Cuộc chiến bí mật - Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH

<< < (30/35) > >>

NicolasCage:
Thời khóa biểu cho tháng 10

Thám sát    Ngày L (4/10)    Xâm nhập cách Vinh Sơn 12 dặmThám sát    Ngày L+2 (10/10)    Xâm nhập cách Vinh Sơn 3 dặmLoki IV    Ngày L+5    Bắt cóc tàu bè thất bại.32 & 35E    Ngày L+8 (28, 29/10)    Bắn phá đài radar Vinh Sơn và đài quan sát Mũi Dao

Y tá Julie Klebaum tại Pleime, bên trái là Đại úy Tom Pusser, người bị giết không lâu sau đó

Thời khóa biểu cho tháng 11

34 B    Ngày L+12 (4/11)    Bắn phá doanh trại trên Hòn Mật và Đảo Hổ    L+13    Bắt tù binh do toán biệt hải trên tốc đĩnh PTF.    L+15    Bắt tàu đánh cá.    L+19    Bắn phá Mũi Ròn và đảo Hổ.    L+25    Bắn phá Yên Phụ và đài radar Sầm Sơn.    L+28    Phá nổ cầu trên Quốc lộ 1 và bắn phá Mũi Dao    L+30    Trả những người bị bắt cóc từ ngày L+15    L+31    Bắn phá Hòn Ne và Hòn Me.    L+36    Phá nổ cảng tại Phúc Lợi và bắn phá Hòn Ngự    L+38    Cắt đường ray xe lửa Hà Nội – Vinh.    L+41    Bắn phá Đồng Hới và Đảo Hổ    L+42    Bắn phá đảo Nightingale.


14.   Theo đề nghị của Tư lệnh lực lượng Thái Bình Dương, vấn đề huấn luyện phải có chương trình, kế hoạch rõ ràng. Trong chuyến thăm viếng Ban cố vấn Hải quân của Đại tá (...),  Ban cố vấn Hải quân hứa sẽ cung cấp phương tiện cho thủy thủ đoàn các tốc đĩnh PTF. Sở Phòng vệ duyên hải đã thảo xong thủ tục liên lạc khẩn cấp và sẽ áp dụng kể từ ngày 4/10.

15.   Các chương trình hành quân biệt hải trong vòng một, một tháng rưỡi sẽ thông báo cho tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ theo thời gian ấn định sẵn theo sự yêu cầu. tất cả mọi cuộc hành quân đều phải có sự chấp thuận của tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ, dựa trên kết quả của cuộc hành quân trước.


Kontum, 1968

16.   Việc bảo trì tốc đỉnh PTF bị đình lại. MACV/SOG phải được sự chấp thuận của cơ quan MACV. MACV/SOG đưa chương trình bảo trì tốc đĩnh PTF, được sự trợ giúp của tư lệnh Hạm đội 7, chương trình bảo trì tiếp tục.

17.   Sau khi hủy bỏ vài chuyến hành quân mang tên(...), ngày 10/10 bắt được (...) (10/10 xâm nhập cách Vinh Sơn 3 dặm. 15/10 bắt có tàu đánh cá thất bại – Vũ Đình Hiếu). Kế hoạch bắn phá bị dời lại, lý do: vì thời tiết xấu nên nhận diện ảnh bị sai, tưởng lầm tàu đánh cá là tàu phóng thủy lôi. Thực hiện phi vụ bắn phá đài radar Vinh Sơn và đài quan sát Mũi Dao thành công vào ngày 28/10.


Đại tá Phạm Ngọc Thảo (ngồi), nguyên mẫu của nhân vật Nguyễn Thành Luân trong phim "Ván Bài Lật ngửa",
ngày về Sài Gòn, 2/1965 tham gia đảo chính


18.   Lấy lợi thế chu kỳ vài ngày là có thời tiết tốt trong mùa mưa vùng đông bắc, hành quân biệt hải hoạt động tốt theo đúng kế hoạch. Các cuộc hành quân bị giới hạn (...) do công điện nhận được từ chỉ huy cao cấp, lo sợ khả năng phản ứng của Bắc Việt.

19.   Coi lại các chuyến hành quân biệt hải, MACV/SOG yêu cầu thông báo thủ tục khẩn cấp đến những đơn vị khác trong đó có Không lực Thái Bình Dương.

20.   MACV/SOG thực hiện trận đánh phá bao gồm 6 tốc đỉnh PTF tại (...) vào ngày 26/11, và dùng 4 tốc đỉnh bắn phá (...) ngày 27/12 và đài radar (...) ngày 8/12.


Phù Cát, 5/1/1967. Lính Sư 1 Kỵ binh bay kiểm tra chiến trường sau trận đánh

21.   Kế hoạch bắn phá Quảng Khê bị hủy bỏ trong vùng mục tiêu do đối phương đã chuẩn bị lệnh hành quân ngày 1/12 và do ngày 22/12 thời tiết xấu. Tháng 12, thời tiết xấu do trận bão.

22.   MACV/SOG yêu cầu sự hiện diện của các chiến hạm Hải quân Mỹ đã cải trang để chống lại Bắc Việt trên phương diện (...) cho các hoạt động chiến tranh tâm lý, khi điều kiện thời tiết không phù hợp cho hành quân biệt hải.

23.   Chấp thuận (...) bắt sống tàu đánh cá. Yêu cầu cho phép Hải quân VNCH tấn công những tàu Bắc Việt đang thả neo hoặc bị hư hại gần bờ biển. Được chấp thuận.

24.   Tư lệnh Quân lực Hoa Kỳ đưa ra hai văn kiện về mục đích hành quân. Văn kiện 1 áp dụng từ ngày 15/12 đến 15/1. Văn kiện 2 cho giai đoạn kế tiếp, có thêm phần không yểm bởi 4 đến 6 phi cơ Mỹ phồi hợp hành quân.



25.   Tư lệnh Quân đội Mỹ thông báo sẽ cứu xét chương trình hành quân mỗi ngày cho đến khi thời tiết tốt.

26.   MACV/SOG đồng ý Hạm đội 7 có thể giảm độ khẩn thủ tục cầu cứu.

Theo tài liệu: MACV/SOG, Command History Annexes A, N & M (1964-1966), tác giả Reske.

NicolasCage:
(Phụ bản 4)
MACV/SOG 1965
Lịch sử Đoàn Nghiên cứu quan sát

SOG biên bản số #0001720-66
Nhóm I (Không tự động giảm độ mật và hết hạn bảo mật).
(Chương bị xóa).
3. Trực thăng H-28 thuộc Không lực VNCH được sử dụng thả biệt kích qua Cam bốt, Lào cũng như Bắc Việt.

4. Vấn đề gia tăng yểm trợ tiếp vận cho đơn vị SOG hành quân cũng như gia tăng số lượng hàng hóa, giờ bay cho các phi vụ C-123. Các chuyến C-123 bay tất cả 3.847 giờ, bốc 328 tấn dụng cụ.



d. Biệt hải

1. Tàu bí mật và toán biệt kích hành quân dọc theo bờ biển miền Bắc, ngăn chặn các tàu chở hàng, bắt cóc tù binh lấy tin tức, tuyên truyền làm cho đối phương phải gia tăng vấn đề phòng thủ bờ biển. (SOG bắt cóc dân đánh cá ngoài Bắc, tù binh sẽ được đưa đến nơi an toàn. Sở Phòng vệ duyên hải sẽ làm cho tù binh tin rằng họ là một phần trong nhóm kháng chiến chống lại chính quyền ngoài Bắc. Trong khoảng từ 3 đến 6 tuần nhồi sọ, các tù binh sẽ được trả về cùng với thực phẩm, quần áo, quà tặng tâm lý chiến và có có radio – Vũ Đình Hiếu).

a. Sáu chiếc tốc đỉnh PTF phóng thủy lôi và ba chiếc tàu loại Swift đã có sẵn cho Ban cố vấn Hải quân từ đầu năm. Thêm bốn chiếc nữa trong tương lai nâng tổng số tốc đỉnh PTF lên mười chiếc. Tuy nhiên bình thường chỉ có sáu tốc đỉnh và hai chiếc Swift hành quân. Những chiếc khác cần phải tu bổ để có thể hành quân.


Phó TT Nguyễn Cao Kỳ

b. Trung bình có 148 quân nhân hoặc thường dân Việt Nam và (...)(Eastern Construction Company – chú thích VĐH) sẵn sàng làm việc hoặc được huấn luyện hàng năm.

2. (...) (Hoạt động ngoài miền Bắc – VĐH) thực hiện trong năm 1965, kết quả một chết, mười tám bị thương và mất một tốc đỉnh PTF.

e. Tâm lý chiến. Bao gồm bắt cóc, nhồi sọ, tuyên truyền ngư dân Bắc Việt, thả truyền đơn, thư từ những quốc gia đệ tam, đài phát thanh đen, xám và trắng.

3. Tình báo.

Các hoạt động tình báo phát triển trong năm như (...)

4.   Kế hoạch

Nhu cầu hành quân về chiến tranh ngoại lệ, đòi hỏi sự cần thiết thành lập một ban chuyên lo những cuộc hành quân lâu dài. Đã được chấp thuận ngày 7/8; sẽ hoạt động khi ban tham mưu có sẵn nhân lực.

5.   Tiếp vận

a.   Ban tiếp vận làm việc gia tăng theo nhu cầu hành quân trong năm 1965. Phần lớn được tiếp tế bình thường, cần phải có thêm thứ tự ưu tiên của cuộc hành quân.

b.   (bị xóa một phần). Thất thoát hoặc chậm trễ do thiếu kiểm soát trong vấn đề gửi hàng.

c.   Một ảnh hưởng lớn trong vấn đề tiếp vận do hành quân Shining Brass. Hành quân này quá gấp rút, không thông báo đủ thời gian.


Đà Nẵng, 1967. Thoát y vũ phục vụ lính Mỹ

Annex N (Hành quân đặc biệt) năm 1965.

Bản này tóm tắt các hoạt động của Đoàn Nghiên cứu quan sát (SOG) thuộc bộ chỉ huy quân viện Việt Nam (MACV) trong năm 1965.

1.   Tổng quát.

a.   Tổng quát trong năm 1965, SOG tiếp tục gia tăng cường độ phá hoại, đánh lạc hướng, áp lực chính trị, bắt tù binh, tuyên truyền và lấy tin tức chống lại Bắc Việt.

b.   (bị xóa)

2.   Hành quân


Lính tiểu đoàn 3, Trung đoàn 4, TQLC Mỹ tại DMZ, Bến Hải, 22/5/1967

a.   Thả dù (hoặc trực thăng vận).

Tiếp tục những vụ phá hoại đường dây truyền tin, chiến tranh tâm lý do biệt kích quân Thượng, hoặc những sắc dân thiểu số khác đảm trách. Với những trận không tập ngoài miền Bắc (...), móc nối với dân địa phương để lấy thêm tin tức cho những cuộc hành quân kế tiếp. (Ít thành công nhất của đơn vị SOG. Những toán biệt kích, điệp viên ra ngoài Bắc thường thất bại và gần như không thể tái tiếp tế được – Vũ Đình Hiếu).

b.   Vượt biên (Shining Brass)

(bị xóa) (Những cuộc hành quân vượt biên sang Lào phải có sự phối hợp giữa bộ Quốc phòng và bộ Ngoại giao. Nhiều trường hợp chính phủ Lào phải được thông báo về những hoạt động của SOG. Đặc biệt là với những cuộc hành quân Shining Brass sử dụng đơn vị Khai Thác trong các cuộc hành quân phá hoại mật khu, cắt đường tiếp vận, ngăn việc tiếp tế cho những đơn vị Bắc Việt hoặc Việt Cộng – Vũ Đình Hiếu).


Babylift

c.   Bí mật tăng cường, tiếp tế cho những đơn vị nằm vùng bằng phi cơ C-123 trong năm 1965. Tất cả có 22 phi vụ thành công.

Theo tài liệu MACV-SOG Command History, Annexes A, N&M (1964-1966), by Charles F. Reske.

NicolasCage:
(Phụ bản 5)
SHINING BRASS – HÀNH QUÂN VƯỢT BIÊN

Chú thích của tác giả: Shining Brass là một chương trình võ trang thám sát trên đất Lào. Cũng như kế hoạch 34-A hành quân biệt hải trước đây, chương trình này tiếp tục những gì đã và đang tiếp diễn với cường độ ít hơn. Phi cơ Mỹ đã bay trên không phận Lào từ tháng 5/1964, với nhiệm vụ thám thính và bảo vệ Không lực Hoàng gia Lào lúc hành quân.



Những phi vụ đầu tiên dưới biệt hiệu Yankee Team, xuất phát từ hàng không mẫu hạm và các căn cứ trong đất liền. Các phi công Mỹ bay theo phi trình bốn ngày thám thính Cánh Đồng Chum, khu vực đường số 7 mỗi hai tuần. Trong một thời khóa biểu tương tự, khoảng 10 phi vụ thám thính vùng cán chảo nước Lào và hai phi vụ thám thính đêm trên đường số 7.


Phó TT Nguyễn Cao Kỳ cùng mẹ vợ tại ngoại ô Washington, 30/5/1975

Làm việc với toán Yankee là Không lực Hoàng gia Lào, bay những phi vụ trong vùng cán chảo với phi cơ T-28, bắn phá quân Pathét Lào, yểm trợ Lục quân Hoàng gia Lào, bắn phá đường số 7 và vùng cán chảo, thám thính vùng Trung Lào.


Dakto, 14/11/1967. Lính sư đoàn 4 bộ binh Mỹ tại đồi 742, trong chiến dịch Mac Arthur

Từ tháng 10 cho đến tháng 12/1964, có tất cả 724 phi vụ T-28 trong vùng cán chảo. Bắc Việt tố cáo những trận oanh kích kể trên do Mỹ bảo trợ chống lại miền Bắc –Thực sự đúng như vậy. Đường lối của toán Yankee Mỹ đã được thảo luận với Thủ tướng Souvana Phouma trong tháng 12/1964 và được sự ủng hộ hoàn toàn, ngoài ra còn được đề nghị thêm  một số mục tiêu là đường số 7, 8 và 12.


Lính  Trung đoàn kị binh thiết giáp số 11 Black Horse


Tóm lược hành quân.

a.   Ban đầu, hành quân vượt biên sang Lào có tên là “Leaping Lena” gồm quân của Liên đoàn 5, Lực lượng đặc biệt Mỹ và Việt Nam. Hành quân Leaping Lena thả dù quân biệt kích Việt Nam xuống Lào. Những chuyến xâm nhập kể trên không thành công với nhiều lý do. Thiếu cố vấn Mỹ là một trong những lý do chính. Hầu hết các toán nhảy dù xuống đất Lào đều bị bắt nhanh chóng và bị dùng để tuyên truyền.


Dakto 1967

Ngày 7/3/1965, Tư lệnh cơ quan MACV trao trách nhiệm Hành quân vượt biên cho đơn vị SOG và chương trình lấy tên là Shining Brass. Hành quân Shining Brass phá hoại căn cứ, đường xâm nhập của Việt Cộng từ Bắc vào Nam trên đất Lào. Tìm mục tiêu cho phi cơ oanh kích hoặc cho biệt kích đánh phá. Trong những tháng mùa xuân, hè năm 1965, chương trình được soạn thảo, phối hợp cho những cuộc hành quân vượt biên Mỹ - Việt sắp tới. Việc sửa soạn bao gồm mục đích và huấn luyện cho những toán biệt kích Mỹ - Việt. Phần I được chấp thuận ngày 29/9/1965.


Lính Nga tại Hà Bắc 60s

b.   Quan niệm hành quân.

Giai đoạn I: hành quân hướng tây khu vực Dak Prou và Dak To sâu 10 km qua biên giới Lào – việt với 2 nhiệm vụ: lấy tin tức, tìm kiếm, đánh giá mục tiêu và điều khiển phi cơ oanh kích (...). Bắt đầu hành quân qua Lào, quân biệt kích được trực thăng đưa đến bãi đáp gần biên giới, rồi xâm nhập bộ qua đất Lào. Tái tiếp tế, thu hồi hoặc tăng cường nhân lực được phép dùng phương tiện không vận


Đệ nhất phu nhân Trần Lệ Xuân (1924-2011)

NicolasCage:
Giai đoạn II: Sử dụng đơn vị xung kích lớn hơn để tấn công mục tiêu.

Giai đoạn III: Gia tăng cường độ oanh kích, đột kích và phát triển lực lượng du kích.


Quốc lộ 14, 1969

c.   Huấn luyện.

   Các toán biệt kích được tuyển mộ, trang bị và huấn luyện sơ khởi trong căn cứ Long Thành, cách Sài Gòn 35 dặm về hướng đông. Huấn luyện bổ túc trong căn cứ hành quân tiền phương (FOB) Khâm Đức. Các toán đều thực tập trong nội địa trước khi xâm nhập qua biên giới. Hành quân trong nội địa cũng được thực hiện như hành quân vượt biên. (Sau này SOG xem căn cứ Long Thành như một chỗ hoàn toàn Việt Nam để tránh sự kiểm soát của người Mỹ - chú thích Vũ Đình Hiếu)

Đơn vị Khai Thác được thành lập, trang bị trong căn cứ Long Thành, sau đó được không vận ra Khâm Đức huấn luyện căn bản, bổ túc nâng cao.


Hội chợ Xuân Buôn Mê Thuột, 1957

d.   Hành quân biệt kích ... (bị xóa) (ám chỉ bên Campuchia, tức là cuộc hành quân Daniel Boone, gần căn cứ Long Thành hơn Khâm Đức – chú thích VĐH). Thời gian còn lại trong năm 1965 liệt kê dưới đây:

-   Tháng 9: Hai cuộc hành quân thực tập trong nội địa nhằm 2 mục đích: xác định tình hình mục tiêu, tình nghi căn cứ của đối phương và huấn luyện bổ túc trước khi hành quân vượt biên.

-   Tháng 10: Trong một cuộc hành quân thực tập, kết quả thành công. Phi cơ oanh kích tiêu hủy 6-8 căn nhà Việt Cộng. Toán biệt kích chạm súng với đối phương, hạ được 1 người.

-   Tháng 11: Hành quân Shining Brass ngày 2/11/1965, xâm nhập mục tiêu Anpha-1 tại tọa độ YB 834937, xác nhận có căn cứ  hoạt động của đối phương.

   Hai cuộc hành quân thực tập trong nội địa không chạm đối phương nhưng tìm được bằng chứng có sự hoạt động trong vùng trước đây. Chuyến thứ 3 bị hủy bỏ vì lý do đối phương hoạt động mạnh nơi bãi đáp trực thăng.


A Shau, 1969

-   Tháng 12:

   Ngày 6/12/1965. Hành quân Shining Brass, toán biệt kích xâm nhập mục tiêu Kilo-1, tọa độ YC 703384. Toán bị tấn công bởi một đơn vị của đối phương không rõ quân số, được lệnh triệt xuất. Hai quân nhân biệt kích Việt Nam mất tích.

   Toán biệt kích Shining Brass xâm nhập ngày 9/12/1965 vào mục tiêu India-1, tọa độ YC 66104. Toán chạm đối phương, chết một biệt kích Việt Nam, một biệt kích Mỹ bị thương nhẹ.

   Ngày 16/12/1965, xâm nhập mục tiêu Charlie-1, tọa độ YB 673344. Biệt kích xác nhận được mục tiêu quan trọng của đối phương.

   Ngày 19/12, xâm nhập mục tiêu Hotel-1, tọa độ YB 693290. Không thấy hoạt động của đối phương.


Lính Lữ đoàn 173 Dù, Tết Nguyên Đán 1966

NicolasCage:
Hành quân, oanh kích. Xem bảng A.

   Dự trù sửa đổi giai đoạn 1. Gửi ngày 8/1/1966 cho Tư lệnh bộ tư lệnh Thái Bình Dương, gồm những mục sau đây:

-   Tăng số toán biệt kích lên 20, ba quân nhân Mỹ trong mỗi toán. Đổi hướng hoạt động, tìm yếu điểm của đối phương, mục tiêu thích hợp để tấn công, phục kích hoặc phi cơ oanh kích.

-   Thành lập 3 tiểu đoàn xung kích đánh bộ hoặc không vận lưu động để tấn công yếu điểm, căn cứ, phục kích xe tiếp tế, đặt mìn trên đường, đặt thêm gánh nặng cho đơn vị tiếp vận của đối phương.


Dave Taylor tại Quy Nhơn, 10/9/1965.

-   Giới hạn chiều sâu xâm nhập xuống 20 km, nhưng kéo dài khu vực hành quân lên đến Tigerhound, hành quân không tập. Sẽ hỗ trợ cho cả hai cuộc hành quân. (Tigerhound là vùng nam cán chảo của Lào – chú thích VĐH).

-   Sử dụng ba căn cứ hành quân tiền phương (FOB) tại Kontum, Khâm Đức và Khe Sanh.

-   Tu bổ căn cứ. Gồm có Bộ chỉ huy Trung ương tại Đà Nẵng, sửa lại từ Bộ chỉ huy C/LLĐB, hai căn cứ hành quân tiền phương Khâm Đức và Dak To, sử lại từ Bộ chỉ huy B/LLĐB. Dự trù phát triển, dời căn cứ Dak To lên Kontum vì lý do an toàn hơn và dễ hành quân hơn. Lập thêm căn cứ hành quân tiền phương thứ ba, có thể ở Khe Sanh cho những chuyến xâm nhập vùng phía bắc. Tất cả các căn cứ hành quân tiền phương đều sử dụng Bộ chỉ huy B/LLĐB.


Cư xá Brinks (cuối đường, bên trái. Nay là 103-Hai Bà Trưng, Q.1) trước khi bị 2 chiến sĩ biệt động Sài Gòn
cải trang thành sĩ quan VNCH đánh bom vào ngày Giáng sinh 24/12/1964


1.   Shining Brass.

-   Không trợ cho hành quân Shining Brass sử dụng sáu trực thăng H- 34 không lực VNCH với phi hành đoàn Việt Nam. Một sĩ quan liên lạc nằm trong bộ chỉ huy Trung ương tại Đà Nẵng. Căn cứ không quân Đà Nẵng sẽ giám sát việc sử dụng trực thăng, bảo trì và thay đổi phi hành đoàn, và lo luôn về vấn đề tiếp liệu cho máy bay. (Chương bị xóa). Sĩ quan liên lạc chịu trách nhiệm sắp đặt những phi vụ oanh kích mục tiêu do các toán biệt kích Shining Brass xác nhận. (Chương bị xóa có thể nói về những nhân viên thuộc quốc tịch khác làm nhiệm vụ tiếp liệu cho SOG như Phi Luật Tân, Thái, Lào, Đài Loan – chú thích VĐH).


Cư xá Brinks, 27/12/1964

-   Trực thăng là phương tiện hữu hiệu nhất cho hành quân Shining Brass. SOG sử dụng H-34 Không lực VNCH  trong giai đoạn này. Vì lý do thiếu phi hành đoàn, ít đồ thay thế sau khi bị Quân đội Mỹ loại bỏ nên SOG điều nghiên tìm loại trực thăng khác hữu hiệu hơn để thay thế (bị xóa). Tầm hoạt động xa hơn, chở nhiều hơn, đặt dưới quyền điều hành trực tiếp của SOG để hành quân. (SOG muốn nói trực thăng AH-1 Huey/Cobra – chú thích VĐH).

-   Ngày 18/11/1965 Shining Brass mở cuộc hành quân xâm nhập đầu tiên. Một trực thăng bị rơi đem theo phi hành đoàn 8 người thuộc Không lực VNCH và một Đại úy Thủy quân lục chiến Mỹ. Thêm vào là một (bị xóa) bị mất tích. Đại úy Wade Wilson, TQLC làm việc cho MACV/SOG tử nạn trên chiếc máy bay quan sát O-1 do một Thiếu tá không quân lái. Lý do tổn thất là do thời tiết xấu ở Khâm Đức và Đà Nẵng. Cả hai máy bay đều biến mất, không tìm ra vị trí bị rơi.

-   Ngoài sự yểm trợ của trực thăng H-34 Không lực VNCH, vấn đề tiếp vận do máy bay C-123 đảm nhận. Không lực Mỹ cung cấp máy bay trinh sát điều hành không yểm (FAC), loại O-1. Bắt đầu với hai chiếc FAC nằm ở Khâm Đức và Dak To hoặc Kontum. Cả hai chiếc ở trên căn cứ tiền phương ban ngày khi toán biệt kích xâm nhập và yêu cầu oanh kích khi cần thiết, trong tháng 12/1965, một (bị xóa) được giao phó cho để xúc tiến cuộc hành quân (bị xóa). FAC và các phi cơ khác được phân phối cho các căn cứ hành quân tiền phương, yểm trợ cho hành quân Shining Brass. Một trạm không yểm nằm trong tầm liên lạc của FAC, lấy chấp thuận của Tòa đại sứ cho oanh kích. (Hành quân Shining Brass phải có sự chấp thuận của vị Đại sứ  Mỹ tại Vientiene, Lào).


Đà Nẵng, 24/4/1965

Theo tài liệu MACV SOG Command History, Annexes A, N&M (1964-1966) by Charies F. Reske.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page