Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Tám, 2022, 06:17:49 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4  (Đọc 692 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 499



« vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:08:36 am »

Tên sách: Từ cây giáo đến khẩu súng - Tập 4
Tác giả: Dương Xuân Đống
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2006
Số hoá: ptlinh, ktqsvn


Cùng bạn đọc


"Đúng hẹn lại lên", Từ cây giáo đến khẩu súng - tập IV lại vinh dự được ra mắt bạn đọc.

Suốt trong ba tập trước và ngay đến tập này, nội dung các bài viết thường bao gồm những hiện tượng, những hành động cụ thể trong đấu tranh vũ trang và cả trong đấu tranh phi vũ trang. Bên cạnh đó, nội dung các bài viết còn gồm những thành ngữ, những thuật ngữ quân sự. Về thực chất, đấy là những biểu tượng văn hóa quân sự, hoặc là những hiện tượng, những thành ngữ đang trong quá trình văn hóa hóa, biểu tượng hóa. Mà biểu tượng là từng bộ phận cấu thành của văn hóa, đúng như định nghĩa của UNESCO: "Văn hóa là hệ thống các biểu tượng".


Để tìm hiểu các biểu tượng văn hóa quân sự, qua từng bài viết, tác giả đã đi sâu nghiên cứu nội dung khái niệm, nguyên nhân và quá trình phát sinh, phát triển của những vấn đề đã được đặt ra và tự trả lời trực tiếp vào ba câu hỏi mang tính tổng hợp: "Là gì? Tai sao? Thế nào?". Điều đó có nghĩa là tác giả đã tìm phương pháp giải mã các biểu tượng - một hình thức tiếp cận văn hóa quân sự.


Trên cơ sở những kết quả thu lượm được, tác giả tiến đến việc tìm hiểu tính giá trị của các biểu tượng theo quy trình văn hóa hóa.

Việc nâng cao nhận thức một cách thiết thực như vậy, là góp phần thúc đẩy quá trình tìm hiểu những bài học vô cùng quý báu của văn hóa quân sự, đối với sự nghiệp đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm trong lịch sử của dân tộc ta từ xưa đến nay.


Nhân dịp tập sách ra đời, tác giả xin chân thành cám ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, các cơ quan báo chí và tất cả bè bạn gần xa đã tạo điều kiện giúp đỡ, đồng thời, tác giả cũng nhiệt thành mong đợi những ý kiến đóng góp, phê bình nhằm nâng cao chất lượng cho nhiều tập tiếp theo để đáp ứng yêu cầu bạn đọc.


DƯƠNG XUÂN ĐỐNG
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 499



« Trả lời #1 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:10:22 am »

SỨC MẠNH VĂN HOÁ LÀNG VÀ TÀI TRÍ KHÚC HẠO


Giành được quyền tự chủ cho đất nước sau hai năm (905 - 907) thì ngày 23 tháng 7 năm 907. Khúc Thừa Dụ qua đời, con trai là Khúc Hạo lên thay, tiếp tục giữ chức Tiết độ sứ. Nối nghiệp và nối chí cha, Khúc Hạo đã sáng suốt đề ra nhiều cải cách quan trọng trên các mặt: đối ngoại và đặc biệt là đối nội. Chính vì thế mà sau này, các nhà khoa học đã đánh giá ông là Nhà cải cách nền hành chính quốc gia đầu tiên ở Việt Nam. Lại cũng có ý kiến mệnh danh ông là Nhà lãnh đạo khoan, giản, an, lạc.


Về đối ngoại, ông vẫn duy trì một chính sách mềm dẻo của người tiền nhiệm nên sau đó, khi lên thay thế nhà Đường, nhà Lương cũng buộc phải tiếp tục công nhận ông làm An Nam đô hộ sung tiết độ sứ.

Về đối nội, ông tập trung cải cách và tăng cường những công tác nóng bỏng, cấp thiết để đáp ứng kịp thời những yêu cầu về quốc kế, dân sinh.

Thứ nhất, ông thực hiện cải cách hành chính quốc gia, ra sức chăm lo xây dựng một chính quyền thống nhất theo quy mô một nhà nước độc lập, tự chủ, từ cấp trung ương xuống tận cấp cơ sở là xã, trong đó, xã là nền tảng cơ bản nhất. Khúc Hạo chia hệ thống hành chính cả nước thành năm cấp: lộ, phủ, châu, giáp, xã. Mỗi xã có một chánh, nhân dân thường gọi là ông cai giáp và một tá lệnh trưởng cùng một số người giúp việc là các ông lềnh (từ chữ lệnh mà ra) bao gồm lềnh nhất, lềnh nhì, lềnh ba. Một số xã gần nhau, trước là hương, nay đổi thành giáp, có một quản giáp và một phó tri giáp trông nom việc quản lý hộ khẩu và thu thuế. Có thể xem đây là lần đầu tiên các làng xã chấp nhận sự quản lý của những xã quan do chính quyền trung ương cắt cử, điều mà suốt cả một ngàn năm Bắc thuộc, chính quyền đô hộ không bao giờ làm được.


Theo Cao Hùng Trưng, tác giả An Nam chí nguyên, Khúc Hạo đặt thêm 150 giáp, cộng với những giáp có trước thành cả thảy là 314 giáp. Ngay từ khi mới thành lập, chính quyền dân tộc tự chủ đã tỏ ra quan tâm đặc biệt đến việc tổ chức bộ máy cơ sở giáp và xã. Đó là những đơn vị hành chính xây dựng trên nền tảng kinh tế - xã hội vốn có của công xã nông thôn và nhằm quản lý công xã đó. Nếu đối chiếu với 159 hương thời Đường thì con số 314 giáp của chính quyền tự chủ mới giành được của họ Khúc đã có một bước phát triển mới.


Xét về mặt lý luận, tổ chức đời sống cộng đồng của một đất nước quan trọng nhất là trên ba lĩnh vực: tổ chức quốc gia, tổ chức nông thôn và tổ chức đô thị. Trong một quốc gia có cả nông thôn và đô thị, nhưng với một nền văn hoá nông nghiệp trồng lúa nước điển hình như Việt Nam thì tổ chức nông thôn lại là lĩnh vực quan trọng nhất. Điều đó chi phối cả truyền thống quốc gia lẫn tổ chức đô thị, cả diện mạo xã hội lẫn tính cách con người. Nắm vững những đặc thù của tổ chức nông thôn tức là nắm được chìa khoá trong việc tổ chức đời sống cộng đồng của người Việt Nam. Khi giải quyết công việc này. Khúc Hạo đã tỏ rõ là người có bản lĩnh.


Đánh giá về cải cách hành chính của ông. Phan Huy Chú, tác giả Lịch triều hiến chương loại chí đã viết: “Tổ chức hành chính của họ Khúc một phần nào sẽ là cơ sở cho tổ chức hành chính của các triều đại tự chủ sau này”.


Thứ hai là cải cách kinh tế - xã hội. Phần cải cách này bao gồm: việc xoá bỏ lực dịch, tức xoá bỏ chế độ bóc lột nặng nề của chính quyền đô hộ và việc đánh đồng thuế ruộng theo hộ khẩu mà không theo diện tích ruộng đất và xem đây là nguồn thu nhập chủ yếu của nhà nước.


Lực dịch là chế độ bóc lột dưới thời thuộc Đường, suốt ba trăm năm, tính từ đầu thế kỷ VII đến đầu thế kỷ X. Chế độ này gồm hai phần: phần cống nạp và phần thuế. Hằng năm, các châu, huyện thuộc An Nam phải cống nạp cho triểu đình Trường An nhiều lâm, thổ sản quý, nhiều sản phẩm thủ công... Bên cạnh đó, dân bản xứ còn phải nộp cho bọn quan lại đô hộ rất nhiều loại thuế như thuế nông sản, thuế hải sản...


Bước vào thời tự chủ, thể theo nguyện vọng nhân dân, Khúc Hạo xoá bỏ hoàn toàn lực dịch và chủ trương “bình quân thuế ruộng... lập sổ hộ khẩu, kê rõ họ tên, quê quán, giao cho Giáp trưởng trông coi”. Việc làm này vừa có ý nghĩa xác lập quyền sở hữu tối cao của chính quyền đối với đất đai cả nước, vừa có tác dụng rất lớn trong việc thúc đẩy sản xuất và đề cao tính ưu việt của nhà nước tự chủ. Bởi vì lúc bấy giờ, toàn bộ ruộng đất đều thuộc sở hữu chung của công xã, chưa có sở hữu tư nhân. Cùng với việc xoá bỏ lực dịch, chính sách bình quân thuế ruộng của Khúc Hạo đã làm giảm nhẹ mức độ bóc lột đối với nhân dân đồng thời xoá bỏ được mâu thuẫn phi lý do chính quyền đô hộ gây ra trước đó. Bằng cách này, chính quyền tự chủ đã khôi phục lại được vai trò và truyền thống công xã, thực hiện một phương thức đóng góp thích hợp và hiệu quả từ phía nhân dân đối với kết cấu kinh tế - xã hội của nhà nước dân tộc lúc bấy giờ, tạo nên sự hòa hợp thoả đáng trong một thể thống nhất giữa nhà nước với công xã, tức giữa - nước với làng, giữa làng với nước.


Chính sách tô thuê của Khúc Hạo lúc đương thời sở dĩ trở thành một chính sách nổi tiếng về mặt đối nội vì đã thu phục được lòng người. Chỉ có thể nhận thức và giải thích được điều ấy nếu hiểu rõ tổ chức giáp - xã được xây dựng trên nền tảng công xã nông thôn, một hình thức tổ chức xã hội và kinh tế cuối cùng của thời cổ đại. Tuy ra đời từ trong quá trình tan rã của chế độ công xã thị tộc nhưng cho đến thế kỷ X, công xã nông thôn vẫn còn chiếm ưu thế, còn ở giai đoạn thịnh trị và giữ vai trò hạ tầng cơ sở bền vững của xã hội Việt Nam mà đặc điểm quan trọng nhất là toàn bộ ruộng đất đều thuộc sở hữu công cộng. Chính vì vậy mà công xã nông thôn lúc ấy còn có một tên gọi khác là công xã ruộng đất.


Kế thừa từ người cha, đường lối chính trị của Khúc Hạo có thể tóm gọn trong một câu như Khâm định Việt sử thông giám cương mục đã viết: “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui”. Từ nhận định đó, có thể nói rằng khoan, giản, an, lạc là nội dung chủ yếu của chiến lược chính trị ở buổi đầu thời tự chủ.


Khoan dung là không thắt buộc, khắt khe quá quắt đối với nhân dân như bọn tham quan ô lại đã từng gây thành một tệ nạn lớn dưới thời Bắc thuộc.

Giản dị là không phiền hà, nhũng nhiễu nhân dân bởi quá nhiều thủ tục hành chính quan liêu.

An, lạc (yên vui) “an cư, lạc nghiệp”, là lý tưởng của nếp sống nông dân nơi xóm làng.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 499



« Trả lời #2 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:11:00 am »

Có thể nói rằng, đường lối chính trị của Khúc Hạo đã phản ánh mối quan hệ bình đẳng bên trong công xã và còn mang ít nhiều tính chất dân chủ giữa Nhà nước với công xã. Đó là một đường lối chính trị thân dân và nó đã làm rõ một điều là bất cứ ở một phong trào dân tộc chân chính nào cũng đều mang theo một nội dung dân chủ nhất định, đúng như một trong hai quy luật phổ biến của lịch sử Việt Nam “độc lập dân tộc phải đi đôi với dân chủ cho nhân dân". Chính vì có một đường lối đúng đắn như vậy, Khúc Hạo đã tập hợp được mọi lực lượng yêu nước để hoàn thành nhiệm vụ chống ngoại xâm, giành lại quyền tự chủ lâu dài. Vì nhu cầu cấp thiết đó, tuy trong nước lúc ấy vẫn còn những xu hướng cát cứ nhưng các hào trưởng địa phương cũng đã phải chịu phục tùng chính quyền trung ương. Ngược lại, triều đại họ Khúc cũng như các triều đại tự chủ tiếp theo, vẫn phải dựa vào họ để củng cố chính quyền ở cấp cơ sở. Xu hướng chủ yếu của lịch sử Việt Nam luôn luôn là gắn liền độc lập dân tộc với thống nhất đất nước mà công cụộc cải cách của Khúc Hạo được xem là bước mở đầu.


Thế nhưng để thấy được trọn vẹn giá trị của công cụộc cải cách đó, phải đặt nó vào trong tình hình đất nước ta cùng với những biến động của Nhà nước Nam Hán ở sát biên giới phía bắc vào ba mươi năm đầu thế kỷ X. Trong ba thập kỷ đó, mặc dù triều đình Nam Hán có sự thay đổi, kế tiếp nhau, kể từ Lưu Ấn, Lưu An, đến Lưu Cung, nhưng ý đồ đen tối của họ vẫn cứ nhất quán cả trong tư tưởng lẫn trong hành động là muốn bành trướng, xâm lược xuống phía nam mà mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất là miền đất Giao Châu. Là người lãnh đạo tài năng, Khúc Hạo hiểu rất rõ điều đó. Chính thế mà ngay khi còn sống, ông đã cho Khúc Thừa Mỹ - con trai và là người kế nghiệp - sang Nam Hán “kết mối hoà hảo” nhưng thực chất là để “dò xét tình hình”.


Khi Khúc Hạo qua đời, Khúc Thừa Mỹ lên thay nhưng vì phạm sai lầm lớn trong đối sách với triều đình Nam Hán nên cuối cùng đã đưa đất nước đi tới một thất bại lớn vào năm 930. Điều may mắn cho dân tộc ta lúc bấy giờ là sức mạnh từ những cải cách tiến bộ của Khúc Hạo, về chiều sâu của cấu trúc xã hội đã đi xuống tận xóm làng, về chiều rộng đã đi vào tận những vùng căn cứ xa xôi ở châu Hoan, châu Ái, cho nên Khúc Thừa Mỹ tuy có bị bắt về nước, nhưng quân xâm lược vẫn không đè bẹp được ý chí đấu tranh của nhân dân ta.


Trên đây là những tư liệu quý, giúp cho việc nghiên cứu về sự nghiệp cải cách của Khúc Hạo, mặc dù không được nhiều nhưng những phần có được cũng đã nổi lên một điều rất đáng chú ý là mục tiêu nỗ lực cải cách của ông luôn hướng về cấp cơ sở, lấy cơ sở làm đối tượng hành động. Việc cải cách đơn vị hành chính là nhằm tập trung vào giáp và xã. Còn việc cải cách kinh tế như bỏ lực dịch, sửa lại chế độ điền tô, thuế má... cũng nhằm khôi phục lại vai trò và truyền thống công xã nông thôn - một kiểu tổ hợp dân cư giữa liên minh huyết thống với liên minh láng giềng - mà người Việt vẫn gọi nôm na, thân thuộc là xóm làng.


Mặc dù trải qua hơn mười thế kỷ, dưới chế độ thống trị hà khắc và chính sách “đồng hoá” cực kỳ thâm độc - của các đế chế Hán, Đường, tuy nền văn hoá Việt Nam có bị phá huỷ, bị loại trừ những nội dung nhất định, nhưng bè lũ xâm lược phải chịu bó tay, không sao tiêu diệt được nền văn hoá đó vì trên thực tế, các "mảnh vụn" của nó đã tìm về khu trú tại các xóm làng để trở thành văn hoá truyền miệng, văn hoá dân gian với cái tên gọi là "văn hoá xóm làng". Quân thù có thể chiếm được nước nhưng chưa bao giờ chiếm được làng. Chính vì thế mà văn hoá xóm làng vẫn tồn tại mặc dù văn hoá dân tộc đã bị giải thể về cấu trúc.


Một dân tộc bị tiêu vong trước hết là sự tiêu vong từ nền văn hóa. Lịch sử đã chứng minh nền văn hóa Việt Nam không những không bị tiêu vong mà từ xóm làng, văn hóa Việt Nam còn thể hiện rõ tính kiên cường, mãnh liệt trong đấu tranh để bảo tồn và phát triển.


Sau khi xâm chiếm nước ta, bè lũ thống trị ngoại bang đã thủ tiêu và xoá bỏ thể chế Nhà nước của các vua Hùng, vua Thục nhưng suốt thời Bắc thuộc, chúng không thể nào với tay can thiệp và làm biến đổi được cơ cấu xóm làng cổ truyền, tức là làm thay đổi nếp sống được hình thành từ rất lâu đời của người Việt.


Từ Hán đến Đường, chính quyền đô hộ có được củng cố, tăng cường thêm, nhưng trước sau, không một triều đại phong kiến Trung Quốc nào nắm được xóm làng và đặt nổi hệ thống xã quan trên đất nước ta mà chính những đơn vị quần cư mang đặc trưng của loại hình công xã nông thôn kiểu châu Á lại là nền tảng xã hội, là cơ sở của nền văn hoá Việt Nam, là nơi nuôi dưỡng, vun trồng những tinh hoa của văn hoá cổ truyền. Trong cuộc đấu tranh trường kỳ chống Bắc thuộc, những xóm làng yên lành, kín đáo sau lũy tre xanh của tuyệt đại đa số nhân dân ta đã giữ vai trò như những pháo đài xanh chống lại một cách có hiệu quả âm mưu “đồng hoá” của kẻ thù.


Đứng trên phương diện thể chế chính trị và cơ cấu xã hội hạ tầng, có thể nói, trong thời Bắc thuộc, người Việt mất nước chứ không mất làng. Bởi vậy, mà một tác giả người Pháp đã nhận xét: qua Bắc thuộc, nước Việt như một toà nhà, chỉ bị thay đổi “mặt tiền” mà không bị thay đổi cấu trúc bên trong.


Khi bắt tay vào sự nghiệp cải cách độc đáo của mình, Khúc Hạo đã nhận thức đầy đủ vai trò to lớn của văn hoá dân tộc mà đặc biệt là văn hóa xóm làng. Trong quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, mặc dù bị đàn áp bị huỷ hoại nhưng văn hóa xóm làng vẫn giữ vững được cấu trúc xã hội, giữ vững được nếp sống tự ngàn xưa của người Việt. Như vậy, dưới thời Bắc thuộc, văn hoá xóm làng đã làm cơ sở cho nền văn hoá dân tộc tồn tại và phát triển thành một dòng chảy liên tục, nối dài từ thời Hùng Vương cho đến tận thời tự chủ.


Trước những thử thách lớn lao của lịch sử, nhờ xóm làng giữ vững được nền văn hoá mà dân tộc Việt Nam đã tồn tại và phát triển. Những cuộc nổi dậy của nhân dân ta đứng lên đấu tranh bảo vệ xóm làng là những minh chứng hùng hồn.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 499



« Trả lời #3 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:11:46 am »

Trên cơ sở của một quá khứ đáng trân trọng và đầy tự hào của văn hóa xóm làng đồng thời nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển của dân tộc lên một bước mới khi tình hình đất nước còn đầy chông gai, Khúc Hạo lấy xóm làng làm điểm tựa, dùng nó làm hạt nhân cho động lực phát triển của đất nước. Nhìn từ góc độ văn hoá đây là một hành động rất thức thời và vô cùng chính xác. Thế nhưng, nhìn từ góc độ chính trị - xã hội khi Nhà nước muốn làm tròn trách nhiệm chung thì phải luôn luôn được củng cố vững chắc bằng việc đặt tất cả các công xã trở thành đơn vị hành chính cơ sở của mình. Nói một cách khác, Nhà nước cần phải can thiệp sâu và kiểm soát mọi mặt các công xã. Đây là một việc làm hết sức khó khăn. Chẳng hạn như thuỷ lợi và chống ngoại xâm, tuy là những nhiệm vụ thường xuyên song không phải lúc nào cũng diễn ra, cho nên các công xã vẫn có điều kiện và khuynh hướng bảo thủ, cứ giữ lấy quyền tự trị của mình. Nhà nước muốn xoá bỏ sự cách biệt, trái lại, công xã muốn duy trì sự đối lập, nhất là khi Nhà nước đó lại là chính quyền đô hộ ngoại bang, cần phải lật đổ. Thế nhưng cho đến đầu thế kỷ X, khi Việt Nam giành được độc lập, bắt đầu đi vào thời tự chủ, ý thức dân tộc của mọi người được nâng cao, nhất là trong hoàn cảnh đất nước bị nguy cơ ngoại xâm đe doạ. Mâu thuẫn giữa Nhà nước với công xã mới giảm đi để hoà chung vào một mối. Khúc Hạo được xem là người đi tiên phong trong quá trình này, quá trình xây dựng một chính quyền thống nhất, tập trung quân chủ để Nhà nước độc lập, tự chủ của dân tộc ta đủ khả năng chống lại những cuộc chiến tranh xâm lược của các tập đoàn phong kiến phương Bắc được mở ra từ thời Tần, tức là sau khi quốc gia Trung Hoa đã trỏ thành một nhà nước phong kiến tập quyền.


Nội dung công việc của Khúc Hạo chúng ta đã rõ. Ở đây chỉ biết rằng kết quả to lớn của ông là đã đem lại cho dân tộc một sức mạnh hùng hậu để trong vòng hơn ba mươi năm (907 - 938), tập trung vào bảy năm cuối (931 - 938), chúng ta đủ sức mạnh đánh thắng hai cuộc chiến tranh xâm lược của quân Nam Hán. Để đạt được mục đích cao cả trên, Khúc Hạo đã thực hiện những biện pháp thích hợp và hiệu quả như sau:


Thứ nhất là đổi hương dưới thời Đường thành giáp. Đây là một loại đơn vị hành chính xuất hiện muộn nhưng lại xây dựng trên nguyên tắc trong tuổi già, một truyền thống rất lâu đời của người Việt, nghĩa là quyền quản lý xóm làng nằm trong tay các bô lão. Người già nhất là người đứng đầu trong làng, có quyển quyết định mọi việc lớn nhỏ. Sở dĩ như vậy là vì, khác với người phương Bắc - gốc du mục vốn trọng sức mạnh - còn cư dân nông nghiệp phương Nam, cùng với truyền thống trọng phụ nữ (do nếp sống thiên về tình cảm) là truyền thống trọng tuổi tác, bởi lẽ nghề nông thường phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, vào kinh nghiệm của những người sống lâu.


Giáp mang theo hai đặc điểm: một là chỉ riêng nam giới tham gia và hai là mang tính chất “cha truyền con nối".

Đặc điểm thứ nhất giải thích sự ra đời muộn của tổ chức này là vì ở thời điểm đó, vai trò người đàn ông đã lấn át vai trò truyền thống của người đàn bà trong xã hội.

Đặc điểm thứ hai chỉ rõ, cha ở giáp nào thì con tiếp tục ở giáp ấy. Trong nội bộ giáp, hình thành ba lớp tuổi chủ yếu: vi thành niên: từ 17 tuổi trở xuống, bô lão: từ 56 tuổi trở lên và đinh tráng (đinh là đứa, tráng là khỏe mạnh): từ 18 đến 55 tuổi. Lớp tuổi này giữ vị trí then chốt. Nó vừa có nghĩa vụ với làng, với nước, lại vừa có quyền lợi về tinh thần và vật chất. Với làng là phục vụ trong các dịp lễ lạt, đình đám, còn với nước là đóng sưu thuế và đi phu, đi lính, về tinh thần là có chỗ ngồi trên một chiếu nhất định khi ăn uống, họp hành, về vật chất là được nhận một phần ruộng công đế cấy cày, sinh sống. Loại ruộng này, khi thu hoạch sản phẩm, ngoài phần hoa màu phải nộp cho giáp, phần được giữ lại là một nguồn lợi rất lớn đối với người canh tác.


Do đặc điểm từ tính chất “cha truyền con nối” của giáp - một thể chế tổ chức truyền thống hoàn toàn tự nguyện và rất ổn định nên bộ máy hành chính của làng xã Việt Nam đầu thời tự chủ rất gọn nhẹ.

Từ hai đặc điểm trên, khái quát lại ta thấy chúng đều nhằm vào một mục đích là phục vụ cho giáp cung cấp sức người đối với đất nước trên hai mặt sản xuất và chiến đấu.

Thật vậy, đặc điểm thứ nhất nêu rõ giáp chỉ nhận nam giới làm thành viên mà không nhận nữ giới, đặc điểm thứ hai lại nêu rõ trong ba loại thành viên của giáp thì đinh tráng giữ vị trí then chốt. Rõ ràng, về mặt quân sự; đây là một lực lượng hùng hậu, một sức mạnh to lớn, sẵn sàng lên đường phục vụ cho sự nghiệp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Bình luận về thời điểm lịch sử này, trong cuốn Văn hoá chính trị Việt Nam, truyền thống và hiện đại, tác giả Nguyễn Hồng Phong viết: “Từ Khúc Thừa Dụ đến Ngô Quyền, nhà nước về cơ bản dựa vào bộ máy quân sự.”


Thứ hai là, xây dựng được một vùng căn cứ địa.

Kế thừa một cách sáng tạo về nội dung xây dựng căn cứ địa của Triệu Quang Phục hình thành từ giữa thế kỷ VI, Khúc Hạo đã lấy xóm làng làm cơ sở để phát triển từ căn cứ địa ở một điểm nhỏ bé (Màn Trù, Khoái Châu, Hưng Yên) lên thành căn cứ địa trên một vùng rộng lớn, từ dãy núi Tam Điệp (thị xã Tam Điệp, Ninh Bình) đến Đèo Ngang (Kỳ Anh, Hà Tĩnh), bao gồm châu Hoan, châu Ái lúc bấy giờ.


Thành tựu này mang một ý nghĩa rất lớn, bởi vì vùng đất được ông phát hiện và sử dụng làm căn cứ địa đầu tiên trong lịch sử không chỉ có tác dụng cho những cuộc chiến tranh yêu nước ở thế kỷ X mà còn trở thành vùng căn cứ địa (với dãy núi Tam Điệp làm “tấm lả chắn thiên nhiên”) cho nhiều cuộc chiến tranh yêu nước của mười thế kỷ tiếp sau.


Đó là vị trí tập kết của quân triều đình nhà Trần tại Vĩnh Lộc, Thanh Hoá trong cuộc chiến tranh chống Mông - Nguyên năm 1285. Đó là “đất đứng chân” tại Nghệ An, trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc ở thế kỷ XV, để nghĩa quân Lam Sơn đưa sự nghiệp đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm lên quy mô cả nước. Đó còn là nơi tuyển quân (Nghệ An), nơi “thệ sư” (Thanh Hoá) và là tuyến xuất phát tiến công chiến lược (Tam Điệp) của quân Tây Sơn trong cuộc chiến tranh chống quân Mãn Thanh năm 1789. Đó cũng là vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh của chín năm kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954).


Đi ngược thời gian về thế kỷ X, giá trị của vùng căn cứ địa này lại càng nổi rõ. Nhờ có nó, Dương Đình Nghệ - một bộ tướng của họ Khúc đã từ châu Ái kéo quân ra, đánh tan cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ nhất của quân Nam Hán năm 931, giành quyền tự chủ trong vòng bảy năm (931 - 938). Sau khi Dương Đình Nghệ bị sát hại, Ngô Quyền lại từ châu Ái kéo quân ra, đánh tan cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của quân Nam Hán vào năm 938, chấm dứt “đêm trường Bắc thuộc”, chính thức đưa dân tộc ta đi vào thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 499



« Trả lời #4 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:13:13 am »

VUA TRẦN NHÂN TÔNG, VÕ CÔNG VÀ VĂN TRỊ


Trần Nhân Tông - ông vua thứ ba của triều Trần, tên là Trần Khâm (1258 - 1308) - thật xứng đáng một bậc quân vương trẻ tuổi nhưng rất mực anh hùng. Hầu như trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, hiếm thấy một người đứng đầu Nhà nước nào lại có được những cống hiến to lớn cho đất nước trên cả hai mặt - từ võ công đến văn trị - như thế.


Về võ công.

Ông lên làm vua năm 1279, khi mới 21 tuổi, cũng là sau 21 năm dân tộc ta trải qua một cuộc đấu tranh ngoại giao cực kỳ gian khổ nhưng cũng hết sức khôn khéo với triều đình nhà Nguyên để tránh một cuộc chiến tranh xâm lược. Nhưng rồi 6 năm sau đó, (năm 1285), nạn can qụa vẫn không chặn được. Trước tình thế đất nước "ngàn cân treo sợi tóc", là vua của một nước, ông đã biết lựa chọn những phương pháp hành động thích hợp và hiệu quả để đánh thắng quân thù mà “liều thuốc nhiệm mầu” nhất là chính sách đại đoàn kết toàn dân.


Hai chi họ Tôn Thất nhà Trần được ông lấy làm hạt nhân cho sự “chung lòng”, từ trong nội bộ hoàng tộc ra đến văn võ bá quan. Hội nghị Bình Than được nhóm họp vào tháng 11 năm 1282 là một việc làm cụ thể. Sự có mặt của hầu khắp các vương hầu, quý tộc đã đưa hội nghị đến thành công lớn. Từ đó, đoàn kết được siết chặt, quyết tâm giết giặc, cứu nước được quy tụ về một đích chiến thắng cao cả.


Vào cuối năm 1284, khi cuộc kháng chiến sắp bùng nổ, để hỏi kế sách đánh giặc, ông lại triệu tập các bô lão trong nước về dự Hội nghị Diên Hồng. Trước câu hỏi của nhà vua, như từ một cửa miệng, các bô lão đều nhất tề hô: "Đánh!". Tinh thần quyết chiến của cả nước được hình thành từ chủ nghĩa yêu nước của toàn dân đã được biểu lộ qua tiếng hô đanh thép của các già làng. Trong lịch sử chống ngoại xâm ở Việt Nam, chưa từng có một cuộc họp mặt nào lạ lùng mà lại thu hút được rộng rãi đại biểu từ khắp mọi miền như thế. Nếu như các bậc cao niên đã mang tới sân rồng câu trả lời quyết chiến chắc nịch của các tầng lớp nhân dân thì cũng từ Thăng Long, không khí sục sôi, háo hức của những người thay mặt cho trăm họ, của quần thần ở triều đình đã được các cụ tiếp nhận, đem về truyền lại cho con cháu, cho đồng bào tại chốn quê nhà.


Lấy thành quả đoàn kết từ hai hội nghị “chính trị đặc biệt” làm cơ sở cho ý chí và quyết tâm chiến đấu, Trần Nhân Tông chuẩn bị cho những hành động quân sự tiếp theo. Từ Bình Than, một đội ngũ những người chỉ huy kiệt xuất như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư, Trần Bình Trọng... được chuẩn bị ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh năm 1285, cùng với những đạo quân chủ lực tinh nhuệ, đủ sức mạnh, chỉ trong tháng 6 năm đó, đã đánh thiệt hại nặng tập đoàn Thoát Hoan ở Chương Dương - Thăng Long, đập tan tành tập đoàn Toa Đô ở Hàm Tử - Tây Kết và trong cuộc chiến tranh ba năm sau, tiêu diệt gọn tập đoàn thuỷ quân Phàn Tiếp - Ô Mã Nhi tại cửa sông Bạch Đằng vào tháng 4 năm 1288. Không chỉ riêng trong tầng lớp vương hầu, quý tộc mà trong đội ngũ tướng lĩnh còn có những người xuất thân từ dân thường như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái..., có những người là nô tì như Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô..., có những người thuộc các dân tộc thiểu số như Hà Bổng, Hà Đặc, Hà Chương..., cũng có cả người nước ngoài như Triệu Trung..., thậm chí còn có người từ trong hàng ngũ quân xâm lược chạy sang hàng ngũ quân ta như Trương Hiến... Từ "hào khí Diên Hồng", toàn dân ở mọi miền đã tham gia đánh giặc. Trong chiến tranh, những vùng quân xâm lược tràn qua - chỉ trừ hai làng - còn tất cả đều cầm vũ khí chống trả quyết liệt. Những xóm làng chiến đấu đó đã tạo nên một kiểu chiến tranh rất độc đáo: chiến tranh tại chỗ. Chính kiểu chiến tranh khác lạ này đã làm cho Việt Nam trở thành dân tộc “có một, không hai” của thế giới trung đại, từng ba lần liên tiếp đánh thắng kỵ binh Mông - Nguyên. Thắng lợi hào hùng đó thuộc về tinh thần quật khởi, về ý chí kiên cường của tổ tiên người Việt ở thế kỷ XIII nhưng không thể không ghi nhận công lao to lớn cho Trần Nhân Tông, người tổ chức, lãnh đạo tối cao sự nghiệp bảo vệ đất nước lúc bấy giờ và đã được Lê Quý Đôn đánh giá trong tác phẩm Toàn Việt thi lục, là người “tài trí, đảm lược, uy vọng, quyết đoán công nghiệp chống giặc Nguyên sáng chói đến đời xưa".


Thế nhưng ông không phải là vị thống soái chỉ điều khiển công việc sau “hổ trướng” mà còn là người chỉ huy quân sự trực tiếp trên chiến địa. Trong cuộc chiến tranh năm 1285, ông đã cùng vua cha "đánh thắng giặc ở phủ Trường Yên, chém đầu cắt tai không xiết kể" và chỉ mươi ngày sau đó lại "đánh bại giặc ở Tây Kết", “chém được đầu nguyên soái Toa Đô” và “bắt được quân địch hơn 5 vạn người”. Trong cuộc chiến tranh năm 1288, trên sông nước Bạch Đằng, phối hợp với cánh quân chủ lực của Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông lại cùng vua cha “đem quân tiếp đến, tung lực lượng đánh rất hăng, quân Nguyên chết đuối đầy sông, đến nỗi máu đỏ ngầu cả dòng nước”.



Về văn trị:

Nói đến sự nghiệp này của Trần Nhân Tông, người ta liên tưởng ngay đến sự xuất hiện hai sự kiện có ý nghĩa rất trọng đại của nền văn hoá Việt Nam vào hai mươi năm cuối của thế kỷ XIII và mười năm đầu của thế kỷ XIV. Đó là bên cạnh tiếng Hán, tiếng Việt đã được dùng như một ngôn ngữ hành chính chính thức của triều đình và phái Thiền Trúc Lâm được thành lập với chủ trương “ở đời mà vui đạo”.


Thời gian diễn ra sự kiện thứ nhất, trong 30 năm (1279 - 1308) dưới triều Trần Nhân Tông, kể cả lúc ông thoái vị và lên ngôi Thái Thượng Hoàng. Căn cứ vào thư tịch, đến giữa thế kỷ XIII, tiếng Việt đã được dùng như một văn tự trong việc thực hiện những chức năng của nó. Tiếc rằng, những văn kiện thời đó đã bị thiên tai, địch hoạ xoá hết mọi dấu vết. Chỉ có dưới triều vua thứ ba thời Trần, điều này mới được sử sách xác minh qua sự cố giữa quan Hàn lâm phụng chỉ Đinh Củng Viên và quan Hành khiển Lê Tông Giáo vào năm 1288. Số là theo lệ cũ, có thể là ngay từ đầu thời Trần, chiếu chỉ của nhà vua, mỗi khi công bố (bao gồm viết và đọc) phải sử dụng bằng cả hai thứ tiếng: tiếng Việt và tiếng Hán. Bên cạnh đó. Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi rõ năm 1282, chữ Nôm bắt đầu xuất hiện qua bài văn tế cá sấu của Thượng thư Bộ Hình Nguyễn Thuyên (tức Hàn Thuyên) đồng thời cho biết ông là người hay làm thơ phú bằng chữ quốc ngữ và cũng bình luận thêm: ở nước ta, chữ Nôm được dùng làm thơ phú bắt đầu từ đấy. Phải nói rằng, tiếng Việt được sử dụng chính thức như vậy đã tạo điều kiện cho sự ra đời một loạt tác phàm văn học chữ Nôm, từ Tiểu ẩn quốc ngữ thi tập của Chu Văn An đến bản dịch Kinh Thi của Hồ Quý Ly cùng các bài thơ nôm của Nguyễn Biểu, Trần Trùng Quang và đặc biệt là tác phẩm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.


Nhưng đó là chuyện từ giữa thế kỷ XIV trở về sau còn trước đó, ở cuối thế kỷ XIII và đầu thế kỷ XIV thì lại là chuyện về những tác phẩm chữ Nôm của chính bản thân Trần Nhân Tông qua hai bài phú Cư trần lạc đạo (ở đời mà vui đạo) và Đắc thú lâm tuyền thành đạo (được hưởng thú ở suối rừng mà nên đạo). Đây cũng là những văn kiện chữ Nôm được xem là xưa nhất mà chúng ta còn giữ được.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 499



« Trả lời #5 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:14:21 am »

Xét về nội dung, hai bài phú trên đều nhằm ca ngợi phái Thiền Trúc Lâm nhưng xét về hình thức, chúng đã cung cấp cho người đời sau những tư liệu rất bổ ích về tình hình tiếng Việt vào lúc sinh thời của tác giả.

Về thể loại, cả hai bài đều thuộc thể phú, một thể văn biền ngẫu có vần. Cách kết cấu của chúng đã xa thể phú Hán mà gần với thể phú Đường. Bởi vì ở đây, cả ba yếu tố của thể phú Đường đã thấy xuất hiện đủ như phép câu gối hạc, niêm luật chặt chẽ, đối ngẫu chỉnh thể. Thế nhưng so với tất cả những bài phú Nôm theo Đường luật từ thời Lê sơ trở về sau thì thấy rằng phép đối ngẫu ở đây còn lỏng lẻo, nhiều chỗ chỉ mới là sự đối ý chứ chưa có sự đối sát tới từng chữ, từng lời. Còn âm luật, có chỗ chưa được êm tai lắm. Như thế chứng tỏ rằng ở các tác phẩm này chưa có sự đi sâu vào chủ nghĩa hình thức như các bài phú Đường luật bắt đầu từ thế kỷ XV trở đi.


Về cách đọc và cách viết chữ Nôm, nói chung ở trong hai bài phú, đều là theo quy cách thông thường, nghĩa là bao gồm ba phép cấu tạo từ mà chữ Nôm vẫn dựa theo sáu phép cấu tạo từ của chữ Hán, thường gọi là lục thư. Đó là giả tá, hài thanh và hội ý. Số chữ giả tá nhiều nhất, đến hài thanh rồi đến hội ý. Nhưng xét riêng về cách đọc theo phép giả tá thì thấy ở đây, chữ Hán được dùng khá nhiều nhưng không đọc theo âm Hán - Việt mà lại đọc theo nghĩa. Thực ra, đây vốn không phải là nghĩa của chữ Hán mà là âm xưa của nó (tiếng nói của người Trung Quốc) chúng ta mượn vào tiếng nói của mình, trước khi có âm Hán - Việt, dần dần, theo thời gian, người ta quên cái nguồn gốc ấy mà xem những âm xưa là nghĩa của chữ Hán. Còn về cách viết thì những chữ trong các bài phú trên đã cung cấp cho người đọc về các dạng tự của chữ Nôm thời ấy. Về sau có một số chữ trong đó vẫn còn giữ nguyên như cũ song lại có một số khác đã chuyển từ phép giả tá sang phép hài thanh với những dạng tự mới.


Về cách dùng từ thì trong các bài phú đã có những từ xưa, chúng đều là những từ Việt cổ (kể cả từ đơn và từ kép) mà hiện nay không còn dùng nữa. Những từ này tuy vẫn còn dùng trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Hồng Đức quốc âm thi tập (tuyển tập thơ chữ Nôm của nhà thơ và nhà vua Lê Thánh Tông cùng sáng tác với triều thần) nhưng sang đến thời Lê mạt và thời Nguyễn thì chỉ còn lại một vài từ. Thứ hai là những từ đơn, mượn của chữ Hán (âm Hán - Việt) để thể hiện những khái niệm mà đời sau đã được thay thế bằng những từ thuần Việt. Nếu như tỉ lệ về loại từ này dùng trong bài Cư trần lạc đạo là 43% thì trong 10 bài thơ đầu của Quốc âm thi tập chỉ còn 34%. Điều đó nói lên rằng chữ Nôm càng xưa, càng vướng vít nhiều với chữ Hán. Nhưng về phía khác, các nhà khoa học cũng nhận thấy rằng trong hai tác phẩm chữ Nôm của Trần Nhân Tông, từ thuần Việt đã xuất hiện khá nhiều. Từ đấy, chúng đã tạo ra được một bộ từ vựng gần 2000 từ. Số lượng từ ngữ này chưa phải là nhiều nhưng dù sao cũng giúp chúng ta có được một nhận thức nhất định về sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc, nhất là về chữ Nôm dưới triều Trần Nhân Tông, tức là ở cuối thế kỷ XIII đến đầu thế kỷ XIV.


Sự kiện thứ hai về văn trị đã diễn ra vào 15 năm (1293-1308) cuối đời Trần Nhân Tông. Đây cũng là chuyện hiếm thấy trong chế độ phong kiến Việt Nam. Một ông vua quyết định nhường ngôi cho con, rời bỏ nơi quyền quý, đến tu hành khổ hạnh tại chốn sơn môn Yên Tử, đắc đạo, được tôn vinh là Điều Ngự giác hoàng (vị hoàng đế giác ngộ đạo Phật) và trở thành vị tổ thứ nhất của phái Thiền Trúc Lâm (Pháp Loa là vị tổ thứ hai, Huyền Quang là vị tổ thứ ba), một dòng Phật giáo độc đáo ở Việt Nam.


Mọi người đều biết, trên đất nước ta, ngay từ thế kỷ VI, vùng Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) đã hình thành một trung tâm Phật giáo lớn. Thế nhưng khi rời ngôi báu, khoác áo cà sa, Trần Nhân Tông không tới đây mà lại lên hành đạo tại núi Yên Tử cho tới khi viên tịch. Động cơ nào đã thúc đẩy ông đến tu hành ngót 10 năm (1299-1308) tại chốn này? Điều bí ẩn đó, mãi 500 năm sau mới được Hải Lượng đại thiền sư Ngô Thì Nhậm - người được tôn vinh làm vị tổ thứ tư của phái Thiền Trúc Lâm cho biết: “Người ta thấy Điều Ngự đệ nhất tổ đến ở chùa Hoa Yên thì bảo là Ngài xuất gia, ta (tức Ngô Thì Nhậm) biết rằng Đức Ngài lúc bấy giờ biết xem thiên hạ là công, trong nước vô sự, nhưng ở phía Bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ, chưa được yên tâm. Cái ý ấy là không tiện nói rõ, sợ người ta dao động. Cho nên nhằm được ngọn núi Yên Tử, phía đông nhìn về Yên Quảng, phía bắc liếc sang hai tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, dựng lên ngôi chùa, thời thường dạo chơi để xem động tĩnh, cốt để ngừa mối lo nước ngoài xâm phạm, thật là một vị Vô Lượng Đại Thế Chí Bồ Tát”.


Như vậy là rõ, nhưng Trần Nhân Tông còn muốn đi xa hơn là đưa giáo lý của phái Thiền Trúc Lâm vào cuộc sống với nguyên tắc “sống hoà với đời một cách thoải mái”. Thậm chí còn thực sự lăn vào cuộc đời như “một đoá hoa sen trong lò lửa rực hồng” (Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung - Phật tâm ca). Đó cũng là nhu cầu của thời đại mà bản thân Trần Nhân Tông đã sớm nhận thức ra. Ông hiểu rằng các tôn giáo ngoại lai nói chung, Phật giáo nói riêng, thông thường muốn tồn tại được ở Việt Nam, nhất thiết phải dung hợp với tín ngưỡng dân gian cổ truyền. Vì vậy, muốn truyền đạo Phật vào nhân dân, điều rõ ràng là không thể để nguyên xi giáo lý cũ mà nhất thiết phải thông qua việc truyền giáo lý để hướng tín ngưỡng của mọi người vào chủ nghĩa yêu nước truyền thống dân tộc, lấy đó làm vũ khí để chống lại quân xâm lược. Nói khác đi, ông muốn lấy chuyện Phật để phục vụ chuyện đời, chuyện đánh giặc, giữ nước, chuyện bảo vệ Tổ quốc. Để làm được điều đó, ông thấy phái Thiền Trúc Lâm phải phấn đấu đạt được hai tiêu chí. Một là nó không chỉ bó hẹp trong một giai tầng xã hội, cụ thể là cho những người có chức, có quyền. Nếu như vậy, nó sẽ mất đi tính hấp dẫn đối với quảng đại quần chúng và chắc chắn là không thể tồn tại lâu dài. Hai là nó kiên quyết chống đối mọi biểu hiện của việc đi ngược lại con đường “nhập thế”, phải lấy việc đời làm mục đích của việc đạo, lấy việc tôi luyện của đạo bằng cách thông qua việc thử thách của đời. Trong bài phú Cư trần lạc đạo (xem như bản tuyên ngôn của phái Thiền Trúc Lâm) Trần Nhân Tông đã viết: “Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết sức”. Muốn ‘‘tu thành chính quả” đâu cứ phải là “lên chùa”, phải “tìm cửa Phật” vì:

"Bụt ở cuông nhà, chẳng phải tìm xa.
Nhân khuy bản nên ta tìm Bụt, đến cốc hay chỉn Bụt là ta”.
(Bụt ở trong nhà, chẳng phải tìm xa.
Vì mất gốc nên ta tìm Bụt, giác ngộ mới biết Bụt vốn là ta).

Với một nhận thức đúng đắn như thế mà khi quân Mông - Nguyên xâm phạm bờ cỡi, những tín đồ của phái Thiền này đã lên ngựa, vung gươm cho “non sông ngàn thuở vững âu vàng". Bởi vì trừ ác, độ dân thông qua con đường giết giặc, cứu đồng bào như vậy phải đâu là trái đạo, dù cho đạo Phật cấm sát sinh, không cho ăn thịt.


Tuy cũng xuất phát từ quan điểm “sắc sắc, không không” như mọi môn phái khác của đạo Phật nhưng nét đặc thù của phái Thiền Trúc Lâm (được mệnh danh là một phái Thiền độc lập của Việt Nam) là không quá hư vô, không dẫn tới một thái độ yếm thế, xa lánh cuộc sống mà trái lại là hoà nhập với đời. Tại sao phái Thiền này có được một nhân sinh quan thắm đượm tình người như vậy, mặc dù nó hình thành trên cơ sở tư tưởng của một thế giới quan duy tâm (coi ý thức có trước vật chất) và hư vô (phủ định tất cả)?


Giải đáp câu hỏi này quả không đơn giản; nguyên nhân có thể có nhiều, rất khó xác định. Thế nhưng nói rằng tinh thần dân tộc phát triển trong thế kỷ XIII đã góp phần không nhỏ vào sự hình thành tư tưởng Thiền Trúc Lâm thì đó là điều thoả đáng, dễ dàng được chấp nhận. Hay nói một cách khác, phái Thiền Trúc Lâm sở dĩ phát sinh và phát triển là nhờ sự tác động mạnh mẽ của tinh thần quật khởi và ý chí tự cường, của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong kỷ nguyên văn minh Thăng Long - Đại Việt. 
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 499



« Trả lời #6 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:15:54 am »

CÔNG KÍCH PHỦ ĐẦU, ĐẠI PHÁ QUÂN THANH


Hơn hai trăm năm nay, khi bàn đến sự thắng lợi về mặt nghệ thuật quân sự của cuộc Chiến tranh chống quân Mãn Thanh năm 1789, người ta thường nhắc tới hai nhân tố là thần tốc và bất ngờ, điều đó không sai nhưng chưa thật thoả đáng. Tìm hiểu kỹ cuộc chiến tranh này, chúng ta thấy trong công kích, ngay từ đầu, quân ta đã giáng đòn áp đảo để giành quyền chủ động chiến lược. Vấn đề ở đây nổi lên hai điểm: một là quân ta ra đòn trước, hai là sức mạnh quân ta chiếm ưu thế tuyệt đối. Hành động quân sự này chính là công kích phủ đầu.


Công kích phủ đầu là sự ra đòn trước, áp đảo ngay từ những giây phút đầu tiên và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn nhất để chiếm quyền chủ động nhằm ngăn chặn, trước khi đối phương chưa kịp chuẩn bị. Trong cuộc chiến tranh này, Nguyễn Huệ đã sử dụng đòn công kích phủ đầu vì những lý do.


Thứ nhất là trong một tương lai gần, chừng dăm ba ngày tới, nếu không hành động kịp thời, trước khi đối phương kịp chuẩn bị và “dứt điểm” trong một thời gian ngắn, cụ thể là vào ngày mồng 5 tết thì ngày mồng 6, chắc chắn là Tôn Sĩ Nghị sẽ ra quân theo ý đồ đã tính sẵn. Chính thế mà vào lúc rạng sáng ngày mồng 5, khi quân ta bắt đầu công kích Ngọc Hồi, tên phó tướng Hứa Thế Hanh là người chỉ huy trực tiếp cứ điểm này, đã mạnh mẽ tuyên bố: "Đến sáng mai, hợp quân lại đánh, xem ta quét sạch người Nam". Do đó, thời gian giao tranh dứt khoát sẽ căng thẳng và kéo dài.


Thứ hai là trong một tương lai xa, tình hình chính trị sẽ có những biến đổi. Chúng ta hãy nghe vua Càn Long chỉ thị cho viên chủ tướng của đạo quân xâm lược: "Cứ từ từ, không gấp vội. Trước hết hãy truyền hịch để gây thanh thế, sau cho bọn cựu thần nhà Lê về nước tìm tự quân nhà Lê đưa ra đương đầu đối địch với Nguyễn Huệ. Nếu Nguyễn Huệ bỏ chạy thì cho Lê tự quân đuổi theo, mà đại quân của ta thì đi tiếp sau. Như thế, không khó nhọc mà thành công, đó là thượng sách.


Nếu như người trong nước, một nửa theo về Huệ mà Huệ không chịu rút quân thì phải chờ thuỷ quân Mân, Quảng vượt biển, đánh vào Thuận, Quảng trước, sau đó lục quân của Tôn Sĩ Nghị mới tiến công. Cả hai mặt, đàng trước đằng sau, Nguyễn Huệ đều bị đánh, tất phải quy phục. Ta nhân đó, giữ cả hai, từ Hoan Ái trở ra thì phong cho họ Lê. Mà ta thì đóng đại quân ở nước ấy để kiềm chế. Về sau sẽ có cách xử trí khác". Rõ ràng trước khi vào trận, tương quan lực lượng hai bên đang ở tỷ lệ 1 - 3, ta 10 vạn, địch 29 vạn. Còn khi thuỷ quân Mân, Quảng kéo sang, tỷ lệ sẽ nghiêng nhiều hơn nữa về phía đối phương. Không những thế, quân cần vương nhà Lê ở phía bắc sẽ nổi dậy hưởng ứng. Ở phía nam, quân Nguyễn Ánh lại đang rập rình quay trở về đất Gia Định. Đến lúc ấy, chắc chắn quân ta sẽ không đủ sức, cùng một lúc, phải đối phó với nhiều đối tượng tác chiến từ các phía khác nhau. Vì vậy, bây giờ, tốt nhất là phải đi nhanh trước thời gian.


Thứ ba là về nghệ thuật quân sự. Đây cũng là phương châm “biết địch, biết ta” trước khi bước vào cuộc chiến tranh chống quân xâm lược do triều đình Mãn Thanh tiến hành. Đó là một nhà nước của chế độ phong kiến đang trên đường suy vong, một chính quyền thống trị ngoại bang trên đất Trung Hoa mà công cụ thực hiện chiến tranh lại là những binh lính người Hán bị ách đô hộ của họ điều khiển. Tình hình này khiến chúng ta liên tưởng đến xã hội châu Âu đương thời. Vào thế kỷ XVII trở đi, tại các nhà nước phong kiến suy tàn ở châu lục này - những nhà nước quân chủ chuyên chế - đã diễn ra quá trình thành lập các quân đội đánh thuê. Đối với loại quân đội như thế, cơ quan chỉ huy chiến lược thường không thể đặt ra những nhiệm vụ tác chiến kiên quyết. Bởi vậy, mục đích, mục tiêu của tác chiến chiến lược không chỉ là lực lượng quân đội mà còn là đất đai đối phương. Người ta coi thắng lợi cao nhất của chiến lược quân sự là chiếm lĩnh được lãnh thổ nhưng không cần phải tiến hành các hội chiến lớn để tiêu diệt sinh lực mà thay vào đấy là việc chiếm đóng các đường giao thông vận chuyển, uy hiếp các căn cứ, kho tàng, ép buộc quân đội địch phải rút lui. Nội dung chính sách quân sự đó được mệnh danh là chiến lược cơ động. Loại chiến lược này của phương Tây có mối quan hệ nào với chiến lược quân sự của Trung Quốc lúc bấy giờ hay không, hiện nay chưa rõ. Thế nhưng trong hoàn cảnh chính trị - xã hội khi triều đình Mãn Thanh tổ chức cuộc chiến tranh xâm lược nước ta thì sao có thể đạt được kết quả nếu không sử dụng đến kiểu chiến lược cơ động!


Nội dung chiến lược này được thể hiện rõ khi quân Mãn Thanh, chỉ trong vòng 22 ngày (từ ngày 25 tháng 11 đến ngày 17 tháng 12 năm 1788) đã chiếm được một vùng đất hết sức quan trọng là kinh thành Thăng Long và buộc quân Tây Sơn phải “rút chạy” về vùng Tam Điệp - Biện Sơn. Theo chỉ dụ của Càn Long, Tôn Sĩ Nghị đã cho chuyển ngay đội hình tiến công chiến lược sang đội hình phòng ngự tạm thời vì cho rằng mục tiêu chiến lược ít nhiều cũng đã đạt được mục đích cuộc chiến. Đó là sự sai lầm lớn của một nhiệm vụ tác chiến chần chừ, do dự khi phải đối mặt với chiến lược tiến công kiên quyết, dứt khoát của một quân đội trưởng thành từ một nền văn hoá quân sự rực rỡ, được thử thách qua mấy ngàn năm chiến đấu chống giặc ngoại xâm.


Tất cả những lý do trên đủ cơ sở để Nguyễn Huệ nhận thức được rằng không có phương pháp hành động nào thích hợp và hiệu quả nhưng lại chóng vánh và chắc thắng hơn là công kích bằng một đòn phủ đầu, đủ sức nặng tới mức chỉ một lần giáng xuống, đối phương đã gục ngay tại chỗ, không sao gượng dậy được.


Để thực hiện thành công đòn công kích phủ đầu, nhất thiết phải có được một sức mạnh trội hơn hẳn địch, nghĩa là phải có ưu thế tuyệt đối. Thông thường từ trước đến cuối thế kỷ XVIII, trong các cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta, tương quan lực lượng địch - ta luôn luôn ở trong hoàn cảnh “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh”. Muốn thắng lợi, quân ta cần phải có thời gian dài để chuyển hoá lực lượng, nghĩa là phải biến địch đang mạnh thành yếu và ngược lại, phải biến ta đang yếu thành mạnh thì mới có thể đánh thắng được. Tuy thế nhưng trong các cuộc chiến tranh đó, việc chuyển hoá lực lượng cũng chỉ đạt tới một sức mạnh nhất định, tức là chỉ nhỉnh hơn địch ở một mức độ vừa phải rồi quân chủ lực tổ chức từng trận đánh, giành lấy thắng lợi từng bước, phấn đấu đi tới thắng lợi cuối cùng. Nhưng trong cuộc chiến tranh này, tình hình chính trị - quân sự không cho phép dân tộc ta “phấn đấu từng bước” mà tình thế đòi hỏi phải giành thắng lợi cuối cùng trong một thời gian gấp gáp. Đó là một sự khác biệt và trong hoàn cảnh cụ thể ở đây quả là một khó khăn không nhỏ.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 499



« Trả lời #7 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:16:17 am »

Nếu tính từ khi quân Mãn Thanh vào chiếm đóng Thăng Long cho đến khi chúng bị đánh tan, tất cả chỉ có 46 ngày đêm (từ ngày 17 tháng 12 năm 1788 đến ngày 31 tháng 1 năm 1789), một thời gian thật quá ngắn ngủi cho giai đoạn làm chuyển hoá lực lượng địch - ta trong cuộc chiến tranh giữ nước mà hai bên tham chiến lại chưa một lần đụng độ. Sau một tháng rưỡi ở trên đất nước ta, quân xâm lược không hề ra khỏi đất kinh kỳ. Việc dàn mỏng lực lượng chúng để “chiến tranh xóm làng”, “chiến tranh tại chỗ” tiêu hao, tiêu diệt nhỏ hòng làm suy yếu, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ lực ta tiến hành các hội chiến nhằm tiêu diệt lớn như thông lệ là điều không thực hiện được. Nói một cách khác, trước khi vào cuộc đọ sức, lực lượng địch hầu như đang còn nguyên vẹn. Cho nên lúc này, phương pháp “làm mềm hoá” đối phương, không có con đường nào khác, là “tâm chiến”, là đánh vào tinh thần chiến dấu của quân cướp nước.


Nội dung phương pháp này của Nguyễn Huệ rất nhiều nhưng chỉ xin đơn cử hai thí dụ. Thứ nhất là viêc rút lui chiến lược. Về phía ta, hành động quân sự này chỉ là nhằm né tránh, "bảo toàn lấy quân lực", "chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu" nhưng về phía ngược lại, đã rơi trúng vào ý đồ chiến lược của địch, khiến chúng càng ngộ nhận là quân ta "sợ hãi đã ôm đầu chạy trốn” nên phải rút quân và bỏ lại đất đai. Từ đó, chúng càng tỏ ra kiêu căng, hung hăng, tự mãn, sinh ra khinh thường, thiếu cảnh giác, không đề phòng. Thứ hai là bức thư trá hàng gửi tới Tôn Sĩ Nghị. Nguyễn Huệ biết rõ viên tướng này thực sự là người có tài năng về nhiều mặt, từ khoa học đến chính trị, quân sự, thêm vào đó, y còn được Càn Long khen là “một đại thần toàn tài”, “không đầy một tháng mà đã thành công, thật xứng đáng với sự uỷ nhiệm của trẫm”. Tất cả những yếu tố thuận lợi về chủ quan và khách quan đó đã làm cho viên Tổng chỉ huy của đạo quân Thiên triều tự cao, tự đại cũng là điểu dễ hiểu. Bằng phương pháp khích tướng - đánh vào tính cách đó, để gây tác động tinh thần. Bức thư trá hàng của Nguyễn Huệ đã có giá trị như một liều thuốc cực mạnh, ru viên tướng họ Tôn “ngủ kỹ trên thành tích của mình”, mê man, không đủ sức tỉnh táo nhận rõ đúng, sai của chân lý, yếu, mạnh của đối phương trên chiến trường: “Nay đại nhân vâng lệnh của Thiên hoàng đế, hỏi tội thần về việc đuổi chúa, cướp nước. Thần xiết bao run rẩy, sợ hãi. Chuyến này đến đây, thần sẽ tới tại chỗ gần gũi để chờ lệnh đại nhân phân xử". Nhận thư, thấy lời lẽ khiêm nhường, người viết xác định đúng tội danh như vua Lê gán ghép là “đuổi chúa, cướp nước” với một thái độ “run rẩy, sợ hãi” nên người được nịnh bợ tỏ ra hưng phấn, càng yên trí rằng “tên tù trưởng mọi rợ, sợ oai phải đầu hàng” và không một chút do dự, đã lớn tiếng ra lệnh: “Hãy rút quân về Thuận Hoá để chờ phân xử". Với một giá trị tâm lý chiến, bằng lời lẽ phỉnh phờ, tâng bốc, bức thư đã góp phần không nhỏ, tạo thành một lớp vỏ bọc giả tạo cực kỳ khéo léo, khiến cho Tôn Sĩ Nghị vốn sẵn kiêu căng, nay lại càng yên trí vì có thêm bằng chứng mới nên càng lún sâu xuống vũng bùn sai lầm và tiếp tục duy trì sự suy nghĩ đó về ý đồ chiến lược của quân ta cho tới khi hoàn toàn bị đánh bại.


Bên cạnh “đòn cân não” hướng về phía địch là sự tăng cường sức mạnh về phía ta, chẳng hạn như việc tuyển thêm quân ở Nghệ An, việc tổ chức lễ “thệ sư” ở Thanh Hoá. Để quân ta có thêm khả năng chiến đấu, Nguyễn Huệ đã đưa vào trận những vũ khí mới như những con voi - pháo, những tấm ván quấn rơm, trát bùn, và đặc biệt là lần đầu tiên trong lịch sử, ông đã thực hiện một kiểu công kích mới, nó nằm ngoài bốn kiểu công kích ở châu Âu nói riêng, cũng là ở quy mô toàn thế giới nói chung, tính đến cuối thế kỷ XIX như Ph. Ăng-ghen đã từng tổng kết. Nó lại cũng không bố trí theo kiểu “trận đồ bát quái” quen thuộc của người Hán. Nội dung kiểu công kích này là: tiến công phía chính diện kết hợp bao vây, vu hồi phía canh sườn và sau lưng đội hình đối phương. Đó là một kiểu công kích khác biệt, độc đáo, sáng tạo. Nó vừa mang theo phương pháp tác chiến kết hợp chính - kỳ phương Đông cổ xưa của vũ khí lạnh, lại vừa mang theo phương pháp tác chiến của đội hình dãn thưa, kết hợp khối dọc của những người lính bộ binh sử dụng hoả khí cá nhân nòng trơn ở phương Tây lúc bấy giờ. Nó còn là một kiểu công kích vừa thắm đượm bản sắc tư tưởng tiến công theo truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, lại vừa thể hiện rõ rệt tư tưởng đánh tiêu diệt ở đỉnh cao của thiên tài quân sự Nguyễn Huệ. Không những thế, các cánh quân bao vây, vu hồi (ngôn ngữ của Tôn Tử gọi là “kỳ”) lại được cài lồng vào nhau, tạo thành thế trận “vây đơn, vây kép, vòng ngoài, vòng trong”, phía cạnh sườn kết hợp phía sau lưng, phía bên phải kết hợp phía bên trái. Ví dụ như công kích Ngọc Hồi, có vu hồi gần ở Đầm Mực, vu hồi xa ở Thăng Long; công kích khối quân địch ở phía bờ nam sông Hồng, có vu hồi gần ở Hải Dương, vu hồi xa ở Phượng Nhãn; các cánh vu hồi lại có phía trái vào Đầm Mực, ra Thăng Long, có phía phải đến Hải Dương, lên Phượng Nhãn. Các cánh quân xa, gần đó đã tạo cho thế trận một chiều sâu lớn, một vòng vây chặt. Tất cả những phương pháp hành động đầy tính sáng tạo nhưng lại rất cụ thể, tỉ mỉ như thế đã giúp quân ta đủ sức đánh thắng địch bằng một tổng hội chiến trên một chiến địa thống nhất, từ Ngọc Hồi đến cung Tây Long, dài chừng 20 km, theo đường chim bay, chứ không phải bằng nhiều hội chiến trên các chiến địa khác nhau như ở trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trước kia.


Qua phần vừa trình bày, đến đây chúng ta có thể kết luận được rằng bất ngờ và thần tốc chưa hẳn đã là những nhân tố đưa tới chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa năm 1789 mà thêm vào đấy còn có nghi binh, có tâm lý chiến, có sự nổi dây của nhân dân 9 xã ngoại thành và đặc biệt là có sự xuất hiện một kiểu công kích độc đáo, sáng tạo của Nguyễn Huệ. Mọi nỗ lực của nhân dân ta đã tạo thành một sức áp đảo mạnh mẽ, khủng khiếp, một ưu thế trội hơn hẳn đối phương trong khi chúng không còn thấy được rằng tính kiêu căng, thói hợm hĩnh, thiếu cảnh giác đã tự làm mục ruỗng hết tinh thần chiến đấu của mình, nếu không thì làm sao mà cả một đạo quân đông đảo, khổng lồ lại có thể tan vỡ một cách nhanh chóng, kỳ lạ đến như thế. Hai mươi chín vạn tên xâm lược đã bị thương, bị giết, bị bắt chỉ trong vòng một buổi sáng. Trận công kích phủ đầu này thật là một sự kiện nổi bật trong văn hoá quân sự Việt Nam.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 499



« Trả lời #8 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:18:12 am »

NGÔ THÌ NHẬM, DANH NHÂN VĂN HOÁ QUÂN SỰ
Ở THẾ KỶ XVIII CỦA HÀ TÂY


Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, vùng đất Hà Tây đã sinh ra nhiều danh nhân văn hoá nói chung và danh nhân văn hóa quân sự nói riêng. Các danh nhân văn hoá quân sự đó có thể kể đến Phùng Hưng ở thế kỷ VIII, Ngô Quyền ở thế kỷ X; những người mà trước những bước ngoặt lớn trong lịch sử đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm của dân tộc đã biết lựa chon ra được những phương pháp hành động thích hợp và hiệu quả để đánh thắng quân thù. Tại Hà Tây còn có một danh nhân văn hoá quân sự ở thế kỷ XVIII. Đó là Ngô Thì Nhậm, người mà về tài năng quân sự, trong tác phẩm “Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam”, cố Tổng Bí thư Trường Chinh đã xếp vào hàng với Ngô Quyền, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, năm nhà lãnh đạo chiến tranh kỳ tài của dân tộc ta trong hơn 900 năm dưới thời tự chủ.


Ông sinh ra từ một dòng họ vốn được xem là văn võ toàn tài tại làng Tó - Tả Thanh Oai. Năm 1778, khi Ngô Thì Nhậm giữ chức Đốc đồng trấn Kinh Bắc, kiêm chức Đốc đồng trấn Thái Nguyên thì cha ông là Ngô Thì Sĩ cũng giữ chức Đốc đồng trấn Lạng Sơn, một trọng trấn biên giới, như thế là “một nhà; hai cha con thống lĩnh ba trấn và khống chế hai biên thuỳ”. Không những thế, cha còn là Đình Nguyên (đỗ hội nguyên hoàng giáp, tức đỗ đầu thi hội và thi đình), con lại là Tiến sĩ. Thật là “cha con đồng triều, phụ tử thế khoa”, ngay chú ruột Ngô Thì Nhậm là Ngô Tưởng Đạo cũng là một người chỉ huy quân sự có tài.


Riêng bản thân Ngô Thì Nhậm cũng đã trải qua nhiều năm chịu trách nhiệm chỉ đạo chính trị và quân sự ở các tỉnh. Dưới thời chúa Trịnh Sâm, những tờ khải về tình hình biên giới, biên phòng của ông được chúa đặc biệt chú ý và thường khen là “tài học không ở dưới người”. Trong việc đánh dẹp Hoàng Văn Đồng ở Tuyên Quang, ông cũng được chúa tuyên dương là người “đánh giặc giỏi”. Ở đây, ông không chỉ là người biết nắm chắc phương pháp “điều binh, khiển tướng” mà còn rất nhạy bén, biết nhận định chính xác điều kiện thực tế chiến trường để đề ra những quyết sách đúng đắn làm nên chiến thắng.


Bằng cách lừa phỉnh, cưỡng bức nhân dân làm lực lượng, Hoàng Văn Đồng đã đưa phỉ nước ngoài về tàn sát nhân dân địa phương và chống lại triều đình. Trước tình hình đó, Ngô Thì Nhậm đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu để phân biệt rõ đâu là giặc, đâu là dân bị cưỡng bức, lừa bịp. Chúa Trịnh từng ra lệnh cho ông tiến quân đến đâu, được phép “làm cỏ” sạch, san phẳng xóm làng, đốt phá nhà cửa ngay đến đó, nhưng ông không làm theo mà dùng lý lẽ phải trái, giảng giải cho nhân dân ở vùng căn cứ giặc hiểu rõ âm mưu của chúng. Đưa giáo dục thuyết phục lên vị trí hàng đầu nhằm tiễu phỉ là một tư tưởng rất hiện đại trong đấu tranh vũ trang. Chính với tài năng quân sự hơn người như vậy mà sau này Ngô Thì Nhậm từng được vua Quang Trung phong làm Binh bộ Thượng thư.


Từ một tầm nhìn sâu xa về quân sự nên việc đánh giá các vị trí địa hình của ông cũng rất tinh tế. Căn cứ Tam Điệp là nơi có địa hình hiểm yếu. Nhận thấy điều đó ông để nghị với Ngô Văn Sở tạm rút về thủ hiểm để tuỳ cơ ứng phó với quân Mãn Thanh trong cuộc chiến tranh năm 1789. Ninh Tốn, một viên tướng của triều đình Lê - Trịnh, khi chuẩn bị đem quân đi chống Vũ Văn Nhậm vào cuối năm 1788, cũng từng nói:

"Giữa Thanh Hoa nội với Thanh Hoa ngoại có núi Tam Điệp ngăn cách, ấy là chỗ trời đất xây dựng, rất là hiểm yếu. Ta nên tiến quân để giữ vững lấy, chớ để quân giặc chiếm trước. Được như vậy thì từ Trường Yên về bắc còn là của mình. Nếu núi Tam Điệp mà mất, thì lộ Sơn Nam thênh thang, với những cánh đồng bằng phẳng rộng rãi, e khó tranh nhau với giặc, việc nước sẽ không thể làm thế nào được nữa".


Quả nhiên, đúng như dự đoán, Ninh Tốn đã thua trận vì chậm chân hơn Vũ Văn Nhậm.

Vào những năm lánh nạn ở Sơn Nam, Ngô Thì Nhậm thường đặc biệt lưu tâm đến vị trí chiến lược này. Trong bài thơ cảm hứng, ông đã viết :

   "Thu nhập Ngủ Hồ tri ngã cộng,
   Tâm quan Tam Điệp hữu thuỳ tri?"
   (Thu đến Ngũ Hồ ta có đấy,
   Lòng lo Tam Điệp khách hay chi?)


Hồi ấy, Ngô Thì Nhậm trăn trở về Tam Điệp là lo giúp nhà Trịnh chống quân Tây Sơn, ngờ đâu, chỉ mấy năm sau, điều suy nghĩ đó lại là để giúp vua Quang Trung đánh thắng quân xâm lược. Những nhà chỉ huy quân sự đều nhận thức rõ tầm quan trọng của vị trí Tam Điệp, nhưng trong tình huống chiến lược của đạo quân Tây Sơn ít ỏi ở Bắc Hà lúc đó đã kịp thời ra quyết định tạm lui về địa điểm này để vừa bảo toàn lực lượng, vừa sớm liên hệ được với đại quân của thống soái Quang Trung từ Phú Xuân ra, lại vừa có thêm điều kiện thời gian, chủ động đối phó với địch thì rõ ràng, công sức của Ngô Thì Nhậm, quả là không nhỏ.


Qua lời nói và việc làm của Ngô Thì Nhậm, chúng ta thấy rõ ở ông một tài năng hiếm có, nghĩa là dám táo bạo thực hiện một mưu kỳ chước lạ, mới nghe tưởng như trái đạo nhưng trên thực tế khách quan là phải lẽ để ứng phó thành công với một sự việc hết sức phi thường: đánh giặc, giữ nước. Vì nếu không lựa chọn tới một phương pháp hành động đúng đắn như vậy, đã không đưa dân tộc ta tới chiến thắng lớn. Bởi thế, phần đóng góp của ông đã được vua Quang Trung đánh giá rất cao về giá trị quân sự.


"Các ngươi đã biết nín nhịn để tránh mũi nhọn của chúng, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng, kế ấy là rất đúng".

Sự kiện quân Tây Sơn rút khỏi Thăng Long về phòng ngự tại Tam Điệp - Biện Sơn là một hành động chưa từng có trong lịch sử đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm ở Việt Nam. Về thực chất, hành động của giai đoạn này là nhằm kiềm chế, làm suy giảm sức tiến công của địch hoặc ít nhất cũng là làm cho tốc độ tiến quân của chúng chậm dần lại để chờ đại quân ta kịp triển khai kế hoạch phản công chiến lược, giành thắng lợi quyết định. Đó chính là cống hiến to lớn của Ngô Thì Nhậm về mặt quân sự trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mãn Thanh năm 1789.


Để đi tới mục đích trên, trước khi rút quân, Ngô Thì Nhậm còn thu hút sự chú ý của đối phương bằng hai việc làm cụ thể mà nội dung thực chất về quân sự là nghi binh, kịp cho quân ta có thêm thời gian chuẩn bị.

Thứ nhất là khi quân xâm lược chuẩn bị tiến vào nước ta, một phái đoàn, gồm một số quan lại cũ nhà Lê là Nguyễn Quý Nha, Trần Bá Lãm, Võ Huy Tấn cùng Nguyễn Đình Khoan, Lê Duy Chử, Nguyễn Đăng Đàn được cử đến Nam Quan, trao cho quân Mãn Thanh một bức thư đứng tên Sùng nhượng công Giám quốc Lê Duy Cận và một tờ bẩm văn ký tên các hào mục Bắc Hà, xin nghị hoà làm kế hoãn binh. Dĩ nhiên ý kiến đó không được chấp nhận, phái đoàn này bị chặn lại, phải quay về.


Thứ hai là khi quân xâm lược tiến đến vùng trung du, một bộ phận lực lượng chiến đấu của ta làm giả việc đào hào, đắp luỹ, phao tin là sẽ quyết chiến tại phòng tuyến sông Như Nguyệt như Lý Thường Kiệt đã làm ngày trước.


Mặt khác, một đội quân khoảng một ngàn người, dưới sự chỉ huy của Phan Văn Lân, lên nằm chờ sẵn ở phía bắc Thị Cầu và ban đêm đã tập kích vào đại bản doanh của chủ tướng Tôn Sĩ Nghị đóng ở núi Tam Tằng. Tiếp đó là một cuộc duyệt binh lớn được tổ chức ở bãi sông Hồng, cạnh Thăng Long, nhằm đánh lạc hướng địch, để đến nửa đêm, quân ta bất ngờ rút về phía Nam.
Logged
ktqsvn
Thành viên
*
Bài viết: 499



« Trả lời #9 vào lúc: 24 Tháng Hai, 2022, 07:18:55 am »

Đến đây, một vấn đề cần được làm rõ, việc rút quân về bố phòng ở Tam Điệp - Biện Sơn có liên quan tới ba nhân vật là vua Quang Trung, Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm. Vậy ai là “tác giả đích thực”?

Nếu xét về tầm vĩ mô của cuộc chiến tranh giữ nước năm 1789, vua Quang Trung là người chịu trách nhiệm chính. Nhưng trước đó, từ tháng 5 năm Mậu Thân (khoảng tháng 6 năm 1788), “việc quân quốc mười một trấn Bắc Hà” đã được giao cho Đại tư mã Ngô Văn Sở cùng một số người giúp việc, trong đó có Ngô Thì Nhậm. Đến khi triều đình Mãn Thanh phát động cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, đặc biệt là thời gian tính từ ngày 28 tháng 11 năm 1788 - khi quân đội chúng rời Quảng Tây tiến về phía biên thuỳ hai nước - đến ngày 15 tháng 1 năm 1789 - khi vua Quang Trung đưa đại quân ra đến Tam Điệp - thì những hoạt động quân sự của quân Tây Sơn, tuy đặt dưới sự chỉ huy của Ngô Văn Sở nhưng linh hồn của những hoạt động quân sự ấy lại thuộc về Ngô Thì Nhậm.


Thật vậy, sau khi nghe Ngô Thì Nhậm phân tích hết điều hơn lẽ thiệt về việc rút quân thì:

"Sở bèn nghe theo... Tới huyện Yên Mô, Sở sai chia quân đóng đồn dọc ven núi Tam Điệp, thẳng đến bờ biển, hai mặt thuỷ bộ liên lạc với nhau để cố thủ".

Và khi đưa đại quân ra đến Tam Điệp, chuẩn bị cho giai đoạn phản công chiến lược, vua Quang Trung cũng xác định rõ “quyền tác giả” của việc rút quân khỏi Thăng Long, bảo toàn lực lượng là Ngô Thì Nhậm: "Kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói, ta đã đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ mưu, sau hỏi Văn Tuyết thì quả đúng như vậy".


Bên cạnh sự cống hiến của Ngô Thì Nhậm về quân sự từ những công việc góp phần chỉ đạo cuộc chiến tranh năm 1789, ông còn có sự cống hiến khác nữa về quân sự nhưng lại bằng phương thức đấu tranh ngoại giao, một sự lựa chọn phương pháp hết sức tài tình để đạt mục đích.


Theo sử sách thì trước khi ra Thăng Long, tiêu diệt quân Mãn Thanh, với tầm nhìn xa, trông rộng, vua Quang Trung đã tính trước: "Lần này ta ra, thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mươi ngày, có thể đuổi được quân Thanh, nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải là Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được".


Với ý định đó, trong những năm sau đại thắng 1789, Ngô Thì Nhậm được cử làm người đứng đầu công tác ngoại giao của triều Tây Sơn. Về mặt này, một trong những nội dung cống hiến không nhỏ của ông là đã làm triệt tiêu một cuộc chiến tranh xâm lược của địch sắp sửa xảy ra với đất nước ta. Đây là một chiến công mà ý nghĩa lớn lao của nó là “không đánh mà thắng”.


Ai cũng biết, sau thất bại lớn từ chiến địa Ngọc Hồi - Đống Đa, triều đình Mãn Thanh toan tính huy động quân lính 9 tỉnh hòng tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược nữa để trả thù, nhưng vì đã bị tác động bởi đòn giáng trả sấm sét của dân tộc ta làm cho một bộ phận lớn quan lại, nhất là số quan lại ở biên giới, đang muốn cầu hoà. Nắm được tâm trạng này qua bức thư của Thang Hùng Nghiệp, vốn là phó tướng của Tôn Sĩ Nghị, lại vừa thoát chết trong cuộc chiến tranh xâm lược vừa qua chưa đầy nửa tháng, Ngô Thì Nhậm đã viết một bức thư phúc đáp với lời lẽ rất kiên quyết, kèm theo thư còn có một đạo biểu văn, nhờ Thang Hùng Nghiệp chuyển lên Hoàng đế Càn Long. Xem xong thư, biểu, “lạ lùng và sợ hãi” trước thái độ cứng rắn của vua Quang Trung, Thang Hùng Nghiệp bèn viết thư "mách nước" cho Ngô Thì Nhậm trần tình về lý do vua Quang Trung đánh tan đạo quân của Tôn Sĩ Nghị.


Tiếp đó, vào tháng 5 năm 1789, đã diễn ra một cuộc gặp mặt tại biên giới giữa sứ thần nước ta vói Thang Hùng Nghiệp. Tại đây, Thang đề ra việc nộp công phẩm và đòi vua Quang Trung phải lên Nam Quan gặp Phúc Khang An (viên tống đốc mới của Lưỡng Quảng, thay cho Tôn Sĩ Nghị) bàn việc cầu phong, Ngô Thì Nhậm thẳng thắn bác bỏ hết thảy.


Mặc dù thế, các cuộc đàm phán ngoại giao, trao đổi công văn, thư từ giữa hai bên vẫn cứ tiếp tục và cuối cùng, Càn Long buộc phải huỷ bỏ việc phát động một cuộc chiến tranh xâm lược để trả thù vì biết chắc rằng sẽ không bao giờ giành được phần thắng.


Như vậy là cả hai cuộc chiến tranh xâm lược của triều đình Mãn Thanh - một đã diễn ra trên chiến địa và một còn đang nằm trong ý định của giới cầm quyền - đều bị đập tan.

Thật ra, so với các đế chế đàn anh ở đất Trung Nguyên như Đại Tống, Đại Nguyên, Đại Minh thì Đại Thanh không phải là một đế chế mạnh vì “sinh sau, đẻ muộn” và đã ở vào giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến Trung Hoa nhưng cũng còn là vì một đế chế được xây dựng trên nền thống trị của một nhà nước ngoại bang, phi Hán tộc. Vì thế mà trong đạo quân sang xâm lược Việt Nam năm 1789, ông cha ta đã phát hiện ra rằng, bên cạnh mối quan hệ giữa người Mãn với các tộc ngươi khác trên đất Trung Hoa còn có mối quan hệ giữa giai tầng thống trị nước ngoài với các giai tầng bị đô hộ người bản xứ. Rõ ràng quyền lợi của các thành phần quân đội này hoàn toàn trái ngược với nhau, vừa là mâu thuẫn giai cấp, vừa là mâu thuẫn dân tộc. Đó là một trong những điểm yếu chí tử, không có bất cứ một biện pháp nào có thể khắc phục nhằm tạo nên sức mạnh cho đạo quân xâm lược Mãn Thanh.


Tuy thế nhưng đế chế Mãn Thanh, dù đã ở trong tình trạng “mãn chiều, xế bóng”, vẫn chưa cam chịu để mất đi cái vẻ bóng bẩy, hào nhoáng mà vẫn ngạo nghễ, kiêu căng. Chẳng hạn như:

"Ta, Hoàng đế, nhờ ơn trời, lệnh cho vua nước Anh ghi lấy lời huấn thị sau: Thiên tử, cai quản cả bốn biển... xem thường các đồ quý hiếm của nước ông..., vì thế, ta đã ra lệnh cho các sứ thần mang đồ tế lễ của ông về nước an toàn. Còn ông, Hoàng thượng, ông chỉ cần hành động cho hợp ý muốn của ta là nâng cao lòng trung thành và thề nguyện vầng lời mãi mãi”.


Đó là lời lẽ trong một bức thư của Hoàng đế Càn Long trả lời vua Gióoc-giơ III của nước Anh khi các sứ thần nước này dâng lên một số sản phẩm công nghiệp làm quà nhằm xây dựng mối quan hệ thương mại.

Nhưng đối với dân tộc ta, bóc trần lớp vỏ bọc giả tạo bên ngoài và chuyển hoá những điểm yếu của địch thành những điểm mạnh của ta để chiến thắng kẻ thù vốn là một phương pháp sở trường trong quá trình đấu tranh vũ trang chống ngoại xâm ở mọi thời đại. Văn hoá quân sự Việt Nam ở thế kỷ XVIII cũng không đi ra ngoài quỹ đạo này. Trong chiến thắng hào hùng đó, công lao cực kỳ to lớn đời đòi thuộc về thế hệ người Việt đương thời mà linh hồn, của nó là vua Quang Trung - vị thống soái kiệt xuất, người anh hùng dân tộc vĩ đại, một thiên tài quân sự ở cuối thời trung đại. Bên cạnh đó, chúng ta không thể không nhắc tới sự đóng góp hết mình của Ngô Thì Nhậm, một danh nhân văn hoá quân sự Việt Nam, một người con thân yêu của vùng đất Hà Tây.
Logged
Trang: 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM