum lichsuvn để chứng minh Minh Quang giáp trong phim làm sai ( ờ, đúng là sai thật, nhưng lại ko pah3i sai vì những chi tiết mà ổng trích dẫn từ người khác để bắt bẻ ấy).

Đọc xong bài ông Kiên, nhìn cái chức Tiến sĩ Khảo cổ nhiều năm kinh nghiệm mà lạnh người trước trình độ kiến thức lẫn tác phong của 1 bộ phận tiến sĩ xứ ta.

Từng post bài phân tích trên Hoangsa, kết cuộc là bị xóa mất.

-------------

điều đáng cười nhất là tác phong " phim sai bởi phim quay ở Tàu", "ông ấy là tiến sĩ mà nói phim sai thì sao phim ko sai được". Trong khi cái vấn đề chính yếu là phải chỉ ra những chi tiết đã ôm thẳng từ Tàu ghép vào mà ko đối chiếu sử liệu ( VD như kiến trúc cung điện), phải ngồi mổ xẻ nhặt ra những chi tiết VN và nhưng chi tiết Tàu trong phim rồi kết luận cái nào trội hơn. Anh nào cũng nói câu " mày phải nhìn ...toàn diện, ko được đi sâu chi tiết, như thế là dính... bã của Tàu. Mày cứ đòi cái gì cũng bằng chứng là để làm gì, chứng minh mày giỏi, biết nhiều à? Dạng xấc xược như mày cần phải dạy cho bài học.".

đến khi nhảy sang vụ Huyền Sử Thiên Đô, phim làm ở VN, ôm cả đống trang phục lẫn kiểu tóc Tàu nhét vào còn vô tội vạ chẳng kém thì cũng cái luận điệu " phải nhìn toàn cục" rồi bốc ra mấy chi tiết " cây chuối kế bên quán rượu là thuần Việt", " phim làm ở VN thì sẽ thuần Việt, ko thể so sánh với phim ở Tàu.".

cái trò " phải nhìn toàn cục, ko đi sâu chi tiết" thực chất chỉ là cách lý luận buồn cười của bọn người ko cần lý lẽ, thậm chí ko quan tâm đến trau dồi kiến thức để tranh luận ( 1 tên nói thẳng vào mặt: "nghiên cứu là chuyện của giáo sư tiến sĩ, ko phải chuyện của tôi") để lúc muốn bênh ai thì " 1 đếm thành 10", ghét ai thì " 10 đếm thành 1" mà thôi. Phát chán rồi.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: linhtapsu trong 02 Tháng Mười, 2010, 02:06:12 pm
Cái bên HSO chỉ toàn cực đoan bài Tàu và bọn ten a dua té nước theo mưa là chính !
cũng chẳng hiểu các ông ấy nghĩ gì , ông cha không có giáp trụ khi đánh nhau với thằng có giáp , thì khác nào bây giờ kêu các bác lấy AK ra bắn vào xe tăng ?
Nhiều ông cãi cùn lại lấy lý do là diễn viên người TQ không phải người Việt ! Nghe thật hài hước !!


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Lancelot trong 02 Tháng Mười, 2010, 02:07:46 pm
điều kinh khủng hơn là nhờ tham gia kế hoạch làm mod AUH về toàn vùng Đông Á và Đông Nam Á. Em mới biết là tới Champa cũng trang bị đủ loại từ giáp giấy đến giáp sắt. :'(


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: linhtapsu trong 02 Tháng Mười, 2010, 02:25:28 pm
Thời xưa có lẽ mình bị ảnh hưởng nhiều của Tàu , thằng Tàu nó khinh ta là man di lên sách sử của nó toàn vẽ dân ta áo vải hay cởi trần đóng khố thế là các sử gia nhà ta cứ thế mà sao y bản chính (thời Hùng Vương đã có miếng hộ tâm rồi ) rồi Việt ta lại coi khinh Chămpa ,Chân Lạp là mọi rợ lên cũng cứ cho họ cởi trần đi đánh nhau vậy thôi !!


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 04 Tháng Mười, 2010, 05:02:18 am
Nếu vùng Cổ Pháp không sinh ra Lý Công Uẩn và thiếu vắng vai trò các nhà Sư hồi đó... thì hôm nay ta có ngày Đại Lễ không nhỉ?

Cám ơn tiền nhân, quê hương đất nước!


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Lancelot trong 04 Tháng Mười, 2010, 08:21:55 am
nói cho công bằng thì các sư, đặc biệt là sư Vạn Hạnh cũng có ý đồ riêng. Đưa cụ Uẩn lên cốt để để biến đạo Phật thành quốc giáo. Sau này vào thời Hồ, việc bài trừ tệ nạn trong sư sãi là 1 trong các nguyên nhân khiến cụ Ly bị công kích đến mất nước. Âu là cái gì cũng có cái giá.

Dạng như " ta cho các người 1 ông vua tốt có thể phát triển đất nước, bù lại các người phải chấp nhận ta làm quốc giáo". Ít nhất thì cụ Uẩn và triều đại của cụ cũng thật xứng đáng với cái giá mà dân tộc bỏ ra, nên cũng ko phàn nàn gì. ;D


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: tra kute trong 04 Tháng Mười, 2010, 08:45:24 pm
Tôi không hiểu bạn nói vậy là ra sao nữa.Rõ ràng không phải là sư Vạn Hạnh đưa Lý Công Uẩn lên ngôi để rồi muốn đạo phật trở thành quốc giáo.Theo tôi được biết thì đạo phật thời kì này phát triển khá mạnh ở các nước châu á,và việc triều Lí lấy đạo phật làm quốc giáo không phải là điều tất yếu trong lịch sử.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: spirou trong 04 Tháng Mười, 2010, 10:02:07 pm




(http://img25.imageshack.us/img25/9770/champawar3.jpg)

Quân Champa trang bị "hiện đại" quá, có cả giáp xích, giáp vảy cá và giáp da. Giữa Cồ Việt và Champa lúc đó có sự gần gũi về địa lý, giao thoa về văn hóa, ắt hẳn quân ta trang bị cũng tương tự (trên giáp dưới khố). Nếu dùng khố thì dễ dàng hành quân bằng thuyền (phương tiện vận chuyển chính thời đó), hành quân trên những con đường lầy lội đầy bùn hay liên tiếp phải vượt qua sông qua hồ. Riêng quân cấm vệ chắc trang bị nghiêm chỉnh hơn. Có một thứ binh khí của quân ta phổ biến thời đó mà ít phim nào thể hiện, đó là cây lao.

(http://img529.imageshack.us/img529/4715/champawar1u.jpg)


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 04 Tháng Mười, 2010, 10:10:54 pm
Cái bên HSO chỉ toàn cực đoan bài Tàu và bọn ten a dua té nước theo mưa là chính !
cũng chẳng hiểu các ông ấy nghĩ gì , ông cha không có giáp trụ khi đánh nhau với thằng có giáp , thì khác nào bây giờ kêu các bác lấy AK ra bắn vào xe tăng ?
Nhiều ông cãi cùn lại lấy lý do là diễn viên người TQ không phải người Việt ! Nghe thật hài hước !!

Cũng chả biết trách ai đây khi mà Đại lễ 1000 năm mà hiểu biết về thời đại ấy, về đường dời đô từ Hoa Lư...xem ra vẫn còn chưa ngã ngũ giữa các nhà khoa học.

Có điều tôi thấy ngay cả diễn viên Việt đóng Phim này xem ra lòng tự tôn dân tộc và trách nhiệm công dân cũng có vấn đề. Nếu không khi có chi tiết, lời thoại...sai hẳn lịch sử (công luận nói đầy), chưa kể quần áo, vũ khí, cung điện... thì phải biết "cãi" lại đạo diễn chứ!

Nói đâu xa khối bộ phim dựng về thời 1945-1975 và mấy ănm sau nữa tôi thấy bối cảnh và trang phục cũng đầy sạn!


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: caytrevietnam trong 05 Tháng Mười, 2010, 10:01:10 pm
Các bác còn những thông tin, tư liệu độc đáo, thú vị về triều Lý thì mang hết vô đây cho bà con xem với  ;D


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 06 Tháng Mười, 2010, 06:02:11 am
Cái bí của những ai ham muốn tìm hiểu lịch sử nước nhà là thế này: Sử sách chỉ nêu toàn những sự kiện, con số đánh nhau...nên "những thông tin, tư liệu độc đáo, thú vị" ít được đề cập. Vậy lấy đâu ra?

Tôi đến với QSVN một cách tình cờ bởi tình yêu với lịch sử và lòng ham hiểu biết và cũng vì chút động cơ cá nhân. Số là tôi đang trong quá trình soạn Gia phả dòng họ. Bắt tay vào viết mới thấy nhiều thứ thiếu quá. Ví như: tại sao mới chỉ có tư liệu từ thế kỷ 18 tại vùng Cao Mât, An Lão, Hải Dương (nay là xã Chiến Thắng, huyện An lão, thành phố Hải Phòng) còn trước đó tổ tiên từ đâu và đến trong hoàn cảnh nào...Thế là tôi lao vào tìm tư liệu. Càng tìm càng bí và thấy đầy mâu thuẫn. Không rõ vào thời đầu của nước Đại Việt vùng quê tôi, và nơi tôi đang sống (Lào Cai) có địa lịch sử thế nào? Bà con sống ra sao? Tổ tiên tôi có ai tham gia gì và có được chỗ nào ghi chép không?

Chủ đề này cũng đã có nhiều ý kiến bổ ích bổ sung cho hiểu biết của tôi song vẫn thiếu vắng nhiều điều! Đại lễ kỷ niệm đã bước sang những ngày cuối song vẫn ngổn ngang những thắc mắc, câu hỏi. Vâng có ai rành hay biết tư liệu (dù là mong manh) đưa lên cùng trao đổi thì hay quá!


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: thapbut trong 11 Tháng Mười, 2010, 02:41:28 am
Sau ngàn năm, tìm được gia thế của Lý Công Uẩn?

http://www.khoahoc.net/baivo/tranvietdien/160910-lyconguan-1.htm

Mở đầu như sau:
 Sự kiện Lý Công Uẩn không có cha cụ thể, mà con của thần nhân, cùng với những câu thơ sấm kí ở làng Cổ Pháp,  rồi những điềm báo có thiên tử ra đời …là biểu hiện của một cuộc vận động chính trị có tổ chức của giới trí thức tam giáo, đứng đầu là nhà  sư đầy tài năng Vạn Hạnh, hoàn thành tâm nguyện trăm năm  của quần chúng mà đại diện ban đầu là thiền sư Định Không của hương Diên Uẩn. Cuộc hôn phối có ý đồ, với đạo diễn kiêm chủ hôn Vạn  Hạnh tại chùa Thiên Tâm, núi Tiêu Sơn, giữa bà Phạm thị Ngà với “vị thần nhân dựa cột chùa”, một người họ Lý đang ẩn tích,   đã được tiến hành. Thiền sư Vạn Hạnh tạo điều kiện cho bà họ Phạm vào rừng gặp “ thần nhân”,  một cuộc hôn nhân bí mật, trong đó cha của Lý Công Uẩn có thể là một người đầy uy vọng của họ Lý vùng Cổ Pháp-Siêu Loại, tức Diên Uẩn-Thổ Lỗi,  đang trong thời kì phải mai danh ẩn tích. Sự kiện bà mẹ Lý Công Uẩn phải vào rừng sinh sống, rồi khi đứa bé lên 3, bà phải gửi bé  cho nhà sư Lý Khánh Văn nuôi dạy và cuối cùng giao cho sư Vạn Hạnh đào tạo chú bé  Lý Công Uẩn thành hoàng đế, có thể là cơ sở của giả thuyết vừa nêu. Còn giả thuyết Lý Công Uẩn là con ruột của sư Vạn Hạnh thì quá ư táo bạo và bị các nhà sử học bác bỏ. Một vùng đất có nhiều phật tử như Cổ Pháp-Siêu Loại, không thể mù quáng đảnh lễ một vị quốc sư, đứng vào hàng tam bảo, lại làm việc phạm giới luật. Cuộc “cách mạng lam”, chuyển giao quyền lực từ họ Lê, đã mất lòng dân, sang họ Lý, phản ánh một xu thế mới là thay chế độ quân trị sang nhân trị. Thực ra, việc Lý Vạn Hạnh lãnh đạo lớp trí thức tam giáo, nòng cốt là trí thức Phật giáo, cùng nhau  giáo dưỡng và làm cuộc vận động  để đưa Lý Công Uẩn  lên ngôi vua, là kế thừa « tâm nguyện  » trăm năm kể từ thời thuộc Đường, thế kỷ IX, ấy là  « củng cố và phát triển miền Cổ Pháp, đưa những người con cháu của vọng tộc Lý lên ngôi vua, vừa tạo độc lập dân tộc Việt mà cũng chấn hưng đạo pháp » của thiền sư Định Không (730-808).


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: thapbut trong 11 Tháng Mười, 2010, 02:50:12 am




(http://img25.imageshack.us/img25/9770/champawar3.jpg)

Quân Champa trang bị "hiện đại" quá, có cả giáp xích, giáp vảy cá và giáp da. Giữa Cồ Việt và Champa lúc đó có sự gần gũi về địa lý, giao thoa về văn hóa, ắt hẳn quân ta trang bị cũng tương tự (trên giáp dưới khố). Nếu dùng khố thì dễ dàng hành quân bằng thuyền (phương tiện vận chuyển chính thời đó), hành quân trên những con đường lầy lội đầy bùn hay liên tiếp phải vượt qua sông qua hồ. Riêng quân cấm vệ chắc trang bị nghiêm chỉnh hơn. Có một thứ binh khí của quân ta phổ biến thời đó mà ít phim nào thể hiện, đó là cây lao.

(http://img529.imageshack.us/img529/4715/champawar1u.jpg)

Ngày xưa Lâm Ấp đã trang bị "xe tăng" sinh học chạy bằng cỏ. Hình minh họa thấy có cả bộ binh núp cạnh "xe tăng"


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Lancelot trong 11 Tháng Mười, 2010, 08:03:56 am
Trích dẫn
Tôi không hiểu bạn nói vậy là ra sao nữa.Rõ ràng không phải là sư Vạn Hạnh đưa Lý Công Uẩn lên ngôi để rồi muốn đạo phật trở thành quốc giáo.Theo tôi được biết thì đạo phật thời kì này phát triển khá mạnh ở các nước châu á,và việc triều Lí lấy đạo phật làm quốc giáo không phải là điều tất yếu trong lịch sử.

lời tôi nói là trích từ cụ... Ngô Sĩ Liên ấy chứ. ;D

nhưng việc nhà chùa đưa được cụ Lý lên dễ dàng như vậy cũng góp phần khẳng định rằng thế lực nhà chùa đương thời là rất lớn. Nhà Lý biến Phật giáo thành quốc giáo chỉ là hợp thức hóa trên giấy tờ 1 thực tế đang diễn ra thôi, đúng không?  ;D


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: lonesome trong 11 Tháng Mười, 2010, 08:41:42 pm
Trích dẫn
Tôi không hiểu bạn nói vậy là ra sao nữa.Rõ ràng không phải là sư Vạn Hạnh đưa Lý Công Uẩn lên ngôi để rồi muốn đạo phật trở thành quốc giáo.Theo tôi được biết thì đạo phật thời kì này phát triển khá mạnh ở các nước châu á,và việc triều Lí lấy đạo phật làm quốc giáo không phải là điều tất yếu trong lịch sử.

lời tôi nói là trích từ cụ... Ngô Sĩ Liên ấy chứ. ;D

nhưng việc nhà chùa đưa được cụ Lý lên dễ dàng như vậy cũng góp phần khẳng định rằng thế lực nhà chùa đương thời là rất lớn. Nhà Lý biến Phật giáo thành quốc giáo chỉ là hợp thức hóa trên giấy tờ 1 thực tế đang diễn ra thôi, đúng không?  ;D

Bác ợ, cụ Ngô Sĩ Liên bị ảnh hưởng của Nho học / Khổng Giáo nên mới có giọng ngỏ ý chê bai thế thôi mà.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 17 Tháng Mười, 2010, 11:13:49 am
....sau khi đã có sự tra cứu kĩ về các cứ liệu lịch sử, tôi thấy rằng, Thăng Long – Hà Nội đâu chỉ có 7 lần đổi tên, mà thực tế là 12 lần. Cụ thể vào những năm sau đây:

    * Lần thứ 1: năm 1010 được đặt tên là Thăng Long do Lý Thái Tổ (1).
    * Lần thứ 2 : năm 1014 đổi tên là Nam Kinh , cũng do Lý Thái Tổ(2).
    * Lần thứ 3 : từ năm 1279 đến 1284, đổi tên là Trung Kinh, do vua Trần Nhân Tông(3).
    * Lần thứ 4 : năm 1400 , đổi tên là Đông Đô dưới thời Hồ Quý Ly(4).
    * Lần thứ 5 : năm 1408, đổi tên là Đông Quan dưới thời giặc Minh xâm lược (còn gọi là Minh thuộc)(5).
    * Lần thứ 6: năm 1430 , đổi tên là Đông Kinh dưới thời Lê Thái Tổ(6)
    * Lần thứ 7 : năm 1466, đổi tên là Trung Đô, thời Lê Thánh Tông(7).
    * Lần thứ 8 : năm 1469 , đổi tên là Phụng Thiên, cũng do vua Lê Thánh Tông (8)
    * Lần thứ 9: từ năm 1740 – 1786, tên gọi Đông Đô, thời Lê Hy Tông (9)
    * Lần thứ 10 : sau năm 1789 đại phá quân xâm lược Thanh, đổi tên là Bắc Thành, do vua Quang Trung đổi tên (10).
    * Lần thứ 11 : năm 1805 lại đổi tên là Thăng Long (11), nhưng không phải là chữ (昇 龍) của Lý Thái Tổ mà lại là (昇 隆), với ý nghĩa là hưng thịnh, chữ (隆) được lấy từ niên hiệu của Gia Long, đặt lên Thành Thăng Long như mang ý nghĩa khẳng định quyền làm chủ và uy quyền lên vùng Bắc Hà ngày trước.
    *  Lần thứ 12: Năm 1831, đổi tên là Hà Nội, dưới thời vua Minh Mạng (12).

....
Như vậy tên gọi Thăng Long chỉ chính thức tồn tại trong 4 năm , đồng thờì trong suốt thời kỳ từ nhà Hồ ( 1400 ) sang cuối nhà Lê , đến nhà Nguyễn Tây Sơn cũng không gọi Thăng Long ?
....
Theo http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n1ntn4ntn31n343tq83a3q3m3237nvn1n  và trên http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/footnote07.html#fn_392 thì quả là Đại Việt sử ký toàn thư có chéo việc: “Đắp thành đất ở bốn mặt kinh Thăng Long. Đổi phủ Ứng Thiên(392) làm Nam Kinh”.

Nhưng đã chú giải rõ về Phủ Ứng Thiên (392): Tức phủ Ứng Hòa đời sau, nay là huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây. Hơn nữa, các tài liệu về lịch sử Ứng Hoà và trấn Sơn Nam cũng không đâu chép Lý Thái Tổ đổi tên Thăng Long!

Như vậy đâu phải Thăng Long chỉ tồn tại 4 năm!


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: menthuong trong 17 Tháng Mười, 2010, 11:50:16 am
Bài thơ thần "Nam quốc sơn hà" có người cho là đã có từ thời Lê Hoàn, chúng tôi học trong lịch sử nhà trường được giảng là bài thơ đó là của Danh tương Lý Thường Kiệt. Dù thế nào, đó vẫn là Bản tuyên ngôn độc lập của Đại Việt và là một áng thiên cổ hùng văn rất đáng tự hào.
Trên tinh thần ấy, tôi "thư pháp hoá" nôi dung bài thơ vắt qua hai triều đại mở đường và củng cố nền độc lập của Đại Việt đưa vào trang này như một chút lòng thành với đại lễ.
(http://i785.photobucket.com/albums/yy131/menthuong/NQSHn.jpg)


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý với việc xác lập chính thức chủ quyền đất Lào Cai
Gửi bởi: menthuong trong 23 Tháng Chín, 2011, 04:59:11 pm
Nhân kỷ niệm 20 năm ngày tái lập tỉnh Lào Cai (01/10/1991-01/10/2011), lục tìm lại trí nhớ và các tư liệu có thể tìm được càng thấy rõ: để có diện mạo hình chữ S như ngày nay bao thế hệ người Việt đã đổ nhiều máu xương. Đặc biệt, để có vùng đất “nơi con sông Hồng chẩy vào đất Việt” nội thuộc và ổn định dưới mái nhà chung Việt Nam thì lịch sử đã ghi công lớn của vua tôi, quan quân và thần dân người Việt thời Lý.
 Do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử, dù có muốn tổ tiên ta chưa thể mở về Đông (biển) chỉ có thể mở mang lãnh thổ về phía Nam, một phần sang phía Tây và khẳng định chủ quyền tại các vùng “đệm” ở miền Tây, Bắc và căng mình chống lại cuộc “nam chinh” của Thiên triều ở phía Bắc.
Ngược dòng lịch sử, ai cũng biết trung tâm văn minh cổ, nơi phát tích của nhà nước Trung Hoa nằm rất xa Việt Nam. Mãi đến 219 tCn, sau khi thống nhất 7 nước, Tần Thuỷ Hoàng sai Đồ Thư 屠睢 làm chủ tướng, Triệu Đà 趙佗 làm phó tướng, chỉ huy 50 vạn quân bình định vùng đất Bách Việt ở Lĩnh Nam. 5 năm sau mới hoàn thành là lập nên 3 quận là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (đông bắc Quảng Tây) và Tượng Quận (nam Hồ Nam) giáp Đông Bắc Việt Nam. Riêng vùng  giáp với Tây Bắc nước ta ngày nay thì hồi đó đến năm 320 vẫn là nước Điền của thị tộc Thoán 爨, sau đó từ năm 738 là Vương quốc Nam Chiếu 南诏 rồi Vương quốc Đại Lý 大李 (năm 937) mãi đến năm 1276 mới thành tỉnh Vân Nam trực thuộc “Thiên triều” bởi quyết định của Hốt Tất Liệt (Kublai Khan, Khubilai Khan, 忽必烈, 1215–1294).
Do đó quan hệ giữa Việt và Trung thời kỳ Đại Việt mới giành quyền tự chủ là quan hệ của Việt với các lãnh chúa, hay tiểu quốc vùng Hoa Nam và biên giới của Đại Cồ Việt (sau là Đại Việt) khi đó là giáp với Đại Lý (Tây Bắc) và Đại Tống (Đông Bắc).
Trong tiến trình xác lập, giữ vững chủ quyền vùng đất Lào Cai này từng ghi bao dấu ấn lịch sử mà được ghi chép cụ thể nhất là từ thời Lý.
Khi thay nhà Tiền Lê, nhà Lý (李氏, 1009-1225) và rời đô ra Đại La (1010) rất quan tâm đến cương vực Vương quốc, có ý muốn mở rộng những vùng đất mà xưa nay còn chưa phân định rõ và  việc quản lí toàn bộ đất đai vùng Giao Chỉ xưa được chặt chẽ hơn. Lý Thánh Tông (李聖宗,1054-1072) đổi quốc hiệu là Đại Việt 大越, chia cả nước làm 12 lộ, một số phủ, châu. Vùng Tân Hưng xưa được goị là đất Đăng Châu, trại Quy Hóa thuộc châu Chân Đăng, đạo Lâm Tây 林西.
Trong khi họ Lý đang củng cố Vương quyền thì năm 1014 tướng nước Đại Lý 大李 là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long (nay là huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang) và châu Đô Kim (nay là huyện Hàm Yên - Tuyên Quang). Vị Vua khai quốc Lý Thái Tổ (李太祖, 1010-1028) sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, quân Đại Lý đại bại, nhân cơ hội đó nhà Lý sát nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Việt.
Về hướng biên giới với nhà Tống, để tự vệ, năm 1014 Lý Thái Tổ cho quan quân lên Cao Bằng đánh dẹp được quân Hạc Thác (là thổ dân vùng Tả giang, Hữu giang, Quảng Tây) do Dương Trương Huệ thống lĩnh xâm phạm cõi bờ. Song do điều kiện giao thông khi đó nên các vùng núi, triều đình Trung ương chưa thể quản lý chặt chẽ được mà vẫn phải dựa vào các thổ ty người bản địa. Thời này, xảy ra việc cha con Nùng Tồn Phúc 穠存福 làm loạn, li khai ở vùng núi phiá Bắc (1038), triều đình đã đánh dẹp, con trai Tồn Phúc chạy thoát. Sau đó Lý Thái Tông (李太宗,1028-1054) đã bắt được rồi tha Nùng Trí Cao (1041) nhưng Trí Cao 穠智高 lại quay ra phản trắc chạy sang cầu quan lại nhà Tống (1048) nên sau này dân gian có câu:
Mở mang, mang chạy lên rừng,
Ta hay mang chạy, ta đừng mở mang.
Tệ hại hơn, Trí Cao và các tù trưởng vùng núi đã cấu kết với quan lại nhà Tống 宋氏 đem một số châu, động vùng núi phía Bắc, Tây Bắc dâng cho Tống triều và Đại Lý 大李. Tống nhận đất, đổi tên các động này, nhập vào địa đồ Bắc quốc. Nhưng phò mã nhà Lý là Thân Thiệu Thái, cai quản vùng châu Lạng vẫn kiên cường giữ đất. giữ dân, đánh đuổi quân xâm lược.
 Trong cuộc Nam chinh 1077, thực hiện chiếu của Tống Thần Tông: “Sau khi bình được Giao Châu, sẽ đặt châu, huyện như nội địa”, Quách Quỳ, Triệu Tiết đã chiếm giữ châu Quảng Nguyên (đổi ra Thuận Châu) và các động Vật Ác (đổi thành Thuận An, 順安) và Vật Dương (đổi thành Quy Hoá, 歸化). Mặc dù bị Lý Thường Kiệt 李常傑 đánh đại bại trên phòng tuyến Như Nguyệt 如月, Quách Quỳ phải rời bỏ Trung Châu nhưng không chịu rút khỏi các châu, động đã chiếm ở phía Bắc.
Từ 1078-1086 nhà Lý 6 lần cử sứ giả (Đào Tông Nguyên, Lê Văn Thịnh) đòi lại những châu, động mà quân Tống chiếm giữ (Thuận An- 1062; Quảng Nguyên-1078, Vật Dương, Vật Ác-1081...) hay phân chia lại địa giới (Vĩnh Bình-1083, 1084). Nhưng vua Tống chỉ trả cho 6 huyện và 2 động còn một số động vẫn bị giữ lại, trong đó có Quy Hoá. Việc này một viên cai trị nhà Tống là Hùng Bảng đã có sớ tâu về triều: "Năm Gia Hữu (1057) Nùng Tông Đản đem các động Vật Ác dâng nộp, vua ban tên Thuận An 順安. Đời Trị Bình (1064) Nùng Trí Hội đem động Vật Dương nộp, vua ban tên là châu Quy Hoá 歸化. Trả lời Vua Lý Nhân Tông trong lần đòi đất lần thứ 6 (4/1087), trong Chiếu trả lời đề ngày 22/8/Mậu Thìn (1088), vua Tống Thần Tông đã trịnh thượng xảo biện: "…thủ lĩnh An Nam nhận nhầm vương thổ, tiên đế lại sai quan biện chính chia cõi...Trẫm vâng theo lời dạy của Tiên đế, cốt làm sao cho bờ cõi yên vui…gián chiếu xuống nhiều lần, giảng cực rõ ràng. Các đất Vật Dương, Vật Ác không thể đem bàn trở lại được nữa…".
Vua Lý Nhân Tông viết thư gửi cho vua nhà Tống đòi những vùng đất mà quân Tống còn chiếm đóng sau trận chiến 1076-1077 đã viết: “Mặc dầu những đất ấy nhỏ bé nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng.” . Đồng thời, để giữ vững chủ quyền và răn đe nhà Tống, vận dụng tư tưởng “Tiên phát chế nhân”, Lý triều đã nhiều lần cất binh sang tận đất Tống thảo phạt (1022, 1059, 1060) đặc biệt là trận tấn công của Lý Thường Kiệt làm cỏ châu Khâm, Liêm, Ung vào 12/1075, 01/1076. Chiến thắng oanh liệt sau lại dùng Biện sĩ bàn hòa để kết thúc chiến tranh. Phương châm vừa đánh vừa đàm được thực hiện rõ và thành công nhất dưới triều Lý. Về phía Đông, năm 1171, 1172, Lý Anh Tông đích thân đi “tuần tra các hải đảo ngoài biển ở địa giới các phiên bang Nam, Bắc, tìm hiểu đường đí, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật”.
Tại một số châu động, tuy bị buộc ép vào địa đồ Tống triều nhưng nhân dân các dân tộc trong vùng vẫn ý thức mình là người Việt và cùng chiến đấu để trở về với ngôi nhà Đại Việt.
Trên hướng Tây Bắc, năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông 李英宗 và Tô Hiến Thành 蘇憲誠 đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt. Từ đó vùng đất Lào Cai ngày nay chính thức và vĩnh viễn thuộc về đất Việt để sau đó, những thế kỷ sau lập nên 2 chiến thắng lẫy lừng trên vùng biên ải:
- Vào tháng 8 Đinh Tỵ Nguyên Phong (丁巳元豐,tức tháng 9/1257), được tin quân Mông chuẩn bị tấn công nước ta, Trại chủ Quy Hóa là Hà Khất đã cho người cấp báo về kinh. Đây là cơ sở quan trọng góp phần để quân dân thời Trần đã 3 lần đánh tan đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới hồi bấy giờ. Công trạng ấy và đóng góp của các tù trưởng, thổ hào, dân binh Quy Hoá trong việc chặn đánh quân xâm lược khi tiến sang hay khi rút về được chép trong Trung hưng thực lục 中興實錄.
- Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh (1418-1427), khi ra Đông Đô (1426), Bình Định Vương  Lê Lợi 平定王藜利 chia đất Đông Đô làm 4 đạo và lúc đó vùng Hưng Hoá, Tuyên Quang thuộc Tây đạo. Nhận rõ vị trí xung yếu của vùng Tây Bắc nên từ tháng 9/1426, Lê Lợi đã cho một đạo quân gồm 3.000 quân và 1 voi chiến do Phạm Văn Xảo 范文巧 chỉ huy đã tiến quân lên vùng Gia Hưng, Quy Hoá, Đà Giang vừa giải phóng đất đai, vừa uy hiếp phiá Tây Bắc Đông Quan lại vừa ngăn chặn viện binh từ Vân Nam sang. Tiếp theo,  “Mùa Hạ tháng 4 Vua sai phòng ngự sứ Trần Ban đôn đốc tu sửa ải Lê Hoa (犁花, tức vùng Tf Lào Cai nay)”. Tháng 10/1427, sau khi đánh bại giặc Minh ở Xương Giang, Phạm Văn Xảo chủ trại Quy Hóa cùng Lê Khả 黎可,Lê Trung, Lê Khuyển từ ải Lê Hoa đã tung quân ra phá giặc ở ngòi Nước Lạnh và Đan Xá. Trong trận này ta đã chém hơn một vạn thủ cấp, bắt sống hơn nghìn tên, nghìn ngựa, còn quân giặc chết đuối không kể xiết; Mộc Thạch phải một mình một ngựa tháo chạy. Quân ta lập công lớn, thúc đẩy cuộc chiến đến toàn thắng. Trận này, trong Bình Ngô Đại cáo 平吳大誥, đã được Nguyễn Trãi nhắc đến cả về phương châm tác chiến cũng như tầm vóc và ý nghĩa của chiến thắng Lê Hoa.
Như vậy, sau Lý Thái Tổ (1009–1028), Lý Thái Tông (1028-1054), Lý Thánh Tông (1054-1072) có nhiều công lao trong việc định đô (Thăng Long, 1010), đặt quốc hiệu (Đại Việt từ tháng 10 âm lịch năm 1054 khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi), sửa sang chính sự, mở khoa thi đầu tiên (02/1075), đánh tan quân Tống (1076), đòi đất nhà Tống lấn, giao hảo tốt với các nước, được vua Tống chính thức phong Vương ("An Nam Quốc vương" cho Lý Anh Tông vào năm 1164) thu phục được các tù trưởng thiểu số, thực hiện bước Nam tiến đầu tiên (1069) …nước Đại Cồ Việt trở thành Đại Việt tuần tự đi lên tạo tiền để các thế hệ sau đánh thắng giặc Minh, Nguyên xâm lược.
Rất tiếc trên địa bàn Lào Cai mới có nơi teoengr niệm ghi công Trần hưng Đạo còn với Vương triều Lý (xác lập chủ quyền chính thức) và nhà Hậu Lê (trận chiến ải Lê Hoa) thì chưa thấy gì đáng kể.


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 17 Tháng Tám, 2012, 11:39:13 pm
Sau Đại lễ 1000 năm, hình như topic này đã "xịt" đi thấy rõ  :(, nhân mấy ngày rảnh rỗi, em đóng góp ít tài liệu lượm nhặt được :D

GÓP THÊM TÀI LIỆU VỀ VIỆC ĐỊNH ĐÔ THĂNG LONg VÀ VỀ GỐC TÍCH LÝ THƯỜNG KIỆT

                                                                                                                                                       Vũ Tuấn Sán

 Ở bên kia cầu Long Biên, tại thôn Bắc Biên xã Ngọc Thụy có ngôi chùa còn giữ được một quả chuông với bài ký khắc năm 1690 ghi lại việc cúng tiền đúc chuông và việc miễn trừ các sưu thuế cho dân làng Cơ Xá là tên cũ của xã Phúc Xá trong đó có thôn Bắc Biên hiện nay. Bài ký này không những có giá trị về mặt lịch sử địa phương mà còn cung cấp một số tài liệu đáng chú ý cho việc định đô Thăng Long năm 1010, và cho việc xác định gốc tích của Lý Thường Kiệt, bổ sung cho cuốn Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn (2 tập, Nhà Xuất bản Sông Nhị, 1950) là một tác phẩm nghiên cứu khá công phu về vị danh nhân này.
            Sau đây tôi giới thiệu bài ký khắc ở chuông chùa thôn Bắc Biên, và phối hợp thêm với một số tài liệu văn tự khác, nhất là rút từ cuốn Tây Hồ chí, để cung cấp một số điều nhận xét về việc định đô ở Thăng Long dưới thời Lý Công Uẩn, cùng về một số điểm trong tiểu sử của Lý Thường Kiệt.

I - VỀ BÀI KÝ KHẮC TRÊN QUẢ CHUÔNG Ở CHÙA BẮC BIÊN

 Quả chuông ở chùa Bắc Biên là một quả chuông lớn, cao 1,20m đường kính ngoài là 0,65m. Khắp mặt chuông chia làm bốn cột đều nhau từ trên xuống dưới, ở phía trên mỗi cột có khắc một chữ lớn, hình thành bốn chữ: “An Xá tự chung” (chuông chùa An Xá). Mỗi cột lại chia làm hai khoảng, khoảng trên và khoảng dưới, và thảy đều có khắc chữ, ghi rõ trường hợp đúc chuông và ghi tên những người cúng tiền, cũng chép lại một số lệnh chỉ thời Lê Trung hưng, cũ nhất vào năm Vĩnh Tộ nguyên niên (1619) dưới thời Trịnh Tùng miễn cho dân làng Cơ Xá mọi thứ sưu thuế.
            Tôi đã chọn dịch bài tự sau đây, đầu đề là: “Sơ lập An Xá tự châu thổ san chung tự” 初立安舍寺洲土刊鍾字 ở khoảng trên cột có chữ 舍 (xá), vì bài tự này ngoài việc nói tới chuyện miễn trừ sưu thuế có nhắc đến Lý Thường Kiệt.
            Bài tự nguyên bản bằng chữ Hán, chúng tôi tạm dịch như sau:
            Bài tự sự khắc vào chuông và đất bãi của chùa An Xá mới thành lập
[A. Về việc miễn thuế từ triều Lý đến đầu triều Lê][1].
            Cần xét: cái gốc của chính sách bậc vương giả là lấy ruộng lộc điền[2] để ưu đãi người quân tử, dành đất ruộng chùa để thờ cúng nhà Phật.
            Trộm thấy: chùa An Xá là nơi danh lam cổ tích vốn xưa ở trong thành Thăng Long, thuộc về đất nội điện nhà vua, nên được vua chuẩn y cho dời ra bãi Trung Giang[3] tức là bãi Cơ Xá .
            Từ lúc lập kinh đô đến nay, kính được vua Lý Thái Tổ triều Lý ra ngự chỉ cho tới ở bãi Trung Giang, dân không có ruộng cấy lúa, chỉ làm nghề trồng dâu chăn tằm. Lại có tờ biểu do quan đệ thay cho bản địa nên hằng năm không phải chịu thuế gốc dâu, còn mọi khoản đắp sửa đê điều, đường sá, cùng các khoản lính tráng, nhà cửa, bến đò đều được miễn trừ cho chỗ đất cũ, để làm điện vua và cũng để thờ Phật. May mà lòng trời đoái thương, có vị tổ địa[4] giáng sinh là Ngô Quảng Châu 廣珠 vốn hầu cận trong màn trướng nhà vua, kính cẩn tâu xin, được sắc chỉ cho ghi rõ đông tây nam bắc đúng như sổ điền và không phải nộp thuế, để làm cơ nghiệp muôn đời cho đất châu thổ ta. Đó là vị tổ địa, trung thư giám trung thư xá nhân, Đình úy sứ, Quản châu bầu được ban quốc tính là Lý Thường Kiệt tên thụy là Quảng Châu 廣洲 phủ quản. Phúc điền [5] hàng năm là do vị tổ địa đặt ra vậy.
            Xưa nước Đại Việt ta, từ triều Lý lập đô trải đến vua Thái tổ triều Lê đều có ngự chỉ miễn trừ cho châu thổ ta mọi thứ sưu dịch như thể lệ trước kia.
            [B. Về việc miễn thuế dưới thời Hồng Đức]
            Năm Hồng Đức thứ 18 (1487) ngày 14 tháng 2, Chiêu liệt đại phu hộ khoa đô cấp sự trung Nguyễn Thanh Lương, Hiển cung đại phu hộ khoa đô cấp sự trung Nguyễn Úc sao gửi một bản của bản lệnh truyền của Tư lệ giám tổng thái giám tri giám sự Phúc Dương bá Nguyễn Xuân Lan, truyền cho bãi Cơ Xá thuộc huyện Từ Liêm trong đạo Sơn Tây, phía Đông gần các xã Lỗi Cầu, Lâm Hạ phía Tây gần các phường Quảng Bá, An Hoa, phía Nam gần cống Ông Mạc[6], phía Bắc gần các xã thôn Xuân Canh, Bắc Cầu, trên từ chỗ quai bàn giáp với Tam Bảo Châu, dưới đến cống Ông Mạc, cư dân ở bãi Trung Giang, không có ruộng cây lúa, lấy việc nuôi tằm trồng dâu làm nghề nghiệp. Đất châu thổ của bãi đó nguyên dùng để cúng Phật nay thỏa thuận cấp cho trên từ quan viên cho đến dưới dân chúng, mỗi người 4 sào đất làm nhà, 8 sào khẩu phần, cho đến các hạng tàn phế, bệnh tật, mồ côi, góa bụa mỗi người 2 sào, còn thừa lại là đất của Tam - Bảo để thờ cúng Phật đều không phải chịu ngạch thuế.

            Xã trưởng bản châu là bọn Nguyễn Thì Ý, Nguyễn Vĩnh Xương, Nguyễn Bá Vãng nguyên từ tiền triều đến nay nhiều lần được sắc chỉ cho phép bản châu được miễn trừ mọi thứ thuế sưu dịch về đê điều, đường sá, bến đò, đã trình bày đầy đủ lên vị thừa tuyên sứ của ty Tán trị thừa tuyên sứ Sơn Tây, trung trinh đại phu, Quốc mỹ bá, thiếu doãn Quách Đình Bảo, và Hiến sát sứ trong ty Thanh hình hiến sát đạo Sơn Tây Dương Văn Đán để được phê phán. Các quan Tri huyện sở tại là Phạm Như Trung rồi Lại Kim Bảng đã lần lượt cộng đồng khám xét, đúng là bãi Cơ Xá không hề phải chịu ngạch thuế và viết sửa lại sổ điền bạ nộp lên nha môn. Vị Nam quân đô đốc phủ Chưởng sự kiêm Tông nhân lệnh, Thái bảo, Bình Lạc bá Trịnh Duy Hiếu đã đem đất bãi thuộc hạng nói trên cùng bến đò và ruộng của chùa với số mẫu sào thước, tấc, kê từng số mục tâu bày lên. Được quân thượng tự mình xem xét, rồi trao cho triều thần nghị bàn, tuân hành sắc chỉ “Khâm thử”: [Chiểu lời] bọn Trịnh Duy Hiếu phụng nghị thì các khu đất bãi của Cơ Xá châu ở huyện Từ Liêm phải được mọi nha môn miễn trừ mọi ngạch thuế và đê điều, đường sá, bến đò cùng mọi thứ sưu dịch khác như thể lệ trước đây”[7].

[1] Những chữ trong dấu móc là do người dịch thêm vào để tiện việc theo dõi.
[2] Ruộng tế của Khanh đại phu thời cổ.
[3] Tức là bãi ở khoảng giữa sông, hiện nay có thôn Trung Hà là một thôn của xã Ngọc Thụy. Thôn Trung Hà trước đây là xóm Trung Hà cùng với xóm Bắc Biên nằm trong xã Phúc Xá tức Cơ Xá cũ.
[4] “Tổ địa” tra những từ điển Trung Quốc như Từ nguyên, Từ hải và Phật học đại từ điển không thấy giải nghĩa. Theo một số phụ lão thì đấy là chữ nhà Phật; chỉ những tín đồ có uy thế.
[5] Chỉ những ruộng cúng vào chùa chiều để làm hậu hay dùng bố thí cho người nghèo.
[6] Lâm Hạ là tên cũ của Lâm Do. An Hoa là tên cũ của Yên Phụ. Cống Ông Mạc nay thường gọi chạnh là Ô Đống Mác tức đoạn cuối phố Lò Đúc, giáp giới với Thanh Nhàn hiện nay.
[7] Thủ tục cho miễn thuế và các quan chức cho miễn thuế trên đây được ghi lại hầu như toàn bộ, kể cả các tên người, trong bài văn bia chùa Tam bảo tức chùa Ba làng dựng năm Đức Long thứ 3 (1631), nay thuộc xã Tứ Liên - huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội.

Còn tiếp....


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 17 Tháng Tám, 2012, 11:41:20 pm
II. VIỆC XÂY DỰNG KINH THÀNH THĂNG LONG

Theo bài ký trên đây, ta thấy rằng làng Cơ Xá xưa kia vị trí “nguyên ở trong thành Thăng Long, mặt trước ở ngay nội điện” nhà vua, vì cần xây dựng kinh thành nên đã được lệnh Lý Thái Tổ cho di ra bãi Trung Giang.
            Như vậy dựa vào tài liệu hiện tại có thể cho rằng làng Cơ Xá là làng cổ nhất ở Hà Nội, vì có trước cả thời kỳ xây dựng kinh thành Thăng Long.
            Làng Cơ Xá khi xưa đặt tên là làng An Xá. Năm 1010, sau khi Lý Thái Tổ lấy đất làng này để xây dựng kinh thành Thăng Long, làng Cơ Xá đã được lệnh dời ra “bãi giữa sông” - có thể hiểu theo nghĩa “ở ngoài đê”, gồm cả đất ở bãi nổi giữa sông lẫn đất bãi ở ngoài đê sông Hồng. Theo bài “Sự tích xã An Xá” chép cuối cuốn gia phả bằng chữ Hán của họ Nguyễn hiện ở thôn Bắc Biên[8] thì Lý Thái Tổ năm Thuận Thiên thứ 5 đắp thành Thăng Long đã đổi cho xã An Xá cho dời ra giữa sông, địa phận ở phía Tây bờ sông giáp với đất liền làm địa giới, và thành An Xá châu, phụ thuộc vào Kinh Bắc phủ Thuận An, huyện Gia Lâm, tổng Gia Thị[9]. Đến đời thứ năm vua Thần Tông năm Nhâm Tý [1132] nước lớn, vua thấy dân cư đều phải ở trên nhà sàn để đổi làm xã Cơ Xá[10].
            Tài liệu trên còn ghi thêm một chuyện xảy ra khi Lý Thái Tổ quyết định dời đô: khi Lý Thái Tổ thấy kinh đô Hoa Lư “địa thế chật hẹp không phải đất cư trú đế vương nên định dời đi, còn phân vân chưa định chọn nơi nào thì bỗng thấy có con chó cái có thai cao hơn hai thước, màu sắc rất là kỳ lạ, từ nước phương Bắc đến chùa An Xá thì sinh nở một mẹ tám con, do đó mới ra chiếu [dời đô]”… “Đến đời thứ 9 là Lý Chiêu Hoàng thì nhường ngôi cho nhà Trần, đời Lý chấm dứt mới thấy việc chó sinh 8 con là ứng nghiệm”.
            Câu chuyện trên có tính cách hoang đường, nhưng nó được nhắc lại trong phần chủ yếu ở một số tài liệu văn tự khác:
- Theo Tây Hồ chí (sách Thư viện Khoa học Trung ương, ký hiệu A.3192) thì trước khi Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long, tại chùa Thiên Tân trên núi Ba Tiêu châu Bắc Giang con chó trắng có thai, vượt sông đến ở trên núi Khán Sơn sau đẻ ra đứa con, ai cũng lấy làm lạ. Đến năm Nhâm Tuất [1010], lúc nhà Lý thiên đô về Thăng Long thì hai mẹ con đều hóa…Việc tâu lên, vua cho là chó thần cho lập đền thờ, ở địa phận thôn Trúc Yên.
            Cũng theo Tây Hồ chí, chùa Khán Sơn là nền cũ của chùa Cẩu Mẫu triều nhà Lý, đến năm đầu Lê Vĩnh Tộ (1619) miếu đổ nát, nhân thế mới chữa làm chùa.
            - Đại Việt sử ký (quyển 2 tờ 1a) chép “Trước kia ở châu Cổ Pháp [tức vào khoảng huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh hiện nay] tại Viện Cảm Tuyển chùa Ứng Thiên Tâm có một con chó sinh ra một con, màu trắng có lông đen hình hai chữ “Thiên tử”. Người thức giả bảo rằng đó là triệu chứng người tuổi tuất sẽ lên ngôi thiên tử. Sau vua [chỉ Lý Công Uẩn] sinh năm Giáp Tuất lên ngôi đế, mới biết là ứng nghiệm” (Việc này có được diễn trong Thiên Nam ngữ lục, câu 4474, 4478).
            Mấy tài liệu trên có nhiều chỗ không ăn khớp với nhau, nhưng thống nhất ở chỗ ghi lại việc xuất hiện một con chó mẹ đẻ con có tính cách quái dị (đẻ ra đứa trẻ theo Tây Hồ chí, đẻ ra chó trắng có lông đen hình thành chữ “Thiên tử” theo Đại Việt sử kí và Thiên Nam ngữ lục, đẻ ra 8 con theo Sự tích làng Cơ Xá). Dù sao, thì việc Lý công Uẩn sinh năm Tuất (Giáp Tuất, 974), việc dời đô ra Thăng Long cũng đúng năm Tuất (Canh Tuất, 1010) ngay sau khi lên ngôi vua cũng vào năm ấy, sự trùng nhau đó hẳn đã gây cho những đầu óc mê tín hồi ấy một đối tượng đặc biệt đối với loài chó được tôn lên làm thần và được thờ ở miếu[11].
            Như vậy, dựa theo những tài liệu trên, có thể sơ bộ kết luận rằng:
1. Kinh thành Thăng Long xây dựng năm 1010, là địa phận làng An Xá cũ, ở khu vực mé trên vườn Bách thảo hiện nay, làng An Xá bị nhà Lý lấy đất và được đền bù bằng khu đất ở ngoài bờ sông, sát nhập vào huyện Gia Lâm, Kinh Bắc.
2. Việc xây dựng kinh thành dựa phần chính vào địa thế thuận lợi khu vực thành Đại La cũ như đã được trình bày trong tờ chiếu định đô của Lý Thái Tổ, nhưng truyền thuyết đã thêu dệt một số chuyện có tính cách hoang đường như việc xuất hiện thần Cẩu Mẫu, việc chó cái đẻ 8 con, việc chó trắng có chữ “thiên tử” trên lưng để gây thêm niềm tin tưởng của quần chúng với triều đại mới và đối việc thiên đô vốn có một tầm quan trọng đặc biệt.
(Tại Cổ Loa - kinh đô của nước Âu Lạc - cũng có những chuyện tương tự: theo truyền thuyết Cổ Loa cũng được xây dựng trên một làng cũ, làng này bị dời ra ở cuối sông và trở thành làng Quậy (có nghĩa là “Cuối Quậy” tức là cuối) gồm những làng Đại Vỹ, Giao Tác hiện nay. Về việc xây thành Cổ Loa cũng có những truyền thuyết về thần Kim Qui, thần Bạch Kê cùng thánh Trấn Vũ[12].

[8] Tài liệu do cụ Lê Đăng Tiêm thôn Bắc Biên giữ.
[9] Về tổng, chắc do sau này thêm vào, vì đời Lý chưa đặt tên tổng.
[10] Cơ Xá 機舍, “cơ” là máy. Không rõ dựa vào nghĩa nào của chữ “cơ” này mà Lý Thần Tông đã đổi tên xã An Xá cũ. Xã Cơ Xá thuộc Kinh Bắc, cho đến năm Tân Hợi Tự Đức thứ 4 [1861] mới trở lại phụ thuộc vào tỉnh Hà Nội. Đến năm Duy Tân thứ 4 [1891], do sự yêu cầu của dân, Cơ Xá đổi tên là Phúc Xá (vẫn theo tài liệu trên). Trong thời Pháp thuộc xã Phú Xá gồm: 1. xóm Bắc Biên, xuất hiện vào năm 1918 -19 ở trên đám tư thổ do dân làng mua của mấy làng Yên Tân, Bắc Cầu… ở bên tả ngạn sông Hồng; 2. xóm Trung Hà ở bãi nổi giữa sông Hồng; 3. xóm Tân biên ở giáp Yên Phụ, bên tả ngạn sông Hồng; Ngoài ra, thôn Cơ Xá Nam ở ngoài bãi giáp Đồng Nhân cũng do dân thôn Cơ Xá tới lập nghiệp cách đây độ 100 năm.
[11] Phật giáo kỵ sát sinh, nhưng kỵ nhất là giết và ăn thịt chó, không rõ là có liên lạc gì với địa vị “chó thần” đối với triều Lý là một triều đại gắn liền với uy thế tột bậc của đạo Phật ở nước ta hay không?.
[12] Trong ngày hội lớn Cổ Loa mùng 6 tháng 1 dân làng Quậy vẫn được dành một chiếc chiếu lễ ở đền, giải ngay sau chiếu chủ tế, và trước cả dân làng Cổ Loa. (Tài liệu điều tra tại chỗ. Xem thêm lược sử xã Quyết Tâm tức xã Cổ Loa, và lược sử xã Liên Hà trong đó có thôn Đại Vĩ, huyện Đông Anh do đoàn cán bộ và sinh viên khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp viết, trong đợt phối hợp với Sở Văn hóa Hà Nội làm kiểm kê di tích ở một số xã Đông Anh, tháng Giêng năm 1965).

Còn tiếp ...


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 17 Tháng Tám, 2012, 11:44:13 pm
III. GỐC TÍCH VÀ CHỖ Ở CỦA LÝ THƯỜNG KIỆT

A. Về gốc tích của Lý Thường Kiệt:
Hoàng Xuân Hãn trong cuốn Lý Thường Kiệt dựa vào Việt Điện u linh và Hoàng Việt địa dư cho Lý Thường Kiệt quê ở phường Thái Hòa trong thành Thăng Long.
Nhưng cuốn Việt điện u linh (bản dịch của Trịnh Đình Rư, tr.29) chỉ ghi là người ở “phường Thái Hòa”, tức không nhất thiết phải là nguyên quán mà có thể chỉ là chỗ cư trú. Hoàng Việt địa dư (tờ 20a) không nói tới phường Thái Hòa, chỉ đến núi Thái Hòa, và khẳng định đây là một nơi cư trú: Lý Thường Kiệt “núi Thái Hòa ở phía Tây trong thành. Xưa dưới triều Lý, thượng tướng quân Lý Thường Kiệt từng làm nhà ở đấy (tằng ư thử trí trạch yên). Về sau nhà Lê lập hành cung ở trên núi gọi là điện Thái Hòa”.
Bài ký trên chuông nói trên cho ta biết rằng Lý Thường Kiệt chính là người làng An Xá cũ, sau đổi là thôn Cơ Xá, nguyên người họ Ngô tên là Quảng Châu. Lý thường Kiệt được coi là “tổ địa” của làng Cơ Xá , nên tại những địa điểm dính líu đến làng đều thờ ông. Tại thôn Trung Hà ở giữa sông, thôn Cơ Xá nam ở phía dưới bến Đồng Nhân, là những xóm cũ của làng Cơ Xá xưa kia đều có miếu thờ Lý Thường Kiệt: miếu Trung Hà bị rỡ vì đổ nát cách đây ít lâu, còn đền Cơ Xá Nam thì hiện còn ở số 4 phố Nguyễn Huy Tự, tại thôn Bắc Biên, gia đình họ Ngô vẫn thờ Lý Thường Kiệt làm thủy tổ.
Trong cuốn Tây Hồ chí[13] có một số tài liệu về Lý Thường Kiệt và xác nhận nguyên quán của vị danh nhân này. Ở chương “Nhân vật” cuốn này ghi rõ “Ngô Tuấn người Cơ Xá huyện Quảng Đức [tức là huyện Vĩnh Thuận sau năm 1805] họ Ngô, tên Tuấn, tự là Lý Thường Kiệt, được ban quốc tính là họ Lý”
Ở chương “Cổ tích” mục “Nhà cũ của Việt quốc công” có ghi: Lý thường Kiệt “nguyên người động Bình Sa làng ở phía Nam Dâm Đàm[14]. Sau khi nhà Lý đóng đô ở Thăng Long, ông dời nhà về phía Bắc bờ sông Nhị…”.
Như vậy có thể khẳng định được rằng Lý Thường Kiệt chính nguyên quán thuộc làng An Xá (An Xá châu) vốn ở trong khu vực phía Nam Hồ Tây trong thành Thăng Long đời Lý. Làng An Xá có phải là động Bình Sa trong Tây Hồ chí hay không, hiện nay chưa có đủ tài liệu để quyết đoán. Vị trí chính xác ở chỗ nào? hiện nay cũng chưa thể xác định một cách chắc chắn, có thể là ở vùng Khán Sơn trong vườn Bách thảo hiện nay vì theo gia phả họ Ngô ở Bắc Biên thì con chó cái từ phương Bắc sang sinh con ở chùa Cơ Xá , và đền thờ thần Cẩu mẫu theo Tây Hồ chí thì ở tại núi Khán Sơn. Cũng có thuyết cho là vùng thôn Vĩnh Phúc hiện nay là khu Thái Hòa cũ vì ở đó còn cái đồi tương truyền là di chỉ của cung Thái Hòa đời Lý và chữ “nội điện” nói trong bài tự ở chuông chùa An Xá chính là chỉ cung Thái Hòa. Điểm này phụ thuộc vào việc phát hiện vị trí đích xác của thành Thăng Long đời Lý là một vấn đề chưa thực sự giải quyết dứt khoát.
B. Về chỗ ở của Lý Thường Kiệt
Tây Hồ chí ở mục “Nhà cũ của Việt quốc công” có ghi: “Sau khi nhà Lý đóng đô ở Thăng Long, ông dời nhà về phía Bắc bờ sông Nhị. Nhà ông ở đấy bây giờ là chỗ nộp lương (lương trường) thôn Bắc Môn huyện Vĩnh thuận. Ông lại có nhà riêng ở đường Nam Nhai trước cửa Thái Hòa thành nhà Lý tức là nhà vua ban cho các quan (quan tứ)”.
Theo tài liệu trên thì Lý Thường Kiệt có hai chỗ ở:
1. Sau khi nguyên quán là làng An Xá bị chuyển từ khu vực phía Nam Hồ tây ra ngoài bãi bờ sông Nhị, Lý Thường Kiệt đã dời nhà “về phía Bắc bờ sông Nhị…bấy giờ là chỗ nộp lương thôn Bắc Môn huyện Vĩnh Thuận”.
Nói rằng Lý Thường Kiệt đã dời nhà từ An Xá về thôn Bắc Môn là mâu thuẫn với chính sử vì Lý Thường Kiệt sinh năm 1019, chín năm sau khi Thăng Long được định đô, và quê cũ đã bị lấy làm kinh thành từ lâu. Như vậy nếu có sự chuyển chỗ đến thôn Bắc Môn thì phải do bố mẹ Lý Thường Kiệt. Thôn Bắc Môn hiện nay ở đâu? Dựa vào vị trí ở phía Bắc thành và gần kho lương thực[15] thì thôn Bắc Môn chắc ở vào khoảng các phố cửa Bắc, Châu Long, phía Bắc phố Quán Thánh và phía Đông Hồ Trúc Bạch hiện nay.
Vị trí nhà ở là như vậy, nên con đường đi học hàng ngày của Lý Thường Kiệt đến trường của Lý Công Ẩn ở làng Bái Ân theo Tây Hồ chí là “theo dọc sông Tô Lịch đến Bái Ân” hoặc “từ Yên Ninh đến Yên Thái”, cả hai đều chỉ một đường từ Yên Ninh lên đến Bưởi để rẽ vào Bái Ân, dọc theo quãng phía Tây của nhánh sông Tô Lịch chảy từ Bưởi sang phía Đông đổ vào con hào phía Bắc thành Hà Nội rồi chảy ra sông Hồng ở chỗ chợ Gạo hiện nay.
Ở khu vực hiện giờ không có dấu vết gì về thôn Bắc Môn. Nhưng cuốn địa chí về Hà Nội dưới triều Nguyễn có chép danh sách các thôn phường cũ theo chỗ tôi được biết như Phương Đình địa chí, Đồng Khánh địa dư không thấy ghi tên này, mà chỉ có thôn Bắc Thượng, Bắc Hạ thuộc tổng Vĩnh Xương huyện Thọ Xương tức là vào khoảng cuối phố Hàng Bông gần phố Cửa Nam hiện nay. Tại số nhà 120b phố Hàng Bông bên cạnh đền Thiên Tiên có ngôi đình thôn Bắc Hạ cũ trong có thờ Lý Thường Kiệt, còn giữ được đạo sắc cũ nhất về thời Tự Đức năm thứ 6 phong cho “Lý Thái úy Việt quốc công”. Dựa vào hiện tượng thường thấy ở thời cũ là việc thờ phụng thành hoàng phần lớn dựa vào mối liên lạc nào đó giữa vị thần với địa phương và dựa vào tên thôn Bắc thượng bắc Hạ không phù hợp với vị trí của thôn ở phố Hàng Bông hiện nay, tôi nghĩ rằng có thể thôn Bắc thượng bắc hạ xưa kia là thôn Bắc Môn nói trong Tây Hồ chí, sau vì một lí do nào đó phải dời đến vị trí ở khoảng phố Hàng Bông, nên đã đổi tên cũ không thích hợp nữa vì không còn ở phía Bắc cổng thành nhưng chỉ bỏ có chữ “môn” còn giữ lại chữ Bắc, và biến thành hai thôn Bắc Thượng, Bắc Hạ[16].
2. Chỗ ở thứ hai của Lý Thường Kiệt sau khi đã giữ chức vụ trọng yếu trong triều là nhà của vua ban cho các quan tức là dinh thự riêng ở đường Nam Nhai. Tây Hồ chí xác định vị trí địa điểm này như sau: “Xét Nam Nhai về đời nhà Trần thuộc phường Thái Thạch 太石. Đến Lê sơ, Thái Thạch được đổi là Thái Hòa 太和. Đời Hậu Lê bỏ hoang gọi là bến Sa thảo (Sa Thảo tân) tục gọi là Hàng Cỏ. Thảo Tân về đầu bản triều [triều Nguyễn] thuộc làng Hoà Mỹ huyện Vĩnh Thuận bây giờ”.
Trong danh sách các làng và phường thuộc huyện Vĩnh Thuận (ở các sách đã dẫn trên) tôi chưa tìm thấy làng Hòa Mỹ hay Nam Nhai hoặc Thái Thạch hay Thái Hòa. Theo tên Nam Nhai, có thể đoán được rằng “con đường phía Nam” này phải ở ngay phía Nam cổng cửa nam thành Hà Nội cũ. Còn tên ở Thái Hòa ở phía Nam ngoài thành này chắc không dính líu gì đến cái tên phường Thái Hòa vẫn được coi là nguyên quán của Lý Thường Kiệt tức là ở vào chỗ cung Thái Hòa đời Lý. Dựa vào chỗ ở đây có bến cỏ và có tên Hàng Cỏ, ta có thể sơ bộ đặt nó vào khoảng khu vực Ga Hàng Cỏ và đầu phố Khâm Thiên hiện nay, và có lẽ Hòa Mỹ hiện tại. Tên Hàng Cỏ như vậy đã có từ trước và gắn liền với tên Thảo Tân một bến có nhiều cỏ vì ở một vùng có rất nhiều đầm ao mà cái lớn nhất là hồ Văn Chương hiện đang được lấp đi một phần rộng lớn, theo quy hoạch sửa sang Thành phố. Trong tập Thăng Long tam thập vịnh (sách Thư viện Khoa học trung ương ký hiệu A.2548 có bài “Linh Động phạm ngưu” (Chăn bò ở khu Linh Đồng) mở đầu bằng hai câu:
                 Tứ Mỹ phường đầu cận đế thành
                 Phạn ngưu na lý động danh linh
(Đầu phường Tứ Mỹ gần thành vua
Chăn trâu ở khu làng Linh Động…).
Linh đồng là một làng ở phía Tây ga Hàng Cỏ hiện nay, còn Tứ Mỹ (bốn làng Mỹ) chưa rõ chỉ những làng nào nhưng chắc chắn trong đó có làng Mỹ Đức và có lẽ có cả làng Tiên Mỹ xưa đều thuộc huyện Thọ Xương. Như vậy, ở đây trước kia vẫn có nhiều cỏ và có tên là Bến cỏ (thảo tân) cùng Hàng Cỏ. Sau khi Pháp sang, vào khoảng trước năm 1890, chúng đã lập một trường đua ngựa ở ngay chỗ nhà hát nhân dân hiện tại, có lẽ một phần để tiện tiếp tế cho ngựa vì gần nơi Hàng cỏ và thực tế hồi đó cũng có nhiều gánh hàng cỏ đến tập trung chỗ này để bán cho ngựa ăn. Nhưng tên Hàng Cỏ đã có trước cả hồi Pháp thuộc nhiều. Và tên này đã thành tên ga chính ở Hà Nội, sau khi thực dân Pháp làm xong đường xe lửa đầu tiên[17].
C. Về phần mộ của Lý Thường Kiệt
Trong cuốn Lý Thường Kiệt, Hoàng Xuân Hãn đã dân bia của Nhữ Bá Sĩ ở đền làng Ngô xá Thạch Hóa, cho rằng mộ Lý Thường Kiệt ở làng Yên Lạc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Nhưng ngay sau đó, Hoàng Xuân Hãn đã chứng minh rằng điều nói trên là không đúng, vì đền Yên Lạc thờ Đỗ Anh Vũ cũng làm Thái úy đời Lý chứ không phải thờ Lý Thường Kiệt.
Cuốn Tây Hồ chí ở chương Nhân vật, khi nói về Lý Thường Kiệt có cho biết mộ vị tướng này ở trại Nam Đồng ngoại thành Hà Nội. Hiện nay ở phố Nam Đồng số 63 còn ngôi đền thờ Lý Thường Kiệt. Tiếc rằng cuộc điều tra tại chỗ trong giới phụ lão làng Nam Đồng không phát hiện được tài liệu gì về ngôi mộ của Lý thường Kiệt. Những câu đối hiện còn ở đền (trong đó có câu của Nguyễn Thượng Hiền làm năm 1902) cũng không nói gì đến chuyện này.
*
*       *
Trên đây là một số tài liệu và nhận xét nhân một bài ký trên quả chuông ở ngôi chùa An Xá làng Bắc Biên và nhân một số tài liệu ghi trong cuốn Tây hồ chí. Có nhiều điều nghi vấn hiện chưa giải quyết được, như trong bài ký trên quả chuông Lý Thường Kiệt được ghi là Quản châu hầu, tuy rằng theo chính sử, ông được tặng tước Việt Quốc công. Ngoài ra một số địa danh cũng cần được đi sâu để xác minh rõ ràng vị trí. Có điều đáng tiếc rằng theo các phụ lão thôn Bắc Biên, năm 1960, thôn này đã bán cho Công ty Tư liệu Gia Lâm (Hợp tác xã mua bán quận 8) một số đồ đồng gồm 375 cân trong đó có chiếc khánh đồng nặng chừng 2 tạ, khánh này có chữ “An Xá tự” và có ghi khá nhiều tài liệu về làng Cơ Xá cũ.         

[13] Sách đã dẫn ở trên. Sách này không được Hoàng Xuân Hãn sử dụng khi viết Lý Thường Kiệt, và hiện có hai bản: A.3192(1) và A.3192(2) đều là bản viết tay. Bản trên ngờ là nguyên tác vì có nhiều chỗ sửa chữa, thêm vào, xóa đi, còn bản sau chỉ là sao lại bản trên, và mới được chép gần đây.
[14][14] Ở bản A.3192 (1) ở Thư viện Khoa học Trung ương có một chữ thêm vào rồi lại bị xóa đi, nhưng vẫn còn đọc được: “Long thành Cơ Xá ấp nhân… án kim tỉnh thành Bắc Môn ngoại vi Cơ Xá địa 龍城機舍邑人按今省城北門外古為機舍地 (người ấp Cơ Xá thành Thăng Long. Xét ngoài cửa Bắc tỉnh thành hiện nay, thời cổ là đất Cơ Xá ). Cõ lẽ tác giả Tây Hồ chí đã xóa dòng này vì ở cuốn sách chương Nhân vật (như đã nói ở trên trong bài) cũng khẳng định rằng Lý Thường Kiệt là người làng Cơ Xá , còn đoạn câu thêm vào nói rằng đất Cơ Xá xưa ở phía Bắc tỉnh thành hiện nay thì có lẽ đã bị xóa đi vì không đúng sự thực: Tài liệu chuông chùa An Xá và phả ký thôn Bắc Biên cho biết rằng sau khi Lý Thái Tổ định đô ở Thăng Long thì làng An Xá (tức Cơ Xá) bị dời ngay ra bãi ngoài đê sông Nhị.
[15] Trong một bài ký “Dời chỗ ở” của Cao Bá Quát thì nhà ở Cao Bá Quát cũng đã có lần dời từ khu cửa Nam đến khu cửa Bắc thành “phía Nam trông ra lầu canh của thành… phía Đông tiếp nơi thu thuế đông người tụ tập, phía Tây là cảnh đẹp hồ Kim Ngưu và hồ Trúc Bạch… phía Bắc là ngôi chùa Linh Sơn và mấy chùa khác…”. Nghĩa là vào khoảng thôn Bắc Môn là khu vực nhà của Lý Thường Kiệt (xem bài Góp thêm tài liệu về năm sinh và chỗ ở của Cao Bá Quát của Tảo Trang, Tạp chí văn học, số tháng XI năm 1963).
[16] Trường hợp này thường xảy ra, thí dụ như thôn Phụ Khánh, huyện Thọ Xương cũ tục gọi là làng Hỏa lò, xưa kia ở khu vực phố Hỏa Lò hiện nay đã di dời xuống mạn cuối phố Bà Triệu, và đình làng Phụ Khánh hiện tại ở bên cạnh chùa Chân Tiên số 93 phố Bà Triệu.
[17] Thảo Tân hay Sa Thảo tân là một địa điểm thường được nhắc đến nhiều trong sử cũ, nhất là vào khoảng đầu thời Lê Trung hưng. Xem Việt sử cương mục, chương XXIX, 33, XXX, 2, 10, 12. Các nhà biên tập Việt sử cương mục ghi: “chắc là phía Nam bờ sông Nhị nay ở đâu không rõ”. Nhưng theo tổ biên dịch Viện sử học thì “có thể là ở vùng ga Hàng Cỏ (tức là ga Hà Nội) và phố Hàng Cỏ (nay là đường Nam Bộ) Hà Nội ngày nay (xem bản dịch của Viện Sử học, tr.1401).

Hết.

(Bài in trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 75, 1965, tr.4-9)
Nguồn:http://khoalichsu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=151:gop-them-tai-liu-v-vic-nh-o-thng-long-va-v-gc-tich-ly-thng-kit-v-tun-san&catid=25:bai-vit&Itemid=33 (http://khoalichsu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=151:gop-them-tai-liu-v-vic-nh-o-thng-long-va-v-gc-tich-ly-thng-kit-v-tun-san&catid=25:bai-vit&Itemid=33)


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 17 Tháng Tám, 2012, 11:51:41 pm
THIÊN ĐÔ CHIẾU CỦA VUA LÝ CÔNG UẨN -
NHỮNG GIÁ TRỊ CHƯA BAO GIỜ CŨ

                                                                                                                                                      PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế

1.Mùa xuân năm 1010, vài tháng sau khi Triều Lý được thành lập, và sau tết đầu tiên trên cương - vị - vua ở kinh thành Hoa Lư (Hoa Lau), Lý Công Uẩn về thăm hương Cổ Pháp, cho các bô lão trong hương tiền, lụa; viếng đền vị anh hùng làng Dóng và tặng thần danh hiệu Xung thiên thần vương (Thần vương xông lên trời)... Tiếp đến cho sứ giả Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm sang nước Tống kết hảo.
Sau những việc trên, Lý Công Uẩn tự tay viết chiếu[1] về việc chuyển kinh đô - sự kiện trọng đại sau ngày sáng nghiệp vương triều:
Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.
Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung, đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị, tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội, vi vạn thế đế vương chi thượng đô.
Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?
Dịch nghĩa[2]:
Xưa nhà Thương[3] đến Bàn Canh[4] năm lần đời đô[5]; nhà Chu[6] đến Thành Vương[7] cũng ba lần dời đô[8]. Phải đâu các vua thời Tam đại[9] theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời. Làm như thế cốt để mưu toan nghiệp lớn, đóng đô ở nơi trung tâm, tính kế cho con cháu muôn đời; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót, không thể không đổi dời.
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương[10] ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư không phải chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chổ ở. Các khanh nghĩ thế nào?

                  
Thiên đô chiếu của vua Lý Công Uẩn - Những giá trị chưa bao giờ cũ
THỨ NĂM, 20 THÁNG 5 2010 13:35
 

THIÊN ĐÔ CHIẾU CỦA VUA LÝ CÔNG UẨN -
NHỮNG GIÁ TRỊ CHƯA BAO GIỜ CŨ
 
PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế
 
1. Mùa xuân năm 1010, vài tháng sau khi Triều Lý được thành lập, và sau tết đầu tiên trên cương - vị - vua ở kinh thành Hoa Lư (Hoa Lau), Lý Công Uẩn về thăm hương Cổ Pháp, cho các bô lão trong hương tiền, lụa; viếng đền vị anh hùng làng Dóng và tặng thần danh hiệu Xung thiên thần vương (Thần vương xông lên trời)... Tiếp đến cho sứ giả Lương Nhậm Văn và Lê Tái Nghiêm sang nước Tống kết hảo.
Sau những việc trên, Lý Công Uẩn tự tay viết chiếu[1] về việc chuyển kinh đô - sự kiện trọng đại sau ngày sáng nghiệp vương triều:
Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.
Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung, đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị, tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội, vi vạn thế đế vương chi thượng đô.
Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà?
Dịch nghĩa[2]:
Xưa nhà Thương[3] đến Bàn Canh[4] năm lần đời đô[5]; nhà Chu[6] đến Thành Vương[7] cũng ba lần dời đô[8]. Phải đâu các vua thời Tam đại[9] theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời. Làm như thế cốt để mưu toan nghiệp lớn, đóng đô ở nơi trung tâm, tính kế cho con cháu muôn đời; trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương, Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất đau xót, không thể không đổi dời.
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương[10] ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng. Dân cư không phải chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chổ ở. Các khanh nghĩ thế nào?


[1] Chiếu: tức chiếu lệnh, còn gọi là "Chiếu thư", "Chiếu chỉ", "Chiếu bản". Đó là thể văn mà vua truyền đạt mệnh lệnh của mình xuống cho thần tử và nhân dân biết về, hay phải thực hiện một vấn đề gì đó (dù bài văn thực tế do ai viết thì lời lẽ và địa vị của chủ thể vẫn luôn là nhà vua).
Chiếu quan trọng vì nó vừa là mệnh lệnh của vua, vừa là chủ trương, chính sách của triều đình về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục....
Các loại chiếu như: tức vị chiếu (chiếu kế vị), di chiếu (chiếu dặn lại trước khi qua đời), ai chiếu, phục chiếu, mật chiếu, thủ chiếu, khẩu chiếu. Thư tịch cổ Trung Quốc còn lưu lại những: Cao Đế cầu hiền chiếu (Chiếu cầu người hiền của Hán Cao Tổ), Văn Đế nghị tá bách tính chiếu (Hán Văn Đế đề nghị các đại thần nghĩ cách giúp đỡ trăm họ), Cảnh Đế lệnh nhị thiên thạch tư chức chiếu (Hán Cảnh Đế lệnh cho các quan phải thực hiện đúng chức trách), Vũ Đế cầu mậu tài dị đẳng chiếu (Hán Vũ Đế cầu người tài xuất chúng để lập chiến công lừng lẫy).
Đại Việt thời Lý cũng còn thấy để lại những: Xá thuế chiếu của Lý Thánh Tông, Lâm chung di chiếu của Lý Nhân Tông, Chung hối tiền quá chiếu (Chiếu hối lỗi) của Lý Cao Tông, Thảo Trần Tự khánh chiếu (Chiếu đánh dẹp Trần Tự Khánh) của Lý Huệ Tông, Thiên vị chiếu (Chiếu nhường ngôi) của Lý Chiêu Hoàng....
[2] Ngô Sỹ Liên và sử thần triều Lê: Đại Việt sử ký toàn thư. Bản dịch và chú thích của Ngô Đức Thọ. Hiệu đính của Hà Văn Tấn. Nxb KHXH, H.1993. tập 1, tr. 241.
[3] Thương: Triều đại do Thành Thang dựng lên
[4] Bàn Canh: Vua thứ 17 của nhà Thương (khoảng thế kỷ XVI tr.CN - 1066 tr.CN).
[5] Năm lần dời đô: từ đất Bặc (Thương Khâu, Hà Nam) sang đất Hiệu (Huỳnh Trạch, Hà Nam), đất Tương (An Dương, Hà Nam), đất Cảnh (Hà Tân, Sơn Tây), đất Hình (Hình Đài, Hà Bắc), rồi đất Ân (Yển Sư, Hà Nam).
[6] Chu: triều đại cổ tiếp nối nhà Thương do Chu Văn Vương mở đầu.
[7] Thành Vương: Vua thứ 3 nhà Chu (ước khoảng năm 1066 tr.CN - 771 tr.CN)
[8] Ba lần dời đô: Chu Văn Vương dựng nghiệp ở đất Kỳ (Thiểm Tây), Chu Vũ Vương dời đô đến Trường Yên (cũng Thiểm Tây), và Chu Thành Vương lại dời đô sang Lạc Ấp (Hà Nam).
[9] Tam đại: ba đời Hạ, Thương, Chu ở Trung Quốc.
[10] Cao Vương: tức Cao Biền, viên quan đứng đầu bộ máy cai trị của nhà Đường ở nước ta (thời đó gọi là Giao Châu), vào nửa sau thế kỷ thứ IX và Cao Biền cho đắp thành Đại La (khoảng năm 866).

Còn tiếp...


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 17 Tháng Tám, 2012, 11:53:04 pm
2.
Hơn một lần, nhất là trong thập niên qua[11], người Việt Nam, các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá ngẫm ngợi, nghĩ suy về bài chiếu tự tay Vua viết (thủ chiếu) chủ trương về chuyện dời đô (mà về sau quen gọi là Thiên đô chiếu)[12] của Người. Và, cứ mỗi lần như vậy, các con cháu của Người lại nhận chân ra điều tâm đắc mới từ "Chiếu thiên đô".

Chẳng hạn:
- Khi 950 kỷ niệm năm triều Lý (1959), Nguyễn Lương Bích phân tích: "Lý Công Uẩn đã quyết định dời Hoa Lư, thiên đô đi nơi khác, không phải về vùng quê Bắc Ninh của ông, mà thiên đô tới miền Hà Nội bây giờ,... không phải là việc làm ngẫu nhiên hoặc do ý muốn chủ quan hay do tài năng đặc biệt của Lý Công Uẩn, càng không phải vì miền Hà Nội có sẵn cái thành của Cao Biền khi xưa mà lúc ấy đã không còn nữa. Việc thiên đô của Lý Công Uẩn năm 1010 chính là do hoàn cảnh xã hội lúc ấy cho phép và cũng là do những yêu cầu phát triển của xã hội Việt Nam lúc ấy đặt ra.
 ... Lý Thái Tổ đã chọn miền Hà Nội, vì miền Hà Nội lúc ấy, ngoài những điều kiện thiên nhiên thuận lợi sẵn có, còn có những điều kiện kinh tế xã hội rất tốt để làm nền tảng cho việc xây dựng kinh thành mới được bền vững lâu dài. Những điều kiện kinh tế xã hội của miền Hà Nội thời ấy đã được Lý Thái Tổ nhận thấy và nói rõ trong bài chiếu Thiên đô”[13].
- Năm 980 năm của Thăng Long - Hà Nội, Đinh Gia Khánh khi phân tích trong Chiếu dời đô, viết: "Lý Thái Tổ nói đến việc trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân. Mệnh trời, thiên mệnh, theo cách nói của người xưa được sắc màu huyền bí, nhưng thiên mệnh, thiên lý chắng qua để gọi cái lẽ phải làm theo, không thể cưỡng lại”[14].
990 năm vương triều Lý (năm 1999), khi suy nghĩ tản mạn nhân đọc lại bài chiếu về việc dời đô,Trần Quốc Vượng nhận thấy ít nhất mấy điều sau:
- Chỉ sau khi qua Đại La để về Cổ Pháp - Kinh Bắc và lại còn sau khi tiếp sứ Tống sang kết hiếu.., ý định dời đô của vua đầu triều Lý mới quyết.
- Thi pháp chiếu dời đô xuất phát từ xa xưa để rồi mới lân la nói đến chuyện ngày nay, bây giờ, ở đây.
- Khi học cái ngoại sinh, Lý Công Uẩn chỉ rút tỉa trong các khối tư tưởng đó những cái gì có thể áp dụng được.
- Chiếu của Lý Công Uẩn về việc dời đô là một bản tuyên ngôn địa chính trị, địa - chiến lược, địa - văn hoá về Đại La, Thăng Long - Hà Nội.
- Câu văn đắt nhất trong bài chiếu là ở câu cuối cùng: Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy, để định nơi ở, ý các khanh ra sao?
Đó là cái thần của bài chiếu nước Việt, là một bản sắc dân tộc, một bản sắc văn hoá Việt đầu đời Lý”[15]...

[11] Có thể kể, như: (năm 1925) mục “Việc dời kinh đô về Thăng Long”, trong Việt sử yếu, Hoàng Cao Khải viết: Nhà vua nghĩ Hoa Lư là nơi ẩm thấp, chật hẹp, nên ngài muốn dời kinh đô ra thành Thăng Long, nhưng ngài lại còn e ngại quần thần và nhân dân trong nước không chịu nghe theo ý nghĩ của người...Vua Lý Thái Tổ đã khôn khéo mượn thần đạo để cột chặt lòng người", Bản dịch của Hồng Liên Lê Xuân Giáo. Bản in của Nxb. Nghệ An, 2007, tr. 136.
Trong thập niên 1999 - 2009 có thể kể như: Trần Quốc Vượng: Vài suy nghĩ tản mạn nhân đọc lại bài chiếu về việc dời đô của vị vua khai sáng triều Lý, in lại trong: Trên mảnh đất ngàn năm văn vật, Nxb. Hà Nội, 1999, tr.238-252.
Nguyễn Quang Khải: Thiên đô chiếu - Văn bản đầu tiên thể hiện chủ trương dời đô ở nước ta, Bắc Ninh xưa và nay, 11/5/2009.
Tạ Ngọc Liễn:Lý Công Uẩn và Chiếu dời đô, áng văn bất hủ. Tạp chí Hội nhà văn.
....
[12] Trần Quốc Vượng, Vài suy nghĩ tản mạn nhân đọc lại bài chiếu về việc dời đô của vị vua sáng nghiệp nhà Lý, in trong: Trên mảnh đấy ngàn năm văn vật, Nxb. Hà Nội.2000, tr.238-252; Đầu đề bài chiếu này vốn không có tên. Các tác gia, nhà nghiên cứu về sau gọi là Tỉ đô Thăng Long chiếu (Hoàng Việt văn tuyển) hay Thiên đô chiếu (Văn học đời Lý, Hợp tuyển thơ văn, Thơ văn Lý Trần tập I... cũng không phải là nguyên tác.
[13] Xem Mục B. Định đô Thăng Long trong Lịch sử Thủ đô Hà Nội (Trần Huy Liệu chủ biên) Nxb. Sử học, Hà Nội, 1960, Nxb Hà Nội tái bản năm 2000, tr. 27 - 28.
[14] Trong Địa chí văn hoá dân gian Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội,  Sở VHTT Hà Nội, 1991, tr.17.
[15] Trần Quốc Vượng, Vài suy nghĩ tản mạn nhân đọc lại bài chiếu về việc dời đô của vị vua khai sáng triều Lý. sđd, tr.238 - 252 .

Còn tiếp...


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Tám, 2012, 12:02:45 am
3.

3.1 Đúng làbài thủ chiếu mở đầu bằng "Tích" - ngày xưa, xưa,…
Tư duy Việt Nam từ xưa cho đến hôm nay, vẫn thường có điểm xuất phát kiểu: "ngày xửa, ngày xưa" - như trong mở đầu các truyện cổ tích, truyền từ đời trước qua đời sau. Điều đó cũng không có gì lạ.   
Thế kỷ X ở Việt Nam khép lại với những cố gắng không mệt mỏi của các thế hệ để vượt qua qua gần 1.000 năm thuộc địa trực tiếp của các đế chế phương Bắc, đã phải trực tiếp giữ vững độc lập, chủ quyền của quốc gia dân tộc bằng Bạch Đằng năm 938, năm 981.
Thế nhưng bây giờ - năm 1010, trí tuệ cao nhất, tiêu biểu nhất, người đứng đầu vương triều Lý lại dẫn kinh nghiệm từ chính Phương Bắc!. Đó là sự sao chép, giáo điều hay bị áp đặt?.
Qua các thời kỳ lịch sử, các trung tâm văn minh lớn của châu Á - là Thế giới đối với Việt Nam hàng ngàn năm, là một hấp dẫn, ảnh hưởng nhiều đến Việt Nam ngay từ thời cổ đại. Ở phần bắc lãnh thổ, mối quan hệ và hấp lực ấy, mạnh mẽ trực tiếp, thường xuyên là văn minh phương Bắc. Trong quan hệ biện chứng với tư cách một quốc gia độc lập, không có một vấn đề gì, nhất là vấn đề chiến lược, trí tuệ và kinh nghiệm nào lại tách rời, cô lập, đơn tuyến với những tác động kinh tế, chính trị, xã hội đương thời. Sự tiếp xúc với văn minh Trung Quốc cổ đại - dưới nhiều hình thức là tác nhân quan trọng dẫn đến những chuyển biến kinh tế, xã hội Văn Lang - Âu Lạc nửa cuối thiên niên kỷ I trước Công nguyên, rồi thiên niên kỷ I sau đó. Giờ đây, khi thoát khỏi ách đô hộ, giành được quyền độc lập gần một thế kỷ, nhà Lý - Đại Việt có điều kiện, chủ động để thâu hoá kinh nghiệm Trung Hoa. Nói cách khác, việc rút kinh nghiệm phương Bắc, của Lý Công Uẩn - và rộng ra là của trí tuệ lớn, đương thời, trong chuyện dời kinh đô không phải là việc lựa chọn nhất thời, nông nổi, mà là một sự thẩm định, có cân nhắc kỹ càng, khách quan.
Nhưng không chỉ có dựa vào kinh nghiệm phương Bắc, Lý Công Uẩn đối chiếu với kinh nghiệm lịch sử - mà thế hệ cha ông ở kinh thành Hoa Lư (từ 968 đến 1009) trong đó bản thân ông trải nghiệm, chính là tri thức thực tiễn nóng hổi.
3.2 Khi nhắc lại kinh nghiệm phương Bắc cổ đại và bài học thời Đinh, Lê, hai lần Lý Công Uẩn dùng đến "kỷ tư" (tự tiện, riêng mình).
- “Khởi Tam đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ” (Phải đâu các vua thời Tam đại theo ý riêng mình mà tự tiện chuyển dời).
- “Nhị Đinh, Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư” (Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng mình).
Đó cũng chính là hai lần Lý Công Uẩn quán triệt đi, quán triệt lại một nguyên tắc: Việc dời đô không được tự tiện theo ý riêng của mình.
Rồi lần lượt tự phản biện với chính tiền đề, lý lẽ của mình đưa ra với tư duy lịch đại và đồng đại, kế thừa - phát triển, tránh chủ quan.
Nói cách khác, dù là dẫn kinh nghiệm - trí thức lịch sử phương Bắc cổ đại là tri thức thế giới đương thời, là tri thức sách vở, hay là chuyện Đinh, Lê của Đại Cồ Việt là thực tiễn, là môi trường cụ thể Hoa Lư thế kỷ X (từ 968), thì với Lý Công Uẩn, cả hai bài học kinh nghiệm, kiểm định lịch sử ấy, là nền cho phép ông xây dựng, xác định, nhất quán một nguyên tắc:
Không được tự tiện, theo ý riêng mình (chủ quan) trong việc chuyển dời kinh đô (thiên đô)!
Công việc đó chỉ khi nào phải đảm bảo kết hợp, thống nhất "Trên vâng mệnh trời” với “dưới theo ý dân”, đồng nghĩa và cụ thể “là không theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời”.
Mục đích tối thượng của việc xây dựng kinh đô của quốc gia, theo Lý Công Uẩn là:
- “Mưu toan nghiệp lớn” là đồng nghĩa với “vi ức vạn thế tử tôn chi kế" (tính kế muôn đời cho con cháu).
-“Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ” (vận/ nền nước vững bền lâu dài, phong tục phồn thịnh)là đối nghịch với “triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi”.
 (Nhân đây, cũng phải nói rõ, mục đích đầu tiên và tối thượng của Lý Công Uẩn trước hết chính là vì con cháu (tử tôn) của chính vua. Không phải ngẫu nhiên mà đến năm1070: "Mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây”; rồi năm 1076, gần 70 năm ngày định đô Thăng Long, lớp con, cháu của Đức Lý Công Uẩn cho dựng Quốc Tử Giảm - trường để dạy, rèn chính con vua - người quản lý cao nhất của vương triều, quốc gia).
3.3 Sau khi đã xác lập vững vàng nguyên lý ấy, Lý Công Uẩn đã chỉ ra vùng ven sông Nhĩ - Nhị, Kim Ngưu, Tô Lịch hiện thời, nơi:
- Thứ nhất: đã được lịch sử thẩm định: “Huống gì thành Đại La, kinh đô cũ của Cao Vương”.
- Thứ hai: vùng đất này: “ở vào nơi trung tâm trời đất; được thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi. Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng".
-Thứ ba: vị thế tự nhiên, thẩm định của lich sử - dù rất quan trọng, nhưng, căn bản hơn cả chính là đáp ứng được tiêu chuẩn cuối cùng, liên quan đến nền tảng rộng lớn hơn của nhân tài,vật lực quốc gia: “Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt; muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”. Ông đã đi đến một nhận định, một kết luận: “Xem khắp nước Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”.
Như vậy là:
Không phải chỉ nhấn mạnh bài học của quá khứ, chỉ mở đầu bằng "Tích" (chuyện xưa) - là kiểu tư duy lịch đại (diachronic) - nhờ đó, con người có cách đo, lường, “ôn cố nhi tri tân” rút kinh nghiệm sâu sắc cái đã qua, một cách tiết kiệm trong số những tiết kiệm của năng lực con người, mà Lý Công Uẩn thiếu đi tư duy đồng đại (synchronic).                           
Đến đầu thế kỷ XXI, nhân loại bàn nhiều đến sự phát triển bền vững, sau khi đã trả giá cho quá nhiều sai lầm trên quá trình vận động của mình về sự nhắm mắt, trực kiến về kết quả nhãn tiền... Lịch đại và đồng đại là hai mặt của quá trình tồn tại - vận động - phát triển. Nếu thiếu đi tư duy đồng đại thì không có sự vận động, phát triển. Ngược lại thiếu đi tư duy lịch đại, không rút kinh nghiệm, thiếu sự định hướng, thì sự vận động đó không thể bền vững, thậm chí có tác dụng ngược lại - kìm chế, phá hoại sự phát triển, là bóc ngắn cắn dài, hy sinh tương lai cho cái trước mắt, hy sinh thế hệ cháu con, làm rối loạn sự phát triển.
3.4 Nhưng, trước khi đặt dấu chấm cho thủ chiếu cúa mình, đấng quân vương - người lãnh đạo cao nhất, tuyệt đối của chế độ quân chủ thời Lý, vẫn thêm một lần hạ bút “Trẫm muốn dựa vào sự thuận lợi của đất ấy để định chổ ở. Các khanh nghĩ thế nào?”.
Chỉ có như thế, Đức vua Lý Công Uẩn mới thật thanh thản!
Dòng cuối cùng trong Thiên đô chiếu, mà theo Trần Quốc Vượng, là “Câu văn đắt nhất trong bài chiếu. Đó là cái thấn của bài chiếu nước Việt, là một bản sắc dân tộc, một bản sắc văn hoá Việt đầu đời Lý”.
Sau đoạn này, thấy Sử cũ ghi: Bề tôi đều nói: "Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo. Vua cả mừng”.
Nếu biết rằng, theo Việt sử lược - tác phẩm gần với đương thời nhất, Lý Công Uẩn rất chặt chẽ trong hành động.
Khi còn là Thân vệ trong kinh đô Hoa Lư của triều đình Lê, khi Vạn Hạnh nói: “Gần đây tôi thấy lời sấm lạ, biết rằng nhà Lê tất phải mất mà nhà Nguyễn (Lý) tất phải lên. Họ Nguyễn không ai nhân từ, khoan dung như ông, lại được lòng dân...”. Lý Công Uẩn bảo Vạn Hạnh đến ẩn náu ở núi Ba Sơn.
Đầu năm 1009, khi Chi hậu Đào Cam Mộc hai, ba lần trực tiếp, hết dùng lẽ xa xôi để khích, rồi: “thong thả chấp nhận đành chịu chết”, đến quyết liệt hơn rằng: “Chuyển hoạ thành phúc cũng chính là lúc này” để phân tích Lý Công Uẩn lên ngôi, thì:
- Lần thứ nhất, Lý Công Uẩn vờ mắng: “ông sao lại dám nói lời như thế, ta tất phải bắt ông nạp quan làm tội”.
- Lần thứ hai: “Ta sao lại nhẫn tâm đi cáo giác ông, nhưng sợ rằng lộ ra thì bị giết cả”.
- Lần thứ ba, thì: “Ta xem chí ông cùng Vạn Hạnh không khác gì nhau, nếu thực như lời nói ấy, thì phải làm thế nào? ”[16]. Hoá ra không phải là một lời khen mà vẫn là một câu hỏi cần chỉ dẫn, góp ý, tư vấn!
Sau 1010, theo Đại Việt sử ký toàn thư - bộ biên niên sử muộn hơn, thì thêm hai ba lần vua Lý Công Uẩn bộc lộ qua ngôn từ, chẳng hạn:
 - Năm 1012: Vua thân đi đánh Diễn Châu. Khi về đến Vũng Biệngặp lúc trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội, vua đốt hương khấn trời rằng: "Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét"[17].
Năm 1016: + Động đất. Làm lễ tế vong các danh sơn. (Vua nhân đi xem núi sông, đến bến đò Cổ Sở, thấy khí tốt của núi sông, tâm thần cảm động, bèn làm lễ rưới rượu xuống đất, khấn rằng: "Trẫm xem địa phương này, núi lạ sông đẹp, nếu có nhân kiệt địa linh thì hưởng lễ"[18].
Những sự kiện góp phần soi rõ hơn chân dung, phẩm chất nhân cách Lý Công Uẩn, về hành động của đức Lý Công Uẩn khi tự tay viết 214 chữ trong Chiếu dời đô.
Thủ chiếu của vua Lý Công Uẩn về việc chuyển kinh đô, sản phẩm của một chiều sâu trí lự, đối chiếu so sánh, kết hợp cả kinh nghiệm của ngoài nước và trong nước, của quá khứ và hiện tại (lịch đại và đồng đại), sự đồng lòng trên và dưới, giữa triều đình và dân chúng, thoả mãn cả quyền lợi của tập đoàn nhà Lý, với quyền lợi căn bản của chúng dân về việc chuyển dời, xây dựng một kinh đô mới. 
Chiếu dời đô bộc lộ khúc triết, tổng thể tâm thế, tư duy, nhân cách của bậc đế vương khai sáng một triều đại, khai sinh một kinh thành của quốc gia Đại Việt 1.000 năm trước.
Đó chính là khối toàn bích, biện chứng mẫu mực trong tư duy của đức Lý Công Uẩn, vì thế chẳng bao giờ mờ cũ mà hẳn càng toả sáng theo dặm dài tháng năm của Thăng Long - Hà Nội - Việt Nam.

[16] Việt sử lược, Bản dịch của Trần Quốc Vượng. Bản in lại của Nxb Thuận Hoá, 2005, tr. 72 - 73.
[17] Ngô Sỹ Liên và sử thần triều Lê. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd, tr. 243.
[18] Ngô Sỹ Liên và sử thần triều Lê. Đại Việt sử ký toàn thư. Sđd, tr. 245.

Nguồn:http://khoalichsu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=113:thien-o-chiu-ca-vua-ly-cong-un-nhng-gia-tr-cha-bao-gi-c&catid=25:bai-vit&Itemid=33 (http://khoalichsu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=113:thien-o-chiu-ca-vua-ly-cong-un-nhng-gia-tr-cha-bao-gi-c&catid=25:bai-vit&Itemid=33)


Bài in trong Kỷ yếu Hội thảo 1000 năm Vương triều Lý và kinh đô Thăng Long, Nxb Thế giới, H., 2009


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Tám, 2012, 12:07:23 am
THÂN MẪU LÝ CÔNG UẨN LÀ NGƯỜI BẮC NINH

                                                                                                                                                               Nguyễn Hùng Vĩ

 Dựa trên tổng thể tư liệu hiện nay, với suy luận kĩ càng, có thể đưa ra giả thuyết mẹ đẻ Lý Công Uẩn là người Dương Lôi, hương Cổ Pháp trong châu Cổ Pháp đời Lý nằm trên đất Bắc Ninh hiện nay.
            Trong điều kiện hiện bây giờ, khi giới khảo cổ học chưa khai quật trực tiếp và minh định được các ngôi mộ liên quan thì sử liệu thành văn sẽ là căn cứ tốt nhất cho việc lập ra giả thiết này với điều kiện có cách đọc văn bản hợp lí.
            Khó mà phản bác rằng, Lý Công Uẩn có cả một gia tộc bề thế, cường thịnh. Đại Việt sử kí toàn thư (bản Chính Hòa 1697) ghi lời Vạn Hạnh: “Nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều nhưng không ai bằng Thân vệ là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, mà đang lại nắm binh quyền trong tay...”. Sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn truy phong cho cha, mẹ, phong cho anh, chú, lại phong cho cả con anh... Gia tộc là như vậy phủ định làm sao được. Tấm bia Hoa Lâm Tam Bảo thị 1656 còn lưu thác bản nói rõ quê hương Hoa Lâm của ông nội bà nội, cùng lăng miếu cha mẹ Lý Công Uẩn làm sao mà phủ định được. Vậy quê mẹ Lý Công Uẩn là đâu?
            Giả thiết của chúng tôi từng bước đưa ra như sau:

Bố Lý Công Uẩn đa thê và Phạm mẫu là người vợ muộn của ông

Điều này chưa thấy bộ sử nào cũng như nhà khoa học nào nói tới nhưng có thể suy luận được. Năm 1009, Lý Công Uẩn phong cho anh làm Vũ Uy vương và con Vũ Uy vương là Trung Hiển làm Thái úy. Lúc đó, Lý Công Uẩn 35 tuổi. Một người phụ trách quân đội như Thái úy thì tuổi đời cũng phải xấp xỉ Lý Công Uẩn vì còn trong triều, những người ủng hộ Lý Công Uẩn rất nhiều, ngay trong nội tộc cũng nhiều người lớn tuổi, từng trải. Chắc chắn những người anh đó phải là con bà cả, bà hai, nếu có ai là em thì cũng là em con chú, có thể lớn tuổi hơn cả Lý Công Uẩn. Việc một hào trưởng, lý gia thời xưa năm thê bảy thiếp là chuyện hết sức bình thường.
           Người vợ muộn đó mang thai rất không bình thường, điều này là thống nhất từ sử kí, tài liệu Phật giáo đến truyền thuyết dân gian. Tai sao một vị vua khai quốc đầy uy vọng thế kia mà các nhà sử học lại để một khoảng “bất minh” trong gốc tích như vậy? Ở đây có sự “hoang thai”. Hoặc bố Lý Công Uẩn gặp già bệnh mất khả năng sinh sản, hoặc là cụ đã mất khi Phạm mẫu có thai Lý Công Uẩn. Sử kí ghi là đi chùa, giao hợp với thần nhân. Chuyện này không lạ với nhiều vĩ nhân trong lịch sử. Chửa xong, Phạm mẫu “đau ở chùa Dận” (Đình Bảng), “đẻ ở Đàng Sau” (Dương Lôi), nuôi ở Dương Lôi lên 3, gửi cho Lý Khánh Văn ở Đại Đình, lên 7 theo học Lý Vạn Hạnh ở chùa Tiêu. Chỉ có ngụ ở chùa mới đau đẻ ở đó. Mấy ai cận ngày sinh nở mà còn đi lạy Phật. Tất cả những nơi đó nằm cạnh nhau trong hương Cổ Pháp thuộc châu Cổ Pháp xưa, cách Hoa Lâm một độ đường (không gian giao thông ngày ấy khác sau này nhiều). Phạm mẫu đã về bên ngoại để đẻ con và chưa đến nhà mẹ thì đã sinh ở ngoài đội đồng Đàng Sau. Ông được nuôi dưỡng, lớn lên, học hành ở vùng này và sẽ rất sâu nặng với quê ngoại.

Bà ngoại Lý Công Uẩn có lăng trên đất Dương Lôi

 Đó là lăng Ngoại tổ Thánh Mẫu mà ngày nay, do quen gọi là lăng Thánh mẫu nên gây nhầm tưởng cho nhiều người là mộ mẹ Lý Công Uẩn ở đây chứ không phải ở Hoa Lâm như tấm bia Hoa Lâm Tam Bảo thị (1656) đã nói. Cuốn Bắc Ninh toàn tỉnh dư địa chí biên tập năm Thành Thái thứ 3 (1891), phụng sao lại tháng giêng năm Bảo Đại thứ 8 (1933), viết: “Lăng Ngoại tổ Thánh mẫu nhà Lý. Ở xã Dương Lôi. Thánh mẫu nhà Lý vốn là người Dương Lôi. Lăng này là lăng bà thân sinh ra Thánh mẫu nhà Lý. Người trong xã quanh năm thờ cúng. Cũng gọi là lăng Thánh mẫu”.
            Sự ghi chép này dẫu muộn nhưng ta xét thấy, tác giả không bị áp lực nào để ghi sai đi những gì mình biết, mình thấy. Đồng thời, tác giả cũng nhắc chúng ta rằng, ngay trước đây, cách nay 120 năm đã có sự gọi gọn đi thành lăng Thánh mẫu. Ngày nay, chúng ta cũng theo đó mà gọi, gây ra sự hiểu sai (tựa hồ như Đường chiến thắng B52 thì dân cứ gọi là Đường B52, trăm năm sau giải thích thành số hiệu của đường chẳng hạn). Bà ngoại là người đã nuôi Lý Công Uẩn tuổi ấu thơ, ông vốn là người khoan thứ nên lòng biết ơn chắc chắn là sâu nặng. Cho đến khi trưởng thành hoặc thành danh, Lý Công Uẩn trở về hòa đồng với gia tộc cường thịnh của mình. Vậy, cô gái họ Phạm Dương Lôi đã làm dâu rẽ họ Lý Hoa Lâm và nhập hộ tịch ở đó. Nhưng số phận đưa đẩy, cô phải về quê sinh nở đứa con mình.

Dương Lôi – Đại Đình – Đình Bảng là “thang mộc ấp” nhà Lý

Đây là ý kiến đúng đắn của nhà sử học Phan Huy Chú khi làm sách Lịch triều hiến chương loại chí (hoàn thành năm 1820 thời Nguyễn). Ở quyển 3, ông chép: “Tiên Du. Cổ Pháp [ tức Đình Bảng ] vi Lý thời thang mộc ấp”. Nhưng thang mộc ấp thì không nhất thiết phải là quê sở Lý Công Uẩn. Từ điển giải nghĩa thang mộc ấp chủ yếu nói đó là chỗ ở của chư hầu khi đến tiến cống hoặc đất được phong cho vương hầu, công chúa cũng như người có huân công mà từ đó người ta được ăn lộc, thu thuế và dựng nghiệp. Không có giải nghĩa là nơi quê hương bản quán. Cứ cho thời Nguyễn, Phan Huy Chú coi Đình Bảng là Cổ Pháp xưa đi nữa thì ông cũng không khẳng định đó là quê quán Lý Công Uẩn khi viết như vậy. Câu trên của Phan Huy Chú chắc chắn phải được dịch là: “Tiên Du. Cổ Pháp [ tức Đình Bảng ] là thang mộc ấp của thời Lý”. Đồng thời phải chú thích thang mộc ấp là gì thì mới rõ nghĩa. Còn cứ hiểu và dịch theo thiên kiến sẽ dễ làm người đọc hiểu nhầm theo.
            Theo nghĩa như trên, ta hoàn toàn có thể hiểu đây là đất phong ấp của Lý Công Uẩn. Sử không chép lần nào ông được nhà Tiền Lê phong đất và phong ở đâu nhưng theo lệ thường, làm quan đến Thân vệ điện tiền thì có thể được phân đất. Chuyện thác đao điền sau này ghi trong sử về nhà Lý cho ta chắc được như vậy. Nếu được phong, ông và những người thầy nuôi dạy ông sẽ chọn vùng này là hợp tình hợp lí. Đó là một lần thang mộc ấp. Khi được tư vấn chọn Thọ lăng (đã là Hoàng đế), có thể các nhà sư thông tuệ đã khuyên ông lựa chọn vùng này, gần như khoảng giữa của hai quê nội ngoại. Đây là lần thang mộc ấp thứ hai. Thọ lăng thì khác với Lý gia lăng vì gia tộc thì khác triều đại. Lý gia lăng là dành cho thế hệ ông cha Lý Công Uẩn, khi đó mới là lý gia, đại gia, chưa là đế vương. Còn Thọ lăng là dành cho triều đại lâu dài. Vì không phân biệt điều này nên có nhiều người bối rối, lẫn lộn giữa hai khu. Như vậy, Phan Huy Chú viết rất cẩn trọng, chín chắn. Chỉ sau này, thế hệ chúng ta mới có người hiểu sai. Có người nói “đất phát tích” thì cũng vậy thôi. Cuộc đời Lý Công Uẩn và những người gây dựng sự nghiệp cho ông nằm trên đất thang mộc đó thì hậu sinh sau ngót ngàn năm cũng đủ gọi chốn này như vậy. Tóm lại, Thọ lăng nằm ở Đình Bảng, Lý gia lăng nằm ở Hoa Lâm, quê nội của ông.

Bia Lý gia linh thạch khẳng định Phạm mẫu quê Hoa Lâm cũng đúng

 Tấm bia này là tấm bia hưng công tu sửa chùa Tiêu, niên đại chắc chắn là Cảnh Thịnh nguyên niên (1793). Trong đó những làng tham gia trùng tu , được ghi tên làng và họ đã đồng thuận với lời ghi “Đông Ngàn Hoa Lâm nhân Phạm mẫu”. Rất rõ ràng là Phạm mẫu, người Hoa Lâm huyện Đông Ngàn. (Hiểu khác đi là gượng gạo đến ngớ ngẩn. Có người còn chú tên bia là “hòn đá thiêng nhà Lý” rất chi buồn cười). Tại sao họ vẫn đúng? Vì khi Phạm mẫu đi chùa thì bà đã lấy chồng về Hoa Lâm và mang hộ tịch ở đó. Lăng bà ở Hoa Lâm lúc bia Lý gia linh thạch được dựng vẫn còn. Gọi Phạm mẫu là người Hoa Lâm theo hộ tịch thì chả có gì là sai cả.

Tiêu án Ngô Thì Sĩ: Từ sai lầm đến lúng túng

Đã nhiều người nghiên cứu hiện đại trích dẫn Đại Việt sử kí tiền biên (Cảnh Thịnh thứ 8 – 1800) của Ngô Thì Sĩ để làm chứng cứ cho việc khẳng định quê Lý Công Uẩn hoặc Phạm mẫu là ở vùng Dương Lôi – Đình Bảng. Sử liệu này cần được xem lại cẩn thận. Chúng tôi trích cả đoạn dài liên quan đến vấn đề chúng ta đang quan tâm. Ở đoạn chép về sự kiện năm Kỉ Dậu (1009), Lý Công Uẩn lên ngôi và truy tôn cha là Hiển Khánh vương, mẹ Phạm thị là Minh Đức thái hậu, Ngô Sĩ Liên có lời bàn dài, sau khi kể sử chép Phạm thị đi chơi chùa Tiêu Sơn giao hợp với thần nhân, Tiêu Sơn tự ký chép Thái Hậu thụ thai với tinh con khỉ, Ngoại truyên chép sa môn vô tình chạm phải mà có thai, ông tiếp tục:
 Đoạn 1:“Thế là cha vua thực chưa rõ là ai. Xem ở năm Thuận Thiên thứ 9 (1018), vua truy phong tiên tổ tỉ làm hậu và đặt tên thụy mà không nói đến tiên tổ khảo. Như vậy thì tiên tổ tỉ là mẹ của Thái hậu mới thực là bà tổ sinh ra họ Lý. Nhưng mẫu hậu là người không thể đứng chủ tôn miếu được. Châm chước, cân nhắc thì Lý Thái Tổ phải là ông tổ vĩnh viễn cho tôn miếu họ Lý, mà tôn thờ thái hậu riêng một miếu khác là hợp lệ hơn, còn như cha nuôi là Lý Khánh Văn và bà ngoại họ Phạm thì nên ưu đãi bằng cách phong tước vị, cho lập miếu thờ. Tiếc rằng các bề tôi lúc bấy giờ không ai biết tâu bày với vua những điều ấy, đến khi truy tôn cha làm vương, mẹ làm hậu mà không nói rõ cha đẻ hay cha nuôi. Nếu coi Hiển Khánh là hư vị thì là thất lễ và tự dối mình, nếu Hiển Khánh là Khánh Văn thì là thất lễ và nhảm nhí. Hai việc làm trái lễ đó ắt phạm phải một điều, có đáng bàn luận gì về sự tự ti mà còn đem so sánh với nhà Chu nhà Tống”.
            Xem tiếp đoạn sau, ghi các việc vào năm Canh Tuất, Ngô Thì Sĩ ghi:
Đoạn 2:“Mùa Xuân, tháng 2, vua về châu Cổ Pháp bái yết lăng Thái hậu, cho các bô lão trong làng tiền và lụa theo thứ bậc khác nhau (vua bái yết lăng, nhìn quanh cây cối xum xuê các bầy chim liệng quanh rồi đậu xuống, trong lòng cảm thấy thương xót, nghẹn ngào không tả xiết. Lòng thương xót cảm động đến cả người xung quanh. Vua liền sai hữu tư đến đó đo lấy vài chục dặm cạnh lăng để làm nơi đất cấm của Sơn Lăng, các triều vua sau đưa về táng ở xứ ấy, đều gọi là Thọ lăng)”.
            Rõ ràng, với tư cách là nhà làm sử, Ngô Thì Sĩ đã vấp sai lầm có hệ thống. Xét đoạn 2 trước: Sự kiện này, ĐVSKTT, bản năm 1715 chỉ ghi: “Mùa Xuân, tháng 2, xa giá về châu Cổ Pháp, ban tiền lụa cho các bô lão trong làng theo thứ bậc khác nhau”. Cả đoạn dài về sau (phần chữ trong ngoặc đơn) là do Ngô Thì Sĩ tự viết thêm. Như đã nói, CHÂU thì khác với HƯƠNG, THÔN. Lý Công Uẩn từ Hoa Lư về châu mình thì hoàn toàn có thể về một hương nào đó chứ không chỉ là hương Diên Uẩn hay hương Cổ Pháp. Theo chúng tôi, ông về hương Hoa Lâm vì lăng Thái hậu là ở đó. Phần viết trong ngoặc đơn, Ngô Thì Sĩ dựa vào đâu? Tác giả không dẫn tài liệu nhưng cách viết trữ tình là kiểu của truyền thuyết dân gian. Ông đã bỏ cái sở tín để chạy theo cái sở nghi. Việc này liên quan đến đoạn 1.
            Ở đoạn 1, với lời bàn của mình, ông dẫn sử kí (đúng); dẫn Tiêu Sơn tự kí, tác phẩm này chúng tôi chưa tìm thấy nhưng so với tấm bia Lý gia linh thạch đã khảo thì thống nhất về chi tiết. Tấm bia này có trước tác phẩm của ông 7 năm; dẫn Ngoại sử cũng chắc là ghi chép không chính thức, nằm ngoài sử kí. Từ việc tin vào những truyền thuyết không xác thực đó mà ông bàn về LỄ của Lý triều, ông bỏ qua gia tộc cường thịnh họ Lý mà chính ông cũng đã từng ghi. Ngô Thì Sĩ đã sai. Trích dẫn ông cần suy xét cẩn thận.
             Giá như Ngô Thì Sĩ đã đọc tấm bia Hoa Lâm Tam Bảo thị của người hơn ông 217 tuổi, viết khắc vào đá trước tác phẩm của ông 235 năm, đỗ đạt tương đương và chức vị thăng đến Thượng thư, thì ông sẽ không phải bàn luận lúng túng như trên nữa. Rõ là lăng miếu bố mẹ Lý Công Uẩn ở Hoa Lâm, châu Cổ Pháp, lăng bà ngoại Lý Công Uẩn (Ngoại tổ Thánh mẫu) ở Dương Lôi. Mọi việc trở nên sáng rõ, khỏi phải mất công bàn. Ứng xử của Lý Công Uẩn là hợp LỄ.
            Câu chuyện hẵng còn dài, đặc biệt là với những ghi chép của đời Tống, đời Nguyên, với cách giải mã những sấm kí mà Thiền uyển tập anh ghi lại. Chúng ta sẽ có lí giải sau nhưng câu chuyện quê hương của mẹ Lý Công Uẩn là ở Bắc Ninh có cơ hội đang ngày càng sáng rõ. Làng Dương Lôi và làng Hoa Lâm rất tự hào đã tạo nên một mối thông gia tầm cỡ DÂN TỘC, tầm cỡ LỊCH SỬ trong trang đầu quốc gia Đại Việt vĩnh tồn.

Nguồn:http://khoalichsu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=231:than-mu-ly-cong-un-la-ngi-bc-ninh-nguyn-hung-v&catid=25:bai-vit&Itemid=33 (http://khoalichsu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=231:than-mu-ly-cong-un-la-ngi-bc-ninh-nguyn-hung-v&catid=25:bai-vit&Itemid=33)


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Tám, 2012, 12:14:52 am
THÀNH THĂNG LONG THỜI LÝ - TRẦN - LÊ: ĐÔI LỜI BÀN THÊM
VỀ PHẠM VI, VỊ TRÍ CỦA HOÀNG THÀNH VÀ CUNG THÀNH

                                                                                                                      GS.TS Nguyễn Quang Ngọc
                                                                                                  Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội

Hình như do quá phấn khởi trước kết quả khai quật khảo cổ gần 20.000m2 ở khu dự định xây nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình mới ở 18 Hoàng Diệu mà nhiều người tin rằng vấn đề thành Thăng Long coi như đã được giải quyết thỏa đáng. Thành quả khai quật khu 18 Hoàng Diệu là quá lớn, thậm chí còn vượt ra ngoài cả tầm suy nghĩ và ao ước bấy lâu nay của cả giới khoa học ở trong và ngoài nước về một tòa thành Thăng Long cổ kính và huyền bí, hướng tới Kỷ niệm tròn một thiên niên kỷ tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là chúng ta đã biết tất cả. Chỉ có một câu hỏi hết sức cơ bản là phạm vi của Hoàng thành Thăng Long thời Lê tương đương với những vị trí cụ thể nào ở khu vực Hà Nội hiện nay thì cũng vẫn còn những quan niệm không giống nhau và chắc chắn còn phải nghiên cứu và thảo luận nhiều thêm nữa thì mới có câu trả lời thỏa đáng.
Khu khai quật 18 Hoàng Diệu nằm trong Hoàng thành Thăng Long thời Lê thì có lẽ không cần phải nói thêm nữa, nhưng nó nằm ở trung tâm Hoàng thành hay chỉ là khu vực phía Tây Hoàng thành như nhiều văn bản công bố lâu nay? Trong khu vực được coi là Hoàng thành Thăng Long, nói như PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ vào thời Lý - Trần không thể có khái niệm Hoàng thành, vậy thì tòa thành hiện hữu ấy phải được gọi là thành gì?. Chắc chắn ngay từ khi mới định đô, Lý Công Uẩn đã cho xây dựng hay cải tạo (hoặc vừa xây dựng vừa cải tạo) tòa thành Đại La của Cao Biền làm Thăng Long kinh thành, mở bốn cửa Tường Phù ở phía Đông, Quảng Phúc ở phía Tây, Đại Hưng ở phía Nam và Diệu Đức ở phía Bắc[1]. Vậy tòa thành Thăng Long kinh thành này có phải là tòa thành Thăng Long thời mới định đô không? Cũng vào đầu thời Lý sử còn chép đến các tòa thành như thành đất ở 4 mặt kinh thành Thăng Long (1014)[2], Đại Nội (1024, 1055, 1224)[3], Thăng Long thành[4], Long thành (1028)[5], Cấm thành (1028, 1029, 1213)[6], Đại La thành (1028, 1078)[7], mà sách Việt sử thông giám Cương mục cho rằng đấy cũng chính là thành Thăng Long[8], Phượng Thành (1049)[9]. Sang thời Trần sách chép nhiều đến Phượng thành, thậm chí còn xác định Phượng thành nằm trong thành Thăng Long[10] và đến năm 1243 có thêm thành Long Phượng[11]. Sang thời Lê đến năm 1463, xuất hiện tên Hoàng thành[12] và sau đó 4 năm, năm 1467, lại thấy sử chép đến việc đốc thúc xây Hoàng thành và ngừng việc xây Cung thành[13].
 Theo chúng tôi, muốn tìm hiểu về thành Thăng Long thì điều trước hết phải lý giải cho được chức năng của các tòa thành trên. Đại La thành trong một vài trường hợp cụ thể được gọi là thành Thăng Long, còn trong thực tế và trong quan niệm phổ biến thì chỉ là một tòa thành bao ngoài. Long thành có tài liệu chép là Cấm thành, nhưng cũng có tư liệu chép phân biệt nó với Cấm thành (Chẳng hạn ghi chép về sự biến năm 1028, trong một mạch văn, sử chép phân biệt Cấm thành và Long thành[14], nhưng chỉ ngay năm sau, năm 1029 sử lại chép tòa thành bao quanh các cung điện Càn Nguyên, Thiên An… là Long thành[15], có nghĩa là Cấm thành). Chúng tôi xin xếp riêng Đại La thành ra một bên, còn các tòa thành kể ra ở trên có mối quan hệ với nhau như thế nào, vấn đề không thể không tập trung giải quyết. Chẳng hạn Kinh thành Thăng Long gắn với sự kiện định đô được chép xây dựng được chép vào năm 1010 (nhưng thật ra năm 1010 Lý Thái Tổ chưa kịp xây dựng thành, mãi đến năm 1014 mới đắp thành đất ở 4 mặt kinh thành[16], nên sử chép kinh thành buổi đầu định đô vào năm 1010 và thành đất năm 1014 chỉ là một) với Đại Nội, Thăng Long thành liệu có được xem là cùng loại với Hoàng thành năm 1467 hay không?. Mối quan hệ giữa Cấm thành (năm 1028, 1029, 1213) với Phượng thành (1049), Long thành (1029), Long Phượng thành (1243) và cả Cung thành (1476) như thế nào?. Chúng tôi cho rằng trên đại thể có thể coi Kinh thành, Đại Nội, Thăng Long thành là các tên gọi và tên gọi trong các thời kỳ lịch sử khác nhau của Hoàng thành; còn Phượng thành, Long thành, Long Phượng thành, Cung thành, Cấm thành tuy có lúc mở rộng, có lúc thu hẹp nhưng đều là chỉ vòng thành ở phía trong Hoàng thành ngăn cách và bảo vệ khu trung tâm chính trị đầu não của vương triều. Thật ra giữa hai khu Hoàng thành và Cung thành không phải ngay từ đầu và cũng không hẳn bất cứ lúc nào cũng có sự ngăn cách rạch ròi, nhưng sự phân biệt này hiển nhiên và thiết nghĩ cũng không phải bàn thên nữa. Vấn đề đặt ra chỉ là phạm vi của Hoàng thành và Cung thành qua các thời kỳ là như thế nào và quan trọng hơn là khu vực chúng ta đang tiến hành khai quật khảo cổ ở 18 Hoàng Diệu là thuộc Hoàng thành hay Cung thành của các vương triều hay các thời kỳ lịch sử chúng ta quan tâm?. Để làm công việc này chúng tôi cho rằng công việc có ý nghĩa quan trọng đầu tiên là không thể không nghiên cứu, phân tích hệ thống bản đồ cổ về thành Thăng Long.

[1] Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,1993, Tập I, tr.141.
[2] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.244.
[3] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.247, 271; Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb. Khoa học xã hôi, Hà Nội, 1997, tr.311.
[4] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.241.
[5] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.248.
[6] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.248.
[7] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.251.
[8] Việt sử thông giám Cương mục, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1998, tập I, tr.303.
[9] Việt sử lược, Nxb. Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960, tr.89.
[10] Sách chép rõ “Thăng Long Phượng thành” (Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.12).
[11] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.19.
[12] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.399.
[13] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.430-432.
[14] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập I, tr.248.
[15] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập I, tr.254.
[16] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.244.

Còn tiếp...
 


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Tám, 2012, 12:16:48 am
tiếp....

Điều có thể dễ dàng nhận thấy là tất cả các thế hệ bản đồ thành Thăng Long đều vẽ Thăng Long thành là vòng thành ngoài, tương đối thuần nhất và khép kín, trong đó các cạnh phía Bắc và phía Tây đều bám sát hoặc nương theo dòng sông Tô Lịch. Các bản đồ như Hồng Đức bản đồ (A2499, VHt41), Toản tập Thiên Nam lộ đồ (A1081), Trung Đô đồ (A2351), An Nam hình thắng chi đồ (A3034), Thiên tải nhàn đàm (A2716, A2006), Trung Đô Thăng Long thành nhất phủ, nhị huyện đồ (A2716)… đều chú rất rõ vòng thành ngoài bám theo sông Tô Lịch là Thăng Long thành. Đặc biệt Thiên hạ bản đồ (A1362) lại vẽ hết sức giản lược, chỉ có một vòng thành tương đương với vòng thành ngoài chúng tôi vừa nói ở trên và chú chữ Thăng Long không phải ở cạnh sông Tô Lịch mà gần khu vực Thủ Lệ - Vạn Phúc. Vậy thì tất cả các bản đồ đều thống nhất xác định thành Thăng Long (hay Hoàng thành Thăng Long) thời Lê, hay chí ít là thời Lê - Trịnh bao lấy toàn bộ không chỉ khu vực thành nhà Nguyễn và một số phố phường xung quanh mà còn mở rộng ra toàn bộ khu vực Thập tam trại.
 Nghiên cứu các tấm bản đồ thành Thăng Long, bất cứ ai cũng có thể nhận ra một tòa thành nhỏ, hình chữ nhật nằm ở bên trong và lệch hẳn về cạnh phía Đông Hoàng thành. Tòa thành ở phía Đông rất gần Đông Môn hay Đông Hoa Môn của Hoàng thành; cửa Nam là Đoan Môn; cửa Tây là Tây Môn (hơi thiên về góc phía Tây Bắc, cạnh đường Hoàng thành và nhìn ra chùa Khán Sơn). Trong thành có các địa danh Kính Thiên (điện), Vạn Thọ (điện), Càn Thọ (điện), Chí Kính (điện), Thị Triều (điện), Triều Nguyên, Đông Cung… và được chia ra thành các ô nhỏ. Hoàn toàn có thể khẳng định đây là Cung thành hay Cấm thành. Cũng có đủ cơ sở để tin rằng đây còn được gọi là Phượng thành hay Long Phượng thành (thậm chí cả Long thành nữa). Phạm vi của tòa thành này có thể xác định được tương đối chính xác với cạnh Đông là cửa Long Môn, ở bên trong của Đông Hoa, cách không xa Hoàng thành phía Đông; cạnh Nam được giới hạn bởi Đoan Môn; cạnh Bắc gần sát Hoàng thành phía Bắc và đương nhiên cũng gần sông Tô Lịch; còn cạnh Tây nằm ở bên trong chùa Khán Sơn, gần vườn Tây Cấm (khu vực chùa Một Cột ngày nay), tức là chưa tới đường Hùng Vương. Tòa thành lâu nay được nhiều người quan niệm là Hoàng thành, nhưng tư liệu bản đồ và tư liệu thư tịch cổ xác nhận đây là tòa thành nằm trong Hoàng thành, Cung thành, Long Phượng thành hay Phượng thành là tùy từng thời kỳ và hoàn cảnh cụ thể. Vì quan niệm như vậy nên chúng tôi cho rằng khu di tích khảo cổ học chúng ta đang khai quật ở 18 Hoàng Diệu nằm gọn ở bên trong Cung thành hay Cấm thành. Đương nhiên một khu di tích đã nằm trong Cấm thành thì cũng có nghĩa là nó nằm trong Hoàng thành, nhưng chắc chắn phải là trung tâm của Hoàng thành, chứ không thể gọi là phía Tây Hoàng thành như nhiều nhà nghiên cứu xác định lâu nay. Kết quả khai quật khảo cổ học với sự phát lộ của những công trình kiến trúc đồ sộ, bộ sưu tập hiện vật hết sức phong phú, độc đáo, nhất là một tập hợp các đồ ngự dụng là cơ sở xác thực xác nhận khu vực khai quật 18 Hoàng Diệu nằm trong Cung thành hay Cấm thành Thăng Long các thời Lý, Trần, Lê.
Đây là vấn đề tưởng như hết sức gay cấn[17], nhưng thật ra đã được các nhà địa lý học lịch sử đời Nguyễn nghiên cứu kỹ lưỡng, đưa ra những kiến giải khá thống nhất và theo chúng tôi là có sức thuyết phục. Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799 - 1872), người Hà Nội gốc trong sách Đại Việt địa dư toàn biên từng chỉ rõ: “Căn cứ vào bản đồ thành Thăng Long đời Hồng Đức, thì thành này hình như thước thợ mộc. Ba mặt Đông, Nam, Bắc vuông vắn, mặt Tây và Nam dài bằng một nửa. Cửa Đông bắt đầu từ thôn Đức Môn (trước là thôn Đông Môn) tổng Đồng Môn theo hướng Bắc đến sông Tô Lịch đi bờ bên Tả qua cửa Bắc về phía Tây đối với phường Nhật Chiêu, theo về phía Nam là cửa Bảo Khánh, theo hướng Nam đến phía trước bên Hữu Văn Miếu, lại đến phía sau qua sang bên Tả là Cửa Nam, đi thẳng về phía Đông. Đấy là dấu cũ thành Thăng Long. Ở giữa là Cung thành, trong cửa Cung thành là Đoan Môn. Trong Đoan Môn là điện Thị Triều, trong điện Thị Triều là điện Kính Thiên. Bên hữu điện Kính Thiên là điện Chí Kính, bên Tả là điện Vạn Thọ. Bên Hữu Đoan Môn là Tây Trường An, bên Tả là Đông Trường An. Trong có suối Ngọc. Ngoài Cung thành là Hoàng thành. Về bên Đông phía trước là Thái Miếu, phía sau là Đông Cung. Bên Tây qua núi Khán Sơn là điện Giảng Võ. Lại về phía Tây là đền thờ Linh Lang. Trường thi hội đều ở đấy. Hoàng thành, Cung thành đều xây bằng gạch”[18].
Tư liệu thư tịch và tư liệu khảo cổ học cũng góp phần xác định thêm là khu vực Cung thành, Cấm thành hay Phượng thành Thăng Long suốt thời Lý - Trần cho đến Lê hầu như không có sự thay đổi thật đáng kể. Chỉ có vào năm 1490 vua Lê Thánh Tông cho đắp rộng thêm Phượng thành, mở rộng 8 dặm ra phía ngoài trường Đấu Võ[19]. Tấm bia Trùng tu Huy Văn điện Dục Khánh tự bi do Dương Bá Cung soạn năm Tự Đức thứ 17 (1864) đặt ở chùa Huy Văn cho biết khu vực Ngọc Hà hiện nay là chỗ luyện tập võ nghệ xưa (Ngọc Hà diễn xứ cố võ)[20]. Vua Lê Thánh Tông thuở sinh thời thường lên Khán Đài trên núi Khán Sơn để xem diễn võ nên mới có tên núi và tên chùa Khán Sơn. Khán Sơn nằm ở khu vực đường Hùng Vương, trước cổng Phủ Chủ tịch hiện nay thì trước năm 1490, Phượng thành nằm ở phía trong đường Hùng Vương, còn sau năm 1490 Phượng thành mới được mở rộng về phía Tây (có nghĩa là sau năm 1490 Phượng thành đã được mở rộng ra phía ngoài đường Hùng Vương). Phượng thành năm 1490 được mở rộng đến đâu và như thế nào cũng còn là vấn đề cần phải tiếp tục nghiên cứu. Tuy nhiên cũng có thể tin như những giải thích gần đây của một số chuyên gia nghiên cứu về Hà Nội rằng “đoạn tường thành mới đắp thêm (dang dở hoặc đã hoàn thành) nối Phượng thành với thành Thăng Long về phía Tây, có lẽ đã thể hiện sự mở rộng này”[21]. Đấy là đoạn thành (hay một hệ thống gò) chạy từ Thủ Lệ cho đến Kim Mã. Nếu giả thiết này đúng và tấm bản đồ Thiên hạ bản đồ (A1362) chú thích đấy là thành Thăng Long là chính xác, thì cũng có thể tin là đoạn thành này chỉ là cải tạo đoạn thành đã có từ thời Lý - Trần, vì sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết khá cụ thể rằng việc Lê Thánh Tông cho mở rộng Phượng thành là dựa theo quy mô thời Lý - Trần (Quảng trúc Phượng thành nhân Lý Trần chi chế dã)[22]. Nhiều tư liệu khác cũng cho phép dự đoán thành Thăng Long thời Lý - Trần chỉ chạy đến khu vực này mà không bao gồm cả Giảng Võ, Ngọc Khánh.

[17] Vì gần đây có quá nhiều ý kiến xung quanh vấn đề phạm vi và vị trí của Hoàng thành Thăng Long.
[18] Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, Đại Việt địa dư toàn biên, Viện Sử học và Nxb. Văn hóa, Hà Nội, 1997, tr.177-178. Sách Đại Nam nhất thống chí và nhiều bộ sách lịch sử thời Nguyễn cũng đồng quan niệm về tòa thành Thăng Long với Phương Đình Nguyễn Văn Siêu.
[19] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.508.
[20] Tuyển tập văn bia Hà Nội, Quyển II, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978, tr.10.
[21] Nguyễn Thừa Hỷ, Về phức hợp thành Thăng Long, Bài viết tham gia nghiên cứu thành Thăng Long, 2004. PGS.TS Đỗ Văn Ninh cũng có kiến giải tương tự PGS.TS Nguyễn Thừa Hỷ về đoạn thành này.
[22] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.508.

Còn tiếp...


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Tám, 2012, 12:18:58 am
tiếp...

Điều cần phải giải thích rõ là kể từ sau năm 1490, tuy Phượng thành được mở rộng về phía Tây nhưng trung tâm chính trị của triều đình Lê Thánh Tông hầu như vẫn không có sự chuyển dịch. Tại khu vực mới được mở rộng Lê Thánh Tông cho xây thêm điện Danh Bảo (hay Thạch Thất) và lập vườn Thượng Lâm phục vụ cho nhu cầu ăn chơi, thưởng ngoạn. Việc mở rộng thêm Phượng thành của Lê Thánh Tông đã được sử sách chép rất rõ, hoàn toàn không phải là để chuyển trung tâm chính trị sang đấy mà chủ yếu là quy gọn lại trường Đấu Võ vào khu vực Giảng Võ hiện nay và tạo ra một khu đệm, bảo vệ an toàn cho khu trung tâm chính trị đầu não của vương triều. Hình như thế cho nên khu này không được tập trung xây dựng và bước sang đầu thế kỷ XVI, chế độ Trung ương tập quyền của nhà Lê nghiêng ngả và sụp đổ, thì khu vực này lại càng ít được quan tâm hơn. Có lẽ vì lý do này mà phía Tây Phượng thành mặc dù có mấy chục năm được tích hợp vào Phượng thành mà không để lại được dấu ấn gì đáng kể.
Cũng không thể không quan tâm đến sự kiện vào năm 1514 - 1416 vua Lê Tương Dực cho “đắp thành rộng lớn mấy ngàn trượng, bao quanh điện Tường Quang, quán Trấn Vũ chùa Thiên Hoa ở phường Kim Cổ; từ phía Đông đến phía Tây Bắc, chắn ngang sông Tô Lịch, trên đắp Hoàng thành dưới làm cửa cống, dùng ngói vỡ và đất đá nện xuống, lấy đá phiến và gạch vuông xây lên, lấy sắt xuyên ngang”[23]. Đoạn thành này nằm phía ngoài sông Tô Lịch mà dấu tích còn lại là các đường Thụy Khê, Quán Thánh… Sự kiện này xác định rõ phạm vi và vị trí của Hoàng thành Thăng Long trước năm 1514, mà nó cũng đồng thời là cái mốc đánh dấu sự tàn lụi của Hoàng thành Thăng Long. Cũng ngay trong năm Hoàng thành vừa được đắp mới thì vua Lê Tương Dực bị giết chết, Trần Cảo chiếm kinh thành, triều đình biến loạn triền miên và Mạc Đăng Dung đã lợi dụng cơ hội đó phế bỏ nhà Lê lập ra nhà Mạc. Chế độ Trung ương tập quyền sụp đổ, hỗn chiến phong kiến triền miên… Thành Thăng Long vì thế mà ngày một điêu tàn.
Hoàng thành Thăng Long kể cả từ thời Lý, Trần cho đến Lê đều được chia thành hai khu tương đối độc lập là khu Chính trị và khu Quân sự. Khu Chính trị là khu đặc biệt quan trọng của triều đình được bảo vệ nghiêm ngặt và mức độ nghiêm ngặt càng ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của chế độ Trung ương tập quyền. Khu Quân sự đương nhiên phải lấy các hoạt động học hành, luyện tập, thao diễn quân sự của quân đội là chính, nhưng cũng có các cung điện, lầu gác, hành cung, chùa quán, vườn Thượng uyển, danh lam thắng cảnh, kho tàng của nhà nước… phục vụ cho các hoạt động văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, thưởng ngoạn của hoàng đế, hoàng gia và triều đình. Trong khu này chắc chắn có các dinh thự của quan lại, có khu gia binh, thậm chí có cả khu vực sinh sống và sản xuất của những người làm việc và phục dịch trong kinh thành. Tài liệu thư tịch nói đến những phường phố hay tài liệu khảo cổ học, tư liệu điều tra điền dã xác nhận có không ít những dấu tích của cuộc sống và sinh hoạt bình dân trong khu vực Hoàng thành phía Tây cũng không phải là điều khó hiểu. Đó là chưa nói đến tình trạng khu vực này bị bỏ hoang phế từ lâu và cũng từ rất sớm đã bị gạt hẳn ra khỏi vùng Hoàng thành.
Công việc khảo sát thực địa của chúng tôi được triển khai trên cơ sở những phân tích và đoán định này và may thay kết quả khảo sát không những không mâu thuẫn mà lại hoàn toàn thống nhất, đã làm rõ ràng hơn, cụ thể hơn về vị trí, diện mạo của một vùng Hoàng thành và Cung thành Thăng Long trong lịch sử[24].
Như vậy, trong quá trình hình thành và phát triển, các nhà thiết kế và thi công tòa thành Thăng Long dần dần cũng hướng tới mô hình “tam trùng thành quách”, nhưng hoàn toàn không phải là sự sao chép hay rập khuôn theo nguyên mẫu của Trung Quốc, mà là sự tận dụng, thích ứng và nương theo địa hình gò bãi, sông nước, đầm hồ của vũng ngã ba Nhị Hà - Tô Lịch. Mục đích nhất quán của Lý Thái Tổ và các vương triều Lý, Trần, Lê là tạo dựng kinh thành tầm thế, thoáng rộng, đủ làm chỗ ở của đế vương giữa trung tâm đất nước, làm nơi “thượng đô kinh sư mãi muôn đời”. Kiến trúc của Hoàng thành Thăng Long không chỉ là vòng thành bao lấy Cung thành, tạo độ nghiêm cẩn và bảo vệ cho Cung thành ở bên trong, mà Hoàng thành còn bao lấy cả các khu luyện quân, giảng võ, khu đền, đài, cung, quán, kho tàng, khu vườn Thượng uyển với các danh lam thắng cảnh phục vụ nhu cầu văn hóa, tín ngưỡng cung đình. Hoàng thành Thăng Long vì thế cần phải được nhìn nhận một cách thực tế và linh hoạt, không nên gò bó theo mô hình “tam trùng thành quách” một cách cứng nhắc hay quy về các mẫu tiêu biểu như thành Bắc Kinh thời nhà Minh ở Trung Quốc hay thành Huế thời Nguyễn ở Việt Nam. Nghiên cứu thành Thăng Long, theo chúng tôi không thể không nhận diện một cách rõ ràng hai khu vực Hoàng thành và Cung thành với những chức năng cụ thể của chúng, trong đó khu vực Cung thành bao giờ cũng là trung tâm chính trị đầu não quan trọng nhất. Cung thành Thăng Long thời Lý, Trần, Lê tuy cũng có mở rộng hay thu hẹp qua từng thời kỳ, nhưng về cơ bản vẫn là thành nhà Nguyễn sau này. Có thể nói là thành Hà Nội thời Nguyễn được xây dựng trên khu vực Cung thành hay Cấm thành, Long thành, Phượng thành, Long Phượng thành các thời Lý - Trần - Lê. Vì thế khu vực 18 Hoàng Diệu mà chúng ta đang tiến hành khai quật khảo cổ học không phải là khu vực phía Tây Hoàng thành như một số tài liệu đã công bố, mà chính là Cung thành/Cấm thành, hay có thể nói cụ thể hơn là khu vực phía Tây ở bên trong Cung thành/Cấm thành. Đấy là khu vực không thể không giữ bằng mọi giá.

[23] Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, Tập II, tr.79.
[24] Xin tham khảo các bài viết của Nguyễn Ngọc Phúc, Phạm Đức Anh (về khu vực phía Tây), Tống Văn Lợi, Hà Duy Biển (về khu vực phía Nam), Vũ Đường Luân (về khu vực phía Đông) và Nguyễn Thị Bình (về khu vực phía Bắc) đã trình bày trong Hội thảo tổ chức tại Viện Khảo cổ học các ngày 27 và 28 tháng 7 năm 2004.
 
Bài in trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2/2005, tr.10-15.
 


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Tám, 2012, 12:31:55 am
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO PHẬT ĐỐI VỚI CHÍNH TRỊ TRIỀU LÝ

                                                                                                                               Trần Xuân Trí
                                                                                                                               Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Đặt vấn đề

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng. Do đó nó có tác động  tới nhiều  lĩnh vực của đời sống xã hội  từ kinh  tế, chính  trị, văn hóa giáo dục, đạo đức,  lối  sống,  tư  tưởng  tình cảm của cộng đồng quốc gia dân  tộc. Đạo Phật không nằm ngoài quy  luật đó. Xuất  thế  tới Việt Nam, Phật giáo đã  trở  thành một đạo nhập  thế và  có  ảnh  hưởng  sâu  sắc  tới mọi mặt  của  đời  sống  xã  hội  trong  đó  có  chính  trị. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng đó  tùy  thuộc vào  từng giai đoạn  lịch sử nhất định, phụ  thuộc vào các chính sách của giai cấp cầm quyền.

Lịch sử dân tộc trong giai đoạn Lý – Trần là thời kì phát triển rực rỡ, thời kì”hoàng kim” của đạo Phật đặc biệt là vương triều Lý. Đây cũng là giai đoạn Đại Việt có bước phát triển vượt bậc so với giai đoạn trước đó về kinh tế, quân sự, chính trị và văn hóa xã hội. Đạo Phật có mối quan hệ gì đối với sự phát triển đó của vương triều Lý? Đây là một vấn đề khoa học đầy lí thú song cũng rất phức tạp đòi hỏi chúng ta cần nghiên cứu một cách nghiêm túc.  Trong phạm vi báo cáo này chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu những ảnh hưởng của đạo Phật đối với đường  lối nội  trị, ngoại giao,  tổ chức chính quyền và  luật pháp của  triều Lý. Kiến giải được những vấn đề nêu trên phần nào lý giải được mối quan hệ giữa tôn giáo nói chung, đạo Phật nói riêng với chính trị. Đồng thời qua đó đánh giá một cách đúng đắn vai trò của đạo Phật đối với sự hưng thịnh của triều Lý và sự phát triển của lịch sử dân tộc.

Nội dung

1. Quá trình truyền bá, phát triển đạo Phật ở Việt Nam

Đạo Phật ra đời vào khoảng thế kỉ VI trước công nguyên tại Ấn Độ. Ngay từ khi ra đời, đạo Phật đã  trở  thành nhưu cầu  tinh  thần của nhân dân để chống  lại chế độ phân biệt đẳng  cấp khắc nghiệt  trong xã hội Ấn Độ. Chính vì  thế  trong  giáo  lý  của  đạo Phật  chứa đựng những quan điểm nhân sinh quan rất tiến bộ đặc biệt là tư tưởng hướng thiện,“từ bi hỉ xả” cứu vớt con người ra khỏi mọi khổ đau. “Trước kia và ngày nay ta chỉ nêu ra và lí giải về nỗi khổ đau… cũng như nước đại dương chỉ có một vị mặn. học thuyết của ta chỉ có một  mục đích là cứu vớt” [12; 60]. Những quan điểm giáo lí của đạo Phật được đông đảo quần chúng ủng hộ và  tin  theo. Đến  thế kỉ III  trước công nguyên, đạo Phật  trở  thành quốc giáo của Ấn Độ. Sau đó phật giáo nhanh chóng được truyền bá sang các nước châu Á trong đó có Việt Nam thông qua các tăng đoàn và các thương thuyền người Ấn.

Đạo Phật được truyền bá vào nước ta từ rất sớm theo hai con đường; từ Trung Quốc xuống và  từ Ấn Độ sang “Vốn dĩ  từ  rất sớm Phật giáo đã cắm dễ vào mảnh đất này. Vào mấy chục năm đầu của thế kỉ thứ nhất, đã có dấu vết của nó rồi. Nó đến đây bằng nhiều con đường; con đường bộ  từ Bắc xuống, con đường  thủy  từ Tây sang” [ 6; 589]. Hoàng Xuân Hãn trong Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và Tông pháp triều Lý có dẫn ra câu chuyện hoàng hậu Linh Nhân (Ỷ Lan) với nhà sư Trí Không: Thái hậu hỏi “Phật ở phương nào? Tổ ở  thành nào? Đạo  tới xứ  ta  từ đời nào?  truyền  thụ Đạo ấy ai  trước, ai  sau?”.   Nhà  sư Trí Không  trả  lời “Phật và Tổ  là một, Phật  truyền Đạo cho Ca Diệp, về đời Hán có Ma Đằng đem đạo vào Trung Quốc. Đạt Ma truyền vào Lương, Ngụy. Đạo rất thịnh khi dòng Thiên Thai được thành lập dòng ấy gọi  là Giao Tông. Sau lại có thêm dòng Tào Khê tức là dòng Thiền Tông hai dòng ấy vào nước ta đã lâu năm”. Những chứng cứ nêu trên cùng với việc giai đoạn này Âu Lạc đã bị Triệu Đà xâm  luợc và thống trị tiếp đó là nhà Hán thì việc đạo Phật theo gót kẻ xâm lược vào nước ta hồi đầu công nguyên là có thể tin cậy.

Cùng với nhiều hiện vật là những đồng tiền bằng Bạc của người Tây Vực mà các nhà khảo cổ học đã phát hiện  tại Việt Nam và câu chuyện chùa Pháp Vân ở Luy Lâu  ( Thuận Thành – Bắc Ninh) có nhắc  tới hai vị sư người Ấn Độ  là Kì Vực và Khâu Đà La  là những chứng cứ cho chúng ta phỏng đoán đạo Phật còn được truyền bá vào nước ta từ Ấn Độ.

Với tinh thần dung hợp và khai phóng, cùng với những quan điểm, tư tưởng gần gũi  với  truyền  thống  của người Việt  nên  đạo Phật  nhanh  chóng  phát  triển  và  có  ảnh hưởng lớn tới đời sống xã hội ở nước ta, số lượng người theo đạo Phật ngày càng đông “Đất Giao Châu ngày nay dân  chúng  rất  tôn  sùng Phật giáo,  lại  có nhiều vị  cao  tăng giáo hóa, bốn phương thấy vậy đều quy y” [ 14; 133].

Từ  thế kỉ X đến  thế kỉ XIV, đạo Phật phát  triển mạnh mẽ, và  trở  thành quốc giáo. Trong dân gian đến quá nửa là sư sãi, các vua Lý đều là những người sùng đạo Phật chính vì thế đạo Phật ngày càng ăn sâu, bén dễ vào mọi mặt của đời sống xã hội, phạm vi ảnh hưởng của nó ngày càng sâu rộng trong đó có chính trị.

Trong những thế kỉ XV – XVIII, ở nước ta có sự chuyển giao trên lĩnh vực tư tưởng, tôn giáo: Nho giáo vươn lên thành hệ tưởng độc tôn của giai cấp thống trị, Phật giáo chỉ giữ một vị trí rất khiêm tốn trong đời sống xã hội.

Từ thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, là thời kì đạo Phật hưng thịnh trở lại, nhiều chùa, tháp được tu bổ và xây dựng mới.

Trong những năm 1954 – 1975, các  tăng ni, Phật  tử  tích cực  tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước.

Từ năm 1975 tới nay, đất nước được thống nhất, đạo Phật ngày càng có vai trò quan trọng  trong công cuộc xây dựng và bảo vệ  tổ quốc. Các nhà sư,  tăng ni, phật  tử  luôn sống “tốt đời đẹp đạo” góp phần to lớn vào giải quyết các vấn đề xã hội.

Còn tiếp...


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Tám, 2012, 12:33:34 am
tiếp...
2. Ảnh hưởng của đạo Phật đối với chính trị triều Lý

2.1. Khái quát về vương triều Lý

Cuối  triều  tiền Lê, Lê Long Đĩnh hoang dâm, hung  tàn và bạo ngược  làm cho  lòng người vô cùng oán hận. Năm 1009, Lê Long Đĩnh chết. Thế lực nhà chùa đã đưa Lý Công Uẩn lên làm vua lập ra vương triều Lý.

Vương triều Lý tồn tại từ năm 1009 đến năm 1225. Trải qua hơn hai trăm năm tồn tại với chín vị vua  trị vì,  triều Lý đã  tăng cường củng cố chế độ  trung ương  tập quyền, phát triển kinh tế, văn hóa, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Năm 1010, Lý Công Uẩn quyết định dời đô  từ Hoa Lư về  thành Đại La. Đây  là việc  làm đầu  tiên có ý nghĩa quan  trọng nhằm củng cố vị thế của một quốc gia độc lập. Hệ thống chính quyền được củng cố từ trung ương đến địa phương. Năm 1042, triều Lý ban hành bộ luật hình thư. Đây  là bộ  luật  thành văn đầu tiên của nước ta. Năm 1075, triều Lý mở khoa thi đầu tiên để tuyển chọn nhân tài. Quân  đội  nhà Lý  được  phiên  chế  quy  củ,  kỉ  luật  nghiêm minh  đặc  biệt nhà  lý  thực hiện chính sách”ngụ binh ư nông” kết hợp giữa kinh  tế và quân sự  theo  tinh  thần”tĩnh vi nông, động vi binh”.

Để thúc đẩy nền kinh tế phát triển triển triều Lý đã có chính sách bảo vệ sức kéo, xây dựng nhiều công trình thủy lợi, mở mang buôn bán… làm cho nông nghiệp, thương nghiệp và thủ công nghiệp thời Lý tương đối phát triển.

Triều Lý hết sức quan  tâm  tới phát  triển văn hóa, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc ổn định xã hội. Dưới triều Lý cả đạo Phật, Nho giáo và Đạo giáo đều cùng tồn tại và phát triển không hề có sung đột tôn giáo”tam giáo đồng nguyên”. Tuy nhiên, đạo Phật được các vua Lý  tôn  sùng và có những chính  sách ưu ái  tạo điều kiện cho  đạo Phật phát triển mạnh mẽ.Do đó Phật giáo  trở  thành  tư  tưởng chính  thống quốc gia chi phối mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có chính trị.

2.2. Ảnh hưởng của đạo Phật đối với chính trị vương triều Lý

Tổ chức chính quyền

Đến thế XI, cùng với quá trình đánh bại các thế lực ngoại xâm giữ vững nền độc lập dân tộc, mở rộng lãnh thổ, dân số gia tăng, kinh tế, văn hóa phát triển thì một bộ máy chính quyền cũng được xây dựng  từ  trung ương  tới địa phương. Bên cạnh những ảnh hưởng do quá trình tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, ý thức tự tôn dân tộc thì đạo Phật đã để lại một dấu ấn khá đậm nét trong việc tổ chức bộ máy chính quyền của triều Lý.

Đứng đầu nhà nước là vua. Vua là thủ lĩnh tối cao,  lãnh đạo và điều hành mọi công việc của đất nước. Đôi khi vua được  thần  thánh hóa,  là người chủ  tế  trong các nghi  lễ  tôn giáo. Dưới triều Lý các ông vua đều tôn sùng đạo Phật do đó đã có ông vua tự xưng mình là Phật như  trường hợp của Lý Cao Tông  (1176  – 1210). Giúp việc cho vua  là một hệ  thống quan lại gồm Tam thái, Tam thiếu, Tể tướng, Á tướng… Đặc biệt trong bộ máy chính quyền trung ương của triều Lý có một nghạch quan dành riêng cho những người tu hành gọi là hệ thống Tăng quan. Đứng đầu hệ  thống Tăng quan  là Tăng Thống. Tăng Thống  là một chức sắc của đạo Phật  ,  là người đứng đầu  tăng ni cả nước. Dưới  là Tăng Lục, ngoài  ra còn có Tăng Ty giác nghĩa, Tăng  đạo  chánh, phó Tăng  đạo  chánh đều chật  tòng  cửu phẩm. Các Tăng quan và nhà sư có tài được nhà vua rất trọng dụng và có vai trò lớn trong việc ban bố các chính sách của nhà nước. Nhiều khi họ được trực tiếp tham gia bàn chính trị với nhà vua và bá quan văn võ trong triều. Các vị sư Đa Bảo, Viên Thông, Nguyên Thường… nhiều lần được Lý Thái Tổ (1010 – 1028) mời vào cung để luận bàn việc nước. Một số nhà sư có công lao đối với đất nước được nhà vua phong  làm Quốc sư như Quốc sư Viên Thông, (1080  – 1151), Quốc sư Thông Biện ( ? – 1134)… các Tăng quan được ví như những cố vấn chính trị đặc biệt của nhà vua.

Sự có mặt của các nhà sư trong bộ máy chính quyền triều Lý ở trung ương, việc trực tiếp tham gia vào guồng máy chính quyền nhà nước hiện rõ nét ảnh hưởng của đạo Phật đối với tổ chức chính quyền của triều Lý.

Tinh thần nhân ái, khoan dung trong luật pháp.

Trước  triều Lý Việt Nam chưa có  luật pháp  thành văn. Triều Đinh, Tiền Lê  thường nuôi hổ, đặt vạc dầu để ngăn đe, xử phạt những ai vi phạm những quy định của nhà nước.

Triều Lý được  thành  lập, kinh  tế, văn hóa, xã hội có sự chuyển biến mạnh mẽ hơn trước, nhiều vấn đề xã hội nảy sinh. Để quản lý đất nước, điều chỉnh hành vi của dân chúng, củng cố hơn nữa chế độ quân chủ trung ương năm 1042 vua Lý Thái Tông cho ban hành bộ Hình thư – bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.

Nếu như triều Đinh, Tiền Lê luật Pháp có phần dã man “người nào trái phép sẽ bị chịu tội bỏ vạc dầu nấu hay cho hổ ăn” [2;148] thì luật pháp triều Lý lại chứa đựng tinh thần nhân ái, khoan dung mang dấu ấn của tư tưởng” từ bi hỉ xả” của đạo Phật. Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép “Trước kia,  trong nước việc kiện  tụng phiền nhiễu, quan giữ việc hình câu nệ  luật văn, cốt làm khắc nghiệt, thậm chí bị oan uổng. Vua lấy làm thương xót sai trung thư sửa định luật  lệnh châm  trước cho  thích dụng với thời bây giờ, chia ra môn  loại, biên ra nhiều khoản làm sách hình  luật của một  triều đại”[ 1;206]. Chính “lòng  thương xót” của vua Lý đối với dân chúng đã chi phối nội dung  luật pháp của nhà nước,  lòng  thương xót ấy  là sự dung hợp giữa truyền thống của dân tộc Việt Nam với tư tưởng nhân ái, cứu khổ của đạo Phật.

Đối với những người vi phạm vào các quy định của nhà nước vua Lý thường lấy lòng khoan dung mà  tha  thứ. Năm 1028, Lý Thái Tông  lên ngôi đã  tha  tội  làm phản cho Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương  và Vũ Đức Vương. Năm  1043, Nùng Trí Cao  ở Châu Quảng Nguyên làm phản, sau khi bắt được Trí Cao vua không những tha tội mà còn ban cho đô ấn, phong làm Thái bảo và ban cho mấy châu,q. Đối với tội giết người pháp luật triều Lý quy định tranh nhau ruộng đất mà lấy đồ khí nhọn sắc đánh chết hoặc làm bị thương người khác  thì bị đánh 80  trượng và chịu đày. Giết người,  làm phản  là những  trọng  tội, các  triều đại sau này  liệt nó vào những tội “thập ác” thế nhưng với tinh thần thương dân, lòng nhân ái, khoan dung các vua Lý đã xử phạt rất nhẹ. Sử thần triều Lê Ngô Sĩ Liên đánh giá “Giết người thì phải xử tội chết đó là phép của đời xưa, nay tội giết người cũng xử như tội khác thật là không phân biệt mức độ, mất sự cân nhắc nặng nhẹ” [1;333]. Từ đó Ngô sĩ Liên chỉ ra nguyên nhân “Đó là vì Thái Tông say đắm cái lòng nhân nhỏ nhặt của nhà Phật mà quên mất cái nghĩa lớn của người làm vua” [ 1; 273].

Luật pháp triều Lý đặc biệt chú ý tới người già, trẻ nhỏ, coi trọng công tác giáo dục, ngăn ngừa. Pháp luật triều Lý quy định những người trong độ tuổi từ 70 đến 80, trẻ nhỏ từ 15 đến 10 tuổi nếu phạm tội thì cho phép dùng tiền để chuộc tội. Trong xét xử các vua Lý thường khoan dung, lấy giáo dục làm chính. Có lần khi đang xét xử vua Lý Thánh Tông chỉ vào công chúa Động Thiên mà nói “Ta yêu con  ta cũng như  lòng  ta  làm cha mẹ dân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót. Từ nay về sau không kể tội gì nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giảm” [1; 273].

Thương  dân  không  chỉ  bằng  việc  khoan  dung  đối  với  những  người  phạm  tội,  luật pháp triều Lý còn có những quy định rất cụ thể để bảo vệ sức kéo trong nông nghiệp, bảo vệ người  lao động như việc cấm giết mổ, ăn  trộm  trâu, bò, cấm không được buôn bán hoàng nam làm gia nô hay thiến, hoạn nam giới…

Luật pháp  là công cụ của giai cấp thống trị để bảo vệ trước hết là quyền  lợi của họ. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của đạo Phật, luật pháp triều Lý chứa đựng những nhân tố rất tiến bộ trong đó nổi bật  là tinh thần nhân ái, khoan dung đối với nhân dân, bảo vệ, chăm  lo tới cuộc sống của dân.

Còn tiếp...


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Tám, 2012, 12:36:29 am
tiếp...

“Yêu dân như con” là đạo trị nước của triều Lý.

Tư tưởng nhân ái, từ bi của đạo Phật hòa quyện với truyền thống”thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam đã tạo nên cái tâm trị nước của triều Lý.

Các vua Lý có quan hệ gần gũi với nhân dân, coi trăm họ trong bốn biển như con đỏ, chăm lo tới cuộc sống của dân, xót xa khi thấy dân khổ, vỗ về khi lòng dân không yên. Các vua Lý đều có lệ thân chinh đi làm lễ cày ruộng tịch điền, xem dân chúng sản xuất, kinh lý nắm bắt tình hình cuộc sống của dân. Trong những năm lũ  lụt, hạn hán mất mùa nhà nước đều thực hiện cấp thóc gạo, tiền, lụa, giảm, xóa thuế cho dân chúng. Năm 1010, sau khi lên ngôi Lý Thái Tổ đại xá thuế khóa cho thiên hạ trong ba năm, những người già yếu, mồ côi, góa chồng thì được xóa thuế nợ…

Dường như  lòng nhân ái của các vua quan  triều Lý đã vượt  ra khỏi danh giới giai cấp, địa vị xã hội, vượt qua không gian, xuyên suốt thời gian tồn tại của vương triều. Thật cảm động khi Lý Thánh Tông thương xót và đồng cảm với nỗi khổ của những tù nhân trong mùa đông  lạnh giá “Mùa đông năm Ất Mùi 1055,  trời giá  rét Lý Thánh Tông nói với các quan rằng ta ở trong cung kín, sưởi lò than, khoác áo lông mà còn rét như thế này. Ta nghĩ đến  tù nhân bị nhốt  trong  lao  tù, chịu  trói buộc khổ  sở, mà chưa biết phải  trái  ra  sao. Ăn không đầy bụng, mặc chẳng che  thân. Vì gió rét, nên có kẻ chết không nơi nương  tựa. Ta thật  thấy  làm  thương” [6; 364]. Ngay sau đó vua sai người mang chăn, chiếu cùng với hai bữa cơm mỗi ngày cho phạm nhân. Vua Lý Nhân Tông thường hay mở hội Phật và tha cho những người có tội, còn Lý Thần Tông thì không có việc gì cũng tha bổng cho những người mắc tội… Lòng nhân ái, thương người của các vua Lý không chỉ đối với nhân dân Đại Việt mà còn cả với những  tù binh Chiêm Thành. Năm 1010, Lý Thái Tổ đã  tha cho 28 người Chiêm Thành bị Lê Ngọa Triều bắt  trước đó. Không những Thế vua Lý còn sai người cấp thuốc men, quần áo, lương thực để họ trở về quê hương.

Tư tưởng”yêu dân như con” trong đạo trị nước của triều Lý không phải là sự giả dối của giai cấp cầm quyền mà là”phần biểu diễn của lòng từ bi do Phật giáo gây nên”[6; 365].

Tuy nhiên, cần phải nói rằng đây là một trong những chính sách của nhà nước phong kiến, xuất phát  từ nhưu cầu,  lợi  ích của giai cấp  thống  trị nhằm củng cổ địa vị  thống  trị của họ trong xã hội.

Mềm dẻo, linh hoạt và nhân văn trong chính sách đối ngoại

Đối với Chiêm Thành, triều Lý luôn giữ mối quan hệ hòa hiếu. Tuy nhiên, do nhiều lần Chiêm Thành đem quân quấy rối biên giới phía Nam, cướp của, bức hãm nhân dân cho nên nhiều  lần vua Lý đã  thân chính cầm quân đi đánh dẹp. Năm 1044, Lý Thái Tông cầm đánh Chiêm Thành bắt được hơn 5000  tù binh. Vua không những không cho giết mà còn cho họ nhận hộ thuộc làm ăn sinh sống ở Vĩnh Khang (Nghệ An ngày nay). Năm 1069, Lý Thánh Tông bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ cùng 5 vạn dân Chiêm Thành vua cũng không giết một ai.

Đối với nhà Tống,  triều Lý có quan hệ hòa hiếu, ân cần nhận sắc phong đồng  thời thực hiện lễ sính và triều cống đều đặn. Sau khi đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của nhà Tống triều Lý giao trả cho nhà Tống những dân phu, quân lính bị bắt tại Khâm Châu, Ung Châu năm 1075.

Chính  sách ngoại giao  khôn khéo  của  triều Lý đối với Chiêm Thành và nhà Tống trước hết là nhằm bảo vệ, củng cố chính quyền của giai cấp phong kiến nó tưởng chừng như không có liên quan gì đến tôn giáo song việc triều Lý đối xử nhân ái với những tù binh bị bắt trong chiến tranh xuất phát từ cái tâm của người cầm quyền. Cái tâm ấy được tắm mình trong truyền thống nhân ái của người Việt hòa quyện với tư  tưởng  từ bi, cứu khổ, cứu nạn của đạo Phật.

3. Một vài đánh giá, nhận xét

Đạo Phật, một tôn giáo ngoại sinh đã nhanh chóng ăn sâu, bám dễ vào đời sống tinh thần của người dân và có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam đặc biệt là triều Lý ( 1009 – 1010). Tư tưởng từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn của đạo Phật cùng truyền thống thương yêu đồng loại của dân tộc Việt Nam hun đúc nên chủ nghĩa nhân đạo, tính nhân văn trong ứng xử của con người Việt Nam. Tư tưởng ấy thẩm thấu vào đạo đức, tư tưởng của người cầm quyền, ảnh hưởng tới chính sách nội trị ngoại giao của nhà nước.

Lòng nhân ái, sự khoan dung, yêu dân như con đỏ của vua quan triều Lý là một trong những nhân  tố quan  trọng  làm cho nhân dân no ấm, kinh  tế, văn hóa được mở mang, đất nước thái bình thịnh trị, Nam bình Chiêm, Bắc phá Tống uy vũ biểu dương hiển hách.

Tôn  giáo  nói  chung,  đạo  Phật  nói  riêng  ra  đời  không  nhằm  phục  vụ mục  đích chính  trị, nhưng  trong  tay người  làm chính  trị đạo Phật đã phát huy vai  trò  tích cực. Đó là do triều Lý đã biết phát huy yếu tố tích cực, tiến bộ của đạo Phật để phục vụ cho công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc, chăm lo tới cuộc sống của nhân dân.

Bên cạnh những ảnh hưỏng  tích cực,  đạo Phật còn có những ảnh hưởng mang  tính chất không tiến bộ; nhiều khi các vua Lý bị chi phối bởi quan điểm duy tâm, việc xây dựng nhiều chùa, Tháp đã ảnh hưởng  tới quốc khố của nhà nước, nhiều sư sãi  làm  trái với điều răn của Phật, quy định của nhà nước, đôi khi còn lộng hành trên vũ đài chính trị làm rối loạn triều đình.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử kí toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, 1984.

2. Trần Bá Đệ (cb), Một số chuyên đề lịch sủ Việt Nam. Nxb Đại học quốc gia, 2002.

3. Phan Đại Doãn (cb), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1993.

4. Nguyễn Duy Hinh, Hệ tư tưởng Lý, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 1 năm 1986.

5. Nguyễn Duy Hinh, Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb Hội nhà văn, 1999.

6. Hoàng Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tông pháp triều Lý, Nxb Quân đội nhân dân, 2003.

7. Phan Huy Lê, Vua Lý Thái Tổ và vương  triều Lý  trong  lịch sử dân  tộc, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 6 năm 2000.

8. Lịch sử Việt Nam, tập I, Nxb Dân tộc, 1971.

9. Nguyễn Danh Phiệt, Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X – XV, Nxb Khoa học xã hội, 2002.

10. Lê Văn Siêu, Việt Nam văn minh sử lược, Nxb Lao động, 2003.

11. Nguyễn Thị Toan, Phật giáo và chính trị, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, 2002.

12. Lương Thị Thoa, Lịch sử ba tôn giáo thế giới, Nxb Giáo dục, 2002.

13. Văn Tạo, Pháp  luật Việt Nam  trong  lịch sử và di sản của nó, Tạp chí Nghiên cứu  lịch sử, số 3 năm 1991.

14. Văn Tân, Phật giáo trong lịch Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 162 năm 1975.

15. Nguyễn Tài Thư, Phật giáo và  thế giới quan người Việt  trong  lịch sử, Tạp chí Nghiên cứu triết học, số 2 năm 1986.

16. Nguyễn Khắc Thuần, Đại cương lịch sủ văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, 2004.

17. Tìm hiểu xã hội thời Lý – Trần, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980.

18. Đào Tố Uyên, Nguyễn Cảnh Minh, Tìm hiểu tổ chức chính quyền trung ương ở nước ta thời

phong kiến, Tạp chí Nghiên cứ lịch sử, số 6 năm 1995.

19. Đặng Nghiêm Vạn, Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, 1998.

Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển”.

http://basam.info/ (http://basam.info/)


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Tám, 2012, 02:10:00 pm
Nho giáo và tâm thái lập quốc triều Lý

                                                                                                                                                           Nguyễn Kim Sơn


Triều Lý (1009 – 1225) không phải là triều đại đầu tiên của nước Đại Việt độc lập, nhưng triều Lý lại có vị trí hết sức quan trọng đối với cả chặng đường dài về sau của thời kỳ trung đại. Nhiều truyền thống lớn của dân tộc được kiến tạo và khơi nguồn ở thời đoạn này. Triều Lý cũng là triều đại hưng nghiệp với tâm thái lập quốc, tâm thái kiến tạo. Ở thời điểm đó, Nho giáo đã có những bước đi đầu tiên cách ly một cách tương đối khỏi mối liên hệ chặt chẽ thường xuyên với Nho giáo Trung Quốc. Bước đi đó đầy ý nghĩa quyết định và thẳng về một ngả ba đường xác định, ngả đường tiến vào đời sống chính trị và dần ảnh hưởng ngày càng sâu rộng đến đời sống văn hóa, phong tục, tập quán, đạo đức, lối sống của người Việt. Nho giáo đã trải qua những trang sử đầu tiên của mình trên đất nước Đại Việt độc lập trong tâm thái lập quốc của triều Lý.

1. Thắng lợi của xu thế cai trị mới


Cần thiết phải điểm lại những động thái chính trị trọng yếu của các đời vua thời kỳ giành độc lập Ngô-Đinh-Tiền Lê. Có nét chung phổ quát dễ nhận ra là, ba triều đại ngắn ngủi này đều quyết chí giành độc lập. Những vị sáng nghiệp đều là những người vũ dũng, bằng thanh gươm yên ngựa chống thù ngoài dẹp loạn trong. Đây là thời kỳ các ông vua mới với vóc dáng của thủ lĩnh xuất sắc tự trị trên mảnh đất của mình, chống lại các nguy cơ xâm lược đến từ phương Bắc. Những ông vua Đinh-Lê cai trị một cách khá “tùy hứng”, chưa thấy họ có vóc dáng của một vị Hoàng đế một triều đình với điển chế hoàn bị, tức vóc dáng của chế độ phong kiến chuyên chế mới bắt đầu trên chặng đường hình thành dài lâu quanh co. Sự thiếu vắng các hoạt động kiến tạo và hành động với tư cách các thủ lĩnh là nét nổi bật của các vua Đinh-Lê. Không những thế, sử còn mô tả những ông vua thời này còn hết sức tàn khốc, tùy tiện trong hình luật, chưa biết “giáo hóa dân” và cai trị bằng “Lễ nhạc”. Ngọa Triều – ông vua cuối cùng Tiền Lê còn bị coi là kẻ tàn ác, vô  nhân tính, bạo ngược như Kiệt-Trụ. Tóm lại, hơn một nửa thế kỷ sau khi giành được độc lập, các triều vua nối tiếp nhau chỉ thấy nổi bật ở ý chí độc lập mà còn luẩn quẩn ở con đường phát triển, mọi việc kiến tạo còn ở phía trước. Sứ mệnh lịch sử giành được độc lập của các triều Ngô-Đinh-Lê coi như đã hoàn thành. Nhưng độc lập đã giành được cần phải đơm hoa kết trái, dân tộc còn cần phải tiếp tục tự lực tự cường và bước ngay vào thời kỳ trưởng thành, trưởng thành để đủ sức đối đầu với những thử thách lớn tiếp sau. Vấn đề lớn nhất đặt ra với triều đại cai trị Đại Việt cuối thế kỷ X đầu thế kỷ XI là nhanh chóng đưa đất nước vào thời kỳ kiến tạo, thời kỳ phát triển của chế độ phong kiến. Phát triển là đòi hỏi của thời đại. Lực lượng tiên tiến nhất lúc bấy giờ phải là lực lượng đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử, đưa đất nước trở thành quốc gia Đại Việt hùng mạnh.
Như trên đã nói, Lê Ngọa Triều bị sử gia các thời mô tả như Kiệt-Trụ[1] điều đó có ý nghĩa là người thay Ngọa  Triều có thể như Thang-Võ. Lý Công Uẩn giành lấy ngai vàng trong hoàn cảnh lòng người đã chán ngán, oán hờn chính sự hà khắc, hôn quân vô đạo. Những gì mà chính sử, dã sử đã ghi chép được cho biết Lý Công Uẩn lên ngôi tuy không gây đổ máu như những lần thay đổi triều đại về sau, nhưng cũng không phải là chuyện dễ dàng. Đó là cả một quá trình vận động và chuẩn bị. Có hẳn một thế lực đứng sau Lý Công Uẩn. Vị Quốc sư người Cổ Pháp đồng hương và là người đỡ đầu cho Lý Công Uẩn hành động, suy nghĩ tính toán có dáng dấp của một nhà Nho quyền trí hơn là một Thiền gia. Ngoại trừ mối quan hệ còn đôi chỗ chưa thực sáng tỏ giữa Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn, điều ta cần quan tâm là vị Quốc sư này hy vọng điều gì khi vận động đưa Công Uẩn lên ngai vàng. Lý Công Uẩn được chọn, đưa vào triều, nắm cấm quân (có thực lực) và hành động chiếm ngôi. Đó là một quá trình có tính toán kỹ lưỡng. Điều mà Vạn Hạnh hy vọng ở Công Uẩn có thể nhận ra trong vài ba tài liệu hiếm hoi, đó là lời nhận xét về tư chất Công Uẩn thủa nhỏ tuổi[2] và bài Khuyến Lý Công Uẩn lên ngôi. Ngoại trừ khả năng câu chữ trong lời Vạn Hạnh là của hậu Nho gán ghép cho hợp, có thể thấy những kẻ “thức giả” thời đó đã nhận thấy cần phải thay đổi cục diện. Vạn Hạnh thấy ở Lý Công Uẩn những tư chất và điều kiện để có thể trở thành vị Hoàng đế cai trị thiên hạ theo lối khác các vua đương thời. (Sự mường tượng về ông Hoàng đế đó là mường tượng theo tiêu chuẩn của Nho gia). Việc Lý Công Uẩn giành ngôi được coi như công cuộc dấy nghiệp của thánh vương. Cả Vạn Hạnh và những người ủng hộ Lý Công Uẩn (tiêu biểu nhất là Đào Cam Mộc) ca ngợi Công Uẩn là ngưòi có đức, nói tới việc Công Uẩn lên ngôi gắn liền với thiên mệnh, tới ân đức ban ra thiên hạ, điềm rồng xuất hiện như điềm trời sinh thánh nhân. Công Uẩn lên ngôi đại xá thiên hạ, đốt bỏ hình cụ, và đặt niên hiệu là Thuận Thiên (tuân theo mệnh trời). Đó chính là không khí “cách mạng” kiểu Thang-Võ. Các nhà Nho Trung Quốc đã từng tô vẽ cho nó và coi đó là Cuộc đổi vạc chính đính vì lợi ích của quốc gia và dân chúng. Nhà Lý dấy nghiệp thực sự đã có tinh thần đó. Trong thực tế, lần đầu tiên ông vua dấy nghiệp phải tìm kiếm chỗ dựa tư tưởng. Tư tưởng được chọn làm chỗ dựa đó, không gì khác chính là Nho giáo. Sự mường tượng về chính sự đã khác. Từ tiểu sử bản thân Lý Công Uẩn[3], Vạn Hạnh và những người ủng hộ, từ hàng loạt những công việc mà Lý Công Uẩn làm sau khi lên ngôi, ta thấy Lý Công Uẩn lên ngôi, kiến quốc là đáp ứng được những đòi hỏi của lịch sử lúc đó. Việc nhà Lý thay Tiền Lê là sự thắng thế của một lực lượng văn hóa cao hơn, là sự thắng thế của một cung cách cai trị mới kiểu phong kiến, nó là vận động tất yếu của lịch sử. Việc Vạn Hạnh và Công Uẩn sinh ra ở vùng Cổ Pháp, một nơi có văn hóa phát triển cao bậc nhất Đại Việt lúc đó, nơi tiếp nhận nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc từ phương Bắc xuống chắc chắn có mối quan hệ mật thiết tới phán đoán nói trên. Những gì mà nhà Lý làm ngay sau khi nắm giữ ngai vàng là minh chứng hùng hồn và sinh động. Một thời kỳ kiến tạo mới đầy trí tuệ, xa viễn và bản lĩnh. Những ngả đường vận động bắt đầu lớn của tư tưởng bắt đầu.

[1] Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ bình về những hành động cai trị tàn ác bạo ngược của Ngọa Triều: “Những việc Long Đĩnh làm như tiện mía ở đầu sư, buộc cỏ vào lưng tù đốt, làm chuồng dưới nước, giồng cây nung đỏ bắt leo, những hình phạt ấy mặc dù ác như Kiệt Trụ cũng không quá đến thế; đến như oán cha, đánh tù bắt gọi tên cha ra mà làm trò vui thì lại cùng với Đông Hôn và Thiền Nguyên, cùng là loài cầm thú ác độc vậy”. (Việt sử tiêu án-Ty Văn hóa Á châu, SG, 1960, tr.109). Có thể thấy được chính sự Tiền Lê còn mang tính chất dã man khác xa với chính sự đời Lý về sau.
[2] Theo Việt sử lược, Vạn Hạnh có nhận xét về Lý Công Uẩn khi ông ta còn nhỏ tuổi: “Đây là người phi thường, sau này đến lúc cường tráng tất có thể cứu đời, yên dân, làm chúa thiên hạ” (Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường (dịch), NXB TP HCM, 1993. tr.110).
[3]  “Vua khảng khái, có chí lớn, không màng của cải, thích xem hết kinh sử” (Theo Việt sử lược, Sđd, tr.110)

Còn tiếp...


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Tám, 2012, 02:13:28 pm
2. Tâm thái lập quốc


Triều Lý nắm quyền trị nước trong tâm thế kiến tạo, mọi việc còn đều ở phía trước. Từ tư tưởng cho đến công việc thực tế mà các vua Lý đã làm đều là những công việc sáng nghiệp. Triều Lý đã lập quy mô của Đại Việt về nhiều phương diện; từ chủ quyền lãnh thổ, mô hình chính trị, ngôi vua (kiến cực), định đô, định điểm chế hiến chương, các quan hệ đối ngoại với lân bang và đặc biệt là chọn lựa hệ tư tưởng chỉ đạo. Một thể chế phong kiến đến đây mới thực sự được kiến lập. Những công việc kiến tạo của nhà Lý đã xác lập được vị trí của Đại Việt trong khu vực. Nó đã đáp ứng được đòi hỏi phát triển của dân tộc thời kỳ đó. Trong thực tế Đại Việt đã được làm mạnh hóa rất nhiều do công của triều Lý. Công cuộc mở rộng lãnh thổ và tăng cường sự kiểm soát đối với các vungf đất thượng du được nhà Lý đặc biệt quan tâm. Nhiều đời vua Lý đã đích thân làm tướng đánh dẹp trừng phạt “man dân” không phục tùng và quy phục nhiều kẻ khác. Mở rộng và tăng cường quyền kiểm soát về lãnh thổ, có viễn kế lâu dài, ở thời trung đại đó là những dấu hiệu cường thịnh của các đế chế. Việc định đô, chuyển đô từ Hoa Lư về Thăng Long được nhìn nhận là việc quan trọng của hệ thống các công việc kiến quốc. Việc chuyển từ nơi thủ hiểm ở Hoa Lư ra nơi “trung tâm của trời đất” Thăng Long vừa là dấu hiệu của sự trưởng thành của dân tộc, vừa cho thấy bản lĩnh lựa chọn và tầm nhìn xa của triều Lý hơn hẳn các triều trước. Thăng Long mới thực sự là kinh đô của các bậc đế vương cả về vị trí và quy mô[4]. Tuy nhiên sự kiến lập trên phương diện chính trị, tư tưởng mới có ý nghĩa quyết định hướng dẫn tới sự thay đổi về chất của xã hội Đại Việt. Một ông Hoàng đế phong kiến với đầy đủ các phương diện của nó được đưa ra thay thế cho hình mẫu thủ lĩnh xuất sắc thời giành độc lập. Chính trị cung đình với thể chế quan liêu hoạt động theo điển chế được xác lập, phẩm phục, lễ nghi cũng bắt đầu được chế định. So với nhiều triều đại về sau thì thể chế phong kiến nhà Lý chưa chặt chẽ bằng. Điều mà các nhà Nho về sau gọi là “khoan giải” không gì khác chính là tình trạng thô sơ và lỏng lẻo, nhưng đó là những nền tảng đầu tiên của một thời kỳ phát triển mới. Sự trưởng thành của thể chế Đại Việt là yếu tố hết sức quan trọng đối với việc khẳng định, bảo vệ độc lập dân tộc, đoàn kết cộng đồng dân chúng, chống trả lại những làn sóng xâm lược dữ dội từ phương Bắc ở thời kỳ tiếp theo.

3. Chọn lựa tư tưởng


Nhà Lý lên ngôi nhờ thế lực Phật giáo. Đó cũng là thời kỳ toàn thể dân chúng Đại Việt theo Phật giáo một cách “hồn nhiên”. Phật giáo chiếm lĩnh mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thế nhưng, Phật giáo lại không thể cung cấp cho các ông vua những điều cần thiết, những bài học để bảo vệ ngai vàng, xây dựng đất nước, kiến lập  triều đại, trị quốc an dân. Trong khi đó Nho gia lại có mọi thứ cần thiết. Nho gia về thực chất là học thuyết giành cho người trị quốc. Kinh-truyện Nho gia phong phú cả lý luận lẫn những bài học thực tế được đúc rút. Nó đề cao ngôi vua và mô hình chuyên chế. Chính sự từ Tam Hoàng-Ngũ Đế đến Hán-Đường đủ cho người lập triều đại, kiến hoàng cực tham khảo, học tập. Trong bối cảnh lập quốc triều Lý, Nho giáo thỏa mãn các nhu cầu mà ông vua xây nền đắp móng chế độ phong kiến cần có. Ở thời điểm đầu thế kỷ XI, vua Lý không thể chọn lựa một hệ thống tư tưởng nào khác tốt hơn cho sự lựa chọn Nho giáo làm thực chất cho đời sống chính trị. Vì lợi ích dân tộc, vì sự phát triển của dân tộc mà Nho giáo đã được lựa chọn. Sự lựa chọn này đã có hiệu quả làm thể chế phong kiến mạnh hơn.
Cũng cần phải nhắc lại rằng ở thời điểm thế kỷ XI, Nho giáo không còn là tri thức mới mẻ đối với người Việt, nó không phải là cái lần đầu phát hiện thấy ở Trung Hoa rồi học về, nó đã là một thứ tri thức, một loại văn hóa đã có ảnh hưởng nhất định ở Giao Châu suốt gần mười thế kỷ Bắc thuộc với những mức độ đậm nhạt khác nhau ở từng nơi, từng lúc. Nhưng nghìn năm Bắc thuộc Nho giáo mờ nhạt bên cạnh Phật-Đạo. Lý do chính là vì chưa có môi trường chính trị cung đình cần thiết cho nó, chưa có một chính thể để dùng nó, cái môi trường chính trị, nhu cầu phát triển thể chế đã xuất hiện ngay sau khi giành độc lập. Nhu cầu phát triển triều đình phong kiến đời Lý đã tạo ra cơ hội lớn, một cửa mở cho Nho giáo. Chính trị triều Lý bắt đầu nhuốm màu Nho gia. Phân tích các công việc kiến tạo triều đại, kiến quốc của nhà Lý ta thấy đó phần lớn là do tư tưởng Nho gia mách bảo. Bản Thiên đô chiếu của Lý Công Uẩn, lời Khuyến Lý Công Uẩn lên ngôi của Vạn Hạnh đều là sự mường tượng xa viễn cơ nghiệp đế vương theo tinh thần Nho gia. Các vua Lý từ Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông… đều tiếp nối tinh thần kiến tạo theo những bài học trị quốc an dân của Nho gia. Các vua vẫn thờ Phật, sùng Phật[5], nhưng lại đồng thời cho xây dựng Văn miếu thờ Khổng Tử và các Tiên hiền (1070), lập Quốc Tử Giám, thi Minh kinh bác sĩ, lập Thái miếu để thờ tổ tiên, xây đàn tế trời đất… Các sự kiện trên một thái độ rõ ràng đối với Nho giáo, và của Nho giáo và Nho học. Các sự kiện này chưa tạo ra ngay một định hướng, một sự khẳng định địa vị cần và đáng có của Nho giáo trên đất Đại Việt. Việc các Thái tử đến học tập ở Quốc Tử viện cho thấy, những người làm chính trị đương thời nhận thức được Nho học là tri thức cần thiết cho một ông vua trị nước trong tương lai. Dẫu cho trong bản thân các ông vua chưa có một con người sống và tư duy hoàn toàn theo Nho, tu kỷ hành đạo theo Nho. Quốc Tử viện chưa đông đúc người giảng người học, chưa dành cho con em bình dân, trường công chưa mở từ trung ương đến địa phương, khoa cử rời rạc, “tùy hứng” chưa định chế, nhưng có khoa cử, có văn miếu, có Quốc tử viện, đối với Nho sĩ có nghĩa rằng: Nho cũng là cái rất cần cho xã hội. Người thời đó thấy rằng học Nho cũng có thể tiến thân và có vinh hiển như làm võ tướng và tăng đạo. Sự kiện này cùng việc dùng chữ Hán làm chữ viết chính thức và phổ biến ở Việt Nam là một tổng thể hữu cơ. Phải thấy rằng nhà Lý lập Văn miếu, mở khoa thi, chính thức hóa địa vị của Nho trong bối cảnh chuẩn bị đánh lớn chống quân xâm lược nhà Tống mới thấy đây là sự lựa chọn đầy bản lĩnh. Chống Tống xâm lược là một chuyện và chọn Nho có gốc phương Bắc lại là một chuyện. Cho nên các nhà Nho về sau luôn cho rằng, Nam Bắc núi sông bờ cõi, phong tục thì phân chia còn “Đạo không chia khác” là sự tiếp nối nhận thức đó. Tiếp nhận Nho không phải là do đầu óc nô lệ mà là chọn lựa tự giác có tính toán, vì độc lập tự cường dân tộc, vì những nhu cầu biến tạo mà lựa chọn. Với những chất liệu mà Nho giáo cung cấp, người Việt thời Lý đã dựng lên mô hình chính trị theo kiểu Nho gia nhưng đối lập với mô hình chính trị Nho gia. Từ vị thần nhân cách tối cao vô thượng – Thiên; Thiên đế đến Thiên mệnh, thiên hạ, đến Thiên tử trị dân bằng giáo hóa, đều hiện diện để khẳng định cho độc lập dân tộc. Nho gia cũng trởt thành một thứ vũ khí tư tưởng để khẳng định quyền tồn tại độc lập của Đại Việt, tuyên bố quyền chinh thảo điếu phạt của vương sư trong các nội chiến. Đó là sản phẩm của mô hình chính trị học tập theo kiểu thể chế Trung Hoa do Nho gia cung cấp.
Về phương diện đối nội, sau loạn Tam vương nhà Lý phải chú mục vào những nguy cơ đe dọa ngai vàng. Bài học các triều Ngô-Đinh-Tiền Lê chưa xa, loạn Tam vương là lời nhắc nhở về đường lối cai trị. Các ông vua buộc phải nghĩ đến việc củng cố vững chắc của ngai vàng bằng con đường ước thúc nhân tâm. Tư tưởng khuyến thiện trừ ác, luân hồi quả báo của Phật giáo chưa đủ sức ràng buộc lòng người, không ngăn được bạo loạn, cần có thêm sự ước thúc nhân tâm theo kiểu Nho gia. Một nghi lễ mới mẻ được tiến hành, đó là hội thề đầu năm ở đàn Đồng Cổ. Nhà Lý coi hội thề là quốc lễ hàng năm. Các tài liệu chính dã sử đều thống nhất ghi lại nội dung lời thề: “Làm tôi bất trung, làm con bất hiếu, thần minh giết chết”, đi kèm là nghi thức bôi máu lên mép. Nội dung lời thề không có gì khác, chính là hai phạm trù Trung hiếu tối quan trọng của Nho gia. Thần Đồng Cổ, vị thần bản địa trở thành vị thần hộ trì cho quân vương và giám sát luân lý; chính trị và đạo đức; thân quyền và vương quyền đã kết hợp lại làm một với mục đích duy nhất-bảo vệ vương quyền. Tuy nhiên cung cách hội thề và lời thề như vậy có khác với những nguyên tắc của Nho gia nói chung. Nho gia không chấp nhận vị thần giám sát luân lý kiểu như vậy. Nó không phải là sự ước thúc mang tính nội tỉnh tự tu tự giám của Nho gia. Hội thề là một sự kết hợp của luân lý trên mảnh đất Đại Việt độc lập.

[4] Việt sử lược có ghi chép về quy mô Thăng Long buổi đầu mới xây dựng: “Trong kinh đô Thăng Long dựng điện Triều Nguyên, bên tả đặt viện Tập Hiền, bên hữu đặt viện Giảng Võ. Bên tả mở cửa Phi Long, bên hữu mở cửa Đan Phượng. Nơi giữa ở phía Nam mở điện Cao Minh, thềm điện gọi là Long Trì có nhà Cầu Võng che quanh thềm. Bốn mặt điện Càn Nguyên. Sau đó dựng hai điện Long An và Long Thụy. Bên hữu xây điện Nhật Quang. Bên tả xây điện Nguyệt Minh. Phía sau có cung Thúy Hoa. Bốn mặt thành mở bốn cửa…” (Việt sử lược, Sđd, tr.117)
[5] Triều Lý có cả thảy 4 lần gửi sứ đoàn sang Tống xin kinh Phật và cả 4 lần đều được chuẩn ứng.

Còn tiếp...


Tiêu đề: Re: Vương triều Lý và Kinh đô Thăng Long
Gửi bởi: Trần Anh trong 18 Tháng Tám, 2012, 02:16:37 pm
4. Nho giáo trong tương quan với Phật – Đạo

Đối với triều Lý, Nho giáo là thứ tri thức cần thiết mà chính trị cần đến. Nó tồn tại ở thượng tầng tư tưởng mà chưa có các yếu tố hạ tầng phù hợp tương ứng với nó. Mô hình chính trị vay mượn từ phương Bắc bao trùm lên cơ địa còn mang đậm yếu tố Đông Nam Á với ảnh hưởng mạnh của Phật giáo. Ở thời kỳ này, nếu ai đó đi tìm dấu ấn ảnh hưởng của Nho tới phong tục tập quán đời Lý sẽ chỉ thấy sự vắng bóng ảnh hưởng của Nho giáo. Tuy nhiên do nắm vững được đời sống chính trị, Nho giáo dần ảnh hưởng tới toàn bộ đời sống văn hóa xã hội, quá trình “tông pháp hóa” xã hội Đại Việt sẽ diễn ra dần từng bước. Tuy nhiên đồng thời với việc văn hóa bản địa thay đổi do ảnh hưởng của Nho giáo, bản thân Nho giáo cũng có nhiều sự biến thiên cho phù hợp với các tầng văn hóa bản địa. Khi Nho giáo có những ảnh hưởng mạnh bước đầu ở đời Lý, quá trình chuyển biến của cả Nho giáo và văn hóa bản địa cũng thực sự bắt đầu.
Nho giáo đi vào đời sống chính trị khi trong xã hội còn chưa có tầng lớp sĩ đông đảo bảo lưu nuôi dưỡng nó, nó còn chưa có hệ thống giáo dục và khoa cử được tổ chức rộng khắp nghiêm mật từ trung ương đến địa phương truyền bá và nuôi dưỡng nó. Có thể nói Nho giáo thời Lý là thứ Nho giáo có phần tách rời hoạt động của Nho sĩ. Số ít Nho sĩ thời kỳ này trong tư tưởng của họ cũng chỉ có thứ Nho giáo trong cơ cấu hỗn hợp Tam giáo mà thôi.
Việc truyền bá, bảo lưu Nho giáo thời kỳ đó do nhà chùa đảm nhiệm một phần quan trọng. Với tư cách là những trung tâm văn hóa, nhà chùa ngoài in kinh, thuyết pháp còn dạy chữ Hán, dạy cả tri thức Nho học. “Thiền Uyển tập anh” cho biết, hầu hết các quốc sư đời Lý thủa nhỏ đều học Nho. Lý Công Uẩn lớn lên trong nhà chùa mà đọc hết kinh sử… Nhà chùa thời đó coi Nho giáo như một tri thức mở rộng và cần thiết. Việc nhiều vị Quốc sư tham chính cũng là một sự kích thích Nho học được truyền giảng trong chùa. Tăng lữ là người tu theo đạo từ bi hỷ xả của nhà Phật, nhưng vì việc tòng chính cho nên họ, một cách không tự giác, phải hướng sang tìm kiếm tri thức nơi miền đất Nho học. Đây là một trong những nhân tố làm cho Phật giáo thời Lý và cả Trần tiếp theo đi sâu vào tư tưởng giáo lý vừa nhập thế và có chịu ảnh hưởng rõ nét của Nho giáo. Nho học trong môi trường nhà chùa đã khiến cho ta thấy Nho giáo thời kỳ này không thể là thứ Nho giáo đầy đủ diện mạo toàn thể và hệ thống của nó. Việc lập ra Quốc Tử giám còn là sự khởi đầu cho cả quá trình tách việc đào tạo Nho học ra khỏi môi trường nhà chùa.
Một đặc điểm nữa dễ nhận ra là, thời Lý, Nho giáo chỉ được tiếp nhận từng mảng, từng bộ phận mà chưa được tiếp nhận toàn thể. Triều Lý chỉ tiếp nhận những gì cần thiết cho chính trị mà chưa có điều kiện và chưa thể tiếp nhận cả hệ thống. Nho giáo Việt Nam là sự tiếp nhận mang tính giản lược Nho giáo Trung Quốc, và triều Lý lại còn ở giai đoạn giản lược hơn cả. Vì tiếp nhận Nho giáo trong tâm thế lập quốc, kiến tạo nên nhà Lý hướng sự chú ý nhiều hơn đến Nho giáo Khổng Mạnh Tiên Tần với lý tưởng thống nhất, thân dân, bình trị. Cái học nội Thánh ngoại Vương tích cực có tác dụng làm mạnh chính sự cung đình. Trong việc tạo khối đoàn kết dân tộc, Nho gia có góp phần đáng kể.
Thời Lý, Nho giáo chưa được tôn sùng, nó chưa chi phối được hầu khắp lĩnh vực của đời sống xã hội. Nho giáo triều Lý phải được nhìn nhận trong tương quan Tam giáo. Để có thời độc tôn Nho thuật vài ba thế kỷ sau, không thể thiếu những bước khẳng định đầu tiên ở triều Lý. Nho giáo triều Lý đã tồn tại như một tri thức cần thiết hơn là một học thuyết hay tôn giáo. Những chuyển biến của Nho giáo ở các thời kỳ tiếp sau là sự bổ sung từng phần của cả hệ thống Nho giáo, là quá trình cả Nho giáo Trung Quốc và xã hội Việt Nam đều cùng chuyển biến để tương thích với nhau.

5. Đôi lời khép mở

Cho tới tận thế kỷ XIX, thời của các vua Nguyễn chuyên chế trị vì, quá trình Nho giáo hóa Đại Việt và Việt hóa Nho chưa phải là đã chấm dứt và hoàn thành. Nói như vậy để thấy, gần 1000 năm về trước, lễ nhạc của Nho gia còn rất “hoang sơ” trên mảnh đất này.
Nhưng ở thời điểm triều Lý dấy nghiệp, Nho giáo đã dần khẳng định được vị thế của mình. Nhà Lý chọn Nho giáo, dùng Nho giáo phục vụ việc trị quốc là một phần tất yếu, phần có quan hệ hữu cơ với tổng thể các hoạt động kiến tạo. Vì mục tiêu kiến tạo mà nhà Lý phải lựa chọn Nho giáo, Nho giáo đã mách bảo cho quá trình kiến tạo.
Từ việc triều Lý tiếp nhận Nho giáo mà suy xét liên tưởng tới toàn bộ quá trình vận động của Nho giáo các thời đoạn sau, có thể thấy sự tồn tại và biến thiên của Nho giáo ở Việt Nam gắn liền với vấn đề dân tộc, chính vì nhu cầu phát triển quốc gia dân tộc, xây dựng triều đại mà Nho giáo đã được tiếp nhận. Cha ông chúng ta dùng Nho giáo vào quá trình khẳng định dân tộc, xây dựng thể chế, xây dựng điển chương chế độ… Tách rời vấn đề dân tộc e sẽ khó có thể hiểu đúng được những đặc điểm của Việt Nho. Càng thấy điều này rõ hơn, khi quan sát thời điểm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nho giáo đã bị chối bỏ một cách tự nhiên, ít gây ra những “cú sốc” đối với tầng lớp sĩ phu và dân chúng, phần vì áp lực mạnh của Tây hóa, phần vì tất cả đều nhận thức được rằng lợi ích của dân tộc- thứ lợi ích luôn trên hết, đòi hỏi phải như vậy.

* Đây là một bài viết cũ. Bài in lần đầu trong Kỉ yếu Hội thảo Khoa học Lí Công Uẩn và vương triều Lí (kỉ niệm 990 năm Thăng Long-Hà Nội), NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2001. In lại trong cuốnVương Triều Lý (Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên), NXB Hà Nội, 2010).

Nguồn:http://www.nguyenkimson.net/?p=34#comments (http://www.nguyenkimson.net/?p=34#comments)


Tiêu đề: Re: Những Giai nhân ảnh hưởng đến sự hưng vong của Vương triều Lý
Gửi bởi: Đình Văn trong 12 Tháng Mười, 2012, 07:24:42 am
Một số Hậu và Phi nổi tiếng của Vương triều:
Tiếp nhận Vương quyền từ nhà Tiền Lê, trong việc hậu cung, hai Vua đầu nhà Lý đều phong các bà vợ mình là Hoàng hậu mà không nêu cụ thể ai thực sự là chính thê, các đời sau phong cả Phi, Ngự nữ.

1. Khi lên ngôi, năm 1010 Lý Thái Tổ lập 6 Hoàng hậu trong đó nổi bật là Lập Giáo Hoàng hậu, sinh ra Thái tử Phật Mã có quy chế xe ngựa, y phục khác. đến năm 1016 lập lại 3 Hoàng hậu là: Tá Quốc, Lập Nguyên và Lập Giáo. Thái Tổ sinh hạ được 13 Công chúa.

2. Lý Thái Tôn Phật Mã (1028-1054) tôn mẹ là Lê thị (Lập Giáo Hoàng hậu) làm Linh Hiển Thái hậu và năm 1028 lập Kim Thiên Mai Thị (mẹ Lý Nhật Tông) và 6 vị khác làm Hoàng hậu. Đặc biệt năm 1035 lập nàng hầu làm Hoàng hậu Thiên Cảm sau lại lập Đào Thị (vốn giỏi nghề ca hát) làm Phi. Vua sinh 2 Hoàng tử và nhiều Công chúa, trong đó trưởng nữ là An Quốc Công chúa. Trong thời Lý Thái Tôn, một người con gái nước Chiêm là Mỵ Ê được ông phong là Hiệp Chính Hựu Thiện Phu nhân. Bà chính là phi của Sạ Đẩu bị bắt khi kinh thành Phật Thệ của Chiêm thất thủ (1044) khi được Thái Tôn vời đã lao xuống sông để giữ lòng trinh.

3. Lý Thánh Tông Nhật Tôn (1054-1072) lập Dương thị làm Hoàng hậu Thượng Dương (không con trai, sinh hạ Công chúa: Từ Thục, Từ Huy), Ỷ Lan Lê Thị Khiết là Nguyên phi, Dương Thị Quang là Thứ phi (mẹ Công chúa Động Thiên, Khâm Thánh). Trong đó nổi bật Nguyên Phi Ỷ Lan mà sử sách hay nhắc đến.

Dựa vào tài liệu nào mà anh có thông tin: Hoàng hậu Thượng Dương (không con trai, sinh hạ Công chúa: Từ Thục, Từ Huy) và Dương Thị Quang là Thứ phi (mẹ Công chúa Động Thiên, Khâm Thánh), vậy? Em muốn tham khảo.
Sẵn đây mình muốn hỏi mọi người 1 vấn đề: Năm 1029, công chúa Bình Dương được gả đi.
"Tháng 3, ngày mồng 7, gả công chúa Bình Dương cho châu mục châu Lạng là Thân Thiệu Thái".- Đại Việt sử ký Bách khoa toàn thư( ĐVSKBKTT), lúc này Thái Tông mới 29 tuổi. Không lẽ công chúa Bình Dương chưa được 16 tuổi đã gả cho châu mục và phải có trách nhiệm giúp nhà Lý gắn kết với nhà họ Thân ở biên cương? Trách nhiệm như thế có nặng nề trên vai một cô gái chưa 16 tuổi?
Ngoài ra, cũng theo ĐVSKBKTT. thì Thánh Tông là con trưởng của Thái Tông, tức là con đầu lòng sinh năm 1023, lúc Bình Dương công chúa gả đi, Thánh Tông mới 6 tuổi. Thêm ý này, không lẽ Bình Dương công chúa gả cho một châu mục lúc chưa được 6 tuổi?
Bởi nếu công chúa Bình Dương là chị của Thánh Tông thì phải khẳng định Thánh Tông là hoàng trưởng nam chứ không phải con trưởng, hay khẳng định Bình Dương là Trưởng công chúa- Hoàng trưởng nữ, chứ đúng không mọi người?
--> Mình cho rằng Thái Tông gả em gái chứ không phải là gả con gái như một số bài báo ghi. Lúc này, công chúa Bình Dương là cô của Thánh Tông. Mình cho rằng như vậy có là sai? :'(