Dựng nước - Giữ nước

Thư viện Lịch sử Quân sự Việt Nam => Tài liệu - Hồi ký Việt Nam => Tác giả chủ đề:: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 10:43:15 pm



Tiêu đề: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 10:43:15 pm
Thiếu  tướng Nguyễn Chuông

ĐƯỜNG
BINH NGHIỆP
CỦA TÔI


Tuyển tập ký ức chiến trận

Số hóa: Baogt - sách bác PQ cung cấp
Nguồn: PQ - Nhà xuất bản Thanh Niên - 2005

Nội dung:
•   Kỷ niệm ngày lên đường
•   Câu chuyện nhớ đời
•   Lần đầu ra trận
•   Anh Vệ Túm
•   Sầm Nưa, những kỷ niệm khó quên
•   Làm đường kéo pháo vào trận Điện Biên
•   Cắt sân bay Mường Thanh
•   Điện Biên trong tôi
•   Những ân nhân của tôi
•   Đập tan "Cù Kiệt"
•   Bản Na trước giờ nổ súng
•   Về thăm quê
•   Nằm trong chum giữa Cánh đồng Chum
•   Mở cánh cửa thép vào Cánh đồng Chum
•   "Không phải là vũ khí luận"
•   Đối đầu ở Quảng Trị
•   Trận cuối cùng
•   Nhớ mãi bài thơ "Giã gạo"
•   Vị tướng khéo dùng quân
•   Cuộc gặp gỡ bất ngờ thú vị
•   Về nhà chưa hết việc quân


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 10:47:59 pm
Lời thưa trước cùng bạn đọc


   Đất nước có giặc, tuổi trẻ cầm súng lên đường đánh giặc cứu nước, đó là lẽ thường tình. Giặc giã lại triền miên ba bốn chục năm ròng, đánh xong giặc nếu còn sống trở về thì cũng là trọn cuộc đời một con người sống giữa nhân gian nặng lòng trung với nước, hiếu với dân, coi việc cầm súng là một sự nghiệp.
Biết làm sao được. Đất nước có giặc mà! Và đường binh nghiệp trở nên thiêng liêng đối với triệu thanh niên trong đó có tôi, dẫu cho nó phải trải qua muôn vàn sóng gió và ghềnh thác.
  
     Tôi không dám so sánh với biết bao đồng đội của tôi đã phải nằm lại chiến trường không thể trở về. Và chính anh em đã tạo nên con đường binh nghiệp cho những ai đi hết cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại của dân tộc.

     Đường binh nghiệp của tôi được kể ra trong những trang hồi ức chiến trận này cũng không ngoài ý nghĩa tôn kính đó, đồng thời cũng là để minh chứng cho một góc nhỏ của lịch sử quân sự mà các đơn vị thân yêu của tôi đã bao phen xông pha lửa đạn. Tôi thiển nghĩ đây là tình cảm và đây cũng là trách nhiệm.

     Tôi vốn là nông dân nghèo ít được học hành phải nhờ bạn hữu giúp đỡ chỉ dẫn mới hoàn thành được công việc văn chương mà tôi cảm thấy nó cũng khó khăn không kém gì đánh trận. Tôi chân thành cảm ơn các anh Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Đình Tiên, Tạ Hữu Yên, Đinh Khánh Vân . . . những người bạn tri âm, tri kỷ, chính là những cố vấn chí nghĩa chí tình đã khích lệ cổ vũ tôi rất nhiều.

      Nhân dịp tập ký ức chiến trận Đường binh nghiệp của tôi ra mắt bạn đọc, tôi xin được nhắc tới cố Nghệ sĩ Nhân dân Tào Mạt. Sinh thời anh cũng là tri âm, tri kỷ của tôi, thường cùng nhau uống rượu, bình thơ. Hồi anh gặp phải bệnh hiểm nghèo, tôi đến thăm anh tại Viện Quân y, chuyện văn chương vẫn là đầu câu chuyện mà dường như nó lại sâu sắc và lắng đọng hơn bất cứ bao giờ. Anh bảo tôi: Hãy cứ viết những cái thật nhất và xúc động nhất của đời mình.

     Vâng! Thưa bạn đọc! Đường binh nghiệp của tôi chính là những cái thật nhất và xúc động nhất của đời tôi.

   NGUYÊN CHUÔNG


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 10:49:40 pm
Thiếu tướng NGUYỄN CHUÔNG

Sinh ngày 15-8-1927, tại xã Thượng Nông, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
Tham gia quân đội 19-8-1945.
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 20-7-1947).

THÀNH TÍCH CHIẾN ĐẤU:
- Huân chương Chiến công (hạng l-2-3)
- Huân chương Giải phóng (hạng 3)
- Huân chưng Chiến thắng (hạng l-2-3)
- Huân chương Quân Công tổng kết chiến tranh (hạng 2-3)
Huân chương Chiến thắng hạng Nhất.

CÁC TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN:

In chung: Binh đoàn sông Thao.
In riêng: Đường tới chân trời, Tim tôi thắp lửa, Dậm dài trên đất Triệu Voi (Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân).


Thơ
Nghệ sĩ nhân dân Tào Mạt
tặng thiếu tướng Nguyễn Chuông

Phiên âm:Thập lục dĩ tòng ngũ
Lục thập vị hoàn hương
Bắc phong xuy bạch phát
Lục diệp tế thanh trung.
Huyết hãn lưu thiên lý
Đồng kiên quải bách sang
Trường đồ hữu thiết cước
Bảo quốc trấn biên cương.

--------------------------

Nghĩa là: mười sáu tuổi đã nhập ngũ. Sáu mươi tuổi chưa về làng. Gió bấc vẫn thổi tung mái tóc bạc. Đôi vai đồng đã vác trăm súng. Mà đường dài vẫn đôi chân sắt. Đi giữ nước trấn biên cương.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 11:38:48 pm
KỶ NIỆM NGÀY LÊN ĐƯỜNG
 
    Ngày lên đường của tôi không có người đưa tiễn. Nói cho đúng hơn: Tôi trốn nhà ra đi, nên gia đình tôi chẳng ai hay biết gì cả. Mọi thứ cần thiết tôi đều phải chuẩn bị bí mật âm thầm. Bộ quần áo cũ, chiếc lược, chiếc gương con, tôi đã gói trong chiếc khăn vuông đen giấu sẵn vào ổ rơm góc bếp. Phải đi thật nhẹ chân, đến sát giường, mở căng mắt tôi mới nhìn rõ mặt mẹ và mấy đứa em. Con Khánh gầy, tay ôm lấy mẹ, thằng Khải mặc độc chiếc quần cộc nằm co đầu gối lên tận ngực. Sáng mai, nếu mẹ tỉnh dậy, thấy vắng tôi, chắc mẹ sẽ rất lo buồn. Tôi chỉ ân hận, khi ra đi không nói được gì với mẹ. Còn các em tôi, biết bao giờ tôi mới gặp lại. Tôi đã đứng lặng một hồi lâu, nước mắt không cầm được, tôi phải bước vội ra sân để khỏi bật thành tiếng khóc . . .

     Những ngày bình thường, nào mấy ai chú ý tới cảnh vật quanh mình. Nhưng, tới khi sắp sửa phải từ giã nó, tôi cứ muốn nán lại mà ngắm nhìn da diết. Ngôi nhà tranh chật chội, từng che chở cho gia đình tôi những tháng năm nghèo đói. Mảnh vườn hẹp trồng đầy sắn và dong riềng,  có cây khế đứng lặng yên như cái ô đem cắm xuống đất. Người làng tôi nói rằng: chôn mèo đen dưới gốc cây khế thì trái chua thành trái ngọt. Tôi đã xin tới mấy con mèo đen chôn vào gốc khế, mà cây khế vẫn ra những trái chua chát, gia đình tôi vẫn nghèo khổ. Cây khế không có trái ngọt ngào và tôi ra ngoài đường vẫn gặp bao người đói rách. Có lần, thấy tôi đào gốc khế chôn mèo, mẹ tôi chép miệng: "Khế nhà ta chua tự mấy đời rồi con ạ?".

     Đi cách nhà được một đoạn, nghe có tiếng động ở đằng sau, tôi quay lại. Thì ra con chó nhà tôi, chẳng biết nó ngủ bờ, ngủ bụi ở đâu, thấy tôi, nó chạy theo vẫy đuôi tíu tít. Tôi dừng lại, nó quấn lấy người, nhảy chồm chồm, cào hai chân trước lên quần áo, thè lưỡi liếm tay tôi rồi kêu ư ử. Tôi bước đi, nó đè cả mình lên chân tôi cản đường, bộ lông vàng mịn cọ vào thịt da tôi như muốn giữ tôi ở lại nhà với nó. Tôi ngồi xuống, cởi bọc hành lý cho nó một củ khoai chờ nó ăn xong, tôi ôm nó về nhà xích lại, vuốt ve nó lần cuối cùng. Ra khỏi ngõ, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng nó kêu ư ử, chắc hẳn nó còn muốn chạy theo tôi một lần nữa.


*
*       *
   
   
     Quá nửa đời người dành dụm, bố tôi mới tậu được dăm sào ruộng nhà Lý Ninh bị phá sản và bị tên Điền tịch thu toàn bộ ruộng đất. Tên Điền viện lý này lẽ khác nói số ruộng Lý Ninh bán cho nhà tôi không có văn bản hợp pháp, rồi tịch thu một nửa. Bố tôi chỉ là một người dân nghèo nên kiện cáo năm lần, bảy lượt cũng chẳng ăn thua gì. Nhiều lần chú Hội bàn với bố tôi:

       -   Tôi nghĩ cánh nhà mình chẳng có quyền thế gì trong làng, cứ để chúng nó đè đầu cưỡi cỗ mãi, uất ức lắm. Hay bác, và em bán nốt mấy sào ruộng rồi hùn vốn mua lấy cái chức Phó lý.

      - Trời ơi! Chú bảo bán ruộng đi thì treo cổ lũ con nhà này lên à - Bố tôi hỏi vặn lại.

     - Bác cứ mạnh dạn nghe em, khó khăn thì nương nhờ vào họ hàng. Với lại, phải có gan như thế thì cả họ mình mới được nhờ.

     - Nhưng tôi có biết chữ đâu, làm chức tước ít ra cũng phải viết được cái văn tự chứ.

     - Miễn là bác cứ có được chức tước, còn mọi việc em lo liệu hết. Em mà không bị vu oan hai cái án thì em tranh cử lâu rồi.

     Bố tôi ngồi thần ra một lúc, rồi đứng dậy nhìn chú Hội, nói như quát:

     - Từ nay chú đừng bàn chuyện đó với tôi nữa. Làm Phó lý để bòn mót của dân à, dẫu chịu là hạng cùng đinh tôi cũng chả thiết chức tước.

     Chú Hội khuyên bố tôi không được, đành buồn chán bỏ về. ở làng Thượng Nung này, chú Hói là người bị kẻ quyền thế bóc lột nhiều nhất. Trong làng chú mang nặng oan ức và thù hận. Chú đi kiện bọn Phó lý, Chánh tổng về chuyện cướp bóc ruộng đất. Trong vòng ba năm, đơn kiện chẳng ăn thua gì mà chú còn bị bọn chúng buộc cho những tội tày trời. Một lần gặp người chết chú mang chôn, bị chúng khép tội giết người. Một lần khác, đang đêm có đám cháy, chú chạy đến chữa cháy và kêu cứu, chúng khép tội đất nhà. Chú Hội vốn thông minh lại biết dăm ba chữ nên chúng càng cố tình dìm xuống bùn đen. Thế vẫn chưa yên, đã quá tuổi bốn mươi chú mới lấy được vợ. Vợ chú là vợ cũ của tên địa chủ Hạnh, vì lấy nhau không có con bị hắn bạc đãi và ruồng bỏ. Khi chú Hội lấy thì tên Hạnh khép tội lấy tranh vợ hắn. Bố tôi đành phải bán ít ruộng còn lại chuộc tội cho chú. Từ đấy, gia đình tôi chỉ còn hai bàn tay trắng. Bố tôi phải sang nhà tên Chiếu xin cấy nộp tô. Nhiều năm mất mùa, tô không được giảm, nộp tô, nộp thuế xong cũng là lúc phải vét bồ. Làm ruộng nộp tô còn phải thưa ông, bẩm bà, vào luồn ra cúi đủ điều. Quanh năm nhà tên Chiếu có bao nhiêu cái giỗ bố tôi phải nhớ hết. Giỗ to thì con gà chai rượu, giỗ nhỏ thì nải chuối, thẻ hương. Cứ thế, gia đình tôi càng ngày càng lâm vào cảnh nghèo đói.

     Làm ruộng chẳng đủ ăn, bố tôi phải lặn lội hết đồng Nung sang đồng Dàm kiếm cá. ông cụ dầm sương dãi nắng suốt ngày, nên người cứ đen thui. Nhà neo người làm, hơn mười tuổi đầu, tôi phải theo bố đi đánh cá. Cứ mỗi buổi chiều đi chăn trâu về, tôi khệ nệ vác tấm lưới to
bè trên lưng theo bố ra đồng. Trời rét như cắt ruột mà hai bố con chỉ mặc manh quần cộc. Khi chờ cá lên vật đẻ, tôi thường lấy tấm lưới choàng kín người rồi ngủ thiếp đi. Vừa ấm chỗ, bố tôi đã giục:

      - Dậy đi Chuông! Ngủ gì mà gớm thế.

      Chỉ cần ông cụ giục một lần, tôi đã bật dậy ngay lập tức. Nếu chậm, có thể bị ăn đòn vì tính ông cụ nóng như lửa.

      Khi thả lưới bố tôi thường cắm một đầu vào bờ, một đầu căng dài ra, rồi quây quanh lại thành một vòng tròn khép kín. Tôi ra sức lấy sào đập, dùng chân khua, tát té bì bõm. Chỉ cần không nghe tiếng khua nước là bố tôi lại quát tháo. Cho đến lúc đám ruộng chăng lưới bùn sục lên đầu gối, chân tay tôi cứng đờ, thâm tím, bố tôi mới cho nghỉ. Đánh được cá bố tôi đổi gạo đem về nấu cháo. Những ngày hết gạo, gia đình tôi chỉ còn biết trông vào mẻ lưới rủi may. Da thịt, đầu tóc tôi lúc nào cũng tanh tưởi mùi cá, mùi bùn. Chẳng bao lâu, tôi đã học được nghề thả lưới.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 03 Tháng Mười, 2009, 11:41:30 pm
      Cảnh nhà nghèo túng không được đi học, nhưng tôi rất ham học. Đi chăn trâu, đánh cá về nhà là tôi lại ê a đánh vần. Đôi khi buồn bực, bố tôi lại quát:

      -   Thôi im đi kẻo điếc tai tao? Nhà người ta có của, lễ lạt thì theo học mới làm nên ông cử, ông quan, còn chúng mày học để đi cày thuê à?

    Chửi vậy, nhưng bố tôi lại rân rấn nước mắt. Thế là tôi không được theo học. Tuổi thơ phải chăn trâu, thả lưới đế nuôi thân. Hàng ngày cưỡi trâu ra ngõ gặp lũ trẻ con nhà giàu cắp sách đi ngược về phía mình, tôi thấy buồn vô hạn. Ngôi trường không bao giờ dành chỗ cho tôi học.
Buồn chán và tủi cực, tôi lấy roi quất mạnh con trâu cho lồng vượt qua bọn trẻ.


*
*     *

      Cảnh sống lầm than, đói rách trong làng tôi ngày càng thêm nặng nề. Đi đâu cũng thấy người ta nói chuyện nợ nần, tô tức, chuyện lính Tây bắn giết đồng bào. Làng Thượng Nung của tôi bao nhiêu người đói khổ, bao nhiêu người bỏ đất bồng bế nhau đi. Hôm qua có người chết đói ở đầu làng, hôm nay có người chết đói ở bờ ruộng. Giếng giữa làng tôi nước vẫn trong, nhưng không phải nước hồi sinh cứu đói. Cánh đồng Nung cá nhiều, lúa lắm, mà con người Thượng Nung vẫn đói khổ, bần cùng.

      Cũng thời gian này, khắp nơi rộn lên những tin khởi nghĩa giành chính quyền. Rồi những danh từ "Cách mạng", "Việt Minh" lan tràn đến mọi người. Đầu tiên, tôi nghe nói Việt Minh đánh đuổi bọn Tây, Nhật giành tự do, độc lập lật đổ bọn địa chủ gian ác, đem cơm no, áo ấm cho
dân nghèo. Tôi dần dần hiểu ra chỉ có đi theo Việt Minh thì mới xóa được cuộc đời nô lệ. Khi tôi gợi chuyện xin đi Giải phóng quân thì cả nhà đều sửng sốt. Mẹ tôi vừa khóc vừa nói:

      - Bố mày mới mất, nắm cỏ ở gần cây đa bến Chuồm chưa xanh, chị mày mới đi lấy chồng, mày mới đỡ đần được đôi việc giờ lại bỏ đi, mẹ biết làm ăn, sinh sống ra sao?

     Mẹ tôi không nói, tôi cũng biết cảnh nhà như vậy, nhưng lẽ nào tôi cứ phải sống một cuộc sống tối tăm mãi. Gia đình tôi quanh năm vất vả mà vẫn đói rách. Bố tôi phải làm lụng cực nhọc, đến lúc chết ông vẫn còn mang theo cơn đói, bệnh tật. Các em tôi và tôi không được học hành. Những điều đó thúc ép tôi phải ra đi, tôi làm sao nói cho mẹ tôi hiểu hết được.

      - Mẹ ở nhà có nhiều cái khốn khó, con nhờ các chú, các bác giúp đỡ mẹ những khi ốm đau. Về phần con, con đã suy nghĩ kỹ rồi.

      - Mới mười sáu tuổi đầu, chứ nhớn nhao khỏe mạnh gì cho cam. Tao không cho mày đi đâu hết. Ở nhà còn có xóm làng, ra ngoài tao lo lắm.

      Mẹ tôi vừa nói vừa khóc.

     Tôi vượt qua cánh đồng trong, gió thổi ù ù. Ban đêm, nhìn vào đâu cũng thăm thẳm.  Bước đi trên đường làng, đầu óc tôi nghĩ lung bung đủ mọi chuyện. Tôi tin rằng, ngày mai, đêm mai, không thấy tôi cả gia đình sẽ khóc lóc, sẽ đi tìm mọi nơi. Nhà chỉ còn hơn chục bát gạo, ăn hết rồi thì biết trông cậy vào đâu. Cả những gì tôi chưa nghĩ tới thì lúc này cũng nảy ra: số tiền trong túi tôi tiêu thật hà tiện cũng chỉ được năm ngày. Khoản tiền này do người anh rể lấy trộm của gia đình cho tôi. Biết thế nào bà cụ cũng mắng anh, tôi từ chối:

     - Anh để tiền cho bà đong gạo nuôi các cháu. Em ra đi kham khổ rồi sẽ quen dần . . .

     - Không! Cậu cứ phải nghe anh cầm lấy số tiền. này. Ở nhà rau cháo cũng xong thôi, ra ngoài còn có anh em nữa chứ!

     Anh nói rồi cố tình tìm cách nhét tiền vào túi áo tôi. Thấy thái độ anh có vẻ dứt khoát, tôi phải ngoan ngoãn nhận tiền.

     Tới vị trí tập trung, anh Khang, anh Đình, anh Phẩm đều có mặt. Chúng tôi nhanh chóng giục nhau lên đường kẻo trời sáng. Tất cả mấy anh em ra đi đều giấu gia đình.

     Đến lúc đó, tôi mới thực sự lo về bước đường sắp tới của mình. Biết đến bao giờ mới gặp các anh Giải phóng quân? Nếu có gặp, người tôi nhỏ thế này chắc gì các anh ấy đã nhận? Nếu không nhận, tôi biết đi đâu? Quay về làng ư? Không được, vì mấy tháng nay, tôi đã nuôi cho mình một ý nghĩ phải ra đi. Ở thị xã, tôi làm gì để kiếm sống? Không, nhất định tôi phải xin vào Giải phóng quân bằng được. Có lẽ, bốn anh em mỗi người đều theo đuổi những ý nghĩ miên man. Anh Khang đeo tay nải bước đi trước, ba chúng tôi lầm lũi theo sau, không ai nói với ai một lời.  Đằng đông ửng lên một vệt mây hồng. Sao trên trời dần tắt. Trời bắt đầu sáng.

     Xóm làng lân cận hiện ra những mái cọ lúp xúp dưới bóng tre xanh thẫm. Con sông Hồng vào độ tháng chín, nước đỏ ngầu, với sức vóc rộng dài, hung dữ. Nó chảy cuồn cuộn, liên tiếp cuộn lên từng đợt sóng lớn. Con đường Hăm Bốn như rộng thêm ra. Hai bên đường, những hàng cây nối nhau lực lưỡng. Cây me lá xanh rợp mát, cây phượng đã qua mùa thắp lửa, chìa ra một loạt quả gầy khô. Chưa bao giờ tôi thấy đất trời cao rộng đến thế. Toàn tâm trí tôi bị cuốn hút vào thực tại, vào cảnh trù phú của miền quê trung du yêu dấu. Chính phong cảnh giàu đẹp, trù phú này đã nhói lên trong tôi một câu hỏi: Tại sao, những cánh đồng tươi tốt, những bãi sông đầy mía và chuối kia không nuôi sống được con người?


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 08:48:13 pm
     Càng gần tới thị xã Phú Thọ, tôi càng gặp nhiều tốp người ăn mặc rách rưới, gồng gánh kẻo nhau đi. Nhiều người trèo lên cả cây phượng hái quả nhai rau ráu. Không cần hỏi, tôi cũng biết đó là những người ăn xin. Về phía chúng tôi, bề ngoài cũng chẳng khác gì họ, cũng tay xách, nách mang, cũng vẻ mặt phờ phạc, mệt nhọc. Chỉ có điều, họ và chúng tôi mục đích khác nhau: Họ đi ăn xin tạm kiếm sống cho mình. Còn chúng tôi đi với ước mong xóa bỏ kiếp người đói khổ.

     Đoàn người ăn xin cứ đông lại dần, không hiểu thị xã Phú Thọ có gì bảo đảm nuôi sống họ mà họ kéo nhau lên đông như vậy. Lúc đầu, thấy một chiếc xe chở đầy người chết đi từ thị xã về phía Hạ Thạch, tôi đã hoảng, sau lại thấy bốn năm xe nữa. Những người đẩy xe gầy nhẳng, bịt khăn kín miệng, chốc chốc lại thở phậm phì. Không biết vì sao họ chết nhiều đến thế. Câu hỏi này được trả lời sau khi tôi đã đặt chân vào thị xã.

    Chúng tôi vừa ngồi vào một quán ăn nhỏ, mụ bán hàng béo mũm mĩm đã vội xua té:

     - Ra ngay! Các anh ra khỏi hàng tôi ngay!

     Chẳng hiểu có chuyện gì chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, chủ quán lại thét lên the thé:

     - Các anh là những kẻ ăn quỵt chứ làm gì có tiền mà nghênh ngang vào đây.

    - Bà cứ bốc cho chúng tôi mỗi người một bát bún, chúng tôi sẽ trả tiền trước khi ăn - vừa nói anh Phẩm vừa rút tiền đặt trước mặt mụ. Một tay mụ chan nước vào bát bún, một tay mụ nhét tiền vào túi, mụ xuống giọng làm lành:

     - Thế mà tôi cứ tưởng các anh đến ăn quỵt hàng tôi như bọn hành khất cơ đấy.

     Từ thuở bé tới giờ, tôi mới được chứng kiến quang cảnh nhộn nhạo của một thị xã. Tôi đứng ngây người ngắm những dãy nhà hai, ba tầng chạy dọc phố. Mỗi nhà là một cửa hiệu trưng bầy đủ mọi thứ. Những chủ hiệu luôn mồm chào hỏi những người ăn mặc lịch sự. Dưới lòng đường: người, ngựa, xe bò, xe kéo đi lại nhộn nhịp. Có những người có vẻ sang trọng, nhưng vô vàn người rách rưới, bê tha. Có tốp người gồng gánh đi mải miết. Lại có tốp người chìa tay xin tiền, hoặc nhặt bã mía, lá bánh. Có những người chẳng nói năng gì, chỉ đứng trước cửa hàng ăn nhìn hau háu vào đ a cơm, bát phở. Chợt có tiếng kêu thất thanh:

     - Bắt hộ tôi thằng ăn cướp, các ông, các bà ơi. Một cậu bé vừa cướp được một mẩu sắn luộc bị mụ bán hàng đấm vào lưng túi bụi.
Thị xã ồn ào như muốn vỡ bung ra. Nhìn vào đâu cũng thấy những người đầu tóc bù xù, chân tay ghẻ lở, luôn mồm rên rẩm:

     - Lạy ông, lạy bà, chúng con là kẻ khốn cùng. Xin ông bà rủ lòng thương xót.

     Người này xin không được vừa quay ra, người khác đã xông tới van lạy. Họ xin vét từng cái bát ăn, xin cả củ khoai, mẩu bánh hoặc cây rau cải đã úa vàng. Thương nhất là bọn trẻ con, chúng nhai từng cái lá, nhai cả từ cái bã mía người ta vừa vứt đi. Đứa kêu khóc hu hu, đứa nằm thở thoi thóp, ruồi nhặng bâu đầy. Có trời mà biết được hiện giờ nhà cửa, cha mẹ chúng ở đâu.

     Đi trên đường phố thị xã, đầu óc tôi quay cuồng, lảo đảo như lên cơn sốt. Đột nhiên có mấy tiếng hú dài càng làm tăng thêm bầu không khí náo động. Tôi giật mình thốt lên:

     - Anh Phẩm ơi! Con gì mà nó kêu to thế?

     - Mày ngốc quá! "Con tàu” chứ còn con gì nữa.

     Anh vừa nói xong thì "con tàu” đồ sộ đã lao tới. Nó thở hồng hộc như một con thú hung hãn bị trúng thương, phun ra làn khói đặc sệt. Hơi nước và bụi than phả vào mặt tôi rát rạt. Tôi đuổi theo con tàu, nhưng mới chạy được vài bước thì con tàu đã lao qua hàng chục mét. Những người ngồi trên tàu thò đầu và tay ra cửa sổ vẫy gọi:

     - Có đi Giải phóng quân không?

     - Lên đây, có đi Giải phóng quân thì lên đây!

     Anh Khang, anh Phẩm, anh Đình và tôi đều khoa chân, múa tay reo hò:

     - Hoan hô Giải phóng quân! Các anh cho bọn tôi đi theo với!

     Tôi vừa ngạc nhiên vừa xúc động, đoàn tàu đi qua rồi mà chúng tôi vẫn đứng nhìn theo hối tiếc. Ước chi đoàn tàu dừng lại để chúng tôi được đi cùng các anh.

     Chúng tôi gặp đơn vị Giải phóng quân ở dinh tỉnh trưởng cũ. Trông thấy một toán người đầu đội mũ ca-lô đang túm năm, tụm ba trên bãi cỏ, anh Khang tiến lại hỏi:

     - Chúng tôi xin nhập Giải phóng quân. Nhờ các anh chỉ giúp nơi làm thủ tục.

     Một người đầu tóc còn đỏ bụi, nét mặt chất phác, giơ bàn tay to bè vỗ vào vai anh Khang:

     - Các cậu ở quê lên đây phải không? Hay lắm, cứ có đủ sức khoẻ, khai tên tuổi rõ ràng là được vào Giải phóng quân thôi.

     Anh chỉ tay về phía căn nhà có treo lá cờ đỏ sao vàng nói tiếp:

     - Đến nhà kia, gặp cái ông gầy, có râu quai nón mà trình bày nhé?

     Chúng tôi dạ vâng răm rắp rồi kẻo nhau tới căn nhà có lá cờ đỏ Anh Khang trình bày rõ tên tuổi và nguyện vọng từng người. Tôi thấy ông râu quai nón gật đầu tỏ vẻ đồng tình. Chợt ông nhìn xoáy vào tôi, cái nhìn khiến tôi giật mình, giọng ông nói thân mật, nhẹ nhàng nhưng vẫn làm tôi sợ:

     - Chú tên là Chuông à? Tên kêu quá nhỉ, năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

     - Thưa, năm nay cháu mười sáu tuổi ạ!

     Tôi định khai tăng lên mười tám tuổi thì lại buột mồm nói mười sáu. Dường như trước mặt ông, tôi không đủ bình tĩnh để nói dối.

     - Thôi, thế thì trở về ở nhà với mẹ thêm hai năm nữa. Mười sáu tuổi, gầy guộc vậy đi theo Giải phóng quân sao được!


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 09:00:41 pm
     Nghe câu đó, tôi như người bị đẩy ra dòng nước xoáy mà chưa tìm được cách vào bờ. Mồ hôi ướt đầm trên trán, giọng tôi nói run run:

     - Em trốn nhà ra đi! Các bác cho em ở lại...

     - Trốn nhà ra đi à? Ha ha, chắc là bị ăn đòn phải không?

     - Không ạ!

     Biết mình nói năng lúng túng, vụng về, tôi nhìn anh Khang cầu cứu. Anh Khang vội đỡ lời:

     - Thưa anh! Nó trốn nhà ra đi vì nghèo khổ, muốn làm cách mạng. Nếu anh không nhận vào Giải phóng thì nó chẳng biết đi đâu, làm gì để kiếm sống. Bọn chúng em có bố đứa cùng làng với nhau, mong anh vui lòng cho nó ở lại.

     - Nhưng chú ít tuổi, thấp bằng súng thì đánh giặc sao nổi.

      -Thưa bác? Bác giao việc gì em cũng làm được ạ!

     Dường như người có râu quai nón vẫn còn đắn đo, do dự. Chúng tôi nhìn ông, chờ đợi câu trả lời thì ông nói lảng sang việc khác:

     - Đi đường xa về đây chắc các đồng chí đói rồi. Bây giờ hãy nghỉ ngơi ăn cơm chiều ở đây. Việc này tôi phải bàn thêm với ban chỉ huy đã nhé.

     Tôi không ngờ nguyện vọng của tôi được chấp nhận dễ dàng đến thế. Cơm nước xong xuôi, chúng tôi được phát quân trang và sắp xếp ở ngay. Người có râu quai nón nói đây là nơi nhận quân, chỗ ở chỉ là tạm thời. ông còn phân bua: "Cơm nhà binh độn nhiều ngô vì phải dồn gạo về các nơi cứu đói“.

     Đội chiếc mũ ca-lô lên đầu, tôi có cảm giác như mình đang nằm mơ. Có lẽ nào sự việc lại diễn biến nhanh chóng đến thế được, chiều qua tôi còn ở nhà chiều nay tôi đã là anh Giải phóng. Anh Khang, anh Phẩm đều bình luận: Thằng Chuông đội mũ ca-lô vào trông lớn hẳn ra. Tôi rút chiếc gương con ở túi, soi đi soi lại, ngắm mãi mình mà không chán mắt. Ô! Anh Khang nói đúng, tôi lớn lên thật rồi.

     Bỗng nhiên, tôi nhớ về câu chuyện bà tôi đã kể bên bếp lửa thuở nào. Đó là đêm mùa đông gió buốt, tôi nép và lòng bà để nghe rõ những lời rì rầm, chậm rãi:

     Ngày xưa, có một chàng trai sống một cuộc đã nghèo khổ, bỏ làng ra đi mong tìm gặp chân trời. Chàng trai ấy ngây thơ nghĩ rằng, ở nơi đó có cung điện, đền đài không cần xây vẫn mọc lên, có loài cây toàn ra trái bạc, trái vàng, có dòng sông chảy ra sữa ngọt. . . Nghĩa là ở chân trời mọi thứ đều có sẵn, con người không phải đổ mồ hôi, đổ máu để sinh tồn. Chàng trai hy vọng tìm cho mình cảnh sống giàu sang sung sướng.

     Chiếc bị vừng nặng trên vai, chàng trai rải dọc đường đi mỗi ngày một hạt. Đi qua mùa xuân rồi đến mùa đông, năm này qua năm khác những hạt vừng để dấu dọc đường đã mọc thành cây vừng, cây vừng lại mọc thành mùa vừng, người đó vẫn ra đi và đi mãi. Chợt có tiếng hú rùng rợn từ vách đá vọng xuống :

     - Này, ông lão kia ơ! Hãy dừng lại. Chân trời lão mơ tưởng không bao giờ có được đâu.

     Chàng trai giật mình: Tại sao? Có ai gọi ta là ông lão. Đến một dòng suối xanh biếc, chàng trai soi bóng mình xuống đó, thì chao ôi: mái tóc khi nào còn xanh đã bạc trắng tự bao giờ. . .


     Ngày nay, tôi cũng đi để tìm gặp chân trời. Tôi cũng đói khổ, rời làng như chàng trai ngày xưa, nhưng tôi không đi để tìm riêng cho mình cuộc đời sung sướng. Tôi đã thành Giải phóng quân. Với khẩu súng trên vai, con đường dài phía trước, tôi biết, có nhiều gian nan, vất vả và cuộc hành trình mới bắt đầu.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 09:25:18 pm
CÂU CHUYỆN NHỚ ĐỜI

     Trong đời mỗi người, ai chẳng có những kỷ niệm ấm lòng, dù chỉ một lần. Cuộc đời chiến sĩ cầm súng của tôi trên chặng đường đánh giặc, huấn luyện và xây dựng đơn vị hơn bốn mươi năm qua, có biết bao nhiêu điều đáng nhớ, đáng ghi.

     Đọc những trang sách viết về các bà mẹ Việt Nam, một kỷ niệm đẹp trong tôi bỗng thức dậy. Bởi câu chuyện này tôi vẫn không bao giờ quên.

     Ngày ấy, vào một mùa hè nắng chói chang. Quê tôi, một vùng trung du, trời cao vời vợi không một gợn mây, nóng hầm hập. Phú Thọ như gồng mình chịu cái nắng đổ lửa, trong tiếng cuốc kêu khắc khoải của mùa hè 1946 cũng như sau đó, chúng tôi chịu cái rét đến tê tái của mùa đông.

     Bấy giờ, tôi là một chiến sĩ Giải phóng quân vào tuổi mười bảy. Tuy ít tuổi đời, nhưng tôi đã có hai tuổi quân. Chi đội tôi do anh Ấn "trắng' chỉ huy. Anh ấn vốn là học sinh, nước da trắng mịn, nên bọn tôi gọi là Ấn "trắng”. Chi đội có ba trung đội Âu Cơ, Độc Lập và Quyết Thắng. Cán bộ chiến sĩ của chi đội là "Anh hùng của bốn phương tụ hội”, mũ nan, mũ ca-lô, giày ba-ta và dép lốp, đứng dưới lá cờ đỏ sao vàng.

     Chi đội là một cái nôi ấm cúng, đủ thành phân xã hội, nông dân, thợ thuyền, học sinh, thầy giáo và cả lý trưởng, lái buôn, cả lính khố xanh và khố đỏ, miễn là mỗi người đều biểu hiện được lòng yêu nước, căm thù giặc của mình sôi sục quyết tâm chiến đấu để bảo vệ chính quyền non trẻ mà nhân dân ta vừa mới giành được, bởi cuộc Cách mạng tháng Tám năm bốn lăm.

     Tôi, Sĩ và Thanh là một tổ ba người, thuộc trung đội Quyết Thắng. Tổ "tam tam" chúng tôi thân nhau hơn anh em ruột thịt, thương nhau hết lòng. Sĩ và Thanh hơn tôi ba, bốn tuổi. Tuy vậy ba chúng tôi đều "bằng vai phải lứa", xưng là cậu, tớ hoặc mày, tao. Quê Sĩ ở Bến Then, quê Thanh ở Thanh Cù, quê tôi ở Thượng Nung. Sĩ là học sinh, Thanh xuất thân là nông dân nhưng học khá. Chỉ có tôi nhà nghèo quá, nên học được ít.

     Cách mạng thành công rồi, tôi đã trở thành một chiến sĩ Giải phóng quân, nên sự ham mê học chữ chẳng kém gì người đói thèm cơm, người khát thèm nước. Tôi tranh thủ nhờ Sĩ và các anh Côn, Xuân, người trong trung đội, là thầy giáo cũ dạy thêm, có lúc dùng phấn viết lên cánh cửa, hết phấn dùng than, rồi lấy que "viết" lên nền đất, cốt sao luyện chữ cho đẹp và làm toán cho thông. Với lại, tôi còn dấu một nỗi niềm thầm kín của mình, là ở quê, tôi có người bạn gái tên là Lý. Tôi muốn viết những lá thư để bộc lộ lòng mình. Mà những lá thư ấy sao cho Lý đọc rồi không thể quên được. Từ ngày tôi đi Giải phóng quân, Lý đã gửi cho tôi ba, bốn thư, thư nào Lý cũng nói lên nỗi nhớ mong, chờ đợi và say đắm. Tôi còn nhớ lần ấy viết thư cho tôi, Lý đã ghi mấy câu thơ nôm na nhưng rất xúc động:

Bạn ơi , từ thuở phân kỳ
Người thì ở lại, kẻ đi sa trường
Riêng lòng em vẫn mơ màng
Tim em vẫn giữ bạn vàng chẳng khuây
Tuy rằng xa cách bấy nay
Lòng em chẳng lúc nào khuây nhớ mình.

     Gần hết tuổi 17, sắp bước sang tuổi 18, cái tuổi đẹp nhất của anh Giải phóng quân, cái tuổi chớm yêu và đi xa là nhớ, là mong, là nhiều đêm thao thức, càng thôi thúc tôi quyết tâm học chữ.

     Lần ấy, ban chỉ huy chi đội cử tôi đi đưa thư cho các đơn vị đóng quân quanh vùng đồi gần đấy. Cuối tháng 6, trời nắng chang chang, hoa phượng vào hè đỏ lửa. Tôi đi qua những đồi cọ xanh, những nương chè xanh trải ven bờ sông Hồng đỏ lự. Mỗi vùng quê đều có vẻ đẹp riêng của mình, quê tôi sau này là Vĩnh Phú, nơi đất tổ Hùng Vương, "thủ đô" của cọ và cũng là một trong những kho chè của cả nước. Tôi không dám nói nhiều về cọ nhưng nếu thiếu những tán lá như "Mặt trời xanh” thì tầm mắt nhìn sẽ nhức nhối biết bao, nhiều khi nắng tràn như đổ lửa. Các nương chè bám lấy sườn đồi nâng dần tấm thảm lên cao, góp một màu quê quen thuộc, làm thành bức tranh trung du ấm mắt.

     Men theo bờ sông Hồng, tôi đi mải miết, dòng sông chảy xuôi về phía Hà Nội, còn tôi đi ngược về phía Phú Thọ. Hành trang của người lính cách mạng chỉ có chiếc ba lô lép kẹp, trong đó có vài bộ quần áo màu nâu đã phai, màu lá cây đã nhạt, đầu đội mũ ca-lô tím, dính ngôi sao vàng, chân đi đôi dép cao su trắng, vai khoác khẩu súng trường, quần buộc túm nơi ống chân, một chiếc dây da to bản thắt ngang lưng, rõ ràng tôi đã là một anh Giải phóng quân rất có tư thế.

     Tôi cứ ung dung hành quân một mình. Đã đến thị xã Phú Thọ, đường phố ngập hoa phượng đỏ. Tôi có cảm tưởng như con đường được trải bằng than đỏ hàng ki-lô- mét. Tiếng chim cu gù trên cành xoan trong các vườn nhà. Tiếng trẻ con đùa vui trên đường phố. Đây đó tiếng rao hàng, tiếng còi xe làm cho cái thị xã nhỏ thêm náo nhiệt.

     Tôi ngồi nghỉ dưới gốc một cây phượng to, nhìn hoa phượng rụng đầy, tôi nhặt một bông hoa, bứt mấy cánh ăn có mùi vị chua chua, thì ra loại hoa này ăn được, cũng đỡ khát nước. Chuyến đi này trong túi tôi chỉ có ba xu, không hơn không kém. Vì ít tiền nên khi nào khát nước, tôi ghé vào các ngôi nhà ven đường xin nước lã uống. Là một chàng trai thôn quê, nên uống nước lã quen, cứ nốc hàng gáo, chẳng đau bụng đau bão gì. Ba xu lúc đó với tôi quý lắm, cắt cái tóc đúng kiểu chỉ mất có hai xu, nếu gặp người quen, thì chỉ mất một xu rưỡi. Bởi vậy tôi giữ ba đồng xu ấy, không ăn quà bánh, uống nước ở dọc đường.

      Nghỉ một lát, tôi lại đeo ba lô, vác súng thủng thẳng bước, trời nắng dữ, vừa đói vừa khát nước. Tôi đã đến Khải Xuân, một quán hàng nho nhỏ nấp dưới một bóng cây cổ thụ. Tôi đứng xa nhìn vào, thấy trên bàn gỗ mộc có mấy lọ kẹo vừng, kẹo lạc và dăm cái bát uống nước. Một bà trạc gần 50 tuổi ngồi bán hàng, tôi cú phân vân, có vào hay không, nếu vào có uống nước, ăn kẹo không? Cuối cùng tôi tặc lưỡi cứ vào ngồi nghỉ chân cái đã. Trong quán đã có người đang ngồi uống nước, ăn kẹo, tiếng điếu cày nghe giòn tan. Tôi cầm cái bát màu men đã ngả màu vàng, lật ngửa bát lên và nói từ tốn: Con xin mẹ bát nước. Bà chủ quán múc cho tôi một bát nước chè xanh bằng cái gáo dừa nhỏ. Hai tay bưng bát nước, tôi uống từng ngụm ngon lành. Chà! Ngon quá! Chè xanh Phú Thọ có thể liệt vào loại đặc
sản hiếm hoi, vị chát mà lại hơi ngon ngọt, uống đến đâu nghe mát ruột đến đó, cứ là tỉnh cả người ra và hình như đỡ mệt mỏi sau một chặng đường dài. Uống gần hết bát nước, tôi nhìn lọ kẹo vừng như nhìn vào một điểm ngắm phía trước mũi súng. Phải nói là tôi thèm, nhưng phải tính toán ăn mấy xu thì vừa. Một xu được mười một chiếc, không hiểu sao, lại không phải mười hoặc một tá để tròn mười hai chiếc.

     - Mẹ cho con một xu kẹo vừng - Tôi nói với bà chủ quán. Bà thong thả lấy đôi đũa tre gắp mười một chiếc kẹo ra đĩa, những chiếc kẹo nhỏ, rắn, chi chít hạt vừng bám ở ngoài. Tôi nhón một chiếc đưa lên miệng, sau một tiếng "cắc” nghe giòn tan, một vị bùi không thể tả được, ngấm vào từng chân răng, ngọt xớt. Cứ thong thả ăn từng chiếc một, loáng cái đĩa kẹo hết nhẵn. Vẫn còn thèm nhưng không dám ăn thêm. Trả một xu kẹo, trong túi chỉ còn có hai xu. Như vậy là "lưng vốn” quá mỏng rồi, tôi đứng dậy, loay hoay tìm tiền để trả. Lúng túng thế nào, mũi súng chạm vào lọ kẹo vừng, rồi nghe "choang” một cái, lọ kẹo rơi từ bàn xuống vỡ làm mấy mảnh. Thật là một tình huống bất ngờ, tình huống này đầy chất bi kịch. Tôi đứng nhìn lọ kẹo vỡ, chưa biết làm gì vì đột ngột quá. Trong lúc ấy, bà mẹ vụt đứng dậy, vừa nhặt những chiếc kẹo rơi tứ tung, vừa lẩm bẩm: "Anh làm khổ tôi rồi, mai lấy gì đựng kẹo mà bán. Anh không biết sao, cái giống kẹo vừng có hơi gió vào là nó chảy nước, ai người ta mua. Anh lấy tiền đâu mà đền cơ chứ? Rõ là hôm nay tôi gặp rủi, không biết ai xông hàng buổi sáng nay...".


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 09:38:55 pm
    Tôi đứng như trời trồng bên chiếc ghế dài. Mấy người khách trả tiền xong rời quán, nên chỉ còn tôi với bà. Nghe bà mắng, tôi càng sợ, sợ đến bủn rủn chân tay. Tôi lo không đủ tiền đền chiếc lọ đựng kẹo bị vỡ và tôi nghĩ đến 12 điều kỷ luật của quân đội. Đánh mất cái kim của dân cũng phải đền cơ mà, huống hồ đây lại là một chiếc lọ thủy tinh hẳn hoi. Tôi lo lắng ngồi xuống ghế và cầu mong có đồng chí nào thuộc đơn vị qua đây, tôi xin tiền để đền. Và tôi quay mặt ra phía con đường vừa nhìn vừa ngó. Ngoài trời nắng đã tắt, chiều trung du đang xuống, một lúc sau đã thấy những ngọn khói bếp mấy nhà xung quanh tỏa dần lên các vòm cây cao. Sắp tối rồi. Thế là hết mọi hy vọng gặp người cùng đơn vị. Lòng tôi nặng trĩu và thú thật, lúc ấy tôi không biết mình phải làm gì. Chừng hiểu tâm trạng tôi, bà mẹ dịu dần, nhặt hết những chiếc kẹo rơi vãi cho vào một chiếc bình khác, rồi mẹ ngồi xuống ghế im lặng. Tôi đang lo một sự căng thẳng bao trùm lên chiếc quán nhỏ, bỗng nhiên mẹ hỏi tôi:

     - Quê anh ở đâu, đơn vị anh đóng quân gần hay xa?

     Tôi nghĩ câu hỏi của bà mẹ có lẽ là lời giải thoát cho mình khỏi tình trạng nan giải này, nên vừa mừng thầm trong bụng, vừa tìm cách trả lời sao cho không khí nhẹ nhàng, ấm áp.

      - Quê con ở Thượng Nung, cách đây không xa lắm. Nhà con nghèo, làm ruộng không đủ ăn, phải vỡ đồi trồng thêm sắn. Đơn vị con đóng quân gần đây thôi, đi khoảng ba bốn tiếng đồng hồ là đến.

      - Chiếc lọ kẹo đã vỡ rồi - Bà mẹ nói thủng thẳng – Tôi cũng không bắt đền anh đâu, các anh đi Giải phóng lấy tiền đâu mà đền. Lúc nãy, tôi nóng nói hơi quá lời, anh thông cảm. Nói thật, nhìn anh tôi biết, có lẽ anh còn kém tuổi con gái đầu lòng của tôi.

     Nghe bà mẹ nói, tôi mừng quá, nhưng vẫn áy náy, uống một bát nước, ăn một xu kẹo để rồi đánh vỡ chiếc lọ, thật là phiền phức. Tôi ngồi lặng im ngẫm nghĩ. Lúc ấy trời tối sẩm, muốn đứng dậy rời khỏi chiếc quán nhỏ, nhưng dùng dằng mãi, đắn đo mãi tôi chưa đứng lên được.

     Trong nhà, cô con gái lớn đã dọn cơm. Nghe bà mẹ gọi con, tôi biết tên cô là Tách, cô còn một em trai chừng tám, chín tuổi gì đó, em đang bưng nồi cơm từ bếp lên.

     Lúc ấy ông chồng bà cũng đã về. Ông là một nông dân thực thụ, khoảng ngoài 50 tuổi nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn, rắn rỏi. Qua câu chuyện tôi biết gia đình ông từ thị xã Phú Thọ tản cư về đây. Bà mở chiếc quán nhỏ để có đồng ra đồng vào. ông vào núi Thắm vỡ đất làm vườn. Chắc là bà đã nói với ông về "sự kiện" chiếc lọ, nên ông nhìn tôi cười có vẻ thông cảm.

     - Thôi anh à, chuyện nhỏ, mà nhân bữa cơm tối, anh ở lại ăn cơm với gia đình tôi - Ông lên tiếng mời.

     Bà mẹ nói thêm, giọng vui vẻ:

     - Cơm quê mùa thôi. Bây giờ tối rồi, anh vào ăn cơm với mẹ, với các em cho vui. Khổ, từ trưa đến giờ đói rồi còn gì.

     Tôi đáp lý nhí:

     - Con chưa đói, bây giờ con xin về.

     Thật ra, tôi đã đói cồn cào. Nhìn vào mâm cơm toàn những món "hấp dẫn”, có một bát canh suông, một đĩa cà pháo, một đĩa cá diếc kho béo vàng. Nhưng không thể ở lại vì nhiều lẽ. Đánh vỡ chiếc lọ chưa có tiền đền, ăn xong bữa cơm, trời khuya khoắt ngủ lại không được, mà về thì trời càng tối đặc. Với lại biết lòng bà mẹ và gia đình rất tốt, bà đã xem tôi như con, tôi không muốn lợi dụng lòng tốt đó, chỉ mong sao có dịp thuận lợi khác sẽ đến thăm bà mẹ và gia đình.

*
*      *


     Tôi chào ông bà và cô Tách, em bé rồi bước ra đường. Trời tối nhưng có sao lưa thưa, tôi khoác cây súng đi trong đêm trung du mịt mùng. Lòng vừa vui vừa buồn, gió đêm mát rượi, tôi mở khuy áo ngực, hăm hở bước…

      Về đến nhà chị Quế khoảng 9 giờ tối, tôi đói mềm. Dạo ấy, các đơn vị bộ đội đều đóng ở nhà dân. Tổ "tam tam" của tôi ở nhà chị. Anh chị quý mến chúng tôi như các em của mình. Tôi vừa đặt ba lô xuống chiếc chõng tre vừa kêu: "Đói quá". Chị Quế đang lúi húi dọn dẹp, nghe tôi kêu đói liền bảo: "Ở dưới bếp có khoai luộc, em xuống lấy mà ăn, gạo cũng còn, em chịu khó thổi cơm ăn cho no bụng, có tép rang khô đấy!".

     Tôi vừa ăn khoai vừa kể "sự kiện lọ kẹo" cho cả nhà nghe. Sĩ, Thanh và anh chị Quế đều rất thông cảm. Chị Quế nói: "Nhà vừa bán con lợn, chị cho em hai hào mà đền”. Sau đó Thanh về nhà xin tiền, cho tôi ba hào nữa. Vậy là tôi giàu to, từ ba xu bỗng nhiên có tới năm hào, mà năm 1946 trong túi có năm hào phải nói là giàu chứ lị. Tôi nghĩ đến việc đền chiếc lọ bị vỡ. Đền tức là mình giữ vững 12 điều kỷ luật của quân đội. Với lại, sau này có cơ sở mà đi về, mình không có điều gì phải ngượng ngập, băn khoăn.

     Cả tổ nhất trí cử Thanh cầm tiền đi đền. Thanh ăn mặc chỉnh tề, vừa bảnh mắt đã lên đường. Chuyến đi này, Thanh có nhiệm vụ khá nặng nề. Thanh phải nói thế nào cho bà mẹ nhận tiền đền bù, lại phải giữ mối quan hệ tốt đẹp của tình quân dân.

     Đến nơi, nhà "lý luận" Thanh nói rất khéo. Anh nói với bà mẹ: "Nhà thằng Chuông rất nghèo, nó trốn nhà vào quân Giải phóng năm 16 tuổi. Chuông chăm học, ngoan nết và chịu khó. Nó ở nhà chị Quế, làm đủ việc: quét nhà, gánh nước, chẻ củi, không nề hà việc gì. Cả trung đội đều quý, đều thương nó. Sau việc đánh vỡ chiếc lọ đựng kẹo, nó áy náy băn khoăn mãi…" .

     Rồi Thanh nói đến chuyện xin đền lọ kẹo vỡ. Bà mẹ cười to, xua tay:

     - Ai bảo các anh đem tiền đến, đền với chùa cái gì? Hôm trước tôi nóng, nói vài câu thế thôi, chứ có để bụng để dạ gì đâu, các anh đánh giặc, máu xương còn chẳng tiếc nữa là. . .

     Hôm ấy, không biết bà mẹ mời chào thế nào mà Thanh ở lại ăn cơm đến chiều mới về. Khi về, cậu ta lại có bao thuốc lá Hoa Lư - loại thuốc ngon lúc bấy giờ, mời anh em hút. Thì ra, chuyện gì cũng có căn nguyên của nó cả, vấn đề quan trọng là do cô Tách, con gái cưng của bà mẹ "đạo diễn”. Cô nói nhỏ với bà mẹ: Mời anh ấy ở lại ăn cơm trưa, vì câu chuyện lọ kẹo còn dài. Bà mẹ mỉm cười, gật đầu. Vậy là Tách có dịp làm quen với Thanh. Năm ấy Thanh chừng 22, 23 tuổi. Cô Tách vừa tròn 20 tuổi. Về tuổi mà nói thì đẹp đôi rồi, còn tính nết, Thanh chân thật, thẳng thắn, anh nói chuyện có duyên và hát khá hay.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 09:46:18 pm
      Thời ấy hình ảnh anh Giải phóng quân là một hình ảnh đẹp. Vẻ đẹp trước hết là ở đức tính hy sinh, sự chịu đựng gian khổ và quyết tâm chiến đấu không lùi bước trước bất cứ khó khăn, trở lực nào. Đôi vai người lính bấy giờ gánh rất nặng: Gánh sông núi, rừng biển, đồi nương, đồng ruộng, gánh cả vận mệnh dân tộc nữa. Nhưng mà tâm hồn trong sáng, tấm lòng thanh thản và vui nhộn, yêu đời ăn đói vẫn hành quân dẻo dai, thiếu súng dùng gậy tập luyện, đêm mưa nằm kể chuyện quê nhà, tối nào có trăng thì ngồi thành mấy vòng vỗ tay mà hát.

     Trung đội Quyết Thắng của tôi có mấy giọng nam vào loại nghe được, nên càng ham học hát. Những là "Anh em trong đoàn quân du kích", "Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi”, rồi sang "Đời sống mới" có khi cao hứng hát "Em cứ đợi anh vê”. Thanh là một ca sĩ của đơn vị. Tôi nghĩ cô Tách yêu Thanh về đức tính đẹp, cũng có thể cả giọng hát hay của anh. Thanh và Tách đến với nhau, quả là một mối tình đẹp, nên bọn tôi hết sức vun vào. Tình quân dân, tình bạn, tình yêu hòa quyện vào nhau càng thêm bền vững càng thêm sáng trong. Nghĩ về Thanh, về bà mẹ nơi quán nhỏ, tôi lại nhớ về gia đình mình, nhớ Lý, nhớ làng quê Thượng Nung, chân lấm tay bùn. Mẹ tôi năm ấy đã già, người nhỏ nhắn nhưng ít ốm đau. Bà bám ruộng bám đồi, cấy cày, vun xới từ lúc mặt trời còn chưa mọc cho đến lúc mặt trời lặn. Với tôi, bà là một tấm gương lao động không sao có thể nói được đầy đủ về những giọt mồ hôi của bà, về tấm áo rách, về đòn gánh mòn vai, về chiếc quạt mo bà đập muỗi những đêm trở trời, trái gió.

      Bà mẹ nơi quán nhỏ ven đường, cũng như bà mẹ sinh ra tôi có một nét giống nhau, ấy là tấm lòng cưu mang, độ lượng, thương người. Tấm lòng ấy làm sáng tỏ, dầy dạn thêm những đức tính tốt đẹp của các bà mẹ Việt Nam. Mong bạn đọc thông cảm để tôi được dẫn ra một việc nhỏ:

     Năm tôi mười tuổi, mẹ tôi bảo tôi bưng nồi canh cua từ bếp ra, loáng quáng thế nào bị vấp, tôi đánh đổ gần hết nồi canh. Mẹ tôi nhìn cái nồi không rồi dịu dàng: "Có bị bỏng không con?". Lúc đó, tôi chỉ còn biết đứng trân trân nhìn mẹ, rồi ứa hai hàng nước mắt, nghẹn ngào. . .


      Tổ "tam tam" chúng tôi còn có anh chàng Cư Sĩ, Sĩ lực lưỡng, một học sinh chính cống, nói ít nhưng hay cười, luyện tập các khoa mục về quân sự. Sĩ tập như trâu lăn. Nắng, Sĩ để đầu trần tập bò, tập chạy. Mưa, không cần mũ, Sĩ chạy băng băng lên đồi luyện động tác xung phong, truy kích. Không biết "duyên trời" thế nào mà Sĩ yêu Kim Phương, cô gái quê Bến Then "xinh nhất hội”. Kim Phương yêu Sĩ, giúp Sĩ và tổ "tam tam' chúng tôi được nhiều việc. Thỉnh thoảng, cô mời cả tổ đến nhà chơi. Chúng tôi được ăn những bữa cơm ngon và tráng miệng khi thì quả chuối, khi thì múi bưởi Đoàn Hùng. Vậy là "gia đình nhỏ" của chúng tôi gồm năm người tôi, Sĩ, Thanh, Tách và Kim Phương.

      Cuối năm 1946, tôi được ban chỉ huy chi đội cử đi học trường Hoàng Hữu Nam, khóa đào tạo cán bộ tiểu đội, trung đội. Sau sáu tháng tôi trở về đơn vị - chiếc nôi ấm của tình đồng đội gắn bó keo sơn.

      Năm 1947, giặc Pháp đánh nống ra vùng núi lửa. Chúng đánh lên Tây Bắc trên đường từ Phong Thổ, Lai Châu xuống Sơn La, Nghĩa Lộ và đồng bằng Yên Bái. Hướng Phòng Tô, chúng chiếm Sa Pa, Lào Cai, Bắc Hà; hướng Hà Giang, chúng kết hợp với Phỉ, tàu Tưởng chiếm Hoàng Su Phì, Bắc Quang. Cuộc chiến đấu của quân và dân ta cùng đồng bào các dân tộc vô cùng gian khổ, khó khăn. Theo lời Đảng, Bác Hồ, quyết tâm đánh giặc Pháp, tất cả đứng lên bảo vệ nền độc lập ta vừa giành được, không lùi bước trước thử thách hiểm nguy. Bọn giặc đến đâu chỉ gặp vườn không nhà trống. Thị xã Phú Thọ đang tiêu thổ kháng chiến, những ngôi nhà đã bị phá, đường phố dựng chướng ngại vật khắp nơi. Lực lượng vũ trang của ta chỉ để một số đơn vị chủ lực, đánh ngăn chặn địch, còn tổ chức đại đội độc lập luồn sâu vào hậu phương địch, vừa đánh địch vừa xây dựng cơ sở, bám dân, bám đất, kết hợp đánh từ trong ra ngoài và đánh từ ngoài vào trong. Kẻ địch càng lúng túng, chúng đã phải nếm nhiều đòn đau.

      Thời gian tôi đi học trở về thì tổ ba người được cấp trên phân công mỗi người đi một hướng. Chúng tôi đã trưởng thành, tất cả đều là cán bộ tiểu đội, cùng ở một trung đội. Thanh được phân công lên hướng Lào Cai, Bắc Hà, Sĩ đi hướng Hà Giang. Tôi đi hướng Nghĩa Lộ, Gia
Hội, Tú Lệ nên ít được gặp nhau. Thỉnh thoảng mới nhận được thư của nhau. Mùa thu năm 1949, các đại đội độc lập ở các ngả kẻo về tập trung thành đơn vị chủ lực. Đây là một bước trưởng thành của đơn vị chúng tôi. Ba anh em chúng tôi lại gặp nhau, cùng ở trung đoàn 165, đều được cấp trên giao phụ trách trung đội. Chúng tôi bắt tay vào xây dựng đơn vị, ra sức huấn luyện theo chương trình mới. Sau đó, đơn vị chúng tôi đã giải phóng được Bắc Hà, Lào Cai. Hoàn thành nhiệm vụ nặng nề cấp trên giao cho, đơn vị chúng tôi lại cơ động về Vĩnh Phúc, chuẩn bị chiến dịch Hòa Bình năm 1952.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 10:12:42 pm
     Câu chuyện quanh chiếc lọ đựng kẹo bị vỡ' chưa kết thúc, nó còn phần hai - cái phần ta thường gọi là đoạn kết. Bởi vậy, tôi xin được kể tiếp câu chuyện này.

     Khi vào chiến dịch Hòa Bình, Sĩ và tôi đều đứng trong đội ngũ những người ra trận. Đây là một trận đánh lớn, cũng là lần đầu tiên chúng tôi được dự một chiến dịch có tầm quan trọng đặc biệt. ý nghĩa của chiến thắng Hòa Bình, các báo chí, sách vở và Đài tiếng nói Việt Nam đã nêu rõ, đồng thời từ trong khói lửa chúng tôi đã rút ra được những bài học quý báu và bổ ích.

     Về phần chúng tôi, những người lính chiến, được dự chiến dịch này là một phần vinh dự lớn. Lúc ấy tôi là trung đội trưởng, chỉ huy hơn 30 chiến sĩ trẻ măng, lần đầu tiên từ miền rừng núi về đồng bằng Sơn Tây. Tuy địa hình ở đây vẫn phảng phất nét trung du, nhưng cái "hồn” đồng bằng của nó làm chúng tôi choáng ngợp. Những chân ruộng như ô cờ trải bạt ngàn quanh các làng quê trù phú. Súng đạn giặc giã thế mà những cánh cò vẫn lả lơi. Mỗi buổi chiều, chúng tôi ngồi dưới lùm tre làng nhìn ra, từng đàn cò bay là là trên đồng lúa, hệt như một đám mây trắng lơ lửng trôi. Và chim sáo nhiều vô kể. Quanh ngọn Ba Vì, từng đàn sáo sà xuống đậu trên lưng bò, sừng trâu, ríu ra ríu rít.

     "Tiến về đồng bằng” không chỉ là một câu trong bài hát, mà nó còn chứng tỏ sự trưởng thành của quân đội ta cũng như trình độ tác chiến của các đơn vị chủ lực. Đơn vị tôi đánh trận phục kích và đánh vận động ở xóm Nội, quãng giữa đá Chông và núi Chẹ, tiêu diệt điểm cao 400-600 trên mỏm núi Ba Vì. Trận này, lần đầu tiên chúng tôi giáp mặt với xe tăng Pháp, quần nhau với giặc ba tiếng đồng hồ, cuối cùng đánh quỵ cả xe tăng. Giặc núng thế, giả vờ giơ tay hàng. Một tiểu đội ta tiến lên để tước súng, giặc bắn lại liền. Bên ta hy sinh mấy đồng chí. Trận này chúng tôi chịu một nỗi đau xé ruột: Cư Sĩ, trung đội phó hy sinh. Trận xóm Nội, Ba Vì, Sĩ ngã xuống giữa bom đạn chiến trường. Anh còn trẻ quá, mới khoảng 26 tuổi đời. Điều an ủi Sĩ và cho cả chúng tôi là trước chiến dịch này, Sĩ được về phép mấy ngày. Những ngày tranh thủ ấy, Kim Phương đã có tin mừng. Sau ngày anh hy sinh, một bé gái ra đời, cháu không biết mặt bố, người thân yêu nhất của cháu là bà mẹ trẻ Kim Phương, rồi đến chúng tôi: Bác Thanh và chú Nguyễn Chuông.

     Sau này mỗi lần đi qua xóm Nội, chúng tôi lại nhớ Cư Sĩ khôn nguôi. Chính chỗ này đây, chính cái xóm Nội này đây, người chồng thương yêu của Kim Phương, người đồng đội thân thương tin cậy của chúng tôi đã ngã xuống, không bao giờ trở lại. Xúc động trước cái chết của Cư Sĩ, tôi làm mấy câu vè. Tuy chữ nghĩa ít, nhưng tôi thích làm ca dao, hò vè, cũng có lúc cao hứng tôi làm thơ nữa. Tôi nghiệm ra một điều: Cái gì gây cho mình xúc động, hưng phấn thì dễ bật thành lời, thành những câu có vần, vả lại, tôi làm để ghi vào sổ tay, dán lên báo tường, nên cứ hồn nhiên mà "sáng tác", cất sao giữ lại những kỷ niệm sâu sắc trong đời mình.

     Ba mươi năm đã trôi qua, bây giờ tôi vẫn nhớ những vần thơ - vè ấy:

    Trận xóm Nội tôi còn nhớ mãi
Hôm nay người sông kể lại tình thương
Thương anh Sĩ, Huệ, Thiết, Ba
Lại cả Lưu, Lư, Ninh
Hôm nay tôi còn sống một mình
Ghi vào chỗ lòng tôi thương tiếc...

     Đánh trận đầu của chiến dịch này, đơn vị tôi đã giành được một thắng lợi vang dội, tiêu diệt một đơn vị thiện chiến của đội quân viễn chinh Pháp, phá hủy được xe tăng, bắt sống Tây râu xồm. Sau trận này, tôi được đề bạt lên đại đội phó. Nghĩ về đồng đội hy sinh, tôi càng thấy trách nhiệm nặng nề của mình.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 10:24:24 pm
     Từ ngày tôi theo Đảng và Bác Hồ, đến tuổi 23 là đảng viên Cộng sản, là cán bộ đại đội, tôi đã có những nhận thức về quyền sống của con người, về sự bất công của xã hội cũ, về mục tiêu chiến đấu, về con đường đi tới của dân tộc Việt Nam. Là một chiến sĩ Giải phóng quân, cầm súng chiến đấu, tôi và anh em đồng đội đều tự hào mình là những chiến sĩ trung kiên của nhân dân.

     Bây giờ đánh thắng trận trên dãy Ba Vì, nghĩ lại ở làng dưới chân núi, tôi thấy lòng mình phấn khởi, tự hát thầm mấy lời. Cũng như hồi nhỏ, hát ví một cách tự nhiên, không thành đầu thành cuối, những câu có vần và không có vần.

     Thú thực với các bạn, một nốt nhạc tôi cũng không biết mà hát cũng vào loại xoàng. Trong những buổi học hát ở trung đội, tôi thường vỗ tay theo, hát với giọng khê nồng của anh nghiện thuốc lào. Thế mà tôi lại muốn làm một bài hát kỷ niệm trận đánh thắng ở Ba Vì của đơn vị.

     Tôi ngồi dậy rít một điếu thuốc, tiếng điếu cày kêu róc róc, nghe đến vui tai. Tôi gõ tay vào thành chõng nghêu ngao vài câu mở đầu, rỗi bỗng nhiên những câu sau tuôn chảy, tôi hưng phấn hát to lên:

Ba Vì ngất cao
Quanh mình quê hương ngát thơm đồng lúa
Có anh du kích gác trên nương
Nhìn về xóm vắng xa
Một chiều đông tới
Âm vang tiếng mìn bên rừng diệt thù
Xóm làng hân hoan biết bao niềm vui...

     Bài hát do một người "mù nhạc" cao hứng sáng tác, không ngờ được anh em thêm bớt câu chữ, tự nghĩ ra giai điệu trở thành bài ca "Ba Vì ngất cao. Quanh mình quê hương ngát thơm đồng lúa...". Tiếng hát cất lên khỏe như nhịp bước, mát như ngọn gió, đơn vị tôi hào hứng hát vang trong những đêm trú quân dưới chân núi cao xanh kia.

     Chiến dịch Hòa Bình kết thúc, chúng tôi lại hành quân lên Việt Bắc rồi Tây Bắc - những vùng núi non trùng điệp những vùng sông suối dọc ngang. Ở đâu cũng in dấu chân của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn Chiến Thắng. Trước khi vào chiến dịch Điện Biên Phủ, trận đánh lịch sử chấn động địa cầu, tôi là một cán bộ tiểu đoàn. Khi một rừng cờ trắng của giặc dăng đầy thung lũng lòng chảo Điện Biên, tôi còn đang nằm tại trạm quân y dã chiến. Gần cuối trận đánh, tôi bị   thương nặng, tưởng đã vĩnh biệt đồng đội của mình. Nhưng tôi đã qua được "trận đánh hiểm nghèo" này, mang mấy vết thương trên mình, tôi trở về đơn vị - Sư đoàn 312 thân yêu. Còn Thanh vĩnh viễn nằm lại với mảnh đất Điện Biên Phủ anh hùng.

     Trước năm 1954, khoảng ba, bốn năm, gia đình tôi cũng như bà mẹ nơi quán nhỏ bặt hẳn tin tức về tôi. Những người thân ở hai mái nhà thương nhớ kia tưởng chúng tôi đã hy sinh hết rồi. "Nếu còn sống thì thằng Chuông đã về thăm gia đình, chứ tại sao lại biệt tăm tích như thể”. Bà mẹ quán nhỏ nói với cô Tách vợ Thanh những lời tâm tình trên. Sau đó cô Tách tìm ra chỗ tôi đóng quân vào mùa thu năm 1955. Chị Tách lúc ấy là một bà mẹ trẻ góa bụa. Anh Thanh hy sinh trong trận đánh ở đồi Độc Lập, Điện Biên Phủ. Tổ "tam tam" của tôi thời Giải phóng quân bây giờ chỉ còn lại có một mình tôi, hai người bạn tri kỷ, tâm giao không còn nữa, thật đau lòng biết bao nhiêu. Tách đi tìm Kim Phương, hai người vợ liệt sĩ đến với nhau, an ủi động viên nhau nuôi dạy con nhỏ.  

       Thời gian Tách đi tìm tôi, tìm Cư Sĩ, trước khi gặp tôi vào năm 1955, đó là những tháng năm đau buồn, day dứt của chị. Chị đã lên thị xã Phú Thọ, đến nhiều vùng đóng quân cũ, nhưng không dò ra manh mối gì. Chị mong gặp chúng tôi để bộc lộ nỗi lòng đau xé khi chị nghe tin anh Thanh hy sinh. Chị cũng muốn nói về bà mẹ của mình mỗi tuổi mỗi già, ngày đêm mong ngóng chúng tôi về thăm.

     Bà mẹ nơi quán nhỏ ven đường không chỉ là bà mẹ Tách và Thanh mà còn là mẹ của chúng tôi, của Cư Sĩ và Kim Phương. Bà nuôi một đàn gà chờ chúng tôi về để ăn mừng ngày quân ta thắng trận Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Bà bồn chồn lo lắng, giục chị Tách đi tìm chúng tôi. Cuộc ra đi của chị Tách có thể nói là "một cuộc hành trình đầy gian khổ…" .

      Tách gặp Kim Phương ở Bến Then, hai chị em ôm nhau khóc, bao nhiêu nỗi niềm, bao nhiêu cay đắng được thổ lộ qua câu chuyện tâm tình. Đang ở vào lứa tuổi đẹp nhất, hai chị trở thành vợ liệt sĩ, mẹ của hai cháu nhỏ. Không tìm thấy tôi, hai chị nghĩ là tôi đã chết. "Ba anh ấy lúc sống có nhau, thì khi nhắm mắt cũng có nhau”. Cuộc đời chiến sĩ cầm súng là thế, khi sống, chiến đấu hết mình, khi chết thanh thản ra đi, không kịp trối trăng một lời.

     Hai chị bàn nhau lập bàn thờ cho cả ba người, Thanh, Cư Sĩ và tôi. "Linh thiêng" làm sao, tấm ảnh chụp tổ "tam tam” năm 1947 hai chị còn giữ được. Phóng to tấm ảnh ấy, hai chị thận trọng đặt lên bàn thờ. Thắp mấy nén hương, hai chị khấn, nước mắt giàn giụa. Hai đứa bé đứng sau mẹ cũng kính cẩn vái lạy, khóc sụt sùi. Ba gian nhà lá của Kim Phương nghi ngút khói hương, không khí bỗng trầm hẳn xuống. Chiều vừa tắt nắng, lại một đêm dài đằng đẵng sắp buông phủ màn sương.

*
*     *


     Chiến trường miền Nam đang gọi, sư đoàn tôi thần tốc hành quân. Chúng tôi đánh trận Bình Dương. Tôi chỉ huy sư đoàn và các đơn vị phối thuộc chọc thẳng vào Lai Khê, thị xã Thủ Dầu Một, Phú Lợi. Đòn đánh khá mạnh, bộ binh và pháo binh hợp đồng với quân chủ lực, quân địa phương trong đội hình vào trận khiến cho sư đoàn 5 nguỵ tan tác, quy hàng. Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn tướng, Tư lệnh sư đoàn 5 dùng súng ngắn tự sát. Sư đoàn tôi trong đội hình một đạo quân lớn nhằm hướng Sài Gòn xốc tới và chiến thắng cuối cùng ta đã giành được trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

      Đơn vị tôi lật cánh trở về miền Bắc. Thật là may mắn, sư đoàn chiến thắng của tôi lại về xây dựng doanh trại trên vùng Đất Tổ - quê hương Phú Thọ thân yêu thế mà tôi vẫn chưa có một ngày về thăm lại nơi quán nhỏ năm xưa. Đó vẫn là niềm áy náy trong tôi. Một lần tôi nhận thư của một cô gái bây giờ đã là cô giáo cấp 3, con của Cư Sĩ và Kim Phương. Lá thư tâm tình cháu viết khá dài, cháu kể về gia đình, về mẹ cháu và bước trưởng thành của cháu. Gần cuối bức thư, cháu viết: "Bác Chuông ơi, xin phép bác cho cháu gọi bác là bố, bác thông cảm cho cháu vì từ lúc lọt lòng cháu không hề biết mặt bố cháu. Từ lâu lắm rồi, cháu chỉ nhìn thấy ảnh bố cháu thôi…".

     Đọc xong lá thư, tôi bưng mặt khóc. Đời tôi hơn bốn mươi năm quân ngũ, không nhớ đã khóc bao nhiêu lần. Thanh rồi Cư Sĩ ngã xuống trong kháng chiến chống Pháp. Rất nhiều đồng đội trong sư đoàn tôi đã hy sinh trên chiến trường miền Nam. Các anh ngã xuống để cho ngày hôm nay và để cho ngày mai. Mỗi giọt nước mắt nhỏ xuống, tôi vừa thấy thương tiếc, vừa cảm nhận được sự tự hào. Lá thư của cô giáo cấp 3, con gái của chị Kim Phương làm tôi xúc động.

      Vâng, tôi sẽ là người bố đỡ đầu cho cháu, góp với cháu những ý kiến bổ ích, chân thành để cháu đi tới đích cháu hằng mong muốn.
Sau chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975 một thời gian tôi thu xếp về thăm bà mẹ nơi quán nhỏ ven đường. Khi chiếc com-măng-ca lăn bánh, tôi ngồi ở ghế sau bỗng ứa nước mắt. Bà mẹ ấy nếu trời còn thương thì bây giờ cũng đã gần 90 tuổi thọ rồi. Chiếc xe lăn bánh theo những vòng cung ven đồi Phú Thọ. Trời đất thanh bình êm ả. Dòng sông Lô, nơi tôi từng đánh trận và ngâm mình, dòng nước xanh lại gợi hồn thơ trong tôi, nhưng lúc này tâm trí tôi đã dành trọn vẹn cho mái nhà một lần tôi đã đánh vỡ lọ kẹo. Đây là một kỷ niệm sâu sắc trong cuộc đời quân ngũ. Hôm nay tôi trở về với kỷ niệm ấy, với bà mẹ rộng lòng đáng kính, với bà mẹ không lúc nào quên tôi, quên Cư Sĩ, quên anh em. Xe dừng bánh, tôi mở vội cửa xe đi xuống. "Bà mẹ đang ngồi kia", tôi bỗng reo thầm. Một số cán bộ sư đoàn đi theo tôi đứng lặng trước hiên nhà. Chị Tách chạy từ dưới bếp lên, vội lau giọt mồ hôi, đứng nhìn tôi không nói nên lời. Cháu bé, con chị Tách líu ríu "Chào bác ạ! Chào bác ạ!". Tôi bước đến chỗ bà mẹ:

     - Mẹ? Con là Chuông đây, Nguyễn Chuông đây.

     Bà mẹ nắm lấy hai bàn tay tôi, không kịp nói một lời, bà khóc. Những giọt nước mắt lăn trên gò má nhăn nheo. Tôi nhìn mẹ mái tóc bạc phơ, đôi mắt đã mờ, người gầy yếu. Mẹ ngồi đó như một cây cổ thụ tỏa bóng mát cho cả nhà, cho mọi người. Một lúc sau mẹ nhìn tôi, nhìn những người đứng xung quanh, nói thều thào:

     - Chuông đấy à? Con về thăm mẹ, mẹ mừng lắm.

     Tôi mở cặp lấy ra mấy gói kẹo, bóc phong bánh dẻo mời mẹ, rồi tôi mở mấy túi kẹo vừng mời mọi người. Chị Tách ngồi trên chiếc ghế bên lối cửa xuống dưới nhà, nhìn tôi nhìn bà mẹ khẽ cười. Rồi chị đứng dậy vui vẻ:

     - Gớm, anh Chuông nhớ dai ghê? Hôm nay anh lại mời cả nhà ăn kẹo vừng, mẹ không bắt đền đâu mà lo. . .

     Mọi người phá lên cười, số anh em đi theo tôi hôm ấy đã nghe tôi kể chuyện về "lọ kẹo" nên khi chị Tách nói, mọi người càng thông cảm.

     Gần ba mươi năm gặp lại bà mẹ, tôi nói làm sao cho đủ lời. Chỉ biết rằng, tình nghĩa quân dân, qua hình ảnh bà mẹ khiến tôi suốt đời xúc động, suốt đời ghi nhớ. Sức mạnh của quân đội ta bắt nguồn từ nhiều dòng, trong đó có một dòng suối trong suốt, mát lành là tấm lòng và bàn tay các bà mẹ. Từ chiếc lọ đựng kẹo bị vỡ, tôi nghĩ nhiều về các bà mẹ chân chất, cao cả và kính yêu, suốt đời chiến binh, mặc bộ quân phục màu lá vườn nhà, tôi đã gặp nhiều bà mẹ trên những vùng quê khác nhau, mỗi bà mẹ đều đã để lại cho tôi những ấn tượng tết đẹp, những bài học cao quý, những tấm lòng nhân hậu, những câu chuyện nhớ đời.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 10:39:42 pm
LẦN ĐẦU RA TRẬN
 
     Đây là trận đánh diễn ra trên đỉnh núi Khau Co. Với tôi cũng như hầu hết anh em trong Đại đội 27 của chúng tôi, đây là trận đánh đầu tiên. Tôi và Phượng là hai chiến sĩ trẻ nhất Đại đội cho nên bỡ ngỡ và hồi hộp vô cùng. Nhưng đều thấy nó rất đỗi thiêng liêng. Bởi vì chúng tôi đã được nghe lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh và bây giờ chính là thời điểm thực hiện lời thề quyết đem xương máu để giữ gìn nền Độc lập của Tổ quốc. Thấm thoắt đã 56 năm.

     Lúc ấy giặc Pháp đông quân nhiều súng hiện đại hơn ta, có cả máy bay và pháo binh.

     Đầu năm 1947 chúng tập trung quân ở Phòng Tô, Than Uyên tỉnh Lai Châu để chuẩn bị tấn công đánh chiếm lại toàn bộ Tây Bắc, trên ba hướng:

     Cánh quân thứ nhất từ thị xã Lai Châu đánh xuống chiếm tỉnh Sơn La, Nghĩa Lộ, Quang Huy, tiến ra đồng bằng, đánh sang Yên Bái.

     Cánh quân thứ hai xuất phát từ Phòng Tô đánh chiếm Sa Pa, Lào Cai, Bắc Hà, Phố Lu Nghĩa Đô.

     Cánh thứ ba từ Than Uyên đánh chiếm dẫy núi Khau Co làm bàn đạp tấn công đánh chiếm Minh Lương, Văn Bàn, đánh ra Bảo Hà, đánh về Yên Bái.

     Tiểu đoàn Giang Hà chúng tôi đang ở Lào Cai được lệnh trên điều về chặn đánh giặc Pháp trên đãy núi Khau Co để hậu phương các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên kịp thời củng cố hậu phương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

     Tôi là chiến sĩ Trung đội 1 , Đại đội 27 . Đại đội trưởng tên là Ái Việt, Trung đội trưởng là Thiết Cương, các anh đều rất quý tôi. Hành quân từ Lào Cai xuống ga Bảo Hà, vượt sông Hồng vào Huyện Văn Bàn, chúng tôi đi dòng dã bốn ngày mới đến nơi tập kết ở xã Minh Lương, làm công tác chuẩn bị chiến đấu. Theo kế hoạch trên phổ biến, nhiệm vụ trung đội chúng tôi phải lên chiếm giữ, chặn đánh giặc
Pháp ở hai ngọn núi Khau Co cao nhất. Chúng tôi được chuẩn bị một tuần. Xã Minh Lương lúc này còn rất là bình yên thơ mộng, có con suối chảy quanh, hai bên bờ nhà sàn san sát cái nào cũng rộng, thoáng đãng. Cả tiểu đoàn đều ngủ nghỉ trong nhà, chẳng đơn vị nào phải ngủ rừng, nằm đất Xã Minh Lương lại chia thành hai bản. Bên này suối là Minh Lương Thượng. Bên kia suối gọi là Minh Lương Hạ. Làng bản đều nằm trong một thung lũng rộng mênh mông. Xung quanh, xa xa rừng núi điệp trùng, dăng kín thành một vòng bao bọc. Đồng bào dân tộc Mông trên núi cao, lưng núi là đồng bào dân tộc Mán, dưới thung lũng là đồng bào Thái. Tất cả tạo thành một quần thể nhiều dân tộc anh em chung sống lâu đời, gắn bó, hòa thuận. Tính tình cởi mở, chân chất, cần cù, dũng cảm. Đồng bào các dân tộc rất tin Cụ Hồ, thương yêu bộ đội, coi chúng tôi như con em trong nhà. Chúng tôi cũng rất tôn trọng kính yêu nhân dân. Từ đó Minh Lương trở thành căn cứ hậu phương của Tiểu đoàn, Trung đoàn và cả mặt trận. Thanh niên nam nữ trong các làng bản nô nức vào dân quân tự vệ đi dân công. Chúng tôi rất yên tâm lên đánh giặc Pháp trên đỉnh núi Khau Co.

     Khau Co là dẫy núi cao hùng vĩ đầy sương mù gió lộng, là điểm hội tụ của nhiều núi nhỏ. Chúng tôi hành quân lặn lội leo trèo từ sáng ở xã Minh Lương đến gần tối mới lên tới đỉnh Khau Co. Trên đỉnh núi chỉ có một con đường độc đạo, người, ngựa di lại được. Nhân dân hai tỉnh Lào Cai, Yên Bái muốn qua thăm nhau đều phải leo qua con đường độc đạo này. Trên đỉnh Khau Co ngày nắng ấm, trời cao lồng lộng và thoáng rộng vô cùng, phong cảnh núi, rừng thật là tươi đẹp. Đất trời xanh vời vợi, chim hót, vượn kêu đến là vui tai, lạ mắt. Cây rất nhiều loại, hoa nhiều màu. Thế nhưng, ngày giá rét thời tiết ở đây khắc nghiệt làm sao. Đêm cũng như ngày gió tranh nhau thổi, chốc chốc lại một cơn lốc khiến cỏ dạt cây nghiêng tưởng như có thể cuốn cả con người lên trời, hoặc đẩy xuống vực. Những ngày oi ả không khí khô khốc, cây cối háo nước xào xạc, các loại muỗi, vắt, ruồi vàng đến quấy nhiễu. Chúng thi nhau cắn đốt làm ai nấy ăn ngủ không yên còn gây mụn nhọt khắp tay chân. Nhưng sợ nhất vẫn là gió Khau Co. Chả thế mà nhân dân ở đây đã có câu ví: "Ruồi vàng bọ chó. . . không bằng cái gió Khau Co" . Riêng những ngày gió nồm ở Khau Co, sương buông trắng trời, kín núi, không còn phân đất trời và giới hạn ngày đêm. Sương dầy đến nỗi chúng tôi có cảm giác mình đang đi bồng bềnh trong mây. Quần áo ẩm ướt suốt ngày. Có khi hàng tuần không nhìn thấy ánh nắng mặt trời. Nhưng thế trận chúng tôi từng ngày vững chắc. Chiến hào đào sâu, công sự, ụ súng được đắp đầy, các hầm đạn, hầm ngủ, hầm cấp cứu thương binh đưa cả vào lòng đất, tránh được đạn, pháo giặc. Ai cũng yên tâm khí thế sẵn sàng, giặc Pháp đến, tin là đánh giữ được trận địa Khau Co.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 05 Tháng Mười, 2009, 10:48:23 pm
     Đầu tháng 2 năm 1947 trên thông báo: "Giặc Pháp tiến công lên Khau Co, chúng đang hành quân, các đơn vị phải tăng cường quan sát, bộ phận đi đầu chúng đã đến chân Khau Co. Máy bay giặc đang bắn phá hậu phương ở xã Minh Lương, các đơn vị phải hết sức sẵn sàng chiến đấu”.

     Đại đội 27 chúng tôi chưa phát hiện được địch. Tự nhiên tôi hồi hộp, trời không lạnh mà tay lắp đạn lên nòng cũng không bình thường, cứ lóng nga, lóng ngóng. Miệng nói như líu lại. Thực lòng tôi vẫn còn lo. Lần đầu tiên đánh nhau với giặc Pháp, tôi chưa hình dung được nó sẽ như thế nào. Máu đổ sống chết ra làm sao. Quan sát các anh trong trung đội thấy nhiều người bình tĩnh lắm còn bảo nhau "Chúng ta phải để giặc đến gần mới bắn". Thế rồi dần dần tôi thấy bình tĩnh trở lại và yên tâm chờ đợi.

     Mãi đến 10 giờ giặc mới nổ súng tấn công. Mọi cỡ súng xối xả trút đạn vào tất cả các điểm tựa phòng ngự của ta hơn một tiếng đồng hồ, khiến trận địa ta, cây cối đổ ngổn ngang, đất đá, hầm hào sụt lở, bụi đất tung lên mù mịt. Sau đó bộ binh giặc nhất loạt xông lên miệng la hét "A, la xô” om xòm, vừa tiến vừa bắn như vãi đạn. Chúng tôi ở thế cao, nhìn rõ từng thằng tây, bao quát được cả đội hình các mũi tiến công của chúng.

     Trung đội trưởng Thiết Cương nhắc:

     -   Để giặc đến tầm thật gần hãy nổ súng.

     Lúc này tôi bình tĩnh hơn đã nhìn thấy giặc đến giữa  tiểu đội một, thằng nào cũng cao to, đầu đội mũ ca-lô, mặt đỏ gay, mắt lơ láo.
     
     Vẫn chưa có lệnh bắn. Một toán khác đã đến sát chiến hào tiểu đội 3.

     - Nổ súng! - Không rõ lệnh từ Trung đội trưởng hay Đại đội trưởng. Chúng tôi bắn. Cả đại đội, tiểu đoàn cùng bắn. Tiếng súng ta, địch nổ liên hồi, không tên địch nào lên được trận địa của ta. Có thằng chết chỉ cách chiến hào tiểu đội tôi năm sáu bước. Thằng bị thương kêu la thảm thiết khiến đội hình nhốn nháo, thằng lùi lại, toán chạy ngang. Có tên còn nằm tại chỗ la hét “A la xô" nhưng chẳng thằng nào dám tiến lên nữa. Thì ra giặc cũng sợ ta, chúng cũng sợ chết, cũng kêu la gào khóc như trẻ con. Lúc này tôi thấy phấn chấn, khí thế nhìn hai thằng tây chết nằm úp sấp to như con bò, hai thằng bị thương vừa kêu rống lên vừa rên rỉ.

     Trận đánh cứ dằng co. Tiếng súng ta - địch thưa thớt dần. Sương chiều đã bắt đầu trùm xuống tràn mặt trận. Quân giặc phải lùi xuống chân núi Khau Co.

    Đánh thắng trận đầu, ai cũng vui. Nhưng lập tức phải chuẩn bị khẩn trương cho các trận đánh tiếp sau mà chắc chắn còn gian khó ác liệt và dai dẳng hơn trên đỉnh núi Khau Co đầy sương mù với gió hướng này.

     Quả nhiên hôm sau giặc Pháp lại tấn công. Liên tiếp mấy ngày liền, chúng hò hét tổ chức đánh lên nhưng đều bị chúng tôi chặn lại đứa chết đứa bị thương không còn đủ sức tấn công phải chuyển sang tạm thời phòng ngự đối diện trực tiếp với ta ở các ngọn núi dẫy đồi thấp Khau Co.

     Cuộc chiến đấu tiếp tục chỉ diễn ra những trận đánh rời rạc, nhỏ lẻ, để thăm dò lực lượng của nhau. Bên ta, quân số chiến đấu và đạn dược giảm dần. Cuối cùng quần áo, chăn màn cũng rách tươm, ăn uống thất thường, không đủ no, thuốc men thiếu, rất ảnh hưởng đến sức chiến đấu. Nhưng tinh thần, ý chí quyết tâm đánh giặc vẫn không nao núng. Đại đội 27 chúng tôi thỉnh thoảng còn sử dụng từng trung đội thay phiên nhau tấn công, tập kích vào trận địa quân giặc vừa có tính chất trinh sát vừa nhằm mục đích tiêu hao đẩy giặc ra xa, không cho chúng bám gần trận địa. Trong thời gian này giặc Pháp tăng thêm quân và vũ khí, đạn dược. Ta cũng vậy. Trên còn
giao cho tôi chức vụ tiểu đội phó. Thật ra tôi chỉ muốn là một chiến sĩ. Nhưng được anh em rất ủng hộ và trên tin yêu, tôi cũng vui nhận.
Trung đội được lệnh chuẩn bị chiến đấu, ai cũng phấn khởi vững vàng tin tưởng. Mấy anh ốm nặng phải về phía sau, không ai muốn rời trận địa.

     Một buổi sáng khi đỉnh núi Khau Co còn đầy sương mù, địch đã bắn sang trận địa ta khác ngày thường. Tôi cùng một số anh em ra vị trí chiến đấu quan sát. Bỗng trung đội trưởng Thiết Cương gọi:

    - Đồng chí Chuông? Địch nó bắn vậy nhưng chưa tấn công đâu. Đồng chí lại đoạn chiến hào gần tiểu đội 3.

    Tôi đang định hỏi xem anh giao nhiệm vụ gì. Anh nói tiếp ngay:

    - Hôm nay chi bộ làm lễ kết nạp Đảng cho đồng chí.

     Tôi rất hồi hộp và phấn khởi. Năm qua tôi đã được nghe cán bộ cấp trên nói chuyện về Đảng Cộng sản, đặc biệt lại được học hẳn một tháng về chính trị, nội dung chương trình học cả Điều lệ Đảng, tôn chỉ, mục đích của Đảng nên rất mong một ngày trở thành đảng viên. Lễ kết nạp đơn giản mà trang nghiêm. Chỉ trong một đoạn chiến hào vẫn có bàn tự tạo làm bằng cây vầu và nứa đan, trên bàn có bó hoa chuối rừng đỏ. Vách chiến hào treo cờ đỏ sao vàng, cờ Đảng và ảnh các lãnh tụ Mác-ănghen, Lê-nin, Sít-ta-lin, Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 08:18:20 am
     Sáu anh em được kết nạp vào Đảng hôm nay có cả Phượng là bạn thân thiết, lại là con chiên của Chúa. Còn tôi là đệ tử của Đức Phật Thích ca đã trở thành đảng viên cộng sản. Tôi rất vui.

     Anh Thiết Cương lên đọc công nhận và căn dặn chúng tôi. Tôi thay mặt sáu anh em lên phát biểu. Đại ý tôi hứa được Đảng giao bất cứ nhiệm vụ gì dù khó khăn mấy cũng quyết tâm phấn đấu hoàn thành. Rất mong các đồng chí chi bộ giúp đỡ… Chỉ có mấy câu thế mà tôi nói cứ ấp a, ấp úng, mặt nóng ran. Lễ kết nạp xong tôi trở về vị trí chiến đấu, chưa hết hồi hộp thì đã bị Phượng đến trêu chọc:

     - Sao hôm nay mày phát biểu lúng búng như gà mắc tóc. Mọi ngày cãi nhau với tao lưu loát lắm kia mà.

     - Xúc động, mày hiểu không?

     - Hôm nay, cứ để tao phát biểu còn mạch lạc hơn mày nhiều.

     - Có lẽ đúng như vậy. Nếu để cậu phát biểu hứa hẹn còn hay hơn.

     Cuộc chiến đấu cứ dằng co không có tính chất quyết định. Mãi đến tháng tư năm 1947 địch mới mở đợt tiến công quy mô lớn hơn nhiều các lần trước. Cách đánh cũng khác trước. Ngày đầu chúng dùng máy bay bắn phá hậu phương ta đến tận Văn Bàn, Bảo Hà, Làng Cóc. Cối pháo bắn vào các trận địa ta. Mặt khác, bộ binh tiến lên không tấn công, chỉ áp sát bao vây. Ngày thứ hai các loại hỏa lực kết hợp với máy bay bắn phá, thả bom hàng tiếng đồng hồ. Sau đó, bộ binh tất cả các mũi, các hướng tiến lên đông đặc đánh vào các trận địa của ta. Vừa tiến vừa thổi kèn la hét "A la xô" ầm ĩ, om xòm.

    Chúng tôi, dựa kinh nghiệm các trận đánh trước, cứ để giặc đến gần, chọn tên đi đầu, thằng chỉ huy, đứa thổi kèn, vác súng máy mà bắn. Quả nhiên mấy thằng đi đầu ngã xuống. Tên chỉ huy cũng chết, binh lính thằng chết, thằng bị thương. Giặc lại lùi xuống nằm tại chỗ không dám tiến lên.

    Nhưng hướng tiểu đội 3 địch liều chết xông lên chiếm được đoạn hào. Trung đội trưởng Thiết Cương điều ngay một tổ của tiểu đội 1 với anh, bắn chết hai thằng. Thu được cả súng. Còn ba thằng tháo chạy ra khỏi chiến hào. Một thằng bị thương tiếp, hai thằng chạy thoát. Chúng tôi lại khôi phục được trận địa. Mệt quá nhưng ai cũng vui, phấn khởi, khí thế. Mặc dầu địch còn rất nhiều quân bâu bám xung quanh bắn cối pháo vào trận địa ta, hò hét nhưng chúng chỉ nằm tại chỗ không dám tiến lên.

     Lực lượng ta lúc này nhiều đồng chí bị thương và hy sinh, trong đó có đồng chí Thịnh - Chính trị viên Trung đội, Tiểu đội trưởng Hoàng Cái, tổ trưởng ba người Nguyễn Xuân, Hoàng Phượng bạn thân thiết của tôi đang băng bó cho các đồng chí bị thương. Mười hai giờ trưa giặc lại mở đợt tấn công tiếp theo. Chúng bắn không tiếc đạn vào trận địa chúng tôi. Đạn nổ cứ liên hồi, inh tai nhức óc, lửa khói bụi đất bốc lên dồn xuống cả trận địa ta mù mịt. Khi hỏa lực chúng chuyển làn, bộ binh giặc lại đồng loạt xung phong. Lúc này tình hình diễn ra vô cùng quyết liệt.

     Chúng tôi vừa bắn vừa ném lựu đạn. Anh em bị thương nhẹ cũng lên chiến hào bắn giặc. Địch lại bị thương, bị chết nhiều hơn hôm trước. Chúng chỉ nằm tại chỗ bắn lên.

     Tôi nhìn Trung đội trưởng Thiết Cương, lòng nao nao xúc động. Anh gầy đi nhiều. Bộ râu con kiến khá đẹp, bây giờ mọc rậm đâm ra tua tủa. Cặp mắt anh vẫn sáng trong đầy suy tư Anh bảo tôi:

    - Cậu làm cách nào tìm thêm đạn. Nhớ bảo anh em bắn tiết kiệm. Động viên anh em bị thương cố gắng tiếp tục chiến đấu.

     Lúc này bọn địch bâu bám vừa hò hét ầm ĩ hòng áp đảo ta vừa nã các cỡ súng vào điểm tựa của ta. Đến 15 giờ chúng lại tấn công xung phong. Chúng tôi cứ nhằm bắn thằng đi đầu ngã gục. Bọn giặc lại lùi. Đến lúc này chúng tôi thực sự lo lắng. Đạn gần hết cả rồi mà giặc còn bâu bám xung quanh. Bỗng anh Thiết Cương ra lệnh:

     - Bây giờ chúng ta vừa đánh vừa hát. - Anh cất tiếng hát trước "Bao chiến sĩ anh hùng”… Chúng tôi hát theo "Lạnh lùng vung gươm ra xa trường”. Lúc đầu hát còn nhỏ, rời rạc, càng về sau hát càng to, khí thế hào hùng "Quân xung phong? Nước Nam đang chờ mong tay người, hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời...".

     Giặc Pháp ngơ ngác không tiến, không bắn mà nằm nghe ta hát. Chúng tưởng ta còn mạnh, cứ nằm lỳ dằng co, thỉnh thoảng bắn lên mấy loạt súng bâng quơ. Cho đến chiều tối tiếng súng cả ta và địch im hẳn. Trung đội tôi lúc này chỉ còn 18 đồng chí trong đó có mấy đồng chí bị thương nhưng vẫn giữ được trận địa trên hai ngọn núi Khau Co cao nhất.

     Trận đánh đầu tiên mà tôi được tham gia đã diễn ra như thế. Khi ấy tôi mới là Tiểu đội phó, cái chức vụ mà sau này anh em ta thường nói vui là "nửa cán nửa quân”, thật sự tôi chưa biết chỉ huy ra sao. Nhưng mọi việc Trung đội trưởng Thiết Cương nhắc nhở tôi đều làm tròn.

     Cũng cần phải kể đến tình hình đời sống của bộ đội trong thời gian này. Thứ nhất là đồng lõa với giặc Pháp còn có lũ chấy rận hoành hành. Chúng tôi phải tìm mọi cách diệt chấy rận thì mới có thể yên ổn mà lo việc chiến đấu. Hàng vạn hàng vạn chấy rận bị tiêu diệt bằng mọi cách nên chúng tôi gọi đây là trận đánh không có tiếng súng. Thứ hai là mưa lũ. Cơn mưa kéo dài đến trung tuần tháng 7 khiến cho nước các con suối và sông Hồng dâng cao. Gió bão lại làm sụt lở đường sá, cây cối đổ ngổn ngang. Thuyền mảng cũng không qua lại được trên sông suối. Thế là việc chuyên chở gạo từ Yên Bái lên, Bảo Hà vào bị tắc nghẽn. Chúng tôi lâm vào cảnh đứt bữa, gạo để nấu cháo dần dần không còn, phải tìm các loại củ rừng, quả rừng ăn thay cơm.

     Ôi thật là trận đói nhớ đời. Các thứ rau trên rừng, rau tập tàng, rau rớn, rau đồng tiền, rồi quả sung, quả vả, hoa chuối, ổi xanh. . . con ốc, con ếch, con cá, con tép đều được sử dụng thành thứ lương thực chính hàng ngày để khỏi bị đói lả. Có hôm tôi đi tìm rau phải chống gậy vì bụng đói mắt hoa, đi không vững, ruột xót như bào cứ sôi ùng ục có lúc tưởng ngất xỉu, vẫn phải cố dò dẫm bước đi chầm chậm theo anh em.

     Thế rồi nghe nói hạt cây lai dầu ăn được anh em vào nhà dân xin lại phải nói dối là để giã với muối ăn thay muối vừng. Nào ngờ hạt lai dầu bùi và thơm đấy nhưng ăn vào một lúc sau, anh nào anh nấy sùi cả bọt mép, nôn oẹ, rên rỉ, nước mắt giàn giụa, chân tay run lập cập. Thế là lại phải nhờ dân tìm lá sắc cho uống để giải độc mới trở lại bình thường.

     Lại đến khi bão tan, nước rút, gạo từ Văn Bàn được dân công tiếp tế lên, thổi một nồi ăn chưa thỏa, lại thổi tiếp nồi thứ hai, ăn đến căng bụng và cuối cùng mười hai cậu ôm bụng nằm thở, ngực tức buồn nôn mà lại không nôn được chân tay rã rời, bụng mỗi lúc một trướng lên sờ vào là cảm thấy đau nhói, nói không ra lời, mắt cứ trợn ngược, nước mắt giàn giụa như người hấp hối chờ chết… Cho đến mãi sau này tôi vẫn không hết ngượng về cái chuyện "suýt chết no" ngày ấy.

    Cuối cùng thì lại phải nhờ đến dân tìm lá rừng sắc uống để cho nôn ra. Chúng tôi đã rút ra kết luận là cái đói đến từ từ và chết cũng từ từ nhưng đó là do hoàn cảnh tạo nên. Chứ bội thực có thể chết tươi mà chết trong sự ngượng ngùng hối hận.

     Đó là những tình huống ngoài trận đánh trong thời gian ba tháng phòng ngự trên dãy Khau Co nhưng nó cũng là những thử thách rất có ý nghĩa đối với đời lính chúng tôi.

     Điều quan trọng bậc nhất là chúng tôi đã hoàn thành vượt mức thời gian chặn giặc ở đây. Theo tôi hiểu thì cuối năm 1947, thế trận của chúng ta dã dần dần chuyển sang giai đoạn cầm cự. Từ sau trận Khau Co, Tiểu đoàn Giang Hà chúng tôi đã trưởng thành hẳn lên chuyển sang làm nhiệm vụ chiến đấu trong vòng vây cho tới năm 1950 sau khi giải phóng Lào Cai lần thứ hai thì tập trung về thành lập đơn vị lớn hành quân đánh giặc ở mọi miền có giặc.

     Sư đoàn 312 trở thành gia đình lớn của tôi qua mọi chiến dịch Tây Bắc, Thượng Lào, Hòa Bình, Điện Biên… Anh tiểu đội phó "nửa cán nửa quân” trong trận đánh đầu tiên ở mặt trận Khau Co đến chiến dịch Điện Biên được giao nhiệm vụ Tiểu đoàn trưởng.

     Nhưng tôi chẳng thể nào quên trận đánh đầu tiên của cuộc đời người chiến sĩ Cách mạng, không thể quên tấm lòng của bà con các dân tộc ở Minh Lương đã cho tôi hiểu thế nào là tình cảm quân dân như cá với nước. Bởi đó là lần đầu tiên tôi thực sự hiểu ý nghĩa thiêng liêng cua hai tiếng Tổ quốc và tôi đã được cầm súng bắn vào đầu giặc Pháp để bảo vệ Tổ quốc thân yêu của mình, bảo vệ quyền tự do chính đáng của người công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, bảo vệ nhân dân.

     Trận đầu tiên ấy mãi mãi tỏa sáng trong tôi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 08:56:03 am
ANH VỆ TÚM

     Từ mặt trận chiến đấu Khau Co, đơn vị tôi được Tỉnh đội Yên Bái điều về hậu phương để củng cố. Chúng tôi đóng quân từ Cổ Phúc, Nga Quán, Xuân Lan, Gốc Táo đến Bãi Dương. Trung đội tôi ở tập trung trong 2 xóm: Bãi Dương Bãi và Bãi Dương Đồi. Tiểu đội tôi ở tại nhà ông bà Bảng - anh Hiểu, nhà chị Mùi, anh chị Cục. Mặc dù anh em đã kín đáo che giấu những thiếu thốn, ốm đau, bệnh tật nhưng được vài hôm dân làng đều biết cả, thậm chí dân làng còn biết rất rõ từng tên, anh nào bị thương, bị ốm đau, sốt rét, ghẻ lở, chấy rận, hắc lào… Thành ra mới đến Bãi Dương được mấy ngày chúng tôi đã có ngay cái tên mới "Vệ Túm". Các em nhi đồng và các cô gái trẻ tinh nghịch là hay trêu "Vệ Túm" nhất.

     Thời gian ở với dân, chúng tôi vẫn thiếu đủ thứ, từ khăn mặt, xà phòng, thuốc đánh răng đến bộ quần áo lành. Thèm đủ thứ, từ quả chuối, bắp ngô, cái kẹo đến củ sắn luộc. Mặc dù vậy ai ai cũng phấn khởi, mừng vui được sống trong bầu không khí yêu thương của hậu phương. Dẫu còn nhiều khó khăn, nhưng so với cuộc sống chiến trường vừa qua thì nay quả là đã hạnh phúc nhiều lắm.

     Ngay hôm đầu, Trung đội trưởng Thiết Cương đã nói:

    - Cấp trên cho chúng ta về đây để củng cố lực lượng, phục hồi sức khỏe, các anh em bị ghẻ lở, chấy rận, sốt rét phải tích cực tranh thủ chữa ngay.

     Để tiện cho việc điều trị, đơn vị chia thành từng nhóm nhỏ, nhóm bị thương, nhóm bị sốt rét, nhóm bệnh ngoài da. Số anh em này không phải làm những việc nặng như lấy gạo, thồ củi. Anh Thiết Cương nhắc nhở: Chữa bệnh ở nhà dân nên giữ vệ sinh, đừng để dân biết mà sợ lây bệnh. Số đồng chí thiếu quần áo thì phải cho nhau mượn, ai khéo tay thì vá cho nhau, nên tranh thủ nhờ các mẹ, các chị trong nhà khâu vá giúp.

     Trong số anh em hồi đó, tôi nhớ anh Kim bị sốt rét hành hạ, người xanh như tàu lá, mặc dù đã chống gậy mà đi đứng vẫn xiêu vẹo như chỉ chực đổ. Trước đây, anh là người được coi đẹp trai nhất trung đội, có nhiều tài vặt như thổi kèn, đánh đàn, hát hay, đá bóng giỏi, tính tình cởi mở, ăn mặc gọn gàng, có đôi mắt và cặp lông mày trông rất duyên. Người con trai Hà Nội này nói chuyện có đầu có đuôi rất hấp dẫn. Tinh thần chiến đấu cũng không kém ai. Thế nên, anh là một trong số những người bệnh được trung đội hết lòng quan tâm chăm sóc. Theo kinh nghiệm nhân dân cho biết, chừa bệnh sốt rét bằng lá na vò nát với nước lã rồi chắt ra bát đem phơi một đêm qua sương, uống đều đặn mỗi ngày một lần. Chưa đầy một tuần sau anh đã khỏi bệnh, lại vui cười, cà hát cùng anh em.

     Người thứ hai được mệnh danh là đô vật, người to, khỏe nhất đơn vị. Đó là anh Hoàn mặt to tròn, cặp lông mày xếch ngược, chiến dấu dũng cảm, xông xáo. Anh ít nói nhưng nói rất to. Khi không vừa lòng với ai chỉ cần trừng mắt là người đó phải ngại rồi. Trẻ con thì nem nép khi trông thấy anh. Nhưng tiếp xúc nhiều mới biết anh là một bệnh ngoài da nặng nhất. Gương mặt đầy đặn lúc nào cũng cau có. Hai tay gãi ghẻ, gãi chấy, rận, trông đến thương. Các cụ già bày cho cách chữa, lấy lá cời, lá sòi, lá  ổi xát mạnh vào chỗ ngứa. Thế rồi một hôm rất đỗi bất ngờ cả "phái đoàn” ghẻ lở, mụn nhọt rủ nhau ra suối tắm. Vừa mới khỏa nước một cái đã thấy hàng đàn cá mương lớn bé đua nhau kéo đến. Quả thật với chúng, hôm nay là một bữa "đại tiệc". Loại cá mương nhỏ và nhanh không biết sợ là gì cứ châu đầu vào các vết lở ghẻ mà đớp, mà hút. Anh em cứ để mặc cho các "y tế” trời cho này chăm sóc thỉnh thoảng chỉ xua tay đuổi những con quá lớn và liều lĩnh. Khi lên bờ, nhìn vào các chỗ mụn nhọt, ghẻ lở đã thấy cá ăn sạch, chỉ còn một lớp da non hồng hồng nổi lên.

     Bây giờ là lúc lấy lá cời, lá sòi hoặc lá ổi vò nhỏ xát. vào, xong ra phơi nắng, khô nước mới mặc quần áo ra về. Cứ liên tục ba bốn lần ra suối "điều trị” như thế là khỏi. Còn trị con chấy trên đầu cũng không khó, chỉ cần cạo trọc đầu như là sư là gọn và sạch. Tiêu diệt con rận thì phải tỉ mẩn hơn, bắt từng con và đem quần áo luộc lên phơi nắng là hết.

     Chung quy các bệnh sinh ra nhiều là do điều kiện chiến sĩ thiếu thuốc men và sống trong rừng núi nhiều khó khăn, thiếu vệ sinh.

     Sau thời gian điều trị theo phương châm tích cực, tranh thủ, sức khỏe lên dần, hình thể chiến sĩ đã trở nên "phong quang” khởi sắc hẳn ra.

     Một hôm, sau thời kỳ chữa bệnh tại chỗ, chúng tôi tổ chức đi thăm cảnh vật và bạn bè xung quanh. Chúng tôi ngược lên Cổ Phúc, Nga Quán, hướng đến Xuân Lan, Gốc Táo, về tận Yên Bái, vượt qua sông Hồng về nhà mẹ Tuyên chơi. Gia đình mẹ, tôi quen từ hồi còn đánh Quốc dân Đảng trước ngày giải phóng thị xã Yên Bái. Sau thời gian xa cách quá lâu, mẹ con mới gặp lại nhau mừng mừng, tủi tủi:

     - Thế tao nghe người ta đồn là bộ đội mình rách rưới, chấy rận ghẻ lở lắm phải không con?

     Tôi cười trả lời mẹ:

     - Họ đồn không đúng cả đâu mẹ ạ? Mẹ xem tóc con đây này, không hề có chấy. Còn bộ quần áo rách là bình thường.

     Nhưng khi nào cấp trên gọi hoặc những buổi đi chơi như hôm nay là chúng con ăn mặc tươm tất đấy chứ ạ!

     - Thế sao những đứa trẻ chúng nó không gọi các con là Vệ Quốc đoàn mà lại gọi là Vệ Túm? …

     - Ồ mẹ ơi! Mọi người thích trêu chúng con thì gọi thế nào chả được! Càng thêm thân thiết nhau hơn…!

    Bãi Dương là một làng nhỏ nằm dọc triền sông Hồng chuyên trồng lúa, khoai, ngô, lạc, sắn. Làng khá nghèo, đến đâu cũng thấy những ngôi nhà gió lùa từ bốn phía.

     Một hôm, anh em chúng tôi ra tập ở xóm Bãi trở về thì gặp ngay một tốp chị em chắc là đi họp về, bị họ trêu cho một trận. Có lẽ các cô thấy anh Hoàn quần áo lôi thôi, rách hở cả đùi đang lúng túng lấy tay che lại, nên một cô cất tiếng ví:

Các anh Vệ Túm ở làng
Quần anh rách thế cả làng đều thương
Chúng em là gái Bãi Dương
Muốn gửi đường vá nối liền đôi ta!


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 10:11:17 am
      Chúng tôi đùn đẩy anh Hoàn đối đáp lại. Nhưng chợt nghĩ lại thấy thông minh nhất là im lặng chứ dại gì động đến cái tổ ong ấy. Họ gọn gàng, xinh đẹp thế kia, trong khi mình đang rách rưới thế này. Chúng tôi về đến nhà đã được Trung đội trưởng Thiết Cương thông báo ngay.

     - Các đồng chí chuẩn bị tinh thần, ngày mai chị Thận sẽ dẫn đầu đoàn phụ nữ Phú Thọ, Yên Bái và cả chị em ở Bãi Dương đến đây thăm chúng ta. Đồng chí nào có quần áo cần nhờ khâu vá thì sửa soạn đi.

     Ngày hôm sau, tất cả đơn vị tập trung ở sân nhà ông Bảng chờ đón. Tám giờ đoàn đến, khách, chủ thân tình bắt tay nhau. Mấy chị trong đoàn mời anh em thuốc lá Hoa Lư. Đồng chí Khang nảy ra yêu cầu tất cả mọi người bắt nhịp hát bài Đoàn Vệ Quốc quân một lần ra đi. Tất cả khách, chủ vừa vỗ tay vừa hát vang sôi nổi. Thấy vui, trẻ con cả xóm cũng kéo đến. Bây giờ tôi mới quan sát kỹ trong đoàn chỉ có chị Thận và hai chị ở thị xã Yên Bái là hơn tuổi, còn chỉ xấp xỉ tuổi chúng tôi. Những câu chuyện không đầu, không đuôi cứ thế nổ tràn như ngô rang. Nào là chuyện hậu phương ra sao, hũ gạo nuôi quân ủng hộ kháng chiến có "đầy" không, phong trào sản xuất như thế nào... rồi hỏi lân la từng chị về chuyện chồng con, gia đình…

     Thấy vậy, chị Thuận tươi cười công bố luôn:

     - Tất cả chúng tôi ngồi đây mới chỉ có ba người có chồng, còn đâu đều "phòng không” cả. Đồng chí nào muốn…bảo chị một tiếng!
Anh My nhanh nhảu:

      - Chị Thận cứ nói thế, chứ các chị đây trẻ, đẹp nhường này, ai đời lấy "Vệ Túm" chúng tôi. Nhưng thưa các chị. . .

       Nói xong, anh đọc thật to bài thơ "Vệ Túm" in trên tờ “Tây Tiến”.

“Các chị đừng chê Vệ Túm rách
Vệ luôn tay cành cạch gãi ghẻ ruồi
Vệ áo quần dúm dó đến lôi thôi.
Vệ chấy rận như dòi bâu đến tởm.
Vệ bụng ỏng, đít vòn trông phát gớm
Vệ đến đâu ruồi nhặng theo đến đấy
Nhưng rồi Vệ nhắn các chị mấy câu:
Đi kháng chiến Vệ Túm thành Vệ Quốc".


Thế là mọi người lại được dịp vỗ tay mà cười thỏa chí. Mấy cô gái trẻ mặt ửng hồng, e lệ. Chị Hải lên tiếng:

     - Bài thơ vui, nhưng chưa hay. Phụ nữ ở đâu chứ chị em chúng tôi ở đây biết các anh bệnh tật như thế lại càng thương. Thấy các anh áo rách, cả làng, cả huyện, cả tỉnh đều thương…

     Anh My người cao nhỏng, miệng rộng, môi cong như môi cá ngão cũng không vừa:

      - Chị nói thương yêu chung chung quá! Thế cụ thể bây giờ có dám lấy chồng Vệ Túm ngồi đây không?

     - Có chứ! - Chỉ Hải đáp ngay.

     - Thế chị lấy ai nào?

     - Tôi lấy anh!

    Chị Hải chạy ngay đến chỗ anh My:

    - Đưa ngay cho tôi bài thơ "Vệ Túm" để tôi về hậu phương nói với chị em, các ông bố, bà mẹ, giúp mọi người biết rõ hơn về cuộc sống nơi tiền tuyến của các anh.

     Mọi người lại càng hoan hô to hơn. Rút cuộc, anh chàng My phải đưa bài thơ "Vệ Túm” cho chị Hải, rồi ngượng ngùng lòng khòng đi  xuống, im như... "ngậm hột thị".

     Chị Thận yêu cầu anh mang quần áo rách ra để các chị thực hiện nhiệm vụ chính của mình. Mọi người tản thành từng nhóm ngồi dưới các gốc mít, rặng ổi, luỹ tre để khâu vá. Chị nào cũng rúc rích cười. Khi xong việc, các chị gọi chúng tôi đến nhận và hẹn vài ngày sẽ tới gặp lại.

     Chuyện đoàn phụ nữ đến thăm, vá áo cho bộ đội Bãi Dương phút chốc đã lan đi khắp nơi, già, trẻ, gái, trai gặp chúng tôi đâu cũng vui vẻ chào hỏi và tận tình giúp đỡ hơn. Một hôm, tôi đi tập về, ông Bảng gọi lại thầm thì:

     - Thằng Mùi con rể tôi kể là anh Hoàn ở trung đội đóng bên nhà nó chỉ có một bộ quần áo, mỗi lần thay,  thường phải mượn quần áo của anh em. Tôi tính thế này,  nhà tôi có hai tấm vải đang nhuộm nâu chỉ một ngày nữa là đem may được. Tôi định may cho thằng Hiển cuối năm cưới vợ, nhưng thời gian còn lâu, tôi sẽ tặng anh Hoàn…

     -  Con sợ anh ấy không dám nhận. . .

     - Thế anh tính thế nào, chả nhẽ cứ để anh ấy thế mãi sao?

     - Con cũng đang lo nhưng bí quá. Hay thế này bố nhé: Mai con đem đi may đo, bố với con cùng thống nhất là cô Hải gửi cho con, con tặng lại. Khi cậu ta nhận mặc vài ngày rồi mới nói thật gia đình ông bà bên này tặng để cậu biết mà cảm ơn. Nhưng còn bác gái… ? 

     À! Anh không phải lo. Chính bà nhà tôi đã gợi ý cho tôi đấy chứ.

     Cũng thời gian ấy, Bãi Dương có phong trào nhận bộ đội làm con nuôi. Anh Hoàn đã nhận ông bà Bảng là bố mẹ nuôi của mình. Cũng có một số anh em đã lấy vợ tại đây như anh Chí, anh Tiến. Tình cảm quân dân ngày càng thêm gắn bó sâu nặng.

     Từng ngõ xóm, từng con đường, từng nhà dân, chúng tôi đều thân quen. Không một mảnh ruộng, quả đồi nào mà chúng tôi không tập bò, tập bắn. Khoảng trời, con người Bãi Dương đã trở thành một phần tâm hồn, cuộc đời của chúng tôi ở đó.

     Suốt mấy tháng đóng quân ở Bãi Dương, chúng tôi được bà con thương yêu, đùm bọc, vững bước lên đường cho những trận đánh tiếp theo. Thấm thoắt đã 50 năm qua đi, đất nước đã thanh bình, chúng tôi đã về hưu cả, rất mong một ngày nào trở lại với Bãi Dương nhưng chưa có dịp.

     Tôi ghi lại những dòng kỷ niệm đời mình để lại cho con cháu mai sau. Trong chiến tranh, trong cuộc đời này đã có một vùng quê đầy ắp tình thương như thế đấy!

      Tôi tin lòng tôi sẽ trẻ lại khi được trở về với Bãi Dương một thời, để lại được hưởng cái phút giây người dân nơi đây bắt tay, lắc mạnh, cười vang:

      - "Chào anh Vệ Túm"


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 08:19:19 pm
SẦM NƯA,
NHỮNG KỶ NIỆM KHÓ QUÊN

      Đông Xuân 1952 - 1953, trung đoàn 165 (F.312) nhận lệnh vượt biên giới Việt - Lào sang phối hợp cùng bộ đội Pa thét và nhân dân các bộ tộc Lào đánh đuổi giặc Pháp  giải phóng tỉnh Sầm Nua.

     Hồi ấy tôi là Đại đội trưởng Đại đội 501, Tiểu đoàn 115. Đồng chí Phan Thanh Nhã là Chính trị viên. Anh Hiền Tràng chỉ huy tiểu đoàn.
Cán bộ chiến sĩ đại đội tôi đã được giáo dục rất nhiều lần về nhiệm vụ quốc tế. Ai cũng hiểu giặc Pháp là kẻ thù của ba dân tộc Việt Nam, Lào, Cămpuchia. Cả ba nước đều bị giặc Pháp xâm lược cai trị, đã đồng lòng đứng dậy sát cánh bên nhau đánh đuổi giặc Pháp để giành lại hòa bình, độc lập và tự do.

     Ở Hội nghị Quân chính trung đoàn, trong khi phổ biến nhiệm vụ, Trung đoàn trưởng Lê Thùy ân cần chỉ rõ:

      -   Lần này đơn vị chúng ta sang đánh giặc Pháp ở bên đất bạn Lào là chúng ta làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, song sẽ có nhiều khó khăn. Sầm Nưa và tỉnh ở bắc nước Lào giáp giới với hai tỉnh Sơn La, Lai Châu, hoàn toàn là chiến trường rừng núi, làng bản ở xa nhau, dân chúng thưa thớt, đường sá hiểm trở. Các đồng chí phải lãnh đạo đơn vị chấp hành thật tốt các chính sách dân vận, giữ kỷ luật cho thật nghiêm, chú ý bảo vệ tài sản và tôn trọng nhân dân Lào như chúng ta chiến đấu bảo vệ nhân dân Việt Nam mình.

     Trung đoàn tôi có nhiệm vụ đánh cụm địch chiếm đóng trong thị xã Sầm Nưa. Trung đoàn trưởng Lê Thùy nói rằng nhiệm vụ cụ thể phải sang bên ấy nắm rõ tình hình về địch cũng như địa hình mới có thể giao cho các tiểu đoàn được. Sau hội nghị này, cấp phó quân sự cùng cán bộ chính trị về phổ biến và quán triệt nhiệm vụ và cho bộ đội chuẩn bị thật khẩn trương. Đồng chí sẽ cùng các tiểu đoàn  trưởng, đại đội trưởng và ba trưởng ban tham mưu chính trị hậu cần sang trước nắm tình hình, thiết kế các trận đánh rồi đón các đơn vị ở các vị trí tập kết.
*
*    *


     Chúng tôi xuất phát từ Thuận Châu vào lúc 7 giờ sáng, sương còn phủ trắng đồi nương. Đoàn cán bộ đi trinh sát được tổ chức thành ba tiểu đội. Anh Hiền Tràng phụ trách tiểu đội chúng tôi gồm các Đại đội trưởng Đại đội 505, 503, 501, Đại đội 14 hỏa lực cùng một số chiến sĩ liên lạc trinh sát. Anh rất quý bốn Đại đội trưởng chúng tôi một phần vì chúng tôi đứa nào cũng đều khỏe, trẻ, song cái chính là trong công tác và chiến đấu chúng tôi đều xốc vác, gan dạ, việc gì anh giao cho, chúng tôi cũng hoàn thành. Thêm nữa, cả bốn chúng tôi đều đã quen chiến trường rừng núi Tây Bắc lại đều biết tiếng dân tộc, rất thuận lợi khi cần phải tiếp xúc với nhân dân.

      Đến gần trưa sương mù mới tan hết thì chúng tôi đã hành quân được một quãng xa. Nhưng sương tan thì máy bay trinh sát của địch cũng bắt đầu tới nhòm ngó cứ vè vè trên đầu, vòng đi vòng lại như có vè nghi ngờ. Sau đó ít phút thì máy bay chiến đấu cũng ào tới thả bom dọc đường. Có thể chỉ thả vu vơ chứ chưa chắc chúng đã nhìn thấy gì vì chúng tôi đã nguỵ trang rất cẩn thận, lại cắt rừng đi theo con đường chưa có dấu chân người. Hành quân mang nặng, vượt núi băng đèo. Mệt thở ra cả đằng tai nhưng bù lại chúng tôi được chứng kiến thế giới của muông thú thật là kỳ lạ. Chim chóc đủ mọi màu, con đậu con bay đuổi nhau từng đàn, gọi nhau ríu ran gần như không có một phút giây nào ngừng tiếng hót, chẳng khác gì được nghe một đoàn giao hưởng khổng lồ của thế giới chim muông có giọng trầm của loài kền kền, giọng cao vút của liếu tiếu, hoạ mi, cà cưỡng.. và thủng thẳng đệm nghe thảng thốt là anh “bắt cô trói cột”…

     Kỳ thú nữa là gặp con suối chẳng biết tên là suối gì, nước trong veo nhìn thấy từng viên sỏi và đặc biệt là rất nhiều cá, chúng bơi lội thản nhiên, có đàn bơi xuôi, có đàn bơi ngược, có con lững lờ trôi, có con lao đi như một mũi tên. Lính ta rửa mặt xem cá bơi lội cũng vơi đi mệt nhọc ít nhiều.

      Xế chiều hôm đó, chúng tôi vào một bản làng gần đường hành quân để nghỉ ăn cơm. Ông trưởng bản là người có tuổi cùng với một số bà con ra xem bộ đội. Ông mời chúng tôi lên nhà nghỉ nhưng bốn đại đội trưởng chúng tôi xin phép ngồi dưới chân cầu thang.

      Lát sau bà con dân bản kéo tới rất đông. Hỏi ra biết đây là bản Sốp Phào, bà con đều là người Lào bộ tộc Thái.


      - Đây là đất nước Lào rồi ư? - Tôi hỏi một ông già.

     - Ô, Các anh vượt biên giới xa rồi đó. - ông già chậm rãi trả lời. - Từ con sông Mã các anh vừa qua đến tỉnh Sầm Nưa chẳng còn xa nữa.

      Tôi thầm nghĩ đúng là núi liền núi, rừng liền rừng, cả sông suối cũng liền nhau một dải, chẳng sao phân biệt được đâu là đất Việt đâu là đất Lào.

      Lúc này các cháu thiếu nhi và thanh niên nam nữ kéo đến quây lấy chúng tôi rất đông. Tôi chào hỏi bằng tiếng Thái khiến mọi người rất vui:

     - Noong kỳ lai pi? Tôi hỏi một bé gái xem bao nhiêu tuổi.

     - Síp pi! Cháu trả lời mười tuổi.

     Quay sang các anh thanh niên và mấy cô gái, tôi hỏi:

     - Ải ý mi nậm bâu? Các anh các chị có nước không?

     Mọi người đồng thanh nói:

     - Mi lai, mi lai. Tức là nhiều lắm.

     Lập tức hai bác quay về lấy nước ra mời:

     - Kin nậm Kin nậm?(l) “uống nước”

     Tôi uống nước, khen nước ngon và mát rồi nói lời cảm ơn.

     -   Đừng nói cảm ơn. - Bác trưởng bản ngắt lời tôi - Bộ đội Việt Nam sang đánh đuổi giặc Pháp giúp người Lào giải phóng quê hương thì bộ đội Việt Nam cũng là bộ đội của người Lào.

     Mọi người vỗ tay reo vui. Không khí trở nên thân mật đầm ấm.

     Tôi nhìn thấy mấy cô gái Lào nói vui với cậu Bế Phiên bằng tiếng Thái đại ý là Bế Phiên khen các cô gái Lào xinh đẹp không kém gì các cô gái Việt Nam. Có khi còn xinh đẹp hơn.

     - Không phải đâu!

     - Không đẹp đâu!

     Các cô gái Lào tranh nhau trả lời. Một cô xem vẻ bạo dạn hơn cả, nói tiếp:

     - Chúng em đẹp sao bằng các cô gái Việt Nam!

     - Đẹp chứ! Các cô rất đẹp! Không nói sai đâu nhá!

     Một bác có tuổi chen vào chỉ bốn cô gái đứng trên cùng, nói to:

     - Bốn cô này chưa có ai trao khăn đâu, bộ đội Việt Nam ạ?

     Tất cả đều cười rộ lên. Bốn cô gái ôm lấy nhau giấu mặt. Không khí càng hòa vui như người trong một bản làng.

     Tiểu đoàn trưởng Hiền Tràng đến thấy thế cũng góp vui, rồi xin phép dân bản cho bộ đội đi ăn cơm còn tiếp tục hành quân. Mâm cơm trải bằng lá chuối nhưng có đủ măng chua nấu cá, rau cải xào và một đĩa thịt lợn luộc. Tôi liền hỏi cậu chiến sĩ liên lạc:

     - Ở đâu thế này, anh nuôi mua hay nhân dân cho?

     - Dân bản cho đấy. ông trưởng bản mang đến.

     - Chết thật. Làm thế nào bây giờ?

     - Tiểu đội nào cũng được phân phối như thế.

     Tôi liền đến trước bà con dân bản nói lời cảm ơn và nói:

     - Kin khẩu (ăn cơm) xể, khẩu ón, mi phắc cát nhưn mun, không máy tu po (mời bà con ăn cơm với bộ đội cho vui).

     - Ồ, bộ đội Việt Nam kin khẩu à.

     Thật là xúc động. Nào ngờ trên đường hành quân xa đất nước lại gặp được những con người vừa lạ vừa quen, tính tình cởi mở chân thành chẳng khác mấy bà con trong vùng Tây Bắc nước ta mà chúng tôi đã từng được chia sẻ ngọt bùi qua nhiều năm chiến đấu và công tác.

     Cơm nước xong, chúng tôi lại tiếp tục hành quân. Bà con dân bản ra đưa tiễn rất đông.

     Từ bản Sốp Phào tới Sầm Nưa, chúng tôi phải tìm đường đi tránh các bản làng địch kiểm soát nên càng khó khăn gian nan. Đi ròng rã hai ngày mới đến được dãy núi có thể quan sát toàn cảnh thị xã Sầm Nưa. Cũng như nhiều thị trấn vùng rừng núi bên nước ta, thị xã Sầm Nưa nằm gọn trong một thung lũng xen lẫn làng bản và đồn giặc, xung quanh có các dãy núi như ôm gọn lấy cả thị xã trong lòng nó. Tiểu đoàn trưởng Hiền Tràng chỉ thị các mục tiêu tấn công. Sau đó chúng tôi phải tìm cách tiềm nhập để xác định hướng tấn công, bố trí đội hình chiến đấu. Dò dẫm mãi tới 9 giờ đêm, địch bắn pháo sáng lập lòe, chúng tôi mới xác định được các mục tiêu đồn giặc kiến trúc ra sao. Và mãi 3 giờ ngày hôm sau mới hoàn thành toàn bộ kế hoạch tác chiến để có thể quay lại đón bộ đội ở vị trí tập kết triển khai đội hình chiến đấu.
*
*      *


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 08:42:01 pm
      Bộ đội được chuẩn bị khá tốt. Đơn vị tôi xuất kích vào chiếm lĩnh vị trí tấn công lúc 5 giờ chiều. Mặc dầu địch bắn pháo cối và cả súng con liên tục dồn dập, gây cho đơn vị nhiều khó khăn, cây đổ ngổn ngang, nhưng anh em tỏ ra rất bình tĩnh tự tin. Tôi chỉ lo bộ đội bị thương vong phải giải quyết hậu quả, chậm giờ nổ súng thì sẽ ảnh hưởng đến nhiệm vụ chung. Nhưng xem ra địch chỉ bắn hú họa chứ không có chủ định vào một mục tiêu nào.

      Bỗng đến 10 giờ đêm địch ngừng bắn các loạt pháo cối. Đến 11 giờ thì cả súng máy súng con đều im bặt. Đại đội vào chiếm lĩnh vị trí chiến đấu rất an toàn. Tôi mừng thầm và rất yên tâm là đơn vị sẽ bước vào trận đánh vẫn còn hoàn toàn sung sức.

     Song chẳng hiểu sao lúc này đơn vị đã bao vây quanh đồn rồi mà quân địch bên trong đồn lại im ắng một cách khác thường. Không thấy bóng một tên địch nào qua lại, chỉ có hai ngọn đèn sáng lập loè. Đạn súng con nổ lẹt đẹt thưa thớt. Tôi trao đổi nhận xét của mình với Chính trị viên Thanh Nhã và Trung đội trưởng Tác.

     - Tôi cũng lấy làm lạ - Chính trị viên Thanh Nhã nói - Bộ đội ta đào công sự động là thế mà chúng chẳng bắn ra gì cả.

     - Hay là chúng biết ta bao vây, chúng sợ? - Trung đội trưởng Tác đoán chừng như vậy.

     Tôi thắc mắc:

     - Nhưng sao lại không nghe thấy cả tiếng chúng gọi nhau ở trong đồn?

     Chúng tôi đang trao đổi với nhau thì điện thoại tiểu đoàn gọi xuống hỏi:

     - Anh Chuông đâu? Kiểm tra xem đồn giặc còn không?

     Tôi nghĩ bụng, tiểu đoàn trưởng hỏi gì mà lạ thế, liền trả lời:

     - Đồn giặc chỗ tôi còn đèn sáng, còn súng con.

     - Kiểm tra kỹ lại xem. - Tiểu đoàn lại nhắn tiếp.

    Tôi chợt nghĩ, hay là địch rút rồi nên tiểu đoàn mới hỏi tôi như vậy. Và trong đồn ngoài hai ngọn đèn le lói và tiếng súng con nổ lẹt đẹt thì tịnh vô không thấy động tĩnh gì thêm nữa, pháo cối trong các đồn khác cũng không bắn? Tôi đang nghi ngờ phân vân trước hiện tượng lạ đó thì điện thoại tiểu đoàn lại gọi xuống. Giọng tiểu đoàn trưởng hối hả thúc giục:

     - Địch rút rồi, anh cho bộ đội vào chiếm đồn ngay!

     Quả nhiên, trong đồn chẳng có tên giặc nào. Chúng tôi vào chỉ thấy khắp chiến hào ụ súng, lô cất ngổn ngang hòm vỏ đạn, mũ giày, quần áo lính. Mấy khẩu súng hỏng nằm chỏng chơ. Hai ngọn đèn vẫn sáng lập lòe như trêu chọc. Cái tiếng nổ đì đẹt của súng con té ra là từ một hòm đạn súng trường bị chúng vùi trong đống lửa cho nổ. Chúng tôi đã bị lừa? Cả trung đoàn ta bị lừa? Trách trên rồi tôi lại tự trách mình tại sao nắm địch lỏng lẻo như thế. Thật tiếc công phí sức. Không biết chúng chạy từ bao giờ, chạy về hướng nào để mà đuổi. Cả đại đội tôi đã vào hết trong đồn, anh nói thế này, anh nói thế kia, kẻ kêu đói, người kêu mệt. Có anh bực bội nói xẵng:

     - Để cho chúng nó chạy từ lúc nào lúc nào, đánh chẳng được mệt ốm cả người.

     Sáng ra, Trung đoàn phó Biền Sơn xuống đại đội tôi. Anh nói oang oang:

      - Sao không đuổi địch còn ngồi đây làm gì?

     Vừa nhìn thấy tôi, anh giục:

     - Chuông! Tổ chức cho đại đội truy kích địch ngay! Tại sao còn ngồi đây?

     - Tôi vẫn chưa nhận được lệnh.

     - Thì bây giờ là lệnh.

     - Tôi đã giao cho một số anh em về khu tạm dừng lấy gạo và tư trang, chắc sắp đến đây rồi.

     - Không được! - Anh ngắt lời - Phải đi ngay. Gạo, tư trang, trung đoàn cho anh em đưa lên sau. Đi ngay!

     - Vâng ạ!

     Đơn vị bắt đầu truy kích địch. Tôi chấp hành mệnh lệnh mà rất lo. Một số chiến sĩ đau chân đi khập khiễng cứ ì ạch như lê bước trên đường. Có anh bước đi cà nhắc trông rất chán chường. Đi kiểu này thì bao giờ mới đuổi được kịp mà đánh đích đây. Cũng có anh phản ứng lè nhè nói ngang:   

     - Địch nó chạy từ đời tám hoánh nào bây giờ mới đuổi thì được cái gì? Mục tiêu giải phóng Sầm Nưa thì giải phóng rồi. Đói bỏ mẹ. Cán bộ chỉ làm khổ lính.

     Đó là cậu Khiển. Biết cậu ta là một chiến sĩ tốt, song không thể nào không nhắc nhở. Tôi liền quát:

     - Khiển? Mày nói gì đấy? Ai làm khổ mày? Địch nó làm khổ mày chứ có phải chúng tao đâu. Mày còn nói, tao cắt lưỡi!

     Khiển cười khì khì:

     - Em nói đùa cho vui thôi mà. Em có nói thủ trưởng đâu.

     - Cần phải nhớ giải phóng đất đai và tiêu diệt sinh lực địch là hai nhiệm vụ trong một chiến dịch. Để địch chạy mất là thắng lợi chưa trọn vẹn. Rõ chưa?

     - Em rõ rồi.

     Tốc độ truy kích địch của đơn vị tôi rất chậm. Chỉ mừng bộ phận anh em về lấy gạo và tư trang đi sau đã đuổi kịp đại đội. Nhưng vì mất ngủ, lại đói cộng thêm thời tiết nóng nắng khiến cho ai cũng thấy bã cả người không muốn bước nữa. Tôi cứ suy từ bản thân mình mà nhận ra tình hình chung như thế.

     Bởi vậy, gặp con suối cạnh đường gần rừng râm mát, tôi hạ lệnh nghỉ nấu cơm, ăn trong một tiếng phải xong. Chiến sĩ nghe lệnh hả hê ra mặt:

     - Hoan hô Đại đội trưởng?

     Anh nuôi lập tức triển khai công việc, người bắc nồi người nhóm bếp, người vo gạo rửa rau, thoăn thoắt như máy. Lính ta ào ra suối tắm cứ tồng ngồng cả ra.

     Tôi đến một quãng suối cũng định tắm thấy nhiều cá mà lại toàn cá to bằng bàn tay trở lên, liền cho chiến sĩ ném hai quả lựu đạn.

     Nghĩ bụng hôm nay đơn vị sẽ được bữa cải thiện đây.

     Lựu đạn nổ. Cá trắng xóa trên mặt suối. Anh em reo hò ào xuống vớt cá quên cả mệt mỏi. Không khí cứ như ngày hội chẳng còn thấy những nét mặt nhăn nhó lúc đang hành quân trên đường.

      Trung đoàn phó Biền Sơn ở lại sau thúc quân đã đuổi kịp đơn vị tôi.

     - Đại đội nào đấy? 501 hả! - Anh gọi to - Chuông đâu? Chuông đâu?

     - Báo cáo anh, tôi đây.

     - Đang truy kích địch sao dừng lại?

     - Thưa anh, bộ đội đói mệt. Tôi đã cho anh em nấu cơm, chỉ một tiếng là đi được.

     - Dẹp? Dẹp! - Anh ra lệnh - Đi ngay. Không cơm với cháo gì cả.

     Tôi định trình bày thêm. Anh ngắt lời, thái độ tỏ ra rất tức giận:

       -   Không ý kiến gì cả. Đi ngay. Anh cho bộ đội đi ngay.

      - Vâng ạ! - Tôi quay lại ra lệnh - Tất cả chú ý. Không nấu cơm nữa. Tiếp tục hành quân.

     Chiến sĩ nghe lệnh ngỡ ngàng nhìn tôi vẻ khó hiểu. Anh nuôi chưa chịu thu xếp quang gánh vì cá chưa mổ xong, nồi cơm thì đang sôi. Trung đoàn phó Biền Sơn hằm hằm đến bên nồi cơm đang sôi, quát rất to:

     - Dẹp hết và đi ngay lập tức.

     Gạo và nước trong nồi sôi sùng sục trào ra, khói mù, khói của lửa, khói của nước cùng lúc bốc lên xèo xèo nơi miệng nồi. Tôi thầm nghĩ tại sao không giải quyết cho bộ đội cứ hành quân còn anh nuôi cứ thổi cơm rồi đuổi theo sau?

     Chiến sĩ nhìn tôi, tôi nhìn Trung đoàn phó. Không khí như im phắc lại. Không còn thể trù trừ được nữa. Biết phải đi rồi. Anh Biền Sơn hẳn khó chịu với tôi lắm. Nhưng anh cũng rất nể tôi nên không nói quá giới hạn. Tôi cùng anh biết bao lần ra trận, đều đã hiểu nhau. Đơn vị tôi là chủ công của tiểu đoàn, trung đoàn, tôi chưa để xảy ra điều gì sai sót trong chiến đấu cũng như trong công tác. Hẳn rằng tôi chưa thấu triệt nghệ thuật quân sự được như anh trong tình huống truy kích địch bỏ đồn rút chạy như trận này. Tôi chỉ thương bộ đội đói mệt thôi.

     Đơn vị tiếp tục hành quân truy kích địch, đội hình kéo dài lê thê vì thực tế anh em đã rất mệt lại thêm đói nữa. Đang đi thấy cây gì sà ra vệ đường biết là ăn được. Cũng rứt lá bỏ vào mồm nhai lấy nhai để. Gặp cái khe là hai ba anh túm lại vục nước uống. Vì thế đội hình cứ giã dần, bộ phận đi đầu cách bộ phận đi cuối ba bơn cây số.

     Lúc này tôi thấy anh Biền Sơn lại vui vẻ đi sát từng chiến sĩ động viên:

      - Các cậu cố lên cho kịp anh em đàng trước.

     Thỉnh thoảng tôi cho bộ phận đi đầu nghỉ mươi mười lăm phút để chờ dồn đội hình. Một lần có mấy chiến sĩ đến bên tôi thì thầm:

      - Đại đội trưởng ơi! - Vừa nói anh em vừa móc túi lấy ra những con cá đã nướng vàng - Đại đội trưởng ăn đi cho đỡ đói

     - Nướng bằng cách nào mà nhanh thế?

      - Có khó gì đâu! - Một anh hóm hỉnh nói - Thủ trưởng Biền Sơn không cho nấu thế là chúng em mang theo. Qua khu rừng nứa, chúng em lấy nứa khô chẻ nhỏ như đóm ấy, nghỉ năm mười phút là nướng xong ngay. Ngồi ăn cá chấm muối với anh em mà lòng dạ bồn chồn nghĩ về trách nhiệm của mình trước số phận và cuộc đời mỗi chiến sĩ mà mình phụ trách. Cá thơm ngon thật. Ăn xong lại thấy thèm ăn, bụng càng cồn cào vì đói. Truy kích cần nhanh mà bộ đội thì thất thểu lê từng bước. 


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 08:44:48 pm
      Hôm đó đuổi địch đến 5 giờ chiều, trời bắt đầu tối rồi, vẫn chưa được bát cơm nào vào bụng mà địch thì chẳng thấy tăm hơi đâu cả. Anh em dường như đã đói lả rã rời.

      May sao vừa đi thêm một đoạn nữa thì gặp cái bản nhỏ bên đường, tôi cho bộ đội nghỉ nấu cơm ăn. Tôi tranh thủ tìm trưởng bản hỏi về tình hình địch. Ông ta cho biết chúng qua đây lúc 11 giờ trưa. Chúng xì xào với nhau là chạy về Bản Ban, Xiêng Khoảng. Ông ta còn nói "Bây giờ đơn vị ông mới đến đây thì khó mà đuổi kịp". Tôi liền dò hỏi:

     - Thế còn đường tắt nào đuổi đón đầu được không?

     - Có Nhưng đường khó đi lắm. Đi đường này, sáng mai đi cũng có thể đuổi kịp. Chỉ có khó đi thôi.

     - Ông có thể cho chúng tôi hai người dẫn đường không?

     - Được mà!

     - Tốt lắm? Vậy ông nói với bà con trong bản cho bộ đội nghỉ nhờ ở đây đêm nay.

     Ông trưởng bản vui lòng nhận lời.

     Sáng hôm sau, chúng tôi theo hai người địa phương dẫn đường. Đi mới tới ngã ba thì đã hết buổi sáng. Đường gập ghềnh cheo leo và rậm rạp quá. Nhiều đoạn phải phát cây mới đi được.

     Chúng tôi nghỉ ở ngã ba nấu cơm ăn xong lại hành quân luôn. Khoảng 5 giờ chiều, tổ đi đầu phát hiện phía trước có nhà dân, có lẽ sắp tới một bản làng nào đó. Tôi rất mừng. Như thế là có thể cho bộ đội nghỉ nấu cơm ăn và ngủ ở đây đêm nay.

     Nhưng khi đến cách bản khoảng 300 mét, tôi phát hiện thấy trong bản có những đám khói bốc lên không bình thường. Lại có từng tốp người ngồi gần đó, màu sắc áo quần không phải là trang phục của dân. Địch rồi. Tôi đoán ngay như vậy. Lúc này bỗng quên cả đói, tôi quay lại ra hiệu cho anh em phải cẩn thận, địch đang ở phía trước, rồi lập tức điều hai khẩu cối 82 và hai khẩu trung liên lên.

     - Đồng chí Tác, đưa trung đội đánh thẳng vào bọn địch ở giữa bản.

     Giao nhiệm vụ cho Trung đội trưởng Tác xong, tôi ra lệnh tiếp cho trung đội hỏa lực, cối cứ nhằm vào các đám khói mà bắn không để đạn rơi vào nhà dân trong bản. Trung liên sẵn sàng yểm hộ cho xung kích áp sát địch.

     Cối mới bắn có một loạt đầu, địch đã tháo chạy tứ tung, la hét ầm ĩ, gọi nhau í ới, thúc giục nhau: "Bay men, bay men" (tức là chạy nhanh) không hề có hành động chống trả.

     Tôi cho cối ngừng bắn. Trung đội Tác tiến vào. Chẳng còn thằng địch nào cả. Chúng bỏ lại ngổn ngang cơm, rau, thịt, tỏ ra chưa đứa nào kịp ăn uống gì. Truy lùng mãi mới bắt được 5 thằng, chúng có ý định nộp súng đầu hàng. Số còn lại chẳng biết chúng chạy đường nào.
Trời tối. Tôi cho bộ đội nghỉ ăn cơm do chính bọn địch vừa nấu xong còn nóng, có đủ món ăn.

     Trung đội Tác ăn cơm xong đi nghỉ, hai trung đội phía sau mới về tới nơi. Mới biết truy kích địch chạm địch thì phải triển khai bao vây chiến đấu ngay không thể chờ đơn vị dồn lên đầy đủ mới đánh. Khi địch hoang mang tháo chạy, mình có thể một chọi mười, chọi hai mươi vẫn thắng.

     Tôi bàn với các cán bộ trong đại đội:

     - Địch chạy tứ tung vào rừng trong đêm tối như vậy nếu chúng có thu quân lại được thì cũng chẳng chạy được xa. Theo mấy tên hàng binh chúng nó khai thì địch còn đói hơn ta. Đêm nay cho anh em nghỉ tại đây. Ngày mai chọn toàn anh khỏe đi trước; những anh đau chân, ốm yếu đi sau với bộ phận anh nuôi. Tôi tin là ngày mai đánh địch, ta sẽ tóm được nhiều tù binh hơn.

      Đã 9 giờ đêm. Đang bàn bạc thì Trung đoàn phó Biền Sơn tới. Khác với ban trưa, lúc này anh vui như tết, nói cứ ào ào:

      - Phải vắt chân lên cổ mới đuổi kịp các cậu. Đói quá rồi, có cái gì ăn không?

     - Rất nhiều thứ, xôi dẻo có, cơm gạo tẻ có, gạo Thái Lan trắng mà thơm hẳn hoi; rồi thịt bò, thịt lợn, thịt hộp đều có anh thích ăn thứ gì, tôi bảo liên lạc bưng ra.

      - Này, Chuông? Bỏ cái kiểu nói ấy đi nhé!

      - Thế anh bảo tôi phải nói cái kiểu gì?

     - Còn kiểu gì à?

     - Báo cáo? Tôi không bao giờ dám nói láo với cấp trên. Đồng chí Cầu đâu, thi hành nhiệm vụ đi.

    Cầu chiến sĩ liên lạc, hiểu ý lập tức bưng ra đủ mọi thứ thịt bò, thịt lợn, cơm tẻ, xôi nếp… Tôi gãi gãi đầu trịnh trọng nói:

     - Báo cáo Thủ trưởng, chúng tôi no cả rồi. Xin mời Thủ trưởng cứ tự nhiên.

     - Thế này là thế nào?

     - Thưa Thủ trưởng! Tất cả là do đầu bếp của bọn địch nấu nướng rồi dâng hiến cho bộ đội ta đấy ạ!

     - Thì ra thế - Trung đoàn phó Biền Sơn gật gù rồi bắt đầu cầm bát đũa và nói - Các cậu khá lắm. Đánh thế là được. Vừa ăn, anh Biền Sơn vừa hỏi thêm:

     - Bắt được bao nhiêu tù binh?

     - Có 5 tên. Nó chạy tán loạn khó lùng sục quá.

     - Cậu định thế nào?

     - Thủ trưởng yên tâm. Mai tôi sẽ xử trí. Đêm nay chúng nó có thu được quân thì cũng chưa thể đi xa. Tôi biết đánh địch ở chiến trường rừng núi mà…

      Tôi đang báo cáo với Trung đoàn phó Biền Sơn thì có điện thoại trên trung đoàn gọi xuống. Trung đoàn trưởng Lê Thùy khen, động viên bộ đội và giao nhiệm vụ cho đơn vị tôi tiếp tục truy kích địch về hướng thị trấn Sầm Tớ. Hướng Bản Ban sẽ do Tiểu đoàn 542 và 564 đảm nhiệm do anh Biền Sơn trực tiếp chỉ huy.

     Thế là tôi lại phải tìm trưởng bản để hỏi đường đi Sầm Tớ và nhờ ông chọn cho hai người dẫn đường.

     Ông trưởng bản cho biết đường đi không khó nhưng phải qua một số bản địch còn kiểm soát.

     Sáng hôm sau, chúng tôi theo hai người địa phương dẫn đường tiếp tục hành quân. Bản đầu tiên phải qua là bản của bộ tộc Lào Mông. Hình như ở đây bà con đã biết được có bộ đội Việt Nam tới nên việc đầu tiên ông trưởng bản dẫn năm lính ngụy và sáu dân vệ đến gặp chúng tôi trình diện nộp 8 khẩu súng. Dân chúng đứng nhìn ngơ ngác. Tôi nghĩ, như vậy là chiến thắng đã vang động đến các bản làng ở Thượng Lào. Tiếp theo bà con mang gạo ra và rau đến cho bộ đội.

     Tôi nói với ông trưởng bản:

     - Số súng này, khi nào bộ đội Pa thét đến, ông giao cho anh em. Còn gạo chúng tôi chỉ vay thôi. Ba ngày nữa,sẽ có người mang đến trả cho bà con.

     Ông trưởng bản nói:

     - Chúng tôi tặng bộ đội thôi mà.

     Tôi thay mặt đơn vị cảm ơn bà con dân bản và nhắc ông trưởng bản giải thích cho bà con chấp hành chính sách của Mặt trận Yêu nước Lào cho tốt, đặc biệt là đối với hàng binh, giúp họ trở về quê hương làm ăn lương thiện không cầm súng cho giặc Pháp nữa.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 06 Tháng Mười, 2009, 09:02:26 pm
      Ngày tiếp theo, đơn vị tôi hành quân qua bản bộ tộc Lào Thông. ở đây bà con cũng như đã biết trước, đón tiếp chúng tôi rất nồng nhiệt, thanh niên mang gạo và rau đến nhà ông trưởng bản để ủng hộ bộ đội Việt Nam.

     Tôi xem bản đồ đã biết đường đi Sầm Tớ bao xa nhưng vẫn làm việc riêng với ông trưởng bản cho hiểu rõ thêm.

      Ông trưởng bản nói:

      - Từ bản tôi đến Sầm Tớ chỉ 5 kilômét thôi. Cứ leo lên dãy núi phía trước kia là có thể quan sát được toàn bộ Sầm Tớ.

     - Bọn địch ở trong Sầm Tớ bây giờ ra sao, ông có biết không?

     - Hoang mang lắm? Các ông mà đánh vào là nó hàng đấy.

     Sáng hôm sau, Tiểu đoàn trưởng Hiền Tràng đưa các cán bộ đại đội chúng tôi lên ngọn núi phía tây nam Sầm Tớ. Ở đây chúng tôi nhìn rất rõ thị trấn Sầm Tớ trong một thung lũng rộng, có con suối uốn quanh, các đồn giặc xen kẽ với bản làng. Thị trấn gần khu chùa Sầm Tớ.

     Tiểu đoàn trưởng chỉ từng mục tiêu đồn giặc. Anh giao cho đại đội tôi đánh đồn giặc cao nhất ở gần chùa Sầm Tớ và thống nhất cách đánh là vừa bắn hỏa lực vừa gọi hàng. Bộ binh lợi dụng khi hỏa lực bắn thì tiến dần vào gọi hàng là chính. Nếu địch ngoan cố chống trả, ta mới tổ chức bắn mạnh hơn.

      Trận đánh diễn biến không phức tạp lắm. Ta vừa bắn một loạt cối và mấy tràng đại liên, địch đã nháo nhào bỏ chạy. Đơn vị tôi tiến vào đồn cao gần chùa Sầm Tớ, chẳng đụng độ gì cả. Trong đồn chỉ còn bảy tên lính ngồi chờ quân ta vào thì nộp súng đầu hàng. Tất cả đã chạy tán loạn lên rừng. Chúng tôi tổ chức truy lùng cũng không bắt đuợc tên nào và chẳng biết chúng chạy nơi đâu.

     Các cán bộ bộ đội Pa thét Lào cùng với chúng tôi bắt tay vào xây dựng và củng cố chính quyền mới giữ gìn an ninh và trật tự, củng cố đời sống sinh hoạt và sản xuất cửa nhân dân.

      Chúng tôi tổ chức đi thăm hỏi bà con dân bản, nay bản này, mai bản khác, còn thời gian lại lên chùa lễ Phật, thăm các sư sãi. Vì thế mà không khí quân dân đoàn kết càng thêm cởi mở chân tình.

     Nhưng có một chuyện thật không ngờ.

     Số là anh em Trung đội 2 của chúng tôi ra suối tắm. Thấy suối lắm cá liền hò nhau ném luôn hai quả lựu đạn rồi ào ào xuống bắt cá. Không ngờ đây là cá suối Thần, nhân dân đã quy ước từ lâu đời là không ai được bắt cá suối Thần.

     Nghe thấy tiếng nổ lại thấy bộ đội gọi nhau đi bắt cá, bà con nổi giận kéo đến chỗ chúng tôi cả đoàn, già có, trẻ có, ông trưởng bản dẫn đầu, nét mặt bừng bừng như vừa bực tức vừa lo sợ.  Đồng chí cán bộ Pa thét Lào cũng đi trong đoàn, thái độ rất giận dữ, vừa thấy tôi là hỏi ngay:

     - Sao ông lại cho bộ đội ném cá suối Thần?

     Ông trưởng bản tiếp lời ngay, giọng thiểu não:

     - Bộ đội hại dân bản chúng tôi rồi? Từ trước đến giờ, dân bản ở đây có ai dám đánh bắt cá suối Thần đâu. Bộ đội các ông không sợ phải tội ư?

     Tôi bị dồn vào tình thế khó xử, quá bất ngờ, không biết nói gì, làm gì bây giờ. Nghĩ thật đau lòng. Đi giải phóng cho dân, máu xương không tiếc, vậy mà bây giờ vì một sai sót không đáng để xảy ra mà để dân oán ghét. Lỗi này không thể thanh minh được. Chỉ còn biết tạ lỗi trước nhân dân mà thôi. Tôi cố bình tĩnh trước cơn phẫn nộ của nhân dân, đứng ra, chắp hai tay trước ngực nói:

     - Tôi xin thay mặt đơn vị tạ lỗi bà con. Bộ đội của chúng tôi không biết đã làm sai. Chúng tôi xin nhận khuyết điểm. Mong nhân dân các bộ tộc tha cho. Từ nay trở đi bộ đội không dám làm thế nữa.

     Mọi người xem vẻ đã thông cảm, ông trưởng bản và đồng chí cán bộ bộ đội Pa thét Lào còn nói thêm, giải thích điều hơn lẽ thiệt cho không khí dịu đi. Nhưng một số ông già vẫn khăng khăng đòi kẻo lên chỗ ban chỉ huy tiểu đoàn tố cáo Đại đội 501 dùng lựu đạn ném cá suối Thần.

     Tiểu đoàn giải quyết cách nào mà tình hình không còn căng thẳng nữa thì tôi không rõ, nhưng với tôi chuyện này không thể khuây khỏa được. Tôi rất ân hận về tác phong buông thả đơn giản trong công tác giáo dục chiến sĩ của mình, để đến bây giờ khiến nhân dân oán ghét bộ đội. Đánh thắng giặc mà không được lòng dân, cũng vứt.

     Mấy ngày liền, tôi ít cho bộ đội ra đường, vào bản, thăm chùa. Chẳng vui gì sự việc xảy ra như thế. Nhưng nhân dân không thấy bộ đội vào bản chơi thì lại kéo nhau đến thăm đơn vị, đem theo rau xanh, hoa quả Ai nấy chuyện trò xởi lởi. Tuyệt nhiên không thấy người nào nhắc đến chuyện cá suối Thần. Thanh niên nam nữ còn hát múa với bộ đội rất vui.

     Sau này mới biết đó chính là nhờ tài thuyết phục của cán bộ Pa thét và các thủ trưởng tiểu đoàn mà bà con các bộ tộc Lào ở đây đã thông cảm và tha thứ cho đại đội tôi.

      Cuộc mít tinh và liên hoan văn nghệ mừng chiến thắng giải phóng Sầm Nưa, Sầm Tớ, bộ đội và nhân dân chan hòa trong niềm vui tưng bừng chưa từng thấy ở đây, đã thực sự xua đi nỗi u uất trong lòng tôi về khuyết điểm của đơn vị. Dẫu sao đó cũng là một bài học nhắc nhở tôi suốt chặng đường binh nghiệp của mình.

     Tôi nhớ mãi cái đêm mít tinh và liên hoan mừng chiến thắng ấy, người đông như nêm cối, quân và dân hát múa thâu đêm. Và đó cũng là đêm chúng tôi chia tay nhân dân các bộ tộc Lào để trở về Tổ quốc sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ. Đồng chí Chính trị viên Thanh Nhã đã thay mặt anh em trong đơn vị nói lời từ biệt, tỏ lòng biết ơn nhân dân các bộ tộc Lào đã nhiệt tình giúp đỡ bộ đội Việt Nam làm tròn sứ mạng mà Chính phủ và Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ủy thác..., đã tha thứ cho những khuyết điểm nhất thời mà có cá nhân chiến sĩ hoặc đơn vị nào đó đã phạm phải…

     Có lẽ điều khiến tôi nhớ nhất là chân lý được rút ra từ thực tiễn trong mối quan hệ giữa đại cục và tiểu tiết đối với từng vị trí và cương vị khác nhau. Có cương vị phải coi trọng đại cục mà đôi khi cần bỏ qua tiểu tiết. Có cương vị không thể xem thường tiểu tiết bởi một đốm lửa có thể đốt cháy rừng. Ví như là chuyện của tôi, không thể xem thường cái tiểu tiết bắt cá ở suối Thần.

     Bù lại cho tấm lòng tôi và đơn vị của tôi là tỉnh Sầm Nưa đã được giải phóng cùng với tỉnh Phong Sa Lỳ, hai tỉnh đã trở thành căn cứ vững chắc cho Chính phủ Kháng chiến Lào đến tận ngày nước Lào được hoàn toàn độc lập và tự do.

     Kỷ niệm về Sầm Nưa đối với tôi thật khó quên.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 09:33:05 am
LÀM ĐƯỜNG KÉO PHÁO
ĐÁNH TRẬN ĐIỆN BIÊN

      Thu - Đông năm 1953, Đại đoàn 312 chúng tôi đang trú quân ở tỉnh Phú Thọ (đất tổ Hùng Vương) được lệnh cấp trên tiến quân lên chiến trường Tây Bắc chiến đấu với giặc Pháp ở mặt trận Điện Biên. Cán bộ chiến sĩ đại đoàn ..được đi chiến đấu thật phấn khởi, chẳng ai băn khoăn bỡ ngỡ. Chiến trường rừng núi Tây Bắc năm 1950 - 1951, đơn vị tôi đánh thắng giặc Pháp giải phóng được huyện Bắc Hà, Bảo Thắng, Sa Pa, Phòng Tô, thị xã tỉnh Lào Cai. Tiếp đến chiến dịch Tây Bắc năm 1951 - 1952 chúng tôi giải phóng Nghĩa Lộ - Sơn La - Nà Sản. Lần này đại đoàn tiến quân lên Tây Bắc được cùng với các đơn vị bạn, nhân dân các dân tộc quân đội Tây Bắc mở chiến dịch Điện Biên. Chặng đường hành quân hơn 250 km, phải đi dài ngày, mang vác nặng, leo nhiều dốc núi, đèo cao, qua sông, lội suối ở rừng, nằm đất, gian khổ, khó khăn hơn các lần trước nhiều ai cũng lường biết được. Nhưng chẳng ai băn khoăn lo lắng, trái lại khí thế cả đại đoàn rất cao. Khi tiến quân đại đoàn vui như đi trẩy hội. Từ Phú Thọ chúng tôi ngày một tiến sâu vào núi rừng Tây Bắc. Có chặng đường đi được cả ngày, nhưng thường là đi đêm, xuyên qua nhiều rừng, trèo đèo leo dốc cheo leo. Giặc Pháp lại theo dõi bắn phá, dội bom cản đường, ai cũng thấm mệt, thật vừa gian khổ, vừa ác liệt. Càng gần đến mặt trận Điện Biên, càng khó khăn hơn, nhưng thường gặp nhiều đơn vị khác, các đội dân công hỏa tuyến, hát hò vui vẻ, thăm hỏi nhau nên cũng lướt qua được gian khổ, khó khăn. Tuy rất mệt vẫn giữ được quyết tâm khí thế. Ròng rã hành quân hơn một tháng trời, chúng tôi mới đến được mặt trận Điện Biên. Cấp trên cho nghỉ 3 ngày ở nơi tập kết, ổn định ăn, ở, tắm giặt, sức khỏe cán bộ chiến sĩ trở lại bình thường, ai cũng vui vẻ bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị chiến đấu, quan trọng hơn cả là đi lĩnh súng, đạn, gạo, thực phẩm.

      Cán bộ cấp trưởng của các đơn vị từ đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn đều lên tập trung trên đại đoàn, cùng với các Trung đoàn 141 - 209 để đi nắm tình hình địch, địa hình, thiết kế các trận đánh trước sau. Đại đoàn trưởng Lê Trọng Tấn giao nhiệm vụ ngay trên thực địa cho các trung đoàn đánh trận đầu tiên. Trung đoàn 141 - 209 tập trung chuẩn bị đánh cụm cứ điểm Him Lam là cụm phòng thủ tuyến ngoài của tập đoàn cứ điểm địch ở Điện Biên. Chúng bố phòng rất mạnh, vì thế chúng ta phải chuẩn bị thật kỹ, thật chu đáo mới đánh thắng nhanh, diệt gọn được Còn các cán bộ cấp phó từ đại đội đến đại đoàn đều ở nhà chỉ huy bộ đội làm đường kẻo pháo. Tôi lúc ấy là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 115, Trung đoàn 165, được gọi lên trung đoàn cùng các anh Tiều đoàn phó 564 - 542. Trung đoàn giao nhiệm vụ cho chúng tôi cùng các cán bộ công binh cấp trên đi khảo sát làm con đường kẻo pháo. Đi liên tục 3 ngày mới khảo sát xong. Đại đoàn phó Đàm Quang Trung phân công Trung đoàn 165 đảm nhiệm làm đường kéo pháo từ đỉnh núi An Tao vào đến trận địa pháo phía bắc sân bay Điện Biên, để bắn vào các trận địa địch ở trung tâm chỉ huy của tướng Đờ Cát. Trước mắt trận địa pháo này bắn chi viện cho trung đoàn tấn công vào cụm cứ điểm đồi Độc Lập. Trung đoàn 141 - 209 làm đường kéo pháo từ phía đông nam đèo An Tao vào đến các trận địa pháo bắn chi viện cho hai trung đoàn tấn công vào cụm cứ điểm Him Lam.

      Đoạn đường Trung đoàn 165 đảm nhiệm, chỉ hơn 8 km nhưng phải qua nhiều đồi núi, khó nhất đoạn vượt qua núi An Tao. Trung đoàn lại giao cho Tiểu đoàn 115 đảm nhiệm làm 2 km đường đèo cao, dốc đứng, vực lại sâu Chúng tôi chỉ huy đưa bộ đội ra làm, được nhiều cấp cán bộ công binh, pháo binh đến hướng dẫn kỹ thuật làm đường, nhiều cán bộ cơ quan đến động viên, chiến sĩ phấn khởi làm hết sức mình. Ngày nào đơn vị tôi làm cũng vượt mức trên quy định. Vất vả nhất là các cán bộ công binh, thiết kế chỉ đạo đơn vị tôi làm đường kéo pháo từ cách đào ta tuy đoạn cua, đường vòng rất cụ thể, để khi ta kéo pháo, nòng không chạm vào vách núi, hoặc pháo không tụt xuống vực sâu. Lại bầy cả cách nguy trang giữ được con đường an toàn bí mật.

      Hồi đó cán bộ chiến sĩ đơn vị tôi rất quý mến anh kỹ sư Urăng, người dân tộc Êđê, phụ trách con đường kéo pháo phía bắc này. Anh có dáng người đẹp, to, khỏe, có nước da ngăm đen, đôi mắt to, khuôn mặt tròn, bên má có vầng miếng xám lớn, tính tình điềm đạm, rất trách nhiệm.

     Ngày nào cũng thấy anh trên mặt đường, thường xuyên cùng với chiến sĩ làm các đoạn đường khó nhất trên đỉnh núi An Tao. Thời gian chỉ sau chưa đầy một tháng chúng tôi hoàn thành con đường kéo pháo, ai cũng vui mừng, cấp trên lại giao cho đơn vị tôi nhiệm vụ tiếp kéo pháo. Tôi phân công mỗi đại đội phụ trách một khẩu đội pháo cùng các đồng chí pháo binh kéo pháo. Chỉ huy là cán bộ pháo binh, thống nhất đẩy, kéo, các đại đội phải theo lệnh các đồng chí ấy. Các đồng chí pháo binh tổ chức phân công cho từng pháo thủ, từng khẩu, bộ phận rất cụ thể như: Đội kéo, đội đẩy, tổ tời, tổ chèn pháo chỉ có đẩy pháo tiến lên, không được để pháo lùi, tụt xuống vực là trách nhiệm chung ai cũng phải lo. Các đồng chí đại đội chỉ xen kẽ vào các tổ của pháo binh theo yêu cầu.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 11:17:16 am
     Khi kéo đẩy pháo, phải theo lệnh chỉ huy thống nhất nhịp nhàng có lệnh phất cờ tiến lên, dừng lại kết hợp miệng hô một - hai - ba là cùng nhau kéo đẩy pháo lên. Công việc đẩy, kéo pháo vượt qua đồi cũng rất khó khăn vất vả lắm rồi, ngại nhất là đoạn đường kéo, đẩy pháo vượt qua đỉnh núi An Tao. Đoạn này rất đứng, vực lại sâu, chúng tôi phải điều thêm đại đội bộ binh nữa đến hỗ trợ thêm cho từng khẩu đội pháo mới đẩy kéo pháo qua được. Khó khăn vất vả vô cùng. Những lúc bộ đội kéo pháo như thế, nhiều cán bộ cấp trên, cả cơ quan đến động viên cổ vũ. Tôi thấy đồng chí Phạm Ngọc Mậu - Chính ủy Đại đoàn công pháo cũng có mặt, cả cán bộ chỉ huy Đại đoàn 312 đồng chí Đàm Quang Trung cũng đến, còn đem theo cả văn công đại đoàn, do Nhạc sĩ Hoàng Vân đội trưởng cũng có mặt. Họ hát hò, cổ vũ động viên bộ đội ta kéo pháo rất khí thế. Từng khẩu, từng khẩu vượt qua đỉnh núi An Tao. Ai cũng vui mừng phấn khởi từ người chiến sĩ đến các cán bộ chỉ huy cao nhất, niềm tự hào quyết tâm được nhân lên, bộ đội tin nhất định ta đánh thắng giặc Pháp ở mặt trận Điện Biên.

     Nhạc sĩ Hoàng Vân xúc động dõi theo từng khẩu pháo vượt qua đèo An Tao theo tiếng hô trầm hùng của các chiến sĩ và giai điệu bài Hò kéo pháo đã rung lên trong anh chính từ nơi đây.

Dốc núi cao cao, nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi.
Hai - ba này! Vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù...

      Phải nói bài ca Hò kéo pháo - Nhạc sĩ Hoàng Vân sáng tác đã nói lên được ý chí quyết tâm của các chiến sĩ pháo binh và bộ đội ta kéo pháo đến được tất cả các trận địa để bắn vào đồn giặc. Các trinh sát trắc địa ta đang đo đạc các phần tử bắn vào các mục tiêu thì lệnh cấp trên dừng lại và kéo pháo ra. Cán bộ chiến sĩ ngỡ ngàng thắc mắc không thể nào hiểu được: Sao lại có lệnh như thế. Cán bộ trung đoàn chỉ giải thích ngắn gọn, địch đang đổ thêm quân, tăng cường phòng thủ, ta đánh chưa chắc thắng. Lệnh kéo pháo ra chuẩn bị thêm kỹ hơn mới đánh thắng được. Đến lúc này các chiến sĩ pháo thủ mới kéo pháo ra nhưng vẫn chưa thông. Trên đường kéo pháo ra gặp rất nhiều đoàn dân công vác đạn, gánh gạo vào, phải vác đạn gánh gạo ra cũng thắc mắc. Họ còn nói bâng quơ: Bộ đội các anh kéo pháo vào, kéo pháo ra, thập thò, thập thò, đánh không đánh chỉ làm khổ chúng tôi. Bộ đội chúng tôi chỉ mải miết kéo pháo chẳng trả lời, cứ mặc các cô ấy muốn nói gì thì nói.

     Con đường kéo pháo ra lúc này, bộ đội dân công đi chung rất đông, các lá cây dàn nguy trang trên đường đã khô héo. Địch phát hiện được con đường. Tuy chúng không phát hiện con đường ấy là đường bộ đội ta kéo pháo, nhưng chúng vẫn bắn phá rất mạnh. Pháo từ trong Mường Thanh bắn ra, máy bay đến thả bom liên tục mây ngày, có đoạn đường cây bị cháy xám khô, nhiều cây trốc dễ gẫy cành ngổn ngang, bộ đội ta vẫn kéo pháo. Có đoạn bom đạn đào lên đất đỏ hòa lẫn máu các chiến sĩ hy sinh, nhưng anh em vẫn quyết tâm kéo pháo ra đến nơi vị trí an toàn.

      Giặc Pháp chỉ bắn dồn dập ít ngày. Chúng cho là bộ đội ta đã rút khỏi các trận địa, chúng chỉ tăng cường trinh sát thỉnh thoảng bắn pháo dội bom vu vơ. Chúng tôi về đến vị trí tập kết chuẩn bị một thời gian về mọi mặt tinh thần, ý chí rồi lại kéo pháo vào. Cũng rất gian khổ khó khăn quyết liệt lắm mới đưa được pháo của ta đến các trận địa bắn bí mật an toàn. Cũng đến lúc này mới hiểu vì sao có chuyện kéo pháo vào, kéo pháo ra như thế và cũng thêm tin tưởng.

      Chuyện làm đường kéo pháo ở mặt trận Điện Biên cách đây 50 năm, hồi ấy tôi còn là cán bộ cấp thấp, không nắm được tình hình chung. Chỉ nghe một vài cán bộ cấp trên và đồng chí U răng kỹ sư nói: Con đường kéo pháo dài nhất là con đường phía bắc, cái núi cao dốc nhất, pháo vượt qua khó nhất là núi An Tao. Viện lịch sử, Bảo tàng Quân đội xác định thêm khẳng định này. Nếu đúng lịch sử như nó có, tôi xin kiến nghị Nhà nước và quân đội cho khôi phục con đường kéo pháo và cho dựng một cái bia hoặc cụm đài tưởng niệm bộ đội ta kéo pháo trên đỉnh núi An Tao.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 02:36:58 pm
CẮT SÂN BAY MƯỜNG THANH

      Đại đoàn 312 chúng tôi được tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, lại được đánh trận mở đầu tiêu diệt hai cụm cứ điểm Him Lam, Độc Lập trên tuyến phòng thủ rất mạnh ở vòng ngoài. Sau đó đánh tiếp các cụm cứ điểm trên đồi Đ1, 2, 3 và cụm cứ điểm C1, 2, 3 kết thúc thắng lợi đợt một chiến dịch.

     Sang đợt hai, đại đoàn cùng các đơn vị bạn từ nhiều hướng tiến xuống đánh địch ở lòng chảo Điện Biên tạo thành thế trận vây quân địch kể cả cơ quan chỉ huy của tướng Đờ Cát. Trung đoàn 165 chúng tôi được giao nhiệm vụ tiến vào vây đánh và cắt sân bay Mường Thanh, cái sân bay lớn của giặc Pháp ở Điện Biên Phủ được ví như cái dạ dày khổng lồ của chúng ở khu vực này. Trung đoàn trưởng Lê Thùy gọi ba tiểu đoàn trưởng chúng tôi đến giao nhiệm vụ.

     - Chúng ta sẽ đánh vào sân bay bằng cách đào hào để thực hiện chiến thuật vây, lấn, tấn, phá, triệt, diệt, một chiến thuật tổng hợp nhằm khống chế không cho các loại máy bay địch lên xuống và cả không cho chúng thực hiện theo ý muốn kế hoạch thả dù tiếp tế. Như vậy bộ đội sẽ phải chiến đấu và sinh hoạt một cách cơ động ngay trong lòng đất suốt ngày đêm.

      Nhận nhiệm vụ thì vui, nhưng nghĩ cho kỹ lại chưa thật yên tâm. Anh Nguyên và anh Phiên, hai Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 542 và 564 đều nhất trí với tôi rằng, địch còn mạnh, quân còn đông tới hơn một vạn tên, hỏa lực pháo binh và xe tăng của chúng cũng còn rất mạnh. Ta đánh vào sân bay là cắt cái dạ dày của hơn một vạn quân địch, nhất định chúng sẽ phản ứng quyết liệt để cứu mạng sống, chứ không chịu bó tay. Chính vì thế mà cuộc chiến đấu cắt sân bay Mường Thanh, sẽ diễn ra giằng co khốc liệt, địch cố giữ, ta quyết chiến, không bên nào chịu bên nào. Địch còn làm chủ được sân bay thì quân ta còn gặp nhiều khó khăn. Ta cắt được sân bay thì coi như đã đưa tướng Đờ Cát lên đoạn đầu đài.

      Song tình hình quân ta lúc này, tuy khí thế rất phấn khởi sau các trận thắng ở đợt một, nhưng cũng đã có thương vong, cán bộ một số mới được cất nhắc lên, chiến sĩ phần đông mới được bổ sung chưa dày dạn chiến đấu mà nhiệm vụ lần này lại nặng nề và khó khăn hơn nhiều.

     Tôi nhớ, hôm đó sau khi phân tích tình hình thuận lợi và khó khăn, anh Khánh, Chính ủy trung đoàn có giải thích thêm:

     - Đúng là nếu địch biết được ta cắt sân bay, chúng sẽ phản ứng quyết liệt. Song trận đánh này không chỉ có chúng ta, còn Đại đoàn 316 và 308 nữa. Lại còn pháo binh cao xạ và công binh cùng phối hợp. Như vậy địch phải phân tán lực lượng để đối phó trong khi ta lại luôn luôn trong tư thế chủ động. Lẽ tất nhiên đánh vào sân bay là gian khổ, là ác liệt. Song vượt cái gian khổ và cái ác liệt này tức là ta thít chặt thêm cái dây thòng lọng vào cổ quân địch ở Điện Biên. Mong rằng các cán bộ đảng viên phải thật thông suốt nhận rõ ý nghĩa của trận đánh và vai trò vị trí của mình trong trận đánh.

   *
*     *


      Có lẽ chưa có trận đánh nào lại phải đào hào nhiều như trận đánh này. Chúng tôi đã đào từ hậu cứ trung đoàn trên đồi 75 đào xuống. Và trung đoàn phải tổ chức phân đoạn cho các tiểu đoàn đào liên tiếp hai ngày mới đưa được bộ đội xuống lòng chảo Điện Biên nghĩa là khi các đoạn chiến hào nối nhau đã dài gần chục cây số. Xuống lòng chảo Điện Biên tức là xuống giữa cánh đồng mênh mông ngập cỏ, không cây cối che khuất, địch và ta có thể nhìn thấy nhau. Chúng tôi nhìn thấy đồn giặc trên các mỏm đồi, máy bay tấp nập lên xuống sân bay hoặc thả dù tiếp tế. Chắc rằng chúng cũng đã thấy các đường hào ngầu lên mầu đất đỏ cứ mỗi sáng lại lấn sâu vào gần chúng, những đường hào công khai không cần nguỵ trang như thách đố đối phương.

      Chúng tôi sinh hoạt ăn ở chiến đấu ngay trong lòng đất. Đây là yêu cầu đặt ra cho cách đánh vây lấn tấn phá triệt diệt này. Xuống lòng chảo Điện Biên thì hệ thống chiến hào bắt đầu hình thành thế trận có công sự cho hỏa lực cối, đại liên, ĐKZ và lực lượng bắn trả. Tất nhiên có cả hầm hào tránh bom pháo và nghỉ ngơi. Đội đánh giữ trận địa ban ngày là lực lượng hỗn hợp gồm một số chiến sĩ bắn tỉa bằng súng bộ binh, một hai khẩu cối, ĐKZ, hai trung liên, một đại liên có nhiệm vụ bảo vệ tiền duyên cho bộ phận đào hào về phía sau nghỉ, tối tiếp tục ra đào. Bộ phận đánh giữ ban ngày tiếp tục củng cố công sự, thiết bị trận địa bắn sao cho bí mật bất ngờ. Có địch mới đưa súng ra. Địch đến gần mới bắn.

      Công việc đào hào chiến trận bắt đầu vào mùa mưa. Song vẫn có những ngày nắng hai ba hôm liền. Nắng thì khổ vì nóng, nó oi bức hầm hập như đổ lửa, mồ hôi  đầm đìa như tắm. Nhưng mưa còn bực hơn. Mưa hai ba ngày liền, nước dồn xuống lòng chảo Điện Biên thì các đường hào mà chúng tôi vừa đào ngập ngụa bùn nước đỏ ngầu, quần áo bê bệt suốt ngày những đất cùng bùn, cơ động dưới hào mà đi như bơi, người nào mặt mũi cũng nhem nhuốc bùn đất.

      Khi chiến hào của quân ta lấn sâu vào lòng chảo Điện Biên hướng về sân bay Mường Thanh và các đồn luỹ giặc, thì cũng là lúc quân địch phản ứng rất mạnh. Pháo cối từ các nơi cùng với hỏa lực trong đồn bảo vệ sân bay bắn ra, cộng với máy may trút bom hết đợt này đến đợt khác, khói bụi mịt mù, tiếng nổ inh tai nhức óc. Từng cột khói nối tiếp nhau dựng lên cùng với bụi đất che kín cả một vùng, không còn nhìn rõ cả đồn giặc và sân bay. Chúng bắn phá hàng tiếng đồng hồ, nghe đến sốt cả ruột. Mỗi đợt bom pháo chúng trút xuống, đất rung lên, hầm hào tròng trành ngỡ như đang ngồi trên thuyền giữa giông bão, áp sát người vào vách hầm, tôi cảm thấy đất Điện Biên ôm chặt lấy chúng tôi chẳng khác nào cái áo giáp che chở cho chúng tôi đánh giặc.

      Mặc địch bắn, chúng tôi không bắn trả. Khi địch ngừng bắn, chiến sĩ đã thành thói quen, lập tức ra sửa lại hầm hào và các công sự chiến đấu. 

      Tôi theo dọc chiến hào lên kiểm tra trận địa thấy rõ mục tiêu bắn phá của địch chính là những đường hào chằng chịt, nhiều đoạn bị sạt, có hầm chiến sĩ bị sập, nhiều anh em bị ù tai. Gặp một cậu, tôi hỏi mãi cậu ta chỉ cười không trả lời, rồi nhìn tôi ngơ ngác. Hỏi tên,' anh em bên cạnh phải trả lời thay:

     - Cậu Minh đấy Tiểu đoàn trưởng ạ. Hầm sập, may người không việc gì nhưng mà điếc đặc. Chúng em chỉ bị ù tai thôi.

     - À ra thế. Các đồng chí đưa Minh về phía sau nhé, tôi sẽ cho người lên thay.

      Đang nói thì địch lại bắn. Chúng bắn cấp tập trong mười phút rồi chuyển dần về phía sau. Tôi nhắc anh em:

     - Các đồng chí chú ý, bộ binh mò ra đó.

     Tôi vừa nói dứt lời thì nghe tiếng kèn đồng thúc quân, lập tức bọn địch tiến ra rất đông, hò la alaxô ầm ĩ. Tôi thấy Minh điếc không chịu quay về phía sau, cậu ấy xách súng lao ra công sự. Hôm ấy Minh đã bắn chết ba tên địch. Bọn giặc tưởng rằng hỏa lực của chúng đã san bằng được trận tuyến của ta. Chúng không ngờ đã bị quật lại và cuối cùng đành phải thập thò chuẩn bị đợt xung phong tiếp theo. Nhưng lần này rời rạc, bọn lên trước, bọn rụt rè theo sau, chiến sĩ ta có dịp tỉa từng thằng buộc chúng phải co lại về đồn, dùng súng cối bắn ra một cách thưa thớt cho đến tối thì im ắng. Trong khi địch mò ra lấy xác thì ta cũng củng cố trận địa và chuyển thương binh tử sĩ về phía sau. Qua một ngày đọ sức giữa lòng chảo Điện Biên, tôi nhận thấy quân địch chỉ mạnh về hỏa lực thôi chứ tinh thần thì sa sút rồi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 04:52:13 pm
      Những ngày này chúng tôi thường ăn cơm nắm với muối vừng lạc và mắm kem khu bốn, nhưng ít bữa no. Có hôm anh nuôi nấu kém, vớ phải nắm cơm nửa sống nửa chín, ăn trệu trạo trong miệng mà cứ phải nhai, phải nuốt. Thèm rau, thèm thịt, thèm đủ mọi thứ kể cả điếu thuốc lào mà không kiếm đâu ra. Nhưng suy cho cùng ở đây đối với chúng tôi lúc này, mắm kem khu bốn là ngon thượng hạng, nó đậm ngọt và thơm, ăn rồi nhớ mãi. Sau này ta đánh sâu vào trong địch phải thả dù lung tung, chúng tôi lấy được các loại dù thực phẩm đủ cả thịt hộp, xúc xích, bơ sữa, pho mát ăn đến chán chê bỏ cả cơm nắm mà vẫn không quên cái vị đậm ngọt thơm ngon của mắm kem khu bốn.

     Lại nói việc đào hào ở ngoài đã khó, vào gần hàng rào sân  bay và đồn giặc càng khó hơn . Khi vào gần hàng rào là thế trận vây lấn đã như phải giáp mặt quân địch hoàn toàn phải tiến hành vào ban đêm. Cán bộ chiến sĩ đi thẳng vào chân hàng rào ra lệnh nằm xuống, người nọ nối người kia thành một hàng dọc, lặng lẽ bỏ các sọt đất, bùi nhùi rơm, cỏ ra che chắn phía trên đầu, đề phòng đạn địch bắn thẳng rồi bắt đầu đào. Trước hết đào nằm sau đó đào ngồi, đào quỳ, đào nối lại với nhau thành chiến hào. Trường hợp lộ, địch bắn sẽ có lực lượng kiềm chế đánh địch, bộ phận đào càng phải đào khẩn trương hơn. Có thương binh tử sĩ thì đã có bộ phận tải thương lo liệu. Làm sao bốn giờ sáng phải xong thế trận vây lấn sâu hơn đêm trước để kịp triển khai bộ phận đánh giữ ban ngày cho bộ phần đào hào về phía sau nghỉ ngơi.

     Bây giờ đến giai đoạn đào qua hang rào vào trong sân bay thì không thể đào lộ thiên mà phải đào sâu vào lòng đất như đào địa đạo. Hàng rào dây thép gai của địch rộng tới bốn năm chục mét, mà đào mỗi ngày đêm liên tục chỉ được khoảng mười lăm mét.

     Thế rồi một buổi sáng tám giờ, trời âm u, sương buông mù mịt  máy bay địch vẫn ầm ì trên đầu thả đèn dù pháo sáng, đạn pháo từ đồn Mường Thanh vẫn bắn ra ùng oàng, chiến sĩ ta đã vào được trong sân bay và lại tiếp tục đào nhanh hơn, khẩn trương thiết lập trận địa. Lúc này địch chưa biết gì. Trăng lên. Sân bay mênh mông gió lộng. Không ai nói ra song hình như có một niềm vui hay là sự hồi hộp chộn rộn trong lòng khi tận mắt đã nhìn rõ cái sân bay lát những tấm sắt dã chiến trải dài qua bốn phía loang loáng dưới ánh trăng. Sau khi các công sự đã được nối với nhau cùng với các trận địa hỏa lực, các vị trí bắn tỉa thì đã mười một giờ khuya. Mãi lúc này địch mới phát hiện quân ta đã vào trong sân bay. Thế là súng cối trong đồn 105 phía bắc, đồn 206 phía tây và pháo từ Mường Thanh  thay nhau bắn ra. Chúng tôi vẫn tiếp tục đào. Thời gian càng khẩn trương buộc chúng tôi phải nhanh chóng làm chủ được trận địa đã chiếm lĩnh một cách vững chắc, Địch bắn. Chúng tôi đào hối hả hơn. Địch bắn đến gần sáng thì chúng tôi đã đào thành hai nhánh, một nhánh sát đồn 105, một nhánh ngoằn ngoèo cả góc sân bay gần ba trăm mét. Đến lúc này, ở gần địch, chúng tôi ít bị ảnh hưởng của đạn pháo. Sáng ra tôi quan sát thấy trận địa của ta đã lấn vào trong hàng rào sân bay khoảng ba trăm mét cạnh sườn đồi 105 về phía đông bắc, chưa có thể gọi là đã cắt được sân bay. Địch trong đồn 105 bắn ra rất ít. Hẳn là chúng không dám lên khỏi mặt đất, sợ bị bắn tỉa. Chỉ thỉnh thoảng bắn cối ra. Đồn 206 cũng vậy.

    Nhưng đến tám giờ sáng thì pháo từ Mường Thanh bắt đầu bắn mạnh ra trận địa ta. Tiếp đến máy bay quần đảo trút bom bắn phá. Pháo cao xạ của ta buộc chúng phải nâng độ cao hạn chế kết quả oanh tạc.

     Tôi đoán chừng bộ binh địch có thể mò ra nên nhắc anh em phải hết sức chú ý. Đã có hiện tượng thập thò lên khỏi mặt đất khi pháo Mường Thanh hoạt động và máy bay oanh tạc.

     Quả nhiên. Lúc đó đúng mười giờ. Đánh nhau giằng co đến tận hai giờ chiều, chúng phải quay về đồn nằm im. Một giờ sau, máy bay địch đến thả dù tiếp tế cho đồn phía đông nam sân bay và đồn 105, 206. Dù rơi lung tung, cái vào đồn, cái ra ngoài, cái rơi vào cả trận địa của quân ta. Không có tên địch nào dám mò ra lấy. Tối đến, anh em ta mới tổ chức đi lấy dù, cứ gọi là vui như hội. Có những tổ lấy được dù bánh mì hoặc thịt hộp, đường sữa hoặc rượu, kẹo, hoa quả, thuốc lá. Có tổ vớ được dù toàn đạn hoặc nước, bông băng, thuốc quân y. Lại có tổ chỉ thấy những cuộn dây thép gai, nghĩ mà tiếc công. Song tất cả đều rất vui vì từ đây nhiều cậu không còn thiết đến cơm nắm nữa, cứ bỏ lăn lóc trên bờ công sự, bữa bữa chén bánh mì thịt hộp đến no thì thôi. Ăn xong lại có kẹo tráng miệng rồi nhâm nhi cà phê, thuốc lá đàng hoàng…

     Nhưng từ thời gian này, chiến đấu càng thêm quyết liệt. Bị cắt cái dạ dày của hơn một vạn quân, tướng Đờ Cát đâu có chịu ngồi yên.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 09:34:16 pm
     Đúng vậy. Sau mỗi đợt máy bay và pháo địch bắn phá dọn đường, chúng lại đẩy bộ binh ra. Lần này tới một tiểu đoàn có cả xe tăng yểm trợ, chúng quyết đẩy quân ta ra khỏi sân bay chăng? Nhưng trung đoàn tôi đã được tăng cường lực lượng. Cấp trên lại điều cả Trung đoàn 141  và Đại đoàn 308 đánh lấn vào sân bay Mường Thanh. Có thể nói cắt sân bay và giữ sân bay là chuyện sinh tử của cả hai bên. Vì thế cuộc chiến ở đây tất yếu phải quyết liệt. Địch chết rất nhiều. Quân ta hy sinh cũng không ít. Cũng có thể nói ban ngày địch thắng nhưng ban đêm lại thua và ngược lại, ban ngày quân ta tạm co lại, ban đêm lại tràn ra khôi phục công sự và đào lấn thêm. Thế trận diễn ra như thế hàng tuần lễ, có khi địch ta giành giật nhau từng đoạn chiến hào. Chiến sĩ ta có đồng chí bị thương, cánh tay băng trắng vẫn bắn trúng địch. Có đồng chí trước bọn địch ào đến định bắt sống đã kịp thời tung trái lựu đạn cuối cùng diệt địch. Có hôm tôi phải cho lui về chiến hào hai đánh giữ vì phía trước địch ồ ạt tiến lên đã chiếm được nhiều đoạn chiến hào và anh em đã bị thương vong nhiều. Từ chiến hào hai, chúng tôi phát huy hỏa lực mạnh hơn diệt nhiều tên buộc chúng phải dừng lại. Một hôm, tôi đến gặp Đại đội trưởng Minh Lanh trao đổi công việc lại gặp đồng chí bị thương chưa biết tôi là cán bộ tiểu đoàn cứ níu áo nói:

     - Bảo anh ấy, thà chết cũng không rời trận địa.

    - Đồng chí tên là gì?

    - Bài, mới bổ sung về đây. Tiếc quá!

     - Sao?

     - Em bị thương khéo chết mất, chưa bắn được nhiều địch. Anh nhắn hộ anh Phú Đại đội 1 khi nào về quê báo cho mẹ em biết.

     - Quê Phú Thọ à?

    - Em ở xóm Tây Cốc gần ngã ba Đoàn Hùng.

    - Được rồi!

    Tôi nhận lời, vừa định về vị trí chỉ huy thì địch lại bắn mạnh, nhưng để lôi thằng chết và khiêng thằng bị thương về Mường Thanh.
Chiều hôm đó quân ta lại lên củng cố trận địa và đến bảy giờ tối lại tổ chức lực lượng đào lấn thêm tuyến nữa. Một hôm, địch ào ạt tiến lên có cả xe tăng đi cùng đã chiếm hết tuyến chiến hào vừa đào đêm qua, anh em phải lui về chiến hào hai, gấp quá không kịp chuyển thương binh nặng và có đồng chí đã hy sinh. Nghĩ mà xót xa. Đúng lúc đang ở chiến hào chuẩn bị đánh trả địch bỗng thấy quân địch ở phía trước chững lại và tiếng súng của đơn vị bạn dội lên phía đông nam và phía tây sân bay.

    - Các đồng chí có nghe thấy gì không?

    - Có ạ! Đơn vị nào không biết?

    - Trung đoàn 141 và Đại đoàn 308 đấy.

    Chúng tôi thừa cơ nổ súng tấn công. Bốn giờ chiều, quân địch phải rút hết về Mường Thanh.

    Những đường hào tiếp tục được đào dũi từ cả ba hướng cho đến ngày 16 tháng 4 thì gặp nhau, nối được với nhau ở nơi không biết ai đặt cho cái tên là ngã ba Đầm Hà. Cũng đến lúc này, trên thực địa ta mới cắt và chiếm được sân bay Mường Thanh. Song thực tế thì từ khi chúng tôi lọt vào trong sân bay, cái dạ dày khổng lồ của hơn một vạn quân địch đã mất hiệu lực rồi. Bởi từ hôm đó không một chiếc Đacôta nào dám cả gan hạ cánh xuống nữa. Mà thả dù thì gần bằng "kính biếu” lính Cụ Hồ thôi. Quân ta thu được cả lon tướng của gã Đờ Cát kia mà.

    Đúng ngày 16 tháng 4, chúng tôi vây sát đồn 105,  triển khai kế hoạch diệt đồn. Đại đoàn 308 đánh đồn 206. Ngày 18 tháng 4, bọn địch ở 105 tháo chạy khi chúng tôi chỉ mới bắn phá được mười ụ súng và mở xong ba cửa mở. Nhưng toàn bộ quân địch ở đồn 105 không một tên nào thoát, bị chết và bị bắt sống hết.

    Cũng ở đồn 105, tôi đã bị thương nặng không tiếp tục tham gia đợt ba của chiến dịch. Thật là tiếc.

    Thấm thoắt đã 50 năm. Bây giờ ngẫm lại mới hay, đã trải qua nhiều chiến dịch, tôi vẫn chẳng thấy lần nào chiến sĩ ta phải đào chiến hào nhiều đến thế. Dám đào chiến hào cắt đôi cắt ba cả một cái sân bay dưới tầm bom dạn của quân thù. Hẳn rằng lòng tin và quyết tâm của mọi người từ vị chỉ huy tối cao đến người chiến sĩ đã quyện trong nhau như thép được tôi trong nghìn độ lửa mới làm nên chiến công tuyệt vời thực hiện trọn vẹn ý đồ chiến dịch như thế.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 09:35:58 pm
ĐIỆN BIÊN TRONG TÔI
 
     Điện Biên trong lòng nhân dân và quân đội ta là trang sử hào hùng sánh ngang với Đống Đa, Chi Lăng, Bạch Đằng. . . trong bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Điện Biên trong hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tất cả trí tuệ và mưu lược của chiến tranh nhân dân chiến thắng tên đế quốc cáo già, đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật quân sự và cũng là đỉnh cao của vinh quanh cho đất nước.

     Điện Biên trong tôi, phía sau của niềm tự hào chung như tất cả mọi người, tôi có nỗi đau, nỗi đau của một tên tù binh mà trước khi bị bắt tôi đang là người chiến thắng. Viết lại nỗi đau này, tôi không có ý làm khác đi vẻ hoành tráng của Điện Biên anh hùng mà chỉ muốn nói, con đường dẫn đến chiến công có muôn vàn ghềnh thác, điều quan trọng là những ghềnh thác ấy có làm cho ta nhụt chí hay ngược lại chính nó là những thử thách vô cùng khắc nghiệt đã làm sáng tỏ trong ta khí phách của một con người chân chính.

    Hồi ấy, tôi phụ trách Tiểu đoàn 155 thuộc Trung đoàn 165 do anh Khánh là Chính ủy, anh Lê Thùy là Trung đoàn trưởng. Vào cuối đợt hai của chiến dịch, tiểu đoàn tôi có nhiệm vụ đánh đồn 105. Trận đánh diễn biến nửa thắng, nửa thua này khiến cho tôi thấy cay đắng trong lòng. Tức là chúng tôi nổ súng chỉ sau ba mươi phút, toàn đơn vị đã thực hành xung phong đánh chiếm và làm chủ ba phần tư đồn, bắt sống ba mươi tên trong đó có tên quan ba chỉ huy. Địch phải dồn lại một góc lợi dụng hầm ngầm ngoan cố chống cự. Trong khi chúng tôi đang tìm cách diệt hầm ngầm thì từ trung tâm Mường Thanh, các tiểu đoàn bộ binh địch có xe tăng pháo binh yểm trợ đánh ra nhằm phản kích giải vây cho đồn 105. Trận chiến diễn ra vô cùng quyết liệt và phức tạp giữa ta và địch xen kẽ nhau trong đồn, ngoài đồn đều nổ súng. Tiểu đoàn trưởng Bế Phiên chỉ huy Tiểu đoàn 564 đánh chặn viện ngoài đồn không hoàn thành nhiệm vụ. Cấp trên phải điều thêm Đại đội 243 (Trung đoàn 141) đánh mở đường tăng cường cho tiểu đoàn tôi chiến đấu trong đồn. Nhưng bọn địch trong trung tâm Mường Thanh vẫn tiếp tục điều thêm quân ra ngăn chặn bằng được các lực lượng chi viện của quân ta. Đến lúc này, đơn vị tôi phải chiến đấu trong thế bị bao vây thực sự. Một cuộc đọ sức ác liệt song cũng tỏ rõ phẩm chất người chiến sĩ cách mạng uy vũ bất khuất, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, bị thương vẫn không rời tay súng.

     Hầu như anh em chỉ bị bắt sau khi đã bị thương và không một ai chịu đầu hàng địch.

    Trận đánh từ 8 giờ tối ngày hôm trước đến 10 giờ sáng hôm sau, quân địch mới chiếm lại được 105. Lúc này tôi đã bị thương khá nặng, ở cả đùi, tay và ngực phải nằm bẹp không thể cử động được nhưng đầu óc vẫn còn tỉnh táo. Chính vì còn tỉnh táo nên nỗi đau càng như xé ruột gan khi nhìn anh em hy sinh và bị thương nằm la liệt khắp nơi, chồng chất lên nhau nối hàng ở chỗ cửa mở như hai bờ ruộng, tiếng kêu rên nghe cháy bỏng trong lòng. Cho đến bây giờ tôi vẫn không quên hình ảnh hy sinh của các chiến sĩ tiểu đoàn tôi. Có người nằm vắt mình qua hàng rào, tay buông thõng. Có đồng chí nằm nghiêng, tay vẫn ôm súng, ngón tay đặt trong vòng cò. Có người gục xuống chiến hào, tôi chỉ nhìn thấy hai cẳng chân dang lên trên nền trời. Nhiều anh em bị thương khe khẽ gọi tên ai đó nghe thật xót xa . . .

    Quân địch tràn vào đồn rất đông, đứa nào cũng lăm lăm khẩu súng chĩa vào đầu anh em ta, dẫu cho chỉ còn là những cái xác không hồn. Có tiếng rên của một đồng chí cách chỗ tôi không xa bị thương. Lập tức ba tên địch quay mũi súng về phía đó xả đạn. Tôi nhắm nghiền mắt lại vừa như không muốn chứng kiến lại vừa như sẵn sàng chờ đợi ba họng súng kia sẽ xả đạn vào chỗ mình. Tự nhiên tôi nghĩ: Ôi? Cái tuổi hai mươi lăm nằm lại Điện Biên rồi. Hình ảnh mẹ tôi, các anh chị, các em, cả ông chú bà bác cứ hiện lên trong đầu. Tôi tưởng tượng cái lúc mọi người nghe tin tôi chết ở Điện Biên òa lên khóc. Rồi hình ảnh xóm làng đình chùa, các ngày hội cứ hiện lên như in. Nhớ cái tuổi chăn bò dong duổi khắp đồng trên bãi dưới, qua rặng vải cây si, rủ nhau trèo lên cây gạo đình làng bẻ hoa bắt chim rồi ào ào chạy ra sông tắm, na.y tắm sông Hồng, mai tắm sông Đà, ngày kia lại về tắm đầm làng, nhớ buổi cắt cỏ bên núi Mươi, Đình Bằng, đồi Bông, xóm Thuê, những khi trồng sắn trên nương với mẹ, đánh cá dưới ao với cha. . . nỗi nhớ tràn về cứ nối tiếp hiện lên chẳng khác nào một cuốn phim. Hết nghĩ về nhà, tôi lại nghĩ về cấp trên, đơn vị, bạn bè. Tôi không về được, bây giờ chắc cấp trên đang lo lắm, và anh em thì đang nhắc tới tôi, hai cậu Tùy và Bãi thể nào cũng khóc . . .

     Đang suy nghĩ miên man thì bỗng nghe "bịch" bên tai phải sát ngay sau gáy thấy ran rát, liền theo đó là mấy tiếng súng nổi "bọp, bọp". Lại "bịch" nữa sát đầu vai bên trái. . . Tôi thoáng nghĩ thế là hết, mình sẽ chết ở đây mà không làm gì được chúng cũng như không thể nhắn lại đồng đội được nửa lời. Nhưng sao mình vẫn còn tỉnh táo. Lại nghĩ có chết cũng phải đàng hoàng. Tôi xoay về hướng bắc cố ghếch đầu lên đôi vai đồng chí đã tắt thở rồi nói thầm: Cho mình gối nhờ để có chết vẫn nhìn về phía quê hương. Chỉ ít phút nữa thì anh em ta gặp nhau. Tôi ghé mắt nhìn và nhận ra Trung đội trưởng Tác Đại đội 501, đôi lông mày xếch lúc này như xếch hơn lộ rõ vẻ căm uất. Con người dáng cao to nặng nề tháo vát... Vậy mà! May sao đã có một thằng con trai. Ở Vĩnh Yên, vợ con cậu mà biết tin lại khóc hết nước mắt thôi.

     Bỗng nghe tiếng "bịch" động mạnh dưới đùi tiếp theo là tiếng súng nổ "bọp". Lại “bịch" sát vành tai rát rạt như bị búng mạnh vào mang tai, mắt hoa lên. Đến đây thì tôi ngất đi không hay biết gì nữa. Khi tỉnh lại, trời đã xế chiều, tôi đoán rằng khi tôi tìm cách gối đầu lên thi hài Trung đội trưởng Tác, tên địch nào đó thấy tôi còn sống đã bắn tôi. May sao viên đạn chỉ sát vành tai và vào đầu làm cho tôi ngất đi thôi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 09:45:03 pm
     Nắng buổi chiều vẫn phả ra nóng hừng hực. Tôi thấy khát nước quá, môi như khô cứng ra, nuốt thấy đau rát ở cổ họng. Tôi muốn ngồi lên như gắng gượng mãi không được, cảm thấy người mình nặng hẳn ra như có đá đè, tay phải thì đau không tài nào cử động được. Tôi dùng tay trái  quờ quạng quanh người sờ soạng tìm nước nhưng không có chỉ thấy cái vỏ đạn tiểu liên. Sờ xuống dưới thắt lưng chỗ gần đũng quần thấy đất mát, ươn ướt, tôi moi lấy một miếng bỏ vào mồm nhấm nháp. Xem ra cũng dìu dịu cơn khát nhưng sao có vẻ như vừa mặn vừa khai, tôi đoán chừng nước đái hoặc máu. Cũng đành nhúm tiếp rồi nuốt thử cho qua cơn khát song không nuốt nổi. Cơn khát càng cồn cào như sắp phát điên lên, tôi kêu, muốn hét thật to nhưng không thành tiếng. Ngay lúc ấy có một chiếc ô tô từ trong Mường Thanh ra dồn để lượm xác và đón lính bị thương. Chúng tìm đến gần chỗ tôi. Thương binh của ta và lính của chúng bị thương nằm lẫn lộn cạnh nhau. Tôi khẽ kêu lên. Hai thằng Tây chạy lại, một thằng cúi xuống nhìn, nó nói:

     - Xava!

     Hai người phu theo sau cũng chạy đến. Một người hỏi:

     - Anh là cán bộ hay chiến sĩ?

    Tôi không trả lời chỉ kêu:

     - Nước? Cho tôi xin nước?

    Hai thằng Tây xì xồ nói gì không rõ. Một thằng lấy bi đông mở nắp đưa cho tôi. Tôi nghiêng đầu uống ừng ực. Nước vào đến đâu tôi biết đến đấy. Lúc ấy tôi cảm thấy nước như là thứ thuốc tiên khiến đầu óc tỉnh táo hẳn ra, ruột gan mát mẻ. Chiếc bi đông không rời khỏi mồm, tiếng nước kêu ọc. Thằng Tây ngăn lại không cho uống nữa. Nó ra hiệu uống nhiều chết. Tôi vẫn cứ uống và nói lại:

     - Tôi không chết được.

    Thằng Tây khác giật lấy bi đông rồi xem qua vết thương, lấy băng ra băng bó lại, vừa làm nó vừa hỏi tôi, người phu dịch lại:

    - Anh là sĩ quan hay là lính, tên là gì, đơn vị nào?

     Tôi nói một mạch:

    - Tên tôi là Vi Hải, chức vụ chiến sĩ, Đại đội 501, Tiểu đoàn 15 .

      Hình như hai thằng Tây này là bác sĩ hay y tá gì đó, chúng chỉ hỏi qua loa rồi sai người phu đưa tôi lên ôtô để nằm chung với thương binh của chúng. Xe chạy. Tôi đoán chừng chúng chuyển thương binh vào khu trung tâm Mường Thanh. Đường rất xóc mà xe thì chạy như điên.

     Chắc là tên lái xe sợ ăn đạn pháo của ta nên không hề nghĩ đến những người nằm trên xe đều là thương binh. Người tôi nẩy lên như bị quăng quật, đến đoạn nào đó thì ngất lịm đi không biết gì nữa.

     Khi tỉnh dậy thấy trời tối đen, nhìn lên bầu trời loáng thoáng một vài ngôi sao, nghe không xa, tiếng súng ta súng địch vẫn nổ, tiếng pháo sáng lập lòe như ma trơi. Đạn pháo cao xạ 37 ly của ta nối nhau vút theo về phía tiếng máy bay nổ như hoa lửa giữa trời. Tôi không sao đoán ra mình đang ở đâu mà tại sao không có gác. Tôi lại thấy khát nước và cả đói nữa, bây giờ làm sao kiếm được cái gì cho vào mồm. Tôi thử nhúc nhích cánh tay phải. Không được. Nó đã gãy rồi. Chân phải cũng bị hai phát đạn như lìa, đứng không được, ngồi cũng không được thì làm sao tìm được nước trong đêm tối mênh mông như thế  này. Tôi dùng khuỷu tay trái, mông trái cố lê lết đi. Phải tìm ra nước và xem có ai ở xung quanh mình không. Lết được một đoạn không xa, tôi thấy có ánh sáng le lói, cố lết nhanh đến đó thì thấy cái cửa hào xuyên vào hầm. Tôi tiếp tục lết vào mới hay bên trong hầm có hai dãy giường nằm toàn là lính Tây bị thương, thằng nào cũng quấn băng trắng toát, thằng băng trên đầu, thằng băng kín ngực, thằng bó trắng cả chân cả tay. Chúng kêu rên khiếp lắm. Tôi lết qua trước mặt chúng mà chẳng thằng nào nói gì cả. Tôi nhìn quanh thấy có một cái giường bỏ không, trải đệm trắng tinh bên cạnh có một cái bàn,cái ghế, trên bàn có chai nước và nhiều thứ bánh cùng hoa quả. Tôi rất mừng, lết nhanh đến bên bàn, mặc cho đau đớn, cố rướn người lên lấy chai nước tu uống ồng ộc rồi vớ lấy ít bánh quy ăn, còn hoa quả thì dắt quanh vành quần để phòng khi khát nước. Ăn uống xong, tôi chống tay ngồi lên ghế, lấy thuốc lá hút, lúc này thấy trong người thoải mái, hết khát, bụng đã no nhưng mệt. Tôi lê đến giường từ từ nằm xuống, cảm thấy gân cốt dãn ra, ngửa mặt nhìn lên nắp hầm suy nghĩ mông lung. Chẳng hiểu số phận mình rồi ra sao. Rất có thể lát nữa một tên nào về thấy mình, nó sẽ nện mình cũng nên. Nhưng mặc mẹ nó, không sợ gì hết, miễn là được nằm cho dãn gân dãn cốt đã.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 07 Tháng Mười, 2009, 10:59:13 pm
     Quả nhiên khoảng nửa đêm, tên quan ba thầy thuốc về nhìn thấy tôi trên giường, nó ngỡ ngàng trố mắt rồi la hét một cách giận dữ. Tôi nghĩ bụng, mặc mẹ mày, tao không biết tiếng tha hồ cho mày chửi. Nó nhìn thẳng vào tôi. Tôi cũng nhìn thẳng vào nó bình thản cứ nằm hút thuốc. Thằng Tây vẫn quát tháo, khi thấy người lính Bảo Hoàng(l) và hai bác phu, nó nói xì xồ như trách mắng.

    Người lính Bảo Hoàng bảo tôi:

     - Anh dậy mà đi ra đi.

     - Tôi không dậy và không đi được.

     Hai bác phu và người lính đỡ tôi xuống rồi dìu tôi trở về nơi ban đầu. Nằm một mình, nghĩ lại những việc vừa xảy ra thấy cũng buồn cười. Mới biết con người ta, chết không phải dễ. Thế rồi sau đó, tôi ngủ lúc nào không biết. Khi tỉnh dậy thì trời đã sáng, nhìn ra xung quanh thấy nhiều người đi lại quét dọn. Đây là những người phu, địch  bắt vào để phục vụ bệnh viện. Thấy tôi nằm còng queo trên đất, họ đến hỏi han tỏ vẻ thông cảm. Người thì hỏi bị thương ở đâu, người lại hỏi cán bộ hay chiến sĩ, có người lấy súp cho thương binh của chúng đi qua hỏi nhỏ xem đã ăn uống gì chưa. Tôi chỉ nhìn họ không trả lời và suy nghĩ, chẳng lẽ những con người này đều là những kẻ đi theo giặc? Khoảng 8 giờ, một bác sĩ cùng một nữ y tá đều là người Pháp đến, có hai bác phu đi theo. Người bác sĩ biết tiếng Việt nói:

     - Anh nằm yên, chúng tôi sẽ khám và kiểm tra vết thương cho anh.

     Người nữ y tá cởi băng ở đầu tôi, xem các vết thương ở gáy và hai tai, sau đó hai người nói với nhau xì xồ. Hai bác phu cởi áo chấn thủ dài tay cho tôi không được, phải là dao kéo cắt từng mảnh rồi lột ra. Người bác sĩ xem và thương ở ngực và tay phải rồi lại trao đổi ý kiến gì đó và người nữ y tá. Tôi nghe hai bác phu nói là vết thương ở vai làm cho tay phải tôi gãy rời. Họ tiếp tục kiểm tra vết thương ở đùi, ở mông. Tôi bị lột nốt cái quần. Thế là lúc này tôi nằm trần truồng, cứ tênh hênh ra đấy. Cũng hơi ngượng nhưng lại nghĩ, thôi mặc, chúng mày muốn làm gì thì làm. Họ rửa rồi thay băng từng vết thương. Riêng tay phải họ bó bột rồi băng chặt vào ngực, vào lưng. Người tôi lúc này gần như được phủ lên một lớp băng trắng toát. Tự nhiên tôi lại nghĩ đến gia đình, nếu mọi người, nhất là mẹ tôi biết tôi như thế này thì sẽ khóc nhiều đến sinh ốm đau ra mất. Vậy mà bọn họ băng cho tôi xong lại cười cợt như không. Một tên sĩ quan Pháp biết tiếng Việt đi cùng tên lính Bảo Hoàng đến hỏi tôi. Nó cũng hỏi tên, ở đơn vị nào, là sĩ quan hay là lính? Tôi khai thật đơn vị vì hiểu rằng chúng đã biết rõ nhưng tôi không nói tên thật mà bịa ra cái tên Vi Hải và chỉ là lính thôi.

     Tôi bị bắt nhưng tôi hiểu quân địch đang ở thế thua cho nên không sợ gì cả. Chúng chỉ hỏi qua loa thế rồi quay ra bảo tôi ngồi yên để chụp ảnh. Tôi không cho chụp nhưng chúng cứ chụp. Tôi biết rằng chúng chụp ảnh tôi là để nói với thế giới rằng người Pháp đối xử nhân đạo với tù binh. Thấy tiếng máy xè xè, tôi nhăn mặt vờ kêu đau rồi nghiêng đầu ngoảnh mặt đi. Nếu chúng có chụp được chỉ là chụp được bức ảnh như thế mà thôi. Chúng xì xồ với nhau không chụp nữa rồi tản đi, chỉ còn thằng Tây đứng lại nói với tên lính Bảo Hoàng bằng tiếng Việt:

     Cho nó xuống căng?

     Tôi không biết căng là gì lại tưởng nó bảo đem giết liền tỏ vẻ phẫn nộ. Tên lính Bảo Hoàng vui vẻ bảo tôi:

    - Anh chuẩn bị xuống căng.

     - Tao không đi đâu hết. Tao chết ở đây.

    Tôi nói như hét lên rồi mắng tên lính Bảo Hoàng một cách thậm tệ, mắng nó là tên bán nước. Chúng gọi thêm hai tên lính da đen tới. Hai tên này cầm hai khẩu súng chĩa thẳng vào đầu tôi. Tôi nhìn và chỉ tay vào mặt nó như thách thức. Hai tên lính da đen cười khoác súng vào vai rồi cúi xuống túm chân tôi lại để cho hai tên lính Bảo Hoàng giữ vai và đầu nhấc tôi lên cáng.

    Chỗ gọi là căng cách độ bốn trăm mét, đó chính là trại tù binh. ở đây toàn bộ anh em bộ đội ta phần đông đã bị thương. Vừa thấy khiêng tôi tới, mọi người xúm lại xem với vẻ tò mò. Anh thì hỏi:

    - Tên cậu là gì?

    Anh khác lại hỏi:

    - Là cán bộ hay chiến sĩ đấy?

    - Đánh trận nào đấy?

    Tôi chỉ trả lời tên tôi là Vi Hải và giả vờ mệt không nói gì thêm nữa, chú ý quan sát và nghe xem họ bàn tán gì cũng như tỏ thái độ như thế nào về mình. Lúc ấy khoảng 5 giờ chiều. Có lẽ anh em cảm thông với sự mệt mỏi của tôi, tất cả lại tản ra và trở về hầm của họ. Một anh sau này tôi biết tên là Hải đến gần nói nhỏ với tôi: 

    - Anh ở đây gần cậu Đình, cậu Điệp, các cậu ấy sẽ giúp đỡ. - Nói rồi anh cũng lẳng lặng đi.

    Trời tối dần. Mưa phùn nhè nhẹ. Anh Đình, anh Điệp đem cho tôi ca nước rồi cũng chui vào hầm ngủ. Tôi nằm tựa vào vách hào, quấn tấm chăn dù che lên cả mặt. Lúc này mới cảm thấy đau nhức khắp người. Càng về khuya  mưa càng nặng hạt, gió thổi càng mạnh khiến tôi không sao ngủ được. Nằm nghe tiếng ngáy của những người bên cạnh, lòng thao thức khôn nguôi, tôi thoáng nghĩ, sao màhọ vô tư thế. Gần nửa đêm, anh Đình mò ra đi giải thấy tôi nằm co ro khẽ hỏi:

    - Cậu có lạnh không, mưa có hắt vào chỗ cậu không?

    - Lạnh và đau quá.

    Anh Đình liền gọi anh Điệp dậy bàn nhau đưa tôi vào nằm trong hầm của anh Đình. Anh Điệp lại đem sang một cái bao tải xếp gọn trong hầm anh Đình rồi dìu tôi vào. Sau ít phút, người ấm hẳn lên, tôi ngủ thiếp đi một cách ngon lành. Sáng ra hai anh dậy trước. Khi thức dậy, tôi đã thấy các anh đang đun nước. Anh Điệp hỏi:

    - Anh có đi đại tiểu tiện, tôi cõng đi?

    Không còn cách nào khác, tôi phải nhờ anh Đình cõng lên miệng chiến hào giải quyết cái việc cần thiết, sau đó ba anh em chúng tôi ngồi uống nước ăn bánh mì cùng vài cái kẹo, hút thuốc lá. Các anh cho biết đây là mấy thứ hôm qua anh em phu cho mới ăn một nửa. Tôi cảm động nhìn hai anh Đình và Điệp rồi thủng thẳng hỏi:

    - Các anh có biết những ai trong số anh em bị bắt vào đây là cán bộ không?

    - Có - Anh Đình vội vã trả lời - Đến năm sáu ông ấy. Tôi biết có ông Trụ, ông Phòng, ông Hải, ông Minh, nghe như là cán bộ trung đội và đại đội. To nhất trại này chỉ có ông Trụ.

    Trụ? Tôi thoáng nghĩ không biết có phải anh Trụ, Chính trị viên 564 không. Tôi còn đang phân vân, đột nhiên anh Đình nói:

    - Anh Vi Hải là cán bộ phải không?

    - Sao đồng chí nói thế, đồng chí không tin tôi ư?

    Anh cười khì khì. Cả Điệp cũng cười theo làm tôi hơi chột dạ cứ nghĩ mông lung. Tôi cố tình hỏi lại:

    - Căn cứ vào đâu mà hai anh khẳng định vậy?

    Anh Đình tủm tỉm cười nói:

    - Dấu đầu hở đuôi nhé! Đêm qua ngủ chung, em thấy anh nói mê gọi điện thoại cứ "Alô! Alô! Anh Lê Thùy đâu?” Anh Lê Thùy đâu Rồi anh gọi cả tên anh Bế Thiên ở đơn vị 564 chặn viện không vào đúng vị trí thả lỏng cho quân địch tiến đến sát đồn 105 mà không thấy tiếng súng của Tiểu đoàn 564. Rồi anh quát to lắm. Lúc ấy em đánh thức anh Điệp dậy cùng nghe, chắc chắn anh là cán bộ cỡ ấy chứ. Chúng em mừng lắm. 

    Tôi nghe mà lạnh toát cả người. Đúng là dấu đầu hở đuôi thật. Đến lúc đó tôi đành phải nhận. Tôi nói:

    - Có điều lúc này chúng ta đều là tù cả và là đồng đội của nhau. không nên phân biệt cán bộ chiến sĩ làm gì. Tôi mong các đồng chí giúp đỡ tôi giữ bí mật. Như thế chỉ có lợi cho quân đội chúng ta thôi.

    Anh Đình chân thật nói:

    - Chúng em hứa sẽ bảo vệ và giúp đỡ anh.

    - Thế bây giờ tôi nhờ hai anh làm thế nào mời được anh Trụ tới đây.

    - Việc đó dễ quá. - Anh Đình nói ngay - Em cùng đại đội với anh Trụ, cùng bị thương cùng bị bắt. Có ngày nào anh ấy và em không gặp nhau.

    Lát sau anh Đình tìm được anh Trụ đến. Chúng tôi xúc động chào nhau. Anh Trụ nắm chặt tay tôi:

    - Anh cũng vào đây ư?

    - Vâng. Bị bắt ở trận đánh 105.

    Tôi ngắm nhìn Trụ vẫn dáng cao gầy, da đen nhưng bây giờ người khô đét, tóc bù xù, tay trái vẫn băng không co duỗi được, trông có vẻ tiều tụy. Tôi hỏi:

    - Tình hình anh em ta trong này thế nào?

    - Ở đây tất cả có hơn một trăm anh em bị chúng nhốt trong cái trại chỉ có gần hai trăm mét vuông, ăn, nghỉ, ỉa cả ở đấy, cho nên ruồi bọ nhiều, bệnh tật phát sinh, vết thương không chịu lành, cứ khỏi rồi lại tái phát và thuốc men băng bông cũng chẳng có. Thỉnh thoảng có xin được ít băng bông hay thuốc tím để rửa vết thương thì chỉ có anh em ta tự lo cho nhau thôi. Ăn thì ta tự nấu. Mỗi ngày chúng chia cho bốn lạng gạo với ít muối trắng, thỉnh thoảng mới có ít tép khô. Những hôm quân ta bắn mạnh như mấy ngày hôm nay thì chỉ còn có hơn ba lạng. Có ngày không, vì thế ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe và vết thương rất lâu bình phục.

    - Trong này có mấy cán bộ, các anh đã gặp nhau chưa?

    - Rồi. Chúng tôi đã thành lập ban lãnh đạo tù, chọn các đồng chí biết tiếng Anh, tiếng Pháp giao nhiệm vụ trực tiếp quan hệ với chúng, trong đó có anh Phòng, anh Hải. Về lãnh đạo chúng tôi đã thành lập chi bộ, anh em cử tôi làm Bí thư. Nói chung việc tổ chức lãnh đạo khá chặt chẽ, mỗi khu vực có một tổ Đảng. Nhờ vậy anh em ta luôn luôn giữ vững được tinh thần và ý chí, có khó khăn giúp nhau tự khắc phục và đoàn kết đỡ đần nhau.

    Nghe anh Trụ kể tôi rất mừng. Trong tình hình anh em đều bị thương mà hoàn cảnh thì vô cùng khó khăn vẫn làm được những việc như thế thật là đáng khâm phục. Tôi đề nghị cho được gặp các đồng chí lãnh đạo. Anh Trụ phấn khởi đồng ý ngay.

    Sau khi anh Trụ về, anh Đình dìu tôi vào hầm nghỉ nhưng tôi đề nghị để tôi ở ngoài cho thoáng, khi nào nắng to hay có mưa thì sẽ vào. Gọi là hầm nhưng thực ra nó chỉ được khoét vào vách hào như cái hầm ếch, vừa chật, vừa có mùi rất khó chịu. Anh Đình và anh Điệp đều cười như là đã hiểu được những gì tôi đang nghĩ trong đầu. Anh Điệp vỗ nhẹ vào đùi tôi nói.

    - Anh yên tâm, ngay hôm nay chúng em sẽ khoét cho anh cái hầm tất và xin cho anh cái chăn, cái khăn mặt. Lúc nào đó sẽ xin anh em phu cho anh cái ca.

    Đúng lúc này tôi thấy có một số lính địch đi qua, tiếp đến là anh em phu đi lại nói cười. Một số anh em ta cũng lên nói chuyện với phu, hỏi thăm quê quán họ mạc rất là ồn ào, tự nhiên. Tôi đề nghị anh Đình cõng lên mặt hào để có thể hiểu và có thể hòa nhập được cảnh sống trong tù. Lên mặt hào, tôi tận mắt nhìn thấy cảnh sống trong tù. Hầu hết anh em bị thương nhẹ đều lên khỏi mặt hào. Từng tốp phu, từng tốp lính đi làm qua đến trại tù dừng lại có người cho gói thuốc, có người cho bánh kẹo, cứ đứng ngoài ném vào. Anh em ta xúm vào nhặt. Tốp này đi qua, tốp khác lại đến, có thể tới cả nghìn người. Tôi rất khó chịu khi thấy bọn lính Âu Phi dẫn phu đi qua, bắt chước anh em phu cũng cho thuốc và bánh kẹo nhưng chúng lại nhử nhử hai ba lần rồi mới ném vào và cười khinh bỉ khi thấy anh em tù binh ta chen nhau nhặt lượm và cãi nhau. Như thế này thì không ổn. Dù bị bắt làm tù binh, nhưng người chiến sĩ quán đội nhân dân không thể có
hành vi tồi như thế được, trái lại, cần tỏ rõ tư thế làm cho anh em phu phải tôn trọng và kẻ thù phải nể nang. Chẳng biết có phải chỗ bánh kẹo và thuốc lá của anh Đình và anh Điệp cho tôi thưởng thức sáng nay là kết quả của cách ăn xin kiểu này không? Nghĩ thế nhưng tôi lại hỏi Đình sang chuyện khác:

    - Chung quanh ta có những đồn nào nhỉ?

    Đình chỉ cho tôi biết ở đây là ngã ba đường lên phía bắc sân bay, đường về Hồng Cúm, con đường đi qua cầu Mường Thanh. Phía tây bắc là khu tập trung phu phen có đến bốn năm nghìn người, cứ sáng đem đạn gạo đến các đồn kết hợp lấy thương binh về bệnh viện ở ngay cạnh khu phu này. Còn khu phía đông nam là khu lính Angiêri, Ma rốc không hoàn thành nhiệm vụ chạy trốn bị bắt về tập trung. Bọn này tuy có súng nhưng thực chất là tù giam lỏng rất có cảm tình và hay nói chuyện với ta.

     Sáng hôm sau, anh Trụ và các lãnh đạo đến chỗ tôi họp. Nội dung thứ nhất là bàn bạc về việc giữ vững ý chí củng cố đoàn kết, biết bảo vệ thương yêu nhau, các đồng chí khỏe giúp đỡ các đồng chí bị thương ốm nặng. Việc nhận bánh kẹo thuốc lá của địch và anh em phu đi qua cho phải tiến hành có tổ chức, sau đó tập trung phân phối đều, ưu tiên cho người yếu. Trừ ai có người nhà quen thân mới được sử dụng riêng. Về tổ chức phải tăng cường thêm các đồng chí biết tiếng Anh, tiếng Pháp đưa những kiến nghị của anh em xin cấp thuốc và ăn no. Đó là bộ phận anh Phòng. Bộ phận thứ hai do anh Hải là đại diện phải tăng cường công tác tuyên truyền trong lính Âu Phi nhất là lính người Angiêri và Ma rốc thường có cảm tình với cuộc chiến đấu của ta. Cuộc họp còn bàn về việc điều chỉnh cán bộ đảng viên để sự lãnh đạo được chặt chẽ, các tối có sinh hoạt nhóm bàn bạc cách khắc phục các khó khăn thiếu thốn, giữ vững ý chí và bản chất Bộ đội Cụ Hồ làm cho anh em phu phải kính trọng và cả kẻ thù cũng phải kính nể. Với bộ phận dân phu cũng phải thêm người cùng anh Trụ làm công tác tuyên truyền.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 09 Tháng Mười, 2009, 08:38:23 pm
       Sau khi bàn bạc xong, các anh trong ban lãnh đạo đề nghị với tôi nói chuyện với toàn thể anh em. Tôi nhận lời. Tối hôm đó, khi trời vừa tối hẳn, anh em đã đến tập trung gần đủ, các đồng chí bị thương nặng cũng được cõng đến. Tôi vô cùng xúc động nhìn anh em một lượt rồi thong thả nói:

      - Thưa tất cả các đồng chí? Tôi là Vi Hải đánh trận 105 bị thương và bị bắt vào đây mới được ba ngày. Tình hình ở bên ngoài về quân ta, tôi vẫn còn nắm được ít nhiều, xin trình bày để các đồng chí biết. Thứ nhất là ý chí và quyết tâm của bộ đội ta rất cao, lực lượng ta hiện nay rất mạnh. Toàn Đảng toàn dân ta đang tập trung toàn lực để đánh thắng quân thù. Phải đánh thắng giặc Pháp, phải giải phóng Điện Biên, quyết tâm này không có sức mạnh nào lay chuyển được. Ngày thua của quân Pháp đã rõ ràng, bình thường chúng ta ở đây cũng thấy rõ. Him Lam, Độc Lập mất Đ1, Đ2, E2, E3, A1 ta đã chiếm được một phần. Sân bay bị cắt, ta đã áp sát đến gần trung tâm chỉ huy của Đờ Cát. Ngày chiến thắng giải phóng Điện Biên chưa rõ ngày nào, nhưng đến gần rồi. Thất bại của giặc Pháp không thể tránh khỏi. Chúng ta phải chuẩn bị ý chí tinh thần tổ chức sẵn sàng khi thời cơ đến, ngoài bộ đội ta tấn công vào trong, ta kết hợp với phu đánh ra phối hợp. Đây cũng là nhiệm vụ và trách nhiệm của chúng ta.

      Tôi rất mừng rằng vào đây mới ba ngày đã được nghe được thấy tình hình anh em ta bị thương bị bắt ốm đau khó khăn là thế mà vẫn chịu đựng được. Lại còn giúp nhau thể hiện bản chất quân đội, những chiến sĩ trung kiên của cách mạng. Ta tuy đang gặp vô vàn khó khi
song ta cũng có những thuận lợi là Pháp đang ở thế thua. Hơn bốn nghìn phu có cảm tình muốn giúp đỡ ta, lính Âu Phi cũng có cảm tình với ta. Các đồng chí phải tỏ ra là người chiến thắng, giữ tư thế Bộ đội Cụ Hồ. Lời nói và hành động của chúng ta phải là chỗ dựa cho họ đấu tranh để giúp đỡ chúng ta khắc phục được một phần nào khó khăn trong tình huống bị giặc bắt này.

      Tôi tiếp tục nói cho anh em biết về tội ác của giặc Pháp mà chính mắt tôi đã nhìn thấy rõ, chúng vô cùng dã man tàn bạo như ở trận 105, các chiến sĩ ta bị thương đã bị chúng bắn chết sau khi chúng tiến vào đồn. May có tôi có đồng chí bị thương nằm bên, chúng bắn một loại tưởng chúng tôi đã chết hết mới quay đi. Tôi kể tiếp về chuyện hai người phu đến chuyển thương binh của chúng về phía sau thấy tôi còn sống đã đưa tôi về đây. Tôi nói:

       - Hành động tàn ác của quân giặc thế nào, đến lúc này chắc chúng ta đã rõ. Có khi chẳng cần súng đạn mà chúng cũng có thể giết được ta bằng cách không cho thuốc, để đói ăn nên bệnh tật phát triển, vết thương nặng thêm mà chết. Cho nên trong chúng ta ai trở về được với quân đội, với nhân dân, phải kiên quyết tố cáo tội ác của giặc Pháp cho mọi người biết, cho đời đời con cháu ta không bao giờ quên.

     Tối ấy tôi nói chuyện với anh em từ 7 giờ đến 9 giờ.  Tôi rất xúc động thấy anh em nghe một cách chăm chú, đến lúc đó vẫn còn muốn nghe. Nhưng tôi rất mệt, phải hẹn anh em vào một buổi khác.

     Ngày hôm sau, khí thế anh em rất phấn khởi. Mọi quy định đề ra để giữ gìn phẩm chất người chiến sĩ nhân dân anh em đều chấp hành. Mọi người tỏ ra chan hòa thương yêu nhau hơn. Nhiều anh em đến thăm tôi trao đổi tiếp những điều rất có ý nghĩa về những ngày bị tù phải sống như thế nào để khỏi phải xấu hổ. Tôi bị thương không đi được nhưng nhờ thế cũng quen biết được nhiều  anh em. Sự chuyển biến trong trại tù chúng tôi khiến các bác phu cũng phải ngạc nhiên xin đòi gặp đại diện tù. Các đồng chí lãnh đạo cử tôi tiếp xúc với anh em. Té ra đến lúc đó mới biết trong số anh em phu này có tổ chức của ta do một đồng chí đại đội phó của Sư đoàn 320 cùng 20 chiến sĩ được cử vào trà trộn trong số hơn bốn nghìn người dân Thái Bình, Nam Định bị địch bắt lên đây làm phu tải đạn, gạo cho các đồn và tải thương. Anh em này biết rất rõ tình hình địch, đã đề nghị với tôi từng ngày tìm cách gặp nhau để trao đổi. Tôi thật không ngờ trong hoàn cảnh như thế mà chúng ta vẫn tổ chức được một lực lượng trung kiên để lãnh đạo và nắm bắt tình hình. Thiết nghĩ đây cũng là một yếu tố tạo nên thắng lợi cho chiến dịch. Hẳn ràng có những anh em đã phải hy sinh mà không chắc đã có ai biết đến công lao của họ.

     Tình hình chiến thắng của quân ta ngày càng đến gần thì anh em chúng tôi lại càng gặp khó khăn. Ta đánh mạnh, đạn pháo bắn vào, sân bay bị cắt, địch lúng túng đối phó không chỉ súng với súng đạn mà cả với cái ăn hàng ngày. Lính địch cũng đói thì tất nhiên tù chúng tôi càng đói hơn. Tuy đói, nhưng nhìn thấy lính địch đào ngũ bị bắt về ở quanh chỗ chúng tôi ngày càng đông thì chúng tôi lại rất khoái.
Bọn địch cũng nhận ra sự chuyển biến khác thường trong trại tù chúng tôi, chúng đoán rằng đã có một sự lãnh đạo ngầm nào đó. Một hôm chúng hỏi xem trong tù binh ai là sĩ quan. Anh em đều trả lời chỉ có lính bị bắt chứ cán bộ của chúng tôi không ai bị bắt. Chúng liền cử lão cố đạo Tây xuống hai ba lần. Tôi biết nhưng không gặp. Anh em tìm cách bảo vệ tôi. Mỗi khi lão xuống, tôi vẫn cứ nằm dưới hầm không lên. Đồng chí Đình khẽ nói nhỏ với tôi:

     - Anh cứ yên chí. Em đã khai anh ốm nặng. Em bảo anh bị ma bắt (ốm).

     Một hôm, khoảng 9 giờ, anh Phòng dìu tôi ra cửa hầm để thay băng. Anh cho biết là lão cố đạo đã xuống  nhưng đang la cà hỏi han người này người khác, còn lâu mới đến đây. Không ngờ anh vừa nói xong thì lão cố đạo cùng một tên lính Bảo Hoàng đột nhiên xuất hiện ngay trước mặt, tỏ thái độ cởi mở hỏi tôi ngay bằng tiếng Việt:

     - Anh bị thương vào những đâu?

    Tôi bị bất ngờ nên trả lời lúng búng, không dám nhìn mặt "cha", chỉ nhìn từ ngực xuống:

     - Thưa cha con bị thương ở chỗ này, chỗ này và chỗ này… Tôi vừa nói vừa chỉ vào  những vết thương.

     Lúc này tôi mới đảo mắt nhìn rõ mặt "cha" thấy lão cố đạo gật đầu tỏ ra cảm thông, thương hại. Nhưng tôi hết sức ngạc nhiên thấy ông cố đạo này lại mặc quần áo nhà binh, đầu đội mũ sắt. Đột nhiên tôi hỏi vừa có ý tò mò, vừa có ý khiêu khích:

      - Thưa cha, sao cha lại mặc áo nhà binh?

     Lão cố đạo tỏ ra lúng túng nói như phân bua:

      - Ở đây là chiến trận mà.

      Tôi được thể giãi bày một cách lễ phép:

      - Chúng con ở đây sống đói khát như thế này rồi cũng đến chết mất, chắc gì lần sau cha lại gặp lại được. Nhất là những anh em bị thương nặng không có ăn, không có thuốc làm sao mà qua khỏi. Rất mong cha cho chúng con ít thuốc, ít bông băng.

     - Ồ! Tôi sẽ đề nghị, nếu được tôi sẽ cho người đem xuống.

     - Con thay mặt anh em mong cha xuống kiểm tra luôn, chúng con được nhờ.

    - Không! Không phải tôi xuống kiểm tra mà tôi xuống thăm các anh.

     Tôi càng ngạc nhiên hơn khi nghe thấy lúc về, lão cố đạo lại chào tôi bằng ông. Như thế là có vấn đề rồi. Tiếng ông ở đây chắc để chỉ ông cán bộ.

     Tối hôm đó các anh lãnh đạo lại đến gặp tôi bàn bạc quanh chuyện lão cố đạo. Các anh đều nhận định rằng phải có người chỉ điểm lão ta mới đến như thế. Cần phải xem xét lại các bộ phận xem có ai đáng nghi ngờ không. Một số anh em cho rằng người thường hay quan hệ với Pháp chỉ có anh Phòng hay lên xin thuốc. Trước đây anh đã khai với chúng là trung đội phó ngành y. Có đồng chí cho rằng cần phải tăng cường kiểm tra theo dõi, nếu tôi bị bắt thì theo quy định phải thủ tiêu ngay anh Phòng bằng phương pháp dùng chăn trùm đến chết vứt xuống hố tiêu. Nhưng có ý kiến lại cho rằng vấn đề chưa rõ ràng, chúng ta chỉ cần bảo vệ anh Vi Hải không cho chúng bắt. Trường hợp không bảo vệ được, anh Vi Hải bị chúng bắt đi thì chúng ta đi theo hết. Nhưng cuối cùng thì chuyện đó không diễn ra.

     Hôm đó còn bàn về tình hình phải đối phó với bệnh tật và đói khát, đã thống nhất được với nhau là càng khó khăn thì cán bộ đảng viên càng phải gương mẫu, tổ chức phân phối phải hết sức công bằng. Cuối cùng anh Trụ đề nghị tôi làm Bí thư thay anh. Mọi người đều đồng ý nhưng tôi không nhận vì vết thương vẫn còn nặng không đi lại được Anh Trụ nói:

      - Việc gì anh phải đi đâu. Mọi vấn đề giải quyết chúng tôi đều đến hỏi và bàn ở chỗ anh cơ mà.

     Cuối cùng tôi phải nhận.

     Lại nói về lão cố đạo hôm sau xuống có một tên lính và hai bác phu đi theo vác hai cái túi to tướng. Lão đến chỗ tôi vui vẻ, nói cho tôi nghe về hội nghị Giơnevơ, cuối cùng với thái độ tỏ vẻ chân thành, lão ta nói:

      - Thực ra người Pháp chúng tôi rất muốn chấm dứt cuộc chiến tranh này nhưng người Mỹ lại cứ ép Chính phủ chúng tôi, hứa viện trợ nhiều hơn nữa để tiếp tục chiến tranh. Vì thế ta còn đánh như chưa biết bao giờ mới chấm dứt được. Theo lời đề nghị của ông hôm trước, tôi có chuẩn bị một số thuốc, bông băng, một ít sữa, bánh kẹo và bộ đồ cắt tóc dao cạo râu, hôm nay tiện xuống thăm tôi đem theo. Vậy ông cho người nhận rồi phân phối, chủ yếu cho người ốm nặng và bị thương.

     - Cảm ơn cha. - Nhân cơ hội tôi nói tiếp - Thưa cha, bên quân đội Việt Nam cũng có lần đã bắt được tù binh Pháp nhưng đều đối xử rất tử tế. Tù binh bị ốm bị thương đều được chạy chữa tận tình, thuốc thang chu đáo. Vậy mà ở đây, họ đối xử với chúng con quá tồi tệ.

     - Ông thông cảm, người Pháp ở đây lúc này cũng khó khăn thiếu thốn, cũng đói nên không thể thực hiện theo yêu cầu của ông được. Sở dĩ chúng ta cùng đói lại là tại quân đội các ông bắn vào cắt đứt đường tiếp tế - Đức cha đưa hai tay lên trời lắc đầu nói tiếp - Đành vậy thôi.

     Ông cố đạo chào tôi rồi xin phép ra về tỏ vẻ rất lịch sự. Ngay đêm hôm đó ban lãnh đạo chúng tôi lại tiếp tục họp, có nhận định rằng hiện tượng lão cố đạo đến thăm và cho quà chứng tỏ Pháp chuẩn bị thua rồi. Làm thế lão ta mong sau này có bị bắt cũng sẽ được đối xử tử tế hơn. Chúng tôi còn bàn về mặt tổ chức lực lượng phải chọn lọc ra bốn tiểu đội khỏe chờ khi bộ đội đánh vào, hai tiểu đội bảo vệ khiêng cáng anh em ốm và bị thương nặng ra, còn hai tiểu đội thì phối hợp dẫn đường cho bộ đội ta chiến đấu.

      Cũng may đến thời kỳ này trong nội bộ anh em chúng tôi đã tương đối ổn định. Các mối mâu thuẫn đòi phải xử lý người này người kia đã được giải quyết. Về phía địch thì càng ngày càng hoang mang rối loạn. Bọn lính Pháp đi qua khu tù không ngông nghênh như trước đây, thằng nào cũng lầm lì nhìn thấy anh em ta là đi rất nhanh. Riêng số lính âu Phi thì lại tỏ ra có cảm tình với ta hơn, khi đi qua thường đứng lại nói chuyện. Có anh lính Ma rốc làm công việc canh gác tù lại gác cho ta nói chuyện với các bác phu. Có đêm cả tổ canh gác mang súng vào nói chuyện cho anh em ta biết tình hình quân Pháp đang lúng túng đối phó như thế nào. Điều đó khiến anh em chúng tôi càng thêm phấn khởi và tin tưởng rằng ngày giải phóng Điện Biên đã đến nơi rồi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 09 Tháng Mười, 2009, 10:43:12 pm
      Quả đúng như vậy, năm ngày sau, ngày 7-5-1954, quân ta giải phóng Điện Biên. Đó là ngày đối với anh em tù chúng tôi có thể gọi là ngày tái sinh. Tôi cũng không ngờ Điện Biên giải phóng sớm thế. Lúc 7 giờ tất cả anh em chúng tôi đều lên hết mặt hào không còn biết sợ là gì, ai nấy vô cùng xúc động được nhìn gần như toàn cảnh chiến đấu giữa ta và địch, nhìn thấy quân ta đến sát sông Nậm Rốm gần cầu Mường Thanh, chân đồi A1, nhìn xe tăng bộ binh địch hình như muốn tiến lên đánh chiếm lại, nhưng bên cạnh sao lại có toán lính bộ binh mang cờ trắng chạy về phía ta. Lính gác chúng tôi lúc đó là hai người Angiêri và Ma rốc chạy vào nói với chúng tôi vẻ như vừa sợ hãi lại vừa muốn reo lên:

     - Quân Pháp thua rồi. Chúng tôi xin theo các anh.

     Người lính Ma rốc nói:

     - Sĩ quan các đồn chạy về chỉ huy sở của tưởng Đờ Cát họp bàn việc đầu hàng.

     Ba hôm sau tôi mệt quá không ăn uống gì được nhưng vẫn phải cấp tốc triệu tập cuộc họp với anh Trụ và ban lãnh đạo, tôi nêu vấn đề là cần phải kiểm tra lại phương án đã bàn lần trước, cử cán bộ phụ trách cụ thể từng bộ phận và triển khai kế hoạch ngay. Khoảng 9 giờ, nhiều tốp lính địch ở khắp các hướng mang theo cờ trắng đi về phía ta. Khoảng 10 giờ bộ đội ta đến gần trại tù. Điện Biên lúc này như ong vỡ tổ. Quân địch và cả phu phen lũ lượt từng đàn mang theo cờ trắng đi xen lẫn cá vào bộ đội ta. Hai tiều đội làm nhiệm vụ khiêng anh em ốm và bị thương nặng cùng đi chung một đường. Chỉ có điều bây giờ chúng tôi không còn là tù binh, ngược lại, bọn giặc Pháp hôm nào vẫn vênh váo cười khinh khi trước anh em chúng tôi thì bây giờ chúng là tù binh. Đi chung một đoạn đường, anh em ta cười nói hoan hỉ còn bọn chúng thì thui thủi, mặt cúi gầm, mắt lấm lét. Tôi cũng muốn reo lên để hòa cùng niềm vui chung với đoàn quân thắng trận Điện Biên, nhưng mệt quá.

    Hôm đó tôi được cáng ngay về trạm quân y và cũng từ đó đến nay tôi không hề biết một chút gì về anh em bạn tù của tôi ở Điện Biên ai còn ai mất, ai gặp phải những bước thăng trầm gì trong cuộc đời.

     Là một cán bộ chỉ huy tiểu đoàn được tham gia chiến dịch Điện Biên năm đó, đã chứng kiến biết bao tấm gương chiến đấu dũng cảm kiên cường của bộ đội ta. Song lại cũng chứng kiến hơn một trăm anh em sau khi bị thương đã bị bắt làm tù binh, lâm phải cảnh ngộ đắng cay mà vẫn kiên trung với Đảng, với quân đội, với nhân dân, không một ai chịu khuất phục trước kẻ thù, liệu cấp trên có nghĩ rằng đó cũng là sự đóng góp vào chiến thắng Điện Biên. Riêng tôi, tôi không hổ thẹn, không có điều gì phải phiền muộn, trái lại tôi rất tự hào cho dù không được cầm súng chống giặc cho đến giây phút cuối cùng của chiến dịch, chúng tôi vẫn không lúc nào nhụt chí, đã giữ vững được phẩm chất người chiến sĩ nhân dân trong hoàn cảnh hết sức hiểm nghèo. Chỉ rất tiếc, khi niềm vui chiến thắng Điện Biên tràn ngập khắp chốn khắp nơi, ta lại nhiều việc quá, những công việc lại lớn lao gấp bội phần, cho nên không mấy ai nhắc nhở đến cái tình huống đầy bi kịch của các chiến sĩ tù Điện Biên chúng tôi. Song xin thưa bi kịch nhưng mà lạc quan. Nghịch cảnh nhưng vẫn ẩn trong vóc dáng của chiến thắng Điện Biên vĩ đại.

     Chiến thắng Điện Biên đã gần 45 năm qua rồi, không biết những người bạn tù Điện Biên của tôi hôm nay cuộc sống ra sao. Chép lại những dòng ký ức này tôi không ngoài mục đích muốn tuyên dương những người bạn tù bất khuất của tôi ở Điện Biên. Mặt khác cũng muốn, Đảng, Nhà nước biết về họ. Hơn thế nữa, năm nay tôi đã ngoài bảy mươi tuổi rồi, quỹ thời gian không còn là bao, qua những trang ký ức này, tôi muốn nhắn tìm anh em, ai còn sống hãy đến với tôi. Nhà tôi ở phòng 204, nhà A2, khu tập thể Quân đội, phường Mai Dịch, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Ngày nay, trong không khí yên bình, chúng ta sẽ có nhiều thời gian để nói với nhau về Điện Biên trong ta, những người bạn tù ngày ấy, nhiều cay đắng nhưng cũng rất anh hùng.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 10 Tháng Mười, 2009, 07:53:56 am
NHỮNG ÂN NHÂN CỦA TÔI

      Là người lính chiến đã nhiều lần bị thương ở mặt trận, lại có lần bị thương rất nặng phải bò lết giữa sa trường đầy máu lửa, vậy mà tôi vẫn sống và trở thành người chỉ huy cấp tướng đi khắp các chiến dịch trong Nam ngoài Bắc, cả chiến trường nước bạn cho đến ngày toàn thắng, thật không đơn giản chút nào. Bây giờ về hưu, sống cùng gia đình đã được tam đại đồng đường, đôi lúc nghĩ lại chặng gian nan trong chiến tranh khi mình không còn có thể làm chủ được đôi chân đành phải "đi" trên vai đồng đội, thật không cầm được nước mắt.

      Tôi nhớ nhất cái hồi là cán bộ tiểu đoàn ở chiến dịch Điện Biên Phủ, tôi bị thương gãy ba xương sườn, tay cũng bị gãy, đùi thì bị đạn xuyên qua, mê man bất tỉnh! Anh em cáng tôi về trạm quân y Trung đoàn 165, phải trèo đèo lội suối, trăm nỗi nhọc nhằn. Ở đây bác sĩ Nhân, y sĩ Quang, y tá Nhẽ đã cứu tôi tỉnh lại, đến lúc đó tôi mới tin là mình còn sống.

     Thế rồi tôi được chuyển lên quân y Sư đoàn 312. Nhìn mọi người hối hả lo toan cứu chữa cho tôi, dường như nét mặt ai cũng hệt như những người thân thiết của mình, như anh như chị, tôi vô cùng xúc động, muốn nói lên một đôi câu cảm ơn mà không sao nói lên được thành lời, vì các vết thương gây đau đớn dài ngày khiến cho tôi như đã kiệt sức.

     Điện Biên hoàn toàn giải phóng, tôi được chuyển về tuyến bệnh viện ở hậu phương điều trị cùng với nhiều thương binh khác. Thời gian này, các vết thương vẫn chưa lành hẳn, tuy còn rất đau đớn, song tôi đã tỉnh táo nhiều rồi. Bốn bác dân công người Thanh Hóa thay nhau khiêng cáng tôi suốt dọc đường. Bác Khánh người to khỏe, da hơi đen, có bộ râu rất phong độ làm cho khuôn mặt to, tròn mang vẻ oai phong cộng với dáng đi trông rất bệ vệ; giọng nói thì oang oang cứ như Quan Công hiển thánh. Vậy mà tính tình rất cởi mở, chốc chốc lại hỏi tôi: Có khát không, làm ngụm nước nhé!

      Bác Bái người to bè, chân vòng kiềng nên dáng đi có vẻ chậm chạm, giọng nói nặng hơn hơi ngọng, lại hay nói chuyện. Mọi người hay trêu vui bác về cái tật nói ngọng nhưng bác chẳng giận ai cả. Vì thế cuộc chuyển thương tuy vất vả nhưng không buồn tẻ.

      Bác Hải, người cao, dáng đi lòng khòng, có cái điếu cày kiêm gậy chống đi đường, mỗi khi nghỉ là tiếng rít thuốc lào lại long xòng xọc nghe rất vui tai. Cứ phải đã cơn nghiện rồi muốn làm gì mới làm. Có lần bác còn ghé tai khích lệ tôi: Thế nào, có làm một mồi không?

     Bác Hành phụ trách chung, người to khỏe cân đối, tính tình sôi nổi, nói năng chặt chẽ, luôn quan tâm đến mọi người, chăm lo từng vết thương, bữa ăn giấc ngủ của tôi cũng như nhiều anh em khác.

     Đoàn dân công khiêng cáng thương binh dài lê thê đi suốt ngày. Đồng chí thương binh trên cáng phía trước tôi là Đoàn Hợp, cụt một chân. Cáng phía sau là anh Oanh mù hai mắt. Cáng phía sau nữa là anh Minh Lanh. Bác Hải khiêng cáng tôi cho biết như vậy. Té ra, chúng tôi đều ở chung trong sư đoàn. Thỉnh thoảng tôi ghé mắt nhìn sang cáng các anh ấy, chỉ nghe tiếng rên khe khẽ. Rõ ràng gần nhau mà chẳng nói với nhau được lời nào. Ai cũng mệt và đau nhức bởi những vết thương tai ác.

     Đằng đẵng hai ngày liền, chúng tôi mới tới chân đèo Pha Đin. Sang ngày thứ ba bắt đầu lên dốc. Tôi hiểu lúc này là bắt đầu thử thách ghê gớm đối với các bác dân công. Nằm trên cáng, tôi cảm thấy như người có lỗi trước từng bước chân thậm thịch, nặng nhọc xiêu vẹo của các bác dân công, mồ hôi thì nhễ nhại, nhỏ giọt, nhỏ giọt … Tôi tự trách mình một cách vô cớ rằng tại sao lại bị thương, không đi được để các bác dân công phải vất vả thế này, thương quá mà chẳng làm sao được. Nhớ lúc vào chiến dịch Điện Biên tôi cũng đã vượt đèo Pha Đin chỉ mang có khẩu súng ngắn thôi vậy mà khi lên dốc vẫn như đứt hơi, chân chồn, gối mỏi, không còn muốn bước nữa. Các bác dân công lúc này lên dốc một đầu cáng thương trên vai cùng các trang bị cá nhân nữa thì cực nhọc biết chừng nào.

     Cuối cùng thì các bác cũng đưa tôi đến được chỗ có ô tô chuyển tiếp ngay trên đỉnh Pha Đin. Nằm gọn trong lòng ô tô cùng với khá đông anh em thương binh, tôi thấy như còn lưu luyến một điều gì rất khó diễn tả. Nhưng rồi cái không khí sôi động trên đỉnh đèo của các anh em thanh niên xung phong sửa đường cùng với bộ đội chiến thắng trở về hành quân qua, vừa reo hò, vừa trêu đùa nhau, nó đã khỏa lấp được nỗi suy tư trong tôi và tôi cũng lại ước ao có thể ngồi dậy được để hòa chung vào cái không khí vui mừng chiến thắng ấy. Tôi liền nhờ cô y tá đỡ cho ngồi dựa vào thành xe để được nhìn ra xung quanh một quang cảnh thật là hùng vĩ hiện ra trước mắt. Đỉnh đèo Pha Đin cây xanh gió lộng, mây trắng trôi bồng bềnh, ẩn hiện các dãy núi xa mờ xanh.

     Xe chuyển bánh. Chúng tôi nhìn nhau vẻ hể hả vì nghĩ rằng được ngồi ô tô tức là sẽ được nhanh chóng về nơi ổn định mà điều trị, nhưng chỉ một lát là bắt đầu biết nhau. Đường xấu, xe cứ phải gầm rú và nhảy chồm chồm như là nó muốn hành hạ những ai nằm ngồi trên mình nó. Tôi cố chịu đựng ghìm chặt người để khỏi ảnh hưởng đến vết thương. Có anh thương binh chịu không nổi kêu la như bị tra tấn. Tôi không thể ngồi vững phải nhờ cô y tá đỡ nằm xuống nhưng nằm cũng không yên, người cứ nảy lên dập xuống theo đà xe chồm qua các ổ gà, cái vết thương ngỡ sắp bung ra, đau đớn vô cùng. Tôi nhắm mắt lại cố chịu đựng nhưng nước mắt cứ trào ra. Các cô y tá, bác sĩ và các bác dân công phải thay nhau đỡ cho từng đồng chí thương binh nặng bớt bị va quệt đau đớn. Song chẳng ăn thua. Thấy tôi nhắm tịt mắt, một cô tưởng tôi ngất xỉu cứ lay gọi liên hồi. Mệt và đau đớn tôi chẳng buồn thưa. Thấy gọi mãi tôi đành mở mắt để thay câu trả lời.

     Bị thương đã khổ rồi, lại đi ô tô kiểu như thế này lại càng khổ hơn. Nhớ cái cáng trên vai các bác dân công, thật là như nằm trên mây. Dẫu sao thì xe cũng đưa chúng tôi về tới bệnh viện Nà Sản, Sơn La. ở đây tôi được chăm sóc như đối với người thân thiết trong gia đình. Về đây, các vết thương trên người tôi vẫn khiến tôi phải nằm hoặc ngồi chứ không thể đi lại. Vì thế mọi việc cần thiết như ăn uống, rửa mặt, lau người và cả việc đi đại tiểu tiện, tôi đều không tự thực hiện được. Hai cô, y tá Thắng và hộ lý Vân, ít hơn tôi hai tuổi rất xinh lại có duyên song chẳng khác nào hai người chị hiền, họ không ngại ngùng bất cứ việc gì để phục vụ tôi, hết thay quần áo lau mình, lại cõng tôi ra chỗ đại tiểu tiện. Nhiều khi thấy tôi ngượng không muốn để các cô ấy giúp liền bị các cô ấy mắng cho. Nhưng vừa cười vừa mắng:

     - Anh lạ thật! Mấy hôm trước anh mệt lử, chúng em thay áo quần, rửa mặt lau người, mọi việc làm cho anh cả, còn lạ gì cái của anh mà hôm nay lại phải ngượng. Anh thế mà phong kiến. Từ ngay mai, chúng em ra lệnh gì, yêu cầu anh phải tuân theo.

     Thú thật lúc ấy muốn cười mà không dám cười. Có cái gì ẩn chứa sự hồn nhiên bên trong mỗi câu nói như là hài hước, song lại bao hàm nét nghiêm trang, chớ có đùa. Tôi nghĩ như thế.

     Quả vậy. Đã có những lần tôi phải nằm tênh hênh như đứa trẻ, mặc cho các cô ấy lo toan mọi công việc hộ lý, vệ sinh... Nhớ năm tôi lên bảy bị trận ốm thập tử nhất sinh không đi lại được. Bố mẹ, anh chị tôi rất lo. Mẹ tôi phải bón cơm, bón cháo cho tôi. Anh chị tôi cũng phải cõng tôi đi vệ sinh, giặt áo thay quần. Hồi ấy tôi đã biết nghĩ không muốn được ăn uống vì lo bố mẹ nghèo phải đi vay, liền bị bố mắng cho.

     Những ngày này, tôi cảm thấy như đang được sống giữa không khí gia đình. Nằm điều trị ở bệnh viện tỉnh Sơn La tôi rất an tâm vì thấy các vết thương trên người dần dần ổn định, ăn khỏe, ngủ khỏe. ít ngày sau, những thương binh nặng chúng tôi lại được chuyển tiếp về Yên Bái bằng cáng thương. Phải vượt qua đèo Lũng Lô thì mới tới chỗ bến xe. Mấy hôm trước trời mưa, nên hôm nay tuy trời không nắng nhưng đường vẫn còn trơn, các bác dân công chẳng thể nào tránh cho hết các vũng nước lấp loáng trên mặt đường. Các bác đã cố gắng làm cũng chẳng sao giữ cho khỏi va quệt vào vách đá hoặc gốc cây. Mỗi lần như thế, người tôi đau điếng. Gặp chỗ đường lầy thụt, quỵ cả chân nhưng các bác vẫn quyết không để người tôi quật xuống mặt đường. Mồ hôi nhễ nhại, hẳn là nhọc lắm vậy mà bốn bác vẫn hò hét động viên đỡ đần nhau giữ cho vai cáng thăng bằng. Tôi nằm trên cáng nghĩ mà thương, vừa khâm phục các bác không thể nói lời nào cho thấu. Phải đâu người chiến sĩ dù có lập công đến bao nhiêu lại có thể công thần? Nghĩ về các bác, tôi chỉ biết tự nhủ thầm như vậy.

     Sang bên kia đèo Lũng Lô, chúng tôi được chuyển lên ô tô tiếp tục cuộc hành trình. Thật không ngờ hôm nay chúng tôi qua phà bến Âu Lâu giữa ban ngày. Tôi nhớ khi lên Tây Bắc vào chiến dịch Điện Biên, đơn vị tôi vượt sông Hồng ở bến Cổ Phúc vào ban đêm, chỉ nghe tiếng  nước sông Hồng rì rầm, lại nhớ câu hát “Hồng Hà mênh mông đưa nước trên nguồn về xuôi” của nhạc sĩ Đỗ Nhuận. Hôm nay chiến thắng trở về, qua sông Hồng giữa ban ngày; ô tô đưa chúng tôi xuống phà sang sông giữa rừng người chẳng khác gì ngày hội, xe lên phà vào ngay thị xã Yên Bái. Bà con vây quanh xe mỗi lúc một đông, bỏ vào trong thùng xe những trái chanh, nải chuối và cả trứng luộc. Có các chị, các mẹ trèo hẳn lên xe để nhìn tận mặt, hỏi tên từng người, hỏi quê quán cửa nhà. Có hai bà mẹ người Yên Bái xem vết thương anh Đoàn Hợp cụt một chân, anh Oanh mù hai mắt cứ sụt sùi như gặp được chính đứa con của mình, nước mắt cứ ròng ròng chảy xuống mặt các anh ấy.Tự nhiên tôi cũng không cầm được nước mắt. Ôi tấm lòng các bà mẹ Việt Nam, lòng dân Việt Nam. Thật không bút nào tả xiết niềm cảm xúc thiêng liêng như thế…

     Đến bệnh viện tỉnh Yên Bái chúng tôi mới thực sự chia tay những người mà tôi muốn gọi là nhưng ân nhân cua mình. Vâng, đúng là ân nhân của tôi và trọn đời tôi sẽ không quên. Tôi tin rằng các con tôi, cháu tôi cũng sẽ không bao giờ quên? Hôm nay ghi lại những dòng này cũng là để bộc lộ tấm lòng của tôi với bác Khánh, bác Bái, bác Biên, bác Hải, bác Nhẽ, bác Nhân, bác Tuy, cô Thắng, cô Vân. . . những ân nhân của tôi, rằng tôi luôn nhở đến mọi người.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 10 Tháng Mười, 2009, 09:05:43 pm
ĐẬP TAN "CÙ KIỆT"

1

      Cuối năm 1969, Sư đoàn 312 nhận lệnh sang chiến trường Lào phối hợp cùng quân đội Pa thét Lào chiến đấu ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Thời gian này, đế quốc Mỹ đang thực hiện “Học thuyết Ních-xơn”  đối với các nước Đông Dương, chủ trương “Việt Nam hóa chiến tranh” hay còn gọi là “Chiến tranh đặc biệt tăng cường", dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương, dùng người châu Á đánh người châu Á.

     Liên tiếp trong sáu tháng, sau khi lên cầm quyền, Ních-xơn đã ra lệnh mở hai chiến dịch đánh chiếm vùng giải phóng Lào. Mở đầu là chiến dịch "Xamakhi" ngày 30-3-1969, chúng tiến công vùng giải phóng Xiêng Khoảng bằng trực thăng vận thọc sâu vào vùng giải phóng rồi đổ quân chốt các điểm cao dưới sự yểm trợ của hỏa lực và không quân Mỹ. Nhưng chúng bị đánh trả liên tục năm mươi ngày đêm và bị thiệt hại nặng, đến đầu tháng 5 - 1969, quân địch buộc phải rút lui.

     Đầu tháng 8 - 1969, đế quốc Mỹ lại tập trung quân gồm 50 tiểu đoàn lực lượng đặc biệt và quân nguy Viên Chăn cùng với 19 tiểu đoàn bộ binh và pháo binh Thái Lan, với 1.200 lính mũ nồi xanh Mỹ, mở cuộc hành quân được gọi tên là “Cù Kiệt" hòng lấn chiếm địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Âm mưu của Mỹ trong cuộc hành quân này còn để lập bàn đạp đánh sâu vào vùng giải phóng Lào, uy hiếp tỉnh Hủa Phần, căn cứ địa cách mạng của cả nước Lào, đồng thời còn nhằm uy hiếp cả sườn phía tây hậu phương miền Bắc Việt Nam, khống chế tuyến vận tải chiến lược Tây Trường Sơn, hỗ trợ mạnh mẽ cho âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh”, của “Học thuyết Ních-xơn" ở miền Nam Việt Nam.

     Ngày 31-7-1969, lực lượng không quân Mỹ cất cánh từ Thái Lan và pháo binh địch bắn phá cấp tập vào tuyến Bản Na và khu vực Cánh Đồng Chum. Bên cạnh năm cánh quân tiến theo đường bộ, đế quốc Mỹ còn huy động từng đàn máy bay lên thẳng đổ quân đánh chiếm các vị trí bàn đạp ở Cánh Đồng Chum, dưới sự yểm trợ của không quân Mỹ bắn phá dữ dội vào những nơi có nhà ở và những khu vực chúng nghi có lực lượng cách mạng đứng chân.

     Chính trong cuộc hành quân được gọi là "Cù Kiệt"' này, đế quốc Mỹ và tay sai đã gây ra nhiều tội ác dã man tàn bạo với nhân dân tỉnh Xiêng Khoảng: Bom đạn Mỹ đã phá hủy hơn hai trăm bản làng, hàng ngàn nhà ở hàng trăm chùa chiền, trường học, bệnh viện, trạm xá, hàng ngàn dân thuộc các bộ tộc bị thương vong, hàng ngàn gia đình phải rời bản làng đi nơi khác hoặc phải sang Việt Nam lánh nạn. Trong suốt thời gian chiến dịch "Cù Kiệt", trung bình mỗi ngày Mỹ cho bốn trăm lần chiếc máy bay, kể cả máy bay chiến lược B52 đến ném bom bắn phá trên dưới ba nghìn tấn bom đạn xuống khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Bom đạn Mỹ còn phá hoại hàng vạn héc ta ruộng nương, giết hại và bắt đi hàng chục ngàn gia súc. Quân địch đi đến đâu đều xúc dân vào trại tập trung trong vùng chúng kiểm soát. Theo tài liệu viết về cuộc “Chiến tranh đặc biệt tăng cường” của Ních-xơn ở Lào do Nhà xuất bản Neo Lào Hắc Xạt ấn hành thì trong chiến dịch Cù Kiệt, đế quốc Mỹ và tay sai đã bắt ba nghìn dân dồn vào các khu tị nạn, cướp và giết hại 44.000 con trâu, 30.000 con bò, 9.000 con ngựa, 55.000 con lợn và rất nhiều gia cầm.

     Ngày 25-10-1969, Bộ Chỉ huy Tối cao Lực lượng vũ trang Cách mạng Lào cùng với Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã quyết định mở “Chiến dịch phản công giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, kiên quyết khôi phục lại địa bàn chiến lược vừa bị quân địch lấn chiêm ".

    Lực lượng tham gia chiến dịch gồm tám tiểu đoàn bộ binh Quân Giải phóng Lào, bốn trung đoàn bộ binh Quân Tình nguyện Việt Nam và một số đơn vị đặc công, xe tăng, vận tải Việt Nam và Lào được đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Chỉ huy Liên quân Lào - Việt. Chiến dịch phản công đã diễn ra vô cùng quyết liệt trong hơn sáu mươi ngày đêm quần nhau với địch, Liên quân Lào-việt đã đập tan Cù Kiệt giải phóng hoàn toàn khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 12 tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 6.000 tên, thu và phá hủy hàng ngàn vũ khí các loại, thu và phá hủy 70 xe quân sự, bắn rơi 42 máy bay các loại, khôi phục và mở rộng vùng giải phóng từ Bản Na đến Nậm Ngừm với hơn hai vạn dân.

     Tôi nhớ, ngày 21-2-1970, toàn bộ quân địch phải rút khỏi Cánh Đồng Chum; ngày 22-2-1970, quân địch ở Phu Cút tháo chạy; ngày 24-2-1970, lực lượng Liên quân Lào - Việt đánh chiếm Mường Xủi, tập kích mạnh vào Xalaphukhun... Trên hướng phối hợp đặc công tập kích Long Chẹng quân ta đã biết hàng trăm lính Vàng Phao, cố vấn Mỹ, sĩ quan Thái Lan...

     Tôi không có điều kiện ghi lại tất cả các mũi phản công ở các hướng của chiến dịch đã làm nên chiến thắng ra sao, chỉ xin được nêu lại các hoạt động của Trung đoàn 165 chúng tôi ở một hướng khá đặc biệt của chiến dịch mà thôi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:31:24 pm
       Lại nói khi trung đoàn nhận lệnh lên đường chiến đấu, anh em chúng tôi ai cũng mừng vì đơn vị vừa trải qua một đợt huấn luyện khá căn bản, chắc chắn sẽ hoàn thành nhiệm vụ với một phong thái chiến đấu đàng hoàng, chừng chắc. Ngoài việc huấn luyện hợp đồng binh chủng còn huấn luyện cách đánh trong thành phố và các vùng ven, đánh địch trong công sự vững chắc, đánh tập kích, đánh quân đổ bộ đường không, chiến đấu ở rừng núi, đồng thời huấn luyện hành quân đường dài. Về kỹ thuật, đặc biệt là kỹ thuật xạ kích, yêu cầu từ cán bộ chỉ huy các cấp đến chiến sĩ phải sử dụng thành thạo được ba loại súng. Về mặt trang bị, toàn đơn vị ai cũng có mũ sắt và mặt nạ chống vũ khí hóa học. Về quân số, đơn vị được bổ sung tân binh của hai huyện Phú Xuyên và Thường Tín rất hoàn chỉnh, lại có cả một số tiểu đoàn quân dự bị và tự vệ Khu Gang thép Thái Nguyên đã được huấn luyện và thử thách. Khí thế đơn vị lên đường rất sôi nổi, tư tưởng thông suốt, ai cũng mong có dịp được chiến đấu và lập công.

     Sau khi nhận lệnh lên đường, Trung đoàn 165 chúng tôi chỉ được thời gian một ngày để chuẩn bị, bởi vì chúng tôi có nhiệm vụ phải hành quân đi trước đội hình sư đoàn.

     Hôm chúng tôi lên đường không có tiếng ồn ào đưa tiễn vì phải giữ bí mật. Xe phủ bạt kín mít, nên dẫu có ai đi bên đường tò mò cũng chỉ nghĩ đó là đoàn xe chở hàng quân sự ra mặt trận. Khi chạy qua các bản làng trong đêm tối, xe chỉ được bật đèn cốt mà thôi, chỗ nào gập ghềnh khó đi lắm mới bật đèn pha.

     Tới vị trí tập kết ở Con Cuông - Mường Xén, tôi và anh Trường Quân, Chính ủy Trung đoàn đi nhận lệnh, mới biết Bộ chỉ huy Mặt trận phối hợp Lào - Việt đã được thành lập. Về phía Lào có các đồng chí Sanhcapô, Siphon, Xa man, phía Việt Nam có các đồng chí Vũ Lập, Huỳnh Đắc Hương, đồng chí Nguyễn Năng - Sư đoàn trưởng 312 được chỉ định làm Phó Tư lệnh; Chính ủy Lê Chiêu làm Cục trưởng Cục Chính trị Mặt trận. Tất cả cán bộ cơ quan của sư đoàn đều sáp nhập vào ba cơ quan của Mặt trận.

     Trung đoàn 165 chúng tôi có nhiệm vụ tiến theo đường 7B vào chiến đấu trong khu vực Xiêng Khoảng phía đông nam Cánh Đồng Chum. Trung đoàn 141 đi theo đường 7A vào chiến đấu ở khu vực ngã ba Noọng Pẹt.  Trung đoàn 209 làm dự bị cho hai cánh quân của Mặt trận, trước mắt làm công tác vận chuyển. Các tiểu đoàn trực thuộc của sư đoàn đều do Mặt trận trực tiếp chỉ huy.

     Trung đoàn tôi tiếp tục hành quân bằng xe lên tới biên giới thì chuyển sang hành quân bộ có trinh sát sư đoàn và bộ đội Pa thét Lào dẫn đường.

     Nhận lệnh về, rồi dẫn quân đi, tôi cứ băn khoăn và ngỡ ngàng nghĩ về việc từ nay tất cá cán bộ cơ quan sư đoàn đều trở thành như là phái viên của Mặt trận, liệu rồi trên dưới có hiểu nhau, có quen nhau trong tác phong chỉ huy cũng như tác phong công tác? Thêm nữa, đơn vị chuyển sang chiến trường mới, lạ địa hình, lạ đối tượng tác chiến và với dân thì lạ tiếng lạ người; rồi trung đoàn tôi lại đánh ở một hướng của chiến dịch, lực lượng sư đoàn vị xé nát ra, làm sao có thể tập trung phát huy sức mạnh về cách đánh của một binh đoàn chủ lực đã qua đợt huấn luyện khá hoàn chỉnh?

     Sư đoàn trưởng Nguyễn Năng chừng như đoán được những băn khoăn suy nghĩ của tôi nên tìm cách giải thích rồi động viên bằng mấy câu cộc lốc:

     - Anh yên tâm. Chúng tôi vẫn theo dõi và chỉ đạo trung đoàn.

    Đường hành quân bộ thật là gian nan. Hầu như trên trời không mấy khi ngớt tiếng máy bay gầm rú và tiếng bom nổ rung chuyển cả núi rừng. Phía trước thì tiếng đạn pháo và súng cối ình oàng như cầm canh. Tôi hiểu rằng trung đoàn sẽ phải vượt qua vùng bom đạn ác liệt và rất có thể phải đánh địch mà đi. Tôi lại nhớ về những ngày huấn luyện, khí thế hào hùng liên hệ với lúc này nó khác quá. Trước đây những mong sẽ tổ chức những trận đánh lớn có các binh chủng hợp thành, còn bây giờ sẽ đánh ra sao một khi chính trung đoàn tôi cũng bị xé lẻ ra. Bắt đầu từ Nậm Cắn sát biên giới Việt - Lào, Tiểu đoàn 5 chúng tôi đã phải tách ra tăng cường cho cánh quân phía đường 7A. Tới Then Phun, thấy có bốn điểm chốt của giặc trên đồi bắn xuống mặt đường gây khó khăn cho cuộc hành quân của trung đoàn, tôi lệnh cho đơn vị dừng lại và báo cáo về. Mặt trận đề nghị cho triển khai phương án tác chiến mở đường tiến quân. Mặt trận trả lời không được và lệnh "Phải tổ chức tìm cách bí mật vượt qua. Luồn sâu vào đúng vị trí quy định, đánh địch ở khu trong thị xã Xiêng Khoảng, đông nam Cánh Đồng Chum, phối hợp với đại quân ở phía bắc cùng tấn công vào đánh Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng".

     Tôi liền triệu tập gấp cuộc họp các cán bộ chỉ huy đơn vị và phụ trách ba cơ quan bàn kế hoạch chấp hành mệnh lệnh của Mặt trận. Tôi nêu phương án tổ chức đơn vị hành quân thành từng khối, mỗi cán bộ trung đoàn phụ trách một khối. Tôi đi khối đầu gồm các tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng và thủ trưởng các cơ quan cùng với hai trung đội trinh sát, một trung đội thông tin, một trung đội phòng vệ và hai trung đội vận tải. Khối đi đầu có nhiệm vụ tìm đường và bố trí từng cung, từng chặng để đón các khối sau đồng thời nắm địch, nắm địa hình và nhanh chóng thiết kế trận đánh.  

     Chúng tôi phải hành quân vượt tuyến hoàn toàn ban đêm ven theo chân các ngọn đồi có đồn giặc rất vất vả và cũng rất nguy hiểm. Địch bắn pháo sáng liên tục đồng thời còn nã súng cối và quét cả súng máy vào những nơi xung yếu mà chúng nghi quân ta nhất định phải vượt qua. Vậy là địch quyết chặn đường hành quân của ta, ta thì nhất định phải mở đường tới địa bàn hoạt động vì thế cuộc chiến đấu tuy không mặt giáp mặt nhưng đã diễn ra vô cùng ác liệt, bom đạn cứ ầm trời đủ loại bom bi, vướng nổ, bom phá, bom chùm nhưng quân địch vẫn không ngăn được trung đoàn chúng tôi. Trong những ngày này, địch còn đổ tiếp thêm 5 tiểu đoàn phối hợp cùng pháo binh và máy bay lấn ra các bản Khuẩy, bản Keo Bon, Măng Mô sát tới biên giới Việt - Lào. Thế là đội hình trung đoàn bị cắt mất đuôi. Khi đại bộ phận tới khu vực bên trong thị xã Xiêng Khoảng thì Tiểu đoàn 6 và bộ phận vận tải vẫn còn phải chống trả ở khu vực ngoài Then Phun, trực tiếp theo lệnh chỉ huy của Mặt trận.

     Vào tới vị trí tập kết, anh em chúng tôi, người nào chân tay cũng xây xát, mặt mũi bị gai cào xước, quần áo nhiều anh rách bươm và ướt đẫm mồ hôi, có thể nói là rất mệt. May sao giữa khu rừng âm u được bù lại bởi tiếng chim hót ríu ran, con đậu con bay, rồi tiếng vượn ru con tiếng khỉ khẹc khẹc nô đùa, tiếng hươu nai gọi nhau…khiến cho chúng tôi ai nấy cũng vơi đi được nhiều nỗi nhọc nhằn. Nhất là cánh lính trẻ, lần đầu tiên tiếp xúc với núi rừng, chứng kiến cảnh kỳ thú của rừng thì dường như quên cả mệt.

     Điều quan trọng hơn cả là chúng tôi đã chiếm lĩnh được địa bàn theo đúng phương án chiến dịch để triển khai phương án tác chiến mà Bộ Tư lệnh Liên quân Lào - Việt giao cho.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:34:12 pm
2
     Họp cơ quan chỉ huy để thống nhất tình hình và nghe Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng trình bày về cách đánh địch xong, chúng tôi họp Đảng ủy mở rộng, bàn sâu thêm về trận đánh mở đầu. Tôi báo cáo trước Đảng ủy về ý định chọn mục tiêu cho trận đánh mở đầu và cả trận đánh tiếp theo trong đợt hoạt động quân sự này. Hội nghị bàn bạc khá kỹ và thống nhất ý định rất cao về cách sử dụng lực lượng. Chúng tôi nhận định rằng đánh địch lúc này là thời cơ rất thuận lợi cho trung đoàn. Trước hết là địch đang còn rất chủ quan, chưa biết quân ta đã vào tới đây. Thứ hai là công sự của chúng còn sơ sài. Trừ ba đồn trong thị xã công sự có phần nào kiên cố song cũng chỉ có một hàng rào dây thép gai còn thì hầu như mới chỉ là công sự dã chiến, ụ súng, hầm ngủ và cả đường hào đều nông choèn, chủ yếu gác cây che bạt và rào bằng tre nứa. Chúng tôi tạm chia thành ba khu vực tác chiến. Khu một là thị xã Xiêng Khoảng, có ba đồn, đồn Thấp, đồn Cao và đồn Sân bay. Khu hai ở đông nam thị xã có ba điểm được đặt tên là đồi Con Lợn, đồi Mâm Xôi và đồi Cháy. Khu ba phía đông bắc thị xã ba kilômét có hai điểm trên đồi Cây Xanh. Rất tiếc là chúng tôi chưa bắt được tù binh nên chưa rõ phiên hiệu các đơn vị địch đóng quân tại khu vực này thuộc lực lượng nào.

      Trong Hội nghị Quân chính trung đoàn, kế hoạch tác chiến đã được quán triệt tới từng cán bộ, ai nấy đều tin tưởng ở cách đánh mà Đảng ủy trung đoàn đã bàn bạc thống nhất. Nhìn sâu vào từng đôi mắt cán bộ đang chăm chú nhìn mình và lắng nghe những điều tôi phân tích về địch, về ta, về địa hình. . . tôi rất tin ở anh em và tín ở hiệu quả của kế hoạch tác chiến. Tôi nói tiếp và giao nhiệm vụ cho từng đơn vị.

     - Thưa các đồng chí! Thay mặt Đảng ủy và chỉ huy trung đoàn, tôi quyết định giao cho Đại đội 1 (Tiểu đoàn 4) đánh Khu 2 tức là đánh ba điểm: đồi Con Lợn, đồi Mâm Xôi và đồi Cháy. Đại đội 19 đặc công đánh Khu 3, đánh cả đồn Cao và đồn Thấp. Đây là chốt điểm cao nhất khu vực này, hành quân tiếp cận xa và khó đi hơn cả. Như vậy trận mở đầu là trận đánh liên kết cả năm điểm trong cùn một đêm và cùng giờ G nổ súng. Ta dùng lực lượng tinh nhuệ đánh theo kiểu tập kích đánh nhanh, giải quyết nhanh, thu dọn chiến trường xong rút ra cách đồn địch ba trăm mét đề phòng địch ném bom, chỉ lót ổ lại trên đồi Cây Xanh một tiểu đội chuẩn bị cho kế hoạch tác chiến tiếp theo.

     Tôi nhấn mạnh về lực lượng sử dụng ở mỗi điểm chỉ đánh bằng hai mũi, mỗi mũi từ 10 đến 12 người; vũ khí trang bị phải gọn nhẹ, tiểu liên, lựu đạn là chính, ngoài ra còn thêm B40, B41 nữa mà thôi. Các đại đội chủ lực 12,7 ly, ĐKZ75, cối 82 sẵn sàng cho trận đánh hôm sau.

     Sau khi Chính ủy Trần Quân tiến hành công tác chính trị tư tưởng, các cán bộ ra về đều tỏ ra phấn khởi, tin tưởng, nhưng về mặt thực hành chiến đấu, tôi vẫn chưa an tâm. Tôi bàn với Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng là cần phải gặp mười mũi trưởng để hỏi và trực tiếp nghe xem anh em còn gì băn khoăn và ta cần nói thêm gì với anh em cho rõ các ý định chiến thuật để mỗi người yên tâm tin tưởng hơn trước khi bước vào trận đánh.

      Cuộc họp với mũi trưởng thật thú vị. Không phải chỉ có chúng tôi củng cố lòng tin cho anh em, mà ngược lại chính anh em đã khiến chứng tôi càng tin chắc hơn vào thắng lợi của trận đánh. Đồng chí Mạc, Đại đội phó Đại đội 19, mũi trưởng mũi tập kích cao điểm đồi Cây Xanh nói:

      - Trận đánh này ta chuẩn bị rất kỹ, đã bàn đi bàn lại nhiều lần, kỹ hơn cả thời kỳ huấn luyện diễn tập ở bên nước. Bởi lẽ thực tế chiến đấu ở đây đâu có giống như diễn tập. Đặc biệt là khâu nắm địch, chúng tôi đã đưa các tổ trưởng vào tận các hàng rào, tận chiến hào, không phải chỉ một lần mà mấy đêm liền như thế. Bởi vậy anh em đã biết chắc là về hỏa lực, chúng chỉ có hai khẩu ĐKZ90, hai khẩu đại liên. Công sự mang tính chất dã chiến, đêm chúng ngủ tập trung trong 5 cái hầm đào sâu lưng lửng chưa có nắp đậy, chỉ mới gác cây che bạt. Đáng chú ý là ba bãi mìn, nhưng địch rất chủ quan, ngày gác bốn vọng, đêm rút về chỉ còn để một vọng. Cho nên chúng tôi đã phải giao nhiệm vụ tấn công cho từng tổ, chỉ thị rõ ràng đường tiềm nhập và mục tiêu tiến công. Tôi rất tin đơn vị tôi sẽ đánh chiếm đồi Cây Xanh rất nhanh và gọn, có thể nhất toàn trung đoàn.

     Tôi vừa nghe vừa ngắm nhìn cái dáng người khỏe chắc của Mạc, giọng nói nhỏ nhẹ nhưng dứt khoát mà thấy rất tin ở khả năng chỉ huy của cậu ấy chắc chắn sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Tiếp theo, tôi quay sang hỏi Bường, mũi trưởng chỉ huy đánh đồi Con Lợn. Bường hơi thấp nhưng to khỏe, lông mày xếch, ngỡ là dữ tợn té ra lại rất vui tính. Đôi mắt tròn, vành tai rộng biểu hiện sự linh lợi nhạy cảm. Bường nói:

     - Thưa Thủ trưởng? Chẳng còn ai thắc mắc gì nữa đâu anh em chỉ muốn hỏi tại sao trên giao cho đại đội đánh cái cao điểm mà lại gọi là đồi Con Lợn.
 
     Mọi người cười rất to, hết nhìn Bường lại nhìn sang tôi.

     - Đơn giản là vì ngọn đồi ấy nó giống con lợn thì gọi cho dễ nhớ. - Tôi trả lời Bường.

     - Không phải đâu - Một cậu nói chen vào - Thủ trưởng muốn Đại đội 1 đánh cái cao điểm ấy phải thật mạnh thật nhanh như chọc tiết lợn cho nó không kịp kêu, không kịp ngáp nên mới gọi là đồi Con Lợn đấy.

     Tất cả cười rầm rầm. Tôi rất vui nói:

     - Thôi cũng được. Tôi và toàn thể anh em trong đơn vị rất mong Đại đội 1 đánh đồi Con Lợn như giết một con lợn, đánh nhanh, đánh mạnh và diệt gọn.

     Mạc đứng lên vung tay nói:

     - Đại đội 1 xin hứa với Thủ trưởng là sẽ cắm cờ chiến thắng lên đồi Con Lợn trước Đại đội 19 đặc công trên đồi Cây Xanh.

     Mọi người vỗ tay rầm rầm.

     Chỉ huy đánh lên đồi Mâm Xôi là một chàng trai có duyên, đôi mắt sáng, khuôn mặt tròn, lông mày thanh tú rất hợp với dáng vẻ của một thi sĩ. Mà đúng là cậu hay viết nhật ký và làm thơ. Nhưng tác phong lại nhanh nhẹn, nói năng khúc chiết hoạt bát và tinh thần chiến đấu thì phải nói là rất trùng hợp với cái tên mà bố mẹ đã đặt cho: Dũng. Tôi nhìn Dũng nhẹ nhàng hỏi:

     - Đánh đồi Mâm Xôi, đơn vị đồng chí còn băn khoăn gì không?

     - Thưa Thủ trưởng, hôm đi trinh sát lần cuối, em đã nắm tình hình địch khá chắc. Em đã đến tận công sự của chúng. Hôm ấy mà cấp trên cho em đánh, em đoán chắc là cũng giải quyết được rồi. Huống chi bây giờ, quân số chiến đấu đầy đủ. Đánh cái đồn có độ hai lăm ba mươi tên, công sự sơ sài có mỗi hàng rào, lại mới rào có ba mặt, hỏa lực có mỗi khẩu ĐKZ90 và một ụ trung liên mà trên cho đơn vị bốn khẩu B41 thì chúng nó chịu sao nổi. Các thủ trưởng yên tâm. Đơn vị em sẽ đánh chiếm đồi Mâm Xôi nhanh hơn tất cả đồi Cây Xanh và đồi Con Lợn.

     - Đồng chí Dũng! - Tôi vẫy tay cho Dũng ngồi xuống - Thay mặt chỉ huy trung đoàn tôi chấp nhận quyết tâm của đơn vị đồng chí. Tôi nhắc thêm là hôm qua địch cho máy bay lên thẳng hạ cánh xuống đồi Mâm Xôi. Theo trinh sát báo cáo thì chúng đã chở đến đây 20 bao gạo. Trung đoàn yêu cầu đơn vị đồng chí không chỉ diệt gọn bắt tù binh, thu vũ khí mà còn phải thu cho hết số lương thực tích trữ của chúng thì mới đầy đủ ý nghĩa đánh đồi Mâm Xôi.

     - Thủ trưởng yên tâm. Chúng em làm được.

     Hỏi đến Trung đội trưởng Sơn, mũi trưởng đánh đồi Cháy, Sơn cười, môi cong, chậm chạp đứng lên, dáng to bè, giọng nói nhỏ nhẹ:

      - Chúng tôi sẽ thiêu cháy chúng như cái đồi Cháy. Thủ trưởng hãy tin là như vậy. Xin hết.

     Sơn nói ngắn gọn như vậy thôi nhưng tôi hiểu cậu ấy đã nắm chắc tình hình và có quyết tâm cao. Tôi nói với tất cả anh em:

    - Thế là trận mở đầu, trung đoàn ta đánh đồng loạt 5 điểm trong một đêm. Tôi rất mong mỗi đồng chí trở thành một ngọn lửa thiêu cháy đồn thù. Các đồng chí về chuẩn bị thêm cho thật kỹ. Tôi mong rằng trận mở đầu này, đơn vị nào cũng đánh giỏi và chiến thắng.
Phải nói rằng đến lúc này tôi mới thấy nhẹ nhõm trong lòng. Hơn một tháng qua trên Bộ Chỉ huy cứ thúc đánh liên tục đến phát sốt ruột. Thực ra là còn bao nhiêu khó khăn từ việc thu quân đến tổ chức trinh sát rồi bàn bạc chọn cách đánh trong hoàn cảnh đơn vị lại nằm sâu giữa vùng có nhiều đồn bốt giặc, phải làm sao cho bảo đảm đánh thắng mà giữ được lực lượng đánh được lâu dài. Sư đoàn trưởng Năng bây giờ lên Phó Tư lệnh Mặt trận, một người có kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu và đã hiểu được phần nào khó khăn của trung đoàn mà cũng đánh điện thúc hối lời lẽ tỏ ra bực tức, cứ hỏi "Tại sao không đánh? Có biết các hướng đã nổ súng rồi không?".

     Những lúc nhận điện như thế, tôi cứ như có lửa đốt trong đầu, vừa bực vừa lo. Tôi đoán rằng các cụ ngồi trên ấy chẳng thông cảm gì cho cái anh ở dưới, phải chăm lo trăm thứ việc mà bom đạn địch thì rầm rầm cả ngày, chung quanh là địch, mất hoàn toàn đường dây với phía sau, gạo mang theo đã cạn, phải bắt đầu ăn rút tiêu chuẩn xuống, phải nghĩ cách sao vừa đánh địch vừa kiếm lương thực lo nuôi sống gần nghìn con người để hoàn thành nhiệm vụ của cả giai đoạn diễn biến của chiến dịch cho đến khi kết thúc.

      Sau này thì mới hiểu, không phải trên Bộ Chỉ huy Mặt trận không lo lắng cho chúng tôi. Sau khi chiếm Then Phun, địch đổ thêm quân ra sát vùng biên giới Lào-Việt, ngăn chặn mọi con đường vào Xiêng Khoảng, Tiểu đoàn 6 chiến dấu trong hoàn cảnh rất ác hệt tìm cách mở đường tiếp tế đạn gạo cho trung đoàn nhưng không nhích lên được Trung đoàn 209, lực lượng dự bị của Mặt trận đang tải gạo cho trung đoàn phải quay ra đánh trả địch nhằm bảo vệ hành lang mà cũng chưa giải quyết được gì. Có lẽ vì thế mà Bộ Chỉ huy Mặt trận thúc chúng tôi phải nổ súng. Đúng, tiếng súng từ trong lòng địch buộc địch phải co lại tạo thuận lợi cho toàn mặt trận…

     Vì thế, sau khi tôi đánh điện lên báo cáo ngày mai trung đoàn sẽ nổ súng đánh 5 điểm trong một đêm, các anh trên Mặt trận đánh điện xuống tỏ ra rất mừng, nhưng anh Năng lại vặn hỏi:

     - Có đúng là một đêm đánh 5 điểm không? Đánh kiểu gì, có đủ sức không?

     Chẳng được câu động viên lại còn hỏi vặn, thật bực mình. Nghĩ vậy, sau tôi lại tự nhủ: Bực mình với trên là không được. Các đồng chí ở xa làm sao có thể hiểu rõ những tình huống cụ thể mà mình đối phó. Tôi liền gửi điện lên báo cáo là đánh theo kiểu đặc công và bảo đảm với trên tôi sẽ đánh thắng.

    Có lẽ cũng không cần phải kể lại diễn biến của trận đánh ra sao bởi lẽ tất cả kế hoạch tác chiến đã được thực hiện theo đúng ý định của người chỉ huy. Điều lo nhất đối với chúng tôi là để mất yếu tố bất ngờ thì đã không diễn ra. Sướng nhất là đêm hôm đó ở Sở chỉ huy được nghe các mũi trưởng dồn dập báo cáo về đến nỗi sĩ quan tác chiến ghi không kịp kể từ sau lúc 21 giờ 30, giờ nổ súng. Hết "đã làm chủ đồi Con Lợn, thu mười các bin, bắt sống hai tên… " lại đến "đang truy lùng địch trên đồi Cháy, thu ba các bin, một máy thông tin vô tuyến. . .", "đã chiếm đồi Mâm Xôi, thu một đài, một các bin, hai bì gạo, hai súng trường Mỹ...", "đã làm chủ đồi Cây Xanh, thu bốn súng trường, hai các bin. . ." . Có thể nói, tôi sướng run lên. Đến 22 giờ là tất cả các mũi đều làm chủ các mục tiêu đánh chiếm của mình mà quân ta chỉ bị thương có một đồng chỉ Nguyễn Như Kim khi đánh chiếm đồi Cây Xanh. Tôi ra lệnh cho các mũi giữ đúng chính sách tù hàng binh, hỏi cung xong thì thả ngay tại trận, không đưa về chỗ đóng quân. Qua lời khai của bọn tù binh thì phiên hiệu của đơn  vị bị đánh là BV24, ACI.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:35:38 pm
       Sau khi bàn bạc về việc khen thưởng đơn vị và cá nhân xuất sắc, chúng tôi tính toán và thực hiện ngay các biện pháp đề phòng địch phản ứng và triển khai kế hoạch chiến đấu tiếp theo. Chúng tôi thống nhất ý kiến là chỉ để lại trên đồi Cây Xanh và đồi Con Lợn mỗi nơi một tiểu đội, thiết kế công sự vững chắc chống được bom và phải giữ bí mật, chỉ nổ súng khi địch dùng trực thăng đổ quân xuống chiếm chốt, kết hợp với các mũi tiến công từ dưới lên. Còn toàn bộ lực lượng rút xuống ba trăm mét cũng phải có công sự đề phòng địch thả bom. Hỏa lực pháo cối phải ở tư thế sẵn sàng chờ lệnh. Đại đội trinh sát cho ngay một trung đội đi nắm địch trong thị xã. Các Đại đội 2 và 3 chuẩn bị sẵn sàng, nếu địch không phản ứng lớn, sẽ đánh ngay vào đồn Cao, đồn Thấp trong thị xã. Triển khai kế hoạch xong, tôi mới viết điện báo cáo lên Mặt trận về kết quả chiến đấu diệt 5 điểm, bắt tù binh, thu vũ khí, làm chủ trận địa và các kế hoạch tác chiến tiếp theo sẽ đánh vào sân bay và thị xã Xiêng Khoảng. 

      Có một chuyện nực cười như thế này. Chẳng hiểu điện đài dịch thế nào mà báo cáo là “thu được hai súng trường Mỹ" lại dịch ra thành "bắt được hai thằng Mỹ"! Sau này tôi mới biết là Mặt trận đã báo cáo về Bộ tin vui đó, lại xin cho phóng viên báo Quân đội vào để hỏi cung và viết bài. Đúng là hồi đó các phóng viên Tô ân, Tư Dương, Lê Thu đã được phái vào.

     Lại nói về trận đánh tiếp theo ngày hôm sau đánh địch phản kích diễn ra đúng như dự đoán của chúng tôi. Địch cho máy bay trinh sát bay lượn nhiều vòng rồi ném bom chung quanh các ngọn đồi, cuối cùng cho máy bay lên thẳng đổ quân tổ chức tấn công lên đồi Con Lợn và đồi Cây Xanh. Cuộc chiến đấu diễn ra khá quyết liệt, địch bị đánh từ hai phía trên chốt đánh xuống, dưới vận động tấn công lên, kết quả đến 3 giờ chiều chúng phải tháo chạy hết về thị xã. Có thể nói, với trận đánh này, chúng tôi đã vận dụng có hiệu quả hình thức chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt trên địa hình rừng núi. Chúng tôi lại thu thêm được súng và bắt được một tên tù binh thuộc tiểu đoàn BV26 vừa đổ bộ xuống.

     Cũng trong ngày này, trinh sát của ta từ trên các đồi cao quanh thị xã Xiêng Khoảng đã nắm được các cụm quân địch đóng trong thị xã và khu sân bay có sự chuyển quân ra sao. Các mũi trưởng được phân công đánh các mục tiêu đã nắm chắc đường tiếp đạn, cũng như từng ụ súng, hầm hào, từng vọng gác, nơi có mìn, điều biết cả. Chính vì thế mà khi triển khai kế hoạch tác chiến, các mũi tiềm nhập đã tiến đến sát hàng rào, ĐKZ75, B41 đã bố trí trận địa xong mà địch vẫn chưa biết. Đến 11 giờ đêm thì hai đồi Thấp và Cao khu vực sân bay dường như đã nằm trong cái thòng lọng đợi giờ "khai tử". Quả là như vậy, chưa đầy hai mươi phút chiến đấu kể từ sau lệnh phát hỏa, chúng tôi đã chiếm được cả hai đồn, thu được vũ khí và hơn một tấn gạo, bắt được một tên tù binh. Đánh xong, tất cả lại rút về khu vực tập kết của chúng cho quân mò lên khu đồi Cao như có ý chiếm lại thì toàn bộ lực lượng địch trong thỉ xã lại bí mật rút hết lên  chiếm đóng hai dãy đồi Choong Voong. Cuối cùng, bọn địch trên đồi Cao cũng kéo hết lên đồi Choong Voong. Trinh sát vào trong thị xã Xiêng Khoảng báo cáo về: Trong thị xã không còn địch.

     Chúng tôi nhận định: Bọn địch sợ bị tiêu diệt nên phải kéo lên Choong Voong lấy nơi hiểm trở làm chỗ phòng thân. Như vậy, về tinh thần chúng đang rất hoang mang. Bởi lẽ đây chính là các đơn vị BV24, BV26, ACI đã bị ta đánh thiệt hại nặng. Tổ chức tấn công ngay, tuy
đường tiến quân đánh Choong Voong có nhiều khó khăn nhưng chắc chắn sẽ giành thắng lợi vì địch chưa chuẩn bị xong công sự. Nếu để chậm sẽ mất thời cơ.

     Sau khi thống nhất kế hoạch sử dụng lực lượng đánh ba điểm bằng xung kích còn ba điểm dùng hỏa lực chế áp, chúng tôi phân công nhau, anh Quân tổ chức điều bộ đội, tôi và anh Đỗ Phú Vàng ra khu đồn Cao tiếp tục theo dõi tình hình địch và đón bộ đội lên. 17 giờ, khi bộ đội đã tới khu đồi Thấp thị xã, chúng tôi họp cán bộ phổ biến kế hoạch tác chiến trong 30 phút. Sau đó cán bộ về phổ biến cho anh em, thời gian một tiếng, 20 giờ tiến quân. Đó cũng là lúc trăng bắt đầu mọc.

     Nói cho đúng, đây là kế hoạch tắc chiến đánh truy kích địch trong thế chiến thắng. Đã truy kích thì phải khẩn trương đánh cho địch không kịp thở.

     Đúng là chúng chưa kịp thở đã bị tấn công nên sau khi pháo cối ta bắn dồn dập, chúng chỉ kịp phản ứng yếu ớt ở hai hướng nghi ngờ có xung kích ta tiếp cận rồi đánh bài chuồn. Khi quân ta xung phong tiến lên chiếm trận địa địch thì chúng cũng tháo chạy tung tóe vào rừng bỏ lại cả súng và điện đài. Gạo và tép khô càng không thể mang theo. Chúng ta hoàn toàn làm chủ Choong Voong.

     Thu dọn chiến trường xong, toàn trung đoàn rút về thị xã khi trăng đã lên cao. Ánh trăng tỏa sáng soi cho chiến sĩ bước nhanh hơn trong mềm vui chiến thắng.

     Tôi bỗng nhớ đến những hôm bị cấp trên thúc giục phải đánh nhưng chưa sao đánh được. Nghĩ lại mà phát ngượng. Đến tuần này, trung đoàn đánh thắng liên tục và giải phóng thị xã Xiêng Khoảng mới thấy thanh thản trong lòng. Câu thơ bật ra từ cảm xúc trước chiến thắng không thể không viết:

Một tháng lận đận ăn ở trong rừng
Chim chưa ca, địch chưa đánh, dân chưa mừng, trên không vui.
Hai tháng vẫn ăn ở trong rừng
Chim đã ca, địch đã chết, trên đã mừng, dân đã vui
Đồn thù ta chiếm được rồi...


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:39:50 pm
3

      Đánh thắng giặc, trung đoàn vui hẳn lên. Nhưng vấn đề lương thực, thực phẩm lại trở nên gay go. Cấp trên rồi đơn vị bạn đánh điện xuống khen động viên, đọc điện thì mừng, khi nghĩ đến việc đạn, gạo cho những trận đánh tiếp theo thì lo vô cùng. Nuôi hơn nghìn con người trong rừng sâu mà đường tiếp tế từ phía sau vẫn bị ngăn chặn, có phải đơn giản đâu. Thu được của địch mấy tấn gạo thì giỏi lắm ăn được vài ngày. Đạn không còn đủ cho một trận đánh. Mấy đại đội hỏa lực đều đã hết gạo, anh em đi lùng sục tìm được bí ngô về nấu cháo ăn, đến khi đại tiện phân cứ đỏ lòm. Nghĩ mà thương. Giá như có dân thì chắc chắn chúng tôi sẽ được dân đùm bọc, che chở. Khốn nỗi, bọn địch mở chiến dịch Cù Kiệt vô cùng hiểm độc đã bốc hết mọi người già trẻ lớn bé đưa về Viêng Chăn và Lưăng Prabăng lập trại tập trung. Trâu bò trở thành trâu bò hoang. Nhưng chúng tôi cũng chỉ dám đụng đến những con bị thương do bom đạn gây nên. Lúa ngoài nương bãi bắt đầu chín không có người thu hoạch. Chúng tôi phải xin phép chính quyền địa phương cắt một ít chống đói. Đành phải như vậy. Thế là cái mũ sắt trở thành cối giã. Tiếng chày giã gạo vang khắp mọi nẻo rừng, nghe thì vui, thế mà trong lòng chưa yên.

      Chuyện lương ăn đang là vấn đề khiến chúng tôi phải đau đầu thì bỗng đâu, cái dịch sốt rét lại ập tới. Sốt rét lan truyền từ người này sang người khác, từ đại đội này sang đại đội khác, rất nhanh. Có đại đội hai ba chục đồng chí. Cán bộ đang họp cũng lên cơn sất. Chính ủy Trần Quân, Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng phải về hầm nằm trùm khăn kín mít. Các cơ quan tác chiến, chính trị, hậu cần… không đơn vị nào thoát. Tôi đến đơn vị nào cũng thấy anh em nằm rên. May sao tôi lại không việc gì để còn có người xoay xở định liệu.

     Tôi liền đánh điện khẩn lên Bộ Chỉ huy Mặt trận báo cáo tình hình. Trong tâm trạng vừa lo vừa xúc động, tôi đọc cho anh em viết điện, đại ý là như thế này:

   Kính gửi Bộ Chỉ huy Mặt trận.
Tôi xin thay mặt Đảng ủy và chỉ huy Trung đoàn 165 báo cáo khẩn cấp. Đơn vị đang bị sốt rét mà chưa biết sốt gì. Diễn biên rất nhanh. Mới có một ngày, chỉ riêng Đại đội 1 Tiểu đoàn 4, đã có bảy chục đồng chí. Bệnh còn đang diễn biến phát triển. Đồng chí Quân, đồng chí Vàng cũng bị sốt rất nặng. Tôi nghi là anh em bị nhiễm chất độc hóa học khi đánh lên dãy núi Choong Vuong. Tôi đề nghị Bộ Chỉ huy Mặt trận cho hướng giải quyết.

      Tuy đã viết điện báo cáo lên Mặt trận nhưng vẫn chưa yên tâm, tôi lại gửi riêng cho đồng chí Sư đoàn trưởng Nguyễn Năng, đồng chí Chính ủy Lê Chiêu cùng đồng chí Nguyễn Xuyến, Chủ nhiệm Chính trị sư đoàn khi đó đang làm phái viên chính trị của Mặt trận, mỗi người một bức, nội dung đại ý tôi viết rằng:

       Nhận được tin chiến thắng của trung đoàn chắc các anh rất vui, nhưng nội dung báo cáo dưới đây sẽ khiến các anh phải lo lắng nhiều. Thực trạng Trung đoàn 165 lúc này đang khó khăn trăm bề, dường như bế tắc. Gạo đã hết từ lâu. Đánh chiếm đồn thu được một số song cũng chỉ đỡ được ít ngày. Đến nay toàn trung đoàn đã phải ăn cháo. Vài ngày nữa thì không còn đủ gạo nấu cháo nữa kia. Dựa vào đâu, tôi rất lúng túng. Tuy vậy, việc ăn uống vẫn còn có hướng khắc phục vượt lên được. Cái đáng lo, đáng sợ hơn là trung đoàn đang bị sốt rét nằm la liệt, mất quá nửa quân số trung đoàn, Đại đội 19, Đại đội 1 bị tới năm sáu chục đồng chí. Bệnh lây lan rất nhanh và đang còn phát triển. Chỉ huy trung đoàn chỉ còn tôi là chưa bị sốt. Tôi đã báo cáo lên Bộ Tư lệnh Mặt trận. Mong các anh bàn bạc và cho ý kiên giải quyết ngay.

      Chiều hôm đó, tôi nhận được điện của Mặt trận gửi xuống động viên trung đoàn cố gắng chăm sóc anh em. Trong điện có câu “Đoàn nhân dân đến trung đoàn. Chuẩn bị đón". Đọc điện thấy vui nhưng rất thắc mắc:

      Địch đóng tứ bề, phái đoàn nhân dân nào mà lọt vào đây được? Hay là bà con ẩn náu trong hang đá, hẻm núi nào, chứ ở các bản quanh thị xã và cả trong thị xã Xiêng Khoảng có còn người dân nào nữa đâu. Địch bốc hết dân đi rồi. Nghĩ thật bực mình. Trên chẳng có phương  hướng giải quyết gì lại đưa một phái đoàn nhân dân vào trong lúc tình hình đang quẫn bách thế này thì đón tiếp thế nào?

     Nghĩ đi thì thế, nhưng nghĩ lại, lại thấy phái đoàn nhân dân vào úy lạo lúc này cũng khiến cho không khí trung đoàn vui lên. Như thế cũng tốt. Tôi liền nhắc anh em, cậu nào khỏe chuẩn bị trang trí cái lán đón tiếp. Hậu cần chuẩn bị bữa ăn, sử dụng chỗ gạo nếp, tép khô mới lấy được của địch, kiếm thêm ít rau, hoa chuối, măng. Lại chủ trương chỉ đưa phái đoàn đến thăm đại đội trinh sát thôi vì đây là đơn vỉ còn nhiều người khỏe, mới sốt có bốn anh em. Yêu cầu tác phong đón tiếp vẫn phải bảo đảm tính chính quy, trân trọng, tình cảm. Phải thông báo ngay cho toàn đơn vị biết và nhắc anh em là mặc dù ốm nhưng nơi ăn ở phải vệ sinh, trật tự, sẵn sàng chiến đấu. Công tác nắm địch phải thường xuyên đề phòng địch đánh vào căn cứ, không được trễ nải.

      Dịch sốt vẫn tăng. Tôi cùng đồng chí Lạc, Chủ nhiệm Chính trị xuống  đại đội 1. Người đầu tiên gặp là đồng chí Thìn quàng chăn đứng gác. Tôi không thể ngờ anh thanh niên tuổi mười tám đôi mươi, nước da trắng trẻo, mặt tròn xoe, môi lúc nào cũng đỏ như son, vậy mà giờ đây đứng co ro, da xám ngoét, môi thâm xịt, răng va vào nhau lập cập. Tôi vội hỏi:

     - Đồng chí mới sốt à?

    - Vâng ạ!

    - Sao không báo cáo để cử người thay?

    - Cũng muốn thế, nhưng không còn đủ người khỏe.

    - Đồng chí chịu khó hoàn thành nhiệm vụ. Rồi sẽ hết sốt thôi.

    Nói như vậy nhưng lòng tôi không yên chút nào. Vào đơn vị thấy Đại đội trưởng Do đang nằm rên, trùm chăn kín đầu. Lại nghĩ về kế hoạch tác chiến sắp tới sẽ đánh đồn Cô Xi - Nam Cô phía nam Cánh Đồng Chum sẽ ra sao nếu tình hình trung đoàn vẫn chưa giải quyết được cái dịch sốt rét kỳ lạ này.

     Trở về trung đoàn bộ, tôi chưa kịp hỏi xem công việc chuẩn bị đón phái đoàn nhân dân tới đâu rồi thì đồng chí liên lạc đến báo cáo có đoàn cán bộ trên Mặt trận xuống, do bác sĩ Dần làm trưởng đoàn, cần gặp tôi.

    Gặp nhau, bác sĩ Dần hỏi ngay:

    - Bốn hôm trước trên Mặt trận đã điện xuống, trung đoàn có nhận được không?

    Tôi ngớ người chưa hiểu ra sao thì bác sĩ Dần lại nới tiếp:

    - Đáng lẽ chúng tôi đến đúng hẹn. Nhưng vì đoàn đi có hai bác sĩ, hai liên lạc, một đồng chí lại bị thương khi vượt qua khu vực có quân địch ngăn chặn, dắt díu nhau hôm nay mới tới. Đồng chí bị thương vẫn phải nằm cách đây một quãng xa.

    Qua trò chuyện với bác sĩ Dần, tôi chợt nghĩ hay là điện hôm nọ nói phái đoàn nhân dân chính là đoàn của bác sĩ Dần này. Quả nhiên cho truy xét lại bản mật điện mới hay anh chiến sĩ cơ yếu dịch nhầm "phái đoàn ông Dần” thành ra "phái đoàn nhân dân". Tôi cứ ôm bụng cười không sao nhịn được. Bác sĩ Dần thấy tôi cười, ngạc nhiên hỏi:

     - Đồng chí có điều gì vui mà cười thế?

     - Có gì đâu. Hôm nay đón đồng chí, tôi mừng quá. Tôi quý hơn vàng. Anh em sốt rét hàng loạt như thế, đón được bác sĩ trên Mặt trận xuống cứu nguy thì còn gì vui hơn.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:42:31 pm
      Tôi phải nói tránh sang như thế, nhưng cũng là rất thật lòng về niềm vui có được bác sĩ giàu kinh nghiệm giúp mình khắc phục khó khăn mà mấy hôm nay chẳng nghĩ ra được phương thuốc gì ngoài mấy thứ đã từng làm trước đây.

     Đồng chí Dần chậm rãi nói:

     - Anh yên tâm. Trên đường vào đây, tôi đã qua Đại đội 1, Tiểu đoàn phòng vệ của trung đoàn, đã xem và cho thuốc. Không sao đâu. Sẽ khỏi và khỏe lên ngay thôi. Đây chính là bệnh dịch "sốt mò". Anh cho gọi Chủ nhiệm Quân y lên, chúng tôi sẽ bàn kế hoạch điều trị luôn.

     Nhìn bác sĩ Dần nước da ngăm ngăm, đôi mắt sáng, giọng nói đầy tự tin, tôi rất có cảm tình. Phải nói đây là một bác sĩ dũng cảm, có trách nhiệm cao và cũng dày dạn kinh nghiệm nữa.

     Sau hai tuần, công việc điều trị của bác sĩ Dần đã đem lại kết quả không ngờ. Toàn trung đoàn chỉ còn vài đồng chí do cơ thể quá suy nhược chưa bình phục hẳn mà thôi. Bác sĩ Dần tiếp tục ở lại với trung đoàn cho đến khi chúng tôi xuất phát đánh đồn Cô Xi - Nam Cô thắng lợi, tiến vào phía nam Cánh Đồng Chum. Tôi nghĩ, chiến công của trung đoàn gắn liền với thành tích của bác sĩ Dần, chúng tôi không bao giờ quên.

      Lại nói về diễn biến tiếp theo của chiến dịch. Thời gian này đại quân ta, các Sư đoàn 316, 866, ở các hướng đánh rất mạnh, có cả xe tăng và pháo tầm xa. Trinh sát trung đoàn tôi đã lọt vào khu đồi Bản Tôn, trung tâm sân bay Bản Áng. Đặc biệt ở phía Phu Cút và đồi Koong Le, bộ đội Pa thét Lào chiến đấu rất dũng cảm, bắt được tù binh, thu vũ khí.

     Tuy nhiên, quân địch hoạt động phi pháo vẫn rất mạnh, hết ném bom Xa Nọi, Then Phun, lại bay vào phía trong Cánh Đồng Chum bắn phá. Chúng còn đổ quân xuống khu trung gian Thẩm Lửng trên dãy núi cao 1.800 - 2.000 mét. Tôi tưởng địch tăng quân có ý đồ chiếm lại Cô Xi - Nam Cô và thị xã Xiêng Khoảng. Nhưng đến tối, tôi nhận điện khẩn của Mặt trận báo Then Phun địch đang rút chạy. Tiếp đến nhận điện của Tiểu đoàn 6 báo cáo đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu ở Then Phun, đang hành quân về tập trung với trung đoàn. Tôi mừng quá. Và như thế là đường tiếp tế từ phía sau với trung đoàn được nối liền, cả phía cánh bắc ngã ba Noọng Pẹt với Đoàn 866 và Sư đoàn 316.

     Điện Bộ Tư lệnh Mặt trận nhắc chúng tôi nắm chắc tình hình địch ở khu đông nam Cánh Đồng Chum, khu đồi Bản Tôn, sân bay Bản Áng và chuẩn bị nhận nhiệm vụ chiến đấu.

     Vui nhất là trung đoàn bắt đầu nhận được mọi thứ tiếp tế từ phía sau. Không chỉ gạo muối đầy đủ mà còn có cả thịt hộp, đường sữa, bột trứng, lương khô, chè, rượu, thuốc lá..., nhiều lắm. Tôi cảm thấy hình như Trung đoàn 165 chúng tôi được Mặt trận ưu tiên. Riêng chỉ huy trung đoàn được Bộ Tư lệnh gửi cho, ngoài đường sữa, thuốc lá, còn có cả một thùng kẹo và hai cân xúc xích.

     Cảm động hơn cả là đồng chí Sư đoàn trưởng Nguyễn Năng, Sư đoàn phó Lã Thái Hòa và đồng chí Xuyên, Chủ nhiệm Chính trị sư đoàn đã tới sư đoàn thăm hỏi động viên bộ đội và giao nhiệm vụ. Tiếp đến cả anh Vũ Lập, anh Hữu An cũng đến. Hang Bản Thẩm, chỉ huy sở trung đoàn vui nhộn nhịp hẳn lên. Ai cũng mừng cho chúng tôi trụ vững trong khó khăn và đã đánh thắng, đã không ngừng tìm tòi cách đánh hiệu quả nhất. Trước khi giao nhiệm vụ cho trung đoàn, các anh đã nới rõ thế trận của chiến dịch đang tiếp diễn. Các Trung đoàn 141, 209 cùng Sư đoàn 316 có xe tăng phối hợp sẽ đánh từ Noọng Pẹt chọc thẳng vào trung tâm sân bay Bảng Áng...

     Sau khi trình bày nhiệm vụ của Đoàn 866, bộ đội Pa thét  Lào, anh Vũ Lập giao cho trung đoàn tôi tấn công khu đồi Thấp, khu đồi Bản Tôn và sân bay Bản Áng để phối hợp với các cánh quân của Mặt trận. Anh Vũ Lập hỏi tôi:

     - Trung đoàn được chuẩn bị hai ngày phải nổ súng, có đảm bảo không.

    - Báo cáo, với sức mạnh của trung đoàn hiện nay có cấp trên trực tiếp chỉ đạo, lại có hiều lực lượng, nhiều đơn vị phối hợp, nhất là xe tăng và pháo binh, chúng tôi bảo đảm sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

    Quả vậy, sức mạnh của trung đoàn như được nhân lên, chúng tôi đã đánh như quét địch ra khỏi Cánh Đồng Chum. Cù Kiệt bị đập tan từng mảng. Ở Bản Tôn, địch bỏchạy trước tiếng thét xung phong của các chiến sĩ Tiểu đoàn 4 nhưng vẫn bị bắt sống hơn hai mươi tên. Địch ở Bản Áng mới nghe tiếng gầm của xe tăng đã tháo chạy…
*
*     *

       Sự kiện lịch sử của trung đoàn tôi với những kỷ niệm ở Xiêng Khoảng, Cánh Đồng Chum năm 1969 thật khó mà ghi chép cho đủ. Chỉ có điều, ý nghĩa của chiến dịch đập tan Cù Kiệt, trung đoàn tôi lọt vào vòng trong, lực lượng bị cắt lại hai tiểu đoàn đồng thời lại gặp biết bao tình huống khắc nghiệt mà chúng tôi vẫn vượt qua và đánh ruỗng Cù Kiệt tự trong tung thâm của nó, thì đây cũng là một bài học kinh nghiệm quý báu, một phương án chiến dịch tuyệt hảo mà trung đoàn tôi đã góp phần thực hiện một cách trọn vẹn.

     Và cũng thật vinh dự tự hào cho Trung đoàn 165 lần đầu tiên tham gia một chiến dịch lớn trên đất bạn, giúp bạn giành lại hòa bình, tự do cho đất nước, chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ góp phần bồi đắp thêm tình đoàn kết như chân với tay giữa đội quân cách mạng và hai dân tộc Việt  - Lào. Kỷ niệm này sẽ không bao giờ phai nhòa trong tâm trí chúng tôi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:50:57 pm
BẢN NA
TRƯỚC GIỜ NỔ SÚNG


      Năm 1970, tôi nhớ là vào hạ tuần tháng 8, tôi và anh Quân, Chính ủy Trung đoàn được gọi lên Bộ Tư lệnh Mặt trận Lào - Việt họp nghe kế hoạch phổ biến triển khai chiến dịch tấn công Long Chẹng - Bản Na. Chúng tôi lên đã thấy có mặt các cán bộ Sư đoàn 316, quân tình nguyện 866, bộ đội Pa thét Lào, tiếp đến là cán bộ chỉ huy bộ đội đặc công lần lượt tới.

     Cũng xin nói ngay là năm 1969, sau khi ta mở chiến dịch phản công đạp tan Cù Kiệt giải phóng Xiêng Khoảng Cánh Đồng Chum, ta rút quân về nước thì quân địch lại tràn ra chiếm đóng khắp nơi. Năm 1970 này, chúng ta lại nhận lệnh sang giúp bạn đánh đuổi quân địch giành lại vùng đất đã giải phóng.

      Lần này Sư đoàn 316, quân tình nguyện 866 cùng các đơn vị đặc công có nhiệm vụ đánh vào Long Chẹng. Đây là thủ phủ của tướng phỉ Vàng Phao do Mỹ chỉ huy xây dựng, được bảo vệ rất nghiêm mật, công sự dựa vào các hang đá rất vững chắc và cũng rất hiểm hóc. Bộ chỉ huy Mặt trận coi đây là hướng chủ yếu của chiến dịch. Bộ đội Pa thét Lào có nhiệm vụ đánh địch trên dọc đường 13. Đây là hướng đánh phối hợp. Trung đoàn 165 chúng tôi được tăng cường tiểu đoàn ĐKB 120 ly hỗn hợp cùng tiểu đoàn 12,7 ly có nhiệm vụ tấn công tập đoàn cứ điểm Bản Na. Đây là hưởng thứ yếu của chiến dịch. Đi cùng trung đoàn có tiểu đoàn dân công huyện Yên Thành, Nghệ An làm nhiệm vụ vận chuyển đạn, gạo và thương binh.

      Bản Na ở về phía đông Long Chẹng cách hơn mười kilômét, là tập đoàn cụm cứ điểm bảo vệ vòng ngoài cho Long Chẹng.

      Nhận lệnh về, chúng tôi họp cán bộ ba cơ quan và cán bộ tiểu đoàn giao nhiệm vụ đồng thời tổ chức ngay bộ phận cán bộ chủ trì từ đại đội trở lên đi nắm địch và địa hình, bố trí các cung chặng tiến quân, thiết kế các trận đánh. Tôi chỉ huy bộ phận đi trước. Anh Quân cùng cán bộ cấp phó tổ chức hành quân theo sau.
 
     Núi rừng Lào ở khu vực này rất hiểm trở. Anh em chúng tôi lại chưa ai thuộc địa hình, dân cũng không có mà hỏi, đành dựa theo địa bàn đối chiếu với bản đồ để xác định hướng đi. Phải mất hơn một tuần trèo đèo lội suối vô cùng gian nan vất vả, chúng tôi mới tôi được khu Bản Na.

      Sau ba ngày điều tra nghiên cứu, chúng tôi đã nắm khá kỹ các tập đoàn cứ điểm hình thù nó ra sao. Bản Na nằm trong một thung lũng nhỏ, có đồi có ruộng nhưng bao quanh là những dãy núi cao tạo thành vòng tròn gần như khép kín. Cách Bản Na ba mươi kilômét, dãy đồi cao phía tây bắc có một cụm bốn cứ điểm. Phía đông nam cũng trên đồi cao cách bốn kilômét có bốn cứ điểm. Khu trung tâm Bản Na có nhiều cụm, rõ nhất là cụm pháo 105 và 106,7 ly, cụm kho, sân bay trực thăng, cụm bốn cứ điểm ở mỏm đồi thấp. Chúng tôi chỉ thị mục tiêu cho từng tiểu đoàn yêu cầu các cán bộ phải đến gần nắm thật chắc tình hình và dự kiến cách đánh. Để dễ cho việc chỉ huy, chúng tôi thống nhất gọi khu trung tâm Bản Na là khu một gồm chỉ huy sở trung tâm với tiểu đoàn Thái Lan và tiểu đoàn pháo 105 + 106,7 hỗn hợp Thái, một tiểu đoàn BS22 có khu kho, sân bay trực thăng. Công sự ở đây khá kiên cố. Tiểu đoàn 6 và Đại đội 19 đặc công có nhiệm vụ đánh chiếm khu một. Dãy đồi cao phía tây bắc Bản Na là khu hai, có bốn cứ điểm đặt tên là các điểm 3, 5, 9, 1 1 giao cho Tiểu đoàn 4. ở đây có một đại đội tăng cường của tiểu đoàn BI11 Thái Lan và tiểu đoàn BV chốt giữ khu ba là dãy đồi cao phía nam đo tiểu đoàn SDU phái hữu chốt giữ cũng có bốn điểm, giao cho Tiểu đoàn 5…

      Mọi công việc chuẩn bị chiến đấu đã khá kỹ, chỉ còn bốn ngày nữa là nổ súng thì đột nhiên trung đoàn nhận lệnh của Mặt trận phải điều hai Tiểu đoàn 5 và 6 về hướng chủ yếu, làm lực lượng dự bị cho đơn vị tấn công Long Chẹng, trong khi đó trung đoàn vẫn phải đảm bảo nổ súng đúng ngày.

      Nhận điện mà băn khoăn không sao kể xiết. Thế là toàn bộ kế hoạch chiến đấu của trung đoàn bị đảo lộn.  Thời gian gấp quá, làm thế nào điều chỉnh kế hoạch tổ chức trận đánh cho kịp ngày nổ súng. Tôi liền triệu tập các cán bộ chủ trì từ đại đội trở lên, cùng ba cơ quan bàn kế hoạch nổ súng, điều chỉnh kế hoạch tác chiến cho phù hợp với lực lượng trung đoàn, giống như năm 1969, đánh vào Xiêng Khoảng cũng chỉ còn có Tiểu đoàn 4 và các đại đội trực thuộc. Vấn đề quan trọng nhất lúc này là chọn mục tiêu và cách đánh.

      Tôi thay mặt chỉ huy trung đoàn trình bày trước hội nghị:

      - Thưa các đồng chí! Chúng ta đang đứng trước một thử thách. Nhưng chúng ta không sợ. Cái chính là căn cứ vào tình hình địch và lực lượng ta còn lại thì ta cần tìm ra phương án tác chiến nào để có thể bảo đảm thắng lợi? Tôi thấy là ta phải thay đổi từ cách đánh nhanh sang cách đánh dài ngày, từ tấn công cả tập đoàn cứ điểm cùng trong một thời gian sang kế hoạch đánh từng cử điểm, từng khu vực. Cụ thể là ta sẽ đánh theo chiến thuật bao vây tấn công, tập trung dứt điểm từng khu vực tiến lên tiêu diệt toàn tập đoàn cứ điểm của giặc ở Bản Na. Mục tiêu tấn công đầu tiên là cụm cứ điểm Tây Bắc gồm bốn cứ điểm 3, 5, 9, 11. Trung đoàn quyết định giao cho Tiểu đoàn 4 và Đại đội 19 đặc công đảm nhiệm. Cứ điểm 3 quân đội Thái Lan là mục tiêu đột phá đầu tiên. Hỏa lực dùng đánh điểm 3 này gồm đại đội 120 ly, hai khẩu ĐKZ75, tám khẩu B41 và đại đội 12,7 ly. Lực lượng vây lấn đột kích, ta chỉ dùng một đại đội của Tiểu đoàn 4 cùng với Đại đội 19 đặc công. Nhưng quan trọng là ta phải cùng với một đại đội bộ binh kết hợp có lực lượng hỏa lực tiến hành vây, lấn, tấn phá trước. Yêu cầu đối với bộ phận vây, lấn, tấn, phá này là phải vây cho chặt, lấn đến tận hàng rào, đến sát chiến hào địch, cùng với hỏa lực không cho máy bay lên thẳng hạ cánh, không cho thằng dưới lên, thằng trên máy bay xuống, cả thằng trong đồn cũng không ra được, thằng ngoài đồn không vào được. Phải làm cho chúng ăn không ngon, ngủ không yên, thằng sống nằm lẫn với thằng chết. Trong khi đó lực lượng công binh với trung đội bộ binh vây lấn phá rào tiến hành mở cho được bốn cửa vào đồn giặc, hỏa lực bắn phá phải diệt các hỏa điểm và sinh lực địch ở hướng cửa mở. Khi bộ phận vây lấn, đánh phá đạt được như thế, ta mới tung lực lượng xung kích xông vào gồm Đại đội 1 và Đại đội 19 đặc công được tổ chức thành bốn đội tấn công tiêu diệt cứ điểm 3. Đánh xong điểm 3, ta tập trung đánh điểm 5, điểm 9 rồi 11. Các đại đội pháo ĐKB 120 ly tập trung bắn khu 1, trung tâm Bản Na, chủ yếu là chế áp pháo vào chỉ huy sở tiểu đoàn Thái Lan BI 11. Đối với khu 3, ta chỉ dùng đại đội 12,7 ly, đại đội cối 82 cùng một tiểu đội trinh sát bắn kiềm chế và bao vây lỏng lẻo. Cụm cứ điểm Tây Bắc bị diệt, nhất định sẽ làm rung chuyển cả khu trung tâm và khu đông nam này…


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:54:15 pm
      Các cán bộ dự họp đều nhất trí với phương án tác chiến trên, cho rằng đó là cách đánh chắc tay gặp tình huống phức tạp có thể khắc phục được. Ai nấy phấn khởi về phổ biến cho đơn vị và làm tiếp các công tác chuẩn bị. Chỉ còn một ngày nữa thì nổ súng. Khí thế đơn vị bước vào tận đánh thật đáng mừng, ai cũng phấn khởi, tin là sẽ hoàn thành nhiệm vụ. Tuy vậy tôi vẫn lo. Lực lượng mình quá mỏng. Trước một tập đoàn cứ điểm như vậy, cả khi trung đoàn có về đủ tập trung toàn lực tấn công cũng vẫn phải thận trọng chọn điểm đột phá chủ yếu nào đặng có thể dứt điểm làm cho toàn bộ quân địch phải choáng váng, huống chi lúc này, trung đoàn lại bị điều đi mất hai tiểu đoàn. Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng cũng chung một ý nghĩ như tôi. Chúng tôi bàn nhau về kế hoạch vây, lấn, tấn, phá cho chắc, bảo đảm dứt điểm trận đột phá đầu tiên diệt điểm 3 thật gọn tạo đà cho các trận tiếp theo. Hai anh em đang bàn bạc, dường như còn nhiều điểm phải bổ sung cho công tác chuẩn bị thì có điện của Mặt trận thông báo là đoàn cán bộ của Mặt trận do Phó Tư lệnh Nam Hà dẫn đầu xuống làm việc, trung đoàn cho người đi đón. Thật là tin vui đến với chúng tôi. Đang lúc có nhiều điểm chưa thật yên tâm, lại được anh Nam Hà gỡ cho thì thật còn gì bằng. Cán bộ trong cơ quan trung đoàn bộ biết tin, ai cũng mừng.

     Thật ra, mọi người, kể cả tôi, chỉ mới nghe tên biết mặt chứ chưa làm việc trực tiếp với anh Nam Hà bao giờ. Qua đôi lần gặp ở hội nghị hoặc trên đường, chào hỏi nhau tôi chỉ biết sơ sơ bề ngoài, anh có vẻ xởi lởi dễ gần, người nhỏ thấp, dáng cân đối, động tác nhanh nhẹn. Thế thôi. Lần này được trực tiếp làm việc với anh ở ngay mặt trận ác liệt đầy gian khổ này, chắc chắn rằng, với kinh nghiệm của người chỉ huy lâu năm đã từng trải qua nhiều chiến dịch, anh sẽ giúp trung đoàn, giúp bản thân tôi rất nhiều.

      Tôi còn đang mải suy nghĩ như thế thì anh Nam Hà cùng ba đồng chí cán bộ tác chiến, quân huấn của Mặt trận đến ngay trước mặt. Vui quá. Lại có cả anh Lã Thái Hòa, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312 chúng tôi cùng đi. Thời gian này, anh làm phái viên của Mặt trận.

      Tôi đứng lên hoan hỉ bắt tay các anh. Không khí chào hỏi tiếp đón diễn ra rất thân tình cởi mở.

     Anh Nam Hà hỏi tôi ngay:

     - Trung đoàn đã điều hai tiểu đoàn đi rồi chứ? Kế hoạch tác chiến thế nào, ổn chưa?

     - Thưa anh, hai Tiểu đoàn 5 và 6 đã đến đúng vị trí theo lệnh trên. Kế hoạch tác chiến đã triển khai xong. Nói chung là ổn.

     - Thế thì tốt quá.

     Các cán bộ trung đoàn và ba cơ quan kéo đến chào phái đoàn khiến cho không khí thêm sôi nổi, bộc lộ tình cảm thân thiết, tin cậy. Tôi đến sát bên anh Lã Thái Hòa hỏi chuyện vui:

     - Thế nào anh, trên đường từ Mặt trận xuống đây, Thủ trưởng và phái đoàn bị mấy trận bom rồi?

     - Ba trận. Nhưng chẳng làm sao cả. Hơn nữa, đi càng khỏe và nhanh hơn.

     Anh Nam Hà nói chen vào:

     - Cậu Thái Hòa to khỏe có mã tướng đẹp nhất đoàn cho nên bom nó nể. Lúc đến cửa rừng bị một trận, còn nhìn thấy cậu ấy, đến trận thứ hai ở đỉnh đèo Quế, trận nữa là đèo Mây, tất cả phải vượt nhanh, chúng mình vượt lên rồi, nhìn về phía sau chỉ thấy khói bom mù mịt. Lo quá  Thái Hòa đâu rồi? Một lát sau thấy cậu ta hiện ra qua khói bom, đang ì ạch bám theo, mãi mới theo kịp chúng mình.

     Mọi người cười vui, chẳng nghĩ là đang giữa chiến trường và đang ở thời điểm trước giờ nổ súng.

     Tôi hỏi khẽ anh Lã Thái Hòa:

     - Anh vẫn nhận được thư của chị ấy chứ? Thế nào, lần về nước gặp chị ấy có kết quả gì chưa? Hay là vẫn cờ trắng?

     Hai chúng tôi cùng cười. Anh em chung quanh, chẳng hiểu có biết chúng tôi nói gì không, cũng cười theo.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 11 Tháng Mười, 2009, 02:57:48 pm
      Sau khi ăn cơm, nghỉ ngơi khoảng ba mươi phút, chúng tôi họp với phái đoàn của Mặt trận. Phía trung đoàn chỉ có tôi, anh Trường Quân, anh Đỗ Phú Vàng, anh Trần Lạc và các cán bộ tác chiến. Tôi báo cáo phương án tác chiến rất hy vọng sẽ được phái đoàn của Mặt trận đánh giá là sát hợp với thực tế tình hình. Nhưng tôi quan sát thấy anh Nam Hà vừa nghe vừa xem bản đồ, sắc mặt tỏ ra không bình thường. Không để tôi báo cáo hết, anh ngắt lời hỏi ngay:

     - Như vậy là trung đoàn không đánh tập trung vào chỉ huy sở Bản Na, mà lại đánh vào khu hai?

     - Thưa anh đúng. - Tôi bình thản trả lời - Trung đoàn chỉ đủ sức đánh vào khu hai. Còn khu trung tâm, ta dùng pháo bắn phá. Với khu ba phía đông nam, ta kiềm chế. Bởi vì...

     Tôi càng giải thích, anh càng tỏ ra bực bội, lại nói cắt ngang:

     - Cách đánh của trung đoàn như thế là không đúng tinh thần và ý định của Mặt trận. Phải tập trung lực lượng đánh vào khu một, trung tâm Bản Na. Tại sao trung đoàn lại dồn lực lượng vào khu hai?

     Các cán bộ trung đoàn báo cáo bổ sung tình hình địch và khả năng trung đoàn chỉ đủ đánh khu hai, hy vọng anh sẽ nghe ra. Nhưng không, anh vẫn kiên quyết nhắc lại và giải thích là phải tập trung lực lượng đánh vào khu một mới khiến cho quân địch choáng váng. Thú thật, nghe anh Nam Hà giải thích, tôi vừa lo nhiệm vụ lại vừa tức, không biết nên thực hiện thế nào trước cái lệnh "nướng quân" này. Anh nói tiếp, giọng hằn học:

     - Các anh nên tính toán cho thận trọng. Tôi nói đây là tôi đem lệnh của Mặt trận xuống. Trung đoàn các anh bàn với nhau khắc phục khó khăn chấp hành lệnh. Vấn đề là phải nhìn chung thế và lực toàn chiến dịch. Phối hợp với hướng chính là Long Chẹng, ta đánh vào sào huyệt của bọn phỉ Vàng Phao thì ở hướng phụ này phải đánh thẳng vào nơi hiểm yếu của địch, có nghĩa là phải đánh vào trung đoàn cứ điểm bảo vệ vòng ngoài cho Long Chẹng. Vòng ngoài rung động thì Long Chẹng cũng rung động theo.

    Cán bộ trung đoàn tôi rất đỗi bàng hoàng lo lắng vì bộ đội đã vào vị trí tập kết, thời gian quá gấp để có thể tổ chức thực hiện cái mệnh lệnh khắc nghiệt này. Tất cả ngồi yên nhìn nhau chờ đợi mà chẳng biết là chờ đợi cái gì. Tôi thầm nghĩ, với lực lượng trung đoàn hiện nay mà chọn đánh vào nơi hiểm yếu, kết cục bị "phơi áo" ra ở đấy thì liệu có thể làm rung động được cái gì. Khu hai là điểm yếu so với khu một nhưng không phải là không hiểm yếu bởi diệt được khu hai là lập tức uy hiếp khu một. Với phương án đã tính toán, tấn công khu hai là chắc thắng. Cứ thực hiện phương án của trung đoàn thôi. Đã trình bày như thế mà trên chẳng nghe thì mặc trên…

    Tôi vừa nghĩ đến đây thì anh Nam Hà lại hỏi luôn:

    - Thế nào, anh Chuông?

    Lúc này, đúng là tôi không còn bình tĩnh được nữa, đã nói trắng ra không còn úp mở gì về cái mệnh lệnh mà tôi gọi là "mệnh lệnh nướng quân".

    - Lệnh trên như thế thì tôi không thể làm được.

    - Như thế là thế nào?

    - Là "mệnh lệnh nướng quân".

    Cuộc họp. trở nên gay cấn. Trên bực. Dưới tức. Anh Nam Hà hỏi tiếp:

    - Anh không chấp hành phải không?

    - Tôi không chấp hành được cách chỉ huy như thế.

    Anh Quân, Chính ủy trung đoàn giơ tay vẻ như ngăn lại, nói xen vào.

    - Đề nghị Thủ trưởng. . . Anh Chuông nên bình tĩnh, anh nóng quá đấy!

    - Anh bảo tôi nóng à? Đấy, anh ra mà chỉ huy.

    Hội nghị phải tạm dừng. Mọi người tản ra. Từng tốp cán bộ cơ quan trên với cơ quan dưới, anh Nam Hà, anh Quân, anh Lạc chụm đầu rì rầm bàn tán. Chỉ có tôi ngồi một mình rít thuốc, cơn tức vẫn chẹt lấy cổ.

    Lát sau, anh Lã Thái Hòa đến ngồi bên tôi một lúc rồi mới nói:

    - Chuông ơi! Như vậy là tình hình phức tạp rồi. Nếu anh cứ khăng khăng như thế tức là anh chống lại lệnh đấy?

    Nghe thế, tôi càng bực sôi lên, hỏi lại:

     - Anh là chỉ huy cấp trên có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo chỉ huy, anh nghĩ xem, tình hình địch, ta như vậy thì có thể chấp hành được cái lệnh đó không? Tôi đâu phải là người muốn chống lệnh. Năm ngoái, trung đoàn còn phải luồn qua mấy tuyến ngăn chặn của địch vào chiến đấu trong vòng vây đồn bốt giặc, trên không cho một người trinh sát dẫn đường, gạo không được tiếp tế, đạn phải dè xẻn từng viên, vậy mà chúng tôi vẫn chấp hành đầy đủ các nhiệm vụ trên giao, thương vong lại rất ít. Trong khi đó, Trung đoàn 141 đánh đồi Mã Thượng không dứt điểm lại thương vong nhiều, trung đoàn trưởng bị mất chức. Trận Keo Bom, Bum Lọng, Trung đoàn 209 đánh cũng không thắng, trung đoàn trưởng phải ra đi. Đến trận này, sẽ là ai đây? Chắc là tôi thôi, nếu như tôi cứ mạo hiểm chấp hành mệnh lệnh đánh vào khu trung tâm Bản Na, tức là đánh vào chỗ cứng nhất, mạnh nhất của tập đoàn cứ điểm này, trong khi lực lượng của trung đoàn đã bị điều đi mất hai phần ba. Tôi nói thực với anh, tôi không thể đánh cách nào khác, đề nghị cấp trên cho chúng tôi đánh theo phương án trung đoàn đã triển khai.

     Anh Hòa kiên nhẫn nghe tôi nói đến đây, khẽ thở dài, thủng thẳng đáp:

     - Anh đã quyết tâm như thế thì tôi chẳng còn gì để nói với anh được cả. Tôi chịu anh thôi.

     Nói xong, anh ngồi thừ ra, vẻ mặt buồn u ẩn khiến tôi lại thấy thương nên phải dìu dặt nói thêm để anh hiểu:

     - Tôi nói là có lý của tôi, không phải tôi nói bừa. Anh xem, ban đầu kế hoạch tác chiến là lực lượng toàn trung đoàn tấn công thì lẽ tất nhiên có bộ phận chủ yếu tấn công cả trung tâm Bản Na. Bây giờ trên điều mất của chúng tôi hai tiêu đoàn thì kế hoạch phải thay đổi cho phù hợp thôi chứ sao ra lẽ được. Tôi đã sẵn sàng rồi, anh yên tâm. Dù trận này có thắng tôi cũng chẳng sao. Điều khiến tôi phải nghĩ nhiều đó là máu xương chiến sĩ. Mà giả sử trung đoàn gặp khó khăn chắc là tôi sẽ mất chức hoặc ra tòa án binh hoặc về nhà làm ruộng, nuôi gà, đánh cá. Nếu ông còn nhớ tình bạn đến chơi, chắc rằng tôi sẽ có các thứ cây nhà lá vườn đãi ông thôi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 14 Tháng Mười, 2009, 03:54:48 pm
      Nửa tiếng sau trở lại cuộc họp tiếp tục bàn, không khí xem chừng có dịu lắng đi một chút xong tôi nghĩ chỉ là bề ngoài chứ thực ra trong tâm trạng mỗi người vẫn đang âm ỉ những cơn sóng ngầm. Chính tôi cũng đang nén lại để khỏi nổi nóng mặc dầu tiếp tục báo cáo, tôi vẫn thưa gửi một cách rất trân trọng.

      - Thưa Thủ trưởng Nam Hà? Thưa các anh? Ban nãy nghe lệnh, thấy thời gian gấp mà bí quá, tôi không biết làm thế nào mà thực hiện được nhiệm vụ nên chưa thật bình tĩnh đã có thái độ chưa đúng. Bây giờ chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa thì nổ súng, bộ đội đã vào vị trí cả rồi, tôi xin lỗi và đề nghị Thủ trưởng Nam Hà và các anh trên cơ quan Mặt trận.cứ báo cáo lên trên, chúng tôi chịu trách nhiệm và đảm bảo sẽ đánh thắng, sẽ chiếm lại Bản Na.

      Tôi đề nghị các anh đến sở chỉ huy chính của chúng tôi. Tôi, anh Nam Hà ở chung. Cơ quan trung đoàn ở một bên, cơ quan Mặt trận ở một bên cách nhau sáu bước.

      Anh Nam Hà xen bản đồ, tỏ vẻ điềm tĩnh nói:

      -  Thôi, thời gian gấp thế thì phải làm thế vậy - Và đột nhiên anh hỏi tôi - Vị trí trung đoàn ở chỗ nào?

      Tôi chỉ vào tấm bản đồ anh đang xem:

     - Thưa anh, ở đây ạ!

     - Sao? Vị trí chỉ huy phải tiện quan sát và nắm quân chứ? Anh cho chuyển lên chỗ này đi.

     Tôi thấy lạ quá. Anh là cán bộ chỉ huy giỏi công tác tham mưu, bảo phải tiến lên lại chỉ vào bình độ lùi về sau gần dốc Quế. Tôi biết anh chỉ sai. Địa hình ở Tây Bắc Lào, nhất là khu vực Sảm Thông Long Chẹng rất phức tạp mà bản đồ thời ấy lại thường không chính xác, tôi cũng đã có những lần xác định sai trên bản đồ, huống chi anh, mới nhìn qua đã chỉ luôn, làm gì không sai. Biết thế, nhưng tôi lại trả lời một cách kín đáo, ý nhị:

      - Vị trí sở chỉ huy hiện nay là gần nhất rồi đấy ạ!

      Các anh cán bộ tham mưu cấp trên xúm lại quanh tấm bản đồ cùng trao đổi ý kiến qua lại, cuối cùng xác định đúng như lời tôi nói. Anh Nam Hà cười:

      - Thôi, thế cũng được.

     Hôm đó, ăn cơm xong, tôi đi kiểm tra sở chỉ huy trung đoàn, đến ban tác chiến thấy các anh phái viên tham mưu của Mặt trận và bộ phận thông tin vẫn chưa về vị trí của mình, tôi nói ngay:

     - Các anh về bên kia suối đi, về vị trí của Mặt trận. Tôi và anh Nam Hà đã thống nhất như thế.

     Tôi nhắc Tham mưu trưởng, Trưởng ban tác chiến phải chấn chỉnh lại sở chỉ huy và giúp bên cơ quan Mặt trận tổ chức vị ta chỉ huy, cho người đào công sự đồng thời cho các đồng chí ấy mượn một số cuốc xẻng. Nhắc xong, tôi sang bên chính trị, hậu cần kiểm tra tình hình mọi mặt, rất mừng khi nghe dân công huyện Yên Thành, Nghệ An đã chuyển đủ đạn, gạo đến trận địa, có nhiều tấm gương dũng cảm.

      Một lúc lâu sau trở về sở chỉ huy lại thấy các phái viên của Mặt trận vẫn còn ở đó, cười nói ồn ã, tôi chợt nghe thấy tiếng ai đã nói "ăn cơm rau muống không bằng tình huống ông Chuông", rồi lại cười khúc khích, chẳng hiểu có ngụ ý gì. Tôi bước vào. Đang bực mình, tôi nói không còn biết giữ miệng:

      - Cười gì mà cười lắm thế? Sao các anh trên cơ quan Mặt trận không về vị trí, còn ngồi lẫn lộn với trung đoàn để ngửi rắm nhau à?

     Thật ra, tôi rất tôn trọng và quý các anh. Vì sự thật là các anh đã giúp đỡ chúng tôi được nhiều việc trong những năm ở bên chiến trường nước bạn. Nhưng lần này, do tức với trên, giận cá chém thớt, tôi đã thốt ra câu nói sai trái ấy. Bây giờ nghĩ lại càng thấy là sai cho nên qua dòng ghi chép này, tôi muốn được xin lỗi các anh.

     ...Lại nói khi về sở chỉ huy gặp anh Nam Hà, anh hỏi ngay:

     - Đơn vị vào chiếm lĩnh đến đâu rồi?

     - Báo cáo, tất cả các hướng, bộ đội đã vào vị trí an toàn.

     Anh Nam Hà không nói gì. Lúc này đã 20 giờ, trăng đang lên tỏa ánh sáng lấp lánh qua các vòm lá rừng. Tôi mừng thầm. Thế là bộ đội có thể chuẩn bị chiến đấu được thuận lợi hơn.

     Pháo địch vẫn ình oàng cầm canh. Máy bay vẫn thả bom tọa độ khi xa khi gần. Đèn dù pháo sáng, dường như không có lúc nào thiếu vắng trên trời, dập dờn bay theo chiều gió, nhạt nhòa trong ánh trăng.

    Chuông điện thoại reo lên. Anh em báo cáo đã vây gọn khu hai. Đài quan sát báo cáo tình hình địch không có gì thay đổi, các đơn vị đã vào vị trí, chờ lệnh nổ súng. Như vậy là quân ta đã đến rất gần mà địch vẫn chưa biết.

     Chỉ còn mười phút nữa thì đến giờ nổ súng. Nghe báo cáo, tôi rất mừng mà vẫn không khỏi hồi hộp. Tình huống của trận đánh này là một thử thách vô cùng quyết hệt đối với tôi; nó buộc tôi phải thận trọng hơn bất cứ lần chỉ huy trận đánh nào trước đây. Nghĩa là tôi phải bảo đảm chỉ có thắng, không thể thua. Trách nhiệm và danh dự ngầm bảo tôi như vậy.

     Mười phút qua nhanh. Anh Nam Hà nhắc tôi:

     - Đến giờ rồi, phát lệnh nổ súng đi.

     Trận đánh diễn ra không kém phần ác liệt. Tiếng pháo cối to nhỏ, rồi tiếng trung liên, đại liên nổ rung chuyển cả núi rừng, đạn lửa đan chéo ngang trời, chớp lửa nhoàng nhoàng xé toang màn đêm sáng cả một vùng rừng.

     Các đài quan sát báo cáo pháo ta bắn áp chế khu trung tâm đúng chỉ huy sở và trận địa pháo địch. Bộ đội đánh khu hai đã đến sát hàng rào, đang đào công sự. Pháo ĐKZ và cối bắn rất trúng đã đánh sập ba ụ súng, dập tắt hỏa điểm lợi hại trên hướng đánh vào điểm ba của khu hai. Địch phản ứng yếu ớt.

    Nghe báo cáo tình hình, tôi rất mừng. Anh Nam Hà cũng tỏ thái độ hòa vui cùng chúng tôi. Anh nói:

      - Bộ đội đánh thế là được đấy.

    Đúng lúc đó có điện của Mặt trận gọi anh Nam Hà về. Tôi bịn rịn tiễn chào anh. Đến lúc này, hình như chúng tôi đã thông cảm với nhau hơn. Anh bắt tay tôi và xúc động nói:

     - Cậu chỉ huy, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.

     - Vâng! Anh đi đường thận trọng.

     Nghe tiếng bom nổ mạnh và liên tục từ Dốc Quế từ phía Bộ chỉ huy Mặt trận, tôi cũng thấy lo lo. Anh Nam Hà động viên tôi:

    - Cậu yên tâm.

     Lại nói về trận đánh tiếp tục diễn biến hết đêm hôm đó cho đến buổi sáng hôm sau, quân ta đã phá thêm hai hàng rào, sáu ụ súng lô cốt, làm sập nhiều đoạn hào ở điểm 5, điểm 9 phá được một hàng rào, ba ụ súng; điểm 11 chưa thấy báo cáo kết quả. Khu một trung tâm chỉ huy sở của địch bị trúng đạn pháo nặng nề, cụm kho bị cháy, trận địa pháo bị nặng nên địch bắn ra rất thưa thớt, không thấy .chúng đi lại nhiều như hôm trước. Địch ở khu ba nằm im...

     Tham mưu nhận định: Bộ đội ta đánh tốt, cứ đà này, có thể chuẩn bị ngay cho Đại đội 1 và Đại đội 19 đặc công tối nay tập trung đánh dứt điểm 3. Tôi nhất trí với nhận định trên và ra lệnh cho tham mưu chỉ đạo ngay những công việc cần làm, nhất là tổ chức kiểm tra các đội đột kích về cách xung phong đánh địch trong chiến hào; hầm ngầm. Thời gian chờ trăng lên mới tấn công tức là hai mươi mốt giờ thì nổ súng. Kế hoạch là pháo bắn chế áp ba phút nữa là chuyển làn sang điểm 5, điểm 9, bộ đội phải xung phong đánh điểm 3 ngay, không được trù trừ, phải cướp lấy thời gian lên chiếm chiến hào trước địch để áp sát tấn công diệt hỏa điểm hầm ngầm. Lúc này súng 12,7 ly bắn đạn lửa lên trời, bộ đội cần biết rõ để từng bộ phận tìm nhiệm vụ vây lấn phải vây chặt, lấn sát hơn nữa, không cho trực thăng hạ cánh đổ quân xuống hoặc bốc quân lên. Bám thật gần địch để đánh địch thì không lo máy bay của chúng bắn vào trận địa của mình.

     Đang hào hứng với kế hoạch tấn công dứt điểm vị trí trong đêm nay thì có tin Thủ trưởng Linh, Thường vụ Đảng ủy, phó Chính ủy Mặt trận cùng một số phái viên và cán bộ kiểm sát xuống trung đoàn làm việc. Sau cuộc đón tiếp nửa vui nửa ngỡ ngàng, anh Linh bảo tôi:

     - Anh cứ chỉ huy, tôi làm việc với anh Quân, anh Lạc.

     Tôi thầm nghĩ, chắc là việc của mình đây. Nhưng chẳng có gì mà sợ. Quá lắm là đi tù, không thì mất chức, về làm anh dân thường là cùng. Chỉ nghĩ mà buồn và tức nữa. Khi mình suy tính đến những điều tết nhất, thuận lợi nhất cho trung đoàn và cho trận đánh nhất định phải chiến thắng thì các ông ấy lại cho là chống lệnh. Phải cố gắng lắm tôi mới không bị phân tán tư tưởng để tập trung suy nghĩ vào việc chỉ huy trận đánh Bản Na này mà tôi hiểu, nó phải chứng minh được với cấp trên là tôi đúng.

     Làm việc với anh Quân, anh Lạc xong, anh Linh nghe tôi báo cáo về tình hình chiến đấu của bộ đội, đến hai giờ chiều, anh về trên Mặt trận và không hỏi han thêm.

     Nhưng chẳng hiểu sao, trong sở chỉ huy trung đoàn lại xôn xao lên nhiều chuyện xung quanh số phận của tôi. Tôi hỏi anh Quân, anh Lạc và Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng đang ngồi bàn bạc gì đó để biết xem anh Linh chỉ thị những gì cho trung đoàn, anh Quân chậm rãi nói:

     - Thì vẫn chỉ là vấn đề công tác chính trị tư tưởng và tổ chức.

     - Nhưng anh ấy bàn cụ thể là việc gì? - Tôi hỏi anh Quân - Sao tôi nghe thấy anh đề nghị với anh Linh là cứ để tôi chỉ huy xong trận này đã. Như thế nghĩa là thế nào?

     - Có chuyện đó, nhưng chẳng sao anh ạ.

     Chủ nhiệm Chính trị Lạc tiếp lời:

     - Có chuyện về Thủ trưởng, cũng hơi găng đấy. Chúng tôi bàn nhiều mặt, sẽ báo cáo Thủ trưởng sau. Mà đâu chỉ có việc Thủ trưởng.

     - Thì tôi cũng hỏi các anh để hiểu thêm sự đời. Chứ làm anh cán bộ quân sự là phải chịu những thử thách như thế. Tôi ở Trung đoàn 165 từ trước khi thành lập sư đoàn và ở Sư đoàn 312 từ ngày thành lập đến nay: Tôi nhận thấy các lớp đội ngù cán bộ trưởng thành trong sư đoàn đã đánh nhiều trận, đánh giỏi nữa là khác, hầu như ai cũng phải trải qua một hai lần đau xót, cay đắng vì thua trận. Chỉ có điều, qua những lần thua đó lại giúp nhau rút kinh nghiệm đúc kết thành bài học bồi dưỡng cho nhau, kết quả là trưởng thành và đoàn kết hơn. Tất cả như quy luật để có Sư đoàn 312 vững mạnh như ngày nay. Ngay Thủ trưởng Lê Trọng Tấn, Sư đoàn trưởng 312 đầu tiên tài giỏi là thế mà trận đầu tiên tập trung cả sư đoàn đánh Nghĩa Lộ năm 1951 cũng có thể gọi là thua đấy. Song chính anh ấy đã nhận ra bài học quý báu cho những trận sau, trận nào cũng thắng…

      Tôi nói như muốn tâm sự với mọi người về tất cả những gì đã nghĩ và đã làm, cuối cùng tôi không quên nhắc lại một cách rành rõ rằng, khi trung đoàn không đánh theo phương án của trên thì không phải chúng ta coi thường và không nên nghĩ rằng như thế là chống lệnh.

     - Không! - Tôi nói tiếp - Chúng ta không chống lệnh. Chính là chúng ta dám chịu trách nhiệm trước cấp trên, khắc phục mọi tình huống bảo đảm đánh thắng trận này. Đang tiếc là trên chưa hiểu đầy đủ cái yếu và cái mạnh của chúng ta. Chứ còn việc bàn bạc chọn phương án tối ưu nào trong chiến tranh để đảm bảo đánh nhất định thắng là chuyện bình thường vẫn diễn ra. Với trận Bản Na này, bây giờ không còn là lúc bàn cãi về phương án này hay phương án kia mà các đồng chí hãy yên tâm đi, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và tôi tin rằng các cán bộ chiến sĩ trung đoàn ta sẽ có đáp số trả lời đó là nhất định thắng…

      Trận đánh mỗi lúc thêm quyết liệt. Đến ba giờ chiều, quân địch phản ứng mạnh lên. Pháo đấu pháo. Súng bộ binh chọi súng bộ binh. Súng 12,7 ly ngăn chặn bọn máy bay thả dù hàng. Địch cho máy bay B52 rải bom xung quanh Bản Na. Đạn bay, bom nổ, đất trời Bản Na mù mịt khói lửa ngỡ như khó có thể còn sự sống ở đây.

     Chúng tôi thay nhau quan sát, vừa lo cho chiến sĩ ở phía trước, vừa nghĩ về trận tấn công dứt điểm đêm nay. Sau mỗi đợt địch dội bom, chúng tôi lại gọi điện thoại lên phía trước để nắm tình hình. Nghe anh em báo cáo vẫn an toàn, lòng mừng khôn xiết. Đến mười bảy giờ, cơ quan tác chiến tổng hợp báo cáo tình hình, chúng tôi nghe ai cũng vui vì biết tin các đơn vị đều vẫn an toàn mà ở cao điểm 3 ta đã phá thêm bốn ụ súng và các hàng rào đã mở xong, địch không dám lên chiến hào, bọn thả dù đều thả ra ngoài trận địa ta, có dù toàn gà đã mổ sẵn, có dù bánh mì, có dù bắp cải, hành tây… Chỉ có hai dù lọt vào bên trong hàng rào nhưng không có tên địch nào dám ra gỡ. Tôi nói với anh em tác chiến:

     - Đánh thế là tốt. Cho tôi gặp Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 với hai cán bộ Đại đội trưởng Đại đội 1 và Đại đội 19 đặc công.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 14 Tháng Mười, 2009, 04:03:17 pm
      Nghe anh em báo cáo đã đưa các mũi trưởng lên quan sát cửa mở, giao nhiệm vụ và chỉ thị mục tiêu rồi, tôi mừng lắm, liền hỏi:

     - Thế đêm nay bảo đảm đánh tốt chứ?

     - Bảo đảm đêm nay dứt điểm ạ?

     - Còn băn khoăn gì nữa không?

     - Chúng tôi rất yên tâm, bảo đảm chắc thắng ạ.

     - Bây giờ lấy lại đồng hồ cho thống nhất đi nhé. Cuối cùng tôi nhắc lại, nhớ nhé: Trăng lên, đúng mười một giờ nổ súng, nhưng hai mươi giờ bộ đội phải có mặt ở vị trí tấn công xung phong.

     - Báo cáo, tất cả chúng tôi nghe rõ.

     - Bây giờ thời gian còn, cần kiểm tra nhiệm vụ chiến sĩ. Còn chuyện các dù tiếp tế của địch, ta lấy được, cứ cho anh em sử dụng.

     Nói chuyện với các cán bộ ở phía trước xong, tôi thấy rất yên tâm, liền bàn bạc thêm với tác chiến chắc đài quan sát chú ý bám sát tình hình địch, nhắc nhở đơn vị pháo binh về kế hoạch hợp đồng…

     Không khí sở chỉ huy nhộn nhịp hẳn lên. Trời tối dần. Sương buông nhè nhẹ. Bản Na mờ dần trong sương, thỉnh thoảng lóe lên ánh lửa hoặc tia chớp từ quả lựu đạn nào đó địch bắn ra từ trong đồn.

     Mười chín giờ, các hướng bộ đội đã xuất kích. Hai mươi giờ, tác chiến nhận báo cáo các đài quan sát gần xa, các đơn vị pháo binh, hai Đại đội 1 bộ binh và Đại đội 19 đặc công đã sẵn sàng chờ lệnh tấn công dứt điểm.

     Tôi vô cùng hồi hộp nghĩ về công tác chuẩn bị và ý thức chấp hành mệnh lệnh chiến đấu của các cán bộ trong trung đoàn, càng thấy phấn khởi và tin yêu anh em nhiều hơn. Chỉ còn ba phút nữa là đến giờ tôi sẽ ra lệnh cho anh em xông lên đánh địch, nghĩa là xông lên lao vào nơi đầy khó khăn hiểm nguy để chứng minh lòng trung thành vô hạn với Đảng, với quân đội, thực hiện tình bạn chiến đấu cao cả đối với Quân đội Cách mạng và nhân dân các bộ tộc Lào. Tôi cũng không thể giấu được lòng mình rằng, chỉ ba phút nữa, trận đánh diễn ra, tất cả sẽ giải tỏa cho mọi nỗi hiềm nghi và khẳng định cái đúng cái sai mà tôi sẽ là người phải gánh chịu hoặc thế này hoặc thế khác. Tôi tin tưởng vào sự tính toán của mình và khả năng của đơn vị song cũng hồi hộp, hồi hộp hơn bất cứ trận đánh nào trước đó trong đời người chỉ huy của tôi…

     Đang suy nghĩ thì Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng đến nhắc, đã tới giờ nổ súng. Tôi nhìn đồng hồ rồi lập tức ra lệnh. Tiếng các cán bộ tác chiến, thông tin tiếp lệnh truyền đi sôi động, chỉ sau chớp mắt đã nghe tiếng nổ của các loại pháo cối dội lên rung chuyển khắp núi rừng. Tôi theo dõi hết ba phút pháo cấp tập xuống điểm 3 liền ra lệnh cho chuyển làn sang điểm 5, điểm 9, súng 12,7 ly bắn đạn
lửa soi đường và uy hiếp địch cho bộ đội xung phong diệt điểm 3.

     Đã sáu phút. Tôi không nghe tiếng nổ trong điểm 3, cả súng địch và súng ta đều im ắng, mà hai Đại đội 1 và Đại đội 19 đặc công cũng chưa báo cáo về. Tôi thực sự hồi hộp và lo lắng. Điều gì đang xảy ra cho bộ đội ta khi xung phong diệt điểm 3. Lát sau đài quan sát báo cáo đã nghe tiếng AK nổ trong điểm 8. Đến lúc này tôi cũng bắt đầu nghe được tiếng nổ ùng oàng trong đồn địch và từng loạt AK. Tôi đoán rằng anh em đã chiếm được các chiến hào.

     Mười phút sau, anh em mowsi báo cáo về là đã chiến được đồn giặc, song mới chỉ chiếm trên mặt đất, chưa diệt được hầm ngầm. Tôi nghe như trút được gánh nặng. Nhiều đồng chí reo lên. Sở chỉ huy rộn rã tiếng nói tiếng cười. Tôi để mặc cho anh em được thỏa thích bởi vì tôi cũng đang vui không kém, cũng muốn reo lên như tất cả mọi người.

     Sau một giờ chiến đấu vẫn nghe báo cáo về là địch dưới hầm ngầm không chịu đầu hàng, gọi mãi mà không một tên nào lên hết. Tôi lệnh cho đơn vị dùng lựu đạn, thủ pháo và B41 đánh mạnh hơn nữa.

     Thật ra có còn đứa nào sống sót trong hầm ngầm nữa đâu. Mấy tầng hầm ngầm, quân địch rúc vào trong đó hy vọng sẽ được che chở. Ta đánh được tầng trên, tưởng xong té ra còn tầng dưới nữa. Quân địch quá tin vào cái vỏ xi măng cốt thép nằm ngầm dưới đất, nào ngờ nó lại trở thành nắp quan tài khổng lồ vùi sâu cả một xô một xốc cái kiếp đánh thuê cho đế quốc Mỹ.

     Tôi gọi điện khen hai Đại đội 1 và Đại đội 19 đặc công đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và ra lệnh rút về vị trí đã định, giao lại nhiệm vụ chốt giữ cho bộ phận vây lấn. Đội vận tải sẽ lên thu dọn chiến lợi phẩm. Kế hoạch tiến công dứt điểm 5 và điểm 9 được chuẩn bị ngay. Hai Đại đội 2 và 3 của Tiểu đoàn 4 nhận lệnh sẵn sàng. Sở chỉ huy được chuyển vào sát trung tâm Bản Na.

     Hôm sau, quân địch phản ứng vô cùng quyết liệt bằng máy bay và pháo binh. Chúng tôi vẫn vây chặt điểm 5 và điểm 9. Đến đêm, sau khi quân ta diệt xong điểm 5 và điểm 9, tôi nghe trinh sát báo cáo, địch ở điểm 11 tháo chạy. Tôi ra lệnh cho các đơn vị áp sát khu một trung tâm Bản Na và khu hai.

     Đúng lúc này tôi được điện báo là Tiểu đoàn 5 và Tiểu đoàn 6 sẽ trở về đội hình chiến đấu của trung đoàn. Mừng quá, tôi lệnh ngay cho Tiểu đoàn 6 về vị trí tập kết cũ chuẩn bị tấn công vào trung tâm Bản Na, Tiểu đoàn 5 về đánh khu 3.

     Suốt ngày hôm đó, địch phản ứng rất điên cuồng, chúng dùng cả máy bay chiến lược B52 rải thảm. Thật ra, dùng máy bay chiến lược vào nhiệm vụ của chiến dịch là thất sách rồi và đó là sự lúng túng trong cách đối phó. Dẫu sao, chúng cũng gây khó khăn cho việc điều chỉnh đội hình của trung đoàn. Té ra tất cả đều nằm trong kế hoạch tháo lui. Khi chúng cho trực thăng keso đến trung tâm Bản Na, tôi ngỡ là chúng đổ quân ứng cứu sở chỉ huy, nào ngờ chúng bốc quân tháo chạy. Khi các tiểu đoàn quân phái hữu ở khu một chạy, tôi mới biết giặc rút khỏi Bản Na, liền ra lệnh cho các đơn vị truy kích. Nhưng đã chậm, chúng tôi chỉ diệt được một số. Bắt sống ba mươi tên.
Mười chín giờ quân ta hoàn toàn giải phóng làm chủ tập đoàn cứ điểm Bản Na, kho tàng vũ khí thu được rất nhiều.

     Đến lúc này, tôi mới được thực sự yên tâm. Tôi giục tác chiến báo cáo ngay về Mặt trận là trung đoàn đã giải phóng Bản Na.
Bất ngờ lại nhận tin hướng chủ yếu, quân ta chưa giải phóng được Long Chẹng đang rút ra, tôi phải lập tức bố trí lực lượng chốt giữ Bản Na để phòng địch phản kích chiếm lại.

     Vậy là tình huống đã xoay chuyển đúng như sự nhìn nhận đánh giá của tôi. Trung đoàn được các anh Nam Hà, Lê Linh, Lã Thái Hòa khen rất nhiều. Tôi cũng được các anh Mặt trận khen và không có bị phê bình kỷ luật gì cả. Nhớ cái lúc anh Lê Linh cùng cán bộ kiểm sát xuống cũng chờn chợn. Sau này nghe các anh kể lại mới biết cái tình huống đến với tôi có thể phải ra tòa án binh vì hành vi "chống lệnh" là có thật. May sao trung đoàn đã giải phóng Bản Na. Thiết nghĩ đây cũng là một bài học về phương pháp chỉ huy. Khi giao nhiệm vụ cho cấp dưới, điều quan trọng bậc nhất là phải nhấn mạnh mục đích của trận đánh. Cần thực hành trận đánh ra sao, việc đó tùy thuộc vào tình hình mà người chỉ huy cấp dưới nắm được để quyết định lựa chọn phương án tác chiến thích hợp. Và cấp dưới phải đảm bảo chịu trách nhiệm với trên trước mọi diễn biến để làm nên chiến thắng.

     Bản Na trước giờ nổ súng có chuyện như vậy cũng chẳng có gì là lạ. Điều quan trọng là sau chiến thắng Bản Na, chúng tôi đã thông cảm và thân thương nhau hơn, mỗi người tự tìm thấy cho mình một cách ứng xử đúng đắn nhất trong mối quan hệ chỉ huy nhằm đạt cái đích cuối cùng là chiến thắng quân thù. 


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 14 Tháng Mười, 2009, 05:15:39 pm
VỀ THĂM QUÊ

     Chiếc xe con đít vuông chở tôi xóc tung lên, lao thẳng tới bến phà. Xe dừng, tôi mở cửa bước vội xuống đất nhìn ra bốn phía chung quanh. Bến phà vừa bị ném bom, mặt đất sau cơn rung giật còn lảng vảng những làn khói xám. Bờ sông, đôi chỗ sâu hoắm hình miệng phễu, đất quanh hố bom sạm lại, đám cỏ dại nhàu nát, không khí còn khét mùi thuốc nổ. Đồng chí lái xe đi cạnh tôi xuýt xoa:

     - Giá Trung đoàn trưởng không bảo em dừng xe uống nước, cứ đi liền một mạch đến đây, hẳn thế nào cũng bị dính trận bom vừa rồi. Kể cũng may, em bảo em không khát. Thủ trưởng cứ bảo em dừng lại làm "hụm" trà cho đỡ buồn ngủ. Đi với Thủ trưởng bom đạn chặn đầu, khóa đuôi cũng nhiều, nhưng chưa bị trận nào sây sát, may thế.

     Cậu lái xe của tôi vốn là người nhanh nhảu mồm mép, gặp chuyện gỉ cũng bình luận, pha trò. Thấy tôi không trả lời, cậu ta biết mình nói không đúng lúc, vội quay lại:

    - Trung đoàn trưởng ơi! Trong lúc đợi phà em chợp mắt một lúc nhé.

     - Cứ ngủ đi, phà sang mình gọi.

    Tôi đi dọc bến phà, hỏi một người đứng tuổi:

    - Bác ơi! Trận bom vừa rồi có ai việc gì không?

    - Cao xạ mình bắn mạnh, bom bỏ trật hết, chết cá dưới sông, lở đất trên bờ, số người bị thương có ba thôi, toàn "ca" nhẹ cả.

    Đoàn xe nối nhau chuẩn bị qua phà, những đám lá ngụy trang cài trên thành xe vừa bị giật xuống, hoặc trơ ra đôi cành xơ xác. Một chiếc xe tải bị vỡ kính ca-bin, mình dính đầy đất nằm sát vệ đường, chung quanh xe có mấy anh lái, người cầm dây cáp lòng thòng, người cầm cờ- lê đi đi, lại lại Một "vị" lấy cái mũ cối cũ úp chụp xuống đất làm gối, ngả đầu hút thuốc thảnh thơi như chẳng có chuyện gì.
Khách đợi phà lúc đầu còn vây quanh chiếc xe hỏng, sau họ tản ra bên những hàng cây không lá và những hố cá nhân, dải đường hào chưa xanh màu cỏ. Có người xếp lại những nải chuối, trái dứa lên sọt, có người buộc lại bao bì lèn chặt sắn khô, mấy cô gái lấy gương soi lại đường ngôi hoặc nghiêng nón che nắng.

    Chuyến phà thứ nhất đã khẩn trương rời bến, chiếc xe con của tôi phải nhường đường cho chiếc xe hồng thập tự Tôi ngó vào buồng lái, cậu lái xe nằm ngoẹo đầu ngáy như máy nổ, chiếc khăn mặt khô cong choàng qua cổ, bàn tay trái đặt nhẹ vào vòng lái đỏ bụi. Đi mấy trăm cây số từ Nghệ An ra, đi suốt từ chín giờ đêm hôm qua đến giờ, xe chết máy chui vào gầm xe chữa máy, xe hỏng lốp phải vào binh trạm mượn lốp, trách chi cậu ta chả mệt. Ngay từ lúc đầu cậu lái xe đã báo cáo: “Em lái rất lành nghề, chỉ khổ nỗi là hay nói chuyện huyên thuyên, không nói là buồn ngủ, Thủ trưởng ạ. Mấy đứa bạn thường ví em với cái đài "ô ri-ông-tông" sáu pin đấy. Em bảo, ví von gì thì ví chứ đừng ví em với con vẹt, sao mà em ghét cái giống vẹt thế không biết. . . . Cậu ta “báo cáo" về mình một hồi, sau đó lại nói về tôi vanh vách: "Thủ trưởng quê ở làng Thượng Nung phải không? ông bố em cùng ở đơn vị với Thủ trưởng hồi đánh Pháp đấy, hồi đó Thủ trưởng làm Tiểu đoàn trưởng, còn bố em mới làm cán bộ tiểu đội. Hòa bình, bố em về hưu non, còn Thủ trưởng làm cán bộ trung đoàn. Ông bố em bảo Thủ trưởng nói tiếng dân tộc thạo lắm. Tiếng dân tộc và tiếng Lào chắc cùng na ná như nhau, Thủ trưởng nhỉ?". Suốt đoạn đường dài cậu ta vừa nói, vừa lái, câu chuyện ít khi dừng và xe cứ lao vun vút. Biết cậu ta không nói chuyện thì hay buồn ngủ, nên tôi phải chiều lòng, cho đến lúc tôi gà gật, trả lời nhát gừng cậu ta mới chịu buông tha. Lúc này, nhìn cậu ta ngủ, tôi nghĩ về những đoạn đường xóc và nỗi vất vả của người "lính xế" dọc đường. Đời lái xe như con chim nay dừng, mai đậu, trú đâu là nhà, nghỉ đâu là giương, ngủ trên buồng lái, ngủ dưới gầm xe, không cần chăn bông, gối đệm. Xe chạy đường trường, anh "lính xế" nào lỗ mũi cũng đầy bụi, quần áo cũng khen khét mùi xăng.

    Tôi không ngờ gia đình cậu lái xe vui tính kia chỉ cách nhà tôi khoảng chừng ba, bốn cây số. Nghe cậu ta kể về ông bố của mình, tôi chợt nhớ lại người bạn chiến đấu với tôi thuở trước . Tưởng ai xa lạ, thì ra bố cậu lái xe chính là chàng Hùng gầy cùng tôi đi chiến dịch Điện Biên Phủ. Hồi nào còn cậu cậu tớ tớ, thế mà nay đã thành bạn "già", chóng thật.

    Cậu lái xe vẫn ngủ, phà còn đang xếp xe ở bờ bên kia. Bao giờ cũng thế, trong lúc đợi phà, tôi thường trèo lên gò đất cao ở bờ sông Đà nhìn về làng Thượng Nung. Con sông Đà lúc này thành khoảng cách giữa tôi với làng quê. Do sự nôn nóng muốn về quê, chuyến phà dù nhanh đến mấy tôi cũng cảm thấy chậm. Nhưng, những lần đợi phà đã gây cho tôi sự xúc động lạ lùng khi được đứng từ xa ngắm về quê hương.

    Chiều tháng sáu, trời trong suốt khiến tôi nhìn được xa hơn. Tôi khum tay che nắng, mắt đăm đăm nhìn về vệt tre xanh thẳm. Không nhìn thấy gì rõ rệt, nhưng tôi tưởng tượng ra tất cả. Mái nhà tôi cùng bao nhiêu mái nhà khác yên ả dưới vòm tre thân yêu. Những cái tên đồng Nung, đồng Bằng, đình Thuế, dốc Mái chợt hiện ra thành hình, thành khối. Mỗi lần đứng trên gò đất cao nhìn về làng đều cho tôi nỗi xúc động khác nhau. Có lúc, tôi hình dung ra mái nhà, cây đa, con đường vào làng. Có lúc, tôi nhớ tên người, tên đất. Chỉ cần qua phà, ô-tô đi một quãng đường ngắn, là tôi sẽ về đến làng. Tất cả những gì tôi đang mường tượng sẽ hiện ra rất rõ trước mắt tôi.

     Chợt một giọng nói lanh lảnh cắt ngang ý nghĩ của tôi:

     - Bác Chuông! Bác được về phép có lâu không?

    Một cô bé khoảng ngoài hai mươi tuổi, tay cầm nón che nắng đi lại phía tôi. Tôi chưa trả lời ngay, hỏi lại:

    - Cháu ở đâu mà trông quen quá, sao biết bác?

    - Bác không nhận ra cháu à? Cháu tên là Hoa, bạn với chị Bình con bác đấy mà. Mấy năm trước bác về phép cháu có sang chơi. Cháu tới nhà bác lúc tối, nhìn trộm bác rồi cháu vào buồng nói với chị Bình. Hồi ấy cháu còn bé xíu, giờ cháu lớn rồi, bác không nhận ra cháu là phải.

    - Thế mà cháu nhận ra bác, cháu nhớ giỏi thật.

    Cô gái cười rúc rích:

    - Chúng cháu mỗi tuổi mỗi khác, còn bác thì dạo về phép lần trước cũng thế, bây giờ cũng thế. Cháu nghe phong phanh bác đi chiến đấu ở chiến trường C phải không. Đi Lào, người nào cũng bị sốt rét bác nhỉ?

    Cô gái nói câu "chiến trường C” một cách tự nhiên làm tôi bật cười.

    - Cháu lại biết cả bác đi chiến trường C nữa à. Thế thì cải Bình phải gọi cháu bằng chị mới đúng, chính nó vẫn biên thư hỏi bác: Bố ở chiến trường nào, bác bí mật không nói, sao cháu biết?

    Cô gái được dịp càng bẻo lẻo:

    - Bác nói thế chứ, người làng mình đi B đi C có giấu cũng không được. Chúng cháu chỉ đoán mò mà đúng như đinh đóng cột. Qua thư từ gửi về lâu hay chóng cũng đủ biết rồi. Cháu còn biết ở Lào có sáu tháng mưa, sáu tháng nắng, mùa mưa thì vô hồi măng rừng, rau sâm nữa cơ…

    - Thôi bác đoán không lầm, đúng người yêu của cháu để lộ bí mật mất rồi.

    Nét mặt cô gái chợt đỏ ửng lên vì e thẹn:

    - Bác nói oan cho cháu, anh ấy mới chỉ là bạn thôi. À, đơn vị bác có người nào cùng làng tên là Minh không? Anh Minh con bác Mỵ ấy mà!

    Nghe cô gái nói đến "anh Minh con bác Mỵ”  tôi chợt lặng người vì xót xa. Trong chiến tranh, có nhiều chuyện đến không thể ngờ được. Minh, người chiến sĩ trinh sát đã hy sinh, còn cô gái thì chưa hay biết, cô vẫn kể về "anh ấy" bằng giọng nói hồn nhiên của lứa tuổi hai mươi biết yêu thương chờ đợi.
- Rừng Lào mênh mông, người làng ta gặp nhau hẳn khó lắm. Mà bác có gặp bác cũng chẳng biết anh ấy đâu, đến về làng bác còn lạ cả chúng cháu nữa huống hồ ở mặt trận người đông như nước.
Cô gái vừa nói bẻo lẻo vừa cười rúc rích:
- Mấy tháng nay anh ấy không gửi thư về, người đâu mà gan cóc tía. Còn cháu, tháng nào cũng gửi cho anh ấy một lá thư theo quy ước. Thư từ đây đi Lào lâu lắm, bác nhỉ?


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 14 Tháng Mười, 2009, 07:37:44 pm
       Con phà ở bờ bên kia phải đi vòng doi cát nổi giữa sông mới sang được bên này. Nó lao ngược lên lớp sóng bạc đầu băng qua vùng nước xoáy, tiếng máy nổ rền vang hối hả. Tôi nhìn con phà sắp cập bờ nói rất nhanh:

     - Thôi phà cập bến rồi. Bác phải xuống bến trước đây. Cháu có về cùng xe với bác không?

     Không để ý đến nét mặt tôi, cô gái nghiêng nón, ánh nắng chảy tràn trên màu áo xanh lam:

     - Giá được đi nhờ xe bác thì tiện quá. Nhưng cháu phải ở bên này đến mai để tổ chức đám cưới cho bạn cháu. Chồng nó mới ở chiến trường ra bác ạ. Thôi chào bác, ngày mai về sớm cháu đến thăm bác, bác nhớ kể cho cháu nghe chuyện chiến trường Lào, bác nhé?

     Cô gái đi rồi, trước mắt tôi hiện ra hình ảnh Minh, người chiến sĩ trinh sát trung đoàn. Cách đây hai tháng, tôi theo đồng chí liên lạc cắt rừng xuống kiểm tra đơn vị vận tải. Chợt từ trong đám cây lúp xúp, một chiến sĩ tay xách một xâu măng rừng, lưng đeo một ba-lô hoa chuối đi lại phía tôi:

      - Thủ trưởng cho em xin tí lửa ạ.

     Tôi dừng lại móc bật lửa đưa cho người chiến sĩ:

     - Hút thuốc hả? Sang quá nhỉ, cho mình xin điếu nào?

     - Em chỉ có thuốc lào thôi. Thủ trưởng... hút được không ạ.

     - Hút được hết. Thôi, không phải cuộn lá nữa, mình có sẵn điếu đây rồi.

     Người chiến sĩ nhìn chiếc gậy Trường Sơn có lắp sẵn nõ điếu của. tôi tủm tỉm cười. Đợi tôi hút xong thuốc, người chiến sĩ hỏi:

     - Thủ trưởng có phải là người làng Thượng Nung không ạ? Em ở cùng xã với Thủ trưởng đấy, em tên là Minh, lính trinh sát Đại đội 20, bố em tên là Mỵ...

     - Chà, con ông Mỵ đã lớn thế này rồi cơ à. Minh biết người làng ta ở trung đoàn này nhiều, nhưng chưa gặp hết được. Cậu giống tính ông bố, hút thuốc lào từ bé.

     - Em định lên thăm Thủ trưởng mấy lần, nhưng vào chỗ chỉ huy ngại lắm. Lần này thấy Thủ trưởng, em giả vờ xin lửa hút thuốc để hỏi thăm tình hình quê hương, chứ em có nghiện ngập lắm đâu.

     Từ đó, biết tôi bận nhiều việc, thỉnh thoảng Minh mới đến thăm tôi một lát rồi lại vội vã đi ngay. Có lần, trước khi ra về, Minh rụt rè hỏi tôi:

     - Thủ trưởng ơi! Đêm nay tiểu đội trinh sát chúng em đi vào đồn nắm tình hình địch. Mấy đứa trong tiểu đội bảo em: Mày là người cùng làng với ông Chuông, thử tán tỉnh xem có được ít thuốc lào mang về không. Chỉ cần mỗi đứa một điếu, trời rét thế này, đi trinh sát về, rít một hơi thì thoải mái. Em hứa với chúng nó…

     Tôi vỗ vào vai Minh cười vui vẻ:

     - Lính trinh sát các cậu hào phóng lắm. Hôm nọ đánh đồn, bao nhiêu thuốc chiến lợi phẩm thơm nức mùi, các cậu đem biếu cơ quan và thủ trưởng. Hôm nay lại ngửa tay xin từng điếu thuốc lào, thú vị thật. Để mình lục túi xem nhá.

     Cũng may, ba - lô của tôi còn độc nửa gói thuốc lào và một bao thuốc lá sư đoàn gửi tặng. Tôi gửi lại nửa gói thuốc lào và đưa gói thuốc lá cho Minh:

     - Cậu bảo anh em đừng "phá" vội nhé. Đi trinh sát về hãy hút mừng hoàn thành nhiệm vụ.

     Minh cầm bao thuốc trong tay sung sướng như trẻ con được quà:

       - Em xin thuốc lào lại được thuốc lá. Thủ trưởng ưu tiên lính trinh sát quá chừng. Em sẽ nói với Tiểu đội trưởng, khi nào làm xong nhiệm vụ mới được hút thuốc. Riêng em, xin hứa với Thủ trưởng mãi mãi xứng đáng là con đẻ của làng Thượng Nung. Báo cáo, em về ạ!

     Minh khoác vội khẩu AK báng gập trước ngực, chào tôi rồi nhảy phắt qua dòng suối hẹp. Tôi nhìn theo bóng cậu ta mất hút trong rừng mà nghĩ về thằng Sơn, con trai tôi, phải rồi, nó chỉ kém Minh chừng ba, bốn tuổi…

      Vài ngày sau, Tiểu đội trưởng trinh sát gặp tôi nói như khóc:

     - Báo cáo Thủ trưởng! Cậu Minh người làng với Thủ trưởng hy sinh rồi. Bao thuốc của Thủ trưởng cho tiểu đội trinh sát chúng tôi, Minh đáng được hút nhiều hơn, nhưng nó chẳng bao giờ được hút nữa.

     Ngừng một lát, Tiểu đội trưởng trinh sát kể tiếp:

      - Đêm qua, tổ trinh sát của Minh vượt qua trạm gác và bốn hàng rào vào đồn. Sau khi đo được độ dày công sự, đánh dấu được mục tiêu nổi, mục tiêu chìm, quan sát được kho đạn dược, nắm được quân số địch thì đồng chí Thìn và Minh đều bị thương vì lựu đạn mỏ vịt của địch. Minh bị thương nhẹ hơn nên dìu Thìn qua chướng ngại vật, đến hàng rào cuối cùng thì Minh hy sinh. Chúng tôi cõng Minh về đơn vị lấy nước nóng rửa vết máu, bụi đất nơi vết thương, vuốt mắt cho Minh lần cuối cùng. Đôi vai trần của Minh sây sát vết cỏ tranh và chen dày gai cây xấu hổ…

     Ai ngờ, từ hôm đưa cho Minh bao thuốc lá, Minh không còn trở lại gặp tôi nữa. Ở chiến trường, tôi đã chứng đến nhiều sự hy sinh khác nhau. Là người chỉ huy một trung đoàn, tôi phải luôn luôn nén xúc động trong nhiều trường hợp mất mát. Tôi biết ở cương vị mình cái vui, cái buồn đều dễ lây sang người khác. Anh em nhận xét tôi tính tình thay đổi bất thường, đang nóng chợt lạnh, đang vui vẻ chợt nghiêm trang, đang lúc gay cấn nhưng vẫn bình thẫn. Kể ra, nhận xét trên có phần đúng, tôi thay đổi tính tình luôn cũng là do công việc. Việc cần động viên, việc cần mệnh lệnh, có việc cần vui cho mọi người vui, có việc cần gay gắt cho mọi người bớt chủ quan. Mấy năm ở cương vị chỉ huy, công việc đã tạo cho tôi cá tính ấy một cách tự nhiên, không hề gò ép.

     Trước mặt cậu tiểu đội trưởng trinh sát vừa nói vừa khóc, tôi vẫn tỏ vẻ bình thản, nhưng thật ra trong lòng tôi đau nhói như bị vết cứa. Tôi nói giọng khô khan:

      - Thôi, mình rõ chuyện rồi. Trong các trận đánh tránh sao khỏi hy sinh, lúc này phải dồn sức cho thắng lợi, khơi sâu nỗi buồn không có ích gì đâu…

      Thấm thoắt mùa khô trôi qua, đơn vị kết thúc một chiến dịch. Sang mùa mưa, sư đoàn tạm rút về củng cố, chuẩn bị cho chiến dịch tới, tôi được về tranh thủ vài, ba ngày. Gặp cô gái tôi lại nhớ tới Minh, nhớ tới một thế hệ trẻ mặc màu xanh áo lính đi chiến trường. Quê tôi như trăm nghìn vùng quê khác được nối với chiến trường bằng tình cảm nhớ thương, chờ đợi. Tôi hiểu ra một điều hết sức đơn giản: Sự hy sinh ở chiến trường gắn bó với sự đóng góp của hậu phương, cũng như cái chết của Minh có quan hệ đến cuộc đời cô gái...

      Phà đã cập bến. Tôi đến chiếc xe con đập nhẹ vào vai cậu lái. Đang ngủ say, thấy có người đánh thức, cậu ta nhổm người, mắt còn nhắm tít đã nói:

      - Thủ trưởng ơi? Phà đã sang rồi ạ.

      Đưa bàn tay dụi mắt, cậu lái xe nói tiếp:

     - Em ngủ có được một tiếng đồng hồ không Thủ trưởng? Trời ơi, xương cốt em đang đau như dần, ngủ một giấc thấy dãn hẳn ra, ngủ đường ngủ chợ ngon thật.

      Chưa nói dứt câu, cậu lái đã lách chiếc xe con vượt qua mấy chiếc xe lớn lao tới đầu hàng.

     Một người trạc gần bốn mươi tuổi mặc áo cộc tay, đội mũ rộng vành, mồm ngậm còi thổi vài tiếng toe toe rồi vẫy vẫy, chỉ trỏ ra hiệu cho từng xe xuống phà. Xe xuống vừa hết, đoàn người ùa theo, con phà chật ních người. Tiếng máy dội lên mạnh hơn, tiếng xích sắt loảng xoảng. Con phà rời bến, nước sông Đà cuộn lên những đợt đỏ ngầu.

      Phà đã sang bờ. Khách vừa lên hết, chiếc xe con đít vuông đã bám theo chiếc xe tải đi trước, cậu lái thò đầu ra ngoài rồi rồ ga, bóp còi "pin, pin” làm mấy cô gái đi bộ cười ré lên.

     Thấy tôi đứng đợi, cậu lái xe mở cửa đánh roạt. Tôi vừa ngồi xuống ghế, chiếc xe đã vọt đi, cậu lái bắt đầu “mở máy":

     - Thủ trưởng? Đi đường dài đợi tàu, đợi phà, đợi xe đều sốt ruột cả. Nhưng đợi phà ở bến Trung Hà này em thấy lâu nhất, giá như nhà mình ở bên kia sông làm gì đến nỗi chờ đợi thế này. ấy là em chưa có con nhỏ, chứ Thủ trưởng thì nhiều cái nhớ ập đến lắm. Giá thử bây giờ, xe chết. Thủ trưởng có đi bộ về không?

     - Mình sẽ ở đây, nếu xe bị liệt hẳn, thì cả hai thầy trò ta nằm lại dọc đường. Mình đã bảo, vợ chồng mình trước sau như một mà. Phải đâu như tuổi xuân phơi phới của cậu.

      Biết tôi tán vui, cậu lái xe cười:

     - Em thấy Thủ trưởng đặt tên con lạ thật, tên người gắn với tên đất nghe dẻo như kẹo mạch nha ấy. Này nhé: Cô Bình sinh năm hòa bình, thằng Sơn là dạo Thủ trưởng ở Sơn Tây về tranh thủ, cái Nguyên là hồi Thủ trưởng đóng quân ở Thái Nguyên. Còn đứa thứ tư thì sao lại tên là Thêm, Thủ trưởng?

     Cậu điều tra mình cặn kẽ quá thế. Đứa thứ tư tại vợ chồng mình bị nhỡ kế hoạch nên đặt tên là Thêm chứ sao nữa.

     Cậu lái xe càng được dịp:

     - Thế sau cái Thêm Thủ trưởng định đặt tên con là út hay ít?

     - Thêm có nghĩa là thôi đấy. Cậu không thấy đầu mình đã chớm bạc rồi sao? ở đơn vị mình được gọi bằng đồng chí, bằng anh, về nhà người gọi bằng bác, kẻ gọi bằng ông, thế mới hay chứ!

     Trong óc tôi, bỗng lướt qua hình ảnh những lần về phép. Chín năm kháng chiến, tuổi trẻ chúng tôi thường sống ở rừng sâu, mặt trận. Mười sáu tuổi ra đi, quê hương đối với tôi hồi đó chỉ gợi về một quãng đời niên thiếu chăn trâu hoặc những buổi chiều ra đồng thả lưới. Mỗi tên làng, tên đất được đánh thức qua câu chuyện nhớ nhà hoặc vài ba lá thư viết vội. Khi tôi bị thương ở Điện Biên Phủ, vùng quê nhỏ bé, xa xăm chợt tái hiện trong tôi rõ nét nhất. Tôi bỗng nhớ rạch ròi từ cánh đồng Nung xanh lúa, cái giếng Giữa ngọt ngào, đến cây khế chua ở góc vườn mỗi mùa ra quả. Dường như lúc tôi nghĩ đến quê hương, thì tình cảm xốn xang, mãnh liệt lắm. Tôi khao khát vài ngày nghỉ phép thăm nhà.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 14 Tháng Mười, 2009, 07:43:46 pm
      Một buổi sớm, ở viện ra, hay nói đúng hơn, tôi cố tình xin ra viện, tôi hỏi thăm ra bến xe Kim Mã để lấy vé về Trung Hà. Sau mấy tháng nằm viện, tôi tập đi nhiều lần, nhưng đầu gối bên phải bị đạn nên cử động chưa đều. Lưng đeo ba-lô, tôi kiên nhẫn bước trên hè phố Hà Nội. Đến bến xe Kim Mã, xe đi Trung Hà đã chật ních người. Thấy tôi tập tễnh đeo ba-lô, người lái xe vui vẻ xếp cho tôi một chỗ ngồi. Chiếc xe phóng qua Nhổn, qua Phùng, qua thị xã Sơn Tây. Tôi ngồi trong xe, dán mắt nhìn những cột số, quán nước, mái rạ, mái ngói, hàng cây hai bên đường. Người lái phụ thỉnh thoảng nhắc tôi đừng thò đầu ra ngoài kẻo xảy ra tai nạn.

      Bến phà Trung Hà hồi đó là bến đò, dòng sông Đà chưa nổi lên những doi cát ở giữa. Hai triền sông xanh rì ngô, chuối nối. liền với chòm xóm xơ xác, cạnh đó, lô nhô vài chiếc lô-cốt màu xám xịt. Lối xuống bến đò, người ta chăng dây thép gai ngăn cách con đường với vạt đất bậc thang vừa trồng khoai, tra hạt. Vài quán hàng đặt dưới vòm tre, khách qua đường vừa trú nắng vừa uống nước.

     Chín năm đi xa, lúc đợi đò về quê lòng tôi không khác gì lửa đốt. Tôi đi đi, lại lại.quan sát khắp lượt bến phà rồi ngóng về phía làng. Ngồi xuống, đứng lên đều bồn chồn, ngóng về làng mỏi mắt, lại dõi nhìn những mái chèo đang khỏa nước. Tôi nóng lòng chờ đợi, con đò vẫn chậm chạp một cách vô tư. Chân chưa bước về tới quê, tôi đã mường tượng ra cảnh sum họp gia đình. Hồi đó, tôi mới hai mươi sáu tuổi, bằng tuổi cậu lái xe, nhưng nét mặt tôi có phần già trước tuổi.

     Thấy tôi im lặng, cậu lái xe gợi chuyện:

     - Thủ trưởng nghĩ gì mà mủm mỉm cười thầm vậy? Em đoán Thủ trưởng đang nghĩ về cái cảnh bà con hàng xóm đến chơi, tối nay nhà Thủ trưởng hẳn vui hơn tết.

     - Mình đang nghĩ lại lần về phép đầu tiên. Hồi đó, vợ chồng mình được cô con gái đặt tên là Bình đấy. Cậu biết không, mình đi năm mười sáu tuổi mà đến năm hai mươi sáu tuổi mới về quê được một lần. . .

     - Ồ, Thủ trưởng lấy vợ từ năm còn nhỏ tuổi à? Em ngỡ đến hòa bình Thủ trưởng mới lập gia đình riêng?

     - Năm mười sáu tuổi không phải mình lấy vợ mà do gia đình lấy vợ cho mình. Cậu bảo mười sáu tuổi đã biết gì yêu đương đâu. Tuổi trẻ bọn mình bị chế độ phong kiến ràng buộc, tuổi trẻ các cậu được tự do lựa chọn mọi đường. Đi biệt mười năm mới về, mình rất cảm động, vì bà ấy vẫn chung thủy chờ mình, vẫn chịu thương chịu khó làm ăn, vẫn thay mình chăm sóc mẹ già chu đáo. Vì sao không một lời hẹn hò, cam kết gì mà bà ấy vẫn chờ đợi, chính mình cũng chưa hiểu hết được. Mãi về sau bà ấy mới nói rõ lý do: Chờ anh vì tin anh là bộ đội…

    Từ một người hay nói thành người thích nghe, cậu lái xe nhận xét:

     - Tình yêu của Thủ trưởng đặc biệt thật?

     - Khi mình đeo ba-lô về nhà, bà cụ cứ nhìn mình rồi lấy vạt áo chấm nước mắt. Vợ mình mặt tái đi không nói được câu gì. Bà cụ mình khen vợ mình đủ điều, nào là cô ấy chăm sóc tôi chẳng khác gì mẹ đẻ, nào là mẹ chồng và con dâu ở với nhau chừng ấy năm mà chẳng có điều ra tiếng vào. Bà cụ vừa yêu con dâu vừa lo mình ruồng bỏ vợ.

     - Rồi sao nữa? Thủ trưởng kể tiếp đi!

     - Cậu thấy có buồn cười không. Lúc đó, mình hỏi vợ mình một câu ngớ ngẩn: Cô có lấy tôi không? Bà ấy nhìn thẳng vào mình, giận dỗi: Tôi không lấy anh thì tôi ở cái nhà này làm con ở cho gia đình anh từng ấy năm trời à? Câu nói ấy làm mình day dứt, càng nghĩ mình càng thương vợ. Xét cho cùng, mình đi chiến đấu để góp phần giải phóng cho nhân dân thoát khỏi ách nô lệ, để mang lại cơm no áo ấm, hạnh phúc cho mọi người. Mình khổ nhiều, mình không muốn cho ai khổ nữa.

     Biết cậu lái xe vẫn chăm chú nghe, tôi bật lửa châm thuốc rồi nói tiếp:

     - Có vợ từ hồi trốn nhà đi Giải phóng quân đến năm lên chức Tiểu đoàn trưởng mình mới "sum họp” với "nhà" mình, thế là vừa đúng mười năm. Đêm về phép thành đêm tân hôn, vợ mình quay mặt vào tường khóc thút thít. Bà ấy thương mình xa nhà lâu, cơ thể mình bị thương, dáng đi còn tập tễnh. Mình nghĩ đến sự đằng đẵng đợi chờ với cả một tấm lòng trong trắng, nên mình càng thương yêu bà ấy rất mực.

     - Ai lại cưới xin mười năm rồi mới có đêm tân hôn? Em nghĩ hạnh phúc của Thủ trưởng có thể tạm thời chia làm ba giai đoạn: Đoạn đầu, do xã hội phong kiến ràng buộc, cha mẹ đặt đâu con phải ngồi đấy, lấy nhau mà chưa hiểu nhau. Đoạn hai, do chiến tranh hai người chưa hiểu nhau đã phải xa nhau, người đi thương người ở lại, người ở lại đợi chờ người đi, vì một lẽ tin người đi là bộ đội. Đoạn ba, hòa bình hai người gặp nhau, hiểu nhau, yêu thương nhau là lúc đó hạnh phúc mới thật sự chín muồi...

     - Cậu bình luận thế, mình xin chịu. Hạnh phúc của vợ chồng mình không có giai đoạn tuổi trẻ, giai đoạn sau thì không còn mơ mộng, chỉ lo toan những điều thiết thực về con cái, cửa nhà.

     - Bọn chúng em bây giờ tìm hiểu đến nơi đến chốn. Hò hẹn, hờn dỗi, thương nhớ đủ điều. Cái hồi em tìm hiểu nhà em cũng vậy. Trăng sáng thì dẫn nhau đi chơi, ngồi bên nhau cứ nhấm nhẳn úp mở mãi. Đến khi cưới thì dẫn nhau đi đăng ký, rồi lên tận tỉnh chọn vải, mua thiếp mời.

     Tính em thế nào xong thôi, còn cô ấy thì sợ chúng bạn họ cười Tìm hiểu kỹ thế nhưng có lúc vẫn va chạm nhau, còn Thủ trưởng bị phong tục cũ ràng buộc mà vẫn đầm ấm, thế là thế nào?

     - Nếu được tìm hiểu đầy đủ như bây giờ thì sung sướng quá rồi. Nhưng cậu nhớ cho, đấy mới là bước đầu. Khi sang bước hai, bước ba sẽ phức tạp hơn, hai người đang mơ mộng phải trở lại với thực tế. Cậu không lo toan, cùng nhau xây đắp hạnh phúc thì "khổ" đấy, về nhà mà lăn quay ra ngủ theo kiểu lái xe, đi chơi với vợ quần áo đầy mùi dầu mỡ, vợ cậu chịu sao được?

     - Thủ trưởng bảo đi rong ruổi như em thì lo liệu được việc gì?

     - Không lo được gì, nhưng phải hiểu và thông cảm hết nỗi lòng của vợ. Cậu tính, hồi mình ở Thái Nguyên mà ban đêm dám đi hơn một trăm cây số xe đạp về nhà đấy, có lần xe bị đứt xích, không có hiệu chữa, nửa đêm phải dắt về nhà, vợ mình nhắc mãi. Đi xa thì viết thư động viên, bàn bạc công việc với vợ, làm sao cho bà ấy hiểu được mình, có thế mới dẫn đến sự thông cảm chứ...

     - Lấy chồng bộ đội phải gánh vác mọi bề. Em mới có mấy năm xa nhà còn đỡ, chứ Thủ trưởng đi miết, việc nhà cửa, ăn học của mấy em đều dồn vào vai bác gái, gay go thật.

     - Ở làng ta, phần lớn các bà đều có chồng con đi bộ đội. Bộ đội già, bộ đội trẻ nối nhau lo việc nước. Ngẫm cho cùng, khó khăn đâu phải chỉ riêng nhà mình…

     Chiếc xe vẫn chạy tới mấy cây gạo ven đường. Bây giờ  đang tháng sáu, mấy cây gạo hôm nào còn bập bùng hoa đỏ, hôm nay chỉ còn lại vòm lá xanh um. Từ vòm lá, một đàn chim sẻ, thấy động, bay vù xuống cánh đồng vàng sậm. Đàn chim trú ngụ ở vòm cây để rồi lại bay đi nhặt thóc ngày mùa. Quanh gốc gạo, dăm cháu nhỏ chăn trâu đang chơi vui vẻ. Đứa cầm khẩu súng bằng bẹ chuối bắn tằng tằng, đứa cầm chiếc máy bay gấp bằng giấy "phóng” lên trời một cách thích thú. Trò chơi của chúng bây giờ khác xa với trò chơi tuổi nhỏ của tôi. Nhưng chắc hẳn chúng không thể nghĩ ra trò chơi này nếu không có máy bay và khẩu súng chúng đã từng nhìn thấy trong nhiều năm qua. Tôi thò đầu ra ngoài vẫy chúng.

    - Chào các cháu!

     Những tiếng nói lao xao đáp lại:

     - Chào chú bộ đội già!

     - Chào chú bộ đội trẻ!

     Một đứa mượn lời bài hát chào vang lên:

     - Hoan hô chú bộ đội bắn Mỹ tài ghê, tàu bay Mỹ đến đây chú bắn cho tan tành...

     Một đứa khác nghiêng đầu làm chiếc mũ rơm rơi xuống đất:

     - Xe chú bộ đội vào làng ta, các cậu ơi?

     Chúng chạy theo xe nói cười ríu rít. Các cháu không nhận ra tôi, nhưng tôi biết các cháu là người cùng làng. Quãng đời tuổi thơ của tôi ngỡ như bị lãng quên qua thời gian, tự nhiên bùng sống lại. Hồi tuổi thơ tôi bằng các cháu, tôi cũng thả trâu ở ven đê, tụ tập bạn bè đánh ô, đánh đáo. Có ngày mải chơi để trâu ăn lúa bị mẹ mắng. Có ngày bắt được giỏ cua, xâu cá mang về bụng mừng khấp khởi. Chiều chiều, ngồi vắt vẻo trên lưng trâu hát những bài hát dành cho lũ trẻ mục đồng. Có chiều bị đói và mệt, tôi nằm ngủ thiếp trên lưng trâu cho đến khi nó cọ vào gốc tre trước ngõ tôi mới tỉnh giấc. Có lần chúng tôi nghịch ngợm, đứng hẳn lên lưng trâu, một tay cầm dây thừng, một tay cầm roi quất cho trâu lồng, trâu chạy. Gần bốn chục năm qua, từ một đứa trẻ chăn trâu, tôi đã thành "chú bộ đội già". Đoạn đường trở về làng hôm nay, có biết bao nhiêu đổi thay trong khoảng thời gian tôi xa cách. Tuổi thơ tôi và tuổi thơ của các cháu dẫu khác nhau, nhưng đều đi qua con đường làng nhiều cỏ non và bóng mát hàng tre, cây gạo. Rồi từ con đường làng, các cháu sẽ khôn lớn, đi xa, nhưng chắc hẳn ngày trở về, chẳng mấy ai quên được quãng đời thơ bé.

     Cánh đồng Nung thoắt hiện ra trước mặt. Từng tốp đàn ông đang ngồi trên thuyền nan . đánh cá, ánh nắng buổi chiều trải vàng trên làn nước lăn tăn. Họ ngồi thoải mái, tay đẩy sào, tay gõ vào cạnh thuyền nan kêu lạch cạch, có người gõ vào thùng sắt tây kêu phèng phèng. Vốn là người ham đánh cá từ thuở nhỏ, những nhịp điệu lạch cạch, phèng phèng gieo vào tôi rất nhanh, những động tác mắc lưới, đẩy thuyền quen thuộc in vào tôi rất đậm. Nhìn những người bạn đánh cá không cùng tuổi với mình tôi nhớ về cái thuở vác lưới ra đồng đánh cá. Chỉ có khác, họ đánh cá cho cả làng ăn, còn tôi đánh cá không nuôi sống nổi gia đình. Cái gò đất ông bố tôi vẫn ngồi hút thuốc lào chờ cá vật đẻ, tôi vẫn ngồi quàng tấm lưới che gió rét, bị mưa lũ xói mòn, vùi lấp, nhưng mưa lũ không lấp được quãng đời niên thiếu của tôi. Quãng đời ấy, tôi đã sống với quê hương nhiều nhất…


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 14 Tháng Mười, 2009, 07:53:29 pm
      Đoàn xã viên đi gặt về đông như trảy hội. Người mang liềm hái, người đẩy xe bò, xe cút kít. Xe nào cũng chất đầy lúa. Trai làng ra trận hoặc đi công tác xa, số xã viên gánh vác việc đồng áng phần lớn là những người đàn ông, đàn bà đứng tuổi và các cô gái. Thấy xe tôi đến gần, họ dạt ra bên đường, vài chiếc xe bò, xe cút kít dừng hẳn lại nhường lối, họ nhìn tôi với nhiều ánh mắt khác nhau. Một số người nhận ra tôi, một số người vẫn nghĩ tôi là khách lạ đến làng. Tôi xuống xe chào trước:

      - Chào các ông, các bác, các chị, các cô…

     Tôi chưa nói dứt câu đã có nhiều giọng nói đáp lại, tiếng ông, tiếng anh, tiếng bác lẫn lộn:

     - Ông Chuông, ông còn nhớ tôi không? Bạn đánh cá với nhau từ hồi để chỏm đây mà…

     - Bác biết em con nhà ai không?

     - Ông chú còn nhớ cháu không?

     - Sao dịp này đi biệt tăm biệt tích thế?

      - Không kịp trả lời ai và không biết trả lời ai trước, tôi đành nói gọn:

     - Có chứ? Nhớ lắm chứ!

     - Ông nói xã giao vậy thôi, ông đi lâu thế, ông còn nhớ ai?

     - Tôi nhớ cả làng! Tôi nhớ cả làng, chứ quên làm sao được.

     Một người đàn bà tuổi ngoài năm mươi, đầu chít khăn mỏ quạ, lấy tay chỉ vào ngực mình:

     - Tôi hỏi ông, tên tôi là gì nào?

     - Bà Hà thì còn lẫn vào đâu được nữa. Tôi nhớ bà năm còn con gái, những đêm sáng trăng vẫn thường ra đình hát xẩm. Giọng bà hát thì hay nhưng chanh chua đáo để. Có lần bà hát câu: "Chồng em như cái cổ đèn, treo đâu sáng đấy biết ghen là gì". Ông Tưởng nghe thấy cho bà một trận đòn, có đúng không nào? - Tôi hạ giọng - ông bà và các cháu khỏe chứ, bà Hà?

     Bà con xã viên cười rộ lên:

     - Bà Hà bị thua ông Chuông rồi, đối đáp có tiếng mà hôm nay không nói vào đâu được.

     - Cái ông này cũng vào loại nhớ dai thật. Ông Chuông mà đi làm hợp tác thì tán phải biết.

     Bà Hà chỉ tay vào người đàn ông quần xắn móng lợn, đang ngồi trên càng xe cút kít hỏi tiếp:

     - Thế ông này là ai?

     - Ông Hải còm bạn thuở nhỏ với tôi đấy. Tôi nhớ hồi thanh niên, ông ấy cũng hay đi hát xẩm. Hồi ấy bà chê ông Hải bé, đứng đến nách bà, chỉ đáng tuổi em. Ông Hải tức, ví luôn: "Anh bé nhưng cái ruột anh không sầu. Con ong nó chọc quả bầu cũng teo". Câu ca càng ngẫm càng hay ông Hải nhỉ?

     Cuộc gặp gỡ dọc đường trở nên vui nhộn, thoải mái. Tôi mời mọi người hút thuốc, mấy bà lấy trầu ra ăn. Ông Hải cười hà hà rót nước ở chiếc tích mang theo mời tôi và cậu lái xe uống. Bà Hà lại chỉ tay vào người đàn bà đội chiếc nón mê cũ:

     - Còn bà này liệu ông có nhận ra không?

     Tôi nói ngay:

     - Xin lỗi các ông, các bác, bà này là cô bé Dụm, bạn chăn bò hàng ngày với tôi, tôi quên sao được?

     Tiếng cười lại vang lên:

     - Bà Dụm, chứ cái ông này!

     - Tôi đã có con đi bộ đội, có cháu gọi bà rồi đấy ông Chuông ạ! Hồi ở Điện Biên tưởng ông chết, về làng ông nhớ dai thế?

     - Thôi về đi kẻo "bà già" mong. Đến tối pha trà đặc chúng tôi đến chơi, đừng đi ngủ sớm nhớ!

    - Nhớ phải giữ gìn sức khỏe còn đi chiến đấu đấy!

     Khi tôi lên xe, tiếng cười, tiếng nói còn vọng theo như muốn giữ xe tôi lại. Xe chạy vòng qua con đường đồi đất đỏ, rẽ xuống lối ngõ nhà tôi. Lúc này, lòng tôi rộn lên vì hồi hộp. Chỉ còn mấy phút nữa thôi, tôi sẽ gặp lại gia đình, gặp lại những gì máu thịt, thân yêu trong mấy năm xa cách.

    Tôi bảo cậu lái xe:

     - Vào nhà mình cơm nước đã, rồi cậu tranh thủ về thăm gia đình, động viên ông bà và cô ấy. Này, đúng như hợp đồng đấy nhé, hai ngày nữa ta phải lên đường, cậu phải đúng hẹn nhé!

     Cậu lái xe hăng hái khoác ba-lô giúp tôi đi vào lối ngõ:

     - Em vào thăm gia đình Thủ trưởng một lát thôi. Thủ trưởng cho về là em mừng lắm rồi. Bây giờ có yến tiệc em cũng không còn bụng dạ nào ngồi ăn được đâu. Đúng hẹn, em sẽ đến đón Thủ trưởng.
*
*    *


      Từ lúc tôi về nhà, vợ tôi bận rộn luôn tay. Mọi công việc gánh nước, vo gạo, nhóm bếp, mổ gà. . . dồn đến một lúc thật tất bật, chẳng khác gì ngày giỗ tết. Bà mẹ tôi cầm dao bổ cau têm trầu, cái Nguyên lau bàn ghế, mượn điếu cầy, đổ dầu vào đèn. Ngoài vợ tôi lo bếp núc, tất cả đều chuẩn bị cho việc tiếp đón bà con đến chơi.

     Cái Thêm đang chơi với mấy đứa trẻ hàng xóm, thấy tôi về, nó đứng nép vào cửa buồng nhìn trộm. Mẹ tôi vừa bổ cau vừa giục:

     - Thêm! Chào bố đi chứ. Cái con bé này hay thật, bố đi vắng ngày nào nó cũng nhắc, lúc bố về cứ khép nép như gặp người lạ. Mồm miệng mày để đâu hử?

     Nó nhìn tôi bằng con mắt rụt rè, tôi lấy gói kẹo ở túi ba-lô ra:

     - Thêm ơi, lại đây bố cho kẹo. Các cháu ơi, lại đây bác cho kẹo.

     Cái Thêm nghe tiếng tôi gọi còn ngập ngừng, mấy đứa trẻ hàng xóm đã xúm lại:

     - Chúng cháu chào bác ạ?

     - Bác cho chúng cháu kẹo ạ?

     - Ê, chị Thêm không chào bố, không được ăn kẹo!

     Cái Thêm vẫn đứng nép vào cửa buồng nhìn bọn trẻ được chia kẹo. Trẻ con đứa nào lại không thích kẹo ngọt, nhưng vì sao con tôi lại không nhận phần kẹo của mình? Tôi là bố, nhưng tôi có được chăm sóc, ở gần nó đâu. Nó nhắc bố hàng ngày theo lời nói của bà, của mẹ như một thói quen, nhưng giờ đây nó ngỡ ngàng khi gặp bố. Tôi đi về phía cửa buồng:

     - Thêm lại đây bố cho kẹo nào!

     Nó chìa tay ra nhận kẹo, tôi đặt cả gói giấy bóng xanh đỏ lên bàn tay nhỏ xíu rồi ôm nó vào lòng. Một lát sau, nó toài khỏi người tôi chạy về phía bọn trẻ. Vòng tay tôi trống trếnh như mất một vật gì…

     Mấy con gà không ai cho ăn vẫn quẩn quanh ở sân chưa chịu lên chuồng. Ngoài ngõ có vài tiếng gọi vọng vào:

     - Bác ơi? Đi nhận thóc chia kẻo ông thư ký đội đang gắt om lên kia kìa. Cháu đã gánh về mà bác chưa đi nhận…

     - Bác đi nhận luôn cả phần rơm nữa nhé!

     Vợ tôi bảo cái Nguyên xuống trông bếp, đoạn quẩy quang thúng ra ngõ. Mấy thúng thóc còn để tạm ở đầu hè, gánh rơm còn chất đống góc sân, vợ tôi đã vào bếp sắp mâm, bày bát. Bữa cơm làm vội mà sang: đĩa cá kho, đĩa cà bên cạnh bát canh rau ngót, đĩa thịt gà đầy đặn được rắc lá chanh thái nhỏ bên cạnh bát miến xào lòng. Biết tôi đau dạ dày, vợ tôi còn thổi thêm một niêu cơm nếp. Tôi nhìn chai rượu của chú Nhân mang sang, thầm nghĩ: Mình có phải tay nghiện rượu đâu, đau dạ dày uống hẳn không nên, nhưng thôi, hôm nay, xin trong một chén nhỏ để mừng ngày gặp lại gia đình. Giá cái Bình, thằng Sơn đợt này cũng được về phép thì vui biết bao. Chúng nó càng lớn khôn càng ít gặp, Bình vẫn công tác ở bệnh viện, Sơn thì chuyển vào B rồi. Nhìn mâm cơm có thức ăn ngon, tự nhiên tôi nhớ về con cái đang ở xa.

     Tôi uống xong chén rượu nhỏ, đang ăn dở bát cơm, chợt nghe ngoài sân thậm thịch bước chân người. Có tiếng đằng hắng:

     - Chào cả nhà. Nghe tin ông Chuông về, chúng tôi đến hỏi thăm tình hình chiến trường đây.

     Một giọng nói khác chậm rãi:

     - Gia đình đang mời cơm, xin cứ việc tự nhiên, chuyện trò nói sau, chúng tôi trải chiếu ngồi ngoài sân đón gió một chút. Đêm nay sao mà nồng nực thế, chắc lại sắp mưa rào cũng nên.

     Tôi đứng dậy mời khách:

     - Mời các ông, các bác vào nhà xơi nước. Gặp người làng là tôi muốn bỏ bát, bỏ đũa nói chuyện rồi.

     - Trời đánh còn tránh miếng ăn. Bà con đến chơi mà bác cứ làm như khách tỉnh, khách huyện thế.

      Tôi vặn to ngọn đèn ba dây, lấy ấm pha nước. Vợ tôi tìm vội mấy cái quạt, rồi dựa cái điếu cày vào chân bàn. Bà mẹ tôi tay cầm dao bổ cau, tay cầm cơi trầu đi lại phía mấy bà già. Cái Nguyên biết ý, lễ mễ bưng vội mâm cơm còn đầy thức ăn xuống bếp.

     Dưới ánh sáng của ngọn đèn ba dây, tôi đưa mắt nhìn khắp lượt những người cùng làng. Đi xa mấy năm, nay mới có dịp về thăm quê, tôi nhìn nét mặt ai cũng thân quen, gần gũi. Họ đều có con em đi bộ đội, họ gánh chịu phần gian khổ, hy sinh trong hai cuộc kháng chiến.

      Nhưng buổi sum họp đầm ấm, ngắn ngủi này, đã bù đắp một phần cho tôi suốt thời gian dài xa cách.

    Tôi mời bà con uống nước, hút thuốc, ăn trầu. Tiếng cười, tiếng nói vang lên không ngớt. Ông đồ nho cao tuổi nhất trong đám khách uống xong chén trà, mới thong thả nói:

      - Tôi nghĩ làng Thượng Nung mình phải đổi thành Thượng Võ mới đúng. Bác tính, từ hồi đánh Pháp đến giờ, xã mình đóng góp cho quân đội đến hàng trăm người chứ ít à. Lớp trước thì các bác ra đi, lớp sau thì từ mười tám đến đôi mươi cứ mỗi năm vài lần, kể sao hết được. Các cụ xưa vẫn nói "trai thời loạn, gái thời bình" đúng thật…

     - Thưa cụ, không riêng gì làng ta, làng nào cũng nhiều người đi bộ đội, đất làng nào cũng thành đất võ. Có thế mặt trận mới dư người đánh giặc chứ!

     - Tôi tuổi già sức yếu chẳng được đi đông, đi tây như các bác. Hồi nhỏ đến giờ, tôi chỉ có độc nghề làm ruộng, quanh quẩn với công việc cuốc cày, cấy hái. Thằng con tôi khác hẳn tôi, nó vào bộ đội đi cả Tây Bắc, Thượng Lào. Khi đi chưa vợ, hòa bình tôi nhờ người làm mối cho nó một đám, nó cứ chối đây đẩy. Thì ra, anh chàng đã để ý một cô tít trên Bắc Cạn. Bây giờ, thì con cái đề huề rồi, thỉnh thoảng hai vợ chồng vẫn về thăm làng, thăm nhà. Biết tôi già yếu, nó mua mật ong, cao hổ cốt làm quà. . . Chà, hồi nhỏ tôi cứ lo nó còi cọc, ăn không nên đọi, nói không nên lời. Các cụ ngày xưa vẫn bảo: "Con hơn cha là nhà có phúc", càng ngẫm càng thấy hay.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 14 Tháng Mười, 2009, 09:03:50 pm
     Hai chiếc giường kê giáp tường trở thành chỗ ngồi ấm cúng của các ông, các bà. Người có tuổi thích ngồi giường, ăn trầu, hút thuốc và trò chuyện tri kỷ. Mấy chiếc ghế dài dành cho cánh con gái, họ đến chơi chóng hơn, có cô vừa uống xong chén nước đã xin phép đi họp, có cô ra sân chơi với cái Nguyên, cái Thêm. Dường như họ không chịu ngồi lâu, tuổi trẻ ưa hoạt động hơn là tĩnh tại, bằng lặng.  Vả lại, trước những người đứng tuổi, các cô gái cảm thấy mình cần ít nói hơn, chỉ thỉnh thoảng nghe các cô cười rúc rích.

     Những người ngồi trên hai giương tôi đều biết mặt, nhớ tên. Còn mấy cô gái ngồi ở ghế tôi chỉ đoán chừng con bà ấy, ông nọ. Nhiều cô năm nào còn nhảy dây, bây giờ đã đến tuổi trưởng thành. Tôi chỉ tay vào một cô mặc áo trắng:

     - Cháu có phải con nhà ông Lung không?

     - Vâng! Nhưng bác đi lâu thế, sao bác đoán đúng?

     - Bác nói áng chừng thôi. Nhưng mà, giỏ nhà ai quai nhà nấy, lẫn thế nào được.

     Tôi hỏi cô gái đang đưa nước mời tôi:

    - Còn cháu cùng học một lớp với anh Sơn con bác, đúng không nào?

     - Bác nói nhầm rồi, cháu học dưới anh Sơn những hai lớp cơ Bây giờ cháu làm xã viên nông nghiệp cùng đội sản xuất với bác gái đấy.

     Có tiếng nói trêu:

     - Nó không cùng học với anh Sơn, nhưng bác có hỏi hòm thư của anh Sơn thì nó bảo… này, con bé được người, được nết, làng xóm ai cũng khen bác ạ!

    Tôi cầm phích nước lại giường có cụ đồ nho:

    - Người ta bảo "trà tam, tửu tứ, du hành nhị", uống trà ba người, uống rượu bốn người, đi chơi hai người. Tôi bị đau dạ dày nên phải kiêng rượu, đi chơi ở tuổi năm mươi mà cặp kè đôi lứa xem ra cũng chẳng lý thú gì. Còn uống trà những buổi về thăm nhà càng đông càng vui, cụ ạ!

    - Bác nói chí phải. Uống trà mà không có người bạn để nói chuyện cổ, chuyện kim, buồn chết. Nhưng được cái nhà tôi có cái đài của thằng cháu gửi về, chiều chiều tôi vừa uống trà vừa nghe đài nói tin chiến thắng, nhớ đến con cháu mình đánh giặc ở xa mà tự hào.

    - Mời cụ và các ông, các bác uống nước đi. Vụ này làng mình gặt hái ra sao, ông đội trưởng?

    Ông đội trưởng vân vê mồi thuốc:

    - Bác tính, từ lúc cắm cây mạ xuống đồng đến lúc lúa uốn câu, bao nhiêu là cái lo. Cánh trai làng choai choai lớn lên cung cấp cho mặt trận gần hết, việc cày bừa, cấy hái toàn bà con tôi gánh vác. Mấy vụ trước làm ăn còn chệch choạc, hợp tác xã thiếu lao động, con gái cày bừa thì chưa quen. Vụ này trở đi, đâu vào đấy cả rồi. Lúa năm nay khá tốt sang năm còn tốt hơn, bác ạ!

    Ông Thứ từ nãy chỉ im lặng nghe chuyện, chợt cất tiếng:

    - Ở nhà vất vả, nhưng so với người đi thấm tháp gì. Tôi chưa ra trận, chưa biết nơi bom đạn nó như thế nào, nhưng qua sự gánh vách của làng xóm tôi đủ rõ. Đấy, bác cứ điểm mặt gia đình quanh đây mà xem. Hồi đánh Pháp, anh Cường con bà Quý hy sinh ở Tu Vũ, anh Ngà con bà Hành ngã xuống ở Điện Biên Phủ. Cả anh Khang, anh Phẩm cùng trốn nhà ra đi một ngày với bác không về…

    Ông đội trưởng tiếp lời:

    - Sang giai đoạn đánh Mỹ: ông Tham có con hy sinh, gia đình bà Lưỡng mới nhận được giấy báo tử…

    Cụ đồ nho trầm ngâm:

    - Anh Lung phía sau nhà bác cũng hy sinh rồi. Nghe đâu, anh ấy làm kỹ sư tên lửa cơ đấy. Hôm qua, ông xã đội đến chơi, tôi mới biết xã mình hơn chín mươi phần trăm có bằng gia đình vẻ vang". Phải, hai làng không đi đánh giặc thì làm sao yên dân, yên nước được.

     Từ giường bên kia, bà Lưỡng nói sang:

    - Ông Chuông ơi? Mời ông lại đây tôi muốn nói với ông câu chuyện.

    Tôi tới gần người đàn bà đội khăn trắng để tang con, giọng bà Lưỡng sụt sùi:

    - Con tôi ở đơn vị ông chỉ huy. Nó cùng đi với ông, ông về, nó đâu? Con tôi chết, thế nào xác nó còn nguyên vẹn không, ông nói thật với tôi đi. Tôi thương con, tôi khóc. . .

    Tôi chưa kịp trả lời bà Lưỡng thì chị Hiền tay bế con ngủ say, tay cầm quạt bước vào:

    - Em mới nghe được tin nhà em hy sinh ở chiến trường Lào. Bà con làng xóm thường tìm cách an ủi em: có gia đình nhận giấy báo hôm trước, thì hôm sau khoác ba- lô về, tin đồn chắc gì đã đúng. Nhưng không hiểu sao, em cứ nghĩ vẩn vơ, là nhà em không bao giờ về nữa...

     Chiếc quạt trên tay chị Hiền rơi xuống đất, mấy bài ngồi xích lại nhường chỗ cho chị Hiền, song chị vẫn ôm con đứng sững:

     - Bác tính, từ đận lấy nhau đến giờ, số thư anh ấy gửi cho em nhiều hơn số ngày nghỉ phép. Tiền lương anh ấy gửi, em bàn với ông cụ góp lại sửa sang nhà cửa. Ai ngờ nhà cửa sửa sang xong, không thấy anh ấy về. Bác chỉ huy đơn vị anh Hiền, em mong bác nói thật với em, anh ấy hy sinh ở nơi nào?

     Tôi từng chứng kiến tận mắt những cảnh đồng chí mình hy sinh. ở cương vị người chỉ huy, tôi không bao giờ tỏ ra mềm yếu trước chiến sĩ của mình. Nhưng đứng trước người đàn bà sáu mươi tuổi và chị Hiền đang hỏi về con, về chồng, tôi thấy chưa thể một lúc giải thích cho trọn vẹn được. Câu nói từ lòng thương con của người mẹ, thương chồng của người vợ phát ra như luồng gió xoáy. Tôi rất thông cảm nỗi lòng của bà con, nhưng cần lựa lời an ủi dần dần.

     Gian nhà đang ồn ào, vui vẻ chợt lắng xuống. Nhiều con mắt dồn về phía bà Lưỡng đội khăn trắng và chị Hiền bế con .

     - Tôi mang trong bụng, tôi bồng trên tay, tôi nuôi con khôn lớn từng ấy năm trời, nó chết vì dân, vì nước cũng là báo hiếu cho cha mẹ. Nhưng tôi thương nó, tôi khóc...

     Một người ngồi xích lại bà Lưỡng:

    - Giọt máu của bà đã góp cho làng nước. Cầu trời cầu phật phù hộ cho anh ấy được mồ yên mả đẹp.

     Chị Hiền nhìn mọi người:

    - Có lần cháu nghĩ, nếu anh ấy hy sinh, cháu chẳng muốn sống làm gì. Nhưng con còn dại, còn bố mẹ già để đấy ai lo. Nhiều người cảnh ngộ như cháu họ đều chịu đựng được, vượt qua được, lẽ nào cháu thương chồng, yêu con không bằng họ?

    Tôi cúi xuống nhặt cái quạt, quạt cho cháu bé, nói với chị Hiền:

     - Đã hơn mười giờ, cháu nó ngã rồi, chị bế cháu về, kẻo cháu thức giấc. Ngày mai tôi sang thăm và nói chuyện cùng gia đình…

    Hai hôm sau, cậu lái xe có mặt ở nhà tôi từ sáng sớm như đã hẹn. Bà con làng xóm đi theo mang cả quang gánh, liềm hái ghé vào đưa tiễn. Cuộc chia tay ồn ào như cuộc họp đội sản xuất. Bà Hà, bà Dụm úp chiếc nón vào đầu xe, ông đội trưởng cắm chiếc đòn càn xuống đất. Người đứng ở ngoài sân, kẻ vào trong nhà, cười nói chúc tụng:

     - Bác đi khỏe mạnh, nhớ viết thư về làng. Bác gái bảo bác lười viết thư lắm.

     - Đợt này ông về ít ngày thôi, đợt sau ông phải nói chuyện tình hình chiến trường cho bà con trung tổ nghe đấy?

     - Chẳng ai như ông, đẻ bốn đứa con chăng phải ẵm đứa nào. Con lon ton bố mới về, sướng thật.

     - Đợt sau ông về cố tu sửa lại nhà của kẻo bão gió thất thường. Bà con hàng xóm chúng tôi xin giúp đỡ cả hai tay, ông Chuông ạ!

     - Tôi nghe thằng cháu tôi viết thư nói: nó làm lính vệ binh ở trung đoàn ông. ông làm ơn chuyển tới cháu gói chè. . .

     - Thôi, bà con chúng tôi chào ông, chúng tôi đi gặt kẻo muộn nhé. Ông nói với anh em trong đơn vị đánh mạnh vào. . .

     Khi đoàn người đã ra ngõ, chị Hiền mới quang gánh lật đật chạy theo, bà Lưỡng úp chiếc nón bạc màu lên mái đầu hoa râm:

     - Ông vào trong đó ông đánh dấu mộ cháu và thắp hương giùm tôi. Tôi thương nó, tôi chịu đựng được…

    Tôi khoác ba-lô có mấy thẻ hương cắm ở túi cóc xếp lên xe. Trên ghế ngồi, vợ tôi đặt sẵn mấy quả mít làm quà cho anh em đơn vị. Cậu lái xe nổ máy, chiếc xe từ từ đi ngược lên quả đồi đầy bóng nhãn, bóng tre.

     Mặt trời đỏ rực nhô lên báo hiệu cho sự oi nồng của một ngày mùa hạ. Con đường làng, nườm nượp đoàn người đi gặt vẫy theo xe tôi. Tôi vẫy tay chào họ và ngoái nhìn màu áo nâu, áo xanh, nón trắng một lần nữa. Khi xe tôi tới cây gạo ngoài đê, đoàn xã viên cũng tỏa ra cánh đồng làng Nung vàng lúa.

    Tôi nghĩ tới ngày mai trở lại chiến trường Lào, tôi sẽ kể cho đồng đội của mình nghe những câu chuyện về làng tôi - những câu chuyện tưởng như rất riêng mà ở bất cứ miền quê nào cũng có.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười, 2009, 09:05:19 pm
NẰM TRONG CHUM
GIỮA CÁNH ĐỒNG CHUM


      Cuối năm 1970, đế quốc Mỹ yểm trợ cho các đơn vị quân chư hầu đánh chiếm toàn bộ vùng Xiêng Khoảng - Cánh Đồng Chum. Đồng chí Vũ Lập, Tư lệnh Mặt trận giao cho tôi phải trực tiếp trinh sát, nắm địa hình, chuẩn bị cho trận tổng tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum, sau sáu ngày phải có báo cáo về Mặt trận.

      Tôi rất phấn khởi song cũng băn khoăn. Là Trung đoàn trưởng một trung đoàn bộ bính, tôi rất hiểu những giá trị của công tác điều tra trinh sát. Biết địch, biết mình, trăm trận trăm thắng mà. Băn khoăn là ở chỗ lần này nhiệm vụ được trao là phải vào tận bên trong vùng địch chiếm đóng để nắm địch cho tường tận, nghĩa là phải vượt qua các tuyến đồn bốt như bát úp của giặc, tuyến ngoài rồi tuyến trong, đến tận trung tâm chỉ huy của chúng gần sân bay Bản Áng. Lực lượng tổ chức đi cũng chỉ đến mươi, mười hai người là cùng. Quan trọng là phải tinh gọn, dũng cảm và có kinh nghiệm. Tôi liền cùng với Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng bàn bạc chọn lựa anh em sao cho phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ trinh sát chỉ huy lần này. Chúng tôi dự định chọn ở bộ phận tác chiến đồng chí Nhiều, thông tin đồng chí Diên, trinh sát đồng chí Long, liên lạc đồng chí Khương; ngoài ra còn có Tiểu đoàn trưởng Tích, Đại đội trưởng đặc công, đồng chí Măng. . . Trang bị toàn tiểu liên AK và lựu đạn. Mỗi người mang theo võng, màn, tăng, một cuộn băng, một cân lương khô và một bi đông nước. Cán bộ chúng tôi tất nhiên còn phải mang thêm đèn pin, ống nhòm và một bộ bản đồ.

      Cuối cùng tôi giao luôn cho Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng triệu tập anh em để cùng bàn bạc, thống nhất các quy định và nhiệm vụ. Sáng hôm sau, tất cả đều tề tựu đủ mọi thành phần đã quy định. Nói chung, chúng tôi đã có nhiều năm chiến đấu đã rất hiểu nhau và tin tưởng ở nhau nên mỗi khi được tập trung đi làm nhiệm vụ dù là khó khăn như thế nào cũng rất vui, nói năng đôi khi văng mạng mày tao thoải mái.

     Vào cuộc họp, tôi lấy bản đồ ra chỉ dẫn, không quên nói rõ những khó khăn của chuyến đi phải vượt qua tuyến ngoài theo sườn núi, một bên là cụm đồn quân Thái Lan, bên phải là cụm đồn quân Mẹo, rồi mới vào tuyến trong tận sân bay Bản Áng. Tôi nói:

     - Yêu cầu đặt ra đối với mọi người không chỉ là dũng cảm mà quan trọng là kỹ thuật và kỷ luật bí mật phải rất cao mới hoàn thành được nhiệm vụ. Các đồng chí có ý kiến gì không?

    Tiểu đoàn trưởng Tích đứng lên dõng dạc nói:

     - Các loại đồn, các loại giặc trên chiến trường này, trung đoàn ta đã đụng độ nhiều trận rồi, không còn lạ gì chúng nữa. Cả địa hình cao thấp, rộng hẹp ra sao, cán bộ trung đoàn đi dọc, đi ngang đều đã rõ. Đặc điểm là đồi cỏ và đồng ruộng mênh mông không cây cối, ta phải tính thời gian khi đi, khi về thật kỹ, làm sao vào nắm địch chỉ trong đêm và phải rút ra khỏi Cánh Đồng Chum trước khi trời sáng.

     Đại đội trưởng Năng tiếp lời:

     - Tôi đồng ý như anh Tích. Nhìn đồn giặc trên bản đồ thấy ken dày như vậy, nhưng thực tế tổ trinh sát đặc công chúng tôi đã vào đến các mục tiêu đó rồi và theo dõi thấy về đêm địch không có đứa nào ra khỏi đồn nên ta tha hồ đi nhanh. Chỉ khi nào đi sát đồn địch mới dùng động tác kỹ thuật. Chớ có ho, đừng có gọi, phải bám lấy nhau mà đi. Để chờ đợi nhau là không kịp ra trong đêm.

     Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng tỏ ra rất thận trọng:

     - Về thời gian đi và về, dẫu sao ta cũng phải lường tính trước các tình huống giữa đường gặp địch, phải chờ đợi hoặc bất đắc dĩ phải chiến đấu, không ra kịp thì xử lý thế nào?

     - Tôi có ý kiến - Đồng chí Xế trinh sát hăng hái phát biểu - Tôi đã ở trong Cánh Đồng Chum mênh mông nhưng cũng khá nhiều đồn bốt. Ban ngày bọn lính đi lung tung. Giả thiết phải chiến đấu ta cứ AK mà nổ, vừa đánh vừa rút chạy về phía ta. Các thủ trưởng biết cả rồi. Đã nhiều trận địch có bao giờ dám đánh gần, vây bắt ta đâu. Địch biết ta là quân Hà Nội nên đụng phải chỉ có mà chạy.

     Càng bàn bạc anh em càng củng cố lòng tin cho nhau. Tôi rất xúc động trước sự trưởng thành, dày dạn và quyết tâm của mọi người.
Bảy giờ chiều ngày hôm sau, chúng tôi bắt đầu xuất phát khi sương mù đã phủ kín núi đồi. Đến tám giờ thì vượt qua đường 7B vào phía đông nam Cánh Đồng Chum. Lúc này thì đồn giặc ở hướng nào cũng khó mà nhận ra nếu như chúng không thắp đèn hoặc thả đèn dù pháo sáng.

    Cánh Đồng Chum về đêm thật là đẹp và hùng vĩ. Chẳng những thế còn rất xốn xang khi tiếng côn trùng nhiều vô kể cứ như chúng đang hòa nhạc quanh mình. Chẳng bao lâu chúng tôi đã đi vào giữa khu vực có trận địa pháo.

    Trong ánh đèn mù sương chúng tôi nhìn thấp thoáng từng nòng pháo nhô lên im phắc hướng về phía ta, hai tên lính gác đi đi lại lại, chập chờn như hai bóng ma. Chúng tôi dừng lại xác định mục tiêu. Từ đây đến trung tâm chỉ huy của địch ở sân bay Bản áng không còn xa. Chúng tôi đi tiếp vượt qua sân bay khi nhìn rõ khu thông tin, khu sĩ quan Mỹ, ngụy, đồng thời cũng nhận ra cách bố trí hầm hào, ụ súng, lô cốt, đường ra vào của chúng, lính gác ở những hướng nào. . . Tôi đang chỉ mục tiêu phân công từng tổ tiếp cận đến sát hàng rào xác định cho được các yếu tố quan trọng phục vụ cho kế hoạch thiết lập phương án tác chiến thì một đám lính đi tuần thất thểu qua, chúng dừng lại chỉ trỏ rồi thì thầm với nhau những gì không rõ. Chúng tôi đếm được mười hai tên cả thảy. Lúc này, ai nấy nín thở nằm ép người trong cỏ. Đêm tối đã che chở chúng tôi, nhưng tình huống này đã khiến cho chúng tôi phải mất quá nửa giờ chỉ có nằm im phắc chờ đợi trong thắc thỏm hồi hộp. Cuối cùng, mọi diễn biến cũng lặng lẽ trôi qua. Nhưng sau khi điều tra xong quay ra vượt được khu vực sân bay Bản Áng thì đã hai giờ sáng.

     Vượt tiếp qua hai đồn giặc nữa mới ra khỏi tuyến trong, xem đồng hồ thấy đã hơn ba giờ sáng rồi. Chúng tôi đi sát  vào nhau không ai nói ra nhưng đều tự hiểu chẳng thể nào vượt qua Cánh Đồng Chum trước khi trời sáng. Tôi thực sự lo lắng chưa biết xử trí thế nào đây. Cái đầu muốn giục đi nhanh mà cảm thấy bước chân như rất chậm. Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng đi gần bên tôi khẽ nói:

    - Anh định thế nào bây giờ?

    Tôi trả lời cộc lốc:

    - Còn thế nào nữa, ở lại tìm địa hình ẩn nấp.

    - Nếu địch phát hiện ra?

    - Thì đánh, vừa đánh vừa chạy trở ra hướng mình.

     Đang đi, chợt anh Phú Vàng nắm tay tôi dừng lại rồi  chỉ về phía trước. Hình như có đàn trâu. Tôi nhìn đúng đàn trâu, con đang gặm cỏ, con nằm. Lạ nhỉ! Bom đạn liên  miên mà sao còn lắm trâu thế này? Nhìn mãi thấy chúng  chẳng động đậy gì. Đến gần chúng tôi mới hay là toàn là  chum, cái đứng, cái nghiêng. Hai chúng tôi quyết định cho anh em vào giữa khu chum và sẽ bí mật ở lại đây, mỗi cái chum sẽ là nơi ẩn nấp cho một hoặc hai người. Công việc ngụy trang phải thích hợp với thực tế địa hình, địa vật và phải xong trước năm giờ sáng.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 21 Tháng Mười, 2009, 04:24:57 pm
      Tôi đang trao đổi với đồng chí Phú Vàng thì đồng chí Dưỡng trinh sát đến báo cáo:

      - Khu Chum này em nhớ ra rồi, em và Đại đội phó Lệnh được Thủ trưởng giao đi nắm địch ở hai cụm đồi kia, em đã đến đây. Khu đồn trước mặt bên phải ta là quân Thái Lan cách đây khoảng 600 mét. Cụm đồn bên trái là quân Mẹo cách đây 700 mét. Chúng em đã theo dõi thấy quân Thái ít khi ra khỏi đồn lùng sục. Máy bay trực thăng phải đi tiếp tế hàng ngày. Còn đồn quân Mẹo thì đêm nằm im, ngày đi lùng sục tứ tung quanh đồn. Có toán độ hơn mười tên đi xa hơn vừa đi vừa bắn, vừa la hét. Chúng thường đi trong phạm vi con đường kia và con đường ven theo con suối cạn độ hơn một cây số thì trở về. Chúng cũng hay dừng chân bắn về phía khu Chum ta đang đứng đây một vài băng tiểu liên rồi ngồi nghỉ một lúc mới quay về đồn. Cũng có ngày động rạng thế nào đấy, không thấy thằng nào ra khỏi đồn. Thủ trưởng quyết định ta ở đây, em thấy được. Cốt yếu là ta giữ được bí mật. Trường hợp lộ thì đánh, ta vừa đánh vừa chạy vào chân sườn đồi quân Thái là an toàn. Em đã đi vòng quanh, không có mìn đâu. Lại có nhiều cây cối lúp xúp các bụi rậm. Chỉ đề phòng lính trên đồn bắn cối thì ta chạy vòng vèo, chia ra từng tổ mà chạy, qua khu đồn hơn một cây số là gặp tổ đài trinh sát Đại đội phó Lệnh rồi.

     Nghe Dưỡng nói, tôi thấy an tâm liền mời cậu ấy điếu thuốc lá:

     - Này, vào trong chum châm lửa đừng để phát ra ánh sáng, rồi trở về vị trí.

    - Em được Thủ trưởng Vàng phân công đi cùng Thủ trưởng.

     - Thế thì cậu sang chum bên cạnh ngồi chung với đồng chí Khuông liên lạc.

     Hơn năm giờ sáng, sương còn dày nên không nhìn rõ đồn giặc. Nhưng đến bảy giờ thì toàn bộ khung cảnh như được bày ra trước mắt, đồn giặc bên phải, bên trái, binh lính qua lại trong đồn, nhìn rõ lắm và cũng chẳng xa là bao. Vậy mà chúng tôi lại ở ngay giữa khu chum đột xuất này, địa hình thấp hơn khu vực địch đóng đồn. Mặc dầu anh em đã rất cẩn thận trong công việc nguỵ trang, song tôi vẫn thấy chưa thực sự yên lòng, chỉ sợ địch phát hiện.

     Tôi ngồi lặng chờ đợi nghe ngóng, tưởng tượng đến các tình huống chẳng may địch mò ra, lại xúc tới tận đây thì không biết diễn biến sẽ ra sao. Nghĩ mà gai cả người.

     Khoảng hơn tám giờ, từ các đồn ngụy Lào, bọn lính bắt đầu mò ra, có toán đi quanh đồn, nhiều tốp đến sân bay, mang vác những thùng hàng về đồn, vẻ tấp nập. Có toán đi theo con đường cuối cạn. Lại có toán tới mười bốn tên đi về phía chúng tôi. Chúng đi rất chậm, thỉnh thoảng bắn vài băng tiểu liên rồi hò hét gì đó loạn xạ. Máy bay trinh sát cứ vè vè trên đầu. Chúng tôi chăm chú theo dõi. Căng thẳng vô cùng, hồi hộp vô cùng. Máy bay lên thẳng đổ xuống đồn quân Thái Lan. Lại có cả máy bay phóng pháo gầm rú trên cao. Chúng phát hiện ra các dấu hiệu gì nghi ngờ rồi chăng? Toán mười bốn tên đến khu Chum chúng đứng ngoài bắn mấy loạt tiểu liên vào những cái chum gần nhất.

     Anh em lúc này, đạn đều đã lên nòng. Theo kế hoạch đã vạch ra thì nếu thằng địch nào mò tới chỗ đồng chí nào thì đồng chí đó phải nổ súng diệt ngay. Và đấy là hiệu lệnh chiến đấu cho cả đội. Địch chỉ có mười bốn tên, với kỹ thuật xạ kích của anh em ta, chắc chắn sẽ không một tên nào thoát chết.

     Nhưng chúng chỉ dừng ở đó ít phút rồi quay trở về đồn. Tôi thở phào, trận đánh bất đắc dĩ đã không xảy ra. Theo dõi hành động địch từ trong các đồn càng nắm rõ hơn tình hình quân địch để đánh dấu lại trên bản đồ, tôi ngẫm ra trong cái động lại có cái tĩnh. Mới hay nghệ thuật quân sự biến chỉnh vi linh, biến linh vi chỉnh là như thế. Gần mười một giờ, bọn lính đã mò ra khỏi đồn, toán xa, toán gần đều kéo về hết.

     Trải qua mấy giờ căng thẳng, đến lúc này tôi có thể ung dung bóc lương khô ra ăn, và chẳng hiểu sao bây giờ mới nhận ra cái nóng như rang quanh người và khát nước vô cùng. Mà chỉ có bi đông nước của tôi và Khuông là còn một ít. Có anh uống hết ngay từ ban sáng rồi. Thế là phải chia nhau từng ngụm.

     Để xua tan cái nóng bức oi ả và những cơn khát, chúng tôi chỉ còn biết đem các chuyện ra kể cho nhau nghe, từ chuyện quân địch đến chuyện huấn luyện ở bên nước nhà. Tôi không quên nhắc đến cái lần vào năm 1968, trung đoàn tập đánh địch trong thành phố được Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến thăm. Trung đoàn nguy trang rất khéo, tất cả đã ở xung quanh mà Đại tướng vẫn chưa nhận ra. Sau tiếng hò, mọi người bật dậy trong đội hình nghiêm chỉnh, gây bất ngờ, được Đại tướng khen và dặn dò. Rồi đến chuyện gia đình vợ con, quê hương làng xóm. . . Vậy mà chả sao quên được cái nóng, chỉ cầu mong cho trời chóng tối. Cuối cùng thì hỏi nhau về lịch sử của những cái chum, có ngờ đâu hôm nay nhờ nó mà mình được che chở để đánh giặc. Đồng chí Măng đã được một đồng chí Pa thét Lào kể cho nghe thì mới biết ngày xửa ngày xưa người Lào đục đá ra làm những cái chum để đựng thóc gạo, ngô dự trữ trong gia đình đồng thời cả đội quân của các bộ tộc Lào đi đánh giặc, dọc đường đi qua đâu cũng có sẵn gạo trong các chum đá. Lại có chum đựng rượu khao quân. Ngày nay, qua các dãy núi, các nẻo rừng đều thấy có chum đá rải rác, chứ không phải chỉ có ở Cánh Đồng Chum. Mới biết người Lào từ xưa đã khéo tay, tài giỏi. Các cụ đâu có ngờ chúng ta hôm nay giúp bạn Lào đánh giặc Mỹ xâm lược cũng phải dựa vào những cái chum đá này.

     Thời gian san mà trôi đi chậm chạp vô cùng. Chuyện trò mãi mà xem đồng hồ mới hai giờ chiều. Nhìn lên đồn giặc lại thấy một số lính mò ra. Có tốp lính đi về phía chúng tôi. Thế là phải chuẩn bị sẵn sàng đối phó và nhắc nhau không được bắn liên thanh, chỉ bắn điểm xạ, phân công nhau mỗi đồng chí hạ một thằng, địch ở các đồn có nghe tiếng súng cũng không thể biết chuyện gì đã xảy ra với chúng.
Bọn địch chỉ còn cách ba trăm mét. Lúc này tôi nhận thấy anh em mình tỏ ra rất bình tĩnh. Hình như họ sẵn sàng đón nhận và thử chơi với cái tình huống này nếu như nó xảy ra.  Nhưng đi quá ba trăm mét, chúng lại rẽ sang con đường suối cạn ngồi túm tụm vào nhau bên đám lau sậy rất lâu, chẳng biết chúng làm gì. Khoảng hơn bốn giờ chiều mới thấy chúng uể oải đứng lên rồi quay về đồn. Vậy là có thể yên tâm.

     Nắng chiều nhạt dần. Khoảng sáu giờ thì Cánh Đồng Chum tắt nắng. Đồn giặc từ từ chìm trong bóng tối. Chúng tôi ra khỏi chum để được hưởng cái gió mát và không khí thoáng đãng sau một ngày bức bối. Ba đồng chí được củ đi tìm nơi có nước lấy về ăn lương khô.
Khi các đồn giặc lên đèn thì chúng tôi cũng lên đường về. Máy bay giặc lại đến thả đèn dù. Lác đác có đồn bắn pháo sáng. Thế là chốc chốc chúng tôi lại được quân địch soi đường cho mà đi. Chỉ còn vượt hai đồn giặc ở tuyến ngoài nữa là về đến phạm vi an toàn. Tới lúc này chúng tôi chẳng phải vội vã gì cứ đàng hoàng vừa đi vừa chỉ cho nhau rõ các hướng mục tiêu, đường đi lối lại cũng là để nhớ về một kỷ niệm nằm trong chum giữa Cánh Đồng Chum suốt ngày chang chang nắng lửa, bốn bề là đồn bốt địch, ta biết chúng mà chúng chẳng biết ta.

    Điều quan trọng nhất là chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ và an toàn trở về. Mọi người mừng rỡ đón chúng tôi, anh Quân lại còn hoan hô nữa, cứ như đem tin thắng trận trở về. Mà thắng rõ ràng, có phải chuyện chơi đâu! Vấn đề là nỗi lo lắng của mọi người khi chúng tôi đã phải ở lại Cánh Đồng Chum quá một ngày theo kế hoạch, vậy mà bây giờ trở về không thiếu một ai, chăng sứt mẻ gì.

     Đang có ý định cùng đồng chí Phú Vàng chuẩn bị thống nhất tình hình chuyến đi trinh sát chỉ huy để lên Mặt trận báo cáo thì tôi nhận được lệnh của Mặt trận báo ngày mai Tư lệnh Mặt trận cùng cán bộ của các cơ quan sẽ xuống trực tiếp nghe tôi báo cáo. Ôi, thế thì còn gì bằng, tôi thầm reo lên và nghĩ chuyến trinh sát chỉ huy vừa qua quan trọng đến như thế nào với các đồng chí ấy.

     Không ngờ các anh trên Mặt trận xuống đông thế, cả anh Năng, anh Hữu An, anh Vũ Lập. Khu sở chỉ huy Bản Thẩm cứ náo nức hẳn lên…

     Bản báo cáo của tôi được các anh chăm chú nghe rồi hỏi thêm. Tôi trả lời không bỏ sót điều gì. Các anh khen đội trinh sát trung đoàn hoàn thành nhiệm vụ rất tốt.

     Không còn nghi ngờ gì nữa kết quả của chuyến trinh sát chỉ huy mà chúng tôi đã mang về cho Bộ chỉ huy Mặt trận. Buổi chiều, anh Vũ Lập trực tiếp giao nhiệm vụ cho các trung đoàn và nhấn mạnh hướng tấn công của Trung đoàn 165 chúng tôi sau khi đã nhận định tình hình địch, ta và phân tích rõ ý nghĩa của chiến dịch giúp bạn tổng tấn công giải phóng Cánh Đồng Chum.

     Ngày nay, hẳn nhiều sĩ quan, tướng lĩnh đã biết chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cuối năm 1970 diễn biến ra sao. Nhưng chắc ít đồng chí biết rõ về mười hai cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 165 chúng tôi vào điều tra địch phục vụ cho công tác chỉ huy chiến dịch đã phải nằm trong chum đá giữa bốn bề là đồn bốt địch và dưới nắng lửa miền Tây chang chang suốt một ngày trời như thế nào. Với chúng tôi, đây là một kỷ niệm không thể nào quên được.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 21 Tháng Mười, 2009, 06:13:51 pm
MỞ CÁNH CỬA THÉP VÀO
CÁNH ĐỒNG CHUM

      Nhớ về trận đánh trên đỉnh núi Phu Tâng, trận đánh như là mở cánh cửa thép vào Cánh Đồng Chum, tôi lại thấy mình trẻ lại, như đang cùng trung đoàn hành quân vượt qua các cánh rừng bạt ngàn, thông xanh cao vút, leo lên các dãy núi chất ngất ngang trời Phu Khu, Phu Hoạt Phu Chong Vong, Phu Pha Xang dày sương, gió lộng, đạp qua các chỏm đá tai mèo cheo leo Sảm Thông, Long Chẹng và ở trong các hang động Loa Kèn, Há Mồm, Hai Đầu và Hang Giơi vùng Mường Bang, Mường Bốt.

     Cao nguyên Cánh Đồng Chum rộng mênh mông, mỗi chiều tới ba bốn chục kilômét nằm giữa các dãy núi cao Phu Khu, Phu Chong Vong, Phu Khe, Phu Hoạt tạo nên bức tường thành vòng tròn ngang trời khép kín điệp trùng.

     Con sông Nậm Ngừm nước trong lắm cá. Các làng bản thường ở hai bên sông, suối, gần đường ven núi, nối tiếp nhau là những vườn cây mắc coọc, bưởi, mận, đào, ổi, không mùa nào không có hoa trái. Các bộ tộc sống với nhau yên vui, thuận hòa. Cuộc sống vật chất của các gia đình rất khá, đâu cũng thấy lợn, gà vịt, ngựa, trâu bò chật chuồng, đầy bản, nhà ít cũng hàng chục trâu bò, nhà nhiều có tới hàng trăm con. Chúng tôi biết trước chiến tranh cả cao nguyên Cánh Đồng Chum đã có trên dưới năm vạn con trâu bò.

     Nhưng sau khi Mỹ mở chiến dịch Cù Kiệt xua cả những tiểu đoàn quân Thái Lan sang xâm chiếm nước Lào thì tất cả đã đổi thay, Cánh Đồng Chum gần như bị hủy diệt, chùa chiền bị cháy trụi, hàng nghìn ngôi nhà thành đống tro tàn, không còn thấy cảnh những đàn trâu bò gặm cỏ, tắm sông Nậm Ngừm như trước nữa. Giặc đã rải thảm bom đạn hòng làm tiêu tan hết sức đề kháng rồi mới cho quân đổ bộ. Quân đổ bộ xuống lại tiếp tục càn quét, đốt phá, còn ngôi nhà nào, còn thóc lúa, kho tàng ở đâu lại tiếp tục đốt phá, còn con trâu bò nào cũng giết hết. Đồng thời chúng lại xúc dân lên máy bay chở về Viếng Chăn, Long Chẹng đưa vào trại tập trung. Ai không chịu đi, chúng bắn chết ngay. Một số bà con chạy lên các vùng căn cứ kháng chiến để giúp bộ đội Pa thét đánh giặc.

     Vậy mà bọn Mỹ vẫn huênh hoang rằng chúng sẽ giúp nhân dân các bộ tộc Lào xây dựng nước Lào hòa bình, thịnh vượng, hạnh phúc. Thật là tai họa. Sự thực là trong khi chúng mưu toan thành lập các đội quân tay sai từ quân phái hữu đến quân phỉ Vàng Pho nhằm huy động lực lượng đánh quân đội Pa thét, chống phá cách mạng Lào thì trên cao nguyên Cánh Đồng Chum, chúng chủ trương thiết lập một căn cứ quân sự lớn có sân bay hiện đại, có hệ thống tên lửa tầm xa, có trung tâm chỉ huy điều khiển các chiến dịch đánh phá miền Bắc nước Việt Nam, phía Nam nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, đồng thời cũng là để bảo vệ cho Thái Lan, nước đồng minh của Mỹ. Cũng vì mục đích đó, chúng mới có thể huy động được hàng chục tiểu đoàn quân chính quy Thái Lan sang để thực hiện ý đồ chiếm đóng Cánh Đồng Chum. Giặc chiếm Cánh Đồng Chum nhưng Cánh Đồng Chum chỉ còn là một cao nguyên không nhà cửa, không bóng một người dân, Cánh Đồng Chum chỉ có giặc Mỹ và bọn tay sai các loại: quân phái hữu, quân nhà vua, quân phỉ Vàng Phao, quân Thái Lan tất cả tới năm, sáu mươi tiểu đoàn. Chúng xây đồn, lập các trận địa thành một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc và tuyên bố Cánh Đồng Chum là bất khả xâm phạm, không lực lượng nào có thể làm gì được.

*
*   *

      Đông xuân 1971 - 1972, Quân đội nhân dân Lào, có sự phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam, quyết tâm mở chiến dịch tấn công giải phóng cao nguyên Cánh Đồng Chum. Đồng chí Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, được lãnh đạo hai nước giao cho làm Tư lệnh trưởng Liên quân Việt - Lào chỉ huy chiến dịch; đồng chí Vũ Lập và Hữu An là Phó Tư lệnh, đồng chí Huỳnh Đắc Hương là Chính ủy.

     Sư đoàn 312 chúng tôi do đồng chí Lã Thái Hòa làm Sư đoàn trưởng đảm nhiệm hướng tấn công chủ yếu của chiến dịch tức là tấn công đột phá vào cụm cứ điểm Phu Tâng, Phu Tôn.

     Bộ chỉ huy Mặt trận đánh giá tập đoàn cứ điểm của địch ở Cánh Đồng Chum là vững chắc. Đặc biệt dãy cao điểm Phu Tâng có địa hình khống chế rất quan trọng, địch đã đưa lên đây hai tiểu đoàn quân Thái Lan, một tiểu đoàn bộ binh BC609 và một tiểu đoàn pháo hỗn hợp 105 ly - 106,7 ly. Có thể nói Phu Tâng là cánh cửa sắt ngăn chặn quân ta tấn công vào Cánh Đồng Chum. Chúng còn điều lực lượng có phiên hiệu BS22, BV24, ACI bố trí bảo vệ vòng quanh quân Thái.

     Mở màn chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum, trước tiên phải đánh chiếm dãy núi cao điểm Phu Tâng mới có thể đưa toàn bộ lực lượng vào sâu triển khai chiến dịch được. Sư đoàn giao cho Trung đoàn 165 chúng tôi đánh trận đột phá mở màn này.

     Lực lượng ta trên toàn Mặt trận khá mạnh. Ngoài bộ đội Pa thét Lào, Sư đoàn 312, ta còn có Sư đoàn 316, bộ đội Tình nguyện quân 866, Trung đoàn 335 cùng các đơn vị xe tăng, pháo phòng không, pháo mặt đất 130 ly. . . Sư đoàn trưởng Lã Thái Hòa cùng Chính ủy Phạm Sinh trực tiếp giao nhiệm vụ cho trung đoàn chúng tôi. Anh Trường Quân, Chính ủy trung đoàn và tôi thay mặt cán bộ chiến sĩ toàn trung đoàn nhận mệnh lệnh. Sư đoàn trưởng nhấn mạnh:

     - Trung đoàn đánh vào cụm cứ điểm Phu Tâng là đánh trận mở đầu chiến dịch, cũng là tiếng súng đầu tiên của sư đoàn. Nó có ý nghĩa chiến dịch rất quan trọng, bởi thế trung đoàn phải chuẩn bị để đánh thắng, diệt gọn, không cho chúng tháo chạy khỏi Phu Tâng.

     Được cấp trên tin, giao nhiệm vụ cho trung đoàn như thế, hai chúng tôi đều rất mừng nhưng mặt khác cũng rất lo. Như vậy là chúng tôi phải đụng đầu với quân Thái Lan, một đối thủ khá mạnh. Trận chiến đấu tuy có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Hai anh em về bàn bạc xoay quanh nhiệm vụ và khả năng của mình, bàn toàn diện, phân tích trình độ cán bộ, chiến sĩ trong trung đoàn thì thấy tin và yên tâm. Thật ra, chẳng riêng gì chúng tôi băn khoăn làm thế nào hoàn thành nhiệm vụ đánh thắng quân thù. Cả cấp trên lẫn đơn vị bạn cũng nhận rõ những khó khăn đối với trung đoàn khi đảm nhiệm trận đánh mở màn nên đã tạo mọi điều kiện cho chiến sĩ trung đoàn xuống từng tiểu đoàn của Sư đoàn 310, đơn vị có nhiều kinh nghiệm chiến đấu trên chiến trường nước bạn, để học hỏi đồng thời tìm đến cả Tiểu đoàn 1, 2 Pa thét Lào để biết thêm những đặc điểm của địa bàn hoạt động và học hỏi kinh nghiệm đánh giặc. Hơn thế nữa, chúng tôi còn đi vào các làng gặp gỡ nhân dân. Bà con ở Kleo Bon, Nậm Tiền, Nậm Mật, Then Phun, Xa Nội, Bản Ban, Nọong Pẹt hai bên đường 7A, 7B đã giúp chúng tôi rất nhiều, coi cán bộ chiến sĩ trung đoàn cũng không khác nào đối với anh em Pa thét Lào vậy.

    Với lại chúng tôi cũng thấy yên tâm khi được chiến đấu trong đội hình sư đoàn và Mặt trận có rất nhiều lực lượng binh khí tăng cường.
Một đêm trước hôm về trung đoàn phải vượt núi Phu Nhu, trời đã về khuya, tôi lên võng định ngủ lấy sức mai còn hành quân nhưng cứ chập chờn không sao ngủ được, đầu óc cứ luẩn quẩn về trận đánh sắp tới. Tôi liền trở dậy đem bản đồ ra nghiên cứu nhiệm vụ của trung đoàn, lần lần nhớ lại những trận đánh cũng ở chiến trường này ba năm về trước đã đánh cho bọn nguy Lào như ZDU, BS, BV, AC và cả quân đội Thái ở khu vực Bản Na phải thua liểng xiểng. Còn trận đánh sắp tới này thì sao? Phải có phương .án tác chiến tối ưu như thế nào đây để bảo đảm  chắc thắng.

      Vượt đỉnh núi Phu Nhu, tôi phải nghỉ ba lần. Có lẽ bởi tại đêm thức trằn trọc ít ngủ nên người thấm mệt. Anh Trường Quân cứ phải vừa đi vừa chờ, lại ngờ rằng bị ốm đau gì, mới hỏi:

    - Anh hôm nay mệt thế nào, có phải…

     - Không sao đâu. Mấy ngày làm việc căng thẳng, đêm qua thức khuya hút thuốc lá, lại trong nước chê đặc, đến khi muốn ngủ thì không sao ngủ được, thành ra hôm nay người nó hơi mệt đấy thôi, chứ có ốm đau gì đâu.

    Lên tới đỉnh núi Phu Nhu, tuy trời vẫn mù sương nhưng gió mát rượi, chúng tôi ngồi nghỉ thấy sảng khoái vô cùng. cũng đến lúc này, chẳng hiểu sao tôi lại thích ngắm Chính ủy Trường Quân một cách kỹ càng mặc đầu chúng tôi đã sống bên nhau khá lâu, đã biết rõ anh có tầm vóc cao to, vạm vỡ, nước da trắng hồng, khuôn mặt tròn hơi bè và giọng nói nhỏ nhẹ. Tính tình điềm đạm mực thước, anh chẳng nổi nóng với ai bao giờ. Chả vậy mà đơn vị đã đặt cho anh cái tên là “Chính ủy phúc hậu”. Có lẽ vì chúng tôi sắp bước vào một trận đánh quan trọng, cùng nhau chịu trách nhiệm trước thành bại của đơn vị nên muốn tìm ở nhau sự nương tựa giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ. Tôi người bé nhỏ hơn anh nhưng nói lại rất to, khi không vừa lòng với ai, nói càng to. Tuy vậy anh em lại thích cái tính thẳng thắn của tôi, nói rất thật, không vòng vèo và không giận ai. Nhiều khi anh em cũng bỏ qua những.chuyện nóng nảy vặt không chấp đối với tôi vì tính tôi thế nhưng lại rất thương anh em. Người hiểu tôi và thông cảm đối với tôi hơn cả, trước hết là Chính ủy Trưởng Quân. Hôm nay xem ra anh cũng hốc hác vì lo nghĩ, người tọp đi, râu mép mọc lún phún sợi cao sợi thấp, trông vừa buồn cười vừa thấy thương. Phải nói cho đúng là tính cách của hai chúng tôi.chính là chỗ dựa cho nhau, đôi khi hỗ trợ nhau để khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ.

     Sau khi về tới trung đoàn ở hang đá Bản Thắm truyền đạt nhiệm vụ chiến đấu cho các cán bộ trong cơ quan chỉ huy, chúng tôi phân công anh Quân ở nhà chuẩn bị cho bộ đội về mặt công tác chính trị tư tưởng, tổ chức cán bộ, tôi và Hà Kiềng, Trung đoàn phó cùng Đỗ Phú Vàng, Tham mưu trưởng trung đoàn tổ chức đoàn cán bộ đi nắm tình hình địch và địa hình. Thủ trưởng của ba cơ quan, các tiểu đoàn trưởng và đại đội trưởng cùng chủ nhiệm các binh chủng đều phải có mặt đầy đủ. Đi cùng chúng tôi có cả đồng chí Hữu An, Tư lệnh phó Mặt trận. Sư đoàn trưởng Lã Thái Hòa và một số tham mưu cấp trên. Tôi hiểu trận đánh Phu Tâng mở màn cho chiến dịch có ý nghĩa then chốt như thế nào đối với toàn Mặt trận. Tôi nhắc anh em tác chiến khi đi trinh sát phải chú ý nghe và ghi chép hết ý kiến của mọi người để có nội dung bàn cho thấu đáo, đề ra được phương án tác chiến thích hợp nhất. Thống nhất được phương án tác chiến ngay trước đồn giặc là vô cùng quan trọng.

*
*     *


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 21 Tháng Mười, 2009, 06:16:40 pm
     Xuất phát từ 5 giờ, chúng tôi lại phải vừa đi vừa chặt cây rẽ cỏ tìm lấy con đường riêng để tới gần địch chứ không theo đường dù to hoặc nhỏ mà địch đã biết nên mãi 12 giờ mới đến điểm cao 1.200 phía đông nam Phu Tâng còn cách đồn giặc 2000 mét. Chúng tôi đặt đài quan sát số 1 tại đây vì trên điểm cao này có thể nhìn được toàn cảnh Phu Tâng nổi lên ba ngọn núi như ba cái đầu trọc lốc, cao thấp khác nhau, chỉ còn một màu đất đỏ chất ngất ngang trời. Ở đây dùng ống nhòm đã có thể nhìn rõ chiến hào ngang dọc thành tuyến ba tầng: lô cốt trên từng chiến hào được đạp lên bằng các bao tải cát nhô lên như bát úp, bên trên lợp tôn che bạt. Năm hàng dây thép gai bao quanh khép kín các đồn giặc chụm lại thành ba cứ điểm nhưng xem ra rất chơi vơi giữa trùng điệp núi rừng, không nhà dân và cũng không có cả đường lên. Chúng chỉ dựa vào máy bay lên thẳng lên xuống và thả dù tiếp tế mà thôi. Chúng tôi thay nhau quan sát và bàn bạc phương án tác chiến, chọn mũi, hướng, xác định các mục tiêu, hỏa điểm, các trận địa tấn công, hỏa lực, vị trí chỉ huy, ghi lên bản đồ của mình.

     Ngày hôm sau, chúng tôi lên điểm cao 1.000 phía đông bắc Phu Tâng, cách đồn giặc 1.200 mét đặt tiếp đài quan sát số 2. Đang quan sát thì một máy bay lên thẳng đến, lượn ba vòng rồi đậu xuống sân bay gần cao điểm 2 và 3. Có hai tên địch ở cao điểm 2 ra đón. Ba tên trong máy bay xuống cùng đi về cao điểm 2. Chúng tôi đoán sở chỉ huy của tiểu đoàn BC609 ở cao điểm ấy. Trinh sát cũng báo ở cao điểm 2 đèn bao giờ cũng sáng hơn và người đông hơn.

     Vòng ngoài như vậy là đã nắm được khá rõ. Việc quan trọng là ở bước hai, trinh sát phải vào tận hàng rào quanh đồn giặc, phải dùng động tác kỹ thuật mới bảo đảm an toàn. Chúng tôi chia ra thành bốn tổ trang bị thật gọn nhẹ trên cơ sở nhiệm vụ giao cho các tiểu đoàn: Tiểu đoàn 6 là tổ 1 phụ trách cao điểm 1, Tiểu đoàn 4 cao điểm 2. Tiểu đoàn 5 cao điểm 3, cơ quan binh chủng là tổ 4. Cán bộ trung đoàn và cấp trên phân tán xuống từng tổ. Trinh sát trung đoàn và tiểu đoàn dẫn đường đi trước. Các cán bộ nhất thiết phải theo lệnh trinh sát, bảo đi khom thì đi khom, bảo bò phải bò, bảo dừng lại là dừng lại. Phó Tư lệnh Mặt trận và Sư trưởng Lã Thái Hòa đi cùng với tôi ở tổ 4 có Đại đội phó Hoắc và tổ trinh sát Vinh, Quang, Lập đi trước dẫn đường. Càng đến gần hàng rào địch càng thấy chộn rộn trong lòng, vui, lo, hồi hộp, chỉ sợ lộ, địch bắn hoặc ném lựu đạn ra, cán bộ thương vong, càng thêm phức tạp, vất vả. Tôi đang nghĩ như vậy bỗng có tiếng đất lở ào ào, đá lăn lục cục. Tôi ra hiệu cho trinh sát dừng lại. Địch bắn pháo sáng. Nhìn lại phía sau thủ trưởng Hữu An và Thái Hòa đang quềnh quàng bò lên, tôi vội lùi lại rỉ tai:

     - Đã rất gần địch rồi. Từ đây các anh phải bỏ gậy và đi đúng hướng, bám sát nhau, chệch một tý là bị mìn. Có chỗ phải bò, phải trườn…

     Nghĩ bụng, hai "cự' cứ đạp như trâu làm gì đất chẳng lở đá chẳng lăn, nhưng không dám nói ra.

     Chúng tôi vừa bò thêm được một đoạn ngắn, địch lại bắn pháo sáng, ném lựu đạn và nã súng ra. Sau đó lại im ắng. Chắc chỉ là bắn vu vơ kiểu cầm canh thôi. Cuối cùng thì cũng tới được hàng rào, xác định được các yếu tố cần thiết để lập phương án tác chiến. Sau một đêm thức trắng vất vả, các tổ đều hoàn thành nhiệm vụ, ai cũng phấn khởi.

     Trở về vị trí quy định gần đài quan sát số 1, chúng tụ họp cả đoàn tổng hợp tình hình và thảo luận cách đách. Rất nhiều ý kiến còn phải bàn kỹ hơn nhưng sẽ để sau khi về vị trí tập kết bàn tiếp, tôi chỉ kết luận những ý kiến đã thống nhất:

     - Mấy ngày ta đi thực tế nắm địch và địa hình, nghĩ cách đánh tiêu diệt tiểu đoàn BC609 trên cao điểm Phu Tâng. Tôi nhận thấy trung đoàn có thể tận dụng hai hình thức chiến thuật là tấn công vây lấn trước, vây lấn đến hàng rào mở được các của vào đồn giặc, phá hủy một phần công sự, diệt một số sinh lực địch làm cho tinh thần chúng hoang mang là đạt yêu cầu. Mỗi đồn giặc ta chỉ dùng một đại đội bộ binh kết hợp dùng toàn bộ hỏa lực đánh phá. Bao giờ đạt yêu cầu, ta mới chuyển sang hình thức chiến thuật hai là tấn công dứt điểm tiêu diệt toàn bộ quân địch; tổ chức cách đánh như đánh địch trong công sự vững chắc, sử dụng lực lượng đột kích mạnh, có đủ thê đội một, thê đội hai, dự bị, có các tổ đánh chiếm đầu cầu, thọc sâu phát triển. Thật ra việc áp dụng hai hình thức chiến thuật này chẳng có gì mới lắm; nó giống như đánh quán Thái ở Bản Na thôi. Có mấy điểm nữa ta về bàn thêm với cán bộ ở nhà như làm sao đảm bảo đạn, gạo cho trung đoàn tấn công liên tục sáu bảy ngày đêm, khối lượng đạn gạo khá lớn, phải có kế hoạch lót trước. Còn vấn đề bảo đảm các trận địa hỏa lực bố trí tá hàng rào, một số khẩu đặt trên sườn đá phải tính toán mỗi khẩu bao nhiêu bao tải cát, cần bao nhiêu chiến sĩ vác đạn, đào lắp trận địa cho pháo..., tất cả đều phải trù liệu cho đầy đủ, kỹ càng.

     Tôi xin nói rõ lại là trận đánh này có chỗ khác các trận đánh trước tức là hỏa khí, các loại pháo, trận địa càng gần hàng rào càng tất, nghĩa là phải gần để pháo thủ nhìn thấy đồn giặc, nhìn thấy mục tiêu. Bộ binh vây phải ngay từ đầu ở sát hàng rào và lấn vào trong hàng rào. Ở xa bắn đã không chính xác lại còn bị pháo bom của giặc. Về nhà, ta phải bàn kỹ với anh em vấn đề đó. Chúng ta đã nghe hai Thủ trưởng Hữu An và Thái Hòa đi thực tế cùng chúng ta bốn ngày qua, động viên chúng ta nâng cao trách nhiệm. Bây giờ đề nghị hai Thủ trưởng cho ý kiến.

     Anh Thái Hòa nói:

     - Mấy ngày qua, tôi đã có trao đổi với anh Chuông, thấy rằng tinh thần làm việc của các đồng chí rất chặt chẽ, trên dưới nghiêm túc, có trách nhiệm, sơ bộ đem lại kết quả là ta đã có một phương án chiến đấu như anh Chuông trình bày. Chỉ đề nghị các đồng chí về bàn kỹ thêm với các đồng chí ở nhà, bổ sung cho đầy đủ. Hiện nay các đồng chí đều biết phương án chưa hoàn chỉnh.

     Tôi thở phào nhẹ nhõm. Như thế tức là cấp trên căn bản đã đồng ý với phương án tác chiến của chúng tôi. Tuy nhiên, tôi cũng hiểu rằng, chưa thể coi là hoàn chỉnh vì còn khá nhiều vấn đề phải bàn bạc để thống nhất. Nói ngay về ý định áp dụng hai hình thức chiến thuật cũng còn là vấn đề phải bàn cho rõ.

     Đúng vậy. Hôm chúng tôi lên sư đoàn để báo cáo phương án tác chiến của Trung đoàn 165, vừa nêu xong vấn đề áp dụng hai hình thức chiến thuật để đánh Phu Tâng, cả hội nghị cười ồn ào. Hôm đó có cả đồng chí Lê Trọng Tấn và nhiều cán bộ ở trong nước sang cùng dự. Đồng chí Lê Trọng Tấn hỏi, giọng ôn tồn:

     - Đồng chí Chuông trình bày cho hội nghị rõ, đánh thế nào lại dùng hai hình thức chiến thuật?

     Ai cũng biết đồng chí Lê Trọng Tấn là Sư đoàn trưởng đầu tiên của Sư đoàn 312 chúng tôi. Các lớp cán bộ trưởng thành trong sư đoàn thường được đồng chí khuyên bảo rất chân tình. Hôm nay nghe đồng chí hỏi, tôi lại rất mừng vì được đồng chí quan tâm đến một vấn đề có thể nói là cốt tủy của trận đánh mà tôi đã suy nghĩ nhiều đêm. Tôi bình tĩnh trình bày;

     - Thưa các Thủ trưởng! Thưa Hội nghị! Căn cứ vào tình hình địch và đặc điểm của địa hình, căn cứ vào thực tế của trung đoàn, phải đánh như thế mới thắng. Hai hình thức chiến thuật, tấn công vây lấn, tấn công dứt điểm, thực chất nó là thể thống nhất của một trận đánh phải chia đoạn ra để tấn công liên tục, kiên quyết đánh đến khi dứt điểm tiêu diệt toàn bộ quân địch mới kết thúc. Đi vào tổ chức cụ thể, từng hình thức yêu cầu có khác nhau. Tấn công vây lấn là yêu cầu vây chặt không cho địch trên máy bay xuống, dưới lên máy bay, không cho thằng trong đồn ra, thằng ngoài đồn vào, buộc thằng sống nằm với thằng chết, lấn qua hàng rào vào đồn giặc, tổ chức lực lượng bộ binh kết hợp hỏa lực đủ sức vây. Trước hết, dùng hỏa lực bán phá tiêu diệt một phần các ụ súng, hỏa khí, sinh lực địch, mỗi cứ điểm chỉ dùng một đại đội bộ binh đảm nhiệm đánh vây lấn. Kinh nghiệm vây lấn như Điện Biên và kinh nghiệm trung đoàn đánh thắng quân Thái Lan ở Bản Na là như thế. Khi đạt yêu cầu của chiến thuật tấn công dứt điểm, tổ chức cách đánh như đánh địch trong công sự vững chắc…

     Tôi quan sát thấy cả hội nghị chăm chú lắng nghe. Anh Lê Trọng Tấn cười nhìn tôi, nụ cười hiền từ nhân hậu. Tôi yên tâm trình bày cho đến hết nội dung. Anh Huỳnh Đắc Hương hỏi:

     - Còn các tiểu đoàn ngụy Lào cũng trên dãy núi Phu Tâng, trung đoàn giải quyết ra sao?

     - Thưa Thủ trưởng, với loại quân này, ta chỉ cho lực lượng nhỏ kiềm chế thôi, vì khi ta vây quân Thái, chúng sẽ không bảo vệ cho quân Thái. Thực tế hệ thống chỉ huy các loại quân này rất phức tạp, đầy mâu thuẫn, khó bảo nhau. Mỹ - Thái chỉ huy chung nhưng quân Chính phủ, quân Hoàng gia, phỉ Vàng Phao, mỗi lực lượng lại có hệ thống chỉ huy riêng. Mỹ muốn làm gì phải thương lượng, có lợi chúng mới chấp hành. Việc gì khó, nguy hại đến chúng là chúng đánh bài lờ, bỏ mặc Mỹ - Thái làm. Bên dưới thì binh lính lục đục không phục nhau, ghen tỵ nhau vì đồng lương do Mỹ cung cấp. Quân Thái Lan được Mỹ trả lương rất cao, đi đâu, đánh đâu có pháo, xe, máy bay cơ động chi viện rất mạnh. Mặc dầu quân Chính phủ Lào được Mỹ trả lương cũng khá, súng cũng nhiều, ăn mặc đẹp song vẫn còn kém xa quân Thái Lan. Quân phỉ Vàng Pao đánh giỏi hơn quân Thái và vẫn còn kém xa quân Thái Lan. Quân phỉ Vàng Pao đánh giỏi hơn quân Thái và quân Chính phủ nhưng Mỹ vẫn trả lương quá thấp, mặc rách, ăn khổ, súng xấu, khi đánh nhau ít được pháo binh, máy bay chi viện. Nên các đội quân tay sai thường không phục nhau thậm chí còn ghét nhau. Thực tế đã diễn ra như vậy. Năm 1969, trung đoàn tôi đánh vào thị xã Xiêng Khoảng, khi đó có tiểu đoàn BV24, 26, ACI. Trung đoàn diệt BV24 ở khu đồn thấp. Vậy mà thằng BV26 bên khu đồn cao gần đó chỉ bắn mấy loạt pháo sáng và mấy loạt đại liên rồi bí mật rút chạy lên khu núi Chong Vong, sau cùng bị ta đánh. ACI thì ở khu sân bay nằm im rồi cũng chạy biến đi đâu mất. Hoặc như hôm trung đoàn đánh tập đoàn quân địch ở Bản Na, ta đánh điểm 3, điểm 4 quân Thái B11. Vây lấn tấn công tới hơn một tuần, vậy mà chung quanh các đồn có tới 4 tiểu đoàn quân ngụy Lào BG, ZD4, BV, AC, chúng vẫn nằm im. Chỉ có máy bay và pháo binh ở xa bắn tới. Ta diệt xong quân Thái ở điểm 3, điểm 4 thì cả bốn tiểu đoàn ngụy cũng chạy mất tăm. Vậy là giải phóng Bản Na, ta chỉ phải đánh quân Thái Lan mà thôi. Chính tù binh ta bắt được cũng khai về sự lục đục, ganh ghét, bỏ mặc nhau khi chiến đấu giữa các đội quân tay sai như thế.

     Bởi vậy, lần này đánh Phu Tâng, ta cũng đã tìm đường tránh quân ngụy Lào để vào đánh quân Thái, chỉ để một khẩu pháo và bố trí trinh sát đề phòng, kiềm chế. Chắc chắn khi ta vào chiếm lĩnh trận địa đánh quân Thái, nó lại nằm im. Song cũng nên nhớ, nếu ta đánh dở hoặc đánh thua thì bọn chúng lại câu kết với nhau lợi dụng, dây máu ăn phần, té nước theo mưa. Thực ra trung đoàn cũng chỉ đủ sức kiềm chế đánh đuổi chúng để tập trung lực lượng đánh quân Thái.

     Anh Lê Trọng Tấn lại nói tiếp:

     - Thế trung đoàn đánh Phu Tâng còn gì khó khăn?

     Hiện nay còn nhiều khó khăn nhưng không lớn. Cán bộ chiến sĩ đang bàn, chắc chắn sẽ khắc phục được. Chỉ có, nếu sư đoàn và Mặt trận tăng cường thêm cho trung đoàn chúng tôi một tiểu đoàn pháo và đạn cối 120 ly, mỗi cứ điểm được thêm 500 viên nữa thì nhất định là sẽ thực hiện được trọn vẹn kế hoạch đánh chiếm Phu Tâng.

     Anh Tấn cười trả lời ngay:

     - Tôi và sư đoàn đồng ý tăng cường tiểu đoàn pháo cho 165 và 2000 đạn cối 120 ly. Như vậy trung đoàn đánh có rút ngắn thời gian được không?

     - Chắc là được. Thủ trưởng cho phép chúng tôi về bàn ở đơn vị và sẽ báo cáo cụ thể.

     - Thôi được. Phương án tác chiến của Trung đoàn 165, chúng tôi thông qua.

     Tôi không thể nói hết niềm vui trong lòng mình lúc ấy như thế nào. Chỉ biết là vui vô cùng. Cả hội nghị cùng phấn khởi chứ không còn có ai cười như khi tôi mới mở đầu chủ trương áp dụng hai hình thức chiến thuật. Trước lúc ra về, đồng chí Lê Trọng Tấn đến bắt tay chúng tôi:

     - Cho mình gửi lời các cậu về thăm bộ đội chiến sĩ Trung đoàn 165 và các cậu cũng phải giữ gìn sức khỏe, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.

     Tôi nhớ lúc đó anh cười rất vui, không quên hỏi thăm chuyện gia đình vợ con mỗi đứa chúng tôi: 

     - Các chị khỏe, các cháu ngoan cả chứ?

     Thật là một vị tướng đáng kính trọng, đánh giặc thì “quân lệnh như sơn", sống giữa đời thường lại nhân từ phúc hậu.

     Đảng ủy trung đoàn hoàn toàn nhất trí với phương án tác chiến đánh Phu Tâng; việc sử dụng Tiểu đoàn 6 đánh cao điểm 1, Tiểu đoàn 4 đánh cao điểm 2 cũng được thống nhất là phải tăng cường cho mỗi đơn vị hai khẩu cối 120 ly, hai khẩu ĐKZ 75, một đại đội 12,7 ly, hai tiểu đội công binh. Riêng Tiểu đoàn 5 đánh cao điểm 3 thì chỉ cần tăng cường một đại đội cối 82, hai khẩu 12,7 ly, một tiểu đội công binh cùng với hỏa lực tiểu đoàn. Sau khi Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 4 đánh xong cao điểm 1, cao điểm 2 rồi sẽ tập trung tiêu diệt cao điểm 3. Đảng ủy bàn sâu về công tác chính trị tư tưởng, bảo đảm vật chất kỹ thuật, phát động phong trào thi đua lập công. Có thể nói, Hội nghị Đảng ủy đã bàn khá cụ thể về mọi khâu công việc tác chiến, bởi vậy đồng chí Gia Dũng làm thư ký được nghe đầy đủ đã xúc động viết ngay một bài thơ trong đó có những câu:

Nghị quyết Đảng ủy trung đoàn
Tính đến cả từng chiếc hầm vây lấn
Mỗi khẩu súng cần bao nhiêu viên đạn,
Thương binh về có cốc sữa thơm ngon.
Nghị quyết chỉ rõ từng đồn thù trước mặt,
Từng tấc đất phải giành, tung vòng vây xiết chặt
Từng đường đi nó đặt quả mìn.
Anh lính trẻ đánh trận đầu còn bao bỡ ngỡ
Đã sáng lòng, sáng một niềm tin.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 21 Tháng Mười, 2009, 06:21:54 pm
     Ở Hội nghị Quân chính trung đoàn có một chuyện rất xúc động. Hội nghị đã được nghe thư của Đại đội 1, Tiểu đoàn 4, viết lên hứa hẹn quyết tâm đánh thắng địch, diệt gọn cao điểm 1 cắm cờ trên đỉnh Phu Tâng. Bức thư được các chiến sĩ ký tên bằng máu của mình.

     Là một cán bộ chỉ huy chuẩn bị cho trận đánh, biết bao công phu, biết bao gian khổ mới thiết kế được một phương án đánh địch thích hợp, lại khơi được sự sáng tạo và nhiệt tình của cán bộ chiến sĩ trong đơn vị, thật không gì sung sướng cho bằng. Bởi nó đã tạo nên sức mạnh được xuất phát từ niềm tin tập thể, một niềm tin có từ vị tướng Tư lệnh Mặt trận đến người chiến sĩ binh nhì.

*
*  *

     Ngày 17 tháng 12 năm 1971, trong lễ xuất quân, tôi thay mặt chỉ huy trao cờ cho các tiểu đội và phát biểu:

     - Thưa toàn thể cán bộ chiến sĩ trung đoàn thân mến!

     Chỉ còn ít phút nữa, chúng ta xuất quân. Thay mặt chỉ huy trung đoàn, tôi chúc toàn thể các đồng chí khỏe, cùng nhau thi đua giết giặc lập công. Chúng tôi rất tin tưởng các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ. Cờ Chiến thắng của trung đoàn nhất định sẽ được các đồng chí cắm lên đồn giặc trên đỉnh Phu Tâng. Giờ xuất quân đã đến, tôi ra lệnh trung đoàn lên đường!

     Lúc đó là 17 giờ ngày 17 tháng 12 năm 1971. Trời còn sáng, các đơn vị theo thứ tự đội hình bắt đầu tản ra. Tôi ngắm nhìn nét mặt cán bộ, chiến sĩ thấy ai cũng tỏ vẻ náo nức lên đường, lòng càng phấn chấn. Đoàn quân lẫn vào trong rừng xanh, lá ngụy trang lung linh trên mũ thật là đẹp Hôm đó, chiến sĩ Trương Mã Đại đã cảm xúc làm một bài thơ dài mà nay tôi còn nhớ hai câu:

…Ngắt cành lá thắm cài lên mũ.
Che mắt quân thù, ta hành quân...


     Sương buông. Rừng chìm dần vào đêm tối mênh mông. Trung đoàn tiến quân phải men theo lèn đá, càng lên cao sương càng dày, gió càng lạnh. Các chiến sĩ ai cũng mang vác rất nặng, ngoài súng đạn của mình ra còn phải đem theo cả sọt, bao tải để đựng đất làm công sự cho trận địa hỏa lực.

     Pháo súng từ trong đồn giặc thỉnh thoảng lại phụt lên lưng trời lấp loáng xuyên qua các vòm cây. Khi toàn bộ trung đoàn đã vào vị trí vây lấn tấn công, nghĩa là đã sát hàng rào, không một ai bị lạc, địch vẫn không hay biết gì. Giả thử có biết, chúng nó dội bom pháo thì cũng chẳng đáng lo bằng khi chưa đến sát đồn giặc. Thực ra tâm trạng chúng tôi, từ lúc trung đoàn bắt đầu hành quân, ai cũng lo bị lộ, địch dội bom hoặc bắn pháo dọc đường, anh em bị thương vong thì khó khăn phải khắc phục sẽ vất vả và chật vật hơn nhiều. Đến lúc này, trung đoàn đã vây gọn Phu Tâng thì tôi tin chắc chúng chẳng còn chạy đâu cho thoát.

     Lúc 23 giờ, trong khi cán bộ tiểu đoàn ở các hướng lên xác định từng mục tiêu, các chiến sĩ đào đắp công sự, thì ở điểm 3 hướng tây Tiểu đoàn 5, địch đi tuần từ điểm 3 đến bãi đỗ máy bay lên thẳng. Chúng phát hiện được chiến sĩ ta đào công sự liền bắn loạn xạ, rồi chạy vào đồn. Lập tức từ cao điểm 3, pháo sáng vụt lên sáng choang, lựu đạn tung ra tới tấp. Đồng thời pháo từ Căng Xẻng cũng bắn về dồn dập quanh đồn.

      Không thấy ta phản ứng, chúng không bắn và ném lựu đạn ra nữa nhưng pháo sáng thì vẫn canh chừng. Anh em ta lợi dụng thời cơ quan sát được rõ hơn, điều chỉnh đội hình, trận địa cho phù hợp với nhiệm vụ, nhất là trận địa hỏa lực.

     Nắm tình hình cho đến lúc này, chúng tôi được biết các tiểu đoàn đã vào vị trí chiến đấu an toàn, duy có Tiểu đoàn 5 ở cao điểm 3 bị thương hai đồng chí. Như vậy, địch biết ta đến gần chúng. Chỉ có điều chúng không thể đoán được đó là lực lượng nào và có mục đích gì. Bởi thế, hành động của cán bộ, chiến sĩ lúc này càng phải thận trọng để bảo đảm bí mật, an toàn đến mức tối đa trước lúc nổ súng.
1 giờ ngày 18-2, toàn trung đoàn thực sự hoàn thành trận địa vây lấn, hệ thống thông tin trên dưới, các đài quan sát thông suốt, đạn, gạo đem đến trận địa đủ đánh liên tục bảy ngày đêm. Bốn giờ, chiến sĩ mở cửa mở lên cắt rào bí mật đặt mìn, bộc phá, bộ đội đào hào giao thông, cán bộ các cấp đi kiểm tra đôn đốc; 5 giờ, bộ đội ăn cơm để chuẩn bị sẵn sàng nổ súng.

     Theo kế hoạch đã được thống nhất toàn trung đoàn với sư đoàn Mặt trận là 6 giờ ngày 18-12-1971 thì nổ súng. Tôi hồi hộp chờ đến giờ phát lệnh. Nhưng gần 6 giờ mà sương vẫn còn mù mịt đầy trời. Tôi càng lo. 6 giờ rồi mà nhìn trời vẫn thế, đồn giặc mịt mù trong sương chẳng rõ ở chỗ nào. Chẳng nhẽ lại cứ ra lệnh đánh trong tình hình thời tiết như thế này để đơn vị vấp phải khó khăn sao? Không! Phải chờ thời tiết có lợi. Tôi quyết định thế. Đúng lúc đó, điện thoại réo sôi lên. Trên gọi xuống, dưới gọi lên, hỏi giờ nổ súng. Tôi thừ người nghĩ tức ông trời, bực cả trên cả dưới cứ hỏi. Chính ủy Quân nhắc:

     - Quá giờ rồi anh ạ.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:56:18 pm
     - Nhưng sương mù đầy trời thế kia có nhìn được mục tiêu gì đâu mà nổ súng. Nổ súng thì bắn vào đâu? Ý anh thế nào?

     - Tôi cũng thấy như thế. Chờ sương tan đã.

     - Thế thì đề nghị Chính ủy trả lời lên trên và báo cho các đơn vị biết.

     Từ thực tế giáp mặt với đồn giặc, các cán bộ bên dưới thấy ngay điều cần thiết phải thay đổi giờ nổ súng. Nhưng Sư trưởng Thái Hòa thì lại như bốc lửa:

     - Anh Chuông đi đâu, cũng phải gọi về gặp tôi trên máy.

     Tôi có đi đâu đâu. Tôi ngồi ngay đây và nghĩ đúng là ông sư này bốc lửa rồi. Ở với anh lâu, tôi biết anh đánh giặc rất hăng hái không biết sợ là gì, chỉ có việc chấp hành mệnh lệnh đôi khi quá nghiêm thành ra máy móc. Chắc anh đang bực tôi lắm đây, như thế là tôi phải gặp thôi, nhưng phải làm sao để anh hiểu và thông cảm hết tình hình ở dưới này.

     Cầm máy vừa a lô, tôi được nghe ngay một câu cộc lốc:

     - Đồng hồ anh mấy giờ rồi?

     - Báo cáo anh gần bảy giờ.

     - Sao không nổ súng?

     - Báo cáo anh, trời còn rất nhiều sương, không nhìn thấy mục tiêu đồn giặc nên chưa nổ súng được. Đơn vị đã vây sát hàng rào, cả tiểu đoàn 12,7 và pháo ĐKZ 75. Pháo không nhìn được mục tiêu, lại không qua bắn thử, cứ bắn phóng đi thì khó có kết quả, nhất định ảnh hưởng đến chiến sĩ...

     Mới nói đến thế, chẳng thấy Sư trưởng hỏi gì thêm. Rồi bỗng nghe tiếng như anh đặt máy xuống, tôi a lô hoài mà chẳng thấy trả lời. Tôi cũng đặt ngay máy và tự nhủ: Biết làm sao được, tại trời chứ có phải tại tôi đâu.

     Một lát, chuông điện thoại lại đổ hồi, đằng trước, bên phải, bên trái, đằng sau réo đinh tai. Muốn im lặng, nhưng rồi cũng phải trả lời Tiểu đoàn 4.

     - Gọi gì, hỏi mãi? Không thấy mù sương đấy à, nổ súng. Tôi quan sát trong sở chỉ huy, ai cũng có vẻ lo lắng, chẳng thấy cười vui như mọi khỉ. Tôi nói với cán bộ tác chiến:

     - Mình ra đài quan sát xem sao nhé?

     Đài quan sát chỉ cách đồn chỉ huy có ba mươi mét. Nhìn trời vẫn mù mịt đầy sương, tôi rất lo, đứng ngồi không yên. Chẳng bực tức với ai cả, chỉ bực tức với trời. Mong sao gió nổi lên, sương mù tan đi cho tôi nhìn rõ đồn giặc.

     Hình như ông trời đã thấu tỏ lòng tôi, vừa cầu mong xong bỗng có gió mát lạnh thổi tới và màn sương dày như dãn ra, từng mảng buông nhau ra lững lờ bay theo gió. Đồn giặc lúc hiện lúc mờ. Tôi chạy về sở chỉ huy kêu rất to:

     - Sương tan! Sương bay, sương đang bay!

     Tôi chỉ biết kêu lên sung sướng mà chẳng ra lệnh cho ai ở cơ quan cả.

     Một lát, trấn tĩnh lại, tôi nhận ra cái việc cần phải làm ngay tức là ra lệnh chuẩn bị nổ súng. Chuông điện thoại réo lên. Sở chỉ huy lại sôi động với những gương mặt tươi vui náo nức đón giờ nổ súng. Đó là vào lúc 8 giờ ngày 18 tháng 12 năm 1971, cách đây đã 25 năm. Tôi vẫn không quên hôm đó, sau khi mệnh lệnh phát ra, lập tức cụm cứ điểm Phu Tâng bị trùm trong chớp lửa. Khói đạn cuồn cuộn lưng trời, lan tỏa ra che kín cả đồn giặc. Khi ta chuyển sang bắn phá từng mục tiêu chi viện cho các chiến sĩ bộc phá lên mở cửa mở, quân địch bị bất ngờ chỉ phản ứng rất yếu. Hình như chúng xuống hầm ngầm ẩn nấp. Sau khoảng mười phút, địch mới bắt đầu phản ứng quyết liệt khi pháo Cánh Đồng Chum bắn đến bao quanh cứ điểm thành một vành đai lửa. Đạn pháo địch rơi vào đội hình quân ta có chỗ gãy cả giá mìn định hướng. Nhưng chẳng có đạn pháo nào cản được bàn chân các chiến sĩ trung đoàn vẫn lao lên mở cửa mở, đoạt chiến hào địch và khép chặt vòng vây lấn. Hồi đó chiến sĩ Trương Mã Đại đã viết một bài thơ có những câu rất xúc động:

“Pháo địch bắn gãy giá mìn định hướng
Bộc phá dài cặp nách trườn lên
Giữa khói đạn ken dày chớp lửa
Bóng anh trùm cửa mở thênh thang...

      Cuộc chiến đấu càng trở nên quyết liệt khi máy bay địch xuất hiện, tiếng rít gió như xé không gian. Bom ném hàng chùm, đạn trút hàng loạt. Song, cái lợi thế đánh gần đã tạo cho kế hoạch vây lấn tấn công tiếp tục vào sâu, các trận địa hỏa lực tiếp tục phát huy hiệu quả, Tiểu đoàn 6 đã diệt được 7 hỏa điểm ở cao điểm 1, mở qua được 3 hàng rào; Tiếu đoàn 4 diệt được 5 hỏa điểm ở cao điểm 2, mở qua được 2 hàng rào. Ở cao điểm 3, Tiểu đoàn 5 cũng diệt được 3 hỏa điểm, phá được 2 hàng rào.

      Cuộc đọ súng kéo dài suốt một ngày. Công sự và hỏa khí của giặc bị phá hủy nhiều, thương vong không nhỏ, chúng phải chui xuống hầm bắn. Ta cũng thương vong, phải chấn chỉnh đội hình, đào lấn sâu vào sát chiến hảo quân địch. Tôi ra lệnh từ 19 giờ tiếp tục tấn công, việc mở cửa, các đơn vị phải làm xong trong đêm.

     5 giờ sáng ngày 19-12, Tiểu đoàn 6 mở xong cửa mở, Tiểu đoàn 4 vẫn còn một hàng rào, Tiểu đoàn 5 còn 2 ụ súng. Rõ ràng, kế hoạch vây lấn tấn công tiếp tục phát huy hiệu quả trong cả tình huống địch phá mạnh về pháo binh và máy bay mà về đêm thì sức kháng cự của địch giảm hẳn.

     8 giờ, tôi ra lệnh cho hỏa lực đánh dồn dập. Anh Phi, Đại đội phó, vây cao điểm 1 báo cáo về là có mấy tên địch ở chiến hào 1 bỏ chạy vào chiến hào 2 và chạy dạt ra hai bên. Ở cao điểm 2, có ba tên chạy ra chỗ mở cửa mở bị ta bắn lại chạy vào. Trung đoàn phó Hà Kiềng lên cùng với Tiểu đoàn trưởng Quang Năm điều tra và lệnh cho bộ đội chiếm luôn chiến hào địch làm bàn đạp tấn công.

     Tôi nghĩ thời cơ dứt điểm Phu Tâng đến nơi rồi. Lại nghe Tiểu đoàn 6 báo cáo về cậu Phi, Đại đội phó, đã chỉ huy đơn vị chiếm chiến hào 1 trên điểm cao 1, địch từ chiến hào 2 bắn ra chống giữ phá quyết liệt.

      Tôi trao đổi với Chính ủy Quân. Xem chừng anh vẫn còn lưỡng lự. Tôi rất lo mất thời cơ liền gọi điện bàn với Trung đoàn phó Hà Kiềng đang ở dưới Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn trưởng Quang Năm. Tôi phân tích tình hình rồi nói với Hà Kiềng và Quang Năm rằng, thời cơ dứt điểm Phu Tâng ngày hôm nay được rồi.

     - Chúng tôi nhất trí với anh - Hà Kiềng trả lời.

     - Thế thì các anh chuẩn bị bộ đội ngay đi.

     Tôi quay lại trao đổi kỹ với Chính ủy Quân và cũng được anh nhất trí. Tôi nói tiếp:

      - Bây giờ anh chuẩn bị báo cáo các cơ quan, các trận địa pháo, các đài quan sát. Tôi gọi điện xuống tiểu đoàn và hạ lệnh luôn.

     Các tiểu đoàn nghe tôi nói về thời cơ cho phép ngày hôm nay phải tấn công dứt điểm thì rất phấn khởi, nhưng có đồng chí lại hỏi lại:

     - Thủ trưởng nói sao? Theo kế hoạch, còn ba ngày nữa kia mà!

     Đấy, trong khi mình lo địch chạy, ta diệt không gọn, một khi chúng biết rằng ba mươi chước chỉ có tháo chạy là còn hy vọng thoát thì có anh lại máy móc “còn ba ngày nữa". Tôi bèn phân tích cho anh em rõ nhiệm vụ của giai đoạn áp dụng vây lấn tấn công đã hoàn thành, đã mở cửa mở xong, đã diệt nhiều hỏa khí và sinh lực địch, đã lấn đến chiến hào của chúng siết chặt vòng vây khiến cho chúng trong không ra, ngoài không vào được, trên không xuống, dưới không lên được, vậy thì cần gì ba ngày nữa?

      - Vâng? Rõ rồi ạ.

     - Thế thì anh lấy giấy bút ghi ngay đi: "Chuẩn bị tổ chức ngay các đội đột kích đúng 13 giờ lên vị trí tấn công. 15 giờ bộ đội phải sẵn sàng ở vị trí xung phong. 16 giờ pháo bắn cấp tập. 16 giờ 30 bộ đội phải có mặt ở chiến hào 1 của địch".

     - Thưa Thủ trưởng, ta đánh ban ngày à?

     - Kế hoạch thế, không đánh ngày lại đánh đêm ư?

     - Báo cáo Thủ trưởng, pháo địch và máy bay của chúng đang bắn vào đội hình tiểu đoàn, lên ban ngày sợ thương vong.

     - Anh cho từng tổ ba người tiến lên. Hãy bàn bạc với anh Trung, anh Viên, còn anh phải lên trước, đúng 14 giờ anh phải có mặt ở vị trí cửa mở của đại đội vây lấn và báo cáo. Tôi đang cho đồng chí Tạo tác chiến xuống giúp tiểu đoàn.

     Đó là cuộc đối thoại giao nhiệm vụ giữa tôi và anh Tích, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4. Tích đã ở lâu với tôi, tôi biết tác phong anh hơi chậm, làm việc gì cũng đủng đỉnh, chẳng thấy anh vội bao giờ. Có lẽ bởi cái thân hình thấp đậm, chắc nịch của anh. Tính trung thực, không rõ là hỏi ngay lại như thế đấy, nhưng chẳng hề to tiếng với ai bao giờ. Giao việc cho anh phải rất cụ thể, anh làm tốt và cũng rất dũng cảm thực hiện bất cứ nhiệm vụ khó khăn nào.

     Truyền đạt kế hoạch tấn công dứt điểm xong đâu đấy, tôi quay máy gọi lên báo cáo sư đoàn. May sao gặp được cả Phó Tư lệnh Mặt trận Hữu An đang Ở chỗ Sư đoàn trưởng Thái Hòa. Hai anh rất phấn khởi động viên và hỏi lại tôi xem có yêu cầu gì. Tôi nói: 

     - Đề nghị các anh cho pháo sư đoàn và Mặt trận bắn kiềm chế các trận địa pháo của địch. 13 giờ bộ đội  lên vị trí tấn công, 16 giờ pháo bắn cấp tập; 16 giờ 30 bộ đội phải có mặt ở chiến hào 1 của địch rồi.

     Tôi nghe thấy tiếng cười vui của hai anh trong máy.

*
*       *


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Một, 2009, 09:58:57 pm
     Đúng 16 giờ, pháo ta bắn dồn dập và theo kế hoạch tấn công dứt điểm, bộ đội ta sẵn sàng ở vị trí xung phong. Tôi rất mừng là sau khi pháo chuyển làn, nghe điện thoại từ các tiểu đoàn báo cáo về bộ đội ta đã đồng loạt xung phong. Chỉ nửa giờ sau đã nhận được tin, chiến sĩ Tiểu đoàn 6 xung phong đã vượt qua cửa mở chạy ngược lên qua chiến hào 2, chiến hào 3, cắm được cờ trên đồn giặc ở Cao điểm 1 Phu Tâng và hiện đang đánh tỏa xuống hai bên chiến hào khống chế các ụ súng của hầm ngầm.

       Thú vị nhất là ở sở chỉ huy trung đoàn, trên các đài quan sát, các trận địa pháo, anh em đều nhìn thấy chiến sĩ ta xung phong cắm cờ trên đồn giặc. Họ reo hò, họ nhảy lên khỏi chiến hào hoan hô và thông báo cho nhau chẳng còn sợ lộ bí mật gì cả.

      Chắc chắn rằng bọn địch ở Cánh Đồng Chum cũng nhìn thấy được cờ Chiến thắng của ta bay trên đỉnh Phu Tâng mà nghĩ về cái thân phận như cá ở trong nơm của chúng rồi.

      Tiểu đoàn 4 đánh cao điểm 2 mới chiếm được chiến hào 1, đang đánh lên chiến hào 2. Tổ cắm cờ bị thương chưa lên được. Đội hình Đại đội 1 bị ùn ở cửa mở, bị hỏa lực địch ngăn chặn rất quyết liệt. Mãi đến 21 giờ, Tiểu đoàn 4 mới báo cáo đã cắm được cờ trên đồn giặc ở cao điểm 2, bắt được tù binh nhưng vẫn còn đối phó với bọn địch trong hầm ngầm.

      Ở điểm cao 1, Trung đoàn phó Hà Kiềng và Tiểu đoàn trưởng Quang Năm đang tổ chức kêu gọi bọn địch trong hầm ngầm ra hàng. Chúng vẫn ngoan cố chống lại. Các anh cho tập trung lựu đạn, bộc phá tấn công. Kinh nghiệm đánh hầm ngầm chưa có, lựu đạn, bộc phá đều nổ quanh miệng hầm không gây tác hại nhiều cho địch, đánh đến hết mọi trái lựu đạn mà chúng vẫn không hàng. Anh Hà Kiềng phải cho điều bộc phá lên.

      Đúng lúc này, Phó Tư lệnh Hữu An và Sư đoàn trưởng Thái Hòa gọi điện hỏi tôi sao giải quyết chậm thế. Anh Hòa hạ lệnh:

      - Cho đội dự bị vào giải quyết nhanh đi không thì "sượng" đấy.

       Đối với người trực tiếp chỉ huy trận đánh, chữ "sượng” nghe nó khó chịu lắm. Nhưng biết thế nào? Vả lại mình đâu có “sượng". Mình thắng chứ. Tôi liền báo cáo:

      - Thưa anh, căn bản đơn vị đã cắm cờ và làm chủ trên cao điểm 1 và 2, đang bắt tù binh. Tiểu đoàn trưởng Tính đã ở trên cao điểm 2 rồi. Trên cao điểm 3 thì Hà Kiềng và Quang Năm đang trực tiếp chỉ huy, chỉ còn một cái hầm lớn, gọi hàng, chúng không hàng, nên đang chờ bộc phá. Đánh tiêu diệt thôi. Tôi đã điều hai đại đội dự bị Tiểu đoàn 5 về đánh cao điểm 3.

     Anh Hữu An hỏi:

     - Hà Kiềng, Quang Năm và cậu Tích đang ở trên đó cả rồi à?

      - Vâng ạ?

     - Thế thì chúng mình rất yên tâm. Thôi nhá! Cậu cứ làm theo kế hoạch tập trung đánh cao điểm 3.

      Cũng phải đợi đến 23 giờ, trung đoàn mới hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt tiểu đoàn BC609 Thái Lan trên cụm cứ điểm Phu Tâng và đánh tan toàn bộ các tiểu đoàn ngụy Lào đóng trên dãy núi này. Nhưng tôi chẳng thể nào quên, chính ở những phút cuối cùng của cái quãng xung phong dứt điểm lại là lúc gay gắt và quyết liệt nhất. Trong bài thơ của chiến sĩ Quang Hồng, anh gọi đó là "khoảng cách cuối cùng":

…Xung kích ào ào tiên qua cửa mở
Đánh ập vào tung thâm
Bỗng một luồng đạn địch
Cắt ngang đường xung phong,

Người chỉ huy nhìn khoảng cách cuối cùng,
Đất bốc khói, cỏ cây thành đuốc lửa
Ghì lấy đất là dáng người chiến sĩ.
……
Rất ngắn thôi khoảng cách cuối cùng
Nơi tột cùng ác liệt, đỉnh hy sinh...


     Cụm cứ điểm Phu Tâng bị diệt, vậy là cánh cửa thép rào Cánh Đồng Chum đã mở. Bộ chỉ huy chiến dịch ra lệnh tổng tiến công vào Cánh Đồng Chum. Chúng tôi từ trên đỉnh Phu Tâng nhìn xuống lòng dạt dào xúc động. Đêm chiến tranh như thế này thật là hào hùng. Trên này bọn tù binh Thái Lan đang ngơ ngác như những kẻ mất hồn van xin được sống, dưới đường 7A, xe tăng và pháo binh ta triển khai đội hình, đèn pha bật sáng, thi hành lệnh lệnh nhanh chóng mở những gọng kìm khép kín, không cho địch chạy thoát, giải phóng toàn bộ cao nguyên cánh Đồng Chum.

      Ngay trong đêm 19-12-1971, chúng tôi tiếp tục nhận lệnh sư đoàn tập trung ở bản Cau Xẻng đông nam Cánh Đồng Chum hành quân đánh tiếp các cao điểm 1.800, 1.300, 1. 400, diệt địch Ở Nam Cheng, Long Chẹng cho đến hết chiến dịch. Nhưng đối với tôi, kỷ niệm sâu sắc nhất án là trận Phu Tâng, trận đánh mở cửa thép cho đại quân tiến vào giải phóng Cánh Đồng Chum ngày 19-12- 1971. Hai mươi lăm năm rồi mà tôi vẫn nhớ như in.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 16 Tháng Mười Một, 2009, 10:54:11 pm
" KHÔNG PHẢI LÀ VŨ KHÍ LUẬN"


     Ấy là tôi nói về chuyện đưa xe tăng và pháo 130 ly nòng dài lên đánh Sảm Thông Long Chẹng, căn cứ của tướng phỉ Vàng Pao.
Sảm Thô Long Chẹng nằm Ở phía tây bắc nước Lào. Tướng phỉ Vàng Pao gọi căn cứ này là "đất thánh", là thủ đô của người Mẹo. Y tuyên bố không ai có thể xâm chiếm được đến con người, vùng trời và vùng đất của Sảm Thông Long Chẹng.

     Quả thật, địa hình Sảm Thông Long Chẹng vô cùng hiểm trở, rừng núi điệp trùng, dốc đá cheo leo. Ở đây, tuyệt đại đa số là dân tộc Mẹo sống rải rác trên các dãy núi cao chót vót, nhà ở đỉnh dốc, nhà ở lưng đèo? Cuộc sống của họ rất nghèo, trình độ dân trí thấp, tin vào trời, vào thần thánh, ma quỷ và tin vua. Người nào sức lực cũng khỏe khoắn, nhanh nhẹn, đạp trên núi đá tai mèo như đi trên đồng bằng, tính tình chất phác, trung  thực, trầm lặng, khi gặp nhau không vồ vập. Đặc biệt là tinh thần lao động sản xuất, họ rất cần cù chịu khó.

      Người Mỹ đặc biệt chú ý đến dân tộc Mẹo và địa bàn Sảm Thông Long Chẹng. Thông qua chính phủ phái hữu, bằng con đường viện trợ nhân đạo, tôn Vàng Pao lên làm tướng, thậm chí làm vua. Mỹ đã nuôi dưỡng, huấn luyện và trang bị vũ khí, xây dựng đồn bốt vô cùng vững chắc tại căn cứ Sảm Thông Long Chẹng. Mỹ đã giật dây và chỉ huy đội quân này đánh phá và lấn chiếm các vùng xung quanh, lấn chiếm cả tới vùng kiểm soát của Quân đội cách mạng Lào trên cao nguyên Cánh Đồng Chum. Quân đội Pa thét Lào cùng Quân tình nguyện Việt Nam đã nhiều lần chặn đánh, gây cho chúng nhiều thiệt hại.

      Lần này, chính quyền Ních-xơn thực sự ra tay, đã huy động cả quân phái hữu Lào, quân Thái Lan cùng với quân phỉ Vàng Pao, có pháo binh và không quân của Mỹ kể cả máy bay chiến lược B52 yểm trợ, mở chiến dịch đánh chiếm cao nguyên Cánh Đồng Chum. Cuộc chiến do Mỹ trực tiếp chỉ huy này đã diễn ra vô cùng ác liệt, tàn khốc, đã giết chết hàng nghìn dân vô tội cùng với ngựa, trâu, bò chết theo hàng vạn con. Làng bản, chùa chiền bị đốt phá không sao kể xiết. Chúng còn cho máy bay lên thẳng đổ xuống bốc dân thường đưa về các trại tập trung. Cao nguyên Cánh Đồng Chum khi đó không còn nhà, không còn dân, không còn kho tàng, thóc lúa. Một số ít nhân dân các bộ tộc chạy được lên rừng theo bộ đội Pa thét Lào đánh giặc cũng gặp phải cảnh thiếu thốn rất cực nhọc. Sau khi giặc chiếm hoàn toàn cao nguyên Cánh Đồng Chum, chúng lại đổ thêm quân, đưa phương tiện xây dựng các cụm cứ điểm liên hoàn, biến Cánh Đồng Chum thành một căn cứ chiến lược của Mỹ ở Đông Dương, nhằm thực hiện ý đồ xâm lược vươn tới cả phía Bắc Việt Nam, phía Nam Trung Quốc. Sau khi chiếm được cao nguyên Cánh Đồng Chum và hoàn thiện các căn cứ chốt giữ, Mỹ và bọn phái hữu tuyên bố rằng sẽ không có lực lượng nào của bộ đội Pa thét Lào có thể chiếm lại được. Chúng rất hung hăng tỏ ra kiêu căng, còn thách thức Chính phủ Cách mạng Lào, Quân đội Pa thét Lào dám đánh vào Cánh Đồng Chum.

     Quả thực, cuộc đọ sức này là vô cùng quyết liệt. Năm 1969, ta và địch đã trong thế trận giằng co với nhau trên cao nguyên Cánh Đồng Chum, địch đánh chiếm Cánh Đồng Chum, ta đánh đuổi chúng ra khỏi Cánh Đồng Chum, diễn ra hai ba lần. Năm 1970 này, Mỹ tăng cường chi viện hỏa lực mạnh và trực tiếp chỉ huy thì vấn đề không còn đơn giản.

      Chính phủ Cách mạng Lào đã huy động gần hết bộ đội chủ lực cả nước sát cánh cùng Quân đội Tình nguyện Việt Nam có pháo binh và xe tăng yểm trợ, quyết tâm giải phóng Cánh Đồng Chum. Bộ chỉ huy Lào-việt được thành lập. Chiến địch tấn công bắt đầu nổ súng đánh vào căn cứ tập đoàn quân địch đã được phòng thủ vững chắc diễn ra rất quyết liệt. Chiến công đầu là diệt cụm quân Thái ở Phu Tâng, Phu Keng, bắt được nhiều tù binh, thu được rất nhiều vũ khí. Tiếp đến là trận đánh Phu Tôn Bản Áng khiến cho sở chỉ huy địch tháo chạy khỏi cao nguyên Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Phát huy kết quả chiến thắng, Bộ chỉ huy Lào- Việt quyết định đánh đuổi chúng đến tận hang ổ bọn phỉ Vàng Pao ở Sắm Thông Long Chẹng.

     Về phía địch, tuy bị thiệt hại nhiều, tinh thần hoang mang lo sợ nhưng chúng còn rất thiếu quân. Riêng quân Thái Lan còn hơn mười tiểu đoàn. Quân phái hữu, quân Mẹo còn nhiều hơn. Hỏa lực pháo binh và máy bay Mỹ chi viện cho chúng rút về tuyến trung gian, địa hình lại hiểm trở, phức tạp, chúng án ngữ trên các dãy núi 1.600, 1.700, 1.800, 2.000, có ngọn Phu Pa Say dốc đứng ngăn chặn quân ta và bảo vệ cho đại bộ phận quân địch rút về căn cứ Sảm Thông Long Chẹng. Bộ đội ta vừa đánh đuổi quân địch về tuyến trung gian vừa mở đường qua tuyến trung gian. Quyết tâm rất cao nhưng ác liệt và gian khổ thì không thể nào nói hết được nhất là công việc mở đường.
Lúc ấy, tôi là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 Sư đoàn 312, đã chỉ huy đơn vị đánh suốt từ trận mở đầu chiến dịch cho đến giờ. Tính ra đã hơn hai tháng. Bốn trận đánh tập trung cả trung đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ. Từ trận tiêu diệt hai tiểu đoàn quân Thái ở Phu Tâng, ba tiểu đoàn quân Mẹo ở điểm cao 1.300 Sảm Thông, đến trận đánh thiệt hại hai tiểu đoàn quân Thái ở Ta Can. Ấy là chưa kể đến các trận đánh nhỏ đại đội và tiểu đoàn bắt hàng trăm tù binh, thu hàng nghìn vũ khí, chiếm gọn hai tiểu đoàn pháo 105 và 106,7 ly hỗn hợp. Khí thế toàn trung đoàn rất phấn khởi tự tin. Nhưng quân số trung đoàn bị hao hụt rất lớn, người bị thương, hy sinh, ốm đau, chưa được bổ sung nên mỗi đại đội chỉ còn mười lăm, hai mươi tay súng. Nhiệm vụ tiếp theo của trung đoàn được cấp trên giao cho là phải tổ chức đánh khu căn cứ Long Chẹng. Trước mắt, đánh khu vực Nam Cha. Ở đây, địch có bốn tiểu đoàn, công sự vững chắc, bố trí trên dãy đồi bên ngoài bảo vệ tướng phỉ Vàng Pao. Sau khi hoàn thành thì tiếp tục đánh thẳng vào sở chỉ huy tướng phỉ Vàng Pao, có đơn vị bạn phối hợp cùng đánh.

     Chưa lần nào nhận nhiệm vụ mà tôi lại lo lắng như lần này. Những lần trước, tôi thấy tự tin hơn nhiều. Nhưng lần này, địch còn mạnh mà lực lượng của trung đoàn đã bị tiêu hao lớn thì đánh cách gì đây để hoàn thành được nhiệm vụ?

     Tôi còn đang băn khoăn suy tính thì may sao Sư đoàn trưởng Lã Thái Hòa và Chính ủy Phạm Sinh xuống trung đoàn. Hai đồng chí trực tiếp nắm tình hình, thấu hiểu được nỗi phân vân của tôi, liền hỏi:

     - Vậy bây giờ trung đoàn anh định chấp hành lệnh trên như thế nào?

     - Rất khó. Trung đoàn lúc này như cái áo rách có nhiều miếng vá, đánh trận này rồi nó sẽ còn rách đến đâu?

     Sư đoàn trưởng Lã Thái Hòa ngồi im. Cứ như các bữa khác, nghe ai nói thế thì đầu ông ấy đã bốc lửa. Chính ủy Phạm Sinh ngồi bên cạnh cũng chẳng thấy nói gì. Bây giờ tôi mới nói tiếp:

     - Biết khó khăn là thế đấy, chúng tôi vẫn tổ chức đánh, và tin là đánh được. Trước hết phải xốc lại đơn vị, mỗi tiểu đoàn rút ra bốn mươi đến năm mươi tay súng như thế cũng được ba đội đột kích mạnh. Nhưng tôi đề nghị - đây là đề nghị hết sức nghiêm túc - là hai anh phải xin trên cho trung đoàn một đại đội xe tăng và hai tiểu đoàn pháo 130 ly. Như vậy, cộng với pháo của sư đoàn, của trung đoàn, sức mạnh hỏa lực của ta chắc chắn sẽ đủ yểm trợ cho lực lượng đột kích.

     Anh Lã Thái Hòa và anh Phạm Sinh vui vẻ đồng ý ngay và lập tức báo cáo lên Mặt trận. Nhưng thật không ngờ, trên cơ quan Mặt trận lại có ý kiến cho rằng, vì sao cứ phải tăng cường pháo binh và xe tăng thì mới đánh được. Hãy xem xét lại quan điểm có "vũ khí luận" không?

     Thế mới rắc rối. Tôi ngồi nghe trên Mặt trận trao đổi ý kiến với hai đồng chí thủ trưởng sư đoàn có lúc như là rất gay gắt, không thống nhất được với nhau mà ngao ngán trong lòng, nghĩ vừa lo nhiệm vụ trung đoàn lại vừa tức Tôi lẩm bẩm nói một mình: Quả thật là lạ lùng. Có tăng, có pháo lại không cho để đấy làm gì không sử dụng?
      
     Tham mưu trưởng Đỗ phú Vàng nói chen vào:

     - Công phu gian khổ, tốn kém biết bao mồ hôi xương máu mới mở được con đường để sử dụng xe tăng và pháo binh đánh Long Chẹng, lại không sử dụng thì lạ lùng thật! Lại còn bảo là "vũ khí luận” nữa thì thật lại càng lạ lùng cho các cụ.

     Chúng tôi ngồi ngoài bàn luận với nhau chứ chẳng phải là họp hành gì, ai muốn nghe thì nghe, ai muốn nói thì nói, chẳng ai kết luận ai đúng ai sai. Tôi thấy Sư đoàn trưởng Lã Thái Hòa ngồi yên chăm chú chờ đợi Chính ủy Phạm Sinh đang nói chuyện với Chính ủy Mặt trận. Tiếng Chính ủy Mặt trận hỏi anh Sinh:

     - Anh Chuông đâu, bảo đến gặp tôi trên máy. Tôi chẳng hiểu chuyện lành hay dữ, chỉ nghĩ, được gặp Chính ủy Huỳnh Đắc Hương tức là được nói rõ với Mặt trận ý đồ về trận đánh mà mình đã dự định thì tốt biết bao. Tôi hối hả cầm máy:

     - Báo cáo Chính ủy, tôi, Chuông đây.

     - Thế nào, vẫn khỏe chứ?

     Chính ủy Huỳnh Đắc Hương hỏi thăm sức khỏe rồi hỏi tiếp ngay về chuyện chiến đấu của trung đoàn. Tôi định báo cáo một cách cặn kẽ về tình hình trung đoàn thì Chính ủy Huỳnh Đắc Hương gạt đi:

     - Vấn đề đó đã nghe anh Hòa, anh Sinh báo cáo. Mặt trận nắm được cả rồi. Bây giờ anh hãy báo cáo cho biết phương án tác chiến của trung đoàn, những nét chính thôi, cùng với việc tổ chức sử dụng lực lượng ra sao.

     - Thưa anh, phương án tác chiến, trung đoàn báo cáo với sư đoàn, sư đoàn đã báo cáo lên Mặt trận cả rồi. Mặt trận duyệt là chúng tôi chấp hành. Cụ thể, trung đoàn tổ chức ba đội đột kích, mỗi đội bốn đến năm mươi tay súng. Trên cho đại đội tăng và tiểu đoàn pháo 130 ly mới đảm bảo chắc tay, đánh nhất định thắng...


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 16 Tháng Mười Một, 2009, 10:56:49 pm
      Chính ủy Huỳnh Đắc Hương cắt ngang:

     - Sao lại phải có tăng pháo mới đánh được? Anh lại "vũ khí luận" phải không?

    - Thưa anh, không phải thế. Đã ba năm nay trung đoàn tôi chiến đấu trên đất bạn dưới sự chỉ huy lãnh đạo trực tiếp của các anh, đã đánh thắng rất nhiều trận mà chưa hề có xe tăng với pháo lớn đi cùng. Nhưng lần này chúng tôi phải đề nghị trên cho xe tăng và pháo lớn là xuất phát từ tình hình thực tế của chiến trường và của đơn vị. Tôi biết rằng, giải quyết trận chiến đấu này được vẫn phải do con người những chiến sĩ của trung đoàn. Nhưng đến nay lực lượng trung đoàn đã bị tiêu hao chỉ có thể tổ chức được ba đội đột kích. Trong khi đó, về điều kiện chiến trường, ta đã mở được con đường có thể triển khai xe tăng và pháo lớn, ta lại có xe tăng và pháo lớn ngay tại Mặt trận, vì thế trung đoàn mới dám đề nghị lên trên một phương án đánh vào Long Chẹng có xe tăng và pháo lớn đi cùng. Như vậy đâu phải "vũ khí luận", Thủ trưởng?

     - Thôi được, anh cầm máy nói chuyện với Tư lệnh.

     Tư lệnh trưởng Vũ Lập giọng sang sảng trong máy:

     - Chuông đấy à?

      -Vâng, tôi đây!

     - Tôi đã nghe anh báo cáo với anh Hương. Tôi ngồi cạnh đã nghe hết cả rồi, không phải báo cáo nữa. Chúng tôi đồng ý phương án tác chiến của trung đoàn, đồng ý tăng cường cho một đại đội tăng, một tiểu đoàn pháo 130ly Các cậu đảm bảo chắc thắng không?

      - Báo cáo anh, được ạ!

     - Nhớ là phải tổ chức lực lượng đột kích đủ mạnh và thật chặt chẽ trong cách đánh hiệp đồng với xe tăng và pháo binh mới tạo nên sức mạnh. Nhất là từ bây giờ phải đảm bảo con đường xuất kích của xe tăng kịp thời đêm mai nổ súng. Thôi nhé, còn gì hỏi sau. Anh báo cáo ngay với anh Hòa và anh Sinh là Mặt trận đồng ý phương án tác chiến của trung đoàn như hai anh đề nghị.

     Tôi mừng quá, thật là được lời như cởi tấm lòng. Mà chả cứ gì riêng tôi mừng, cả Sư đoàn trưởng Lã Thái Hòa, Chính ủy Phạm Sinh, Chính ủy trung đoàn Đỗ Trường Quân, Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng, các cán bộ cơ  quan ngồi gần cùng nghe, ai nấy đều vui vẻ phấn khởi. Cũng từ đấy trở đi, chẳng thấy ai nói gì đến ba cái từ “Vũ  khí luận" nữa.

*
*    *

     Nói cứng thế nhưng không phải là không rất lo cho nhiệm vụ của trung đoàn. Tôi liền trao đổi ý kiến với anh Quân là họp ngay thường vụ và chỉ huy trung đoàn bàn kỹ hơn về phương án tác chiến, về cách sử dụng lực lượng, tổ chức cách đánh. Cuộc họp có cả sư đoàn trưởng và chính ủy cùng dự. Trong khi chúng tôi họp thì cơ quan tham mưu đã triệu tập những cán bộ tiểu đoàn lên để nhận nhiệm vụ.

     Họp xong, tôi khẩn trương đến giao nhiệm vụ cho các tiểu đoàn:
   

      - Trung đoàn đã bàn và phân công cho các tiểu đoàn như sau:

      Tiểu đoàn 6 được tăng cường hai xe tăng đánh vào cụm phía tây bắc Nam Cha, đồng chí Tiểu đoàn phó trực tiếp làm đội trưởng đội đột kích. Tiểu đoàn 5 được tăng cường hai xe tăng, đồng chí Tiểu đoàn phó làm đội trưởng đánh vào cụm phía đông Nam Cha. Hai tiểu đoàn cố gắng tổ chức đội dự bị từ mười lăm đến hai mươi tay súng. Tiểu đoàn 4 cũng được tăng cường hai xe tăng làm lực lượng dự bị cho các Tiểu đoàn 5 và 6. Khi hai tiểu đoàn này đã hoàn thành nhiệm vụ thì Tiểu đoàn 4 lập tức đánh vào sở chỉ huy tướng Vàng Phao. Ai còn ý kiến gì hỏi không? Không à? Vậy các đồng chí sang gặp tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng nhận tiếp về kế hoạch hiệp đồng đảm bảo đường cho xe tăng xuất kích. Hai mươi giờ ngày mai nổ súng.

     Các cán bộ tiểu đoàn đều tỏ ra phấn khởi, tin tưởng trận đánh có xe tăng đi cùng và pháo lớn yểm trợ thì nhất định sẽ hoàn thành nhiệm vụ.

     Tuy vậy, cán bộ trung đoàn chúng tôi vẫn rất lo vì mấy ngày hôm nay địch bắn phá liên tục. Sáng hôm sau, khi chúng tôi triển khai lực lượng, bom pháo địch lại càng dồn dập hơn, tiếng nổ cứ như sấm rền, rung trời chuyển đất, nhức óc đinh tai, bụi đất, khói lửa bốc lên ngùn ngụt rồi tỏa xuống mịt mù cả một vùng chung quanh Long Chẹng. Điện thoại trên dưới đứt, nối không kịp. Trong mấy tiếng đồng hồ của buổi sáng, tôi chẳng nắm được tình hình đơn vị nào cả. Mọi người trong sở chỉ huy đứng ngồi không yên, chẳng hiểu đơn vị đã chuẩn bị đến đâu cho trận đánh hôm nay, có anh em nào bị thương không? Bốn giờ chiều, địch đánh càng mạnh hơn. Các cán bộ được phép xuống giúp đỡ các tiểu đoàn chẳng thấy ai về báo cáo cả. Đến năm giờ chiều thì cường độ bắn phá của máy bay địch có giảm đi, các cán bộ phái viên trở về đầy đủ, đường dây liên lạc trên dưới thông suốt, cơ quan tổng hợp tình hình mới biết các đơn vị vẫn an toàn và đang chuẩn bị chiến đấu. Đặc biệt các cán bộ đều ra thực địa để quan sát mục tiêu tấn công và nắm kế hoạch hiệp đồng. Nghe báo cáo tình hình, tôi thực sự yên tâm, chỉ nhắc cơ quan tham mưu tăng cường đôn đốc kiểm tra về thời gian, từ sáu giờ, lực lượng công binh phải bắt đầu ra đường gỡ mìn bảo đảm cho xe tăng xuất kích an toàn.

     Thời gian trôi đi trong sự hồi hộp không của riêng ai. Lúc bảy giờ tối, các đơn vị đã tiến vào vị trí xuất phát tấn công thì lại càng hồi hộp hơn. Chỉ đến giờ nổ súng tấn công, pháo binh ta cấp tập dội xuống đồn thù thì mới hoàn toàn tin rằng cái gì đến chắc chắn sẽ đến.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 16 Tháng Mười Một, 2009, 10:58:30 pm
     Phải nói trận này đối với tôi là một thử thách khá quyết liệt cả về ý chí và trí tuệ quân sự. Rõ ràng đây là một trận đánh cần phải phát huy sức mạnh xe tăng và pháo lớn nhằm đánh sập ý chí của quân địch, nhất là bọn phỉ Vàng Pao. Lúc chiều, tôi đã gặp cán bộ xe tăng, nói rất rõ ý nghĩa của trận đánh này đối với xe tăng và pháo lớn hỏi xem anh em còn có điều gì băn khoăn. Họ chỉ yêu cầu công binh phải gỡ mìn cho sạch. Tôi nói với anh em:

     - Chúng tôi rất tin tưởng đơn vị các đồng chí sẽ đánh thắng trận này. Tôi được biết, đơn vị các đồng chí, có trận xung phong ban ngày, máy bay địch lồng lộn bắn cản đường xe bọc thép của các đồng chí, vậy mà xe các đồng chí vẫn cứ xông thẳng vào đội hình quân địch khiến chúng phải tháo chạy. Là người chỉ huy, tôi nhìn rõ và vô cùng cảm phục các chiến sĩ lái xe bọc thép dũng cảm của đơn vị các đồng chí, góp vào chiến thắng Sảm Thông. Nhiệm vụ Lần này đánh vào Long Chẹng là lần đầu tiên xe tăng của đơn vị các đồng chí được tung hoành tại căn cứ cuối cùng của tướng phỉ Vàng Pao. Chỉ riêng sự xuất hiện của xe tăng cũng là một sức mạnh khó có gì thay thế. . .

     Bây giờ, ngồi trước tấm bản đồ nhìn vào điểm chấm các đồn giặc và các mũi tên của quân ta tiến đánh, tôi vừa hồi hộp vừa lo âu. Chỉ còn mười lăm phút nữa là giờ tôi ra lệnh nổ súng, đó là giờ các cán bộ chiến sĩ của tôi phải đối mặt với kẻ thù, phải đối mặt giữa cái sống và cái chết để đem lại vinh quang cho đơn vị. Tôi đã trưởng thành ở trung đoàn này, đã qua không biết bao lần chờ đợi giờ nổ súng, hồi hộp và xúc động. Nhưng sự chờ đợi giờ nổ súng của trận đánh hôm nay lại rất khác thường. Bởi lẽ kết quả của trận đánh hôm nay sẽ chứng minh chúng tôi có "vũ khí luận" hay không. Đang suy nghĩ thì Tham mưu trưởng Đỗ Phú Vàng nhắc tôi đã đến giờ nổ súng.

     Có lẽ cũng không cần nói rõ, nói kỹ về diễn biến của trận đánh, bởi vì đây là chuyện dường như nhiều người đã biết. Tôi chỉ muốn nói về đêm chiến tranh ở Long Chẹng hôm đó, sáng rực như ban ngày, có thể nhìn rõ cả xe tăng của ta lao đến vị trí xung phong của bộ binh, cùng lúc đó tôi hạ lệnh cho pháo binh bắn chuyển làn, lệnh cho hai Tiểu đoàn 5, 6 và xe tăng đã vào đồn giặc phía  bắc Nam Cha. Tiểu đoàn 5 cũng đã vào vùng phía đông. Địch sợ hãi chạy tóe ra. Quân ta đã bắt được ba mươi tù binh người Mẹo. Cuộc chiến đấu diễn ra không đầy một tiếng đồng hồ, quân ta đã làm chủ hoàn toàn hai cụm điểm tựa phía bắc và phía đông Nam Cha. Tiểu đoàn 4 cùng hai xe tăng tiến vào đánh sở chỉ huy của tướng phỉ Vàng Pao.

      Sẽ rất thiếu sót nếu không nói rõ ý nghĩa thắng lợi về mặt chính trị của trận đánh này. Từ lâu, Mỹ và tướng phỉ vàng Pao vẫn lừa bịp rằng người Mẹo là con trời nên được thần thánh bảo vệ. Không kẻ nào có thể xâm phạm đến đất của con trời. Người Mẹo bất cứ già trẻ nếu chiến đấu sẽ có trời che chở, đạn đối phương bắn không vào được, có vào cũng không bị chết. Vì thế trong đội quân người Mẹo, tên lính nào cũng có bùa hộ mệnh: Đến trận đánh này, con nhà trời cũng bị thương, bị bắt và bị chết, đất nhà trời cũng bị nghiền dưới xích xe tăng. Quân Mẹo không tin vua Mẹo, không tin thánh thần và không tin Mỹ nữa, quay lại tin Chính phủ Cách mạng Lào, quân đội Pa thét Lào.

     Còn với riêng tôi, tôi có một niềm tin thầm kín nhưng vì tế nhị mà lúc ấy không muốn nói ra rằng, "vũ khí luận" hay không phải “vũ khí luận” đã rất rõ ràng.

     Cho đến nay, đã sau hai mươi lăm năm, trận đánh Long Chẹng của Trung đoàn 165 có xe tăng và pháo lớn phối hợp, hẳn rằng chúng ta đều có thể kết luận được là "không phải vũ khí luận".


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 17 Tháng Mười Một, 2009, 08:29:30 am
ĐỐI ĐẦU Ở QUẢNG TRỊ

      Từ Cánh Đồng Chum kéo quân về nước, Bộ Tư lệnh sư đoàn phải triển khai hàng loạt công việc. Trong lúc toàn sư đoàn đang bận rộn, nhưng đến đơn vị nào tôi cũng thấy các đơn vị bàn nhiều tới chuyện đi phép. 'Thời gian này, tôi mới được điều từ trung đoàn lên làm Tham mưa trưởng sư đoàn, nên càng hiểu rõ mọi việc. Lệnh nghỉ phép chưa được phổ biến, nhưng từ cơ quân sư đoàn đến các tổ ba người đều có những tin đồn đại. Có người nói: "Sư đoàn chiến đấu ba, bốn năm liền, có thể được nghỉ phép đến một tháng rưỡi”. Lại có tin đồn "chỉ được nghỉ bảy ngày cả đi lẫn về thôi". Tranh luận vậy, nhưng mọi người vẫn thống nhất nhận định là trước sau trên cũng cho đi phép. Vì thế, có anh em đã mua sắm quần án, giày, mũ... về làm quà cho con. Có anh em lên đề nghị ban chỉ huy cho về cưới vợ. Trong từng chiếc ba-lô của các chiến sĩ, có biết bao vật kỷ niệm, tuy bé nhỏ nhưng chứa đầy ý nghĩa. Nào chiếc ca gò bằng ống hom bi, được khắc họa những đường nét khá đẹp; nào chiếc võng tết bằng những sợi dây dù, chiếc làn đan bằng cước; chiếc lược làm bằng mảnh xác máy bay do chính tay các chiến sĩ bắn rơi. Tất cả những vật kỷ niệm ấy dù nói rõ những ngày gian khổ, ác hệt, cũng chính là những ngày chiến sĩ ta sống đẹp nhất, yêu đời nhất và bồn chồn mong ngóng ngày nghỉ phép thăm gia đình.
      
        Hàng nghìn phong thư tới tấp bay ra hòm bưu điện rồi lại bay tiếp về các bản làng của đất nước. Những lá thư của con, của chồng hoặc bạn bè, người thân... vui mừng báo tin vừa ở chiến trường ra, sắp được về phép.

      Có một buổi chiều, tôi ra bờ sông Lam hóng mát cùng các chiến sĩ. Chúng tôi đang tranh luận, bàn tán về vẻ đẹp của dòng sông, bỗng một chiến sĩ hỏi tôi:

      - Báo cáo Thủ trưởng, bao giờ sư đoàn ta lại đi chiến đấu?

     - Theo lệnh của trên thì sư đoàn ta được về đây củng cố, bổ sung quân số, trang bị rồi tranh thủ huấn luyện. Khi nào đi chiến đấu thì chưa rõ, nhưng ta cứ phải sẵn sàng.

     - Nói thật với Thủ trưởng, tôi đã yêu một cô gái từ năm sáu tám, nhưng từ năm đó, sư đoàn ta toàn làm nhiệm vụ ở chiến trường.

     - Cậu lại muốn xin về cưới vợ chứ gì?

     - Hoàn cảnh tôi chỉ còn bố mẹ già yếu...

     - Sư đoàn ta có chủ trương giải quyết phép cho những cán bộ, chiến sĩ lâu năm đấy, nhưng còn phải chờ chỉ thị của trên.

      Thấy một tốp chiến sĩ mới tắm xong mặc quần áo tươm tất, đi từ dưới sông lên, tôi nói ngay:

     - Mới ra nghỉ có mười ngày mà trông các cậu trẻ hẳn ra đấy.

     - Thì chính nước sông Lam cũng là liều thuốc rất bổ ích rồi, Thủ trưởng ạ?

     Một đồng chí bê chậu chăn màn khệ nệ bước tới: Báo cáo Thủ trưởng, chăn màn của tôi bám đầy cát bụi của Cánh Đồng Chum. Khi được lệnh rút về củng cố, tôi đã cố ý đem về sông Lam giặt. Trời ơi, bụi gì mà đỏ cả nước sông như phù sa ấy.

     - Nghĩa là cậu muốn nói: đã góp một phần phù sa mầu mỡ cho dòng sông này chứ gì?

     - Đúng vậy Thủ trưởng ạ. Chỗ chúng tôi tắm cá mương nó cứ đến hàng đàn... Tôi phải cố gắng kỳ cọ, cho hết cái lớp phù sa mầu mỡ ấy để nay mai còn về phép chứ ạ! Nghe nói, Thủ trưởng cũng định đi phép về thăm “sư bà", không biết có đúng không?

     - Cũng có thể đúng đấy. Các cậu còn trẻ thì có tình cảm của tuổi trẻ, mình già cũng phải có tình cảm của tuổi già chứ.

     Tất cả các chiến sĩ đều cười vui vẻ.

     Trời đã gần tối, tôi chào họ ra về. Vừa bước chân tới nhà, anh Sinh, Chính ủy sư đoàn đã đưa cho tôi tờ giấy giới thiệu đi viện. Tôi băn khoăn:

     - Hiện nay công tác tham mưu còn một lô công việc chưa giải quyết, lúc này anh bảo tôi đến viện mà ngồi thì yên tâm sao được.

      - Trong chiến tranh, lúc nào mà công việc chẳng ngập đầu Sư đoàn vừa rút ra củng cố, kể cũng đến hằng trăm công việc phải giải quyết đấy. Nhưng dù sao, thì cũng không thể khó khăn, cấp bách bằng trong lúc chiến đấu. Bộ Tư lệnh chủ trương thu xếp cho anh đi chữa dạ dày, anh Hàn, Tham mưu phó và anh Nhã, Chủ nhiệm chính trị đi an dưỡng. Bây giờ, ta cũng chỉ còn cách dùng người khỏe làm thêm phần việc của người yếu để các anh có chút thời gian đi bồi dưỡng lại sức khỏe. Nếu không, nay mai nhận nhiệm vụ chiến đấu gấp, phải vắt chân lên cổ mà chạy, không khéo cái dạ dày của anh nó bục ra mất.
   
      Tôi vừa nhận giấy giới thiệu đi viện chưa đầy một tiếng đồng hồ thì sư đoàn nhận được điện của Bộ Tổng tham mưu: "Toàn sư đoàn hành quân gấp vào mặt trận B.5 nhận nhiệm vụ chiến đấu. Tân binh và các trang bị trên sẽ điều đến ngay". Lúc này, túi áo bên trái của tôi thì đựng giấy giới thiệu đi viện, túi phải đựng lệnh chiến đấu. Cho mãi khi hành quân được một tuần, lục túi áo tôi mới nhớ mình còn tờ giấy giới thiệu đi viện.
*
*    *


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 17 Tháng Mười Một, 2009, 08:32:10 am
      Cuộc hành quân của sư đoàn vào Quảng Trị, có thể nói, đã đi bằng mọi phương tiện. Đi bộ, đi bằng tàu hỏa, ô- tô, tàu thủy, thuyền xuồng. Nhưng dù đi bằng phương tiện nào thì cũng không ngoài tầm hoạt động của máy bay và pháo binh địch.

      Khi thì B.52 thả bom dọc đội hình, lúc thì máy bay đón đầu, chặt đuôi, khi thì pháo biển bắn dai dẳng hàng tiếng. Đêm đêm, bầu trời lúc nào cũng sáng rực bởi những chùm pháo sáng treo lơ lửng. Mặt đất luôn có những ánh chớp, những tiếng nổ rung trời. Những đoàn xe, pháo phủ kín lá ngụy trang cứ vượt lên bom đạn mà đi. Xe nào trúng bom thì ẩy sang bên đường, xe khác lại tiếp tục vượt lên, nhảy chồm chồm trên mặt đường gồ ghề, lởm chởm những tảng đá, gốc cây. Chốc chốc, lại một hố bom sâu hoắm chắn ngang đường. Bộ đội từ trên xe ào xuống, cùng anh chị em xung phong, không biết từ đâu chạy đến san đường. Đường vừa sửa xong, những đoàn xe lại nối nhau ào tới, vội vã. Con đường trải dài, uốn lượn trên những địa hình miền Trung ầm ào bom đạn. Mọi người đều biết, mình đang sống trong những ngày sục sôi, quyết liệt.

      Ngày nào Bộ Tư lệnh sư đoàn cũng nhận được điện có xe cháy, có người bị thương. Đã có một số cán bộ, chiến sĩ ngã xuống trên con đường lửa bỏng này.

     Mấy hôm trước, đồng chí Sinh, Chính ủy sư đoàn bị thương phải đi viện. Hôm nay, tôi lại nhận được một tin sét đánh: Đồng chí Trung và đồng chí Xiên là hai cán bộ tiểu đoàn đã từng tham gia chỉ huy hàng chục trận đánh, cũng hy sinh rồi. Làm thế nào để giảm được xương máu chiến sĩ trên dọc đường hành quân? Dừng lại ư, không được! Tìm con đường khác ư? Không thể có? Vậy thì chỉ còn cách “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến", đồng thời phải nắm chắc các quy luật hoạt động của địch. Phải tổ chức cho bộ đội hành quân từng khối nhỏ, từng người đi cũng phải cách nhau xa. Khi đến vị trí trú quân nhất thiết phải ở phân tán, phải ngủ dưới hầm. Các đơn vị pháo cao xạ của sư đoàn phải đi trước một bước, bố trí ở những nơi trọng điểm, cùng với các đơn vị phòng không, đánh trả địch quyết liệt, thu hút địch, đánh lừa địch và phân tán lực lượng của chúng.

      Vào một đêm, chúng tôi dừng chân ở một xóm ven đường số một thuộc tỉnh Quảng Bình. Tôi được một cô dân quân dẫn đến căn nhà nhỏ. Bà chủ nhà đang ở dưới hầm thấy chúng tôi lịch kịch cuốc xẻng vội đằng hắng:

      - Ấy chết? Các chú định đào hầm nữa đấy à! Thôi, các chú nỏ phải đào nữa. Xuống đây, xuống hầm tôi mà ngủ.

     - Bà cứ để chúng tới đào kẻo hầm của gia đình chật rồi!

     Bà chủ nhà gọi những người ở trong hầm:

      - Bay đâu! Dậy, dậy sang hầm khác, để hầm này cho các chú bộ đội ngủ.

     Thấy ba cháu nhỏ và một cô gái từ trong hầm chui ra, tôi hỏi:
   

       - Các cháu nhà ta cả đấy chứ?

     - Không phải mô. Năm người ngủ trong hầm này là của năm gia đình đấy. Từ ngày thằng Mỹ đánh phá ác liệt, chúng tôi cứ phải nằm ngủ phân tán như vậy để nhỡ có hầm nào trúng thì không chết cả nhà chú ạ?

      Chỉ một thoáng, tôi đã thấy cô gái và mấy cháu nhỏ chui hết và các hầm xung quanh. Còn bà chủ nhà thì cố giằng chiếc ba-lô của tôi:

      - Chú đưa đây, đưa đây để tôi chuyển vào hầm giúp nào. Trời ơi? Chú có tuổi rồi mà vẫn phải đeo nặng thế này à? Hầm này chúng tôi thường nằm bốn, năm người đấy. Nhưng nếu là chỉ huy thì chỉ nằm hai thôi. Khi nào bom  nó đánh gần thì phải ngồi dậy chú nhé?

      Tôi bật đèn pin soi lên nóc hầm, thấy những cây gỗ lát hầm to bằng cây chuối đã bào nhẵn bóng. Tôi hỏi:

     - Ở đây nhân dân cẩn thận quá, gỗ lát hầm cũng phải bào hả bà.

     - Toàn cột nhà cả đấy chú à. Ngày chúng mới đánh phá, chúng tôi đã phải chặt cả tre, cả cây ăn quả để làm hầm. Sau này bom Mỹ thả nhiều bộ đội vô ngày một đông, chúng tôi đã dỡ nhà ở để làm hầm đấy.

      - Thế bà không tiếc à?

      - Tiếc lắm chứ chú! Nhưng mình dỡ đi thì sau này mình còn làm được. Nếu tiếc của, tiếc công thì người cũng chẳng còn. . .

     Trò chuyện một lát, bà chủ nhà với lên khỏi hầm và biến vào bóng tối.

     Tôi vừa nằm xuống thì căn hầm bỗng chuyển động rầm rầm như đất sập. Những tiếng nổ liên tiếp dội vào hầm cùng với đất bụi và khói bom khét lẹt. Tôi vội choàng dậy nhìn ra ngoài cửa hầm lằng nhằng vệt chớp. Có lẽ lúc này bà vẫn đi trên mặt đất. Tôi đang lo cho bà thì bỗng có tiếng khóc thét lên. Lại một bom nữa nổ quanh hầm. Đất tung, cây đổ, rồi tiếng khóc lại nổi lên như một âm thanh không gì dập tắt được. Tôi định vụt ra khỏi hầm xem sao thì loạt bom thứ ba nổ tiếp, dứt loạt bom, tiếng gọi nhau:

      - Hầm bà Tâm sập rồi, mang cuốc, xẻng tới đây mau lên!

      - Con Lan nhà tôi nó sinh cháu, làm thế nào bây giờ các bà...?

      - Ối trời ơi? Tôi chết mất.

      - Tổ cha cái thằng Ních-xơn!

     Mấy đồng chí bộ đội đã kịp thời đến đào bới những căn hầm bị sập.

     Căn hầm có tiếng khóc ban nãy có một cháu bé mới sinh. Đồng chí y tá cắt rốn và bọc cháu trong chiếc màn, cháu thôi khóc. Dứt một loạt bom nữa, những người bị thương được nhanh chóng chuyển đến trạm xá, những người chết được khiêng về một căn nhà đổ. Nhìn hàng chục con người cả dân, cả bộ đội nằm bất động trên nền đất lòng tôi đau thắt lại. Tôi định cử một tổ chiến sĩ ở lại mai táng thì một bà mẹ đã nói:

      - Các con có nhiệm vụ cứ tiếp tục lên đường, còn các chú hy sinh ở đây đã có hội mẹ chiến sĩ và nhân dân chôn cất. Chỉ xin các chú cho biết họ, tên, đơn vị và địa chỉ gia đình để sau này nhận cho dễ. Các con đừng lo gì cả. Ở đây, mỗi chú hy sinh chúng tôi đều cử một bà mẹ thăm nom mộ chí. Nếu ai bị thương ở đây lâu thì mỗi người sẽ có một bà mẹ đỡ đầu. Rồi bà quay sang đưa cho tôi một gói chanh:

      - Chanh còn non, các con cứ chịu khó đem đi ăn cho đỡ khát nước.

     Khi nhận gói chanh tôi mới có dịp nhìn kỹ bà. Có lẽ bà cũng chỉ bằng hoặc hơn tôi một vài tuổi, nhưng bà vẫn xưng với tôi là "mẹ" gọi tôi là "con" một cách bình thản. Và tôi nhận ở bà một tấm lòng cao cả của một người mẹ.

*
*     *


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 17 Tháng Mười Một, 2009, 12:27:32 pm
     Toàn sư đoàn hành quân bằng cơ giới đến Cự Nẫm thì phải dừng lại chuyển sang đi bộ. Lúc này anh Thái, Tư lệnh và anh Sóng, Tham mưu phó phải đi trước vào Bãi Hà nhận vị trí tập kết. Bộ Tư lệnh sư đoàn chỉ còn anh Xuyên, Phó Chính ủy, anh Quân, Chủ nhiệm Chính trị, anh Văn Lang, Chủ nhiệm Hậu cần và tôi. 

     Đang hành quân cơ giới, chuyển sang đi bộ, những  khó khăn mới lại đẻ ra. Một mặt, cơ quan tham mưu phải cử gấp bộ phận đi tìm đường, đặt cung chặng, nghiên cứu quy luật đánh phá của địch, mặt khác, phải cử người xuống các đơn vị tổ chức lại thành từng khối, giải quyết tư tưởng cho bộ đội. Không những các chiến sĩ phải hành quân bộ mà còn phải cõng trên lưng tới nửa tạ trang bị, súng đạn...

     Trong lúc mọi khó khăn đang chồng chất thì lại một khó khăn nữa đẻ ra: Tất cả các đơn vị đều báo cáo hết gạo. Trung đoàn 209 đã có đại đội phải ăn cháo. Sư đoàn gần một vạn con người đang nằm trong vùng trọng điểm địch đánh phá lại chịu đựng cái đói ập đến. Chúng tôi đã cử  người đi liên hệ với các binh trạm, nhưng các đồng chí đều trả lời: "Địch đánh phá ác liệt quá, gạo chưa chở vào kịp".

     Giữa lúc mặt trận đang từng ngày, từng giờ giục giã, mà chúng tôi cứ phải giậm chân tại chỗ vì hết gạo, thật tai hại vô cùng. Lòng dạ chúng tôi như lửa đốt, anh Quân chốc chốc lại sang hỏi:

     - Đã có cách nào mới để có gạo chưa anh?

     - Gay lắm anh ạ. Có lẽ phải lệnh cho cơ quan ăn cháo đi. Đã đến lúc hết gạo rồi, mà ở cái đất bom cày, đạn xới này chắc chẳng đào đâu ra củ mài, củ mỡ mà ăn.

     Chúng tôi còn đang xoay như chong chóng để giải quyết vấn đề gạo thì lại có đoàn cán bộ "khung" đến bàn giao cho sư đoàn trên hai nghìn tân binh. Khi mới nghe được nhận tân binh, anh Xuyên đã rỉ tai tôi:

     - Ta phải tranh thủ nhận ngay đi, tôi hy vọng anh em đem được nhiều gạo đấy.

     Đến khi bàn về kế hoạch giao, nhận quân, đồng chí đoàn trưởng đơn vị tân binh mới thiết tha đề nghị:

     - Chúng tôi định giao quân cho các anh từ ngoài Nam Đàn, nhưng các anh đi nhanh quá, chúng tôi phải đuổi vào tận đây mới gặp. Chúng tôi đi mất một tuần ngoài kế hoạch lương thực mang theo. Bây giờ, mong các anh nhận cho chúng tôi sớm ngày nào hay ngày ấy.

     Tôi và anh Xuyên nhìn nhau thất vọng, đồng chí trợ lý tác chiến đề nghị:

    - Trong khi mình đang thiếu gạo chưa có cách khắc phục mà lại nhận tân binh thì gay quá. Các đồng chí tân binh mới chân ướt, chân ráo về đơn vị mà phải ăn cháo, e rằng về mặt tư tưởng của anh em sẽ nảy sinh vấn đề. . .

     - Đơn vị có khó khăn thì phải giải thích cho các đồng chí ấy hiểu. Đã đi tới cửa ngõ chiến trường mà không chịu nhận tân binh để kịp thời biên chế thì đợi đến bao giờ. Vả lại, ở đơn vị tân binh cũng hết gạo rồi.

      Sau khi bàn đi tính lại, sư đoàn quyết định nhận số tân binh trên hai nghìn người. Riêng vấn đề gạo, tôi đề nghị cử người lên tỉnh vay.

     Nghe tôi nói vậy, có đồng chí bảo:

     - Địch đang đánh phá ác liệt, sản xuất gặp nhiều khó khăn, nhân dân ăn cháo không đủ, lấy đâu ra gạo cho vay...

     - Các anh cứ để tôi đi liên hệ xem sao. Chẳng được nhiều thì được ít. Cứ phải đến tận nơi xem tình hình như thế nào đã chứ?

     Nghe tôi nói cũng có lý, các anh đều đồng ý. 

     Ngày hôm sau, tôi cùng anh Văn Lang, Chủ nhiệm Hậu cần, được cử về tỉnh vay gạo. Trên đường đi, chúng tôi cứ bàn đi tính lại cách trình bày thế nào để các đồng chí lãnh đạo tỉnh cho vay.

    - Anh phải đưa bức điện của Bộ gợi ý vay gạo ra. Phải có cái thế của trên may ra các đồng chí ấy mới giải quyết.

      -Không, không được? Làm như thế khéo lại thất cách. Anh không thấy người dân ở tuyến lửa này rất thương bộ đội hay sao? Phải nói có tình, có lý, phải nêu hết khó khăn trong hoàn cảnh sư đoàn đi chiến đấu gấp để các đồng chí ấy hiểu mình . . .

     Khi đến ủy ban hành chính tỉnh, chúng tôi được gặp đồng chí Phó Chủ tịch. Anh rót nước mời chúng tôi uống rồi hỏi luôn:

     - Các anh có việc gì cần giải quyết không? Đang thời chiến chúng tôi bận nhiều việc lắm, mong các anh thông cảm.

     Được đồng chí Phó Chủ tịch nói vậy, tôi đành nói thẳng vào vấn đề:
   
     - Báo cáo anh: chúng tôi phải đến đây lúc này cũng là việc bất đắc dĩ. Sư đoàn chúng tôi được lệnh hành quân gấp vào Quảng Trị nhưng đi tới đây thì hết gạo...

     - Các anh cứ yên tâm, nhân dân Quảng Bình có chết đói thì bộ đội mới phải đói. Chúng tôi sẽ báo cho nhân dân địa phương nơi các anh đóng quân xay giã thóc dự trữ cho các anh vay tám mươi tấn.

     Tôi và anh Văn Lang ra về, mừng như mở cờ trong bụng. Mới ra khỏi cơ quan tỉnh, anh Văn Lang đã nói:

     - Tôi thật không ngờ sự việc lại được giải quyết chóng vánh đến như vậy. Thật đúng là "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong". Đến bây giờ tôi càng thấm thía thêm ý nghĩa câu nói ấy.

     Về tới sư đoàn, thì sau một ngày chúng tôi đã thấy khắp nơi dân tấp nập xay lúa, giã gạo đem đến cho bộ đội. Thế là khó khăn về mặt lương thực đã được giải quyết. Tất cả các đơn vị trong sư đoàn đều nhận tân binh xong. Toàn sư đoàn tiếp tục hành quân.

    Từ đầu tháng 10 ở Quảng Trị đã bước vào mùa mưa. Những trận mưa tầm tã suốt ngày đêm kéo dài  hàng tháng trời làm cho miền đồng bằng ven biển ngập nước trắng băng. Đứng trên những vùng đồi cao nhìn về ven biển chỉ thấy nước mênh mông ôm lấy những xóm làng xanh như một tàu lá sen rách nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Những bến ngầm trước đây nửa tháng, xe cơ giới vẫn qua lại, giờ đây đã bị vùi sâu xuống đáy nước. Những còn đường đất phẳng phiu, giờ in hình hai vệt bánh xe như hai dãy chiến hào chạy dọc theo đường. Khắp mặt đường bùn nhầy nhụa, nhão nhoẹt như ruộng cày. Hai bên đường lỗ chỗ những hố bom, hố pháo, đựng đầy nước đục ngầu.    Những đơn vị đào hầm trú quân ở vùng ruộng thấp đã phải bỏ vị trí chuyển lên đồi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 17 Tháng Mười Một, 2009, 12:29:34 pm
     Lợi dụng những khó khăn của ta trong mùa mưa, địch tập trung sức lực chiếm lấy thị xã Quảng Trị. Sau khi chiếm được thị xã, Thiệu càng huênh hoang hô hào rùm beng là chiếm lại Đông Hà, chiếm lại đầu cầu Hiền Lương, lấy lại toàn bộ đất đai đã rơi vào tay "Cộng sản". 

     Trước tình hình trên, Bộ Tư lệnh mặt trận Trị - Thiên quyết định đưa toàn bộ Sư đoàn 312 vào tập trung chiến đấu. Anh Thái, Tư lệnh sư đoàn và tôi cùng lên mặt trận nhận lệnh. Buổi họp nhận lệnh hôm đó, chúng tôi được gặp đồng chí Song, đồng chí Cao và đồng chí Trọng. Đồng chí Song phân tích cho chúng tôi nghe khá tỉ mỉ về tình hình địch, ta, những triển vọng ở hội nghị Pa-ri và những chủ trương hiện nay của Trung ương Đảng. Sau đó, đồng chí giao nhiệm vụ cho chúng tôi: Sư đoàn 312 có nhiệm vụ vào thay thế Sư đoàn 308, 304, ngăn chặn và tiêu diệt quân địch, chốt vững kết hợp với tiến công, phản kích giữ bằng được động ông Do, Chùa Nga, điểm cao 132, Tích Tường, Như Lệ. Bằng giá nào cũng phải bám trụ được ở Nam sông Thạch Hãn, bảo vệ được con đường 15N. Không cho địch thực hiện ý đồ đẩy ta sang phía Bắc sông. Hiện nay, bọn địch đang điên cuồng tập trung phi pháo đánh phá và dùng bộ binh, xe tăng lấn từng tấc đất. Cần động viên, giáo dục bộ đội giữ vững quyết tâm, đồng thời phải vận dụng những hình thức tác nhiên linh hoạt thì mới hoàn thành được nhiệm vụ.

     Vừa nhận lệnh xong, anh Thái đã giục mấy đồng chí cán bộ, chiến sĩ cùng đi:
   
     - Các đồng chí thu dọn trang bị mau lên để còn lên đường vào với đơn vị chứ?

     - Bây giờ trời nắng, đường đi lại trống trải, máy bay L.19 nó soi mói như cú vọ, không đi được đâu, thủ trưởng ạ.

     Mỗi đồng chí chặt một cành cây vác theo làm ngụy trang, đi cách nhau xa xa ra, khi nào có máy bay thì dừng lại Tình hình này nếu ta không vào kịp để chỉ đạo đơn vị tác chiến thì chẳng mấy ngày nữa địch có thể tràn ra tận Đông Hà. Bây giờ có phải vượt qua bom nổ chậm cũng phải lao vào.

     Thế là chúng tôi lên đường. Khi đến bờ sông Thạch Hãn, nhìn dòng nước lũ chảy băng băng, tôi đề nghị với anh Thái:

     - Có lẽ anh nên để tôi và các đồng chí cơ quan đi trước, còn anh đợi các đồng chí công binh đưa thuyền cao su chở sang.

     - Bơi, bơi tất cả. Cởi quần áo ra, còn chờ thuyền với phà gì nữa?

     Anh vừa nói, vừa hạ ba-lô rồi cởi cả quần áo ra. Mấy cậu vệ binh cứ tò mò nhìn trộm thủ trưởng rồi lại cắn môi nhịn cười. Anh bám vào một cành cây, lội xuống nước, nhưng dòng nước chảy mạnh quá đã xô anh ngã giụi xuống. Tôi chỉ nghe "ối" một tiếng đã thấy anh và cành cây trôi đi hàng chục mét rồi. Mấy cậu vệ binh vội nhảy ào xuống bơi đuổi theo anh. Tôi đứng trên bờ nhìn anh không hề chớp mắt, miệng giục cuống quýt:

     - Mau lên, các cậu bơi mau lên nào!

     Dòng nước lúc này càng như một con thú dữ, nó vừa quăng quật vừa gầm réo như một chảo nước khổng lồ đang sôi. Khoảng cách giữa anh Thái và mấy cậu vệ binh chỉ chưa đầy chục mét mà sao khó bắt kịp nhau đến thế. Có lúc, tôi đã thấy anh bị sóng xô chìm nghỉm làm tim tôi như thắt lại, nhưng rồi lại thấy anh ngoi lên được, vùng vẫy trong đám củi mục. Mãi đến khi bị dòng nước cuốn đi tới hai trăm mét, tôi mới thấy anh bám được vào mấy cây lau ở bờ bên kia sông. Lúc này tôi mới thật sự hoàn hồn.

     Vừa đến sở chỉ huy sư đoàn, tôi lại tức tốc đến Sư đoàn 308 gặp anh Hữu An lúc này là Tư lệnh trưởng sư đoàn. Hồi năm 1971, anh Hữu An làm Tư lệnh phó mặt trận Miền Tây, tôi lại được trao đổi với anh nhiều lần trong công tác. Hôm nay gặp lại anh, tôi rất mừng. Anh nói chuyện với tôi thân mật như một cán bộ cùng trong sư đoàn. Trông anh độ này gầy và xanh đi nhiều so với hồi ở chiến trường Miền Tây.

     Sau khi bàn giao các điểm chốt trên bản đồ, anh Hữu An lấy từ trong chiếc cặp da đưa cho tôi một tập tài liệu:

     - Đây là tài liệu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vừa gửi cho tôi. Nội dung: Đại tướng hướng dẫn khá tỉ mỉ về cách tổ chức trận địa phòng ngự. Anh cầm lấy mà nghiên cứu.

     Tôi cầm tập tài liệu dày 15 trang đọc đi đọc lại và thấy rằng, trong tình hình này, đúng là nếu ta rút ra phòng ngự thì chắc chắn sẽ có nhiều lợi thế hơn tiến công. Nhưng vì chưa có lệnh của mặt trận, nên chưa có đơn vị nào chuyển sang phòng ngư một cách dứt khoát.

     Tôi đọc xong bức điện, anh Hữu An bảo:

    - Các cậu ở lại ăn với mình bữa cơm rồi hãy về!

     Khi ngồi xuống mâm cơm, tôi chỉ thấy vẻn vẹn có một bát canh rau tàu bay và một bát ruốc. Hơi cơm bay lên sặc mùi gạo mốc. Tôi nói vui:
   
     - Tưởng Thủ trưởng đãi em món gì, hóa ra có thế này thôi ư?

     - Thế này là sang lắm rồi đấy. Độ này vừa có mưa, rau tàu bay nó mới nhú lên được vài ngọn, chứ trước đây đến cỏ cũng chẳng có mà nguy trang hầm. Ở chiến trường Miền Tây còn có rừng núi che chở, chứ ở đây toàn đồi trọc, tìm cây củi đun có lúc cũng khó khăn. Hầm hào nước ngập cả rồi. Biết bộ đội mình phải chuyển lên đồi, nên bọn địch nó cứ nhằm vào những quả đồi mà ném bom, bắn pháo tới.
Nó đánh gấp hàng trăm lần chiến trường Miền Tây ấy, rồi nó lại giở đủ mọi thủ đoạn như tung biệt kích, thăm dò, phục kích, tập kích, lấn dũi... Các cậu vào kỳ này đang lúc mặt trận gặp khó khăn. Thời tiết cứ mưa bão liên miên, gạo, đạn trên đưa vào không kịp. Xe tăng, pháo lớn ở đây cũng chỉ còn mười viên đạn, khi nào cần thiết lắm mới được bắn. Gạo nếu tải được nhiều thì ăn cơm, khi không tải được thì ăn cháo. Thực phẩm phải "tự túc" bằng cách hái rau môn thục, rau tàu bay, bắt cua suối... hoạ hoằn mới được cấp ít thịt hộp. Các cậu ở ngoài đó có mang được gì vào thì cho cánh này một ít. Cậu trông quần áo mình bẩn như thế này mà cũng chẳng có xà phòng giặt đâu.

     Thật ra, tôi cũng không thể ngờ rằng mọi việc ở đây lại khó khăn, gian khổ đến như vậy. Cũng may, tôi còn để trong ba-lô được mấy lạng tép khô, mấy củ tỏi và một bánh xà phòng. Tôi đem cả ba thứ chia đều cho anh Hữu An một nửa. Được mấy củ tỏi tôi cho, anh Hữu An cười đắc ý:

     - Quý hóa quá? Toàn cán bộ cấp "sư" mà đem biếu nhau mấy củ tỏi còn gì quý bằng. Giá nó là vật để được thì tôi phải giữ làm kỷ niệm.
   
*
*  *


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 17 Tháng Mười Một, 2009, 12:32:03 pm
     Trước khi có lệnh toàn sư đoàn trở về tập trung chiến đấu thì Trung đoàn 209 vẫn đang làm nhiệm vụ tiến công địch ở khu vực Tích Tường, Như Lệ; Trung đoàn 141 thì đang căng ra, dàn thành hàng ngang vừa đánh, vừa giữ từ điểm cao 105, 24. Đồi Cháy, Đồi Đá đến chân động ông Do, dài tới tám kilômét. Chỉ riêng có Trung đoàn 165 vừa được rút ra bờ bắc sông Thạch Hãn củng cố, bây giờ lại quay vào.

     Theo nhiệm vụ trên giao thì cả sư đoàn phải đảm nhiệm giữ toàn bộ khu vực Trung đoàn 209 và Trung đoàn 141 đang giữ. Đồng thời phải nhận thêm một số chốt khác do Trung đoàn 308 bàn giao lại. Nhưng cũng trong thời gian này, sau khi đã chiếm được thị xã Quảng Trị, bọn địch đang dồn sức lực và bom đạn tiến công ra hai hướng: Đông bắc và Tây bắc.

     Để thực hiện mưu đồ trên, riêng hướng động Ông Do, phạm vi thì chỉ có bốn kilômét vuông chúng đã tập trung hàng nghìn tấn bom đạn đánh phá liên tục hai mươi lăm ngày. Trung bình mỗi kilômét vuông đã có tới hơn 600 hố bom đạn. Xen kẽ những trận tập kích bằng hỏa lực, chúng dùng lực lượng bộ binh, xe tăng và quân biệt động, chia thành ba mũi, tiến công chiếm bằng được động Ông Do, điểm cao 52, 15, 29. Hướng của Trung đoàn 141, tình hình càng căng thẳng và nguy ngập. Trước đây, lực lượng chốt giữ đã dàn mỏng, bây giờ bom địch lại càng đào xới dữ dội và chúng chiếm đồi 105, đồi 24, Đồi Tròn. Có thể nói, lúc này tất cả các điểm chốt của Trung đoàn 141, địch đã ở sát nách. Nếu trung đoàn cứ tập trung lực lượng bảo vệ chốt thì khó có thể đứng vững chắc, nhưng nếu rút bớt số quân để đánh địch thì lực lượng chốt lại yếu quá.
   
     Căn cứ vào nhiệm vụ trên giao và tình hình cụ thể của đơn vị, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn quyết định mở một đợt phản kích nhằm mục đích: Bẻ gãy đợt tiến công của địch đang ồ ạt tiến quân lên hướng động Ông Do. Và khi chiếm được thì phải kiên quyết giữ cho bằng được. Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 165 đánh động Ông Do. Trung đoàn 209 đánh chiếm lại Đồi Cháy và điểm cao 52, Trung đoàn 141 được tăng cường thêm Tiểu đoàn 4, đánh chiếm lại điểm cao 24, 105 và Đồi Tròn.

     Chúng tôi nhận định: Các trung đoàn đi phối thuộc với các đơn vị bạn đã hoàn thành nhiệm vụ, ta đã hiểu được thằng địch và làm quen với địa hình. Bây giờ, ta lại có thuận lợi là tập trung cả sư đoàn chiến đấu trên cùng một hướng và được mặt trận trực tiếp chỉ đạo thì nhất định ta sẽ hoàn thành được nhiệm vụ. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, ta cũng còn gặp nhiều khó khăn. Bộ đội chiến đấu dài ngày, quân số, vũ khí hao hụt, sức khỏe giảm sút, lại mưa bão liên miên. Quân địch chỉ tập trung bom đạn và dùng cả sư đoàn dù cộng với hàng trăm xe tăng tiến công ra hướng động ông Do, hòng đẩy ta ra phía bắc sông Thạch Hãn. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải kiên quyết bẻ gãy đợt tiến công của địch và phải đứng vững bên bờ nam sông này. Khi tác chiến, xung lực của ta có hạn, nên ta phải tăng cường hỏa lực của trung đoàn, sư đoàn và của trên nữa. Hướng Trung đoàn 165 khi đánh động ông Do, trên sẽ tăng cường cho một tiểu đoàn pháo 130 ly. Còn hướng của Trung đoàn 141 và 209 cũng sẽ có một tiểu đoàn pháo 122 ly và pháo 85 ly chi viện. Riêng Trung đoàn 141 tình hình có khó khăn hơn, Bộ Tư lệnh sư đoàn cử tôi xuống trực tiếp giúp đỡ.
   
      Tôi được phân công về Trung đoàn 141, công việc đầu tiên là phổ biến toàn bộ tinh thần nghị quyết của Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn cho các đồng chí trong ban chỉ huy trung đoàn. Sau đó, tôi và đồng chí Khê đi kiểm tra toàn bộ các trận địa chốt. Tới đâu tôi cũng thấy nổi bật một điểm là bộ đội chiến đấu rất dũng cảm nhưng lực lượng thì quá mỏng. Tất cả các loại đạn AK, B.41, B.40, đạn pháo... đều thiếu nghiêm trọng. Bọn địch thì hầu hết đã chiếm được các điểm cao. Có chỗ chúng chỉ cách ta hơn một trăm mét. Ngày đêm chúng điên cuồng bắn phá, lấn dũi rồi lại dùng thủ đoạn dụ dỗ chiến sĩ ta đầu hàng. 

      Sau khi đã điều tra, nghiên cứu, chúng tôi rút ở ba tiểu đoàn lấy trên sáu mươi đồng chí để đánh tập kích. Vì bọn địch đánh phá ác liệt quá, không thể tập hợp anh em đến một địa điểm giao nhiệm vụ được, chúng tôi chỉ còn cách giao nhiệm vụ trực tiếp cho từng tiểu đoàn. Sau đó, các đồng chí tiểu đoàn lại chia nhau xuống từng đại đội giao nhiệm vụ cho các trung đội, tiểu đội. Cuối cùng, đồng chí tiểu đội trưởng căn cứ vào nhiệm vụ và số người trong tiểu đội mình mà cử người đi chiến đấu rồi lập danh sách gửi  lên trên. Căn cứ vào danh sách của các đơn vị gửi lên, tiểu đoàn nghiên cứu, chia thành mũi, hướng, giao nhiệm vụ, chức trách cho từng người và quy định ngày giờ tập trung.

      Sau một tuần làm công tác chuẩn bị, các trung đoàn đều báo cáo về sư đoàn: Đã chuẩn bị xong, sẵn sàng chờ lệnh nổ súng.

     Tư lệnh sư đoàn quyết định cho Trung đoàn 165 nổ súng đánh vào động Ông Do.

     Đội hình đi trước của các chiến sĩ xung kích đã tiến sát hàng rào bí mật, an toàn. Được lệnh xung phong, các chiến sĩ xung kích bật dậy lao thẳng vào đồn địch. Nhưng chỉ chạy được một đoạn, nhiều đồng chí đã bị hụt ngang đầu gối (vì đất đá ở đây bị bom đạn địch đào đi, xới lại tơi ra như cám), nhấc được chân này thì chân khác lún sâu xuống, quay sang phải, ngoắt sang trái cũng đều bị sụt.

     Bọn địch biết ta gặp trở ngại, chúng liền ngóc đầu dậy bắn như đổ đạn. Hàng chục chiến sĩ đã ngã xuống ngay trên đoạn đường xung phong chưa đầy một trăm mét.

     Trận đánh kéo dài tới gần sáng ta mới giành được thắng lợi hoàn toàn. Những ngày này, ở xa hàng chục cây số mọi người cũng đều nhìn thấy đỉnh núi động Ông Do đứng sừng sững, ánh lên màu đỏ của đất, đá đã thấm máu của hàng trăm chiến sĩ.

      Tiếp theo chiến thắng của Trung đoàn 165, Trung đoàn 209 cũng liên tiếp đánh chiếm lại các điểm cao 52, 29, 15.

     Những trận đánh ở đây cũng quyết liệt không kém gì ở động Ông Do, nhưng cuối cùng chiến sĩ ta đều đã giành phần thắng. Ở hướng Trung đoàn 141, tuy lực lượng còn ít, nhưng chúng tôi đã động viên bộ đội tích cực đi vận chuyển và thu nhặt đạn vương vãi, tập trung đánh chiếm lại được điểm cao 105, 24. Tiểu đoàn 4 đi phối thuộc cũng đánh chiếm được Đồi Tròn, Đồi Ba Cây.

     Thế là với sự chỉ đạo sâu sát của mặt trận, với tinh thần chiến đấu kiên cường của cán bộ, chiến sĩ, toàn sư đoàn đã thực hiện thắng lợi trận đánh phản công địch, làm tan rã tiểu đoàn 6 và tiểu đoàn 11 của sư đoàn dù ngụy, buộc chúng phải chuyển từ chiến thuật tiến công ồ ạt sang chiến thuật lấn giữ từng bước.


*
* *


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 17 Tháng Mười Một, 2009, 12:34:36 pm
       Trận tập kích phản công địch của sư đoàn thắng lợi đã gây được khí thế phấn khởi cho cán bộ, chiến sĩ. Bộ Tư lệnh mật trận đã điện biểu dương toàn sư đoàn. Nhưng cũng chính lúc này những khó khăn của sư đoàn càng trở nên quyết liệt. Quân số trước đây đã ít, bây giờ càng hao hụt nghiêm trọng. Nhiều đại đội chỉ còn vài chục tay súng. Riêng Đại đội 6, Tiểu đoàn 9 chỉ còn độc nhất có một đồng chí trực tiếp chiến đấu. Một số đơn vị được bổ sung tân binh, nhưng anh em mới chưa hiểu địch, chưa thuộc địa hình, chưa quen chiến trận. Về mặt cán bộ, nhiều lúc có đại đội không còn lấy một cán bộ đại hội hoặc chỉ còn có đồng chí chính trị viên, nhưng lại là đảng viên dự bị. Nhiều tân binh như đồng chí Nguyễn Thuận, 18 tuổi mới bổ sung về đơn vị hồi tháng 6 năm 1972, nay đã giữ chức Đại đội phó.

     Trong lúc quân số thiếu, lực lượng chốt giữ bị dàn mỏng thì gạo đạn lại không chuyển vào kịp. Trời cứ mưa liên miên hết tuần này sang tuần khác, bọn địch định chiếm chốt nào thì chúng tập trung hàng nghìn quả pháo bắn cho tới khi hầm sập, đất tơi ra như bột rồi mới lấn dần lên. Các chiến sĩ ta chiến đấu vô cùng dũng cảm, nhưng vì không còn đạn nên cũng khó giữ mãi được chốt.

     Tại sở chỉ huy trung đoàn, đồng chí Khê thường xuyên cầm ống nghe điện thoại, khi thì chỉ huy các đơn vị đánh phản kích, khi thì điều lực lượng đi khiêng thương binh. Chốc chốc, anh lại sang báo cáo với tôi:

     - Từ sáng tới giờ, địch tiến công đồi 24 ba lần anh ạ...

     - Đồi 24 địch chiếm rồi. Đêm này ta tổ chức lực lượng đánh chiếm lại không, anh?

     - Quân số thương vong toàn trung đoàn hôm nay lên tới 32 đồng chí, anh ạ.
   
     Mỗi lần nghe anh Khê báo cáo, tôi lại cùng anh Dĩ, anh Phấn, anh Sơn trong ban chỉ huy trung đoàn bàn bạc, nghiên cứu để tìm cách giải quyết khó khăn cho đơn vị. Mấy ngày sau, anh Dĩ, anh Khê lại có lệnh điều về sư đoàn. Vậy là ban chỉ huy lúc này chỉ còn tôi, anh Sơn, Trung đoàn phó, anh Phấn, Phó Chính ủy và anh Mỹ, Tham mưu trưởng.

     Trước những khó khăn trên, chúng tôi quyết định đưa cả ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần trực tiếp lên giữ chốt. Thế là cả ba cơ quan đều rời vị trí lên chiếm lĩnh ba quả đồi. Tất cả các sĩ quan giữ súng ngắn đều được thay bằng súng AK và 200 viên đạn. Tất cả các tài liệu quan trọng đều gửi về tuyến sau hoặc đốt đi để đề phòng rơi vào tay địch.

     Ban Tham mưu trung đoàn vừa lên chốt, đang đào hầm thì địch đã mò đến. Chúng bắn loạt pháo đầu tiên, ta bị thương bốn và hy sinh một đồng chí. Vì có ít đạn nên các chiến sĩ phải bắn hết sức tiết kiệm. Nghe tiếng súng nổ thưa thớt, bọn địch càng lao lên như điên dại. Đồng chí Mỹ, Tham mưu trưởng chạy đi chạy lại chỉ huy các bộ phận, thế mà anh cũng bắn hết hai băng đạn.

     Sau những trận đánh dằng dai, quyết liệt, cuối cùng bọn địch đã chiếm được điểm cao 132. Thế là Trung đoàn 141 rơi vào tình trạng bị bao vây bốn mặt. Suốt một tuần tắc đường vận chuyển, thương binh không đưa ra ngoài được gạo, đạn lại không đưa được vào. Các chiến sĩ thường trực trên trận địa suốt ngày đêm, ăn lương khô, uống nước suối. Người nằm trong hầm cũng bị thương, người đi lấy nước, đi ngoài cũng bị thương. Người bị thương rồi lại bị thương lần nữa. Thậm chí, có những trường hợp anh em hy sinh, chôn cất rồi lại bị bom đạn đào lên. Hầu hết các xoong, nồi của anh nuôi đều bị thủng, bị bẹp vì pháo đạn. Một chiến sĩ nói với tôi:

     - Thủ trưởng ạ, có thể nói đây là thời kỳ người thì đòi ăn gạo, súng thì đòi ăn đạn, mà đạn thì lại đòi ăn người.

     Tôi đã chiến đấu ba bốn năm rồi, nhưng chưa có chiến dịch nào căng thẳng, ác liệt như thế này.

     Nằm trong tình trạng bị bao vây bốn mặt, trung đoàn khó có cách nào chốt giữ được nữa. Nhưng rút lui bằng cách nào và theo con đường nào nào? Đây là điều làm chúng tôi phải suy nghĩ căng thẳng suốt ngày đêm. Tình thế này chỉ cần ở lại vài ngày nữa thì bọn địch có thể tràn vào được cả chỗ của ban chỉ huy trung đoàn. Tôi chợt nhớ lại những ngày chiến đấu vô cùng ác liệt ở Điện Biên. Tôi nói với anh em: "Rồi chúng ta sẽ vượt qua được mọi khó khăn. Không phải sư đoàn, mà cả Quân ủy Trung ương cũng đang suy nghĩ để chỉ đạo chúng ta?...".

*
*  *

     Bộ Tư lệnh sư đoàn cả các cán bộ, chiến sĩ phía ngoài cũng đang lo lắng cho chúng tôi. Khi còn liên lạc được bằng đường dây điện thoại, anh Thái đã hỏi tôi:

     - Mỗi đại đội của anh còn bao nhiêu tay súng?

     - Đại đội ít nhất chỉ còn “một ngón tay”.

     - Sao? Anh nói sao cơ?

     Tôi nhắc lại:

     - Đại đội ít nhất còn “một ngón tay".

     Qua giọng nói và câu hỏi sửng sốt của anh trên máy, tôi càng hiểu anh rất lo cho tình hình giữ đất.  Nhưng vì sợ lộ bí mật nên tôi không thể nào nói được với anh hết những điều cần nói. Anh Quân, Chủ nhiệm Chính trị cũng đã mấy lần điện hỏi tôi về tình hình đơn vị và anh cứ nhắc đi nhắc lại việc Bộ Tư lệnh đã bàn tới chuyện tổ chức cho chúng tôi rút ra. Anh Thái cũng trao đổi kỹ với tôi về việc này.

     Nắm được ý trên, tôi triệu tập các anh trong ban chỉ huy trung đoàn, tiểu đoàn để phân tích tình hình địch, ta. Cuối cùng, chúng tôi quyết định cho trung đoàn rút ra khỏi vòng vây. Nhưng rút ra bằng cách nào? Theo con đường nào? Đây mới là vấn đề cần bàn bạc kỹ lưỡng. Trong lúc bọn địch đã bao vây quanh mình, còn hở chỗ nào chúng liên tục trút bom, câu pháo tới, cả một trung đoàn muốn rút ra khỏi vòng vây của địch đâu phải chuyện dễ dàng. Đó là chưa kể đến ba mươi thương binh phải khiêng cáng và hàng chục khẩu cối 82 ly, ĐKZ, 12,7 ly, máy móc thông tin, dụng cụ anh nuôi và các trang bị khác nữa.

      Mọi người đều thống nhất coi việc đưa thương binh ra an toàn là nhiệm vụ hàng đầu, nhưng súng đạn, máy móc và các trang bị khác kiên quyết phải đem theo. Lại có ý kiến đề nghị chôn máy móc, trang bị cốt rút người cho an toàn. Tất cả mọi người đều vây quanh tấm bản đồ đã nhàu nát, mở căng mắt để tìm ra con đường đi an toàn trong trí tưởng tượng. Cả trung đoàn đi thành một hướng để tiện chỉ huy ư? Không được? Vì như thế khi gặp địch phục kích hoặc chúng bắn pháo vào đội hình sẽ thương vong nhiều. Nhưng nếu chia thành nhiều khối, đi theo nhiều đường thì có khối phải đi vào sát nách địch, có khối phải đi vòng sau lưng chúng. Đi theo phương án này có thể an toàn hơn, nhưng đòi hỏi người chỉ huy phải táo bạo,. linh hoạt; các chiến sĩ phải tuyệt đối giữ bí mật và nhất nhất phải theo lệnh của người chỉ huy.

      Sau khi đã bàn đi tính lại, dự kiến mọi tình huống xảy ra: chúng tôi quyết định rút toàn bộ trung đoàn theo phương án hai, đồng thời phải đem theo toàn bộ trang bị, không được bỏ lại một thứ gì. Ngay đêm hôm đó, chúng tôi tức tốc cử các đội trinh sát đi điều tra các tuyến đường và tổ chức lực lượng đưa thương binh ra trước. Cả ngày hôm sau các chiến sĩ vẫn tiếp tục đánh địch và chuẩn bị súng đạn, ba-lô gọn gàng. Mọi người đều được xác định phải tuyệt đối giữ bí mật trong hành quân, không được phát ra tiếng động, không được để lạc, khi gặp tình huống bất trắc phải tuyệt đối theo lệnh của chỉ huy.

     Đúng bảy giờ tối, khi màn đêm đã bao phủ dày đặc, các tiểu đoàn đều phải lặng lẽ rời khỏi vị trí đi theo hướng đã định. Chỉ còn các tổ nghi binh ở lại, thỉnh thoảng nổ một vài phát súng như kiểu bắn tỉa để bọn địch yên trí là ta còn ở đấy.

     Thế là sau một đêm hành quân đầy nguy hiểm và căng thẳng, đến sáng, ba cánh quân của ba tiểu đoàn đã gặp nhau ở vị trí quy định. Chỉ còn khối cơ quan trung đoàn bộ, dọc đường bị B.52 ném bom phải nằm lại ở chân động Ông Do.

     Bọn địch hí hửng đả bao vây chặt một trung đoàn "Việt Cộng", sáng ra chắc chúng sẽ tưng hửng và chửi bới lẫn nhau vì không biết các ông "Việt Cộng" đã biến đi đường nào mà không hề phát ra một tiếng động.

     Qua những trận đánh bằng hình thức tiến công địch ở động Ông Do, điểm cao 135, Đồi Cháy, v.v... đến bây giờ, chẳng cần tranh cãi gì nữa, mọi ngươi cũng thấy đã đến lúc sư đoàn phải rút về phòng ngự thì mới có thể giữ được địa bàn cần bảo vệ. Nhưng phòng ngự thì phòng ngự như thế nào, đó là câu hỏi đầy khó khăn cần được giải đáp đúng.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 17 Tháng Mười Một, 2009, 01:41:26 pm
      Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn căn cứ vào chỉ thị của Mặt trận B.5, đã tập hợp phân tích toàn bộ những ý kiến bàn luận về phương pháp phòng ngự của cán bộ, chiến sĩ rồi hạ quyết tâm: "Toàn sư đoàn phải tập trung sức lực, lập thành tuyến phòng ngự từ Tích Tường, Như Lệ đến Động Tiên. Kiên quyết không cho địch thực hiện ý đồ đẩy ta sang phía bắc sông Thạch Hãn".

     Khi giao nhiệm vụ cho các trung đoàn, anh Thái, Tư lệnh trưởng chỉ rõ: "Từ ngày thành lập sư đoàn đến nay, chúng ta cũng đã từng tổ chức các trận địa phòng ngự, nhưng mới ở mức tiểu đoàn, trung đoàn và ở trên một địa bàn hẹp. Bây giờ, ta phải tổ chức cho toàn sư đoàn lập thành một tuyến phòng ngự dài tới 25 kilômét, lại phải đương đầu với một kẻ địch gian ngoan, xảo quyệt, nhiều bom đạn. Cả một sư đoàn cùng tiến hành phòng ngự là một vấn đề mới, rất mới, đồng thời cũng là một bước phát triển về cách đánh của sư đoàn ta, của quân đội ta. Tuy ta chưa có kinh nghiệm phòng ngự trận địa của cả sư đoàn, nhưng từng đồng chí, từng đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn, chúng ta đã có kinh nghiệm giữ chốt ở chiến trường Lào. Những cách tổ chức trận địa chốt và cách đánh địch ở điểm cao 1.900, 1.505, 1.616, Bản Tôn, đều là những kinh nghiệm hết sức quý báu mà bây giờ ta có thể áp dụng được Nhiệm vụ phòng ngự chủ yếu là giữ đất, nhưng muốn giữ được đất thì ta phải luôn có tinh thần chủ động tiến công địch. Đi đôi với việc thiết lập trận địa chốt thật kiên cố, có hầm vững chắc, có đường hào cơ động, còn cần có đội ngũ chốt giữ thật kiên cường. Chúng ta còn phải tổ chức các mạng lưới trinh sát, các đài quan sát bám địch từ xa, phải bố trí các trận địa hỏa lực, trận địa phục kích thật bất ngờ, hiểm hóc, phải có mạng lưới thông tin thông suốt, phải tổ chức các đội luồn sâu vào lòng địch, đánh vào vị trí xuất phát tiến công của chúng. Và cuối cùng, là phải tổ chức các đội bắn tỉa, đây là cách đánh khá lợi hại. Nó chăng những làm tiêu hao sinh lực địch mà còn làm cho chúng mất ăn, mất ngủ, nơm nớp lo sợ suốt đêm ngày. Làm được như vậy, chẳng những ta sẽ đánh thắng địch, giữ vững được tuyến phòng ngự, mà qua đó, ta còn rút ra
được những kinh nghiệm, những bài học hết sức quý báu cho sau này".

     Được sự nhất trí của Thường vụ Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn, anh Thái phân công:

     - Trung đoàn 209 vẫn tiếp tục củng cố và giữ vững khu vực Tích Tường, Như Lệ, Đồi Cháy, điểm cao 29, 15.

     - Trung đoàn 165 tiếp tục theo Trung đoàn 209 giữ từ điểm cao 15 đến 134, Đồi Đá, Đồi Xanh đến chân động Ông Do.

     - Còn Trung đoàn 141 thì chuyển về giữ khu vực Động Tiên và điểm cao 367 thay cho Sư đoàn 308.

     Sau khi giao nhiệm vụ cho các trung đoàn, Bộ Tư lệnh sư đoàn phân công anh Xuyên, Phó Chính ủy, trực tiếp sang cánh Bắc để giúp đỡ Trung đoàn 209 củng cố tổ chức và bố trí lực lượng giữ đất. Anh Thái, anh Sinh và tôi chỉ huy chung và đi sâu giúp đỡ Trung đoàn 165, Trung đoàn 141.

     Giải quyết xong các công việc trên cơ quan sư đoàn, tôi được cử xuống Trung đoàn 165 kiểm tra việc triển khai trận địa phòng ngự. Khi trèo lên đỉnh quả đồi 164, tôi mới thấy hết được khả năng và tinh thần làm việc khẩn trương của các chiến sĩ ở đây. Nếu cử ngồi ở sở chỉ huy mà nghe báo cáo và tưởng tượng thì ít ai có thể tin rằng chỉ trong vòng bốn, năm ngày, hơn ba chục chiến sĩ đã đào được 27 chiếc hầm và đào được một hệ thống đường hào vòng quanh chốt, nối từ hầm này sang hầm khác. Có chiều sâu 1,8 mét, rộng 0,8 mét và có tổng độ dài lên tới 735 mét. Có thể nói, mọi hoạt động của anh em lúc này như đi lại, ăn, nghỉ, chiến đấu... đều diễn ra trong lòng đất. Hình ảnh những ngày chiến đấu ở Điện Biên như sống lại trong tình cảm của tôi, với một niềm tin mãnh liệt.

     Tôi hỏi đồng chí Tộ, Tiểu đội trưởng:

     - Các đồng chí có cách gì mà đào nhanh vậy?

     - Báo cáo Thủ trưởng: Chúng tôi cũng chỉ có chiếc xẻng, chiếc cuốc và con dao găm thôi. Còn cách làm việc vẫn là lòng kiên trì và cách phân công hợp lý. Chúng tôi phải chia thành nhiều "ca" để đào cả ngày lẫn đêm. Đồng chí nào khỏe thì đào, đồng chí yếu thì xúc đất. Ai mệt quá thì đi canh gác, đi nấu cơm.

     Tộ vừa nói vừa giơ cánh tay lên quệt mồ hôi. Bỗng tôi nghe có tiếng ú. . . ú. . . trên không.

     - Pháo đấy, Thủ trưởng! - Tộ vừa nói vừa ẩy tay vào lưng tôi, đẩy tôi vào cửa hầm...

     Giữa lúc chúng còn đang bắn, đạn nổ làm đất đá bay tứ tung, rơi rào rào như một trận mưa đá, thế mà mấy chiến sĩ vẫn xách súng đứng thập thò ở cửa hầm, bàn tán:

     - Chúng bắn pháo dai thế này là có hiện tượng muốn mò lên đấy.

     - Mấy thằng lính nhãi nhép này, mình chỉ cần bắn vài tên là chúng cắm đầu, cắm cổ chạy tán loạn cho mà xem.

     - Đừng chủ quan, có hôm có thằng bò lên tận đỉnh đồi đấy Cậu ra quan sát xem có hiện tượng gì không?

     Một đồng chí chui ra khỏi hầm, luồn theo đường hào ra phía trước mặt chốt. Một lúc sau, đồng chí đó quay lại:
   
     - Báo cáo: Bọn chúng đang ra khỏi công sự, đứng lố nhố như những cái cọc di động ấy. Đề nghị Thủ trưởng cho chúng tôi gọi đơn vị pháo bắn phủ đầu chúng nó.

     -  Chúng lên có đông không?

     - Khoảng hai chục tên ạ!

      - Thế thì chỉ được gọi cối 82 ly bắn thôi. Khi nào chúng lên khoảng bốn, năm chục tên thì mới được gọi pháo lớn.

      Chỉ sau vài phút, chúng tôi đã nghe thấy tiếng nổ đầu nòng của một khẩu cối đặt ở quả đồi bên cạnh và tiếng đạn cối nổ chát chúa trên quả đồi bọn địch đang tập trung.

     Từ đoạn chiến hào phía trước mặt chốt, có tiếng reo khe khẽ của mấy chiến sĩ quan sát.

     - A, có thằng chết rồi! Chúng nó rúc vào hầm như cáy gặp người rồi. Chết mẹ chúng mày chưa!

     - Có thế chúng nó mới chừa cái chứng lấn dũi...

     Tôi bảo một chiến sĩ đang cầm ống nghe điện thoại:

     - Đồng chí gọi điện báo cho khẩu đội cối là sư đoàn biểu dương các đồng chí trong trận đánh vừa rồi nhé!

     Gần tối, tôi đến một trận địa các chiến sĩ quen gọi là Đồi Xanh. Khi gần tới nơi, tôi có cảm tưởng như quả đồi đất đỏ lởm chởm này là do những chiếc máy ủi khổng lồ vừa ủi. Từ quả đồi ta chốt sang quả đồi địch chiếm chỉ cách nhau có một con suối nhỏ, gọi là Khe Trai. Đồng chí Đại đội trưởng dẫn tôi đi theo đường hào ra phía trước mặt chốt.

     - Thủ trưởng ạ, vào giờ này đến bố chúng nó cũng không dám thò đầu ra khỏi công sự. Mấy ngày qua, đồng chí Mong, dũng sĩ bắn tỉa, có hôm "xơi tái" hơn hai chục thằng địch.
      
     - Thế phương án đánh địch tiến công chốt của đồng chí hiện nay ra sao rồi?


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 17 Tháng Mười Một, 2009, 01:46:12 pm
     - Báo cáo: Quyết tâm của chúng tôi là kiên quyết không cho địch vượt qua cái Khe Trai này. Dãy đồi bên phải kia là Đại đội 3, dãy đồi bên trái đây là Đại đội 5. Chúng tôi đã bàn bạc kế hoạch hiệp đồng chiến đấu cả rồi. Còn kia là hai khẩu cối 82 ly, một khẩu ĐKZ và khẩu 12,7 ly thường xuyên tập kích và đánh địch từ xa khi chúng định lấn tới. Ngay trong phạm vi trận địa phòng ngự này, chúng tôi đã bố trí thành nhiều tầng, nhiều tuyến. Phía trước mặt quả đồi, từ ven suối lên đỉnh, chúng tôi đã cài 350 quả mìn vướng. Cách hàng công sự tiền duyên 20 mét, chúng tôi đặt 20 quả mìn định hướng. Những đồng chí ở hầm tiền duyên sử dụng cả B.41, B.40, AK, lựu đạn... và có nhiệm vụ điểm hỏa mìn định hướng khi cần. Ở giữa là hầm chỉ huy, có đường hào tới tất cả các hầm. Còn phía sau là hầm thương binh và đường hào đi về "hậu phương" của đại đội.

      Đồng chí Đại đội trưởng dẫn tôi đi đến từng hầm. Các chiến sĩ người đang lau súng, người gói thủ pháo, lại có đồng chí đang kê mảnh giấy lên đầu gối, hí hoáy viết. Vừa nhìn thấy tôi, đồng chí đã nói:

     - Chào Thủ trưởng ạ? Thủ trưởng có giấy cho em xin một tờ.

     - Đồng chí viết thư cho "cô em" đấy à?

     - Không ạ? Ở đây làm gì có đường giao liên mà gửi.

     Đồng chí Đại đội trưởng liền nói:

     - Báo cáo Thủ trưởng, đây là đồng chí Hòa, dũng sĩ bắn tỉa. Đồng thời cũng là “nhà thơ" của chúng tôi đấy.

     - Thế ra đồng chí làm thơ à? Đọc đi, đọc đi cho tôi nghe với. Tôi cũng thích thơ lắm.

     Thơ em làm chẳng ra sao. Em đọc Thủ trưởng nghe vậy nhé:

Suốt ngày ngồi chốt trên đồi
Địch ném bom rồi lại bắn pháo khoan
Khe Trai Suối vẫn dạo đàn
Ngân trong trời đất muôn vàn lời thơ
ở nơi giáp mặt quân thù
Tiếng con suối chảy cũng ru hồn người...

     A, đồng chí lại đưa cả địa danh Khe Trai vào trong thơ nữa. Hay lắm. Thật là mỗi tên đất nơi này tự nó đã thành thơ rồi. Ở Khe Trai, các đồng chí chiến đấu dũng cảm, đơn vị thông tin nối dây cũng tài. Tôi kể cho các đồng chí nghe một chuyện về đơn vị thông tin nhé.

     - Vâng! Thủ trưởng kể đi, chúng em rất thích nghe chuyện.

     Các chiến sĩ ngồi quanh hầm chăm chú nghe. Tôi kể vắn tắt như sau:

     "Đường dây Khe Trai qua Đồi Xanh, Đồi Khói, điểm cao 34 và nối sở chỉ huy Trung đoàn 141 về sở chỉ huy sư đoàn. Các đồng chí thông tin phải chia ra từng tổ để giữ con đường dài dằng dặc ấy. Từ sở chỉ huy sư đoàn về Trung đoàn 141 đường dây phải qua bao nhiêu vùng trọng điểm đầy bom đạn của địch. Mùa mưa, nước từ trên trời, trên đồi dồn về Khe Trai, cùng các loại pháo 155 ly, pháo 105 ly và các cỡ bom của địch thi nhau trút xuống. Con đường ở Khe Trai luôn thay hình đổi dạng, đường dây Khe Trai một ngày đứt nối không biết bao nhiêu lần. Có lần, chỉ vài câu nói của tôi báo cáo về Bộ Tư lệnh sư đoàn mà bốn đồng chí phải hy sinh…“! .

     - Bốn chiến sĩ hy sinh để đổi lấy lời báo cáo về Bộ Tư lệnh - Một chiến sĩ nhắc lại, giọng trầm xuống.

     - Đúng thế. Đó là chuyện rất thật ở sư đoàn ta Nhiều khi một mệnh lệnh, một lời nói truyền đi phải đổi bằng xương máu, bằng cuộc đời của đồng đội mình.

      - Thủ trưởng ơi! Những chuyện này mà không ghi lại thì thật tiếc. Em sẽ làm thơ để tặng các chiến sĩ tiểu đoàn thông tin anh hùng.

     - Tốt lắm, hãy cứ viết bằng tấm lòng chân thật. Viết về những anh em đang chiến đấu, viết về những người lính ra trận. Tất cả chúng tôi im lặng để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn các đồng đội đã hy sinh.

     Đồng chí Đại đội trưởng lại dẫn tôi đến căn hầm có đồng chí thương binh đang ở.. Thoạt nhìn, tôi thấy đồng chí thương binh đầu quấn băng trắng toát, ngả lưng vào thành hầm ở tư thế nửa nằm nửa ngồi. Mắt nhắm như ngủ, nhưng miệng vẫn nhai một cách uể oải, tay phải vẫn cầm thanh lương khô. Khẩu súng B.41 bóng nhoáng còn dựa vào vai.

     Trên nòng súng có dán một tờ giấy nhỏ, nổi bật lên dòng chữ "Còn một người một súng cũng tiến công".

     Đồng chí Đại đội trưởng bỗng quát khẽ:

     - Có địch?

     Đồng chí thương binh bỗng choàng dậy, chộp lấy khẩu súng định vọt ra khỏi hầm. Cả tôi và đồng chí Đại đội trưởng đều xúc động trước tấm gương sáng đó.

     - Khoan đã! Đồng chí định chạy đi đâu? Tôi giới thiệu:  Đây là Thủ trưởng trên sư đoàn đến thăm đồng chí.
   
      - Xin lỗi Thủ trưởng, mệt quá tôi ngủ thiếp đi.

     - Đồng chí có ngủ đâu. Tôi vẫn thấy đồng chí ăn lương khô đó thôi . . .

     Lúc này đồng chí thương binh mới chợt vội đưa cánh tay lên chùi bột lương khô còn bám trên má đầy những lông tơ. Lòng tôi bỗng tràn lên những cảm xúc thương mến vô hạn.

     Đồng chí Đại đội trưởng giới thiệu:

     - Đây là đồng chí Sáng, dũng sĩ bắn B.41 vừa bị thương trong trận đánh địch chiều qua. Chúng tôi định đưa Sáng về tuyến sau, đồng chí ấy lại hỏi vặn tôi: "Sao đại đội đã đề ra khẩu hiệu "Còn một người vẫn chốt” mà lại bảo tôi về. Tôi còn đủ sức chiến đấu, đại đội cứ để tôi ở trận này. Khi nào địch đến tôi sẽ bắn tan xác chúng nó ra".

     Tôi nói với đồng chí thương binh:

     - Đồng chí có tinh thần chiến đấu như vậy là rất tốt. Nhưng phải nói với y tá luôn luôn kiểm tra vết thương, đừng để nhiễm trùng nhé.

     Nghe có tiếng động, tôi nhìn vào góc hầm:

     - Con gì! Các đồng chí, có con gì thế kia?

    - Con tê tê đấy Thủ trưởng ạ. Bom đạn nó đánh ác liệt quá đến nỗi con tê tê khoét hang vào giữa lòng núi cũng phải nhào ra. Chúng tôi vừa tóm được cu cậu trong trận bom sáng nay.

     - Cái giống tê tê này nghe nói thịt ngon như thịt cầy đấy. Các cậu cố giữ mà làm thịt.

     - Thịt quá đi chứ Thủ trưởng. Chiều nay nhất định Thủ trưởng phải ở lại đây ăn với chúng em một bữa cơm nhé?

     - Các Cậu làm quái gì còn gạo mà mời tôi ăn cơm!

     - Thế thì mời Thủ trưởng ở lại ăn lương khô 702 vậy. Ăn lương khô 702 với thịt tê tê ngon tuyệt, Thủ trưởng ạ!

     Đồng chí Đại đội trưởng bảo đồng chí thương binh:

     - Cậu đưa con tê tê đây để tôi mang về cho bếp anh nuôi làm thịt nào.

     - Nhưng mà Thủ trưởng nhớ bảo anh nuôi giữ cho tôi mấy cái vẩy tê tê làm kỷ niệm nhé.

     Đồng chí Đại đội trưởng lại dẫn tôi xuống "hậu phương" của đại đội. Trên đường đi, tôi tranh thủ trao đổi:

     - Trận địa của các đồng chí như vậy là vững chắc, cách bố trí cũng chặt chẽ, tinh thần chiến đấu của bộ đội rất cao. Tình hình này các đồng chí có thể rút bớt lực lượng trực tiếp trên trận địa để anh em có điều kiện thay nhau nghỉ ngơi và làm những việc khác. Nhất là những đồng chí thương binh, anh em có tinh thần bám trụ rất tốt. Nhưng ta cũng phải luôn luôn quan tâm chăm sóc đến sức khỏe và tạo điều kiện cho các đồng chí ấy chữa vết thương cho mau lành. Những lúc địch không tiến công thì phải tổ chức cho anh em cắt tóc, tắm giặt và viết thư về nhà nữa. . .

     Chúng tôi đi theo đường hào về đến tận "hậu phương" của đại đội, lực lượng ở đây còn một đại đội đánh vận động hoặc thay chốt. Những ngày không có tình huống chiến đấu thì đào công sự, lấy củi, khiêng thương binh hoặc đi lấy gạo, đạn dự trữ.

     Tổ anh nuôi có bốn đồng chí (kể cả đồng chí y tá xuống giúp việc). Họ đang khiêng nồi cháo múc chia đều các xoảng. Khói cháo bay nghi ngút trong căn bếp đào chìm vào lòng dết. Một đồng chí rất trẻ, bưng bát cháo nóng bỏng, thả vào xuống nước lã lấy đũa quấy quấy cho mau nguội, không may bát cháo bị nước tràn vào chìm nghỉm. Đồng chí vội nhấc bát cháo lên, gạn bớt nước rồi húp soàn soạt. Đồng chí y tá mắng:

     - Cậu ăn mất vệ sinh như thế. Có đổ đi không, ăn vào thì khốn đấy.

     Đồng chí bưng bát cháo trả lời một cách bướng bỉnh:

     - Đổ đi? Của ăn không có, có của đổ đi?

     Tôi đang chăm chú theo dõi hai chiến sĩ tranh cãi thì bỗng người loạng choạng như đất sập và những tiếng nổ như xé không khí bay tới. Thoắt cái, tôi lao được vào căn hầm. Có tiếng kêu thất thanh từ đâu vọng lại:

    - Bom tọa độ đấy, không ai được ra khỏi hầm.

     Oành, oành, oành... Oành, oành, oành... Lại hai đợt tiếng nổ nữa trùm lên đội hình trú quân của đơn vị. Tiếng đất đá, tiếng cây đổ rào rào lẫn những tiếng gọi, tiếng kêu:

     - Tài ơi? Trù đây! Xây ơi?...

     Đồng chí Đại đội trưởng quay gấp máy điện thoại:

     - A-lô! A-lô!... trên chốt có ai việc gì không? Thôi, đứt dây rồi.

      Và đồng chí ấy vội chạy ra cử một tổ vác cuốc xẻng chạy ngược lên một căn hầm bị sập.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 17 Tháng Mười Một, 2009, 01:50:24 pm
     Mấy đồng chí to khỏe, cầm hai tay những chiến sĩ bị thương duỗi ra, gấp lại theo động tác làm hô hấp nhân tạo. Đồng chí y tá thoăn thoắt bó cho một đồng chí gãy chân. Còn mấy đồng chí anh nuôi thì thu dọn những chiếc xoong đựng cháo bị bắn tung tóe. Bỗng có một đồng chí không biết từ đâu chạy về, thở hổn hển:

     - Các đồng chí ơi ở... Ở quả đồi bên kia có hai ngôi mộ mới chôn lại bị bom đào lên rồi.

     - Chết thật! Mộ đồng chí Hà và đồng chí Quảng đấy. Ra chôn cất lại cho các đồng chí ấy ngay.

     Vào khoảng trung tuần tháng 12 năm 1972, bọn Mỹ đột ngột huy động hàng loạt máy bay B.52 tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh lân cận, nhằm mục đích hủy diệt một số vùng dân cư, hòng gây hoang mang, rối loạn trong nhân dân, ép ta tại Hội nghị Pa-ri, giành lấy lợi thế. Tất cả chứng tôi đều nhận thức được rằng: Muốn bắt giặc Mỹ ngừng ném bom miền Bắc thì ở chiến trường, chúng tôi phải đánh trả địch mạnh mẽ, chia lửa với đồng bào miền Bắc.

     Lúc này, trên toàn trận tuyến phòng ngự của sư đoàn, các đơn vị đều đã tạo được thế đứng vững chắc. Tất cả các điểm chốt của Trung đoàn 141 ở Động Tiến; của Trung đoàn 165 Ở Đồi Xanh, điểm cao 134, Đồi Đá; của Trung đoàn 209 Ở Tích Tường, Như Lệ đều đã đánh lui hàng chục đợt tiến công của địch. Trước tình hình trên, Đảng ủy và Bộ Tư lệnh sư đoàn lại quyết tập trung lực. lượng cho Trung đoàn 209 mở đợt tập kích, lấy lại các điểm chốt do địch đã chiếm từ giai đoạn trước. Được sư đoàn tăng cường cho một đại đội vệ binh và 600 quả đạn pháo, Trung đoàn 209 hứa quyết tâm lấy tại các điểm cao 15 và 19.

      Đêm 21 tháng 1, Tiểu đoàn 8 lấy lại điểm cao 15. Đêm 27 và ngày 28 tháng 1, Tiểu đoàn 7 đánh chiếm điểm cao 29. Thế là toàn trung đoàn đã trở lại thế đứng ban đầu.

     Nối tiếp chiến công của Trung đoàn 209, các Trung đoàn 165, 141 các đơn vị pháo binh, trinh sát, thông tin cũng đều tổ chức các trận tập kích và đều giành được thắng lợi. Đặc biệt là các đội bắn tỉa hoạt động rất tích cực và đưa hiệu suất chiến đấu lên cao. Đột xuất, có ngày một đồng chí của Trung đoàn 209 đã diệt được 29 tên địch. Hoạt động của các đội bắn tỉa không những có giá trị làm tiêu hao sinh lực địch mà còn gây cho chúng một tâm lý hoang mang, lo sợ, không dám tự do đi lại. Từ đó, phong trào bắn tỉa lan tràn khắp sư đoàn. Không những các chiến sĩ bắn tỉa bằng súng có kính ngắm xa, mà còn bắn cả bằng súng AK, CKC, trung liên nữa. Cả những đồng chí y tá, liên lạc anh nuôi cũng lần lượt thay nhau lên trận địa bắn tỉa, nhiều đồng chí đã đạt được danh hiệu dũng sĩ.

     Giữa lúc sư đoàn chúng tôi đang đánh lui từng đợt tiến công của quân địch, thì tin quân và dân Hà Nội đánh bại cuộc tập kích bằng không quân chiến lược của Mỹ liên tiếp vọng vào. Những "Thần Sấm", "Con ma", những "Pháo đài bay", "Giặc nhà trời" đều đâm đầu xuống đất cùng với những tên giặc lái. Tin vui ấy càng cổ vũ chúng tôi thêm vững vàng tay súng trên chiến trường Quảng Trị nóng bỏng, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên giao.

     Cho tới những ngày đầu mùa xuân năm 1973, sư đoàn chúng tôi vẫn đứng trên trận tuyến phòng ngự bờ nam sông Thạch Hãn, cùng với các sư đoàn bạn lập thành một vành đai thép, kéo dài từ đông Trường Sơn đến tận cảng Cửa Việt. Hai sư đoàn dù và thủy quân lục chiến ngụy như cá mắc lưới. Tiến không được, rút cũng không xong. Chúng chỉ còn cách điên cuồng bắn phá cho tới khi Hiệp định Pa-ri được ký kết.




Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 17 Tháng Mười Một, 2009, 02:24:02 pm
TRẬN CUỐI CÙNG

Dàn thế trận đánh giặc
Ở Bình Dương trong Chiến dịch Hồ Chí Minh


     Thế là đã hai mươi tám năm kể từ khi tôi còn là một chiến sĩ Trung đội 1, Đại đội 27 đánh trận đầu tiên, chống bọn giặc Pháp trên đỉnh Khau Co giáp giới giữa hai tỉnh Lai Châu, Lào Cai, đến nay là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 312, Quân đoàn 1, hành quân đánh trận cuối cùng, đánh cho Mỹ cút ngụy nhào giải phóng hoàn toàn đất nước.

     Khoảng cách hai mươi tám năm chiến đấu và trưởng thành ra sao, tôi đã ghi trong các tập: Đường tới chân trời,  Tim tôi thắp lửa, Dậm dài trên đất Triệu Voi. Những trang hồi ký này, tôi chỉ muốn đi sâu vào trận đánh cuối cùng, trận đánh sư đoàn tôi được tham gia vào Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

1 HÀNH QUÂN THẦN TỐC

     Bắt đầu vào cuối tháng 3 năm 1975, Sư đoàn 312 chúng tôi đang đóng quân ở Hà Trung, Thạch Thành, Thanh Hóa thì có lệnh lên đường vào Nam chiến đấu. Thời gian này tin thắng trận từ tiền tuyến lớn dội về dồn dập, hết giải phóng Buôn Mê Thuột lại đến tin quân địch đã hốt hoảng rút chạy bỏ cả Kông Tum, Plây Cu; rồi lại Trị Thiên, quân ta đã vượt qua sông Thạch Hãn giải phóng thị xã Quảng Trị và lại đang bao vây quân địch ở Huế và Đà Nẵng...

     Bộ Tư lệnh quân đoàn điện gọi tôi và anh Xuyên, Chính ủy sư đoàn lên giao nhiệm vụ chuẩn bị cho sư đoàn hành quân bằng cơ giới vào tận chiến trường miền Đông Nam Bộ. Trên quyết định tăng cường cho sư đoàn hơn trăm xe. Cuộc hành quân này phải mang theo toàn bộ trang bị vũ khí khí tài đạn dược; lương thực thực phẩm bảo đảm đến chiến trường vẫn còn đủ 10 ngày ăn. Bộc phá, đạn dược phải đánh được ba trận mới bổ sung. Thời gian sư đoàn được chuẩn bị bốn ngày. Đường hành quân từ Bắc vào đến chiến trường dài hai nghìn kilômét, phải đi qua nhiều tỉnh, địa hình, thời tiết phức tạp, cần phải tổ chức sắp xếp sao cho gọn, sẵn sàng chiến đấu, đảm bảo đúng thời gian hành quân.

     Hai chúng tôi nhận lệnh xong rất phấn khởi trở về ngay kịp phổ biến cho toàn sư đoàn. Những ngày qua chỉ nghe tin đơn vị bạn lập công, nay được phổ biến kế hoạch hành quân, lại hành quân cơ giới vào tận chiến trương miền Đông Nam Bộ cùng với quân dân Miền Nam đánh Mỹ ngụy, cán bộ chiến sĩ sôi nổi chuẩn bị rất tấp nập, đầy khí thế. Bộ phận đi lĩnh súng đạn, bộ phận đi lấy quân trang quân dụng nhộn nhịp gặp nhau trên đường, cười nói, chào hỏi rộn rã trong xóm ngoài làng nơi trú quân. Sư đoàn chuẩn bị hành quân ra trận, các đoàn thể, chính quyền và nhân dân đến thăm hỏi động viên hôm nào cũng như đơn vị có hội hè. Ngày nhân dân đến thăm, tối liên hoan quân dân ca hát, bộ đội hứa hẹn, nhân dân chúc mừng. Liên hoan chung rồi còn về từng nhà, bên ngọn đèn dầu hoặc bên bếp lửa hồng, cạnh nồi ngô, rổ khoai, rá sắn, đầm ấm thân tình, khi đầy ắp tiếng cười, khi dặn dò lưu luyến người ở lại với kẻ ra đi.

      Là cán bộ chỉ huy sư đoàn, xuống thăm anh em được chung hưởng không khí vui nhộn, tình cảm yêu thương của nhân dân đối với cán bộ chiến sĩ sư đoàn năm ấy, tôi rất xúc động. Ở Sư đoàn 312 từ khi thành lập, trưởng thành từ chiến sĩ đến đại tá tư lệnh sư đoàn  trưởng, rất nhiều lần ra trận, nhân dân thường ít người biết, có biết cũng chẳng rõ đi đâu và rất ít người đến tiễn đưa. Lần này, chúng tôi mới chuẩn bị ra trận, nhân dân nơi trú quân đã biết sư đoàn đi chiến đấu ở đâu và đã đến rất đông, thăm hỏi, động viên, tặng quà, biểu lộ tình cảm tin yêu rất đằm thắm. Tôi lại càng thấy rõ trách nhiệm của mình với nhân dân, với cán bộ chiến sĩ sư đoàn tôi hơn.

     Chỉ còn một ngày nữa sư đoàn hành quân. Đoàn xe ô- tô cấp trên trang bị cho sư đoàn đã xuống từng khu vực tập trung của các trung đoàn. Xe Zin rất mới xếp thành hàng ngụy trang chỉnh tề. Các chiến sĩ lái xe trang phục màu xanh lá cây mới toanh, mũ tai bèo cũng mới, vui vẻ đến chào và báo cáo tình hình với các cán bộ trung đoàn. Chiến sĩ các đơn vị phấn khởi đến chào các chiến sĩ lái xe, trao đổi với nhau cởi mở thân tình rồi hướng dẫn nhau luyện tập lên xuống xe, cách ngồi, cách xếp, cách buộc rọ lợn, bu gà sao cho chắc gọn. Tiếng bộ đội nói cười xen trong lời thăm hỏi bàn tán của người trong cuộc đến gần bãi tập xem rất đông, nhất là các cháu thiếu nhi. Có chiến sĩ ta lên xe bì bạch như ếch leo tường mãi mới lên được Mọi người vừa cười thích thú vừa reo hò: "Cố lên? Cố lên!" Tôi theo dõi hết buổi bộ đội tập lên xe, nghe tiếng nói cười của mọi người đến sướng tai, nhìn bộ đội tập thích mắt. Tôi rất hài lòng và rất yên tâm nghĩ về những ngày hành quân sắp tới, các chiến sĩ của sư đoàn không còn bỡ ngỡ nữa, sẽ thành thạo vượt qua trước mọi hoàn cảnh khó khăn.


        Ngày 2 tháng tư, cả sư đoàn hành quân. Mới hơn năm giờ sáng, trời còn đầy sương. Sương bao phủ khắp nơi từ trên nương đến dưới cánh đồng xã Hạ Long, từ cả dãy đồi khu Biển Sơn đến dãy núi huyện Thạch Thành. Chúng tôi xuống kiểm tra Trung đoàn 165 đang tập trung. Người, súng, xe đã sẵn sàng. Nhân dân các xã huyện Thạch Thành cả cơ quan đồng chí Quý, Bí thư huyện cũng đến tiễn đưa. Tôi chào đồng chí bí thư và nhân dân ra tiễn rồi mới đến chỗ trung đoàn.

     - Thế nào, đã sẵn sàng hành quân được chưa?

     - Sẵn sàng? Chỉ chờ lệnh Thủ trưởng thôi ạ?

      Tôi thấy vẫn còn một đồng chí nào đang buộc rọ lợn vào gầm xe. à, cậu Thìn. Tôi liền đến gần hỏi xem buộc đã chắc chưa.

     - Báo cáo Thủ trưởng, em đảm bảo xe có chạy nhanh hay đường có xóc ổ gà, ổ trâu, con lợn 80 cân cũng không rơi được đâu.

     Mọi người cười. Tôi khen chuẩn bị cẩn thận thế là tốt. Rồi quay sang hỏi đồng chí lái xe tên là Tâm:

    - Xe đồng chí chuẩn bị tốt chưa?

    - Thưa Thủ trưởng, con tuấn mã này là loại Zin mới, không chê vào đâu được. Xin mời Thủ trưởng kiểm tra.

    Tôi bước lên xe ngồi vào ghế, xoay tay lái, thử côn phanh, thấy là được. Nhìn trong buồng lái có treo hai lá cờ đỏ sao vàng và cờ giải phóng hai bên, Ở giữa có ảnh Bác Hồ, phía dưới có một bông hồng rất đẹp tôi hỏi Tâm thì biết là được cấp trên phát cho, xe nào cũng có.
Tôi thầm nghĩ, cán bộ chỉ huy đoàn xe này biết nhìn xa trông rộng đấy. Vì nhất định sư đoàn sẽ hành quân qua các vùng mới giải phóng, xe pháo phải thật đàng hoàng chững chạc. Tôi khen đồng chí lái xe:

     - Đồng chí chuẩn bị như thế là được.

     Trên đường trở về sư đoàn, tôi gặp rất đông bà con người đi bộ, người đi xe đạp đèo nhau, đa số là thanh niên, phụ nữ, có cả các ông bà già, các cháu thiếu niên, người xách gói, người đeo túi gạo, nải chuối, giỏ chanh, hối hả kẻo nhau đi. Tôi cho xe dừng lại hỏi:

     - Các ông bà anh chị đi đâu về mà vội thế?

     Mọi người dừng trả lời là đi thăm cháu, thăm anh ở Trung đoàn 165 Sư đoàn 312.

     Nghe nói cháu sắp đi chiến đấu ở chiến trường miền Nam. Nhận tin là chúng tôi đi ngay.

     - Thế các ông các bà, các anh chị quê ở đâu?

     Mọi người nhanh nhảu trả lời. ông thì nói tôi ở Hà Bắc, bà thì nói ở Hải Phòng, chị thì nói ở Hà Nội, anh thì nói ở Hà Tây, Phú Thọ,v.v... Tôi thử hỏi xem bà con biết tin này từ bao giờ. Người thì nói hai hôm, người nói hôm qua, nên phải đi suốt đêm. Tôi nhìn nét mặt mọi người ai cũng vui, nhưng mệt mỏi. Tôi báo tin cho các ông bà, các anh chị biết Trung đoàn 165 đang tập trung ở chỗ nhiều người và xe kia, chỉ cách đây hơn cây số.

     - Bây giờ mới gần bảy giờ, đến còn gặp được các anh ấy. Tám giờ đơn vị mới hành quân.

     Mọi người chào tôi rất vui vẻ.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 17 Tháng Mười Một, 2009, 02:25:59 pm
     Ở nơi tập trung khối sư đoàn tại xã Hạ Long, nhân dân cả xã này đủ các tầng lớp trẻ già lớn bé, các đoàn thể, đồng chí bí thư, chủ tịch xã đã đến tập trung đưa tiễn. Nhân dân các xã khác cũng đến đông hơn cả bộ đội. Các mẹ cho quà dặn dò, chúc mừng bộ đội lên đường lập công chiến thắng trở về. Các cô gái các cháu thiếu nhi xông cả vào hàng quân gặp người thân quen, thì thầm nói với nhau điều gì chẳng ai biết được, bịn rịn lưu luyến trao cho nhau những phong thư, mùi xoa, khăn mặt... Có lúc họ cười mà giàn giụa nước mắt khi bộ đội bắt đầu lên xe. Một cậu quản ca bật lên lấy giọng cho anh em hát bài "Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường..." Tiếng hát vang động khí thế hào hùng. Nhưng bà con vẫn chưa muốn rời tay với người ra trận hôm nay.

     Đúng tám giờ ngày 2 tháng tư năm 1975, tôi ra lệnh lên đường hành quân. Đoàn xe nổ máy ầm vang, rung động cả vùng đất, khoảng trời, rung động cả lòng người ra đi và nhân dân ở lại, lưu luyến, tự hào với một niềm cảm xúc đến lạ thường. Bộ đội ngồi trên xe tự tin, phấn khởi, vừa hát rất to vừa vẫy tay xuống chào đồng bào ở lại. Nhân dân vẫy tay lên hoan hô chúc mừng các anh đi vui khỏe chiến thắng. Đoàn xe từ từ rời khỏi khu tập trung, chạy ra đường 1. Tôi nhìn lại, nhân dân còn vẫy tay theo. Ra đường số 1 xe chạy tốc độ nhanh hơn. Cờ đỏ sao vàng hoặc cờ giải phóng trên đầu từng đơn vị xe bắt đầu bay, xe chạy càng nhanh cờ bay càng mạnh, càng đẹp. Chiến sĩ ta càng mát hát hò càng to, tỏ rõ khí thế hào hùng của đoàn quân ra trận. Suốt cả chặng đường dài, những bài hát được cán bộ chiến sĩ yêu thích như "Giải phóng miền Nam", “Chiến sĩ ca", “Truyền thống Sư đoàn", "Bác cùng chúng cháu hành quân" . . . cứ hát đi hát lại nhiều lần. Xe trước hát, xe sau tiếp lời ca, hơn 300 xe cùng hát. Nhân dân hai bên đường, người đang làm đồng phải dừng tay hoặc chạy lên đường, người ở xa vẫy tay, vẫy nón. Nhất là khi xe chúng tôi chạy qua các làng, các phố, thị trấn, người đứng hai bên đường chen nhau đông nghịt, đủ lứa tuổi, lớn, bé, già, trẻ, tay vẫy miệng hoan hô phấn khởi tin yêu đoàn quân ra trận. Có nơi bà con bám theo xe gửi tặng những trái dừa, nải chuối, tút thuốc lá, gói trà mộc và những bó rau . . .

     Nhất là khi đoàn xe sư đoàn đi qua Thành phố Vinh đang thời kỳ kiến thiết, ngổn ngang gạch ngói, bê tông, dân phố và nhân dân đứng chen chúc rất đông. Tới ngã ba, nhiều chiến sĩ nhắc nhau: Lối này về quê hương Bác..., lối này về nhà Bác ! . . .

     Buổi chiều ngày 3 tháng tư chúng tôi vượt qua Đèo Ngang. Một chiến sĩ cất tiếng đọc thơ của Bà Huyện Thanh Quan:

“Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá lá chen hoa..."


     Chiến sĩ ngồi cạnh lật mũ bật dậy vung tay đọc tiếp rất to, đĩnh đạc tràn đầy hứng khởi: "Bà Huyện Thanh Quan... giờ sống lại... Đứng đây ắt hẳn... cũng vang ca... Chẳng còn mang nặng... lòng chắc ẩn... Một mảnh tình riêng . . . ta với ta " . . .

      Tiếng vỗ tay tán thưởng, tiếng đòi đọc lại nổi lên rầm rầm...

       Ngày mồng 5 toàn sư đoàn tới thị xã Đông Hà, mảnh đất mà năm 1972 sư đoàn chúng tôi đã góp phần xương máu để gìn giữ. Thời gian đó suốt ngày không một bóng người lên khỏi mặt đất. Suốt đêm không có ánh đèn. Vậy mà, giờ đây đã trăm nghìn lần khác hẳn. Một rừng cờ và một biển người từ khắp các ngả đường đang hội tụ ở đây, cuồn cuộn như sóng biển. Hàng nghìn xe ô-tô đỗ sát bên đường cạnh những giàn tên lửa và những đoàn xe tăng đèn pha sáng lóa cả một vùng. Đất trời không còn tiếng súng, tiếng máy bay địch gầm rú, chỉ có tiếng hát hò, tiếng cười nói của hàng vạn, hàng vạn con người.

      Sáng 6 tháng tư, Bộ Tư lệnh sư đoàn họp đánh giá kết quả hành quân.,Chúng tôi đều thống nhất nhận định toàn sư đoàn đầy đủ gọn, an toàn, khí thế, phấn khởi chấp hành kỷ luật nghiêm. Bàn về việc thực hiện nhiệm vụ tiếp theo sẽ hành quân trên đường  Trường Sơn rất nhiều đèo dốc, Bộ Tư lệnh sư đoàn nên chuyển sang đi ô-tô to mới theo kịp đội hình và đôn đốc các đơn vị được. Các anh trong Bộ Tư lệnh: anh Xuyên, anh Hoàng Lê, anh Kiện, anh Quân đều thống nhất như thế. Chúng tôi sống với nhau lâu, hiểu nhau chẳng phải giải thích đều nhất trí cao.

     Ngay sau đó, chúng tôi triệu tập họp cơ quan chỉ huy các trung đoàn. Tôi thay mặt Bộ Tư lệnh nhận định đợt hành quân vừa qua và thông báo:

     - Sư đoàn vinh dự được hành quân trên đường Trường Sơn. Trước đây là con đường "mòn" nhưng bây giờ đã trở thành “Đại lộ Hồ Chí Minh" mà cả thế giới biết. Đã bao lớp người hành quân ra trận theo con đường của Bác. Nhưng sư đoàn ta đi lần này mới là lần đầu tiên. Trước tình hình khẩn trương, chúng ta cứ hướng theo con đường mang tên Bác mà đi, tự tìm cung chặng mà nghỉ, dù khó khăn đến mấy chúng ta cũng kiên quyết đi tới tận cùng con đường Hồ Chí Minh thực hiện bằng được Di chúc của Người: "Giải phóng hoàn toàn miền Nam".

      Mặt trời vẫn chói chang. Sư đoàn chúng tôi lại tiếp tục hành quân. Đội hình xe quay hướng lên phía dãy núi Trường Sơn. Con đường số 9 rộng thênh thang, nhẵn bóng như mặt gương. Xe đi êm như ru. Những dãy núi Tà Cơn, Khe Sanh, Lao Bảo... lần lượt hiện ra trước mắt chúng tôi. Những cái tên quen thuộc ấy gắn liền với những chiến công oanh liệt mà hôm nay tận mắt nhìn thấy. Dọc hai bên đường, chi chít hố bom. Những đồn bốt, căn cứ quân sự, giờ chỉ còn ngổn ngang những dây thép gai, công sự sập, xác xe cháy. Càng đi càng thấy xác xe tăng, xe bọc thép chúng nằm trơ như những tảng đá. Đây là kết quả của cuộc hành quân Lam Sơn 719, bước đầu thất bại thảm hại của chính sách "Việt Nam hoá chiến tranh" của bè lũ Mỹ - Thiệu.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 18 Tháng Mười Một, 2009, 11:15:54 pm
     Đoàn xe sư đoàn đến chân đường Trường Sơn. Tôi nhìn lên Trường Sơn hùng vĩ, núi rừng xanh thẳm điệp trùng, nhìn rõ con đường lên vòng vèo cheo leo chênh vênh, cảm thấy đường lên Trường Sơn như đường lên trời. Xe tôi đi đầu nhìn thấy đoàn xe sau chẳng khác con rồng khổng lồ đang uốn khúc vươn lên đỉnh dãy Trường Sơn. Tôi lại nhớ lời chúc của đồng chí Chủ tịch xã Hạ Long, khi tiễn sư đoàn lên đường: “Nhân dân xã chúng tôi là xã Hạ Long, xã Rồng đậu. Bây giờ Tổ quốc gọi lên đường thì rồng lại bay đi. Tôi thay mặt cho nhân dân toàn xã chúc sư đoàn của các đồng chí đi như rồng bay, đánh như rồng cuốn, cuốn sạch sành sanh mọi đón thù." Lúc này nhớ lại càng thấy vui. Đoàn xe sư đoàn vòng vèo cứ như chạy ngược đường lên trời. Cuối cùng chúng tôi cũng lên tới đỉnh Trường Sơn, thấy trời cao lồng lộng và rộng vô cùng. Tận hưởng cái gió Trường Sơn, ai cũng vui phấn khởi hát hò trò chuyện râm ran. Lần đầu tiên sư đoàn đến với Trường Sơn, được đi trên con đường Trường Sơn mang tên Bác Hồ vĩ đại, tôi rất xúc động và nhớ Bác vô cùng. Từ ngày Sư đoàn 312 thành lập đến khi Bác đi xa, sư đoàn được Bác về thăm bốn lần. Những lời động viên, khuyên bảo của Bác đều được ghi vào Sổ vàng truyền thống sư đoàn. Cán bộ chiến sĩ ai cũng ghi sâu lời Bác dạy chẳng bao giờ quên được.

       Ngày 7 tháng tư. Tôi nhận thấy đường Trường Sơn không chỉ có sư đoàn mình mà còn có rất nhiều đơn vị cùng hành quân ra trận, từ bộ đội pháo binh, tên lửa, xe tăng, pháo cao xạ, công binh bộ đội 559 đến cả các đoàn văn công, nhà văn, nhà thơ, nhà báo, các đoàn cán bộ Đảng, chính quyền, các dân tộc anh em, trong Nam, ngoài Bắc, cuồn cuộn đi vào miền Nam đánh Mỹ-ngụy. Gặp nhau trên đỉnh Trường Sơn đầy ắp tiếng nói cười, hát hò át cả tiếng bom giặc. Thật đúng là có đi trên con đường Trường Sơn mới thấy được tầm vóc vĩ đại của dân tộc ta, mới thấy hết sự tài tình và công lao của nhân dân, của Bác, của Đảng. Con đường như một con rồng khổng lồ uốn khúc theo dọc dãy Trường Sơn, lúc lao xuống khe sâu, khi nằm chênh vênh trên các ngọn núi quanh năm mây phủ, lúc ẩn mình trong cánh rừng đại ngàn, khi lại tản ra thành hàng chục con đường rồi lại tụ vào một điểm. Dọc hai bên đường có những quả đồi bom đánh chỉ còn trơ đất đỏ với đá gan gà.

     Nhiều cánh rừng bị B.52 và thuốc độc hóa học đốt cháy trụi. Nhưng Trường Sơn vẫn uy nghi hùng vĩ. Hàng nghìn, hàng vạn quả núi cao nhọn hoắt nối tiếp nhau giăng giăng như một bức trường thành dài vô tận. Mỗi một "bãi khách" trên đường Trường Sơn là một cảnh đẹp. Có nơi là một khu rừng san sát lim, gụ, vàng tâm cao hàng chục mét, hai ba người ôm không xuể, cành lá tầng tầng lớp lớp, tưởng như ánh mặt trời không xuyên qua được. Lại có nơi thật lắm chồn nhiều sóc đua nhau nhảy nhót chuyền cành, hoa phong lan đủ loại, đủ màu, rủ xuống tỏa hương suốt cả một chặng đường dài.

     Đã cuối mùa khô mà thời tiết vẫn như lửa đốt. Chưa bao giờ chúng tôi lại gặp cảnh bụi đường khủng khiếp như trên đường Trường Sơn. Có đoạn xe chạy như chui vào ống khói khổng lồ. Xe chạy ngày, xe trước xe sau chỉ cách nhau vài mét cũng không nhìn thấy nhau, cứ phải bấm còi liên tục, phải bật cả đèn pha để khỏi húc nhau. Bộ đội mỗi người một chiếc khăn mặt, che kín mũi, kín miệng. Ngoài đôi mắt còn như toàn thân từ đầu tới chân một màu vàng khè. Lại còn số lợn mang theo nữa, mấy ngày bão bụi chúng đã bị chết một phần ba vì tắc mũi. . . Có đoạn lại như bãi sa mạc, cát là cát, xe lao đến đâu xé cát đến đấy, không khác gì xe lội nước. Chiếc xe của tôi bỗng dừng khừng lại như húc phải vật gì. Tôi rời khỏi ca bin bước xuống. Trời ơi, không ngờ lại thụt xuống tận ngang hông. Anh em phải đưa gậy ra kẻo tôi lên mới thoát "chết đuối" vì cát bụi. Suốt chặng đường cát bụi như vậy, chẳng ai còn nói chuyện nữa. Nhưng càng bụi và nóng bao nhiêu thì cái khát càng giày vò bấy nhiêu. Đi mãi suốt ngày đường không tìm thấy đâu một con suối có nước. Nhịn đói một vài ngày thì còn chịu được chứ nhịn khát một vài giờ thì khổ vô cùng. Đường lại xóc, xe chạy cứ thỉnh thoảng lại nhảy cỡn lên, chồm chồm, khiến ai cũng mệt lử. Chỉ có tai còn nghe tiếng máy của xe chạy vù vù. Ngồi trên xe, người bị xô nghiêng xô ngửa cứ phải ôm chặt vào nhau mong cho mau qua chặng đường "ói cơm" này. 17 giờ, đã xế bóng, xe tôi đi trước gặp con suối to, dòng nước trong xanh chảy lao vào những mô đá, tung bọt trắng phau. Đôi bờ cây to cây nhỏ lá mềm mại óng mượt nhô ra như nếp mái nhà xanh rì ôm lấy con suối. Có những cây gỗ còn nguyên vẹn, nhưng trụi lá nằm vắt ngang dòng suối làm thành chiếc cầu Suối đẹp quá Phải cho bộ đội dừng nghỉ ở đây để “tẩy” trần. Tôi nghĩ thế và quyết định cho xe chạy một lúc áng chừng cả sư đoàn vào hết đoạn suối hiếm có trên chặng đường hành quân bức sốt này, rồi mới phát lệnh. Chà! Lệnh vừa thoắt truyền đi đã được thực hiện mau đến thế! Cái dòng suối đã như đầy ắp tiếng cười đùa, la hét. Cán bộ chiến sĩ cũng vậy, té tát nhau chẳng khác gì đoàn trẻ nhỏ thuở nào tắm ở ao làng sau buổi chiều hè đi trâu về. Cán bộ chiến sĩ ai cũng thoải mái vui đùa và đặt cho con suối cái tên "Suối tiên trên đỉnh Trường Sơn".

     Xẩm tối, cơm nước xong, tôi đang chuẩn bị mắc võng để ngủ đêm cạnh Suối tiên thì đồng chí cơ yếu đã đến đưa cho tôi bức điện của Đồng chí Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc! Thần tốc hơn nữa! Táo bạo! Táo bạo hơn nữa! Tranh thủ từng giờ, từng phút. Xốc tới mặt trận giải phóng miền Nam! Quyết thắng và toàn thắng!”

     Đọc xong bức điện, tôi nghĩ: Mình vừa lệnh cho bộ đội nghỉ, có đơn vị còn chưa kịp ăn cơm, nhất là bộ phận nuôi quân, có anh chưa tắm giặt, giờ lại lệnh đi ngay thì căng đây. Mà thực ra hôm nay bộ đội đi quá mệt lại được nhiều đường hơn hôm qua, tôi cũng muốn nghỉ lại đêm cho đỡ mệt. Nhưng mệnh lệnh của Đại tướng Tổng Tư lệnh đang ở trong tay tôi; mật lệnh tuy chỉ có mấy câu ngắn gọn nhưng chứa đựng biết bao điều quan trọng! Đặc biệt là thời cơ.

     Thời cơ! Thời cơ! Thời cơ có một không hai! Thời cơ toát lên trong toàn bộ bức điện? Thời cơ nổi bật lên trong mấy chữ "Thần tốc! Thần tốc hơn nữa! Táo bạo! Táo bạo hơn nữa".


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 18 Tháng Mười Một, 2009, 11:17:18 pm
     Cách mạng của ta bao phen thắng lợi cũng chính là bao nhiêu phen Đảng nắm bắt trúng thời cơ! Nghĩ vậy, nhưng tôi chưa vội hội ý các anh trong Bộ Tư lệnh, bèn gọi mấy chiến sĩ đang ngồi cạnh suối đến gần, đưa bức điện cho một đồng chí đọc to cùng nghe. Đọc xong, tôi hỏi:

     - Ngay bây giờ tôi hạ lệnh lên đường, anh em thấy thế nào? Mệt đấy, thiếu ngủ nữa đấy, có lên đường được không?

     Lập tức anh em tranh nhau trả lời:

     - Được! Đi được? Thủ trưởng lệnh đi!

     Ôi suy nghĩ của người lính sư đoàn tôi hay đến thế. Tôi mừng quá bảo anh em về chuẩn bị, còn tôi hội ý các anh trong Bộ Tư lệnh sư đoàn.

     Thế là lệnh thần tốc được truyền từ đầu đến cuối hàng quân. Mọi người lại tranh thủ xếp đồ đạc lên xe tiếp tục cuộc hành trình. Các đơn vị nhanh chóng ghi nhanh bức điện hành quân "Thần tốc" thành những khẩu hiệu bướm dán lên mũ, lên đầu xe ô-tô, để động viên, nhắc nhở mọi người đi nhanh tới đích.

     Từ đây đoàn xe chạy liên tục suốt ngày đêm trên đường, không còn cung chặng, chỉ nghỉ để anh em nấu cơm trong khi chờ xe nguội máy. Bộ đội ngủ ngay trên thùng xe.

     Ngày 10 tháng tư. Chúng tôi vượt qua đèo Ăm Pun. Đến chân đèo, trời mưa nặng hạt. Nhìn lên đường phải vượt qua đèo ăm Pun quanh co, chót vót, trời lại mưa, đường trơn lầy, bùn nhão nhoét... nghĩ mà lo thắt ruột. Những chiếc xe lấm lem, chạy như bò, ga rú, máy nổ ầm ầm, két nước sôi sùng sục... lúc vẹo sang phải, lúc ngả sang trái như bà lên đồng, như anh say rượu. Có xe không vượt qua dốc đỉnh núi, phải có xe khác kéo mới lên được. Nghĩ mà khâm phục các chiến sĩ lái xe gan vàng dạ ngọc của Trường Sơn đã ngày đêm vượt qua ngọn đèo này mà mỗi đêm không chỉ vượt có một ngọn đèo như cái đèo Ăm Pun này.

     Ngày 11  tháng tư. Toàn sư đoàn đã tới Ngã ba Đông Dương, nơi hợp điểm của mối tình đoàn kết và ý chí muôn người như một của ba dân tộc Việt Nam - Lào -  Cămpuchia trong cuộc chiến đấu chung kẻ thù chung là bọn xâm lược Mỹ.
   
     Lệnh hành quân thần tốc mới đi được hai ngày đêm, trung đoàn pháo sư đoàn đã báo cáo cháy một bánh xe, long một bánh pháo. Câu chuyện "đi cháy bánh xe, long bánh pháo" lan nhanh khắp sư đoàn như truyện thần thoại "đi vượt không gian, đi vượt cả thời gian". Không biết từ đơn vị nào nêu ra mà truyền khắp các trung đoàn. Cũng đúng là như vậy. Trước đây đơn vị chỉ đi một cung có 80-l00km. Sau nâng dần l00-150km rồi 200km. Có đơn vị 250-300km. Đi cháy bánh xe long bánh pháo là trung đoàn trưởng báo cáo với tôi. Tôi rất mừng đã vượt qua đường Trường Sơn. Xe chúng tôi tiếp tục xuống con đường 14A qua thị xã Plây Cu đến Ban Mê Thuột. Nơi đây nhan nhản những đồn bốt và ấp chiến lược. Nhà dân thì nhỏ như cái bốt gác lợp tôn, chỉ mới trông thấy đã ngột cả người. Những đồn bốt giặc bị ta đánh tan hoang, chỉ còn ngổn ngang hàng rào kẽm gai, công sự sập, các lô cốt còn đôi cái đứng trơ. Xe pháo cháy, nhà cửa đổ. . . Bà con các dân tộc mới được giải phóng tưng bừng kẻo nhau về buôn sóc cũ. Các đội thanh niên xung phong, dân công, áo quần đủ màu, rầm rập tải gạo, đạn ra tiền tuyến. Khắp các ngả đường ô-tô, hon đa, người đi bộ ken nhau như mắc cửi...

     Ngày 12 tháng tư. Sư đoàn đến huyện Đồng Phú, tiến xuống Đồng Xoài, tỉnh Bình Dương, là địa điểm tập kết cuối cùng do quân đoàn quy định. Tôi rất vui mừng: Sư đoàn tôi từ Thanh Hóa hành quân đến Đồng Xoài miền Đông Nam Bộ, vượt gần 2000km chỉ mất 10 ngày. Một chặng đường dài theo đất nước, vừa lạ vừa quen, vừa hiểm trở đến thế mà chỉ hỏng có ba xe hai pháo. Người thì an toàn tuyệt đối. Lính cũ cũng như lính mới, người người lớp lớp náo nức chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng. Là cán bộ chỉ huy sư đoàn, tôi ở sư đoàn từ khi thành lập, rất nhiều lần hành quân đi chiến dịch chưa có cuộc hành quân nào đường dài hai nghìn cây số đi qua nhiều tỉnh, nhiều vùng, địa hình, thời tiết khác nhau, đi từ miền Bắc đến tận chiến trường miền Đông Nam Bộ, toàn sư đoàn tới vị trí chỉ mất mười ngày, vượt quy định của trên mười hai ngày. Đi nhanh như vậy, đến địa điểm tập kết gọn và an toàn, bộ đội phấn khởi, đầy khí thế. Đúng là cuộc hành quân thần tốc, cuộc hành quân lịch sử. Trong hai cuộc chiến tranh, sư đoàn tôi đi chiến đấu các chiến dịch thì nhiều. Nhưng có bốn cuộc hành quân khiến tôi không thể nào quên. Một là năm 1953, sư đoàn hành quân đi chiến dịch Điện Biên Phủ, đoạn đường dài tiến vào Tây Bắc Điện Biên chỉ có 250km. Cán bộ chiến sĩ đều đi bộ, mang vác rất nặng, đi ngày đi đêm suốt một tháng trời.  Hai là cuộc hành quân năm 1968-69, hành quân sang chiến dịch hợp đồng chiến đấu với bộ đội Pa thét Lào đánh Mỹ và quân phái hữu Lào, Ở Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Cả đi bộ, đi ô-tô và tàu hỏa trên đoạn đường dài hơn nghìn cây số, thời gian mất hai mươi ngày. Cuộc hành quân thứ ba, sư đoàn đang ở chiến trường nước bạn Lào từ Long Chẹng về mặt trận Quảng Trị năm 1972-73, đánh Mỹ - ngụy, đoạn đường dài l.200km, vừa đi bộ, đi ô-tô, tàu hỏa, vừa đi thuyền, ca nô, cũng phải mất 15 ngày. Đến năm 1975 này, cả sư đoàn hành quân, cả sư đoàn đi bằng ô-tô, đoạn đường dài 2.000km, chỉ mất có 10 ngày. Đây là cuộc hành quân rất đặc biệt của Sư đoàn 312 chúng tôi. Qua bốn cuộc hành quân lịch sử ấy, cán bộ chiến sĩ sư đoàn trưởng thành rất nhiều mặt: Về công tác lãnh đạo, tổ chức, chỉ huy cũng như về công tác hậu cần, kỹ thuật. Đặc biệt là được rèn luyện và trưởng thành về mặt quyết tâm và ý chí chiến đấu.


2. DÀN THẾ TRẬN Ở BÌNH DƯƠNG

      Khi sư đoàn chúng tôi vào tới vị trí tập kết trong khu rừng cao su Đồng Xoài thuộc tỉnh Bình Dương thì có tin cánh quân phía đông đang tấn công Xuân Lộc rất quyết liệt, đã cắm cờ lên dinh tỉnh trưởng nhưng vẫn chưa dứt điểm. Cả đội hình sư đoàn trú quân rong rừng cao su bạt ngàn, rất thoải mái. Bộ đội được tắm giặt, đi lại tranh thủ luyện tập chuẩn bị cho trận chiến đấu. Ai cũng phấn khởi, song vẫn bâng khuâng... Mới cách đây 10 ngày, sư đoàn còn ở miền Bắc mà hôm nay chúng tôi chỉ ngồi cách Sài Gòn có 80km. Thật là cuộc hành quân thần tốc, đặc biệt, lịch sử của Sư đoàn 312 chúng tôi. Trong khi cán bộ cơ quan Bộ Tư lệnh sư đoàn họp rút kinh nghiệm hành quân thì có điện của Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 gọi tôi và anh Xuyên, Chính ủy sư đoàn lên làm nhiệm vụ. Lên tới quân đoàn, gặp được tất cả các anh trong Bộ Tư lệnh: anh Nguyễn Hòa, anh Hoàng Minh Thi, anh Hồng Phong, anh Thế Bạn. . . Thấy các anh đều khỏe mạnh, thật là mừng. Lại gặp các đồng chí cơ quan binh chủng pháo binh, cao xạ, xe tăng, thông tin, các đồng chí tư lệnh Sư đoàn 320 cả các đồng chí trên cơ quan trên Mặt trận cùng anh Sáu Phát, Bí thư tỉnh Bình Dương, anh Năm Châu Tỉnh đội phó... Gương mặt người nào cũng lộ vẻ hân hoan khi trao đổi với nhau về tình hình các mặt trận.

     Bắt đầu họp, Tư lệnh Nguyễn Hòa giới thiệu cấp trên lên giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 1. Sau khi nói rõ tình hình địch, ta và quyết tâm của Bộ chỉ huy, đồng chí cán bộ mặt trận giao nhiệm vụ cho Quân đoàn 1 đảm nhiệm hướng chiến dịch tấn công từ hướng Tây Bắc vào Sài Gòn. Trận đầu mở cửa là đánh vào tuyến phòng thủ của địch trên đoạn đường 16, vào các cụm đồn quân địch ở cứ điểm Bình Cơ, Bình Mỹ, Dốc Bà Nghĩa, đến Tân Uyên, nhanh chóng đưa lực lượng chủ yếu thọc sâu theo con đường 13, đánh chiếm Bộ tổng tham mưu ngụy, cùng với các hướng đơn vị bạn chiến đấu giải phóng Thành phố Sài Gòn.  Dùng một sư đoàn cùng với quân dân tỉnh Bình Dương ngăn chặn tiến tới tiêu diệt toàn bộ sư đoàn 5 ngụy khôngđể nó rút chạy về Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn tỉnh Bình Dương. Chiến dịch này lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 07:35:54 am
     Cả hội nghị vui mừng phấn khởi, rất tin tưởng Chiến dịch Hồ Chí Minh nhất định thắng. Tiếp theo đồng chí Tư lệnh Nguyễn Hòa, Chính ủy Hoàng Minh Thi lần lượt giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 320, Sư đoàn 312 chúng tôi và các binh chủng cùng các lực lượng vũ trang của tỉnh đội. Anh Năm Châu, anh Sáu Phát giao nhiệm vụ nói rất cụ thể: Sư đoàn 320 cùng Sư đoàn 312 và dân quân tỉnh Bình Dương đánh trận đầu mở cửa vào tuyến phòng thủ con đường 16. Sư đoàn 320 đánh vào cụm cứ điểm Dốc Bà Nghĩa, thị trấn Tân Uyên. Sư đoàn 312 đánh vào cụm cứ điểm Bình Cơ, Bình Mỹ. Quân dân tỉnh Bình Dương phối hợp với hai sư đoàn tấn công nổi dậy giải phóng đường 16. Nhiệm vụ tiếp theo của Sư đoàn 320 sau khi hoàn thành ở hướng chủ yếu phải nhanh chóng đưa toàn bộ lực lượng thọc sâu theo con đường 13 vào đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy. Sau đó cùng các đơn vị bạn đánh chiếm giải phóng Sài Gòn. Sư đoàn 312 cùng quân dân tỉnh Bình Dương là hướng thứ yếu. Trận đầu mở cửa là tấn công vào cứ điểm Bình Cơ, Bình Mỹ. Khi hoàn thành nhanh chóng đưa toàn bộ lực lượng sư đoàn thọc sâu vào con đường 13 chốt chặn bao vây căn cứ Phú Lợi, Bến Cát, Lai Khê, không cho sư đoàn 5 rút chạy về Sài Gòn. Trước hết, tập trung lực lượng tấn công tiêu diệt căn cứ Phú Lợi. Sau đó mới đánh tiêu diệt toàn bộ sư đoàn 5 ngụy ở Bến Cát, Lai Khê cùng với quân dân tỉnh Bình Dương giải phóng hoàn toàn tỉnh Bình Dương. Mặt trận, quân đoàn quyết định thành lập Bộ chỉ huy thống nhất và giao cho tôi làm Tư lệnh. Đồng chí Sáu Phát, Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương, là Chính ủy. Đồng chí Một Hữu, Tỉnh Đội trưởng làm Phó Tư lệnh. Các đồng chí cán bộ cơ quan tỉnh, cán bộ cơ quan Sư đoàn 312 đảm bảo lãnh đạo, chỉ huy, giúp cho Bộ chỉ huy thống nhất. Để đảm bảo bí mật lực lượng, Sư đoàn 312 tập kết bộ đội ở khu vực Bến Bầu, Sông Bé. Đoàn cán bộ chỉ huy đi trinh sát nắm địch không được vượt qua tuyên phòng thủ của địch trên đường 16. Thời gian chuẩn bị ngày x phải xong, đến ngày y là ngày toàn chiến dịch tấn công nổ súng. Như vậy, thời gian chuẩn bị để đúng ngày ta tấn công nổ súng là rất gấp. Tôi thầm nghĩ như vậy.

      Nhận nhiệm vụ xong, chúng tôi, anh Xuyên, anh Sáu Phát, anh Năm Châu cùng nhau trao đổi tìm hiểu nhiệm vụ trên giao cho quân dân tỉnh và sư đoàn, bàn về tổ chức thực hiện nhiệm vụ Chiến dịch Hồ Chí Minh tổng tấn công và nổi dậy. Phải thực hiện tấn công tổng hợp cách đánh của sư đoàn chủ lực, cách đánh bộ đội tỉnh, cách đánh của quân du kích cùng nhân dân tấn công nổi dậy, có như thế mới tạo nên sức mạnh tổng hợp đánh thắng kẻ thù nhanh gọn được. Về chuẩn bị kế hoạch tác chiến của Sư đoàn 312, phải nói thật là tôi và anh Xuyên lần đầu tiên vào chiến trường miền Đông Nam Bộ nên chưa hiểu địch cũng như địa hình và cả tình hình nhân dân. Thời gian lại gấp. Làm thế nào để cán bộ Sư đoàn 312 cũng như bản thân tôi nắm được để thiết kế phương án tác chiến? Cách đánh của chiến dịch đã chỉ ra như thế. Tôi đề nghị ta phải tổ chức ngay đội trinh sát chỉ huy thống nhất.  Phía tỉnh gồm các đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, huyện đội trưởng, tỉnh đội trưởng. Bên sư đoàn từ cán bộ cấp trưởng đại đội đến tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn, cơ quan. Phải đi nắm địch ngay để cùng nhau thiết kế được kế hoạch tác thiến toàn diện thống nhất, đó là việc ưu tiên.

      Anh Năm Châu nói thêm:

     - Từ đây về căn cứ tỉnh, tôi, anh Sáu Phát đi hon đa cũng phải mất hai ngày. Đường khó đi. Không có đường ô- tô Các anh đi bộ cũng phải ba bốn ngày. Địa hình không thuộc phải vượt qua sông Bé, đi qua chiến khu Đ mới đến căn cứ tỉnh được. Quân đoàn, Mặt trận, lại không có người đưa đường thì biết ngày nào các anh mới đến được để cùng triển khai. Tối mai chúng tôi về đến căn cứ tỉnh để triển khai được rồi.

      Nghe anh Châu nói, tôi lo. Hiện Quân đoàn, Mặt trận, tỉnh không có người dẫn đường. Chúng tôi tự tìm đi hỏi dò dần, chẳng biết ngày nào tới được. Tôi đề nghị hai anh cho đoàn cán bộ trinh sát chỉ huy sư đoàn đi theo luôn các anh về tỉnh để cùng triển khai. Anh Năm Châu nói tiếp:

      - Chúng tôi chỉ có hai người, cũng cần về ngay triển khai mới kịp. Hơn nữa, các anh đi bộ, chúng tôi đi xe. Chỉ tiếc cơ quan ở xa quá.

     Cuối cùng, anh Sáu Phát nói với tôi và anh Năm Châu là anh Năm Châu đưa đoàn trinh sát và cả tôi cùng về tỉnh triển khai. Chỉ có thế mới kịp. Tôi rất phấn khởi, trao đổi với anh Xuyên về đơn vị phổ biến rồi đi sau. Mặt khác, tôi cho một cán bộ tác chiến về tổ chức đội trinh sát đi theo sau, hẹn gặp Ở Bến Bầu, bên này con sông Bé.
   
      Đội trinh sát được tổ chức gồm một số cán bộ tác chiến, trinh sát, pháo binh, thông tin. Tổ trinh sát, tổ phòng vệ, tổ thông tin đi hai xe ô-tô theo đường công binh ta đang mở đến Bến Bầu.

      Tôi đi trước cùng anh Sáu Phát và anh Năm Châu. Vừa đi khỏi nơi nhận lệnh ba cây số thì địch bắn pháo dội bom suốt dọc đường ta đang mở này. Chắc là con đường đã bị lộ. Quãng đường dài có hơn 20km mà mãi hơn 17 giờ chúng tôi mới đến được khu vực Bến Bầu. Cũng là hết đường ô-tô. Chúng tôi quyết định ngủ tại đây để đón đoàn trinh sát sư đoàn đi sau. 18 giờ, tôi gặp anh em, chờ đơn vị ngủ bên này sông Bé và dặn các trung đoàn trưởng:

      - Đoàn ta ngủ ở đây có hai đồng chí Bí thư và Tỉnh đội phó tỉnh Bình Dương dẫn đường. Ổn định nơi ngủ rồi thì đến thăm chào hai anh ấy.

     Trung đoàn trưởng các Trung đoàn 165, 141, 209, đồng chí Măng, đồng chí Đàm, đồng chí Thích lần lượt đến thăm chào hai anh Sáu Phát và anh Năm Châu. Cả một số cán bộ tiểu đoàn và cơ quan trung đoàn bộ cũng đến.

     Tôi phải giới thiệu từng người. Hai anh rất phấn khởi hỏi thăm từng cán bộ, rất cởi mở thân tình. Cuộc gặp thời gian rất ngắn nhưng khi về trao đổi với nhau đồng chí nào cũng tỏ ra rất có thiện cảm, cứ khen đồng chí Bí thư tỉnh Sáu Phát dáng người thon cao, khi còn trẻ chắc phải đẹp trai lắm và chắc là học cao nên nói chuyện sâu sắc lại điềm đạm, tình cảm. Hết khen đồng chí Bí thư lại chuyển sang đồng chí Tỉnh đội phó Năm Châu, dáng người nhỏ thấp, rất nhanh nhẹn, nói cũng nhanh, tính tình bộc trực, cởi mở cũng rất thân tình. Tôi cũng có những nhận xét như cán bộ cơ quan trung đoàn và tin tưởng rằng có sự giúp đỡ của các đồng chí ấy, sư đoàn tôi nhất định hoàn thành được nhiệm vụ. Đêm khuya, đồng chí liên lạc của tôi đã mắc ba cái võng để ba chúng tôi ngủ gần nhau, lại chỉ rõ vị trí võng của từng người. Nhưng ba chúng tôi vẫn chưa tài nào ngủ được và vẫn canh cánh bên lòng về nhiệm vụ. Tôi hỏi anh Năm Châu để hiểu thêm về địch và địa hình toàn tỉnh sông Bé vì khi nhận lệnh ở quân đoàn, tôi nắm chưa chắc lắm. Anh Năm Châu giở bản đồ ra vừa chỉ lên bản đồ vừa nói:

      - Về lực lượng cầm súng có 5 vạn tên, gồm toàn sư đoàn 5 nguy, một lữ đoàn thủy quân lục chiến, một thiết đoàn tăng, mấy tiểu đoàn biệt động quân, lực lượng bảo an dân vệ bố trí toàn tỉnh hơn 300 đồn bốt. Sư đoàn 5 chỉ bố trí gọn trong ba căn cứ lớn: Phú Lợi, Bến Cát, Lai Khê. Công sự vững chắc. Hỏa lực chúng có 50 khẩu pháo lớn 105 và 175 ly.

      Tôi xem trên bản đồ, đồn giặc ken rất dày, từ ấp xã chúng cũng có đồn dân vệ. Nhân viên ngụy quyền có bốn vạn tên. Tôi khen anh tỉnh đội phó kiêm tham mưu trưởng nắm địch rất chắc. Còn về lực lượng ta, anh Sáu Phát bảo để nói đỡ anh Năm Châu, còn gì anh ấy sẽ bổ sung.

      - Như thế là lực lượng vũ trang của tỉnh có hai tiểu đoàn Phú Lợi và bốn đại đội công binh, pháo binh, thông tin, hậu cần kỹ thuật tỉnh, các huyện có các đại đội du kích tập trung. Xã ấp có 1,2 tiểu đội dân quân du kích, chỉ có 10 xã trắng chưa có cơ sở. Hiện nay tỉnh đã triển khai thế trận chuẩn bị sẵn sàng chờ lệnh tổng tiến công nổi dậy. Chỉ huy sở tiền phương tỉnh do anh Một Hữu, Phó Bí thư thường vụ, Tỉnh đội trưởng phụ trách bố trí trong vùng địch tạm chiếm ở khu rừng Tân Hội, chỉ cách căn cứ Phú Lợi, thị xã Thủ Dầu Một khoảng 7km. Khi có lệnh tiến công là các lực lượng vũ trang nhân dân tiến công nổi dậy ngay. Thực ra đánh với bọn ngụy quân, ngụy quyền, chúng tôi không lo. Cái đáng ngại là sư đoàn 5 ngụy, quân đông, vũ khí trang bị rất mạnh. Riêng pháo binh 105 ly và 175 ty chúng có 50 khẩu. Lại có cả một thiết đoàn xe tăng và ở trong các căn cứ lớn, công sự do Mỹ xây dựng trước đây rất vững chắc. Chúng tôi tính quân dân tỉnh sông Bé không đủ sức hoàn thành nhiệm vụ. Cán bộ tỉnh chúng tôi đang lo lắng như vậy. Được trên thông báo Sư đoàn 312 cùng với quân dân tỉnh sông Bé tiêu diệt bằng được sư đoàn 5 nguy, chúng tôi rất phấn khởi và rất tin tưởng. Trên có nhắc chúng tôi, sư đoàn lần đầu tiên vào chiến trường miền Đông Nam Bộ, chúng tôi phải tạo điều kiện giúp sư đoàn về mọi mặt. Đồng chí yên tâm, có khó khăn, yêu cầu gì, đồng chí cứ nêu ra. Đây là trách nhiệm chung để chúng ta cùng hoàn thành nhiệm vụ.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 07:38:49 am
      Bọn chúng tôi trao đổi hết nhiệm vụ chung lại chuyển sang chuyện riêng. Anh Sáu Phát hỏi tôi:

      - Lâu nay có được về thăm gia đình không?

      - Trước khi vào đây cũng có tranh thủ được ít hôm về thăm gia đình. Bà xã tiễn tôi rất là vui vẻ.

      Mọi người cười. Tôi cũng hỏi thăm gia đình các anh và các bà xã trong này. Cuộc trò chuyện cởi mở thân tình, đến 12 giờ đêm chúng tôi mới đi ngủ. Tiếng sóng gợn trên dòng sông Bé như ru tôi vào một đêm ngủ ngon. Sáng hôm sau dậy thấy thoải mái và như khỏe hơn.
6 giờ sáng, ăn cơm sáng xong, ba chúng tôi lại trao đổi chuẩn bị hành quân. Anh Sáu Phát nêu ý kiến để anh Năm Châu dẫn đoàn cán bộ sư đoàn về sau, anh về căn cứ trước họp thường vụ phổ biến nhiệm vụ cho cơ quan chuẩn bị. Khi sư đoàn về bàn công việc triển khai mới kịp.

      Tôi nghe cũng thấy rất cần như thế. Anh đi xe Hon đa chỉ một ngày đã về đến tỉnh rồi. Có thể ngay đêm nay họp được thường vụ. Có điều anh đi một mình có đảm bảo được an toàn không?

     - Anh yên tâm, ở đây là vùng tự do của ta. Tôi xuống cơ sở thường đi một mình.

     - Các anh yên tâm. Anh Năm Châu cũng thống nhất như thế.

     Và chúng tôi tiễn anh Sáu Phát vượt qua sông Bé.

     Đến 7 giờ, anh Năm Châu tiếp tục dẫn đoàn cán bộ chúng tôi vượt qua sông Bé đi vào con đường mòn trong một khu rừng bao la. Vừa đi anh vừa kể:

     - Tỉnh Sông Bé Ở phía nam Tây Nguyên. Khu rừng ta đang đi là một khu vực của chiến trường miền Đông Nam Bộ. Lại là phần cuối cùng con đường Trường Sơn. Tỉnh Sông Bé Ở phía bắc Sài Gòn. Từ đây chỉ còn cách Sài Gòn khoảng 80 đến l00km. Có thể nói tỉnh Sông Bé là địa bàn rất quan trọng về chiến lược trong cả hai cuộc kháng chiến của dân tộc ta. Về phía địch cũng như vậy. Cho nên cuộc chiến đấu diễn ra ở tỉnh Sông Bé chúng tôi rất quyết liệt, tàn khốc. Quân dân tỉnh Sông Bé phải chiến đấu trong gian khổ, ác liệt, hy sinh và cũng đầy khí phách anh hùng, kiên trung, bất khuất. Có như thế mới giành cho ta giữ được thế trận lớn mạnh như ngày nay. Chỉ nói riêng chiến khu Đ trong thời gian chống chiến tranh cục bộ đã có bao sự tích rồi. Ta đang đi trên con đường có biết bao vết tích Mỹ-nguy còn để lại, những hố bom đạn của các loại pháo hạng nặng và máy bay, cả máy bay B.52 rải thảm; vết tích về những lần chúng rải chất độc hóa học lần đầu tiên ở chiến khu Đ chưa xóa đi được. Những xác xe còn đầy rừng. Những cây khô đứng trơ, không ngón, hết cành trông như những cái cột chôn giữa rừng đầy vết đạn bom...

     Vượt qua chiến khu Đ, chúng tôi xuống đồng bằng mênh mông thoáng mát. Đi gần hết đêm thì tới khu căn cứ tỉnh ở giữa xã Bình Mỹ chỉ cách địch chốt trên đường 16 chừng mười sáu cây số. Tới nơi, anh em chúng tôi ai cũng mệt nhưng rất vui, được các đồng chí cơ quan Tỉnh ủy, Tỉnh đội đón rồi đưa vào nơi nghỉ có cơm nước chu đáo, tận tình. Tôi chợp mắt được một tiếng thì trời sáng. Thế là lại túm lại bàn bạc công việc với nhau. Tôi thấy rất lạ, tại sao địa hình bên này sông Bé kín có thể trú được hàng mấy sư đoàn, sao quân đoàn lại quy định sư đoàn ta chỉ được tập kết tại khu Bến Bầu bên kia sông Bé? Như thế là xa quá. Rõ ràng quân đoàn mới vào như chúng ta chưa nắm được tình hình nên mới lệnh như thế. Ý tôi thấy rằng tập kết ở khu vực Bến Bầu là rất xa, chuẩn bị vào chiến đấu không thích hợp. Nên cho sư đoàn vượt qua sông Bé, vào khu vực gần căn cứ tỉnh thì thuận tiện rất nhiều mặt. Tôi định báo cáo về quân đoàn xin ý kiến. Chẳng biết quân đoàn đang cơ động bây giờ ở đâu. Tôi liền viết thư về sư đoàn cho anh Xuyên, anh Quân, anh Kiệm, anh Hoàng Lê, đề nghị các anh cho sư đoàn vượt qua sông Bé vào gần căn cứ tỉnh Sông Bé để tiện triển khai chiến đấu, vừa kín đáo vừa đảm bào an toàn. Tôi đề nghị các anh báo cáo ngay lên quân đoàn về ý kiến của tôi như thế. Tôi còn nhắc thêm: "Nếu trường hợp quân đoàn chưa hiểu ra, không đồng ý, các anh cứ hỏi đồng chí Khác trinh sát, người cầm thư này, xem dọc đường đến khu tập kết tỉnh Sông Bé nó thuận tiện, thích hợp như thế nào, để có thực tế mà trình bày cho các anh quân đoàn đồng ý. Trường hợp quân đoàn không đồng ý, các anh cứ cho sư đoàn vượt sông Bé đến khu tập kết một. Quân đoàn có phê bình, kỷluật, tôi xin chịu trách nhiệm". Tôi viết thư xong cho đồng chí Khác cầm về, thấy yên tâm nhưng vẫn cảm thấy lo ngay ngáy. Không biết các anh có chịu nghe? Các anh mà không nghe tôi cũng chịu. Chẳng có cách gì hơn vì tôi đang trên đường đi nắm địch và nghiên cứu địa hình.

      8 giờ ngày 14 tháng tư. Anh Năm Châu đến dẫn tôi lên gặp anh Sáu Phát. Ba chúng tôi lại nghe toàn bộ tình hình và bàn một số việc triển khai. Tôi đề nghị tổ chức đội trinh sát chỉ huy của tỉnh với thành phần từ cán bộ đại đội, tiểu đoàn cơ quan tỉnh đội đến các huyện đội..., sư đoàn cũng từ đại đội trưởng, tiểu đoàn, trung đoàn cơ quan, lữ trưởng, tổ chức thành một đoàn, chỉ huy thống nhất. Tôi chỉ huy. Bên tỉnh có đồng chí Tỉnh đội phó.  Chúng ta cùng đi nghiên cứu địch, địa hình, xác định mụctiêu cùng nhau xây dựng phương án tác chiến. Cuối cùng anh Sáu Phát nhất trí quyết định anh Năm Châu đi cùng với tôi và giao cho anh Năm Châu chuẩn bị tổ chức để 15 giờ họp đoàn. Đúng 15 giờ, tôi sang họp bên cơ quan Tỉnh đội, gặp đủ thành phần quy định, phổ biến nhiệm vụ tổ chức cụ thể kế hoạch trinh sát các đồn giặc trên tuyến đường 16. Tập trung vào cụm cứ điểm Bình Cơ, Bình Mỹ - Dốc Bà Nghĩa. Cuộc họp thống nhất phải tổ chức từng tổ lấy đơn vị là trung đoàn, cán bộ tỉnh xen kẽ vào từng trung đoàn. Thực ra các cán bộ tỉnh chẳng lạ gì địch và địa hình cả.

      Hai ngày đêm chúng tôi đi nắm địch trên đường 16 địa hình tiếp cận thuận lợi, có thể đến các đồn giặc chỉ cách 200, 300m. Xác định được địch phòng thủ ở tuyến này, không có sư đoàn 5 ngụy, cả trên tuyến phòng thủ đường 15-14. Sư đoàn 5 ngụy chỉ bố trí tận bên trong tuyến quốc lộ 13, Ở gọn 3 căn cứ Phú Lợi, Bến Cát, Lai Khê. Như vậy. tuyến đường 16 - 15 - 14 chỉ có biệt động quân còn Bình Cơ - Bình Mỹ do tiểu đoàn 306 ngụy quân bám giữ. Đồn Dốc Bà Nghĩa, Tân Uyên cũng chỉ có ngụy quân. Chúng tôi nghiên cứu hệ thống quân sự trong các đồn, chưa đồn nào kiên cố, hỏa lực không mạnh, tinh thần dao động, không chịu nổi hỏa lực của ta khi tấn công. Chúng tôi thiết kế trận đánh cụm cứ điểm Bình Cơ – Bình Mỹ, bàn thống nhất cách đánh chỉ sử dụng hai tiểu đoàn với lực lượng du kích dân quân, chi viện ít hỏa lực là dứt điểm, không khó khăn gì. Mục tiêu chủ yếu là đánh sư đoàn 5 ngụy lại không có ở đây. Còn phải vượt qua tuyến
phòng thủ của địch trên đường 16 - 15 - 14, rồi phải đi suốt một ngày hai đêm nữa mới tới con đường 13. Chúng đều Ở trong căn cứ Phú Lợi - Bến Cát - Lai Khê. Cán bộ Sư đoàn 312 chúng tôi lại chưa biết địa hình, cách bố trí trong các căn cứ ấy thì làm sao tôi thiết kế được các trận đánh? Là Tư lệnh trong bộ chỉ huy thống nhất bắt buộc tôi phải suy nghĩ. Lệnh Quân đoàn 1 giao cho chỉ nắm địch trên đường 16, không được vượt qua đường 16, thế mới khó. Chẳng biết quân đoàn giờ ở đâu. Quân đoàn không có cán bộ nào ở đây cả. Đến chiến sĩ thông tin trinh sát của quân đoàn cũng không có ai. Làm thế nào xin ý kiến được. Tôi thấy lo. Đơn vị tôi có đánh thắng bao nhiêu trận ở đây cũng chưa phải mục tiêu chính vì nhiệm vụ chính của Sư đoàn 312 là chặn đứng sư đoàn 5 ngụy không cho chúng chạy về Sài Gòn.
Như vậy, đoàn cán bộ chúng tôi nắm địch, địa hình trên đường 16, thiết kế được các trận đánh trên giao cho là đánh vào cụm cứ điểm Bình Cơ - Bình Mỹ - Dốc Bà Nghĩa là rất ơn. Nhưng tôi vẫn không yên tâm. Nhiệm vụ Mặt trận và Quân đoàn 1 giao cho chỉ rất rõ Sư đoàn 312 chúng tôi phải tiêu diệt sư đoàn 5 ngụy. Đ ó là nhiệm vụ chính. Cán bộ chỉ huy chúng tôi chưa biết gì về sư đoàn 5 ngụy bố trí ở các căn cứ Phú Lợi, Lai Khê, Bến Cát to bé, ngang dọc như thế nào cả. Chưa có kế hoạch tác chiến  đánh vào các căn cứ sư đoàn 5 ngụy thì chưa thể về đón quân lên. Tôi thấy không yên tâm. Không được vô trách nhiệm với xương máu chiến sĩ. Tôi trao đổi với anh Năm Châu, Tỉnh đội phó cùng hai đồng chí Tiểu đoàn Phú Lợi và các anh huyện đội:

      - Tôi định đưa đoàn vượt qua tuyến phòng thủ trên đường 16 - 15 - 14, vào tận đường 13 để nắm địch ở căn cứ Phú Lợi, Bến Cát, Lai Khê có được không?

     Đồng chí huyện đội Bến Cát nói ngay:

      - Huyện tôi cạnh con đường 13 gần căn cứ Bến Cát, Lai Khê. Tôi có đại đội du kích tập trung. Các xã ấp có 1, 2 tiểu đội dân quân du kích tập trung đang hoạt động ở con đường 13, xung quanh hai căn cứ Bến Cát, Lai Khê. Tối nào anh em chẳng đưa cán bộ của tỉnh từ trong ra, đón từ ngoài vào.

     Đồng chí Năm Châu tiếp lời:

     - Đoàn ta đi thì an toàn thôi. Chỉ huy sở tiền phương, anh Một Hữu, đang trong đó. Còn có một đại đội tỉnh đang ở gần căn cứ Phú Lợi. Tối nào chẳng có cán bộ ra ngoài này, cán bộ vào trong ấy. Tuy vùng địch tạm chiếm nhưng xã ấp từ đây vào đến đấy đều có cán bộ cơ sở của ta. Hơn nữa, gần đây địch trong các đồn bảo an dân vệ ở ấp xã rất ít khi ra khỏi đồn ấp. Đêm thì nằm co trong đồn, ta tha hồ đi. Chỉ ngại nhất khi vượt tuyến đường 16, địch đóng đồn dày, chúng thường chỉ bắn pháo cối, không may thì bị, nhưng rất ít khi dính đạn. Đêm chúng không dám đi tuần.

     Tôi vẫn ở trong chỉ huy sở Tiểu đoàn 1 Phú Lợi. Anh Một Hữu mới ra cách đây hai ngày, lúc vào một đường, vượt ra một đường rất an toàn.

      Tôi liền hỏi để biết vượt qua đường 16 có mấy đoạn vượt?

     - Có ba đoạn - Anh Năm Châu nói ngay - Đoạn một nằm gần chợ Cửa Khẩu, đoạn hai sát đồn Bình Mỹ, đoạn ba gần đồn Dốc Bà Nghĩa.
Nghe các đồng chí địa phương trình bày, tôi càng củng cố thêm quyết tâm cho đoàn cán bộ vượt qua đường 16, vào tận con đường 13 để nắm cho được sư đoàn 5 nguy.

      Tôi triệu tập các cán bộ sứ đoàn để cùng bàn bạc. Tôi nói:

     - Các đồng chí biết sư đoàn 5 nguy không phòng thủ con đường 16, chỉ ở tận đường 13. Chúng ta phải vượt đường 16, vào tận trong đó để nắm bằng được địa hình và cách bố trí của chúng, có thế mới thiết kế được các trận đánh. Các đồng chí thấy thế nào? Nhất là lệnh trên không cho đoàn cán bộ ta vượt qua đường 16, vì trên xác định tuyến đường 16 có sư đoàn 5 ngụy phòng thủ. Ta đi quan sát xác định đường 16 và cả đường 15-14 đều là bảo an, biệt động quân, dân vệ. Các đồng chí suy nghĩ rồi cho ý kiến để chúng ta cùng quyết định đi hay không đi. Hay chỉ dừng ở đây về đón bộ đội lên đánh bảo an, dân vệ, biệt động quân?

     Trung đoàn trưởng Đàm phát biểu:

     - Còn nghĩ gì nữa. Mấy ngày nay, tôi đã nghe các đồng chí cán bộ tỉnh và thực tế nắm địch biết rất rõ sư đoàn 5 ngụy ở tận trong con đường 13. Thế nào đoàn ta cũng phải vào rồi. Hơn nữa nhiệm vụ trên giao là ta đánh sư đoàn 5 ngụy, đâu phải đánh quân bảo an, dân vệ?

      Đồng chí Măng, Trung đoàn trưởng 165 tiếp theo:

     - Tôi đồng ý như đồng chí Đàm. Ta phải vượt đường 16. Ta không vào chẳng biết địch và địa hình ra sao, đưa quân vào đánh là đánh kiểu gì? Ta phải vượt. Thủ trưởng quyết định đi!

     Đồng chí Thích, Trung đoàn trưởng 209, phát biểu:

     - Tôi rất tán thành ý kiến anh Đàm, anh Măng phát biểu. Đoàn ta phải vượt con đường 16, vào nắm bằng được sư đoàn 5 ngụy mới đánh được.

     Như vậy, các cán bộ trung đoàn, các đồng chí cán bộ, bộ đội tỉnh, huyện đội đều thấy phải vào và vào được. Tôi quyết định chịu trách nhiệm với trên là cho đoàn vượt qua tuyến đường 16. Phải nói là các cán bộ đã củng cố thêm lòng tin cho tôi rất nhiều. Tôi kết luận: Đêm nay nghỉ. Ngày mai chuẩn bị phổ biến nhiệm vụ. Tối mai 8 giờ, vượt đường 16. Riêng cán bộ Tiểu đoàn 2 Phú Lợi,Tiểu đoàn 1, C.141, tổ trinh sát, tổ thông tin ở lại do đồng chí Năm Châu phụ trách, tiếp tục nắm địch trên đường 16 và chuẩn bị theo kế hoạch tấn công vào cụm cứ điểm Bình Cơ Bình Mỹ. Còn tất cả các đồng chí trung đoàn ngày mai đi sẽ có thêm mười lăm du kích dẫn đường. Các đồng chí phải hỏi thêm về địa hình và địch tình. Đây toàn là các đồng chí rất thuộc đường được cử xuống các tổ để đi. Bất cứ tình huống nào cũng không được lạc bỏ nhau. Cuộc đi trinh sát này khác với những ngày trước từ vùng tự do ta đánh đồn giặc. Từ ngày mai ta đi trong vùng địch kiểm soát kỷ luật phải rất nghiêm, ý chí chiến đấu phải cao. Những đồng chí nào trù trừ còn lo lắng do dự, ta để ngoài, chẳng sao cả.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 07:41:07 am
      Theo kế hoạch, đoàn chúng tôi có ba đoạn vượt qua đường 16. Sáng hôm sau, tôi phân công Trung đoàn 165 nghiên cứu đơn Dốc Bà Nghĩa giáp với đồn Bình Cơ. Trung đoàn 141, đoạn sát đơn Bình Mỹ. Trung đoàn 209 bên trên chợ Cửa Khẩu. 12 giờ phải xong. Đây là tuyến giáp ranh giữa ta với địch. CÓ chợ Cửa Khẩu gần đồn Bình Mỹ, dân vùng tự do và cả dân trong vùng tạm chiếm, chiến sĩ ta và binh lính địch, không mặc áo nhà binh, đều đến chợ mua bán, chẳng ai bắt ai cả. Ở chợ Cửa Khẩu ta có cửa hàng là trạm liên lạc của ta, phải đi bộ để chuẩn bị cho đêm nay cả đoàn vượt qua đường 16. Tôi và anh Năm Châu đi Hon đa. Vào chợ, anh Năm Châu đến một cửa hàng. Cô gái chào anh và mời vào nhà trong, để tôi ngồi bàn ngoài rồi đem nước mời tôi, sau đó mới quay vào tiếp anh Năm Châu. Tôi ngồi một mình nhìn ra khu chợ tuềnh toàng trong khu rừng ngay trên đường 16, mấy dãy lều loi thoi, che bạt, ni lông, kẻ mua người bán cũng tấp nập, có cả lính ngụy và chiến sĩ của ta. Hình như ai cũng vội vã khi chào hỏi nhau, ít thấy tiếng cười. Tôi chỉ ngồi được ít phút, thấy cô gái ra, có một thanh niên dắt Hon đa theo sau. Cô gái này là người của ta cử ra bán hàng ở chợ. Anh Năm Châu mời tôi lên xe. Đi ra khỏi chợ 200m mới dừng lại ở đồn Bình Cơ - Bình Mỹ. Lúc này tôi. mới nhìn kỹ cô gái. Cô rất trẻ, độ 18-20 tuổi, có khuôn mặt tròn, trắng hồng, có giọng nói nhỏ nhẹ dễ nghe, đôi mắt rất tinh nhanh, dáng người thon cân đối trong bộ áo dài màu hồng càng tôn thêm vẻ đẹp của một cô gái đang tuổi lớn. Thôi, trách nào tỉnh chọn cô em bán hàng ở đây. Tôi mới gặp đã thấy mến. Tôi hỏi xem gia đình cô ở đâu, bố mẹ làm gì.

     - Ba má em đang ở trong thị xã Thủ Dầu Một. - Cô nói nhẹ nhàng.

     Anh Năm Châu mời tôi lên xe đi tiếp, trong lúc này địch ít chú ý. Chúng tôi có bơn người, đi hai xe Hon đa, cô gái lai anh thanh niên đi trước, anh Năm Châu lai tôi theo sau. Có lúc đi trên đường 16, đến từng đoạn định vượt như qua đồn Bình Cơ, Bình Mỹ, xe đi chậm lại. Cuối cùng tôi quyết định chọn đoạn vượt giữa đồn Dốc Bà Nghĩa với đồn Bình Cơ, đường tiếp cận kín đáo. Cả đoàn cũng sẽ vượt qua đường Dốc Bà Nghĩa này. Cô gái Bé đến chào, báo cáo đã hoàn thành nhiệm vụ. Tôi chào cảm ơn và muốn giữ cô lại để hỏi thăm. Anh Năm Châu nói phải và ngay để đón đoàn cũng vượt đêm nay. Tôi chẳng còn cách nào đành tiễn cô và anh thanh niên lên xe đi khuất vào khu rừng. Tôi hỏi anh Năm Châu:

      - Bố mẹ cô gái còn ở trong thị xã Thủ Dầu Một, phải không?

     - Đúng đấy, anh ạ. Gia đình ông bà ấy sinh được ba người con. Anh con cả là sĩ quan ngụy. Anh thứ hai là bộ đội giải phóng. Cô ta đang làm nhân viên bán hàng, làm liên lạc cho tôi. Ông bố đang ở thị xã có năm sáu chiếc xe cho thuê, mẹ bán hàng. Gia đình đó là cơ sở tốt của ta. Cô Bé là con gái út, rất ngoan, có học, được bố mẹ chiều, tiếp tế luôn. Có cô ấy bán hàng ở chợ Cửa Khẩu rất có lợi cho ta.

     - Thế cô ấy có chồng chưa?

      - Chưa đâu. Cô ta nói lấy chồng chỉ lấy bộ đội giải phóng, không bao giờ lấy lính nguy.

     Công việc cũng chẳng có thời gian để hỏi thêm về gia đình cô Bé này. Sắp đến giờ đoàn tôi vượt đường 16.

     Đêm xuống. Không gian êm ả như không hề có chiến tranh. Chỉ nghe tiếng giun dế côn trùng kêu râm ran, thỉnh thoảng gặp con chim cú đi ăn đêm, bay vụt lên. Đến 19 giờ, đoàn tôi đã vượt hết qua bên kia đường 500m, dừng lại kiểm tra quân số, cũng vừa lúc gặp liên lạc ra đón. Lúc này bắt đầu đi trong vùng địch kiểm soát nên đi rất nhanh và đi liên tục để kịp vào bộ chỉ huy tiền phương của tỉnh. Vượt qua tuyến đường 15-14, dù đi sát ấp, gần đồn cũng rất yên tâm vì đêm, địch không mò ra, mặt khác, có cán bộ cơ sở và dân quân du kích bảo vệ rồi. Trường hợp gặp tình huống gì dọc đường, đã có cán bộ huyện đội giải quyết. Chỉ có khi qua các cánh đồng mông mênh gió lạnh, ánh đèn từ các đồn ấp lập lòe như ma trơi, cũng ơn ớn. Đang vượt sang tuyến đường 15, tự nhiên ánh chớp sáng lòe trong đồn giặc. Thế rồi các loại súng cối, tiểu liên, đại liên, lựu đạn nổ tới tấp, pháo sáng vụt lên. Tôi đã lo cách phải xử trí. Đồng chí huyện đội ngồi cạnh tôi nói ngay:

     - Không sao đâu. Theo kế hoạch, bọn bảo an các đồn đêm nay diễn tập. Không sao đâu. Đồng chí cho đơn vị đi nhanh lên.

      Cuối cùng chúng tôi cũng vượt đường 14-15 an toàn. Phải đi qua mấy trăn ruộng, dãy đồi nữa mới đến Tân Hội. Trời đã mờ sáng, đi tiếp đến 7 giờ mà đội hình còn kéo dài. Tôi lại lo lộ với cả địch mặt đất và trên không. Chợt có hai bác nông dân vác cuốc dắt hai con trâu chỉ nhìn chúng tôi không nói. Đi tiếp qua đến dãy đồi ngô khoai sắn lại gặp hai cô gái, người vai vác cuốc tay cầm liềm, người gánh đôi quang gánh. Tôi cũng lo. Dân biết ta thì địch biết thôi. Đồng chí cán bộ Tiểu đoàn Phú Lợi lại nói với tôi đó là cơ sở của ta, giục tôi cho anh em đi nhanh kẻo máy bay. Lúc này tôi rất mệt muốn đi nhanh cũng không được. Cán bộ đến khu rừng Tân Hội gặp liên lạc trong chỉ huy sở anh Một Hữu ra đón, tôi mới yên tâm, lệnh cho đơn vị dừng nghỉ uống nước, ăn lương khô cho lại sức và nghe đồng chí liên lạc chỗ anh Một Hữu phổ biến tình hình.    

      Sở chỉ huy tiền phương tỉnh Sông Bé ở trong khu rừng Tân Hội bạt ngàn. Khi còn cách 200m, tôi đã nhìn thấy khá đông người. Đồng chí liên lạc dẫn đường bảo đến nơi rồi và báo cho tôi biết người đứng hàng đầu tiên bên phải là đồng chí Một Hữu. Tôi rất vui. Con người cách đây một tháng chỉ nghe các cán bộ tỉnh nói, chưa được gặp bao giờ, tôi đã có thiện cảm. Bây giờ, được gặp con người thực, nhìn anh to khỏe, người cân đối, tôi đoán chắc thời trai trẻ anh đẹp trai lắm.

     - Tôi là Một Hữu. - Anh tự giới thiệu rồi chạy đến ôm tôi. - Chúng tôi biết đoàn anh vào. Rất mừng. Cứ chờ mong mãi.

     Tôi cũng tự giới thiệu:

     - Tôi là Chuông đây.

    Tất cả anh em nhìn tôi ai cũng vui, phấn khởi. Có lẽ lúc ấy tôi, anh Một Hữu là những người vui hơn cả. Từ lúc gặp nhau, hai chúng tôi chẳng rời nhau, chuyện trò không dứt, cứ như hai anh em lâu ngày hôm nay mới được gặp lại nhau. Anh nói hơi nhanh, có giọng nói nhẹ, rất dễ nghe, cách diễn đạt khúc chiết. Tôi biết anh đang phụ trách lãnh đạo chỉ huy sở tiền phương của tỉnh ở trong lòng địch. Chúng kiểm soát tứ bề, ngày nào cũng bắn phá, truy lùng, chỉ huy sở tiền phương vẫn bám trụ, làm cho kẻ thù khiếp sợ. Đến đây, tôi thấy quân dân Sông Bé thực sự anh hùng. Tôi đang suy nghĩ, anh Một Hữu hỏi xem thời gian định như thế nào. Tôi trả lời:

      - Tình hình gấp lắm rồi. Ngay tối nay, đoàn chúng tôi phải đi nắm địch. Đề nghị anh cho hai cơ quan tổ chức thành ba đội, đội 1 Trung đoàn 16+141 vào ngay nắm địch ở căn cứ Phú Lợi; đội 2 Trung đoàn 209, huyện đội Bến Cát ra nắm địch ở con đường 13; tìm vị trí trận địa chốt chặn; đội 3 Tiểu đoàn 1, 2 Phú Lợi, đội công tác của tỉnh vào khu thị xã, dinh tỉnh trưởng, căn cứ công binh. Phải đảm bảo đi nắm địch rồi về đây mới bàn được. Bây giờ đi cả đêm rất mệt, để anh em nghỉ ăn cơm, chợp mắt vài tiếng, 13 giờ, tôi họp phổ biến, đến 15 giờ, ra đài quan sát, 17 giờ, ăn cơm xong, 18 giờ, ta tiến vào nắm địch.

     Anh Một Hữu nhất trí với kế hoạch thời gian của tôi. Anh Một Hữu báo cáo về toàn bộ tình hình trong tỉnh Sông Bé; đặc biệt các căn cứ sư đoàn 5 nguy ở Phú Lợi, Bến Cát, Lai Khê được anh trình bày rất cụ thể về từng căn cứ, quân số, vũ khí, cách bố trí hầm hào, công sự, các chướng ngại vật, mìn, rào đường ra vào, các lô cốt, vọng gác, kho hàng, trận địa pháo, tăng và tinh thần gần đây. Anh nói:

      - Chúng tỏ ra hoang mang dao động, ngày rất ít ra ngoài, đêm thì chỉ nằm co. Các đồn bảo an, dân vệ ngày càng dao động hơn. Lực lượng ta trong này có một đại đội của Tiểu đoàn 1 Phú Lợi, một đại đội du kích tập trung của huyện đội Bến Cát, các ấp xã ta có từ một đến hai tiểu đội du kích tập trung. Cán bộ các ngành của tỉnh có 7 đội công tác. Cán bộ ở ấp xã đều có. Chỉ trừ ba ấp xã trắng. Nhân dân rất tốt, khí thế, rất tin tưởng, ủng hộ cách mạng.

      Tôi nghe càng được củng cố lòng tin về thế trận nhân dân đã triển khai cho chiến dịch tổng tiến công và nổi dậy ở đây.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 07:43:33 am
      Đài quan sát chỉ cách chỉ huy sở tỉnh có hơn 100m. Anh Một Hữu và đồng chí tác chiến tỉnh giới thiệu tình hình thực địa, chỉ rõ các căn cứ Phú Lợi, Bến Cát, Lai Khê, con đường 13, khu thị xã Thủ Dầu Một, khu tỉnh trưởng. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy căn cứ Phú Lợi, nó rộng lớn mênh mông. Các mái nhà phần nhiều là lợp tôn trắng toát. Chưa bao giờ sư đoàn tôi đánh vào căn cứ rộng lớn như vậy ở đồng bằng, có hệ thống công sự vừng chắc như thế. Căn cứ nhìn như nối liền cả khu thị xã, căn cứ công binh, khu dinh tỉnh trưởng. Những hàng cây xen kẽ các xã ấp, rất khó phân biệt phạm vi căn cứ Phú Lợi. Tôi chú ý đến một cái lô cốt rất to, cao mới xác định rõ được. Còn con dường 13, nhìn mờ mờ chúng tôi chỉ nắm được hướng đi vào nắm địch mà thôi.

      Tôi vẫn thấy lo. Tuy cán bộ được chuẩn bị cả về ý chí quyết tâm lẫn động tác kỹ thuật để xử tử cao tình huống, nhưng hầu hết đều quê miền Bắc, chưa quen địa hình, gặp tình huống bất ngờ là rất dễ bị lộ, bị lạc. Một sơ suất nhỏ có thể dẫn đến thiếu bình tĩnh, chủ động rồi động tác kỹ thuật không chuẩn, kỷ luật không nghiêm, là rất khó tránh khỏi. Nhưng rồi mọi lo âu đều qua đi sau ba ngày đêm hồi hộp, tất cả đã hoàn thành nhiệm vụ và trở về an toàn. Để tranh thủ thời gian, tôi cùng anh Một Hữu và các cán bộ tác chiến cùng nghe báo cáo tổng hợp tình hình, dự kiến phương án tác chiến, tổ chức lực lượng, thiết kế các trận đánh, các cách đánh và giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Trong quá trình bàn bạc, chúng tôi chú ý cụ thể hóa các trận đánh trước sau của sư đoàn, các trận đánh của bộ đội tỉnh, của quân dân du kích, của các đội công tác vận động nhân dân cùng nổi dậy. Anh em góp ý là phương án đánh vào cụm cứ điểm Bình Cơ - Bình Mỹ, tiểu đoàn 306 quân ngụy 'trên đường 16, trận đánh mở đầu chỉ dùng Tiểu đoàn 2 Phú Lợi (bộ đội tỉnh), Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 141 dự bị; hỏa lực dùng 4 khẩu pháo 85 với 4 khẩu 12 ly 7 và 4 khẩu cối 120 ly, một đại đội tăng do Tỉnh đội phó Năm Châu trực tiếp chỉ huy. Sư đoàn chỉ tăng cường cán bộ hỏa lực hợp đồng với trận đánh này. Các đội công tác, các đội dân quân du kích và nhân dân cùng tấn công nổi dậy làm chủ các xã ấp hai bên đường 16. Khi ta nổ súng, toàn sư đoàn vượt qua đường 16, đi thành ba đường tiến quân nhanh chóng vào khu tạm dừng ở dãy đồi Tân Hội. Tỉnh phải cho 30 đồng chí du kích đảm bảo dẫn đường cho Sư đoàn 312 khỏi lạc.
Trận thứ hai là trận chốt chặn đường 13 do Trung đoàn 209 cùng đại đội du kích tập trung của huyện đội Bến Cát phụ trách cắt đôi đội hình sư đoàn 5 ngụy ở căn cứ Bến Cát, Lai Khê, không cho chúng rút chạy về căn cứ Phú Lợi. Các đội công tác, dân quân du kích và nhân dân hai bên đường 13 cùng tấn công nổi dậy đánh các đồn bảo an, dân vệ.

      Trận thứ ba, sư đoàn tập trung đánh vào căn cứ Phú Lợi, đây là trận đánh then chốt quyết định tiến tới tiêu diệt sư đoàn 5 ngụy giải phóng hoàn toàn tỉnh Bình Dương. Đây là trận đánh hợp đồng binh chủng lớn. Sư đoàn tập trung hai Trung đoàn bộ binh 165, 141, tiểu đoàn xe tăng bọc thép, tiểu đoàn công binh, trung đoàn pháo 85 và 122 ly của sư đoàn, lữ pháo 130 ly, lữ pháo cao xạ 57 và 37 ly, hiệp đồng cùng với Tiểu đoàn 1 và 2 Phú Lợi bao vây thị xã dinh tỉnh trưởng. Các đội công tác và du kích vận động nhân dân cùng nổi dậy tấn công vào đồn bảo an, dân vệ và các ấp xã xung quanh căn cứ. Trải qua rất nhiều công sức khó khăn, chúng tôi mới hoàn chỉnh toàn diện phương án tác chiến và thống nhất với nhau được như thế. Đây là một thắng lợi khiến ai cũng tự tin, vui mừng phấn khởi.

     Họp xong, tôi và anh Một Hữu bàn tiếp công việc tối nay chúng tôi một số trở ra ngoài đón bộ đội, còn tất cả ở lại trong này với anh Một Hữu chỉ huy tiếp tục triển khai nắm địch, chuẩn bị đường, vị trí, khu tạm dừng đón bộ đội.

     Trời đã về chiều. Đoàn cán bộ chúng tôi trở ra đón bộ đội cũng khá gay go vất vả. Xuất phát từ 4 giờ chiều, đi suốt đêm tận 4 giờ sáng, chúng tôi mới đến đường 16, vượt qua xong thì vừa 5 giờ sáng, cũng là lúc địch bắn pháo, tổ gác đường dính loạt pháo này bị thương hai đồng chí, hy sinh một. Chúng tôi giải quyết hậu quả đến 8 giờ mới về tới đơn vị.

     Thấy anh Năm Châu, tôi hỏi ngay:

     - Anh đã gặp đoàn cán bộ Sư đoàn 320 và quân đoàn đi nắm địch trên đường 16 chưa?

     - Tôi chưa gặp ai.

     - Thế anh Ba Thuận, Tỉnh đội phó và 50 dân quân du kích dẫn đường cho đoàn cán bộ 320 và quân đoàn đi nắm địch trên đường 16 bây giờ ở đâu?

      - Các anh ấy vẫn đang nằm chờ ở căn cứ tỉnh.

     Tôi nghe rất lạ và rất lo. Quân đoàn và Sư đoàn 320 không đi trinh sát con đường 16 thì chắc là đã thay đổi nhiệm vụ tác chiến ở hướng khác rồi. Tôi đi lẩu không nắm được.

     - Thế anh có nhận được lệnh gì mới không?   

     - Chẳng nhận được lệnh gì. Chỉ có anh Sáu Phát cứ hỏi anh về chưa?

     - Từ hôm tôi đi, nhiệm vụ tỉnh Sông Bé có thay đổi gì không?

     - Chẳng thấy gì thay đổi cả.
   
      Hỏi anh Năm Châu xem có biết quân đoàn ở đâu không thì anh cũng chịu. Tôi nói với các cán bộ trung đoàn:

      - Thế là chúng ta công cốc, quân đoàn chuyển nhiệm  vụ rồi. ,Chỉ còn hai ngày nữa là nổ súng. Biết làm sao Chúng tôi đang trao đổi với nhau thì đồng chí liên lạc của tỉnh đi Hon đa tới đưa thư cho anh Năm Châu và cho biết gặp Sư đoàn 312, đông lắm, đang ở căn cứ tỉnh. Anh Năm Châu báo tin thư anh Sáu Phát, Bí thư tỉnh cho biết nhiệm vụ của tỉnh và sư đoàn không có gì thay đổi. "Rất mong anh Chuông". Thôi thế được. Tôi thầm nghĩ. Tôi sẽ phổ biến toàn bộ phương án tác chiến cho anh Năm Châu để anh về ngay báo cáo với anh Sáu Phát. Tôi nói rõ:

      - Có cả anh Một Hữu cùng bàn thống nhất toàn bộ rồi. Tôi phải về ngay báo cáo kế hoạch tác chiến này với Đảng ủy sư đoàn và báo cáo với quân đoàn. Anh cho đồng chí liên lạc mượn một cái xe Hon đa đưa tôi về sư đoàn cho kịp.

      15 giờ ngày 24 tháng tư, tôi về tới sư đoàn. Bộ Tư lệnh chúng tôi trao đổi với nhau ngay để cùng nắm tình hình chung. Anh Xuyên, Chính ủy sư đoàn nói rằng ở nhà chỉ mong cán bộ sư đoàn đi trinh sát mau về và ai cũng sốt ruột vì ngày nổ súng đến nơi rồi. Thời gian này cánh quân phía đông đã cắt đường tiếp viện của địch từ Biên Hòa ra Xuân Lộc nên địch ở Xuân Lộc tháo chạy. Tôi hỏi anh Kiệm, Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng sư đoàn xem bây giờ quân đoàn ở đâu. Anh Kiệm bảo không biết. Đến lúc này, tôi thấy rất lạ. Vậy quân đoàn và sư đoàn 320 đi đâu? Thôi đấy là việc của cấp trên, ta không bàn nữa. Chúng tôi chỉ còn ngày mai chuẩn bị, ngày kia hành quân nổ súng rồi. Tôi đề nghị để tôi báo cáo toàn bộ phương án tác chiến rồi các anh cho ý kiến. Tối nay còn phải họp Đảng ủy. Ngày mai họp quân chính giao nhiệm vụ cho các đơn vị tổ chức hợp đồng mới kịp.

      Mọi công việc tiến hành đúng như kế hoạch đã bàn. Anh Năm Châu đến cũng báo cho biết các phương án tác chiến được nhất trí trong Tỉnh ủy. Sau đó anh Kiệm tổ chức hội nghị hiệp đồng, cũng hứa nhất định hoàn thành nhiệm vụ.

      Dự hội nghị hiệp đồng hành quân tác chiến với đơn vị xong, chúng tới trao đổi trong Bộ Tư lệnh sư đoàn chuẩn bị báo cáo quyết tâm lên quân đoàn. Anh Kiệm Tham mưu trưởng bảo chúng ta làm ngược chiều. Bộ Tư lệnh quân đoàn chưa thông qua, ta đã giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Nhỡ trên quân đoàn có ý kiến thay đổi thì ta khó xoay.

      Tôi nói:

       - Bây giờ biết quân đoàn ở đâu để có thể báo cáo quyết tâm được. Sáng mai sư đoàn hành quân nổ súng rồi, bây giờ có thay đổi cũng không được. Đảng ủy sư đoàn và Tỉnh ủy Sông Bé đã thông qua phương án tác chiến, bộ đội đã triển khai và đang chấp hành một cách nghiêm chỉnh mệnh lệnh quân đoàn và Mặt trận giao cho, có sai đâu!
Chúng tôi đang bàn bạc và không khỏi băn khoăn thì rất may anh Thế Bôn, Phó tư lệnh quân đoàn xuống. Chúng tôi ào ra đón chào anh. Thật là mừng, đang lo chuẩn bị cho sĩ quan tham mưu lên tìm quân đoàn báo cáo. Anh Thế Bôn hồ hởi nói:

      - Các anh đã chuẩn bị xong chưa? Tôi xuống thông qua quyết tâm chiến đấu của sư đoàn đây.

     - Thưa anh, xong cả rồi.
   
      Tôi đáp rồi đem bản đồ ra trình bày tình hình chung về địch, đặc biệt sư đoàn 5 ngụy, rồi nhiệm vụ sư đoàn, việc sử dụng lực lượng và tổ chức hiệp đồng tác chiến,v.v...

      Anh khen:

     - Rất tốt. Quân đoàn đồng ý phương án tác chiến của sư đoàn. Thôi, tôi nghe thế là được. Báo cáo quyết tâm của sư đoàn đâu, đưa tôi để về quân đoàn tôi báo cáo các anh tư lệnh.

      Tôi thở phào nhẹ nhõm. Chẳng có cái may nào bằng cái may này. Nếu anh Thế Bôn không xuống thì hẳn tôi không thể nào hết canh cánh bên lòng về cái việc chưa báo cáo quyết tâm đã triển khai thế trận. Dẫu cho tôi có viện lý do gì đi nữa.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 07:45:31 am
3. NỔ SÚNG TẤN CÔNG

     Ngày 26 tháng tư, chúng tôi nghe tin bọn lính ngụy tháo chạy từ Phan Rang, Xuân Lộc về làm náo động Thành phố Sài Gòn. Phía quân ta thì hướng tây bắc Sài Gòn, lực lượng Quân đoàn 3 đã tiến đến Dầu Tiếng; ở hướng tây, Đoàn 232 áp sát tuyến sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa; ở hướng nam, Sư đoàn 5 và 8 đã áp sát đường số 4; ở hướng đông, Quân đoàn 4 sau khi giải phóng Xuân Lộc đã áp sát Trảng Bom, Quân đoàn 2 tiến sát Long Thành được tăng cường cả Sư đoàn 3 và Lữ đoàn 52 của Quân khu 5.

      Còn Quân đoàn 1 chúng tôi thì đã dàn thế trận xong ở tỉnh Bình Dương phía bắc Sài Gòn, Sư đoàn 320 chuẩn bị nổ súng tấn công cụm cứ điểm Tân Uyên - Dốc Bà Nghĩa; Sư đoàn 312 chúng tôi đánh cụm cứ điểm Bình Cơ - Bình Mỹ.

     14 giờ, các cấp cán bộ lên quan sát chỉ thị các mục tiêu, giao nhiệm vụ trên thực địa. Thời gian này, tôi và anh Năm Châu Tỉnh đội phó trực tiếp chỉ huy trận đánh vào cụm cứ điểm Bình Cơ - Bình Mỹ. Chúng tôi xuống kiểm tra Tiểu đoàn 2 Phú Lợi bộ đội tỉnh ở vị trí tạm dừng, nơi rất gần địch. Anh Năm Châu giới thiệu tôi cho toàn tiểu đoàn. Tôi đi qua hết lượt các đại đội, nhìn từng khuôn mặt cán bộ chiến sĩ rất khỏe, trẻ, đầy khí thế. Tôi hỏi toàn thể Tiểu đoàn 2 Phú Lợi:

     - Trận đánh đêm nay, tiểu đoàn ta đánh vào cụm cứ điểm tiểu đoàn 306 của địch ở đồn Bình Cơ - Bình Mỹ. Các đồng chí có tin đánh thắng và hoàn thành nhiệm vụ không?

     Cán bộ chiến sĩ đồng loạt trả lời:

    - Nhất định thắng, hoàn thành nhiệm vụ?

     Tôi nhắc thêm:

     - Đánh vào cứ điểm đồn Bình Cơ - Bình Mỹ, các đồng chí phải bao vây chặt, dùng hỏa lực ta bắn phá trước, bắt kẻ địch phải gục đầu xuống. Các chiến sĩ bộc phá lên phá rào, mở cửa ngay. Khi xe tăng lên, lập tức cùng xe tăng xung phong vào đồn đánh chiếm.

    Đi kiểm tra về, chúng tôi chỉ còn băn khoăn không bắt được liên lạc với quân đoàn và không rõ Sư đoàn 320 đã vào chiếm lĩnh vị trí tấn công chưa. Chúng tôi bàn với nhau, mặc dầu chưa nhận được lệnh quân đoàn, ta cứ theo kế hoạch đến đúng giờ là nổ súng tấn công.
16 giờ, chúng tôi lệnh cho Tiểu đoàn 2 Phú Lợi, các đơn vị đại đội hỏa lực, Tiểu đoàn 1, C141 đánh chiếm đồn Bình Cơ - Bình Mỹ vào chiếm lĩnh trận địa tiến công. Các đội công tác, dân quân du kích vào chiếm lĩnh vị trí, vây ép các ấp xã, các đồn bảo an, dân vệ hai bên đường 16. Đồng thời các Trung đoàn 165, 209, 141 nghe nổ súng tấn công các cụm cứ điểm Bình Cơ - Bình Mỹ, phải nhanh chóng vượt qua đường 16, tiến nhanh vào trong tung thâm địch ở dãy rừng đồi Tân Hội.

     Đúng 18 giờ, không nhận được lệnh quân đoàn, tôi cứ hạ lệnh tấn công. Các loại súng cối, pháo bắn vào cụm cứ điểm Bình Cơ - Bình Mỹ dồn dập. Đồn giặc bốc  cháy. Khói, bụi đất, lửa bốc lên trời, lại tỏa xuống, liên tiếp nối nhau như thế. Nghe tiếng pháo ta nổ đến sướng tai. Nhìn ngọn lửa thật thích mắt. Địch trong đồn phản ứng bắn trả rời rạc, yếu ớt, chỉ có súng con và súng cối và pháo sáng bắn lên. Qua đài kỹ thuật chúng tôi nghe địch ở trong đồn Bình Cơ báo cáo lên cấp trên của chúng: "Cộng quân rất đông, đang tấn công chúng tôi, đề nghị trên cứu viện". Chúng báo cáo chẳng qua một chữ nào cả. Sau 10 phút, một máy bay thả đèn dù pháo sáng lượn đi lượn lại mấy vòng. Hai máy bay phản lực lướt qua dội một loạt bom. Bấy giờ, các trận địa pháo ở căn cứ Phú Lợi mới bắn ra, pháo Tân Uyên bắn đến dồn dập ít phút qua các đồn, dọc đường 16. Các đơn vị ta vẫn an toàn. Ba mươi phút sau, chiến sĩ bộc phá đã mở xong cửa vào đồn Bình Cơ - Bình Mỹ. Đơn vị xe tăng được lệnh tiến lên dẫn bộ binh xung phong vào đánh chiếm đồn. Bọn địch trong' đồn hoảng loạn, chạy tứ tung, lao ra cả ấp xã, chẳng chống cự gì nữa. Chỉ lác đác còn pháo địch bắn và máy bay thả đèn dù. Ta mới bắt sống được 40 tên tù binh, tranh thủ hỏi cung luôn, chúng cho biết mới phát hiện quân ta trước một giờ, khi ta tấn công. Chúng thấy từng tốp quân ta vượt qua đường 16 đi vào phía trong ngỡ không phải đánh chúng nên chúng bảo cứ để các ngài đi. Chúng còn nói “đến khi chúng tôi nhìn thấy hai khẩu pháo chĩa thẳng vào đồn thì quân các ngài đã vây quanh đồn và đang đào công sự. Cả lính và sĩ quan đều lo sợ, không dám bắn nhiều, phần đông bỏ đồn chạy ra gặp quân các ngài, lại chạy vào. Một số chạy được ra ấp xã. Khi các ngài tấn công, chúng tôi ngồi xuống hầm theo lệnh chỉ huy bắn văng mạng lên để đỡ sợ. Khi tăng các ngài vào, tất cả trong đồn im tiếng súng, sĩ quan binh lính lẩn trốn, chạy không được, bị các ngài bắt!'.

     Trận đánh đầu tiên vào cụm cứ điểm Bình Cơ – Bình Mỹ chỉ diễn ra trong hai tiếng đồng hồ, tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn 306 ngụy, thu toàn bộ vũ khí khí tài trang bị. Ta chỉ sử dụng có Tiểu đoàn 2 Phú Lợi, chưa phải dùng đến Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 141, bộ đội bị thương vong hai mươi ba đồng chí.

     Chiến thắng trận đầu này gây chấn động rất mạnh khiến các đồn bảo an dân vệ tan vỡ hàng loạt, do các đội công tác của tỉnh cùng dân quân du kích cổ vũ nhân dân nổi dậy làm chủ các ấp xã, giải phóng hoàn toàn con đường 16, 15. Cả Sư đoàn 312 chúng tôi đã nhanh chóng thọc sâu vào mục tiêu quy định bên trong hậu phương địch. Mặc cho pháo địch bắn, bom thả chặn đường, máy bay thả đèn dù pháo sáng. Nhìn thấy đội hình quân ta bọn địch trong đồn Dốc Bà Nghĩa bỏ chạy. Đội hình các khối binh chủng dồn lên vượt qua đường 16 bị ùn. Tôi đang rất lo bộ đội bị thương vong thì lại gặp đơn vị Sư đoàn 320 ở đâu đi chen ngang vào khiến đội hình càng ùn và chồng chéo vào nhau, hành quân thành hàng năm hàng mười.

     Lúc này tôi thực sự lo, chỉ một loạt pháo trúng đội hình là ta thương vong lớn. Anh Năm Châu, Tỉnh đội phó còn lo hơn. Anh hét to:
   
     - Làm thế nào bây giờ, anh Chuông?

     - Tôi đề nghị anh cho mấy chục du kích đến dẫn đơn vị 320 đi về đường tiên quân của sư đoàn. Mặt khác, anh liên lạc với anh Ba Thuận, Tỉnh đội phó, trong tay anh ấy có 50 du kích dẫn đường cho Sư đoàn 320, bảo anh ấy, Sư đoàn 320 đang ở đây, cho người đến dẫn đường. Tôi phải hành quân theo đơn vị các Trung đoàn 141, 209 đã vào sâu rồi. Tôi đề nghị anh điều chỉnh đội hình giúp tôi. Khi nào lãnh đạo quân đoàn đến hoặc gặp cán bộ Sư đoàn 320 anh báo cáo các anh ấy thay cho.

     Cả Sư đoàn 312 chúng tôi hành quân liên tục suốt cả ngày cả đêm, đi như chạy đến lô giờ ngày 27 đội hình sư đoàn mới vào hết trong khu rừng đồi Tân Hội, chỉ còn cách thị xã Thủ Dầu Một, căn cứ Phú Lợi 6-7km, cách con đường 13, căn cứ Bến Cát - Lai Khê 8-lokm. Lại gặp được sở chỉ huy tiền phương của tỉnh ở đây.

     14 giờ, chúng tôi họp với sở chỉ huy tỉnh do anh Một Hữu chỉ huy, kịp thời trao đổi toàn bộ công việc đảm bảo kế hoạch tác chiến cho sư đoàn vào chốt chặn con đường 13 và triển khai bao vây căn cứ Phú Lợi, khu thị xã Thủ Dầu Một; chốt chặn trên con đường 13 tức là tách đôi đội hình sư đoàn 5 ngụy và xuống được các ấp xã hai bên đường 13, cùng dân quân du kích, động viên nhân dân nổi dậy. Việc thứ hai, Tiểu đoàn 1, 2 Phú Lợi, bộ đội tỉnh vào bao vây thị xã, khu tỉnh trưởng, hỗ trợ các đội công tác dân quân du kích hoạt động trong thị xã và các ấp xã xung quanh căn cứ Phú Lợi. Còn lực lượng sư đoàn triển khai bao vây, bộ phận trinh sát phải vào đến hàng rào căn cứ địch, từng trung đoàn chỉ dùng đại đội bộ binh cộng với lực lượng cán bộ, trinh sát. Cách đánh: Nếu địch ra ngoài căn cứ, bắn chặn không cho chúng ra.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 07:48:33 am
      Đêm 27 tháng tư, toàn bộ lực lượng tiến vào bao vây căn cứ Phú Lợi, khu thị xã và ranh tỉnh trưởng, căn cứ công binh. Các đội công tác, các trung đại đội du kích vào các ấp trong thị xã phát động nhân dân nổi dậy khi sư đoàn nổ súng tiên công. Hướng Trung đoàn 209 bộ đội huyện Bến Cát và đại đội du kích tập trung chốt chặn con đường 13 cắt đôi đội hình sư đoàn 5 ngụy. Hướng Tiểu đoàn 1, 2 Phú Lợi và các lực lượng do anh Một Hữu chỉ huy 4 giờ sáng ngày 28 tháng tư đã chiếm lĩnh được một phần trận địa pháo phía đông nam thị xã Thủ Dầu Một. Trung đoàn 165, 141 đã xác định được các mục tiêu, cửa mở, các trận địa tấn công, xung phong. 3 giờ ngày 28 tháng tư, chúng tôi tổng hợp tình hình trong Bộ Tư lệnh sư đoàn thấy thế trận bao vây chia cắt sư đoàn 5 ngụy; cơ bản xong. Chắc chắn rằng, sư đoàn 5 ngụy không thể chạy.

      Các mạng đài địch gọi nhau, trên gọi xuống, dưới báo cáo lên, có lúc vội vã chẳng qua một ngữ. Chúng nói rất rõ. Theo dõi thấy có lần máy Bộ tổng tham mưu ngụy thông báo cho tướng Lê Văn Vỹ, tư lệnh sư đoàn 5 ngụy rằng đã phát hiện đúng Quân đoàn 1 chính quy Bắc Việt đánh vào Bình Cơ - Bình Mỹ - Tân Uyên trên tuyến phòng thủ đường 16, đang tiến về Lái Thiêu, có ý tiến vào Sài Gòn. "Ông cho chuẩn bị theo kế hoạch và cho kiểm tra xem trước mặt đơn vị ông có quân chính quy Bắc Việt không, báo cáo ngay."

     Lại nghe tướng Lê Văn Vỹ hỏi tên Của, tỉnh trưởng Bình Dương: "Trước mặt ông địch hoạt động như thế nào có phát hiện được quân chính quy Bắc Việt hoạt động quanh khu vực thị xã, quanh căn cứ công binh Phú Lợi không?". Tên Của báo cáo: "Không có quân chính quy Bắc Việt chỉ có bộ đội tỉnh, dân quân du kích hoạt động ở dưới các xã ấp". Tướng Vỹ thông báo cho đại tá Của, tỉnh trưởng Bình Dương, biết: "Quân đoàn 1, bộ phận đi đầu đã tiến đến Lái Thiêu. Phía sau phát hiện có nhiều quân, cả xe tăng, pháo lớn. Có lẽ chúng định tiến vào Sài Gòn". Y nhắc tên Của: "ông tăng cường phòng thủ khu thị xã, dinh tỉnh trưởng, căn cứ công binh. ông chuẩn bị đón, tôi sẽ cho một đơn vị về tăng cường với tỉnh và căn cứ Phú Lợi. Chúng ta sẽ đánh phía sau và cắt đôi Quân đoàn 1 Bắc Việt ra thành nhiều mảng tiêu diệt". Tên đại tá Của hình như rất lo lắng. Chắc y còn biết hơn tướng Lê Văn Vỹ. Y báo cáo: "Mấy xã ấp trên đường 13, từ thị xã đến căn cứ Bến Cát đã có du kích vào hoạt động. Trong thị xã, dân hoang mang cứ đồn đại quân chính quy Bắc Việt đã đến thỉ xã rồi, tôi đang cho kiểm tra".

     Suốt cả đêm, chúng tôi trong Bộ chỉ huy sư đoàn và anh Một Hữu theo dõi biết rõ tình hình chung của địch và cũng biết sự phát triển thuận lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh. Đến 7 giờ sáng ngày 28 tháng tư, sư đoàn hoàn chỉnh thế trận bao vây gọn sư đoàn 5 ngụy. Trung đoàn 209, đại đội du kích huyện đội Bến Cát đã hoàn chỉnh trận địa, chất chặn con đường 13; Tiểu đoàn 1, 2 bộ đội tỉnh, các đội du kích, các đội công tác đã bao vây được phía đông nam thị xã; Trung đoàn 141, 165 đã vây gọn căn cứ Phú Lợi. Tất cả các hướng vẫn giữ được bí mật, an toàn.

     Đến lúc này, tôi thực sự phấn khởi và yên tâm. Sư đoàn 5 ngụy không còn đường nào chạy thoát. Chúng nhất định bị tiêu diệt. Thế trận của ta buộc địch phải rời căn cứ, thoát ly công sự về ứng cứu cho khu thị xã, căn cứ phòng thủ ở Phú Lợi. Tôi nhận định ta đủ sức mạnh để tiêu diệt sư đoàn 5 ngụy nhanh hơn. Tên đại tá Của tỉnh trưởng và cả tướng Lê Văn Vỹ tư lệnh sư đoàn 5 ngụy chưa hề biết sư đoàn tôi đã đến gần và bao vây chúng rồi. Tôi lệnh cho tất cả các lực lượng tích cực chuẩn bị, phải bí mật. Trung đoàn 165, 141 vây cách căn cứ Phú Lợi 300- 400m, chỉ đánh khi địch ra ngoài căn cứ, đánh buộc địch phải trở vào, sử dụng AK, B.41 đánh ngăn chặn. Mặt khác, sư đoàn không tăng cường chi viện pháo cho Trung đoàn 209 và huyện đội Bến Cát đánh chốt chặn, chỉ dùng súng cối và B.41, đại liên. Tôi nghĩ, Trung đoàn 209 đánh chốt chặn được thì tốt quá, nhưng sư đoàn 5 nguy có chạy được về căn cứ Phú Lợi cũng không sao cả. Trước sau nó cũng sẽ bị tiêu diệt. Tôi trao đổi tiếp với anh Một Hữu, chỉ đạo các lực lượng nếu sư đoàn 5 ngụy có rút về đây thì các đội dân quân du kích phải dựa vào xã ấp bám đánh địch.

     8 giờ sáng ngày 28 tháng tư, xuất hiện bốn xe chở đầy quân từ thị xã Thủ Dầu Một theo đường 13 ngược lên căn cứ Bến Cát. Ngược lại, từ Lai Khê, Bến Cát có sáu xe chở quân theo đường 13 chạy về thị xã Thủ Dầu Một. Hai toán này đi rất chậm, qua từng đoạn chúng lại xuống xe quan sát bắn vài loạt tiểu liên thăm dò. Đến 10 giờ, cả hai toán gặp đơn vị chốt chặn của ta, chiến sĩ mới bắn có mấy loạt, chúng đã rút chạy. Đến 11 giờ, hai máy bay lướt qua, bay cao không bắn. Đồng thời, pháo từ Bến Cát, Lai Khê, pháo ở căn cứ Phú Lợi bắn dồn dập vào trận địa chốt chặn của ta. 12 giờ, căn cứ Bến Cát - Lai Khê cho 20 xe chở quân đánh vào trận địa ta, bắn cháy 3 xe lại phải co về căn cứ Bến Cát - Lai Khê, sử dụng pháo binh bắn vào trận địa chốt chặn của ta dọc theo hai bên đường 13.

     Đêm vừa xuống thì pháo sáng ở hầu hết các căn cứ của địch quanh khu thị xã, dinh tỉnh trưởng, cả khi căn cứ Bến Cát - Lai Khê, các đồn bảo an dân vệ rực sáng cả một vùng rộng lớn tỉnh Bình Dương. Đêm chiến tranh đang sôi lên, các đài địch gọi nhau. Tên tưởng Lê Văn Vỹ hỏi tên Của "quân đánh nhau với quân ta trên đường 13 là quân nào, có phải quân chính quy Bắc Việt không? Tình hình khu thị xã, căn cứ Phú Lợi ở dưới đó ra sao? Tôi rất nghi là có quân chính quy Bắc Việt, tuyệt đa số tiếng nói miền Bắc, quần áo rất mới, lính rất trẻ khỏe". Đến lúc này rồi mà tên Của tỉnh trưởng còn báo cáo với tướng Vỹ nguy là " quân ngài đánh hôm nay chỉ là bộ đội tỉnh, dân quân du kích, cách đánh vẫn kiểu cũ chỉ là nghi binh rầm rộ thế thôi. Ở dưới này chúng cũng tăng cường hoạt động chưa thấy phát hiện quân chính quy Bắc Việt". Như vậy, chứng tỏ địch .vẫn chưa phát hiện Sư đoàn 312. Chúng tôi mừng lắm. Qua nhiều tin cả Bộ tổng tham mưu ngụy báo xuống cho tướng Vỹ biết, Quân đoàn 1 đã tiến đến Lái Thiêu, rất nhiều tăng, pháo lớn đang tiến vào Sài Gòn, đã gần đến Cầu Bà Triệu, ra lệnh phải phòng thủ vững chắc căn cứ Phú Lợi, khu thị xã, khu dinh tỉnh trướng, căn cứ công binh.

     Chúng tôi biết được qua máy thông tin, nhiều lần Bộ tổng tham mưu ngụy đốc thúc nói rõ như thế và chúng tôi cũng đoán được ý đồ của địch sử dụng sư đoàn 5 ngụy như vậy. Tôi lệnh cho Trung đoàn 209 đề phòng ngày mai địch rút, chúng sẽ đánh vào trận địa chốt ác liệt hơn. Cần chuẩn bị các đội B.40, B.41 bắn xe tăng địch. Mặt khác, Trung đoàn 141, 165, mỗi đơn vị một tiểu đoàn và trung đoàn pháo sư đoàn sẵn sàng chuẩn bị chi viện cho hai tiểu đoàn đánh ngăn chặn không cho địch vào thị xã, căn cứ Phú Lợi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 07:50:28 am
      6 giờ sáng ngày 29 tháng tư, pháo địch bắn dồn dập vào trận địa chốt của ta, đồng thời xuất hiện gần 70 xe trên đường 13 từ Lai Khê - Bến Cát, tiến về thị xã Thủ Dầu Một, tấn công xung phong vào trận địa của ta. Các chiến sĩ Trung đoàn 209, đại đội du kích huyện đội Bến Cát bắn cháy ba xe, bị thương một số. Địch xung phong lên nhiều lần không được, đến 12 giờ chúng rút kinh nghiệm, cho xe tăng đi đầu tràn thục mạng vào trận địa chốt. Ta bắn hỏng một xe bọc thép, các xe sau liền chạy vượt qua được trận địa chốt của ta, 15 xe về được thị xã Thủ Dầu Một. Các chiến sĩ ta bắn cháy hai xe, vẫn chiếm được chốt nhưng đã bị thương vong 35 đồng chí. Từ đó địch không tiến lên được, một số nằm tại chỗ, còn đại bộ phận xe lại quay về căn cứ Bến Cát. Lúc này tướng Vỹ mới biết quân của nó đang phải chống chọi với Sư đoàn 312. Còn biết cả tên Trung đoàn trưởng Thích chỉ huy Trung đoàn 209. Chúng rất lo sợ. Một số lính và sĩ quan đã bỏ trốn khỏi đơn vị.

     Tôi gọi điện hỏi Trung đoàn trưởng Thích:

     - Các anh ngồi ở đâu, đánh chác thế nào để địch chạy thoát? Tuy vậy các anh chặn được chúng thế cũng là tốt. Nhưng bây giờ phải cho toàn trung đoàn lên chốt nhiều đoạn, nhiều trận địa chốt chặn. Chỉ huy trung đoàn phải ở trên mặt đường 13. Ngày mai địch sẽ còn tập trung lực lượng lớn, phải đánh ngăn chặn bằng được, không để một xe nào chạy thoát. Tôi cử anh Hoàng Lê, Tư lệnh phó sư đoàn và đồng chí tác chiến xuống giúp đỡ anh, chắc sắp đến. Yên tâm mà đánh. Nhớ ngày mai dưới này ta nổ súng, nếu trung đoàn khó khăn, tôi tập trung pháo 130 ly chi viện cho. Cứ thế mà làm, có gì cứ báo cáo với anh Hoàng Lê, để trên này chúng tôi tập trung vào nhiệm vụ chính.

     13 giờ ngày 29 tháng tư, Trung đoàn 209 lại để địch chạy thoát 15 xe về khu thỉ xã Thủ Dầu Một. Đồng chí tác chiến báo cáo 18 xe. Bộ Tư lệnh chúng tôi họp cả bên tỉnh, anh Một Hữu cùng bàn bạc tổ chức trận đánh vào căn cứ Phú Lợi. Đây sẽ là trận đánh lớn vào một căn cứ rộng lớn, đông quân, nhiều khu, nhiều mục tiêu, có trận địa tăng, pháo, khu chỉ huy sở, khu thông tin, khu kho, các khu lính ở, có công sự hầm hào vững chắc do quân Mỹ giao cho sư đoàn ngụy, bố phòng nghiêm mật. Mấy ngày ta bao vây đã nắm được cả. Như vậy, từ khi thành lập Sư đoàn 312 đến nay, chúng ta chưa đánh vào căn cứ rộng lớn, chưa đánh trận nào tập trung quy mô lớn như trận này. Sư đoàn tập trung hai trung đoàn bộ binh 165, 141, trung đoàn pháo 86, hai lữ pháo 130 ly, 57 ly, 37 ly, tiểu đoàn tăng thiết giáp, tiểu đoàn công binh, ngoài ra còn có hai tiểu đoàn bộ binh của tỉnh, các đội công tác dân quân du kích cùng chúng ta tấn công, có nhân dân nổi dậy ở các ấp xã hỗ trợ hiệp đồng chiến đấu cùng với sư đoàn. Tinh thần địch rất hoang mang. Tôi rất tin trận đánh hiệp đồng binh chủng này chúng ta sẽ đánh thắng nhanh gọn.

     Theo kế hoạch, 18 giờ ngày 29 tháng tư, tất cả các đơn vị vào vị trí tấn công. Chúng tôi phân công nhau xuống khu tập kết các đơn vị ở khu rừng đồi Tân Hội, đến các dãy đồi Cầu Thế ụt. Mọi lực lượng chuẩn bị cho đêm nay vào căn cứ Phú Lợi đều rất khí thế. Chưa đến giờ tiến quân, các đơn vị đã điều chỉnh đội hình đến tận cửa rừng, ai cũng mặc áo cỏ. Pháo, xe tăng nguy trang các cành lá. Tôi nhìn người, xe pháo hòa với rừng xanh thẳm một màu, rất hài lòng và yên tâm. Như thế này, địch trên không khó mà phát hiện được chiến sĩ ta.
Chúng tôi trở về sở chỉ huy. Trời còn nhấp nhem sáng tối. Tôi hạ lệnh hành quân. Các đơn vị lặng lẽ tiến vào vị trí trận địa xuất phát tấn công. Trời tối dần. Sao trời cũng xuất hiện nhiều, ánh sáng vẫn chẳng đủ sáng cho các chiến sĩ hành quân trong đêm tối mênh mông. Các loài côn trùng như ca hát trong đêm. Pháo sáng từ các căn cứ vụt lên sáng lòa. Thỉnh thoảng địch bắn từng loạt pháo qua đầu về phía sau. Chỉ nghe tiếng tiểu trên từng loạt ngắn trong đồn bắn ra. Gần đến căn cứ địch thì trăng lên, ai cũng bình tĩnh vào chiếm lĩnh trận địa. Mọi động tác kỹ thuật không một sai sót. Không chiến sĩ nào quên vị trí, lạc đơn vị, tiến đến sát hàng rào, địch vẫn chưa phát hiện ra. Đến 23 giờ, các đơn vị đã chiếm lĩnh xong trận địa cơ bản. Bộ đội tiến hành đào công sự, cán bộ lên quan sát hướng tấn công, cán bộ pháo chỉ huy các mục tiêu, triển khai đo đạc các phần tử bắn, cán bộ xe tăng nhận lối mở cửa, các chiến sĩ thông tin triển khai rải dây xuống vị trí chỉ huy sở các cấp, mải miết đi lại, lên xuống. Mặc dầu địch bắn, chiến sĩ ta vẫn bình tĩnh làm việc của mình nhanh hơn, không ai nói to, nhỡ ai ho thì người đó tự mình bịt mồm rồi nằm úp xuống đất, nuốt ho. Tôi theo dõi lòng cảm thấy tin yêu cán bộ chiến sĩ của mình vô hạn: Có điều là trước trận đánh này, tôi không thấy hồi hộp lo lắng như các trận đánh khác, rất tin sẽ đánh thắng và hoàn thành nhiệm vụ. Thuận lợi là từ chiều 29 đến giờ không có một cái máy bay phản lực nào đến thả bom bắn phá. Tôi nghĩ, có khi ngày mai phải chuyển pháo cao xạ sang bắn vào mục tiêu địch trên mặt đất.

     Tôi và anh Một Hữu theo dõi tình hình, có lúc lại nghe đài địch. Hình như cả đêm địch cũng không ngủ. Pháo sáng các đồn bắn lên liên tục. Đặc biệt căn cứ Bến Cát - Lai Khê đèn sáng, tiếng xe chạy đi chạy lại dồn dập, không có tiếng súng. Hình như chúng đang chuẩn bị tấn công để rút cả về thị xã, căn cứ Phú Lợi.

     Nghe các đài địch điện đàm với nhau, chúng gọi nhau inh ỏi, la hét trong trạng thái hoang mang, hoảng loạn. 21 giờ, chúng tôi lại nghe được trên Bộ tổng tham mưu ngụy gọi tướng Lê Văn Vỹ lệnh cho sư đoàn 5 ngụy về phòng thủ khu thị xã, căn cứ Phú Lợi. Thế là khá rõ ràng. Các bộ phận sư đoàn 5 ngụy ở căn cứ Bến Cát - Lai Khê chuẩn bị rút chạy. Chúng tôi rất mừng. Đây là thời cơ cho ta tập trung đánh địch ngoài công sự, tiêu diệt sư đoàn 5 ngụy nhanh hơn. Sau ít phút, tướng Lê Văn Vỹ lại hỏi tên đại tá Của, tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương: 

     - Theo trên báo, Sư đoàn 312 đang ở khu vực chúng ta, ông đã phát hiện được chưa?

     Tên Của báo cáo:

      - Đến giờ chưa thấy. Nếu Sư đoàn 312 đến đây là phải khác. Nhưng ở dưới này vẫn im. Tôi chắc Sư đoàn 312 đang tiến vào Sài Gòn. Có đến khu vực ta chỉ lực lượng nhỏ hỗ trợ bộ đội tỉnh đánh quấy rối chúng ta như những lần trước mà thôi.

     Tên Vỹ nói:

     - Đến giờ ta chưa thấy là tất rồi. ông chuẩn bị, sáng mai trên này chúng tôi về cùng các ông, chậm là 8 giờ sáng. Chúng ta củng cố thế trận phòng thủ với lực lượng mạnh đảm bảo “hai" Sư đoàn 312 cũng chẳng làm gì được. Nghe tướng Vỹ và đại tá Của trao đổi với nhau mà buồn cười. Đài các tỉnh thì địch lại báo cho nhau biết "quân chính quy Bắc Việt vào sân bay Tân Sơn Nhất, đã vào thành phố Sài Gòn. Hướng đường 13, xe tăng pháo lớn đã đến bên kia Cầu Bà Triệu. Lính, sĩ quan chạy về Sài Gòn rất đông”. Chúng còn bảo nhau liệu mà chạy,v.v...

     Nghe tin địch, chúng tôi hiểu một phần Chiến dịch Hồ Chí Minh phát triển thuận lợi và biết rất rõ, ngày mai – 30 tháng tư - là địch sẽ rút chạy khỏi Lai Khê - Bến Cát về thị xã.

     Hai giờ sáng ngày 30 tháng tư, chúng tôi họp trao đổi tình hình, chỉ đạo Trung đoàn 209 chốt chặn đường 13, chú ý đánh sư đoàn 5 nguy rút chạy. Lại nghe bên cơ quan tỉnh báo cáo: Huyện đội, các đội công tác, quân dân du kích, được Trung đoàn 209 hỗ trợ, đã nổi dậy làm chủ mấy ấp xã trên đường 13 và trong thị xã Thủ Dầu Một. Tiểu đoàn 1 Phú Lợi đã áp sát thị xã. Nhiều ấp xã khu vực gần Lái Thiêu nổi dậy. Bọn ngụy quyền, bảo an dân vệ, biệt động quân trốn chạy đã bị bắt, chúng hàng khá đông. Trung đoàn trưởng 165 báo cáo bắt được tên trung úy và 30 tên không biết từ đâu chạy đến sau sở chỉ huy, định tìm lối vào đồn thì bị tóm. Tôi lệnh cho hỏi cung ngay. Cả hội nghị ai cũng mừng.

     Tôi kết luận:

     - Tình hình như thế là rất thuận lợi. Đề nghị các đồng chí về vị trí chỉ huy, kiểm tra các trung đoàn, các trận địa pháo, tăng, các đài quan sát, các mạng thông tin trên dưới. Nhắc các đơn vị đến 5 giờ phải cho bộ đội ăn cơm xong. Chuẩn bị sẵn sàng, đúng 6 giờ nổ súng.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 07:52:26 am
      Mới 4 giờ, địch ở căn cứ Phú Lợi bắn ra chung quanh đồn. Tên đại tá Của báo cáo với tướng Vỹ là đã phát hiện được Sư đoàn 312, quân rất đông, đang bao vây căn cứ Phú Lợi, có rất nhiều tiếng xe tăng, pháo lớn đánh ở cánh đồng trước cửa rừng Tân Hội, sắp tấn công vào căn cứ Phú Lợi, thị xã. Đề nghị chi viện nhanh, không thì rất nguy.  Tướng Vỹ trả lời:

     - Sư 312 chưa làm gì được đâu. Cứ theo kế hoạch, chậm thì 8 giờ chúng tôi trên này về gặp nhau sẽ bàn.

     5 giờ sáng, pháo địch các trận địa bắn rất mạnh, dồn dập vào các trận địa chốt của ta trên đường 13, bắn như đổ đạn liên tục. Thỉnh thoảng mới có trận địa pháo bắn vào trận địa ta xung quanh căn cứ Phú Lợi. Trung đoàn 209 báo cáo:

     - Địch đang tấn công vào trận địa chốt chặn và tiếng xe tăng, xe tải chúng đang dàn đội hình rất dài từ Lai Khê qua Bến Cát, gần đến trận địa chốt chặn.

     Tôi nhắc Trung đoàn 209:

     - Địch tấn công đơn vị đồng chí đấy. Bằng mọi giá chúng sẽ giải tỏa con đường 13 để rút chạy về dưới này. Trung đoàn phải kiên quyết chiến đấu giữ trận địa. Đây là thời cơ để cán bộ chiến sĩ trung đoàn lập công.

     Tôi quay lại nhắc cơ quan tham mưu:

     - Địch đang tấn công vào Trung đoàn 209 để rút chạy về đây. Tác chiến cho tôi gặp các Trung đoàn trưởng 165,  141, trung đoàn pháo, tiểu đoàn tăng trên máy.

     Tôi hỏi từng người:

     - Có nghe tôi nói rõ không?

     Mọi người trả lời:

      - Nghe rõ cả.

     - Tôi báo để các đồng chí biết, địch đã tấn công vào trận địa chốt Trung đoàn 209. Đây là thời cơ để sư đoàn ta tiêu diệt sư đoàn 5 ngụy nhanh hơn. Chỉ còn ít phút nữa là ta nổ súng. Có đồng chí nào hỏi gì nữa không?

    Mọi người trả lời:

    - Thôi ạ.

     - Thế thì các đồng chí lấy lại đồng hồ thống nhất. Theo đồng hồ bây giờ là 5 giờ 30 phút. Thôi nhé, sẵn sàng để chúng ta chiến thắng.

     Gần 6 giờ, chúng tôi nhìn được toàn bộ căn cứ Phú Lợi vẫn còn sương bao phủ. Một buổi sáng tinh mơ, gió mát như đang đuổi sương trời bay đi vật vờ, bồng bềnh. Tôi rất sốt ruột. Sương bay chậm quá. Nhưng rồi gió cũng đuổi được sương trời chạy bay đi để trơ các mục tiêu đồn giặc phơi ra trước mặt. Tôi nhắc tham mưu báo các đài, các đơn vị pháo binh chuẩn bị sẵn sàng chỉ còn 5 phút nữa là chúng ta nổ súng. Các cán bộ trung đoàn cầm máy nghe chờ lệnh.

     Đúng 6 giờ sáng ngày 30 tháng tư, tôi hạ lệnh tấn công vào căn cứ Phú Lợi. Các trận địa pháo bắn trước. Các loại súng bắn theo như đổ đạn vào căn cứ. Tiếng đạn nổ vang cả trời, chuyển cả đất. Đồn giặc trong căn cứ bốc cháy, khói lửa, bụi đất cuộn vào nhau bốc lên trời, lại tỏa xuống đất, liên tiếp, dồn dập, trùm lên mù mịt trong căn cứ Phú Lợi. Giặc trong căn cứ phản ứng rất yếu, tôi chỉ nghe rõ tiếng súng ta, ít nghe tiếng súng địch. Pháo của ta lại chuyển sang bắn phá hoại các ụ súng, lô cốt. Ở hướng các cửa mở, bị phá sập, hỏa khí các lô cốt bị tiêu diệt. Sau 20 phút, hướng Trung đoàn 165 chỉ còn hai hàng rào, hướng Trung đoàn 141 còn ba. Các trận địa pháo trong đồn im bặt. Xe tăng ta đã xuất phát lên vị trí chuẩn bị xung phong. Pháo ta tiếp tục cấp tập lần hai. Lúc này chiến hào 1 địch sập từng đoạn. Trung đoàn 165 phá rào, phá hết lô cất ở chiến hào 1, đoạn cửa mở. Địch phải co vào chiến hào 2. Trung đoàn 141 phá còn một hàng rào, chỉ chờ tăng lên là bộ binh cùng xe tăng xung phong. Tôi hỏi tác chiến xem vì sao tiểu đoàn tăng tiến lên lại chậm thế, mới biết hai chiếc đi đầu bị sa lầy, các chiếc sau không lên được, đơn vị đang khắc phục. Các chiến sĩ Đại đội 1 Trung đoàn 165 thấy địch chạy vào chiến hào 2 lập tức lên chiếm đoạn chiến hào 1. Trung đoàn trưởng Măng đề nghị sư đoàn cho Trung đoàn 165 xung phong. Tôi trả lời phải chờ tăng lên. Lúc này, tôi rất suy nghĩ. Thời cơ đánh không có tăng cũng đánh thắng. Nhưng chiến sĩ ta phải đổ máu nhiều hơn. Thực chất Trung đoàn 165 chỉ chiếm lĩnh một góc trận địa mà căn cứ Phú Lợi thì rộng lớn, rất nhiều khu, khu xe tăng, khu trận địa pháo, khu chỉ huy, khu nhà lính, khu nhà kho, chiến hào, ụ súng vững chắc, mà chúng lại còn đông quân. Ta đang có sức mạnh hỏa lực rất lớn. Có tăng phải giáng một đòn thật mạnh, phá hủy vũ khí khí tài và làm mất tinh thần địch khiến cho chúng chỉ còn xác không hồn, tôi mới cho xủng phong. Không ngờ tăng ta khắc phục gần một tiếng vẫn chưa lên được. Địch trong căn cứ thấy ta trù trừ không xung phong liền cho 2 xe tăng và 50 tên đánh ra mở cửa hướng Trung đoàn 14 1 . Chiến sĩ ta bắn cháy một tăng, lính bị thương một số lại phải co vào căn cứ. Trung đoàn trưởng Măng lại đề nghị lần thứ hai cho Trung đoàn 165 xung phong. Trong sở chỉ huy, các cán bộ cũng đề nghị tôi, thời cơ đến rồi. Tôi trả lời không được, phải chờ tăng lên.

     Rất nhiều ý kiến xì xào tôi chỉ huy chẳng ra sao cả. Mất thời cơ rồi. Tôi rất suy nghĩ và chịu đựng hơn viên gạch quá lửa, song cũng không trách anh em. Ngược lại tôi còn khen thầm. Đội ngũ cán bộ như thế là rất quý, có trình độ phân tích được thời cơ trận đánh. Nhưng anh em chưa hiểu được tôi phải chờ tăng lên để chiến sĩ ta đỡ tốn máu. Anh em chưa biết quân ta đã vào Sài Gòn rồi. Sư đoàn 320 của quân đoàn ta đánh Bộ tổng tham mưu. Trung đoàn 209 đã chặn được đại bộ phận sư đoàn 5 nguy, chúng đang chạy ra hàng, không về được thị xã để ta đánh nữa đâu. Phải chờ tăng lên để đánh trận hiệp đồng binh chúng đẹp nhất còn để nâng trình độ chỉ huy của cán bộ sư đoàn lên một bước nữa. Không còn thời cơ nào để sư đoàn có một trận đánh lịch sử như trận này nữa đâu. Tôi đang suy nghĩ và nhìn cán bộ chiến sĩ trong sở chỉ huy xem vẻ khá căng thì đồng chí tác chiến lại đề nghị cho sư đoàn xung phong, không thì mất thời cơ rồi. Tôi trả lời:

     - Thời cơ nào, Ở đâu, im ngay?

     Sở chỉ huy càng căng thẳng, im lặng, chẳng ai đồng tình thái độ của tôi cả. Đồng chí tác chiến bỗng nói to:

     - Tăng lên rồi'

    Các cán bộ trong sở chỉ huy cùng reo lên:

     - Tăng lên rồi!

     Không khí sở chỉ huy trở lại bình thường, còn rất vui nữa. Tôi lệnh cho Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165:

     - Cho Đại đội 1 rút ra khỏi đoạn chiến hào 1. Sư đoàn sẽ cấp tập pháo lớn mười phút. Tăng lên, trung đoàn xung phong theo xe tăng vào đánh chiếm.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 07:57:14 am
      Hạ lệnh xong cho tất cả đơn vị tôi thực sự phấn khởi. Trong sở chỉ huy, tiếng cười nói ồn ào, tôi cũng không ngăn cản mặc cho anh em hò reo khi xe tăng ta lên. Tôi theo dõi xe tăng lao vào căn cứ, một chiếc rồi hai chiếc và chỉ mười phút sau, Trung đoàn 165 báo cáo đã chiếm khu trận địa tăng, bắt sống 50 tên, đang đánh sang khu chỉ huy sở. Thế là ổn. Tôi yên tâm hút thuốc và bảo đồng chí Lạc, tác chiến, báo cho các đồng chí chủ nhiệm trinh sát pháo binh, tổ phòng vệ thông tin, hai anh đi với tôi vào căn cứ Phú Lợi. Tôi hội ý với các anh Kiệm, anh Quân, anh Xuyên, ở sở chỉ huy, anh Kiệm sẽ phụ trách. Tôi đang lên xe thì đồng chí thông tin giá máy BC25 đi với tôi báo cáo:

     - Tên Của, tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương đề nghị gặp chỉ huy cao nhất. Chúng đã đề nghị nhiều lần nhưng Thủ trưởng quá bận, bây giờ em mới báo cáo được, Thủ trưởng có cho gặp không?

     - Được

     Tên Của xưng tên, chức vụ và báo cáo:

     - Thưa ngài, chúng tôi xin ngài cho quân vào, chúng tôi gặp ngài để bàn giao.

     - Thôi được. ông cứ lệnh cho quân ông không được bắn. Tất cả các công sở phải cắm cờ trắng lên. Tôi hẹn ông 30 phút nữa, ông không nghe lệnh này, tôi sẽ lệnh cho pháo bắn và cho tăng tiến vào đánh thì chẳng còn bàn gì nữa.

     Chúng tôi vào căn cứ Phú Lợi. Khi đó mới rõ bộ đội ta đã bị thương vong 50 đồng chí mới đánh chiếm xong. Khói lửa vẫn đang cháy dãy nhà kho. Súng đạn, xe cộ ngổn ngang. Chỉ bắt được hơn một trăm tù binh, còn chúng chạy sang khu gia binh. Chiến sĩ ta đang lùng bắt. Tôi lệnh cho Trung đoàn 165 chỉ để lại một tiểu đoàn phòng thủ canh gác trong căn cứ, bắt giữ tù binh, dập ngay các đám cháy, bảo quản khu kho, thu dọn vũ khí và các loại xe, còn tập trung toàn trung đoàn, đại đội tăng tiến vào đánh chiếm căn cứ công binh, cùng với Tiểu đoàn 1, 2 Phú Lợi đánh chiếm dinh tỉnh trưởng. Trung đoàn 141 thu quân ngay. Nhiệm vụ trung đoàn cùng đại đội tăng và Trung đoàn 209 vào đánh chiếm Lai Khê. Chúng tôi tiến cùng Trung đoàn 165, có Tiểu đoàn 5 đi đầu tiến vào thị xã theo đường lớn, qua trại gia binh, gặp địch trong căn cứ Phú Lợi chạy ra đang cụm lại. Tiểu đoàn 5 triển khai, bắt đầu hàng. Chúng tôi tiện đường tiến lên trước cả Tiểu đoàn 5 và Trung đoàn 165 đến ngã sáu. Địch tưởng chúng tôi là quân ở căn cứ Phú Lợi chạy ra. Thấy địch đông quá nằm ngồi. la liệt, lại đang hướng súng về phía đường 13, tôi đi phía sau quá gần địch, lui không được tiến không xong, không còn cách nào liền thét rất to:

     - Các anh thua rồi, chỉ huy đâu? Đừng bắn nhau nữa. Đổ máu lúc này là vô ích...

     Tôi nói một thôi một hồi, vừa nói vừa đi thẳng vào đám đông binh lính bên trong.

     
     - Chỉ huy các anh đâu? Gọi ra gặp tôi ngay!

     Cả lính và sĩ quan ngơ ngác nhìn tôi. Có tên khép nép nói:

     - Thưa ngài, chỉ huy chúng tôi đang ở trong kia.

     - Các anh gọi ra đây.

     Mặt khác tôi bảo đồng chí Lạc tác chiến điện ngay cho Tiểu đoàn 1, 2 đến đón tôi ở ngã sáu và báo ngay anh Kiệm cho xe tăng đến đón tôi. Lát sau, tên chỉ huy trung đoàn 8 ngụy đến. Tên này rất trẻ, báo cáo xin trao súng và bộ bản đồ. Tôi nói:

     - Thôi được. Anh hạ lệnh ngay cho đơn vị anh nộp súng, cứ chất đống ở đây.

     Lúc bấy giờ, tôi mới yên tâm, lại thấy hai xe của Tiểu đoàn 1, 2 Phú Lợi đến. Anh em tưởng chúng tôi chiếm được khu dinh Tỉnh trưởng rồi và đã ra đến ngã sáu. Chạy qua sát dinh Tỉnh trưởng, địch trong căn cứ dinh tỉnh trưởng bắn ra, hai đồng chí bị thương. Mấy tên ngụy râu ria lởm chởm có vẻ không chịu nộp súng. Đứa nào mặt cũng đỏ gay, cứ vác súng đi vòng quanh chúng tôi, thấy chúng tôi ít người, cứ nghênh ngang, mặt hằm hằm, trông rất dữ tợn. Tôi nói với gã trung đoàn trưởng ngụy:

     - Anh cứ cho anh em ngồi lại đây.

     Đồng thời, tôi bảo đồng chí Lạc:

     - Thôi ta đi ra để sang dinh Tỉnh trưởng. Đồng chí bảo gã trung đoàn trưởng lấy cho chúng ta 6 xe Zip và 6 tên lái.

     Tôi hỏi đám lính ngụy:

     - Ai biết đường dẫn đoàn tôi vào dinh tỉnh trưởng?

     Tôi vừa hỏi, tên trung đoàn trưởng nói rất lịch sự, lễ phép:

    - Thưa ngài, ngài không đi được đâu?

     Bọn lính nói theo:

     - Các ông không đi được.

     Tôi nhìn thẳng vào mặt gã trung đoàn trưởng nguỵ và bọn lính:

     - Tại sao các anh dám giữ tôi lại đây?

     Gã trung đoàn trưởng đáp:

     - Thưa ngài, các ngài đi, quân giải phóng lại đến đây đánh bắt chúng tôi lần nữa!

     Tôi nghĩ, à ra thế, liền nói:

     - Tôi là chỉ huy cao nhất ở đây, tôi đã báo cho đơn vị, cả xe tăng đến đây đón tôi rồi. Các anh yên trí. Tôi sẽ để một số ở lại với các anh. Chỉ có điều, từ giờ ngồi yên, không được vác súng đi lại và không có một tiếng súng nào nổ trong khu vực các anh. Thế có được không?

     Gã trung đoàn trưởng vui vẻ trả lời:

     - Thưa ngài, được.

     - Thế bây giờ anh lấy cho đoàn tôi 6 chiếc xe Zip tốt và 6 lái xe biết đường vào khu dinh Tỉnh trưởng.

     - Thưa ngài đi với tôi đến bến đỗ xe ở ngay đầu ngã sáu cách đây luôn. Các ngài lấy loại xe nào cũng được.

     Đến bến xe, đồng chí Lạc tác chiến đang chọn xe thì một cô gái trang phục có vẻ như sinh viên, khuôn mặt được tô điểm khá đẹp, tay cầm chùm chìa khóa rất nhiều chìa, đon đả chào chúng tôi rồi hỏi đồng chí Lạc:

      - Anh định lấy xe loại gì em lấy cho.

     Tôi phải ngồi chờ uống nước, hút thuốc ở một quán vẫn có người bán hàng cho lính ngụy. Tìm hiểu mới vỡ lẽ, đây là bến xe của dân, những xe của bọn nguy quyền và trung đoàn 8 nguy bỏ lại đây chạy trốn. Một lúc sau, đồng chí Lạc và cô gái đưa đến chỗ tôi sáu chiếc xe Zip và một xe du lịch rất sang. Tôi hỏi:

     - Ai biết lái xe, biết đường vào thị xã?

     Tất cả giơ tay đến 20 người, phần đông là lính ngụy. Đồng chí Lạc điều khiển xếp xe. Xe đồng chí Lạc và tổ phòng vệ đi đầu. Xe thứ hai, các đồng chí chủ nhiệm và mấy chiến sĩ thông tin. Xe thứ ba là tôi, chủ nhiệm trinh sát một hai đồng chí thông tin, hai đồng chí phòng vệ. Cô gái cũng ngồi lên một chiếc xe, cầm tay lái rồi thử phanh, côn. Tôi hỏi ai lái xe tôi. Đồng chí Lạc bảo cô này lái. Tôi thấy lạ, cô ta còn nói:

     - Các anh có mượn em chỉ đêm nay, ngày mai em phải về. . .

     Tôi thấy cô gái ăn nói ẫm ờ liền bảo đồng chí Lạc chọn một anh lính nguy lái kẻo để cô gái lái dân cười cho. Cô gái đang vui phải xuống xe, có vẻ buồn lắm. Mãi đến hôm ăn mừng chiến thắng, anh Một Hữu đưa một cô gái đến dự thì chính là cô gái ở bến xe hôm nọ, là cán bộ cơ sở của ta.

     - Chào anh. - Cô gái rất vui vẻ và trách tôi chẳng cho cô lái Tôi chỉ cười trừ.

     Lại nói hôm đang lên xe để vào dinh Tỉnh trưởng thì chính trị viên tiểu đoàn đến báo cáo là bắt được nhiều tù binh và ông Của tỉnh trưởng đang chờ xin gặp Thủ trưởng.

     Thấy xe dẫn vào dinh Tỉnh trưởng, đường lớn không đi cứ chạy đường vòng, tôi bảo dừng lại và hỏi đồng chí Lạc ngồi xe phía trước, đồng chí Lạc dõng dạc đáp:

     - Báo cáo Sư đoàn trưởng, đường này không có mìn.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 19 Tháng Mười Một, 2009, 07:59:01 am
      Chợt anh lái xe nhìn tôi, rồi từ đó, tay lái anh ta run rẩy, xe chạy trên đường không chuẩn, cứ vừa lái vừa nhìn tôi Thấy không ổn, tôi lại cho đoàn xe dừng lại, gọi đồng chí Lạc lên ngồi xe tôi để tôi ngồi lên xe đồng chí ấy. Lạc không hiểu chuyện gì.

     Đến dinh Tỉnh trưởng đã thấy quân quan chính quyền tỉnh Bình Dương xếp hàng ngay ngắn ở sân. Một tên sĩ quan báo cáo:

     - Thưa ngài, xin ngài nhận bàn giao kho tàng tài liệu các công sở.

     Tôi nói:

     - Các anh không phải bàn giao. Bây giờ chúng tôi không bắt giữ ai cả. Các anh đi ra.

     Vào dinh Tỉnh trưởng, tôi lệnh cho Tiểu đoàn 1 , 2 Phú Lợi bộ phận đi với tôi:

     - Các đồng chí chiếm lĩnh tiếp thu tất cả công sở kho tàng, tài liệu báo cáo với tỉnh, anh Một Hữu sắp vào đến đây.

     Sang căn cứ công binh, Trung đoàn 165 vừa tới. Ở đây, sĩ quan binh lính ngụy cũng xếp hàng ngay ngắn và một người đứng ra báo cáo:

     - Thưa ngài, chúng tôi xin bàn giao.

     Tôi trả lời:

     - Các anh không phải bàn giao. Chúng tôi không bắt các anh. Giải tán đi.

     Họ nhớn nhác, chẳng hiểu ra làm sao, rồi nhanh chóng giải tán.

     Tôi lệnh cho Trung đoàn 165 kiểm soát tất cả các kho tàng, quản lý khu nhà cao tầng chuẩn bị cho cơ quan sư đoàn làm việc. Đám hàng binh bên dinh Tỉnh trưởng cũng chạy hết ra thị xã, khi tôi trở lại chẳng còn thấy tên nào lảng vảng. Các trung đoàn và cả bên tỉnh đội bắt được rất nhiều tù binh. Anh em hỏi tôi tập trung tù binh ở đâu? Chúng đói, lấy gạo, thực phẩm ở đâu, ai nấu cho chúng ăn? Tôi ra lệnh thả tất, chỉ giữ lại từ cấp tá trở lên. Ở dưới báo cáo rằng, thả nó không chạy, nó cứ đi theo ta mỗi giờ càng thêm đông, giải quyết chưa xong. Anh Một Hữu rồi cả anh Trường Quân, Phó chính ủy sư đoàn, đi xe bọc thép đến gặp tôi ở nhà tên tỉnh trưởng. Chúng tôi gặp nhau ai cũng mừng. Tôi đang ngồi ghế của tên tỉnh trưởng liền đứng dậy mời anh Một Hữu ngồi vào và nói:

     - Anh tiếp thu đi.

     Rồi giao toàn bộ bản đồ, tài liệu, gậy chỉ huy và cả hai chiếc xe đẹp như xe du lịch. Đang vui vẻ bàn giao thì anh Hồng Phong, Phó chính ủy quân đoàn đến. Nghe tôi báo cáo tình hình xong, anh chỉ thị phải tiếp tục lên Lai Khê - Bến Cát để giữ gìn an ninh, quản lý kho tàng, giải quyết tù binh.

     Tập trung cả Trung đoàn 141, chúng tôi tiếp tục hành quân cơ giới lên Bến Cát - Lai Khê, thì đã thấy ở đây cờ đỏ rực trời trên các nhà tầng cao tầng thấp. Người đi đông nghịt trên đường, lính ngụy đông hơn dân. Quần áo, súng, xe, giày lính ngụy vứt đầy hai bên vệ đường. Lính ngụy đi bộ, đi xe kéo ùn ùn về thị xã. Ta không bắt giữ, nên họ cứ chạy tự do về cả Sài Gòn. Khi chúng tôi vào đến căn cứ Bến Cát, hồi 13 giờ 30, đại đội du kích tập trung huyện đội đã vào đây bắt tù binh. Súng, xe pháo, quần áo, mũ giày chất thành đống. Trung. đoàn 209 đang phân công phạm vi quản lý tiếp quản kho gạo, xăng dầu. Tôi hỏi Trung đoàn trưởng 209 đã gặp Trung đoàn 141 lên Lai Khê chưa? Anh Thích cho biết địch ở Lai Khê cũng ném súng chạy hết rồi. Tôi lệnh:

     - Anh cho một tiểu đoàn và anh đi với tôi ngay.

     Chúng tôi lên Lai Khê, chỉ huy sở tiền phương Bộ tư lệnh sư đoàn 5 ngụy đã bỏ trống. Chúng tôi chạy thẳng vào căn cứ. Chỉ còn một trăm tên ngồi chờ xin hàng. Không biết Bộ chỉ huy chạy đi đâu. Cả thiết đoàn tăng nữa. Mấy trận địa pháo gần Bến Cát chỉ còn súng, khẩu đứng nòng, khẩu gục nòng. Chẳng biết chúng lẩn trốn về hướng nào. Chúng tôi bảo mấy tên lính ngụy dẫn đến khu chỉ huy sở Bộ tư lệnh sư đoàn 5. Tất cả còn nguyên. Phòng giao ban bố trí rất chính quy, bàn nào cũng có bảng tên, chức vụ từng tên, nơi treo bản đồ, các gậy chỉ huy, cách bố trí hệ thống điện thoại, các máy thông tin có dây, không dây, các tủ tài liệu, phòng truyền thống lịch sử các tư lệnh sư 5 từ ngày thành lập đến cuối đời tận số là tướng Lê Văn Vỹ. Tôi bảo trinh sát thu các thứ cần thiết, bản đồ, tài liệu, gậy chỉ huy. Sang khu làm việc tướng tư lệnh Vỹ thì mới thấy xác tướng Vỹ nằm chết trên vũng máu chưa khô, môi bầm tím. Trên bàn làm việc còn bộ bản đồ, khẩu súng lục con, bên cạnh có tờ báo "Thời cuộc", tự tay tướng Vỹ ghi: "Nhiều tiền, nhiều của, nhục nhã quá". Tủ quần áo, quân hàm, các loại gậy chỉ huy, bàn ghế, cốc tách, chén bát, lọ hoa đều của Mỹ, Pháp. Nhà ngủ, nhà ăn đủ thứ sang trọng. Nhà nghỉ, nơi giải trí, ăn chơi, có cây cảnh, có con trăn to cũng chết nằm còng queo. Khu thông tin bố trí được cả sở chỉ huy nhẹ trên xe có nơi ngủ của tên Vỹ, nơi giao ban, ăn ở do Mỹ trang bị. Tôi chưa nhìn thấy kiểu xe này bao giờ.

     Tôi đi quanh căn cứ đến khu nhà kho, quân trang, vũ khí, đạn, gạo, thực phẩm bị bới tung tóe. Tôi nhắc cán bộ Trung đoàn 209 quản lý cho tốt, nhất là khu xăng dầu. Phân công từng đơn vị quản lý từng khu vực xong, tôi hạ lệnh cho 209 và 141 mỗi đơn vị cử ra một tiểu đoàn cùng huyện đội Bến Cát bắt bằng được cơ quan Bộ tư lệnh sư đoàn 5 nguy, thiết đoàn tăng thiết giáp. Chúng chỉ chạy trốn quanh quẩn gần đây thôi. Chú ý gọi hàng, không được bắn.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:00:40 am
     Tình hình như thế là ổn. Tôi trở về thị xã Thủ Dầu Một. 3 giờ chiều, về căn cứ công binh. Anh Quân cho biết đã bắt được toàn bộ cơ quan Bộ tư lệnh sư đoàn 5 ngụy, cả chỉ huy thiết đoàn tăng thiết giáp. Tôi lệnh cho Trung đoàn 209 và 141 ngay chiều tối nay phải đưa toàn bộ Bộ tư lệnh sư đoàn 5 ngụy về để chúng ở khu ngã sáu. Thiết đoàn tăng cho tập trung trại gia binh gần thị xã. Còn tù binh tập trung ở đường 15 khu rừng cao su. Tỉnh và sư đoàn sẽ có bộ phận đón. Đến lúc này số tù binh đã lên tới gần 5.000 tên. Tôi tuyên bố thả tất, chỉ giữ từ cấp tá trở lên. Không hiểu sao nhiều thế. Té ra chúng được thả rồi nhưng không đi cứ lẵng nhẵng theo.
   
     Chúng tôi đang họp thì anh Một Hữu bên tỉnh sang gặp tôi trao đổi tình hình. Như vậy là từ 12 giờ trưa ngày 30 tháng tư toàn tỉnh Bình Dương đã hoàn toàn giải Anh nói:

     - Trên quyết định anh làm Chủ tịch Quân quản. Tôi là phó xin ý kiến anh. Mọi công việc các anh đã bàn triển khai thế là được.

     Tôi nói:

     - Bây giờ tù binh nhiều, thả nó không chạy, cứ quanh quẩn theo ta rất lộn xộn, đường nào cũng có lính nguỵ. Súng xe ngổn ngang. Rất dễ không an ninh. Ngày mai, ta hỏi cung Bộ tư lệnh sư đoàn 5 nguỵ từ cấp tá trở lên. Sau đó ta xuống khu tập trung giải thích và tuyên bố thả tất.

     Buổi chiều, chúng tôi ăn mừng bắt được toàn bộ đoàn 5 ngụy, toàn tỉnh Bình Dương đã được giải phóng cùng Sài Gòn. Mới 5 giờ, thị xã đã lên đèn. Tôi nhìn sang khu thị xã Thủ Dầu Một, căn cứ Phú Lợi, các cột đèn trên đường phố đều toả sáng. Dòng người đi trên đường phố cuồn cuộn không dứt. Tiếng reo hò hoan hô Bình Dương, Sài Gòn giải phóng, hoan hô bộ đội Giải phóng quân Mìền nam anh hùng. Chẳng ai ngồi yên mà ăn được, cũng đứng lên nhìn dòng người đi như nước chảy trên đường phố, lòng vui khôn xiết. Vừa đêm qua, chúng tôi còn ăn cơm nắm với mấy miếng thịt hộp, ngồi đất trên thảm cỏ, ngồi trên hầm hố, đạn địch nôt quanh người, với bao suy nghĩ và lo âu, mà đêm nay, ăn cơm đầy tiếng cười, không còn súng nổ, đạn bay, đèn thì sáng rực trời. Ăn cơm xong, tôi trở về phòng ngủ, bảo đồng chí liên lạc đem cho tôi cái đài để cùng nghe tin tức hậu phương, xem nhân dân miền Bắc nói gì về chúng ta. Đồng chí liên lạc vừa mở đài đã có tiếng hoan hô quân dân miền Nam anh hùng, hoan hô quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, hoan hô Sài Gòn giải phóng. Nghe cô phát thanh viên giới thiệu các tầng lớp nhân dân đổ xô ra đường, đi quanh hồ Hoàn Kiếm. Cả các lãnh tụ Đảng, Nhà nước cũng xuống đường diễu hành, mít tinh chào mừng Sài Gòn giải phóng. Tiếng hoan hô rất to. Hai anh em chúng tôi nghe mà xúc động, nhớ đến nhân dân miền Bắc, những gia đình có người thân đang công tác, chiến đấu ở miền Nam, vui mừng phấn khởi biết nhường nào.

     Tôi lại nhớ đến gia đình, bà nó nhà tôi, các con, anh em, bạn bè ở quê hương làng Thượng Nông xa xôi, chắc giờ này cũng biết tin Sài Gòn giải phóng, vui mừng lắm. Đang vui miên man, nghĩ về một ngày trở lại quê nhà thì ở ngoài cổng gác có tiếng người ồn ào, nói rất to. Tôi tắt đài  đi ra xem có chuyện gì. Thì ra nhân dân đứng rất đông, đủ thành phần, các ông bà già, các anh, chị thanh niên, đông nhất là các cháu thiếu niên, đang vây quanh cán bộ chiến sĩ ta ở ngoài công doanh trại. Nhân dân muốn vào thăm, chúc mừng bộ đội chiến thắng. Đồng chí cán bộ đốc gác đang giải thích cho nhân dân rằng, theo lệnh trên, ngày mai đơn vị mới tiếp dân. Nhân dân thông cảm ngay. Nhưng bà con thị xã Thủ Dầu Một lại kẻo đến mỗi lúc một đông hơn. Đơn vị lại cử cán bộ ra tiếp dân, phải trả lời rất nhiều câu hỏi. Ông thì hỏi: “Các chú vào đây lâu chưa?", bà lại hỏi: "Các chú quê ở miền Bắc, thì ở huyện, tỉnh nào?". Các cô gái hỏi: "Bao nhiêu tuổi mà trẻ thế”. Mọi người rất ngạc nhiên thấy bộ đội Miền Bắc đều học cao và khen bộ đội trẻ, khỏe và đẹp quá. Các bà mẹ cứ suýt xoa: "Các bà mẹ miền Bắc sao lại đẻ được những đứa con ngoan và đẹp thế!". Họ rủ bộ đội đi chơi, xuống thăm phố nhà. Chiến sĩ ta trả lời lưu loát rằng, theo lệnh trên, ngày mai mới được đi chơi, sẽ xuống thăm.
   
     Tôi nghe toàn chuyện vui. Chẳng có việc gì khiến tôi phải giải quyết cả. Tôi trở lại phòng nằm ngủ nhưng nằm không yên. Nhân dân thị xã càng cười nói ồn ào hơn. Hình như cả tỉnh Bình Dương đêm 30 tháng tư nhân dân chẳng ai ngủ được.

     Tôi nằm.thao thức mà phấn khởi, lại ngồi dậy nghĩ về nhiệm vụ cấp trên giao cho Sư đoàn 312 đến lúc này cơbản đã hoàn thành. Tôi nghĩ từ lúc sư đoàn nhận lệnh hành quân thần tốc vào chiến trường miền Đông Nam Bộ, cuộc hành quân lịch sử của Sư đoàn 312, cán bộ chiến sĩ đều trưởng thành nhiều mặt, từ trình độ tổ chức lãnh đạo chỉ huy đến công tác hậu cần kỹ thuật và cả mặt ý chí quyết tâm. Tôi nghĩ vậy mà thấy vui trong lòng.

     Tôi nhận thấy cách đánh lần này rất mới, rất khác các chiến dịch trước. Nghĩa là phải chỉ rõ cách đánh tổng hợp ba thứ quân, cách đánh sư đoàn chủ lực, cách đánh bộ đội tỉnh, cách đánh của quân dân du kích cùng nhân dân tấn công nổi dậy. Tuy Sư đoàn 312 tổ chức trang bị rất mạnh, tinh thần ý chí chiến dấu cao, nhưng lúc đầu chúng tôi băn khoăn lo lắng thấy rõ nhược điểm của mình. Đánh thì thắng rồi, nhưng nếu đánh không giỏi bằng lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Bình Dương thì chẳng ra sao cả.
 
    Diễn biến kết quả chiến đấu trong Chiến dịch Hồ Chí Minh đến lúc này đối với Sư đoàn 312 và quân dân tỉnh Bình Dương đã hoàn thành nhiệm vụ. Sư đoàn trưởng thành nhiều mặt. Là một cán bộ chỉ huy, tôi được dự rất nhiều chiến dịch, hợp đồng chiến đấu rất nhiều đơn vị địa phương các tỉnh, không ở đâu như Bình Dương đảm bảo chiến đấu cho bản thân mình còn cùng với sư đoàn chiến đấu và tận tình phục vụ chiến đấu. Một người dân đúng là một chiến sĩ, rất xứng đáng quân dân Bình Dương Anh hùng. Chắc rằng cán bộ chiến sĩ thời ấy không ai có thể quên chính đồng chí bí thư tỉnh, các đồng chí tỉnh đội phó và tỉnh đội trưởng đã dẫn đường cho cán bộ sư đoàn và cùng thiết kế phương án tác chiến, trong chiến đấu ở gần nhau để chỉ huy lãnh đạo cho đến khi đánh thắng hoàn toàn kẻ địch. Có lẽ đây là một sự kiện lịch sử chỉ có Chiến dịch Hồ Chí Minh mới có.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:04:33 am
    4. CUỘC HỎI CUNG ĐẦY ẤN TƯỢNG

      Buổi sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, đúng 8 giờ, toàn bộ sĩ quan từ cấp tá trở lên của sư đoàn 5 ngụy do tên đại tá Vấn, phó tư lệnh sư đoàn, dẫn đầu, đi vào phòng hỏi cung, vẻ ngơ ngác chưa dám ngồi vào ghế ngay. Tôi nhìn bao quát một lượt rồi nói:

    - Mời các anh ngồi vào từng hàng ghế. Trên bàn có nước, thuốc, các anh cứ tự nhiên.

     Nhìn đám tù binh ăn mặc chỉnh tề chỉ không có đeo lon, nét mặt ủ rũ, chẳng mấy ai nghĩ rằng đã có lúc chúng hò hét, bắn giết dân chúng, đàn áp phong trào yêu nước.

     Sau khi tất cả đã ngồi yên chỗ, tôi liền mở đầu cuộc hỏi cung:

    - Hôm nay, mời các anh lên đây, chúng tôi cần các anh cho biết thêm về tình hình mấy ngày qua. Tôi hỏi đến ai, người đó trả lời.

     Tôi quay sang hỏi đại tá Vấn xem các sĩ quan dưới quyền gã quản lý đã đến đủ chưa.
      
     - Thưa ngài, đủ ạ.
 
     - Bây giờ bắt đầu nhé. Các anh biết được Sư đoàn 312 đến đánh sư đoàn 5 các anh từ ngày nào? 

     - Thưa ngài, từ 4 giờ ngày 28 tháng 4 trên đường 13. Chúng tôi phán đoán nếu đúng sư đoàn 312 cũng chỉ là bộ phận nhỏ đến hỗ trợ chiến đấu cho bộ đội tỉnh. Vì cách đánh chỉ có AK, đại liên, B41, súng cối như các lực lượng bộ đội tỉnh. Không thấy nhiều quân và pháo lớn. Nhưng chúng tôi được cấp trên thông báo và tự xác minh Quân đoàn 1 có rất nhiều quân, có xe tăng, pháo lớn đã tiến đến Lái Thiêu đang tiến về Sài Gòn. Chúng tôi lại khẳng định ở đây chỉ là đơn vị bộ phận nhỏ se 312 nghi binh. Không đáng lo sợ. Đến 23 giờ đêm 29, ô tỉnh trưởng Của báo cáo là khu thị xã Thủ Dầu Một, cả căn cứ Phú Lợi đag bị vây; phát hiện quân rất đông, pháo lớn, xe tăng ở trước khu rừng Tân Hội, cầu Thế Ụt; đề nghị pháo bắn và đến giải vây, không thì nguy. Rất rõ ràng Sư đoàn 312 chủ lực chính quy Bắc Việt sắp đánh rùi.

     - Thế lúc ấy Bộ tư lệnh sư đoàn 5 xử trí ra sao?

     - Chúng tôi cả cơ quan vừa lo vừa sợ. ông Vỹ tư lệnh bảo cho rút nhanh, rút tất cả  căn cứ Lai Khê - Bến Cát về thị xã Thủ Dầu Một.; căn cứ Phú Lợi, căn cứ công binh vẫn phải phòng thủ. Nhưng ai cũng sợ Sư đoàn 312. Đường rút theo con đường 13 vẫn chưa giải toả được. Có về được khu thị xã, căn cứ Phú Lợi, chắc chắn gặp sư 312, trận chiến sẽ diễn ra ác liệt. Càng nghĩ chúng tôi càng thấy lo sợ. Nhưng vẫn tin, với khả năng trang bị của sư đoàn, binh khí hoả lực rất mạnh lại còn có đơn vị thuỷ quân lục chiến, các đơ vị biệt động quân, hệ thống bảo an, dân vệ, hệ thống đồn bốt công sự bố phòng vững chắc thì Sư đoàn 312 chưa làm gì được đâu. Chúng tôi bàn như thế. Ông Vỹ tư lệnh quyết đỉnh chuẩn bị tổ chức sáng mai. đúng 6 giờ sáng 30 tháng tư, thực hiện rút quân khỏi căn cứ Bến Cát - Lai Khê theo con đường 13. Lực lượng thiết đoàn xe tăng thiết giáp đi đầu. Tập trung toàn bộ pháo binh bắn vào trận địa chất chặn dọc đường 13, chi viện cho xe tăng tiến lên, tràn qua trận địa chốt chặn. Các xe sau cứ thế tiến theo chạy  qua trận địa chốt, tiến nhanh về vị trí đã quy định. 8 giờ, đơn vị đi đầu phải đến được khu thị xã. 10 giờ, các đơn vị phải triển khai các vị trí phòng thủ xong, chờ lệnh. Cả đêm, chúng tôi chuẩn bị đem theo vũ khí, tài liệu, cả quân trang cá nhân, bốc xếp hết lên xe, rất là cồng kềnh. Xe nào chở cũng nặng, lính ngồi chật như nêm, dàn đội hình dài 4, 5 cây số, từ Lai Khê qua căn cứ Bến Cát. Mới hơn trăm xe đã rất lộn xộn. Tôi rất lo. Cả lính và sĩ quan có đứa chạy trốn. Kiểu hành quân thế này nếu gặp quân các ngài đánh chúng tôi rất khó chống chọi. Đến 3 giờ sáng ngày 30 tháng tư thì nhận được tin ông Của tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương báo cáo là đang bị bao vây kín xung quanh thị xã và căn cứ Phú Lợi rồi, bộ đội giải phóng đang đào công sự, đã đến sát hàng rào, thấy tiếng xe kéo pháo lớn, xe tăng rất nhiều. Một số ấp trưởng, thị đã chạy lên cho biết, mấy ấp dọc đường 13 gần trận địa chốt chặn, bộ đội giải phóng đã chiếm. Cả mấy ấp xung quanh căn cứ Phú Lợi. Đến lúc này chúng tôi thực sự lo. Ông Vỹ nói ta chậm, muộn mất rồi. Chưa đến 5 giờ, theo kế hoạch, ông Vỹ cho nổ súng tiến quân, pháo binh bắn dồn dập vào trận địa chốt chặn của các ngài. Xe tăng thiết giáp đi đầu tấn công không tràn qua được. Còn bị bắn cháy hai xe, nằm cản đường, các xe sau lao lên ùn tắc. Lính xe nằm đầy đường luẩn quẩn loanh quanh. Đến 6 giờ, tiếng pháo lớn các ngài nổ dồn dập ở khu thị xã và căn cứ Phú Lợi. Ông Của tỉnh trưởng và cả căn cứ Phú Lợi đều báo cáo đang bị tấn công, đề nghị cứu viện ngay. Đến lúc này, tiến không được, lui, ông Vỹ chưa có lệnh, lính sĩ quan hoang mang.Có số lính sĩ quan bỏ trốn. Đến 9 giờ, ông Vỹ cho lui về căn cứ Bến Cát - Lai Khê, đơn vị nào cũng muốn chạy trước, lộn quân chồng chéo, vướng người vướng xe, pháo, không thể chỉ huy quản lý các đơn vị được nữa.

      Khi Bộ tư lệnh chúng tôi về đến căn cứ Bến Cát, quân vẫn lê thê dọc đường, chúng tôi rất lo không biết chạy về đâu. Lúc này, ông Của báo cáo trung đoàn 8 đang ở ngã sáu Nhưng các ngài đã chiếm căn cứ Phú Lợi, đang có bộ binh, xe tăng tiến vào ngã sáu thị xã. ông Vỹ quyết định tiến quân theo con đường 14-15 cũ về thị xã Thủ Dầu Một. Nắm chắc thiết đoàn tăng thiết giáp đi đầu. Và đánh điện báo cho ông Của trung đoàn 8 đón chờ ở đấy.

      - Có phải lúc điện các anh đánh "Các em đón chị ở con rắn sáu đầu. Chị đang đi con đường le để về gặp các em" có phải không?

    - Thưa ngài, đúng.

    - Hãy giải thích nội dưng bức điện ấy cho chúng tôi nghe.

    - Thưa ngài, "con rắn sáu đầu” là ngã sáu, trung đoàn 8 đang ở đấy. "Con đường le" là đi con đường nhỏ trong rừng, không phải đi con đường lớn 13.

     - À ra thế. Anh nói tiếp đi.

     - Thưa ngài, đến hơn 10 giờ ngày 30 tháng tư, chúng tôi nhận được lệnh trên toàn quân đội cộng hòa đầu hàng. Lúc này, chúng tôi rất bàng hoàng, cảm thấy bơ vơ đến phát khóc, vừa sợ vừa lo, đầu hàng rồi thì thế nào đây?  (Tên Vấn xúc động) Tôi bảo ông Vỹ, ta cứ đi gặp giải phóng đâu ta hàng đấy. Ông Vỹ bảo tôi cứ đi trước, ông đi sau. Tôi đi cùng cơ đoàn và một số chỉ huy đơn vị trực thuộc, cho thiết đoàn tăng thiết giáp đi đầu, các đơn vị pháo không có pháo đi sau. Đi qua được đường 14, đến đường 15 thì gặp quân các ngài bắn chặn lại. Chúng tôi không bắn, dừng lại, tạt tránh vào khu rừng, ngồi im, cử người ra tìm quân các ngài xin hàng. Đến 15 giờ, chúng tôi nộp súng.

     - Thế ông Vỹ tự sát chết lúc nào, anh có biết không?

    - Thưa ngài, thực ra ông Vỹ không đi với chúng tôi, ở lại căn cứ Lai Khê rồi tự sát lúc nào không biết. Nếu ông ấy tự sát chết phải từ lúc 13 hoặc 14 giờ. Anh em đi sau đến báo cho tôi biết ông Vỹ tự sát chết rồi.

     Tôi hỏi đến tên sĩ quan thông tin:

     - Anh biết Sư đoàn 312 chúng tôi ngày nào?

     - Thưa ngài, từ ngày 28.

     - Bằng những con đường nào?

     - Bằng con đường huyện đội Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

     - Ai báo cho anh?


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:07:35 am
     - Thưa ngài, không ai báo cả. Chúng tôi nghe bắt được mạng thông tin của huyện với tỉnh vì tỉnh với huyện đều trang bị loại máy BC25, cùng với loại máy Mỹ trang bị cho chúng tôi nên nghe rất rõ cả kế hoạch Trung đoàn 209, Sư đoàn 312 chốt chặn con đường 13. Biết cả tên ông Trung đoàn trưởng Thích, do các đơn vị dưới báo cáo lên, trên thông báo xuống và lính thông tin các đơn vị thông báo cho nhau. Biết cả quân giải phóng đã đến sân bay Tân Sơn Nhất. Biết cả Quân đoàn 1 có nhiều tăng pháo đang tiến đến Cầu Bà Triệu, đặc công các ngài đã vào được trong Thành phố Sài Gòn, dân chúng hoang mang, lính sĩ quan ngụy đang hoảng loạn chạy trốn.
   
     - Anh có báo cáo lên trên không?

     - Thưa ngài, có những nội dung dưới báo cáo lên, trên thông báo xuống, chúng tôi đều báo cáo. Còn những tin chúng tôi nghe được hoặc các đài chúng tôi trao đổi với nhau mà biết thường không dám báo cáo. Thí dụ: ngày 28 tháng tư, chúng tôi biết được rất nhiều lính, sĩ quan ở các mặt trận chạy cả về Sài Gòn, dân chúng rất hoang mang, chính phủ Sài Gòn sắp đổ rồi, ta thua to rồi và bảo nhau liệu mà trốn đi. Biết như thế mà không dám báo cáo.

     - Các anh sợ ư?

     - Vâng, thưa ngài, tôi sợ nắm không chắc mà báo cáo, trên ghép tội làm hoang mang tinh thần binh sĩ. Chỉ nói cho vài anh thân với mình.

     - Đàm thoại các anh dùng mật ngữ cả chứ?

     - Thưa ngài, quy định đúng như thế. Nhưng trong chiến dịch này, đâu cũng cần cấp cứu nên nói rõ rất nhiều và cùng nội dung nói đi nói lại nhiều lần, chúng tôi tin chắc các ngài nắm được cả.

     Tôi hỏi các tên phụ trách thiết đoàn tăng thiết giáp:

     - Các sĩ quan, chiến sĩ bao nhiêu người, xe đưa về đây bao nhiêu chiếc?

     - Thưa ngài, xe chỉ có hơn 20 chiếc. Quân số cả binh lính, sĩ quan chưa đầy một trăm, còn chạy trốn cả. Về xe, các ngài bắn hỏng mấy chiếc còn về đầy đủ cả.

     - Có tốt không?

     - Thưa ngài, rất tốt.

     - Tôi hỏi anh, chúng tôi chốt chặn trên đường 13, công sự rất sơ sài, khả năng xe tăng thiết giáp Mỹ có sức đột phá mạnh lắm kia mà, tại sao không vượt qua được?
         
     - Thưa ngài, hai xe tăng đi đầu chưa vào đến trận địa chốt chặn các ngài đã bị hỏa lực B.40, B.41 bắn hỏng ngay, chặn đứng. Các xe khác nằm sau không chịu tiến lên, gây ùn tắc. Lại nghe tin xe tăng các ngài đi vào đánh chiếm căn cứ Phú Lợi rồi, đang tiến vào thị xã. Tôi rất lo. Có tiến về đến thị xã, có khi cả đơn vị bị tiêu diệt. Tôi chờ lệnh ông Vỹ và ông Vấn xem giải quyết thế nào. Cuối cùng, ông Vỹ, ông Vấn còn lo hơn tôi, đành nằm ỳ tại chỗ. Đến gần 10 giờ, ông Vỹ, ông Vấn cho lùi về Bến Cát - Lai Khê. Cả đơn vị quay về nhưng khó lui quá, mãi mới về đến Lai Khê Lúc này lộn quân, các đơn vị khó quản lý chỉ huy. Đơn vị tôi về được đến Lai Khê lại nhận lệnh ông Vấn đi con đường 14-15 về thị xã Thủ Dầu Một. Đơn vị tôi đi đầu. Đi được 4 cây số lại có lệnh gặp quân giải phóng không được bắn, chỉ tránh. Khi gặp quân các ngài chắn chặn, chúng tôi lần vào rừng họp bàn cử người gặp quân các ngài xin hàng.

     Tôi hỏi đến tên sĩ quan phụ trách pháo binh về số lượng pháo binh có bao nhiêu, bố trí bao nhiêu trận địa.

     - Có 50 khẩu 105 ly - 175 ly. Bố trí chủ yếu hai khu căn cứ xung quanh thị xã, căn cứ Phú Lợi, khu Bến Cát - Lai Khê.

    - Bây giờ các anh để đâu?

     - Thưa ngài, vẫn để nguyên ở các trận địa.

     - Các anh để cả xe lại chứ?

     - Thưa ngài, anh em lấy xe, bỏ pháo chạy theo các đơn vị cả.

     - Đạn còn nhiều không?

     - Rất nhiều, để kho lớn Ở Lai Khê.

     - Các anh nhiều pháo thế, bắn đi đâu? Khi chúng tôi đánh vào căn cứ Phú Lợi, các anh bắn ít thế!

     - Pháo chúng tôi lúc đầu bắn vào trận địa chết các ngài trên đường 13 để giải tỏa đường chúng tôi rút. Biết quân các ngài bao vây căn cứ Phú Lợi, chúng tôi bắn ít. Khi chúng tôi đánh tập trung, bắn chi viện cho căn cứ Phú Lợi thì vào lúc các ngài đã tấn công Phú Lợi rồi, pháo bắn rất mạnh vào căn cứ. Có mấy trận địa pháo chúng tôi nằm im không bắn. Trận đỉa pháo phía Nam thị xã thì lính bỏ pháo, lấy xe chạy vào thị xã Thủ Dầu Một. Chưa đến 10 giờ, chúng tôi không còn trận địa nào bắn lại quân các ngài. Khi các ngài đánh vào thị xã, căn cứ công binh, Bến Cát, là không có tiếng pháo chúng tôi nữa.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:09:59 am
     - Bây giờ tôi hỏi các anh. Sư đoàn 5 các anh có bị thương vong nhiều không?

     Đại tá Vấn xin trả lời:

     - Thưa ngài, chúng tôi chưa nắm được. Nhưng có thương vong thì cũng rất ít. Chủ yếu là chạy trốn. Có nhiều cũng chỉ đến 200 là cùng.

     - Còn điều này, các anh cho biết. Khi chúng tôi bắt được tù hàng binh, chỉ giữ lại từ cấp tá trở lên để hỏi thêm, còn thả họ về địa phương hết, nhưng họ chỉ cứ luẩn quẩn chạy theo chúng  tôi thì là vì sao?

     - Thưa ngài, là để xin các ngài chứng nhận đã hàng đơn vị các ngài rồi. Nếu không có giấy chứng nhận ấy, dù chúng tôi có chạy đi đâu, về được đến gia đình, địa phương, quân giải phóng lại bắt lần thứ hai.

     - À ra thế. Tôi sẽ cho đơn vị viết chứng nhận thả hết, chỉ giữ các anh cấp tá trở lên hỏi thêm, các anh khai rõ ràng rồi cũng thả cả. Các anh ai còn nói gì không?
      
     Gã đại tá Vấn phó tư lệnh sư đoàn phát biểu:

     - Thưa ngài cho anh em chúng tôi là hàng binh không phải là tù binh.

     - Sao các anh lại là hàng binh được. Các anh toàn sĩ quan có học thức, hiểu biết, tôi chẳng cần giải thích nhiều. Các anh đánh lại chúng tôi quyết liệt. Khi đơn vị chúng tôi đánh các anh tan tác đến thế, có ai chịu hàng đâu. Chỉ đến khi các anh không còn đường nào chạy nên mới bị bắt chứ có thực tâm hàng đâu mà gọi là hàng binh được.

     Tất cả chúng chẳng còn lý lẽ gì để nói. Tên nào cũng cụp mặt xuống phải nhận là tù binh.

     - Bây giờ ta tạm dừng ở đây, các anh cùng chúng tôi xuống khu vực chúng tôi đang tập trung binh lính và hạ sĩ quan sư đoàn 5. Ông Vấn điểm lại xem sư đoàn 5 còn bao nhiêu, rồi các anh muốn nói gì với chiến hữu thì nói. Đồng ý không?

     - Thưa ngài, chúng tôi đồng ý.

     - Các anh uống nước, hút thuốc đi, để chúng tôi điều xe đã.

     Hơn 3.000 tù binh đã tập trung ở bãi rộng trống gần bìa rừng cao su. Tôi bảo gã sư đoàn phó:

     - Anh đứng ra tập hợp.

     Gã tự giới thiệu rồi hô tập hợp. Đám tù binh răm rắp chạy ra, đầu tóc bù xù, quần áo nhiều kiểu loang lổ nhiều màu, như đàn gà vừa bị mưa bão. Nhiều tên mặc quần áo dân thường. Có tên mặc quần không áo. Tập hợp xong, gã sư đoàn phó tù binh chạy đến chỗ tôi, vẻ nhân nhục:

     - Báo cáo ngài, tất cả lính và sĩ quan có 3.500.

     - Thế là còn thiếu, họ đi đâu?

     - Thưa ngài...

     - Thôi được. Còn quân đứng ngoài kia không vào tập hợp là quân nào?

     - Thưa ngài, đấy là quân các đơn vị khác.

     - Anh về vị trí đi. - Tôi bảo gã rồi đi ra trước hàng tù binh, cố nói thật to;

     - Tất cả binh lính sĩ quan sư đoàn 5, nghe đây? Tôi thay mặt Nhà nước và quân giải phóng tuyên bố. "Không bắt giữ ai cả, thả tất, anh em được trở về với gia đình,..quê hương mình. Riêng anh em cấp tá trở lên còn phải khai báo thêm, sẽ về sau."

     Tôi vừa dứt lời xong, hàng ngũ tù binh rộn lên tiếng nói cười. Tiếng gã sư đoàn phó Vấn và các sĩ quan cấp tá vẫn chưa vui. Cuối cùng, tôi tuyên bố giải tán, nhắc họ tự đến lấy giấy chứng nhận để về quê hương.

     Giải quyết công việc tù binh xong, tôi về cơ quan tỉnh đội đang ở trong thị xã Thủ Dầu Một, gặp anh Một Hữu, Tỉnh đội trưởng và anh Trường Quân, Phó chính ủy sư đoàn đang bàn giải quyết vấn đề tù hàng binh. Chúng đi lại lộn xộn trong các ấp xã, cả trong phố. Súng đạn, xe cộ, quần áo, mũ giày, chúng vứt ngổn ngang, ta chưa có người thu dọn, quản lý. Các đơn vị tỉnh và cả cơ quan sư đoàn, đang ổn định vị trí theo kế hoạch đã bàn, chắc ngày mai mới thực hiện được. Xem ra cùng một lúc có quá nhiều công việc phải làm. Nhưng chúng tôi rất phấn khởi. Có thể nói, đến lúc này, quân dân tỉnh Bình Dương, Sư đoàn 312 đã thực sự hoàn thành nhiệm vụ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mà cấp trên giao cho, xóa sổ sư đoàn 5 ngụy và bộ máy nguy quân, ngụy quyền tỉnh Bình Dương, góp phần đập tan chế độ ngụy quyền tay sai cho đế quốc Mỹ ở miền Nam đất nước. Tổ quốc đã sạch bóng quân thù, Bắc Nam liền một dải, ước mơ bao nhiêu năm của toàn dân nay đã thành hiện thực. Đây là Hạnh phúc lớn nhất của cán bộ chiến sĩ và Sư đoàn 312 chúng tôi và cũng chính là Hạnh phúc lớn nhất của đời tôi.

     Hôm nay, ghi lại đôi dòng về trận đánh cuối cùng, trận đánh trước ngày toàn thắng, tôi không khỏi bùi ngùi nhớ tới hơn một trăm chiến sĩ của sư đoàn đã nằm lại đất Bình Dương không thể nào trở về và biết bao đồng chí đã để lại một phần xương máu. Dẫu cho đã có lần trở lại chiến trường xưa thăm phần mộ anh em tại các nghĩa trang Bình Dương, Bến Cát, Tân Uyên, Bình Cơ, nhưng chẳng thể nào an ủi cho thấu được nỗi tiếc thương cứ trăn trở trong lòng.

     Những trang hồi ký về trận đánh cuối cùng trước ngày toàn thắng tôi viết ở tuổi gần tám mươi này, đầu tiên xin được gửi tới toàn bộ nhân dân tỉnh Bình Dương, tiếp đến xin được coi là nén tâm nhang dâng lên hương hồn các liệt sĩ vô vàn thương nhớ của sư đoàn đang yên nghỉ trong lòng đất Bình Dương trìu mến.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:15:02 am
NHỚ MÃI BÀI THƠ
"GIÃ GẠO"


      Đọc "Nhật ký trong tù”, tập nhật ký bằng thơ của Bác Hồ, thấy Bác Hồ thật là kỳ tài và cao đạo vô cùng, ở trong tù mà vẫn lạc quan, vẫn mang phong thái của người chiến thắng, luôn vững niềm tin, luôn ở thế đứng hiên ngang trầm tĩnh không hề nao núng trước xiềng xích của quân hung bạo.

     Có lẽ phải nói, ở Bác còn là một trí tuệ uyên bác đến kỳ lạ. Bài "Học đánh cờ” dạy cho tôi nhiều lắm. Tấn công, thoái thủ không sơ hở. Chân lẹ tài cao quyết thắng người. Rồi: Lạc nước hai xe đành bỏ phí. Gặp thời một tốt cũng thành công. Điều kỳ lạ chính là ở chỗ ở trong tù mà vẫn giữ sự sáng suốt nhìn nhận của một vị tướng. Hơn thế nữa, bị trói mà Bác văn hình dung: Rồng uốn xung quanh chân với tay. Trông như quan võ quấn tua vai. Bị xích bằng xích sắt giải đi Nam Ninh, Bác còn tưởng tượng ra rằng: Hôm nay xiềng sắt thay dây trói. Mỗi tiếng leng keng tựa nhạc rung. Bị giải qua hết nhà tù này đến nhà tù khác, phải qua đường núi trập trùng, hẳn là mệt lắm, nhưng Bác lại viết: Núi cao lên đến tận cùng. Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non. Còn bị ghẻ khắp người, Bác lại hài hước: Đầy mình đỏ tím như hoa gấm. Sột soạt luôn tay tựa gẩy đàn.
   
     Không hiểu sao đến bài thơ "Nghe tiếng giã gạo", tôi cứ phải nghĩ, nghĩ nhiều lắm, nghĩ về mình, nghĩ về mọi người. Cái gì đó trong ý tứ của bài thơ khiến cho tôi, mà tôi chắc rằng ai đọc bài thơ này cũng có những suy tư như tôi, nghĩa là phải tự hỏi, có sẵn sàng chấp nhận như hạt gạo kia khi cần thiết?

Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời, người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công.

     Năm 1964, Bác Hồ đến thăm Sư đoàn 312 chúng tôi. Hồi ấy tôi là cán bộ cơ quan Tư lệnh pháo, được phân công phụ trách trong phạm vi nhà Bộ Tư lệnh, là nơi nghỉ và làm việc của Bác với cán bộ Sư đoàn. Nghĩ bụng, kỳ này sẽ gần Bác lắm đây, có khi lại được chụp ảnh với Bác cũng nên.

     Có một bộ phận bộ đội quần áo chỉnh tề lập hàng rào danh dự từ cổng vào tới nhà Bộ Tư lệnh để đón Bác. Anh em hồi hộp lắm. Mặc dầu chỉ được thông báo là chuẩn bị đón cấp trên về thăm đơn vị nhưng anh nào cũng đã đoán già đoán non mà biết cấp trên là ai.

      Khi được tỉnh Thái Nguyên gọi điện báo tin: Xe đưa Bác về thăm Sư đoàn đã xuất phát, Sư đoàn trưởng Hoàng Cầm lên xe ngược lên đón Bác. Xe Bác đi xuống dưới Lương Sơn gần phố Cò, Bác bảo rẽ vào cái đền trong khu rừng thông nghỉ ăn cơm rồi hãy về thăm sư đoàn. Đó là việc thứ nhất mà ở sư đoàn, các anh không tính trước được. Thế rồi, khi tới nơi, Bác không vào theo cổng chính mà Bác đã xuống xe đi lối cổng sau. Về thăm sư đoàn cùng với Bác có cả đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Bác và đồng chí Nguyễn  Chí Thanh vào ngay khu nhà bếp đầu tiên. Đồng chí Vinh, tổ trưởng nuôi quân, kể rằng Bác vẫn nhận ra đồng chí mà Bác đã gặp trong lần về thăm sư đoàn trước đây. Bác hỏi:

    - Chú vẫn ở sư đoàn à? - Bác lấy thuốc đưa cho Vinh - Bác mời chú điếu thuốc. Chú hút, Bác châm lửa cho. Ở đây gần bếp không cần đánh diêm.

    - Cháu xin Bác - Anh Vinh thưa với Bác - Nhưng cháu để về phòng ngủ cháu mới hút ạ!.

     Từ lối cổng sau vào, Bác đã gặp bao nhiêu người rồi mà ở chỗ đón Bác và cả trong nhà Bộ Tư lệnh vẫn chưa ai biết. Đến khi tôi vừa nghe có ai đó nói: "Bác đến tôi vội bước ra thềm thì đã thấy Bác và đồng chí Nguyễn Chí Thanh. Tôi ngẩn người nhìn Bác, miệng khẽ nói: "Bác! Bác!!' mà quên khuấy đi việc mời Bác vào trong nhà. Thế rồi các anh trong Bộ Tư lệnh cũng tới quây lấy chung quanh Bác. Bác vào thăm phòng Chính uỷ Lê Chiêu rồi sang phòng Sư đoàn trưởng Hoàng Cầm. Tôi thưa Bác:

     - Mời Bác nghỉ ở đây. Bác cần gì, Bác gọi cháu.

     Tuy vậy, tôi vẫn chưa nhìn thấy Bác thật gần. Ra phòng họp, thấy anh Quyết rót cốc nước để gần chỗ Bác nhưng Bác chưa uống, tôi liền đến cầm cốc nước lên mời Bác cũng là để xem Bác có hỏi gì mình:

     - Cháu mời Bác uống nước ạ!

     Bác nhìn tôi cười, gật đầu rồi quay ra hỏi các anh trong Bộ Tư lệnh:

    - Bộ đội đi đâu, sao doanh trại vắng thế?,

     Anh Chấn, Chủ nhiệm Chính trị báo cáo:

     - Thưa Bác? Đơn vị đang tập trung ở sân trước đón Bác, còn phần đông đi dã ngoại.
   
     Bác liền hỏi anh Chấn:

     - "Dã ngoại" là thế nào?

     Thôi chết rồi! Tôi nghĩ bụng, anh Chấn lại dùng từ nước ngoài rồi. Bác đã dặn nhiều lần là tiếng gì Việt Nam ta có thì đừng có mượn tiếng nước ngoài. Anh Chấn chưa kịp nói gì thì đồng chí Nguyễn Chí Thanh đỡ lời:

     - Thưa Bác, đó là danh từ quân sự để chỉ bộ đội đang tập ở ngoài doanh trại.

     Bác cười. Tôi hiểu là Bác chỉ trêu anh Chấn thế thôi chứ có đâu Bác không biết dã ngoại là gì.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:17:54 am
      Khi tôi nâng cốc nước mời Bác, anh Tiêu Sơn có chụp một kiểu ảnh. Nhưng rất tiếc là các anh ở phía trước lại đứng che khuất hết cả. Sau này tôi phải tự an ủi mình: Kể như ta có thành tích gì xuất sắc mà được Bác gọi lên khen thưởng chụp ảnh thì mới thật là vinh dự. Chẳng biết người đời có hài lòng về cái nhân vật mà kiểu ảnh nào của lãnh tụ cũng thấy họ thò cái mặt vào cười toe toét?

      Các anh trong Bộ Tư lệnh đề nghị Bác ghi vào Sổ vàng của sư đoàn. Bác đồng ý ngay và bảo cho Bác tờ giấy để Bác viết nháp đã. Tôi nghĩ thầm: Bác uyên bác biết bao, vậy mà Bác vẫn thận trọng từng chữ khi viết vào Sổ vàng của sư đoàn. Bác không nói ra nhưng tôi trộm nghĩ rằng Bác viết những dòng này là viết cho hôm nay và cho mai sau, cho các thế hệ nối tiếp xây dựng sư đoàn. Đó là biểu hiện một tác phong đầy tinh thần trách nhiệmcủa Bác.

     Tiếp đến, anh Hoàng Cầm mời Bác và Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ra thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ trong sư đoàn đang tập trung ngoài sân chào mừng Bác và Đại tướng.
   
      Anh em vỗ tay vang động khi thấy Bác bước ra. Bác cười đôn hậu giơ tay vẫy chào với động tác rất nhanh nhẹn. Anh em cứ vừa reo:
     
      - "Bác? Bác!" vừa vỗ tay kéo dài. Bác phải giơ tay ra hiệu mãi mới im để Bác nói chuyện. Trước tiên, Bác nói:

     -   Bác về thăm sư đoàn, sư đoàn làm cơm cho Bác ăn, Bác cảm ơn. Nhưng Bác đã ăn ở tỉnh Bắc Thái rồi. Bác về sư đoàn lần này chắc là các chú đã được chuẩn bị trước phải không? Bác thấy nơi ăn chốn ở gọn và sạch lắm. Tường nhà đều mới quét vôi cả. Nếu luôn giữ được như thế thì tốt. Bây giờ Bác giới thiệu Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ sư đoàn.

      Tôi đi bộ đội từ khi là chiến sĩ đã nghe nhiều chuyện về Bác, chỉ mong chiến đấu giỏi để được gặp Bác như các anh đã từng gần gũi Bác. Nhưng chưa có lần nào tôi được đứng gần Bác như lần này, được đi ngay đằng sau Bác, có lúc chạm cả vào áo lụa của Bác, nhìn tận nơi thấy nước da Bác hồng hào, thấy phong thái của Bác phúc hậu, giản dị và đằm thắm như trong gia đình, người cha với các con.
Nhưng lúc này, không hiểu sao tôi cứ liên tưởng khi gần khi xa đến quyển sách Những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Bác, về quyển Sửa đổi lề lối làm việc và đặc biệt về tập thơ "Nhật ký trong tù”. Bác dung dị như vậy mà cuộc đời hoạt động của Bác lại vô cùng là thần kỳ. Chắc rằng trên thế giới, tự cổ chí kim, chưa thể có một nhân vật nào vì yêu nước và căm thù quân xâm lược đã vượt mấy ngàn cây số sang tận đất nước quân xâm lược đó, nghiên cứu chúng và tìm cách đánh đuổi chúng ra khỏi đất nước mình, cuối cùng đã tìm thấy con đường cứu được đất nước để rồi ba mươi lăm năm sau kể từ ngày ra đi đã trở thành thượng khách sang họp với chính phủ đất nước của quân thù xâm lược đó với danh nghĩa là Chủ tịch của một nước đã giành được độc lập, đã thiết lập nền Dân chủ Cộng hoà. Một nhà hoạt động chính trị lỗi lạc trên thể giới lại có cách đánh giá rất đặc biệt rằng: "Đồng chí Hồ Chí Minh là một nhà tình báo siêu chiến lược độc nhất vô nhỉ trên thế gian này".
 
      Tôi thì sau khi được đọc “Nhật ký trong tù” của Bác, tôi thấy ở Bác có hình ảnh như là hạt gạo trong bài thơ "Nghe tiếng giã gạo" vậy. Chính Bác đã rèn mình như hạt gạo đem vào giã. Con trai một cụ phó bảng mà đi làm bồi dưới tàu, đi quét tuyết ở Luân Đôn . . . nhưng là để đạt cái đích cuối cùng: Cứu Nước?

Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:20:42 am
      Nhớ lại hồi tôi còn là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 165 trong đội hình Sư đoàn 312 sát cánh cùng bộ đội Pa thét Lào chiến đấu trên mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thì bài thơ Giã gạo tuy không nói ra nhưng ý nghĩa của nó luôn luôn như là lời nhắc nhủ trong mỗi bước gian nan. Tham gia chiến dịch đập tan Cù Kiệt, trung đoàn tôi nhận lệnh phải luồn sâu để đánh địch từ trong tung thâm của chúng. Gọi là trung đoàn nhưng vào đến địa điểm tập kết chỉ còn một tiểu đoàn cùng với các đại đội độc lập và cơ quan trung đoàn bộ. Một tiểu đoàn phải chuyển sang hướng khác theo lệnh của Bộ chỉ huy Mặt trận, còn một tiểu đoàn bị địch chặn đánh phải nằm lại phía sau. Như vậy cũng có nghĩa là đường tiếp tế lương thực đạn dược đối với chúng tôi cũng bị cắt luôn. Cả đơn vị phải ăn đói dài ngày. Mỗi cán bộ chiến sĩ chúng tôi lúc bấy giờ chẳng khác nào "gạo đem vào giã". Vậy mà chúng tôi đã trụ được để chuẩn bị một trật đánh tấn công năm điểm đồng loạt trong một đêm tạo thuận lợi cho các hướng chính của chiến dịch phát huy thế tấn công nhanh mạnh khiến quân địch không sao đối phó kịp.

     Kế đến là trận Bản Na, cấp trên còn cho là tôi chống lệnh. Song tôi đâu có chống lệnh, trái lại chính tôi là người tìm ra phương án đánh cụm cứ điểm Bản Na vừa đảm bảo thắng lợi vừa ít thương vong. Tôi đúng là "gạo đem vào giã" ở trận này. Khi đội hình trung đoàn còn toàn vẹn, trong phương án tác chiến tôi đã kịp chuẩn bị lực lượng chủ yếu tấn công khu trung tâm Bản Na. Nhưng bỗng nhiên cấp trên lại điều của trung đoàn tôi đi mất hai tiểu đoàn. Như vậy khiến tôi phải thay đổi phương án tác chiến tập trung lực lượng đánh vào khu tây bắc Bản Na có bốn cứ điểm còn đối với khu trung tâm, chỉ dùng pháo bắn phá. Tôi tin rằng diệt được khu tây bắc sẽ làm chấn động khu trung tâm, không cần đánh cũng tan. Tôi tin răng diệt được khu tây bắc sẽ làm chấn động khu trung tâm, không cần đánh cũng tan. Nhưng nếu chọn đánh khu trung tâm, nơi hiểm yếu đối với địch đấy nhưng lại là nơi cực mạnh của chúng, trung đoàn không đủ sức dứt điểm thì sẽ dẫn đến thương vong không cứu vãn nổi tình hình. Vả lại, chúng tôi đã triển khai lực lượng theo phương án tác chiến tập trung tấn công khu tây bắc Bản Na . . . thời gian còn quá ít, giờ nổ súng sắp đến rồi, làm sao có thể di chuyển đội hình chiến đấu cho kịp? Trong trường hợp này có là anh chỉ huy ngu tối và máy móc mới chấp hành cái lệnh "nướng quân" của vị chỉ huy cấp trên vừa thiếu thực tế và cũng rất máy móc nào đó. Vậy mà tôi vẫn bị "giã" tới số Khi cán bộ kiểm sát xuống- sau này mới biết là để bắt tôi về tội chống lệnh - thì cũng là lúc giai đoạn vây lấn đã xong, lực lượng xung kích bắt đầu xuất kích tấn công. Không ai có thể thay thế tôi, vì thế đồng chí Chính uỷ trung đoàn đã "xin" cho tôi được tiếp tục chỉ huy xong trận này đã . . .

      Trận Bản Na đã thắng lợi giòn giã . . . Quân địch ở khu trung tâm Bản Na tháo chạy khi các cứ điểm khu tây bắc bị diệt. Tôi ra lệnh truy kích. Đến 19 giờ thì quân ta làm chủ hoàn toàn khu vực Bản Na, vũ khí kho tàng thu được rất nhiều.

      Vậy là đúng sai đã rõ. Và chắc bạn đọc cũng có thể thấu hiểu cho tôi là tôi cũng phải tự "giã” mình thật lực trước thực tế tình hình mới có thể dám quyết đoán như vậy.

      Và bài thơ này là bài học về sự hun đúc ý chí cho mỗi đảng viên, mỗi cán bộ, chiến sĩ chúng tôi.

     Cứ nhớ lại ngày ở mặt trận Quảng Trị cuối năm 1972 thôi, sư đoàn chúng tôi vào thay các Sư đoàn 308, 204 với bửu bối của Đại tướng Võ Nguyên Giáo mà anh Hữu An trao cho, xây dựng một trận tuyến phòng ngư sư đoàn vững chắc nam sông Thạch Hãn cũng đủ thấy hai tiếng "giã gạo" nó đúng với chúng tôi kể cả nghĩa đen và nghĩa bóng biết chừng nào. Pháo hạm nó "giã gạo" chúng tôi; B.52 nó "giã gạo" chúng tôi. Nhưng chúng tôi đã "trắng tựa bông" như hạt gạo đã được giã mặc dầu ác liệt thì không lường và chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ mà Đại tướng Tổng Tư lệnh giao cho. Đại tướng thật sáng suất. Rõ ràng khi đó ở mặt trận Quảng Trị phải biết phòng ngự. Kinh nghiệm về những cái chốt phòng ngự kiên cường một thắng hai mươi của Bùi Ngọc Đủ và một thắng sáu mươi của Nguyễn Hữu Bảo lúc này đối với chúng tôi là vô cùng ý nghĩa. Mà Bác Hồ cũng đã viết trong "Nhật ký trong tù”: "Tiến công, phòng ngự không sơ hở, đại tướng anh hùng mới xứng danh" kia mà! Tôi nghĩ phòng ngự vững chắc ở Quảng Trị khi đó lại chính là tạo điều kiện cho Khu Tây Nguyên, Khu 7, Khu 9 tiến công.

     Có thể nói bài thơ Nghe tiếng giã gạo thấm thía với cuộc đời chiến đấu của tôi nói mãi không dứt. Chẳng những là chuyện rèn luyện trong gian lao mà những gì thuộc về cá tính không phù hợp với cương vị người chỉ huy cũng phải rèn cho sáng thêm tầm mắt và rộng thêm tấm lòng sao cho như Bác Hồ đã dạy, người chỉ huy phải như người anh nghiêm minh và nhân từ để mỗi khi làm việc gì là nhất hô vạn ứng.

      Với tôi, đây là bài học đến trọn đời.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:52:08 am
VỊ TƯỚNG KHÉO DÙNG QUÂN

      Đó là tôi nói về cố Đại tướng Lê Trọng Tấn. Với anh, tôi có nhiều kỷ niệm rất khó quên. Tôi không đủ điều kiện nghiên cứu tìm hiểu để nói lên toàn bộ tài năng đức độ của Đại tướng mà tôi hiểu rằng đồng chí đúng là vị tướng tài của quân đội ta, là một người con ưu tú của dân tộc ta. Thật tình tôi cũng không dám làm một công việc như thế bởi nó quá với tầm suy nghĩ của mình. Tôi chỉ muốn ghi lại một vài kỷ niệm mà với tôi nó biểu hiện rằng Đại tướng thực sự là một người thầy mô phạm, một người chỉ huy mực thước và một người anh nhân từ.

     Sau kháng chiến chống thực dân Pháp, tôi là Tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn bộ binh thuộc Sư đoàn 312. Khi ấy đồng chí Lê Trọng Tấn là Sư đoàn trưởng.

     Đã giữ chức Tiểu đoàn trưởng nhưng năm ấy về trình độ văn hoá tôi mới chỉ có lớp 2 thôi. Kiểm tra văn hoá có câu hỏi về các hình tam giác, tôi vẽ lại nguyên xi các hình tam giác in sẵn sau quyển vở nhưng chẳng chứng minh được gì vì có hiểu gì đâu mà chứng minh. Kết quả là bài kiểm tra được có 1 điểm và phải bắt đầu học từ lớp 2. Nghĩ nực cười, học đến lớp 4, khi học phân số, thoạt đầu tôi chẳng thể nào hiểu được vì sao một phần hai và bốn phần tám lại bằng nhau.
   
     Năm 1957, Sư đoàn trưởng Lê Trọng Tấn dẫn các cán bộ từ tiểu đoàn trưởng trở lên về Sơn Tây tập huấn. Quá trình học tập, tôi nhận thấy có nhiều nội dung hóc búa khó tiếp thu quá. Có lúc thoáng nghĩ cứ như cái kiểu “tứ tổ nhất đội" mà "oánh" có phải ngon không. Sau này thì tự hiểu được rằng, chính là do cái vốn văn hoá quá ít ỏi nên mới thấy các vấn đề khoa học quân sự nó hóc búa khó tiếp thu. Cái anh dốt thường bảo thủ mà.

      Một hôm, đồng chí Lê Trọng Tấn gặp tôi chậm rãi nói:

     - Là cán bộ chỉ huy quân sự phải có khả năng thiết kế được các phương án tác chiến trên mọi địa hình khác nhau, trước mọi tình huống quân địch cũng như thời tiết khác nhau . . . bảo đảm đánh chắc thắng. Đó là trách nhiệm trước cấp trên, trước nhân dân và trách nhiệm đối với máu xương chiến sĩ. Mà muốn thiết kế được các phương án tác chiến hữu hiệu thì phải tinh thông các môn khoa học quân sự, muốn tinh thông các môn khoa học quân sự thì không thể thiếu vốn văn hoá. Văn hóa là chìa khoá mở các kho kiến thức về mọi lĩnh vực quân sự, chính trị, xã hội. Bởi thế, đồng chí phải đi học văn hoá, ít nhất cũng phải học hết cấp 2 rồi về đơn vị bổ túc cấp 3. Đó chính là một nhiệm vụ mà không phải là không khó khăn đâu.

     Tôi đã về Kiến An học ba năm văn hoá hết được lớp 7 mới trở lại đơn vị. Phải công nhận rằng khi học lên cấp 2 tuy có khó nhưng rất thú vị, nhất là các môn toán, lý, hoá,  nó như là mở trí khôn của mình ra ấy. Cũng nhờ ba cái môn, đặc biệt là môn toán mà khi về đơn vị, được sư đoàn giao nhiệm vụ Trung đoàn trưởng pháo binh, tôi đã đỡ bỡ ngỡ rất nhiều. Chỉ sau một thời gian ngắn tìm hiểu, nghiên cứu, tôi đã có thể làm chủ được công việc của mình. Giá thử nếu chỉ mới có văn hoá lớp 2 thì đúng là chịu cứng. Khi đó tôi càng nhớ những lời khuyên nhủ ân cần của đồng chí Lê Trọng Tấn năm 1957. Đó là một kỷ niệm không thể nào quên.

     Cuối năm 1971, tôi là Chỉ huy trưởng Trung đoàn bộ binh 165 trong đội hình Sư đoàn 312, có nhiệm vụ đánh trận then chốt mở cánh cửa thép trong chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đó là trận diệt cụm cứ điểm quân Thái Lan trên đỉnh núi Phu Tâng. Muốn đánh vào Cánh Đồng Chum, trước hết phải diệt cụm cứ điểm này.

      Hôm sư đoàn thông qua phương án tác chiến của các trung đoàn có cả đồng chí Lê Trọng Tấn, đồng chí Vũ Lập, đồng chí Hữu An và đồng chí Huỳnh Đắc Hương về dự.

     Hồi đó, đồng chí Lê Trọng Tấn được cấp trên hai nước Việt Lào giao cho trọng trách là Chỉ huy trưởng Liên quân Việt Lào trong chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum. Tôi rất nhớ hôm ấy, sau khi nghe tôi trình bày phương án tác chiến đánh Phu Tâng phải áp dụng hai hình thức chiến thuật tấn công vây lấn và tấn công dứt điểm mới đảm bảo chắc thắng, diệt gọn quân địch thì cả hội nghị cười ồn ào. Tôi lấy làm lạ. Tại sao cái giọng cười nghe như là cười khẩy, chế giễu mình? Đồng chí Lê Trọng Tấn không cười. Đồng chí nhìn tôi đăm đăm rồi bảo tôi nói rõ cho hội nghị nghe. "Đánh thế nào lại dùng hai hình thức chiến thuật?". Tôi trình bày rằng, "căn cứ vào tình hình quân địch, đặc điểm của địa hình và khả năng thực tế của trung đoàn phải chia giai đoạn ra để đảm bảo tấn công liên tục chứ thực chất nó là một thể thống nhất của một trận đánh. Yêu cầu vây phải vây thật chặt không cho địch trên xuống, dưới lên bằng máy bay lên thẳng, không cho thằng trong đồn ra, thằng ngoài đồn vào trong khi đó phải tích cực lấn sâu mở cửa mở, chiếm chiến hào. Muốn thực hiện được ý định chiến thuật này, hoả lực phải đưa vào sát hàng rào, định bắn vào chỗ nào phải nhìn thấy mới bắn. Mỗi cứ điểm chỉ sử dụng một đại đội bộ binh cùng với hoả lực tấn công vây lấn tức là đã mở được các cửa mở vào đồn giặc, đã diệt được một số sinh lực địch. . . thì chuyển sang thực hiện chiến thuật tấn công dứt điểm, đánh như kiểu đánh địch trong công sự vững chắc, tức là…”

      Lúc này thì cả hội nghị lại im phăng phắc nghe. Khốn khổ, đánh kiểu như thế thì có gì mới đâu. To như trận Điện Biên, còn bé như trận đánh tập đoàn quân địch ở Bản Na vài năm trước đó, chính trung đoàn tôi đã đánh, cũng phải áp dụng hai hình thức chiến thuật như thế, vây lấn tới hơn một tuần thì chuyển sang tấn công dứt điểm. Diệt xong quân Thái Lan ở cao điểm 3 và cao điểm 11 thì 4 tiểu đoàn nguỵ Lào BS, ZDU, BV, ACI chưa đánh đã tan. Chẳng hiểu sao các vị ấy vừa thoạt nghe đã cười khẩy như vậy.

     Nghe tôi trình bày xong, đồng chí Lê Trọng Tấn hỏi tiếp:

     - Thế trung đoàn đánh Phu Tâng, còn gì khó khăn?

     - Thưa Thủ trưởng, hiện nay còn nhiều khó khăn nhưng không lớn, cán bộ chiến sĩ ở nhà đang bàn, nhất định là khắc phục được. Riêng chúng tôi, chỉ xin sư đoàn và Mặt trận tăng cường thêm một tiểu đoàn pháo và đạn cối 120 ly thì mỗi cứ điểm được thêm 500 viên.

     Đồng chí Tấn trả lời, giọng sang sảng:

     - Tôi và sư đoàn đồng ý tăng cường cho 165 thêm một tiểu đoàn pháo và 2.000 viên cối 120 ly. Xin được hỏi, liệu trong đoàn đánh có thể rút ngắn thời gian xuống được không?
      
     - Chắc là được. Thủ trưởng cho phép chúng tôi về cùng đơn vị bàn thêm.

     - Thôi được. - Đồng chí Lê Trọng Tấn khoát tay vẻ hài lòng nói một cách dõng dạc: Phương án tác chiến Trung đoàn 165 thông qua.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:54:05 am
      Trận Phu Tâng năm ấy, kế hoạch định bảy ngày, chúng tôi đánh có hai ngày, đúng 8 giờ ngày 18 tháng 12 (1971) nổ súng đến 23 giờ ngày 19 tháng 12 thì dứt điểm. Ngay trong đêm đó, từ trên đỉnh núi Phu Tâng nhìn xuống đường 7A, 7B chúng tôi thấy đội hình quân ta tiến công vào Cánh Đồng Chum như vũ bão, xe tăng bật cả đèn pha tạo nên vùng sáng lấp loáng chuyển động. Sau này mới biết được rằng đồng chí Lê Trọng Tấn đã ra lệnh tăng tốc độ tiến công khép nhanh các gọng kìm tiêu diệt địch, người chỉ huy nào chậm trễ để cho quân địch chạy thoát sẽ bị cách chức.

     Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, có những vấn đề nảy sinh khiến tôi rất băn khoăn. Chỉ thị cấp trên đã quy định rõ là phải giữ gìn phẩm chất của đội quân chiến thắng, của người cán bộ cách mạng, người đảng viên Cộng sản, không được mua bán lung tung. Vậy mà có nhiều đồng chí vẫn mua vô tội vạ, không còn làm gương được cho cấp dưới nữa. Mà thượng bất chính thì hạ tắc loạn. Nói thật, tôi không phục dù cho đồng chí đó là cấp gì. Tôi giận lắm. Và buồn nữa. Thế giới thì đang ca ngợi, nhân dân cũng ca ngợi, một quân đội anh hùng đã làm nên chiến thắng lẫy lừng, vậy mà tại sao nội bộ mình lại diễn ra như vậy? Tất nhiên không phải chỉ có chuyện mua bán.

      Năm 1977, ở Hội nghị Quân chính quân đoàn, trong bài phát biểu của mình tôi đã đề cập đến thực trạng tình hình cán bộ đảng viên nhiều đồng chí có những thiết sót nghiêm trọng.

      Có lẽ do vấn đề tôi nêu lên nó hơi gai góc nên giữa chừng Chủ tịch đoàn cứ ngắt lời, nhưng tôi vẫn nói cho đến hết mọi ý. Tính tôi nó như thế đấy, mà đã nói là nói thẳng, không rào đón và nói to.

      Phải chăng vì vậy mà ít lâu sau, tôi phải chia tay sư đoàn của mình cũng là chia tay cả quân đoàn để về phụ trách cái khu huấn luyện tân binh ở Vĩnh Yên. Có đồng chí nhận định: Kiểu tác phong ông Chuông đi đâu cũng chết.

      Câu nói đó khiến tôi phải nghĩ lắm. Vậy thì mình sai cái gì, sai ở chỗ nào? Chẳng lẽ tình hình thực trạng cán bộ đảng viên không phải như tôi nói chăng?

      Ở đơn vị mới, tôi làm rất tốt công việc của mình, được anh chị em quý mến lắm. Đơn vị có đến hai nghìn quân trong đó có gần bốn trăm chiến sĩ gái. Bạn bè có người trêu đùa tôi về cái công việc cai quản đám lính con gái này. Song tôi chẳng giận, chỉ nghĩ làm sao phát huy truyền thống bản chất đã được tôi luyện trong chiến tranh để làm tốt nhiệm vụ trong hoà bình. Tuy vậy đôi lúc tôi cũng buồn. Bao nhiêu trắc ẩn tôi gửi gắm vào trong những câu thơ viết về quê hương; nhớ quê hương cũng chính là nhớ về đơn vị mà mình đã cùng anh em gắn bó lăn lộn trên chiến trận suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ. Thế rồi tôi tranh thủ thời gian ghi lại cuộc đời đi theo cách mạng của mình, từ khi mới mười sáu tuổi trốn nhà vào giải phóng quân cho đến khi trở thành Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng, Sư đoàn trưởng, đánh địch từ trận Khau Co mới là anh lính vệ túm cho đến khi trở thành cán bộ sư đoàn chỉ huy một mũi tiến công từ hướng bắc vào giải phóng Sài Gòn. . . Ở trên đời có kẻ thất thế giải sầu bằng rượu. Tôi cũng giải sầu, nhưng bằng cách tự khẳng định tư chất của mình trong hơn ba trăm trang viết về con đường mà tôi đã đi tới chân trời và thầm nghĩ rằng thế cũng là hoàn tất cuộc đời đi làm cách mạng của mình.
  
      May sao mà tự truyện Đường tới chân trời của tôi, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân thấy viết được lại in cho và lại còn được Giải Nhì trong phong trào viết về lực lượng vũ trang. Vậy là cái thời gian ngỡ như chỉ để hoàn tất sự nghiệp cũng không uổng.

      Nhưng một bất ngờ khác đến với tôi. Vào quãng trung tuần tháng 6 năm 1978, một đồng chí sĩ quan của Bộ Tổng tham mưu, cũng là trợ thủ đắc lực của đồng chí Lê Trọng Tấn, trên đường lên Quân khu 2 đã ghé vào thăm tôi và cho biết: "Anh Tấn bảo cậu phải ra đơn vị chiến đấu. Chuẩn bị sẵn sàng, có lệnh là đi được ngay".

      Tôi bàng hoàng như đang trong giấc mơ song lại nghĩ:

      - Chân lý là tất thắng. Vậy là Đường tới chân trời có khi phải viết tiếp tập hai.

      Bốn ngày sau cái hôm bàng hoàng đó, tôi nhận quyết định chuyển lên Quân khu 2 giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 345. Thế rồi tôi trở thành Phó Tư lệnh Quân đoàn bảo vệ biên giới vùng Tây Bắc đất nước, tiếp đến thì được Bộ giao làm Phó Tư lệnh Quân khu 2 cho đến ngày về hưu.

      Tôi chắc đồng chí Lê Trọng Tấn đã hiểu được hết nỗi niềm của tôi mặc dầu sau này mỗi lần gặp nhau, cả Đại tướng và tôi đều không hề nhắc lại bất cứ điều gì về cái năm 1972 đầy bi kịch đối với tôi.

      Người xưa nói làm tướng có trí, có dũng, phải có nhân. Đại tướng Lê Trọng Tấn là một vị tướng như thế.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 11:57:46 am
CUỘC GẶP GỠ BẤT NGỜ THÚ VỊ

     NĂM 1981, tôi được nghỉ an dưỡng ở Bãi Cháy, Quảng Ninh. Không còn gì khoái hơn là ra ngắm Vịnh Hạ Long  vào những buổi sáng khi vừng dương đang từ từ dâng lên khỏi mặt biển, ánh nắng loang dần trên sóng, lấp loá trên dãy núi đảo giăng thành, những con thuyền của các bạn chài đang kẻo buồm về bến, đẹp mà hùng vĩ vô cùng.

     Một buổi sáng, tôi đang say sưa với cảnh vật kỳ quan đầy quyến rũ như thế thì bỗng có giọng con gái ở sau lưng.

     - Thưa bác!

     Tôi vội quay lại. Thì ra cô tiếp viên của nhà an dưỡng.

     - Cô hỏi tôi?

     - Dạ, mời bác về có khách ạ!

     Tôi nghĩ bụng: Khách nào nhỉ? Đang mải ngắm phong cảnh đẹp thế này mà lại khách với khứa. Lát nữa nắng chang chang lên thì còn gì mà ngắm. Tôi bảo với cô gái:

     - Cô nói giùm với khách chờ tôi một lúc nữa được không?

     Cô gái tươi cười nói rất nhẹ nhàng lễ độ:

     - Thưa bác, khách của bác là các đồng chí bạn Lào đến thăm bác đấy ạ.

     - Các đồng chí Lào? - Tôi nói như vừa hỏi lại, lại như vừa tự nhủ với mình: Thế thì phải về ngay. - Cảm ơn cháu.

     Về tới phòng tiếp khách, tôi chưa kịp chào thì đồng chí bạn Lào đã đứng lên chào trước bằng tiếng Việt:

     - Chào anh Chuông đồng chí - Vừa bước tới đưa hai tay nắm chặt lấy bàn tay tôi, đồng chí bạn vừa nói – Anh Chuông đồng chí vẫn còn khoẻ lắm.

     Thú thật là lúc đó tôi rất ngỡ ngàng vì chưa rõ đồng chí bạn này là ai, mình đã gặp ở đâu và hồi nào; lại cũng ngượng tự trách mình sao lại có thể quên được như thế nhỉ? May sao sau khi cùng ngồi mời nhau uống nước, đồng chí bạn tự giới thiệu:

      - Tôi là Bua Hẳn đang nghỉ bên khu A. - Đồng chí bạn nói tiếng Việt khá sõi - Hỏi thăm các đồng chí phụ trách nhà nghỉ mát mới biết đồng chí đang nghỉ ở bên này nên phải sang thăm anh đồng chí ngay.

     Tôi thầm đoán đồng chí bạn này, chắc rằng đã gặp tôi nhiều lần trong chiến đấu hoặc trong quan hệ công tác nên biết tên tôi và đến thăm. Tôi chú ý quan sát và cố nhớ lại Trong những năm ở bên Lào, tôi chưa nghe cái tên Bua Hẳn bao giờ. Hay là có biết mà bây giờ tôi quên. Nhìn kỹ dáng người dong dỏng cao, đẹp trai, giọng nói nhẹ nhàng rất gần cách phát âm tiếng Việt thì thấy quen quen nhưng không sao đoán ra được. Tôi đành phải gỡ bí bằng cách hỏi quanh co:

       - Trước đây đồng chí Bua Hẳn có hoạt động nhiều ở vùng Sầm Nua, Sầm Tớ không nhỉ? Có lên Long Chẹng bao giờ không?

     - Đồng chí Chuông thân mến - Bua Hẳn nhìn tôi chân thật thổ lộ - Tuy tôi chưa gặp đồng chí lần nào, tôi chỉ hoạt động nhiều ở Hạ Lào thôi, nhưng xem trên báo, rồi nghe anh em kể lại nên biết rõ chiến công của đơn vị đồng chí, lại được biết đồng chí còn có tên gọi là Trung đoàn trưởng Khăm Thúc giống như tên của người Lào chúng tôi có đúng không? Đồng chí còn nói được tiếng Thái, nghe như tiếng Lào. Xin nói để đồng chí biết, đơn vị của đồng chí được nhân dân các bộ tộc Lào quý mến thương yêu lắm đấy?

     Tôi thở phào nhẹ nhõm. Thì ra không phải là mình quên. Đồng chí Bua Hẳn ngỏ ý muốn mời tôi, buổi chiều sang bên chỗ đồng chí nghỉ để anh em trò chuyện thêm. Tôi nhận lời. Đồng chí Bua Hẳn rất vui, tiếp tục trò chuyện như bạn cũ gặp nhau vậy.

     - Đồng chí Chuông sang bên nước Lào chúng tôi nhiều lần rồi phải không?

     - Cũng không nhiều đâu. - Tôi thật thà kể hết chẳng giấu giếm gì - Lần thứ nhất tôi theo sư đoàn sang là thời kỳ kháng chiến chống Pháp, cùng nhân dân các bộ tộc Lào giải phóng Sầm Nua. Hồi đó tôi mới là Đại đội trưởng. Lần thứ hai vào năm 1967, tôi phụ trách trung đoàn đưa cán bộ sang nghiên cứu tình hình rồi cùng bộ đội Pa thét Lào đánh bọn phỉ Vàng Phao lấn chiếm vùng giải phóng. Lần thứ ba là năm 1969, cả sư đoàn sang chiến đấu suốt cho đến năm 1972 giải phóng Cánh Đồng Chum xong, chúng tôi mới rút về nước. Cũng phải nói là những năm tháng Sư đoàn 312 chúng tôi chiến đấu và hoàn thành nhiệm vụ mà hai Nhà nước, hai Quân đội giao cho, đạt được như thế chính là nhờ có sự phối hợp tích cực của bộ đội Pa thét Lào và sự giúp đỡ tin yêu của nhân dân các bộ tộc Lào.

       - Đồng chí Chuông thân mến? Tôi được nghe kể về sư đoàn của đồng chí nhiều lắm đấy. Các đồng chí đã để lại những hình ảnh đẹp, rất anh hùng trong lòng nhân dân Lào, mãi mãi không quên, mãi mãi còn nhắc đến công lao Quân tình nguyện Việt Nam sang cùng Quân đội Lào giải phóng quê hương bản làng, trong đó có cả quê hương tôi.

      Nên riêng tôi, tôi rất yêu cả tiếng nói Việt Nam, chữ viết Việt Nam, đến nay tôi đã nói và viết được tiếng Việt, đồng chí nghe có rõ không?

      Cuộc gặp gỡ bất ngờ mà mỗi lúc thêm cởi mở thân thiết, chúng tôi đã chuyển từ chuyện chung đến chuyện riêng gia đình, vợ con, nhà cửa. Khi ra về, đồng chí Bua Hẳn hẹn đến chiều sẽ cho xe sang đón tôi.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 12:01:41 pm
      Suốt buổi trưa hôm đó, tôi không sao ngủ được, cứ nghĩ miên man về đồng chí bạn Lào mới gặp mà thắm thiết vô cùng. Thế rồi trong đầu lại như hiện lên hình ảnh anh em cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn trải qua năm tháng chiến đấu trên đất bạn, biết bao đồng chí hy sinh còn nằm lại trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.

     Chúng tôi đã có một buổi chiều vô cùng thú vị, vừa ngắm Vịnh Hạ Long vừa kể chuyện chiến trường. Song cho đến lúc này, tôi vẫn chưa biết đồng chí Bua Hẳn làm công tác gì ở bên Chính phủ Lào, đồng chí ấy chỉ giới thiệu tên mà tôi thì không tiện hỏi. Nhưng cứ xem tình cảm bộc lộ khi đón tôi, ôm hôn thắm thiết như anh em một nhà xa nhau lâu nay gặp lại thì chẳng còn phân biệt gì cấp trên, chức vụ mà chỉ có tấm lòng tin yêu quý mến nhau thôi.

     - Đồng chí Chuông ơi! - Bua Hẳn vừa nhìn ra biển vừa nói. - Quê hương đất nước đồng chí có biển, lại có Vịnh Hạ Long đẹp quá! Nước biển trong xanh có những đoàn thuyền ra khơi, các con tàu vào ra nhộn nhịp, các hòn đảo núi hình thù rất lạ, cao thấp khác nhau giăng ra như bày thế trận, thật là hùng vĩ mà lại đẹp như một bức tranh thiên nhiên mà ông trời đã vẽ nên từ hàng triệu năm về trước cho đất nước đồng chí . . .

     Trời tối dần. Thấp thoáng đã có các ngọn đèn toả sáng. Tôi đang say mê, vừa nghe Bua Hẳn nói vừa cảm xúc nghĩ về một tứ thơ đêm Hạ Long trong cuộc gặp gỡ bất ngờ thú vị này thì đồng chí liên lạc của nhà nghỉ mát tới mời chúng tôi về ăn cơm. Quả thật Hạ Long khi trời đêm buông xuống càng lộng lẫy, càng thiêng liêng.

Hỡi người đứng gác đêm khuya
Ngọn đèn không ngủ nhắn gì cùng anh
Hạ Long bờ biển trong lành
Hạ Long núi dựng xây thành ngàn năm
Đêm đêm triệu ngọn đèn đăng
Có sao sáng, có vầng trăng tụ về. . .

     Gọi là ăn cơm, song thật ra là một bữa tiệc đồng chí Bua Hẳn chiêu đãi tôi đậm đà tình nghĩa. Bua Hẳn nâng cốc chúc tôi:

      - Xin chúc anh Chuông đồng chí mạnh khoẻ sống lâu.

      Tôi xúc động nhìn Bua Hẳn rồi nói trong niềm vui say ngỡ như rượu đã ngấm vào người:

     - Bua Hẳn ơi, tôi cũng chúc đồng chí mạnh khoẻ, hạnh phúc. Nào,

Ta cùng nâng chén chào mời
Uống đi cho mấy xa xôi cũng gần.


     - Đúng rồi Uống đi cho mấy xa xôi cũng gần! Chúc nhau nồng nhiệt vậy đấy nhưng chúng tôi vẫn giữ chừng mực không để sa đà quá chén. Cho đến khi kết thúc vẫn tỉnh táo, mỗi lời nói vẫn là nghĩa là tình.

      Trong khi uống nước, bỗng đồng chí Bua Hẳn hỏi tôi:

      - Nhà nước Lào đã có quyết định tặng Huân chương và Huy chương cho các chuyên gia và cán bộ chiến sĩ Quân tình nguyện Việt Nam, đồng chí đã nhận được chưa?

      Thực ra là tôi chưa biết và chưa nhận được nhưng tôi vẫn nói: "Đã nhận được" để giữ cho cuộc gặp gỡ không bị hụt hẫng, vẫn giữ được không khí vui vẻ thân tình.

     Đồng chí Bua Hẳn tiếp lời luôn:

     Trung đoàn trưởng Khăm Thúc thân mến! Đồng chí cho tôi được gọi như bộ đội Pa thét và nhân dân Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng gọi đồng chí những năm 1970. Thôi thì dù đồng chí đã nhận hay chưa tôi cũng xin được tặng đồng chí cái Huy chương của cá nhân tôi để làm kỷ niệm về buổi gặp gỡ đáng ghi nhớ này. Mong đồng chí nhận cho và chúc đồng chí vui, trẻ, khoẻ mãi. Thật là bất ngờ. Tôi không nén được xúc động và lại rất lúng túng vì chẳng có gì để kỷ niệm cho Bua Hẳn đành ghi mấy dòng thơ về đêm "Hạ Long triệu ngọn đèn đăng, có sao sáng, có vầng trăng tụ về” và đề tặng đồng chí ấy mà thôi.

      Sau này, khi đã trở lại biên giới Tây Bắc tiếp tục công tác, nhận được thư Bua Hẳn, tôi mới biết rõ đồng chí ấy là Viện trưởng Viện Huân chương Phủ Thủ tướng Chính phủ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào với tên đầy đủ là Bua Hẳn Huống Mạ Ly. Bức thư đồng chí Bua Hẳn đã viết bằng chữ Việt Nam, kiểu chữ rất chân phương khiến tôi càng thêm xúc động:

      "Đồng chí Chuông! Giữa tôi đối với bạn Việt Nam thì tôi coi như anh em một nhà, nên chưa đầy một tuần chúng ta gặp nhau tại Vịnh Hạ Long lần đầu tiên mà như đã quen nhau, sông bên nhau hàng chục năm ròi. Tôi đã tranh thủ đọc”Đường tới chân trời" của đồng chí, càng đọc càng thấy lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần chiến đấu dũng cảm, ý thức quốc tế vô sản cao cả của người Việt Nam nói chung, của đồng chí Nguyễn Chuông và Quân tình nguyện Việt Nam nó riêng. Càng đọc càng thấy tình đoàn kết vĩ đại, tình hữu nghị đặc biệt giữa hai quân đội và nhân dân Lào - Việt Nam. Tôi cho rằng đó cũng là một trong những nguyên nhân quyết định cho thắng là của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ của nhân dân Lào. Tôi không biết nói gì khác ngoài việc mà tôi sẽ cùng với cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân các bộ tộc Lào làm tất cả mọi việc để giữ gìn tình đoàn kết vĩ đại, tình hữu nghị đặc biệt mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo dựng cho hai Đảng, hai dân tộc Lào - Việt Nam, sao cho mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.

      Đồng chí Chuông thân mến! Lâu nay đồng chí không có dịp quay lại thăm Cánh Đồng Chum, nơi chiến trường mà đồng chí đã cống hiến sức lực và tài năng trí tuệ của mình cho Cách mạng Lào. Vậy tôi xin gửi tặng đồng chí tấm ảnh Cánh Đồng Chum trong hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất, có đàn voi đang trên đường vận tải là hình ảnh của đất nước Triệu Voi mà thơ ca thường nhắc đến".


      Bức thư làm tôi như được sống lại những năm tháng chiến đấu trên mặt trận Cánh Đồng Chum – Xiêng Khoảng. Dòng suy nghĩ cứ cuốn tôi đi với những kỷ niệm về trận đánh mà kể từ đó trở đi Cánh Đồng Chum sạch bóng quân thù.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 03:13:46 pm
VỀ NHÀ
CHƯA HẾT VIỆC QUÂN

      Trên cho cán bộ về hưu thường là tuổi sáu mươi. Anh nào ốm yếu có thể được nghỉ sớm hơn. Tôi về hưu đã ở tuổi sáu lăm, thế là quá lứa, lại bị đau dạ dày, bị thương tật nữa nên có thể nói là già yếu rồi mới trở về quê hương sống với gia đình, gần vợ, gần con, gần bè bạn họ hàng. Dẫu sao cũng là niềm hạnh phúc không gì sánh nổi sau bao năm chiến tranh, đi hàng vạn cây số, đánh hàng trăm trận, vào sống ra chết, bom đạn không lường, vậy mà cái đầu vẫn vững, đôi mắt vẫn sáng để khi trở về được tận hưởng cái không khí yên bình của đất nước, quê hương. Phải nói là mãn nguyện chứ. Từ đây có thể cứ ung dung đọc sách ngâm thơ vui thú điền viên được rồi. Nguyễn Đức Mậu đã có thơ tặng rằng:

Thôi, đã đứt đường binh nghiệp
Tuổi hưu rồi, bác ở quê
Chạnh nhớ bạn bè thuở ấy
Cùng đi có đứa không về

      Nhà thơ khéo nhắc mình phải chăm sóc người vợ già: ..

Thời son trẻ xa nhau mãi
Giờ thương biết mấy cho vừa


      Đúng quá. Chữ tình rồi chữ hiếu là việc đã tới lúc phải lo cho trọn vẹn như Nguyễn Đức Mậu thì thầm tâm sự không sai:

Ngày đi khuất bóng mẹ cha
Ngày về sửa sang mộ cũ
Âm thầm một tấc đất sâu
Hương khói tỏ mờ mầu cỏ


      Cái anh nhà thơ trẻ này đã sống với mình khá lâu hồi ở sư đoàn, chẳng khác nào nói tự gan ruột mình:

Về hưu, giờ thôi quyền chức
Ai người, nhớ bác lại cho
Ai kẻ xa lòng tránh mặt
Miền riêng một mảnh trăng trời


     Nhưng cái "miền riêng" này cũng thật là bỡ ngỡ, bâng khuâng và lúng túng nữa, làm cái gì cũng thấy khó khăn, thua kém mọi người. Ở trong quân đội từ tuổi mười lăm, thường quen với súng đạn và mệnh lệnh đánh giặc, lại thường làm cán bộ nhiều thời gian hơn làm chiến sĩ, bây giờ tránh sao khỏi bỡ ngỡ khi phải bắt tay vào những công việc cụ thể, từ việc đi chợ, nấu ăn, nuôi lợn, nuôi gà, trồng cây làm vườn. Mặt khác còn phải lo các sinh hoạt dân phố, đoàn thể cựu chiến binh, thương binh, người cao tuổi. Thế rồi được bầu vào cấp uỷ thì phải nghĩ xem chi bộ đường phố bây giờ họp bàn cái gì, có cái gì không đúng với sinh hoạt chi bộ trong quân đội? Lại còn các hội đồng đội Sư 312, Sư 345, Quân đoàn 1, Quân đoàn 29, Quân khu 2, Trung đoàn 165, 86 pháo binh. Và các hội đồng hương tỉnh, đồng hương huyện, đồng hương xã. Nguồn tình cảm này là vô cùng quan trọng đối với người về hưu phải gìn giữ nếu không cuộc sống sẽ vô cùng tẻ nhạt. Mỗi lần gặp gỡ là một lần khơi dậy biết bao kỷ niệm buồn vui, rồi động viên nhau giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong cuộc sống đời thường sao cho vẫn là người mẫu mực của gia đình và xã hội.

      Cuộc sống bình yên nơi quê hương trải qua ngày này tháng khác, như thế chẳng giàu có thì cũng gọi là cuộc sống thanh đạm nhàn nhã như các cụ xưa nói "lão giã an chi" được rồi. 'Việc quân đội bây giờ chẳng đến lượt mình nghĩ tới nữa. Có về nhà ít ngày mới biết trút được cái gánh nặng công việc quân đội trên đôi vai, nó nhẹ hẳn người, đặc biệt là nhẹ hẳn cái đầu, ăn ngon miệng, ngủ ngon giấc.

      Nhưng không ngờ, chỉ ít lâu sau, tình hình lại diễn biến khiến tôi thấy rằng việc quân đội đối với tôi chưa xong. Bắt đầu từ anh thương binh là cán bộ chính trị tiếu đoàn 6 trước kia đến báo cho biết là về nhà gần hai mươi năm rồi mà vẫn chưa được hưởng chính sách ưu đãi. Thứ đến một bà mẹ tới báo tin con trai bà ở sư đoàn tôi hy sinh tại Quảng Trị đến nay chưa tìm thấy mộ thì bây giờ tính sao? Thế rồi lần lượt tuần nào cũng có, khi thì cha mẹ liệt sĩ khi là vợ con hệt sĩ đến hỏi: "Con tôi, chồng tôi, cha tôi, anh em tôi ở đơn vị với ông thời đó, chiến đấu hy sinh như thế nào, chôn ở đâu, ông thủ trưởng cho tôi biết với". Tôi phải tiếp, phải trả lời và phải nghĩ. Đúng là khi làm trung đoàn trưởng rồi sư đoàn trưởng, tôi đã cùng các anh trong cơ quan chỉ huy ký hàng nghìn giấy khen đồng thời cũng ký hàng nghìn giấy báo tủ gửi về địa phương cho các gia đình liệt sĩ. Chỉ riêng một chiến dịch Cánh Đồng Chum, Sư đoàn 312 chúng tôi có 1.600 đồng chí hy sinh. Khi sư đoàn hành quân về nước vẫn còn để tất cả bên đất bạn. Chiến dịch Quảng Trị, cả quân đoàn có 4.600 đồng chí hy sinh. Chắc rằng riêng tôi đã ký hàng trăm tờ giấy báo tử cho nên bây giờ bà con đến hỏi thăm tôi là phải. Còn đối với các đồng chí bị thương thì làm sao anh cán bộ sư trưởng như tôi có thể biết hết mọi trường hợp bị thương của cán bộ chiến sĩ trong sư đoàn mà chứng nhận. Trừ khi đã nắm được rõ ràng còn thì lại phải liên hệ với sư đoàn hoặc cơ quan chính sách rồi mới dám chứng nhận. Tóm lại là về hưu rồi, tôi vẫn còn phải có trách nhiệm với các chiến sĩ của mình, người hy sinh, người bị thương, vẫn phải làm hết trách nhiệm, có nghĩa là về hưu mà chưa hết việc quân đội. Tôi chỉ xin kể sau đây một vài sự việc mà giả sử nếu như không tiếp tục bỏ công sức lo toan cho trọn vẹn thì sẽ ân hận vô cùng.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 03:15:09 pm
CHUYỆN ANH KHẮC

      Một hôm, tôi nhận được thư anh Phúc ấm, phóng viên báo Quân đội Nhân dân và nhà thơ Nguyễn Đức Mậu cho biết là hai anh xuống công tác huyện Đông Anh tình cờ gặp anh Khắc, Trung đoàn 165 trước đây. Trong khi trò chuyện về những kỷ niệm trên chiến trường năm xưa, anh Khắc có hỏi là "Thủ trưởng Chuông bây giờ ở đâu mà bao nhiêu năm dò tìm không gặp". Thư Phúc ấm và Nguyễn Đức Mậu nhắn rằng đã hẹn sẽ đưa anh Khắc đến thăm tôi và hỏi tôi "Cụ có nhớ anh Khắc không?". Hỏi mới lạ. Làm sao tôi lại có thể quên được con người dong dỏng cao, cân đối khoẻ mạnh và đẹp trai nữa?

     Cậu ấy là cán bộ chính trị Tiểu đoàn 6, chỉ huy chiến đấu phòng ngư trên dãy núi 1.800 - 2.000 Mặt trận Cánh Đồng Chum năm 1970 rất dũng cảm, sáng tạo, suốt một tuần lễ địch tấn công lên mất lần, bọn Mỹ chi viện đủ loại bom pháo kể cả B.52 rải thảm vẫn không suy suyển. Đặc biệt, Khắc bị thương trong trận này nhưng không rời trận địa vẫn bám sát đơn vị chiến đấu cho đến khi hoàn thành nhiệm vụ. Trận này đơn vị tôi bị tiêu hao khá lởn phải xin bổ sung quân số. Có loạt bom B.52 rơi trúng khẩu đội cối sáu người cùng với cả đại đội trưởng đại đội hoả lực đang trực tiếp quan sát và chỉ huy chiến đấu. Khói bom tan, anh em đi tìm thì không còn thấy một ai, súng cũng bay đi đâu mất. Tất cả đã thành tro bụi. Tìm mãi, tìm mãi chỉ nhặt nhạnh được từng mảnh thịt, từng mảng tóc, khúc tay, bàn chân, gom lại khâm liệm vào một gói ni lông rồi chôn chung trong một hố. Hôm đó lên kiểm tra trận địa, tôi giục anh Khắc về phía sau cho quân y xem lại vết thương nhưng Khắc bảo chỉ bị thương xoàng, sức ép vớ vẩn, vài ngày là khỏi. "Tình hình chiến đấu đang diễn ra quyết liệt thế này, bị thương như tôi, về phía sau làm sao được,, Nghe Khắc nói vậy, tôi đồng ý...

     … Người như thế hỏi, sao tôi không nhớ? Nhận thư ấm và Mậu. Tôi rất phấn khởi được gặp lại con người đã hơn hai mươi năm nay bặt tin mà những kỷ niệm với nhau thì vẫn chưa quên. Thế là tôi thắc thỏm chờ đợi cả tuần lễ không thấy ai đến. Anh Khắc ở quê, giờ giấc có thể trục trặc, không nói làm gì, nhưng Phúc âm và Đức Mậu từ xưa tới nay vẫn rất là chuẩn mực, sao lần này lại sai hẹn như thế.

      Tuần sau, khi tôi đang làm vườn thì bỗng có một chị đầu chít khăn tang vào hỏi thăm:

      - Thưa Bác, bác cho cháu hỏi nhà bác Chuông có phải đây không?
   
      - Vâng, nhà tôi đây? Chị hỏi có việc gì?

     - Cháu là vợ anh Khắc đây ạ!

     - Ôi? Vui quá tôi chờ anh suốt cả tuần lễ qua. Chị lại đến thăm trước.

     Tôi mời chị vào nhà, hỏi thăm gia đình và không quên hỏi thăm chị đang để tang ai. Chị Khắc khóc oà lên. Tôi chẳng hiểu ra sao cả song cũng đoán chừng hay là anh Khắc mới chết, chiếc khăn chít mối trên đầu chị ấy còn mới lắm. Nhưng chẳng lẽ Phúc Ấm và Đức Mậu vừa viết thư nhắn tuần trước là sẽ đưa anh Khắc sang đây. Không thể có chuyện ấy. Tiếng khóc của chị Khắc thì lại khiến tôi hiểu có lẽ đó là sự thật chăng? Quả nhiên, chị mếu máo nói trong nước mắt:

      - Anh Khắc nhà cháu chết rồi, bác ơi!

     Đã đoán chừng ra mà nghe chị nói, tôi vẫn thấy bất ngờ, sự việc thật quá là đột ngột khiến tôi lặng đi như nửa tin nửa ngờ, không muốn đó là sự thật. Chị vẫn tiếp tục kể:

     - Tuần trước, anh ấm, anh Mậu và anh Khắc gặp nhau ở nhà con, còn bàn bạc hẹn ngày đến thăm bác. Tuần rồi, hai anh có đến nhà lại đúng vào hôm anh Khắc phải vào viện cấp cứu vì vết thương cũ tái phát. Thế là hai anh vào Viện 108 thăm. Cũng tưởng như mọi lần rồi đâu lại vào đấy Nào ngờ được hai ngày thì anh ấy bỏ mẹ con con. Hai anh Ấm và Mậu liền cùng gia đình và bệnh viện tổ chức tang lễ rất chu đáo. Hôm qua, hai anh bảo con sang thăm bác rồi báo tin cho bác biết luôn. Khổ thân anh ấy Tìm kiếm bác mãi, đến khi biết chỗ bác ở rồi thì lại không còn sống để được thưa chuyện với bác.

     - Có chuyện gì thế hả?
   

      - Thưa bác, nỗi khổ tâm nhất của anh ấy là bị thương mà bao nhiêu năm nay vẫn chưa được là thương binh. Anh ấy làm đơn gửi đến nhiều nơi, ở đâu người ta cũng bảo phải có đơn vị cũ, có thủ trưởng cũ lúc bị thương, chứng nhận mới được. Anh đi tìm hỏi các bác đơn vị cũ mà chẳng biết tìm ở đâu. Đến khi biết được chỗ bác ở, chuẩn bị đi thăm bác để bác chứng nhận cho thì. . . - Chị nấc lên nói nghẹn trong cổ họng - Số kiếp anh ấy thật là long đong; bây giờ thì tất cả dồn lên đầu con, con biết nuôi nấng dạy bảo các cháu ra sao?

     Tôi nghe mà chưa biết động viên an ủi chị Khắc ra sao. Lát sau, Đức Mậu và Phúc ấm cùng tới. Phúc ấm nói:

     - Chúng em thất hẹn với Thủ trưởng vì tình huống diễn ra đột ngột quá. Chắc chị Khắc đã kể cụ nghe rồi. Chúng em thay mặt đơn vị cùng gia đình làm tròn nghĩa vụ với anh Khắc, thăm nom khi anh nằm viện và tổ chức tang lễ khi anh qua đời. Hôm nay cùng xuống thăm, báo tin không vui để cụ biết và cho ý kiến.

     - Bây giờ các anh chị mới báo thì tôi còn ý kiến gì được - Tôi thở dài, nghĩ mà thương cho anh Khắc – Bây giờ Khắc chết rồi, chứng nhận cho anh ấy bị thương và chết vì vết thương chiến tranh tái phát ư? Việc đó dễ thôi. Nhưng có được trên công nhận thì cũng muộn rồi. Ta thử bàn xem nên làm thế nào cho có hiệu quả.

     Đức Mậu nói:

     - Bác cứ chứng nhận anh Khắc bị thương. Anh Khắc không được hưởng thì các cháu nó được hưởng. Trường hợp bị thương của anh Khắc thì bác biết quá rồi. Vết thương tái phát mà chết là anh Khắc sẽ được công nhận là Liệt sĩ.

     - Đúng rồi. Thôi được, để tôi viết ngay.

     Tôi liền viết giấy chứng nhận anh Khắc bị thương ra sao, lại viết thư cho anh Lã Thái Hoà hồi đó là sư đoàn trưởng để cùng chứng nhận đồng thời viết thư về sư đoàn cũ. Anh Ấm nói:

     - Cụ cứ chứng nhận thư thế nhất định là được. Chữ ký của cụ văn có hiệu lực như xưa. Chúng em sẽ dẫn chị Khắc đến gặp thủ trưởng Lã Thái Hoà và về sư đoàn để làm việc.

     Tôi nói với chị Khắc:

     - Ấm và Mậu là hai người bạn tất, có thuỷ có chung. Hai cậu ấy đã lo liệu việc gì là đến nơi đến chốn - Và tôi chỉ còn biết an ủi chị Khắc - Chị cứ yên tâm nuôi dưỡng các cháu. Chỉ tiếc là đã lâu tôi không gặp được anh Khắc; đến bây giờ thì anh em chẳng còn làm sao mà nói với nhau điều gì được nữa.

     Nhờ có Phúc ấm và Đức Mậu giúp đỡ, công việc tiến triển khá thuận lợi, các cấp từ sư đoàn đến tỉnh, huyện đều rất tận tình, chưa đầy một năm, chuẩn bị giỗ đầu anh Khắc thì tôi nhận thư chị ấy báo tin anh Khắc đã được công nhận là Liệt sĩ. Thế là tôi cũng được an ủi một phần chứ không cứ gì chị Khắc và các cháu.



Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 04:10:35 pm
ĐẾN CHUYỆN ANH HỮU

      Một buổi sáng, tôi vừa cho lợn gà ăn xong định vào nhà pha trà uống thì một chị khoảng gần năm mươi tuổi và một anh đi sau, quân phục bạc màu, đầu không mũ, tóc bơ phờ, vào cổng gọi. Tôi vội quay ra, chưa nhận ra ai thì người đàn bà đã đon đả chào rồi hỏi:

     - Thưa bác, bác có phải là bác Chuông?

     - Vâng, chị hỏi tôi có việc gì?
      
      - Trời ơi, may quá - Chị ta xởi lởi mừng rỡ nói tiếp - Nếu không có huyện đội Gia Lâm chỉ dẫn thì khó mà tìm thấy bác được.

     Tôi mời anh chị vào nhà, rồi vừa pha trà vừa nói:

     - Anh chị ngồi uống nước đã rồi có việc gì ta sẽ cùng bàn.

     Đây là vợ chồng anh thương binh. Nghe chị vợ giới thiệu tôi nhớ ra, anh tên là Hữu, bị thương khi làm nhiệm vụ vận tải từ mặt trận Cánh Đồng Chum năm 1970, máy bay B.52 rải bom, anh bị đập đầu vào đá chỗ dãy núi gần hang bản Thắm. Nhưng sau năm 1971, anh được cử về nước học Trường Sĩ quan Lục quân kia mà, sao bây giờ lại ngơ ngơ ngác ngác thế này, cứ nhìn tôi chằm chằm như hai người lạ gặp nhau, chẳng nói chẳng rằng. Chị vợ phải giục:

     - Đây là bác Chuông, anh chào bác Chuông đi!

     Anh Hữu gập đầu chào. Tôi liền hỏi xem anh có nhớ tôi không, anh lắc đầu. Lại hỏi, hồi năm 1970, anh ở đại đội nào, tiểu đoàn nào, anh cũng lắc nốt. Chị vợ liền đỡ lời:

     - Thưa bác, lúc mới về, nhà em còn tỉnh táo khoẻ mạnh lắm, không như thế này đâu. Từ khi vết thương ở đầu tái phát, cơ chừng sáu năm nay cứ như điên như dại, mới phải đi bệnh viện. Các bác sĩ chẩn đoán là anh ấy bị chấn thương sọ não. Ấy hồi được cử đi học trường sĩ quan ở Sơn Tây, được anh em bày cho là nếu có kiểm tra sức khoẻ thì phải giấu biệt cái chuyện bị bom B.52 giập đầu vào vách đá, anh ấy mới được vào học. Nhưng rồi tập luyện vất vả quá, tới mùa hè nóng nực, cái chứng nhức đầu nó hành hạ không sao chịu đựng nổi, học buổi đực buổi cái, nhà em phải nói thực với cấp trên về cái lần bị thương năm 1970 ở bên Lào. Cuối cùng thì cũng được tốt nghiệp, được phong trung uý, nhưng ra trường chưa về đơn vị nào lại phải đi viện. Thế rồi cấp trên cho ra quân trở về công tác ở nhà máy xe lửa Gia Lâm được bốn năm, cũng cứ đi viện luôn. Sau khi phát điên, cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn như vậy thì nhà máy cho nghỉ việc chẳng có chế độ nào cả. Khổ vậy. Một mình em lương công nhân nuôi chồng và ba đứa con chẳng biết trông cậy vào đâu. Đã thế, cứ đến mùa hè là anh ấy lại phát điên phá phách lung tung, em phải nhờ hàng xóm đến giữ, tìm cách nhốt lại trong buồng. Ai cũng sợ, tuy là rất thương. Mẹ con em khổ quá Đã lâu rồi, anh ấy chỉ nhớ mỗi tên Thủ trưởng Chuông. Em đi tìm dễ đến gần hai mươi năm nay bây giờ mới thấy. Vậy mà anh ấy cũng không còn nhận ra được. . .

     Quả thật, tôi không ngờ anh em trong đơn vị tôi lại còn có những đồng chí gặp phải cảnh ngộ như thế. Buồn quá!

     - Thế anh ấy còn giữ được giấy tờ gì không?

     - Chỉ có giấy của nhà máy, của huyện và của Trường Sĩ quan Lục quân.

     Thế thì chưa đủ. Để tôi sẽ hỏi lại Sư đoàn trưởng Lã Thái Hoà và nhất là sẽ hỏi anh Hải về tiểu đội vận tải của sư đoàn hồi bấy giờ. Nói thật với chị, tôi chưa gặp anh Hậu lần nào, vì thế anh ấy không nhận ra tôi, nhưng tôi có nghe kể về trường hợp bị thương của anh ấy. Bây giờ qua những điều chị giãi bày, tôi rất tin. Chị yên tâm, tôi sẽ viết thư và xác nhận để anh Hữu được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước. Thôi, bây giờ đến bữa rồi, mời anh chị ra ăn cơm dưa muối với vợ chồng tôi, rồi còn gì, chiều ta bàn tiếp.

     Buổi chiều, viết thư xong, tôi trao cho chị Hữu và căn dặn:

     - Chị mang thư này lên gặp anh Lã Thái Hoà và anh Hải ở 34 Lý Nam Đế. Có giấy tờ của hai anh ấy rồi, chị quay lại nhà tôi, tôi bàn thêm rồi chỉ đường cho chị lên sư đoàn.
      
     Công việc không ngờ lại rất suôn sẻ. Sư đoàn báo cáo lên trên để anh Hữu đi khám sức khoẻ, kiểm tra giám định thương tật. Một thời gian sau, chị Hữu đến nhà tôi báo tin, lại gọi vợ chồng tôi là bố mẹ:

     - Chúng con chẳng biết lấy gì để đền ơn hai bác,  chúng con xin được coi hai bác như bố mẹ. Anh Hữu nhà con đã được xếp thương tật loại bốn. Thế là từ nay gia đình con cũng bớt được phần nào vất vả. Nhà con rất nghèo, chẳng có gì, chỉ có cân bún khô của nhà làm được, con biếu bố mẹ. Hai cân này con sẽ biếu bác Hoà, bác Hải.

      Chị Hữu năn nỉ mãi khiến tôi đành phải nhận cho chị vui lòng. Tôi liền giục bà nhà tôi làm ít thức ăn nấu bún luôn để chị Hữu cùng ăn cho vui.

     Lúc chia tay, chị Hữu rưng rưng nước mắt:

     - Nhà vợ chồng con ở tổ dân phố số 6 Công ty may 10, thị trấn Sài Đồng. Khi nào rỗi rãi nắng ấm, con mời bố mẹ sang chơi với vợ chồng con và các cháu.

     Tiễn chị Hữu ra về rồi, tôi thấy vui mà lại chưa hết buồn, hết nghĩ... Chẳng biết sư đoàn tôi còn bao nhiêu đồng chí gặp phải hoàn cảnh như đồng chí Hữu, đồng chí Khắc. Chính sách còn nhiều lỗ hổng quá, còn nhiều sơ suất quá. Tự dưng, tôi không cầm được nước mắt?


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 04:47:36 pm
TIẾP ĐẾN CHUYỆN ANH HOÀNG QUYẾN

     Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thị trấn Mai Dịch họp ở nhà tôi. Cuộc họp đã đến phần kết thúc thì bỗng có một ông già đầu đội nón, quần áo xộc xệch đi cùng anh con trai đến gọi cổng, gọi rõ tên tôi. Bà nhà tôi ra, ông ta hỏi ngay:

     - Nhà ta có phải là nhà ông Chuông không?

     Tôi nghe giọng nói oang oang rất quen, liền bảo bà cháu mở cổng mời ông ấy vào. Đúng là ông Quyến rồi. Tôi phải xin phép các cụ kết luận hội nghị nhanh để con tiếp khách.

     - Ông ấy ở tận Phú Thọ về thăm tôi đấy.

     Tiễn các cụ trong ủy ban Mặt trận ra về rồi, tôi quay vào cũng xởi lởi hỏi ngay:

     - Thế nào, mạnh khoẻ chứ ông Quyến? Cuộc sống gia đình có gì đổi mới không? Vẫn ở cái nhà chỗ ngã ba Cổ Tuyết huyện Tam Thanh hay đi đâu rồi mà bao nhiêu năm bây giờ mới gặp?

     - Vẫn cái nhà hồi ông đến chứ đi đâu, gần gốc cây đa đường lên Cát Trù ấy.

     - Bà ấy nhà ta thế nào, khoẻ chứ? Các cháu làm ăn khá không?

     Anh Quyến tỏ vẻ lúng túng, trả lời một cách ngượng ngùng, rời rạc:

      - Cũng được thôi.

      - Sao tôi trông ông có vẻ khổ sở thế này? Đã bỏ được rượu chưa? Cái máu Trương Phi có bớt được chút nào không?

      - Tôi khổ quá - Anh Quyến không trả lời vào các câu hỏi dồn dập của tôi cứ vừa lắc đầu vừa than vãn - Tôi khổ quá! Và cũng sai nhiều.

      Một lát, như đã bình tĩnh trở lại, anh mới bắt đầu nói có đầu có cuối hơn:

      - Hôm nay về thăm ông và một số ông nữa là tôi muốn nhờ ông giúp tôi xem nên sống thế nào đây, chứ tôi khổ quá!

      Anh gục đầu xuống, xúc động không nói tiếp được nữa. Tôi bèn hỏi sang anh con trai đi cùng xem cháu là con thứ mấy, cháu đáp:
      
      - Cháu là con rể đầu bố cháu. Hôm nay đưa bố cháu về gặp ông xong là cháu phải lên ngay Việt Trì công tác.

     Anh con rể được dịp bộc lộ tất cả mọi chuyện với người bạn chiến đấu già của ông bố vợ mình:

     - Bố cháu về từ năm 1971. Từ ngày đó chỉ uống rượu và đi lang thang chữa bệnh bằng các cây thuốc theo phương pháp y học cổ truyền, nay ở làng này mai sang làng khác.

      - Như thế thì tốt chứ sao?

     - Nhưng bố cháu không về nhà, cứ bê tha rượu chè. Mỗi lần về nghe mẹ cháu, anh cháu nhắc nhở là chửi toáng lên rồi đánh đuổi "Chúng mày cút hết đi, tao không cần đứa nào quan tâm đến tao, tao không cần vợ con". Bạn bè rồi cán bộ chính quyền xã, huyện, thậm chí cả tỉnh, đến thăm, bố cháu cũng chửi tất: "Chúng mày dạy tao ư? Tao còn đẻ ra chúng mày, lạ gì tao không biết". Nhưng không ai giận cả vì biết bố cháu có điều gì còn ẩn ức đây. Bây giờ bố cháu ở một mình. Cái nhà ông đến hồi nào bây giờ chỉ là cái lều dột nát. Nhiều lần mẹ con cháu đem gạo và quần áo đến, bố cháu đánh đuổi rồi vứt trả: "Tao không cần ai, tao sống một mình". Đến lúc chẳng còn ai nhờ ông chữa thuốc nữa, thế là không có ăn, sống co ro, đành nhịn đói, chẳng lẽ đi ăn xin, mấy tháng nay có thể nói là khổ cùng cực. Cháu là rể có mua thứ gì mang đến, bố cháu nể lắm mới nhận. Gần đây, bố cháu tự nhận là "bố sai lắm rồi; bây giờ bố có công chuyện chỉ muốn gặp ông Chuông rồi ông Phương, ông Hoà và một số ông nữa". Đấy, thưa bác, sự thể là như thế cho nên hôm nay cháu mới đưa bố về gặp bác theo nguyện vọng của bố cháu.

     Tôi chăm chú nghe và nghĩ cũng thấy lạ. Thằng con rể nói bố vợ như vậy trước mặt người bạn của bố mà ông ta vẫn ngồi im. Chắc hẳn anh chàng Quyến "Trương Phi" này đã quá thấm thía về những sai lầm của mình rồi đây.

     Tôi liền hỏi:

     - Thế bố cháu có lương hưu kia mà?

     - Không có gì cả. - Anh Quyến bật nói.

    - Nhưng anh là chiến sĩ giải phóng từ trước Cách mạng Tháng Tám lại đã là cán bộ tiểu đoàn được phong hàm đại uý rồi kia mà.

    Anh con rể đỡ lời:

    - Khi bố cháu về, chẳng hiểu vì sao lại đem đốt tất cả sổ sách giấy tờ, vứt cả Huân huy chương, cho nên đến nay có chính sách ưu đãi người kháng chiến mà bố cháu thì chẳng khác nào phó thường dân đứng ngoài cuộc kháng chiến.

    Thế là rõ rồi. Suy cho cùng thì vẫn là do cái máu Trương Phi, bực mình là làm ào ào đi chẳng có suy trước tính sau gì cả. Chứ tôi biết Quyến từ hồi cướp chính quyền ở Phú Thọ, Hưng Hoá, cho đến khi thành lập Sư đoàn 312 cùng nhau chiến đấu đi khắp các chiến dịch. Anh ta khoẻ mà táo tợn, làm việc nhanh nhưng hay ẩu, chiến đấu dũng cảm nhưng hễ vào được đồn là tìm rượu trước. Do lập được thành tích xuất sắc mà được thưởng áo lụa của Bác Hồ kia mà! Nhưng tôi biết có một chuyện, chắc chỉ có chuyện đó thôi khiến anh ấy bất mãn xé bỏ giấy tờ và đến nay thì mới hối tiếc.

     Anh con rể rụt rè hỏi:

     - Cháu nghe người ta nói trước đây bố cháu có dính vào một vụ buôn thuốc phiện nên bị kỷ luật?

     - Láo toét. - Anh Quyến gắt gỏng nói - Mày hãy nghe ông Chuông kể lại thì mới rõ sự thật nó là như thế nào.
   
     - Cháu ạ, không đúng như thế đâu. Số là bố cháu có bài thuốc gia truyền. Hồi còn trong bộ đội, đóng quân ở làng nào thấy có người ốm là ông ấy chữa cho. Khỏi bệnh, người ta lại mời ăn uống, có khi còn biếu tiền. Chữa khỏi cho nhiều bà con lắm nên đến đâu bố cháu cũng được người ta gọi là ông lang Quyến, rất trọng vọng, quý mến. Đến cái lần chữa bệnh cho một gia đình ở xã Tân Hưng, Phổ Yên, nhà giàu, thang thuốc lại cần có thuốc phiện. Nhà chủ bảo khó tìm ra cái thứ đó. Bố cháu bốc lên nói khoác: "Thiếu gì. Tôi mua hàng yến cũng được". Không ngờ câu chuyện lại lọt vào tai công an. Công an liền bố trí cho một cô gái đến nhờ mua. Cô gái săn đón, thúc bách ghê lắm, hỏi tiền đâu thì vài ngày sau cô ta mang cả một bị tiền ra nhử, bảo khi nào trao hàng thì trao tiền. Đã trót thì trét chứ bố cháu có biết ngóc ngách thuốc phiện ở đâu mà buôn. Tính nghịch ngợm táo tạo nổi lên, bố cháu liền đi kiếm một ít nhựa đường gói lại, đợi cô gái đến rồi đèo cô ta tới địa điểm đã định. Vừa loáng thoáng thấy từ hai phía cùng có người đi xe đạp đèo nhau sáp lại, cô gái ngồi sau hô: "Anh bị bắt. Dừng lại. Nếu chống cự tôi sẽ bắn. Đương nhiên là tôi chỉ bắn què thôi". Thế là hai xe công an kia ập tới bắt. Bố anh mới hỏi: "Vì sao bắt tôi? Tội gì?". "Tội buôn thuốc phiện chứ còn tội gì?". Bố anh cười khì: "Tang chứng đâu?". "Lại còn chối à. Thế cái gì để trong túi dết?". "Chả có gì hết chỉ có tài liệu và ít nhựa đường". "Nhựa đường. Anh còn ngoan cố phải không? Tịch thu”. Bố anh mới lấy ra đưa cho cô gái: "Xem đi, không nhựa đường thì là cái gì. Đáng lẽ tôi định đem về hàn cái trôn vại nước của bà cụ chủ nhà nó rò nhưng bây giờ thì tôi cho chị đấy. Chị có giỏi đem về cho ông cụ nhà chị hút đi".

      Đáng lẽ không có tang chứng thì không có quyền bắt người nhưng mấy anh công an này cay cú, lại vẫn cứ bắt và giải về giao cho sư đoàn. Thế rồi đơn vị hành quân chiến đấu, bố cháu phải ở lại phía sau, mọi việc do bộ phận hậu phương giải quyết như thế nào, bác cũng không rõ. Từ đó đến nay mới gặp lại. Không ngờ, ông Quyến "Trương Phi" ơi, sao mà ông lại thân tàn ma dại đến thế này. Nói ông bỏ qua, trông ông chẳng khác nào anh Chí Phèo trong chuyện của Nam Cao ấy.

      Anh Quyến gãi đầu:

     - Biết sai lầm rồi! Tôi tự gây ra, tự tôi làm khổ tôi thôi? Nhưng bất công quá, nó lại khai trừ tôi ra khỏi Đảng rồi ký quyết định cho tôi chuyển ngành chứ không cho về hưu. Chuyển ngành thì tôi biết làm gì với cái văn hoá chống nạn mù chữ? Tôi cho đời mình đến đây là hết, tôi chẳng chuyển về đâu cả, tôi về nhà và đốt tuốt mọi thứ, không cần đời, không cần ai, mặc cho nó muốn đến đâu thì đến, lang thang làm thuốc có tiền uống rượu rồi chửi, chửi tuốt, lúc say chửi, lúc không say cũng chửi, chửi cho đã giận, đã sầu. Cuối cùng mới thấy tai hại, mới bảo cháu đưa đi tìm ông...

     - Thế là tôi rõ tình hình của ông rồi, ông Quyến "Trương Phi" ạ? Sẽ có cách giải quyết thôi. Bây giờ đến bữa rồi, bà nhà tôi chuẩn bị xong rồi, hai cha con ra ăn cơm với vợ chồng tôi; đêm nay nghỉ lại đây, ngày mai ta bàn thêm. Tôi sẽ viết thư và chỉ đường cho tới những nơi mà ông cần phải gặp.

     Anh Quyến quay ra bảo con rể:

     - Này, anh đem hai cái măng ra làm đi - Xong anh quay lại tôi nói tiếp - Đây là hai cái măng bương to nhất ở cái bụi trước nhà hồi ông đến vẫn còn nay nó sinh sôi che kín cả nửa cái sân. Cái giống măng này luộc ăn cũng ngọt lắm.

     - Thôi để bữa tối các cháu về làm ta cùng ăn, bây giờ có thức ăn rồi, hai ông con ra ăn cơm với vợ chồng tôi kẻo nguội.

     Hôm sau, hai cha con anh Quyến cầm thư tôi đến gặp anh Lã Thái Hoà và anh Hoàng Phương, Trung tướng, Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự. Chính anh Hoàng Phương hồi đó đã ký quyết định cho anh Quyến chuyển ngành. Tôi cũng viết thư lên cả sư đoàn đề nghị xem xét giải quyết cho thoả đáng vì sự thực về bản chất, hồi đó, anh Quyến không có lỗi, chỉ là do tính khí con người mà thôi. Tiễn cha con anh đi, tôi biếu một ít tiền tàu xe, nói mãi anh mới chịu nhận.

     Anh Hoàng Phương giải quyết rất tốt, vừa viết thư vừa gọi điện thoại lên Sư đoàn 312 bàn bạc hướng giải quyết và biếu anh Quyến hai trăm ngàn đồng lại cho xe con đưa anh lên thẳng sư đoàn.

     Hồ sơ lưu trữ của Sư đoàn 312 còn khá đầy đủ, anh em đã làm lại toàn bộ giấy tờ cho anh Quyến được hưởng chính sách về hưu và trợ cấp kháng chiến. Gần đây tôi được tin dường như anh đã bớt hẳn cái tính "Trương Phi", ít uống rượu, sống vui vẻ với con cháu. Cuộc sống gia đình đã được đầm ấm, ổn định.

     Té ra đồng đội của tôi còn những đồng chí gian truân như thế. Qua sự việc này, tôi không dám nghĩ theo kinh Phật rằng "giúp một người phúc đẳng hà sa", mà chỉ nghĩ là trách nhiệm của mình, đây là việc quân đội mà đối với mình, dù đã về hưu cũng chưa thể gọi là xong.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:02:03 pm
BÀ MẸ HẢI PHÒNG

     Một hôm, tôi đến Nghĩa Tân thăm anh Lịch, bạn chiến đấu cũ cùng đơn vị Quân đoàn 1 về, vừa tới nhà được một lúc đã nghe tiếng người gọi cổng. Lần này là một chị dắt xe máy, quần áo lịch sự. Tôi chạy ra chưa tới cổng thì chị đã lễ phép hỏi:

     - Thưa bác, đây có phải là nhà bác Chuông?

     - Vâng, chị hỏi tôi có việc gì? Mời chị vào nhà...

     - May quá - Vừa dắt xe vào sân chị vừa nói hồn nhiên như người thân - Cháu đến chỗ bác Lịch mới biết chỗ ở của bác. Bác Lịch bảo bác vừa ở đấy ra ít phút thôi. Vậy là cháu về lấy xe phóng đến nhà bác luôn. Chỉ sợ bác đi chơi đâu. May quá, bác lại về nhà.

     Tôi cứ ngỡ đây là người làng hoặc cháu họ, em họ gì  đó đến chơi thăm thôi nên mới thân mật vậy. Té ra đây là cô giáo dạy ở trường cấp 2 Nghĩa Tân, gần nhà anh Lịch, có người em ở Đại đội 7, Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 165, Sư đoàn 312, hy sinh Ở Quảng Trị. Giấy báo tử gửi về địa phương do tôi ký. Bây giờ không biết phần mộ ở chỗ nào, cho nên gia đình, nhất là bà mẹ đẻ, rất muốn đi thăm mộ con trai, thắp cho con nén hương. Chị nghẹn ngào nói:

     - Nhà mẹ cháu ở dưới Hải Phòng. Mẹ cháu bảo cái giấy báo tử không ghi rõ sơ đồ mộ chí thì bây giờ cứ đi hỏi ông ký giấy may ra ông biết. Thưa bác, đây là giấy báo tử của em cháu. Còn đây là ảnh của em cháu. Tôi cầm tờ giấy xem. Đúng là chữ ký của tôi đây rồi.
Tôi lại cầm lấy tấm ảnh. Chà, một chàng trai Hải Phòng thật là khôi ngô. Tôi chợt nhớ đến chuyện người chiến sĩ quê Hải Phòng chiến đấu trong thành Cổ Quảng Trị rất hiên ngang, vừa ung dung hút thuốc lá vừa bắn trả quân địch. Đồng chí ấy cũng đã hy sinh trong Thành Cổ mà phần mộ bây giờ chắc đã trở thành thảm "cỏ xanh non tơ” như lời hát của nhạc sĩ nào đó mà thôi.

      - Thưa bác! - Tôi hơi bối rối trở lại thực tại trước câu hỏi của chị - Bác có biết tên các anh trung đội trưởng, đại đội trưởng của em cháu không, và bây giờ các anh ấy ở đâu ạ?

     …

    - Cháu muốn hỏi thăm các anh đó xem em cháu trướclúc hy sinh có dặn lại gì không và việc chôn cất thế nào?

     May sao tôi lại vẫn còn nhớ cậu Măng là Tiểu đoàn trưởng hồi đó, bây giờ đang ở huyện Đông Anh. Anh Lạc, Chính uỷ 165 thì ở Thái Nguyên. Tôi nói với chị:

     - Muốn biết các anh đại đội trưởng và trung đội trưởng hồi đó, chị phải đến tìm gặp anh Măng ở Đông Anh, anh là người trực tiếp chỉ huy các đơn vị chiến đấu. Cũng xin tiết lộ để chị biết, riêng tại chiến trường Quảng Trị - Đường 9, Quân đoàn 1, có hơn bốn nghìn liệt sĩ mà quy tập về chắc rằng chỉ được khoảng hai phần ba.

     - Vâng! Bác nói vậy là cháu hiểu. Cuối năm 1971, em cháu học hết cấp 3 xong là đi bộ đội liền, chưa biết hò hẹn với một người con gái nào nên mẹ cháu thương lắm, cứ giục cháu đi tìm bác bằng được. Bây giờ biết tin là mẹ cháu lên ngay đấy. Trước là thăm bác, sau là sang Đông Anh gặp anh Măng. Biết được thêm chút tin tức nào về em cháu là mẹ cháu mừng lắm, bác ạ.

     Bốn ngày sau, cô giáo đưa bà mẹ đến nhà tôi. Cô kéo tôi ra nói nhỏ:
      
     - Mẹ cháu định đi Quảng Trị ngay ngày mai. Cháu sợ mẹ cháu mệt. Nhờ bác khuyên mẹ cháu thư thả nghỉ ngơi vài ngày, cháu xin được nghỉ phép, cháu sẽ đưa mẹ cháu đi.

     Tôi định lựa lời nói theo ý cô con gái nhưng bà cụ đã nói trước:

     - Tôi tận Hải Phòng, được tin con cháu nói là đã tìm được ông thủ trưởng của thằng nhỏ, tôi vội lên để trực tiếp nghe ông kể về cháu chiến đấu hy sinh như thế nào, chôn cất ở đâu, có còn nguyên vẹn không mà giấy ông ký báo tử chỉ nói ngày tháng hy sinh ở Quảng Trị, không nói đến nơi chôn cất. Vậy thì nó làm sao?

     Nói đến đây, bà oà khóc lên và người con gái cũng khóc theo. Rồi bà vừa lau nước mắt vừa nói tiếp:

     - Tôi biết là con tôi không còn mồ mả gì nữa đâu, không còn cả thân xác nữa đâu. Mấy đêm nằm ngủ, tôi đều thấy con tôi về, nó bảo thể xác con không còn, đã biến hết vào đất đai, cây cỏ Quảng Trị rồi, mẹ đừng có phải đi tìm, không thấy được con đâu. Mẹ gọi về lúc nào con về cũng được. Con thương mẹ lắm. Con vẫn thường về thăm mẹ như hôm nay. Mẹ không biết đâu... Tôi nói chuyện với nó rất lâu và thấy nó còn nguyên vẹn ông ạ.

      Tôi vừa nghe bà mẹ liệt sĩ nói vừa nghĩ lung tung về các trận chiến năm nào, chiến sĩ của tôi ngã xuống, mỗi người mỗi vẻ. Đã có Dáng đứng Việt Nam lẫm liệt, bất khuất, Dáng ngủ trong đội hình đánh giặc và Dáng chết của người chiến sĩ hiên ngang thanh thản. Những hình ảnh cứ như ẩn như hiện trong trí nhớ của tôi, kể từ trận Tú Lệ, Tiểu đội trưởng Khoát quê ở Thái Bình, bộc phá hết mà vẫn còn hàng rào dây thép gai cuối cùng, anh nằm lên lấy thân mình làm giá thiết cho anh em vượt qua xung phong chiếm đồn giặc. Thắng trận rồi quay ra thì anh đã hy sinh, vẫn nằm trên đó, súng một bên, một tay vẫn níu chặt cọc hàng rào, hai vết đạn ở ngực, Ở đùi, máu đẫm áo quần đang chảy thành giọt xuống hàng rào, xuống đất Tú Lệ. Đến trận Gò Hồi, anh Vũ Miền, phụ trách tổ xung kích số 1 chết mà thân hình nằm nghiêng ngay trước lỗ châu mai. Khi làm chủ trận địa rồi, chúng tôi quay lại mới thấy anh, ngực đầy máu, đạn địch găm khắp người. Không biết có những viên đạn nào cắm vào thịt xương anh đã che cho tôi ở tổ xung kích thứ hai và Đại đội phó Tiệm ở tổ xung kích thứ ba xung phong hoàn thành nhiệm vụ. Tiếp đến là ở trận đánh cao điểm 105 bắc sân bay Mường Thanh, tôi bị thương rồi bị địch bắt mà anh em thì hy sinh nhiều quá, có đồng chí tôi chỉ nhìn thấy hai bàn chân trên mặt chiến hào, có đồng chí đầu văng đi đâu mất . . . Còn ở Quảng Trị, cái trận bom giặc Mỹ ném trúng vào đội hình Trung đoàn 41 khi đơn vị vừa qua động Ông Gio về Khe Chai, năm mươi anh em nằm la liệt, không còn biết nói sao cho hết nỗi xót đau. . .

     - Ông ạ? - Bà mẹ liệt sĩ như đánh thức tôi khỏi cơn mê sảng - Vì thế, tôi vào Quảng Trị không phải để đi tìm mồ mả con tôi nữa. Tôi vào thắp hương cúng ông thần linh thổ địa trong đó, thắp hương nơi cháu nó yên nghỉ để rồi xin các ngài một nắm đất nơi cháu đã ngã xuống vì Độc lập, vì Tự do của nước nhà, tôi đem về, tôi thờ, tôi để cạnh chỗ tôi sống hàng ngày thì như vậy cũng như lúc nào tôi cũng được gần con tôi. Tôi tính như vậy có được không ông? Cho nên công việc có thế thôi, làm gì phải chuẩn bị nhiều, cần gì phải chờ con cháu này đưa đi, tôi còn khoẻ, nhất định là ngày mai tôi đi.

     Tôi xúc động nhìn bà và thấy quý trọng bà mẹ liệt sĩ này vô cùng. Thật là một tâm hồn của người mẹ Việt Nam anh hùng. Tuy vậy, tôi vẫn tìm cách khuyên nhủ bà phải chuẩn bị thật kỹ càng cho chuyến đi của mình mặc dầu tàu xe hiện nay khá thuận lợi, nhưng còn những điều kiện thuận lợi khác phải biết tranh thủ để công việc được thông dòng bén giọt hơn:

     - Thưa bà, ý bà đã quyết như thế, tôi không dám ngăn. Nhưng nếu bà chậm một vài ngày để cô giáo đây nghỉ phép cùng đi thì tốt hơn. Bà có bạn đường, nhất là con gái, ở nhà bớt phải lo lắng cho bà. Các cụ xưa nói: "Người trên cây không lo bằng người ở dưới đất" là sự thế. Thêm nữa, bà chờ tôi viết thư cho các đồng chí trong Quảng Trị thì vừa có giấy giới thiệu của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Hải Phòng vừa có thư của tôi nhất định bà sẽ được tiếp đón chu đáo.

     Tôi kể cho bà mẹ nghe chuyến đi Quảng Trị của tôi mới đây, vào thăm thành Quảng Trị, thắp hương trên đài tưởng niệm, tôi được các đồng chí trong đó tiếp đón rất nồng nhiệt. Bà mẹ khẽ cười:

     - Vâng, vậy thì ông cho tôi một lá thư.

     Hai tháng sau, chị con gái bà đến thăm tôi báo tin là bà đòi đi ngay ngày hôm sau, chẳng làm sao mà cản được. Thế là chị đành phải xin phép nghỉ đột xuất để đưa mẹ đi.

     - Tất cả đi về có năm ngày thôi bác ạ. Cơ quan tỉnh đón tiếp chu đáo lắm. Mẹ con cháu vào Thành Cổ thắp hương rồi lấy một nắm đất mang về. Mẹ cháu chọn một cái lọ sứ rất đẹp bỏ vào rồi lập bàn thờ ngay trong phòng ngủ của mẹ cháu ấy. Mỗi lần khấn em cháu xong lại lầm rầm nói lời cảm ơn tỉnh Quảng Trị, cảm ơn ông tướng Chuông. Mẹ cháu bảo hôm nào rỗi rãi lên thăm cháu, mẹ cháu sẽ đến thăm bác. Khi nào có việc về Hải Phòng, cháu mời bác đến chơi với bố mẹ cháu.

     Biết nói gì đây về các chiến sĩ của chúng ta đã hy sinh như người con trai của bà mẹ Hải Phòng này? Xin hãy mang nặng tình cảm như lời hát trong bài ca Cỏ non trong Thành Cổ. "Cỏ non xanh non tơ, xin cớ vô tình". Vâng, chớ bao giờ vô tình, chớ bao giờ quên đối với những người đã hy sinh vì cuộc sống của chúng ta hôm nay.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:07:23 pm
NGUYÊN NHƯ KIM Ở ĐÂU?

     Sau những năm về hưu, tôi vẫn canh cánh bên lòng về người đại đội trưởng tuyệt vời này. Không rõ anh còn ở trong quân đội hay chuyển ngành và đang ở đâu? Hàng năm, cứ đến ngày 27 tháng 12 họp mặt truyền thống bạn chiến đấu Sư đoàn 312, tôi lại hỏi xem có ai biết Nguyễn Như Kim ra sao, nhưng rất tiếc, chẳng một ai rõ cả. Chỉ có một đồng chí nghe phong thanh là Nguyễn Như Kim còn ở trong quân đội.

     Đây là một cán bộ đại đội mà sư đoàn đã đề nghị tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang. Chẳng hiểu trục trặc thế nào mà trên không duyệt. Song thực tế thì có thể nói báo chí, công luận đã phong cho anh những danh hiệu cũng khá hấp dẫn. Từ báo của đơn vị, báo Miền Tây, báo Quân đội Nhân dân và cả báo của Đảng đều đã đăng các bài với nhiều thể loại gương đặc tả, tường thuật trận đánh do anh chỉ huy rồi cả bình luận và thơ. Nguyễn Như Kim được các báo gọi là "Đại đội trưởng gió lốc". Bình luận báo Quân đội Nhân dân viết: "Sự có mặt kịp thời ở vị trí then chốt, cách xử trí linh hoạt trong những tình huống phức tạp, tinh thần chủ động hiệp đồng đối với đơn vị bạn của Đại đội trưởng Nguyễn Như Kim trong chiến đấu thể hiện một tác phong chỉ huy vừa có ý chí kiên cường vừa phát huy trí sáng tạo chủ động trong cách đánh. Đó là người Đại đội trưởng có vị trí chỉ huy chiến đấu đúng, tức là luôn có mặt ở nơi quyết định nhất, thường là nơi gần địch nhất, tạo cho mình điều kiện chỉ huy thuận lợi nhất". Trong bài đặc tả "Nguyễn Như Kim, Đại đội trưởng gió lốc” báo Quân đội Nhân dân đã viết: "Kim bị thương lần thứ hai vào đùi. Anh khuỵu xuống mắt vẫn không rời căn hầm chỉ huy của địch hiện lên mờ mờ trong làn khói bụi. Kim ném quả thủ pháo vào một căn hầm trước mặt. Bọn giặc ở xung quanh thét lên chĩa súng bắn vào phía Kim. Nhưng Kim đã thu cờ ôm vào người lăn đi mấy vòng (lá cờ Đoàn Kết, Anh Dũng, Đánh Thắng, khi Kim nhận từ tay thủ trưởng đã hứa: "Người trước ngã, người sau cầm cờ lao lên. Chân không dừng tiến, cờ không ngừng bay" và lúc này tới tay Kim đã là người thứ ba sau khi Ngất rồi Quy bị ngã xuống) nằm ép sát vào hầm chỉ huy của địch. "Bục", quả thủ pháo của Kim ném ra nổ giữa căn hầm lớn của bọn chỉ huy. Kim khoác tiểu liên qua vai, hai tay nắm chặt cán cờ rồi nhún người nhảy lên nóc hầm. Kim quay cờ mấy vòng trên đầu, nói lớn: "Cờ đã cắm trên nóc hầm chỉ huy! Cờ đã cắm trên nóc hầm chỉ huy! Tiến lên"...

      Hồi ấy tôi là Trung đoàn trưởng, anh Lã Thái Hoà là Sư đoàn trưởng đều rất tự hào có một cán bộ chỉ huy dưới quyền như Đại đội trưởng Nguyễn Như Kim.

     Trong các cuộc họp truyền thống, tôi đều đề nghị anh em dò hỏi xem đồng chí Nguyễn Như Kim hiện ở đâu. Ai biết thì nhắc đồng chí ấy hàng năm cố gắng về họp mặt.

     Thật ra, riêng tôi vẫn có điều băn khoăn muốn làm cho rõ. Cái tính tôi nó thế.

     Đến kỳ họp truyền thống sư đoàn năm 1995, một  đồng chí báo cho tôi biết Nguyễn Như Kim hiện là trung tá bộ đội xăng dầu thuộc Tổng cục Hậu cần, nhưng ở phía Nam. Dẫu sao cũng yên tâm về cậu ấy và thế nào cũng có dịp gặp được. Tuy vậy, tôi vẫn nóng lòng muốn biết rõ, càng sớm càng hay, những gì đã diễn ra đối với cậu ấy kể từ năm 1972, cậu ấy đi khỏi sư đoàn. Tự nhiên đầu năm 1997 này, Nguyễn Như Kim mò đến nhà tôi. Thật là không hẹn mà nên.

      - Thế nào, mất tăm mất tích bấy nhiêu năm ở đâu mà anh em dò mãi không thấy?

     Nguyễn Như Kim cười khì khì:

     - Em có biết Thủ trưởng hỏi thăm em, từ đó đến giờ Thủ trưởng vẫn nhớ tới em. Thực ra em không biết Thủ trưởng ở đâu cả. Hơn nữa sau ngày bị thương phải đi điều trị, đến khi khỏi rồi, em lại được cấp trên cho đi học về bộ đội xăng dầu rồi vào giữ kho xăng dầu ở miền Nam. Hôm ra Hà Nội họp gặp anh Cứu thì biết Thủ trưởng nhiều lần hỏi thăm em. Mấy hôm trước em lại cứ đi tìm Thủ trưởng ở khu tập thể quân đội làng Cót. Đến nay mới biết Thủ trưởng ở đây.

     - Thôi được rồi, anh em ta luôn nghĩ đến nhau, đến thăm nhau, thế là quý lắm. Bây giờ mình muốn hỏi về cái uẩn khúc vì sao hồi ấy việc tuyên dương danh hiệu Anh hùng của cậu lại bị gác lại?

     Nguyễn Như Kim khẽ thở dài:

     - Có gì đâu Thủ trưởng. Chuyện mâu thuẫn ở địa phương ấy mà.

     - Chứ không phải do gia đình cậu thuộc thành phần lớp trên?

     - Đâu có. Nhưng thôi, chuyện đã qua rồi nhắc lại để làm gì?

     - Không! Tôi và anh Lã Thái Hoà rất quan tâm đến việc này. Đây không chỉ là chuyện của một người mà là truyền thống của sư đoàn ta. Mặc dầu chúng tôi về hưu cả rồi nhưng chúng tôi vẫn còn có trách nhiệm với truyền thống của sư đoàn. Anh Hoà làm Sư trưởng 5 năm, kế đến tôi 6 năm, làm sao chúng tôi có thể quên được các cán bộ đánh giặc giỏi có chiến công xuất sắc ở Sư đoàn 312 chúng ta? Đã đến lúc phải làm sáng tỏ chuyện này và tiếp tục đề nghị lên trên.


Tiêu đề: Re: Đường binh nghiệp của tôi - Thiếu tướng Nguyễn Chuông
Gửi bởi: baogt trong 15 Tháng Mười Hai, 2009, 05:11:44 pm
     Tôi phải nói đến thế, Nguyễn Như Kim mới thuật lại sự việc răng gia đình anh trước sau cải cách ruộng đất và cho đến nay vẫn thuộc thành phần trung nông. Chú, bác và bố đều hoạt động trong Mặt trận Việt Minh từ trước Cách mạng Tháng Tám. Nhưng cán bộ trên cơ quan thi đua khen thưởng về điều tra lý lịch lại hỏi đúng vào cái ông có mâu thuẫn, hay kèn cựa với ông cụ thân sinh ra Kim, thế là lão ta phết ngay cho cái "thành phần đỉa chủ” và lại còn thêm "hay phản ứng chính sách" nữa chứ. Chắc mà mấy ông thi đua khen thưởng nghe thấy vậy bèn xếp lại, thế rồi cũng do hoàn cảnh chiến tranh quá bận rộn không xét nữa. Đời không thiếu gì chuyện bốc lửa bỏ tay người như vậy đấy.

     Nguyễn Như Kim nói:

     - Chuyện đã qua rồi. Bây giờ các Thủ trưởng lại định kiến nghị và tuyên dương em là Anh hùng thì không được đâu. Các Thủ trưởng đã già, đã được Nhà nước cho nghỉ hưu thì khỏi phải lo việc sư đoàn, nó vất vả ra, mà không được đâu. Chuyện nó cũng lâu rồi. Vả lại em cũng được quân đội quan tâm nhiều lắm, đến nay đã được phong cấp đại tá, về làng cũng được bà con quý trọng, thế là được.

     - Chưa đúng - Tôi nói một cách nghiêm trang – Không tính chuyện già chuyện trẻ ở đây. Việc cần làm mà đến tay người già thì người già cũng không được thờ ơ. Tôi nói lại, việc này đối với anh có một phần nhỏ thôi còn đối với thành tích lịch sử của sư đoàn mới là lớn. Tôi đề nghị anh cứ viết lại thành tích của mình và xác định mình làm vì truyền thống sư đoàn, truyền thống quân đội.

      Nguyễn Như Kim nghe ra hứa sẽ làm lại hồ sơ thành tích của mình. Tôi cho Kim số điện thoại của các anh Lã Thái Hoà, rồi anh Lạc là Chủ nhiệm chính trị hồi đó và cả Tiểu đoàn trưởng Tích nữa, giục Kim gọi điện thoại luôn đi, hỏi thăm các anh ấy và nói cho các anh biết ý định của tôi xem sao. Tất cả ba anh đều đồng ý với cách đặt vấn đề của tôi.

      Bốn chúng tôi đã ký xác nhận vào dưới bản thành tích của Nguyễn Như Kim đề nghị tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang, sau đó tôi và anh Hoà trực tiếp lên sư đoàn bàn bạc các bước tiến hành. Tôi lại điện thoại cho Phúc Ấm ở báo Quân đội Nhân dân, nhờ sưu tầm và phôtôcopy lại tất cả các bài viết về Nguyễn Như Kim.

     Hồ sơ toàn bộ gửi lên Quân đoàn. Quân đoàn đồng ý, gửi lên Cục Chính sách. Cục Chính sách chấp nhận. Cán bộ về địa phương kiểm tra mới thấy rõ sự thật. Chính quyền địa phương hoàn toàn nhất trí với hồ sơ lý lịch mà Nguyễn Như Kim đã kê khai. Âu cũng là một trong những niềm vui của một người sĩ quan về hưu nhưng vẫn còn có ích cho đồng đội, cho bạn bè, cho quân đội. . .


HẾT