Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Chín, 2019, 12:00:58 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
 1 
 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2019, 06:38:39 PM 
Tác giả phong 1981 - Bài mới nhất gửi bởi hyvong
Họp mặt cựu chiến binh truyền thống sư 9,va sư 7
nam 2019

 2 
 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2019, 02:36:52 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
   
        Zhukov và Vasilevsky đã bàn bạc kế hoạch tổng phản công trên ba mặt trận, dự kiến vào nửa cuối tháng 11 và được Stalin nhất trí. Ngay từ đầu tháng, nhiệt độ đã giảm mạnh và sông Volga bắt đầu đóng băng. Chẳng cần phải nói thêm gì nữa, mùa đông sẽ gây khó khăn cho quân Đức. Do lương thực đang cạn kiệt nên quân Đức sẽ sớm buộc phải giết thịt ngựa. Sự thực là, hàng nghìn lính Đức đã vui vẻ ăn bữa tối trong ngày Lễ Giáng sinh với thịt ngựa. Hàng nghìn con ngựa bị giết trong ngày lễ trọng đó.

        Zhukov đã miêu tả như thể này về những ngày mở màn chiến dịch:

        7 giờ 30 phút ngày 19 tháng 11, bộ đội Phương diện quân Tây Nam giáng một đòn tấn công sấm sét, đồng loạt bẻ gãy các vị trí phòng thủ của Tập đoàn quân Rumania số 3 ở hai khu vực... Quân địch quằn quại, hoảng sợ, tháo chạy và đầu hàng. Một số đơn vị Đức đóng đằng sau quân Rumania mở một cuộc phản công quyết liệt hòng ngăn cản sức tiến công của quân ta, nhưng chúng đã bị Quân đoàn Tăng số 1 và 26 đánh cho tan tác. Đòn tấn công chiến thuật vào Phương diện quân Tây Nam thực sự chấm dứt.

        Nhanh chóng chọc thủng được tuyến phòng ngự của Đức, Hồng quân đã tiến thêm được 50 km, vây chặt quân địch vào trong một chiếc túi khổng lồ. Vào đêm giao thừa năm mói, vòng vây phía ngoài đã đẩy ra xa Stalingrad 240 - 320 km về phía Tây. Những cố gắng nhằm giải vây cho đội quân 250.000 sĩ quan và binh lính đều không thành công, một nỗ lực cứu nguy lớn do Manstein chỉ huy từ hướng Tây Nam cũng thất bại. Trong tháng 1, Friedrich Paulus, Tư lệnh Tập đoàn quân số 6 của Đức, hai lần được yêu cầu đầu hàng đế bảo toàn tính mạng, nhưng ông ta vẫn trì hoãn. Binh lính Đức đã hoàn toàn tuyệt vọng, không còn một hy vọng được giải cứu hay tiếp tế bằng đường hàng không nữa. Paulus, được Hitler phong làm Thống chế vào cuối tháng 1, cuối cùng buộc phải đầu hàng vào ngày 2 tháng 2 cùng với khoảng 90.000 binh lính.

        Con số thương vong ở Stalingrad là rất khủng khiếp. Giai đoạn đầu cuộc chiến, Đức chịu tổn thất rất nặng nề: có lẽ khoảng 150.000 người chết, 90.000 bị bắt làm tù binh. Hồng quân hy sinh hơn một nửa triệu trong chiến dịch này. Các tư lệnh Hồng quân đã thực thi một kỷ luật quân đội khắt khe theo lệnh của Zhukov, vì vậy, theo số liệu mà Bộ Quốc phòng Nga công bố năm 1995, 13.500 binh sĩ ở Stalingrad đã bị tử hình do hèn nhát và đào ngũ.

        Thành phố Stalingrad không bao giờ rơi vào tay quân Đức mặc dù một bộ phận nhỏ của chúng đã đặt được chân lên bờ Tây sông Volga. Người ta nói rằng, lịch sử của người Nga gắn chặt chẽ với thành phố lịch sử Stalingrad, nay được gọi là thành phố Volgograd. Hiện nay, có một công trình điêu khắc rộng 52m được biết đến như là biểu tượng kiến trúc của Đất Mẹ, trong đó miêu tả cảnh hàng trăm nghìn người Nga ủng hộ lệnh cấm rút lui của Kremlin. Mệnh lệnh số 227, có tiêu để “Không được rút lui một bước” được ban hành vào thời điểm sự tồn vong của đất nước Xô viết đang bị đe dọa. Nhiều tướng lĩnh của Stalin đã gọi mệnh lệnh này là một trong những văn ban quan trọng nhất của chiến tranh.

        Do công lao chỉ huy Chiến dịch Stalingrad thắng lợi, Zhukov được tặng thưởng Huân chương Suvorov hạng nhất. Một số tướng lĩnh khác cũng được tặng thương Huân chương này bao gồm: Vasilevsky, Voronov, Vatutin, Rokossovsky và Eremenko.

        Dưới đây là những gì mà các tướng Đức nhận định về thất bại ở Stalingrad1:

        Stalingrad là bước ngoặt của Đại chiến thế giới lần thứ hai. Đối với Đức, Chiến dịch Stalingrad là thất bại thảm hại nhất trong lịch sử, còn đối với Nga, đây lại là một chiến thắng vĩ đại nhất. Không một nước Đồng minh nào trong cuộc chiến tranh này không tự hào về một chiến thắng vĩ đại như thế.
Tướng Hans Doerr        

        Thất bại thảm hại tại Stalingrad, đầu hàng vô điều kiện toàn bộ một phương diện quân ở một mặt trận lớn, thảm họa quốc gia này gây nên những tốn thất vô cùng nặng nề, đó cũng là một thất bại to lớn của các đồng minh của chúng ta, những nước đã không thể giữ vững được tuyến phòng ngự bên sườn Tập đoàn quân số 6 - tất cả đã dẫn tới thảm họa nghiêm trọng này.
Tướng Heiz Guderian        

       Trận chiến tại Stalingrad là bước ngoặt trong lịch sử nước Đức. Chính chiến dịch Stalingrad và các sự kiện xảy ra cùng với nó, nếu chúng ta nhìn nhận lại, như là một giọt nước làm tràn ly của tất cả các vấn đề của cuộc chiến tranh cướp bóc của nước Đức Quốc xã.
T
hống chế Friedrich Paulus        

        Chúng ta không có bất cứ nhận định rõ ràng nào về sức mạnh của quân Xô viết tại khu vực Stalingrad. Trước đó, chẳng có gì ở đấy cả, vậy mà bỗng nhiên, một cuộc tấn công mãnh liệt nổ ra, trở thành nhân tố quyết định của cuộc chiến tranh này.
Tướng Alfred Jodi       

        Đối với người Đức, thất bại khủng khiếp này là do nhận thức chính trị ngu muội. Điều này ám ảnh sâu đậm nhất trong tâm trí những người bị bắt làm tù binh ở Stalingrad.
Tướng Otto Korfes       

-------------------
       1. Một số nhà phê bình, như Alan J.Levine (năm 1985), khi được hỏi về ý nghĩa những thất bại của Đức ở Stalingrad và nhiều nơi khác, cho rằng Chiến thắng của quân Đồng minh trong những chiến dịch này rốt cục chẳng phải tất cả đều có ý nghĩa quan trọng. Đây là một nhận định gây nhiều tranh cãi. Quan điểm về những chiến dịch hỗ trợ (chiến dịch nhánh) cho các chiến dịch trên - tuyên bố của rất nhiều chuyên gia và cả của nhiều chỉ huy của quân Đức, trong đó có Paulus, Jodi, Guderian và Doer - đều không thuyết phục.

 3 
 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2019, 02:31:09 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Ngày 10 tháng 11 năm 1942, Zhukov tới Phương diện quân Stalingrad đế giúp thông qua lần cuối cùng các kế hoạch cho chiến dịch Tổng phản công sẽ bắt đầu ngay sau đó, làm nên một chiến thắng khiến cả nước Đức phái choáng váng. Hai ngày sau, Zhukov có mặt ở Mátxcơva bàn bạc về chiến dịch sắp tới với Stalin. Hai ngày tiếp theo, ông quay trở lại Stalingrad với chỉ thị “kiểm tra một lần nữa tinh thần sẵn sàng chiến đấu của sĩ quan và bộ đội để mở màn chiến dịch". Mục tiêu của chiến dịch là bao vây toàn bộ một tập đoàn của quân Đức.

        Ngày 11 tháng 11, sau khi cùng VỚI một số tướng lĩnh di thị sát địa hình tại vị trí dóng quân của một số tập đoàn quân chủ lực đang chuẩn bị cho chiến dịch, Zhukov báo cáo với Tống Tư lệnh tối cao:

        Đã làm việc với tướng A.I Eremenko hai ngày; đích thân đi trinh sát các vị trí của quân địch đối diện với các Tập đoàn quân số 51 và 57. Truyền đạt các mục tiêu cụ thể của Chiến dịch Uranus cho Tư lệnh các sư đoàn, quân đoàn và tập đoàn quân. Qua kiểm tra tôi thấy, tướng F.I Tolbukhin đã dẫn đầu trong các công tác chuẩn bị... Đã ra lệnh trinh sát trận địa, thông qua lần cuối cùng kế hoạch tấn công và các mệnh lệnh của Tư lệnh Tập đoàn quân dựa trên thông tin tình báo thu được. Tướng M.M. Popov làm việc rất tốt, đồng chí ấy biết phải làm gì.

        Zhukov cho Stalin biết còn thiếu khá nhiều thứ trong đó có cả việc phương tiện và ngựa cho hai sư đoàn kỵ binh không đến được, chưa có đủ cơ số đạn pháo cho chiến dịch sắp tới, cần gấp 100 tấn hóa chất chống dông (không có chất này thì các đơn vị cơ giới hóa bị vô hiệu hóa) và quân trang mùa đông cho hai tập đoàn quân mà ông vừa tới thăm.

        Zhukov cũng báo cáo, chiến dịch có thể bị hoãn lại nhưng nói thêm: “Đã ra lệnh sẵn sàng chiến đấu vào ngày 15 tháng 11 năm 1942”.

        Trong hồi ký của mình, Zhukov cũng để cập tới những đoạn trích trong cuốn nhật ký của một sĩ quan lữ đoàn pháo binh Rumani đã chiến đấu với bộ đội tại Stalingrad:

        Ngày 19 tháng 11,

        Quân Nga nã pháo dữ dội vào sườn trái của Sư đoàn số 5 của chúng tôi. Từ trước tới nay, tôi chưa từng chứng kiến một trận pháo kích nào như thế... Pháo bắn quyết liệt khiến mặt đất rung chuyển và các cửa sổ vỡ vụn.

        Ngày 20 tháng 11,

        ... Không thể liên lạc với cấp chỉ huy cao hơn. Sư đoàn số 6 nhận lệnh phải giữ trận địa cho tới người lính cuối cùng. Hiện tại, chúng tôi đang bị quân địch bao vây...

        Ngày 21 tháng 11,

        Chúng tôi bị bao vây... Hỗn loạn khủng khiếp... Bạn bè nhìn chằm chằm vào những tấm ảnh người thân, vợ, con. Thật đau đớn khi nghĩ đến mẹ tôi, anh chị em tôi và những người thân yêu của tôi. Chúng tôi mặc những bộ quần áo còn đẹp nhất, thậm chí hai lớp lót trong. Chúng tôi nghĩ về kết cục bi thảm phía trước... Chúng tôi bàn bạc về hai sự lựa chọn cuối cùng:
        1) Cố gắng tấn công mở đường thoát;

        2) Đầu hàng.

        Sau khi bàn bạc hồi lâu, quyết định đưa ra là đầu hàng. Chúng tôi được biết Hồng quân đã phái đại diện tới mang theo yêu cầu đầu hàng.

        Cuốn nhật ký dừng lại ở đấy. Zhukov cho biết toàn bộ cánh quân Rumani đã đầu hàng.

        Đầu mùa hè năm 1942, Hitler vẫn còn lực lượng lớn nên vẫn thỏa sức huênh hoang. Từ đầu năm, các kế hoạch của giới quân sự Đức dựa trên đánh giá rằng, chỉ chiếm được các vùng kinh tế quan trọng ở miền Nam Liên Xô mới có thể làm suy yếu đối phương và tăng cường sức mạnh cho Đệ tam Đế chế đến mức có thể đi đến kết thúc chiến tranh. Các khu vực dầu mỏ ở Caucasus cũng là mục tiêu hàng đầu, vì ngay khi bắt đầu chiến tranh, nước Đức đã thiếu xăng dầu cùng với lương thực. Tuy nhiên, chiếm được Mátxcơva vẫn là mục tiêu quan trọng, vì vậy, chúng vẫn tập trung một lực lượng lớn ở khu vực Mátxcơva.

        Trong một phát biểu ngày 9 tháng 9 năm 1942, Hitler nhiều lần nhấn mạnh chi tiết Chỉ thị số 41, trong đó chỉ rõ các nhiệm vụ cơ bản của chiến cục mùa hè. Tên trùm phát xít giải thích cơ sở để ban hành chỉ thị này: “Mục tiêu đầu tiên của chúng ta là phải chiếm được những vùng trồng ngũ cốc cuối cùng của đối phương; thứ hai là, phải giành được mỏ than đá cuối cùng đề có thể sản xuất than cốc; thứ ba, tiến gần hơn tới các mỏ dầu, chiếm lấy hoặc chí ít thì cũng phải cách ly chúng với phần còn lại của đất nước này; và mục tiêu thứ tư là, mở rộng phạm vi tấn công và giành quyền kiểm soát khu vực sông Volga, tuyến đường giao thông thủy quan trọng cuối cùng của đối phương”. Kế hoạch của Đức cho thấy những mục tiêu thực sự mà chúng theo đuổi ở Liên Xô. Như Joseph Goebbels từng nói: “Đó không hẳn là một cuộc chiến tranh xưng hùng xưng bá, mà là cuộc chiến tranh vì lúa và bánh mỳ, vì bữa ăn thừa mứa, vì bữa sáng và bữa tối no nê... Đó là cuộc chiến tranh vì nguyên nhiên liệu thô, vì cao su và quặng sắt thép”.

 4 
 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2019, 02:29:20 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx
 
        Giữa tháng 9, chiến sự đã chuyển hướng vào bèn trong thành phố. Đức Quốc xã liên tục tuyên truyền thành phố sắp thất thủ. Nhưng điều này còn quá sớm khi bọn xâm lăng phải đối mặt với điều mà vị tướng người Siberia A.P. Belobordov gọi là “cuộc đối đầu với ý chí ngoan cường của người Nga”. Suốt mùa thu và mùa đông năm 1942 - 1943, thành phố trở thành mục tiêu tập trung tất cả các chiến dịch trên mặt trận Xô - Đức. Thành phố Stalingrad, trung tâm công nghiệp và thông tin quan trọng, chính là tham vọng của Bộ Chỉ huy Đức nhằm chia cắt khu vực sông Volga và thiết lập bàn đạp để chiếm đóng Caucasus.

        Câu chuyện có thực dưới đây không chỉ là một trận đánh đẫm máu mà còn cho thấy thậm chí trên cuộc chiến đường phố đang diễn ra nóng bỏng nhất, tình người vẫn tồn tại:

        Stalingrad - lúc đầu bọn Đức gọi là “Phiên bản của Địa ngục”. Sau này chúng thay đối phép ẩn dụ này và bắt đầu ví rằng Địa ngục mới chính là phiên bản của Stalingrad. Thật vô cùng phi thường, mặc dù hàng trăm ngàn người đi sơ tán về hậu phương, nhưng còn rất nhiều người, chủ yếu là những phụ nữ và trẻ em quần áo bê bết, vẫn trụ lại ở Stalingrad trong suốt thời gian thành phố bị vây hãm, mạng sống của họ mong manh trên các bờ phía cao của sông Volga, trong các hố pháo và rãnh mương dẫn vào thành phố.

        Trên phố Lênin, pháo tầm ngắn của Hồng quân được đặt trên tầng Tòa nhà số 36. Bên phía đối diện, quân Đức bám chặt một tầng hầm và giữa hai tòa nhà, mỗi mét vuông đều nằm dưới tầm đạn. Rõ rằng không ai có thể sống sót trên vùng đất không người, ngoại trừ những người lính này, hầu hết người dân phải chạy khỏi thành phố. Người ta nói rằng thậm chí đến những con dơi trong các tòa nhà này cũng phải bỏ chạy.

        Nhưng trên con phố đặc biệt này, một người dân vẫn còn trụ lại. Khi màn đêm buông xuống, một sinh vật giống như một hồn ma di chuyển từ một miệng cống bên phải vào giữa con phố, chính xác là giữa hai làn đạn. Bàn tay già nua của bà ta lật tìm trong đống rác rưởi, sau đó bà ta trở xuống miệng cống và quay lại ngôi nhà bí ẩn của mình. Bà lão vẫn sống (có lẽ chính xác hơn là vẫn tồn tại) trong một cống thoát nước bằng thép của một mê cung dưới lòng đất trong thành phố. Các chiến sĩ Hồng quân còn nhớ, bà lão mặc một chiếc áo choàng mùa đông cũ kỹ, cổ áo đã ố vàng, sờn rách. Các chiến sĩ càng ngày càng khâm phục bởi vì bà lão có thể bò qua phố trong suốt một đêm không trăng sao tối tăm, khi màn đêm yên tĩnh ngự trị, trèo lên cầu thang đã bị thiêu trụi gần hết, đưa cho những người lính bị khói súng làm nhem nhuốc thảm lót chân mới giặt sạch hoặc quần áo mới mạng lại hoặc cháo yến mạch nóng.

        Trong ngôi nhà dưới lòng đất của mình, bà lão có một bếp lò nhỏ kêu ro ro nhè nhẹ giữa những tiếng ầm ầm sấm sét của trận đánh.

        Xà bông là một cái gì đó thật xa xỉ nhưng một người phụ nữ - Maria Gavrilovna - có thể có một miếng nhỏ khi mà ai đó cần đến. Một hôm, khi chỉ huy pháo binh than thơ bị đau răng, bà liền đưa cho ông một loại thuốc nóng để làm giảm đau. Dần dần, các chiến sĩ bắt đầu gọi bà là “Mẹ”.


        Một sáng, Maria Gavrilovna nói với “các con trai” rằng, hôm nay bà sẽ đãi họ một bữa tiệc - một nồi súp bắp cải nóng. Không ai biết bà kiếm bắp cải ở đâu. Nhưng nồi súp bắp cải với một ít thịt bò thái nhỏ chắc chắn là một bữa tiệc đặc biệt đối với những người lính. Đêm xuống, khi tiếng súng đạn dịu bớt, hình ảnh quen thuộc lại trèo lên từ miệng cống, lạch bạch di qua phố, mang theo một nồi đầy súp bắp cải nóng.

        Bỗng nhiên, các chiến sĩ nghe thấy tiếng nổ chói tai của pháo địch, nhưng họ vẫn thấy Maria Gavrilovna tiếp tục bước đi điềm tĩnh, không vội vàng, để không làm đổ nồi súp. Các chiến sĩ bắn trả để bảo vệ người khách vô cùng quý giá của họ. Nhưng khi bà trèo lên cầu thang, không hề để tràn một giọt súp, họ thấy máu đang chảy ra dưới khăn trùm đầu của bà. Đặt nồi súp xuống, bà ngã gục xuống sàn không kịp nói một lời nào. Bà không hao giờ tỉnh lại nữa. Những người lính chôn bà trong đêm đó dưới tường rào trong sân Tòa nhà số 36.

        Trên mộ bà, họ viết:

       “Nơi đây an nghỉ Maria Gavrilovna Timofeyeva, Người Mẹ của Tiểu đoàn đại bác tầm ngắn số 121.

-----------------------
       1. Câu chuyện này đã được đăng nhiều lần trên các tờ báo quân đội xuất bán trong chiến tranh.

 5 
 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2019, 02:28:14 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Zhukov tiết lộ về việc lập kế hoạch tấn công ở Stalingrad: “Theo kế hoạch của Bộ Tống tư lệnh tối cao, các lực lượng của chúng ta sẽ mở các đòn tiến công từ hướng Tây vào mùa hè và mùa thu năm 1942 nhằm vào Cụm tập đoàn quân Trung tâm của bọn phát xít nhằm đánh lạc hướng chúng và làm cho Bộ Chỉ huy của Hitler nghĩ rằng đòn tấn công chính của chúng ta là ở đấy chứ không phải nơi nào khác, và rằng chúng ta đang chuẩn bị cho một chiến dịch lớn vào mùa đông. Điều này lý giải việc tháng 10, Bộ Chỉ huy Đức bắt đầu tập trung một số lượng lớn các lực lượng của chúng ở phía đối diện với các mặt trận phía Tây của chúng ta”. Ồng cũng cho biết, quân Đức đã điều 3 sư đoàn thiết giáp, cơ giới và bộ binh từ khu vực Leningrad tới phía Bắc Smolensk, 7 sư đoàn khác cũng nhanh chóng được đưa từ Pháp và Đức tới phía Tây Mátxcơva (cũng được coi là vùng phụ cận của Smolensk). Vì vậy, tới đầu tháng 11, Cụm tập đoàn quân Trung tâm của phát xít Đức đã tăng lên 12 sư đoàn kèm theo các phương tiện chiến tranh tăng cường khác.

        Zhukov cho rằng, Đức đã mắc sai lầm ngớ ngẩn về chiến thuật và càng làm trầm trọng thêm tình hình do công tác tình báo quá tồi, chúng đã thất bại ngay trong công tác chuẩn bị cho cuộc phản công chính ở Stalingrad, nơi chúng tập trung 10 tập đoàn quân bộ binh, 1 tập đoàn quân xe tăng và tập đoàn quân không quân và các đơn vị khác.

        Nhận định trên cũng được tướng Đức Jodi thừa nhận tại Tòa án quốc tế Nuremberg sau chiến tranh rằng, quân Đức đã không có dự đoán nào về sức mạnh thực sự của Hồng quân ở Stalingrad, nên hoàn toàn bị bất ngờ khi cuộc phản công quyết liệt của họ nổ ra - một cuộc phản công “được chứng minh là có tính quyết định”.

        Mùa thu năm 1942, quân Đức rơi vào một “tình thế hết sức khó khăn”. Biểu hiện đầu tiên là, chúng không đạt được những mục tiêu chiến lược đã đề ra. Thứ hai là, chúng phái tác chiến trên một mặt trận rộng lớn kéo dài từ Biển Đen. qua phía Nam Caucasus, Stalingrad, vùng Sông Đông và tới Biển Barents. Ba là, chúng không có lực lượng dự bị chiến lược tại mặt trận và ở hậu phương. Thứ tư, chúng phải đối mặt với tình trạng sa sút tinh thần chiến đấu trong binh lính.

        Trong khi đó, các cuộc tấn công ác liệt vẫn nồ ra liên tiếp trên mặt trận Xô - Đức. Ngày 28 tháng 6 năm 1942, quân Đức mở cuộc tấn công, âm mưu tiêu diệt Hồng quân ở sườn trái phía Nam Orel, nhưng thất bại. Tuy nhiên, Hồng quân cũng buộc phải rút qua sông Đông, tấn công kìm chân các lực lượng của địch đang chiếm ưu thế. Ngày 6 tháng 7, quân Hitler bị chặn lại rất gần Voronezh bơi các cuộc phản công từ hướng Bắc. Kế hoạch ban đầu của Đức bị thất bại, buộc chúng phải chuyển hướng tấn công xuống phía Nam, tới khu vực sông Volga. Ngày 12 tháng 7, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô thành lập Phương diện quân Volga do tướng Andrie Eremenko chỉ huy. Sau 4 tháng truy kích ròng rã, Phương diện quân bị địch phát hiện, tấn công đẩy lùi, lực lượng rút lui của Hồng quân đã dựng lên một tuyến phòng ngự vững chắc. Trong tháng 7, Bộ Chỉ huy Đức mở chiến dịch mang tên “Kế hoạch Edelweiss” nhằm chiếm lấy vùng Caucasus. Thống chế Ewald von Kleist, Tư lệnh Cụm tập đoàn quân A sau này nhận xét: “Chúng ta đã có thể đạt được mục tiêu nêu các tập đoàn quân của chúng ta không bị tiêu hao hết đơn vị này đến đơn vị khác để yểm trợ cho hướng tấn công vào Stalingrad”.

        Ngày 21 tháng 8, do sức địch quá mạnh, các lực lượng Xô viết phải rút từ vành đai phòng thủ bên ngoài vào tuyến trong Stalingrad. Hai ngày sau, không quân Đức điều hàng trăm máy bay ném bom thành phố. Tướng (sau này trở thành Nguyên soái) Eremenko cho ta thấy một bức tranh toàn cảnh về trận đánh này trong cuốn sách viết về thành phố trong chiến tranh:

        Cả khu vực Stalingrad đường như bị lật tung lên và biên thành một màu đen. Dường như đã có một trận cuồng phong ghê gớm vừa đi qua thành phố, hất tung nó lên không trung và quăng trở lại với những đống đổ nát của nhà cửa trên khắp các quảng trường và đường phố. Không khí trở nên nóng bức, cay nồng, khắc nghiệt và rất khó thở. Tình hình hỗn loạn không thể nào tả xiết. Hàng nghìn âm thanh hỗn tạp đập chói tai. Đó là tiếng bom rơi ầm ầm hòa lẫn những tiếng nổ khác, cùng tiếng nhà đố ầm ầm và tiếng lửa cháy dùng dùng. Trong bầu không khí, âm thanh hỗn loạn ấy, chúng ta vẫn có thể nghe rõ tiếng rên rỉ và nguyên rủa của những người sắp chết, tiếng khóc lóc van xin của đám trẻ con, tiếng thổn thức của những người phụ nữ. Trái tim chúng ta nghẹn ngào thương xót cho số phận những nạn nhân vô tội do tội ác của phát xít Đức. Trong trái tim chúng ta đè nặng suy nghĩ rằng, chúng ta đã không thể ngăn được nỗi đau của hàng trăm người dân yêu chuộng hòa bình này, nhất là những em bé1.

------------------
        1. ''Eremenko, Stalingrad (bản tiếng Nga), Mátxcơva, 1961.

 6 
 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2019, 02:27:20 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

CHƯƠNG 9

STALINGRAD - PHIÊN BẢN CỦA ĐỊA NGỤC

        Dừng lại! Hãy nghiêng mình tỏ lòng tôn kính - bạn đang đứng trên một mảnh đất thiêng liêng.
LILIA KIRSHINA, Volgograd, 1967       

        Các kế hoạch của Manstein nhằm giải cứu lực lượng đang bị bao vây ở Stalingrad... không thành công như dự tính.
G.K.ZHUKOV, Nhớ lại và suy ngẫm       

        Các kế hoạch chiến tranh của Hitler luôn đặt ra mục tiêu tiến thẳng theo hướng A-A (Archangelsk - Astrakhan), kéo dài từ Biển Trắng ở phía Bắc tới Biển Caspian dưới phía Nam. Stalingrad luôn luôn được đề cập trong các kế hoạch năm 1941 và 1942 khi các cánh quân của Đức chuẩn bị cho các chiến dịch tại Mặt trận phía Đông trong mùa xuân và mùa hè. Tất nhiên, thành phố này được đặt tên như vậy sau khi Stalin trở thành lãnh tụ cao nhất, cũng giống như cái tên Leningrad -  thành phố thường được gọi là St Perterburg. Đầu tháng 11, Hitler cho rằng thành phố hầu như đã nằm trong tay quân Đức. Phát biểu trên đài phát thanh ngày 8 tháng 10 năm 1942, Hitler tuyên bố: “Chúng ta đã ở đó”, tình báo Xô viết đã thu được bài phát biểu này.

        Tính đến cuối thu năm 1942, các lực lượng của Hitler trên mặt trận Xô - Đức đã lên đến hơn 200 sư đoàn với tổng số khoảng 6,2 triệu sĩ quan và binh lính, với khoảng 51.000 khẩu pháo và đại bác, 5.000 xe tăng và các vũ khí tấn công khác, 3.500 máy bay và gần 200 tàu chiến.

        So sánh với lực lượng của Đức, quân Liên Xô có xấp xỉ 6,6 triệu sĩ quan và chiến sĩ, 77.000 khẩu pháo và đại bác, 7.000 xe tăng và 4.500 máy bay. Zhukov cho biết, điều quan trọng hơn cả là, Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô đã có một lực lượng dự bị chiến lược gồm 27 sư đoàn bộ binh, 5 quân đoàn cơ giới hóa và xe tăng độc lập và 6 trung đoàn bộ binh độc lập khác.

        Zhukov nhận định, về quy mô lực lượng của hai bên, đến cuối “giai đoạn đầu tiên của cuộc chiến tranh” cán cân lực lượng bắt đầu nghiêng về phía Liên Xô. Đồng thời, ở mặt trận phía Đông, quân Liên Xô đã biết cách giữ bí mật các kế hoạch của mình và tung tin giả gây cho địch lúng túng trên quy mô lớn. “Do ngụy trang tốt công tác tập trung và huy động lực lượng nên chúng tôi đã giáng cho địch những đòn tấn công đầy bất ngờ”, Zhukov nói.

        Ví dụ về việc quân Đức bị ăn tin giả là, sau cuộc tấn công ác liệt ở phía Nam, tại Stalingrad và Bắc Caucasus, Bộ Chỉ huy tối cao Đức tin rằng, các lực lượng Xô viết sẽ không thể tiến hành một chiến dịch phản công lớn trên các mặt trận này. Mệnh lệnh của Bộ Chỉ huy tối cao các lực lượng mặt đất của Đức ra ngày 14 tháng 10 năm 1942 khẳng định: “Quân Nga đã hoàn toàn suy kiệt trong các trận giao chiến gần đây. Mùa đông năm 1942 - 1943, chúng sẽ không thể tăng cường lực lượng mạnh mẽ như chúng đã có được trong mùa đông năm ngoái”.

        Nguvên soái Zhukov khẳng định: Tuyên bố này quá sai lầm.

        Mùa hè năm 1942 là một khoảng thời gian bận rộn đối với Mátxcơva chứ không chỉ trên chiến trường. Tháng 8, Winston Churchill bay tới Mátxcơva và chuyển một tin xấu rằng, Mỹ và Anh không thể mở mặt trận thứ hai trong năm đó. Trên đường đi, Churchill viết trong nhật ký: “Tôi đã cân nhắc kỹ lưỡng về sứ mệnh này của mình... Tôi đã cố gắng, lao tâm khố tứ đế ngăn cản sự ra đời của Nhà nước Bônsêvích này... Tôi sẽ phải nói với họ như thế nào bây giờ? Tướng Wavell, mặc dù văn chương kém cỏi nhưng vẫn có thể truyền tải được thông điệp trên trong một bài thơ gồm mấy khổ nhưng mỗi khổ đều có câu kết là: “Không có Mặt trận Thứ hai trong năm 1942”.

        Mặc dù người Xô viết không bao giờ tin rằng, Bắc Phi, vùng Viễn Đông và cuộc chiến trên Đại Tây Dương là những chiến trường trọng tâm, nhưng điều còn gây tranh cãi là Ngày D năm 1944 diễn ra quá chậm trễ nên đã gây ra mối nghi ngờ rằng có một “động cơ chính trị” nào đó nhằm vào Kremlin. Vì vậy, chắc hẳn là hy vọng thực sự về việc Anh - Mỹ mở Mặt trận thứ hai vào năm 1942 là viển vông.

        Sau khi thông báo cho Stalin tin này trong cuộc gặp không lấy gì làm vui vẻ giữa hai nhà lãnh đạo, Churchill nhận được một Bản ghi nhớ trong đó nói rằng:

        Việc Chính phủ Anh từ chối mở Mặt trận thứ hai ở Châu Âu vào năm 1942 gây thất vọng và bất bình lớn trong dư luận nhân dân Xô viết, gây khó khăn cho Hồng quân ở mặt trận phía Đông và ảnh hưởng xấu đến các kế hoạch của Bộ Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô. Những khó khăn mà Hồng quân Liên Xô phải đối mặt do việc từ chối mở Mặt trận thứ hai vào năm 1942 sẽ làm suy yếu khả năng tác chiến của quân Anh và các nước Đồng minh1.

-------------------
        1. Khi Chiến dịch Volga diễn ra, Thủ tướng Churchill cố gắng yêu cầu Liên Xô chấp thuận cho điều động quân Anh tới vùng Caucasus.

 7 
 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2019, 02:24:31 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Dưới đây tôi xin trích một đoạn trong báo cáo của Bliukhơ, ông viết: “Sư đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ đánh thông con đường vào Crime. Hồi 12 giờ ngày 11 tháng 11 đã chiếm được nhà ga Isơn, phía trước đã là Crimê, không còn bất kỳ một chiến lũy nào nữa.Chúng tôi đã đánh tan bộ đội tinh nhuệ của Frăngcô, Cóocnilốp, Máccốp, bọn Bạch vệ và Quân đoàn số2 đã trở thành tàn binh bại tướng, chúng đang hốt hoảng tháo chạy. Đạo quân đã từng là niềm kiêu hãnh của Frăngcô thì nay đã bị đập tan và bị tiêu diệt. Chiến lũy Thổ Nhĩ Kỳ và 4 phòng tuyến của chiến lũy Isơn mà hắn từng huyênh hoang là bất khả xâm phạm thì nay đã rơi vào tay Hồng quân. Các chiến sĩ Hồng quân đã chịu đựng mọi gian khổ đói rét, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, nhưng họ đã liên tục chiến đấu, chẳng những đã đập tan quân địch chiếm ưu thế về số lượng và vũ khí, mà còn phá hủy mấy chục hàng rào dây thép gai và rất nhiều chiến hào. Bây giờ thì chẳng còn cách gì để cứu vãn được quân đội của Frăngcô. Mệnh lệnh của giai cấp vô sản: Crime cần phải là của Nhà nước Xô viết - nay đã hoàn thành một cách vẻ vang”.

        Ngày 15 tháng 11, các chiến sĩ của Sư đoàn 51 với tư thế của người chiến thắng tiến vào Sêvátstôpôn và Thành phố Ianta.

        Vì những chiến công anh hùng ở Crime, Sư đoàn 51 và các Sư đoàn khác đã được thưởng Huân chương Cờ đỏ và vinh dự được gọi là Sư đoàn Brêcốp. Ủy viên Quân sự Cách mạng của Phương diện quân còn thưởng cho Bliukhơ một Huân chương cờ đỏ, còn Ủy viên Quân sự Cách mạng của Tập đoàn quân thì tặng ông một chiếc đồng hồ đeo tay. Trên chiếc đồng hồ này có khắc hàng chữ: “Thưởng cho V.K. Bliukhơ - Sư đoàn trưởng Sư đoàn 51, lãnh tụ đỏ - người đã chiến thắng trong chiến dịch Brêcốp và Isơn (27 tháng 10-11 tháng 11) ủy viên Quân sự Cách mạng Tập đoàn quân tặng".

        Sau khi đánh đuổi Frăngcô và quân đội Ba Lan ra khỏi biên giới và đánh lui bọn can thiệp vũ trang nước ngoài, cuộc nội chiến ở miền Trung nước Nga cũng đã kết thúc. Nhưng tình hình ở vùng Viễn Đông vẫn rất khó khăn, về tình hình của những ngày đó, Lênin đã viết như sau: “Tình hình thực tế buộc phải thành lập một “Quốc gia” hòa hoãn, đó là nước Cộng hòa Viễn Đông. Chúng ta không thể tiến hành chiến tranh với nước Nhật và nếu có thề được thì cần phải tránh cuộc chiến tranh đó. Bởi vì căn cứ vào những điều kiện đặt ra thì hiện tại chúng ta chưa đủ lực... ".

        Ngày 26 tháng 5 năm 1921. Vlađivôtstôc xảy ra cuộc đảo chính phản cách mạng, Chính phủ lâm thời đoạt lấy chính quyền ở các vùng dọc theo bờ sông Amua, anh em nhà Mâycôlốp lãnh đạo Chính phủ đó, chúng được bọn vũ trang can thiệp Nhật ủng hộ. Để giúp đỡ cho Nước Cộng hòa Viễn Đông đấu tranh với bọn phản cách mạng, Ban Chấp hành Trung ương đã phái đến đó một số cán bộ chỉ huy có kinh nghiệm (trong số đó có Bliukhơ) để công tác trong Quân đội Cách mạng Nhân dân. Ngày 24 tháng 7, Bliukhơ đến Viễn Đông, Trung ương Cục Nước Cộng hòa Viễn Đông bổ nhiệm ông làm Bộ trưởng Quân sự và Tổng Tư lệnh quân Cách mạng Nhân dân.

        Một số người hồi đó công tác tại Viễn Đông kể lại tình hình lúc bấy giờ, Bliukhơ với chức vụ cao như vậy nhưng công tác rất khó khăn. Quân đội hồi đó là một đội ngũ linh tinh, nửa du kích nên kỷ luật rất kém, trang bị cũng rất kém. Bliukhơ trong cuộc đời chịu đựng nhiều gian khổ, cho nên xét về mặt cá tính thì ông thuộc phái lạc quan, nhưng khi thấy tình hình như vậy, ông cũng đâm hoảng và chán nản vì quân đội ở vào trạng thái không thể chỉnh đốn được. Bliukhơ đến thị sát các Sư đoàn, nhưng các Sư đoàn trưởng không có cách gì để tập hợp quân nhân của mình xếp thành đội ngũ để cho ông kiểm duyệt. Có một sư đoàn, quân số theo danh sách là 4800 người, nhưng sau khi làm đủ cách để tập hợp lại thì chỉ còn có 920 người.

        Sau khi đã nắm xong tình hình, Bliukhơ viết một báo cáo gửi cho Lênin và Chủ tịch Ủy ban Quân sự Cách mạng - Trốtski. Dưới đây là một đoạn trích trong báo cáo đó. Các bạn đọc xong sẽ giật mình và đáng sợ! Nhưng những điều đó hoàn toàn là sự thật, bởi vì đây chính là do Bliukhơ tự viết ra:

        “Những hiện tướng vô cùng xấu xa như: An xin, ăn cắp, mãi dâm, làm gián điệp v.v... đã trở thành phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày của quân đội. Các chuyên gia quân sự đã bán đi những nhu yếu phẩm cuối cùng của mình ở ngoài chợ, cho nên họ chẳng tham gia huấn luyện; còn những người phụ trách thì làm trợ thủ cho những nghệ nhân và canh cửa ban đêm cho Thương nhân. Vợ quân nhân thì đi xin ăn ngoài phố. Chiến sĩ thì chẳng còn là chiến sĩ, họ cầm vũ khí xộc vào nhà dân để cướp phá. Còn Tham mưu của Bộ Tư lệnh thi vì quá đói nên có người lăn ra ốm, có người thì gặp thứ gì là đem bán thứ đó, từ bút chì cho đến máy chữ và văn kiện mật; Có bọn thổ phỉ lấy cớ là tịch thu tài sản của bọn Bạch vệ để bắt lợn, gà của nông dân... Tất cả những cái đó đã trở thành sự thật nặng nề trong sinh hoạt thường ngày và nói lên rằng quân đội trong điều kiện vật chất thiếu thốn và sinh hoạt thất thường thì đã truy lạc đến mức độ nào... ”.

 8 
 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2019, 02:23:30 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Frăngcô tung đội dự bị vào chiến đấu, nhưng cũng chẳng làm nên trò trống gì. Vôrônchi động viên cổ vũ Bliukhơ, ông nói hiện nay trên chiến tuyến của Bliukhơ chẳng những quyết định vận mệnh của lô cốt đầu cầu mà còn quyết định cả vận mệnh của toàn chiến cục. Bởi vậy ông yêu cầu Bliukhơ phải bằng mọi cách động viên các chiến sĩ của mình kiên quyêt giữ vững trận địa chờ cho đến khi bọn địch bị tổn thất nặng và sức tàn lực kiệt thì đưa sư đoàn của mình vào phản công. Vôrônchi về sau này đã viết: “Đội quân anh dũng dưới sự chỉ huy của Bliukhơ chang những đã đánh lui các đợt tiến công của quân địch, mà còn chuyển sang phản kích mạnh mẽ, đập tan chúng đồng thời còn chiếm được trận địa phối thuộc của chúng, bắt được 10 xe tăng, 5 xe bọc thép, hơn 70 súng máy cùng nhiều chiến lợi phẩm khác”.

        Tài chỉ huy và công lao của Bliukhơ đã được Ban Chấp hành Trung ương toàn Nga biểu dương và thưởng cho anh một chiếc đồng hồ vỏ vàng, bên trong có khắc hàng chữ: “Thưởng cho chiến sĩ trung thành của Hồng quân công nông. Ban Chấp hành Trung ương toàn Nga”.

        Bộ đội cuả Bliukhơ truy kích địch cho đến chiến lũy Brêcốp thì dừng lại, bởi vì nếu chỉ dựa vào lực lượng của mình thôi thì không thể nào công phá nổi cái chiến lũy kiên cố này. Frăngcô đem tàn quân chạy về Crimê. Địa hình của chiến lũy Brêcốp nhỏ hẹp, bọn địch lại lợi dụng chiến lũy cũ của Thổ Nhĩ Kỳ để xây dựng trận địa phòng ngự vững mạnh. Chiến lũy Thổ Nhĩ Kỳ nằm chắn ngang hết cả hẻm núi, cao tới 8 mét, chạy dài tới 11km, phía trước chiến lũy lại có một con hào sâu 9 mét và rộng hơn 20 mét, ngoài ra còn có mấy lớp rào dây thép gai, kèm theo những công sự gần đó có đặt súng máy và đại bác để bắn quét. Tất cả những cái đó làm cho phòng tuyến này hầu như không thể công phá được. Bởi vậy Frăngcô không còn lo lắng gì, thậm chí hắn còn nói: “Chúng ta đã làm được khá nhiều công việc chuẩn bị, từ nay về sau cũng còn phải làm nhiều việc nữa, nhưng có thể nói Crime là nơi mà Hồng quân không thể công phá được”.

        Dưới sự lãnh đạo của Vôrônchi, quân đội bắt đầu chuẩn bị tấn công. Tập đoàn quân số 6 do Cáckhơ chỉ huy được lệnh tấn công vào chiến lũy này. Sau khi đã trinh sát kỹ. Vôrônchi và Bliukhơ quyết định tấn công theo hướng vịnh Sêvát. Bơi vì vịnh này vào mùa khô thì có thể lội qua được. Nhưng nếu xem xét kỹ một chút thì khi đó thời tiết đã sang thu, nước rất lạnh, có một số chỗ thậm chí nước còn đóng thành một lốp băng mỏng, cho nên việc lội qua vịnh không còn là chuyện giản đơn. Vì dự kiến nếu đánh theo hướng này thì hiệu quả rất lớn, cho nên Vôrônchi quyết định vẫn cứ tiến công.

        Hai tiểu đoàn của Bliukhơ và sư đoàn 15 cùng sư đoàn 52 được lệnh vượt qua vịnh Sêvát. Họ đã vượt qua quãng đường 10 km nước sâu tới ngực, mất hơn 3 tiếng đồng hồ. Khi lên đến bò hỏa lực của Sư đoàn 152 và Tiểu đoàn còn lại của Bliukhơ lập tức nổ súng ào ạt tấn công chiến lũy.

        Lúc đó Tư lệnh Phương diện quân Vôrônchi và Tư lệnh Tập đoàn quân số 6 đều đang ở chỗ Bộ Tư lệnh của Bliukhơ. Đợt tấn công lần thứ nhất không thành công. Vôrônchi lại ra lệnh tổ chức đợt tấn công mói. Đúng 7 giờ tôi, đợt tấn công lần thứ hai bắt đầu. Sư đoàn 152 và Trung đoàn đột kích số 1 bị thương vong khá nhiều, hầu như chỉ còn lại khoảng 60% quân số. Nhưng những chiến sĩ còn lại vẫn tiếp tục tiến lên. Tuy vậy đợt tấn công này cũng không thành công. Ban đêm nước thủy triều trên vịnh Sêvát lại lên và cắt mất đường rút lui của các Sư đoàn đã lên bờ. Vôrônchi ra lệnh cho Bliukhơ tiếp tục xung phong một lần nữa, và bằng mọi cách phải chiếm được chiến lũy Thổ Nhĩ Kỳ, nếu không thì các Sư đoàn đã vượt qua vịnh Sêvát sẽ bị tiêu diệt. Đến 11 giờ đêm, Bliukhơ ra lệnh cho các chiến sĩ của mình xung phong tấn công một lần nữa, nhưng cũng vẫn không chiếm được chiến lũy. Các chiến sĩ khi gần tiếp cận được với hàng rào dây thép gai thì đều bị đánh lui. Nhờ có đêm tối, bộ đội của Bliukhơ bí mật phát triển tới chiến hào. Ở dưới chiến hào, các chiến sĩ ở vào góc chết, hỏa lực súng máy của bọn địch trên chiến hào không bắn tới được họ. Các chiến sĩ men theo chiến lũy tiến lên, vòng qua sườn phải của chiến lũy và bất ngờ tấn công vào bọn địch phòng ngự ở phía sau chiến lũy.

        Quân của Frăngcô hốt hoảng rút lui và bắt đầu cố thủ ở trận địa Isơn. Cả Bliukhơ và Vôrônchi đều hiểu được rằng nhất thiết không được để cho bọn địch cố thủ tại đó. Trong đêm tối, vì bị thương vong nhiều và rất mệt, các chiến sĩ tạm rút xuống để chấn chỉnh đội hình chuẩn bị đợt tấn công mới. Đúng lúc đó, Sư đoàn quân tinh nhuệ Látvia tăng viện cho Bliukhơ Tiểu đoàn 151. Để ngăn chặn cuộc tấn công của Hồng quân, Frăngcô đã điều 20 chiến hạm đến vịnh Isơn, dùng pháo của các hạm tàu phối hợp với pháo mặt đất cùng bắn vào trận địa của Hồng quân. Mặc dù như vậy, Hồng quân vẫn tiếp tục tiến công. Đến mờ sáng ngày 11 tháng 11, các chiến sĩ Hồng quân đã xung phong đánh giáp lá cà trong suốt 1 ngày trời và lần lượt chiếm được phòng tuyến thứ nhất, thứ hai và thứ ba.

 9 
 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2019, 02:21:23 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Tại đây Bliukhơ lại nhận được lệnh mới. Toàn bộ đạn dược và lương thực của Sư đoàn phải thồ trên lưng ngựa, rồi hành quân men theo rừng rậm và đầm lầy vòng qua sườn của quân Côdắc tiến về Amuascơ. Thực hành một trận tập kích vu hồi chớp nhoáng phối hợp với hướng chính do Sư đoàn 27 và 30 đảm nhiệm. Kết quả của trận đánh gian khổ táo bạo này là: ngày 11 tháng 11 Hồng quân giải phóng Amuascơ, quân Côdắc buộc phải tháo lui về vùng Веса.

        Mùa hè năm 1920, miền Nam nước Nga và mặt trận phía Tây lại rơi vào tình trạng nguy cấp. Đầu tháng 8, Sư đoàn bộ binh 51 của Bliukhơ lại được điều từ Sibêri đến đối phó với Tập đoàn quân Côdắc do Frăngcô chỉ huy.

        Tướng Sraxép - Tư lệnh quân Bạch vệ ở vùng Đniép nhận được lệnh là phải nhổ bằng được lô cốt đầu cầu hữu ngạn sông Đniép của Hồng quân và tiêu diệt hết số quân ở đó. Cuộc tấn công của Sraxép rất dữ dội, các Sư đoàn của Hồng quân bắt đầu phải rút lui, chỉ còn có Sư đoàn số 51 của Bliukhơ là làm nhiệm vụ cố thủ và đánh trả các đợt tấn công của địch. Quân của Sraxép sau khi điều chỉnh lại cách bố trí thì chúng lại tìm cách tấn công, ở một số nơi chúng đã mở được đột phá khẩu vào phòng tuyến của Bliukhơ. Nhưng các cánh quân bảo vệ hai bên sườn thì chỉ hơi co lại một chút, chứ không rút lui. Tinh thần ngoan cường đó quả thật đã làm cho quân Bạch vệ phải nể sợ. Thậm chí trên báo chí của bọn chúng phải thốt lên: “Họ đã điều một Sư đoàn mới được huấn luyện tốt đến và toàn bộ các chiến sĩ đều là đảng viên cộng sản. Toàn bộ các chỉ huy đều là những sĩ quan củ đã về hàng Bônsêvích đảm nhiệm. Người cầm đầu là một vị Tướng Đức - Bliukhơ... cầu xin Thượng đế bảo hộ, để cho hắn phải bỏ mạng dưới tay các chiến sĩ dũng cảm của chúng ta".

        Bliukhơ đánh lui các cuộc tiến công của địch, giữ vững được lô cốt đầu cầu Caxépca.

        Tháng 9, để chiến đấu chống lại Frăngcô, Hồng quân đã thành lập Phương diện quân phía Nam, Vôrônchi được bổ nhiệm là Tư lệnh Phương diện quân nàv. Sau khi Vôrônchi đến tiền tuyến, ông đã áp dụng biện pháp cần thiết là đổi cụm chiến đấu ở hữu ngạn sông Đniép thành Tập đoàn quân số 6 đồng thời quyết định xây dựng chiến lũy Caxépca ở gần lô cốt đầu cầu Caxépca. Vôrônchi hiểu rằng, Frăngcô muốn đánh thông một con đường để hội sư với quân đội Ba Lan, nếu cứ giữ nguyên lô cốt đầu cầu thì chẳng những có thể ngăn cản được bước tiến của Frăngcô mà còn có thể đánh vào sườn của Frăngcô bất cứ lúc nào, đồng thời lại có thể tiến hành phản đột kích vào hậu phương của chúng. Vôrônchi cũng biết rằng, không đòi nào Frăngcô lại để cho một cái lô cốt đầu cầu như thể án ngữ trong hậu phương của hắn. Bởi vậy, cái lô cốt đầu cầu này phải được xây dựng thật chắc chắn; mặt khác, phải có một người chỉ huy kiên cường và tin cậy. Vôrônchi cho rằng Bliukhơ là con người như vậy. Cho nên ông đã giao nhiệm vụ xây dựng chiến lũy Caxépca cho Bliukhơ và dùng sư đoàn 51 để phòng vệ chiến lũy.

        Bliukhơ cùng với công trình sư Cácpâyxép tiến hành một số lớn công việc xây dựng và củng cố trận địa phòng ngự “chốt”. Bên ngoài chiến lũy được chăng nhiều lớp dây thép gai, đào nhiều hào chống tăng, đồng thời còn bố trí nhiều ổ đề kháng đặt súng phun lửa và phóng lưu đạn. Ngoài ra, Bliukhơ dự kiến sẽ có xe tăng tấn công, nên ông đã giảng giải cho các chiến sĩ để họ không sợ con quái vật bằng thép này; vì tính cơ động của xe tăng kém, tầm nhìn lại hạn chế, thậm chí nó có luồn vào phía sau thì cũng không nên tháo lui. Tóm lại là Bliukhơ đã làm được một số lớn công việc để củng cố chiến lũy đồng thời còn tăng cường thêm pháo chống tăng, sẵn sàng đánh lui các đợt tấn công của địch.

        Tất nhiên là Frăngcô quyết định phải nhổ bằng được cái gai trước mắt đó, làm cho bờ hữu ngạn mãi mãi không còn chướng ngại vật, hắn tung vào trận đánh khá nhiều binh lực, điều đến khu vực này nhiều xe tăng, xe bọc thép, máy bay và bộ đội tinh nhuệ. Tất cả những lực lượng khí tài đồ sộ ấy đều tập trung trong một vùng đất chật hẹp chỉ để đè bẹp sư đoàn của Bliukhơ. Ngày 14 tháng 10, sau khi đã nã hàng loạt pháo vào trận địa, quân Bạch vệ được lệnh xung phong. Bọn địch vượt qua hàng rào dây thép gai, tiến giáp lá cà với quân đội phòng ngự, nhưng các chiến sĩ kiên cường của Bliukhơ không hề nao núng, họ chờ cho xe tăng địch đến gần, mối dùng súng bộ binh bắn, cách ly bộ binh địch với xe tăng của chúng, sau đó nã pháo tiêu diệt xe tăng. Chỉ trong nháy mắt đã diệt gọn 7 xe tăng và xe bọc thép của chúng.

 10 
 vào lúc: 15 Tháng Chín, 2019, 02:20:48 PM 
Tác giả Giangtvx - Bài mới nhất gửi bởi Giangtvx

        Nhưng thể lực của mọi người đều suy sụp, không chịu nổi được cái rét khắc nghiệt của thời tiết, mặt khác những công nhân và lính thủy khi gia nhập quân đội trang bị rất kém. Thương vong trong chiến đấu, bị thương vì rét, ốm đau vì bệnh tật, nên quân số của bộ đội mỗi ngày một giảm, tất cả những cái đó đều ảnh hưởng đến sức chiến đấu của đơn vị. Bliukhơ biết là họ không thể nào đương đầu nổi sức tấn công của bọn địch được trang bị vũ khí đầy đủ. Ngày 21 tháng 12 Bliukhơ cho Sư đoàn của mình rút lui. Ngày 25 tháng 12 Piáôm rơi vào tay địch. Bọn Bạch vệ thừa thắng tiến tới bờ sông Tigama, thậm chí chúng còn định vượt sông Tigama ở gần Thành phố Api.

        Trong những ngày đó, tình báo của Bliukhơ bắt được một mệnh lệnh của Tướng Pêpêriacôp -  Quân đoàn trưởng Quân đoàn Sibêri số 1. Qua mệnh lệnh đó Bliukhơ biết ý đồ của Tướng Pêpêriacốp là đánh vào cánh trái của Sư đoàn 30 chiếm lấy Páplôsưcơ, vì vậy chúng đang tập trung quân chủ lực ở hướng này. Để đối phó với thủ đoạn của Pêpêriacốp, Bliukhơ chuẩn bị một phương án mà bọn địch không ngờ tới. Ông cho Lữ đoàn Crátsnôufimscơ hành quân vu hồi tấn công bàn đạp tập kết quân tiến công của chúng. Trận đó toàn thắng, tiêu diệt gọn bộ đội tinh nhuệ của Tướng Pêpêriacôp. Toàn Tập đoàn quân số 3 nhanh chóng thừa thắng chuyển sang tấn công. Từ đó quyền chủ động lại chuyển về tay Hồng quân. Chiến thuật vụ hồi kỳ diệu của Bliukhơ được cấp trên chú ý. Ngày 31 tháng 1 năm 1919, ông được bổ nhiệm làm trợ lý cho Tư lệnh Tập đoàn quân số 3.

        Nhưng chỉ ít lâu sau, bọn Bạch vệ tập hợp được binh lực và giành lại quyền chủ động trên chiến trường. Bọn chúng còn có khả năng hội sư với quân đội Mỹ, Anh.

        Cấp trên quyết định, xây dựng phòng tuyến cố thủ hậu phương ở trên bờ sông Viađơca. Ngày 3 tháng 4 năm 1919, Bliukhơ được bổ nhiệm phụ trách đơn vị xây dựng các công sự trên chiến tuyến сố thủ. Ông đã ngày đêm lo xây dựng công sự, đồng thời còn phụ trách việc tổ chức thành lập đơn vị dự bị. Đến mùa hè thì phòng tuyến này cơ bản đã xây xong, có thể dùng nó để ngăn chặn quân địch. Lúc đó tình hình ở ngoài tiền tuyến ngày càng nguy cấp, không lợi cho Hồng quân. Nhưng Vôrônchi - Tư lệnh tuyến phía Đông đã đánh trọng thương quân Bạch vệ thu hồi Priôm và Cuâncua. Hồng quân lại tiếp tục tấn công, nhưng sườn trái đã bị hở, cần phải nhanh chóng tăng cường. Bởi vậy theo quyết định của Vôrônchi, phải thành lập thêm Sư đoàn bộ binh số 51 và bổ nhiệm Bliukhơ làm Sư trưởng. Chiến sĩ của Sư đoàn này phần lớn là công nhân trong các nhà máy ở Uran, ông đã đưa Sư đoàn vượt qua dãy núi Uran tiến về phía Sibêri.

        Sư đoàn của Bliukhơ hành quân trong điều kiện hở sườn, dọc đường phải đánh lui các đợt đột kích của những toán quân Côdắc. Ngày 20 tháng 8 vượt qua sông Tôpua, ít lâu sau lại vượt qua sông Ơkits và đánh chiếm Thành phố Tôpôsưcơ.

        Quân của Bliukhơ lợi dụng ưu thế là hành quân dọc theo sườn quân địch để tiếp tục tiến về phía trước. Nhưng bọn Côdắc đã tập trung binh lực chặn đường tiến quân của Sư đoàn 51. Tháng 9 năm 1919 đôi bên đều lao vào chiến đấu, cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Quân Côdắc buộc Tập đoàn quân số 5 của Tukhaxépski phải lui về sông Tôpô. Tập đoàn quân số 3 cũng đang bị nguy khôn.

        Nhưng các chiến sĩ của Bliukhơ thì được các chiến thắng cổ vũ, ông đã quyết định lợi dụng tình hình đó tiếp tục tiến lên. Bliukhơ phát hiện thấy có thể cắt đứt đường sắt ở hậu phương của quân địch, điểu này có thể làm cho quân Côdắc lâm vào tình trạng thiếu lương thực và trang bị. Côdắc cũng cảm thấy mối đe dọa đó, nên chúng đưa đội dự bị vào cuộc chiến và cho cả máy bay đối phó với Sư đoàn của Bliukhơ.

        Sau khi quân Côdắc đánh lui Tập đoàn quân số 3 và chiếm được Tôpôsưcơ thì chúng cho rằng thắng lợi đã cầm chắc trong tay. Để đẩy nhanh việc giành thắng lợi, Tướng Côsắc đã thân chinh ra tiền tuyến chỉ huy. Còn Bliukhơ thì một mặt phải động viên tinh thần chiến sĩ, một mặt phải đưa bộ đội luồn sâu vào hậu phương của Tập đoàn quân Tôpôsưcơ của địch. Nhưng vì biết rõ binh lực mạnh của Bạch vệ đang ở trước mặt, cho nên Bliukhơ không tấn công vào Thành phố Tôpôsưcơ. Quân Côdắc vẫn tiến hành bao vây quân của Bliukhơ chúng tung ra một số truyền đơn dụ hàng, chúng dọa rằng có chống cự cũng vô nghĩa. Sư đoàn 51 vẫn kiên cường chiến thuật đột kích và né tránh Quân Côdắc liền thắt chặt vòng vây, tấn công hết đợt này đến đợt khác. Các chiến sĩ của Bliukhơ còn lại ngày càng ít, đạn dược và lương thực cũng gần cạn. Cảnh ngộ đó rõ ràng là vô cùng nguy cấp, không ai có thể giúp đỡ được bộ đội đang bị vây. Nhưng Bliukhơ vẫn tích cực tìm cho được một lối ra, ông không dùng cách chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và đến hơi thở cuối cùng, mà quyết định dùng hành động tích cực để cứu lấy bộ đội của mình. Xuất phát từ ý tưởng quyết chiến ông dùng 200 chiến sĩ để tổ chức thành một phân đội chiến đấu, bổ nhiệm Tiểu đoàn trưởng Cácsencô làm chỉ huy dẫn phân đội men theo đầm lầy, vu hồi tấn công hậu phương quân địch, đánh thắng vào phía sau đội hình của quân địch đang tấn công Sư đoàn 51. Khi Bliukhơ nghe thấy tiếng hô “ Ura!” vang lên thì cũng là lúc đôi bên bắt đầu nổ súng và đánh giáp lá cà. Quân địch bất ngờ bị đánh vỗ mặt, đánh thúc lưng, chúng kinh hoàng đội hình chiến đầu tan vỡ phải bỏ chạy. Lãnh đạo Tập đoàn quân đã nhân thắng lợi đó, điều chỉnh lại trận thế loại trừ sức ép của đối phương, bảo đảm an toàn sườn đội hình Tập đoàn quân. Sư đoàn 51 của Bliukhơ tiếp tục, hành tiến chẳng bao lâu tiến vào Tôpôsưcơ.

Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM