Dựng nước - Giữ nước
Tin tức:
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Tư, 2014, 02:21:17 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: B41, RPG-7, РПГ-7  (Đọc 155165 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« vào lúc: 24 Tháng Một, 2008, 03:06:27 PM »

http://www.quansuvn.net/index.php?topic=1047.0

Bên đó là B40, còn đây là B41.

B41 là tên Việt Nam của súng chống tăng cầm tay РПГ-7, РУЧНОЙ ПРОТИВОТАНКОВЫЙ ГРАНАТОМЕТ РПГ-7. Phiên bản Việt Nam hay dùng là đạn RPG-7V, xuyên lõm chống tăng.

Viết là B41, nhiều người viết là B-41, nhưng tớ thấy trên khẩu súng ngày trước tớ dùng là B41.

Mịe cái bọn wiki. Trước đây mình viết là РУЧНОЙ ПРОТИВОТАНКОВЫЙ ГРАНАТОМЕТ РПГ-7 . Mịe, thằng nào cũng thể hiện khôn.
thằng nào nó sửa là реактивный противотанковый гранатомёт
Không chú ý, lại copy về đây, lại còn dịch ra tiếng việt nữa chứ. Xếp nào sử hộ bên B40 cái, tớ hết hạn sửa rùi.


Úp lên đây một số sách vở của nó.
http://minhmai.quansu.book.googlepages.com/huong_dan_sau_dung_b41_tieng_nga.pdf
http://minhmai.quansu.book.googlepages.com/manual_rpg.pdf
http://minhmai.quansu.book.googlepages.com/SovietAntitankGrenadeLauncher.UNITED.pdf


Súng B41 và kính ngắm cơ sở OPG-7 thông dụng.


Thông thường, quân ta hay tháo không dùng giá hai chân.





« Sửa lần cuối: 25 Tháng Một, 2008, 05:16:10 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #1 vào lúc: 24 Tháng Một, 2008, 04:04:50 PM »

РУЧНОЙ ПРОТИВОТАНКОВЫЙ ГРАНАТОМЕТ РПГ-7 и РПГ-7Д
RPG là súng phản lực phóng lựu chống tăng cầm tay
Tiếng Anh là ống phóng tên lửa mang trái phá "Grenades rocket launcher", hay ống phóng tên lửa chống tăng, "anti tank rocket launcher".

Sản Xuất
Đây là một trong những súng được sản xuất rộng nhất, tuy nhiên, đạn của nó hơi khó làm.
RPG-7 là loại súng do Liên Xô thiết kế và sản xuất, được chấp nhận trang bị năm 1959. Ban đầu súng bắn đạn PG-7, loại đạn ở Việt Nam sử dụng là PG-7V ra đời ở Liên Xô năm 1961. Sau này, Liên Xô cũng thiết kế nhiều loại đạn với tính năng khác nhau, trong đó có đạn sát thương, đạn cháy, đạn xuyên chống ERA. Ở Liên Xô, súng còn được dùng chung trong tổ chiến đấu 3 người dùng đạn chống tăng có điều khiển Bé Con Малютка (Tên Việt Nam là B72, mã NATO là AT-3), làm đạn tầm gần, B72 không đánh được tầm gần. Tuy nhiên ngày nay ở Nga đã có nhiều súng mới tốt hơn, bên cạnh đó B41 cũng có nhiều loại đạn mới nặng hơn và gần hơn, những sức xuyên tốt.
РПГ-7Д, RPG-7D, RPG-7Đ là kiểu súng tháo ra thành hai đoạn cho ngắn, dùng cho đổ bộ đường không.
Tên Việt Nam là B41, gọi như thế nhưng súng vẫn có được kính nòng 40mm. B41 có lẽ là nối tiếp từ B40. B40 trước đó thì có thể hiểu là Bazooka 40mm, nhưng B41 thì không, chỉ khác nhau để phân biệt. HP đã được cầm khẩu B41 do Việt Nam sản xuất, nhưng không hiểu đạn dược thế nào, Việt nam có sản xuất không, phải hỏi bác Đoành.
Trung Quốc không được chuyển giao công nghệ súng này, nhưng cũng cố gắng sao chép các phiên bản gần giống, tuy vậy, không loại nào thật sự giống. Khó khăn lớn nhất mà tầu không đạt được là phần liều phóng và đầu đạn cùng cơ chế điểm hỏa.
Paskitan trước đây có thể dùng đạn Trung Quốc. Nước này liên minh gắn bó với các phe phái Hồi Giáo Cực Đoan Apganistan, được Tầu viện trợ, có cả hai nguồn súng kiểu Liên Xô và Tầu. Sau này, Pakistan bỏ hẳn kiểu tầu và chế tạo kiểu Liên Xô, có thể họ tự nhái, cũng có thể do Ucraina chuyển giao.
IsraelIran (trước đây) cũng là hai nước làm nhái không chuyển giao công nghệ. Sau này, rất có thể Nga có trao đổi kỹ thuật với Iran.
Rất nhiều nước sản xuất có và không bản quyền, chỉ sản xuất súng hoặc sản xuất cả súng và đạn, giống hoàn toàn hay súng đạn hơi khác. Những phiên bản súng hơi khác biệt, thậm chí không dùng chung đạn xuất hiện do súng rất hiệu quả nhưng cũng tương đối khó gia công đạn, nhất là với số lượng lớn và rẻ trong điều kiện ngặt nghèo. Trong những nước này có cả những nước không nằm trong hệ thống Xã hội chủ nghĩa cũ, như Pakistan, Iran (súng có tên Saghegh), Israel (nước này sử dụng B41 rất sớm, từ năm 1967, súng đã là trang bị chính thức của lính Do Thái). Tiệp Khắc đưa vào sử dụng muộn vì họ dùng một loại súng riêng do họ sản xuất (nhiều khả năng, kiểu này chính là kiểu làm mẫu cho kiểu trung gian B40 và B41 của Tầu).
Súng ở Việt Nam chủ yếu dùng chống tăng, nhưng cũng có các công dụng chống bộ binh hay đạn cháy.

Hiện nay, súng vẫn được sản xuất quy mô lớn, chỉ tính những nơi có bản quyền hoặc bản quyền hạn chế là Bulgaria, IraqRomania và nhiều nước khác tốc độ sản xuất thấp hơn. Trung Quốc vẫn sản xuất quy mô lớn kiểu súng của họ.

Tiến Bộ
[/b] Nhắc lại một chút, RPG-1 là phiên bản sao chép Panzerfaust 150, nhưng tính năng quá kém, không được trang bị rộng. RPG-2 là phiên bản Liên Xô thiết kế lại, khác biệt thể hiện rõ, RPG-2 là vũ khí tin cậy, được phổ biến rộng, trái hẳn với Panzerfaust 150.
Những khó khăn nhất với các nhà kỹ thuật Liên Xô khi phát triển RPG-2 là hình dáng đầu đạn, tỷ khối và độ dầy tấm lõm (tấm kim loại ốp trước phần lõm thuốc nổ), ngòi nổ. Tấm lõm thực chất là đạn xuyên giáp. Nó tích năng lượng của thuốc nổ lõm, trở thành đạn chính xuyên giáp. Nhờ tấm lõm này, đạn có thể xuyên giáp dầy hơn khi chạm mục tiêu với góc nghiêng lớn. Tấm lõm và hình dáng đầu đạn cần được thiết kế chọn lựa kỹ càng. Phần ngòi nổ là một trong những điểm nan giải. Panzerfaust 150 dùng ngòi chạm nổ thông thường. Đạn lõm cần có thời điểm điểm hỏa chính xác, ở khoảng cách  vừa phải với giáp, sớm và muộn quá đều làm đạn giảm sức xuyên. B40 dùng ngòi nổ quán tính, một sáng kiến cách mạng thời đó. Gia tốc đạn trong nòng làm  ngòi chuyển từ trạng thái an toàn sang sẵn sàng, kim hỏa nhoi lên khi đạn đập mục tiêu, gòn gọi là ngòi nhoi.
Tuy nhiên, súng RPG-2 vẫn còn nhiều nhược điểm. Nhược điểm lớn nhất vận tốc đầu đạn thấp, đạn dễ mắc trong bao cát và lưới, chặn bởi các vách chắn đơn giản. Lưới chống Panzerfaust được dùng trong Thế chiến 2, được đan bởi dây thép 8mm. Hồi Kháng chiến chống Mỹ, Mỹ ngụy dùng lưới tương tự, loại lưới phổ biến trong xây dựng, từ đó dân Việt Nam gọi loại lưới mạ kẽm này là lưới B40. Tuy nhiên, cái sáng kiến này không phổ biến, mất dần từ đầu thập niên 1970 do ĐKZB41.
Phần đóng góp lớn nhất vào vận tốc B40 vẫn là thuật phóng trong nòng, đây là thuật phóng phản lực, dùng thuốc nổ đen, giống Panzerfaust 150. Thuật phóng này không phải tên lửa-rocket, nhưng phương Tây vẫn thường gọi là rocket, ở phương Tây, ngôn ngữ thường được phát triển từ những người tò mò kém văn hóa.
Tầm B40 đạt 150 mét quá gần, thấp hơn tầm bắn hiệu quả của các súng bộ binh khác.

B41 là một lớp súng mới với thuật phóng, phần tên lửa, thuốc nổ, liều lõm và ngòi nổ khác biệt, đạt hiệu quả cao nhất.  Yêu cầu gia công cũng khá khắt khe, ngay cả với ngày nay.  Nó hoàn hảo đến mức cho đến nay vẫn là hình mẫu cho súng chống tăng cầm tay. RPG-7 là súng phóng lựu trong tiểu đội bộ binh được trang bị chính thức ở Khối Xã hội Chủ nghĩa cũ. Ngoài ra, nó được nhái và dùng rộng khắp trên toàn thế giới.
Súng RPG-7 được chấp nhận trang bị thay thế cho phiên bản tiền nhiệm là RPG-2 (B40). Từ RPG-2 đến RPG-7, rất nhiều loại súng đạn mới được thiết kế, nhưng không đạt những yêu cầu quá khắt khe của Hồng Quân: tầm xa, bắn chính xác, xuyên mạnh, tin cậy. Súng B41 RPG-7 có cấu tạo đơn giản, nhưng đạn được gia công chính xác, tỷ mỷ, vật liệu đặc biệt, công nhệ cao. Súng có có phần thước ngắm hiện đại, đi kèm đèn chiếu, máy đo gió (bộ thông thường). Ngoài ra, có các bộ kính ngắm đặt biệt như kín nhìn đêm, kín hồng ngoại và đền chiều hồng ngoại, đều là những đồ kỹ thuật cao.
Đạn được đẩy bởi hai nguồn lực, trong nòng và tên lửa. Thuật phóng trong nòng cải tiến xa so với B40, áp suất rất cao nhưng tăng chậm, dùng thuốc súng không khói, điều này làm súng nặng và có hình dáng phức tạp. Phần tên lửa có cấu tạo đặc biệt, đóng góp phần lớn vận tốc tối đa. Vận tốc tối đa của đầu đạn lên tới 300m/s, đạn chưa nổ đã có sức xuyên như đạn đại bác, xuyên qua những tấm thép dày tới cm. Cộng thêm ngòi nổ ưu việt cho phép đạn xuyên qua những lưới, vách, cát... điểm hỏa chính xác trước giáp.
Quá trình thiết kế súng vượt qua nhiều vấn đề với độ chính xác. Độ chính xác của đường đạn và khả năng xuyên tin cậy của đầu đạn là những điểm đưa súng vượt xa các kiểu súng đương thời.

Súng có tầm bắn xa hơn, xuyên khỏe hơn B40. Tầm bắn của súng đạt ngang và cao hơn tầm bắn các súng bộ binh khác, đạt yêu cầu làm súng phóng lựu cấp tiểu đội. Sức xuyên vượt qua tất cả những xe tăng ngày nó ra đời và phần lớn xe tăng ngày nay. Đặc biệt, đầu đạn có các lưỡi dao thép cứng, tốc độ lớn, cơ cấu điểm hỏa hoàn thiện cho phép vượt qua những lưới chống B40 thô sơ. Kiểu công sự cát làm đạn B40 cắm vào không nổ chịu thua B41: đạn cắm ngập vào, ngòi hủy đạn kích nổ thổi bay công sự. Súng hầu như không có khói, tiếng nổ trầm hơn B40, như có ánh lửa đầu nòng (thực ra là ánh lửa đuôi nòng), chấn động khi bắn mạnh nên mỗi xạ thủ chỉ bắn được 5-6 viên.


Sử Dụng
Đây là loại súng chống tăng cá nhân đạt thành công lớn nhất trên thế giới từ trước đến nay. Nó đạt thành công như vậy do kết hợp tính ổn định, tin cậy, rẻ tiền và công nghệ cao. Súng và đạn được gia công rất chính xác bằng các vật liệu đặc biệt. Khẩu súng diệt được nhiều xe nhất sau Thế Chiến 2 nằm trong nhóm B40 (RPG-2), B41 (RPG-7), B-10 (ĐKZ-82), SPG-9 (ĐKZ-75). Súng được ít nhất 50 nước chính thức sử dụng, hiện vẫn đang được sử dụng trên các vùng nóng như Iraq, Apganistan, châu Phi và Nam Mỹ. Súng đã tham gia những chiến tranh lớn nhất từ khi nó ra đời.
Súng được thiết kế ban đầu làm hỏa lực tiểu đội. Ngày nay vẫn là súng chủ lực ở vị trí này trong quân đội nhiều nước lớn. Tuy nhiên, trong Kháng chiến chống Mỹ hay ở Nam Á, Trung Đông, xuất hiện nhiều tổ chống tăng mạnh trang bị 2-3 người một khẩu, hoặc một đội săn tăng có đến cả chục tay súng.
B41 có mặt ở Apganistan cả hai nguồn, kiểu Liên Xô và Tầu. Đây là liên minh ma quỷ của Tầu và CIA nhằm làm suy yếu Liên Xô với Ấn Độ. Thời kỳ này, Tầu hợp tác với Pakistan để chọc ngoáy Liên Xô và Ấn Độ. Ngày nay, kiều súng đạn Tầu ở đây đã tiệt giống, trong các đoạn thời sự chỉ nhiên thấy kiểu Nga.
B41 có mặt và tham chiến nhiều cuộc xung đột nữa ở Á, Phi, Mỹ, Âu... Ở đây cũng thể hiện bản lĩnh số 1. Trận đánh lớn của tổ chiến đấu AT-3 tháng 10-1972, Ai Cập tiêu diệt và bắt sống toàn bộ đơn vị xe tăng trên XiNai của Israel, kể cả tướng, có 800 xe quân sự bọc thép các loại, rất nhiều xe tăng. Cuộc chiến tháng 6/2006 giữa Israel Hezbollah, Israel bại trận tháo lui. Một trong những chiến tích lớn của Hezbollah là bắn rụng rất nhiều xe tăng. Chính phủ Do Thái công bố 22 xe mất, nhưng báo chí nước này nói ít ra 50 chiếc. Kiểu súng dùng ở đây có thể là B41 105mm. Súng B41 cũng là nhân vật chính của câu chuyện BlackHaw Down, bắn trụng trực thăng Mỹ, đẩy quân Mỹ té ra hạm đội.
Một lượng kha khá M1A1 M1A2 hỏng và cháy ở Iraq, Apganistan ngày nay, súng này thật sự trở lại vai trò là nỗi kinh hoàng của quân Mỹ.

B41AK-47 đã trở thành biểu tượng của chiến tranh du kích, của đấu tranh giải phóng, của tự do. B41 là nỗi kinh hoàng của quân đội phương Tây đã gần 50 năm nay.

Mỹ xuất bản cuốn "Soviet Anti tank Grenade Launcher. UNITED STATED ARMY TRAINING AND DOCTRINE COMMNAD. 20010803 107, November 1976". Tuy nhiên, do khoa học quân sự của Mỹ kém hơn, nên không hiểu được những ưu thế của súng, trong khi đó lại tưởng tượng ra những uy lực mà súng kém hay không có. Điều này làm nhiều nhà quân sự phương Tây nhầm lẫn. Đồng thời, cuốn sách lại được các nhà chế súng Mỹ bơm vá phần quảng cáo, chê bai súng bừa bãi, điều này góp phần làm cho nước Mỹ đến nay, 2008, vẫn không đối phó được với súng này.
Một trong những điểm khuếch trương quá đáng của quân đội Mỹ (xuất hiện sau khi quá kinh sợ súng từ 1966-1973), là chiến thuật dùng súng như pháo. Kỳ thật, súng không thể được cung cấp nhiều đạn và nhiều loại đạn ngoài chiến trường, đó là điểm trái ngược với pháo. Còn điểm mà người Mỹ chê bai không đúng, là súng có tầm bắn hiệu quả thấp và sức xuyên kém. Thực tế, họ (Mỹ lúc 1970) không được huấn luyện đầy đủ nên mới đánh giá như vậy. Sau này, các thử nghiệm của phương Tây cho thấy đạn RPG-7V dùng trong Kháng chiến chống Mỹ có tầm bắn tin cậy 500 mét, sức xuyên 330mm, theo tiêu chuẩn thử nghiệm phương Tây, trong khi tham số đó ở Liên Xô thấp hơn. Sức xuyên này ngày nay vưỡn đốt M1A2Merkava đều đều. Trong cuốn sách trên, hình mẫu ngắm bắn còn sai.

Ở Việt Nam. Súng vào Việt Nam khoảng năm 1965 (hỏi lại bác Đoành). Đến năm 1966 đã thấy trang bị hạn chế ở những đơn vị mạnh. Những năm 1970, súng dần thay thế B40, tuy nhiên, chỉ đến sau năm 1979, những đơn vị mạnh nhất mới hết B40. Việc thay thế hết B40 trong quân chính quy chỉ được thực hiện vào thập niên 1990. Đến nay, B41 vẫn là súng chống tăng, súng phóng lựu chủ yếu ở cấp tiểu đội.

Người Việt Nam đã dùng súng xuất sắc nhất quả đất, không còn nghi ngờ gì nữa. Từ cuộc chiến này, các cường quốc đã phải nhìn nhận lại vai trò của xa tăng và thay đổi kết cấu giáp tăng. Nếu như súng B40 là khẩu súng duy nhất có mặt trong những thời điểm khó khăn đánh Mỹ, khi quân Mỹ mới vào, thì B41 là khẩu súng ưu thế, thực hiện việc chứng minh sự phá sản của "Thiết Xa Vận" trên chiến trường.
Tất cả các loại xe pháo Mỹ lúc đó, kể cả những điểm tốt nhất, đều bị B41 đập chết. Chỉ có một số thế chạm hiếm gặp mới làm đạn văng, như khiên M60 (tấm này lắp trên nòng, tách xa giáp chính). Thiết xa vận dựa vào M113, giáp mỏng và dựng đứng, mục tiêu lại to tướng và cao, mỗi phát chết cả tiểu đội. Các công sự thì quá ngon, đạn PG-7V bắn công sự có thể không trúng phát đầu, nhưng kính ngắm có các vạch chia để hiệu chỉnh lại, tiếp tục bắn trúng sau 2-3 phát ở cự ly xa, 500 mét và hơn.

So Sánh
Cùng lúc, Mỹ ở Miền Nam vẫn có M72. 25/1/2008, đang xem chương trình kỷ niệm 40 năm Làng Vây (6/2). M72 bắn vào PT-76 không nổ, đạn không được thử nghiệm kỹ, văng ra khi gặp giáp nghiêng của tiểu đoàn 198. M72 chỉ lập được công đáng kể tại cửa ngõ Sài Gòn, lúc này, nhờ vào địa hình thành phố, tổ lái T-54 không kịp phát hiện ra xạ thủ M72, tầm rất gần, M72 nhắm được vào những chỗ hiểm yếu trên T-54. M72 có thuận lợi là súng dùng một lần, không mất công lắp đạn như B41, nên có thể bắn nhanh mà không cần phụ. Nhược điểm của M72 là độ chính xác thấp và không chống được giáp nghiêng, phụ thuộc nhiều vào góc chạm nên xác suất khoan giáp thấp.
Điều này giải thích hiện tượng, M72 ở Miền Nam rất nhiều, bộ đội du kích ta có thể dùng M-16, AR-15, M-79... nhưng không bao giờ dùng M72, kể cả trong Kháng chiến chống Mỹ và sau đó là chiến tranh biên giới. Say này ta có tận dụng chiến lợi phẩn, nhưng chỉ dùng bắn đạn cháy. Thậm chí, ta vẫn còn phải dùng rất nhiều B40, nhưng không bao giờ dùng M72 cả.
Về lý thuyết, các đặc tính M72 ngang hoặc hơn cả B41. Nhưng sau chiến tranh này, Phương Tây phải đánh giá lại chính các cách thử nghiệm của họ. Đến lúc đó thì mới thấy, nếu theo cách tính phương Tây thì B41 trội hơn rất nhiều. Trong khi đó, số liệu Liên Xô đưa ra thấp hơn bằng cách tính của họ. Đồng thời, phần quảng cáo (chuyện thường thấy ở Mỹ) trong M72 cũng kha khá. Ví dụ nhỏ, Liên Xô nói đạn RPG-7V chỉ có tầm bắn hiệu quả 350 mét, trong khi đó, M72 độ chính xác thấp hơn nhưng thường chỉ ghi tầm bắn 1000 mét. Điều này làm người ta nhầm lẫn, cũng làm cho xạ thủ Mỹ không hiểu được "tầm bắn hiệu quả", dẫn đến việc sử dụng rất tồi.
B41 có các bộ phận thích hợp với một xạ thủ chuyên nghiệp, chứ không phải anh lính vác súng trường tấn công amateur, tiện tay vớ lấy M72 bắn. Ví dụ, xạ thủ B41 dùng thước ngắm đo độ lệch viên đạn để hiệu chỉnh và bắn tiếp. Hay như B41 được trang bị các phương tiện như kính ngắm, đèn chiếu thước ngắm đêm, thước ngắm đo xa, phương pháp ước lượng sức gió... để cho một xạ thủ tính toán kỹ càng.
Châu Âu lúc đó  sử dụng Panzerfaust 44 Lanze (viết tắt PzF 44 Lanze), phát triển bởi công ty Dynamit-Nobel AG, cỡ nòng 44 mm, các tính năng đều thua kém B41, súng này vì thế mà không phổ biến. Cùng thời với súng này là bản nhái B41 ngắn bắn đạn B40 của tầu.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Một, 2008, 01:23:51 AM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Ngocvancu
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 579



« Trả lời #2 vào lúc: 24 Tháng Một, 2008, 10:33:31 PM »


Vậy người VN ta hết sức cố gắng bắn được mấy viênB41,B40 có bị tình trạng bắn bị chảy máu lỗ tai không vậy huyphuc?
----------------------------------------------------
  Có cần thiết quote cả đoạn dài sọc vậy để hỏi mỗi một câu không?
« Sửa lần cuối: 24 Tháng Một, 2008, 10:37:58 PM gửi bởi dongadoan » Logged
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #3 vào lúc: 25 Tháng Một, 2008, 10:07:51 AM »


Vậy người VN ta hết sức cố gắng bắn được mấy viênB41,B40 có bị tình trạng bắn bị chảy máu lỗ tai không vậy huyphuc?
----------------------------------------------------
  Có cần thiết quote cả đoạn dài sọc vậy để hỏi mỗi một câu không?

có thể đúng đấy, bắn liên tục 6 viên của tổ 2 người có thể ung sủ, Người Việt vốn nhỏ yếu mà. 
Tuy vậy, vưỡn nhiều trường hợp bắn nhiều viên xảy ra. Như đánh pốt, đánh tầu, đối phó với chiến thuật biển người, trận đánh kéo dài.
Có lẽ trường hợp trên chỉ tùy người thôi, có thể xạ thủ không đủ sức khỏe.
----------------------------------------------------


Vài chỉ số cơ bản.
Vài tham số cơ bản.
Tên: B41, RPG-7
Đường kính nòng: 40mm
Đường kính đạn: từ 70mm-105mm
Chiều dài súng: 950mm
Khối lượng không đạn và có thướng ngắm PGO-7: 6,3kg
Kính ngắm thường
Tên PGO-7
Kiểu w/II
Tầm nhìn (mục trường) 2,7x13°
Tầm ngắm (m) 500
Các kiểu kính nhìn đêm NSP-3, NSP-2(IR), NSPU, PGN-1 (II), IPN58(II)

Súng có giá 2 chân nhưng không hiểu tại sao không ai dùng Huh??

Đạn PG-7V Việt Nam hay dùng
Tên: PG-7V ; Đường kính (mm) 85 ; Kiểu HEAT (Nổ xuyên chống tăng) ; Khối lượng 2,2kg.
Tầm: 1100mét tối đa, 900 mét ngòi nổ huỷ đạn, 500 mét thước ngắm, 350 mét hiệu quả.
Sức xuyên thép cán tiêu chuẩn 260mm.
(Sức Xuyên và Tầm bắn hiệu quả này được phương Tây ghi hơi khác do tiêu chuẩn đánh giá của họ. Ví như Mỹ ghi là tầm bắn hiệu quả 500 mét và sức xuyên 330mm)

Đạn OG-7V có tầm sát thương 150 m (qua áo giáp)

Súng ban đầu bắn đạn PG-7, sau đó có các đạn PG-7V, PG-7VM, PG-7VL, PG-7VR, TBG-7V là các đạn xuyên phá (HEAT). Đạn OG-7, OG-7A nổ phá sát thương (APER, nhưng phương Tây thường cho là đạn HE. APER là đạn nhồi một ít thuốc nổ mạnh, chủ yếu khối lượng là mảnh sát thương, còn HE là đạn nhiều thuốc nổ để phá công trình). Ngoài ra còn có đạn cháy, đạn khói. Từ những năm 1970, kiểu kính ngắm dùng cho nhiều loại đạn được Hồng Quân dùng.

PG-7VL được chấp nhận trang bị 1977 tăng sức xuyên một tầng.
Đạn PG-7VM là đạn không có đầu phá ERA nhưng áp dụng kỹ thuật liều lõm nhiều tầng, được áp dụng trong nhiều loại đạn pháo Liên Xô cuối thập niên 1960 trở đi. Đạn có liều lõm phụ sau liều lõm chính, tăng vọt sức xuyên.
Đạn PG-7VR 1988 có thêm tầng công phá giáp phản ứng nổ ERA.
TBG-7V là đạn cháy thừa nhiên liệu đa năng (FAE), có thể dùng để bắn công sự hặc diệt sinh lực bằng cách hút oxy trong hầm ngầm kiên cố.

(này, làm bảng thế nào nhỉ bác đoành)



Iraq, xe tăng hiện đại nhất của Mỹ.


Súng B41. Kính ngắm thông dụng PGO-7 và đạn xuyên PG-7VM (đạn đã lắp liều).


Súng RPG-7D, bản đổ bộ đường không. Súng đã được tháo gọn.


OG-7V, đạn sát thương.


TBG-7V Đạn cháy.


PG7VR. Đạn hai tầng xuyên ERA


Đạn một tầng xuyên mạnh PG-7VM bổ dọc.


Đạn một tầng xuyên mạnh PG-7VL


« Sửa lần cuối: 26 Tháng Một, 2008, 02:28:14 AM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #4 vào lúc: 25 Tháng Một, 2008, 11:11:30 AM »

Trung Quốc không được chuyển giao công nghệ súng này, nhưng cũng cố gắng sao chép các phiên bản gần giống, tuy vậy, không loại nào thật sự giống. Phiên bản gần giống là Type 69 69式40毫米火箭筒Ⅲ型破甲弹(69 thức 40 hào mễ hỏa tiễn đồng, ống phóng tên lửa 40mm kiểu 69). Còn có Kiểu 69 nhưng lại bắn đạn B40, kiểu này hơi ngắn. Kiểu 69 phổ biế cũng hơi ngắn hơn B41, mà không rhiểu tại sao rất chăm lắp giá 2 chận, trong khi đó B41 hay bỏ đi.

Các khác biệt lớn nhất của Trung Quốc là đạn, Trung Quốc không đạt như nguyên bản. Kiểu 69 có các cải tiến kiểu 69-1, Kiểu 69-1984, Kiểu 69-2004 (còn có thể có cách viết là Kiểu 2004-69). Súng này của Tầu ban đầu do 中国北方工业集团 (Trung Quốc Bắc Phương Công Nghiệp Tập Đoàn) sản xuất tại xưởng 9373厂. Tập đoàn này còn có tên là Trung Quốc Bắc Phương Công Nghiệp Tổng Công Ty 中国北方工业总公司, NORINCO, Tập đoàn công nghiệp quân sự Hoa Bắc. Đạn xuyên Tầu gọi là hình phá giáp đạn 型破甲弹.

Ban đầu, người Tầu chế ra một khẩu súng trông giống như B41 nhưng ngắn hơn, một tay cầm, bắn đầu đạn B40 bằng liều phóng kiểu khác. Tiếp theo, kiểu 69 dài ra (nhưng chiều dài hơi khác B41) được chấp nhận trang bị. Kiểu này còn được thiết kế lại thành các kiểu 69-1984 và 69-2004. Hai phiên bản sau (84 và 2004) đạn na ná như nhau. Tầu dùng liều phóng đặt phía sau, đạn ngắn. Phiên bản 1984 ra đời với yêu cầu giảm ảnh hưởng của gió.
Các súng 1984 và 2004 không vượt qua khó khăn về độ chính xác và thời điểm phát nổ, xuất phát từ cấu tạo liều phóng và quá trình thử nghiệm ngòi nổ điện.

Các loại đạn tầu.
Kiểu 69: HEAT (nổ mạnh chống tăng) , nay đã bỏ. Được chấp nhận trang bị năm 1969.
Kiểu 69-I: HEAT (nổ mạnh chống tăng), cải thiện thời điểm phát nổ, xuất hiện đầu những năm 1970.
Kiểu 69-II: HEAT (nổ mạnh chống tăng). Như Kiểu 69-I, ngoại trừ tăng khả năng đâm xuyên qua lưới và vách chống B40.
Kiểu 69-III: HEAT (nổ mạnh chống tăng). Như Kiểu 69-II, tăng tầm.

Trong chiến tranh biên giới, súng tầu cũng như quân tầu thể hiện sự kém cỏi, sau đó tầu thiết kế kiểu 1984-69. Đạn nhẹ hơn, ngắn hơn, sức xuyên giảm đi nhưng tránh ảnh hưởng gió. Đạn bắn trên Kiểu 69-I. Kiểu này giống Kiểu 2004-69.
Kiểu 84 có những biến thể lẻ.
HE Đạn nhảy sát thương, khi chạm đất, ngăn kéo trong đạn tách ra nhảy lên 2 mét, nổ vvăng 800 bi thép, bán kính sát thương dầy đặc 15 mét. Loại này được thiết kế chông chiến hào.
HE/HEAT, đạn lõm nhưng được bọc vỏ tạo mảnh, kết hợp sát thương.
Đạnh cháy sát thương, khi nổ có 900 bi thép sát thương và các mảnh thuốc cháy, bán kính 15 mét.
Đạn hai tầng phá ERA.
Đạn chiếu sáng, có thể bắn lên rồi rơi bằng dù từ trên không, tầm bắn 1500 mét, nếu dùng vòng hãm 600 mét.

Kiểu có thể là kiểu 69-1 Tầu.
Súng nặng 5,6kg. Dài không đạn 910mm. Đạn nặng 2,1kg. Tầm 300 mét.
Xuyên thép cán tiêu chuẩn 380mm, yêu cầu thử nghiệm: 100mm 65°
Ngoài ra Tầu ghi thêm vòng tròn trúng đích nhiều ở 300 mét là 0,45 mét (300lập bá mật tập độ 0,45mm, 300mm 立靶密集度 0,45m).
Thực chất, đạn của tầu có khả năng xuyên thấp, khả năng xuyên giảm nhiều theo góc chạm. Ở Pakistan và Paganistan, người ta bỏ súng tầu đạn tầu, thay toàn bộ bằng súng đạn kiểu Liên Xô. Các số liệu trên có nhiều vấn đề.

Trước năm 1991, và rất có thể trong giai đoạn 1991 đến 2003, Tầu xuất rất nhiều vũ khí sang Iraq. Trong số đó có cả xe tăng và Kiểu 69. Tuy nhiên, những tính năng vũ khí tầu thể hiện rất kém, những vũ khí này có bệnh quảng cáo còn hơn cả súng Mỹ và được thiết kế từ những người trong một quân đội hễ đánh là thua. Hiện tại, Tầu vẫn đang xuất hàng cho một vài nước châu Phi và, rất có thể là một vài lực lượng Trung Đông. Tầu cũng có thể đạt được những thỏa thuận với Brasil, nhưng điều này khó xảy ra, người tầu cũng đã chán cái Kiểu 69 của họ và chuyển sang Kiểu 89, cũng là một loại hàng nhái.

Ảnh súng Tầu.
TYPE-69 được tầu chấp nhận trang bị năm 1969, đây là thời kỳ thể hiện rõ nét tính dốt nát điên cuồng của người tầu. Những anh nông dân băm nhỏ khu công nghiệp thép ra cho các làng xã chế tạo súng này và quảng cáo đây là súng tốt hơn súng "xét lại Liên Xô". Giống như họ quảng cáo CF-1 thiên thần hơn MiG-23. Thực tế, kiểu 69 chứng minh tồi tệ trong chiến tranh Việt Nam, Tầu từ đó cho ra Kiểu 69-1984. Tiếp theo, gần đây tầu cho ra Kiểu 69-2004. Các kiểu này dùng đạn rất khác đạn B41. Kiểu 2004 đạn ngắn lại, dùng thuật phóng cháy nhanh (thuật Bazooka), giảm yêu cầu chính xác và sức xuyên. Tầu không bao giờ chế tạo được B41 đạt yêu cầu.

Bên dưới là súng giống B41 bắn đạn giống B40, bên trên là súng trông giống B41 bắn đạn B41. Bên dưới có thể là TYPE 56 cải tiến, một dạng súng thì na ná như B41 nhưng bắn đạn B40. Bên trên có thể là TYPE 69-1, bản cải tiến TYPE 69 ra năm 1970. Những súng này tầu viện trợ cho quân phiến loạn Apganistan.


Ảnh trên đống đá là Kiểu 69-I


Đây là phiên bản đạn kiểu 1984-69. Đạn này cũng na ná như đạn 2004-69.



Súng kiểu 2004.



Ngay cả chiến thuật và tập bắn tầu cũng không đạt. Nhìn một nhóm lính tầu sẵn sàng bắn nhưng mỗi tên cầm tay một kiểu. Hay là kiểu 69 không có yếu lĩnh Huh??.



Một khẩu Kiểu 1984-69 với đạn sát thương.


Lưới tính trong kính ngắm tầu.
« Sửa lần cuối: 26 Tháng Một, 2008, 02:30:26 AM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Ngocvancu
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 579



« Trả lời #5 vào lúc: 25 Tháng Một, 2008, 02:28:52 PM »

Cậu vào chỗ nào mà có nhiều tài liệu về B40 và B41 thế hả,chỉ cho biết với huyphuc.Đào sâu thêm về các trang bị của quân dù nữa huyphuc ạ.
Logged
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #6 vào lúc: 25 Tháng Một, 2008, 04:00:36 PM »

Yêu cầu con người cao
Súng ra đời đặt ra một yêu cầu huấn luyện khá cao cho lính. Theo biên cế Liên Xô, mặc định xạ thủ B41 là tổ trưởng một tổ 2 người. Trong tổ chiến đấu dùng B72 thì cả tổ đều được huấn luyện kỹ càng.
Người ta yêu cầu lính học thuộc nhiều kỹ năng chiến đấu, từ các kỹ thuật đến chiến thuật. Kể cả từ cấu tạo và sửa chữa súng, tư thế bắn, phương pháp trốn tránh, tiếp cận. Huấn luyện phương pháp ước lượng tầm, tốc độ, tốc độ gió, học thuộc lòng các bảng bắn. Huấn luyện cả các đặc tính của xe cộ, mục tiêu. Những điều này lúc đó khá cao với lính thường.
Những yêu cầu đó ngang với một khẩu độ trưởng pháo binh. Những kinh nghiệm của các xạ thủ trên chiến trường về truyền lại được tích lũy trở thành những chiến thuật hết sức hiệu quả.
Yêu cầu con người cao là một trong những đặc điểm làm súng càng ngày càng nổi trội theo thời gian, khi những khẩu súng cùng thời với nó đi vào quên lãng từ rất lâu, như M72 (Mỹ) hay PzF 44 Lanze.

Các giai doạn hoạt động của đầu đạn
Liều phóng và đạn thường để rời nhau, trước khi lắp đạn, xạ thủ vặn hai thứ đó vào nhao và lắp vào súng. Liều phóng có kém các ánh ổn định xếp gập lên và turbine xoáy.

Súng bắt đầu hoạt động bằng liều phóng trong nòng, liều phóng đẩy đạn RPG-7V đến sơ tốc đầu nòng 115m/s. Đồng thời, tuye sau liều phóng tác động vào luồng khí, làm đạn xoáy mạnh trong nòng.
Một đọan 11 mét sau khi ra khỏi nòng tên lửa không hoạt động để an toàn xạ thủ, liều phóng xòe ra các cánh ổn định.
Tên lửa đẩy đạn đến tốc độ tối đa 295 mét/giây (RPG-7V)
Đạn bay tiếp theo quán tính và tự hủy.

Thuật phóng.
Với súng không giật, vẫn đề tầm bắn không quan trọng, mà quan trọng nhất là độ chính xác. Chúng ta biết rằng không ai lấy Katyusa BM-13, BM-21 đi bắn xe tăng cả. Súng không giật có sơ tốc thấp, tốc độ tăng lên ở ngoài nòng hay ray phóng, điều này làm cho đạn có độ tản mát cao. B41 sử dụng thuật phóng trong tăng áp chậm, dùng thuốc nổ cháy chậm, chứ không như B40 dùng thuốc nổ đen cháy rất nhanh. Ở B41, tên lửa góp phần lớn vào tốc độ tối đa, chứ không như B40, có thể coi không có tên lửa.

B41 có một buồng đốt, đường kính rộng hơn đường kính 40mm của nòng, buồng đốt là một đoạn phình ra giữa nòng, hai đầu nòng tóp lại. Phía sau nòng có tuye thoát khí, có tác dụng chắn chấn động và đẩy súng lên trước một chút. Trước khi bắn liều phòng nằm trong buồng đốt, ống bé phía sau có turbine. Khí thóat ra ống sau qua turbine đẩy đạn xoáy mạnh và tiến lên trước.
Thể tích buồng đốt lớn và thuốc cháy chậm làm áp suất tăng dần, chứ không đột ngột như B40, điều này làm tiếng nổ B41 trầm mạnh. Áp suất được thiết kế để tăng đều, nhờ đó đạn được đẩy với động năng khá lớn, đạn nặng hơn 2kg ra khỏi đầu nòng với vận tốc 120m/s. Sơ tốc thẳng và xoáy lớn làm đường đạn chính xác.

Thuốc phóng và nhiên liệu tên lửa làm bằng thuốc súng không khói, tránh bị lộ như B41. Khi bắn đêm, đuôi súng có một chớp nổ sáng nhỏ.

Tên lửa được thiết kế đặc biệt. Đạn có 6 tuye nằm ở cổ đạn, nhiên liệu cháy, đẩy khí thuốc lên trước, ngoặt lại qua tuye thoát ra ngoài, nhờ cơ chế này mà giảm được chiều dài đạn, giảm lệch gió.

Các cánh ổn định và tuye tên lửa đều được làm hơi nghiêng đẩy đạn xoáy mạnh hơn.

Đạn PG-7V có sơ tốc đầu nòng 127m/s, đạn PG-7VM có sơ tốc 140m/s. Đạn PG-7 có tầm hiệu quả 250 mét, các đạn PG-7VM có tầm bắn hiệu quả với mục tiêu di động 350 mét, mục tiêu cố định 500 mét. Đạn hạng nặng PG-7VR tầm hiệu quả 200 mét.
Phần chóp đầu đạn chóp chụp cứng vững, dưới chụp là các thanh kim loại cứng. Phần chóp này cắt ngọt các vật cản đường như lưới hay vách chống B40. Ngòi nồ được thiết kế cùng yêu cầu tránh phát nổ không đúng lúc.
Tốc độ chuyển động lớn cộng thêm cấu tạo phần chóp đầu đạn đặc biệt giúp đạn vượt qua các vật cản mạnh, kể cả tường mỏng, tấm thép hay lưới thép, những thứ đó trước đây dùng ngăn đạn RPG. Vì điều đó mà đến những năm 1970, lưới B40 thường được Mỹ Ngụy quây bảo vệ xe và công sự được tháo đi, chúng phá sản cùng với chiến thuật Thiết Xa Vận.

Sơ đồ các bộ phận của đạn.


Hình chụp biểu diễn, lắp liều vào đạn


Đạn chứa bắn và đã bắn, cái dải đầu đạn là chốt an toàn.


« Sửa lần cuối: 25 Tháng Một, 2008, 06:10:23 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #7 vào lúc: 25 Tháng Một, 2008, 04:16:48 PM »

Sơ đồ đường đạn.


« Sửa lần cuối: 25 Tháng Một, 2008, 05:00:53 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #8 vào lúc: 25 Tháng Một, 2008, 05:04:16 PM »

Khi đạn bắn trên 200 mét, tốc độ gió quá 20km/h thổi ngang thì cần hiệu chỉnh gió. Cũng như các đạn phản lực khác, đạn lệch theo hướng ngược gió. Gió thổi vào cánh đuôi à cánh đuôi chuyển động theo phương xuôi chiều gió, lực tác động của tên lửa làm đạn chuyển động về hướng đầu gió.
Súng có một dây đo gió đơn giản, kính ngắm có chia vạch hiệu chỉnh gió.

Xạ thủ được huấn luyện đầy đủ các phương pháp tính gió, ví như nhìn bằng cây lay động, bằng khói bếp... Phương pháp bắn cần tính nhanh và đơn giản. Người ta chia tốc độ gió ra những khoảng 2-3m/s, 4-6m/s, 8-12m/s. Ứng với mỗi tốc độ gió, xạ thủ hiệu chỉnh theo bảng tính học thuộc. Mỗi loại đạn có một bảng lệch gió riêng, 3 tốc độ gió nhân với 5 tầm bắn là 15 giá trị.
Ví dụ. Với đạn PG-7V.
Độ lệch tỷ lệ với hình xe tức là cần lệch đường ngắm đi 1, 2, 1,5... hình xe trên lưới chia độ.

tầm bắn      độ lệch ngang(mét)     Độ lệch tỷ lệ với hình xe đang nằm ngang (6,9 mét) và dọc (3,6 mét)   
100          1,4                    0         1/2
200          2,7                    1/2       1
300          4,1                    1/2       1
400          5,5                    1         1,5
500          6,9                    1         2

Logged

Ờ, ừ, thì ký.
huyphuc1981_nb
Thành viên
*
Bài viết: 788



« Trả lời #9 vào lúc: 25 Tháng Một, 2008, 06:27:34 PM »

Đầu nổ lõm của đạn B41 hoàn thiện hơn các đầu nổ lõm trước đó. Đến ngày nay, phần tên lửa và đầu nổ B41 vẫn là hàng công nghệ cao, kể cả các nước lớn cũng không phải ai cũng làm được. 

Liều nổ lõm làm bằng thuốc nổ mạnh, phía sau liều nổ lõm có tấm chắn sóng nổ, phía trước có loa chụm sức nổ. Góc mở hẹp hơn các đầu nổ B40 nhưng thuốc nổ tập trung vào phần tạo hình, tại loa của liều lõm và phần tâm. Cấu tạo liều nổ được tính toán và thử nghiệm rất kỹ và tiếp tục được hoàn thiện.
Góc mở đầu nổ này tuy hẹp hơn B40 nhưng vẫn thuộc nhóm góc mở rộng. Cấu tạo rất phức tạp của đầu đạn này làm nó có sức xuyên mạnh và không phụ thuộc nhiều vào góc chạm. Đây là một trong những mấu chốt tạo nên xác suất diệt mục tiêu rất cao của B41.
Liều nổ của của PG-7VM có tầng phụ, giống như các đạn pháo Liên Xô hồi đó, tầng phụ này kích nổ trước tiên, tạo thành luồng khí vận tốc rất lớn thổi xuyên giáp.




Cát ngang đầu đạn


Các thành phần đạn


« Sửa lần cuối: 25 Tháng Một, 2008, 07:37:04 PM gửi bởi huyphuc1981_nb » Logged

Ờ, ừ, thì ký.
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.19 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM