Dựng nước - Giữ nước

Thảo luận Lịch sử bảo vệ Tổ quốc => Từ thuở mang gươm đi mở cõi... => Tác giả chủ đề:: vanlanghungvuong trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:21:20 AM



Tiêu đề: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: vanlanghungvuong trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:21:20 AM
Thời HÙNG VƯƠNG qua truyền thuyết

1.Qua những truyền thuyết đã phân tích và trình bày với bạn đọc, chứng tỏ rằng:
Xã hội Văn Lang thời các vua Hùng có một nền văn minh đạt đến đỉnh cao của văn minh nhân loại thời cổ đại với một lãnh thổ rộng lớn: Bắc giáp Động Đình hồ, Tây giáp Ba Thục, Nam giáp Hồ Tôn, Đông giáp Đông Hải.

Những di vật khảo cổ từ nền văn minh đó chưa tìm thấy, hoặc sẽ không bao giờ tìm thấy. Nhưng điều đó không có nghĩa nền văn minh đó không tồn tại với sự vĩ đại như đã từng vĩ đại. Nền văn minh kỳ vĩ của Văn Lang – kết quả của sự kết hợp bởi sức mạnh của vũ trụ với tinh hoa trí tuệ của con người Lạc Việt – đã không để lại cho hậu thế những công trình đồ sộ pha máu, nước mắt và sự khổ cực của con người như Kim Tự Tháp, Vạn Lý Trường Thành... một thời làm kinh ngạc nền văn minh của thế giới hiện đại. Nhưng nền văn minh đó đã để lại những giá trị tri thức vô cùng to lớn, cho đến tận bây giờ con người hiện đại vẫn đang còn sử dụng trong thực tế. Đó là thiên văn, lịch pháp và cả một nền y học Đông phương đồ sộ... Cùng với nền văn minh đó là những giá trị tư tưởng của nền văn hiến nhân bản đầy mơ ước của nhân loại, kể từ khi con người tự nhận thấy giá trị của mình trong vũ trụ, đó là tình yêu con người. Chính những giá trị nhân bản và tình yêu con người trong nền văn hiến Văn Lang là nguyên nhân cho sự tồn tại gần 3000 năm của đất nước Văn Lang. Hàng ngày bạn đang tiếp xúc với nền văn minh từ thời Hùng Vương dựng nước. Ngay bây giờ khi bạn đang ngồi bên cạnh tất cả những phương tiện hiện đại mà bạn có, chỉ cần bạn gỡ một tờ lịch vào mỗi buổi sáng, thì bạn đã tiếp xúc với cả một quá khứ của dân tộc Việt Nam. Nền văn minh đó, khiêm tốn đến với bạn mỗi ngày qua hàng chữ Âm lịch.
Xã hội Văn Lang đã bị tàn phá. Kho tàng đồ sộ của nền văn minh Văn Lang lần lượt trở thành chiến lợi phẩm của những triều đại phong kiến đô hộ. May mắn thay! Chiếc chìa khóa để mở kho tàng đó không thuộc về kẻ chiến thắng. Những thành tựu của nền văn minh Văn Lang đã hình thành với trái tim, khối óc của người Lạc Việt trải gần 3000 năm lịch sử sẽ trở thành đổ cổ trong viện bảo tàng lịch sử tiến hóa của nhân loại.
Viết cuốn sách này về xã hội Văn Lang – một thời đại đã lùi sâu vào quá khứ – người viết không đem lại một cái gì mới, mà chỉ mong được chia sẻ cùng bạn đọc sự tâm đắc với tiền nhân khi truyền lại cho con cháu từ thuở các vua Hùng dựng nước cho đến tận bây giờ, khi cả thế giới đang bước vào thiên niên kỷ mới.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: vanlanghungvuong trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:22:45 AM
Nước Việt Nam có gần 5000 năm văn hiến




2.Voi chín ngà – Gà chín cựa - Ngựa chín hồng mao
Và cột đá thề của An Dương vương

Điều kiện mà vị hoàng đế cuối cùng của dòng họ Hồng Bàng – đồng thời là vị vua cuối cùng của thời Hùng Vương thứ XVIII – đưa ra để có thể cưới được công chúa (tức trao Vương quyền) là sính lễ phải gồm:

“Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao”. Đây chính là những biểu tượng cô đọng nhất cho những giá trị của nền văn hiến Văn Lang – kết quả của nền văn minh Văn Lang được tạo lập qua hàng thiên niên kỷ – mà vua Hùng yêu cầu người kế vị có trách nhiệm gìn giữ. Đó là:

@ Voi chín ngà: là hình tượng của 5 dạng tồn tại ban đầu của Vũ trụ theo quan niệm của thuyết Âm Dương Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ và 4 trạng thái tương tác của nó (Tứ tượng) là: Tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ. tổng cộng 9. Đây là sự cấu thành căn bản của hệ tư tưởng vũ trụ quan thời Hùng, tư tưởng chủ đạo xuyên suốt tất cả mọi giá trị tinh thần trong xã hội Văn Lang.

@ Gà chín cựa: Kê nghi – đã được nhắc tới trong Hồng phạm cửu trù. Đây là những thành tựu của nền văn minh Văn Lang đã tạo dựng với một thời gian bằng nửa lịch sử nhân loại, kể từ khi quốc gia đầu tiên của loài người được thành lập - được thể hiện trong việc quan sát vũ trụ, tìm ra qui luật những hiệu ứng vũ trụ và sự ứng dụng trong cuộc sống, xã hội và con người được bắt đầu bằng Lạc thư – Hà đồ cửu cung.

@ Ngựa chín hồng mao: ngựa là phương tiện chinh chiến, hình tượng của sự thống trị, lãnh đạo. Ngựa chín hồng mao là hình tượng của Cửu trù Hồng phạm: những giá trị của một nền chính trị nhân bản trong thế giới cổ đại mà những con người ở thời ấy phải mơ ước, đã được nhắc tới rất nhiều trong các trước tác của Nho giáo. Trong câu chuyện, vua Hùng đã gả Mỵ Nương cho Sơn Tinh là hình ảnh thể hiện sự chọn giải pháp trao quyền cho người kế vị, để tiếp tục gìn giữ những giá trị tinh thần cuả tổ tiên mà dòng họ Hồng Bàng đã dày công tạo dựng.

Giải mã truyền thuyết “Sơn Tinh Thủy Tinh” đã góp phần chứng tỏ trên thực tế lịch sử, vua Hùng truyền ngôi cho Thục Phán như truyền thuyết đã nói đến. Tuy Thục Phán không thuộc họ Hồng Bàng (hình tượng con rể trong truyền thuyết “Sơn Tinh - Thủy Tinh”), nhưng ông đã có công cùng các tộc Việt chống lại sự xâm lược của vua Tần. Sơn Tinh trong truyền thuyết “Sơn Tinh Thủy Tinh” chỉ là một hình tượng không liên quan đến Tản Viên Sơn Thánh Nguyễn Tuấn, con rể thực sự của vua Hùng cuối cùng trong thời Hùng Vương thứ XVIII, người đã dàn xếp cuộc chiến Thục Phán - Hùng Vương. Phải chăng, việc làm của ngài nhằm bảo vệ những thành tựu văn hóa của người Lạc Việt trải gần 3000 năm văn hiến, điều này sẽ giải thích vì sao ngài là một trong bốn vị thần hộ quốc của người Lạc Việt. Việc truyền ngôi này phù hợp với truyền thống của các thời đại vua Hùng đã trình bày ở trên (Tổ chức xã hội Văn Lang). An Dương Vương đã dựng cột đá thề. Cho đến nay vẫn còn di tích ở đền Hùng Phú Thọ, nguyện gìn giữ cơ nghiệp tổ tiên và những giá trị của nền văn hiến lâu đời nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng tiếc thay! Ngài đã không thực hiện được lời thề. Âu Lạc đã mất về tay Nam Việt.
Hình ảnh mặt biển mở rộng đón An Dương Vương đứng trên lưng thần Kim Quy đi xuống biển, đã chứng tỏ rằng: khi Âu Lạc mất nước đã khép lại một thời kỳ lịch sử vàng son của nền văn minh Văn Lang mà thần Kim Quy chính là biểu tượng cho nền văn minh đó.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: vanlanghungvuong trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:24:05 AM
3.Trầu Cau và lãnh thổ Văn Lang

Từ việc sử dụng trầu cau như một nghi lễ trong quan hệ xã hội đến thói quen ăn trầu của cả một dân tộc, thì phải được định hình qua hàng thiên niên kỷ (trong “Việt sử lược” ghi nhận việc bỏ thuế trầu cau vào thời Ly, đã chứng tỏ việc sử dụng trầu cau rất phổ biến). Thói quen ăn trầu này còn phổ biến ở miền Nam Trung Quốc, đặc biệt là ở Đài Loan hiện nay mà vị trí vĩ tuyến ở gần Động Đình Hồ. Sách “Lĩnh Ngoại Đại Đáp” của Chu Khứ Phi người đầu đời Tống soạn vào thế kỷ 12 chép rằng:



Từ Phúc Kiến, miền dưới Tứ Xuyên, miền Tây tỉnh Quảng Đông, đều có tục ăn trầu... (Theo Cau trầu đầu truyện, Phạm Côn Sơn. Nxb Đồng Tháp 1994).

“Phúc Kiến” tức là miền dưới Triết Giang của nước Việt cũ; “miền dưới Tứ Xuyên” tức Quý Châu cũ; “Quảng Đông” tức là miền Giao Châu cũ, tất cả đều thuộc lãnh thổ Văn Lang ngày xưa theo truyền thuyết. Hiện tượng này chỉ có sự giải thích hợp lý là: Lãnh thổ Văn Lang đã bao trùm phần miền Nam Trung Quốc ngày nay như truyền thuyết “Con Rồng Cháu Tiên” đã nói tới: “Bắc giáp Động Đình Hồ, Tây giáp Ba Thục, Nam giáp Hồ Tôn, Đông giáp Đông Hải”. Do đó, khi lãnh thổ bị thu hẹp thì những người dân ở vùng đất thuộc Văn Lang cũ vẫn giữ được thói quen ăn trầu trải đã hàng ngàn năm, mặc dù phần nghi lễ dựa trên miếng trầu quả cau đã bị xóa bỏ vì Hán hóa. Như vậy, đây là một trong những nét minh họa sắc sảo nhất cho biên giới Văn Lang theo truyền thuyết “Con Rồng, cháu Tiên”.
Trong khi đang viết cuốn sách này thì tập san Kiến thức ngày nay số 283 phát hành ngày 10 – 06 – 98 có bài báo “Quan niệm về cái đẹp ở xứ Hoa Anh Đào” (người giới thiệu bài báo: Đoan Thư – theo The East) nói về quan niệm của phụ nữ Nhật về vẻ đẹp của họ. Do bài báo có liên quan đến phong tục của thời Hùng Vương, xin được trích dẫn ở đây để bạn đọc tham khảo:
Ngay trong lời giới thiệu bài viết đã có đoạn:

Thật bất ngờ khi khám phá rằng người phụ nữ Nhật hồi xưa cũng như phụ nữ Việt Nam cách đây cả trăm năm, đều thích nhuộm răng đen và hơn nữa họ còn khoái xăm mình!

Trong bài có đoạn viết:
“Nhuộm răng đen là dấu hiệu cho thấy quí bà đó thuộc tầng lớp thượng lưu và người ta cho rằng tục nhuộm răng ở xứ Phù Tang có nguồn gốc từ Đông Nam Á chứ không phải Trung Hoa.
Phong trào nhuộm răng đen lan mạnh đến thế kỷ 11, thời Nhật Hoàng Shirakawa (1072 - 1086). Phái nam thuộc giới quí tộc không những nhuộm răng mà còn “đánh má hồng”.

Tục ăn trầu, nhuộm răng đen và xăm mình đã có từ trước thời Hùng Vương thứ VI ở Văn Lang, cho đến ngay bây giờ vẫn còn có một số người lớn tuổi ở miền Bắc nhuộm răng đen, chứ không phải cách đây hàng trăm năm như tác giả bài viết đã nói. Hiện tượng phụ nữ nhuộm răng đen ở Nhật Bản và tục ăn trầu của người Đài Loan, nếu như không thể giải thích bằng bề dầy của thời gian gần 3000 năm và một lãnh thổ đến tận bờ Nam sông Dương Tử của Văn Lang, thì chỉ còn cách giải thích đó là do ý muốn của thượng đế.

Cây trầu, cây cau và cuộc sống định canh định cư với nền nông nghiệp phát triển trong xã hội Văn Lang

Người Việt thời Hùng Vương chỉ có thể xây dựng cho mình một nền văn minh trên nền tảng của cuộc sống định canh, định cư và sự phồn vinh của nông nghiệp. Sự dư thừa của sản phẩm nông nghiệp, sau khi hoàn tất cho nhu cầu của những người làm ra nó, là điều kiện tối thiểu để tồn tại những người sống bằng nghề phi nông nghiệp khác. Đó là những học giả, những người luyện kim, nhà buôn,... Sự hiện diện của cây cau, lá trầu theo quyết định của vua Hùng, được trồng phổ biến khắp nơi đã chứng tỏ điều này (tất nhiên chỉ có thể trồng được ở những vùng có điều kiện địa lý thích hợp). Việc trồng một thứ cây không phải cây lương thực, mà hoàn toàn chỉ là nhu cầu nghi lễ một cách phổ biến từ trước thời Hùng Vương VI, đã chứng tỏ ngành nông nghiệp phát triển và người ta có thể quan tâm đến một thứ sản phẩm phục vụ cho nhu cầu văn hoá. Hiện tượng này chứng tỏ tổ tiên người Việt đã có một nền nông nghiệp phát triển, ít nhất là trước thời Hùng Vương thứ VI tức là khoảng hơn, kém 2000 năm tr.CN. Do đó, có thể khẳng định: dân tộc Việt có nền nông nghiệp hình thành và phát triển sớm nhất thế giới.
Để minh họa cho luận điểm này, xin được dẫn lại một đoạn trong bài “Tia sáng mới rọi và một quá khứ bị lãng quên” của tiến sĩ Wilhelm G.Solhelm II là giáo sư nhân chủng học ở trường đại học Hawaii chuyên nghiên cứu về thời tiền sử Đông Nam Á. Bài viết này đã được in trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (sách đã dẫn). Sau đây là đoạn miêu tả sự phát hiện của tiến sĩ Wilhelm G.Solhelm II tại một di chỉ khảo cổ ở vùng biên giới Đông Bắc Thái Lan (tức là phần lãnh thổ hoặc giáp giới lãnh thổ của Văn Lang cũ, người viết).

Trong một chỗ đất rộng chừng 2,5cm2 có một mảnh đồ gốm in vết vỏ của một hạt lúa có niên đại muộn nhất là 3600 tr.CN. Như vậy có nghĩa là trước cả ngàn năm so với những hạt lúa tìm thấy ở Ấn Độ và Trung Hoa cũng được xác định bằng phương pháp cacbon (mà trước đây dựa vào đó các nhà khảo cổ cho rằng con người tại đây biết trồng lúa trước tiên).

Cuộc sống định canh, định cư đã được hình thành chứng tỏ cho sự phát triển của nền nông nghiệp. Sự hiện diện của cây trầu, cây cau trong đời sống văn hóa của người Việt chứng tỏ điều này. Bởi vì, đó là loại cây có ít nhất 3 năm để bắt đầu cho trái và sử dụng sản phẩm của nó hàng chục năm về sau, được trồng khắp nước ở những vùng địa lý thuận lợi. Đây chính là hiện tượng minh chứng cho cuộc sống định canh, định cư và một nền nông nghiệp phát triển ở khắp lãnh thổ Văn Lang. Người ta không thể trồng một loại cây lâu năm với một lối sống du canh, du cư.

Khả năng trao đổi sản phẩm văn hoá

Việc trồng cây trầu và cau trên khắp một vùng lãnh thổ rộng lớn với những điều kiện địa lý khác nhau, thích hợp hoặc không thích hợp với sự phát triển của loại cây này là điều không thể thực hiện. Nhưng với quyết định của vua Hùng sử dụng trầu cau trong cả nước để thực hiện những nghi lễ trong quan hệ xã hội, thuộc những vùng chịu ảnh hưởng của nền văn minh chính thống. Tất yếu phải có trao đổi sản phẩm từ những vùng địa lý có khả năng trồng được và trồng nhiều trầu và cau, đến những vùng không thể trồng được cây này. Như phần phân tích truyền thuyết “Phù Đổng Thiên Vương” đã trình bày về sự phát triển của việc trao đổi sản phẩm tiêu dùng từ trước thời Hùng Vương thứ VI. Với truyền thuyết Trầu Cau thì sự trao đổi sản phẩm không còn giới hạn ở sản phẩm tiêu dùng, mà đã xuất hiện sự trao đổi sản phẩm văn hóa. Đó chính là trầu cau được trao đổi với tư cách là sản phẩm văn hóa, trước khi là một sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng do thói quen ăn trầu. Vậy ngoài những sản phẩm văn hóa được trao đổi trên thực tế là trầu cau đã chứng minh ở phần trên, thì người Việt thời Văn Lang còn trao đổi những sản phẩm văn hóa khác nữa hay không, khi những nhu cầu văn hóa đã xuất hiện? Khả năng trao đổi những sản phẩm văn hóa và trí tuệ hoàn toàn có thể có. Như phần trên đã trình bày: xã hội Văn Lang đã có một hệ thống ý niệm vũ trụ quan hoàn chỉnh của thuyết Âm Dương Ngũ hành với sự ứng dụng trong mọi lĩnh vực liên quan đến con người và cuối cùng là văn học nghệ thuật (riêng phần văn học nghệ thuật thời Hùng, xin được chứng minh rõ hơn qua truyền thuyết kể lại về: Chuyện tình Trương Chi, Thạch Sanh, Mỵ Châu – Trọng Thủy và phần huyền thoại của truyền thuyết Trầu Cau). Do đó, tất yếu xã hội Văn Lang phải có sự truyền bá kiến thức để bảo đảm sự duy trì và phát triển của nền văn minh. Nhưng phương tiện chuyển tải kiến thức dưới thời Hùng Vương là gì?

Phương tiện ghi nhận – chuyển tải tri thức trong thời Hùng Vương

Ngành khảo cổ học Trung Hoa đã phát hiện được những mảnh xương thú, mai rùa trên đó có khắc chữ viết ở Ân Khư thủ đô nhà Ân Thương. Hiện tượng này là bằng chứng cho thấy: trước khi tìm ra giấy, những nền văn minh cổ ở những vùng khác nhau trên thế giới đã ghi văn tự lên da, xương thú, trên đá... Tất cả những phương tiện đó, đều chứng tỏ một nền văn minh có thể chưa phát triển với những kiến thức còn đơn giản, hoặc sự phổ biến kiến thức còn hạn chế. Nhưng với một khối lượng tri thức lớn như dưới thời Hùng Vương đã trình bày ở trên và nhu cầu phổ biến trên một lãnh thổ rộng lớn – lại ở một xã hội nông nghiệp định canh, định cư ổn định – thì lấy đâu ra một lượng da, xương lớn để làm phương tiện chuyển tải chữ viết?
Dấu ấn xưa nhất chứng tỏ phương tiện chuyển tải tri thức của nền văn minh Văn Lang, chính là mai con rùa. Điều này đã được nói tới trong sách Thông Chí của Trịnh Tiều về việc tặng lịch cho vua Nghiêu. Những dấu ấn của nền văn minh Văn Lang thời đầu lập quốc được minh chứng từ những cổ thư Trung Hoa, cũng được phát hiện trên lưng rùa (Lạc thư, Hồng phạm). Hiện tượng này chứng tỏ vào thời đầu lập quốc, các học giả Văn Lang đã sử dụng mai rùa để ghi lại những tri thức của mình. Điều kiện tự nhiên đã tạo cho nền văn minh Văn Lang thực hiện điều này, “giống rùa lớn chỉ có ở miền Nam sông Dương Tử”. Nhưng với sự phát triển của nền văn minh, nhu cầu trao đổi tri thức ngày càng nhiều, thì việc sử dụng mai rùa làm phương tiện chuyển tải, tất yếu sẽ không phải là một hiện tượng phổ biến.
Phải chăng, việc sử dụng tre để khắc chữ của người Trung Hoa sau này bắt đầu từ văn minh Văn Lang, khi ở đất nước này hoàn toàn có đầy đủ những nhu cầu và điều kiện để thực hiện. Đó là từ phía Nam Động Đình Hồ đến hết biên giới phía Nam Văn Lang là quê hương của tre nứa. Nếu như từ thuở hồng hoang trước thời lập quốc, người Bách Việt có sử dụng xương thú hoặc mai rùa để khắc chữ, thì từ khoảng ngót 1000 năm sau thời lập quốc với một nền văn minh phát triển, việc chuyển từ xương thú hay mai rùa qua tre nứa, không phải là môt việc đòi hỏi những tư duy phức tạp hơn việc làm ra chiếc bánh chưng, bánh dầy. Lúc này rùa chỉ còn là một biểu tượng của phương tiện chuyển tải tri thức của nền văn minh Văn Lang mà dấu ấn còn để lại đến bây giờ, như là một sự tri ân loài linh vật đầu tiên phụng sự cho nền văn minh Lạc Việt. Chính vì biểu tượng con rùa này trong truyền thuyết và huyền thoại, là phương tiện để con cháu người Lạc Việt tìm lại dấu ấn của tổ tiên mấy ngàn năm trước.

Để bạn đọc khỏi lật lại trang sách, xin được trích lại đoạn sau đây trong sách Kinh Dịch – Cấu hình tư tưởng Trung Quốc (sách đã dẫn, trang 590), chúng tỏ điều này:
Đồng thời cũng có khoa đẩu văn (gọi như vậy vì chữ được viết bằng những que chấm sơn trên thẻ tre, hay thẻ gỗ), nét sơn không đều hình con nòng nọc.

Như vậy, đoạn nói về những di vật đào được ở Ân Khư trích dẫn trên, đã chứng tỏ rõ nét phương tiện chuyển tải chữ viết của ông cha ta, khi chữ khoa đẩu – là chữ của người Việt có từ hơn 2000 tr.CN. (sách Thông Chí, đã dẫn) – được viết bằng sơn trên tre nứa. Điều này cũng chứng tỏ rằng từ gần 2000 tr.CN, ông cha ta đã sử dụng sơn để viết chữ trên tre, gỗ chứ không phải khắc trên tre, gỗ như người Trung Hoa sau này.

Giấy – một khả năng đã xuất hiện dưới thời Hùng Vương?

Trong số những tranh dân gian của làng tranh Đông Hồ còn để lại đến ngày nay, có rất nhiều bức tranh có liên hệ với những giá trị tư tưởng có từ thời Hùng Vương, mang những dấu ấn của một nền minh triết Lạc Việt, cội nguồn của văn minh Đông phương, như các tranh: Thầy đồ Cóc; Nhân Nghĩa (bé ôm Cóc); Lễ Trí (bé ôm Rùa)... Sự hiện tồn của những bức tranh trên, khó có thể cho rằng nó được thể hiện những giá trị văn hoá lưu truyền từ thời Hùng Vương, trên một phương tiện xuất hiện sau đó là giấy Gió. Vì vậy, hoàn toàn có cơ sở để đặt vấn đề cho rằng: người Lạc Việt đã làm ra giấy và những bức họa dân gian đã có từ thời Hùng Vương. Lịch sử làng tranh Đông Hồ có từ hơn 400 năm nay. Nhưng trước đó thì người Việt chắc chắn cũng đã có tranh. Tức là trước khi các nghệ nhân xứng đáng được sự tôn trọng của người Việt tụ tập ở làng Đông Hồ, để gây dựng thành một làng tranh nổi tiếng. Họ đã vẽ những bức tranh trên những tờ giấy gió là một sản phẩm độc đáo của Việt Nam. Từ việc giã cây Quang Lăng để lấy bột làm lương thực vào thời kỳ đầu lập quốc của Văn Lang (gần 3000 năm tr.CN), cho đến việc giã cây gió để làm ra thứ giấy Gió nổi tiếng thì khoảng cách thời gian là bao lâu? Phải chăng hình ảnh trên trống đồng được coi là người đọc văn bản đang cầm một tờ giấy, khi hình vẽ thể hiện nếp uốn ở phía trên? (hình trang 93). Ý tưởng cho rằng hình người trên trống đồng đang đọc văn bản viết trên giấy được tiếp tục minh chứng ở mục “Y phục thời Hùng Vương” trong phần sau.
Giả thuyết về khả năng trong thời Hùng Vương ông cha ta đã làm ra giấy được củng cố qua sự so sánh giữa hai hình sau đây.
Hình bên được chép lại từ trống đồng Hoàng Hạ, được các nhà nghiên cứu cho rằng đây là hình giã gạo. Ở trên đầu hai nhân vật là hai con chim mỏ ngắn thuộc loài chim có thể ăn hạt. Đây là biểu tượng của sự giã gạo hoặc ngũ cốc.
So với hình bên được chép lại từ cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (sách đã dẫn), chú thích trong sách là hình “Nam nữ giã gạo”. Nhưng những ai đã xem bộ phim “Sân trăng”, được đài truyền hình chiếu vào khoảng đầu năm 98 – là một bộ phim có nội dung miêu tả lịch sử và sinh hoạt của các nghệ nhân làng tranh Đông Hồ, thì thấy nó giống cảnh hai người giã cây gió làm giấy hơn. Hơn nữa, trên đầu gậy lại có họa hai hình chữ nhật. Phải chăng, đó là biểu tượng thể hiện sản phẩm giấy họ sẽ làm ra sau khi giã xong cối bột gió?
Những hình tượng này chỉ là cơ sở của một giả thuyết về khả năng thời Hùng Vương đã làm ra giấy, không phải là yếu tố để minh chứng cho giả thuyết này.
Như vậy, với dấu ấn của trầu cau trong hôn lễ của người Lạc Việt và tục ăn trầu tồn tại hàng ngàn năm ở vùng nam sông Dương Tử, và đến tận bây giờ ở Đài Loan, đã chứng tỏ rằng:
@ Ngay từ trước thời Hùng Vương thứ VI, Văn Lang đã là một xã hội có những dấu ấn chứng tỏ sự hoàn chỉnh của một nền văn minh phát triển. Nếu không phải là sớm nhất và hơn hẳn so với các vùng khác trên thế giới, thì cũng là tương đương với những nền văn minh kỳ vĩ khác của thế giới cổ đại, mà di tích còn lại của những nền văn minh đó, đã gây ra sự kinh ngạc trong xã hội hiện đại.
@ Chứng tỏ một nền văn minh nông nghiệp phát triển cao và tồn tại hàng ngàn năm ở miền nam sông Dương Tử. Bởi vì, phải có một bề dày trải hàng ngàn năm của thói quen ăn trầu; thói quen đó phải được
bảo trợ bằng quyền lực trong một xã hội cao cấp có tổ chức chặt chẽ và được hình thành trong một cuộc sống ổn định rất lâu dài, mới có thể để lại dấu ấn qua hàng ngàn năm thăng trầm của lịch sử trong thời Bắc thuộc và cho đến tận bây giờ.
Thật đáng trân trọng thay! Khi thấy những đám cưới của người dân Lạc Việt – cho đến tận bây giờ, vẫn trân trọng những truyền thống của tổ tiên – lại có mâm cau, lá trầu:biểu tượng cho sự phú túc, nồng thắm và thuỷ chung của tình yêu con người với sự ấn chứng thiêng liêng của tổ tiên!


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: vanlanghungvuong trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:27:29 AM
Thơi Hùng Vương qua Lịch Sử

Lĩnh địa thời vua Trưng Vương

1. Vua Bà của Trung-quốc là vua Trưng,

Trong những năm 1978-1979 khi dẫn phái đoàn Ủy-ban y học Pháp-Hoa (CMFC) đi trao đổi tại các tỉnh cực Nam Trung-Quốc như Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam, Quý-châu và Tứ-xuyên... tôi thấy khắp các tỉnh này, không ít thì nhiều đều có đạo thờ vua Bà. Nhưng tôi không tìm được tiểu sử vua Bà ra sao. Ngay những cán bộ Trung-quốc ở địa phương, họ luôn đề cao vua Bà, mà họ cũng chỉ biết lờ mờ vua Bà là người nổi lên chống tham quan. Khắp năm tỉnh, tôi ghi chú được hơn trăm đền, miếu thờ những tướng lĩnh thời vua Bà.

Bấy giờ tôi lại tìm thấy ở Hồ-nam, nhiều di tích về đạo thờ vua Bà hơn. Tại thư viện bảo tồn di tích cổ , tôi tìm thấy một cuốn phổ rất cổ, soạn vào thế kỷ thứ tám chép sự tích nữ vương Phật Nguyệt như sau:

« Ngày xưa, Ngọc-hoàng Thượng-đế ngự trên điện Linh-tiêu, có hai công chúa đứng hầu. Vì sơ ý hai công chúa đánh vỡ chén ngọc. Ngọc-hoàng Thượng-đế nổi giận đầy hai công chúa xuống hạ giớị Hai công chúa đi đầu thai được mấy ngày thì Tiên-lại giữ sổ tiên-giới tâu rằng có 162 tiên đầu thai xuống theo hai công chúa. Ngọc-hoàng Thượng-đế sợ công chúa làm loạn ở hạ giới, ngài mới truyền Thanh-y đồng tử đầu thai để theo dẹp loạn. Thanh-y đồng tử sợ địch không lại hai công chúa, có ý ngần ngừ không dám đi Ngọc-hoàng Thượng-đế truyền Nhị thập bát tú đầu thai theo.

Thanh-y đồng tử sau là vua Quang Vũ nhà Hán. Nhị thập bát tú đầu thai thành hai mươi tám vị văn thần võ tướng đời Ðông-Hán.

Còn hai công chúa đầu thai xuống quận Giao-chỉ, vào nhà họ Trưng. Chị là Trắc, em là Nhị. Lúc Trưng Trắc sinh ra có hương thơm đầy nhà, thông minh quán chúng, có sức mạnh bạt sơn cử đỉnh, được gả cho Ðặng Thi-Sách.

Thi-Sách làm phản, bị Thái-thú Tô Ðịnh giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, được 162 anh hùng các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng chiếm hết sáu quận của Trung-quốc ở phía Nam sông Trường-giang: Cửu-chân, Nhật-nam, Giao-chỉ, Quế-lâm, Tượng-quận, Nam-hảị Chư tướng tôn Trưng Trắc lên làm vua, thường gọi là vua Bà.

Quang-Vũ nhà Hán sai Phục-ba tướng quân Tân-tức hầu Mã Viện. Long-nhương tướng quân Thận-hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt tổng trấn hồ Ðộng-đình. Mã Viện, Lưu Long bị bạịVua Quang Vũ truyền Nhị thập bát tú nghênh chiến, cũng bị bại. Nữ vương Phật Nguyệt phép tắc vô cùng, một tay nhổ núi Nga-mi, một tay nhổ núi Thái-sơn, đánh quân Hán chết, xác lấp sông Trường-giang, hồ Ðộng-đình, oán khí bốc lên tới trời.

Ngọc-hoàng Thượng-đế sai thiên-binh, thiên-tướng trợ chiến cũng bị bạị Ngài phải sai thần Du Liệt sang Tây phương cầu cứu Phật Như Lai. Ðức Phật sai mười tám vị Kim-cương, ba ngàn La-hán trợ chiến cũng bị bạị Cuối cùng ngài truyền Quán Thế Âm bồ tát tham chiến. Nữ vương Phật-Nguyệt với Quan-Âm đấu phép ba ngày ba đêm, bất phân thắng bại. Sau Quán Thế Âm thuyết pháp nữ vương Phật Nguyệt giác ngộ, bỏ đi tu.

Ta nhân ngày lành, viết lại chuyện xưa, xin dâng đôi câu đối:

Tích trù Ðộng-đình uy trấn Hán,
Phương lưu thanh sử lực phù Trưng

(Một trận Ðộng-đình uy trấn Hán
Tên còn trong sử sức phù Trưng).

Bỏ ra ngoài những huyền hoặc về Nữ-vương Phật-Nguyệt, tài liệu chứng minh: Đạo thờ vua Bà tại năm tỉnh Nam Trung-quốc là di tích của lòng tôn kính thờ anh hùng dân tộc của tộc Việt trên lãnh thổ cũ của người Việt còn sót lại. Vua Bà mà người Trung-hoa thờ như một thứ tôn giáo, chính là vua Trưng.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: vanlanghungvuong trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:28:57 AM
2. Quả có trận Trường-sa, hồ Ðộng-đình năm 39 sau Tây-lịch,

Huyền sử (những cuốn phổ) nói rằng: Khi bà Trưng Nhị cùng các tướng Trần Năng, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan, Lại Thế-Cường đánh Trường-sa vào đầu năm Kỷ-Hợi (39 sau Tây-lịch). Trong trận đánh này, nữ tướng Trần Thiếu-Lan tử trận, được mai táng ở ghềnh sông Thẩm-giang (. Thẩm-giang chính là đọan sông ngắn ở Bắc, tiếp nối với hồ Động-đình. Một cuốn phổ khác, chép vào thời Nguyễn nói rằng: Các sứ thần triều Lý, Trần, Lê khi qua đây đều có sắm lễ vật đến cúng miếu thờ bà Trần Thiếu-Lan. Năm 1980 tôi đến đây tìm hiểu. Không khó nhọc tôi tìm ra trong cuốn địa phương chí, do sở du lịch Trường-sa cấp, một đoạn chép:

« Miếu thờ liệt nữ Trần Thiếu-Lan ở đầu sông Tương. Hồi cách mạng văn hóa bị phá hủy. Tượng đồng bị nấu ra. Vệ binh đỏ phá luôn cả bia đá ».
Tôi tìm tới nơi, thì miếu chỉ còn lại cái nền bằng đá ong, mộ vẫn còn.
3. Quả có trận Bồ-lăng, năm 42 sau Tây-lịch,

Huyền sử kể rằng: ba tướng họ Đào là Chiêu-Hiển, Đô Thống và Tam-Lang được vua Trưng trao cho trấn tại Tượng-quận (Vân-nam) . Nhưng vì quân ít, thế cô, ba ông không chống lại với quân Hán, do Vương Bá chỉ huy. Ba ông đã tự tận. Hiện tại đền thờ của ba ông có đôi câu đối:

Tượng-quận dương uy nhiêu tướng lược,
Bồ-lăng tuẫn tiết tận thần trung.

Nghĩa là:
Trận Tượng-quận dương oai, rõ tài tướng giỏi.
Bến Bồ-lăng tuẫn tiết, tỏ ra thần trung.

Hầu hết các sử gia đều cho rằng: Bồ-lăng tức là bến Bồ-đề, ngoại ô Thăng-long. Vả lãnh thổ Việt-Nam hồi đó đâu có rộng vậy?

Tôi không tin lý luận này. Tôi quyết có trận Tượng-quận. Vì sao? Vì ba ngài chiến đấu tại Tượng-quận, khi Tượng-quận thất thủ, tuẫn tiết thì tuẫn tiết tại chỗ, có đâu rút từ Tượng-quận về tới Long-biên (Hà-nội) trải mấy nghìn cây số, rồi mới tự tử? Vả cái tên bến Bồ-đề mới xuất hiện vào năm 1427-1428 khi vua Lê Thái-tổ vây Đông-đô (Thăng-long).


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: vanlanghungvuong trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:30:23 AM
Nghiên cứu những khai quật

Vào những năm 1964-1965, giáo sư luật khoa Vũ Văn Mẫu đang sọan thảo tài liệu về cổ luật Việt-Nam. Người giúp giáo sư Mẫu đọc sách cổ là Hoàng-triều tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác. Cụ Giác tuy thông kinh điển, thư tịch cổ, nhưng lại không biết ngoại ngữ, cùng phương pháp phân tích, tổng hợp Tây-phương. Cụ giới thiệu tôi với giáo sư Mẫu. Tôi đã giúp giáo sư Mẫu đọc, soạn các thư tịch liên quan đến cổ luật. Chính vì vậy tập tài liệu « Cổ-luật Việt Nam và tư pháp sử » có chương mở đầu «Liên hệ giữa nguồn gốc dân tộc và Cổ luật Việt-Nam » (10). Bấy giờ tôi còn trẻ, không đủ tài liệu khai quật của Trung-Quốc, của Bắc Việt-Nam, và bấy giờ những lý thuyết về ADN chưa có hệ thống, nên có nhiều chi tiết sai lầm. Hôm nay đây, tôi xin lỗi anh linh Hoàng-triều tiến-sĩ Nguyễn Sỹ-Giác, anh linh giáo sư Vũ Văn-Mẫu. Tôi xin lỗi các vị đồng nghiệp hiện diện, xin lỗi các sinh-viên về những sai lầm đó.
Triều đại  Hồng-Bàng thành lập từ năm 2879 năm trước Tây-lịch, tương đương với thời đại đồ đá mài (le néolithique), tức cuối thời đại văn-hóa Bắc-sơn (11). Trong những khai quật về thời đại này tại Bắc-Việt, Đông Vân-Nam, Quảng-Đông, Hồ-Nam, người ta đều tìm được những chiếc rìu thiết diện hình trái soan, trong khi tại Nhật, Bắc Trường-giang chỉ tìm được lọai rìu thiết diện hình chữ nhật, chứng tỏ vào thời đó có một thứ văn hóa tộc Việt giống nhau.
Sang thời đại văn-hóa Đông-sơn (12) hay đồ đồng (âge de bronze). Trong thời gian này đã tìm được trống đồng Đông-sơn trên bờ sông Mã (Thanh hóa). Sự thật trống đồng đã tìm thấy ở toàn bộ các tỉnh Nam Trường-giang như Hồ-nam, Quý-châu,Vân-nam, Quảng-đông, Quảng-tây, Nam-dương, Lào (13), Bắc và Trung-Việt. Nhưng ở Nam-dương, Lào rất ít. Nhiều nhất ở Bắc-Việt, rồi tới Vân-nam, Lưỡng-quảng. Phân tích thành phần gần như giống nhau.

    * Ðồng 53%,
    * Thíếc 15-16%,
    * Chì 17-19%,
    * Sắt 4%.
    * Một ít vàng bạc.

Khảo về y-phục, mồ mả, răng xương trong các ngôi mộ, qua các thời đại cho đến hết thế kỷ thứ nhất sau Tây-lịch, tôi thấy trong các vùng Nam Trường giang cho đến Trung Bắc-Việt, cùng Lào, Thái đều giống nhau. Bây giờ dùng hệ thống ADN kiểm những bộ xương, kiểm máu người sống, chúng tôi đã biện biệt được sự khác biệt vào thời Việt, Hoa lập quốc.

Kết luận,

« Tộc Việt quả có lĩnh địa Bắc tới hồ Ðộng-đình, Tây tới Tứ-xuyên như cổ sử nói ».


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: lonesome trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:33:20 AM

« Tộc Việt quả có lĩnh địa Bắc tới hồ Ðộng-đình, Tây tới Tứ-xuyên như cổ sử nói ».

Tộc Việt này là Bách Việt hay Lạc Việt vậy bạn?


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: vanlanghungvuong trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:38:12 AM
Thử Đọc Lại Truyền Thuyết HÙNG VƯƠNG:
NƯỚC VĂN LANG

Trong bài thứ 3 của loạt bài Hùng Vương, chúng ta đã quan sát ý nghĩa của tên Xích Quỷ thường viết trong các sách giáo khoa, quốc hiệu đầu tiên của nước Việt. Cũng đồng thời xác định lại thời điểm xảy ra câu chuyện con rồng cháu tiên chỉ trong vòng thiên niên kỷ đầu trước Công Nguyên. Địa điểm lúc bắt đầu câu chuyện xoay quanh địa bàn nước Sở của thời Xuân Thu Chiến quốc, đặc biệt tại địa bàn của chủng Thái-cổ với sự hội nhập của chủng Việt-cổ.
   Từ đó, sau khi kiểm chứng với lịch sử, đặc biệt với sự kiện thật rõ: miền Hoa Nam cho đến khi nhà Hán tiến quân thôn tính, chưa hề có một nước nào lớn rộng và nhất thống như cái nước Xích Quỷ trong truyện cổ tích đời xưa của người Mường, chúng ta có thể thấy Xích Quỷ chỉ là một sản phẩm của tưởng tượng, của truyện tích. Sự thật miền Hoa Nam của nước Tàu ở thời xa xưa, bao gồm rất nhiều chủng tộc khác nhau. Với ngôn ngữ, huyết thống và phong tục tập quán khác nhau. Nội ở khu vực Quảng Đông Quảng Tây, mặc dù chủng lớn ở đó vẫn là chủng Âu khi xưa, nay đã được (hay bị) đồng hoá thành 'Hán' tộc, người ta vẫn thấy có rất nhiều chủng khác lớn nhỏ đủ thứ vẫn góp mặt như một nhóm người dân tộc hay một khu vực tự trị. Điển hình là người Choang, rất có khả năng chính là hậu duệ của người Tây Âu năm xưa, ngày nay vẫn còn trên dưới 10 bộ tộc khác nhau tuy đồng chủng, với dân số lên đến gần 20 triệu, bằng nước Úc.
   Trong bài này chúng ta sẽ quan sát tiếp ý nghĩa của tên nước Văn Lang cũng như thử xem lại những chứng tích hoặc dấu ấn, nếu có, và đặc biệt biên giới của Văn Lang.
   Trước hết xin tóm tắt một vài điểm quan trọng đã được trình bày trong những bài trước:
   (i) Trước tiên, chúng ta đã xem lại con số 18 được dùng để chỉ 18 đời vua Hùng, và 'phát hiện' được rằng trong nền văn minh Hoa Hạ, số 18 được dùng như một ý niệm liên tục để chỉ một tập hợp có thể trống không, hay chi tiết hãy còn ẩn số, không biết rõ. Số 18 cũng rất phổ thông ngày xa xưa, rất có thể do ở hệ thống đếm của văn minh Hoa Hạ trong thời huyền sử đã xử dụng con số 9 làm cơ bản, hệ đếm số 9. Trong hệ đếm số 9, số 18 coi như 2 lần số hệ 9 (= 2 chín), tương đương với 20 trong hệ đếm số 10 (Xem: [1]). Chúng ta cũng đã ghi nhận con số 9, số lớn nhất của hệ đếm theo 9, thường dùng để chỉ vua chúa, tột đỉnh của quyền lực xã hội.
   (ii) Truyền thuyết 'con rồng cháu tiên' được giải mã dưới một góc độ khá mới của thế kỷ 21. Trong đó chúng ta đã xử dụng đến những ý niệm 'đương đại', như 'nhảy vọt theo trọn đơn vị' (kiểu thuyết quantum của Max Planck) hoặc 'quay băng video nhanh', và xem xét kỹ tất cả các nhân danh và địa danh của truyền thuyết. Từ đó chúng ta đã xác định được, thời gian xảy ra câu chuyện của truyền thuyết được giới hạn trong vòng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên (0-1000 TCN), và ở tại địa bàn nước Sở.
   (iii) Để giải mã truyền thuyết, lần đầu tiên chúng ta bắt buộc phải phân biệt từng chủng một trong khối Bách Việt cũng như địa bàn sinh sống của họ. Có hai chi lớn thuộc chủng Việt nổi bật: Âu (Thái) và Lạc (Việt). Chúng ta cũng phải xem những nhân vật của câu chuyện như biểu tượng cho một nhóm người, một bộ tộc, v.v.
   (iv) Từ đó tình duyên giữa Âu Cơ với Lạc Long Quân được xem như một cuộc hợp chủng để gây sức mạnh chống cản đàn áp và sức tiến của chủng Hoa. Những vụ 'tuần thú' của mấy ông 'vua' tưởng tượng thuộc địa bàn nước Sở được xem như những cuộc di tản hằng khối của các nhóm Bách Việt xuôi về hướng Nam. Đặc biệt để ý đến hai chủng chủ lực là Thái và Việt cổ.
   (v) Tình vợ chồng giữa bà Âu và ông Lạc cuối cùng phải kết thúc, bởi lý do chính, như đã ghi rõ: dị chủng. Theo bản Mường, vào lúc chia tay, cả hai nhóm vẫn còn theo mẫu hệ, và dưới chế độ bộ lạc. Cả hai nhóm đều có các con nắm giữ vai trò lãnh đạo của các bộ lạc riêng biệt thuộc chủng của mình. Chưa hề tiến đến hình thái của chế độ nhà nước hay quốc gia. Cuộc chia tay đó ăn khớp với việc chia cắt nước Nam Việt thành hai phần: phần Quảng Châu phía trên thuộc chủng Thái (cổ) và phần Giao Châu phía dưới có chủng Việt đa số. Nó cũng đại diện cho việc một số người địa phương - đa số thuộc chủng Thái cổ (Âu) với địa bàn gốc là khu rừng núi - đã không thể sống chung với thế lực đô hộ Bắc phương, bỏ miền đồng bằng kéo lên rừng lên núi mà sống. Ở đó họ hội nhập với các sắc dân bản địa như Negrito (thấp, tóc xoăn), và Melanesian (đen ở hải đảo), rồi lâu ngày trở thành người Mường, người Tày, người Kha,…. Những người ở lại thành người Kinh.
   Về sự chia ly giữa bà Âu và ông Lạc, Việt Nam Sử Lược [2] có chép:
   'Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai. Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: ''Ta là dòng dõi Long-quân, nhà ngươi dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 ta đem xuống bể Nam Hải.’ Truyền thuyết đã nói quá rõ: Âu Cơ và Lạc Long Quân, mỗi người thuộc một chủng khác nhau.
   Sau đó vẫn theo truyền thuyết, Lạc Long quân phong cho người con trai trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng là Hùng Vương. Truyền được 18 đời thì bị mất nước về tay Thục Phán. Thục Phán mang 'quốc tịch' cũ của nước Thục, đã bị nước Tần dứt điểm vào năm 316 TCN. Theo rất nhiều sử sách dân Thục thuộc chủng Thái-cổ.
   Theo phần ghi chú của dịch giả bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ  Liên [3], 'những truyện Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương được chép lần đầu tiên ở sách 'Lĩnh Nam trích quái', Ngô Sĩ Liên bắt đầu đem vào quốc sử.' Tức, những nhân danh như Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và ngay cả Hùng Vương đều được chép vào Đại Việt Sử Ký Toàn Thư [3] từ một số chuyện u linh hoang đường được đầu tiên giới thiệu với người nước Nam, qua bộ truyện 'Lĩnh Nam Trích Quái', xuất bản vào khoảng thế kỷ 14.
   Riêng sử thần Ngô Sĩ Liên đã bàn ở cuối chương về Hùng Vương [3]: 'Cái thuyết nói 50 con theo mẹ về núi, biết đâu không phải là thế? Vì là mẹ làm quân trưởng, các con đều làm chủ một phương. Cứ xem như tù trưởng Man ngày nay, xưng là nam phụ đạo, nữ phụ đạo (hiện nay đổi chữ phụ đạo làm phụ đạo có lẽ như thế [8]). Còn như việc Sơn Tinh, Thủy Tinh thì rất là quái đản, tin sách chẳng bằng không có sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi.'
   Có thể nói một trong những cảm hứng dẫn đến việc truy tầm sách vở để viết nên loạt bài này bắt nguồn từ dặn dò của Ngô Sĩ Liên: 'tin sách chẳng bằng không có sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại sự nghi ngờ thôi.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: vanlanghungvuong trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:39:30 AM
Văn Lang, con ngựa và chữ viết


   Khởi điểm của loạt bài này nằm ở chỗ xem xét trở lại toàn bộ các thứ từ dùng chữ Hán ròng, để mô tả tình hình sử địa và nhân sự trong truyền thuyết Hùng Vương. Cách xử dụng những từ Hán ròng này, như Kinh Dương Vương, Hùng Vương, Xích Quỷ, Văn Lang, v.v. cho thấy ngay tính cách vô lý, và mâu thuẫn với rất nhiều sự kiện lịch sử cực kỳ quan trọng:
   (a) Hoa chủng cho tới khoảng nhà Châu lên tiếp nối với nhà Thương (tức khoảng 1120 TCN) thật sự chỉ làm chủ được một vùng đất rộng bằng hai ba tỉnh, ở miệt Hoa Bắc bên sông Hoàng Hà.
   (b) Hầu hết những cuộc chiến tranh, hoặc tranh chấp lãnh thổ trong thời Đông Châu liệt quốc, biết được qua sử sách, đều giới hạn trong vùng đất ở miền Hoa Bắc, phía Bắc sông Dương Tử. Chỉ có một hai ngoại lệ, như nước Việt của Câu Tiễn, nằm ở khu Chiết Giang - Thượng Hải ngày nay, hoặc miền Nam của nước Sở (Hồ Nam), là thuộc miền Hoa Nam. Đặc biệt cả hai nước Sở và Việt đều có cư dân đa số thuộc chủng Yueh (Việt), bao gồm phần chính: Thái và Việt. 
   (c) Ở đầu thời Xuân Thu, khoảng thế kỷ thứ 8 TCN, miền Hoa Bắc có đến hơn 1000 nước lớn nhỏ khác nhau [17]. Tương tự, miền Hoa Nam cũng y như vậy. Bởi mỗi chủng lớn cũng có đến hằng chục thứ chi chủng khác nhau. Thí dụ: người Hmong (Miêu) cũng có đến khoảng 5 chi lớn. Người Thái (chủng Âu) cũng vậy, đủ thứ Thái: Thái nước Thục, Sở, Điền Việt, Tây Âu, Dạ Lang (Quí Châu), v.v. Mỗi chi như vậy có thể có đến cả chục tiểu chi khác nhau. Đối với người dân tộc ở Trung Hoa và ở Việt Nam, thí dụ  người Choang, và  Mường theo tuần tự, tình trạng này hãy còn tồn tại đến ngày nay. Lý do chính: trai gái thường thường chỉ lập gia đình với nhau lẩn quẩn ở trong làng (Xem [4]).
   (d) Tình trạng ý niệm và tổ chức nhà nước, hay nước nhà đối với người dân tộc ngày nay ra sao thì ngày xưa cũng y hệt như vậy, và có thể tệ hơn rất nhiều. Bởi thiếu thốn các định chế hoặc cơ viện của ngày nay, như: tiền tệ, tổ chức tiện nghi vật chất, hành chánh, và quan trọng nhất, chữ viết và các phương tiện truyền thông. Tức, từ xưa đến nay, tổ chức nhà nước hoàn toàn không phải là một thực thể đơn giản chủng nào cũng có thể đạt đến được. Nói một cách khác, quốc gia hay 'nước', không phải là chuyện đương nhiên chủng nào cũng có được. Tình hình miền Hoa Nam trước khi Hoa chủng tràn xuống gây chiến tranh 'xâm lược', rất có khả năng, chỉ gồm một số rất nhiều các bộ lạc, hay cùng lắm liên minh một vài bộ lạc cùng chi chủng với nhau. Sẽ bàn tiếp phía dưới.
   (e) Vấn đề ngôn ngữ cũng khó khăn tương tự. Ngay ở miền Hoa Bắc nơi xảy ra chiến tranh qua lại của hằng trăm hằng ngàn nước lớn nhỏ khác nhau, không phải dân nước nào cũng 'piết’ tiếng ...Tàu. Rất nhiều nước, nhiều bộ tộc vẫn xử dụng tiếng của chủng họ qua hàng trăm hàng ngàn năm, và thông thường vẫn còn giữ giọng nói cho mãi đến ngày nay. Tại nhiều nước lớn như Sở, Tề, Lỗ, Tấn, Ngô, Việt. và gần như toàn thể miền Hoa Nam trước khi nhà Tần và nhà Hán xua quân xâm chiếm, đa số dân chúng có tiếng nói khác với chủng Hoa. Thường thường tiếng Thái cổ và Việt cổ.  Tuy vậy tình hình ngôn ngữ ở Hoa Nam và phía Lĩnh Nam nói chung, vẫn thua xa Hoa Bắc, ở chỗ Hoa Bắc có chữ viết và ngôn ngữ là tiếng Hoa, thường xuyên xử dụng tại các nước lớn mạnh, và được các nước chư hầu bắt chước noi theo.
   (f) Đặc biệt có thể khẳng định vùng đất thuộc Bắc Bộ ngày nay, cho đến lúc nhà Hán thôn tính nước Nam Việt, vào năm 111 TCN, dân chúng ở đó, đa số thuộc chủng Âu, Lạc, và Môn-Khmer, đều không biết gì về chữ Hán và tiếng Tàu.
   (g) Quan trọng nhất và cũng là một điểm hầu như những nhà khoa học đủ mọi ngành, kể cả những khoa học gia Âu Mỹ, thường lướt qua, không để ý đến: ‘Văn minh’ nhất là ở khía cạnh kỹ thuật chiến tranh và  truyền thông, được xử dụng trong việc quản lý hành chánh của một ‘tổ chức quốc gia’, nhất là ở vào thời xa xưa, rất thường sẽ xác định được nước đó bé nhỏ hay rộng lớn đến cỡ nào. Nói nôm na, cương giới hoặc diện tích của lãnh thổ của một nước, nhất là ở vào những thời đại xa xưa, hoàn toàn mang tỷ lệ thuận với trình độ kỹ thuật hay văn minh, nhất là về chiến tranh và truyền thông, của dân chúng ở xứ đó. Hai thành tố, theo thiển ý, đã đưa chủng Hoa nhanh chóng tiến lên xã hội theo hình thái quốc gia rồi đế quốc, chính là: con ngựa và chữ viết. Hai thành tố này góp phần song song và hỗ tương lẫn nhau. Thành tố 'tổ chức hành chánh' qua dạng triều đình, chỉ là một hệ luận đương nhiên của hai thành tố chính yếu kể trên.
   (h) Thành tố thứ nhất: Con Ngựa. Con ngựa theo nhiều sách vở, có thể truy cập ở mạng internet, xuất hiện theo thuyết tiến hoá vào khoảng năm 3000 TCN, tại miền Trung-Á, khu vực người Turkestan (Tokharians hay Nhục Chi), cũng như người Hung Nô, Mông Cổ. Con ngựa thật sự chỉ được con người luyện cho thuần thục và xử dụng khoảng 1000 năm sau đó, tức năm 2000 TCN. Chuyện Đế Minh đi tuần thú bằng xe ‘lô ca chân’, vào khoảng năm 2879 TCN,  xuống miền Hoa Nam do đó hoàn toàn là một chuyện, đúng như tựa sách, u linh và ‘chích quái’. Bởi ông ta chỉ có thể đi bằng voi, hoặc bằng trâu (như Tôn Tẫn), hay đi bộ. Rất chậm chạp, lâu lắc. Vào thời Đế Minh, ngựa hãy chưa trở thành phương tiện di chuyển. Như vậy, nếu dùng ngựa, thật ra Đế Minh phải chờ khoảng 1000 năm nữa, ngựa mới thuần thục và xử dụng được. Chuyện Đế Minh đi tuần thú cũng giống y như ta nói Elvis Presley sau khi đã thành danh mua cho bạn bè mỗi người một chiếc xe Lexus và một dàn máy Tivi và DVD kiểu màn hình plasma. Hoặc Tư Mã Thiên đã cho in bộ Sử Ký của ông được 4000 ấn bản tại Nam Hoa Thư Xã, sau đó có bản in dịch ra tiếng La-tinh gửi bằng FedEx. tặng cho Hoàng Đế La Mã. Hay Charles Darwin lần đầu tiên cho xuất bản thuyết tiến hoá của ông qua mạng internet với sự giúp đỡ của Bill Gates.
   (i) Thành tố thứ hai chính là Chữ Viết. Có chữ viết mới có hệ thống nhà nước, có trên có dưới, có chức này chức nọ, có thưởng có phạt. Mới có được một hệ thống đầu não, quản lý cho những sinh hoạt chung của nước nhà. Quản lý đi đôi với luật pháp, dù ở bất cứ dạng đơn sơ nào. Quan trọng nhất là thông tin, liên lạc. Không có chữ viết chỉ có thể có được một hai chức vụ trong một xã hội nhỏ mà thôi. Thí dụ: tù trưởng và gia đình tù trưởng. Hay Thổ Lang và Quan Lang trong xã hội Mường. Hoặc Lạc Hầu và Lạc Tướng theo với các truyền thuyết về 'xã hội Văn Lang'. Xã hội nhỏ đó rất khó vượt ra khỏi hình thức bộ lạc hay liên minh vài ba bộ lạc gần gũi với nhau. Hai thành tố: con ngựa và chữ viết, là hai thành tố cơ bản cho kỹ thuật chiến tranh, truyền thông và hành chánh. Theo thiển ý, hai thành tố cơ bản này, vào ngày xưa, là 'điều kiện đủ' khiến quốc gia mới hình thành được, trên một lãnh thổ rộng hơn hai-ba tỉnh ngày nay của Việt Nam. Và chính hai thành tố này đã giúp cho chủng Hoa tiến nhanh tiến mạnh lên hình thái nhà nước, rồi nhất thống được nước nhà. Y hệt như mô hình đế quốc do đại đế Alexander tạo dựng tại bán đảo Hy Lạp cổ vào thế kỷ thứ 4 trước Công Nguyên. Trước hết, nhờ ở ngựa và chữ viết, Hoa chủng đã nhất thống được tất cả các nước ở miền Hoa Bắc. Xong rồi nhanh chóng tiến lên cấp đế quốc, thôn tính được tất cả các nhóm rợ phía Nam. Chúng ta cũng có thể dùng nhận xét sau đây để hỗ trợ cho luận cứ này. Chỉ riêng việc nhất thống miền Hoa Bắc, nhà Châu rồi nhà Tần phải tốn gần 800 năm. Bởi các 'nước' ở Hoa Bắc đều biết xử dụng ngựa và chữ viết. Chiến tranh ở Hoa Nam chỉ tốn tổng cộng trước sau, trên dưới 8 năm là xong. Bởi Hoa Nam ít có ngựa và không có một hệ thống chữ viết hoàn hảo như Hoa Bắc. Các bộ tộc ở Hoa Nam cũng
chưa có hệ thống nhà nước chặt chẽ và chu đáo như Hoa Bắc.

Từ những nhận xét khái quát phía trên, chúng ta sẽ thấy bất cứ quyển sử nào nếu đề cập một 'nước' nào đó ở miền Hoa NAM trong vòng 1000 năm trước Công Nguyên, có được một lãnh thổ lớn hơn một tỉnh ngày nay của nước Tàu, thì đó hoàn toàn chỉ là một chuyện cổ tích mang tính u linh hoang đường, hay ‘chích quái’. Nói cách khác, một khi kiểm chứng được thời điểm câu chuyện, một nước như Xích Quỷ [1] hay Văn Lang, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư [3], với một địa bàn rộng lớn chiếm hết miền Hoa Nam và kéo đến tận 'nước' Hồ Tôn [5], chắc chắn chỉ là một chuyện hết sức 'u linh'. Với trực giác đơn sơ nhất, ai cũng có thể thấy, một cái nước nhất thống được hàng ngàn các bộ lạc khác nhau, với các chủng dị biệt trên một địa bàn bao la như vậy, chắc chắn phải có tổ chức nhà nước rất cao siêu. Ít lắm cũng bằng miền Hoa Bắc, với di sản một đống sách vở thánh hiền rất đồ sộ, và hàng chục các thứ lí thuyết về chính trị hoặc đạo lý, hay kỹ thuật chiến tranh. Nhất là một chủ thuyết chính trị tạo thành xương sống cho riềng mối nước nhà. Tệ lắm cũng phải có một hệ thống chữ nghĩa thật đàng hoàng, và một phương tiện chiến tranh, truyền thông, truyền lệnh (con ngựa, xe ngựa hay chiến xa) mới có thể quản trị hành chánh được một lãnh thổ bao la như vậy.
   Như vậy, chuyện kể trong [3]: 'Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là nước Văn Lang (nước ấy phía Đông giáp Nam Hải, phía Tây đến Ba Thục, phía Bắc đến hồ Động Đình, phía Nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam,...' đề cập đến một 'đế quốc' Văn Lang rộng lớn như vậy chắc chắn chỉ là một chuyện mơ tiên, 'u linh chích quái'.
   Theo Đại Việt Sử Lược [7], tức quyển sách khuyết danh thất lạc về sau tìm ra được tại một thư khố nhà Thanh bên Tàu, vào thời vua Châu Trang Vương ở bên Tàu  (696-682 trước Công Nguyên) 'ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật quy phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương đóng đô ở Văn Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong tục thuần lương chơn chất, chính sự dùng lối thắt gút'.
   Như vậy, chuyện cái nước Văn Lang có ‘phong tục thuần lương chơn chất, chính sự dùng lối thắt gút’ đã cho thấy dân nước Văn Lang chưa có chữ viết, rất khó có thể có một cương giới rộng lớn hơn hai ba tỉnh nước Nam, theo lối sắp xếp ngày nay. Cho dù có chữ viết, câu hỏi kế tiếp sau đây sẽ lập tức đưa 'nước' Văn Lang đến chỗ trống không: Chữ viết đó thuộc chủng nào? Nếu nhớ địa bàn Bắc Việt vào thuở sơ khai chắc chắn bao gồm rất nhiều chủng tộc và bộ tộc khác nhau: Thái cổ, Tày cổ (cũng một chi của Thái), Môn, Khmer, Việt cổ, Negrito, Melanesian, ... Và mỗi một chủng có rất nhiều chi chủng nhỏ khác nhau, với tiếng nói hơi khác với nhau. Chỉ riêng trong chủng đó mà thôi. Sự kiện này ngày nay vẫn còn tiếp diễn dài dài tại các làng bản của dân tộc ít người ở miền Hoa Nam và tại Việt Nam. Đặc biệt có thể để ý, muốn một chủng nổi bật lên và dùng ngôn ngữ của mình lấn áp hết ngôn ngữ các chủng khác, để tiến đến nhất thống tạo thành một ‘nước’ lớn hơn 2-3 tỉnh, chủng đó phải có một nền văn minh hay văn hoá và  kỹ  thuật ‘hoàn toàn trên cơ’ các chủng kia. Như trường hợp tiếng Hoa tại Hoa Bắc ở thời Đông Châu Liệt quốc, và tiếng Anh tiếng Mỹ vào vài thế kỷ gần đây. Sử sách hoàn toàn không hề ghi nhận tình hình vượt trội như vậy đối với bất kỳ chủng nào trong khối Bách Việt tại vùng Lĩnh Nam.
   Phần ghi chú phía dưới trang 66 của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư [3] cho biết về 'kinh đô' của Văn Lang:
   'Cương giới của nước Văn Lang chép ở đây là tương đương với miền mà sách Trung quốc xưa gọi là đất Bách Việt. Sách 'Thái bình hoàn vũ' chép thành Văn Lang ở huyện Tân Xương đời Đường, huyện Tân Xương thuộc Châu Phong. Sách 'Đại Nam nhất thống chí' đặt thành ấy ở khoảng đền Hùng Vương, xã Hy Cương huyện Lâm Thao tỉnh Vĩnh Phú.'
   Do đó, đối với kinh đô của nước Văn Lang, trong chiều hướng 'cóp' lại các mô hình của các nước phía Bắc sông Dương Tử thời Xuân Thu Chiến Quốc, chúng ta cũng đã thấy có nhiều điểm khá lổng chổng. Một kinh đô - hai ba địa điểm khác nhau. Tên kinh đô, tên nước và địa điểm địa lý toàn bằng tiếng Tàu, đối với một khối dân gồm hằng trăm chi chủng khác nhau, không piết tiếng Tàu và sống rất xa Tàu, chứ không phải như dân nước Sở. Vô lý hơn nữa, không có một tư liệu nào cho biết các chủng đó đã có một dạng chữ viết nào hay chưa, để quản trị hành chánh số người khổng lồ (ở thời đó) trên một lãnh thổ hết sức bao la. Ngoài ra, ta có thể đặt luôn câu hỏi: Đối với hàng chục chi chủng khác nhau như vậy, chủng nào là chủng chủ lực nắm hết các cơ viện nhà nước ở trong tay?  Và hình thù các cơ viện nhà nước đó ra sao?
   Tóm tắt, vấn đề nước Văn Lang của Hùng Vương đã gặp lấn cấn ngay khi người ta đọc  đoạn mô tả nước đó trong quyển sử của Ngô Sĩ Liên [3]. Như đoạn ghi chú phía trên đã cho biết, có hai thứ cương giới của nước Văn Lang: (i) Một thứ thật rộng bao gồm Hoa Nam và Bắc bộ cộng với bắc Trung bộ của nước Việt ngày nay; và (ii) Một thứ nhỏ hơn, chỉ gồm khu Bắc bộ mà thôi. Lãnh thổ nhỏ của Văn Lang thông thường có thể suy đoán qua một trang sử kế tiếp, viết về việc Triệu Đà sát nhập xứ Âu Lạc vào Nam Việt. Âu Lạc chính là ‘tên nước’ theo ngay sau Văn Lang.
   Theo với luận cứ ‘con ngựa và chữ viết’, chúng ta có thể loại bỏ thứ lãnh thổ bao la của Văn Lang. Thứ lãnh thổ Văn Lang nhỏ hơn, và giới hạn trong vòng Bắc bộ sẽ được quan sát tỉ mỉ hơn ở đoạn sau. Bây giờ xin thử quan sát tên nước Văn Lang của người nước Nam, đã được viết bằng tiếng Tàu ròng.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: vanlanghungvuong trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:40:18 AM
Văn Lang và tiếng Tàu


   Tên nước đầu tiên của người Việt chắc chắn không phải là tên bằng tiếng Tàu ròng. Một lần nữa ta thấy truyền thuyết đã ẩn chứa một đoạn Fast Forward (quay băng video nhanh) rất quan trọng. Nều thời kỳ dựng nước xảy ra vào khoảng năm 2800 TCN, xứ Văn Lang chưa có ngựa và không biết được tới một chữ Tàu nữa chứ đừng nói tới việc đặt tên vua, tên nước thế này thế nọ, viết bằng tiếng Tàu.
   Theo [10], thư tịch cổ của Tàu hoàn toàn không có ghi nước nào mang tên Văn Lang hết. Tên Văn Lang lần đầu tiên xuất hiện [11] trong sử sách Việt qua quyển Đại Việt Sử Lược [7] vào khoảng thế kỷ 14, có lẽ lại 'cóp' theo thư tịch của Tàu vào thời nhà Đường [11], năm 618-907 sau Công Nguyên. Tức tên Văn Lang chỉ được ghi chính thức vào sách vở ít lắm 800 năm sau khi nước đó bị 'biến mất', ít nhất trên danh hiệu. Và lại một thứ tên hiệu bằng tiếng Hán ròng trên một khối dân tộc, vào lúc 'nước' Văn Lang còn tồn tại, không biết một chút gì về chữ Hán.
   Thấy rõ điểm mâu thuẫn rất lớn từ chỗ tiếng Hán ròng cho một nơi mà hằng trăm hằng ngàn năm trước người Hán chưa hề đặt chân đến, rất nhiều vị tiền bối đã ra sức biện giải cho những khía cạnh 'nôm na' của tên nước Văn Lang.
   Trước hết, theo rất nhiều giả thuyết quen thuộc 'Văn Lang' mang nghĩa 'đàn ông có xâm mình' - một đặc tính của hầu như toàn thể các giống dân thuộc khối Bách Việt ở thời cổ đại xa xưa. Khối Bách Việt lại chính là tiền thân của một số đông các dân tộc ngày nay ở miền Đông Nam Á. 'Xâm mình' tiếng Hán quốc ngữ gọi 'văn thân'. 'Đàn ông' gọi 'lang'. 'Văn Lang' do đó mang nghĩa: đàn ông xâm mình. Bởi 'văn lang' mang vẻ thuần Hán nên đã có rất nhiều nhà nghiên cứu cố gắng tìm tòi những giả thuyết khác, giải thích 'Văn Lang' cho có vẻ đượm nhiều sắc nôm-na dân tộc Việt hơn.
   Hoàng Thị Châu [12] đưa ra giả thuyết dựa trên tài liệu ngôn ngữ. Theo đó, tiếng gọi 'người' của các dân tộc khối Nam Á (Austro-asiatic) thường liên hệ đến tiếng Mã Lai 'ORANG'. Orang = người. Orang kampung = người dân làng. Âm /O/ có thể biến chuyển qua lại với âm /ou/ ở thời cổ đại, chưa có chữ viết theo a-b-c. /Ou/ có thể biến âm qua lại với /U/ hoặc /wu/. Và cũng có thể /wu/ sinh ra, hoặc do người Tàu phát âm thành /wen/, tức /văn/ theo kiểu quốc ngữ. /Rang/ có âm /r/ thông thường biến chuyển qua lại với âm /l/. /Rang/ => /Lang/. Từ 'lang' du nhập đến Trung Hoa và thường mang nghĩa 'đàn ông'. Do đó /O-Rang/ biến dạng thành /Văn Lang/ qua lối phát âm của người Hoa. Đơn thuần, 'văn lang', xuất phát từ 'orang' chỉ mang nghĩa 'nơi hoặc xứ sở của người'.
   Quyển 'Thời Đại Hùng Vương' [13] có ghi tóm tắt: 'Vậy có thể cho rằng: Những tộc danh Lang, Văn Lang, Dạ Lang... đã bắt nguồn từ một danh từ chung, có nghĩa là "đàn ông", "người", với những hình thái biến đổi khác nhau tùy theo ngôn ngữ, phương ngữ và tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Phụ âm đầu trong những tộc danh như Văn Lang, Việt Lang nếu đọc theo cách phát âm của tiếng Việt cổ và trong tiếng Hán cổ thì đó là âm w, một phụ âm môi-môi có bộ vị cấu âm rất gần với các nguyên âm tròn môi như ô, u đến nỗi người ta còn gọi phụ âm này là bán nguyên âm u. Do đó, những âm trên hoàn toàn có khả năng biến đổi từ trạng thái nọ sang trạng thái kia.
   Trong phương pháp so sánh của ngôn ngữ học lịch sử, những từ như Văn Lang, Việt Lang với urang, ôrang, cũng như Dạ-lang với Đrang trong từ đranglô đều có thể xem là những từ giống nhau, nhưng nếu chỉ căn cứ vào hình thức bên ngoài thì không sao nhận ra được.'


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: lonesome trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:45:01 AM
Mời xem thêm: http://www.quansuvn.net/index.php?topic=6831.0

Nhờ bác Tre hoặc bác Đoành tách hộ các bài viết của Nguyễn Vũ Tuấn Anh thành 1 chủ đề  đi có được không ạ?


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: vanlanghungvuong trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:48:12 AM
Và đây nữa
Nhận xét từ cõi âm: " Vua Hùng Quê ở Một nơi, nhưng được thờ tự ở một nơi"

http://www.youtube.com/watch?v=RdzYtz30qdk

==>> Phần đất Việt Nam ngày nay chỉ là phần cuối cùng của Văn Lang ở Phương nam được bảo vệ , khi bị Tầu Cẩu đánh chiếm hết...


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: lonesome trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:48:20 AM
Văn Lang và tiếng Tàu



http://svsupham.com/showthread.php?t=4265


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: lonesome trong 01 Tháng Mười, 2009, 11:49:33 AM
Và đây nữa
Nhận xét từ cõi âm: " Vua Hùng Quê ở Một nơi, nhưng được thờ tự ở một nơi"

http://www.youtube.com/watch?v=RdzYtz30qdk


Lạy hồn. Khảo cứu về 1 thời kỳ cách nay hàng nghìn năm mà dùng các tư liệu kiểu này thì đủ hiểu 1 số thứ rồi ...


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: mền bông trong 04 Tháng Mười, 2009, 12:39:49 PM
vanlanghungvuong dùng bài của giáo sư, bác sĩ, nhà văn ... yên tử cư sĩ Trần Đại Sĩ mà không báo các bác họ Trần trong này 1 tiếng!  ;D


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: TQNam trong 04 Tháng Mười, 2009, 03:16:54 PM
Mô Phật, cái làng sóng Sô-vanh vơ cả văn minh thế giới vào cổ sử Việt bởi những con gà hoang tưởng đã lan vào tận đây rồi. Dạ, dạ, đủ lắm rồi, kẻo thiên hạ nó cười bể bụng bởi thói đại ngôn, ngoa ngôn, loạn ngôn.


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: cuong.tran trong 04 Tháng Mười, 2009, 06:55:15 PM
Hic híc, em nghe khẩu khí bác TeQuiNem nì cũng ác chiến lắm đây, bác nói thêm về cái chữ Sô-Vanh cái, bác ơi! Hồi giừ em nghe nhiều nhưng chưa hiểu lắm lắm!   ;D


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: TQNam trong 04 Tháng Mười, 2009, 08:01:39 PM
Sô-vanh là cái chi chi? Trên internet nhiều vô kể, bạn chịu khó gỏ mất chữ là thông thôi.


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: TQNam trong 04 Tháng Mười, 2009, 08:18:56 PM
Lời mào:

Nhớ khi xưa, hồi trào mới giải phóng, dân tình nhốn nháo - người tự đốt sách, kẻ dấm dúi bán sách, nhà nhà nộp sách bởi có sức "chống văn hóa phản động, đồi trụy"! Riêng ta đây, nhân dịp hiếm nầy, gom mấy đồng còm thầy me cho ăn quà đem canh me ve chai mua sách hay lại rẻ, tuy cũ xì. Trong số đó ta qúy nhất cuốn "Triết lý cái đình" của thầy dòng Kim Định. Vốn sớm man mặc cảm tự ti "một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây" nên đọc cuốn nầy mà sướng rên lên. A! Hóa ra người Nam ta đâu hề thua kém phương Bắc, nếu không hơn thì thôi ấy chứ?

Thôi rồi, một hôm ta được Trần giáo sư khai nhãn, mặt ta đỏ lự vì xấu hổ ... và "chái chén" thầy Định!

Ô hô! Vậy mà ...

Nay, để rộng trời dòm liếc, xin mạn phép chép lại một bài của Tạ Lão sư để mọi người coi chơi. Tuy ta đây không đồng ý hoàn toàn, song le xét thấy có nhiều lập luận đáng cho nhiều người suy ngẫm lại nên ... Dạ, dạ, xin mời đọc:


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: TQNam trong 04 Tháng Mười, 2009, 08:21:50 PM
Về “huyền sử gia” Kim Định và các chi, bàng phái “huyền sử học” Việt Nam?

Tạ Chí Đại Trường
 
Tựa đề trên là mới nghĩ ra độ mươi ngày nay, còn phần sau đây là lấy trong bài viết tháng 3-2002 cho William Joiner Center, thời gian làm một công trình ít nhiều gì cũng là “chạy đạn” cho Trung tâm này với kết quả, người viết được người ở xa (Làng Văn, Canada) xếp hàng phe phía “tả phái” (nôm na: “thân cộng”) đồng thời với những lời mắng mỏ động đến không phải chỉ riêng bản thân, như tính chất của báo chợ thường cho thấy. Dù sao thì cũng hưởng được một chuyến ngơ ngáo đi chơi vùng Ðông Bắc, thấy tận mắt hòn đá khoét con số 1620 mà có người diễn giải (xạo) là những kẻ đi trên chiếc tàu Mayflower (phục chế) đang nằm trên rạng đá lộng gió ngoài kia, đã từng đặt chân lên đấy.

Trích đoạn thì thế nào cũng có những xộc xệch, và lạc hậu vì tính chất cũ kĩ của nó. Không thể làm hơn, và cũng không cần làm hơn vì vấn đề thật ra cũng không to tát cho lắm. Ngứa tay thì cũng thêm một vài điều có xác định cách biệt nhưng để không mất tính liên tục, tôi đã sửa lại các con số chú thích theo thứ tự của hình trạng mới. Nhưng đó là chuyện nhỏ, bài viết dù sao cũng đã ráng giữ đúng quy định bình thường của “ngành nghề”, theo sát chứng dẫn cụ thể – dù có thể là thiếu sót, chứ không chỉ ba hoa thiên địa để mang tiếng là hay hóng hay hớt. Ðọc lại cũng thấy có những điều dễ làm mất lòng quyền lực to nhỏ, người lớn em bé, kể cả bạn bè thân quen cũ nhưng đó không phải là lỗi tại tôi. Ai biểu mấy ông bà thầy ngoài đời, trong sách vở, không chỉ cho tui một cách học khác?

Nhân tiện, đây cũng là để cho Dũng đọc, như đã hứa.

...
2.
...

a. Hùng Vương của Việt Nam Cộng hoà và di chứng: triết lí huyền sử

Phần đất dưới vĩ tuyến 17 không phải là nơi “địa lợi” của việc khảo sát về Hùng Vương. Chúng ta sẽ thấy khuynh hướng chung của các nước xã hội chủ nghĩa dùng khảo cổ học để đi sâu vào quá khứ, đã là chính sách theo đuổi nhiệt thành ở miền Bắc, nơi có Hùng Vương khởi phát, có những tầng lớp đất đào bới cho là sẽ chứng minh được sự hiện diện của Hùng Vương, của thời sau, trước Hùng Vương với những bằng cớ chi tiết, cụ thể, không phải mơ hồ, có lúc sơ sài như trong sử sách. Ở miền Nam, ngay từ lúc đầu thành lập thể chế, chiến tranh đã lan rộng cùng khắp, không có cơ hội cho những khảo sát thực địa, trừ những phát hiện tình cờ giúp cho các chuyên viên Pháp (H. Fontaine, E. Saurin) cùng các phụ tá Việt của họ (hình như cũng chỉ là đứng-tên-chung) đi ra hiện trường yên ổn làm việc thăm dò.

Miền Nam, trong hướng tiếp xúc thẳng với thế giới phát triển sôi nổi sau Thế chiến II, với những biến cố thiết thân trước mắt, lại cũng không phải là nơi khuyến khích những cơ hội trở về với quá khứ. Các bản dịch sách cổ đầu tiên là của trường Luật dùng cho nhu cầu giáo dục chuyên ngành. Cơ quan phiên dịch chuyên ngành, nhờ sự yểm trợ quốc tế đã in được bản gốc Hán văn để đối chiếu, nhưng cũng không đi sâu vào quá khứ xa xưa. Các bản dịch Toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã bắt đầu trễ hơn miền Bắc khoảng mươi năm, vì thế trở thành dở dang do biến nạn tháng 4-1975. Cho nên, ngày lễ giỗ Tổ mồng 10 tháng 3 âm lịch trôi qua cũng như những ngày kỉ niệm khác. Những lời hô hào trên đài phát thanh nhân dịp này để khích động chống cộng chẳng có chút tác dụng chính trị nào, vì đã bắt chước lối tuyên truyền của Hà Nội mà không có một lớp dân chúng quan tâm tới vấn đề lịch sử làm nền tảng. Ðiều đó rõ rệt khi một vài bài nghiên cứu Hùng Vương hời hợt đăng trên các tạp chí không gợi nên chút tò mò nào. Một giả thuyết về nguồn gốc người Việt của Nguyễn Phương, Giáo sư Ðại học Huế, không rộn ràng vì cách giải thích con số 18 và tên Hùng là lấy từ các tôn hiệu vua nước Sở, mà từ giả thuyết cho rằng người Việt hiện tại có gốc Hán khiến phải phủ nhận cả một một thời đại Ðông Sơn dài trước đó (có mặt Hai Bà Trưng), tuy chính tác giả lại còn tiếc nên đem Ðông Sơn làm một phần quan trọng trong quyển Việt Nam thời khai sinh của ông [1] . Chuyện này không ảnh hưởng gì nhiều đến không khí học thuật ở đây mà chỉ gây đôi co vắng mặt với học giả miền Bắc, và tác động đến giới chính trị sử ở đó để ông Trường Chinh đưa ra chỉ thị “tác chiến chống những quan điểm sai lầm về sử học, xuyên tạc lịch sử Việt Nam, của đế quốc phong kiến, của những sử gia phản động ở miền Nam”, rồi dây dưa mãi đến 1976 như một phản ứng lo sợ sau khi thống nhất. Phần lớn chú ý đến vấn đề Hùng Vương là của những người gốc Bắc như một hồi cố về quê hương, trong khung cảnh an bình tương đối ở thành phố – lại cũng là nơi chốn xa cách với quá khứ để gợi ước mơ. Và do đó, vấn đề Hùng Vương ở miền Nam đã rẽ sang hướng suy tư trừu tượng, không phải sử học nhưng lại có dáng sử học, kết hợp với tình tự quê hương dân tộc thành một niềm hãnh diện tự kiêu có dáng dấp tôn giáo của người xướng suất ra nó: ông Lương Kim Ðịnh, linh mục, giáo sư Triết thuộc Ðại học Văn khoa Sài Gòn.

Theo ông, những gì mà sách vở ghi lại đến nay về tương quan văn hoá Việt Nam - Trung Quốc đều phải đảo ngược lại hết. Chính người Việt đã là tộc người căn bản trong việc hình thành phần tư tưởng cốt lõi của Nho giáo – mà ông thường dùng chữ “Hán Nho” để chỉ thị – chứ không phải người Hán, “người Tàu”. Cho nên đúng ra phải gọi là “Việt Nho” mới phải.

Lí luận của ông dẫn đến những giải thích về cổ sử Việt - Trung theo một phương pháp mà ông gọi là dùng đến “huyền sử”. Theo ông, “huyền sử khác với lịch sử ở chỗ có dùng huyền thoại nhưng lại đáng tên sử vì được giải thích dưới ánh sáng của định chế, phong tục, cổ tục... nghĩa là những yếu tố có tính chất lịch sử.” Phương pháp này hợp với khoa học và là “yếu tố cần thiết trong việc đi tìm nguồn gốc nước ta” chỉ vì “bỏ huyền thoại thì chúng ta hầu không còn gì để làm tiêu điểm dò đường: sử liệu chỉ mới có từ Tống, một ít Ðường, rất ít Hán, trên nữa thì chỉ có Kinh Thư, lấy gạn cũng chỉ được đến nhà Thương.” [2] Tuy đề ra “phương pháp” trên nhưng ông cũng theo thời mới mà suy đoán mở rộng, bằng vào các sách vở viết về lịch sử Trung Quốc, về khảo cổ học Trung Quốc, đặc biệt là quyển của H. J. Wiens, Han Chinese Expansion in South China, 1967. Lấy cổ thư Trung Hoa (mà ông cho là của Việt) phối hợp với nghiên cứu của các tác giả phương Tây hợp ý, ông phân ra “Bốn chặng huyền sử nước Nam”:

1. Chặng đầu tiên là “Việt Điểu” vì là giai đoạn xuất hiện vật tổ Ðiểu: Hồng Bàng. Nơi xuất hiện là Thục Sơn (khoảng Tứ Xuyên ngày nay, các đất Ba, Thục ngày xưa), nước của Toại Nhân, Phục Hi, Thần Nông. Toại Nhân được cho là “xuống Nam thuỳ”, đó là dấu vết của Thục An Dương Vương xuống đất cổ Việt ngày nay. Thần Nông thì xuống Ngũ Lĩnh, mở đầu chặng huyền sử thứ hai của Việt tộc. Ðây là phần ông khai triển sâu vào trong quá khứ của một vài từ lẻ loi trong truyện Hồng Bàng thị ở Lĩnh Nam chích quái.


2. Giai đoạn “Việt Hùng” xảy ra ở hai châu Kinh, Dương – nên mới có ông Kinh Dương Vương, kéo dài đến chuyện đẻ trứng chia con và ông con trưởng Hùng Vương làm dấu ấn cho thời đại đó.


3. Trong phần giới thiệu tóm gọn khởi đầu thì ông gọi giai đoạn này là “Việt Ngô”, phần cuối của ba đoạn “huyền sử nước ta” cộng với giai đoạn “bán sử Nam Việt nữa” thành “bốn chặng huyền sử nước Nam.” Ở phần khai triển thì ông gọi giai đoạn ba này là “Việt Chiết Giang”. Ðây là chuyện của Việt Câu Tiễn thường nói trong sách vở. Theo ông, đây là khối mạnh nhất trong thời Chiến Quốc, và với sự thất bại của họ, “Việt tộc đã mất dịp nắm lại chủ quyền trên toàn lãnh thổ chịu ảnh hưởng chữ Nho của mình” (Chúng tôi nhấn mạnh).


4. Nam Việt của Triệu Ðà, theo ông “là hình ảnh cuối cùng của một nước Việt thuộc huyền bí xa xưa” và ta “có thể coi Triệu Ðà như là một cố gắng dẻo dai lập lại nước Văn Lang xưa”.

Chúng ta sẽ không nói trong chi tiết về những lí luận lan man, dây cà ra dây muống [3] để chống đỡ cho luận thuyết của ông. Chúng tôi chỉ nhắc lại những luận cứ “nghiêm túc” đã khiến người nghe được thuyết phục đến bây giờ, cả trong lẫn ngoài nước, dù với một vài thay đổi. Ông đã dựa trên nghiên cứu của H. J. Wiens về các tộc người khác Hán ở Nam Trung Hoa (điều này thì cũng thấy ở nhiều tác giả khác, kể cả Mã Ðoan Lâm của thế kỉ XIII trong Văn hiến thông khảo). Ông cũng dựa vào các nghiên cứu khảo cổ học, mượn cả những phát hiện mới nhất lúc bấy giờ như ở Non Nok Tha, Hang Thần... mà W. G. Solheim II quảng diễn, nhất là của tác giả Trung Hoa hiện đại thì càng tốt, để chứng minh rằng văn hoá vùng Ðông Nam Á rất cổ xưa, rằng vùng Tứ Xuyên (Ba Thục cũ) của tộc Man (“Môn, Mân, Việt, Mường, Thái...” mà trong đó Việt nổi bật, theo ông), đã phát triển xưa hơn vùng Hoàng Hà của tộc Hán, từ đó ảnh hưởng đến văn minh Hán. “Việt vào nước Tàu trước”, “chính người Bách Việt là chủ xướng Nho giáo” là hai “đề quyết động trời” như ông đã công nhận về sau, để ông viết nên quyển Việt lí tố nguyên. Và thế là ông cho mình có toàn quyền sử dụng để trích dẫn những cổ thư lâu nay vẫn được coi là của Trung Quốc: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch... kể cả suy diễn từ những thứ chỉ có tên như Lạc thư (“cũng gọi là Hồng Phạm”), Quy lịch... Nhưng tất cả những nối kết về dân, nước Việt hiện tại với thời xa xưa ở “Thục Sơn” đó lại bằng vào quyển Lĩnh Nam chích quái (LNCQ) truyền kì của thế kỉ XIV, trong đó có ông Thần Nông liên hệ danh xưng với Xi Vưu, Viêm Ðế của dân Viêm Việt, chống đánh với ông Hoàng Ðế của lưu vực Hoàng Hà. Không nệ việc chính tác giả quyển sách đã tự đặt tên là “quái”, ông tha hồ tin tưởng coi đó là sự thật lịch sử, là Kinh: Kinh Hùng của dân Việt.
(còn tiếp)


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: TQNam trong 04 Tháng Mười, 2009, 08:24:25 PM
(tiếp)
Như thế là theo với thời đại, Kim Ðịnh cho là đã củng cố luận thuyết của mình bằng các chứng dẫn từ các công trình nghiên cứu khoa học. Và phương tiện để thời nay đi sâu vào quá khứ thì không gì hơn là khảo cổ học. Tuy nhiên ông lại có hiểu biết quá nông cạn về môn này. Ngay khi ông đã qua Mĩ hơn mười năm sau, với chuyện trống đồng nhiều gấp bội, ông vẫn lẫn lộn tên một địa phương và tên đặt-để cho một nền văn hoá khảo cổ: “... quen gọi trống Ðông Sơn vì tìm ra được nhiều nhất ở làng Ðông Sơn tỉnh Thanh Hoá”! [4] Chính những loại khuyết điểm từ căn bản này đã làm sụp đổ mọi luận chứng, dù tác giả viết đến thiên kinh vạn quyển, có lôi bằng cớ chữ nghĩa uyên áo để trình bày ý tưởng của mình, chúng vẫn khó thuyết phục mọi người. Không hề gì, ông chỉ muốn mượn tiếng của các công trình khoa học để triển khai phương pháp “huyền sử” phục vụ cho luận thuyết của ông mà thôi.

Phương pháp “huyền sử’ đó không lấy gì làm mới, và căn bản cũng không có điều gì sai sót. Sử viết của triều đình vua chúa không nói đến sinh hoạt của dân chúng, xã hội bên dưới; với một vùng đất chưa có sử viết, thì người ta căn cứ vào sự làm chứng, có khi nghe ngóng của người nơi khác để có hiểu biết về tộc người, sinh hoạt nơi đó. Có điều, muốn trở thành tài liệu tìm hiểu quá khứ thì người ta vẫn phải chú trọng đến tính cách thời gian của tài liệu, biện biệt sắp xếp theo sự tuần tự xuất hiện của chúng để ghép vào với nhau, không nên lấy, ví dụ quyển LNCQ của thế kỉ XIV coi là có giá trị chứng cớ cho 4000 năm trước đó, ở một vùng cách nơi nó xuất hiện cả ngàn dặm! Chi li hơn, không biết rằng Lê Quý Ðôn đã thấy truyện Việt Tỉnh trong LNCQ là của người thời Tống Nguyên, nên Kim Ðịnh cứ tán rộng về Việt Tỉnh Cương với vua Ân, theo ông, có mặt trên vùng Chiết Giang, đánh nhau với Thánh Gióng. Ông lại dựa vào một sai sót của người bình chú LNCQ đời nay là ông Lê Hữu Mục để tán rộng về “bốn vĩ tích” của Lạc Long Quân. [5] Cho nên, về khảo cổ học, ông không cần biết đến cách phân loại kiểu thức vật dụng để tính thời gian tương đối của các lớp đất, hay cách tính tuổi tuyệt đối (tuy vẫn là tương đối một chừng mực) bằng phương pháp phóng xạ. Và khi sử dụng đến chúng thì đem ghép bừa bãi để chứng minh cho luận cứ của mình. Ông không cần điều đó vì đã đưa vào chữ “huyền sử” nên cho rằng mình có quyền đem tục ngữ, câu hát trẻ con, lí số thầy tướng... vào để chứng minh cho khám phá của ông là “Việt vào nước Tàu trước”, rằng Hán Nho vốn có căn bản là Việt Nho, nếu không nói thẳng là đã tước đoạt của Việt Nho.

Ðã nói, chúng ta phải quan tâm đến luận thuyết của ông chỉ vì có một số người nghe theo ông, lâu dài. Trước 1975 trong nước, ông là giáo sư đại học và khi nói tràn lan, bị vặn hỏi bí lối, ông phân trần rằng mình chỉ nêu giả thuyết để làm việc, có thể sai trong tiểu tiết, không dám dạy thẳng trong trường “lâu lâu nói chơi cho vui”... nhưng lại cũng khoe rằng đã có “nhiều sinh viên cao học làm bài theo đề tài... những quy luật của huyền sử (nhấn mạnh của ông)” dựa theo các sách của ông và những điều ông đã “thuyết trình với sinh viên trong ba năm qua” (1970-1973). [6] Sự hấp dẫn trong “lí thuyết” của ông có nguyên nhân từ bên ngoài xã hội nên ảnh hưởng còn thấy gần đây trong, ngoài nước – ngoài nước thì công khai đưa lên gần thành một tôn giáo, còn trong nước thì kín đáo giấu giếm theo thói quen không chịu kể xuất xứ ý tưởng vay mượn, hay bắt chước theo mà đồng thời lại bài bác đích danh Kim Ðịnh để chứng tỏ phát hiện độc lập của tác giả. Sự vô lí trong các luận cứ, cách thế “muốn nói gì thì nói” mà vẫn được người ta nghe theo, chứng tỏ một trình độ suy luận thấp của người thu nhận đã đành nhưng cũng cho thấy ông đã đánh đúng vào một tâm lí chung của thời đại: tinh thần dân tộc quá khích.

Có thể nói lí thuyết Kim Ðịnh bắt nguồn từ ý tưởng bốc đồng huênh hoang của nhà chính trị trong thời gian mất nước vào tay người Pháp, cụ thể là của triết gia chính trị Lí Ðông A / Nguyễn Ngọc (Hữu?) Thanh, Thư kí trưởng Đảng Ðại Việt Duy dân. [7] Mất nước, người ta tưởng tượng ra một nước Việt Nam thời độc lập huy hoàng, to rộng: Ông Ðảng trưởng Ðại Việt Quốc dân Ðảng Trương Tử Anh, người Phú Yên, đã để đảng viên tuyên thệ trước một bản đồ Ðông Nam Á có tên là Ðại Việt. [8] Lí Ðông A mơ ước đến một Ðại Bách Việt / Hồng Việt, một Ðại Nam Hải... chỉ vì quá khứ huy hoàng của một thời “văn hoá Môn” (mượn của nhà nghiên cứu phương Tây), “văn hoá Viêm Việt” (mượn trong cổ thư phương Ðông) rực rỡ của dân Việt, một chi nhánh khởi phát của nhân loại từ Pamir toả xuống, thấy dấu vết ở Bắc Trung Hoa (Thái Sơn), Dương Tử, Ngũ Hồ (có Hồ Ðộng Ðình), Ngũ Lĩnh, Phong Châu, ra các hải đảo phía đông nam, qua Ấn - Miến phía tây nam. Các đồ đệ của ông đi vào miền Nam sau 1954, lúc đầu cũng có ảnh hưởng ở hậu trường Ðệ nhất Cộng hoà, nhưng thời thế đổi khác, thực tế quyền bính lấn át mơ mộng chính trị, nên Duy dân Chủ nghĩa chỉ còn lại mơ hồ với chữ “nhân chủ” trong lí thuyết nhân vị của ông Ngô Ðình Nhu.

Lãnh tụ lập thuyết lúc còn trẻ, chết sớm không đủ khả năng triển khai sâu rộng, do đó còn dành việc cho người sau, không cần phải là đảng viên. Ông Kim Ðịnh có kiến thức Ðông Tây (bằng cấp Tây), căn cứ sách vở hiện đại nhiều và có vẻ sâu, với chức vị Giáo sư Ðại học, ông có đủ uy thế để khai thác những ý kiến mở đường đến những lập luận có bằng cớ cao xa hơn. Người trước chỉ nói đến Việt có mặt ở Thái Sơn, đỉnh cao (cụ thể) của tộc Hán, văn minh Hán, người trước chỉ nói đến Viêm Việt, “văn hoá Môn”, hoả tự... thì ông nay có thể liên hệ “Lạc [chữ Hán] bộ chuy là Môn tức tổ tiên xa nhất của ta”, đã chỉ rõ rằng “Việt vào nước Tàu trước” vì khu vực Thục Sơn của Viêm Việt (có Viêm Ðế / Xi Vưu) được “chứng minh” bằng khảo cổ học là xưa hơn khu vực Hoàng Hà, do đó Việt Nho có trước Hán Nho; các lối khoa đẩu tự, điểu tự trước Tần là của Việt vì biểu hiện cho Rồng, Tiên (khoa đẩu / nòng nọc quăn queo là rồng, tiên bay là từ chim!)... Ông học triết nhiều nên cũng có khả năng đào sâu chuyện tam tài, ngũ hành mà nêu tính “nhân chủ” xướng suất từ Lí Ðông A, trong tinh tuý văn minh Việt, theo ông. Ông lập thuyết lại cũng gặp “thời”, thời của triết Ðông nổi dậy ở miền Nam theo với tinh thần dân tộc, duy văn hoá của giai đoạn chống thực dân.

Thời giải thực sau Thế chiến thứ Hai đã gây mặc cảm cho các nhà tư tưởng châu Âu và sự tự tín của người phương Ðông. Khuynh hướng bảo thủ ít nhiều gì cũng thắng thế dù cả đối với những người theo chủ thuyết hướng về tương lai như người cộng sản. Người cộng sản Việt Nam, dưới sự khuôn nắn của tình hình thực tế, đã dung hoà được sự mâu thuẫn này trong cách thế bắt chước chủ thuyết Mao. Ở miền Nam thì với tình hình chiến tranh lan tràn, sự đổ vỡ xã hội càng lớn rộng, khuynh hướng bảo thủ, “trở về nguồn” càng có đà tăng tiến, có khi trong hỗn loạn như bất cứ sự kiện nào xảy ra giữa vòng biến loạn. Biểu tình bảo vệ truyền thống với các hội đoàn đảng phái nhắm các mục đích khác nhau. Tập san Sử Ðịa, tạp chí chuyên ngành duy nhất của miền Nam, do tư nhân bảo trợ, điều hành bởi nhóm cựu sinh viên Ðại học Sư phạm Sài Gòn, tập san đó trong những năm đầu thập niên 70, đã có thêm mục “Hiếu hỉ”, thăm viếng tuyên dương những bậc già lão có công với văn hoá, công việc giống như của một hội Trọng xỉ vào thời đã xa lắc xa lơ nào.

[2008: Khuynh hướng bảo thủ “trở về nguồn” không phải chỉ dữ dội như trong các cuộc biểu tình, với lời kêu gọi tìm về dân tộc, ẩn nấp trong ý thức độc tôn giới tính nam của các lời nhạo báng “phụ nữ Liên Ðái” mà còn xuất hiện cả ở những dạng hình “dễ thương” như loại trên này. Và cũng ngọt ngào như trong lời ca: “Về đây nghe em, về đây mặc áo the, đi guốc mộc...” để đẩy tới dạng mơ mộng ngờ nghệch: “Này người yêu, người yêu em hỡi: Bên kia sông (?) là ánh mặt trời”! Ánh mặt trời đó sẽ đến, để người du ca thấy ra hình dạng thật của nó mà ngậm ngùi xếp đàn, trở về nhà lo cho thân xác.]

Ðại học Văn khoa Sài Gòn có giảng khoá triết Ðông của Giáo sư Nguyễn Ðăng Thục, với những lập luận mù mờ khó hiểu nhưng đầy nhiệt tình của người nói lôi thêm nhiệt tình của người nghe, trong đó có sự a dua thông thái, tình hình như thế đã dọn chỗ cho Giáo sư Kim Ðịnh thu hút sinh viên. Ông đang giảng triết, mà là triết Việt, Việt Nho, đúng là một khám phá gây niềm hãnh diện cho người Việt. Triết của ông đặt nền tảng trên “huyền sử” mà ông, vốn là một linh mục, đã quen với lối giảng giải huyền thoại của Cựu ước cho tín đồ, nay chỉ cần chuyển phương pháp vào đối tượng mới, quyển LNCQ, để từ đó bung ra. Ông linh mục Kim Ðịnh với Kinh Cựu ước thật dễ dàng chuyển sang ông triết gia huyền sử Việt với Kinh Hùng LNCQ. Ta cứ thấy ông nhắc mãi đến câu “Ðạo mất trước, nước mất sau” chứng tỏ mối liên hệ của phần tư tưởng cũ, mới trong người ông. Môn sử Việt lúc bấy giờ cũng đang phát triển ở trường Văn khoa này với các chứng chỉ riêng biệt cho cấp bằng cử nhân Sử, không như thời chúng tôi học vào đầu thập niên 60. Tuy nhiên, phần cổ sử theo sát những khám phá từ văn bản, khảo cổ nhọc nhằn không làm thoả mãn được khuynh hướng dễ tính của con người. Kim Ðịnh đã đem lại đáp ứng đó trong tình trạng khoa học nhập nhằng dâng cao với lí luận huênh hoang tuôn tràn ngoài xã hội.

Khảo cổ học miền Bắc có ưu thế hơn về địa vực, về sự ủng hộ của chính quyền với thâm ý chính trị thúc đẩy, đã hấp dẫn miền Nam qua một số sách hiếm hoi đi vào (thường thì bằng con đường Pháp, Phnom Penh), nên càng hấp dẫn hơn. Sách giáo khoa cạnh tranh trên thị trường của giáo sư soạn cho kì thi tuyển tú tài 1975 đã có phần nói về các giai đoạn Phùng Nguyên, Ðồng Ðậu, Gò Mun, Ðông Sơn như một hiểu biết có cầu chứng về cổ sử Việt Nam qua con đường khảo cổ học. Vài năm trước đó, đã có một nhóm người thành lập diễn thuyết về trống đồng, Hùng Vương với các tên diễn giả lắp thêm họ Lạc vào họ khai sinh của mình. Họ không đủ uy tín để đi xa hơn ông giáo sư đại học Kim Ðịnh. Cho nên, dù là nói bừa bãi, lối giải thích:

“Mị Châu rất có thể là do đọc trại tiếng ‘mễ’ nghĩa là gạo (gốc chữ Việt)...”, hay “... có lẽ ngày giỗ tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3 hiểu được là Tam Miêu và Bách Việt. Tam Miêu là tháng 3, còn Bách Việt là mồng 10. Mười là số chẵn có thể thay số chẵn trăm...” [9]

cũng đã mở đường cho các “khám phá” khác sau này về cổ sử Việt dựa theo cách lí luận bắt quàng ngữ nghĩa, ngữ âm tương tự đó của ông. Kim Ðịnh vốn cũng bắt nguồn tư tưởng từ một chính trị gia như đã nói, nên ông có một quần chúng đảng phái tán thưởng theo, rồi cũng sẽ quy tụ vào ông khi cả hai đều bật khỏi gốc rễ ra hải ngoại.

3.
...

Các biến động mới cùng sự thất bại không thú nhận của việc nối kết thành quả khảo cổ học với thời Hùng Vương khiến cho vấn đề lại buông thả cho cảm tính, cho những khẩu hiệu phục vụ chính trị cấp thời của sử học...

Tâm nguyện kéo dài quá khứ và sự cạn kiệt tài liệu đi theo với khủng hoảng “đổi mới” lúng túng khiến ta thấy vấn đề Hùng Vương chuyển sang hình thức giả khoa học mà ta gọi là “sự mê tín trống đồng”, vốn cũng chỉ là sự phát triển tín điều cũ của ngôn từ mới trong đó, lạ lùng thay, bóng dáng ông Kim Ðịnh huênh hoang lại ảnh hưởng đến một vài học giả phía Bắc và lớp người trẻ tuổi hơn. Người mở đầu cho các tác giả Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bắt chước Kim Ðịnh có lẽ là ông Nguyễn Khánh Toàn, Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Thời kì sau chiến tranh Trung - Việt 1979, ông cho đăng trên một số Khảo cổ học 1980, rằng trong một quyển sách (có dáng võ hiệp) tên Vô đỉnh nguyên vương của Kim Dụng (không phải Kim Dung), tác giả Trung Quốc đó công nhận người Tàu đã lấy Lạc thư của Việt làm của mình.

[2008: Người bên ngoài có thể lấy làm lạ rằng tại sao một luận cứ với bằng chứng khinh thường thiên hạ như thế này lại xảy ra ở một cơ quan nghiên cứu chuyên ngành mang tính quốc tế không thể bỡn cợt được. Ðó là do họ không quen với tính chất gọi là “dân chủ tập trung” áp dụng cho tinh thần nghiên cứu để phục vụ chế độ.

Sách vở của Việt Nam Cộng hoà không “ghê gớm” như người ta hồi tưởng nuối tiếc nhưng thật ra cũng dồi dào đa dạng, và cả “rối loạn” nữa nhưng cái chết của chế độ lại mang đến cho nó một sự hấp dẫn riêng, nhất là trong bao nhiêu năm, học giả miền Bắc chỉ biết có chủ nghĩa Mác - Lê và sử dụng nó theo kiểu tóm gọn: “Trái với chủ nghĩa Mác - Lênin” để bài bác những ý kiến khác, như đã thường xuyên hiện diện trên tờ Giải phóng trên vùng đất của “tàn dư Mĩ nguỵ.” Cho nên sự hấp dẫn của Kim Ðịnh cũng còn thấy hơi hám ở những chức sắc khác của ngành khảo cổ học vào thời kì Ðổi mới. Có điều không chắc người ta đã thấy ra hậu quả trầm trọng cho tình hình nghiên cứu chung. Chuyên viên nói bừa cũng được coi là lời nghiêm túc, miễn là cứ nhân danh lí tưởng cao cả. Nghĩa là người ta đã để đánh đồng các công trình tìm tòi qua những chuẩn mực nghiêm túc của khoa học với với các suy luận lăng nhăng của tay ngang. Sự hiểu biết về sử Việt vốn đã bị ràng buộc vào các chuyện kể, các lời bàn-sử để có người tưởng hễ “biết được chữ là viết được sử”, thế mà các chuyên viên đã không làm bức tường ngăn chặn cho khu vực chuyên môn yếu ớt của mình, không giữ được sự trọng nể cho chuyên môn, lại mở đường cho các kẻ hóng chuyện, chộp được bất cứ câu, chữ “dữ dằn” nào là tung ra hù doạ luận thuyết rối mù – trong trường hợp của ngành khảo cổ học này là sự phát triển của những luận thuyết hậu-Kim Ðịnh, vượt-Kim Ðịnh, có các ông mở lối, chấp nhận ngang hàng. Nguyên tắc “hồn ai nấy giữ” không được tuân thủ để cho hồn ma đồng bóng Ngài/Ðấng lấn lướt xác thân con người ăn uống bình thường, len lách đi quá phạm vi “quần chúng” vốn đã dành tự do cho họ ở thế giới bên kia.]

Trong quyển Cơ sở văn hoá Việt Nam (bản 1998), ông Trần Ngọc Thêm, “Chủ tịch Hội đồng Ngữ học và Việt Nam học cho Khối Ðại học Ngoại ngữ của Bộ Giáo dục và Ðào tạo và chủ trì xây dựng chương trình môn Cơ sở văn hoá Việt Nam từ 1990” (theo lời tự giới thiệu), đã phân biệt sự đối kháng của văn minh du mục (Tây Âu và Trung Hoa) với văn minh nông nghiệp Ðông Nam Á (phía bắc đến tận sông Dương Tử) “một trong những cái nôi hình thành loài người”, trong đó “Việt Nam là nơi hội tụ ở mức độ đầy đủ nhất đặc trưng của văn hoá khu vực”, còn lưu lại ông Thần Nông và câu chuyện Hồng Bàng Thị ở LNCQ. “Văn hoá nhận thức” (của Việt Nam) cũng là lí thuyết Âm dương (có cặp đôi Tiên Rồng, vuông tròn...), Ngũ hành, Hà đồ Lạc thư với các giảng giải lí số 3, 5, 9, “nhất điểu nhì xà tam ngư tứ tượng”... đổi xoay quanh với ông Kim Ðịnh. [10] Gần nhất là một tác giả trẻ, tuy có gộp thêm các truyện Trương Chi Mị Nương, Thạch Sanh... trong tập luận thuyết của mình nhưng vẫn mang đầy dẫy dấu vết Kim Ðịnh khi căn cứ trên quyển LNCQ để biện luận về một “xã hội Văn Lang thời các vua Hùng có một nền văn minh đạt đến đỉnh cao của nền văn minh nhân loại thời cổ đại với một lãnh thổ rộng lớn, bắc giáp Ðộng Ðình Hồ, tây giáp Ba Thục, nam giáp Hồ Tôn, đông giáp Ðông Hải”, có chứng minh bằng các đồ hoạ về Âm dương Ngũ hành, Hà đồ Lạc thư, Dịch, lí số... cùng với ca dao tục ngữ, văn chương kim cổ. [11]


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: TQNam trong 04 Tháng Mười, 2009, 08:25:18 PM
(tiếp)

... Sử gia được đào tạo theo tinh thần gọi là mácxít nhưng đậm nét Stalin, Mao cộng thêm tính cách từ chương xưa cũ, nay vẫn không thể thoát ra được, và từ đó nổi lên sự co rút theo tinh thần dân tộc của ca dao tục ngữ rất buồn cười. [2008: Trong những năm sau “Ðổi mới”, ông Trần Quốc Vượng thường đưa ra những giải thích ẩn tàng tính định mệnh cho những địa điểm lịch sử, những vùng địa lí Việt Nam, phát biểu theo một thứ ngôn ngữ phong thuỷ tân biên, kèm với các đồ hình bí hiểm, “sáng tạo” đó có vẻ cũng được các nhà nghiên cứu đàn em tán thưởng, đem ra ứng dụng cho các bài viết của mình. Chắc vì lẽ đó mà ta thấy xuất hiện qua truyền thông những dấu hiệu phong thuỷ trong cả việc điều hành thủ đô Hà Nội.]

Ngày trước tuy là giáo điều nhưng chủ nghĩa giai cấp còn mở đường vào thế giới, vào tương lai, nay thì “trở về nguồn” lại phát sinh những luận cứ chẳng có gì là khoa học cả, chưa kể là phản cả lí trí bình thường. Cách giải thích quá khứ đầy tinh thần “nhiễu điều phủ lấy giá gương...”, đầy mong ước hiện tại... khiến cho sử gia thấy “tổ tiên nguyên thuỷ của chúng ta” tồn tại đến hàng chục vạn năm theo núi Ðọ, Thẩm Khuyên..., với chuỗi văn hoá Sơn Vi, Hoà Bình, Bắc Sơn tiếp đến văn hoá Phùng Nguyên... Ðông Sơn, “tiến bước trên con đường cải tạo thiên nhiên và cải tạo mình” qua “bước văn minh nông nghiệp cách đây một vạn năm... đến hợp kim đồng thau cách đây khoảng bốn ngàn năm” làm nên “kì tích... tạo... tiền đề cho sự tồn tại một thời đại Hùng Vương rực rỡ...” [12] Các tác giả trên còn ngại ngùng núp lén sau các dòng chữ nhưng PGS. Nguyễn Cảnh Minh thì nói thẳng ra một thời dựng nước liên tục vĩ đại: “Sau hàng chục vạn năm (chúng tôi nhấn mạnh) gian khổ và sáng tạo, từ những công cụ bằng đá cũ thô sơ tiến đến sự phát minh ra kĩ thuật luyện kim và nghề nông trồng lúa nước dùng cày có sức kéo là trâu bò; đời sống vật chất và tinh thần người nguyên thuỷ Việt Nam (chúng tôi nhấn mạnh) ngày càng được nâng cao, từng bước làm thay đổi bộ mặt xã hội, đưa đến hình thành một lãnh thổ chung, một nền văn hoá, văn minh chung và một tổ chức chính trị, xã hội chung, đó là quốc gia và nhà nước Văn Lang – Âu Lạc, đánh dấu một bước chuyển cơ bản trong lịch sử xã hội Việt Nam, mở ra một thời đại mới – thời đại dựng nước”. Từ “Người-vượn trên đất Việt Nam... sống thành bầy nguyên thuỷ”, rồi “tổ tiên nguyên thuỷ của chúng ta” (1983) qua đến “người nguyên thuỷ Việt Nam” (2000) quả là tinh thần dân tộc đã tăng tiến lên đến mức độ cưỡng đoạt lịch sử. Bùi Thiết, đứng đầu một phe “li khai” trong nước cũng không nói khác để cho Nxb. Thanh niên in sách của ông (2000), mở đầu Lời giới thiệu: “Nước Việt Nam có lịch sử đã mấy chục vạn năm trước, kể từ khi xuất hiện xã hội Người đầu tiên trên lãnh thổ đất nước”.

Họ đã vượt xa thời vua Hùng của Ngô Sĩ Liên và thời trống đồng Ðông Sơn của người mới vừa ở thế hệ trước và còn sống quanh đâu đó... Tâm trí còn co hẹp trong viễn tượng thế giới mở rộng hơn, thế giới toàn cầu hoá, nên càng phải bù đắp lại bằng sự hoang tưởng. Ðiều đó cũng thấy ở nhóm người di tản trong hoàn cảnh bị xô đẩy vào giữa thế giới quay cuồng mà mình thì co lại trong “cộng đồng” riêng biệt, nhưng không tránh được, cũng phải tiếp nhận thành quả của thế giới đó, để cho hỗn loạn của “truyền thống” càng gia tăng.

Muốn xét đến ảnh hưởng của Kim Ðịnh ở hải ngoại, nhất là ở Mĩ, nơi tập trung đông đúc số người tị nạn nhất, thì không thể bỏ qua tính chất tị nạn của người Việt nói chung. Ðầu tiên phải nói đến là tính chất di cư hàng loạt với số lượng lớn người Việt ra nước ngoài, chưa có tiền lệ. Sự hỗn loạn trong sinh hoạt tại nước người là do hoàn cảnh ra đi theo từng đợt ảnh hưởng đến tâm tư, suy nghĩ (người đi trước và ngay sau ngày “mất nước” 30-4-1975, “bán chính thức”, vượt biên, HO), do nguồn nhân sự phức tạp (dân di cư 1954, dân gốc miền Nam trước đó, người Hoa của “bán chính thức” và người Việt luồn vào, người thuộc các tôn giáo phồn tạp của Việt Nam Cộng hoà). Cộng đồng di tản nào thì, ít ra trong thế hệ đầu, cũng sống bên lề nước tiếp nhận, trong một chừng mực nào, nếu được khoan dung chấp nhận, vẫn phải mang tính chất bên lề không tránh khỏi đó. Tình trạng này càng không tránh khỏi đối với người lớn tuổi, dù đã mang quốc tịch nơi ở mới. Họ vẫn mang trong mình tâm hồn nơi cũ, có cố gắng thì khai thác thêm kiến thức theo sách vở mới nhưng vẫn trên căn bản cũ. Ở một xứ mà sự tự do tư tưởng trở thành bình thường, phương tiện bày tỏ tương đối thoải mái, lại giữa một số người cũng lạc lõng như nhau, không có một sự kềm thúc dư luận chặt chịa, người ta tha hồ “nói”, có khi đến quá đà loạn xạ, và điều đó đã xảy ra cả với những người trí thức có danh vọng trước kia. Ông Kim Ðịnh có điều kiện thuận tiện hơn, nên đã khai thác các thuận lợi cũ trong đà có “quần chúng” to rộng hơn.

Với người bật gốc ra khỏi xứ sở thì tôn giáo cũng là một cơ sở cần phải bám víu, một thứ tôn giáo mang căn bản cũ và những hình thức của tình thế thúc đẩy tham vọng mới. Ông Trần Văn Trường, “người xưng vua”, thuộc phái đạo Vô Vi, quảng cáo đăng đàn diễn thuyết (23-12-1997) “Nước Việt Nam cần có vua (một đấng Minh vương)... để khai trí mở huệ cho hai người anh em (Quốc gia và Cộng sản) thức tỉnh...”, rồi xoay chiều, làm náo loạn phố Bolsa (Orange County, California) hồi đầu 1999 khiến báo Register địa phương phải coi là sự kiện về cộng đồng nổi bật nhất trong năm. Thanh Hải Vô thượng Sư có quần chúng đồng chủng và sự yểm trợ bên ngoài trong tinh thần đồng văn hợp với thời đại truyền thông, đã có “tông đồ” tận trong nước và còn muốn lan qua khu vực quốc tế với toan tính thu phục tín đồ người Mễ vùng Nam California, làm run sợ cả một số người Công giáo Việt yếu bóng vía. Ông Kim Ðịnh có một tập họp quần chúng đảng phái Duy Dân như đã nói, và những người chịu ảnh hưởng từ trong nước, nay hoặc tách riêng làm những nghiên cứu Hùng Việt khác, hoặc theo ông, tập họp trong hội An Việt có hơi hướng tôn giáo cổ truyền và những giải thưởng dự tính, theo ông, như một loại Nobel mới.

Ngày trước, khi còn ở trong nước ông cũng đã bị người ta chỉ trích là có tinh thần “ái quốc quá khích”, viết “lơ mơ” khiến cho “người Tàu không thèm cãi lại mà chỉ cười, cười khinh”... Ông nói không dám đem vào dạy trong đại học mà thú nhận là “chỉ nói phớt qua, và là những lúc giải trí”, nhưng sự thôi thúc làm người “lập thuyết” – triết lí An vi, Nhân chủ, khiến ông viết sách thật nhiều, không chừa cả việc quảng bá trong học đường, rồi gượng gạo lúng túng bào chữa hay cố lấy chứng cớ uyên thâm để chống đỡ. [13] Nay thì ở ngoại quốc, sự vướng víu trách nhiệm không còn nữa, ông tha hồ quảng diễn như một giáo chủ.

Tham vọng giáo chủ của ông tỏ ra trong việc tập trung bài cũ, viết lại trên tư tưởng cũ, khai thác những hiểu biết mới, sắp xếp thành 5 bộ sách mà ông đặt tên là Ngũ Kinh khải triết (Ngũ điển), ý muốn thay thế Ngũ Kinh của Khổng Nho xưa. Năm bộ đó là Kinh Hùng, Sứ Ðiệp “có thể coi là đã cố định” và ba quyển “đang hình thành... ở vào thời kì dự tuyển”: Kinh Ngữ “tập trung tục ngữ ca dao”, Kinh Lạc / Nhạc “do các nhạc sĩ điều động”, Kinh Dịch “thay đổi thêm bớt từ quyển Dịch Kinh linh thể”. Dự tính là thế nhưng thực tế ngay sau những lời này, ông đã giới thiệu một bộ Ngũ Kinh khác: Hưng Việt sử ca (thật ra tên sách năm 1986 có quảng cáo này chỉ là Hưng Việt), Kinh Hùng khải triết (triết lí về “Kinh Hùng” Lĩnh Nam chích quái, cũng lược thuật 15 truyện trong đó), Pho tượng đẹp nhất của Việt tộc (bàn về Việt Nho, Việt tộc), Sứ điệp trống đồng, Văn Lang vũ bộ (từ hình nhảy múa trên trống đồng, bàn lan man về triết lí của Việt tộc). [14]

Bị đẩy ra khỏi nước, Kim Ðịnh tức giận, căm thù người cộng sản nhưng cũng có dịp biết đến các phát hiện khảo cổ học miền Bắc nhiều hơn. Có trống đồng với các hình vẽ, giải thích theo hướng tục phồn thực, có con dao núi Nưa, có rìu mũi cong... Ông cũng biết thêm về khảo cổ học Trung Quốc. Do đó ông có nhiều dữ kiện để đưa vào sách, minh chứng cho lí thuyết huyền sử của ông. Càng lúc ông càng thấy mình nói đúng. Các nền văn hoá Ngưỡng Thiều, Long Sơn chỉ có 6000 - 7000 năm, còn Hoà Bình đã “có gạo” (?) thì tới 8000 năm. Hơn nữa, Long Sơn thuộc ngành Rồng, Ngưỡng Thiều thuộc ngành Tiên, cả hai phải quy tụ vào Việt Nam mới đúng! Có cái giếng tuỳ táng đào được ở Bắc Ninh thì có thể liên hệ chứng minh được Việt tỉnh (giếng Việt) không cần biết đến ý kiến của Lê Quý Ðôn. “Trống Việt phong phú vô kể, có thể viết về trống Việt mãi mãi không hết”. Ví dụ, nhìn mặt trống có hình chim, hình người mang lông chim, đúng là nói về Tiên (bay), còn tang trống có hình chim lao vào miệng rắn theo ông Nguyễn Từ Chi của miền Bắc, đến với Kim Ðịnh trở thành Rồng, đúng là chuyện Âu Cơ – Lạc Long Quân. Vô số các bằng chứng mới cho thấy Khổng Tử rất thành thật khi nói ông “thuật nhi bất tác”, ông chỉ “thuật” chuyện cũ của Việt, vì Khổng Tử theo Nghiêu Thuấn (sách Trung Dung) mà Thuấn là Ðông Di, tức là Việt, như ông Kim Ðịnh nối kết điều Lê Văn Hưu đã chỉ ra một lần. [15] Ðến đây ta có thể thấy sự rối loạn tâm trí của một tầng lớp trí thức di tản đã lên đến tột độ, và cũng hiểu ra sự rẽ hướng đồng dạng ở những “tác phẩm” nghiên cứu thời cổ sử Việt khác.

Sách, báo văn học, nghiên cứu của người Việt di tản ở Bắc Mĩ, nhìn qua thì như một hiện tượng bất thường. Giá sách đắt ngay cả đối với tiêu chuẩn Mĩ, huống là với mức sống của người Việt. Với giá tiền ấy, sách không thể nào len vào trong nước được, kể cả khi qua khỏi sự ngăn cấm chính trị. Vậy mà sách vẫn in ra, chỉ vì sách xuất hiện phần lớn là do nhu cầu của người viết hơn là nhu cầu của người đọc. Nói “phần lớn” là vì vẫn có sách bán được theo nhu cầu tôn giáo (quần chúng đọc tiếng Việt còn đông ở lãnh vực này), theo tình thế ngăn cấm trong nước khiến bản thảo đi ra ngoài gợi ý tò mò (trường hợp Ðêm giữa ban ngày của Vũ Thư Hiên, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn...) “Phần lớn” sách tiếng Việt vẫn xuất bản vì nhu cầu thể hiện của tác giả mà sự in ấn không tốn kém gì lắm so với sức chịu đựng của chủ nhân, so với sự thôi thúc của nhu cầu kia. Ông lãnh tụ trong nước muốn chứng tỏ mình tài kiêm văn võ, thỉnh thoảng vẫn làm thơ. Ông Trường Chinh còn là “thi sĩ” Sóng Hồng. Ông Xuân Thuỷ vẫn thường tức cảnh sinh tình trong Hội nghị Paris. Và người di tản ăn oen-phe cũng tỏ lộ nỗi buồn “mất nước”, nhớ tiếc quê hương, tâm tình phản kháng trong những lời thơ. Tướng lãnh, nhà chính trị viết hồi kí; cựu chiến binh dằng dai với quân trường Thủ Ðức, Ðà Lạt, với những trận đánh nhọc nhằn ngày nào nay trở thành vĩ đại trong tâm tưởng, trên những trang giấy... Những người của các ngành chuyên môn cao cấp cũng không chịu gói trọn thân mình trong sự an bình của nghề nghiệp đưa lại. Nằm trong main stream về phương diện nghề nghiệp, họ thấy mình tiếp xúc được với một khung trời kiến thức to rộng hơn mà lại không đủ chen chân vào cuộc sống tư tưởng của xứ sở mới, nên trở về với những suy luận cao xa thấy lúc trẻ ở quê nhà. Thế là sách vở của họ gặp được những đồng điệu của những lí luận bốc đồng trong nước, cùng một căn cơ Âm dương Ngũ hành, Dịch lí số... với cái khác là sách trong nước có phần “dân tộc” hơn, còn bên ngoài thì tuy không rời bỏ “dân tộc” nhưng thêm dáng vẻ quốc tế liều lĩnh hơn với các nguồn chứng dẫn, triết thuyết thế giới, nguồn thông tin kĩ thuật, nhân văn rộng, mới hơn.

Có vẻ những đồ đệ trực tiếp của Kim Ðịnh xuất hiện mới nhất là nhóm Ðạo sống Việt. [16] Cũng thoáng một triết lí chính trị vướng víu từ xưa qua từ “nhân chủ”. Cũng những chuyện bánh giầy bánh chưng, gậy thần sách ước..., vẫn các chứng dẫn khảo cổ học bộp chộp lấy từ những người không hiểu vấn đề. Cũng triết lí Rồng Tiên, nhưng bạo gan đi vào huyền sử với chuyện “Tổ chức bí mật núi Tản sông Cái” giúp Hai Bà Trưng. Tuy nhiên từ loại triết lí An vi ra ngoài nước mang tinh thần hồi cố hơn với tên An Việt của nhà xuất bản, đến đây lại trở thành một thứ tôn giáo dân tộc chống cộng chống Tây, tách rời một ít khu vực Hán Nho / Việt Nho mà ông Thầy dễ thoả hợp để đi vào tinh thần “thiền” của Phật giáo: “Trăm hay xoay vào lòng.”

Tác giả Nguyễn Xuân Quang là người vượt trội trong dáng vẻ khoa học với quyển sách bề thế Khai quật kho tàng cổ sử Hừng Việt. [17] Trong đó, ta cũng gặp những đề tài của Kim Ðịnh (Dịch lí số, số 9 ví dụ từ Hồng phạm cửu trù, chữ nòng nọc / khoa đẩu...) khai triển rộng ra (nòng nọc lan qua đề tài Thánh Gióng, An Dương Vương, chim bồ cắt muốn thay thế chim [?] Âu Cơ), và đi sâu hơn vào sự mê tín trống đồng: Giải đọc trống đồng là tên một đề sách khác được tác giả giới thiệu. Lối giải thích tràn lan kiểu tên Tần Thuỷ Hoàng với chữ “thuỷ” có nghĩa là “nước” (chứ không phải là “khởi đầu”), Bành (Tổ) là (Hồng) Bàng, (Âu) Lạc là Lo (âm Pháp, Anh của “lạc”), là Lô Giang = Hồng Hà, Hồng (Bàng) là Hồng (Hà; Fleuve Rouge của Pháp ngữ)... vốn của Kim Ðịnh [18] lại cũng làm điểm khởi đầu cho tác giả Khai quật... kéo dài thành những phát hiện chưa ai dám nói, như vua Hùng vốn phải là Hừng vì trống đồng có dấu hiệu thờ mặt trời, màu đỏ, liên hệ đến tên nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương... Kim Ðịnh cho rằng “trống đồng chắc phải có từ lâu đời lắm, ít nhất là đời nhà Hạ, mà nhà Hạ với Việt tộc thì về văn hoá là một... Phải coi trống đồng như bản văn hoá Việt hay nhất.” [19] Tuy nhiên, sự ưu việt của Việt tộc chỉ mới được ông chứng minh bằng cổ thư (Trung Quốc) và những lượm lặt khảo cổ học ngày nay. Với Nguyễn Xuân Quang thì nhờ phát hiện “L’annamite, mère des langues” của Ðại tá Frey, người Pháp, vào cuối thế kỉ XIX, nhờ các từ điển điện tử đa ngữ bây giờ cho nên ưu thế tột đỉnh của tiếng Việt trở thành điều hiển nhiên và có thể giảng giải, suy đoán từ cổ thư, từ hình tượng trên trống đồng để phát hiện ra “kho tàng cổ sử” Việt bị chôn vùi trong thời gian, phải nhờ người “khai quật” lại.
...


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: TQNam trong 04 Tháng Mười, 2009, 08:27:22 PM
(tiếp)

Chú thích

[1]Nguyễn Phương, Việt Nam thời khai sinh, Phòng Nghiên cứu Sử, Viện Ðại Huế xb. 1965. Tuy nhiên các bài viết tập họp trong sách này đã xuất hiện từ trước trên tạp chí Bách Khoa, kỉ yếu Ðại học Sư phạm Huế...

[2]Kim Ðịnh, Triết lí cái đình, USA: An Việt (bên trong: H. T. Kelton) xuất bản (?), không ghi năm, tr. 89-91. Phần quảng cáo cuối sách cho biết đã xuất bản ở Việt Nam năm 1971. Ông nói đã có 19 đầu sách in ở Việt Nam tính đến 1973.

[3]Tạm lấy một ví dụ ở Lời tựa Triết lí cái đình: “Ta về ta tắm ao ta”. Nhưng ao ta ở đâu? Hình dạng là thế nào? Tên gọi là chi? Hơn ở chỗ nào? Thưa ao ta ở xứ Nghệ, hình nó tròn vuông, tên nó là Hồ Ðộng Ðình. Ao là hồ, Ðình là nhà, Ðộng Ðình hồ là “ao nhà vẫn hơn”... Chỗ khác, ông giải thích: “Ao nước hình tròn lung linh nên gọi là động hồ, bao lấy cái đình thành ra Ðộng Ðình hồ” (tr. 41). Lấy tài liệu ở bản “Cổ Việt Hùng thị thiên thế thánh vương ngọc phả cổ truyện” nói hồ Ðộng Ðình ở Nghệ An, chắc là thấy vô lí, ông liền giảng ra là an bình, tài giỏi... lan man qua “giao” (chỉ)! Cũng thấy ông cho biết bài “Bốn chặng huyền sử nước Nam” đã được thuyết trình tại trường Thiên Phước (một tư thục Nhà Dòng – Sài Gòn) do hội Hưng giáo Văn Ðông tổ chức ngày 15-11-1970.

[4]Kim Ðịnh, Hưng Việt, USA: An Việt xb., 1986, tr. 18.

[5]Lĩnh Nam chích quái, Lê Hữu Mục dịch, truyện Ngư tinh. Ðây cũng là thêm một bằng chứng về khả năng chấm câu thiếu sót của văn tự Hán cộng thêm sự thích thú diễn ý của người nay: Nguyên văn đáng lẽ phải ngắt câu “Kim hô vi Phật Ðào Kinh, Long Quân mẫn dân bị hại...” được chuyển thành: “... Phật Ðào, Kinh Long Quân...” để lòi ra một tên khác của ông Lạc Long Quân và tạo nên kì tích cho ông này!

[6]Kim Ðịnh, Nguồn gốc văn hoá Việt Nam, Nguồn sáng xb., 1973, tr. 38, 90, 91.

[7]Tạ Chí Ðại Trường, “Việt Nam nhìn từ bên trong” trong Những bài văn sử, USA: Văn học xb., 1999, tr. 53-60.

[8]Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử, USA: Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 2000, tr. 36.

[9]Triết lí cái đình... tr. 115, 131.

[10]Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998. Sách được tái bản 6 lần với độ dài ngắn khác nhau, từ bản thảo đầu tiên năm 1991.

[11]Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Thời Hùng Vương qua truyền thuyết và huyền thoại, Nxb. Văn hoá Thông tin, 1999. Ðáng chú ý là tác giả có địa chỉ nơi một đền thờ Hùng Vương thuộc TP. Hồ Chí Minh: “Nghiêm từ cung Quốc tổ Lạc Hồng”. Có thể xem thêm: Ðông Phong, Về nguồn văn hoá cổ truyền Việt Nam, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau, 1997. Sách này cũng thấy được in lại ở Mĩ trong tình trạng èo uột về tiêu thụ chứng tỏ có sự đồng điệu vượt lên cả những tính toán về tài chính. Vừa qua (5-2001), được tiếp xúc với một Việt kiều về nước làm ăn trong việc kinh doanh sản phẩm văn hoá, nghe ông ta phát biểu về lí thuyết Kim Ðịnh (mà hẳn không biết tác giả này), chúng tôi nghĩ rằng sự tái phát triển lí thuyết Việt Nho đã thực sự lan ra thủ đô Hà Nội trong một phần giới nghiên cứu.

[12]Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, sđd, tr. 18, 70-71.

[13]Kim Ðịnh, Nguồn gốc văn hoá Việt Nam, Sài Gòn: Nguồn sáng xb., 1973, có phần phụ trương 5 bài chiếm đến gần nửa quyển sách.

[14]Phụ trương cuối sách Văn Lang vũ bộ, USA: H. T. Kenton, không năm xuất bản. Cũng thấy ở Pho tượng đẹp nhất của dân tộc, An Việt, không năm xuất bản nhưng bên trong có nhắc lần nói chuyện tại Ðại hội Công giáo ở San Jose tháng 7- 1980; Hưng Việt, An Việt xb., 1986.

[15]Pho tượng... tr. 44-45, 59, 62-65

[16]Cũng là tên một quyển trong Tủ sách Việt Thường: Nhiều tác giả, Ðạo sống Việt, USA: Ngày nay xb., 2000. Người trung thành hơn có lẽ là ông Nguyễn Minh Triết, đã dẫn từ tác phẩm của Kim Ðịnh ra các nghiên cứu của ông: “Sự tích Tiên Rồng và vòng Thái cực”, Văn hoá Việt Nam, số 9, Mùa hạ 2000; USA, tr. 92-97; “Chử đồng tử với tình yêu và thuật trị dân”, Văn hoá Việt Nam, số 10, Mùa thu 2000, USA, tr. 104-109.

[17]Nguyễn Xuân Quang, Khai quật kho tàng cổ sử Hừng Việt, USA: Y học thường thức xb. (nghĩa là tác giả tự xuất bản), 1999, 613 trang.

[18]Văn Lang vũ bộ, sđd, tr. 181; Hưng Việt, chương 7

[19]Triết lí cái đình, sđd, tr. 54; Văn Lang vũ bộ, sđd, tr. 32


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: TQNam trong 04 Tháng Mười, 2009, 08:42:33 PM
Lời cuối

Độ rày thần dân xứ ảo ồn ào bởi các phát kiến của nào những Trương Thái Du, rồi lại Hà Văn Thùy, lại thêm những Nguyễn Nguyên, lại nữa Nguyễn Vũ Tuấn Anh, thêm cái blog Dorémon và ... và ...

Ơ nhỉ, nào cứ già thì lẩm cẩm, nào phải trẻ thì vạch đường mới, đường sáng?

Ôi thôi, cứ thế rày thì cái sự học nước Nam đi về đầu? Bởi chưng không khéo sẽ có ngày người ta cho nõ nường Lu-xi-a bên xứ Ê-ti-o-pi-a tận sừng châu Phi chính là Quốc Mẩu Âu Cơ!

---------
Phụ chú:

Bạn nào muốn biết thêm về tác giả Kim Định có thể đến nhà Google gỏ mấy chữ Dũng Lạc.


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: cuong.tran trong 04 Tháng Mười, 2009, 09:57:18 PM
Đấy nhá! Các bác không biết đóng tháp ngà lại mà cứ mở toang hoang cho "mấy con gà hoang" vào mổ tứ tung!  ;D

Bác Nam cứ tung ra chừng 10 bài như trên là đảm bảo các tay ngang như bọn em cứ gọi là ù ù cạc cạc hết!  Lúc đó biết đâu tụi em lại chỉ cần đại laọi mấy cái truyện tranh về thời Vua Gấu là đủ!  ::)


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: TQNam trong 18 Tháng Mười, 2009, 11:13:18 AM
Dạ, bài nầy đọc trên báo in cũng đã lâu, giờ mới thấy có trên mạng, xin ghi lại đường dẫn:
http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=78&CategoryID=32&News=2259


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: Bodoibucket trong 18 Tháng Mười, 2009, 03:52:35 PM
Em nghe nói là Lạc Việt tức là người Việt ở phía nam Trung Quốc đi lạc vào đồng bằng Bắc bộ, phải không bác Nam?  ;D


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: TQNam trong 18 Tháng Mười, 2009, 05:53:30 PM
Không phải đâu bạn. Lạc Việt là người Việt khoái ăn đậu phọng.


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: Bodoibucket trong 18 Tháng Mười, 2009, 07:13:55 PM
Hehee, con chim tổ nhà ta là con chim Lạc, em nghĩ đó là con chim di cư theo mùa. Lạc theo nghĩa đó bác!


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: TQNam trong 18 Tháng Mười, 2009, 07:19:02 PM
Dạ, trong từ điển điểu học, hỏng thấy chim Lạc, chỉ thấy chim thích ăn đậu phọng thôi. hihihi.


Tiêu đề: Re: Cương vực lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ
Gửi bởi: menthuong trong 30 Tháng Mười, 2009, 05:05:08 PM
Thử Đọc Lại Truyền Thuyết HÙNG VƯƠNG:
NƯỚC VĂN LANG


   (ii) Truyền thuyết 'con rồng cháu tiên' được giải mã dưới một góc độ khá mới của thế kỷ 21. Trong đó chúng ta đã xử dụng đến những ý niệm 'đương đại', như 'nhảy vọt theo trọn đơn vị' (kiểu thuyết quantum của Max Planck) hoặc 'quay băng video nhanh', và xem xét kỹ tất cả các nhân danh và địa danh của truyền thuyết. Từ đó chúng ta đã xác định được, thời gian xảy ra câu chuyện của truyền thuyết được giới hạn trong vòng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên (0-1000 TCN), và ở tại địa bàn nước Sở.
   
   (v) Tình vợ chồng giữa bà Âu và ông Lạc cuối cùng phải kết thúc, bởi lý do chính, như đã ghi rõ: dị chủng. Theo bản Mường, vào lúc chia tay, cả hai nhóm vẫn còn theo mẫu hệ, và dưới chế độ bộ lạc. Cả hai nhóm đều có các con nắm giữ vai trò lãnh đạo của các bộ lạc riêng biệt thuộc chủng của mình. Chưa hề tiến đến hình thái của chế độ nhà nước hay quốc gia. Cuộc chia tay đó ăn khớp với việc chia cắt nước Nam Việt thành hai phần: phần Quảng Châu phía trên thuộc chủng Thái (cổ) và phần Giao Châu phía dưới có chủng Việt đa số. Nó cũng đại diện cho việc một số người địa phương - đa số thuộc chủng Thái cổ (Âu) với địa bàn gốc là khu rừng núi - đã không thể sống chung với thế lực đô hộ Bắc phương, bỏ miền đồng bằng kéo lên rừng lên núi mà sống. Ở đó họ hội nhập với các sắc dân bản địa như Negrito (thấp, tóc xoăn), và Melanesian (đen ở hải đảo), rồi lâu ngày trở thành người Mường, người Tày, người Kha,…. Những người ở lại thành người Kinh.
   

Bởi vậy mới có chuyện:

1.Vua Xích Quỉ là Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Hồ quân (còn có tên là Thần Long) là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm 崇纜, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân 貉龍君:

Trứng rồng lại nở ra rồng,
Liu điu lại nở ra dòng lui điu.

2. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ 甌姬, đẻ một lần trăm người con trai. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: “Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó”. Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền biển (có bản chép là về Nam Hải), phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua. Phong sử có câu:

Chàng về thiếp một theo mây,
Con thơ để lại chốn này ai nuôi ?

Nhưng dù sao vẫn chỉ là truyền thuyết và giai thoại. Dù có cốt lõi lịch sử nhưng đó chưa phải là lịch sử.


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: menthuong trong 14 Tháng Tư, 2013, 06:42:28 AM
Theo một tài liệu đã đọc được (quên nguồn) thì: đến đầu thời kỳ đồ đồng (青铜时代, <2100 tCn) có khoảng 15 nhóm Lạc Việt 貉(駱?)越 trong những nhóm mà sử cũ gọi là Bách Việt 百越  sống trên vùng núi phía bắc và châu thổ sông Hồng. Đây là giai đoạn “tiền quốc gia”, cư dân sống tập trung hơn và chuyển sang Chế độ phụ quyền với các bộ lạc nhỏ, riêng lẻ như: bộ Rồng, bộ Chim, bộ Dâu, bộ Rùa...
Vào khoảng thế kỷ VII tCn, Hùng Tạo Vương (雄造王, 660 – 569 tCn) thâu tóm phần đất của bộ tộc này vào trong nhà nước sơ khai Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu cùng với hơn 12 nhóm Âu Việt 甌越 sống ở vùng Đông Bắc.
Vào năm 257 tCn An Dương Vương (安陽王, 257 tCn – 208 tCn) hợp nhất Lạc Việt 貉越 của Hùng Tuyền Vương (雄璿王, ?- 258 tCn) với Âu Việt 甌越 của mình thành nước Âu Lạc (甌貉, 257 tCn - 207 tCn).


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: lonesome trong 08 Tháng Chín, 2013, 08:59:44 PM
Theo một tài liệu đã đọc được (quên nguồn) thì: đến đầu thời kỳ đồ đồng (青铜时代, <2100 tCn) có khoảng 15 nhóm Lạc Việt 貉(駱?)越 trong những nhóm mà sử cũ gọi là Bách Việt 百越  sống trên vùng núi phía bắc và châu thổ sông Hồng. Đây là giai đoạn “tiền quốc gia”, cư dân sống tập trung hơn và chuyển sang Chế độ phụ quyền với các bộ lạc nhỏ, riêng lẻ như: bộ Rồng, bộ Chim, bộ Dâu, bộ Rùa...
Vào khoảng thế kỷ VII tCn, Hùng Tạo Vương (雄造王, 660 – 569 tCn) thâu tóm phần đất của bộ tộc này vào trong nhà nước sơ khai Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu cùng với hơn 12 nhóm Âu Việt 甌越 sống ở vùng Đông Bắc.
Vào năm 257 tCn An Dương Vương (安陽王, 257 tCn – 208 tCn) hợp nhất Lạc Việt 貉越 của Hùng Tuyền Vương (雄璿王, ?- 258 tCn) với Âu Việt 甌越 của mình thành nước Âu Lạc (甌貉, 257 tCn - 207 tCn).

Thời đó mà đã có Đế hiệu vậy rồi hả bác?


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: minhsinh_1960 trong 15 Tháng Chín, 2013, 07:15:29 AM
 Một lần mình có duyên gặp một ông từ đền rất hiểu biết lịch sử thời Vua Hùng Vương, qua nói truyện mới biết trước khi làm từ đền ông nói làm cán bộ lên quân hàm đại tá. Thấy ông vui tính dễ gần tò mò mình hỏi nhanh ông một câu cụt lủn, Vua Hùng họ gì? Chớp chớp đôi mắt lục nhanh trí nhớ ông phán rất nhanh! Vua Hùng họ Văn...


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: longngtrl trong 09 Tháng Mười Một, 2017, 04:40:56 PM
Dạ, trong từ điển điểu học, hỏng thấy chim Lạc, chỉ thấy chim thích ăn đậu phọng thôi. hihihi.
Mình nhớ đã từng đọc ở đâu:"Chim Lạc chính là chim Hạc .Bằng chứng là ở đền,chùa,miếu thường rất hay có tượng chim Hạc"


Tiêu đề: Re: Những dữ liệu về thời đại Hùng Vương
Gửi bởi: menthuong trong 19 Tháng Mười Một, 2017, 12:38:11 AM
Theo một tài liệu đã đọc được (quên nguồn) thì: đến đầu thời kỳ đồ đồng (青铜时代, <2100 tCn) có khoảng 15 nhóm Lạc Việt 貉(駱?)越 trong những nhóm mà sử cũ gọi là Bách Việt 百越  sống trên vùng núi phía bắc và châu thổ sông Hồng. Đây là giai đoạn “tiền quốc gia”, cư dân sống tập trung hơn và chuyển sang Chế độ phụ quyền với các bộ lạc nhỏ, riêng lẻ như: bộ Rồng, bộ Chim, bộ Dâu, bộ Rùa...
Vào khoảng thế kỷ VII tCn, Hùng Tạo Vương (雄造王, 660 – 569 tCn) thâu tóm phần đất của bộ tộc này vào trong nhà nước sơ khai Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu cùng với hơn 12 nhóm Âu Việt 甌越 sống ở vùng Đông Bắc.
Vào năm 257 tCn An Dương Vương (安陽王, 257 tCn – 208 tCn) hợp nhất Lạc Việt 貉越 của Hùng Tuyền Vương (雄璿王, ?- 258 tCn) với Âu Việt 甌越 của mình thành nước Âu Lạc (甌貉, 257 tCn - 207 tCn).

Thời đó mà đã có Đế hiệu vậy rồi hả bác?

Truyền thuyết thôi, chắc gì đã có mà có chắc gì đã đúng như thế!