chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #20 vào lúc: 30 Tháng Một, 2010, 08:26:56 PM » |
|
3. VỀ TRUYỀN THUYẾT
Ở vùng Kẻ Lói này có lưu truyền những chuyện kể về Hai Bà Trưng mà gần đây có người - dường như một ông đồ hoặc ông hương sư - đã ghi lại thành văn bản. Nhưng văn bản này có lắm nhầm lẫn, nhất là lại thêm thắt nhiều chi tiết phi lịch sử, hiện đại hóa1. Dưới đây chỉ trình bày lại phần cốt lõi:
“Sau khi Thi Sách bị Tô Định hại, bà Trưng Trắc trở về quê cha là Kẻ Lói, ở tại xóm Nội Nhà2. Rồi bà vào vùng núi mộ quân, luyện tập. Sau ba năm tích thảo dồn lương, bà dựng cờ khởi binh. Nay ở khu vực Khoang Lọng có cái giếng Cột tương truyền là nơi dựng cột cờ của nghĩa quân. Hai Bà còn lập một số đồn trại ở quanh Kẻ Lói: phía Bắc có một đồn quân ở làng Cố Thủ (còn gọi là Hương Trung), phía nam có một đồn tượng binh đóng ở làng Trúc Voi v.v... Giữa cánh đồng có Đồng Kho vốn là nơi tích lương thực, vũ khí. Bà Trưng Nhị đóng ở bên bờ trái sông Tích, chỗ Bến Nghệ nhìn sang, nơi đó nay còn một tên gọi là xóm Nhà Bà.
Vào một ngày mùng 6 tháng Mười Một, Hai Bà khao quân ở Ao Sen (nơi đó, sau dân lập quán thờ Hai Bà). Quân đông không đủ nồi nấu cỗ, phải làm cỗ thịt lột, tức là trâu lột xong da thì đặt thịt lên trên da mà nấu. Do đó cho tới trước Cách mạng tháng Tám, hàng năm vào ngày 6 tháng Mười Một làng vào đám vẫn có lệ làm tiệc trâu lột”.
Bấy nhiêu lời kể có từ xa xưa hẳn không phải là hoàn toàn bịa đặt, chắc chắn là một cơ sở thực tế. Khắp đồng bằng sông Hồng không có làng nào tự nhận là quê hương của Hai Bà Trưng, trừ làng Hạ Lôi - Kẻ Lói này và Hạ Lôi bên Yên Lãng. Vậy mà Hạ Lôi - Kẻ Lói đích thực thuộc huyện Mê Linh, theo sử sách là huyện quê của Hai Bà.
Cho nên chủ trương của Đinh Văn Nhật (coi Hạ Lôi - Kẻ Lói là quê gốc của Hai Bà) có một giá trị nhất định. (Thực ra Đinh Văn Nhật không hoàn toàn phủ định Hạ Lôi bên Yên Lãng mà ông cho rằng Hạ Lôi đó là “hậu thân” của Hạ Lôi - Kẻ Lói tức là cũng đã có tới non hai nghìn năm lịch sử). ____________________________________ 1. Ông cụ Hai Tấn ở xóm Khoang Mè đã tìm cho chúng tôi đọc tài liệu này. Xin cảm ơn nhiệt tình giúp đỡ ấy. Nhưng tài liệu có nhiều sự lầm lẫn, như chép rằng Thi Sách làm tri phủ Vĩnh Tường, lạc tướng cha của Hai Bà Trưng làm thứ sử Vĩnh Yên, rồi khi Hai Bà khởi nghĩa có nằm mộng thấy thần cho một bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú, hoặc Trưng Nhị là thứ hậu của Thi Sách v.v… Về niên đại thì đối chiếu âm lịch với dương lịch một cách tùy tiện, sai nhiều. Ví như khi kể về việc Tô Định sang làm thái thú Giao Chỉ tài liệu này viết: “Năm Giáp Ngọ - 11 trước Tây lịch, Tô Định sang Giao Chỉ, cho Thi Sách làm thứ sử (!!)”. 2. Xóm Nội Nhà nay không phải là khu dân cư mà là khu đất canh tác bên đường từ Cổ Chềm sang Trúc Voi.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #21 vào lúc: 30 Tháng Một, 2010, 08:30:54 PM » |
|
4. VỀ ĐỊA DANH
Ở Hạ Lôi - Kẻ Lói có những địa điểm tương truyền là dấu vết của cuộc đấu tranh chống giặc Hán mà tên gọi gắn với sự tích chiến đấu. Như xóm Mương Ốc được coi là nơi có hào sâu, có vọng gác, mỗi khi giặc kéo đến thì thổi ốc, thổi tù và làm hiệu. Hoặc có khu đất mang tên Ao Xâu, tương truyền là nơi giặc xâu tay người lại rồi lấy mã tấu dóc một loạt thủ cấp. Lại có chỗ gọi là Đấu Đống tức nơi mà giặc giết dân làng rồi vun thành một đống đầu chôn chung vào một hố. Sự việc này xảy ra ngày mùng 1 tháng Tư nên trước đây, hàng năm làng có lệ làm cỗ chay vào ngày đó để cúng cô hồn.
Nếu nói ra khỏi địa giới Hạ Bằng thì chỉ vài trăm mét về phía đông thì có xóm Trúc Voi tương truyền là nơi nuôi voi của nghĩa quân Hai Bà, có xóm Đồng Kho tương truyền là kho lương thảo và vũ khí, có xóm Đồng Táng là nơi an táng nghĩa quân tử trận. Cả ba xóm này nay thuộc xã Đồng Trúc, xã láng giềng của Hạ Bằng, cũng thuộc về huyện Thạch Thất.
Về xã láng giềng phía tây là xã Tân Xã (cũng thuộc huyện Thạch Thất) có thôn Rộc Vừa (Mục Uyên) ở sát ngày địa giới Hạ Lôi, thờ Lý Minh theo thần tích là một tướng của Hai Bà Trưng.
Ở cạnh bờ sông Tích nay thuộc Tân Xã có khu đất gọi là Quán nhà vươn (vương?) tương truyền có dấu vết thành lũy cổ, hiện còn những mô đá được coi là móng thành.
Xa hơn một chút, cách địa giới Hạ Lôi khoảng 3km về phía đông nam, ở xã Phú Mãn thuộc huyện Quốc Oai, Hà Tây, có khu vực tên là Đồng Vỡ, tương truyền là nơi quân Hán bị quân Hai Bà đánh tan vỡ, lại có xóm Thắng Đầu tương truyền là nơi nghĩa quân Hai Bà đánh thắng quân Hán trận đầu.
Thực ra, cũng như ở bên Hạ Lôi - Yên Lãng, các địa danh, địa điểm được gắn vào các sự kiện lịch sử cũng chỉ là những chứng tích huyền kỳ, chưa phải trường hợp nào cũng là cứ liệu chắc chắn. Chưa có hoàn cảnh và phương tiện để giám định tư liệu này, chúng tôi ghi lại ở đây chỉ với mục đích bảo tồn tư liệu.
5. VỀ NHỮNG DI VẬT CỔ
Tháng 6 năm 1979, ở xã Hạ Bằng phát hiện một số vật cổ bằng đồng thau. Nơi phát hiện là một gò đất cao ở giữa cánh đồng về phía tây khu dân cư. Gò ấy tên là gò Giếng Sãi. Đây là sự phát hiện tình cờ, nhân đào đất có người nhận ra các hiện vật này ở sườn gò. Tất cả gồm một ngọn giáo và 44 rìu to nhỏ khác nhau. Hầu hết là rìu lưỡi xéo, được xếp đặt theo một thứ tự nhất định, cán quay lên trên cùng về một phía, rìu lớn và ngọn giáo được xếp ở giữa tất cả như được bó gọn trước khi chôn.
Theo nhận xét sơ bộ của giới khảo cổ thì các công cụ sản xuất kiểu vũ khí này thuộc về thời kỳ đồng thau, muộn nhất cũng là tương đương thời kỳ Hai Bà Trưng1.
Hiện nay ở khu Dồi De cạnh bờ sông Tích trong một hố sâu có hai con voi đá đục dở (chưa có chân). Theo lời kể truyền miệng thì đây là đôi voi mà dân làng Hạ Lôi - Kẻ Lói định đem sang làm quà cho huyện Chu Diên, nơi quê cũ của ông Thi Sách. Nhưng tạc chưa xong thì Hai Bà thất trận nên mọi việc ngừng lại. Kể ra bằng chất liệu đá ong mà tồn tại hai nghìn năm thì e cũng khó, cho nên trong khi chưa xác định được niên đại cụ thể thì chỉ có thể coi đôi voi này là một chứng tích huyền thoại.
Nói rộng sang vùng lân cận thì năm 1977, tại xã Đồng Trúc láng giềng của xã Hạ Bằng, có đào được một trống đồng, trống để ngửa, bên trong có một thanh kiếm sắt (đã rỉ và gầy). Nơi đào trống cách địa giới Hạ Bằng khoảng 1000 mét. Theo nhận xét sơ bộ của giới khảo cổ thì đây là trống đồng dạng trung gian giữa loại II và loại IV Hêgơ, tức là sản phẩm đầu Công nguyên2.
Ngoài ra, ông Nguyễn Danh Phiệt trong luận văn Khôi phục và nghiên cứu lịch sử chân thực cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (lưu tại Ban Sử - Viện Thông tin khoa học xã hội) cho biết rằng ở xã Tuyết Nghĩa nay thuộc huyện Quốc Oai (Hà Tây), cách Hạ Bằng không quá 2km đường chim bay, nơi đây có phát hiện nhiều mộ Hán trên các gò gọi là Tam Tinh, Thất Tinh... cùng với nhiều mũi tên đồng, giáo mác và cả gương đồng nữa. Tại đồi Giáp, xã Đồng Yên còn có ngôi đền thờ bà Mai Thị Trang tương truyền là tướng của Hai Bà. Cạnh đền vẫn còn ngôi mộ bà Trang. Cách mộ một đoạn là nơi chôn yên cương của con ngựa chiến của bà. Cách đây gần một thế kỷ có người đào được ở chỗ này một thanh kiếm sắt và khoảng bảy chục cái lục lạc bằng đồng.
Như vậy thì bằng vào tư liệu khảo cổ học, vùng Kẻ Lói và lân cận vào đầu Công nguyên là những khu vực dân cư có cả người Việt và người Hán cư trú. Điều này có thể gợi ý về một đô úy trị hoặc trị sở của một huyện hay một quận thời đó.
Tóm lại, chủ trương của Đinh Văn Nhật đặt huyện Mê Linh đời Hán ở bờ phải sông Hồng - từ các huyện Hạ Hòa, Cẩm Khê của tỉnh Phú Thọ, qua các huyện phía tây của Hà Nội, tới Chương Mỹ, Hoài Đức - là dựa trên các thư tịch xưa của những tác giả có uy tín. Đóng góp mới của Đinh Văn Nhật chính là sự chỉ định trung tâm của huyện Mê Linh ấy là vùng Kẻ Lói với một loạt các làng Hạ Lôi, Vân Lôi, Trạch Lôi.. nơi giáp ranh các huyện Thạch Thất, Quốc Oai, Lương Sơn. Nơi đó đồng thời cũng là quê hương của Hai Bà Trưng. Sự chỉ định này, chủ yếu là bằng phương pháp địa lý học lịch sử có kết hợp phương pháp sử học, ngay từ khi mới phát biểu (năm 1972) đã được giới nghiên cứu chú ý. Đành rằng việc kiểm nghiệm tính chính xác của một phát hiện hoàn toàn mới mẻ về cổ sử đòi hỏi một thời gian đáng kể và tuy trong chủ trương trên cũng có một vài sơ xuất, rõ nhất là việc tác giả quá nệ vào các địa danh Hán - Việt nên ở đôi chỗ lập luận có giảm tính thuyết phục3, nhưng nói chung, cho đến nay những kết quả khảo sát thực địa, những truyền thuyết, ngọc phả mới được tìm ra những di vật khảo cổ, những dấu vết vật chất v.v... ở vùng này đã bổ sung, hỗ trợ không ít cho chủ trương đó, khiến nó trở nên một giả thuyết khoa học có nhiều khả năng tiếp cận với chân lý lịch sử. ____________________________________ 1. “Phát hiện một số đồ đồng ở Hạ Bằng huyện Thạch Thất” Nguyễn Thị Dơn - “Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1979” – tr. 100. 2. Phát hiện trống đồng Đồng Chúc - Nguyễn Văn Huyên - Hà Văn Thắng - “Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1978” tr.154. 3. Như trường hợp tác giả cho rằng những làng có chữ Trưng trong tên gọi như Vĩnh Trưng, Vân Trưng, Thế Trưng... (huyện Yên Lạc) là có liên quan đến tộc danh Trưng. Thực ra những tên Hán - Việt xuất hiện rất muộn. Các làng trên vốn có tên Nôm là Kẻ Dưng, như vậy tất không liên quan gì tới họ Trưng của Hai Bà. Hoặc do dựa vào một thông tin sai của Cl. Madrôn - là ở Hạ Lôi (Yên Lãng có đầu Đầu Bằng Thượng, ông Đinh Văn Nhật cho đó là ký ức về hai làng cổ Thắng Đầu và Bằng Lộ. Thực ra ở Hạ Lôi là đất Đầu Bàng Thượng!)
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #22 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:01:07 PM » |
|
Chương Ba CUỘC KHỞI NGHĨA NGUYÊN NHÂN Giải thích về nguyên nhân cuộc khởi nghĩa, một số sử sách cho rằng do Tô Định giết Thi Sách mà Hai Bà dấy binh, như Đại Việt sử Kí tiền biên (q.3) chép: “Chồng bà Trắc bị (Tô Định) giết, bà Trắc sinh thù”, hoặc như Cương mục chép: “Thái thú Tô Định là người tham bạo, giết chồng bà (Trưng Trắc), bà cùng em là Nhị cử binh đánh châu trị”. Thực ra, không thể cắt nghĩa nguyên nhân của một cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn như cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bằng việc thù hận cá nhân. Đành rằng ở đây việc Tô Định giết Thi Sách còn có nghĩa là đánh vào giai cấp quý tộc bản địa, với âm mưu tiêu diệt các lạc tướng là hình tượng tiêu biểu cho sự tồn tại của ý thức tự lập dân tộc Việt nhưng nếu không phải là sự vươn mình của cả một dân tộc nhằm giải quyết mối mâu thuẫn cơ bản giữa dân tộc mình và chính quyền đô hộ đã đến độ chín thì cuộc khởi nghĩa khó mà thành công. Vả cũng có những sách ghi là bà Trưng Trắc đã cùng chồng mưu việc lớn. Như Thủy kinh chú (q.37) còn chép: “Trắc cùng Thi (Sách) khởi nghĩa”. Hoặc như Thiên Nam ngữ lục có kể rằng Trưng Trắc khi ấy còn ở nhà đã căm giận “Tô Định gian manh”, tới lúc lấy Thi Sách thì cả hai vợ chồng “toan đường mở nước dựng nên nghiệp nhà”, do đó Tô Định cất binh đàn áp. Như vậy lại là bà Trưng Trắc trù tính việc khởi binh khi Thi Sách còn sống. Cho nên việc Thi Sách bị giết hại, nếu đúng, chỉ là cái cớ, cải nguyên nhân trực tiếp. Cuộc khởi nghĩa còn có những nguyên nhân sâu xa hơn. Một số sử sách có đưa ra những cách lý giải khác. Như Toàn thư ghi: “Vua (bà Trưng Trắc) khổ vì Tô Định dùng pháp luật trói buộc (nguyên văn: thằng dĩ pháp), lại thù Định giết chồng, bèn cùng em là bà Nhị khởi binh” 1. Linh Nam chích quái cũng chép tương tự: “Bấy giờ thứ sử Giao Châu (thực ra là thái thú Giao Chỉ) là Tô Định, tham lam tàn bạo, người trong châu quận khổ vì hắn. Bà chị giận, rủ em cất quân đánh hãm Giao Châu” 2. Sử Trung Quốc cổ cũng ghi như vậy. Hậu Hán thư (q. 86) ghi: “Trưng Trắc là con gái lạc tướng Mê Linh, gả làm vợ Thi Sách, người huyện Chu Diên, rất hùng dũng. Thái thú Giao Chỉ Tô Định dùng pháp luật trói buộc (dĩ pháp thằng chi). Bà oán giận nên làm phản”. Tư trị thông giám (q.43): “Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng pháp luật trói buộc. Trưng Trắc oán giận”. Việt kiệu thư (q.3): “Thái thú Tô Định tham lam độc ác dùng pháp luật trói buộc, Trưng Trắc giận, cùng em là Nhị làm phản”. An Nam chí (q.2): “Định tham bạo đến nỗi người con gái Giao Chỉ là Trưng Trắc, Trưng Nhị làm phản”. Theo các tài liệu trên thì nguyên nhân cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là do Tô Định tham lam bạo ngược, dùng pháp luật (của chính quyền ngoại tộc Đông Hán) trói buộc dân Giao Chỉ, có ý nghĩa là đánh vào truyền thống của dân Việt. Tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu của cuộc khởi nghĩa này, như đã sơ bộ đề cập tới ở Chương một chính là chính sách áp bức bóc lột và đồng hóa của nhà Đông Hán tới những năm đầu Công nguyên đã trở nên quá tàn tệ, thâm độc, đẩy nhân dân Giao Chỉ đến chỗ khốn cùng. Thảm họa bị diệt vong, diệt chủng là điều mọi người đều cảm nhận thấy và không thể cam chịu mà phải vùng lên tự cứu! Đó chính là đáp số mà người Giao Chỉ đã tìm ra qua thực tế cuộc sống. Cho nên những hành vi bạo ngược của Tô Định chỉ là mồi lửa làm bùng cháy cái bể dầu đang âm ỉ sôi. Thật ra thì Tô Định là một gã khét tiếng tham lam. Ngay Mã Viện cũng có nhận xét “Tô Định giương mắt mà trông tiền”. Câu nói hình ảnh đó đã khái quát tính cách của Tô Định. Đã “giương mắt trông tiền” thì còn từ một thủ đoạn nào mà chẳng dùng để bóp nặn, đục khoét cướp đoạt tài sản của dân, trấn áp dân. ____________________________________ 1. Bản dịch đã dẫn - tr.91. 2. Bản dịch đã dẫn - tr.62.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #23 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:02:06 PM » |
|
Việc mà sử cũ gọi là “dùng pháp luật trói buộc” người dân thì hẳn là chỉ việc Tô Định áp dụng luật Hán để trị người Việt. Thực tế đương thời là luật Hán khác luật Việt. Mã Viện sau đó từng “tâu hơn mười việc về luật người Việt khác với luật người Hán”. Rõ ràng là giữa hai hệ thống luật pháp của hai nước có khác nhau1. Bất chấp phong tục, tập quán và truyền thống của người Việt, Tô Định đã sử dụng luật Hán làm công cụ trấn áp, khủng bố và trên hết là nhằm phủ định sự tồn tại của người Việt. Như vậy không chỉ là “trói buộc” người dân Việt mà cả tầng lớp quý tộc bản địa (lạc hầu, lạc tướng) cũng bị đụng chạm, quyền hành của họ bị hạn chế lại.
Tuy nhiên, Tô Định dù tham bạo, hà khắc như thế thì cũng chỉ góp phần đẩy sự bất mãn thêm mâu thuẫn giữa nhân dân và chính quyền đô hộ vốn nảy sinh từ lâu và trở thành nghiêm trọng ít ra là từ thời Tích Quang.
Như đã nêu ở Chương một, Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ từ đời Hán Bình đế (1 đến 5 s.c.n) và ở tới năm 34. Theo ghi chép của sử Trung Quốc thì Tích Quang đã đón nhận các quý tộc sĩ phu Hán tộc ồ ạt lánh nạn Vương Mãng (8 đến 23 s.c.n) và tìm cách cướp ruộng đất của các làng xóm Lạc Việt, Âu Việt để cấp cho bọn đó lập trang trại riêng. Theo sau sự việc này là một loạt người dân bản địa bị biến thành nông nô, nô tì cày ruộng và hầu hạ các “chủ nhân” Hán tộc.
Như vậy, người lao động ở Giao Chỉ bị mất đất, bị nô lệ hóa mà các lạc tướng cũng thấy phạm vi quyền hành của mình bị thu hẹp. Tích Quang còn phối hợp với các sĩ phu Hán tộc mở trường dạy học, truyền bá lễ giáo phong kiến Nho gia, hình thành một hệ tư tưởng hoàn toàn xa lạ đối với người Việt và làm nảy sinh một tầng lớp Nho sĩ bản xứ trực tiếp giao thiệp, phục vụ chính quyền đô hộ. Điều này cũng khiến các lạc tướng bất bình vì một bộ phận dân chúng tuột ra khỏi vòng kiểm soát của họ. Có tài liệu còn nói trước đó số quân lính đồn trú tại các thành huyện, thành quận và vài chốt khác toàn là người Hán thì bấy giờ Tích Quang tuyển thêm cả người bản địa vào. Điều này có thể tin được vì năm 30, nhà Hán bãi bỏ chức đô úy và đô úy thừa (là hai chức trưởng và phó chỉ huy quân đội, coi việc canh phòng trị an), cho thái thú kiêm giữ cả. Được toàn quyền, lại có chủ trương “dĩ Man trị Man” Tích Quang rất có thể tạo ra một cơ cấu lính ngụy tay sai để tiếp tay đàn áp dân Việt có hiệu quả hơn2.
Như thế, ách trực trị dưới thời Tích Quang đã thêm xiết chặt, cuộc sống nhân dân Giao Chỉ càng bị bóp nghẹt mà quý tộc bản địa cũng thêm nhiều bất mãn. Ngoài ra, như đã nêu ở trên, đây là thời điểm mà Hán Quang Vũ rất muốn đồng hóa nước Âu Lạc để bước đường bành trướng xuống phương nam đỡ bị trở ngại.
Cho nên, đến thời Tô Định, với chủ tâm thực hiện ý đồ cuồng vọng của “hoàng đế”, với tính cách tham bạo, độc ác tên thái thú này chỉ là kẻ cuối cùng đem lửa đến cho dầu. Bằng quyền lực và pháp luật hà khắc, hắn thẳng tay vơ vét, đàn áp nhân dân, đồng thời chèn ép, ràng buộc các lạc tướng huyện lệnh. Những ai có ý chống đối đều bị hắn trừng trị hoặc thủ tiêu. Chính sử chỉ ghi có vụ Tô Định sát hại Thi Sách. Nhưng ở nguồn thần tích ngọc phả của Hà Tây và Vĩnh Phúc thì khá nhiều bản ghi tội trạng này của Tô Định như thần tích làng Nghĩa Lộ (xã Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức) kể rằng Tô Định đã giết Nguyễn Viên là trưởng doanh Cổ Châu (vùng Thanh Oai), vì ông này không chịu phục tùng. Thần tích làng Cổ Ngõa (xã Phương Đinh, huyện Đan Phượng) cho biết Tô Định đã giết Nguyễn Anh là quan doãn ở Đan Phượng vì ông không chịu nộp thuế cho thái thú. Rồi nào là Đinh Đạm là trưởng bộ hộ Vũ Ninh (theo thần tích làng Bạch Trữ, xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh), Hùng Linh lạc tướng ở Hạ Trì (theo thần tích làng Hạ Trì, xã Liên Hà, huyện Đan Phượng), Cao Cự là lại viên ở Thiên Trường (theo thần tích làng Tháp Thượng, xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng) v.v... đều là những nạn nhân của chính sách khủng bố của Tô Định.
Nhưng trong thực tế, sự xiết chặt ách thống trị đã không thể làm cho người Việt sợ hãi mà chỉ làm cho mâu thuẫn giữa người Việt và chính quyền Hán thêm sâu sắc. Cuối cùng, sự căm phẫn chứa chất của quần chúng đã trào dâng tạo thành nhiều cuộc nổi dậy lớn nhỏ ở nhiều địa phương để rồi quy tụ lại ở cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo. ____________________________________ 1. Sẽ nói rõ hơn ở phần sau. 2. Dưới thời Tích Quang thực đã có hoặc chưa có bộ phận ngụy quân thì cần có thêm tài liệu gốc, nhưng dưới thời Tô Định - theo truyền thuyết - thì đã có và không phải là ít. Thiên Nam ngữ lục có kể là sau khi phá tan quận thành thì Hai Bà có công bố một số chính sách, trong đó có chính sách với ngụy quân: bao nhiêu sĩ tốt ngày trước bị Tô Định bức vào lính thì bây giờ ai muốn về quê sẽ cho về, ai muốn theo khởi nghĩa thì cho theo.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #24 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:03:08 PM » |
|
NHỮNG CUỘC NỔI DẬY Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG Tới thời Tô Định cầm quyền, người dân Việt do cống nạp, lao dịch, thuế má... quá nặng nề nên rất mực cơ cực. Ách cai trị của chính quyền đô hộ thêm trực tiếp và xiết chặt hơn trước khiến các lạc tướng và quý tộc địa phương cũng bị chèn ép hơn. Thực tế đó đã làm nổ ra nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân ở nhiều vùng khác nhau. Sử Trung Quốc không ghi các trường hợp này nhưng nếu như ở thời Tây Hán, nhân dân ta đã từng nổi dậy chống bọn đô hộ - điều này sử Trung Quốc có ghi 1 - thì tới thời Tích Quang, Tô Định tất không bao giờ chịu bó tay. Sử Việt Nam thì bộ ra đời sớm nhất cũng là sau Công nguyên mười bốn thế kỷ nên không ghi được gì về những cuộc nổi dậy tất phải có này (Ngay cuộc khởi nghĩa của Hai Bà mà cũng còn chép rất sơ lược). Chỉ có truyền thuyết dân gian, kho bảo lưu những ký ức về lịch sử của người đời xưa là còn giữ được một vài hình ảnh của thời kỳ ấy: thần phả, thần tích (một hình thức văn bản hóa của truyền thuyết) của một số làng vùng trung châu còn ghi lại sự tích đánh giặc Hán trước khi Hai Bà Trưng dấy nghĩa của một số thủ lĩnh nghĩa quân. Đành rằng thần tích, ngọc phả có nhiều chi tiết hoang đường, hư cấu nhưng vẫn chứa một cốt lõi lịch sử, vẫn có một nguyên mẫu trong thực tế. Có điều là tách lọc được cái cốt lõi, cái nguyên mẫu ra khỏi mớ hỗn độn của những sự việc do đời sau bịa đặt, gán ghép thì lại không phải đơn giản mà là một công phu giám định nghiêm túc phối hợp những phương pháp khảo sát khác nhau của nhiều bộ môn khoa học. Ở đây chưa làm được việc đó nhưng để khỏi mai một nguồn tư liệu đáng quan tâm nên những trang dưới đây sẽ là phần tóm tắt sự tích một số nhân vật truyền thuyết đứng đầu trong những phong trào nổi dậy của quần chúng ở châu thổ sông Hồng trước khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa. CHÀNG HỐI Làng Thịnh Kỷ ở huyện Yên Lãng nay thuộc xã Tiền Châu, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc có chuyện kể về Đông Hối đại vương. Sự tích như sau: Ở động Bích Uyển thuộc huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, bộ Hải Dương có ông Nguyễn Huyên từng làm quan ở Ái Châu. Bị giặc Hán đè nén, ông bỏ chức về ẩn ở động Bích Nham mưu việc cứu nước. Nhưng ý nguyện chưa đạt thì ông bị bệnh qua đời. Con trai ông tên là Hối nguyện nối chí cha. Hối tìm kết bạn với những người cùng chí hướng. Chàng lập được một đội quân gồm năm trăm người. Sau một thời gian luyện tập, họ tiến đánh đồn giặc. Nhưng có tới hàng chục trận mà không thắng. Chàng Hối thấy cần phải có một kế sách khác. Chàng bàn với nghĩa quân tạm ngừng hoạt động để chàng đi tìm một phương lược mới. Hối lên đường, đến với cậu ruột là ông Phạm Côn Huyền ở trang Ký Hợp (Trang này sau đổi ra là làng Yên Lãng - tên làng này được mượn để đặt cho huyện Yên Lãng - nhưng rồi làng Yên Lãng lại đổi ra là Lý Hải và cắt về huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay). Lúc này ông Huyền cũng đang mưu việc cứu nước, đã chiêu mộ được một nghìn nghĩa sĩ. Nhưng Hối bàn rằng cần mở rộng căn cứ, quân số cũng cần đông hơn. Thế là hai cậu cháu chia nhau đi cổ động nhân dân quanh vùng. Hối đến trang Ngọc Kỷ (nay là làng Thịnh Kỷ), thấy thế đất có thể dụng võ, liền cùng nhân dân ở đây bàn cách đắp đồn trại chống giặc Hán. Trai gái quanh vùng được tin, rủ nhau tới gia nhập nghĩa quân. Các nghĩa sĩ bên Đông Triều cũng kéo sang tu hội. Ông Huyền cũng thuyết phục được bà con vùng khe động ở chân núi Tam Đảo lập đồn chống lại quân Hán. Thế là từ đó hình thành một căn cứ kéo dài từ sông Cà Lồ đến giáp Tam Đảo mà hai đại đồn là Ngọc Kỷ và Ký Hợp. Biết tình hình đó, thái thú Hồ Điển (?) tới đánh nhưng không sao phá nổi. Sau nhiều phen hao lính tổn quân. Hồ Điển bị cách chức. Tô Định sang thay. Tên này cũng có đôi ba lần tới đánh Ký Hợp và Ngọc Kỷ nhưng không thắng. Hắn phải thu quân chờ một cơ hội... Chàng Hối về Đông Triều trù liệu lập lại căn cứ ở quê nhà. Lợi dụng thời cơ này, Tô Định thúc quân đánh Ký Hợp và Ngọc Kỷ. Ở Ký Hợp, ông Huyền chết trong chiến đấu. Nhưng ở Ngọc Kỷ thì tuy vắng chủ tướng song do đã có phòng bị nên Tô Định không hạ nổi. Khi Hối trở lại, đồn trại vẫn vững vàng. Cho tới khoảng một năm sau, được tin Hai Bà Trưng khởi binh, chàng Hối liền đưa hai nghìn quân bản bộ tới Hát Môn tụ nghĩa. Chàng được giao chỉ huy tiến quân đi đánh quận thành... Thành công rồi, theo lời tâu trình của Hối, Trưng Vương định đô tại Ký Hợp. Khi Mã Viện sang xâm lược, chàng Hối lập công ở Nam Hải môn cự chiến. Quân Hán đánh ba trận thua cả ba. Mã Viện gửi biểu tấu về vua Hán xin viện binh. Vua Hán ra lệnh phải dùng mưu. Mã Viện làm ra vẻ sẽ chuyển sang đánh chính ở thượng đạo qua các đất Côn Lôn, Tụ Long, Bảo Lạc... Trưng Vương điều chàng Hối lên trấn thủ mạn Bắc. Thế là Mã Viện lọt được vào trung châu, đánh Lãng Bạc rồi tới Cấm Khê. Hai Bà tử trận. Chàng Hối rút vào Cửu Chân. Giặc Hán chiếm nơi này. Hối lại trở ra Ngọc Kỷ. Lúc này chàng chỉ còn có hai trăm thủ túc. Chàng vẫn quyết tiếp tục chiến đấu. Nhưng chỉ ít ngày sau đó, quân giặc ập tới. Không kịp trở tay, Hối chỉ đủ một ngựa một gươm lao vào quân giặc. Cuối cùng bị thương nặng, Hối thúc ngựa đi xuống sông Cà Lồ mà hóa. Đó là ngày mùng 10 tháng Chín. Qua sự tích trên, có thể lọc ra một cốt lõi là trước khi Hai Bà Trưng truyền hịch, đã có một cánh nghĩa quân hoạt động ở khư vực từ sông Cà Lồ đến chân núi Tam Đảo. ____________________________________ 1. Đã nói ở Chương một.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #25 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:05:24 PM » |
|
THIÊN BẢO - TRẦN NANG Làng Thái Lai tên Nôm là Kẻ Sải nay thuộc xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc. Làng Phú Mỹ xưa là trang Toàn Liệt, tên Nôm là Kẻ Sặt nay thuộc xã Tự Lập cùng huyện. Ở hai làng này có câu chuyện về vợ chồng Hùng Thiên Bảo và Trần Nang. Trần Nang theo mặt chữ trong thần tích thì là Trần Nương nhưng dân làng gọi kiêng là Trần Nang. Cô là con gái ông Trần Hậu người làng Thái Lai. Khi đó có một hào trưởng ở địa phương tên là Đinh Công Dũng tới hỏi Trần Nang làm vợ. Thấy Dũng là người tham bạo nên ông Trần Hậu không gả. Từ đấy Dũng sinh thù. Ít lâu sau, có ông Hùng Trọng, người trang Toàn Liệt, làm bộ chủ ở Hải Dương, nhân về thăm quê thấy Trần Nang đẹp người đẹp nết liền dạm hỏi cho con trai là Thiên Bảo. Và sau đó ít lâu đám cưới được tổ chức. Nhưng giữa lúc đón dâu thì Đinh Công Dũng đem thủ hạ tới đốt phá trang ấp. Thiên Bảo liền xuất trận, chém chết Dũng. Bọn thủ hạ của Dũng sau đấy theo quân Hán. Chúng ton hót tâu nạp, dẫn bọn này về tàn phá Thái Lai và Toàn Liệt, giết ông Trần Hậu. Thế là thù riêng hòa với thù chung, Hùng Thiên Bảo - Trần Nang cùng nhân dân hai làng Toàn Liệt, Thái Lai dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Hán. Trần Nang lập đồn ở Kẻ Sải. Thiên Bảo đóng ở Kẻ Sặt. Hai bên làm thế ỷ dốc cho nhau. Dân chúng các nơi cũng kéo tới hội tụ. Bên Toàn Liệt có tám trăm tráng sĩ. Bên Thái Lai có hai trăm năm chục nữ binh. Họ đánh đồn quân Hán, làm lũ giặc nhiều phen khốn đốn. Khi biết tin Hai Bà Trưng khởi nghĩa, Thiên Bảo và Trần Nang đưa nghĩa sĩ tới Hát Môn hội quân... Sau khi đánh đuổi Tô Định, Hai Bà ủy cho họ về đóng quân tại trang ấp quê hương. Tới lúc Mã Viện xâm lược, Trưng Vương cho triệu họ ra chống giặc. Sau ba tháng chiến đấu Trần Nang bị tử thương trong một trận ác chiến. Thiên Bảo rút vào Cửu Chân giúp Đô Dương chống giặc. Cửu Chân thất thủ, ông trở về quê nhà Kẻ Sặt và mất tại đó. Nhân dân hai làng Thái Lai, Toàn Liệt lập đền thờ vợ chồng ông để tưởng nhớ những người anh hùng của quê hương. Á LAN - CHÀNC TUẤN Ở Đường Lâm nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây có ông Lê Tuân là một thầy thuốc tốt. Trong họ ngoài làng ai cũng mến trọng. Vợ là bà Đặng Thị chuyên việc đám tang. Họ sinh được một gái một trai, đặt tên là Ả Lan và Lê Tuấn. Hai chị em được học cả văn lẫn võ, bút nghiên và cung kiếm đều thạo. Năm đó trời hạn hán, mất mùa. Vậy mà quan lại nhà Hán vẫn thẳng tay vơ vét, thuế phú và cống phẩm lại còn nặng hơn những năm trước. Ông Lê Tuân rủ dân làng chống lại. Lính Hán đã bắt và đánh đập ông rất man rợ, chỉ ít ngày sau ông thổ huyết, qua đời. Ả Lan năm ấy tuổi khoảng mười tám, đã có trí lực và rất sáng việc. Nhân ngày làm tang, bà con làng xóm tới đông. Cô liền bày tỏ nỗi khổ nhục của tất cả mọi nhà và kêu gọi bà con đồng lòng đứng dậy chống bọn đô hộ. Và thế là sau đó ít lâu, ở Đường Lâm có một căn cứ của nghĩa quân do Ả Lan và Chàng Tuấn chỉ huy. Họ đã xuất quân đánh giặc Hán một vài lần. Được tin Hai Bà Trưng dấy binh, hai chị em họ Lê cùng các nghĩa sĩ nam nữ cùng về Hát Môn hội quân. Ả Lan được giao đưa đoàn quân bản bộ ngược sông lên dẹp các trại giặc ở Thao Giang. Nghĩa quân đi tới đâu, giặc tan tới đấy. Cuối cùng hai chị em đóng quân lại ở trang Văn Lang (nay là xã Văn Lang, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ). Doanh trại ở cạnh núi Ao Trời. Chỗ khao quân là bến Cát Lớn. Tưởng nhớ công lao chị em người anh hùng, nhân dân Văn Lang đã lập đền thờ, trước đây có lệ cúng tế vào ngày 13 tháng Giêng (tương truyền là ngày nghĩa quân tới đóng ở Văn Lang) và ngày 25 tháng Tám là ngày hóa của hai chị em cô. Điều đáng chú ý là ở đây có hèm mổ trâu đen, lấy da căng làm nồi nấu thịt để nhắc lại tiệc thịt trâu lột hôm khao quân ngày trước. * * * Bên trên là một vài dẫn chứng chi tiết - bằng vào thần tích, truyền thuyết - về những cuộc nổi dậy của quần chúng trước ngày Hai Bà khởi nghĩa. Dưới đây sẽ nêu vắn tắt những cuộc nổi dậy khác ở vùng châu thổ sông Hồng (vẫn bằng vào thần tích). Như về tỉnh Phú Thọ có thể nêu những cuộc nổi dậy của các nhân vật sau: nàng Vĩnh Hoa cùng nhân dân trang Tiên Nha (nay thuộc xã Nguyện Đức, huyện Yên Lạc), nàng Xuân Nương cùng nhân dân các trang Hương Nộn, Hương Nha (nay là hai xã cùng tên thuộc huyện Tam Nông), ba anh em Nguyễn Tuấn, Nguyễn Trĩ, Nguyễn Lĩnh cùng bà con các động vùng núi Tùy Sơn (nay thuộc xã Hợp Lý, huyện Lập Thạch), hai chị em Ả Chàng, Ả Chạ (tức Ngọc Thanh và Ngọc Trinh) cùng bà con các trang Lũng Ngòi, Đàm Luân (nay là xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường) v.v... Về tỉnh Bắc Ninh có thể nêu các phong trào ở vùng Ngọc Lâm và Ký Hợp (huyện Yên Dũng) với Thánh Thiên và người cậu ruột, phong trào ở Đông Cứu, Lãng Ngâm (huyện Gia Lương); với vợ chồng Doãn Công và Đào Nương, phong trào ở Du Tràng (huyện Gia Bình); với Ả Lã, Rồng Nhị v.v... Ở tỉnh Hà Tây có bà Ngọc Ba và năm người con trai khởi nghĩa ở vùng Chương Mỹ mà căn cứ trung tâm là Kim Cốc nay thuộc xã Hoàng Diệu. Có bà Vĩnh Hoa tự nghĩa ở Lỗ Sơn nay thuộc xã Đồng Lạc, huyện Chương Mỹ. Có bà Chu Tước xây thành ở Miếu Môn thuộc xã Trần Phú, cũng huyện Chương Mỹ. Có anh em Chiêu Trưng, Đỗ Lý cùng đào hào đắp lũy chống quân Hán ở hai thôn Yên Trường và Trung Thịnh nay thuộc xã Trường Thịnh huyện Ứng Hòa. Có ba chị em Chiêu Nương, Nguyễn Hồng, Nguyễn Tuyền lập trại ở Xà Cầu nay thuộc xã Quảng Phú Cầu huyện Ứng Hòa. Có hai chị em Phạm Thông, Phạm Nhu xây dựng hai dinh trại ở Đình Xuyên, xã Hòa Nam cũng thuộc về huyện Ứng Hòa v.v... Ở tỉnh Hải Dương có những cuộc nổi dậy chống quân Hán ở các địa phương như Mi Thữ (huyện Bình Giang) với hai chị em Nguyệt Thai, Nguyệt Độ; ở Tống Long (huyện Kinh Môn) với Tống Phả Công; ở tỉnh Hưng Yên, tại Dương Liệt (huyện Văn Giang) với Hùng Tướng Công v.v... Vùng biển Hải Phòng có phong trào đấu tranh do bà Lê Chân phát động. Vùng biển Thái Bình có cuộc nổi dậy của bà Bát Nạn từ Phong Châu lánh nạn về vùng Tiên La, huyện Duyên Hà v.v... Ở tỉnh Hà Nam có cuộc nổi dậy của Quế Hoa và Nữ Hoa ở Tượng Lĩnh (huyện Kim Bảng...). Tất cả các nhân vật kể trên - vẫn theo truyền thuyết - cuối cùng đều tụ hội ở Hát Môn, đưa cánh quân bản bộ của mình nhập vào nghĩa quân Hai Bà Trưng để rồi trở nên một lực lượng hùng hậu “đi tới đâu như lướt gió tới đấy” (lời Cương mục).
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #26 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:07:54 PM » |
|
CĂN CỨ PHONG CHÂU VÀ HỘI QUÂN HÁT MÔN Về diễn biến của cuộc khởi nghĩa, sử cũ chép rất sơ lược. Bộ sử cổ nhất của ta - là Việt sử lược - chỉ ghi: “Tô Định lấy pháp luật trói buộc. Trắc giận bèn cùng em gái là Nhị đem binh Phong Châu đánh hãm các quận huyện. Cửu Chân, Nhật Nam đều hưởng ứng. Bà lược định 65 thành, tự lập làm vua”. Toàn thư thêm được vài chi tiết: “Bà khổ vì Tô Định lấy luật pháp trói buộc, lại thù Định đã giết chồng mình, cùng em là Nhị nổi binh đánh lấy trị sở của châu. Định chạy về Nam Hải. Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được 65 thành, tự lập làm vua”. Như vậy tư liệu chính sử thật là ít ỏi. Nhưng ở các thần tích thì có thêm ra nhiều chi tiết. Một chi tiết phù hợp giữa chính sử và thần tích là sự việc mà chính sử chép là Hai Bà “đem binh Phong Châu đánh hãm các quận huyện”. Thần tích hai làng Hạ Lôi (Yên Lãng) và Hát Môn chép: “Trưng Vương khởi binh được một năm, tướng sĩ nam nữ có tới ba vạn người, hội tại thành Phong Châu... Cử binh đến cửa sông Hát, đại hội ở bãi Trường Sa”. Thần tích làng Tuấn Xuyên (thờ Phùng Thị Chính) chép: “Trưng Vương từ Phong Châu kéo về Hát Môn”. Thần tích làng Thịnh Kỷ (thờ Chàng Hối), làng Đông Cao (thờ Ả Lự), làng Cư An (thờ Trưng Nhị) đều chép giống nhau: “Trưng Vương khởi binh ở thành Phong Châu”. Như vậy có thể nghĩ rằng trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, việc đầu tiên Hai Bà phải làm là xây dựng một khu căn cứ để bước đầu có nơi chốn tập hợp lực lượng. Khu căn cứ ấy là thành Phong Châu. Thực ra thì ngày ấy chưa có địa danh Phong Châu. Đó chỉ là tên một châu mới đặt từ đời Tùy, năm 598. Châu này là một phần của huyện Mê Linh đời Hán nên các sử sách cữ dùng tên Phong Châu để chỉ khu vực Mê Linh cũ. Do vậy, có thể khẳng định rằng Hai Bà Trưng đã từng xây dựng một căn cứ địa ở phần đất huyện quê hương mình (huyện Mê Linh). Căn cứ địa ấy về sau được sử sách và thần tích gọi là Phong Châu thành. Có điều là “thành” ấy cụ thể ở vào nơi nào thì chưa thể biết, có thể đó là kinh đô cũ của các vua Hùng mà cũng có thể đó là làng quê Hạ Lôi của Hai Bà. * * * Cũng có thần tích có chép là từ Phong Châu, Hai Bà ban bố lời hiệu triệu hào kiệt bốn phương cùng đứng lên đánh đuổi giặc Hán rồi đem binh về hội ở Hát Môn. Chính sử thì không nhắc gì tới địa điểm hội quân này. Đành rằng Toàn thư cũng như Việt điện u linh và Lĩnh Nam chích quái có nhắc tới Hát Môn nhưng với tư cách là một nơi mà sau này “thổ nhân lập miếu thờ Hai Bà” chứ không phải là địa điểm mà đương thời nghĩa quân tập kết. Nhưng theo sự ghi chép của nhiều thần tích và cả theo truyền thuyết dân gian thì Hát Môn là địa điểm đại hội quân sĩ, anh hùng hào kiệt bốn phương quy tụ về đây đứng dưới lá cờ của Trưng Vương trước khi xuất phát đánh quận thành Giao Chỉ. Tại đây Hai Bà lập đàn tế cáo trời đất rồi đưa đại quân đi đánh Tô thành (thành Tô Định, tức trị sở quận Giao Chỉ). Thiên Nam ngữ lục còn chép cụ thể hơn: Hai Bà theo lời bàn của Thi Sách rời Chu Diên về Hát Môn lập đồn trại. Song Thi Sách đã bỏ mình trong khi giao chiến với Tô Định ở Chu Diên thành. (Như vậy là thêm một dị bản về cái chết của Thi Sách). Thế là: Chị em truyền hịch xa gần Làm trai ai chí vị dân giúp đời... Cùng nhau họp tại Hát Môn Cắt tay lấy máu lên đàn thề nhau. Và chính ở làng Hát Môn, trước đây hàng năm có hai ngày làm lễ Hai Bà Trưng đó là ngày mồng 4 tháng Chín được coi là ngày Hai Bà tế cáo thiên địa và ngày mùng 6 tháng Ba được coi là ngày Hai Bà tuẫn tiết. Như vậy là từ nhiều nguồn truyền thuyết dân gian khác nhau, một điều có thể tin được là quả có cuộc hội quân ở Hát Môn. Hát Môn, cứ theo tên gọi thì là “cửa sông Hát”. Nhưng thực tế ngày nay thì không là như vậy. Từ đấy tới cửa sông Hát (chỗ sông Hát tách từ sông Hồng ra) còn cách cả một xã Vân Nam. Song xã này, cũng như xã Vân Phúc láng giềng chỉ mới có từ đời Lê. Vì theo lời truyền khẩu từ xưa - được ghi lại trong khoán ước - thì khu vực hai xã này chính là một cụm gồm sáu làng Vĩnh Phúc, Vĩnh Thọ, Vĩnh Khang, Vĩnh Ninh, Vĩnh Thuận và Vĩnh Lộc. Sáu làng này nguyên là trang Vân Thủy ở bên tả ngạn sông Hồng thuộc đất huyện Yên Lạc. Đời Lê, do đất bị lở nên cả trang rời sang sinh sống bên hữu ngạn, cư trú trên vùng bãi mới bồi và biệt lập thành sáu làng có gốc Vĩnh như hiện nay. Như thế, trước đời Lê, chỗ các xã Vân Nam, Vân Phúc còn là lòng sông. Vậy Hát Môn phải ở ngay cạnh sông Hồng và là chỗ sông Hát tách từ sông mẹ ra. Con sông Hát ấy, nay là một lạch nhỏ, chỉ từ cầu Phùng đổ xuôi mới ra dáng một con sông và từ đấy có thêm một tên gọi khác là sông Đáy. Nhưng theo lời kể của nhân dân các làng ven sông thì thời xưa cửa sông Hát rất rộng. Thuở ấy ở chỗ đền thờ Hai Bà trên là đê mà dưới đã là dòng sông. Và có một thời, dọc bên hữu ngạn, dòng sông Hát dâng sát lên tới tận đê Hương Tảo, Ngọc Tảo. Vết tích nay còn lại là vạt đầm hồ có tên là sông Cùng, bến Chúa. Sông bến này đã đi vào ca dao: Tiễn nhau bến Chúa ven sông Nên vợ nên chồng tỏ rõ khúc nhôi
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #27 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:38:29 PM » |
|
* * * Hát Môn vào thời đầu Công nguyên tất phải là cửa sông. Thần tích của những làng thờ Hai Bà và các tướng lĩnh, dù ở Gia Lâm hay Phúc Thọ, ở Thanh Trì hay Hoài Đức, ở Yên Lãng, ở Kim Anh hay Đa Phúc v.v... đều kể là có cuộc hội quân lớn tại đây. Hai Bà thì từ thành Phong Châu tới, đem ba vạn quân. Anh hùng hào kiệt bốn phương cũng tấp nập kéo đến. Có người dẫn theo quân bản bộ đông tới hàng nghìn, như cô Vĩnh Gia ở bãi Quân Thần Châu (nay là các làng Thượng Cát - Đại Cát, huyện Từ Liêm) với hai nghìn nghĩa sĩ, như hai chị em Ả Nương, Ả Nang ở Yên Mạc (nay là xã Liên Mạc, huyện Mê Linh) với một nghìn quân, như Lý Minh ở Mục Uyên (nay thuộc xã Tân Xã, huyện Thạch Thất) cũng đưa tới một nghìn trai tráng... Có người lại chỉ cùng với vài chục bạn hữu tới tụ hội như ba anh em Cả, Hai, Ba ở làng Trung Hậu (nay thuộc xã Tiền Phong, huyện Mê Linh) đến với ba chục bạn trẻ, như Xa Lai ở Cao Quang (nay là xã Cao Minh, huyện Mê Linh) đem theo ba mươi lăm người thủ túc, như ba cô Ả Tú, Ả Huyền, Ả Cát ở trang Vân Thủy (nay là các xã Vân Nam, Vân Phúc, huyện Phúc Thọ) đến với năm mươi hai bạn gái... Cũng có người tay trắng tới đầu quân và sau đã trở thành tướng lĩnh như Lũ Lũy ở trang Văn Lôi (nay thuộc xã Tam Đồng, huyện Mê Linh), Nguyễn An ở Cao Xá (nay thuộc xã Đức Giang, huyện Hoài Đức), Lôi Chấn ở Tháp Thượng (nay là xã Đồng Tháp, huyện Đan Phượng) v.v... Tuy nhiên, do chỗ thần tích có nhiều hư cấu, thêm thắt nên con số về lực lượng nghĩa quân nêu ở trên có thể tin được mà cũng có thể không. Có thể nêu nghi vấn: đương thời dù quận Giao Chỉ sản xuất phát triển nhiều hơn các quận khác nhưng liệu đã đủ điều kiện để thành hình một đạo quân đông tới bốn năm vạn người? (Riêng quân của Hai Bà là ba vạn). Kể ra cũng khó giải đáp vì không có một tài liệu thư tịch nào để làm chỗ dựa chắc chắn. Có điều là nếu quan niệm rằng các cánh quân tham gia khởi nghĩa không phải hoàn toàn là chính quy thì quân số đó có thể chấp nhận được. Có thể coi nghĩa quân là những nông nô, nô tì vừa trốn khỏi các trang ấp dinh cơ của quan lại Hán tộc, là những người dân khổ về thuế má và không muốn chết mòn chết mỏi dưới đáy biển hoặc trong rừng sâu, là những nạn nhân của một chế độ cai trị tàn bạo đã gieo bao tai họa xuống từng làng xóm, thậm chí xuống từng mái nhà Giao Chỉ, những tầng lớp người ấy khi nghe tin có một dòng họ danh vọng - là lạc tướng Mê Linh - nổi lên chống lại nhà Hán thì tất cả đã tìm đến với hy vọng và niềm tin đánh đuổi được giặc thù. Họ tự nguyện và có thể là phần nào tự túc tham gia chiến đấu, chẳng nài gì quân trang, quân dụng. Các thủ lĩnh, chỉ huy hẳn cũng không phải bận lòng nhiều về hậu cần. Và sự căm hờn cộng với ý chí diệt thù đã khiến cho đạo quân mới tập hợp từ nhiều phương lại và có nhiều thiếu thốn đó trở thành có sức mạnh chiến đấu hơn hẳn quân cướp nước. Ngoài ra, so với dân số quận Giao Chỉ thời ấy là trên 74 vạn nhân khẩu thì con số bốn, năm vạn người vũ trang nổi dậy cũng không phải là quá đáng. Đó là về lực lượng nghĩa quân. Về các chỉ huy thì có người - vẫn theo thần tích và truyền thuyết - trước đây đã từng nổi dậy chống quân Hán như Chàng Hối, Thiên Bảo, Thánh Thiên... Có người vì mang nặng thù nhà như Hải Diệu, Sa Lương, Ả Lã Nàng Đê... 1. Cũng có người - và đây là số đông chỉ vì nợ nước, thấy nỗi khổ nhục của bà con làng xóm mà đứng lên chống giặc. Điều đáng lưu ý là các chỉ huy ấy cùng quân sĩ của họ tới đây từ nhiều miền đất khác nhau. Kể những người ở xa nhất thì về phía bắc có Nguyệt Điện ở Tây Cốc, Trần Tuấn và Vương Đạo ở Phương Trung đến thuộc huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Về phía tây có Ả Nàng ở Kim Phượng nay thuộc Thanh Sơn cùng tỉnh Phú Thọ. Về phía đông có bà Lê Chân ở An Biên nay là thành phố Hải Phòng, bà Thánh Thiên ở Ngọc Lâm nay thuộc huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang, bà Thánh Hậu ở Hạ Phán nay thuộc huyện Quỳnh Côi tỉnh Thái Bình. Về phía nam có bà Chu Tước ở Miếu Môn, huyện Chương Mỹ, bà Trinh Thục ở Ngọ Xá huyện Mỹ Đức, ba chị em Chiêu Nương ở Xà Cầu huyện Ứng Hòa v.v... tất cả thuộc tỉnh Hà Tây. Những nhân vật này nếu không hoàn toàn là thực thì chắc cũng có những nguyên mẫu trong thực tế và như vậy, với nguồn tư liệu truyền thuyết, có thể kết luận rằng đúng là bốn phương hào kiệt đã tụ hội tại Hát Môn để thống nhất lực lượng mưu việc cứu nước cứu nhà. ______________________________________ 1. Sẽ nói tới các nhân vật này ở Chương năm.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #28 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:50:15 PM » |
|
* * * Theo truyền thuyết của làng Hát Môn thì ngày mùng 4 tháng Chín là ngày đại hội binh mã. Quân sĩ bạt ngàn, đứng kín cả cánh bãi dài mênh mang Trường Sa châu. Thuyền chiến cũng thành hàng thành dãy kín cả cửa Hát. Đàn tế dựng giữa trung quân. Rất nhiều thần tích, ngọc phả chép rằng tại đàn này bà Trưng Trắc đã đọc một bài văn tế cáo trời đất. Nguyên văn như sau: “Thiên sinh nhất nhân vi thiên địa vạn vật chi tông chủ. Sinh linh sở hệ, thảo mộc sở quan. Lịch lịch triều đại đế vương thiên tử thánh minh, triều đình hữu đạo, ái dân ưu quốc, đức hóa hoằng phu, thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự.
Kim hữu dị tộc nhân Tô Định, khuyển dương thường thái, tứ lộng xướng cuồng, ngược chính tàn dân, thiên địa thần nhân công phẫn.
Thiếp thiểm dĩ tiền Hùng dư diệt, nhất cá nữ nhân thuyết đáo sinh linh hoàng thiên hữu lệ. Kim nhật thống tâm thương xích trượng nghĩa, trừ tàn, nguyện bách vị chư tôn thần linh hội đàn giám thệ lực hộ thiếp Trung nữ đề binh thảo tặc, hộ quốc, an dân, trí sinh linh vu nhẫm tịch chi thượng, xuất sinh linh vu thủy hỏa chi trung, thứ vô phụ hoàng thiên chi ý, an tiên hoàng miếu tự chi linh, ủy tổ phụ cửu tuyền chi hạ1.” Tạm dịch: “Trời sinh con người là tông chủ của muôn loài, sinh linh cây cỏ thảy đều quan hệ. Các đời đế vương trước, vua sáng tôi hiền, yêu dân lo nước, đức hóa rộng khắp, thiên hạ thanh bình, nước nhà vô sự.
Nay có người khác giống là Tô Định, thực loài dê chó bạo ngược hại dân, trời đất thánh thần và con người ta đều giận.
Thiếp tôi là một người con gái dòng dõi vua Hùng, nghe nói tới sinh linh, trời xanh cũng rơi lệ. Nay nghĩ tới dân mà lòng đau, dấy nghĩa trừ kẻ bạo tàn, nguyện các vị tôn thần về hội đàn chứng giám lời thề, giúp cho thiếp tôi đem quân đánh giặc, giúp nước yên dân, đặt sinh linh lên trên nơi chiếu đệm, đưa mọi người ra khỏi cơn nước lửa, để khỏi phụ ý của trời, giữ yên miếu mạo vua xưa, an ủi ông cha nơi chín suối!”.Nếu đúng là lời văn từ đời Hai Bà truyền lại thì thật sự đáng quý. Nhưng chưa hẳn! Vì ngay sự tình chiến đấu lở đất long trời - cuộc khởi nghĩa và cuộc kháng chiến ngày ấy - đương thời ai cũng biết mà truyền lại cũng chẳng được là bao, huống chi một bài văn làm sao có thể bảo lưu trọn vẹn như vậy được? Nhất là ở thời Hai Bà đã có trong tư duy người Giao Chỉ những khái niệm lịch đại đế vương, thiên tử, cửu tuyền... ? Đây chỉ là sáng tác của người biên soạn thần tích. Đáng kể chăng là tác giả đã nhìn thấy ý nghĩa xã hội của cuộc khởi nghĩa do Hai Bà lãnh đạo là vì dân, vì nước, vì sự tồn tại của dân tộc chứ không phải đơn thuần chỉ vì thù chồng. Ngoài bài văn tế cáo thiên địa này liên quan tới những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa Hai Bà còn có một áng văn khác. Đó là một bài hịch có nhan đề là “Thảo Tô Định hịch văn”. Bài này được chép trong ngọc phả của hai làng Hạ Lôi (Yên Lãng) và Hát Môn. Dưới đây là phiên âm theo bản Hạ Lôi: “Nguyên ác đại đỗi cửu tàng lang dã chi tâm. Đôn đức nhân nhân dung đại nghiệt trừ chi cử. Tinh trì thốn giản, lôi động tam quân.
“Quyến ngôn: Ngã Việt khai cơ, thực tự Hùng Vương phủ trụ. Quan an dân lạc nhân đa túc hạ sinh mao, vũ thuận phong điều, mạch tận nhất hành lưỡng tuệ. Bốc thế tuần tuần hiệu thập, lịch niên vĩnh vĩnh kế thiên. Viên cập An Dương, duật canh Triệu Vũ, tương truyền chính thống. Thánh hiền chi quân diệt tác hưng, kế trị bảo an dân sự chí tâm hàm ái đới. Tự thời quyết hậu, thời vận tương phùng. Hi Tái, Chu Chương, Ngụy Lãng chi đồ, canh tương thú quận. Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục chi bối, kế tác mục châu. Cố tuy hữu tham liêm bất đồng, nhiên vị hữu hà ngược chí thậm. Nại tư Tô nghiệt vọng tứ tham tàn. Tiện thương sinh nhi quy tượng tê. Khinh hiền sĩ nhi trọng khuyển mã. Khai kim trường tắc hàn xâm nhân cốt, dịch sắc triết bì. Thái minh châu tắc mô trích ly đầu, bách hành nhất phản. Hậu liễm nhi úng khuynh thương tảo. Phiên binh nhi ốc tí hương liên, dân bất liệu sinh, vật giai thất sở.
Dư dĩ Thiên hoàng dư phái, Hùng tướng hậu côn. Mẫn xích tử chi hãm họa khanh, bất năng an chẫm. Hiệp dân vọng nhi hưng nghĩa lữ, chính thiết trừ hung.
Nhĩ đẳng quân đắc tính linh, hệ xuất tị tổ. Quốc thù đương phục, phấn tí trương phồn nhược chi cung; dị chủng tất trừ, tẩy qua vãn thiên hà chi thủy. Hồng nghiệp dĩ chí tái tạo. Nhạn trạch dĩ chi tức ngao. Vệ xã tắc, chấp can qua, duy kỳ trường dã. Lập công danh, thùy trúc bạch, cố bất vĩ tai.
Thảng hoặc thượng chấp hồ nghi, dãn sinh do dự, khởi đặc thất sự cơ chi hội, ức diệc nghiêm hình phạt chi tru. Hịch trí như phương, nhĩ đương tự miễn! Tạm dịch: “Kẻ đầu sỏ tội lớn lòng lang chứa chất từ lâu. Người nhân đức cao dày công lớn dấy lên trừ bạo. Lời truyền như sao băng, ba quân sấm động.
Nghĩ rằng nước Việt mở cõi, thực từ đời Hùng Vương chăn dắt. Quan yên, dân vui, người người nhàn hạ, gió hòa mưa thuận lúa một dé hai bông. Nối tiếp kế đời hàng chục. Dài lâu tính năm mấy nghìn. Kịp đến An Dương, lại qua Triệu Vũ, truyền nền chính thống. Vua thánh thay nhau, nối trị giữ an, lòng dân đều quý trọng. Từ đó về sau, thời vận cùng gặp, Hi Tái (?), Chu Chương, Ngụy Lãng nối nhau làm thái thú. Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục kế tiếp làm châu mục. Tham liêm tuy có khác song bạo ngược chưa thái quá. Đến nay, giặc Tô rất mực tham tàn. Rẻ dân đen mà quý voi tê. Khinh hiền sĩ mà trọng chó ngựa. Người tìm vàng rét buốt thấu xương, nứt da, đổi sắc. Kẻ mò ngọc va chạm thuồng luồng, đi trăm về một. Thuế má nặng nề, bồ lẫm sạch trơn. Hình phạt khốc liệt, xóm làng xơ xác. Dân chẳng được yên mà súc vật cũng đều mất chốn dung thân.
Ta vốn dòng dõi thần thiêng, cháu con Hùng tướng. Thương con đỏ bị hãm dưới hầm sâu ăn nằm không yên. Hợp lòng dân dấy cờ khởi nghĩa, chính lo trừ bạo.
Các người đều có tính thiêng, cùng một tổ tiên. Thù nước báo xong, thẳng tay giương cung ứng. Trừ giặc ngoài rồi, kéo nước Ngân Hà rửa ngọn giáo.
Nghiệp lớn đã tái tạo, dân khỏi kêu than. Giữ non sông, cầm giáo gậy cốt được dài lâu. Lập công danh tên ghi sử sách há chẳng quý sao? Nếu như còn hồ nghi sinh ra do dự, đã bỏ mất thời cơ, lại chuốc lấy hình phạt nặng.
Lời hịch truyền đến, hãy đều cố gắng2. ______________________________________ 1. Đây là phiên âm theo bản thần tích ba anh em “Đức Cả, Đức Hai, Đức Ba” thành hoàng làng Trung Hậu nay thuộc xã Tiền Phong, huyện Mê Linh. 2. Trong cuốn Một số truyền thuyết về tướng lĩnh Hai Bà Trưng của Ty Văn hóa Hà Sơn Bình cũng có in bài hịch này với lời dịch của Ngô Thế Long, Nguyễn Hữu Chế (tr. 120) và ghi xuất xứ là chép từ trong một cuốn sách tìm thấy ở một gia đình nông dân làng Hát Môn. Ở bản đó có một số chữ khác với bản ghi thần tích của chính làng này nhưng cũng không sai biệt gì lớn và xét cả hai đều không có giá trị sử liệu nên chúng tôi không so sánh khảo dị.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
chuongxedap
Đại tá

Bài viết: 6704
|
 |
« Trả lời #29 vào lúc: 03 Tháng Hai, 2010, 12:51:45 PM » |
|
* * * Dù rằng Hai Bà Trưng rất có thể sử dụng thành thạo chữ Hán, vì tới thời Hai Bà, nền đô hộ của người Hán đã trên 100 năm (nếu tính từ thời Triệu Đà thì là 200 năm). Việc dạy và học chữ Hán đã phổ biến, nhất là các gia đình lạc hầu lạc tướng thì tất phải biết chữ Hán để giao dịch. Song cũng như trường hợp bài văn tế cáo trời đất đã dẫn bên trên, bài hịch này có tư duy thuộc phạm trù trung thế kỷ chứ không thể là cổ đại. Thể văn biền ngẫu chỉ mới phát sinh từ đời Đường (thế kỷ thứ IX). Một vài điển tích dùng trong bài rõ ràng không thể là của đời Hán, như câu “Tẩy qua vãn thiên hà chi thủy” nghĩa là: “lấy nước sông trời - Ngân Hà - để rửa giáo” là rút từ thơ Đỗ Phủ: An đắc tráng sĩ vãn thiên hà. Tĩnh tẩy giáp binh trường bất dụng (Ước gì được người tráng sĩ kéo sông Ngân xuống. Rửa sạch binh khí, mãi mãi không dùng nữa). Hoặc vào thời Hai Bà Trưng, không thể có loại tư duy đặc phong kiến: lập công danh, tên ghi sử sách. Ngoài ra, Chu Chương không phải là thú quận và Tích Quang không phải là châu mục. Ngược lại mới đúng. Vì thú quận tức là thái thú, coi một quận. Còn châu mục coi một bộ tức một châu, chức này còn gọi là thứ sử. Người đời sau có thể lầm chứ đương thời Hai Bà Trưng thì không thể lầm lẫn như vậy được. Nhất là Ngụy Lãng làm đô úy quận Cửu Chân vào đời Hoàn Đế, (147-167) tức là sống sau Hai Bà Trưng hơn một thế kỷ! Cho nên bài “Thảo Tô Định hịch văn” này cũng chỉ là một sản phẩm của đời sau 1. Tuy nhiên, sự có mặt của nó cũng có một giá trị là góp phần chứng minh một quy luật của sáng tác văn học dân gian là: cùng với thời gian, nhân dân thường sáng tác thêm những giai thoại, những tình tiết để cho hoàn chỉnh hơn pho truyền thuyết về những người anh hùng mà mình hằng yêu dấu. * * * Truyền thuyết về cuộc hội quân và lễ ăn thề Hát Môn còn có một dị bản lược ghi trong Thiên Nam ngữ lục: Nàng bản bước thẳng lên đàn Vái chưng thiên địa, giang san, quỉ thần Tôi là con gái phụ nhân Thời loạn ơn chúng, lập thân giúp đời. Do thằng Tô Định rẻ người Trước khoa (?) các vạc, sau sôi lửa lò Một xin rửa sạch nước thù Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng Ba kẻo oan ức lòng chồng Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này. Thế là theo Thiên Nam ngữ lục, ở đàn thề Hát Môn, bà Trưng Trắc có bốn lời thề với trời đất và ba quân: thứ nhất là rửa sạch mối thù mất nước, thứ hai là khôi phục cơ nghiệp vua Hùng, thứ ba là trả thù cho chồng và thứ tư là quyết giành thắng lợi. Như vậy là ở các truyền thuyết trên có những chi tiết khác nhau nhưng cơ bản thống nhất ở một số điểm chính: có cuộc tập kết quân sĩ ở Hát Môn, lúc này Thi Sách không còn, tại đây bà Trưng Trắc với tư cách là thủ lĩnh tối cao đã tuyên bố mục đích cuộc khởi nghĩa là đuổi giặc Hán đô hộ và nêu quyết tâm thực hiện bằng được mục đích trên. Đó là vào khoảng cuối năm (tháng Chín âm lịch), theo sử thì là năm Kỷ Hợi tức năm 39. Sau đó, đại quân thao luyện trong khoảng vài ba tháng 2 rồi tiến “đánh hãm các quận huyện” và “đánh lấy trị sở của châu”. Theo sử đấy là vào “năm Canh Tý (40), tháng Hai, mùa xuân, người con gái Giao Chỉ là Trưng Trắc khởi binh đánh đuổi thái thú Tô Định tự lập làm vua”. ( Cương mục) ______________________________________ 1. Đọc kỹ sẽ còn thấy là có những câu như: Mẫn xích tử hãm họa khanh hoặc Khai kim trường... Thái minh châu v.v... đồng dạng với những câu Hãm xích tử ư họa khanh (vùi con đỏ dưới hầm tai vạ). Khai kim trường túc mạo tam chướng, Thái minh châu tắc xúc giao long (người tìm vàng xông pha lâm chướng, kẻ mò ngọc va chạm giao long) trong bài “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi. 2. Thần tích Cống Sơn đại vương của làng Thái Lai (xã Tiến Thắng, huyện Mê Linh) kể rằng sau khi Hai Bà khởi binh ở Hát Môn, bà Trưng Nhị thân chinh về động Hoa Lư mời ông Cống Sơn ra để “thao luyện binh mã, huấn diễn binh thư”.
|
|
|
|
|
Logged
|
...
|
|
|
|