Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 02 Tháng Mười Một, 2026, 07:38:36 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đường tới toàn thắng  (Đọc 16828 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« vào lúc: 16 Tháng Tư, 2021, 01:46:49 pm »

Tên sách: Đường tới toàn thắng
Nhà xuất bản: Quân đội Nhân dân
Năm xuất bản: 2005
Số hoá: ptlinh, quansuvn

Tổ chức thực hiện:
   - Đại tá ĐỒNG KIM HẢI
   - Đại tá GIÁP VĂN PHÚC

Có sự tham gia của các đồng chí:
   - Đại tá - Nhà văn HÀ BÌNH NHƯỠNG
   - Thượng tá - Nhà văn LAM GIANG (Hồ Sĩ Thành)
   - NGUYỄN QUỐC HOÀN

« Sửa lần cuối: 21 Tháng Tư, 2021, 03:03:37 pm gửi bởi macbupda » Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #1 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2021, 01:47:38 pm »

Lời giới thiệu


Đại thắng mùa Xuân 1975 là đòn tiến công chiến lược cuối cũng kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài 21 năm. Theo dòng chảy lịch sử, ta đã có một khoảng lùi xa 30 năm để nhìn lại sự kiện vĩ đại này của thế kỷ XX.


Những sự kiện, những chiến dịch lớn quyết định trong giai đoạn này đã được ghi lại dưới nhiều dạng thức, chuyền tải đến bạn đọc một lượng thông tin rất đa dạng và phong phú về diễn tiến chiến dịch tại chiến trường miền Nam và cả hậu phương lớn miền Bắc.


Đại thắng mùa Xuân 1975 đã huy động vào đây hầu hết những lực lượng tinh nhuệ, thiện chiến của các quân binh chủng nhằm giải quyết những điểm mốc then chốt, cũng như bố trí cài thế trên bình diện cuộc chiến, đặc biệt là Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định. Nghệ thuật quân sự đỉnh cao, sự sáng tạo và tổ chức chỉ huy, tinh thần và ý chí của binh sĩ được thể hiện trong chiến dịch vô cùng sôi động kéo dài 55 ngày đêm.


Đối với các tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ, Đại thắng mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, đã khắc sâu vào tâm tưởng những kỷ niệm không bao giờ quên.


Tập sách này, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân quy tụ nhiều tác giả là cán bộ chỉ huy các cấp chiến lược, chiến dịch, các cán bộ quân sự, chính trị, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà khoa học... là những nhân chứng đã từng tham gia chiến dịch, các trận đánh lớn hoặc giai đoạn tiếp quản.


Các tác giả đã biểu đạt các sự kiện gắn với kỷ niệm của mình với độ chính xác đáng tin cậy; đồng thời cập nhật nhiều tư liệu mới và cái nhìn có chiều sâu lịch sử... góp phần tạo nên bức tranh toàn cảnh và hoành tráng của một chiến dịch tầm cỡ, kết thúc cuộc chiến tranh lâu dài, ác liệt nhất trong lịch sử Việt Nam.


Với những cố gắng của các tác giả và Ban biên soạn, hy vọng tập sách "Đường tới toàn thắng" sẽ giúp bạn đọc hiểu sâu sắc, toàn diện hơn thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong lịch sử chống ngoại xâm, tròn 30 năm trước.

Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


NHÀ XUẤT BẢN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #2 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2021, 01:48:49 pm »

VỚI CHIẾN THẮNG GIẢI PHÓNG
MỘT TỈNH ĐẦU TIÊN, QUÂN VÀ DÂN PHƯỚC LONG ĐÃ CHỈ RA
THỜI CƠ VÀ KHẢ NĂNG GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM


Thượng tướng TRẦN VĂN TRÀ
Trích kỷ yếu chiến thắng Phước Long của Thượng tướng Trần Văn Trà, nguyên Tư lệnh Bộ Tư lệnh B2 (Miền), Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh - Xuân 1975


Quân và dán Phước Long đã làm nên một kỳ tích chiến lược trong chiến tranh chống Mỹ. Đúng như vậy; không có chiến thắng Phước Long thì chưa có Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vì vậy chiến thắng Phước Long không thể đánh giá như một chiến thắng chiến thuật hay chiến dịch mà là một chiến thắng ở tầm chiến lược. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đi vào lịch sử vinh quang nhất của dân tộc phải chăng xuất phát từ ngày 6 tháng 1 năm 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long. Hãy ghi nhớ công ơn của những người con của dân tộc đã ngã xuống trên miền đất thiêng liêng này, những con người tiếp sáng trí tuệ của những người sống, chỉ ra thời cơ đã chín và khả năng của ta giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Ngay sau khi chiến thắng Phước Long được thông báo trong cuộc họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng mở rộng đến các lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường đang họp tại Hà Nội, đồng chí Lê Duẩn - Tổng Bí thư đã vui mừng nói: "Thực tế này nói rõ hết khả năng của ta, sự phản ứng thế nào của ngụy và nhất là của Mỹ”. Về sau đồng chí lại nói: “Chiến thắng này, đã mở ra tiền đề cho cách mạng miền Nam thần tốc tiến lên giải phóng hoàn toàn miền Nam”.


Trong chiến tranh, đặc biệt là cuộc chiến tranh chống Mỹ của ta, mà sức lực đôi bên rất không cân xứng. Kẻ địch của ta là một cường quốc thế giới có dư bom đạn vũ khí hiện đại, dư tiền của và có quyết tâm của một chiến lược toàn cầu, nên tình hình diễn biến vô cùng phức tạp trong suốt các quá trình của cuộc chiến. Hiểu rõ địch nhất là những âm mưu, kế hoạch của nó, hiểu rõ ta nhất là những khả năng thực tế đến đâu, hiểu rõ tình hình đôi bên từng giai đoạn trên chiến trường là rất khó. Không thể căn cứ vào hiện tượng nhiều khi không thật, không thể căn cứ vào ý chí của ta. Sự việc thường diễn biến thuận hoặc nghịch lý, luôn vận động phát triển không ngừng, có lúc biểu lộ rõ nét, nhưng bao giờ cũng còn những ẩn số ngầm. Việc nắm bắt được kịp thời và chính xác thực chất của sự vật, chiều hướng phát triển của nó để có chủ trương chiến lược đúng thời cơ là yêu cầu cao nhất của lãnh đạo chỉ đạo chiến lược trong chiến tranh.


Sau khi Hiệp định Pa-ri được ký kết, sự đánh giá tình hình giữa ta và địch có nhiều ý kiến mâu thuẫn nhau. Hiệp định quy định quân Mỹ rút hết khỏi Việt Nam, nhưng Mỹ không những để hết vũ khí lại cho ngụy, rút về hơn nửa triệu quân tay không, mà còn chở thêm, cả bằng đường không, đường biển, trang bị vũ khí rất nhiều cho ngụy để ngụy giành thắng lợi cuối cùng trong “Việt Nam hóa chiến tranh”. Do đó, có những đánh giá rằng Mỹ cút nhưng ngụy chưa nhào mà còn mạnh lên về mọi mặt; còn ta thì yếu đi nhiều, cần sắp xếp lại thành hai vùng, rút hết quân đội ta từ vùng địch về vùng ta để củng cố nếu không sẽ bị tiêu diệt hết. Tất nhiên như vậy chiến trường sẽ phân tuyến, tự mình xóa thế xen kẽ da beo vô cùng lợi hại của chiến tranh nhân dân. May thay, Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng chấn chỉnh và đề ra đường lối đúng đắn để ta tiếp tục giành thắng lợi. Mùa khô 1974, toàn bộ chiến trường B2 hoạt động đánh địch rất tích cực, đã giành nhiều thắng lợi cả ở đồng bằng và rừng núi. Qua hoạt động thực tế tại chiến trường, ta đã hiểu địch và hiểu ta rõ hơn. Nhờ đó Trung ương Cục đã nhận định trong hội nghị tổng kết tháng 6: “Qua mùa khô này nhân tố mới sẽ xuất hiện rõ: ta đang thắng lợi và phát triển đi lên, địch đang suy sụp đi xuống. Ta không dừng lại, phải tiếp tục giành thắng lợi lớn hơn. Mùa mưa này (1974) ta có rất nhiều thuận lợi hơn bất kỳ mùa mưa nào trước đây, hơn cả mùa khô vừa rồi. Bất chấp thời tiết khó khăn, phải đẩy mạnh hoạt động mọi mặt, tạo thế và lực mới, vật chất và tinh thần cho các quân khu, các tỉnh, các địa phương và cho chủ lực bước vào mùa khô 1974-1975 với khí thế mạnh, sung sức. Năm 1975, nhất là mùa khô 1975, ta có khả năng giành thắng lớn, làm chuyển biến tình hình, tạo ra bước ngoặt, một bước ngoặt có tính chất quyết định”.


Quả thật mùa mưa năm 1974 ta thắng lớn. Lại vượt mọi khó khăn do địch và thời tiết gây ra, vận tải vũ khí và đưa quân số bổ sung được cho đồng bằng sông Cửu Long và các đơn vị sẵn sàng cho mùa khô.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #3 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2021, 01:49:30 pm »

Trên cơ sở đánh giá đúng đắn ta - địch qua thực tế cả năm 1974 như vậy, Bộ chỉ huy B2 đặt kế hoạch hoạt động lớn ngay vào đầu mùa khô 1974-1975 cho chiến trường B2. Trong kế hoạch đó, các Quân khu 8, 9 tiêu diệt địch, phá bình định, mở rộng vùng làm chủ, trọng điểm là trung tâm vùng đồng bằng: các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long. Còn chủ lực Miền thì đánh địch trên đường 14, mở đầu bằng diệt chi khu Đồng Xoài, làm chủ ngã tư giao thông quan trọng này để dùng cơ giới tải đạn dược, lương thực qua phía bắc và phía đông Sài Gòn chuẩn bị cho các mũi bắc và đông đánh vào Sài Gòn trong thời gian tới. Nếu điều kiện thuận lợi do địch bị cô lập ở Phước Long hoang mang, ta sẽ giải phóng cả tỉnh. Trung ương Cục đã thông qua kế hoạch, một mặt báo cáo ra Trung ương, một mặt triển khai đánh địch ngay vào đầu tháng 12 năm 1974 của đợt 1 mùa khô và chuẩn bị cho đợt 2 vào tháng 3. Ngoài ra, Trung -ương Cục còn đề nghị có cuộc họp của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và lãnh đạo chỉ huy các chiến trường để nhận định đánh giá đúng tình hình và có những chủ trương kịp thời.


Nhưng Trung ương không chấp thuận kế hoạch của B2; lệnh không được dùng chủ lực và binh chủng xe tăng, pháo xe kéo, trong năm 1975, để dành sức quan trọng cho thời cơ quan trọng năm 1976. Năm 1975 chỉ được đánh nhỏ, chủ yếu hoạt động phá bình định ở đồng bằng Cửu Long. Chủ lực chỉ dùng một bộ phận đánh Đức Lập mở hành lang thông suốt vào miền Đông Nam Bộ để chuẩn bị cho các chiến dịch lớn, thời cơ lớn năm 1976.


Chính vì vậy B2 phải bỏ kế hoạch đánh Đồng Xoài, điều lực lượng Quân đoàn 4 triển khai sẵn ở Đồng Xoài cùng pháo và xe tăng về vị trí cũ; dùng Sư đoàn 3 mới tổ chức cùng địa phương và du kích đánh nhỏ trên đường 14 vào khu vực Bù Đăng và bắc Đồng Xoài.


Điều này chứng tỏ các chiến trường không báo cáo được đầy đủ và kịp thời tình hình thực tế ra Trung ương hoặc báo cáo sai lệch. Không thể có dự kiến cho sắp tới, tiên tri cho tương lai trong khi thiếu những cơ sở thực tế của chiến trường được phản ánh đầy đủ.


Cuộc họp của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương có sự tham dự của lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường toàn Miền từ ngày 18 tháng 12 năm 1974 đến ngày 8 tháng 1 năm 1975 đã bổ sung kịp thời những thiếu sót đó. Tình hình đã rõ, sự đánh giá của ta về địch đúng đã làm cơ sở vững chắc cho kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976. B2 được phép dùng chủ lực Quân đoàn 4 pháo và xe tăng cùng Sư đoàn 3 đánh và đã tiêu diệt gọn Đồng Xoài rồi giải phóng hoàn toàn tỉnh Phước Long trong niềm vui sướng của mọi người. Quân ngụy bị rải ra giữ khắp miền Nam để thực hiện mệnh lệnh của Thiệu là không để một xã nào rơi vào tay Việt Cộng. Rút cục không còn lực lượng dự bị nào phản ứng nổi thất bại lớn lao này như nhận định của B2 trước khi đánh. Chúng chỉ đưa được liên đoàn biệt kích dù 81 vẻn vẹn khoảng 200 tên lên phản kích nhưng cũng bị tiêu diệt. Thiệu đành làm trò hề ba ngày toàn quốc để tang cho Phước Long. Còn Mỹ tuy cảm thấy sự kiện Phước Long có quan hệ đến sự sụp đổ của chế độ ngụy, nhưng cũng chỉ đứng ngoài hăm dọa và gây áp lực từ xa như báo động khẩn cấp Sư đoàn 3 lính thủy đánh bộ ở O-ki-na-oa, dọa ném bom trở lại miền Bắc nếu ta tiếp tục tấn công, cho tàu sân bay Interprise từ Phi-líp-pin vào biển Đông, Nam Việt Nam. Mặc dù chính tổng thống Thiệu đã van nài đại sứ Mỹ Ma-tin xin Mỹ can thiệp, Bộ ngoại giao của cái gọi “Cộng hòa Việt Nam” chính thức gửi công hàm, tướng Khuyên - tổng tham mưu trưởng quân ngụy gọi điện cầu cứu khẩn cấp với Xmít, trưởng cơ quan tình báo quân sự Mỹ (DAO), song, Mỹ vẫn làm ngơ. Ngày 9 tháng 1 năm 1975, Đại sứ quán Mỹ báo cho Thiệu biết “Việc yểm trợ bằng máy bay Mỹ lúc này chưa được phép”, rồi ngày 21 tháng 1 năm 1975 tổng thống Pho tuyên bố: “Không có hành động nào khác ngoài việc bổ sung viện trợ cho Sài Gòn, sẽ không can thiệp vào Việt Nam mà không thông qua thủ tục hiến pháp và lập pháp” và khi bị Quốc hội Mỹ chất vấn, tàu sân bay Interprise được lệnh rút êm về Ân Độ Dương.


Trong đợt 1 hoạt động mùa khô toàn B2 đã giành thắng lợi lớn. Mặc dù các chiến trường khác chỉ đánh nhỏ, địch vẫn không thể tập trung cao độ đối phó với B2 vì thực sự chúng đã suy yếu nghiêm trọng. Ngoài chiến thắng Phước Long, ta đã giải phóng huyện Tánh Linh và một nửa huyện Hoài Đức thuộc tỉnh Bình Thuận, tiêu diệt và làm chủ đài quan sát và kỹ thuật thông tin ở núi Bà Đen dùng khống chế cả vùng tây bắc miền Đông Nam Bộ. Ở đồng bằng sông Cửu Long ta diệt nhiều chi khu, căn cứ và đồn bốt địch, loại khỏi vòng chiến đấu 2 vạn tên, giải phóng gần 2 triệu dân.


Trong cuộc họp của Bộ Chính trị (mở rộng) kết thúc vào ngày 8 tháng 1 năm 1975, căn cứ vào tình hình phát triển mới nhất, đặc biệt là chiến thắng giải phóng toàn tỉnh Phước Long, hội nghị đã có những kết luận quan trọng:


“Diễn biến cơ bản của tình hình trong gần hai năm qua rõ ràng là ta đang ở thế thắng, thế đi lên, thế chủ động và thuận lợi. Địch đang thế thua, thế đi xuống, thế bị động và khó khăn... Chúng suy yếu một cách toàn diện với nhịp độ ngày càng tăng. Do hoạt động của ta và do khó khăn nội tại của chúng, địch có thể trải qua những bước xuống dốc nghiêm trọng”...


“So sánh lực lượng địch - ta trên phạm vi cả nước cũng như trên chiến trường miền Nam đã có những chuyển biến cơ bản rõ rệt có lợi cho cách mạng, ta đã mạnh hơn địch”.


“Chúng ta đã đứng trước thời cơ chiến lược lớn”... Chưa bao giờ ta có đầy đủ điều kiện về quân sự và chính trị như hiện nay, thời cơ chiến lược to lớn như hiện nay để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thống nhất Tổ quốc...”.


Trên cơ sở nhận định và đánh giá tình hình như vậy mà Bộ Chính trị hạ quyết tâm về kế hoạch hai năm 1975-1976 giải phóng hoàn toàn miền Nam.


Bộ Chính trị nhấn mạnh vấn đề thời cơ chiến lược: “Cả năm 1975 là thời cơ, đòn tiến công quân sự mạnh tạo nên thời cơ, phong trào chính trị thúc đẩy thời cơ, tình hình thế giới và nội tại nước Mỹ là thời cơ.

Phải khẩn trương, phải đánh nhanh hơn".

Chiến thắng Phước Long là một thực tế làm lộ rõ tình hình của giai đoạn cuối của chiến tranh giúp ta đánh giá đúng tương quan lực lượng đôi bên. Hiểu rõ khả năng của ngụy nhất là khả năng của Mỹ có tái can thiệp vào Việt Nam hay không. Chiến thắng Phước Long đã tạo thời cơ vô cùng quan trọng trong năm 1975 không được bỏ lỡ để kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #4 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2021, 03:39:03 pm »

NHỚ LẠI CÁNH QUÂN TÂY NAM
TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ


Theo lời kể của Trung tướng LÊ VĂN TƯỞNG (LÊ CHÂN)
Nguyên Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Miền; Nguyên Chính ủy Đoàn 232 - cánh quân Tây - Tây Nam
trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, Xuân 1975


Trước khi nói về cánh quân Tây Nam - một trong năm cánh quân hiệp đồng đánh trận cuối cùng tạo nên chiến tích lẫy lừng làm sụp đổ ngụy quân, ngụy quyền, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ 21 năm đầy gian khổ hy sinh, theo tôi, không thể không nhắc lại mấy sự kiện mang tầm vóc chiến lược trước đó.

1. Không thể không nhắc đến “đòn trinh sát chiến lược Phước Long”

Giữa tháng 11 năm 1974, đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục và đồng chí Trần Văn Trà - Tư lệnh B2 lên đường ra Bắc họp theo thư triệu tập của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Đồng chí Phan Văn Đáng - Ủy viên Trung ương Đảng, Thường vụ Trung ương Cục cũng đang có mặt tại Hà Nội chờ dự họp.


Các cơ quan Miền bấy giờ đóng ở Tà Thiết thuộc căn cứ Lộc Ninh. Những cơn mưa cuối mùa thỉnh thoảng lại tưới mát cho núi rừng miền Đông, giúp cho cây rừng, ruộng rẫy hoa màu hồi sinh sau bao đợt thuốc khai quang làm cho khô cành trụi lá. Lúc này cả gia đình tôi đều công tác trong vùng căn cứ. Nhắc đến gia đình là vì giữa lúc chiến trường sôi động, con trai đầu lòng của tôi công tác trong một đơn vị quân y được tổ chức và gia đình làm lễ tuyên hôn với một cháu gái cũng là chiến sĩ giải phóng. Vui mừng vì gia đình có thêm một thành viên cùng chiến tuyến, thật là:

Lớp cha trước, lớp con sau
Đã thành đồng chí, chung câu quân hành
(Thơ Tố Hữu)

Cuộc chiến chống xâm lược của dân tộc trải dài lịch sử chứa đựng biết bao điều kỳ diệu: giữa chiến trường khốc liệt, mạng sống có lúc như chỉ mành treo chuông, thế mà trong tiếng bom thét đạn gầm vẫn có lời ca tiếng hát ngọt ngào và tình yêu, sự sống vẫn ngày ngày sinh sôi, vươn cao, vươn thẳng bất chấp bom đạn của kẻ thù.


Trong khi Bí thư Trung ương Cục và Tư lệnh B2 đi họp Bộ Chính trị mở rộng và trình duyệt kế hoạch quân sự của B2 trong mùa khô 1974-1975 thì tại căn cứ Miền còn lại các Phó tư lệnh, Phó chính ủy Miền và cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần. Trực chỉ huy cơ bản có đồng chí Lê Đức Anh - Phó tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng và tôi - Phó chính ủy Bộ Tư lệnh Miền.


Thực tế đã hai năm nay, Mỹ và ngụy Sài Gòn vẫn rắp tâm phá bỏ Hiệp định Pa-ri, Nguyễn Văn Thiệu vẫn nuôi tham vọng tiêu diệt lực lượng quân sự cách mạng để độc chiếm miền Nam - thể hiện qua lập trường "bốn không" của y. Do đó Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam không còn con đường nào khác phải sử dụng bạo lực cách mạng để đánh lại kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" của ngụy; phải tích cực, phản công và tiến công quân địch khi chúng tổ chức hành quân giành dân, lấn đất. Giai đoạn này, ở mặt trận miền Đông, anh Hoàng Cầm là Tư lệnh, anh Bùi Cát Vũ là Phó tư lệnh Quân đoàn 4 đang triển khai thế trận giữ đất, bảo vệ dân, kiên quyết giữ vững căn cứ Lộc Ninh, tiếp tục vây hãm địch ở An Lộc. Ở hướng này trong kế hoạch tác chiến mùa khô năm 1974-1975, Bộ Tư lệnh Miền chủ trương:

“Ngay từ đầu mùa khô (cuối năm 1974) phải giải phóng đường 14 từ Đồng Xoài lên Quảng Đức để mở rộng căn cứ Miền về phía sau giáp Tây Nguyên và nối căn cứ Miền về phía Đông Sài Gòn, tạo điều kiện mở đường và dự trữ vật chất, kỹ thuật sẵn trước cho hướng này. Muốn giải phóng đường 14, thực hiện ý định nói trên thì phải diệt cho được mục tiêu chủ chốt Đồng Xoài và khi đã đạt được thì tỉnh lỵ Phước Long hoàn toàn bị cô lập, ta chỉ cần bao vây địch tại đó, chúng không còn tác dụng gì nữa. Nhưng nếu có điều kiện thì ta giải phóng luôn tỉnh Phước Long làm cho căn cứ hậu phương ta hoàn chỉnh mà còn đạt được một tác động tâm lý và chính trị có lợi cho ta”1 (Dẫn theo cuốn "Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm" của Thượng tướng Trần Văn Trà, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh).


Dự kiến kế hoạch là như thế nhưng thực tế xảy ra có chậm đi mươi ngày vì lúc đầu Bộ Tổng chưa đồng ý như nội dung điện số 491 của Trung ương do Thiếu tướng Lương Văn Nho (Hai Nhã) từ Hà Nội trực tiếp mang về trao lại cho anh Lê Đức Anh (Sáu Nam) và tôi vào giữa tháng 11 năm 1974. Nội dung bức điện như sau: "... B2 định đánh Đồng Xoài, Phước Long nhưng Bộ không đồng ý mà chỉ cho đánh nhỏ, giải quyết một số điểm nhỏ trên đường 14 thôi. Năm nay đánh nhỏ là để tích lũy lực lượng chờ thời cơ. Không được sử dụng xe tăng, pháo lớn nếu không được Bộ Tổng Tham mưu duyệt từng trường hợp....”1 (Dẫn theo cuốn "Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm", Sđd).

Do có điện chỉ đạo của Trung ương nên anh Lê Đức Anh và tôi điều chỉnh kế hoạch, không để Quân đoàn 4 đánh Đồng Xoài và Phước Long mà chỉ đánh các điểm nhỏ như Bù Đăng, Bù Na...

Đến khi đồng chí Phạm Hùng và đồng chí Trần Văn Trà gặp và trình bày chi tiết kế hoạch với đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn, chúng tôi mới được lệnh đánh Đồng Xoài và Phước Long như kế hoạch ban đầu, thể hiện qua điện chỉ đạo số 567/ZK ngày 22 tháng 12 năm 1974:

“Sau Bù Đăng, Bù Na cố gắng diệt Đồng Xoài, nó có tác dụng cả về chiến dịch và chiến lược tuy là điểm không lớn. Có thể dùng Sư đoàn 7 đánh Đồng Xoài...”2 (Dẫn theo cuốn "Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm", Sđd).

Nhận được điện này qua sở chỉ huy cơ bản Miền, anh Hoàng Cầm và anh Bùi Cát Vũ tổ chức triển khai tiếp các trận đánh trên đường 14 rất hiệu quả.

Từ ngày 14 tháng 12 năm 1974 bắt đầu nổ súng đến ngày 26 tháng 12, các đơn vị tham gia chiến dịch Đồng Xoài - Phước Long đã đánh chiếm chi khu Bù Đăng, yếu khu Bù Na, giải phóng Bù Đốp. Đây là những vị trí rất quan trọng, trực tiếp uy hiếp tuyến phòng thủ cơ bản của địch ở hướng tây bắc Sài Gòn. Ngày 31 tháng 12 năm 1974, quân ta phát triển thế trận tiến công thị xã Phước Long. Sau khi đánh chiếm chi khu Phước Bình và điểm cao Bà Rá, từ ngày 1 tháng 1 năm 1975, Sư đoàn 9 hình thành thế trận bao vây và đánh chiếm một số mục tiêu trong tỉnh lỵ Phước Long, đến chiều tối ngày 6 tháng 1 năm 1975, quân ta diệt ổ đề kháng cuối cùng của địch thuộc sở chỉ huy trung tâm hành quân của tỉnh. Tỉnh Phước Long, một địa bàn có vị trí chiến lược ở cửa ngõ Sài Gòn đã được giải phóng.


Tin dứt điểm Phước Long đến trong lúc Bộ Chính trị đang họp làm cho mọi người thêm phấn chấn. Đồng chí Lê Duẩn nói: “Lần đầu tiên ở miền Nam, một tỉnh được hoàn toàn giải phóng. Tỉnh đó lại ở gần Sài Gòn và mở rộng căn cứ ta ở miền Đông. Thực tế này nói rõ hơn hết khả năng của ta, sự phản ứng thế nào của ngụy mà nhất là của Mỹ"1 (Dẫn theo cuốn "Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm", Sđd). Chiến thắng Phước Long có giá trị như một đòn trinh sát chiến lược. Hai ngày sau chiến thắng Phước Long, hội nghị Bộ Chính trị kết thúc (8-1-1975). Trong phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn nói: “Ta phải giáng đòn chiến lược trong năm 1975. ở Nam Bộ phải tạo thế liên hoàn trong toàn Miền, áp sát vào Sài Gòn hơn nữa, làm cho các địa phương có sức bung ra khi có thời cơ. Còn ở đồng bằng sông Cửu Long ta phải áp sát Mỹ Tho hơn nữa. Chúng ta đồng ý năm nay mở đầu bằng trận đánh Tây Nguyên”1 (Dẫn theo cuốn "Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm", Sđd).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #5 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2021, 03:40:31 pm »

2. Phát huy trí tuệ tập thể, chọn đúng mục tiêu chiến lược

Trước hội nghị Bộ Chính trị mở rộng với Thường vụ Trung ương Cục và Tư lệnh các chiến trường, một số cán bộ quân sự có trách nhiệm ở Bộ Tổng Tham mưu đề xuất:

Mở đầu mùa khô năm 1974-1975 dùng chủ lực của B3 và của Bộ đánh chi khu Đức Lập để vừa mở hành lang tiếp vận B2 vừa thu hút viện binh của địch để tiêu diệt lớn sinh lực địch tại đây. Và tiếp theo: “Chúng ta sẽ tập trung lực lượng lớn, ưu thế áp đảo, mở đầu đánh thẳng vào Kon Tum, tiêu diệt địch và giải phóng tỉnh này. Tiếp theo đó ta đánh ngay vào chỉ huy sở của quân đoàn 2 ngụy ở Plây Ku. Ta sẽ diệt cả hai sư đoàn 22, 23 và các lực lượng khác của ngụy ở đây, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên”.

Dự kiến kế hoạch này đã được điều chỉnh, thay đổi rất nhiều sau hội nghị Bộ Chính trị. Như ta đã biết, chiến trường trọng điểm mở đầu cho kế hoạch tác chiến mùa khô 1974-1975 vẫn là Tây Nguyên nhưng mục tiêu chiến lược là thị xã Buôn Ma Thuột chứ không phải là Kon Tum vì lẽ như Thượng tướng Trần Văn Trà nhận xét: “Đánh vào Kon Tum và Plây Ku là đánh vào nơi địch cứng nhất. Chúng đã chuẩn bị phòng thủ từ lâu. Đánh như thế là đánh vỡ đầu địch. Lâu nay, địch luôn phán đoán ta sẽ đánh vào Kon Tum trước nên chúng dồn lực lượng và mọi chú ý vào đây; tuy ta có điều kiện tập trung lực lượng lớn và chuẩn bị mọi mặt thuận lợi nhưng địch đã đề phòng, ta không thể dễ dàng tấn công. Còn đánh vào Buôn Ma Thuột là đánh đòn bất ngờ hoàn toàn đối với địch, đánh vào phía sau không được phòng bị của địch. Chúng sẽ bị tiêu diệt và tan vỡ mau chóng, ta không cần sử dụng lực lượng nhiều. Hậu phương bị chiếm thì quân địch phòng thủ phía trước sẽ hoang mang dao động”1 (Dẫn theo cuốn "Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm", Sđd)...


Trong quá trình hội nghị Bộ Chính trị vào giai đoạn chót thì một sự kiện mới xảy ra: chiến thắng Phước Long, một tỉnh ở vành đai phòng thủ hướng bắc Sài Gòn. Thắng lợi quan trọng này góp thêm yếu tố khách quan để Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh kết luận dứt khoát vê việc điều chỉnh dự kiến kế hoạch quân sự mùa khô 1974-1975.


3. Nghệ thuật chỉ đạo quân sự tập trung, kiên quyết, tận dụng thời cơ theo diễn tiến từng ngày trên chiến trường

Thực hiện đúng chỉ đạo của Bộ Tổng tư lệnh về kế hoạch tác chiến mùa khô 1974-1975, bộ đội Tây Nguyên nổ súng tấn công sân bay Hòa Bình, căn cứ trung đoàn 53 ngụy trong đêm 9 rạng 10 tháng 3 năm 1975, mở đầu trận đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Trận tác chiến hiệp đồng binh chủng ác liệt diễn ra trong ngày 10 tháng 3, tiếp diễn trong đêm, đến trưa ngày 11 tháng 3 năm 1975 ta hoàn toàn chiếm lĩnh thị xã Buôn Ma Thuột. Tiếp đó, bộ đội Tây Nguyên và lực lượng tăng cường của Bộ tổ chức diệt viện phản kích và khống chế, bao vây, cô lập Plây Ku, Kon Tum.


Đến ngày 15 tháng 3 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu họp với các tướng tá ở Cam Ranh quyết định “rút lui chiến lược” (!) khỏi Kon Tum, Plây Ku về các tỉnh miền biển để bảo toàn lực lượng.

Cuộc tháo chạy rơi ngay vào thế mai phục của ta. Sư đoàn 320 và lực lượng vũ trang Quân khu 5 đã diệt gọn đoàn quân hỗn loạn này trên đường số 7 ngày 16 tháng 3 năm 1975.

Đại tướng Văn Tiến Dũng - Ủy viên Bộ Chính trị, Tổng Tham mưu trưởng, đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh tại mặt trận nhận xét: “Trận Buôn Ma Thuột hiểm và mạnh quá, tiếp đến trận diệt viện sư đoàn 23 ngụy ở phía đông Buôn Ma Thuột nhanh và gọn quá làm cho địch hốt hoảng, rối loạn không những ở cấp sư đoàn, ở quân khu mà chính là động đến cơ quan đầu não của ngụy quyền Sài Gòn. Từ sai lầm về chiến thuật, chiến dịch đến sai lầm về chiến lược. Ngụy quyền Sài Gòn hốt hoảng ra lệnh rút chạy khỏi Tây Nguyên. Mà đã sai lầm về chiến lược rồi thì thất bại trong chiến tranh là điều chắc chắn”1 (Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại thắng mùa xuân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997).


Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng nhớ lại: “Sau thất bại nặng nề tại Buôn Ma Thuột, địch hoang mang và ra lệnh rút chạy khỏi chiến trường Tây Nguyên. Lúc đó Bộ thống soái tối cao nhận định: chiến thắng Buôn Ma Thuột đã trở thành chiến dịch giải phóng miền Nam, phải tập trung lực lượng nhanh chóng hướng về Sài Gòn. Qua tin tình báo, biết địch tập trung quân quyết định co cụm “tử thủ” ở Đà Nẵng, tôi ra lệnh cho Bộ Tư lệnh chiến trường Trị Thiên - Huế chuyển từ “kế hoạch cơ bản” sang “kế hoạch thời cơ”, đánh địch rút chạy, không cho chúng tập trung về Đà Nẵng.


Ngày 29 tháng 3 năm 1975, bộ đội ta tấn công và giải phóng Đà Nẵng, địch tháo chạy hỗn loạn. Tôi đề nghị Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương chuyển lệnh “Tấn công” thành “Tổng tấn công” và thảo bức điện của Bộ thống soái tối cao gởi đi các chiến trường, trong đó có câu: "Trận Sài Gòn đã bắt đầu”. Một lệnh thần tốc mới đã được ban hành. Trước đây bản mệnh lệnh của Bộ thống soái có 2 chữ “chắc thắng”. Lệnh mới không có 2 chữ chắc thắng mà là: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng hoàn toàn miền Nam, quyết thắng và toàn thắng”1 (Trích trả lời phỏng vấn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tác giả Song Tô, bài đăng trên báo Sài Gòn giải phóng, số Chủ nhật 30-4-2000). Thông qua chừng ấy diễn biến của tháng đầu tiên trong kế hoạch tác chiến toàn Miền đủ minh họa nghệ thuật chỉ đạo quân sự tuyệt vời của Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đó là ba vấn đề theo tôi cần nhắc lại trước khi nói về trận quyết chiến cuối cùng".
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #6 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2021, 03:42:01 pm »

Đôi điều nói thêm về cánh quân Tây Nam

Phối hợp với chiến trường chung, trên toàn B2, từ núi rừng Khu 6 đến đồng bằng sông Cửu Long, vùng ven đô thị; từ quân chủ lực đến địa phương, dân quân du kích đều nhất tề xông lên, nô nức diệt địch. Cả B2 đồng loạt nổi dậy và tiến công.


Trước thắng lợi to lớn và khí thế chung hừng hực như thế ngày 7 tháng 4 năm 1975, đồng chí Lê Đức Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị đến căn cứ Trung ương Cục. Ngày 8 tháng 5 năm 1975, Trung ương Cục, Quân ủy Miền, Bộ Tư lệnh B2 họp, có đồng chí Lê Đức Thọ phổ biên nghị quyết của Bộ Chính trị (họp ngày 25 tháng 3 năm 1975), nhận định về âm mưu của Mỹ, ngụy, về những thắng lợi rất to lớn của ta trong tháng đầu chiến dịch mùa khô năm 1974-1975, và nhận định về khả năng sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền. Tiếp theo đồng chí nói đến quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị và nhấn mạnh quyết tâm đó (quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm 1975). Cuối buổi họp, đồng chí Lê Đức Thọ phổ biến nghị quyết của Bộ Chính trị về việc thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định: Tư lệnh là Đại tướng Văn Tiến Dũng - Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Chính ủy là đồng chí Phạm Hùng - Bí thư Trung ương Cục.


Năm cánh quân tiến công đồng thời vào Sài Gòn được Bộ Chỉ huy chiến dịch phân công theo năm hướng, trong đó hướng Tây và Tây Nam do đồng chí Lê Đức Anh làm Tư lệnh, tôi (Lê Văn Tưởng) làm Chính ủy - mục tiêu là biệt khu thủ đô ngụy, tổng nha cảnh sát, kho xăng Nhà Bè và khống chế làm chủ quốc lộ 4 từ Sài Gòn về miền Tây.

- Địa bàn gồm tỉnh Tây Ninh, Long An, Hậu Nghĩa.

- Lực lượng cánh quân Tây và Tây Nam gồm Đoàn 232 (có Sư đoàn 3 và Sư đoàn 5), các Trung đoàn 24, Trung đoàn 88 của Quân khu 8, Trung đoàn 271 của Miền và lực lượng vũ trang địa phương như Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 Long An cùng các binh chủng phối hợp như xe tăng, pháo binh, công binh, đặc công...


Nhân đây cũng xin được nhắc lại, Đoàn 232 được thành lập từ tháng 2 năm 1975 gồm Sư đoàn 3 (thiếu) do đồng chí Đỗ Quang Hưng làm Sư đoàn trưởng và Sư đoàn 5 do đồng chí Vũ Văn Thược làm Sư đoàn trưởng. Lúc mới thành lập Đoàn 232 do Thiếu tướng Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà) làm Tư lệnh, đại tá Trần Văn Phác (Tám Trần) làm Chính ủy, nhưng khi triển khai Chiến dịch Hồ Chí Minh thì Bộ Chỉ huy chiến dịch, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền bố trí, phân công lại cán bộ: anh Năm Ngà, anh Tám Trần được điều về trợ giúp Trung tướng Đồng Văn Cống chỉ huy các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần tại Sở chỉ huy cơ bản của Miền để phục vụ cho Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh. Do vậy Đoàn 232 trở thành lực lượng nòng cốt của cánh quân hướng Tây và Tây Nam do anh Lê Đức Anh và tôi phụ trách cho đến ngày giải phóng Sài Gòn, giải phóng miền Nam. Trước lúc tấn công vào nội đô, Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh cũng điều động Sư đoàn 9 từ cánh quân hướng Đông sang tăng cường cho cánh quân Tây Nam để làm lực lượng chủ công, thọc sâu đánh thẳng vào biệt khu thủ đô ngụy từ hướng Tây.


Nhớ lại lúc nghe đồng chí Lê Đức Thọ phổ biến quyết định thành lập Bộ Chỉ huy chiến dịch, từ trong lòng, tôi mong muốn được tham gia chiến đấu từ mặt trận phía Nam vì đây không những là chiến trường quen thuộc từ thời đánh Pháp mà còn là quê hương của tôi nữa. Do vậy khi được phân công làm Chính ủy cánh quân Tây Nam đúng ước vọng của mình, tôi rất phấn khởi. Trong khi anh Lê Đức Anh (Sáu Nam) ở lại nhận tiếp chỉ thị từ Bộ Chỉ huy chiến dịch thì tôi về Đoàn 232 trước đề làm công tác tổ chức với anh Năm Ngà. Lúc này anh Trần Văn Danh cùng được phân công chỉ huy lực lượng đặc công, biệt động thành với nhiệm vụ chủ yếu là đánh chiếm và giữ cho các cây cầu quan trọng để đảm bảo cho xe tăng7 pháo lớn và phương tiện cơ giới khác tiến vào nội đô. Đồng chí Lê Đức Thọ và Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh duyệt lại việc phân công 5 cánh quân ở năm hướng lần cuối vào ngày 18 tháng 4 năm 1975. Từ căn cứ Miền ở Tà Thiết (Lộc Ninh), anh Sáu Nam và tôi vượt sông Sài Gòn vê hướng Tây Ninh, xuống mé Nam Ba Thu để về căn cứ tỉnh đội Long An. Đoạn nào đi xe gắn máy được thì anh em bảo vệ chở chúng tôi đi bằng xe Honda 90. Người chở tôi là Lưu Hùng - một Việt kiều sống tại Phnôm Pênh tham gia Quân giải phóng. Một chiến sĩ khác chở anh Sáu Nam. Trong số bảo vệ có chú Trần Nù - người chiến sĩ dũng cảm, tận tụy cùng đi với tôi khắp chiến trường suốt 11 năm cho đến ngày giải phóng. Nhiều đoạn phải vượt qua rừng tràm, rừng bàng để đi, vùng này là vùng trắng, địch oanh kích tự do, nên dân phải tản cư về gần thị trấn để tránh bom, pháo địch. Qua vùng này tôi hồi tưởng thời thiếu niên tôi đã từng nhổ bàng, xeo gốc tràm lụt để đổi gạo; mẹ tôi rồi kế đến là vợ tôi nhờ đương1 (Đương: (tiếng địa phương) có nghĩa là  đan, kết) đệm, đương bao bàng mà đắp đổi nuôi con vượt qua thời chiến tranh, đói nghèo cơ cực.


Bộ phận tham mưu, chính trị, hậu cần gồm mấy chục người do anh Trần Văn Nghiêm - Tham mưu trưởng điều động đi liền phía sau. Làm việc càng thắng, hành quân liên tục, anh Sáu Nam thấm mệt, những đoạn đường phải đi đêm, anh đi rất khó khăn vì mắt kém. Trên đường hành quân về Mộc Hóa, chúng tôi được tin Nguyễn Văn Thiệu từ chức, giao quyền tổng thống Việt Nam Cộng hòa lại cho Trần Văn Hương sau khi phòng tuyến Xuân Lộc sụp đổ (21 tháng 4 năm 1975). Tình hình chính trị diễn biến từng ngày thậm chí từng giờ vào giai đoạn cuối.


Bộ Chỉ huy cánh quân Tây Nam lệnh cho Sư đoàn 5 không đánh vào Mộc Hóa (tỉnh lỵ Kiến Tường) mà hành quân hỏa tốc về hướng Thủ Thừa, áp sát thị xã Tân An, sẵn sàng cắt đứt lộ 4, không cho địch rút chạy về đồng bằng sông Cửu Long thực hiện ý định co cụm phản công khi ta giải phóng Sài Gòn.


Cùng thời điểm này (27 - 28.4.1975), ở hướng tây, Sư đoàn 3 đánh chiếm tiểu khu Hậu Nghĩa, chi khu Đức Huệ, Đức Hòa bảo đảm hành lang lộ 10 và tuyến sông Vàm Cỏ Đông để công binh làm cầu phà dã chiến cho tăng, pháo và xe cơ giới vượt sông tiến về nội đô.


Cánh quân phía Nam do Thiếu tướng Võ Văn Thạnh (Ba Thắng) làm Chính ủy, đại tá Huỳnh Văn Mến (Tư Thân) làm Chỉ huy trưởng trên đường hành tiến từ địa bàn tỉnh Mỹ Tho vừa đánh đồn bót giải phóng dân, vừa đánh địch mở đường về hướng Chợ Gạo; từ đó lại ngoặt lên đánh chiếm các chi khu Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc để tiến vào vùng ven Quận 8, chiếm giữ cầu Chữ Y, cầu Nhị Thiên Đường, tiếp cận mục tiêu nội đô cho kịp mốc thời gian quy định. Trung đoàn 24 là lực lượng chủ công, Trung đoàn 88 là lực lượng dự bị, tiếp đến là Tiểu đoàn 1, Tiểu đoàn 2 của Long An. Đồng chí Tư Chiểu - Tỉnh đội trưởng Long An là Chỉ huy phó cánh này.


Đồng chí Trần Hàm Ninh - trợ lý tác chiến và là thơ ký của đồng chí Ba Thắng ghi trong nhật ký hành quân:

"- Ngày 22 tháng 4 năm 1975, sở chỉ huy cánh Nam vẫn ở Tân Phước, Thiệu vừa từ chức (21 tháng 4 năm 1975). Bộ chỉ huy có điện số 72/ZN gởi E3, E4 chỉ đạo vừa đẩy mạnh tiến công vừa làm tốt công tác binh địch vận - E3 phát triển thuận lợi ở Cần Giuộc diệt 4 đồn, E4 cũng diệt 4 đồn ở Cần Đước”1 (Trích dẫn từ "Kết thúc cuộc chiến 30 năm", Sđd, E3 tức Trung đoàn 88, E4 tức Trung đoàn 24).


Cùng ngày 22 tháng 4 năm 1975, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh nhận được điện chỉ đạo của đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn:

Thời cơ quân sự và chính trị để mở cuộc tiến công vào Sài Gòn đã chín muồi. Ta cần tranh thủ từng ngày kịp thời phát động tấn công địch trên các hướng không để chậm. Nêu để chậm thì không có lợi cả về chính trị và quân sự, kịp thời hành động lúc này là bảo đảm chắc chắn nhất để giành thắng lợi hoàn toàn. Các anh ra chỉ thị cho các hướng hành động kịp thời, chú trọng kết hợp tấn công quân sự và nổi dậy của quần chúng, sự hiệp đồng giữa các hướng cũng như giữa tiến công và nổi dậy sẽ thực hiện trong quá trình hành động. Nắm vững thời cơ lớn, chúng ta nhất định giành toàn thắng”.


Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 5 tấn công Sư đoàn 22 ngụy, lần lượt tiêu diệt từng đơn vị mới bổ sung tăng cường co cụm từ cầu Voi đến cầu Bến Lức; không chế, làm chủ quốc lộ 4 từ Tân An lên cầu Voi; Trung đoàn 16 đánh chiếm khu vực cầu Bình Điền và cầu An Lạc; hai Trung đoàn đặc công 115, 117 phối thuộc cánh quân Tây Nam đánh chiếm vùng Phú Lâm. Cùng thời điểm này, anh Sáu Nhẫn (Bùi Văn Trữ) - Phó phòng công binh Miền đang chỉ huy cán bộ, chiến sĩ công binh phối hợp với đồng bào địa phương huy động phương tiện tại chỗ để tạo đường dẫn vượt sình lầy và làm cầu phà dã chiến để phương tiện cơ giới, xe tăng và pháo của Đoàn 232 vượt sông Vàm Cỏ Đông rồi tập kết về xã Mỹ Hạnh (Đức Hòa) theo lộ 10 tiến về Sài Gòn.


- Ngày 27 tháng 4 năm 1975, cánh quân phía Nam theo tỉnh lộ 50 từ Cần Giuộc lên đã lập bộ phận tiền trạm xã Bình Đăng quận 8, dự kiến ngày 28 tháng 4 đánh chiếm cầu Chữ Y, ngày 29 tháng 4 chiếm lĩnh trận địa, đợi lệnh tấn công vào mục tiêu.


- Đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, một sự kiện gây thôi động lớn trong hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền: một phi đoàn 5 chiếc A.37 do phi công Nguyễn Thành Trung dẫn đầu táo bạo, bất ngờ oanh kích sân bay Tân Sơn Nhất phá hỏng đường băng và một số máy bay chiến đấu của địch, làm hạn chế tối đa sức mạnh không quân của địch khi quân ta đồng loạt tiến công Sài Gòn. Cùng ngày 28 tháng 4, Trần Văn Hương sau một tuần nhận chức đã bất lực, đành phải giao chiếc ghế tổng thống lại cho tướng Dương Văn Minh theo mưu đồ của các thế lực chính trị thực dân, đế quốc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #7 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2021, 03:42:53 pm »

Ngày 29 tháng 4, anh Sáu Nam và tôi đến căn cứ Tỉnh đội Long An; tôi giăng võng trong hội trường có sẵn hầm tránh bom pháo. Hội trường nằm trong địa hình có nhiều tán cây che khuất. Có chút việc muốn tranh thủ thời gian bàn với anh Sáu nên tôi đề nghị anh cho giăng võng nằm gần tôi để vừa bàn công việc vừa nghỉ lưng. Hai anh em vừa nằm nghỉ thì bất thình lình nghe tiếng máy bay và rồi hàng loạt bom tọa độ nổ liên hồi, khói lửa mịt mù, tôi và anh lăn xuống hầm theo phản xạ ở chiến trường. Khi báo yên chúng tôi nhìn thấy căn nhà tỉnh đội - nơi anh Sáu Nam định giăng võng nằm - bị trúng bom cháy rụi chỉ còn trơ lại mấy cây cột cháy lem nhem. Chiếc xe U-oát cháy, đồng chí lái xe hy sinh; bốn chiến sĩ bảo vệ bị thương, trong đó có đồng chí Hồng đứt hai chân, thật thương tâm! Để có được chiến thắng cuối cùng, ta phải chấp nhận đau thương, hy sinh mất mát, biết làm sao được!


Theo mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, đúng 00 giờ 00 phút ngày 29 tháng 4 năm 1975, đồng loạt cả 5 cánh quân nổ súng tiến công vào nội đô Sài Gòn dũng mãnh, táo bạo tiến chiếm mục tiêu đã phân công. Điều tôi lo nhất lúc bấy giờ là phương tiện cơ giới, tăng, pháo có vượt được sông Vàm Cỏ Đông không? Tôi điện gặp anh Bùi Văn Trữ để nắm tình hình.

Anh Trữ báo:

- Báo cáo để anh Hai yên tâm: dân công và bộ đội công binh đã có phương án khắc phục đường lầy. Tăng, pháo và cơ giới chắc chắn vượt được sông đúng theo kế hoạch. - Nghe anh Trữ báo cáo đầy tự tin, tôi mới yên tâm. Và đúng như anh Trữ báo, sau khi qua sông, Sư đoàn 9 hành quân hỏa tốc về Sài Gòn.


5 giờ sáng ngày 29 tháng 4, Trung đoàn 1 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Văn Chia và Chính ủy Lê Văn Dũng chỉ huy cùng Bộ Chỉ huy của Sư đoàn về đến bìa rừng Vĩnh Lộc. Trung đoàn 2 do Trung đoàn trưởng Lê Tấn Cẩm và Chính ủy Lê Giao chỉ huy cùng Sở chỉ huy cơ bản của sư đoàn hành quân qua Bàu Công. Trung đoàn 3 do Trung đoàn trưởng Hoàng Thuần và Chính ủy Hồ Giáo chỉ huy diệt một số chốt dã ngoại của địch, đánh tan một tiểu đoàn biệt động quân ngụy, làm chủ lộ 10 từ ngã ba Bà Lác đến cầu Kinh Xáng.


9 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi các binh đoàn thọc sâu các hướng tây bắc, bắc, đông và đông nam hùng dũng tiến vào nội thành đánh chiếm các mục tiêu đã phân công thì ở hướng tây nam, các mũi tiến công của Sư đoàn 9 đã vượt qua tuyến phòng thủ cơ bản của địch vào đến ngã tư Bảy Hiền. 9 giờ 20 phút, trinh sát kỹ thuật của sư đoàn bắt được tin tổng thống ngụy quyền Sài Gòn ra lệnh “ngừng bắn để thương lượng với Chính phủ cách mạng lâm thời”. Thời điểm này, Bộ Chỉ huy cánh quân Tây Nam hành quân từ căn cứ Tỉnh đội Long An về đến Đức Hòa. Đây là vùng thị trấn, dân không tản cư. Tại xã Bình Tả có một số bà con biết tôi nên tìm đến thăm. Cũng ở chặng đường này, Tham mưu trưởng Trần Văn Nghiêm nhận được tin ngụy quyền ra lệnh ngừng bắn để thương lượng, anh báo lại cho tôi và anh Sáu Nam. Khi nhận được điện này, đồng chí Phạm Hùng - Chính ủy Bộ Chỉ huy chiến dịch nói: - Giờ này phải đầu hàng vô điều kiện. Không thương lượng gì cả! - Sau này, anh kể lại.


Tiếp đó, chúng tôi nhận được điện của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương do Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh chuyển đến. Nội dung: “Tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch, tiến quân với khí thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng”.


Như thế, về mặt lịch sử rất rõ ràng. Lệnh ngừng bắn để thương lượng của tổng thống ngụy quyền Dương Văn Minh là quá muộn màng; trong tình thế ngụy quyền sụp đổ đến nơi không còn bất cứ một giải pháp nào khác chứ không phải là chủ trương thiện chí như cách hiểu của một số ít người mà một vài tờ báo có đề cập trong dịp kỷ niệm 29 năm giải phóng vừa qua.


Chỉ một tiếng đồng hồ sau lời tuyên bố ngừng bắn đó, lúc 10 giờ 20 phút, đại đội 2 của Trung đoàn 1 Sư đoàn 9 tiến qua cổng trại Lê Văn Duyệt - tức biệt khu thủ đô ngụy, bắt tướng Lâm Văn Phát - tư lệnh biệt khu thủ đô và nhiều sĩ quan thuộc quyền của y. Cờ giải phóng được kéo lên cột cờ biệt khu thủ đô ngụy lúc 10 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975. Gần như cùng thời điểm này, lúc 10 giờ 30 phút, Trung đoàn 24 của cánh quân phía Nam cũng đã đánh chiếm tổng nha cảnh sát ngụy.


Bộ Chỉ huy cánh quân phía Nam điện báo cáo cho đồng chí Lê Đức Anh và tôi đại ý: 12 giờ Bộ chỉ huy cánh Nam có mặt tại tổng nha cảnh sát ngụy sau lực lượng tiến công (Trung đoàn 24) một tiếng rưỡi.


Đoàn 10 đặc công đã đánh chiếm căn cứ Phước Khánh, cảng hải quân và kho xăng Nhà Bè. Như vậy đến 10 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, cánh quân Tây Nam đã hoàn thành nhiệm vụ, chiếm lĩnh xong các mục tiêu được phân công tại nội đô.


Quân đoàn 2 hướng đông nam đánh chiếm “dinh Độc Lập”, nơi tượng trưng uy quyền cao nhất của chế độ Sài Gòn. Đúng 11 giò 30 phút ngày 30 tháng 4 nặm 1975, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 2 đã kéo cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam lên cột cờ chính ở “dinh Độc Lập”, bắt tổng thống Dương Văn Minh và nội các của ngụy quyền Sài Gòn.


Ngoài mục tiêu nội thành, cánh quân Tây Nam còn một nhiệm vụ chiến lược khác là khống chế chiếm giữ quốc lộ 4, theo dõi chặt chẽ âm mưu co cụm của địch về đồng bằng sông Cửu Long để kịp thời báo cáo với Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh đồng thời phối hợp với Quân khu 8 và Quân khu 9 phá tan âm mưu này của địch. Vì vậy, Bộ Chỉ huy cánh quân Tây Nam đã lệnh cho Sư đoàn 5 giữ vững trận địa, tiếp tục chiếm giữ quốc lộ 4, cầu Bến Lức, cầu Tân An, chịu trách nhiệm từ Bến Lức đến nam Long An. Riêng lực lượng vũ trang Mỹ Tho và Khu 8 chịu trách nhiệm từ Trung Lương đến bắc Mỹ Thuận, khống chế và đánh chiếm khu căn cứ Đồng Tâm thuộc xã Bình Đức huyện Châu Thành, Mỹ Tho - nguyên là căn cứ của sư đoàn 9 của Mỹ và bấy giờ là căn cứ của sư đoàn 7 ngụy.


Năm cánh quân ở năm hướng đã hiệp đồng đánh trận quyết chiến chiến lược mạnh mẽ, tuyệt vời, làm sụp đổ dinh lũy cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn - nội các Dương Văn Minh bị bắt, tổng thống Việt Nam cộng hòa phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, nên ngụy quân không thể thực hiện âm mưu co cụm về đồng bằng sông Cửu Long. Đến chiều 30 tháng 4 năm 1975 thì quân đoàn 4 ngụy ở Cần Thơ cũng đầu hàng nốt. 


Phút giây nhận được tin quân ta chiếm “dinh Độc Lập”, bắt nội các Dương Văn Minh, toàn bộ cán bộ, chiến sĩ tại Bộ Chỉ huy cánh quân Tây Nam hân hoan tột độ; chúng tôi cảm thấy như trút hết mọi âu lo đè nặng tâm trí mọi người suốt mấy chục ngày qua.


Giờ phút chiến thắng, mỗi người một tâm trạng nhưng đại đa số đồng bào thành phố đều hân hoan, phấn chấn đúng như ý hai câu thơ cổ diễn tả khí thế người dân kinh thành Thăng Long lúc được đội quân áo vải, cờ đào của Anh hùng Quang Trung - Nguyễn Huệ giải phóng khỏi ách thống trị phương Bắc:
   Mây tạnh, mù tan, trời lại sáng
   Đầy thành già trẻ mặt như hoa
(Thơ Ngô Ngọc Du)


Riêng tôi, nửa đời chinh chiến vì Độc lập, Tự do của Tổ quốc, nay tóc xanh đã ngả màu, tôi cảm thấy mãn nguyện vì lý tưởng ban đầu đã chọn:

Đất nước lâm nguy ra đi cứu nước Quyết tâm diệt thù, giải phóng quê hương.


5-9-2004
Người thể hiện: NĂM DÂN
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #8 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2021, 02:38:12 pm »

TỪ ĐỒI ĐỘC LẬP ĐẾN DINH ĐỘC LẬP


Trung tướng LÊ NAM PHONG
Nguyên Tham mưu trưởng Quân đoàn 4


Đông xuân năm 1954 bộ đội ta tiến quân lên Tây Bắc mở chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, đập tan tập đoàn cứ điểm của địch, đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Những cán bộ, chiến sĩ can trường, anh dũng của đội quân cách mạng anh hùng vẻ vang ấy lại tiến bước vào mùa Xuân 1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, một lần nữa đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược tàn khốc của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ cầm đầu, để giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


Lớp người có vinh dự tham gia cả hai cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc, trực tiếp chiến đấu trong cả hai chiến dịch lịch sử ấy nay đều đã là người cao tuổi, tôi may mắn còn được đứng trong hàng ngũ đó.

50 mùa xuân đã qua, nhưng những kỷ niệm sôi động sâu sắc ở mặt trận Điện Biên Phủ vẫn không phai mờ trong tôi.

Ngày 15 tháng 3 năm 1954, tôi cùng đại đội được phân công đánh chiếm cứ điểm Độc Lập; sau những ngày cơm vắt, ngủ hầm, bao vây lấn chiếm.

Cả đại đội đều cạo trọc đầu để xung trận, thề quyết chiến, quyết thắng, đập tan cứ điểm địch. Sau những loạt đạn pháo bắn cấp tập của ta gầm vang đồi núi, cả đại đội chia thành từng mũi ào ạt xốc tới, tiếng “xung phong”, vang trời đất. Phối hợp cùng đơn vị bạn, chúng tôi thọc sâu vào sào huyệt địch, cùng các đơn vị bạn chiếm lĩnh đồi Độc Lập. Trong khói lửa bom đạn mịt mù, được chứng kiến những hành động gan dạ, anh hùng, với tinh thần quật cường, ý chí quyết chiến của cả đại đội “dao nhọn”, tôi vô cùng phấn khích. Ngày nay mỗi khi nghĩ đến Điện Biên Phủ, cảnh tượng của giờ phút đánh chiếm đồi Độc Lập lại hiển hiện trước mắt tôi, thiêng liêng và sinh động.


Các chiến sĩ, đồng đội của tôi ngày ấy có người đã anh dũng hy sinh qua hai cuộc kháng chiến vì nền độc lập tự do của dân tộc. Nhiều người đã trở thành sĩ quan, cán bộ chỉ huy các cấp, là tướng lĩnh trong quân đội... như các đồng chí Vũ Thược, Đại Đồng, Bùi Nam Hà...


“Đại đội đầu trọc” - danh xưng ấy đã trở thành một huyền thoại để bộ đội lưu nhớ kỷ niệm Điện Biên Phủ. Vì vậy sau này trong chiến tranh chống Mỹ, tôi cùng được chia hưởng danh thơm. Các cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ở mặt trận miền Đông Nam Bộ thường gọi tôi là “Đại đội Đầu trọc”.


Nhớ mấy năm trước, nhân được gặp gỡ chuyện trò cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi ghi tặng tôi cuốn sách "Điện Biên Phủ”, Đại tướng thân mật, trìu mến hỏi:

- Hồi đánh Điện Biên Phủ nghe nói Nam Phong cùng cả đại đội cạo trọc đầu thề quyết thắng?

Rồi đồng chí cười rất thân thiện, đôn hậu. Tôi xúc động ghi nhận tình cảm và sự quan tâm quý báu ấy. Trong tâm tưởng càng nhớ nhiều đến kỷ niệm về những ngày tháng được tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Chiến dịch Điện Biên Phủ - nơi đã nở rộ trăm ngàn tấm gương anh dũng và sự hy sinh tuyệt vời của các anh hùng liệt sĩ, cũng chính là lò lửa cách mạng đã luyện tôi ý chí, hun đúc lập trường, gieo trồng những hạt giống trong lực lượng vũ trang ta để từng bước trưởng thành, bước tới cuộc đọ sức quyết liệt với quân Mỹ-ngụy và chư hầu trên các mặt trận, khắp các chiến trường ở miền Nam những năm sau.

Những tấm gương điển hình về tinh thần hy sinh chiến đấu, xả thân vì nước của chiến sĩ Điện Biên Phủ được Đảng vun đắp nhân lên gấp trăm ngàn lần, có biết bao anh hùng liệt sĩ sau này đã nối bước Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn, v.v. làm rạng danh sử sách của một đội quân cách mạng oai hùng bách chiến bách thắng.


Năm nay kỷ niệm 30 năm miền Nam hoàn toàn giải phóng, ôn lại những sự kiện lịch sử quan trọng trên chiến trường mà bản thân tôi được tham dự từ dấu mốc quân ta đánh sụp đổ chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ - ngụy năm 1965, cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 kết thúc thắng lợi Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Tôi luôn nhớ đến những năm tháng gian khổ, khốc liệt cùng đồng đội, chiến sĩ đối mặt với quân thù hung hãn trên các chiến trường miền Đông Nam Bộ. Những ngày tháng đánh tan các cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất, với các cuộc hành quân Át-tơn-bo-rơ, cuộc càn Xê-đa-phôn rồi Gian-xơn Xi-ty, đánh tan một đội quân đông tới 40 vạn tên được trang bị hàng nghìn máy bay, xe tăng, pháo lớn...


Tiếp đến chiến dịch Nguyễn Huệ, cả Sư đoàn 7 chốt giữ đường 13 hơn 100 ngày đêm, lập nên bức tường thép lừng danh giữ vững chốt “Tàu Ô, Xóm Ruộng” được ghi vào lịch sử quân đội, lịch sử Quân đoàn 4 anh hùng. Trong vòng hơn ba tháng, chiến sĩ ta đã đập tan các cuộc phản kích quy mô của địch; đánh bại các sư đoàn (21, 25, 5) bộ binh, hai lữ đoàn dù (1, 3...), ba liên đoàn biệt động (3, 4, 5) và hai trung đoàn thiết giáp ngụy (3, 9); chiến sĩ quân đội ta đã nêu cao khí phách anh hùng, quyết thắng trong những ngày tháng gian khổ đó. Bất chấp tổn thất và hy sinh, đã có lúc tiểu đoàn chỉ còn vài chục tay súng, có những khi có chốt suy yếu chỉ còn 53 chiến sĩ, đạn pháo chi viện hạn chế, chỉ dùng khi tình thế khẩn cấp, nguy nan... Tuy vậy Sư đoàn 7 anh hùng vẫn duy trì chốt chặn và đánh ngăn chặn 800 trận, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 8.000 tên địch, bắn rơi máy bay, 200 xe quân sự (có 128 xe bọc thép).


Phát huy truyền thống kiên cường bất khuất đó, cả Sư đoàn chúng tôi lại cùng bộ đội Quân đoàn 4 và lực lượng miền Đông Nam Bộ tiếp bước vào các trận chiến đấu trong Đông Xuân 1975, mở đầu giải phóng Phước Long, tạo nên cục diện mới trên chiến trường. Ngày 20 tháng 10 năm 1974, lực lượng Trung đoàn 141 Sư đoàn 7, do đồng chí Lê Dương Liễu và Chính ủy Nguyễn Ngọc Doanh tiên đánh Đồng Xoài, Trung đoàn phó Bế Ích Quan chỉ huy mũi tiến công đánh chiếm sở chỉ huy địch, bắt toàn bộ ban chỉ huy quân sự địch, giải phóng chi khu Đồng Xoài.


Sau chiến thắng Đồng Xoài - Bù Đăng bốn ngày, rạng sáng 31 tháng 12 năm 1974 quân ta tiến công chi khu quân sự Phước Bình, Sư đoàn 7 thần tốc tiến đánh thị xã Phước Long.


Đây là trận chiến cực kỳ quyết liệt, sau 25 ngày đêm liên tục chiến đấu, Sư đoàn 7 Quân đoàn 4 và lực lượng bộ đội địa phương đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


9 giờ 30 phút ngày 6 tháng 1 năm 1975, Trung đoàn 141, Trung đoàn 12, Sư đoàn 7 chiếm lĩnh dinh tỉnh trưởng ngụy. Chiến sĩ Nguyễn Văn Hoan cắm lá cờ quyết thắng lên nóc dinh tỉnh trưởng. Sau đó, anh lại cùng chúng tôi bước vào trận chiến đấu giải phóng Định Quán. Ngày 18 tháng 3 năm 1975, sau 77 ngày chiến đấu liên tục, Nguyễn Văn Hoan đã anh dũng hy sinh ở núi đá Ông Phật, đúng vào ngày quân ta giải phóng Định Quán.


Mãi mãi tôi khắc sâu hình ảnh yêu thương của Hoan vào lòng, mãi mãi không thể nào quên tinh thần chiến đấu anh dũng vô song, tấm gương hy sinh tuyệt vời dũng cảm của người chiến sĩ ấy.


Giải phóng Phước Long là một sự kiện quan trọng trong lịch sử chiến tranh cách mạng, vì đây là lần đầu tiên ở miền Nam quân ta giải phóng hoàn toàn một tỉnh lớn ở ngay cửa ngõ Sài Gòn, nơi có nhiều vị trí chiến lược quan trọng của Mỹ-ngụy.


Trên đà thắng lợi mới và trên cục diện mới của chiến trường, Sư đoàn 7 chúng tôi cùng các quân đoàn vững bước tiến vào mùa Xuân toàn thắng 1975.

Giải phóng xong Phước Long, Định Quán trong khi đại quân ta đang chuẩn bị công kích Long Khánh - Xuân Lộc.

Sư đoàn 7 chúng tôi được tăng cường hỏa lực, một tiểu đoàn xe thiết giáp, 80 xe cơ giới mở đường lên hướng bắc đường 20 tiến công giải phóng thị xã Lâm Đồng.

Đường 20 từ Lâm Đồng về Túc Trưng được mở thành hành lang chiến lược để cơ động lực lượng sẵn sàng làm bàn đạp đế quân ta tiến công vào Sài Gòn từ hướng đông bắc.

Cùng các binh đoàn, quân đoàn, các binh chủng hợp thành Sư đoàn chúng tôi vinh dự tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tiến quân giải phóng Sài Gòn - Gia Đinh. Sau chặng đường chiến đấu dài 21 năm, các chiến sĩ Điện Biên năm xưa, những người từng vào sinh ra tử ở Mường Thanh, Him Lam, Hồng Cúm, trên đồi Độc Lập đã góp phần cùng quân dân cả nước giành thắng lợi trọn vẹn ngày 30 tháng 4 năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.


Lịch sử như có nhiều điều trùng hợp, ngày 7 tháng 5 năm 1954 giải phóng Điện Biên Phủ thì ngày 7 tháng 5 năm 1975, sau 21 năm tròn, Ủy ban quân quản Thành phố Sài Gòn - Gia Định ra mắt đồng bào, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Người vinh dự cắm cờ lên dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975 cũng cùng quê Thái Bình với người cắm cờ trên nóc hầm tướng Đờ Cát trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm xưa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 7922



WWW
« Trả lời #9 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2021, 02:40:25 pm »

TRUNG ĐOÀN BỘ BINH 95 VÀ TRẬN ĐÁNH NGHI BINH CẮT ĐƯỜNG 19 CHIẾN LƯỢC TRONG CHIẾN DỊCH XUÂN HÈ 1975


Theo lời kể của
Trung tướng LÊ AN
Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95,
Giám đốc Học viện Lục quân Đà Lạt


Công tác chuẩn bị cắt đường 19 chiến lược Cuối năm 1974, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên (B3) chuẩn bị kế hoạch xuân hè Tây Nguyên năm 1975. Nhằm chia cắt, tạo thế chiến lược mới, Bộ Tư lệnh Mặt trận đã tổ chức một đợt tập huấn cho cán bộ tham mưu tác chiến cấp trung đoàn, sư đoàn và tiểu đoàn chủ yếu. Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên lúc đó là đồng chí Vũ Lăng và Chính ủy là đồng chí Đặng Vũ Hiệp. Trong lần tập huấn này có thực hành diễn tập chỉ huy cơ quan ba cấp (trung đoàn, sư đoàn và cấp chiến dịch), trong đó có nội dung chiến thuật cắt đường 19 chiến lược, trong tưởng định chiến dịch tiến công giải phóng Tây Nguyên, nhằm mở rộng vùng ta kiểm soát Kon Tum và Gia Lai, lấy khung Trung đoàn bộ binh 95 giữ vai trò chủ lực của khung một sư đoàn. Để phục vụ cho diễn tập, Bộ Tư lệnh mặt trận phân công đồng chí Trần Xuân Giá, Phó tham mưu trưởng mặt trận đóng vai Sư đoàn trưởng. Tôi, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 đóng vai Tham mưu trưởng sư đoàn, và một số cán bộ khác của Trung đoàn 95 cùng đi tập huấn tham gia đóng vai khung Trung đoàn 95, thực hiện nhiệm vụ cắt đường 19. Để sát với thực tế, chúng tôi đã đắp sa bàn rồi cùng nhau trao đổi thảo luận rất kỹ, vì nếu chiến dịch diễn ra ở Tây Nguyên, trong bất cứ tình huống nào, bất cứ thời gian không gian nào, đều có nhiệm vụ cắt đường 19 chiến lược, con đường huyết mạch nối liền từ Quy Nhơn lên Plây Ku. Kết thúc đợt tập huấn, tôi kiến nghị với Tư lệnh mặt trận một số vấn đề về biên chế, trang bị, công tác bảo đảm cho trung đoàn, trong đó có xin một chiếc xe con. Nghe xong, đồng chí Đặng Vũ Hiệp nhìn tôi cười, nói: “Các cậu xin làm gì cho mệt, đánh cắt đường 19, lấy xe Jeép của địch sử dụng tiện hơn”. Nghe nói vậy tôi hơi buồn, nhưng không ngờ ngày cuối cùng cơ quan mặt trận đã thông báo: Bộ Tư lệnh quyết định cấp cho Trung đoàn bộ binh 95 một số trang bị vũ khí, đạn, một xe con Bắc Kinh đít vuông và đồng ý sẽ tăng cường thêm lực lượng. Trời đất, còn gì mừng hơn.


Ở mặt trận về, Trung đoàn 95 chuyên vị trí đóng quân đến căn cứ Khu 10, tỉnh Gia Lai, gần trục đường 20 phía bắc đường 19 và tiến hành ngay một đợt tập huấn cho cán bộ cấp cơ sở. Nội dung cắt đường 19, như chúng tôi đã được tập dượt qua đợt học tập ở Bộ Tư lệnh. Tiếp theo, Trung đoàn tổ chức huấn luyện, đồng thời vẫn bảo đảm thường xuyên tác chiến trên trục đường 19, đoạn từ đèo Măng Giang lên tới Lệ Trung (gần sát Plây Ku), quy mô sử dụng là cấp tiểu đoàn. Trung đoàn triển khai xây dựng nhà kho, phân công lực lượng tiếp nhận gạo và quân trang quân dụng, từ mặt trận đưa xuống theo đường hành lang.


Nhưng vất vả và gian khổ nhất là vận chuyển hai khẩu pháo 105mm và hai khẩu ĐKZ 106,7mm cùng cơ số đạn đến hàng trăm quả. Số vũ khí này ta thu được của địch khi đánh đồn Măng Đen. Đường đưa những con voi sắt không thể đi bằng đường bộ vì phải qua nhiều dốc cao, suối sâu, đó là chưa tính đến khả năng trên đường có thể gặp địch. Cuối cùng Trung đoàn chọn phương án chuyển pháo đi bằng đường sông, dùng cây ghép thành bè mảng, tháo rời ra từng bộ phận, rồi chia nhỏ chở trên nhiều bè vừa giảm tải trọng, vừa dễ đi và bảo đảm yếu tố bí mật. Vậy là thành công, mặc dù đoạn đường đi từ Măng Đen xuôi theo sông Đắc Bla để về Trung đoàn nhiều chỗ có vực sâu và nước chảy xiết (sông Đắc Bla là tên gọi của người Kon Tum, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn chảy về). Sau khi có pháo, Trung đoàn tổ chức thành lập đại đội pháo binh, gồm hai khẩu lựu pháo 105mm và một khẩu pháo nòng dài 85mm, một trung đội pháo ĐKZ 106,7mm (đây là loại pháo mới của Mỹ ta vừa thu được), về lực lượng, Tiểu đoàn bộ binh 2 của Trung đoàn, trước đây Bộ Tư lệnh điều cho Tỉnh đội Gia Lai nay được trở lại, với phiên hiệu mới trong đội hình Trung đoàn gọi là Tiểu đoàn bộ binh 4. Nhìn toàn cục, cuối năm 1974 đầu năm 1975, trên thực tế ta có sự chuẩn bị sớm. Mặt trận Tâv Nguyên đã triển khai thế trận, như mở rộng hệ thống đường ô tô sâu xuống các hướng chiến dịch. Đường 20 từ bắc Võ Định - Kon Tum, qua sông Đắc Bla nối vào đường 19 bis (ngã ba Plây Bôn, Đắc Đoa ra đường 14). Xe cơ giới của ta hoạt động liên tục ngày đêm, quân đi tấp nập, khẩn trương, nhưng không mấy ai biết được ý định của chiến dịch là ta chuẩn bị giải phóng Buôn Ma Thuột. Cũng trong thời gian này Bộ Tư lênh Tây Nguyên ra quyết định: điều động đồng chí Ma Thanh Toàn - nguyên là Trung đoàn phó 95, đang chỉ huy Trung đoàn 24 phòng ngự ở Võ Định, bắc Kon Tum và đồng chí Nguyễn Văn Dũng - Phó chính ủy Trung đoàn 24, nguyên là Phó chính ủy Trung đoàn 95 trở về lại Trung đoàn 95. Các đồng chí là những cán bộ trung đoàn có kinh nghiệm, uy tín đối với cán bộ chiến sĩ trung đoàn, nhất là trong chiến đấu đánh cắt đường giao thông.


Trên chiến trường Tây Nguyên mỗi khi mùa khô đến, bọn chỉ huy Mỹ, ngụy, thường chú ý theo dõi sự di chuyển của Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 cơ động về hướng nào, thì nơi đó sẽ là nơi đánh lớn. Bộ Tư lệnh mặt trận đã sớm triển khai một kế hoạch nghi binh đánh lừa địch. Khi điều Sư đoàn bộ binh 10 và Sư đoàn bộ binh 320 cơ động vào phía nam Tây Nguyên, đã sử dụng Sư đoàn bộ binh 968 thay thế khu vực hoạt động của hai sư đoàn trên. Duy trì các đài vô tuyến điện 15 oát của các đơn vị cũ, vẫn liên tục phát sóng. Mở đường, xây dựng trận địa pháo binh giả phía đông Kon Tum. Các đơn vị tác chiến vùng sâu, vùng sau lưng địch, như Tiểu đoàn 631, Tiểu đoàn 394, các lực lượng của địa phương liên tục hoạt động trên các hướng đường 19, 14, xung quanh Kon Tum và Plây Ku. Trung đoàn bộ binh 95 chúng tôi vừa tiến hành công tác chuẩn bị cho nhiệm vụ cắt đứt đường 19 chiến lược, vừa thường xuyên luân phiên nhau từng tiểu đoàn hoạt động trên trục đường 19, có trận ra đánh đoạn sát khu vực Lệ Trung gần thị xã Plây Ku và trên trục đường 14 Plây Ku đi Kon Tum. Do hoạt động nghi binh khôn khéo và tài giỏi của ta nên từ tống thống Nguyễn Văn Thiệu, đến tư lệnh quân đoàn 2 ngụy, tướng Phạm Vàn Phú, đều có những nhận định sai lầm nghiêm trọng, dẫn đến lúng túng và bị sa lầy, báo hiệu một thất bại thảm hại trên chiến trường Tây Nguyên và sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ bù nhìn tay sai bán nước.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM