Nguồn:
http://www.fas.org/man/dod-101/sys/land/row/bmp-1.htmTrong tuần này trên kênh truyến hình về lịch sử [
History Channel] đang chiếu một bộ phim rất xúc động về BMP và nhân bác
OldBuff có bài về xe chiến đấu bộ binh (Infantry Combat Vehicle) tiếng Nga
BMP có nghĩa là Xe Chiến Đấu của Bộ Binh "fighting vehicle of infantry" -
Boyevaya
Mashina
Pekhoty (
Боевая
Машина
Пехоты), tôi xin tóm tắt một vài thông tin về loại xe rất nổi tiếng này của Liên Xô. Ở đây cũng có một số Thuật Ngữ Quân Sự bằng tiếng Anh được sử dụng.
Xe BMP đã từng được sản xuất hơn 30 nghìn chiếc tại Liên Xô, hơn 3 nghìn chiếc tại Trung Quốc, hơn 2 nghìn chiếc tại Tiệp Khắc và 1 nghìn chiếc tại Ấn Độ.
BMP thực sự là một thiết kế mang tính cách mạng kết hợp xe chiến đầu chở bộ binh - Armored Personnel Carrier (APC) và xe tăng hạng nhẹ Light Tank.
Quá Trình Phát Triển:Chiến thuật Bộ Binh Cơ Giới - Mechanized Infantry Tactics trong những năm 1950s mà xe chiến đấu chở bộ binh APCs được sử dụng như những tắc xi chiến đấu "battle taxis" có thể chở bộ binh đến mặt trận. Bộ binh xuống xe và tham gia chiến đấu bằng chân trong khi xe APCs sẽ yểm trợ bộ binh bằng hỏa lực mạnh gắn trên thân xe. Các loại xe APCs lúc đó chưa được bảo vệ khi sảy ra chiến tranh hạt nhân hay chiến tranh hóa học vì nóc xe APCs thường được mở và không có độ đóng kín cần thiết. Hơn nữa bộ binh phải nhảy ra khỏi xe thì mới có thể chiến đấu được.
Nhu cầu cần thiết phải có BMP xuất hiện từ cuối những năm 1950s. Đó là những yêu cầu về tốc độ, hỏa lực, khả năng chiến đấu của tất cả bộ binh ở bên trong xe. Trang bị vũ khí để yểm trợ bộ binh khi rời xe trong tấn công cũng như trong phòng thủ đủ để tiêu diệt các xe bọc thép hạng nhẹ (light armored vehicles) cũng như có thể bảo vệ bộ binh trong xe khỏi các súng máy thông thường hoặc đại bác (autocannons) cỡ nòng đến 20-23 mm và có thể di chuyển trên quãng đường 600-1000km.
Hỏa lực trên xe ban đầu chủ yếu là khẩu 73mm có tầm bắn 700m và tên lửa chống tăng điều khiển bằng dây (anti tank wire guided missile (ATGM)) có tầm bắn 500-3000m. Những yêu cầu này được đưa ra cho các phòng thiết kế trong năm 1959-1960. Một vấn đề nữa là xe BMP sẽ chạy bằng xích hay bằng bánh, do đó các thiết kế và thí nghiệm được tiến hành kể cả việc thiết kế xe lai sử dụng cả bánh xích và bánh hơi - hybrid wheeled/tracked designs. Cuối cùng thì phòng thiết kế Pavel Isakov (Design Bureau of the ChTZ) và thiết kế Ob'yekt 764 xe bánh xích với động cơ đặt ở phía trước được chọn vì loại xe này có khả năng nhận và thoát bộ binh khỏi xe rất nhanh thông qua hai cửa lớn phía sau xe.
Quá Trình Sản Xuất:Đó là loại xe đầu tiên BMP-1 được chế tạo thử thành công năm 1965. Sản xuất loạt nhỏ thử nghiệm năm 1966. Sau khi cải tiến đến năm 1969 thì xe BMP-1 được sản xuất hàng loạt vào những năm 1969-1973. Trong giai đoạn này hơn 20,000 BMP-1 được sản xuất tại Liên Xô. BMP-1 sau này được cấp bản quyền sản xuất tại Tiệp Khắc, Ba Lan và Ấn Độ. Năm 1986 Trung quốc cũng bắt chước kiểu dáng để sản xuất hơn 3000 xe BMP-1 tương tự có tên là WZ501. Năm 1997 thì Iran cũng bắt chước sản xuất sản xuất loại xe của Trung Quốc WZ503.
Lịch sử sử dụng:BMP-1 được Liên Xô sử dụng năm 1966 và lần đầu tiên phương Tây được thấy xe này là vào tháng 11/1967 tại lễ duyệt binh ở Mátxcơva. Trong lục quân Liên Xô (Soviet Army) xe BMP-1 là loại xe đặc trưng dùng trong các sư đoàn bộ binh cơ giới (motorized rifle divisions) và các trung đoàn bộ binh cơ giới thuộc các sư đoàn tăng (and the motorized rifle regiments of tank divisions). Hiện nay BMP-1 vẫn còn được sử dụng trong lục quân Nga và các đơn vị an ninh thuộc bộ nội vụ Nga.
Trong cuộc chiến Afghanistan, xe BMP-1 cũng được sử dụng rất rộng rãi. Loại xe này được cải tiến và phát triển thành xe BMP-1D. Rất nhiều nước trên thế giới đã sử dụng loại xe này kể cả Việt Nam.
Sau đây là hình ảnh và một số đặc điểm kỹ thuật chính:BMP-1
Thiết kế: 1961-1965
Nhà máy: Kurganmashzavod Kurgan Engineer Works (KMZ)
Năm sản xuất: 1966-1983
Số lượng: hơn 20,000 chiếc
Trọng lượng: 13.2ton
Chiều dài: 6.375mm
Chiều rộng: 2.94m
Chiều cao: 2.068m
Hỏa lực chính: 1 Đại bác 73mm và 5 Tên lửa chống tăng ATGM
Hỏa lực phụ: Súng máy PKT 7.62mm, 2000 viên
Động cơ: Diesel UTD-20, 6 xi lanh, 4 kỳ dung tích 15.8 lít, 300HP
Khoảng cách gầm xe: 370mm
Thùng nhiên liệu: 462 lít
Di chuyển: 600km
Tốc độ: 65km/h đất liền và 8km/h dưới nước.
BMP-2:
BMP-2 là loại xe tiếp theo của BMP-1 được sản xuất trong những năm 1980s. Trên chiến trường Ai Cập và Siri năm 1972, xe BMP-1 bộc lộ một số điểm yếu chết người sau: Bị tiêu diệt bới đại bác 50mm ở hai bên và phía sau, bởi đại bác 106mm ở phía trước. Khẩu đại bác chính 73mm trên xe chỉ có tầm bắn chính xác trong vòng 500m và tên lửa AT-3 Sagger cũng rất kém hiệu quả. Vì thế một dự án thay thế xe BMP được hình thành năm 1974. Loại xe mới BMP-1P được sản xuất vào cuối những năm 1970s và sau đó là việc thiết kế BMP-2.
BMP-2 về cơ bản giống BMP-1. Những thay đổi chính là lắp khẩu đại bác tự động 30mm và tên lửa chống tăng đời mới AT-5B. Theo Wiki
http://en.wikipedia.org/wiki/BMP-2 thì Việt Nam đã nhận 150 chiếc BMP-1 và BMP-2 trong những năm 1982-1984. Cho đến nay Việt Nam đang sử dụng khoảng 600 chiếc BMP-1 và BMP-2.
Nhà máy: Kurganmashzavod Kurgan Engineer Works (KMZ)
Trọng lượng: 14.3ton
Chiều dài: 6.72m
Chiều rộng: 3.15m
Chiều cao: 2.45m
Hỏa lực chính: 1 Đại bác 33mm và 9 Tên lửa chống tăng ATGM
Hỏa lực phụ: Súng máy PKT 7.62mm, 2000 viên
Động cơ: Diesel UTD-20/3, 6 xi lanh, 4 kỳ dung tích 15.8 lít, 300HP
Khoảng cách gầm xe: 370mm
Di chuyển: 600km
Tốc độ: 65km/h đất liền và 8km/h dưới nước.
BMP-3:
Xe BMP-3 là loại được sản xuất sau xe BMP-1 và BMP-2, đưa vào sử dụng năm 1987 và lần đầu tiên ra mắt phương Tây năm 1990. Trang bị 1 đại bác 100mm với 40 viên đạn cùng 8 tên lửa chống tăng ATGM tầm bắn 5-6000m, một đại bác 30mm với 500 viên đạn và một súng máy 7.62 với 2000 viên đạn.
Nhà máy: Kurganmashzavod Kurgan Engineer Works (KMZ)
Trọng lượng: 18.7ton
Chiều dài: 7.14m
Chiều rộng: 3.2m
Chiều cao: 2.4m
Hỏa lực chính: 1 Đại bác 100mm và 1 Đại bác 30mm 8 Tên lửa chống tăng ATGM
Hỏa lực phụ: 3 Súng máy PKT 7.62mm
Động cơ: Diesel UTD-29M, 500HP
Khoảng cách gầm xe: 370mm
Di chuyển: 600km
Tốc độ: 72km/h đất liền và 8km/h dưới nước.
BMP là xe chiến đấu chở bộ binh thành công được sử dụng rộng rãi. Trước đây quân đội Liên Xô có đến hơn 24,000 chiếc BMP-1 và BMP-2. Sau khi Liên Xô tan rã, một phần lớn xe này được chuyển giao cho các nước đồng minh của Liên Xô. Hiện nay nước Nga đang sử dụng 2750 xe và dự trữ 6500 xe. Tổng cộng có hơn 40000 xe BMP đã được sản xuất. Nước Nga đang sử dụng khoảng 1000 chiếc BMP-3. Các nước Ả Rập đã mua hơn 1000 BMP-3, Hi Lạp có 430 BMP-3. Hiện nay Việt Nam chưa mua/có BMP-3?
Loại xe chở bộ binh chiến đấu tương đương của Mỹ là AIFV (Armoured Infantry Fighting Vehicle). Xe AIFV là loại xe được phát triển từ loại xe bọc thép chở quân M113 của Mỹ. Nhân tiện cũng nên điểm qua một số điểm kỹ thuật của loại xe này:
Xe bọc thép chở quân
M113 rất nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam (vỏ làm bằng nhôm) được Mỹ sản xuất vào những năm 1960

Cho đến nay đã có hơn 120,000 chiếc xe M113 được sản xuất và trên 50 nước đang sử dụng. Xe M113 trở thành xe bọc thép (vỏ làm bằng nhôm) tốt nhất và được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới trong mọi thời đại.
Ngày 30 tháng 3 năm 1962, loạt đầu tiên 32 chiếc xe M113 được gửi đến quân đội Việt Nam Cộng Hòa (ARVN) để trang bị cho hai đại đội bộ binh cơ giới. Đến ngày 11 tháng 6 năm 1962 thì hai đại đội này xuất trận. Trong trận Ấp Bắc tháng Giêng năm 1963, có đến hơn 50 xạ thủ đại liên trên xe M113 bị bắn chết (không có giáp che đạn). Sau này M113 được cải tiến lắp thêm giáp che đạn cho súng máy. Chiến tranh Việt Nam là sự kiểm nghiệm đầu tiên cho chiến thuật bộ binh cơ giới của Mỹ. Xe M113 và sau đó là xe M114 được đưa vào tham chiến cùng với 10 tiểu đoàn và một trung đoàn bộ binh cơ giới Mỹ được triển khai trong những năm 1965-1972.
Thông số kỹ thuật chính:
Sản xuất: từ 1960 đến nay
Trọng lượng: 12.3 ton
Dài: 4.863mm
Rộng: 2.686mm
Cao: 2.5m
Chở: 2 tổ lái + 11 bộ binh
Vỏ: Nhôm dày 12-38mm
Súng máy: 12.7mm
Động cơ: Diesel 6V53T 275 sức ngựa
Di chuyển 480km
Tốc độ 67.6km/h trên đất liền và 6km/h trên mặt nước
Theo Wiki
http://en.wikipedia.org/wiki/M113, hiện nay quân đội nhân dân Việt nam vẫn đang sử dụng hơn 750 xe M113.
Năm 1967 lục quân Mỹ lại tài trợ cho một dự án cải tiến và chế tạo xe chở bộ binh loại mới, dự án XM675 dựa trên xe M113A1. Việc hoàn thành thiết kế và chế thử xe YPR-765 được tiến hành vào năm 1970 và đến năm 1975 đã có 5000 chiếc xe YPR-765A1 chở quân đời mới cung cấp cho NATO.

Thông số kỹ thuật chủ yếu của xe YPR-765:
Trọng lượng: 13.6ton
Dài: 5.26m
Rộng: 2.82m
Cao: 2.62m
Chở: 3+7 người
Vỏ: Nhôm
Súng máy chính: 25mm và 350 viên đạn
Súng máy phụ: 7.62 và 2000 viên đạn
Động cơ: Diesel 267 sức ngựa
Di chuyển: 490km
Tốc độ: 61km/h
Hiện nay có khoảng hơn 10,000 chiếc YPR-765 đang được sử dụng trên thế giới. Việt Nam chưa có loại này?