Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975, tập 7

<< < (10/28) > >>

macbupda:
Thực hiện kế hoạch điêu chuyển lực lượng quân ta khẩn trương cơ động đếm vị trí quy định. Tuy nhiên, do thời gian gấp, đường hành quân bị địch bắn phá ngăn chặn gắt gao, nên chỉ có Trung đoàn 66 thực hiện đúng theo kế hoạch và có mặt tại khu vực được phân công đúng thời gian.

Trong lúc việc triển khai lực lượng của ta gặp trở ngại thì ngày 3-7-1972, địch đã tiến sát đến ngã ba Long Hưng - La Vang - cửa ngõ phía nam thị xã Quảng Trị(1) do Đại đội 11 (Tiểu đoàn 3 - Trung đoàn 48) của ta chốt giữ. Tại đây, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 11 đã chiến đấu dũng cảm, đánh bật nhiều đợt tiến công của Lữ đoàn dù 2 Việt Nam cộng hòa. Ghi nhận hành động chiến đấu ngoan cường, quả cảm của cán bộ, chiến sĩ, Nhà nước ta đã tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất cho Đại đội 11 ngay tại mặt trận.

Noi gương Đại đội 11, các đơn vị ta trên các hướng đã kiên cường tụ bám, chặn đánh quyết liệt các mũi tiến quân của địch, tiêu diệt một số binh lực và làm chậm bước tiến của chúng. Song, trước sức tiến công ồ ạt và dưới tầm hỏa lực chi viện dày đặc trên một chính diện rộng của địch, lực lượng ta bị thương vong lớn, xe pháo bị mất, bị phá hủy, phá hỏng đến 50%. Tình hình đó buộc ta phải lui về giữ phía đông sông Vĩnh Định; phía tây, ta co về giữ các điểm cao trên dãy Phước Tường.

Trong vòng một tuần lễ (từ ngày 28-6 đến 3-7-1972), địch đã chiếm lại các trọng điểm quan trọng ở phía đông, nam và bắc thị xã Quảng Trị, bao gồm hầu hết huyện Hải lăng, nam sông Nhùng, ngã ba Long hưng - La Vang, tiến sát cửa ngõ thị xã Quảng Trị. Tốc độ và hiệu quả tiến công của các đơn vị quân đội Sài Gòn có được, một phần quan trọng là dựa vào sự yểm trợ đắc lực của không quân Mỹ. Trong đợt tiến công đầu tiên của quân Sài Gòn (ngày 25-6 đến 4-7-1972), không quân Mỹ đã sử dụng 2.014 chiếc máy bay chiến thuật với 8.656 lần chiếc, 299 chiếc máy bay B.52, thực hiện 897 lần chiếc, ném 269.000 tấn bom xuống khu vực trận địa và đường cơ động của lực lượng ta.

Trước sức tiến công ồ ạt của đối phương, lực lượng ta đang từ thế triển khai đội hình tiến công phải chuyển sang phản công dưới tầm hỏa lực dày đặc của kẻ thù.

Lúc này, yêu cầu bảo vệ thị xã Quảng Trị được đặt ra gay gắt. Do vậy, để động viên kịp thời bộ đội ở mặt trận Trị - Thiên, ngày 30-6-1972, Quân ủy Trung ương ra lời kêu gọi cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên đang chiến đấu trên mặt trận nóng bỏng này:

“Vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc.
Hãy có quyết tâm thật lớn.
Nắm lấy cơ hội.
Chiến đấu anh dũng.
Khắc phục khó khăn.
Vận dụng mọi cách đánh kiên quyết và mưu trí.
Kết hợp đánh lớn với đánh nhỏ, đánh vừa.
Chiến sĩ hăng hái xông lên phía trước.
Chỉ huy đi sát đơn vị.
Tiêu diệt thật nhiều sính lực, giữ vững vùng giải phóng.
Giành thắng lợi to lớn cho chiến dịch Trị - Thiên lịch sử của chúng ta”(2).

Tiếp đó, Quân ủy Trung ương chỉ thị cho Bộ Tư lệnh chiến dịch(3) “phải kiên quyết giữ thị xã và phòng thủ hậu phương chiến dịch”(4).

Chấp hành chỉ lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương tăng lực lượng cho thị xã, đồng thời tổ chức những trận phản kích nằm vào hai bên sườn đội hình tiến quân của địch, chủ yếu là từ hướng tây, kiên quyết chặn bước tiến của chúng.

Lúc này, trên bàn đàm phán ở Pari nước Cộng hòa Pháp, cuộc đấu tranh ngoại giao giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam với Hoa Kỳ và Việt Nam cộng hòa cũng bước vào giai đoạn mới. Thắng lợi về quân sự trên chiến trường sẽ là lợi thế của các bên trên bàn hội nghị. Vì thế, chiến trường Quảng Trị giờ đây trở thành nơi giành giật quyết liệt giữa ta và địch. Do vậy, mối quan hệ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao - giữa chiến trường và bàn đàm phán càng khiến cho trận chiến Quảng Trị trở nên khốc liệt, đẫm máu(5).

(1) Thị xã Quảng Trị nằm bên bờ sông Thạch Hãn, tiếp giáp với hai huyện Triệu Phong và Hải Lăng, diện tích gần 4km2. Phía bắc giáp làng Cổ Thành; phía nam giáp các thôn Đệ Ngũ Đông, Đệ Ngũ Tây, đường số 1A, ga đường sắt; phía tây giáp sông Thạch Hãn, qua sông có các làng Xuân An, Nhan Biều; phía đông là làng Tri Bưu nối với cánh đồng làng Đại Nải, chạy dài 2km đến sông Nhùng, trong thị xã, nhà của phần lớn cao 2 đến 3 tầng. Các cơ quan công sở hầu hết đặt ở phía tây và nam thị xã; cơ quan quân sự đóng trong thành cổ (đông bắc thị xã). Khu cố vấn Mỹ ở đông thành cổ có công sự chiến đấu và hệ thống vật cản vững chắc bảo vệ. Dân số thị xã trướng giải phóng, có khoảng 25.000 người, đa số làm nghề buôn bán, một số dân ở các làng ven thị làm nghề trồng rau màu, còn lại là các gia đình công chức của chính quyền và quân đội Sài Gòn. Sau ngày ta giải phóng (2-5-1972), nhân dân lao động gắn bớ với quê hương, đã được chính quyền cách mạng tổ chức sơ tán lên Cam Lộ, ra Vĩnh Linh, trước khi dịch mở cuộc tiến công chiếm lại Quảng Trị.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.33, tr.443-444.
(3) Cho đến nửa cuối tháng 8-1972, Bộ Tư lệnh chiến dịch tiến công có các đồng chí Lê Trọng Tấn, Tư lệnh; Lê Quang Đạo, Chính ủy; các đồng chí Phó Tư lệnh: Cao Văn Khánh, Giáp Văn Cương, Doãn Tuế, Hồng Sơn, Lương Nhân, Anh Đệ, Phó Chính ủy: Hoàng Minh Thi, Lê Tự Đồng, tiếp tục chỉ huy hoạt động phòng ngự. Từ cuối tháng 8-1972, đồng chí Trần Quý Hai thay đồng chí Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh; đồng chí Song Hào thay đồng chí Lê Quang Đạo làm Chính ủy. Đến cuối tháng 9-1972, đồng chí Tấn và đồng chí Đạo lại tiếp tục làm Tư lệnh và Chính ủy chiến dịch.
(4) Điện số 118/TK, ngày 10-7-1972, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.
(5) Theo đồng chí Lê Đức Thọ, sau chiến dịch Quảng Trị năm 1972, tại Pari, Kítxinhgiơ có nói (đại ý): đứng về mặt quân sự mà nói thì cả hai bên đánh nhau để giữ một cái thành cổ như vậy thì không ai lại đánh như thế cả. Trả lời Kítxinhgiơ, đồng chí Lê Đức Thọ cho rằng: “Đó là vấn đề chính trị, đánh để giành thế mạnh chính trị trong đàm phán thôi chứ, còn đứng về quân sự thì không một ai về một mảnh đất nhỏ đổ nát mà đánh như thế”. Dẫn theo Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Sửa lại cho đúng bàn thêm cho rõ (tuyển chọn từ Tạp chí Lịch sử quân sự). Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, tr.739.

macbupda:
Sang đầu tháng 7, sau khi củng cố và tăng cường thêm lực lượng, quân đội Sài Gòn tiếp tục nỗ lực quân sự và quyết tâm rất cao. Sư đoàn dù quân đội Sài Gòn hạ quyết tâm đánh chiếm thị xã Quảng Trị trước ngày 10-7 để tạo áp lức với ta trong phiên họp thứ 150 dự định vào ngày 13-7-1972 ở Pari. Chỉ huy Sư đoàn dù cho Lữ đoàn dù 2 đánh thẳng vào thị xã Quảng Trị; Lữ đoàn 3 đánh lên khu vực nhà ga, cầu Sắt (tây quốc lộ 1).

Để đánh bại kế hoạch tác chiến mới của chiến dịch, ta tiếp tục tăng thêm lực lượng vào thị xã Quảng Trị - gồm Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng Trị, Đại đội công binh thuộc Trung đoàn 299… Đêm 9-7, Ban Chỉ huy Trung đoàn 48, chỉ huy các đơn vị chiến đấu trong thị xã Quảng Trị nhanh chóng điều chỉnh đội hình, củng cố thế trận đánh địch. Dự tính các mũi, hướng phát triển tiến công của địch, Ban chỉ huy Trung đoàn 48 quyết định sử dụng Tiểu đoàn 1 chốt giữ Tri Bưu, Quy Thiện, đánh địch ở hướng đường 68 vào đông bắc thị xã; sử dụng Tiểu đoàn 2 (thiếu Đại đội 7) chốt giữ khu vực làng Cổ Thành và phía bắc Thành cổ(1), Đại đội bộ binh tiếp tục chốt giữ ngã ba Long Hưng; Tiểu đoàn 3 được tăng cường Đại đội bộ binh 7 của Tiểu đoàn 2, chốt khu vực La Vang; Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị tăng cường quan sát, nắm địch và làm nhiệm vụ chống giữ khu vực Thạch Hãn và nam thị xã; Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng Trị làm lực lượng dự bị.

Sáng ngày 10-7, Lữ đoàn dù 2 được hàng chục xe tăng, thiết giáp yểm trợ triển khai đội hình ở các khu vực An Thái, Đại Nải, đường số 1, chuẩn bị tiến công vào thị xã. Theo yêu cầu của lực lượng bảo vệ thị xã, pháo binh chiến dịch và hỏa lực của các đơn vị phòng ngự bắn dồn dập vào đội hình địch. Đợt pháo kích của ta gây thương vong lớn cho địch, khiến chúng phải hủy bỏ cuộc tiến công. Lợi dụng lúc địch rối loạn, Đại đội 5 (Tiểu đoàn 2) đang chốt giữ ngã ba Long Hưng xuất kích, diệt hơn 30 tên địch, chiếm lạ ngã ba đường 1, tạo thế chốt giữ vững chắc vị trí chiến thuật quan trọng này.

Trên hướng Lữ đoàn dù 3 quân đội Sài Gòn đánh nống lên phía tây quốc lộ 1, ta sử dụng Trung đoàn 66 và Trung đoàn 102 (Sư đoàn 308) chặn địch ở Phú Long và Trường Phước. Trong lúc địch đang dồn sức tiến công hòng tiêu diệt các chốt phòng ngự của ta, thì tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 48) có xe tăng yểm trợ, cơ động tiến công đại đội địch đang chốt giữ La Vang, loại khỏi vòng chiến hơn 50 tên lính dù và 2 xe tăng địch.

Chiến thắng ngày 10-7 của các đơn vị thuộc Trung đoàn 48 được Bộ Tư lệnh chiến dịch khen ngợi: “Ngày 10-7 là một ngày cao điểm, địch tập trung mọi cố gắng chiếm Quảng Trị nhưng chúng đã bị đánh cho thất bại. Bộ Chỉ huy mặt trận nhiệt liệt khen ngợi các đồng chí. Địch thú nhận chúng gặp phải sự đánh trả quyết liệt, cuộc hành quân là sai lầm, Quảng Trị là cái bẫy.. Tuy nhiên, do yêu cầu thúc bách về chính trị, địch cố gắng chiếm lại Quảng Trị trong dịp chuẩn bị Hội nghị Pari. Kiên quyết giữ vững Quảng Trị là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định lúc này. Bộ Chỉ huy mặt trận tin tưởng các đồng chí sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang”(2).

Trong khi Sư đoàn dù tiến đánh thị xã ở hướng đông quốc lộ 1, Sư đoàn lính thủy đánh bộ, một mặt ra sức củng cố các vị trí bàn đạp vừa chiếm được, mặt khác, đẩy mạnh tiến công hỗ trợ cho Sư đoàn dù. Tuy nhiên các trung đoàn 27, 64 (Sư đoàn 32), Trung đoàn 18 (Sư đoàn 325) và lực lượng tăng cường thuộc tiểu đoàn 47 bộ đội địa phương Vĩnh Linh, Tiểu đoàn 10 bộ đội địa phương Quảng Trị chiến đấu quyết liệt, ghìm chân lực lượng lính thủy đánh bộ ở khu vực Ngô Xá, Cù Hoan, Trà Trì, Trà Lộc, phá kế hoạch phối hợp tác chiến giữa quân dù và lính thủy đánh bộ Việt Nam cộng hòa

Lúc này, do yêu cầu của đấu tranh ngoại giao và chuẩn bị cho việc tranh cử nhiệm kỳ mới trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ vào cuối năm 1972, Níchxơn quyết định tăng thêm viện trợ quân sự cho chính quyền Thiệu và yêu cầu các đơn vị quân đội Sài Gòn phải “bằng mọi giá cắm cờ trên Thành cổ Quảng Trị”. Nhằm khích lệ tinh thần chiến đấu của sĩ quan, binh lính đang tiến công thị xã Quảng Trị, Nguyễn Văn Thiệu hứa sẽ thưởng 400.000 đồng (Ngân hàng Việt Nam cộng hòa) cho đơn vị nào thực hiện thành công yêu cầu đó của Mỹ. Trước đòi hỏi gắt gao của việc đánh chiếm Thành cổ, địch đã tiến hành các bước chuẩn bị lực lượng và mục tiêu tác chiến kỹ càng hơn. Không quân Mỹ tăng cường đánh phá lên mức độ cao và chỉ tính riêng máy bay B.52, trong 8 đợt oanh tạc, đã ném xuống khu vực trận địa ta 720 tấn bom.

(1) Thành cổ Quảng Trị được xây dựng hồi đầu thế kỷ XIX, trải qua hai đời vua Gia Long và Minh Mạng mới hoàn thành (năm Gia Long thứ 18 - 19838). Chu vi thành gần 2km; tường thành cao 4m, dày 12m (3 lớp); hào chạy quanh thành rộng 18,4m, sâu 3,2m. Thành được kiến trúc theo lối Vauban,có 4 cửa: Tiền, Hậu, Tả, Hữu; diện tích hơn 2km2. Sau ngày 20-7-1954, Thành cổ là nơi trú đóng của Bộ Chỉ huy chiến thuật thuộc lực lượng bảo vệ quân đoàn Quân đội Việt Nam cộng hòa, và từ đây, quân đội Việt Nam cộng hòa đổi tên thành là thành Đinh Công Tráng.
(2) Điện khen số 833 của Bộ Tư lệnh chiến dịch Trị - Thiên, lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam.

macbupda:
12 giờ 10 phút ngày 11-7-1972, Sư đoàn dù được tăng cường Chi đoàn 13 (Thiết đoàn 17), chia thành ba mũi tiến công vào thị xã Quảng Trị. Cùng lúc, Tiểu đoàn 1 lính thủy đánh bộ cũng được đổ xuống Bích La (cách đông bắc thị xã 1km), mở hướng tiến công phối hợp với lực lượng dù.

Đáp trả hành động của địch, súng, pháo các cỡ của quân ta dồn dập đánh vào đội hình tiến công của chúng. 12 giờ 30 phút, hỏa lực phòng không ta bắn cháy một chiếc trực thăng chở quân loại CH 53, diệt 78 tên địch. Trong lúc đó, trên hướng tây quốc lộ 1, Trung đoàn 36 (Sư đoàn 308) chặn đánh Tiểu đoàn dù 9 địch ở Tân Téo; Trung đoàn 66 đánh thiệt hại nặng 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn dù 7, chiếm lại Phú Long. Các đơn vị bảo vệ thị xã kiên cường chống trả các đợt tiến công của địch. Tại chốt ngã ba Long Hưng, chiến sự diễn ra quyết liệt giữa đại đội 5 (Tiểu đoàn 2 - Trung đoàn 48) với Tiểu đoàn 8 (Lữ đoàn dù 2) Việt Nam cộng hòa. Lính dù được hỏa lực phi pháo chi viện tối đa, mở nhiều đợt tiến công vào ngã ba Long Hưng, hòng chiếm lấy vị trí lợi hại này. Đại đội 5 dưới sự chỉ huy của Chính trị viên Vũ Trung Thường - người vừa thay thế Đại đội trưởng Tạ Đình Dọng bị thương, đã dũng cảm chiến đấu, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn một trăm tên, bắn cháy 5 xe tăng. Sau trận đánh, Đại đội 5 (Tiểu đoàn 2) được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng ba.

Cũng trong ngày 11-7, một bộ phận lực lượng thuộc Trung đoàn 48 phối hợp với Trung đoàn 88 đánh chiếm làng Long Hưng bắc, làng Đệ Ngũ. Tiểu đoàn 8 và Tiểu đoàn 3 bộ đội địa phương Quảng Trị phối hợp với Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48) đồng loạt xuất kích, chiếm lại nhà thờ Thạch Hãn. Những ngày cuối cùng của đợt tiến công thứ hai vào thị xã, địch không chiếm thêm được vị trí nào của ta. Thế trận giằng co giữa ta và địch diễn ra ở các khu vực phía bắc, đông và nam của Thành cổ Quảng Trị. Mức độ ác liệt của chiến sự khiến thương vong của ta và địch tăng cao. Địch liên tục thay quân để tiến công, ta liêu tục điều chỉnh, bổ sung lực lượng để phòng ngự, bảo vệ thị xã. Trước yêu cầu mới của tình hình chiến đấu, ngày 13-7, Đại tá Nguyễn Hữu An sau khi được chỉ định về làm Tư lệnh Sư đoàn 308(1), Tư lệnh chiến dịch, khẩn trương điều chỉnh bố trí lực lượng. Sư đoàn 308 giao lại bàn đạp Trường Phước cho Sư đoàn 304, nhanh chóng chuyển đội hình lên tây nam thị xã Quảng Trị, phối hợp với các lực lượng bả vệ thị xã và thành cổ.

Ngày 12-7, địch huy động một lực lượng máy bay và pháo binh (kể cả pháo hạm) ném bom, bắn phá dữ dội hàng giờ liền vào thị xã và các trận địa của ta; sau đó, bộ binh và thiết giáp của địch tiến công và khu vực La Vang, ngã ba Long Hưng và Tri Bưu. Hầu hết các đợt tiến công của địch đều bị ta chặn lại hoặc đẩy lui. Riêng ở hướng đông, được sự yểm trợ mạnh của xe tăng, thiết giáp, bộ binh địch thay nhau đột phá và chiếm được một nửa làng Tri Bưu. Sang đến buổi chiều, Tiểu đoàn 5 dù quân đội Sài Gòn đã trực tiếp uy hiếp hướng đông bắc Thành cổ. Nhận thấy thời cơ đánh chiếm Thành cổ xuất hiện, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 Việt Nam cộng hòa lệnh cho quân dù, bằng mọi giá phải cắm cờ lên Thành cổ Quảng Trị.

Lúc này việc giữ vững thị xã và Thành cổ của ta ngày càng trở nên khó khăn. Tối 12-7, Bộ Tư lệnh chiến dịch Trị - Thiên lệnh cho lực lượng bảo vệ Thành cổ: Phải giữ vững trận địa, không để một tên địch nào lọt vào thành và phải kiên quyết phản kích chiếm lại làng Tri Bưu. Ngay lập tức, Ban Chỉ huy Trung đoàn 48 lệnh cho cán bộ, chiến sĩ ở tất cả các hướng phải trong tư thế sẵn sàng đánh địch, bí mật đột nhập trận địa; đồng thời tăng cường việc quan sát, trinh sát nắm địch và giữ vững thông tin liên lạc thông suốt để hiệp đồng chiến đấu thật chặt chẽ. Bộ đội Trung đoàn thức trắng trong đêm.

Sáng ngay 13-7, phát hiện địch đang triển khai lực lượng chuẩn bị đánh chiếm Tri Bưu, Ban Chỉ huy bảo vệ Thành cổ yêu cầu pháo binh chiến dịch và ra lệnh cho các đơn vị hỏa lực chiến thuật ở thị xã bắn cấp tập vào khu vực Tri Bưu - nơi địch vừa chiếm được chiều ngày hôm trước. Hỏa lực của ta gây thương vong nặng nề cho địch. Dù vậy, trước sự thúc ép của Bộ Chỉ huy Vùng 1 chiến thuật, Sư đoàn dù vẫn phải tiếp tục tiến công hòng thực hiện cho được ý định cắm cờ lên Thành cổ. Lúc này, địch sử dụng hỏa lực bắn phá dữ dội, kể cả dùng loại bom có sức khoan sâu và công phá lớn để phá hủy các bức tường thành, phá hủy các hầm ngầm, công sự của ta. Hướng nam và đông nam thị xã, địch tiến công vào các khu vực La Vang và ngã tư Thạch hãn. Hướng đông bắc, địch tập trung tiến công vào khu vực làng Hành Hoa và bắc Thành cổ. Trên tấc cả các hướng, bộ đội ta dựa vào hệ thống hầm hào, công sự, cơ động đánh địch, tiếp ứng hoặc chi viện cho nhau, kiên quyết chặn địch. Hai đại đội 5 và 6 (tiểu đoàn 2) ở bắc làng Tri Bưu, làng Hành Hoa và Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 48) ở bắc Thành cổ kết hợp với hỏa lực của trên chi viện, xuất kích chặn Tiểu đoàn 5 dù, buộc chúng phải dừng lại củng cố. Ở phía nam, Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị, Tiểu đoàn 3(Trung đoàn 48) đánh bại mọi đợt tiến công của hai tiểu đoàn địch, giữ vững trận địa.

Trong lúc các đơn vị bộ binh đang quân lộn với địch, ngày 15-7-1972, Đại đội 16 súng máy cao xạ 12,7mm thuộc Trung đoàn 48, bắn hạ được chiếc trực thăng HU-1D chở viên Đại tá Nguyễn Trọng Bảo - Phó Tư lệnh Sư đoàn dù và Trung tá Huỳnh Phi Hổ - chỉ huy pháo binh và 7 sĩ quan tùy tùng khi đang thị sát mặt trận(2). Chiếc máy bay này rơi tại thôn Trầm Lý, cách thị xã Quảng Trị 4 km về phía đông. Toàn bộ 9 viên sĩ quan và phi hành đoàn bỏ mạng. Tin tức về hỏa lực phòng không của ta bắn rơi máy bay và diệt được sính lực cao cấp của địch lan nhanh đến các đơn vị trên các mặt trận đã tiếp thêm sức mạnh chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ ta. Chiều ngày 16-7, Đại đội 3 (Tiểu đoàn 4 - Trung đoàn 95) mở đợt phản kích quyết liệt, gây thương vong nặng cho một đại đội dù địch, đẩy lùi chúng ra khỏi khu nhà Mỹ ở phía đông Thành cổ. Đây là trận  đánh xuất sắc, thể hiện nổi bật tinh thần tích cực tiến công và tư tưởng đánh tiêu diệt gọn trong chiến đấu phòng ngự của bộ đội ta. Chiến công của Đại đội 3 trong trận đánh này được Nhà nước ta tặng Huân chương Chiến công hạng nhất và được Bộ Tư lệnh chiến dịch nêu gương, phát động toàn đơn vị học tập(3). Liên tiếp trong các ngày từ 18 đến 20-7, quan ta phản kích mạnh ở khu vực phía tây sông Mỹ Chánh, đánh vào sườn đội hình địch, pháo kích vào các vị trí triển khai quân của chúng, buộc Sư đoàn dù Việt Nam cộng hòa phải ngưng tiến công để củng cố, tổ chức lại lực lượng. Tuy nhiên, vào lúc đó, quân dù đã chiếm được làng Tri Bưu, làng Cổ Thành, uy hiếp mạnh lực lượng ta trong Thành cổ.

(1) Lịch sử Sư đoàn 308 Quân tiên phong, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr.268.
(2) Mặt trận vùng giới tuyến 72, Tlđd, tr.166.
(3) Sư đoàn 325 (1954-1975), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1968, t.2, tr.143-144.

macbupda:
Nhằm phối hợp và tạo điều kiện cho Sư đoàn dù đánh chiếm khu vực tây nam Thành cổ, sáng 22-7-1972, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 Việt Nam cộng hòa lệnh cho Sư đoàn lính thủy đánh bộ sử dụng trực thăng, đổ quân xuống phía bắc Thành cổ, thu hút lực lượng ta đến đối phó ở hướng này. Tiểu đoàn 9 thủy quân lục chiến đổ bộ xuống Lệ Xuyên, phối hợp với Tiểu đoàn 6 thủy quân lục chiến từ phía nam Bích La Hậu đánh sang, chiếm bàn đạp tiến công Cửa Việt. Trong lúc đó, Tiểu đoàn 1 thủy quân lục chiến được đổ xuống An Tiêm, Nại Cửu, đánh chiếm quận lỵ Triệu Phong và đường số 4.

Được hỏa lực phi pháo yểm trợ, 10 giờ 20 phút ngày 25-7 hai đại đội dù Việt Nam cộng hòa từ sân vận động Quảng Trị đột kích vào phía nam Thành cổ. Trước sự điều chỉnh hướng tiến công mới của địch, quân ta nhanh chóng bố trí lại lực lượng, kiên quyết ngăn chặn các mũi tiến công của chúng. Ta sử dụng Trung đoàn 27, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 64) có thiết giáp yểm trợ tiến công mạnh mẽ, phá tan kế hoạch đổ bộ của địch, giữ được khu vực Lệ Xuyên, nam sông Vĩnh Định và tuyến đường từ Ngô Xá đến Triệu Phong. Hướng tiến công của địch vào phía nam Thành cổ cũng bị quân ta phản kích mãnh liệt. Ngày 26-7, lực lượng bảo vệ Thành cổ đã đánh bật hai đại đội dù quân Sài Gòn ra khỏi thành cổ(1). Đến đây, ý định của địch chiếm lại thị xã Quảng Trị trước ngày 27-7-1972 lại một lần nữa thất bại. Dù vậy, lúc này địch đã chiếm được một phần làng Tri Bưu, khu vực chợ Sải, hình thành thế bao vây, uy hiếp thị xã và Thành cổ Quảng Trị từ hướng đông.

Sau hai đợt chiến đấu quần lộn với địch, lực lượng ta bị tiêu hao lớn, khả năng bổ sung chậm. Giữa tháng 7, Sư đoàn 308 được tăng cường Trung đoàn 165 (Sư đoàn 312), nhưng tình hình vẫn chưa được cải thiện. Tranh thủ lúc địch đang chuẩn bị cho đợt tiến công tiếp theo, ta khẩn trương điều chỉnh, bổ sung về lực lượng và phương án đánh địch. Về lực lượng, ngoài các sư đoàn 304, 308, 320B, các trung đoàn bộ binh độc lập 6, 27 tham gia đánh địch phản kích từ cuối tháng 6-1972, lúc này cuối tháng 7-1972, ta đã đưa các trung đoàn 95, 18, 101 của Sư đoàn 325 do Sư đoàn trưởng Lê Kích, Chính ủy Nguyễn Công Trang chỉ huy; Trung đoàn 165 và Sư đoàn bộ 312 do Sư đoàn trưởng Lã Thái Hòa, Chính ủy Phạm Sinh chỉ huy; 3 trung đoàn pháo mặt đất 164, 45, 84; 4 trung đoàn pháo cao xạ 241, 243, 250, 280; Trung đoàn 236 tên lửa, Trung đoàn 203 thiết giáp; 2 trung đoàn công binh 229, 249; 5 tiểu đoàn đặc công.

Như vậy, chiến trường Quảng Trị giờ đây là nơi cả hai bên tập trung khối chủ lực rất lớn; tương quan lực lượng giữa ta và địch ở Quảng Trị đủ cho thấy tính chất, mức độ ác liệt của chiến trường này. Ngoài tập trung binh lực lớn, các đơn vị quân đội Sài Gòn tại chiến trường Quảng Trị còn được không quân, hải quân Mỹ chi viện tối đa về hỏa lực. Mật độ bom, đạn mà không quân, hải quân, pháo binh địch vãi xuống trên một khu vực diện tích đạt mức kỷ lục cho đến thời điểm đó của cuộc chiến tranh. Mật độ bom, đạn và cường độ đánh phá của chúng gây cho ta thiệt hại rất lớn về người, phương tiện chiến đấu (80% tổng thiệt hại) và cản trở việc cơ động lực lượng, binh khí kỹ thuật, đảm bảo hậu cần của ta.

Trong những điều kiện đó, về tổ chức, bố trí lực lượng phòng ngự, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định thành lập Ban Chỉ huy các lực lượng bảo vệ thị xã Quảng Trị, nhàm tạo ra sự thống nhất, thông suốt, trực tiếp hơn trong công tác lãnh đạo, điều hành các lực lượng tham gia chiến đấu. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 Lê Quang Thúy được cử làm Trưởng Ban chỉ huy. Phó Chính ủy Trung đoàn 95 Võ Quang Thọ làm Chính ủy; Đại úy Vũ Thả, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 95 và Đại úy Trần Minh Vân, Phó Trung đoàn trưởng Trung đoàn 48 làm Phó Chỉ huy trưởng. Đầu tháng 8-1972, Quân ủy Trung ương chỉ đạo: “Giao cho Sư đoàn 325 lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng bảo vệ thị xã Quảng Trị. Nhưng về tác chiến, Bộ Tư lệnh chiến dịch vẫn chỉ huy vượt cấp đến ban chỉ huy khu vực thị xã”(2). Sau bước điều chỉnh lực lượng và phương án tác chiến mới, về cơ bản, lực lượng bảo vệ thị xã có Trung đoàn 95 (3 tiểu đoàn), Trung đoàn 48 (2 tiểu đoàn), Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 64), Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị; Sư đoàn 308 được tăng cường một trung đoàn, bảo vệ phía nam thị xã.

Trong lúc ta tăng cường lực lượng, xốc lại đội hình và tính toán phương án bảo vệ thị xã Quảng Trị, thì đối phương cũng có những bước điều chỉnh tiến công. Ngày 27-7-1972, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1 Quân lực Việt Nam cộng hòa giao cho Sư đoàn lính thủy đánh bộ thay thế Sư đoàn dù nhiệm vụ đánh chiếm thị xã và Thành cổ Quảng Trị; Sư đoàn dù đảm trách tác chiến ở phía tây Quảng Trị. Việc bố trí lại lực lượng và đội hình như thế của địch nhằm tạo ra nhân tố mới, phục vụ cho mục tiêu đánh chiếm thị xã và Thành cổ, cắm được cờ trên Thành cổ vào ngày 3-8-1972.

Ngay sau khi nhận trách nhiệm tiến công đánh chiếm thị xã Quảng Trị, Sư đoàn lính thủy đánh bộ sử dụng lữ đoàn 258 làm lực lượng chủ công đánh chiếm các chốt của ta ở đông nam thị xã Quảng Trị. Từ ngày 29-7 đến ngày 5-8-1972, chúng sử dụng thủ đoạn “lấn dũi” từng bước trong tiến công, và khi vấp phải sự phản kích mạnh, chúng lập tức tản ra và gọi phi pháo oanh tạc. Phối hợp với Sư đoàn lính thủy đánh bộ, Lữ đoàn dù 1 đánh vào La Vang, Tích Tường, Như Lệ, điểm cao 105B do Sư đoàn 308 của ta chốt giữ, nhằm cắt đường giao thông, cô lập thị xã Quảng Trị từ phía tây.

(1) Mặt trận vùng giới tuyến 72, Tlđd, tr.168.
(2) Dấn theo Sư đoàn 325 (1954-1975), Sđd, t.2. tr.150.

macbupda:
Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch chủ trương mở đợt phản kích lần thứ 3, nhằm đánh quỵ Sư đoàn lính thủy đánh bộ, chiếm lại những khu vực vừa rơi vào tay quân đội Sài Gòn. Trong đợt này, Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng các trung đoàn 36, 102, 165 (Sư đoàn 308) chặn đánh Lữ đoàn dù 1; Trung đoàn 88 xuất kích đánh địch ở khu vực bệnh viện, ngã ba Thạch Hãn (nam thị xã Quảng Trị). Mặc dù ta đã sử dụng một lực lượng lớn để ngăn chặn địch, nhưng do phi pháo của địch đánh phá ác liệt, gây cho ta nhiều thương vong, nên sức chiến đấu của quân ta bị suy giảm nhanh chóng, không bám nổi trận địa. Ta buộc phải thay đổi cách đánh. Đêm ngày 4 rạng ngày 5-8-1972, lực lượng phòng thủ Quảng Trị sử dụng Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 95), Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 48) và 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 95) tập kích vào Tri Bưu, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến tại nhà thờ Tri Bưu, loại khỏi vòng chiến hơn 100 tên địch. Sau đó trụ lại đánh địch phản kích. Nhưng trước sức tiến công mạnh mẽ của địch, ta không giữ được vị trí này.

Làng An Tiêm và chợ Sải, sát ngã ba sông Vĩnh Định - Thạch Hãn trở thành nơi tranh chấp quyết liệt. Đây là cửa ngõ đông bắc thị xã Quảng Trị. Đách chiếm được khu vực này, địch sẽ cắt đứt đường tiếp tế của ta, khống chế giao thông trên đường số 4 từ Cửa Việt qua An Tiêm đến Triệu Phong. Đêm 30-7, Trung đoàn 27, Trung đoàn 101, Tiểu đoàn 19 đặc công (Sư đoàn 325) được du kích dẫn đường, vượt sông nại Cửu, đánh chiếm lại chở Sải. Thế nhưng, khi trời sáng, địch tung lực lượng phản kích đẩy ta ra sát bờ sông Thạch Hãn. Trong lúc đó, Trung đoàn 24 không cắt được giao thông, bị thương vong lớn, buộc phải rút khỏi cầu Nhị. Trong thế bị động, phân tán đối phó với địch, nên hiệu quả chiến đấu và chốt giữ trận địa của các đơn vị phòng giữ thị xã không đạt yêu cầu đặt ra. Thị xã và Thành cổ Quảng Trị ngày càng bị địch huy hiếp nặng nề hơn.

Để tránh bị vây hãm, giữ được thị xã và Thành cổ, vấn đề cấp bách đặt ra cho lực lượng tham gia chiến đấu bảo vệ thị xã và Thành cổ là phải giảm được sức ép hằng ngay, hằng giờ tăng lên xung quanh vùng ven thị xã. Đợt phản kích lần thứ 4 của ta mở ra trong bối cảnh đó.

Ngày 9-8-1972 một tiểu đoàn lính thủy đánh bộ quân Sài Gòn có xe tăng yểm trợ tiến công vào chốt của ta tại ngã tư đường số 1. Đại đội 3 (Tiểu đoàn 4 - Trung đoàn 95) dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Nguyễn Văn Dụ và Chính trị viên Ngô Bá Liễu, với 20 tay súng, đã kiên cường chặn địch và hy sinh đến người cuối cùng.

Mười ngày sau, Trung đoàn 102 và Trung đoàn 88 của ta đánh chiếm lại ngã tư Thạch Hãn, ngã ba Long Hưng, nhưng chỉ giữ được một ngày. Cùng thời gian, Trung đoàn 24 tập kích vào quân dù, loại khỏi vòng chiến đấu 3 đại đội địch ở Trường Phước. Các trung đoàn 36, 66 ở Tích Tường, Như Lệ đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn và hai đại đội thám báo thuộc lực lượng dù của địch.

Các đơn vị trong thị xã tăng cường phản kích, đẩy lùi địch ra khỏi chùa Bà Năm, khu Học Xá, trường Bồ Đề, nhưng vẫn không nới rộng được vòng vây của địch. Ngược lại, địch vẫn dội bom và pháo kích vào khu vực thị xã, Thành cổ, đồng thời, từ ngay 20-8 đến 30-8-1972, chúng tăng thêm lực lượng lính thủy đánh bộ đánh chiếm thị xã. Trong lúc đó, Sư đoàn dù đẩy mạnh nống lấy ra hướng tây.

Trước tình thế đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định đưa 2 trung đoàn 141 và 209 thuộc Sư đoàn 312 vào chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị, đồng thời Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 18) vào thay thế Tiểu đoàn 5 (Tiêu diệt 48); Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 165 - Sư đoàn 312) được tăng cường thêm cho thị xã. Để củng cố trận địa vững chắc hơn, Sư đoàn 325 điều Tiểu đoàn 17 công binh vào Thành cổ cùng lực lượng bảo vệ thị xã - Thành cổ làm hầm hào công sự, chuẩn bị cho đợt chiến đấu mới. Lúc này, lực lượng chiến đấu bảo vệ thị xã - Thành Cổ có 3 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 95, 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 48, 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 18, 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 64, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 165), Tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 8 bộ đội địa phương Quảng Trị.

Cho đến thời điểm này, những khu vực quanh thị xã như chợ Sải, Nại Cửu, An Tiêm, Tri Bưu, Thạch Hãn, Long Hưng đều đã bị địch chiếm. Trên một địa bàn nhỏ, hẹp, ta và địch ở vào thế xen kẽ, trực tiếp đối mặt, giành giật với nhau từng tấc đất, từng góc nhà. Đã diễn ra các trận kịch chiến bằng lưỡi lê, bằng lựu đạn. Nhiệm vụ bảo vệ thị xã - Thành cổ Quảng Trị ngay càng trở nên khó khăn.

Ba giờ sáng ngày 22-8-1972, Tiểu đoàn 5 (Trung đoàn 95) tập kích địch ở tây nam làng Tri Bưu, loại khỏi vòng chiến đấu 1 đại đội địch thuộc Tiểu đoàn 8 thủy quân lục chiến. Đây là trận mở màn cho đợt phản kích thứ 5 của ta. Trận đánh diễn ra gay go, ác liệt. Ta vừa chiếm được làng Tri Bưu, thì ngay lập tức, địch tung quân chiếm lại. Tri Bưu trở thành nơi tranh chấp quyết liệt của cả hai bên. Sáng ngày 22-8, địch đưa 1 đo đánh chiếm lại khu Nhà Xanh thuộc làng Tri Bưu. Rạng sáng ngày 23-8, được pháo binh bắn chi viện, Tiểu đoàn 5 của ta nổ súng tấn công giành lại. Trong các ngày sau, Lữ đoàn 258 thủy quân lục chiến tổ chức nhiều đợt phản kích hòng chiếm lại khu Nhà Xanh, nhưng đều vấp phải sự kháng cự mãnh liệt, buộc phải lùi ra. Trong trận  đánh này, với một lực lượng nhỏ, Tiểu đoàn 5 đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ đánh chiếm và chốt giữ trận địa, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 8 thủy quân lục chiến, loại khỏi vòng chiến hơn 200 tên địch. Hành động chiến đấu kiên quyết, mưu trí, dũng cảm của cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn được Bộ Tư lệnh chiến dịch tặng danh hiệu: “Tiểu đoàn đánh giỏi” và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba(1).

(1) Sư đoàn 325 (1954-1975), Sđd, t.2. tr.156-157.

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page