Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 10:43:15 PM



Tiêu đề: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 10:43:15 PM
Thiếu  tướng Nguyễn Chuông

ĐƯỜNG
BINH NGHIỆP
CỦA TÔI


Tuyển tập ký ức chiến trận

Số hóa: Baogt - sách bác PQ cung cấp
Nguồn: PQ - Nhà xuất bản Thanh Niên - 2005

Nội dung:
•   Kỷ niệm ngày lên đường
•   Câu chuyện nhớ đời
•   Lần đầu ra trận
•   Anh Vệ Túm
•   Sầm Nưa, những kỷ niệm khó quên
•   Làm đường kéo pháo vào trận Điện Biên
•   Cắt sân bay Mường Thanh
•   Điện Biên trong tôi
•   Những ân nhân của tôi
•   Đập tan "Cù Kiệt"
•   Bản Na trước giờ nổ súng
•   Về thăm quê
•   Nằm trong chum giữa Cánh đồng Chum
•   Mở cánh cửa thép vào Cánh đồng Chum
•   "Không phải là vũ khí luận"
•   Đối đầu ở Quảng Trị
•   Trận cuối cùng
•   Nhớ mãi bài thơ "Giã gạo"
•   Vị tướng khéo dùng quân
•   Cuộc gặp gỡ bất ngờ thú vị
•   Về nhà chưa hết việc quân


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 10:47:59 PM
Lời thưa trước cùng bạn đọc


   Đất nước có giặc, tuổi trẻ cầm súng lên đường đánh giặc cứu nước, đó là lẽ thường tình. Giặc giã lại triền miên ba bốn chục năm ròng, đánh xong giặc nếu còn sống trở về thì cũng là trọn cuộc đời một con người sống giữa nhân gian nặng lòng trung với nước, hiếu với dân, coi việc cầm súng là một sự nghiệp.
Biết làm sao được. Đất nước có giặc mà! Và đường binh nghiệp trở nên thiêng liêng đối với triệu thanh niên trong đó có tôi, dẫu cho nó phải trải qua muôn vàn sóng gió và ghềnh thác.
  
     Tôi không dám so sánh với biết bao đồng đội của tôi đã phải nằm lại chiến trường không thể trở về. Và chính anh em đã tạo nên con đường binh nghiệp cho những ai đi hết cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại của dân tộc.

     Đường binh nghiệp của tôi được kể ra trong những trang hồi ức chiến trận này cũng không ngoài ý nghĩa tôn kính đó, đồng thời cũng là để minh chứng cho một góc nhỏ của lịch sử quân sự mà các đơn vị thân yêu của tôi đã bao phen xông pha lửa đạn. Tôi thiển nghĩ đây là tình cảm và đây cũng là trách nhiệm.

     Tôi vốn là nông dân nghèo ít được học hành phải nhờ bạn hữu giúp đỡ chỉ dẫn mới hoàn thành được công việc văn chương mà tôi cảm thấy nó cũng khó khăn không kém gì đánh trận. Tôi chân thành cảm ơn các anh Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Đình Tiên, Tạ Hữu Yên, Đinh Khánh Vân . . . những người bạn tri âm, tri kỷ, chính là những cố vấn chí nghĩa chí tình đã khích lệ cổ vũ tôi rất nhiều.

      Nhân dịp tập ký ức chiến trận Đường binh nghiệp của tôi ra mắt bạn đọc, tôi xin được nhắc tới cố Nghệ sĩ Nhân dân Tào Mạt. Sinh thời anh cũng là tri âm, tri kỷ của tôi, thường cùng nhau uống rượu, bình thơ. Hồi anh gặp phải bệnh hiểm nghèo, tôi đến thăm anh tại Viện Quân y, chuyện văn chương vẫn là đầu câu chuyện mà dường như nó lại sâu sắc và lắng đọng hơn bất cứ bao giờ. Anh bảo tôi: Hãy cứ viết những cái thật nhất và xúc động nhất của đời mình.

     Vâng! Thưa bạn đọc! Đường binh nghiệp của tôi chính là những cái thật nhất và xúc động nhất của đời tôi.

   NGUYÊN CHUÔNG


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 10:49:40 PM
Thiếu tướng NGUYỄN CHUÔNG

Sinh ngày 15-8-1927, tại xã Thượng Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
Tham gia quân đội 19-8-1945.
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 20-7-1947).

THÀNH TÍCH CHIẾN ĐẤU:
- Huân chương Chiến công (hạng l-2-3)
- Huân chương Giải phóng (hạng 3)
- Huân chưng Chiến thắng (hạng l-2-3)
- Huân chương Quân Công tổng kết chiến tranh (hạng 2-3)
Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.

CÁC TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN:

In chung: Binh đoàn sông Thao.
In riêng: Đường tới chân trời, Tim tôi thắp lửa, Dậm dài trên đất Triệu Voi (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân).


Thơ
Nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt
tặng thiếu tướng Nguyễn Chuông

Phiên âm:Thập lục dĩ tòng ngũ
Lục thập vị hoàn hương
Bắc phong xuy bạch phát
Lục diệp tế thanh trung.
Huyết hãn lưu thiên lý
Đồng kiên quải bách sang
Trường đồ hữu thiết cước
Bảo quốc trấn biên cương.

--------------------------

Nghĩa là: mười sáu tuổi đã nhập ngũ. Sáu mươi tuổi chưa về làng. Gió bấc vẫn thổi tung mái tóc bạc. Đôi vai đồng đã vác trăm súng. Mà đường dài vẫn đôi chân sắt. Đi giữ nước trấn biên cương.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 11:38:48 PM
KỶ NIỆM NGÀY LÊN ĐƯỜNG
 
    Ngày lên đường của tôi không có người đưa tiễn. Nói cho đúng hơn: Tôi trốn nhà ra đi, nên gia đình tôi chẳng ai hay biết gì cả. Mọi thứ cần thiết tôi đều phải chuẩn bị bí mật âm thầm. Bộ quần áo cũ, chiếc lược, chiếc gương con, tôi đã gói trong chiếc khăn vuông đen giấu sẵn vào ổ rơm góc bếp. Phải đi thật nhẹ chân, đến sát giường, mở căng mắt tôi mới nhìn rõ mặt mẹ và mấy đứa em. Con Khánh gầy, tay ôm lấy mẹ, thằng Khải mặc độc chiếc quần cộc nằm co đầu gối lên tận ngực. Sáng mai, nếu mẹ tỉnh dậy, thấy vắng tôi, chắc mẹ sẽ rất lo buồn. Tôi chỉ ân hận, khi ra đi không nói được gì với mẹ. Còn các em tôi, biết bao giờ tôi mới gặp lại. Tôi đã đứng lặng một hồi lâu, nước mắt không cầm được, tôi phải bước vội ra sân để khỏi bật thành tiếng khóc . . .

     Những ngày bình thường, nào mấy ai chú ý tới cảnh vật quanh mình. Nhưng, tới khi sắp sửa phải từ giã nó, tôi cứ muốn nán lại mà ngắm nhìn da diết. Ngôi nhà tranh chật chội, từng che chở cho gia đình tôi những tháng năm nghèo đói. Mảnh vườn hẹp trồng đầy sắn và dong riềng,  có cây khế đứng lặng yên như cái ô đem cắm xuống đất. Người làng tôi nói rằng: chôn mèo đen dưới gốc cây khế thì trái chua thành trái ngọt. Tôi đã xin tới mấy con mèo đen chôn vào gốc khế, mà cây khế vẫn ra những trái chua chát, gia đình tôi vẫn nghèo khổ. Cây khế không có trái ngọt ngào và tôi ra ngoài đường vẫn gặp bao người đói rách. Có lần, thấy tôi đào gốc khế chôn mèo, mẹ tôi chép miệng: "Khế nhà ta chua tự mấy đời rồi con ạ?".

     Đi cách nhà được một đoạn, nghe có tiếng động ở đằng sau, tôi quay lại. Thì ra con chó nhà tôi, chẳng biết nó ngủ bờ, ngủ bụi ở đâu, thấy tôi, nó chạy theo vẫy đuôi tíu tít. Tôi dừng lại, nó quấn lấy người, nhảy chồm chồm, cào hai chân trước lên quần áo, thè lưỡi liếm tay tôi rồi kêu ư ử. Tôi bước đi, nó đè cả mình lên chân tôi cản đường, bộ lông vàng mịn cọ vào thịt da tôi như muốn giữ tôi ở lại nhà với nó. Tôi ngồi xuống, cởi bọc hành lý cho nó một củ khoai chờ nó ăn xong, tôi ôm nó về nhà xích lại, vuốt ve nó lần cuối cùng. Ra khỏi ngõ, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng nó kêu ư ử, chắc hẳn nó còn muốn chạy theo tôi một lần nữa.


*
*       *
   
   
     Quá nửa đời người dành dụm, bố tôi mới tậu được dăm sào ruộng nhà Lý Ninh bị phá sản và bị tên Điền tịch thu toàn bộ ruộng đất. Tên Điền viện lý này lẽ khác nói số ruộng Lý Ninh bán cho nhà tôi không có văn bản hợp pháp, rồi tịch thu một nửa. Bố tôi chỉ là một người dân nghèo nên kiện cáo năm lần, bảy lượt cũng chẳng ăn thua gì. Nhiều lần chú Hội bàn với bố tôi:

       -   Tôi nghĩ cánh nhà mình chẳng có quyền thế gì trong làng, cứ để chúng nó đè đầu cưỡi cỗ mãi, uất ức lắm. Hay bác, và em bán nốt mấy sào ruộng rồi hùn vốn mua lấy cái chức Phó lý.

      - Trời ơi! Chú bảo bán ruộng đi thì treo cổ lũ con nhà này lên à - Bố tôi hỏi vặn lại.

     - Bác cứ mạnh dạn nghe em, khó khăn thì nương nhờ vào họ hàng. Với lại, phải có gan như thế thì cả họ mình mới được nhờ.

     - Nhưng tôi có biết chữ đâu, làm chức tước ít ra cũng phải viết được cái văn tự chứ.

     - Miễn là bác cứ có được chức tước, còn mọi việc em lo liệu hết. Em mà không bị vu oan hai cái án thì em tranh cử lâu rồi.

     Bố tôi ngồi thần ra một lúc, rồi đứng dậy nhìn chú Hội, nói như quát:

     - Từ nay chú đừng bàn chuyện đó với tôi nữa. Làm Phó lý để bòn mót của dân à, dẫu chịu là hạng cùng đinh tôi cũng chả thiết chức tước.

     Chú Hội khuyên bố tôi không được, đành buồn chán bỏ về. ở làng Thượng Nung này, chú Hói là người bị kẻ quyền thế bóc lột nhiều nhất. Trong làng chú mang nặng oan ức và thù hận. Chú đi kiện bọn Phó lý, Chánh tổng về chuyện cướp bóc ruộng đất. Trong vòng ba năm, đơn kiện chẳng ăn thua gì mà chú còn bị bọn chúng buộc cho những tội tày trời. Một lần gặp người chết chú mang chôn, bị chúng khép tội giết người. Một lần khác, đang đêm có đám cháy, chú chạy đến chữa cháy và kêu cứu, chúng khép tội đất nhà. Chú Hội vốn thông minh lại biết dăm ba chữ nên chúng càng cố tình dìm xuống bùn đen. Thế vẫn chưa yên, đã quá tuổi bốn mươi chú mới lấy được vợ. Vợ chú là vợ cũ của tên địa chủ Hạnh, vì lấy nhau không có con bị hắn bạc đãi và ruồng bỏ. Khi chú Hội lấy thì tên Hạnh khép tội lấy tranh vợ hắn. Bố tôi đành phải bán ít ruộng còn lại chuộc tội cho chú. Từ đấy, gia đình tôi chỉ còn hai bàn tay trắng. Bố tôi phải sang nhà tên Chiếu xin cấy nộp tô. Nhiều năm mất mùa, tô không được giảm, nộp tô, nộp thuế xong cũng là lúc phải vét bồ. Làm ruộng nộp tô còn phải thưa ông, bẩm bà, vào luồn ra cúi đủ điều. Quanh năm nhà tên Chiếu có bao nhiêu cái giỗ bố tôi phải nhớ hết. Giỗ to thì con gà chai rượu, giỗ nhỏ thì nải chuối, thẻ hương. Cứ thế, gia đình tôi càng ngày càng lâm vào cảnh nghèo đói.

     Làm ruộng chẳng đủ ăn, bố tôi phải lặn lội hết đồng Nung sang đồng Dàm kiếm cá. ông cụ dầm sương dãi nắng suốt ngày, nên người cứ đen thui. Nhà neo người làm, hơn mười tuổi đầu, tôi phải theo bố đi đánh cá. Cứ mỗi buổi chiều đi chăn trâu về, tôi khệ nệ vác tấm lưới to
bè trên lưng theo bố ra đồng. Trời rét như cắt ruột mà hai bố con chỉ mặc manh quần cộc. Khi chờ cá lên vật đẻ, tôi thường lấy tấm lưới choàng kín người rồi ngủ thiếp đi. Vừa ấm chỗ, bố tôi đã giục:

      - Dậy đi Chuông! Ngủ gì mà gớm thế.

      Chỉ cần ông cụ giục một lần, tôi đã bật dậy ngay lập tức. Nếu chậm, có thể bị ăn đòn vì tính ông cụ nóng như lửa.

      Khi thả lưới bố tôi thường cắm một đầu vào bờ, một đầu căng dài ra, rồi quây quanh lại thành một vòng tròn khép kín. Tôi ra sức lấy sào đập, dùng chân khua, tát té bì bõm. Chỉ cần không nghe tiếng khua nước là bố tôi lại quát tháo. Cho đến lúc đám ruộng chăng lưới bùn sục lên đầu gối, chân tay tôi cứng đờ, thâm tím, bố tôi mới cho nghỉ. Đánh được cá bố tôi đổi gạo đem về nấu cháo. Những ngày hết gạo, gia đình tôi chỉ còn biết trông vào mẻ lưới rủi may. Da thịt, đầu tóc tôi lúc nào cũng tanh tưởi mùi cá, mùi bùn. Chẳng bao lâu, tôi đã học được nghề thả lưới.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 11:41:30 PM
      Cảnh nhà nghèo túng không được đi học, nhưng tôi rất ham học. Đi chăn trâu, đánh cá về nhà là tôi lại ê a đánh vần. Đôi khi buồn bực, bố tôi lại quát:

      -   Thôi im đi kẻo điếc tai tao? Nhà người ta có của, lễ lạt thì theo học mới làm nên ông cử, ông quan, còn chúng mày học để đi cày thuê à?

    Chửi vậy, nhưng bố tôi lại rân rấn nước mắt. Thế là tôi không được theo học. Tuổi thơ phải chăn trâu, thả lưới đế nuôi thân. Hàng ngày cưỡi trâu ra ngõ gặp lũ trẻ con nhà giàu cắp sách đi ngược về phía mình, tôi thấy buồn vô hạn. Ngôi trường không bao giờ dành chỗ cho tôi học.
Buồn chán và tủi cực, tôi lấy roi quất mạnh con trâu cho lồng vượt qua bọn trẻ.


*
*     *

      Cảnh sống lầm than, đói rách trong làng tôi ngày càng thêm nặng nề. Đi đâu cũng thấy người ta nói chuyện nợ nần, tô tức, chuyện lính Tây bắn giết đồng bào. Làng Thượng Nung của tôi bao nhiêu người đói khổ, bao nhiêu người bỏ đất bồng bế nhau đi. Hôm qua có người chết đói ở đầu làng, hôm nay có người chết đói ở bờ ruộng. Giếng giữa làng tôi nước vẫn trong, nhưng không phải nước hồi sinh cứu đói. Cánh đồng Nung cá nhiều, lúa lắm, mà con người Thượng Nung vẫn đói khổ, bần cùng.

      Cũng thời gian này, khắp nơi rộn lên những tin khởi nghĩa giành chính quyền. Rồi những danh từ "Cách mạng", "Việt Minh" lan tràn đến mọi người. Đầu tiên, tôi nghe nói Việt Minh đánh đuổi bọn Tây, Nhật giành tự do, độc lập lật đổ bọn địa chủ gian ác, đem cơm no, áo ấm cho
dân nghèo. Tôi dần dần hiểu ra chỉ có đi theo Việt Minh thì mới xóa được cuộc đời nô lệ. Khi tôi gợi chuyện xin đi Giải phóng quân thì cả nhà đều sửng sốt. Mẹ tôi vừa khóc vừa nói:

      - Bố mày mới mất, nắm cỏ ở gần cây đa bến Chuồm chưa xanh, chị mày mới đi lấy chồng, mày mới đỡ đần được đôi việc giờ lại bỏ đi, mẹ biết làm ăn, sinh sống ra sao?

     Mẹ tôi không nói, tôi cũng biết cảnh nhà như vậy, nhưng lẽ nào tôi cứ phải sống một cuộc sống tối tăm mãi. Gia đình tôi quanh năm vất vả mà vẫn đói rách. Bố tôi phải làm lụng cực nhọc, đến lúc chết ông vẫn còn mang theo cơn đói, bệnh tật. Các em tôi và tôi không được học hành. Những điều đó thúc ép tôi phải ra đi, tôi làm sao nói cho mẹ tôi hiểu hết được.

      - Mẹ ở nhà có nhiều cái khốn khó, con nhờ các chú, các bác giúp đỡ mẹ những khi ốm đau. Về phần con, con đã suy nghĩ kỹ rồi.

      - Mới mười sáu tuổi đầu, chứ nhớn nhao khỏe mạnh gì cho cam. Tao không cho mày đi đâu hết. Ở nhà còn có xóm làng, ra ngoài tao lo lắm.

      Mẹ tôi vừa nói vừa khóc.

     Tôi vượt qua cánh đồng trong, gió thổi ù ù. Ban đêm, nhìn vào đâu cũng thăm thẳm.  Bước đi trên đường làng, đầu óc tôi nghĩ lung bung đủ mọi chuyện. Tôi tin rằng, ngày mai, đêm mai, không thấy tôi cả gia đình sẽ khóc lóc, sẽ đi tìm mọi nơi. Nhà chỉ còn hơn chục bát gạo, ăn hết rồi thì biết trông cậy vào đâu. Cả những gì tôi chưa nghĩ tới thì lúc này cũng nảy ra: số tiền trong túi tôi tiêu thật hà tiện cũng chỉ được năm ngày. Khoản tiền này do người anh rể lấy trộm của gia đình cho tôi. Biết thế nào bà cụ cũng mắng anh, tôi từ chối:

     - Anh để tiền cho bà đong gạo nuôi các cháu. Em ra đi kham khổ rồi sẽ quen dần . . .

     - Không! Cậu cứ phải nghe anh cầm lấy số tiền. này. Ở nhà rau cháo cũng xong thôi, ra ngoài còn có anh em nữa chứ!

     Anh nói rồi cố tình tìm cách nhét tiền vào túi áo tôi. Thấy thái độ anh có vẻ dứt khoát, tôi phải ngoan ngoãn nhận tiền.

     Tới vị trí tập trung, anh Khang, anh Đình, anh Phẩm đều có mặt. Chúng tôi nhanh chóng giục nhau lên đường kẻo trời sáng. Tất cả mấy anh em ra đi đều giấu gia đình.

     Đến lúc đó, tôi mới thực sự lo về bước đường sắp tới của mình. Biết đến bao giờ mới gặp các anh Giải phóng quân? Nếu có gặp, người tôi nhỏ thế này chắc gì các anh ấy đã nhận? Nếu không nhận, tôi biết đi đâu? Quay về làng ư? Không được, vì mấy tháng nay, tôi đã nuôi cho mình một ý nghĩ phải ra đi. Ở thị xã, tôi làm gì để kiếm sống? Không, nhất định tôi phải xin vào Giải phóng quân bằng được. Có lẽ, bốn anh em mỗi người đều theo đuổi những ý nghĩ miên man. Anh Khang đeo tay nải bước đi trước, ba chúng tôi lầm lũi theo sau, không ai nói với ai một lời.  Đằng đông ửng lên một vệt mây hồng. Sao trên trời dần tắt. Trời bắt đầu sáng.

     Xóm làng lân cận hiện ra những mái cọ lúp xúp dưới bóng tre xanh thẫm. Con sông Hồng vào độ tháng chín, nước đỏ ngầu, với sức vóc rộng dài, hung dữ. Nó chảy cuồn cuộn, liên tiếp cuộn lên từng đợt sóng lớn. Con đường Hăm Bốn như rộng thêm ra. Hai bên đường, những hàng cây nối nhau lực lưỡng. Cây me lá xanh rợp mát, cây phượng đã qua mùa thắp lửa, chìa ra một loạt quả gầy khô. Chưa bao giờ tôi thấy đất trời cao rộng đến thế. Toàn tâm trí tôi bị cuốn hút vào thực tại, vào cảnh trù phú của miền quê trung du yêu dấu. Chính phong cảnh giàu đẹp, trù phú này đã nhói lên trong tôi một câu hỏi: Tại sao, những cánh đồng tươi tốt, những bãi sông đầy mía và chuối kia không nuôi sống được con người?


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 08:48:13 PM
     Càng gần tới thị xã Phú Thọ, tôi càng gặp nhiều tốp người ăn mặc rách rưới, gồng gánh kẻo nhau đi. Nhiều người trèo lên cả cây phượng hái quả nhai rau ráu. Không cần hỏi, tôi cũng biết đó là những người ăn xin. Về phía chúng tôi, bề ngoài cũng chẳng khác gì họ, cũng tay xách, nách mang, cũng vẻ mặt phờ phạc, mệt nhọc. Chỉ có điều, họ và chúng tôi mục đích khác nhau: Họ đi ăn xin tạm kiếm sống cho mình. Còn chúng tôi đi với ước mong xóa bỏ kiếp người đói khổ.

     Đoàn người ăn xin cứ đông lại dần, không hiểu thị xã Phú Thọ có gì bảo đảm nuôi sống họ mà họ kéo nhau lên đông như vậy. Lúc đầu, thấy một chiếc xe chở đầy người chết đi từ thị xã về phía Hạ Thạch, tôi đã hoảng, sau lại thấy bốn năm xe nữa. Những người đẩy xe gầy nhẳng, bịt khăn kín miệng, chốc chốc lại thở phậm phì. Không biết vì sao họ chết nhiều đến thế. Câu hỏi này được trả lời sau khi tôi đã đặt chân vào thị xã.

    Chúng tôi vừa ngồi vào một quán ăn nhỏ, mụ bán hàng béo mũm mĩm đã vội xua té:

     - Ra ngay! Các anh ra khỏi hàng tôi ngay!

     Chẳng hiểu có chuyện gì chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, chủ quán lại thét lên the thé:

     - Các anh là những kẻ ăn quỵt chứ làm gì có tiền mà nghênh ngang vào đây.

    - Bà cứ bốc cho chúng tôi mỗi người một bát bún, chúng tôi sẽ trả tiền trước khi ăn - vừa nói anh Phẩm vừa rút tiền đặt trước mặt mụ. Một tay mụ chan nước vào bát bún, một tay mụ nhét tiền vào túi, mụ xuống giọng làm lành:

     - Thế mà tôi cứ tưởng các anh đến ăn quỵt hàng tôi như bọn hành khất cơ đấy.

     Từ thuở bé tới giờ, tôi mới được chứng kiến quang cảnh nhộn nhạo của một thị xã. Tôi đứng ngây người ngắm những dãy nhà hai, ba tầng chạy dọc phố. Mỗi nhà là một cửa hiệu trưng bầy đủ mọi thứ. Những chủ hiệu luôn mồm chào hỏi những người ăn mặc lịch sự. Dưới lòng đường: người, ngựa, xe bò, xe kéo đi lại nhộn nhịp. Có những người có vẻ sang trọng, nhưng vô vàn người rách rưới, bê tha. Có tốp người gồng gánh đi mải miết. Lại có tốp người chìa tay xin tiền, hoặc nhặt bã mía, lá bánh. Có những người chẳng nói năng gì, chỉ đứng trước cửa hàng ăn nhìn hau háu vào đ a cơm, bát phở. Chợt có tiếng kêu thất thanh:

     - Bắt hộ tôi thằng ăn cướp, các ông, các bà ơi. Một cậu bé vừa cướp được một mẩu sắn luộc bị mụ bán hàng đấm vào lưng túi bụi.
Thị xã ồn ào như muốn vỡ bung ra. Nhìn vào đâu cũng thấy những người đầu tóc bù xù, chân tay ghẻ lở, luôn mồm rên rẩm:

     - Lạy ông, lạy bà, chúng con là kẻ khốn cùng. Xin ông bà rủ lòng thương xót.

     Người này xin không được vừa quay ra, người khác đã xông tới van lạy. Họ xin vét từng cái bát ăn, xin cả củ khoai, mẩu bánh hoặc cây rau cải đã úa vàng. Thương nhất là bọn trẻ con, chúng nhai từng cái lá, nhai cả từ cái bã mía người ta vừa vứt đi. Đứa kêu khóc hu hu, đứa nằm thở thoi thóp, ruồi nhặng bâu đầy. Có trời mà biết được hiện giờ nhà cửa, cha mẹ chúng ở đâu.

     Đi trên đường phố thị xã, đầu óc tôi quay cuồng, lảo đảo như lên cơn sốt. Đột nhiên có mấy tiếng hú dài càng làm tăng thêm bầu không khí náo động. Tôi giật mình thốt lên:

     - Anh Phẩm ơi! Con gì mà nó kêu to thế?

     - Mày ngốc quá! "Con tàu” chứ còn con gì nữa.

     Anh vừa nói xong thì "con tàu” đồ sộ đã lao tới. Nó thở hồng hộc như một con thú hung hãn bị trúng thương, phun ra làn khói đặc sệt. Hơi nước và bụi than phả vào mặt tôi rát rạt. Tôi đuổi theo con tàu, nhưng mới chạy được vài bước thì con tàu đã lao qua hàng chục mét. Những người ngồi trên tàu thò đầu và tay ra cửa sổ vẫy gọi:

     - Có đi Giải phóng quân không?

     - Lên đây, có đi Giải phóng quân thì lên đây!

     Anh Khang, anh Phẩm, anh Đình và tôi đều khoa chân, múa tay reo hò:

     - Hoan hô Giải phóng quân! Các anh cho bọn tôi đi theo với!

     Tôi vừa ngạc nhiên vừa xúc động, đoàn tàu đi qua rồi mà chúng tôi vẫn đứng nhìn theo hối tiếc. Ước chi đoàn tàu dừng lại để chúng tôi được đi cùng các anh.

     Chúng tôi gặp đơn vị Giải phóng quân ở dinh tỉnh trưởng cũ. Trông thấy một toán người đầu đội mũ ca-lô đang túm năm, tụm ba trên bãi cỏ, anh Khang tiến lại hỏi:

     - Chúng tôi xin nhập Giải phóng quân. Nhờ các anh chỉ giúp nơi làm thủ tục.

     Một người đầu tóc còn đỏ bụi, nét mặt chất phác, giơ bàn tay to bè vỗ vào vai anh Khang:

     - Các cậu ở quê lên đây phải không? Hay lắm, cứ có đủ sức khoẻ, khai tên tuổi rõ ràng là được vào Giải phóng quân thôi.

     Anh chỉ tay về phía căn nhà có treo lá cờ đỏ sao vàng nói tiếp:

     - Đến nhà kia, gặp cái ông gầy, có râu quai nón mà trình bày nhé?

     Chúng tôi dạ vâng răm rắp rồi kẻo nhau tới căn nhà có lá cờ đỏ Anh Khang trình bày rõ tên tuổi và nguyện vọng từng người. Tôi thấy ông râu quai nón gật đầu tỏ vẻ đồng tình. Chợt ông nhìn xoáy vào tôi, cái nhìn khiến tôi giật mình, giọng ông nói thân mật, nhẹ nhàng nhưng vẫn làm tôi sợ:

     - Chú tên là Chuông à? Tên kêu quá nhỉ, năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

     - Thưa, năm nay cháu mười sáu tuổi ạ!

     Tôi định khai tăng lên mười tám tuổi thì lại buột mồm nói mười sáu. Dường như trước mặt ông, tôi không đủ bình tĩnh để nói dối.

     - Thôi, thế thì trở về ở nhà với mẹ thêm hai năm nữa. Mười sáu tuổi, gầy guộc vậy đi theo Giải phóng quân sao được!


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 09:00:41 PM
     Nghe câu đó, tôi như người bị đẩy ra dòng nước xoáy mà chưa tìm được cách vào bờ. Mồ hôi ướt đầm trên trán, giọng tôi nói run run:

     - Em trốn nhà ra đi! Các bác cho em ở lại...

     - Trốn nhà ra đi à? Ha ha, chắc là bị ăn đòn phải không?

     - Không ạ!

     Biết mình nói năng lúng túng, vụng về, tôi nhìn anh Khang cầu cứu. Anh Khang vội đỡ lời:

     - Thưa anh! Nó trốn nhà ra đi vì nghèo khổ, muốn làm cách mạng. Nếu anh không nhận vào Giải phóng thì nó chẳng biết đi đâu, làm gì để kiếm sống. Bọn chúng em có bố đứa cùng làng với nhau, mong anh vui lòng cho nó ở lại.

     - Nhưng chú ít tuổi, thấp bằng súng thì đánh giặc sao nổi.

      -Thưa bác? Bác giao việc gì em cũng làm được ạ!

     Dường như người có râu quai nón vẫn còn đắn đo, do dự. Chúng tôi nhìn ông, chờ đợi câu trả lời thì ông nói lảng sang việc khác:

     - Đi đường xa về đây chắc các đồng chí đói rồi. Bây giờ hãy nghỉ ngơi ăn cơm chiều ở đây. Việc này tôi phải bàn thêm với ban chỉ huy đã nhé.

     Tôi không ngờ nguyện vọng của tôi được chấp nhận dễ dàng đến thế. Cơm nước xong xuôi, chúng tôi được phát quân trang và sắp xếp ở ngay. Người có râu quai nón nói đây là nơi nhận quân, chỗ ở chỉ là tạm thời. ông còn phân bua: "Cơm nhà binh độn nhiều ngô vì phải dồn gạo về các nơi cứu đói“.

     Đội chiếc mũ ca-lô lên đầu, tôi có cảm giác như mình đang nằm mơ. Có lẽ nào sự việc lại diễn biến nhanh chóng đến thế được, chiều qua tôi còn ở nhà chiều nay tôi đã là anh Giải phóng. Anh Khang, anh Phẩm đều bình luận: Thằng Chuông đội mũ ca-lô vào trông lớn hẳn ra. Tôi rút chiếc gương con ở túi, soi đi soi lại, ngắm mãi mình mà không chán mắt. Ô! Anh Khang nói đúng, tôi lớn lên thật rồi.

     Bỗng nhiên, tôi nhớ về câu chuyện bà tôi đã kể bên bếp lửa thuở nào. Đó là đêm mùa đông gió buốt, tôi nép và lòng bà để nghe rõ những lời rì rầm, chậm rãi:

     Ngày xưa, có một chàng trai sống một cuộc đã nghèo khổ, bỏ làng ra đi mong tìm gặp chân trời. Chàng trai ấy ngây thơ nghĩ rằng, ở nơi đó có cung điện, đền đài không cần xây vẫn mọc lên, có loài cây toàn ra trái bạc, trái vàng, có dòng sông chảy ra sữa ngọt. . . Nghĩa là ở chân trời mọi thứ đều có sẵn, con người không phải đổ mồ hôi, đổ máu để sinh tồn. Chàng trai hy vọng tìm cho mình cảnh sống giàu sang sung sướng.

     Chiếc bị vừng nặng trên vai, chàng trai rải dọc đường đi mỗi ngày một hạt. Đi qua mùa xuân rồi đến mùa đông, năm này qua năm khác những hạt vừng để dấu dọc đường đã mọc thành cây vừng, cây vừng lại mọc thành mùa vừng, người đó vẫn ra đi và đi mãi. Chợt có tiếng hú rùng rợn từ vách đá vọng xuống :

     - Này, ông lão kia ơ! Hãy dừng lại. Chân trời lão mơ tưởng không bao giờ có được đâu.

     Chàng trai giật mình: Tại sao? Có ai gọi ta là ông lão. Đến một dòng suối xanh biếc, chàng trai soi bóng mình xuống đó, thì chao ôi: mái tóc khi nào còn xanh đã bạc trắng tự bao giờ. . .


     Ngày nay, tôi cũng đi để tìm gặp chân trời. Tôi cũng đói khổ, rời làng như chàng trai ngày xưa, nhưng tôi không đi để tìm riêng cho mình cuộc đời sung sướng. Tôi đã thành Giải phóng quân. Với khẩu súng trên vai, con đường dài phía trước, tôi biết, có nhiều gian nan, vất vả và cuộc hành trình mới bắt đầu.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 09:25:18 PM
CÂU CHUYỆN NHỚ ĐỜI

     Trong đời mỗi người, ai chẳng có những kỷ niệm ấm lòng, dù chỉ một lần. Cuộc đời chiến sĩ cầm súng của tôi trên chặng đường đánh giặc, huấn luyện và xây dựng đơn vị hơn bốn mươi năm qua, có biết bao nhiêu điều đáng nhớ, đáng ghi.

     Đọc những trang sách viết về các bà mẹ Việt Nam, một kỷ niệm đẹp trong tôi bỗng thức dậy. Bởi câu chuyện này tôi vẫn không bao giờ quên.

     Ngày ấy, vào một mùa hè nắng chói chang. Quê tôi, một vùng trung du, trời cao vời vợi không một gợn mây, nóng hầm hập. Phú Thọ như gồng mình chịu cái nắng đổ lửa, trong tiếng cuốc kêu khắc khoải của mùa hè 1946 cũng như sau đó, chúng tôi chịu cái rét đến tê tái của mùa đông.

     Bấy giờ, tôi là một chiến sĩ Giải phóng quân vào tuổi mười bảy. Tuy ít tuổi đời, nhưng tôi đã có hai tuổi quân. Chi đội tôi do anh Ấn "trắng' chỉ huy. Anh ấn vốn là học sinh, nước da trắng mịn, nên bọn tôi gọi là Ấn "trắng”. Chi đội có ba trung đội Âu Cơ, Độc Lập và Quyết Thắng. Cán bộ chiến sĩ của chi đội là "Anh hùng của bốn phương tụ hội”, mũ nan, mũ ca-lô, giày ba-ta và dép lốp, đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng.

     Chi đội là một cái nôi ấm cúng, đủ thành phân xã hội, nông dân, thợ thuyền, học sinh, thầy giáo và cả lý trưởng, lái buôn, cả lính khố xanh và khố đỏ, miễn là mỗi người đều biểu hiện được lòng yêu nước, căm thù giặc của mình sôi sục quyết tâm chiến đấu để bảo vệ chính quyền non trẻ mà nhân dân ta vừa mới giành được, bởi cuộc Cách mạng tháng Tám năm bốn lăm.

     Tôi, Sĩ và Thanh là một tổ ba người, thuộc trung đội Quyết Thắng. Tổ "tam tam" chúng tôi thân nhau hơn anh em ruột thịt, thương nhau hết lòng. Sĩ và Thanh hơn tôi ba, bốn tuổi. Tuy vậy ba chúng tôi đều "bằng vai phải lứa", xưng là cậu, tớ hoặc mày, tao. Quê Sĩ ở Bến Then, quê Thanh ở Thanh Cù, quê tôi ở Thượng Nung. Sĩ là học sinh, Thanh xuất thân là nông dân nhưng học khá. Chỉ có tôi nhà nghèo quá, nên học được ít.

     Cách mạng thành công rồi, tôi đã trở thành một chiến sĩ Giải phóng quân, nên sự ham mê học chữ chẳng kém gì người đói thèm cơm, người khát thèm nước. Tôi tranh thủ nhờ Sĩ và các anh Côn, Xuân, người trong trung đội, là thầy giáo cũ dạy thêm, có lúc dùng phấn viết lên cánh cửa, hết phấn dùng than, rồi lấy que "viết" lên nền đất, cốt sao luyện chữ cho đẹp và làm toán cho thông. Với lại, tôi còn dấu một nỗi niềm thầm kín của mình, là ở quê, tôi có người bạn gái tên là Lý. Tôi muốn viết những lá thư để bộc lộ lòng mình. Mà những lá thư ấy sao cho Lý đọc rồi không thể quên được. Từ ngày tôi đi Giải phóng quân, Lý đã gửi cho tôi ba, bốn thư, thư nào Lý cũng nói lên nỗi nhớ mong, chờ đợi và say đắm. Tôi còn nhớ lần ấy viết thư cho tôi, Lý đã ghi mấy câu thơ nôm na nhưng rất xúc động:

Bạn ơi , từ thuở phân kỳ
Người thì ở lại, kẻ đi sa trường
Riêng lòng em vẫn mơ màng
Tim em vẫn giữ bạn vàng chẳng khuây
Tuy rằng xa cách bấy nay
Lòng em chẳng lúc nào khuây nhớ mình.

     Gần hết tuổi 17, sắp bước sang tuổi 18, cái tuổi đẹp nhất của anh Giải phóng quân, cái tuổi chớm yêu và đi xa là nhớ, là mong, là nhiều đêm thao thức, càng thôi thúc tôi quyết tâm học chữ.

     Lần ấy, ban chỉ huy chi đội cử tôi đi đưa thư cho các đơn vị đóng quân quanh vùng đồi gần đấy. Cuối tháng 6, trời nắng chang chang, hoa phượng vào hè đỏ lửa. Tôi đi qua những đồi cọ xanh, những nương chè xanh trải ven bờ sông Hồng đỏ lự. Mỗi vùng quê đều có vẻ đẹp riêng của mình, quê tôi sau này là Vĩnh Phú, nơi đất tổ Hùng Vương, "thủ đô" của cọ và cũng là một trong những kho chè của cả nước. Tôi không dám nói nhiều về cọ nhưng nếu thiếu những tán lá như "Mặt trời xanh” thì tầm mắt nhìn sẽ nhức nhối biết bao, nhiều khi nắng tràn như đổ lửa. Các nương chè bám lấy sườn đồi nâng dần tấm thảm lên cao, góp một màu quê quen thuộc, làm thành bức tranh trung du ấm mắt.

     Men theo bờ sông Hồng, tôi đi mải miết, dòng sông chảy xuôi về phía Hà Nội, còn tôi đi ngược về phía Phú Thọ. Hành trang của người lính cách mạng chỉ có chiếc ba lô lép kẹp, trong đó có vài bộ quần áo màu nâu đã phai, màu lá cây đã nhạt, đầu đội mũ ca-lô tím, dính ngôi sao vàng, chân đi đôi dép cao su trắng, vai khoác khẩu súng trường, quần buộc túm nơi ống chân, một chiếc dây da to bản thắt ngang lưng, rõ ràng tôi đã là một anh Giải phóng quân rất có tư thế.

     Tôi cứ ung dung hành quân một mình. Đã đến thị xã Phú Thọ, đường phố ngập hoa phượng đỏ. Tôi có cảm tưởng như con đường được trải bằng than đỏ hàng ki-lô- mét. Tiếng chim cu gù trên cành xoan trong các vườn nhà. Tiếng trẻ con đùa vui trên đường phố. Đây đó tiếng rao hàng, tiếng còi xe làm cho cái thị xã nhỏ thêm náo nhiệt.

     Tôi ngồi nghỉ dưới gốc một cây phượng to, nhìn hoa phượng rụng đầy, tôi nhặt một bông hoa, bứt mấy cánh ăn có mùi vị chua chua, thì ra loại hoa này ăn được, cũng đỡ khát nước. Chuyến đi này trong túi tôi chỉ có ba xu, không hơn không kém. Vì ít tiền nên khi nào khát nước, tôi ghé vào các ngôi nhà ven đường xin nước lã uống. Là một chàng trai thôn quê, nên uống nước lã quen, cứ nốc hàng gáo, chẳng đau bụng đau bão gì. Ba xu lúc đó với tôi quý lắm, cắt cái tóc đúng kiểu chỉ mất có hai xu, nếu gặp người quen, thì chỉ mất một xu rưỡi. Bởi vậy tôi giữ ba đồng xu ấy, không ăn quà bánh, uống nước ở dọc đường.

      Nghỉ một lát, tôi lại đeo ba lô, vác súng thủng thẳng bước, trời nắng dữ, vừa đói vừa khát nước. Tôi đã đến Khải Xuân, một quán hàng nho nhỏ nấp dưới một bóng cây cổ thụ. Tôi đứng xa nhìn vào, thấy trên bàn gỗ mộc có mấy lọ kẹo vừng, kẹo lạc và dăm cái bát uống nước. Một bà trạc gần 50 tuổi ngồi bán hàng, tôi cú phân vân, có vào hay không, nếu vào có uống nước, ăn kẹo không? Cuối cùng tôi tặc lưỡi cứ vào ngồi nghỉ chân cái đã. Trong quán đã có người đang ngồi uống nước, ăn kẹo, tiếng điếu cày nghe giòn tan. Tôi cầm cái bát màu men đã ngả màu vàng, lật ngửa bát lên và nói từ tốn: Con xin mẹ bát nước. Bà chủ quán múc cho tôi một bát nước chè xanh bằng cái gáo dừa nhỏ. Hai tay bưng bát nước, tôi uống từng ngụm ngon lành. Chà! Ngon quá! Chè xanh Phú Thọ có thể liệt vào loại đặc
sản hiếm hoi, vị chát mà lại hơi ngon ngọt, uống đến đâu nghe mát ruột đến đó, cứ là tỉnh cả người ra và hình như đỡ mệt mỏi sau một chặng đường dài. Uống gần hết bát nước, tôi nhìn lọ kẹo vừng như nhìn vào một điểm ngắm phía trước mũi súng. Phải nói là tôi thèm, nhưng phải tính toán ăn mấy xu thì vừa. Một xu được mười một chiếc, không hiểu sao, lại không phải mười hoặc một tá để tròn mười hai chiếc.

     - Mẹ cho con một xu kẹo vừng - Tôi nói với bà chủ quán. Bà thong thả lấy đôi đũa tre gắp mười một chiếc kẹo ra đĩa, những chiếc kẹo nhỏ, rắn, chi chít hạt vừng bám ở ngoài. Tôi nhón một chiếc đưa lên miệng, sau một tiếng "cắc” nghe giòn tan, một vị bùi không thể tả được, ngấm vào từng chân răng, ngọt xớt. Cứ thong thả ăn từng chiếc một, loáng cái đĩa kẹo hết nhẵn. Vẫn còn thèm nhưng không dám ăn thêm. Trả một xu kẹo, trong túi chỉ còn có hai xu. Như vậy là "lưng vốn” quá mỏng rồi, tôi đứng dậy, loay hoay tìm tiền để trả. Lúng túng thế nào, mũi súng chạm vào lọ kẹo vừng, rồi nghe "choang” một cái, lọ kẹo rơi từ bàn xuống vỡ làm mấy mảnh. Thật là một tình huống bất ngờ, tình huống này đầy chất bi kịch. Tôi đứng nhìn lọ kẹo vỡ, chưa biết làm gì vì đột ngột quá. Trong lúc ấy, bà mẹ vụt đứng dậy, vừa nhặt những chiếc kẹo rơi tứ tung, vừa lẩm bẩm: "Anh làm khổ tôi rồi, mai lấy gì đựng kẹo mà bán. Anh không biết sao, cái giống kẹo vừng có hơi gió vào là nó chảy nước, ai người ta mua. Anh lấy tiền đâu mà đền cơ chứ? Rõ là hôm nay tôi gặp rủi, không biết ai xông hàng buổi sáng nay...".


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 09:38:55 PM
    Tôi đứng như trời trồng bên chiếc ghế dài. Mấy người khách trả tiền xong rời quán, nên chỉ còn tôi với bà. Nghe bà mắng, tôi càng sợ, sợ đến bủn rủn chân tay. Tôi lo không đủ tiền đền chiếc lọ đựng kẹo bị vỡ và tôi nghĩ đến 12 điều kỷ luật của quân đội. Đánh mất cái kim của dân cũng phải đền cơ mà, huống hồ đây lại là một chiếc lọ thủy tinh hẳn hoi. Tôi lo lắng ngồi xuống ghế và cầu mong có đồng chí nào thuộc đơn vị qua đây, tôi xin tiền để đền. Và tôi quay mặt ra phía con đường vừa nhìn vừa ngó. Ngoài trời nắng đã tắt, chiều trung du đang xuống, một lúc sau đã thấy những ngọn khói bếp mấy nhà xung quanh tỏa dần lên các vòm cây cao. Sắp tối rồi. Thế là hết mọi hy vọng gặp người cùng đơn vị. Lòng tôi nặng trĩu và thú thật, lúc ấy tôi không biết mình phải làm gì. Chừng hiểu tâm trạng tôi, bà mẹ dịu dần, nhặt hết những chiếc kẹo rơi vãi cho vào một chiếc bình khác, rồi mẹ ngồi xuống ghế im lặng. Tôi đang lo một sự căng thẳng bao trùm lên chiếc quán nhỏ, bỗng nhiên mẹ hỏi tôi:

     - Quê anh ở đâu, đơn vị anh đóng quân gần hay xa?

     Tôi nghĩ câu hỏi của bà mẹ có lẽ là lời giải thoát cho mình khỏi tình trạng nan giải này, nên vừa mừng thầm trong bụng, vừa tìm cách trả lời sao cho không khí nhẹ nhàng, ấm áp.

      - Quê con ở Thượng Nung, cách đây không xa lắm. Nhà con nghèo, làm ruộng không đủ ăn, phải vỡ đồi trồng thêm sắn. Đơn vị con đóng quân gần đây thôi, đi khoảng ba bốn tiếng đồng hồ là đến.

      - Chiếc lọ kẹo đã vỡ rồi - Bà mẹ nói thủng thẳng – Tôi cũng không bắt đền anh đâu, các anh đi Giải phóng lấy tiền đâu mà đền. Lúc nãy, tôi nóng nói hơi quá lời, anh thông cảm. Nói thật, nhìn anh tôi biết, có lẽ anh còn kém tuổi con gái đầu lòng của tôi.

     Nghe bà mẹ nói, tôi mừng quá, nhưng vẫn áy náy, uống một bát nước, ăn một xu kẹo để rồi đánh vỡ chiếc lọ, thật là phiền phức. Tôi ngồi lặng im ngẫm nghĩ. Lúc ấy trời tối sẩm, muốn đứng dậy rời khỏi chiếc quán nhỏ, nhưng dùng dằng mãi, đắn đo mãi tôi chưa đứng lên được.

     Trong nhà, cô con gái lớn đã dọn cơm. Nghe bà mẹ gọi con, tôi biết tên cô là Tách, cô còn một em trai chừng tám, chín tuổi gì đó, em đang bưng nồi cơm từ bếp lên.

     Lúc ấy ông chồng bà cũng đã về. Ông là một nông dân thực thụ, khoảng ngoài 50 tuổi nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn, rắn rỏi. Qua câu chuyện tôi biết gia đình ông từ thị xã Phú Thọ tản cư về đây. Bà mở chiếc quán nhỏ để có đồng ra đồng vào. ông vào núi Thắm vỡ đất làm vườn. Chắc là bà đã nói với ông về "sự kiện" chiếc lọ, nên ông nhìn tôi cười có vẻ thông cảm.

     - Thôi anh à, chuyện nhỏ, mà nhân bữa cơm tối, anh ở lại ăn cơm với gia đình tôi - Ông lên tiếng mời.

     Bà mẹ nói thêm, giọng vui vẻ:

     - Cơm quê mùa thôi. Bây giờ tối rồi, anh vào ăn cơm với mẹ, với các em cho vui. Khổ, từ trưa đến giờ đói rồi còn gì.

     Tôi đáp lý nhí:

     - Con chưa đói, bây giờ con xin về.

     Thật ra, tôi đã đói cồn cào. Nhìn vào mâm cơm toàn những món "hấp dẫn”, có một bát canh suông, một đĩa cà pháo, một đĩa cá diếc kho béo vàng. Nhưng không thể ở lại vì nhiều lẽ. Đánh vỡ chiếc lọ chưa có tiền đền, ăn xong bữa cơm, trời khuya khoắt ngủ lại không được, mà về thì trời càng tối đặc. Với lại biết lòng bà mẹ và gia đình rất tốt, bà đã xem tôi như con, tôi không muốn lợi dụng lòng tốt đó, chỉ mong sao có dịp thuận lợi khác sẽ đến thăm bà mẹ và gia đình.

*
*      *


     Tôi chào ông bà và cô Tách, em bé rồi bước ra đường. Trời tối nhưng có sao lưa thưa, tôi khoác cây súng đi trong đêm trung du mịt mùng. Lòng vừa vui vừa buồn, gió đêm mát rượi, tôi mở khuy áo ngực, hăm hở bước…

      Về đến nhà chị Quế khoảng 9 giờ tối, tôi đói mềm. Dạo ấy, các đơn vị bộ đội đều đóng ở nhà dân. Tổ "tam tam" của tôi ở nhà chị. Anh chị quý mến chúng tôi như các em của mình. Tôi vừa đặt ba lô xuống chiếc chõng tre vừa kêu: "Đói quá". Chị Quế đang lúi húi dọn dẹp, nghe tôi kêu đói liền bảo: "Ở dưới bếp có khoai luộc, em xuống lấy mà ăn, gạo cũng còn, em chịu khó thổi cơm ăn cho no bụng, có tép rang khô đấy!".

     Tôi vừa ăn khoai vừa kể "sự kiện lọ kẹo" cho cả nhà nghe. Sĩ, Thanh và anh chị Quế đều rất thông cảm. Chị Quế nói: "Nhà vừa bán con lợn, chị cho em hai hào mà đền”. Sau đó Thanh về nhà xin tiền, cho tôi ba hào nữa. Vậy là tôi giàu to, từ ba xu bỗng nhiên có tới năm hào, mà năm 1946 trong túi có năm hào phải nói là giàu chứ lị. Tôi nghĩ đến việc đền chiếc lọ bị vỡ. Đền tức là mình giữ vững 12 điều kỷ luật của quân đội. Với lại, sau này có cơ sở mà đi về, mình không có điều gì phải ngượng ngập, băn khoăn.

     Cả tổ nhất trí cử Thanh cầm tiền đi đền. Thanh ăn mặc chỉnh tề, vừa bảnh mắt đã lên đường. Chuyến đi này, Thanh có nhiệm vụ khá nặng nề. Thanh phải nói thế nào cho bà mẹ nhận tiền đền bù, lại phải giữ mối quan hệ tốt đẹp của tình quân dân.

     Đến nơi, nhà "lý luận" Thanh nói rất khéo. Anh nói với bà mẹ: "Nhà thằng Chuông rất nghèo, nó trốn nhà vào quân Giải phóng năm 16 tuổi. Chuông chăm học, ngoan nết và chịu khó. Nó ở nhà chị Quế, làm đủ việc: quét nhà, gánh nước, chẻ củi, không nề hà việc gì. Cả trung đội đều quý, đều thương nó. Sau việc đánh vỡ chiếc lọ đựng kẹo, nó áy náy băn khoăn mãi…" .

     Rồi Thanh nói đến chuyện xin đền lọ kẹo vỡ. Bà mẹ cười to, xua tay:

     - Ai bảo các anh đem tiền đến, đền với chùa cái gì? Hôm trước tôi nóng, nói vài câu thế thôi, chứ có để bụng để dạ gì đâu, các anh đánh giặc, máu xương còn chẳng tiếc nữa là. . .

     Hôm ấy, không biết bà mẹ mời chào thế nào mà Thanh ở lại ăn cơm đến chiều mới về. Khi về, cậu ta lại có bao thuốc lá Hoa Lư - loại thuốc ngon lúc bấy giờ, mời anh em hút. Thì ra, chuyện gì cũng có căn nguyên của nó cả, vấn đề quan trọng là do cô Tách, con gái cưng của bà mẹ "đạo diễn”. Cô nói nhỏ với bà mẹ: Mời anh ấy ở lại ăn cơm trưa, vì câu chuyện lọ kẹo còn dài. Bà mẹ mỉm cười, gật đầu. Vậy là Tách có dịp làm quen với Thanh. Năm ấy Thanh chừng 22, 23 tuổi. Cô Tách vừa tròn 20 tuổi. Về tuổi mà nói thì đẹp đôi rồi, còn tính nết, Thanh chân thật, thẳng thắn, anh nói chuyện có duyên và hát khá hay.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 09:46:18 PM
      Thời ấy hình ảnh anh Giải phóng quân là một hình ảnh đẹp. Vẻ đẹp trước hết là ở đức tính hy sinh, sự chịu đựng gian khổ và quyết tâm chiến đấu không lùi bước trước bất cứ khó khăn, trở lực nào. Đôi vai người lính bấy giờ gánh rất nặng: Gánh sông núi, rừng biển, đồi nương, đồng ruộng, gánh cả vận mệnh dân tộc nữa. Nhưng mà tâm hồn trong sáng, tấm lòng thanh thản và vui nhộn, yêu đời ăn đói vẫn hành quân dẻo dai, thiếu súng dùng gậy tập luyện, đêm mưa nằm kể chuyện quê nhà, tối nào có trăng thì ngồi thành mấy vòng vỗ tay mà hát.

     Trung đội Quyết Thắng của tôi có mấy giọng nam vào loại nghe được, nên càng ham học hát. Những là "Anh em trong đoàn quân du kích", "Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi”, rồi sang "Đời sống mới" có khi cao hứng hát "Em cứ đợi anh vê”. Thanh là một ca sĩ của đơn vị. Tôi nghĩ cô Tách yêu Thanh về đức tính đẹp, cũng có thể cả giọng hát hay của anh. Thanh và Tách đến với nhau, quả là một mối tình đẹp, nên bọn tôi hết sức vun vào. Tình quân dân, tình bạn, tình yêu hòa quyện vào nhau càng thêm bền vững càng thêm sáng trong. Nghĩ về Thanh, về bà mẹ nơi quán nhỏ, tôi lại nhớ về gia đình mình, nhớ Lý, nhớ làng quê Thượng Nung, chân lấm tay bùn. Mẹ tôi năm ấy đã già, người nhỏ nhắn nhưng ít ốm đau. Bà bám ruộng bám đồi, cấy cày, vun xới từ lúc mặt trời còn chưa mọc cho đến lúc mặt trời lặn. Với tôi, bà là một tấm gương lao động không sao có thể nói được đầy đủ về những giọt mồ hôi của bà, về tấm áo rách, về đòn gánh mòn vai, về chiếc quạt mo bà đập muỗi những đêm trở trời, trái gió.

      Bà mẹ nơi quán nhỏ ven đường, cũng như bà mẹ sinh ra tôi có một nét giống nhau, ấy là tấm lòng cưu mang, độ lượng, thương người. Tấm lòng ấy làm sáng tỏ, dầy dạn thêm những đức tính tốt đẹp của các bà mẹ Việt Nam. Mong bạn đọc thông cảm để tôi được dẫn ra một việc nhỏ:

     Năm tôi mười tuổi, mẹ tôi bảo tôi bưng nồi canh cua từ bếp ra, loáng quáng thế nào bị vấp, tôi đánh đổ gần hết nồi canh. Mẹ tôi nhìn cái nồi không rồi dịu dàng: "Có bị bỏng không con?". Lúc đó, tôi chỉ còn biết đứng trân trân nhìn mẹ, rồi ứa hai hàng nước mắt, nghẹn ngào. . .


      Tổ "tam tam" chúng tôi còn có anh chàng Cư Sĩ, Sĩ lực lưỡng, một học sinh chính cống, nói ít nhưng hay cười, luyện tập các khoa mục về quân sự. Sĩ tập như trâu lăn. Nắng, Sĩ để đầu trần tập bò, tập chạy. Mưa, không cần mũ, Sĩ chạy băng băng lên đồi luyện động tác xung phong, truy kích. Không biết "duyên trời" thế nào mà Sĩ yêu Kim Phương, cô gái quê Bến Then "xinh nhất hội”. Kim Phương yêu Sĩ, giúp Sĩ và tổ "tam tam' chúng tôi được nhiều việc. Thỉnh thoảng, cô mời cả tổ đến nhà chơi. Chúng tôi được ăn những bữa cơm ngon và tráng miệng khi thì quả chuối, khi thì múi bưởi Đoàn Hùng. Vậy là "gia đình nhỏ" của chúng tôi gồm năm người tôi, Sĩ, Thanh, Tách và Kim Phương.

      Cuối năm 1946, tôi được ban chỉ huy chi đội cử đi học trường Hoàng Hữu Nam, khóa đào tạo cán bộ tiểu đội, trung đội. Sau sáu tháng tôi trở về đơn vị - chiếc nôi ấm của tình đồng đội gắn bó keo sơn.

      Năm 1947, giặc Pháp đánh nống ra vùng núi lửa. Chúng đánh lên Tây Bắc trên đường từ Phong Thổ, Lai Châu xuống Sơn La, Nghĩa Lộ và đồng bằng Yên Bái. Hướng Phòng Tô, chúng chiếm Sa Pa, Lào Cai, Bắc Hà; hướng Hà Giang, chúng kết hợp với Phỉ, tàu Tưởng chiếm Hoàng Su Phì, Bắc Quang. Cuộc chiến đấu của quân và dân ta cùng đồng bào các dân tộc vô cùng gian khổ, khó khăn. Theo lời Đảng, Bác Hồ, quyết tâm đánh giặc Pháp, tất cả đứng lên bảo vệ nền độc lập ta vừa giành được, không lùi bước trước thử thách hiểm nguy. Bọn giặc đến đâu chỉ gặp vườn không nhà trống. Thị xã Phú Thọ đang tiêu thổ kháng chiến, những ngôi nhà đã bị phá, đường phố dựng chướng ngại vật khắp nơi. Lực lượng vũ trang của ta chỉ để một số đơn vị chủ lực, đánh ngăn chặn địch, còn tổ chức đại đội độc lập luồn sâu vào hậu phương địch, vừa đánh địch vừa xây dựng cơ sở, bám dân, bám đất, kết hợp đánh từ trong ra ngoài và đánh từ ngoài vào trong. Kẻ địch càng lúng túng, chúng đã phải nếm nhiều đòn đau.

      Thời gian tôi đi học trở về thì tổ ba người được cấp trên phân công mỗi người đi một hướng. Chúng tôi đã trưởng thành, tất cả đều là cán bộ tiểu đội, cùng ở một trung đội. Thanh được phân công lên hướng Lào Cai, Bắc Hà, Sĩ đi hướng Hà Giang. Tôi đi hướng Nghĩa Lộ, Gia
Hội, Tú Lệ nên ít được gặp nhau. Thỉnh thoảng mới nhận được thư của nhau. Mùa thu năm 1949, các đại đội độc lập ở các ngả kẻo về tập trung thành đơn vị chủ lực. Đây là một bước trưởng thành của đơn vị chúng tôi. Ba anh em chúng tôi lại gặp nhau, cùng ở trung đoàn 165, đều được cấp trên giao phụ trách trung đội. Chúng tôi bắt tay vào xây dựng đơn vị, ra sức huấn luyện theo chương trình mới. Sau đó, đơn vị chúng tôi đã giải phóng được Bắc Hà, Lào Cai. Hoàn thành nhiệm vụ nặng nề cấp trên giao cho, đơn vị chúng tôi lại cơ động về Vĩnh Phúc, chuẩn bị chiến dịch Hòa Bình năm 1952.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 10:12:42 PM
     Câu chuyện quanh chiếc lọ đựng kẹo bị vỡ' chưa kết thúc, nó còn phần hai - cái phần ta thường gọi là đoạn kết. Bởi vậy, tôi xin được kể tiếp câu chuyện này.

     Khi vào chiến dịch Hòa Bình, Sĩ và tôi đều đứng trong đội ngũ những người ra trận. Đây là một trận đánh lớn, cũng là lần đầu tiên chúng tôi được dự một chiến dịch có tầm quan trọng đặc biệt. ý nghĩa của chiến thắng Hòa Bình, các báo chí, sách vở và Đài tiếng nói Việt Nam đã nêu rõ, đồng thời từ trong khói lửa chúng tôi đã rút ra được những bài học quý báu và bổ ích.

     Về phần chúng tôi, những người lính chiến, được dự chiến dịch này là một phần vinh dự lớn. Lúc ấy tôi là trung đội trưởng, chỉ huy hơn 30 chiến sĩ trẻ măng, lần đầu tiên từ miền rừng núi về đồng bằng Sơn Tây. Tuy địa hình ở đây vẫn phảng phất nét trung du, nhưng cái "hồn” đồng bằng của nó làm chúng tôi choáng ngợp. Những chân ruộng như ô cờ trải bạt ngàn quanh các làng quê trù phú. Súng đạn giặc giã thế mà những cánh cò vẫn lả lơi. Mỗi buổi chiều, chúng tôi ngồi dưới lùm tre làng nhìn ra, từng đàn cò bay là là trên đồng lúa, hệt như một đám mây trắng lơ lửng trôi. Và chim sáo nhiều vô kể. Quanh ngọn Ba Vì, từng đàn sáo sà xuống đậu trên lưng bò, sừng trâu, ríu ra ríu rít.

     "Tiến về đồng bằng” không chỉ là một câu trong bài hát, mà nó còn chứng tỏ sự trưởng thành của quân đội ta cũng như trình độ tác chiến của các đơn vị chủ lực. Đơn vị tôi đánh trận phục kích và đánh vận động ở xóm Nội, quãng giữa đá Chông và núi Chẹ, tiêu diệt điểm cao 400-600 trên mỏm núi Ba Vì. Trận này, lần đầu tiên chúng tôi giáp mặt với xe tăng Pháp, quần nhau với giặc ba tiếng đồng hồ, cuối cùng đánh quỵ cả xe tăng. Giặc núng thế, giả vờ giơ tay hàng. Một tiểu đội ta tiến lên để tước súng, giặc bắn lại liền. Bên ta hy sinh mấy đồng chí. Trận này chúng tôi chịu một nỗi đau xé ruột: Cư Sĩ, trung đội phó hy sinh. Trận xóm Nội, Ba Vì, Sĩ ngã xuống giữa bom đạn chiến trường. Anh còn trẻ quá, mới khoảng 26 tuổi đời. Điều an ủi Sĩ và cho cả chúng tôi là trước chiến dịch này, Sĩ được về phép mấy ngày. Những ngày tranh thủ ấy, Kim Phương đã có tin mừng. Sau ngày anh hy sinh, một bé gái ra đời, cháu không biết mặt bố, người thân yêu nhất của cháu là bà mẹ trẻ Kim Phương, rồi đến chúng tôi: Bác Thanh và chú Nguyễn Chuông.

     Sau này mỗi lần đi qua xóm Nội, chúng tôi lại nhớ Cư Sĩ khôn nguôi. Chính chỗ này đây, chính cái xóm Nội này đây, người chồng thương yêu của Kim Phương, người đồng đội thân thương tin cậy của chúng tôi đã ngã xuống, không bao giờ trở lại. Xúc động trước cái chết của Cư Sĩ, tôi làm mấy câu vè. Tuy chữ nghĩa ít, nhưng tôi thích làm ca dao, hò vè, cũng có lúc cao hứng tôi làm thơ nữa. Tôi nghiệm ra một điều: Cái gì gây cho mình xúc động, hưng phấn thì dễ bật thành lời, thành những câu có vần, vả lại, tôi làm để ghi vào sổ tay, dán lên báo tường, nên cứ hồn nhiên mà "sáng tác", cất sao giữ lại những kỷ niệm sâu sắc trong đời mình.

     Ba mươi năm đã trôi qua, bây giờ tôi vẫn nhớ những vần thơ - vè ấy:

    Trận xóm Nội tôi còn nhớ mãi
Hôm nay người sông kể lại tình thương
Thương anh Sĩ, Huệ, Thiết, Ba
Lại cả Lưu, Lư, Ninh
Hôm nay tôi còn sống một mình
Ghi vào chỗ lòng tôi thương tiếc...

     Đánh trận đầu của chiến dịch này, đơn vị tôi đã giành được một thắng lợi vang dội, tiêu diệt một đơn vị thiện chiến của đội quân viễn chinh Pháp, phá hủy được xe tăng, bắt sống Tây râu xồm. Sau trận này, tôi được đề bạt lên đại đội phó. Nghĩ về đồng đội hy sinh, tôi càng thấy trách nhiệm nặng nề của mình.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 10:24:24 PM
     Từ ngày tôi theo Đảng và Bác Hồ, đến tuổi 23 là đảng viên Cộng sản, là cán bộ đại đội, tôi đã có những nhận thức về quyền sống của con người, về sự bất công của xã hội cũ, về mục tiêu chiến đấu, về con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. Là một chiến sĩ Giải phóng quân, cầm súng chiến đấu, tôi và anh em đồng đội đều tự hào mình là những chiến sĩ trung kiên của nhân dân.

     Bây giờ đánh thắng trận trên dãy Ba Vì, nghĩ lại ở làng dưới chân núi, tôi thấy lòng mình phấn khởi, tự hát thầm mấy lời. Cũng như hồi nhỏ, hát ví một cách tự nhiên, không thành đầu thành cuối, những câu có vần và không có vần.

     Thú thực với các bạn, một nốt nhạc tôi cũng không biết mà hát cũng vào loại xoàng. Trong những buổi học hát ở trung đội, tôi thường vỗ tay theo, hát với giọng khê nồng của anh nghiện thuốc lào. Thế mà tôi lại muốn làm một bài hát kỷ niệm trận đánh thắng ở Ba Vì của đơn vị.

     Tôi ngồi dậy rít một điếu thuốc, tiếng điếu cày kêu róc róc, nghe đến vui tai. Tôi gõ tay vào thành chõng nghêu ngao vài câu mở đầu, rỗi bỗng nhiên những câu sau tuôn chảy, tôi hưng phấn hát to lên:

Ba Vì ngất cao
Quanh mình quê hương ngát thơm đồng lúa
Có anh du kích gác trên nương
Nhìn về xóm vắng xa
Một chiều đông tới
Âm vang tiếng mìn bên rừng diệt thù
Xóm làng hân hoan biết bao niềm vui...

     Bài hát do một người "mù nhạc" cao hứng sáng tác, không ngờ được anh em thêm bớt câu chữ, tự nghĩ ra giai điệu trở thành bài ca "Ba Vì ngất cao. Quanh mình quê hương ngát thơm đồng lúa...". Tiếng hát cất lên khỏe như nhịp bước, mát như ngọn gió, đơn vị tôi hào hứng hát vang trong những đêm trú quân dưới chân núi cao xanh kia.

     Chiến dịch Hòa Bình kết thúc, chúng tôi lại hành quân lên Việt Bắc rồi Tây Bắc - những vùng núi non trùng điệp những vùng sông suối dọc ngang. Ở đâu cũng in dấu chân của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn Chiến Thắng. Trước khi vào chiến dịch Điện Biên Phủ, trận đánh lịch sử chấn động địa cầu, tôi là một cán bộ tiểu đoàn. Khi một rừng cờ trắng của giặc dăng đầy thung lũng lòng chảo Điện Biên, tôi còn đang nằm tại trạm quân y dã chiến. Gần cuối trận đánh, tôi bị   thương nặng, tưởng đã vĩnh biệt đồng đội của mình. Nhưng tôi đã qua được "trận đánh hiểm nghèo" này, mang mấy vết thương trên mình, tôi trở về đơn vị - Sư đoàn 312 thân yêu. Còn Thanh vĩnh viễn nằm lại với mảnh đất Điện Biên Phủ anh hùng.

     Trước năm 1954, khoảng ba, bốn năm, gia đình tôi cũng như bà mẹ nơi quán nhỏ bặt hẳn tin tức về tôi. Những người thân ở hai mái nhà thương nhớ kia tưởng chúng tôi đã hy sinh hết rồi. "Nếu còn sống thì thằng Chuông đã về thăm gia đình, chứ tại sao lại biệt tăm tích như thể”. Bà mẹ quán nhỏ nói với cô Tách vợ Thanh những lời tâm tình trên. Sau đó cô Tách tìm ra chỗ tôi đóng quân vào mùa thu năm 1955. Chị Tách lúc ấy là một bà mẹ trẻ góa bụa. Anh Thanh hy sinh trong trận đánh ở đồi Độc Lập, Điện Biên Phủ. Tổ "tam tam" của tôi thời Giải phóng quân bây giờ chỉ còn lại có một mình tôi, hai người bạn tri kỷ, tâm giao không còn nữa, thật đau lòng biết bao nhiêu. Tách đi tìm Kim Phương, hai người vợ liệt sĩ đến với nhau, an ủi động viên nhau nuôi dạy con nhỏ.  

       Thời gian Tách đi tìm tôi, tìm Cư Sĩ, trước khi gặp tôi vào năm 1955, đó là những tháng năm đau buồn, day dứt của chị. Chị đã lên thị xã Phú Thọ, đến nhiều vùng đóng quân cũ, nhưng không dò ra manh mối gì. Chị mong gặp chúng tôi để bộc lộ nỗi lòng đau xé khi chị nghe tin anh Thanh hy sinh. Chị cũng muốn nói về bà mẹ của mình mỗi tuổi mỗi già, ngày đêm mong ngóng chúng tôi về thăm.

     Bà mẹ nơi quán nhỏ ven đường không chỉ là bà mẹ Tách và Thanh mà còn là mẹ của chúng tôi, của Cư Sĩ và Kim Phương. Bà nuôi một đàn gà chờ chúng tôi về để ăn mừng ngày quân ta thắng trận Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Bà bồn chồn lo lắng, giục chị Tách đi tìm chúng tôi. Cuộc ra đi của chị Tách có thể nói là "một cuộc hành trình đầy gian khổ…" .

      Tách gặp Kim Phương ở Bến Then, hai chị em ôm nhau khóc, bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu cay đắng được thổ lộ qua câu chuyện tâm tình. Đang ở vào lứa tuổi đẹp nhất, hai chị trở thành vợ liệt sĩ, mẹ của hai cháu nhỏ. Không tìm thấy tôi, hai chị nghĩ là tôi đã chết. "Ba anh ấy lúc sống có nhau, thì khi nhắm mắt cũng có nhau”. Cuộc đời chiến sĩ cầm súng là thế, khi sống, chiến đấu hết mình, khi chết thanh thản ra đi, không kịp trối trăng một lời.

     Hai chị bàn nhau lập bàn thờ cho cả ba người, Thanh, Cư Sĩ và tôi. "Linh thiêng" làm sao, tấm ảnh chụp tổ "tam tam” năm 1947 hai chị còn giữ được. Phóng to tấm ảnh ấy, hai chị thận trọng đặt lên bàn thờ. Thắp mấy nén hương, hai chị khấn, nước mắt giàn giụa. Hai đứa bé đứng sau mẹ cũng kính cẩn vái lạy, khóc sụt sùi. Ba gian nhà lá của Kim Phương nghi ngút khói hương, không khí bỗng trầm hẳn xuống. Chiều vừa tắt nắng, lại một đêm dài đằng đẵng sắp buông phủ màn sương.

*
*     *


     Chiến trường miền Nam đang gọi, sư đoàn tôi thần tốc hành quân. Chúng tôi đánh trận Bình Dương. Tôi chỉ huy sư đoàn và các đơn vị phối thuộc chọc thẳng vào Lai Khê, thị xã Thủ Dầu Một, Phú Lợi. Đòn đánh khá mạnh, bộ binh và pháo binh hợp đồng với quân chủ lực, quân địa phương trong đội hình vào trận khiến cho sư đoàn 5 nguỵ tan tác, quy hàng. Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng, Tư lệnh sư đoàn 5 dùng súng ngắn tự sát. Sư đoàn tôi trong đội hình một đạo quân lớn nhằm hướng Sài Gòn xốc tới và chiến thắng cuối cùng ta đã giành được trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

      Đơn vị tôi lật cánh trở về miền Bắc. Thật là may mắn, sư đoàn chiến thắng của tôi lại về xây dựng doanh trại trên vùng Đất Tổ - quê hương Phú Thọ thân yêu thế mà tôi vẫn chưa có một ngày về thăm lại nơi quán nhỏ năm xưa. Đó vẫn là niềm áy náy trong tôi. Một lần tôi nhận thư của một cô gái bây giờ đã là cô giáo cấp 3, con của Cư Sĩ và Kim Phương. Lá thư tâm tình cháu viết khá dài, cháu kể về gia đình, về mẹ cháu và bước trưởng thành của cháu. Gần cuối bức thư, cháu viết: "Bác Chuông ơi, xin phép bác cho cháu gọi bác là bố, bác thông cảm cho cháu vì từ lúc lọt lòng cháu không hề biết mặt bố cháu. Từ lâu lắm rồi, cháu chỉ nhìn thấy ảnh bố cháu thôi…".

     Đọc xong lá thư, tôi bưng mặt khóc. Đời tôi hơn bốn mươi năm quân ngũ, không nhớ đã khóc bao nhiêu lần. Thanh rồi Cư Sĩ ngã xuống trong kháng chiến chống Pháp. Rất nhiều đồng đội trong sư đoàn tôi đã hy sinh trên chiến trường miền Nam. Các anh ngã xuống để cho ngày hôm nay và để cho ngày mai. Mỗi giọt nước mắt nhỏ xuống, tôi vừa thấy thương tiếc, vừa cảm nhận được sự tự hào. Lá thư của cô giáo cấp 3, con gái của chị Kim Phương làm tôi xúc động.

      Vâng, tôi sẽ là người bố đỡ đầu cho cháu, góp với cháu những ý kiến bổ ích, chân thành để cháu đi tới đích cháu hằng mong muốn.
Sau chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975 một thời gian tôi thu xếp về thăm bà mẹ nơi quán nhỏ ven đường. Khi chiếc com-măng-ca lăn bánh, tôi ngồi ở ghế sau bỗng ứa nước mắt. Bà mẹ ấy nếu trời còn thương thì bây giờ cũng đã gần 90 tuổi thọ rồi. Chiếc xe lăn bánh theo những vòng cung ven đồi Phú Thọ. Trời đất thanh bình êm ả. Dòng sông Lô, nơi tôi từng đánh trận và ngâm mình, dòng nước xanh lại gợi hồn thơ trong tôi, nhưng lúc này tâm trí tôi đã dành trọn vẹn cho mái nhà một lần tôi đã đánh vỡ lọ kẹo. Đây là một kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời quân ngũ. Hôm nay tôi trở về với kỷ niệm ấy, với bà mẹ rộng lòng đáng kính, với bà mẹ không lúc nào quên tôi, quên Cư Sĩ, quên anh em. Xe dừng bánh, tôi mở vội cửa xe đi xuống. "Bà mẹ đang ngồi kia", tôi bỗng reo thầm. Một số cán bộ sư đoàn đi theo tôi đứng lặng trước hiên nhà. Chị Tách chạy từ dưới bếp lên, vội lau giọt mồ hôi, đứng nhìn tôi không nói nên lời. Cháu bé, con chị Tách líu ríu "Chào bác ạ! Chào bác ạ!". Tôi bước đến chỗ bà mẹ:

     - Mẹ? Con là Chuông đây, Nguyễn Chuông đây.

     Bà mẹ nắm lấy hai bàn tay tôi, không kịp nói một lời, bà khóc. Những giọt nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo. Tôi nhìn mẹ mái tóc bạc phơ, đôi mắt đã mờ, người gầy yếu. Mẹ ngồi đó như một cây cổ thụ tỏa bóng mát cho cả nhà, cho mọi người. Một lúc sau mẹ nhìn tôi, nhìn những người đứng xung quanh, nói thều thào:

     - Chuông đấy à? Con về thăm mẹ, mẹ mừng lắm.

     Tôi mở cặp lấy ra mấy gói kẹo, bóc phong bánh dẻo mời mẹ, rồi tôi mở mấy túi kẹo vừng mời mọi người. Chị Tách ngồi trên chiếc ghế bên lối cửa xuống dưới nhà, nhìn tôi nhìn bà mẹ khẽ cười. Rồi chị đứng dậy vui vẻ:

     - Gớm, anh Chuông nhớ dai ghê? Hôm nay anh lại mời cả nhà ăn kẹo vừng, mẹ không bắt đền đâu mà lo. . .

     Mọi người phá lên cười, số anh em đi theo tôi hôm ấy đã nghe tôi kể chuyện về "lọ kẹo" nên khi chị Tách nói, mọi người càng thông cảm.

     Gần ba mươi năm gặp lại bà mẹ, tôi nói làm sao cho đủ lời. Chỉ biết rằng, tình nghĩa quân dân, qua hình ảnh bà mẹ khiến tôi suốt đời xúc động, suốt đời ghi nhớ. Sức mạnh của quân đội ta bắt nguồn từ nhiều dòng, trong đó có một dòng suối trong suốt, mát lành là tấm lòng và bàn tay các bà mẹ. Từ chiếc lọ đựng kẹo bị vỡ, tôi nghĩ nhiều về các bà mẹ chân chất, cao cả và kính yêu, suốt đời chiến binh, mặc bộ quân phục màu lá vườn nhà, tôi đã gặp nhiều bà mẹ trên những vùng quê khác nhau, mỗi bà mẹ đều đã để lại cho tôi những ấn tượng tết đẹp, những bài học cao quý, những tấm lòng nhân hậu, những câu chuyện nhớ đời.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 10:39:42 PM
LẦN ĐẦU RA TRẬN
 
     Đây là trận đánh diễn ra trên đỉnh núi Khau Co. Với tôi cũng như hầu hết anh em trong Đại đội 27 của chúng tôi, đây là trận đánh đầu tiên. Tôi và Phượng là hai chiến sĩ trẻ nhất Đại đội cho nên bỡ ngỡ và hồi hộp vô cùng. Nhưng đều thấy nó rất đỗi thiêng liêng. Bởi vì chúng tôi đã được nghe lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bây giờ chính là thời điểm thực hiện lời thề quyết đem xương máu để giữ gìn nền Độc lập của Tổ quốc. Thấm thoắt đã 56 năm.

     Lúc ấy giặc Pháp đông quân nhiều súng hiện đại hơn ta, có cả máy bay và pháo binh.

     Đầu năm 1947 chúng tập trung quân ở Phòng Tô, Than Uyên tỉnh Lai Châu để chuẩn bị tấn công đánh chiếm lại toàn bộ Tây Bắc, trên ba hướng:

     Cánh quân thứ nhất từ thị xã Lai Châu đánh xuống chiếm tỉnh Sơn La, Nghĩa Lộ, Quang Huy, tiến ra đồng bằng, đánh sang Yên Bái.

     Cánh quân thứ hai xuất phát từ Phòng Tô đánh chiếm Sa Pa, Lào Cai, Bắc Hà, Phố Lu Nghĩa Đô.

     Cánh thứ ba từ Than Uyên đánh chiếm dẫy núi Khau Co làm bàn đạp tấn công đánh chiếm Minh Lương, Văn Bàn, đánh ra Bảo Hà, đánh về Yên Bái.

     Tiểu đoàn Giang Hà chúng tôi đang ở Lào Cai được lệnh trên điều về chặn đánh giặc Pháp trên đãy núi Khau Co để hậu phương các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên kịp thời củng cố hậu phương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

     Tôi là chiến sĩ Trung đội 1 , Đại đội 27 . Đại đội trưởng tên là Ái Việt, Trung đội trưởng là Thiết Cương, các anh đều rất quý tôi. Hành quân từ Lào Cai xuống ga Bảo Hà, vượt sông Hồng vào Huyện Văn Bàn, chúng tôi đi dòng dã bốn ngày mới đến nơi tập kết ở xã Minh Lương, làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Theo kế hoạch trên phổ biến, nhiệm vụ trung đội chúng tôi phải lên chiếm giữ, chặn đánh giặc
Pháp ở hai ngọn núi Khau Co cao nhất. Chúng tôi được chuẩn bị một tuần. Xã Minh Lương lúc này còn rất là bình yên thơ mộng, có con suối chảy quanh, hai bên bờ nhà sàn san sát cái nào cũng rộng, thoáng đãng. Cả tiểu đoàn đều ngủ nghỉ trong nhà, chẳng đơn vị nào phải ngủ rừng, nằm đất Xã Minh Lương lại chia thành hai bản. Bên này suối là Minh Lương Thượng. Bên kia suối gọi là Minh Lương Hạ. Làng bản đều nằm trong một thung lũng rộng mênh mông. Xung quanh, xa xa rừng núi điệp trùng, dăng kín thành một vòng bao bọc. Đồng bào dân tộc Mông trên núi cao, lưng núi là đồng bào dân tộc Mán, dưới thung lũng là đồng bào Thái. Tất cả tạo thành một quần thể nhiều dân tộc anh em chung sống lâu đời, gắn bó, hòa thuận. Tính tình cởi mở, chân chất, cần cù, dũng cảm. Đồng bào các dân tộc rất tin Cụ Hồ, thương yêu bộ đội, coi chúng tôi như con em trong nhà. Chúng tôi cũng rất tôn trọng kính yêu nhân dân. Từ đó Minh Lương trở thành căn cứ hậu phương của Tiểu đoàn, Trung đoàn và cả mặt trận. Thanh niên nam nữ trong các làng bản nô nức vào dân quân tự vệ đi dân công. Chúng tôi rất yên tâm lên đánh giặc Pháp trên đỉnh núi Khau Co.

     Khau Co là dẫy núi cao hùng vĩ đầy sương mù gió lộng, là điểm hội tụ của nhiều núi nhỏ. Chúng tôi hành quân lặn lội leo trèo từ sáng ở xã Minh Lương đến gần tối mới lên tới đỉnh Khau Co. Trên đỉnh núi chỉ có một con đường độc đạo, người, ngựa di lại được. Nhân dân hai tỉnh Lào Cai, Yên Bái muốn qua thăm nhau đều phải leo qua con đường độc đạo này. Trên đỉnh Khau Co ngày nắng ấm, trời cao lồng lộng và thoáng rộng vô cùng, phong cảnh núi, rừng thật là tươi đẹp. Đất trời xanh vời vợi, chim hót, vượn kêu đến là vui tai, lạ mắt. Cây rất nhiều loại, hoa nhiều màu. Thế nhưng, ngày giá rét thời tiết ở đây khắc nghiệt làm sao. Đêm cũng như ngày gió tranh nhau thổi, chốc chốc lại một cơn lốc khiến cỏ dạt cây nghiêng tưởng như có thể cuốn cả con người lên trời, hoặc đẩy xuống vực. Những ngày oi ả không khí khô khốc, cây cối háo nước xào xạc, các loại muỗi, vắt, ruồi vàng đến quấy nhiễu. Chúng thi nhau cắn đốt làm ai nấy ăn ngủ không yên còn gây mụn nhọt khắp tay chân. Nhưng sợ nhất vẫn là gió Khau Co. Chả thế mà nhân dân ở đây đã có câu ví: "Ruồi vàng bọ chó. . . không bằng cái gió Khau Co" . Riêng những ngày gió nồm ở Khau Co, sương buông trắng trời, kín núi, không còn phân đất trời và giới hạn ngày đêm. Sương dầy đến nỗi chúng tôi có cảm giác mình đang đi bồng bềnh trong mây. Quần áo ẩm ướt suốt ngày. Có khi hàng tuần không nhìn thấy ánh nắng mặt trời. Nhưng thế trận chúng tôi từng ngày vững chắc. Chiến hào đào sâu, công sự, ụ súng được đắp đầy, các hầm đạn, hầm ngủ, hầm cấp cứu thương binh đưa cả vào lòng đất, tránh được đạn, pháo giặc. Ai cũng yên tâm khí thế sẵn sàng, giặc Pháp đến, tin là đánh giữ được trận địa Khau Co.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 10:48:23 PM
     Đầu tháng 2 năm 1947 trên thông báo: "Giặc Pháp tiến công lên Khau Co, chúng đang hành quân, các đơn vị phải tăng cường quan sát, bộ phận đi đầu chúng đã đến chân Khau Co. Máy bay giặc đang bắn phá hậu phương ở xã Minh Lương, các đơn vị phải hết sức sẵn sàng chiến đấu”.

     Đại đội 27 chúng tôi chưa phát hiện được địch. Tự nhiên tôi hồi hộp, trời không lạnh mà tay lắp đạn lên nòng cũng không bình thường, cứ lóng nga, lóng ngóng. Miệng nói như líu lại. Thực lòng tôi vẫn còn lo. Lần đầu tiên đánh nhau với giặc Pháp, tôi chưa hình dung được nó sẽ như thế nào. Máu đổ sống chết ra làm sao. Quan sát các anh trong trung đội thấy nhiều người bình tĩnh lắm còn bảo nhau "Chúng ta phải để giặc đến gần mới bắn". Thế rồi dần dần tôi thấy bình tĩnh trở lại và yên tâm chờ đợi.

     Mãi đến 10 giờ giặc mới nổ súng tấn công. Mọi cỡ súng xối xả trút đạn vào tất cả các điểm tựa phòng ngự của ta hơn một tiếng đồng hồ, khiến trận địa ta, cây cối đổ ngổn ngang, đất đá, hầm hào sụt lở, bụi đất tung lên mù mịt. Sau đó bộ binh giặc nhất loạt xông lên miệng la hét "A, la xô” om xòm, vừa tiến vừa bắn như vãi đạn. Chúng tôi ở thế cao, nhìn rõ từng thằng tây, bao quát được cả đội hình các mũi tiến công của chúng.

     Trung đội trưởng Thiết Cương nhắc:

     -   Để giặc đến tầm thật gần hãy nổ súng.

     Lúc này tôi bình tĩnh hơn đã nhìn thấy giặc đến giữa  tiểu đội một, thằng nào cũng cao to, đầu đội mũ ca-lô, mặt đỏ gay, mắt lơ láo.
     
     Vẫn chưa có lệnh bắn. Một toán khác đã đến sát chiến hào tiểu đội 3.

     - Nổ súng! - Không rõ lệnh từ Trung đội trưởng hay Đại đội trưởng. Chúng tôi bắn. Cả đại đội, tiểu đoàn cùng bắn. Tiếng súng ta, địch nổ liên hồi, không tên địch nào lên được trận địa của ta. Có thằng chết chỉ cách chiến hào tiểu đội tôi năm sáu bước. Thằng bị thương kêu la thảm thiết khiến đội hình nhốn nháo, thằng lùi lại, toán chạy ngang. Có tên còn nằm tại chỗ la hét “A la xô" nhưng chẳng thằng nào dám tiến lên nữa. Thì ra giặc cũng sợ ta, chúng cũng sợ chết, cũng kêu la gào khóc như trẻ con. Lúc này tôi thấy phấn chấn, khí thế nhìn hai thằng tây chết nằm úp sấp to như con bò, hai thằng bị thương vừa kêu rống lên vừa rên rỉ.

     Trận đánh cứ dằng co. Tiếng súng ta - địch thưa thớt dần. Sương chiều đã bắt đầu trùm xuống tràn mặt trận. Quân giặc phải lùi xuống chân núi Khau Co.

    Đánh thắng trận đầu, ai cũng vui. Nhưng lập tức phải chuẩn bị khẩn trương cho các trận đánh tiếp sau mà chắc chắn còn gian khó ác liệt và dai dẳng hơn trên đỉnh núi Khau Co đầy sương mù với gió hướng này.

     Quả nhiên hôm sau giặc Pháp lại tấn công. Liên tiếp mấy ngày liền, chúng hò hét tổ chức đánh lên nhưng đều bị chúng tôi chặn lại đứa chết đứa bị thương không còn đủ sức tấn công phải chuyển sang tạm thời phòng ngự đối diện trực tiếp với ta ở các ngọn núi dẫy đồi thấp Khau Co.

     Cuộc chiến đấu tiếp tục chỉ diễn ra những trận đánh rời rạc, nhỏ lẻ, để thăm dò lực lượng của nhau. Bên ta, quân số chiến đấu và đạn dược giảm dần. Cuối cùng quần áo, chăn màn cũng rách tươm, ăn uống thất thường, không đủ no, thuốc men thiếu, rất ảnh hưởng đến sức chiến đấu. Nhưng tinh thần, ý chí quyết tâm đánh giặc vẫn không nao núng. Đại đội 27 chúng tôi thỉnh thoảng còn sử dụng từng trung đội thay phiên nhau tấn công, tập kích vào trận địa quân giặc vừa có tính chất trinh sát vừa nhằm mục đích tiêu hao đẩy giặc ra xa, không cho chúng bám gần trận địa. Trong thời gian này giặc Pháp tăng thêm quân và vũ khí, đạn dược. Ta cũng vậy. Trên còn
giao cho tôi chức vụ tiểu đội phó. Thật ra tôi chỉ muốn là một chiến sĩ. Nhưng được anh em rất ủng hộ và trên tin yêu, tôi cũng vui nhận.
Trung đội được lệnh chuẩn bị chiến đấu, ai cũng phấn khởi vững vàng tin tưởng. Mấy anh ốm nặng phải về phía sau, không ai muốn rời trận địa.

     Một buổi sáng khi đỉnh núi Khau Co còn đầy sương mù, địch đã bắn sang trận địa ta khác ngày thường. Tôi cùng một số anh em ra vị trí chiến đấu quan sát. Bỗng trung đội trưởng Thiết Cương gọi:

    - Đồng chí Chuông? Địch nó bắn vậy nhưng chưa tấn công đâu. Đồng chí lại đoạn chiến hào gần tiểu đội 3.

    Tôi đang định hỏi xem anh giao nhiệm vụ gì. Anh nói tiếp ngay:

    - Hôm nay chi bộ làm lễ kết nạp Đảng cho đồng chí.

     Tôi rất hồi hộp và phấn khởi. Năm qua tôi đã được nghe cán bộ cấp trên nói chuyện về Đảng Cộng sản, đặc biệt lại được học hẳn một tháng về chính trị, nội dung chương trình học cả Điều lệ Đảng, tôn chỉ, mục đích của Đảng nên rất mong một ngày trở thành đảng viên. Lễ kết nạp đơn giản mà trang nghiêm. Chỉ trong một đoạn chiến hào vẫn có bàn tự tạo làm bằng cây vầu và nứa đan, trên bàn có bó hoa chuối rừng đỏ. Vách chiến hào treo cờ đỏ sao vàng, cờ Đảng và ảnh các lãnh tụ Mác-ănghen, Lê-nin, Sít-ta-lin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 08:18:20 AM
     Sáu anh em được kết nạp vào Đảng hôm nay có cả Phượng là bạn thân thiết, lại là con chiên của Chúa. Còn tôi là đệ tử của Đức Phật Thích ca đã trở thành đảng viên cộng sản. Tôi rất vui.

     Anh Thiết Cương lên đọc công nhận và căn dặn chúng tôi. Tôi thay mặt sáu anh em lên phát biểu. Đại ý tôi hứa được Đảng giao bất cứ nhiệm vụ gì dù khó khăn mấy cũng quyết tâm phấn đấu hoàn thành. Rất mong các đồng chí chi bộ giúp đỡ… Chỉ có mấy câu thế mà tôi nói cứ ấp a, ấp úng, mặt nóng ran. Lễ kết nạp xong tôi trở về vị trí chiến đấu, chưa hết hồi hộp thì đã bị Phượng đến trêu chọc:

     - Sao hôm nay mày phát biểu lúng búng như gà mắc tóc. Mọi ngày cãi nhau với tao lưu loát lắm kia mà.

     - Xúc động, mày hiểu không?

     - Hôm nay, cứ để tao phát biểu còn mạch lạc hơn mày nhiều.

     - Có lẽ đúng như vậy. Nếu để cậu phát biểu hứa hẹn còn hay hơn.

     Cuộc chiến đấu cứ dằng co không có tính chất quyết định. Mãi đến tháng tư năm 1947 địch mới mở đợt tiến công quy mô lớn hơn nhiều các lần trước. Cách đánh cũng khác trước. Ngày đầu chúng dùng máy bay bắn phá hậu phương ta đến tận Văn Bàn, Bảo Hà, Làng Cóc. Cối pháo bắn vào các trận địa ta. Mặt khác, bộ binh tiến lên không tấn công, chỉ áp sát bao vây. Ngày thứ hai các loại hỏa lực kết hợp với máy bay bắn phá, thả bom hàng tiếng đồng hồ. Sau đó, bộ binh tất cả các mũi, các hướng tiến lên đông đặc đánh vào các trận địa của ta. Vừa tiến vừa thổi kèn la hét "A la xô" ầm ĩ, om xòm.

    Chúng tôi, dựa kinh nghiệm các trận đánh trước, cứ để giặc đến gần, chọn tên đi đầu, thằng chỉ huy, đứa thổi kèn, vác súng máy mà bắn. Quả nhiên mấy thằng đi đầu ngã xuống. Tên chỉ huy cũng chết, binh lính thằng chết, thằng bị thương. Giặc lại lùi xuống nằm tại chỗ không dám tiến lên.

    Nhưng hướng tiểu đội 3 địch liều chết xông lên chiếm được đoạn hào. Trung đội trưởng Thiết Cương điều ngay một tổ của tiểu đội 1 với anh, bắn chết hai thằng. Thu được cả súng. Còn ba thằng tháo chạy ra khỏi chiến hào. Một thằng bị thương tiếp, hai thằng chạy thoát. Chúng tôi lại khôi phục được trận địa. Mệt quá nhưng ai cũng vui, phấn khởi, khí thế. Mặc dầu địch còn rất nhiều quân bâu bám xung quanh bắn cối pháo vào trận địa ta, hò hét nhưng chúng chỉ nằm tại chỗ không dám tiến lên.

     Lực lượng ta lúc này nhiều đồng chí bị thương và hy sinh, trong đó có đồng chí Thịnh - Chính trị viên Trung đội, Tiểu đội trưởng Hoàng Cái, tổ trưởng ba người Nguyễn Xuân, Hoàng Phượng bạn thân thiết của tôi đang băng bó cho các đồng chí bị thương. Mười hai giờ trưa giặc lại mở đợt tấn công tiếp theo. Chúng bắn không tiếc đạn vào trận địa chúng tôi. Đạn nổ cứ liên hồi, inh tai nhức óc, lửa khói bụi đất bốc lên dồn xuống cả trận địa ta mù mịt. Khi hỏa lực chúng chuyển làn, bộ binh giặc lại đồng loạt xung phong. Lúc này tình hình diễn ra vô cùng quyết liệt.

     Chúng tôi vừa bắn vừa ném lựu đạn. Anh em bị thương nhẹ cũng lên chiến hào bắn giặc. Địch lại bị thương, bị chết nhiều hơn hôm trước. Chúng chỉ nằm tại chỗ bắn lên.

     Tôi nhìn Trung đội trưởng Thiết Cương, lòng nao nao xúc động. Anh gầy đi nhiều. Bộ râu con kiến khá đẹp, bây giờ mọc rậm đâm ra tua tủa. Cặp mắt anh vẫn sáng trong đầy suy tư Anh bảo tôi:

    - Cậu làm cách nào tìm thêm đạn. Nhớ bảo anh em bắn tiết kiệm. Động viên anh em bị thương cố gắng tiếp tục chiến đấu.

     Lúc này bọn địch bâu bám vừa hò hét ầm ĩ hòng áp đảo ta vừa nã các cỡ súng vào điểm tựa của ta. Đến 15 giờ chúng lại tấn công xung phong. Chúng tôi cứ nhằm bắn thằng đi đầu ngã gục. Bọn giặc lại lùi. Đến lúc này chúng tôi thực sự lo lắng. Đạn gần hết cả rồi mà giặc còn bâu bám xung quanh. Bỗng anh Thiết Cương ra lệnh:

     - Bây giờ chúng ta vừa đánh vừa hát. - Anh cất tiếng hát trước "Bao chiến sĩ anh hùng”… Chúng tôi hát theo "Lạnh lùng vung gươm ra xa trường”. Lúc đầu hát còn nhỏ, rời rạc, càng về sau hát càng to, khí thế hào hùng "Quân xung phong? Nước Nam đang chờ mong tay người, hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời...".

     Giặc Pháp ngơ ngác không tiến, không bắn mà nằm nghe ta hát. Chúng tưởng ta còn mạnh, cứ nằm lỳ dằng co, thỉnh thoảng bắn lên mấy loạt súng bâng quơ. Cho đến chiều tối tiếng súng cả ta và địch im hẳn. Trung đội tôi lúc này chỉ còn 18 đồng chí trong đó có mấy đồng chí bị thương nhưng vẫn giữ được trận địa trên hai ngọn núi Khau Co cao nhất.

     Trận đánh đầu tiên mà tôi được tham gia đã diễn ra như thế. Khi ấy tôi mới là Tiểu đội phó, cái chức vụ mà sau này anh em ta thường nói vui là "nửa cán nửa quân”, thật sự tôi chưa biết chỉ huy ra sao. Nhưng mọi việc Trung đội trưởng Thiết Cương nhắc nhở tôi đều làm tròn.

     Cũng cần phải kể đến tình hình đời sống của bộ đội trong thời gian này. Thứ nhất là đồng lõa với giặc Pháp còn có lũ chấy rận hoành hành. Chúng tôi phải tìm mọi cách diệt chấy rận thì mới có thể yên ổn mà lo việc chiến đấu. Hàng vạn hàng vạn chấy rận bị tiêu diệt bằng mọi cách nên chúng tôi gọi đây là trận đánh không có tiếng súng. Thứ hai là mưa lũ. Cơn mưa kéo dài đến trung tuần tháng 7 khiến cho nước các con suối và sông Hồng dâng cao. Gió bão lại làm sụt lở đường sá, cây cối đổ ngổn ngang. Thuyền mảng cũng không qua lại được trên sông suối. Thế là việc chuyên chở gạo từ Yên Bái lên, Bảo Hà vào bị tắc nghẽn. Chúng tôi lâm vào cảnh đứt bữa, gạo để nấu cháo dần dần không còn, phải tìm các loại củ rừng, quả rừng ăn thay cơm.

     Ôi thật là trận đói nhớ đời. Các thứ rau trên rừng, rau tập tàng, rau rớn, rau đồng tiền, rồi quả sung, quả vả, hoa chuối, ổi xanh. . . con ốc, con ếch, con cá, con tép đều được sử dụng thành thứ lương thực chính hàng ngày để khỏi bị đói lả. Có hôm tôi đi tìm rau phải chống gậy vì bụng đói mắt hoa, đi không vững, ruột xót như bào cứ sôi ùng ục có lúc tưởng ngất xỉu, vẫn phải cố dò dẫm bước đi chầm chậm theo anh em.

     Thế rồi nghe nói hạt cây lai dầu ăn được anh em vào nhà dân xin lại phải nói dối là để giã với muối ăn thay muối vừng. Nào ngờ hạt lai dầu bùi và thơm đấy nhưng ăn vào một lúc sau, anh nào anh nấy sùi cả bọt mép, nôn oẹ, rên rỉ, nước mắt giàn giụa, chân tay run lập cập. Thế là lại phải nhờ dân tìm lá sắc cho uống để giải độc mới trở lại bình thường.

     Lại đến khi bão tan, nước rút, gạo từ Văn Bàn được dân công tiếp tế lên, thổi một nồi ăn chưa thỏa, lại thổi tiếp nồi thứ hai, ăn đến căng bụng và cuối cùng mười hai cậu ôm bụng nằm thở, ngực tức buồn nôn mà lại không nôn được chân tay rã rời, bụng mỗi lúc một trướng lên sờ vào là cảm thấy đau nhói, nói không ra lời, mắt cứ trợn ngược, nước mắt giàn giụa như người hấp hối chờ chết… Cho đến mãi sau này tôi vẫn không hết ngượng về cái chuyện "suýt chết no" ngày ấy.

    Cuối cùng thì lại phải nhờ đến dân tìm lá rừng sắc uống để cho nôn ra. Chúng tôi đã rút ra kết luận là cái đói đến từ từ và chết cũng từ từ nhưng đó là do hoàn cảnh tạo nên. Chứ bội thực có thể chết tươi mà chết trong sự ngượng ngùng hối hận.

     Đó là những tình huống ngoài trận đánh trong thời gian ba tháng phòng ngự trên dãy Khau Co nhưng nó cũng là những thử thách rất có ý nghĩa đối với đời lính chúng tôi.

     Điều quan trọng bậc nhất là chúng tôi đã hoàn thành vượt mức thời gian chặn giặc ở đây. Theo tôi hiểu thì cuối năm 1947, thế trận của chúng ta dã dần dần chuyển sang giai đoạn cầm cự. Từ sau trận Khau Co, Tiểu đoàn Giang Hà chúng tôi đã trưởng thành hẳn lên chuyển sang làm nhiệm vụ chiến đấu trong vòng vây cho tới năm 1950 sau khi giải phóng Lào Cai lần thứ hai thì tập trung về thành lập đơn vị lớn hành quân đánh giặc ở mọi miền có giặc.

     Sư đoàn 312 trở thành gia đình lớn của tôi qua mọi chiến dịch Tây Bắc, Thượng Lào, Hòa Bình, Điện Biên… Anh tiểu đội phó "nửa cán nửa quân” trong trận đánh đầu tiên ở mặt trận Khau Co đến chiến dịch Điện Biên được giao nhiệm vụ Tiểu đoàn trưởng.

     Nhưng tôi chẳng thể nào quên trận đánh đầu tiên của cuộc đời người chiến sĩ Cách mạng, không thể quên tấm lòng của bà con các dân tộc ở Minh Lương đã cho tôi hiểu thế nào là tình cảm quân dân như cá với nước. Bởi đó là lần đầu tiên tôi thực sự hiểu ý nghĩa thiêng liêng cua hai tiếng Tổ quốc và tôi đã được cầm súng bắn vào đầu giặc Pháp để bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình, bảo vệ quyền tự do chính đáng của người công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bảo vệ nhân dân.

     Trận đầu tiên ấy mãi mãi tỏa sáng trong tôi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 08:56:03 AM
ANH VỆ TÚM

     Từ mặt trận chiến đấu Khau Co, đơn vị tôi được Tỉnh đội Yên Bái điều về hậu phương để củng cố. Chúng tôi đóng quân từ Cổ Phúc, Nga Quán, Xuân Lan, Gốc Táo đến Bãi Dương. Trung đội tôi ở tập trung trong 2 xóm: Bãi Dương Bãi và Bãi Dương Đồi. Tiểu đội tôi ở tại nhà ông bà Bảng - anh Hiểu, nhà chị Mùi, anh chị Cục. Mặc dù anh em đã kín đáo che giấu những thiếu thốn, ốm đau, bệnh tật nhưng được vài hôm dân làng đều biết cả, thậm chí dân làng còn biết rất rõ từng tên, anh nào bị thương, bị ốm đau, sốt rét, ghẻ lở, chấy rận, hắc lào… Thành ra mới đến Bãi Dương được mấy ngày chúng tôi đã có ngay cái tên mới "Vệ Túm". Các em nhi đồng và các cô gái trẻ tinh nghịch là hay trêu "Vệ Túm" nhất.

     Thời gian ở với dân, chúng tôi vẫn thiếu đủ thứ, từ khăn mặt, xà phòng, thuốc đánh răng đến bộ quần áo lành. Thèm đủ thứ, từ quả chuối, bắp ngô, cái kẹo đến củ sắn luộc. Mặc dù vậy ai ai cũng phấn khởi, mừng vui được sống trong bầu không khí yêu thương của hậu phương. Dẫu còn nhiều khó khăn, nhưng so với cuộc sống chiến trường vừa qua thì nay quả là đã hạnh phúc nhiều lắm.

     Ngay hôm đầu, Trung đội trưởng Thiết Cương đã nói:

    - Cấp trên cho chúng ta về đây để củng cố lực lượng, phục hồi sức khỏe, các anh em bị ghẻ lở, chấy rận, sốt rét phải tích cực tranh thủ chữa ngay.

     Để tiện cho việc điều trị, đơn vị chia thành từng nhóm nhỏ, nhóm bị thương, nhóm bị sốt rét, nhóm bệnh ngoài da. Số anh em này không phải làm những việc nặng như lấy gạo, thồ củi. Anh Thiết Cương nhắc nhở: Chữa bệnh ở nhà dân nên giữ vệ sinh, đừng để dân biết mà sợ lây bệnh. Số đồng chí thiếu quần áo thì phải cho nhau mượn, ai khéo tay thì vá cho nhau, nên tranh thủ nhờ các mẹ, các chị trong nhà khâu vá giúp.

     Trong số anh em hồi đó, tôi nhớ anh Kim bị sốt rét hành hạ, người xanh như tàu lá, mặc dù đã chống gậy mà đi đứng vẫn xiêu vẹo như chỉ chực đổ. Trước đây, anh là người được coi đẹp trai nhất trung đội, có nhiều tài vặt như thổi kèn, đánh đàn, hát hay, đá bóng giỏi, tính tình cởi mở, ăn mặc gọn gàng, có đôi mắt và cặp lông mày trông rất duyên. Người con trai Hà Nội này nói chuyện có đầu có đuôi rất hấp dẫn. Tinh thần chiến đấu cũng không kém ai. Thế nên, anh là một trong số những người bệnh được trung đội hết lòng quan tâm chăm sóc. Theo kinh nghiệm nhân dân cho biết, chừa bệnh sốt rét bằng lá na vò nát với nước lã rồi chắt ra bát đem phơi một đêm qua sương, uống đều đặn mỗi ngày một lần. Chưa đầy một tuần sau anh đã khỏi bệnh, lại vui cười, cà hát cùng anh em.

     Người thứ hai được mệnh danh là đô vật, người to, khỏe nhất đơn vị. Đó là anh Hoàn mặt to tròn, cặp lông mày xếch ngược, chiến dấu dũng cảm, xông xáo. Anh ít nói nhưng nói rất to. Khi không vừa lòng với ai chỉ cần trừng mắt là người đó phải ngại rồi. Trẻ con thì nem nép khi trông thấy anh. Nhưng tiếp xúc nhiều mới biết anh là một bệnh ngoài da nặng nhất. Gương mặt đầy đặn lúc nào cũng cau có. Hai tay gãi ghẻ, gãi chấy, rận, trông đến thương. Các cụ già bày cho cách chữa, lấy lá cời, lá sòi, lá  ổi xát mạnh vào chỗ ngứa. Thế rồi một hôm rất đỗi bất ngờ cả "phái đoàn” ghẻ lở, mụn nhọt rủ nhau ra suối tắm. Vừa mới khỏa nước một cái đã thấy hàng đàn cá mương lớn bé đua nhau kéo đến. Quả thật với chúng, hôm nay là một bữa "đại tiệc". Loại cá mương nhỏ và nhanh không biết sợ là gì cứ châu đầu vào các vết lở ghẻ mà đớp, mà hút. Anh em cứ để mặc cho các "y tế” trời cho này chăm sóc thỉnh thoảng chỉ xua tay đuổi những con quá lớn và liều lĩnh. Khi lên bờ, nhìn vào các chỗ mụn nhọt, ghẻ lở đã thấy cá ăn sạch, chỉ còn một lớp da non hồng hồng nổi lên.

     Bây giờ là lúc lấy lá cời, lá sòi hoặc lá ổi vò nhỏ xát. vào, xong ra phơi nắng, khô nước mới mặc quần áo ra về. Cứ liên tục ba bốn lần ra suối "điều trị” như thế là khỏi. Còn trị con chấy trên đầu cũng không khó, chỉ cần cạo trọc đầu như là sư là gọn và sạch. Tiêu diệt con rận thì phải tỉ mẩn hơn, bắt từng con và đem quần áo luộc lên phơi nắng là hết.

     Chung quy các bệnh sinh ra nhiều là do điều kiện chiến sĩ thiếu thuốc men và sống trong rừng núi nhiều khó khăn, thiếu vệ sinh.

     Sau thời gian điều trị theo phương châm tích cực, tranh thủ, sức khỏe lên dần, hình thể chiến sĩ đã trở nên "phong quang” khởi sắc hẳn ra.

     Một hôm, sau thời kỳ chữa bệnh tại chỗ, chúng tôi tổ chức đi thăm cảnh vật và bạn bè xung quanh. Chúng tôi ngược lên Cổ Phúc, Nga Quán, hướng đến Xuân Lan, Gốc Táo, về tận Yên Bái, vượt qua sông Hồng về nhà mẹ Tuyên chơi. Gia đình mẹ, tôi quen từ hồi còn đánh Quốc dân Đảng trước ngày giải phóng thị xã Yên Bái. Sau thời gian xa cách quá lâu, mẹ con mới gặp lại nhau mừng mừng, tủi tủi:

     - Thế tao nghe người ta đồn là bộ đội mình rách rưới, chấy rận ghẻ lở lắm phải không con?

     Tôi cười trả lời mẹ:

     - Họ đồn không đúng cả đâu mẹ ạ? Mẹ xem tóc con đây này, không hề có chấy. Còn bộ quần áo rách là bình thường.

     Nhưng khi nào cấp trên gọi hoặc những buổi đi chơi như hôm nay là chúng con ăn mặc tươm tất đấy chứ ạ!

     - Thế sao những đứa trẻ chúng nó không gọi các con là Vệ Quốc đoàn mà lại gọi là Vệ Túm? …

     - Ồ mẹ ơi! Mọi người thích trêu chúng con thì gọi thế nào chả được! Càng thêm thân thiết nhau hơn…!

    Bãi Dương là một làng nhỏ nằm dọc triền sông Hồng chuyên trồng lúa, khoai, ngô, lạc, sắn. Làng khá nghèo, đến đâu cũng thấy những ngôi nhà gió lùa từ bốn phía.

     Một hôm, anh em chúng tôi ra tập ở xóm Bãi trở về thì gặp ngay một tốp chị em chắc là đi họp về, bị họ trêu cho một trận. Có lẽ các cô thấy anh Hoàn quần áo lôi thôi, rách hở cả đùi đang lúng túng lấy tay che lại, nên một cô cất tiếng ví:

Các anh Vệ Túm ở làng
Quần anh rách thế cả làng đều thương
Chúng em là gái Bãi Dương
Muốn gửi đường vá nối liền đôi ta!


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 10:11:17 AM
      Chúng tôi đùn đẩy anh Hoàn đối đáp lại. Nhưng chợt nghĩ lại thấy thông minh nhất là im lặng chứ dại gì động đến cái tổ ong ấy. Họ gọn gàng, xinh đẹp thế kia, trong khi mình đang rách rưới thế này. Chúng tôi về đến nhà đã được Trung đội trưởng Thiết Cương thông báo ngay.

     - Các đồng chí chuẩn bị tinh thần, ngày mai chị Thận sẽ dẫn đầu đoàn phụ nữ Phú Thọ, Yên Bái và cả chị em ở Bãi Dương đến đây thăm chúng ta. Đồng chí nào có quần áo cần nhờ khâu vá thì sửa soạn đi.

     Ngày hôm sau, tất cả đơn vị tập trung ở sân nhà ông Bảng chờ đón. Tám giờ đoàn đến, khách, chủ thân tình bắt tay nhau. Mấy chị trong đoàn mời anh em thuốc lá Hoa Lư. Đồng chí Khang nảy ra yêu cầu tất cả mọi người bắt nhịp hát bài Đoàn Vệ Quốc quân một lần ra đi. Tất cả khách, chủ vừa vỗ tay vừa hát vang sôi nổi. Thấy vui, trẻ con cả xóm cũng kéo đến. Bây giờ tôi mới quan sát kỹ trong đoàn chỉ có chị Thận và hai chị ở thị xã Yên Bái là hơn tuổi, còn chỉ xấp xỉ tuổi chúng tôi. Những câu chuyện không đầu, không đuôi cứ thế nổ tràn như ngô rang. Nào là chuyện hậu phương ra sao, hũ gạo nuôi quân ủng hộ kháng chiến có "đầy" không, phong trào sản xuất như thế nào... rồi hỏi lân la từng chị về chuyện chồng con, gia đình…

     Thấy vậy, chị Thuận tươi cười công bố luôn:

     - Tất cả chúng tôi ngồi đây mới chỉ có ba người có chồng, còn đâu đều "phòng không” cả. Đồng chí nào muốn…bảo chị một tiếng!
Anh My nhanh nhảu:

      - Chị Thận cứ nói thế, chứ các chị đây trẻ, đẹp nhường này, ai đời lấy "Vệ Túm" chúng tôi. Nhưng thưa các chị. . .

       Nói xong, anh đọc thật to bài thơ "Vệ Túm" in trên tờ “Tây Tiến”.

“Các chị đừng chê Vệ Túm rách
Vệ luôn tay cành cạch gãi ghẻ ruồi
Vệ áo quần dúm dó đến lôi thôi.
Vệ chấy rận như dòi bâu đến tởm.
Vệ bụng ỏng, đít vòn trông phát gớm
Vệ đến đâu ruồi nhặng theo đến đấy
Nhưng rồi Vệ nhắn các chị mấy câu:
Đi kháng chiến Vệ Túm thành Vệ Quốc".


Thế là mọi người lại được dịp vỗ tay mà cười thỏa chí. Mấy cô gái trẻ mặt ửng hồng, e lệ. Chị Hải lên tiếng:

     - Bài thơ vui, nhưng chưa hay. Phụ nữ ở đâu chứ chị em chúng tôi ở đây biết các anh bệnh tật như thế lại càng thương. Thấy các anh áo rách, cả làng, cả huyện, cả tỉnh đều thương…

     Anh My người cao nhỏng, miệng rộng, môi cong như môi cá ngão cũng không vừa:

      - Chị nói thương yêu chung chung quá! Thế cụ thể bây giờ có dám lấy chồng Vệ Túm ngồi đây không?

     - Có chứ! - Chỉ Hải đáp ngay.

     - Thế chị lấy ai nào?

     - Tôi lấy anh!

    Chị Hải chạy ngay đến chỗ anh My:

    - Đưa ngay cho tôi bài thơ "Vệ Túm" để tôi về hậu phương nói với chị em, các ông bố, bà mẹ, giúp mọi người biết rõ hơn về cuộc sống nơi tiền tuyến của các anh.

     Mọi người lại càng hoan hô to hơn. Rút cuộc, anh chàng My phải đưa bài thơ "Vệ Túm” cho chị Hải, rồi ngượng ngùng lòng khòng đi  xuống, im như... "ngậm hột thị".

     Chị Thận yêu cầu anh mang quần áo rách ra để các chị thực hiện nhiệm vụ chính của mình. Mọi người tản thành từng nhóm ngồi dưới các gốc mít, rặng ổi, luỹ tre để khâu vá. Chị nào cũng rúc rích cười. Khi xong việc, các chị gọi chúng tôi đến nhận và hẹn vài ngày sẽ tới gặp lại.

     Chuyện đoàn phụ nữ đến thăm, vá áo cho bộ đội Bãi Dương phút chốc đã lan đi khắp nơi, già, trẻ, gái, trai gặp chúng tôi đâu cũng vui vẻ chào hỏi và tận tình giúp đỡ hơn. Một hôm, tôi đi tập về, ông Bảng gọi lại thầm thì:

     - Thằng Mùi con rể tôi kể là anh Hoàn ở trung đội đóng bên nhà nó chỉ có một bộ quần áo, mỗi lần thay,  thường phải mượn quần áo của anh em. Tôi tính thế này,  nhà tôi có hai tấm vải đang nhuộm nâu chỉ một ngày nữa là đem may được. Tôi định may cho thằng Hiển cuối năm cưới vợ, nhưng thời gian còn lâu, tôi sẽ tặng anh Hoàn…

     -  Con sợ anh ấy không dám nhận. . .

     - Thế anh tính thế nào, chả nhẽ cứ để anh ấy thế mãi sao?

     - Con cũng đang lo nhưng bí quá. Hay thế này bố nhé: Mai con đem đi may đo, bố với con cùng thống nhất là cô Hải gửi cho con, con tặng lại. Khi cậu ta nhận mặc vài ngày rồi mới nói thật gia đình ông bà bên này tặng để cậu biết mà cảm ơn. Nhưng còn bác gái… ? 

     À! Anh không phải lo. Chính bà nhà tôi đã gợi ý cho tôi đấy chứ.

     Cũng thời gian ấy, Bãi Dương có phong trào nhận bộ đội làm con nuôi. Anh Hoàn đã nhận ông bà Bảng là bố mẹ nuôi của mình. Cũng có một số anh em đã lấy vợ tại đây như anh Chí, anh Tiến. Tình cảm quân dân ngày càng thêm gắn bó sâu nặng.

     Từng ngõ xóm, từng con đường, từng nhà dân, chúng tôi đều thân quen. Không một mảnh ruộng, quả đồi nào mà chúng tôi không tập bò, tập bắn. Khoảng trời, con người Bãi Dương đã trở thành một phần tâm hồn, cuộc đời của chúng tôi ở đó.

     Suốt mấy tháng đóng quân ở Bãi Dương, chúng tôi được bà con thương yêu, đùm bọc, vững bước lên đường cho những trận đánh tiếp theo. Thấm thoắt đã 50 năm qua đi, đất nước đã thanh bình, chúng tôi đã về hưu cả, rất mong một ngày nào trở lại với Bãi Dương nhưng chưa có dịp.

     Tôi ghi lại những dòng kỷ niệm đời mình để lại cho con cháu mai sau. Trong chiến tranh, trong cuộc đời này đã có một vùng quê đầy ắp tình thương như thế đấy!

      Tôi tin lòng tôi sẽ trẻ lại khi được trở về với Bãi Dương một thời, để lại được hưởng cái phút giây người dân nơi đây bắt tay, lắc mạnh, cười vang:

      - "Chào anh Vệ Túm"


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 08:19:19 PM
SẦM NƯA,
NHỮNG KỶ NIỆM KHÓ QUÊN

      Đông Xuân 1952 - 1953, trung đoàn 165 (F.312) nhận lệnh vượt biên giới Việt - Lào sang phối hợp cùng bộ đội Pa thét và nhân dân các bộ tộc Lào đánh đuổi giặc Pháp  giải phóng tỉnh Sầm Nua.

     Hồi ấy tôi là Đại đội trưởng Đại đội 501, Tiểu đoàn 115. Đồng chí Phan Thanh Nhã là Chính trị viên. Anh Hiền Tràng chỉ huy tiểu đoàn.
Cán bộ chiến sĩ đại đội tôi đã được giáo dục rất nhiều lần về nhiệm vụ quốc tế. Ai cũng hiểu giặc Pháp là kẻ thù của ba dân tộc Việt Nam, Lào, Cămpuchia. Cả ba nước đều bị giặc Pháp xâm lược cai trị, đã đồng lòng đứng dậy sát cánh bên nhau đánh đuổi giặc Pháp để giành lại hòa bình, độc lập và tự do.

     Ở Hội nghị Quân chính trung đoàn, trong khi phổ biến nhiệm vụ, Trung đoàn trưởng Lê Thùy ân cần chỉ rõ:

      -   Lần này đơn vị chúng ta sang đánh giặc Pháp ở bên đất bạn Lào là chúng ta làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, song sẽ có nhiều khó khăn. Sầm Nưa và tỉnh ở bắc nước Lào giáp giới với hai tỉnh Sơn La, Lai Châu, hoàn toàn là chiến trường rừng núi, làng bản ở xa nhau, dân chúng thưa thớt, đường sá hiểm trở. Các đồng chí phải lãnh đạo đơn vị chấp hành thật tốt các chính sách dân vận, giữ kỷ luật cho thật nghiêm, chú ý bảo vệ tài sản và tôn trọng nhân dân Lào như chúng ta chiến đấu bảo vệ nhân dân Việt Nam mình.

     Trung đoàn tôi có nhiệm vụ đánh cụm địch chiếm đóng trong thị xã Sầm Nưa. Trung đoàn trưởng Lê Thùy nói rằng nhiệm vụ cụ thể phải sang bên ấy nắm rõ tình hình về địch cũng như địa hình mới có thể giao cho các tiểu đoàn được. Sau hội nghị này, cấp phó quân sự cùng cán bộ chính trị về phổ biến và quán triệt nhiệm vụ và cho bộ đội chuẩn bị thật khẩn trương. Đồng chí sẽ cùng các tiểu đoàn  trưởng, đại đội trưởng và ba trưởng ban tham mưu chính trị hậu cần sang trước nắm tình hình, thiết kế các trận đánh rồi đón các đơn vị ở các vị trí tập kết.
*
*    *


     Chúng tôi xuất phát từ Thuận Châu vào lúc 7 giờ sáng, sương còn phủ trắng đồi nương. Đoàn cán bộ đi trinh sát được tổ chức thành ba tiểu đội. Anh Hiền Tràng phụ trách tiểu đội chúng tôi gồm các Đại đội trưởng Đại đội 505, 503, 501, Đại đội 14 hỏa lực cùng một số chiến sĩ liên lạc trinh sát. Anh rất quý bốn Đại đội trưởng chúng tôi một phần vì chúng tôi đứa nào cũng đều khỏe, trẻ, song cái chính là trong công tác và chiến đấu chúng tôi đều xốc vác, gan dạ, việc gì anh giao cho, chúng tôi cũng hoàn thành. Thêm nữa, cả bốn chúng tôi đều đã quen chiến trường rừng núi Tây Bắc lại đều biết tiếng dân tộc, rất thuận lợi khi cần phải tiếp xúc với nhân dân.

      Đến gần trưa sương mù mới tan hết thì chúng tôi đã hành quân được một quãng xa. Nhưng sương tan thì máy bay trinh sát của địch cũng bắt đầu tới nhòm ngó cứ vè vè trên đầu, vòng đi vòng lại như có vè nghi ngờ. Sau đó ít phút thì máy bay chiến đấu cũng ào tới thả bom dọc đường. Có thể chỉ thả vu vơ chứ chưa chắc chúng đã nhìn thấy gì vì chúng tôi đã nguỵ trang rất cẩn thận, lại cắt rừng đi theo con đường chưa có dấu chân người. Hành quân mang nặng, vượt núi băng đèo. Mệt thở ra cả đằng tai nhưng bù lại chúng tôi được chứng kiến thế giới của muông thú thật là kỳ lạ. Chim chóc đủ mọi màu, con đậu con bay đuổi nhau từng đàn, gọi nhau ríu ran gần như không có một phút giây nào ngừng tiếng hót, chẳng khác gì được nghe một đoàn giao hưởng khổng lồ của thế giới chim muông có giọng trầm của loài kền kền, giọng cao vút của liếu tiếu, hoạ mi, cà cưỡng.. và thủng thẳng đệm nghe thảng thốt là anh “bắt cô trói cột”…

     Kỳ thú nữa là gặp con suối chẳng biết tên là suối gì, nước trong veo nhìn thấy từng viên sỏi và đặc biệt là rất nhiều cá, chúng bơi lội thản nhiên, có đàn bơi xuôi, có đàn bơi ngược, có con lững lờ trôi, có con lao đi như một mũi tên. Lính ta rửa mặt xem cá bơi lội cũng vơi đi mệt nhọc ít nhiều.

      Xế chiều hôm đó, chúng tôi vào một bản làng gần đường hành quân để nghỉ ăn cơm. Ông trưởng bản là người có tuổi cùng với một số bà con ra xem bộ đội. Ông mời chúng tôi lên nhà nghỉ nhưng bốn đại đội trưởng chúng tôi xin phép ngồi dưới chân cầu thang.

      Lát sau bà con dân bản kéo tới rất đông. Hỏi ra biết đây là bản Sốp Phào, bà con đều là người Lào bộ tộc Thái.


      - Đây là đất nước Lào rồi ư? - Tôi hỏi một ông già.

     - Ô, Các anh vượt biên giới xa rồi đó. - ông già chậm rãi trả lời. - Từ con sông Mã các anh vừa qua đến tỉnh Sầm Nưa chẳng còn xa nữa.

      Tôi thầm nghĩ đúng là núi liền núi, rừng liền rừng, cả sông suối cũng liền nhau một dải, chẳng sao phân biệt được đâu là đất Việt đâu là đất Lào.

      Lúc này các cháu thiếu nhi và thanh niên nam nữ kéo đến quây lấy chúng tôi rất đông. Tôi chào hỏi bằng tiếng Thái khiến mọi người rất vui:

     - Noong kỳ lai pi? Tôi hỏi một bé gái xem bao nhiêu tuổi.

     - Síp pi! Cháu trả lời mười tuổi.

     Quay sang các anh thanh niên và mấy cô gái, tôi hỏi:

     - Ải ý mi nậm bâu? Các anh các chị có nước không?

     Mọi người đồng thanh nói:

     - Mi lai, mi lai. Tức là nhiều lắm.

     Lập tức hai bác quay về lấy nước ra mời:

     - Kin nậm Kin nậm?(l) “uống nước”

     Tôi uống nước, khen nước ngon và mát rồi nói lời cảm ơn.

     -   Đừng nói cảm ơn. - Bác trưởng bản ngắt lời tôi - Bộ đội Việt Nam sang đánh đuổi giặc Pháp giúp người Lào giải phóng quê hương thì bộ đội Việt Nam cũng là bộ đội của người Lào.

     Mọi người vỗ tay reo vui. Không khí trở nên thân mật đầm ấm.

     Tôi nhìn thấy mấy cô gái Lào nói vui với cậu Bế Phiên bằng tiếng Thái đại ý là Bế Phiên khen các cô gái Lào xinh đẹp không kém gì các cô gái Việt Nam. Có khi còn xinh đẹp hơn.

     - Không phải đâu!

     - Không đẹp đâu!

     Các cô gái Lào tranh nhau trả lời. Một cô xem vẻ bạo dạn hơn cả, nói tiếp:

     - Chúng em đẹp sao bằng các cô gái Việt Nam!

     - Đẹp chứ! Các cô rất đẹp! Không nói sai đâu nhá!

     Một bác có tuổi chen vào chỉ bốn cô gái đứng trên cùng, nói to:

     - Bốn cô này chưa có ai trao khăn đâu, bộ đội Việt Nam ạ?

     Tất cả đều cười rộ lên. Bốn cô gái ôm lấy nhau giấu mặt. Không khí càng hòa vui như người trong một bản làng.

     Tiểu đoàn trưởng Hiền Tràng đến thấy thế cũng góp vui, rồi xin phép dân bản cho bộ đội đi ăn cơm còn tiếp tục hành quân. Mâm cơm trải bằng lá chuối nhưng có đủ măng chua nấu cá, rau cải xào và một đĩa thịt lợn luộc. Tôi liền hỏi cậu chiến sĩ liên lạc:

     - Ở đâu thế này, anh nuôi mua hay nhân dân cho?

     - Dân bản cho đấy. ông trưởng bản mang đến.

     - Chết thật. Làm thế nào bây giờ?

     - Tiểu đội nào cũng được phân phối như thế.

     Tôi liền đến trước bà con dân bản nói lời cảm ơn và nói:

     - Kin khẩu (ăn cơm) xể, khẩu ón, mi phắc cát nhưn mun, không máy tu po (mời bà con ăn cơm với bộ đội cho vui).

     - Ồ, bộ đội Việt Nam kin khẩu à.

     Thật là xúc động. Nào ngờ trên đường hành quân xa đất nước lại gặp được những con người vừa lạ vừa quen, tính tình cởi mở chân thành chẳng khác mấy bà con trong vùng Tây Bắc nước ta mà chúng tôi đã từng được chia sẻ ngọt bùi qua nhiều năm chiến đấu và công tác.

     Cơm nước xong, chúng tôi lại tiếp tục hành quân. Bà con dân bản ra đưa tiễn rất đông.

     Từ bản Sốp Phào tới Sầm Nưa, chúng tôi phải tìm đường đi tránh các bản làng địch kiểm soát nên càng khó khăn gian nan. Đi ròng rã hai ngày mới đến được dãy núi có thể quan sát toàn cảnh thị xã Sầm Nưa. Cũng như nhiều thị trấn vùng rừng núi bên nước ta, thị xã Sầm Nưa nằm gọn trong một thung lũng xen lẫn làng bản và đồn giặc, xung quanh có các dãy núi như ôm gọn lấy cả thị xã trong lòng nó. Tiểu đoàn trưởng Hiền Tràng chỉ thị các mục tiêu tấn công. Sau đó chúng tôi phải tìm cách tiềm nhập để xác định hướng tấn công, bố trí đội hình chiến đấu. Dò dẫm mãi tới 9 giờ đêm, địch bắn pháo sáng lập lòe, chúng tôi mới xác định được các mục tiêu đồn giặc kiến trúc ra sao. Và mãi 3 giờ ngày hôm sau mới hoàn thành toàn bộ kế hoạch tác chiến để có thể quay lại đón bộ đội ở vị trí tập kết triển khai đội hình chiến đấu.
*
*      *


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 08:42:01 PM
      Bộ đội được chuẩn bị khá tốt. Đơn vị tôi xuất kích vào chiếm lĩnh vị trí tấn công lúc 5 giờ chiều. Mặc dầu địch bắn pháo cối và cả súng con liên tục dồn dập, gây cho đơn vị nhiều khó khăn, cây đổ ngổn ngang, nhưng anh em tỏ ra rất bình tĩnh tự tin. Tôi chỉ lo bộ đội bị thương vong phải giải quyết hậu quả, chậm giờ nổ súng thì sẽ ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung. Nhưng xem ra địch chỉ bắn hú họa chứ không có chủ định vào một mục tiêu nào.

      Bỗng đến 10 giờ đêm địch ngừng bắn các loạt pháo cối. Đến 11 giờ thì cả súng máy súng con đều im bặt. Đại đội vào chiếm lĩnh vị trí chiến đấu rất an toàn. Tôi mừng thầm và rất yên tâm là đơn vị sẽ bước vào trận đánh vẫn còn hoàn toàn sung sức.

     Song chẳng hiểu sao lúc này đơn vị đã bao vây quanh đồn rồi mà quân địch bên trong đồn lại im ắng một cách khác thường. Không thấy bóng một tên địch nào qua lại, chỉ có hai ngọn đèn sáng lập loè. Đạn súng con nổ lẹt đẹt thưa thớt. Tôi trao đổi nhận xét của mình với Chính trị viên Thanh Nhã và Trung đội trưởng Tác.

     - Tôi cũng lấy làm lạ - Chính trị viên Thanh Nhã nói - Bộ đội ta đào công sự động là thế mà chúng chẳng bắn ra gì cả.

     - Hay là chúng biết ta bao vây, chúng sợ? - Trung đội trưởng Tác đoán chừng như vậy.

     Tôi thắc mắc:

     - Nhưng sao lại không nghe thấy cả tiếng chúng gọi nhau ở trong đồn?

     Chúng tôi đang trao đổi với nhau thì điện thoại tiểu đoàn gọi xuống hỏi:

     - Anh Chuông đâu? Kiểm tra xem đồn giặc còn không?

     Tôi nghĩ bụng, tiểu đoàn trưởng hỏi gì mà lạ thế, liền trả lời:

     - Đồn giặc chỗ tôi còn đèn sáng, còn súng con.

     - Kiểm tra kỹ lại xem. - Tiểu đoàn lại nhắn tiếp.

    Tôi chợt nghĩ, hay là địch rút rồi nên tiểu đoàn mới hỏi tôi như vậy. Và trong đồn ngoài hai ngọn đèn le lói và tiếng súng con nổ lẹt đẹt thì tịnh vô không thấy động tĩnh gì thêm nữa, pháo cối trong các đồn khác cũng không bắn? Tôi đang nghi ngờ phân vân trước hiện tượng lạ đó thì điện thoại tiểu đoàn lại gọi xuống. Giọng tiểu đoàn trưởng hối hả thúc giục:

     - Địch rút rồi, anh cho bộ đội vào chiếm đồn ngay!

     Quả nhiên, trong đồn chẳng có tên giặc nào. Chúng tôi vào chỉ thấy khắp chiến hào ụ súng, lô cất ngổn ngang hòm vỏ đạn, mũ giày, quần áo lính. Mấy khẩu súng hỏng nằm chỏng chơ. Hai ngọn đèn vẫn sáng lập lòe như trêu chọc. Cái tiếng nổ đì đẹt của súng con té ra là từ một hòm đạn súng trường bị chúng vùi trong đống lửa cho nổ. Chúng tôi đã bị lừa? Cả trung đoàn ta bị lừa? Trách trên rồi tôi lại tự trách mình tại sao nắm địch lỏng lẻo như thế. Thật tiếc công phí sức. Không biết chúng chạy từ bao giờ, chạy về hướng nào để mà đuổi. Cả đại đội tôi đã vào hết trong đồn, anh nói thế này, anh nói thế kia, kẻ kêu đói, người kêu mệt. Có anh bực bội nói xẵng:

     - Để cho chúng nó chạy từ lúc nào lúc nào, đánh chẳng được mệt ốm cả người.

     Sáng ra, Trung đoàn phó Biền Sơn xuống đại đội tôi. Anh nói oang oang:

      - Sao không đuổi địch còn ngồi đây làm gì?

     Vừa nhìn thấy tôi, anh giục:

     - Chuông! Tổ chức cho đại đội truy kích địch ngay! Tại sao còn ngồi đây?

     - Tôi vẫn chưa nhận được lệnh.

     - Thì bây giờ là lệnh.

     - Tôi đã giao cho một số anh em về khu tạm dừng lấy gạo và tư trang, chắc sắp đến đây rồi.

     - Không được! - Anh ngắt lời - Phải đi ngay. Gạo, tư trang, trung đoàn cho anh em đưa lên sau. Đi ngay!

     - Vâng ạ!

     Đơn vị bắt đầu truy kích địch. Tôi chấp hành mệnh lệnh mà rất lo. Một số chiến sĩ đau chân đi khập khiễng cứ ì ạch như lê bước trên đường. Có anh bước đi cà nhắc trông rất chán chường. Đi kiểu này thì bao giờ mới đuổi được kịp mà đánh đích đây. Cũng có anh phản ứng lè nhè nói ngang:   

     - Địch nó chạy từ đời tám hoánh nào bây giờ mới đuổi thì được cái gì? Mục tiêu giải phóng Sầm Nưa thì giải phóng rồi. Đói bỏ mẹ. Cán bộ chỉ làm khổ lính.

     Đó là cậu Khiển. Biết cậu ta là một chiến sĩ tốt, song không thể nào không nhắc nhở. Tôi liền quát:

     - Khiển? Mày nói gì đấy? Ai làm khổ mày? Địch nó làm khổ mày chứ có phải chúng tao đâu. Mày còn nói, tao cắt lưỡi!

     Khiển cười khì khì:

     - Em nói đùa cho vui thôi mà. Em có nói thủ trưởng đâu.

     - Cần phải nhớ giải phóng đất đai và tiêu diệt sinh lực địch là hai nhiệm vụ trong một chiến dịch. Để địch chạy mất là thắng lợi chưa trọn vẹn. Rõ chưa?

     - Em rõ rồi.

     Tốc độ truy kích địch của đơn vị tôi rất chậm. Chỉ mừng bộ phận anh em về lấy gạo và tư trang đi sau đã đuổi kịp đại đội. Nhưng vì mất ngủ, lại đói cộng thêm thời tiết nóng nắng khiến cho ai cũng thấy bã cả người không muốn bước nữa. Tôi cứ suy từ bản thân mình mà nhận ra tình hình chung như thế.

     Bởi vậy, gặp con suối cạnh đường gần rừng râm mát, tôi hạ lệnh nghỉ nấu cơm, ăn trong một tiếng phải xong. Chiến sĩ nghe lệnh hả hê ra mặt:

     - Hoan hô Đại đội trưởng?

     Anh nuôi lập tức triển khai công việc, người bắc nồi người nhóm bếp, người vo gạo rửa rau, thoăn thoắt như máy. Lính ta ào ra suối tắm cứ tồng ngồng cả ra.

     Tôi đến một quãng suối cũng định tắm thấy nhiều cá mà lại toàn cá to bằng bàn tay trở lên, liền cho chiến sĩ ném hai quả lựu đạn.

     Nghĩ bụng hôm nay đơn vị sẽ được bữa cải thiện đây.

     Lựu đạn nổ. Cá trắng xóa trên mặt suối. Anh em reo hò ào xuống vớt cá quên cả mệt mỏi. Không khí cứ như ngày hội chẳng còn thấy những nét mặt nhăn nhó lúc đang hành quân trên đường.

      Trung đoàn phó Biền Sơn ở lại sau thúc quân đã đuổi kịp đơn vị tôi.

     - Đại đội nào đấy? 501 hả! - Anh gọi to - Chuông đâu? Chuông đâu?

     - Báo cáo anh, tôi đây.

     - Đang truy kích địch sao dừng lại?

     - Thưa anh, bộ đội đói mệt. Tôi đã cho anh em nấu cơm, chỉ một tiếng là đi được.

     - Dẹp? Dẹp! - Anh ra lệnh - Đi ngay. Không cơm với cháo gì cả.

     Tôi định trình bày thêm. Anh ngắt lời, thái độ tỏ ra rất tức giận:

       -   Không ý kiến gì cả. Đi ngay. Anh cho bộ đội đi ngay.

      - Vâng ạ! - Tôi quay lại ra lệnh - Tất cả chú ý. Không nấu cơm nữa. Tiếp tục hành quân.

     Chiến sĩ nghe lệnh ngỡ ngàng nhìn tôi vẻ khó hiểu. Anh nuôi chưa chịu thu xếp quang gánh vì cá chưa mổ xong, nồi cơm thì đang sôi. Trung đoàn phó Biền Sơn hằm hằm đến bên nồi cơm đang sôi, quát rất to:

     - Dẹp hết và đi ngay lập tức.

     Gạo và nước trong nồi sôi sùng sục trào ra, khói mù, khói của lửa, khói của nước cùng lúc bốc lên xèo xèo nơi miệng nồi. Tôi thầm nghĩ tại sao không giải quyết cho bộ đội cứ hành quân còn anh nuôi cứ thổi cơm rồi đuổi theo sau?

     Chiến sĩ nhìn tôi, tôi nhìn Trung đoàn phó. Không khí như im phắc lại. Không còn thể trù trừ được nữa. Biết phải đi rồi. Anh Biền Sơn hẳn khó chịu với tôi lắm. Nhưng anh cũng rất nể tôi nên không nói quá giới hạn. Tôi cùng anh biết bao lần ra trận, đều đã hiểu nhau. Đơn vị tôi là chủ công của tiểu đoàn, trung đoàn, tôi chưa để xảy ra điều gì sai sót trong chiến đấu cũng như trong công tác. Hẳn rằng tôi chưa thấu triệt nghệ thuật quân sự được như anh trong tình huống truy kích địch bỏ đồn rút chạy như trận này. Tôi chỉ thương bộ đội đói mệt thôi.

     Đơn vị tiếp tục hành quân truy kích địch, đội hình kéo dài lê thê vì thực tế anh em đã rất mệt lại thêm đói nữa. Đang đi thấy cây gì sà ra vệ đường biết là ăn được. Cũng rứt lá bỏ vào mồm nhai lấy nhai để. Gặp cái khe là hai ba anh túm lại vục nước uống. Vì thế đội hình cứ giã dần, bộ phận đi đầu cách bộ phận đi cuối ba bơn cây số.

     Lúc này tôi thấy anh Biền Sơn lại vui vẻ đi sát từng chiến sĩ động viên:

      - Các cậu cố lên cho kịp anh em đàng trước.

     Thỉnh thoảng tôi cho bộ phận đi đầu nghỉ mươi mười lăm phút để chờ dồn đội hình. Một lần có mấy chiến sĩ đến bên tôi thì thầm:

      - Đại đội trưởng ơi! - Vừa nói anh em vừa móc túi lấy ra những con cá đã nướng vàng - Đại đội trưởng ăn đi cho đỡ đói

     - Nướng bằng cách nào mà nhanh thế?

      - Có khó gì đâu! - Một anh hóm hỉnh nói - Thủ trưởng Biền Sơn không cho nấu thế là chúng em mang theo. Qua khu rừng nứa, chúng em lấy nứa khô chẻ nhỏ như đóm ấy, nghỉ năm mười phút là nướng xong ngay. Ngồi ăn cá chấm muối với anh em mà lòng dạ bồn chồn nghĩ về trách nhiệm của mình trước số phận và cuộc đời mỗi chiến sĩ mà mình phụ trách. Cá thơm ngon thật. Ăn xong lại thấy thèm ăn, bụng càng cồn cào vì đói. Truy kích cần nhanh mà bộ đội thì thất thểu lê từng bước. 


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 08:44:48 PM
      Hôm đó đuổi địch đến 5 giờ chiều, trời bắt đầu tối rồi, vẫn chưa được bát cơm nào vào bụng mà địch thì chẳng thấy tăm hơi đâu cả. Anh em dường như đã đói lả rã rời.

      May sao vừa đi thêm một đoạn nữa thì gặp cái bản nhỏ bên đường, tôi cho bộ đội nghỉ nấu cơm ăn. Tôi tranh thủ tìm trưởng bản hỏi về tình hình địch. Ông ta cho biết chúng qua đây lúc 11 giờ trưa. Chúng xì xào với nhau là chạy về Bản Ban, Xiêng Khoảng. Ông ta còn nói "Bây giờ đơn vị ông mới đến đây thì khó mà đuổi kịp". Tôi liền dò hỏi:

     - Thế còn đường tắt nào đuổi đón đầu được không?

     - Có Nhưng đường khó đi lắm. Đi đường này, sáng mai đi cũng có thể đuổi kịp. Chỉ có khó đi thôi.

     - Ông có thể cho chúng tôi hai người dẫn đường không?

     - Được mà!

     - Tốt lắm? Vậy ông nói với bà con trong bản cho bộ đội nghỉ nhờ ở đây đêm nay.

     Ông trưởng bản vui lòng nhận lời.

     Sáng hôm sau, chúng tôi theo hai người địa phương dẫn đường. Đi mới tới ngã ba thì đã hết buổi sáng. Đường gập ghềnh cheo leo và rậm rạp quá. Nhiều đoạn phải phát cây mới đi được.

     Chúng tôi nghỉ ở ngã ba nấu cơm ăn xong lại hành quân luôn. Khoảng 5 giờ chiều, tổ đi đầu phát hiện phía trước có nhà dân, có lẽ sắp tới một bản làng nào đó. Tôi rất mừng. Như thế là có thể cho bộ đội nghỉ nấu cơm ăn và ngủ ở đây đêm nay.

     Nhưng khi đến cách bản khoảng 300 mét, tôi phát hiện thấy trong bản có những đám khói bốc lên không bình thường. Lại có từng tốp người ngồi gần đó, màu sắc áo quần không phải là trang phục của dân. Địch rồi. Tôi đoán ngay như vậy. Lúc này bỗng quên cả đói, tôi quay lại ra hiệu cho anh em phải cẩn thận, địch đang ở phía trước, rồi lập tức điều hai khẩu cối 82 và hai khẩu trung liên lên.

     - Đồng chí Tác, đưa trung đội đánh thẳng vào bọn địch ở giữa bản.

     Giao nhiệm vụ cho Trung đội trưởng Tác xong, tôi ra lệnh tiếp cho trung đội hỏa lực, cối cứ nhằm vào các đám khói mà bắn không để đạn rơi vào nhà dân trong bản. Trung liên sẵn sàng yểm hộ cho xung kích áp sát địch.

     Cối mới bắn có một loạt đầu, địch đã tháo chạy tứ tung, la hét ầm ĩ, gọi nhau í ới, thúc giục nhau: "Bay men, bay men" (tức là chạy nhanh) không hề có hành động chống trả.

     Tôi cho cối ngừng bắn. Trung đội Tác tiến vào. Chẳng còn thằng địch nào cả. Chúng bỏ lại ngổn ngang cơm, rau, thịt, tỏ ra chưa đứa nào kịp ăn uống gì. Truy lùng mãi mới bắt được 5 thằng, chúng có ý định nộp súng đầu hàng. Số còn lại chẳng biết chúng chạy đường nào.
Trời tối. Tôi cho bộ đội nghỉ ăn cơm do chính bọn địch vừa nấu xong còn nóng, có đủ món ăn.

     Trung đội Tác ăn cơm xong đi nghỉ, hai trung đội phía sau mới về tới nơi. Mới biết truy kích địch chạm địch thì phải triển khai bao vây chiến đấu ngay không thể chờ đơn vị dồn lên đầy đủ mới đánh. Khi địch hoang mang tháo chạy, mình có thể một chọi mười, chọi hai mươi vẫn thắng.

     Tôi bàn với các cán bộ trong đại đội:

     - Địch chạy tứ tung vào rừng trong đêm tối như vậy nếu chúng có thu quân lại được thì cũng chẳng chạy được xa. Theo mấy tên hàng binh chúng nó khai thì địch còn đói hơn ta. Đêm nay cho anh em nghỉ tại đây. Ngày mai chọn toàn anh khỏe đi trước; những anh đau chân, ốm yếu đi sau với bộ phận anh nuôi. Tôi tin là ngày mai đánh địch, ta sẽ tóm được nhiều tù binh hơn.

      Đã 9 giờ đêm. Đang bàn bạc thì Trung đoàn phó Biền Sơn tới. Khác với ban trưa, lúc này anh vui như tết, nói cứ ào ào:

      - Phải vắt chân lên cổ mới đuổi kịp các cậu. Đói quá rồi, có cái gì ăn không?

     - Rất nhiều thứ, xôi dẻo có, cơm gạo tẻ có, gạo Thái Lan trắng mà thơm hẳn hoi; rồi thịt bò, thịt lợn, thịt hộp đều có anh thích ăn thứ gì, tôi bảo liên lạc bưng ra.

      - Này, Chuông? Bỏ cái kiểu nói ấy đi nhé!

      - Thế anh bảo tôi phải nói cái kiểu gì?

     - Còn kiểu gì à?

     - Báo cáo? Tôi không bao giờ dám nói láo với cấp trên. Đồng chí Cầu đâu, thi hành nhiệm vụ đi.

    Cầu chiến sĩ liên lạc, hiểu ý lập tức bưng ra đủ mọi thứ thịt bò, thịt lợn, cơm tẻ, xôi nếp… Tôi gãi gãi đầu trịnh trọng nói:

     - Báo cáo Thủ trưởng, chúng tôi no cả rồi. Xin mời Thủ trưởng cứ tự nhiên.

     - Thế này là thế nào?

     - Thưa Thủ trưởng! Tất cả là do đầu bếp của bọn địch nấu nướng rồi dâng hiến cho bộ đội ta đấy ạ!

     - Thì ra thế - Trung đoàn phó Biền Sơn gật gù rồi bắt đầu cầm bát đũa và nói - Các cậu khá lắm. Đánh thế là được. Vừa ăn, anh Biền Sơn vừa hỏi thêm:

     - Bắt được bao nhiêu tù binh?

     - Có 5 tên. Nó chạy tán loạn khó lùng sục quá.

     - Cậu định thế nào?

     - Thủ trưởng yên tâm. Mai tôi sẽ xử trí. Đêm nay chúng nó có thu được quân thì cũng chưa thể đi xa. Tôi biết đánh địch ở chiến trường rừng núi mà…

      Tôi đang báo cáo với Trung đoàn phó Biền Sơn thì có điện thoại trên trung đoàn gọi xuống. Trung đoàn trưởng Lê Thùy khen, động viên bộ đội và giao nhiệm vụ cho đơn vị tôi tiếp tục truy kích địch về hướng thị trấn Sầm Tớ. Hướng Bản Ban sẽ do Tiểu đoàn 542 và 564 đảm nhiệm do anh Biền Sơn trực tiếp chỉ huy.

     Thế là tôi lại phải tìm trưởng bản để hỏi đường đi Sầm Tớ và nhờ ông chọn cho hai người dẫn đường.

     Ông trưởng bản cho biết đường đi không khó nhưng phải qua một số bản địch còn kiểm soát.

     Sáng hôm sau, chúng tôi theo hai người địa phương dẫn đường tiếp tục hành quân. Bản đầu tiên phải qua là bản của bộ tộc Lào Mông. Hình như ở đây bà con đã biết được có bộ đội Việt Nam tới nên việc đầu tiên ông trưởng bản dẫn năm lính ngụy và sáu dân vệ đến gặp chúng tôi trình diện nộp 8 khẩu súng. Dân chúng đứng nhìn ngơ ngác. Tôi nghĩ, như vậy là chiến thắng đã vang động đến các bản làng ở Thượng Lào. Tiếp theo bà con mang gạo ra và rau đến cho bộ đội.

     Tôi nói với ông trưởng bản:

     - Số súng này, khi nào bộ đội Pa thét đến, ông giao cho anh em. Còn gạo chúng tôi chỉ vay thôi. Ba ngày nữa,sẽ có người mang đến trả cho bà con.

     Ông trưởng bản nói:

     - Chúng tôi tặng bộ đội thôi mà.

     Tôi thay mặt đơn vị cảm ơn bà con dân bản và nhắc ông trưởng bản giải thích cho bà con chấp hành chính sách của Mặt trận Yêu nước Lào cho tốt, đặc biệt là đối với hàng binh, giúp họ trở về quê hương làm ăn lương thiện không cầm súng cho giặc Pháp nữa.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 09:02:26 PM
      Ngày tiếp theo, đơn vị tôi hành quân qua bản bộ tộc Lào Thông. ở đây bà con cũng như đã biết trước, đón tiếp chúng tôi rất nồng nhiệt, thanh niên mang gạo và rau đến nhà ông trưởng bản để ủng hộ bộ đội Việt Nam.

     Tôi xem bản đồ đã biết đường đi Sầm Tớ bao xa nhưng vẫn làm việc riêng với ông trưởng bản cho hiểu rõ thêm.

      Ông trưởng bản nói:

      - Từ bản tôi đến Sầm Tớ chỉ 5 kilômét thôi. Cứ leo lên dãy núi phía trước kia là có thể quan sát được toàn bộ Sầm Tớ.

     - Bọn địch ở trong Sầm Tớ bây giờ ra sao, ông có biết không?

     - Hoang mang lắm? Các ông mà đánh vào là nó hàng đấy.

     Sáng hôm sau, Tiểu đoàn trưởng Hiền Tràng đưa các cán bộ đại đội chúng tôi lên ngọn núi phía tây nam Sầm Tớ. Ở đây chúng tôi nhìn rất rõ thị trấn Sầm Tớ trong một thung lũng rộng, có con suối uốn quanh, các đồn giặc xen kẽ với bản làng. Thị trấn gần khu chùa Sầm Tớ.

     Tiểu đoàn trưởng chỉ từng mục tiêu đồn giặc. Anh giao cho đại đội tôi đánh đồn giặc cao nhất ở gần chùa Sầm Tớ và thống nhất cách đánh là vừa bắn hỏa lực vừa gọi hàng. Bộ binh lợi dụng khi hỏa lực bắn thì tiến dần vào gọi hàng là chính. Nếu địch ngoan cố chống trả, ta mới tổ chức bắn mạnh hơn.

      Trận đánh diễn biến không phức tạp lắm. Ta vừa bắn một loạt cối và mấy tràng đại liên, địch đã nháo nhào bỏ chạy. Đơn vị tôi tiến vào đồn cao gần chùa Sầm Tớ, chẳng đụng độ gì cả. Trong đồn chỉ còn bảy tên lính ngồi chờ quân ta vào thì nộp súng đầu hàng. Tất cả đã chạy tán loạn lên rừng. Chúng tôi tổ chức truy lùng cũng không bắt đuợc tên nào và chẳng biết chúng chạy nơi đâu.

     Các cán bộ bộ đội Pa thét Lào cùng với chúng tôi bắt tay vào xây dựng và củng cố chính quyền mới giữ gìn an ninh và trật tự, củng cố đời sống sinh hoạt và sản xuất cửa nhân dân.

      Chúng tôi tổ chức đi thăm hỏi bà con dân bản, nay bản này, mai bản khác, còn thời gian lại lên chùa lễ Phật, thăm các sư sãi. Vì thế mà không khí quân dân đoàn kết càng thêm cởi mở chân tình.

     Nhưng có một chuyện thật không ngờ.

     Số là anh em Trung đội 2 của chúng tôi ra suối tắm. Thấy suối lắm cá liền hò nhau ném luôn hai quả lựu đạn rồi ào ào xuống bắt cá. Không ngờ đây là cá suối Thần, nhân dân đã quy ước từ lâu đời là không ai được bắt cá suối Thần.

     Nghe thấy tiếng nổ lại thấy bộ đội gọi nhau đi bắt cá, bà con nổi giận kéo đến chỗ chúng tôi cả đoàn, già có, trẻ có, ông trưởng bản dẫn đầu, nét mặt bừng bừng như vừa bực tức vừa lo sợ.  Đồng chí cán bộ Pa thét Lào cũng đi trong đoàn, thái độ rất giận dữ, vừa thấy tôi là hỏi ngay:

     - Sao ông lại cho bộ đội ném cá suối Thần?

     Ông trưởng bản tiếp lời ngay, giọng thiểu não:

     - Bộ đội hại dân bản chúng tôi rồi? Từ trước đến giờ, dân bản ở đây có ai dám đánh bắt cá suối Thần đâu. Bộ đội các ông không sợ phải tội ư?

     Tôi bị dồn vào tình thế khó xử, quá bất ngờ, không biết nói gì, làm gì bây giờ. Nghĩ thật đau lòng. Đi giải phóng cho dân, máu xương không tiếc, vậy mà bây giờ vì một sai sót không đáng để xảy ra mà để dân oán ghét. Lỗi này không thể thanh minh được. Chỉ còn biết tạ lỗi trước nhân dân mà thôi. Tôi cố bình tĩnh trước cơn phẫn nộ của nhân dân, đứng ra, chắp hai tay trước ngực nói:

     - Tôi xin thay mặt đơn vị tạ lỗi bà con. Bộ đội của chúng tôi không biết đã làm sai. Chúng tôi xin nhận khuyết điểm. Mong nhân dân các bộ tộc tha cho. Từ nay trở đi bộ đội không dám làm thế nữa.

     Mọi người xem vẻ đã thông cảm, ông trưởng bản và đồng chí cán bộ bộ đội Pa thét Lào còn nói thêm, giải thích điều hơn lẽ thiệt cho không khí dịu đi. Nhưng một số ông già vẫn khăng khăng đòi kẻo lên chỗ ban chỉ huy tiểu đoàn tố cáo Đại đội 501 dùng lựu đạn ném cá suối Thần.

     Tiểu đoàn giải quyết cách nào mà tình hình không còn căng thẳng nữa thì tôi không rõ, nhưng với tôi chuyện này không thể khuây khỏa được. Tôi rất ân hận về tác phong buông thả đơn giản trong công tác giáo dục chiến sĩ của mình, để đến bây giờ khiến nhân dân oán ghét bộ đội. Đánh thắng giặc mà không được lòng dân, cũng vứt.

     Mấy ngày liền, tôi ít cho bộ đội ra đường, vào bản, thăm chùa. Chẳng vui gì sự việc xảy ra như thế. Nhưng nhân dân không thấy bộ đội vào bản chơi thì lại kéo nhau đến thăm đơn vị, đem theo rau xanh, hoa quả Ai nấy chuyện trò xởi lởi. Tuyệt nhiên không thấy người nào nhắc đến chuyện cá suối Thần. Thanh niên nam nữ còn hát múa với bộ đội rất vui.

     Sau này mới biết đó chính là nhờ tài thuyết phục của cán bộ Pa thét và các thủ trưởng tiểu đoàn mà bà con các bộ tộc Lào ở đây đã thông cảm và tha thứ cho đại đội tôi.

      Cuộc mít tinh và liên hoan văn nghệ mừng chiến thắng giải phóng Sầm Nưa, Sầm Tớ, bộ đội và nhân dân chan hòa trong niềm vui tưng bừng chưa từng thấy ở đây, đã thực sự xua đi nỗi u uất trong lòng tôi về khuyết điểm của đơn vị. Dẫu sao đó cũng là một bài học nhắc nhở tôi suốt chặng đường binh nghiệp của mình.

     Tôi nhớ mãi cái đêm mít tinh và liên hoan mừng chiến thắng ấy, người đông như nêm cối, quân và dân hát múa thâu đêm. Và đó cũng là đêm chúng tôi chia tay nhân dân các bộ tộc Lào để trở về Tổ quốc sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí Chính trị viên Thanh Nhã đã thay mặt anh em trong đơn vị nói lời từ biệt, tỏ lòng biết ơn nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiệt tình giúp đỡ bộ đội Việt Nam làm tròn sứ mạng mà Chính phủ và Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ủy thác..., đã tha thứ cho những khuyết điểm nhất thời mà có cá nhân chiến sĩ hoặc đơn vị nào đó đã phạm phải…

     Có lẽ điều khiến tôi nhớ nhất là chân lý được rút ra từ thực tiễn trong mối quan hệ giữa đại cục và tiểu tiết đối với từng vị trí và cương vị khác nhau. Có cương vị phải coi trọng đại cục mà đôi khi cần bỏ qua tiểu tiết. Có cương vị không thể xem thường tiểu tiết bởi một đốm lửa có thể đốt cháy rừng. Ví như là chuyện của tôi, không thể xem thường cái tiểu tiết bắt cá ở suối Thần.

     Bù lại cho tấm lòng tôi và đơn vị của tôi là tỉnh Sầm Nưa đã được giải phóng cùng với tỉnh Phong Sa Lỳ, hai tỉnh đã trở thành căn cứ vững chắc cho Chính phủ Kháng chiến Lào đến tận ngày nước Lào được hoàn toàn độc lập và tự do.

     Kỷ niệm về Sầm Nưa đối với tôi thật khó quên.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 09:33:05 AM
LÀM ĐƯỜNG KÉO PHÁO
ĐÁNH TRẬN ĐIỆN BIÊN

      Thu - Đông năm 1953, Đại đoàn 312 chúng tôi đang trú quân ở tỉnh Phú Thọ (đất tổ Hùng Vương) được lệnh cấp trên tiến quân lên chiến trường Tây Bắc chiến đấu với giặc Pháp ở mặt trận Điện Biên. Cán bộ chiến sĩ đại đoàn ..được đi chiến đấu thật phấn khởi, chẳng ai băn khoăn bỡ ngỡ. Chiến trường rừng núi Tây Bắc năm 1950 - 1951, đơn vị tôi đánh thắng giặc Pháp giải phóng được huyện Bắc Hà, Bảo Thắng, Sa Pa, Phòng Tô, thị xã tỉnh Lào Cai. Tiếp đến chiến dịch Tây Bắc năm 1951 - 1952 chúng tôi giải phóng Nghĩa Lộ - Sơn La - Nà Sản. Lần này đại đoàn tiến quân lên Tây Bắc được cùng với các đơn vị bạn, nhân dân các dân tộc quân đội Tây Bắc mở chiến dịch Điện Biên. Chặng đường hành quân hơn 250 km, phải đi dài ngày, mang vác nặng, leo nhiều dốc núi, đèo cao, qua sông, lội suối ở rừng, nằm đất, gian khổ, khó khăn hơn các lần trước nhiều ai cũng lường biết được. Nhưng chẳng ai băn khoăn lo lắng, trái lại khí thế cả đại đoàn rất cao. Khi tiến quân đại đoàn vui như đi trẩy hội. Từ Phú Thọ chúng tôi ngày một tiến sâu vào núi rừng Tây Bắc. Có chặng đường đi được cả ngày, nhưng thường là đi đêm, xuyên qua nhiều rừng, trèo đèo leo dốc cheo leo. Giặc Pháp lại theo dõi bắn phá, dội bom cản đường, ai cũng thấm mệt, thật vừa gian khổ, vừa ác liệt. Càng gần đến mặt trận Điện Biên, càng khó khăn hơn, nhưng thường gặp nhiều đơn vị khác, các đội dân công hỏa tuyến, hát hò vui vẻ, thăm hỏi nhau nên cũng lướt qua được gian khổ, khó khăn. Tuy rất mệt vẫn giữ được quyết tâm khí thế. Ròng rã hành quân hơn một tháng trời, chúng tôi mới đến được mặt trận Điện Biên. Cấp trên cho nghỉ 3 ngày ở nơi tập kết, ổn định ăn, ở, tắm giặt, sức khỏe cán bộ chiến sĩ trở lại bình thường, ai cũng vui vẻ bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị chiến đấu, quan trọng hơn cả là đi lĩnh súng, đạn, gạo, thực phẩm.

      Cán bộ cấp trưởng của các đơn vị từ đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn đều lên tập trung trên đại đoàn, cùng với các Trung đoàn 141 - 209 để đi nắm tình hình địch, địa hình, thiết kế các trận đánh trước sau. Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn giao nhiệm vụ ngay trên thực địa cho các trung đoàn đánh trận đầu tiên. Trung đoàn 141 - 209 tập trung chuẩn bị đánh cụm cứ điểm Him Lam là cụm phòng thủ tuyến ngoài của tập đoàn cứ điểm địch ở Điện Biên. Chúng bố phòng rất mạnh, vì thế chúng ta phải chuẩn bị thật kỹ, thật chu đáo mới đánh thắng nhanh, diệt gọn được Còn các cán bộ cấp phó từ đại đội đến đại đoàn đều ở nhà chỉ huy bộ đội làm đường kẻo pháo. Tôi lúc ấy là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 115, Trung đoàn 165, được gọi lên trung đoàn cùng các anh Tiều đoàn phó 564 - 542. Trung đoàn giao nhiệm vụ cho chúng tôi cùng các cán bộ công binh cấp trên đi khảo sát làm con đường kẻo pháo. Đi liên tục 3 ngày mới khảo sát xong. Đại đoàn phó Đàm Quang Trung phân công Trung đoàn 165 đảm nhiệm làm đường kéo pháo từ đỉnh núi An Tao vào đến trận địa pháo phía bắc sân bay Điện Biên, để bắn vào các trận địa địch ở trung tâm chỉ huy của tướng Đờ Cát. Trước mắt trận địa pháo này bắn chi viện cho trung đoàn tấn công vào cụm cứ điểm đồi Độc Lập. Trung đoàn 141 - 209 làm đường kéo pháo từ phía đông nam đèo An Tao vào đến các trận địa pháo bắn chi viện cho hai trung đoàn tấn công vào cụm cứ điểm Him Lam.

      Đoạn đường Trung đoàn 165 đảm nhiệm, chỉ hơn 8 km nhưng phải qua nhiều đồi núi, khó nhất đoạn vượt qua núi An Tao. Trung đoàn lại giao cho Tiểu đoàn 115 đảm nhiệm làm 2 km đường đèo cao, dốc đứng, vực lại sâu Chúng tôi chỉ huy đưa bộ đội ra làm, được nhiều cấp cán bộ công binh, pháo binh đến hướng dẫn kỹ thuật làm đường, nhiều cán bộ cơ quan đến động viên, chiến sĩ phấn khởi làm hết sức mình. Ngày nào đơn vị tôi làm cũng vượt mức trên quy định. Vất vả nhất là các cán bộ công binh, thiết kế chỉ đạo đơn vị tôi làm đường kéo pháo từ cách đào ta tuy đoạn cua, đường vòng rất cụ thể, để khi ta kéo pháo, nòng không chạm vào vách núi, hoặc pháo không tụt xuống vực sâu. Lại bầy cả cách nguy trang giữ được con đường an toàn bí mật.

      Hồi đó cán bộ chiến sĩ đơn vị tôi rất quý mến anh kỹ sư Urăng, người dân tộc Êđê, phụ trách con đường kéo pháo phía bắc này. Anh có dáng người đẹp, to, khỏe, có nước da ngăm đen, đôi mắt to, khuôn mặt tròn, bên má có vầng miếng xám lớn, tính tình điềm đạm, rất trách nhiệm.

     Ngày nào cũng thấy anh trên mặt đường, thường xuyên cùng với chiến sĩ làm các đoạn đường khó nhất trên đỉnh núi An Tao. Thời gian chỉ sau chưa đầy một tháng chúng tôi hoàn thành con đường kéo pháo, ai cũng vui mừng, cấp trên lại giao cho đơn vị tôi nhiệm vụ tiếp kéo pháo. Tôi phân công mỗi đại đội phụ trách một khẩu đội pháo cùng các đồng chí pháo binh kéo pháo. Chỉ huy là cán bộ pháo binh, thống nhất đẩy, kéo, các đại đội phải theo lệnh các đồng chí ấy. Các đồng chí pháo binh tổ chức phân công cho từng pháo thủ, từng khẩu, bộ phận rất cụ thể như: Đội kéo, đội đẩy, tổ tời, tổ chèn pháo chỉ có đẩy pháo tiến lên, không được để pháo lùi, tụt xuống vực là trách nhiệm chung ai cũng phải lo. Các đồng chí đại đội chỉ xen kẽ vào các tổ của pháo binh theo yêu cầu.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 11:17:16 AM
     Khi kéo đẩy pháo, phải theo lệnh chỉ huy thống nhất nhịp nhàng có lệnh phất cờ tiến lên, dừng lại kết hợp miệng hô một - hai - ba là cùng nhau kéo đẩy pháo lên. Công việc đẩy, kéo pháo vượt qua đồi cũng rất khó khăn vất vả lắm rồi, ngại nhất là đoạn đường kéo, đẩy pháo vượt qua đỉnh núi An Tao. Đoạn này rất đứng, vực lại sâu, chúng tôi phải điều thêm đại đội bộ binh nữa đến hỗ trợ thêm cho từng khẩu đội pháo mới đẩy kéo pháo qua được. Khó khăn vất vả vô cùng. Những lúc bộ đội kéo pháo như thế, nhiều cán bộ cấp trên, cả cơ quan đến động viên cổ vũ. Tôi thấy đồng chí Phạm Ngọc Mậu - Chính ủy Đại đoàn công pháo cũng có mặt, cả cán bộ chỉ huy Đại đoàn 312 đồng chí Đàm Quang Trung cũng đến, còn đem theo cả văn công đại đoàn, do Nhạc sĩ Hoàng Vân đội trưởng cũng có mặt. Họ hát hò, cổ vũ động viên bộ đội ta kéo pháo rất khí thế. Từng khẩu, từng khẩu vượt qua đỉnh núi An Tao. Ai cũng vui mừng phấn khởi từ người chiến sĩ đến các cán bộ chỉ huy cao nhất, niềm tự hào quyết tâm được nhân lên, bộ đội tin nhất định ta đánh thắng giặc Pháp ở mặt trận Điện Biên.

     Nhạc sĩ Hoàng Vân xúc động dõi theo từng khẩu pháo vượt qua đèo An Tao theo tiếng hô trầm hùng của các chiến sĩ và giai điệu bài Hò kéo pháo đã rung lên trong anh chính từ nơi đây.

Dốc núi cao cao, nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi.
Hai - ba này! Vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù...

      Phải nói bài ca Hò kéo pháo - Nhạc sĩ Hoàng Vân sáng tác đã nói lên được ý chí quyết tâm của các chiến sĩ pháo binh và bộ đội ta kéo pháo đến được tất cả các trận địa để bắn vào đồn giặc. Các trinh sát trắc địa ta đang đo đạc các phần tử bắn vào các mục tiêu thì lệnh cấp trên dừng lại và kéo pháo ra. Cán bộ chiến sĩ ngỡ ngàng thắc mắc không thể nào hiểu được: Sao lại có lệnh như thế. Cán bộ trung đoàn chỉ giải thích ngắn gọn, địch đang đổ thêm quân, tăng cường phòng thủ, ta đánh chưa chắc thắng. Lệnh kéo pháo ra chuẩn bị thêm kỹ hơn mới đánh thắng được. Đến lúc này các chiến sĩ pháo thủ mới kéo pháo ra nhưng vẫn chưa thông. Trên đường kéo pháo ra gặp rất nhiều đoàn dân công vác đạn, gánh gạo vào, phải vác đạn gánh gạo ra cũng thắc mắc. Họ còn nói bâng quơ: Bộ đội các anh kéo pháo vào, kéo pháo ra, thập thò, thập thò, đánh không đánh chỉ làm khổ chúng tôi. Bộ đội chúng tôi chỉ mải miết kéo pháo chẳng trả lời, cứ mặc các cô ấy muốn nói gì thì nói.

     Con đường kéo pháo ra lúc này, bộ đội dân công đi chung rất đông, các lá cây dàn nguy trang trên đường đã khô héo. Địch phát hiện được con đường. Tuy chúng không phát hiện con đường ấy là đường bộ đội ta kéo pháo, nhưng chúng vẫn bắn phá rất mạnh. Pháo từ trong Mường Thanh bắn ra, máy bay đến thả bom liên tục mây ngày, có đoạn đường cây bị cháy xám khô, nhiều cây trốc dễ gẫy cành ngổn ngang, bộ đội ta vẫn kéo pháo. Có đoạn bom đạn đào lên đất đỏ hòa lẫn máu các chiến sĩ hy sinh, nhưng anh em vẫn quyết tâm kéo pháo ra đến nơi vị trí an toàn.

      Giặc Pháp chỉ bắn dồn dập ít ngày. Chúng cho là bộ đội ta đã rút khỏi các trận địa, chúng chỉ tăng cường trinh sát thỉnh thoảng bắn pháo dội bom vu vơ. Chúng tôi về đến vị trí tập kết chuẩn bị một thời gian về mọi mặt tinh thần, ý chí rồi lại kéo pháo vào. Cũng rất gian khổ khó khăn quyết liệt lắm mới đưa được pháo của ta đến các trận địa bắn bí mật an toàn. Cũng đến lúc này mới hiểu vì sao có chuyện kéo pháo vào, kéo pháo ra như thế và cũng thêm tin tưởng.

      Chuyện làm đường kéo pháo ở mặt trận Điện Biên cách đây 50 năm, hồi ấy tôi còn là cán bộ cấp thấp, không nắm được tình hình chung. Chỉ nghe một vài cán bộ cấp trên và đồng chí U răng kỹ sư nói: Con đường kéo pháo dài nhất là con đường phía bắc, cái núi cao dốc nhất, pháo vượt qua khó nhất là núi An Tao. Viện lịch sử, Bảo tàng Quân đội xác định thêm khẳng định này. Nếu đúng lịch sử như nó có, tôi xin kiến nghị Nhà nước và quân đội cho khôi phục con đường kéo pháo và cho dựng một cái bia hoặc cụm đài tưởng niệm bộ đội ta kéo pháo trên đỉnh núi An Tao.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 02:36:58 PM
CẮT SÂN BAY MƯỜNG THANH

      Đại đoàn 312 chúng tôi được tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, lại được đánh trận mở đầu tiêu diệt hai cụm cứ điểm Him Lam, Độc Lập trên tuyến phòng thủ rất mạnh ở vòng ngoài. Sau đó đánh tiếp các cụm cứ điểm trên đồi Đ1, 2, 3 và cụm cứ điểm C1, 2, 3 kết thúc thắng lợi đợt một chiến dịch.

     Sang đợt hai, đại đoàn cùng các đơn vị bạn từ nhiều hướng tiến xuống đánh địch ở lòng chảo Điện Biên tạo thành thế trận vây quân địch kể cả cơ quan chỉ huy của tướng Đờ Cát. Trung đoàn 165 chúng tôi được giao nhiệm vụ tiến vào vây đánh và cắt sân bay Mường Thanh, cái sân bay lớn của giặc Pháp ở Điện Biên Phủ được ví như cái dạ dày khổng lồ của chúng ở khu vực này. Trung đoàn trưởng Lê Thùy gọi ba tiểu đoàn trưởng chúng tôi đến giao nhiệm vụ.

     - Chúng ta sẽ đánh vào sân bay bằng cách đào hào để thực hiện chiến thuật vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt, một chiến thuật tổng hợp nhằm khống chế không cho các loại máy bay địch lên xuống và cả không cho chúng thực hiện theo ý muốn kế hoạch thả dù tiếp tế. Như vậy bộ đội sẽ phải chiến đấu và sinh hoạt một cách cơ động ngay trong lòng đất suốt ngày đêm.

      Nhận nhiệm vụ thì vui, nhưng nghĩ cho kỹ lại chưa thật yên tâm. Anh Nguyên và anh Phiên, hai Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 542 và 564 đều nhất trí với tôi rằng, địch còn mạnh, quân còn đông tới hơn một vạn tên, hỏa lực pháo binh và xe tăng của chúng cũng còn rất mạnh. Ta đánh vào sân bay là cắt cái dạ dày của hơn một vạn quân địch, nhất định chúng sẽ phản ứng quyết liệt để cứu mạng sống, chứ không chịu bó tay. Chính vì thế mà cuộc chiến đấu cắt sân bay Mường Thanh, sẽ diễn ra giằng co khốc liệt, địch cố giữ, ta quyết chiến, không bên nào chịu bên nào. Địch còn làm chủ được sân bay thì quân ta còn gặp nhiều khó khăn. Ta cắt được sân bay thì coi như đã đưa tướng Đờ Cát lên đoạn đầu đài.

      Song tình hình quân ta lúc này, tuy khí thế rất phấn khởi sau các trận thắng ở đợt một, nhưng cũng đã có thương vong, cán bộ một số mới được cất nhắc lên, chiến sĩ phần đông mới được bổ sung chưa dày dạn chiến đấu mà nhiệm vụ lần này lại nặng nề và khó khăn hơn nhiều.

     Tôi nhớ, hôm đó sau khi phân tích tình hình thuận lợi và khó khăn, anh Khánh, Chính ủy trung đoàn có giải thích thêm:

     - Đúng là nếu địch biết được ta cắt sân bay, chúng sẽ phản ứng quyết liệt. Song trận đánh này không chỉ có chúng ta, còn Đại đoàn 316 và 308 nữa. Lại còn pháo binh cao xạ và công binh cùng phối hợp. Như vậy địch phải phân tán lực lượng để đối phó trong khi ta lại luôn luôn trong tư thế chủ động. Lẽ tất nhiên đánh vào sân bay là gian khổ, là ác liệt. Song vượt cái gian khổ và cái ác liệt này tức là ta thít chặt thêm cái dây thòng lọng vào cổ quân địch ở Điện Biên. Mong rằng các cán bộ đảng viên phải thật thông suốt nhận rõ ý nghĩa của trận đánh và vai trò vị trí của mình trong trận đánh.

   *
*     *


      Có lẽ chưa có trận đánh nào lại phải đào hào nhiều như trận đánh này. Chúng tôi đã đào từ hậu cứ trung đoàn trên đồi 75 đào xuống. Và trung đoàn phải tổ chức phân đoạn cho các tiểu đoàn đào liên tiếp hai ngày mới đưa được bộ đội xuống lòng chảo Điện Biên nghĩa là khi các đoạn chiến hào nối nhau đã dài gần chục cây số. Xuống lòng chảo Điện Biên tức là xuống giữa cánh đồng mênh mông ngập cỏ, không cây cối che khuất, địch và ta có thể nhìn thấy nhau. Chúng tôi nhìn thấy đồn giặc trên các mỏm đồi, máy bay tấp nập lên xuống sân bay hoặc thả dù tiếp tế. Chắc rằng chúng cũng đã thấy các đường hào ngầu lên mầu đất đỏ cứ mỗi sáng lại lấn sâu vào gần chúng, những đường hào công khai không cần nguỵ trang như thách đố đối phương.

      Chúng tôi sinh hoạt ăn ở chiến đấu ngay trong lòng đất. Đây là yêu cầu đặt ra cho cách đánh vây lấn tấn phá triệt diệt này. Xuống lòng chảo Điện Biên thì hệ thống chiến hào bắt đầu hình thành thế trận có công sự cho hỏa lực cối, đại liên, ĐKZ và lực lượng bắn trả. Tất nhiên có cả hầm hào tránh bom pháo và nghỉ ngơi. Đội đánh giữ trận địa ban ngày là lực lượng hỗn hợp gồm một số chiến sĩ bắn tỉa bằng súng bộ binh, một hai khẩu cối, ĐKZ, hai trung liên, một đại liên có nhiệm vụ bảo vệ tiền duyên cho bộ phận đào hào về phía sau nghỉ, tối tiếp tục ra đào. Bộ phận đánh giữ ban ngày tiếp tục củng cố công sự, thiết bị trận địa bắn sao cho bí mật bất ngờ. Có địch mới đưa súng ra. Địch đến gần mới bắn.

      Công việc đào hào chiến trận bắt đầu vào mùa mưa. Song vẫn có những ngày nắng hai ba hôm liền. Nắng thì khổ vì nóng, nó oi bức hầm hập như đổ lửa, mồ hôi  đầm đìa như tắm. Nhưng mưa còn bực hơn. Mưa hai ba ngày liền, nước dồn xuống lòng chảo Điện Biên thì các đường hào mà chúng tôi vừa đào ngập ngụa bùn nước đỏ ngầu, quần áo bê bệt suốt ngày những đất cùng bùn, cơ động dưới hào mà đi như bơi, người nào mặt mũi cũng nhem nhuốc bùn đất.

      Khi chiến hào của quân ta lấn sâu vào lòng chảo Điện Biên hướng về sân bay Mường Thanh và các đồn luỹ giặc, thì cũng là lúc quân địch phản ứng rất mạnh. Pháo cối từ các nơi cùng với hỏa lực trong đồn bảo vệ sân bay bắn ra, cộng với máy may trút bom hết đợt này đến đợt khác, khói bụi mịt mù, tiếng nổ inh tai nhức óc. Từng cột khói nối tiếp nhau dựng lên cùng với bụi đất che kín cả một vùng, không còn nhìn rõ cả đồn giặc và sân bay. Chúng bắn phá hàng tiếng đồng hồ, nghe đến sốt cả ruột. Mỗi đợt bom pháo chúng trút xuống, đất rung lên, hầm hào tròng trành ngỡ như đang ngồi trên thuyền giữa giông bão, áp sát người vào vách hầm, tôi cảm thấy đất Điện Biên ôm chặt lấy chúng tôi chẳng khác nào cái áo giáp che chở cho chúng tôi đánh giặc.

      Mặc địch bắn, chúng tôi không bắn trả. Khi địch ngừng bắn, chiến sĩ đã thành thói quen, lập tức ra sửa lại hầm hào và các công sự chiến đấu. 

      Tôi theo dọc chiến hào lên kiểm tra trận địa thấy rõ mục tiêu bắn phá của địch chính là những đường hào chằng chịt, nhiều đoạn bị sạt, có hầm chiến sĩ bị sập, nhiều anh em bị ù tai. Gặp một cậu, tôi hỏi mãi cậu ta chỉ cười không trả lời, rồi nhìn tôi ngơ ngác. Hỏi tên,' anh em bên cạnh phải trả lời thay:

     - Cậu Minh đấy Tiểu đoàn trưởng ạ. Hầm sập, may người không việc gì nhưng mà điếc đặc. Chúng em chỉ bị ù tai thôi.

     - À ra thế. Các đồng chí đưa Minh về phía sau nhé, tôi sẽ cho người lên thay.

      Đang nói thì địch lại bắn. Chúng bắn cấp tập trong mười phút rồi chuyển dần về phía sau. Tôi nhắc anh em:

     - Các đồng chí chú ý, bộ binh mò ra đó.

     Tôi vừa nói dứt lời thì nghe tiếng kèn đồng thúc quân, lập tức bọn địch tiến ra rất đông, hò la alaxô ầm ĩ. Tôi thấy Minh điếc không chịu quay về phía sau, cậu ấy xách súng lao ra công sự. Hôm ấy Minh đã bắn chết ba tên địch. Bọn giặc tưởng rằng hỏa lực của chúng đã san bằng được trận tuyến của ta. Chúng không ngờ đã bị quật lại và cuối cùng đành phải thập thò chuẩn bị đợt xung phong tiếp theo. Nhưng lần này rời rạc, bọn lên trước, bọn rụt rè theo sau, chiến sĩ ta có dịp tỉa từng thằng buộc chúng phải co lại về đồn, dùng súng cối bắn ra một cách thưa thớt cho đến tối thì im ắng. Trong khi địch mò ra lấy xác thì ta cũng củng cố trận địa và chuyển thương binh tử sĩ về phía sau. Qua một ngày đọ sức giữa lòng chảo Điện Biên, tôi nhận thấy quân địch chỉ mạnh về hỏa lực thôi chứ tinh thần thì sa sút rồi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 04:52:13 PM
      Những ngày này chúng tôi thường ăn cơm nắm với muối vừng lạc và mắm kem khu bốn, nhưng ít bữa no. Có hôm anh nuôi nấu kém, vớ phải nắm cơm nửa sống nửa chín, ăn trệu trạo trong miệng mà cứ phải nhai, phải nuốt. Thèm rau, thèm thịt, thèm đủ mọi thứ kể cả điếu thuốc lào mà không kiếm đâu ra. Nhưng suy cho cùng ở đây đối với chúng tôi lúc này, mắm kem khu bốn là ngon thượng hạng, nó đậm ngọt và thơm, ăn rồi nhớ mãi. Sau này ta đánh sâu vào trong địch phải thả dù lung tung, chúng tôi lấy được các loại dù thực phẩm đủ cả thịt hộp, xúc xích, bơ sữa, pho mát ăn đến chán chê bỏ cả cơm nắm mà vẫn không quên cái vị đậm ngọt thơm ngon của mắm kem khu bốn.

     Lại nói việc đào hào ở ngoài đã khó, vào gần hàng rào sân  bay và đồn giặc càng khó hơn . Khi vào gần hàng rào là thế trận vây lấn đã như phải giáp mặt quân địch hoàn toàn phải tiến hành vào ban đêm. Cán bộ chiến sĩ đi thẳng vào chân hàng rào ra lệnh nằm xuống, người nọ nối người kia thành một hàng dọc, lặng lẽ bỏ các sọt đất, bùi nhùi rơm, cỏ ra che chắn phía trên đầu, đề phòng đạn địch bắn thẳng rồi bắt đầu đào. Trước hết đào nằm sau đó đào ngồi, đào quỳ, đào nối lại với nhau thành chiến hào. Trường hợp lộ, địch bắn sẽ có lực lượng kiềm chế đánh địch, bộ phận đào càng phải đào khẩn trương hơn. Có thương binh tử sĩ thì đã có bộ phận tải thương lo liệu. Làm sao bốn giờ sáng phải xong thế trận vây lấn sâu hơn đêm trước để kịp triển khai bộ phận đánh giữ ban ngày cho bộ phần đào hào về phía sau nghỉ ngơi.

     Bây giờ đến giai đoạn đào qua hang rào vào trong sân bay thì không thể đào lộ thiên mà phải đào sâu vào lòng đất như đào địa đạo. Hàng rào dây thép gai của địch rộng tới bốn năm chục mét, mà đào mỗi ngày đêm liên tục chỉ được khoảng mười lăm mét.

     Thế rồi một buổi sáng tám giờ, trời âm u, sương buông mù mịt  máy bay địch vẫn ầm ì trên đầu thả đèn dù pháo sáng, đạn pháo từ đồn Mường Thanh vẫn bắn ra ùng oàng, chiến sĩ ta đã vào được trong sân bay và lại tiếp tục đào nhanh hơn, khẩn trương thiết lập trận địa. Lúc này địch chưa biết gì. Trăng lên. Sân bay mênh mông gió lộng. Không ai nói ra song hình như có một niềm vui hay là sự hồi hộp chộn rộn trong lòng khi tận mắt đã nhìn rõ cái sân bay lát những tấm sắt dã chiến trải dài qua bốn phía loang loáng dưới ánh trăng. Sau khi các công sự đã được nối với nhau cùng với các trận địa hỏa lực, các vị trí bắn tỉa thì đã mười một giờ khuya. Mãi lúc này địch mới phát hiện quân ta đã vào trong sân bay. Thế là súng cối trong đồn 105 phía bắc, đồn 206 phía tây và pháo từ Mường Thanh  thay nhau bắn ra. Chúng tôi vẫn tiếp tục đào. Thời gian càng khẩn trương buộc chúng tôi phải nhanh chóng làm chủ được trận địa đã chiếm lĩnh một cách vững chắc, Địch bắn. Chúng tôi đào hối hả hơn. Địch bắn đến gần sáng thì chúng tôi đã đào thành hai nhánh, một nhánh sát đồn 105, một nhánh ngoằn ngoèo cả góc sân bay gần ba trăm mét. Đến lúc này, ở gần địch, chúng tôi ít bị ảnh hưởng của đạn pháo. Sáng ra tôi quan sát thấy trận địa của ta đã lấn vào trong hàng rào sân bay khoảng ba trăm mét cạnh sườn đồi 105 về phía đông bắc, chưa có thể gọi là đã cắt được sân bay. Địch trong đồn 105 bắn ra rất ít. Hẳn là chúng không dám lên khỏi mặt đất, sợ bị bắn tỉa. Chỉ thỉnh thoảng bắn cối ra. Đồn 206 cũng vậy.

    Nhưng đến tám giờ sáng thì pháo từ Mường Thanh bắt đầu bắn mạnh ra trận địa ta. Tiếp đến máy bay quần đảo trút bom bắn phá. Pháo cao xạ của ta buộc chúng phải nâng độ cao hạn chế kết quả oanh tạc.

     Tôi đoán chừng bộ binh địch có thể mò ra nên nhắc anh em phải hết sức chú ý. Đã có hiện tượng thập thò lên khỏi mặt đất khi pháo Mường Thanh hoạt động và máy bay oanh tạc.

     Quả nhiên. Lúc đó đúng mười giờ. Đánh nhau giằng co đến tận hai giờ chiều, chúng phải quay về đồn nằm im. Một giờ sau, máy bay địch đến thả dù tiếp tế cho đồn phía đông nam sân bay và đồn 105, 206. Dù rơi lung tung, cái vào đồn, cái ra ngoài, cái rơi vào cả trận địa của quân ta. Không có tên địch nào dám mò ra lấy. Tối đến, anh em ta mới tổ chức đi lấy dù, cứ gọi là vui như hội. Có những tổ lấy được dù bánh mì hoặc thịt hộp, đường sữa hoặc rượu, kẹo, hoa quả, thuốc lá. Có tổ vớ được dù toàn đạn hoặc nước, bông băng, thuốc quân y. Lại có tổ chỉ thấy những cuộn dây thép gai, nghĩ mà tiếc công. Song tất cả đều rất vui vì từ đây nhiều cậu không còn thiết đến cơm nắm nữa, cứ bỏ lăn lóc trên bờ công sự, bữa bữa chén bánh mì thịt hộp đến no thì thôi. Ăn xong lại có kẹo tráng miệng rồi nhâm nhi cà phê, thuốc lá đàng hoàng…

     Nhưng từ thời gian này, chiến đấu càng thêm quyết liệt. Bị cắt cái dạ dày của hơn một vạn quân, tướng Đờ Cát đâu có chịu ngồi yên.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 09:34:16 PM
     Đúng vậy. Sau mỗi đợt máy bay và pháo địch bắn phá dọn đường, chúng lại đẩy bộ binh ra. Lần này tới một tiểu đoàn có cả xe tăng yểm trợ, chúng quyết đẩy quân ta ra khỏi sân bay chăng? Nhưng trung đoàn tôi đã được tăng cường lực lượng. Cấp trên lại điều cả Trung đoàn 141  và Đại đoàn 308 đánh lấn vào sân bay Mường Thanh. Có thể nói cắt sân bay và giữ sân bay là chuyện sinh tử của cả hai bên. Vì thế cuộc chiến ở đây tất yếu phải quyết liệt. Địch chết rất nhiều. Quân ta hy sinh cũng không ít. Cũng có thể nói ban ngày địch thắng nhưng ban đêm lại thua và ngược lại, ban ngày quân ta tạm co lại, ban đêm lại tràn ra khôi phục công sự và đào lấn thêm. Thế trận diễn ra như thế hàng tuần lễ, có khi địch ta giành giật nhau từng đoạn chiến hào. Chiến sĩ ta có đồng chí bị thương, cánh tay băng trắng vẫn bắn trúng địch. Có đồng chí trước bọn địch ào đến định bắt sống đã kịp thời tung trái lựu đạn cuối cùng diệt địch. Có hôm tôi phải cho lui về chiến hào hai đánh giữ vì phía trước địch ồ ạt tiến lên đã chiếm được nhiều đoạn chiến hào và anh em đã bị thương vong nhiều. Từ chiến hào hai, chúng tôi phát huy hỏa lực mạnh hơn diệt nhiều tên buộc chúng phải dừng lại. Một hôm, tôi đến gặp Đại đội trưởng Minh Lanh trao đổi công việc lại gặp đồng chí bị thương chưa biết tôi là cán bộ tiểu đoàn cứ níu áo nói:

     - Bảo anh ấy, thà chết cũng không rời trận địa.

    - Đồng chí tên là gì?

    - Bài, mới bổ sung về đây. Tiếc quá!

     - Sao?

     - Em bị thương khéo chết mất, chưa bắn được nhiều địch. Anh nhắn hộ anh Phú Đại đội 1 khi nào về quê báo cho mẹ em biết.

     - Quê Phú Thọ à?

    - Em ở xóm Tây Cốc gần ngã ba Đoàn Hùng.

    - Được rồi!

    Tôi nhận lời, vừa định về vị trí chỉ huy thì địch lại bắn mạnh, nhưng để lôi thằng chết và khiêng thằng bị thương về Mường Thanh.
Chiều hôm đó quân ta lại lên củng cố trận địa và đến bảy giờ tối lại tổ chức lực lượng đào lấn thêm tuyến nữa. Một hôm, địch ào ạt tiến lên có cả xe tăng đi cùng đã chiếm hết tuyến chiến hào vừa đào đêm qua, anh em phải lui về chiến hào hai, gấp quá không kịp chuyển thương binh nặng và có đồng chí đã hy sinh. Nghĩ mà xót xa. Đúng lúc đang ở chiến hào chuẩn bị đánh trả địch bỗng thấy quân địch ở phía trước chững lại và tiếng súng của đơn vị bạn dội lên phía đông nam và phía tây sân bay.

    - Các đồng chí có nghe thấy gì không?

    - Có ạ! Đơn vị nào không biết?

    - Trung đoàn 141 và Đại đoàn 308 đấy.

    Chúng tôi thừa cơ nổ súng tấn công. Bốn giờ chiều, quân địch phải rút hết về Mường Thanh.

    Những đường hào tiếp tục được đào dũi từ cả ba hướng cho đến ngày 16 tháng 4 thì gặp nhau, nối được với nhau ở nơi không biết ai đặt cho cái tên là ngã ba Đầm Hà. Cũng đến lúc này, trên thực địa ta mới cắt và chiếm được sân bay Mường Thanh. Song thực tế thì từ khi chúng tôi lọt vào trong sân bay, cái dạ dày khổng lồ của hơn một vạn quân địch đã mất hiệu lực rồi. Bởi từ hôm đó không một chiếc Đacôta nào dám cả gan hạ cánh xuống nữa. Mà thả dù thì gần bằng "kính biếu” lính Cụ Hồ thôi. Quân ta thu được cả lon tướng của gã Đờ Cát kia mà.

    Đúng ngày 16 tháng 4, chúng tôi vây sát đồn 105,  triển khai kế hoạch diệt đồn. Đại đoàn 308 đánh đồn 206. Ngày 18 tháng 4, bọn địch ở 105 tháo chạy khi chúng tôi chỉ mới bắn phá được mười ụ súng và mở xong ba cửa mở. Nhưng toàn bộ quân địch ở đồn 105 không một tên nào thoát, bị chết và bị bắt sống hết.

    Cũng ở đồn 105, tôi đã bị thương nặng không tiếp tục tham gia đợt ba của chiến dịch. Thật là tiếc.

    Thấm thoắt đã 50 năm. Bây giờ ngẫm lại mới hay, đã trải qua nhiều chiến dịch, tôi vẫn chẳng thấy lần nào chiến sĩ ta phải đào chiến hào nhiều đến thế. Dám đào chiến hào cắt đôi cắt ba cả một cái sân bay dưới tầm bom dạn của quân thù. Hẳn rằng lòng tin và quyết tâm của mọi người từ vị chỉ huy tối cao đến người chiến sĩ đã quyện trong nhau như thép được tôi trong nghìn độ lửa mới làm nên chiến công tuyệt vời thực hiện trọn vẹn ý đồ chiến dịch như thế.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 09:35:58 PM
ĐIỆN BIÊN TRONG TÔI
 
     Điện Biên trong lòng nhân dân và quân đội ta là trang sử hào hùng sánh ngang với Đống Đa, Chi Lăng, Bạch Đằng. . . trong bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Điện Biên trong hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tất cả trí tuệ và mưu lược của chiến tranh nhân dân chiến thắng tên đế quốc cáo già, đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật quân sự và cũng là đỉnh cao của vinh quanh cho đất nước.

     Điện Biên trong tôi, phía sau của niềm tự hào chung như tất cả mọi người, tôi có nỗi đau, nỗi đau của một tên tù binh mà trước khi bị bắt tôi đang là người chiến thắng. Viết lại nỗi đau này, tôi không có ý làm khác đi vẻ hoành tráng của Điện Biên anh hùng mà chỉ muốn nói, con đường dẫn đến chiến công có muôn vàn ghềnh thác, điều quan trọng là những ghềnh thác ấy có làm cho ta nhụt chí hay ngược lại chính nó là những thử thách vô cùng khắc nghiệt đã làm sáng tỏ trong ta khí phách của một con người chân chính.

    Hồi ấy, tôi phụ trách Tiểu đoàn 155 thuộc Trung đoàn 165 do anh Khánh là Chính ủy, anh Lê Thùy là Trung đoàn trưởng. Vào cuối đợt hai của chiến dịch, tiểu đoàn tôi có nhiệm vụ đánh đồn 105. Trận đánh diễn biến nửa thắng, nửa thua này khiến cho tôi thấy cay đắng trong lòng. Tức là chúng tôi nổ súng chỉ sau ba mươi phút, toàn đơn vị đã thực hành xung phong đánh chiếm và làm chủ ba phần tư đồn, bắt sống ba mươi tên trong đó có tên quan ba chỉ huy. Địch phải dồn lại một góc lợi dụng hầm ngầm ngoan cố chống cự. Trong khi chúng tôi đang tìm cách diệt hầm ngầm thì từ trung tâm Mường Thanh, các tiểu đoàn bộ binh địch có xe tăng pháo binh yểm trợ đánh ra nhằm phản kích giải vây cho đồn 105. Trận chiến diễn ra vô cùng quyết liệt và phức tạp giữa ta và địch xen kẽ nhau trong đồn, ngoài đồn đều nổ súng. Tiểu đoàn trưởng Bế Phiên chỉ huy Tiểu đoàn 564 đánh chặn viện ngoài đồn không hoàn thành nhiệm vụ. Cấp trên phải điều thêm Đại đội 243 (Trung đoàn 141) đánh mở đường tăng cường cho tiểu đoàn tôi chiến đấu trong đồn. Nhưng bọn địch trong trung tâm Mường Thanh vẫn tiếp tục điều thêm quân ra ngăn chặn bằng được các lực lượng chi viện của quân ta. Đến lúc này, đơn vị tôi phải chiến đấu trong thế bị bao vây thực sự. Một cuộc đọ sức ác liệt song cũng tỏ rõ phẩm chất người chiến sĩ cách mạng uy vũ bất khuất, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, bị thương vẫn không rời tay súng.

     Hầu như anh em chỉ bị bắt sau khi đã bị thương và không một ai chịu đầu hàng địch.

    Trận đánh từ 8 giờ tối ngày hôm trước đến 10 giờ sáng hôm sau, quân địch mới chiếm lại được 105. Lúc này tôi đã bị thương khá nặng, ở cả đùi, tay và ngực phải nằm bẹp không thể cử động được nhưng đầu óc vẫn còn tỉnh táo. Chính vì còn tỉnh táo nên nỗi đau càng như xé ruột gan khi nhìn anh em hy sinh và bị thương nằm la liệt khắp nơi, chồng chất lên nhau nối hàng ở chỗ cửa mở như hai bờ ruộng, tiếng kêu rên nghe cháy bỏng trong lòng. Cho đến bây giờ tôi vẫn không quên hình ảnh hy sinh của các chiến sĩ tiểu đoàn tôi. Có người nằm vắt mình qua hàng rào, tay buông thõng. Có đồng chí nằm nghiêng, tay vẫn ôm súng, ngón tay đặt trong vòng cò. Có người gục xuống chiến hào, tôi chỉ nhìn thấy hai cẳng chân dang lên trên nền trời. Nhiều anh em bị thương khe khẽ gọi tên ai đó nghe thật xót xa . . .

    Quân địch tràn vào đồn rất đông, đứa nào cũng lăm lăm khẩu súng chĩa vào đầu anh em ta, dẫu cho chỉ còn là những cái xác không hồn. Có tiếng rên của một đồng chí cách chỗ tôi không xa bị thương. Lập tức ba tên địch quay mũi súng về phía đó xả đạn. Tôi nhắm nghiền mắt lại vừa như không muốn chứng kiến lại vừa như sẵn sàng chờ đợi ba họng súng kia sẽ xả đạn vào chỗ mình. Tự nhiên tôi nghĩ: Ôi? Cái tuổi hai mươi lăm nằm lại Điện Biên rồi. Hình ảnh mẹ tôi, các anh chị, các em, cả ông chú bà bác cứ hiện lên trong đầu. Tôi tưởng tượng cái lúc mọi người nghe tin tôi chết ở Điện Biên òa lên khóc. Rồi hình ảnh xóm làng đình chùa, các ngày hội cứ hiện lên như in. Nhớ cái tuổi chăn bò dong duổi khắp đồng trên bãi dưới, qua rặng vải cây si, rủ nhau trèo lên cây gạo đình làng bẻ hoa bắt chim rồi ào ào chạy ra sông tắm, na.y tắm sông Hồng, mai tắm sông Đà, ngày kia lại về tắm đầm làng, nhớ buổi cắt cỏ bên núi Mươi, Đình Bằng, đồi Bông, xóm Thuê, những khi trồng sắn trên nương với mẹ, đánh cá dưới ao với cha. . . nỗi nhớ tràn về cứ nối tiếp hiện lên chẳng khác nào một cuốn phim. Hết nghĩ về nhà, tôi lại nghĩ về cấp trên, đơn vị, bạn bè. Tôi không về được, bây giờ chắc cấp trên đang lo lắm, và anh em thì đang nhắc tới tôi, hai cậu Tùy và Bãi thể nào cũng khóc . . .

     Đang suy nghĩ miên man thì bỗng nghe "bịch" bên tai phải sát ngay sau gáy thấy ran rát, liền theo đó là mấy tiếng súng nổi "bọp, bọp". Lại "bịch" nữa sát đầu vai bên trái. . . Tôi thoáng nghĩ thế là hết, mình sẽ chết ở đây mà không làm gì được chúng cũng như không thể nhắn lại đồng đội được nửa lời. Nhưng sao mình vẫn còn tỉnh táo. Lại nghĩ có chết cũng phải đàng hoàng. Tôi xoay về hướng bắc cố ghếch đầu lên đôi vai đồng chí đã tắt thở rồi nói thầm: Cho mình gối nhờ để có chết vẫn nhìn về phía quê hương. Chỉ ít phút nữa thì anh em ta gặp nhau. Tôi ghé mắt nhìn và nhận ra Trung đội trưởng Tác Đại đội 501, đôi lông mày xếch lúc này như xếch hơn lộ rõ vẻ căm uất. Con người dáng cao to nặng nề tháo vát... Vậy mà! May sao đã có một thằng con trai. Ở Vĩnh Yên, vợ con cậu mà biết tin lại khóc hết nước mắt thôi.

     Bỗng nghe tiếng "bịch" động mạnh dưới đùi tiếp theo là tiếng súng nổ "bọp". Lại “bịch" sát vành tai rát rạt như bị búng mạnh vào mang tai, mắt hoa lên. Đến đây thì tôi ngất đi không hay biết gì nữa. Khi tỉnh lại, trời đã xế chiều, tôi đoán rằng khi tôi tìm cách gối đầu lên thi hài Trung đội trưởng Tác, tên địch nào đó thấy tôi còn sống đã bắn tôi. May sao viên đạn chỉ sát vành tai và vào đầu làm cho tôi ngất đi thôi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 09:45:03 PM
     Nắng buổi chiều vẫn phả ra nóng hừng hực. Tôi thấy khát nước quá, môi như khô cứng ra, nuốt thấy đau rát ở cổ họng. Tôi muốn ngồi lên như gắng gượng mãi không được, cảm thấy người mình nặng hẳn ra như có đá đè, tay phải thì đau không tài nào cử động được. Tôi dùng tay trái  quờ quạng quanh người sờ soạng tìm nước nhưng không có chỉ thấy cái vỏ đạn tiểu liên. Sờ xuống dưới thắt lưng chỗ gần đũng quần thấy đất mát, ươn ướt, tôi moi lấy một miếng bỏ vào mồm nhấm nháp. Xem ra cũng dìu dịu cơn khát nhưng sao có vẻ như vừa mặn vừa khai, tôi đoán chừng nước đái hoặc máu. Cũng đành nhúm tiếp rồi nuốt thử cho qua cơn khát song không nuốt nổi. Cơn khát càng cồn cào như sắp phát điên lên, tôi kêu, muốn hét thật to nhưng không thành tiếng. Ngay lúc ấy có một chiếc ô tô từ trong Mường Thanh ra dồn để lượm xác và đón lính bị thương. Chúng tìm đến gần chỗ tôi. Thương binh của ta và lính của chúng bị thương nằm lẫn lộn cạnh nhau. Tôi khẽ kêu lên. Hai thằng Tây chạy lại, một thằng cúi xuống nhìn, nó nói:

     - Xava!

     Hai người phu theo sau cũng chạy đến. Một người hỏi:

     - Anh là cán bộ hay chiến sĩ?

    Tôi không trả lời chỉ kêu:

     - Nước? Cho tôi xin nước?

    Hai thằng Tây xì xồ nói gì không rõ. Một thằng lấy bi đông mở nắp đưa cho tôi. Tôi nghiêng đầu uống ừng ực. Nước vào đến đâu tôi biết đến đấy. Lúc ấy tôi cảm thấy nước như là thứ thuốc tiên khiến đầu óc tỉnh táo hẳn ra, ruột gan mát mẻ. Chiếc bi đông không rời khỏi mồm, tiếng nước kêu ọc. Thằng Tây ngăn lại không cho uống nữa. Nó ra hiệu uống nhiều chết. Tôi vẫn cứ uống và nói lại:

     - Tôi không chết được.

    Thằng Tây khác giật lấy bi đông rồi xem qua vết thương, lấy băng ra băng bó lại, vừa làm nó vừa hỏi tôi, người phu dịch lại:

    - Anh là sĩ quan hay là lính, tên là gì, đơn vị nào?

     Tôi nói một mạch:

    - Tên tôi là Vi Hải, chức vụ chiến sĩ, Đại đội 501, Tiểu đoàn 15 .

      Hình như hai thằng Tây này là bác sĩ hay y tá gì đó, chúng chỉ hỏi qua loa rồi sai người phu đưa tôi lên ôtô để nằm chung với thương binh của chúng. Xe chạy. Tôi đoán chừng chúng chuyển thương binh vào khu trung tâm Mường Thanh. Đường rất xóc mà xe thì chạy như điên.

     Chắc là tên lái xe sợ ăn đạn pháo của ta nên không hề nghĩ đến những người nằm trên xe đều là thương binh. Người tôi nẩy lên như bị quăng quật, đến đoạn nào đó thì ngất lịm đi không biết gì nữa.

     Khi tỉnh dậy thấy trời tối đen, nhìn lên bầu trời loáng thoáng một vài ngôi sao, nghe không xa, tiếng súng ta súng địch vẫn nổ, tiếng pháo sáng lập lòe như ma trơi. Đạn pháo cao xạ 37 ly của ta nối nhau vút theo về phía tiếng máy bay nổ như hoa lửa giữa trời. Tôi không sao đoán ra mình đang ở đâu mà tại sao không có gác. Tôi lại thấy khát nước và cả đói nữa, bây giờ làm sao kiếm được cái gì cho vào mồm. Tôi thử nhúc nhích cánh tay phải. Không được. Nó đã gãy rồi. Chân phải cũng bị hai phát đạn như lìa, đứng không được, ngồi cũng không được thì làm sao tìm được nước trong đêm tối mênh mông như thế  này. Tôi dùng khuỷu tay trái, mông trái cố lê lết đi. Phải tìm ra nước và xem có ai ở xung quanh mình không. Lết được một đoạn không xa, tôi thấy có ánh sáng le lói, cố lết nhanh đến đó thì thấy cái cửa hào xuyên vào hầm. Tôi tiếp tục lết vào mới hay bên trong hầm có hai dãy giường nằm toàn là lính Tây bị thương, thằng nào cũng quấn băng trắng toát, thằng băng trên đầu, thằng băng kín ngực, thằng bó trắng cả chân cả tay. Chúng kêu rên khiếp lắm. Tôi lết qua trước mặt chúng mà chẳng thằng nào nói gì cả. Tôi nhìn quanh thấy có một cái giường bỏ không, trải đệm trắng tinh bên cạnh có một cái bàn,cái ghế, trên bàn có chai nước và nhiều thứ bánh cùng hoa quả. Tôi rất mừng, lết nhanh đến bên bàn, mặc cho đau đớn, cố rướn người lên lấy chai nước tu uống ồng ộc rồi vớ lấy ít bánh quy ăn, còn hoa quả thì dắt quanh vành quần để phòng khi khát nước. Ăn uống xong, tôi chống tay ngồi lên ghế, lấy thuốc lá hút, lúc này thấy trong người thoải mái, hết khát, bụng đã no nhưng mệt. Tôi lê đến giường từ từ nằm xuống, cảm thấy gân cốt dãn ra, ngửa mặt nhìn lên nắp hầm suy nghĩ mông lung. Chẳng hiểu số phận mình rồi ra sao. Rất có thể lát nữa một tên nào về thấy mình, nó sẽ nện mình cũng nên. Nhưng mặc mẹ nó, không sợ gì hết, miễn là được nằm cho dãn gân dãn cốt đã.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 10:59:13 PM
     Quả nhiên khoảng nửa đêm, tên quan ba thầy thuốc về nhìn thấy tôi trên giường, nó ngỡ ngàng trố mắt rồi la hét một cách giận dữ. Tôi nghĩ bụng, mặc mẹ mày, tao không biết tiếng tha hồ cho mày chửi. Nó nhìn thẳng vào tôi. Tôi cũng nhìn thẳng vào nó bình thản cứ nằm hút thuốc. Thằng Tây vẫn quát tháo, khi thấy người lính Bảo Hoàng(l) và hai bác phu, nó nói xì xồ như trách mắng.

    Người lính Bảo Hoàng bảo tôi:

     - Anh dậy mà đi ra đi.

     - Tôi không dậy và không đi được.

     Hai bác phu và người lính đỡ tôi xuống rồi dìu tôi trở về nơi ban đầu. Nằm một mình, nghĩ lại những việc vừa xảy ra thấy cũng buồn cười. Mới biết con người ta, chết không phải dễ. Thế rồi sau đó, tôi ngủ lúc nào không biết. Khi tỉnh dậy thì trời đã sáng, nhìn ra xung quanh thấy nhiều người đi lại quét dọn. Đây là những người phu, địch  bắt vào để phục vụ bệnh viện. Thấy tôi nằm còng queo trên đất, họ đến hỏi han tỏ vẻ thông cảm. Người thì hỏi bị thương ở đâu, người lại hỏi cán bộ hay chiến sĩ, có người lấy súp cho thương binh của chúng đi qua hỏi nhỏ xem đã ăn uống gì chưa. Tôi chỉ nhìn họ không trả lời và suy nghĩ, chẳng lẽ những con người này đều là những kẻ đi theo giặc? Khoảng 8 giờ, một bác sĩ cùng một nữ y tá đều là người Pháp đến, có hai bác phu đi theo. Người bác sĩ biết tiếng Việt nói:

     - Anh nằm yên, chúng tôi sẽ khám và kiểm tra vết thương cho anh.

     Người nữ y tá cởi băng ở đầu tôi, xem các vết thương ở gáy và hai tai, sau đó hai người nói với nhau xì xồ. Hai bác phu cởi áo chấn thủ dài tay cho tôi không được, phải là dao kéo cắt từng mảnh rồi lột ra. Người bác sĩ xem và thương ở ngực và tay phải rồi lại trao đổi ý kiến gì đó và người nữ y tá. Tôi nghe hai bác phu nói là vết thương ở vai làm cho tay phải tôi gãy rời. Họ tiếp tục kiểm tra vết thương ở đùi, ở mông. Tôi bị lột nốt cái quần. Thế là lúc này tôi nằm trần truồng, cứ tênh hênh ra đấy. Cũng hơi ngượng nhưng lại nghĩ, thôi mặc, chúng mày muốn làm gì thì làm. Họ rửa rồi thay băng từng vết thương. Riêng tay phải họ bó bột rồi băng chặt vào ngực, vào lưng. Người tôi lúc này gần như được phủ lên một lớp băng trắng toát. Tự nhiên tôi lại nghĩ đến gia đình, nếu mọi người, nhất là mẹ tôi biết tôi như thế này thì sẽ khóc nhiều đến sinh ốm đau ra mất. Vậy mà bọn họ băng cho tôi xong lại cười cợt như không. Một tên sĩ quan Pháp biết tiếng Việt đi cùng tên lính Bảo Hoàng đến hỏi tôi. Nó cũng hỏi tên, ở đơn vị nào, là sĩ quan hay là lính? Tôi khai thật đơn vị vì hiểu rằng chúng đã biết rõ nhưng tôi không nói tên thật mà bịa ra cái tên Vi Hải và chỉ là lính thôi.

     Tôi bị bắt nhưng tôi hiểu quân địch đang ở thế thua cho nên không sợ gì cả. Chúng chỉ hỏi qua loa thế rồi quay ra bảo tôi ngồi yên để chụp ảnh. Tôi không cho chụp nhưng chúng cứ chụp. Tôi biết rằng chúng chụp ảnh tôi là để nói với thế giới rằng người Pháp đối xử nhân đạo với tù binh. Thấy tiếng máy xè xè, tôi nhăn mặt vờ kêu đau rồi nghiêng đầu ngoảnh mặt đi. Nếu chúng có chụp được chỉ là chụp được bức ảnh như thế mà thôi. Chúng xì xồ với nhau không chụp nữa rồi tản đi, chỉ còn thằng Tây đứng lại nói với tên lính Bảo Hoàng bằng tiếng Việt:

     Cho nó xuống căng?

     Tôi không biết căng là gì lại tưởng nó bảo đem giết liền tỏ vẻ phẫn nộ. Tên lính Bảo Hoàng vui vẻ bảo tôi:

    - Anh chuẩn bị xuống căng.

     - Tao không đi đâu hết. Tao chết ở đây.

    Tôi nói như hét lên rồi mắng tên lính Bảo Hoàng một cách thậm tệ, mắng nó là tên bán nước. Chúng gọi thêm hai tên lính da đen tới. Hai tên này cầm hai khẩu súng chĩa thẳng vào đầu tôi. Tôi nhìn và chỉ tay vào mặt nó như thách thức. Hai tên lính da đen cười khoác súng vào vai rồi cúi xuống túm chân tôi lại để cho hai tên lính Bảo Hoàng giữ vai và đầu nhấc tôi lên cáng.

    Chỗ gọi là căng cách độ bốn trăm mét, đó chính là trại tù binh. ở đây toàn bộ anh em bộ đội ta phần đông đã bị thương. Vừa thấy khiêng tôi tới, mọi người xúm lại xem với vẻ tò mò. Anh thì hỏi:

    - Tên cậu là gì?

    Anh khác lại hỏi:

    - Là cán bộ hay chiến sĩ đấy?

    - Đánh trận nào đấy?

    Tôi chỉ trả lời tên tôi là Vi Hải và giả vờ mệt không nói gì thêm nữa, chú ý quan sát và nghe xem họ bàn tán gì cũng như tỏ thái độ như thế nào về mình. Lúc ấy khoảng 5 giờ chiều. Có lẽ anh em cảm thông với sự mệt mỏi của tôi, tất cả lại tản ra và trở về hầm của họ. Một anh sau này tôi biết tên là Hải đến gần nói nhỏ với tôi: 

    - Anh ở đây gần cậu Đình, cậu Điệp, các cậu ấy sẽ giúp đỡ. - Nói rồi anh cũng lẳng lặng đi.

    Trời tối dần. Mưa phùn nhè nhẹ. Anh Đình, anh Điệp đem cho tôi ca nước rồi cũng chui vào hầm ngủ. Tôi nằm tựa vào vách hào, quấn tấm chăn dù che lên cả mặt. Lúc này mới cảm thấy đau nhức khắp người. Càng về khuya  mưa càng nặng hạt, gió thổi càng mạnh khiến tôi không sao ngủ được. Nằm nghe tiếng ngáy của những người bên cạnh, lòng thao thức khôn nguôi, tôi thoáng nghĩ, sao màhọ vô tư thế. Gần nửa đêm, anh Đình mò ra đi giải thấy tôi nằm co ro khẽ hỏi:

    - Cậu có lạnh không, mưa có hắt vào chỗ cậu không?

    - Lạnh và đau quá.

    Anh Đình liền gọi anh Điệp dậy bàn nhau đưa tôi vào nằm trong hầm của anh Đình. Anh Điệp lại đem sang một cái bao tải xếp gọn trong hầm anh Đình rồi dìu tôi vào. Sau ít phút, người ấm hẳn lên, tôi ngủ thiếp đi một cách ngon lành. Sáng ra hai anh dậy trước. Khi thức dậy, tôi đã thấy các anh đang đun nước. Anh Điệp hỏi:

    - Anh có đi đại tiểu tiện, tôi cõng đi?

    Không còn cách nào khác, tôi phải nhờ anh Đình cõng lên miệng chiến hào giải quyết cái việc cần thiết, sau đó ba anh em chúng tôi ngồi uống nước ăn bánh mì cùng vài cái kẹo, hút thuốc lá. Các anh cho biết đây là mấy thứ hôm qua anh em phu cho mới ăn một nửa. Tôi cảm động nhìn hai anh Đình và Điệp rồi thủng thẳng hỏi:

    - Các anh có biết những ai trong số anh em bị bắt vào đây là cán bộ không?

    - Có - Anh Đình vội vã trả lời - Đến năm sáu ông ấy. Tôi biết có ông Trụ, ông Phòng, ông Hải, ông Minh, nghe như là cán bộ trung đội và đại đội. To nhất trại này chỉ có ông Trụ.

    Trụ? Tôi thoáng nghĩ không biết có phải anh Trụ, Chính trị viên 564 không. Tôi còn đang phân vân, đột nhiên anh Đình nói:

    - Anh Vi Hải là cán bộ phải không?

    - Sao đồng chí nói thế, đồng chí không tin tôi ư?

    Anh cười khì khì. Cả Điệp cũng cười theo làm tôi hơi chột dạ cứ nghĩ mông lung. Tôi cố tình hỏi lại:

    - Căn cứ vào đâu mà hai anh khẳng định vậy?

    Anh Đình tủm tỉm cười nói:

    - Dấu đầu hở đuôi nhé! Đêm qua ngủ chung, em thấy anh nói mê gọi điện thoại cứ "Alô! Alô! Anh Lê Thùy đâu?” Anh Lê Thùy đâu Rồi anh gọi cả tên anh Bế Thiên ở đơn vị 564 chặn viện không vào đúng vị trí thả lỏng cho quân địch tiến đến sát đồn 105 mà không thấy tiếng súng của Tiểu đoàn 564. Rồi anh quát to lắm. Lúc ấy em đánh thức anh Điệp dậy cùng nghe, chắc chắn anh là cán bộ cỡ ấy chứ. Chúng em mừng lắm. 

    Tôi nghe mà lạnh toát cả người. Đúng là dấu đầu hở đuôi thật. Đến lúc đó tôi đành phải nhận. Tôi nói:

    - Có điều lúc này chúng ta đều là tù cả và là đồng đội của nhau. không nên phân biệt cán bộ chiến sĩ làm gì. Tôi mong các đồng chí giúp đỡ tôi giữ bí mật. Như thế chỉ có lợi cho quân đội chúng ta thôi.

    Anh Đình chân thật nói:

    - Chúng em hứa sẽ bảo vệ và giúp đỡ anh.

    - Thế bây giờ tôi nhờ hai anh làm thế nào mời được anh Trụ tới đây.

    - Việc đó dễ quá. - Anh Đình nói ngay - Em cùng đại đội với anh Trụ, cùng bị thương cùng bị bắt. Có ngày nào anh ấy và em không gặp nhau.

    Lát sau anh Đình tìm được anh Trụ đến. Chúng tôi xúc động chào nhau. Anh Trụ nắm chặt tay tôi:

    - Anh cũng vào đây ư?

    - Vâng. Bị bắt ở trận đánh 105.

    Tôi ngắm nhìn Trụ vẫn dáng cao gầy, da đen nhưng bây giờ người khô đét, tóc bù xù, tay trái vẫn băng không co duỗi được, trông có vẻ tiều tụy. Tôi hỏi:

    - Tình hình anh em ta trong này thế nào?

    - Ở đây tất cả có hơn một trăm anh em bị chúng nhốt trong cái trại chỉ có gần hai trăm mét vuông, ăn, nghỉ, ỉa cả ở đấy, cho nên ruồi bọ nhiều, bệnh tật phát sinh, vết thương không chịu lành, cứ khỏi rồi lại tái phát và thuốc men băng bông cũng chẳng có. Thỉnh thoảng có xin được ít băng bông hay thuốc tím để rửa vết thương thì chỉ có anh em ta tự lo cho nhau thôi. Ăn thì ta tự nấu. Mỗi ngày chúng chia cho bốn lạng gạo với ít muối trắng, thỉnh thoảng mới có ít tép khô. Những hôm quân ta bắn mạnh như mấy ngày hôm nay thì chỉ còn có hơn ba lạng. Có ngày không, vì thế ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe và vết thương rất lâu bình phục.

    - Trong này có mấy cán bộ, các anh đã gặp nhau chưa?

    - Rồi. Chúng tôi đã thành lập ban lãnh đạo tù, chọn các đồng chí biết tiếng Anh, tiếng Pháp giao nhiệm vụ trực tiếp quan hệ với chúng, trong đó có anh Phòng, anh Hải. Về lãnh đạo chúng tôi đã thành lập chi bộ, anh em cử tôi làm Bí thư. Nói chung việc tổ chức lãnh đạo khá chặt chẽ, mỗi khu vực có một tổ Đảng. Nhờ vậy anh em ta luôn luôn giữ vững được tinh thần và ý chí, có khó khăn giúp nhau tự khắc phục và đoàn kết đỡ đần nhau.

    Nghe anh Trụ kể tôi rất mừng. Trong tình hình anh em đều bị thương mà hoàn cảnh thì vô cùng khó khăn vẫn làm được những việc như thế thật là đáng khâm phục. Tôi đề nghị cho được gặp các đồng chí lãnh đạo. Anh Trụ phấn khởi đồng ý ngay.

    Sau khi anh Trụ về, anh Đình dìu tôi vào hầm nghỉ nhưng tôi đề nghị để tôi ở ngoài cho thoáng, khi nào nắng to hay có mưa thì sẽ vào. Gọi là hầm nhưng thực ra nó chỉ được khoét vào vách hào như cái hầm ếch, vừa chật, vừa có mùi rất khó chịu. Anh Đình và anh Điệp đều cười như là đã hiểu được những gì tôi đang nghĩ trong đầu. Anh Điệp vỗ nhẹ vào đùi tôi nói.

    - Anh yên tâm, ngay hôm nay chúng em sẽ khoét cho anh cái hầm tất và xin cho anh cái chăn, cái khăn mặt. Lúc nào đó sẽ xin anh em phu cho anh cái ca.

    Đúng lúc này tôi thấy có một số lính địch đi qua, tiếp đến là anh em phu đi lại nói cười. Một số anh em ta cũng lên nói chuyện với phu, hỏi thăm quê quán họ mạc rất là ồn ào, tự nhiên. Tôi đề nghị anh Đình cõng lên mặt hào để có thể hiểu và có thể hòa nhập được cảnh sống trong tù. Lên mặt hào, tôi tận mắt nhìn thấy cảnh sống trong tù. Hầu hết anh em bị thương nhẹ đều lên khỏi mặt hào. Từng tốp phu, từng tốp lính đi làm qua đến trại tù dừng lại có người cho gói thuốc, có người cho bánh kẹo, cứ đứng ngoài ném vào. Anh em ta xúm vào nhặt. Tốp này đi qua, tốp khác lại đến, có thể tới cả nghìn người. Tôi rất khó chịu khi thấy bọn lính Âu Phi dẫn phu đi qua, bắt chước anh em phu cũng cho thuốc và bánh kẹo nhưng chúng lại nhử nhử hai ba lần rồi mới ném vào và cười khinh bỉ khi thấy anh em tù binh ta chen nhau nhặt lượm và cãi nhau. Như thế này thì không ổn. Dù bị bắt làm tù binh, nhưng người chiến sĩ quán đội nhân dân không thể có
hành vi tồi như thế được, trái lại, cần tỏ rõ tư thế làm cho anh em phu phải tôn trọng và kẻ thù phải nể nang. Chẳng biết có phải chỗ bánh kẹo và thuốc lá của anh Đình và anh Điệp cho tôi thưởng thức sáng nay là kết quả của cách ăn xin kiểu này không? Nghĩ thế nhưng tôi lại hỏi Đình sang chuyện khác:

    - Chung quanh ta có những đồn nào nhỉ?

    Đình chỉ cho tôi biết ở đây là ngã ba đường lên phía bắc sân bay, đường về Hồng Cúm, con đường đi qua cầu Mường Thanh. Phía tây bắc là khu tập trung phu phen có đến bốn năm nghìn người, cứ sáng đem đạn gạo đến các đồn kết hợp lấy thương binh về bệnh viện ở ngay cạnh khu phu này. Còn khu phía đông nam là khu lính Angiêri, Ma rốc không hoàn thành nhiệm vụ chạy trốn bị bắt về tập trung. Bọn này tuy có súng nhưng thực chất là tù giam lỏng rất có cảm tình và hay nói chuyện với ta.

     Sáng hôm sau, anh Trụ và các lãnh đạo đến chỗ tôi họp. Nội dung thứ nhất là bàn bạc về việc giữ vững ý chí củng cố đoàn kết, biết bảo vệ thương yêu nhau, các đồng chí khỏe giúp đỡ các đồng chí bị thương ốm nặng. Việc nhận bánh kẹo thuốc lá của địch và anh em phu đi qua cho phải tiến hành có tổ chức, sau đó tập trung phân phối đều, ưu tiên cho người yếu. Trừ ai có người nhà quen thân mới được sử dụng riêng. Về tổ chức phải tăng cường thêm các đồng chí biết tiếng Anh, tiếng Pháp đưa những kiến nghị của anh em xin cấp thuốc và ăn no. Đó là bộ phận anh Phòng. Bộ phận thứ hai do anh Hải là đại diện phải tăng cường công tác tuyên truyền trong lính Âu Phi nhất là lính người Angiêri và Ma rốc thường có cảm tình với cuộc chiến đấu của ta. Cuộc họp còn bàn về việc điều chỉnh cán bộ đảng viên để sự lãnh đạo được chặt chẽ, các tối có sinh hoạt nhóm bàn bạc cách khắc phục các khó khăn thiếu thốn, giữ vững ý chí và bản chất Bộ đội Cụ Hồ làm cho anh em phu phải kính trọng và cả kẻ thù cũng phải kính nể. Với bộ phận dân phu cũng phải thêm người cùng anh Trụ làm công tác tuyên truyền.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 09 Tháng Mười, 2009, 08:38:23 PM
       Sau khi bàn bạc xong, các anh trong ban lãnh đạo đề nghị với tôi nói chuyện với toàn thể anh em. Tôi nhận lời. Tối hôm đó, khi trời vừa tối hẳn, anh em đã đến tập trung gần đủ, các đồng chí bị thương nặng cũng được cõng đến. Tôi vô cùng xúc động nhìn anh em một lượt rồi thong thả nói:

      - Thưa tất cả các đồng chí? Tôi là Vi Hải đánh trận 105 bị thương và bị bắt vào đây mới được ba ngày. Tình hình ở bên ngoài về quân ta, tôi vẫn còn nắm được ít nhiều, xin trình bày để các đồng chí biết. Thứ nhất là ý chí và quyết tâm của bộ đội ta rất cao, lực lượng ta hiện nay rất mạnh. Toàn Đảng toàn dân ta đang tập trung toàn lực để đánh thắng quân thù. Phải đánh thắng giặc Pháp, phải giải phóng Điện Biên, quyết tâm này không có sức mạnh nào lay chuyển được. Ngày thua của quân Pháp đã rõ ràng, bình thường chúng ta ở đây cũng thấy rõ. Him Lam, Độc Lập mất Đ1, Đ2, E2, E3, A1 ta đã chiếm được một phần. Sân bay bị cắt, ta đã áp sát đến gần trung tâm chỉ huy của Đờ Cát. Ngày chiến thắng giải phóng Điện Biên chưa rõ ngày nào, nhưng đến gần rồi. Thất bại của giặc Pháp không thể tránh khỏi. Chúng ta phải chuẩn bị ý chí tinh thần tổ chức sẵn sàng khi thời cơ đến, ngoài bộ đội ta tấn công vào trong, ta kết hợp với phu đánh ra phối hợp. Đây cũng là nhiệm vụ và trách nhiệm của chúng ta.

      Tôi rất mừng rằng vào đây mới ba ngày đã được nghe được thấy tình hình anh em ta bị thương bị bắt ốm đau khó khăn là thế mà vẫn chịu đựng được. Lại còn giúp nhau thể hiện bản chất quân đội, những chiến sĩ trung kiên của cách mạng. Ta tuy đang gặp vô vàn khó khi
song ta cũng có những thuận lợi là Pháp đang ở thế thua. Hơn bốn nghìn phu có cảm tình muốn giúp đỡ ta, lính Âu Phi cũng có cảm tình với ta. Các đồng chí phải tỏ ra là người chiến thắng, giữ tư thế Bộ đội Cụ Hồ. Lời nói và hành động của chúng ta phải là chỗ dựa cho họ đấu tranh để giúp đỡ chúng ta khắc phục được một phần nào khó khăn trong tình huống bị giặc bắt này.

      Tôi tiếp tục nói cho anh em biết về tội ác của giặc Pháp mà chính mắt tôi đã nhìn thấy rõ, chúng vô cùng dã man tàn bạo như ở trận 105, các chiến sĩ ta bị thương đã bị chúng bắn chết sau khi chúng tiến vào đồn. May có tôi có đồng chí bị thương nằm bên, chúng bắn một loại tưởng chúng tôi đã chết hết mới quay đi. Tôi kể tiếp về chuyện hai người phu đến chuyển thương binh của chúng về phía sau thấy tôi còn sống đã đưa tôi về đây. Tôi nói:

       - Hành động tàn ác của quân giặc thế nào, đến lúc này chắc chúng ta đã rõ. Có khi chẳng cần súng đạn mà chúng cũng có thể giết được ta bằng cách không cho thuốc, để đói ăn nên bệnh tật phát triển, vết thương nặng thêm mà chết. Cho nên trong chúng ta ai trở về được với quân đội, với nhân dân, phải kiên quyết tố cáo tội ác của giặc Pháp cho mọi người biết, cho đời đời con cháu ta không bao giờ quên.

     Tối ấy tôi nói chuyện với anh em từ 7 giờ đến 9 giờ.  Tôi rất xúc động thấy anh em nghe một cách chăm chú, đến lúc đó vẫn còn muốn nghe. Nhưng tôi rất mệt, phải hẹn anh em vào một buổi khác.

     Ngày hôm sau, khí thế anh em rất phấn khởi. Mọi quy định đề ra để giữ gìn phẩm chất người chiến sĩ nhân dân anh em đều chấp hành. Mọi người tỏ ra chan hòa thương yêu nhau hơn. Nhiều anh em đến thăm tôi trao đổi tiếp những điều rất có ý nghĩa về những ngày bị tù phải sống như thế nào để khỏi phải xấu hổ. Tôi bị thương không đi được nhưng nhờ thế cũng quen biết được nhiều  anh em. Sự chuyển biến trong trại tù chúng tôi khiến các bác phu cũng phải ngạc nhiên xin đòi gặp đại diện tù. Các đồng chí lãnh đạo cử tôi tiếp xúc với anh em. Té ra đến lúc đó mới biết trong số anh em phu này có tổ chức của ta do một đồng chí đại đội phó của Sư đoàn 320 cùng 20 chiến sĩ được cử vào trà trộn trong số hơn bốn nghìn người dân Thái Bình, Nam Định bị địch bắt lên đây làm phu tải đạn, gạo cho các đồn và tải thương. Anh em này biết rất rõ tình hình địch, đã đề nghị với tôi từng ngày tìm cách gặp nhau để trao đổi. Tôi thật không ngờ trong hoàn cảnh như thế mà chúng ta vẫn tổ chức được một lực lượng trung kiên để lãnh đạo và nắm bắt tình hình. Thiết nghĩ đây cũng là một yếu tố tạo nên thắng lợi cho chiến dịch. Hẳn ràng có những anh em đã phải hy sinh mà không chắc đã có ai biết đến công lao của họ.

     Tình hình chiến thắng của quân ta ngày càng đến gần thì anh em chúng tôi lại càng gặp khó khăn. Ta đánh mạnh, đạn pháo bắn vào, sân bay bị cắt, địch lúng túng đối phó không chỉ súng với súng đạn mà cả với cái ăn hàng ngày. Lính địch cũng đói thì tất nhiên tù chúng tôi càng đói hơn. Tuy đói, nhưng nhìn thấy lính địch đào ngũ bị bắt về ở quanh chỗ chúng tôi ngày càng đông thì chúng tôi lại rất khoái.
Bọn địch cũng nhận ra sự chuyển biến khác thường trong trại tù chúng tôi, chúng đoán rằng đã có một sự lãnh đạo ngầm nào đó. Một hôm chúng hỏi xem trong tù binh ai là sĩ quan. Anh em đều trả lời chỉ có lính bị bắt chứ cán bộ của chúng tôi không ai bị bắt. Chúng liền cử lão cố đạo Tây xuống hai ba lần. Tôi biết nhưng không gặp. Anh em tìm cách bảo vệ tôi. Mỗi khi lão xuống, tôi vẫn cứ nằm dưới hầm không lên. Đồng chí Đình khẽ nói nhỏ với tôi:

     - Anh cứ yên chí. Em đã khai anh ốm nặng. Em bảo anh bị ma bắt (ốm).

     Một hôm, khoảng 9 giờ, anh Phòng dìu tôi ra cửa hầm để thay băng. Anh cho biết là lão cố đạo đã xuống  nhưng đang la cà hỏi han người này người khác, còn lâu mới đến đây. Không ngờ anh vừa nói xong thì lão cố đạo cùng một tên lính Bảo Hoàng đột nhiên xuất hiện ngay trước mặt, tỏ thái độ cởi mở hỏi tôi ngay bằng tiếng Việt:

     - Anh bị thương vào những đâu?

    Tôi bị bất ngờ nên trả lời lúng búng, không dám nhìn mặt "cha", chỉ nhìn từ ngực xuống:

     - Thưa cha con bị thương ở chỗ này, chỗ này và chỗ này… Tôi vừa nói vừa chỉ vào  những vết thương.

     Lúc này tôi mới đảo mắt nhìn rõ mặt "cha" thấy lão cố đạo gật đầu tỏ ra cảm thông, thương hại. Nhưng tôi hết sức ngạc nhiên thấy ông cố đạo này lại mặc quần áo nhà binh, đầu đội mũ sắt. Đột nhiên tôi hỏi vừa có ý tò mò, vừa có ý khiêu khích:

      - Thưa cha, sao cha lại mặc áo nhà binh?

     Lão cố đạo tỏ ra lúng túng nói như phân bua:

      - Ở đây là chiến trận mà.

      Tôi được thể giãi bày một cách lễ phép:

      - Chúng con ở đây sống đói khát như thế này rồi cũng đến chết mất, chắc gì lần sau cha lại gặp lại được. Nhất là những anh em bị thương nặng không có ăn, không có thuốc làm sao mà qua khỏi. Rất mong cha cho chúng con ít thuốc, ít bông băng.

     - Ồ! Tôi sẽ đề nghị, nếu được tôi sẽ cho người đem xuống.

     - Con thay mặt anh em mong cha xuống kiểm tra luôn, chúng con được nhờ.

    - Không! Không phải tôi xuống kiểm tra mà tôi xuống thăm các anh.

     Tôi càng ngạc nhiên hơn khi nghe thấy lúc về, lão cố đạo lại chào tôi bằng ông. Như thế là có vấn đề rồi. Tiếng ông ở đây chắc để chỉ ông cán bộ.

     Tối hôm đó các anh lãnh đạo lại đến gặp tôi bàn bạc quanh chuyện lão cố đạo. Các anh đều nhận định rằng phải có người chỉ điểm lão ta mới đến như thế. Cần phải xem xét lại các bộ phận xem có ai đáng nghi ngờ không. Một số anh em cho rằng người thường hay quan hệ với Pháp chỉ có anh Phòng hay lên xin thuốc. Trước đây anh đã khai với chúng là trung đội phó ngành y. Có đồng chí cho rằng cần phải tăng cường kiểm tra theo dõi, nếu tôi bị bắt thì theo quy định phải thủ tiêu ngay anh Phòng bằng phương pháp dùng chăn trùm đến chết vứt xuống hố tiêu. Nhưng có ý kiến lại cho rằng vấn đề chưa rõ ràng, chúng ta chỉ cần bảo vệ anh Vi Hải không cho chúng bắt. Trường hợp không bảo vệ được, anh Vi Hải bị chúng bắt đi thì chúng ta đi theo hết. Nhưng cuối cùng thì chuyện đó không diễn ra.

     Hôm đó còn bàn về tình hình phải đối phó với bệnh tật và đói khát, đã thống nhất được với nhau là càng khó khăn thì cán bộ đảng viên càng phải gương mẫu, tổ chức phân phối phải hết sức công bằng. Cuối cùng anh Trụ đề nghị tôi làm Bí thư thay anh. Mọi người đều đồng ý nhưng tôi không nhận vì vết thương vẫn còn nặng không đi lại được Anh Trụ nói:

      - Việc gì anh phải đi đâu. Mọi vấn đề giải quyết chúng tôi đều đến hỏi và bàn ở chỗ anh cơ mà.

     Cuối cùng tôi phải nhận.

     Lại nói về lão cố đạo hôm sau xuống có một tên lính và hai bác phu đi theo vác hai cái túi to tướng. Lão đến chỗ tôi vui vẻ, nói cho tôi nghe về hội nghị Giơnevơ, cuối cùng với thái độ tỏ vẻ chân thành, lão ta nói:

      - Thực ra người Pháp chúng tôi rất muốn chấm dứt cuộc chiến tranh này nhưng người Mỹ lại cứ ép Chính phủ chúng tôi, hứa viện trợ nhiều hơn nữa để tiếp tục chiến tranh. Vì thế ta còn đánh như chưa biết bao giờ mới chấm dứt được. Theo lời đề nghị của ông hôm trước, tôi có chuẩn bị một số thuốc, bông băng, một ít sữa, bánh kẹo và bộ đồ cắt tóc dao cạo râu, hôm nay tiện xuống thăm tôi đem theo. Vậy ông cho người nhận rồi phân phối, chủ yếu cho người ốm nặng và bị thương.

     - Cảm ơn cha. - Nhân cơ hội tôi nói tiếp - Thưa cha, bên quân đội Việt Nam cũng có lần đã bắt được tù binh Pháp nhưng đều đối xử rất tử tế. Tù binh bị ốm bị thương đều được chạy chữa tận tình, thuốc thang chu đáo. Vậy mà ở đây, họ đối xử với chúng con quá tồi tệ.

     - Ông thông cảm, người Pháp ở đây lúc này cũng khó khăn thiếu thốn, cũng đói nên không thể thực hiện theo yêu cầu của ông được. Sở dĩ chúng ta cùng đói lại là tại quân đội các ông bắn vào cắt đứt đường tiếp tế - Đức cha đưa hai tay lên trời lắc đầu nói tiếp - Đành vậy thôi.

     Ông cố đạo chào tôi rồi xin phép ra về tỏ vẻ rất lịch sự. Ngay đêm hôm đó ban lãnh đạo chúng tôi lại tiếp tục họp, có nhận định rằng hiện tượng lão cố đạo đến thăm và cho quà chứng tỏ Pháp chuẩn bị thua rồi. Làm thế lão ta mong sau này có bị bắt cũng sẽ được đối xử tử tế hơn. Chúng tôi còn bàn về mặt tổ chức lực lượng phải chọn lọc ra bốn tiểu đội khỏe chờ khi bộ đội đánh vào, hai tiểu đội bảo vệ khiêng cáng anh em ốm và bị thương nặng ra, còn hai tiểu đội thì phối hợp dẫn đường cho bộ đội ta chiến đấu.

      Cũng may đến thời kỳ này trong nội bộ anh em chúng tôi đã tương đối ổn định. Các mối mâu thuẫn đòi phải xử lý người này người kia đã được giải quyết. Về phía địch thì càng ngày càng hoang mang rối loạn. Bọn lính Pháp đi qua khu tù không ngông nghênh như trước đây, thằng nào cũng lầm lì nhìn thấy anh em ta là đi rất nhanh. Riêng số lính âu Phi thì lại tỏ ra có cảm tình với ta hơn, khi đi qua thường đứng lại nói chuyện. Có anh lính Ma rốc làm công việc canh gác tù lại gác cho ta nói chuyện với các bác phu. Có đêm cả tổ canh gác mang súng vào nói chuyện cho anh em ta biết tình hình quân Pháp đang lúng túng đối phó như thế nào. Điều đó khiến anh em chúng tôi càng thêm phấn khởi và tin tưởng rằng ngày giải phóng Điện Biên đã đến nơi rồi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 09 Tháng Mười, 2009, 10:43:12 PM
      Quả đúng như vậy, năm ngày sau, ngày 7-5-1954, quân ta giải phóng Điện Biên. Đó là ngày đối với anh em tù chúng tôi có thể gọi là ngày tái sinh. Tôi cũng không ngờ Điện Biên giải phóng sớm thế. Lúc 7 giờ tất cả anh em chúng tôi đều lên hết mặt hào không còn biết sợ là gì, ai nấy vô cùng xúc động được nhìn gần như toàn cảnh chiến đấu giữa ta và địch, nhìn thấy quân ta đến sát sông Nậm Rốm gần cầu Mường Thanh, chân đồi A1, nhìn xe tăng bộ binh địch hình như muốn tiến lên đánh chiếm lại, nhưng bên cạnh sao lại có toán lính bộ binh mang cờ trắng chạy về phía ta. Lính gác chúng tôi lúc đó là hai người Angiêri và Ma rốc chạy vào nói với chúng tôi vẻ như vừa sợ hãi lại vừa muốn reo lên:

     - Quân Pháp thua rồi. Chúng tôi xin theo các anh.

     Người lính Ma rốc nói:

     - Sĩ quan các đồn chạy về chỉ huy sở của tưởng Đờ Cát họp bàn việc đầu hàng.

     Ba hôm sau tôi mệt quá không ăn uống gì được nhưng vẫn phải cấp tốc triệu tập cuộc họp với anh Trụ và ban lãnh đạo, tôi nêu vấn đề là cần phải kiểm tra lại phương án đã bàn lần trước, cử cán bộ phụ trách cụ thể từng bộ phận và triển khai kế hoạch ngay. Khoảng 9 giờ, nhiều tốp lính địch ở khắp các hướng mang theo cờ trắng đi về phía ta. Khoảng 10 giờ bộ đội ta đến gần trại tù. Điện Biên lúc này như ong vỡ tổ. Quân địch và cả phu phen lũ lượt từng đàn mang theo cờ trắng đi xen lẫn cá vào bộ đội ta. Hai tiều đội làm nhiệm vụ khiêng anh em ốm và bị thương nặng cùng đi chung một đường. Chỉ có điều bây giờ chúng tôi không còn là tù binh, ngược lại, bọn giặc Pháp hôm nào vẫn vênh váo cười khinh khi trước anh em chúng tôi thì bây giờ chúng là tù binh. Đi chung một đoạn đường, anh em ta cười nói hoan hỉ còn bọn chúng thì thui thủi, mặt cúi gầm, mắt lấm lét. Tôi cũng muốn reo lên để hòa cùng niềm vui chung với đoàn quân thắng trận Điện Biên, nhưng mệt quá.

    Hôm đó tôi được cáng ngay về trạm quân y và cũng từ đó đến nay tôi không hề biết một chút gì về anh em bạn tù của tôi ở Điện Biên ai còn ai mất, ai gặp phải những bước thăng trầm gì trong cuộc đời.

     Là một cán bộ chỉ huy tiểu đoàn được tham gia chiến dịch Điện Biên năm đó, đã chứng kiến biết bao tấm gương chiến đấu dũng cảm kiên cường của bộ đội ta. Song lại cũng chứng kiến hơn một trăm anh em sau khi bị thương đã bị bắt làm tù binh, lâm phải cảnh ngộ đắng cay mà vẫn kiên trung với Đảng, với quân đội, với nhân dân, không một ai chịu khuất phục trước kẻ thù, liệu cấp trên có nghĩ rằng đó cũng là sự đóng góp vào chiến thắng Điện Biên. Riêng tôi, tôi không hổ thẹn, không có điều gì phải phiền muộn, trái lại tôi rất tự hào cho dù không được cầm súng chống giặc cho đến giây phút cuối cùng của chiến dịch, chúng tôi vẫn không lúc nào nhụt chí, đã giữ vững được phẩm chất người chiến sĩ nhân dân trong hoàn cảnh hết sức hiểm nghèo. Chỉ rất tiếc, khi niềm vui chiến thắng Điện Biên tràn ngập khắp chốn khắp nơi, ta lại nhiều việc quá, những công việc lại lớn lao gấp bội phần, cho nên không mấy ai nhắc nhở đến cái tình huống đầy bi kịch của các chiến sĩ tù Điện Biên chúng tôi. Song xin thưa bi kịch nhưng mà lạc quan. Nghịch cảnh nhưng vẫn ẩn trong vóc dáng của chiến thắng Điện Biên vĩ đại.

     Chiến thắng Điện Biên đã gần 45 năm qua rồi, không biết những người bạn tù Điện Biên của tôi hôm nay cuộc sống ra sao. Chép lại những dòng ký ức này tôi không ngoài mục đích muốn tuyên dương những người bạn tù bất khuất của tôi ở Điện Biên. Mặt khác cũng muốn, Đảng, Nhà nước biết về họ. Hơn thế nữa, năm nay tôi đã ngoài bảy mươi tuổi rồi, quỹ thời gian không còn là bao, qua những trang ký ức này, tôi muốn nhắn tìm anh em, ai còn sống hãy đến với tôi. Nhà tôi ở phòng 204, nhà A2, khu tập thể Quân đội, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Ngày nay, trong không khí yên bình, chúng ta sẽ có nhiều thời gian để nói với nhau về Điện Biên trong ta, những người bạn tù ngày ấy, nhiều cay đắng nhưng cũng rất anh hùng.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 10 Tháng Mười, 2009, 07:53:56 AM
NHỮNG ÂN NHÂN CỦA TÔI

      Là người lính chiến đã nhiều lần bị thương ở mặt trận, lại có lần bị thương rất nặng phải bò lết giữa sa trường đầy máu lửa, vậy mà tôi vẫn sống và trở thành người chỉ huy cấp tướng đi khắp các chiến dịch trong Nam ngoài Bắc, cả chiến trường nước bạn cho đến ngày toàn thắng, thật không đơn giản chút nào. Bây giờ về hưu, sống cùng gia đình đã được tam đại đồng đường, đôi lúc nghĩ lại chặng gian nan trong chiến tranh khi mình không còn có thể làm chủ được đôi chân đành phải "đi" trên vai đồng đội, thật không cầm được nước mắt.

      Tôi nhớ nhất cái hồi là cán bộ tiểu đoàn ở chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi bị thương gãy ba xương sườn, tay cũng bị gãy, đùi thì bị đạn xuyên qua, mê man bất tỉnh! Anh em cáng tôi về trạm quân y Trung đoàn 165, phải trèo đèo lội suối, trăm nỗi nhọc nhằn. Ở đây bác sĩ Nhân, y sĩ Quang, y tá Nhẽ đã cứu tôi tỉnh lại, đến lúc đó tôi mới tin là mình còn sống.

     Thế rồi tôi được chuyển lên quân y Sư đoàn 312. Nhìn mọi người hối hả lo toan cứu chữa cho tôi, dường như nét mặt ai cũng hệt như những người thân thiết của mình, như anh như chị, tôi vô cùng xúc động, muốn nói lên một đôi câu cảm ơn mà không sao nói lên được thành lời, vì các vết thương gây đau đớn dài ngày khiến cho tôi như đã kiệt sức.

     Điện Biên hoàn toàn giải phóng, tôi được chuyển về tuyến bệnh viện ở hậu phương điều trị cùng với nhiều thương binh khác. Thời gian này, các vết thương vẫn chưa lành hẳn, tuy còn rất đau đớn, song tôi đã tỉnh táo nhiều rồi. Bốn bác dân công người Thanh Hóa thay nhau khiêng cáng tôi suốt dọc đường. Bác Khánh người to khỏe, da hơi đen, có bộ râu rất phong độ làm cho khuôn mặt to, tròn mang vẻ oai phong cộng với dáng đi trông rất bệ vệ; giọng nói thì oang oang cứ như Quan Công hiển thánh. Vậy mà tính tình rất cởi mở, chốc chốc lại hỏi tôi: Có khát không, làm ngụm nước nhé!

      Bác Bái người to bè, chân vòng kiềng nên dáng đi có vẻ chậm chạm, giọng nói nặng hơn hơi ngọng, lại hay nói chuyện. Mọi người hay trêu vui bác về cái tật nói ngọng nhưng bác chẳng giận ai cả. Vì thế cuộc chuyển thương tuy vất vả nhưng không buồn tẻ.

      Bác Hải, người cao, dáng đi lòng khòng, có cái điếu cày kiêm gậy chống đi đường, mỗi khi nghỉ là tiếng rít thuốc lào lại long xòng xọc nghe rất vui tai. Cứ phải đã cơn nghiện rồi muốn làm gì mới làm. Có lần bác còn ghé tai khích lệ tôi: Thế nào, có làm một mồi không?

     Bác Hành phụ trách chung, người to khỏe cân đối, tính tình sôi nổi, nói năng chặt chẽ, luôn quan tâm đến mọi người, chăm lo từng vết thương, bữa ăn giấc ngủ của tôi cũng như nhiều anh em khác.

     Đoàn dân công khiêng cáng thương binh dài lê thê đi suốt ngày. Đồng chí thương binh trên cáng phía trước tôi là Đoàn Hợp, cụt một chân. Cáng phía sau là anh Oanh mù hai mắt. Cáng phía sau nữa là anh Minh Lanh. Bác Hải khiêng cáng tôi cho biết như vậy. Té ra, chúng tôi đều ở chung trong sư đoàn. Thỉnh thoảng tôi ghé mắt nhìn sang cáng các anh ấy, chỉ nghe tiếng rên khe khẽ. Rõ ràng gần nhau mà chẳng nói với nhau được lời nào. Ai cũng mệt và đau nhức bởi những vết thương tai ác.

     Đằng đẵng hai ngày liền, chúng tôi mới tới chân đèo Pha Đin. Sang ngày thứ ba bắt đầu lên dốc. Tôi hiểu lúc này là bắt đầu thử thách ghê gớm đối với các bác dân công. Nằm trên cáng, tôi cảm thấy như người có lỗi trước từng bước chân thậm thịch, nặng nhọc xiêu vẹo của các bác dân công, mồ hôi thì nhễ nhại, nhỏ giọt, nhỏ giọt … Tôi tự trách mình một cách vô cớ rằng tại sao lại bị thương, không đi được để các bác dân công phải vất vả thế này, thương quá mà chẳng làm sao được. Nhớ lúc vào chiến dịch Điện Biên tôi cũng đã vượt đèo Pha Đin chỉ mang có khẩu súng ngắn thôi vậy mà khi lên dốc vẫn như đứt hơi, chân chồn, gối mỏi, không còn muốn bước nữa. Các bác dân công lúc này lên dốc một đầu cáng thương trên vai cùng các trang bị cá nhân nữa thì cực nhọc biết chừng nào.

     Cuối cùng thì các bác cũng đưa tôi đến được chỗ có ô tô chuyển tiếp ngay trên đỉnh Pha Đin. Nằm gọn trong lòng ô tô cùng với khá đông anh em thương binh, tôi thấy như còn lưu luyến một điều gì rất khó diễn tả. Nhưng rồi cái không khí sôi động trên đỉnh đèo của các anh em thanh niên xung phong sửa đường cùng với bộ đội chiến thắng trở về hành quân qua, vừa reo hò, vừa trêu đùa nhau, nó đã khỏa lấp được nỗi suy tư trong tôi và tôi cũng lại ước ao có thể ngồi dậy được để hòa chung vào cái không khí vui mừng chiến thắng ấy. Tôi liền nhờ cô y tá đỡ cho ngồi dựa vào thành xe để được nhìn ra xung quanh một quang cảnh thật là hùng vĩ hiện ra trước mắt. Đỉnh đèo Pha Đin cây xanh gió lộng, mây trắng trôi bồng bềnh, ẩn hiện các dãy núi xa mờ xanh.

     Xe chuyển bánh. Chúng tôi nhìn nhau vẻ hể hả vì nghĩ rằng được ngồi ô tô tức là sẽ được nhanh chóng về nơi ổn định mà điều trị, nhưng chỉ một lát là bắt đầu biết nhau. Đường xấu, xe cứ phải gầm rú và nhảy chồm chồm như là nó muốn hành hạ những ai nằm ngồi trên mình nó. Tôi cố chịu đựng ghìm chặt người để khỏi ảnh hưởng đến vết thương. Có anh thương binh chịu không nổi kêu la như bị tra tấn. Tôi không thể ngồi vững phải nhờ cô y tá đỡ nằm xuống nhưng nằm cũng không yên, người cứ nảy lên dập xuống theo đà xe chồm qua các ổ gà, cái vết thương ngỡ sắp bung ra, đau đớn vô cùng. Tôi nhắm mắt lại cố chịu đựng nhưng nước mắt cứ trào ra. Các cô y tá, bác sĩ và các bác dân công phải thay nhau đỡ cho từng đồng chí thương binh nặng bớt bị va quệt đau đớn. Song chẳng ăn thua. Thấy tôi nhắm tịt mắt, một cô tưởng tôi ngất xỉu cứ lay gọi liên hồi. Mệt và đau đớn tôi chẳng buồn thưa. Thấy gọi mãi tôi đành mở mắt để thay câu trả lời.

     Bị thương đã khổ rồi, lại đi ô tô kiểu như thế này lại càng khổ hơn. Nhớ cái cáng trên vai các bác dân công, thật là như nằm trên mây. Dẫu sao thì xe cũng đưa chúng tôi về tới bệnh viện Nà Sản, Sơn La. ở đây tôi được chăm sóc như đối với người thân thiết trong gia đình. Về đây, các vết thương trên người tôi vẫn khiến tôi phải nằm hoặc ngồi chứ không thể đi lại. Vì thế mọi việc cần thiết như ăn uống, rửa mặt, lau người và cả việc đi đại tiểu tiện, tôi đều không tự thực hiện được. Hai cô, y tá Thắng và hộ lý Vân, ít hơn tôi hai tuổi rất xinh lại có duyên song chẳng khác nào hai người chị hiền, họ không ngại ngùng bất cứ việc gì để phục vụ tôi, hết thay quần áo lau mình, lại cõng tôi ra chỗ đại tiểu tiện. Nhiều khi thấy tôi ngượng không muốn để các cô ấy giúp liền bị các cô ấy mắng cho. Nhưng vừa cười vừa mắng:

     - Anh lạ thật! Mấy hôm trước anh mệt lử, chúng em thay áo quần, rửa mặt lau người, mọi việc làm cho anh cả, còn lạ gì cái của anh mà hôm nay lại phải ngượng. Anh thế mà phong kiến. Từ ngay mai, chúng em ra lệnh gì, yêu cầu anh phải tuân theo.

     Thú thật lúc ấy muốn cười mà không dám cười. Có cái gì ẩn chứa sự hồn nhiên bên trong mỗi câu nói như là hài hước, song lại bao hàm nét nghiêm trang, chớ có đùa. Tôi nghĩ như thế.

     Quả vậy. Đã có những lần tôi phải nằm tênh hênh như đứa trẻ, mặc cho các cô ấy lo toan mọi công việc hộ lý, vệ sinh... Nhớ năm tôi lên bảy bị trận ốm thập tử nhất sinh không đi lại được. Bố mẹ, anh chị tôi rất lo. Mẹ tôi phải bón cơm, bón cháo cho tôi. Anh chị tôi cũng phải cõng tôi đi vệ sinh, giặt áo thay quần. Hồi ấy tôi đã biết nghĩ không muốn được ăn uống vì lo bố mẹ nghèo phải đi vay, liền bị bố mắng cho.

     Những ngày này, tôi cảm thấy như đang được sống giữa không khí gia đình. Nằm điều trị ở bệnh viện tỉnh Sơn La tôi rất an tâm vì thấy các vết thương trên người dần dần ổn định, ăn khỏe, ngủ khỏe. ít ngày sau, những thương binh nặng chúng tôi lại được chuyển tiếp về Yên Bái bằng cáng thương. Phải vượt qua đèo Lũng Lô thì mới tới chỗ bến xe. Mấy hôm trước trời mưa, nên hôm nay tuy trời không nắng nhưng đường vẫn còn trơn, các bác dân công chẳng thể nào tránh cho hết các vũng nước lấp loáng trên mặt đường. Các bác đã cố gắng làm cũng chẳng sao giữ cho khỏi va quệt vào vách đá hoặc gốc cây. Mỗi lần như thế, người tôi đau điếng. Gặp chỗ đường lầy thụt, quỵ cả chân nhưng các bác vẫn quyết không để người tôi quật xuống mặt đường. Mồ hôi nhễ nhại, hẳn là nhọc lắm vậy mà bốn bác vẫn hò hét động viên đỡ đần nhau giữ cho vai cáng thăng bằng. Tôi nằm trên cáng nghĩ mà thương, vừa khâm phục các bác không thể nói lời nào cho thấu. Phải đâu người chiến sĩ dù có lập công đến bao nhiêu lại có thể công thần? Nghĩ về các bác, tôi chỉ biết tự nhủ thầm như vậy.

     Sang bên kia đèo Lũng Lô, chúng tôi được chuyển lên ô tô tiếp tục cuộc hành trình. Thật không ngờ hôm nay chúng tôi qua phà bến Âu Lâu giữa ban ngày. Tôi nhớ khi lên Tây Bắc vào chiến dịch Điện Biên, đơn vị tôi vượt sông Hồng ở bến Cổ Phúc vào ban đêm, chỉ nghe tiếng  nước sông Hồng rì rầm, lại nhớ câu hát “Hồng Hà mênh mông đưa nước trên nguồn về xuôi” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Hôm nay chiến thắng trở về, qua sông Hồng giữa ban ngày; ô tô đưa chúng tôi xuống phà sang sông giữa rừng người chẳng khác gì ngày hội, xe lên phà vào ngay thị xã Yên Bái. Bà con vây quanh xe mỗi lúc một đông, bỏ vào trong thùng xe những trái chanh, nải chuối và cả trứng luộc. Có các chị, các mẹ trèo hẳn lên xe để nhìn tận mặt, hỏi tên từng người, hỏi quê quán cửa nhà. Có hai bà mẹ người Yên Bái xem vết thương anh Đoàn Hợp cụt một chân, anh Oanh mù hai mắt cứ sụt sùi như gặp được chính đứa con của mình, nước mắt cứ ròng ròng chảy xuống mặt các anh ấy.Tự nhiên tôi cũng không cầm được nước mắt. Ôi tấm lòng các bà mẹ Việt Nam, lòng dân Việt Nam. Thật không bút nào tả xiết niềm cảm xúc thiêng liêng như thế…

     Đến bệnh viện tỉnh Yên Bái chúng tôi mới thực sự chia tay những người mà tôi muốn gọi là nhưng ân nhân cua mình. Vâng, đúng là ân nhân của tôi và trọn đời tôi sẽ không quên. Tôi tin rằng các con tôi, cháu tôi cũng sẽ không bao giờ quên? Hôm nay ghi lại những dòng này cũng là để bộc lộ tấm lòng của tôi với bác Khánh, bác Bái, bác Biên, bác Hải, bác Nhẽ, bác Nhân, bác Tuy, cô Thắng, cô Vân. . . những ân nhân của tôi, rằng tôi luôn nhở đến mọi người.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 10 Tháng Mười, 2009, 09:05:43 PM
ĐẬP TAN "CÙ KIỆT"

1

      Cuối năm 1969, Sư đoàn 312 nhận lệnh sang chiến trường Lào phối hợp cùng quân đội Pa thét Lào chiến đấu ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Thời gian này, đế quốc Mỹ đang thực hiện “Học thuyết Ních-xơn”  đối với các nước Đông Dương, chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh” hay còn gọi là “Chiến tranh đặc biệt tăng cường", dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương, dùng người châu Á đánh người châu Á.

     Liên tiếp trong sáu tháng, sau khi lên cầm quyền, Ních-xơn đã ra lệnh mở hai chiến dịch đánh chiếm vùng giải phóng Lào. Mở đầu là chiến dịch "Xamakhi" ngày 30-3-1969, chúng tiến công vùng giải phóng Xiêng Khoảng bằng trực thăng vận thọc sâu vào vùng giải phóng rồi đổ quân chốt các điểm cao dưới sự yểm trợ của hỏa lực và không quân Mỹ. Nhưng chúng bị đánh trả liên tục năm mươi ngày đêm và bị thiệt hại nặng, đến đầu tháng 5 - 1969, quân địch buộc phải rút lui.

     Đầu tháng 8 - 1969, đế quốc Mỹ lại tập trung quân gồm 50 tiểu đoàn lực lượng đặc biệt và quân nguy Viên Chăn cùng với 19 tiểu đoàn bộ binh và pháo binh Thái Lan, với 1.200 lính mũ nồi xanh Mỹ, mở cuộc hành quân được gọi tên là “Cù Kiệt" hòng lấn chiếm địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Âm mưu của Mỹ trong cuộc hành quân này còn để lập bàn đạp đánh sâu vào vùng giải phóng Lào, uy hiếp tỉnh Hủa Phần, căn cứ địa cách mạng của cả nước Lào, đồng thời còn nhằm uy hiếp cả sườn phía tây hậu phương miền Bắc Việt Nam, khống chế tuyến vận tải chiến lược Tây Trường Sơn, hỗ trợ mạnh mẽ cho âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh”, của “Học thuyết Ních-xơn" ở miền Nam Việt Nam.

     Ngày 31-7-1969, lực lượng không quân Mỹ cất cánh từ Thái Lan và pháo binh địch bắn phá cấp tập vào tuyến Bản Na và khu vực Cánh Đồng Chum. Bên cạnh năm cánh quân tiến theo đường bộ, đế quốc Mỹ còn huy động từng đàn máy bay lên thẳng đổ quân đánh chiếm các vị trí bàn đạp ở Cánh Đồng Chum, dưới sự yểm trợ của không quân Mỹ bắn phá dữ dội vào những nơi có nhà ở và những khu vực chúng nghi có lực lượng cách mạng đứng chân.

     Chính trong cuộc hành quân được gọi là "Cù Kiệt"' này, đế quốc Mỹ và tay sai đã gây ra nhiều tội ác dã man tàn bạo với nhân dân tỉnh Xiêng Khoảng: Bom đạn Mỹ đã phá hủy hơn hai trăm bản làng, hàng ngàn nhà ở hàng trăm chùa chiền, trường học, bệnh viện, trạm xá, hàng ngàn dân thuộc các bộ tộc bị thương vong, hàng ngàn gia đình phải rời bản làng đi nơi khác hoặc phải sang Việt Nam lánh nạn. Trong suốt thời gian chiến dịch "Cù Kiệt", trung bình mỗi ngày Mỹ cho bốn trăm lần chiếc máy bay, kể cả máy bay chiến lược B52 đến ném bom bắn phá trên dưới ba nghìn tấn bom đạn xuống khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Bom đạn Mỹ còn phá hoại hàng vạn héc ta ruộng nương, giết hại và bắt đi hàng chục ngàn gia súc. Quân địch đi đến đâu đều xúc dân vào trại tập trung trong vùng chúng kiểm soát. Theo tài liệu viết về cuộc “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của Ních-xơn ở Lào do Nhà xuất bản Neo Lào Hắc Xạt ấn hành thì trong chiến dịch Cù Kiệt, đế quốc Mỹ và tay sai đã bắt ba nghìn dân dồn vào các khu tị nạn, cướp và giết hại 44.000 con trâu, 30.000 con bò, 9.000 con ngựa, 55.000 con lợn và rất nhiều gia cầm.

     Ngày 25-10-1969, Bộ Chỉ huy Tối cao Lực lượng vũ trang Cách mạng Lào cùng với Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã quyết định mở “Chiến dịch phản công giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, kiên quyết khôi phục lại địa bàn chiến lược vừa bị quân địch lấn chiêm ".

    Lực lượng tham gia chiến dịch gồm tám tiểu đoàn bộ binh Quân Giải phóng Lào, bốn trung đoàn bộ binh Quân Tình nguyện Việt Nam và một số đơn vị đặc công, xe tăng, vận tải Việt Nam và Lào được đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Liên quân Lào - Việt. Chiến dịch phản công đã diễn ra vô cùng quyết liệt trong hơn sáu mươi ngày đêm quần nhau với địch, Liên quân Lào-việt đã đập tan Cù Kiệt giải phóng hoàn toàn khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 12 tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 6.000 tên, thu và phá hủy hàng ngàn vũ khí các loại, thu và phá hủy 70 xe quân sự, bắn rơi 42 máy bay các loại, khôi phục và mở rộng vùng giải phóng từ Bản Na đến Nậm Ngừm với hơn hai vạn dân.

     Tôi nhớ, ngày 21-2-1970, toàn bộ quân địch phải rút khỏi Cánh Đồng Chum; ngày 22-2-1970, quân địch ở Phu Cút tháo chạy; ngày 24-2-1970, lực lượng Liên quân Lào - Việt đánh chiếm Mường Xủi, tập kích mạnh vào Xalaphukhun... Trên hướng phối hợp đặc công tập kích Long Chẹng quân ta đã biết hàng trăm lính Vàng Phao, cố vấn Mỹ, sĩ quan Thái Lan...

     Tôi không có điều kiện ghi lại tất cả các mũi phản công ở các hướng của chiến dịch đã làm nên chiến thắng ra sao, chỉ xin được nêu lại các hoạt động của Trung đoàn 165 chúng tôi ở một hướng khá đặc biệt của chiến dịch mà thôi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:31:24 PM
       Lại nói khi trung đoàn nhận lệnh lên đường chiến đấu, anh em chúng tôi ai cũng mừng vì đơn vị vừa trải qua một đợt huấn luyện khá căn bản, chắc chắn sẽ hoàn thành nhiệm vụ với một phong thái chiến đấu đàng hoàng, chừng chắc. Ngoài việc huấn luyện hợp đồng binh chủng còn huấn luyện cách đánh trong thành phố và các vùng ven, đánh địch trong công sự vững chắc, đánh tập kích, đánh quân đổ bộ đường không, chiến đấu ở rừng núi, đồng thời huấn luyện hành quân đường dài. Về kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật xạ kích, yêu cầu từ cán bộ chỉ huy các cấp đến chiến sĩ phải sử dụng thành thạo được ba loại súng. Về mặt trang bị, toàn đơn vị ai cũng có mũ sắt và mặt nạ chống vũ khí hóa học. Về quân số, đơn vị được bổ sung tân binh của hai huyện Phú Xuyên và Thường Tín rất hoàn chỉnh, lại có cả một số tiểu đoàn quân dự bị và tự vệ Khu Gang thép Thái Nguyên đã được huấn luyện và thử thách. Khí thế đơn vị lên đường rất sôi nổi, tư tưởng thông suốt, ai cũng mong có dịp được chiến đấu và lập công.

     Sau khi nhận lệnh lên đường, Trung đoàn 165 chúng tôi chỉ được thời gian một ngày để chuẩn bị, bởi vì chúng tôi có nhiệm vụ phải hành quân đi trước đội hình sư đoàn.

     Hôm chúng tôi lên đường không có tiếng ồn ào đưa tiễn vì phải giữ bí mật. Xe phủ bạt kín mít, nên dẫu có ai đi bên đường tò mò cũng chỉ nghĩ đó là đoàn xe chở hàng quân sự ra mặt trận. Khi chạy qua các bản làng trong đêm tối, xe chỉ được bật đèn cốt mà thôi, chỗ nào gập ghềnh khó đi lắm mới bật đèn pha.

     Tới vị trí tập kết ở Con Cuông - Mường Xén, tôi và anh Trường Quân, Chính ủy Trung đoàn đi nhận lệnh, mới biết Bộ chỉ huy Mặt trận phối hợp Lào - Việt đã được thành lập. Về phía Lào có các đồng chí Sanhcapô, Siphon, Xa man, phía Việt Nam có các đồng chí Vũ Lập, Huỳnh Đắc Hương, đồng chí Nguyễn Năng - Sư đoàn trưởng 312 được chỉ định làm Phó Tư lệnh; Chính ủy Lê Chiêu làm Cục trưởng Cục Chính trị Mặt trận. Tất cả cán bộ cơ quan của sư đoàn đều sáp nhập vào ba cơ quan của Mặt trận.

     Trung đoàn 165 chúng tôi có nhiệm vụ tiến theo đường 7B vào chiến đấu trong khu vực Xiêng Khoảng phía đông nam Cánh Đồng Chum. Trung đoàn 141 đi theo đường 7A vào chiến đấu ở khu vực ngã ba Noọng Pẹt.  Trung đoàn 209 làm dự bị cho hai cánh quân của Mặt trận, trước mắt làm công tác vận chuyển. Các tiểu đoàn trực thuộc của sư đoàn đều do Mặt trận trực tiếp chỉ huy.

     Trung đoàn tôi tiếp tục hành quân bằng xe lên tới biên giới thì chuyển sang hành quân bộ có trinh sát sư đoàn và bộ đội Pa thét Lào dẫn đường.

     Nhận lệnh về, rồi dẫn quân đi, tôi cứ băn khoăn và ngỡ ngàng nghĩ về việc từ nay tất cá cán bộ cơ quan sư đoàn đều trở thành như là phái viên của Mặt trận, liệu rồi trên dưới có hiểu nhau, có quen nhau trong tác phong chỉ huy cũng như tác phong công tác? Thêm nữa, đơn vị chuyển sang chiến trường mới, lạ địa hình, lạ đối tượng tác chiến và với dân thì lạ tiếng lạ người; rồi trung đoàn tôi lại đánh ở một hướng của chiến dịch, lực lượng sư đoàn vị xé nát ra, làm sao có thể tập trung phát huy sức mạnh về cách đánh của một binh đoàn chủ lực đã qua đợt huấn luyện khá hoàn chỉnh?

     Sư đoàn trưởng Nguyễn Năng chừng như đoán được những băn khoăn suy nghĩ của tôi nên tìm cách giải thích rồi động viên bằng mấy câu cộc lốc:

     - Anh yên tâm. Chúng tôi vẫn theo dõi và chỉ đạo trung đoàn.

    Đường hành quân bộ thật là gian nan. Hầu như trên trời không mấy khi ngớt tiếng máy bay gầm rú và tiếng bom nổ rung chuyển cả núi rừng. Phía trước thì tiếng đạn pháo và súng cối ình oàng như cầm canh. Tôi hiểu rằng trung đoàn sẽ phải vượt qua vùng bom đạn ác liệt và rất có thể phải đánh địch mà đi. Tôi lại nhớ về những ngày huấn luyện, khí thế hào hùng liên hệ với lúc này nó khác quá. Trước đây những mong sẽ tổ chức những trận đánh lớn có các binh chủng hợp thành, còn bây giờ sẽ đánh ra sao một khi chính trung đoàn tôi cũng bị xé lẻ ra. Bắt đầu từ Nậm Cắn sát biên giới Việt - Lào, Tiểu đoàn 5 chúng tôi đã phải tách ra tăng cường cho cánh quân phía đường 7A. Tới Then Phun, thấy có bốn điểm chốt của giặc trên đồi bắn xuống mặt đường gây khó khăn cho cuộc hành quân của trung đoàn, tôi lệnh cho đơn vị dừng lại và báo cáo về. Mặt trận đề nghị cho triển khai phương án tác chiến mở đường tiến quân. Mặt trận trả lời không được và lệnh "Phải tổ chức tìm cách bí mật vượt qua. Luồn sâu vào đúng vị trí quy định, đánh địch ở khu trong thị xã Xiêng Khoảng, đông nam Cánh Đồng Chum, phối hợp với đại quân ở phía bắc cùng tấn công vào đánh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng".

     Tôi liền triệu tập gấp cuộc họp các cán bộ chỉ huy đơn vị và phụ trách ba cơ quan bàn kế hoạch chấp hành mệnh lệnh của Mặt trận. Tôi nêu phương án tổ chức đơn vị hành quân thành từng khối, mỗi cán bộ trung đoàn phụ trách một khối. Tôi đi khối đầu gồm các tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng và thủ trưởng các cơ quan cùng với hai trung đội trinh sát, một trung đội thông tin, một trung đội phòng vệ và hai trung đội vận tải. Khối đi đầu có nhiệm vụ tìm đường và bố trí từng cung, từng chặng để đón các khối sau đồng thời nắm địch, nắm địa hình và nhanh chóng thiết kế trận đánh.  

     Chúng tôi phải hành quân vượt tuyến hoàn toàn ban đêm ven theo chân các ngọn đồi có đồn giặc rất vất vả và cũng rất nguy hiểm. Địch bắn pháo sáng liên tục đồng thời còn nã súng cối và quét cả súng máy vào những nơi xung yếu mà chúng nghi quân ta nhất định phải vượt qua. Vậy là địch quyết chặn đường hành quân của ta, ta thì nhất định phải mở đường tới địa bàn hoạt động vì thế cuộc chiến đấu tuy không mặt giáp mặt nhưng đã diễn ra vô cùng ác liệt, bom đạn cứ ầm trời đủ loại bom bi, vướng nổ, bom phá, bom chùm nhưng quân địch vẫn không ngăn được trung đoàn chúng tôi. Trong những ngày này, địch còn đổ tiếp thêm 5 tiểu đoàn phối hợp cùng pháo binh và máy bay lấn ra các bản Khuẩy, bản Keo Bon, Măng Mô sát tới biên giới Việt - Lào. Thế là đội hình trung đoàn bị cắt mất đuôi. Khi đại bộ phận tới khu vực bên trong thị xã Xiêng Khoảng thì Tiểu đoàn 6 và bộ phận vận tải vẫn còn phải chống trả ở khu vực ngoài Then Phun, trực tiếp theo lệnh chỉ huy của Mặt trận.

     Vào tới vị trí tập kết, anh em chúng tôi, người nào chân tay cũng xây xát, mặt mũi bị gai cào xước, quần áo nhiều anh rách bươm và ướt đẫm mồ hôi, có thể nói là rất mệt. May sao giữa khu rừng âm u được bù lại bởi tiếng chim hót ríu ran, con đậu con bay, rồi tiếng vượn ru con tiếng khỉ khẹc khẹc nô đùa, tiếng hươu nai gọi nhau…khiến cho chúng tôi ai nấy cũng vơi đi được nhiều nỗi nhọc nhằn. Nhất là cánh lính trẻ, lần đầu tiên tiếp xúc với núi rừng, chứng kiến cảnh kỳ thú của rừng thì dường như quên cả mệt.

     Điều quan trọng hơn cả là chúng tôi đã chiếm lĩnh được địa bàn theo đúng phương án chiến dịch để triển khai phương án tác chiến mà Bộ Tư lệnh Liên quân Lào - Việt giao cho.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:34:12 PM
2
     Họp cơ quan chỉ huy để thống nhất tình hình và nghe Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng trình bày về cách đánh địch xong, chúng tôi họp Đảng ủy mở rộng, bàn sâu thêm về trận đánh mở đầu. Tôi báo cáo trước Đảng ủy về ý định chọn mục tiêu cho trận đánh mở đầu và cả trận đánh tiếp theo trong đợt hoạt động quân sự này. Hội nghị bàn bạc khá kỹ và thống nhất ý định rất cao về cách sử dụng lực lượng. Chúng tôi nhận định rằng đánh địch lúc này là thời cơ rất thuận lợi cho trung đoàn. Trước hết là địch đang còn rất chủ quan, chưa biết quân ta đã vào tới đây. Thứ hai là công sự của chúng còn sơ sài. Trừ ba đồn trong thị xã công sự có phần nào kiên cố song cũng chỉ có một hàng rào dây thép gai còn thì hầu như mới chỉ là công sự dã chiến, ụ súng, hầm ngủ và cả đường hào đều nông choèn, chủ yếu gác cây che bạt và rào bằng tre nứa. Chúng tôi tạm chia thành ba khu vực tác chiến. Khu một là thị xã Xiêng Khoảng, có ba đồn, đồn Thấp, đồn Cao và đồn Sân bay. Khu hai ở đông nam thị xã có ba điểm được đặt tên là đồi Con Lợn, đồi Mâm Xôi và đồi Cháy. Khu ba phía đông bắc thị xã ba kilômét có hai điểm trên đồi Cây Xanh. Rất tiếc là chúng tôi chưa bắt được tù binh nên chưa rõ phiên hiệu các đơn vị địch đóng quân tại khu vực này thuộc lực lượng nào.

      Trong Hội nghị Quân chính trung đoàn, kế hoạch tác chiến đã được quán triệt tới từng cán bộ, ai nấy đều tin tưởng ở cách đánh mà Đảng ủy trung đoàn đã bàn bạc thống nhất. Nhìn sâu vào từng đôi mắt cán bộ đang chăm chú nhìn mình và lắng nghe những điều tôi phân tích về địch, về ta, về địa hình. . . tôi rất tin ở anh em và tín ở hiệu quả của kế hoạch tác chiến. Tôi nói tiếp và giao nhiệm vụ cho từng đơn vị.

     - Thưa các đồng chí! Thay mặt Đảng ủy và chỉ huy trung đoàn, tôi quyết định giao cho Đại đội 1 (Tiểu đoàn 4) đánh Khu 2 tức là đánh ba điểm: đồi Con Lợn, đồi Mâm Xôi và đồi Cháy. Đại đội 19 đặc công đánh Khu 3, đánh cả đồn Cao và đồn Thấp. Đây là chốt điểm cao nhất khu vực này, hành quân tiếp cận xa và khó đi hơn cả. Như vậy trận mở đầu là trận đánh liên kết cả năm điểm trong cùn một đêm và cùng giờ G nổ súng. Ta dùng lực lượng tinh nhuệ đánh theo kiểu tập kích đánh nhanh, giải quyết nhanh, thu dọn chiến trường xong rút ra cách đồn địch ba trăm mét đề phòng địch ném bom, chỉ lót ổ lại trên đồi Cây Xanh một tiểu đội chuẩn bị cho kế hoạch tác chiến tiếp theo.

     Tôi nhấn mạnh về lực lượng sử dụng ở mỗi điểm chỉ đánh bằng hai mũi, mỗi mũi từ 10 đến 12 người; vũ khí trang bị phải gọn nhẹ, tiểu liên, lựu đạn là chính, ngoài ra còn thêm B40, B41 nữa mà thôi. Các đại đội chủ lực 12,7 ly, ĐKZ75, cối 82 sẵn sàng cho trận đánh hôm sau.

     Sau khi Chính ủy Trần Quân tiến hành công tác chính trị tư tưởng, các cán bộ ra về đều tỏ ra phấn khởi, tin tưởng, nhưng về mặt thực hành chiến đấu, tôi vẫn chưa an tâm. Tôi bàn với Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng là cần phải gặp mười mũi trưởng để hỏi và trực tiếp nghe xem anh em còn gì băn khoăn và ta cần nói thêm gì với anh em cho rõ các ý định chiến thuật để mỗi người yên tâm tin tưởng hơn trước khi bước vào trận đánh.

      Cuộc họp với mũi trưởng thật thú vị. Không phải chỉ có chúng tôi củng cố lòng tin cho anh em, mà ngược lại chính anh em đã khiến chứng tôi càng tin chắc hơn vào thắng lợi của trận đánh. Đồng chí Mạc, Đại đội phó Đại đội 19, mũi trưởng mũi tập kích cao điểm đồi Cây Xanh nói:

      - Trận đánh này ta chuẩn bị rất kỹ, đã bàn đi bàn lại nhiều lần, kỹ hơn cả thời kỳ huấn luyện diễn tập ở bên nước. Bởi lẽ thực tế chiến đấu ở đây đâu có giống như diễn tập. Đặc biệt là khâu nắm địch, chúng tôi đã đưa các tổ trưởng vào tận các hàng rào, tận chiến hào, không phải chỉ một lần mà mấy đêm liền như thế. Bởi vậy anh em đã biết chắc là về hỏa lực, chúng chỉ có hai khẩu ĐKZ90, hai khẩu đại liên. Công sự mang tính chất dã chiến, đêm chúng ngủ tập trung trong 5 cái hầm đào sâu lưng lửng chưa có nắp đậy, chỉ mới gác cây che bạt. Đáng chú ý là ba bãi mìn, nhưng địch rất chủ quan, ngày gác bốn vọng, đêm rút về chỉ còn để một vọng. Cho nên chúng tôi đã phải giao nhiệm vụ tấn công cho từng tổ, chỉ thị rõ ràng đường tiềm nhập và mục tiêu tiến công. Tôi rất tin đơn vị tôi sẽ đánh chiếm đồi Cây Xanh rất nhanh và gọn, có thể nhất toàn trung đoàn.

     Tôi vừa nghe vừa ngắm nhìn cái dáng người khỏe chắc của Mạc, giọng nói nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát mà thấy rất tin ở khả năng chỉ huy của cậu ấy chắc chắn sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Tiếp theo, tôi quay sang hỏi Bường, mũi trưởng chỉ huy đánh đồi Con Lợn. Bường hơi thấp nhưng to khỏe, lông mày xếch, ngỡ là dữ tợn té ra lại rất vui tính. Đôi mắt tròn, vành tai rộng biểu hiện sự linh lợi nhạy cảm. Bường nói:

     - Thưa Thủ trưởng? Chẳng còn ai thắc mắc gì nữa đâu anh em chỉ muốn hỏi tại sao trên giao cho đại đội đánh cái cao điểm mà lại gọi là đồi Con Lợn.
 
     Mọi người cười rất to, hết nhìn Bường lại nhìn sang tôi.

     - Đơn giản là vì ngọn đồi ấy nó giống con lợn thì gọi cho dễ nhớ. - Tôi trả lời Bường.

     - Không phải đâu - Một cậu nói chen vào - Thủ trưởng muốn Đại đội 1 đánh cái cao điểm ấy phải thật mạnh thật nhanh như chọc tiết lợn cho nó không kịp kêu, không kịp ngáp nên mới gọi là đồi Con Lợn đấy.

     Tất cả cười rầm rầm. Tôi rất vui nói:

     - Thôi cũng được. Tôi và toàn thể anh em trong đơn vị rất mong Đại đội 1 đánh đồi Con Lợn như giết một con lợn, đánh nhanh, đánh mạnh và diệt gọn.

     Mạc đứng lên vung tay nói:

     - Đại đội 1 xin hứa với Thủ trưởng là sẽ cắm cờ chiến thắng lên đồi Con Lợn trước Đại đội 19 đặc công trên đồi Cây Xanh.

     Mọi người vỗ tay rầm rầm.

     Chỉ huy đánh lên đồi Mâm Xôi là một chàng trai có duyên, đôi mắt sáng, khuôn mặt tròn, lông mày thanh tú rất hợp với dáng vẻ của một thi sĩ. Mà đúng là cậu hay viết nhật ký và làm thơ. Nhưng tác phong lại nhanh nhẹn, nói năng khúc chiết hoạt bát và tinh thần chiến đấu thì phải nói là rất trùng hợp với cái tên mà bố mẹ đã đặt cho: Dũng. Tôi nhìn Dũng nhẹ nhàng hỏi:

     - Đánh đồi Mâm Xôi, đơn vị đồng chí còn băn khoăn gì không?

     - Thưa Thủ trưởng, hôm đi trinh sát lần cuối, em đã nắm tình hình địch khá chắc. Em đã đến tận công sự của chúng. Hôm ấy mà cấp trên cho em đánh, em đoán chắc là cũng giải quyết được rồi. Huống chi bây giờ, quân số chiến đấu đầy đủ. Đánh cái đồn có độ hai lăm ba mươi tên, công sự sơ sài có mỗi hàng rào, lại mới rào có ba mặt, hỏa lực có mỗi khẩu ĐKZ90 và một ụ trung liên mà trên cho đơn vị bốn khẩu B41 thì chúng nó chịu sao nổi. Các thủ trưởng yên tâm. Đơn vị em sẽ đánh chiếm đồi Mâm Xôi nhanh hơn tất cả đồi Cây Xanh và đồi Con Lợn.

     - Đồng chí Dũng! - Tôi vẫy tay cho Dũng ngồi xuống - Thay mặt chỉ huy trung đoàn tôi chấp nhận quyết tâm của đơn vị đồng chí. Tôi nhắc thêm là hôm qua địch cho máy bay lên thẳng hạ cánh xuống đồi Mâm Xôi. Theo trinh sát báo cáo thì chúng đã chở đến đây 20 bao gạo. Trung đoàn yêu cầu đơn vị đồng chí không chỉ diệt gọn bắt tù binh, thu vũ khí mà còn phải thu cho hết số lương thực tích trữ của chúng thì mới đầy đủ ý nghĩa đánh đồi Mâm Xôi.

     - Thủ trưởng yên tâm. Chúng em làm được.

     Hỏi đến Trung đội trưởng Sơn, mũi trưởng đánh đồi Cháy, Sơn cười, môi cong, chậm chạp đứng lên, dáng to bè, giọng nói nhỏ nhẹ:

      - Chúng tôi sẽ thiêu cháy chúng như cái đồi Cháy. Thủ trưởng hãy tin là như vậy. Xin hết.

     Sơn nói ngắn gọn như vậy thôi nhưng tôi hiểu cậu ấy đã nắm chắc tình hình và có quyết tâm cao. Tôi nói với tất cả anh em:

    - Thế là trận mở đầu, trung đoàn ta đánh đồng loạt 5 điểm trong một đêm. Tôi rất mong mỗi đồng chí trở thành một ngọn lửa thiêu cháy đồn thù. Các đồng chí về chuẩn bị thêm cho thật kỹ. Tôi mong rằng trận mở đầu này, đơn vị nào cũng đánh giỏi và chiến thắng.
Phải nói rằng đến lúc này tôi mới thấy nhẹ nhõm trong lòng. Hơn một tháng qua trên Bộ Chỉ huy cứ thúc đánh liên tục đến phát sốt ruột. Thực ra là còn bao nhiêu khó khăn từ việc thu quân đến tổ chức trinh sát rồi bàn bạc chọn cách đánh trong hoàn cảnh đơn vị lại nằm sâu giữa vùng có nhiều đồn bốt giặc, phải làm sao cho bảo đảm đánh thắng mà giữ được lực lượng đánh được lâu dài. Sư đoàn trưởng Năng bây giờ lên Phó Tư lệnh Mặt trận, một người có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu và đã hiểu được phần nào khó khăn của trung đoàn mà cũng đánh điện thúc hối lời lẽ tỏ ra bực tức, cứ hỏi "Tại sao không đánh? Có biết các hướng đã nổ súng rồi không?".

     Những lúc nhận điện như thế, tôi cứ như có lửa đốt trong đầu, vừa bực vừa lo. Tôi đoán rằng các cụ ngồi trên ấy chẳng thông cảm gì cho cái anh ở dưới, phải chăm lo trăm thứ việc mà bom đạn địch thì rầm rầm cả ngày, chung quanh là địch, mất hoàn toàn đường dây với phía sau, gạo mang theo đã cạn, phải bắt đầu ăn rút tiêu chuẩn xuống, phải nghĩ cách sao vừa đánh địch vừa kiếm lương thực lo nuôi sống gần nghìn con người để hoàn thành nhiệm vụ của cả giai đoạn diễn biến của chiến dịch cho đến khi kết thúc.

      Sau này thì mới hiểu, không phải trên Bộ Chỉ huy Mặt trận không lo lắng cho chúng tôi. Sau khi chiếm Then Phun, địch đổ thêm quân ra sát vùng biên giới Lào-Việt, ngăn chặn mọi con đường vào Xiêng Khoảng, Tiểu đoàn 6 chiến dấu trong hoàn cảnh rất ác hệt tìm cách mở đường tiếp tế đạn gạo cho trung đoàn nhưng không nhích lên được Trung đoàn 209, lực lượng dự bị của Mặt trận đang tải gạo cho trung đoàn phải quay ra đánh trả địch nhằm bảo vệ hành lang mà cũng chưa giải quyết được gì. Có lẽ vì thế mà Bộ Chỉ huy Mặt trận thúc chúng tôi phải nổ súng. Đúng, tiếng súng từ trong lòng địch buộc địch phải co lại tạo thuận lợi cho toàn mặt trận…

     Vì thế, sau khi tôi đánh điện lên báo cáo ngày mai trung đoàn sẽ nổ súng đánh 5 điểm trong một đêm, các anh trên Mặt trận đánh điện xuống tỏ ra rất mừng, nhưng anh Năng lại vặn hỏi:

     - Có đúng là một đêm đánh 5 điểm không? Đánh kiểu gì, có đủ sức không?

     Chẳng được câu động viên lại còn hỏi vặn, thật bực mình. Nghĩ vậy, sau tôi lại tự nhủ: Bực mình với trên là không được. Các đồng chí ở xa làm sao có thể hiểu rõ những tình huống cụ thể mà mình đối phó. Tôi liền gửi điện lên báo cáo là đánh theo kiểu đặc công và bảo đảm với trên tôi sẽ đánh thắng.

    Có lẽ cũng không cần phải kể lại diễn biến của trận đánh ra sao bởi lẽ tất cả kế hoạch tác chiến đã được thực hiện theo đúng ý định của người chỉ huy. Điều lo nhất đối với chúng tôi là để mất yếu tố bất ngờ thì đã không diễn ra. Sướng nhất là đêm hôm đó ở Sở chỉ huy được nghe các mũi trưởng dồn dập báo cáo về đến nỗi sĩ quan tác chiến ghi không kịp kể từ sau lúc 21 giờ 30, giờ nổ súng. Hết "đã làm chủ đồi Con Lợn, thu mười các bin, bắt sống hai tên… " lại đến "đang truy lùng địch trên đồi Cháy, thu ba các bin, một máy thông tin vô tuyến. . .", "đã chiếm đồi Mâm Xôi, thu một đài, một các bin, hai bì gạo, hai súng trường Mỹ...", "đã làm chủ đồi Cây Xanh, thu bốn súng trường, hai các bin. . ." . Có thể nói, tôi sướng run lên. Đến 22 giờ là tất cả các mũi đều làm chủ các mục tiêu đánh chiếm của mình mà quân ta chỉ bị thương có một đồng chỉ Nguyễn Như Kim khi đánh chiếm đồi Cây Xanh. Tôi ra lệnh cho các mũi giữ đúng chính sách tù hàng binh, hỏi cung xong thì thả ngay tại trận, không đưa về chỗ đóng quân. Qua lời khai của bọn tù binh thì phiên hiệu của đơn  vị bị đánh là BV24, ACI.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:35:38 PM
       Sau khi bàn bạc về việc khen thưởng đơn vị và cá nhân xuất sắc, chúng tôi tính toán và thực hiện ngay các biện pháp đề phòng địch phản ứng và triển khai kế hoạch chiến đấu tiếp theo. Chúng tôi thống nhất ý kiến là chỉ để lại trên đồi Cây Xanh và đồi Con Lợn mỗi nơi một tiểu đội, thiết kế công sự vững chắc chống được bom và phải giữ bí mật, chỉ nổ súng khi địch dùng trực thăng đổ quân xuống chiếm chốt, kết hợp với các mũi tiến công từ dưới lên. Còn toàn bộ lực lượng rút xuống ba trăm mét cũng phải có công sự đề phòng địch thả bom. Hỏa lực pháo cối phải ở tư thế sẵn sàng chờ lệnh. Đại đội trinh sát cho ngay một trung đội đi nắm địch trong thị xã. Các Đại đội 2 và 3 chuẩn bị sẵn sàng, nếu địch không phản ứng lớn, sẽ đánh ngay vào đồn Cao, đồn Thấp trong thị xã. Triển khai kế hoạch xong, tôi mới viết điện báo cáo lên Mặt trận về kết quả chiến đấu diệt 5 điểm, bắt tù binh, thu vũ khí, làm chủ trận địa và các kế hoạch tác chiến tiếp theo sẽ đánh vào sân bay và thị xã Xiêng Khoảng. 

      Có một chuyện nực cười như thế này. Chẳng hiểu điện đài dịch thế nào mà báo cáo là “thu được hai súng trường Mỹ" lại dịch ra thành "bắt được hai thằng Mỹ"! Sau này tôi mới biết là Mặt trận đã báo cáo về Bộ tin vui đó, lại xin cho phóng viên báo Quân đội vào để hỏi cung và viết bài. Đúng là hồi đó các phóng viên Tô ân, Tư Dương, Lê Thu đã được phái vào.

     Lại nói về trận đánh tiếp theo ngày hôm sau đánh địch phản kích diễn ra đúng như dự đoán của chúng tôi. Địch cho máy bay trinh sát bay lượn nhiều vòng rồi ném bom chung quanh các ngọn đồi, cuối cùng cho máy bay lên thẳng đổ quân tổ chức tấn công lên đồi Con Lợn và đồi Cây Xanh. Cuộc chiến đấu diễn ra khá quyết liệt, địch bị đánh từ hai phía trên chốt đánh xuống, dưới vận động tấn công lên, kết quả đến 3 giờ chiều chúng phải tháo chạy hết về thị xã. Có thể nói, với trận đánh này, chúng tôi đã vận dụng có hiệu quả hình thức chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt trên địa hình rừng núi. Chúng tôi lại thu thêm được súng và bắt được một tên tù binh thuộc tiểu đoàn BV26 vừa đổ bộ xuống.

     Cũng trong ngày này, trinh sát của ta từ trên các đồi cao quanh thị xã Xiêng Khoảng đã nắm được các cụm quân địch đóng trong thị xã và khu sân bay có sự chuyển quân ra sao. Các mũi trưởng được phân công đánh các mục tiêu đã nắm chắc đường tiếp đạn, cũng như từng ụ súng, hầm hào, từng vọng gác, nơi có mìn, điều biết cả. Chính vì thế mà khi triển khai kế hoạch tác chiến, các mũi tiềm nhập đã tiến đến sát hàng rào, ĐKZ75, B41 đã bố trí trận địa xong mà địch vẫn chưa biết. Đến 11 giờ đêm thì hai đồi Thấp và Cao khu vực sân bay dường như đã nằm trong cái thòng lọng đợi giờ "khai tử". Quả là như vậy, chưa đầy hai mươi phút chiến đấu kể từ sau lệnh phát hỏa, chúng tôi đã chiếm được cả hai đồn, thu được vũ khí và hơn một tấn gạo, bắt được một tên tù binh. Đánh xong, tất cả lại rút về khu vực tập kết của chúng cho quân mò lên khu đồi Cao như có ý chiếm lại thì toàn bộ lực lượng địch trong thỉ xã lại bí mật rút hết lên  chiếm đóng hai dãy đồi Choong Voong. Cuối cùng, bọn địch trên đồi Cao cũng kéo hết lên đồi Choong Voong. Trinh sát vào trong thị xã Xiêng Khoảng báo cáo về: Trong thị xã không còn địch.

     Chúng tôi nhận định: Bọn địch sợ bị tiêu diệt nên phải kéo lên Choong Voong lấy nơi hiểm trở làm chỗ phòng thân. Như vậy, về tinh thần chúng đang rất hoang mang. Bởi lẽ đây chính là các đơn vị BV24, BV26, ACI đã bị ta đánh thiệt hại nặng. Tổ chức tấn công ngay, tuy
đường tiến quân đánh Choong Voong có nhiều khó khăn nhưng chắc chắn sẽ giành thắng lợi vì địch chưa chuẩn bị xong công sự. Nếu để chậm sẽ mất thời cơ.

     Sau khi thống nhất kế hoạch sử dụng lực lượng đánh ba điểm bằng xung kích còn ba điểm dùng hỏa lực chế áp, chúng tôi phân công nhau, anh Quân tổ chức điều bộ đội, tôi và anh Đỗ Phú Vàng ra khu đồn Cao tiếp tục theo dõi tình hình địch và đón bộ đội lên. 17 giờ, khi bộ đội đã tới khu đồi Thấp thị xã, chúng tôi họp cán bộ phổ biến kế hoạch tác chiến trong 30 phút. Sau đó cán bộ về phổ biến cho anh em, thời gian một tiếng, 20 giờ tiến quân. Đó cũng là lúc trăng bắt đầu mọc.

     Nói cho đúng, đây là kế hoạch tắc chiến đánh truy kích địch trong thế chiến thắng. Đã truy kích thì phải khẩn trương đánh cho địch không kịp thở.

     Đúng là chúng chưa kịp thở đã bị tấn công nên sau khi pháo cối ta bắn dồn dập, chúng chỉ kịp phản ứng yếu ớt ở hai hướng nghi ngờ có xung kích ta tiếp cận rồi đánh bài chuồn. Khi quân ta xung phong tiến lên chiếm trận địa địch thì chúng cũng tháo chạy tung tóe vào rừng bỏ lại cả súng và điện đài. Gạo và tép khô càng không thể mang theo. Chúng ta hoàn toàn làm chủ Choong Voong.

     Thu dọn chiến trường xong, toàn trung đoàn rút về thị xã khi trăng đã lên cao. Ánh trăng tỏa sáng soi cho chiến sĩ bước nhanh hơn trong mềm vui chiến thắng.

     Tôi bỗng nhớ đến những hôm bị cấp trên thúc giục phải đánh nhưng chưa sao đánh được. Nghĩ lại mà phát ngượng. Đến tuần này, trung đoàn đánh thắng liên tục và giải phóng thị xã Xiêng Khoảng mới thấy thanh thản trong lòng. Câu thơ bật ra từ cảm xúc trước chiến thắng không thể không viết:

Một tháng lận đận ăn ở trong rừng
Chim chưa ca, địch chưa đánh, dân chưa mừng, trên không vui.
Hai tháng vẫn ăn ở trong rừng
Chim đã ca, địch đã chết, trên đã mừng, dân đã vui
Đồn thù ta chiếm được rồi...


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:39:50 PM
3

      Đánh thắng giặc, trung đoàn vui hẳn lên. Nhưng vấn đề lương thực, thực phẩm lại trở nên gay go. Cấp trên rồi đơn vị bạn đánh điện xuống khen động viên, đọc điện thì mừng, khi nghĩ đến việc đạn, gạo cho những trận đánh tiếp theo thì lo vô cùng. Nuôi hơn nghìn con người trong rừng sâu mà đường tiếp tế từ phía sau vẫn bị ngăn chặn, có phải đơn giản đâu. Thu được của địch mấy tấn gạo thì giỏi lắm ăn được vài ngày. Đạn không còn đủ cho một trận đánh. Mấy đại đội hỏa lực đều đã hết gạo, anh em đi lùng sục tìm được bí ngô về nấu cháo ăn, đến khi đại tiện phân cứ đỏ lòm. Nghĩ mà thương. Giá như có dân thì chắc chắn chúng tôi sẽ được dân đùm bọc, che chở. Khốn nỗi, bọn địch mở chiến dịch Cù Kiệt vô cùng hiểm độc đã bốc hết mọi người già trẻ lớn bé đưa về Viêng Chăn và Lưăng Prabăng lập trại tập trung. Trâu bò trở thành trâu bò hoang. Nhưng chúng tôi cũng chỉ dám đụng đến những con bị thương do bom đạn gây nên. Lúa ngoài nương bãi bắt đầu chín không có người thu hoạch. Chúng tôi phải xin phép chính quyền địa phương cắt một ít chống đói. Đành phải như vậy. Thế là cái mũ sắt trở thành cối giã. Tiếng chày giã gạo vang khắp mọi nẻo rừng, nghe thì vui, thế mà trong lòng chưa yên.

      Chuyện lương ăn đang là vấn đề khiến chúng tôi phải đau đầu thì bỗng đâu, cái dịch sốt rét lại ập tới. Sốt rét lan truyền từ người này sang người khác, từ đại đội này sang đại đội khác, rất nhanh. Có đại đội hai ba chục đồng chí. Cán bộ đang họp cũng lên cơn sất. Chính ủy Trần Quân, Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng phải về hầm nằm trùm khăn kín mít. Các cơ quan tác chiến, chính trị, hậu cần… không đơn vị nào thoát. Tôi đến đơn vị nào cũng thấy anh em nằm rên. May sao tôi lại không việc gì để còn có người xoay xở định liệu.

     Tôi liền đánh điện khẩn lên Bộ Chỉ huy Mặt trận báo cáo tình hình. Trong tâm trạng vừa lo vừa xúc động, tôi đọc cho anh em viết điện, đại ý là như thế này:

   Kính gửi Bộ Chỉ huy Mặt trận.
Tôi xin thay mặt Đảng ủy và chỉ huy Trung đoàn 165 báo cáo khẩn cấp. Đơn vị đang bị sốt rét mà chưa biết sốt gì. Diễn biên rất nhanh. Mới có một ngày, chỉ riêng Đại đội 1 Tiểu đoàn 4, đã có bảy chục đồng chí. Bệnh còn đang diễn biến phát triển. Đồng chí Quân, đồng chí Vàng cũng bị sốt rất nặng. Tôi nghi là anh em bị nhiễm chất độc hóa học khi đánh lên dãy núi Choong Vuong. Tôi đề nghị Bộ Chỉ huy Mặt trận cho hướng giải quyết.

      Tuy đã viết điện báo cáo lên Mặt trận nhưng vẫn chưa yên tâm, tôi lại gửi riêng cho đồng chí Sư đoàn trưởng Nguyễn Năng, đồng chí Chính ủy Lê Chiêu cùng đồng chí Nguyễn Xuyến, Chủ nhiệm Chính trị sư đoàn khi đó đang làm phái viên chính trị của Mặt trận, mỗi người một bức, nội dung đại ý tôi viết rằng:

       Nhận được tin chiến thắng của trung đoàn chắc các anh rất vui, nhưng nội dung báo cáo dưới đây sẽ khiến các anh phải lo lắng nhiều. Thực trạng Trung đoàn 165 lúc này đang khó khăn trăm bề, dường như bế tắc. Gạo đã hết từ lâu. Đánh chiếm đồn thu được một số song cũng chỉ đỡ được ít ngày. Đến nay toàn trung đoàn đã phải ăn cháo. Vài ngày nữa thì không còn đủ gạo nấu cháo nữa kia. Dựa vào đâu, tôi rất lúng túng. Tuy vậy, việc ăn uống vẫn còn có hướng khắc phục vượt lên được. Cái đáng lo, đáng sợ hơn là trung đoàn đang bị sốt rét nằm la liệt, mất quá nửa quân số trung đoàn, Đại đội 19, Đại đội 1 bị tới năm sáu chục đồng chí. Bệnh lây lan rất nhanh và đang còn phát triển. Chỉ huy trung đoàn chỉ còn tôi là chưa bị sốt. Tôi đã báo cáo lên Bộ Tư lệnh Mặt trận. Mong các anh bàn bạc và cho ý kiên giải quyết ngay.

      Chiều hôm đó, tôi nhận được điện của Mặt trận gửi xuống động viên trung đoàn cố gắng chăm sóc anh em. Trong điện có câu “Đoàn nhân dân đến trung đoàn. Chuẩn bị đón". Đọc điện thấy vui nhưng rất thắc mắc:

      Địch đóng tứ bề, phái đoàn nhân dân nào mà lọt vào đây được? Hay là bà con ẩn náu trong hang đá, hẻm núi nào, chứ ở các bản quanh thị xã và cả trong thị xã Xiêng Khoảng có còn người dân nào nữa đâu. Địch bốc hết dân đi rồi. Nghĩ thật bực mình. Trên chẳng có phương  hướng giải quyết gì lại đưa một phái đoàn nhân dân vào trong lúc tình hình đang quẫn bách thế này thì đón tiếp thế nào?

     Nghĩ đi thì thế, nhưng nghĩ lại, lại thấy phái đoàn nhân dân vào úy lạo lúc này cũng khiến cho không khí trung đoàn vui lên. Như thế cũng tốt. Tôi liền nhắc anh em, cậu nào khỏe chuẩn bị trang trí cái lán đón tiếp. Hậu cần chuẩn bị bữa ăn, sử dụng chỗ gạo nếp, tép khô mới lấy được của địch, kiếm thêm ít rau, hoa chuối, măng. Lại chủ trương chỉ đưa phái đoàn đến thăm đại đội trinh sát thôi vì đây là đơn vỉ còn nhiều người khỏe, mới sốt có bốn anh em. Yêu cầu tác phong đón tiếp vẫn phải bảo đảm tính chính quy, trân trọng, tình cảm. Phải thông báo ngay cho toàn đơn vị biết và nhắc anh em là mặc dù ốm nhưng nơi ăn ở phải vệ sinh, trật tự, sẵn sàng chiến đấu. Công tác nắm địch phải thường xuyên đề phòng địch đánh vào căn cứ, không được trễ nải.

      Dịch sốt vẫn tăng. Tôi cùng đồng chí Lạc, Chủ nhiệm Chính trị xuống  đại đội 1. Người đầu tiên gặp là đồng chí Thìn quàng chăn đứng gác. Tôi không thể ngờ anh thanh niên tuổi mười tám đôi mươi, nước da trắng trẻo, mặt tròn xoe, môi lúc nào cũng đỏ như son, vậy mà giờ đây đứng co ro, da xám ngoét, môi thâm xịt, răng va vào nhau lập cập. Tôi vội hỏi:

     - Đồng chí mới sốt à?

    - Vâng ạ!

    - Sao không báo cáo để cử người thay?

    - Cũng muốn thế, nhưng không còn đủ người khỏe.

    - Đồng chí chịu khó hoàn thành nhiệm vụ. Rồi sẽ hết sốt thôi.

    Nói như vậy nhưng lòng tôi không yên chút nào. Vào đơn vị thấy Đại đội trưởng Do đang nằm rên, trùm chăn kín đầu. Lại nghĩ về kế hoạch tác chiến sắp tới sẽ đánh đồn Cô Xi - Nam Cô phía nam Cánh Đồng Chum sẽ ra sao nếu tình hình trung đoàn vẫn chưa giải quyết được cái dịch sốt rét kỳ lạ này.

     Trở về trung đoàn bộ, tôi chưa kịp hỏi xem công việc chuẩn bị đón phái đoàn nhân dân tới đâu rồi thì đồng chí liên lạc đến báo cáo có đoàn cán bộ trên Mặt trận xuống, do bác sĩ Dần làm trưởng đoàn, cần gặp tôi.

    Gặp nhau, bác sĩ Dần hỏi ngay:

    - Bốn hôm trước trên Mặt trận đã điện xuống, trung đoàn có nhận được không?

    Tôi ngớ người chưa hiểu ra sao thì bác sĩ Dần lại nới tiếp:

    - Đáng lẽ chúng tôi đến đúng hẹn. Nhưng vì đoàn đi có hai bác sĩ, hai liên lạc, một đồng chí lại bị thương khi vượt qua khu vực có quân địch ngăn chặn, dắt díu nhau hôm nay mới tới. Đồng chí bị thương vẫn phải nằm cách đây một quãng xa.

    Qua trò chuyện với bác sĩ Dần, tôi chợt nghĩ hay là điện hôm nọ nói phái đoàn nhân dân chính là đoàn của bác sĩ Dần này. Quả nhiên cho truy xét lại bản mật điện mới hay anh chiến sĩ cơ yếu dịch nhầm "phái đoàn ông Dần” thành ra "phái đoàn nhân dân". Tôi cứ ôm bụng cười không sao nhịn được. Bác sĩ Dần thấy tôi cười, ngạc nhiên hỏi:

     - Đồng chí có điều gì vui mà cười thế?

     - Có gì đâu. Hôm nay đón đồng chí, tôi mừng quá. Tôi quý hơn vàng. Anh em sốt rét hàng loạt như thế, đón được bác sĩ trên Mặt trận xuống cứu nguy thì còn gì vui hơn.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:42:31 PM
      Tôi phải nói tránh sang như thế, nhưng cũng là rất thật lòng về niềm vui có được bác sĩ giàu kinh nghiệm giúp mình khắc phục khó khăn mà mấy hôm nay chẳng nghĩ ra được phương thuốc gì ngoài mấy thứ đã từng làm trước đây.

     Đồng chí Dần chậm rãi nói:

     - Anh yên tâm. Trên đường vào đây, tôi đã qua Đại đội 1, Tiểu đoàn phòng vệ của trung đoàn, đã xem và cho thuốc. Không sao đâu. Sẽ khỏi và khỏe lên ngay thôi. Đây chính là bệnh dịch "sốt mò". Anh cho gọi Chủ nhiệm Quân y lên, chúng tôi sẽ bàn kế hoạch điều trị luôn.

     Nhìn bác sĩ Dần nước da ngăm ngăm, đôi mắt sáng, giọng nói đầy tự tin, tôi rất có cảm tình. Phải nói đây là một bác sĩ dũng cảm, có trách nhiệm cao và cũng dày dạn kinh nghiệm nữa.

     Sau hai tuần, công việc điều trị của bác sĩ Dần đã đem lại kết quả không ngờ. Toàn trung đoàn chỉ còn vài đồng chí do cơ thể quá suy nhược chưa bình phục hẳn mà thôi. Bác sĩ Dần tiếp tục ở lại với trung đoàn cho đến khi chúng tôi xuất phát đánh đồn Cô Xi - Nam Cô thắng lợi, tiến vào phía nam Cánh Đồng Chum. Tôi nghĩ, chiến công của trung đoàn gắn liền với thành tích của bác sĩ Dần, chúng tôi không bao giờ quên.

      Lại nói về diễn biến tiếp theo của chiến dịch. Thời gian này đại quân ta, các Sư đoàn 316, 866, ở các hướng đánh rất mạnh, có cả xe tăng và pháo tầm xa. Trinh sát trung đoàn tôi đã lọt vào khu đồi Bản Tôn, trung tâm sân bay Bản Áng. Đặc biệt ở phía Phu Cút và đồi Koong Le, bộ đội Pa thét Lào chiến đấu rất dũng cảm, bắt được tù binh, thu vũ khí.

     Tuy nhiên, quân địch hoạt động phi pháo vẫn rất mạnh, hết ném bom Xa Nọi, Then Phun, lại bay vào phía trong Cánh Đồng Chum bắn phá. Chúng còn đổ quân xuống khu trung gian Thẩm Lửng trên dãy núi cao 1.800 - 2.000 mét. Tôi tưởng địch tăng quân có ý đồ chiếm lại Cô Xi - Nam Cô và thị xã Xiêng Khoảng. Nhưng đến tối, tôi nhận điện khẩn của Mặt trận báo Then Phun địch đang rút chạy. Tiếp đến nhận điện của Tiểu đoàn 6 báo cáo đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu ở Then Phun, đang hành quân về tập trung với trung đoàn. Tôi mừng quá. Và như thế là đường tiếp tế từ phía sau với trung đoàn được nối liền, cả phía cánh bắc ngã ba Noọng Pẹt với Đoàn 866 và Sư đoàn 316.

     Điện Bộ Tư lệnh Mặt trận nhắc chúng tôi nắm chắc tình hình địch ở khu đông nam Cánh Đồng Chum, khu đồi Bản Tôn, sân bay Bản Áng và chuẩn bị nhận nhiệm vụ chiến đấu.

     Vui nhất là trung đoàn bắt đầu nhận được mọi thứ tiếp tế từ phía sau. Không chỉ gạo muối đầy đủ mà còn có cả thịt hộp, đường sữa, bột trứng, lương khô, chè, rượu, thuốc lá..., nhiều lắm. Tôi cảm thấy hình như Trung đoàn 165 chúng tôi được Mặt trận ưu tiên. Riêng chỉ huy trung đoàn được Bộ Tư lệnh gửi cho, ngoài đường sữa, thuốc lá, còn có cả một thùng kẹo và hai cân xúc xích.

     Cảm động hơn cả là đồng chí Sư đoàn trưởng Nguyễn Năng, Sư đoàn phó Lã Thái Hòa và đồng chí Xuyên, Chủ nhiệm Chính trị sư đoàn đã tới sư đoàn thăm hỏi động viên bộ đội và giao nhiệm vụ. Tiếp đến cả anh Vũ Lập, anh Hữu An cũng đến. Hang Bản Thẩm, chỉ huy sở trung đoàn vui nhộn nhịp hẳn lên. Ai cũng mừng cho chúng tôi trụ vững trong khó khăn và đã đánh thắng, đã không ngừng tìm tòi cách đánh hiệu quả nhất. Trước khi giao nhiệm vụ cho trung đoàn, các anh đã nới rõ thế trận của chiến dịch đang tiếp diễn. Các Trung đoàn 141, 209 cùng Sư đoàn 316 có xe tăng phối hợp sẽ đánh từ Noọng Pẹt chọc thẳng vào trung tâm sân bay Bảng Áng...

     Sau khi trình bày nhiệm vụ của Đoàn 866, bộ đội Pa thét  Lào, anh Vũ Lập giao cho trung đoàn tôi tấn công khu đồi Thấp, khu đồi Bản Tôn và sân bay Bản Áng để phối hợp với các cánh quân của Mặt trận. Anh Vũ Lập hỏi tôi:

     - Trung đoàn được chuẩn bị hai ngày phải nổ súng, có đảm bảo không.

    - Báo cáo, với sức mạnh của trung đoàn hiện nay có cấp trên trực tiếp chỉ đạo, lại có hiều lực lượng, nhiều đơn vị phối hợp, nhất là xe tăng và pháo binh, chúng tôi bảo đảm sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

    Quả vậy, sức mạnh của trung đoàn như được nhân lên, chúng tôi đã đánh như quét địch ra khỏi Cánh Đồng Chum. Cù Kiệt bị đập tan từng mảng. Ở Bản Tôn, địch bỏchạy trước tiếng thét xung phong của các chiến sĩ Tiểu đoàn 4 nhưng vẫn bị bắt sống hơn hai mươi tên. Địch ở Bản Áng mới nghe tiếng gầm của xe tăng đã tháo chạy…
*
*     *

       Sự kiện lịch sử của trung đoàn tôi với những kỷ niệm ở Xiêng Khoảng, Cánh Đồng Chum năm 1969 thật khó mà ghi chép cho đủ. Chỉ có điều, ý nghĩa của chiến dịch đập tan Cù Kiệt, trung đoàn tôi lọt vào vòng trong, lực lượng bị cắt lại hai tiểu đoàn đồng thời lại gặp biết bao tình huống khắc nghiệt mà chúng tôi vẫn vượt qua và đánh ruỗng Cù Kiệt tự trong tung thâm của nó, thì đây cũng là một bài học kinh nghiệm quý báu, một phương án chiến dịch tuyệt hảo mà trung đoàn tôi đã góp phần thực hiện một cách trọn vẹn.

     Và cũng thật vinh dự tự hào cho Trung đoàn 165 lần đầu tiên tham gia một chiến dịch lớn trên đất bạn, giúp bạn giành lại hòa bình, tự do cho đất nước, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ góp phần bồi đắp thêm tình đoàn kết như chân với tay giữa đội quân cách mạng và hai dân tộc Việt  - Lào. Kỷ niệm này sẽ không bao giờ phai nhòa trong tâm trí chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:50:57 PM
BẢN NA
TRƯỚC GIỜ NỔ SÚNG


      Năm 1970, tôi nhớ là vào hạ tuần tháng 8, tôi và anh Quân, Chính ủy Trung đoàn được gọi lên Bộ Tư lệnh Mặt trận Lào - Việt họp nghe kế hoạch phổ biến triển khai chiến dịch tấn công Long Chẹng - Bản Na. Chúng tôi lên đã thấy có mặt các cán bộ Sư đoàn 316, quân tình nguyện 866, bộ đội Pa thét Lào, tiếp đến là cán bộ chỉ huy bộ đội đặc công lần lượt tới.

     Cũng xin nói ngay là năm 1969, sau khi ta mở chiến dịch phản công đạp tan Cù Kiệt giải phóng Xiêng Khoảng Cánh Đồng Chum, ta rút quân về nước thì quân địch lại tràn ra chiếm đóng khắp nơi. Năm 1970 này, chúng ta lại nhận lệnh sang giúp bạn đánh đuổi quân địch giành lại vùng đất đã giải phóng.

      Lần này Sư đoàn 316, quân tình nguyện 866 cùng các đơn vị đặc công có nhiệm vụ đánh vào Long Chẹng. Đây là thủ phủ của tướng phỉ Vàng Phao do Mỹ chỉ huy xây dựng, được bảo vệ rất nghiêm mật, công sự dựa vào các hang đá rất vững chắc và cũng rất hiểm hóc. Bộ chỉ huy Mặt trận coi đây là hướng chủ yếu của chiến dịch. Bộ đội Pa thét Lào có nhiệm vụ đánh địch trên dọc đường 13. Đây là hướng đánh phối hợp. Trung đoàn 165 chúng tôi được tăng cường tiểu đoàn ĐKB 120 ly hỗn hợp cùng tiểu đoàn 12,7 ly có nhiệm vụ tấn công tập đoàn cứ điểm Bản Na. Đây là hưởng thứ yếu của chiến dịch. Đi cùng trung đoàn có tiểu đoàn dân công huyện Yên Thành, Nghệ An làm nhiệm vụ vận chuyển đạn, gạo và thương binh.

      Bản Na ở về phía đông Long Chẹng cách hơn mười kilômét, là tập đoàn cụm cứ điểm bảo vệ vòng ngoài cho Long Chẹng.

      Nhận lệnh về, chúng tôi họp cán bộ ba cơ quan và cán bộ tiểu đoàn giao nhiệm vụ đồng thời tổ chức ngay bộ phận cán bộ chủ trì từ đại đội trở lên đi nắm địch và địa hình, bố trí các cung chặng tiến quân, thiết kế các trận đánh. Tôi chỉ huy bộ phận đi trước. Anh Quân cùng cán bộ cấp phó tổ chức hành quân theo sau.
 
     Núi rừng Lào ở khu vực này rất hiểm trở. Anh em chúng tôi lại chưa ai thuộc địa hình, dân cũng không có mà hỏi, đành dựa theo địa bàn đối chiếu với bản đồ để xác định hướng đi. Phải mất hơn một tuần trèo đèo lội suối vô cùng gian nan vất vả, chúng tôi mới tôi được khu Bản Na.

      Sau ba ngày điều tra nghiên cứu, chúng tôi đã nắm khá kỹ các tập đoàn cứ điểm hình thù nó ra sao. Bản Na nằm trong một thung lũng nhỏ, có đồi có ruộng nhưng bao quanh là những dãy núi cao tạo thành vòng tròn gần như khép kín. Cách Bản Na ba mươi kilômét, dãy đồi cao phía tây bắc có một cụm bốn cứ điểm. Phía đông nam cũng trên đồi cao cách bốn kilômét có bốn cứ điểm. Khu trung tâm Bản Na có nhiều cụm, rõ nhất là cụm pháo 105 và 106,7 ly, cụm kho, sân bay trực thăng, cụm bốn cứ điểm ở mỏm đồi thấp. Chúng tôi chỉ thị mục tiêu cho từng tiểu đoàn yêu cầu các cán bộ phải đến gần nắm thật chắc tình hình và dự kiến cách đánh. Để dễ cho việc chỉ huy, chúng tôi thống nhất gọi khu trung tâm Bản Na là khu một gồm chỉ huy sở trung tâm với tiểu đoàn Thái Lan và tiểu đoàn pháo 105 + 106,7 hỗn hợp Thái, một tiểu đoàn BS22 có khu kho, sân bay trực thăng. Công sự ở đây khá kiên cố. Tiểu đoàn 6 và Đại đội 19 đặc công có nhiệm vụ đánh chiếm khu một. Dãy đồi cao phía tây bắc Bản Na là khu hai, có bốn cứ điểm đặt tên là các điểm 3, 5, 9, 1 1 giao cho Tiểu đoàn 4. ở đây có một đại đội tăng cường của tiểu đoàn BI11 Thái Lan và tiểu đoàn BV chốt giữ khu ba là dãy đồi cao phía nam đo tiểu đoàn SDU phái hữu chốt giữ cũng có bốn điểm, giao cho Tiểu đoàn 5…

      Mọi công việc chuẩn bị chiến đấu đã khá kỹ, chỉ còn bốn ngày nữa là nổ súng thì đột nhiên trung đoàn nhận lệnh của Mặt trận phải điều hai Tiểu đoàn 5 và 6 về hướng chủ yếu, làm lực lượng dự bị cho đơn vị tấn công Long Chẹng, trong khi đó trung đoàn vẫn phải đảm bảo nổ súng đúng ngày.

      Nhận điện mà băn khoăn không sao kể xiết. Thế là toàn bộ kế hoạch chiến đấu của trung đoàn bị đảo lộn.  Thời gian gấp quá, làm thế nào điều chỉnh kế hoạch tổ chức trận đánh cho kịp ngày nổ súng. Tôi liền triệu tập các cán bộ chủ trì từ đại đội trở lên, cùng ba cơ quan bàn kế hoạch nổ súng, điều chỉnh kế hoạch tác chiến cho phù hợp với lực lượng trung đoàn, giống như năm 1969, đánh vào Xiêng Khoảng cũng chỉ còn có Tiểu đoàn 4 và các đại đội trực thuộc. Vấn đề quan trọng nhất lúc này là chọn mục tiêu và cách đánh.

      Tôi thay mặt chỉ huy trung đoàn trình bày trước hội nghị:

      - Thưa các đồng chí! Chúng ta đang đứng trước một thử thách. Nhưng chúng ta không sợ. Cái chính là căn cứ vào tình hình địch và lực lượng ta còn lại thì ta cần tìm ra phương án tác chiến nào để có thể bảo đảm thắng lợi? Tôi thấy là ta phải thay đổi từ cách đánh nhanh sang cách đánh dài ngày, từ tấn công cả tập đoàn cứ điểm cùng trong một thời gian sang kế hoạch đánh từng cử điểm, từng khu vực. Cụ thể là ta sẽ đánh theo chiến thuật bao vây tấn công, tập trung dứt điểm từng khu vực tiến lên tiêu diệt toàn tập đoàn cứ điểm của giặc ở Bản Na. Mục tiêu tấn công đầu tiên là cụm cứ điểm Tây Bắc gồm bốn cứ điểm 3, 5, 9, 11. Trung đoàn quyết định giao cho Tiểu đoàn 4 và Đại đội 19 đặc công đảm nhiệm. Cứ điểm 3 quân đội Thái Lan là mục tiêu đột phá đầu tiên. Hỏa lực dùng đánh điểm 3 này gồm đại đội 120 ly, hai khẩu ĐKZ75, tám khẩu B41 và đại đội 12,7 ly. Lực lượng vây lấn đột kích, ta chỉ dùng một đại đội của Tiểu đoàn 4 cùng với Đại đội 19 đặc công. Nhưng quan trọng là ta phải cùng với một đại đội bộ binh kết hợp có lực lượng hỏa lực tiến hành vây, lấn, tấn phá trước. Yêu cầu đối với bộ phận vây, lấn, tấn, phá này là phải vây cho chặt, lấn đến tận hàng rào, đến sát chiến hào địch, cùng với hỏa lực không cho máy bay lên thẳng hạ cánh, không cho thằng dưới lên, thằng trên máy bay xuống, cả thằng trong đồn cũng không ra được, thằng ngoài đồn không vào được. Phải làm cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên, thằng sống nằm lẫn với thằng chết. Trong khi đó lực lượng công binh với trung đội bộ binh vây lấn phá rào tiến hành mở cho được bốn cửa vào đồn giặc, hỏa lực bắn phá phải diệt các hỏa điểm và sinh lực địch ở hướng cửa mở. Khi bộ phận vây lấn, đánh phá đạt được như thế, ta mới tung lực lượng xung kích xông vào gồm Đại đội 1 và Đại đội 19 đặc công được tổ chức thành bốn đội tấn công tiêu diệt cứ điểm 3. Đánh xong điểm 3, ta tập trung đánh điểm 5, điểm 9 rồi 11. Các đại đội pháo ĐKB 120 ly tập trung bắn khu 1, trung tâm Bản Na, chủ yếu là chế áp pháo vào chỉ huy sở tiểu đoàn Thái Lan BI 11. Đối với khu 3, ta chỉ dùng đại đội 12,7 ly, đại đội cối 82 cùng một tiểu đội trinh sát bắn kiềm chế và bao vây lỏng lẻo. Cụm cứ điểm Tây Bắc bị diệt, nhất định sẽ làm rung chuyển cả khu trung tâm và khu đông nam này…


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:54:15 PM
      Các cán bộ dự họp đều nhất trí với phương án tác chiến trên, cho rằng đó là cách đánh chắc tay gặp tình huống phức tạp có thể khắc phục được. Ai nấy phấn khởi về phổ biến cho đơn vị và làm tiếp các công tác chuẩn bị. Chỉ còn một ngày nữa thì nổ súng. Khí thế đơn vị bước vào tận đánh thật đáng mừng, ai cũng phấn khởi, tin là sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Tuy vậy tôi vẫn lo. Lực lượng mình quá mỏng. Trước một tập đoàn cứ điểm như vậy, cả khi trung đoàn có về đủ tập trung toàn lực tấn công cũng vẫn phải thận trọng chọn điểm đột phá chủ yếu nào đặng có thể dứt điểm làm cho toàn bộ quân địch phải choáng váng, huống chi lúc này, trung đoàn lại bị điều đi mất hai tiểu đoàn. Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng cũng chung một ý nghĩ như tôi. Chúng tôi bàn nhau về kế hoạch vây, lấn, tấn, phá cho chắc, bảo đảm dứt điểm trận đột phá đầu tiên diệt điểm 3 thật gọn tạo đà cho các trận tiếp theo. Hai anh em đang bàn bạc, dường như còn nhiều điểm phải bổ sung cho công tác chuẩn bị thì có điện của Mặt trận thông báo là đoàn cán bộ của Mặt trận do Phó Tư lệnh Nam Hà dẫn đầu xuống làm việc, trung đoàn cho người đi đón. Thật là tin vui đến với chúng tôi. Đang lúc có nhiều điểm chưa thật yên tâm, lại được anh Nam Hà gỡ cho thì thật còn gì bằng. Cán bộ trong cơ quan trung đoàn bộ biết tin, ai cũng mừng.

     Thật ra, mọi người, kể cả tôi, chỉ mới nghe tên biết mặt chứ chưa làm việc trực tiếp với anh Nam Hà bao giờ. Qua đôi lần gặp ở hội nghị hoặc trên đường, chào hỏi nhau tôi chỉ biết sơ sơ bề ngoài, anh có vẻ xởi lởi dễ gần, người nhỏ thấp, dáng cân đối, động tác nhanh nhẹn. Thế thôi. Lần này được trực tiếp làm việc với anh ở ngay mặt trận ác liệt đầy gian khổ này, chắc chắn rằng, với kinh nghiệm của người chỉ huy lâu năm đã từng trải qua nhiều chiến dịch, anh sẽ giúp trung đoàn, giúp bản thân tôi rất nhiều.

      Tôi còn đang mải suy nghĩ như thế thì anh Nam Hà cùng ba đồng chí cán bộ tác chiến, quân huấn của Mặt trận đến ngay trước mặt. Vui quá. Lại có cả anh Lã Thái Hòa, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312 chúng tôi cùng đi. Thời gian này, anh làm phái viên của Mặt trận.

      Tôi đứng lên hoan hỉ bắt tay các anh. Không khí chào hỏi tiếp đón diễn ra rất thân tình cởi mở.

     Anh Nam Hà hỏi tôi ngay:

     - Trung đoàn đã điều hai tiểu đoàn đi rồi chứ? Kế hoạch tác chiến thế nào, ổn chưa?

     - Thưa anh, hai Tiểu đoàn 5 và 6 đã đến đúng vị trí theo lệnh trên. Kế hoạch tác chiến đã triển khai xong. Nói chung là ổn.

     - Thế thì tốt quá.

     Các cán bộ trung đoàn và ba cơ quan kéo đến chào phái đoàn khiến cho không khí thêm sôi nổi, bộc lộ tình cảm thân thiết, tin cậy. Tôi đến sát bên anh Lã Thái Hòa hỏi chuyện vui:

     - Thế nào anh, trên đường từ Mặt trận xuống đây, Thủ trưởng và phái đoàn bị mấy trận bom rồi?

     - Ba trận. Nhưng chẳng làm sao cả. Hơn nữa, đi càng khỏe và nhanh hơn.

     Anh Nam Hà nói chen vào:

     - Cậu Thái Hòa to khỏe có mã tướng đẹp nhất đoàn cho nên bom nó nể. Lúc đến cửa rừng bị một trận, còn nhìn thấy cậu ấy, đến trận thứ hai ở đỉnh đèo Quế, trận nữa là đèo Mây, tất cả phải vượt nhanh, chúng mình vượt lên rồi, nhìn về phía sau chỉ thấy khói bom mù mịt. Lo quá  Thái Hòa đâu rồi? Một lát sau thấy cậu ta hiện ra qua khói bom, đang ì ạch bám theo, mãi mới theo kịp chúng mình.

     Mọi người cười vui, chẳng nghĩ là đang giữa chiến trường và đang ở thời điểm trước giờ nổ súng.

     Tôi hỏi khẽ anh Lã Thái Hòa:

     - Anh vẫn nhận được thư của chị ấy chứ? Thế nào, lần về nước gặp chị ấy có kết quả gì chưa? Hay là vẫn cờ trắng?

     Hai chúng tôi cùng cười. Anh em chung quanh, chẳng hiểu có biết chúng tôi nói gì không, cũng cười theo.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:57:48 PM
      Sau khi ăn cơm, nghỉ ngơi khoảng ba mươi phút, chúng tôi họp với phái đoàn của Mặt trận. Phía trung đoàn chỉ có tôi, anh Trường Quân, anh Đỗ Phú Vàng, anh Trần Lạc và các cán bộ tác chiến. Tôi báo cáo phương án tác chiến rất hy vọng sẽ được phái đoàn của Mặt trận đánh giá là sát hợp với thực tế tình hình. Nhưng tôi quan sát thấy anh Nam Hà vừa nghe vừa xem bản đồ, sắc mặt tỏ ra không bình thường. Không để tôi báo cáo hết, anh ngắt lời hỏi ngay:

     - Như vậy là trung đoàn không đánh tập trung vào chỉ huy sở Bản Na, mà lại đánh vào khu hai?

     - Thưa anh đúng. - Tôi bình thản trả lời - Trung đoàn chỉ đủ sức đánh vào khu hai. Còn khu trung tâm, ta dùng pháo bắn phá. Với khu ba phía đông nam, ta kiềm chế. Bởi vì...

     Tôi càng giải thích, anh càng tỏ ra bực bội, lại nói cắt ngang:

     - Cách đánh của trung đoàn như thế là không đúng tinh thần và ý định của Mặt trận. Phải tập trung lực lượng đánh vào khu một, trung tâm Bản Na. Tại sao trung đoàn lại dồn lực lượng vào khu hai?

     Các cán bộ trung đoàn báo cáo bổ sung tình hình địch và khả năng trung đoàn chỉ đủ đánh khu hai, hy vọng anh sẽ nghe ra. Nhưng không, anh vẫn kiên quyết nhắc lại và giải thích là phải tập trung lực lượng đánh vào khu một mới khiến cho quân địch choáng váng. Thú thật, nghe anh Nam Hà giải thích, tôi vừa lo nhiệm vụ lại vừa tức, không biết nên thực hiện thế nào trước cái lệnh "nướng quân" này. Anh nói tiếp, giọng hằn học:

     - Các anh nên tính toán cho thận trọng. Tôi nói đây là tôi đem lệnh của Mặt trận xuống. Trung đoàn các anh bàn với nhau khắc phục khó khăn chấp hành lệnh. Vấn đề là phải nhìn chung thế và lực toàn chiến dịch. Phối hợp với hướng chính là Long Chẹng, ta đánh vào sào huyệt của bọn phỉ Vàng Phao thì ở hướng phụ này phải đánh thẳng vào nơi hiểm yếu của địch, có nghĩa là phải đánh vào trung đoàn cứ điểm bảo vệ vòng ngoài cho Long Chẹng. Vòng ngoài rung động thì Long Chẹng cũng rung động theo.

    Cán bộ trung đoàn tôi rất đỗi bàng hoàng lo lắng vì bộ đội đã vào vị trí tập kết, thời gian quá gấp để có thể tổ chức thực hiện cái mệnh lệnh khắc nghiệt này. Tất cả ngồi yên nhìn nhau chờ đợi mà chẳng biết là chờ đợi cái gì. Tôi thầm nghĩ, với lực lượng trung đoàn hiện nay mà chọn đánh vào nơi hiểm yếu, kết cục bị "phơi áo" ra ở đấy thì liệu có thể làm rung động được cái gì. Khu hai là điểm yếu so với khu một nhưng không phải là không hiểm yếu bởi diệt được khu hai là lập tức uy hiếp khu một. Với phương án đã tính toán, tấn công khu hai là chắc thắng. Cứ thực hiện phương án của trung đoàn thôi. Đã trình bày như thế mà trên chẳng nghe thì mặc trên…

    Tôi vừa nghĩ đến đây thì anh Nam Hà lại hỏi luôn:

    - Thế nào, anh Chuông?

    Lúc này, đúng là tôi không còn bình tĩnh được nữa, đã nói trắng ra không còn úp mở gì về cái mệnh lệnh mà tôi gọi là "mệnh lệnh nướng quân".

    - Lệnh trên như thế thì tôi không thể làm được.

    - Như thế là thế nào?

    - Là "mệnh lệnh nướng quân".

    Cuộc họp. trở nên gay cấn. Trên bực. Dưới tức. Anh Nam Hà hỏi tiếp:

    - Anh không chấp hành phải không?

    - Tôi không chấp hành được cách chỉ huy như thế.

    Anh Quân, Chính ủy trung đoàn giơ tay vẻ như ngăn lại, nói xen vào.

    - Đề nghị Thủ trưởng. . . Anh Chuông nên bình tĩnh, anh nóng quá đấy!

    - Anh bảo tôi nóng à? Đấy, anh ra mà chỉ huy.

    Hội nghị phải tạm dừng. Mọi người tản ra. Từng tốp cán bộ cơ quan trên với cơ quan dưới, anh Nam Hà, anh Quân, anh Lạc chụm đầu rì rầm bàn tán. Chỉ có tôi ngồi một mình rít thuốc, cơn tức vẫn chẹt lấy cổ.

    Lát sau, anh Lã Thái Hòa đến ngồi bên tôi một lúc rồi mới nói:

    - Chuông ơi! Như vậy là tình hình phức tạp rồi. Nếu anh cứ khăng khăng như thế tức là anh chống lại lệnh đấy?

    Nghe thế, tôi càng bực sôi lên, hỏi lại:

     - Anh là chỉ huy cấp trên có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo chỉ huy, anh nghĩ xem, tình hình địch, ta như vậy thì có thể chấp hành được cái lệnh đó không? Tôi đâu phải là người muốn chống lệnh. Năm ngoái, trung đoàn còn phải luồn qua mấy tuyến ngăn chặn của địch vào chiến đấu trong vòng vây đồn bốt giặc, trên không cho một người trinh sát dẫn đường, gạo không được tiếp tế, đạn phải dè xẻn từng viên, vậy mà chúng tôi vẫn chấp hành đầy đủ các nhiệm vụ trên giao, thương vong lại rất ít. Trong khi đó, Trung đoàn 141 đánh đồi Mã Thượng không dứt điểm lại thương vong nhiều, trung đoàn trưởng bị mất chức. Trận Keo Bom, Bum Lọng, Trung đoàn 209 đánh cũng không thắng, trung đoàn trưởng phải ra đi. Đến trận này, sẽ là ai đây? Chắc là tôi thôi, nếu như tôi cứ mạo hiểm chấp hành mệnh lệnh đánh vào khu trung tâm Bản Na, tức là đánh vào chỗ cứng nhất, mạnh nhất của tập đoàn cứ điểm này, trong khi lực lượng của trung đoàn đã bị điều đi mất hai phần ba. Tôi nói thực với anh, tôi không thể đánh cách nào khác, đề nghị cấp trên cho chúng tôi đánh theo phương án trung đoàn đã triển khai.

     Anh Hòa kiên nhẫn nghe tôi nói đến đây, khẽ thở dài, thủng thẳng đáp:

     - Anh đã quyết tâm như thế thì tôi chẳng còn gì để nói với anh được cả. Tôi chịu anh thôi.

     Nói xong, anh ngồi thừ ra, vẻ mặt buồn u ẩn khiến tôi lại thấy thương nên phải dìu dặt nói thêm để anh hiểu:

     - Tôi nói là có lý của tôi, không phải tôi nói bừa. Anh xem, ban đầu kế hoạch tác chiến là lực lượng toàn trung đoàn tấn công thì lẽ tất nhiên có bộ phận chủ yếu tấn công cả trung tâm Bản Na. Bây giờ trên điều mất của chúng tôi hai tiêu đoàn thì kế hoạch phải thay đổi cho phù hợp thôi chứ sao ra lẽ được. Tôi đã sẵn sàng rồi, anh yên tâm. Dù trận này có thắng tôi cũng chẳng sao. Điều khiến tôi phải nghĩ nhiều đó là máu xương chiến sĩ. Mà giả sử trung đoàn gặp khó khăn chắc là tôi sẽ mất chức hoặc ra tòa án binh hoặc về nhà làm ruộng, nuôi gà, đánh cá. Nếu ông còn nhớ tình bạn đến chơi, chắc rằng tôi sẽ có các thứ cây nhà lá vườn đãi ông thôi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 14 Tháng Mười, 2009, 03:54:48 PM
      Nửa tiếng sau trở lại cuộc họp tiếp tục bàn, không khí xem chừng có dịu lắng đi một chút xong tôi nghĩ chỉ là bề ngoài chứ thực ra trong tâm trạng mỗi người vẫn đang âm ỉ những cơn sóng ngầm. Chính tôi cũng đang nén lại để khỏi nổi nóng mặc dầu tiếp tục báo cáo, tôi vẫn thưa gửi một cách rất trân trọng.

      - Thưa Thủ trưởng Nam Hà? Thưa các anh? Ban nãy nghe lệnh, thấy thời gian gấp mà bí quá, tôi không biết làm thế nào mà thực hiện được nhiệm vụ nên chưa thật bình tĩnh đã có thái độ chưa đúng. Bây giờ chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa thì nổ súng, bộ đội đã vào vị trí cả rồi, tôi xin lỗi và đề nghị Thủ trưởng Nam Hà và các anh trên cơ quan Mặt trận.cứ báo cáo lên trên, chúng tôi chịu trách nhiệm và đảm bảo sẽ đánh thắng, sẽ chiếm lại Bản Na.

      Tôi đề nghị các anh đến sở chỉ huy chính của chúng tôi. Tôi, anh Nam Hà ở chung. Cơ quan trung đoàn ở một bên, cơ quan Mặt trận ở một bên cách nhau sáu bước.

      Anh Nam Hà xen bản đồ, tỏ vẻ điềm tĩnh nói:

      -  Thôi, thời gian gấp thế thì phải làm thế vậy - Và đột nhiên anh hỏi tôi - Vị trí trung đoàn ở chỗ nào?

      Tôi chỉ vào tấm bản đồ anh đang xem:

     - Thưa anh, ở đây ạ!

     - Sao? Vị trí chỉ huy phải tiện quan sát và nắm quân chứ? Anh cho chuyển lên chỗ này đi.

     Tôi thấy lạ quá. Anh là cán bộ chỉ huy giỏi công tác tham mưu, bảo phải tiến lên lại chỉ vào bình độ lùi về sau gần dốc Quế. Tôi biết anh chỉ sai. Địa hình ở Tây Bắc Lào, nhất là khu vực Sảm Thông Long Chẹng rất phức tạp mà bản đồ thời ấy lại thường không chính xác, tôi cũng đã có những lần xác định sai trên bản đồ, huống chi anh, mới nhìn qua đã chỉ luôn, làm gì không sai. Biết thế, nhưng tôi lại trả lời một cách kín đáo, ý nhị:

      - Vị trí sở chỉ huy hiện nay là gần nhất rồi đấy ạ!

      Các anh cán bộ tham mưu cấp trên xúm lại quanh tấm bản đồ cùng trao đổi ý kiến qua lại, cuối cùng xác định đúng như lời tôi nói. Anh Nam Hà cười:

      - Thôi, thế cũng được.

     Hôm đó, ăn cơm xong, tôi đi kiểm tra sở chỉ huy trung đoàn, đến ban tác chiến thấy các anh phái viên tham mưu của Mặt trận và bộ phận thông tin vẫn chưa về vị trí của mình, tôi nói ngay:

     - Các anh về bên kia suối đi, về vị trí của Mặt trận. Tôi và anh Nam Hà đã thống nhất như thế.

     Tôi nhắc Tham mưu trưởng, Trưởng ban tác chiến phải chấn chỉnh lại sở chỉ huy và giúp bên cơ quan Mặt trận tổ chức vị ta chỉ huy, cho người đào công sự đồng thời cho các đồng chí ấy mượn một số cuốc xẻng. Nhắc xong, tôi sang bên chính trị, hậu cần kiểm tra tình hình mọi mặt, rất mừng khi nghe dân công huyện Yên Thành, Nghệ An đã chuyển đủ đạn, gạo đến trận địa, có nhiều tấm gương dũng cảm.

      Một lúc lâu sau trở về sở chỉ huy lại thấy các phái viên của Mặt trận vẫn còn ở đó, cười nói ồn ã, tôi chợt nghe thấy tiếng ai đã nói "ăn cơm rau muống không bằng tình huống ông Chuông", rồi lại cười khúc khích, chẳng hiểu có ngụ ý gì. Tôi bước vào. Đang bực mình, tôi nói không còn biết giữ miệng:

      - Cười gì mà cười lắm thế? Sao các anh trên cơ quan Mặt trận không về vị trí, còn ngồi lẫn lộn với trung đoàn để ngửi rắm nhau à?

     Thật ra, tôi rất tôn trọng và quý các anh. Vì sự thật là các anh đã giúp đỡ chúng tôi được nhiều việc trong những năm ở bên chiến trường nước bạn. Nhưng lần này, do tức với trên, giận cá chém thớt, tôi đã thốt ra câu nói sai trái ấy. Bây giờ nghĩ lại càng thấy là sai cho nên qua dòng ghi chép này, tôi muốn được xin lỗi các anh.

     ...Lại nói khi về sở chỉ huy gặp anh Nam Hà, anh hỏi ngay:

     - Đơn vị vào chiếm lĩnh đến đâ