Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Mười Một, 2019, 07:54:10 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam  (Đọc 739546 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #60 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 05:02:54 AM »


Thiếu tướng Tô Ký (1918 - 17/2/1999), nguyên Trưởng phòng Giao thông Vận tải Bộ tổng tham mưu, Tư lệnh kiêm chính ủy Sư đoàn 338, Chánh án Toà án Quân sự Trung ương, Chính ủy Quân khu 7, Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn. Ngoài ra ông còn là Phó Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh, phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam.

2 Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...

Đại tá (1958), Thiếu tướng (1961).


Thiếu tướng Tô Ký quê ở xã Mỹ Bình, huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh. Ông tuổi Mậu Ngọ (1918) nhưng khai sinh trễ, giấy khai sinh đề ngày 5 tháng 9 năm 1919. Quê hương ông có truyền thống Cách mạng từ xa xưa. Đây là nơi cụ Nguyễn An Ninh phát động phong trào cách mạng. Đây cũng là nơi Thường vụ Trung ương Đảng đong. Trước Nam Kỳ khởi nghĩa, phong trào cách mạng ở Hóc Môn-Bà Điêm phát triển khá mạnh.

Nhà nghèo, học đến primaire trường Hóc Môn thì phải nghỉ ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 14 tuổi, ông vừa làm ruộng vừa theo học chữ Hán thầy Mười Lời (cụ Phạm Văn Lời) mong theo nghề thuốc. Nhưng rồi phong trào Cách mạng bùng lên trên quê hương Mười tám thôn Vườn Trầu cuốn hút chàng trai trẻ yêu nước, đầy cá tính. Tô Ký tham gia Hội tương tế ái hữu (1936-1937), hoạt động trong phong trào Thanh niên dân chủ, được kết nạp Đảng Cộng sản Đông dương tháng 4 năm 1937. Năm 1939, ông là huyện ủy viên Huyện ủy Hóc Môn, trong một lần đi phân phát truyền đơn cổ động đấu tranh, ông bị mật thám bắt giam tại Khám lớn Sài Gòn, toà tiểu hình kết án một năm tù ở và ba năm đày biệt xứ.

Tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra. Do điều kiện chưa chín muồi, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp dã man. Thân sinh ra ông là cụ Tô Nếp cùng 800 đồng chí bị xỏ dấy kẽm vào lòng bàn tay, đẩy xuống bốn chiếc xà lan, bí mật nhấn chìm vào nửa đêm trên sông Sài Gòn đoạn Xóm Chiếu (5/1941). Thời điểm cha ông bị sát hại cũng là lúc ông đang bị giam cầm trong nhà tù thực dân phong kiến, sau một cuộc vượt ngục không thành. Chính ông đã tận mắt chứng kiến cảnh thân phụ bị mật thám Pháp tra tấn dã man ở bót Catinat trước khi cụ bị thủ tiêu.

Gan lì, dũng cảm, Tô Ký không những khuất phục được những anh chị giang hồ trong tù mà còn luôn đứng ra hứng chịu đòn khảo tra thay cho đồng chí của mình trong các cuộc đấu tranh trực diện. Bị đày đi căng Tà Lài, một trại giam nằm trong rừng, cách thị trấn Định Quán, Đồng Nai hơn 15 cây số. Thời gian này, ông được làm quen với khá nhiều bạn tù tiếng tăm có thành phần xuất thân khác nhau. Những người cộng sản: Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Nguyễn, Dương Bạch Mai,...Những người thuộc nhóm Tờ-rốt-kít như: Đào Văn Long, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu...Những nhà sư yêu nước: Sư Thiện Chiếu, Huệ Thới...

Ở trong tù ông tham gia vào chi bộ của nhà tù, được học tập kiến thức về Cách mạng tư sản dân quyền, chủ nghĩa Mác Lê-nin, học chữ Hán, tiếng Pháp và một số môn khác. Một thời gian sau Nam kỳ khởi nghĩa, tháng 3 năm 1941 chi bộ nhà tù tổ chức vượt ngục gồm các ông Trần Văn Giàu, Dương Văn Phúc (Dương Quang Đông), Châu Văn Giác, Trần Văn Kiết (Kiệt), Trương Văn Nhâm, Nguyễn Công Trung, Nguyễn Hoàng Sính (Đức) và ông. Một nhóm chạy về hướng Sài Gòn, còn nhóm của ông (Giàu, Giác, Ký) trốn lên Đà Lạt. Sau 17 ngày thì đến nơi nhưng do Pháp truy nã gắt gao cho nên lại bị bắt lại đưa về Sài Gòn tuyên phạt 6 tháng tù đưa lên căng Bà Rá, một nơi rừng thiêng nước độc sau đó chuyển về khám Tây Ninh.

Nhật đảo chính Pháp (9 tháng 3 năm 1945), ông thuyết phục được lính mã tà giao súng cho tù chính trị rồi cùng mọi người về quê chuẩn bị tham gia khởi nghĩa giành chính quyền. Ông về Gia Định được phân công thành lập và chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương. Ông được cử làm Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy Gia Định kiêm ủy viên Ban cán sự Liên tỉnh miền Đông phụ trách tỉnh Thủ Dầu Một mà chủ yếu là địa bàn quận Lái Thiêu.

Sau khi giành được chính quyền, ông tiếp tục tham gia xây dựng các lực lượng quân sự tỉnh Gia Định, đồng thời tham gia xây dựng chính quyền rộng khắp địa phương, góp phần dàn xếp ổn thoả giữa Việt Minh mới (Tiền Phong) và Việt Minh cũ (Giải Phóng) để đi đến thống nhất. Khi đó, Lâm ủy Hành chính Nam Bộ có ý định phân công ông làm Tỉnh trưởng Gia Định, rồi tỉnh trưởng Thủ Dầu Một nhưng ông từ chối về Hóc Môn nhằm dàn xếp ổn thoả những mối thù oán từ Nam Kỳ khởi nghĩa (1940)-vì khi đó ở đây đang diễn ra nhiều cuộc trả thù.

Thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam (23/9/1945). Ngày 1 tháng 11 năm 1945, Giải phóng quân liên quận Hóc Môn-Bà Điểm-Đức Hòa chính thức được thành lập do ông Hoàng Dư Khương phụ trách sau đó do ông (chỉ huy trưởng) và ông Trần Văn Trà (sau này là Thượng tướng) (chính trị viên) phụ trách và chỉ huy. Giải phóng liên quận là nòng cốt cho Chi đội 12 do ông làm Chi đội trưởng (1946) về sau đổi tên thành Trung đoàn 312 Vệ quốc đoàn.

Khi tướng Nguyễn Bình vâng lệnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ vào thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ và được cử làm Tư lệnh Khu 7, ông cùng với các ông Huỳnh Văn Nghệ, Dương Văn Dương được cử làm Phó Tư lệnh, đồng thời là Tư lệnh Đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn (1947-1950). Trên cương vị này ông tận tình giúp tướng Nguyễn Bình thống nhất các lực lượng vũ trang Nam Bộ.

Từ năm 1951 đến năm 1953, ông là Tỉnh đội trưởng, Bí thư Tỉnh ủy Gia Định. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông làm trưởng ban chuyển quân tập kết khu vực Hàm Tân, Xuyên Mộc; Chủ nhiệm phòng cung cấp Phân liên khu miền Đông Nam Bộ. Ra Bắc trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, bằng uy tín và bản lĩnh của một nhà chỉ huy dày dạn trận mạc, ông đã góp phần ổn định và nâng cao tinh thần cán bộ chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc nóng lòng quay về giải phóng quê hương.

Từ năm 1957 đến năm 1964, ông làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Sư đoàn 338 rồi sau đó là Chánh án Toà án Quân sự Trung ương. Năm 1961, ông được phong quân hàm Thiếu tướng và là vị tướng thứ hai của đất Nam Bộ (sau Thiếu tướng Liệt sĩ Dương Văn Dương) và là hai vị tướng của Mười Tám Thôn vườn trầu (Thiếu tướng Nguyễn Hồng Lâm hay Nguyễn Văn Bứa), một trong tam kiệt của Hóc Môn-Củ Chi (Tô Ký, Nguyễn Hồng Lâm, Hồ Thị Bi-Đại tá).

Từ tháng 6 năm 1967 đến năm 1974, ông là Chính ủy, Bí thư Quân ủy Quân khu Hữu Ngạn. Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất ông chuyển ngành về Tổng cục dầu khí (12/1978).

Những năm tháng cuối đời, ông lại cùng với tướng Trần Văn Trà đứng ra tập hợp thành lập và lãnh đạo Hội cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh trên cương vị phó Chủ tịch rồi Chủ tịch. Ông được tín nhiệm bầu làm phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam.

Thiếu tướng Tô Ký ra đi đột ngột vào ngày 17 tháng 2 năm 1999, thọ tám mươi mốt tuổi khi chưa thực hiện trọn vẹn ước mơ lớn cuối đời đó là: một cuốn sách đầy đủ và có hệ thống về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Cuốn sách mà ông đã để tâm nhiều năm, dành nhiều trí tuệ và công sức vào nó.

Tham khảo: Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng).
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 08:24:23 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #61 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 05:04:13 AM »


Thiếu tướng YBlok Eban (1921), nguyên : Chủ tịch Ủy ban Quân quản Đắc Lắc (1975), quyền Tư lệnh Quân khu 6. Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Chủ tịch đầu tiên Tỉnh Đắc Lắc, Đại biểu Quốc hội khóa 3 và khóa 4.

Thượng tá (1958), Đại tá (1974), Thiếu tướng (1984)


Thiếu tướng YBlok Eban sinh ra tại buôn Chư Dluê, thị xã Buôn Ma Thuột, là con trai út trong một gia đình dân tộc Ê Đê có 7 người con. Năm ông lên 2 tuổi, cha ông mất, mẹ ông phải phải đưa anh em ông về làm tôi tớ cho một gia đình địa chủ để kiếm sống. Cũng may gia đình chủ không quá khắc nghiệt cho nên lên 11 tuổi ông được cắp sách đi học tiểu học tại trường ở thị xã.

Học hết bậc tiểu học, do khỏe mạnh nên ông bị bắt vào lính khố xanh và sau đó ông được giao làm lính gác ngục tại nhà lao Buôn Ma Thuột. Chế độ nhà tù thực dân phong kiến khắc nghiệt không những với tù nhân mà còn ngay cả với lính người bản xứ đặc biệt là những người lính mới như ông. Năm 1941, mẹ ông qua đời ông cũng không được cho về nhà nhìn mẹ lần cuối và chịu tang mẹ.

Thời gian đó, nhà tù Buôn Ma Thuột giam giữ nhiều tù nhân chính trị là những nhà cách mạng yêu nước bị thực dân và phong kiến giam cầm như ông Nguyễn Văn Vịnh (Đại tướng Nguyễn Chí Thanh), Tố Hữu, Võ Chí Công, Trần Văn Quang (Thượng tướng Trần Văn Quang), Chu (Hồng Chương), Bùi San… Gần gũi và tiếp xúc với họ, ông được họ theo dõi, giáo dục dần dần giác ngộ đến với cách mạng và trở thành cơ sở đáng tin cậy của cách mạng tại nhà tù Buôn Ma Thuột.

Cách mạng tháng 8 bùng nổ, ngày 22/8/1945, ông chỉ huy tiểu đội lính khố xanh (những người được cách mạng giác ngộ) hỗ trợ quần chúng, biến buổi mít tinh chào cờ của chính quyền bù nhìn thân Nhật thành cuộc mít tinh giành lại chính quyền về tay nhân dân thị xã Buôn Ma Thuột. Cách mạng thành công, ông gia nhập tiểu đoàn du kích N’Trang Lơng bảo vệ quê hương. Năm 1946, ông được cử đi học tại Trường lục quân Quảng Ngãi. Sau khi tốt nghiệp, ông trở thành một cán bộ của Quân đội Nhân dân Việt Nam trên cương vị đại đội trưởng đại đội vũ trang vùng địch hậu lập nhiều chiến công trên mảnh đất quê hương.

Tháng 4 năm 1953, ông được chọn làm đại biểu của đội du kích N’Trang Lơng lên Việt Bắc dự hội nghị toàn quốc về ‘’Chiến tranh du kích’’. Trước khi vào hội nghị, một niềm vinh dự đối với ông là được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời ăn cơm chung, trực tiếp dạy bảo và căn dặn. Sau hội nghị, ông được Trung ương tin tưởng giao cho vận chuyển tiền và vàng vào Liên khu 5 để phục vụ kháng chiến. Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông trưởng thành từ một chiến sĩ cho đến cán bộ đại đội, tiểu đoàn và sau năm 1954 tập kết ra Bắc ông giữ cương vị Trung đoàn trưởng.

Năm 1958, trong đợt phong quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông được phong quân hàm Thượng tá. Năm 1960, ông lên đường vào Nam tham gia chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên. Ông từng giữ các chức vụ Phó Tư lệnh rồi quyền Tư lệnh Quân khu 6. Năm 1974, ông được phong quân hàm Đại tá.

Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, ngày 19/3/1975, sau khi quân giải phóng hoàn toàn làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột, ông được cử giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban quân quản Đắc Lắc. Năm 1976, khi tỉnh Đắc Lắc được thành lập, ông được cử giữ chức vụ Chủ tịch tỉnh và là chủ tịch tỉnh đầu tiên sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Trên cương vị mới, với kinh nghiệm vốn có trong hai cuộc kháng chiến cộng với uy tín của mình trong cộng đồng đồng bào dân tộc, ông đã góp phần không nhỏ vào ổn định tình hình kinh tế chính trị vốn rất lộn xộn ở Đắc Lắc nói riêng và Tây Nguyên nói chung sau ngày giải phóng : đập tan tàn quân Ful-rô, âm mưu kích động đồng bào Thượng lập khu tự trị, gây chia rẽ dân tộc…Với những thành tích trong kháng chiến và sau giải phóng, năm 1984, ông được vinh dự phong quân hàm Thiếu tướng và trở thành vị tướng đầu tiên của nhân dân các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Năm 1986, ông được điều về Bộ Quốc phòng công tác tại Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu. Thiếu tướng YBlok Eban còn là Đại biểu Quốc hội các khóa 3 và 4. Hiện nay, ông là Chủ tịch Hội cựu chiến binh tỉnh Đắc Lắc.

Thiếu tướng YBlok Eban là một trong những người con tiêu biểu của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên, một vị tướng một nhà cách mạng mẫu mực. Với ông chức vị và quyền lực không quan trọng bằng được phục vụ, được cống hiến và được nhân dân tin yêu. Người ta kể lại rằng sau giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột có rất nhiều nhà bỏ hoang vì nhiều lí do khác nhau, cấp dưới nhiều lần gợi ý ông nhưng ông kiên quyết từ chối mà chỉ ở một căn nhà nhỏ bé, cũ kĩ. Căn nhà ông ở hiện nay vốn là do Chủ tịch Võ Chí Công tặng từ năm 1982, vừa mới được cán bộ và chiến sĩ công an tỉnh Đắc Lắc sửa chữa giùm khi căn nhà bị xuống cấp. Thiếu tướng YBlok Eban có bốn người con trai thì có đến ba người con là sĩ quan trong quân đội.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 08:24:57 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #62 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 05:05:49 AM »


Trung tướng Nguyễn Hữu Xuyến (10/1917-2h20’ 4/12/2007), nguyên Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam (1965-1974), nguyên Phó Tư lệnh Quân khu 9.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Quân công (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Quân kỳ quyết thắng, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba).

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1986).


Trung tướng Nguyễn Hữu Xuyến (bí danh Tám Xuyến thời kháng chiến chống Pháp ; Tám Kiến Quốc hay Việt Hồng thời kì kháng chiến chống Mỹ, ông còn có biệt danh tướng Dên Dên) quê tại xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Gia đình ông rất nghèo, cha mẹ ngoài làm ruộng còn làm thêm nghề thủ công nhưng vẫn không đủ sống nên phải dắt nhau vào Nam kiểm kế mưu sinh. Ông được gửi lại quê sống cùng với người anh con ông bác họ và được cắp sách đến trường làng một thời gian ngắn. Ham học, vừa chăn trâu ông vừa cố gắng tìm cách tự học và đọc được nhiều sách như: Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử...

Năm 1930, nghe tin mẹ mất, ông lên tàu vào Sài Gòn. 15 tuổi, ông bắt đầu cuộc đời lang bạt kỳ hồ, khi thì ở Sài Gòn, lúc qua Phnôm Pênh rồi Sa Đéc, Cần Thơ với đủ thứ nghề kiếm sống: sơn guốc, may quần áo, bán hàng, giặt ủi… Đầu năm 1937, khi đang sống tại Sa Đéc, Nguyễn Hữu Xuyến giác ngộ và tham gia cách mạng. Một thời gian sau, ông làm liên lạc giữa Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Nam Bộ. Cuối năm 1940, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tại Sa Đéc.

Cuối năm 1941, do cơ sở bị lộ, ông bị thực dân Pháp phát hiện và bắt đem về bốt Catinat Sài Gòn. Bị đánh đập, tra tấn đến 6 tháng ròng, ông vẫn không khai báo gì về tổ chức. Sau cùng, thực dân Pháp quyết định đày ông ra Côn Đảo tại đây ông được gặp nhiều nhà cách mạng đàn anh nổi tiếng thuộc nhiều đảng phái khác nhau. Tháng 2 năm 1945, ông được thả và tiếp tục hoạt động cách mạng ở Sa Đéc. Cách mạng tháng Tám thành công, biết ông có tài cũng như kinh nghiệm tổ chức đấu tranh ở Côn Đảo, các bạn tù là ông Phạm Văn Lầu – Chủ tịch tỉnh Sa Đéc, bà Sáu Ngài – Bí thư Tỉnh ủy đề nghị ông tham gia phụ trách công tác quân sự.

Từ năm 1946 đến năm 1951, ông là Chi đội trưởng Chi đội 18 rồi Trung đoàn trưởng và Chỉ huy trưởng Liên trung đoàn 109-111 hoạt động ở khu vực Trà Vinh, Vĩnh Long. Từ năm 1951 đến năm 1954, ông là Tham mưu trưởng Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ mà tướng Lê Hiến Mai, tức Dương Quốc Chính, làm tư lệnh, tướng Phan Trọng Tuệ làm Chính ủy…suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, ông đã cầm quân tham gia nhiều trận đánh lừng danh ở đây (trận tấn công nhà thờ Cù lao Giêng, chi khu quân sự Gò Quao, tiêu diệt Tiểu đoàn Tidoa - Neon ở Cổ Cò, trận La Bang; rồi cùng chỉ huy các chiến dịch Cầu Kè, Trà Vinh, An Biên - U Minh Thượng …).

Năm 1945, lúc Pháp chưa tái chiếm được Sa Đéc, quân Nhật vẫn đi lại hoành hành tự do. Một số lính Nhật không chịu rút, muốn ở ẩn chờ thời cơ. Trận tấn công nhà thờ Cù lao Giêng có cả quân Nhật lẫn quân Pháp. Lực lượng ta gồm bộ đội, du kích từ ba tỉnh Long Châu Sa bao vây tấn công ba ngày đêm. Địch có hỏa lực mạnh, phòng thủ tương đối chặt. Một số tổ xung kích của ta lọt được vào trung tâm nhà thờ nhưng đều hy sinh. Lực lượng ba tỉnh bị tiêu hao, có đơn vị hết đạn, nên bộ chỉ huy chung mặt trận rút lui. Còn lại ba tư lệnh của ba tỉnh ở ba hướng tấn công, liền họp lại, bầu ban chỉ huy chung thay thế và bàn cách đánh tiếp. Quân ta đưa đội hình áp sát nhà thờ, cho nhiều đội xung kích bắt thang trèo vào bên trong để tấn công, đồng thời kết hợp chiến thuật hỏa công. Do nhà thờ có cấu trúc và bố trí như một cứ điểm lớn, nên nếu chỉ dùng mìn, lựu đạn và sức người thì không thể phá vỡ được. Xăng dầu được đưa vào đốt hành lang nhà thờ, sau năm phút vì sợ bị cháy rụi nên địch kéo cờ trắng ra hàng, ta bắt 20 tên Nhật, 10 tên Pháp thu 100 súng các loại...Đánh chiếm nhà thờ Cù lao Giêng là trận thắng đầu tiên vang dội cả đồng bằng sông Cửu Long.

Năm 1947, tại Sa Đéc ta bắt đầu kiểm soát toàn bộ vùng nông thôn., chuyển mọi hoạt động quân sự sang thế chủ động., tự do về tác chiến. Ngay từ đầu tết âm lịch, ta mở trận giao thông chiến tại Cổ Cò Mỹ Tho, với sự phối hợp của lực lượng hai tỉnh Sa Đéc, Mỹ Tho và toàn bộ học viên trường Quân chính Khu 9. Quân ta phục kích đoạn đường dài 12 cây số, hình thành thế trận: dẫn địch vào sâu khu trung tâm, bao vây nhiều lớp và chặn viện nhiều chặng. Tiểu đoàn Tidoa Neon anh hùng của Pháp thắng Đức trong Thế chiến thứ 2, đã bị tiêu diệt hoàn toàn, với 15 xe cơ giới, trong đó có 8 xe thiết giáp. Viện binh của địch ở 2 đầu đều bị chặn đánh. Cách viện binh từ Sài Gòn xuống phá vỡ tuyến phòng thủ thứ nhất nhưng bị tuyến thứ 2 chặn đứng lại. Trận Cổ Cò là trận giao thông chiến đầu tiên của Nam Bộ và có lẽ là trận giao thông chiến đầu tiên trong cả nước.

Năm 1949, ta và địch ở thế giằng co quyết liệt. Địch hòng quét sạch, đẩy ta ra khỏi từng khu vực. Ta cũng chuyển thế tấn công ở từng vùng để tiến đến giải phóng từng phần. Cuộc chiến diễn ra liên tục, nổi bật là hai trận chống càn vào căn cứ của ta, bằng đường bộ và đường sông. Cho đến cuối năm 49, ta mở chiến dịch Cầu Kè thuộc tỉnh Trà Vinh với mục đích tiêu diệt, bức hàng, bức rút một số đồn bốt ở địa phương và diện viện của địch, đồng thời xây dựng lại tình đoàn kết đang bị chia rẽ giữa người Việt gốc Khmer. Lực lượng gồm 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh phối hợp với lực lượng Liên trung đoàn 109-111cùng tiểu đoàn 307 vừa được tăng cường. Sau 10 ngày, ta bức hành bức rút 20 cứ điểm, đồn bốt và diệt 2 cánh địch viện bằng đường bộ và đường sông, hơn 100 quân Pháp và lính lê dương Ma rốc bị bắt, thu nhiều vũ khí đạn dược. Chiến dịch Cầu Kè là chiến dịch tấn công mở vùng, mở mảng đầu tiên ở Nam Bộ giành thắng lợi.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), ông phụ trách chuyển quân tập kết ra Bắc, đến chuyến cuối cùng thì ông được lệnh ở lại hoạt động bí mật, lãnh đạo và chỉ huy phong trào chiến đấu trong lòng địch. Từ năm 1955 đến năm 1956, ông hoạt động ở miền Tây Nam Bộ cùng tiểu đoàn 307 vừa được tăng cường. Sau 10 ngày, ta bức hàng bức rút 20 cứ điểm, đồn bốt và diệt hai cánh địch viện bằng đường bộ và đường sông, hơn 100 quân Pháp và lính lê dương Ma-rốc bị bắt, thu nhiều vũ khí đạn dược. Chiến dịch Cầu Kè là chiến dịch tấn công mở vùng, mở mảng đầu tiên ở Nam Bộ đã giành thắng lợi.

Tháng 12 năm 1956, căn cứ vào ‘’Đề cương cách mạng miền Nam’’, Xứ ủy Nam Bộ họp thống nhất chủ trương "Do nhu cầu của cách mạng miền Nam, trong một chừng mực nào đó cần phải có lực lượng tự vệ vũ trang tuyên truyền hỗ trợ cho đấu tranh chính trị và tiến tới sau này dùng lực lượng vũ trang đó để làm cách mạng đánh đổ Mỹ Diệm". Và ông được Xứ ủy cử về miền Đông để thực hiện nhiệm vụ thống nhất các lực lượng vũ trang.

Tháng 6 năm 1958, Xứ ủy Nam Bộ thành lập Ban Quân sự và Đảng ủy Lực lượng vũt rang miền Đông Nam Bộ, ông được phân công kiêm nhiệm vụ Trưởng Ban Quân sự miền Đông Nam Bộ. Để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị, đồng thời giải quyết vấn đề tài chính, lương thực cho lực lượng vũt rang đang phát triển. Ông đã điều động lực lượng vũ trang chia thành 3 mũi tập kích chi khu quân sự Dầu Tiếng. Sau 30 phút nổ súng, bộ đội miền Đông hoàn toàn làm chủ trận địa, diệt 300 tên, bắt sống 200, thu 650 súng các loại, 12 tấn đạn, 5 xe cùng rất nhiều quân trang quân dụng. Chiến thắng Dầu Tiếng gây tiếng vang lớn trên toàn miền Nam. Lần đầu tiên sau năm 1954, lực lượng vũ trang miền Đông đã iêu diệt một căn cứ quân sự cấp quận. Chiến thắng Dầu Tiếng khai thông liên lạc giữa cắn cứ Đông và Tây, đồng thời tạo điều kiện cho Xứ ủy về đứng chân ở vùng căn cứ miền Đông để chỉ đạo phong trào cách mạng.

Đáp lại việc chính quyền Ngô Đình Diệm theo luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam lùng bắt những người Cộng sản, trả thù những người theo kháng chiến. Cuối năm 1959, Ban Quân sự miền Đông Nam Bộ do ông phụ trách, quyết định phối hợp với thị ủy Biên Hòa tấn công vào sào huyệt của cố vấn quân sự trong phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ đóng tại Nhà Xanh, Biên Hòa. Trận đột kích đã diệt 2 và làm bị thương 11 cố vấn Mỹ. Đây là trận diệt Mỹ đầu tiên ở miền Nam.

Đầu năm 1960, Trung ương ban hành Nghị quyết 15 chỉ rõ : "Con đường phát triển cơ bản của Cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân". Nguyễn Hữu Xuyến khi đó đã đổi tên là Tám Kiến Quốc, quyết định chọn Tua Hai làm mục tiêu cho trận đánh lớn mở màn và trận Tua Hai vẫn được gọi là ‘’Khúc dạo đầu’’ của Nghị quyết 15. Trước tầm quan trọng của trận đánh, ông trực tiếp chỉ huy. Trận đánh thắng lợi giòn giã, bộ đội miền Đông mang về Chiến khu Đ đến gần 1500 khẩu súng các loại. Các nhà bình luận quân sự cho rằng: Chiến thắng Tua hai như sấm sét mở đầu phá tan đêm tối ở miền Nam - là sự kiện nổi bật có ý nghĩa về quân sự và chính trị trong toàn miền, làm dấy lên phong trào đồng khởi long trời lở đất ở miền Nam, mở đầu một giai đoạn mới của cuộc đấu tranh chống Mỹ.

Tháng 1 năm 1961, Trung ương quyết định thành lập Trung ương Cục để chỉ đạo phong trào cách mạng ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Tháng 2 năm 1961, trung ương Cục do ông Nguyễn Văn Linh làm Bí thư về xây dựng căn cứ tại Suối Linh (Chiến khu Đ). Khu ủy miền Đông được thành lập do ông Mai Chí Thọ làm Bí thư và ông là Tư lệnh các Lực lượng vũ trang giải phóng miền Đông Nam Bộ.

Nhưng không dừng lại ở đó vào tháng 9-1961, chỉ huy trưởng Tám Kiến Quốc lại cùng các chỉ huy Nguyễn Việt Hồng, Đặng Ngọc Sĩ, Đặng Hữu Thuấn, mở 3 mũi tiến công vào tỉnh lỵ Phước Thành. Tỉnh lỵ Phước Thành là một đặc khu mới xây dựng của địch lúc ấy, đế chế áp cách mạng ở Chiến khu Đ và vùng rừng núi miền Đông. Ta sử dụng ba tiểu đoàn cộng ba đại đội để tấn công chặn viện. Ta dùng chiến thuật kỳ tập bằng đặc công tiến trước và kết hợp chiến thuật tập kích tấn công của các tiểu đoàn tiếp theo, hình thành thế tấn công và năm khu vực bằng năm cánh quân hợp vây, chia cắt địch ra từng mảnh ngay từ đầu để chúng không kịp ứng cứu cho nhau được, mà trọng điểm là khu vực cơ quan đầu não của tỉnh. Trận đánh mang yếu tố bất ngờ, bí mật chỉ sau 2 giờ, ta đã làm chủ toàn bộ tỉnh lỵ Phước Thành, bắt sống tỉnh phó, giải thoát bốn trăm tù chính trị, tiêu diệt và bắt gọn hơn 1000 địch của 3 tiểu đoàn bảo an, 1 tiểu đoàn cộng hòa, 1 tiểu đoàn công an, thu toàn bộ vũ khí trong đó có cả xe thiết giáp và pháo 105. Quân tiếp viện của địch ở các hướng bị đẩy lùi. Về sau dùng máy bay yểm trợ chiếm lại, nhưng địch phải bỏ hẳn tỉnh lỵ, xóa tên tỉnh này khỏi bản đồ hành chính. Trận đánh có tác động rất lớn ở miền Đông. Nó gây hoang mang dao động dây chuyền đối với địch. Quân ta tiếp tục khuếch trương chiến quả, bao vây uy hiếp các đơn vị của địch ven rừng, đánh chiến và bức rút hàng chục đồn bốt và chi khu, phá các ấp chiến lược, giải phóng hàng chục ngàn dân, mở rộng vùng giải phóng.

Chiến thắng Phước Thành làm nức lòng quân, dân miền Nam, đồng thời đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội chủ lực miền Đông cũng như của địa phương trong việc phối hợp tác chiến, Tướng Westmoreland - Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở Việt Nam đã phải thú nhận: "Mùa thu 1961 đã chứng kiến một bước ngoặt rõ rệt trong cuộc tiến công của Việt Cộng, lần đầu tiên họ tạm thời chiếm được tỉnh lỵ Phước Thành" (Trích hồi ký "Tường trình của một quân nhân"). Lầu năm góc Mỹ cũng xác định trong một tài liệu: Trận tiến công lớn nhất đã có tác dụng làm cho Sài Gòn nhốn nháo là trận đánh chiếm Phước Thành - một tỉnh lỵ cách Sài Gòn 55km...

Từ năm 1963 đến 1965, ông được cử đi học ở Trung Quốc. Từ năm 1965 đến năm 1974, ông là Phó Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Tháng 6 năm 1974, ông được điều về công tác tại Bộ Quốc phòng làm thường trực Ban chỉ đạo Quân sự miền Nam (gồm có Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng và một số cán bộ quân sự khác). Tháng 2 năm 1977, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Quân khu 9.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 08:25:31 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #63 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 05:08:01 AM »


Đại tá Phạm Ngọc Thảo (1922-1965), Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân (truy tặng năm 1987), nguyên Phó Phòng Mật vụ Ban Quân sự Nam Bộ.

‘’Các nhà tình báo thông thường có nhiệm vụ giấu mình, thu thập, khai thác tin tức chuyển về trung tâm. Riêng Phạm Ngọc Thảo đi thẳng vào hàng ngũ kẻ thù, tung hoành hoạt động vì Tổ quốc cho tới tận lúc hy sinh, trường kỳ mai phục và “độc lập tác chiến”. Anh là nhà tình báo có một không hai’’ (Nhà báo Trần Bạch Đằng, nguyên Phó Ban tuyên huấn Trung ương cục miền Nam).

‘’Anh Phạm Ngọc Thảo đã nhận một nhiệm vụ đặc biệt, chưa từng có “tiền lệ” trong công tác cách mạng của chúng ta” (Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt)
Phạm Ngọc Thảo sinh năm 1922, là con thứ tám trong một gia đình giàu có nhất nhì đồng bằng sông Cửu Long, công giáo ba đời rất mực yêu nước. Ông sinh tại Sài Gòn nhưng nguyên quán lại ở Bến Tre.

Cha ông, Adrian Phạm Ngọc Thuần có tới hơn 4000 mẫu đất và gần 1000 căn nhà rải rác ở khắp các tỉnh Cần Thơ, Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc, Vĩnh Long. Ông Thuần có quốc tịch Pháp nên các con đều được sang Pháp học. Con trai cả Gaston Phạm Ngọc Thuần, qua Pháp học từ lúc 6 tuổi, đậu cử nhân Luật về nước theo cách mạng làm tới Phó Chủ tịch uỷ ban kháng chiến Nam Bộ. Con thứ 7 Phạm Ngọc Hùng học ở Pháp, lấy vợ Pháp rồi về Việt Nam ra chiến khu chiến đấu, làm Uỷ viên Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam.

Trong gia đình, chỉ riêng ông không sang Pháp du học do thế chiến thứ hai xảy ra. Lúc nhỏ ông theo học tại một trường tư nổi tiếng ở Sài Gòn, trường trung học công giáo Taberd.Tốt nghiệp trường Kỹ sư công chánh ở Hà Nội, khi Pháp bội ước quay lại xâm chiếm Việt Nam, ông tuyên bố huỷ bỏ quốc tịch Pháp của mình và đi theo cách mạng, làm việc ở Văn phòng Uỷ ban kháng chiến hành chính Nam Bộ.

Năm 1946, trường Võ bị Trần Quốc Tuấn, trường sỹ quan đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thành lập để đào tạo cán bộ quân sự chuẩn bị cho kháng chiến. Ông cùng 12 chiến sỹ Nam Bộ khác được cử ra Sơn Tây học tập. Tốt nghiệp khoá học, ông được điều về Phú Yên nhận nhiệm vụ làm giao liên. Lúc này Trung ương đang cử nhiều đoàn cán bộ vào tăng cường cho miền Nam. Trong thời gian này, ông đã làm nhiệm vụ đưa ông Lê Duẩn (sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam) vào Nam chỉ đạo kháng chiến an toàn bằng con đường công khai. Sau đó, ông được trên tin cậy giao chức Trưởng phòng mật vụ Ban quân sự Nam Bộ – tổ chức tình báo đầu tiên của cách mạng ở Nam Bộ. Rồi được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 410(Quân khu 9) (có tài liệu nói là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 Quân khu 8, chi tiết này không đúng). Năm 1954, ônh được điều ra Bắc và được đích thân ông Lê Duẩn giao nhiệm vụ trở về Nam hoạt động trong lòng địch.

Trở về miền Nam, ông làm nghề dạy học tại một số trường tư thục Sài Gòn. Vì không chịu ký tên vào giấy “hồi chánh” nên ông đã bị mật vụ Pháp (do Mai Hữu Xuân cầm đầu) vây bắt mấy lần, nhưng ông đều trốn thoát. Cuối cùng ông về Vĩnh Long dạy học để dễ dàng xâm nhập vào hàng ngũ địch. Vì vùng đất này thuộc địa phận của giám mục Ngô Đình Thục (anh trai của Ngô Đình Diệm). Gia đình ông vốn theo Thiên chúa giáo lâu đời, thân thiết với giám mục Ngô Đình Thục. Giám mục Ngô Đình Thục rất quý mến ông vì đã từng làm lễ rửa tội cho ông và coi ông như con nuôi. Nhờ chính sách “đả thực bài phong”, của Ngô Đình Diệm, ông được Ngô Đình Thục giới thiệu với anh em Diệm – Nhu. Ông khôn khéo công khai hết nguồn gốc của mình, kể cả chức tiểu đoàn trưởng cũ, chỉ trừ một điều: mình là Đảng viên Đảng CSVN. Được bảo đảm về chính trị, ông đã cùng vợ con trở lại Sài Gòn sinh sống.

Đầu năm 1956, ông làm việc tại Ngân hàng quốc gia Sài Gòn. Tháng 5 năm 1956 được sự giới thiệu của Huỳnh Văn Lang, Tổng giám đốc Viện Hối đoái và Bí thư Liên kỳ bộ Nam Bắc Việt của đảng Cần Lao, Phạm Ngọc Thảo được cử đi học khóa huấn luyện tại trung tâm Nhân vị tại Vĩnh Long. Và sau đó (tháng 10 năm 1956) ông gia nhập đảng Cần Lao. Sau khi gia nhập đảng Cần Lao, ông phụ trách tổ quân sự, giữ nhiệm vụ nghiên cứu về chiến lược và chiến thuật quân sự và huấn luyện quân sự cho các đảng viên Cần Lao. Tháng 1 năm 1957 Phạm Ngọc Thảo tham gia biên tập bán nguyệt san Bách Khoa - tạp chí của một nhóm trí thức đảng Cần Lao. Sau đó được Ngô Đình Diệm đưa sang ngạch quân sự với cấp bậc đại úy đồng hóa trong quân đội Sài Gòn. Tuy nhiên đây chỉ là những chức vụ ‘’hữu danh vô thực’’ vì Diệm-Nhu khi đó chưa thực sự tin tưởng cũng như chưa nhận thấy hết khả năng của ông.

Thời gian này ông đã biết sử dụng vốn binh pháp Tôn Tử mà ông Hoàng Đạo Thuý từng dạy ở Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn để viết báo. Thời gian này, ông cộng tác với tạp chí Bách khoa. Chỉ trong hơn một năm, ông đã viết 20 bài báo nói về các vấn đề chiến lược, chiến thuật, nghệ thuật chỉ huy, huấn luyện quân sự, phân tích binh pháp Tôn Tử, Trần Hưng Đạo.... Những bài báo đó đã được giới quân sự chú ý và Diệm – Nhu đề cao “tầm” của ông. Năm 1957, ông được điều về làm việc tại Phòng Nghiên cứu chính trị của Phủ tổng thống với hàm thiếu tá. Ông rất được Ngô Đình Diệm tin dùng trong lĩnh vực chính trị, tình báo và an ninh nội bộ. Từ đó, ông lần lượt giữ các chức vụ tỉnh đoàn trưởng tỉnh đoàn bảo an Vĩnh Long, rồi chỉ huy trưởng bảo an tỉnh Bình Dương.

Năm 1960, sau khi học một khóa chỉ huy và tham mưu ở Trường võ bị Đà Lạt, Phạm Ngọc Thảo được thăng thiếu tá và được cử làm Thanh tra Khu Trù Mật. Đầu những năm 60, trước cao trào đồng khởi ở Bến Tre, Diệm đã cử ông giữ chức tỉnh trưởng tỉnh này (khi ấy là tỉnh Kiến Hòa) với cấp bậc trung tá và muốn trắc nghiệm chương trình bình định. Sau khi nhậm chức, tình hình Bến Tre trở lên yên ổn hơn, ông quyết định thả ngay hơn 2000 tù nhân đang bị giam giữ, liên lạc với bà Nguyễn Thị Định, tạo điều kiện cho khởi nghĩa Bến Tre bùng nổ. Chính sách không cho binh lính đàn áp dân chúng tuỳ tiện của ông đã “bật đèn xanh” cho phong trào “đồng khởi”. Tiếp đó, có dư luận nghi ngờ ông là cộng sản nằm vùng. Nhưng Diệm-Nhu lại cho rằng ông còn “non nớt”, thiếu kinh nghiệm nên chuyển anh sang Mỹ học tập tại Trường sĩ quan tham mưu (Command and General Staff College ở bang Kansas). Từ đó Bến Tre lại tiếp tục ‘’mất an ninh.

Năm 1961, ông về nước được cử giữ chức Tham vụ chuyên môn Phủ tổng thống, đặc trách về vấn đề Thanh tra và ấp chiến lược. Ông được giới tướng lĩnh rất quý mến vì sự thông minh, lịch thiệp, phóng khoáng, giao du rộng… Tháng 9 năm 1963, Trần Kim Tuyến nguyên Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị (thực chất là phòng mật vụ) và ông âm mưu một cuộc đảo chính. Phạm Ngọc Thảo đã kêu gọi được một số đơn vị như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, Biệt động quân, Bảo an... sẵn sàng tham gia. Tuy nhiên cuộc đảo chính không thành công, vì ngày 6 tháng 9 năm 1963, Ngô Đình Diệm đã cử Trần Kim Tuyến đi làm Tổng lãnh sự tại Ai Cập.

Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ ngày 1 tháng 11 năm 1963, mọi sĩ quan đều được phong chức riêng ông không được phong chức gì vì lí do chưa qua trường lớp, để lôi kéo ông về phía mình Mỹ đề nghị cho ông san Mỹ học trường võ bị cao cấp. Thời điểm này tại Sài Gòn liên tục diễn ra các cuộc đảo chính. Học xong về nước đúng vào thời điểm Nguyễn Khánh đảo chính thành công. Nhưng Nguyễn Khánh chỉ là người võ biền, học vấn không cao, nhiều lần không trả lời nổi những chất vấn của quần chúng biểu tình. Ông về , Nguyễn Khánh bèn tận dụng tài nói, viết của ông, phong ngay hàm Đại tá và giao cho anh trọng trách là phát ngôn viên Chính phủ, Tuỳ viên báo chí của Nguyễn Khánh.

Ngày 13/9/1964, ông tham gia tổ chức cuộc đảo chính lật đổ Nguyễn Khánh. Nhưng do nhiều lí do, cuộc đảo chính thất bại. Ông phải đi Mỹ làm tùy viên quân sự. Đầu năm 1965, Phạm Ngọc Thảo bị gọi về nước vì chính quyền Sài Gòn đã nghi ngờ, muốn bắt ông. Vì vậy, ông đã đào nhiệm và bí mật liên lạc với các lực lượng đối lập khác như Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát để tổ chức đảo chính ở Sài Gòn và vì một lí do vô cùng quan trọng. Theo một tài liệu mà ông nắm được, Mỹ và Nguyễn Khánh đã thoả thuận sẽ ném bom xuống miền Bắc vào 20/2/1965, vì vậy cuộc đảo chính sẽ tiến hành đúng ngày 19/2.

Ngày 19 tháng 2 năm 1965, đảo chính nổ ra, mặc dù đang bị truy bắt gắt gao ông vẫn cùng Lâm Văn Phát đem quân và xe tăng vào chiếm trại Lê Văn Duyệt, đài phát thanh Sài Gòn, bến Bạch Đằng và sân bay Tân Sơn Nhất. Nhưng chỉ làm chủ đài phát thanh trong một thời gian ngắn, rồi bị dập tắt xong cũng làm Nguyễn Khánh đào thoát bằng máy bay ra Vũng Tàu. Tuy nhiên cuộc đảo chính này cũng làm Nguyễn Khánh mất chức, phải ra nước ngoài làm đại sứ lưu động. Đồng thời kí kết giữa Nguyễn Khánh về việc đổ thêm quân vào miền Nam và đánh bom miền Bắc không thành công.

Chính quyền miền Nam rơi vào tay nhóm tướng lĩnh khác, ông phải rút lui vào hoạt động bí mật. Nhưng ông tiếp tục chuẩn bị tư tưởng cho các hoạt động cách mạng bằng cách xuất bản tờ báo “Việt Tiến”, mỗi ngày phát hành trên 50.000 tờ, tuyên truyền tinh thần yêu nước, vạch trần âm mưu của Mỹ – Nguỵ. Ông có cả một hàng rào bảo vệ rộng lớn từ các xứ đạo Biên Hoà tới Hố Nai, Thủ Đức, Sài Gòn; có nhiều linh mục giúp đỡ in ấn, phát hành tờ Việt Tiến. Lúc này, ông bị chính quyền Kỳ – Thiệu kết án tử hình quyết tâm trừ khử vì thấy rõ tầm nguy hiểm của ông, người ta treo giải 3 triệu đồng cho ai bắt được nhưng vẫn liên lạc với cơ sở cách mạng trực tiếp là ông Sáu Dân (Võ Văn Kiệt) để hoạt động tiếp. Trước tình hình đó, ông Võ Văn Kiệt có đề nghị đưa ông ra chiến khu nhưng ông nói vẫn còn khả năng tổ chức đảo chính khác, vẫn còn khả năng thành công vì ông muốn ngăn chặn việc quân Mỹ tăng quân ồ ạt vào miền Nam cuối tháng 5 năm 1965. Đại sứ quán Mỹ cũng đề nghị đưa ông ra nước ngoài nhưng ông từ chối.

Phạm Ngọc Thảo phải trốn nhiều nơi, cuối cùng đến trốn trong Đan viện Phước Lý ở xã Vĩnh Thanh, huyện Nhơn Trạch, Biên Hòa. Cuối cùng nơi trú ẩn này cũng bị lộ. Lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 7 năm 1965, khi ông vừa ra khỏi Đan viện Phước Lý thì bị phục sẵn bắt rồi đưa về một cái suối nhỏ gần Tam Hiệp, Biên Hòa, để thủ tiêu. Sợ ông chạy trốn nên anh ninh quân đội ngụy nổ súng luôn. Nhưng viên đạn xuyên xuống hàm làm ông gẫy mất mấy cái răng, ngã vật ra. Vừa lúc có tiếng những người công nhân đi cạo mủ cao su, an ninh quân đội ngụy sợ lộ bèn quay xe bỏ chạy.

Tỉnh dậy, ông cố lết về một nhà thờ. Sau khi được linh mục Cường cứu sống, ông chủ động xin chuyển tới chỗ khác phòng khi an ninh quân đội tới truy tìm. Nhưng sau ông vẫn bị phát hiện và bị bắt anh về giam tại Cục an ninh quân đội ngụy, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tại đây, chúng đã dùng những thủ đoạn tra tấn anh hết sức dã man như: dùng cây nhọn xoáy vào vết thương, đánh đập, tra điện. Thế nhưng khi được hỏi : “Nếu được tự do Đại tá sẽ làm gì?”. Ông hiên ngang trả lời: “Tôi sẽ tiếp tục sứ mạng cho tơí lúc thành công”.

Bị đánh đập dã man, không nói được nhưng ông vẫn dùng bút viết ra giấy những lời đanh thép lên án chúng như: “Chúng mày biết tao là Việt cộng thì đừng bao giờ hi vọng tao khai. Một là sống, hai là chết, tao vẫn tiếp tục con đường của tao...”. Vì cay cú, Nguyễn Ngọc Loan đã dùng cả hành vi bẩn thỉu, đê hèn tra tấn với dã tâm để ông chết rồi bí mật mang chôn giấu tại nghĩa trang quân sự Gò Vấp với tấm bảng ghi “Mộ vô danh”. Ngày 18/7/1965, các báo chí Sài Gòn đăng tin đại tá Phạm Ngọc Thảo chết vì bị thương trong một tai nạn giao thông. Nguỵ quyền Sài Gòn sau khi biết ông là cộng sản đã gọi ông là “vua đảo chánh” với nỗi khiếp sợ. Tướng 4 sao Oét-mô-len, Tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam trong hồi ký đã gọi Phạm Ngọc Thảo là một nhà “cách mạng chuyên nghiệp”.

Năm 1987, ông được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam truy tặng anh danh hiệu cao quý: Anh hùng LLVTND. Hiện nay, mộ Phạm Ngọc Thảo được đưa về nghĩa trang TP.HCM, trên đồi Lạc Cảnh(huyện Thủ Đức). Mộ ông nằm cạnh mộ những tên tuổi nổi tiếng như Lưu Hữu Phước, Phạm NgọcThạch, Can Trường...

Trong cuộc trường chinh giải phóng dân tộc Việt Nam, người xứng đáng được coi là "nhà tình báo vĩ đại nhất". Có thể so sánh với Rihard Gioorgie, Kim Filby của Liên Xô không phải Vũ Ngọc Nhạ hay Phạm Xuân Ẩn mà chính là nhà tình báo chiến lược, Đại tá Anh hùng QDNDVN Phạm Ngọc Thảo. Ông chính là nguyên mẫu của nhân vật Nguyễn Thành Luân trong tiểu thuyết nổi tiếng Ván Bài Lật Ngửa. Có 3 đặc điểm lớn để có thể xác định Đại tá Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo vĩ đại nhất của Việt Nam trong thế kỷ 20:

Khác với Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo là người duy nhất có thể tác động trực tiếp đến chính quyền Sài Gòn . Là sỹ quan cao cấp trong quân đội ngụy lai có lực lượng trong tay, ông chính là người đã trực tiếp đạo diễn và tham gia chỉ đạo hàng loạt vụ đảo chính làm rung chuyển nền chính trị Miền Nam những năm 64-65, gây mất ổn định nghiêm trọng chế độ Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam. Nếu cuộc đảo chính với Lâm Văn Phát gạt Nguyễn Khánh năm 1964 thành công, Phạm Ngọc Thảo trở thành thủ tướng chính quyền Sài Gòn thì lịch sử có thể đã có những thay đổi lớn.

Khác với Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo là nhà tình báo hoạt động đơn tuyến, không hề có đồng đội trực tiếp hỗ trợ mà chỉ chịu sự chỉ đạo về chiến lược của Bác Hồ và Tổng Bí thư Lê Duẩn . Ông không làm công tác đưa tin đơn thuần mà lớn hơn là được giao nhiệm vụ "thay đổi chế độ tại miền Nam" (tương tự như mục tiêu regime change của Mỹ tại I-rắc, nhưng nếu như Mỹ phải dùng đến hàng chục vạn quân thì ta chỉ dùng 1 mình Phạm Ngọc Thảo và ở chừng mực nào đấy đã thành công). Sự nguy hiểm của Phạm Ngọc Thảo đối với tồn vong của chế độ miền Nam lý giải tại sao chính quyền Thiệu-Kỳ phải quyết bằng mọi giá thủ tiêu ông.

Ông là một con người cực kỳ dũng cảm và tài năng. Mỹ đã từng chọn ông để đào tạo trở thành Tổng thống tương lai của chính quyền Sài Gòn, đến khi nguy hiểm đã cận kề dù ông Võ Văn Kiệt khuyên ông có thể ra căn cứ nhưng ông vẫn quyết tâm ở lại để tổ chức vụ đảo chính cuối cùng. Việc lớn không thành, bị bắt và tra tấn dã man nhưng Phạm Ngọc Thảo vẫn không để lộ tung tích của mình. Cho đến lúc hy sinh, không ai biết ông là một chiến sỹ tình báo của ta. Nghe tin ông hy sinh, Bác Hồ và ông Lê Duẩn đã khóc. Sau này, trong dòng đề tựa trong cuốn Ván Bài Lật Ngửa, nhà văn Trần Bạch Đằng đã trân trọng viết "Tưởng nhớ anh Chín T. và những người đã chiến đấu hy sinh thầm lặng".


Tham khảo : Báo Quân đội Nhân dân, Báo Công an Nhân dân, Trang tin điện tử Bến Tre
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 08:28:20 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #64 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 05:09:44 AM »


Thượng tướng Trần Nam Trung (6.12.1912 - 20h17' 10.5.2009), nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Chính ủy Khu 5, Xứ ủy viên Xứ ủy Trung Bộ phụ trách quân sự. Ông còn là Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Ngoài ra ông từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Ủy ban thanh tra chính phủ, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Liên khu ủy Khu 5, Bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi và Bình Định. Ông là Đại biểu Quốc hội khóa 6.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Ðộc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ giải phóng (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 80 năm tuổi Ðảng.

Trung tướng (1961), Thượng tướng (1974)


Thượng tướng Trần Nam Trung tên thật là Trần Khuy, ngoài ra ông còn có tên khác là Trần Lương quê ơ xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức cùng quê với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Quảng Ngãi quê ông là một trong những mảnh đất địa linh đã sản sinh nhiều nhân kiệt cho đất nước. Từ nơi đây, Trương Định đã được sinh ra và lớn lên trước khi trở thành người anh hùng vũng vẫy sông nước Cửu Long, được nhân dân tôn vinh Bình Tây đại nguyên soái. Quê hương núi Ấn sông Trà còn là nơi chôn rau cắt rốn của nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng, các tướng lĩnh Nguyễn Chánh, Trần Văn Trà, Phạm Kiệt, Nguyễn Đôn…

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì ông sinh năm 1912, nhưng theo lời ông mà tác giả Phan Hoàng ghi lại trong cuốn Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam thì ông tuổi Giáp Dần tức sinh năm 1914, đây là năm sinh của rất nhiều tướng lĩnh nổi tiếng của quân đội như : Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Tướng Nguyễn Chánh, Đại tướng Lê Trọng Tấn, Tướng Huỳnh Văn Nghệ…

Gia đình ông vốn xưa làm nghề nông. Cha ông là một nông dân có chút học thức và am hiểu về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Dòng họ Trần của ông vốn di cư từ Nghệ An vào. Mẹ ông là con gái nhà giàu ở miền Trung du. Sau khi đậu Sơ học yếu lược, ông lên trường tỉnh học. Nhưng rồi cha ông quyết định đưa ông về quê thuê thày dạy chữ Nho, mong giữ gia phong sợ bị Tây hóa. Chính thầy giáo dậy chữ nho có nhiều ảnh hưởng tới ông khi dạy văn thơ yêu nước của các chí sĩ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và phong trào Đông Kinh nghĩa thục.

Nhờ tác động mạnh mẽ của Tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí hội, qua sự dìu dắt giới thiệu của người anh họ là Trần Cừ, năm 17 tuổi ông tham gia Liên đoàn Cộng sản đảng ở Nghệ An, về sau đổi thành tổ chức An Nam cộng sản đảng. Từ đó ông dấn thân vào con đường cách mạng, từ năm 1931 đến năm 1943, ông đã nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam, trải qua nhiều tra tấn và ngục tù. Tháng 4 năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt giam 1 năm. Sau khi ra tù, ông tiếp tục bắt liên lạc với tổ chức, bí mật xây dựng cơ sở, làm bí thư chi bộ rồi huyện ủy. Ít lâu sau, ông tiếp tục bị bắt và kết án 7 năm tù. Tuy nhiên, đến cuối năm 1934, ông ra tù, rồi lại bị bắt ngay sau đó vào năm 1935. Năm 1936, do ảnh hưởng của Mặt trận Dân chủ Pháp, ông được tha trước thời hạn, là Tỉnh ủy viên rồi Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi. Năm 1939, Chiến tranh Thế giới nổ ra, nước Pháp bị Đức chiếm đóng, ở Đông Dương phái dân chủ thất thế, phái hiều chiến lên cầm quyền, ông lại bị bắt đày lên Buôn Ma Thuột. Thời gian ở Buôn Ma Thuột, ông ở tù chung với các ông Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh.

Sau khi được tự do, năm 1944, thực dân Pháp đưa ông về an trí tại căng Ba Tơ, một huyện miền núi ở miền Tây tỉnh Quảng Ngãi, cùng nhiều nhà Cách mạng khác. Thời gian này, ông tham gia thành lập Ủy ban vận động cứu quốc tỉnh Quảng Ngãi và hoạt động ở khu căn cứ Ba Tơ, . Thời gian này ông lấy bí danh Trần Lương (theo gợi ý của mọi người vì ông thời trẻ mập mạp, mỗi lần cười híp cả mắt lại như mắt lươn) để hoạt động.

Ngày 11 tháng 3 năm 1945, khởi nghĩa Ba Tô nổ ra. Đây là một đồn lính khố xanh do một viên quan tư Pháp chỉ huy, một nha kiểm lý và một căng an trí cho những người cách mạng. Cán bộ nòng cốt của cuộc khởi nghĩa gồm các ông Trương Quang Giao, Nguyễn Chánh, Trần Quý Hai, Nguyễn Đôn, Phạm Kiệt…và ông. Kết quả là đội du kích Ba Tơ ra đời, đây là tiền thân của lực lượng vũ trang nhân dân khu 5 và Tây Nguyên sau này. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tác động mạnh đến phong trào đấu tranh chống Nhật vừa thay chân Pháp ở Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, lực lượng du kích Ba Tơ là nòng cốt chủ yếu hỗ trợ đồng bào nổi dậy giành chính quyền. Sau khởi nghĩa Ba Tơ thành công, ông được phân công giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy Quảng Ngãi và Bình Định.

Cách mạng tháng 8 thành công, từ 9/1945 đến 1946, ông giữ chức vụ Xứ ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ phụ trách quân sự. Từ tháng 9 năm 1946 ông lần lượt được cử giữ chức vụ Chính ủy Liên khu 5, Chính ủy Mặt trân Buôn Hồ, An Khê, Thường vụ Liên khu ủy Khu 5, Ủy viên Liên khu ủy Khu 5. Năm 1951, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Nguyễn Chí Thanh bị bệnh nặng, Trung ương gọi ông ra làm Phó chủ nhiệm thường trực để giúp đỡ ông Nguyễn Chí Thanh. Ông là trợ thủ đắc lực góp phần xây dựng Bộ thống soái của quân đội vững mạnh, trực tiếp vận động và chỉ huy việc cung cấp lương thực thực phẩm cho Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Tháng 3 năm 1955, ông Trương Quang Giao khi đó là bí thư Liên khu ủy bị bệnh nặng, ông được Trung ương điều từ Tổng cục chính trị vào làm Bí thư Liên khu 5. Đồng thời ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 2. Thời kì đó là thời kì Ngô Đình Diệm được Mỹ hậu thuẫn lên thay Bảo Đại nhằm khẳng định sự có mặt của Mỹ ở miền Nam Việt Nam thay thế Pháp. Với sự cố vấn của Mỹ, Ngô Đình Diệm đã tiến hành chiến dịch tố cộng khắp miền Nam. Hàng vạn người tham gia kháng chiến đã bị bắt bớ, tra tấn, tù đày bắn giết bởi Luật 10/59. Thời kì này ở Nam Trung Bộ cách mạng bị tổn thất nặng nề. Bốn mươi phần trăm tỉnh ủy viên, sáu mươi phần trăm huyện ủy viên bị tù đày và hy sinh. Thời kì này ông là một trong những nhân vật chủ chốt, góp phần quan trọng bảo vệ và phát triển lực lượng cách mạng miền Trung. Nhiều lãnh đạo và tướng lĩnh đã trưởng thành từ đây.

Năm 1960, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trước tình hình mới của cách mạng miền Nam, năm 1959, ông được điều vào chiến trường miền Nam tham gia tổ chức Xứ ủy Nam bộ lại thành Trung ương cục miền Nam. Sau đó ông ra Bắc công tác và được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng khóa 3. Tháng 5 năm 1961, ông trở vào Nam lần 2 với bí danh Trần Nam Trung cùng đoàn Phương Đông 1 do ông Trần Văn Quang làm trưởng đoàn, ông làm Chính ủy vượt Trường Sơn. Ông trực tiếp lo tổ chức, xây dựng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, tập hợp các trí thức yêu nước khác nhau, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân đánh Mỹ, do luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu. Ông là Ủy viên thường vụ Trung ương cục, phụ trách Bộ quốc phòng trong Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Thời kì đó miền Nam chưa có bộ đội chủ lực, vai trò chủ yếu của Bộ quốc phòng là lãnh đạo phong trào du kích và đấu tranh quần chúng.

Từ năm 1961 đến năm 1975, ông lần lượt trải qua các chức vụ: Uỷ viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam, Chính uỷ các Lực lượng Vũ trang Nhân dân Giải phóng miền Nam Việt Nam (1961), Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, phụ trách công tác dân vận, binh vận và mặt trận của Trung ương Cục (1964), Bộ trưởng Bộ quốc phòng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Bí thư Đảng đoàn chính quyền ở miền Nam (1969), uỷ viên Ban đại diện Đảng và Chính phủ tại miền Nam Việt nam, phụ trách khối công tác nội chính trong Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam (1975). Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 9 năm 1973, ông thay mặt Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đón chủ tịch Fidel từ Hà Nội vào thăm vùng đất mới giải phóng Quảng Trị.

Đất nước hoàn toàn thống nhất, sau hiệp thương tổng tuyển cử, ông được đề nghị phụ trách một bộ trong Chính phủ nhưng từ chối vì lí do ông chỉ quen đánh trận và làm công tác dân vận. Sau đó, ông thực hiện nhiều chuyến đi đến các quốc gia trên thế giới từng giúp đỡ Việt Nam trong những năm tháng kháng chiến để cảm ơn. Năm 1976, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Chính phủ cho đến khi nghỉ hưu (1982).

Gương mặt phúc hậu. Trán rộng, mắt nhỏ (mắt lươn) và sáng, phong cách điềm đạm, chân chất, nhiệt thành nhưng không mất đi vẻ oai phong của một vị tướng. Hai Hậu-Trần Nam Trung là cái tên quen thuộc nhất là với nhân dân miền Nam và đối phương trong thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cuộc đời chiến đấu của ông phần lớn gắn liền với chiến trường Nam Trung Bộ. Từng là trợ thủ đắc lực của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, góp phần xây dựng bộ thống soái của quân đội vững mạnh, rồi lại sát cánh cùng tướng Nguyễn Chí Thanh ở miền Nam, ông là ủy viên Trung ương Đảng góp phần lãnh đạo Trung ương cục, Quân ủy miền và các lực lượng vũ trang từng bước hoàn thành sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước.

Tham khảo: Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng), Bách khoa toàn thư Việt Nam, Báo Nhân dân.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Hai, 2011, 03:51:40 AM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #65 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 05:12:07 AM »


Đại tướng Đoàn Khuê (29/10/1923-16/01/1999), nguyên : Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương ; Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam ; Tư lệnh Bộ Tư lệnh 719 ; Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5 ; Phó Chính ủy Quân khu 4 ; Chính trị viên, Bí thư đảng ủy Trường lục quân Quảng Ngãi. Ngoài ra ông còn từng giữ các chức vụ : Đại biểu quốc hội (khóa 7, 8, 9, 10) , Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình.

Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương quân công hạng Nhất, Huân chương chiến công hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương quân kỳ quyết thắng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980), Thượng tướng (1984), Đại tướng (1990)


Quê nội của ông ở thôn Gia Đẳng, xã Triệu Lăng, huyện Triệu Phong và quên ngoại ông ở xã Mỹ Thủy, huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị. Đây vốn là các vùng quê nghèo, muốn đến các thôn làng phải lội bộ qua hàng chục cồn cát trắng như muối, nơi toàn nhà tranh vách đất, nơi chỉ có nước biển, mấy trời và cát trắng, ruộng khoai lang xanh ngắt. Nhân dân trong vùng quanh năm ăn khoai lang với cá biển trừ bữa.  Là vùng quê nghèo, nhưng đây là những vùng quê giàu truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng và hiếu học. Ông sinh ra trong một gia đình mà mẹ đẻ và dì đều là Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Dương có 5 con là liệt sĩ, còn dì ông có người con duy nhất là liệt sĩ.

Lúc còn nhỏ, ông đã theo học hết tiểu học rồi tiếp tục theo học trung học ở thị xã Quảng Trị. Trường tan, 16 tuổi ông đã cùng anh em trong nhà và nhiều người thân tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1939, ông tham gia Thanh niên phản đế ; tháng 8 năm 1940 là Bí thư thanh niên cứu quốc huyện Triệu Phong, Quảng Trị. Cuối năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Quảng Trị, sau dó bị đưa lên đày ở Buôn Ma Thuột. Đây là một trong những nhà tù lớn ở Đông Dương lúc bấy giời, nơi giam cầm nhiều nhà cách mạng mà sau này phần lớn họ trở thành những lãnh đạo cao cấp như các ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Quang, Trần Hữu Dực…

Gần 5 năm bị tù đày, chịu nhiều đòn tra tấn dã man của thực dân Pháp nhưng ông không khai báo nửa lời, sắt son với cách mạng. Trong thời gian này, ông được cử vào ban vận động của nhà 6, nơi tập trung số tù nhân mới, đồng thời có nhiệm vụ liên hệ với các bạn tù cũ ở nhà 3 và nhà 4. Đầu tháng 4 năm 1942, các tù nhân không đi làm việc để phản đối chế độ hà khắc của nhà đày, đòi cải thiện sinh họat. Được lệnh của viên công sứ, quản ngục dồn tất cả phạm nhân tham gia đấu tranh vào lao 2, ráo riết đàn áp. Trong các đợt khủng bố này, ông đã thể hiện tinh thần dũng cảm, kiên cường, hết lòng bảo vệ các bạn tù. Cuộc đấu tranh kéo dài được 3 tuần cuối cùng đã thắng lợi khiến cho viên công sứ, quản ngục phải nhượng bộ, một số chế độ sinh hoạt được giải quyết.

Sau các cuộc vượt ngục thành công và không thành công trong năm 1942, thực dân Pháp tăng cường các biện pháp bảo vệ nhà đày Buôn Ma Thuột, đưa viên giám ngục khét tiếng tàn ác Mút-sin trở lại cai quản phạm nhân. Ông được tổ chức phân công làm công tác binh vận binh lính và sĩ quan người Ê-đê. Để thuận lợi cho nhiệm vụ, ông học tiếng Ê-đê, Gia Lai, M’Nông. Nhiều sĩ quan và binh lính người dân tộc được giác ngộ ngày càng có cảm tình với các phạm nhân chính trị, với cách mạng. Trong số họ sau này nhiều người trở thành những cán bộ cách mạng, chỉ huy quân đội ở Đắc Lắc, một số là sĩ quan cao cấp của quân đội : đội Hột mít, Cai học trò, Đội sông cầu, Quan Lé (người lãnh đạo cách mạng có uy tín ở Tây Nguyên sau này từng giữ trọng trách Phó Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam), Yblok Eban (thiếu tướng)…

Đầu năm 1943, để trả thù cuộc vượt ngục của các ông : Tống, Tuy, Nhân và răn đe những người khác, Mút-sin đã bắt chết bốn ông : Hàn, Mai, Tiệp và Liễn. Ban lãnh đạo nhà tù quyết định phát động cuộc đấu tranh phản đối hành động của viên giám ngục. Đoàn Khuê ngoài nhiệm vụ binh vận còn làm việc trong nhà bếp đã khôn khéo tiếp tế ruốc, thịt, muối ớt cho những người trực tiếp đấu tranh. Trước sự phản ứng mạnh mẽ của tù nhân, có cả binh lính tham gia, viên giám ngục Mút-sin phải rời nhà đày Buôn Ma Thuột. Cuộc đấu tranh giành thắng lợi. Sau đó ban lãnh đạo nhà tù tổ chức học tập văn hóa, lý luận, chính trị quân sự ; phát triển công tác vận động binh lính, định kế hoạch vượt ngục tiếp tục hoạt động cách mạng. Cơ quan lãnh đạo được tăng cường một số cán bộ trong đó có ông. Nhà tù thực dân trở thành trường học cách mạng, rèn luyện ý chí đấu tranh, nơi ông học những bài học đầu tiên về quân sự.

Tháng 5 năm 1945, ông được ra tù và được phân về hoạt động xây dựng phong trào cách mạng ở tỉnh Quảng Bình. Tháng 6 năm 1945, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông dương (nay là Đảng cộng sản Việt Nam) và được cử làm Chủ nhiệm Việt Minh tỉnh Quảng Bình.  Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ông tham gia thành lập tỉnh ủy Quảng Bình và giữ cương vị Ủy viên Quân sự.Từ tháng 8 năm 1946, ông là Chính trị viên, Bí thư Đảng ủy Trường lục quân Quảng Ngãi, Bí thư đảng ủy Tiểu đoàn Hồ Hích Quảng Ngãi. Từ tháng 4 năm 1947, ông là Chính trị viên Trung đoàn 69, 73, 78, 126 và 84 Liên khu 5, Bí thư đảng ủy Trung đoàn, Ủy viên thường vụ Ban cán sự Đắc Lắc. Sau đó, từ tháng 5 năm 1953, ông là Chính ủy Trung đoàn 108, Bí thư Trung đoài rồi Phó chính ủy Sư đoàn 305 Liên khu 5.

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, từ cuối năm 1954 đến năm 1957 ông là Phó chính ủy Sư đoàn 675, Chính ủy Sư đoàn 351, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn. Từ tháng 3 năm 1958 đến năm 1960, ông là Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Lữ đoàn 27 (hay còn gọi là Lữ đoàn giới tuyến), Ủy viên Đảng ủy Quân khu IV quân hàm Thượng tá. Từ tháng 10 năm 1960, ông là Phó chính ủy Quân khu IV, Quân khu ủy viên. Từ đầu năm 1963 đến năm 1975, ông hoạt động ở chiến trường khu V, là Phó chính ủy Quân khu, Ủy viên Thường vụ khu ủy Khu V, Phó bí thư Quân khu ủy.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (tháng 12/1976), ông được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ năm 1977 đến năm 1980, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu V, Bí thư Đảng ủy Quân khu. Thời kì này lực lượng Fulro ở Tây Nguyên hoạt động mạnh. Ban đầu chủ trương là truy quét bằng quân sự với quy mô lớn. Song thực tế hiệu quả lại rất thấp. Trên cương vị Chính ủy quân khu, ông chủ trương chuyển từ nhận thức ‘’truy quét’’ sang ‘’giải quyết Fulro’’, tiến hành đồng bộ cả giáo dục chính trị, xây dựng cơ sở, thực hiện đồng bộ các chính sách kinh tế, xã hội cùng với các biện pháp quân sự và chuyên môn nghiệp vụ của các ngành chuyên môn. Từ đó Fulro ra đầu thú nhiều, nội bộ nhân dân các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên được ổn định, an ninh chính trị được giữ vững.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (tháng 3/1982), ông được bầu làm ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1983 ông giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh 719, Phó trưởng đoàn Chuyên gia giúp Cam pu chia. Cuối năm 1986, ông được Nhà nước bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh 719, Trưởng ban lãnh đạo Đoàn Chuyên gia giúp Cam pu chia. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị.

Năm 1987, ông được Nhà nước bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, được cử làm Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương. Từ tháng 8 năm 1991, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (tháng 6/1996), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị, được cử làm Phó bí thư Đảng ủy quân sự Trung ương.

Có thế nói thời gian ông giữ chức vụ cao trong quân đội Thứ trưởng rồi Bộ trưởng là một thời kỳ hết sức nhạy cảm và phức tạp của đất nước, thời điểm mà ta phải hết sức khéo léo về mọi mặt, thời điểm mà ngoại giao và chính trị phải được đề cao. Tại thời điểm đó, ông là vị tướng chính trị đầu tiên ở nứoc đảm đương vai trò người đứng đầu quân đội, và chất chính trị trong đã được ông phát huy tối đa.

Là thời kì mà các vấn đề về biên giới biển đảo và lãnh thổ hết sức căng thẳng. Dấu chân ông có mặt ở khắp mọi miền Tổ quốc : tưc các tỉnh địa đầu phía Bắc như Lai Châu, Hà Giang, Quảng Ninh đến các tỉnh ở miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến các tỉnh ở Tây Nguyên, các tuyến đảo ở Trường Sa, Côn Đảo, Phú Quý đến Phú Quốc, Thổ Chu…Ông rất quan tâm đến các địa bàn vùng sâu vùng xa nói chung và Trường Sa nói riêng, đặc biệt là sinh hoạt của cán bộ chiến sĩ đang ngày đêm gìn giữ và bảo vệ biển đảo của Tổ quốc. Với 2 lần ra với Trường Sa, ông là vị Bộ trưởng Quốc phòng ra đảo nhiều nhất.

Đó cũng là thời kì nước ta bắt đầu đường lối ngoại giao mở cửa, sau một thời gian bị cô lập về ngoại giao bởi các nước phương Tây, thời kì Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ. Những vấn đề đặt ra trong thời kì mới này đòi hỏi quân sự cũng phải chuyển mình đáp ứng kịp thời, nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc. Muốn vậy thì phải phá thế cô lập, mở rộng quan hệ…phải coi trọng vấn đề chính trị, ngoại giao trong công tác quân sự. Trên cương vị Bộ trưởng quốc phòng thời kì này, ông là Bộ trưởng quốc phòng đi thăm nhiều nước bên ngoài nhất. Quân đội các nước mở quan hệ với nước ta qua tùy viên quân sự từ 12 tăng lên tơi gần 30 nước. Mềm dẻo khôn khéo trong ngoại giao ông lại rất cứng rắn trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Chuyến thăm Trung quốc của ông là một cái mốc quan trọng trong quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam Trung Quốc sau một thời gian căng thẳng.

Tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam; Trài tim thắp lửa (Huy Phan).
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:03:35 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #66 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 05:14:06 AM »


Trung tướng Dương Cự Tẩm (1921), nguyên : Phó Tư lệnh Quân khu 7, Chính ủy Quân khu 7, Chính ủy Quân khu 8, Phó Chính ủy Quân khu 9, Cục phó Cục chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Quân công Giải phóng hạng Nhất, Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ Vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Giải phóng (Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1984)


Trung tướng Dương Cự Tẩm quê ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình. Theo mẹ ông thì ông tuổi Tuất (sinh năm 1922), nhưng giấy khai sinh tiểu học của ông lại đề sinh năm 1924, còn theo tuổi nghỉ hưu là năm 1921. Ông sinh ra trong một gia đình mà tổ tiên vốn theo cụ Nguyễn Công Trứ vào khai hoang ở đất Kim Sơn, Ninh Bình. Cha ông là một nhà nho, làm thuốc Đông y. Mấy ông chú ông thì đều theo Tây học.

Khi còn nhỏ, ông học tiểu học ở Kim Sơn, có một năm theo học trường dòng Phát Diệm. Năm 1939, ông vào học ở trường kỹ nghệ Hà Nội, được giác ngộ và tham gia phong trào cách mạng phản đế ở trường. Vì tổ chức bí mật của học sinh yêu nước bị vỡ, năm 1939 ông bị bắt cùng một nhóm thanh niên học sinh Hà Nội, trong đó có các ông Nguyễn Văn Kha (sau này là Bộ trưởng Bộ công nghiệp), ông Hòe (sau này làm Chủ tịch thành phố Hải Phòng, rồi Trưởng Ban kinh tế Trung ương). Các ông bị chính quyền thực dân đưa ra tòa án quân sự. Nhờ Luật sư Phan Anh cãi kịch liệt, với lí do ông mới 17 tuổi, nên ông chỉ bị đưa đi cải tạo trẻ vị thành niên ở Bắc Giang. Năm 1943, ông bị đưa về quản thúc tại địa phương, gia đình tổ chức cho ông trốn lên huyện Yên Mô dạy học tư kiếm sống và tiếp tục hoạt động cách mạng.

Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, ông được ông Trần Văn Tuyên phân công phụ trách Công đoàn Hà Nội. Khi đó ông Trần Văn Tuyên trên cương vị chủ tịch Tổng Công đoàn Việt Nam đã trực tiếp giới thiệu ông vào Đảng. Trên cương vị được giao, ông dẫn đầu đoàn đại biểu công nhân Thủ đô-đoàn đại biểu quần chúng cách mạng đầu tiên vào Phủ Chủ tịch để tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tháng 11 năm 1945, ông cùng các ông Lê Thiệu Huy-sinh viên khoa Luật, Hoàng Xuân Bình và Lê Trọng Thời là sinh viên Y khoa, được Bộ Quốc phòng phái sang Thai Lan tiếp tế cho Nam Bộ đánh Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam. Ông được ông Vũ Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng tin tưởng viết giấy sang ngân hàng nhận nửa triệu tiền Đông dương, tương đương 1000 lượng vàng-trong điều kiện khó khăn của chính quyền non trẻ bấy giờ, đây là một số tiền rất lớn.

Vượt qua đất Lào. Trước tiên các ông hẹn nhau ở Huế. Ông là Đảng viên duy nhất trong đoàn nên được phân công giữ tiền và được Bộ Quốc phòng cấp cho một thẻ ‘’hỏa tốc’’ đặc biệt ưu tiên. Muốn sang Thái Lan phải qua Savannakhet, mà lúc đó, quân Pháp đã trở lại Nam Lào, cắt đứt con đường này. Nhưng theo quy định từ vĩ tuyến 17 trở đi thuộc quyền kiểm soát của quân đội Tưởng Giới Thạch. Bộ Chỉ huy quân sự Huế làm cho ông một căn cước giả và ông ăn mặc giả người Tàu để đi, ông đi cùng xe với một Thiếu úy quân Tưởng. Đến Savannakhet, ông Nguyễn Văn Tiến Chủ tịch Tổng hội Việt kiều ở Thái Lan đã chờ sẵn đón ông.

Do Trung ương chỉ đạo tổ chức giúp Lào khởi nghĩa giành chính quyền. Vì thiếu cán bộ, ông Nguyễn Văn Tiến đề nghị với Hà Nội để ông ở lại làm Chính trị viên Bộ Chỉ huy Việt kiều Giải phóng quân tỉnh Thakhet (12.1945). Ông Nguyễn Chánh (sau này là Trung tướng, khác với ông Nguyễn Chánh nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 5) là lính khố xanh của Pháp, sau cách mạng đã đưa lính về gia nhập Giải phóng quân, được phân công làm Chỉ huy trưởng.

Cuối tháng 9 năm 1945, sau khi gây hấn ở Nam Bộ, quân Pháp đã trở lại chiếm đóng Campuchia và các tỉnh Hạ Lào. Sau hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, từ Nam Lào, quân Pháp tập trung lực lượng lớn tấn công lên phía Trung và Bắc bằng máy bay, xe tăng, cơ giới. Các thành phố, thị xã Viêng Chăn, Savannakhet và Thakhet bị bao vây. Liên quân Lào Việt đã chống trả ngoan cường. Nhưng do quân Pháp quá mạnh, liên quân chống cự một thời gian thì phòng tuyến bị chọc thủng.

Đêm 23 tháng 3 năm 1946, liên quân đánh yểm trợ cho đồng bào rút lui vượt sông Mêkông sang Thái Lan. 6 vạn Việt kiều ở ba tỉnh lớn của Lào cũng cùng di cư. Quân Pháp tập kích, Hoàng thân Suphanuvong bị thương nặng khi qua sông. Ông Lê Thiệu Huy che cho hoàng thân trúng đạn hy sinh ngay trên canô. Quân cách mạng tổn thất khá nặng, đồng bào di cư cũng bị thiệt mạng khá nhiều. Chính phủ Thái Lan yêu cầu Quân giải phóng giao nộp vũ khí, nhờ Tổng hội Việt kiều ngoại giao tốt với chính quyền địa phương, nên chỉ phải giao nộp tượng trưng, còn phần lớn đều được cất giấu.

Tháng 5 năm 1946, có lệnh tập hợp lực lượng quân giải phóng chiến đấu ở Lào.Ông cùng các ông Nguyễn Chánh, Lê Quốc Sản (thiếu tướng), Đỗ Huy Rừa được giao nhiệm vụ tổ chức, huấn luyện. Tại chiến khu Noong Kè, trong vòng mười ngày, các ông đã chọn lựa và tập trung được hơn 400 chiến sĩ trong số những người từ những cơ sở Việt kiều, thành chi đội Trần Phú. Ông Nguyễn Chánh làm Chi đội trưởng, ông làm Chính trị viên (12.1946), hai hông Lê Quốc Sản và Tô Huy Rứa làm Chi đội phó. Chi đội được tổ chức thành 4 đại đội, hoạt động dưới danh nghĩa công nhân làm đường để che măt chính quyền Thái Lan ở Trung ương. Qua Tổng hội Việt kiều, các ông nhận thầu xây dựng một con đường dài mười cây số từ Noong Kè ra Phanôm. Ban ngày làm đường, ban đêm bí mật ra đồng đã gặt để tập luyện. Hậu cần đều do bà con Việt kiều tiếp tế.

Ngày 20 tháng 12 năm 1946, đơn vị hành quân bằng xe bus chở khách từ ThatPhanôm đến tập kết ở khu rừng gần Mường Dêk, Đông Nam Thái Lan. Ngày 26 tháng 12, Chi đội làm lễ xuất phát tiến về biên giới Thái Cam, vượt qua dãy núi Đăng Rek dựng đứng, rồi hành quân về hướng phum Presenke trên bờ sông Mêkông thuộc tỉnh Kimpông Chàm để về Tây Ninh. Ban chỉ huy Chi đội lúc này gồm các ông Nguyễn Chánh (tư lệnh), Lê Quốc Sản và Đỗ Huy Rừa Phó tư lệnh, Trần Văn Sáu ủy viên thường vụ tỉnh ủy Trà Vinh sang Thái Lai mua vũ khí làm Chính trị viên, Lê Quán Trung (Hải Nam) và ông là chính trị viên phó, Sơn Ngọc Minh cán bộ cách mạng Campuchia làm cố vấn. Chi đội tổ chức thành ba đại đội chiến đấu, một phân đội vận tải và đoàn bộ gồm tất cả 426 người.

Về tới Tây Ninh, chứng kiến cảnh nồi da xáo thịt của một bộ phận Cao Đài phản động, chi đội đã đề nghị tỉnh ủy cho phép lấy danh nghĩa một đơn vị hải ngoại về nước, ra lời kêu gọi đoàn kết gửi đến các chức sắc, tín đồ Cao Đài. Tháng 3 năm 1947, Hải ngoại 4 của các ông tham gia liên quân B với Chi đội 11 bộ đội Hoàng Thọ, hành quân chiến đấu ở Gò Dầu và Trảng Bảng thuộc Tây Ninh. Đặc biệt có một phân đội đi bảo vệ hai ông Nguyễn Chánh, Trân Văn Sáu về Bộ Tư lệnh quân khu 7 trình diện nhận nhiệm vụ đã đánh hai trận vang dội tại giồng Dinh và giồng Thổ Địa. Cả 2 trận chống quân Pháp nhảy dù đều thắng lớn, tiêu diệt gần 2 đại đội Pháp thu nhiều súng đạn. Sau đó, chi đội hải ngoại 4 được phân công về hoạt động tại Quân khu 8. Cuối năm 1948, chi đội hải ngoại 4 về khu 8 bổ sung quân số đồng thời thành lập Trung đoàn 109, do ông Nguyễn Chánh làm Trung đoàn trưởng, ông đựoc cử làm chính trị viên Trung đoàn.

Từ tháng 4 năm 1947, ông là Chính trị viên Trung đoàn 109, Tỉnh đội Sa Đéc, rồi Chính trị viên các Trung đoàn 109, 111 (1950). Đầu năm 1951, khi quân của Leon Leroy tấn cống và bình định Bến Tre, gây cho cách mạng của tỉnh gặp rất nhiều khó khăn. Trước tình hình này, Khu ủy Khu 8 đã tăng cường chỉ đạo, chi viện cho tỉnh về mọi mặt. Nhiều cán bộ có năng lực được tăng cường cho Bến Tre. Ông Đỗ Phát Quang làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh, ông Đồng Văn Cống (Trung tướng) tỉnh đội trưởng, ông Võ Tấn Nhựt tỉnh đội phó, Nguyễn Văn Yên trưởng ty công an, còn ông được phân công làm Chính trị viên tỉnh đội.

Năm 1954, sau hiệp định Giơnevơ, ông ra Bắc làm Chính trị viên Trung đoàn 1 miền Tây Nam Bộ, rồi Chủ nhiệm chính trị Sư đoàn 332 đi tiễu phỉ ở biên giới Lạng Sơn trong 2 năm. Sau đó ông về công tác ở Tổng cục chính trị. Từ năm 1956 cho đến khi lên đường quay lại Nam chiến đấu, ông lần lượt là: Phó Chính ủy, Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 338, rồi về công tác tại Cục Tổ chức, Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị (1960 - 1963). Năm 1962, ông đi chiến dịch Nậm Thà bên Lào làm chủ nhiệm chính trị chiến dịch mà ông Bằng Giang (Trung tướng) làm tư lệnh, ông Trần Độ (Trung tướng) làm chính ủy.

Tháng 7 năm 1964, ông bí mật vượt biển vào Nam, đổ bộ lên đất Bến Tre cùng các ông Lê Văn Ngọc, Lê Văn Lựu… Về Bộ chỉ huy miền, ông được cử làm Cục phó Chính trị Quân giải phóng miền Nam (1964 - 1966). Đến năm 1966 ông về làm Chính ủy Sư đoàn 7 do ông Nguyễn Hòa (Trung tướng) làm Tư lệnh. Để chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968, ông được điều xuống Quân khu 9 làm phó Chính ủy Quân khu do ông Đồng Văn Cống làm Tư lệnh, tham gia mặt trận tiền phương ở Cần Thơ.

Năm 1969, ông về làm Chính ủy Quân khu 8, đi chiến trường nghiên cứu chống bình định trọng điểm của địch ở Mỹ Tho. Năm 1974, ông lại lên làm Chính ủy Quân khu 7 chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Cuối năm 1974, ông đang chuẩn bị lên đường ra Bắc sau hơn chục năm xa gia đình thì được ông Lê Đức Anh (Đại tướng, Chủ tịch nước) tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Bộ chỉ huy miền gọi về chuẩn bị cho nhiệm vụ mới. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ông tham gia ở cánh quân Đông với nhiệm vụ đón Quân đoàn 2 và chọn người dẫn đường đưa xe tăng tiến vào dinh Độc lập.

Năm 1976, ông được trên điều về làm Chính ủy Trường Sĩ quan Lục quân. Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra (1979), ông và ông Năm Ngà (Thượng tướng Nguyễn Minh Châu) là Phó Tư lệnh, Phó Tư lệnh Quân khu 7 phụ trách chung 2 mặt trận tiền phương của quân khu : Siêm Riệp do ông Hồ Quang Hóa làm tư lệnh và Kompông Chàm do ông Đặng Quang Long làm tư lệnh, cùng tiến vào giải phóng Campuchia khỏi họa diệt chủng. Trung tướng Dương Cự Tẩm về hưu năm 1989.

Ông được phong quân hàm Trung tướng năm 1984 khi đang là Phó tư lệnh Quân khu 7. Ông xứng đáng là một trong những tướng lĩnh kì cựu của Nam Bộ trong suốt hai cuộc kháng chiến với bí danh Năm Thanh. Nhà báo Phan Hoàng có thơ tặng ông rằng :

Đặc phái viên thành kiều bào
Lập liên quân giúp nước Lào giải vây
Viện binh Nam Bộ đánh Tây
Mê hò sông Hậu vướng dây tơ hồng.

Tham khảo : Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng), Bảo tàng Lịch sử Quân sử Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 09:51:44 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #67 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 05:15:57 AM »


Trung tướng Lê Tự Đồng (1920 - 20h50' 28.3.2011), nguyên: Phó Giám đốc Chính trị Học viện Quân sự cấp cao, Chính ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4, Tư lệnh-Chính ủy kiêm Bí thư đảng ủy Quân khu Trị Thiên, Chính ủy Mặt trận B5, Phó Chính ủy Quân khu Hữu ngạn, Phó Chính ủy Học viện Quân chính, Chính ủy Trường sĩ quan lục quân, Chính trị viên Phân khu Bình Trị Thiên. Ngoài ra ông còn là: Đại biểu Quốc hội khóa 6, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên.

Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến công giải phóng (hạng Nhất, Nhì), Huân chương Chiến sĩ Giải phóng (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng Môn-ca-đa do nhà nước Cu Ba trao tặng, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng...

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982).


Trung tướng Lê Tự Đồng tên thật là Lê Tự Đắc sinh ra tại làng Kim Long nay là phường Kim Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam thì ông sinh vào năm 1920 nhưng theo tác giả Phan Hoàng trong cuối Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam thì ông tuổi Mùi tức sinh năm 1919. Ông là con thứ 3 trong một gia đình có 5 chị em. Cha ông là viên chức sở canh nông, mất sớm. Một mình mẹ ông tần tảo làm ruộng, buôn bán nuôi các con và mất vào năm 1947. Anh ông là ông Lê Tự Nhiên sớm tham gia các hoạt động cách mạng sau này từng giữ các chức vụ Ủy viên thường vụ Thành ủy Sài Gòn-Chợ Lớn, rồi Ủy viên thường vụ khu ủy Trị Thiên rồi hy sinh.

Ông cùng các anh chị em phải bươn trải từ nhỏ. Vừa học vừa làm thợ may kiếm sống, ông bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng (bí mật vận động thanh niên) khi vào học ở Trường kỹ nghệ thực hành Huế (1937) trong phong trào Thanh niên Dân chủ. Do những hoạt động cách mạng của mình, năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ, bị kết án 5 năm tù khổ sai, sau tăng thêm 10 năm rồi bị đày đi Buôn Mê Thuột. Cùng bị bắt trong đợt với ông có ông Lê Chưởng (Thiếu tướng)-người được Xứ ủy Trung kỳ giao cho phụ trách thành phố Huế. Thời gian ở tù tại Buôn Mê Thuột, ông được ông Trương Văn Lĩnh (vốn là sĩ quan của Tưởng Giới Thạch khi ở Trung Quốc) truyền đạt những kiến thức cơ bản về quân sự: lí thuyết và thực hành, đội hình chiến thuật, giàn đội hình, các động tác tiến lui trong phạm vi một tiểu đội. Nhờ đó, sau khi được tự do ông được phân công làm công tác quân sự.

Tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, ông vượt ngục về tiếp tục hoạt động ở Thừa Thiên. Trong cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là Ủy viên Ban khởi nghĩa phụ trách công tác binh vận đồng thời là Ủy viên Ban Chấp hành Việt Minh (4.1945 - 7.1945). Nhờ ông Tôn Quang Phiệt, một trí thức yêu nước có uy tín, ông đã liên hệ được với ông Phan Tử Lăng (sau này là Đại tá) chỉ huy trưởng bảo an Trung Kỳ của chính phủ Trần Trọng Kim. Ông cử người vào các đồn bảo an vận động binh lính. Đồng thời bộ phận binh vận dưới sự lãnh đạo của ông đã đặt cơ sở và cách mạng hóa được nhiều học viên của Trường thanh niên tiền tuyến một trường mà học viên toàn những trí thức, con em của quan lại nhà Nguyễn do chính phủ Trần Trọng Kim mở ra. Khi cách mạng tháng 8 nổ ra sinh viên của trường này đã góp phần không nhỏ cho khởi nghĩa giành chính quyền tại thành phố Huế mà nhiều người trong số đó đã trở thành những tướng lĩnh của Quân đội: Phan Hàm, Phan Hạo, Đoàn Huyên, Võ Quang Hồ, Mai Xuân Tần, Cao Văn Khánh...

Cách mạng tháng 8 thành công, ông được bầu vào Ủy ban Nhân dân cách mạng lâm thời Thừa Thiên, là Bí thư Tỉnh ủy,  phụ trách quân sự, và tham gia Ủy ban Nhân dân Cách mạng (8.1945 – 1946). Ngay sau khi cách mạng thành công, ông nhận nhiệm vụ quan trọng là tổ chức đưa Hoàng thân Suphanuvong từ Huế về Lào trực tiếp chỉ đạo cách mạng Lào. Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Khu 4 được thành lập do các ông Lê Thiết Hùng (Thiếu tướng) rồi Nguyễn Sơn (Thiếu tướng) thay nhau làm khu trưởng, ông Trần Văn Quang (Thượng tướng) làm Chính ủy, ông được phân công nhiệm vụ đặc phái viên quân sự ở Huế. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông tham gia chỉ huy và chiến đấu ở mặt trận Huế trên cương vị Chính ủy Trung đoàn 101 Trần Cao Vân là đơn vị chủ lực của Huế. Tháng 11 năm 1947, mặt trận Huế bị vỡ do tương quan lực lượng giữa ta và Pháp quá chênh lệch, ông cùng Trung đoàn rút về chiến khu Hòa Mỹ và là lực lượng chủ chốt xây dựng và củng cố vùng chiến khu sau đó ông ra Thanh Hóa theo học ở Trường Quân chính liên khu.

Sau đó, ông được cử tham gia Đoàn đại biểu quân sự Liên khu 4 do Chính ủy Trần Văn Quang làm trưởng đoàn, ra Việt Bắc dự hội nghị rèn cán chỉnh quân rồi được cử ở lại học một khóa quân sự tại Thái Nguyên, sau dời lên Tam Đảo do 2 ông Trần Tử Bình và Lê Thiết Hùng phụ trách. Sau đó ông vượt sông Hồng, qua Hà Đông vào Thanh Hóa nhận nhiệm vụ ở Khu 4. Ông được Tư lệnh Quân khu Nguyễn Sơn phân công giữ chức vụ Chính trị viên Phân khu Bình Trị Thiên Liên khu 4, Tỉnh đội Thừa Thiên Huế kiêm Chính ủy Trung đoàn 101 (1946-1948). Đầu năm 1948, sau khóa học, ông được phân công về làm Chính ủy Trung đoàn 77 Thanh Hóa do ông Hùng Sơn làm Trung đoàn trường. Từ năm 1949 đến tháng 6 năm 1951, ông tiếp tục quay về làm Chính ủy Trung đoàn 101 Thừa Thiên.

Mùa xuân 1950, thực hiện chủ trương của cấp trên, 2 trung đoàn 95 và 101 vào hoạt động ở vùng sâu Quảng Điền. Để chỉ huy thống nhất 2 đơn vị, Bộ chỉ huy Phân khu Bình Trị Thiên chỉ định ông Lê Bá Vận làm Chỉ huy trưởng, ông làm Chính ủy. Tháng 9 năm 1950, ta mở chiến dịch Biên Giới. Nhằm phối hợp tích cực với chiến trường chính theo chỉ thị của cấp trên, đơn vị của ông đã bất ngờ phục kích đoàn tàu quân sự của Pháp tại Như Sơn Bến Đá (trước đó đoạn đường sắt Huế-Quảng Trị, Đà Nẵng-Huế bị đánh liên tục còn đoạn này chưa bị đánh bao giờ) và giành thắng lợi lớn: đốt đoàn tàu, thu toàn bộ vũ khí, đặc biệt trong đó có khẩu Bô-pho 40 ly với trên 3000 viên đạn. Sau đó Trung đoàn 101 được giao nhiệm vụ vừa chủ động tác chiến bảo vệ mùa màng. Cụ thể là "công đồn diện viện" nhằm phá vỡ một mảng trong hệ thống đồn bốt Pháp nhằm đẩy mạnh phong trào kháng chiến, lấn sát vào thành phố Huế.

Trong khoảng thời gian từ tháng 7 năm 1951 đến tháng 2 năm 1953, ông là Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận Bình Trị Thiên, Khu ủy viên dự khuyết Khu 4. Tháng 7 năm 1953, ông được cử giữ chức Phó Chính ủy Phân khu Bình Trị Thiên, Đại đoàn 325 (Đại đoàn Bình Trị Thiên). Sau đó, tháng 1 năm 1955, ông được cử giữ chức Chính ủy Đại đoàn 316.

Tập kết ra Bắc, ông được cử sang học ở Học viện Quân chính Lê-nin từ năm 1956 đến năm 1961 cùng các ông Đặng Vũ Hiệp, Vũ Chí Đạo... Sau khi về nước ông là chủ nhiệm khoa của rồi Phó Chính ủy phụ trách Khối Chính trị Học viện quân chính, rồi được bầu làm Bí thư Đảng ủy Học viện (2.1961 – 11.1962), Chính ủy Trường sĩ quan Lục quân ở Sơn Tây (12.1962 – 8.1968 ) cho đến tháng 9 năm 1968 là Phó Chính ủy Quân khu Hữu Ngạn (9.1968 – 4.1969). Cuối năm 1968 ông vượt sông Bến Hải vào Chiến trường Trị Thiên giữ chức vụ Phó Chính ủy Quân khu 4 kiêm Chính ủy Mặt trận B5 (5.1969 – 11.1972).

Trong chiến dịch Đường 9 Nam Lào (mặt trận 702), B5 dưới sự chỉ huy của ông tấn công quân Mỹ ở Sa Mưu - Tân Lâm - Khe Sanh, rồi đánh tạt ngang sườn khi địch rút chạy khỏi bản Đông tiêu diệt gần 2000 địch. Chiến thắng Đường 9 Nam Lào mở ra khả năng thực tế đánh bại hoàn toàn âm mưu Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ. Nhận định lực lượng cách mạng của 3 nước Đông Dương đã lớn manh, Trung ương chủ trương mở cuộc tấn công chiến lược 1972, nhằm tiêu hao phần lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng, đưa cuộc kháng chiến lên một bước mới với B5: nếu điều kiện thuận lợi sẽ giải phóng hoàn toàn Trị Thiên Huế. Bộ Tư lệnh chiến dịch được hình thành do ông Lê Trọng Tấn làm tư lệnh, ông Lê Quang Đạo chính ủy, ông Cao Văn Khánh Phó Tư lệnh và ông là Phó Chính ủy. Đồng thời, ông cùng ông Giáp Văn Cương được giao phụ trách trực tiếp hướng Nam.

Sau chiến dịch Quảng Trị, tháng 12 năm 1972 ông được phân công làm Chính ủy kiêm Bí thư Quân khu ủy Quân khu Trị Thiên. Từ năm 1974 đến 1975, ông được phân công giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên, kiêm Bí thư Khu ủy. Nhân dịp Chủ tịch Cuba Phidel sang Việt Nam và vào thăm Quảng Trị vừa giải phóng, ông thay mặt Quân khu Trị Thiên tặng một khẩu 106,7 ly.

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ông được cử giữ chức vụ Bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên. Rồi cho đến 1976, được điều ra giữ chức vụ Chính ủy Bí thư Quân khu ủy Quân khu 4. Đến năm 1977 thì được điều ra Hà Nội làm Phó Giám đốc Học viện Quân sự cấp cao cho tới khi về hưu 1990.

Nói đến chiến trường Thị Thiên là người ta nghĩ ngay đến một chiến trường giáp ranh ác liệt, với những trận đụng độ nảy lửa, nhiều con người bình thường đã trở thành anh hùng, nhiều anh lính binh nhất bình nhì trở thành tướng lĩnh. Một trong những vị tướng trụ lâu nhất ở chiến trường Bình Trị Thiên thời chống Pháp và Trị Thiên thời chống Mỹ chính là ông-Trung tướng Lê Tự Đồng. Trở thành chỉ huy quân sự đầu tiên của thành phố Huế sau Cách mạng tháng Tám, ông cũng là người chỉ huy trực tiếp cuối cùng khi chiến tranh kết thúc trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu Trị Thiên. Vì vậy ông xứng đáng được goi là vị tướng của chiến trường Trị Thiên Huế.

Tham khảo : Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Báo Nhân dân, Báo Thừa Thiên.
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 10:19:25 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #68 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 05:18:42 AM »


Trung tướng Nguyễn Hòa (Trần Doanh, 1927), nguyên: Tư lệnh Quân đoàn I, Phó Tư lệnh Quân khu 5, Phó Tư lệnh Mặt trận B3, Phó Tư lệnh Đoàn 559-Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Phó Tư lệnh Quân khu 4 kiêm Phó Tư lệnh Mặt trận B5, Sư đoàn trưởng đầu tiên của Sư đoàn 5 và Sư đoàn 7.

Ngoài ra ông còn là: Đại biểu Quốc hội Khóa 8 (Phó trưởng ban Kế hoạch và ngân sách của Quốc hội), Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 5, Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí.

Huân chương Độc lập hạng Nhất, 2 Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương chiến sĩ vẻ vang, Huân chương chiến sĩ giải phóng, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1980)


Trung tướng Nguyễn Hòa quê ở xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Trước cách mạng tháng 8, ông theo học trường Cao đẳng tiểu học Đông Dương (còn gọi là trường Đỗ Hữu Vị). Sớm được giác ngộ cách mạng (từ năm 1944), ngày 19 tháng 8 năm 1945 ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Thụy Yên.

Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, ông được cử đi học Trường quân chính kháng Nhật ở Việt Bắc. Tháng 3 năm 1946, Bộ Tổng tham mưu điều ông về làm Chánh văn phòng Khu quân sự đặc biệt Hà Nội, sau đổi tên thành Khu 11. Cùng với những chiến sĩ quyết tử Thủ đô chiến đấu bảo vệ Hà Nội trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.

Sau 60 ngày đêm chiến đấu anh dũng, Nguyễn Hòa cùng các đơn vị rút khỏi Hà Nội lên chiến đấu ở chiến trường Hoà Bình Sầm Nưa. Năm 1949, ông về Trung đoàn 52 (Trung đoàn Tây Tiến). Tháng 5 năm 1950, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 48 rồi sau đó là Trung đoàn phó rồi Trung đoàn trưởng của Trung đoàn này, trong đội hình Sư đoàn 320 chiến đấu khắp các chiến trường đồng bằng Bắc Bộ.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, từ năm 1955 đến 1957 ông là giảng viên Trường quân sự trung cao. Từ năm 1957 đến 1960, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn 304 rồi 320. Từ năm 1960 đến 1963, Nguyễn Hòa được cử đi học ở Học viện Bộ Tổng tham mưu Vô-rô-si-lốp của Liên Xô. Năm 1963, về nước, ông được Phó Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái giao nhiệm vụ viết tổng kết về chiến trường đồng bằng Bắc bộ trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Tháng 4-1964 Nguyễn Hòa vào Nam chiến đấu bằng con tàu không số đường Hồ Chí Minh trên biển vừa được khai phá. Ngày 2-9-1965 Quân ủy Trung ương và Bộ tư lệnh Miền quyết định thành lập hai sư đoàn đầu tiên là Sư đoàn 9 và Sư đoàn 5. Sư đoàn 9 do tướng Hoàng Cầm là Sư trưởng. Ngày 23-11-1965 Sư đoàn 5 chính thức được thành lập do Nguyễn Hòa làm Sư trưởng, Lê Xuân Lựu làm Chính ủy, đứng chân trên địa bàn Long Khánh - Bà Rịa, vừa đánh địch vừa xây dựng lực lượng tạo bàn đạp vùng quanh Sài Gòn.

Trận đầu ông chỉ huy chiến đấu ở chiến trường miền Nam là trận Bình Giã. Trận này do ông Trần Đình Xu (Đại tá Liệt sĩ) làm Tư lệnh, ông làm Phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng, chỉ huy một trung đoàn chủ lực Miền cùng với bộ đội địa phương Bà Rịa - Long Khánh và du kích Long Thành đảm nhiệm. Ta bắt đầu tổ chức tấn công đánh địch từ ngày 5-10-1964 và sau hơn một tháng chiến đấu quân và dân ta phá tan “ấp chiến lược” Bình Giã. Tiêu diệt và bắt sống hơn 2.000 tên địch, thu và phá hủy 45 xe bọc thép M113, thu 611 súng các loại, bắn rơi 51 máy bay... Thắng lợi Bình Giã khẳng định trình độ chỉ huy tác chiến tập trung của bộ đội Miền - lần đầu tiên giải phóng quân mở một chiến dịch quy mô lớn, dài ngày đánh vào vùng được coi là căn cứ an toàn của địch. Nó cũng đánh dấu sự thất bại của chiến thuật “trực thăng vận” “chiến xa vận” của Mỹ - ngụy, khẳng định sự thất bại tất yếu của chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của địch...

Thực hiện quyết định của Quân ủy Trung ương và Bộ tư lệnh Miền, Gần một năm sau ông lại được lệnh đi thành lập sư đoàn 7 gồm trung đoàn 16, trung đoàn 141 (Ba Vì anh dũng) và trung đoàn 165 (Thành đồng biên giới) về cơ bản nó được thành lập trên các Trung đoàn của Đại đoàn Chiến Thắng 312. Tháng 6-1966 Ban cán sự sư đoàn gồm có Nguyễn Hòa, Sư trưởng, Nguyễn Hải - Sư phó và Dương Cự Tẩm (Dương Thanh) Bí thư Đảng ủy kiêm Chính ủy.

Năm 1967 ông lại được điều đi làm Phó tư lệnh Quân khu IV kiêm Phó tư lệnh Mặt trận B5, hơn một năm sau làm Sư trưởng Sư đoàn 320. Tháng 5-1970, làm Phó tư lệnh Đoàn 559 kiêm Phó tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Tháng 12-1973 ông lại được tăng cường cho Mặt trận Tây Nguyên làm Phó tư lệnh...

Sau hội nghị Pari tình hình trên chiến trường miền Nam diễn ra hết sức phức tạp. Quân Mỹ buộc phải rút nhưng vẫn ồ ạt tuôn vũ khí, đạn dược, các phương tiện chiến tranh cho chính quyền Sài Gòn. Quân đội Sài Gòn ra sức bắt lính, bổ sung quân lấn chiếm vùng giải phóng. Để có những quả đấm thép trên chiến trường, Trung ương quyết định thành lập các binh đoàn chủ lực cơ động. Quân đoàn I “Quyết thắng” được chính thức thành lập ngày 24-10-1973 tại Tam Điệp, Ninh Bình. Nơi Quang Trung Nguyễn Huệ, năm 1789 hội quân, tổ chức đội hình trước ngày tiến ra Thăng Long quét sạch 20 vạn quân Thanh, giành lại nền độc lập, tự do cho Tổ quốc. Quân đoàn I là Quân đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta gồm các sư đoàn chủ lực mạnh: 308, 312, 320B. Ngoài ba sư đoàn còn có sư đoàn 367 cao xạ - tên lửa, lữ đoàn xe tăng 202, đơn vị thông tin 140 và lữ đoàn công binh 299. Ngày đầu thành lập, Trung tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng tham mưu trưởng lúc bấy giờ làm Tư lệnh, Đại tá Nguyễn Hòa làm Phó tư lệnh, Trung tướng Lê Quang Hòa làm Chính ủy. Sau sáu tháng huấn luyện, hai ông Tư lệnh và Chính ủy về Bộ Quốc phòng, tháng 4-1974 Nguyễn Hòa làm Tư lệnh Quân đoàn, Hoàng Minh Thi làm Chính ủy.

Cuối tháng 1-1975 Quân đoàn mở hội nghị quân chính, Thượng tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng về thăm, cổ vũ thêm quyết tâm cán bộ chiến sĩ đang náo nức bước vào trận chiến đấu mới. Ngày 1-4-1975 nhận được mệnh lệnh của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp: “Toàn Binh đoàn Quyết thắng thiếu Sư đoàn Quân tiên phong (308) được tăng cường trung đoàn ô tô vận tải số 10 cơ động thần tốc vào tập kết ở Đồng Xoài trước ngày 15-4-1975”. Nhận mệnh lệnh là binh đoàn triển khai hành quân với khẩu hiệu hành động: “Đi xa tiến sâu, đánh thắng trận đầu, đánh thắng liên tục đến thắng lợi hoàn toàn”. Nhiệm vụ của Quân đoàn trong trận tiến về Sài Gòn là tiến công tiêu diệt sư đoàn 5 ở Lai Khê cùng toàn bộ các lực lượng bảo an và sở chỉ huy của chúng ở Bình Dương sau đó đột phá nhanh đánh chiếm dinh Độc lập - dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, khu liên hợp bộ tư lệnh các binh chủng ngụy ở Gò Vấp và Gia Định. Nhưng ngày 23-4-1975, nhiệm vụ của Quân đoàn có thay đổi: Giao việc đánh chiếm dinh Độc lập cho Quân đoàn 4 ở phía đông, thay vào đó Quân đoàn 1 phải đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy. Các nhiệm vụ khác không thay đổi. Cùng với lãnh đạo Quân đoàn, tướng Nguyễn Hòa đã chỉ huy đơn vị hoàn thành nhiệm vụ trên giao. Ngày 14-4-1975 toàn bộ các đơn vị quân đoàn đã vượt trên 1.700 km từ miền Bắc vào miền Đông Nam bộ trước thời hạn quy định, tập kết tại Đồng Xoài. Theo mệnh lệnh của Tư lệnh Quân đoàn, các mũi triển khai đánh địch, ngày 30-4 tiêu diệt hoàn toàn sư đoàn 5 ngụy (khiến Chuẩn tướng Lê Nguyên Vĩ, Tư lệnh sư đoàn phải tự sát bằng chính khẩu súng lục của y), giải phóng tỉnh Bình Dương và tiến về đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy vào trưa ngày 30-4-1975.

Năm 1980 Trung tướng Nguyễn Hòa được cử làm Tổng cục trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Tổng cục Dầu khí (sau này là Tổng công ty Dầu khí Việt Nam). Tháng 6 năm 1988, ông về Quốc hội làm Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế kế hoạch và Ngân sách Quốc hội. Ông là ủy viên Trung ương Đảng (khóa V, khóa VI) và là đại biểu Quốc hội (khóa VII, VIII) đóng góp vào việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Tháng 7 năm 1999, ông được Đảng và Nhà nước cho nghỉ hưu.

Nguyễn Hòa là vị tướng luôn có mặt trên những chiến trường ác liệt. ở ông, tài tổ chức, chỉ huy kết hợp với trí thông minh và biết chọn thời cơ ra mệnh lệnh đúng lúc khiến ông bình tĩnh, quyết đoán, tự tin tạo nên tinh thần lạc quan cho bộ đội khi bước vào cuộc chiến. Có thể nói trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, dấu chân ông đã có mặt ở hầu hết các chiến trường trọng điểm của tổ quốc : từ chiến trường đồng bằng Bắc Bộ trong kháng chiến chống Pháp cho đến chiến trường miền Nam trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Từ Trường Sơn cho đến núi rừng Tây Nguyên. Có thể nói ông duyên với việc tổ chức, lãnh đạo các đơn vị chủ lực của quân đội ta ngay từ những ngày đầu thành lập. Từng là Sư đoàn trưởng của Sư đoàn 5 rồi Sư đoàn 7 đầu tiên, ông là một vị tướng có công lớn đối với việc xây dựng lực lượng chủ lực của miền Nam. Là Tư lệnh Quân đoàn 1 khi mới 46 tuổi, ngay khi Quân đoàn này được thành lập được nửa năm và là người Chỉ huy Quân đoàn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông có công lao rất lớn trong việc xây dựng ‘’Quả đấm thép’’ số một của Quân đội ta.

Tham khảo : Báo Hà Nội mới, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Chú ý: Trong Quân đội Nhân dân Việt Nam còn có một Trung tướng khác cũng tên là Nguyễn Hòa (1923-2000), từng 5 lần giữ vai trò Trưởng đoàn Chuyên gia Quân sự Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 10:30:53 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
panphilov
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 780



« Trả lời #69 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2008, 05:20:12 AM »


Thiếu tướng Dũng Mã (1923), nguyên: Cục trưởng Cục huấn luyện, Chủ nhiệm khoa Lịch sử Quân sự trực thuộc Học viện Quân sự cấp cao; Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận 31 Cánh đồng Chum Xiêng Khoảng Lào, Tham mưu trưởng Hải quân Đông Bắc, Tham mưu trưởng Quân khu Đông Bắc.

Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công (Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Chiến thắng hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (Nhất, Nhì, Ba), Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng... Ngoài ra, ông còn được Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng thưởng Huân chương Tự do hạng Nhất, Huy chương Anh dũng chống Mỹ.  

Thiếu tướng (1984)


Thiếu tướng Dũng Mã tên thật là Nguyễn Xáng sinh ra và lớn lên tại quê mẹ xã Hòa Tiến, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Cha ông quê ở xã Điện Tiến, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nhưng lấy vợ và ở rể ở nhà vợ (vốn không có con trai). Theo lời ông kể thì gia cảnh nhà ông tạm đủ ăn, xong vẫn thường xuyên phải ăn cơm độn sắn, trừ những ngày mùa. Cha ông là một nông dân hiếu học nhưng lại không có điều kiện học đến nơi đến chốn. Cụ tự học chữ Nho và chữ quốc ngữ, viết được văn tự , giúp bà con trong làng khi có việc. Ông là người nghiêm khắc còn mẹ ông là một phụ nữ quê, hiền lành, hết lòng vì chồng con.

Nhà ông đông anh chị em, ba gái bảy trai tuy nhiên cha ông thấy con nào lanh lợi, tiếp thu nhanh, sức khỏe tốt đều cố gắng cho học lên cao. Ông học hết cấp hai thi đậu diplome, đang học tiếp cấp ba thì thi đỗ vào Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội (1944). Trong thời gian theo học ở Trường Công chính, ông bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng. Do hoạt động bí mật cho nên ông lấy bí danh là Dũng Mã theo ý lời hát của Nhạc sĩ Văn Cao: ''Bao chiến mã lên đường. Lạnh lùng vung gươm ra sa trường...''.

Sau cách mạng tháng Tám (1945), ông được gọi học tiếp năm thứ 2 Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội và tham gia hoạt động trong Hội sinh viên cứu quốc. Theo lời kêu gọi của đoàn thể, ông ''xếp bút nghiên" lên đường nhập ngũ và được cử đi học Trường Quân chính Bắc Sơn tại Thái Nguyên đầu năm 1946.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12.1946), ông tham gia chiến đấu kìm chân quân Pháp tại phía Bắc Hà Nội. Sau khi rút lên Việt Bắc, ông được giao nhiệm vụ làm thư ký riêng cho Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong 2 năm, rồi Trưởng Phòng Điều chỉnh Văn phòng Bộ Quốc phòng. Năm 1949, khi Đại đoàn Quân tiên phong (F308) được thành lập, do ông Vương Thừa Vũ (Trung tướng) làm Tư lệnh, ông Song Hào (Thượng tướng) làm Chính ủy, ông được điều sang chiến đấu tại Đại đoàn trên cương vị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Phủ Thông. Rồi đến ngày 27 tháng 12 năm 1950, khi Đại đoàn 312 được thành lập do ông Lê Trọng Tấn (Đại tướng-Tổng tham mưu trưởng) làm Tư lệnh, ông lại được điều sang chiến đấu và công tác ở đây trên cương vị Trung đoàn phó Trung đoàn Sông Lô (E209-Trung đoàn Sông Lô được thành lập từ các đơn vị trong đó có Tiểu đoàn Phủ Thông, Tiểu đoàn Hồng Hà) .

Trong kháng chiến chống Pháp ông tham gia phần lớn những chiến dịch quan trọng trên chiến trường Bắc bộ: Biên Giới, Trung Du, đường số 18 hay chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào... Trong chiến dịch Biên Giới (16.9.1950-17.10.1950), Tiểu đoàn do ông chỉ huy tham gia tiến công cao điểm Khâu Luông (Sau khi Đông Khê bị thất thủ, Pháp cho một binh đoàn từ Lạng Sơn lên nhằm chiếm lại Đông Khê để đón binh đoàn từ Cao Bằng rút về. Binh đoàn phía Nam do quan Nam Lơ-pa-giơ chỉ huy đạ bị chặn đánh ở nam Đông Khê, buộc phải dừng lại và chiếm lĩnh một số điểm cao ở bắc đường số 4, trong đó có Khâu Luông do một tiểu đoàn Âu Phi phòng ngự) rồi sau đó tham gia truy kích và bắt gọn Binh đoàn của Lơ-pa-giơ.

Cuối năm 1950, trong hội nghị tổng kết Chiến dịch Biên Giới do thành tích chiến đấu ông cùng với ba chỉ huy khác cũng tên là Dũng: Thái Dũng (tên thật là Nguyễn Dũng Thái, dân tộc Tày, sau này là Trung tướng) Trung đoàn trưởng Trung đoàn 88, Thế Dũng - Chính trị viên Trung đoàn 102 (đều thuộc Đại đoàn Quân tiên phong) được Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mời đến gặp tại ''nhà riêng'' và chụp ảnh. Đây là bức ảnh rất nổi tiếng do nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp có Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông, ông Thái Dũng ngồi quanh một bàn đá, còn ông Võ Nguyên Giáp đứng. Buổi hôm đó ông Thế Dũng không đến kịp.

Đầu năm 1951, cuốc kháng chiến chống Pháp tiếp tục thu được nhiều thắng lợi, có tác dụng phối hợp với nhân dân Triều Tiên đang kháng chiến chống Mỹ và đồng minh. Tháng 9 năm 1951, Ban thường vụ Trung ương tổ chức một đoàn "phỏng vấn" gồm trên 10 người, có đại biểu: công, nông, binh, trí thức, thanh niên, phụ nữ, tôn giáo...do ông Tôn Đức Thắng rồi đến ông Hoàng Quốc Việt dẫn đầu, ông tham gia đoàn trên cương vị đại biểu quân đội. Trong thời gian 3 tháng, đoàn đã đi thăm Bắc Kinh, Bình Nhưỡng và trên 10 thành phố ở Trung Quốc và Triều Tiên, một Quân đoàn chí nguyện Trung Quốc, một Quân đoàn Quân đội Nhân dân Triều Tiên. Thời điểm các ông ở Bình Nhưỡng cũng là thời điểm mà thủ đô của Triều Tiên bị bom Mỹ tàn phá gần như trơ trụi, nhiều khi phải diễn thuyết vào ban đêm ở các hội trường ngầm dưới lòng đất.

Tháng 12 năm 1952, trên cương vị Trung đoàn phó 209, ông tham gia chiến dịch Lê Hồng Phong 2 giải phóng Tây Bắc. Trong trận đánh cứ điểm Bản Vât một cứ điểm khống chế phía tây trung tâm Nà Sản ông bị thương và bị đưa về điều trị tại bệnh viện dã chiến gần thị xã Hòa Bình. 10 ngày sau, ông nhận được thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng thiếp chúc tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh kèm theo một chiến áo lụa do Hội liên hiệp Phụ nữ Hà Đông biếu Chủ tịch.

Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, ông là Trung đoàn trưởng-đặc phái viên tác chiến của Bộ chỉ huy. Về Hà Nội ông được phân công làm Trưởng khoa Chiến thuật trường Trung cao Quân sự (tiền thân của Học viện Lục quân ngày nay), Tham mưu trưởng Trung đoàn, Trung đoàn phó thuộc Sư đoàn 320, Tham mưu trưởng Sư đoàn 320 (9.1963).  Sau đó, ông làm Tham mưu trưởng Quân khu Đông Bắc (10.1963), rồi Tham mưu trưởng Hải quân Đông Bắc (6.1967). Tháng 6 năm 1970, ông sang Lào làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận 31 cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng phối hợp tác chiến với bộ đội Pa-thét Lào. Từ tháng 9 năm 1972 đến tháng 3 năm 1975, ông là Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận 31 (Mặt trận Cánh Đồng Chum).

Đối tượng tác chiến chính trên chiến trường Lào lúc bấy giờ là lực lượng đặt biệt của tướng phỉ Vàng Pao và quân chính quy Thái Lan với sự yểm trợ về không quân, hậu cần của Mỹ. Cuối năm 1973, ông bị thương nặng tại sở chỉ huy tiền phương tại Phu-Húa-Sạn (điểm cao 1830 mét), trong lúc trực tiếp chỉ huy đánh trả cuộc tiến công lấn chiếm của địch ra phía nam cánh đồng chum. Ông được đưa về Hà Nội rồi sau đó sang Mát-xơ-cơ-va điều trị gần 1 năm.

Sau khi bình phục về nước (sau Chiến thắng 1975), ông được chuyển về công tác tại Bộ tổng tham mưu. Từ tháng 4 năm 1975 đến tháng 9 năm 1977, là Cục phó Cục Kế hoạch Kinh tế Quân sự Bộ Tổng Tham mưu. Đến cuối năm 1977, ông được điều về làm chủ nhiệm Khoa lịch sử quân sự, rồi Cục trưởng Cục kế hoạch huấn luyện của Học viện quân sự cấp cao (nay là Học viện quốc phòng) do Thượng tướng Hoàng Minh Thảo làm giám đốc cho đến cuối năm 1989 thì về hưu.

Là một trí thức trẻ xung phong vào quân đội, được cử làm thư kí riêng cho Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ với tư cách Trung đoàn trưởng đặc phái viên của Bộ chỉ huy chiến dịch, thiếu tướng Dũng Mã lần lượt đảm trách nhiều chức vụ khác nhau trên chiến trường và ở các học viện. Trong kí ức những chiến binh thời đánh Pháp ở Việt Bắc, 2 cái tên Dũng Mã và Sơn Mã trở lên khá quen thuộc. (Sơn Mã (1925-1952) tên thật là Nguyễn Huynh, tốt nghiệp Trường Quân chính Quảng Ngãi, khi hy sinh là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 84 Trung đoàn 36 Đại đoàn 308). Nhờ lập công xuất sắc, tướng Dũng Mã là một trong ba cán bộ chỉ huy trẻ, đều tên là Dũng, được Bác Hồ gọi lên khen ngợi sau chiến dịch Biên Giới.

Tham khảo : Phỏng vấn tướng lĩnh Việt Nam (Phan Hoàng), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

« Sửa lần cuối: 02 Tháng Mười Hai, 2011, 10:41:57 PM gửi bởi panphilov » Logged

''Chúng tôi đánh giặc và làm thơ"
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM