Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Tư, 2014, 07:07:41 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc đồng khởi kì diệu ở miền Nam Việt Nam 1959-1960  (Đọc 37441 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6169


Lính của PTL


« Trả lời #70 vào lúc: 10 Tháng Một, 2010, 06:09:57 AM »

Để bảo đảm cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam thành công, Trung ương Đảng nhấn mạnh các vấn đề có tính chất chiến lược sau đây:

- Sự lãnh đạo của Đảng Mác - Lênin vững mạnh.

- Phải đẩy mạnh công tác dân vận, tiến tới thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất chống Mỹ Diệm thật rộng rãi, lấy liên minh công nông làm cơ sở, bao gồm tất cả những lực lượng yêu nước ở miền Nam, tranh thủ mọi người có thể tranh thủ được.

- Phải xúc tiến đặc biệt công tác binh vận tiến tới xây dựng khối công nông binh liên hiệp.

- Phải biết triệt để lợi dụng mâu thuẫn nội bộ của chế độ Mỹ - Diệm.

Chủ tọa Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đấu tranh là có khó khăn, nhưng phải nhận là có nhiều điều kiện thuận lợi, thuận lợi  ở miền Nam nói riêng và ở Việt Nam nóichung. Thuận lợi là căn bản… Hồi Cách mạng tháng Tám, ta chỉ có 5000 đảng viên, kể cả đảng viên ở Lào và Miên. Hội nghị này ở miền Nam số đảng viên và đoàn viên nhiều hơn lúc kháng chiến. Đảng viên và đoàn viên cộng lại 43 vạn. Tính cả Bắc, Nam, Đảng ta có hơn một triệu đảng viên và đoàn viên. Miền Bắc lại có quân đội hùng mạnh, chính quyền hùng mạnh, mặt trận rộng rãi. Đó là những điều kiện cho cách mạng nói chung vào miền Nam nói riêng. Đồng bào  ta có tinh thần yêu nước rất cao, được tôi luyện trong kháng chiến, trong cách mạng…”(1).

Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng đã quyết định bước ngoặt của cách mạng, đưa cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Trong khi kể địch đưa máy chém, quân đội, cảnh sát khủng bố khắp nơi tưởng đã khuất phục được nhân dân cách mạng, Trung ương Đảng nhận định đúng rằng kẻ địch yếu, chúng đã thất bại căn bản về chính trị, nhân dân quần chúng quyết tâm và đã phát động nhân dân vùng dậy.

Cùng với đường lối đúng đắn, Trung ương Đảng đã có sự sáng tạo lớn trong chỉ đạo phương pháp cách mạng. Sự nhấn mạnh lực lượng chính trị, đấu tranh chính trị bên cạnh đấu tranh vũ trang, giữ thế hợp pháp của quần chúng, việc xúc tiến mạnh mẽ công tác binh vận… kế thừa các khởi nghĩa truyền thống của Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp trước đây, phát triển trong điều kiện mới hiện nay vạch đường tạo nên sức mạnh tổng hợp to lướn của cách mạng để tiến công lại quân thù.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương là một quyết định dũng cảm thể thiện sự vững vàng sáng tạo, trách nhiệm đầy đủ của Đảng ta đốivới phong trào cách mạng thế giới và đối với sự nghiệp và vận mệnh của dân tộc, nêu cao đường lối độc lập tự chủ, cách mạng và khoa học của Đảng ta.

Sau Hội nghị, tháng ba và tháng tư, các đồng chí đại biểu Khu V, Nam Bộ lần lượt lên đưởng trở lại chiến trường. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Hội nghị truyền đạt thế nào, công bố thế nào phải bàn cho kĩ. Ví dụ nói Hội nghị Trung ương bàn về cách mạng miền Nam, không lợi. Nhưng có thể nói bàn về vấn đề hòa bình thống nhất cả nước.

Sau Hội nghị Bộ Chính trị sẽ giải quyết một số vấn đề cụ thể với các đồng chí miền Nam. Phải giải quyết cho thật thông, chính sách nắm vững, đoàn kết chặt chẽ, về địa phương sẽ có chuyển biến tốt. Ta có khó khăn. Nhưng Đảng ta, nhân dân đủ sức khắc phục khó khăn để tranh thủ thắng lợi và cuối cùng nhất định thắng lợi.

Hai đồng chí Hai Văn và Hai Sô hỏi Bác về chủ trương đấu tranh vũ trang, Bác nói: “Dù sao cũng không thể để cách mạng chịu tổn thất hơn nữa. Xứ ủy các chú có là Đảng không? Trung ương ở xa, các chú phải tùy tình hình, cân nhắc kĩ lưỡng  mà quyết định và chịu trách nhiệm”(2). Các đồng chí miền Nam hỏi về khả năng phải tiến hành chiến tranh cách mạng, Bác Hồ nói đại ý: Mỹ Diệm quá tàn ác, không đánh không được. Đánh Pháp ta phải vừa đánh vừa học, đánh Mỹ cũng phải vừa đánh vừa học, lâu dài nhưng nhất định thắng lợi.


(1)Trích bài nói chuyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị lần thứ 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 1.1959. Trường Nguyễn Ái Quốc sao lại. Lưu trú tại Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam.
(2)Mai Chí Thọ: Chiến thắng Tua Hai và phong trào Đồng khởi ở miền Đông Nam Bộ, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, trang 32.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6169


Lính của PTL


« Trả lời #71 vào lúc: 10 Tháng Một, 2010, 06:10:34 AM »

Chiến thắng Tua Hai, pháo lệnh Đồng khởi của toàn Nam Bộ.

Tháng 9 năm 1959, Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ (mở rộng đến Liên Tỉnh ủy viên và Bí thư Tỉnh ủy), họp tại Trảng Chiên (Rùm Đuôn) thuộc vùng căn cứ Bắc Tây Ninh để quán triệt Nghị quyết lần thứ 15 của Trung ương và đề ra phương hướng thực hiện Nghị quyết trên toàn xứ Nam Bộ. Xử ủy đề ra cho toàn Đảng bộ Nam bộ phát triển lực lượng vũ trang để làm nòng cốt cho toàn dân đồng loạt khởi nghĩa. Xứ ủy giao nhiệm vụ cho Ban Quân sự là phải đánh một số trận thắng địch lớn làm đòn xeo thúc đẩy phong trào khởi nghĩa trong toàn miền Nam.

Qua quá trình chuẩn bị chiến trường từ tháng 3.1959 khi đồng chí Bí thư Xứ ủy Nguyễn Văn Linh nhận được điện thông báo của Ba Bí thư Trung ương về Nghị quyết 15, kết hợp với hai tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Tây Ninh, Ban Quân sự báo cáo hai phương án tấn công địch:

a) Đánh chiếm một số chi khu, quận lị và đồn bót cấp đại đội, tiểu đoàn phù hợp với khả năng và trình độ tác chiến của ta để giành được thắng lợi.

b) Đánh cứ điểm Tua Hai, mặc dầu đây là một cứ điểm lớn, quân đông nhưng lại có nhiều điểm yếu. Ta phải cố gắng lớn mới bảo đảm chắc thắng, nhất là khi ta chưa đánh cứ điểm trung đoàn tăng cường lần nào.

Sau khi nghe báo cáo, Thường vụ Xứ ủy quyết định phải cố gắng thực hiện phương án 2, đánh Tua Hai với hai lí do:

- Nếu thực hiện phương án 1, thì tác dụng thúc đẩy phong trào chỉ trong phạm vi miền Đông.

- Đánh thắng Tua Hai có tác động thúc đẩy phong trào cách mạng của toàn miền Nam và làm chấn động tinh thần quân địch mạnh mẽ hơn.

Xứ ủy trực tiếp là đồng chí Bí thư Nguyễn Văn Linh đã quan tâm chỉ đạo rất cụ thể, sâu sát đối với việc thực hiện quyết tâm đánh một đòn chiến lược làm rung chuyển chiến trường và thúc đẩy phong trào nổi dậy khởi nghĩa trên toàn miền Nam.

Trận đánh đáng lí nổ ra sớm hơn, nhưng Xứ ủy đã cho lùi lại, theo đồng chí Hai Sô nói là “chờ lúa rẫy đã vào bồ” thu hoạch xong, có dự trữ lương thực cho căn cứ mởi đánh.

Đầu tháng 1 năm 1960, Xứ ủy họp ở Trảng Chiên, nội dung là kiểm tra toàn bộ kế hoạch của các địa phương và của Ban Quân sự chuẩn bị chuyển phong trào và Xứ ủy đề ra yêu cầu các liên tỉnh phối hợp hoạt động với cuộc tiến công ở miền Đông. Sau đó đồng chí Bí thư Xứ ủy sang dự họp Đảng ủy Quân sự thông qua quyết tâm tấn công cứ điểm Tua Hai và các trận đánh phối hợp ở phía Đông Bắc. Đồng chí kiểm tra các mặt chuẩn bị cho trận đánh, động viên và căn dặn cán bộ rất tỉ mỉ, chu đáo. Sự quan tâm lãnh đạo của Xứ ủy là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến chiến thắng Tua Hai vang dội.

Căn cứ Tua Hai được xây dựng trên khoảng đất rộng tại Trảng Sụp nằm ở phía Đông Quốc lộ 22 (từ Gò Dầu đi Xa Mát) cách thị xã Tây Ninh 7 km về phía Bắc. Tua Hai vốn là một tháp canh của quân viễn chinh Pháp, xây dựng theo kế hoạch Đờ La tua năm 1948, đến năm 1958, Mỹ - Diệm mở rộng thành căn cứ rộng lớn lấy tên là thành Nguyễn Thái Học. Bao quanh căn cứ ở phía Bắc, Đông Bắc và phía Đông là những cánh rừng liên hoàn. Phía Đông Nam có rừng cao su. Phía Tây và phía Nam là cánh đồng rộng trồng lúa.

Căn cứ Tua Hai được xây dựng theo hình vuông, mỗi cạnh dài gàn 800 mét. Cửa ra vào chính nhìn ra hướng Tây. Các nhà trong căn cứ làm bằng gạch ngói, không kiên cố. Căn cứ không có công sự và hầm chiến đấu. Xung quanh căn cứ là bờ tường đất, cao 1 mét, có bề mặt 0,8 m. Trên bờ tướng căn cứ đặt 9 vọng gác, thường xuyên có lính trực đêm ngày. Phía Bắc có 2 chòi canh, mỗi nơi có một tiểu đội túc trực. Bên ngoài, bên trong căn cứ không bố trí hàng rào.

Lực lượng địch trước đây trong căn cứ thuộc Sư đoàn 13 khinh chiến. Đến năm 1959 địch bỏ hình thức tổ chức sư đoàn dã chiến và kinh chiến, tổ chức lại và thống nhất tên gọi là Sư đoàn bộ binh. Lực lượng đóng quân lúc này là Trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn bộ binh 21.

Trung đoàn 32 gồm 3 tiểu đoàn bộ binh 1, 2, 3 và các đại đội trợ chiến, quân số 1.694 tên do thiếu tá Nguyễn Hữu Mân làm trung đoàn trưởng. Sở chỉ huy và các phòng ngủ của sĩ quan chỉ huy trung đoàn ở gần trung tâm, ngay cổng ra vào chính của căn cứ. Phía Nam sở chỉ huy là đại đội trọng pháo. Khu nhà ở của  các tiểu đoàn nằm ở phía Đông - Đông Bắc bên trong căn cứ. Các kho vũ khí, đạn của trung đoàn ở gần khu vực trung tâm, đối diện với khu nhà ở các tiểu đoàn bộ binh 1, 2. Lực lượng Trung đoàn 32 lúc này phần đông là lính mới. Trang bị vũ khí của trung đoàn gồm các loại: pháo 57 li, cối 81 li, súng phóng hỏa tiển, BKP60, súng đại liên 30, súng trung liên Bar; các bin, súng trường garăng

Lực lượng mật giao của ta trong căn cứ trong năm 1958 và đầu năm 1959 có cả một chi bộ và một chi đoàn nhưng bị lộ, số lớn bị bắt đi đày đến cuối năm 1959 mới được xây dựng lại nên chỉ có mấy người và chỉ mới liên lạc với ta để đưa tin tức, người cao nhất là một trung úy.

Lực lượng địch ở vùng xung quanh căn cứ Tua Hai gồm có: Bộ Tư lệnh Sư đoàn 21 và các đơn vị cơ hữu đóng ở Bến Kéo và Cầm Giang cách thị xã Tây Ninh từ 10 đén 20km về phía Đông Nam. Tiểu đoàn 21 pháo binh đóng tại Thành Xi-ta-đen Tây Ninh, một tiểu đoàn bộ binh đóng ở Bổ Túc phía Tây Bắc cách căn cứ Tua Hai 20km.

Tóm lại, căn cứ Tua Hai là căn cứ lớn cấp trung đoàn, không có công sự kiên cố và bố trí hàng rào, vật cản. Địch ở đây chưa bị đánh lần nào nên rất chủ quan, ban đêm ngoài các phân đội có nhiệm vụ trực chiến đấu tranh trang bị súng, còn các đơn vị khác đưa súng vào nhà kho. Không tổ chức lực lượng đi tuần tiễu, phục kích ban đêm ở xung quanh căn cứ.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6169


Lính của PTL


« Trả lời #72 vào lúc: 10 Tháng Một, 2010, 06:11:29 AM »

Lực lượng ta tiến công căn cứ Tua Hai gồm có: Đại đội 60, Đại đội 59 (thiếu), Đại đội 70, Đại đội 80 đặc công, 1 trung đội bộ đội địa phương Tây Ninh, 1 trung đội bộ đội Bình Xuyên. Quân số khoảng 300 đồng chí.

Các đơn vị ta được thànhl lập từ năm 1957, 1958 tại căn cứ Chiến khu Đ và căn cứ Dương Minh Châu, có kinh nghiệm chiến đấu và đã tham gia đánh vào chi khu Dầu Tiếng (8.1958) giành thắng lợi. Trang bị vũ khí của các đơn vị chủ yếu là tiểu liên, các bin, súng trường kiểu MAS, kiểu Anh, phần lớn là súng cũ. Ngoài ra, xưởng quân giới Miền ở Bà Chiêm đã sản xuất mấy chục quả mìn và pêta từ 2 kilôgam đến 10 kilôgam phục vụ trrận đánh.

Ta đã huy động 300 dân công gồm toàn đảng viên và đoàn viên đê phục vụ trận đánh.

Ban chỉ huy trận đánh gồm có các đồng chí: Nguyễn Hữu Xuyến (Tám Chiến Quốc) chỉ huy trưởng, Mai Chí Thọ (Tám Cao) chính trị viên, Võ Cương (Mười Năng) chỉ huy phó, Lê Thanh, chỉ huy phó.

Chỉ huy lực lượng dân công có các đồng chí: Đỗ Văn Nguyện (Tư Nguyện) Tỉnh ủy viên Tây Ninh phụ trách chung, Bảy Hải Bí thư Huyện ủy Dương Minh Châu, Mười Kính cán bộ đại đội.

Nhiệm vụ Xứ ủy giao: Tiến công tiêu diệt căn cứ Tua Hai, thu nhiều vũ khí (chỉ tiêu 600 khẩu súng) gây tiếng vang lớn, loàm tiếng súng lệnh phát động đồng khởi trên toàn miền Nam. Quyết tâm của Ban chỉ huy, vì mục đích chính là thu vũ khí nên để ra là: Chủ yếu là vô hiệu hóa sức đề kháng của địch, không phải là tiêu diệt sinh lực địch.

Yêu cầu chiến thuật và phương châm tác chiến như sau:

a) Triệt để bảo đảm yếu tố bí mật, bất ngờ, khai thác hết mức sơ hở của địch.

b) Kết hợp chặt chẽ đặc công, xung kích với bộ binh, ngay từ trái nổ đầu, loạt đạn đầu, làm tê liệt, vô hiệu hóa bộ phận chỉ huy trung đoàn và tiểu đoàn ngụy.

c) Các mũi tiến công đánh chia cắt địch đặc biệt phải tập trung hỏa lực chia các cho bằng được giữa các đơn vị ngụy với kho vũ khí của chúng, vô hiệu hóa, hạn chế đến mức tối đa khả năng đề kháng của chúng.

d) Nhanh chống chiếm đoạt các kho vũ khí của địch, vận chuyển nhanh cề căn cứ để phân tán, cất giấu, phòng địch truy theo chiếm đoạt lại.

e) Đánh nhanh, rút gọn.

Lực lượng tấn công chia làm bốn mũi và phân chia nhiệm vụ như sau:

Mũi thứ nhất có 37 đồng chí gồm 1 trung đội của C60 và 1 tổ đặc công C80 do đồng chí Tư Đen làm chỉ huy trưởng, đồng chí Sáu Tươi, đồng chí Vinh làm chỉ huy phó, đồng chí Ba Bảy tổ trưởng bộc phá, có nhiệm vụ tập kích sở chỉ huy Trung đoàn 32 ngụy, nổ khối bộc phá đàu tiên làm hiệu lệnh tấn công. Vô hiệu hóa ngay từ đầu bọn chỉ huy đầu não của địch.

Mũi thứ hai có 54 đồng chí thuôc lực lượng C59 và 1 tổ C30 do đồng chí Năm Nhỏ làm chỉ huy trưởng, đồng chí Tư Lồng làm chỉ huy phó, đồng chí Bảy Tâm làm chính trị viên, đồng chí Tư Sáu chỉ huy tổ bộc phá. Có nhiệm vụ tiến công từ hướng Bắc xuống, đánh tiêu diệt Tiểu đoàn bộ binh 1 và 2 nhanh chóng chiếm kho vũ khí, làm chủ trận đạ, cùng lực lượng dân côg nhanh chóng chuyển vũ khí thu được về căn cứ an toàn.

Mũi thứ ba có 40 đồng chí thuộc C60 và 1 tổ C80 do đồng chí Lê Thanh trực tiếp chỉ huy cùng các đồng chí Bảy Tấn, Sáu Quân, Ba Hưng và mấy anh em Bình Xuyên biết lái xe, đồng chí Nhà tổ trưởng bộc phá. Có nhiệm vụ đảm nhiệm tiến công từ hướng Đông Nam, tiêu diệt Tiểu đoàn bộ binh 3, chiếm kho vũ khí, nhanh chóng làm chủ trận địa, dùng quân xa vận chuyển vũ khí về căn cứ.

Mũi thứ tư có 70 đồng chí thuộc C70 và một tổ C80 do đồng chí Ba Thành cùng các đồng chí Sáu Huấn, Sáu Ốm, Năm Thu chỉ huy, tổ đặc công do đồng chí Ngọn phụ trách. Có nhiệm vụ tiến công địch từ hướng Nam đánh vào khu quân xa và đại đội trọng pháo, nhanh chóng làm chủ trận địa, cùng dân công thu vũ khí.

Mũi thứ nhất và mũi thứ hai do đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến chỉ huy chung. Mũi thứ ba và thứ tư do đồng chí Lê Thanh chỉ huy chung.

Lực lượng chặn viện có 1 trung đội Bình Xuyên và 1 trung đội bộ đội địa phương Tây Ninh bố trí sát Quốc lộ 22 ở phía Nam cách căn cứ Tua Hai gần 2 kilômét. Có nhiệm vụ chặn đánh quân địch cứ viện giải tỏa từ thị xã Tây Ninh theo Quốc lộ 22 đến căn cứ.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6169


Lính của PTL


« Trả lời #73 vào lúc: 10 Tháng Một, 2010, 06:12:00 AM »

Diễn biến cuộc chiến đấu:

1500 giờ ngày 25 tháng 1 năm 1960, các lực lượng tham gia trận đánh chó mặ tại vị trí tập kết ở Sóc Ky. Sau khi kiểm tra lần cuố cùng về công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu, đến 17 giờ 30 các bộ phận hành quân vào chiếm lĩnh trận địa xuất phát tấn công trên các hướng. Đến 22 giờ 30, các đơn vị đã chiếm lĩnh xong trận địa. Theo kế hoạch chiến đấu thì giờ nổ súng được quy định là 23 giờ 30 phút ngày 25 tháng 1 năm 1960. Nhưng vào khoảng 23 giờ khi ta đã chuẩn bị sẵn sàng nổ súng thì một tình huống bất ngờ diễn ra. Đó là việc địch thổi còi tập hợp quân trong căn cứ, đồng thời cùng lúc có nhiều xe ôtô chạy từ hướng thị xã Tây Ninh về căn cứ Tua Hai. Trước tình hình đó ban Chỉ huy trận đánh quyết định tạm hoãn giơ nổ súng theo kế hoạch để nghiên cứu nắm lại tình hình, xem kế hoạch trận đánh có lộ bí mật không. Sau khi xem xét, đánh giá mọi hành động của địch, Ban Chỉ huy trận đánh kết luận là kế hoạch trận đánh không bị lộ, ta vẫn giữ và bảo đảmbí mật (Về sau ta mới biết địch tập hợp lực lượng vò thời điểm đó là do có một bộ phận của Tiểu đoàn 1/23 được điều lên Khe Độc lập trên tỉnh lộ 4 để tham gia cuộc càn quét ngay hôm sau theo kế hoạch của chúng. Còn số xe ôtô vận tải chạy vào căn cứ Tua Hai là số xe chở lính và sĩ quan của trung đoàn đi dự liên hoan do Sư đoàn 21 tổ chức tại Sân vận động thị xã Tây Ninh từ chiều 25 tháng 1 trở về.

Đúng 00 giờ 30 phút ngày 26 tháng 1 năm 1960 lệnh tiến công căn cứ Tua Hai bắt đầu. Theo kế hoạch, đồng chí Ba Bảy tổ trưởng bộc phá mũi 1 nhanh chóng dùng mìn thổi đánh vào nhà ban chỉ huy trung đoàn địch. Xác định được tầm quan trọng của nhiệm vụ được giao, để chắc ăn anh giữ trái mìn lớn, giật nụ xòe, hi sinh thân mình tạo tiếng nổ làm lệnh tiến công cho toàn trận địa. Sau hiệu lệnh tiến công, lập tức tổ đặc công ở mũi 2 cùng dùng min thổi, thủ pháo đánh vào khu nhà ngủ của sĩ quan trung đoàn. Sau đó cả mũi 1 và mũi 2 phối hợp đánh vào khu doanh trại Tiểu đoàn 1/32 ở hướng Bắc căn cứ rồi phát triển đánh sang Tiểu đoàn 2/32. Cùng lúc, ở hướng Nam, mũi 3 và 4 cũng nhanh chóng dùng bộc phá, thủ pháo, lựu đạn tiến công vào Tiểu đoàn 3/32  và Tiểu đoàn 2/32, khu quân xa, đại đội pháo binh. Các mũi tiến công đã dùng mìn lõm và mìn, pêta có lượng nổ lớn đánh liên tục và nhanh chóng tiêu diệt được địch, chiếm được 3 kho vũ khí.

Trên hướng Bắc, khi ta đánh bộc phá vào nhà nghỉ của sĩ quan và lực lượng ta nhanh chóng xung phong vào đánh chiếm mục tiêu thì bất ngờ từ một vọng gác ở bờ thướng phía Đông địch dùng một khẩu đại liên bắn dọc vào bờ tướng phía trong gây thương vong cho các đồng chí Tư Đen, Sau Tươi, Năm Nhỏ… Trước tình hình đó đồng chí Bảy Tâm đã vừa tổ chức lực lượng bắn ngăn chặn địch, vừa dùng một bộ phận men theo bờ tường nhanh chóng tiêu diệt khẩu đại liên địch, tạo điều kiện cho ta tiếp tục phát triển cuộc chiến đấu. Khi phát triển đánh sang Tiểu đoàn 2/32, ta còn tiêu diệt một số xe quân sự. Tiến công tới đâu ta gọi hàng tới đó nên lực lượng ta nhanh chóng làm chủ trận địa phía Bắc. Hàng trăm tên địch xin hàng. Các đồng chí Nguyễn Hữu Xuyến, Mai Chí Thọ, Võ Cương đã vào ngay trận địa mới chiếm lĩnh, kịp thời chỉ huy phát triển cuộc chiến đấu. Ta lấy đại liên và trung liên bắn khống chế về phía Tây để ngăn chặn địch hỗ trợ cho cánh phía Nam. Ta cho thu hồi vũ khí, tổ chức cho dân công vào vác từng bó súng ra ngoài.

Ỏ hướng Nam và Đông Nam, khi có lệnh tấn công, các chiến sĩ đặc công đã liên tục dùng mìn thổi, bộc phá, thủ pháo phối hợp cùng bộ binh tiến công vào Tiểu đoàn 3/32, khu quân xa và đại đội pháo binh. Lực lượng ta nhanh chóng phát triển chiến đấu, chiếm kho súng và xe vận tải địch. Khi ta đánh vào Tiểu đoàn 3/32 có bộ phận cuối của tiểu đoàn lợi dụng bờ tường ở phía Nam bắn vào bên trong ngăn chặn ta, ta lấy đại liên, trung liên trong kho ra bắn chặn đối diện với địch buộc chúng phải bỏ chạy. Ta cũng hoàn toàn làm chủ trận địa phía Nam tạo điều kiện cho mũi 3 sắp xếp vũ khí chiến lợi phẩm lên 3 xe vận tải để chuyển về căn cứ.

Lực lượng dân công gồm toàn đảng viên, đoàn viên đã theo sát các đơn vị chiến đấu. ta đánh chiếm và làm chủ trận địa đến đâu thì dân công có mặt kịp thời tại đó thu vũ khí vận chuyển ra ngoài. Trong thời gian ngắn, lực lượng dân công và bộ đội đã đem hết khả năng để mang vũ khí, có nhiều đồng chí mang tới 5, 6 khẩu súng các loại. Các chiến sĩ ta được lệnh bỏ súng cũ lấy súng mới trang bị cho mình. Đồng chí Tám Lê Thanh nhanh chóng lấy 3 xe vận tải của địch, xếp súng đạn lên, rồi sử dụng anh em Bình Xuyên biết lái xe và hàng binh địch, có lực lượng của múi 3 hộ tống, lái xe chở vũ khí từ căn cứ Tua Hai theo Quốc lộ 22 hướng Trái Bí, về căn cứ.

Nói về dùng xe ôtô địch để chở vũ khí về căn cứ, khi xe vừ ra khỏi căn cứ khoảng 1 kilômét thì một xe bị trật bánh, không chạy được ta phải bỏ lại. Hai xe còn lại chạy tiếp, theo kế hoạch đến ngã ba sẽ rẽ phải đường về căn cứ Trà Vông nhưng vì ban đêm xe chạy quán một đoạn và bất ngờ bị một lực lượng địch nổ súng chặn lại. Trên xe ta có đại liên và trung liên túc trực, nên đã kịp thời đánh lại địch và cho xe rẽ sang phía đông Quốc lộ 22. Nhưng khi rẽ phải vào rừng, xe lại gặp chướng ngại vật không chạy được. Lực lượng ta đi hộ tống khoảng một trung đội đã phải nhanh chóng lấy vũ khí trên xe xuống mang đi nhưng vì súng đạn nhiều quá người ít ta không mang hết được. Do phải cắt rừng mà đi bộ, mang vác nặng nên đến ngày hôm sau bộ phận này mới về đến căn cứ ta. Người về ai cũng nặng trĩu súng đạn. Đồng chí Lê Thanh cũng mang tới 16 khẩu Colt 12.

Sau khi thu vũ khí, bắt tù binh, giải thích và thả tù binh, các đơn vị được lệnh rút khỏi căn cứ Tua Hai. Đến 3 giờ 30 phút ngày 26 tháng 1 năm 1960, lực lượng ta đã rời khỏi trận địa. Địch có bắn rải rác theo ta nhưng không ảnh hưởng đến đội hình rút quân củ ta. Các đơn vị bộ đội và dân công đã rút về vị trí quy định theo kế hoạch, bảo đảm an toàn.

Trên hướng chặn viện, vào khoảng hơn 3 giờ 30 ngày 26 tháng 1, địch cho một đoàn xe chở lính từ hướng thị xã Tây Ninh theo Quốc lộ 22 lên căn cứ Tua Hai. Khi đoàn xe lọt vào trận địa phục kích ta cho nổ mìn và nã súng vào đoàn xe địch buộc chúng phải dừng lại. Sau một thời gian chiến đấu, lực lượng ta rút lui theo kế hoạch.

Kết quả là ta đã tiêu diệt sở chỉ huy Trung đoàn 32 Sư đoàn 21 ngụy, diệt và làm tan rã Tiểu đoàn 1 và 2, diệt đại đội pháo, chi đoàn xe thiết giáp, tiêu hao Tiểu đoàn 3/32, bắt giáo dục, thả tại chỗ 500 tù binh. Ta thu hơn 1600 súng các loại, nhiều đạn, phá hủy một số xe quân sự địch. Lực lượng ta hi sinh 7 đồng chí, bị thương 12 đồng chí.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6169


Lính của PTL


« Trả lời #74 vào lúc: 10 Tháng Một, 2010, 06:13:25 AM »

Phúc trình của Tư lệnh Sư đoàn 21 Trần Thành Chiêu về thành Nguyễn Thái Học bị tiến công đêm 25 rạng sáng 26 tháng 1 năm 1960 trình Tổng tham mưu trưởng Lê Văn Tỵ như sau:

“Căn cứ Tua Hai đã bị tiêu diệt. Mọi cánh quân ứng cứu đã bị chặn lại… Già nửa đại đội thiết giáp và đại đội pháo nòng dài bị phá hủy. Toàn bộ công sự trong thành Nguyễn Thái Học đều bị sụp đổ. Trại lính bị thiêu cháy. Hơn 500 sĩ quan, binh lính bị tiêu diệt. Các kho vật chất đều bị thiếu cháy, hiện vẫn còn kho đang cháy âm ỉ. Chỉ sau một đêm, một lượng vật chất đủ cung cấp cho hơn một ngàn lính làm nhiệm vụ khống chế một vùng biên giới đều mất sạch. Chưa kể một kho vũ khí quan trọng đã lọt vào tay Việt Cộng. Thống kê sơ bộ đã mất trên 1.500 khẩu súng… “(1).

Phúc trình của đại tá Nguyễn Hữu Có Tư lệnh quân khu 1 về cuộc tấn công của Việt Cộng vào doanh trại Trung đoàn 32/21 tại Trảng Sụp đêm 25 rạng 26 tháng 1 năm 1690 có ghi: “Cánh quân thứ hai của địch sau khi đốt cháy dãy nhà ngủ của sĩ quan 3 tiểu đoàn, tiến nhanh chiếm các kho vũ khí của tiểu đoàn 1/32 và 2/32.

Cánh quân này biết rõ tên họ và chỗ ngủ của vị chỉ huy tiểu đoàn 1/32 nên đã vào trước tận nơi gọi tên đại úy Chuyên.

Sự kháng cự của Tiểu đoàn 1/32 và 2/32 dường như không có gì, bị tấn công bất ngờ và các kho vũ khí bị chiếm…”.

Ở cánh quân thứ nhất của địch… “sự kháng cực của đại đội trọng pháo rất yếu ớt vì đa số binh sĩ không có súng. Đại đội trọng pháo có đem ra kho được một khẩu súng cối 81 li và bắtn được vài  phát về hướng Tây Bắc”(2).

Bản kê khai số liệu vũ khí và vật liệu của Trung đoàn 32/21 bị đánh mất trong cuộc tấn công ngày 26/1/1960 ghi:

Vũ khí: Súng lục Colt 45: 62 khẩu; Tiểu liên Thompson: 22; Súng cacbin: 173; Súng trường Garant: 451; Súng trung liên Bar: 57; Súng đại liên 30: 5; BKP: 6078; Nòng súng cối 81 li: 1; Súng phóng hỏa tiễn: 1; Đại pháo 57 li: 4; Vật liệu truyền tin; Máy điện thoại E8: 8 cái; Máy AN PRC6: 7 cái; Máy SCR300: 3 cái; Tổng đài BD71: 5.

Phối hợp với trận Tua Hai, theo đúng kế hoạch đã được Xử ủy duyệt, đêm hôm sau 27 tháng 1 năm 1960 đúng vào đêm 29 tháng chạp rạng mùng 01 Tết Canh Tý, quân ta tiếu công chi khu Đồng Xoài ở phía Đông Bắc Chiến Khu Đ. Ta đã huy động C250, C200 và một trung đội C59 vào trận đánh. Chỉ huy trận đánh là đồng chí Lâm Quốc Đăng Phó Ban Quân sự miền Đông và các đồng chí Năm Hoa, Hồng Sơn. Chính trị viên là đồng chí Tư Việt Hồng.

Ta đã tập kích bất ngờ vào lúc địch ít đề phòng nhất (đêm ba mươi Tết) và đã nhanh chóng tiêu diệt chi khu Đồng Xoài cắm vào giữa chiến khu Đông Bắc của ta, thu hàng trăm súng. Việc tiêu diệt chi khu Đồng Xoài nằm trên Quốc lộ 14 ngay đêm sau trận tiêu diệt căn cứ Trung đoàn 32 làm quân địch ở Bộ Tổng tham mưu ngụy thêm bối rối.

Tiếp đó ta phát triển đánh Phú Riềng, Nước Vàng và tiêu diệt tiếp chi khu Bù Đăng mở đường để ta làm chủ cả vùng rừng núi Đông và Bắc miền Đông Nam Bộ.

Cùng thời gian với Tua Hai, đêm 25 tháng 1 năm 1960 Long An mở đầu nổi dậy và khởi nghĩa ở địa phương bằng trận Đức Lập. Nhờ có ba cơ sở nội tuyến mở cửa cho lực lượng vũ trang từ bên ngoài đột nhập diệt tên đồn trưởng và bắt sống toàn bộ thu 15 khẩu súng và nhiều đạn dược.

Chiến thắng Đức Lập vang lên với bản Nhật lệnh của Bộ Chỉ huy quân giải phóng Long An kêu gọi toàn dân đứng lên khởi nghĩa.

Ngày 28 tháng 1 năm 1960 đúng mùng một Tết một bộ phận d508 Long An diệt đồn Đông Thạnh ở Cần Đước. Đến đêm 28 tháng 1 đến lượt đồn tề xã Thạnh Phú Long huyện Châu Thành bị tiêu diệt.

Cùng với Tua Hai và tiếp sau Tua Hai hàng loạt đồn bót, chi khu bị tiêu diệt, hàng loạt địa phương đồng loạt nổi dậy khởi nghĩa.

Như vậy là khi được Trung ương Đảng thông báo cho vũ trang đấu tranh, các trận Cái Tàu (25.8.1959), Mang Rổ, Chà Là ở U Minh, trận giồng Thị Đam - Gò Quản Cung (26.9.1959) ở Hồng Ngự, cuộc khởi nghĩa Trà Bồng (28.8.1959) mở ra khởi nghĩa từng phần ở Cà Mau, Kiến Phong và miền Tây Quảng Ngãi. Đến đây khi Nghị quyết 15 của Trung ương được phổ biến, trận thắng lớn Tua Hai tiêu diệt cả căn cứ quân sự lớn Nguyễn Thái Học chỉ cách Sài Gòn 100 kilômét đường bộ, đánh quỵ một trung đoàn quân chính quy ngụy, thu trên ngàn rưỡi khẩu súng, đã nổ vang như sấm dậy mở ra cao trào vùng dậy tiến công và khởi nghĩa trên toàn miền Nam. Cả Nam Bộ từ miền Đông, miền Trung đến miền Tây bước lên cao trào Đồng khởi với nhiều hình thức sáng tạo phong phú.

Trận Tua Hai (26.1.1950) cũng là trận tháng lớn tạo ra bước ngoặt chuyển thế cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công đánh bại quân thù và là trận thắng giòn giã đầu tiên của chiến tranh cách mạng Việt Nam, đánh lại chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ.


(1), (2)Hồ sơ tư liệu địch - Ban Thông tin tư liệu Phòng Khao học Công nghệ và Môi trường Bộ Tham mưu Quân khu 7.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6169


Lính của PTL


« Trả lời #75 vào lúc: 11 Tháng Một, 2010, 07:14:05 AM »

Chương VII

CAO TRÀO ĐỒNG KHỞI Ở MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

Khởi nghĩa ở Tây Ninh

Hòa với khí thế chiến thắng ngút trời Tua Hai phong trào đồng khởi ở Tây Ninh dâng cao trong trạng thái “tức nước vỡ bờ”. Tỉnh ủy Tây Ninh họp hội nghị mở rộng, chủ trương:

- Phát động toàn Đảng, toàn dân vùng lên diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ.

- Khẩn trương thành lập các tổ, đội vũ trang, hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị. Đẩy mạnh hoạt động binh vận, móc nối lại cơ sở nội tuyến để phục vụ đấu tranh chính trị vũ trang.

- Khuếch trương chiến thắng Tua Hai vận động toàn dân trong tỉnh không phân biệt lương giáo nhất tề vùng lên tự giải phóng.

Khắp nơi trong tỉnh, khí thế khởi nghĩa bừng bừng nổi dậy.

Về phía địch, trận Tua Hai đã như sét đánh làm chúng hoảng sợ. Hàng loạt các đồn bót dọc Quốc lộ 22 từ trận địa đầu Tây Ninh đến biên giới Campuchia và dọc tỉnh lộ 13 và 14, quanh tỉnh lị Tây Ninh vội vã rút chạy. Cũng như bảo an, dân vệ, bọn tề ở các xã trong tỉnh cũng hoảng sợ không kém. Những tên ác ôn tay sai và cả tỉnh trưởng Tây Ninh đến đêm đều phải lẩn trốn đi nơi khác. Vùng nông thôn trong tỉnh bị bỏ trống.

Hầu khắp tỉnh Tây Ninh, đi đến đâu cũng vang dậy tiếng trống, tiếng mõ tre, thùng thiếc xen lẫn với tiếng súng của đồng bào ta vây đồn bót, truy bót bọn ác ôn. Ở huyện Châu Thành chỉ trong vòng một tháng, với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, nhân dân đã vùng dậy diệt 13 đồn bót.

Ngay trong đêm mồng 7 Tết Canh Tý bằng ba mũi giáp công, nhân dân xã Thanh Điền đã chiếm bót Hàng Đường và bót nhà vuông cháy. Chị em phụ nữ Thanh Điền đã dùng công tác binh vận và vũ trang lấy bót Ô.co.nel làm chủ tình hình trong 10 ngày một nơi cách trung tâm thị xã 1 kilômét. Châu Thành có 2 tổng: tổng Phước Hưng có 7 xã thì 6 xã chính quyền do dân làm chủ, tổng Hòa Ninh có 8 xã thì 5 xã chính quyền đã về tay nhân dân.

Ở huyện Trảng Bàng, các tổ đội vũ trang vừa mới thành lập đã nhanh chóng triển khai về các xã hỗ trợ cho bà con nổi dậy. Các xã Đôn Thuận, Lộc Hưng, Phước Lưu, Phước Chỉ, Bình Thạnh, An Tịnh, nhân dân ta đã gình quyền làm chủ. Xã Gia Lộc có hai nông dân tay không cũng hù dọa tóm được một tên thám báo giải về giao cho đội công tác. Xã nằm sâu trong vùng địch như An Hòa,, Gia Bình, khí thế quần chúng cũng dân cao, cơ sỏ phục vụ tốt, ta diệt được ác ôn, trấn áp được nhiều tên khác khiến quân địch phải nơm nớp lo sợ.

Ở huyện Gò Dầu, quần chúng liên tiếp xuống đường đấu tranh kêu gọi binh lính ngụy quay súng về với nhân dân. Các đội tự vệ ở đây đã làm chức năng “nòng cốt”, bảo vệ dân, hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị, binh vận. Nhiều tên ác ôn ở các xã Thạnh Đức, Phước Thạnh, Hiệp Thạnh, Thạnh Phước bị trừng phạt. Ta nhân danh Tòa án nhân dân treo bản án trấn áp nhiều tên khác. Bọn  ác ôn chùn bước, ban đêm chui vào đồn bót không dám ngủ nhà. Quần chúng ở các xã nói trên đã nổi dậy làm chủ trên nhiều mức độ(1).

Ở huyện Dương Minh Châu, số người tham gia đánh Tua Hai có 42 đồng chí (chủ yếu là dân công). đến chiều mùng một Tết ta đã đánh địch tại Bàu Chòi (Phước Minh). Ta mở tòa ná nhân dân xét xử tội trạng 3 trưởng ấp ác ôn, tuyên án tử hình một tên. Đêm mùng hai (29.1.1960) du kích Cầu Khởi tiến công bọn bảo an bảo vệ cho “công chánh” ngụy ở đường 26, thu 1 trung liên, 6 tiểu liên. Kết họp nội công ngoại kích ta đánh tiêu diệt các đồn: Bình Linh, Chà Là, Quy Thiện. Địch chiếm lại đồn Quy Thiện, ta dùng lực lượng chính trị của quần chúng đấu tranh bức rút. Đồn Phan cũng bị ta đánh hai lần bằng kết hợp với binh vận, địch mới rút bỏ(2).

Ở huyện Phú Khương (Tòa Thánh - nay là huyện Hòa Thành) đồng bào tôn giáo Cao Đài yêu nước được ta phát động đã đấu tranh với địch, rời bỏ các khu bị địch tập trung rở về ruộng vườn cũ sản xuất, sinh sống.

Đáp ứng lời kêu gọi phát triển lực lượng của tỉnh ủy, nhân dân các địa phương trong tỉnh đã náo nức đưa con em tham gia lực lượng vũ trang. Lực lượng vũ trang tỉnh từ 14 cán bộ, chiến sĩ ban đầu, với súng Tua Hai và thanh niên tình nguyện đến cuối tháng 5 năm 1960 đã phát triển thành 2 đại đội lấy tên D14. Huyện Châu Thành thành lập Đại đội 40. Huyện Gò Dầu - Trảng Bàng thành lập Đại đội 33A. Huyện Dương Minh Châu, Đại đội 31. Huyện Bến Cấu, Đại đội 61. Thị xã có lực lượng 2/45. Huyện Tòa Thánh thành lập 1 trung đội vũ trang tuyên truyền. Trong 49 xã toàn tỉnh có 44 xã có mỗi nơi 1 tiểu đội du kích. Đến tháng 10 năm1960, tỉnh thành lập thêm Đại đội đặc công J15A, Đại đoàn công binh J15B. Đến cuối năm 1960, lực lượng vũ trang tỉnh đã cơ bản được trang bị đủ vũ khí, mặc dù có nhiều súng Tua Hai nhưng 70 phần trăm là lấy của địch sau Tua Hai.

Như vậy là trong cao trào đồng khởi ở Tây Ninh, trong năm 1960, quân và dân Tây Ninh đã kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và binh vận gỡ dược 30 đồn bót địch. Đại bộ phận quân địch co cụm về vùng thị trấn, thị xã. Ở các nơi khác, bộ máy kìm kẹp bị tan rã hoặc vô hiệu hóa từ 70 đến 80 phần trăm. Nhân dân Tây Ninh đã thực sự làm chủ 24 xã, giải phóng cơ bản 19 xã khác trong tồng số 49 xã của toàn tỉnh lúc bấy giờ.

Hàng trăm binh lính, sĩ quan, tề điệp có nợ máu với nhân dân đã bị đền tội. Hơn 50 phần trăm đồn bót địch bị ta bức phá. Tất cả các khu trù mật mà địch đã bỏ nhiều công sức để xây dựng như Bời Lời, Truông Mít, Giồng Nắng, Bổ Túc, Mỏ Công đều bị nhân dân ta phá vỡ.

Vùng căn cứ kháng chiến được mở rộng, hình thành thế liên hoàn nối liền với Đông Bắc Campuchia rộng lớn, tạo thế hành làng chiến lược nối liền giữa miền Nam với Trung ương xuyên suốt chiến khu Đ đến Tây Nguyên Trung Bộ và các tỉnh miền Trung, miền Tây Nam Bộ. Sau bao năm bị dồn nén, nhân dân Tây Ninh đã vùng dậy với sức mạnh tổng hợp to lớn từ tiếng kèn xung trận Tua Hai vang lừng.


(1)Theo Nguyễn Văn Hải nguyên Bí thư Tỉnh ủy Tây Ninh: Chiến thắng Tua Hai sách đã dẫn, trang 220-222.
(2)Theo Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh: Lịch sử Lực lượng vũ trang tỉnh Tây Ninh (1954-1975) Ban Khoa học Lịch sử Quân sự. Năm 2001. Tr 116-118.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6169


Lính của PTL


« Trả lời #76 vào lúc: 11 Tháng Một, 2010, 07:15:27 AM »

Khởi nghĩa ở Thủ Dầu Một

Ngày 31 tháng 1 năm 1960 tại căn cứ Giếng Chảo rừng An Điền (Bến Cát), Tỉnh ủy Thủ Dầu Một họp mở rộng để quán triệt Nghị quyết 15 và bàn về kế hoạch khởi nghĩa trên toàn tỉnh.

Đánh giá phong trào cách mạng trong tỉnh, Tỉnh ủy nhận định rằng phong trào được giữ vững và phát triển nhờ có sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị và hoạt động vũ trang. Thành công nhất là công tác binh vận, ta đã xây dựng được 220 cơ sở nội ứng trong hàng ngũ dân vệ, bảo an và ngụy quyền cơ sở. Có đại đội bảo an ở Lộc Ninh 25% là cơ sở nội ứng của ta.

Về lực lượng của Đảng trong tỉnh, tổng số đảng viên có 330 đồng chí với 46 chi đoàn thanh niên lao đọng. Đông đảo quần chúng cách mạng trung kiên, tích cực và cảm tình đang phát triển trên tất cả các vùng.

Tình hình ở các huyện: Bắc Bến Cát không còn tề mà chỉ còn đồn bót, ở Nam Bến Cát, địch co cụm trong đồn trước hoạt động vũ trang ta. Ở Châu Thành thế kìm kẹp của địch bị đánh lỏng. Ở Lái Thiêu chỉ còn vài xã phong trào yếu. Vùng đồn điền cao su và đồng bào các dân tộc ở Lộc Ninh, Hớn Quản, Dầu Tiếng khí thế cách mạng của công nhân và quần chúng sôi sục chỉ chờ dịp là vùng dậy đánh đổ kẻ thù.

Về lực lượng vũ trang Xứ ủy giao về cho tỉnh một trung đội của C70 và cấp cho tỉnh 50 cây súng lấy ở Tua Hai để phát triển lực lượng. Với số súng này, tỉnh xây dựng thêm hai trung đội tập trung.

Tỉnh ủy quyết định lấy ngày 25 tháng 2 năm 1960 làm ngày khởi nghĩa trong toàn tỉnh. Nam Bến Cát được chọn làm điểm đột phá.

Ở xã Thới Hòa Nam Bến Cát, vào ngày 22 tháng 2 năm 160 nhân cơ hội bọn línhở đồn Thới Hòa vừa lĩnh lương, chi bộ lãnh đạo cơ sở nội ứng tổ chức một tiệc rươu ngoài quán, nơi ta đã phục kích sẵn lực lượng. Cơ sở nội ứng ta chủ động gom súng trước, đến khi cả bọn đã ngấm rượu, ta nổ súng diệt những tên ác ôn và gọi số còn lại đầu hàng. Bên ngoài, lực lượng quần chúng kết hợp với gia đình binh sĩ kéo tới đồn kêu gọi anh em, chồng con trở về với cách mạng. Tiếng trống mõ, thùng thiếc vang dậy cả xóm làng. Kết quả quần chúng chiếm đồn Thới Hòa, thu toàn bộ vũ khí, giải tán tề vệ, đốt phá trụ sở ngụy quyền và xây dựng ngay lực lượng vũ trang tự vệ xã.

Đúng vào đêm 25 tháng 2 năm 1960, khởi nghĩa đồng loạt diễn ra ở nhiều nơi. Ỏ nam Bến Cát, các xã Phú An, An Điền, An Tây, khi quần chúng nổi thùng, mõ thanh viện, các tố hành động truy lùng, trừng trị ác ôn lẩn trống trong xóm ấp. Thanh niên mang gậy gộc tập trung từng đoàn hành quân uy hiếp địch. Cùng lực lượng vũ trang bao vây các đồn Phú An, Rạch Bắp… dùng đất đèm bỏ vào ống tre, tĩnh mắm đốt nổ vang trời giả pháo lớn làm cho địch khiếp sợ. Rạng sáng ngày 26 tháng 2 hàng ngàn đồng bào kéo lên xã, quận đấu tranh trực diện với địch. Kết quả địch ở các đồn Phú An, Rạch Bắp phải rút chạy. Bọn tề xã, tề ấp, gián điệp, số bị diệt, số bỏ chạy. Lợi dụng thời cơ đó, cơ sở ta ở các đồn Hòa Nhựt, Tân Hóa vận động binh sĩ làm binh biến, diệt bọn chỉ huy phản động ác ôn rồi mang súng trở về với cách mạng.

Ở Tân Định, lực lượng vũ trang kết hợp nội ứng diệt trung đội dân vệ, thu toàn bộ vũ khí. Thừa thắng lực lượng vũ trang huyện Châu Thành phối hợp với quần chúng nổi dậy đập phá trụ sở ngụy quyền, truy bắt và diệt tề điệp ác ôn, phản động.

Ở Lái Thiêu, các tổ hành động được quần chúng nổi dậy thanh viện hỗ trợ, đã tiến hành diệt ác, trừ gian đồng loạt ở các xã Thuận Giao, Bình Chuẩn, Bình Hòa, Hòa Lân. Ngây hôm sau 25-2 ta chuyển sang hoạt động ở An Sơn, Anh Thạnh…

Sang đợt hai, phong trào khởi nghĩa diễn ra khắp nơi trong toàn tỉnh. Ở Bến Cát, các xã Long Nguyên, Kiến An, Kiến Điền, Chánh Phú Hòa, Thanh An, Thanh Tuyên… kết hợp, nổi dậy và tấn công bao vây đồn bót với trừng trị ác ôn, lực lượng vũ trang cùng nhân dân bức rút, bức hàng nhiều đồn bót địch đóng sâu trong nông thôn. Nhiều ban tề xã bị giải tán, nhiều xã giải phóng liên hoàn thành khu vực rộng lớn.

Ở Châu Thành, sau thắng lợi khởi nghĩa đợt đầu ở Tân Định, phong trào khởi nghĩa lan rộng ra các xã An Hòa, An Lợi, Vĩnh Tân, Chánh Lưu, Bình Mỹ, Phú Chánh.

Ở Lái Thiêu, khởi nghĩa lan rộng ra các xã An Sơn, An Thạnh, Bình Nhâm, Hưng Định, Phú Long, Vĩnh Phú.

Ở Tân Uyên, Phú Giáo, phong trào khởi nghĩa bắt đầu từ các xã Chiến khu Đ lan ra các vùng gần thị trấn. Đồng bào và lực lượng vũ trang tiến công hàng loạt trụ sở tề xã, ấp, trừng trị nhiều tên ác ôn ở Phước Hòa, An Linh, Phước Sang, Mỹ Lộc, Đất Cuốc, đánh giao thông phá hủy nhiều xe địch, giết chết quận trưởng Tân Uyên.

Ở thị xã Thủ Dầu Một và các thị trấn, hàng ngàn quần chúng nổi dậy đòi giảm thuế, đòi quyền dân sinh, dân chủ, chống bắt lính đôn quân.

Ở đồn điền cao su Dầu Tiếng, được sự phối hợp của du kích hai xã Long Nguyên và Thanh An, lực lượng vũ trang Dầu Tiếng tổ chức thành một đơn vị mang tên Tiểu đoàn 500 trong đợt đầu tập trung ở Làng Ba, Làng Mười, tiến hành vũ trang tuyên truyền gây thanh thế mở đầu phong trào khởi nghĩa trong các đồn điền cao su miền Đông. Trong đợt hai, hầu hế các làng đều nổi dậy, diệt ác, phá kìm, dùng trống mõ thanh viện tiến công bao vây các đồn bót. Lực lượng vũ trang tổ chức tiến công đồn bót, đốt phá trụ sở ngụy quyền, hỗ trợ cho quần chúng lùng diệt tề điệp ác ôn. Bốn ban tề ở Dầu Tiếng, Bến Củi bị đánh tan tác. Bọn tề ở 21 làng Dầu Tiếng và các làng 1, 2 Bến Cúi khiếp sợ chạy hết về thị trấn. Quần chúng cách mạng làm chủ hầu hết các làng ở đồn điền Dầu Tiếng. Hàng trăm thanh niên hăng hái gia nhập lực lượng cách mạng.

Tại các đồn điền cao su Hớn Quản, Lộc Ninh, trước ngày đồng khởi nhiều chi bộ Đảng và cơ sở quần chúng ở các đồn điền Lộc Ninh, Lợi Hưng, Xa Cô 6, khu vực Técnich, Tân Khai, Minh Thạnh, Xa Cam, Xa Cát… được xây dựng và củng cố vững chắc. Ở Hớn Quán, Lộc Ninh mỗi nơi tổ chức một trung đội tập trung vũ trang tập trung sẵn sàng hỗ thợ cho quần chúng nổi dậy. Đội du kích của xã Phước Hòa thành lập. Ở Thuận Lợi, Đakia, Bù Đốp còn có đội vũ trang nữ của Ban Thiểu số vận gồm các chị em dân tộc.

Phối hợp với phong trào khởi nghĩa trong toàn tỉnh, công nhân và đồng bào ở các làng 2, 5, 7, 8 và các sở Bù Đốp, Brêlin đã nổi dậy diệt ác ôn, phá kìm kẹp của địch. Ở Hớn Quản, đồng bào Minh Thạnh và bốn ấp ven thị trấn An Lộc, Xa Cộ 6 cùng nổi dậy khởi nghĩa. Ở Phước Hòa, công nhân phối hợp với đội du kích thoát li phá bót Nhà Bò, tổ chức mit tinh, quyên góp ủng hộ cách mạng.

Ở Phước Long, nhiệm vụ chủ yếu là đẩy mạnh xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng căn cứ địa trong vùng đồng bào dân tộc. Bước vào đồng khởi, lực lượng vũ trang Phước Long đã tiến công tiêu diệt các đồn An Bình, Nước Vàng, mở cửa vào Đồng Xoài, giải tán các trạm kiểm lâm của địch ở các cửa khẩu. Công nhân cao su và đồng bào các dân tộc nỏi dậy phá rã tề địch ở cơ sỏ.

Qua hơn một tháng kết họp tiến công và nổi dậy tiến hành khởi nghĩa, quân dân Thủ Dầu Một đã giải phóng gần hết Bến Cát, Bắc Châu Thành và một phần Lái Thiêu, giải phóng được 25 xã trên tổng số 46 xã toàn tỉnh, 19 làng sở cao su, Dầu Tiếng, Bến Cát, Phú Riềng, Minh Thạnh và nhiều buôn sóc đồng bào dân tộc thiểu số. Trong những ngày khởi nghĩa ta đã diệt hơn trăm tên tề điệp ác ôn, giải tán nhiều tề vệ, tiến công bức hàng, bức rút hàng chục đồn bót, thu 300 súng các loại. Nhìn chung ta đã mở ra được một vùng căn cứ khá vững chắc. Chiến khu Đ được mở rộng và củng cố, tạo thế liên hòa giữa các xã từ Bắc Lái Thiêu qua Châu Thành, Bến Cát, Long Nguyên, Dầu Tiếng đến vùng rừng núi Hớn Quản, Lộc Ninh và Phước Long(1).

Đầu năm 1960, Thủ Dầu Một khởi nghĩa thắng lợi. Đến tháng 10 năm 1960, nơi đây chứng kiến hai đoàn vũ trang tuyên truyền của Xứ ủy và mièn Đông bắt liên lạc được với đoàn cán bộ soi đường vào Nam gồm 25 người của Trung ương do đồng chí Phạm Lạc chỉ huy. Đoàn miền Đông do đồng chí Nguyễn Trọng Tâm chỉ huy gặp một mũi của đoàn soi đường ở Vàm Suối Đạc Rờ Ti, Nam Gia Nghĩa. Đoàn của Xứ do đồng chí Lâm Quốc Đăng gặp đoàn Trung ương tại kilômét 5 trên Quốc lộ 14B.


(1)Theo Sông Bé lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945-1975) Nhà xuất bản Tổng hợp Sông Bé, 1990, tr.214-220.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6169


Lính của PTL


« Trả lời #77 vào lúc: 11 Tháng Một, 2010, 07:16:53 AM »

Nổi dậy khởi nghĩa ở Biên Hòa:

Ở Biên Hòa sau trận ta tấn công vào đoàn cố vấn MAAG Mỹ ở Nhà Xanh (7-7-1959) quân địch càn quét, đánh phá liên miên. Một vài cán bộ ta không chịu nổ sự khủng bố của giặc đã mất khí tiết đầu hàng địch. Chỉ trong vòng mấy tháng cuối năm mà chúng chỉ điểm bắt hơn 300 cán bộ, đảng viên và cơ sở cách mạng trong đó có cả đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Ngô Bá Cao.

Đầu tháng 2 năm 1960 tại rừng Thái Hòa (Tân Uyên) Tỉnh ủy Biên Hòa họp hội nghị mở rộng để triển khai Nghị quyết 15 và khuếch trương chiến thắng Tua Hai. Căn cứ vào tình hình thực tế của tỉnh Biên Hòa là địch đã tổ chức xây dựng bôm máy kìm kẹp mạnh từ tỉnh đến xã ấp, về ta tuy tổn thất cán bộ, đảng viên bị địch bắt nhiều, nhưng thuận lợi là mỗi huyện và xã vẫn còn một số cán bộ, đảng viên và cơ sở quần chúng, nhất là nhân dân thì rất căm thù địch. Tỉnh ủy chủ trương nơi nào có thực lực và có điều kiện ta phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, trấn áp bọn phản cách mạng. Kết hợp lực lượng vũ trang của tỉnh đưa xuống, tổ chức diệt bọn ác ôn có nhiều nợ máu. Họp dân bắt bọn điểm chỉ, bọn đứng đầu các tổ chức chính trị phản động. Vận động thanh niên tham gia cách mạng, xây dựng du kích xã, phát triển bộ đội huyện, tỉnh.

Tỉnh ủy chỉ đạo trong lúc địch đang bị căng kéo đối phó khắp nơi, ta vẫn sử dụng ngay lực lượng vũ trang của tỉnh tiến hành một đợt vũ trang tuyên truyền trọng điểm là các xã trong chhiến khu Đ thuộc huyện Tân Uyên.

Đầu tháng 3 năm 160, với sư hỗ trợ của bộ đội tỉnh, nhân dân các xã Thượng Lang, Tân Tịch, Mỹ Hòa, Mỹ Lộc do đồng chí Ba Tình, Tỉnh ủy viên Bí thư Huyện ủy Tân Uyên trực tiếp chỉ đạo đã đồng loạt nổi dậy đốt phá trụ sở tề ngụy, diệt bọn ác ôn. Làn sóng khởi nghĩa nhanh chóng lan rộng khắp vùng. Chỉ trong một thời gian ngắn ta đã giành quyền làm chủ một vùng rộng lớn, tạo được bàn đạp để tiến xuống vùng sâu. Hàng chục nam nữ thanh niên hăng hái gia nhập bộ đội tỉnh huyện và du kích các xã.

Phát huy thắng lợi, lực lượng vũ trang tỉnh chia làm hai mũi tiến xuống vùng giáp ranh để hỗ trợ phát động quần chúng nhân dân nổi dậy. Một mũi ở phía Bắc cặp tỉnh lộ 16, tiếp cận thị xã Biên Hòa (Tân Hiệp, Bình Trị, Hóa An, Tân Hạnh…). Một mũi ở Nam sông Đồng Nai, cặp lộ 24 và sân bay Biên Hòa (Đại An, Tân Đinh, Thiện Tân, Bình Hòa, Bình Long, Bình Ý). Mở đầu ta diệt tên xã Phiên ác ôn ở Bình Trị, tên Báo mật thám ở xã Tân Hiệp làm rúng động bọn tề ngụy ác ôn các xã quanh vùng, tác động dây chuyền từ xã này sang xã khác.

Thực hiện phương châm “diệt một rã mười”, vừa đánh vừa khuếch trương lực lượng, phong trào khởi nghĩa phát triển nhanh, mạnh, khí thế cách mạng của quần chúng nhân dân lên cao.

Cũng trong thời gian này đồng chí Nguyễn Trọng Cát (Ba Đặc - Phó Bí thư Tỉnh ủy cùng một tiểu đội vũ trang xuống Long Thành. Tại khu rừng B Bàu Bông, đồng chí đã phổ biến tình hình, triển khai Nghị quyết 15 của Trung ương, nghị quyết của Tỉnh ủy về việc vũ trang khởi nghĩa cho cán bộ, đảng viên chủ chốt của huyện tạo nên một miền phấn khởi to lớn cho cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân.

Huyện ủy Long Thành chỉ đạo gấp rút xây dựng lực lượng vũ trang huyện và du kích các xã làm nòng cốt cho phong trào vũ trang khởi nghĩa. Đơn vị 19/5 bộ đội địa phương huyện được thành lập. Số vũ khí chôn dấu từ năm 1954 tại cánh đồng Bàu Bùng, kênh Ngọn Bát, kênh Cá Tràm, rạch Bàu Cỏ được đào lên trang bị cho bộ đội và du kích. Trong một thời gian ngắn các xã đều xây dựng được các tiểu tổ du kích, các biệt một số xã như Phước Thọ, Phước An đã phát triển hơn một tiểu đội.

Sau ba tháng tích cực củng cố và phát triển lực lượng cách mạng, huyện Long Thành quyết định phát động nhân dân các xã nổi dậy vũ trang khởi nghĩa giành quyền làm chủ xã ấp. Mở đầu phong trào giữa tháng 8/1960, lực lượng huyện kết hợp với du kích xã Phước An tổ chức diệt tên Mười Hiếm, đại úy an ninh nha đặc cảnh miền Đông. Một tuần lễ sau du kích xã Phú Hồi tiếp tục diệt tên Giáo Lưu, một tên chỉ điểm nguy hiểm ở ven Lộ 17. Những trận diệt ác mở màn thắng lợi đã tác động lớn đến phong trào cách mạng trong toàn huyện, tạo được khí thế sôi sục nổi dậy khắp nơi.

Ở thị xã Biên Hòa, đội vũ trang tuyên truyền cũng được củng cố. Lực lượng tự vệ mật được xây dựng và phát triển ở khu vực nội ô thị xã với hàng chục đội viên.

Sau các trận diệt ác, các đợt vũ trang tuyên truyền rầm rộ của quân và dân ta ở các địa phương trong tỉnh nhất là ở vùng giáp ranh huyện Vĩnh Cửu, bọn tề ngụy ở thị xã Biên Hòa và các xã vùng ven: Hiệp Hòa, Bửu Hòa, Bửu Long, Tân Phong… bị thối động. Chúng co lại trong tâm trạng lo sợ. Tại xã Hóa An được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang tỉnh, quần chúng nhân dân đã nổi dậy bắt bọn tề ngụy. Ta tổ chức míttinh buộc chúng phải nhận tội trước nhân dân, làm tay sai cho Mỹ ngụy(1).

Từ đầu năm 1960, ở Biên Hòa mặc dù tình hình rất khó khăn, với đội ngũ cán bộ đảng viên ít ỏi và lực lượng vũ trang nhỏ bé ban đầu, quân dân Biên Hòa đã anh dũng nổi dậy, xoay chuyển tình thế, từng bước xây dựng phát triển lực lượng chính trị và vũ trang, tiến hành vũ trang khởi nghĩa và đãg giành nhiều thắng lợi to lớn trong phong trào “đồng khởi” tiến công và nổi dậy, diệt ác phá kềm, giành quyền làm chủ xã ấp.


(1)Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Đồng Nai: Lịch sử lực lượng vũ trang tỉnh Đồng Nai (1945-1954) - Nhà xuất bản QĐNH - Hà Nội, 1999, tr.153-160.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6169


Lính của PTL


« Trả lời #78 vào lúc: 11 Tháng Một, 2010, 07:18:41 AM »

Đồng khởi ở Bà Rịa

Ở Bà Rịa, từ giữa năm 1959 do địch khủng bố ngày càng ác liệt, nhiều cán bộ đảng viên không còn điều kiện hoạt động hợp pháp buộc phải chuyển sang đấu tranh bất hợp pháp. Các lõm căn cứ bí mật hình thành tại Châu Pha (Hắc Dịch), Cửa Lấp (Vũng Tàu), rừng Minh Đạm (Long Đất), Long Phước, Thị Vải (Châu Thành), rừng cao su Lộ 2.

Cũng vào giữa năm 1959, theo sự chỉ đạo của Xứ ủy và Liên Tỉnh ủy, các đội công tác của Xứ ủy, Liên Tỉnh ủy và Tỉnh ủy Bà Rịa đã mở các hành lang chiến lược từ Chiến khu Đ đi Bà Rịa sang Bình Thuận và từ Bà Rịa lên Miền.

Tháng 2 năm 1960, Tỉnh ủy Bà Rịa tổ chức quán triệt Nghị quyết 15 tại Suối Đá Đen (Hắc Dịch) phát động nhân dân toàn tỉnh nổi dậy diệt ác, phá kìm giành quyền làm chủ xã ấp. Trọng điểm chỉ đạo của Tỉnh ủy là khu vực Lộ 2, khu Tam Long, Long Mỹ, Hội Mỹ.

Về lực lượng vũ trang tỉnh lúc đầu năm chỉ có C40 quân số 46 đồng chí. Sau trận Tua Hai, Ban Quân sự miền Đông đã cử hai đồng chí Năm Thanh và Chín Hường về huấn luyện kĩ thuật đặc công cho C40. Sau gần tháng rưỡi huấn luyện C40 ra quân đánh trận đầu.

Đêm 13 tháng ba năm 1960, đồng chí Phạm Khắc Hy - Bí thư Ban cán sự Cao su phát động quần chúng và tự vệ phối hợp cùng C40 do các đồng chí Lê Minh Thịnh và Nguyễn Quốc Thanh chỉ huy tiến công đồn Bình Ba mở màn cho phong trào nổi dậy vũ trang khởi nghĩa toàn tỉnh.

Đồn điền cao su Bình Ba nằm trên trục Lộ số 2 cách thị xã Bà Rịa 8km về phía Bắc. Bình Ba là nơi có chi bộ đầu tiên ở vùng Lộ 2, là cơ sở tin cậy của Đảng bộ Bà Rịa trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp. Qua những đợt “tố cộng diệt công” ác liệt của Mỹ Diệm, phong trào công nhân tổn thất lớn, nhưng chi bộ Đảng, chi đoàn Thanh niên lao động của đồn điền vẫn tồn tại và hoạt động tích cực.

Được các đơn vị thanh niên trong công nhân cao su cung cấp tình hình, vẽ sơ đồ đưa ra, C40 nắm chính xác tình hình địch trong sở. Đêm 12 tháng 3, C40 cùng lúc tiến công các bót hiến binh, bảo an và dân vệ đóng ở trung tâm đồn điền. Sau 20 phút chiến đấu ta hoàn toàn làm chủ tình hình, diệt tên trưởng bót hiến binh, bắn bị thương nhiều tên khác, thu tám khẩu súng trong đó có một trung liên phối hợp với bộ đội, công nhân cao su đốt đuốc nổi trống mõ vang động khắp vùng, trấn áp tề ngụy, diệt tên Xu Nuôi ác ôn khét tiếng ở Bình Ba làng. Ta hi sinh một, bị thương ba(1).

Chiến thắng Bình Ba tác động mạnh mẽ phong trào cách mạng trong toàn tỉnh. Cùng với Bình Ba, các xã dọc theo Lộ 2: Ngãi Giao, Xuân Sơn, Sông Cầu, Xà Bang… công nhân cao su, nông dân, đồng bào các dân tộc nổi dậy, cùng gậy gộc, dao cạo mủ, mã tấu diệt ác ôn, làm chủ xã ấp. Ở nhiều xã, du kích dùng mưu cướp súng giả để hù dọa địch, tạo thanh thế cho lực lượng cách mạng.

Ở Bình Châu huyện Xuyên Mộc, cơ sở cách mạng vận động được 20 binh sĩ trong đó cò đồn phó Lập về với cách mạng. Lập trước đây đánh phá cách mạng, nhưng khi giác ngộ và tham gia cách mạng lại rất kiên cường, sau này hi sinh rất anh dũng.

Tháng 4 năm 1960, Ban Quân sự tỉnh được củng cố, đồng chí Lê Minh Thịnh làm trưởng ban, hai đồng chí Nguyễn Quốc Thanh, Nguyễn Văn Đại làm phó ban. Tỉnh ủy và Ban Quân sự quyết định lấy một số cán bộ khung ở C40, tuyển tân binh thành lập thêm C45. Hai đại đội chia nhau hoạt động ở Đông, Tây Lộ 2.

Tháng 5 năm 1960, anh Sáu Chiến cơ sở nội tuyến trực tiếp vạch kế hoạch và tham gia cùng C40 diệt tiểu đội biệt kích ác ôn của tiểu khu tại Xuyên Mộc. Ngay sau đó Sáu Chiến đã đưa C40 về diệt gọn đồn dân vệ Xóm Rẫy (Gò Cà), diệt đồn trưởng, thu toàn bộ vũ khí và rút toàn bộ nội tuyến về xây dựng lực lượng vũ trang.

Cùng tháng 5 năm 1960, sau hơn một tháng tích cực xây dựng C45 tổ chức một trận phục kích trên địa bàn Hắc Dịch. Từ nguồn tin của các cơ sở binh vận Hắc Dịch, ta nắm được quy luật của địch là vào thứ sáu trong tuần quân địch từ Phú Mỹ vào thay phiên cho quân Hắc Dịch. Ta lập trận địa phục kích ở khu vực Bến Tàu, phía trên là rừng Giồng, phía dưới là bãi cát.

C45 lúc này mới có hai tiểu đội đã được Ban Quân sự tỉnh tăng cường thêm lực lượng tổng cộng 41 tay súng.

Đúng như dự kiến, địch hành quân đến đúng vị trí bố trí mìn thì dừng lại để đổi quân: hai trung đội từ Phú Mỹ vào và 55 quân từ Hắc Dịch ra.

Ta tính chờ địch thay quân xong sẽ đánh bọn Phú Mỹ về đồn Hắc Dịch nhưng vì lộ hải đánh luôn cả quân vào quân ra. Bị đánh bất ngờ ở cự lị gần lại bị hỏa lực áp đảo đồng loạt, bãi mìn, súng ngựa trời và các loại súng hiện có nên quân địch bị tiêu diệt phần lớn, những tên sôngs sót hoảng hốt chạy thục mạng vòa rừng. Ta bắt sống 10 tên, thu 50 khẩu súng có 3 trung liên. Ta đã diệt trên một đại đội địch, thu nhiều vũ khí, giải phóng hoàn toàn xã đầu tiên trong tỉnh, củng cố căn cứ địa cách mạng của tỉnh.

Vũ khí thu trong trận này, tỉnh chia cho các huyện. Các cơ sở nội tuyến Hắc Dịch đã đưa toàn bộ lực lượng dân vệ xã quay súng trở về tham gia lực lượng vũ trang cách mạng, nhân dân nhiều xã lân cận đem lương thực thực phẩm đến Hắc Dịch mừng chiến thắng và góp công sức xây dựng làng chiến đấu. Đồng bào dân tộc Châu Ro ở Hắc Dịch đã cùng bà con người Kinh ngày đêm tham gia đào hầm, địa đạo, xây dựng căn cứ cho Tỉnh ủy.

Có sự lãnh đạo của Huyện ủy phát động nhân dân nổi dậy giành quyền làm chủ và sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, phong trào diệt ác, phá kìm ở Hòa Long, Long Phước và khu vực Lộ 2 phát triển mạnh. Trên một trăm đồng bào Long Xuyên, Long Kiên vũ trang bằng cuốc, rựa đấu tranh trực diện tại quân Long Lễ, chống địa chủ Hoàng Anh cướp đất tại Gò Sũng, Suối Sỏi (Hòa Long). Hàng trăm đồng bào Châu Ro ấp Bầu Chính (Ngãi Giao) có cả trưởng ấp trực diện đấu tranh tại quận lị Đức Thành chống địa chủ Sáu Tơ ủi đất, cướp đất của đồng bào Châu Ro. Khu vực Lộ 2, nhiều sở cao su như Ngọc Long, Ngọc Hải, Việt Cường cũng nổi dậy một đêm, trống mõ vang động cả vùng, đồng bào đốt đuốc truy lùng ác ôn, bắt tề ấp xã, tịch thu nhiều vũ khí tạo nên khí thế cách mạng mạnh mẽ áp đảo ngụy quân, ngụy quyền.

Hầu hết các cuộc vũ trang diệt ác, phá kìm đều là kết quả có sự tham gia đắc lực của các cơ sở nội tuyến. Tháng 11 năm 1960, được cơ sở nội tuyến giúp đỡ, Đại đội 25 Long Đất đột nhập trụ sở xã Tam Phước bắt gọn 9 dân vệ, giáo dục tại chỗ rồi thả, tịch thu toàn bộ súng.

Các đội du kích và an ninh xã đến lúc này đã hỗ trợ cho phong trào nổi dậy của quần chúng, tổ chức diệt một số tên ác ôn khét tiếng. Du kích xã Long Điền đã tạo điều kiện và phối hợp với bộ đội huyện diệt một loạt tên phản bội ở Long Biên, Long Sơn và ngay tại chợ Long Điền. Chị Bảy Khánh cán bộ phụ nữ huyện, chị Tám Tâm cán bộ binh vận thường xuyên bám trụ tại thị trấn Long Điền, xây dựng cơ sỏ trong binh sĩ ngụy, nắm tin tức và cung cấp cho lực lượng vũ trang huyện nhiều vũ khí đạn dược. Du kích Phước Thọ, Phước Lợi, Tam Phước  đã diêt bọn tề ngầm, chặt “tay chân” và là một đòn mạnh đánh vào bọn tay sai.

Huyện ủy Long Đất mở tòa án xét xử những tên tay sai gian ác. Các phiên tòa ở Phước Hòa Long quy tụ rất đông đồng bào tham dự.

Trên khu vực Lộ 2, Lộ 15, lực lượng vũ trang huyện và du kích diệt một loạt tên ác ôn. Ấp trưởng, chỉ điểm, công dân vụ, cảnh sát, ấp Bầu Chính đem sổ sách đến nộp cho hội đồng xã Bình Giã xin nghỉ việc. Xã đội trưởng Mỹ Xuân cải trang thành lính đồn diệt tên đồn trưởng Mỹ Xuân. Dân vệ đồn Mỹ Xuân mang súng ra vùng giải phóng ngày càng nhiều. Địch điều một tên ác ôn khác về làm đồn trưởng Mỹ Xuân thì không mấy ngày sau bị xã đội trưởng Hai Thậm bắn bể sọ.

Đêm 25 rạng 26 tháng 11 năm 1960, Đại đội 25 Long Đất ra quân, mở trận phục kích tại Đá Găing (Lộ 44), bắn cháy một xe Jeep, diệt hai tên địch trong đó có một cố vấn Mỹ. Đây cũng là trận đầu tiên Bà Rịa diệt cố vấn Mỹ.


(1)Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Lịch sử lực lượng vũ trang Bà Rịa - Vũng Tàu (1945-1995), NXB QĐND, Hà Nội, 1999. TR.198-201.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 6169


Lính của PTL


« Trả lời #79 vào lúc: 11 Tháng Một, 2010, 07:19:45 AM »

Chương VIII

ĐỒNG KHỞI Ở MIÈN TRUNG NAM BỘ,
SỰ PHONG PHÚ SÁNG TẠO CỦA BẾN TRE ĐỒNG KHỞI

Tiến công và nổi dậy ở Kiến Phong

Kiến Phong được Khu ủy miền Trung thông báo sớm việc Trung ương Đảng cho “đấu tranh vũ trang” lại là nơi diễn ra trận thối động  giồng Thị Đam - Gò Quản Cung nên từ cuối tháng 11 năm 1959 đã mở đợt tấn công kết hợp chính trị, quân sự và binh vận, giành quyền làm chủ ở nông thôn.

Đêm 23 tháng 11 năm1959 ba đại đội Tám Trà, Chín Cứ, Bảy Phú của Tiểu đoàn 502 do chính trị viên phó tiểu đoàn Tư Sâm chỉ huy chai ba mũi tấn công vào xã Phong Mỹ đẻ hỗ trợ quần chúng nổi dậy. Quân ta chiếm và thiêu hủy đồn tề xã Phong Mỹ, kết hượp với cán bộ địa phương cùng nhân dân lùng sục gom tề, công an, liên gia, toán trưởng. Ba trăm dân gọp cùng bộ đội xử tội ác ôn. Ta bắn chết hai tên còn các tên khác ta giáo dục thả tại chỗ. Sau Phong Mỹ là hoạt động tương tự ở các xã Thiện Mỹ, Mỹ Ngãi, Mỹ Hội (Cao Lãnh) Thường Phước, Thường Thới, Tân Thành (Hồng Ngự)…

Đêm 19 tháng 12 năm 1959, có chi bộ Đảng lãnh đạo, nhân dân xã Thường Lạc nổi dậy, đánh mõ, đốt đèn đuốc kéo đi rầm rập suốt đêm uy hiếp địch. Cùng lúc cơ sỏ nội tuyến trong đồn và tề xã đứng lên tước vũ khí bọn lính. Bộ máy kìm bị tan rã, nhân dân giành quyền làm chủ.

Đến 25 tháng 12, Đại đội Chín Cứ được sự phối hợp của 3 nội ứng trong đồn và 2 cơ sở trong tề xã, đã tiến công chiếm đồn Ngã tư Thạnh Mỹ (Mỹ An) diệt tên đồn trưởng và một tên ác ôn, bắt sống số còn lại, thu toàn bộ vũ khí. Cùng lúc hàng ngàn quần chúng nổi dậy đánh trống mõ, đốt pháo, đập bảng tố cộng, xé cờ ba que, đốt hình Diệm và chia nhau lùng bắt tề điệp. Xã Thạnh Mỹ giải phóng.

Sau một đợt hoạt động có kết quả, Tỉnh ủy Kiến Phong chỉ đạo gấp rút phát triển lực lượng vũ trang nhất là du kích xã, du kích mật, biệt động và phát triển lượng binh vận. Tỉnh mở lớp đào tạo đặc công cho 42 đồng chí, thành lập Đại đội 271 cơ động tỉnh. Các đại đội của Tiểu đoàn 502 cũng đổi phiên hiệu: Tám Trà thành 272, Bảy Phú - 273, Năm Bình - 274, Chín Cứ - 276…

Tháng 12 năm 1959 Khu ủy miền Trung họp Hội nghị mở rộng quán triệt Nghị quyét 15 và nhanh chóng nhất trí: “Tháng 1 năm 1960 tiến hành khởi nghĩa đồng loạt - đồng khởi:”. Phương châm hành động là:

Phải hành động phong trào rộng khắp, không để “nổi cộm” từng điểm nhỏ khiến địch có thể tập trung lực lượng đàn áp, ta không giữ được phong trào.

Phải đưa cho được đông đảo quần chúng nhân dân vùng lên đấu tranh với địch nhưng giữ cho được thế đấu tranh hợp pháp của quần chúng. Hoạt động vũ trang phải khôn khéo, tránh “lăn dây” sang đấu tranh vũ trang đơn thuần.

Đồng chí Bí thư Khu ủy Nguyễn Minh Đường mới nói nôm na là:

Có tiếng mà không có miếng
Tránh để tình trạng kiến bu đường
Tránh tình trạng leo dây.


Thực hiện Nghị quyết Hội nghị của Khu ủy, Kiến Phong quyết định mở đợt tấn công nổi dậy mới lấy Hồng Ngự làm điểm, các huyện Mỹ An, Cao Lãnh làm diện.

Trước khi vào đợt do Khu ủy chỉ đạo thống nhất, để đánh lực lượng quân địch, Tỉnh ủy chỉ đạo tấn công địch ở xã Mỹ Hòa (Mỹ An). Đêm 04 tháng 1 năm 1960 một phân đội của Đại đội 272 và một tổ đặc công đánh sập Tháp mười tầng do địch xây dựng trên Gò Tháp, diệt hơn 10 tên địch. Tháp mười tầng cao 36m là một đài quan sát kiên cố nhằm kiểm soát trung tâm Đồng Tháp Mười giáp ranh ba tỉnh: Kiến Phong, Kiến Tường, Định Tường. Cùng lúc một phân đội của đại đội 276 và một tổ đặc công diệt đồn Chợ Mỹ Hòa, chiếm trụ sở tề xã, mở khám giải thoát 4 người của ta bị địch bắt, địch chết và bị thương 15 tên. Hai trnậ ta thu 30 súng, giải phóng xã Mỹ Hòa, Trong thời gian chuẩn bị vào đợt này, ở Thương Thới Tiền, một trung đội của Đại đội 274 chặn đánh thiệt hại một trung đội biệt kích địch ở giồng Ông Tố thu 10 súng có 1 trung liên.

Vào giờ G nửa đêm 15 tháng 1 năm 1960 đợt tấn công nổi dậy theo sự chỉ đạo của Khu ủy bắt đầu. Ở các huyện lực lượng vũ trang kết hợp lực lượng quần chúng đánh trống mõ gây thanh thế tấn công đồn bót, vây bắt tề điệp xã, ấp. Quần chúng kéo đi rầm rập, hô vang các khẩu hiệu: trừng trị bọn ngoan cố, giải tán tề, binh sĩ hãy về với nhân dân. Khí thế quần chúng càng lên cao, quân thù càng khiếp sợ. Đợt hoạt động kéo dài cả tuần lễ. Ta đã diệt các đồn, giải phóng được một số ấp xã như sau: diệt đồn Cả Cái giải phóng hoàn toàn xã Tân Thành (Hồng Ngự), diệt bót Cái Sỏ xã Bình Thạnh (Hồng Ngự), Bến Siêu ở xã Tân Huề (Thanh Bình) giải phóng 2 ấp. Ở xã Bình Thanh (Cao Lãnh) nhân dân nổi dậy chiếm bót Bình Linh, giải phóng 3 ấp. Ở Đốc Phước, quần chúng nổi dậy tước vũ khí dân về, tề xã ra đầu hàng. Đặc biệt ở xã Tân Quới (Thanh Bình) nằm giữa cù lao, chi bộ Đảng lãnh đạo quần chúng nổi dậy bên ngoài kết hợp với nội tuyến trong đồn và trong tề xã, đứng dậy kinh nghiệm giải phóng hoàn toàn cả cù lao.

Lực lượng địch trong tỉnh bị tiêu hao, ý chí và sức chiến đấu giảm sút. Bộ máy tề nhiều địa phương bị phá hỏng, phá rã. Lực lượng ta phát triển, đặc biệt là du kích xã, có xã có đến một trung đội. Vùng giải phóng được mở rộng tạo được thế liên hoàn. Chiến tranh du kích hình thành ở nhiều xã vùng sâu Đồng Tháp Mười và một số xa ven Lộ 30.
Logged

Tôi là người thợ lò,
Sinh ra trên đất mỏ
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM