Hình ảnh & Tiểu sử Lãnh đạo, Tướng lĩnh, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam

<< < (43/102) > >>

macbupda:
Họ và tên: Nguyễn Nam Khánh

Năm sinh: Ngày 20 tháng 2 Năm 1927.

Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Thượng tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

Quê quán: Xã Bình Phú Tây, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Trú quán: Số nhà 36, phố Lý Nam Đế, phường Cửa Đông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Thành phần: Bần nông.

Năm tham gia cách mạng: Ngày 15 Tháng 3 năm 1945.

Năm nhập ngũ: Tháng 8 năm 1945.

Ngày vào Đảng CS VN: Tháng 5 năm 1946

Năm phong quân hàm cấp tướng: Thiếu tướng năm 1977; Trung tướng năm 1984; Thượng tướng năm 1988.

Quá trình tham gia cách mạng:
Năm 1945, đồng chí tham gia Thanh niên Cứu quốc, là Trung đội trưởng, đại đội trưởng Chi đội 4 Phú Yên. Từ năm 1948 đến năm 1949, đồng chí là Trưởng Ban Chính trị Phân khu 15 Tây Nguyên. Năm 1952, đồng chí là Bí thư Đảng uỷ Tiểu đoàn 19, Trung đoàn 108, Liên khu 5. Tháng 9 năm 1954, đồng chí là Chính uỷ Trung đoàn 108, Liên khu 5.

Từ năm 1955 đến năm 1956, đồng chí là Phó Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 305, Từ năm 1956 đến năm 1958, đồng chí học tại Học viện Chính trị Trung Quốc. Từ năm 1959 đến năm 1960, đồng chí là Trưởng Phòng Huấn luyện Cục Tuyên huấn. Tháng 4 năm 1961, đồng chí là Chính uỷ Lữ đoàn 305. Tháng 5 năm 1965, đồng chí là Phó chính uỷ Sư đoàn 304 Tây Nguyên Từ năm 1967 đến năm 1970, đồng chí là Chính uỷ, Bí thư Đảng uỷ Sư đoàn 3, Quân khu 5. Từ năm 1970 đến năm 1978, đồng chí là Chủ nhiệm Chính trị rồi Phó Chính uỷ Quân khu 5, Đảng uỷ viên, Uỷ viên Thường vụ, Phó bí thư Quân khu uỷ Khu 5, Uỷ viên Khu uỷ Khu 5. Tháng 6 năm 1978, đồng chí là Viện trưởng, Bí thư Đảng uỷ Học viện Chính trị. Từ tháng 4 năm 1979 đến năm 1996, đồng chí là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Đồng chí là Uỷ viên Quân uỷ Trung ương, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá V, VI, VII. 
 
Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:
                    Huân chương Độc lập hạng nhất.
                    Huân chương Quân công hạng nhất.
                    Huân chương Chiến công hạng nhất.
                    Huân chương Kháng chiến hạng nhất.
                    Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.
                    Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì, ba.
                    Huân chương Chiến sỹ Giải phóng hạng nhất, nhì, ba.
                    Huy chương Quân kỳ Quyết thắng.
                    Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh sinh ngày 20-2-1926 tại xã Tây Phú, huyện Tây Sơn trong một gia đình nông dân nhưng đã bị địa chủ thực dân chiếm hết đất nên cha mẹ ông đi làm công nhân ở xưởng dệt Đờ-li-nhông (Phú Phong - Tây Sơn). Ông là con lớn nhất trong gia đình có 5 anh em trai. Học hết sơ học ở quê, ông xuống Quy Nhơn học hết bậc tiểu học và tiếp tục học trung học bằng cách vừa học vừa làm thuê tại các cửa hàng ăn. Nhưng học được hơn 2 năm thì bỏ dở vì cha mẹ ông lúc đó không thắng nổi cái nghèo. Những năm tháng ở quê, nhờ sự giác ngộ của người chú họ là thầy giáo Nguyễn Đông, ông đã sớm nhận ra nhiều thủ đoạn độc ác của bọn địa chủ, thực dân, và nỗi nhục của người thanh niên mất nước. Cuối năm 1943, ông làm công nhân của hãng dệt Đờ-li-nhông, nơi cha mẹ ông đang làm. Tại đây, ông nhận rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc thực dân đã bóc lột sức lao động của công nhân, cư xử tàn ác, thô bạo đối với người dân thuộc địa. Nhiều đêm, ông thao thức không sao ngủ được, mong muốn thoát khỏi sự áp bức, nhưng chưa biết đi đâu, làm gì? Đang băn khoăn trước ngã ba đường thì phong trào cách mạng tràn về, ông đến với "Việt Minh" như nắng hạn gặp mưa rào!
Tháng 3-1945, ông được tiếp xúc với hai chiến sĩ Việt Minh ngay tại hãng dệt Đờ-li-nhông. Đầu tháng 4-1945, ông chính thức được kết nạp vào tổ chức "Việt Minh" huyện Bình Khê và tham gia vào đội ngũ tuyên truyền lưu động, vận động nhân dân trong các huyện Bình Khê, An Nhơn, Tuy Phước, Quy Nhơn nhằm hình thành lực lượng chủ lực cho cuộc khởi nghĩa tháng 8-1945. Lực lượng này sau đó đã giành được chính quyền tỉnh lỵ Bình Định lúc bây giờ và các huyện xung quanh Quy Nhơn, thành lập Ủy ban hành chính lâm thời tỉnh Nguyễn Huệ (tên mới của tỉnh Bình Định lúc đó). Sự kiện đó là bước ngoặt lớn của đời ông và nhân dân tỉnh Bình Định - từ người mất nước trở thành người làm chủ đất nước. Ông đứng vào hàng ngũ bộ đội Cụ Hồ và từng bước trưởng thành.
Với ông, những trận chiến ác liệt ở chiến trường Bình Định năm xưa là chuỗi tháng ngày không quên của mình. Ông nhớ nhất là trận đánh cuối cùng trong chiến dịch Mùa Xuân 1975 - tiến công đường 19 trong phạm vi hai huyện Bình Khê và An Khê để thực hiện chiến lược chia cắt quân địch giữa đồng bằng và Tây Nguyên. Đường 19 không chỉ là đường tiếp liệu, tiếp vận của địch mà còn là con đường rút lui nhanh nhất của chúng xuống đồng bằng Khu V khi Tây Nguyên bị thất thủ. Do vậy, Mỹ-ngụy đã khẳng định phải bảo vệ đường 19 trong bất cứ tình thế nào… Nhận thức về con đường chiến lược này, ông đã trực tiếp chỉ đạo Sư đoàn 3 lên phương án và chuẩn bị chiến đấu hết sức khẩn trương dưới sự đánh phá ác liệt của Mỹ - ngụy. Lúc đó, ông là Phó Chính ủy Quân khu V được phân công chỉ đạo Sư đoàn 3 đảm đương trọng trách này. Vào lúc 5 giờ 35 phút ngày 4-3-1975, Sư đoàn 3 nổ súng tấn công cắt đường 19 với chiến thuật tập kích hiệp đồng binh chủng và bao vây tiến công liên tục, cùng một lúc vừa cắt đường, vừa diệt quân chủ lực dự phòng ở Truông Ổi - Định Quang. Trong 5 ngày tấn công, Sư đoàn 3 do ông chỉ đạo đã đánh thiệt hại nặng trung đoàn 47, sư đoàn 22 và liên đoàn bảo an 927 ngụy, diệt 310 tên địch, bắt sống 52 tên; thu 200 súng, trong đó có 2 khẩu pháo 105 mi-li mét; làm chủ đoạn đường dài hàng chục ki-lô-mét, chia cắt chiến lược hiểm hóc giữa Tây Nguyên với đồng bằng Khu V. Đây là tiếng súng mở màn chiến dịch Mùa Xuân 1975 trên chiến trường Khu V…
Có thể nói, cả đời binh nghiệp của ông gắn chặt với chiến trường Bình Định. Ông kể: Trong kháng chiến chống Mỹ, Sư đoàn 3 (Sao Vàng) cũng như du kích và nhân dân ở đây đã xây dựng Bình Định trở thành một chiến trường kiên cường, thành đồng vững chắc sau lưng địch, đã chi phối và chôn chặt quân đoàn 2 của địch ở miền Trung. Quân dân Bình Định đã cắt đứt, khống chế hoàn toàn đường 19. Không một đơn vị nào của địch tấn công được lên Tây Nguyên, góp phần giải phóng các tỉnh Tây Nguyên, làm bàn đạp tấn công vào sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền ở Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam vào ngày 30-4-1975.

Theo Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam và Báo Bình Định

panphilov:
Trích dẫn từ: pallmall trong 14 Tháng Tư, 2009, 02:31:27 AM

Bác panphilov có tài liệu về tiểu sử của Thiếu tướng Đặng Quang Long ở quân khu 7 kô  ah? nếu có bác pót cho e đọc với nhé .
Cám ơn bác trước !


Rất tiếc là em không có bác ạ! Em đang hỏi, hy vọng là có thể trả lời bác trong một thời gian sớm nhất (có thể).

Bác macbupda, rất cám ơn bác vì đã tiếp sức. Sao bác không cho link ảnh của cụ lên để mọi người cùng "chiêm ngưỡng"  ::)

panphilov:


Thiếu tướng Phạm Liêm (bí danh : Duy Thanh, 15.12.1928) từng giữ các chức vụ : Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân.

Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).

Thiếu tướng Phạm Liêm quê tại thôn Vũ Xã, huyện An Đồng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ông tham gia Cách mạng tháng 4 năm 1945, là Bí thư Thanh niên cứu quốc xã Hưng Nhượng (nay là xã An Đồng), huyện Phù Dực (nay là huyện Quỳnh Phụ), tỉnh Thái Bình. Sau khi Cách mạng tháng 8 thành công, ông là trưởng Ban bình dân học vụ, Bí thư Thanh niên cứu quốc xã An Đồng. Tháng 4 năm 1946, là Ủy viên thanh niên, Trưởng ban thiếu nhi huyện Phù Dực. Tháng 3 năm 1948, Phó Bí thư rồi Bí thư Thanh niên cứu quốc huyện Phù Dực.

Tháng 2 năm 1950, ông nhập ngũ và giữ chức vụ Chính trị viên phó Huyện đội Phù Dực ; 2.1952, Huyện đội trưởng huyện Đông Quan, tỉnh Thái Bình ; 5.1954, Đại đội trưởng Đại đội 277 Bội đôi địa phương Thái Bình ; 12.1954, quyền Tiểu đòan phó Tiểu đoàn 62 Bội đội địa phương Thái Bình.

Tháng 2 năm 1957, ông chuyển lên làm Trợ lý Phòng Cán bộ Quân khu Tả Ngạn ; 11.1960, học đào tạo Trung cao Chính trị khóa 1 ; 7.1963, Phó Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Pháo phòng không 230, 250 Bộ Tư lệnh Phòng không. Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn Pháo phòng không 250 Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1965, Phó Chính ủy Trung đoàn Pháo phòng không 250 ; 6.1966, Chính ủy Trung đoàn pháo phòng không 224 Bộ Tư lệnh Phòng không Hà Nội (Sư đoàn 361) Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1968, Chính ủy Trung đoàn pháo phòng không 241 Sư đoàn phòng không 367 Quân chủng Phòng không Không quân, tham gia Chiến dịch Đường 9 Khe Sanh ; 10.1969, Phó Phòng Cán bộ, Trưởng Phòng Cán bộ (10.1971) Cục Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Cục Chính trị ; 7.1973, Phó Chính ủy, Chính ủy (4.1975) Sư đoàn Phòng không 367 Quân đoàn 1, Bí thư Đảng ủy Sư đoàn.

Tháng 4 năm 1976, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không Không quân ; 5.1977, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Bí thư Đảng ủy Cục Chính trị ; 8.1979, được cử đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 8.1980, Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 10.1983, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 7.1986, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng cho đến khi nghỉ hưu tháng 7 năm 1990. Thiếu tướng Phạm Liêm hiện đang sống tại Hà Nội.




panphilov:


Thiếu tướng Đoàn Văn Thuận (bí danh : Văn Tiến, 07.07.1929) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Trung cao cấp Phòng không, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo Phòng không, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng.

Huân chương Quân công (hạng Nhì, Ba), Huân chương Chiến công hạng Ba, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huân chương Tự do hạng Nhất của Chính phủ Lào, Huân chương của Chính phủ Cam-pu-chia, Huy chương Quân kỳ quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).

Thiếu tướng Đoàn Văn Thuận quê tại xã Đức Tân, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Ngày 10 tháng 10 năm 1946, ông nhập ngũ là chiến sĩ bộ đội Việt kiều ở Thái Lan về Lào tham gia chiến đấu trong chiến khu Noọng Ổn, U Đon Thái Lan thuộc Bộ Tư lệnh Lào Miên. Từ tháng 1 năm 1947, ông lần lượt giữ các chức vụ tiểu đội phó, tiểu đội trưởng chiến đấu ở chiến trường Phôn Hùng, Viên Chăn, Lào ; 12.1947, trở về nước là tiểu đội trưởng thuộc Trung đoàn Quang Trung, Khu 4 ; 7.1948, quay trở lại Thái Lan, là tiểu đội trưởng, trung đội trưởng, đại đội phó trực thuộc Bộ Tư lệnh Tây Lào ; 1.1951, đại đội trưởng Đại đội 198 thuộc Bộ Tư lệnh Tây Lào ; 7.1954, cùng Đại đội tập kết tại huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.

Tháng 1 năm 1955, ông được cử giữ chức vụ tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 83 Bộ binh thuộc Tổng đội Biên phòng rồi đi học chuyển loại binh chủng Pháo binh mặt đất ở Sơn Tây ; 6.1956, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 10 Trung đoàn Pháo binh 58 Sư đoàn Pháo binh 335 Quân khu Tây Bắc (Quân khu 1 ngày nay) ; 7.1956, đi học văn hóa và ngoại ngữ tại Trường Văn hóa Kiến An Hải Phòng và sau đó được cử đi học Pháo binh tại Trường Trung cao Pháo binh Thẩm Dương, Trung Quốc rồi học đào tạo cán bộ Pháo bih cấp Trung đoàn ; 9.1959, trở về nước và được cử giữ chức vụ tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Pháo binh 21 Trung đoàn Pháo binh 168 Quân khu Tây Bắc ; 9.1963, Tham mưu trưởng Lữ đoàn Pháo binh 335 rồi Tham mưu trưởng, Trung đoàn phó Trung đoàn 158 Quân khu Tây Bắc.

Tháng 1 năm1965, ông được bổ nhiệm giữ chức vụ trung đoàn trưởng Trung đoàn Pháo binh 168 Sư đoàn Pháo binh 335 ; 5.1966, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa 267 Quân chủng Phòng không Không quân tham gia chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội, Hải Phòng. Đi học bổ túc cán bộ Trung đoàn Tên lửa Phòng không tại Trường Sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không Không quân ; 9.1968, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Tên lửa Phòng không 267 Sư đoàn Phòng không 267 Sư đoàn Phòng không 363 Quân chủng Phòng không Không quân ; 10.1970, Tham mưu trưởng Sư đoàn Phòng không 367 ; 7.1971, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không cửa khẩu 377 ; 7.1973, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 ; 2.1974, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 363 rồi đi học bổ túc cao cấp Học viện Phòng không Ô-đéc-xa ở Liên Xô.

Sau khi về nước, tháng 8 năm 1976 ông được cử giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 367 và được cử đi học tại Học viện Quân sự Cao cấp của Bộ Quốc phòng ; 4.1979, được bổ nhiệm giữ chức vụ Sư đoàn trưởng Sư đoàn Phòng không 377, Đảng ủy viên Đảng ủy Quân chủng ; 11.1980, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo Phòng không Quân chủng Phòng không ; 7.1981, Trưởng Khoa Phòng không Học viện Quân sự cấp cao Bộ Quốc phòng ; 7.1982, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Pháo Phòng không Quân chủng Phòng không ; 4.1987, Hiệu trưởng Trường Trung Cao cấp Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng cho đến khi nghỉ hưu tháng 3 năm 1994. Thiếu tướng Đoàn Văn Thuận hiện ở tại Hà Nội, sau khi nghỉ hưu ông tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội, đoàn thể, từ 1997 đến 2002 là Thường vụ Hội Cựu chiến binh phường Khương Trung và Thường vụ Hội Cựu chiến binh quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.




panphilov:


Thiếu tướng Nguyễn Sinh Huy (bí danh : Văn Thái, 01.08.1929) từng giữ các chức vụ : Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Chỉ huy Kỹ thuật Tên lửa Ra-đa, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng không.

Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhì, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến thắng (chống Pháp) hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (hạng Nhất, Nhì, Ba), Huy chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy hiệu 40 và 50 năm tuổi Đảng.

Thiếu tướng (12.1985).

Thiếu tướng Nguyễn Sinh Huy quê tại xã Đại Đồng, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Theo học tại Hà Nội, năm 1944 ông là Đội viên Tuyên truyền xung phong rồi gia nhập Việt Minh thành Hoàng Diệu. Trong Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông là Đội viện trinh sát Tỉnh đội Hà Đông, tham gia giành Chính quyền ở Hà Tây và Hà Nội.

Tháng 12 năm 1946, ông là chiến sĩ Đại đội địa phương Thanh Hóa rồi chiến sĩ thuộc Đại đội 126 Trung đoàn 77 Khu 4 ; 10.1947, đi học Trường Quân chính Liên khu 4 ; 4.1948, trung đội trưởng Đại đội 4 Tiểu đoàn 750 Khu 4 ; 10.1948, chuyển sang Đại đội 2 Tiểu đoàn 427 Trung đoàn 9 ; 4.1949, đại đội phó Đại đội 129 Trung đoàn 18 Bình Trị Thiên kiêm Phó Bí thư Chi bộ ; 10.1949, Đại đội trưởng kiêm Chính trị viên, Lien chi ủy viên Liên chi 2 Trung đoàn 18 ; 12.1951, được cử đi học Lục quân khóa 7 ; 10.1952, Nam tiến chi viện cho chiến trường Nam Bộ là đại đội phó, đại đội trưởng Đại đội 4 Tiểu đoàn 307 (Tiểu đòan Liên quân lưu động Tây Nam Bộ).

Sau khi tập kết ra Bắc, tháng 10 năm 1955 ông là đại đội trưởng Đại đội 1, Tiểu đoàn phó Liên chi ủy viên Tiểu đoàn lựu pháo 105mm Trung đoàn 24 Sư đoàn Pháo binh 351 ; 5.1957, tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 14 cao xạ ; 1959, Trưởng ban Tác huấn  Bộ Tư lệnh Pháo binh rồi chuyển sang làm tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ Sư đoàn 330 ; 1960, đi học bổ túc pháo binh (Đại đội 11 Trung đoàn 400) ; 1962, giáo viên Trường Trung cao quân sự ; 1963,  đại đội trưởng khung cán bộ Trung đoàn 228B, học lớp văn hóa chuẩn bị chuyển binh chủng Tên lửa của Quân chủng Phòng không Không quân.

Tháng 3 năm 1965, ông được cử giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 83 Trung đoàn Tên lửa 238 Quân chủng Phòng không Không quân ; 6.1966, Tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 238 ; 1967, Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn Tên lửa 238 ; 6.1968, Trung đoàn trưởng Trung đoàn tên lửa 275 Sư đoàn Phòng không 377 rồi 365 ; 12.1968, Phó Phòng Tác chiến Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Bộ Tham mưu ; 7.1972, Trưởng Phòng Huấn luyện Bộ Tham mưu, Đảng ủy viên Bộ Tham mưu Quân chủng Phòng không Không quân ; 11.1973, Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 365 Quân chủng Phòng không Không quân, Đảng ủy viên Sư đoàn ; 9.1974, đi học bổ túc Phòng không tại Trường Cao đẳng Phòng không ở Ô-đéc-xa (Liên Xô).

Tháng 7 năm 1975 về nước, ông được cử giữ chức vụ Phó Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 367 ; 11.1976, đi học bổ túc tại Học viện Quân sự cấp cao ; 6.1978, Tư lệnh Sư đoàn Phòng không 361 Quân chủng Phòng không, Đảng ủy viên Quân chủng ; 5.1979, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Phòng không Quân chủng Phòng không, Bí thư Đảng ủy trưởng ; 9.1980, đi học bổ túc lý luận tại Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc ; 9.1981, Hiệu trưởng Trường Sĩ quan chỉ huy Kỹ thuật Tên lửa Ra-đa Quân chủng Phòng không, Phó Bí thư Đảng ủy trường, Đảng ủy viên Quân chủng cho đến khi nghỉ hưu tháng 10 năm 1989. Từ năm 1990 đến 1997, Thiếu tướng Nguyễn Sinh Huy tiếp tục tham gia 2 khóa Đảng ủy viên phường Nguyễn Trãi, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội là Ủy viên Thường vụ, phụ trách Mặt trận Tổ quốc, Dân vận và Chủ nhiệm kiểm tra Đảng.




Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page