Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Sáu, 2019, 08:22:37 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Trung Quốc và việc giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất  (Đọc 27361 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 590



WWW
« Trả lời #20 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2011, 08:30:43 AM »

TẦM CỠ LỊCH SỬ CỦA QUAN HỆ TRUNG-VIỆT66
(66. Vấn đề quan hệ Trung Quốc-Lào-Cam-pu-chia, căn bản khác với quan hệ Trung-Việt, sẽ được đề cập ở chương VIII)


Quả thực, ít có thể hiểu được bản chất sâu xa của mối quan hệ Trung-Việt, sự quan tâm của Trung Quốc đối với bán đảo Đông Dương và ngược lại thái độ của nhân dân các nước Đông Dương đối với Trung Quốc mà không tham khảo thường xuyên quá khứ xa xưa nhất. Không phải vì quá khứ đó không tránh khói quyết định hướng phát triển hiện nay, ngay cả khi nó chứng kiến những điều không thay đổi hằng nghìn năm nay. Nhưng dần dần, các thế kỷ trau dồi ý thức dân tộc đến nỗi lịch sử không chỉ là một chuỗi tình hình nối đuôi nhau theo trình tự thời gian; lịch sử cũng tự nó là một nhân tố tự trị, giải thích từng phần mỗi lúc trong cuộc sống của một dân tộc. Phải chăng thông qua khái niệm mà các nhà lãnh đạo đã làm cho lịch sử tiến hoá có vai trò khi họ đưa ra những quyết định.


Có lẽ không phải là vấn đề nhắc lại đầy đủ mọi khía cạnh trong quan hệ Trung-Việt trải qua các thế kỷ67 (Về quan hệ Trung-Việt, có thể xem hai cuốn sách kinh điển bằng tiếng Pháp của Deveria: Histoire des ralations de la Chine avec I’Annam-Việt Nam du XVIe siècle au XIXe siècle (Lịch sử quan hệ Trung Quốc-An-nam-Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, Pa-ri, E. Le Roux, 1880, 102 trang và Le fontière sino-annamite: description gèographiquet et ethnographique d’apès dé documents officiels chinois (Biên giới Trung-Việt mô tả địa lý và dân tộc học, theo những tư liệu chính thức của Trung Quốc) Pa-ri, E.Le Roux, 1886, 182 trang. Đối với những tác phẩm phổ cập hơn, có thể xem Lê Thành Khôi: Le Việt Nam, Pa-ri, Ed. De Minuit, 1955, 587 trang, hoặc sách tiếng Anh của J Buttinger: “The Smaller Dragon” (con rồng nhỏ hơn), Niu-Oóc. Praeger, 1958, 587 trang. về các sách khác, xem mục lục tham khảo ở cuối sách). Nhưng có lẽ sẽ không phải là vô ích khi nêu lên những kết luận chủ yếu rút ra trong việc nghiên cứu tỉ mỉ các mối quan hệ đó.


Việt Nam: một nước đã từng triều cống Trung Quốc

Thực thế, trong chừng mực nước Việt Nam hiện thời là một quốc gia duy nhất trong vùng chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của nền văn minh Trung Hoa, thì đó là một trường hợp duy nhất ở Đông Nam châu Á. Việt Nam vốn là một nước từ Trung Hoa mà hình thành nên68 (Xem Philippe Langlet La tradition Vietnamienne: Unetat national au sein de la civilsation chinoise (truyền thống Việt Nam: một quốc gia dân tộc trong lòng văn minh Trung Hoa) B.S.E.E. Sài Gòn, 1970, 395 trang (nhất là lời nói đầu)). Từ cuối đời Tần (thế kỷ thứ III trước công nguyên)69 (Các cuộc viễn chinh đầu tiên của Trung Quốc bắt đầu tiến đánh các bộ lạc Việt ở phía nam Trung Quốc bắt đầu từ năm 221 trước công nguyên), cho đến cuối đời Đường (thế kỷ thứ V) đất Việt gần như thường xuyên bị sáp nhập vào đế chế Trung Hoa, với quy chế của một phong địa quân sự (đất phong cho tướng võ có công-N.D.) như dưới thời Hán, hoặc của một đất bảo hộ như dưới thời Đường70 (An-nam đô hộ phủ). Thế kỷ X, khi Đại Việt thành một vương quốc “độc lập” thì đất nước cũng vẫn theo văn minh Trung Hoa. Không phải là cư dân Việt không muốn duy trì được bản sắc văn hoá của riêng họ, không phải là không có những ảnh hưởng khác từ bên ngoài vào như Mã Lai, In-đô-nê-xi-a hoặc Ấn Độ và để lại dấu ấn trên nền tảng văn hoá bản địa. Nhưng sự xâm nhập của Trung Quốc có địa vị ưu thế đến nỗi không thể bác bỏ được rằng Vương quốc (Đại Việt) là sự kéo dàu của thế giới Trung Hoa. Đặc biệt là Nho giáo được đưa vào dần dần từ đời Hán, đã làm cho bộ máy Nhà nước xã hội Việt mang những đặc điểm rất Trung Hoa, nhất là các thể chế công cộng và tư nhân: tổ chức vương quốc, bộ máy quan lại, quan hệ xã hội, v.v…


Vừa mới giành được “độc lập”, quốc gia mới mẻ này đã nhận phiên thuộc Trung Quốc (từ năm 972 sau công nguyên). Suốt 9 thế kỷ, quan hệ phiên thuộc của Đại Việt đối với Trung Quốc đã duy trì Đại Việt trong phạm vi chư hầu của Trung Quốc. Tuỳ theo tình hình bên trong nước Trung Hoa hoặc bên trong vương quốc (Đại Việt) mà mối liên hệ phiên thuộc đó có thể nới lỏng một thời gian. Ở những thời kỳ khác, ngược lại sự áp chế của Trung Quốc có nhiều tính chất xâm lược hơn. Dưới triều Tống, Nguyên, Minh và Thanh, Đại Việt nhiều lần chịu ách chiếm đóng quân sự của nước láng giềng hùng mạnh. Nhưng nhìn toàn cục, trong quan hệ hai nước hình thành một thế cân bằng nào đó, được xác nhận bằng việc Đại Việt triều cống đều đặn Trung Quốc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 590



WWW
« Trả lời #21 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2011, 08:31:59 AM »

Cần có đôi lời bình luận về chế độ triều cống này, kéo dài cho đến khi Pháp chiếm Việt Nam71 (Triều đình Huế nộp cống lần cuối cùng cho Bắc Kinh vào năm 1883), là chỗ dựa độc nhất của mối quan hệ Việt-Trung cho đến cuối thế kỷ XIV, thật ra, lệ triều cống không đơn giản nói lên sự quy phục của một nước ở biên cương đế chế Trung Hoa. Giữa hai nước cùng theo Nho giáo như Đại Việt và Trung Hoa, lệ triều cống đánh dấu sự quy phục thật sự, đồng thời còn là biểu hiện của một thứ “quan hệ qua lại”. Tất nhiên, mối quan hệ giữa bá chủ và chư hầu chủ yếu dựa trên sự bất bình đẳng, nhưng việc nộp cống cũng phản ánh một dạng liên kết nào đó của Đại Việt vào đế chế Trung Hoa, một ý thức nào đó tham gia cùng  một trật tự chung. Triều Đại Việt cần được Trung Quốc tấn phong để mọi người phải thừa nhận mình cũng giống như một quốc gia hiện đại thời nay không thể bỏ qua sự thừa nhận quốc tế để tồn tại. Vả lại, theo quan điểm của Trung Quốc, khái niệm hai quốc gia riêng biệt tỏ ra không thích hợp mấy. Đúng hơn là thay bằng khái niệm hai thế giới tiếp giáp nhau: thế giới văn minh và thế giới không văn minh. Thế giới văn minh, theo Nho giáo, phải tuân lệnh Hoàng đế (chúng ta gọi là Hoàng đế Trung Hoa): muốn tham dự vào thế giới văn minh đó, bao gồm cả Đại Việt vì Đại Việt dùng chữ viết Trung Hoa, theo lễ giáo Trung Hoa là những biểu tượng của văn minh, thì Đại Việt không có lối thoát nào khác là tỏ ra thân thuộc đối với Hoàng đế72 (Các công trình nghiên cứu mẫu mực về chế độ triều cống cuối đời Thanh có J.K. Fairbank và S.Y. Teng, On the Ch’ing tributary system (Về chế độ triều cống đời Thanh), Havard, Journal of Asiatic Studies, Vol VI số 1 tháng 3-1941, trang 135-256. Các tác phẩm mới hơn có Fairbank, The Chinese World Order (Traditional China’s Foregin Ralations) (Trật tự thế giới Trung Hoa-Quan hệ đối ngoại của nước Trung Hoa cổ xưa), Havard, University Press, Cambridge (Mass), 1968, 416 trang (đặc biệt xem hai công trình nghiên cứu của Lien Sheng Yang và Mark Mancall)).


