Hậu trường chính trị phía sau cuộc chiến Đông Dương

<< < (24/29) > >>

SaoVang:
Những hoạt động thiếu tích cực của Bảo Đại sau 1954. Bảo Đại nhát đến nỗi sợ Diệm yêu cầu Pháp dẫn độ ông về Sài Gòn giao nộp cho Diệm

Sau cuộc trưng cầu dân ý giả tạo với sự đạo diễn của người Mỹ, được Ngô Đình Diệm. tổ chức cuối tháng 10.1956 nhằm tước bỏ chức vụ quốc trưởng của Bảo Đại, Cựu hoàng dưới mắt dư luận quốc tế, bị xem như một con người hết thời, bỏ đi, và được xem ngang hàng với các phế đế như cựu Quốc vương Ai Cập Farouk. Bảo Đại từ đấy tạm từ bỏ tham vọng được trở lại ngai vàng hay nắm lại quyền hành tại Việt Nam dưới một danh xưng khác.

Từ ngày 26.10.1955, ngày Diệm tuyên cáo thành lập nền Cộng hòa tại Sài Gòn, Bảo Đại định cư luôn tại Pháp để sống lưu vong, và tránh tham gia mọi hoạt động chính trị. Lui về cư trú trong tỉnh Alsace gần biên giới Pháp - Đức, Bảo Đại sống cuộc đời của một quí tộc ẩn dật, thú vui duy nhất của ông là đi săn, như trong thời gian ông sống tại nước nhà. Thỉnh thoảng, ông đến thủ đô Paris của Pháp khi cần thiết, nhưng chỉ lưu lại đây trong một thời gian ngắn, để gặp lại một số ít người còn trung thành với ông.

Trong một vài lần xuất hiện ngắn ngủi tại Paris, có một số chính trị gia lưu vong đến gặp Cựu hoàng để đưa ra những sáng kiến nhằm phục hồi uy quyền của ông nhưng ông không tin vào những lời xúi bậy của những người nuôi ảo vọng này.

Người con trưởng của ông, cựu hoàng tử Bửu Long đã từng là một cựu sinh viên sĩ quan xuất sắc tại trường võ bị Saint Cyr, lúc bấy giờ đang phục vụ với tư cách là đại úy mang quốc tịch Pháp (mẹ Bảo Long, bà cựu hoàng hậu Nam Phương có quốc tịch Pháp khi mới ra đời, nên Bảo Long con bà, đương nhiên có quốc tịch Pháp, Bảo Long phải thi hành nghĩa vụ quân sự đối với nước Pháp).

Giữa lúc Ngô Đình Diệm, với sự ủng hộ đắc lực của Hoa Kỳ, đã đánh bật Bảo Đại và cựu Thủ tướng Trần Văn Hữu và quyết biến vĩ tuyến 17 thành bức tường chia cắt vĩnh viễn hai miền Nam Bắc Việt Nam, thì tại thủ đô Pháp, con bài Bảo Đại, dù đã mất giá rất nhiều, nhưng vẫn còn được xem như một biểu tượng của một chính quyền hợp pháp trước kia để thay thế chính phủ Diệm chấp nhận bình thường hóa các quan hệ Nam Bắc nhằm tiến tới Tổng tuyền cử thống nhất nước nhà, mục tiêu tối hậu của cụ Hồ từ năm 1945.

Mặt khác, cựu Thủ tướng Trần Văn Hữu, mặc dù có một dĩ vãng thân Pháp nhưng năm 1954 có chủ trương giao hảo với chính quyền Hà Nội, nên được xem như một thủ tướng có thể chấp nhận được cho miền Nam Việt Nam. Và ở một cấp bậc cao hơn Trần Văn Hữu, là Cựu hoàng Bảo Đại, vị vua sau cùng của Nhà Nguyễn, tượng trưng cho một triều đại đã thống nhất Việt Nam đầu thế kỷ 19, có thể giúp bắc một nhịp cầu cho hai miền Nam Bắc.

Chính trong mục đích thống nhất đất nước, mà cụ Hồ đã mời Bảo Đại đảm nhận chức vụ "cố vấn tối cao" trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945 sau ngày ông thoái vị.

Nhưng năm 1946, Bảo Đại quen thói ăn chơi và e ngại phải trở thành con tin của một chế độ xã hội, nên thừa dịp được chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tháng 3.1946 giao cho sứ mạng bắt tay vào các cuộc thương thuyết với chính phủ Tưởng Giới Thạch nên đã đáp máy bay sang Trùng Khánh, tại đây Bảo Đại đã cố thi hành nhiệm vụ. Sau đó, Bảo Đại bày tỏ ý muốn sang Hồng Kông để lưu lại đây vài tuần lễ, Chính quyền cụ Hồ đã chấp thuận lời thỉnh cầu của Bảo Đại. Nhưng sau khi đặt chân tới Hồng Kông, theo lời khuyên của các cận thần, Bảo Đại mới quyết định không trở về Hà Nội nữa.

SaoVang:
Ngày Tết Quí Mão (1963) qua đi mà Bảo Đại không chịu ra tuyên cáo kêu gọi hai chính quyền Nam - Bắc Việt Nam xích lại gần nhau, mở cuộc thương thuyết giải quyết những bất đồng giữa hai bên và nhất là để tránh một sự can thiệp cửa nước ngoài, điều này có nguy cơ dẫn tới một cuộc chiến giữa hai miền. Bảo Đại đã để lỡ một dịp để xuất hiện trở lại trên chính trường.

Bảo Đại không chịu hành động theo đề nghị của Nguyễn Văn Chi, đại diện bán chính thức của Hà Nội, một phần là do Cựu hoàng còn đang trông ngóng những cuộc tiếp xúc kín đáo có thể sẽ đến với các nhà ngoại giao Mỹ, đằng sau ông A.Harriman.

Nhiều cuộc rỉ tai trong giới thân cận của Bảo Đại còn đưa một giải thích khác cho sự thụ động của Bảo Đại. Trong số những đàn em của Bảo Đại, có nhiều tên vụ lợi ra mặt, nên không bao giờ tán thành một công thức đoàn kết quốc gia bao gồm luôn những người Cộng sản trong sạch hoàn toàn không nghĩ tới lợi lộc cá nhân.

Một nhân vật rất gần gũi với Cựu hoàng là dược sĩ Phan Văn Giáo, một tay đầu cơ chính trị tiêu biểu, hai lần làm thủ hiến Trung Việt, người thường có những phi vụ thương mãi với bà Trần Văn Chương, vợ của Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ và là mẹ của bà Ngô Đình Nhu. Qua bà Chương, Giáo được mật tin là Tổng thống Kennedy có ý định không tiếp tục ủng hộ chế độ Diệm và đang tìm một ê kíp khác để thay thế Diệm - Nhu.

Bảo Đại vào thời điểm ấy, nuôi hy vọng là qua mối liên lạc với Phan Văn Giáo và bà Trần Văn Chương, ông có thể lọt vào mắt xanh của người Mỹ như là con người của thời thế thích hợp. Vậy Bảo Đại thấy việc gì phải chạy theo những phần tử thân Cộng, trong khi một cuộc đảo chính quân sự tại Sài Gòn sẽ giúp cho Cựu hoàng trở về Việt Nam.

Hy vọng của Bảo Đại còn được một cố vấn Mỹ, ông Hilaire du Berrier nhân lên qua những tin tức đầy khích lệ do ông này mang đến. Bảo Đại còn tiến tới một sự phân chia những chiếc ghế bộ trưởng trong một nội các tương lai, như thời Cựu hoàng còn đang lưu vong tại Hồng Kông năm 1948.

Những chính trị gia sa lon đang sống lưu vong tại Paris lại lui tới với Bảo Đại để hòng chia phần. Những ảo tưởng của Bảo Đại bắt nguồn từ sức khỏe suy sụp, theo giới thân cận của ông sau những thất bại liên tiếp và sự phá san của chính sách thời ông còn là quốc trưởng. Những năm đầu thập niên 60, Bảo Đại tinh thần suy sụp đã phải nhiều lần đến bệnh viện tâm thần để được điều trị. Riêng tên múa rối chính trị Phan Văn Giáo, người thân cận nhất của Bảo Đại, sau thời gian sống lưu vong tại Pháp, đã từ trần tại Paris năm Mậu Thân (1968), Bảo Đại như vậy là mất đi một tên tay sai đắc lực và trung thành.

Thực ra, chính phủ Hà Nội từ lâu không còn nhìn thấy ở Bảo Đại một người đối thoại đáng để tiếp xúc. Tháng 7.1967, trong một buổi tiệc với một nhóm bạn Nam Việt, nhà báo Chaffard có nghe một số cựu bộ trưởng trong các chính phủ tại Sài Gòn thuật lại sau cái chết vừa qua của Đức giám mục Lê Hữu Từ di cư vào Nam năm 1954 - người đã từng cai quản giáo khu Phát Diệm, chính phủ Hà Nội đã cho tổ chức một buổi lễ tang và cử đại diện của chính quyền tham dự. Đài phát thanh Hà Nội nhân dịp này có nhắc lại rằng Đức cha Lê Hữu Từ năm 1945-1946 là cố vấn của chính phủ cụ Hồ. Một cựu bộ trưởng lưu ý những người tham dự: "Bảo Đại cũng vậy".

SaoVang:
Bảo Đại định thành lập một "ủy ban Quốc gia" để trở lại cầm quyền
.

Tháng 10.1963, cuộc khủng hoảng giữa chính quyền Diệm - Nhu và khối Phật giáo tại Nam Việt lên đến cao điểm sau các cuộc đàn áp nhắm vào các chùa chiền. Một không khí tiền đảo chính quân sự nhằm lật đổ chế độ Diệm bao trùm thành phố Sài Gòn.

Từ bên Pháp, Bảo Đại chăm chú theo dõi sự diễn tiến tình hình tại Nam Việt, ông thấy được khích lệ trở lại và nuôi hy vọng trở về Sài Gòn để tham gia vào chính trường miền Nam. Trong ngôi nhà của ông thuộc vùng quê tỉnh Alsace ở Đông Bắc nước Pháp, Bảo Đại tiếp những cộng sự viên cũ, những cựu chính trị gia Việt Nam đang sống lưu vong tại Pháp mà ông cho là còn trung thành với ông. Cùng với những người này, ông thiết lập trên giấy một ủy ban Quốc gia và phân chia những chức vụ trong một chính phủ quốc gia sẽ được thành lập dưới sự lãnh đạo của ông, ngay sau ngày chế độ Diệm sụp đổ.

Bảo Đại nghĩ rằng có thể trông cậy vào một số người trung thành, trong số này có cựu Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm, và người con trai của ông này là tướng Nguyễn Văn Hinh, cựu tổng tham mưu trưởng của Bảo Dại ngày trước, ngày Cựu hoàng vĩnh viễn rời khỏi Việt Nam ngày 10.4.1954 để sống lưu vong bên Pháp.

Bảo Đại cũng không quên cho mời hai cựu cận thần của ông đến bàn việc nước: Nguyễn Đệ đổng lý văn phòng quốc trưởng và cựu thủ hiến Trung Việt Phan Văn Giáo. Riêng ông Nguyễn Đệ, một con người có óc thực tế và không có tham vọng chính trị, nên đã từ khước đề nghị tham chính của Bảo Đại và cố gắng giải thích cho ông này rõ là những toan tính của Cựu hoàng là thiếu cơ sở.

Còn phần tướng Nguyễn Văn Hinh lúc bấy giờ đã quay trở lại quân đội Pháp thì thừa sáng suốt để nhận ra rằng những dự tính của Bảo Đại chỉ là những ảo tưởng, vì uy tín của Bảo Đại không còn gì đối với dư luận trong nước cũng như ở ngoại quốc. Chấp nhận cùng tham dự với Bảo Đại trong một cuộc đi săn và chịu khó nghe những đề nghị của Bảo Đại để quay trở về Việt Nam, không có nghĩa là tướng Hinh tán thành hay đồng tình với Bảo Đại. Hơn nữa, Hinh vừa được quân đội Pháp bổ nhiệm vào chức vụ Phó Tham mưu trưởng quân lực, một sự vinh thăng mà ít có người Việt Nam nào mơ ước tới, nên Hinh không dại gì bỏ mồi bắt bóng.

Cùng nuôi những ảo vọng như Bảo Đại cũng vào thời điểm chế độ nhà Ngô lung lay tận gốc rễ để có những cuộc vận động với những nhân vật đang lên tại Sài Gòn, còn có ông Trần Văn Hữu, cựu thủ tướng dưới thời Bảo Đại. Ông Hữu là vị cựu thủ tướng duy nhất tại Sài Gòn dưới thời Bảo Đại đã công khai tán thành Hiệp định Geneve 1954, và chủ trương một chính sách trung lập tại miền Nam và một sự chung sống hòa bình với miền Bắc.

Ngày 22.7.1962, ông Hữu đã có một cuộc hội kiến tại Thụy Sĩ với một nhóm những nhân vật cao cấp tại Hà Nội để có một cuộc thảo luận về tình hình tại Việt Nam. Cũng trong tháng 7.1962, ông Hữu có nhận được của luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận giải Phóng miền Nam một bức thư đầy thiện chí. Đầu tháng 11.1963, khi hay tin tướng Dương Văn Minh thành công trong việc cầm đầu cuộc đảo chính lật đổ chế độ nhà Ngô, ông Trần Văn Hữu có gửi cho tướng Dương Văn Minh một điện văn khen ngợi ông này đã giải thoát cho Nam Việt khỏi một chế độ độc tài thời Trung Cổ.

SaoVang:
Bảo Đại còn lo sợ và tưởng tượng là Diệm - Nhu đang dựng ra một hồ sơ tại Sài Gòn để kết tội ông có những hành động phương hại đến những quyền lợi của đất nước để dùng bộ máy tuyên truyền dưới tay họ rồi truy tố ông ra tòa để xử khiếm diện ông.

Theo ông Nguyễn Văn Chi, một sự e ngại như vậy là không có cơ sở, vì dù cho người Việt Nam có thể phiền trách chính phủ Pháp trên một vài lĩnh vực, nhưng như lời De Gaulle từng nói, nước Pháp không có thói quen bỏ rơi những người bạn cũ cũng như không bao giờ giao nộp những lãnh tụ chính trị cựu đồng minh của Pháp cho những đối thủ chính trị của họ, như trường hợp Bảy Viễn, lãnh tụ Bình Xuyên, hay Trần Văn Hữu, Nguyễn Tôn Hoàn v.v... những người này đều được hưởng qui chế tị nạn chính trị tại Pháp.

Năm 1955, cựu Thu tướng Trần Văn Hữu từ Pháp trở về Sài Gòn giữa lúc Diệm đang khốn đốn với Mặt trận toàn lực quốc gia bao gồm tất cả các giáo phái và đoàn thể chính trị. Sự hiện diện của ông Hữu tại Sài Gòn vào thời điểm đó là một cái gai trong mắt Diệm - Nhu, nên mỗi lần Trần Văn Hữu di chuyển, các toán mật vụ của Diệm theo dõi sát, và báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ có loan tin là công an mật vụ đã ngăn chặn xe ông Hữu đang đưa ông từ sài Gòn lên Tây Ninh để gặp giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc, và buộc ông Hữu phải quay xe trở về Sài Gòn. Những ngày sau, công an mật vụ của Diệm có những cử chỉ có tính cách hù dọa để sau cùng ông Hữu phải lên Phi cơ trở về Pháp.

Nhưng Diệm không bao giờ dám đi tới hành động xâm phạm đến tánh mạng của một nhân vật chính trị có tầm cỡ như Trần Văn Hữu, chớ chưa nói tới Bảo Đại, người có đẳng cấp quốc trưởng, cao hơn chức thủ tướng của Hữu một bậc.

Các quan sát viên chính trị cho là Bảo Đại và Sihanouk thiếu can đảm nên khi ở ngoại quốc hay tin Diệm và Lon Nol phản lại họ và lật đổ họ một cách bất hợp pháp mà không mạnh dạn đáp máy bay trở về nước với sự tháp tùng của các ký giả quốc tế và thông báo trước rộng rãi giờ phi cơ đáp xuống Sài Gòn hay Nam Vang. Trong trường hợp này chắc chắn Diệm hay Lon Nol không bao giờ dám ra lệnh bắn vào phi cơ hay chặn bắt Bảo Đại hay Sihanouk khi họ vừa đáp xuống sân bay, vì các quan thầy Mỹ của họ không bao giờ cho phép Diệm hay Lon Nol làm việc này vì còn phải e ngại dư luận quốc tế, nhất lúc bấy giờ Diệm hay Lon Nol chưa được một nước nào thừa nhận tính cách hợp Pháp.

Cuộc hội kiến giữa Bảo Đại và Nguyễn Văn Chi không đạt được kết quả gì cả. Theo nhà báo Pháp Chaffard, cựu ủy viên Cộng hòa Pháp Sainteny khuyên Bảo Đại đích thân trở về Sài Gòn để cầm đầu các lực lượng chống lại Diệm và Sainteny đang trở lại chức vụ cũ tại Hà Nội ngay sau ngày ký Hiệp định Geneve 1954, đã tìm cách thăm dò các lãnh tụ Bắc Việt để biết xem những người này có ủng hộ một hành động như vậy của Cựu hoàng Bảo Đại hay không.

Nhưng Bảo Đại không đủ can đảm để dấn thân vào một hành động ngoạn mục nhưng có ít nhiều mạo hiểm như vậy. Bảo Đại bản chất là có tính lợi dụng thời cơ để hưởng thụ cá nhân chớ không dám có những quyết định có tính cách phiêu lưu và đe dọa phần nào đến tính mạng của ông ta, và Bảo Đại luôn ngả theo phía đang giữ thế mạnh, như ông đã từng ngoan ngoãn tuyên cáo chống lại thực dân Pháp dưới áp lực của quân phiệt Nhật sau cuộc đảo chính ngày 9.3.1945, cũng như lần ông phải buồn rầu ký quyết định, dưới áp lực Mỹ và Pháp giao Toàn quyền dân sự và quân sự cho Ngô Đình Diệm mùa hè 1954, mặc dù ông rất ghét bỏ và nghi ngờ lòng trung thành của Diệm.

SaoVang:
Ông Diệm bực dọc vì Vatican trì hoãn việc thừa nhận kết quả cuộc bầu cử tổng thống 1955

Nhà báo Pháp Raymond Cartier của tuần báo Paris Match số ra ngày 5.9.1964 nhận định: "Cuộc nội chiến, những sự đàn áp tôn giáo của chế độ Diệm, cuộc tranh giành quyền lực, nạn tham nhũng và sự bất lực đã làm chao đảo Nam Việt. Những hậu quả tai hại này không được người Mỹ đoán trước được khi họ quyết tâm hất cẳng các đế quốc thực dân Âu châu để nhảy vào thay thế và sau cùng chỉ làm cho những người dân địa phương thêm bất hạnh mà thôi".

Sau khi loại được Bảo Đại ra khỏi chính trường miền Nam, ngoại trưởng Mỹ Foster Dulles rảnh tay hướng dẫn chính sách của Mỹ tại Việt Nam. Không ai còn có gan lên tiếng đòi ông Diệm phải từ chức nữa. Bình luận gia của báo Life, số ra ngày 7.11.1955, ca ngợi các kết quả của cuộc trưng cầu dân ý mà ông ta gọi là “sự sụp đổ của một ông vua bù nhìn". Một tháng sau, cũng chính tạp chí này hướng Hoa Kỳ đến những thắng lợi mới khi đưa ra lời cổ vũ: "Chúng ta không nên dừng lại, trong khi chúng ta đang trên đường chiến thắng".

Trong Dinh Độc Lập, ông Diệm cùng với các thành viên trong gia đình hân hoan tổng kết những thành quả đã đạt được trong năm 1955 và tất cả tỏ ra thỏa mãn. Chỉ có một thất vọng làm vơi bớt niềm vui sau một loạt những thắng lợi, nhưng không may là vấn đề tồn đọng này lại không thể giải quyết dễ dàng chỉ bằng vài triệu Mỹ kim của viện trợ Mỹ, đó là bước đầu các rắc rối của ông Diệm với Tòa thánh Vatican.

Tân Tống thống cảm thấy khó chịu khi phải chờ đến gần một tháng trước khi được Tòa thánh Vatican thừa nhận chiến thắng của Diệm trước Bảo Đại. Một sự bực dọc mới đến với Diệm trong thời gian diễn ra chiến dịch bài Pháp của bộ máy tuyên truyền của Diệm, ông này buộc những vị truyền giáo mà Tòa thánh gửi sang Sài Gòn phải tuyên thệ ủng hộ ông, nhưng những người này bác bỏ yêu sách trên.

Ông Diệm liền tố cáo những phần tử này là thân Cộng sản và cho bắt quản thúc Đức Giám mục Sieltz của Hội truyền giáo, ông này bị đe dọa tống giam vì tội xâm phạm đến nền an ninh quốc gia, nhưng Vatican đã cương quyết can thiệp và cứu được Đức Giám mục Sieltz ra khỏi tù. Sau đó, Diệm yêu cầu Tòa thánh nâng Đức Giám mục Ngô Đình Thục, anh trai của Diệm, lên hàng Đức Hồng y, một chức phẩm mà cho tới thời điểm ấy chưa có một vị giám mục Việt Nam nào đạt tới được.

Phản ứng của Vatican đối với lời thỉnh cầu trên của Diệm được tờ báo Pháp France Soi đề cập đến trong số ra ngày 26.10.19 55, ngày Diệm tuyên cáo thành lập nền Đệ nhất Cộng hòa và là ngày Quốc khánh của "triều đại Ngô Đình Diệm".

Đối với Diệm hiện giờ, bóng tối duy nhất còn lại trong bối cảnh đầy lạc quan của chế độ ông ta là thái độ khó hiểu của Tòa thánh qua quyết định bỏ nhiệm vào chức vụ Giám mục giáo phận Sài Gòn, không phải là ứng cử viên của Diệm tức Đức cha Ngô Đình Thục, mà là Giám mục Nguyễn Văn Bình, một nhân vật ít được biết đến trong hàng giáo phẩm Nam Việt. Đây còn là một đòn khá đau cho Diệm vì Đức cha Bình được xem như là một người không tán thành chính sách của Ngô Đình Diệm.

Diệm phản đối quyết định trên của Vatican. Giám mục Ngô Đình Thục ngay sau đó đáp phi cơ đi La Mã.

Ngày 29.12.1955, tờ báo France Soi thuật lại:

"Trong khi chờ đợi những kết quả của các cuộc vận động của Đức cha Thục tới Vatican để hủy bỏ quyết định bổ nhiệm Đức Giám mục Bình, phong bì đựng quyết định của Tòa thánh bổ nhiệm Đức cha Bình cai quản giáo phận Sài Gòn bị sở bưu điện tại Sài Gòn tịch thu, con dấu bị đập vỡ và nội dung quyết định bị sao chụp.

Nhưng Vatican vẫn duy trì quyết định bổ nhiệm Đức cha Hiền và chính quyền Diệm ra lệnh ngăn chặn việc loan báo quyết định trên của Tòa thánh Vatican trong nhiều tuần lễ cho tới khi chính các Cha đích thân loan báo cho các giáo dân được biết trên bục giảng và cho tới lúc Đức Giám mục Bình đích thân đe dọa khai trừ Diệm ra khỏi cộng đồng giáo dân".

Trong một thông điệp được loan đi trên đài phát thanh ngày 29.11.1955 và trong một thông cáo được trao cho báo chí ngày 5.12.1955, linh mục O'Connor, đã lên án sự can thiệp của Diệm vào các vấn đề của Giáo hội và những áp lực mà ông đã dùng đến để Đức cha Thục được Tòa thánh giao cho nhiệm vụ cai quản giáo khu Sài Gòn. Có những nguồn tin tiết lộ là chính phủ Diệm còn cho kiểm duyệt gián tiếp những bài thuyết giảng của các vị linh mục.

Một nhà truyền giáo đã từng sống 37 năm tại Việt Nam cho là trước ngày ông Diệm lên cầm quyền, không có một sự bất hòa nào giữa các tín đồ Công giáo và Phật giáo tại Việt Nam. Năm 1963, giữa lúc cuộc khủng hoảng chính trị đang đe dọa chế độ Diệm, Đức Tổng Giám mục Ngô Đình Thục muốn tổ chức một cuộc mít tinh chống Cộng tại Sài Gòn. Đức Tổng Giám mục giáo phận Sài Gòn Nguyễn Văn Bình ngăn cản và nói với Đức cha Thục:

“Ngài cai quản giáo phận Huế, còn tôi thì nhận lãnh trách nhiệm giáo phận Sài Gòn, và tôi không cho phép để cho Vương cung Thánh đường Sài Gòn trở thành nơi diễn ra những cuộc mít tinh chính trị cũng như tôi không muốn những hoạt động chính trị xen vào lãnh vực tôn giáo".

Navigation

[0] Message Index

[#] Next page

[*] Previous page