chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #40 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 05:54:25 PM » |
|
TRẬN CẤM KHÊ Hậu Hán thư, mục Mã Viện truyện (q.24) có ghi: “Viện đuổi bọn Trưng Trắc đến Cấm Khê, đánh bại họ mấy lần. Tháng Giêng năm sau (tức Kiến Vũ thứ 19, dương lịch là khoảng tháng 2 năm 43 - N.V.P.) chém Trưng Trắc, Trưng Nhị nộp đầu về Lạc Dương”. Cũng Hậu Hán thư, mục Nam Man truyện (q.86) lại viết: “Tháng Tư năm Kiến Vũ thứ 19 (tức khoảng tháng 5 năm 43 - N.V.P.) Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị”. Thủy kinh chú (q.37) dẫn Giao Chân ngoại vực ký: “... Mã Viện sang đánh, Trắc và Thi chạy vào Kim Khê cứu, ba năm mới bắt được”. Cũng ở Thủy kinh chú (q.37) còn có câu: “Theo sách Việt chí thì Cấm Khê là Kim Khê ở phía tây-nam huyện Mê Linh. Theo Nam Việt chí thì Trưng Trắc chạy vào Kim Khê huyện hai năm mới bắt được”. Qua các tài liệu trên, có hai vấn đề cần làm sáng tỏ: địa danh, địa điểm Cấm Khê và thời gian chiến sự diễn ra ở nơi ấy. VỀ ĐỊA DANH, ĐỊA ĐIỂM CẤM KHÊ Các tài liệu trên đều khẳng định Cấm Khê là căn cứ kháng chiến cuối cùng của Hai Bà. Đất Cấm Khê ấy còn có tên là Kim Khê và được coi là cứu hoặc huyệt. Cứu có nghĩa là khe, động. Huyệt có nghĩa là chỗ khe núi nước chảy xói vào. Vậy cứu và huyệt nghĩa cũng na ná như nhau. Kể ra bản thân chữ khê cũng đã có ý nghĩa là một cái khe núi vì ở các tài liệu nói trên, chữ khê được viết theo bộ cốc, chữ ấy có nghĩa là một khe nước ở vùng núi non (chứ không phải ở đồng bằng). Như vậy Cấm Khê hoặc Kim Khê - có thể hiểu là Khe Cấm hoặc Khe Vàng - phải là một vùng có khe có suối tức cũng là một vùng đồi núi, mà là một vùng đồi núi không hẹp, lại hiểm trở, để nghĩa quân có thể trú ẩn an toàn và chiến đấu trong một thời gian dài ít nhất là từ một năm trở lên. Vậy Cấm Khê cụ thể là ở chỗ nào? Từ đời nhà Đường, cuối thế kỷ thứ VII, thái tử Lý Hiền làm công việc chú giải Hậu Hán thư, đã ghi chú về Cấm Khê như sau: “Quận Giao Chỉ, huyện Mi Linh (có âm khác là Mê Linh) có Kim Khê cứu, người đời gọi lầm là Cấm Khê. Đó là nơi Trưng Trắc cố thủ. Nay thuộc huyện Tân Xương, Phong Châu”. Như thế thì cũng có thể hình dung ra vị trí Cấm Khê được rồi. Song từ trước đến nay đã có nhiều ý kiến khác nhau chỉ định vị trí này. Các tác giả bộ Cương mục thì cho rằng: “Cấm Khê ở về địa hạt Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây” (Tiền biên - q.2). Vĩnh Tường nay là một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. Ông Đào Duy Anh lại đoán định Cấm Khê là xã Cẩm Khê hay còn gọi là Cẩm Viên ở huyện Yên Lạc cũng thuộc tỉnh Vĩnh Phúc ( Cổ đại Việt Nam - Tập IV - tr.65) 1. Thế là cả hai thuyết trên đều đặt Cấm Khê ở trên một dải đồng bằng hẹp nằm ngay bên tả ngạn sông Hồng mà hàng năm về mùa mưa lũ thường bị ngập nước (vì ngày đó chưa có đê). Như vậy không phù hợp với sự ghi chép của các thư tịch đã nêu ở trên. Vả nếu đúng là dải đồng bằng ấy thì làm sao mà Hai Bà tổ chức kháng chiến được tới hàng năm (hoặc hai hay ba năm) chống lại cuộc bao vây càn quét của hai vạn quân giặc đang nắm ưu thế quân sự? Để làm được như vậy, nghĩa quân Hai Bà phải có một căn cứ hiểm yếu, có giá trị phòng ngự tốt nhưng lại cũng không phải hoàn toàn khép kín mà có thể và cần phải liên lạc được với các căn cứ khác, với nhân dân hậu phương (có thế mới duy trì được cuộc chiến đấu). Năm 1972, ông Đinh Văn Nhật trong luận văn Đất Cấm Khê, căn cứ cuối cùng của Hai Bà Trưng trong cuộc khởi nghĩa Mê Linh năm 40 – 43 in ở tạp chí Nghiên cứu Lịch sử các số 148-149, đã đưa ra một giả thuyết mới. Nội dưng cơ bản của thuyết này là coi trung tâm Cấm Khê, căn cứ kháng chiến cuối cùng của Hai Bà Trưng, chính là khu vực thung lũng Suối Vàng, nơi có con Suối Vàng từ sườn đông núi Tản Viên nam chảy về rồi vòng qua Hạ Lôi - Bằng Trù ở huyện Thạch Thất để đổ vào sông Tích. Thung lung Suối Vàng được coi là tên Nôm của Kim Khê cứu. Tác giả mô tả: “Con suối này bắt nguồn từ núi Xổ có đỉnh cao 178m, gần thôn Cổ Cửa trên đất các xã Đào Lãng và Bằng Lộ cũ, thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình, sau đó chảy qua xóm Suối Vàng rồi vào địa hạt xã Hạ Bằng, huyện Thạch Thất, thành suối Hạ Bằng; suối này chảy qua chân núi Tu Hú, qua xã Hạ Bằng rồi sau cùng đổ vào sông Con ở ngang Dã Cát và Phú Vinh thuộc huyện Quốc Oai, Hà Sơn Bình”. ( Nghiên cứu Lịch sử, số 148 ). Giả thuyết này được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận. Ông Văn Tân vừa tán thành lại vừa cung cấp thêm một giả thiết về mặt ngữ âm: “Kim Khê hay Cấm Khê đều đọc là gin xi hay chín xi. Đầu tiên người ta đã dịch Suối Vàng ra gin xi (chín xi) tức Kim Khê. Sau khi truyền miệng cho nhau, người ta chỉ nói là gin xi. Rồi từ gin xi người ta viết ra Cấm Khê hoặc Cẩm Khê” 2. Thung lũng Suối Vàng đó có nhiều dấu hiệu tỏ ra là một căn cứ của Hai Bà Trưng. Ngoài tên gọi ra (Kinh Khê - Suối Vàng) nơi đây còn là một vừng rừng núi kín đáo rất phù hợp với việc xây dựng căn cứ địa: sông Đáy là vòng hào phòng thủ tự nhiên thứ nhất của vùng này, sông Tích là vòng hào thứ hai, còn rừng cây bạt ngàn của dãy Ba Vì - Viên Nam là tấm áo giáp che chở hiệu nghiệm đồng thời là nguồn cung ứng phần nào lương thực và thực phẩm. Căn cứ này lại có lối thông vào Cửu Chân qua hành lang Miếu Môn - Nho Quan. Ngoài ra, thung lũng Suối Vàng lại gần kề Hạ Lôi - Kẻ Lói, được coi là quê hương của Hai Bà và như vậy trở thành chỗ dựa về vật chất và nhất là về tinh thần cho hoạt động kháng chiến. Một dấu hiệu khác nữa là thung lũng này ở ngay dưới chân núi Vua Bà, ngọn núi cuối cùng của dãy Tản Viên nam. Cái tên gọi ấy phải chăng liên quan tới Bà Trưng? Đành rằng trong tục lệ thờ phụng và tín ngưỡng dân gian của chúng ta có nhiều “vua bà”. Song ở đây, bên cạnh núi Vua Bà lại có cả núi Mã Viện tương truyền là nơi đóng quân của tên giặc già này. Vậy thung lũng Suối Vàng với núi Vua Bà, núi Mã Viện càng có khả năng là có liên quan tới sự kiện Hai Bà Trưng và là một chiến trường cổ thời đó 3. _____________________________________ 1. H. Maxpêrô trong L’expédition de Mayuan - BEFEO XVIII - cho rằng Cấm Khê là Cẩm Khê và coi đó là huyện Cẩm Khê, Yên Bái. Nhưng cũng chính ông tìm ra cái tên huyện Cẩm Khê thực tế chỉ mới có từ năm 1841, trước đó là huyện Hoa Khê. Cho nên ông không nghiên cứu tiếp vấn đề Cấm Khê nữa, coi như chưa biết là ở đâu. 2. Văn Tân – Công tác nghiên cứu Hai Bà Trưng và cuộc khởi nghĩa do Hai Bà lãnh đạo trong mấy năm gần đây - Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 161. 3. Nếu sau này ngành khảo cổ đào được ở khu vực đó những vũ khí bằng đồng, bằng sắt và phát hiện những bãi táng tập thể thì đích thực đây là Cấm Khê.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #41 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 06:59:57 PM » |
|
VỀ THỜI GIAN VÀ DIỄN BIẾN CỦA CHIẾN SỰ Ở CẤM KHÊ Như đã nêu ở trên, vẫn một bộ Hậu Hán thư mà ở mục Mã Viện truyện thì ghi: “Tháng Giêng năm Kiến Vũ thứ 19 (tức khoảng tháng 2 năm 43) chém Trưng Trắc, Trưng Nhị đệ đầu về Lạc Dương.” Tới mục Nam Man truyện lại ghi: “Tháng Tư năm Kiến Vũ thứ 19 (tức khoảng tháng 5 năm 43), Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị”. Như vậy theo Hậu Hán thư, Hai Bà duy trì cuộc kháng chiến ở Cấm Khê được khoảng từ tám tháng đến một năm. Nhưng cũng như đã nêu ở trên, theo Nam Việt chí thì thời gian đó là hai năm và theo Giao Châu ngoại vực ký thì thời gian đó lại là ba năm. (Sử Việt Nam như Toàn thư và Cương mục đều chép giống như mục Mã Viện truyện). Thế là tài liệu về thời gian có chiến sự ở Cấm Khê khá là phân tán. Tuy nhiên, sự sai biệt về khoảng thời gian đó thật không đáng bận lòng. Vì dù là bảy tám tháng, một năm, hay hai ba năm thì cuộc kháng chiến ở Cấm Khê rõ ràng là nối tiếp cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 đã góp phần làm sáng tỏ thêm truyền thống bất khuất của dân tộc ta, đã nói lên cho kẻ thù biết rằng người Việt ở phương nam này không dễ gì chịu khuất phục thiên triều, mọi người sẵn sàng hy sinh ngay cả bản thân mình để bảo vệ độc lập và tự do! Còn một vấn đề nữa mà chính sử cũng không có ghi chép gì, đó là vấn đề diễn biến của chiến sự tại Cấm Khê. Tuy vậy trong Hậu Hán thư, Mã Viện truyện, có một câu đáng chú ý: “Viện đuổi bọn Trưng Trắc đến Cấm Khê, đánh bại họ mấy lần”. Chi tiết này gián tiếp nói lên rằng tại Cấm Khê hai bên đã giao chiến nhiều trận. Đúng thế! Trong trận Lãng Bạc nghĩa quân chết tới mấy nghìn. ( Hậu Hán thư, q.24). Quân Hán bị chết hẳn cũng không kém. Có thể Hai Bà đã thấy thế mạnh của quân xâm lược nên nghĩ đến việc phải rút về một căn cứ có đủ điều kiện “địa lợi, nhân hòa”. Căn cứ ấy phải là Cấm Khê, là thung lũng Suối Vàng vì như đã nêu ở trên, nơi đó địa thế rừng núi hiểm yếu có thể dựa vào “hình khe thế núi” để chiến đấu lâu dài. Nơi đó được bảo vệ bằng hai cái hào thiên tạo là sông Đáy và sông Tích nhất là sông Tích, một con sông chảy trên mép của một bậc thềm nên có khúc thì đôi bờ thoáng đãng nhưng cũng có khúc thì hai bên sông là những đồi gò vách thẳng đứng, rất thuận tiện cho việc bố trí phòng ngự. Nơi đó lại có lối ăn thông vào quận Cửu Chân, một hậu phương đáng tin cậy, bằng con đường qua hành lang Miếu Môn - Nho Quan tức con đường “thượng đạo” sau này. Sau hết, Cấm Khê đó lại kề sát Hạ Lôi - Kẻ Lói, có thể là đất bản bộ của lạc tướng Mê Linh, quê hương thân thuộc của Hai Bà. Với giá trị chiến lược lợi hại như vậy, căn cứ Cấm Khê thực sự đã làm thất bại âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của Mã Viện. Tên giặc già này kết thúc trận Lãng Bạc vào mùa xuân năm 42 nhưng mãi tới mùa xuân (hoặc mùa hạ) năm 43 mới thắng được Hai Bà ở Cấm Khê. Trận Cấm Khê ấy - theo Hậu Hán thư - nếu chỉ kể mùa khô 42 - 43 thì chiến sự kéo dài trên sáu tháng. Theo Giao Châu ngoại vực ký và Nam Việt chí thì chiến sự còn dai dẳng kéo tới hai hoặc ba năm sau, tức là sau khi Hai Bà tử trận, nghĩa quân vẫn chiến đấu tiếp tục ở những chốt hiểm yếu, ở những triền núi, bìa rừng hiểm trở... Với khoảng thời gian ấy cùng với số người bị giết, bị bắt - của cả hai bên - có tới vài ba vạn, trận Cấm Khê quả là một trận chiến lớn thời đó. (Chỉ nói riêng cánh quân do Lưu Long chỉ huy cũng đã giết hơn một nghìn nghĩa quân và bắt sống hơn hai vạn người). Hẳn là Hai Bà Trưng đã huy động vào trận bảo vệ căn cứ Cấm Khê này hầu hết các tướng lĩnh danh tiếng và đại bộ phận nghĩa quân. Tất nhiên điều này không thấy chép trong chính sử nhưng hoàn toàn phù hợp với sự ghi chép của các thần tích, ngọc phả. Theo như thần tích những làng thờ các tướng lĩnh của Hai Bà thì đa số những vị này đã chiến đấu anh dũng và hy sinh tại Cấm Khê. Có thể nêu vài ví dụ: Như ở huyện Đan Phương có sáu làng thờ mười vị (Vĩnh Gia, Vĩnh Hoa, Hải, Trực, Út, Ả Tú, Ả Huyền, Ả Cát, Hải Diệu, Lôi Chấn) thì có tới bốn vị hy sinh ở Cấm Khê (Ả Tú, Ả Huyền, Ả Cát, Hải Diệu). Hay ở huyện Hoài Đức có năm làng thờ hai vị (Ả Lã Nàng Đê và Nguyễn An) thì cả hai đều tử trận tại Cấm Khê... Nói chung, theo ghi chép của các ngọc phả, thần tích thì huyện nào cũng có những tướng lĩnh chiến đấu ở Cấm Khê rồi hoặc chết tại đó, hoặc mở đường máu thoát ra ngoài vòng vây của giặc. Như ở Từ Liêm có Quách Lãng (làng Thượng Cát), ở Gia Lâm có Thành Công (làng Cổ Dinh), ở Đông Anh có vợ chồng Đào Kỳ, Phương Dung (làng Cói), ở Phúc Thọ có vợ Đỗ Năng Tế là Tạ Cẩn Nương (làng Khánh Hợp), ở Yên Lãng có Chàng Hối (làng Thịnh Kỷ), ở Sóc Sơn có Đổng Nghị (làng Ninh Bắc) v.v... Thần tích ở các làng thuộc những tỉnh Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên cũng sẵn các “mô-típ” đó. Nhưng tổn thất lớn nhất đối với nghĩa quân ở mặt trận Cấm Khê là sự hy sinh của Hai Bà. Tất cả các tài liệu lịch sử của Trung Quốc cũng như của Việt Nam đã dẫn ở trên đều thống nhất là Hai Bà tử trận tại Cấm Khê 1. Các sách sưu tầm truyền thuyết cũng đều chép như vậy. Việt điện u linh: “Hai Bà lui giữ Cấm Khê... thua trận và cùng mất”. Lĩnh Nam chích quái: “Bà (Trưng Vương) lui giữ Cấm Kê. Viện đem quân đến đánh... Bà thế cô, bị hại trong trận”. Ngay ở làng Hát Môn, nơi có đền chính thức thờ Hai Bà cũng có hèm kiêng là tất cả các đồ thờ phụng đều sơn màu đen, tuyệt đối không có màu đỏ là màu máu. Khi cúng tế cũng không ai được mang trang phục màu đỏ. Như vậy cũng là phản ánh tín ngưỡng Hai Bà đổ máu hy sinh ở chiến trường. Song cũng chính ở đền Hát Môn này, bản ngọc phả lại kể là Hai Bà tự trầm mình trong dòng Hát Giang. Và từ bao đời rồi lời truyền miệng phổ biến trong dân gian cũng kể như vậy. Năm 1840, khi soạn văn bia Trưng Vương sụ tích bi ký cho đền Đồng Nhân (xem Phụ lục), tiến sĩ Vũ Tông Phan hẳn cũng theo lời truyền miệng mà kể rằng: “Đến lúc việc chẳng chiều lòng, (Hai Bà) cùng nhau xắn tay nhảy xuống sông Hát”. Thật ra, đây chỉ là nhân dân không muốn người anh hùng của mình lại có một chung cục thảm khốc (bị chết vì gươm đao) nên đã tưởng tượng ra một cách chết nhẹ nhàng hơn, thi thể được bảo toàn. Đó cũng là một nét đặc biệt trong lý tưởng thẩm mỹ của người bình dân Việt Nam thời xưa. PHỤ CHÚ - Về chung cục của Hai Bà, ở các thần tích, ngọc phả có khá nhiều dị bản: 1- Ngọc phả làng Hạ Lôi (Yên Lãng): Hai Bà hóa ở một ngọn núi huyện Thạch Thành thuộc phủ Kinh Môn. 2- Thần tích làng Thịnh Kỷ (xã Tiền Châu, huyện Mê Linh) nơi thờ Đông Hối đại vương: Hai Bà hóa ở huyện Thạch Thành, thuộc phủ Thiệu Thiên, Ái Châu. 3- Thần tích làng Cư An (xã Tam Đồng, huyện Mê Linh) nơi thờ riêng Trưng Nhị: Bà Trưng Trắc tự ải ở một ngọn núi huyện Thạch Thành, Ái Châu. Còn bà Trưng Nhị thì chết ở An Cư. 4- Thần tích làng Nại Tử Xã (xã Chu Phan, huyện Mê Linh) thờ riêng Thi Sách: Hai Bà đều chết trận ở Cấm Khê. 5- Thần tích làng Tuấn Xuyên (xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì) thờ Phùng Thị Chính: Hai Bà hóa tại núi Hy Sơn. 6- Thần tích làng Thanh Lãng (xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc) thờ Triệu Khoan Hòa: Bà Trưng Nhị bị tử thương ở bên sông Nguyệt Đức (tức sông Cà Lồ, theo cách gọi ở địa phương này). 7- Đặc biệt Thiên Nam ngữ lục kể về chung cục của Hai Bà khác hẳn mọi tài liệu quen thuộc: Được tin Mã Viện kéo sang, Hai Bà điểm binh lên Man thành đón đánh. Sau một vài trận, liệu thế không thắng, Trưng Vương đề nghị giảng hòa. Mã Viện y theo, lấy Man thành tức là Tư Minh làm mốc chia hai nước. Nhưng khi vừa kéo binh trở về thì cả Hai Bà “Chị em nhuốm bệnh yên hà. Nửa đêm bỏ đất lối ra lên giời”. _____________________________________ 1. Hậu Hán thư q.24: Tháng Giêng năm Kiến Vũ 19, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị... Cũng sách này, q.86: Tháng Tư năm Kiến Vũ 19, Viện phá Giao Chỉ, chém Trưng Trắc, Trưng Nhị. Q.22: Lưu Long đuổi đến Cấm Khê, bắt được Trưng Nhị, chém hơn nghìn đầu. Nam Việt chí: Trưng Trắc chạy vào Kim Khê huyệt, hai năm mới bắt được. Toàn thư: Trưng Vương và em gái... thế cô, đều thua chết. Cương mục: Trưng Vương và em gái... thế cô, đều bị thất trận chết.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #42 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 07:00:51 PM » |
|
NHỮNG TRẬN ĐÁNH KHÁC TRÊN ĐẤT GIAO CHỈ Hai Bà hy sinh rồi (tháng Giêng hoặc tháng Tư năm Kiến Vũ 19 tức tháng 2 hoặc tháng 5 năm 43) nhưng tại Cấm Khê các tướng lĩnh của Hai Bà vẫn cầm cự kháng chiến tới hai hoặc ba năm sau. Một số không ít tướng lĩnh và nghĩa quân khác đã chạy vào Cửu Chân - như Đô Dương, Chu Bá - tiếp tục chiến đấu. Song như thế không có nghĩa là Mã Viện đã kiểm soát được toàn bộ quận Giao Chỉ. Ý thức tự chủ của người Giao Chỉ không thế lực nào tiêu diệt nổi. Chắc chắn là nhiều nơi không chịu phục tùng quân xâm lược. Thủy kinh chú (q.37) có chép: “Tháng Mười năm Kiến Vũ 19 (tháng 11 năm 43) Mã Viện tiến vào quận Cửu Chân...”. Như vậy là suốt mùa hè và mùa thu năm 43 Mã Viện ở lại Giao Chỉ. Hẳn là để lo đối phó với các cánh nghĩa quân còn hoạt động ở nhiều địa phương khác nhau. Tuy chính sử không có chép các sự kiện này nhưng qua các thần tích, ngọc phả thì quả là sau trận Cấm Khê, các tướng lĩnh của Hai Bà đóng ở những địa phương khác nhau vẫn tiếp tục kháng chiến chống quân Hán. Cũng theo các thần tích có thể kể tới hàng chục những cuộc chiến đấu như vậy. Thực tế này tất gây cho giặc nhiều tổn thất. Ở huyện Phúc Thọ (Hà Tây) có Đỗ Năng Tế, Tạ Cẩn Nương và Hoàng Đạo. Đỗ Năng Tế ngụ tại trang Khánh Hợp (nay thuộc xã Tam Hiệp). Vợ là Tạ Cẩn Nương. Bà Man Thiện từng đã đón vợ chồng ông về dạy cho hai cô con gái là Hai Bà Trưng. Khi Hai Bà khởi nghĩa, vợ chồng Năng Tế đứng đầu hàng tướng lĩnh. Tới lúc Mã Viện xâm lược, bà Cẩn Nương chiến đấu bên cạnh Hai Bà, sau tuẫn tiết ở Hát Giang. Còn ông Năng Tế thì về Khánh Hợp cùng bà con làng xóm tiếp tục chống giặc Hán cho đến hơi thở cuối cùng. Ngày ông hy sinh là 17 tháng Bảy 1. Hoàng Đạo ngụ tại làng Hạ Hiệp (nay thuộc xã Liên Hiệp), theo Hai Bà từ ngày tụ nghĩa Hát Môn. Khi Mã Viện xâm lăng, Hoàng Đạo lên chặn giặc ở Long Biên, sau trở về xây dựng căn cứ ở Quán Dâu gần bờ sông Đáy. Được gần một năm, Mã Viện đem quân tới đánh. Ông chiến đấu với giặc đến cùng và hy sinh ngay tại Quán Dâu. Ở huyện Yên Lãng (nay gọi là huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc) có chàng Hối và Lũ Lũy. Chàng Hối từng dấy binh đánh giặc Hán trước khi Hai Bà khởi nghĩa (đã nói ở Chương ba). Sau này khi Mã Viện đánh thắng ở Cấm Khê, Hối vào châu Ái, rồi lộn trở về căn cứ cũ ở làng Thịnh Kỷ (nay thuộc xã Tiền Châu) tổ chức bà con chống giặc. Nhưng giặc Hán đã đem một lực lượng lớn tới đánh. Hối cuối cùng tự tử ở sông Nguyệt Đức (Cà Lồ) vào ngày 10 tháng Chín. Lũ Lũy ở làng Văn Lôi (nay thuộc xã Tam Đồng), là cháu ngoại một lạc tướng. Chàng theo Hai Bà từ ở Hát Môn. Sau khi đuổi Tô Định, chàng về đóng đồn ở Văn Lôi. Khi Mã Viện tới vây, Lũ Lũy phá được trùng vây nhưng chạy tới đầu làng thì giặc đuổi kịp. Không để sa vào tay giặc, chàng lấy kiếm quyên sinh. Ở huyện Đông Anh có Khổng Chúng, người trại Hà Hào (sau đổi là Hà Vĩ, nay thuộc xã Liên Hà). Khổng Chúng từng theo hai người cùng làng là Thủy Hải, Đăng Giang đi đánh giặc Hán. Hai vị này hy sinh ở vùng biển. Khổng Chúng về tổ chức chiến đấu tại Hà Hào. Trong một trận đánh, ông bị ngã ngựa và hóa. Đó là ngày 12 tháng Chín. Ở huyện Gia Lâm có ba tướng họ Đào ở Ngọc Động (nay thuộc xã Đa Tốn). Đó là Đô Thống, Chiêu Hiển và Tam Lang, theo Hai Bà từ Hát Môn. Sau này, khi Hai Bà đã hy sinh, ba chàng họ Đào về trang Đa Tốn lập căn cứ kháng chiến. Họ đều hóa vào ngày 12 tháng Bảy. Ở huyện Thanh Trì có nàng Tía và Tam Trinh. Nàng Tía ở trang Vĩnh Hưng (sau đổi là Vĩnh Ninh, thuộc xã Vĩnh Quỳnh), cô gái anh hùng này được gặp Trưng Vương ngay tại làng quê, được Vua Bà thu nhận. Cô dự nhiều trận đánh lại quân Mã Viện. Sau khi Hai Bà tuẫn tiết, nàng Tía vẫn tiếp tục chiến đấu. Trong một trận đánh ở bến Thần Phù, cô hy sinh. Đó là ngày 13 tháng Mười Một. Triệu Tam Trinh ở thôn Mai Động (nay thuộc xã Hoàng Văn Thụ). Khi Mã Viện xâm lăng, ông đang trấn giữ Sơn Nam. Quân Hán uy hiếp mạnh, ông rút về làng Mai Động lập căn cứ kháng chiến. Sau đó ông mất ở xứ Khu Đống ngày 10 tháng Hai. Ở quận Đống Đa cũng có thôn Thổ Quan tương truyền là nơi ba anh em họ Đào lập đồn chống lại Mã Viện sau khi Hai Bà thất trận. Về sau, cả ba anh em hy sinh cùng ngày mùng 2 tháng Chạp. _____________________________________ 1. Về sự tích nhân vật này, cũng như các nhân vật kế tiếp theo sẽ được nêu đầy đủ hơn ở Chương năm.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #43 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 07:02:25 PM » |
|
Nếu nói rộng ra vùng lân cận Hà Nội thì cũng sẽ gặp những nhân vật tương tự:
Ở thôn An Sơn, xã Đông Sơn, huyện Chương Mỹ (Hà Tây) có ba anh em họ Đặng tên là Cả, Hai, Ba đều là tướng của Hai Bà. Sau trận Cấm Khê, ba người trở về An Sơn lập đồn ở gò Đồng Lang tiếp tục kháng chiến. Trong một trận phá vây, ba chàng hy sinh ngay bên dòng Tích Giang. Ngày hóa là mùng 10 tháng Mười Một.
Hoặc các nhân vật Vương Cai ở làng Thượng Thanh (xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai); Chiêu Trung và Đỗ Lý ở làng Yên Trường (xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa), Nguyễn Nga ở làng Tuy Lai (xã Tuy Lai, huyện Mỹ Đức) v.v... đều là những nhân vật tiếp tục tổ chức kháng chiến ở vùng quê mình sau khi Hai Bà đã hy sinh.1
Tỉnh Vĩnh Phúc cũng không hiếm các nhân vật như thế. Thôn Nghênh Tiên ở huyện Yên Lạc có bà Vĩnh Hoa vẫn tiếp tục chiến đấu tại trang Tiên Nha (tên cũ của vùng Nghênh Tiên, Xuân Đài, Tiên Đài) và tử trận ngày 14 tháng Chín. Hoặc ở Hướng Lai (?) xã Tân Tiến, huyện Vĩnh Tường có hai anh em là Cả Lợi và Hai Lợi cũng lập căn cứ chống Mã Viện. Ngày họ hy sinh là mùng 8 tháng Mười.2 Ở các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên cũng không thiếu các trường hợp tương tự (xem Chương năm).
Tất nhiên với các nhân vật trên thì ngay cả họ tên của họ cũng còn là vấn đề phải tìm hiểu nghiên cứu chứ chưa nói gì đến hành trạng. Nhưng có điều đáng lưu ý là trong những năm gần đây, nhát cuốc của các nhà khảo cổ đã lần lượt nói lên rằng vào thời kỳ hoạt động của các nhân vật truyền thuyết đó thì những địa điểm được coi là quê hương hoặc địa bàn chiến đấu của họ đã thực sự là những điểm tụ cư. Thực tế là ở những địa điểm ấy, ngành khảo cổ đã phát hiện những di vật có tuổi trước Công nguyên, muộn lắm cũng là vào đầu Công nguyên.
Huyện Phúc Thọ: ở Tam Hiệp quê Đỗ Năng Tế, Tạ Cẩn Nương) đã phát hiện những di vật thuộc văn hóa Đông Sơn3.
Huyện Yên Lãng (Mê Linh): ở Tháp Miếu là làng láng giềng của Thịnh Kỷ (đồn binh của Chàng Hối) có di chỉ thuộc văn hóa Phùng Nguyên. Ở Thành Dền, tiếp giáp làng Văn Lôi (quê Lũ Lũy) cũng là di chỉ văn hóa Phùng Nguyên.
Huyện Đông Anh: ở Việt Hùng (Xuân Kiều) xã láng giềng của Hà Vĩ (quê Khổng Chúng) có di chỉ văn hóa Phùng Nguyên. Một xã khác ở cạnh Hà Dĩ là Dục Tú (Đình Tràng) có đủ di chỉ của ba nền văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn.
Huyện Thanh Trì: Chính ở xã Vĩnh Quỳnh (quê Nàng Tía) có di chỉ Gò Chùa Thông, thuộc văn hóa Gò Mun. Ở làng Mai Động, căn cứ của Tam Trinh cũng có di chỉ khảo cổ đồ đá mới.
Huyện Ứng Hòa: Hai xã gần gũi với xã Trường Thịnh (quê Chiêu Trung, Đỗ Lý) là xã Phương Tú và Quảng Phú Cầu đều có những di vật khảo cổ thuộc văn hóa Đông Sơn.
Huyện Mỹ Đức: Làng Tuy Lai (xã Tuy Lai) quê của Nguyễn Nga ở cạnh thôn Hoành, nơi trước đây đã đào được hai trống đồng Đông Sơn đặt tên là trống Miếu Môn I và II.
Huyện Chương Mỹ: Chính ở xã Đông Sơn, quê của ba chàng họ Đặng cũng có di chỉ văn hóa Đông Sơn.
Còn tỉnh Vĩnh Phúc, ở hai huyện Yên Lạc, Vĩnh Tường - quê của Vĩnh Hoa và hai chàng Lợi - thì có tới tám di chỉ văn hóa Phùng Nguyên, một di chỉ văn hóa Đồng Đậu, một di chỉ Gò Mun. Chính tên gọi của văn hóa Đồng Đậu là mượn của di chỉ Đồng Đậu thuộc xã Minh Tân, huyên Yên Lạc, là xã láng giềng của xã Nguyệt Đức, có thôn Nghênh Tiên quê của Vĩnh Hoa. Điều đặc biệt là ở thôn Xuân Đài (thôn cùng với Nghênh Tiên và Đinh Xá họp thành xã Nguyệt Đức) năm 1975 có phát hiện một ngôi mộ có niên đại đầu Công nguyên. Xem xét các đồ tùy táng thì đây là thi hài của một võ tướng4. Thi hài này, đặc biệt hơn nữa, lại chỉ có nửa người phía trên. Phải chăng đây là một tướng lĩnh bị chết trận trong cuộc chiến tranh Việt - Hán ngày ấy?
Như vậy là bằng vào nguồn tư liệu khảo cổ học, có thể nói một cách khẳng định rằng: vào thời kỳ Hai Bà Trưng, những làng xóm nêu ở trên đều là những điểm cư dân, những nơi có người ở đông đúc. Và nếu những người dân này có theo sự chỉ huy của một thủ lĩnh nào đó đứng lên chống quân Mã Viện thì cũng là điều tất nhiên. Vì họ đều là những người Giao Chỉ từng bị quân Hán chà đạp, vùi dập trong trên một thế kỷ!
Có điều là những phát hiện khảo cổ học giúp chuyển thông tin huyền thoại (thần tích) thành thông tin khoa học (sử liệu) đến mức nào thì còn cần phải tiếp tục nghiên cứu. Dù sao đó cũng là những dấu vết vật chất có dồi dào khả năng liên kết huyền thoại thành một sự thật lịch sử. Và rõ ràng là Mã Viện đã bị cản lại ở Giao Chỉ cho tới mùa thu năm 43 mới có thể đánh vào Cửu Chân. Nhân dân Giao Chỉ đã kìm lại bước tiến của Mã Viện, cho hắn biết thế nào là nghị lực và khí phách của người Việt phương nam.
PHỤ CHÚ - Một số nhà nghiên cứu có hình dung ra một số trận đánh khác. Như hai ông Nguyễn Văn Dị - Thanh Ba (trong bài đã dẫn) cho rằng có cuộc chiến ở vùng “quốc đô Mê Linh thuộc huyện Yên Lãng, Vĩnh Phú” và là “những trận ác chiến”.
Hoặc ông Vũ Kim Biên trong bài “Về vấn đề Cấm Khê” in ở tập “Những vấn đề lịch sử Vĩnh Phú” - Ty Văn hóa Vĩnh Phú - năm 1975 - có quan niệm rằng:
- Bà Trưng đóng ở Hạ Lôi - Yên Lãng.
- Cấm Khê là làng Cẩm Khê, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phú
- Mã Viện sau khi qua ải Lạng Sơn thì tách một toán quân đi vòng qua sườn bắc núi Tam Đảo sang Tuyên Quang rồi theo tả ngạn sông Phó Đáy tiến về xuôi, quặt lại đánh Hạ Lôi.
Từ quan niệm đó, tác giả cho rằng các trận đánh ngày ấy xảy ra dọc theo lối hành quân trên.
Hai giả thiết trên sẽ có ý nghĩa trong trường hợp quốc đô ngày ấy đích thị là Hạ Lôi ở Yên Lãng. _____________________________________ 1. Về sự tích các nhân vật này xem thêm các thần tích hoặc sách Một số truyền thuyết về các tướng anh Hai Bà Trưng của Ty Văn hóa Hà Sơn Bình – 1979. 2. Về sự tích các nhân vật này xem thêm các thần tích hoặc sách Truyền thuyết Trưng Vương của Chi hội Văn nghệ Vĩnh Phú - năm 1975. 3. Thời đại kim khí ở lưu vực sông Hồng - sông Mã được tạm thời chia ra bốn giai đoạn (hoặc văn hóa) kế tiếp nhau: - Giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên cách đây khoảng bốn nghìn năm. - Giai đoạn văn hóa Đồng Đậu cách đây khoảng trên ba nghìn năm. - Giai đoạn văn hóa Gò Mun cách đây khoảng ba nghìn năm. - Giai đoạn văn hóa Đông Sơn cách đây khoảng hai nghìn rưởi năm. 4. Ngôi mộ lạ Xuân Đài, Yên Lạc, Vĩnh Phú - Nguyễn Lộc - “Những phát hiện khảo cổ học năm 1975” - tr.272.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #44 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 07:03:51 PM » |
|
MÃ VIỆN KẾT THÚC CUỘC XÂM LƯỢC Thủy kinh chú (q.37) chép: “Tháng Mười năm Kiến Vũ 19 (43) Mã Viện vào quận Cửu Chân ở phía nam. Đến huyện Vô Công, tướng giặc đầu hàng, lại tiến đến huyện Dư Phát. Cừ súy là Chu Bá bỏ quận vào rừng sâu là nơi tê tượng tụ tập, bò tưng bày hàng mấy nghìn con. Thỉnh thoảng thấy hàng mấy chục đến trăm con voi. Mã Viện lại chia binh đến huyện Vô Biên là Cửu Chân đình ở đời Vương Mãng. Lại đến huyện Cư Phong. Tướng giặc không hàng đều bị chém tới trăm người. Cửu Chân bèn yên”. Lại theo sách Sơ học ký dẫn tài liệu trong Nam Việt chí thì Mã Viện đào một đường sông thông qua dải núi Cửu Chân và xếp đá làm đê ngăn sóng biển để đi từ Giao Chỉ vào Cửu Chân. Chỗ núi đào đó gọi là Tạc Sơn, chỗ cửa biển ngăn sông đó gọi là Tạc Khẩu. 1 Ngày nay, chưa rõ Tạc Sơn là núi nào nhưng Tạc Khẩu thì khá nhiều nhà nghiên cứu cho là cửa Thần Phù. Căn cứ vào những chỉ dẫn thư tịch trên, ông Đào Duy Anh đã phác họa ra con đường tiến quân của Mã Viện như sau: Theo sông Đáy, Mã Viện đến địa đầu Cửu Chân là huyện Vô Công (nay là vùng Gia Viễn, Nho Quan của tỉnh Ninh Bình). Từ đây, vẫn theo sông Đáy và sông Vân Sàng, Mã Viện đến cửa Thần Phù nhưng hắn không dám vượt cửa này ra biển. Hắn cho đào “ngả thông ở giữa núi Cửu Chân”, “xếp đá làm đê ngăn sóng biển”. Như vậy Mã Viện tất đi vào sông Tống, sang cửa Lạch Trường. Đó là địa điểm có thành Dư Phát, huyện lỵ huyện cùng tên (tương ứng với vùng Nga Sơn, Hậu Lộc của tỉnh Thanh Hóa ngày nay). Từ Dư Phát, Mã Viện ngược sông Mã, đánh quận trị quận Cửu Chân ở khu vực làng Dương Xá (tức làng Ràng). Sau đó hắn chia quân tiến đánh huyện Vô Biên (vùng Vĩnh Lộc, Thạch Thành) và huyện Cư Phong (vùng Quảng Xương, Đông Sơn, Nông Cống, Thọ Xuân). 2 Thực ra vị trí các huyện ở quận Cửu Chân cũng như đường hành quân của Mã Viện vào quận này là những vấn đề cần thảo luận thêm (như ông Đinh Văn Nhật và ông Nguyễn Đình Thực đã làm trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử các số 159, 170). Nhưng có một điều chắc chắn là tại núi Trịnh ở huyện Thiệu Hóa, gần di chỉ đồ đồng nổi tiếng Thiệu Dương, đã xảy ra một trận đánh lớn. Vì mới đây, một khai quật khảo cổ đã cho những tư liệu cụ thể. Ông Lê Văn Lan đã nhận định về địa điểm này như sau: một trường hợp điển hình đã xảy ra ở địa điểm núi Trịnh. Khảo cổ học đã phát hiện được ở đây, trên một triền núi rộng, những đầu tên đồng cắm vùi theo một hướng gần thống nhất. Và rải rác khắp nơi là những di cốt và tàn tích chiến tranh khác. Việc xác định niên đại của nhũng đầu tên đồng là mạt kỳ thời đại đồng thau, khoảng trước sau Công nguyên, đã đưa địa điểm khảo cổ học này vào thời kỳ Hai Bà Trưng. Và việc đặt núi Trịnh vào vị trí trung chuyển giữa miền đồng bằng Thanh Hóa, gần khu vực quận trị Cửu Chân đầu thời Bắc thuộc với miền núi rừng phía tây, đối chiếu với những thư tịch về cuộc hành quân của Mã Viện truy kích “dư đảng” Hai Bà Trưng do các tướng Đô Dương và Chu Bá chỉ huy ở miền này, cuối cùng đã cho phép xác định một di tích chiến trường lớn ở thời Hai Bà Trưng tại địa điểm khảo cổ học được phát hiện”. 3Có thể đó là nơi đụng độ giữa Mã Viện và Chu Bá. Vì theo tinh thần câu văn Thủy kinh chú đã dẫn ở trên thì Chu Bá là cừ súy phụ trách quận Cửu Chân, ông đóng tại quận trị khi đó là Tư Phố. Tư Phố theo ông Đào Duy Anh là làng Ràng ngày nay, cách núi Trịnh không quá 5km. Vậy có thể núi Trịnh là nơi giao chiến giữa Mã Viện và Chu Bá. Do thế yếu nên Chu Bá phải rút chạy về ngàn rừng phía tây. Mã Viện sau đó còn tiến đánh huyện Vô Biên rồi huyện Cư Phong. Tại đây Đô Dương phải ra hàng, như Toàn thư và Cương mục đã ghi. Vì như vậy là Mã Viện đã hoàn thành cuộc viễn chinh xâm lược kéo dài tới hai năm. Đành rằng các chính sử không ghi chép gì về cuộc đấu tranh của nhân dân Cửu Chân chống giặc Hán nhưng Mã Viện truyện trong Hậu Hán thư có ghi về số quân và dân Cửu Chân bị giặc Hán chém giết: “Viện đem lâu thuyền lớn bé hơn hai nghìn chiếc, binh lính hơn hai vạn, tiến đánh dư đảng của Trưng Trắc ở Cửu Chân là bọn Đô Dương từ Vô Công đến Cư Phong, chém giết bắt bớ hơn năm nghìn người”. Ở đoạn Thủy kinh chú dẫn bên trên cũng có một chi tiết liên quan tới vấn đề này: “Tướng giặc không hàng đều bị chém tới hàng trăm người”. Hẳn là nhân dân ở đây chống cự cũng rất mãnh liệt, có thế Mã Viện mới đàn áp dã man, đem chém hàng trăm tướng lĩnh. Và cùng với hàng trăm chỉ huy ấy thì số nghĩa quân bị tàn sát cũng phải tới hàng dăm bảy nghìn. Trong số này theo sự ghi chép của thần tích có cả nhũng người từ Giao Chỉ rút vào đây phối hợp chiến đấu. Như Chàng Hối ở Thịnh Kỷ (huyện Mê Linh) từng chiến đấu bên cạnh Đô Dương ở Cửu Chân. Hay tướng Thành Công ở Cổ Linh (huyện Gia Lâm) sau thất trận Cấm Khê đã rút vào Cửu Chân và hy sinh ở trang Tâm Quy, huyện Tống Sơn. Điều đáng chú ý là ở Thanh Hóa đúng là có trang này thật, nay thuộc huyện Hà Trung (nguyên là đất huyện Tống Sơn) cách ga Đò Lèn độ 6km về phía tây bắc. Nhưng cũng là thần tích mà lại phù hợp rất khít khao với lịch sử thì là trường hợp Nàng Tía. Nàng Tía ở làng Vĩnh Ninh (huyện Thanh Trì, Hà Nội). Sau khi Hai Bà tuẫn tiết, cô đã rút vào Cửu Chân và hy sinh trong một trận ác chiến ở Thần Phù ngày 13 tháng Mười Một. Theo Thủy kinh chú thì thời gian Mã Viện từ Giao Chỉ tiến quân vào Cửu Chân là tháng Mười (năm Kiến Vũ 19). Như thế thì trận ác chiến ở Thần Phù xảy ra sau đó một tháng là điều hợp lý! _____________________________________ 1. H. Maxpêrô dẫn trong L’expédition de Ma Yuan - BEFEO XVIII. 2. Xem “Đất nước Việt Nam qua các đời” tr.41-43. 3. “Tài liệu Khảo cổ học và nghiên cứu thời kỳ Hai Bà Trưng” - Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 148.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #45 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 07:24:20 PM » |
|
* * * Theo những đoạn sách đã dẫn ở trên thì Mã Viện dừng lại ở Cư Phong. Đây là chặng cuối cùng của hành trình tiến quân của Mã Viện. Nhưng cũng còn một số sách Trung Quốc khác như Quảng Châu ký, Lâm Ấp ký, Ngô lục... lại ghi rằng Mã Viện từng đến vùng Tượng Lâm, Tượng Phố ở gần biên giới nước Tây Đồ dựng cột đồng để ghi chiến công, đồng thời làm cương giới cho nhà Hán. Nhà du lịch Du Ích Ký (do Thủy kinh chú dẫn) có nói cụ thể nơi dựng cột đồng là đối diện với sông Thọ Linh tức sông Gianh ngày nay ở Quảng Bình. Song nhiều nhà nghiên cứu (như H.Maxpêrô, Đào Duy Anh) đã kết luận đó là chuyện hoang đường, do đời sau bịa đặt ra. 1 Vùng huyện Thạch Hà tỉnh Nghệ An có một truyền thuyết liên quan tới cuộc kháng chiến của nghĩa quân Hai Bà Trưng. Truyền thuyết đó kể rằng ở Thạch Hà có khe Đá Mài, nơi ấy có những hòn đá mài to, với những vết mài lõm hẳn đi. Tương truyền đấy là nơi lính của Hai Bà đã mài kiếm trong thời gian chống Mã Viện tại vùng này. 2 Truyền thuyết ấy thực hư ra sao, chưa thể xác định. Ghi lại đây để thêm tài liệu tham khảo. Điều chắc chắn là Mã Viện chỉ tiến đến Cư Phong. Nếu có quân Hán tiến vào vùng Nghệ Tĩnh (khi đó là huyện Hàm Hoan) và cả quận Nhật Nam nữa thì đó là những cánh quân do bọn phó tướng của Mã Viện chỉ huy. Vì nếu đích thân Mã Viện cầm đầu cuộc hành quân này thì Mã Viện truyện tất đã ghi chép. * * * Đàn áp được cuộc kháng chiến, Mã Viện còn ở lại Âu Lạc tới gần một năm. Hắn dùng thời gian này để tổ chức lại việc cai trị. Hậu Hán thư, Mã Viện truyện có chép: “Viện qua chỗ nào là đặt quận huyện, xây thành quách, đào mương dẫn nước tưới ruộng làm lợi cho dân. Lại tâu hơn mười điều luật Việt khác luật Hán, thi hành pháp chế cũ với người Việt để ràng buộc họ”. Câu sách đó cho ta hiểu rằng Mã Viện xóa bỏ chế độ lưu dùng các lạc tướng mà áp dụng hoàn toàn chế độ quận huyện y như nguyên mẫu Trung Quốc để cai trị trực tiếp, tức là tại các cấp hành chính huyện cũng như quận, các quan lại đều do triều đình bổ nhiệm và thuyên chuyển. Do đó sự kiểm soát của chính quyền đô hộ trở nên chặt chẽ hơn, vươn tới tận từng làng, từng xóm. Và như vậy thì rõ ràng là các quý tộc bản địa (lạc hầu, lạc tướng) bị gạt bỏ ra khỏi bộ máy chính quyền. Trong thực tế thì tầng lớp này đã bị Mã Viện đánh tan tác trong quá trình tiến hành chiến tranh xâm lược. Trong trận Lãng Bạc, Mã Viện “chém mấy nghìn đầu, bắt hàng hơn vạn”. Đến trận Cấm Khê, Lưu Long cũng “chém hơn nghìn đầu bắt hàng hai vạn”. Trong số này không ít là các thủ lĩnh các địa phương Giao Chỉ tức các lạc tướng, lạc hầu cũ. Rồi đến Cửu Chân, Mã Viện cũng đã chém giết bắt bớ hơn năm nghìn người” và “tướng giặc không hàng, bị chém tới hàng trăm người”. Những người không bị giết thì cũng bị bật khỏi đất bản bộ của mình, hoặc buộc phải dời tới những vùng đất hoang hóa, hoặc bị đưa hẳn sang Trung Quốc như trường hợp ghi ở Nam Man truyện trong Hậu Hán thư: “Dời cừ súy hơn ba trăm người sang Linh Lăng” (nay là huyện Linh Lăng thuộc tỉnh Hồ Nam). Ngoài việc củng cố lại chế độ quận huyện, Mã Viện còn “thi hành pháp chế cũ” tức là phế bỏ pháp luật truyền thống của người Việt, đem luật nhà Hán có từ đời Hán Cao Tổ, Hán Văn Đế mà áp dụng vào xã hội Âu Lạc để gò người Việt vào khuôn khổ dân nô lệ. Song song với việc “tháo dỡ” chế độ dung dưỡng lạc tướng, Mã Viện phân chia lại các khu vực hành chính. Trước đây mỗi huyện là một bộ lạc thuộc quyền một lạc tướng cha truyền con nối. Cho nên có huyện lớn, huyện nhỏ. Bây giờ không còn lạc tướng nữa, nên huyện nào rộng thì Mã Viện chia nhỏ ra và nếu là một huyện nhỏ thì hắn đem sáp nhập vào huyện lân cận. Đó là trường hợp huyện Tây Vu, huyện Dư Phát, huyện Đô Lung... Hậu Hán thư ghi: “Huyện Tây Vu có 32.000 nhà mà biên giới thì ở cách xa huyện trị đến hơn nghìn dặm nên (Mã Viện) xin chia ra làm hai là huyện Phong Khê và huyện Vọng Hải”. Còn hai huyện Dư Phát và Đô Lung thì không có tư liệu trực tiếp song ở Tiền Hán thư thì chép quận Cửu Chân có bảy huyện: Tư Phố, Cư Phong, Dư Phát, Vô Biên, Đô Lung, Vô Thiết và Hàm Hoan. Đến Hậu Hán thư thì chỉ còn ghi có năm huyện, mất Đô Lung và Dư Phát. _______________________________________ 1. Xem thêm mục “Cột đồng Mã Viện” trong Cổ đại Việt Nam - Tập IV - Đào Duy Anh. 2. Bùi Thiết – Tình hình tư liệu và nghiên cứu cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thời gian gần đây - Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội - Tháng 3-1981.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #46 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 07:28:06 PM » |
|
Như vậy là Mã Viện đã phá vỡ các tổ chức bộ lạc cũ, đưa tổ chức hành chính ở Âu Lạc theo sát cách tổ chức quận huyện của nhà Hán. “Đây cũng là đòn đáng kể đánh vào tàn dư công xã nguyên thủy” 1. Mặt khác, để tăng cường bảo vệ các quận trị và nhất là huyện trị, Mã Viện đã cho xây thêm thành quách, như xây thành mới cho huyện Vọng Hải, xây Kiển thành (thành hình cái kén) ở huyện Phong Khê... Về mặt kinh tế, Mã Viện cho “đào mương dẫn nước tưới ruộng làm lợi cho dân” thì có thể hiểu dân ở đây là các địa chủ Hán tộc từng bao chiếm đất đai của công xã Âu Lạc làm trang trại riêng hoặc cũng có thể là một phần số quý tộc bản địa đã đầu hàng. Ở những vùng biên giới, Mã Viện để lại một số quân lính cho chúng khai khẩn đất đai, lập làng ấp. Một dẫn chứng cụ thể là trên ba trăm năm sau, Du Ích Ký đi du lịch có thấy ở bờ nam sông Thọ Linh (tức sông Gianh ở tỉnh Quảng Bình ngày nay) một làng trên 200 hộ đều là họ Mã. Người Giao Châu (tức người Việt chúng ta) gọi họ là dân Mã lưu. Hỏi ra thì đó là con cháu của những gia đình binh lính mà Mã Viện đã lưu lại ở vùng này. Cái tên Mã Lưu (do Mã Viện lưu lại) bắt nguồn từ đó. (Dẫn trong Thủy kinh chú). Sử Trung Quốc lại còn ghi một “chiến tích” khác của Mã Viện mà thực tế là một tội ác đối với nhân dân Âu Lạc. Đó là việc tên giặc già này đã vơ vét trống đồng ở các địa phương lại, cho đúc thành một con ngựa để dâng Quang Vũ. ( Hậu Hán thư q.24: Viện thích cưỡi ngựa, giỏi phân biệt ngựa tốt, bắt được trống đồng Lạc Việt ở Giao Chỉ, bèn đúc thành hình ngựa đem về dâng vua... Ngựa cao 3 xích 5 thốn, vòng thân 4 xích 5 thốn, được đặt tại dưới điện Tuyên Đức). Rõ ràng là một tội ác phá hoại di sản văn hóa của dân tộc ta ngày ấy. Nhưng không chỉ có thế mà việc làm này của Mã Viện còn nhằm đánh vào truyền thống dân tộc ta. Vì trống đồng là tiêu biểu cho nền văn minh Lạc Việt, là chứng tích của tâm hồn, tư duy và tài năng kỳ diệu của người Việt. Hủy hoại trống đồng ở Giao Chỉ là Mã Viện tính đến chuyện xóa đi dấu vết cụ thể của một nền văn minh, biểu tượng sức mạnh sáng tạo của cộng đồng người Việt đương thời. * * * Tới mùa thu năm Kiến Vũ 20 (năm 44), Mã Viện thu quân về nước. Số quân còn lại - như Hậu Hán thư có ghi - chỉ bằng năm sáu phần mười lúc ra đi. Nghĩa là ít nhất cũng có hàng vạn tên lính Hán gửi xác lại ở các nẻo đường Giao Chỉ, Cửu Chân. Nhưng Mã Viện không quên chở theo một xe châu báu ngọc vàng cướp được ở Âu Lạc và nói phao lên rằng đó là xe chở quả ý dĩ dùng làm thuốc trị lam chướng! Mã Viện đã làm giàu trên xương máu của nhân dân Âu Lạc và cả trên xương máu của quân lính Hán. * * * Về những nguyên nhân thất bại của cuộc kháng chiến này, lâu nay nhiều sách báo đã đề cập tới. Do tư liệu gốc quá ít ỏi nên tất cả đều là suy đoán. Có những suy đoán dễ có thể chấp nhận như: “Quân đội của Mã Viện hơn hẳn quân của Hai Bà về mặt tổ chức, mặt vũ khí, mặt kỹ thuật chiến đấu và mặt vận dụng chiến lược chiến thuật... Năm 43, nếu Hai Bà Trưng không mang quân chủ lực đến Lãng Bạc mà lại tránh cuộc tấn công của Mã Viện, chờ cho Viện phải rải quân ra để chiếm giữ các nơi rồi mới mang quân tỉa dần quân Hán, làm cho quân Hán ngày càng hao mòn mỏi mệt, mất hết ý chí chiến đấu rồi cuối cùng mới tổng phản công tiêu diệt quân Hán hay đuổi chúng ra khỏi đất nước thì một tình hình khác có thể xảy ra” 2 hoặc: “Thời gian xây dựng đất nước, củng cố lực lượng phòng giữ đất nước của triều Trưng Vương còn quá ngắn. Quân đội nhà nước Hùng Lạc (chỉ nhà nước của Trưng Vương - N.V.P) chính là các đơn vị nghĩa quân chuyển lên, hợp thành, số lượng tuy đông hàng mấy vạn, tinh thần đánh giặc cứu nước rất cao nhưng mới tổ chức, trang bị, võ khí còn thô sơ và thiếu thốn, thời gian huấn luyện quân sự còn ít, chưa quen đánh lớn, đánh tập trung” 3. Cũng có những suy đoán cần trao đổi thêm: “Nhà nước tự chủ do Trưng Vương xây dựng với sự tập hợp các bộ lạc, trong ấy về kinh tế thì quan hệ sản xuất thị tộc còn nặng, về chính trị thì xu hướng phân tán tự lập còn mạnh, chưa có cơ sở và tổ chức vững chắc, cho nên trước sự phản công mạnh mẽ của quân Mã Viện, là lực lượng quân sự của một nhà nước hùng cường thì nó không thể duy trì nổi. Vì thế mà sự thất bại cũng mau chóng và dễ dàng” 4. Hoặc: “Nguyên nhân tất bại căn bản của cuộc khởi nghĩa có hai điều. Thứ nhất là chế độ chiếm hữu nô lệ (chỉ thời kỳ Hai Bà Trưng - N.V.P) và giai cấp chủ nô (đại diện là Hai Bà Trưng - N.V.P) đã quá thời, không còn sứ mạng lịch sử nữa. Thứ hai là chế độ chiếm hữu nô lệ quá thời ở một nước nhỏ bé (Âu Lạc - N.V.P) phải đương đầu với chế độ phong kiến đang lên ở một nước rộng lớn và nằm sát nách” 5. Thực ra, để tìm nguyên nhân, cần có nhiều dữ kiện xác thực Ở đây tư liệu quá ít ỏi. Quân số của Hai Bà, việc đào luyện quân đội đó, sự chỉ đạo chiến tranh, địa điểm đích thực của các chiến trường... những vấn đề đó hoàn toàn không có một tư liệu thư tịch! Rồi lại còn một loạt vấn đề khác: chế độ xã hội đương thời, tình hình kinh tế và chính trị thủa ấy, bản chất và tổ chức chính quyền của Hai Bà v.v... Quả thật là còn thiếu nhiều điều kiện để có thể kết luận một cách khoa học về cuộc chiến tranh giữ nước do Hai Bà lãnh đạo. h. Hà Nội và vùng lân cận Chỉ có một điều có thể khẳng định dứt khoát được là: Sau trên hai trăm năm bị đô hộ, chính quyền độc lập dân tộc chỉ mới được xây dựng trong có hai năm; vậy mà chính quyền đó đã lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống một đạo quân xâm lược - đông và mạnh hơn - được tới trên hai năm nữa. Đạo quân thiện chiến kia lại do những viên tướng khét tiếng gian ác và rất giàu kinh nghiệm chỉ huy, vậy mà phải chật vật lắm mới giành được thắng lợi. Và như đã nêu ở trên, có lúc bản thân tướng tổng chỉ huy là Mã Viện thấy hoang mang (không định ra nổi đường lối chiến lược) và ân hận đã chót làm tướng sang đánh Giao Chỉ! Cuộc kháng chiến như thế rõ ràng là đã nói lên ý chí chống ngoại xâm và khí phách ngoan cường của toàn thể nhân dân ta ngày ấy. _______________________________________ 1. Trương Hữu Quýnh - Sách đã dẫn - tr.95 2. Dương Minh. Bài đã dẫn – Nghiên cứu lịch sử số 36. 3. Nguyễn Văn Dị - Thanh Ba. Bài đã dẫn – Nghiên cứu Lịch sử số 173. 4. Đào Duy Anh – Cổ đại Việt Nam - Tập IV - tr.68. 5. Duy Hinh – Tính chất cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng - Trên Nghiên cứu Lịch sử số 72.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #47 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 07:29:38 PM » |
|
Chương Năm CÁC TƯỚNG LĨNH Về tướng lĩnh của Hai Bà, chính sử của ta như Toàn thư, Cương mục chỉ ghi tên có một người là Đô Dương. Sử Trung Quốc như Hậu Hán thư cũng chỉ ghi có Đô Dương. Riêng Thủy kinh chú chép thêm tên Chu Bá. Và cả sử ta lẫn sử Trung Quốc đều không cho biết gì về lai lịch hai nhân vật ấy. Nhưng như chứng ta đều rõ, cuộc khởi nghĩa cũng như cuộc kháng chiến của Hai Bà lãnh đạo có tính chất toàn dân. Chắc chắn là anh hùng nghĩa sĩ ở nhiều miền đất nước đã quy tụ dưới ngọn cờ đại nghĩa của Hai Bà. Có điều là sử sách bác học xuất hiện quá muộn nên không ghi chép được nhiều. Ngay sự nghiệp cứu nước vĩ đại của Hai Bà mà Toàn thư cũng chỉ ghi được có vài chục dòng sơ lược! Song như đã nêu trong Lời nói đầu, người bình dân có cách ghi chép lịch sử riêng của mình. Đó là tục lệ thờ cúng các anh hùng, suy tôn làm thành hoàng. Lập đền miếu để làm chứng tích truyền lại cho các đời sau. Xung quanh những chứng tích ấy là một hệ thống những tục lệ hèm húy và những câu chuyện được kể truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác. Những truyền thuyết này tới một thời điểm nào đó đã được ghi lại thành văn, thành những ngọc phả, thần tích. Cho nên, qua những văn bản này tuy là những tác chẩm văn học dân gian nhưng chúng ta vẫn cũng có thể tìm hiểu được quá khứ, tìm hiểu về sự tích các nhân vật anh hùng. Có điều là từ cuộc đời thực, bước vào truyền thuyết, nhân vật đã ít hoặc nhiều được tiểu thuyết hóa, nhất là với đặc trưng của nghệ thuật sáng tác văn học dân gian và với thế giới quan thần linh chủ nghĩa của người xưa thì sự tích các anh hùng rất dễ bị thêm vào những chi tiết tưởng tượng, hư cấu hoặc hoang đường, quái dị. Ngoài ra trong các văn bản ấy lại còn có những chi tiết như thật nhưng không thật vì đó là sự gán ghép - vô tình hoặc cố ý - tùy theo sở thích, quan niệm, tình cảm và cả trình độ của người kể chuyện cũng như người biên soạn ở các thời đại sau. Cho nên ở thần tích, ngọc phả nói chung cũng như riêng của những làng có thờ tướng lĩnh của Hai Bà Trưng đều đầy rẫy những mô-típ huyền thoại: đầu thai, báo mộng, thần thánh âm phù, cưỡi mây về trời, rẽ nước xuống biển... cùng những thứ chức tước công chúa, phó vương, đại tướng quân, chưởng lĩnh, đô đốc v.v… là những sản phẩm của hàng nghìn năm sau. Hoặc ngay các địa danh, phần lớn là những tên châu, tên trấn, tên đạo, tên phủ huyện chỉ mới có từ thời Đinh, Lê trở về sau. Nhưng dù sao chúng tôi nghĩ rằng ở các văn bản trên vẫn có một cốt lõi lịch sử, vẫn có những con người thật. Nhất là xét về mặt tài liệu khảo cổ học. phần lớn những địa điểm mà thần tích, ngọc phả chỉ định là quê hương của các tướng lĩnh của Hai Bà Trưng thì lại cũng là những địa điểm từ trước công nguyên đã có người trú ngụ. Tức là vào thời kỳ Hai Bà Trưng thì những nơi đó thật sự ở vào phạm vi các điểm tụ cư mà tên gọi có thể là những chạ hoặc những kẻ. Và tại những địa điểm ấy mà có những cá nhân, những tập thể nổi dậy chống giặc Hán thì cũng không có gì là hoang đường. Cho nên dưới đây là sự tích một số tướng lĩnh của Hai Bà Trưng viết theo các thần tích, ngọc phả mà chúng tôi tìm đọc được trong những lần đi khảo sát các di tích lịch sử ở các địa phương. Những văn bản này đem so với kho thần tích ngọc phả hiện lưu trữ ở Thư viện Khoa học xã hội mang ký hiệu Q.4o18 nói chung là không có khác biệt gì. Vì kho của thư viện chính là do hương lý các làng sao từ thần tích ngọc phả được giữ gìn ở các đền miếu từ bao đời. Nói chung, các văn bản này được soạn vào khoảng niên hiệu Hồng Phúc (1572-1573) và có tác giả là Nguyễn Bính - một quan Lễ bộ phụ trách việc cấp sắc phong cho các thần. Rất có thể là Nguyễn Bính đã dựa vào các sách sưu tầm chuyện cổ có từ trước và cả những câu chuyện thời bấy giờ còn lưu hành trong dân gian mà sắp xếp, biên soạn lại. Trong quá trình “áng tác” tất là ông có thêm bớt, uốn nắn các tình tiết để cho phù hợp với quan điểm đạo đức, thẩm mỹ và chính trị của mình. Bởi chỉ muốn nêu cái cốt lõi, cái cơ bản nên dưới đây sẽ hạn chế tối đa thuật lại những việc hoang đường, gán ghép và chỉ giữ ở mức độ tối thiểu những chi tiết thuộc về sự tích đánh giặc của các nhân vật đó theo đúng như các thần tích đã chép. Nghĩa là chúng tôi không “sáng tác thêm”, không cả ghép thần tích này vào thần tích kia, đan cuộc đời nhân vật này vào cuộc đời nhân vật nọ v.v... vì như vậy là tạo ra một truyền thuyết mới, dù hoàn toàn là thiện chí muốn tô điểm cho sự nghiệp đánh giặc thời đó thì cũng vẫn là có hại về phương diện học thuật. Do đó, phần này có khác ít hoặc nhiều so với những tài liệu về các tướng lĩnh của Hai Bà đã công bố trước đây.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #48 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 07:35:16 PM » |
|
THÀNH PHỐ HÀ NỘI QUẬN BA ĐÌNH ĐÀO KỲ Phường Phúc Xá vốn xưa là làng Cơ Xá châu. Làng này thờ bảy thành hoàng, trong số này có Đào Kỳ - tướng của Hai Bà Trưng. Đào Kỳ vốn được thờ chính tại năm làng Cói bên huyện Đông Anh. Sự tích vị này được nêu ở phần huyện Đông Anh. QUẬN ĐỐNG ĐA HIỀN HỰU - QUÝ MINH - PHƯƠNG DUNG Đó là ba anh em họ Đào. Hai người đầu là anh em sinh đôi, sinh ngày 12 tháng Hai. Cô em gái sinh ngày 15 tháng Bảy. Họ vốn người ở Cửu Chân (Thanh Hóa) nhưng di cư sinh sống ở làng Thổ Quan, nay là khu vực trong ngõ Thổ Quan đằng sau phố Khâm Thiên. Tương truyền ba anh em đã chiêu mộ dân binh theo Hai Bà đi đánh Tô Định. Sau này khi Mã Viện xâm lược, ba anh em chiến đấu ở Hát Môn rồi rút về Thổ Quan dựng ba đồn liên tiếp để chống quân Hán. Cuối cùng cả ba đã chết trong một trận giao tranh ác liệt vào ngày mùng 2 tháng Chạp. BẢO HOA Làng Xã Đàn nay là phường Xã Đàn ở phía trong Ô Chợ Dừa, thờ công chúa Bảo Hoa từng là nữ tướng của Hai Bà. Bảo Hoa họ Trần là người đã chiêu tập dân binh lập ra làng này. Bà đã chống lại Tô Định, lập đồn binh tại Xã Đàn. Khi Mã Viện sang, bà đã già yếu nên cử Lã Nam (?) chỉ huy quân sĩ thay mình. Ngày kỵ là ngày mùng 2 tháng Hai. Hiện nay, ở Xã Đàn còn miếu thờ bà, tương truyền là lập ở nơi luyện võ ngày xưa. Làng Thịnh Hào và làng Hào Nam, nay là hai phường cùng tên, thuộc quận Đống Đa, cũng có đền thờ Bảo Hoa. HUYỆN ĐÔNC ANH ĐÀO KỲ - PHUƠNG DUNG Trang Cối Giang ngày trước bao gồm suốt dọc đất ven bờ bắc sông Đuống. Sau trang ấy chia ra làm mười hai thôn, trong số đó có năm thôn đều thờ hai vợ chồng Đào Kỳ - Phương Dung. Năm thôn đó là Đông Trù, Hội Phụ, (nay thuộc xã Đông Hội) và Lê Xá, Lộc Hà, Thị Thôn (nay thuộc xã Mai Lâm). Thần tích kể rằng: ông Nguyễn Trát người trang Vĩnh Tế huyện Lang Tài (nay là Gia Lương - Hà Bắc), lấy vợ là người Cối Giang. Tô Định muốn thu phục ông nhưng ông không thuận. Hắn liền tàn sát cả nhà. Chỉ có bà vợ và con gái là Phương Dung do về thăm quê ngoại nên thoát chết. Và thế là họ ở luôn lại bên Cối Giang. Cũng thời gian đó, tại đây có chàng Đào Kỳ, chính gốc ở Nông Cống (Thanh Hóa) nhưng cha mẹ đã dời ra ở tại đất Cối Giang làm ăn sinh sống từ khá lâu. Đó là một chàng trai văn võ đều giỏi, lại cũng có ý chí muốn đánh đuổi giặc Hán. Thế là Đào Kỳ đẹp duyên cùng Phương Dung. Ít lâu sau, Hai Bà Trưng khởi binh. Vợ chồng Đào Kỳ tìm đến quân doanh xin ứng nghĩa. Họ cùng địa binh đi đánh đuổi Tô Định. Sau đó, Trưng Vương cử họ về trông nom vùng đất Đông Ngàn. Ba năm sau, Mã Viện xâm lược. Vợ chồng họ được cất lên chống giữ ở Lạng Sơn (hay Lãng Sơn?). Có tới một năm không phân thua được. Nhưng lúc đó Hai Bà Trưng lâm nguy ở Cấm Khê, Đào Kỳ, Phương Dung kéo binh về đây ứng cứu. Thế giặc mạnh, Hai Bà hy sinh. Vợ chồng Đào Kỳ lạc nhau. Đào Kỳ tuy bị vết chém ở ngang cổ “vẫn ôm đầu chạy về đến Cổ Loa mới chịu ngã”. Phương Dung sau cũng vượt được vòng vây, định về Đông Ngàn nhưng khi qua Cổ Loa, cô nhận ra mộ chồng, liền tự sát. Đó là ngày 16 tháng Tám. (Xã Đông Hội này có di chỉ văn hóa Đồng Đậu ở Tiên Hội). ĐÔNG BẢNG Thôn Gia Lộc nay thuộc xã Việt Hùng, thờ Đông Bảng. Truyền thuyết kể rằng Đông Bảng từng giúp Hai Bà thu lại 65 thành trong đó có thành ở thôn Gia Lộc, cách thành Cổ Loa một cánh đồng. Ông được cử giữ thành này. Khi Mã Viện tới, Đông Bảng hy sinh ngay từ trận đánh đầu tiên, ngày hóa là mùng 10 tháng Hai. (Xã Việt Hùng này có di chỉ văn hóa Phùng Nguyên và văn hóa Đông Sơn ở Xuân Kiều). THỦY HẢI - ĐĂNG GIANG - KHỔNG CHÚNG. Làng Đại Vĩ, xã Liên Hà thờ ba vị tướng của Hai Bà là Thủy Hải, Đăng Giang và Khổng Chúng. Hai người trên là anh em sinh đôi, con ông Trương Long quê quán ở Đường Lâm, ngụ cư tại trại Hà Hào (tức nay là làng Hà Vĩ). Họ đã theo Hai Bà đi đánh Tô Định, sau trở về đóng đồn ở Hà Vĩ. Lúc này ở Hà Vĩ có chàng Khổng Chúng mới lớn lên nhưng tỏ ra tài ba thao lược. Hai anh em họ Trương liền tiến cử Khổng Chúng với Hai Bà. Khi Mã Viện kéo sang, cả ba người được lệnh ra chặn giặc ở cửa bể. Thủy Hải và Đăng Giang đã hy sinh tại đó, ngày hóa là ngày mùng 10 tháng Bảy. Khổng Chúng thu tàn binh quay về Hà Vĩ. Mã Viện đuổi theo. Khổng Chúng bị ngã ngựa và hy sinh ngày 12 tháng Chín. VĨNH HUY Làng Cổ Châu tên Nôm là làng Dâu, nay thuộc xã Vân Hà, thờ công chúa Vĩnh Huy. Vĩnh Huy họ Tống quê ở vùng núi Yên Tử. Cha mẹ chết sớm, cô rời quê, đi lưu lạc kiếm ăn. Đến trại Tế Áng - tên cũ của Cổ Châu - cô ở lại. Dần dà được dân yêu mến tôn làm trùm trưởng. Khi Hai Bà dấy binh, Vĩnh Huy mộ hơn một ngàn tinh binh tới Hát Môn tụ nghĩa, theo Hai Bà đi hạ thành Tô. Sau này khi chống Mã Viện, cô bị giặc bắt. Nhưng cô đã trốn thoát trở lại Tế Áng. Song vừa về đến nơi, trời đất bỗng tối sầm và Vĩnh Huy “bay lên trời mà hóa”.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #49 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2010, 12:19:46 PM » |
|
HUYỆN GIA LÂM THÀNH CÔNG Thôn Sài Đồng thuộc xã Gia Thụy, ba thôn Tư Đình, Nha Thôn, Trạm Thôn thuộc xã Long Biên và thôn Ô Cách, nay thuộc xã Việt Hưng đều thờ Thành Công. Cả năm thôn này xua là hương Cổ Linh. Ông vốn họ Nguyễn quê ở Hải Dương. Nghe tin Hai Bà khởi nghĩa, ông mộ được năm trăm trai tráng tới Hát Môn xin gia nhập nghĩa quân. Sau khi đánh đuổi Tô Định, ông đền Cổ Linh đóng đồn binh. Mã Viện xâm lăng, Thành Công lên chặn địch ở Lạng Sơn. Sau ông rút về Cấm Khê. Cấm Khê thất thủ, Thành Công chạy vào châu Ái, đến trang Tâm Quy thuộc huyện Tống Sơn (nay là huyện Nga Sơn) thì hóa. ĐÔ - HIỀN - LANG Đó là ba anh em ruột đồng thời là các thành hoàng làng Ngọc Động, nay thuộc xã Đa Tốn. Họ là con một người họ Đào, nguyên quán ở Sơn Nam. Ba anh em Đô Thống, Chiêu Hiền, Tam Lang đã mộ được trên ba nghìn nghĩa sĩ về tụ nghĩa ở Hát Môn. Khi Mã Viện kéo tới ba anh em dàn quân trên bến Bồ Đề (?) chống cự nhưng thế yếu cuối cùng cả ba anh em đã hy sinh. (Ngay cạnh Nghè ông Hai - nơi thờ Chiêu Hiền - đã đào được một rìu đồng và một ngọn giáo đồng cùng một số mảnh gốm thuộc văn hóa Đông Sơn. Ngoài ra, cũng ở xã Đa Tốn này, bên thôn Đào Xuyên còn đào được thạp đồng Đông Sơn). KHỎA BA SƠN Xuân Đỗ Hạ là một trong ba thôn của làng Xuân Đỗ nay thuộc xã Cự Khối. Ngày xưa đó là ấp Hoa Động. Khỏa Ba Sơn vốn gốc người châu Ái. Ông được Hai Bà cử tới Hoa Động lập một đồn giả để lừa quân Hán, nhờ đó mà đánh bại được Tô Định. Sau khi lên ngôi, bà Trưng cho ông trở về đóng đồn tại nơi này. Song ông đã hóa ngay giữa tiệc khao thưởng dân làng. Đó là ngày rằm tháng Mười. Tục truyền khu vườn Hồng chính là nơi ông đóng quân. NÀNG QUỐC Thôn Hoàng Xá nay thuộc xã Kiêu Kỵ có đền thờ Nàng Quốc. Mẹ cô người làng Kiệt Đặc (nay thuộc huyện Chí Linh, Hải Hưng) tu hành (?) ở núi Thiên Thai bên bờ sông Đuống (nay thuộc huyện Gia Lương, Hà Bắc). Nhân đi tắm sông bị giao long quấn người, có mang. Xấu hổ, bà bỏ chùa ra đi. Tới Hoàng Xá, thấy có cây đào đẹp, bà ở lại và rồi sinh một gái, đặt tên là Quốc. Lớn lên nàng Quốc theo Hai Bà Trưng khởi binh, lập nhiều công. Sau này cô hy sinh ở núi Hy Sơn. ĐỐNG - HỰU Đống và Hựu là hai anh em sinh đôi quê ở Thanh Hóa. Được bà dì đem về nuôi ở thôn Kim Đường, nay là Kim Hồ thuộc xã Lệ Chi. Lớn lên hai anh em theo Hai Bà Trưng đánh giặc Hán. Khi Mã Viện xâm lược, hai ông được lệnh lên cản địch ở Lạng Sơn. Song thế yếu hai ông phải lùi về Kim Đường rồi bị trọng thương mà hóa (ngày 11 tháng Ba). Chỗ hóa là xứ đồng Mả Cả.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
|