Như thế có nghĩa là việc triều cống, thật ra, bao gồm một hệ thống quan hệ hết sức phức tạp. Đối với Trung Quốc, nó phản ánh sự lệ thuộc tối đa, trong đó, Trung Quốc có thể hy vọng duy trì sự bảo hộ đối với nước Việt mà không gây nên một sự phản ứng “dân tộc” nào của người Việt. Đối với Đại Việt, trái lại, việc triều cống lại phản ánh nền độc lập tối đa có thể có được, nhưng lại không gây ra sự phản ứng “đế quốc” của Trung Hoa. Trong trường hợp này cũng như trường hợp kia, vì cả hai nước đều theo Nho giáo nên việc triều cống chứng tỏ ít ra một phần là cả hai nước73 (Nếu nghiên cứu quan hệ Trung Quốc-Khơ-me, chúng ta sẽ thấy rất khác vì đây là quan hệ giữa một nước theo Nho giáo và một nước theo Phật giáo. Về quan hệ truyền thống giữa Trung Quốc-và Lào-Khơ-me, xem chương VII), cùng chung một quan niệm về giá trị của cống vật.


Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên rằng Đại Biệt và sau đó từ thế kỷ XIX, Việt Nam74 (Năm 1803, đến đời Gia Long, Đại Việt đổi là Việt Nam) luôn luôn đã được Trung Quốc coi như là một quốc gia có một vị trí đặc biệt đối với Trung Quốc. Vào đầu thế kỷ XX Tôn Dật Tiên coi Việt Nam nằm trong “phần đất đã mất của Trung Quốc75 (Pascal, MD. Elia, Le triple dé misme de Suen Wen (chủ nghĩa tam dân của Tôn Văn) Thượng Hải, Phòng Trung Quốc học của Zi-ka Wei: 1930, tr.39). Gần chúng ta hơn, chủ tịch Mao Trạch Đông, năm 1939 đã kết tội Pháp chiếm An-nam bằng cùng một lời lẽ giống như khi kết tội Anh chiếm Hồng Công hay Bồ Đào Nha chiếm Ma Cao76 (Mao Trạch Đông: Cách mạng Trung Hoa và Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 12-1939-Bản dịch tiếng Anh trong Current Back-ground, U.S Consulate General Hong Kong, số 135, 10 tháng 11-1951. Đáng chú ý là trong cuốn lần xuất bản cuối cùng của Tuyển tập Mao Trạch Đông, bài viết này đã được sửa lại và có thêm sự phân biệt giữa “nước láng giềng trước đây dưới sự bảo hộ củ Trung Quốc" và “lãnh thổ thuần tuý Trung Quốc". Mao Trạch Đông Tuyển tập. Bắc Kinh, Nhà xuất bản Ngoại văn, 1967, tập 2, tr.331-332). Thực tế là trở lại việc sát nhập, như Tôn Dật Tiên đã làm, An-nam vào “phần đất đã mất”.


Không tính đến ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thống đó chắc chắn sẽ là một sai lầm lớn. Di sản của lịch sử để lại là Trung Quốc không thể xem vấn đề Việt Nam là hoàn toàn “xa lạ” đối với mình77 (Đối với Triều Tiên, tình hình một phần cũng như vậy). Vả lại đế chế Trung Hoa có ý đồ không thay đổi áp đặt một thứ “hoà bình kiểu Trung Quốc" đối với vùng đất biên cương phía nam. Và điều đó sẽ được thật sự đặt lên hàng đầu trong suốt thời gian thương lượng tại Giơ-ne-vơ. Một mặt, một yêu cầu bức thiết về quân sự: nền an ninh của các tỉnh phía nam Trung Hoa tuỳ thuộc vào hoà bình ở Việt Nam, đó là một thực tế. Mặt khác, một yêu cầu bức thiết về kinh tế: thung lũng sông Hồng là thị trường tự nhiên của các tỉnh phía nam của Trung Quốc78 (Một thành viên đoàn đại biểu Pháp tại Giơ-ne-vơ đã ghi chép như sau ngay trong thời gian hội nghị: “Người Trung Quốc lo lắng (…) lợi dụng trên bình diện quốc gia những thuận lợi về kinh tế và an ninh mà việc Việt Minh kiểm soát Bắc Kỳ đem lại. Cân nhắc lại rằng thung lũng sông Hồng là lối ra thiên nhiên và đã được trang bị của ba hay bốn tỉnh miền Tây Nam. “Hồ sơ lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp. Bản ghi nhớ về vấn đề hội nghị Giơ-ne-vơ và chính sách đối ngoại của Trung Quốc, Giơ-ne-vơ, 12-6-1954), đó là một thực tế nữa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 590



WWW
« Trả lời #22 vào lúc: 07 Tháng Hai, 2011, 08:32:58 AM »

Về phía Việt Nam, cũng cái di sản lịch sử đó bắt họ phải chịu những sức ép buộc như thế, muốn coi thường cũng không được. Về mặt văn hoá, sự hấp dẫn đối với một nền văn minh đã ngự trị và thấm sâu vào toàn bộ lịch sử của dân tộc Việt Nam, nhưng ngược lại về phía Việt Nam một ý chí mạnh mẽ và kiên trì, muốn trút bỏ ảnh hưởng của nền văn minh đó để khẳng định hơn nữa cá tính sâu sắc của Việt Nam. Về mặt chính trị: mối quan tâm tha thiết bảo vệ nền độc lập mỏng manh và khó khăn trong khi thừa biết rằng nền độc lập đó chỉ có thể đảm bảo và duy trì được với sự thoả thuận của Trung Quốc.


Ngoài ra, phải chăng cần nhắc lại rằng chính sự can thiệp của Pháp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ đã chấm dứt tình trạng phiên thuộc kéo dài hằng nghìn năm của Việt Nam đối với Trung Hoa? Chính là thắng lợi của Pháp trong cuộc chiến tranh Pháp-Trung (1884-1885), đã buộc đế quốc Mãn Thanh đang suy vong phải từ bỏ, bằng hiệp ước Thiên Tân (9-6-1885), quyền bá chủ của mình và thừa nhận nền bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam. Giai đoạn lịch sử này là thiết yếu đối với ai muốn tìm hiểu thái độ của Trung Quốc ở Giơ-ne-vơ. Không những cái “hiệp ước bất bình đẳng” mới mẻ đó làm hại đến uy tín đã bị sứt mẻ của đế chế Trung Hoa mà còn làm mất đi ở sườn phía nam mọi sự phòng thủ chống lại sự bành trướng của Pháp. Năm 1881, Tseng Chi-tse đã nói: “nước An-nam ở sát bên cạnh Trung Hoa: an ninh sứ này có liên quan đến chúng ta. Việc bảo vệ an An-nam chẳng khác gì bảo vệ những tỉnh phía nam Trung Quốc"79 (K.C. Chen trích, sách đã dẫn, tr.3. Về việc Pháp chiếm Đông Dương làm thuộc địa và quan hệ Pháp-Trung, xem các sách sau đây: A.Yeng: Các bài ghi chép về chiến tranh Trung-Pháp, Bắc Kinh, Trung Hoa 1957, 470 trang, chứng tỏ Trung Hoa nhân dân quan tâm nghiên cứu quan hệ Trung-Pháp vào thời kỳ này; Shao Hsun-cheng: Lai lịch các mối quan hệ Trung-Pháp liên quan đến vấn đề Việt Nam, Bắc Kinh, trường đại học Thanh Hoa, 1945, 215 trang, cuốn này dựa chủ yếu vào nguồn tư liệu của Pháp; Wang Wen-yuan: Les relations entre l’ Indochine francaise et la Chine (quan hệ giữa Đông Dương thuộc Pháp và Trung Quốc) Pa-ri, Bossuet (P), 1937, 199 trang; Henri Cordier: Le conflit entre la France et la Chine (Cuộc xung đột giữa Pháp và Trung Quốc)-Etude d’histoire coloniale et le droit international-(nghiên cứu về lịch sử thuộc địa và luật quốc tế), Pa-ri, xe-phơ 1883, 48 trang năm 1962, Đài Loan đã xuất bản một phần lớn các hlst về quan hệ Trung-Pháp liên quan đến vấn đề Việt Nam, in thành sách nhan đề “lưu trữ về các cuộc thương lượng Trung-Pháp về vấn đề Việt Nam" Dài Bắc, 1962, 7 tập, 4696-49-50 trang).


Ngay sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, tướng Xa-lăng (Raoul Salan), người đã thương lượng một trong các hiệp định Trùng Khánh (28-2-1946) quy định việc quân đội Pháp thay thế quân đội Trung Hoa ở Đông Dương, còn ghi nhận: “Trung Quốc còn giữ lại từ thời kỳ đó, một mối ác cảm ít nhiều đối với Pháp và Anh”80 (Raoul Salan: Mémoires (Hồi ký) Paris, Presses de la Ci té, 1970 tập I. (“Sự cáo chung một đế quốc”), tr.266). Đại tá Li Tsi-ou trong ban tham mưu Trung Quốc cũng nhận xét: “Chúng tôi khó chịu khi trao trả Đông Dương cho các ông. Như Mông Cổ và Tây Tang, Đông Dương của các ông vốn thuộc Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, đó là một trong những nước chư hầu của chúng tôi”81 (Như trên, tr.281).


Cuối cùng, công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp nhất là ở Nam Kỳ, và những nhu cầu về nhân công, đã lôi cuốn một số dân Trung Hoa vào Đông Dương tạo nên cho Trung Quốc có thêm một mối liên hệ với Việt Nam. Cuộc điều tra dân số cuối cùng năm 1937, đã đưa đến kết quả sau: Nam Kỳ có 171.000 Hoa kiều, Bắc Kỳ 35.000, và Trung Kỳ 11.000, tổng cộng 217.000 Hoa kiều trên toàn Việt Nam82 (Victor Purcell: The Chinesein Southeast Asia (người Hoa ở Đông Nam Á) Luân-đôn, Oxford University Press 1951, tr.210. Cũng vào thời gian này, có 106.000 Hoa kiều ở Cam-pu-chia và 3.000 ở Lào). Nhưng sau chiến tranh thế giới, số dân Hoa kiều này tăng lên khá nhanh. Đúng là năm 1948, ước tính bao gồm cả Cam-pu-chia và Lào, là 850.000 Hoa kiều. Và đến năm 1953, một nguồn khác đưa ra con số 544.000 Hoa kiều “hợp pháp và được kiểm tra” riêng ở miền Nam Việt Nam83 (Tsai Maw-kuey: Les Chinois au Sud Việt Nam (Người Hoa ở miền Nam Việt Nam), Thư viện quốc gia Pa-ri, 1968, tr.72). Nếu Hoa kiều ở Việt Nam chưa phải chiếm số đông nhất so với các nước khác ở Đông Nam Á thì đó là một cộng đồng chính trị quan trọng không kém ở ngay sát biên giới Trung Hoa và sẽ rất mau chóng trở thành một đối tượng giành giật giữa Bắc Kinh và Đài Bắc, sau khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập84 (Vào thời kỳ đế chế, chính phủ Trung Quốc càng quan tâm hơn đến cộng đồng Hoa kiều ở Việt Nam, cộng đồng này thường đón nhận người Trung Quốc phải bỏ đất nước ra đi sau những cuộc đảo lộn chính trị hay thay đổi triều đại).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 590



WWW
« Trả lời #23 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2011, 07:40:13 PM »

Cách mạng Việt Nam và Trung Quốc

Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, nhưng không phải vì vậy mà thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Vào cuối thế kỷ XIX, những tư tưởng cải lương của Lương Khải Siêu hoặc Khang Hữu Vi, đã có ảnh hưởng rộng lớn trong một số sĩ phu Việt Nam. Vả lại cũng chính là qua các bản dịch tiếng Trung Quốc, nhất là của Nghiêm Phúc (1853-1921) mà những sĩ phu này đã tìm đến triết học thế kỷ XVIII của châu Âu, từ đó hình thành những trào lưu tư tưởng dân tộc chủ nghĩa đầu tiên của Việt Nam85 (Paul Mus: Việt Nam, Sociologie d’une guerre (Việt Nam, xã hội học một cuộc chiến tranh) Pa-ri. Le Seuil, 1952, tr.214-215. “Tinh thần luật pháp” được Nghiêm Phúc dịch năm 1906). Đầu thế kỷ thứ XX Trung Hoa đã gắn bó mật thiết với chủ nghĩa dân tộc hiện đại Việt Nam. Chính là lúc cách mạng thắng thế ở đế chế Trung Hoa mà Phan Bội Châu (1867-1940), chuyển từ chủ nghĩa quân chủ sang luận thuyết cộng hoà, dưới ảnh hưởng của Tôn Dật Tiên và Đồng minh hội, năm 1912, ông tổ chức Việt Nam phục quốc đồng minh hội (đúng ra là Việt Nam Quang phục hội-N.D.) ở Quảng Châu, tập hợp phần lớn những người Việt Nam lưu vong, theo chủ nghĩa dân tộc. Từ đó, nước Trung Hoa nhờ tư tưởng cũng như nhờ nơi ẩn náu và những thuận lợi mà Trung Hoa đem lại, không ngừng là trung tâm của cách mạng Việt Nam.


Phong trào Ngũ Tứ (mồng 4 tháng 5 năm 1919) cũng như việc Tôn Dật Tiên đề ra chủ nghĩa Tam dân cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam. Đảng quốc gia của Việt Nam (Việt Nam Quốc dân đảng) thành lập năm 1927 tại Hà Nội là một tiếng vang trung thành của Quốc dân đảng Trung Hoa: tổ chức giống nhau, chủ nghĩa giống nhau và hi vọng chấm dứt chế độ thống trị của Pháp với sự giúp đỡ của Trung Hoa dân quốc86 (K.C Chen, sách đã dẫn, tr.19). Chính là ở miền Nam Trung Quốc, ở Quảng Tây, ở Vân Nam và nhất là ở Côn Minh mà những nhà lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng tìm được nơi ẩn náu tự nhiên khi họ bắt buộc phải lưu vong để tránh khủng bố của Pháp ở Đông Dương kể từ 1939-1940.


Ngay từ đầu những năm 1920, chính người cộng sản Trung Quốc và người cộng sản Việt Nam, cũng đã có những mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Năm 1922 chính Hồ Chí Minh đã gặp Chu Ân Lai ở Pa-ri87 (Văn Hối báo, Hồng Công, 2-11-1956, KC, Chen trích trong sách đã dẫn, tr.21). Nơi đây cả hai người dốc sức tổ chức những người châu Á trong những nhóm cực tả ở thủ đô. Ba năm sau, sau một thời gian ở Mát-xcơ-va, Hồ Chí Minh được Quốc tế cộng sản phái về Quảng Châu. Ở đây, ông thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội (hoặc gọi tắt là Thanh niên), đồng thời mở lớp huấn luyện chính trị, theo học có Phạm Văn Đồng, sau này là Phó thủ tướng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, người dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Minh tại Giơ-ne-vơ88 (Hsiao Yang: Giải phóng Việt Nam, Thượng Hải 1951, tr.65, Wu Chih-ying (nxb): Chuyện Hồ Chí Minh, Thượng Hải, 1951, tr.13. Từ 1928, Trường Chinh đã gia nhập Thanh niên. Béc-na Phôn: Trường Chinh, Primer for Revolt (Trường Chinh, người đi đầu trong cách mạng), Niu Oóc, 1963, tr.11). Được Đảng Cộng sản Trung Quốc giúp đỡ, nhóm này có quan hệ một thời gian với trường Đại học quốc gia về phong trào nông dân, bấy giờ do Mao Trạch Đông làm hiệu trưởng trong khuôn khổ Quốc-Cộng hợp tác. Ngoài ra, nhiều hội viên “Thanh niên: thi nhau gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc (đôi khi họ mang tên Trung Quốc) như Hồ Tùng Mậu sau này được Hồ Chí Minh giao cho lãnh đạo Hội Thanh niên, sau cuộc khủng hoảng 192789 (K.C. Chen, sách đã dẫn, tr.23 và 25).


Như vậy có nghĩa là, ngay từ đầu, phong trào cộng sản Việt Nam đã gắn bó chặt chẽ với phong trào cộng sản Trung Quốc, ở đó những người cộng sản Việt Nam đã tìm thấy sự giúp đỡ to lớn và cả sự phác hoạ về tư tưởng chính trị, đáp ứng một phần sự quan tâm đến dân tộc của chính họ. Vì vậy, Đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ Chí Minh thống nhất ngày 3 tháng 2 năm 1930 ở Hồng Công, đã gần gũi lâu dài với Đảng Cộng sản Trung Quốc, ngay cả trong những lúc gian nan nhất, sau thất bại của cuộc nổi dậy ở Nghệ An (mùa xuân 1930), cuộc nổi dậy chịu ảnh hưởng một phần của phong trào các Xô-viết Trung Hoa nổ ra năm 1927.


Những năm Hồ Chí Minh hoạt động ở Trung Quốc, từ 1938 đến 194590 (Như trên, tr.33-98. Cũng xem Chiang Yung-chinh: Hồ Chí Minh tại Trung Quốc, Đài Bắc, 1972, 292 trang), làm cho mối liên hệ đó bền chặt thêm. Ở đó, ông đã tiếp xúc thường xuyên với Chu Ân Lai, sau đó, nhất là với tướng Diệp Kiếm Anh (lúc này Hồ Chí Minh có quan hệ với Bát lộ quân ở Quế Dương, Quế Châu và Hàm Dương, Hồ Nam). Những biện pháp khủng bố gắt gao của nhà đương cục Pháp đối với những người cách mạng Việt Nam cuối 1939-đầu 1940 đã làm số đông những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương cùng với những người theo chủ nghĩa quốc gia, nhất là những đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng chạy sang Vân Nam. Rất nhiều người làm ăn sinh sống ở dọc đoạn đường sắt Côn Minh-Hải Phòng trên đất Trung Quốc, và với sự giúp đỡ của Đảng bộ cộng sản Trung Quốc ở Vân Nam, đã lập lại cơ sở hạ tầng của Đảng được che giấu dưới tên “Hội ủng hộ Trung Quốc chống Nhật”.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 590



WWW
« Trả lời #24 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2011, 07:42:11 PM »

Từ tháng 5 năm 1940, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp từ trong nước ra, đến liên lạc với nhóm này ở Côn Minh. Mối quan hệ giữa hai đảng còn được khẳng định rõ nét hơn nữa khi hai đảng ký kết một bản thoả thuận về hợp tác, tháng 8 năm 1940: Trong lúc Đảng Cộng sản Trung Quốc hướng dẫn cho Đảng Cộng sản Đông Dương hoạt động, nhất là nhận đào tạo cán bộ Việt Nam tại trường Đại học chống Nhật ở Diên An, thì Đảng Cộng sản Đông Dương, về phần mình, cam kết hoạt động trong khuôn khổ Mặt trận thống nhất kháng Nhật đồng thời đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Pháp91 (Các vấn đề chủ nghĩa cộng sản Việt Nam và vấn đề Việt Nam hôm qua và ngày nay, Studies on Special Subjects, Đài Bắc, 1955, số 21, tr.12-13 (ban thứ 6 Quốc dân đảng) K.C. Chen trích, sách đã dẫn, tr.41, chú thích 21).


Về điểm sau, những người Việt Nam cũng như người Trung Quốc, cộng sản hay theo chủ nghĩa quốc gia đều có lập trường gần với nhau nhất. Vì vậy, rất nhiều người coi những sự nhượng bộ của nhà đương cục Pháp trước tối hậu thư của Nhật năm 1940 như là “sự hợp tác” thật sự chống lại Trung Quốc. Tháng 5 năm 1941, tại cuộc hội nghị ở Tĩnh Tây (Quảng Tây) đã thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội (hoặc Việt Minh) với chương trình vừa đơn giản vừa rõ ràng: Đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít Pháp và Nhật, Việt Nam độc lập, và xây dựng chế độ cộng hoà dân chủ. Nhưng nhà đương cục Trung Hoa hiểu rất rõ là Mặt trận mới này, không thể chối cãi được, là do cán bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương bí mật chi phối. Tình hình quan hệ của những người này với Đảng Cộng sản Trung Quốc thúc đẩy họ có thái độ hết sức dè dặt đối với Việt Minh, khiến cho Việt Minh không tránh khỏi khó khăn trong hoạt động và người ta không thể đảm bảo là đường lối chính trị của Việt Minh trùng hợp lâu dài với lợi ích của bản thân Trung Hoa quốc gia. Vì vậy từ 1943, người Trung Quốc và nhất là tướng Trương Pháp Khuê, người chỉ huy mặt trận gần biên giới Việt Nam, đã xúi giục những người Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia thuộc đủ mọi khuynh hướng tập hợp lại để đấu tranh tốt hơn chống Nhật, Pháp. Đó là nguồn gốc của Việt Nam cách mệnh đồng minh hội (Đồng minh hội). Thực ra đáng lẽ đó phải là công cụ trong tay người Trung Quốc thì lại phục vụ một cách tuyệt diệu cho tham vọng của Việt Minh do họ đã nhận tham gia Đồng minh hội, và chỉ có họ mới có cơ cấu tổ chức có khả năng sử dụng Đồng minh hội có lợi cho họ92 (Sau 18 tháng, bị tù, Hồ Chí Minh (lấy biệt hiệu này vào lúc đó) mới nhận tham gia tổ chức này. Lịch sử quan hệ giữa những người cộng sản Việt Nam và những người theo) chủ nghĩa quốc gia Trung Hoa và Việt Nam trong thời kỳ này còn rất mập mờ và chưa biết mấy. So sánh sách đã dẫn của K.C. Chen, tr.33-98 và cuốn Histoire du Việt Nam de 1949 và 1952 (lịch sử Việt Nam từ 1949-1952) của Phi-lip Đơ-vin-lơ, Pa-ri Le Seuil, tr.96-113 thấy rất khác nhau ở nhiều điểm, ở trang 109, Ph. Đơ-vin-le nói đến việc thành lập tại Trung Quốc một chính phủ cộng hoà lâm thời Việt Nam vào tháng 3-1944 mà có lẽ có sự tham gia của Hồ Chí Minh (điều này được B. Phôn thừa nhận trong cuốn sách A.D. Barnett: Communist Strategies in Asia (Chiến lược cộng sản ở châu Á) New York, Praeger, 1963 tr.202-209), nhưng theo K.C. Chen thì chính phủ lâm thời đó không có bao giờ. Về toàn bộ những năm 1940, và đặc biệt về nguồn gốc của Việt Minh, ngoài hai công trình nói trên, xem thêm B. Phôn, Việt Minh, Pa-ri, A. Colin, 1960, 377 trang và cùng tác giả, Les deux Việt Nam (Hai Việt Nam), Paris, Payot, 1967, 478 trang).


Từ 1943 đến 1954, thế lực của Việt Minh không ngừng được củng cố đặt biệt ở phía bắc Bắc kỳ. Các khu du kích trong rừng dần dần được xây dựng, ngày càng được vũ trang tốt hơn và ngày càng mở rộng, nhất là dưới sự thúc đẩy của Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp. Đồng thời Hồ Chí Minh tiếp tục duy trì những quan hệ tốt nhất với nhà đương cục Trung Hoa, đặc biệt với tướng Trương Pháp Khuê, thông qua Đồng minh hội. Ông ta đi tới đặt những mối quan hệ khá bổ ích với cả O.S.S (cơ quan tình báo chiến lược của Mỹ).


Cuộc đảo chính Nhật ngày 9 tháng 3 năm 1945 còn thắt chặt hơn nữa những mối liên hệ đó với Trung Quốc. Thực vậy, Chính phủ Trùng Khánh, ủng hộ nền độc lập của Đông Dương, sẵn sàng khi thời cơ đến, phái quân vào Đông Dương đánh Nhật; ngoài ra, cuộc hành quân này nhằm mục đích chuẩn bị về mặt chính trị cho nền độc lập đó làm cho nó phù hợp với lợi ích của Trung Quốc. Vì vậy người Trung Quốc đã nhận tăng cường giúp đỡ sẵn sàng chiến đấu chống Nhật, Pháp. Việt Minh đã quyết định đúng, lợi dụng sự giúp đỡ đó, thậm chí còn nắm độc quyền về sự giúp đỡ của Trung Quốc.


Thực vậy, từ tháng 7 năm 1945, gần đến ngày Nhật thua trận, một việc không còn hoài nghi mấy nữa, Việt Minh, có ảnh hưởng mạnh mẽ ở sáu tỉnh phía bắc93 (Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ và Thái Nguyên), bắt đầu chơi ván bài của họ. Khi tướng Trương Phát Khuê muốn đưa những phần tử Đồng minh hội đầu tiên vào Việt Nam, thì những người cộng sản đã phản đối không cho họ đi vào vùng kiểm soát của họ.


Nhưng, những sự kiện dồn dập xảy đến. Việc nội các thân Nhật Trần Trọng Kim từ chức ngày 7 tháng 8, việc đầu hàng ngày 14, và vua Bảo Đại thoái vị ngày 24 đã đột ngột để trống chính quyền. Chỉ có Việt Minh biết lợi dụng tình thế. Ngày 2 tháng 9, trước khi người Trung Quốc có thể mưu toán bất kỳ việc gì, Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Một Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh lãnh đạo, ra đời, và chính Hồ Chí Minh giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Bộ Nội vụ do Võ Nguyên Giáp đảm nhiệm, và Phạm Văn Đồng nắm Bộ Tài chính. Trong mười ba Bộ trưởng, sáu người là của Việt Minh. Không có sự giúp đỡ nào từ bên ngoài, nhưng với một sự khôn khéo và mau lẹ xuất sắc, Việt Minh đã chiếm được chính quyền. Chỉ trừ có Hoa Kỳ là tiếp nhận thuận lợi sự biến đổi, còn Đồng minh, kể cả Chính phủ Trùng Khánh thì bị đặt trước một việc đã rồi.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 590



WWW
« Trả lời #25 vào lúc: 19 Tháng Hai, 2011, 07:44:11 PM »

Tuy vậy, chế độ mới hãy còn cực kỳ yếu ớt. Chẳng bao lâu, chế độ đó đã phải tính đến khả năng Pháp sẽ quay trở lại. Vậy cần thiết phải thoả thuận, nhất là với Trung Quốc-nước chiếm đóng miền Bắc Đông Dương từ vĩ tuyến 16 trở ra để tước vũ khí quân đội Nhật94 (Xem K.C. Chen, The Chinese Occupation of Việt Nam (sự chiếm đóng của Trung Quốc tại Việt Nam) bài đăng trong tạp chí France-Asie, số 196, 1969, tr.3-28). Mặc dù ngày 24 tháng 8, Tổng tư lệnh Tưởng Giới Thạch đã nhắc lại rằng “Trung Quốc không hề có tham vọng lãnh thổ ở Việt Nam"95 (Trùng dương nhật báo (Chung-yang Jih-pao), 25-8-1945-Niu Oóc thời báo, 25-8-1945), mối nguy cơ lớn là ở chỗ quân đội Trung Hoa áp đặt ở Hà Nội một chính phủ của Việt Nam Quốc dân đảng-Đồng minh hội là những tổ chức trung thành với họ. Hiểm nguy càng lớn khi việc chiếm đóng, bắt đầu cuối tháng 8 do tướng Lư Hán chỉ huy, mà viên tướng này, có trong tay 15 vạn quân, lại không tán thành chính sách (đối với) Việt Nam của chính phủ Trùng Khánh. Trong khi chính phủ này, vì những lý do quốc tế, lại mong muốn từ nay giữ thái độ trung lập giữa Pháp và Việt Nam dưới một số điều kiện nào đó, tướng Lư Hán trái lại, chủ trương chiếm đóng lâu dài để cho phép ông ta tăng cường được thế lực cá nhân ở Vân Nam trong khi chuẩn bị cho Việt Nam độc lập, dưới sự lệ thuộc vào Trung Quốc và chống lại nước Pháp96 (K.C. Chen sách đã dẫn, tr.118-120. Nguồn chủ yếu của Trung Quốc về thời kỳ này là Chu Hsieh; Nhật ký về sự đầu hàng của Nhật ở Việt Nam, Thượng Hải, 1947. Chu Hsieh là thành viên của tiểu ban hành chính của Trung Quốc thành lập trong thời kỳ Quốc dân đảng chiếm đóng Đông Dương. Cũng xem bằng chứng của tướng Xa-lăng, sách đã dẫn, tr.226 và 339).


Trong khi tìm cách cô lập Việt Nam Quốc dân đảng và Đồng minh hội, Việt Minh cố gắng xúc tiến những quan hệ đúng đắn với kẻ chiếm đóng để trung lập hoá chúng. Ngày 18 tháng 11, Hồ Chí Minh bảo đảm với nhà đương cục Trung Hoa là sẽ “tuân lệnh” họ. Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn tuyên bố sẵn sàng để các đảng phái chính trị khác (thân Trung Quốc) tham gia Chính phủ lâm thời97 (Báo cáo của Trương Pháp Khuê, ngày 17-9-1946, trong Chiang Yung-ching, sách đã dẫn, K.C. Chen, trích trong sách đã dẫn, tr.123). Sự “hợp tác” đã đi khá xa vì người Trung Quốc nhận bán vũ khí cho Việt Minh đổi lấy một phần số vàng quyên góp được trong “tuần lễ Vàng” tổ chức hồi tháng 9 năm 194598 (Thư của Nghiêm Kế Tổ gửi cho K.C. Chen (31-3-1969) xem sách đã dẫn của K.C. Chen, tr.127. Xem thêm Hồ Chí Minh: De la Revolution (Nói về cách mạng) 1920-1966 Tập hợp các bài viết của Hồ Chí Minh, B. Phôn Pa-ri, Plon, 1968, 495 trang. Chú thích của B. Phôn; tr.194).


Khi những vấn đề chính tồn tại giữa Pháp và Trung Quốc đã được giải quyết bằng hiệp định 28 tháng 2 năm 194699 (Những vấn đề thuộc về đặc quyền nước ngoài của Pháp ở Trung Quốc, quy chế của Hoa kiều ở Đông Dương, quy chế cảng Hải Phòng và đường sắt Vân Nam cũng như việc quân đội Trung Hoa rút khỏi Đông Dương: Bài trong Notes et Etudes documentaires, La Documentation franCaise Pa-ri, số 555, 24-2-1947), và một thoả hiệp tạm thời đã ký được với Việt Minh ngày 6 tháng 3100 (Nước Pháp thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội, tài chính riêng nhưng ở trong “Liên bang Đông Dương" và khối “Liên hiệp Pháp”; 15.000 lính Pháp sẽ được đóng quân ở phía Bắc vĩ tuyến 16; quân đội Việt Nam sẽ thay thế quân Pháp trong 5 năm (Hiệp ước, hiệp định, thoả ước ký giữa Việt Nam và Pháp 1787-1946. Chính phủ Trung ương lâm thời Việt Nam, Hà Nội, 1948). Nói thêm rằng thoả thuận này chặn đứng khả năng liên minh Việt-Trung chống lại nước Pháp), quân đội Pháp bắt đầu đổ bộ lên Hải Phòng cùng ngày hôm đó (sau một cuộc đọ súng kịch liệt với quân đội Trung Hoa). Ngày 18 tháng 3, quân đội Pháp vào Hà Nội.


Nhng, đồng thời với việc nhận cho Pháp quay trở lại miền Bắc. Hồ Chí Minh gửi đi Trùng Khánh một phái đoàn để xin Trung Quốc viện trợ chống Pháp101 (Báo cáo của Hsing Shen-chou ngày 6 tháng 14-4-1946 trong sách đã dẫn của Chiang Yung-ching, K.C. Chen trích lại trong sách đã dẫn, tr.148-149. Có lẽ Hồ Chí Minh đã mong muốn quân đội Trung Hoa chỉ rút đi sau khi có hiệp định chính thức với Pháp). Tình hình yết ớt nhiều mặt của đất nước lúc này buộc Việt Minh phải có một chính sách giữ cân bằng khôn khéo và thận trọng giữa Trung Quốc và Pháp102 (Vì vậy mà trong mùa hè 1946, Hồ Chí Minh, nhờ sự giúp đỡ của Pháp đã có thể loại trừ một số phần tử thân Trung Quốc trong Chính phủ (M. Guốc-tốp, sách đã dẫn, tr.3)). Tuy nhiên, đến tháng 6 khi những đơn vị cuối cùng của quân đội Trung Hoa đã rút đi mà không có một thoả thuận dứt khoát nào được ký kết với Pa-ri. Tuy nhiên, đến tháng 6 khi những đơn vị cuối cùng của quân đội Trung Hoa đã rút đi mà không có một thoả thuận dứt khoát nào được ký kết với Pa-ri. Tuy nhiên, với sự ra đi của quân đội Trung Quốc, những hi vọng chính trị cuối cùng của Việt Nam Quốc dân đảng và Đồng minh hội đã phai mờ và những đối thủ quan trọng và cuối cùng ở trong nước của Việt Minh cũng biến mất. Hồ Chí Minh và những đồng chí của ông ta từ nay có thể và phải chiến đấu đơn độc chống lại nước Pháp. Việc bắn phá Hải Phòng ngày 23 tháng 11 năm 1946 rồi việc nổi dậy ở Hà Nội ngày 19 tháng 12, đánh dấu cuộc chiến tranh bắt đầu và sẽ phải kéo dài 7 năm rưỡi.


Việc chiếm chính quyền nhanh chóng của Việt Minh, chắc chắn chẳng phải là kết quả của chính sách của Trung Quốc. Trên một mức độ rất lớn, việc đó đã diễn ra ngược lại với ý muốn của Chính phủ Trùng Khánh, và chống lại cả hai tổ chức chính trị Việt Nam được chính phủ này bênh vực: Việt Nam Quốc dân đảng và Đồng minh hội. Làm sao có thể khác dược trong khi Quốc dân đảng Trung Hoa núp dưới Mặt trận thống nhất chống Nhật cùng với Đảng Cộng sản Trung Quốc, thực ra, lao vào cuộc chiến đấu sinh tử với những người cộng sản?


Nhưng nếu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mầm mống của Nhà nước xã hội chủ nghĩa được xây dựng nên chủ yếu do những người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương trở lại hoạt động bí mật đã được thành lập ngược lại ý muốn của Trung Hoa dân quốc thì: cuộc cách mạng Việt Nam trong cái cốt lõi dân tộc chủ nghĩa của nó, có một phần không kém quan trọng là kết quả của chính sách của Trung Quốc. Chính nhờ có Trung Quốc ủng hộ, đôi khi tiêu cực nhưng thường là tích cực, mà Việt Minh có thể trưởng thành nhanh chóng như vậy (tuyệt đối nhanh hơn cả Đảng Cộng sản Trung Quốc). Cho đến cuối chiến tranh thế giới thứ hai, Việt Minh như nhiều phong trào dân tộc khác của Việt Nam đã phát triển trong sự phụ thuộc vào Trung Quốc.


Một nền độc lập do Trung Quốc đồng thời chống lại Trung Quốc: đó là một quá trình lịch sử quan hệ Trung-Việt còn đưa ra khá nhiều ví dụ khác nữa.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 590



WWW
« Trả lời #26 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2011, 07:16:10 AM »

Viện trợ của cộng sản Trung Quốc cho Việt Minh trước năm 1949

Nhìn bề ngoài, chính là bắt đầu từ năm 1946, những người cộng sản Trung Quốc mới quan tâm sát sao đến vấn đề Việt Nam. Tháng 8 năm đó khoảng 350 cán bộ đã được phái sang Việt Nam để tiến hành hoạt động tuyên truyền trong đông đảo cộng đồng Hoa kiều103 (Báo cáo của Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại Hà Nội 12-11-1945, trong Chiang Yung-ching, sách đã dẫn, K.C. Chen, trích trong sách đã dẫn, tr.187). Từ năm 1947, ở vùng biên giới Trung-Việt, thành lập “quân đội dân chủ thống nhất Hoa Nam” đông tới 5.000 người đã giúp Việt Minh đào tạo cán bộ. Vả lại cũng kể từ ngày đó, quan hệ giữa Việt Minh và Đảng Cộng sản Trung Quốc được tăng cường nhất là nhân dịp Lưu Thừa Chí, phụ trách Cục Hoa Nam của Đảng Cộng sản Trung Quốc và tướng Phương Dương cùng làm việc với Chí cùng đến thăm các vùng do cộng sản kiểm soát ở vùng này vào khoảng tháng 6 đến tháng 7 năm 1947. Từ Băng Cốc những người cộng sản Trung Quốc giúp đỡ Việt Minh mua vài chuyến vũ khí Mỹ của người Thái Lan và người Anh bán. Như vậy đến tháng 9 năm 1947, Việt Minh, qua những người cộng sản Trung Quốc làm trung gian, đã có được một số lượng lớn trang bị (trị giá 12 triệu đồng) được gửi tới Bắc kỳ bằng đường biển104 (K.C. Chen, sách đã dẫn, tr.188-189. Một nguồn tin Trung Hoa quốc gia cho biết việc mua bán vũ khí ở Băng Cốc như sau: 6.000 súng trường, 400 tiểu liên, 5 súng phòng không, 200 mìn và 1000 lựu đạn. Đến năm 1950, Văn phòng đại diện (của Việt Minh) ở Băng Cốc mới đóng cửa, rồi chuyển về Răng-gun (B. Phôn, sách đã dẫn, tr.90-91). Tướng P. Boi-ơ đơ La-tua, trong cuốn De l’Indochine à l’ Algérie: le martye de l’armée francaise (Từ Đông Dương đến An-giê-ri: Nỗi thống khổ của quân đội Pháp) Pa-ri, les Presses du mail, 1962, tr.46, khẳng định sự việc này và nói thêm rằng đó là nguồn tiếp tế chủ yếu của Việt Minh).


Ngoài ra, Việt Minh, từ lúc này nhận được sự giúp đỡ mạnh mẽ của phía Trung Quốc từ bên kia biên giới mặc dù Quảng Tây và Vân Nam vẫn còn nằm dưới sự kiểm soát của Trung Hoa quốc gia. Ví như viên Tổng đốc Vân Nam là Lư Hán đã để cho một đơn vị “Quân giải phóng nhân dân" của cộng sản được hoạt động và cộng tác với Việt Minh105 (Tuy nhiên, tướng P. Boi-ơđơ La-tua, trong sách đã dẫn, tr.48, ghi nhận rằng năm 1947, “gần như không có sự giúp đỡ gì từ phía Trung Quốc"). Trong một chừng mực nào đó, Trung Quốc đã trở thành “đất thánh” cho các lực lượng của tướng Giáp. Cuối năm 1948, tình hình đó được củng cố thêm khi hai đơn vị mới của cộng sản xuất hiện ở biên giới Trung-Việt: Quân giải phóng nhân dân của Trần Canh và Quân giải phóng Vân Nam-Quảng Tây106 (K.C Chen, sách đã dẫn, tr.193-195).


Về phía Pháp, ban tham mưu biết rõ những sự phát triển đó và khá lâu trước khi quân Trung cộng tiến sát biên giới Việt Nam, nhà đương cục Pháp đã lo ngại về tác động của các sự kiện ở Trung Quốc đến tình hình Đông Dương. Tháng 5 năm 1947, khi các cuộc phản công lớn của Trung cộng chưa bắt đầu, Ma-ri-uýt Mu-lê (Marius Moulet), Bộ trưởng Bộ Pháp quốc hải ngoại đã thổ lộ với tướng Xa-lăng (Salan) khi viên tướng này lên đường trở lại Đông Dương để nắm quyền chỉ huy miền Bắc Đông Dương: “Trung hoa đỏ đang nổi lên và bắt đầu tiến xuống phía nam rồi đó. Tôi yêu cầu ông làm mọi việc để không cho Việt Minh có thể tiếp xúc được với các đơn vị của Mao”107 (K.C. Chen, sách đã dẫn, tr.193-195).


Đặt chân tới Hà Nội, tướng Xa-lăng lập tức quan tâm ngay đến vấn đề đó. Chiến dịch đầu tiên tổ chức ở Bắc kỳ từ tháng 10 năm 1947 nhằm, ngoài những mục tiêu khác, “khoá chặt” biên giới Trung Hoa. Chính tướng Bô-phrê (Beauré) được giao phụ trách một phần của cuộc hành quân này108 (Như trên, tr.100 và tiếp theo). Nhưng việc bố trí một vài đơn vị dọc biên giới Trung Hoa và từ sông Hồng (Lao Cai) đến vịnh Bắc bộ chỉ đạt được một thời gian im ắng rất ngắn ngủi. Trước hết bởi lẽ, một phần vũ khí đưa vào Bắc kỳ bằng đường biển và cung cấp cho nhiều du kích trong rừng rất khó kiểm soát, đặc biệt ở phía nam Hải Phòng109 (Như trên, tr.126). Nhưng phần lớn bởi vì ở Trung Quốc, thế chủ động dần dần chuyển sang tay những người cộng sản quốc từ đầu 194. Vào mùa xuân, cộng sản vượt sông Hoàng Hà ở vùng Lạc Dương và Khai Phong110 (J. Guillermaz, sách đã dẫn, tr.39 và tiếp theo).


Để tìm cách đối phó với tình hình, tướng Xa-lăng, từ tháng 2 năm 1948 nắm quyền chỉ huy toàn Đông Dương, đã ra lệnh tổ chức lại ban chỉ huy vùng biên giới do đại tá Vi-ke (Vicaire) từ nay kiêm nhiệm các chức trách dân sự lẫn quân sự, và yêu cầu Cao uỷ Bô-la-éc (Bollaert) triệu tập đại tá Ghi-éc-ma (Guillermaz), tuỳ viên quân sự Pháp tại Nam Kinh về đánh giá tình hình diễn biến tại Trung Quốc. Viên đại tá này đã theo dõi các vấn đề Trung Quốc từ nhiều năm, đến Sài Gòn tháng 3 và phân tích cho tướng Xa-lăng tình hình quân sự ở Trung Quốc. Theo ông ta, quân cộng sản có thể sẽ đến sông Dương Tử vào khoảng tháng 3, tháng 4 năm 1949 và sẽ tiến tới sát biên giới Việt Nam vào cuối năm111 (R.Salan, sách đã dẫn, tr.143).
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 590



WWW
« Trả lời #27 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2011, 07:17:26 AM »

Vào đầu năm 1949, các giới Pháp ở Trung Quốc ngày càng tỏ ra bi quan về khả năng của Chính phủ Trung Hoa dân quốc có thể khôi phục được tình hình. Đại sứ Pháp Mây-ri-ê (Meyrier) ngày 22 tháng 2 năm 1949 đánh điện về Pháp, tỏ ra không còn nghi ngờ gì về tương lai:

“Không thể phủ nhận rằng các cuộc hành quân mùa đông này ở miền Bắc Trung Quốc là tai hại đối với quân đội chính phủ mà lực lượng đã bị tổn thất nặng. Bây giờ sự đe doạ nghiêm trọng nhất đối với Chính phủ Nam Kinh là ở sông Dương Tử. Ngài Tống Tử Văn112 (Em vợ Tưởng Giới Thạch, cựu Chủ tịch Viện hành pháp, tổng đốc Quảng Đông) đã không giấu tôi việc phải tính đến cuộc rút lui của Chính phủ trước sự uy hiếp của cộng sản (…). Phải thừa nhận quân cộng sản có tinh thần chiến đấu phi thường trước một đối thủ hoàn toàn thất vọng và suy sụp (…)”113 (Ra-un Xa-lăng, sách đã dẫn, tr.139-140).


Đối với Đông Dương, nguy cơ càng nghiêm trọng hơn với việc du kích Việt Minh vùng thượng du Bắc kỳ đã liên lạc được với phong trào khởi nghĩa đang phát triển ở Quảng Tây và Quảng Đông114 (Như trên, tr.11-142).


Những lời dự đoán đó đã tỏ ra đặc biệt chính xác. Quả vậy, quân cộng sản bắt đầu vượt sông Dương Tử ngày 20 tháng 4 năm 1949. Trong vài ngày, cuộc hành quân đã hoàn thành mà không gặp sự kháng cự nghiêm chỉnh nào của phe quốc gia. Đối với bộ chỉ huy quân sự Pháp, hiểm hoạ Trung Hoa lớn lên từ những tháng qua, nay đã trở thành hiện thực. Vậy cần phải tập trung các phương tiện đối phó với nguy cơ đó. Nếu quân giải phóng Trung Quốc nối liền được với du kích Việt Minh và thường xuyên tiếp xúc với họ thì người ta nghĩ rằng việc bình định Bắc kỳ thực tế là không thể được.
Tuy nhiên, tất cả những người có trách nhiệm tại chỗ đều không tiếp nhận sự giải thích tình hình như vậy. Lê-ông Pi-nhông (Léon Pignon) thay Bô-la-éc giữ chức Cao uỷ, đánh giá rằng cần đặt ưu tiên vào mục tiêu bình định ở miền Nam và miền Trung115 (Như trên, sách đã dẫn, tr.159-160). Trước sự khác nhau giữa các đương cục quân sự và dân sự, tháng 5 năm 1949, chính phủ quyết định cử tướng Rơ-ve (Revers). Tham mưu trưởng lục quân, tiến hành điều tra tại chỗ. Sau một tháng thanh tra, tướng Rơ-ve đi đến kết luận rằng cần “phải đối phó với một sự đe doạ có thể xảy ra từ phía Trung Quốc bằng cách thực hiện một hệ thống liên hoàn cho phép bảo đảm việc phòng thủ biên giới từ Móng Cai đến Thất Khê”. Nhưng đồng thời, để tập trung lực lượng quân sự ở đồng bằng, Rơ-ve quyết định “rút khỏi Bắc Cạn và Nguyên Bình và để một lực lượng mỏng ở Cao Bằng, với dự kiến là nếu bị uy hiếp nghiêm trọng116 (Như trên, tr.162. Việc tiết lộ báo cáo của Rơ-vê (6 tháng đầu năm 1950) chứng tỏ cho Việt Minh thấy rõ những mối lo sơ bộ của bộ tham mưu Pháp trước sự đe doạ của Trung Quốc. Một số chỉ huy quân sự không hoan nghênh kế hoạch Rơ-vê. Sau này, tướng Na-va viết: “Bằng cách mở toang cửa với Trung Quốc, địch có thể nối liền hệ thống đường sá của mình với hệ thống đường bộ của Trung Quốc; kế hoạch đã tạo cho địch mọi thuận lợi tiếp nhận sự viện trợ vật chất tăng lên không ngừng và thành lập, bên cạnh lực lượng du kích, một quân đội chính quy, bắt đầu lúc này sẽ được tăng cường thường xuyên (Henri Navarre, Agonie de l’ Indochine 1953-1954 (Đông Dương hấp hối 1953-1954 Pa-ri, Pilon, 1956, tr.19)) thì trung tâm Cao Bằng sẽ rút nốt”.


Thực tế, ngày tháng trôi qua, những lời cảnh cáo của đại tá Ghi-éc-ma càng tỏ ra có cơ sở “Đúng là cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1949, quân Trung cộng tiến đến biên giới Việt Nam. Một đơn vị quân quốc gia 30.000 người do tướng Huang Chinh chỉ huy đã phải vượt biên để thoát khỏi quân cộng sản. Đơn vị này đã bị quân Pháp tước vũ khí và được đưa về đảo Phú Quốc, phía tây nam bờ biển Nam kỳ117 (Guillermaz: Historie du Parti Communiste Chinois (lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc) sách đã dẫn, tr.412. Về điểm này, xem thêm K.C.Chen, sách đã dẫn, tr.201-211. Tháng 5-6-1953 các đơn vị Trung Hoa quốc gia này được đưa về Đài Loan).
Tướng Xa-lăng kết luận (trong Hồi ký của mình):

“Trong những tháng tiếp theo và cho đến gần tới mùa hè năm 1950 (…) bi kịch đã không xảy ra, Việt Minh “giả tảng chết”, nhưng với huấn luyện viên Trung Quốc, chuyên gia về chiến tranh cách mạng, Việt Minh rèn công cụ chiến tranh của mình. Đó là khởi đầu việc thành lập các đơn vị lớn”118 (Ra-un Xa-lăng, sách đã dẫn, tr.161).


Gần ba năm đã trôi qua từ lúc Ma-ri-uýt Mu-tê yêu cầu, tướng Xa-lăng “là hết thảy mọi việc để cho Việt Minh không liên lạc được với các đơn vị của Mao”. Ngày nay Trung cộng đã ở cửa ngõ Bắc kỳ. Có nghĩa là từ nay cuộc xung đột ở Đông Dương đã thay đổi tầm cỡ về quân sự cũng như về chính trị. Một mặt nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa đã có thể viện trợ ồ ạt cho Việt Minh, bằng cách cung cấp vũ khí, giúp đỡ về hậu cần trên lãnh thổ Trung Quốc và phái cg quân sự tới. Mặt khác, bộ chỉ huy Pháp không còn chỉ đối phó với cuộc nổi dậy có tính dân tộc mà là một sự nghiệp, không phải là không có vài lý do, sẽ có thể được xem như một trong những biểu hiện của cuộc chạm trán Đông-Tây trong khung cảnh chiến tranh lạnh.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 590



WWW
« Trả lời #28 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2011, 07:21:20 AM »

CHƯƠNG II
TRUNG HOA NHÂN DÂN ĐỨNG TRƯỚC CÁC
CƯỜNG QUỐC PHƯƠNG TÂY TRONG SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG ĐÔNG DƯƠNG


SỰ ỦNG HỘ CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ NHÂN DÂN TRUNG HOA DÀNH CHO VIỆT MINH: GIÚP ĐỠ TÍCH CỰC NHƯNG KHÔNG TRỰC TIẾP CAN THIỆP


Những quan hệ chính trị giữa Trung Hoa nhân dân và Việt Minh

Khi Trung Quốc tuyên bố thành lập nền Cộng hoà nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tồn tại được bốn năm rưỡi. Bốn năm đấu tranh gian khổ, qua những bước đường quanh co, thương lượng, khủng bố, chiến tranh du kích, có thắng lợi và có thất bại, nhưng đã chứng minh cho các nhà quan sát khách quan1 (Đại sứ Sô-ven hai mươi năm sau viết rằng lúc đó ở Pháp chưa có những nhà quan sát khách quan) rằng cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam có những nguồn gốc sâu xa và vững chắc2 (Thư mục về Việt Nam trước năm 1954 khá phong phú. Trong số các sách Pháp có Philippe Devillers: Historie du Viet-nam de 1940 là 1952 (Lịch sử Việt Nam, từ 1940 đến 1952), sách đã dẫn-Paul Mus, Việt Nam, Sociologie d’une guerre, (Việt Nam xã hội học của một cuộc chiến tranh), sách đã dẫn-Bernard Fall, Le Việt Minh, sách đã dẫn. Xem mục lục sách tham khảo ở cuối sách). Chúng ta hãy đọc lại Pôn Muýt (Paul Mus). Ông đã nhấn mạnh điều đó ngay từ những trang đầu trong cuốn sách xuất bản năm 1952. Đối với xã thôn Việt Nam là tế bào chủ yếu của đời sống xã hội và chính trị, “thiên minh” (+) (+: Dẫn trong nguyên bản, tác giả viết là “thiên minh”, chúng tôi ngờ là phiên âm sai, đúng ra phải là “thiên mệnh” mới đúng cách dịch của tác giả là madát céleste có nghĩa là”sứ mệnh trời cao”), “mệnh trời”-điều này tôi không biết thế nào vì không có tên gọi trong ngôn ngữ của chúng ta, nhưng nó nói về chế độ chính trị đến lúc thích hợp sẽ lập lại sự hài hoà giữa trời và con người-đã đi đến Cộng hoà dân chủ. Vị Hoàng đế cuối cùng đã chẳng trao lại cho nó cái ấn, sau khi thoái vị đó sao?


Cuộc cách mạng mà hiện thân là chế độ Cộng hoà dân chủ, cơ bản là cách mạng dân tộc. Chắc chắn đó là sự nghiệp của những người mác-xít nhưng là những người mác-xít yêu nước nồng nàn, có thể là những người yêu nước nhiều hơn là mác-xít, những người coi “độc lập” là mục đích tối cao. Đối với họ, cuộc cách mạng chỉ có ý nghĩa bởi vì nó tạo điều kiện tất yếu của độc lập. Vì vậy họ cố gắng giữ cho phong trào có được tính chất dân tộc cao cả. Các nhà lãnh đạo Việt Minh luôn luôn nhấn đến sự cần thiết cấp bách đối với cách mạng Việt Nam là “tự lực cánh sinh” (như kiểu chủ nghĩa cộng sản Trung Hoa). Sự đòi hỏi càng bức thiết hơn đối với một nước như Việt Nam mà nguy cơ lớn là thất Trung Quốc lợi dụng thế mạnh của họ để hướng cách mạng Việt Nam phục vụ lợi ích dân tộc của chính họ.


Nhưng, mặc dù có những dè dặt như vậy, chắc chắn là đối với Việt Minh, việc quân cộng sản Trung Hoa đến sát biên giới làm thay đổi tận gốc những dữ kiện về chiến lược. Đại tướng Võ Nguyên Giáp sau này viết:

“Năm 1949 là năm cách mạng Trung Quốc đại thắng, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra đời. Sự kiện lịch sử vĩ đại đó đã làm thay đổi cục diện ở châu Á và thế giới, nó đã có ảnh hưởng lớn đến cuối cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam. Nước Việt Nam đã thoát khỏi hoàn canh chiến đấu trong vòng vây của địch và từ nay về địa lý sẽ được nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa”4 (Võ Nguyên Giáp: Chiến tranh giải phóng của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954) trong tập “chiến tranh nhân dân, quân đội nhân dân”, Paris, Maspero, 1966, tr.21).


Về mặt chính trị, việc cộng sản nắm chính quyền ở Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đối với Việt Minh. Một mặt, thế cân bằng trong nội bộ ban lãnh đạo (của Việt Minh) sẽ thay đổi. Từ tháng 7 năm 1949, khuynh hướng của Trường Chinh và những người khác, cũng là khuynh hướng của những người chủ trương đánh đến cùng, áp đặt một phần đường lối thiên về các triển vọng chính trị và quân sự đang được thể hiện ở Trung Quốc5 (Philippe Devillers, sách đã dẫn, tr.451. Bửu Lộc “Aspects of the Vietnamese Problem” (Những khía cạnh của vấn đề Việt Nam)-Pacific Affairs, XXV, số 3-tháng 9-1952, P.239. Ph. Devillers, “Việt Nam" trong tập san “L’ Asie du Sud-Est” (Đông Nam châu Á), Paris, Sirey. 1971, tập II, tr.848-849). Cùng với sự giúp đỡ bên ngoài và sự tiến triển của bối cảnh quốc tế, điều đó sẽ giải thích sự cứng rắn một cách mau lẹ về chiến lược của Việt Minh và việc họ mở chiến dịch lớn năm 1950.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 590



WWW
« Trả lời #29 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2011, 07:22:27 AM »

Mặt khác, việc thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, đồng thời tăng cường vị trí của Việt Minh trên sân khấu quốc tế. Cho đến cuối tháng 12 năm 1949, thái độ của Việt Minh đối với nước Trung Hoa mới, ít ra về công khai, còn hết sức thận trọng bởi vì mặc dù tình hình xảy ra ở Bắc Kinh, những người ở phe quốc gia còn giữ được chính quyền ở vài vùng phía nam. Khi thất bại của phe quốc gia đã rõ ràng, tình hình hoàn toàn khác hẳn. Đầu tháng 1 năm 1950, Võ Nguyên Giáp bí mật đến Nam Ninh (Quảng Tây) ở đó, ông đã gặp nhiều nhân vật quan trọng của Trung Quốc6 (Nguồn tin của Ph. Đơ-vi-le. Xem K.C. Chen, sách đã dẫn, tr.231). Mấy ngày sau, ngày 14 tháng 1 Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra lời kêu gọi các nước bạn dành cho sự ủng hộ về ngoại giao7 (Hồ Chí Minh, sách đã dẫn, tr.249-250). Hôm sau, 15 tháng 1, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, về phần mình, công nhận Cộng hoà nhân dân Trung Hoa8 (Việt Nam News Agency (Đài phát thanh Việt Minh) 16 tháng 1 năm 1950). Ngày 18 đến lượt Trung Hoa nhân dân công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và mời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà gửi đến Bắc Kinh một đại biểu để thành lập Đại sứ quán9 (Tin của đài phát thanh Bắc Kinh ngày 18 tháng 1 năm 1950. Xem Nhân dân nhật báo Bắc Kinh ngày 19-1-1950. Cùng ngày Cộng hoà nhân dân Trung Hoa gửi đến Bộ Ngoại giao Pháp công hàm phản đối việc quân đội Pháp bạc đãi Hoa kiều ở Đông Dương). Khởi đầu quá trình bình thường hoá với các nước xã hội chủ nghĩa10 (Đến lượt Liên Xô công nhận chế độ Việt Minh ngày 30-1-1950 (Hãng TASS ngày 31-1-1950) Bắc Triều Tiên ngày 31-1, Tiệp Khắc ngày 2-2, Ru-ma-ni ngày 3-2, Ba Lan và Hung-ga-ri ngày 4-2, Bun-ga-ri ngày 5-2 và An-ba-ni ngày 13-3). Đến ngày nay, những sự kiện này còn khó hiểu ở nhiều khía cạnh, khi Trung Hoa quyết định công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thì Mao Trạch Đông còn ở Mát-xcơ-va và đang thương lượng để ký Hiệp ước Đồng minh tương trợ Trung-Xô. Lưu Thiếu Kỳ, đảm nhiệm quyền chủ tịch, có phải tham khảo ý kiến Mao trước khi quyết định không? Người Liên Xô có được hỏi ý kiến không? Phải chăng chính quyết định của Trung Quốc đã làm Liên Xô chấm dứt sự dè dặt từ bố năm nay đối với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để Trung Quốc không thu lợi một mình trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Minh? Xem Phi-líp Đơ-vi-le, sách đã dẫn, tr.454-455). Trung Quốc đã dành sự giúp đỡ to lớn cho Việt Minh. Ngoài ra, Trung Quốc còn gián tiếp cải chính những tin đồn về những sự bất đồng được coi là có giữa người Việt Nam và Trung Hoa về khả năng có thể có một sự trung lập giữa phương Đông và phương Tây11 (Trong lúc Cộng hoà nhân dân tuyên bố không thể có sự trung lập giữa hai khối (ngả hẳn về một bên) Hồ Chí Minh đã để cho người ta hiểu rằng Việt Minh có thể đứng trung lập nếu chiến tranh xảy ra giữa Liên Xô và Mỹ).


Vả lại, những sự kiện diễn ra rất mau lẹ khẳng định sự nhất trí về quan điểm giữa Trung Hoa mới và Việt Minh về một vài điểm căn bản. Từ tháng 11 đến tháng 12 năm 1949 đại biểu Việt Minh (là Nguyễn Duy Tinh tức Lưu Đức Phổ) tại hội nghị các công đoàn châu Á và Ô-xtrây-li-a, họp ở Bắc Kinh, đã ủng hộ mạnh mẽ những quan điểm của Trung Quốc do Lưu Thiếu Kỳ đưa ra về cách mạng tại các nước thuộc địa: “Những nguyên tắc chủ yếu… do đồng chí Lưu Thiếu Kỳ đưa ra trong lời khai mạc (hội nghị)… phải được coi là kim chỉ nam cho hết thảy mọi người lao động ở Đông Nam châu Á”12 (Việt Nam News Agency, 8-3-1950 (tiếng Anh)). Vài tuần sau, hội nghị Công đoàn toàn quốc của Việt Nam, cuối tháng 12 năm 1949-nửa đầu tháng 1 năm 1950, có đại biểu của Công đoàn Trung Quốc tham dự, tuyên bố nhất trí với những nguyên tắc đề ra tại Bắc Kinh13 (Tân Hoa xã, Bắc Kinh 19-11-1949). Một tháng sau, ngày 11 tháng 2 năm 1950, hội nghị Việt-Trung tuyên bố thành lập, chào mừng “sự giống nhau trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Trung Quốc và ở Việt Nam" và nhấn mạnh những mối quan hệ nồng nhiệt giữa hai dân tộc, “hai đồng minh gần gũi nhất ở mặt trận phía đông của cuộc đấu tranh chống đế quốc”14 (Việt Nam News Agency, 11-9-1950 (tiếng Anh)).


Trong những tư tưởng đó, một số đã được nhắc lại thường xuyên hơn. Từ khi Đảng lao động thành lập (tháng 2 năm 1951), được Trung Quốc hoan nghênh như là một sáng kiến thích hợp và quan trọng15 (Nhân dân nhật báo, 27-3-1951. Cương lĩnh của Đảng được đăng trong tạp chí People’s China. 1-5-1951. G. La-cu-tuya và Ph. Đơ-vi-le còn đi xa hơn khi giải thích việc thành lập Đảng lao động như là kết quả của sức ép Trung Quốc (La fin d’une guerre (Kết thúc một cuộc chiến tranh), sách đã dẫn, tr.31). Sự cần thiết có một Đảng mác-xít-lê-nin-nít mạnh (ngoài Mặt trận thống nhất và quân đội) thường được đặt lên hàng đầu. Tuyên truyền của Việt Minh cũng nhấn mạnh đến liên minh giữa công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư sản dân tộc.


Nhưng nếu giai đoạn này là một trong những giai đoạn trong đó mối quan hệ Trung-Việt thân thiết nhất, thì sẽ rất sai lầm khi chỉ thấy rằng đường lối chính trị của Việt Minh những năm đó là sự phỏng theo một cách đơn giản mô hình Trung Quốc.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM