Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Mừng xuân mới Nhâm Thìn
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 10 Tháng Hai, 2012, 10:27:08 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Hà Nội và các vùng lân cận  (Đọc 17144 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6704



« Trả lời #30 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:54:04 PM »


GIẢI PHÓNG ĐẤT NUỚC

Mùa xuân năm Canh Tý, Hai Bà đưa đại quân đi đánh các quận huyện. Sử cũ của ta như Toàn thưCương mục chỉ ghi là lược định được 65 thành chứ không ghi cụ thể là những thành nào1. Về diễn biến của chiến dịch thì lại không có lấy một dòng!

Chỉ có thể đoán định rằng trước tiên, nghĩa quân tiến công các đồn trại quân Hán cũng là các thành huyện thuộc quận Giao Chỉ. Tin tức về chiến cuộc này truyền đi bốn phương và nhân dân ba quận láng giềng là Hợp Phố, Cửu Chân và Nhật Nam cũng nắm thời cơ mà nổi dậy. Hậu Hán thư có ghi: “Người Man, người Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo”2. Cứ như câu văn này thì có lẽ đại quân của Hai Bà Trưng không tiến đến ba quận trên. Tại các nơi đó, cơ bản là quần chúng hưởng ứng, tự động nổi dậy đánh bọn quan lại nhà Hán.

Tất nhiên không loại trừ khả năng là trước đó có những phái viên của Hai Bà đã tới những nơi này tổ chức nhân dân, liên kết các lạc tướng... Và khi cuộc khởi nghĩa được triển khai ở Giao Chỉ thì có thể có một vài cánh quân được điều từ đây tới các quận láng giềng để phối hợp. Như truyền thuyết về bà Man Thiện có kể là bà đã đi nhiều nơi, từ vùng núi tới vùng biển để liên kết các lạc hầu, lạc tướng, huyện lệnh, hào trưởng... Hoặc thần tích làng Cổ Ngõa (xã Liên Minh, huyện Đan Phượng) có chép Hải Diệu, một tướng của Hai Bà quê ở làng này, ngay sau hội thề Hát Môn đã lên đường vào Cửu Chân.

Nhưng nói chung là đại quân dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Hai Bà chỉ tập trung đánh lỵ sở các huyện ở Giao Chỉ (như thế, phạm vi chiến đấu cũng đã là rất rộng) và mũi chủ công là nhằm tiêu diệt đô úy trị Mê Linh cùng quận trị Liên Lâu. Rất có thể ngay ở quận Giao Chỉ, nghĩa quân chủ lực cũng không đi khắp mười huyện mà ở một số nơi quần chúng cùng các huyện lệnh cũng nổi dậy lật đổ chính quyền nhà Hán. Thần tích, ngọc phả nhiều làng còn ghi sự tích các nhân vật đã tổ chức và lãnh đạo những cuộc nổi dậy ở nhiều địa phương trên lưu vực sông Hồng. Như ba chị em họ Đào (thờ ở đình làng Thổ Quan, quận Đống Đa) đã tập hợp bà con đứng lên đánh bọn đô hộ ngay ở vùng đất nay là nội thành Hà Nội. Hay như Khỏa Ba Sơn (thờ ở làng Xuân Đỗ Hạ, xã Cự Khối, huyện Gia Lâm) đã đem hai trăm tráng đinh đánh đồn quân Hán tại chính làng này. Rồi bà Chu Tước ở Miếu Môn (huyện Chương Mỹ, Hà Tây), bà chúa Bầu ở Đạo Trù (huyện Lập Thạch, Phú Thọ), vợ chồng Đào Nương - Doãn Công ở Đông Cứu (huyện Gia Bình, Bắc Ninh) v.v... đều chủ động khởi binh đánh bọn xâm lược tại đất bản bộ.

Như vậy, theo sự bảo lưu trong truyền thuyết thì tinh thần chỉ đạo cuộc chiến tranh giải phóng ngày ấy là kết hợp sự tiến công của quân chủ lực với sự nổi dậy của nhân dân ở các địa phương.


*
*   *

Về các hướng tiến công của nghĩa quân thì chính sử chẳng có ghi chép gì, chỉ truyền thuyết là có ghi chút ít. Ngọc phả hai làng Hát Môn và Hạ Lôi (Yên Lãng) cho hay là nghĩa quân từ Hát Môn tiến về Cổ Lôi trang rồi sau đó đánh “Tô Định thành”. Cũng ở hai ngọc phả này có chép là quân Hai Bà đánh tan quân Hán ở Cổ Lôi, chém trên một nghìn đầu giặc khiến “máu thành sông có thể đi thuyền, xương cốt chất cao như như núi”. (Huyết khả hành thuyền, cốt hài sơn tích)3.

Thực ra ở hai ngọc phả trên có nhiều chi tiết lộn xộn rối ren. Nhưng việc xảy ra chiến sự ở Cổ Lôi thì có thể tin là đúng. Vì vào thời gian này quận trị huyện (trụ sở hành chính) quận Giao Chỉ đã chuyển từ huyện Mê Linh (mà trung tâm là Cổ Lôi) về huyện Liên Lâu nhưng Mê Linh vẫn là đô úy trị (trụ sở quân đội) của quận Giao Chỉ. Viên đô úy - chỉ huy lực lượng vũ trang chiếm đóng - vẫn đóng tại đây. Đành rằng theo Hậu Hán thư, từ năm Kiến Vũ thứ 6 (30 sau c.n.) đã bỏ chức đô úy, cho thái thú kiêm nhưng cũng Hậu Hán thư còn ghi thêm là: “Hễ quận nào có biến loạn thì lâm thời đặt lại chức ấy”. Có thể ở Giao Chỉ trong những năm Tô Định cầm quyền, sự phẫn nộ của quần chúng lên cao tới mức đô úy được đặt lại và đóng ở quận trị cũ tức trị sở của huyện Mê Linh mà theo chủ trương của ông Đinh Văn Nhật thì là vùng Cổ Lôi - Kẻ Lói nay thuộc khu vực giáp ranh các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, còn theo quan niệm phổ biến thì đó là làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng nay gọi là Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc.

Và điều này đã nói lên sự chuẩn bị chu đáo của nghĩa quân vì dám đánh ngay vào đô úy trị, tức lỵ sở về quân sự, rõ ràng lực lượng phải khá mạnh. Còn về lỵ sở huyện Liên Lâu thì tất cả các thần tích, ngọc phả, truyền thuyết đều không hề chỉ định cụ thể địa điểm này. Nếu như mấy năm gần đây, trên các sách báo kể về truyền thuyết Hai Bà cũng như những tướng lĩnh của Hai Bà có chỉ định cụ thể đó là thành Liên Lâu (hay Luy Lâu) thì chính là đã tham khảo các sách sử để lắp cái tên lịch sử ấy vào truyền thuyết. Ngoài ra, có một thời gian dài, rất nhiều người cho rằng Tô Định đóng ở Long Biên và Hai Bà đã đưa đại quân tới đánh thành này. Như Quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát - Phạm Đình Toái có viết:

Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên Biên thành

Đó là một sự lầm lẫn. Vì mãi tới năm Vĩnh Hòa thứ nhất (136) trị sở quận Giao Chỉ mới dời từ Liên Lâu về Long Biên. Trước đó, từ cuối đời Tây Hán, trị sở ấy là vùng Lũng Khê nay thuộc xã Hạnh Phúc, huyện Thuận Thành tỉnh Hà Bắc. Thực ra gọi là Liên Lâu cũng là gọi tạm. Vì các nhà nghiên cứu đời trước (cả ở Trung Quốc và Việt Nam) từng gọi là La Lũ, Liên Thụ, Liên Lâu, Luy Lâu. Rất có thể đó là những cách người Hán đã dùng để phiên âm một từ Việt cổ hoặc là phiên âm chính cái tên gọi nôm na hiện vẫn phổ biến ở địa phương này: làng Dâu.

Đây là một làng châu thổ màu mỡ, có sông Dâu chảy qua. Sông này nay đã cạn nhưng thời xưa là một sông khá lớn thông với sông Đuống. Thuyền bè các nơi vẫn qua lại bến này. Ca dao cổ ở đây còn nhắc:

Lênh đênh ba bốn thuyền kề
Thuyền ra Kẻ Chơ, thuyền về sông Dâu.

Tại đây còn vết tích một thành lũy cổ. Cương mục có ghi chú: “Liên Thụ là tên huyện thuộc quận Giao Chỉ, nay ở xã Lũng Khê, huyện Siêu Loại, tỉnh Bắc Ninh, còn có vết cũ thành xưa”. Huyện Siêu Loại nay là huyện Thuận Thành. Vết cũ thành xưa đó ở ngay bên bờ trái sông Dâu. Cứ theo dấu vết thì thành được đắp theo hình chữ nhật, chiều dài khoảng 300 mét, chiều rộng hơn 100 mét. Những mảnh thành còn sót vẫn cao tới 4-5 mét. Hẳn là các đời sau có bồi đắp thêm (vì như vào thế kỷ thứ X, một sứ quân là Lý Lãng Công đã đóng ở đây) thì vết tích mới lưu lại được như vậy. Chứ từ đời Hán tới nay đã hai chục thế kỷ, thành lũy đất làm sao mà chống chọi được với gió mưa!
______________________________________
1. Hậu Hán thư, Mã Viện truyện thì ghi là “lược định trên 60 thành”. Tư trị thông giám (q.43) thì ghi “lược định 65 thành”. Cả hai sách đều không chỉ định cụ thể là những thành nào.
2. Nguyên văn: “Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố Man Lý giai ứng chi”. Man, Lý - chỉ những tộc người không phải là Hán, như vậy tức là nhân dân ở ba quận nói chung, vì nơi đây là khu vực của các bộ tộc Việt.
3. Xem toàn văn lời dịch hai ngọc phả này ở phần Phụ lục.

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6704



« Trả lời #31 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:56:09 PM »


*
*   *

Mùa xuân năm Canh Tý (40), nghĩa quân Hai Bà Trưng đi đánh Liên Lâu. Dường như đi cùng với đại quân (có tới ba bốn vạn người) là một khối lượng khá đông đảo các tướng lĩnh, chỉ huy, già có trẻ có mà đa số là trẻ và nữ. Vẫn theo thần tích, Phùng Thị Chính (thờ ở Tuấn Xuyên, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì) làm nhiệm vụ trinh sát, Sa Lương (thờ ở Hạ Trì, xã Liên Hà, huyện Đan Phượng) chỉ huy thủy binh, Ả Lã Nàng Đê (thờ ở Yên Lộ - Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức) chỉ huy tả quân v.v... Rồi nào là Vĩnh Hoa, Vĩnh Gia, Chàng Hối, Lôi Chấn, Đào Khang, Nguyễn Nga, Ngọc Trinh... đều là đang độ tuổi hai mươi. Đặc biệt trong đại quân đi đánh quận trị có một đội nam binh cải trang thành lính nữ do Vương Cai chỉ huy (ông này cũng cải trang thành nữ tướng)1. Thật là sự kiện có một không hai trong lịch sử. Ở các nước khác, để được tham gia chiến đấu, nữ phải cải trang thành nam giới - như Mộc Lan ở Trung Quốc đời Nam Bắc triều chẳng hạn. Đằng này thì ngược lại, nam cải trang thành nữ. Phải chăng sự kiện này là ảnh xạ của một thời đại mà vai trò người phụ nữ trong xã hội còn đặc biệt quan trọng, uy tín của họ còn khá cao.

Một điều đặc biệt nữa là trong đại quân của Hai Bà có cả người Hán: Thần tích đền Càn ở xã Kê Sơn, huyện Lạng Giang, tỉnh Hà Bắc có kể rằng “Đô Thiên và Minh Giang là hai quan chức người Hán. Vì căm giận triều đình nên chạy sang Giao Chỉ, chống lại nhà Hán. Khi Hai Bà Trưng dấy binh, hai ông mang quân theo”. Thì ra không đợi đến nhà Tống mới có Từ Bá Tường và đời Minh mới có Thái Phúc là những quan lại Trung Quốc nhìn ra lẽ phải, đã đứng về phía nhân dân Việt Nam chống lại bọn cầm quyền nước họ mà từ đời Hán đã có những người Hán đứng về phía người Việt chống lại vua Hán hung bạo2.

*
*   *

Nghĩa quân điệp điệp trùng trùng kéo tới bao vây Tô thành. Có lẽ chỉ mới trông thấy cảnh tượng này thái thú Tô Định đã hết hổn! Tới khi nghĩa quân tấn công bốn phía thì đúng là Tô Định chỉ còn biết tìm đường mà chạy trốn.

Truyền thuyết kể rằng Tô Định phải cắt râu, vứt bỏ cả ấn tín mà chạy. Cương mục chép là “Tô Định chạy về quận Nam Hải”. An Nam chí lượcThiên Nam ngữ lục thì chép Tô Định tử trận. Dù sao thì thành Liên Lâu đã được giải phóng. Hang ổ của bọn quan cai trị đại Hán đầu sỏ ở Giao Chỉ bị đập tan. Trên đà ấy nhân dân các quận láng giềng là Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cũng hưởng ứng mà vùng lên đánh đuổi các thái thú cùng bè lũ quan lại Hán tộc. Hậu Hán thư (q.86) có ghi: Thứ sử Giao Chỉ và các thái thú chỉ còn giữ được mình mà thôi”. Đúng là “quân đi đến đâu như gió lướt đến đấy” (Cương mục).

Thế là ở các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam và cả Hợp Phố nữa, chính quyền đô hộ của người Hán đã bị lật đổ. Sau một thời gian không dài, cùng nổi dậy chiến đấu liên tục tiến công kẻ thù, nhân dân Bách Việt nói chung, Âu Việt, Lạc Việt nói riêng, dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng đã giành lại tự do. Nước Âu Lạc sau hai trăm năm bị đô hộ nay trở lại độc lập. Chính vì vậy mà nhân dân các tộc Việt ai ai cũng mang ơn Hai Bà, không chỉ người Lạc Việt (sau là người Kinh và người Mường) mà người Âu Việt (sau là người Tày, người Nùng) cũng coi Trưng Vương là lãnh tụ của mình, nhất là do đặc biệt tôn quý nên ai cũng muốn coi Trưng Vương là người thuộc dân tộc mình.

Viết đến trang sử khởi nghĩa oanh liệt này, sử gia Lê Văn Hưu đã có những dòng đầy tự hào: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng. Việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, đủ biết tình thế đất Việt ta có thể dựng được nghiệp bá vương”.

Bộ Lịch sử việt Nam - Tập I của ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1971) - khi phân tích ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa này đã có nhận xét: “Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh, khi âm thầm, khi công khai của nhân dân Việt Nam. Đây là một phong trào nổi dậy của toàn dân vừa quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do Hai Bà Trưng đề xướng, vừa tỏa rộng trên toàn miền Âu Lạc cũ. Khởi nghĩa đã thắng lợi vì đó là một phong trào có tính chất quần chúng rộng rãi chứ không phải là một hành động tự phát của một tù trưởng, một bộ lạc riêng lẻ”.
______________________________________
1. Sự tích các tướng lĩnh này sẽ được trình bày ở Chương năm.
2. Từ Bá Tường, tiến sĩ, đã gửi thư cho triều đình nhà Lý tố cáo âm mưu của Vương An Thạch xâm lược nước ta.
    Thái Phúc, đô đốc, đã dâng thành Nghệ An cho nghĩa quân Lam Sơn và theo Lê Lợi ra hạ thành Đông Quan.

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6704



« Trả lời #32 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:57:20 PM »


*
*   *

Cuộc khởi nghĩa mùa xuân năm 40 do Hai Bà Trưng lãnh đạo quả là bằng chứng hùng hồn của tinh thần yêu nước, yêu tự do cũng như khí phách “tấn công cả trời” của tổ tiên ta thời đó, đồng thời nó lại còn định ra một loại hình chiến tranh trước đấy chưa hề có và sau đấy dân tộc ta thường phải sử dựng: chiến tranh giải phóng dân tộc.

Khi ấy cả nước đang ở dưới ách thống trị của giặc Hán. Từng huyện đều có quân thù, mà là quân thù đang trong thế cường thịnh. Nổi dậy chống lại cả một lực lượng ngoại tộc đô hộ có dư hai trăm năm kinh nghiệm cai trị là một việc làm thật sự phi thường. Lại không chỉ dám nổi dậy mà còn đánh thắng, quét sạch chúng ra ngoài bờ cõi thì quả là vĩ đại.

Làm được như vậy tất phải là phong trào của quần chúng, của toàn dân. Nhân dân Âu Lạc ngày ấy đã ý thức được quyền làm chủ, thiết tha với tự do và độc lập, đã vươn mình đứng lên đấu tranh với một ý chí kiên cường, dám hy sinh xả thân. Có thế mới đủ sức quật ngã kẻ thù hung bạo.

Mặt khác, cũng dễ nhận ra ngay là tập hợp và tổ chức được nhân dân lại thành một lực lượng để mà chiến đấu và chiến thắng kẻ thù thì đó chính là tài năng và công lao của những người lãnh đạo phong trào, đứng đầu là Hai Bà Trưng. Suốt hai nghìn năm trở lại đây là những người phụ nữ mà lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa thành công thì không chỉ ở nước ta mà ngay cả trên thế giới cũng không có ai. Tiếc rằng rất thiếu tài liệu nên chưa thể tìm hiểu về thiên tài quân sự của Hai Bà. Chỉ có thể khẳng định một sự thực là chính Hai Bà Trưng đã định ra một phương thức tiến hành chiến tranh giải phóng dân tộc chưa từng có trong lịch sử: cùng nổi dậy ở mọi nơi. Bên cạnh những mũi tiến công của nghĩa quân chủ lực, Hai Bà đã vận động nhân dân và lạc tướng ở các địa phương đồng loạt khởi nghĩa. Cùng trong một thời gian, tất cả nổi dậy tiến công những cứ điểm của quân thù. Như thế, kẻ địch ở chỗ nào cũng bị đánh và quân khởi nghĩa không chỉ còn là vài ba vạn người mà là toàn dân: mọi người dân Âu Lạc đều trở thành nghĩa sĩ.

Định ra được loại hình chiến tranh ấy và đích thân tổ chức nên chiến thắng, đó chính là nghệ thuật quân sự tuyệt diệu, đầy sáng tạo của Hai Bà.

*
*   *

Nếu nhìn rộng ra xung quanh thì ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa này còn có một tầm vóc khác. Thời đó không phải người Hán chỉ đô hộ có một nước Âu Lạc. Về phía bắc, họ chiếm Triều Tiên, cũng chia ra thành quận huyện. Phía tây họ thần phục các bộ tộc ở Tây Vực (Tân Cương, Tây Tạng...). Phía tây - nam họ thôn tính các nước Dã Lang (Quý Châu), Điền (Vân Nam), Cùng Đô (Tứ Xuyên) v.v... Phía đông - nam họ hoàn thành công cuộc chinh phạt các tộc Mân Việt, U Việt, Đông Việt, Nam Việt... (vùng các tỉnh Triết Giang, Phúc Kiến, Lưỡng Quảng).

Nhưng rõ ràng là chỉ có người Lạc Việt và Âu Việt tức nhân dân ta ngày ấy, nhân dân Âu Lạc, đã dám đứng lên đánh lại chính quyền đô hộ nhà Hán và đánh thắng.

Nếu lại đặt ở bình diện nhân loại thì vào thời kỳ đầu Công nguyên, trên thế giới chỉ mới xảy ra ba cuộc khởi nghĩa của nhân dân bản địa chống chính quyền ngoại tộc đô hộ. Đó là cuộc khởi nghĩa của nhân dân xứ Gôlơ (nước Pháp thời cổ) do Vécxanhgiêtôric lãnh đạo nổ ra năm 52 tr.c.n chống chính quyền đô hộ La Mã của Xêda, cuộc khởi nghĩa của dân Do Thái ở Giêrudalem năm 66 s.c.n chống chính quyền đô hộ La Mã của Tituýt và cuộc khởi nghĩa của dân Cáctagiơ (Bắc phi Châu) do Goócđiên lãnh đạo năm 68 s.c.n cũng chống chính quyền Tituýt. Nhưng cả ba phong trào đấu tranh giải phóng đó đều thất bại!

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đúng là niềm tự hào chính đáng của dân tộc Việt Nam ta.

PHỤ CHÚ - Về những việc làm của nghĩa quân Hai Bà sau khi giải phóng Liên Lâu, sách Thiên Nam ngữ lục chép:

Trưng binh vào đến Tô dinh
Chiêu an sĩ tốt, dỗ dành quan quân
Ai đâu ở đấy yên thân
Đợi chờ xá si, dời chân về nhà
Ta thời giữ ở nước ta
Người Ngô cho nó về nhà nước Ngô
Bao nhiêu sĩ tốt ngày xưa
Phải Tô Định hiếp bay giờ được yên
Truyền ra đứng cửa viên môn
Ai nguyền phu phụ, ai nguyền lại quê
Dầu ai hết súc trợ thì
Tòng quân ra chí nam nhi mặc mình
Của Tô Định tích để dành
Phân chia thảy thảy, một manh chẳng hề.

Như vậy là đối với ngụy quân ai muốn về nhà, cho về; ai muốn theo nghĩa quân, cho theo. Đối với quân Hán thì tha cho về nước. Còn của cải của Tô Định thì chia đều cho mọi người.

Chưa chắc đấy đã là việc làm thực sự của Hai Bà nhưng rõ ràng ý đồ của tác giả là muốn nói lên tính chất chính nghĩa và tinh thần nhân đạo của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6704



« Trả lời #33 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:58:24 PM »


NHỮNG NĂM ĐỘC LẬP

Chính sử đều ghi là sau khi đánh đuổi Tô Định, bà Trưng Trắc “tự lập làm vua, đóng đô ở Mê Linh”. Như vậy, hạ được quận trị Liên Lâu nhưng bà Trưng không đóng tại đó, cũng không đóng ở quê chồng là huyện Chu Diên mà trở về định đô tại quê cha, tại đất bản bộ của lạc tướng Mê Linh, dòng dõi của các vua Hùng.

Có điều là huyện Mê Linh thì rất rộng (đã nêu ở Chương hai), không rõ kinh đô ngày ấy đặt ở nơi nào. Lâu nay do chỗ coi làng Hạ Lôi ở Yên Lãng là làng quê của Hai Bà mà rất nhiều người - nếu không nói là tất cả coi nơi ấy là đất huyện Mê Linh, từ đó suy ra kinh đô trong thời gian Bà Trưng cầm quyền cũng là ở đấy1.

Nhưng như đã nêu ở Chương hai, theo những luận văn của ông Đinh Văn Nhật lần lượt công bố từ năm 1972 đến 1978 thì quê của Hai Bà lại là vùng Hạ Lôi - Kẻ Lói ở huyện Thạch Thất, nơi đó là kinh đô trong ba năm Bà Trưng ở ngôi vua. Nay huyện Thạch Thất thuộc về tỉnh Hà Tây.

Thần tích làng Hát Môn còn cho biết là sau khi lên ngôi vua, Trưng Vương đặt quốc hiệu là Triệu. “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, điều thứ IX lại chép: “Bà Trưng gọi nước là Hùng Lạc”. Nhưng ông Hà Văn Tấn trong lời chú giải sách này cho biết là “không có sách nào ghi như thế”. Vậy, có lẽ Trưng Vương chưa đặt quốc hiệu. Danh xưng Triệu cũng như Hùng Lạc chỉ là sản phẩm của các đời sau.

Trưng Vương ở ngôi ba năm. “Ba năm gánh vác sơn hà. Một là báo phục, hai là bá vương” (Quốc sử diễn ca). Nhưng tư liệu về những năm tháng độc lập này thì quá ít. Cho tới nay, chỉ tìm thấy một dòng trong Thủy kinh chú (dẫn Giao Châu ngoại vực ký): “Trưng Trắc vi vương, trị Mê Linh huyện, đắc Giao Chỉ, Cửu Chân nhị quận dân nhị tuế điệu phú” (q.37) nghĩa là: “Trưng Trắc làm vua, đóng ở huyện Mê Linh, thu được hai năm thuế của dân hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân”. Nhưng một bản in Thủy kinh chú khác (do Đái Chấn làm hiệu đính) thì ở chỗ chữ đắc (nghĩa là thu được) lại là chữ phục với nghĩa là tha. Tất nhiên thu thuếtha thuế nghĩa khác hẳn nhau nhưng dù là chữ nào thì cũng đều nói lên rằng chủ quyền đất nước đã thuộc về Trưng Vương. Nếu là tha thuế thì hợp nhân tâm hơn. Đó là việc thường thấy sau mỗi lần thay đổi triều đại, nhất là sau mỗi cuộc khởi nghĩa thành công. Tha thuế là đáp ứng nguyện vọng của quần chúng bao năm khốn đốn vì tai họa thuế khóa nặng nề.

Nhưng một vấn đề căn bản là: vậy thuế nói ở đây là loại thuế gì? Có thể hiểu đây là thuế ruộng đất đánh vào các công xã mà cũng có thể là thuế đánh vào đầu người. Vì nguyên văn ở Giao Châu ngoại vực ký chép là “điệu phú”. Đương thời (thời Hán Quang Vũ) ở Trung Quốc người dân cũng đã phải gánh chịu nhiều thứ thuế phú như toán phú, canh phú, khẩu phú v.v...

Nguyên phú là tên gọi một loại thuế có từ đời Lỗ Ai Công (thế kỷ thứ V tr.c.ri) đánh vào hoa lợi ruộng đất và thu bằng tiền. Đến đời Hán Quang Vũ thì phú là thuế đánh vào đầu người. Thời ấy mỗi người dân từ 15 tuổi đến 56 tuổi mỗi năm phải nộp thuế 120 đồng tiền gọi là toán phú. Trẻ em từ 7 tuổi đến 14 tuổi hàng năm phải nộp 23 đồng tiền gọi là khẩu phú. Ngoài ra, mỗi người dân từ 23 tuổi trở lên, mỗi năm phải luân phiên phục dịch việc binh một tháng, muốn được miễn thì phải nộp 3000 đồng tiền gọi là canh phú. Lại còn hộ phú đánh vào từng hộ gia đình, quân phú (thuế cung cấp cho binh lính), tạp thuế, diêu dịch thuế v.v... 2.

Như vậy bản thân người dân Trung Quốc thời đó cũng phải chịu bao thứ thuế đánh vào đầu người! Có lẽ người dân Âu Lạc cũng phải gánh chịu không kém! Nhất là quan lại nhà Hán đã điều tra dân số - dù con số không lấy gì làm chính xác lắm - thì sự thống kê tới tận từng nhân khẩu, từng nhà cũng cho phép suy đoán là rất có thể đã có thuế phú đánh vào đầu người.

Còn thuế điệu thì là thuế đánh vào các thổ sản tơ lụa, vải vóc, đay gai v.v... Tuy nhiên tài liệu nói là tới đời Đường (thế kỷ thứ VII) mới có thuế điệu. Nhưng câu văn trên nằm ở sách Giao Châu ngoại vực ký là sách soạn hồi thế kỷ IV hoặc thứ V. Vậy có thể điệu đã có từ trước, đến đời Đường mới sửa đổi lại và điển chế hóa.

Dù sao thì nhân dân Âu Lạc dưới ách thống trị của nhà Đông Hán đã phải đóng nhiều thứ thuế, ít nhất cũng nặng nề không kém người dân Trung Quốc.
______________________________________
1. Theo thần tích của chính làng Hạ Lôi này - đã nêu ở Chương hai - thi kinh đô của Trưng Vương lại là đất Phấn Lộ nào đó thuộc huyện Chu Diên, và theo Lĩnh Nam chích quái thì “Hai Bà... đóng đô ở Ô Diên thành”. Hai chi tiết này mâu thuẫn với chính sử (như Toàn thư: Bà Trưng... đóng đô ở Mê Linh) nên chúng tôi không kể tới.
2. Trung Quốc thông sử giản biên - Phạm Văn Lan - Tân Hoa thư điếm - năm 1949 - Tập I - tr.199.

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6704



« Trả lời #34 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 01:00:30 PM »


*
*   *

Về tổ chức nhà nước thời Trưng Vương có vấn đề pháp luật cũng đáng lưu ý. Hậu Hán thư, Mã Viện truyện có kể rằng sau khi bình định Âu Lạc, Mã Viện có tâu về vua Hán rằng: “Luật Việt khác luật Hán hơn mười điều”. Như vậy là ở thời Trưng Vương (và có lẽ là cả trước đó) nước ta đã có pháp chế. Có thể đó là một thứ luật tập quán lưu hành từ thời các vua Hùng. Gọi là luật tập quán vì đây chưa phải là một hệ thống luật pháp như ngày nay quan niệm mà là một hệ thống những tục lệ, những quy định của cộng đồng về tổ chức và về các quan hệ giữa mọi thành viên trong cộng đồng. Luật ấy thường là truyền miệng. Hiện nay ở khu vực Tây Nguyên, một số dân tộc vẫn bảo lưu những pho luật tập quán được đặt thành vần vè, luật ấy ở người Ê-đê gọi là Biduê, ở người Srê gọi là Nri v.v... 1. Luật tập quán của người Việt ngày ấy hẳn mang tinh thần dân chủ khác với luật Hán là luật của chính quyền phong kiến chuyên chế.

Ngoài việc pháp luật này và việc thu (hoặc tha) thuế nói ở trên - là những việc thuộc về công tác chính quyền thời Trưng Vương - thì sử sách không cho biết gì hơn nữa. Cho nên không thể biết được tổ chức nhà nước bấy giờ ra sao, hoạt động của nó như thế nào, do đó cũng không có điều kiện để xác định tính chất của nhà nước ấy. Nhưng nếu căn cứ vào các ngọc phả, thần tích thì dù đất nước đã được giải phóng, bà Trưng Trắc vẫn rất chú trọng về quân sự, rất quan tâm tới việc phòng thủ, bảo vệ lãnh thổ. Bà đã phân phong các tướng lĩnh đi trấn các miền đất khác nhau. Nếu hệ thống hóa lại sẽ thấy mạng lưới bố phòng được hình thành như sau:

Ở biên giới phía bắc có bà Thánh Thiên quản lĩnh mười sáu châu, đồn trại chính là ở làng Ngọc Lâm (nay thuộc huyện Yên Dũng, Bắc Giang).

Ở mạn tây, các cô Ả Nương, Ả Nang và các tướng Cả Lợi, Hai Lợi, đặc trách tuần du “tây bắc nhị lộ”.

Ở vùng biển, bà Lê Chân đóng ở An Biên (nội thành Hải Phòng ngày nay), bà Bát Nàn đóng ở Tiên La (nay thuộc huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình).

Ven sông Lô có Trần Tuấn đóng ở Phương Trung, có Hùng Dũng đóng ở Quế Lâm, có Mạnh Đạo và Nguyệt Diện đóng ở Tây Cốc, tất cả đều thuộc đất huyện Đoan Hùng ngày nay (tỉnh Phú Thọ).

Ven sông Hồng có Ả Lan đóng ở Văn Lang (huyện Hạ Hòa, Phú Thọ), có Xuân Nương ở Hương Nha - Hương Nộn, có Thiều Hoa ở Hiền Quan, đều thuộc huyện Tam Nông tỉnh này. Có Ngọc Trinh ở Lùng Hòa, có Đổng Vịnh ở Thượng Lập, đều thuộc huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc. Có Hồ Đề ở Tráng Việt, có Vĩnh Gia ở Chu Phan, đều thuộc huyện Yên Lãng nay đổi là Mê Linh, Vĩnh Phúc. Riêng bà Phật Nguyệt ở Phương Lĩnh (huyện Thanh Ba, Phú Thọ) được cử “quản lĩnh thượng Thao Giang” (chắc là vùng Lào Cai, Yên Bái).

Xuống phía hạ lưu sông Hồng, có Khỏa Ba Sơn đóng ở Xuân Đỗ Hạ (huyện Gia Lâm - Hà Nội), có Hùng Công ở Dương Liệt (huyện Văn Giang - Hưng Yên), có Phạm Thị Hồng ở Tức Mặc (ngoại thành Nam Định) v.v...

Đặc biệt ở vùng ven sông Đáy các đồn trại của nghĩa quân khá là dày. Bên tả ngạn có Hải Diệu ở Ngõa Thượng và Lôi Chấn ở Tháp Miếu (đều thuộc huyện Đan Phượng), có Ả Lã Nàng Đê ở Yên Lộ - Nghĩa Lộ (huyện Hoài Đức) có Vương Cai ở Thượng Thanh (huyện Thanh Oai), Chiêu Trung ở Yên Trường (huyện Ứng Hòa). Bên hữu ngạn có Hoàng Đạo ở Hạ Hiệp (huyện Phúc Thọ), Ngọc Ba ở Kim Cốc (huyện Chương Mỹ), Nguyễn Lai ở Tuy Lai (huyện Mỹ Đức), Cao Thị Lỗ ở Thạch Tổ (huyện Thanh Liêm, Hà Nam)...

Còn ven sông Đuống cũng có đồn trại của các tướng lĩnh như ông Đống, ông Hựu ở Kim Hồ (huyện Gia Lâm - Hà Nội), Ả Tắc, Ả Dị ở Văn Quan (huyện Thuận Thành - Bắc Ninh), A Lã - Rồng Nhị ở Du Tràng và Tĩnh Trai ở Lai Hạ (đều thuộc huyện Gia Lương - Bắc Ninh).

Ngoài ra, cũng các thần tích ngọc phả cho biết là bà Man Thiện, mẹ của Hai Bà, có lập một đồn riêng ở Nam Nguyên, vừa là quê bà, vừa là ngưỡng cửa đi vào Hạ Lôi - Kẻ Lói. Bà Trưng Nhị thì tới Cự Triền (huyện Yên Lãng, nay là huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc) xây đắp thành lũy2 Thầy dạy của Hai Bà là ông Đỗ Năng Tế vào đóng tận Cư Phong (Thanh Hóa). Cùng đi vào hướng này có cả Đô Dương, một võ tướng thân tín của Hai Bà v.v...

Nếu những ghi chép trên của các thần tích là đúng thì quả là chính quyền Trưng Vương rất quan tâm đến việc bảo đảm an ninh và quốc phòng. Âu đó cũng là một tổng kết rút ra từ thực tế đấu tranh suốt hai trăm năm chống bọn bành trướng phương Bắc đô hộ.
______________________________________
1. Dambo – Les Populations montagnardes du Sud - Indochine. France - Asie No 49-50. Chương VI.
2. Như đã nêu ở Chương hai, đây là theo thần tích của làng Cư An, tên gọi sau này của Cự Triền. Còn theo thần tích làng An Duyên, huyện Thường Tín (Hà Tây) thì bà Trưng Nhị cùng chồng là Hùng Nguyên về lập đồn trại tại làng An Duyên này.

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6704



« Trả lời #35 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 05:48:16 PM »


Chương Bốn
CUỘC KHÁNG CHIẾN


QUÂN HÁN MỞ ĐƯỜNG XÂM LƯỢC

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng làm rung động đế chế Hán. Vì đất Âu Lạc, căn cứ để nhà Hán dùng làm bàn đạp thực hiện âm mưu bành trướng xuống phương nam, đã bị tách ra khỏi đế chế này. Đó là điều làm cho Hán Quang Vũ rất không yên tâm. Cho nên dù đang phải lo đối phó với những cuộc khởi nghĩa của nhân dân nhiều nơi trên đất Trung Quốc1, Quang Vũ vẫn tích cực thực hiện dã tâm xâm lược trở lại Âu Lạc. Hậu Hán Kỷ (q.7) có chép rằng năm Kiến Vũ thứ 17 (tức năm 41), một năm sau thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Quang Vũ đã ra lệnh cho các quận từ Trường Sa trở xuống sắm sửa xe cộ, thuyền bè, sửa sang cầu đường, khơi thông khe lạch, trữ lương thực để chuẩn bị đánh Giao Chỉ.

Như vậy là vua Hán đã huy động cả khu vực đông nam Trung Quốc vào công việc chuẩn bị chiến tranh. Tới tháng Chạp cùng năm ấy (tức tháng 1 năm 42), hắn xuống chiếu cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân. Đoàn Chí làm Lâu Thuyền tướng quân cùng nhau đem quân bộ và quân thủy ở bốn quận Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô đi đánh Giao Chỉ. Thủy kinh chú có ghi lời tấu của Mã Viện gửi lên Quang Vũ khi hắn đã hoàn thành việc xâm lược: “Kẻ hạ thần đã cùng một vạn hai nghìn tinh binh hợp với đại binh thành hai vạn người và thuyền xe lớn nhỏ hai nghìn cỗ, tự vào đất Giao Chỉ, đến nay đã thành công”.

Một vạn hai nghìn tinh binh mà Mã Viện nói tới có lẽ là quân lính lấy ở bốn quận trên. Còn đại binh - là phần còn lại gồm tám nghìn tên - có thể là quân lính từ lâu được đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Mã Viện. Dù sao thì quân chủ lực dùng vào cuộc xâm lược, theo như lời thú nhận trên đây của giặc, là hai vạn tên. Ngoài ra, để phục dịch cho hai nghìn cỗ xe trận và thuyền chiến hắn phải có thêm dăm bảy nghìn dân binh. Điều đáng lưu ý là tất cả lũ lính tráng này, thủy cũng như bộ, đều là người Hoa Nam, dễ thích ứng với thủy thổ Giao Chỉ. Bọn chỉ huy thì đều là tướng gian ác. Mã Viện khi ấy 56 tuổi2, là một tướng có nhiều kinh nghiệm trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Trung Quốc cũng như các dân tộc bị đô hộ. Chính hắn vừa dẹp xong cuộc nổi dậy của nông dân Hoãn Thành thì được phong ngay làm Phục Ba tướng quân lãnh trách nhiệm đi đánh Giao Chỉ. Phó tướng là Lưu Long vốn là thái thú Nam Quận (tỉnh Hồ Bắc) nhưng đã bị cách chức vì gian dối trong việc đo đạc ruộng đất, nay được gọi ra cho làm phụ tá Mã Viện để lập công chuộc tội. Phụ trách thủy quân là Đoàn Chí cũng vừa mới tham gia đàn áp nông dân Hoãn Thành cùng với Mã Viện.

Quân tướng ấy nhận được lệnh xuất quân đánh Giao Chỉ vào tháng Chạp năm Kiến Vũ 17 (tháng 1 năm 42). Địa điểm tập kết của hai đạo quân này là Hợp Phố (nay thuộc tỉnh Quảng Tây). Nhưng vừa đến đây thì Đoàn Chí bị bệnh chết. Quang Vũ lệnh cho Mã Viện kiêm lĩnh cả thủy quân. Trong Hậu Hán thư (q.24) có một đoạn ngắn tóm tắt quá trình hành quân của tên tướng giặc này: “Quân đến Hợp Phố thì Chí ốm chết, vua xuống chiếu cho Viện kiêm lĩnh cả quân của Chí. Bèn ven theo biển mà tiến, dựa núi, mở đường hơn ngàn dặm. Mùa xuân năm 18 (tức năm 42), quân đến trên Lãng Bạc, đánh với giặc, phá được, chém mấy nghìn đầu, kẻ xin hàng hơn vạn. Viện đuổi bọn Trưng Trắc đến Cấm Khê, đánh bại họ mấy lần. Tháng Giêng năm sau (tức năm 43) chém Trắc và Nhị, đệ đầu về Lạc Dương”.

Căn cứ vào ghi chép đó, có thể đoán định hướng tiến quân ban đầu của Mã Viện như sau:

Sau khi nắm toàn quyền chỉ huy, Mã Viện tất là cho thuyền chiến đi nương theo ven biển, qua vịnh Hạ Long để vào sông Bạch Đằng. Còn quân bộ thì cũng “ven biển mà tiến” tức là phải từ Hợp Phố qua Khâm Châu, Phòng Thành, vượt qua biên giới ở Đông Hưng, Móng Cái rồi qua Tiên Yên, Hoành Bồ, Hòn Gai mà cùng tới sông Bạch Đằng. Sau đó, tất cả thủy bộ kéo tới tụ hội ở Lục Đầu Giang - Phả Lại. So với đường sá ngày nay thì đại để tuyến hành quân đó gần trùng với đoạn khởi đầu đường số 4 (Móng Cái - Tiên Yên) và hầu hết đường số 18 (Tiên Yên - Phả Lại). Dặm đường ấy cách đây 2000 năm hẳn là còn hiểm trở nhiều, phải vượt qua lắm rừng, lắm núi nên quân giặc dù “ven theo biển mà đến” nhưng vẫn phải “dựa núi, mở đường hơn ngàn dặm”3.
____________________________________
1. Năm 40, cùng thời gian với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, các họ lớn ở bón châu Thanh, U, Từ, Ký (tương đương với hai tỉnh Sơn Đông và Hà Bắc ngày nay) khởi binh chống chính quyền Hán trung ương. Năm 41, nông dân ở Hoãn Thành (nay thuộc tỉnh An Huy) cũng nổi dậy chống lại triều đình Hán.
2. Theo H.A.Giles trong A Chinese biography dictionary. Mã Viện sinh năm 14 trước Công nguyên, mất năm 49. (Nhưng theo Hậu Hán kỷ (q.8 ) thì Mã Viện chết năm Kiến Vũ thứ 26 tức năm 50).
3. Hợp phố - Đông Hưng: 180km; Móng Cái - Tiên Yên: 86km; Tiên Yên - Phả Lại: 180km. Vậy cả đoạn đường này dài 446km. Một dặm gồm 360 bộ. (một bộ khoảng 0,8m) tức khoảng 400m. Như thế thì 446km rất ứng với con số hơn ngàn dặm ghi trong đoạn sử nói trên.

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6704



« Trả lời #36 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 05:48:56 PM »


Thần tích một số tướng lĩnh của Hai Bà Trưng như thần tích bà Thánh Thiên, thần tích Chàng Hối đại vương... có kể là Hai Bà cử Thánh Thiên đem quân lên chặn Mã Viện ở biên ải. Trưng Vương lịch sử của Hoàng Thúc Hội chép cụ thể là bà Thánh Thiên chặn Mã Viện ở Quỉ Môn quan. Do quan niệm rằng Quỉ Môn quan là Chi Lăng (huyện Ôn Châu, tỉnh Lạng Sơn) và coi Mã Viện tiến theo đường Bằng Tường - Đồng Đăng - Chi Lăng nên có người cho rằng chi tiết đó là hoang đường. Đành rằng rất có thể Thánh Thiên không đón đánh Mã Viện ở Quỉ Môn quan nhưng trong thực tế Mã Viện không hành quân theo đường qua Chi Lăng. Tài liệu thư tịch dẫn ở trên đã nói lên điều đó (Mã Viện tiến theo đường ven biển). Vả theo lý mà suy ra thì cũng là như vậy: Mã Viện một mình thống lĩnh cả thủy bộ, không thể đưa quân bộ đi tách ra xa, cách quân thủy hàng mấy trăm dặm với bao núi rừng cách trở, không tiện liên lạc một bề nào cả. Nhất là từ Hợp Phố sang Giao Chỉ thì chỉ có con đường qua Đông Hưng - Tiên Yên là gần nhất. Nếu muốn vào Giao Chỉ bằng nẻo Bằng Tường - Đồng Đăng thì từ Hợp Phố phải đi ngược lên Nam Ninh (vì vướng dãy Thập vạn đại sơn), tới đây mới có đường đi xuống Bằng Tường. Như vậy đường sẽ dài ra gấp đôi, thêm lên hàng nghìn dặm nữa, lại bị cách biệt hoàn toàn với đạo quân thủy. Hẳn không có một viên tướng nào lại chọn một con đường hành quân vòng vèo tốn nhiều công sức và không tiện cho việc chỉ huy của mình. Vả lại, vào thời ấy con đường Bằng Tường - Đồng Đăng - Chi Lăng, cửa ngõ mở ra để vào Giao Chỉ về mặt đường núi thì chưa được mở. Thời ấy chỉ mới có đường sông Bạch Đằng và đường bộ đi ven biển là cửa ngõ ra vào Giao Chỉ thuận tiện hơn cả.

Ngoài ra, theo Lê Quý Đôn thì có một Quỉ Môn quan ở mạn Tiên Yên và Mã Viện đã hành quân qua đó. Sách Vân đài loại ngữ của nhà bác học này có viết: “Sách Hoàn vũ ký chép rằng Quỉ Môn quan ở phía nam huyện Bắc Lưu, cách huyện 30 dặm, có hai tảng đá đối nhau. Đời Hán, Mã Viện đi đánh Lâm Ấp có lập bia tại đó”. Lại chép rằng: “Đời Tấn, ai sang Giao Chỉ đều phải đi qua Quỉ Môn quan, ở về phía nam cửa quan ấy lại càng nhiều chướng lệ. Nay xét huyện Bắc Lưu ở gần châu Tân Yên (nay là Tiên Yên). Quỉ Môn quan nói ở trên có lẽ là nơi đấy. Nay tục truyền bảo Quỉ Môn quan ở làng Quang Lang thuộc Ôn Châu, Lạng Sơn thì không phải. Sách sử chép Phục Ba Mã Viện tiến quân đi ven biển, gặp núi thì đẵn cây làm đường đi, hơn ngàn dặm mà dấu chân chưa thấy đến Lạng Sơn”1.

Vậy nếu Mã Viện có đi qua Quỉ Môn quan thì là Quỉ Môn quan này.

Dựa theo các thần tích mà đoán định thì chưa vượt quá biên giới bao xa, Mã Viện đã đụng độ với nghĩa quân Hai Bà (do Thánh Thiên chỉ huy?). Cuộc đụng độ này làm chậm lại bước tiến của hắn. Và có lẽ không chỉ một trận ở Quỉ Môn quan mà quân Hán còn phải chống chọi với những cánh nghĩa quân từ trước đã đóng ở dọc hành lang Tiên Yên - Phả Lại hoặc cả những đội quân vừa mới tập hợp khi đất nước lâm nguy.

Có một vài tài liệu lại nói rằng Thánh Thiên đưa quân tới tận Hợp Phố (Trung Quốc) tập kích Mã Viện. Nói vậy e không đúng: vì Thánh Thiên - theo thần tích đóng căn cứ ở khu vực này là làng Ngọc Lâm thuộc xã Tân Mỹ, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Sau khi đánh đuổi Tô Định, bà được Trưng Vương phái về đóng tại căn cứ đó và quản lĩnh công việc tuần phòng biên giới. Thực ra cũng không rõ đường biên giới ngày ấy như thế nào. Quận Giao Chỉ tiếp giáp với quận Thương Ngô hay quận Hợp Phố? Nhiều tài liệu lịch sử cũ nói Hợp Phố thuộc tỉnh Quảng Đông, nhưng đến thời Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì Hợp Phố lại thuộc tỉnh Quảng Tây. Nếu từ Ngọc Lâm mà sang Hợp Phố thì Thánh Thiên phải đưa quân vượt một đoạn đường dài tới năm trăm km, mà lại rất khó đi. Cụ thể là quân lính của Mã Viện đã phải vừa hành quân vừa phát cây, đánh đá, mở lấy đường mà đi. Cho nên khó có chuyện Thánh Thiên đánh tới Hợp Phố. Vả Hợp Phố lúc đó là nơi bè lũ Mã Viện tập trung hai vạn quân thủy và bộ, nếu bị tấn công thì sử Trung Quốc đã ghi.

Sự nhầm nhặt này có lẽ là trong thần tích có nói tới một địa điểm căn cứ của người cậu bà Thánh Thiên mà khi thì gọi là Ký Hợp, khi lại gọi là Hợp Phố. Nhưng Ký Hợp (tức Hợp Phố) này thuộc địa phận huyện Yên Dũng (tỉnh Bắc Giang) chứ không phải ở Trung Quốc. Bài “Thánh Thiên công chúa” của Nhật Nham in trên tạp chí Tri Tân số 38 (tháng 3-1942) viết theo thần tích của xã Ngọc Lâm có ghi cụ thể là Hợp Phố ở huyện Yên Dũng và sau khi người cậu bị Tô Định giết, Thánh Thiên coi sóc cả hai doanh Ngọc Lâm và Hợp Phố.

Như vậy Thánh Thiên không đánh tới quận Hợp Phố bên tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Nhưng nói thế không có nghĩa là nhân dân Hợp Phố (Trung Quốc) không chống lại quân Hán. Vì mới hai năm trước đó nhân dân quận Hợp Phố đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, nổi dậy đánh đuổi thái thú (đã nêu ở Chương ba). Do vậy lúc này Hợp Phố có thể cũng là đối tượng đàn áp trả thù của Mã Viện và để khỏi bị tiêu diệt thì nhân dân ở đây tất phải chống lại quân Hán.
_____________________________________
1. Bản dịch đã dẫn - tr.128.
Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6704



« Trả lời #37 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 05:50:01 PM »


TRẬN TÂY VU

Trận này không được chép trực tiếp trong thư tịch. Sử Việt Nam ghi vắn tắt nên đã đành là không có, nhưng sử Trung Quốc ghi có chi tiết hơn mà cũng không có. Vì trận này quân Hán thua.

Như đã nêu ở trên, quân bộ và quân thủy của giặc tụ họp lại ở Lục Đầu Giang - Phả Lại rồi sau đấy mới tỏa đi đánh các nơi. Riêng Mã Viện thì trước khi đến Lãng Bạc, y đã tới tấn công huyện Tây Vu mà khi đó trung tâm là Cổ Loa, kinh đô cũ của nước Âu Lạc. Vì Thủy kinh chú (q.37) có một câu cho phép suy luận, đoán định như vậy: “Mã Viện thấy miền Lãng Bạc đất cao, bèn từ Tây Lý (Vu) kéo quân đến đóng đồn ở đó”. Rõ ràng trước khi tới Lãng Bạc thì Mã Viện đã đóng ở Tây Vu. Đó là sự thực, vì Hậu Hán thư (q.86) có ghi một câu của Mã Viện nói với thuộc hạ: “Lúc ta đang ở giữa miền Lãng Bạc và Tây Lý (Vu), quân giặc chưa dẹp được, dưới thì nước lụt, trên thì mây mù, khí độc bốc lên ngùn ngụt, trông lên thấy diều hâu đang bay bỗng sa xuống nước chết...”.

Như vậy là Mã Viện từng ở Tây Vu, hẳn là chỉ huy cuộc tấn công thành huyện Tây Vu tức thành Cổ Loa. Nhưng y đã thất bại, vì “quân giặc chưa dẹp được”. Ông Đào Duy Anh có phán đoán: “Có lẽ Mã Viện nhằm thẳng tới Mê Linh kinh đô của ta bấy giờ nhưng có thể đến Tây Vu là căn cứ của An Dương Vương xưa kia và bấy giờ hẳn cũng là một căn cứ dụng binh quan trọng của nghĩa quân, Mã Viện bắt đầu gặp sự kháng cự kịch liệt nên phải lui quân về Lãng Bạc”1.

Có thể như vậy lắm. Vì như đã nêu ở trên, sau khi đánh đuổi Tô Định, Hai Bà Trưng vẫn quan tâm đến việc đề phòng giặc Hán trở lại xâm lược, đã phân phong các tướng lĩnh đi trấn giữ các địa bàn xung yếu. Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc, đất thánh của những chủ nhân ngành sản xuất “nỏ thần” và mũi tên đồng lợi hại, một căn cứ thủy bộ kết hợp kiên cố, kiểm soát cả một vùng trũng Lãng Bạc nên chắc chắn là phải được xây dựng thành một chốt chủ yếu của phòng tuyến bảo vệ Mê Linh từ phía tả ngạn sông Hồng - sông Đuống.

Dĩ nhiên chính sử không ghi cụ thể như vậy nhưng theo truyền thuyết và thần tích thì chiến cuộc có diễn ra ở vùng Cổ Loa. Như truyền thuyết ở làng Gia Lộc, một làng ở phía đông bắc thành Cổ Loa (nay thuộc xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội) có kể rằng tại Gia Lộc này có một đồn nghĩa quân Hai Bà và là đồn ngoại vi của Cổ Loa. Tướng chỉ huy là ông Đông Bảng. Ông này đã hy sinh ngay từ thời kỳ đầu khi quân Mã Viện mới tới. Ngày hóa là mùng 10 tháng Hai. Nếu ngày hóa là chính xác thì đó chính là khoảng trung tuần tháng 3 năm 42, ứng với thời gian Mã Viện đánh thành Cổ Loa.

Hoặc như thần tích Đức Bà ở làng Dâu (tức làng Cổ Châu nay thuộc xã Vân Hà, huyện Đông Anh, cũng ở phía đông - bắc Cổ Loa) có kể rằng Đức Bà tên là Vĩnh Huy cũng đã hy sinh ngay trên đất làng này trong một trận chiến đấu chống quân Mã Viện.

Cho nên rất có thể có trận quân Mã Viện đánh thành huyện Tây Vu (thành Cổ Loa) và đó là trận mở màn cho cuộc chiến mùa xuân năm 42. Ở trận này, Mã Viện chịu bó tay nên sau gần (hoặc hơn) một tháng đánh phá, hắn phải chuyển sang Lãng Bạc. Đó là vào tháng 4 năm 42.
_____________________________________
1. Cổ đại Việt Nam - Tập IV - tr.64.
Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6704



« Trả lời #38 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 05:51:22 PM »


TRẬN LÃNG BẠC

Các nhà viết sử thời xưa coi Lãng Bạc là nội thành Hà Nội. Như Toàn thư thì chú rằng Lãng Bạc ở phía tây Tây Nhai của La Thành. Cương mục thì gọi đích danh Lãng Bạc là Hồ Tây. Quốc sử diễn ca cũng nói như vậy:

Uy danh động đến Bắc phương
Hán sai Mã Viện lên đường tiến công
Hồ Tây đua sức vẫy vùng...

Sang thế kỷ XX, một số nhà nghiên cứu đã đặt lại vị trí Lãng Bạc.

H.Maxpêrô, năm 1918, trong bài “Cuộc viễn chinh của Mã Viện”1 đã chỉ định Lãng Bạc là vùng đồi núi huyện Tiên Du (nay thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh).

CI. Madrôn, năm 1937, trong bài “Xứ Bắc kỳ cổ”2 cũng công nhận như vậy.

Ông Đào Duy Anh, năm 1957, trong Cổ đại Việt Nam Tập IV - cũng tán thành kiến giải đó. Tới năm 1964, trong Đất nước Việt Nam qua các đời, ông bổ sung thêm: “Lãng Bạc hẳn là miền đồng sâu ở xung quanh huyện Từ Sơn ngày nay, xưa kia có lẽ còn sâu như hồ nên tên gọi là như thế. Ở phía nam huyện lỵ Từ Sơn có nhiều đồi là miền cao ráo nhất trong cả vùng ấy, có lẽ Mã Viện đóng quân ở vùng đó”. (Huyện Từ Sơn nay thuộc tỉnh Bắc Ninh).

Ông Đinh Văn Nhật, năm 1974, trong bài “Vùng Lãng Bạc thời Hai Bà Trưng” in trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử hai số 154, 155 đã phân biệt rõ Lãng Bạc “ở vào vùng hai bên bờ sông Cầu, ngay cạnh thị xã Bắc Ninh ngày nay” và “chiến trường Lãng Bạc gồm ba khu vực: một là vùng đồi thấp và bãi sông mà sau này gọi là vùng Tiên Du, hai là vùng đồi thấp trên bậc thềm có tên là Lãng Sơn nằm giữa ngã ba sông Thương - sông Lục Nam, ba là bậc thềm Cổ Loa. Trận đánh có tính chất quyết định có lẽ đã xảy ra ở vùng Tiên Du”.

Như vậy, cho tới nay các nhà nghiên cứu đã nhất trí với nhau là nơi diễn ra trận chiến lớn giữa nghĩa quân Hai Bà và quân Hán mà bấy lâu quen gọi là trận Lãng Bạc chính là vùng đồi núi xen lẫn đồng trũng thuộc huyện Tiên Du, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh.

Ngày ấy, Tiên Du thật là một vùng chiến lược. Điều dễ nhận thấy ngay là vùng này nằm trên trục giao thông đường bộ chính của thời bấy giờ, nối hành lang Móng Cái - Tiên Yên - Phả Lại với cố đô Cổ Loa. Trục này lại được tả phù hữu bật bằng hai con sông đi kèm hai bên và cũng đều dẫn tới Cổ Loa là sông Thiếp ở phía bắc và sông Đuống ở phía nam. Thật là tiện lợi trong việc phối hợp tác chiến giữa quân bộ và quân thủy.

Đây cũng là con đường mà theo văn học dân gian vào thời đại Hùng Vương nhân vật thần thoại Chàng Dóng đã hành quân đánh đuổi lũ giặc Ân, truy kích chúng tới tận bản doanh của chúng là núi Vũ Ninh tức núi Trâu Sơn (nay ở sườn núi này còn có một nửa tượng ngựa đá và cây cột đá gắn với chuyện Chàng Dóng).

Đây còn là con đường hành quân của Triệu Đà mà bản doanh của y cũng lại là núi Vũ Ninh và chính Triệu Đà cũng lại đã đóng quân ở vùng Tiên Du sau lần bại trận ở Cổ Loa. Cương mục có chép: “Khi Triệu Đà sang xâm lược, đóng ở núi Tiên Du. Thục Vương đem quân chống cự... Triệu Đà dời quân doanh đến núi Vũ Ninh”. Lĩnh Nam chích quái cũng chép: “Quân Triệu Đà thua to. Đã trú quân ở núi Trâu Sơn”.

Ngoài ra, vùng Tiên Du còn là nơi giáp ranh của nhiều huyện: bản thân vùng này là đất huyện Long Biên, lên mạn bắc là huyện Tây Vu, xuống phía nam qua sông Đuống đã là huyện Liên Lâu, sang phía tây là Chu Diên. Cho nên đóng ở Tiên Du, gặp thời cơ thì có thể tiến đánh các huyện lân cận một cách thuận lợi mà thất bại thì sẵn đường rút chạy về Trung Quốc cũng nhanh (như Tô Định đã từng rút chạy).

Thứ nữa, địa hình Tiên Du cũng phù hợp với yêu cầu hành quân của Mã Viện. Vì đối với một đạo quân xâm lược đi vào miền Bắc nước ta qua nẻo sông Bạch Đằng và hành lang bậc thềm ven biển thì đây là một vị trí có giá trị chiến lược lớn. Với những đồng trũng là những ruộng lúa nước mầu mỡ, vùng này là một kho của cải rất tiện cho việc cướp bóc của quân xâm lược. Ngoài ra, bên những đồng trũng lại là những đồi núi rải rác khắp chốn, như núi Chè 127m, núi Bát Vạn 98m, núi Phật Tích 83m, núi Lạn Kha 85m, núi Đông Sơn 67m, núi Long Khám 79m, núi Vân Khám 73m, núi Bất Lự 10m, núi Dạm 171m, núi Lim 23m... Đóng ở đây có thể phát huy lợi thế của cao điểm, dễ bề khống chế đối phương.

Thủy kinh chú có ghi cụ thể là: “Mã Viện thấy miền Lãng Bạc đất cao bèn từ Tây Lý (Vu) kéo quân đến đóng đồn ở đó”. Có thể Mã Viện đã rải quân khắp vùng này và có một thời gian án binh bất động, vừa để củng cố lại đội ngũ bị sứt mẻ ở Cổ Loa, vừa để thăm dò đối phương. Nhưng thời gian này không dài, vì vào tháng Ba âm lịch từ tháng 4 năm 42, nghĩa quân Hai Bà đã kéo tới giao chiến.
_____________________________________
1. L’expédition de Mayuan - trong BEFEO tập XVIII.
2. Le Tonkin ancien - trong BEFEO tập XXXVII.

Logged

...
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 6704



« Trả lời #39 vào lúc: 05 Tháng Hai, 2010, 05:52:34 PM »


Theo hai ông Nguyễn Văn Dị, Thanh Ba thì “Trưng Vương đã đem đại quân tổ chức thành trận thế phòng ngự sẵn ở Lãng Bạc, khi quân Đông Hán tiến đến thì đại quân của Trưng Vương chặn đánh. Như vậy trận đánh của Trưng Vương ở vùng Lãng Bạc là trận phòng ngự chặn đánh đại quân Đông Hán đang tiến công.”1.

Nhưng ông Trương Hữu Quýnh thì quan niệm ngược lại, coi đây là một trận tấn công của nghĩa quân Hai Bà: “Bấy giờ vào khoảng cuối xuân đầu hạ năm 43 (chính ra là năm 42 - N.V.P.). Quân Hai Bà đang được tập hợp và xem xét tình hình địch vì biết rằng thế giặc đang mạnh, chưa thể đánh ngay được. Hai Bà cũng muốn dựa vào thủy thổ của nước ta để đưa giặc vào thế bí và sau đó kéo quân đánh đồn. Quả thực những điều kiện thời tiết của nước ta cũng gây nhiều khó khăn cho giặc... Giữa lúc ấy Hai Bà Trưng kéo quân chủ động tiến công vào doanh trại giặc.”2.

Ý kiến của ông Trương Hữu Quýnh có phần hợp lý hơn. Bởi nếu bảo rằng Hai Bà đã đem đại quân tổ chức thành trận thế phòng ngự sẵn ở Lãng Bạc thì Mã Viện gặp đại quân này trước khi tới Tây Vu. Vì từ mạn biển đi vào thì qua Lãng Bạc rồi mới tới Tây Vu. Lãng Bạc nằm trên đường hành quân của giặc, nếu có nghĩa quân tại đây thì chiến sự đã phải xảy ra. Đằng này, như Thủy kinh chú đã ghi - Mã Viện thấy Lãng Bạc đất cao bèn từ Tây Vu kéo quân đến đóng tại đó - như thế có nghĩa là trong lần đầu đi qua Lãng Bạc để đến Tây Vu, Mã Viện không gặp đại quân Hai Bà. Mà cho tới sau trận Tây Vu (Cổ Loa), ở Lãng Bạc vẫn không có nghĩa quân nên Mã Viện mới kéo tới đóng đồn ở đó (và hắn sẽ đóng ở đấy khá lâu, trong suốt mùa mưa - tức mùa hè - năm 42).

Cho nên có thể là sau thắng lợi ở Cổ Loa, Hai Bà đã chủ động đưa đại quân tới Lãng Bạc tiến công giặc Hán.

Lúc ấy là cuối xuân, đầu hạ. Thời tiết đang chuyển. Trời nóng lên và mùa mưa bắt đầu. Khí trời oi bức và ẩm ướt, Mã Viện khốn đốn vì các bệnh thời khí phát sinh trong quân lính. Ngay một viên đại tướng là Bình Lạc hầu Hàn Vũ cũng đã chết vì bệnh ở Lãng Bạc. (Hậu Hán kỷ q.7).

Mã Viện có lúc đã tỏ ra khá mỏi mệt. Hậu Hán thư q.42 còn ghi lời của viên tướng già này nói với thuộc hạ sau khi ở Giao Chỉ về: “Ngày trước, khi ta còn hàn vi hăng hái muốn lập nghiệp lớn. Em họ ta là Thiếu Du thấy ta vất vả, thương hại can ta mà bảo rằng: “Người ta ở đời miễn được cơm no, áo ấm, cưỡi xe êm, đi bước chậm, làm duyện lại ở quận nhà, giữ phần mộ tổ tiên, được tiếng khen trong làng xóm thế là đủ lắm rồi. Ham giàu sang, thích công nghiệp là tự mình làm khổ mình”.

“Ta không cho lời ấy là lẽ phải. Tới khi phụng mệnh ra quân, lúc đang ở giữa miền Lãng Bạc và Tây Lý (Vu), quân giặc chưa dẹp được, dưới thì nước lụt, trên thì mây mù, khí độc bốc lên ngùn ngụt, trông lên thấy diều hâu đang bay bỗng sa xuống nước chết, nằm nghĩ đến lời Thiếu Du mới thấy là chí lý”.

Khi đó, thấy lời khuyên của Thiếu Du là chí lý tức là Mã Viện đang rất nản lòng. Cùng với những khó khăn do thời tiết bày ra là sự lúng túng về chiến lược. Mã Viện hẳn chưa tìm được một cách đánh có hiệu quả.

Giữa lúc đó nghĩa quân kéo tới tiến công. Đây là một sai lầm về chiến lược của những người lãnh đạo nghĩa quân! Vì quân Hán sang đánh Giao Chỉ với phương châm đánh nhanh để thắng nhanh, là phương châm quen thuộc của mọi đạo quân xâm lược. Với ưu thế về kỹ thuật chiến đấu, chúng rất mong sớm gặp đối phương để tác chiến nếu không nói là phải tìm cho ra ngay đối phương để tổ chức trận đánh. Cụ thể là Mã Viện đã xông thẳng đến Tây Vu. Chỉ vì không hạ được thành này (do sức kháng cự mạnh mẽ của nghĩa quân thạo cung nỏ, lại có thành lũy vững bảo vệ) nên hắn phải lui sang Tiên Du.

Để chống lại một đạo quân mà bộ phận nòng cốt đã từng chinh chiến nhiều năm lại có một chỉ huy dạn dày, từng trải, có nhiều kinh nghiệm tác chiến ở những hoàn cảnh, môi trường khác nhau như đạo quân Mã Viện mà Hai Bà lại dàn quân đánh theo trận địa chiến thì là thất sách. Nhất là quân đội của Hai Bà mới thành hình trong bão táp của khởi nghĩa chưa quá hai năm, còn thiếu nhiều kinh nghiệm.

Cho nên có thể nói rằng việc nghĩa quân tới đánh Lãng Bạc đã gỡ thế bí về chiến lược cho Mã Viện! Tên giặc già này tổ chức phản công với mọi sự thành thạo, quen tay và cuối cùng giành được thắng lợi!3 Theo Hậu Hán thư (q.24) trong trận Lãng Bạc này quân Hán đã chém hơn nghìn đầu và bắt hàng hơn một vạn. Những con số này tất có phần phóng đại, nhưng trận đánh hẳn là khá dữ dội. Quân Hán chết cũng không phải ít.

Bàn về sự thất bại của Hai Bà ở Lãng Bạc, ông Dương Minh có nhận định khá xác đáng: “Năm 43 (chính ra là năm 42 - N.V.P.), nếu Hai Bà Trưng không mang quân chủ lực đến Lãng Bạc mà lại tránh cuộc tấn công của Mã Viện, chờ cho Viện phải rải quân ra để chiếm giữ các nơi, nhất là rải quân ra để bảo vệ đường liên lạc tiếp tế từ Trung Quốc sang Việt Nam, rồi mới mang quân tỉa dần quân Hán, làm cho quân Hán càng ngày càng hao mòn, mỏi mệt, mất hết ý chí chiến đấu rồi cuối cùng mới tổng phản công tiêu diệt quân Hán hay đuổi chúng ra khỏi đất nước thì một tình hình khác sẽ có thể xảy ra. Chí ít Mã Viện cũng không có cơ hội tiêu diệt nghĩa quân, chiến tranh Việt - Hán sẽ kéo dài và một khi chiến tranh kéo dài thì thắng lợi cuối cùng chưa chắc đã là phía quân xâm lược.”4.

Nhưng dù sao thì trận Lãng Bạc, một trận đánh rất lớn so với mức độ phát triển của lịch sử bấy giờ đã khẳng định bản lĩnh và làm sáng tỏ truyền thống của dân tộc chúng ta: thà hy sinh tất cả chứ không để mật độc lập tự do.
_____________________________________
1. Bài “Tìm hiểu thêm về cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Đông Hán của nhân dân ta thời Hai Bà Trưng” trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 173.
2. Trương Hữu Quýnh – Lịch sử Việt Nam - Quyển 1 - Tập 1 - trang 92 - năm 1977.
3. Có thể lúc này Mã Viện còn nhận được cả viện binh - Vì Ch. Patris trong Essai d’historie d’Annam (lmp. Đắc Lập - Huế - 1922) cung cấp một chi tiết là ban đầu Mã Viện chỉ có hai vạn quân, sau được bổ sung thêm năm vạn quân. Theo Thủy kinh chú (q.37) thì Tây Thục cũng đưa quân xâm lăng nước ta hỗ thợ Mã Viện.
4. Dương Minh – Thử xét xem nguyên nhân gì khiến cuộc kháng chiến của Trưng Trắc và Trưng Nhị phải thất bại - Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 36.

Logged

...
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.16 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM